Văn Nghệ Văn Gừng

Thơ nhạc trữ tình, thơ nhạc lính, video...
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Re: Văn Nghệ Văn Gừng

Post by hoanghoa »

CHA TÔI CHẾT KHÔNG CẦN QUAN TÀI
Đào Nam Hoà  

Con ghi lại bài này thay cho nén hương lòng để thành tâm tưởng nhớ đến Bố Mẹ nhân ngày giỗ Bố lần thứ 8 và giỗ Mẹ lần thứ 7

Tôi không biết bắt đầu câu chuyện từ lúc nào, nhưng có lẽ ấn tượng nhất và rõ nét nhất mà hầu hết người dân miền Nam Việt Nam nhớ mãi là ngày 30/4/1975.
Khi miền Nam sụp đổ cũng là lúc bất ngờ tất cả nỗi thống khổ đày đọa ập xuống. Nhanh như một cơn cuồng phong thịnh nộ phá nát tan hoang. Mất tất cả!

Ngày 10/06/1975 tôi vẫn còn nhớ rất rõ. Trước khi đi cái gọi là “học tập cải tạo” 10 ngày, dù với suy nghĩ chỉ là 10 ngày như lời thông báo, cha tôi cũng không có lấy mấy ngàn dằn túi. Ông bảo tôi (lúc đó 19 tuổi) đem 2 chỉ vàng cuối cùng còn lại của gia đình- là đôi bông tai của bà nội tôi để lại- ra tiệm vàng bán. Đó là kỷ vật quý nhất nhưng đành phải bán để mua ít lương thực cho ông mang đi. Hai chỉ vàng lúc ấy bán được 33 ngàn. Ông mua khoảng 2 ngàn đồng lương thực các thứ và dằn túi 1 ngàn. Còn lại 30 ngàn ông dặn ở nhà cố gắng 13 mẹ con dè xẻn ăn uống đợi Ông về.

Mười ngày trôi qua nhanh chóng- không ai trong số cải tạo trở về. Tôi nghĩ đây là một cú lừa mà đã và sẽ được lịch sử ghi lại kỹ hơn. 
Giá sinh hoạt tăng từng giờ. Buổi sáng 100 đồng 1 ổ bánh mỳ thì chiều đã lên 120. Sau 3 tuần thì 12 anh em tụi tôi và mẹ tôi không còn một đồng nào trong nhà. Chị tôi lớn nhất 21 tuổi còn đang đi học, và em út mới có 2 tuổi. Mười hai con tàu há mồm tuổi đang lớn nuốt bao nhiêu cho đủ! Cơm và thức ăn mỗi bữa mẹ tôi phải chia cho từng đứa. Vài hột cơm sót nơi đáy nồi cũng không yên. Chúng tôi đổ nước vào và cạo sạch không còn một hột. Còn hơn là gạo châu củi quế.

Mẹ tôi và vài đứa em phải đi xâm canh làm ruộng rau muống, một hình thức của kinh tế mới để giãn dân,. Không lên voi nhưng phải xuống chó, mẹ tôi và em tôi ngày ngày vào ruộng hái rau muống xong gánh bộ về tới chợ cách đó 6 cây số để bán. Buổi sáng khoảng 3 giờ khi trời còn mờ mịt hơi sương và giá lạnh, mẹ và em tôi thay nhau gánh bộ cho kịp phiên chợ sáng. 70 bó rau oằn trên vai người phụ nữ nhỏ bé cao 1,45 nặng chưa tới 40Kg. 6kg rau mới đổi được 1 kg gạo. Một tuần mới cắt được một lần chờ cho rau mọc. Những ngày còn lại là cấy rau, nhổ cỏ, trồng khoai mỳ…
Sức ăn trước ngày 30/4/75 của gia đình tôi một bữa là 3 lít gạo, tức 1 tuần 42 lít, khoan nói chuyện thức ăn cá mắm gì hết. Nay 1 tuần chỉ còn 13 lít!

Bắt đầu tháng 7/1975 lần lượt đồ đạc trong nhà mọc cánh nhẹ nhàng, nhanh chóng, lả lướt, bay đi theo chân những kẻ buôn hàng. Từ cái quạt trần, tôn cống, hàng rào, tủ quần áo, đài radio, giường sắt, đồng hồ treo tường, đồng hồ đeo tay … đều giã từ để về với chủ mới. Hết sạch đồ thì mấy kẻ đi buôn bảo giở gạch bông, gIở bớt tôn ngoài mái hiên, tôn trần nhà.. bán tiếp.

Bán cho đến khi căn nhà nhỏ bỗng trở nên rộng tênh vì chả còn thứ gì ngoại trừ vài cái nồi nấu bằng củi đen thui cũng đã sứt quai gãy gọng. Buổi tối trải chiếu ngủ dưới đất là xong với cái bụng lép kẹp và cơn đói hành hạ.
Không biết bao lần tôi phải ăn tưởng tượng trong đêm khuya bằng cách hình dung mấy món ăn tầm thường ngày trước như vài con khô, miếng dừa kho, tô canh bầu.. ( Mơ mà cũng hà tiện không dám mơ thịt cá hải sản.)

Bố tôi sau 6 tháng trong trại cải tạo lần đầu được viết thư về, Ông dặn khi lên thăm nuôi, không cần mang theo gì cả vì trong trại có đủ mọi thứ. Hic!
Ông hiểu hơn ai hết, còn cái gì để mà mang cho ông!

Tôi nhớ mãi ngày lên thăm nuôi ông ở trại Thanh Hoá (Hố Nai), cả nhà chỉ có 1 cái xe đạp, còn lại mẹ và các em tôi cuốc bộ 8 cây số mang theo 1 cái giỏ đi chợ lưng lửng với ít thịt kho mắm ruốc, 1 ký đường, 2 hộp sữa và 1 bộ quần áo. Nhìn những người đi thăm nuôi, có người gánh 2 bao đầy mà lòng tôi trào dâng niềm tủi hổ.
Sau đợt đổi tiền ngày 22/9/1975, Chúng tôi như đàn chim vỡ tổ, tất cả bỏ học ngang, vài đứa em nhỏ tiếp tục theo mẹ làm ruộng rau muống, còn lại mỗi đứa một phương trời kiếm sống. Đứa lên Gia Ray vào rừng lấy củi, làm lò than, đứa theo xe lửa bán trà đá, hàng rong, đứa bán thuốc lá.

👣
Hơn 3 năm sau Bố tôi được cho về để nhìn xác nhà tan hoang điêu tàn loang lở, nhìn bầy con xanh khướt, gầy rạc, tản mát. Một chị tôi bệnh tâm thần không người chăm sóc phải lang thang ăn xin đầu đường xó chợ, có lần xin không được, quá đói, chị giựt mấy miếng đậu hũ bỏ chạy, chị bị người ta phang đòn gánh chảy máu lỗ đầu giữa ngày bố tôi được tha về.

Bố không khóc, cũng không nói gì! Qua hàng xóm xin ít bông băng. Lòng ông như xát muối! Có lẽ ông bấy giờ mới thấm sâu mệnh đề “mất Nước là tất cả mất”. Khóc lóc than van ích lợi gì. Giọt nước mắt chỉ làm cho kẻ chiến thắng hả hê say sưa thêm mà thôi.
Rồi theo chủ trương, ông không được ở lại thành phố. Họ hàng nhà tôi đa số cũng là thành phần Ngụy quân, Ngụy quyền nên không ai giúp gì được cho nhau. Cuối năm 1978 Ông lên rừng Gia Ray ngay chân núi, cất túp lều nhỏ bé xiêu vẹo, ngày ngày ông và 2 em tôi sống nhờ rừng.

Ai ở rừng mới biết: ăn của rừng rưng rưng nước mắt! Và từ đó chuỗi ngày lầm than, buồn thảm lại tiếp tục sau hơn 3 năm trong trại cải tạo. Đói nhiều hơn no, buồn nhiều hơn vui. Cực khổ nặng nhọc quần quật suốt cả ngày chỉ đủ kiếm vài lon gạo vài con cá khô.
10 năm sau, tôi đã làm ăn khá hơn, mua được chiếc xe máy Mini scootter, lần đầu tiên lên thăm Ông, quà cho Ông chỉ là 1 lít rượu đế nấu bằng rỉ mật. Ông mừng lắm vì tôi đã tương đối ổn định công việc.
Trong bữa cơm hôm đó, Ông nói:
-Bố năm nay 63 tuổi rồi, cuộc đời không dành cho Bố con mình được sống sum họp và đầy đủ. Dù sao các con cũng cố gắng vươn lên để thoát khỏi bệnh tật, đói khát và tù đày.
Rồi Ông chỉ tay dưới chân ngọn núi Chứa Chan:
– Nhớ lời Bố dặn, nếu Bố có chết, các con không cần quan tài làm chi cho tốn kém, cứ bó chiếu vùi thây Bố dưới chân núi là Bố mát mẻ rồi.
Thú thật, lúc ấy nếu tất cả 12 anh em tôi gom lại chắc cũng không đủ tiền mua cái quan tài loại chót. Ông biết và không muốn các con gánh nặng thêm!
👣
Năm 1999, sau bao nhiêu là khó khăn vì không có tiền làm hồ sơ xuất cảnh diện HO, cuối cùng thì 4 bố con tôi cũng tới được Mỹ. Ngày lên đường mẹ tôi và 9 em phải ở lại vì hộ khẩu lung tung không đuợc phái đoàn Mỹ chấp thuận.
Bốn bố con mà hành trang vỏn vẹn có 5 va ly nhỏ và nhẹ tênh, chưa tới 1/3 tiêu chuẩn trọng lượng.

Đến Mỹ 3 anh em tôi phải đi làm ngay sau tháng đầu tiên để kiếm tiền trả nợ lúc làm hồ sơ. Bố tôi thì ăn welfare vì Ông đã 74 tuổi. Ban đầu hội thiện nguyện giúp thuê nhà, 4 bố con phải ở chung trong 1 căn apartment 2 phòng ngủ cùng với 2 người nữa là 6 người. Quá chật, chúng tôi đành ra ở riêng trong khi Bố tôi được chính phủ Mỹ cho ở nhà Housing. Và từ đó Ông sống cô độc, một thân một mình. Nhưng cũng là lúc Ông làm được một việc lớn nhất, to nhất, ý nghiã nhất kể từ sau ngày 30/4/1975! 

Hàng tháng Ông trả tiền điện và tiền nhà chưa tới tổng cộng 80$. Thức ăn thì Ông đi xin các Hội từ thiện miễn phí. Có lần tôi giận Bố kinh khủng. Gia đình tôi cố tình chở Ông vào 1 quán kêu cho Ông mấy món ngon, Ông từ chối, chỉ xin cho 1 diã bánh cuốn là đủ. Ông nói: Ở Việt Nam nhà mình còn quá khổ, Bố không đành ăn ngon bên này nhưng các con đi làm vất vả cần bồi bổ, cứ ăn đi. Mỗi tháng số tiền dư còn lại gần 400$ Bố để dành và cứ 6 tháng Bố gởi về VN cho Mẹ và 9 đứa con còn ở lại.

Chị cả tôi viết thư qua có câu: “Bố ơi, nhiều lần con phải đi bán máu với số tiền 200 ngàn một lần để có tiền nuôi con. Để có 200 ngàn đồng tiền Việt, tụi cò máu nó đã ăn chặn mấy chặng rồi. Cầm 300$ Bố cho mà con cứ ngỡ trong mơ. Đời con chưa bao giờ cầm số tiền lớn như thế… Phải bán 10 lần máu chỉ mới được 150$ …”

Bố đọc thư không khóc! mặc dù Bố biết chị chỉ cân nặng có… 34 Kg! Hic! Gan góc đến thế là cùng! Rồi việc phải tới! Một ngày mùa đông năm 2006, tức sau gần 8 năm ở Mỹ. Tự dưng Bố kêu và đưa tôi 8.000$ và một tờ di chúc – nét chữ vẫn còn rất đẹp dù đã có dấu hiệu nghệch ngoạc biểu hiệu của tuổi già – trong di chúc có nói rõ:
Khi bố chết đi, bố đã hỏi cô Hoa, người của hội thiện nguyện, và biết rằng tiền hỏa thiêu không quan tài chỉ mất có 800$ thôi!. Bố nói bố không cần quan tài, không cần để nhà quàn làm gì cho tốn dăm ngàn, cứ để người ta đưa thẳng bố đi thiêu, trừ tiền thiêu ra, còn bao nhiêu con cứ làm theo di chúc gởi về cho người bên Viet Nam.. Sau đó mấy ngày, Bố đột qụy! Người ta đưa Bố vào trại Dưỡng lão. Rồi Bố hấp hối.

Ba anh em tôi họp nhau và quyết định làm theo di chúc của Bố. Và chúng tôi phải ký một hợp đồng với nhà thiêu. Khi Bố tắt thở, sau 1 tiếng người ta đuổi hết anh em tôi ra, trong phòng người ta bỏ Bố vào 1 cái bao và kéo cái fermeture là xong! Quá đơn giản cho một kiếp người! Khả năng 3 anh em tôi lúc đó mới đi làm ăn lương 1 giờ 8$ (lương tối thiểu ) chỉ vừa đủ tiền nhà tiền ăn. Vẫn biết có làm đám tang bỏ Bố vào quan tài bằng vàng với hàng ngàn người tham dự cũng vậy thôi vì Bố đâu biết gì nữa mà sao tôi vẫn cảm thấy xót xa vô bờ.

Cuối đời của một sĩ quan, từng chỉ huy hàng mấy trăm lính, từng chỉ huy mấy cung đường sắt, âm thầm, vắng lặng và quạnh hiu. Không ai biết, không ai đưa tiễn! Y như một chiến sĩ vô danh! Người ta bỏ Bố lên chiếc xe kéo, đẩy ngang chỗ chúng tôi đang đứng, tất cả con, dâu và cháu chỉ có 5 người, họ dừng lại và hỏi chúng tôi có muốn nói gì không. Tôi có cảm tưởng như một luồng điện lạnh chạy xé dọc sống lưng. Tôi chỉ lắp bắp nói như kẻ không hồn:
– Vĩnh biệt Bố. Từ nay Bố không còn phải hy sinh nữa Bố nhé. Công ơn của Bố cao hơn núi Thái Sơn Bố ạ!

Rồi họ lạnh lùng kéo Bố tôi đẩy lên chiếc xe dài, đi chỗ nào thiêu hay làm gì, ở đâu, chúng tôi không được biết! Họ làm theo hợp đồng.
Tôi không khóc! Không còn nước mắt để khóc!
Hai tuần sau tôi lấy tro cốt Bố. Khi cô nhân viên nhà xác đưa hộp tro cốt ở dưới có ghi tên bố tôi, chỉ đến lúc bấy giờ, nước mắt tôi tự dưng tuôn ra đầm đìa – vô thức!


Đào Nam Hoà  
vuongquan
Posts: 275
Joined: Mon Mar 14, 2016 4:15 pm
Contact:

Re: Văn Nghệ Văn Gừng

Post by vuongquan »

Image

CHU HẢI CÓ GÌ LẠ KHÔNG EM?
Tặng Hoa—Chu Hải
 
1.
        Khi yêu nhau, người ta có thể chấp nhận những lầm lỗi của người mình yêu, dù sự lầm lỗi có làm cho mình thương tổn. Bài hát chia tay vừa tắt và mới ngày hôm qua vệt son còn trên vai áo. Tôi nghĩ đến điều này khi tôi không còn nàng trong vòng tay. Con đường ngược gió sáng nay tôi lái xe đi về không có ai ngồi cạnh. Chiếc áo len vất hờ hững trên lưng ghế. Ngày chủ nhật tiếng chuông nơi giáo đường tự nó ngại ngần không chịu lan xa. Có những nỗi buồn không muốn gọi tên. Như những đêm dài không có bình minh chờ đợi.

        Con đường đôi lúc bị ngăn đôi bởi hai hàng cây bằng lăng nước. Phía bên kia là quán cà phê có nàng ngồi trầm ngâm trước khi đi xuống phố. Tiệm nail của nàng nằm trong một khu thương mại sầm uất, gần miền South, có tên là khu Westlake—Tây Hồ. Từ nơi này, cách đây 5 năm, tôi gặp nàng.

Đã qua mùa thu sao vẫn còn có chiếc lá vàng rơi trên mui xe của nàng. Mới tuần rồi tôi thúc giục nàng đưa xe cho tôi đi thay nhớt máy, nhưng công việc bận rộn đến nỗi nàng không nhớ đến kỳ hạn. Mãi đến chiều hôm qua nàng mới nhớ lại và tôi là người có “bổn phận” phải làm công việc đó giùm nàng.

        Suốt đời, tôi luôn đi bên cạnh những đoạn rời của người khác. Những đoạn rời lỡ làng và dang dở giống như một mảnh trăng không tròn trịa. Cũng không là một giấc mơ trong lòng của ai đó, hay một cơn mưa bay nghiêng dù chỉ trên một vai đời. Với sự thầm lặng cùng nỗi kiêu hãnh về nhan sắc, nàng luôn làm mọi người thấy trái tim mình đang ngập tràn giông bão…

Ngày cuối tuần không có nàng đi chung trên đường về. Một ngày có nắng reo vui. Từ góc đường Congress và đường số hai nhập vào nhau, các tòa nhà cao tầng che kín một mảng trời. Từng khung cửa kính vuông vức trên cao nhìn xuống dòng người xuôi ngược. Trời lạnh đột ngột và nhiệt độ xuống thấp. Nghe nói có tuyết ở Dallas ngày hôm qua và có thêm mưa tầm tã ở một vài nơi khác. Ðêm ném những hạt mưa và kéo theo những gió rét. Ngày tháng âm thầm đi qua trên vai người đàn ông già, mệt mỏ i. Những cơn mưa cũng vậy, ướt nhòa một nỗi nhớ.
 
2.
        Tôi đi lạc mấy bloc đường trước khi tìm ra con đường Shady Park. Lâu lắm rồi tôi không có dịp đi về khu downtown của Houston. Những nhịp cầu chằng chịt đường 59, đường 45 chia hai hướng nam bắc đã làm tôi ngỡ ngàng. Một thời gian dài tôi loanh quanh không định hướng được lối về nhà của Bùi Chiến Công. Một cái tên nghe dữ dội, nhưng rất hiền khô bởi chủ nhà lúc nào cũng cười. Anh là một người luôn sùng bái những ly bia và mồi màng hơn là sùng bái những ồn ào, tranh chấp. Ðịa chỉ số 3050 cuối cùng tôi cũng đã tìm thấy trước khi đêm xuống. Ngôi nhà bộc lộ ra một dáng vẻ thơ mộng giống như một câu chuyện cổ tích—trong đó mái che sơn trắng nhìn ra một vạt rừng rộng. Con suối nhỏ chạy xuyên qua những lùm cây mà chỉ ban ngày mới nhìn thấy được. Có những giây leo bò trên đầu hồi đang run rẩy như hơi thở của nàng Bạch Tuyết vừa ngủ yên. Cuối đường ánh đèn dội xuống trên ngạch cửa của những căn nhà lân cận, như nói lên sự huyễn hoặc của đời sống. Trong đó cơm áo và công ăn việc làm đã xa rời và hạnh phúc thì đang tím lạnh bởi những cành mạc lan. Chính trong ngôi nhà này, cách đây mấy năm, vợ chồng nhà văn Nguyễn Hữu Nhật và Nguyễn Thị Vinh từ Na Uy đã từng ngủ lại. Có luôn cả Bích Xuân. Người phụ nữ diễm kiều của Paris và của vườn Lục Xâm Bảo.

Một tuần lễ mà Bích Xuân ghé lại nơi này, nghe đâu nàng không đem về Texas những vạt nắng mùa xuân, mà đem về những giông bão. Có những mưa bay và bão nổi ném trên vai những người đàn ông trong khi đàn bà thì vẫn bình an và dấu giếm sau nụ cười là roi đời bầm dập.
Tâm hồn họ luôn là một vườn xuân chưa nhú mầm bội phản và nắng gió chưa làm già háp dung nhan. Bích Xuân là một phụ nữ như vậy.

         Khi tôi đến nơi và phải gài thắng tay để đậu xe vì xe nằm trong tư thế chúi đầu xuống một con dốc. Tôi không muốn thấy sáng hôm sau bước ra nhìn thấy xe của mình nằm ở đâu đó trong đám lá um tùm bên dưới, trong khi những con rùa, con rắn phơi mình trên mui.

Giang sơn của Bùi Chiến Công không bình thản cho một người viết văn đêm nay có cơ hội ngồi viết xuống chữ nghĩa. Chiếc laptop đem theo cũng không có dịp để ướp lạnh sương đêm và tình yêu cũng không kịp lai láng trên những mặt phím. Vì vẳng từ bên trong là tiếng người, tiếng những chén muỗng va chạm. Tiếng mở nút chai bia và tiếng cụng ly. Những người bạn tôi quen và chưa quen quy tụ nơi ngôi nhà đường Shady Park dường như không muốn tiễn chân một mùa Tết Âm Lịch, vì tôi nghe họ đang đòi “chúc mừng năm mới”. Ngoài vợ chồng Túy Hà và vợ chồng Bùi Chiến Công là bạn bè thân thiết thường gặp trong các sinh hoạt cộng đồng tại Houston, thêm Nguyễn Xuân Cương, gốc Bảo Lộc đang ồn ào không chịu để ai nói nhiều hơn mình. Hai người bạn mới một người tên Cư, một người phụ nữ, tên Hoa Nguyễn.

         Ðã qua rồi cái thời thanh xuân và lửa tin yêu đang cháy đỏ trong lòng. Qua rồi cái thời mà nhìn thấy búp non trong vườn đã ngại ngần không muốn hái. Nhưng tôi ngồi giữa bạn bè và nghe trong lòng vang động lại những bước chân vào đời. Ngày đó tôi liều lĩnh biết bao. Tâm hồn tôi giống như mảnh trời đêm ủ chật những vì sao đang bước vào vùng bão lửa. Sự khao khát, sự hoài mong và trên cùng là sự đam mê làm vụng về ngôn ngữ.

         Khi tôi biết Nguyễn Xuân Cương tại phòng sinh hoạt của Ðài Little Sài Gòn, ở Houston, tôi không thấy Cương ồn ào vui nhộn. Tôi nghe nói Cương ngày xưa là bạn thân của nhà thơ Tú Kếu- Trần Ðức Uyển. Dù Cương không thiết tha với thơ thẩn văn chương. Tâm hồn Cương ngày đó như một vườn bơ, một luống trà trở trăn theo đất. Tắm mát trái tim Cương, là sương mù và mưa bụi, đến nỗi nhìn đâu Cương cũng thấy cuộc đời đều lạnh và mỡ màng. Tôi cũng là một trong vài người bạn với Tú Kếu, khi anh về sống tại Bảo Lộc. Tú Kếu lập gia đình với Phượng, con gái út của ông chủ tiệm trà Tiến Ðạt. Ðám cưới linh đình thời đó—thời tôi là lính—Báo chí Sài Gòn loan tin và bạn bè trong đó hầu hết đều là văn nghệ sĩ đều đến chung vui với anh.

Tú Kếu bây giờ đã chết. Sau nhiều năm tù ở trại Ðại Bình, Bảo Lộc, Tú Kếu về sống ở Sài Gòn đường Trương Minh Giảng, nơi mà chị Phượng có một cơ sở buôn bán trà, cũng lấy tên Tiến Ðạt. Tú Kếu vẫn “ốm yếu ho hen” như ngày còn cộng tác với nhật báo Sống của nhà văn Chu Tử. Một đôi lần tôi ghé thăm anh, sau đó chúng tôi cùng uống cà phê nơi một quán nhỏ đường Huyện Thanh Quan. Người thi sĩ tài hoa của Sơn Tây, của “đồi núi Chí Linh và sông Hồng lộng lẫy” lúc đó vẫn hào sãng và còn phong độ. Cho đến khi tôi ra hải ngoại và biết tin anh mất vì bịnh alzheimer.

Những bài thơ anh sáng tác lúc sinh thời mang một màu sắc dữ dội và nhức nhối nhiều trái tim. Anh làm thơ giống vừa giỡn chơi vừa giác đấu với cuộc đời. Mỗi bài thơ là một nhát dao chủy thủ, rạch ròi và đâm suốt những tư cách vô lại.
Nguyễn Xuân Cương ồn ào kể lại thời kỳ vàng son ở Bảo Lộc, về Tú Kếu. Ðiều thú vị đầu tiên là Cương đọc cho chúng tôi nghe những câu thơ viết cho bạn hiền Tú Kếu, khi nghe tin anh lìa đời:

“Này ả phù dung, này lãng tử,
Này lời cao ngạo ý thâm sâu
Này khi bút chiến cùng thi tửu
Tất cả xin đừng hẹn kiếp sau”...

Điều thú vị thứ hai tôi biết thêm từ Cương, là anh luôn giành thế chủ động để nói mà không để cho ai nói. Trước “đài phát thanh Nguyễn Xuân Cương”, mọi vô tuyến đều phải ...im lặng…


3.
       Gió bên ngoài khung cửa không kịp khép, làm xao động một bâng khuâng. Cái bâng khuâng tưởng chừng đã thầm lặng từ lâu, từ những ngày lính tráng. Giữa những câu nói loang thoáng, xen kẽ tiếng cười, tiếng cụng ly mời “chúc mừng năm mới’’, tiếng rền rĩ vì bia bọt chất ngất của Nguyễn Xuân Cương, tôi vừa nghe ai nhắc đến Chu Hải!

Giọng nói vút cao bằng âm sắc rất ư là Bắc Kỳ vừa khua gõ trong lòng tôi một cánh cửa đóng kín. Trong nhất thời tôi không kịp nhớ Chu Hải là một địa danh nằm ở đâu.

Tôi thất tình trở về Vũng Tàu từ một đêm mưa. Lâu lắm. Khi tôi chia tay với người đàn bà cuối đường gió—Mới đầu, nàng thổi qua vai tôi những ray rứt làm bằng tiếng hôn và nước mắt nóng hổi. Sau đó, chính nàng đã lau khô mọi ướt át hi vọng. Những cánh cửa khép lại và không chờ ai gõ cửa.

        Năm 1970 nghe tin nàng đi lấy chồng. Những buồng tim tăm tối từ khước nghe một hồi đáp và những người đi qua đời nhau lặng lẽ. Và Vũng Tàu hết còn mênh mông một chân trời, một biển cạn.
Trên hai chuyến xe đò chật chội nối tiếp giữa hai đoạn đường Bảo Lộc- Sài Gòn và Sài Gòn- Vũng Tàu, tôi ngồi thu mình giữa những hành khách xa lạ. Giữa những mồ hôi và hơi người. Tôi hình dung đến những ngày trước mặt. Đêm chảy lùi sau lưng như một dòng sông mờ ảo. Tôi đau lòng mường tượng một dung nhan từng vùi dập tim tôi, và nghe bên tai tiếng gió đang thốc vào lòng xe những lời kể lễ, rằng có một thời mình yêu nhau…

Đó là những ngày chỉ còn lại mùa đông, tình yêu ai cũng mơ màng một bếp lửa. Nàng cũng vậy. Có những ngọn cháy đỏ trong tim nên tro than còn âm ĩ sau một cuộc chia lìa. Có những ngọn chưa dấy lên một lần mà đã tàn vào rã rời khao khát. Những năm tháng đi qua âm thầm như tiếng thở dài giấu giếm. Sự đau khổ lớn lao nhất trên trần gian này là hai người yêu nhau nhưng không thể tìm đến nhau. Thành phố của tôi và nàng tương phản nhau như tính tình của hai người. Của nàng là rừng, của tôi là biển. Biển và rừng có khi nào kết hợp vào nhau? Chúng tôi chỉ giống nhau ở một điều là cùng mang tình yêu đi vào đời mà không so bì hơn thiệt. Nhưng khi sa bại mất mát, tôi bị khánh tận, còn nàng vẫn đứng lại vững vàng.

Tất cả rồi sẽ trôi qua. Mọi ký ức rồi sẽ khép kín như một trang sách giấu chứa những điều chưa hiểu đã vội vã xuống hàng.

……….
        Xe qua Long Thành. Qua Phú Mỹ. Qua mọi bờ cỏ xuân thì. Ðêm bay cùng nỗi nhớ bên ngoài. Vệt đèn pha trước mũi xe quét lên vạt đường trước mặt không soi kịp cảnh vật. Mọi thứ đang chạy ngược về sau. Vài phụ nữ thiếp ngủ nhưng vẫn ôm chặt hành lý trong mình. Khuôn mặt chìm trong bóng tối. Phần kia là mái tóc mảnh như một nhánh sông đang cố tìm đường ra biển.

Ðâu đây tiếng bánh xe rít róng mặt đường đêm vì vào khu vực có nhà cửa. Ðâu đây phố núi châm đèn. Tiếng của người lơ xe thúc hối: “Cô bác ai xuống Chu Hải sửa soạn hành lý...”. Có tiếng một cô gái vang lên, hối hả: ”Bác cho em xuống…”
Tiếng của một cô gái Bắc. Âm vọng như một nhánh cỏ nứt nẻ giữa dòng mưa, làm tôi ngỡ ngàng.

Chu Hải, ngày đó là một xứ đạo non trẻ, được thành lập sau ngày tôi vào lính. Ðó là một xóm nhỏ, nằm dựa lưng vào núi Dinh và sân bắn của Trung Tâm Huấn Luyện Vạn Kiếp. Bên kia đường là những ruộng mạ phơi phới cùng chạy song song với quốc lộ 15. Trước khi xe đò vào địa phận Bà Rịa, Vũng Tàu, Chu Hải có thể là một chặng xuống cuối cùng.

Xe dừng lại hẳn để thả cô gái xuống cùng với hành lý. Cô gái sẽ đi thêm một đoạn đường nửa để về nhà. Cô hãy mang trên vai nỗi mừng được đoàn tụ lại với người thân sau mấy tiếng đồng hồ ngồi bó gối trên xe. Cô sẽ về trên bước chân vui cùng cọng cỏ cong mình như một vầng trăng gầy yếu, mặc trên vai tiếng gió thầm thì...

        Hôm nay, trong ngôi nhà vùng South 45, đường ra biển Galveston, tôi vừa nghe lại một địa danh tưởng chừng như mất biến trong ký ức. Người con gái trước mặt tôi, tròn trịa như một viên mực lăn đọng trên trang vở cũ, đã gợi lại trong tôi một quá khứ thương tật.

Mùa xuân của Vũng Tàu năm 1970, khi tôi chia tay với người con gái B’lao vừa thơm ngát môi đời. Mái tóc em vừa nghiêng xuống vai tôi cũng che giấu một màu son. Trong khi tôi biết rằng muốn trưởng thành con người phải chạm tay tới đau khổ.
Trước mặt tôi, cô gái có tên giản đơn không màu mè nhưng vẫn đại diện một hồn hoa—Hoa Nguyễn—vừa nhắc cho tôi nhớ rằng Vũng Tàu thân yêu của tôi, ngoài Bến Ðình— Bến Ðá—Bãi Trước—Bãi Sau, còn có một vùng đất mang tên Chu Hải. Có một thổ ngơi mà cư dân nơi đó đa số đều phát âm giọng Bắc không sai trật chính tả. Và tâm hồn họ ươm tụ phù sa sông Ðuống, sông Hồng. (Trong khi tôi viết văn mà đầy lỗi hỏi ngã. Mấy ông chủ báo gặp mặt tôi đều phàn nàn.) Có màu hoa gạo đỏ trong mường tượng của tôi, vẫn là những đốm lửa thắp trên phố từng đêm, trên từng cửa ô Hà Nội. Mỗi cửa ô là mỗi ngăn lòng nhức nhối.

        “Chu Hải có gì lạ không em?” Tôi hỏi Hoa. Có thể nàng không nhớ nơi chốn từng sinh ra, từng lớn lên vì ngày đó nàng còn thơ dại. Nên nàng không thể trả lời.

Nhưng tận trong tim nàng, câu hỏi của tôi đã thắp lên một ánh sao từng ngủ quên trên bầu trời. Và ánh sao đó có thể chưa từng được đặt tên?

         Nàng đâu biết rằng chỉ với một cái tên nhỏ nhoi nhưng đánh thức cả một quá khứ của người đàn ông đi qua biết bao bể dâu đời? Mà cho đến giờ phút này viết xuống vẫn không làm sao hiểu nổi…tại sao lòng đầy bão rớt?
Có bao nhiêu chiếc lá khẽ đậu xuống bàn tay như những câu thơ đậu xuống trang giấy lòng đêm nay? Và trên xứ người tạm dung có làm ai khao khát một cơn mơ rất vội. Trong đó, một người đang té vào nỗi nhớ. Té vào những yếu đuối già nua…
 
Tháng Chín, 2023
Phạm Ngũ Yên
MatVit
Posts: 1332
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:10 pm
Contact:

Re: Văn Nghệ Văn Gừng

Post by MatVit »

‘Cho dzề đi uống cà phê!’
Phạm Công Luận
 
 
Image
Nếu thích, cứ pha cà phê uống, đừng uống cà phê đóng chai.(Hình minh họa: Ruslan Sikunov/Pexels)


Có những buổi sáng sớm trong tuổi thơ, đánh thức tôi dậy không phải là tiếng đồng hồ reo. Cũng không phải là năm tiếng gõ của chiếc đồng hồ ODO nhà đối diện, mà là một mùi thơm nồng và khen khét, mùi cà phê từ nhà dì Năm bay tới.

Mùi thơm này dễ làm tỉnh thức trong không khí mát lạnh của một buổi sáng Tháng Chạp, giữa một xóm nhỏ còn nhiều cây lá và đầy các chậu kiểng bình dân. Hai lò đất nung bọc miếng sắt chung quanh để giữ không bị nứt hẳn đang ùng ục tuôn lửa đỏ từ những thanh củi nồng đượm. Cái vợt cà phê của dì hẳn đang được nhúng nấu trong nồi. Hẳn đang có vài người ngồi trong thứ ánh sáng mờ của quán tỏa yếu ớt từ cái bóng đèn vàng duy nhất, đợi ly cà phê nóng và đợi trời sáng dần.

Quán cà phê cũng là cái sân trước nhà có mái che của dì Năm. Dì tận dụng hết căn nhà cho chuyện kiếm tiền, dù chỉ nuôi có ba người con, quá ít so với các gia đình đông con thời đó. Dì sống ở phía sau nhà cùng ba đứa con và ông chồng mắc căn bệnh tiêu khát, bây giờ gọi là tiểu đường.


Phía buồng và phòng khách, dì cho hai mẹ con bà cụ Sáu thuê. Hai cô gái phụ bán cà phê ngủ ngay trong quán. Cứ một hai năm, dì phải tuyển người mới vì mấy ông trai độc thân trong xóm. Họ đến uống cà phê vài lần là quen biết, rủ rê mấy cô đi chơi và cuối cùng là xin cưới.

Những lần như vậy, công phu dì tuyển người phụ việc coi như tiêu tùng vì cô nào lấy chồng xong cũng xin nghỉ việc. Đã vậy có lúc dì còn phải thay mặt gia đình đàng gái trong đám cưới của mấy cô, nếu họ bị trục trặc xe cộ không lên kịp. Quán thiếu người bưng cà phê, lại phải ra bùng binh chợ Bến Thành tìm mấy đứa con gái dưới quê lên tìm việc, rủ về phụ bán.
Image
(minh họa: Hieu Do Quang/Unsplash)

Quán cà phê dì Năm góp phần hình thành mơ ước của tôi, là có lúc sẽ trở thành người lớn, đến quán ngồi và kêu ly cà phê sữa để nhấm nháp. Từ nhà mình, tôi luôn tự hỏi: Đó là thứ nước gì mà mùi thơm nồng nàn vậy, màu nước lại đen sánh vậy và cái vợt vải cũ kỹ sao có màu đen ngòm đến vậy?

Mùi cà phê đi suốt quãng đời thơ ấu của tôi. Buổi sáng nó khiến tôi tỉnh ngủ. Trên con đường đến trường, mùi hương ấy hòa quyện với mùi phở thơm lừng khi đi ngang qua tiệm điểm tâm trên con đường Nguyễn Minh Chiếu nhỏ hẹp. Không hiểu vì sao học trò tiểu học đầu thập niên 1970 phải đến trường quá sớm, khi trời còn tối đủ thấy được ánh lửa nồi nấu nước lèo phía xa.

Thằng nhóc chưa ăn sáng hít sâu vào ngực hương thơm của nước lèo tô phở, mùi ngò gai và rau quế… cùng hương cà phê, gộp chung thành một loại hương quyến rũ của thế giới tự do được sống theo ý mình của người lớn. Đó là điều ngộ nhận khiến tôi không thấy sợ hãi bước vào thế giới người lớn, và không hề có ao ước giữ mãi tuổi thiếu niên.


Tôi vẫn từ xa thưởng thức mùi hương ấy.

Cho đến một hôm, cáu kỉnh do bị bà ngoại la mắng vì thường mua nhầm cho bà cà phê đen thay vì cà phê sữa hoặc ngược lại, tôi dừng trên đường hớp thử chất nước đen còn nóng và hơi sánh kia. Đó là sự kết tinh của kẹo mạch nha và miếng than củi đang cháy? Tôi ngỡ ngàng nhận ra lâu nay mình mơ mộng quá nhiều. Nhưng rồi cảm xúc ấy giảm đi trong tuổi mười ba.

Chị thợ may trong lần tôi đến nhận đồ bận Tết pha cho tôi ly cà phê sữa, chính xác là ly pạc-sỉu, với sự ân cần cuả một người chị. Trên nền thơm ngọt của sữa đặc pha nước sôi, vị cả phê trở nên dịu dàng, khiến tôi thấy lại điều gì đã cũ khá dễ chịu trong nhữmg buổi sáng ngủ dậy trong mùi cà phê.

Tôi không có nhiều kỷ niệm sâu sắc với cà phê, kể cả với người yêu. Khi vào tuổi trưởng thành, nó là một thứ thức uống tôi thích, hầu như ngày nào cũng uống nhưng tôi không thần thánh hóa. Đối với tôi, chung trà, ly bia hay ly tonic trong buổi nói chuyện với người mình yêu thương hay quý mến có ý nghĩa hơn ly cà phê uống vội trước khi đi làm. Nhưng có lẽ nhờ vậy, những lần nhàn rỗi ngồi một mình nhấm nháp một ly cà phê ngon, cảm xúc của tôi tươi mới hơn.

Tôi dễ nhận ra cái gọi là “bản giao hưởng của hương vị” của ngụm cà phê bật lên trong miệng và lưỡi để tâm trí trở nên tỉnh táo, tinh tế và sảng khoái hơn.

Tôi đọc ở đâu đó rằng ở cà phê, chất caffeine chiếm một phần nhỏ của hạt nhưng nó quyết định mùi vị của thức uống này, khác với trà được làm từ nhiều loại hợp chất khác nhau, nhưng không có chất nào là nổi trội. Trà có nhiều thành phần hương vị khác nhau bổ sung cho nhau, nhắc lại khái niệm của phương Đông rằng tất cả chúng sinh đều được kết nối với nhau. Trong khi đó, ngược lại ở cà phê, chất caffeine là thành phần chính yếu và duy nhất, đứng ngoài các hương vị khác. Có lẽ đó là ẩn dụ cho một xu hướng của phương Tây xem trọng tính độc đáo, yếu tố quan trọng của sáng tạo. Đây là một phân tích thú vị.
Image
(minh họa: engin-akyurt/Pexels)

Tôi vẫn uống cà phê, cho đến khi còn có thể uống được. Tôi nhớ lại khi nuôi cha bệnh trong bệnh viện, một người cùng phòng bị đột quỵ nhẹ sáng nào cũng gào lên bằng một giọng nói đã ồ ề nhưng nhận ra được: “Cho dzề đi uống cà phê!” Ông nằm trong số muôn vạn đàn ông ở thành phố này, bắt đầu buổi sáng bằng ly cà phê thành nếp bất di bất dịch.

Bùi Giáng khẳng định một thú vui: “Ở đời sáng uống cà phê/ Quán trong hẻm nhỏ như quê quán nhà !” Hai câu thơ này ông dành cho Sài Gòn.

Tôi không mê cà phê đến độ như ai đó đoan chắc: “Nói tiền không thể mua hạnh phúc là nói dối. Tiền mua cà phê, và cà phê khiến tôi hạnh phúc!”

Tôi thấy mình hạnh phúc từ nhiều cách, thí dụ nếu như tôi viết xong bài này một cách suôn sẻ. Nhưng ít ra trong những ngày tháng êm đềm của tuổi nhỏ, hương cà phê nhà dì Năm là một ký ức dịu ngọt. Ký ức đó được tiếp nối, rất nhiều năm khi ba tôi còn sống. Bên cái bàn gỗ tròn có hai cánh gấp, ông pha cà phê phin hằng ngày để uống. Mùi thơm cà phê nóng tỏa ra phảng phất trong cái phòng ăn nhỏ mỗi sớm mai mát mẻ trên đất Sài Gòn.

Đó là hương vị của một thời bình yên, đầm ấm để tôi nhận ra rằng, cà phê hay bất cứ thức uống nào giúp ta gợi nhớ những kỷ niệm đẹp bên những người mà ta yêu thương, thì đó là thứ thức uống ta còn mong muốn thưởng thức, để ôn lại hạnh phúc đã qua.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Re: Văn Nghệ Văn Gừng

Post by thienthanh »

Phạm Trần Ái Minh
Lưu An-Vũ Ngọc Ruẩn
5 tháng 7, 2024

Image
(Hình minh họa: Hannah Wei/Unsplash)Người ngỡ đã ra đi , nhưng người bỗng lại về
Tình ngỡ sóng xa đưa, nhưng còn quá bao la. (TCS)


Sau khi tốt nghiệp đại học thuộc loại khá, cộng thêm thành tích hoạt động rất năng nổ trong suốt thời gian học, hắn được nhà trường giữ lại trong ban giảng huấn.


Nhưng chỉ làm việc được hơn hai năm trong không khí đạo mạo của ngành giáo dục, hắn mới biết dạng người hiếu động như hắn, không thể nào hợp với lối sống êm ả, đạm bạc của một ông thầy giáo của Sài Gòn – nơi luôn luôn sôi động, đổi thay đến mức chóng mặt trong thời kỳ mở cửa, hắn cựa quậy tìm đủ mọi cách để thay đổi, mong tìm được hướng đi thích hợp với cá tính của mình. Cuối cùng hắn đã tìm được một công việc khá tốt, hợp với ước mơ tại một công ty ngoại quốc trong thành phố.

Công việc mới, với cá tính xông xáo, thích khám phá của hắn được thoả mãn gần như trọn vẹn! Cứ vài ba tháng lại được công ty cử đi công tác, ngắn thì một vài ngày, lâu thì có khi kéo dài cả tuần lễ. Chỉ với khoảng hơn một năm làm việc hắn đã có dịp đi gần như khắp đất nước.

Lần này hắn đại diện cho công ty để mở một gian hàng trong cuộc triển lãm ở một tỉnh miền sông nước Cửu Long. Nơi đây không xa lạ gì với hắn, nó đã khắc ghi vào tâm hồn, trí nhớ hắn một câu chuyện tình buồn. Hơn sáu năm trước, khi đó hắn còn là sinh viên năm thứ hai, hắn yêu thương một cô em gái của người bạn thân nối khố của hắn từ thời trung học.

Cuộc tình tưởng như trọn vẹn, được đồng ý của cả hai bên gia đình hắn và cô bé, chỉ còn chờ hắn tốt nghiệp, có công ăn việc làm là xong. Nhưng vào một ngày trong dịp nghỉ hè, hắn cùng với cô bé xuống thành phố này để thăm viếng gia đình người chú của cô bé. Suốt gần một tuần lễ không một quán cà phê, một tiệm ăn đặc sản hay chốn vui chơi nào của thành phố bị bỏ sót bởi hắn và cô bé.

Nhưng bản nhạc tình yêu của hắn không không phải toàn là những âm vang hoan lạc. Nó đã bị xáo động vỡ tan bởi một lý do rất ngớ ngẩn, không đâu chỉ vì một vài câu cãi vã rất trẻ con, trong một quán cà phê vào một buổi chiều mưa tầm tã. Hắn đã thiếu tế nhị, không tâm lý để hiểu biết, cảm thông sự làm reo, muốn được hắn quan tâm của một cô bé mới chớm 20 tuổi. Cái tuổi đôi khi có tí chút nổi loạn, khác người, mục đích chỉ muốn được nghe vài câu nói ngọt ngào, vuốt ve làm hoà của hắn, người mà cô ta đang yêu mà thôi. Nhưng hắn đã sai lầm với vẻ im lặng và thái độ thách đố, bất cần. Hắn đã không thèm cản ngăn, xuống nước khi nhìn thấy cô bé giận hờn đứng dậy ra đi dù lúc đó trời đang mưa như trút nước.

Trở lại Sài Gòn, cũng vì cái tự ái rởm của một người con trai mới lớn, hắn vẫn im lặng, cố làm ra vẻ bình thản, mặc dù cảm giác nhớ mong và cô đơn luôn luôn day dứt trong lòng hắn. Rồi chỉ vài tháng sau đó, trong một lần dạo phố hắn thấy cô bé đang được săn đón, chiều chuộng bởi một người đàn ông khác, chững chạc và vững trải hơn hắn nhiều. Nhìn thấy họ, cảm giác đau khổ của một kẻ thất tình đổ ập đến làm cho hắn ngẩn ngơ, đứng xững lại giữa phố đông người. Đôi chân hắn như không còn đủ chống đỡ được thân thể hắn nữa, lúc đó hắn mới nhìn rõ cái sai lầm, tự ái rởm của mình đã đem đến sự tan vỡ mối tình đầu tiên trong đời hắn.

Chuyện buồn không dừng lại ở đó. Vào dịp thi cử cuối năm hắn nhận được thiệp cưới của cô bé. Chán chường bổ vây lấy hắn, việc học hành hoàn toàn được bỏ qua một bên, thay vào đó là những tối đi hoang, hoà nhập với bạn bè trong những bữa nhậu thâu đêm, suốt sáng. Cuối học kỳ, lần đầu tiên trong đời đi học hắn thấm thía cảm giác xấu hổ và trách mắng của bố mẹ vì trượt thi, phải học lại! Nhưng nhờ vào sự khuyên bảo của gia đình và vài người bạn chí thiết đã giúp hắn hiểu rõ một chân lý đó là: “Người ta chỉ có thể thoát ra khỏi cái sai lầm khi biết tìm đến cái đúng để sửa sai. Nếu tìm đến chán chường, buông xuôi thì chắc chắn chẳng giải quyết được gì mà còn làm cho người ta càng lún sâu vào thất bại.”


Chính nhờ sự tỉnh giấc đúng lúc đó, niềm vui trong học tập và khôn ngoan trong lối sống đã đến với hắn, giúp hắn thành công sau khi tốt nghiệp đại học. Với sáu năm khôn lớn đó, hắn đến với tình trường không còn vẻ ủy mị, yếu đuối của mối tình đầu tiên nữa. Hắn dễ dàng mở rộng con tim dành cho một bóng dáng nào đó, nhưng cũng sẵn sàng nhẹ lòng ra đi khi gặp phải những phiền phức, không vui! Với hắn, tình yêu đôi lúc được coi như mầu mè làm cho đời sống người ta không nhàm chán quá mà thôi. Danh vọng và tiền bạc mới là cái mà người đàn ông từng trải nên để ý.

Lần này ngẫu nhiên vì công việc của công ty, hắn được trở lại chốn xưa. Nhìn lại những dấu tích của mối tình đầu, dại khờ thời sinh viên còn vương lại trên những con đường, góc phố, quán ăn ở cái thành phố nhỏ bé quê mùa này. Hắn cảm nhận được rất rõ sự xúc động dâng trào trong tim mình khi nhìn lại những nơi kỷ niệm. Hắn hình dung ra bóng dáng nho nhỏ, e ấp của cô bé nép sát vào thân thể hắn ngày xưa. Cảm giác run run hoan lạc dù chỉ với cái nắm tay dạo phố hay những phút đê mê từ nụ hôn vội vàng lên má , trên môi cô bé …. Tất cả lại trở về trong ký ức, làm mềm con tim mà hắn đã tưởng rằng nó đã chai lì sau lần chia tay dưới trời mưa tầm tã của sáu năm về trước.

Rồi cũng ngẫu nhiên nhưng cũng có lẽ vì quen thuộc, khi bóng đèn đường vừa bật sáng, hắn đi vào con đường, chính là nơi ghi dấu kỷ niệm buồn chia tay của buổi tối mưa tầm tã đó. Hắn không quên, đây chỉ là con đường cụt, cuối đường có một căn nhà ngói cổ, dáng dấp một biệt thự nho nhỏ thời Pháp. Chủ nhân căn nhà cổ là một cặp vợ chồng khá đứng tuổi, cũng là chủ quán cà phê khá đơn sơ chỉ với sáu, bảy chiếc bàn thấp chân kê sát dưới mái hiên hay dưới những chòi lá đơn sơ, ẩn mình dưới những lùm cây ăn trái loà xoà trong khu vườn trước căn nhà.
Image
(Hình: Annie Spratt/Unsplash)
Đang lúc hắn lững thững bước chân, dìm mình vào hoài niệm , thình lình vài tiếng gọi đã kéo hắn trở lại với thực tại. Từ một quán giải khát bên đường, một cặp trai gái mừng rỡ, ngạc nhiên chạy đến gần hắn:

-Thầy Minh, thật ngẫu nhiên chúng em lại gặp được thầy ở đây! Mời thầy vào uống nước với chúng em….

Qua một chút ngạc nhiên ban đầu, hắn đã nhận ra họ, những sinh viên của hắn ngày xưa, khi hắn còn làm việc ở đại học. Sau vài câu thăm hỏi thông thường, cặp tình nhân cho hắn biết với vài ngày nghỉ họ cũng xuống đây thăm viếng hội chợ. Đứng nói chuyện với cặp sinh viên một lúc, hắn lấy cớ đang đến thăm gia đình người bạn ở cuối đường để từ chối lời mời rồi từ giã để tiếp tục tìm đến căn nhà cổ, nơi mà ngày xưa đã gieo vào trí nhớ hắn dấu tích của một mối tình buồn.

Căn nhà ngói vẫn vậy, mái nhà, tường vách vẫn phủ đầy rêu phong, chủ nhân căn nhà nếu không phải vì quá nghèo không có tiền để sửa sang thì phải là một người có tinh thần hoài cổ. Vẫn với những chiếc bàn gỗ thấp chân được bày biện dưới gốc cây hay trong các chòi lá hình như vừa được chỉnh trang sơ sài lại. Nếu có tí khác biệt với quán cà phê hơn sáu năm về trước, ngày nay quán đã được trang bị một dàn âm thanh rất chuẩn, không còn tiếng rè rè phát ra từ cuộn băng đã nhão nhẹt bởi thời gian của dàn máy ngày xưa nữa.

Nhìn vào chỗ hắn và cô bé ngồi ngày xưa, đã được chiếm cứ bởi một nhóm thanh niên đang ồn ào nói chuyện. Hắn đến một góc khuất dưới mái hiên căn nhà, gọi ly cà phê đen nhấm nháp, đưa mắt bâng quơ nhìn ra ngoài đường. Hắn thả lỏng trí nhớ trở về với những diễn biến của mối tình đầu đời không vui trong buổi chiều mưa tầm tã. Thỉnh thoảng hắn buông tiếng thở dài khi vài câu hát nào đó rất buồn từ chiếc loa treo dưới mái hiên diễn tả phần nào tâm tư hắn:


“Ngày tháng nào đã ra đi, khi ta còn ngồi lại. Cuộc tình nào đã ra khơi,khi ta còn mãi nơi đây… Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ. Ôi những dòng sông nhỏ, lời hẹn thề là những cơn mưa!… Đôi khi ta lắng nghe ta, nghe sóng âm u dội vào đời buốt giá… Ôi tiếng buồn rơi đều, nhìn lại mình đời đã xanh rêu!” (TCS)

Hay:

“Những chiều không có em, phố buồn nằm im bóng. Ai chờ ai đây mà bâng khuâng, nhặt lấy chiếc lá úa, tiếc thời xuân xanh, tựa chiếc lá vàng kia khi mùa thu gọi hồn.

Những chiều mây trắng bay, những chiều không có anh, người yêu ơi, còn thấy nhớ gì hay không?

Từ đây một người đành sống kiếp cô đơn, âm thầm, âm thầm như những chiều không trăng sao…” (TH)

Tiếng nhạc kéo hắn về với hoài niệm, dìm sâu cảm xúc và trí nhớ hắn vào quá khứ của một thời mơ mộng, nhưng nó đã bị phá vỡ vì những làn khói thuốc mù mịt, tiếng ồn ào, cãi nhau chí choé của một nhóm khách mới vào, ngồi quanh chiếc bàn bên cạnh hắn. Với tí chút bực mình, hắn đứng dậy, chậm rãi ra khỏi quán. Hắn đi trở ngược lại con đường vừa đi qua, rời xa dấu vết căn nhà cổ của buổi chiều mưa hơn sáu năm về trước.

Đưa tay nhìn đồng hồ, thời gian vẫn còn quá sớm, tự nhiên hắn mong có một người nào đó để nói chuyện giải khuây. Hắn chợt nhớ đến cặp trai gái sinh viên đã chặn hắn vừa qua, hắn tiếc vì đã từ chối lời mời họ. Hắn rảo bước nhanh hơn với hy vọng họ vẫn còn đó để được nói chuyện, hòa nhập với họ mà đuổi đi được nỗi buồn hoài nhớ và cô đơn đang lan tràn trong lòng hắn.

Nhưng, với vẻ thất vọng, hắn đứng lại trước quán cà phê, đưa mắt nhìn vào trong quán, chỉ còn lác đác vài người khách phì phèo điếu thuốc ngồi quanh những chiếc bàn phía trong quán . Còn chiếc bàn phía ngoài, gần lề đường nơi cặp sinh viên ngồi đã trống không. Đang tiếc rẻ cho lỡ làng, hắn sửa soạn bước đi thì một cô gái từ trong quán vội vàng đến gần hắn, với nụ cười rất thân thiện, như đã quen biết hắn từ lâu, cô ta nói với hắn:

-Thầy Minh, em đang chờ thầy để được mời thầy vào uống cà phê đây! ….

Hắn cau mày nhìn sững cô gái, tự hỏi không lẽ đây lại là một sinh viên khác mà mình không nhận ra sao? Hình như hiểu rõ thắc mắc của hắn, cô gái lắc nhẹ đầu, nhưng vẫn không tắt nụ cười duyên dáng trên khuôn mặt tươi vui, bình thản nói với hắn:

-Em không phải là học trò của thầy đâu, nhưng qua những câu chuyện của anh chị sinh viên vừa rồi, em đã biết khá nhiều về thầy, đã làm em cảm mến thầy, muốn làm quen với thầy mà thôi.


Có lẽ một phần vì đang lúc cô đơn, muốn có ai đó để trút tâm tư hay ít ra cũng làm cho bớt nỗi cô quạnh trong cái thành phố buồn hiu hắt về đêm này. Nhưng có lẽ phần lớn vẫn là hình dáng khá xinh xắn, tánh tình cởi mở dễ thân thiện của cô gái Nam bộ đã làm cho hắn vui vẻ nhận lời. Mừng vui như một đứa con nít, cô gái nhanh nhẹn kéo chiếc ghế của chiếc bàn trống không, cũng chính là nơi mà cặp sinh viên đã ngồi. Rất lễ độ, cô gái kéo ghế mời hắn ngồi. Rồi cũng chẳng cần hỏi han gì, cô gái nói rất nhẹ bên tai hắn, trước khi bước vào phía trong quán:

-Thầy chờ em tí chút, em vào pha cà phê cho thầy nhé.

Không lâu, với chiếc khay trên tay có một tách cà phê đen nóng bốc mùi thơm ngào ngạt, một đĩa bánh ngọt nho nhỏ. Rất nhuần nhuyễn, cô ta xếp tất cả lên trên mặt bàn, rồi kéo ghế ngồi đối diện với hắn. Nụ cười tươi vui hình như luôn luôn trên môi, rất tự nhiên cô gái nói với hắn:

-Ly cà phê đen rất đậm, không đường, không sữa nhưng lại cần vài chiếc bánh ngọt đúng ý của thầy đây!

Hắn giương mắt nhìn cô gái với vẻ ngạc nhiên, chưa kịp phản ứng, Cô gái đã nhỏ nhẹ, tiếng nói hình như chỉ dành riêng cho hắn nghe:

-Đó không phải là thói quen, sở thích của thầy mỗi khi uống cà phê hay sao?

Đến lúc này thì hắn không thể nào im lặng được nữa, nhìn cô gái hắn hỏi:

-Đúng là lũ sinh viên đã nói nhiều về tôi với cô rồi phải không?

Ngập ngừng tí chút, đưa mắt nhìn cô gái, với vẻ đùa vui, hắn nói tiếp:

-Nhưng tôi nói thật, tìm hiểu đàn ông quá nhiều, có lẽ không phải luôn luôn là ưu điểm lắm cho cho một người phụ nữ đâu.

Chẳng cần chú ý đến nụ cười thích thú trên môi của hắn sau câu nói đùa cợt. Cô gái liếc mắt nhìn hắn, với giọng rất nhẹ nhưng rõ ràng:

-Với đàn bà, họ tìm hiểu cái gì đó về một người đàn ông, đôi khi lại rất cần thiết, nhờ đó họ có được dịp may để gần gũi người đàn ông mà họ cảm mến, thầy Minh ạ!

Câu chuyện giữa hắn và cô gái cứ tiếp tục trong trong vui vẻ như thế, nhưng cũng làm cho hắn ngạc nhiên với những ân cần rất đặc biệt mà cô ta đã dành cho hắn, dù cô ta chỉ nghe qua vài lời tán dương của cặp sinh viên về hắn. Cũng qua những trao đổi đó, hắn biết, Yến (tên cô gái) sau khi tốt nghiệp cấp cao đẳng ngành thương mại, rồi vào làm kế toán cho một công ty của người chú họ trong tỉnh, đến nay đã được gần ba năm. Ba của cô ta đang là phó giám đốc sở bưu điện tỉnh, nhưng cũng sửa soạn hồi hưu. Căn nhà quá rộng của gia đình đã được bà mẹ mở quán cà phê và vài món ăn nhẹ để kiếm thêm thu nhập. Quán được một cô cháu ruột của bà mẹ phụ giúp việc buôn bán. Công việc của cô cháu gái là bưng đồ ăn, nước uống cho khách. Mỗi khi cô cháu bận việc không đi làm được , nhất là vào buổi chiều tối sau khi về làm, Yến thường đến quán giúp mẹ trong việc buôn bán là lúc khách đông nhất.


Ngẫu nhiên, Yến nhìn và nghe thấy lời chào gọi của cặp sinh viên khi trông thấy hắn trước quán. Rồi qua những câu chuyện họ nói về hắn, một ông thầy lãng mạn, nhiều cảm xúc với thơ văn đã làm Yến thích thú. Rồi cô ta đã hoà nhập với cặp sinh viên trong cuộc nói chuyện về hắn. Chính vì vậy thói quen uống cà phê đen, không đường rất đậm với bánh ngọt và cả đến cá tính mơ mộng trong thơ văn, khá buông thả cảm xúc trong lối sống đầy nghệ sĩ tính của hắn cũng được nhóm sinh viên nói đến khá nhiều. Những cái đó đã vô tình làm cho Yến thích thú, tò mò và muốn gần gũi với hắn. Yến biết chắc chắn hắn sẽ phải đi trở lại con đường khi trở về vì đó là con đường cụt, nên đã chú ý ngồi chờ, tìm cách kéo hắn vào quán để làm quen.

Rồi cứ thế, giữa hắn và cô gái hình như không còn ngăn cách trong cuộc trò chuyện. Cảm giác buồn đau vì hoài niệm của mối tình lỡ dở đầu tiên trong đời hắn cũng được đẩy lùi vào lãng quên, thay bằng những nụ cười vui vì những câu chuyện dí dỏm, duyên dáng của cô gái. Hắn có cảm tưởng như bị cô gái kéo theo lối dẫn chuyện có vẻ như ngây thơ nhưng thấp thoáng cái lãng mạn, dám dấn thân, không tính toán trong lãnh vực tình cảm của cô gái.

Trong cái không khí thân tình, cởi mở đó, cô gái bất thình lình hỏi hắn vì lý do nào mà hắn tìm đến con đường cụt vắng vẻ về đêm này. Thắc mắc của cô gái đã vô tình kéo hắn ra khỏi niềm vui đang có trong cuộc gặp gỡ với cô ta, hắn lại trầm mình trở lại với cuộc tình buồn hơn sáu năm về trước. Rồi với sự tò mò muốn biết của cô gái về cuộc tình buồn của hắn, hắn chẳng ngại ngần kể rất chi tiết cho cô ta nghe. Cô gái im lặng nghe hắn kể lể, thỉnh thoảng nắm nhẹ bàn tay hắn, đưa ánh mắt nhìn hắn như muốn chia xẻ nỗi buồn đau của hắn. Có lẽ vì cảm động với sự im lặng, lắng nghe rất chân tình của cô gái đã làm cho hắn thực sự sống lại với kỷ niệm, rồi thi hứng trỗi dậy, hắn làm vội bài thơ nói về mối tình dang dở, đọc cho cô gái nghe:

Em đi rồi nhưng nỗi buồn để lại
Như món quà ray rứt tặng riêng ta
Ta về đây, hôm nay sao vắng lặng
Dấu tích đây rồi, ngày xưa thân ái

Gọi ta về với ký ức xa xưa
Nhặt giùm ta lá vàng rơi thủa đó
Bản nhạc buồn, hòa trộn tiếng mưa rơi
Em có còn vui sau ngày giã biệt

Có còn thích những bài thơ ướt át
Mà vần điệu là hồn ta ghép lại
Tặng cho em làm quả buổi chia ly.

Đọc xong bài thơ tự phát, hắn buông tiếng thở dài, với dáng điệu buồn bã, uể oải, đứng dậy, nói vài câu cám ơn lấy lệ với cô gái rồi bước ra khỏi quán. Cô gái cũng đứng lên, nhưng im lặng đưa mắt dõi theo cho đến khi hắn biến mất sau khúc quanh của con đường. Với tí chút thẫn thờ cô gái nói nhỏ: “Dù thế nào thì anh ta cũng có một tình yêu đúng nghĩa! Một người đàn ông lãng mạn, đáng yêu!”

Trở về khách sạn, giòng nước mát lạnh của phòng tắm đã gội rửa đi tất cả nhưng ưu buồn trong lòng hắn. Hắn nhanh chóng trở về với dạng người dễ quên, dạng người mà hắn sở hữu hơn sáu năm về trước, sau cú sốc tình cảm trong đời hắn.

Sáng hôm sau, trong tinh thần sảng khoái, hắn đến gian hàng của mình trong khu triển lãm để tiếp nối công việc của một người điều hành. Buổi trưa, sau khi giao công việc cho vài nhân viên, hắn sửa soạn đang định rời gian hàng đi ăn trưa. Từ đám đông khách thăm quan hội chợ, Yến, cô gái có lối nói chuyện lôi kéo đã cho hắn khá nhiều ấn tượng tối hôm qua chậm rãi đi ra, đến gần hắn. Với tí chút ngạc nhiên, hắn nói với cô ta:

-Lại gặp cô! Gian hàng của chúng tôi đang chờ đợi để phục vụ cô đây.

Cô gái mỉm cười, lắc đầu nhè nhẹ, trả lời hắn:

-Em chẳng có thích thú gì để thăm quan hội chợ, em đến để gặp lại thầy, mời thầy đi ăn cơm trưa đây!

Cười thành tiếng, với giọng thích thú hắn trả lời:

-Tôi có cảm tưởng cô là người rất rộng rãi trong lãnh vực giao tế thì phải? Chưa trọn một ngày quen biết mà tôi đã hân hạnh được cô mời hai lần. Tối hôm qua và cả bây giờ nữa! Cô không thấy đang bị tôi bóc lột sao?


Cô gái có vẻ rất vui với câu trả lời của hắn, cũng lối đùa cợt, cô ta nói:

-Em không rộng rãi như thầy nghĩ đâu. Lần này em mời nhưng người trả tiền phải là thầy đó!

Nghe cô ta trả lời, hắn cười to hơn. Rất thân thiện, hắn khoác vai cô gái vừa kéo cô ta đi vừa nói :

-Thế thì quá rõ ràng và hợp lý rồi! Thôi chúng ta đi.

Sau buổi cơm trưa hôm đó, rồi lại những buổi trưa, buổi tối khác tiếp theo được lập lại, nhưng không chỉ là những bữa cơm trưa, cơm tối mà còn là những lúc hắn và Yến lang thang thăm phố xá hay ngồi quán cà phê tâm sự. Sự gần gũi, cảm mến nhau cũng vì vậy mà tiến triển, nhưng có một điều rất kỳ lạ. Cái kỳ lạ mà chính hắn cũng không lý giải được, cô gái vẫn không thay đổi chữ thầy xưng em. Hắn cũng vậy, vẫn chữ tôi và cô, quá lắm mới có chữ tôi và em. Đôi lúc hắn cũng muốn tìm cách đổi thay nhưng với cảm giác chỉ là sự quen biết tạm thời, rồi lại ra đi thì cũng chẳng cần chú ý đến những cái nho nhỏ bên lề cho phiền phức.

Hội chợ vào những ngày cuối, lại gặp buổi trời mưa nên khách thăm viếng đã có phần thưa thớt, công việc vì vậy cũng không có gì nhiều. Hôm nay hắn dặn dò công việc cho nhân viên rồi trở về khách sạn với ý định ngủ một giấc lấy lại sức bù cho những ngày bận rộn vừa qua. Sau khi tắm rửa xong, trong bộ pyjama sửa soạn đi vào giấc ngủ. Vài tiếng gõ cửa đã làm hắn bực mình, hắn nghĩ rằng lại bị làm phiền bởi người phục vụ của khách sạn. Uể oải đứng dậy, đưa tay vặn khoá cửa, đồng thời mở tung cánh cửa với dáng vẻ không vui. Nhưng ngay lúc cánh cửa mở ra đã làm hắn giật mình, sững người khi nhìn thấy người đứng trước cửa không phải là nhân viên khách sạn mà là Yến. Cô gái mới quen mấy ngày qua nhưng đã cho hắn khá nhiều ấn tượng.

Sự xuất hiện của Yến ra ngoài dự đoán đã làm hắn ngẩn ngơ, không kịp có phản ứng, ngoài việc im lặng giương mắt nhìn. Hình như cảm nhận được phản ứng bối rối của hắn, cô gái mỉm cười nói rất nhẹ:

-Thầy không muốn mời em vào phòng sao?!

Câu nói của cô gái đã giúp hắn lấy lại bình thản, nói vài câu chào hỏi xã giao, không quên xin lỗi cái luộm thuộm của trang phục và phòng ốc trước khi hắn kéo chiếc ghế ra mời cô gái. Ngồi xuống ghế, cô gái đưa mắt nhìn bao quát căn phòng, với dáng điệu không cần giấu giếm tình cảm hiện rõ trên khuôn mặt, cô ta nói như thủ thỉ với hắn:

-Có lẽ việc em đường đột vào phòng riêng của thầy ban đêm đã làm cho thầy khó chịu phải không ?

Bình tĩnh đã trở lại, không với vẻ buông đùa, hắn trả lời cô gái:

-Khó chịu thì hoàn toàn không, nhưng tôi nói rất thật, làm như vậy là điều không nên, nó quá đường đột, chỉ không tốt cho cô mà thôi!


Im lặng tí chút, hắn nói tiếp:

-Yến, em nên nhìn rất rõ vào sự kiện thực tế, thế nào thì chỉ còn ba ngày nữa, khi khu hội chợ chấm dứt anh sẽ rời xa đây. Tất cả đều bình lặng chấm dứt thì việc em đến đây vào phòng của anh là điều bất lợi, không tốt cho em đâu.

Cô gái đứng dậy, đưa ngón tay che sát vào miệng hắn, như muốn hắn đừng nói thêm. Tay bên kia vòng ra sau lưng hắn, kéo nhẹ hắn vào sát ngực, cô ta nói rất khẽ:

-Thầy đừng thay đổi xưng danh với em như vậy, Em cũng thế, chữ thầy và em sẽ mãi mãi được hiện diện trong giao tiếp của em và thầy. Em sẽ giữ mãi xưng danh này dù ở bất cứ trạng huống nào trong tình cảm của chúng ta.

Hắn ngỡ ngàng không hiểu. Có lẽ cô gái nhìn thấy sự thắc mắc trong ánh mắt, trong thái độ của hắn. Cô ta nói tiếp:

-Sau khi Hội chợ kết thúc thầy về lại Sài Gòn, em chẳng có lý do gì để giữ thầy ở lại, dù em rất muốn! Nói rất thật lòng, dù giữ được, em cũng chẳng muốn giữ thầy ở lại. Còn em cũng chẳng có lý do gì để phải rời xa nơi đây. Chính vì nghĩ như vậy, thì tại sao em và thầy phải thay đổi lối xưng danh cho vô ích. Hãy gọi nhau như vậy, không biết với thầy ra sao? Nhưng với em, dù chẳng phải là học trò của thầy, nhưng em vẫn cảm nhận được cái gì rất đẹp, rất nên thơ và lãng mạn trong con tim và cảm xúc của em khi em và thầy vẫn giữ lối xưng hô đó.

Hắn vẫn im lặng, đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Sự lãng mạn của cô gái đã ra khỏi suy nghĩ và tưởng tượng của hắn. Lòng hắn chùng lại, hắn cũng vòng tay ôm lấy cô gái, nói rất nhỏ bên tai cô ta (hắn trở lại với vai vế người thầy!) :

-Tôi không ngờ em đối với tôi đặc biệt như vậy, nhưng chỉ với mấy ngày quen biết có lẽ tôi và em nên nên suy nghĩ nhiều hơn. Tình cảm vẫn là những cái rất mù mờ dễ làm người ta ngộ nhận, theo tôi thì bất cứ sai lầm nào, người phụ nữ vẫn là người chịu thiệt thòi nhất.

Cô gái âu yếm ép sát đầu vào ngực hắn, nói rất nhỏ như chỉ muốn chỉ con tim của hắn nghe:


-Thầy Minh, thầy có thể nghĩ em vội vàng, quá đường đột khi nói yêu thầy. Nhưng em biết chắc chắn em không sai lầm.

-Nhưng em có biết chỉ vài ngày nữa tôi sẽ rời xa em không ?…

Không để cho hắn nói tiếp, cô gái cắt ngang:

-Em đã nói với thầy rồi chuyện thầy ra đi, em ở lại, là điều rất thật và rất rõ ràng. Chẳng có điều kiện nào để gò bó giữa em và thầy trong tương lai cả. Điều rất dễ hiểu là em yêu thầy, dù chỉ là tình yêu đơn phương, một hướng. Yêu thầy dù biết là sẽ xa thầy.

Đưa tay nâng đầu cô gái lên, hắn nhỏ nhẹ:

-Như vậy không thiệt thòi cho em lắm sao?! Hãy nhìn vào thực tế, Yến ạ. Tôi là người chẳng có gì để cho em đặt niềm tin cho tương lai đâu!

-Tại sao thầy cứ nói đến mất mát trong tình yêu nhỉ? Người ta có thể chung sống với người mình yêu trong vài ngày, trong một buổi hay trong chốc lát vẫn còn hạnh phúc hơn là đem cả cuộc đời mình cho nghĩa vợ chồng một cách vô vị! Đôi khi còn khốn khổ nữa là khác. Hãy nhìn chung quanh biết bao nhiêu bà vợ đóng vai trò của một tên nô lệ, một con bé ô sin.

Rướn người lên, Yến đặt nụ hôn trên môi của hắn, rồi nói tiếp:

-Em ở lại đây với thầy hôm nay, ngày mai và cả ngày cuối cùng. Rồi em sẽ tiễn thầy ra đi, không có gì để thầy phải băn khoăn, ngại ngần cả. Xin đừng từ chối một người yêu mến thầy! Mối tình chỉ vội vàng, thoáng qua nhưng rất chân thành, chẳng có gì để em tính toán từ thầy cả.

Ngày hôm đó cũng như hai ngày cuối cùng của hội trợ, ngoài thời gian dành cho công việc, hắn và cô gái gần gũi nhau đúng nghĩa một cặp tình nhân thân thiết. Buổi sáng của đêm cuối cùng, hắn dự tính sau khi thức dậy sẽ cùng với cô gái dẫn nhau đi ăn sáng trước khi từ giã để hắn theo xe của công ty trở lại Sài Gòn. Nhưng khi thức dậy hắn cảm thấy vẻ im lắng trong phòng như có gì khác thường. Trên mặt chiếc bàn ngủ thấp lè xè cạnh giường, ngay tầm mắt của hắn, một lá thư xếp gọn ghẽ đặt dưới chiếc bút bi. Chẳng cần suy nghĩ, hắn biết là cô gái đã lẳng lặng rời xa hắn rồi. Với chút thẫn thờ vì hắn biết rằng hắn lại có thêm một cuộc tình đến và đi trong đời hắn. Cảm giác buồn thấm nhẹ trong lòng hắn, hắn vẫn nằm trên giường, nhắm mắt tưởng nhớ đến những ngọt bùi thoáng qua và cũng muốn dành một khoảnh khắc yên lặng để thay lời tiễn đưa một bóng dáng, một người đã gửi trọn yêu đương cho hắn. Dù chỉ là một thoáng qua nhưng hình như bóng hình đó chắc chắn đã ghi đậm vào tâm tư hắn những dấu ấn rất đẹp. Một lúc sau, buông tiếng thở dài hắn cầm lá thư lên đọc:

Thành phố …. ngày….. tháng …… năm……..

Thầy yêu mến,

Thế là chúng ta đã xa nhau rồi! Thật hạnh phúc cho những ngày mộng mơ vừa qua, nhưng cũng thật buồn đau cho lúc giã biệt mà chẳng biết bao giờ em và thầy gặp lại nhau. Chỉ vài tiếng đồng hồ nữa thầy sẽ ra đi, còn em sẽ ở lại để gìn giữ những dấu tích của những ngày qua đẹp đẽ, hoan lạc của đời em.

Thầy yêu mến của em, cám ơn thầy đã cho em biết thế nào là cảm giác yêu đương. Dù rất ngắn ngủi, chỉ với khoảng một tuần lễ bên nhau nhưng em đã tìm được niềm mơ ước của trái tim mình. Em không và cũng sẽ chẳng bao giờ hối hận vì đã yêu thầy, mặc dù em có chút linh cảm đó chỉ là tình cảm đơn phương. Chính lúc ngồi viết những dòng thư cuối cùng này em vẫn còn giữ nguyên vẹn những cảm xúc tuyệt vời của những giây phút bên thầy. Em sẽ không bao giờ quên, sẽ mang nó mãi mãi như là một kỷ niệm tuyệt đẹp của đời em. Với em (dù chỉ là một tuần lễ yêu đương) thế cũng quá đủ cho một tình yêu mà em từng nuôi trong mộng mị.


Trong tương lai, dù vài tháng, vài năm hay hàng chục năm sau… bất cứ khi nào dù chỉ là giây phút thoáng qua mà thầy nhớ đến em. Nhớ đến cuộc tình nhỏ bé (nhưng với em nó lại là vĩ đại ) này, thầy hãy trở lại nơi đây, nơi mà em luôn luôn hiện diện, mong chờ thầy. Em sẽ đón thầy với tất cả tâm hồn của một người yêu đợi chờ một người yêu. Em sẽ không bao giờ rời xa căn nhà kỷ niệm, nơi đó em đã gặp thầy đầu tiên. Chính lần gặp gỡ đó em đã nghe được tiếng nói rất thật và lãng mạn của lòng em. Em đã tìm được tình yêu của đời mình, em đã yêu thầy, nhưng vì lý do nào đó nên em phải xa thầy!

Thôi, viết thế nào thì chúng ta cũng phải xa nhau. Em luôn luôn dành cho thầy những lời nguyện cầu tốt đẹp nhất.

(Yến)

PS-Chắc có lẽ thầy hiểu được lý do tại sao em phải viết lá thư này, bởi vì em không có đủ can đảm và nghị lực để đón nhận cảm xúc đau buồn lúc chia ly.

Image
(Hình minh họa: Aaron Burden/Unsplash)
Hắn trở lại Sài Gòn trong buổi chiều mưa rơi lất phất, nhưng đường phố vẫn náo nhiệt, đầy xe cộ và con người. Sài Gòn là thế, dù mưa hay nắng, dù buổi sáng tinh mơ hay đêm hôm khuya khoắt, vẫn có những người gò lưng kiếm sống bên cạnh người khác vô tư ăn uống, vui chơi. Chính cái xô bồ, đối chọi đó giúp người sống ở Saigon dễ dàng quên lãng hay không còn thời gian để nhớ những gì đã qua, dù là niềm vui hay nỗi buồn. Hắn cũng vậy không có gì là ngoại trừ cả! Trở lại Saigon hắn cũng phải phải đâm đầu vào công việc, bận rộn… Thời gian và việc làm không dành cho hắn khoảng trống để suy tư, mơ mộng. Chỉ vài ngày sau hắn gần như quên tất cả những chuyện vừa xảy ra ở cái thành phố nhỏ bé, miền sông nước Cửu Long mà hắn vừa từ đó trở về. Hắn trở lại với con người bình thản, không muốn lôi kéo vào những chuyện phiền phức mà hắn nghĩ rằng không cần thiết hay có thể tránh xa để khỏi bực mình.

Nhờ thành công trong cuộc hội trợ, mấy tháng sau công ty mở thêm chi nhánh ở Hà Nội. Là dân Hà Nội gốc cũng như có đủ năng lực nên hắn được đề cử làm giám đốc. Bố mẹ hắn thấy con trai đã có sự nghiệp chắc chắn nên nhờ một ông chú họ mai mối cho hắn với một phụ nữ xinh đẹp gốc Hà Nội. Ban đầu hắn có ý không bằng lòng với cái trò kiếm vợ cổ lỗ sĩ đó, nhưng với sự o ép của cha mẹ cũng như chính hắn cũng cảm thấy chán nản kiếp lông bông. Cuối cùng rồi đâu cũng vào đó, vợ hắn là nhân viên đại diện cho một công ty dược phẩm quốc tế tại Hà Nội, đầy đủ điều kiện đẹp, sang của một phụ nữ Hà thành. Rồi hai đứa con tiếp theo ra đời, cuộc sống cũng như con đường sự nghiệp của vợ chồng hắn được coi như khá lý tưởng trong xã hội về mọi mặt.

Hai mươi lăm năm lặng lẽ trôi qua, tuổi hắn đã vượt quá sáu mươi, mái tóc đã nhuộm bạc gần hết, hắn đã thực sự là một ông già đang hưu trí. Vợ của hắn trẻ hơn vài tuổi nhưng cũng sửa soạn ngơi nghỉ vào cuối năm. Đứa con trai sau khi tốt nghiệp đại học với khoảng 2 năm làm việc đã có vị trí khá tốt trong ngân hàng quốc doanh ngay trung tâm thủ đô. Đứa con gái cũng vừa hoàn tất chuyên ngành báo chí, đang bận rộn với công việc trong một tòa báo kinh tế, tài chánh.

Một buổi cuối tuần, khi thu dọn chồng sách báo, giấy tờ ngày xưa, ngẫu nhiên hắn thấy lá thư của Yến, người con gái miền Nam đã đi qua cuộc đời trai trẻ của hắn như một cơn gió mát mẻ thoáng qua với nhiều cảm xúc. Lá thư đã kéo hắn trở lại với dĩ vãng, dĩ vãng của một cuộc tình gần 30 năm về trước, đã cho hắn khá nhiều suy tư sau buổi chia tay. Nhưng vì bận rộn với công việc và nghĩ rằng đó cũng chỉ là một dạng tình cảm thoáng qua trong cuộc đời của một đứa con trai nên hắn đã cho vào quên lãng.

Hôm nay, ngẫu nhiên mà đọc lại lá thư, hoài nhớ lại vẻ chân tình, lời nói lãng mạn của cô gái đã một lần làm cho hắn phải lịm người vì cảm động. Tự nhiên hắn có cảm tưởng lời lẽ viết trong lá thư là một sự hứa hẹn chân thành, đầy quyết liệt của một người thực sự yêu thương hắn. Dù biết là thời gian đã quá lâu, 30 năm rồi! Nhưng hắn nghĩ nên có một sự đền bồi, dù sự đền bồi đó chỉ bằng cuộc viếng thăm, gặp lại như một sự tưởng nhớ đến một cố nhân.


Vài ngày sau, hắn đến thành phố miền Nam xa xôi đó. Gần 30 năm thành phố đổi khác rất nhiều, không còn là thành phố nhỏ bé, quê mùa ngày xưa nữa. Những con đường rộng rãi khang trang, những căn nhà cao tầng chen nhau trong các khu phố buôn bán sầm uất. Nhưng dù thay đổi thế nào cũng không làm cho hắn phải khó khăn khi muốn tìm lại căn nhà xưa.

Hắn thẫn thờ đứng trước nơi chốn xa xưa, vẫn là một quán cà phê, nhưng hoàn toàn không có vẻ nhếch nhác luộm thuộm của cái quán hơn 25 năm về trước. Phía trên cổng quán, treo một tấm bảng màu xanh lá mạ hình chữ nhật, viết tên quán với dạng chữ thảo “Cafe ĐỢI CHỜ”. Ý nghĩa của tên quán đã cho hắn một cảm giác là lạ, hình như nói lên cái gì đó chứa đựng sự lãng mạn, thuỷ chung bên trong. Chiếc vườn rộng và dài phía trước của quán dù có bị thu ngắn lại do con đường lộ được mở rộng, nhưng vẫn có đủ không gian kê mấy chiếc bàn thấp chân dưới gốc cây trong vườn, dành cho khách vào những buổi trời nắng ráo. Sau cái vườn là căn nhà 2 tầng mới xây theo kiểu biệt thự nhỏ với cái hiên nhà khá rộng. Tầng trệt dùng toàn vẹn cho việc kinh doanh. Khoảng một phần ba phía sau của tầng trệt dành cho chỗ để pha chế đồ ăn, thức uống cho khách. Ngay bên góc phải là quầy trả tiền, trên mặt quầy chỉ có một chiếc đèn nhỏ ánh sáng chiếu thẳng, quy tụ vào mặt bàn, còn lại không gian chung quanh rất mờ ảo.

Chính vì vậy dù hắn đứng bên ngoài, cố ý đưa mắt quan sát bên trong nhà nhưng cũng chỉ nhìn thấy mù mờ. Hình như ở phía sau, gần quầy thâu tiền có vài ba người đang chăm chỉ sửa soạn thức uống, đồ ăn cho khách. Trong đó có một thiếu phụ khá đứng tuổi, trang phục sang trọng ra vẻ là người chủ của quán.

Hắn có ý định tìm một bàn nào đó gần với chỗ quầy trả tiền, nhưng thấy khói thuốc lá mù mịt phía bên trong căn nhà nên đành tìm một chỗ ở ngoài hiên. Ngồi quay mặt ra bên ngoài, mắt nhìn bâng quơ theo dõi những hoạt cảnh sống động trên con đường trước cửa quán. Hắn thả lỏng tâm hồn để cảm xúc hòa quyện với những bài hát lãng mạn nhè nhẹ từ vài chiếc loa đính trên trần nhà vọng xuống:

Tình ngỡ đã quên đi, như lòng cố lạnh lùng. Người ngỡ đã xa xăm, bỗng về quá thênh thang. Ôi áo xưa lồng lộng, đã xô dạt trời chiều, như từng cơn gió lộng, xót một ngày đìu hiu.

Tình ngỡ chết trong nhau, nhưng tình vẫn rộn ràng. Người ngỡ đã quên lâu, nhưng người vẫn bâng khuâng… Khi cơn đau chưa dài, thì tình như chút nắng. Khi cơn đau lên đầy thì tình đã mênh mông.

Người ngỡ đã xa xưa, nhưng người bỗng lại về. Tình ngỡ sóng xa đưa, nhưng còn quá bao la. Ôi trái tim phiền muộn, đã vui lại một giờ như bờ xa nước cạn, đã chìm vào cơn mưa. (TCS)

Với chỗ ngồi khá xa, dưới ánh đèn mù mờ, tâm hồn hắn như lại bay bổng cùng âm thanh, lời hát của những bản nhạc tình yêu ướt át. Hắn làm sao có thể hình dung ra, phía bên trong, ngay nơi quầy trả tiền, người thiếu phụ sang trọng, đứng tuổi đã nhìn thấy hắn dưới ánh đèn, ngay từ lúc hắn ngơ ngẩn trước quán, rồi lúc hắn tỏ vẻ xúc động khi nhìn thấy tấm bảng tên quán. Cũng chẳng khác gì hắn, người thiếu phụ đó mở to đôi mắt, rướn cao người lên để xác nhận rõ ràng thị giác của mình. Bà ta ấp đôi bàn tay vào lồng ngực như muốn chấn áp sự hồi hộp khi nhìn thấy sự xuất hiện bất thình lình của hắn. Sau khoảnh khắc xúc động đó, hình như bà ta đã lấy lại được sự bình thản, đưa tay vẫy một cô gái trong nhóm người phục vụ của quán đến gần. Ghé sát vào tai cô gái, chỉ tay về hướng hắn đang ngồi, người phụ nữ với vẻ quan trọng và kín đáo nói khá lâu với cô gái điều gì đó. Ngay vài câu nói đầu tiên của người thiếu phụ đã làm cô gái sững sờ, ngước mắt nhìn bà ta. Nhưng sau đó cô gái luôn luôn gật đầu hay im lặng ra vẻ thông hiểu và đồng ý với những lời chỉ dẫn của bà ta.


Ngoài hiên căn nhà, hắn vẫn dìm mình vào suy tư, tưởng nhớ đến một lần thoáng qua đẹp đẽ trong đời hắn, hắn hoàn toàn không biết gì đến chung quanh. Cho đến một lúc, cô gái với chiếc khay trên tay, trên đó một tách cà phê đen đậm, tỏa khói nghi ngút cùng với một đĩa nhỏ đựng vài chiếc bánh ngọt. Cô gái tiến đến chỗ hắn ngồi, rất chậm chạp, yên lặng cô ta đặt tách cà phê và đĩa bánh ngọt lên trên bàn, gần ngay tầm tay của hắn rồi nói rất nhỏ như chỉ đủ cho hắn nghe:

-Thầy Minh, ly cà phê đen đậm không đường và đĩa bánh ngọt dành riêng cho thầy đây!

Hành động của cô gái đã kéo hắn ra khỏi cơn mê. Với vẻ ngạc nhiên tột cùng, hắn chưa kịp phản ứng thì cô gái nói tiếp:

-Chắc thầy còn nhớ dì của con. Dì Yến, người đã một lần yêu thương thầy trong mấy chục năm về trước….

Quá khích động, không để cho cô gái nói hết lời, hắn cắt ngang:

-Yến dạo này ra sao? Hiện nay cô ta ở đâu ? Chú đến đây cũng chỉ vì mong muốn được gặp lại Yến…..

Hình như nhìn tận mắt xúc cảm tột của hắn thể hiện trên khuôn mặt cùng với những câu hỏi dồn dập của hắn đã làm cho cô gái xúc động. Cô ta đờ đẫn nhìn hắn, với dáng điệu rất thân thiết. Hơi run run cô ta đưa tay nắm nhẹ lấy vai hắn với âm thanh gãy khúc, ngập ngừng cô gái nói với hắn:

-Từ ngày xa thầy, dì Yến của con đã nghỉ việc làm ở công ty để trông coi quán cà phê kỷ niệm này. Với tên quán là “Đợi Chờ” ý nghĩa là dì con luôn luôn tưởng nhớ đến thầy, mong ước thầy cũng nhớ đến dì mà đến thăm. Nhưng dì con đã chờ mong trong vô vọng, mấy mươi năm qua rồi, không một lần thầy đến thăm đã làm cho dì Yến thất vọng, buồn đau. Vì không thể chờ đợi thêm được nữa, lại thêm sức khoẻ không tốt nên dì đã chuyển lại quán này cho mẹ con. Với điều kiện là mẹ con không thay đổi tên quán và phải hứa là sẽ thay thế dì chờ đợi thầy như dì đã hứa với thầy xa xưa, cũng không được nói với thầy biết về nơi ở, tình trạng sống của dì.

Cô gái đã kể cho hắn nghe nhiều hơn về người dì đã chọn lựa sự cô đơn, luôn luôn nghĩ và sống với kỷ niệm của vài ngày hoan lạc sống bên hắn. Mấy chục năm qua một lòng chờ đợi hắn đến thăm, dù chỉ đến thăm thoáng qua một lần. Hắn cũng kể lể tất cả cho cô gái nghe về những thay đổi trong đời hắn trong mấy chục năm vừa qua. Cuối cùng với giọng nói ân hận hắn nói:

-Cuộc sống kỹ nghệ, những va chạm, ganh đua trong xã hội đã làm bản chất của chú bị che khuất! Chú đã mất đi cái tinh tế nhận thức trong tình cảm, để rồi không phân biệt được đâu là chân thật, đâu là giả dối! Chính với sai lầm đó chú đã không nhìn thấy giá trị đích thực của tình yêu sâu nặng mà dì của cháu đã dành cho chú. Nhưng tất cả đã muộn màng, đã lặng im đi vào quá khứ rồi! Chú biết làm gì đây khi nhìn thấy lỗi lầm của mình thì đã quá muộn.


Cô gái im lặng ngồi nghe hắn giải bầy, thỉnh thoảng cô ta quay mặt đi nơi khác, làm ra vẻ tự nhiên đưa tay vuốt mái tóc không gọn ghẽ, loà xoà trên trán. Nhưng thật ra cô ta chỉ muốn kín đáo xoá chùi đi những giọt lệ lăn dài trên gò má của mình.

Sau một lúc kể lể cho nhau nghe, tâm sự như đã được trải bầy, hắn và cả cô gái đã tìm được ít nhiều bình thản. Không gian im lặng lại trở về với hắn và cô gái. Hắn lại dìm mình vào suy nghĩ, cô gái hình như không muốn phá vỡ tư tưởng của hắn nên im lặng đi vào phía quầy trả tiền. Nơi đó người thiếu phụ đứng tuổi vẫn kín đáo dõi theo cuộc nói chuyện giữa cô gái và hắn. Dù không nghe được nhưng bà ta cũng đoán được khá nhiều nội dung cuộc trò chuyện giữa cô gái và hắn, nhờ vậy chỉ vài câu tóm lược của cô gái đã làm bà ta hiểu rất rõ vấn đề. Nước mắt dàn dụa trên hai gò má, cô gái ôm lấy người thiếu phụ với vẻ thiết tha:

-Mẹ, tại sao mẹ không ra gặp ba? Mấy chục năm rồi con và mẹ đã sống để mong đợi có ngày hôm nay, tại sao mẹ lại không cho con gặp gỡ ba. Không phải nhiều lần mẹ từng nói với con, sẽ có một lần nào đó ba sẽ tìm đến gặp mẹ con ta và chúng ta sẽ trùng phùng trong hạnh phúc. Con sẽ không bao giờ là đứa con không có cha nữa.

Bà mẹ run lên vì xúc động, khi nghe cô con gái nói. Choàng tay, ôm gì lấy con gái, trong nước mắt bà ta nói:

-Con ơi, hãy thương, hiểu cho mẹ và cũng tha thứ cho mẹ hơn! Chẳng có người mẹ nào lại không muốn con mình gặp được cha. Chẳng có một người đàn bà nào mấy mươi năm sống trong cô đơn, đợi chờ, trông mong người mình yêu thương, nhưng khi có dịp, lại tìm cách trốn lánh cuộc trùng phùng ! Nhưng con ơi, con hãy nhìn vào thực tế, hãy đoán ra những gì sẽ xảy ra cho con, cho mẹ và cả cho ba của con nữa! Hạnh phúc gia đình của ba con hiện nay, có nên vì mẹ con ta mà vỡ bể hay không ? Rồi với những lo lắng, trách nhiệm và lộn xộn trong cuộc sống ở tuổi già như ba con hiện nay không phải là điều nên có. Sự yên bình trong cuộc sống của mẹ con chúng ta hiện nay cũng không nên vì vội vàng, thiếu suy nghĩ để phải rơi vào xáo trộn.

Âu yếm vuốt tóc cô con gái bà mẹ nói tiếp:

-Hãy chờ đợi để không gây ra những phiền não con ạ. Hãy biết nhận cái gì và hãy biết vị trí nào để đạt được cái tốt nhất cho tất cả. Kể cả cho hạnh phúc gia đình của ba con nữa. Theo mẹ nghĩ dù hôm nay ba con không biết gì về con, về mẹ. Nhưng với người có suy nghĩ và rất nhạy cảm như ba con, chắc chắn ba con sẽ nhận biết được sự thật ở một mức nào đó. Với cái mức giới hạn đó đủ để cho mọi người hạnh phúc rồi con ạ , vấn đề chỉ sớm hay muộn mà thôi ba con sẽ hiểu rõ tất cả mà thôi.

Nâng mặt cô con gái lên, bà mẹ đẩy nhẹ người con và nói :

-Con hãy ra gần gũi với ba con đi! Mẹ nghĩ rằng con sẽ nhận thấy những lời nói của mẹ là đúng.

Miệng bà mẹ mỉm cười, nụ cười rạng rỡ như đem bà ta trở về với phút giây hạnh phúc ngày xưa. Bà ta nói với con gái trước khi cô ta rời vòng tay của bà ta:


-Mẹ biết chắc chắn như vậy chỉ vì mẹ đã yêu và cũng rất hiểu trái tim của ba con.

Cô gái im lặng đến gần hắn, nhẹ nhàng kéo chiếc ghế ngồi xuống sát vào hắn, thân thiện đưa tay nắm lấy cánh tay của hắn rồi ngước đôi mắt đẫm lệ lên nhìn khuôn mặt hơi nhăn nheo, mái tóc hoa râm của hắn. Cặp mắt hắn rất buồn, nhìn bâng quơ không chủ đích hướng ra phía bên ngoài quán… Những cái đó cho cô ta biết rằng đó là hình ảnh một ông già đang khởi đầu mệt mỏi với sinh nhai và muốn ngơi nghỉ.

Cô gái tự nhiên cảm thấy thương yêu người cha mà bao nhiêu năm cô ta chỉ được nhìn thấy trong tưởng tượng qua những lời tâm sự, kể lể của bà mẹ. Với cảm xúc thương yêu tột cùng đó, cô gái run lên và phát ra tiếng khóc. Hành động thân tình và tiếng khóc của cô ta đã kéo hắn ra khỏi suy tư, quay mặt lại nhìn cô gái với vẻ ngạc nhiên. Có chút bàng hoàng hắn hỏi:

-Tại sao cháu khóc? Có phải những tâm sự không vui của chú đã làm cháu cảm động quá mà đau lòng không? Thôi, cho chú xin lỗi đã vô tình làm cho cháu buồn ….

Cô gái vội vàng ngắt lời hắn:

-Không, hoàn toàn không phải thế! Cháu khóc chỉ vì cháu thương dì Yến của cháu và cả chú nữa. Cháu chợt có một ước mơ, ngày nào đó chú lại xuống nơi đây, đúng lúc dì Yến cũng đến đây và hai người lại gặp nhau. Cháu lại được hàng ngày pha cà phê đen đậm đặc cho chú uống! Cháu lại được ngồi bên chú để nghe chú nói chuyện…

Cô gái nói một thôi, toàn là những ước mơ, những hình ảnh hạnh phúc mà hắn cũng đang vẽ ra trong con tim và tưởng tượng của hắn. Cuối cùng hắn đưa tay ôm nhẹ lấy vai cô gái, với lời nói chân tình, hắn nói:

-Chú hứa chắc chắn với cháu, chú sẽ xuống đây nhiều hơn thăm cháu và cũng mong có được dịp gặp lại dì Yến của cháu. Chú sẽ coi cháu thân thiết như một đứa con của chú. Chú rất sung sướng được đón chờ cháu đến thăm Hà nội. Chắc chắn cháu sẽ là người bạn rất thân thiết với hai đứa con của chú và của cả gia đình chú.

Nói xong hắn chuyển mắt nhìn vào phía bên trong quán, không còn một người khách. Đưa tay lên xem đồng hồ hắn mới biết trời đã về khuya. Có tí chút ngượng ngùng vì biết mình là người khách cuối cùng của quán. Hắn nói vài câu xin lỗi với cô gái rồi đứng dậy chuẩn bị ra khỏi quán, cô gái im lặng cũng đứng dậy nhìn vẻ chậm chạp có chút mệt mỏi của hắn, cô nói nhẹ:


-Chú đừng quên lời hứa, nếu có dịp chú hãy xuống đây! Cháu và dì Yến luôn luôn mong chờ để gặp lại chú.

-Chắc chắn chú sẽ không sai lời hứa, chú không lầm lỗi nữa. Người ta chỉ lấy cái đúng để sửa cái sai, chẳng bao giờ hai cái sai thành một cái đúng cả!

Nói xong hắn chậm rãi bước ra khỏi quán. Cô gái thẫn thờ đứng nhìn theo dáng dấp lù khù, đôi chân như dò dẫm khi chuyển động của hắn cho đến khi hắn biến mất sau khúc quanh bên ngoài chiếc cổng quán. Cũng lúc đó cô ta nghe thấy tiếng thở dài ngay sát sau lưng mình. Chẳng cần ngoái nhìn lại cô ta cũng biết đó là mẹ của mình. Bà cũng đang buồn bã dõi theo bóng dáng của người đàn ông mà bà đã bao năm thương nhớ, chờ mong. Cô gái ngước mắt nhìn mẹ, rồi nói nhẹ:

-Mẹ, con cảm thấy thấy thương ba quá ! Chẳng biết ba có xuống đây gặp lại mẹ con mình nữa hay không?

-Con đừng lo, ba của con không thất hứa với con đâu! Mẹ đoan chắc với con như vậy. Hơn nữa ai có thể cấm đoán con lên Hà nội gặp ba con, dù gặp nhau trong tư thế đứa con nuôi hay đứa cháu gái?

Còn hắn, tương lai không biết ra sao, hắn có sáng suốt để nhìn thấy sự thật cô gái mà hắn tâm sự vừa qua chính là đứa con gái của hắn hay không? Nhưng hiện tại, chắc hắn hoàn toàn mù tịt về thân phận của người thiếu phụ đứng dưới ánh đèn mờ ảo sau quầy tính tiền chính là mẹ của cô gái, đó là người con gái tên Yến đã đến với hắn 30 năm về trước. Người con gái yêu hắn đã cho hắn tất cả, chỉ mong được một vài ngày gần gũi hắn, người đàn bà đó chính là người thiếu phụ đứng dưới ánh đèn.

Thêm một điều khác nữa, hắn chẳng thế nào hình dung ra được, đó là cô gái có cái tên “Phạm Trần Ái Minh” Với cái tên này, dù hắn có là kẻ ngu ngơ cũng đoán biết được sự thật! Phạm là họ mẹ, Trần là họ của hắn, còn Ái Minh ý nghĩa của yêu thương dành cho hắn.

(Viết lại Zurich, Mai 2024 )

 
lilac2010
Posts: 103
Joined: Sun Mar 21, 2010 10:45 pm
Contact:

Re: Văn Nghệ Văn Gừng

Post by lilac2010 »

Image

Quả Của Vợ Tôi
The Fruit of My Woman.
Tác Giả Han Kang.
Bản Anh Ngữ: Deborah Smith.


Giải Nobel Văn học năm 2024 đã được trao cho Han Kang, một tác giả người Nam Hàn, vì "văn xuôi thơ mãnh liệt đối mặt với những chấn thương lịch sử và phơi bày sự mong manh của cuộc sống con người".

Han Kang sinh ra tại Gwangju, Nam Hàn, cô chuyển đến Seoul khi mới mười tuổi. Cô học văn học tại Đại học Yonsei. Các tác phẩm của cô đã giành được Giải thưởng Văn học Yi Sang, Giải thưởng Nghệ sĩ trẻ ngày nay và Giải thưởng Tiểu thuyết Văn học Nam Hàn. The Vegetarian, tiểu thuyết đầu tiên của cô được dịch sang tiếng Anh, Portobello Books xuất bản năm 2015 và giành Giải thưởng Man Booker Quốc tế năm 2016. Cô sống tại Seoul.

“Quả Của Vợ Tôi”, Han Kang viết câu chuyện này vào năm 1997, cũng là tiền thân trực tiếp cho cuốn tiểu thuyết The Vegetarian năm 2007 – trong cả hai tác phẩm, một cặp vợ chồng ở độ tuổi đầu ba mươi thấy cuộc sống vốn bình lặng bị xáo trộn khi người vợ biến dạng thân thể. 

Trong khi The Vegetarian tránh xa bất cứ điều gì siêu nhiên, – mong muốn biến thành một cái cây của Yeong-hye được những người xung quanh coi là triệu chứng bệnh tâm thần – nhân vật chính vô danh của 'The Fruit of My Woman' thực sự đã trở thành một loài thực vật: lá, quả và tất cả.

Trong khi The Vegetarian mượn sức mạnh tuyệt đối của các yếu tố phổ quát - bạo lực, ham muốn, nghệ thuật - thì 'The Fruit of My Woman' sử dụng cùng một tiền đề để đưa ra lời phê bình sắc thái và đa chiều về bối cảnh xã hội của nó. Mặc dù người chồng là một nhân vật dễ mến hơn nhiều so với ông Cheong của The Vegetarian, ông vẫn phản ánh những chuẩn mực giới tính gây tổn hại, bác bỏ khao khát của vợ mình về một cuộc sống khác như một chủ nghĩa lý tưởng lãng mạn, điển hình là nữ tính, trong khi tự hào về những gì ông coi là chủ nghĩa hiện thực vững chắc của riêng mình. 
Thiên nhiên với tất cả sự màu mỡ đẹp đẽ hiện diện khắp mọi nơi trong câu chuyện, làm nổi bật cả không gian căn hộ kín mít, vô trùng - và tình trạng không có con của cặp đôi. Ngôn ngữ nói lên phong cách khác biệt đáng kể so với phong cách của The Vegetarian – ở đây, những câu dài hơn, hoa mỹ hơn một chút được mở ra như những chiếc lá nhiều nhánh, chất đầy những phép so sánh và những phép so sánh tượng hình khác. Như thường lệ với tác phẩm của Han, đây là một thử thách thú vị khi dịch, và tôi hy vọng mình đã làm được điều đó. (Deborah Smith, trích.)

Quả Của Vợ Tôi

1.
Lần đầu tiên nhìn thấy vết bầm tím trên cơ thể vợ tôi vào cuối tháng Năm. Lúc đó, những tử đinh hương trong luống hoa cạnh văn phòng người gác cổng lè những cánh hoa như những chiếc lưỡi bị cắt đứt, những phiến đá lát đường vào trung tâm dành cho người cao tuổi bị đóng cục bởi bông hoa màu trắng đang thối rữa, bị những người đi qua giẫm đạp.
Mặt trời lên gần đến đỉnh trưa.
Ánh nắng màu thịt đào chín chảy xuống sàn phòng khách, rơi xuống vô số bụi và phấn hoa. Ánh nắng ấm áp, ngọt ngào đến phát bệnh đó tràn vào lưng áo vest trắng khi vợ chồng tôi đang đọc báo sáng Chủ Nhật.
Tuần qua, tôi ghi nhận đã cảm thấy kiệt sức trong mấy tháng nay.  Những ngày cuối tuần, tự cho phép mình ngủ nướng, chỉ thức dậy cách đây vài phút. Nằm nghiêng, tôi xê dịch thân thể mệt mỏi vào một tư thế thoải mái hơn, chậm chạp lướt qua tờ báo.
_ “Anh có thể dừng xem báo không? Em không biết tại sao những vết bầm tím này vẫn chưa mờ đi.”
Tôi coi lời vợ nói chỉ làm xáo trộn trong im lặng hơn là quan tâm ý nghĩa. Lơ đểnh liếc nhìn vợ.
Ngồi lên. Bằng ngón tay, tôi đánh dấu những gì đang đọc trên báo, dùng lòng bàn tay dụi mắt. Vợ tôi đã kéo áo vest lên đến tận áo ngực; những vết bầm tím sâu loang lổ trên lưng và bụng.
_ “Làm sao em bị như vậy?”
Xoay lại vừa đủ để tôi thấy đốt xương sống nhô lên từ khóa kéo của chiếc váy xếp ly. Những vết bầm tím xanh nhạt bằng nắm tay trẻ con, rõ ràng như được in bằng mực.
_ “Sao vậy? Làm sao bị thế này?” Tôi nói giọng sắc bén, kiên quyết phá vỡ không gian tĩnh lặng trong căn hộ mười tám p’yong.
_ “Em không biết... Cứ tưởng mình vô tình đụng chỗ nào đó, lẽ ra, vết bầm tím sẽ biến mất... nhưng thực ra chúng đang to dần lên.”
Vợ tránh ánh mắt tôi như một đứa trẻ bị bắt gặp làm điều gì sai trái. Hơi hối hận vì có vẻ như  mắng mỏ, tôi cố gắng hạ giọng.
_ “Không đau à?”
_ “Không, không đau chút nào. Những chỗ tím bầm không gây cảm giác gì. Anh biết không, như vậy còn đáng lo hơn.”
Biểu cảm tội lỗi nhận thấy vài phút trước đã biến mất không dấu vết, thay vào đó là một nụ cười nhẹ nhàng, không phù hợp. Nụ cười hiện rõ trên môi khi cô ấy hỏi liệu có nên đến bệnh viện không.
Tất cả hoàn cảnh này lạ lẫm đối với tôi, nhìn mặt vợ bằng ánh mắt lạnh lùng, vô cảm. Khuôn mặt đang đối diện có cảm giác xa lạ. Gần như không thực; không giống với những gì mong đợi khi đã chung sống được bốn năm.
Vợ kém tôi ba tuổi, năm đó cô đã hai mươi chín. Khuôn mặt cô trông trẻ hơn tuổi một cách đáng xấu hổ khi chúng tôi đi chơi. Trước khi kết hôn, người ta thường lầm cô là một nữ sinh. Bây giờ khuôn mặt ấy có dấu hiệu mệt mỏi, trái ngược với vẻ ngoài ngây thơ với đôi mắt mở to. Khó có thể lầm cô là một nữ sinh, hoặc sinh viên đại học. Giờ đây, cô trông già hơn tuổi. Má cô, màu của những quả táo xanh mà màu đỏ vừa mới bắt đầu chuyển sang, trũng xuống, như đất sét bị ấn vào. Vòng eo mềm mại và dẻo dai như dây khoai lang, cái bụng từng có những đường cong hấp dẫn, giờ đây gầy gò đến đáng thương.
Cố nhớ lại lần cuối nhìn thấy vợ mình khỏa thân giữa trời đủ sáng để nhìn rõ. Chắc chắn không phải năm đó; thậm chí còn không chắc chắn điều này đã xảy ra vào năm trước.
Làm sao có thể không nhận thấy những vết bầm tím sâu như vậy trên cơ thể của người duy nhất tôi sống chung? Cố đếm những nếp nhăn nhỏ tỏa ra từ khóe mắt của vợ . Sau đó, tôi bảo cô ấy cởi hết quần áo ra. Một vệt đỏ ửng xuất hiện dọc theo xương gò má, nơi mà tác dụng giảm cân đã khiến cô trở nên sắc nét một cách khiếm nhã. Cô cố gắng phản đối.
_ “Nếu ai đó nhìn thấy thì sao?”
Không giống như hầu hết các căn hộ, được thiết kế hướng ra vườn hoặc bãi đậu xe, ban công của chúng tôi nhìn ra con đường chính phía đông. Vì xa khu chung cư gần nhất ba con phố, bị ngăn cách bởi con đường chính và suối Chungnang, nên không ai có thể nhìn trộm nếu không có kính viễn vọng năng suất lớn. Chắc chắn không có nguy cơ ai đó nhìn thoáng qua phòng khách từ bên trong những chiếc xe đang chạy nhanh trên đường. Tôi coi lời phản đối là dấu hiệu sự xấu hổ. Vào những ngày cuối tuần khi mới cưới, trong chính phòng khách này, với cả cánh cửa kính dẫn ra hiên nhà và cửa sổ ở phía xa đều mở toang để cố gắng làm dịu cái nóng oi ả của tháng Tám, chúng tôi thường làm tình nhiều lần vào giữa ngày, vụng về khám phá thứ mới mẻ  cho đến cuối cùng đành khuất phục trước sức nặng kiệt quệ.
Khoảng một năm trôi qua, không còn xa lạ với tình yêu nữa, sự nồng nhiệt những ngày đầu đó dần tan biến. Vợ tôi ngủ khá sớm, và ngủ rất say. Nếu về nhà muộn, có thể biết cô đã ngủ rồi. Khi tra chìa vào ổ khóa cửa trước và bước vào căn hộ, một mình, không có ai chào đón, tắm rửa xong bước vào phòng ngủ tối tăm, nhịp thở đều đều của vợ khiến tôi cảm thấy cô đơn một cách khó hiểu. Nếu tôi ôm cô, hy vọng xoa dịu nỗi cô đơn, đôi mắt nửa mở, ngái ngủ không cho tôi manh mối nào về phản ứng cô đang từ chối cái ôm hay nồng nhiệt đáp lại. Cô chỉ lướt những ngón tay im lặng qua tóc tôi cho đến khi tôi dừng lại mọi chuyển động trên cơ thể.
_ “Tất cả? Anh muốn em cởi hết mọi thứ sao?”
Khuôn mặt nhăn nhó cố gắng kìm nén cơn khóc, vợ tôi cuộn chiếc quần lót vừa cởi thành một cục và che vùng kín của mình. Cơ thể trần truồng phơi bày hoàn toàn dưới ánh nắng mùa xuân. Tôi vẫn không cảm thấy ngay cả những rung động mong muốn nhỏ nhất. Nhìn những vết bầm tím màu xanh lục không chỉ trên mông mà còn trên xương sườn và ống chân, làm hỏng cả phần thịt trắng bên trong đùi, cơn giận dữ xâm chiếm tôi, rồi đột nhiên buông tha, để lại nỗi buồn vô cớ. 
Đối với người phụ nữ này, người mà tâm trí dễ dàng lang thang, giấc ngủ đã xóa tan ngay cả ký ức về việc đi bộ dọc phố vào một buổi tối sớm - các giác quan bị tê liệt bởi tấm màn ngủ đang buông xuống - loạng choạng bước vào một chiếc xe hơi đang chạy chậm, hoặc có lẽ là mất đà và ngã xuống cầu thang thoát hiểm không có đèn trong tòa nhà?
Hình ảnh vợ tôi đứng đó che chắn vùng kín khi ánh nắng cuối xuân chiếu xuống lưng, vô tình hỏi rằng liệu cô ấy có nên đến bệnh viện không, thật quá khốn khổ, đáng thương, buồn bã đến nỗi không thể diễn tả thành lời, khiến tôi cảm nhận thấm thía mà đã lâu rồi không cảm thấy. Tôi chỉ có thể ôm chặt cơ thể gầy gò của cô ấy vào lòng.

2.

Tôi nghĩ mọi chuyện sẽ ổn thôi. Đó là lý do tôi ôm chặt thân hình gầy gò của vợ vào ngày xuân đó và nói, “Nếu chúng không đau thì chắc chắn vết bầm tím sẽ sớm mờ thôi. Em chưa bao giờ lo lắng bối như thế này, phải không?” Tôi hạ dịu lời trách móc bằng tiếng cười lớn.

Một đêm đầu hè, cơn gió nóng nực cọ xát đôi má nhớp nháp của nó vào những chiếc lá cây sung cao, những con phố với đôi mắt đỏ ngầu chuyển từ sáng sang tối. Vợ tôi, người ngồi đối diện tại bàn khi cùng ăn tối muộn, đặt thìa xuống kêu leng keng. Tôi đã hoàn toàn quên mất vết bầm tím.
_ “Ồ, lạ thật... nhìn lại xem.”
Sau khi kiểm tra hai cánh tay gầy guộc thò ra từ ống tay áo ngắn, vợ tôi nhanh chóng cởi áo phông và áo ngực. Một tiếng rên rỉ ngắn bật ra khỏi tôi trước khi có thể nuốt lại.

Những vết bầm tím to bằng nắm tay của đứa trẻ sơ sinh vào mùa xuân năm trước giờ đây giống như những chiếc lá khoai môn lớn hơn. Trên hết, chúng đã hóa đậm. Có màu xỉn của cành liễu rủ, màu xanh nhạt dường như nhuốm chút màu xanh lam khi mùa hè bắt đầu.

Tôi đưa tay run rẩy vuốt ve bờ vai bầm tím của vợ, cảm thấy như đang chạm vào cơ thể một người xa lạ. Chắc hẳn phải đau đớn lắm, vì những vết bầm tím như thế này?
Bây giờ nghĩ lại, tôi nhận thấy khuôn mặt vợ  cũng bóng màu xanh lam vào ngày hôm đó, như thể bị thấm nước chì. Mái tóc bóng mượt trước đây giờ giòn như lá củ cải khô. Lòng trắng mắt chuyển sang màu chàm nhạt, như thể bất thường pha mực vào đồng tử. Đôi mắt cô ấy lấp lánh nước.
_ “Tại sao điều này lại xảy ra với em? Em cứ muốn ra ngoài, và ngay khi ra ngoài... ngay khi nhìn thấy ánh nắng mặt trời, em lại muốn cởi bỏ quần áo. Cứ như cơ thể muốn em cởi ra vậy.” Vợ đứng dậy, cho tôi thấy rõ nhất cảnh tượng khô héo, trần trụi của cô trong suốt cả năm qua. “Hôm kia, em ra ban công mà không mặc gì, đứng cạnh máy giặt sấy. Không biết có ai nhìn thấy không...thậm chí không cố gắng che giấu bản thân... Ý em là, giống như một bà điên!” Tôi chỉ ngồi nhìn chằm chằm vào nửa thân trên gầy gò khi vợ tiến lại gần, lo lắng lướt ngón tay dọc theo mép đôi đũa tôi đang cầm. “Em cũng mất cảm giác thèm ăn. Thích uống nhiều nước hơn trước đây, mặc dù... thậm chí không thể ăn hết nửa bát cơm trong cả ngày. Và vì không ăn, em đoán là axit dạ dày không được tiết ra bình thường hay sao đó. Kể cả khi tự ép mình ăn, thức ăn cũng không được tiêu hóa đúng đắn và em cứ nôn mửa.” Cô ấy khuỵu gối xuống như một con rối bị cắt dây và vùi mặt vào đùi tôi. Chắc chắn cô không khóc chứ? Một mảng ẩm ướt ấm áp hình thành trên quần thể thao của tôi.
_ “Anh có biết cảm giác nôn mửa nhiều lần trong ngày là như thế nào không? Giống như bị say sóng mặc dù đang đứng vững trên mặt đất; em phải khom lưng, không thể thẳng người lên. Đầu đau như... như thể ai đâm vào mắt phải. Vai cứng như tấm ván, em chảy nước dãi, axit dạ dày màu vàng trên vỉa hè, trên rễ cây ven đường...”
Tiếng rên the thé của côn trùng phát ra từ chiếc đèn huỳnh quang đang hỏng. Dưới ánh sáng dày đặc, vợ tôi, với một vết bầm tím trên lưng to bằng một chiếc lá cây đậu tía, đã cố gắng kìm nén tiếng rên nhỏ giọt ra khỏi cô ấy.
_ “Đi bệnh viện khám,” tôi nói, nhìn thẳng vào mặt vợ. “Ngày mai, hãy đến thẳng phòng nội khoa.”
Khuôn mặt ướt át, đầy vết bẩn của cô thật xấu xí. Khi tôi xỏe những ngón tay lướt qua mái tóc giòn của vợ, tôi tặng cô ấy một nụ cười hở lợi. “Và hãy cẩn thận khi đi. Em không muốn tự làm cho mình tổn thương lần nữa. Em không phải là trẻ con, để ngã và đụng vào mọi thứ.”

Khuôn mặt ướt át của vợ tôi run lên thành một nụ cười, một giọt nước mắt duy nhất đọng trên môi cô ấy dài ra và tự tách rơi.

3.

Có phải vợ tôi lúc nào cũng dễ khóc như vậy không? Không, cô ấy không. Lần đầu tiên tôi thấy cô khóc, lúc hai mươi sáu tuổi.
Khi còn là thiếu nữ, cô dễ xúc động hơn khi cười, giọng luôn vang lên âm điệu tươi sáng, tiếng cười như một làn sóng màu sắc. Tôi nghe giọng đó, sự trưởng thành điềm tĩnh thường trái ngược với vẻ ngoài trẻ trung của cô, run rẩy lần đầu tiên khi cô nói, “Em ghét sống trong những tòa nhà cao tầng ở Sanggye-dong. Bảy trăm ngàn người chen chúc nhau, em cảm thấy như mình sắp héo mòn và chết. Em ghét hàng trăm ngàn tòa nhà giống hệt nhau, những căn bếp giống hệt nhau, trần nhà giống hệt nhau, nhà vệ sinh, bồn tắm, ban công và thang máy giống hệt nhau, và em ghét công viên, khu vực nghỉ ngơi, cửa hàng, vạch qua đường dành cho người đi bộ. Em ghét tất cả mọi thứ như vậy.”
_ “Việc gì đã gây ra điều này, hửm?” Tôi nói như thể đang xoa dịu một đứa trẻ khó bảo, vì chú ý nhiều đến giọng nói nhẹ nhàng của vợ hơn là những gì cô thực sự nói. “Có gì đáng ghét khi nhiều người sống gần nhau chứ?”
Tôi tỏ vẻ hơi nghiêm nghị khi nhìn vào mắt vợ. Đôi mắt sáng ngời, rực rỡ.
_ “Em luôn đảm bảo những căn phòng em thuê nằm gần khu giải trí. Và chỉ khi không còn cách nào khác, mới dọn đến những nơi đông đúc người qua lại, nhạc ầm ĩ tràn ra phố, xe cộ chen chúc trên đường và bóp còi inh ỏi.  Em không thể sống khi ở một mình.” Ngay cả khi vợ tôi lấy mu bàn tay lau nước mắt trên má, chúng vẫn liên tục chảy. “Và giờ đây, em giống như mắc phải căn bệnh dai dẳng và sắp chết. Giống như em không thể xuống khỏi tầng mười ba này, giống như em không thể ra ngoài.”
_ “Sao em lại quá đáng chuyện này? Đúng đắn mà nói, hơi quá rồi.’
Trong năm đầu tiên ở căn hộ cao tầng này, vợ tôi thường xuyên bị ốm. Cô đã quen với môi trường tự nhiên của căn phòng thuê ở những quận đồi núi Seoul, cơ thể cô dường như không thích nghi với căn hộ có hệ thống máy điều hòa trung tâm, bị ngăn kín. Mức năng lượng của cô nhanh chóng giảm xuống, chỉ cho phép cô đi bộ nhanh lên một con dốc đứng một lần trong ngày để đến nhà xuất bản nhỏ nơi cô làm việc với mức lương ít ỏi.
Nhưng không phải vì cuộc hôn nhân mà cô nghỉ việc. Chỉ sau khi nghỉ việc, thực tế là không lâu sau đó, tôi mới nói chuyện cụ thể về hôn nhân. Cô đã rút hết tiền mình có - bất kỳ khoản nào dành dụm từ tiền lương hàng tháng và trợ cấp lương hưu, cộng với bất kỳ khoản tiền nào từ công việc làm bán thời gian vào cuối tuần - và đang lên kế hoạch rời khỏi đất nước.
_ “Em muốn đi và lấy lại chút máu mới trong huyết quản của mình”, cô ấy nói. Đây là buổi tối trong ngày mà cô đã đưa đơn xin từ chức cho cấp trên trực tiếp. Cô nói với tôi, muốn truyền máu xấu đang đông lại trong tĩnh mạch như u nang và rửa sạch lá phổi già mệt mỏi bằng không khí trong lành. Sống và chết kiểu tự do là ước mơ của cô kể từ khi còn nhỏ, cô nói; cô đã trì hoãn vì thời điểm chưa thích hợp, nhưng giờ đây cảm thấy đã tiết kiệm đủ để biến ước mơ thành hiện thực. Cô dự định sẽ chọn một quốc gia, ở đó khoảng sáu tháng, sau đó chuyển đến nơi khác, v.v. “Em muốn làm điều đó trước khi chết, anh biết mà,” cô cười khẽ. “Em muốn nhìn thấy tận cùng thế giới. Đi càng xa càng tốt, từng chút một.”
Nhưng cuối cùng, thay vì lên đường đến tận cùng thế giới, vợ tôi đã đổ hết số tiền ít ỏi vào tiền đặt cọc cho căn hộ này và chi phí đám cưới. Cô đã giải thích tất cả những điều này với tôi chỉ trong một câu ngắn gọn, “vì em không thể xa anh.” Giấc mơ tự do này có thực đến mức nào? Nghĩ đến việc cô có thể từ bỏ nó dễ dàng như vậy, tôi cho rằng không thực tế lắm. Toàn bộ sự việc hẳn chỉ là một ảo tưởng lãng mạn, và những kế hoạch cô lập ra chẳng khả thi hơn những kế hoạch mà một đứa trẻ có thể nghĩ ra để du hành lên mặt trăng. Cuối cùng, cô hẳn đã tự mình nhận ra tất cả những điều này, tôi cảm thấy mơ hồ xúc động và tự hào khi nghĩ rằng chính tôi là người đã thúc đẩy sự nhận ra muộn màng này.
Có lẽ tất cả là do những cơn đau nhức thường xuyên, nhưng khi tôi thấy vợ mình đứng áp má vào cửa kính ban công, đôi vai hẹp rũ xuống như những chiếc lá bắp cải héo úa, cô nhìn những chiếc xe đang lao nhanh, tim tôi chùng xuống. Cô ấy bất động, chỉ nghe tiếng thở yếu ớt đến khó tin để xác nhận cô vẫn còn sống; như thể có một đôi tay vô hình đang giữ chặt vai cô ta, như thể một quả cầu sắt khổng lồ gắn sợi xích vô hình ngăn cản cô cử động dù chỉ một nhúc nhích.
Vào đêm khuya và sáng sớm, vợ tôi thường giật mình tỉnh giấc, bị làm phiền bởi tiếng xe taxi hoặc xe máy thỉnh thoảng gầm rú trên con phố vắng vẻ. Cô nói: "Giống như con đường đang chạy tăng tốc chứ không phải xe, giống như căn hộ đang bị cuốn trôi cùng với con đường". Ngay cả khi tiếng động cơ đã lùi xa nhường giấc ngủ trở lại, khuôn mặt xinh đẹp của vợ tôi vẫn nhợt nhạt như chết. Vào một đêm như vậy, vợ tôi lẩm bẩm như đang mơ, giọng khàn khàn nghe rất rõ: "Tất cả những thứ đó, chúng từ đâu ra... chúng đang chạy đi đâu vậy?"

4.

Tối hôm sau, khi mở cửa trước bước vào căn hộ, thấy vợ tôi ra cửa chào, có lẽ vì nghe tiếng tôi bước chân từ hành lang. Cô đi chân trần và đường cong của móng chân sáng bóng không cắt tỉa thường xuyên như cô thường làm.
_ “ Bệnh viện họ nói gì?” 
Không trả lời.  Khi quan sát tôi im lặng cởi giày, vợ tôi quay đi, vén một lọn tóc xỉn màu đang nằm trên má ra sau tai.
Tôi tự nghĩ như vậy. Nhớ lại lúc chúng tôi mới được giới thiệu, một sự im lặng êm ả trôi qua sau khi người đàn anh ở công ty - anh ấy đóng vai trò trung gian - đứng dậy và để chúng tôi ở lại một mình. Tôi đã bối rối như thế nào trước biểu cảm bí ẩn trên khuôn mặt người vợ tương lai. Nó khiến cô trông như đang lang thang ở một nơi nào đó rất xa, ở một địa điểm không xác định. Trên khuôn mặt đó, thoạt nhìn chỉ tươi sáng và đáng yêu, tôi có thể đọc được nỗi cô đơn không ngờ, dường như là của một người hoàn toàn khác, và chính điều này cho tôi niềm tin nhất thời rằng cô ấy hiểu tôi. Sau đó, khi niềm tin này và uống rượu nhiều đã khiến tôi thốt ra lời thú nhận, tôi cô đơn cả đời, người phụ nữ hai mươi sáu tuổi sắp trở thành vợ tôi quay đi hướng về một chân trời xa xăm, để tôi đối mặt cùng một khuôn mặt lạnh lẽo, hoang vắng mà tôi đang đối mặt bây giờ.
_ “Anh đã đến bệnh viện, phải không?” Vợ tôi nghiêng đầu, khẽ gật. Cô quay đi để che giấu làn da không khỏe mạnh, hay là tôi đã làm gì đó? “Nào, làm ơn, nói chuyện với em đi. Bác sĩ đã nói gì? Không sao đâu,” cô nói, giống như một lời thở ra hơn là một câu khẳng định. Giọng đều đều đến đáng sợ.
Trong lần gặp đầu tiên đó, giọng nói cô đã thu hút tôi. Đây là một sự so sánh vô nghĩa, nhưng giọng nói ấy khiến tôi nhớ đến một chiếc bàn trà được tráng men và sơn mài công phu; một trong những món đồ nội thất thanh lịch mà bạn miễn cưỡng mang ra cho bất kỳ ai ngoại trừ những vị khách quan trọng nhất, trên đó dường như chỉ có thể phục vụ loại trà ngon nhất, trong những chiếc tách ngon nhất. Đêm đó, dường như không hề bối rối chút nào về lời thú nhận mà tôi đã lỡ miệng, phản ứng của vợ tôi hoàn toàn là sự thật, và được truyền tải bằng giọng điệu điềm tĩnh thường nghe. “Và em,” cô ấy nói, “em muốn sống cả đời không định cư ở một nơi nào cố định cả.”
Sau đó, chuyện trò về cây cối. Tôi kể, đã mơ thấy ban công chất đầy những chậu hoa lớn, mỗi chậu đều chứa đầy rau diếp xanh và tía tô. Vào mùa hè, những bông hoa nhỏ sẽ nở trên những cây tía tô như những giọt tuyết. Sẽ có những cọng giá đỗ mọc trong bếp, tôi nói thêm. Cuối cùng, vợ tôi bật cười khe khẽ, vẫn nhìn tôi với ánh mắt hoài nghi như thể tất cả những câu chuyện về cây cối này hoàn toàn trái ngược với suy nghĩ của cô về tôi. Cố gắng níu giữ tiếng cười ngây thơ, mong manh đó, tôi lại nói: "Tôi đã cô đơn cả đời".
Sau kết hôn, tôi đặt những chậu hoa ngoài ban công như đã kể, nhưng cả hai chúng tôi đều tỏ ra là người không giỏi làm vườn. Vì lý do nào đó, ngay cả những loại cây xanh cứng cáp, mà tôi tưởng chỉ cần tưới nước thường xuyên, cũng héo úa và chết không cho chúng tôi một vụ mùa nào.
Một người nói, căn hộ tầng trên của chúng tôi cách xa năng lượng của mặt đất; một người khác nói, tất cả cây cối đều chết vì không khí và nước không tốt. Thậm chí còn nghe nói, chúng tôi thiếu thiện chí cần thiết để chăm sóc những sinh vật sống, nhưng điều đó hoàn toàn không đúng. Cách vợ tôi tận tụy chăm sóc những cây rau đã vượt quá mọi mong đợi. Nếu một cây xà lách hay tía tô héo úa, điều này đủ khiến cô chìm vào trầm cảm trong nửa ngày, trong khi nếu một cây có vẻ vẫn bám víu vào cuộc sống một cách ngoan cường, cô ta lang thang khắp nơi và ngân nga một giai điệu tươi sáng.
Vì lý do nào đó, giờ đây không còn gì sót lại trong những chậu hoa hình chữ nhật trên ban công ngoài đất khô. Tôi tự hỏi chúng đã đi đâu, tất cả những cây chết đó? Và những ngày mưa khi tôi đặt những chậu hoa trên bệ cửa sổ để nhúng tay vào những vệt mưa lạnh lẽo, tất cả những ngày tháng tươi trẻ đó đã đi đâu?
Vợ tôi quay sang nói, “Chúng ta hãy đi đâu đó thật xa, chỉ hai chúng ta thôi.” Không giống như những cây cối, chúng đã hồi sinh ít nhất một chút khi lá hứng cơn mưa sảng khoái, vợ tôi trông có vẻ đang héo úa và chìm sâu hơn vào trạng thái trầm cảm. “Không thể sống ở nơi ngột ngạt này được”, cô ấy nói, giơ bàn tay gầy guộc ra trên những chiếc lá rau diếp để hứng mưa rơi, rồi cô lắc chúng xuống ban công. “Nước mưa này thật bẩn thỉu”, cô nói, “đen kịt nước mũi và nước bọt.” Đôi mắt cô tìm kiếm sự đồng tình của tôi. “Đây không phải là sống,” cô khạc nhổ, “chỉ có vẻ giống như vậy thôi.” Giọng đầy vẻ thù địch, giống như lời tuyên bố lắp bắp của một người say rượu, Đất nước này đã thối nát! “Không có cách nào bất cứ thứ gì có thể phát triển ở đây, anh không thấy sao? Không phải bị mắc kẹt ở đây trong nơi ngột ngạt, điếc tai này!”
Tôi không thể chịu đựng được nữa. “Cái gì ngột ngạt?” Không chịu nổi những cú đấm sắc nhọn nhỏ bé này, chúng vô tình phá vỡ hạnh phúc mới chớm nở mong manh của tôi, hay dòng máu đau khổ bị kìm nén bấy lâu mà lời nói đang rút ra khỏi cơ thể kiệt quệ của cô. “Nói cho anh biết.” Tôi tạt nước mưa mà tôi hứng được trong hai bàn tay khum lại lên vai vợ tôi. “Cái gì ngột ngạt? Cái gì điếc tai?”
Một tiếng rên nhỏ thoát ra từ cô, đôi tay giật mình quờ quạng trên mặt vợ. Nước mưa lạnh bắn tung tóe vào khung cửa sổ ban công, vào mặt tôi. Chậu hoa trên bệ cửa rơi đâm vào chân vợ tôi bằng cạnh sắc trước khi rơi xuống sàn ban công. Những mảnh gốm thô và cục đất bám vào quần áo, đôi chân trần của cô. Vợ tôi cúi xuống, nắm chặt bàn chân bị thương bằng cả hai tay và cắn môi dưới.
Cắn môi là thói quen lâu đời của cô; ngay cả trước khi chúng tôi kết hôn, cô vẫn làm vậy mỗi khi tôi tức giận hoặc lớn tiếng. Việc gậm nhắm đôi môi dường như giúp cô sắp xếp lại suy nghĩ, sau một thời gian, cô sẽ bắt đầu trả lời bất cứ điều gì tôi nói hoặc làm, liệt kê các điểm một cách bình tĩnh và hợp lý. Nhưng sau sự việc ở ban công, đôi môi cắn chặt của cô trở thành phản ứng duy nhất tôi có thể nhận được. Chúng tôi ngừng cãi nhau sau ngày hôm đó.
_ “Bác sĩ nói rằng không có gì sai?” Tôi cảm thấy làn sóng mệt mỏi và cô đơn dữ dội. Khi cởi chiếc áo vest, vợ tôi không cầm lấy nó. “Bác sĩ nói không tìm thấy bất cứ điều gì sai trái,” cô lập lại xác nhận, mặt vẫn quay đi.

5.

Vợ tôi dần mất đi chút ít khả năng nói mà cô còn nhớ. Cô không nói trừ khi được nói chuyện, và ngay cả khi đó, câu trả lời duy nhất chỉ là gật đầu hoặc lắc đầu. Nếu tôi lên tiếng, yêu cầu trả lời, cô chỉ nhìn chằm chằm vào khoảng không, ánh mắt lấp lửng. Sắc mặt ngày càng tệ giờ đây có thể nhận thấy rõ ngay cả dưới ánh sáng mờ của đèn huỳnh quang.
Vì bác sĩ nói ông không tìm thấy bất cứ điều gì bất thường, có lẽ, thay vì có vấn đề về sức khỏe với dạ dày hoặc nột tạng, thì đó chỉ là một trường hợp khao khát đơn giản. Nhưng vợ tôi có thể khao khát điều gì trên đời?
Ba năm qua là khoảng thời gian tôi được ấm áp và yên bình nhất trong cuộc sống. Công việc không quá nặng nhọc, may mắn có một chủ nhà không cố gắng tăng tiền đặt cọc căn hộ, tôi đã trả gần hết tiền thế chấp cho căn hộ mới và có một người vợ, mặc dù cô không hấp dẫn đến kinh ngạc, nhưng là tất cả những gì tôi mong muốn ở một người bạn đời; sự mãn nguyện giống như nước ấm nhẹ nhàng vỗ về bên trong bồn tắm, vuốt ve cơ thể tôi mệt mỏi.
Vậy vấn đề của vợ tôi là gì? Nếu cô thực sự khao khát điều gì đó, tôi không thể hình dung được làm sao nó có thể nghiêm trọng đến mức cấu thành một căn bệnh tâm lý. Mỗi lần tôi tự hỏi liệu người phụ nữ này thực sự có quyền gây cho tôi cô đơn như vậy không, tôi cảm thấy như toàn bộ con người mình tràn ngập nỗi ghê tởm vô bờ bến, cô lập tôi như một lớp bụi cũ.
Sáng Chủ Nhật tuần sau, ngày trước chuyến công tác nước ngoài kéo dài một tuần, tôi nhìn vợ mình đang giũ quần áo trên ban công. Những vết bầm tím giờ đã phủ kín cánh tay cô đến nỗi những vùng da trắng trông giống như những vết bầm tím, những đốm trắng nhỏ giữa tất cả những màu xanh đó. Tôi nín thở. Khi cô mang giỏ đựng quần áo trống trở lại phòng khách, tôi chặn đường và yêu cầu cô cởi quần áo. Cô chống cự, nhưng tôi cởi áo phông của cô ra, để lộ bờ vai nhuộm màu xanh lam sẫm, đã xỉn màu.
Tôi loạng choạng lùi lại và nhìn chằm chằm vào cơ thể cô. Hơn một nửa số lông nách dày đã rụng, và màu sắc đã phai khỏi núm vú nâu, trước đây mềm mại và dịu dàng.
_ “Mọi chuyện không thể tiếp tục như thế này. Anh sẽ gọi điện cho mẹ em.”
_ “Không, đừng, em sẽ gọi,“ vợ tôi vội vàng hét lên, cách phát âm bị bóp méo như thể đang nhai lưỡi.
_ “Đi bệnh viện, hiểu không? Đến bác sĩ da liễu. Không, đến bệnh viện đa khoa.” Cô ấy gật đầu, câm lặng. “Em biết là anh không có thời gian để đi cùng em. Em biết cơ thể mình, vì vậy phải giữ gìn nó, đúng không?” Cô ấy lại gật đầu. “Nghe anh nói. Gọi cho mẹ em.” Vợ tôi vẫn gật đầu, môi mím lại. Cái gật đầu có phải đang lắng nghe không? Rất có thể, lời tôi nói đã vào một tai và ra tai kia; tôi có thể nghe thấy chúng rơi xuống sàn phòng khách, vỡ vụn như những chiếc bánh quy rẻ tiền.

6.

Cánh cửa thang máy mở ra. Tôi bước xuống hành lang tối tăm, mang theo chiếc vali cồng kềnh, bấm chuông. Không tiếng trả lời.
Tôi áp tai vào lớp thép gelid của cửa. Tiếp tục bấm chuông, hai lần, ba lần, bốn lần, kiểm tra xem nó vẫn hoạt động không; nó vẫn hoạt động, tôi có thể nghe thấy tiếng chuông reo bên trong căn hộ, mặc dù hiệu ứng làm giảm âm thanh của cánh cửa khiến nghe như thể từ nơi nào xa xôi hơn nhiều. Tôi chống chiếc vali vào cửa, nhìn đồng hồ. Tám giờ tối. Thật ra, vợ tôi ngủ rất say, nhưng thế này chắc chắn là hơi quá.
Tôi kiệt sức. Chưa ăn gì. Chỉ lần này thôi, tôi không muốn phải mất công lục chìa khóa.
Có lẽ vợ tôi đã gọi cho mẹ cô và đến bệnh viện như tôi đã dặn dò, hoặc đến ở với họ hàng ở nông thôn. Nhưng không - ngay khi bước qua cửa, tôi nhìn thấy sự lộn xộn quen thuộc của đôi dép lê, giày thể thao và đôi giày thông minh của cô.
Tôi nhẹ nhàng cởi giày và xỏ dép lê, vô thức cảm nhận được cái lạnh thường thấy của căn hộ. Tuy nhiên, trước khi bước được vài bước, tôi ngửi thấy một mùi hôi thối. Tôi mở tủ lạnh; bên trong, các món ăn và dưa chuột đã nhăn nheo và cong vênh thành những cục thối, rỉ nước.
Khoảng nửa bát cơm còn lại trong nồi cơm điện; rõ ràng cơm đã ở đó một thời gian, vì khô và dính vào nồi bên trong. Khi tôi mở nắp, mùi hẩm để lâu ngày tràn vào mũi cùng với hơi nước vẫn còn ấm. Có một đống bát đĩa bẩn trong bồn rửa và mùi thối ngọt ngào bốc ra từ chậu bằng nhựa trên máy giặt, nơi quần áo bẩn nằm trong nước xà phòng xám.
Vợ tôi không ở trong phòng ngủ, phòng tắm hoặc phòng trống mà chúng tôi dùng cho nhiều việc khác nhau. Tôi gọi tên; không ai trả lời. Trong phòng khách chỉ có tờ báo buổi sáng, trải ra như tôi đã để lại tuần trước; một hộp sữa 500ml rỗng; một chiếc cốc thủy tinh lấm tấm những giọt sữa đông; một trong những chiếc tất trắng lộn trái; một chiếc ví da giả màu đỏ; tất cả nằm rải rác khắp nơi.
Tiếng động cơ xe hơi gầm rú khi chúng lao xuống con đường chính cắt một đường cắt sắc nhọn vào khối rắn chắc của sự trống rỗng được chứa đựng trong căn hộ.
Bởi mệt mỏi và đói, bởi đồ gốm đều rỉ sét trong chậu rửa, không có một chiếc thìa sạch nào để tôi xúc cơm, tôi cảm thấy cô đơn. Bởi tôi trở về một ngôi nhà trống trải sau chuyến đi dài, bởi tôi muốn nói về tất cả những điều tầm thường xảy ra trên những chuyến bay xa, về những cảnh quan lướt qua cửa sổ trên những chuyến tàu nước ngoài, bởi vì không có ai hỏi “Anh có mệt không?”, cướp đi cơ hội chứng minh sức bền bằng câu trả lời kiên cường “Tôi không sao”, tôi cảm thấy cô đơn. Và vì sự cô đơn này, tôi tức giận. Bởi cảm giác, do cơ thể mình quá nhỏ bé, về cơ bản tôi không thể hòa nhập vào thế giới này, bởi vì cái lạnh đang thấm qua lớp quần áo mỏng manh, bởi suy nghĩ, tất cả những gì tôi đã làm được trong cuộc sống cho đến nay chỉ là lừa dối bản thân được trân trọng, tôi cảm thấy tức giận. Cô đơn, và không có ai yêu thương mình, sự tồn tại của tôi cũng có thể đã bị dập tắt.
Đúng lúc đó, tôi nghe thấy một giọng nói yếu ớt.
Tôi quay về hướng phát ra âm thanh. Đó là giọng vợ tôi. Một tiếng thì thầm yếu ớt vọng vào từ ban công, không thể giải mã được.
Ngay lập tức, nỗi cô đơn dữ dội đó biến thành cảm giác nhẹ nhõm, khi tôi bước ra ban công, cảm thấy cơn bực tức trào ra từ đầu lưỡi. “Sao em không trả lời để anh ở ngoài rất lâu?” Mở tung cánh cửa hiên. “Đây có phải là cách gia đình sống không? Em làm cái quái gì thế?'
Rồi tôi dừng lại vì nhìn thấy cơ thể trần truồng của vợ. Cô đang quỳ, đối mặt với song sắt trải dài trên cửa sổ ban công, hai cánh tay giơ lên như thể đang reo hò. Toàn bộ cơ thể xanh thẫm. Khuôn mặt trước đây tối sầm giờ sáng lên như chiếc lá xanh bóng. Mái tóc lá củ cải khô óng mượt như thân cỏ dại. Hai mắt sáng lên nhợt nhạt trên khuôn mặt xanh xao. Quay lại đối mặt khi tôi thụt lui, cô xê dịch như muốn đứng dậy. Nhưng thay vào đó, chân cô co giật, dường như không thể đứng lên hoặc bước đi. Vòng eo mềm mại xoắn lại đau đớn. Lưỡi  cô teo héo đung đưa như cây thủy sinh giữa đôi môi xanh thẫm. Ngay cả răng cũng không còn nữa.
Một tiếng kêu, chỉ lớn hơn tiếng rên rỉ một chút, thoát ra từ giữa đôi môi nhợt nhạt nhăn nheo đó.
“. . . nước.”
Tôi chạy đến bồn rửa, mở vòi hết cỡ và đổ đầy chậu rửa bằng nhựa cho đến khi tràn ra ngoài. Nước vỗ vào thành chậu theo mỗi bước chân vội vã của tôi, bắn tung tóe xuống sàn phòng khách khi hối hả quay lại ban công. Ngay khi tôi tạt nước vào ngực vợ, toàn bộ cơ thể cô ấy rung lên hồi sinh, giống như lá trên cây khổng lồ. Tôi quay lại và lấy thêm nước đầy chậu, rồi lại đổ lên đầu vợ. Tóc cô ấy dựng ngược lên, như thể có một sức nặng vô hình nào đó đang đè nén nó. Tôi nhìn cơ thể xanh lấp lánh nở rộ trở lại sau lễ rửa tội. Tôi cảm thấy chóng mặt.
Vợ tôi chưa bao giờ đẹp đến thế.

7.

Mẹ.
Con không thể viết thư cho mẹ nữa. Hay mặc chiếc áo len mẹ để lại đây. Chiếc áo màu cam mà mẹ vô tình để quên khi lên thăm vào mùa đông năm ngoái.
Con mặc nó vào ngày sau khi anh ấy đi công tác. Mẹ biết con dễ lạnh thế nào. Chiếc áo chưa giặt, nên vẫn còn mùi đồ ăn cũ hòa lẫn với mùi da mẹ. Nếu là ngày khác, có lẽ con đã giặt nó, nhưng trời quá lạnh, hơn nữa, con muốn hít thở mùi đó, nên đã mặc áo, thậm chí ngủ thiếp đi vẫn còn mặc. Sáng hôm sau, sương giá vẫn chưa tan, có lẽ vì quá lạnh và khát nên khi ánh nắng buổi sáng cuối cùng chiếu qua cửa sổ phòng ngủ, tiếng kêu nghẹn ngào của con bùng lên: mẹ. Muốn được bao bọc trong ánh sáng ấm áp đó, con bước ra ban công và cởi bỏ quần áo. Những tia nắng mặt trời xuyên qua làn da trần giống hệt mùi hương của mẹ, con quỳ xuống đó và gọi mẹ, mẹ ơi. Không còn lời nào khác.
Con tự hỏi đã bao lâu trôi qua. Ngày, tuần, tháng? Nhận thấy không khí không có vẻ ấm áp, tất cả những gì ghi nhận là nhiệt độ tăng nhẹ, tiếp theo là giảm xuống.
Bất cứ lúc nào, cửa sổ của những căn hộ xa xôi trên suối Chungnang sẽ sáng rực ánh cam. Những người sống ở đó có nhìn thấy con không? Còn những chiếc xe đua trên đường chính, ánh sáng từ đèn pha thì sao? Bây giờ tcon trông như thế nào?
Anh ấy cực kỳ tốt bụng. Đã mua chậu hoa lớn và trồng con vào đó. Các ngày Chủ Nhật, anh dành cả buổi sáng ngồi trên ngưỡng cửa ban công để bắt bọ rầy.
Anh, người thường kiệt sức mọi lúc, leo lên ngọn núi sau khu nhà mỗi sáng, trở về với xô nước suối để tưới chân con (anh nhớ con không thích nước máy). Một thời gian trước, anh đã đổ hết đất trong chậu hoa và thay bằng đất thịt mới màu mỡ. Khi cơn mưa đêm hôm trước rửa sạch bụi bẩn trong không khí thành phố, anh mở toang cửa trước, cửa sổ để không khí trong lành lưu thông.
Thật kỳ lạ, mẹ ạ. Ngay cả khi không nhìn thấy, lắng nghe, ngửi và nếm, mọi thứ vẫn tươi mới hơn, sống động hơn. Con cảm nhận được ma sát thô ráp của lốp xe khi chúng lướt trên đường nhựa, tiếng vang nhỏ bước chân khi anh mở cửa trước và bước về phía con, không khí bão hòa mưa tràn ngập những giấc mơ màu mỡ, ánh sáng bình minh mập mờ.
Con cảm thấy những nụ hoa nảy mầm và cánh hoa nở ra ở những nơi gần và xa, ấu trùng chui ra khỏi kén, chó và mèo sinh con, nhịp đập run rẩy của ông già ở tòa nhà bên cạnh, rau bina luộc trong chảo ở bếp trên, một bó hoa cúc đã bẻ gãy được cắm vào bình hoa bên cạnh máy hát trong căn hộ bên dưới. Ngày hay đêm, các vì sao tạo thành một đường parabol tĩnh lặng, mỗi khi mặt trời mọc, thân cây sung bên lề đường cao tốc thèm khát nghiêng về phía đông. Cơ thể của chính con cũng phản ứng theo cách tương tự.
Mẹ có hiểu không? Sẽ sớm thôi, con biết, ngay cả suy nghĩ cũng sẽ mất đi, nhưng không sao. Con đã mơ về điều này, về việc có thể sống chỉ bằng gió, ánh sáng mặt trời và nước, trong một thời gian dài.
Những suy nghĩ khi còn nhỏ: khi chạy vào bếp vùi mặt vào váy mẹ, mùi thơm đó; mùi dầu mè, mùi hạt mè rang. Con luôn để tay trong đất, mẹ biết mà. Bàn tay con lấm lem làm bẩn gấu váy mẹ.
Con bao nhiêu tuổi rồi? Ngày xuân ấy mù sương vì mưa phùn, cha bế con lên máy cày và lái xuống bờ cát. Tiếng cười vô tư của những người lớn mặc áo mưa, những đứa trẻ tóc ướt dính chặt vào trán, nhảy nhót và vẫy tay, khuôn mặt chúng quay cuồng, mờ ảo.
Ngôi làng nghèo nàn bên bờ biển là cả thế giới của mẹ. Sinh ra ở đó và lớn lên ở đó. Làm việc ở đó, già đi ở đó. Đến một lúc, mẹ sẽ được đặt ở đó dưới chân nghĩa trang gia đình, bên cạnh cha.
Chính nỗi sợ sẽ kết thúc như vậy, mẹ ạ, đã khiến con tạo ra khoảng cách lớn giữa mình và gia đình. Rời nhà lúc mười bảy tuổi, những quận nội thành Busan, Daegu, Gangneung, nơi con lang thang vô định trong hơn một tháng, vẫn còn trong ký ức. Nằm dài ở độ tuổi của con tại một nhà hàng Nhật Bản, chạy việc vặt một mình, những buổi tối cuộn tròn tư thế bào thai trong phòng đọc sách - Con thích nơi đó. Ánh đèn rực rỡ của các nội thành, sự quyến rũ lấp lánh của cư dân.
Con không biết từ khi nào tự nhận ra mình sẽ già và phá sản, lang thang trên những con phố đông đúc người lạ này. Con không vui ở nhà và cũng không vui ở những nơi khác, vậy hãy cho con biết, nên đi đâu?
Con chưa bao giờ hạnh phúc. Có một linh hồn đau khổ nào đó mãi mãi ở sau lưng, nắm chặt cổ họng, tứ chi? Con chỉ muốn chạy trốn, một sự thôi thúc cực kỳ cơ bản, nỗi đau khiến phải bật khóc, sự véo von tạo ra tiếng hét. Ngồi co đầu gối ở phía sau xe buýt, trông như thể sẽ không làm hại một con ruồi, và suốt thời gian đó khao khát đập vỡ cửa sổ bằng nắm đấm của mình. Tham lam máu chảy xuống lòng bàn tay, con sẽ liếm nó như một con mèo liếm sữa. Con đang cố gắng chạy trốn khỏi điều gì, điều gì đã hành hạ đến mức con khao khát chạy trốn đến bên kia thế giới? Và điều gì đã kìm hãm, làm con khập khiễng, làm con què quặt? Những xiềng xích nào đã đè nặng, ngăn cản cú nhảy sẽ truyền dòng máu kinh tởm này?
Vị bác sĩ lớn tuổi liên tục gõ ống nghe bằng ngón tay, lẩm bẩm bên trong tôi im lặng như nấm mồ. Âm thanh duy nhất là tiếng gió thổi vọng lại từ xa. Ông đặt ống nghe xuống bàn và dịch chuyển màn hình siêu âm. Tôi nằm im khi ông bôi một loại gel ẩm lên bụng tôi rồi xoa một dụng cụ hình que lạnh lên da thịt, từ từ di chuyển xuống đám rối thần kinh mặt trời đến bụng dưới. Dường như thông qua dụng cụ đó, hình ảnh bên trong tôi được truyền đến màn hình đen trắng.
“Bình thường”, ông lẩm bẩm, lè lưỡi. “Những gì chúng ta đang nhìn bây giờ là ruột của cô... không có gì bất thường cả.”
Mọi thứ đều được tuyên bố là 'bình thường'.
“Dạ dày, gan, tử cung, thận, tất cả đều lành mạnh.”'
Tại sao ông không thể thấy những cơ quan này đang teo dần, sắp biến mất? Tôi lau sạch phần lớn gel bằng một nắm khăn giấy, nhưng khi cố gắng đứng dậy, ông ta bảo nằm xuống. Ấn vào bụng tôi ở một vài chỗ khác nhau; không đau lắm. Tôi trừng mắt nhìn khuôn mặt đeo kính khi ông ta hỏi bình thản "Đau không?", và liên tục lắc đầu.
"Ở đây không sao chứ?"
"Ở đây không đau à?"
"Không đau".
Tôi đã tiêm thuốc, và trên đường về nhà, tôi lại nôn. Khom người xuống ga tàu điện ngầm, lưng dựa vào bức tường lát gạch. Tôi đếm trong khi chờ cơn đau dịu đi. Bác sĩ đã bảo tôi thư giãn, hãy nghĩ những suy nghĩ thoải mái, bình tĩnh. Mọi thứ đều phụ thuộc vào tâm trí, bác sĩ nói, ngâm nga như một bậc thầy Phật giáo. Những suy nghĩ bình tĩnh, những suy nghĩ thoải mái, một, hai, ba, bốn, sự bình yên vô tận, đếm trong khi cố gắng không nôn . . . cơn đau khiến tôi rơi nước mắt, những cơn co giật siết chặt khi tôi nôn ra axit dạ dày, một lần nữa, một lần nữa, cho đến khi cuối cùng không còn gì nữa và tôi có thể để mình chìm xuống sàn. Tôi đợi mặt đất rung chuyển dừng lại, chết tiệt, chỉ để dừng lại.
Đã bao lâu rồi nhỉ?
Mẹ ơi, con cứ mơ mãi một giấc mơ. Con mơ thấy mình cao lớn như một cây dương. Con xuyên qua mái ban công và xuyên qua mái tầng trên, tầng mười lăm, tầng mười sáu, xuyên qua bê tông và các thanh gia cố cho đến khi con xuyên qua mái nhà ở đỉnh cao nhất. Những bông hoa như ấu trùng màu trắng ngọ nguậy nở rộ ở hai đầu ngọn cao nhất. Khí quản con hút nước trong, căng đến mức có vẻ như nó sắp vỡ, ngực con nhô lên trời và cố gắng duỗi thẳng từng nhánh cây. Đây là cách con trốn thoát khỏi căn hộ này. Đêm nào, mẹ ơi, đêm nào cũng mơ như vậy.
Những ngày đang trở nên lạnh hơn. Hôm nay, thế giới này cũng sẽ chứng kiến nhiều chiếc lá rơi xuống đất, nhiều con rắn lột da, nhiều loài côn trùng lột xác, và nhiều con ếch bắt đầu ngủ đông sớm hơn một chút.
Con cứ nghĩ đến chiếc áo len của mẹ. Ký ức về mùi hương không còn rõ ràng nữa. Con muốn nhờ anh ấy phủ nó lên người, nhưng giờ con không còn lời nào để nói. Con có thể làm gì? Anh ấy khóc khi thấy con héo mòn, và anh cũng tức giận. Như mẹ biết, con là tất cả gia đình mà anh ấy có. Con có thể phát hiện những giọt nước mắt ấm áp của anh hòa lẫn vào nước suối đổ lên người con . Con có thể cảm nhận được các phân tử không khí bị xáo trộn, nắm đấm siết chặt của anh vung vẩy không mục tiêu.
Con sợ lắm, Mẹ ơi. Tứ chi con phải rụng mất. Chậu hoa này chật chội quá, thành chậu quá cứng. Đau nhói ở đầu rễ. Mẹ ơi, con sẽ chết trước khi mùa đông đến. Và con ngờ rằng sẽ lại nở hoa trên thế gian này.

8.

Đêm hôm đó, khi tôi trở về từ chuyến công tác, sau khi dội nước vào người vợ bằng ba chậu đầy nước, cô ấy nôn ra một bãi axit dạ dày màu vàng. Nhìn đôi môi nhăn nhanh chóng khép lại, thịt dính vào thịt, ngay trước mắt tôi. Những ngón tay run rẩy của tôi mò mẫm trên đôi môi nhợt nhạt đó, cuối cùng tôi nghe thấy một giọng nói yếu ớt, yếu ớt đến nỗi tôi không thể nghe rõ cô đang nói gì. Đó là lần cuối cùng tôi nghe thấy giọng nói của vợ mình. Sau đó, không còn một tiếng rên rỉ nào nữa.
Một chùm rễ dày màu trắng mọc ra từ đùi trong của cô. Những bông hoa màu đỏ sẫm nở rộ từ ngực. Hai nhị hoa, màu trắng ở đầu, màu vàng và dày ở gốc, đâm xuyên qua núm vú. Khi đôi tay giơ lên của cô vẫn có thể tạo ra một lực nhỏ, vợ tôi muốn ôm chặt lấy cổ tôi. Nhìn vào đôi mắt đó, trong đó vẫn còn một chút ánh sáng yếu ớt, tôi cúi xuống để đôi bàn tay đầy cánh hoa trà đó ôm lấy. “Em không sao chứ?” Tôi hỏi. Đôi mắt cô, một cặp nho chín mọng; lấp lánh trên bề mặt sơn mài, một nụ cười ma quái.
Khi mùa thu đến, tôi chứng kiến một ánh sáng màu cam trong trẻo dần thấm vào cơ thể vợ. Khi mở cửa sổ, đôi cánh tay dang rộng của cô sẽ đung đưa nhẹ nhàng, chuyển động theo luồng gió.
Khi mùa thu sắp kết thúc, những chiếc lá bắt đầu rụng từng đôi, từng ba. Cơ thể cô từ từ chuyển màu cam trước đây sang màu nâu đục.
Tôi nghĩ về lần cuối cùng tôi ngủ với vợ mình.
Thay vì mùi chua của dịch cơ thể, một mùi hương ngọt ngào thoang thoảng, xa lạ đã tỏa ra từ nửa dưới của vợ tôi. Vào thời điểm đó, tôi chỉ cho rằng cô hẳn đã đổi sang một loại xà phòng khác, hoặc có chút thời gian rảnh rỗi và chọn cách dành thời gian để rắc một vài giọt nước hoa xuống đó. Tất cả những điều này đã xảy ra từ bao lâu rồi?
Bây giờ, hình dáng của cô hầu như không còn dấu vết gì của loài hai chân. Đồng tử của cô dường như đã biến thành những quả tròn sáng bóng, đang dần bị chôn vùi trong những thân cây màu nâu. Vợ tôi không thể nhìn thấy nữa. Thậm chí không thể uốn cong các đầu của thân cây. Nhưng khi ra ban công, tôi cảm thấy một cảm giác mơ hồ đánh bại mọi ngôn ngữ, giống như một luồng điện nhỏ chạy ra từ cơ thể cô truyền vào tôi. Khi những chiếc lá từng là bàn tay và mái tóc của vợ tôi rụng hết, và nơi môi cô ấy từng khép lại với nhau nứt ra, giải phóng một nắm trái cây, cảm giác đó kết thúc như một sợi chỉ mỏng đứt.
Những trái nhỏ xíu bùng nổ hàng loạt như quả lựu; Tôi gom chúng trong tay, ngồi xuống bên kia ngưỡng cửa nối ban công với phòng khách. Những quả này, lần đầu tiên nhìn thấy, có màu xanh lục hơi vàng. Chúng cứng, giống như hạt hướng dương mà họ phục vụ cùng với ngô rang để ăn kèm với bia.
Tôi nhặt một quả cho vào miệng. Vỏ quả nhẵn nhụi hoàn toàn không có mùi vị gì. Tôi nhai nó. Quả của người phụ nữ duy nhất tôi từng có trên trái đất này. Điều đầu tiên vòm miệng tôi cảm nhận là một hương vị chua, gần như cháy, và nước quả bám vào gốc lưỡi chỉ có vị đắng sau khi ăn.
Ngày hôm sau, tôi mua một tá chậu hoa tròn nhỏ, và sau khi đổ đầy đất màu mỡ vào, tôi trồng những quả này vào đó. Tôi xếp những chậu hoa nhỏ cạnh chậu hoa của người vợ héo úa, và mở cửa sổ. Tôi nhoài người ra ngoài lan can, hút một điếu thuốc, thưởng thức mùi cỏ tươi đột nhiên nở rộ từ phần dưới của vợ tôi. Làn gió lạnh cuối thu làm xáo động làn khói thuốc lá, mái tóc dài của tôi.
Khi mùa xuân đến, liệu vợ tôi có nảy mầm trở lại không? Liệu những bông hoa của cô ấy có nở đỏ không? Tôi thật không biết.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 12 guests