Thời Sự, Bình Luân

dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

30 tháng Tư, Người Lính nghĩ gì?

Bỉnh bút Phạm Lễ, BMD
Người lính mang số quân 700426
KBC.4339. CTF.228
11 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975 đài phát thanh Saigòn đã phát thanh lời kêu gọi buông súng của Đại Tướng Dương Văn Minh. Lời tuyên bố này đã làm cho dân chúng cả ba miền Nam, Trung, Bắc bàng hoàng sửng sốt.

Một mầu đen tăm tối đã phủ xuống đất nước Việt Nam.

Khi lệnh đầu hàng phát đi từ Dinh Độc Lập và những tiếng xích sắt của T.54 nghiến trên các nẻo đường tiến vào Thủ đô Sài Gòn của Việt Nam Cộng Hòa. Chính lúc đó có những người Lính VNCH đã tự bắn vào đầu, đã tự ôm nhau cùng rút chốt lựu đạn tự sát để khỏi bị rơi vào tay giặc thù Việt Cộng.

Họ là những anh hùng của dân tộc trong quan điểm nếu không giữ được nước, không bảo vệ được đồng bào của mình thì phải chết vinh còn hơn là sống nhục.

Những hoạt cảnh bi thảm của ngày 30 tháng 4 từ ba mươi ba năm trước đã “HẠ MÀN CỦA SÂN KHẤU CHÍNH TRỊ” Việt Nam Cộng Hòa.

Người Lính của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa khi trước chỉ vì ba chữ :

”Tổ quốc - Danh Dự – Trách Nhiệm”,

tôn trọng quân phong quân kỷ và tuân theo quân luật.

Nên người Lính Việt nam Cộng Hòa luôn luôn sẵn sàng và hãnh diện chiến đấu cho Mầu Cờ, Sắc Aùo để giữ vững vùng đất Tự Do, Dân Chủ của VNCH và bảo vệ đồng bào của mình.

Vì cuộc chiến miễn viễn này, người Lính VNCH ít khi nào có đủ thì giờ để bình tâm suy nghĩ đến những hoạt cảnh chính trị, để kịp nhận định thời cuộc về đất nước.

Vì thế vai trò của người Lính VNCH vì thế đôi khi đã bị bạc đãi một cách bất nhân và thiếu sự đánh giá khách quan của đồng bào là những người khán gỉa đã dự khán vở Bi Trường Kịch chiến tranh giữa VNCH và Cộng Sản Bắc Việt của những tay phù thủy đạo diễn chính trị. Kế đó là những ngòi bút thiếu lương tâm khi viết bôi nhọ lên sự chiến đấu của người Lính VNCH.

Sự lơ là của đồng bào khi nhìn về sân khấu trình diễn tấm thảm kịch Chiến Tranh Việt Nam đã không xử dụng hết quyền phán xét của mình trong khi dự khán. Trong khi đó những diễn viên chính lànhững người Chiến Sĩ VNCH đã và đang xả thân giữ từng tấc đất, bảo vệ đồng bào của mình đã bị các diễn viên phụ là người lãnh đạo, là người lên kế hoạch, là người cố vấn chính trị và người làm Tổng Tham Mưu Trưởng của mình vì thiếu nhạy cảm, thiếu đầu óc sáng suốt trong trận tranh hùng qua bàn cờ quốc tế. Vì thế những diễn viên phụ ấy đã làm lu mờ, đã làm cho danh dự của Tập Thể Chiến Sĩ VNCH bị trà đạp chết một cách tức tưởi…

Máu của các diễn viên chính, những người Lính VNCH đã đổ xuống trên quê hương Việt Nam chưa chấm dứt ở ngày 30 tháng 4 năm 1975, mà vẫn còn tiếp tục đổ xuống sau đó trong các lao tù cộng sản miền bắc, trên chặng đường vượt biên tìm Tự Do.

Những tay đạo diễn ngoại bang và những diễn viên chính trị phụ của Việt Nam Cộng Hòa và Cộng Sản Bắc Việt vẫn đang cố gắng dựng lại vở Bi Hài Kịch này dưới một danh từ mới

“Hòa Hợp Hòa Giải – Hãy Xếp Lại Chuyện Quá Khứ Để Nhìn về Tương Lai…”

những từ ngữ đao to buá lớn, mỹ miều này đang quảng cáo rầm rộ để làm nhạt phai đi ngày mà chúng ta gọi là Quốc Hận 30 tháng 4.

Trên quan điểm đoàn kết là sức mạnh, người Lính VNCH chúng tôi minh định không đứng trong bất cứ một phe phái hay đảng chính trị nào. Những tranh chấp tị hiềm có tính cách cá nhân, đảng phái người Lính VNCH không màng tới. Mà không những thế người lính VNCH còn cho đó là những âm mưu xảo trá của cộng sản qua đường lối tuyên vận tại hải ngoại bằng nghị quyết 36 từ Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam nhằm phá nát tiềm năng chống cộng của mọi người quốc gia chân chính nói chung và của tập thể anh em chiến sĩ VNCH nói riêng.

Đây là mối hiểm họa rất tai hại giống như những “Trái Lựu Đạn Ngôn Ngữ” mà Cộng Sản Việt Nam đang mượn bàn tay bọn nằm vùng, bọn đón gió trở cờ, tầng lớp trí thức chính trị xa lông đang ném và cho nổ tung vào cộng đồng người Việt Tị Nạn Cộng Sản.

Trước khi vở kịch mới đang diễn xuất, người viết chỉ muốn quý đọc gỉa, quý chiến hữu trong Tập Thể Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa khi trước phải dành lại thế đứng của mình sau 30 năm tập dợt lại, bên cạnh những học hỏi, cố gắng của những diễn viên trẻ bắt đầu nhập cuộc. Chúng ta phải thuần thục vai trò và trách nhiệm của từng diễn viên ngõ hầu làm cho vở kịch mới “Đường Về Quê Hương”này phải được sự ủng hộ nhiệt tình của khán thính gỉa là những đồng bào của chúng ta từ hải ngoại đến quốc nội. Cũng như làm thức tỉnh những phù thủy đạo diễn phải kinh ngạc về sự thực hiện vai trò diễn viên chính của chúng ta.

Vì chính lề lối suy tư và hành xử tự tôn, tự mãn, mục hạ vô nhân của những người đạo diễn chính trị này đã phá vỡ mọi nỗ lực kết hợp từng bị trì hoãn trong công cuộc vận động mang lại sự Tự Do và Dân Chủ cho đất nước Việt Nam. Cũng những người này tự coi minh là người lãnh đạo có khả năng, nhưng thật ra họ chỉ là những chuyên viên chính trị xa lông tiếp tục muốn tự giam cầm trong các khuôn đúc cũ theo kiểu “Sông Lạch” của xã hội nông nghiệp, và đã làm che khuất đôi mắt nơi họ về thứ viễn kiến “Đại Dương” tối cần thiết trong kỷ nguyên mới hiện đại.

Vì bất hạnh của biến cố 30 tháng 4 năm 1975 cho đến nay đã là 33 năm. Nhưng cũng là một cơ may để cho gần một triệu người Việt Nam đang quen nếp sống chậm tiến được viễn du trong thập tử nhất sinh, xuất dương tìm học những điều văn minh mới trong đó có thêm tầng lớp thế hệ thứ hai, thứ ba đang cố gắng với chúng ta trên con đường đấu tranh đòi hỏi Tự Do Dân Chủ và sẵn sàng về xây dựng đất nước sau khi có bầu cử tự do dưới sự giám sát của quốc tế.

Những người Chiến Sĩ VNCH chúng tôi nhận thức rằng, công cuộc Kháng Chiến không thể thành công với sự lãnh đạo của vài ba quân nhân chuyên nghiệp già nua, của những chính khách xa lông một thời vang bóng, trí thức biển lận đang tiếc nuối quyền lực chưa chịu thức tỉnh với kiến thức khoa học và siêu tốc độ như hiện nay.

Công cuộc phục quốc đòi hỏi phải được lãnh đạo, quản trị một cách tối tân với những kế hoạch, sách lược chính trị, kinh tế, kỹ thuật tinh vi và dài hạn. Như vậy chỉ còn trông cậy vào giới trẻ có tài và thực tâm đóng góp với cha anh…

Phục hoạt đất nước theo chiều hướng kháng chiến phục quốc không thể được lãnh đạo theo kiểu hội kín cổ xưa. Mà phải được theo lối điện toán hoá, chuyên môn hoá, kỹ thuật hoá. Lãnh tụ không thể là một người.

Mà lãnh tụ phải là một tập đoàn Đa Năng Đa Hiệu, biết Cư An Tư Nguy cho người dân, biết Tự Thắng Để Chỉ Huy, biết Vì Dân…Có thế mới mong canh tân đất nước, mới bắt kịp được sự tiến bộ của các nước khác trên thế giới.

Người Lính VNCH hôm nay không chống cộng theo kiều thập niên 30-40, không tố cộng theo kiểu thập niên 50-60. cũng như khống chống cộng theo kiểu máy móc của nửa thập niên 1970-75, theo lối kháng chiến 5-7 người tại Thái Lan vào những năm giữa thập niên 80. Tất cả hiện nay đều là những sự xa vời thiếu thực tế đối với chính trường và ngay cả chiến trường cũng vậy.

Vấn đề căn bản đặt ra cho người Lính VNCH còn yêu nước hiện nay là phải nghĩ gì, hành động ra sao cho thích nghi, để ra khỏi những con lạch, con sông hạn hẹp thì mới tiến tới đại dương của vận hội mới được. Với hoàn cảnh đấu tranh mới cho sự đòi hỏi Tự Do, Dân Chủ cho đất nước rút ngắn lại con đường phục hồi xứ sở chúng ta những ngừơi Lính VNCH còn hiện diện nơi đây hãy cùng nhau cúi đầu tưởng niệm những anh linh chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh vì lý tưởng Tự Do đã vị quốc vong thân.

Sau ba mươi ba năm vở trường kịch cộng sản rồi cũng phải chấm dứt bởi sự hạ màn. Vở kịch diễn trong ba mươi ba năm qua trên đất nước Việt Nam cũng như ở hải ngoại có gì gọi la mang lại hạnh phuc cho đồng bào hay không ?

Dở như thế nào?

Nội dung có được nhiều ngừơi khen hay chê ra sao?

Và những đoàn kịch hát “Live” sẽ tồn tại như thế nào khi đất nước chúng ta có
Tự Do – Dân Chuû thật sự trở lại.

Chúng ta hãy tạm khép kín nỗi buồn riêng tư, để đêm đêm chúng ta không còn phải khắc khoải u sầu vì đời của người lưu vong. Chúng ta hãy nhìn thẳng vào đại sự để nhận lấy vị trí diễn viên khiêm nhường của chính mình trong công cuộc chung mà mọi người khi còn tấm lòng nghĩ về đồng bào, về quê hương Việt Nam bên kia bờ Thái Bình Dương.

Viết cho muà tưởng niệm 30 tháng 4.
Bỉnh bút Phạm Lễ, BMD
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »


Image

Chính Sách Khủng Bố Dân của CSVN

Trần bình Nam
Ai bóp cổ SV Nguyễn Tiến Nam khi anh vừa cất tiếng “Hoàng Sa - Trường Sa là của VN” tại chợ Đồng Xuân ?

Thế nào gọi là khủng bố ? Theo định nghĩa của Tự điển Bách khoa Britannica, khủng bố là: “sự xử dụng vũ lực một cách có hệ thống để gieo sự lo sợ trong quần chúng để đạt một mục tiêu chính trị nào đó. Khủng bố từng được xử dụng bởi các nhóm quá khích thiên tả hay thiên hữu, bởi những nhóm chủ trương quốc gia quá khích hay các nhóm tôn giáo cực đoan, những nhóm chủ trương đấu tranh cách mạng xã hội và ngay cả bởi các lực lượng vũ trang của một quốc gia như quân đội, tình báo hay công an cảnh sát.” (Terrorism is the systematic use of violence to create a general climate of fear in a population and thereby to bring about a particular political objective. Terrorism has been practiced by political organizations with both rightist and leftist objectives, by nationalistic and religious groups, by revolutionaries, and even by state institutions such as armies, intelligence services, and police.)

Theo định nghĩa trên, hành động của công an Việt Nam tại chợ Đồng Xuân, Hà Nội, đối với sinh viên Nguyễn Tiến Nam, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, nhà giáo Vũ Hùng trong ngày 29/4/2008 là một hành động khủng bố chứ không phải là một hành động duy trì an ninh trật tự .

Theo lời thuật lại của sinh viên Nguyễn Tiến Nam cho một phóng viên đài Tiếng nói Á châu Tự do (Radio Free Asia –RFA) được phát sóng trong buổi phát thanh sáng ngày 1/5/2008 giờ Việt Nam, thì sáng ngày 29/4/08, nhằm ngày ngọn đuốc Thế Vận Hội Bắc Kinh đến Sài Gòn, anh cùng với nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, nhà giáo Vũ Hùng và một số đồng bào thuộc gia đình các ngư dân ở Thanh Hóa bị hải quân Trung quốc bắn chết đầu năm 2005 cùng với một số dân oan từ Thái Bình và Hải Phòng hẹn nhau tụ tập trước chợ Đồng Xuân để biểu tình chống lại hành động của Trung Quốc cuối năm 2007 đã sát nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam thành quận huyện của họ.

Sinh viên Nguyễn Tiến Nam cho biết anh cầm một chiếc cờ có 5 vòng còng số 8 và chữ Olympic Bắc Kinh và cùng các ngư dân và dân oan hô hào đồng bào chung quanh tập trung lại nói lên tiếng nói chống bá quyền Trung quốc. Lập tức công an mặc thường phục kéo đến khóa tay, bóp cổ và tách anh ra khỏi đoàn người biểu tình để đánh đập anh.

Sau đó họ áp tải anh về văn phòng Ban Quản Lý Chợ Đồng Xuân. Tại đây anh Nguyễn Tiến Nam thấy có mặt nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, nhà giáo Vũ Hùng ở Hà Tây, ông Vi Đức Hồi ở Lạng Sơn, chị Lê Thị Kim Thu, hai sinh viên nữa là sinh viên Ngô Quỳnh và Nguyễn Văn Nhất ở Bắc Giang, và một em học sinh tên là Sơn ở Hải Phòng đã bị bắt đưa về đây trước.

Công an đã đánh đập anh Nguyễn Tiến Nam một cách dã man từ ngoài chợ vào đến văn phòng chợ đến nổi anh phải nôn oẹ tống tháo thức ăn ra ngoài. Thấy anh bị đánh, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa lên tiếng phản đối, công an bỏ anh Nguyễn Tiến Nam quay sang đánh nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa. Thấy xót ruột nhà giáo Vũ Hùng lên tiếng bênh vực bảo mấy người công an rằng nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa đã cao niên đáng tuổi cha chú các anh sao các anh lại tàn nhẫn như vậy thì công an quay ra đánh nhà giáo Vũ Hùng .

Sau đó – theo lời của anh Nguyễn Tiến Nam – công an đưa 3 anh Nguyễn Tiến Nam, Nguyễn Xuân Nghĩa và Vũ Hùng về đồn công an phường Đồng Xuân để hạch hỏi, tại đó công an sắc phục đã thẩm vấn và mắng nhiếc cả ba bằng những lời lẽ thô tục cho đến 11 giờ đêm họ mới cho xe công an đưa 3 anh về nguyên quán. Nguyễn Tiến Nam về Yên Báy, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa về Hải Phòng, và nhà giáo Vũ Hùng về Hà Tây.

Về đến Hải Phòng nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa đã ghi lại cảnh công an đấm đá những người biểu tình vì yêu nước qua mấy vần thơ: (www.doi-thoai.com)

Tổ quốc tôi như miếng da lừa
Một lần ước mất đi một ít
Ước phồn vinh: rừng mất cây, biển Đông mất cá
Ước vẹn toàn: Cao nguyên, hải đảo chuyển sang người

Tôi đứng ôn hòa, biểu ngữ chống Bắc Kinh
Người đến đầu tiên lại là cảnh sát
Họ nhìn tôi như nhìn loài chó ghẻ
Tôi ngã rồi họ dựng chúng tôi lên

Những nắm đấm thôi miên vào mặt.
Họ là người Việt Nam như tôi
Ở chung với tôi trên mảnh đất cỗi cằn sỏi đá.
Ở chung với tôi mảnh đất ngàn năm vật vã

Lo sinh nhai, lo giữ chốn sinh tồn.
Tôi nằm lăn ra đất
Nước mắt nuốt vào trong
Lịch sử bốn ngàn năm triều đại nào như thế?
(Nguyễn Xuân Nghĩa – Hải Phòng 1/5/08 )

Động thái của công an trong ngày 29/4/2008 đối với 3 anh Nguyễn Tiến Nam, Nguyễn Xuân Nghĩa và Vũ Hùng cần được hiểu như thế nào ?

Không thể hiểu là một hành động giữ gìn an ninh trật tự, vì các anh ấy biểu tình bất bạo động và một cuộc biểu tình ôn hòa của trên dưới 10 người không thể làm mất trật tự công cọng. Và cho dù có mất trật tự công cọng công an cũng chỉ có thể dùng những phương tiện chừng mực để tái lập trật tự, chứ không thể dùng bạo lực đánh đập người biểu tình như công an đã đánh đập 3 anh Nguyễn Tiến Nam, Nguyễn Xuân Nghĩa và Vũ Hùng.

Các anh đã không vi phạm bất cứ luật lệ nào, chứng cớ là công an sau khi đánh đập các anh đã không thể truy tố các anh và phải trả các anh về nguyên quán.

Vậy hành động của công an Việt Nam hôm 29/4 không thể hiểu là một hành động vi phạm nhân quyền, mà theo định nghĩa, phải hiểu là một hành động khủng bố. Dùng bạo lực làm cho những người biểu tình sợ không dám biểu tình nữa và gián tiếp khủng bố tinh thần dân chúng nơi chợ Đồng Xuân để không dám tham gia hay bênh vực những người đang bị đàn áp .

Những người công an mặc thường phục đánh sinh viên Nguyễn Tiến Nam, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa và nhà giáo Vũ Hùng trước chợ Đồng Xuân và tại văn phòng Ban Quản lý chợ là những quân khủng bố cần được nhà cầm quyền Việt Nam truy tố và xử phạt thích đáng theo pháp luật. Nếu không thì chính nhà cầm quyền tại Hà Nội chủ trương chính sách khủng bố.

Đảng Cộng sản Việt Nam thường chụp mũ đảng này, đảng nọ là tổ chức khủng bố một cách vô bằng cớ, trong khi chính họ đã dùng phương pháp khủng bố đối với nhân dân trong nước. Họ đã nâng khủng bố lên hàng chính sách quốc gia. Các quốc gia chủ trương chống khủng bố trên thế giới cần để ý đến hành động có tính chính sách này của đảng cộng sản Việt Nam, và áp dụng các biện pháp chống khủng bố như minh danh tố cáo hai nhân vật nắm bộ máy hành chánh Việt Nam hiện nay là chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là những tên khủng bố, và ít nhất ra lệnh cấm cửa cho đến khi ông Triết hay ông Dũng ra lệnh chấm dứt chính sách khủng bố nhân dân.

Chính quyền Việt Nam không còn là một chính quyền đơn thuần vi phạm nhân quyền của nhân dân như được thế giới hiểu từ trước đến nay mà chính là một chính quyền khủng bố.

Thế giới cần chính danh để cho cuộc đấu tranh chống khủng bố hiện nay trên thế giới trở nên có sức mạnh của một cuộc đấu tranh chống tội ác toàn cầu và đem lại chiến thắng sau cùng cho lẽ phải.

Trần Bình Nam - May 5, 2008
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Phát Biểu Của Ô. Võ Đại Tôn Trong Buổi Phát Hành Sách "Đóa Hồng Gai"



LGT: Trong buổi phát hành tác phẩm "Đóa Hồng Gai" của Nữ Tù Nhân Chính Trị Nguyễn Thanh Nga tại Sydney, Ông Võ Đại Tôn, trong cương vị là người cùng chung khổ nạn bị biệt giam hơn 10 năm trong ngục tù CS, đồng thời cũng là một người anh tinh thần, và là người đồng hương Quảng Nam - Đà Nẵng với tác giả, đã được Ban Tổ Chức mời phát biểu giới thiệu Tác Giả Nguyễn Thanh Nga. Sau đây là nguyên văn lời phát biểu vô cùng cảm động và có ý nghĩa được Ông ứng khẩu ngay tay buổi phát hành sách.

*

Kính thưa Quý Vị,
Thưa Quý Chiến Hữu và Quý Bạn,

Chỉ còn hơn một tuần lễ nữa, chúng ta tưởng niệm 33 năm Quốc Hận 30.4. Trong thế hệ thứ nhất đành phải lìa xa Tổ Quốc, chúng ta đã cố gắng lau khô những dòng nước mắt đau thương để vùng dậy tiếp tục cuộc hành trình chống Cộng còn lại. Dù thời gian 33 năm đã trôi qua nhưng tội ác của Cộng Sản đối với toàn Dân Tộc vẫn còn nguyên vẹn và ngày càng tăng trưởng, đưa quê hương đất nước vào hố thẳm diệt vong, và trong lòng của mỗi người chúng ta - nạn nhân trực tiếp hay gián tiếp - vẫn còn hằn sâu những vết thương rỉ máu ngày đêm. Trong muôn ngàn tội ác do người Cộng Sản tạo ra, có những chính sách phi nhân đã được triệt để thi hành để hủy diệt thể xác và tinh thần anh chị em tù nhân chính trị chúng tôi, những người may mắn thoát ra khỏi ngục tù Cộng Sản, đang sống trong lòng xã hội và gia đình với những cơn ác mộng âm thầm ngày đêm, và có những người đã bị tàn phế suốt những năm tháng còn lại trong đời.

Cộng Đồng Úc Châu chúng ta đã từng đón tiếp trong tình thương và sự cảm thông những nam tù nhân chính trị tiêu biểu như Nguyễn Chí Thiện, Đặng Chí Bình, Nguyễn Hữu Luyện, Lý Tống… nhưng hôm nay là lần đầu tiên đón tiếp một nữ tù nhân chính trị đã bị Cộng Sản đày đọa suốt hơn 10 năm giam cầm và bị tra tấn dã man đến tàn phế cuộc đời. Trên cương vị là người cùng chung khổ nạn bị biệt giam hơn 10 năm trong ngục tù Cộng Sản Hà Nội, bị tra tấn tàn nhẫn, đồng thời cũng là một người anh tinh thần, một trong những chiến hữu Phục Quốc đầu tiên trong không gian liên hoàn hải ngoại - quốc nội ngay sau ngày 30 tháng 4, 1975, và lại là đồng hương Quảng Nam - Đà Nẵng, tôi được Ban Tổ Chức mời phát biểu giới thiệu Tác Giả hồi ký "Đóa Hồng Gai" từ Hoa Kỳ qua đây và đang hiện diện trong hội trường cùng quý Vị và quý Chiến Hữu hôm nay.

Tất nhiên, chúng ta nên dành thời gian để nghe người nữ tù nhân chính trị này trang trải nỗi lòng nhưng tôi cũng xin phép quý Vị để nói lên những cảm tưởng chân thành về một người phụ nữ Việt Nam kiên cường trong một giai đoạn oan khiên của Dân Tộc trong dịp tưởng niệm 33 năm Quốc Hận.

Trong cuộc chiến chống Cộng tại miền Nam trước đây, đã có những người Mẹ, người vợ Lính QLVNCH anh hùng, hữu danh hoặc vô danh, đã âm thầm chiến đấu trên khắp 4 Vùng Chiến Thuật, theo con theo chồng, với hình bóng đơn sơ mộc mạc như thửa ruộng bờ đê. Một trong những người vợ Lính anh hùng đó mà cá nhân tôi đã từng biết rõ sự tuẫn tiết lẫm liệt là chị Phạm Thị Thàng tại vùng trời Cai Lậy thuộc tỉnh Định Tường. Hình của chị đã được dựng lên tại đường Hồng Thập Tự, Saigon, trước năm 1975. Chị Thàng là vợ của nghĩa quân Lê Văn Hùng, đồn trưởng Cai Lậy. Khi chồng đã bị tử thương trong một cuộc tấn công của Cộng Sản, chị Thàng ẵm hai con nhỏ núp sau chiến hào để tử thủ với một thùng lựu đạn 16 quả. Chị đã bình tĩnh vung tay ném vào làn sóng quân địch đang ào ạt tấn công hết 15 quả lựu đạn. Cuối cùng, trước khi khu đồn bị chiếm, chị Thàng đã tuẫn tiết cùng với hai đứa con nhỏ dại bằng quả lựu đạn thứ 16. “Thùng lựu đạn chỉ còn đây một quả - Em dâng Anh với cả Tình Yêu”. Tôi đã viết những câu thơ như vậy để vinh danh một trong muôn ngàn người phụ nữ Việt Nam anh hùng trong quân sử.

Hôm nay, sau cuộc chiến, trong muôn ngàn người phụ nữ Việt Nam anh hùng đó, và trong số những người còn sống sót, có một nữ tù nhân chính trị, tác giả cuốn hồi ký "Đóa Hồng Gai", đã bị Cộng Sản đày đọa đến tàn phế thân xác. Vào một đêm trời mưa tại vùng trời Nam California, khi tôi lái xe đưa người nữ tù nhân chính trị này về lại căn phòng trong cư xá chính phủ, tôi đã nghe người nữ chiến hữu này nói với tôi qua nước mắt: “Em nhớ quê nhà mình quá, anh ơi. Biết bao giờ mới về lại đất Quảng Nam? Ở đây, sống nơi xứ người, em không có gia đình, cô đơn quá, và những vết thương tù làm em đau lịm người, chắc không sống nổi. Người đàn bà có hai thiên chức là được làm vợ và làm mẹ. Nhưng Cộng Sản đã tra tấn em đến độ em không còn được hưởng hạnh phúc lập gia đình như những người đàn bà khác…”

Tiếng khóc ấy hôm nay vẫn còn đọng lại trong lòng tôi. Những dòng nước mắt, những tật nguyền vì bị tra tấn, những vũng máu đổ trong xà lim tăm tối, của anh chị em tù nhân chính trị chúng tôi đã được cô đọng lại thành những trang hồi ký lao tù. Đấy là những chứng từ về tội ác của người CS. Chúng tôi không bán máu cho ai cả, chỉ mong đón nhận sự cảm thông và ủng hộ để trang trải chi phí ấn loát và chút phương tiện để tiếp tục cuộc hành trình còn lại trong đời, làm nhân chứng cho một giai đoạn đau thương của cả Dân Tộc dưới chế độ bạo tàn CSVN.

Hồi ký "Đóa Hồng Gai" chỉ ghi ra một phần rất nhỏ về tội ác của CSVN, với văn phong tả chân bình dị, nhưng đấy là chân dung của một người phụ nữ VN đã bị đày đọa suốt đời. Muốn đem chân dung này đến với quý Vị và các Bạn hôm nay, Tác Giả đã phải vượt qua hơn nửa vòng trái đất với một người bạn cùng đi theo để dìu những bước chân tật nguyền và săn sóc sức khỏe. Chi phí phương tiện di chuyển phải tăng gấp đôi, lại còn phải in sách tại đây cho bớt phần tốn kém chuyên chở. Kính mong quý Vị cảm thông ủng hộ và chúng ta hãy cùng nhau tặng cho Tác Giả "Đóa Hồng Gai" những bông hồng không có gai cho ấm lòng nhau.

Trên đất Quảng Nam của anh em chúng tôi có một câu ca dao: “Tay bưng dĩa muối chấm gừng - Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau”. Trong cuộc đời của mỗi người chúng ta, có nhiều lúc đã nếm mùi cay của gừng, chất mặn của muối, và hôm nay, trong tình cảm “Xin đừng bỏ nhau” đó, tôi xin trân trọng giới thiệu đến quý Vị, quý Chiến Hữu và quý Bạn Trẻ, một người phụ nữ VN kiên cường từ lao tù CS trở về, tuy thân xác bị tàn nhưng tinh thần chưa bị phế. Đó là nữ tù nhân chính trị Nguyễn Thanh Nga yêu quý của chúng ta. Xin mời Thanh Nga lên diễn đàn.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Nhân Quyền: Chiếc Đũa Thần Giựt Sập Chế Độ CSVN.
Tác giả: Long Quân


NHÂN QUYỀN: Chiếc đuã thần giật sập chế độ Cộng Sản! Từ học thuyết Marxism, đảng Cộng Sản Nga đã cướp được chính quyền NgaHoàng năm 1917,tạo lập triều đại Cộng Sản và mở rộng ảnh hưởng,lấn chiếm ra khắp thế giới.Từ Âu sang Á,xuống phi châu xuyên Điạ Trung Hải,Trung Mỹ...nơi nào chế độ cộng sản khống chế,ngự trị đều dưới hình thức độc tài, đảng trị !
Chúng dùng mọi chiêu bài,lợi dụng mọi hình thức đấu tranh từ những phong trào,phe nhóm đấu tranh giải phóng dân tộc,chống thực dân phong kiến...Cứu cánh cuả chúng là cướp chính quyền và từ đó biến đảng cộng sản thành những “ông hoàng cai trị” và con người thành những “con vật bị trị” !
Sự cai trị- nói khác đi là sự tác oai tác quái cuả những “vị đầy tớ trung thành cuả nhân dân” dưói chế độ cộng sản khắp nơi. Điều này đã là những bằng chứng hùng hồn,những dẫn chứng lịch sử về sự nghèo đói,lạc hậu,man rợ,tàn ác,cũng như sự khát máu,vô tâm,phi nhân bản cuả tập đoàn cộng sản cai trị thế giới.
Chế độ cộng sản đã đem lại bần cùng,nghèo đói cho con người. Đó là một thực trạng bi đát mà mọi người đều đã nhận thấy trong các chế độ cộng sản khắp nơi trên thế giới từ hơn bảy chục năm qua,từ Nga Sô, Đông đức,Balan,Hunggialợi,Lỗmani...cho đến TrungCộng,ViệtNam,BắcHàn...sang Cuba,xuống PhiChâu...tất cả đều là những thảm kịch khốn khổ,bi đát mà tập đoàn Cộng sản mang đến cho con người !
Thập niên 80,các chế độ cộng sản,khởi đầu là chế độ Nga Cộng, đã chịu đựng không nỗi,không thể cưu mang “nghiã vụ quốc tế”,buộc lòng rút quân ra khỏi A Phú Hãn,phải bỏ rơi không thể tiếp tục can thiệp vào nội bộ các quốc gia khác bằng con đường bạo lực.Chế độ cộng sản đã bị lung lay từ gốc rễ.Phương tiện để bảo vệ quyền hành cai trị cuả chế độ cộng sản mọi nơi vẫn là bạo lực, đã không còn hữu hiệu nữa trước sự đề kháng,tranh đấu cho sự sống còn cuả con người.
Trong quá trình chống lại sự bành trướng cuả tà thuyết Marxism-Leninism,người ta đã dùng nhiều sách lược,nhiều chiêu thức khác nhau như quân sự ,ngoại giao,kinh tế...nhưng đến nay vẫn chưa có chiêu thức nào hữu hiệu hơn,kết quả hơn là “chiếc đũa Nhân Quyền” chọt mạnh vào tim óc cuả kẻ thù cộng sản !
Cộng sản tan vỡ ra từng mãnh nhỏ.Sào huyệt cuả chúng tại Mạc tư Khoa,nơi phát xuất và đề xướng ra nhiều chiêu thức làm đau khổ, đói nghèo cho nhân loại,hiện còn thoi thóp trước sự đấu tranh đòi lại quyền làm người cuả con người.
Nhân Quyền vẫn là phương thức hữu hiệu,thiết thực nhất để giựt sập mọi chế độ độc tài,mọi tập đoàn thống trị đi ngược lại quyền sống chính đáng cuả con người .
Nhân Quyền là chiếc đũa thần cuả nhân loại, đánh đỗ mọi hình thái độc tài, áp bức, phi nhân bản,chống lại nguyện vọng khát khao tự do,dân chủ cuả con người.
Nhân Quyền ,thế tất thắng cuả chính nghiã tự do,cuả con người đứng trước bạo lực và khủng bố cuả bọn phi nhân tàn bạo.
Nhân Quyền,một sự đề kháng tất nhiên cuả con người cho tự do,vì tự do và cuả tự do. Sự đấu tranh cho Nhân Quyền tại các nước cộng sản được đồng nghiã với chính danh lý tưởng : Phải giải trừ đảng cộng sản,tiêu diệt chế độ cộng sản ; từ đó xây dựng một chế độ tự do để phục vụ cho quyền lợi chính đáng cuả con người.
Sự đấu tranh cho Nhân Quyền tại các quốc gia bị cộng sản thống trị, áp đặt chế độ độc tài phải được hiểu là giựt sập bạo quyền cộng sản ở các xứ đó chứ không phải là cải thiện,sửa đổi,canh tân, đổi mới... để làm chế độ đó sống còn , đẹp hơn...
Sự đấu tranh cho Nhân Quyền tại Việt Nam phải được định danh, được hiểu là giải trừ chế độ độc tài đảng trị Việt Cộng,dẹp tan bè lũ cộng sản già nua,tham quyền cố vị,những kẻ phi nhân,khát máu... đã đem lại bần cùng lạc hậu, đói nghèo tang tóc cho dân tộc Việt Nam hơn nữa thế kỷ nay....chớ không phải cài thiện, hợp tác,canh tân, đổi mới chế độ đó,làm cho chúng sống còn,nhằm củng cố địa vị và duy trì chế độ vô sản chuyên chính, để chúng tiếp tục cai trị, áp bức người dân như chúng đã làm và đang làm.
Ý thức được như vậy,nhận định rõ ràng như vậy là chúng ta đã nhận chân được phương thức đấu tranh, biết dùng “chiếc đũa thần Nhân Quyền” với vai trò cứu dân,cứu nước,và giải phóng người dân Việt thoát ra khỏi tù đày, đói nghèo lạc hậu...Bằng không,ngược lại chỉ đấu tranh khơi khơi,kêu gọi cổ võ cho Nhân Quyền,tự do cho Việt Nam mà vẫn để cho tập đoàn cộng sản còn nguyên đó thì có khác gì những tên tay sai cò mồi, đấu tranh dân chủ “cuội”!
Tóm lại chủ nghiã Marxism đồng nghiã với nhà tù,với súng đạn,với xe tăng,máu và nước mắt! Với lý thuyết thì đầy láo khoét và lừa bịp,với thũ đoạn “treo đầu heo,bán thịt chó” mà áp dụng thì bằng khủng bố,bằng cùm kẹp tù đày,bằng đàn áp dã man,bằng sát hại thủ tiêu chẳng gớm tay!
Trước sức mạnh cuả nhân dân,cuả con người,trước sự sống còn là vĩnh cửu và cần thiết,khi con người chẳng còn biết sợ là gì nữa,khi các dụng cụ giết người kể trên không còn hiệu lực,khi con người quyết vùng lên đạp đổ xích xiềng, đòi hỏi Tự Do, đòi hỏi Nhân Quyền thì chủ nghiã Marxism cũng như chế độ Marxism rơi rụng và tan rã.Huyền thoại Marxism đã cáo chung,Xả Hội Chủ Nghiã là trò hề thế kỷ.Màn đã hạ,không ai thèm xem trò hề đó nữa!
Vậy mà tập đoàn Cộng Sản bên quê nhà,bọn giáo điều Mác-Xít “cuối muà lạc hậu” vẫn còn đang say máu,cố quyết bám chặt “Xả Hội Chủ Nghiã- trò hề thế kỷ” mà quan thầy của chúng đã vứt bỏ từ lâu.Chúng chỉ có thể kéo dài kiếp sống mong manh thêm giây lát, để rồi đây, cuối cùng nhận lấy phần thưởng như tên độc tài khát máu Ceausescu cuả xứ Romania kia vậy !
Bởi bất cứ chế độ nào,làm cho con người mất đi tự do,dân chủ,mất đi quyền sống,quyền làm người.. đều phải bị giải thể. Đó là cứu cánh cuả công cuộc đấu tranh cho Nhân Quyền và đó là lý tưởng cuả người chiến sỉ Nhân Quyền vậy.

LONG QUÂN.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Cảm nghĩ về ngày Quốc hận 30/04/1975
Lê Quế Lâm
Nói rằng 30/4/1975 là ngày Quốc hận, chắc chắn đồng bào miền Bắc và nhất là giới lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ phản bác ngay: Ngày đất nước thống nhất, sạch bóng quân thù ngoại xâm tại sao gọi là quốc hận? Đồng bào miền Nam có thể chứng minh: Hận tại vì chúng tôi đang sống trong cảnh sung túc, dân chủ tự do, sau ngày 30/4/1975 cộng sản mang đến sự nghèo đói, độc tài, nhiều người bị tịch thu nhà cửa tài sản và bị cưỡng bách đi các vùng kinh tế mới xa xôi hẻo lánh. Còn công chức quân nhân miền Nam đã buông súng đầu hàng, cộng sản bắt đi tù đày cải tạo tại các vùng rừng núi ở miền Bắc …

Những người CS lại biện minh: Những gì gọi là sung túc, chỉ là phồn vinh giả tạo. Dân chủ tự do là chiêu bài của đế quốc Mỹ để ru ngủ nhân dân miền Nam, biến nơi đây thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ hòng nô dịch đồng bào miền Nam lâu dài. Cả triệu thanh niên miền Bắc đã hy sinh trong cuộc chiến giải phóng miền Nam là để giải thoát nhân dân miền Nam khỏi ách kèm kẹp, vì nơi đây là trại tập trung khổng lồ của đế quốc Mỹ. Còn việc cải tạo là giúp những người lầm đường lạc lối hiểu rõ đường lối của đảng để trở thành người dân tốt trong chế độ mới: không có cảnh người bốc lột người, chế độ xã hội chủ nghĩa là ưu việt; để thấy sự sáng suốt tài tình của đảng. Còn lao động là vinh quang để xây dựng đất nước “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như hoài bảo của “Bác Hồ” v.v..

Lý kẻ mạnh bao giờ cũng thắng (La raison du plus fort est toujours la meilleur). Thôi thì đành “giận cá chém thớt”, quay sang thù hận Mỹ đã bỏ rơi miền Nam, mới xảy ra cớ sự đau thương. Nhưng xét cho cùng, oán trách Mỹ cũng phi lý. Họ đã viện trợ kinh tế giúp miền Nam sung túc. Họ đã viện trợ quân sự giúp quân dân miền Nam chiến đấu bảo vệ tự do. Khi lâm nguy, họ đưa quân vào miền Nam phụ lực chiến đấu với Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Trong số hơn ba triệu quân nhân Mỹ chiến đấu ở VN có gần 60 ngàn binh sĩ đã tử thương, hàng trăm ngàn bị thương. Chi phí cho cuộc chiến lên đến hàng trăm tỉ đô la. Cuối cùng họ đã dàn xếp với Liên Xô (LX) và Trung Cộng (TC) và mời ba bên Việt Nam: Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa (Hànội), Việt Nam Cộng Hòa (Sàigòn) và Mặt trận Giải phóng Miền Nam đến bàn đàm phán Paris thảo luận hơn 4 năm 6 tháng (từ tháng Năm 1968 đến tháng Giêng 1973). Hoa Kỳ, LX, TC và ba bên VN đều đồng ý giải quyết cuộc chiến VN bằng con đường hòa bình: nhân dân miền Nam sẽ quyết định tương lai chính trị miền Nam, chớ không phải do Bắc Việt hay Hoa Kỳ sắp đặt. Hiệp định Paris 1973 qui định rõ nhân dân miền Nam VN sẽ hưởng mọi thứ quyền tự do, sau đó tham dự cuộc tuyển cử dân chủ tự do có quốc tế giám sát để thực hiện quyền tự quyết của mình. Chính phủ MN do nhân dân MN dựng lên sẽ nói chuyện với chính phủ miền Bắc về việc tổng tuyển cử thống nhất đất nước theo tinh thần HĐ Genève 1954. Công việc hoàn tất, HĐ Paris 1973 như tên gọi của nó là “HĐ chấm dứt chiến tranh, tái lập hòa bình ở VN” ra đời, HK chấm dứt sự can dự. Từ nay công việc MNVN do hai bên miền Nam giải quyết, không có sự can thiệp từ bên ngoài; công việc VN do nhân dân hai miền Nam Bắc giải quyết, không có sự can thiệp bên ngoài. Như vậy nếu có oán trách thì oán trách những người lãnh đạo ba bên của VN.

Chính quyền CS thì đã trả lời như trên. Mặt trận GPMN thì đã giải tán, không một lời từ biệt đồng bào. Lúc ra đời thì hô hào nhân dân tham gia mặt trận đánh đổ chế độ thuộc địa trá hình của đế quốc Mỹ, thực hiện độc lập, dân chủ, cải thiện dân sinh, hòa bình, trung lập ở miền Nam. Sau 30/4/1975, chẳng thấy thực hiện điều nào cả, chỉ thấy Cộng Hòa Xã Hội chủ nghĩa, theo đúng khuôn mẫu Liên Xô. Trong hội nghị hiệp thương thống nhất đất nước, người ta tìm đỏ mắt chẳng thấy Luật sư Nguyễn Hữu Thọ -Chủ tịch Giải phóng Miền Nam ngồi ở đâu? Chỉ thấy trưởng và phó đoàn hai miền Nam và Bắc là những ủy viên Bộ Chính trị và Ủy viên Trung ương Đảng CSVN.

Còn giới lãnh đạo MN tự do thì đổ lỗi cho Mỹ. Họ cho rằng HK không còn cần miền Nam làm tiền đồn nữa, nên cắt dần viện trợ quân sự. Lúc đầu TT Thiệu còn hăm dọa “viện trợ nhiều thì giữ nhiều, viện trợ ít thì giữ ít. Sau cùng ông từ chức, chạy sang Đài Loan. Ông tuyên bố “Tôi có trách nhiệm chớ không có tội”. Ngày trước, khi để mất ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ, cụ Phan Thanh Giản gởi sớ về triều đình Huế xin gánh chịu mọi trách nhiệm và tội lỗi, sau đó ông tuyệt thực và uống thuốc độc quyên sinh. Nay ông Thiệu là nguyên thủ quốc gia, cho rằng mình có trách nhiệm nhưng không có tội. Đối với quốc dân không làm tròn trách nhiệm là có tội. Ông Thiệu từng truy tố tướng Vũ Văn Giai tư lịnh Sư đoàn 3 khi ông rời bỏ đơn vị trong mùa Hè đỏ lửa 1972. Tháng Tư 1974, ông ra lịnh quản thúc hai tướng Phạm Văn Phú và Ngô Quang Trưởng vì rút quân khỏi Cao nguyên và Quân khu I. Chả lẽ ông Thiệu muốn nói với HK, ông có trách nhiệm giữ “tiền đồn” của Thế giới tự do, nay HK bỏ rơi “tiền đồn”, ông phải tháo chạy nên chẳng có tội gì cả (đối với HK). Như vậy thì ông Lê Duẫn đã hãnh diện có công lớn (với LX): giải phóng được miền Nam để mở rộng Hệ thống Xã hội chủ nghĩa thế giới. Đây là một bưóc để tiến tới “thế giới đại đồng” –ước mơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua hai câu trong bài thơ cảm hứng khi ông đến viếng đền thờ Đức Trần Hưng Đạo: “Bác đưa một nước qua nô lệ. Tôi dắt năm châu đến đại đồng”.

Vậy thì hận, trách ai bây giờ? Trong bài này, quốc hận không hàm ý thù hận. Thù hận đã làm tan nát đất nưóc, chia rẽ dân tộc trong suốt hơn 60 năm qua. Có tốt đẹp gì để nói đến nó nữa, và cũng đã nói quá nhiều rồi. Lịch sử là một chuổi dài những sự kiện liên kết nhau theo qui luật nhân quả. Biến cố 30/4/1975 là kết quả của cái nhân trước đó. Và biến cố này trở thành cái nhân tạo ra cái hậu quả mà đồng bào đã chứng kiến trong 33 năm qua. Nay nhân ngày 30/4 tôi có chút cảm nghĩ về ngày này, tôi chỉ đề cập cái hận ở ba khía cạnh: một là vì tức-giận (angry) vì cay đắng (bitterness) chớ không oán thù; hai là vì nhục, quốc nhục hay quốc hận (national humiliation); ba là tiếc hận, hối tiếc (regret). Đây là hận chung, có thể gọi là Quốc Hận, dù là đồng bào miền Bắc chiến thắng hay đồng bào miền Nam bại trận.

Hận vì tức, giận, cay đắng “Bỏ mồi bắt bóng” Từ 1955, HK đã viện trợ giúp NamVN vững mạnh vì đây là tiền đồn ngăn chặn làn sóng đỏ tràn xuống Đông Nam Á. Đồng thời biến miền Nam thành thí điểm của sự phồn vinh và dân chủ kiểu Mỹ ở Châu Á. Mãi đến đầu năm 1973, ý định của HK mới thực hiện được qua HĐ Paris 1973. Trong lá thư đề ngày 14 tháng Giêng năm 1973, do tướng Haig mang tận tay trao cho TT Thiệu ở Sàigòn, TT Nixon viết rằng: “Tôi hy vọng rằng sau tất cả những gì cả hai quốc gia chúng ta đã cùng chia sẻ và chịu đựng trong cuộc chiến này, chúng ta sẽ cùng đứng lại với nhau để tạo dựng và gặt hái kết quả của hòa bình”. (1)

Hai tháng trước đó, tướng Haig cũng đã mang đến TT Thiệu lá thư của TT Nixon đề ngày 8/11/1972 trình bày về bản dự thảo Hiệp định Paris mà HK và Hànội đã thỏa thuận. Nixon cho biết: “Chúng tôi coi bản dự thảo Hiệp định ấy là hợp lý, chúng tôi tiếp tục tin tưởng rằng nó phản ảnh những nhượng bộ của phe bên kia, nó bảo vệ nền độc lập của Nam Việt Nam và cho phép nhân dân Việt Nam quyết định lấy tương lai chính trị cho chính mình. Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng nhân dân Ngài, quân lực Ngài và chính bản thân Ngài đã dành được một thắng lợi lớn mà bản dự thảo Hiệp định sẽ xác nhận. Ý định của tôi là sẽ xây dựng trên những thành quả đó. Tôi muốn được cộng tác với Ngài và chính phủ Ngài trong nhiệm kỳ thứ hai của tôi để bảo vệ tự do tại miền Nam –trong thời bình, cũng như ta đã từng cộng tác trong nhiệm kỳ thứ nhất của tôi để bảo vệ nó trong thời chiến”.

Nixon viết tiếp “Trong bốn năm qua, Ngài và tôi đã là hai đồng minh thân thiết, trên bình diện cá nhân cũng như quân sự. Sự liên minh sẽ đưa chúng ta đến một vị trí khiến kẻ địch đang thỏa thuận với những điều kiện mà bất cứ một quan sát viên vô tư nào cũng đã nói là không thể có được bốn năm trước đây. Sự liên minh của chúng ta và những thành quả của nó đã được xây dựng trên sự tin cậy lẫn nhau. Nếu Ngài tiếp tục tin cậy chúng tôi thì cùng nhau chúng ta sẽ thành công”. (2)

Điều lo ngại của TT Thiệu là Bắc Việt sẽ lật lọng, không tuân hành nghiêm chỉnh hiệp định. Nixon phải trấn an bằng lời cam kết. Trong thư đề ngày 20/11/1972, Nixon viết: “Tôi xin nhắc lại những bảo đảm của chính tôi với Ngài là Hoa Kỳ sẽ phản ứng thật mạnh mẽ và mau lẹ đối với bất cứ vi phạm hiệp định nào. Nhưng để thực thi điều đó một cách hữu hiệu, điều quan trọng là tôi phải có được hậu thuẫn của dân chúng, và chính phủ Ngài phải đừng tỏ ra như một trở ngại cho nền hòa bình mà công luận HK giờ đây mong muốn.Tôi tuyệt đối cam đoan với Ngài rằng: nếu Hànội không tuân theo những điều kiện của hiệp định này, thì tôi cương quyết sẽ có hành động trả đũa mau lẹ và các liệt”. (3)

Với bản chất đa nghi cố hữu, Thiệu không tin lời hứa của Nixon, vẫn khăng khăng với lập trường “Bốn không”, không chấp nhận hiệp định hòa bình. Sau này trong hồi ký, Kissinger có nhắc đến những tranh cải giữa ông và TT Thiệu trong giai đoạn hòa đàm Paris. Kissinger cho rằng “Sự đa nghi không lành mạnh của ông ta là một đặc tính quá tinh túy của người Việt Nam”. Từ kinh nghiệm tiếp xúc với TT Thiệu và các phụ tá của ông trong thời gian hòa đàm Paris, Kissinger có nhận xét “Chẳng người Việt Nam nào, cả Bắc lẫn Nam, tin rằng tự tín, tin tưởng hay tình bạn là điều quyết định”. (4) TS Nguyễn Tiến Hưng còn tiết lộ: Trong một bửa ăn trưa với phóng viên các báo Time và Fortune ngày 29/9/1972, Kissinger nhận xét “Vấn đề của chúng ta với người Việt Nam là bên nào cũng cho là mình đang thắng, và khoan hồng chẳng hề là đặc tính của họ... Rồi ông đánh giá Thiệu và (Lê Đức) Thọ ngang nhau, cùng Việt Nam như nhau về lối suy tưởng cũng như cách xử sự - cả hai đều gớm ghiết như nhau. Kissinger tiếp: “Trong thực chất chiến tranh đã tàn rồi. Chẳng một ai thắng cả. Người Mỹ không còn quyền lợi gì ngoại trừ ra đi với phẩm cách. Thọ là một tên cuồng trí không biết được đâu là con đường quốc nội bình thường phải theo. Người VN là một giống người khó tính và đa nghi”. (5)

Chính vì đa nghi, thiếu tự tín lại không tin tưởng vào tình bạn, nên ông Thiệu không chấp nhận những lời giải thích, khuyến cáo của Nixon, cương quyết không ký hiệp định Paris. Nixon phải nói thẳng cho Thiệu biết trước thảm họa sẽ xảy ra. Trong thư ngày 5 tháng Giêng 1973, Nixon cho biết: “Như tôi đã thưa trong thư đề ngày 17 tháng Chạp của tôi, tôi tin chắc sự khước từ tiếp tay với chúng tôi của Ngài sẽ là một sự chuốc lại thảm họa – nó sẽ phá hủy tất cả những gì mà chúng ta đã cùng nhau tranh đấu để đạt được trong mười năm qua”. Mười ngày sau, Nixon gởi tiếp lá thư cảnh cáo Thiệu: “Tôi nhất định cho phê chuẩn hiệp định Paris vào ngày 23 tháng Giêng sẽ ký vào ngày 27 tháng Giêng 1973 ở Paris. Tôi sẽ làm việc đó dù một mình. Trong trường hợp đó, tôi sẽ công khai tố cáo chính phủ của Ngài làm cản trở công cuộc vãn hồi hòa bình ở VN. Kết quả không tránh khỏi sẽ là việc cúp viện trợ quân sự và kinh tế ngay lập tức, mà dù có sự thay đổi về nhân sự trong chính phủ của Ngài cũng không thể cứu vãn được”. (6)

Quả thật sau này, nhân sự thay đổi liên tục, từ Thủ tướng Trần Thiện Khiêm chuyển sang Nguyễn Bá Cẩn, Vũ Văn Mẫu. Còn chức vụ tổng thống chuyển từ Nguyễn Văn Thiệu sang Trần Văn Hương, Dương Văn Minh vẫn không cứu vãn được gì. Miền Nam sụp đổ.

Cái cay đắng của đồng bào miền Nam là ông Thiệu đã “Bỏ mồi bắt bóng”. Cái “mồi” là miền Nam phồn vinh dân chủ tự do tiếp tục tồn tại, sau này có thể sẽ thống nhất với miền Bắc, tương tự như Tây Đức và Đông Đức hồi năm 1990. Cái “bóng” mà ông Thiệu ưa chuộng là tiếp tục làm “đồn trưởng” tiền đồn Thế giới Tự do, được Hoa Kỳ luôn yểm trợ để tha hồ “độc diễn”, độc tài bóp nghẹt báo chí và tự do tham những. Còn tham gia bầu cử dân chủ tự do có quốc tế giám sát thì làm sao độc diễn, có thắng cử thì cũng chỉ một vài nhiệm kỳ mà thôi. Kết cuộc, ông ra đi kéo theo sự sụp đổ của cả miền Nam.

Sau 30/4/1975, những người CS chiến thắng cũng bỏ cái “mồi” trước mắt xây dựng đất nước phồn vinh. Họ vừa tiếp thu một chiến lợi phẩm khổng lồ đáng giá hàng chục tỷ đô la, trong đó có nhiều cơ sở kỹ nghệ tân tiến ở Biên Hòa, Thủ Đức, Hốc Môn với hệ thống cầu đường vừa được HK kiến tạo xong. Ngoài ra, VN còn có một đội ngũ trí thức hùng hậu của hai miền Nam Bắc phối họp. Một số lớn được đào tạo ở các nước Tây phương, Liên Xô, Trung Quốc và khối XHCN. Trên bình diện quốc tế, VN sẽ bình thường hóa bang giao với Mỹ theo tinh thần HĐ Paris 1973, còn được Mỹ viện trợ để hàn gắn vết thương chiến tranh, trù tính gần 5 tỷ đô la. Ngoài ra VN còn được sự tận tình giúp đỡ của hai đàn anh TC và LX, nay đều có quan hệ với HK. Đối với các nước trong khu vực, nhờ thành tích chiến thắng Đế quốc Mỹ, VN được các nước ASEAN nể trọng và tất cả đều mong muốn giành được hậu thuẫn của VN để hình thành khu vực Đông Nam Á hòa bình, tự do và trung lập thực sự. Trên chính trường quốc tế, VN được đón nhận vào đại gia đình các nước không liên kết, sau đó gia nhập Liên Hiệp Quốc và trở thành hội viên của nhiều tổ chức tài chánh thế giới như Quĩ Tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển Á châu. Các tổ chức này đều sẳn sàng dành những số tiền lớn cho VN vay mượn để phát triển đất nước thời hậu chiến.

Giới lãnh đạo CSVN chỉ thấy cái “bóng” Liên Xô quá vĩ đại. Nơi đây, vào năm 1929 trước khi đảng CSVN ra đời, những người CS đã tuyên truyền: “Nhờ cách mạng tháng 10 thành công nên: Công nông Nga đã được thoát vòng tư bản chủ nghĩa bốc lột đè nén; Anh em làm thợ ở Nga mỗi ngày chỉ phải mần có 7 giờ; Ở các cơ quan sanh sản có hại tới sức khỏe, lại chỉ mần có 6 giờ thôi; Các anh em thợ thiếu niên, từ 18 tuổi trở lại chỉ phải mần nhiều nhứt là 6 giờ một ngày; Các chị em làm thợ chỉ phải mần 6 giờ một ngày thôi; Anh em chị em thợ Nga ai cũng có việc mần và được chánh phủ sô viết cho ăn mặc no ấm; Anh em chị em cầy ruộng ai cũng có ruộng đất đặng cầy cấy; Các anh em chị em công nông Nga được đủ các quyền bình đẳng, tự do, kinh tế, xã hội và chính trị; Các chị em công nông Nga được bằng quyền như đàn ông; Các anh em chị em công nông Nga ai cũng được học; Các anh em chị em công nông Nga không lo đau yếu vì đã có nhà thương không tốn tiền; Các chị em công nông Nga khi sinh đẻ không ngại dã có nhà nuôi con nít; Các chị em làm thợ Nga được nghỉ 2 tháng trước khi đẻ và 2 tháng sau khi đẻ và được ăn lương; Cách mạng vô sản thêm thế lực; Nói tóm lại, cách mạng tháng 10 và Liên bang Sô viết đã giải phóng cho vô sản Nga và giúp cho cách mạng thế giới. Liên bang Sô viết là tổ quốc của công nông thế giới” (7)

Đó là hình ảnh của thập niên 1920. Còn nay là giữa thập niên 1970, chắc chắn người dân Liên Xô đã bước vào giai đoạn “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”. Người dân miền Nam VN được thiên nhiên ưu đãi với đất đai trù phú “làm chơi ăn thiệt” còn thua xa người dân LX nhờ có Cách mạng tháng Mười, trở nên thiên đường ở hạ giới. Cái “bóng” đó vĩ đại quá, khiến giới lãnh đạo CSVN phải bỏ cái “mồi” đang có trước mắt. Thực sự, đó chỉ là cảm nghĩ của người dân bình thường, còn giới lãnh đạo CSVN quá đổi “tài tình”. Họ cần “núp bóng” LX để được “bảo vệ”, chớ họ biết quá rõ thực trạng đời sống nhân dân các nước CS. Năm 1956, đảng CS Hung Gia Lợi có nguy cơ bị lật đổ, không phải bởi đế quốc Mỹ mà bởi nhân dân Hung nổi dậy đòi tự do, LX liền đưa xe tăng đến đàn áp để bảo vệ đàn em. Tình trạng Tiệp Khắc năm 1968 cũng tương tự Hung Gia Lợi năm 1968, xe tăng LX cũng được xử dụng để đàn áp nhân dân Tiệp Khắc. Do đó, được “ô dù” che chở để bảo vệ quyền lợi cá nhân trở nên thịnh hành trong các giới chức CS hiện nay.

Có điều đáng nói, là cái “ô dù” che chở của LX đã hết hiệu nghiệm vào đầu thập niên 1980 khi Công đoàn Đoàn kết Ba Lan ra đời. Lúc bấy giờ LX đã cùng với Mỹ, Gia Nã Đại và toàn thể 33 nước Âu Châu ký bản Định ước cuối cùng ở Helsinski về “An ninh Hợp tác toàn Âu” ngày 1-8-1975. Trong đó có điều khoản các nước ký định ước cam kết không can thiệp vào công việc nội bộ các nước Âu Châu, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân các nước này. Do đó LX an tâm là HK không thể ủng hộ Tây Đức thống nhất Đức Quốc nhằm trả đũa việc LX ủng hộ CSBV thống nhất Việt Nam. Nhưng biến cố làm sụp đổ khối Đông Âu không xảy ra ở Đức mà ở Ba Lan. Năm 1981, Công đoàn Đoàn kết phát triển mạnh, đe dọa sự sống còn của Cộng đảng Ba Lan. LX liền điều động chiến xa áp sát biên giới Ba Lan để chuẩn bị can thiệp. Tổng thống Ronald Reagan yêu cầu LX phải tôn trọng nguyên tắc bất can thiệp do định ước Helsinski vạch ra. Ông hăm dọa nếu LX đưa chiến xa vào Ba Lan, HK sẽ can thiệp bằng vũ khí nguyên tử. LX phải nhượng bộ.

Quốc nhục (National humiliation): Ngày 29/4/1975, ba ngày sau khi TT Thiệu rời Sàigòn đến Đài Loan, TT Ford gởi sứ giả đến gặp Thiệu, yêu cầu ông không nên đến HK trong lúc này vì tình hình phản chiến ở đây. Gia đình ông thì có thể vào HK được. Còn cá nhân ông, HK có thể sắp xếp cho ông đi đâu tùy ý. (8) Trong thời gian này, HK đón nhận trên 130 ngàn người VN vào đất nước họ. Họ mời cựu TT Trần Văn Hương di tản nhưng cụ từ chối. Cựu thủ tướng Trần Thiện Khiêm rời Sàigòn cùng chuyến bay với Thiệu sang Đài Loan cũng được HK chấp nhận được định cư ở Mỹ…Nhưng vì lý do gì Chính phủ HK lại hẹp hòi, vô nhân đạo đối với người lãnh đạo tối cao của VNCH? Ai cũng biết TT Thiệu từng lên án HK ký HĐ Paris 1973 để bán đứng miền Nam tự do cho CS, ngày từ chức ông mạt sát HK là vô nhân đạo, bỏ rơi đồng minh khi gặp hoạn nạn…Chả lẽ TT Ford lại thù vặt, nhỏ nhen, mượn cớ tình hình phản chiến để không cho Thiệu vào Mỹ?

Sau này, nhờ TS Nguyễn Tiến Hưng “bật mí” trong tác phẩm Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập qua mấy chục lá thư của TT Nixon gởi TT Thiệu, tôi mới thấy được một vài sự thật. Như đã trình bày ở trên, từ 1969 đến 1972, Nixon và Thiệu “là hai đồng minh thân thiết, trên bình diện cá nhân cũng như quân sự. Sự liên minh sẽ đưa chúng ta đến một vị trí khiến kẻ địch đang thỏa thuận với những điều kiện mà bất cứ một quan sát viên vô tư nào cũng đã nói là không thể có được bốn năm trước đây. Sự liên minh của chúng ta và những thành quả của nó đã được xây dựng trên sự tin cậy lẫn nhau. Nếu Ngài tiếp tục tin cậy chúng tôi thì cùng nhau chúng ta sẽ thành công”. Nhưng từ khi HĐ Paris 1973 ra đời, Thiệu không còn tin cậy Nixon nữa, ông từ khước tiếp tay với Nixon. Hành động của Thiệu khiến Nixon cay đắng cho rằng đó “là đòn giáng mạnh vào tình bằng hữu, sự tương kính và quyền lợi chung của chúng ta… Tôi chẳng cần dấu diếm sự căng thẳng trong mối bang giao giữa chúng ta…”. Đây là lá thư cuối cùng của Nixon gởi Thiệu đề ngày 13/6/1973. (9)

Kế hoạch hòa bình ở VN của Nixon kể như thất bại vì thiếu sự hợp tác của TT Thiệu, từ đó Quốc hội Mỹ tìm cách buộc ông từ chức vì vụ Watergate (8/9/1974). Tám tháng sau đến lượt từ chức. Tình bằng hữu giữa Nixon và Thiệu đã mất từ 1973, sau đó quyền lợi chung của hai ông cũng tiêu tan. Có thể nói ông Thiệu đã phản bội người bạn đồng minh thân thiết Nixon và phản bội cả đồng minh Hoa Kỳ. Khi HK từ chối không cho ông vào đất Mỹ, ông nói với sứ giả của TT Ford: “Làm kẻ thù của Mỹ thì dễ, nhưng làm bạn với họ thì thật là khó”. Đáng lẽ, ông nên nói: “Tôi không bao giờ đến một đất nước đã phản bội dân tộc tôi” cho đỡ nhụt. Cuối đời, ông vẫn đến Mỹ và chết trên đất Mỹ.

Sau 30/4/1975, đảng CSVN bị Đặng Tiểu Bình lên án là “phường vong ân bội nghĩa”. Đặng và các lãnh tụ Trung Cộng còn khinh miệt VN như là một thứ tội phạm cần phải “dạy cho bài học” và “sẳn sàng dạy thêm bài học thứ hai”. Từ khi Hànội nối lại bang giao với TC năm 1993 đến ngày Đặng Tiểu Bình qua đời năm 1997, ông ta không bao giờ tiếp các lãnh tụ CSVN. Các phiên họp giữa Lý Bằng hoặc Giang Trạch Dân với các ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt chỉ diễn ra ở Thành Đô, chớ không phải ở Bắc Kinh.

Trước đây, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Trung ương Hà Nội, đã đến thuyết trình các sự thật cho các cán bộ cao cấp nhất của cộng sản Việt Nam nghe. Bài nói này mới được tiết lộ ra ngoài hồi đầu năm 2005. Ông Doanh kể lại rằng một chuyên viên tài chánh quốc tế đã đặt câu hỏi với ông như sau: “Chúng mày giỏi thế mà chúng mày nghèo lâu đến thế, là thế nào? Trí tuệ như thế này, truyền thống như thế này, sao mày ăn xin hoài thế? Chúng mày cứ đề ra cái mục tiêu là đến bao giờ chúng mày đừng đi ăn xin nữa, có được không?” Thật là một mối nhục chung cho cả nước!

Ngày trước, công chúa Huyền Trân nhà Trần, các công nương Ngọc Khoa, Ngọc Vạn con chúa Nguyễn, vì đất nước, chịu nhận làm hoàng hậu Chiêm Thành, Chân Lạp để tiền nhân mở mang bờ cỏi về phương Nam. Ngày nay, các em còn vị thành niên, vì miếng cơm manh áo phải sang Miên làm điếm. Thật quá tủi nhục! Còn người lớn thì sang Mã Lai, Đại Hàn lao động, nay nhà nước dự trù xuất cảng lao động sang cả Phi Châu. Nơi đây từng xuất cảng nô lệ sang các nước Tây phương, chả lẽ ngày nay VN xuất cảng người sang Phi Châu “làm đầy tớ cho nô lệ” hay sao? Trong suốt dòng lịch sử, phẩm giá con người VN chưa bao giờ bị khinh khi tàn tệ như ngày nay, chỉ vì đất nước tụt hậu, người dân nghèo đói quá nhiều.

Tiếc hận, hối tiếc: Biến cố 30/4/1975, miền Nam tự do sụp đổ, là bước mở đầu suy đoạn thoái trào để đi đến tan rả của khối Cộng sản quốc tế. Tại miền Nam VN, các chính sách cải tạo công, nông, thương nghiệp đều thất bại. Đất nước ngày càng nghèo đói, miền Nam từng là vựa lúa lớn nhất nhì thế giới. Nhưng bây giờ, người dân VN phải chạy ăn từng bửa, thậm chí phải ăn bo bo. Người dân chỉ còn một con đường: “tự do hay là chết”. Họ bỏ nước ra đi, vượt đại dương trên những chiếc thuyền con, trang bị thô sơ.

Trước 1975, thế giới chú ý đến VN vì nơi đây đang diễn ra cuộc chiến “ác liệt, lâu dài và đẫm máu nhất” kể từ sau Thế chiến II. Sau 30/4/1975, VN đã có hòa bình, đất nước thống nhất, thế giới lại bắt đầu để ý đến VN qua “thảm trạng thuyền nhân”, qua sự vi phạm chà đạp nhân quyền, qua sự nghèo nàn cơ cực chưa từng có…Trên các diễn đàn chính trị thế giới, các cơ quan tuyên truyền khắp năm châu phát ra những tiếng nói vô cùng nhục nhã: “VN là kẻ cướp quốc tế”, “VN - quân Phổ của Á Đông”, “VN vong ân bội nghĩa”, “VN tráo trở lật lọng”, “VN -ngoại giao đi ăn mày”.

Trên bình diện thế giới, LX coi chiến thắng 30/4/1975 như là bước rẩy chết của chủ nghĩa đế quốc do Mỹ cầm đầu. Họ bắt đầu vùng lên nhuộm đỏ thế giới. Sau ba nước Đông Dương, đến lượt Angola lọt vào tay CS năm 1975, Ethiopia, Mozambique năm 1976, Nicaragua năm 1977, Nam Yemen năm 1978 và lên đến đỉnh cao vào năm 1979. Sau khi CSVN và LX ký hiệp ước hữu nghị hợp tác (9/1978), CSVN đưa quân sang Cam Bốt và LX đưa quân vào Afghanistan. Đây là hai quốc gia trung lập đưọc quốc tế công nhận từ lâu. Trung Cộng liền điều quân vượt biên giới để “dạy cho VN một bài học” mà họ gọi là tên “tiểu bá quyền” ở khu vực Đông Nam Á, làm tay sai cho tên “đại bá quyền” Liên Xô.

Cuộc chiến giữa các nước CS đàn anh đã làm gẫy đổ khẩu hiệu của Karl Marx: “vô sản các nước đoàn kết lại”. Đây là giai đoạn cuối cùng của chiến tranh lạnh; LX, TC và CSVN đều chủ trương “đổi mới” để sống còn. Tại LX, lãnh tụ trẻ tuổi Gorbachev đề ra chủ trương Glasnot (cởi mở) và Perestoika (tái thiết), công việc đang tiến hành tốt đẹp, các lãnh tụ bảo thủ lại tổ chức đảo chánh ông, tương tự như Breznhev từng đảo lãnh tụ LX xét lại Khruschev hồi năm 1964. Cuộc đảo chánh năm 1991 ở Nga thất bại vì nhân dân Nga xuống đường ủng hộ Yelsin là người chủ trương cải cách. Cuộc đảo chánh của phe bảo thủ bất thành, Gorbachev trở lại cầm quyền. Ông cho rằng ông đang cứu LX khỏi sụp đổ, các ủy viên Bộ chính trị bảo thủ lại đảo chánh ông, các uỷ ban trung ương đảng đều không lên tiếng phản đối. Dựa vào đó, quyết định đầu tiên của ông khi trở lại điện Kremlin là từ chức Tổng bí thư, giải tán đảng CSLX vì lý do các Ủy viên Bộ chính trị và Trung ương đảng “phản quốc”.

Tại Bắc Kinh, chủ trương “đổi mới” của Đặng Tiểu Bình là thực hiện kinh tế thị trường. Ông từng là Tổng bí thư đảng Cộng sản Trung Quốc, đã bị Mao Trạch Đông hạ bệ ba lần, chỉ vì có tư tưởng hữu khuynh theo đường lối tư bản chủ nghĩa. Tại Đại hội XII Đảng CSTQ (9/1982), ông cho rằng: lý tưởng của Mao là vĩ đại, muốn TQ trở thành một đại cường quốc lớn nhất thế giới, nhưng con đường tả khuynh của Mao là sai, không thể thực hiện được lý tưởng của Mao, vì thế phải “phi Mao” (không có Mao). Nghị quyết Đại hội XII đảng CSTQ ghi nhận: công và tội của Mao bằng nhau. Từ đó, Đặng nắm giữ quyền lực tối cao ở Bắc Kinh, đề ra chủ trương: “kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đây là điểm đặc thù của đảng CSTQ, do hoàn cảnh đặc biệt của đất nước này. Kinh tế thị trường là một hình thức kinh tế tư bản, nhưng từ khi Mao lãnh đạo TQ, bốn chữ “kinh tế tư bản” là điều cấm kỵ. Vã lại con đường hữu khuynh của Đặng Tiểu Bình phải dựa vào HK và các nước Tây phương, tiếp nhận sự giúp đỡ về mọi mặt khoa học kỹ thuật tân tiến để giúp TQ thực hiện “Bốn hiện đại hóa”, mở đầu xây dựng nền kinh tế tư bản. Đây cũng là điều khó được những người CS chấp nhận. Vì thế, không thể nói thẳng là kinh tế tư bản, mà đây là một sáng tạo của CSTQ: kinh tế thị trường là cách đổi mới kinh tế tư bản phù hợp với TQ để xây dựng XHCN. Sáu chữ “định hướng xã hội chủ nghĩa” kèm theo “kinh tế thị trường” là cách hành xử khôn khéo của Đặng, giúp ông hóa giải, vuốt ve các lãnh tụ CSTQ già nua bảo thủ, đừng chống đối phá hoại công cuộc đổi mới của ông, để TQ trở thàng đại cường quốc số một thế giới.

Karl Marx đã khẳng định: thể chế kinh tế sẽ quyết định thể chế chính trị. Công cuộc đổi mới của Trung Cộng kể như thành công, với sở trường về thương mại họ có thừa khả năng để tranh đua với các cường quốc tư bản. Họ chấp nhận quyền tư hữu, cho phép giới tư bản tham gia vào các chức vụ của đảng. Những yếu tố trên cũng chưa đủ bảo đảm cho sự sống còn lâu dài. Trong chiến tranh lạnh vừa qua, Đặng Tiểu Bình biết chớp thời cơ, tránh cho TQ khỏi sụp đổ như LX, mà còn dựa vào HK, Tây Âu, Nhật Bản, tiếp thu kiến thức khoa đại hiện đại, thực hiện thành công “bốn hiện đại hóa”, TQ trở thành một cường quốc kinh tế vào cuối thế kỷ 20. Không biết Đặng Tiểu Bình trước khi qua đời, có di chúc cho những người thừa kế do ông chỉ định, thấy được nguyên do nào khiến Liên Bang Sô Viết và Liên Bang Nam Tư sụp đổ? HK đã giúp TQ thì họ cũng có khả năng giết TQ bằng vũ khí hữu hiệu của Thế giới tự do: dân chủ tự do, tôn trọng quyền tự quyết của người dân mọi quốc gia. Tư tưởng “Đại Hán” và đường lối độc đảng, độc tài là mối đe dọa cho sự tồn tại của Trung Cộng. Có thể mai đây sẽ có một nước Tần ở Quảng Đông, một nước Tấn ở Quảng Tây, một nước Sở ở Vân Nam…

Nhìn lại bài học “đổi mới” của LX và TC, mà hối tiếc cho đất nước VN. Công cuộc “đổi mới” của VN chỉ cần thực hiện kinh tế thị trường là đủ. Cũng theo con đường của TQ, dựa vào HK, Tây Âu và Nhật Bản để hiện đại hóa đất nước. VN có nhiều khả năng hơn TQ về khía cạnh này. VN đã có sẳn hàng trăm ngàn chuyên viên khoa học kỹ thuật được đào tạo ở các nước Tây phương, Úc Châu và Nhật Bản. Chỉ vì sáu chữ “định hướng xã hội chủ nghĩa” khiến Hànội không thể tiến tới với khối người Việt ở hải ngoại, và mãi đến năm 1995 mới bình thường hóa bang giao với Mỹ, trong khi TQ đã thực hiện được việc này từ 1979. Còn Xã hội chủ nghĩa thì đã sụp đổ ngay tại quê hương của Marx (Đức) và Lenine (Nga). Vì thế “tư tưởng Hồ Chí Minh” cũng không còn cần thiết. Vã lại lúc sinh thời, ông HCM nói rằng: Tôi không có tư tưởng gì ngoài tư tưởng chủ nghĩa Mác Lênin” (10) Dựa vào nhóm chữ “định hướng xã hội chủ nghĩa” và “tư tưởng Hồ Chí Minh” chỉ giúp TQ bắt chẹt, chớ chẳng có lợi lộc gì cho nhân dân Việt Nam. Sau gần hai thập niên lên án Trung Quốc là bá quyền bành trướng, phản bội…Nay CSVN quay về với TQ, theo gương Đặng Tiểu Bình thực hiện “kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa” cũng chưa chứng minh sự thành tâm qui phục, nên phải thêm “tư tưởng HCM” mới đủ bảo đảm. Vì thế, giới lãnh đạo TQ tha hồ bắt chẹt, lấy “sự hợp tác toàn diện” làm nền tảng cho mối bang giao Việt Trung, thay thế cho mối họp tác tòan diện Việt Xô mà ông Lê Duẫn và Breznhev đã ký hồi tháng 9/1978. Sự hợp tác với TC lần này kỳ vọng là dài lâu vì LX không còn nữa.

Nhắc đến hận thù chỉ đào sâu thêm mối chia rẽ. Xin nói đến nổi cay đắng, tủi nhục và hối tiếc may ra còn có người suy nghĩ, thức tỉnh. Nhờ đó đất nước khổ đau này có thể có một tương lai sáng lạn: độc lập, phú cường, dân chủ, tự do.

Lê Quế Lâm (30/4/2008)
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

CHÚNG TA THUA


Tran Thanh
Trong phạm vi bài này tôi chỉ nhận xét về mặt truyền thông. Chúng ta còn đang thua ở những mặt khác nhưng sẽ đề cập trong bài khác. Bọn việt cộng đang kiểm soát gần như toàn bộ truyền thông của chúng ta tại hải ngoại. Hầu như các truyền thông lớn đều có bàn tay lông lá của bọn chúng thò vào, mức độ kiểm soát nhiều hay ít tùy theo từng trường hợp. Một người dân bình thường có thể thấy điều này rất rõ, không cần phải là một chuyên gia về chính trị. Nếu chúng ta tìm lại những tờ báo hoặc những băng video ca nhạc của người Việt làm tại hải ngoại trong khoảng thời gian từ năm 1980 đến 1990 thì ta thấy NỘI DUNG CHỐNG CỘNG MẠNH HƠN BÂY GIỜ RẤT NHIỀU. Tôi đã xem một cuộn băng video làm từ năm 1983, trong đó có những bài hát lên án tội ác của cộng sản, có những vở kịch tố cáo tội ác của cộng sản. Những tờ báo phát hành trong khoảng thời gian từ năm 1980 đến 1990 đều gọi bọn cướp nước là:-giặc cộng, việt cộng, vẹm, rợ Hồ, cộng sản, cộng phỉ ..v..v.. Theo thời gian, tội ác của cộng sản NGÀY CÀNG NHIỀU HƠN nhưng cường độ chống cộng của chúng ta thì tỷ lệ nghịch, nghĩa là yếu dần đi!

Không thể viện dẫn lý do vì việt cộng nó "chêng" rồi nên không cần chống nữa. Cũng không thể ngụy biện rằng vì người quốc gia là có học, có bằng cấp cao nên phải lịch sự, gọi bọn giặc là "ông" hay "ngài"!!!Kể từ sau năm 1990, những tội danh nêu trên hầu như biến mất trên các truyền thông ở hải ngoại, thay vào đó là những nhóm chữ rất hiền lành như : - chính quyền Hà Nội, nhà nước Việt Nam, chính quyền Việt Nam. Khi đưa tin về những tên tướng cướp của đảng việt gian cộng sản thì có một vài tờ báo bưng bô đã in những giòng chữ lớn, viết hoa rất trịnh trọng, ví dụ: - Ông/ hoặc Ngài Chủ Tịch Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Nguyễn Minh Triết sẽ sang thăm viếng Hoa Kỳ từ ngày ....Nếu có tờ báo nào gọi bọn chúng là "cộng sản" thì đều viết tắt là CS hoặc CSVN chớ không dám viết nguyên chữ. Còn nhóm chữ "việt gian cộng sản" thì coi như là "đại húy kỵ", không dám nói đụng chạm tới mấy "ông cố nội". Rất ít tờ báo nào dám "phạm thượng" như vậy, sợ bị tội tru di tam tộc!!!

Những người dân trong nước khi có dịp vào internet hoặc đọc những tờ báo giấy phát hành tại hải ngoại thì họ sẽ có nhận định như thế này:

Chúng tôi là những người dân trong nước đang sống trong vòng kềm tỏa của việt cộng, chúng tôi sợ bị tù đày, chết chóc nên chúng tôi đã CÂM MỒM. Chúng tôi là những THẰNG HÈN. Chúng tôi phải giả điếc giả đui để mà sống. Chúng tôi chỉ còn biết đặt hết tất cả hy vọng vào những người Việt tại hải ngoại. Các anh ở hải ngoại, sống ngoài vòng cương tỏa của việt cộng, các anh có thừa những điều kiện để chống cộng, cho dù chỉ là chỉ chống cộng bằng mồm đi cũng được. Cứ chửi bọn chúng, tố cáo những tội ác của việt cộng cho thật nhiều để cả thế giới đều biết, người dân trong nước chúng tôi cũng cảm thấy mát lòng mát dạ vì có những người đang nói thay giùm mình. Những hỡi ôi, chúng tôi quá sức thất vọng vì các chiến sĩ chống cộng tại hải ngoại bởi vì CÁC ANH CÒN HÈN HƠN CHÚNG TÔI NỮA!!! Còn hy vọng gì nơi các anh? Chuẩn bị đi học tiếng Tàu để làm người dân của nước Tàu là vừa rồi. Hiểm họa mất nước, Việt Nam sẽ biến thành Tây Tạng thứ hai trông thấy rõ trước mắt!!!


Ai đời bọn cướp mà các anh gọi chúng là: "chính quyền Việt Nam" Tụi tôi đâu có tín nhiệm, bầu bọn chúng lên để đại diện cho chúng tôi bao giờ đâu? Những chữ rất đúng để nêu lên bản chất của bọn chúng mà chính quyền VNCH đã từng dùng như: - cộng phỉ, cộng sản, việt cộng, vẹm, việt gian cộng sản, các anh đã quăng đi đâu mất? Thật là thất vọng vô cùng! Chỉ nội vấn đề TỘI DANH của bọn chúng mà các anh còn không dám gọi thì còn mong chờ các anh làm được điều gì để giải cứu chúng tôi????!!!!!Sau năm 1975, những người dân miền Nam đã được nghe những người dân miền Bắc tâm sự: - Trong thời gian chiến tranh, chúng tôi ở ngoài Bắc chỉ mong cho miền Nam chiến thắng, giải phóng miền Bắc để chúng tôi thoát khỏi cái họa cộng sản. Lúc Mỹ nó bỏ bom Hà Nội, chúng tôi chỉ mong cho nó ném bom mãi để cho mấy thằng cộng sản phải đầu hàng! Có ngờ đâu khi nghe tin miền Nam đầu hàng, nhiều người chúng tôi đã quá thất vọng, khóc như bố chết, có người tự tử!!!

Cái tâm trạng này của những người dân miền Bắc cũng y hệt như tâm trạng của những người dân đang sống trong nước hiện nay nghĩ về cộng đồng người Việt tại hải ngoại. Họ chán chường và thất vọng. Cộng đồng người Việt tại hải ngoại, sống ngoài vòng kềm kẹp của việt cộng mà còn riu ríu cúi đầu, bưng bô, đội đít bọn chúng, không dám gọi bọn chúng là "việt cộng" thì thử hỏi những người trong nước còn dám làm được trò trống gì?Riêng về các trung tâm băng nhạc sản xuất các DVD và băng video thì cũng rơi vào tình trạng tương tự.

Cho đến nay, một vài trung tâm vẫn còn phát hành các DVD mang nội dung "chống cộng" nhưng nếu xét cho kỹ thì đó chỉ là cái vỏ bề ngoài.

Đã gọi là chống cộng thì phải chống cho tới bến, chống cho đến nơi đến chốn, phải đạt được hai mục tiêu, gồm hai vế:


Một là: Vinh danh quân lực Việt Nam Cộng Hòa
Hai là: Tố cáo tội ác của cộng sản, NÊU RÕ TÊN KẺ THÙ ĐÃ GÂY RA TỘI ÁC.


Tiếc thay, các trung tâm băng nhạc chỉ dám thực hiện vế đầu còn vế thứ hai thì tuyệt đối không dám nói động tới, sợ "chạm húy" đến "ÔNG CỐ NỘI", có thể bị tru di tam tộc!!! AI đã gây ra những tội ác? Kẻ thù của chúng ta là AI? Không lẽ quân lực Việt Nam Cộng Hòa đánh nhau với MA??? Tên của kẻ thù không bao giờ được nêu ra. Những người trẻ coi DVD chẳng hiểu vì sao lại có cuộc chiến tranh xảy ra tại Việt Nam trước năm 1975!!!Đây không phải là một sự sơ ý mà tôi tin rằng việt cộng đã kiểm soát một phần nào các trung tâm băng nhạc. KHÔNG PHẢI CHỈ CÓ CHA LÝ MỚI BỊ BỊT MIỆNG ĐÂU MÀ NGAY CẢ CÁC TRUNG TÂM BĂNG NHẠC CŨNG ĐANG BỊ BỌN CHÚNG TRÓI TAY, KHÓA MỒM!!!

Mới đây, một trung tâm băng nhạc do mấy anh hề rẻ tiền làm chủ đã cho ra đời một DVD toàn những bài hát của việt cộng, thậm chí còn công khai hát luôn bài hát "quê hương là chùm khế ngọt" của việt cộng! Bọn chúng thường dùng bài hát này để chiêu dụ việt kiều về Việt Nam và thậm chí còn khích bác: - anh/chị, ông/bà nào mà chưa về Việt Nam là SẼ KHÔNG THỂ LỚN NỔI THÀNH NGƯỜI!!! Hồi trước năm 1975, các dân chơi cầu ba cẳng thường có câu:"Vô lậu bất thành nhân" (không mắc bệnh đau lậu, giang mai thì không thể nên người) Ngày nay bọn việt gian cộng sản cũng đang "giáo dục" cộng đồng người Việt tại hải ngoại bằng câu tương tự: - không về Việt Nam chơi bời thì bất .... thành nhân!

Chúng ta đang thua việt cộng trên từng mặt trận, thua về chiến thuật nhưng về tổng thể thì không thể nào bị thua như năm 1975 vì những hạt nhân chống cộng còn rất vững. Đó là nhờ công lao tuyên truyền của chế độ VNCH trước năm 1975. Đối với những người từ 40 tuổi trở lên, việt cộng rất khó nhồi sọ họ vì từ năm 1975 họ đã khoảng 10 tuổi, lứa tuổi đã được xem truyền hình của đài truyền hình Sài Gòn. Họ được cha mẹ họ giáo dục cho nên họ ít nhiều gì họ cũng biết "việt cộng, cộng sản" là một cái gì đó hết sức ghê tởm.

Bài viết này nêu rõ những điểm THUA của chúng ta để rút kinh nghiệm, không ngủ quên trên chiến thắng, trên lá cờ vàng. Mong rằng chúng ta sẽ tiếp tục "cơm nắm muối vừng", "vác ngà voi" và đừng bao giờ về Việt Nam nữa cho đến khi nào chế độ cộng sản phải sụp đổ. Những món hàng thực phẩm từ Việt Nam xuất cảng sang Mỹ, chúng ta tuyệt đối tẩy chay. Đừng nghe những giọng đọc rù rì của Tú Trinh qua các dĩa DVD quảng cáo du lịch, quảng cáo món ăn nào cũng "đậm đà bản sắc dân tộc, đậm đà hương dzị quê hương" mà ăn vào vừa tốn tiền vừa mang bệnh, phải chết sớm, không nhìn thấy được ngày lá cờ vàng sẽ lại tung bay trên quê hương chúng ta.


Tran Thanh
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Làm Mẹ

Ngô Nhân Dụng
Nhiều người ví đất nước quê hương với mẹ. Nhưng ví như vậy là chưa thấy đúng giá trị của các bà mẹ. Người ta có thể hờn dỗi với quê hương, có người oán giận quê hương suốt đời, có người từ bỏ đi luôn không thương tiếc. Nhưng không mấy ai oán giận mẹ đến như vậy. Nhiều chàng trai gặp cơn thất bại (hoặc thất tình), giận thân giận đời, chẳng biết trút hận cho ai bèn trút hết cơn giận dữ lên quê hương, nòi giống: “Lũ chúng ta lạc loài dăm bẩy đứa - bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh!”. Có người giận đến mức gọi tên tổ quốc ra bắt ông (hay bà ấy) phải “ăn năn” mới bớt giận. Lúc hờn giận như vậy chắc họ nghĩ đến tổ quốc như một người đàn ông (một người cha đầy lầm lỗi), chứ không phải là một bà mẹ. Có ai nỡ lòng oán mẹ mình như vậy hay không? Chắc là không.

Các bà mẹ đã làm gì để được người ta yêu thương như vậy? Tốt nhất là các bà không làm cái gì ghê gớm cả. Họ chỉ cần “làm mẹ” thôi, cũng đủ mang hạnh phúc đến cho mọi người và được nhân loại biết ơn rồi. Làm mẹ nghĩa là sao? Nếu bạn là một người mẹ, bạn không cần hỏi câu đó. Làm mẹ là làm mẹ. Một người cha nhìn đứa con là thấy một “đối tượng” để mình dạy dỗ, để uốn nắn, rèn cặp, nâng đỡ, xây dựng,vân vân. Các bà mẹ không cần như vậy; họ chỉ làm mẹ thôi là đủ. Phần lớn những gia đình mà người mẹ không quan tâm đến việc răn dạy, đe nẹt, uốn nắn các con, là những gia đình sống vui nhất, và những bà mẹ đó thường được các con yêu thương nhất. Mà rồi những đứa trẻ từ các gia đình đó ra đời cũng đều thành công, tất cả đều nhờ phúc đức ông bà, không khác gì những gia đình sống trong quy củ “học tập cải tạo” vì lúc nào cũng được người cha khép trong vòng kỷ luật.

Trong văn chương, sách vở, những người hay bày tỏ nỗi hờn giận đối với quê hương, tổ quốc phần lớn cũng là đàn ông cả. Ðó là văn chương của những người đàn ông oán hận vì những đàn ông khác. Chẳng mấy khi chúng ta thấy các nữ văn sĩ tỏ ý hờn giận quê hương mình như vậy. Trái lại, cả những phụ nữ phải rời bỏ quê hương mà đi, vì sống ở đó không nổi, họ cũng vẫn sẵn lòng tha thứ, bao dung cho đất mẹ. Thử hỏi các bà Trần Khải Thanh Thủy (đang chống chọi với căn bệnh ngặt nghèo ở trong nước), hay bà Dương Thu Hương (đang ở nước ngoài) xem các bà có oán giận quê hương mình như các ông nhà văn hay không? Hình như trong bài vở, văn chương của họ, những vai xấu nhất, đáng giận nhất, là đàn ông. Những người đáng kính, đáng yêu nhất vẫn là phụ nữ.

Những tác phẩm của ông Nguyễn Huy Thiệp là các biến khúc của một bài hợp tấu ngợi ca người phụ nữ. Trong cả cuốn “Ðêm Giữa Ban Ngày” của Vũ Thư Hiên, nhà văn (đàn ông) này mở ra bao nhiêu hồ sơ nhơ nhuốc của một chế độ. Nhưng trên bối cảnh của một xã hội meo mốc, đen tối và nhiều khi ti tiện đó, chỉ có một nhân vật kiên cường dũng cảm nhưng vẫn hiền đức, dịu dàng, là bà mẹ của tác giả. Người phụ nữ đó nổi bật lên như một vầng trăng giữa sa mạc; sau khi đọc xong cuốn sách người đọc ghi nhớ nhất trong lòng hình ảnh của bà. Nguyễn Văn Trấn viết về Mẹ và Tổ Quốc, nhưng trong cuốn hồi ký của ông chúng ta thấy nhiều nhất là một nỗi oán hận khó tả. Ông oán những người đàn ông, những nhân vật đóng vai cha. “Cha già” lại càng đáng giận hơn nữa.

Có những chế độ trong đó các bà mẹ chỉ được đề cao khi họ đóng “mẹ nuôi chiến sĩ,” hoặc “công nhân tiên tiến” vượt các mục tiêu sản xuất, chứ không phải vì họ làm mẹ. Còn chúng ta, loài người bình thường, không ai cần hô khẩu hiệu “Toàn dân yêu quý mẹ!”. Chúng ta yêu thương mẹ vì các bà chỉ làm mẹ thôi. Chỉ cần làm những việc bình thường của một bà mẹ, họ đã được loài người yêu kính một cách tự nhiên không ai cần thưởng huy chương, cũng không cần một bộ máy tuyên truyền nào cổ động cả.

Có những bà mẹ nấu nướng không giỏi, thêu thùa may vá không hay, tướng người thô kệch, cư xử cũng vụng về; nhưng cả đời bà chỉ có một công đức đáng nhớ là yêu con, thương con một cách giản dị, tự nhiên. Khi các con lớn lên không cần bàn tay mẹ chăm lo săn sóc nữa, thì các bà quay ra yêu cháu. Và cứ như vậy, đời này qua đời khác, các bà mẹ thay phiên nhau vun đắp cho nền công đức ấy cho cả loài người. Và chỉ thế thôi cũng đủ để loài người tôn kính các bà, gọi các bà bằng một danh hiệu cao quý, là Mẹ!

Có những người cha suốt đời lo làm việc lớn, kinh bang tế thế, đội đá vá trời, đến cuối đời mình mới biết bầy tỏ lòng biết ơn đối với bà mẹ của các con mình. Những người phụ nữ bình thường đó xây góp công xây dựng nên dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam, nhiều hơn là những người đàn ông hay hô khẩu hiệu và thích làm những chuyện lớn lao.

Lúc cuối đời, cụ Phan Bội Châu viết cho người con trưởng, kể công đức của cụ bà, một người mẹ hiền, vợ thảo cũng là một người con dâu chí hiếu. Cụ Phan Bội Châu lo rằng mình sắp nhắm mắt lìa đời, nếu không kể những công lao, các đức tính của cụ bà thì người con sẽ không biết đầy đủ về mẹ. Phan Bội Châu ca ngợi: “Khổ cực mấy nhưng sắc mặt không buồn; khó nhọc mấy nhưng không tiếng giận.” Cho nên Phan Bội Châu ghi ơn: “Nếu không có mẹ mày thì chí khí cha mày đã hư hỏng từ những bao giờ kia.” Bài viết của Phan Bội Châu cho thấy hình ảnh một người phụ nữ Việt Nam đời xưa bây giờ không còn nữa; và chắc phụ nữ thời nay cũng không nên sống nhẫn nhục chịu đựng và chịu thiệt thòi nhiều như thời một trăm năm trước. Nhưng cũng có những đức tính của cụ bà mà dù là nam hay nữ người nào cũng nên học.

Cụ bà Phan Bội Châu đã hy sinh nhẫn nhục trong suốt thời gian cụ ông lìa bỏ gia đình ra đi tìm đường cứu nước; ra Bắc, vào Nam, khi vượt biển sang Trung Hoa, Nhật Bản, Xiêm La. Hơn hai mươi năm sau cụ bị Pháp bắt cóc đem về Việt Nam xử án, rồi lưu đầy, vẫn tiếp tục phải xa gia đình cho đến khi qua đời. Cụ giữ được ý chí kiên trì suốt đời cũng là nhờ người vợ “không hé răng một lời” ngăn trở. Cụ Phan kể, sau khi lãnh án tù giam lỏng, được đưa từ Hà Nội vào Huế, trên đường đi, sau hai mươi năm mới được gặp cụ bà một lần: “Tới ngày ta bị bắt về nước, mẹ mày được gặp ta một lần ở thành tỉnh Nghệ An, hơn nửa tiếng đồng hồ chỉ nói có một câu rằng ‘Vợ chồng ly biệt nhau hơn hai mươi năm, nay được một lần giáp mặt thầy, trong lòng tôi đã mãn túc rồi. Từ đây về sau chỉ trông mong thầy giữ được lòng thầy như xưa; thầy làm những việc gì mặc thầy, thầy không (cần phải) phiền nghĩ đến vợ con.’” Phan Bội Châu tán thán: “Hỡi ơi câu nói ấy bây giờ còn phảng phất bên tai ta...”.

Cụ bà Phan Bội Châu phải là một con người có một tấm lòng luôn luôn bình thản, an lành, ngay trong cảnh sống khó khăn, vất vả nhất. Cụ hy sinh, nhẫn nhục, im lặng làm đầy đủ những bổn phận mà ngày nay chúng ta không có quyền đòi hỏi các phụ nữ phải làm như vậy nữa. Nhưng trong lúc chúng ta muốn vai trò xã hội của người phụ nữ thay đổi, thì cả loài người chắc không bao giờ thay đổi quan niệm về vai trò của một người mẹ. Xin các bà mẹ cứ làm mẹ, cho chúng con nhờ!

Ngô Nhân Dụng
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Giải thoát khỏi cái đói

Ngô Nhân Dụng

Ðầu thập niên 1980, tôi tham dự một nhóm công dân người Canada tranh đấu cho nhân quyền, họ đang vận động chính phủ Canada can thiệp đòi Cộng Sản trả tự do cho nhà văn Doãn Quốc Sĩ ở Việt Nam. Tôi đã kể chuyện về Doãn Quốc Sĩ cho những bạn trẻ này nghe, về con người, về các sáng tác của ông.

Một người trong nhóm yêu cầu tôi giới thiệu một tác phẩm ngắn của Doãn Quốc Sĩ để giúp anh hiểu thêm về con người mà anh đã vận động, tranh đấu đòi trả tự do từ mấy năm qua. Tôi đã chọn truyện ngắn “Chiếc chiếu hoa cạp điều.” Người Việt nào mà không biết truyện này? Cảnh chạy loạn trong đó là cảnh mà tôi đã sống qua khi còn nhỏ. Nhân vật người mẹ trong đó có đủ những sức mạnh và những lúc mềm yếu không khác gì mẹ tôi. Anh bạn người Canada gốc Bỉ, nói tiếng Pháp, ngồi nghe tôi dịch từng câu trong truyện ngắn đó. Ðến một chỗ anh tỏ vẻ không hài lòng.

Ðó là chỗ nhà giáo Doãn Quốc Sĩ bàn về chính trị. Ông nói đại ý là người ta đang sống giữa một cuộc tranh chấp giữa hai ý thức hệ, tư bản và Cộng Sản, mà ông thấy cả hai đều hỏng. Tư bản thì chỉ vụ lợi, lấy cái lợi để nhử con người. Cộng Sản thì tìm cách kiểm soát con người bằng mọi phương tiện. Câu văn của Doãn Quốc Sĩ khiến anh bạn tôi không tin là khi nhà văn nói chế độ Cộng Sản đưa con người vào cảnh đói khát để dễ kiểm soát người ta hơn. Anh Warrot không thể tin là có một chế độ đưa con người vào cảnh đói khổ. Giống như phần lớn các thanh niên cấp tiến Tây phương, anh biết chế độ Cộng Sản là độc tài, đàn áp dân, xâm phạm nhân quyền, nhưng anh vẫn cho là họ chỉ lầm lẫn về chính sách cai trị chứ không dùng kinh tế nghèo đói làm lợi khí cai trị. Tôi chỉ có thể giải thích với anh rằng Doãn Quốc Sĩ chỉ viết theo kinh nghiệm sống của ông. Mà tôi biết, Doãn Quốc Sĩ là một người hiền hòa, chính trực, không bao giờ bịa đặt để nói xấu người khác.

Trong lúc chúng tôi đang bàn cãi nhau về văn chương như vậy, thì nhà văn Doãn Quốc Sĩ hay nhà báo Như Phong ở trong trại cải tạo đang ngồi thiền và nhịn đói. Trong những cái nhà tù đó, quả thật người ta dùng cái đói, cái thiếu thốn, thèm khát kéo dài nhiều tháng, nhiều năm, để biến con người thành nô lệ cho những nhu cầu căn bản của thân xác: ăn, ngủ. Hơn thế nữa, họ muốn giản lược hóa con người vào tình trạng như muông thú chỉ biết sống theo bản năng sinh tồn. Những người như Doãn Quốc Sĩ, Như Phong, Thanh Tâm Tuyền, Hà Thượng Nhân, vẫn sống thản nhiên, đĩnh đạc, giữ vững tư cách của bậc đại trượng phu “bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” vì nhờ họ đã được giáo dục trong nền nếp đạo lý truyền thống của ông bà từ nhiều thế hệ trước.

Những ông Stalin, ông Mao Trạch Ðông, và đệ tử của họ là ông Hồ Chí Minh dùng chế độ hộ khẩu, tem phiếu để kiểm soát miếng ăn của người dân bị trị, họ biết đó là một phương pháp kiểm soát con người rất có hiệu quả. Khi miếng ăn đã là mối quan tâm hàng ngày lớn nhất, khi mọi người phấn đấu suốt ngày đêm, suốt cuộc đời để được ăn một miếng thịt nhiều hơn nhà hàng xóm, thì “bảo quỳ nó sẽ quỳ, bảo bò nó sẽ bò,” như lời một anh quản giáo nói. Người dân bị trị sẽ không ngần ngại hô to các khẩu hiệu “tiến tới xã hội xã hội chủ nghĩa” hay là “yêu nước là yêu Chủ Nghĩa Xã Hội” miễn là được thưởng một miếng thịt. Vừa được ăn thịt, lại vừa tin tưởng rằng mình đang xây dựng một thiên đường cho cả nhân loại, ai chẳng sẵn sàng hy sinh và hết lòng tuân phục theo lãnh đạo? Giống như con chó thuần phục ông bà chủ cho mình miếng xương, những con người phải nhịn đói lâu ngày cũng biết ơn những kẻ đã cho mình được ăn no bụng. Nhờ ơn Bác, nhờ ơn Ðảng mới có mớ rau muống, mới có miếng thịt gà!

Ngày xưa Machiavelli dậy các ông hoàng hai phương pháp trị dân: Hoặc làm cho chúng nó sợ, hoặc làm sao được chúng nó yêu. Cách thứ nhất dễ hơn và hiệu quả chắc chắn hơn. Các lãnh tụ Cộng Sản sáng tạo thêm một phương pháp thứ ba: Ðể cho chúng nó đói. Ðó là cách chắc chắn nhất. Nếu không sống trong chế độ như vậy thì khó tin đó là sự thật.

Trong đám cộng sản ở Á Châu, chỉ còn ông Kim Chính Nhật vẫn trung thành với Stalin, Mao Trạch Ðông. Guồng máy cai trị của bố con ông Kim là kiểu mẫu hoàn hảo, đưa phương pháp của Xít và Mao đến mức tuyệt kỹ. Hồ Chí Minh hay Pol Pot cũng không tài như vậy.

Nhưng ông Xít cũng như ông Mao không ngờ phương pháp trị dân của họ còn tạo được hậu quả lâu dài, chính nó giúp các đảng Cộng Sản Á Châu bảo vệ được quyền hành ngay cả khi chính cán bộ Cộng Sản không còn tin ở chủ nghĩa của họ nữa. Có ông bà nào trong Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Trung Quốc và Việt Nam còn tin ở Chủ Nghĩa Xã Hội hay không? Họ không tin, nhưng vẫn nhân danh các khẩu hiệu cũ nát đó để cai trị. Và điều thần tình là ngay cả khi họ tháo gỡ guồng máy kiểm soát bằng tem phiếu rồi, dân bắt đầu được tự do kiếm miếng ăn ngoài biên chế, nhưng nhiều người vẫn cúi đầu chấp nhận sống như con thú nuôi trong chuồng! Guồng máy cai trị đã được thiết lập kiên cố, người dân được tập sống trong đó quen rồi, họ được tự do kiếm miếng thịt ăn thì chỉ biết cắm cúi lo ăn cho sướng. Sau khi đã phải nhịn đói cả đời, được ăn là thỏa mãn, ai còn muốn suy nghĩ đến những vấn đề khác? Thói quen thần phục nó giam giữ con người, bỏ ngay không được, giống như những con gà được nuôi trong chuồng đã quen, cứ đến tối lại tìm về nằm trong chuồng vậy.

Các chế độ Cộng Sản Á Châu vẫn tồn tại được sau khi đã thay đổi guồng máy kinh tế chỉ huy từ hai chục năm nay, cũng là nhờ chính sách cai trị kiểu Xít và Mao đã tập cho dân thói quen vâng lời, giống như những con thú đã được thuần hóa. Cho nên, mối đe dọa duy nhất cho các chế độ này là những người dân còn trẻ quá, từ lúc lớn lên không được nuôi nấng theo phương pháp cũ. Thế hệ trẻ này bắt đầu “hư” vì suy nghĩ theo lối khác với cha anh họ.

Hồi đầu thập niên 1990, khi qua các nước Ðông Âu, tôi vẫn còn gặp những thanh niên suy nghĩ theo lối “gà về chuồng.” Có những chị sinh viên 30 tuổi được đảng và nhà nước cho du học hay đi làm lao động ở nước ngoài thì coi đó là một ân huệ mà đảng và nhà nước dành cho mình. Nhờ cha mẹ mình và chính mình “phấn đấu” cho nên được tưởng thưởng xứng đáng. Họ thấy những sinh viên hay thanh niên lao động khác có ý tưởng khác với chính sách của đảng thì họ coi đó là những phường bội bạc! Có những người chỉ trích Hà Sĩ Phu, coi là một người phản bội vì anh tuyên bố chia tay với chủ nghĩa Mác! Anh đã được đảng cho đi du học, trở về nước không chịu chui vào guồng máy phục vụ đảng! Ðã được đảng đãi ngộ tốt đến thế mà còn chống lại đảng, đúng là bất hiếu bất mục! Ðến bây giờ vẫn còn một số người nói như thế, đặc biệt là nhân viên sứ quán, để khuyên nhủ các người Việt ở Ðông Âu.

Nhưng từ dăm năm qua, khi gặp những người bạn trẻ ở Ðông Âu, tôi thấy họ bắt đầu suy nghĩ khác. Họ đã bắt đầu suy nghĩ tự do, không sợ hãi. Tự do bao giờ cũng đi đôi với quyết định. Khi quyết định, dù chỉ quyết định nêu ý kiến, tức là phải đối phó với những hậu quả của điều mình quyết định. Suy nghĩ là chọn tự do và chọn rủi ro!

Nhiều người còn trung thành với chế độ Cộng Sản là vì họ từ chối, không muốn suy nghĩ, không muốn tự chuốc lấy mối rủi ro vì suy nghĩ mà phải gánh. Còn đa số các bạn trẻ người Việt, ở trong nước cũng như ở ngoài, họ chọn con đường suy nghĩ độc lập. Nhiễm thói quen suy nghĩ độc lập rồi, điều đầu tiên họ cảm thấy là họ không nợ nần gì đảng và nhà nước Cộng Sản cả. Kinh tế thị trường, dù chưa đủ tự do, cũng giải thoát con người khỏi mối lo sợ vì đói, mất nỗi ám ảnh về đói mà thế hệ trước ở Việt Nam còn phải chịu. Khi một người dân được ăn no, mà nghĩ rằng chính họ, cha mẹ, gia đình họ đã dùng sức mình kiếm được miếng ăn, thì không còn ai nghĩ theo kiểu “Nhờ ơn bác, nhờ ơn đảng” theo lối kinh nhật tụng ngày xưa nữa. Con người được giải phóng khi cái bao tử được giải phóng! Một thanh niên khi được anh chị khuyên nên phấn đấu để được kết nạp vào đảng,đã phát biểu rất hồn nhiên: Em “đ...” cần vào đảng em cũng có tiền!

Khi bắt đầu được tự mưu sinh, tập sống độc lập, suy nghĩ độc lập, thì điều đầu tiên người ta khám phá ra là họ không nhờ vả gì những người ngồi trên đầu trên cổ họ cả. Không phải chịu ơn bác và đảng nào cả. Trái lại, người ta ý thức được rằng chính guồng máy cai trị đó được mình nuôi, ý thức rằng “người dân đóng thuế” là những người nuôi các ông công an, các ông cán bộ, chứ không phải chịu ơn các ông đó.

Ðảng Cộng Sản đang lo một điều mà trước đây họ không bao giờ phải lo, là người dân Việt Nam, bắt đầu với thanh niên, đòi nhà nước phải thỏa mãn những quyền lợi mà họ ý thức là họ được hưởng. Thí dụ, nhà nước phải ngăn ngừa lạm phát. Phải tránh cảnh thóc cao gạo kém, ngăn không cho nạn đói xẩy ra. Trước đây 20 năm, dân Việt Nam không dám nói đến quyền lợi, mà lúc nào cũng được nhà nước nhắc nhở phải làm bổn phận. Giới thanh niên đã thay đổi thái độ, và họ sẽ kích thích, lôi kéo cả xã hội thay đổi theo.

Những phong trào phản kháng gần đây ở trong nước đang thu hút những người trẻ. Họ đã đặt ra những vấn đề mới khác hẳn thế hệ trước. Chính vì họ đã được giải thoát khỏi mối lo bị đói. Họ đã được giải thoát, không còn giữ trong ký ức riêng và ký ức tập thể những ám ảnh về đói, không còn mang ơn guồng máy cai trị phát cơm cho ăn nữa. Từ đó, nẩy sinh ra ý thức về quyền công dân, quyền của những người đóng thuế nuôi hệ thống nhà nước. Họ bắt đầu đặt những câu hỏi mới. Khi bớt lo bị đói, người ta sẽ đặt những câu hỏi mới.

Mươi năm trước, những ông Trần Ðộ, Hà Sĩ Phu, Phan Ðình Diệu đặt những câu hỏi về chủ nghĩa, về hệ thống xã hội. Ngày nay, các thanh niên hỏi: “Ðảng Cộng Sản Việt Nam lấy tiền đâu ra mà nuôi cả guồng kềnh càng máy đảng?” “Có phải đó cũng là tiền do người dân đóng thuế hay không?” Ðó là những điều mà ngày xưa cha mẹ họ không nghĩ tới, không ai dám hỏi. Nhưng đó là những câu hỏi ai cũng hiểu được, ai cũng thấy là cần phải hỏi.

Cho nên, khi các đảng Cộng Sản ở Á Châu bắt đầu thay đổi guồng máy kinh tế, chúng ta biết sẽ có những hậu quả chính trị. Thế hệ trẻ biết giá trị của họ, với tư cách những công dân biết suy nghĩ và dám suy nghĩ. Không sớm thì muộn, chế độ sẽ phải thay đổi về chính trị.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

NHỮNG KẺ BẮN LÉN

Phạm Ngũ Yên
1.
Một ngày nào đó, tôi sẽ về Bolsa với một chiếc áo giáp nhà binh mà tôi đã tìm thấy ở chợ trời. Chiếc áo giáp không cầu kỳ và nhẹ như một nhúm bông gòn mùa Giáng Sinh với hai cánh tay bị khuyết. Nó không đa năng và cũng không vô hiệu hóa được những bất trắc như những chiếc áo được trang bị cho binh sĩ Hoa Kỳ đang chiến đấu ở chiến trường Iraq. Tôi không hi vọng dùng nó để che chắn cái lạnh từ vài cơn bão bất chợt bay ngang thành phố khi tôi ngồi trong quán cà phê. Và chính nó cũng không muốn mang một sứ mệnh cao cả nào khác. Ngay cả sự lập dị hay làm dáng cũng không. Tôi nghĩ tôi mang nó với lý do đơn giản là để chống đạn.

Có những điều mà chúng ta đang học biết rằng sự tự trọng và lòng kiêu hảnh luôn bổ sung cho nhau, để làm hành trang khi đi xuống cuộc đời. Sẽ không có một giá trị nào khác, ngoài giá trị được làm một công dân ngay thẳng, thách đố với nghịch cảnh và quay lưng lại với những điều xấu. Và cũng không có sự thật, hay chân lý nào che dấu được những lời nguyền, khi chúng ta cúi đầu dễ dàng trước cám dỗ. Sự cám dổ không có biên giới và cũng không có mức độ. Nhưng hệ lụy thì phân chia rõ ràng hai hướng đời thù- bạn.

Người ta dễ bị đánh lừa bởi chính hào quang mà mình không hề có. Lại càng dễ bị chinh phục trước sự lấp lánh mênh mông của tinh tú, của ngân hà. Nên càng lúc, những vĩ nhân cống rãnh và những thiên tài của đường phố càng sinh sỗi nẩy nở mỗi ngày. Nhiều như nấm dại sau cơn mưa và nhìn đâu cũng thấy sỗ sàng chiêng trống.

2.
Tôi không thể lý giải tại sao trong cùng một đất đai mà sản sinh ra cùng lúc vừa anh hùng vừa vô lại. Tôi cũng không lý giải tại sao trên cùng một trang sữ lộng lẫy viết bằng mực máu của tiền nhân (dựng nước và giữ nước)- có những thiên anh hùng ca, đồng thời có những vần thơ dung tục.

Tháng tư chậm rãi trôi qua. Và những ngày cuối cùng của tháng tư đã như hương phấn trái mùa làm xốn xang tâm hồn người Việt lưu vong. Một quân đội bị tan rã lạ lùng sau mấy chục năm kiên cường chiến đấu. Một chế độ tự do- dù có vài hạn chế vì tình hình chiến tranh- đã một sớm một chiều bị biến mất. Hơn ba mươi ba năm, khi viết lại những dòng này, tôi vẫn mang trong lòng sự nhức nhối như buổi trưa ngày 30 tháng tư nghe tin Dương Văn Minh ra lệnh buông súng đầu hàng. Lịch sữ sang trang nhưng cuộc đời vẫn lăn về phía trước. Nhửng anh hùng và kẻ hèn nhát lần lượt hiện ra, rõ ràng như một tấm gương phản chiếu.

Khi những vòng xích T.54 oan nghiệt ủi sập cổng dinh Ðộc Lập lúc 11 sáng, cũng là lúc những đứa con trai của Tổ Quốc Việt Nam chấp nhận nằm xuống. Máu của họ chảy ra để làm thơm ngát đất đai và làm vinh quang lịch sữ. Họ bày tỏ một quyết tâm son sắt là không chấp nhận sự đầu hàng ô nhục. Những vị tướng Tư Lệnh của các Quân Ðoàn và Sư Ðoàn đã kẻ trước người sau tuẫn tiết. Tướng Nguyễn Khoa Nam (Tư Lệnh QÐ 4), Tướng Lê Văn Hưng (Tư lệnh Phó QÐ 4), Tướng Phạm Văn Phú (Tư Lệnh QÐ 2), Tướng Lê Nguyên Vỹ (Tư Lệnh SÐ 5 Bộ Binh), Tướng Trần Văn Hai (Tư Lệnh SÐ 7 Bộ Binh). Sự nằm xuống của họ, vừa bi tráng, vừa ngậm ngùi. Bi tráng vì toát lên danh dự và trách nhiệm của một Tướng Lãnh. Ngậm ngùi vì mấy chục năm sau, đã có những vị tướng lãnh bất xứng cam tâm quỳ mộp trước kẻ thù. Trong đó có Dương Văn Minh, Nguyễn Cao Kỳ, Ðỗ Mậu...

Những câu hát trong bài Quốc Ca và những lời thề trước Vũ Ðình Trường chưa qua hết vì một thế hệ chưa qua. Hồn thiêng của những anh hùng năm xưa nay đã thành Thần. Họ không cần nói thêm điều gì cho thế hệ hôm nay vì chính họ đang lộng lẫy và lẫm liệt quá. Những trái tim của những người lính còn sống đang bỏ ngỏ và đang có còn đập những nhịp đập như họ?

Có những mùa đông đầm đìa đi qua cùng sương mù. Có những mùa hè bốc lửa trên đất nước tạm dung. Những chén đắng trên môi người tỵ nạn buồn trong khi phấn hoa ngoài kia bay mãi không thôi. Vì sao? Vì chúng ta chưa trả hết nợ cho cha ông, cho những người nằm xuống.

3.
Trên đường phố Bolsa và những góc phố lưu lạc, những người Việt tị nạn sẽ có trách nhiệm viết tiếp những trang sữ Việt Nam. Qua những bài báo, những băng nhạc. Chúng ta sẽ nối tiếp vinh quang hay sẽ lầm lũi trên những ô nhục. Việc làm hôm nay sẽ nói lên tất cả.

Những điều chúng ta ghi xuống, sẽ là giấy trắng mực đen trả lời cho thế hệ kế tiếp cái thái độ của chúng ta. Ðồng lõa hay chống lại những giá trị xấu. Hiện tượng báo Người Việt và những trang báo của Chiêm Tinh gia Nhân Quang, của Huỳnh Thùy Châu. Và 2 tấm ảnh của nhà báo Ðỗ ngọc Yến nóng hổi mới đây. Ðó có phải là tâm tình của những người làm truyền thông lương thiện khi họ nhân danh tự do hay lạm dụng tự do?

Họ loan tải những tin tức làm lợi cho một chế độ phi nhân cách, đồng thời chống lại đám đông từng có thời nuôi dưỡng họ. Con đường Moran St. êm đềm những đời xe diễm lệ trước kia còn đâu? Nay đang mỗi tuần diễn ra những cuộc xuống đường.

Có một huyền nhiệm di truyền từ lịch sữ. Huyền nhiệm đó xuyên suốt và nhất quán, kể từ khi 100 người con của Lạc Long Quân và Âu Cơ chia tay kẻ lên rừng người xuống biển.

Là, không phải những điều gì người ta làm hôm qua đều trở nên mẫu mực cho ngày hôm nay. Bài học của Nguyễn Cao Kỳ và của Phạm Duy còn đó. Bài học của những băng nhạc và những ca sĩ từng cổ súy cho một Quân Ðội anh hùng còn đó. Huyền nhiệm đó cũng là tấm lòng dễ dãi và bao dung của đám đông. Ðồng thời in đậm và trang trải trên quá khứ. Những lời nào cho lớn khôn? Những lời nào cho dối lòng?

Chúng ta hãy giống như Dương Nguyệt Ánh và hãy bắt chước Bà. Trong sự bé nhỏ và ngắn hạn của cuộc đời, Bà đang làm được những gì cho Tổ Quốc, cho Dân Tộc Việt Nam thân yêu là Bà sẽ không từ chối. Bà đã tham gia trong Ngũ Giác Ðài và chế tạo những vũ khí có thể thâu ngắn cách biệt sự sống chết của người lính Mỹ tại chiến trường Iraq và Afghanistan. Bà chế tạo thành công loại bom có tên là Thermobaric trong vòng 67 ngày. Bom có sức công phá và hủy diệt chính xác những hầm sâu và những căn cứ dùng đào tạo những chiến binh khủng bố. Việc tham gia trong chính quyền Hoa Kỳ của Bà, theo như điều bà phát biểu ngay trong ngày được vinh danh vì những thành quả đóng góp cho nước Mỹ, với một lý do là muốn cám ơn nước Mỹ. Theo nhà bỉnh bút Bùi Bảo Trúc thì “32 năm trước, bà tới nước Mỹ với tư cách một người tị nạn, hai bàn tay trắng và một túi hành trang đầy những ước mơ tan nát.

Nhưng nước Mỹ, với bà, là một thiên đàng, không phải vì vẻ đẹp và tài nguyên phong phú, mà vì người dân Mỹ vị tha, rộng lượng đã giúp gia đình của bà khi mới tới Nước Mỹ và giúp hàn gắn những thương tích trong tâm hồn, đem lại lòng tin vào con người và cảm hứng cho công việc của bà. Bà muốn tặng lại danh dự của tấm huân chương bà nhận được cho 58 ngàn người Mỹ đã tử trận tại Việt Nam và hơn 260 ngàn chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh để cho những người như bà có được cơ hội sống trong tự do. Bà xin Thượng Ðế ban phúc cho những người sẵn sàng chết cho tự do, và nhất là những người sẵn sàng chết cho tự do của những người khác. Bà cám ơn nước Mỹ. (trích).”

Nhưng có một điều quan trọng, là chính nước Mỹ và dân chúng Mỹ cũng đã cám ơn Bà Dương Nguyệt Ánh, khi cách đây không lâu, tờ Washington Post cho đăng tải bài viết của nhà báo George Will, khi ông cho rằng bà đã hoàn trả đầy đủ cả vốn lẫn lời. Sự đóng góp của bà là rất lớn lao cho Tự Do và An Ninh của Hoa Kỳ.

4.
Trong thời đại mà càng lúc càng có nhiều người đi hàng hai giữa ranh giới THÙ- BẠN, với sự biện minh giản đơn là nền dân chủ của Hoa Kỳ đặt trọng tâm vào sự tự do, trong đó có tự do ngôn luận.

Bởi tự do, nên trên diễn đàn đang xãy ra những cái tên giả chuyên chửi bới và mạ lỵ những người không cùng quan điểm. Những con chim mồi và những con chó săn mai phục hàng rào. Chúng tượng trưng và đại diện cho một thời đại vinh quang những sình lầy và những cống rãnh. Khi không gian trở thành chật chội vì chứa trong đó mỗi ngày những tư tưởng lố lăng và ngọng ngịu. Còn nửa. Những mũi tên và những viên đạn “made in Hà Nội” bay thấp hơn cái vẩy đuôi của loài bò sát. Bên cạnh đó một tờ điện báo chống cộng và luôn vạch trần những dối trá của nhà cầm quyền Hà Nội, là Take 2 Tango đã nhiều lần bị Hacker thăm viếng và xóa trắng. Chúng tìm cách ngăn chận sự phát triển của tòa soạn và nhóm chủ trương. Ðiều này làm chúng ta ngạc nhiên, vì giống như cách thức mà những kẻ điều hành tờ Người Việt tại California. Họ đang tìm cách dập tắt những cuộc xuống đường của cộng đồng tại đó.

Vì sự sợ hải “chính nghĩa” khiến cho những kẻ bắn lén bệnh hoạn mai phục mỗi ngày trong bụi rậm. Chúng mài giũa răng nhọn chó sói chờ đợi những “cô bé quàng khăn đỏ” lạc lẫm. Những “bà nội” trá hình có bề dầy kinh nghiệm của đường mòn Trường Sơn và địa đạo Củ Chi cộng lại. Mới đây nghe nói ở Houston có một lãnh tụ sình lầy vừa dựng dậy một cơ thể của một ông già nửa điên nửa khúng bệnh hoạn. Hắn đứng đàng sau cái cơ thể hấp hối đó và bắn. Trong khi những con khuyển giữ nhà trong hàng rào, vẫy đuôi ca tụng...

Có quá nhiều kẻ đang bắn lén trong thành phố mà chúng ta đang sống, từ Westminster đến Virginia. Từ Washington DC, Hoa Kỳ đến Queenland của Úc Ðại Lợi. Họ đều không kinh nghiệm học biết những cảm giác chân thực của Bà Dương Nguyệt Ánh và những tâm hồn đôn hậu trong cộng đồng tị nạn. Vì họ không được trang bị bằng sự lương thiện. Cùng một cách thức nhưng hậu quả khác nhau. Như nước với lửa.

Những viên đạn bắn đi từ một cõi lòng bao dung, nhắm vào thế lực xấu xa và hèn hạ là những viên đạn làm ra từ sự biết ơn. Chúng chuyên trị những chiến trường thiếu vắng lòng thương và quạnh quẽ nhân cách. Họ sẽ được đời vinh quang và lôi kéo theo đám đông đi về phía họ. Còn những viên đạn được pha chế bằng trí trá và lòng căm thù, sẽ có một đường bay khác. Chúng sẽ có mục tiêu khác. Là một nghĩa trang vô luân và bầy kên kên đợi sẳn...

Bạn có quyền bắn, cứ bắn tiếp đi. Take 2 Tango vẫn ung dung tự tại tiếp tục lên đường như câu ngạn ngữ: “chó sủa mặc chó, đoàn lữ hành cứ đi”.

Austin, những ngày cuối tháng 4.

Phạm Ngũ Yên
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Đàn Bà và Chính Trị:
Những Con Đường Đến với Bình Đẳng Giới

Tân thủ tướng Italy Berlusconi từng đùa rằng nội các của người đồng nhiệm Tây Ban Nha “quá hồng”, khi ông Zapatero trở thành người tiên phong trong mặt trận bình đẳng giới trên chính trường. Nhưng nội các của ông Berlusconi cũng có 4 “người đẹp”.

Italia: Cuộc chiến cam go
Trước cuộc tổng tuyển cử gần đây của Italy, người ta đã nói rất nhiều về bình đẳng giới. Nhưng trong nội các mới của ông trùm truyền thông Silvio Berlusconi, đấng trượng phu vẫn thống trị. Trong số 21 bộ trưởng, mới chỉ có 4 bóng hồng, và tất cả đều được trao những nhiệm vụ khá nhẹ nhàng. Và hầu hết họ giành được sự quan tâm của mọi người là nhờ vào sắc đẹp hơn là vào khả năng chính trị.
Image
Tân Bộ trưởng Bình đẳng giới, Mara Carfagna, 32 tuổi từng là một người mẫu cho một trong những kênh truyền hình của ông Berlusconi. Bà cũng từng về thứ 6 trong cuộc thi hoa hậu Italia năm 1997. “Bà thật đẹp”, một người hâm mộ viết trên trang web của tân Bộ trưởng trong ngày đầu tiên bà nhậm chức. Trở thành nghị sỹ từ năm 2006, bà Mara Carfagna cho biết trong tiểu sử của mình rằng thú tiêu khiển của bà là “sưu tầm bút”.

Bộ trưởng môi trường Stefania Prestagiacomo, 41 tuổi, là một luật sư và từng là cựu điều phối viên trong đảng Forza Italia của ông Berlusconi tại Lombardy. Nhờ có sắc đẹp trời cho, mà bà đã giành được danh hiệu “Người đẹp Quốc hội” khi lần đầu tiên trúng cử vào quốc hội tại Syracuse, Sicily, 14 năm về trước. Một diễn viên hài kịch nổi tiếng từng miêu tả bà là: “thứ tốt đẹp nhất trong chính trường Italia”.

Vị thủ tướng 71 tuổi của Italia từng chê nội các mới của người đồng cấp Tây Ban Nha là “quá hồng”, giờ đây lại “vỗ ngực” là người đàn ông của các người đẹp.

Một người đẹp khác cũng được chọn vào nội các của ông Berlusconi là Giorgia Meloni, tân Bộ trưởng thanh niên Italia. Ở tuổi 31, Meloni là người trẻ nhất từng vươn tới hàng ngũ bộ trưởng ở Italia. Meloni xuất thân trong một gia đình cánh tả ở ngoại ô Rome. Tại đây Meloni đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là một người tổ chức thanh niên cho Đảng Liên minh dân tộc. Còn Maria Stella Gelmini, 34 tuổi, cũng là một luật sư ở Lombardy được bầu làm Bộ trưởng giáo dục.

Image
4 nữ bộ trưởng trong nội các của Thủ tướng Italia Berlusconi.
Tuy nhiên, phụ nữ Italia có vẻ như vẫn bị phân biệt đối xử ở nơi làm việc mặc dù gần đây nước này đã áp dụng một số luật về bình đẳng giới. Theo thống kê mới nhất của chính phủ Italia, phụ nữ làm trong thị trường lao động liên quan đến văn hóa dần một tăng, nhưng họ cũng có vẻ làm những công việc được trả thấp hơn, như nhân viên thư viện, khảo cổ học, lịch sử học. Chính vì vậy, với tỉ lệ lao động nữ thấp nhất EU, 46%, bà Carfagna sẽ phải làm việc hết mình để thay đổi tư tưởng của đa số đại trượng phu trong nội các Italia.

Tây Ban Nha: Nhà tiên phong
Tây Ban Nha, đất nước tạo ra từ “đại trượng phu”, giờ đây lại tiên phong trên mặt trận bình đẳng giới. Sau khi giành chiến thắng trong nhiệm kỳ hai hồi tháng 3 vừa qua, Thủ tướng Jose Luis Rodriguez Zapatero đã thành lập một nội các với đa số các bóng hồng, trong đó có cả một nữ bộ trưởng 31 tuổi, bộ trưởng trẻ nhất trong lịch sử Tây Ban Nha.

Và đáng chú ý hơn, tân Bộ trưởng quốc phòng Carme Chacon lại đang có bầu ở tháng thứ 7. Ngoài ra, còn có một bộ mới, đó là Bộ bình đẳng giới.

Không một chính phủ hiện đại dân chủ nào bên ngoài các nước xứ Scandinavia lại có những bước đi táo bạo như Tây Ban Nha, đặt vấn đề bình đẳng giới là vấn đề trung tâm của chính phủ. Trở lại những năm 1960, khi bình đẳng giới lần đầu tiên trở thành vấn đề xã hội lớn, có bao nhiêu nhà hoạt động vì phụ nữ lúc đó có thể tưởng tượng được tới năm 2008 phong trào của họ đã gây ảnh hưởng lớn tới một người đàn ông Tây Ban Nha? Và Thủ tướng Zapatero tuyên bố ông không phải là người chống nam quyền mà là người ủng hộ phụ nữ.

Silvia Montero, một nhà phân tích trên trang web 5Spaniards.com, nhận xét, Thủ tướng Tây Ban Nha tiến bộ đúng như những gì ông tuyên bố: “Những chính sách xã hội đa dạng trong suốt 4 năm qua đã đưa đến những thay đổi sâu sắc trong thực tế xã hội của Tây Ban Nha, và đặc biệt là địa vị của người phụ nữ”, bà cho biết.

“Một trong những thành tựu lớn nhất của thủ tướng Zapatero trong vấn đề này là ông đã mở lại được cuộc tranh luận về bình đẳng giới: phụ nữ giờ thậm chí đã ý thức được nhiều hơn nhu cầu cần phải trở nên ngang bằng với đàn ông”.

Và hầu hết nam giới Tây Ban Nha đều hài lòng với các nữ bộ trưởng mới của họ. “Tôi nghĩ vấn đề bộ trưởng là nam hay nữ không quan trong”, Joaquin, một công chức ở Madrid cho biết. “Chúng ta đã biết rõ một số bộ trưởng không có năng lực. Nhưng điều đó không liên quan gì đến giới tính của họ”.

Tuy nhiên, vẫn có rất nhiều người giễu cợt, như một bình luận viên trên tờ ABC đã gọi nội các của ông Zapatero là “tiểu đoàn các cô thợ may”.

"Cuộc chiến" được lòng dân?
Bình luận nội các của Tây Ban Nha “quá hồng” của thủ tướng Italia Silvio Berlusconi hầu như không được mấy chú ý tại Italia. Tuy nhiên nó lại khiến Tây Ban Nha phản đối mạnh mẽ. “Bình luận của ông Berlusconi không phù hợp một chút nào, bởi chúng có thể bị hiểu sai thành sự kình địch giữa Italia và Tây Ban Nha”.

“Tôi không nói là có sự kình địch như thế tồn tại. Nhưng sự thật là Tây Ban Nha và Italia luôn nhìn sang nhau để tham khảo nhau trong nhiều lĩnh vực, trong đó có chính trị”.

Bình luận của Thủ tướng Berlusconi có thể là dấu hiệu cho thấy hai nước đang đi trên hai con đường khác nhau trong cuộc chiến bình đẳng giới. Phụ nữ Tây Ban Nha vẫn kiếm ít hơn đàn ông khoảng 30%, và chiếm ít hơn 5% những vị trí chủ chốt tại các công ty lớn.

Trên mặt trận chính trị, theo quy định 40% ứng cử viên trong các cuộc bầu cử bắt buộc phải là phụ nữ. Và tỉ lệ 40% này cũng sẽ sớm được áp dụng trong các cơ quan muốn có các hợp đồng làm ăn với chính phủ. Ngoài ra, bạo lực gia đình cũng là vấn đề được đặc biệt quan tâm.
Image
Thủ tướng Tây Ban Nha và nội các toàn bóng hồng của ông.
Theo các cuộc khảo sát, ngày càng nhiều phụ nữ bị chết vì bạo lực gia đình ở Anh, Đức. Tỉ lệ ở các nước này lớn hơn ở Tây Ban Nha. Năm 2007, hơn 70 phụ nữ đã bị chồng, bạn trai hoặc bạn trai cũ giết chết.

Điều khác biệt ở Tây Ban Nha là chính phủ đang tiến hành từng bước để đối phó với vấn đề này. Sẽ có một đạo luật mới nhằm bảo vệ phụ nữ trong đó sẽ có các thẩm phán, các cơ quan pháp luật và các sắc lệnh khống chế những người đàn ông bạo hành trong vòng vài giờ.

Sylvana, một giám đốc tổ chức sự kiện, than vãn rằng thái độ trong xã hội thay đổi chậm hơn so với luật pháp. “Nhiều công ty vẫn coi việc nghỉ sinh là không cần thiết, phí phạm và phiền hà”, Sylvana nói. “Trong các cuộc phỏng vấn xin việc, phụ nữ vẫn bị hỏi họ có dự định có con hay không”.

Sylvana cũng chỉ ra bạo lực gia đình vẫn còn là một vấn đề lớn: “Thật là kinh khủng khi ai đó biện minh: “Tôi giết cô ta bởi cô ta là của tôi”. Nhưng đó là điều bạn vẫn nghe thấy”.

Một số người Tây Ban Nha cho rằng luật bình đẳng giới chỉ là một thứ trang trí. “Quan trọng nhất là giáo dục. Nếu chúng ta không được học hành, chúng ta thay đổi xã hội như thế nào đây?”, Joaquin nói.

Có thể sẽ có những bất đồng để đạt được một mục đích chung mà người Tây Ban Nha muốn hướng tới: đó là tẩy chay xu hướng “nam quyền”, tin tưởng vào sự bình đẳng giới, và một hướng đi tích cực để đạt được nó.

Một trong những đối thủ không đội trời chung của Thủ tướng Tây Ban Nha là lãnh đạo đảng bảo thủ của Madrid, Esperanza Aguirre. Ông này không bao giờ bỏ lỡ một cơ hội để chỉ trích chính phủ. Tuy nhiên, thậm chí chính ông Aguirre cũng phải công nhận rằng một trong những điều tốt đẹp nhất mà Thủ tướng Zapatero đã làm là bổ nhiệm nhiều phụ nữ vào nội các.

Phan Anh (Theo BBC)
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Chế độ đang rạn nứt

Ngô Nhân Dụng
Bắt tham nhũng là một hiện tượng lạ trong chế độ cộng sản. Ðó là những triệu chứng cho thấy trong đám lãnh tụ cao cấp của đảng có những xung khắc lớn, đến mức không thể hòa giải được.

Mỗi vụ tham nhũng, những tổ chức trong xã hội đen buôn lậu, tội phạm, ma túy, đều có ô dù của một cánh trong hàng ngũ lãnh đạo cao cấp bảo kê. Khi Bùi Tiến Dũng và mấy quan chức trong bộ Giao Thông Vận Tải bị bắt, vào đầu năm 2006, người ta biết rằng có một cánh trong Bộ Chính Trị bị cánh khác đánh một đòn chí tử. Ăn cắp của công hàng triệu đô la rồi nhơn nhơn đem đánh cá, nếu không có ô dù lớn ở cấp cao nhất thì không ai dám làm. Những vụ đất đai ở Bình Dương, Thủ Thiêm, Hải Phòng, những vụ Thủy Cung Thăng Long hay Năm Cam, Khánh Trắng, sở dĩ được đưa ra trước dư luận cũng đều vì phe này đánh phe kia cả.

Có thể nói hầu hết những vụ cáo giác, bắt bớ và truy tố những tay tham nhũng trong xã hội cộng sản đều do các phe cánh tranh ăn với nhau sinh ra đụng chạm. Ngay các băng đảng mafia ở New York cũng có lúc tranh chấp và thanh toán lẫn nhau, mạng lưới mafia của đảng cộng sản cũng không tránh khỏi. Nhưng cũng có thể tin rằng trong nội bộ đảng Cộng Sản có những người thực lòng muốn làm cho chế độ sạch sẽ hơn, cho nên đụng chạm tới công cuộc làm ăn của các phe cánh.

Chỉ khi nào chế độ cộng sản sụp đổ, hồ sơ các vụ điều tra được giải mật, lúc đó người ta mới biết ai là những người thực tâm muốn chống tham nhũng, ai chỉ làm tay sai của phe này tấn công cánh kia.

Vì vậy, trong vụ một ông tướng và một thượng tá công an Việt Cộng mới bị khởi tố, chúng ta không biết chắc nguyên nhân vì đâu. Họ có thể là những anh hùng chống tham nhũng đang bị thế lực tham ô trừng phạt. Họ cũng có thể chỉ là những người đã đóng vai thừa hành do một phe này dùng để tấn công phe khác; bây giờ họ bị bị hy sinh vì trong một cuộc đấm đá từ trên cấp cao những người bảo kê cho họ đã chịu thua.

Trung Tướng Phạm Xuân Quắc và Thượng Tá Ðinh Văn Huynh là những người lo điều tra Bùi Tiến Dũng và đồng đảng trong cánh PMU 18 thuộc bộ Giao Thông Vận Tải, sau khi hồ sơ đánh bạc bằng tiền ăn cắp của dân bị khui ra. Chỉ trong một thời gian ngắn, hai người này bị thay thế, và ông Phạm Xuân Quắc đã mất chức rồi còn bỗng nhiên bị cho về vườn. Ngay lúc đó, đã thấy cuộc điều tra đang bị chặn lại, thế chính trị đã xoay chiều, guồng máy quyền lực đổi hướng, việc điều tra được biến thành một vận động để chạy tội cho cả bọn tham ô. Ðúng ra là chạy tội cho cả băng đảng từ trên cao nhất.

Cứ bình thường thì câu chuyện có thể chấm dứt ở đó. Bùi Tiến Dũng bị 13 năm tù vì lộng hành quá đáng, nhưng sẽ sống đế vương trong nhà tù và sẽ được thả sớm. Dũng đã từng bị tố cáo tìm đường “chạy” với 40 nhân vật quan trọng, nhưng rồi cũng không ai hỏi tới các nhân vật đó, chẳng biết là ai. Hai năm sau Nguyễn Việt Tiến được miễn tố, coi như không có tội gì cả. Báo chí được lệnh ngưng bàn tán. Các lãnh tụ đảng Cộng Sản có thể xoa tay coi như giữa “anh em cả” đã thu xếp xong một “vụ việc đáng tiếc”. Mà chắc là dư luận sẽ quên thật. Mặc dù có hàng trăm tờ báo loan tin, với hàng ngàn bài báo tung ra những tin tức của các cuộc điều tra đang tiến hành, nhưng khi đảng cộng sản đã ra lệnh ngưng thì cả “bộ nhớ” của xã hội có thể bị xóa sạch, không ai nhắc đến vụ PMU 18 nữa.

Bây giờ, không hiểu tại sao chính những người trong đảng Cộng Sản lại làm cho vụ này được nhắc lại trong dư luận? Họ ra lệnh khởi tố hai ông Phạm Xuân Quắc và Ðinh Văn Huynh, cùng một lúc với hai nhà báo, Nguyễn Văn Hải (Tuổi Trẻ) và Nguyễn Việt Chiến (Thanh Niên). Những người này bị cáo buộc tội “lợi dụng chức vụ và quyền hạn” trong khi “thi hành công vụ!” Hai nhà báo bị đem ra đánh, 2 năm sau khi họ làm công việc điều tra và tường thuật vụ PMU 18. Ðây là một biện pháp trừng phạt những người muốn đi tìm sự thật, chúng ta có thể hiểu được. Nhưng tại sao lại truy tố cả hai tướng, tá công an?

Hai ông quan chức công an phải thi hành công vụ, tức là việc nhà nước giao cho; còn những nhà báo thì làm cái gì mà gọi là “công vụ?”. Chúng ta đặt câu hỏi như vậy vì quen sống trong những xã hội tự do, các nhà báo tự do đóng vai tư nhân, làm công việc thông tin, không ai “thi hành công vụ cả.” Trong xã hội cộng sản thì khác, các nhà báo đều là “công cụ” của đảng, ngay khi họ đi ngồi quán cà phê tán gẫu vả nghe lóm, họ cũng đang làm “công vụ” mà đảng trao phó. Nguyên một tội danh đó đã cho thấy bản chất của chế độ vẫn là “toàn trị.” Chế độ cộng sản vốn vẫn không công nhận một “lãnh vực tư.” Hồi xưa, ai có công việc làm đều là làm cho đảng và nhà nước. Ngày nay họ đã nới lỏng bớt đi nhưng trong bản chất vẫn theo chủ trương toàn trị.

Nhưng tại sao đảng Cộng Sản lại đem truy tố hai nhà báo nổi tiếng và được các đồng nghiệp kính trọng như vậy? Trong lúc này nhà nước đủ các khó khăn phải giải quyết; dân chúng đang lo thóc gạo, xăng dầu lên giá; chính quyền đang lúng túng đối phó với nạn lạm phát; nỗi bất mãn vì chênh lệch giầu nghèo ngày càng tăng; dân làng Mê Ðiền, tỉnh Bắc Giang đã công khai đánh lại công an để bảo vệ ruộng đất bị chiếm cho tư bản Ðài Loan làm sân cù. Chưa kể, các sinh viên, thanh niên đang uất hận vì tình trạng đảng cộng sản lệ thuộc Trung Quốc! Bấy nhiêu khó khăn cũng đủ nhức đầu rồi!

Như vậy, thì tại sao guồng máy tư pháp của đảng cộng sản lại tạo ra thêm một loạt những vụ án sôi nổi để gây thêm trong dư luận những phản ứng bất lợi cho chế độ?

Chúng ta chỉ có thể hiểu là họ bất chấp dư luận. Và họ muốn cho tất cả mọi người biết là họ bất chấp. Họ đã có kinh nghiệm rồi. Dư luận giới trí thức, văn nghệ và thanh niên đã từng sôi nổi về vụ Trung Cộng lập huyện Tam Sa để chính thức hóa việc chiếm Hoàng Sa. Nhưng dư luận có làm được gì không? Dư luận đã bất mãn về việc rước đuốc thế vận Bắc Kinh qua Sài Gòn. Nhưng không một người Việt Nam nào có khả năng biểu tình phản đối, trong khi các lực sĩ công an Trung Quốc ngang nhiên biểu tình ủng hộ ngay giữa Sài Gòn.

Với kinh nghiệm đó, giới lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam có thể bầy tỏ công khai là họ khinh thường dư luận. Không những họ đánh các nhà báo, họ đập thẳng vào mặt cả dư luận quốc dân Việt Nam. Ðể cho thấy chính họ là chủ nhân của đất nước này, quyền hành độc đoán của họ kiên cố, vững chãi, họ muốn làm gì cũng được! Việc đem hai nhà báo nổi tiếng chống tham nhũng ra truy tố cho thấy đảng Cộng Sản không sợ đối đầu với dư luận. Ngược lại, họ đánh hai nhà báo để làm gương cho tất cả các nhà báo khác, hãy biết giữ phận không được vượt qua những giới hạn mà đảng cho phép. Các nhà báo nhận được thông điệp này thì từ nay sẽ phải rụt rè hơn khi đụng tới các vấn đề “phức tạp” khác, như những vụ công dân mất đất khiếu kiện, vụ Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, vân vân.

Hai vị tướng tá công an cũng bị truy tố vì khi đưa các nhà báo ra tòa thì thế nào qua những lời khai báo nhiều công an cũng bị liên lụy vì tiết lộ tin tức. Và đó cũng là một lời cảnh cáo cho các tay công an khác, không nên hăng hái quá trong việc chống tham nhũng. Vì công tác quan trọng nhất của công an là bảo vệ chế độ. Nếu chế độ này nuôi tham nhũng thì công an phải bảo vệ tham nhũng. Việc truy tố hai tướng tá công an chứng tỏ ban lãnh đạo đảng cộng sản đã quyết định cánh nào thắng, phe nào bại trong những cuộc tranh chấp ở cấp cao nhất. Người ngoài không thể gọi đó là là một sự rạn nứt bên trong chế độ. Vì khi cần phải bảo vệ quyền lợi chung của những người đang nắm Trung Ương Ðảng và Bộ Chính Trị thì lúc nào họ cũng đoàn kết, “nhất trí” với nhau.

Nhưng việc tấn công hai nhà báo nổi tiếng cho thấy một khe nứt nằm phía dưới. Từ 20 năm nay, giới lãnh tụ đảng Cộng Sản có một bản hợp đồng với các cán bộ, đảng viên cấp dưới, hai bên ngầm hiểu cùng ngầm hiểu. Họ ban phát nhiều quyền lợi cho các thuộc hạ, từ quyền lợi kinh tế đến một số quyền tự do nho nhỏ mà các người dân khác không được hưởng. Những nhà kinh doanh, và nhiều nhà báo, thuộc thành phần nền tảng phía dưới của chế độ, đã được hưởng những thành quả của cuộc đổi mới kinh tế trong những năm qua. Báo chí được bán nhiều hơn, tiền thu về quảng cáo cao, tiền trà nước được hưởng khi hành nghề, tất cả đã biến các nhà báo thành những người vừa được sống khá giả lại vừa được tiếng là cấp tiến. Họ phải ý thức được là những quyền lợi đó họ được hưởng là do chế độ ban cho, không phải người dân nào cũng được hưởng. Do đó, họ phải ngầm hiểu việc bảo vệ chế độ là một bổn phận của họ. Ðó là một bản hợp đồng bất thành văn giữa đảng cộng sản và giới truyền thông, ngoài những mệnh lệnh trực tiếp từ cấp trên.

Nhưng nhiều nhà báo cũng là những người trí thức, biết suy nghĩ và có lương tâm. Không chế độ chính trị nào hủy diệt được lương tâm con người. Chính vì vậy, một phong trào phản kháng âm ỉ đang phát sinh trong giới trí thức, văn nghệ và báo chí ở Việt Nam. Vết rạn nứt đã bắt đầu khi các nhà báo được hưởng chút tự do nào thì tận dụng những quyền tự do bị hạn chế đó. Các ông Nguyễn Văn Hải, Việt Chiến đã quá yêu nghề, yêu tự do, và cố làm theo lương tâm chức nghiệp. Những nhà báo tự do như ông Ðiếu Cầy cũng muốn đóng góp vào sự tiến bộ của nghề nghiệp và của xã hội. Vết rạn nứt này có triển vọng sẽ lan rộng và sâu hơn, có thể xóa bỏ bản hợp đồng ngầm với đảng Cộng Sản.

Ðó là lý do khiến ban lãnh đạo cộng sản ở Việt Nam phải ra tay. Nguyễn Tấn Dũng đã nhiều lần nhắc nhở các giới hạn mà đảng cộng sản đặt ra cho báo chí. Báo chí phải đi theo đường một chiều, không được chệch hướng! Nhưng việc bắt hai nhà báo ra tòa về tội “lợi dụng chức vụ” là đòn đánh mạnh nhất để “đập vào mặt” báo chí và tất cả những người nghĩ rằng có thể đòi được thêm một số quyền tự do căn bản cho các công dân Việt Nam. Ðảng cộng sản đang xác định lại vai trò chủ nhân của họ. Nhưng vết rạn nứt trong nền tảng của chế độ có thể vỡ toang ra, gây nên một cuộc khủng hoảng về tín nhiệm. Nếu nỗi phẫn uất của những người bị trị nổ bùng lên thì chế độ có thể sụp đổ. Nhưng nếu guồng máy công an đủ mạnh thì người dân sẽ cúi đầu chịu lép một lần nữa. Chúng ta phải chờ coi những thanh niên trí thức Việt Nam sẽ chịu lép cho tới bao giờ.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Những chiếc xe tăng đã đè bẹp linh hồn của người Trung Hoa

Image
Tác giả Ma Jian bừng sống lại sau cuộc thảm sát Thiên An Môn
• By Ying Tang and Martin Croucher - Lê Minh lược dịch

Một tác giả khả kính người Hoa, ông Ma Jian đã nói rằng trong vòng một thế hệ nữa thì Trung Quốc sẽ có dân chủ.

Nhưng ông cũng lo rằng trở ngại lớn nhất để thay đổi là tâm trí của giới trẻ Trung Quốc ngày nay đã bị Đảng cộng sản Trung Quốc nhồi sọ tẩy não bằng tuyên truyền.

Lời bình phẩm này được ông đưa ra trong buổi ra mắt cuốn tiểu thuyết Cơn hôn mê Bắc Kinh, một quyển sách nói về một người sinh viên gặp nạn và bị hôn mê trong cuộc biểu tình đòi hỏi dân chủ năm 1989, nhưng 10 năm sau thì tỉnh dậy và nhận ra rằng người ta đã quên hết tất cả những gì đã xảy ra trong những ngày của biến cố ấy.

Ông cũng nói rằng khuôn mẫu cho nền dân chủ tương lai của Trung Quốc sẽ là Đài Loan.

Ông nói thêm rằng “Dân chủ là mục tiêu chung của loài người. Tôi tin rằng thế hệ của chúng ta sẽ có cơ hội thấy được nền dân chủ trên mảnh đất Trung Quốc”.

“Có người cho rằng Trung Quốc sẽ loạn nếu đi đến tiến trình dân chủ. Tôi cho rằng ý kiến đó là sỉ nhục Trung Quốc”.

Ông Ma Jian là một nhà lưu vong nổi tiếng, đã trốn thoát khỏi Trung Quốc vào năm 1986 sau khi một số việc làm của ông bị cấm đoán. Ông đến Anh Quốc cách đây 9 năm và hiện sinh sống tại đây.

Ông Ma cho rằng trong vòng 1 năm nữa thì giới trẻ Trung Quốc sẽ có cơ hội đọc được tiểu thuyết của ông. Nếu đọc được thì chắc chắn họ sẽ nhớ lại được một phần lịch sử quan trọng đã bị Đảng cộng sản Trung Quốc chối bỏ, cấm đoán.

Ông cũng nói thêm rằng “tính chất đặc biệt của một thể chế độc tài là cố xóa bỏ lịch sử. Chúng ta phải sửa lại lịch sử cho đúng. Đây là phần ý chính trong cuốn tiểu thuyết của tôi. Nếu chúng ta quên lãng cuộc thảm sát ngày 4 tháng 6 thì Trung Quốc mãi mãi là một quốc gia trì trệ”.

Trong suốt cuộc thảm sát ấy, các chiến xa lăn bánh vào quảng trường và hàng ngàn sinh viên học sinh đã chết dưới cái nhìn chằm chằm của bác Mao.

Ngay sau cuộc thảm sát, chính quyền đã ra sức bắt bớ, tra tấn và đưa lên truyền hình để buộc họ phải nhận tội.

Nhà nước đã tạo ra những câu chuyện giả tưởng, và nhờ sự bưng bít và kiểm soát internet chặt chẽ mà cho đến ngày hôm nay người ta vẫn tin rằng các sinh viên năm đó đã làm loạn và giết binh lính được gởi đển giữ an ninh trật tự.

John Simpson của đài BBC, người từng nổi tiếng với bản tường thuật trực tiếp từ quảng trường Thiên An Môn năm xưa đã vĩnh viễn bị nhà nước Trung Cộng cấm không cho vào Trung Quốc.

Ông Ma nói “Tại sao tôi lại viết về sự hôn mê trong cuốn tiểu thuyết này? Bởi vì thân xác của anh ta trở thành cái thành trì vững chắc để anh ta núp bóng. Nhờ vậy mà anh ấy có thể quên được tất cả, kể cả việc chuyển thể, tẩy não và bị buộc phải viết kiểm điểm xác nhận việc làm sai trái của mình. Tuy nhiên, trong tiểu thuyết này, thật ra thì anh ấy vẫn tiếp tục sống vì trí nhớ vẫn tồn tại. Vì nhờ trí nhớ vẫn tồn tại mà anh được xem là người duy nhất còn sống sót. Khi tỉnh ra thì anh ấy nhận ra mình trở lại với dương thế của một xã hội toàn là người chết”.

Ông cũng cho rằng giới trẻ Trung Quốc ngày nay nếu có lên tiếng phản đối điều gì thì cũng chỉ là do Đảng bảo họ làm vậy.

Trong một trường hợp mà ông ghi nhận là có một sinh viên nói với ông là anh ta ngờ vực những bản tin mà anh ta thấy trên truyền thông Trung Quốc khi đem so với những gì thấy trên BBC hoặc là CNN. Tuy nhiên rốt cuộc thì anh sinh viên này cũng nhập bọn với những người biểu tình chống đài CNN.

Ông nói, “khi tôi hỏi anh ta: “Bạn không tin vào truyền thông nhà nước Trung Quốc và cũng chưa hề thấy bản tin trên CNN vậy thì tại sao bạn lại đi biểu tình chống họ?”. Ngay lập tức, anh ta có câu trả lời rất đơn giản “Tại sao tôi cần phải biết nhỉ? Tôi vẫn có thể chống đối những điều mà tôi không biết rõ”.

Ông Ma nói tiếp “những chiến xa có mặt tại quảng trường vào ngày 6 tháng 6 năm ấy không chỉ nghiền nát thân thể các sinh viên mà còn đè bẹp linh hồn của người Trung Hoa. Cái di sản chính của cuộc thảm sát ngày 6 tháng 6 là nó đã làm lu mờ các giá trị của người Trung Hoa. Nó làm cho người ta cảm nhận rằng, muốn làm người Trung Hoa chân chính thì phải có cùng suy tư với Đảng. Do đó, các bạn trẻ này không hề có được những duy tư độc lập. Bạn sẽ thấy rằng nếu bạn trao đổi với mười người bạn trẻ này thì hết cả mười sẽ nói y hệt như nhau, theo kiểu Đảng đã nhồi sọ.

Ông nói tiếp: “sự phát triển kinh tế hiện nay ở Trung Quốc là nguyên do khiến cho mọi người trở nên hôn mê. Tức là họ đã đánh mất tất cả những giá trị về sự nhận thức đạo đức và trở nên hôn mê khi chỉ ham muốn kiếm tiền. Qua cuốn tiểu thuyết này, tôi chỉ muốn đưa ra một lý lẽ đơn giản là: trong một xã hội mà nền kinh tế phát triển liên tục, trong khi tâm hồn, lòng nhân ái và đạo đức con người không phát triển theo kịp thì khi nền kinh tế càng phát triển bao nhiêu thì cái xã hội ấy càng méo mó, càng nguy hiểm bấy nhiêu”.

“Theo thiển ý của tôi, sự giàu mạnh của một quốc gia là trí tuệ nhân cách chứ không phải là vấn đề kiếm được nhiều tiền. Tôi mong rằng những người còn có niềm tin sẽ đem lại lợi ích thật sự cho Trung Quốc. Niềm tin không chỉ đặt vào một nơi, không chỉ có Pháp Luân Công, mà là cả Thiên Chúa Giáo, Phật Giáo và Khổng Giáo nữa. Tất cả những niềm tin ấy sẽ đem lại một xã hội nhân bản tốt đẹp hơn vạn lần cái xã hội do chủ nghĩa cộng sản vô thần tạo nên”.

(Lê Minh lược dịch)

http://en.epochtimes.com/news/8-5-13/70622.html


'The tanks flattened the Chinese people's souls'
Author Ma Jian on life after the Tiananmen Square massacre

• By Ying Tang and Martin Croucher
Epoch Times UK Staff May 13, 2008


Author Ma Jian at a book signing. (The Epoch Times)


A respected Chinese author has said that he expects China to become a democracy within a generation.

But writer Ma Jian stressed that the biggest obstacle to change still lay in the hearts and minds of young Chinese students, who he describes as “brainwashed” by the Communist Party's propaganda.

The comments follow the launch of his new novel Beijing Coma, a book about a student who was put in a coma after the Tiananmen Square democracy protests in 1989, but who wakes 10 years in the future to find that people have forgotten the true events of that day.

Ma said that any future democracy in China might follow the model established in Taiwan.

He added: “Democracy is the common target for human beings. I believe that our generation will have the opportunity to see democracy in China.

“Someone said that China would be in chaos if it starts democracy. I would say that statement is insulting China.”

Ma Jian is a renowned dissident writer who fled from China in 1986 when some of his works were banned. He moved to England nine years ago, where he now lives.

Ma said that he hopes that within a year young Chinese would be able to read his novel in China. In so doing, he said, they would be able to recapture the memory of a key part of their history which has been denied them by Communist Party repression.

He added: “The major characteristics of a dictatorship is to try to wipe off the history. We must get this part of the history fixed.

“This is the main motivation of my novel. If we forgot June 4th massacre, the Chinese nation would be forever a retarded nation.”

During the massacre tanks rolled into the Square and thousands of students died under the gaze of a portrait of Mao.

In the immediate aftermath those who took part were arrested, tortured and forced to appear of state television making false confessions.

The established myth, which still lingers on to today thanks to heavy internet censorship, was that violent students killed soldiers who had been sent there to keep the peace.

John Simpson's famous dispatch from the Square the BBC at the time has since been banned in China.

Ma said: “Why did I write a coma in this novel? It is because his body became a fortress inside which he was hiding. His hiding helped him miss everything, including being reformed, brainwashed and forced to write self-criticism statements to prove that he was wrong.

“However, in this novel, he himself was in fact alive because he had kept the memory. In terms of that memory he was the only alive one. When he woke up he found that he rejoined a society filled with dead people.”

He said that young Chinese people today oppose things simply because they are told to do so by state propaganda.

In one case he recalled a conversation he had with a Chinese student who said that he was every bit as sceptical about the news he saw on Chinese state media as that he saw on the BBC or CNN.

However the student was travelling to join the recent protests against the American broadcaster.

Ma said: “I asked him, 'You do not believe news produced in China and have never seen CNN news but why did you go to protest against CNN?' His reply was very simple: 'Why should I need to know? I can oppose things that I do not know.'“

He said: “The tanks of June 4th massacre not only crushed students' bodies, but also, even more, that they have flattened the Chinese people's souls. The key legacy of June 4th massacre is that it has blurred the values of Chinese people. It has made everyone feel that in order to be true Chinese, his thoughts must be part of the Chinese Communist Party's [CCP] thoughts.

“Therefore, those youths have no clear judgments based on values. You will find that if you speak to ten of them, ten of them will all talk in the similar way, following the CCP's standards.

He added: “The current Chinese economic development has made everyone a coma. I mean that they all have lost the value or conception of morality and become comas that can only make money.

“In this novel, I want to make such a logic clear: when a society's economy is continuously developing, if people's souls, or kindness and morality have made no development… the more developed the distorted society is, the more dangerous it will be.”

“In my view, the true richness of a nation is its soul and not how much money it has.

“I hope those people who have faiths can bring more benefits to China. The faiths are not only a single one, Falun Gong, but also Christianity, Buddhism and Taoism which, I think, are all safer, more reliable and closer to human nature than Communism, a belief which has no faith.”
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Bài học quí giá cho Báo Chí, Quân Đội và Công An CSVN
Tác giả: Nam Nguyen


Hơn 60 năm bị nhồi sọ nên thấm nhuần tư tưởng người Cộng Sản. Nhiều thế hệ đã đem hết cuộc đời ra phục vụ cho CNXH. Cho dù phải chết, cho dù phải làm trâu ngựa, cho dù làm dã thú không có lương tâm con người hay làm hình người dạ thú để bảo vệ cái gọi là XHCN. Từng thế hệ bị biến thành những cái máy biết ăn và những khúc gỗ biết nói vì tư duy của một con người hoàn toàn bị đảng cộng sản khống chế và điều khiển. Từ trung ương cho đến địa phương đều một giọng điệu: tất cả vì “Bác và Đảng”. Họ đã mù quáng và ngu trung với tập đoàn ác nhân bội bạc là đảng cộng sản việt nam.


Ngày xưa có câu chuyện: Người thợ săn và con chó, khi con chó không còn săn được mồi thì người thợ săn phải biết ăn thịt chó. Con chó vẫn trung thành với chủ nhưng người chủ vẫn bình thản giết con chó để ăn thịt …
Khi nhắc đến Quân đội Nhân Dân Việt Nam, không ai nổi danh bằng Đại Tướng Võ Nguyên Giáp, người hùng Điện Biên Phủ. Ngay cả thế giới cũng biết tiếng tướng Giáp. Cả đời nghĩ là đã gắn bó, vào sinh ra tử cho đảng CSVN, vinh dự và tự hào là người trung kiên với đảng. Một thời oanh liệt trong cuộc cải cách ruộng đất, ở ngôi vị trong bộ chính trị đồng tình với cách giết người dã man của hạ thuộc. Đường hoạn lộ lên như diều, oai phong lẫm liệt. Nào ngờ đâu con chó trung thành cũng đã đến lúc bị chủ nhân ăn thịt, từ một danh tướng lừng lẫy oai phong được đảng điều sang làm “Tổng tư lệnh kế hoạch sinh đẻ”.

Dân gian ca rằng:
Ngày xưa Đại Tướng cầm quân.
Ngày nay Đại tướng cầm quần chị em…

Nhưng có người tếu lâm hơn nên họ ca rằng:

Ngày xưa trấn thủ lưu đồn.
Ngày nay Đại Tướng bịt l… chị em.

Oai phong bao năm, trung thành với đảng cộng sản bao năm, nghe theo lời đảng làm biết bao nhiêu điều oan nghiệt cho dân tộc, cuối cùng đã được ban cho một ân sủng tàn tệ nhất. Bài học đau xót cả một đời đi theo “Bác và Đảng”, làm biết bao nhiêu chuyên trái với lương tâm, đạo lý của một con người, giờ đây bừng tỉnh thì đã muộn rồi. Đại Tướng trở thành con vật tế thần. Các vị tướng lãnh và các bộ đội của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, hãy học lấy bài học của Đại Tướng Giáp mà suy gẫm và đánh giá lại niềm tin và lòng trung thành với đảng CSVN. Ở chung với đảng CSVN giống như sống chung với lang sói, không biết nó ăn thịt lúc nào. Hãy suy nghĩ mà hành động …nhân dân đang chờ.


Ở Việt Nam không ai xa lạ với uy danh của Thiếu Tướng Phạm Xuân Quắc. Một người hùng trong giới điều tra hình sự. Một lời nhỏ nhẹ của vị Tướng công an này cũng khiến cho nhiều người dở sống dở chết. Có thể nói là thét ra lửa, uy quyền bao la, dân chúng nghe đến tên cũng phải nể mặt. Một lòng trung thành với “Bác và Đảng”, Tướng Quắc ngu trung tột cùng, chỉ cần có lệnh đảng là xua đoàn quân an ninh dẫm nát lòng dân, tra khảo và đày đoạ tù nhân không thương xót. Làm công an không phải như quân đội ra trận mạc lập chiến công lên chức mà là đàn áp dân lành, trấn áp làm cho người dân phải khiếp nhược phục tùng đảng. Giam cầm đày đoạ người dân để lãnh công với đảng. Do đó lên được đến hàng Tướng lãnh của công an thì cũng đã làm không biết bao nhiêu người điêu đứng. Nhưng đến khi đảng không còn xài nữa thì Thiếu Tướng cũng phải chịu số phận làm con vật tế thần. Từ xưa đến nay, Thiếu Tướng chỉ có điều tra hạch hỏi người ta, nên Thiếu Tướng không biết được cảm giác của người bị truy tố, bị điều tra hỏi cung… Luật bù trừ, nhân quả là gieo giống nào ăn quả đó. Cả đời ngu trung với đảng CSVN thì giờ đây phải sáng mắt và trả giá cái ngu trung mà bản thân Thiếu Tướng đã gây ra.

Ngưòi ta ca rằng:

Ngày xưa hạch hỏi oai phong
Ngày nay Thiếu Tướng phủi mông thở dài

Trong dân gian có câu: hãy “phủi mông” mà chờ ngồi tù…

Các vị tướng và chiến sĩ công an nhân dân hãy lấy bài học của Tướng Quắc mà suy gẫm, đánh giá lại niềm tin và lòng trung thành với đảng CSVN. Ở chung với đảng CSVN giống như sống chung với bầy mãnh thú, không biết nó sẽ ăn thịt lúc nào. Bài học của Tướng Quắc là một bài học điển hình và quí giá. Hãy đứng về phía đồng bào, đừng bảo vệ và nghe theo đảng CSVN mà đàn áp dân ta.

Ở Việt Nam có trên 600 tờ báo. Lượng thông tin hàng ngày được copy, nháy lại, xào nấu đến nhuyễn nhừ. Nhưng tất cả trên 600 tờ báo phải viết theo ý đảng. Phải đi đúng lề bên phải, cho dù viết sai với sự thật, bẻ cong ngòi bút, nhắm mắt viết trái với lương tâm người cầm bút, miễn sao đảng vừa lòng là được. Đảng đàn áp dân, thì phải theo ý đảng viết là dân chống đảng. Đảng ăn cướp tài sản của dân thì phải viết là dân ngoan cố …



Nhưng khi Trung Cộng xâm chiếm lãnh thổ thì đảng “bịt miệng, bẻ tay” không cho viết thì không ai dám viết một chữ. Bốn chữ “tự do ngôn luận” đã bị người dân quên mất, không biết đánh vần vì đã mấy chục năm rồi không ai dám nhắc đến. Vụ PMU-18 do 2 nhà báo Nguyễn Viết Chiến và Nguyễn Văn Hải viết báo và được đưa lên báo xem như thời sự nóng bỏng lúc bấy giờ. Hai nhà báo này được xem như người hùng thực hiện theo chủ trương của đảng và chính phủ là “chống tham nhũng”. Họ luôn luôn nghĩ rằng họ đang thực hiện theo chỉ thị của đảng, nên rất hăng say đem hết năng lực và sở trường của mình ngỏ hầu cống hiến cho đọc giả những bản tin nóng bỏng với đầy đủ tình tiết ly kỳ hấp dẫn.




Xã thân vào đại cuộc chống tham nhũng để bảo vệ uy tín cho đảng. Những bài báo của họ quả là có tác dụng đáng kể, nhiều cán bộ đảng viên cao cấp phải mất chức, bị bắt ở tù. Họ cảm thấy vui sướng trước những thành tích chống tham nhũng. Nhưng họ quên rằng, chỉ thị của đảng chống tham nhũng là mỵ dân, là đánh lừa dư luận, là bịp bợm để xoa diệu lòng phẩn uất của người dân. Họ đã bứt dây động rừng, vì vậy họ đành làm vật tế thần, chính lòng ngu trung của họ với đảng CSVN đã làm hại và đưa họ vào vòng lao lý, mà chính đảng đã ra lệnh bắt giam họ. Suốt đời của họ chỉ biết nghe theo lệnh đảng, làm theo lệnh đảng, tư tưởng cũng theo sự sắp xếp và chỉ đạo của đảng. Cho dù ý họ khác ý đảng nhưng họ cũng không dám làm trái, vì sợ đảng nghi ngờ lòng trung thành. Giờ đây trong lao ly, họ gác tay lên trán để suy gẫm và tự hỏi lòng mình: Lòng trung thành với đảng giờ đây được cái gì? Trả lời:”Là lao lý và thấu hiểu lòng bất nhân của đảng CSVN”. Một bài học quá quí giá và phải trả một giá quá đắt phải không? Có lẽ họ đang khóc vì hối hận hay vì căm hận ... Những giọt nước mắt này thật là có giá trị vì nó là những giọt nước mắt của nạn nhân của chế độ cộng sản, của những người đã thức tỉnh với chế độ cộng sản.


Cả một bộ máy truyền thông báo chí phải trung thành tuyệt đối với đảng, một bộ máy với những con người phải “đui, điếc, câm” bán rẻ cả luơng tâm người cầm bút để bày tỏ lòng trung thành tuyệt đối với đảng CSVN. Họ cũng giống như những con cá nằm trong chậu, đảng vui thì để cho bơi lội trong “chậu” như cá cảnh, khi muốn ăn thịt thì đảng bắt bỏ vào rọ đập đầu làm thịt. Ngòi bút bị bẻ cong thì không xứng đáng lương tâm của người cầm bút, lòng trung thành của kẻ sĩ là trung thành với quốc gia dân tộc, khi quốc gia bị xâm phạm thì người làm báo phải loan truyền đến hang cùng ngỏ hẻm để toàn dân đều biết tình hình của quốc gia. Khi dân bị cường quyền hà hiếp thì phải đứng trên công lý mà vạch trần lên án kẻ mạnh hiếp thế cô. Cái dũng của người làm báo là dùng ngòi bút đâm gian tặc bút chẳng tà. Chứ không phải đội ngũ ký giả của 600 tờ báo ngu trung theo đảng, bênh vực và bảo vệ đảng. Để rồi khi cần hy sinh thì đảng đem vài người ngu trung ấy đưa lên đoạn đầu đài để tế thần nhằm làm xì hơi cái bong bóng căng thẳng trong nội bộ của các thế lực tranh quyền ở thựợng tầng kiến trúc.


Bài học của 2 ký giả Nguyễn việt Chiến và Nguyễn văn Hải là một điển hình, để đội ngũ ký giả của hơn 600 tờ bào cần phải suy gẫm lại niềm tin và lòng trung thành với đảng CSVN. Ở chung với đảng CSVN như ở chung với loài thú dử, không biết nó sẽ ăn thịt lúc nào. Hãy mạnh dạn đòi quyền tự do ngôn luận và bất hợp tác đồng thời vạch trần bộ mặt gian trá của đảng CSVN cho đồng bào và thế giới biết.


Dân gian ca rằng:
Mấy nhà báo đảng lao xao
Văn chương thì ít, tào lao thì nhiều.

Hãy nhập cuộc với đồng bào để đòi đảng CSVN trao lại quyền dân tộc tự quyết. Đảng CSVN đã làm cho đất nước băng hoại, đã chiếm đoạt quyền tự do của người Việt Nam. Đừng ngu trung mà bảo vệ tập đoàn hại dân bán nước, đừng dùng vũ lực đàn áp đồng bào. Hãy đứng về phía đồng bào để thay đổi vận mạng của đất nước.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image

Bắn kẻ đưa tin.

Tác giả: The Economist, Xuyến Như chuyển ngữ




"...những diễn biến gần đây đã gieo mối ngờ về sự thành thực của ban lãnh đạo khi họ lớn giọng tuyên bố sẽ quyết tâm diệt trừ tham nhũng ở mọi cấp..."

Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam rêu rao là họ quyết tâm bài trừ nạn quan lại tham nhũng hối lộ. Họ kuyến khích báo chí khui ra ánh sáng các quan chức tham nhũng. Hồi Tháng Hai năm nay, ông Tổng bí thư đảng Nông Đức Mạnh còn khen ngợi báo chí đã lột mặt nạ bọn tham nhũng và cho rằng báo chí đã làm tròn “điều mong đợi của nhân dân”. Một trường hợp gây chấn động dư luận xảy ra năm 2006 tại Bộ Giao Thông Vận Tải, qua đó báo chí đã phanh phui chuyện quan chức đã đem 750 nghìn đô la vào các cuộc cá độ bóng đá. Trong cuộc thanh lọc tiếp sau đó đã khiến một quan chức hàng đầu của bộ này phải vào tù cùng bảy thủ hạ.

Thế nhưng những diễn biến gần đây đã gieo mối ngờ về sự thành thực của ban lãnh đạo khi họ lớn giọng tuyên bố sẽ quyết tâm diệt trừ tham nhũng ở mọi cấp. Thứ trưởng bộ Giao Thông Vận Tải là Nguyễn Việt Tiến là cấp cao nhất của bộ bị khép tội, thì nay được xoá tất cả các tội trạng. Đáng lo ngại hơn nữa là hai nhà báo tích cực tố cáo tham nhũng thì nay lại bị bắt cùng với hai cựu sĩ quan công an từng là nguồn cung cấp thông tin cho nhà báo, tất cả đề bị khép vào tội “lợi dụng chức quyền” để loan tin sai sự thực.


”Tự do”, hai tiếng ngọt ngào!


Báo chí tại Việt Nam bây giờ trông thì có vẻ rậm đám thật đấy, nhưng vẫn phải chịu giám sát chặt chẽ: các tổng biên tập đều phải được đảng thông qua bổ nhiệm, và thường được gọi vào “nhắc nhở” cần tự chế về việc đăng tải những gì trên mặt báo. Nói cho ngay những năm gần đây họ cũng được phép đăng tải ngày càng nhiều các phê phán đường lối chính sách nhà nước – miễn là biết điều đừng có táy máy đặt vấn đề “quyền” lãnh đạo của đảng. Hai nhà báo vừa mới bị bắt là phóng viên của báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ là những tờ báo đặc biệt là không sợ phơi bày tệ nạn tham nhũng.

Cũng là một chuyện chưa có tiên lệ, là cả hai tờ báo đều lên tiếng mạnh mẽ phản đối việc bắt bớ, và đứng về phía những phóng viên. Báo Thanh Niên đã viết một bài xã luận đòi hỏi: “Trả tự do cho những nhà báo chân thực”. Tờ báo cho biết toà soạn đã “tràn ngập” thư từ ủng hộ của bạn đọc và một số đại biểu Quốc Hội. Tờ báo lên tiếng thách thức nhà nước hãy giải trình tại sao trong suốt hai năm qua, không thấy một nhân viên nào thuộc ngành công an, viện kiểm sát, và bộ công an lên tiếng chỉ ra những điều gọi là sai trái trong các bài báo được ấn hành.

Hiện vẫn chưa biết rõ lí do vì sao nhà cầm quyền đột ngột quay ngoắt lại tiến công những người chống tham nhũng. Có phải họ đã lần ra được những dấu hiệu của một chuyện động trời ghê gớm hơn trước? Có phải ban lãnh đạo đảng muốn nhắn với công luận là cấm đụng đến các viên chức cấp cao từ mức nào đó trở lên? Hoặc giả có những dấu hiệu hiển nhiên về mối xung đột giữa cánh cởi mở và cánh bảo thủ trong nội bộ đảng cầm quyền? Một nhà phân tích thời sự tại Hà Nội, bà Catherine McKinley, cho rằng “Công chúng cho rằng những nhà báo kia chỉ là những con tốt thí trong một cuộc cờ to rộng hơn, chưa biết sẽ dẫn đến đâu.”

Cũng na ná như tình hình bên Trung Quốc, Đảng Cộng sản có vẻ được dân chúng miễn cưỡng ủng hộ nhờ thành tích tăng trưởng kinh tế ngoạn mục kể từ khi họ từ bỏ chủ trương làm ăn tập thể hơn hai mươi năm trước đây. Tuy nhiên, lúc này đây, họ đang phải vất vả chống chỏi với lạm phát cuộc khủng hoảng thanh khoản đang chớm nở. đảng cầm quyền có thể rồi sẽ phải có những biện pháp không được lòng dân; và có thể họ phải tạm treo lại việc đuổi theo tăng trưởng kinh tế để duy trì ổn định. Vậy thì lãnh đạo đảng sẽ cần người dân thắt lưng buộc bụng. Cách tốt nhất để khỏi phải trả giá đắt là cứ lôi ra vài con dê tế thần trong cuộc chiến chống tham nhũng vậy.

Nguồn: The Economist, ngày 22/05/2008
Xuyến Như chuyển ngữ
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Dân Việt Nam phải đòi lại ruộng đất
Ngô Nhân Dụng

Một độc giả từ trong nước email góp ý kiến với bài viết ngày hôm qua trong mục này, nhân trong đó nói về dự án sửa đổi Luật Ðất Ðai ở Việt Nam. Ông (hay bà) độc giả mắng rằng: “Các ông ở ngoài vớ vẩn, chả biết cóc gì cả. Các bác trong Ðảng sẽ đ... bao giờ sửa xong cái Luật Ðất Ðai đâu! Sửa để làm cái... gì chứ? Cứ để nó lung tung xèng như bây giờ thì các bác ấy có cơ hội tha hồ chấm mút, chia chác với nhau. Nếu làm ra luật lệ đàng hoàng thì đám dân đen nó cứ vin vào luật nó đòi hỏi, làm sao họ còn có cơ hội chia nhau cái ‘gia tài của Bác’ để lại, truyền đời cha, đời con đời cháu mà hưởng với nhau?”

Chúng tôi xin phép không đồng ý với vị độc giả trên, mặc dù biết rằng ông (hay bà) ở tại chỗ chắc hiểu biết nhiều hơn một người sống ở nước ngoài. Vì lẽ, cứ theo những điều được loan báo về các đề nghị sửa đổi Luật Ðất Ðai, thì dù luật có được sửa đổi, “các bác” trong Câu Lạc Bộ Ba Ðình vẫn toàn quyền quyết định. Họ vẫn có cơ hội tha hồ “chấm mút và chia chác” với nhau, như mối quan tâm của vị độc giả. Ðó mới là nỗi đau đớn cho dân tộc Việt Nam.

Như ngày hôm qua đã trình bày trong mục này, câu chuyện đất đai ở nước ta từ năm 1954 đến giờ nó là một vụ ăn cướp ruộng đất của toàn dân, gom vào trong tay một đảng. Chúng ta thường tố cáo những tội ác trong vụ cải cách ruộng đất theo kế hoạch bên Tàu đưa sang, được các cố vấn Trung Cộng chỉ đạo từng chi tiết. Những cuộc đấu tố, giết người, vân vân, mối hờn oan đến bây giờ vẫn còn ám ảnh nông thôn miền Bắc sông Bến Hải. Nhưng đó cũng chỉ là mặt nổi. Nền tảng bên dưới của những cuộc đấu tố đó là hành động tập trung tài nguyên ruộng đất cả nước vào trong tay các đảng viên cộng sản, từ cấp làng xã lên đến cấp cao nhất ở trung ương. Ðó là một khí cụ mà các ông Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, sau này sử dụng để kiểm soát bao tử của người dân, kiểm soát lòng trung thành của các đảng viên thuộc hạ. Cho một đảng viên quyền chia ruộng, chia đất, là vừa giúp hắn cơ hội kiếm tiền, lại vừa cho hắn nắm quyền sinh sát trên mọi người chung quanh. Những đảng viên đó sẽ phải một lòng trung thành với cấp trên, lãnh tụ bảo sao nghe vậy.

Ðến bây giờ, kinh tế đã thay đổi, nhiều người dân có thể xoay trở kiếm ăn “ngoài guồng máy”; nhưng đảng Cộng Sản vẫn không muốn bỏ nguyên tắc quyền kiểm soát đất đai vẫn nằm trong tay họ. Vì nguyên tắc đó vẫn là một khí cụ để bọn lãnh tụ bảo vệ lòng trung thành của các cán bộ, đảng viên cấp dưới. Hơn thế nữa, trong lúc nền kinh tế đang chuyển sang công nghiệp hóa, các lãnh tụ đảng còn bám lấy khí cụ đó để làm giầu. Vì quyền quyết định việc sử dụng đất đai, chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp, là một thứ máy in ra tiền. Các ông lớn không bao giờ bỏ cái quyền đó; ngược lại họ còn bảo vệ quyền hành của đám thuộc hạ, tay chân để nương tựa lẫn nhau nữa.

Theo những đề nghị của Bộ Trưởng Tài Nguyên và Môi Trường Phạm Khôi Nguyên thì điều 63 (a) của đạo Luật Ðất Ðai năm 2003 sẽ được sửa lại để cho các thành phố và những khu vực đã “quy hoạch phát triển đô thị” được quyền “phân lô bán nền.” Ðất phân lô bán nền ở đây là những diện tích đất đai, có thể là ruộng, rẫy, mà chính quyền địa phương “được phép thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở.” Quý vị thử tưởng tượng trong lúc dân số Việt Nam đang tăng, dự đoán đến năm 2030 sẽ lên tới 150 triệu, riêng cái quyền cho phép ai xây nhà ở đâu, phân lô nơi nào để bán cho người ta xây nhà, quyền đó đã là một mỏ vàng rồi! Ai nắm chìa khóa cái mỏ càng đó? Chính là các đảng viên cộng sản nắm chức nắm quyền ở các địa phương được “quy hoạch” để phát triển thành đô thị!

Thời ông Nguyễn Minh Triết làm chủ tỉnh Bình Dương, đã xẩy ra vụ đem đất vườn cao su tặng cho các cán bộ, quan chức chung quanh ông. Các quan chỉ cần nhận mảnh giấy trao quyền sử dụng đất, chẳng ai cần đặt chân tới chỗ đất mình được tặng nữa. Sau đó nhà nước lại lập ra dự án biến khu đất đó thành khu công nghiệp, bèn mua lại những miếng đất đã cấp pháp. Các vị chủ nhân bèn trả lại đất, thâu tiền bỏ túi, vẫn chẳng ai cần nhìn xem miếng đất mình làm chủ nó hình thù thế nào. Chỉ mấy quyết định trên giấy tờ đó đủ biến bao nhiêu quan chức thành tỉ phú rồi. Bây giờ lại nổ lên những vụ chiếm đất ở Thủ Thiêm, vùng ngoại ô ven biên Sài Gòn, tất cả đều là những kế hoạch đất đẻ ra vàng. Mà cái đũa thần làm được phép lạ đó chính là cái quyền quyết định sử dụng đất nằm trong tay đảng Cộng Sản.

Lại đến kế hoạch mở rộng thành phố Hà Nội mà ông Nguyễn Tấn Dũng mới ban ra, trong nước nhiều người đã chỉ trích là làm bừa, làm mà không tham khảo ai, không nghiên cứu đâu hết, nhưng cứ gọi là kế hoạch. Người dân Hà Nội biết rằng một số ông lớn và họ hàng, phe đảng đã mua đất sẵn ở những vùng sắp được “đô thị hóa” trong kế hoạch mở rộng Hà Nội này rồi. Chỉ cần một chữ ký của ông Nguyễn Tấn Dũng là đất lại biến thành vàng rồi!

Trong tinh thần biến đất thành vàng này, dự án sử đổi Luật Ðất Ðai cho phép các lãnh tụ cấp tỉnh, cấp thành phố được quyết định nơi nào được “phân lô bán nền” để làm nhà ở hoặc nhà cho thuê. Ðó là các quan ở trung ương đem chia quyền biến đất thành vàng cho các thuộc hạ. Khi nắm được quyền đó trong tay, tất cả các thuộc hạ sẽ tận tụy trung thành với Ðảng! Ðó là chất keo sơn đoàn kết các cán bộ, đảng viên đang nắm quyền. Tất nhiên, có những đảng viên “ở ngoài luồng” không được ăn miếng nào nhưng chẳng ai dám nói một tiếng!

Không phải chỉ có các cán bộ đảng viên nắm guồng máy từ trung ương xuống địa phương được quyền chia ăn. Ðảng Cộng Sản cũng không quên chia phần cho quân đội và công an. Quân đội và công an đều có quyền sử dụng đất công trao cho họ quản lý, “để bảo vệ an ninh.” Cấp chỉ huy tha hồ đem đất đai trong phạm vị quyền hạn của mình mà cho thuê, ký hợp đồng vài chục năm để kiếm lời. Họ sẽ nói tiền lời nộp vào công quỹ, nhưng chắc chắn sẽ qua tay chấm mút của các ngài.

Ðất đai nằm toàn quyền trong tay một đảng, không người dân nào được quyền làm chủ, sẽ ngăn cản việc phát triển kinh tế bền vững và lâu dài. Ðó là cái giá mà cả dân tộc Việt Nam phải trả để cho đảng Cộng Sản nắm trọn quyền sử dụng đất đai.

Nhiều người Việt ở ngoài về nước đầu tư đã nếm mùi cay đắng vì luật lệ đất đai nằm hoàn toàn trong tay đảng Cộng Sản. Một nhà đầu tư được thuê hay trao quyền sử dụng đất trong một thời gian, trong mười năm, hai mươi năm, không biết chắc bao giờ họ sẽ đòi lại. Muốn họ đòi lại thì họ có đủ thứ lý do, chẳng ai cãi được bao giờ. Cho nên tốt nhất là nhà đầu tư chỉ làm những dự án có thể thu hồi vốn thật nhanh, “pay back period” thế giới vòng vài ba năm là đủ, sau đó là kiếm lời. Sau khi kiếm lời tạm đủ rồi, có thể sẽ bán lại cho người khác thuộc loại “điếc không sợ sấm!” Chỉ riêng việc sang tên quyền sử dụng đất đai từ một người sang người khác là các quan chức nắm quyền trên đất đai lại có dịp ăn hối lộ thêm lần nữa. Người kế nghiệp cũng chỉ làm sao kiếm đủ vốn lời trong vòng mấy năm rồi bỏ chạy. Cứ như thế, không biết bao giờ mới có những kế hoạch làm ăn lâu dài! Họa chăng là các nhà tư bản ngoại quốc. Vì là người ngoại quốc, họ được sứ quán của họ bảo vệ, không lo bị cướp giật! Còn người Việt Nam thì như cá nằm trên thớt, họ đành để số phận cho Ðảng quyết định, không có ai bảo vệ họ hết!

Những câu chuyện trên cho thấy đến lúc người dân Việt Nam phải đòi lấy quyền làm chủ ruộng đất. Không thể để cho một nhóm người nắm toàn quyền trên ruộng đất. Ðây không phải chỉ là quyền lợi của các cá nhân những người đang sử dụng ruộng đất, mà là quyền lợi chung của cả dân tộc, của các thế hệ con cháu sau này. Vì khi mọi người được làm chủ mảnh đất mình đang cầy cấy hay đang làm nhà ở thì những miếng đất đó không những được dùng mà còn được biến thành vốn để đầu tư nữa. Trong cuốn The Mystery of Capital (Niềm Bí Mật của Nguồn Vốn), nhà kinh tế Hernando de Soto đã nêu lên vấn đề thiếu quyền sở hữu minh bạch trên nhà đất ở các nước đang mở mang. Hàng triệu ngôi nhà ở các thành phố không có giấy tờ để người cư ngụ trong đó trở thành chủ nhân hợp pháp. Nếu được làm chủ hợp pháp, hàng triệu gia đình có thể dùng nhà, đất của mình làm vật “thế chấp” mà đi vay tiền, đầu tư. Lúc nào cũng có sẵn những ngân hàng quốc tế có tiền cho vay, nếu họ biết có tài sản làm thế chấp và nếu quyền sở hữu được luật pháp bảo đảm. Có thể huy động hàng tỷ đô la tiền vốn ở mỗi nước chậm tiến, khi người dân được làm chủ chính thức mảnh đất mình cư ngụ. Nhiều chính phủ trên thế giới đã tiếp nhận bài học của De Soto, lập chương trình hợp pháp hóa quyền sở hữu đất đai của hàng triệu người dân nước họ.

Ruộng và đất không phải chỉ là nơi cầy cấy và nơi cư ngụ. Ðó là một nguồn vốn để phát triển kinh tế. Cho nên người Việt Nam phải đòi đảng Cộng Sản trả lại quyền sở hữu đất đai cho dân. Phải sửa đổi bản hiến pháp để không cho đảng Cộng Sản toàn quyền nắm trong tay ruộng đất cả nước từ hơn nửa thế kỷ nay, biến họ thành chủ nhân ông tuyệt đối trên dân tộc Việt Nam!
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 5 guests