Cảm nghĩ về ngày Quốc hận 30/04/1975
Lê Quế Lâm
Nói rằng 30/4/1975 là ngày Quốc hận, chắc chắn đồng bào miền Bắc và nhất là giới lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ phản bác ngay: Ngày đất nước thống nhất, sạch bóng quân thù ngoại xâm tại sao gọi là quốc hận? Đồng bào miền Nam có thể chứng minh: Hận tại vì chúng tôi đang sống trong cảnh sung túc, dân chủ tự do, sau ngày 30/4/1975 cộng sản mang đến sự nghèo đói, độc tài, nhiều người bị tịch thu nhà cửa tài sản và bị cưỡng bách đi các vùng kinh tế mới xa xôi hẻo lánh. Còn công chức quân nhân miền Nam đã buông súng đầu hàng, cộng sản bắt đi tù đày cải tạo tại các vùng rừng núi ở miền Bắc …
Những người CS lại biện minh: Những gì gọi là sung túc, chỉ là phồn vinh giả tạo. Dân chủ tự do là chiêu bài của đế quốc Mỹ để ru ngủ nhân dân miền Nam, biến nơi đây thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ hòng nô dịch đồng bào miền Nam lâu dài. Cả triệu thanh niên miền Bắc đã hy sinh trong cuộc chiến giải phóng miền Nam là để giải thoát nhân dân miền Nam khỏi ách kèm kẹp, vì nơi đây là trại tập trung khổng lồ của đế quốc Mỹ. Còn việc cải tạo là giúp những người lầm đường lạc lối hiểu rõ đường lối của đảng để trở thành người dân tốt trong chế độ mới: không có cảnh người bốc lột người, chế độ xã hội chủ nghĩa là ưu việt; để thấy sự sáng suốt tài tình của đảng. Còn lao động là vinh quang để xây dựng đất nước “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như hoài bảo của “Bác Hồ” v.v..
Lý kẻ mạnh bao giờ cũng thắng (La raison du plus fort est toujours la meilleur). Thôi thì đành “giận cá chém thớt”, quay sang thù hận Mỹ đã bỏ rơi miền Nam, mới xảy ra cớ sự đau thương. Nhưng xét cho cùng, oán trách Mỹ cũng phi lý. Họ đã viện trợ kinh tế giúp miền Nam sung túc. Họ đã viện trợ quân sự giúp quân dân miền Nam chiến đấu bảo vệ tự do. Khi lâm nguy, họ đưa quân vào miền Nam phụ lực chiến đấu với Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Trong số hơn ba triệu quân nhân Mỹ chiến đấu ở VN có gần 60 ngàn binh sĩ đã tử thương, hàng trăm ngàn bị thương. Chi phí cho cuộc chiến lên đến hàng trăm tỉ đô la. Cuối cùng họ đã dàn xếp với Liên Xô (LX) và Trung Cộng (TC) và mời ba bên Việt Nam: Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa (Hànội), Việt Nam Cộng Hòa (Sàigòn) và Mặt trận Giải phóng Miền Nam đến bàn đàm phán Paris thảo luận hơn 4 năm 6 tháng (từ tháng Năm 1968 đến tháng Giêng 1973). Hoa Kỳ, LX, TC và ba bên VN đều đồng ý giải quyết cuộc chiến VN bằng con đường hòa bình: nhân dân miền Nam sẽ quyết định tương lai chính trị miền Nam, chớ không phải do Bắc Việt hay Hoa Kỳ sắp đặt. Hiệp định Paris 1973 qui định rõ nhân dân miền Nam VN sẽ hưởng mọi thứ quyền tự do, sau đó tham dự cuộc tuyển cử dân chủ tự do có quốc tế giám sát để thực hiện quyền tự quyết của mình. Chính phủ MN do nhân dân MN dựng lên sẽ nói chuyện với chính phủ miền Bắc về việc tổng tuyển cử thống nhất đất nước theo tinh thần HĐ Genève 1954. Công việc hoàn tất, HĐ Paris 1973 như tên gọi của nó là “HĐ chấm dứt chiến tranh, tái lập hòa bình ở VN” ra đời, HK chấm dứt sự can dự. Từ nay công việc MNVN do hai bên miền Nam giải quyết, không có sự can thiệp từ bên ngoài; công việc VN do nhân dân hai miền Nam Bắc giải quyết, không có sự can thiệp bên ngoài. Như vậy nếu có oán trách thì oán trách những người lãnh đạo ba bên của VN.
Chính quyền CS thì đã trả lời như trên. Mặt trận GPMN thì đã giải tán, không một lời từ biệt đồng bào. Lúc ra đời thì hô hào nhân dân tham gia mặt trận đánh đổ chế độ thuộc địa trá hình của đế quốc Mỹ, thực hiện độc lập, dân chủ, cải thiện dân sinh, hòa bình, trung lập ở miền Nam. Sau 30/4/1975, chẳng thấy thực hiện điều nào cả, chỉ thấy Cộng Hòa Xã Hội chủ nghĩa, theo đúng khuôn mẫu Liên Xô. Trong hội nghị hiệp thương thống nhất đất nước, người ta tìm đỏ mắt chẳng thấy Luật sư Nguyễn Hữu Thọ -Chủ tịch Giải phóng Miền Nam ngồi ở đâu? Chỉ thấy trưởng và phó đoàn hai miền Nam và Bắc là những ủy viên Bộ Chính trị và Ủy viên Trung ương Đảng CSVN.
Còn giới lãnh đạo MN tự do thì đổ lỗi cho Mỹ. Họ cho rằng HK không còn cần miền Nam làm tiền đồn nữa, nên cắt dần viện trợ quân sự. Lúc đầu TT Thiệu còn hăm dọa “viện trợ nhiều thì giữ nhiều, viện trợ ít thì giữ ít. Sau cùng ông từ chức, chạy sang Đài Loan. Ông tuyên bố “Tôi có trách nhiệm chớ không có tội”. Ngày trước, khi để mất ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ, cụ Phan Thanh Giản gởi sớ về triều đình Huế xin gánh chịu mọi trách nhiệm và tội lỗi, sau đó ông tuyệt thực và uống thuốc độc quyên sinh. Nay ông Thiệu là nguyên thủ quốc gia, cho rằng mình có trách nhiệm nhưng không có tội. Đối với quốc dân không làm tròn trách nhiệm là có tội. Ông Thiệu từng truy tố tướng Vũ Văn Giai tư lịnh Sư đoàn 3 khi ông rời bỏ đơn vị trong mùa Hè đỏ lửa 1972. Tháng Tư 1974, ông ra lịnh quản thúc hai tướng Phạm Văn Phú và Ngô Quang Trưởng vì rút quân khỏi Cao nguyên và Quân khu I. Chả lẽ ông Thiệu muốn nói với HK, ông có trách nhiệm giữ “tiền đồn” của Thế giới tự do, nay HK bỏ rơi “tiền đồn”, ông phải tháo chạy nên chẳng có tội gì cả (đối với HK). Như vậy thì ông Lê Duẫn đã hãnh diện có công lớn (với LX): giải phóng được miền Nam để mở rộng Hệ thống Xã hội chủ nghĩa thế giới. Đây là một bưóc để tiến tới “thế giới đại đồng” –ước mơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua hai câu trong bài thơ cảm hứng khi ông đến viếng đền thờ Đức Trần Hưng Đạo: “Bác đưa một nước qua nô lệ. Tôi dắt năm châu đến đại đồng”.
Vậy thì hận, trách ai bây giờ? Trong bài này, quốc hận không hàm ý thù hận. Thù hận đã làm tan nát đất nưóc, chia rẽ dân tộc trong suốt hơn 60 năm qua. Có tốt đẹp gì để nói đến nó nữa, và cũng đã nói quá nhiều rồi. Lịch sử là một chuổi dài những sự kiện liên kết nhau theo qui luật nhân quả. Biến cố 30/4/1975 là kết quả của cái nhân trước đó. Và biến cố này trở thành cái nhân tạo ra cái hậu quả mà đồng bào đã chứng kiến trong 33 năm qua. Nay nhân ngày 30/4 tôi có chút cảm nghĩ về ngày này, tôi chỉ đề cập cái hận ở ba khía cạnh: một là vì tức-giận (angry) vì cay đắng (bitterness) chớ không oán thù; hai là vì nhục, quốc nhục hay quốc hận (national humiliation); ba là tiếc hận, hối tiếc (regret). Đây là hận chung, có thể gọi là Quốc Hận, dù là đồng bào miền Bắc chiến thắng hay đồng bào miền Nam bại trận.
Hận vì tức, giận, cay đắng “Bỏ mồi bắt bóng” Từ 1955, HK đã viện trợ giúp NamVN vững mạnh vì đây là tiền đồn ngăn chặn làn sóng đỏ tràn xuống Đông Nam Á. Đồng thời biến miền Nam thành thí điểm của sự phồn vinh và dân chủ kiểu Mỹ ở Châu Á. Mãi đến đầu năm 1973, ý định của HK mới thực hiện được qua HĐ Paris 1973. Trong lá thư đề ngày 14 tháng Giêng năm 1973, do tướng Haig mang tận tay trao cho TT Thiệu ở Sàigòn, TT Nixon viết rằng: “Tôi hy vọng rằng sau tất cả những gì cả hai quốc gia chúng ta đã cùng chia sẻ và chịu đựng trong cuộc chiến này, chúng ta sẽ cùng đứng lại với nhau để tạo dựng và gặt hái kết quả của hòa bình”. (1)
Hai tháng trước đó, tướng Haig cũng đã mang đến TT Thiệu lá thư của TT Nixon đề ngày 8/11/1972 trình bày về bản dự thảo Hiệp định Paris mà HK và Hànội đã thỏa thuận. Nixon cho biết: “Chúng tôi coi bản dự thảo Hiệp định ấy là hợp lý, chúng tôi tiếp tục tin tưởng rằng nó phản ảnh những nhượng bộ của phe bên kia, nó bảo vệ nền độc lập của Nam Việt Nam và cho phép nhân dân Việt Nam quyết định lấy tương lai chính trị cho chính mình. Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng nhân dân Ngài, quân lực Ngài và chính bản thân Ngài đã dành được một thắng lợi lớn mà bản dự thảo Hiệp định sẽ xác nhận. Ý định của tôi là sẽ xây dựng trên những thành quả đó. Tôi muốn được cộng tác với Ngài và chính phủ Ngài trong nhiệm kỳ thứ hai của tôi để bảo vệ tự do tại miền Nam –trong thời bình, cũng như ta đã từng cộng tác trong nhiệm kỳ thứ nhất của tôi để bảo vệ nó trong thời chiến”.
Nixon viết tiếp “Trong bốn năm qua, Ngài và tôi đã là hai đồng minh thân thiết, trên bình diện cá nhân cũng như quân sự. Sự liên minh sẽ đưa chúng ta đến một vị trí khiến kẻ địch đang thỏa thuận với những điều kiện mà bất cứ một quan sát viên vô tư nào cũng đã nói là không thể có được bốn năm trước đây. Sự liên minh của chúng ta và những thành quả của nó đã được xây dựng trên sự tin cậy lẫn nhau. Nếu Ngài tiếp tục tin cậy chúng tôi thì cùng nhau chúng ta sẽ thành công”. (2)
Điều lo ngại của TT Thiệu là Bắc Việt sẽ lật lọng, không tuân hành nghiêm chỉnh hiệp định. Nixon phải trấn an bằng lời cam kết. Trong thư đề ngày 20/11/1972, Nixon viết: “Tôi xin nhắc lại những bảo đảm của chính tôi với Ngài là Hoa Kỳ sẽ phản ứng thật mạnh mẽ và mau lẹ đối với bất cứ vi phạm hiệp định nào. Nhưng để thực thi điều đó một cách hữu hiệu, điều quan trọng là tôi phải có được hậu thuẫn của dân chúng, và chính phủ Ngài phải đừng tỏ ra như một trở ngại cho nền hòa bình mà công luận HK giờ đây mong muốn.Tôi tuyệt đối cam đoan với Ngài rằng: nếu Hànội không tuân theo những điều kiện của hiệp định này, thì tôi cương quyết sẽ có hành động trả đũa mau lẹ và các liệt”. (3)
Với bản chất đa nghi cố hữu, Thiệu không tin lời hứa của Nixon, vẫn khăng khăng với lập trường “Bốn không”, không chấp nhận hiệp định hòa bình. Sau này trong hồi ký, Kissinger có nhắc đến những tranh cải giữa ông và TT Thiệu trong giai đoạn hòa đàm Paris. Kissinger cho rằng “Sự đa nghi không lành mạnh của ông ta là một đặc tính quá tinh túy của người Việt Nam”. Từ kinh nghiệm tiếp xúc với TT Thiệu và các phụ tá của ông trong thời gian hòa đàm Paris, Kissinger có nhận xét “Chẳng người Việt Nam nào, cả Bắc lẫn Nam, tin rằng tự tín, tin tưởng hay tình bạn là điều quyết định”. (4) TS Nguyễn Tiến Hưng còn tiết lộ: Trong một bửa ăn trưa với phóng viên các báo Time và Fortune ngày 29/9/1972, Kissinger nhận xét “Vấn đề của chúng ta với người Việt Nam là bên nào cũng cho là mình đang thắng, và khoan hồng chẳng hề là đặc tính của họ... Rồi ông đánh giá Thiệu và (Lê Đức) Thọ ngang nhau, cùng Việt Nam như nhau về lối suy tưởng cũng như cách xử sự - cả hai đều gớm ghiết như nhau. Kissinger tiếp: “Trong thực chất chiến tranh đã tàn rồi. Chẳng một ai thắng cả. Người Mỹ không còn quyền lợi gì ngoại trừ ra đi với phẩm cách. Thọ là một tên cuồng trí không biết được đâu là con đường quốc nội bình thường phải theo. Người VN là một giống người khó tính và đa nghi”. (5)
Chính vì đa nghi, thiếu tự tín lại không tin tưởng vào tình bạn, nên ông Thiệu không chấp nhận những lời giải thích, khuyến cáo của Nixon, cương quyết không ký hiệp định Paris. Nixon phải nói thẳng cho Thiệu biết trước thảm họa sẽ xảy ra. Trong thư ngày 5 tháng Giêng 1973, Nixon cho biết: “Như tôi đã thưa trong thư đề ngày 17 tháng Chạp của tôi, tôi tin chắc sự khước từ tiếp tay với chúng tôi của Ngài sẽ là một sự chuốc lại thảm họa – nó sẽ phá hủy tất cả những gì mà chúng ta đã cùng nhau tranh đấu để đạt được trong mười năm qua”. Mười ngày sau, Nixon gởi tiếp lá thư cảnh cáo Thiệu: “Tôi nhất định cho phê chuẩn hiệp định Paris vào ngày 23 tháng Giêng sẽ ký vào ngày 27 tháng Giêng 1973 ở Paris. Tôi sẽ làm việc đó dù một mình. Trong trường hợp đó, tôi sẽ công khai tố cáo chính phủ của Ngài làm cản trở công cuộc vãn hồi hòa bình ở VN. Kết quả không tránh khỏi sẽ là việc cúp viện trợ quân sự và kinh tế ngay lập tức, mà dù có sự thay đổi về nhân sự trong chính phủ của Ngài cũng không thể cứu vãn được”. (6)
Quả thật sau này, nhân sự thay đổi liên tục, từ Thủ tướng Trần Thiện Khiêm chuyển sang Nguyễn Bá Cẩn, Vũ Văn Mẫu. Còn chức vụ tổng thống chuyển từ Nguyễn Văn Thiệu sang Trần Văn Hương, Dương Văn Minh vẫn không cứu vãn được gì. Miền Nam sụp đổ.
Cái cay đắng của đồng bào miền Nam là ông Thiệu đã “Bỏ mồi bắt bóng”. Cái “mồi” là miền Nam phồn vinh dân chủ tự do tiếp tục tồn tại, sau này có thể sẽ thống nhất với miền Bắc, tương tự như Tây Đức và Đông Đức hồi năm 1990. Cái “bóng” mà ông Thiệu ưa chuộng là tiếp tục làm “đồn trưởng” tiền đồn Thế giới Tự do, được Hoa Kỳ luôn yểm trợ để tha hồ “độc diễn”, độc tài bóp nghẹt báo chí và tự do tham những. Còn tham gia bầu cử dân chủ tự do có quốc tế giám sát thì làm sao độc diễn, có thắng cử thì cũng chỉ một vài nhiệm kỳ mà thôi. Kết cuộc, ông ra đi kéo theo sự sụp đổ của cả miền Nam.
Sau 30/4/1975, những người CS chiến thắng cũng bỏ cái “mồi” trước mắt xây dựng đất nước phồn vinh. Họ vừa tiếp thu một chiến lợi phẩm khổng lồ đáng giá hàng chục tỷ đô la, trong đó có nhiều cơ sở kỹ nghệ tân tiến ở Biên Hòa, Thủ Đức, Hốc Môn với hệ thống cầu đường vừa được HK kiến tạo xong. Ngoài ra, VN còn có một đội ngũ trí thức hùng hậu của hai miền Nam Bắc phối họp. Một số lớn được đào tạo ở các nước Tây phương, Liên Xô, Trung Quốc và khối XHCN. Trên bình diện quốc tế, VN sẽ bình thường hóa bang giao với Mỹ theo tinh thần HĐ Paris 1973, còn được Mỹ viện trợ để hàn gắn vết thương chiến tranh, trù tính gần 5 tỷ đô la. Ngoài ra VN còn được sự tận tình giúp đỡ của hai đàn anh TC và LX, nay đều có quan hệ với HK. Đối với các nước trong khu vực, nhờ thành tích chiến thắng Đế quốc Mỹ, VN được các nước ASEAN nể trọng và tất cả đều mong muốn giành được hậu thuẫn của VN để hình thành khu vực Đông Nam Á hòa bình, tự do và trung lập thực sự. Trên chính trường quốc tế, VN được đón nhận vào đại gia đình các nước không liên kết, sau đó gia nhập Liên Hiệp Quốc và trở thành hội viên của nhiều tổ chức tài chánh thế giới như Quĩ Tiền tệ quốc tế, Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển Á châu. Các tổ chức này đều sẳn sàng dành những số tiền lớn cho VN vay mượn để phát triển đất nước thời hậu chiến.
Giới lãnh đạo CSVN chỉ thấy cái “bóng” Liên Xô quá vĩ đại. Nơi đây, vào năm 1929 trước khi đảng CSVN ra đời, những người CS đã tuyên truyền: “Nhờ cách mạng tháng 10 thành công nên: Công nông Nga đã được thoát vòng tư bản chủ nghĩa bốc lột đè nén; Anh em làm thợ ở Nga mỗi ngày chỉ phải mần có 7 giờ; Ở các cơ quan sanh sản có hại tới sức khỏe, lại chỉ mần có 6 giờ thôi; Các anh em thợ thiếu niên, từ 18 tuổi trở lại chỉ phải mần nhiều nhứt là 6 giờ một ngày; Các chị em làm thợ chỉ phải mần 6 giờ một ngày thôi; Anh em chị em thợ Nga ai cũng có việc mần và được chánh phủ sô viết cho ăn mặc no ấm; Anh em chị em cầy ruộng ai cũng có ruộng đất đặng cầy cấy; Các anh em chị em công nông Nga được đủ các quyền bình đẳng, tự do, kinh tế, xã hội và chính trị; Các chị em công nông Nga được bằng quyền như đàn ông; Các anh em chị em công nông Nga ai cũng được học; Các anh em chị em công nông Nga không lo đau yếu vì đã có nhà thương không tốn tiền; Các chị em công nông Nga khi sinh đẻ không ngại dã có nhà nuôi con nít; Các chị em làm thợ Nga được nghỉ 2 tháng trước khi đẻ và 2 tháng sau khi đẻ và được ăn lương; Cách mạng vô sản thêm thế lực; Nói tóm lại, cách mạng tháng 10 và Liên bang Sô viết đã giải phóng cho vô sản Nga và giúp cho cách mạng thế giới. Liên bang Sô viết là tổ quốc của công nông thế giới” (7)
Đó là hình ảnh của thập niên 1920. Còn nay là giữa thập niên 1970, chắc chắn người dân Liên Xô đã bước vào giai đoạn “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”. Người dân miền Nam VN được thiên nhiên ưu đãi với đất đai trù phú “làm chơi ăn thiệt” còn thua xa người dân LX nhờ có Cách mạng tháng Mười, trở nên thiên đường ở hạ giới. Cái “bóng” đó vĩ đại quá, khiến giới lãnh đạo CSVN phải bỏ cái “mồi” đang có trước mắt. Thực sự, đó chỉ là cảm nghĩ của người dân bình thường, còn giới lãnh đạo CSVN quá đổi “tài tình”. Họ cần “núp bóng” LX để được “bảo vệ”, chớ họ biết quá rõ thực trạng đời sống nhân dân các nước CS. Năm 1956, đảng CS Hung Gia Lợi có nguy cơ bị lật đổ, không phải bởi đế quốc Mỹ mà bởi nhân dân Hung nổi dậy đòi tự do, LX liền đưa xe tăng đến đàn áp để bảo vệ đàn em. Tình trạng Tiệp Khắc năm 1968 cũng tương tự Hung Gia Lợi năm 1968, xe tăng LX cũng được xử dụng để đàn áp nhân dân Tiệp Khắc. Do đó, được “ô dù” che chở để bảo vệ quyền lợi cá nhân trở nên thịnh hành trong các giới chức CS hiện nay.
Có điều đáng nói, là cái “ô dù” che chở của LX đã hết hiệu nghiệm vào đầu thập niên 1980 khi Công đoàn Đoàn kết Ba Lan ra đời. Lúc bấy giờ LX đã cùng với Mỹ, Gia Nã Đại và toàn thể 33 nước Âu Châu ký bản Định ước cuối cùng ở Helsinski về “An ninh Hợp tác toàn Âu” ngày 1-8-1975. Trong đó có điều khoản các nước ký định ước cam kết không can thiệp vào công việc nội bộ các nước Âu Châu, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân các nước này. Do đó LX an tâm là HK không thể ủng hộ Tây Đức thống nhất Đức Quốc nhằm trả đũa việc LX ủng hộ CSBV thống nhất Việt Nam. Nhưng biến cố làm sụp đổ khối Đông Âu không xảy ra ở Đức mà ở Ba Lan. Năm 1981, Công đoàn Đoàn kết phát triển mạnh, đe dọa sự sống còn của Cộng đảng Ba Lan. LX liền điều động chiến xa áp sát biên giới Ba Lan để chuẩn bị can thiệp. Tổng thống Ronald Reagan yêu cầu LX phải tôn trọng nguyên tắc bất can thiệp do định ước Helsinski vạch ra. Ông hăm dọa nếu LX đưa chiến xa vào Ba Lan, HK sẽ can thiệp bằng vũ khí nguyên tử. LX phải nhượng bộ.
Quốc nhục (National humiliation): Ngày 29/4/1975, ba ngày sau khi TT Thiệu rời Sàigòn đến Đài Loan, TT Ford gởi sứ giả đến gặp Thiệu, yêu cầu ông không nên đến HK trong lúc này vì tình hình phản chiến ở đây. Gia đình ông thì có thể vào HK được. Còn cá nhân ông, HK có thể sắp xếp cho ông đi đâu tùy ý. (8) Trong thời gian này, HK đón nhận trên 130 ngàn người VN vào đất nước họ. Họ mời cựu TT Trần Văn Hương di tản nhưng cụ từ chối. Cựu thủ tướng Trần Thiện Khiêm rời Sàigòn cùng chuyến bay với Thiệu sang Đài Loan cũng được HK chấp nhận được định cư ở Mỹ…Nhưng vì lý do gì Chính phủ HK lại hẹp hòi, vô nhân đạo đối với người lãnh đạo tối cao của VNCH? Ai cũng biết TT Thiệu từng lên án HK ký HĐ Paris 1973 để bán đứng miền Nam tự do cho CS, ngày từ chức ông mạt sát HK là vô nhân đạo, bỏ rơi đồng minh khi gặp hoạn nạn…Chả lẽ TT Ford lại thù vặt, nhỏ nhen, mượn cớ tình hình phản chiến để không cho Thiệu vào Mỹ?
Sau này, nhờ TS Nguyễn Tiến Hưng “bật mí” trong tác phẩm Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập qua mấy chục lá thư của TT Nixon gởi TT Thiệu, tôi mới thấy được một vài sự thật. Như đã trình bày ở trên, từ 1969 đến 1972, Nixon và Thiệu “là hai đồng minh thân thiết, trên bình diện cá nhân cũng như quân sự. Sự liên minh sẽ đưa chúng ta đến một vị trí khiến kẻ địch đang thỏa thuận với những điều kiện mà bất cứ một quan sát viên vô tư nào cũng đã nói là không thể có được bốn năm trước đây. Sự liên minh của chúng ta và những thành quả của nó đã được xây dựng trên sự tin cậy lẫn nhau. Nếu Ngài tiếp tục tin cậy chúng tôi thì cùng nhau chúng ta sẽ thành công”. Nhưng từ khi HĐ Paris 1973 ra đời, Thiệu không còn tin cậy Nixon nữa, ông từ khước tiếp tay với Nixon. Hành động của Thiệu khiến Nixon cay đắng cho rằng đó “là đòn giáng mạnh vào tình bằng hữu, sự tương kính và quyền lợi chung của chúng ta… Tôi chẳng cần dấu diếm sự căng thẳng trong mối bang giao giữa chúng ta…”. Đây là lá thư cuối cùng của Nixon gởi Thiệu đề ngày 13/6/1973. (9)
Kế hoạch hòa bình ở VN của Nixon kể như thất bại vì thiếu sự hợp tác của TT Thiệu, từ đó Quốc hội Mỹ tìm cách buộc ông từ chức vì vụ Watergate (8/9/1974). Tám tháng sau đến lượt từ chức. Tình bằng hữu giữa Nixon và Thiệu đã mất từ 1973, sau đó quyền lợi chung của hai ông cũng tiêu tan. Có thể nói ông Thiệu đã phản bội người bạn đồng minh thân thiết Nixon và phản bội cả đồng minh Hoa Kỳ. Khi HK từ chối không cho ông vào đất Mỹ, ông nói với sứ giả của TT Ford: “Làm kẻ thù của Mỹ thì dễ, nhưng làm bạn với họ thì thật là khó”. Đáng lẽ, ông nên nói: “Tôi không bao giờ đến một đất nước đã phản bội dân tộc tôi” cho đỡ nhụt. Cuối đời, ông vẫn đến Mỹ và chết trên đất Mỹ.
Sau 30/4/1975, đảng CSVN bị Đặng Tiểu Bình lên án là “phường vong ân bội nghĩa”. Đặng và các lãnh tụ Trung Cộng còn khinh miệt VN như là một thứ tội phạm cần phải “dạy cho bài học” và “sẳn sàng dạy thêm bài học thứ hai”. Từ khi Hànội nối lại bang giao với TC năm 1993 đến ngày Đặng Tiểu Bình qua đời năm 1997, ông ta không bao giờ tiếp các lãnh tụ CSVN. Các phiên họp giữa Lý Bằng hoặc Giang Trạch Dân với các ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt chỉ diễn ra ở Thành Đô, chớ không phải ở Bắc Kinh.
Trước đây, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Trung ương Hà Nội, đã đến thuyết trình các sự thật cho các cán bộ cao cấp nhất của cộng sản Việt Nam nghe. Bài nói này mới được tiết lộ ra ngoài hồi đầu năm 2005. Ông Doanh kể lại rằng một chuyên viên tài chánh quốc tế đã đặt câu hỏi với ông như sau: “Chúng mày giỏi thế mà chúng mày nghèo lâu đến thế, là thế nào? Trí tuệ như thế này, truyền thống như thế này, sao mày ăn xin hoài thế? Chúng mày cứ đề ra cái mục tiêu là đến bao giờ chúng mày đừng đi ăn xin nữa, có được không?” Thật là một mối nhục chung cho cả nước!
Ngày trước, công chúa Huyền Trân nhà Trần, các công nương Ngọc Khoa, Ngọc Vạn con chúa Nguyễn, vì đất nước, chịu nhận làm hoàng hậu Chiêm Thành, Chân Lạp để tiền nhân mở mang bờ cỏi về phương Nam. Ngày nay, các em còn vị thành niên, vì miếng cơm manh áo phải sang Miên làm điếm. Thật quá tủi nhục! Còn người lớn thì sang Mã Lai, Đại Hàn lao động, nay nhà nước dự trù xuất cảng lao động sang cả Phi Châu. Nơi đây từng xuất cảng nô lệ sang các nước Tây phương, chả lẽ ngày nay VN xuất cảng người sang Phi Châu “làm đầy tớ cho nô lệ” hay sao? Trong suốt dòng lịch sử, phẩm giá con người VN chưa bao giờ bị khinh khi tàn tệ như ngày nay, chỉ vì đất nước tụt hậu, người dân nghèo đói quá nhiều.
Tiếc hận, hối tiếc: Biến cố 30/4/1975, miền Nam tự do sụp đổ, là bước mở đầu suy đoạn thoái trào để đi đến tan rả của khối Cộng sản quốc tế. Tại miền Nam VN, các chính sách cải tạo công, nông, thương nghiệp đều thất bại. Đất nước ngày càng nghèo đói, miền Nam từng là vựa lúa lớn nhất nhì thế giới. Nhưng bây giờ, người dân VN phải chạy ăn từng bửa, thậm chí phải ăn bo bo. Người dân chỉ còn một con đường: “tự do hay là chết”. Họ bỏ nước ra đi, vượt đại dương trên những chiếc thuyền con, trang bị thô sơ.
Trước 1975, thế giới chú ý đến VN vì nơi đây đang diễn ra cuộc chiến “ác liệt, lâu dài và đẫm máu nhất” kể từ sau Thế chiến II. Sau 30/4/1975, VN đã có hòa bình, đất nước thống nhất, thế giới lại bắt đầu để ý đến VN qua “thảm trạng thuyền nhân”, qua sự vi phạm chà đạp nhân quyền, qua sự nghèo nàn cơ cực chưa từng có…Trên các diễn đàn chính trị thế giới, các cơ quan tuyên truyền khắp năm châu phát ra những tiếng nói vô cùng nhục nhã: “VN là kẻ cướp quốc tế”, “VN - quân Phổ của Á Đông”, “VN vong ân bội nghĩa”, “VN tráo trở lật lọng”, “VN -ngoại giao đi ăn mày”.
Trên bình diện thế giới, LX coi chiến thắng 30/4/1975 như là bước rẩy chết của chủ nghĩa đế quốc do Mỹ cầm đầu. Họ bắt đầu vùng lên nhuộm đỏ thế giới. Sau ba nước Đông Dương, đến lượt Angola lọt vào tay CS năm 1975, Ethiopia, Mozambique năm 1976, Nicaragua năm 1977, Nam Yemen năm 1978 và lên đến đỉnh cao vào năm 1979. Sau khi CSVN và LX ký hiệp ước hữu nghị hợp tác (9/1978), CSVN đưa quân sang Cam Bốt và LX đưa quân vào Afghanistan. Đây là hai quốc gia trung lập đưọc quốc tế công nhận từ lâu. Trung Cộng liền điều quân vượt biên giới để “dạy cho VN một bài học” mà họ gọi là tên “tiểu bá quyền” ở khu vực Đông Nam Á, làm tay sai cho tên “đại bá quyền” Liên Xô.
Cuộc chiến giữa các nước CS đàn anh đã làm gẫy đổ khẩu hiệu của Karl Marx: “vô sản các nước đoàn kết lại”. Đây là giai đoạn cuối cùng của chiến tranh lạnh; LX, TC và CSVN đều chủ trương “đổi mới” để sống còn. Tại LX, lãnh tụ trẻ tuổi Gorbachev đề ra chủ trương Glasnot (cởi mở) và Perestoika (tái thiết), công việc đang tiến hành tốt đẹp, các lãnh tụ bảo thủ lại tổ chức đảo chánh ông, tương tự như Breznhev từng đảo lãnh tụ LX xét lại Khruschev hồi năm 1964. Cuộc đảo chánh năm 1991 ở Nga thất bại vì nhân dân Nga xuống đường ủng hộ Yelsin là người chủ trương cải cách. Cuộc đảo chánh của phe bảo thủ bất thành, Gorbachev trở lại cầm quyền. Ông cho rằng ông đang cứu LX khỏi sụp đổ, các ủy viên Bộ chính trị bảo thủ lại đảo chánh ông, các uỷ ban trung ương đảng đều không lên tiếng phản đối. Dựa vào đó, quyết định đầu tiên của ông khi trở lại điện Kremlin là từ chức Tổng bí thư, giải tán đảng CSLX vì lý do các Ủy viên Bộ chính trị và Trung ương đảng “phản quốc”.
Tại Bắc Kinh, chủ trương “đổi mới” của Đặng Tiểu Bình là thực hiện kinh tế thị trường. Ông từng là Tổng bí thư đảng Cộng sản Trung Quốc, đã bị Mao Trạch Đông hạ bệ ba lần, chỉ vì có tư tưởng hữu khuynh theo đường lối tư bản chủ nghĩa. Tại Đại hội XII Đảng CSTQ (9/1982), ông cho rằng: lý tưởng của Mao là vĩ đại, muốn TQ trở thành một đại cường quốc lớn nhất thế giới, nhưng con đường tả khuynh của Mao là sai, không thể thực hiện được lý tưởng của Mao, vì thế phải “phi Mao” (không có Mao). Nghị quyết Đại hội XII đảng CSTQ ghi nhận: công và tội của Mao bằng nhau. Từ đó, Đặng nắm giữ quyền lực tối cao ở Bắc Kinh, đề ra chủ trương: “kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đây là điểm đặc thù của đảng CSTQ, do hoàn cảnh đặc biệt của đất nước này. Kinh tế thị trường là một hình thức kinh tế tư bản, nhưng từ khi Mao lãnh đạo TQ, bốn chữ “kinh tế tư bản” là điều cấm kỵ. Vã lại con đường hữu khuynh của Đặng Tiểu Bình phải dựa vào HK và các nước Tây phương, tiếp nhận sự giúp đỡ về mọi mặt khoa học kỹ thuật tân tiến để giúp TQ thực hiện “Bốn hiện đại hóa”, mở đầu xây dựng nền kinh tế tư bản. Đây cũng là điều khó được những người CS chấp nhận. Vì thế, không thể nói thẳng là kinh tế tư bản, mà đây là một sáng tạo của CSTQ: kinh tế thị trường là cách đổi mới kinh tế tư bản phù hợp với TQ để xây dựng XHCN. Sáu chữ “định hướng xã hội chủ nghĩa” kèm theo “kinh tế thị trường” là cách hành xử khôn khéo của Đặng, giúp ông hóa giải, vuốt ve các lãnh tụ CSTQ già nua bảo thủ, đừng chống đối phá hoại công cuộc đổi mới của ông, để TQ trở thàng đại cường quốc số một thế giới.
Karl Marx đã khẳng định: thể chế kinh tế sẽ quyết định thể chế chính trị. Công cuộc đổi mới của Trung Cộng kể như thành công, với sở trường về thương mại họ có thừa khả năng để tranh đua với các cường quốc tư bản. Họ chấp nhận quyền tư hữu, cho phép giới tư bản tham gia vào các chức vụ của đảng. Những yếu tố trên cũng chưa đủ bảo đảm cho sự sống còn lâu dài. Trong chiến tranh lạnh vừa qua, Đặng Tiểu Bình biết chớp thời cơ, tránh cho TQ khỏi sụp đổ như LX, mà còn dựa vào HK, Tây Âu, Nhật Bản, tiếp thu kiến thức khoa đại hiện đại, thực hiện thành công “bốn hiện đại hóa”, TQ trở thành một cường quốc kinh tế vào cuối thế kỷ 20. Không biết Đặng Tiểu Bình trước khi qua đời, có di chúc cho những người thừa kế do ông chỉ định, thấy được nguyên do nào khiến Liên Bang Sô Viết và Liên Bang Nam Tư sụp đổ? HK đã giúp TQ thì họ cũng có khả năng giết TQ bằng vũ khí hữu hiệu của Thế giới tự do: dân chủ tự do, tôn trọng quyền tự quyết của người dân mọi quốc gia. Tư tưởng “Đại Hán” và đường lối độc đảng, độc tài là mối đe dọa cho sự tồn tại của Trung Cộng. Có thể mai đây sẽ có một nước Tần ở Quảng Đông, một nước Tấn ở Quảng Tây, một nước Sở ở Vân Nam…
Nhìn lại bài học “đổi mới” của LX và TC, mà hối tiếc cho đất nước VN. Công cuộc “đổi mới” của VN chỉ cần thực hiện kinh tế thị trường là đủ. Cũng theo con đường của TQ, dựa vào HK, Tây Âu và Nhật Bản để hiện đại hóa đất nước. VN có nhiều khả năng hơn TQ về khía cạnh này. VN đã có sẳn hàng trăm ngàn chuyên viên khoa học kỹ thuật được đào tạo ở các nước Tây phương, Úc Châu và Nhật Bản. Chỉ vì sáu chữ “định hướng xã hội chủ nghĩa” khiến Hànội không thể tiến tới với khối người Việt ở hải ngoại, và mãi đến năm 1995 mới bình thường hóa bang giao với Mỹ, trong khi TQ đã thực hiện được việc này từ 1979. Còn Xã hội chủ nghĩa thì đã sụp đổ ngay tại quê hương của Marx (Đức) và Lenine (Nga). Vì thế “tư tưởng Hồ Chí Minh” cũng không còn cần thiết. Vã lại lúc sinh thời, ông HCM nói rằng: Tôi không có tư tưởng gì ngoài tư tưởng chủ nghĩa Mác Lênin” (10) Dựa vào nhóm chữ “định hướng xã hội chủ nghĩa” và “tư tưởng Hồ Chí Minh” chỉ giúp TQ bắt chẹt, chớ chẳng có lợi lộc gì cho nhân dân Việt Nam. Sau gần hai thập niên lên án Trung Quốc là bá quyền bành trướng, phản bội…Nay CSVN quay về với TQ, theo gương Đặng Tiểu Bình thực hiện “kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa” cũng chưa chứng minh sự thành tâm qui phục, nên phải thêm “tư tưởng HCM” mới đủ bảo đảm. Vì thế, giới lãnh đạo TQ tha hồ bắt chẹt, lấy “sự hợp tác toàn diện” làm nền tảng cho mối bang giao Việt Trung, thay thế cho mối họp tác tòan diện Việt Xô mà ông Lê Duẫn và Breznhev đã ký hồi tháng 9/1978. Sự hợp tác với TC lần này kỳ vọng là dài lâu vì LX không còn nữa.
Nhắc đến hận thù chỉ đào sâu thêm mối chia rẽ. Xin nói đến nổi cay đắng, tủi nhục và hối tiếc may ra còn có người suy nghĩ, thức tỉnh. Nhờ đó đất nước khổ đau này có thể có một tương lai sáng lạn: độc lập, phú cường, dân chủ, tự do.
Lê Quế Lâm (30/4/2008)