Thời Sự, Bình Luân

tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Image

Mỹ Phong Cấp Đại Tá Hải Quân 1 Tị Nạn Việt Tự Hào, Xúc Động



Vào đúng hai giờ chiều, ngày 1, tháng 10, 2007; một phái đoàn gồm 30 quan khách đã được long trọng hộ tống vào một văn phòng của Ngũ giác đài (Pentagon) để dự lễ thăng chức cho Hải quân Đại tá Đỗ Hữu Ngọc Thủy. Chủ toạ buổi lễ là Phó Đề đốc Hicks. Thành phần quan khách, chúng tôi nhận thấy có sự hiện diện của gia đình đại tá Thủy, gồm có chị, em, vợ và con của ĐT Thủy, cũng như hai người cháu của ĐT Thủy từ tiểu bang Oklahoma đến tham dự. Đại tá Yoon, Đại diện của toà Đại sứ Nam Hàn; Đại diện của toà Đại sứ Ấn độ; cùng những quan chức trong chương trình phòng thủ hỏa tiển của Ngũ giác đài.

Phó Đề đốc Hicks đã mở lời như sau: "Thủy Đỗ là môt người tỵ nạn Cọng sản Việt Nam …" Phó đề đốc Hicks nói tiếp "Vào những giờ phút cuối của miền Nam Việt Nam, Thủy cùng gia đình đã đi ra biển, trôi dạt nhiều ngày, sau đó đã được một tàu Hải quân Hoa kỳ cứu vớt, và giờ đây, tôi rất hãnh diện được chủ tọa lễ thăng chức cho Hải quân Đại tá Thủy Đỗ."

Phó Đề đốc Hicks cũng nhấn mạnh rằng Hải quân Đại tá Đỗ Hữu Ngọc Thủy đã chứng tỏ khả năng lãnh đạo, tinh thần dũng cảm trên mọi lãnh vực để trở thành một vị chỉ huy trong lực lượng Hải quân Hoa kỳ. Và Phó Đề đốc Hicks cũng nói rằng Đại tá Thủy là biểu tượng cho sự thành công, mơ ước của mọi gia đình tại Hoa Kỳ.

Sau phần phát biểu của Phó Đề đốc Hicks là phần gắn quân hàm. Đại tá Thủy đã chọn ba con trai của mình, tuổi từ 3 đến 8 tuổi đến thay lon trên mũ, vợ anh thay lon trên cổ áo phải và chị của anh thay lon trên cổ áo trái. Nghi lễ thay quân hàm đã diển ra trong không khí trang nghiêm và đầy xúc động. Chị của anh Thủy đã không cầm được dòng lệ khi nhìn thấy người em trai út ngày nào được chị bồng trên tay, nay là một Đại tá trong binh chủng Hải quân Hoa kỳ.

Đại tá Đỗ Hữu Ngọc Thủy sau đó đã được mời lên phát biểu cảm nghĩ của anh. Đại tá Thủy bắt đầu bằng lời cám ơn quan khách. Anh nói "Tôi xin được phát biểu cảm nghĩ của tôi qua ba chữ

HONOR/ Danh Dự,

COURAGE/Can đảm/Dũng cảm,

COMMITMENT/Lòng quyết tâm

Khi nói đến Honor/Danh dự, thì tôi xin được nói đến Bố Mẹ tôi đã một đời hy sinh, thương yêu và dạy bảo tôi. Các bạn có thể nhìn thấy những vết thương trên cơ thể của Bố tôi, khi ông phục vụ trong quân lực Cộng hoà Miền Nam Việt Nam . Bố Mẹ tôi rất nhỏ con, nhưng họ là những người vĩ đại nhất mà tôi đã gặp. Bố tôi chỉ cao khoảng ngang vai tôi. Ông không nói nhiều, vì có lẽ cuộc chiến tranh Việt Nam đã cướp đi thính thị của bố tôi và ông không còn nghe được nhiều, nhưng khi ông nói thì đó là những lời tôi ghi khắc và mang theo trong cuộc đời tôi. Tôi thật buồn khi biết là Bố, Mẹ không có mặt nơi đây để quý vị có thể gặp Bố Mẹ tôi. Họ quả thật là tiêu biểu của chữ HONOR/ DANH DỰ.

COURAGE/Dũng cảm/Can đảm thì tôi phải nói đến người chị của tôi. Bà ngồi đây và đang nhìn tôi … Lúc gia đình tôi nghèo khó, đương đầu với bao sự khác biệt của xã hội mới. Cá nhân tôi đứng giữa hai phong tục, Việt/Mỹ quá khác biệt nhau. Gia đình gặp phải những trở ngại như bao gia đình nửa Việt nửa Mỹ khác. Chị tôi đã đón nhận tôi, bất kể mọi sự phản đối hay phiền trách… Bao nhiêu khó khăn, giông bão đã qua và gia đình chúng tôi, cá nhân tôi được có ngày hôm nay. Nhìn lại, thì chị tôi là biểu tượng của COURAGE/ Sự Can đảm và Dũng cảm.

Còn nói về COMMITMENT/Lòng quyết tâm thì tôi xin nói đến người vợ của tôi. Nàng đã theo tôi, hổ trợ tôi trong suốt cuộc đời quân ngũ. Một tay nàng đã chăm nuôi, bảo bọc, dạy dỗ các con yêu quý của chúng tôi trong khi tôi phục vụ nơi chiến trường. Nàng đã hy sinh sự nghiệp cá nhân để trở thành một người vợ lính, một người mẹ. Do đó, khi nói đến chữ COMMITMENT/Lòng quyết tâm thì tôi nghĩ ngay đến vợ tôi và tôi xin được cám ơn nàng…

Hải quân Đại tá Đỗ Hữu Ngọc Thủy đã làm mọi người xúc động qua những lời nói đầy chân tình của anh.

ĐPT Việt nam Hải Ngoại Oklahoma đã ngỏ lời xin một bản sao của bài phát biểu trên. Tuy nhiên Đại tá Thủy cho biết là anh không soạn bài hay viết lên bài phát biểu đó. Anh chỉ nói qua cảm nghĩ từ trái tim của anh.

Buổi lễ chấm dứt vào khoảng 2 giờ 45 cùng ngày. Quan khách đã lần lượt đến chúc mừng tân Hải quân Đại tá Thủy và gia đình.

Tưởng cũng nên biết, Đại tá Đỗ Hữu Ngọc Thủy xuất thân từ Oklahoma. Anh đã được xếp hạng Thủ khoa khi tốt nghiệp trung học tại trường Northeast Highschool, Oklahoma City. Anh theo học chương trình Sĩ quan Hải quân trừ bị tại trường đại học Purdue, tiểu bang Indiana. Sau đó được tuyển chọn theo học chương trình Cao học tại trường đại học Monteré, California. Tại đây anh đã tốt nghiệp với bằng Thạc sĩ về Chiến thuật và Thạc sĩ về Hỏa tiễn phòng thủ.

Hiện Bố Mẹ và một số người thân của anh vẫn cư ngụ tại Oklahoma City. Chúng tôi thành thật chúc mừng gia đình Đại tá Đỗ Hữu Ngọc Thủy và cám ơn niềm hãnh diện mà anh và gia đình anh đã mang đến cho cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại Oklahoma, nói riêng, và khắp mọi nơi trên thế giới, nói chung.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

NƯỚC MỸ THAY ĐỔI


Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh
"Thay đổi...thay đổi", những tiếng đó đã vang lên như một khẩu hiệu thần kỳ trong cuộc tranh cử ở Mỹ năm nay. Người dân Mỹ muốn có sự thay đổi, nhưng thay đổi như thế nào? Khi bất mãn hay thất vọng về một tình trạng nào đó, dân chúng một nước muốn có thay đổi, đó là lẽ tự nhiên. Trong lịch sử không thiếu gì những biến cố tạo ra những sự thay đổi như vậy. Vào cuối Thế kỷ 19, nước Pháp đã có một sự thay đổi ngoạn mục, khi người dân đứng lên lật đổ chế độ vua chúa phong kiến để tạo ra chế độ Cộng Hòa do người dân làm chủ, nên còn gọi là Dân Chủ. Từ ngữ Cách Mạng ra đời từ đó. Đến Thế kỷ 20, những người Cộng sản ở Nga sau khi lật đổ chế độ Nga Hoàng đã gọi đây là Cách Mạng đổi đời, nghĩa là đảo lộn tất cả, kể cả đời sống của dân chúng.
Nhưng sau Thế chiến II, những người Cộng sản trên thế giới lợi dụng chữ Cách Mạng để lật đổ các chế độ thực dân độc quyền cai trị ở các nước nhỏ yếu. Họ lợi dụng vì trên thực tế sau khi chế độ thực dân tan rã, họ đã thay thế bằng một chế độ chuyên chính vô sản, nghĩa là độc tài Cộng sản. Việc hình thành chế độ Xã hội Chủ nghĩa ở Việt Nam là một thí dụ điển hình. Thập niên 80, Cộng sản Việt Nam bị khủng hoảng kinh tế nên họ đưa ra chủ trương "đổi mới". Từ ngữ này cũng che đậy một sự lừa bịp. Đổi mới hàm ý cái cũ hết nay đổi thành cái mới, chớ không thay đổi hẳn. Đây chỉ là thay đổi người, không thay đổi cấu trúc chế độ vì bản Hiến pháp cũ vẫn còn đó và theo Hiến pháp này, đảng CS vẫn độc quyền cai trị, không đối lập.
Hãy trở lại chữ "thay đổi" trong cuộc tranh cử Mỹ năm 2008. Mỹ là một nước dân chủ hàng đầu trên Thế giới và Hiến pháp Mỹ năm 1788 cho đến nay vẫn được coi là một văn kiện gương mẫu tạo ra sự phát triển về mọi mặt, đưa nước Mỹ lên hàng siêu cường đệ nhất. Không ai nghĩ người dân Mỹ muốn thay đổi Hiến pháp của họ. Dĩ nhiên mọi cấu trúc chính trị không thể tồn tại mãi mãi, nó sẽ thay đổi vào một thời điểm nào đó trong tương lai để theo kịp với đà tiến bộ của văn minh nhân loại. Nhưng tôi nghĩ tương lai đó còn khá xa đối với nước Mỹ. Bởi vậy người dân Mỹ đang đòi hỏi một sự thay đổi nhân sự. Họ đã thất vọng với 8 năm lãnh đạo của Tổng Thống George W. Bush trên mọi lãnh vực từ đối ngoại đến đối nội. Họ lo ngại vì tình trạng kinh tế hiện nay có dấu hiệu suy thoái, phát triển trì trệ trong khi vật giá lên cao, dấu hiệu của lạm phát, nên gọi chung là "trệ lạm". Nguyên nhân có nhiều, chẳng hạn giá xăng nhớt lên cao, vật giá gia tăng, cơ chế mượn tiền để mua nhà bị khủng hoảng, giá nhà xụt, giới trung lưu gặp khó khăn, thất nghiệp không giảm bớt được bao nhiêu, thâm thủng ngân sách quốc gia nặng nhất là do chiến tranh Iraq.
Hiển nhiên dân Mỹ muốn thay đổi người lãnh đạo. Nhưng nhiệm kỳ của ông Bush vào cuối năm sẽ hết và tháng 11 này dân chúng Mỹ đi bầu Tổng Thống mới. Cuộc vận động tranh cử đã sôi nổi ngay từ đầu năm. Hiện nay chỉ là những cuộc bầu sơ bộ (primaries) của hai chính đảng Cộng Hòa và Dân Chủ mỗi đảng họp lần lượt ở các tiểu bang khác nhau để chọn ứng cử viên ra tranh cử Tổng Thống trên toàn quốc vào cuối năm. Các cuộc họp này nhằm mục đích thâu thập phiếu cử tri đoàn của mỗi đảng ở mỗi tiểu bang. Ứng cử viên đảng Cộng Hòa cần phải hội đủ 1,191 phiếu mới được ra tranh cử. Ứng cử viên đảng Dân Chủ cần phải có 2,025 phiếu mới được ra tranh cử.
Cho đến tuần này, đảng Cộng Hòa thuộc khuynh hướng bảo thủ hầu như chắc chắn sẽ chọn Thượng nghị sĩ John McCain làm ứng cử viên Tổng Thống, vì cho đến nay McCain đã thu được được đại đa số phiếu cử tri đoàn, bỏ xa đối thủ của ông là Mike Huckabee. Về phía đảng Dân Chủ thuộc khuynh hướng tự do phóng khoáng, tình hình trong đảng gay go hơn về việc lựa chọn ứng cử viên. Thượng nghị sĩ Barack Obama cho đến nay được 1,598 phiếu, còn Thượng nghị sĩ Hillary Clinton được 1,487 phiếu, nghĩa là suýt soát nhau. Có thể phải chờ đến đại hội ngày 3 tháng 6 mới biết chắc ai sẽ là ứng cử viên Tổng Thống.
Nhưng ngay lúc này đảng Dân Chủ với tư tưởng cấp tiến đã bắt đầu làm một cuộc cách mạng ngoạn mục về giới tính và mầu da trong việc ra tranh chức Tổng Thống Mỹ. Trong lịch sử nước Mỹ chưa hề có một bà Tổng Thống hay một ông Tổng Thống gốc da đen. Bánh xe Cách Mạng Dân Chủ đã quay, chỉ chưa biết nó sẽ quay đến độ nào. Theo thống kê năm 2005, dân Mỹ có 296 triệu rưỡi người, trong số này có 12.3% là người da đen hay gốc Phi châu. Còn về giới tính, phụ nữ và đàn ông Mỹ tính chung gần bằng nhau. Bánh xe Cách mạng của đảng Dân Chủ sẽ quay lộn tùng phèo để chọn Obama hay quay lưng chừng để chọn Hillary? Hãy chờ xem.
Đảng Cộng Hòa chọn McCain làm ứng cử viên Tổng Thống và chính Tổng Thống Bush cũng đã ủng hộ ông này. McCain là người chủ trương tăng thêm quân Mỹ ở Iraq để đánh đến chiến thắng hoàn toàn. Các poll thăm dò cho biết TT Bush chỉ còn được khoảng 1/3 dân chúng tán thành, nên đảng Cộng Hòa gặp khó khăn trong cuộc tranh cử Quốc hội năm nay. Mới đây báo chí Mỹ loan tin một cố vấn của Thượng nghị sĩ McCain đã làm cho hãng Boeing mất việc đấu thầu chế tạo phi cơ bồn xăng cho Không quân Mỹ, để Công ty Airbus của Âu châu trúng cuộc đầu thầu khổng lồ này trị giá 35 tỷ đô-la. Một số Công ty Tổ hợp Mỹ và cả người của đảng Cộng Hòa đã chỉ trích McCain. Như vậy đảng Dân Chủ dù chọn Obama hay Hillary cũng dễ dàng chiếm được Bạch Cung.
Trong tình hình hiện nay, tôi thiết nghĩ yếu tố quan trọng nhất để người dân Mỹ lựa chọn Tổng Thống của họ là chính sách đối ngoại, vì trong 8 năm qua niềm đau của họ xuất phát từ lãnh vực này. Chính sách chỉ là nguyên tắc ai nói lên cũng hùng hồn oai dũng, nhưng phải có chiến lược chiến thuật mới thi hành được chính sách. Nếu chiến lược chiến thuật dở, chính sách nghe rổn rảng đến đâu cũng là đồ bỏ.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image


Vinh Danh Dân Tộc Tây Tạng
Ngày 16 tháng 3 năm 2008
Trong những ngày vừa qua, tại Lhassa, kỷ niệm 49 năm cuộc tổng khởi nghĩa 10 tháng 3 năm 1959, nhân dân và tu sĩ Phật Giáo Tây Tạng đã biểu tình ôn hòa đòi Tự Do, Nhân Quyền và phản đối Trung cộng chiếm đóng đất nước họ hơn nửa thế kỷ. Nhưng sự xuất hiện đông đảo cảnh sát và quân đội đế quốc cộng sản để đàn áp những người biểu tình đã gây ra nhiều cuộc xô xát dữ dội trên khắp thủ đô Tây Tạng. Vũ lực và chiến xa của bạo quyền phi nghĩa có thể đã phong tỏa và tái kiểm soát được thành phố mà chúng thẳng tay vùi dập trong trong máu lửa và nước mắt (không phải lần đầu). Dù vậy, dân tộc Tây Tạng nổi tiếng hiếu hòa vẫn biểu dương tinh thần bất khuất. Và cuộc kháng chiến đầy chính nghĩa, tay trần không súng đạn của Anh Chị Em Tây Tạng đang còn tiếp diễn, ở trong và ngoài đất nước bất hạnh đó, trên khắp thế giới và ngay cả trên lãnh thổ Trung cộng. Tin giờ chót, một số sinh viên tại trường đại học Bắc Kinh đã ‘’biểu tình ngồi’’ để tỏ tình đoàn kết với thanh niên sinh viên Tây Tạng. Nhiều cuộc biểu tình lớn bộc phát tại các nước Âu châu. Tại Genève, Thụy Sĩ, ông René Longet, chủ tịch đảng xã hội và thị trưởng Onex, quyết định cho treo cờ Tây Tạng trước tòa thị sảnh Onex suốt năm, thay vì chỉ treo vào Ngày 10 Tháng 3 hàng năm, mặc dù có sự phản đối kịch liệt của tòa đại sứ Trung cộng. Trong cuộc họp báo ngày chủ nhựt 16 tháng 4 tại Dharamsala (Ấn Độ), Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nghiêm khắc lên án ‘’chế độ khủng bố’’ Bắc Kinh. Vị lãnh đạo tinh thần tối cao của dân tộc Tây Tạng đòi mở một cuộc điều tra quốc tế vì một lần nữa, như Ngài tố cáo, chế độ Bắc Kinh đang tiến hành cuộc ‘’diệt chủng văn hóa’’ đối với dân tộc thân thương của Ngài. Vị khôi nguyên Giải Nobel Hòa Bình nhấn mạnh rằng cai trị bằng ‘’chế độ khủng bố’’ là phương thức duy nhứt mà nhà cầm quyền Trung Hoa chiếm đóng đã áp dụng để cố tạo ra một thứ ‘’hòa bình giả tạo’’ trên quê hương của Ngài. Trung cộng chỉ ‘’nhìn nhận’’ có 10 người biểu tình bị sát hại. Theo tin của chính phủ Tây Tạng Lưu Vong, ít nhứt 80 người đã bị tử vong tại Lhassa. Bạo quyền Hồ Cẩm Đào đang làm mọi cách để bưng bít sự thật về tấn thảm kịch Lhassa, để che dấu cuộc trấn áp đẩm máu nhứt ở Tây Tạng từ khi xảy ra những biến cố năm 1989. Nhưng đế quốc Trung cộng chiếm đóng sẽ thất bại. Trước cuộc ‘’khủng bố đỏ’’ ở Lhassa, chúng tôi thấy cần giới thiệu cùng quý bạn đọc Bản Tin Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam phổ biến 5 năm trước đây, vào ngày 16 tháng 4 năm 2003. Sau đây là toàn văn Bản Tin:



Vinh Danh Dân Tộc Tây Tạng. Đặt dưới sự chủ tọa của đại sứ nước Libye, một chế độ khét tiếng độc tài sắt máu, khóa Họp thứ 59 của Ủy Hội Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc vừa khai mạc tại Genève. Thật là một bi hài kịch đối với giới truyền thông báo chí và các tổ chức quốc tế tranh đấu bảo vệ Nhân Quyền. Từ mấy năm qua, Ủy Hội Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc bị khống chế bởi một nhóm Nhà nước hội viên có thành tích hủy hoại những quyền Tự do căn bản của con người, chẳng hạn như ba nhà nước cộng sản Việt Nam, Trung Hoa và Cuba, nhà nước Syrie, Cộng hòa Dân chủ Congo, Algérie, v.v. Tại một phiên họp mới đây của Ủy Hội, ngoại trưởng Pháp Dominique de Villepin đã thao thao bất tuyệt, trổ tài hùng biện trong bài diễn văn về tính cách hợp pháp bắt buộc phải có đối với sự dùng đến võ lực, về Quyền Dân Tộc Tự Quyết và Quyền làm Người. Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam có bổn phận phải nhắc lại: Cách nay năm mươi năm, Trung Cộng xua quân thôn tính Tây Tạng. Những nguyên tắc căn bản của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền bị chà đạp một cách trắng trợn và tàn bạo. Sự vi phạm cực kỳ nghiêm trọng các Quyền Dân Tộc Tự Quyết và Quyền làm Người còn tiếp diễn đến hôm nay. Hơn một triệu người Tây Tạng đã bị Hồng quân xâm lược bắt giữ, tra tấn, hành quyết hoặc ám sát. Suốt năm thập niên, xứ Phật đã sống trong một đại thảm kịch. Năm 1958, những hành động chống trả đầu tiên của kháng chiến quân Khampa đã biểu lộ lòng công phẫn của dân tộc Tây Tạng và báo hiệu trước cuộc tổng khởi nghĩa của người dân ở thủ đô Lhassa (10 tháng 3 năm 1959). Sự trấn áp dã man của chế độ Bắc Kinh, đồng minh của Nhà nước Pháp, đã buộc Đức Đạt Lai Lạt Ma phải vượt dãy Hi Mã Lạp Sơn đến tị nạn tại Ấn Độ. Tiếp theo là cuộc hành trình đầy hiểm nguy đi tìm mảnh đất tạm dung của nhiều trăm ngàn đồng bào của Ngài, trong bốn mươi năm cuối cùng của thế kỷ hai mươi. Nhân ngày Kỷ niệm những cuộc nổi dậy của dân cư Khampa ở hai bên bờ sông Tsang Po, chúng ta cùng nhau vinh danh một dân tộc nổi tiếng sùng đạo và hiếu hòa, bị hành hạ đến nổi phải hy sinh tuẫn tiết vì đức tin vô lượng. Đồng thời cũng để bày tỏ mối cảm thông và tình đoàn kết gắn bó với những anh chị em Tây Tạng, sống lưu vong hoặc bị đày ải ngay trên quê hương dưới gót sắt đế quốc chiếm đóng. Nhân cách và lòng can đảm của dân tộc Tây Tạng rất xứng đáng được chúng ta kính trọng và quý mến. Genève 16 tháng 4 năm 2003 . Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ.



Bạn đọc có thể đọc thêm bài viết bằng tiếng Pháp của Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ, dưới tựa đề "Peuple Tibétain martyrisé’’ ("Dân Tộc Tây Tạng bị đày đọa khổ nhục") đã đăng trên hai nhựt báo Thụy Sĩ Tribune de Genève và Le Matin ngày 27 tháng 3 năm 2003; dưới tựa đề "Les Belles Paroles" (‘’Những lời nói "hoa mỹ") trên nhựt báo Le Temps ngày 29 tháng 4 năm 2003, và tạp chí Nhân Quyền "Droits de l'Homme", số mùa Xuân năm 2003




Peuple Tibétain martyrisé et les Belles Paroles *



Présidée par la Libye, assujettie à un groupe d'Etats liberticides tels que le Vietnam, la Chine, Cuba, la Syrie, la R.D. du Congo, l'Algérie, etc., la 59è session de la Commission des droits de l'homme de l'ONU vient de s’ouvrir à Genève. Alors que le ministre des Affaires étrangères français y a livré éloquemment son discours sur la légitimité du recours à la force, le droit des peuples et les droits de l'homme, il est de notre devoir de rappeler que depuis plus d'un demi-siècle, les principes de la Charte des Nations Unies et de la Déclaration Universelle des Droits de l'Homme ont été impunément bafoués, et le sont toujours au Tibet sous l'occupation du régime de Pékin, allié de l'Etat français. Plus d'un million de Tibétains ont été torturés, exécutés ou assassinés par l'Armée rouge chinoise. Rendons hommage au peuple tibétain martyrisé, dont la voix légitime a été violemment étouffée par certains membres permanents du Conseil de sécurité des Nations Unies, lors des sessions de la Commission des droits de l'homme réunie ici à Genève, en Suisse. Soyons solidaires avec nos frères et sœurs tibétains, dignes et courageux, amoureux de la liberté et de la fraternité, en exil ou déportés dans leur pays colonisé et opprimé, à l'occasion du 55è Anniversaire des premières révoltes tibétaines, prélude du soulèvement populaire de Lhassa (10 mars 1959) et de l'exil du Dalaï Lama, suivi de plusieurs centaines de milliers de ses compatriotes, pendant les 40 dernières années du 20è siècle.



Nguyên Lê Nhân Quyền
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »


Image

LS Lê Thị Công Nhân được đề cử giải nhân quyền của Ðại Hàn
Orange County, California.- 19-3 (NV).- Nữ Luật Sư Lê Thị Công Nhân, tù nhân lương tâm đang bị nhà chế độ Hà Nội bỏ tù tại Việt Nam vì đấu tranh cho quyền làm người, được Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam (MLNQVN) đề cử cô cho giải thưởng nhân quyền Gwangju năm 2008.

Một bản thông cáo báo chí của MLNQVN cho hay “Ngày 18 tháng 3 năm 2008, Giáo Sư Nguyễn Thanh Trang, Trưởng Ban Phối Hợp Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam (MLNQ) đã đệ nạp hồ sơ chính thức đề cử luật sư Lê Thị Công Nhân - hiện đang bị cầm tù ở Việt Nam - cho giải thưởng Nhân Quyền 2008 Gwangju ở Nam Hàn. Một số dân biểu liên bang trong Quốc Hội Hoa Kỳ cũng đã được thỉnh cầu gửi văn thư đề cử tương tự; Văn thư của Dân Biểu Ed Royce đã được gửi đến tổ chức Gwangju.”

Theo bản tin của MLNQVN “ngoài trị giá tiền mặt là 50 ngàn Mỹ kim, giải Nhân Quyền Gwangju còn gồm một mề đay bằng vàng và bằng tưởng lục. 2008 là năm thứ 8 của tổ chức Gwangju - được thiết lập để ghi nhớ Ngày Tổng Nổi Dậy Vì Dân Chủ 18 tháng 5, 1980 của Nam Hàn. Trong số 9 cá nhân, và tổ chức đã được trao giải có bà Aung San Suu Kyii ở Miến Ðiện, sau đó đã được nhận thêm giải Nobel về Hòa Bình.”

LS Lê Thị công Nhân, 29 tuổi, đang bị giam giữ tại nhà tù đặt tại tỉnh Thanh Hóa. Dù trời Mùa Ðông lạnh buốt mà hơn 100,000 trâu bò chết lạnh, cô cũng như các nữ tù khác phải kéo nước giếng tắm “tồng ngồng” giữa trời, bà Trần Thị Lệ, mẹ LS Nhân cho hay như vậy. Cô cũng còn bị một số nữ tù cùng phòng lăng nhục vì đã đấu tranh chống lại chế độ đàn áp nhân quyền Hà Nội.

LS Nhân bị kết án 4 năm tù và 3 năm quản chế trong phiên xử ngày 11 tháng 5, 2007 với cáo buộc “tuyên truyền chống nhà nứơc CHXHCNVN” cùng với LS Nguyễn Văn Ðài. LS Ðài bị kêu án 5 năm tù và 4 năm quản chế.

Trong phiên xử phúc thẩm ngày 27 tháng 11, 2007, mỗi luật sư chỉ được giảm án một năm tù và vẫn bị giữ nguyên án quản chế. Các luật sư biện hộ đã vạch ra cho thấy cái điều 88 của Bộ Luật Hình Sự CSVN dùng để bỏ tù hai Luật Sư Ðài và Nhân cũng như các nhà đấu tranh dân chủ khác tại Việt Nam là vi hiến.

Ở phiên tòa phúc thẩm, kỹ sư Phạm Văn Trội, nhân chứng được tòa án gửi giấy mời đến làm chứng. Nhưng khi ông đến gần tòa án thì bị công an CSVN cấm vào. Ông trình giấy tờ để chứng minh và nhất định đi vào thị bị một đám đông công an xúm vào đánh thương tích đầy người rồi bị tống lên xe chở về nhà ở tỉnh Hà tây.

Theo bản thông cáo báo chí của MLNQVN, kỹ Sư Nguyễn Giao, người đặc trách thu thập và soạn thảo hồ sơ đề cử, trong số những cá nhân can trường và yêu nước đang tranh đấu cho nhân quyền, tự do và dân chủ tại Việt Nam, MLNQ dễ dàng chọn Luật Sư Công Nhân căn cứ vào 3 lý do độc đáo được tóm tắt như sau:

1. Luật Sư Công Nhân đã được MLNQ trao giải Nhân Quyền Năm 2007, nhân Ngày Quốc Tế Nhân Quyền 10 tháng 12, năm 2007;

2. Luật Sư Công Nhân là một phụ nữ trẻ tuổi, hiểu biết, yêu nước và thương dân tộc Việt Nam; và

3. Trong khi đơn thân không dựa dẫm vào một đoàn thể, hay tổ chức nào, Luật Sư Công Nhân tự tin, quả cảm, và quyết tâm - mang cả sinh mạng của mình trực diện bạo quyền - thể hiện niềm tin và lý tưởng tranh đấu cho một tương lai xứng đáng hơn cho dân tộc Việt Nam.

Theo MLNQVN, tổ chức Gwangju sẽ công bố Giải Nhân Quyền 2008 đúng vào ngày 18 tháng 5 tại thủ đô Hán Thành của Nam Hàn.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Nhờ Tổ Quốc thu tiền?

Ngô Nhân Dụng

Khi các ông lớn ngồi bàn nhau “quyết sách” cứu vãn nền kinh tế mà họ lại phải khấn vái đến “Tổ Quốc” thì chúng ta thấy ngay có cái gì không ổn. Vì Tổ Quốc thường không lo những vụ đó. Giá gói xôi hay giá lít xăng tăng vọt lên, không thể khấn khứa Tổ Quốc mà giá xuống! Xe đò ngưng chạy, ngân hàng hết tiền hay là xí nghiệp đóng cửa, cũng không thể nài nỉ xin Tổ Quốc giúp gì được!

Vậy mà chuyện này đã xẩy ra ở Hà Nội. Ông Nguyễn Tấn Dũng họp cùng bá quan lãnh đạo những tổng công ty và tập đoàn sản xuất lớn nhất nước, tìm đường thoát khỏi cảnh kinh tế khó khăn. Một ông chủ tịch ngân hàng đã góp lời cầu nguyện, khấn hai tiếng “Tổ Quốc” thiêng liêng! Gần đây các ngân hàng ở Việt Nam đang thiếu tiền mặt, còn gọi là “thanh khoản,” trong khi đó tỷ lệ lạm phát lại lên tơi 19% khiến Ngân Hàng Nhà Nước chỉ muốn thu bớt tiền về. Làm sao để giải quyết hai nỗi khó khăn đó? Ðảng ta lại nhờ đến Tổ Quốc!

Theo báo Sài Gòn Giải Phóng ra ngày 1 Tháng Tư, ông Trần Hà Bắc, ông Nguyễn Tấn Dũng coi “kềm chế lạm phát” là “ưu tiên số một” của đảng. Cho nên, ông chủ tịch Ngân Hàng Ðầu Tư và Phát Triển đã “kêu gọi mỗi cán bộ công nhân viên tiết kiệm từ 3 đến 5 triệu đồng” gửi vô ngân hàng. Và ông kết luận, “thế là được 300 tỷ đồng!”

Nhưng làm cách nào lôi kéo được công nhân viên đem tiền đến ngân hàng gửi cho đảng giữ hộ? Ông Trần Hà Bắc nói, cần có quy định “để mỗi người thể hiện ý thức công dân đối với Tổ Quốc!” Nói cách khác, ông chủ tịch ngân hàng muốn nhờ Tổ Quốc ra đầu phố chỉ đường cho đám con Hồng cháu Lạc mang tiền đến gửi ngân hàng nhà nước!

Nhân danh Tổ Quốc xin người ta gửi tiền cho ngân hàng là một sáng kiến rất mới trong lịch sử kinh tế thị trường. Bình thường ở các nước họ dùng phương pháp khác thu hút thân chủ gửi tiền tiết kiệm. Cứ tăng lãi suất cho trương chủ, thấy lợi họ sẽ đua nhau mang tiền tới gửi. Muốn cạnh tranh, mỗi ngân hàng sẽ bầy trò “khuyến mãi” như tặng quà; hoặc chơi xổ số, gửi tiền trong tháng này sẽ có hy vọng trúng số một chiếc xe hơi láng coóng! Nhưng từ cổ chí kim chưa ai đem Tổ Quốc ra làm trò khuyến mãi như ông Trần Hà Bắc! Ðúng là một sáng kiến!

Cổ nhân bảo “cùng tắc biến,” gặp cảnh gian nan quá, dễ sinh sáng kiến. Quả đúng như vậy. Vì trong buổi họp của ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, thấy những chỉ thị của ông đưa ra toàn đi vào ngõ cụt.

Ông Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu các tổng công ty nhà nước “không tăng giá” những sản phẩm mà họ cung cấp cho thị trường. Ông chủ tịch Tập Ðoàn Than và Khoáng Sản cương quyết ủng hộ lệnh của ông thủ tướng. Nhưng ông chú thích: “Hiện nay giá bán than chỉ bằng 80% giá thành sản phẩm.” Tức là bán than được 80 đồng thì phải chi tiêu 100 đồng mới tạo ra được cục than đó! Mà hiện giờ “giá thiết bị cũng đã tăng 20%” rồi!

Vậy thì xí nghiệp lấy gì để trả lương công nhân? Ông bèn lên giọng “xin!” Ông xin “điều chỉnh giá thiết bị” cho giới nhà thầu, vì “nếu không, các gói thầu hiện nay đều bị đình trệ vì các nhà thầu bỏ chạy!” Ông thủ tướng bèn ra lệnh “cho” điều chỉnh giá vật liệu xây dựng!

Ðến lượt Tổng Công Ty Thép báo cáo, “năm 2007 vừa lỗ nặng.” Ngành Thép “cam kết sẽ không tăng giá cho đến hết Tháng Sáu như chính phủ chỉ đạo, tuy nhiên chắc chắn giá thành thép năm nay sẽ lên cao.” Tiếp theo, ông tổng giám đốc Tập Ðoàn Ðiện Lực Việt Nam hứa sẽ “chấp hành chỉ đạo của chính phủ không tăng giá, tuy nhiên trong năm 2008 ít nhất Tập Ðoàn Ðiện Lực sẽ lỗ khoảng 6,000 tỷ đồng tiền mua điện!” Hiệp Hội Xi Măng thì cho biết vật liệu làm xi măng (clinker) mỗi tuần tăng giá một lần, “nhiều nhà máy trong Nam đã ngừng sản xuất” khiến càng thiếu xi măng bán!

Tóm lại, nếu các tổng công ty và tập đoàn của nhà nước cứ thế vâng lệnh ông Nguyễn Tấn Dũng mà “không tăng giá” thì họ sẽ tiếp tục lỗ lã. Ông thủ tướng còn ra lệnh các đồng chí “là lực lượng chủ lực của nền kinh tế” cho nên “phải tăng sản xuất” để cung ứng hàng hóa cho thị trường. Khi một xí nghiệp lỗ lã vì giá thành thấp hơn giá bán thì thường người ta giảm sản xuất, để bớt lỗ. Bây giờ ông Nguyễn Tấn Dũng ra lệnh họ phải tăng sản xuất, càng sản xuất thêm càng lỗ nặng hơn! Ra lệnh cứ như ông Stalin! Vì bản chất của chính sách kinh tế này là nền kinh tế “xin, cho” thời xã hội chủ nghĩa.

Sức mạnh của kinh tế thị trường là các xí nghiệp và cá nhân đều tìm cách kiếm lợi, chính họ phải tính toán sao cho ai cũng có lợi. Cuối cùng, nhờ các hoạt động mua, bán, sản xuất, tiêu thụ của mọi người trao đổi với nhau cho nên cả nền kinh tế cùng tiến. Kinh tế cộng sản thì khác, đảng và nhà nước nắm độc quyền những ngành quan trọng nhất, các giám đốc cũng như nhân viên làm việc theo lối cha chung không ai khóc, cho nên cứ lỗ lã dài dài. Nhưng làm cách nào những xí nghiệp cứ lỗ lã dài dài mà vẫn cứ sống được? Ðã có ngân hàng của nhà nước đưa tiền cho!

Trong cuộc họp với các tập đoàn nhà nước ông Nguyễn Tấn Dũng cho biết “Các tổng công ty làm ra 40% GDP (Tổng Sản Lượng Nội Ðịa) nhưng vay ngân hàng 60% tổng số” tiền cho vay. Bây giờ đảng Cộng Sản bắt các tổng công ty phải “biến khó khăn thành thuận lợi” tức là cứ sản xuất thêm, không được tăng giá, lỗ thì chịu lỗ, các doanh nghiệp nhà nước sẽ phải quay đầu về các ngân hàng nhà nước... vay tiền! Tình cảnh như vậy mà ông Nguyễn Tấn Dũng vẫn “nhấn mạnh” rằng “Không phải là quay lại cơ chế bao cấp như trước đây!”

Nhưng các ngân hàng nhà nước mới trải qua một thời gian thiếu tiền mặt, có lúc các ngân hàng vay lẫn của nhau qua đêm đã phải trả lãi suất tới 40% một năm. Như vậy thì lấy tiền đâu mà cung cấp cho các doanh nghiệp nhà nước? Trong cảnh lúng túng đó, ông chủ tịch Ngân Hàng Ðầu Tư và Phát Triển mới nẩy ra sáng kiến khấn khứa Tổ Quốc, để “quy định” các công nhân viên bỏ tiền vào ngân hàng, mỗi người 3 đến 5 triệu đồng (tương đương 180 đến 300 đô la). Quy định, nghĩa là bắt buộc! Nhưng đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn có tài chơi chữ. Thay vì nói là bắt buộc, họ nói “quy định” để có vẻ “kinh tế thị trường!” Ngày xưa các xí nghiệp quốc doanh bắt công nhân đi làm cả ngày Chủ Nhật, cũng không bắt buộc mà chỉ thi đua tình nguyện mà thôi! Bây giờ nếu họ “quy định” thì các công nhân viên cũng sẽ tình nguyện như vậy!

Cuối cùng, trăm dâu lại đổ vào đầu tằm. Giới lao động Việt Nam khổ, nhưng khổ nhất là các công nhân viên làm trong cơ chế. Chủ nhân ông của xí nghiệp là đảng Cộng Sản, các ông chủ bảo công nhân phải “tiết kiệm” mấy triệu đồng gửi ngân hàng, làm bổn phận đối với Tổ Quốc, không nghe làm sao được? Không có tiền đong gạo, lấy tiền đâu tiết kiệm? Rất dễ, các ông chủ sẽ trừ nghiến vào lương là xong! Ðây là một cách cắt giảm lương của toàn thể nhân viên các doanh nghiệp nhà nước một cách thản nhiên, và nhân danh Tổ Quốc! Ðảng Cộng Sản đã lợi dụng hai chữ Tổ Quốc bao nhiêu năm trước đây bắt hàng triệu thanh niên hy sinh xương máu. Hô hào xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa nửa thế kỷ đã thất bại, bây giờ lại quay về với hai chữ Tổ Quốc để lừa bịp bắt người dân nhịn đói cho các ông Nguyễn Việt Tiến, Bùi Tiến Dũng phè phỡn nữa hay sao?

Thử tưởng tượng nếu các công nhân viên bị bắt buộc gửi tiền vào ngân hàng của đảng Cộng Sản, tổng cộng 300 tỷ đồng như ông Trần Hà Bắc tính toán. Họ không được phép đình công phản đối, dù trong thực tế họ bị cắt lương nhưng đảng và nhà nước núp sau lưng Tổ Quốc thì cãi lại sao được? Sau khi tiền đã gửi vào trong ngân hàng rồi, đảng Cộng Sản lại giở ra một trò cũ là “đổi tiền” thì các công nhân viên làm sao chạy thoát?

Những người sống ngoài cơ chế, họ giữ tiền trong nhà, sẽ tìm cách mua các món hàng tích trữ. Nhà giầu sẽ đi mua vàng, mua đất, nhà nghèo lo mua gạo để dành đề phòng lạm phát tăng thêm, giữ rất ít tiền mặt để khi phải đổi tiền hay thay đổi tỷ giá thì không bị lỗ. Nhưng các công nhân viên bị cưỡng bách “tiết kiệm” làm cách nào được?

Người Việt Nam đã chán ngán cái trò nhân danh các lý tưởng cao cả để đánh lừa mọi người, nhất là để đi thu tiền của bá tánh. Dân Việt Nam đâu có chịu cho những kẻ bịp bợm nắm đầu mình mãi được?
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Thượng Nghị Sĩ John McCain lên tiếng
về Trung Hoa và Thế Vận Hội Bắc Kinh 2008


Image

Thượng Nghị Sĩ John McCain lên tiếng sau đây về Trung Hoa và Thế Vận Hội Bắc Kinh 2008 • VietCatholic News (Thứ Bảy 12/04/2008 12:31)
Arlington, VA, Hoa Kỳ, 10 tháng 04, 2008:

Mối quan hệ của chúng ta với Trung Quốc là quan trọng, và chúng ta đánh giá cao khả năng hợp tác của chúng ta với nhà cầm quyền Trung Quốc trải rộng trong các lãnh vực chiến lược, kinh tế và ngoại giao. Nhưng nhà cầm quyền Trung Quốc phải hiểu là trong thế giới tân tiến của chúng ta, cách thức một quốc gia đối xử với dân chúng của mình là một đối tượng chính đáng của sự quan tâm quốc tế. Trung Quốc đã ký kết nhiều thoả ước quốc tế đặt sự đối xử của Trung Quốc đối với dân chúng là đối tượng của quan tâm chính đáng này, không còn là vấn đề thuộc về chủ quyền quốc gia. Để được làm một thành phần chủ yếu có trách nhiệm trong thế giới tân tiến, một chính quyền cũng còn phải có trách nhiệm trong nước, để bảo vệ, chứ không phải để chà đạp, các quyền của người dân chính nước mình.

Tôi lên án sự đàn áp tàn bạo của nhà cầm quyền Trung Quốc và sự tiếp tục trấn át tại Tây Tạng những người chỉ muốn thực hành tín ngưỡng và bảo vệ văn hóa và di sản của họ. Tôi đã theo dõi kỹ lưỡng Đức Đạt Lai Lạt Ma và tôi tin rằng Ông là một người của hoà bình, một người phản ảnh được những hy vọng và hứng khởi của nhân dân Tây Tạng. Tôi thúc đẩy chính quyền của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc hãy đề cặp thẳng nguyên nhân gốc rễ của sự bất ổn tại Tây Tạng bằng cách mở cuốc đối thoại chân thành với Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhắm đến việc cho Tây Tạng được tự trị nhiều hơn. Tôi thúc đẩy nhà cầm quyền Trung Quốc hãy bảo đảm sự phản đối ôn hòa không bị đàn áp bằng bạo lực, hày thả ngay những tu sĩ và dân chúng bị bắt giữ vì đã diễn đạt một cách ôn hòa quan điểm của họ và hãy cho phép thế giới bên ngoài được tự do vào Tây Tạng.

Tôi hiểu và khâm phục quyết định không tham dự lễ khai mạc Thế Vận Hội của thủ tướng Anh Quốc, Gordon Brown. Tôi tin là Tổng thống Bush sẽ duyệt xét lại sự tham dự buổi lễ của Ông và, dựa trên những hành động của Trung Quốc, quyết định là có thích hợp để tham dự hay không. Nếu các chính sách và lối hành xử của Trung Quốc không thay đổi, là tôi,tôi sẽ không tham dự lễ khai mạc. Nó không phục vụ gì cho nhà cầm quyền Trung Quốc, và chắc chắn là không phục vụ gì đối với dân chúng Trung Hoa, khi mà Hoa Kỳ và các quốc gia dân chủ khác giả vờ là sự đàn áp nhân quyền tại Trung Quốc không tạo sự quan tâm nào đối với chúng ta. Nó là, sẽ là và phải là mối quan tâm của chúng ta.


SAU ĐÂY LÀ NGUYÊN BẢN TIẾNG ANH CỦA THƯỢNG NGHĨ SĨ JOHN MCCAIN TẠI WEBSITE CỦA ÔNG:




Statement By John McCain On China And The Olympic Games

For Immediate Release
April 10, 2008 Contact: Press Office
703-650-5550

ARLINGTON, VA -- U.S. Senator John McCain today issued the following statement on China and the Olympic Games:

"Our relationship with China is important, and we value our ability to cooperate with the Chinese government on a wide variety of strategic, economic, and diplomatic fronts. But the Chinese government needs to understand that in our modern world, how a nation treats its citizens is a legitimate subject of international concern. China has signed numerous international agreements that make China's treatment of its citizens a subject of legitimate international concern, not just a matter of national sovereignty. To be a responsible stakeholder in the modern world, a government must also be responsible at home, in protecting, not trampling, the rights of its people.

"I deplore the violent crackdown by Chinese authorities and the continuing oppression in Tibet of those merely wishing to practice their faith and preserve their culture and heritage. I have listened carefully to the Dalai Lama and am convinced he is a man of peace who reflects the hopes and aspirations of Tibetans. I urge the government of the People's Republic of China to address the root causes of unrest in Tibet by opening a genuine dialogue with His Holiness, the Dalai Lama, aimed at granting greater autonomy. I urge the Chinese authorities to ensure peaceful protest is not met with violence, to release monks and others detained for peacefully expressing their views and to allow full outside access to Tibet.

"I understand and respect Prime Minister Brown's decision not to attend the Olympic opening ceremonies. I believe President Bush should evaluate his participation in the ceremonies surrounding the Olympics and, based on Chinese actions, decide whether it is appropriate to attend. If Chinese policies and practices do not change, I would not attend the opening ceremonies. It does no service to the Chinese government, and certainly no service to the people of China, for the United States and other democracies to pretend that the suppression of rights in China does not concern us. It does, will and must concern us."
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

LÊ THỊ CÔNG NHÂN BẬC NỮ LƯU PHI THƯỜNG

Trần Đức Tường
Có thể nói dân tộc Việt Nam là một dân tộc có nhiều đặc tính dị biệt với nhiều dân tộc khác trên trái đất. Một trong những đặc tính ấy là tuy đã từ nhiều ngàn năm ra khỏi chế độ mẫu hệ, nhưng trên suốt chiều dài lịch sử của dân tộc ta, người phụ nữ đã không hề chỉ lo chuyện nội trợ mà còn lắm phen góp sức với đời, tham gia chính sự kể cả có khi cầm quân đánh giặc. Từ ngày dựng nước và trong mỗi thời đại đều thấy xuất hiện các bậc anh thư, anh tài văn võ. Dân ta ai là người không hãnh diện và tôn thờ Hai Bà Trưng, Bà Triệu, ai không trân quý Huyền Trân Công Chúa, Công Chúa Ngọc hân, ai không mến mộ văn tài của bà Đoàn Thị Điểm, bà Huyện Thanh Quan, bà Hồ Xuân Hương, ai không thánh phục Thái Hậu Dương Vân Nga, nữ tướng Bùi Thị Xuân ? Và còn bao nhiêu bậc nữ lưu, anh thư khác nữa. Đời nào cũng có.

Quả thật người phụ nữ Việt Nam luôn luôn gắn liền với dân tộc, gắn liền với vận mạng của lịch sử thăng trầm. Trong chiến tranh và nhất là từ ngày 30/04/1975 đến nay, sự hy sinh, nhẫn nhục, đau khổ của người phụ nữ đã lên đến cùng cực. Nhưng nếu tuyệt đại đa số các bà, các chị, các em âm thầm chịu đựng cảnh chồng con đi tù, nhà cửa bị cướp đoạt, bán từng mảnh vụn nữ trang gom góp thăm nuôi chồng con trong tù... Dưới chế độ cộng sản, biết bao bông hoa đã bị héo tàn trong vùi dập ? Biết bao xác thân phụ nữ đã nổi trôi trên mặt đại dương ? Tất cả đã diễn ra trong câm lặng.

Nhưng từ gần hai chục năm nay, người dân, trong đó có đông đảo phụ nữ đã lên tiếng phản đối sự trù dập của chế độ CSVN, lên tiếng bảo vệ chồng con đấu tranh cho dân chủ, nhân quyềnn. Và hơn nữa các bà, các cô đã trực tiếp đứng lên đấu tranh bất bạo động, đối đầu với bạo quyền cộng sản đòi hỏi tự do tôn giáo, tự do ngôn luận và những quyền căn bản của con người, đòi lại đất đai tài sản bị cộng sản cướp đoạt. Người ta biết đến những người phụ nữ như Dương Thu Hương, Trần Khải Thanh Thủy, Lê Thị Công Nhân... đã can đảm đấu tranh cho tự do, Nhân Quyền và đã bị CSVN bắt giam, tù đày, hành hạ.

Có thể khuôn mặt tiêu biểu nhất trong những người phụ nữ phi thường này là luật sư Lê thị Công Nhân. Cô sinh năm 1979 tại Tiền Giang, tốt nghiệp cử nhân luật khoa năm 2001. Cô đã can đảm tố cáo chế độ CSVN độc tài, vận động bảo vệ quyền lợi công nhân lao động và đòi hỏi thành lập công đoàn tự do. Khi phong trào đấu tranh cho dân chủ bùng phát, cô đã mạnh dạn tham gia vào Khối 8406, và đã trở thành phát ngôn nhân của Đảng Thăng Tiến Việt Nam. Bạo quyền cộng sản Hà Nội đã tìm đủ cách uy hiếp cô và gia đình cô. Nhưng cô luôn kiên quyết giữ vững lập trường. Cô đã thẳng thắng tuyên bố : "Tôi xin khẳng định, bằng tất cả lương tâm, trách nhiệm và tình cảm của mình đối với đất nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam, là tôi sẽ chiến đấu tới cùng, cho dù chỉ còn có một mình tôi để đấu tranh trước hết là giành lấy nhân quyền cho riêng mình và giành lấy nhân quyền dân chủ và tự do cho người dân Việt Nam và CSVN đừng có mong chờ bất cứ một điều gì là thỏa hiệp chứ đừng nói là sự đầu hàng từ phía tôi". Đang nằm trong lòng chế độc cộng sản độc tài, đây quả là lời tuyên bố phi thường của một bậc nữ lưu phi thường. Biết không thể hăm dọa được cô, cộng sản Hà Nội đã bắt giam cô ngày 6/3/2007 và đã gán ghép cô vào tội "tuyên truyền chống chế độ" ghi trong điều 88 của bộ luật hình sự cộng sản để đưa cô ra xét xử trong một phiên tòa trò hề để kết án cô 4 năm tù giam cộng thêm 3 năm quản chế.

Cho tới ngày hôm nay, cô đã bị giam cầm từ hơn 1 năm rồi. Nhưng thế giới không quên cô, cộng đồng Hải Ngoại không quên cô vì cô là đại diện cho tất cả những người đấu tranh, những dân oan đang đòi công lý, Nhân Quyền và dân chủ tại Việt Nam. Cụ thể tại Úc Châu, cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn đã tổ chức "MỘT NGÀY DÀNH CHO LÊ THỊ CÔNG NHÂN". Ngày đó sẽ là ngày 11/04/08 tại tiểu bang Victoria; ngày 12/04 tại New South Wales, Queensland, Bắc Úc; ngày 13/04 tại Tây Úc; ngày 26/04 tại Nam Úc, Wollongong; ngày 27/04 tại ACT (Canberra). Theo Ban Tổ Chức thì ý nghĩa ngày này là

1) Ngày cho quê hương, ngày hỗ trợ công cuộc tranh đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam;

2) Ngày phát huy tinh thần anh dũng của tiền nhân để giải trừ chế độ cộng sản tại Việt Nam;

3) Ngày phát hành tem thơ, sách báo về cuộc tranh đấu của anh thư nước Việt : Lê Thị Công Nhân.

Cũng nên biết là hiện nay bưu điện của nhiều quốc gia trên thế giới chấp nhận phát hành tem thư do các tổ chức hay tư nhân đặt thực hiện và có giá trị bưu điện chính thức để gửi thư trên toàn quốc và ra nước ngoài. Trước đây 1 tháng, nhân kỷ niệm 1 năm cô bị bắt giữ, tại Pháp đã thực hiện tem thư có hình nửa người của luật sư Lê Thị Công Nhân. Tất nhiên không thể có tem thư mang hình tất cả những người đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền đang bị cầm từ như linh mục Nguyễn Văn Lý, anh Nguyễn Quốc Quân, anh Nguyễn Thế Vũ, anh Somsak Khunmi hay từng người dân oan như các chị Vũ Thanh Phương, Lư Thị Thu Duyên, Lư Thị Thu Trang, Cụ bà Phạm Kim Thu 81 tuổi, vv...

Ngày Dành Cho Lê Thị Công Nhân phải hiểu là NGÀY DÀNH CHO NHỮNG NGƯỜI TRANH ĐẤU CHO DÂN CHỦ NHÂN QUYỀN TẠI VIỆT NAM
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Cộng Sản Bắc Kinh rớt mặt nạ
Tuesday, April 15, 2008

Ngô Nhân Dụng

Cuối tháng trước, một chủ tiệm ở thành phố Sheffield, Anh Quốc treo một lá cờ Tây Tạng trong tủ kính cửa hàng, sau khi coi những hình ảnh tăng sĩ và người dân Tây Tạng bị công an, lính tráng Trung Quốc đàn áp. Ông chỉ muốn bày tỏ thiện cảm với một dân tộc nhỏ ở Á Châu đang bị đe dọa diệt chủng. Có hai thanh niên người Trung Hoa đến cửa tiệm lớn tiếng yêu cầu ông bỏ lá cờ đi, nhưng ông từ chối. Ðêm hôm đó, có người ném đá vào cửa hàng bán giường tủ này, tủ kính bị bể.

Báo chí đăng tin này lên, người dân Anh Quốc nổi tiếng là “phớt tỉnh Ăng Lê” cũng không “phớt” được nữa. Họ hỏi nhau: Người Trung Hoa nghĩ họ là cái gì vậy? Họ muốn cả thế giới phải tuân theo đường lối “thiên triều” hay sao?

Chưa hết. Mỗi phái đoàn rước đuốc của Trung Quốc đi tới đâu cũng mang theo một đám công an mặc quần áo vận động hai màu xanh trắng trông như lực sĩ. Họ có nhiệm vụ ngăn cản, hoặc phá các đám biểu tình phản đối Bắc Kinh. Những viên công an này đã được huấn luyện đặc biệt từ Tháng Tám năm ngoái. Trong chương trình huấn luyện có cả môn học ngoại ngữ, để họ có thể nói những câu ra lệnh người ta giải tán, tránh xa, đi chỗ khác, vân vân, nói bằng năm thứ tiếng. Khi ngọn đuốc thế vận qua thủ đô London, đám biểu tình ủng hộ người Tây Tạng bị nhóm công an biệt phái Trung Cộng can thiệp quá thô bạo, Huân Tước Coe, chủ tịch ủy ban tổ chức Thế Vận Hội London 2012 cũng bị xô đẩy, ông đã gọi họ là một “lũ côn đồ” (thugs)!

Chính quyền Cộng Sản Bắc Kinh tính biến màn trình diễn rước đuốc thế vận vòng quanh thế giới thành một cảnh tuyên truyền rửa mặt cho chế độ, gần 20 năm sau vụ giết người ở Thiên An Môn, 1989. Nhưng công trình chuẩn bị rất kỹ vẫn thất bại. Giống như một anh từ trong rừng ra sống ở thành phố, học ăn mặc, chải chuốt, học điệu bộ nói năng, muốn thiên hạ ngắm mình rồi gật đầu công nhận mình là một trang phong lưu công tử, nhưng vẫn không che giấu được căn chất thô lỗ vụng về, còn giữ nguyên những vẻ rừng rú chưa tẩy sạch. Cộng Sản Bắc Kinh đã làm rớt chiếc mặt nạ văn minh.

Một tỷ người dân Trung Hoa đang chờ Thế Vận Hội Bắc Kinh 2008 đánh dấu một bước tiến quan trọng trong lịch sử nước họ, giống như năm 1988 Ðại Hàn Dân Quốc đã tổ chức Olympic lần đầu. Sau một nửa thế kỷ sống dưới chế độ cộng sản, phải đứng bên lề thế giới, Trung Quốc sẽ chứng tỏ cho loài người thấy họ là một quốc gia tân tiến, cởi mở, thân hữu với các nước, theo đúng các luật chơi quốc tế, không thua gì những nước đã đi bước trước. Nhưng tất cả cuộc chuẩn bị trong năm bảy năm qua cho màn trình diễn rước đuốc và các lễ lạt của Bắc Kinh, bỗng nhiên bị hỏng hết, chỉ trong mấy tuần lễ, chỉ vì quân lính Trung Quốc đàn áp người Tây Tạng. Cuộc trình diễn rước đuốc đã biến thành những màn biểu dương chống chế độ cộng sản đàn áp dân Tây Tạng cũng như đang giúp đỡ các chế độ độc tài ở Miến Ðiện, Sudan. Người Việt Nam ở London, Paris, San Francisco đã nhân dịp này phô bày tội Trung Quốc cướp quần đảo Hoàng Sa của nước ta từ năm 1974. Chúng ta đang chờ xem dân Sài Gòn sẽ làm gì. Tại sao người ta không chọn Hà Nội mà lại cho ngọn đuốc đi qua Sài Gòn, chắc có nhiều lý do bí mật. Một lý do có thể là ở Chợ Lớn vẫn có một tập thể do Trung Quốc gài đặt rất đông đảo sẵn sàng giúp họ dẹp loạn trong cuộc rước đuốc!

Thực ra tổ chức rước đuốc không phải là một truyền thống nguyên khởi của thế vận hội. Cuộc trình diễn có mục đích phô trương này thực sự chỉ bắt đầu được bầy ra vào năm 1936, khi chế độ Ðức Quốc Xã tổ chức Thế Vận Hội ở Berlin. Rõ ràng là có mục đích tuyền truyền chính trị. Và cuộc rước đuốc có tính cách toàn cầu, như đang diễn ra năm nay, cũng chỉ mới được thực hiện vào năm 2004, khi Thế Vận Hội trở về thành phố Athens, thủ đô Hy Lạp, nơi sinh của trò thịnh diễn thể thao này.

Bắc Kinh đã theo gương Ðức Quốc Xã khi dùng cuộc rước đuốc để tuyên truyền cho sự thành công kinh tế của người Trung Hoa, và họ có quyền làm như vậy. Nhưng họ cũng không ngờ đã gây nên phản ứng ngược. Chính vì có những trạm rước đuốc trình diễn rình rang này mà loài người khắp nơi được thấy trên truyền hình, rồi đi tìm hiểu thêm hoàn cảnh sống thực của 6 triệu người dân Tây Tạng.

Một chế độ độc tài bao giờ cũng tạo ra một bức tường dối trá để che phủ cho họ. Họ dối trá đối với dân trong nước, và dối trá đối với người ngoài. Nhưng, thật thà là cha quỷ quái, không ai có thể nói dối tất cả mọi người mãi mãi. Người Âu Mỹ có thể rất kính trọng dân tộc Trung Hoa, với 4, 5 ngàn năm lịch sử văn minh, với sức làm việc tạo nên cảnh tiến bộ về kinh tế trong ba chục năm qua. Nhưng chỉ cần một biến cố lật rõ bộ mặt tàn bạo, phản nhân quyền của chế độ Bắc Kinh là người ta sẽ nhìn thấy ngay một bộ mặt khác, thay đổi thái độ với cả nước Trung Hoa.

Một cuộc nghiên cứu dư luận dân chúng Âu Mỹ đối với Trung Quốc gần đây đã chứng tỏ cách nhìn đã thay đổi sau khi Bắc Kinh cho lính giết người dân và tăng sĩ Tây Tạng. Cuộc nghiên cứu này, do hãng Harris và nhật báo Financial Times thực hiện, phỏng vấn từ ngày 27 Tháng Ba tới ngày 8 Tháng Tư năm 2008, sau khi xảy ra những cuộc đàn áp đó. Có 35% người dân ở Âu Châu nghĩ rằng Trung Quốc là nước đe dọa sự ổn định của thế giới hơn bất cứ quốc gia nào khác. Trung Quốc đã chiếm chỗ của nước Mỹ, vì năm ngoái có tới 32% người Âu Châu coi Mỹ là mối đe dọa cho thế giới, năm nay chỉ có 29% nghĩ như vậy!

Người dân Mỹ không sợ Trung Quốc bằng dân Âu Châu, chỉ có 31% người Mỹ coi Trung Quốc là mối đe dọa hàng đầu trên an ninh thế giới; tuy nhiên Trung Quốc vẫn bị e ngại hơn cả Iran và Bắc Hàn. Ở Âu Châu, dân Ý thay đổi thái độ với Trung Quốc mạnh nhất, có 47% cho Trung Quốc là mối đe dọa thế giới hạng nhất; mà trong một cuộc phỏng vấn tương tự giữa năm 2007 chỉ có 27% nghĩ như vậy. Ở các nước đều có hiện tượng thay đổi đó. Pháp, từ 22% tăng lên 36%; Ðức từ 18% lên 35%, Anh Quốc từ 16% lên 27%. Ở Âu Châu chỉ có một quốc gia duy nhất vẫn nghĩ nước Mỹ đe dọa sự ổn định của thế giới nhiều hơn Trung Quốc, đó là Tây Ban Nha, với tỷ số 41% bầu cho Mỹ, 28% cho Trung Quốc! Nhưng nói chung, thái độ dân Âu Châu đối với Trung Quốc đã thay đổi rất mạnh, khi họ biết rõ bộ mặt thật của Cộng Sản Bắc Kinh.

Cuối cùng, chính người Trung Hoa sẽ thấy rằng nếu họ muốn hãnh diện đứng lên ngang hàng với các nước văn minh thì chính quyền Bắc Kinh phải đối xử tử tế với 6 triệu dân Tây Tạng, theo đúng đạo làm người. Nhưng muốn vậy, phải xóa bỏ những điều giả trá mà đảng Cộng Sản Trung Quốc vẫn nói cho dân nghe về việc xâm lăng và chiếm đóng Tây Tạng từ hơn 50 năm qua. Hầu hết dân Trung Hoa ở lục địa đã bị tuyên truyền nhồi sọ, vẫn nghĩ rằng trong lịch sử Tây Tạng lúc nào cũng là một phần của Trung Quốc, và Trung Quốc đã giải phóng Tây Tạng. Phải xóa bỏ những màn giả trá mà chế độ Bắc Kinh đã trình diễn cho dân Trung Hoa coi, cùng những màn kịch che mắt người ngoại quốc.

Ðiều khó khăn là một chế độ độc tài bao giờ cũng phải nói dối, họ không có cách nào khác. Bắt một chế độ độc tài tôn trọng thật cũng giống như bắt một con cọp không được ăn thịt! Muốn chế độ độc tài nói thật đối với người nước ngoài thì tất cũng phải buộc họ cho người dân trong nước biết sự thật. Tức là phải có tự do báo chí, tự do ngôn luận. Còn chế độ độc tài thì không thể có những quyền tự do căn bản đó. Cho nên, nếu dân Trung Hoa muốn được người nước ngoài kính trọng thì phải xóa bỏ chế độ độc tài đảng trị đi!

Dân chúng Trung Hoa không được nhìn cảnh dân Tây Tạng và người ngoại quốc biểu tình phản đối ở Paris, London, và San Francisco vì chế độ kiểm duyệt thông tin của cộng sản đã cắt bỏ, có khi cắt bỏ ngay khi trực tiếp truyền hình, có khi cho chạy hình một người nói những lời chống Bắc Kinh nhưng cắt tiếng và không phụ đề Hoa ngữ. Trạm rước đuốc sắp tới sẽ gây sôi nổi là ở thủ đô Ấn Ðộ New Delhi vào ngày mai, 17 Tháng Tư. Ấn Ðộ là nơi Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đang tạm trú cùng hàng trăm ngàn dân Tây Tạng tòng vong từ nửa thế kỷ nay. Các đài truyền hình Trung Quốc chắc sẽ cắt xén rất kỹ những cảnh này. Cuối cùng chắc chỉ có hai nơi là ngọn đuốc Thế Vận Bắc Kinh sẽ được an toàn biểu diễn, là Bình Nhưỡng, thủ đô Bắc Hàn, và Sài Gòn, Việt Nam! Cộng Sản ở hai nước phiên thuộc này đang tranh nhau xem chính quyền ở nước nào tận tụy với thiên triều hơn. Những nhà tranh đấu dân chủ trong nước cho biết có khoảng 200 công an Trung Quốc đã được gửi sang Sài Gòn huấn luyện công an người Việt cách dẹp biểu tình.

Ðây sẽ là một thử thách cho những người yêu nước, yêu tự do dân chủ ở nước ta trong ngày 29 Tháng Tư sắp tới
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Nguyễn Tấn Dũng chống biểu tình

Ngô Nhân Dụng

Chỉ có vài chục ngàn người ở thành phố Salt Lake, tiểu bang Utah. Nhưng cộng đồng người Việt tại đây cũng đứng chung với các nhóm người Miến Ðiện, Tây Tạng, Sudan và các môn đồ Pháp Luân Công tổ chức một cuộc biểu tình đón “Ngọn Ðuốc Nhân Quyền” tới tiểu bang Utah trong ngày Chúa Nhật 20 Tháng Tư vừa qua.

Cuộc rước Ðuốc Nhân Quyền được tổ chức song song với cuộc rước đuốc Thế Vận Hội Bắc Kinh 2008 trong cả tháng qua, nhằm tố cáo tội diệt chủng của chính quyền Cộng Sản Trung Quốc và âm mưu của họ lợi dụng Thế Vận Hội cho mục đích chính trị. Ðuốc Thế Vận chỉ đi qua San Francisco, nhưng Ðuốc Nhân Quyền còn được đưa qua các thành phố khác ở Mỹ. Vì vậy, cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản ở Utah, các hội cựu quân nhân, cựu tù nhân chính trị, các nhóm thanh niên, sinh viên người Việt đã hợp tác với những sắc dân khác tổ chức rước đuốc. Vì tất cả đều là nạn nhân của chế độ Cộng Sản Trung Quốc. Nhiều người Mỹ đã tới dự cuộc biểu tình vì ủng hộ nhân dân Tây Tạng.

Trong một ngày giá lạnh, nhiệt độ thấp hơn độ nước đóng băng, khoảng dưới 30 độ F, đứng cho các trận gió thổi quất vào mặt, có gần 200 người đã tham dự cuộc biểu dương giá trị nhân quyền. Ông chủ tịch cộng đồng người Việt ở Utah và một phụ nữ Việt gốc Hoa đã được mời lên diễn đàn đọc những bài diễn văn ngắn trình bày tội ác của chế độ Cộng Sản Trung Quốc. Cờ Việt Nam Cộng Hòa phất phới giữa một rừng cờ Tây Tạng.

Trong lúc đó, các du học sinh Trung Quốc, được hội sinh viên của họ huy động, cũng tổ chức “chống biểu tình!”. Họ mang theo một lá cờ Trung Quốc màu đỏ rộng lớn, nhằm tạo nên hình ảnh lá cờ vĩ đại của họ khống chế tất cả những lá cờ khác.

Thành phố Salt Lake đã cho phép tổ chức cả hai cuộc biểu tình trong cùng ngày, họ đã yêu cầu hai bên đứng ở hai địa điểm cách nhau một quãng ngắn, và xếp đặt giờ khai mạc chênh lệch nhau. Nhưng cuối cùng hai nhóm, biểu tình và chống biểu tình, vẫn có dịp đứng hai bên đường nhìn nhau và cùng hô khẩu hiệu! Ðám sinh viên Trung Cộng có lúc định đem lá cờ lớn của họ sang đứng cùng những người biểu tình chống Bắc Kinh, cho ngọn cờ máu vĩ đại vượt lên cao hơn cờ nước khác. Hàng trăm cảnh sát viên của thành phố đã tạo một hàng rào ngăn giữa hai nhóm.

Có tới 200 sinh viên Trung Quốc tới phất cờ, hô khẩu hiệu chống biểu tình. Có lẽ họ đã lôi kéo được tất cả các du học sinh Trung Quốc ở thành phố này. Vì ai không đi dự “chống biểu tình” thì cha mẹ họ ở trong nước có thể sẽ bị công an mời đi “làm việc!”. Cha mẹ họ sẽ bị lối xóm phê bình, bị sách nhiễu, có thể bị mất việc làm! Chỉ có một người vắng mặt, không tới dự nhưng có lý do chính đáng, là ông Nguyễn Tấn Dũng.

Ðáng lẽ ông Nguyễn Tấn Dũng phải hiện diện ở khắp những nơi nào có biểu tình chống đuốc Thế Vận Bắc Kinh 2008. Nhưng, ai cũng biết ông Nguyễn Tấn Dũng đang bận lo bảo vệ cuộc rước đuốc Thế Vận đi qua Sài Gòn “một cách trọng thị và an toàn.” Cho nên ông Dũng được miễn chấp, không cần phải đi chống tất cả các vụ biểu tình khác. Ông Dũng đã bày tỏ lòng trung thành tận tụy, quyết tâm phấn đấu lập công với Ðảng và Ðất Nước trong lúc khó khăn này. Ðảng, ở đây, là Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, còn Ðất Nước ở đây là nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa.

Trong lúc các sinh viên Trung Cộng đi chống biểu tình ở Utah, nước Mỹ, thì hôm Chủ Nhật vừa qua ông Nguyễn Tấn Dũng đang “chủ trì” một cuộc họp bàn chuyện “chống biểu tình” để bảo vệ ngọn đuốc thế vận của Trung Quốc. Cuộc họp gồm nhiều bộ, nhiều ngành nằm trong chính phủ Hà Nội, toàn thể cấp lãnh đạo thành phố Sài Gòn cũng được gọi ra báo cáo và nghe chỉ thị. Cuộc họp này không cần thông dịch viên, vì ai cũng biết nói tiếng Việt! Mặc dù tấm lòng mọi người đều hướng tới Bắc Kinh.

Hiện nay, chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã huy động tối đa các lực lượng công an, cảnh sát, an ninh, bảo vệ, mật vụ, thanh niên xung phong, và hàng trăm tổ chức khác đi lùng bắt mấy trăm người trong sổ đen, vì đã họ đã đi biểu tình chống Trung Quốc chiếm Hoàng Sa trong tháng 12 năm ngoái và Tháng Giêng năm nay, 2008. Chỉ tiêu được ông Nguyễn Tấn Dũng đề ra là cứ mỗi người đã biểu tình hoặc có khả năng sẽ biểu tình phải có 12 nhân viên an ninh “bảo vệ.” Câu lạc bộ Nhà Báo Tự Do đang loan tin đầy đủ những cuộc bắt bớ, hỏi cung, đe dọa những “đối tượng” này. Ông Nguyễn Tấn Dũng gọi họ là những “đối tượng xấu.” Ông dùng hai chữ “đối tượng” theo đúng lối văn công an, trong những bản báo cáo công việc làm. Gọi người ta là “đối tượng” tức là biến họ thành một vật thể, không còn phải quan tâm đến tư cách con người của họ nữa. Không coi người ta là con người thì muốn làm chi cũng được, giơ gậy lên đánh vỡ đầu cũng không thấy gớm tay, và khỏi thắc mắc về chuyện nhân quyền!

Cho nên, trong vụ công an đánh biểu tình trước cửa Tòa Tổng Lãnh Sự Trung Quốc ba tháng trước, có một sinh viên Việt Nam bị công an đánh đập, không cho anh đi biểu tình đòi các đảo Hoàng Sa, anh sinh viên đã ngạc nhiên hỏi anh công an rằng: “Anh không biết ngượng à?”. Tất nhiên, anh công an cũng ngạc nhiên không kém, Tại sao lại phải ngượng? Ðảng và nhà nước bảo đánh các đối tượng là ta đánh, sao lại ngượng?

Những nhà báo tự do như anh Hoàng Hải, tức Ðiếu Cầy, đã phải bỏ trốn khỏi Sài Gòn, nhưng vẫn bị bắt ở Ðà Lạt. Công an đe dọa những người đang thuê nhà của gia đình anh Ðiếu Cầy, bảo họ bỏ đi, để gia đình anh mất nguồn lợi tức đủ sống. Những thành viên của trang mạng lưới x-cafevn đã bị công an gọi lên thẩm vấn, máy vi tính bị tịch thu, bắt ký tên giấy cam kết không cộng tác với mạng lưới của các bạn trẻ dũng cảm này! Một blogger (người mở mạng lưới blog riêng) là Luật Sư Phan Thanh Hải thì đi thuê nhà ở đâu cũng bị chủ nhà xé hợp đồng, vì chính các chủ nhà bị công an đe dọa. Các chủ nhà được báo cho biết anh Hải là “đối tượng phản động bị theo dõi đặc biệt!”

Nhà thơ Bùi Chát cũng bị chủ nhà dọa đuổi đi, vì đã viết trên các mạng lưới bày tỏ ý kiến khác với lập trường của Bắc Kinh. Bà mẹ của blogger khác là Uyên Vũ, mặc dù đã 80 tuổi và mắt lòa, vẫn bị công an đến dọa nạt và “dạy” cho cụ bà một bài học về cách dạy con ngoan ngoãn với Ðảng và nhà nước, nước Trung Hoa cũng như nước Việt Nam. Trong khi đó, ông Nguyễn Tấn Dũng vẫn lên đài BBC tuyên bố ở nước Việt Nam không có người nào đối lập, vì chỉ có các “đối tượng” thôi!

Nhưng công an sẽ còn phải đối phó với những “đối tượng” khác, ngày càng đông hơn. Sinh viên Lê Minh Phiếu, người đang du học ở Bordeaux và được hãng Sam Sung cử ra cầm đuốc thế vận cho họ, đã trở về Sài Gòn và bị công an hỏi cung ngay. Anh là người Việt Nam đầu tiên viết thư gửi tổ chức Thế Vận quốc tế phản đối chính quyền Bắc Kinh lợi dụng những tấm bản đồ quảng cáo Thế Vận Hội 2008 và cuộc rước đuốc Thế Vận để chính thức hóa việc họ chiếm các đảo Hoàng Sa và Trường Sa của nước ta. Công an của ông Nguyễn Tấn Dũng chắc sẽ hỏi thăm anh Lê Trung Thành, một sinh viên Việt Nam đang ở Ðài Loan. Anh Thành đã bay sang Bangkock một mình đi tham dự biểu tình cùng những người Tây Tạng, người Thái Lan, để nhân dịp này trưng ra biểu ngữ đòi Hoàng Sa và Trường Sa trả về Việt Nam!

Nhưng ngày 29 Tháng Tư sắp tới, ông Nguyễn Tấn Dũng đã ra lệnh phải “triển khai tổ chức cuộc lễ rước đuốc một cách trọng thị và an toàn.” An toàn thì tương đối dễ. Công an Trung Quốc và công an người Việt sẽ tạo thành hàng rào dầy đặc bảo vệ cho ngọn đuốc an toàn. Nhưng làm sao để cho nó “trọng thị”? Hai chữ này, nói lối tiếng Việt Nam thì ta nói là “long trọng.” Khi ông thủ tướng nước Việt Nam dùng hai chữ “trọng thị” thì ta hiểu là hai chữ đó đã được dùng trong chỉ thị từ Bắc Kinh. Dùng nguyên những tiếng mà “đồng chí vĩ đại” sử dụng, cũng là một cách tỏ lòng tôn kính. Vừa long trọng lại vừa kính cẩn, như vậy mới thật là trọng thị.

Muốn cho cuộc rước đuốc “trọng thị,” thì ngày 29 Tháng Tư này, ở thành phố Sài Gòn, không ai được nhổ nước bọt ngoài đường. Trẻ em không được mặc quần hổng đít. Phụ nữ phải đeo sú chiêng. Ăn mày phải sơ tán, nếu ở lại thành phố thì không được mặc áo rách. Ðàn ông không được đứng gốc cây mà tiểu tiện. Ðó là những chỉ thị đã được đưa ra cho áp dụng ở Bắc Kinh, Sài Gòn cứ thế mà noi theo.

Nếu các chỉ thị đó được áp dụng đầy đủ ở Việt Nam, các chiến sĩ công an sẵn sàng hy sinh vì tổ quốc (Trung Hoa) và quyết lập công dâng lên Ðảng (Cộng Sản Trung Quốc), thì chắc chắn ngày 29 này cuộc lễ rước đuốc sẽ trọng thị và an toàn! Sài Gòn theo sau Bình Nhưỡng, sẽ là những thành phố gương mẫu, được khen thưởng với tình hữu nghị đặc biệt! Sau khi các lực lượng cảnh sát công an hoàn tất nhiệm vụ lịch sử mà Ðảng (như trên) và nhà nước (cũng như trên) giao phó, ngày hôm sau Tòa Ðại Sứ Trung Quốc ở Hà Nội sẽ đãi tiệc ăn mừng thắng lợi. Ông Nguyễn Tấn Dũng có thể cao hứng nâng ly rượu cất tiếng hát to: “Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng!” Bác Hồ Cẩm Ðào không có mặt vì đang mắc bận ở Bắc Kinh, nhưng chắc chắn bác sẽ ghi công, và sẽ có thưởng!
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Liều Thuốc Hồi Sinh Sau Ngày Quê Hương Bị Bức Tử

NGUYỄN HỮU CỦA

Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử ngày 30 tháng 4 năm 1975, như một giấc mơ kinh hoàng nhận chìm dân, quân, cán, chính, và gia đình xuống tận vũng bùn sâu của đau thương tủi nhục.

Những oan khiên nghiệt ngã đổ ập lên thân phận những con người bất đắc dĩ phải thua cuộc như vết thương lòng hằn sâu trong tâm thức, ba mươi ba năm trôi qua vẩn không nhạt nhòa.

Sự phản bội của những con người cuồng tín, vi phạm thô bạo hiệp định Paris khi chữ ký chưa ráo mực hòa cùng sự biểu đồng tình của các thế lực quốc tế chính là nỗi đau tận cùng ray rức trong tâm hồn của cả thế hệ sinh bất phùng thời trong một đất nước nhược tiểu, không riêng gì trong ngày quê hương bị bức tử mà kéo đài trong suốt quãng thời gian gần một phần ba thế kỷ đầy tủi nhục, lê lết những tấm thân tàn tạ qua các trại tù khổ sai được mệnh danh là “Trại Tập Trung Cải Tạo”.

Đau thương,tủi nhục, gia đình ly tán, gông cùm khổ sai, đói khát bệnh tật cùng với những trận đòn thù tra tấn dã man chính là thảm cảnh mà những con người yêu nước, yêu tự do phải gánh chịu từng ngày từng giờ kể từ “Tháng Tư Đen”bởi những con người cuồng tín.

Ba mươi ba năm trôi qua, biết bao nhiêu người đã âm thầm gục ngã trong rừng sâu núi thẩm, trong những trại tù khổ sai vì đói, vì bệnh, vì kiệt lực. Biết bao nhiêu người bỏ mình trên biển cả, tất cả đã tô đậm thêm cho hai chữ “Bất Khuất”của những con người yêu chuộng tự do, không chấp nhận chủ nghĩa phi nhân Cộng Sản.

Nén trầm hương xin được đốt lên trong ngày đất nước bị bức tử để tưởng niệm tất cả những người đã nằm xuống vì lý tưởng tự do cho quê Mẹ thân yêu.

Những tháng năm bị đày ải trong các trại Tù “Cải Tạo” của Cộng Sản là quãng đời đen tối đầy tuyệt vọng. Những tủi nhục đau thương cả thể xác lẩn tinh thần chất chồng lên những tấm thân gầy còm, cơm không đủ no, lạnh không đủ ấm,áo không đủ mặc,bệnh không có thuốc kéo lê tấm thân tàn trong chuỗi ngày đen tối như những bóng ma từ địa ngục, một địa ngục trần gian.

Nỗi đau tột cùng hòa với nổi tuyệt vọng tưởng chừng như đeo đẳng lên thân phận người “Tù Khổ Sai” cho đến cuối cuộc đời.

Nhưng Không!

Hồn thiêng sông núi không bỏ rơi những người con chân chính của Tổ Quốc, món quà quý lại được trân trọng trao tay cho những con người chịu nhiều bất hạnh: Chương trình H.O,LIỀU THUỐC HỒI SINH của “Người Cựu Tù Cải Tạo”

Đầu thập niên chín mươi, khi đợt “Cựu Tù Nhân Cải Tạo” đầu tiên đặt chân lên đất Hoa Kỳ trong Chương Trình Tái Định Cư mang tên H. O, nhiều ngưới còn xa lạ. Hầu hết đều thắc mắc với hai chữ H.O.

Một số người giải thích hai chữ H.O theo sự suy diễn của cá nhân bằng nhiều cách. Cũng có người cho là bí số của chánh quyền Cộng Sản dành cho chương trình định cư “Người Tù Cải Tạo” tại Hoa Kỳ. Nhưng qua nhiều cuộc tìm hiểu với một số giới chức chuyên môn, theo thiển ý của người viết, ý nghĩa đúng nhất nên dành cho hai chữ H.O là Humanitarian Organization, hoặc Humanitarian Operation, Tổ Chức Nhân Đạo nhằm giúp cho người “Cựu Tù Nhân Cải Tạo” được định cư tại Hoa Kỳ.

Con đường đi của “Người Tù Cải Tạo” từ các trại Tập Trung rải rác trên toàn Việt Nam, từ Nam chí Bắc,từ vùng cao nguyên đèo heo hút gió, rừng sâu núi thẳm, vùng đồng lầy nước mặn đến đất nước Hoa Kỳ là con đường nhiều chông gai, được đánh đổi bằng máu và nước mắt cùng với sự chờ đợi mỏi mòn,đôi lúc gần như tuyệt vọng.

Cuối cùng, Có những người may mắn đến được chân trời tự do. Có những ngừời kiệt sức gục ngả. Vĩnh viễn nằm lại trên quê hương để cho gia đình vợ con đến được bến bờ tự do, hầu có cơ hội tạo cho thế hệ tiếp nối một cuộc sống có đầy đủ quyền làm người.

“H.O” chính là Liều Thuốc Hồi Sinh, là niềm hi vọng vươn lên, là nguồn sống, là tin vui đến trong giờ tuyệt vọng của những “ Người Tù khổ sai Không Bản Án”, “Những Kẻ Tội Đồ” của chế độ Cộng Sản đang kéo lê chuỗi ngày buồn thảm, tuyệt vọng, đói ăn, thiếu mặc bị đối xử khắc nghiệt, trong các trại “Tù Cải Tạo”..

H.O giúp tăng thêm sức chịu đựng, vượt qua những khó khăn đầy tủi nhục của thân phận người tù khổ sai, luôn đối diện với hận thù, nhỏ nhen ích kỷ của những kẻ say men chiến thắng, tự xem mình là “Đĩnh Cao Của Trí Tuệ” ,thực chất chỉ là những sự dối trá,sắt máu, trống rỗng cùng với hận thù triền miên.

Nơi tận cùng của địa ngục trần gian, nơi mà ranh giới tử sinh chỉ là trong gang tấc của những trại tù khổ sai được ngụy trang bằng danh từ hoa mỹ “Trại Cải Tao”,từng giờ từng phút “Người Tù Cải Tạo” luôn phải đối diện với đói khát, bệnh tật, sống trong thiếu thốn triền miên với những trận đòn thù vùi dập thừa sống thiếu chết.

“Người Tù khổ sai” vẩn luôn kiên trì bám vào niềm hi vọng của tia sáng ở cuối đường hầm, dù mong manh, nhưng đã tạo được sức chịu đựng để mà sống, để vượt qua những đau thương, tủi nhục đầy oan nghiệt

Ngày còn ở trong “Trại Tập Trung Cải Tạo”, không biết dựa vào đâu mà hầu hết mọi người đều có một niềm tin vững chắc là những Người Tù Cải Tạo, những cựu quân, cán chính của chế độ Việt Nam Cộng Hòa đang bị tập trung “cải tạo” sẽ có một ngày được sang đinh cư tại Hoa Kỳ.

Từ niềm hi vọng mong manh nầy, một số người nhiều tưởng tượng thêu dệt thêm rất nhiều câu chuyện lý thú tưởng chừng như hoang tưởngù:

Nào là phái đoàn Hoa Kỳ sẻ vào từng trại tập trung lập danh sách Tù Nhân Cải Tạo rồi đưa thẳng ra phi trường sang My định cư, vợ con và gia đình sẻ được rước đi sau.

Nào là các tù nhân cải tạo sẻ được tập trung vào một khu “Kinh Tế Mới” riêng biệt được săn sóc đặc biệt, bồi bổ chu đáo hơn để Phái Đoàn Mỹ lần lượt đến bốc đi....Thậm chí còn thêu dệt thêm:Khi sang Mỹ chánh phủ Hoa Kỳ sẻ trả tiền “truy lãnh” từ ngày 30 tháng 4 năm 75, cấp nhà cửa khang trang, xe cộ đời mới, bóng loáng, thậm chí sẻ tặng cho mỗi gia đình 30.000 đô la như một sự đền bù cho những thiệt thòi mất mát mà người Cựu Tù Nhân phải chịu đựng trong những tháng năm lao tù nghiệt ngã ....v....v...

Đại loại có rất nhiều tin đồn, đôi khi không biết xuất xứ từ đâu, nhưng chung quy là sẻ được Mỹ rước sang định cư tại Hoa Kỳ với một cuộc sống vật chất sung túc. Đến bù cho những tháng ngày gian lao, tù đày khổ nhục, đói khát bệnh tật triền miên, bị đối xử phân biệt bởi những kẻ cùng màu da chủng tộc, thiếu vắng tình người nhưng dư thừa thù hận.

Những tin đồn, hoặc những tin phóng đại sau khi người nhà nghe lén được từ các đài phát thanh BBC, VOA ..được gia đình lén lút chuyển đến trong các buổi thăm nuôi ngắn ngủi làm nức lòng “Người Tù Cải Tạo”, ít ra cũng được một vài ngày. Mặc sức cho các “Thầy bàn” bất đắc dĩ có dịp bàn ra tán vào, thêm chút mắm, thêm chút muối để cho tin đồn thêm phần lý thú dễ tin hơn.

Mà quả thật, có rất nhiều người đặt hết lòng tin vào những tin đồn, những câu chuyện kể. Lúc nào cũng chuẩn bị trong tư thế sẵn sàng để trường hợp phái đoàn Hoa Kỳ bốc đi thình lình. Lại còn căn dặn vợ con trong những kỳ thăm nuôi, khi về nhà phải chuẩn bị đầy đủ, lúc nào cũng phải sẵn sàng để chờ đợi “Mỹ rước”.

Đôi lúc, có những tin đồn “Mỹ Rước” trong tuần tới, trong tháng tới, hoặc trễ lắm là đến cuối năm ....mọi việc thương lượng đã xong ....Mỗi “Người Tù Tù Cải Tạo” ra đi chính phủ Hoa Kỳ trả cho nhà cầm quyền Cộng Sản một chiếc máy cày, hoặc mười ngàn đô la cho mỗi đầu người .......Khi đến Mỹ sẻ được phái đoàn chính phủ Hoa Kỳ và những đồng hương đến trước tiếp đón trang trọng như tiếp đón các vị anh hùng trở về từ vùng đất chết... ...Một khu vực rộng lớn với những ngôi nhà khang trang, xây cất cùng một khuôn mẫu đúng theo tiêu chuẩn Mỹ đang sẵn sàng chờ đón những “anh hùng Việt Nam Cộng Hòa “ và gia đình sang ở.....Người Cựu Tù Cải Tạo sẽ có một cuộïc sống sung túc cả tinh thần lẩn vật chất đền bù cho những tháng năm chịu đựng, gian lao tủi nhục trong cảnh lao lung.

Thế rồi tuần tới qua đi, tháng tới cũng qua đi. Đến cuối năm nhìn lại vẫn còn thân phận “ Aùo vá vai, ngày cơm độn, tay lon “gô”, tay xẻng cuốc” ... “Quả bóng hi vọng” từ từ xẹp xuống để nhường chỗ cho những bộ mặt buồn thiu.........Từ hi vọng trở thành thất vọng. Và rồi niềm hi vọng lại tràn đầy khi có được những nguồn tin mới....từ những người thăm nuôi.

Nguồn hi vọng đã trở thành hiện thực như một giấc mơ khi chuyến H.O đầu tiên ra đi vào đầu năm 1990.Người viết và gia đình được ra đi trong chuyến H.O đầu tiên.
Image

Bước lên phi cơ giã từ quê hương mà cứ ngỡ như còn nằm trong mơ. Tôi dụi mắt nhiều lần, nhìn vợ,nhìn con nhìn những người chung quanh để xem mình đang sống trong mộng hay thực. Cảm giác lâng lâng buồn, bùi ngùi, tiếc nuối nhìn lại quê hương lần cuối trong tâm trạng ”Một lần ra đi là vĩnh biệt”.

Giã từ, giã từ tất cả những kỷ niệm thân thương của tuổi học trò, giã từ những vết chân của người chinh chiến trên khắp bốn vùng chiến thuật, giã từ bạn bè còn ở lại hay đã vĩnh viễn nằm xuống trên mảnh đất quê hương. Tất cả đang lùi dần vào quá khứ, bánh xe thời gian rồi sẽ nghiền nát ra từng mảnh vụn để chỉ còn lưu lại trong ký ức.. Giã từ những tháng năm tủi nhục đầy oan nghiệt của thân phận tù đày khổ sai. Giã từ những lọc lừa giả dối của những con người giả nhân giả nghỉa tự nhận là “Đỉnh Cao của Trí Tuệ”, giã từ nhưng phân biệt đối xử nhiều nghiệt ngả đầy ấp hận thù.

Thế rồi những Người Cựu Tù Cải Tạo lần lượt lên đường định cư tại Hoa Kỳ ngày một đông.Cho đến nay có trên 300 ngàn người tức là vào khoảng gần 100 ngàn gia đình định cư rải rác trên toàn nước Mỹ. Từ những tiểu bang lạnh giá xa xôi, tuyết phủ quanh năm, những tiểu bang nóng cháy da người đến tiểu bang khí hậu ôn hòa không khác gì trên quê hương Việt Nam.

Một số đông những người H.O đến Hoa Kỳ đều nhiềù tuổi, hom hem, bệnh hoạn, già yếu hậu quả sau bao tháng năm bị đọa đày, tra tấn,hành hạ, khổ sai trong những trại tù cải tạo. Họ đến Hoa Kỳ với trái tim đầy ấp ân nghĩa dành cho những ân nhân có tấm lòng rộng mở và hai bàn tay .....trắng, vì tiền của dành dụm được bao nhiêu năm trời đã tiêu hao vào những giỏ thức ăn, thuốc men, nuôi người trong cảnh lao lung.

Dù đối diện bao nhiêu khó khăn, trở ngại trong việc hội nhập vào đời sống mới, từ sức khỏe, ngôn ngữ, phong tục, tập quán ....bên cạnh những sự phân biệt đối xử của một số ít “Người Đồng Hương” nhiều may mắn nhưng thiếu tình người, không vướng bận trong giờ phút cuối của cuộc chiến, nhanh chân di tản vào những ngày cuối tháng tư 1975, ăn nên làm ra đang là những chủ nhân ông của những cơ sở thương mại lắm tiền, nhiều của ....

“Người Cựu Tù” đến saụ vẩn luôn an phận, chấp nhận an vui với hoàn cảnh đang có, tự phấn đấu để vươn lên. Không mảy may buồn cho thân phận “Trâu chậm uống nước đục”. Còn gì hạnh phúc hơn, còn gì sung sướng hơn đang trong cảnh bất hạnh từ “ Địa Ngục Trần Gian” được nhiều bàn tay nhân đạo rộng mơ,û cứu vớt lên mảnh đất “Thiên Đàng Hạ Giới ” nơi mà biết bao nhiêu người luôn ấp ủ giấc mơ được đặt chân đến.

Một số đông may mắn có điều kiện về tuổi tác, sức khỏe, trình độ học vấn và nhứt là một ý chí cầu tiến vững chắc, đã đạt được đỉnh cao của con đường học vấn và sự nghiệp. Sớm hội nhập vào mọi lãnh vực sinh hoạt từ khoa học, văn hóa ,y tế, kỷ thuật, chính trị và xã hội. Đặc biệt hơn nửa thế hệ một rưởi,thế hệ thứ hai, và các thế hệ nối tiếp, đã không ngừng học hỏi phát huy về mọi mặt, đạt nhiều thành quả học vấn xuất sắc đáng hãnh diện, hiên ngang đi vào dòng chính trong mọi sinh hoạt xã hội, chính trị của Hoa Ky,ø góp bàn tay xây dựng và bảo vệ cho Quê Hương Thứ Hai.

Hầu hết xóa bỏ được mặc cảm tự ti, nhanh chóng hòa đồng cùng cộng đồng Người Việt hải ngoại, hội nhập vào sinh hoạt của người bản xứ. Tạo cái nhìn nhiều thiện cảm cho những người trước đây đã giang rộng cánh tay chào đón thân phận lạc loài của kiếp người tỵ nạn.

Cách đây không lâu tôi có đọc một bài viết với đề tựa “ Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh Thù Dai”. Khi Dương Nguyệt Ánh chân ướt chân ráo đặt lên đất nước Hoa Kỳ, nữ ký giả Shana Alexander trong một bài viết trên báo Newsweeks đã tỏ ý miệt thị, xem thường những con người bất hạnh đến từ đất nước nhược tiểu mang thân phận tỵ nạn. Xem người tỵ nạn Việt Nam như những con người bán khai, chưa hề tiếp cận với thế giới văn minh,và là gánh nặng cho đất nước cưu mang.

Hơn hai mươi năm sau cũng chính trên trang báo của tờ báo nầy, một bài viết của ký giả Georde Will đã hết lời ca tụng người đàn bà tỵ nạn Việt Nam được vinh danh, được trao tặng huy chương cao quý nhất của Hoa Kỳ từ những thành quả tuyệt vời trong lãnh vực quốc phòng cống hiến cho đất nước Hoa Ky, quê hương thứ hai.

“Bomb Lady “ biệt danh của Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh, trong lời phát biểu đã xin được dành Vinh Dự nầy cho hơn 58.000 chiến sĩ Hoa Kỳ đã anh dũng hi sinh trên chiến trường Việt Nam cùng vơi tất cả những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã và đang hi sinh cho lý tưởng tự do, đồng thời cũng để trả món nợ cho quê hương thứ hai, đền đáp lại thâm tình của người bản xứ đã mở rộng vòng tay cưu mang người tỵ nạn Việt Nam.

Thật cao quý thay! hãnh diện thay!

Người H.O giờ đây sau thời gian dài sinh sống trên quê hương thứ hai, cũng với sự chịu đựng phấn đấu không ngừng, cuộc sống tinh thần lẩn vật chất đã ổn định nhưng tâm hồn vẩn luôn khắc khoải nhớ về những nổi oan nghiệt mà người Cộng Sản đã phủ trùm lên quê Mẹ thân yêu. Những con người sinh bất phùng thời đã sống, đã hi sinh cho lý tưởng tự do, chấp nhận gian khổ cho sự an bình của quê mẹ thân yêu, nhưng mỉa may thay ....được quyền hi sinh nhưng...không được quyền chiến thắng...bất đắc dĩ phải làm kẻ thua cuộc.

Ba mươi ba năm đất nước bị bức tử, thời gian dài sống trong đau thương tủi nhục nhìn bọn người cuồng tín dìm đất nước vào vũng lầy tăm tối, nổi uất nghẹn luôn dâng trào trong tâm thức.

Máu cùng với mồ hôi và nước mắt của “Người Cựu Tù” đã chan hòa trên từng tấc đất của quê Mẹ thân yêu, từ những chiến trường khốc liệt đến những nhà tù khổ sai. Thử hỏi làm sao Người Cựu Tù không xót xa? làm sao có thể đứng yên nhìn quê Mẹ bị dày xéo dưới gót giày của bọn người cuống tín?.

Gần đây nhất bọn bá quyền phương Bắc chưa từ bỏ ý đồ xâm lược đã ngang ngược lấn chiếm biên giới, hải đảo cùng với sự hèn yếu khiếp nhược của nhà cầm quyền Cộng Sản dâng đất dâng biển cho ngoại bang tạo làn sóng căm phẫn trong mọi tầng lớp dân Việt từ trong nước ra đến hải ngoại, “Người Cựu Tù” lại dấn thân cùng sát cánh với những người trẻ hải ngoại, nhiều tâm huyết xuống đường gào thét,đấu tranh, mặc cho mưa gió, mặc cho thời tiết giá lạnh căm căm của những ngày mùa Đông, hay trong những ngày mưa gió bão bùng.

Nhìn những mái tóc điễm sương với nét mặt đăm chiêu, hằn nét căm giân,chầm chậm bước đi trong cái lạnh cắt da của thành phố mùa Đông, những gương mặt nhăn nheo sạm nắng biểu lộ một ý bất khuất, sắt đá lên án tham vọng bá quyền của bọn xâm lược phương Bắc cùng với sự khiếp nhược của nhà cầm quyền Cộng Sản hèn nhát dâng đất dâng biển để mưu cầu sự an bình cho Đảng lãnh đạo, không ai không xúc động, thầm cảm phục cho những con người yêu nước với bầu máu nóng đang sôi sục dù nơi tha hương vẩn không quên được nổi oan khiên đang ngày đêm dày xéo trên quê Mẹ.

Trước đây không lâu một người được xem là khoa bảng, con của một vị mục sư khả kính, trong một phút giây nông nổi qua bài viết đã công khai tỏ ra miệt thị “Người Cựu Tù”, những người đã hi sinh hạnh phúc cá nhân, hi sinh cả mạng sống để gìn giữ và bảo vệ sự an bình cho cá nhân anh ta cùng với gia đình. để cho anh ta có cơ hội đeo đuỗi con đường học vấn trở thành người khoa bảng.

Anh ta đâu biết rằng trong khi anh ta và gia đình đang trong cảnh chăn êm nệm ấm thì “Những Người Trai Thời Chiến ” từng giơ,ø từng phút phải đối diện với tử thần. Chịu đựng biết bao oan khiên nghiệt ngã giữa lằn ranh sinh tử... để rồi trở thành những “Người Tù Khổ Sai không bản án”chịu đựng biết bao đau thương, tủi nhục cả tinh thần lẩn thể xác sau khi quê hương bị bức tử.vào một ngày cuối “Tháng Tư Đen”, Và giờ đây, trong chốn yên bình trên Quê Hương thứ hai, Người Cựu Tù vẩn tiếp tục giữ vững ý chí bất khuất, gương cao ngọn cờ chính nghĩa của những con người yêu chuộng tự do.

“Người Trẻ Khoa Bảng” có bao giờ sống trong nỗi đau thương tủi nhục để cảm thông được nổi xót xa khi thấy quê Mẹ bị dày xéo? Có bao giờ sống giữa lằn ranh sinh tử để suy ngẫm về thân phận con người trong một đất nước chiến tranh mà lằn ranh sinh tử chỉ là trong gang tấc? Có bao giờ nhìn thấy những vành tang trắng quấn vội lên đầu những thiếu phụ nửa chừng Xuân hay những đứa trẻ ngây thơ vô tội đầy nghiệt ngã? hoặc nhìn thấy những bà Mẹ Già hom hem trong cảnh tre già khóc măng, sụt sùi ôm lấy xác con không toàn v ẹn trở về từ chiến trận?
H.O “Liều Thuốc Hồi Sinh” cho người “Cựu Tù Nhân Cải Tạo”
Quả thật không sai!. Liều thuốc hồi sinh đã đưa những mảnh đời tối tăm đầy tủi nhục từ một một chế độ khắc nghiệt,phân biệt đối xử, đầy ấp hận thù đến cuộc sống thăng hoa cả tinh thần lẩn vật chất. Đất nước của cơ hội, cũng như những cánh tay giang rộng của người bản xứ đã giúp cho những người “Cựu Tù” nhiều bất hạnh tìm lại được nguồn hi vọng của một cuộc sống nhân bản đầy đủ ý nghĩa của thân phận con người.

Nếu không có được liều thuốc hồi sinh, thử hỏi những số phận lạc loài tủi nhục của người Cựu Tù và gia đình rồi sẽ ra sao? Con cái họ có tránh khỏi được cuộc sống vất vưởng bên cạnh những đống rác thối tha, nhầy nhụa. Lấy gầm cầu làm nhà, dùng hè phố làm nơi nương tựa? hay phải lê la từng bước chân nhỏ bé đi bán từng tấm vé số nuôi mẹ nuôi em? Và chính bản thân người Cựu Tù âm thầm gục ngã vì lực mòn sức kiệt trong nỗi đau thương tủi nhục trên chính quê Mẹ thân yêu với thân phận của kẻ tội đồ.

Nói đến H.O, chúng ta không thể không nhắc đến người đàn bà có tâm hồn vĩ đại, vị ân nhân của các gia đình Cựu Tù Nhân được ra đi định cư tại Hoa Kỳ, người đã góp phần mang liều thuốc hồi sinh đến cho từng gia đình “Người Tù Cải Tao”

Người đó chính là Bà Khúc Minh Thơ, một tên tuổi đã hằn sâu vào ký ức của từng Cựu Tù Nhân Cải Tạo trong ba mươi ba năm qua.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 bà Khúc Minh Thơ đã âm thầm, đơn độc đấu tranh không mệt mỏi, không ngừng nghỉ để bênh vực cho số phận của những con người không may mắn, chịu nhiều thiệt thòi nhất với những tháng năm dài trải qua những trại lao tù khổ sai từ nam chí Bắc,từ đồng bằng đến vùng cao nguyên sỏi đá quanh năm thời tiết khắc nghiệt.

Tôi được hân hạnh gặp và tiếp chuyện với bà Khúc Minh Thơ khi bà từ Virginia về Hungtington Beach, Orange County, California để chịu tang người Cậu chồng, bác sĩ Nguyễn Văn Ngọc nguyên Giám Đốc bệnh viện Đa Khoa Cần Thơ. Bà Khúc Minh Thơ với dáng người phúc hậu, tuổi đời trên lục tuần, giọng nói nhỏ nhẹ, cởi mở đã dành cho tôi buổi nói chuyện hơn 15 phút trong giờ giải lao.

Với giọng nói trầm ấm, chậm rãi bà bày tỏ sự cảm thông với nổi bất hạnh của những người đã trải qua những năm tháng đọa đày, tủi nhục trong các trại tù cải tạo. Cảm thông với gánh nặng gia đình nặng trĩu trên đôi vai của những người vợ trẻ thay chồng gánh vác gia đình. Thay chồng nuối nấng đàn con. Vừa nuôi chồng trong chốn lao lung vừa chăm sóc các con thơ mà tương lai thì luôn mịt mù,đen tối. Vừa phải đấu tranh với những khó khăn nhục nhằn, những cám dỗ vật chất để hi vọng, chờ đợi một ngày đoàn tụ thật mong manh.

Bà Khúc Minh Thơ đã mang lấy nổi bất hạnh khi tuổi đời vừa tròn 23.

Phu quân bà, Đại Úy Nguyễn Đình Phúc hi sinh vì tổ quốc vào năm 1961. Trong một chuyến công tác tại quận Bình Minh tỉnh Vĩnh Long Đại Úy Phúc bị Việt Cộng phục kích, tử trận. Sáng sớm hôm sau được tin báo bà Khúc Minh Thơ vội vã lên đường đi nhận xác chồng. Lê thê, lếch thếch, tả tơi, tóc tai rũ rượi, bà ôm thi thể chồng khóc lóc thảm thiết.

Như cảm thương cho người vợ tuổi thanh xuân sớm trở thành quả phụ, máu từ miệng Đại Úy Nguyễn Đình Phúc bỗng nhiên tuôn trào xối xã. Bà ghì chặt xác chồng mặc cho chiếc bào thai 6 tháng đang cựa quậy trong bụng mẹ. Hai bàn tay đẫm máu, bà đưa tay khẻ vuốt đôi mắt đang mở trừng của chồng với lời thầm khấn nguyện sẻ cố nuôi dưỡng các con nên người hữu dụng. Như cảm thông được lời khấn nguyện, đôi mắt đại úy Nguyễn Đình Phúc từ từ, vĩnh viễn khép lại cùng với dòng máu tươi từ miệng, từ mũi chảy dài xuống .

Trước năm 1975 bà Khúc Minh Thơ làm công chức Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa tại Phi Luật Tân. Sau năm 1975, bà tiếp tục làm việc tại Manila để có phương tiện nuôi nấng các con.

Sau khi Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử. Mặc dù cuộc sống tạm ổn định về vật chất nhưng bà vẩn luôn mang trong lòng nổi ray rức về số phận của những quân, cán, chính đã phục vụ trong trong chế độ Việt Nam Cộng Hoà, và hiện đang bị đày ải trong các trại tập trung cải tạo. Bà quyết tâm, đấu tranh không ngừng nghỉ để tranh giành quyền lợi cho những kẻ bất hạnh đang trong cảnh lao lung.

Cuộc đấu tranh thật cam go với biết bao thử thách. Nhiều lúc bà cảm thấy thật chán nản muốn bỏ cuộc . Nhưng rất may còn có những người tâm huyết luôn an ủi khuyến khích và nâng đỡ tinh thần cho bà. Người đó chính là ông Robert Funseth và ông bà Shep Lowman. Trước sự ủng hộ nhiệt tình cuả những người nhiều tâm huyết, những đồng nghiệp cùng làm việc tại Bộ ngoại giao Hoa Kỳ và cũng là người bạn thân thiết với Hội Gia Đình Tù Nhân Chính Trị Việt Nam do bà là Chủ Tịch sáng lập, bà tự nguyện quyết tâm giữ vững tinh thần vượt qua mọi khó khăn trở ngại đeo đuỗi cuộc đấu tranh cho đến khi đạt được thành quả.

Năm 1989 tổng thống George Bush – Bush cha- người kế nhiệm tổng thống Ronald Reagan giữ lời hứa tiếp tục giúp đỡ cho các tù nhân chính trị Việt Nam, bà Khúc Minh Thơ càng lên tinh thần tiếp tục lao vào cuộc đấu tranh không mệt mỏi.

Ngày 30 tháng 7 năm 1989, ngày lịch sử đáng ghi nhớ của các Cựu Tù Chính Trị Việt Nam. Ông Robert Funseth chính thức bay sang Hà Nội ký kết văn kiện đầu tiên cho ba ngàn cựu Tù Nhân Chính Trị và gia đình được đi đợt đầu tiên định cư tại Hoa Kỳ vào mùa Giáng Sinh 1989.

Trong thời gian đấu tranh của bà Khúc Minh Thơ, một sự kiện làm xúc động không ít. Ngày 8 tháng 12 năm 1988, bà Khúc Minh Thơ là một trong hai người khách cuối cùng được tổng thống Ronald Reagan tiếp kiến vào những ngày cuối của nhiệm kỳ tổng thống thứ hai tại Tòa Bạch Ốc Washington D.C Người kia là ông Govbachev Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Liên Xô.

Trong buổi tiếp kiến, bà Khúc Minh Thơ đã nhân danh Chủ Tịch Hội Gia Đình Tù Nhân Chính Trị Việt Nam đến ngỏ lời cám ơn Tổng thống Ronald Reagan đã chấp thuận quyết định cho Cựu Tù Nhân được sang định cư tại Hoa Kỳ.

Bà Khúc Minh Thơ bày tỏ nỗi lo âu trước sự ra đi của tổng thống Reagan vì mãn nhiệm kỳ. Bà lo sợ rằng chương trình cứu giúp cựu Tù Nhân Chính Trị Việt nam bị hủy bỏ bởi vị tổng thống kế nhiệm. Bà nhìn tổng thống Reagan với đôi mắt đẫm lệ, tha thiết:

- Xin tổng thống và nước Mỹ đừng bỏ rơi những Tù Nhân Chính Trị Việt Nam Cộng Hòa.

Tổng thống Reagan nhìn bà bằng cặp mắt cảm thông đầy xúc động. Ông tiến đến đặt nhẹ bàn tay lên bờ vai mảnh mai của bà rồi chẩm rải nói:

- Những người “Anh Hùng Việt Nam”sẽ không bao giờ bị bỏ quên.

Nghe xong câu nầy bà Khúc Minh Thơ không nén được xúc động, bùi ngùi nước mắt tự dưng chảy dài ...

Tổng thống Reagan nhìn vào mắt bà với vẻ mặt cương quyết, bước tới sát bên đặt hai tay lên hai bờ vai nói:

- Chúng tôi sẽ không bao giờ bỏ quên những người anh hùng Việt Nam.

Nghe xong câu nầy bà Khúc Minh Thơ nước mắt giàn giụa, chân run run đứng không vững. Tổng thống Reagan đỡ bà ngồi vào chiếc ghế đối diện, rồi nhìn bà bằng cặp mắt thật hiền từ nhận hậu, chậm rãi nói tiếp:

- Dù tôi không còn tại chức nhưng những người kế nhiệm tôi sẻ tiếp tục lo cho các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, sẻ đấu tranh liên tục để họ được đối xử công bằng và hợp lý.

Gương mặt bà Khúc Minh Thơ trở nên vui, bà nhìn tổng thống Reagan với đôi mắt tràn đầy hi vọng như thầm nói lên lời cảm ơn chân thành. Và thời gian không lâu lời hứa của tổng thống Reagan đã trở thành hiện thực.

Image
Người Cựu Tù luôn mang trong lòng niềm tri ân sâu sắc đối với bà Khúc Minh Thơ, ông Robert Funsett, ông bà Shep Lowman cùng những con người quả cảm, có tấm lòng vĩ đại chấp nhận đấu tranh không mệt mỏi, kiên trì cho tương lai những con người nhiều bất hạnh,Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam. Đặc biệt, tổng thống Ronald Reagan.

H.O, Liều Thuốc Hồi Sinh, đưa những mảnh đời tăm tối, ngụp lặn trong vũng lầy nhầy nhụa của chế độ sắt máu bạo tàn kể từ sau ngày đất nước bị bức tử đên với xã hội văn minh loài người.

Gần hai mươi năm trôi qua, kể từ khi “Người Cựu Tù” đầu tiên đặt chân đến Hoa Kỳ. Người cựu tù nhân chính trị của chế độ Cộng Sản dù đã thoát ra khỏi những đau thương tủi nhục của một chế độ độ cai trị sắt máu đầy thù hận, đã nhanh chóng hội nhập vào quê hương thứ hai, nhưng nổi xót xa vẫn chưa nhạt nhòa trong tâm thức, vì hơn tám mươi triệu đồng bào vẩn còn đang rên xiết dưới bao đau thương tủi nhục,áp bức, bất công của một thiểu số người cai trị cuồng tín giáo điều.

Sự nhu nhược hèn yếu của nhà Cầm Quyền Cộng Sản trước mưu đồ xâm lược và chủ nghĩa bá quyền của bọn xâm lược phương Bắc đã tỏ rõ sự yếu kém cố hữu chấp nhận mang thân làm nô lệ bọn xâm lược phương Bắc nhằm mưu cầu sự an bình cho một thiểu số lãnh đạo.

Ngọn lửa uất hận của đau thương tủi nhục âm ỉ từ ba mươi ba năm qua đã bùng cháy mãnh liệt trên nhiều nơi, trong nhiều lãnh vực, dưới nhiều hình thức từ trong nước với sự hỗ trợ tích cực của hải ngoại.Người dân trong nước đã có đủ bình tỉnh, khôn ngoan và can đảm đứng lên đối diện với bạo quyền Cộng Sản đòi hỏi tự do, dân chủ và nhân quyền bất chấp những sự đe doa. Giai cấp công nhân, thành phần nòng cốt của chủ nghĩa Cộng Sản cũng đã mạnh dạn đứng lên đòi hỏi thực thi sự công bằng qua những cuộc đình công từ Nam chí Bắc.

Tuổi trẻ thuộc các thế hệ tiếp nối từ trong nước ra đến hải ngoại đã chấp nhận dấn thân, hăng hái nhập cuộc, công khai bày tỏ sự chống đối bọn xâm lược phương Bắc Nhiều thế hệ già trẻ cùng sát cánh bên nhau hướng về mục tiêu quang phục quê hương, giải thể chế độ bạo tàn Cộng Sản.

“Người Cựu Tù” vẩn mang trái tim rực lửa, đấu tranh không khoan nhượng, sát cánh với mọi từng lớp đấu tranh. Dù tuổi đời cao, bệnh tật triền miên do ảnh hưởng của những trận đòn thù cùng những tháng năm khổ sai đôi khi có làm trở ngại bước chân. Nhưng ý chí sắt đá cho ngày quang phục quê hương vẩn không gì lay chuyển được.

Ba mươi ba năm sau ngày quê hương bị bức tử, ngọn lửa bất khuất của những con người yêu chuộng tự do, dân chủ và nhân quyền vẩn âm ỉ cháy và tiếp tục chuyền tay cho các thế hệ nối tiếp,

Cuộc chiến đấu của những con người chân chính chắc chắn sẻ đạt được mục tiêu cuối cùng: Giải thể chế độ bạo quyền Cộng Sản.

NGUYỄN HỮU CỦA
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

33 Năm của Người Lính
33 năm đã trôi qua, đếm từ cái mốc thời gian 30 tháng 4 năm 75 đến 30 tháng 4 năm nay 2008. 33 lần Tháng Tư, lại Tháng Tư, lại 30 Tháng Tư!.

33 lần xoáy mũi dao nhọn vào vết thương vẫn còn ứa máu của những người lính miền Nam trước năm 1975 may mắn sống còn sau cuộc chiến.

33 năm tiếc, nhớ, thương bạn bè chiến hữu bỏ mình trong cuộc chiến, trong trại tù Cộng Sản hoặc ra đi vì tuổi đời chồng chất.

33 năm những người lính còn ở lại quê nhà oằn oại chịu đựng ngon roi thù của kẻ chiến thắng.

33 năm những người thương binh vẫn từng ngày ngậm ngùi nhìn thân thể với những vết sẹo, những thương tật chiến trận để lại.

33 năm còng lưng gánh nặng những đau buồn, tủi nhục, khắc khoải của người lính thua trận mà không phải vì mình bất tài, hèn yếu.

33 năm đã trôi qua, những người lính vẫn mắc nợ những người lính, nợ nghiệp lính, nợ quê hương tổ quốc nhưng cuối nẻo đường trần không bao giờ trả được!

Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỷ độ long tuyền đới nguyệt ma!!

33 năm đã trôi qua nhưng vết hằn cuộc chiến vẫn còn đó!

33 năm trăn trở, tiếc nuối một quãng đời dang dở, nửa đường đứt gánh ... đời lính!
*
Cái nghịch lý của hòa bình 30 tháng 4.
33 năm đã trôi qua, người Việt lưu vong nhìn lại quê hương Việt Nam , không ai không khỏi ngậm ngùi chua sót. Chiến tranh là tàn phá, là tai ương, là tử vong điều không thể tránh được và người dân cả hai miền Nam Bắc đều trông đợi hòa bình, nhưng cái mốc hòa bình 30 tháng tư năm 1975 đầy nghịch lý, người dân miền Nam đã trốn chạy hòa bình!

Những người tị nạn đầu tiên sợ hãi, hốt hoảng ra đi, những cặp vợ chồng lếch thếch, tay bồng, tay bế, tay dắt con cái, tay xách, tay mang những tài sản cá nhân gom góp vội vàng, gỏn gọn chỉ là cái bao, cái túi, họ chạy đi mà không biết mình sẽ đi đâu, đến đâu. Chồng mất vợ, vợ lạc chồng, con cái thất tán, giữa sự sống và chết họ chen lấn xô đẩy, dành giật lấy một chỗ đứng, chỗ ngồi trên máy bay, trên những con tầu rời bỏ quê hương.

Chấm dứt chiến tranh, hòa bình, nhưng hàng triệu người đã trốn chạy ra biển, họ vượt biển bằng những chiếc thuyền mong manh phó mặc cho số mệnh, họ cầm bằng cái chết để trốn chạy cộng sản, đó là cái nghịch lý của hòa bình 30 tháng tư, 33 năm về trước.

33 năm nghiền ngẫm cái nghịch lý của ngày chấm dứt cuộc chiến 30 tháng tư. Cái nghịch lý của luật trời: Người hiền lương thua kẻ gian ác? Cái nghịch lý của định mệnh: Những người tù lương thiện ở trong các nhà tù mà người cai tù là những tội phạm.

*
33 năm CS tàn phá đất nước.
Sau cuộc chiến, Cộng Sản Việt Nam thay vì xây dựng, đoàn kết, hướng về một chân trời mới đầy hứa hẹn cho dân tộc, họ lại đạp đổ, phá nát, tàn phá, bần cùng đất nước nhiều hơn trong chiến tranh. Họ quỷ quái mưu mô hơn bất cứ một dân tộc nào trên thế giới, họ cướp bóc tài sản trắng trợn, họ giết phe bại trận một cách tinh xảo che mắt được thế gian, nhân loại, họ giết từ từ, giết chầm chậm, giết người mà không thấy máu, giết thể xác, giết phần hồn, giết cả triệu quân dân cán chính miền Nam, giết bằng đầy ải, tù đày, giết gián tiếp cả những người thân thuộc, gia đình, cha mẹ, vợ con.

33 năm những oan hồn của người tù cải tạo, của thuyền nhân trên biển vẫn còn vất vưởng nơi trại tù, nơi rừng sâu núi thẳm, trên biển khơi mênh mông.

33 năm văn minh xã hội chủ nghĩa thụt lùi, đạo đức suy đồi, đầy dẫy những tệ đoan, tham nhũng, ăn chơi, đĩ điếm đồi trụy trong cuộc sống hiện nay ở trong nước.

33 năm hàng vạn những người con gái Việt phải đi làm vợ làm đầy tớ xứ người, lũ lượt khắp nơi người dân Việt phải đi làm lao công, tôi mọi, làm nô lệ xứ người, những xứ mà trước năm 75, thua kém, chậm tiến lạc hậu hơn miền Nam VN.

33 năm, người dân Việt trong nước lẫn hải ngoại vẫn phải nặng trĩu hoài vọng tự do, dân chủ, phú cường, niềm hoài vọng xa tầm tay với khi vẫn còn tập đoàn thống trị CS, cai trị bằng công an, nhà tù.

33 năm người Việt lưu vong vẫn còn phải trầm tư hướng vọng về quê hương với tủi hận, xót xa, thương phận nước long đong đầy ắp oan khiên.

33 năm kết thúc một cuộc chiến, đất nước không còn chia đôi bằng tên gọi, chính quyền, trên bản đồ, nhưng thực tế, dân Việt vỡ ra thành nhiều mảnh phiêu dạt khắp nơi trên thế giới. Không còn tiếng súng nhưng thù xưa vẫn còn, chiến tranh không còn bằng súng đạn nhưng chiến tranh vẫn tiếp diễn, không chỉ ở trong nước mà cả ở khắp nơi hải ngoại có người Việt sinh sống. Chiến tranh vẫn còn giữa người Việt quốc gia và Cộng Sản, giữa người dân trong nước đang đòi tự do dân chủ với tập đoàn cai trị, với đảng cộng sản. Chiến tranh chỉ thật sự chấm dứt khi đảng Cộng Sản bị khai tử và Việt Nam thực sự có tự do dân chủ, có chính quyền dân cử, chính quyền từ dân mà ra.
* 33 năm làm người tị nạn.
Tôi là người tị nạn, đúng nghĩa của một người tị nạn, nếm đúng mùi vị đắng, chát của thân phận tị nạn. Tôi đến xứ sở này, thành phố này không tính toán, không chọn lựa 33 năm về trước, khi gần đến tuổi 30 với độc nhất một bộ quần áo lính màu xanh hải quân đã bạc mầu, không lon lá huy hiệu, nó chỉ khác với quần áo thường vì có hai túi trước và có cầu vai. Chân đi đôi dép Nhật đã mòn quẹt vì lê lết trong các trại tị nạn. Trong túi không có lấy một đôla. Tôi đến đây không được đón tiếp ở phi trường chờ lấy hành lý như những người tị nạn sau này. Không được nghe lời chào hỏi bằng tiếng Việt. Và, cả mấy tháng sau tôi vẫn còn thẫn thờ, câm lặng, bậm môi chịu đựng nhát búa khốc liệt của định mệnh. Tôi mất tất cả những gì đã có trong cuộc đời, nghề nghiệp, cấp bậc, tương lai... và khởi đầu cuộc đời như một đứa bé mới bập bẹ tập nói, tập đi. Tôi đến đây đơn độc, để lại vợ và hai con còn bé nhỏ nơi quê nhà, lúc bấy giờ, nơi ấy, nơi này giống như âm dương cách trở, mờ mịt, bít bùng tin tức và, ngày ấy ai cũng nghĩ là vĩnh viễn không có ngày gặp lại như những người di cư vào Nam năm 1954 bỏ lại người thân ngoài Bắc. Chung quanh tôi lúc ấy, cái gì cũng xa lạ, tôi không thể ngày nào cũng ăn nhạt nhẽo miếng sandwich, trứng, thịt, hot dog, hamburger. Tôi thèm một bát cơm với chén nước mắm chanh ớt, ước muốn một đĩa rau muống luộc, thèm một lát cá kho... mong tìm được một người Việt để chào hỏi, để tâm sự bằng tiếng Việt.

Những ngày đầu tị nạn, tôi cô đơn lầm lũi trong gia đình một người Mỹ khá giả ở một khu rất sang trọng của thành phố, mặc dù hai vợ chồng này tôi đã quen biết từ trước, người sĩ quan cố vấn của tôi khi còn phục vụ tại Việt Nam .

Tôi ngỡ ngàng sao đường phố ở Mỹ im vắng, không có người đi bộ. Tôi đi suốt một ngày trên xe Bus, từ sáng sớm đến tối khuya, chuyển hết xe này đến xe khác, dò theo những tuyến đường trên bản đồ lộ trình, thành phố sao rộng lớn mênh mông, lẫn lộn cả với đồi, núi, rừng cây... tôi ngóng nhìn khắp phía để hy vọng tìm được một người VN...
* Những kẻ phản bội.
33 năm ở thành phố này, tôi được cái hân hạnh làm người đến trước tiếp đón nhiều người đến sau, được nhìn những nét mặt tị nạn còn xạm đen khắc khổ ngơ ngác của những đợt thuyền nhân đến từ các trại tị nạn Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương. Rồi đến những đợt HO, những đợt đoàn tụ cha con, chồng vợ... Những người tị nạn đến sau đều có thân nhân, bạn bè, đồng hương người Việt ra tận phi trường tiếp đón, hôm trước hôm sau đã vui vẻ, cười nói tiếng Việt ồn ào, có tiệc tiếp đón dù sơ sài, có phở, có bún bò Huế, có bánh xèo, bánh cuốn và mau chóng hội nhập nếp sống rất Việt Nam giữa lòng xứ sở Hoa Kỳ..

Cảm-nghỉ
Tôi nhắc đến kỷ niệm chuyện tị nạn của tôi ở đây để trần tình với những người có ý nghĩ là đến sau thiệt thòi, trâu chậm uống nước đục. Sau cái mốc thời gian 30 tháng tư, không có cái buồn nào hơn hay kém cái buồn nào, và người tị nạn đến trước, đến sau chưa biết ai buồn, ai khổ hơn ai...!!

Tôi muốn nhắc đến những ngày đầu tị nạn của mọi người vì hôm nay, quanh tôi đã có nhiều người làm bộ quên, hay cố tình quên quá khứ tị nạn, quên đi những con thuyền mong manh trên sóng biển, quên đi những ê chề nhục nhã với cướp biển, hải tặc, quên những ngày tù đầy cộng sản, quên những cán bộ quản giáo ngu dốt nhưng có quyền lên mặt dậy bảo, quên những ngón đòn thù, những báng súng nện lên thân thể.

Những gì đau khổ trong quá khứ cũng nên bỏ lại cho quá khứ để sống với hiện tại và tương lai, quên được là điều đáng mừng nhưng đừng quay lưng trở mặt với chính nghĩa quốc gia, cuộc chiến chống cộng vẫn còn, người Việt cả ở trong nước lẫn hải ngoại vẫn đang phản kháng, chiến đấu để đạp đổ chế độ Cộng Sản, đòi tự do, dân chủ, đòi hỏi chính quyền CS phải bảo toàn lãnh thổ đừng âm mưu, lén lút dâng đất dâng biển cho Tầu Cộng.

Quên quá khứ tị nạn cũng được, nhưng đừng làm cản trở, đừng tiếp sức cho Cộng Sản trong cuộc chiến đòi tự do, dân chủ cho quê hương, đừng phản bội xương máu chiến sĩ đã hy sinh cho cuộc chiến vì tự do chống giữ miền Nam chống lại sự xâm lăng của Cộng Sản.

Tôi muốn nhắc lại chuyện tị nạn vì hôm nay quanh tôi, những người chỉ mới đây, như mới ngày hôm qua đến xứ sở này còn ngơ ngác xin làm người tị nạn Cộng Sản mà hôm nay đã xuênh xoang áo gấm về làng, hưởng thụ, huênh hoang với hai chữ Việt Kiều.

Có những người, những đảng phái vì ham danh hám lợi còn quay về hợp tác, bênh vực cho cái chế độ CS tàn ác.

Có những con buôn, những nhà báo đốn mạt, chỉ vì vài trăm bạc, vài chục bạc trả cho một cái quảng cáo thương mại hàng tháng trên những tờ báo chợ, mà bán rẻ lương tâm, trơ trẽn tuyên truyền, ca ngợi Cộng Sản.

Tôi đã nhìn một người chủ báo, một người hám-danh mà nghĩ thầm "Cái mặt kia, cái con người này chỉ đáng giá 10 xu".
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Nhớ Bình Ngô Ðại Cáo

Ngô Nhân Dụng

Nhờ phương tiện Internet, ngày hôm qua người Việt ở khắp thế giới đã nhận được những hình ảnh những đồng bào biểu tình ở khu Chợ Ðồng Xuân, Hà Nội trước khi bảy người bị công an bắt về bót. Bản tin và hình do hãng thông tấn Ðức gửi đi, cho thấy những người tổ chức đã liên được với giới truyền thông quốc tế. Nhưng điều được chú ý nhất trong biến cố này là những âm thanh. Phóng viên đài RFA đã trực tiếp phỏng vấn một “xếp bốt” (trưởng đồn) công an về vụ bắt biểu tình. Anh công an cộng sản nói tỉnh bơ: “Biểu tình hả? Hà Nội rất yên tĩnh! Không có ai biểu tình hết!” Nhưng ngay lúc đó, những người dân biểu tình đứng gần đã kịp hô to lên: “Có! Có!” Những lời phản đối lọt được vào máy vi âm của một đài phát thanh quốc tế!

Phải nhắc lại lần nữa: “Ðừng nghe những gì cộng sản nói!”.

Còn tại Sài Gòn, guồng máy công an của ông Nguyễn Tấn Dũng tỏ ra rất có hiệu quả trong việc bắt bớ đồng bào. Những người bị nghi là có thể đi biểu tình phản đối Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, những người có khả năng lên lưới hô hào biểu tình, tất cả đã được công an “chiếu cố” từ tháng trước; Hoàng Hải trốn lên tận Ðà Lạt cũng vẫn bị bắt!

Ðảng Cộng Sản và nhà nước Nguyễn Tấn Dũng cương quyết không cho ai đụng tới Hoàng Sa của... Trung Quốc! Nhà nước cấm dân biểu tình trong ngày rước đuốc thế vận. Cho nên trong ngày đó, chỉ thấy các thanh niên Trung Quốc đi biểu tình ở Sài Gòn mà thôi! Những tấm hình chụp đám người Trung Quốc được gửi cấp tốc đi khắp nước và ra hải ngoại đã làm mọi người xúc động. Ðó là cảnh những thanh niên Trung Hoa mặc đồng phục thể thao màu trắng đi diễu hành trên đường Lê Lợi trương lên những lá cờ Trung Cộng, màu đỏ 5 sao vàng!

Lá thư kèm theo những bức ảnh đó, gửi lúc 2 giờ chiều ngày 29 Tháng Tư, diễn tả tâm trạng của người dân Việt Nam trước cảnh mà người gửi viết là: “Trung Quốc tràn sang Sài Gòn làm loạn!”

Người chụp hình diễn tả tâm trạng tiêu biểu của người Sài Gòn: “Chúng nó đang nhe răng vuốt giương oai với người Việt Nam chúng ta, cơn giận như lửa đốt...” Ðây là phỏng theo lối văn dịch từ Bình Ngô Ðại Cáo, khi Nguyễn Trãi kể tội giặc Minh: “Kẻ há miệng, đứa nhe răng, máu máu mỡ ấy no nê chưa chán!”. Trông cảnh những người Trung Hoa sang nước ta được tự do đi biểu tình trên con đường mang tên Lê Lợi, trong khi người Việt bị cấm, bị bắt, bị giam cầm, làm sao trong lòng không tưởng nhớ tới văn Bình Ngô Ðại Cáo! Lời văn thống thiết của Nguyễn Trãi lúc nào cũng văng vẳng trong tiềm thức của người Việt Nam; khi ngủ cũng không quên, khi xúc động thì chợt nhớ lại!

Ðảng Cộng Sản và chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã cương quyết cấm, không cho dân Việt bày tỏ ý kiến đòi Trung Quốc trả lại Hoàng Sa. Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa ở Hải Phòng hôm qua đã bị bắt trên đường về Hà Nội biểu tình. Các nhà báo Hoàng Hải, đạo diễn Song Chi, luật gia Phan Thanh Hải (Ba Sài Gòn), cựu đại úy công an Tạ Phong Tần, vân vân, đã bị sách nhiễu, bị hỏi cung, bị bắt, ở Sài Gòn.

Nhiều người thắc mắc không hiểu tại sao họ nhẫn tâm như vậy. Họ yêu nước Trung Hoa hơn nước Việt Nam hay sao?

Có thể minh oan cho các lãnh tụ cộng sản. Họ không yêu nước Tàu hơn nước Việt. Nhưng tình yêu của họ được dành cho một thứ cao hơn cả tổ quốc. Ðó là họ yêu chủ nghĩa xã hội. Ông Hồ Chí Minh đã kích động lòng yêu nước của người Việt Nam để đưa thanh niên vào chết tại chiến trường miền Nam, vì ông hô hào “chống Mỹ cứu nước.” Nhưng ông Hồ khôn lắm. Ông biết chủ nghĩa cộng sản không chấp nhận tinh thần ái quốc mà họ cho là chật hẹp. Ông Hồ đã được Stalin giáo huấn phải từ bỏ các lợi ích quốc gia để xây dựng thế giới vô sản chuyên chính, bành trướng chủ nghĩa xã hội, vượt lên trên biên giới quốc gia. Cho nên trong lúc hô hào người VT yêu nước, ông vẫn không quên bắt dân Việt phải học thêm: “Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội.”

Con cháu ông Hồ theo đúng châm ngôn đó. Chủ nghĩa xã hội, theo lối Stalin, giống như một tôn giáo, tất nhiên, chủ nghĩa lý tưởng đó phải cao hơn quốc gia, dân tộc. Nếu phải lựa chọn, so sánh, người ta sẽ thấy chủ nghĩa cao hơn dân tộc, quốc gia.

Các lãnh tụ cộng sản Việt Nam có lúc coi Liên Xô mới là quê hưởng của chủ nghĩa xã hội. Ông Lê Duẩn tới Nga đã nói đây là quê hương thứ hai của ông ta. Nhưng sau khi Lê Duẩn chết rồi, các lãnh tụ cộng sản Việt Nam đã xoay chiều, đặc biệt là sau khi chế độ cộng sản ở Nga và Ðông Âu sụp đổ. Dần dần, họ coi Trung Quốc mới là quê hương của chủ nghĩa xã hội.

Biến chuyển trên được ghi rõ rệt trong cuốn hồi ký của ông Trần Quang Cơ, từng làm thứ trưởng ngoại giao của chính quyền Hà Nội. Cuốn Hồi Ức và Suy Nghĩ kể lại sự biến chuyển trong chính sách ngoại giao của Hà Nội sau năm 1975, xin thuật lại sau đây. Năm 1977 Trung Cộng đã xúi bọn Khờ Me Ðỏ đánh vào biên giới phía Nam, Tháng Giêng năm 1979 quân Việt Cộng đuổi Pol Pot ra khỏi Nam Vang. Tháng Hai, quân Trung Cộng tấn công Việc Cộng ở biên giới miền Bắc rồi rút về. Năm 1984 quân Trung Cộng pháo kích vùng biên giới suốt ba tháng trời. Năm 1988, hải quân Trung Cộng đánh quân Việt Nam để chiếm các đảo ở Trường Sa, 14 năm sau khi đã chiếm Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa. Biến cố làm cho đảng Cộng Sản Việt Nam đổi chiều là chế độ cộng sản ở Nga Xô thay đổi, Gorbachev không còn ôm mộng làm bá chủ thế giới cộng sản nữa.

Tháng 12 năm 1986, đảng Cộng Sản Việt Nam sửa lời nói đầu trong điều lệ Ðảng xóa bỏ đoạn nói Trung Quốc là “kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất.” Hai năm sau thì sửa luôn câu đó trong hiến pháp. Sau khi khối cộng sản Ðông Âu tan rã, các món viện trợ cạn ngay, kinh tế Việt Nam suy sụp, Việt Cộng thấy muốn tồn tại phải bám lấy Trung Cộng. Vì vậy, phải tìm đường kết thân trở lại với Bắc Kinh. Lý do chính họ nêu lên là theo Trung Quốc để “bảo vệ chủ nghĩa xã hội” trước sự tấn công của tư bản Mỹ.

Trong nhóm người thuộc Bộ Chính Trị thời đó, Trần Quang Cơ cho biết Nguyễn Văn Linh và Lê Ðức Anh là những người thân thiết với Trung Cộng nhất. Hai người này nêu lên lý do phải kết thân với Trung Quốc, là cả hai đảng cùng theo chủ nghĩa xã hội. Ngay cả khi có người trong bộ chính trị nêu vấn đề lợi dụng sự tranh chấp Mỹ-Trung Quốc thì Nguyễn Văn Linh cũng nhắc: Trung Quốc vẫn là nước xã hội chủ nghĩa! Lê Ðức Anh từng gặp riêng đại sứ Trung Cộng ở Hà Nội, sau hai tuần lễ mới thông báo cho Bộ Chính Trị biết. Nhưng chính đại sứ Trung Cộng đã báo tin cho những người khác biết rồi, để gây chia rẽ trong đám lãnh tụ Việt Nam.

Nhờ thái độ quỵ lụy của Việt Cộng cho nên năm 1990 Bắc Kinh cho mời Nguyễn Văn Linh, Ðỗ Mười và Phạm Văn Ðồng sang Thành Ðô, tỉnh Tứ Xuyên, gặp Giang Trạch Dân, Lý Bằng. Tại sao họ yêu cầu phải có mặt ông già Phạm Văn Ðồng? Vì ông Ðồng là người đã ký lá thư gửi Chu Ân Lai công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên các đảo Hoàng Sa! Trung Cộng muốn nhắc nhở Việt Cộng đừng quên điều đó.

Sau Ðại Hội Ðảng kỳ 7, Lê Ðức Anh cầm đầu phái đoàn sang Trung Quốc, còn xin lỗi giới lãnh đạo Trung Cộng về những lầm lỗi của Cộng Sản Việt Nam trong quá khứ. Theo hồi ký của Trần Quang Cơ cho biết thì Lê Ðức Anh là người gắn liền sự nghiệp chính trị với việc kết thân Trung Quốc. Hiện nay Lê Ðức Anh vẫn cầm cương điều khiển đám lãnh tụ cộng sản Việt Nam, cho nên họ không thể nào cho phép dân Việt Nam biểu tình đòi Trung Quốc trả lại Hoàng Sa!

Năm 1990, Cộng Sản Việt Nam chạy theo Trung Quốc vì trên thế giới chỉ còn đó là nơi nương tựa để “bảo vệ chủ nghĩa xã hội.” Dần dần, họ không còn ham bảo vệ chủ nghĩa nào hết, nhưng ngày nay, nhu cầu bảo vệ địa vị độc quyền cai trị của đảng còn cao hơn nữa. Ðó là lý do họ vẫn đi theo con đường của Lê Ðức Anh, cương quyết bảo vệ Hoàng Sa... cho Trung Quốc!

Người Việt Nam có thể đọc lại Bình Ngô Ðại Cáo để biết rằng trong quá khứ dân tộc Việt Nam không hèn như vậy. Và trong tương lai, cũng sẽ không hèn như vậy!
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Image

Cảm Nhận 30-4

Trần Khải Thanh Thuỷ
Sinh năm 1960 nên ngày 30-4-1975 tôi tròn 15 tuổi, đang còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông trung học. Tin miền Nam hoàn toàn giải phóng dội tới từng công sở , xí nghiệp, trường học làm nức lòng toàn dân , nét mặt ai cũng hân hoan khúc khải hoàn ca. Lây tâm tâm trạng chung của mọi người , tôi cũng cảm thấy nhẹ bỗng như người không trọng lượng. Cảm giác của người chiến thắng, nở hoa trong hồn, vui mừng không sao kể xiết. Khắp góc chợ, vỉa hè, đâu đâu người dân cũng đưa tin nước nhà giải phóng, chế độ nguỵ quyền sụp đổ. Các quầy báo đông nghịt người xếp hàng mua báo quân đội, nhân dân, Hà Nội mới, để xem tin chiến thắng . Một cuộc cách mạng long trời, lở đất, một chiến thắng vĩ đại của quân và dân Việt Nam, cũng là một cuộc cách mạng mùa thu tháng 8 -1945 lần thứ hai của người Việt Nam, thời kỳ khổ ải trường kỳ kháng chiến, thắt lưng buộc bụng qua rồi ,giờ chỉ còn xây dựng đất nước to đẹp đàng hoàng gấp 10 lần xưa thôi....

Mẹ tôi mừng gấp đôi vì đã hơn 20 năm trời xa cách , nay mới gặp được chị cả, di cư vào Nam từ 1954 theo chồng. Người chị mà vì có họ hàng dây mơ, rễ má, máu mủ ruột thịt mà cả nhà phải ngậm đắng, nuốt cay, tám anh chị em trong nhà, kể cả mẹ tôi không ai được kết nạp đảng dù thoát ly, làm đường, thanh niên xung phong từ năm 16 tuổi, phải sống, cống hiến, lao động và chịu đựng hơn gương Bác Hồ vĩ đại cả ngàn vạn lần , vẫn ra rìa, vì trong gia đình có người đầu hàng , theo địch... một vết nhơ trong gia đình, dòng tộc mà ngay cả khi thống nhất đất nước vẫn không thể nào gột rửa được

Loay hay vất vả mãi, tận năm 1976 mẹ tôi mới xin được cán bộ tổ chức cơ quan một tờ giấy phép vào Nam ( thời gian đầu, nhà nước chỉ xét các đối tượng trong diện vợ chồng, con cái, bố mẹ...) khỏi phải nói đến sự mừng tủi của hai chị em sau 21 năm xa cách. Bác ôm lấy mẹ tôi khóc khi hay tin cả bố và mẹ đẻ đã mất ngay sau khi tiến hành cải cách ruộng đất, nhà bị đưa vào diện địa chủ, bóc lột. Ông tôi khi ấy đang làm hiệu trưởng trường cấp I, vì uất ức mà phải giằng kính khỏi mắt đập mạnh xuống nền nhà cho mắt kính vỡ tan để lấy một mảnh nhọn và sắc nhất rạch ruột tự tử ngay trước mặt cán bộ cải cách...Khi cả đoạn ruột lòi ra ngoài ổ bụng, một viên bác sĩ người Pháp vội vàng chạy đến băng bó, cấp cứu, nhưng ông tôi đưa tay ra hiệu không cần thiết, kèm câu nói chứng tỏ sự lựa chọn đúng đắn của mình: "Một xã hội mà kẻ vô văn hoá lên cầm đầu, trừng trị người lương thiện, cũng là người đã góp phần nuôi cả đại đội chiến sĩ trong nhà ăn no đánh thắng, giết giặc, lập công...thì xã hội ấy chỉ còn là sự đồi bại, tha hoá, cướp bóc, trừng trị, không những không đưa đất nước ra khỏi quỹ đạo luẩn quẩn của nghìn năm Bắc thuộc, mà còn không bằng xã hội trong thời kỳ phong kiến thối nát"...Một xã hội bất công, vô lý như thế thì tôi còn sống làm gì ? Làm sao cam tâm nhìn cảnh đất nước bị tàn phá, lương dân bị giày xéo ....Đời người chỉ chết có một lần, sống mà phải mang vết nhơ gia đình mình là địa chủ, chuyên áp bức, bóc lột dân lành thì sống sao nổi?

Nói lại những lời hùng hồn trăng trối cho viên bác sĩ người Pháp nghe xong, ông tôi nhắm mắt trút hơi thở cuối cùng. Bà tôi không chịu đựng nổi cái chết phi lý, đường đột của ông, lại chứng kiến cảnh mất nhà, cướp đất của lũ cán bộ cốt cán, từng ăn mòn bát, ngồi mòn chiếu nhà mình, một điều u, hai điều con, nay giở mặt gọi bà là địa chủ bóc lột, đòi đưa ra đấu tố, trong khi con cái ly tán khắp các phương trời góc bể, Từ Hải Phòng, Lạng Sơn, Hà Tây , Hà Nội v.v nên cũng ốm đau , mòn mỏi, đành nhắm mắt, xuôi tay khi tuổi đời chưa tròn một vòng hoa giáp...

Khóc cho bố mẹ chán, bác tôi quay ra khóc cho mình, cho cả đại gia đình 9 đứa con, gần 30 chục cháu nội ngoại cùng 9 cặp dâu rể đang trong cảnh bấn loạn tinh thần. Chỉ vì tin ông bà còn sống mà nấn ná ở lại, cấm con cái không được "lầm đường lạc bước theo giặc, bỏ quê cha đất tổ mà đi"... Giờ cơ hội đã lỡ, tất cả đều trong cảnh sống giở chết giở, 6 anh con trai là sĩ quan cộng hoà đều phải đi học tập cải tạo mút mùa, vợ con không ai nuôi nấng, chăm sóc ...Đang từ xã hội tiêu thụ, gi gỉ gì gi, cái gì cũng có, thành xã hội bao nhiều, cấp ít, gi gỉ gì gi, cái gì cũng thiếu ...ai cũng hoang mang chán nản, bởi cuộc sống đã bị cướp đi những gì quý giá, căn bản nhất, không còn là sống mà chỉ là sự tồn tại, vạ vật cho qua ngày đoạn tháng, đau khổ đến chết và đói nghèo đến chết, thậm chí có người không chịu đựng nổi cảnh địa ngục trần gian do bọn phát xít mới đưa lại đã lặng lẽ tìm đến cái chết, hòng làm đứt tung mọi sự ràng buộc, gian díu với đời

Khi tôi vào, điều cảm nhận đầu tiên của tôi là sự hụt hẫng, suốt dọc đường trên chuyến tàu xuyệt Việt, tầm mắt chỉ được nuôi dưỡng bằng cảnh nghèo, cái đói . Không phải "Đường vô xứ nghệ quanh quanh, non xanh, nước biếc như tranh hoạ đồ" như thơ Tố Hữu miêu tả mà là :

Đất nước mình đâu cũng mái nhà gianh ,
Gương mặt người ai cũng xám xanh ,

Đơn giản vì đồng đất bạc màu, hoang hoá, hết tím hoa mua lại trắng mùa hoa sở. Thứ hoa dại vốn chỉ mọc ở ven đồi, sườn núi, đẹp thì có đẹp nhưng không nuôi sống nổi con người.

Vào đến Sài gòn, nếu nhà văn Dương Thu Hương đã phải ngồi thụp xuống vỉa hè vì đau xót, hẫng hụt trước một sự thực trần trụi: Nền văn minh mọi rợ chiến tháng nền văn minh hiện đại thì tôi cũng có những nỗi buồn tương tự. Đất nước liền một dải, non sông thu về một mối, nhưng lòng người đầy cách ngăn. Một con sông bến Hải, một vĩ tuyến 17 ngày và đêm, một nhịp cầu Hiền Lương vẫn tồn tại trong lòng mỗi con người. Dù là tình máu mủ, ruột thịt, anh em, họ hàng, bà con, cô bác vẫn không sao xoá nhoà được ranh giới của kẻ thua, người thắng, kẻ bắc, người Nam, kẻ lấn chiếm, người bị động...Khắp thành phố, sự phân biệt kị thì vẫn hằn lên trong từng ánh mắt, giọng nói, điệu cười. Các anh chị tôi tiếp đón một cách vừa phải , qua quýt, không thân cũng chẳng sơ. Nếu không có bác tôi làm cầu nối hẳn cuộc đón tiếp còn gượng gạo, buồn tủi hơn nữa. Đơn giản vì tôi là người miền Bắc, người của phe đối địch, bị đầu độc từ tấm bé, nên mọi lời ăn tiếng nói đều do "cha mẹ sinh con, đảng đoàn xã hội chủ nghĩa sinh tính"... Động mở miệng là nhắc đến bác Hồ, gọi tên thành phố cũng là thành phố Hồ Chí Minh chứ không phải Sài Gòn, càng không dám nói "Sài Gòn hoa lệ" hay "hòn ngọc Viễn Đông". Đã thế còn luôn bảo vệ ý kiến mình theo đúng đường lối, chủ trương, chính sách, quan điểm của đảng và chính phủ. Ngay cả khi bác hỏi: "Ngoài Bắc, mỗi tháng được phát mấy lon sữa, hả con?" Cũng phải lên gân, lên cốt trả lời theo đúng những lời dạy dỗ khuyên bảo của thầy cô trên lớp học của mình: "Cần gì đâu bác, không một gram sữa, không một ký thịt nào mà vẫn đánh thắng bè lũ đế quốc và tay sai đấy thôi".

Biết bao ông bố bỏ lại vợ con ra căn cứ địa cách mạng rồi tập kết ra Bắc, trở về dắt theo cả vợ lẽ, con thêm . Biết con trai đi học tập cải tạo, con dâu một nách 4,5 con nhỏ, vẫn không một lần lên trại thăm nuôi, còn dài giọng trách: - "Ai biểu nó vô Việt Nam cộng hoà, quay súng bắn lại cách mạng, Giờ tao vô trại cũng có bảo lãnh cho nó ra được đâu"... khiến con dâu vì nghèo, đói, uất ức mà phải tự tử, bỏ lại bốn, năm đứa con côi cút, găm thêm vào lòng người chồng đang ngồi tù cải tạo một vết thương sâu hoắm

Trong khi người miền Bắc thích ăn món cua bể (bê của) hàng hoá rùng rùng chuyển động ra phía bắc, thì trong nam cứ dần dần nghèo đi, câu hát của người dân miền Nam như lưỡi dao đâm vào tim người miền Bắc đau nhói: " Đi ta đi giải phóng miền Nam, đi đến khi nào người dân không còn cái quần, thì ta còn chiến đấu, quét sạch chúng sinh , lời bác sui dại bên tai, chiến đấu cho đến ngày Nam, Bắc nghèo bằng nhau".

Một dân tộc bị qúa khứ lịch sử chia đôi thành hai vùng địa lý, chính trị, thuộc về hai chiến tuyến. Một vết cắt xuyên thấu mỗi gia đình, số phận, tưởng chừng giải phóng được rồi là tình người, no ấm về theo. Ai ngờ, vì những chính sách cai trị man dợ kéo dài mà kéo theo bao cảnh ba đào loạn ly, trước tiên là cảnh chia đàn xẻ nghé của tất cả các gia đình "nguỵ quân, nguỵ quyền" chồng, con, anh em vào trại cải tạo, vợ con ở lại nheo nhóc đói khổ, phải đương đầu với cuộc sống vô cùng khắc nghiệt cùng bao quyết sách man rợ, sai lầm chết người của đảng cộng sản: Tài sản bị cướp trắng sau cải tạo công thương nghiệp, giết chết cái gọi là mầm mống tư sản mại bản để đề cao lý tưởng xoá bỏ chế độ người áp bức bóc lột người. Đổi tiền "Nguỵ " ra tiền đảng với gía trị gần như không, đến mức người dân phải thốt lên đầy cay đắng khi cầm một nhúm tiền của đảng, bác trên tay:

Bố cạn tiền rồi cán bộ ơi,
Đổi tiền mà sao đến nỗi này
Chưa tiêu đã hoá tiêu đi hết
Chú phỉnh tôi rồi, chính phủ ơi"

Trong khi đại bộ phận người dân thành phố nghèo đi trông thấy, thì những anh bộ đội cụ Hồ, ba lô con cóc lép kẹp trên lưng với chiếc khung xe đạp, con búp bê nhựa xấu xí hôm nào, bỗng giàu lên một cách đáng ngờ. Từ vô sản thành hữu sản, còn người dân chịu cảnh đấu tranh giai cấp, cải tạo công thương nghiệp , nên đi từ hữu sản thành vô sản. Không những khốn khổ vì đời sống thấp kém, còn khốn khổ vì bị cán bộ cách mạng đè đầu cưỡi cổ, sách nhiễu lung tung.

Biết bao cán bộ lãnh đạo với khẩu hiệu - tưởng chừng bất di bất dịch như một chân lý sống: "Một cái kim, sợi chỉ của dân không lấy" , bỗng vụt hiện lên thành các quan cách mạng, quan đồng chí. Vừa ngủ quên trên ngai vàng quyền lực, chia nhau quả thực, vừa quay lưng lại nỗi khổ của dân, hà hiếp cai trị dân, dù đó là những người từng nuôi dưỡng bao bọc che chở cho mình trong suốt những ngày cách mạng còn gian khổ cam go nhất. Bao nhiêu tàn dư đế, quốc, phong kiến, tưởng đào tận gốc, trốc tận rễ bỗng rùng rùng trở lại, gấp cả trăm, nghìn lần những tiêu cực yếu kém của thời kỳ tồi tệ, hà khắc, phong kiến trước kia- tàn dư của chế độ mới xã hội chủ nghĩa. Càng giành được chính quyền, giành được quyền tự chủ, tự quyết thì càng lòi sự dốt nát, bất lực trong phương pháp quản lý của đảng cộng sản. Đất nước liền một dải nhưng lại thực hiện chính sách, ngăn sông, cấm chợ, khiến 400 quận, huyện trong cả nước biến thành 400 lô cốt, pháo đài riêng biệt...Từ Lạng Sơn tới mũi Cà Mau, đất nước bị băm nát thành trăm nghìn mảnh vụn bởi các trạm gác, chốt canh, nhân viên thuế vụ v.v Chỉ đem cân gaọ, lạng thịt từ tỉnh này sang tỉnh khác, huyện này sang huyện khác đã bị coi là buôn lậu và bị phạt, bị bắt, bị nhốt vô tội vạ, khiến lòng dân tứ tán ...Làn sóng di tản ồ ạt, di tản bằng mọi giá, gần 90% các sĩ quan ra khỏi trại cải tạo trở về là cùng vợ con bỏ đất nước ra đi, tạo thành một làn sóng lưu vong nhiều không kể xiết, nạn thuyền nhân khủng khiếp nhất thế giới...Chưa kể các trại tù mọc lên như nấm suốt dọc bờ biển Đông để nhốt người vượt biển. Hiếm có người nào đi một lần đã trót lọt. Người bỏ mình trên biển thẳm, người bị bắt hết lần này lần khác, người trở thành nạn nhân của bọn hải tặc Thái Lan v.v Đau thương nhiều không kể xiết... Đất nước không phải của toàn dân tộc Việt Nam như lời cha già dân tộc nói mà chỉ là của một phe nhóm những kẻ lãnh đạo cộng sản, còn những người dân thấp cổ bé học thì thuộc tầng lớp bị trị, bị cai quản, đầy áp đặt thô bạo và phân biệt đối xử không khác gì bài học lịch sử đau xót của cả nghìn năm trước đó: "Được làm vua, thua làm giặc". Hễ là người miền Bắc dù không có chứng chỉ văn bằng, năng lực lãnh đạo, quản lý, nhưng đều được cất nhắc lên thành cán bộ. Con em " Nguỵ quân, nguỵ quyền" bị phân biệt đối xử, bị xem xét về lý lịch, thành phần . Bao nhiêu khẩu hiệu dùng để tập hợp lực lượng, thu hút quần chúng sớm đến ngày chiến thắng, giờ trở thành đầu môi, chót lưỡi , thành sự bội ước với số đông đồng bào, đồng chí, anh em, cô bác. Xã hội bị tha hoá , tuột dốc từng ngày. Thời điểm trước "giải phóng", miền Nam Việt Nam dưới sự chỉ đạo của chính thể cộng hoà, 21 triệu người đã ra khỏi sự đói nghèo luẩn quẩn của nghìn năm lịch sử, nay nhờ được đảng cộng sản "giải phóng" mà cả nước húp chung một niêu cháo loãng, cả nước lặn ngụp trong những ô tem phiếu, nhá bo bo, mì hạt sái hàm, ăn khoai và củ mì đớ họng. Từ chỗ vượt xa Nam Hàn và Thái Lan trong thập kỷ 70, thì ngay sau "giải phóng" một năm, đã kém xa Nam Hàn và Thái Lan về mọi mặt. Mượn lý tưởng "xoá bỏ chế độ người bóc lột người" để liên tục đánh vào tầng lớp hữu sản, để dần dần thay thế vai trò, từ vô sản thành hữu sản và ngược lại . Ngọn cờ của giai cấp vô sản càng giương cao thì tầng lớp cán bộ, lãnh đạo đảng càng giàu lên một cách bất ngờ, trong một thời gian vô cùng ngắn ngủi , trong khi bao nhiêu căn cứ cách mạng, bao nhiêu vùng nông thôn rộng lớn phải sống cảnh giật gấu vá vai, ăn bữa nay, lo bữa mai thì cán bộ cộng sản ăn chơi phè phỡn , ăn luôn cả thành tựu cách mạng bao năm gây dựng trong lòng dân . Khắp thành phố khi đó là một bức tranh hiện thực trơ trụi , xám mgoét, hậu quả tất yếu của sự lãnh đạo dốt nát, cộng với chủ nghĩa cơ hội, ăn xổi ở thì, cũng như kiêu ngạo, ảo tưởng của kẻ chiến thắng. Vừa công kênh cái dốt, đề cao cái ác, lại vừa giày xéo lên lương tâm của những người lương thiện, chưa kể còn cố tình bám vào những lý thuyết sách vở lỗi thời là chủ nghĩa Mác, Lê để níu kéo sự phát triển hài hoà của cuộc sống . Càng giương cao ngọn cờ "bách chiến bách thắng" trong mọi lĩnh vực thì càng khủng hoảng, thua lỗ. Càng nêu cao khẩu hiệu "nói thẳng , nói thật , đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật" thì càng dối lừa, gian trá, khiến cho bài toán kinh tế mỗi ngày lại mang thêm nghiệm âm

Hàng nghìn gia đình bị dồn lên khu kinh tế mới, mới chẳng thấy đâu, chỉ thấy mênh mông mịt mùng là rừng, núi, vách đá dựng đứng. Ngày nắng rát da, đêm lạnh thấu xương. Một ngày trải đủ 4 mùa xuân, hạ, thu, đông, chẳng biết làm gì để ăn, để sống đành ôm nhau mà khóc, ôm nhau mà sợ, rồi không thể ôm nhau mà chết, đành dắt díu lếch thếch kéo nhau về lại nơi ở cũ, vạ vật nơi xó chợ, lề đường, vì nhà cũ đã được quan cách mạng chiếm cứ, trưng dụng vô điều kiện ...

Ba mươi ngày ở lại Miền Nam thâm nhập thực tế, trở ra lòng tôi trĩu nặng. Cũng như tất cả những người dân miền Nam khác trong thời kỳ đó, tôi không nhận được gì từ chế độ mới xã hội chủ nghĩa mà chỉ cảm được nỗi đau, nỗi khổ, nỗi bàng hoàng, hẫng hụt, bất bình của người dân với chính quyền cộng sản

33 năm qua rồi , nỗi đau còn đọng lại, vẹn nguyên, làm tổ, kết kén trong hồn tôi, càng ngày càng mưng mủ, và bây giờ vỡ toác trên trang giấy...

Bệnh viện Châm Cứu 28-4-2008
Trần Khải Thanh Thuỷ
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

30-04
Ý Nghĩa Của Tự Do


Hằng năm đến ngày 30 tháng Tư, người tị nạn Việt Nam không khỏi bồi hồi nhớ lại những kỷ niệm, những thay đổi đột ngột đắng cay cuộc đời. Sau khi miền Nam Việt Nam bi cưỡng chiếm, ngườ dân trải qua những đổi thay nghiệt ngã, bắt bớ, tù tội, kinh tế khó khăn, quyền tự do bị bóp chẹt,... Ngày nay ôn lại quá khứ kinh hoàng, những cơn ác mộng chẳng bao giờ quên đó khiến hàng triệu người liều lĩnh băng đại duơng tìm tự do.
"Tự Do ơi Tự Do

Tôi trao bằng nước mắt

Tự Do hỡi Tự Do

Anh trao bằng máu xương

Tự Do ơi Tự Do

Em trao bằng thân xác

Vì hai chữ Tự Do ta mang đời lưu vong."

("Xin đời một nụ cười", Nam Lộc)
Image
Cái giá cho những hành trình tìm cuộc sống có tự do nhân vị lắm khi phải trả bằng máu và nước mắt. Những con tàu mong manh, vì nó có thể là chiếc ghe đi trên sông không chừng. Nhưng ở cuối nẻo đường cùng, người ta chẳng chút mảy may do dự nữa. Tôi nói điều này vì bà Mona Trương xúc động đến tuôn lệ khi đứng bên cạnh chồng mình là ông Chủ tịch Cộng Đồng Mười Trương khẽ nói: "Tàu em đi tương tự như chiếc này" khi nhìn Con thuyền Tự Do đang được triển lãm tại thành phố Reseda, thuộc Thung lủng San Fernando.

Lễ Tưởng Niệm Quốc Hận 30 tháng Tư 2008, sau 33 năm nền tự do công chính tại miền Nam bị ngang nhiên tước đoạt bằng vũ lực, Nhà Văn Hóa Việt Nam đã hơp tác với Hội Người Việt Vùng San Fernando Valley và Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH vùng San Fernando Valley tiếp đón Con thuyền Tự Do này, một biểu tượng văn hóa của người tị nạn ngày hôm nay.
Image
Ông Chủ tịch đã phàt biểu trong buổi lễ:

"Chúng tôi nhiệt liệt chào mừng tất cả đồng bào đang có mặt tại buổi lễ Triển Lãm Thuyền Tự Do ngày hôm nay, chúng tôi rất trân quý và thương mến chiếc Thuyền nầy vì đây là một chứng tích lịch sử vô cùng quý giá, đã vượt biển lánh nạn Cộng Sản, đi tìm tự do, từ 2 tháng 5,1981 đến nay gần tròn 27 năm. Thuyền đã xuất phát từ Phú Khánh, Nha Trang và đã đến được bãi biển Maybayo,Bataan Philippines. Tổng Thống Marcos cảm động khi hay tin thuyền nhân của Thuyền Tự Do vì quá đói khát phải ăn cả quần áo để sinh tồn., nên ông ra lịnh đem Thuyền về Freedom Plaza để gìn giử kể từ năm 1981 đến 2000.

Thuyền đã lưu diễn qua 48 Tiểu Bang Hoa kỳ và Canada. Giờ đây Thuyền đang có mặt ở thành phố thân thương Reseda của chúng ta.

Thật khó có thể tưởng tượng Thuyền đã trãi qua 48 Tiểu Bang và sẽ còn đi thêm 2 Tiểu Bang còn lại, đó là Hawaii và Alaska, trước khi thuyền được cho vào Bảo Tàng Viện của cộng đồng chúng ta vĩnh viễn.

Kính thưa quý vị, đó chính là nhờ vào tấm lòng, một ý chí trường kỳ phấn đấu của bà Madelena Lài cùng với tất cả anh chị em trong Nhà Văn Hóa Việt Nam và với sự thương mến, bảo trợ tài chánh của đồng bào khắp mọi nơi, thông cảm những nổi khó khăn, cực khổ mà các anh chị em trong ban tổ chức đã phải hy sinh để con Thuyền Tự Do nầy có thể trình làng trong 48 Tiểu Bang Hoa Kỳ và Canada.

Chúng tôi trong Hội Người Việt và Hộị Cựu Chiến Sĩ VNCH/ SFV rất ngưỡng mộ, rất cám ơn các anh chị em trong ban tổ chức của Nhà Văn Hóa Việt Nam đã có ý và cho con Thuyền Tự Do lịch sử có mặt tại đây cùng với hơn 200 bức hình qua 48 Tiểu Bang để triển lãm cho đồng bào San Fernando Valley chúng tôi có dịp chiêm ngưỡng tận mắt con Thuyền độc đáo nầy."
Image
Đại diện cho Nhà Văn Hóa có bà Madeleine Lài, bà Diệp Finland và ông Kỳ Linh. Các diễn giả gồm những vị thân hào nhân sĩ như Ông Mười Trương, Ông Nguyễn Quang Cảnh, Bà Madeleine Lài, Ông Phạm Khanh, Cựu Đại tá Trần Cửu Thiên, Bà Trần Kim Ánh, GS Trần Tuệ, TS Hà Thế Ruyệt và LS Nguyễn Thành Ý. Được biết LS Nguyễn Thành Ý cùng là một thuyền nhân, ông nói về giá trị và ý nghĩa của 2 chữ Tự Do, với những người hiện đang sống tại các xứ tự do dân chủ, khi ý niệm tự do được hiến pháp bảo vệ thì chúng ta đôi khi quên cái giá trị của nó. Vì tự do như sự đương nhiên của xã hội, chúng ta không cần phải vất vã đấu tranh nữa. Ông nhắc nhỡ quan khách đừng quên là quê hương Việt Nam hiện chưa có tự do, người dân ta phải cực lực tranh đấu ngày đêm cho cái ý niệm đơn giản đó.

Theo Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc thì những số liệu đáng ghi nhớ là:

- Có 25 trại tỵ nạn ở Ðông dương

- Trên 850,000 người được định cư và trên 850,000 người xem như đã bỏ mạng.

- Trên 200,000 người bị cưỡng bách hồi hương

- Vào cuối năm 1978 đã có hơn 60,000 thuyền nhân tại các trại tị nạn Ðông Nam Á.

- Tháng 6-1979 đã đạt số cao điểm với 54,000 thuyền nhân đến các trại. Nếu cho rằng chỉ có 50% thành công thì đã có 100,000 người ra đi trong một tháng. Số người thiệt mạng đáng cho chúng ta suy ngẫm.

San Fernando Valley đã tiếp nhận hơn 30,000 đồng hương, đa số là các thuyền nhân vượt biên năm xưa.

Buổi chiều tối là lễ thắp nến tưởng niệm các dồng bào bỏ mình vì hậu quả của chế độ tàn bạo CSVN dù chết vì vượt biên hay trong lao tù bức bách tù nhân. Chiến sĩ Lý Tống xuất hiện để chia sẻ những gian truân trong lao tù CSVN và Thái Lan. Ông đề nghị hãy tiếp tay với đồng bào tranh đấu ở bên nhà, với dân oan, với những vị lãnh đạo như Linh Mục Phan Văn Lợi, Hòa Thượng Thích Quảng Độ,... tiếp tay với người dân phẩn uất chế độ, sớm giải thể nhà cầm quyền CSVN.



"TỰ DO ơi TỰ DO! Em đổi bằng thân xác.

Vì hai chữ TỰ DO! Ta mang đời lưu vong."



Dịp 30/04/2008 tại San Fernando Valley.

Việt Hải
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Ðáp lời mời đi biểu tình không thành tại Saigon:
H.T. Quảng Ðộ kêu gọi kết đoàn ngăn chận họa 1,000 năm Bắc thuộc

Thursday, May 01, 2008


PARIS 1-5 (PTTPGQT) - Nhận được lời kêu gọi của một nhóm thanh niên sinh viên tổ chức cuộc biểu tình trước Nhà Thờ Ðức Bà ở Saigon chiều ngày 29 Tháng Tư 2008 để chống cuộc rước đuốc Thế Vận Hội Bắc Kinh 2008 và phản đối việc xâm chiếm hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Ðại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ cùng chư tăng đại diện Viện Hóa Ðạo đã đến nơi hẹn lúc 15 giờ 40. Nhưng chờ cho đến 17 giờ chẳng thấy ai, nên hòa thượng đã về lại Thanh Minh Thiền viện.

Ðược tin, phóng viên Ỷ Lan liền làm cuộc phỏng vấn về cuộc biểu tình bất thành và hỏi cảm nghĩ của Ðại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ. Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế xin chép lại toàn văn cuộc phỏng vấn ấy dưới đây. Một trích đoạn của cuộc phỏng vấn đã được đài Á Châu Tự Do phát về Việt Nam trong 2 chương trình Thứ Ba 29 Tháng Tư 2008 và sáng Thứ Tư 30 Tháng Tư 2008.

Phỏng vấn Ðại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ chiều ngày 29 Tháng Tư 2008.

Ỷ Lan: Kính chào Ðại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ. Ðược tin hôm nay hòa thượng đáp ứng lời kêu gọi biểu tình chống rước đuốc Thế Vận Hội Bắc Kinh tại Saigon. Xin hòa thượng cho biết lý do nào khiến hòa thượng muốn tham gia cuộc biểu tình này?

Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ: Thưa cô Ỷ Lan, trong bản tuyên cáo của Hội Ðồng Lưỡng Viện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) về việc Trung Quốc xâm lấn hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (ngày 27 Tháng Mười Hai2007, PTTPGQT chú) có đoạn kết thúc như sau:

“Với trách nhiệm của người công dân, và trong cương vị một tôn giáo từng đóng góp vào công trình lập quốc suốt hai nghìn năm qua, Hội Ðồng Lưỡng Viện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất không thể im lặng khi tổ quốc lâm nguy, nên cất lời kêu gọi giới sĩ phu thời đại trong nước và ngoài nước hãy khẩn cấp đứng lên vận động hợp quần cứu nguy. Hội Ðồng Lưỡng Viện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất sẵn sàng tham gia hậu thuẫn mọi công trình bảo vệ non sông và nòi giống”.

Ðó là lý do hôm nay tôi ra để đáp lời kêu gọi của giới thanh niên và sinh viên là rường cột của quốc gia, là những nhà lãnh đạo tương lai của đất nước đã nghe lời kêu gọi mà đáp lại biểu tình trong cái cuộc rước đuốc của Olympic của Trung quốc tại Việt Nam để biểu tỏ lòng yêu nước mình, biểu tỏ cái ý chí đòi lại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà nhà nước Cộng Sản đã nhượng lại cho Trung Quốc mà không hỏi ý kiến gì của toàn dân. Ðó là lý do hôm nay tôi ra tham dự cuộc biểu tình dự tính của các anh em thanh niên sinh viên.

Ỷ Lan : Kính xin hòa thượng cho biết sự thể ra sao? Hòa thượng đã đến đâu để tham gia và thành quả như thế nào?

Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ: Kể ra công việc xuất phát từ Thanh Minh Thiền Viện cũng là cả một vấn đề. Rất là khó khăn. Hôm nay may ra là cái ngày tôi phải đến bệnh viện tái khám. Do đó tôi đã đi rất sớm. Xong việc ở bệnh viện tôi nhắm thẳng nơi mà anh em đã hẹn để đến, thì dọc đường đến phải đi xe. Nhưng đến gần gần nơi điểm hẹn thì kẹt, rất là kẹt xe. Bởi vì các ngả đường vào đó là công an, cảnh sát đứng rất đông không cho những xe lớn đi qua. Từ đó tôi phải xuống xe và đi bộ lần theo các ngả đường có thể đi được, đường nhỏ đấy, để đến điểm hẹn. Mãi sau mới đến nơi vào khoảng 3 giờ 40 chiều tôi mới đến đó. Ðến đó thì tuyệt nhiên không thấy dấu hiệu, biểu hiệu mà anh em hẹn. Lác đác có một vài người mặc áo trắng. Nhưng không thấy một biểu ngữ hay bất cứ dấu hiệu nào mà anh em đã hẹn nhau, quy định. Do đó cho nên tôi nghi ngại. Có lẽ cũng chỉ là nhân viên an ninh mặc áo trắng để có thể đánh lạc hướng, nếu anh nào vô ý nhập vào đó có thể họ gây khó khăn hoặc đưa đi luôn. Lác đác thế thôi chứ không được đông. Bởi thế tôi chờ mãi, đi quanh từ chỗ hẹn từ trước đến sau cả cái chỗ tập trung đến, chỗ rước đuốc đấy, xuống chỗ trước khi giải tán. Tôi xem không thấy một người nào. Không có biểu ngữ, biểu hiệu gì hết để mình nhận định. Trong khi đó thì tôi gặp rất nhiều đoàn thanh niên với cờ đỏ năm sao của Trung Quốc, cả khẩu hiệu rước đuốc Olympic các ngả đường gần đó. Từng đoàn một chừng chục người, hai chục người, ba chục người và mười người. Họ xé nhỏ ra như thế trên nhiều ngả đường. Họ hô khẩu hiệu, họ ca hát, thì đó là về phía Trung Quốc. Chứ về phía các anh em thanh niên sinh viên thì không thấy gì. Do đó cho nên tôi đi một vòng nữa, gần 5 giờ thì mới trở về nhà và trong lòng cũng thấy buồn.

Ỷ Lan: Bạch hòa thượng có thể cho biết địa điểm hẹn để biểu tình là ở chỗ nào bạch hòa thượng?

Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ: Theo chương trình tập trung hẹn ở trước Nhà Thờ Ðức Bà và phía sau, rồi điểm tập trung trước khi giải tán và ca hát và tuyên bố gì đó là trước nhà hát thành phố. Ðấy là điểm chính. Từ Nhà Thờ Ðức Bà đi xuống đó cũng không xa bao nhiêu. Ðấy, chúng tôi cũng quanh quanh ở điểm đó. Khi tôi ra về đến nhà là hơn 5 giờ rồi, thì không biết sau khi tôi về anh em có thực hiện được ý định mình không, kế hoạch của mình không? Tôi đã đi đi lại lại vài vòng xem như thế nào. Nhưng hoàn toàn yên lặng thì tôi biết rằng là đã đến giờ mà không thực hiện được. Do đó tôi đi về.

Ỷ Lan: Cuối cùng kính xin hòa thượng một lời bình luận về sự kiện cuộc biểu tình không thành này?

Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ: Nói thật ra thì buồn lắm. Rất buồn. Càng buồn thêm khi thấy những thanh niên Trung Quốc nhởn nhơ, hăng hái, có vẻ hãnh diện đi trên đường phố Saigon với cờ đỏ năm sao vàng, biểu hiệu ca hát rất là ồn ào, rất là vui vẻ.

Trong khi những người thanh niên Việt Nam là con đẻ của đất nước Việt Nam, là giòng giống Việt Nam, thừa hưởng cái giang sơn đất nước của tổ tiên Việt Nam đã đổ ra bao nhiêu xương máu để gầy dựng, truyền lại cho con cháu ngày nay, mà bị ngoại bang lấn chiếm.

Về phía nhà nước lãnh đạo không dám lên tiếng, hèn nhát, chịu ép để cho họ lấn. Cho nên là, nếu họ không tiện đòi hỏi, thì người dân đứng ra đòi hỏi. Lẽ ra, họ phải khuyến khích điều đó và hỗ trợ tinh thần cho những người đó để nói thay họ. Nhưng không, đằng này họ cố tình chèn ép, hăm dọa, thậm chí họ còn hăm dọa họ cho Trung Quốc thủ tiêu, thì đó là điều rất đáng buồn.

Ðó là chỗ tôi rất buồn, rồi về đây hiện còn buồn nữa. Mình nghe thấy anh em thanh niên đáp ứng lời kêu gọi của giáo hội nên rất cảm động. Dù lời kêu gọi của mình chưa được bao nhiêu, nhưng đã có tiếng cất lên để đáp lại. Ðó là một điều rất mừng. Do đó cho nên mặc dù già yếu, tôi cố gắng đến tham gia với các anh em. Cũng như lời kêu gọi đã nói ở đây, là tham gia hỗ trợ tinh thần để làm sao khuyến khích cái tinh thần của anh em. Nhưng đến nơi thì thật là hoàn toàn thất vọng. Tôi rất đau buồn từ đó đến giờ.

Tôi suy nghĩ từ nãy đến giờ. Ðây có lẽ cũng là trường hợp của Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống chẳng hạn. Ðấy là những cái nạn bán nước cầu vinh, đánh gục non sông đất nước trong hiện tại cũng như tương lai.

Cho nên vấn đề không thể bỏ qua. Nhân tiện việc này tôi đi chứng kiến tận nơi. Bây giờ tôi kêu gọi một lần nữa tất cả thân hào, nhân sĩ, trí thức, thanh niên trong nước cũng như ngoài nước phải có thái độ dứt khoát. Và phải làm thế nào, chứ không thể lép vế như thế này. Không lẽ 85 triệu dân mà cứ câm lặng như thế này? Họ đàn áp mà mình chịu? Vẫn như thế này mà ngậm miệng mãi? Thì phải nói. Nói và kết đoàn lại mà nói. Làm thế nào để biểu tỏ sức mạnh của toàn dân, chứ không chỉ là năm ba chục, năm ba trăm anh em sinh viên.

Ðó là một phần. Còn của toàn dân cũng có một phần. Do đó cho nên bây giờ phải có kế hoạch như tôi vẫn thiết tha kêu gọi đấy. Kế hoạch này không phải là mọi người đứng ra làm, mà như tôi đã nói, thân hào, nhân sĩ, trí thức là những người có trách nhiệm lớn, cột trụ của đất nước. Kế đó, là anh em thanh niên sinh viên là thứ hai, là thế hệ kế tiếp. Nhưng hiện tại là trách nhiệm của các thân hào, nhân sĩ, trí thức gọi là những người yêu nước phải làm cái gương cho thanh niên sinh viên để làm thế nào đòi lại cho bằng được Hoàng Sa và Trường Sa. Nếu mà không đòi được, như có lần tôi đã nói đấy, cứ như thế rồi họ lấn mãi. Từ Bắc cho đến Nam, từ Ải Nam quan mất rồi, rồi từ đó cho đến Cà Mau là mất hết đấy. Tôi xin một lần nữa, nhân dịp này kêu gọi tất cả mọi người Việt Nam trong nước và ngoài nước làm thế nào để mà cứu vãn tình thế này. Chứ không cứ như thế này nhục mãi, im lặng mãi, mà họ đàn áp là cứ cúi đầu mà chịu, thì rồi sẽ mất hoàn toàn đấy. Mất hoàn toàn rồi thì lần này không phải năm ba chục năm. Có thể sẽ kéo lại cái gương một nghìn năm đô hộ ngày xưa đấy. Ðó là cái nguy hiểm nhất cho giang sơn đất nước. Tôi kêu gọi những vị có trách nhiệm đối với non sông đất nước, với dân tộc trong tương lai. Xin cảm ơn cô Ỷ Lan.

Ỷ Lan: Xin cám ơn Ðại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 7 guests