Liều Thuốc Hồi Sinh Sau Ngày Quê Hương Bị Bức Tử
NGUYỄN HỮU CỦA
Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử ngày 30 tháng 4 năm 1975, như một giấc mơ kinh hoàng nhận chìm dân, quân, cán, chính, và gia đình xuống tận vũng bùn sâu của đau thương tủi nhục.
Những oan khiên nghiệt ngã đổ ập lên thân phận những con người bất đắc dĩ phải thua cuộc như vết thương lòng hằn sâu trong tâm thức, ba mươi ba năm trôi qua vẩn không nhạt nhòa.
Sự phản bội của những con người cuồng tín, vi phạm thô bạo hiệp định Paris khi chữ ký chưa ráo mực hòa cùng sự biểu đồng tình của các thế lực quốc tế chính là nỗi đau tận cùng ray rức trong tâm hồn của cả thế hệ sinh bất phùng thời trong một đất nước nhược tiểu, không riêng gì trong ngày quê hương bị bức tử mà kéo đài trong suốt quãng thời gian gần một phần ba thế kỷ đầy tủi nhục, lê lết những tấm thân tàn tạ qua các trại tù khổ sai được mệnh danh là “Trại Tập Trung Cải Tạo”.
Đau thương,tủi nhục, gia đình ly tán, gông cùm khổ sai, đói khát bệnh tật cùng với những trận đòn thù tra tấn dã man chính là thảm cảnh mà những con người yêu nước, yêu tự do phải gánh chịu từng ngày từng giờ kể từ “Tháng Tư Đen”bởi những con người cuồng tín.
Ba mươi ba năm trôi qua, biết bao nhiêu người đã âm thầm gục ngã trong rừng sâu núi thẩm, trong những trại tù khổ sai vì đói, vì bệnh, vì kiệt lực. Biết bao nhiêu người bỏ mình trên biển cả, tất cả đã tô đậm thêm cho hai chữ “Bất Khuất”của những con người yêu chuộng tự do, không chấp nhận chủ nghĩa phi nhân Cộng Sản.
Nén trầm hương xin được đốt lên trong ngày đất nước bị bức tử để tưởng niệm tất cả những người đã nằm xuống vì lý tưởng tự do cho quê Mẹ thân yêu.
Những tháng năm bị đày ải trong các trại Tù “Cải Tạo” của Cộng Sản là quãng đời đen tối đầy tuyệt vọng. Những tủi nhục đau thương cả thể xác lẩn tinh thần chất chồng lên những tấm thân gầy còm, cơm không đủ no, lạnh không đủ ấm,áo không đủ mặc,bệnh không có thuốc kéo lê tấm thân tàn trong chuỗi ngày đen tối như những bóng ma từ địa ngục, một địa ngục trần gian.
Nỗi đau tột cùng hòa với nổi tuyệt vọng tưởng chừng như đeo đẳng lên thân phận người “Tù Khổ Sai” cho đến cuối cuộc đời.
Nhưng Không!
Hồn thiêng sông núi không bỏ rơi những người con chân chính của Tổ Quốc, món quà quý lại được trân trọng trao tay cho những con người chịu nhiều bất hạnh: Chương trình H.O,LIỀU THUỐC HỒI SINH của “Người Cựu Tù Cải Tạo”
Đầu thập niên chín mươi, khi đợt “Cựu Tù Nhân Cải Tạo” đầu tiên đặt chân lên đất Hoa Kỳ trong Chương Trình Tái Định Cư mang tên H. O, nhiều ngưới còn xa lạ. Hầu hết đều thắc mắc với hai chữ H.O.
Một số người giải thích hai chữ H.O theo sự suy diễn của cá nhân bằng nhiều cách. Cũng có người cho là bí số của chánh quyền Cộng Sản dành cho chương trình định cư “Người Tù Cải Tạo” tại Hoa Kỳ. Nhưng qua nhiều cuộc tìm hiểu với một số giới chức chuyên môn, theo thiển ý của người viết, ý nghĩa đúng nhất nên dành cho hai chữ H.O là Humanitarian Organization, hoặc Humanitarian Operation, Tổ Chức Nhân Đạo nhằm giúp cho người “Cựu Tù Nhân Cải Tạo” được định cư tại Hoa Kỳ.
Con đường đi của “Người Tù Cải Tạo” từ các trại Tập Trung rải rác trên toàn Việt Nam, từ Nam chí Bắc,từ vùng cao nguyên đèo heo hút gió, rừng sâu núi thẳm, vùng đồng lầy nước mặn đến đất nước Hoa Kỳ là con đường nhiều chông gai, được đánh đổi bằng máu và nước mắt cùng với sự chờ đợi mỏi mòn,đôi lúc gần như tuyệt vọng.
Cuối cùng, Có những người may mắn đến được chân trời tự do. Có những ngừời kiệt sức gục ngả. Vĩnh viễn nằm lại trên quê hương để cho gia đình vợ con đến được bến bờ tự do, hầu có cơ hội tạo cho thế hệ tiếp nối một cuộc sống có đầy đủ quyền làm người.
“H.O” chính là Liều Thuốc Hồi Sinh, là niềm hi vọng vươn lên, là nguồn sống, là tin vui đến trong giờ tuyệt vọng của những “ Người Tù khổ sai Không Bản Án”, “Những Kẻ Tội Đồ” của chế độ Cộng Sản đang kéo lê chuỗi ngày buồn thảm, tuyệt vọng, đói ăn, thiếu mặc bị đối xử khắc nghiệt, trong các trại “Tù Cải Tạo”..
H.O giúp tăng thêm sức chịu đựng, vượt qua những khó khăn đầy tủi nhục của thân phận người tù khổ sai, luôn đối diện với hận thù, nhỏ nhen ích kỷ của những kẻ say men chiến thắng, tự xem mình là “Đĩnh Cao Của Trí Tuệ” ,thực chất chỉ là những sự dối trá,sắt máu, trống rỗng cùng với hận thù triền miên.
Nơi tận cùng của địa ngục trần gian, nơi mà ranh giới tử sinh chỉ là trong gang tấc của những trại tù khổ sai được ngụy trang bằng danh từ hoa mỹ “Trại Cải Tao”,từng giờ từng phút “Người Tù Cải Tạo” luôn phải đối diện với đói khát, bệnh tật, sống trong thiếu thốn triền miên với những trận đòn thù vùi dập thừa sống thiếu chết.
“Người Tù khổ sai” vẩn luôn kiên trì bám vào niềm hi vọng của tia sáng ở cuối đường hầm, dù mong manh, nhưng đã tạo được sức chịu đựng để mà sống, để vượt qua những đau thương, tủi nhục đầy oan nghiệt
Ngày còn ở trong “Trại Tập Trung Cải Tạo”, không biết dựa vào đâu mà hầu hết mọi người đều có một niềm tin vững chắc là những Người Tù Cải Tạo, những cựu quân, cán chính của chế độ Việt Nam Cộng Hòa đang bị tập trung “cải tạo” sẽ có một ngày được sang đinh cư tại Hoa Kỳ.
Từ niềm hi vọng mong manh nầy, một số người nhiều tưởng tượng thêu dệt thêm rất nhiều câu chuyện lý thú tưởng chừng như hoang tưởngù:
Nào là phái đoàn Hoa Kỳ sẻ vào từng trại tập trung lập danh sách Tù Nhân Cải Tạo rồi đưa thẳng ra phi trường sang My định cư, vợ con và gia đình sẻ được rước đi sau.
Nào là các tù nhân cải tạo sẻ được tập trung vào một khu “Kinh Tế Mới” riêng biệt được săn sóc đặc biệt, bồi bổ chu đáo hơn để Phái Đoàn Mỹ lần lượt đến bốc đi....Thậm chí còn thêu dệt thêm:Khi sang Mỹ chánh phủ Hoa Kỳ sẻ trả tiền “truy lãnh” từ ngày 30 tháng 4 năm 75, cấp nhà cửa khang trang, xe cộ đời mới, bóng loáng, thậm chí sẻ tặng cho mỗi gia đình 30.000 đô la như một sự đền bù cho những thiệt thòi mất mát mà người Cựu Tù Nhân phải chịu đựng trong những tháng năm lao tù nghiệt ngã ....v....v...
Đại loại có rất nhiều tin đồn, đôi khi không biết xuất xứ từ đâu, nhưng chung quy là sẻ được Mỹ rước sang định cư tại Hoa Kỳ với một cuộc sống vật chất sung túc. Đến bù cho những tháng ngày gian lao, tù đày khổ nhục, đói khát bệnh tật triền miên, bị đối xử phân biệt bởi những kẻ cùng màu da chủng tộc, thiếu vắng tình người nhưng dư thừa thù hận.
Những tin đồn, hoặc những tin phóng đại sau khi người nhà nghe lén được từ các đài phát thanh BBC, VOA ..được gia đình lén lút chuyển đến trong các buổi thăm nuôi ngắn ngủi làm nức lòng “Người Tù Cải Tạo”, ít ra cũng được một vài ngày. Mặc sức cho các “Thầy bàn” bất đắc dĩ có dịp bàn ra tán vào, thêm chút mắm, thêm chút muối để cho tin đồn thêm phần lý thú dễ tin hơn.
Mà quả thật, có rất nhiều người đặt hết lòng tin vào những tin đồn, những câu chuyện kể. Lúc nào cũng chuẩn bị trong tư thế sẵn sàng để trường hợp phái đoàn Hoa Kỳ bốc đi thình lình. Lại còn căn dặn vợ con trong những kỳ thăm nuôi, khi về nhà phải chuẩn bị đầy đủ, lúc nào cũng phải sẵn sàng để chờ đợi “Mỹ rước”.
Đôi lúc, có những tin đồn “Mỹ Rước” trong tuần tới, trong tháng tới, hoặc trễ lắm là đến cuối năm ....mọi việc thương lượng đã xong ....Mỗi “Người Tù Tù Cải Tạo” ra đi chính phủ Hoa Kỳ trả cho nhà cầm quyền Cộng Sản một chiếc máy cày, hoặc mười ngàn đô la cho mỗi đầu người .......Khi đến Mỹ sẻ được phái đoàn chính phủ Hoa Kỳ và những đồng hương đến trước tiếp đón trang trọng như tiếp đón các vị anh hùng trở về từ vùng đất chết... ...Một khu vực rộng lớn với những ngôi nhà khang trang, xây cất cùng một khuôn mẫu đúng theo tiêu chuẩn Mỹ đang sẵn sàng chờ đón những “anh hùng Việt Nam Cộng Hòa “ và gia đình sang ở.....Người Cựu Tù Cải Tạo sẽ có một cuộïc sống sung túc cả tinh thần lẩn vật chất đền bù cho những tháng năm chịu đựng, gian lao tủi nhục trong cảnh lao lung.
Thế rồi tuần tới qua đi, tháng tới cũng qua đi. Đến cuối năm nhìn lại vẫn còn thân phận “ Aùo vá vai, ngày cơm độn, tay lon “gô”, tay xẻng cuốc” ... “Quả bóng hi vọng” từ từ xẹp xuống để nhường chỗ cho những bộ mặt buồn thiu.........Từ hi vọng trở thành thất vọng. Và rồi niềm hi vọng lại tràn đầy khi có được những nguồn tin mới....từ những người thăm nuôi.
Nguồn hi vọng đã trở thành hiện thực như một giấc mơ khi chuyến H.O đầu tiên ra đi vào đầu năm 1990.Người viết và gia đình được ra đi trong chuyến H.O đầu tiên.
Bước lên phi cơ giã từ quê hương mà cứ ngỡ như còn nằm trong mơ. Tôi dụi mắt nhiều lần, nhìn vợ,nhìn con nhìn những người chung quanh để xem mình đang sống trong mộng hay thực. Cảm giác lâng lâng buồn, bùi ngùi, tiếc nuối nhìn lại quê hương lần cuối trong tâm trạng ”Một lần ra đi là vĩnh biệt”.
Giã từ, giã từ tất cả những kỷ niệm thân thương của tuổi học trò, giã từ những vết chân của người chinh chiến trên khắp bốn vùng chiến thuật, giã từ bạn bè còn ở lại hay đã vĩnh viễn nằm xuống trên mảnh đất quê hương. Tất cả đang lùi dần vào quá khứ, bánh xe thời gian rồi sẽ nghiền nát ra từng mảnh vụn để chỉ còn lưu lại trong ký ức.. Giã từ những tháng năm tủi nhục đầy oan nghiệt của thân phận tù đày khổ sai. Giã từ những lọc lừa giả dối của những con người giả nhân giả nghỉa tự nhận là “Đỉnh Cao của Trí Tuệ”, giã từ nhưng phân biệt đối xử nhiều nghiệt ngả đầy ấp hận thù.
Thế rồi những Người Cựu Tù Cải Tạo lần lượt lên đường định cư tại Hoa Kỳ ngày một đông.Cho đến nay có trên 300 ngàn người tức là vào khoảng gần 100 ngàn gia đình định cư rải rác trên toàn nước Mỹ. Từ những tiểu bang lạnh giá xa xôi, tuyết phủ quanh năm, những tiểu bang nóng cháy da người đến tiểu bang khí hậu ôn hòa không khác gì trên quê hương Việt Nam.
Một số đông những người H.O đến Hoa Kỳ đều nhiềù tuổi, hom hem, bệnh hoạn, già yếu hậu quả sau bao tháng năm bị đọa đày, tra tấn,hành hạ, khổ sai trong những trại tù cải tạo. Họ đến Hoa Kỳ với trái tim đầy ấp ân nghĩa dành cho những ân nhân có tấm lòng rộng mở và hai bàn tay .....trắng, vì tiền của dành dụm được bao nhiêu năm trời đã tiêu hao vào những giỏ thức ăn, thuốc men, nuôi người trong cảnh lao lung.
Dù đối diện bao nhiêu khó khăn, trở ngại trong việc hội nhập vào đời sống mới, từ sức khỏe, ngôn ngữ, phong tục, tập quán ....bên cạnh những sự phân biệt đối xử của một số ít “Người Đồng Hương” nhiều may mắn nhưng thiếu tình người, không vướng bận trong giờ phút cuối của cuộc chiến, nhanh chân di tản vào những ngày cuối tháng tư 1975, ăn nên làm ra đang là những chủ nhân ông của những cơ sở thương mại lắm tiền, nhiều của ....
“Người Cựu Tù” đến saụ vẩn luôn an phận, chấp nhận an vui với hoàn cảnh đang có, tự phấn đấu để vươn lên. Không mảy may buồn cho thân phận “Trâu chậm uống nước đục”. Còn gì hạnh phúc hơn, còn gì sung sướng hơn đang trong cảnh bất hạnh từ “ Địa Ngục Trần Gian” được nhiều bàn tay nhân đạo rộng mơ,û cứu vớt lên mảnh đất “Thiên Đàng Hạ Giới ” nơi mà biết bao nhiêu người luôn ấp ủ giấc mơ được đặt chân đến.
Một số đông may mắn có điều kiện về tuổi tác, sức khỏe, trình độ học vấn và nhứt là một ý chí cầu tiến vững chắc, đã đạt được đỉnh cao của con đường học vấn và sự nghiệp. Sớm hội nhập vào mọi lãnh vực sinh hoạt từ khoa học, văn hóa ,y tế, kỷ thuật, chính trị và xã hội. Đặc biệt hơn nửa thế hệ một rưởi,thế hệ thứ hai, và các thế hệ nối tiếp, đã không ngừng học hỏi phát huy về mọi mặt, đạt nhiều thành quả học vấn xuất sắc đáng hãnh diện, hiên ngang đi vào dòng chính trong mọi sinh hoạt xã hội, chính trị của Hoa Ky,ø góp bàn tay xây dựng và bảo vệ cho Quê Hương Thứ Hai.
Hầu hết xóa bỏ được mặc cảm tự ti, nhanh chóng hòa đồng cùng cộng đồng Người Việt hải ngoại, hội nhập vào sinh hoạt của người bản xứ. Tạo cái nhìn nhiều thiện cảm cho những người trước đây đã giang rộng cánh tay chào đón thân phận lạc loài của kiếp người tỵ nạn.
Cách đây không lâu tôi có đọc một bài viết với đề tựa “ Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh Thù Dai”. Khi Dương Nguyệt Ánh chân ướt chân ráo đặt lên đất nước Hoa Kỳ, nữ ký giả Shana Alexander trong một bài viết trên báo Newsweeks đã tỏ ý miệt thị, xem thường những con người bất hạnh đến từ đất nước nhược tiểu mang thân phận tỵ nạn. Xem người tỵ nạn Việt Nam như những con người bán khai, chưa hề tiếp cận với thế giới văn minh,và là gánh nặng cho đất nước cưu mang.
Hơn hai mươi năm sau cũng chính trên trang báo của tờ báo nầy, một bài viết của ký giả Georde Will đã hết lời ca tụng người đàn bà tỵ nạn Việt Nam được vinh danh, được trao tặng huy chương cao quý nhất của Hoa Kỳ từ những thành quả tuyệt vời trong lãnh vực quốc phòng cống hiến cho đất nước Hoa Ky, quê hương thứ hai.
“Bomb Lady “ biệt danh của Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh, trong lời phát biểu đã xin được dành Vinh Dự nầy cho hơn 58.000 chiến sĩ Hoa Kỳ đã anh dũng hi sinh trên chiến trường Việt Nam cùng vơi tất cả những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã và đang hi sinh cho lý tưởng tự do, đồng thời cũng để trả món nợ cho quê hương thứ hai, đền đáp lại thâm tình của người bản xứ đã mở rộng vòng tay cưu mang người tỵ nạn Việt Nam.
Thật cao quý thay! hãnh diện thay!
Người H.O giờ đây sau thời gian dài sinh sống trên quê hương thứ hai, cũng với sự chịu đựng phấn đấu không ngừng, cuộc sống tinh thần lẩn vật chất đã ổn định nhưng tâm hồn vẩn luôn khắc khoải nhớ về những nổi oan nghiệt mà người Cộng Sản đã phủ trùm lên quê Mẹ thân yêu. Những con người sinh bất phùng thời đã sống, đã hi sinh cho lý tưởng tự do, chấp nhận gian khổ cho sự an bình của quê mẹ thân yêu, nhưng mỉa may thay ....được quyền hi sinh nhưng...không được quyền chiến thắng...bất đắc dĩ phải làm kẻ thua cuộc.
Ba mươi ba năm đất nước bị bức tử, thời gian dài sống trong đau thương tủi nhục nhìn bọn người cuồng tín dìm đất nước vào vũng lầy tăm tối, nổi uất nghẹn luôn dâng trào trong tâm thức.
Máu cùng với mồ hôi và nước mắt của “Người Cựu Tù” đã chan hòa trên từng tấc đất của quê Mẹ thân yêu, từ những chiến trường khốc liệt đến những nhà tù khổ sai. Thử hỏi làm sao Người Cựu Tù không xót xa? làm sao có thể đứng yên nhìn quê Mẹ bị dày xéo dưới gót giày của bọn người cuống tín?.
Gần đây nhất bọn bá quyền phương Bắc chưa từ bỏ ý đồ xâm lược đã ngang ngược lấn chiếm biên giới, hải đảo cùng với sự hèn yếu khiếp nhược của nhà cầm quyền Cộng Sản dâng đất dâng biển cho ngoại bang tạo làn sóng căm phẫn trong mọi tầng lớp dân Việt từ trong nước ra đến hải ngoại, “Người Cựu Tù” lại dấn thân cùng sát cánh với những người trẻ hải ngoại, nhiều tâm huyết xuống đường gào thét,đấu tranh, mặc cho mưa gió, mặc cho thời tiết giá lạnh căm căm của những ngày mùa Đông, hay trong những ngày mưa gió bão bùng.
Nhìn những mái tóc điễm sương với nét mặt đăm chiêu, hằn nét căm giân,chầm chậm bước đi trong cái lạnh cắt da của thành phố mùa Đông, những gương mặt nhăn nheo sạm nắng biểu lộ một ý bất khuất, sắt đá lên án tham vọng bá quyền của bọn xâm lược phương Bắc cùng với sự khiếp nhược của nhà cầm quyền Cộng Sản hèn nhát dâng đất dâng biển để mưu cầu sự an bình cho Đảng lãnh đạo, không ai không xúc động, thầm cảm phục cho những con người yêu nước với bầu máu nóng đang sôi sục dù nơi tha hương vẩn không quên được nổi oan khiên đang ngày đêm dày xéo trên quê Mẹ.
Trước đây không lâu một người được xem là khoa bảng, con của một vị mục sư khả kính, trong một phút giây nông nổi qua bài viết đã công khai tỏ ra miệt thị “Người Cựu Tù”, những người đã hi sinh hạnh phúc cá nhân, hi sinh cả mạng sống để gìn giữ và bảo vệ sự an bình cho cá nhân anh ta cùng với gia đình. để cho anh ta có cơ hội đeo đuỗi con đường học vấn trở thành người khoa bảng.
Anh ta đâu biết rằng trong khi anh ta và gia đình đang trong cảnh chăn êm nệm ấm thì “Những Người Trai Thời Chiến ” từng giơ,ø từng phút phải đối diện với tử thần. Chịu đựng biết bao oan khiên nghiệt ngã giữa lằn ranh sinh tử... để rồi trở thành những “Người Tù Khổ Sai không bản án”chịu đựng biết bao đau thương, tủi nhục cả tinh thần lẩn thể xác sau khi quê hương bị bức tử.vào một ngày cuối “Tháng Tư Đen”, Và giờ đây, trong chốn yên bình trên Quê Hương thứ hai, Người Cựu Tù vẩn tiếp tục giữ vững ý chí bất khuất, gương cao ngọn cờ chính nghĩa của những con người yêu chuộng tự do.
“Người Trẻ Khoa Bảng” có bao giờ sống trong nỗi đau thương tủi nhục để cảm thông được nổi xót xa khi thấy quê Mẹ bị dày xéo? Có bao giờ sống giữa lằn ranh sinh tử để suy ngẫm về thân phận con người trong một đất nước chiến tranh mà lằn ranh sinh tử chỉ là trong gang tấc? Có bao giờ nhìn thấy những vành tang trắng quấn vội lên đầu những thiếu phụ nửa chừng Xuân hay những đứa trẻ ngây thơ vô tội đầy nghiệt ngã? hoặc nhìn thấy những bà Mẹ Già hom hem trong cảnh tre già khóc măng, sụt sùi ôm lấy xác con không toàn v ẹn trở về từ chiến trận?
H.O “Liều Thuốc Hồi Sinh” cho người “Cựu Tù Nhân Cải Tạo”
Quả thật không sai!. Liều thuốc hồi sinh đã đưa những mảnh đời tối tăm đầy tủi nhục từ một một chế độ khắc nghiệt,phân biệt đối xử, đầy ấp hận thù đến cuộc sống thăng hoa cả tinh thần lẩn vật chất. Đất nước của cơ hội, cũng như những cánh tay giang rộng của người bản xứ đã giúp cho những người “Cựu Tù” nhiều bất hạnh tìm lại được nguồn hi vọng của một cuộc sống nhân bản đầy đủ ý nghĩa của thân phận con người.
Nếu không có được liều thuốc hồi sinh, thử hỏi những số phận lạc loài tủi nhục của người Cựu Tù và gia đình rồi sẽ ra sao? Con cái họ có tránh khỏi được cuộc sống vất vưởng bên cạnh những đống rác thối tha, nhầy nhụa. Lấy gầm cầu làm nhà, dùng hè phố làm nơi nương tựa? hay phải lê la từng bước chân nhỏ bé đi bán từng tấm vé số nuôi mẹ nuôi em? Và chính bản thân người Cựu Tù âm thầm gục ngã vì lực mòn sức kiệt trong nỗi đau thương tủi nhục trên chính quê Mẹ thân yêu với thân phận của kẻ tội đồ.
Nói đến H.O, chúng ta không thể không nhắc đến người đàn bà có tâm hồn vĩ đại, vị ân nhân của các gia đình Cựu Tù Nhân được ra đi định cư tại Hoa Kỳ, người đã góp phần mang liều thuốc hồi sinh đến cho từng gia đình “Người Tù Cải Tao”
Người đó chính là Bà Khúc Minh Thơ, một tên tuổi đã hằn sâu vào ký ức của từng Cựu Tù Nhân Cải Tạo trong ba mươi ba năm qua.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 bà Khúc Minh Thơ đã âm thầm, đơn độc đấu tranh không mệt mỏi, không ngừng nghỉ để bênh vực cho số phận của những con người không may mắn, chịu nhiều thiệt thòi nhất với những tháng năm dài trải qua những trại lao tù khổ sai từ nam chí Bắc,từ đồng bằng đến vùng cao nguyên sỏi đá quanh năm thời tiết khắc nghiệt.
Tôi được hân hạnh gặp và tiếp chuyện với bà Khúc Minh Thơ khi bà từ Virginia về Hungtington Beach, Orange County, California để chịu tang người Cậu chồng, bác sĩ Nguyễn Văn Ngọc nguyên Giám Đốc bệnh viện Đa Khoa Cần Thơ. Bà Khúc Minh Thơ với dáng người phúc hậu, tuổi đời trên lục tuần, giọng nói nhỏ nhẹ, cởi mở đã dành cho tôi buổi nói chuyện hơn 15 phút trong giờ giải lao.
Với giọng nói trầm ấm, chậm rãi bà bày tỏ sự cảm thông với nổi bất hạnh của những người đã trải qua những năm tháng đọa đày, tủi nhục trong các trại tù cải tạo. Cảm thông với gánh nặng gia đình nặng trĩu trên đôi vai của những người vợ trẻ thay chồng gánh vác gia đình. Thay chồng nuối nấng đàn con. Vừa nuôi chồng trong chốn lao lung vừa chăm sóc các con thơ mà tương lai thì luôn mịt mù,đen tối. Vừa phải đấu tranh với những khó khăn nhục nhằn, những cám dỗ vật chất để hi vọng, chờ đợi một ngày đoàn tụ thật mong manh.
Bà Khúc Minh Thơ đã mang lấy nổi bất hạnh khi tuổi đời vừa tròn 23.
Phu quân bà, Đại Úy Nguyễn Đình Phúc hi sinh vì tổ quốc vào năm 1961. Trong một chuyến công tác tại quận Bình Minh tỉnh Vĩnh Long Đại Úy Phúc bị Việt Cộng phục kích, tử trận. Sáng sớm hôm sau được tin báo bà Khúc Minh Thơ vội vã lên đường đi nhận xác chồng. Lê thê, lếch thếch, tả tơi, tóc tai rũ rượi, bà ôm thi thể chồng khóc lóc thảm thiết.
Như cảm thương cho người vợ tuổi thanh xuân sớm trở thành quả phụ, máu từ miệng Đại Úy Nguyễn Đình Phúc bỗng nhiên tuôn trào xối xã. Bà ghì chặt xác chồng mặc cho chiếc bào thai 6 tháng đang cựa quậy trong bụng mẹ. Hai bàn tay đẫm máu, bà đưa tay khẻ vuốt đôi mắt đang mở trừng của chồng với lời thầm khấn nguyện sẻ cố nuôi dưỡng các con nên người hữu dụng. Như cảm thông được lời khấn nguyện, đôi mắt đại úy Nguyễn Đình Phúc từ từ, vĩnh viễn khép lại cùng với dòng máu tươi từ miệng, từ mũi chảy dài xuống .
Trước năm 1975 bà Khúc Minh Thơ làm công chức Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa tại Phi Luật Tân. Sau năm 1975, bà tiếp tục làm việc tại Manila để có phương tiện nuôi nấng các con.
Sau khi Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử. Mặc dù cuộc sống tạm ổn định về vật chất nhưng bà vẩn luôn mang trong lòng nổi ray rức về số phận của những quân, cán, chính đã phục vụ trong trong chế độ Việt Nam Cộng Hoà, và hiện đang bị đày ải trong các trại tập trung cải tạo. Bà quyết tâm, đấu tranh không ngừng nghỉ để tranh giành quyền lợi cho những kẻ bất hạnh đang trong cảnh lao lung.
Cuộc đấu tranh thật cam go với biết bao thử thách. Nhiều lúc bà cảm thấy thật chán nản muốn bỏ cuộc . Nhưng rất may còn có những người tâm huyết luôn an ủi khuyến khích và nâng đỡ tinh thần cho bà. Người đó chính là ông Robert Funseth và ông bà Shep Lowman. Trước sự ủng hộ nhiệt tình cuả những người nhiều tâm huyết, những đồng nghiệp cùng làm việc tại Bộ ngoại giao Hoa Kỳ và cũng là người bạn thân thiết với Hội Gia Đình Tù Nhân Chính Trị Việt Nam do bà là Chủ Tịch sáng lập, bà tự nguyện quyết tâm giữ vững tinh thần vượt qua mọi khó khăn trở ngại đeo đuỗi cuộc đấu tranh cho đến khi đạt được thành quả.
Năm 1989 tổng thống George Bush – Bush cha- người kế nhiệm tổng thống Ronald Reagan giữ lời hứa tiếp tục giúp đỡ cho các tù nhân chính trị Việt Nam, bà Khúc Minh Thơ càng lên tinh thần tiếp tục lao vào cuộc đấu tranh không mệt mỏi.
Ngày 30 tháng 7 năm 1989, ngày lịch sử đáng ghi nhớ của các Cựu Tù Chính Trị Việt Nam. Ông Robert Funseth chính thức bay sang Hà Nội ký kết văn kiện đầu tiên cho ba ngàn cựu Tù Nhân Chính Trị và gia đình được đi đợt đầu tiên định cư tại Hoa Kỳ vào mùa Giáng Sinh 1989.
Trong thời gian đấu tranh của bà Khúc Minh Thơ, một sự kiện làm xúc động không ít. Ngày 8 tháng 12 năm 1988, bà Khúc Minh Thơ là một trong hai người khách cuối cùng được tổng thống Ronald Reagan tiếp kiến vào những ngày cuối của nhiệm kỳ tổng thống thứ hai tại Tòa Bạch Ốc Washington D.C Người kia là ông Govbachev Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Liên Xô.
Trong buổi tiếp kiến, bà Khúc Minh Thơ đã nhân danh Chủ Tịch Hội Gia Đình Tù Nhân Chính Trị Việt Nam đến ngỏ lời cám ơn Tổng thống Ronald Reagan đã chấp thuận quyết định cho Cựu Tù Nhân được sang định cư tại Hoa Kỳ.
Bà Khúc Minh Thơ bày tỏ nỗi lo âu trước sự ra đi của tổng thống Reagan vì mãn nhiệm kỳ. Bà lo sợ rằng chương trình cứu giúp cựu Tù Nhân Chính Trị Việt nam bị hủy bỏ bởi vị tổng thống kế nhiệm. Bà nhìn tổng thống Reagan với đôi mắt đẫm lệ, tha thiết:
- Xin tổng thống và nước Mỹ đừng bỏ rơi những Tù Nhân Chính Trị Việt Nam Cộng Hòa.
Tổng thống Reagan nhìn bà bằng cặp mắt cảm thông đầy xúc động. Ông tiến đến đặt nhẹ bàn tay lên bờ vai mảnh mai của bà rồi chẩm rải nói:
- Những người “Anh Hùng Việt Nam”sẽ không bao giờ bị bỏ quên.
Nghe xong câu nầy bà Khúc Minh Thơ không nén được xúc động, bùi ngùi nước mắt tự dưng chảy dài ...
Tổng thống Reagan nhìn vào mắt bà với vẻ mặt cương quyết, bước tới sát bên đặt hai tay lên hai bờ vai nói:
- Chúng tôi sẽ không bao giờ bỏ quên những người anh hùng Việt Nam.
Nghe xong câu nầy bà Khúc Minh Thơ nước mắt giàn giụa, chân run run đứng không vững. Tổng thống Reagan đỡ bà ngồi vào chiếc ghế đối diện, rồi nhìn bà bằng cặp mắt thật hiền từ nhận hậu, chậm rãi nói tiếp:
- Dù tôi không còn tại chức nhưng những người kế nhiệm tôi sẻ tiếp tục lo cho các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, sẻ đấu tranh liên tục để họ được đối xử công bằng và hợp lý.
Gương mặt bà Khúc Minh Thơ trở nên vui, bà nhìn tổng thống Reagan với đôi mắt tràn đầy hi vọng như thầm nói lên lời cảm ơn chân thành. Và thời gian không lâu lời hứa của tổng thống Reagan đã trở thành hiện thực.
Người Cựu Tù luôn mang trong lòng niềm tri ân sâu sắc đối với bà Khúc Minh Thơ, ông Robert Funsett, ông bà Shep Lowman cùng những con người quả cảm, có tấm lòng vĩ đại chấp nhận đấu tranh không mệt mỏi, kiên trì cho tương lai những con người nhiều bất hạnh,Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam. Đặc biệt, tổng thống Ronald Reagan.
H.O, Liều Thuốc Hồi Sinh, đưa những mảnh đời tăm tối, ngụp lặn trong vũng lầy nhầy nhụa của chế độ sắt máu bạo tàn kể từ sau ngày đất nước bị bức tử đên với xã hội văn minh loài người.
Gần hai mươi năm trôi qua, kể từ khi “Người Cựu Tù” đầu tiên đặt chân đến Hoa Kỳ. Người cựu tù nhân chính trị của chế độ Cộng Sản dù đã thoát ra khỏi những đau thương tủi nhục của một chế độ độ cai trị sắt máu đầy thù hận, đã nhanh chóng hội nhập vào quê hương thứ hai, nhưng nổi xót xa vẫn chưa nhạt nhòa trong tâm thức, vì hơn tám mươi triệu đồng bào vẩn còn đang rên xiết dưới bao đau thương tủi nhục,áp bức, bất công của một thiểu số người cai trị cuồng tín giáo điều.
Sự nhu nhược hèn yếu của nhà Cầm Quyền Cộng Sản trước mưu đồ xâm lược và chủ nghĩa bá quyền của bọn xâm lược phương Bắc đã tỏ rõ sự yếu kém cố hữu chấp nhận mang thân làm nô lệ bọn xâm lược phương Bắc nhằm mưu cầu sự an bình cho một thiểu số lãnh đạo.
Ngọn lửa uất hận của đau thương tủi nhục âm ỉ từ ba mươi ba năm qua đã bùng cháy mãnh liệt trên nhiều nơi, trong nhiều lãnh vực, dưới nhiều hình thức từ trong nước với sự hỗ trợ tích cực của hải ngoại.Người dân trong nước đã có đủ bình tỉnh, khôn ngoan và can đảm đứng lên đối diện với bạo quyền Cộng Sản đòi hỏi tự do, dân chủ và nhân quyền bất chấp những sự đe doa. Giai cấp công nhân, thành phần nòng cốt của chủ nghĩa Cộng Sản cũng đã mạnh dạn đứng lên đòi hỏi thực thi sự công bằng qua những cuộc đình công từ Nam chí Bắc.
Tuổi trẻ thuộc các thế hệ tiếp nối từ trong nước ra đến hải ngoại đã chấp nhận dấn thân, hăng hái nhập cuộc, công khai bày tỏ sự chống đối bọn xâm lược phương Bắc Nhiều thế hệ già trẻ cùng sát cánh bên nhau hướng về mục tiêu quang phục quê hương, giải thể chế độ bạo tàn Cộng Sản.
“Người Cựu Tù” vẩn mang trái tim rực lửa, đấu tranh không khoan nhượng, sát cánh với mọi từng lớp đấu tranh. Dù tuổi đời cao, bệnh tật triền miên do ảnh hưởng của những trận đòn thù cùng những tháng năm khổ sai đôi khi có làm trở ngại bước chân. Nhưng ý chí sắt đá cho ngày quang phục quê hương vẩn không gì lay chuyển được.
Ba mươi ba năm sau ngày quê hương bị bức tử, ngọn lửa bất khuất của những con người yêu chuộng tự do, dân chủ và nhân quyền vẩn âm ỉ cháy và tiếp tục chuyền tay cho các thế hệ nối tiếp,
Cuộc chiến đấu của những con người chân chính chắc chắn sẻ đạt được mục tiêu cuối cùng: Giải thể chế độ bạo quyền Cộng Sản.
NGUYỄN HỮU CỦA