Bình Luận , Quan Điểm

thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Thảm sát ở Huế và lương tâm dân tộc chúng ta

Ðoàn Thanh Liêm

Ðón Tết Tân Mão 2011, bà con ta người gốc Huế lại phải chuẩn bị đốt nén nhang trước bàn thờ người trong thân tộc của mình
mà đã bị thảm sát oan uổng dịp Tết Mậu Thân năm 1968.

Image
Huế sau cuộc thảm sát Tết Mậu Thân 1968. (Hình: thienlybuutoa.org)



Các nạn nhân bị chết đau đớn, tức tưởi đó là cha mẹ, ông bà, cô dì, chú bác, cậu mợ cũng như anh chị em ruột thịt, cùng bà con khác trong dòng họ nội ngoại của mình. Người viết bài này gốc gác ở đất Bắc, nên không có một bà con thân tộc nào, cũng như bạn hữu thân thiết nào mà nằm trong danh sách các nạn nhân đó. Dầu vậy, tôi cũng xin được chia sẻ với nỗi đau đớn khôn nguôi của các gia đình nạn nhân trong dịp tưởng nhớ vào năm thứ 43 này (1968-2011).

Và bài viết này được viết ra, không hề để bày tỏ sự giận dữ hận thù nào của bản thân mình đối với các người đã gây ra bao nhiêu cái chết tức tưởi đau đớn nói trên. Mà dù là một luật gia, trong bài viết này, tôi cũng không muốn đặt vấn đề thảm sát nói đây dưới góc độ pháp lý, cụ thể như vận động tổ chức một phiên tòa xét xử tội ác này theo luật hình sự quốc tế, như đã có một vài người đã gợi ý từ ít lâu nay, với lý do rằng: đây là một thứ tội chống nhân loại, tội diệt chủng (crime against humanity, genocide), nên không thể để cho chìm xuồng với nguyên tắc “thời hiệu tố quyền bị triệt tiêu” (statute of limitations). Bởi lý do thực tế là việc vận động như vậy sẽ rất khó có kết quả. Ngay cái phiên tòa để xử tội “diệt chủng của Khmer Ðỏ ở Cambodia,” dù đã khởi sự từ mấy năm nay, thì cũng chưa thấy tiến triển ra làm sao cả.

Vậy thì đúng như tiêu đề của bài viết, đây là một “vấn đề lương tâm” đặt ra cho toàn thể dân tộc Việt Nam chúng ta. Nói cho rõ hơn, thì là cần phải tiến hành một cuộc “cật vấn lương tâm” (examen de conscience như người Pháp thường nói), để suy xét, tra vấn tận đáy lòng của mỗi người về cái “tội ác tày trời” trong vụ thảm sát đến trên 6,000 người dân vô tội hồi Tết Mậu Thân năm 1968 ở Huế vào lúc đó.


A. Tóm lược nội vụ


Ðã có quá nhiều sách báo viết về chuyện này, từ phía các nhà báo, nhà nghiên cứu, cũng như những chứng từ của người trong gia đình các nạn nhân, của cơ quan nhà nước của Việt Nam Cộng Hòa, của người Mỹ thuộc đơn vị quân sự hay dân sự. Tất cả đều “chúng khẩu đồng từ,” đưa ra các số liệu chính xác về sự tàn bạo trong các vụ “giết người hàng loạt” do quân đội và cán bộ cộng sản gây ra trong thời gian 26 ngày chiếm đóng thành phố Huế vào dịp Tết đó. Xin chỉ ghi lại thật ngắn gọn như sau:

1. Thành phần đội quân cộng sản tiến đánh và chiếm giữ thành phố Huế gồm khoảng trên dưới 10,000 người với quân tại địa phương và bộ đội chính quy từ ngoài Bắc vào. Số cán bộ nòng cốt nằm vùng sẵn tại Huế được ước lượng vào khoảng vài ba trăm người.

2. Việc thanh toán các nạn nhân được tiến hành giai đoạn đầu ngay sau khi phe cộng sản chiếm giữ được thành phố, họ đã ra lệnh xử tử hình các nhân viên của Việt Nam Cộng Hòa theo danh sách “Sổ đen” đã lập sẵn. Có chừng mấy trăm người bị thanh toán trong đợt này, ngay tại khu vực xung quanh nội thành của Huế.

3. Trong giai đoạn sau cùng, sau khi quân cộng sản phải rút lui khỏi thành phố, thì có đến nhiều ngàn người “bị giết tập thể” và được chôn vùi tại nhiều nơi hẻo lánh cách xa thành phố Huế đến 20-30 cây số. Xác các nạn nhân chỉ được tìm thấy sau nhiều tháng vào cuối năm 1968 hay năm 1969.

4. Tổng số người bị giết và mất tích là trên 6,000. Mà cho đến năm 1975, thì thân nhân mới chỉ nhận diện được cỡ 3,000 tử thi. Dĩ nhiên là có một số người bị thiệt mạng vì lý do chiến trận do bị bom đạn lạc. Nhưng đa số là do bị cán bộ cộng sản ra tay giết chết rất tàn ác dã man, cốt ý nhằm “để phi tang,” vì các cán bộ này đã bị lộ diện trong thời gian công khai ra mặt nắm giữ quyền sinh sát tại Huế.


B. Vấn đề quy trách nhiệm về cuộc thảm sát này


Theo nguyên tắc “tội quy vu trưởng,” thì giới lãnh đạo chóp bu của đảng cộng sản ở Hà Nội phải chịu trách nhiệm chính yếu về cuộc thảm sát này, bởi lý do là chính họ đã ra lệnh và chỉ huy toàn bộ chiến dịch “Tổng Tấn công và Tổng Nổi dậy” này. Người đứng đầu hồi đó là Tổng Bí Thư Lê Duẫn, rồi phải kể đến Bộ Trưởng Quốc Phòng Võ Nguyên Giáp, Bí Thư Trung Ương Cục Miền Nam Phạm Hùng v.v...

Tiếp theo là trách nhiệm của Ban Chỉ Huy Chiến Dịch tại địa phương, những người này đều do Hà Nội trực tiếp sắp đặt, cắt cử. Hai cán bộ cao cấp phụ trách chỉ huy mặt trận ở Huế là Lê Chưởng và Lê Tư Minh.

Sau cùng là trách nhiệm của những cán bộ cộng sản “nằm vùng” sẵn tại địa phương. Họ có chừng vài ba trăm người, mà đã trực tiếp ra tay sát hại đồng bào mà cũng là đồng hương xứ Huế của chính họ. Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Ðắc Xuân, Tống Hoàng Nguyên, Nguyễn Ðình Bảy Khiêm v.v... là những người nòng cốt đi săn lùng những nạn nhân để thanh toán.

Vụ việc thảm sát này quá trầm trọng, chắc chắn là giới lãnh đạo ở thượng tầng của đảng cộng sản ở Hà Nội đã phải bàn bạc, thảo luận và đưa ra kết luận về nội vụ. Nhưng vì lý do chiến tranh vẫn tiếp diễn, cho nên họ không hề chính thức công bố về chuyện này. Mà cả cho đến nay, sau trên 40 năm, chưa bao giờ giới lãnh đạo cộng sản chịu lên tiếng “nhận trách nhiệm về vụ thảm sát này.” Do đó, ta cũng đừng trông mong rằng sẽ có người trong hàng ngũ lãnh đạo mà vì bị lương tâm dày vò, thôi thúc, nên sẽ tự nguyện đứng ra tiết lộ “bí mật của đảng cộng sản” liên hệ đến vụ thảm sát này.
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

60%: Không có BBC, không sao!
WESTMINSTER (NV) - Sau hơn nửa thế kỷ được nhiều thế hệ người dân Việt Nam đón nghe trên làn sóng ngắn, nhiều khi phải nghe lén vì bị nhà cầm quyền cộng sản cấm, đài BBC Việt ngữ sẽ ngưng phát thanh vào tháng 4 năm nay. Thay vào đó BBC sẽ dồn hết công sức vào trang web của đài.
Image
Sau 6 ngày mở diễn đàn trên trang nguoi-viet.com, 469 phiếu cho rằng ngưng phát thanh BBC không thiệt thòi gì.
Số người cho rằng có thiệt thòi là 290 phiếu, còn 12 phiếu có ý kiến khác.
Câu hỏi được trang web Người Việt Online đặt ra: “BBC Việt ngữ ngưng phát thanh, có thiệt thòi cho thính giả Việt Nam không?” Ðặt ra câu hỏi này, Người Việt Online mời gọi mọi người tham gia trả lời, góp ý, ở trang mạng nguoi-viet.com.

Hai ký mục gia được mời góp ý là ông Lê Diễn Ðức và ông Nguyễn Gia Kiểng. Ông Lê Diễn Ðức là một nhà báo hiện có blog trên trang web của đài Á Châu Tự Do (RFA). Ông cũng từng là tổng biên tập báo Ðàn Chim Việt. Ông Nguyễn Gia Kiểng , từng là thứ trưởng kinh tế VNCH, hiện là một trong những người lãnh đạo Tập Hợp Dân Chủ Ða Nguyên có trụ sở tại Paris, Pháp.

Ông Nguyễn Gia Kiểng cho rằng “Sự kiện BBC ngừng phát thanh tiếng Việt phải được xem là một mất mát quan trọng.” Ông không thấy trang web BBC có thể có ảnh hưởng như đài phát thanh BBC, vì “không phải người Việt Nam nào cũng biết sử dụng Internet.” Mất đi chương trình phát thanh BBC, theo ông, là “mất đi một tiếng nói không lệ thuộc, hoặc không quá lệ thuộc chính quyền cộng sản.”

Ông viết thêm, “Tôi đã được nghe nhiều phê phán, đôi khi khá gay gắt, đối với chương trình Việt ngữ BBC. Nhưng điều chắc chắn là, một mặt, chương trình này dù không có lợi đi nữa không gây thiệt hại gì cho cuộc vận động dân chủ cả và, mặt khác, chính quyền Cộng Sản Việt Nam chắc chắn sẽ không dung túng một cơ quan truyền thông như thế ở trong nước; vậy phải hiểu rằng, không nhiều thì ít, chương trình Việt ngữ BBC cũng bất lợi cho chế độ.”

Ông Lê Diễn Ðức thì cho rằng “BBC Việt ngữ ngưng chương trình phát thanh từ tháng Tư... không thiệt hại gì cho thính giả Việt Nam cả.” Ðối với ông, “110 ngàn lượt người nghe phát thanh so với 20 triệu lượt người truy cập trang web mỗi tháng” là lý do rất chính đáng để thay thế đài phát thanh bằng trang web.

Ông tin vào sức mạnh của Internet. So sánh với Trung Ðông, ông viết: “Inetrnet đang là phương tiện vô cùng hiệu quả trong các cuộc tranh đấu dân chủ. Những gì đã và đang xảy ra tại Tunisia, Ai Cập và các nước độc tài Ả Rập khác, chứng minh rất rõ ràng. Hàng trăm ngàn người trong giây lát đã nhận được thông tin, hình ảnh, cổ vũ nhau hành động, xuống đường.”

Sau 6 ngày mở diễn đàn trên trang nguoi-viet.com, gần 61% (469 phiếu) cho rằng ngưng phát thanh BBC không thiệt thòi gì. Số người cho rằng có thiệt thòi là hơn 37.5% (290 phiếu), còn 1.5% (12 phiếu) có ý kiến khác.

Ðáng chú ý là trong số 61% nói ‘không thiệt thòi’ thì rất nhiều ý kiến cho rằng Ban Việt ngữ BBC ‘thân Cộng’.

Ðộc giả có tên là Quốc Việt nhận xét thẳng thắn, “BBC ngưng phát thanh có lợi cho thính giả Việt Nam bởi vì cái đài này thỉnh thoảng là cái loa của Việt Cộng”.

Ðộc giả ‘Le Xuan Loc, USA’ thì gay gắt hơn, ‘BBC là cái loa của Cộng Sản Hà Nội vì có luận điệu thân Cộng và những người Việt Nam làm việc cho đài đều xuất phát từ Hà Nội. Như vậy BBC ngưng phát thanh là phải rồi, có gì đâu mà phải thiệt với thòi’.

Dù số độc giả nói ‘có thiệt thòi’ chỉ chiếm 39.06%, nhưng nhiều ý kiến bày tỏ rất luyến tiếc chương trình này. Chẳng hạn độc giả ‘CharlieDoan Arizona’ viết: “Ðây là tiếng nói trung thực nhằm mở mắt cho những người dân sống trong chế độ CS bưng bít thông tin được sáng mắt mà nay chúng tôi không được nghe nữa thì quả là thiệt thòi cho người dân trong và ngoài nước.”

Còn độc giả Thu Le thì ngắn gọn, “Mất một tiếng nói tự do!”

Ðộc giả trung dung hơn thì nói, “Theo trào-lưu tiến hóa của toàn cầu thì việc ngưng sóng phát thanh radio để phát triển mở rộng việc nghe đài qua các mạng lưới trên máy vi-tính là chuyện phải làm.”

Việc đóng cửa chỉ thiệt thòi cho người dân trong nước được độc giả ‘Long Ma’ chia sẻ, “hệ thống Internet trong nước, nhà nước kiểm soát quá chặt chẽ. Nhất là khó lòng cập nhật tin tức từ các quán Internet. Chỉ còn có nước nghe radio. Nếu đài BBC tiếng Việt không còn. Ðó là sự thiệt thòi nhất đối với người trong nước thôi.”

Trong khi đó, độc giả ‘Mẫu Ðơn’ thì coi việc nghe chương trình phát thanh của BBC Việt ngữ là một hoài niệm.

Ðộc giả này viết, “BBC Việt ngữ đã gắn liền với cuộc sống của gia đình tôi từ những ngày trước năm 1975 và sau tháng 4 năm 1975. Sau tháng 4 năm 1975, BBC va VOA là những gì quý báu để gia đình chúng tôi được nghe tin tức từ thế giới bên ngoài, giống như một luồng gió mát trong những cơn u sầu của tình hình đất nước. Bây giờ, dù tôi có thể nghe được trên Internet nhưng nếu nghe từ radio thì vẫn tiện và tốt hơn.”
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Cuộc đời như mây nổi, như gió thổi, như chiêm bao...

Con người chỉ là hạt cát trong vũ trụ. Tuy có hạt cát lớn, hạt cát nhỏ, hạt vàng, hạt đen, nhưng tất cả vẫn chỉ là những hạt cát yếu đuối nằm trăn trở dưới những cơn bão của thời gian. Chỉ một mũi kim nhỏ xíu cũng đủ cất đi một sinh mệnh. Một cơn gió nhẹ, một đầu đạn bằng ngón tay, một luồng khí nóng, một tiếng rên nhỏ của đại dương, một chuyển mình của vỏ quả đất, một sự cọ sát của hai thềm lục địa.. là có thể cả chục, cả trăm ngàn sinh mệnh bốc hơi...
Có ai nhớ bệnh đậu mùa, từ 430 trước Thiên Chúa đến 1979 đã cướp đi hơn 300 triệu mạng người? Nguyên trong thế kỷ 18, Âu Châu đã chết 60 triệu người vì căn bệnh này.
Spanish Flu giết gần 100 triệu người trong 2 năm 1918-1919.
Dịch Hạch giết khoảng 75 triệu người trong thế kỷ 14.
Sốt rét, cho tới nay, vẫn giết khoảng 2 triệu người mỗi năm
Còn bệnh Aids???? Khoảng chục triệu người đã chết và sẽ chết....
Về những nạn nhân của các chế độ độc tài Cộng Sản: hơn 30 triệu người, hơn 1/3 dân số Việt Nam bây giờ, hơn dân số của Việt Nam Cộng Hòa trước 1975, đã bị Trung Cộng giết chết. Liên Xô giết hơn 10 triệu người.
Thế chiến thứ 2 : 50 triệu....Những người chết này có phải toàn là người hãnh tiến, ấu trĩ, hoang tưởng (như những kẻ "Cực chẳng đã" đang múa cây kiếm cùn và rỉ trên diễn đàn) không?
Thưa không, trong số mấy trăm triệu người đó, có hàng triệu triệu thiên tài, nhân tài về mọi mặt khoa học, nhân văn, hội họa, kiến trúc... Có những người chỉ biết yêu mà không biết ghét. Họ đã sống một đời sống tốt đẹp, đem lại những phát minh, phát triển lớn lao cho đời sống nhân loại.. Và, họ đã biến mất khỏi mặt đất này, một cách đau đớn.
Linh hồn của họ, tư tưởng của họ, những đóng góp của họ cho thế giới.. giờ ở đâu? Một thế giới khác? Đầu thai trở lại làm người? Làm các con vật khác?
Không ai có thể chứng minh rõ ràng bằng cách phương tiện khoa học hiện đại, bằng máy móc tối tân.
KHÔNG MỘT AI CẢ!
Chỉ có những suy tư, suy luận, phán đoán và Niềm Tin của mỗi người tùy theo Tôn giáo mà họ theo đuổi và một số những dấu hiệu, những thay đổi lạ thường mà người có đức tin gọi là "phép lạ - miracle" mà nhân loại ghi chép được.
Vậy, những lời phỉ báng đức tin của người khác, những sự miệt thị tư tưởng của người khác, những lên án dựa trên khả năng và sự học của mình một cách chủ quan, có thật là những giá trị mà người khác phải kính phục không?
THƯA: KHÔNG! Cho dù người lên án có học vị, có thể là bác sĩ, thủ đắc một loại bằng cấp chuyên môn về cách điều trị một loại bệnh nào đó, hay tiến sĩ, một bằng cấp chuyên môn về suy luận theo một hướng nào đó, không phải tất cả sự việc trên đời, như tiến sĩ về Sử thì chỉ biết Sử, tiến sĩ về văn chương thì chỉ biết về văn chương... họ có quyền để xỉ vả, lên án, thậm chí chửi bới bằng thứ văn chương bình dân của những người không cần học mới biết chửi không?
THƯA: KHÔNG!
Những kẻ lên án, chửi bới, mạ lị người khác đó có thể học nhiều nhưng chưa thấm một nguyên lý này: Ngậm máu phun người, mồm mình bẩn trước!
Khi đặt bút viết một câu chửi người khác, ngay giây phút đó, ngón tay người viết đã hoen ố rồi!
Có bằng cấp mà còn vô giá trị như thế, nữa là kẻ chỉ có một cây kiếm cùn và rỉ, run rẩy như con giun...
Khi đặt bút viết những lời huyên hoang, cho rằng mình "cực chẳng đã" mới phải viết ra, vì thiên hạ ngu quá, mình phải dậy dỗ chúng, kẻo chúng đâm đầu vào tường mà chết hết, thì ngay giây phút đó, người viết đã biến hình thành một con đà điểu, chỉ biết rúc đầu vào cát mà sướng khoái một mình.
Trong khi ấy, dân tộc Việt Nam đang bấp bênh trên một vực thẳm của sự mất nước, đang chầm chậm bị Hán Hóa; văn hóa Việt Nam sắp tiêu vong; con người Việt Nam đang biến thành những kẻ vô cảm; Tôn giáo Việt Nam đang dần trở thành những con rối trình diễn mầu sắc rực rỡ dưới bàn tay giật dây của Đảng Cộng Sản...
Vậy mà ở hải ngoại, có rất nhiều các con đà điểu như thế, có thể có bằng cấp, có thể không, vẫn tự tin rằng mình "cực chẳng đã" mởi phải lên tiếng, mà đã lên tiếng thì chửi bới loạn xà ngầu, phê bình loạn xà ngầu, ra cái điều ta đây "trên thông thiên văn, dưới lầu địa lý", mà không hề tiếp tay, tiếp sức với sư tranh đấu gần như tuyệt vọng của dân tộc! Họ không biết rằng họ chỉ là những kẻ mù sờ voi, vớ được cái chân thì cho rằng con voi nó xù xì mà thẳng, nếu vớ được cái bộ phận kia thì lại cho rằng con voi nó dài dài như cái cổ tay mà cong cong...
Than ôi! Lịch sử Việt đang tàn tạ vì những con người này! Dân tộc Việt không những không còn trông mong gì ở những con người này mà trái lại, chỉ vi những sự quậy phá liên tu bất tận của họ trên phương diện tư tưởng, mà làm cho bao nhiêu người thầm lặng khác phải lánh xa các công cuộc chiến đấu cho một nước Việt Tự Do Tôn Giáo, Độc Lập và phú cường!
Than ôi! Những hạt cát đen trong cái mênh mông của vũ trụ! Đến bao giờ thì mới tỉnh ngộ mà nhận ra rằng mình là người Việt được may mắn hơn 80 triệu người khác, vì thế phải tiếp tay với 80 triệu người kia, tìm tương lai cho quê hương?
Đến bao giờ thì họ mới nhận ra rằng số phận của họ sắp sửa kết thúc, đất thì gần hơn trời, cho nên phải tập trung sức tàn lại cho quê hương, để khi nhắm mắt còn chút hãnh diện là mình đã làm được một chút việc xứng đáng lưu danh thiên cổ....

Vài lời ngậm ngùi trong ngày đầu năm. Xin thứ lỗi nếu có điều chi, vì xúc động, mà sai lầm...

Chu tất Tiến.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Con trai các nhà độc tài khiến cha mất chức

Stephen Kinzer/Daily Beast
V.Giang chuyển ngữ


NEW YORK - Con trai của nhà độc tài Qaddafi ở Libya bị cho là có liên hệ đến buôn lậu võ khí. Hai người con trai của Saddam là những kẻ hiếp dâm và tra tấn người.
Con của các tay bạo chúa, độc tài, thường giúp thúc đẩy sự sụp đổ của cha mình. Nếu không tin, ta cứ hỏi ông Mubarak khắc rõ.

Image
Một trong những giọt nước tràn ly ở Ai Cập là dự định của Tổng Thống Hosni Mubarak để cho con mình, Gamal Mubarak
(trong tấm hình chụp năm 2007), lên kế vị tổng thống. (Hình: AP Photo/Ben Curtis)
Tổng Thống Hosni Mubarak ở Ai Cập phải rời khỏi quyền lực của mình trong sự nhục nhã, một phần vì ông không chịu học một bài học của lịch sử: Các nhà độc tài chẳng nên có con trai.

Phần lớn trong số những người này lại có con trai. Và điều này thường góp phần đẩy họ ra khỏi quyền lực hay làm sụp đổ đất nước.

Người dân Ai Cập có thể chấp nhận đè nén sự căm phẫn của họ thêm một thời gian nữa, nếu ông Mubarak già nua đau yếu không nói rõ rằng ông muốn con trai của mình, Gamal Mubarak, lên kế vị. Trong tất cả mọi hành vi ngạo mạn của ông Mubarak, không có gì sỉ nhục dân chúng Ai Cập bằng thái độ cho rằng trong tất cả 80 triệu dân Ai Cập, chỉ có Gamal Mubarak là xứng đáng nhất để lãnh đạo đất nước. Kế hoạch đã được chuẩn bị để đưa Gamal lên nắm quyền, không qua lá phiếu của dân nhưng chỉ vì đó là ý muốn của ông cha.

Chưa đầy một tuần sau khi các vụ biểu tình phản kháng bùng nổ ở Ai Cập, Tổng Thống Ali Abdullah Saleh ở Yemen công khai tuyên bố sẽ chấm dứt việc tìm cách đưa con trai mình, Ahmed, lên làm tổng thống sau khi ông ra đi. Cùng lúc đó, Vua Abdullah ở Jordan, người lên kế vị cha mình, giải nhiệm chính phủ trong nỗ lực củng cố chế độ của mình. Triều đại Abdullah này có vẻ coi như vững chắc hiện nay, cũng giống như ở Saudi Arabia, nhưng quan niệm con trai có quyền lên kế vị cha ở các vị trí quyền lực gần như tối thượng ngày càng được ít người ủng hộ.

Một số ít con của các nhà độc tài vẫn còn tiếp tục giữ được quyền lực cha ông để lại, như Bashar al-Assad ở Syria và Kim Chính Nhật (Kim Jong-Il) ở Bắc Hàn. Nhưng đa số các chế độ khác bị thất bại thê thảm. Lục địa Phi Châu đặc biệt đầy rẫy những trường hợp này. Con trai của Idi Amin, Daniel Arap Moi, và Jomo Kenyatta không thể giữ được quyền hành mà cha họ muốn chuyển giao. Gần nước Mỹ hơn nữa, Jean-Claude “Baby Doc” Duvalier, lên nắm chức tổng thống Haiti sau khi cha ông ta qua đời nhưng không thể giữ được; các nỗ lực nhằm quay trở lại chính quyền của ông ta thời gian qua bị cản trở rất nhiều vì những gì người dân vẫn còn nhớ, không phải chỉ sự tham nhũng và tàn bạo dưới thời ông ta cai trị mà còn ở thời cha của ông.

Ở một số quốc gia, ngay cả viễn tượng sẽ có việc “cha truyền con nối” nay cũng có thể gây ra sự phẫn uất của dân chúng. Ðiều này có thể làm cho các nhà độc tài như Muammar Qaddafi ở Libya phải suy nghĩ lại. Ngay cả trong trường hợp họ không lên nắm quyền, đời sống hai người con trai của Qaddafi tiêu biểu cho lối sống đồi trụy thường thấy ở con trai các nhà độc tài.

Một người con của Qaddafi, Saif al-Arab, bị điều tra về tội buôn võ khí lậu tại Ðức. Người kia, Hannibal, gây ra cuộc tranh chấp ngoại giao với Thụy Sĩ khi bị bắt ở Geneva về tội hành hạ người làm của mình. Ông ta còn liên quan đến việc hành hung cảnh sát ở Ý, lái xe Porsche đi ngược chiều ở Champs-Élysées khi say rượu và khiến cảnh sát phải được gọi đến ở khách sạn Claridges ở London khi người ta nghe tiếng vợ ông kêu thét trong phòng (bà này sau đó nói rằng các vết bầm và trầy sướt là do bị té).

Hai người con trai của Saddam Hussein, Uday và Qusai, nổi danh là những kẻ hiếp dâm và tra tấn người vô cùng tàn bạo. Hiếp dâm cũng là một trò tiêu khiển của Nicu Ceausescu, con trai của nhà độc tài Romania; người ta nói rằng y thích hiếp dâm người vợ trong khi các cận vệ đánh đập người chồng. Nicu cũng là một kẻ nghiện rượu và cờ bạc, cũng như con trai của các nhà độc tài khác, và trong một số trường hợp khác, như Chucky Taylor ở Liberia và Marko Milosevic ở Serbia, cũng tự mình đi vào lãnh vực buôn ma túy.

Chẳng cần phải là nhà tâm lý học tài giỏi, ai cũng có thể đi đến kết luận là cảm nhận về quyền hạn tột đỉnh đã khiến con trai của những nhà độc tài này thấy rằng họ có thể sống sa đọa hay vô đạo đức đến thế nào cũng được.

Ngoài tính dục, rượu, ma túy, và bài bạc, nhiều người con của thành phần độc tài cũng có chung một sở thích khác là thể thao. Marko Milosevic thích đua xe, Baby Doc lái xe mô tô, con của Saddam Hussein và Qaddafi được trao cho trách nhiệm điều hành thể thao trong nước.

Và hành vi bạo động tùy hứng cũng ở trong những người này. Có cách nào khác hơn để giải thích được việc Chuck Taylor có lần đánh tài xế mình đến chết vì nhìn thấy vết trầy trên chiếc xe, hay Uday Hussein ra lệnh tra tấn các cầu thủ đội bóng tròn vì họ thi đấu không tốt như ý muốn của ông ta?
Image
Kềm kẹp siết ngón tay, được cho là dụng cụ của Uday Hussein, con trai Sadam Hussein, dùng để trừng trị cầu thủ bóng đá
và những vận động viên nào khác mà không thi đấu được như ý muốn của Uday, từng là chủ tịch ủy ban Olympic Iraq. (Hình: Ahmad Al-Rubaye/AFP/Getty Images)



Việc đưa con các nhà độc tài lên nắm quyền cũng thường tạo ra các cuộc biểu tình phản kháng. Năm 2005, cảnh sát quốc gia Togo bắn chết hơn 400 người biểu tình sau khi chế độ cầm quyền tuyên bố đưa Faure Gnassingbe lên kế vị cha mình khi ông này qua đời. Bốn năm sau đó, bạo động nổ ra ở Gabon khi các giới chức bầu cử nói rằng Ali Ben Bongo được bầu làm tổng thống để thay người cha quá cố. Joseph Kabila lên nắm quyền ở Congo mà không gặp nhiều sự phản đối sau khi cha ông ta bị ám sát chết năm 2001, nhưng đây có thể coi là một trường hợp ngoại lệ.

Ở Uganda, Tổng Thống Yoweri Museveni có thể đang nghĩ đến việc đưa con trai mình lên kế vị.

Làm thế nào để các nhà độc tài tránh được khỏi vận hạn này? Có lẽ là chỉ có ba giải pháp. Một là giải pháp “sợi dây lụa” được các vị vua thời Ðế Quốc Ottoman. Họ thường ra lệnh giết con trai của mình-thắt cổ bằng sợi dây lụa vì máu hoàng gia không được đổ ra-để tránh hậu hoạn. Ðiều này có vẻ tàn bạo nhưng những người bênh vực cho truyền thống này nói rằng số người chết vì việc này quá nhỏ so với con số những người phải chết trong các cuộc chiến tranh giành ngôi báu ở Âu Châu.

Giải pháp thứ nhì là không có con. Ðó là con đường của George Washington -một số sử gia tin rằng việc mắc bệnh đậu mùa khi còn nhỏ khiến ông không thể có con- và điều này có thể có ảnh hưởng lớn lao đến lịch sử Mỹ. Ý hướng duy trì nền quân chủ vẫn còn rất mạnh mẽ ở thời của ông Washington và ông được sự trọng vọng của dân chúng đến nỗi nếu ông có con trai, có thể sẽ có nhiều áp lực để đưa người con thành tổng thống. Ðiều đó có thể đã đưa Hoa Kỳ về một hướng đi hoàn toàn khác.

Khi người ta tự hỏi tại Thổ Nhĩ Kỳ trở thành một trong những quốc gia cường thịnh nhất trong thế giới Hồi Giáo tại Trung Ðông, ta không nên bỏ qua sự kiện là cha già khai sáng quốc gia này, Kemal Ataturk, không có con. Cũng giống như Washington, ông được sự kính nể của cả quốc gia và có thể dễ dàng đưa con trai mình lên kế nghiệp.

Và giải pháp thứ ba là: Có con gái thay vì con trai. Lịch sử từng cho thấy là con gái của các nhà độc tài thường trở thành những nhà lãnh đạo giỏi, nhiều khả năng. Trong số này, ta có thể kể Megawati Sukaroputri ở Indonesia, Benazir Bhutto ở Pakistan, Sheikh Hasina ở Bangladesh, và Indira Gandhi ở Ấn Ðộ. Họ có vẻ được thừa hưởng khả năng lãnh đạo và chỉ huy quyền lực, và dù rằng họ cũng không vượt qua được sự tham nhũng, họ có vẻ cởi mở hơn, sẵn sàng thỏa hiệp hơn và ít ham thích những điều như đua xe, sử dụng ma túy và tra tấn.

Ðáng tiếc cho ông Mubarak là quá trễ để dùng đến 'sợi dây lụa' và ông cũng không có con gái.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

ƯỚC MƠ VIỆT NAM

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất


Tổng Thống Ai Cập Hosni Mubarak đã nhượng bộ trước áp lực của dân chúng và đã từ chức, hay bị hạ bệ cũng thế. Báo Mỹ có anh rờ mu rùa đoán quẻ: tiếp theo là nhà vua Abdulla của Jordan. Cuộc cách mạng nhân quyền tại nhiều nước Bắc Phi khởi đầu từ Tunisia lan sang Ai Cập, và rồi tiếp theo đến quốc gia nào nữa chưa biết. Không biết có nên nói cách mạng là một loại bệnh truyền nhiễm hay lây không, nhưng thực tế đang chứng minh, những chế độ có cùng hoàn cảnh và cùng điều kiện thì số phận xẩy ra cũng giống nhau. Thanh niên Mohamed Bouazizi chỉ là giọt nước làm tràn cái ly nước đã cấn miệng để việc phải đến xẩy đến bắt đầu từ Tunisia.

Mohamed Bouazizi, 26 tuổi, là một thanh niên thất nghiệp kinh niên. Anh phải lao vào cuộc sống để nuôi gia đình gồm 8 miệng ăn bằng một cái nghề chẳng mấy danh giá, nghề đẩy xe rau bán dạo trên đường phố Sidi Bouzid (thành phố Sidi Bouzid cách thủ đô Tunis 300 km về phía nam.) Cái nghề hèn mọn này ấy vậy mà cũng cần phải có license. Nhưng anh thì lại không có, và anh đã hành nghề này được 7 năm. Ngày 17-12-2010, một nữ cảnh sát viên chộp được anh chàng bán chui, tịch thu cả xe cùng với rau trái. Anh dốc túi đóng 10 dinars tiền phạt (tương đương một ngày lương 7 dollars). Bị cảnh sát phạt đối với anh là chuyện cơm bữa. Nhưng vấn đề lần này có khác. Em cớm thoi vào mặt Bouazizi một cú đấm nổ đom đóm mắt, và còn nhục mạ cả người cha đã quá cố của anh. Chàng trai Bouazizi tội nghiệp không còn cách phản ứng nào khác hơn là bắt chước dân oan VN, tìm đến cửa quan để khiếu kiện. Nhưng tình trạng cũng chẳng khá gì VN. Chẳng có ông quan nào chịu tiếp anh. Bouazizi bỏ đi, và lập tức chỉ trong vòng khoảng một giờ đồng hồ, anh trở lại tòa Thị Chính với một bình xăng và tự thiệu ngay tại chỗ.

Biến cố tự thiêu của Bouazizi mau chóng đưa đến những cuộc xuống đường của dân chúng để phản đối chính quyền. Bị cảnh sát đàn áp, những cuộc biểu tình ôn hòa đã biến thành bạo động: đốt xe, phá cửa tiệm, liệng gạch đá vào cảnh sát v.v. Bouazizi được đưa vào nhà thương gần Tunis. Trong một cố gắng làm nguôi sự nổi giận của quần chúng, Tổng Thống Zine el Abidine Ben Ali đã vô nhà thương thăm Bouazizi. Nhưng mọi cố gắng trở thành vô ích vì anh không thể sống nổi.

Việc tự thiêu của Bouazizi đã làm cho cả nước Tunisia nhập cuộc. Ngày 22-12-2010, một thanh niên khác, Lahseen Naji trèo cột điện để điện giật chết. Ramzi Al-Abboudi tự tử. Cả hai cái chết đều do nguyên nhân thất nghiệp, nợ nần và đói. Ngày 6-1, tám ngàn luật sư tuyên bố đình công để hưởng ứng các cuộc xuống đường của dân chúng. Ít có ai ngờ cuộc cách mạng nhân quyền tại Tunisia đem lại thành quả nhanh đến thế. Sau cái chết của Bouazizi, chỉ mười ngày sau (15-1-2011), Tổng Thống Ben Ali đã phải cuốn gói đào tẩu để tránh sự trả thù của dân chúng sau 23 năm cầm quyền. Nay đến lượt tổng thống Hosni Mubarak của Ai Cập.

Theo các phân tích quốc tế thì có 3 nguyên nhân chính yếu dẫn đến cuộc cách mạng nhân quyền tại Bắc Phi là sự nghèo đói, tình trạng tham nhũng thối nát (corruption), và nhân quyền bị tước đoạt. Những tệ trạng này là căn bệnh kinh niên tại bất cứ một quốc gia Hồi Giáo nào, mức độ hơn kém tùy ở mỗi chế độ. Công bình mà nói thì Tunisia chưa phải là nước đứng trên “đỉnh cao chói lọi” của các tệ nạn. Là một quốc gia mà Hồi Giáo chiếm tới 99% dân số, nhưng Tunisia không áp dụng luật Sharia để cai trị. Hiến Pháp Tunisia vẫn thừa nhận quyền tự do tôn giáo và các quyền công dân khác. Các giáo sĩ đạo Hồi cũng không có ảnh hưởng nhiều trong nền chính trị Tunisia. Tổ chức Muslim Brotherhood hoạt động không đáng kể. Về kinh tế, GDP tính theo đầu người của Tunisia được kể là cao nhất trong khu vực với 9.100 dollars năm 2009. Tunisia được coi là nước giầu có và ổn định nhất trong vùng. Không ai nói tại Tunisia người dân không bị đàn áp, nhưng cuộc sống của người dân Tunisia còn dễ thở hơn so với các nước Hồi Giáo khác áp dụng luật Sharia Law. Cho nên chế độ của TT Ben Ali chưa nên được giám định là con bệnh phải đưa vô nhà xác sớm nhất. Thế nhưng thực tế xẩy ra là chế độ này dẫn đầu đi đến việc cáo chung.

Chúng ta thử làm sơ một cuộc so sánh khác với VN xem sao có lẽ cũng không phải là điều vô ích. Về kinh tế, VN là một quốc gia rất giầu tài nguyên nhưng lại là nước nghèo vào hàng nhất nhì trong khu vực. So với Tunisia thì VN chạy marathon nhiều năm vẫn chưa bắt kịp. GDP của VN tính theo đầu người là 1168 dollars cho năm 2009. Trung bình người dân nghèo VN chỉ kiếm được trên dưới có một dollar một ngày. Không có quốc gia nào, ngoài VN, cha mẹ nghèo đến nỗi phải bán con gái sang các nước láng giềng làm nô lệ tình dục để kiếm sống. Hình thức buôn dân này được công an ngấm ngầm bảo vệ. Người dân VN bị đàn áp và bịt miệng hơn dân chúng Tunisia nhiều. Những vụ điển hình xẩy ra không thiếu, người viết kể ra sợ dài dòng. Tại VN, cũng có tự thiêu để chống đối như bà Nguyễn Thị Thu ở Đồng Tháp. Người dân Tunisia chỉ bị cảnh sát thoi vô mặt chứ chưa bị giết vô tội vạ như người dân VN bị công an vô cớ đánh chết. Về vấn đề tham nhũng thối nát thì Tunisia lại càng không thể so sánh được với VN. Vụ hãng tầu Vinashin là một thí dụ cụ thể và gần đây nhất. Quan chức nhà nước tham ô, ăn cắp bạc tỷ chứ không phải bạc triệu (dollars). Triệu bạc chỉ để mua một con bài trong sòng bạc của quan lớn. Kinh điển CS dậy rằng: đâu có bất công, ở đó có đấu tranh. Bất công càng nhiều, đấu tranh càng quyết liệt. Những yếu tố trên đây tưởng đã quá đủ để làm nên một cuộc Cánh Mạng tại VN. Thế nhưng VN vẫn không có cách mạng. Tại sao? Và tại sao người VN chỉ dám nhìn Ai Cập, Tunisia mà mơ ước: bao giờ đến lượt đất nước mình? Câu hỏi chính xác là, cuộc cách mạng nhân quyền ở vào thời đại này đúng ra phải xẩy ra tại VN (hay các nước CS khác) mới hợp lý, chứ tại sao lại xẩy ra ở Tunisia? Câu trả lời sẽ dễ dàng tìm được qua sự phân tích trung thực các dữ kiện và đối chiếu giữa VN với Tunisia và Ai Cập.

Nhìn tổng quát, chúng ta thấy có 3 đặc điểm nổi bật trong các cuộc xuống đường tại hai quốc gia Bắc Phi. Thứ nhất là tính tự phát của cách mạng. Thứ hai là xác định mục tiêu tối hậu. Và thức ba là tinh thân tự chủ của người dân.

1. Tính tự phát của cách mạng - Biến cố Tunisia là một cuộc cách mạng tự phát. Nói cách khác, cuộc xuống đường tự động của quần chúng không có đảng phái hay phong trào nào lãnh đạo, không có lãnh tụ chính trị cầm đầu, nhất là không một kế hoạch nào được chuẩn bị từ trước. Người dân Tunisia nghèo đói và thất nghiệp vốn nuôi căm thù chính quyền độc tài tham nhũng của TT Ben Ali từ lâu. Khi có động cơ thúc đẩy, họ xuống đường đòi quyền sống là chuyện tự nhiên. Việc tự thiêu của thanh niên Bouazizi chỉ là giọt nước làm tràn cái ly đã cấn miệng. Trùm CS Nga là Lenin nói: cách mạng là một biến cố tự phát, nó không do người ta hoạch định sẵn. Lenin nói đúng vì hắn đã có kinh nghiệm bản thân. Hai cuộc Cách Mạng Nga tháng 2 và tháng 10-1917 xẩy ra, Lenin vẫn còn ở Tây Âu, chưa về đến Nga. Biến cố gọi là Cách Mạng tháng 8 của VGCS cũng thế, nó không do VGCS khởi động. Sự thực là dân chúng Hànội xuống đường để ủng hộ Chính Phủ Trần Trọng Kim. Phải nói là VGCS đã cướp công cuộc biểu tình ngày 19-8-1945 tại Hànội.

2. Mục tiêu xác định - Cuộc xuống đường tại Tunisia cho thấy yếu tố quyết định làm nên cuộc cách mạng là mục tiêu được xác định dứt khoát. Đó là lật đổ chính quyền độc tài thối nát của TT Ben Ali. Ngay từ đầu, cả hai chính phủ Pháp và Hoa Kỳ đều ngạc nhiên và bối rối, bởi vì Ben Ali được cả Mỹ và Pháp ủng hộ. Đến khi ý thức được rằng ý dân thật là ý Trời thì Tổng Thống Obama đành phải ngả theo chiều gió, lên tiếng vớt vát kêu gọi bất bạo động để tìm giải pháp ôn hòa cho vấn đề. Nhưng Ben Ali đã chuồn trước khi tìm ra được giải pháp. Cách Mạng vì thế thành công một cách dễ dàng. Mục tiêu của cuộc xuống đường tại Ai Cập cũng thế: TT Hosni Mubarak phải ra đi, và Mubarak đã phải ra đi như cách mạng đòi hỏi. Như thế, cách mạng trước hết là phải lật đổ chính quyền. Mục tiêu này là dứt khoạt và tối hậu. Một đòi hỏi phụ thuộc là cần phải có tinh thần can đảm. Người dân Tunisia và Ai Cập thật can đảm. Mặc dầu bị đàn áp, những người xuống đường vẫn hát hò: Ben Ali must go. Hosni Mubarak must go. We are not afraid. We are afraid only of God (Ben Ali phải cút. Mubarak phải cút. Chúng ta không sợ ai cả, chỉ sợ Chúa thôi).

3. Tinh thần tự chủ - Khi thấy không thể cứu nổi Ben Ali, ngoại trưởng Mỹ, bà Hillary Clinton, đưa ra đề nghị phương pháp chuyển quyền hòa bình. Người ta hiểu rằng dụng ý của bà chỉ là thành lập một chính quyền Ben Ali không có Ben Ali để duy trì quyền lợi của Mỹ. Vì thế, dân chúng Tunisia gạt phăng. Họ đòi: Ben Ali phải từ chức và đảng Tập Hợp Dân Chủ Hiến Định RCD (Rassemblement Constitutionel Democratique)) của ông phải bị giải tán. Trong khi chính phủ Obama hoảng sợ trước tình hình xẩy ra tại Tunisia thì Phó TT Joe Biden lại phạm phải một sai lầm nghiêm trọng. Ông tuyên bố khi đề cập đến Ai Cập: Mubarak không phải là độc tài (Mubarak is not dictator). Thấy ông phó Tổng Thống của mình quá lố bịch, Obama và cả Clinton phải chữa lửa bằng cách chỉ kết án bạo lực và hỗ trợ tinh thần cho quyền phản đối của ngưòi dân Ai Cập. Cả hai kêu gọi Mubarak và nhân dân Ai Cập nên tìm phương sách chuyển quyền êm thắm. Ý muốn của Mỹ lại một lần nữa thất bại vì bị nhân dân Ai Cập bác bỏ. Sự thất bại này một lần nữa chứng minh chính sách thất nhân tâm xưa nay của Hoa Kỳ là hậu thuẫn độc tài để giết chết tinh thần độc lập tự chủ của người dân các nước vì quyền lợi của nước Mỹ.

Mặc dù tình hình VN đã chín mùi cho một cuộc cách mạng nhân quyền, nhưng cho đến nay vấn đề chỉ là sự trông đợi, nói đúng hơn là ước mơ của mọi người. Lý do là vì những yếu tố cần thiết cho cuộc cách mạng đã bị làm biến dạng hoặc thui chột cả. Nguyên nhân gây ra tình trạng này là vì VN có quá nhiều cuộc xuống đường, thật có, dổm càng không thiếu:

- Dân chúng Bắc Giang phản đối công an vô cớ đánh chết người.

- Giáo dân Thái Hà đốt nến cầu nguyện.

- Việt tân tặng áo thung ngoài bờ hồ Hoàn Kiếm.

- HT Quảng Độ đóng cửa nằm nhà ngài bảo ngài biểu tình tại gia.

- Lm Nguyễn Văn Lý che dù ngồi bên bờ sông ngắm nước chảy hoa trôi. Vân vân và vân vân.

Tất cả đều mang danh xuống đường đấu tranh cả. Nhưng nên phân biệt mục tiêu của các cuộc xuống đường này. Dân Bắc Giang đòi công lý cho một nạn nhân bị công an vô cớ đánh chết. Giáo dân Thái Hà đòi lại đất đai cho nhà thờ. Việt Tân diễn trò sơn đông mãi võ để quảng cáo thuốc tễ bà Lang Trọc. HT Quảng Độ thực hành xuống đường theo lối nhà Phật: sắc tất thị không, không tất thị sắc. Lm Nguyễn Văn Lý nhất quyết ôm mộng Gandhi, vì xuống đường ồn ào làm xáo trộn thì thà để CS cai trị còn hơn. Nếu VGCS là đế quốc Anh thì Lm Lý đã là Gandhi rồi. Nhưng rất tiếc, VGCS lại là mafia cộng sản.

Như đã thấy, những cách xuống đường trên và khác nữa đều thiếu một điểm cốt lõi là đòi hỏi lật đổ chính quyền. Vì thế đã không có cách mạng tại VN. Nhân dân Tunisia và Ai Cập liều chết, họ mới làm nên cách mạng. Người VN biện bạch bất cứ cách nào để che dấu sự sợ hãi thì không thể có cách mạng. Nói như cha Lý, biểu tình mà gây ra xáo trộn thì thà để CS cai trị còn hơn, là không tưởng. Không có hoa hồng nào không có gai. Cũng không có cuộc cách mạng nào không gây ra bất ổn cả. Những cuộc xuống đường của giáo dân do giáo sĩ lãnh đạo, mục tiêu đòi nhà đất là chính đáng, có thể biện minh được vì lý do đạo không làm chính trị. Nhưng không thiếu những vụ xuống đường bịp của Việt Tân hay của dân chủ cuội chỉ có mục đích quảng cáo tên tuổi và làm lợi cho VGCS là chuyện đáng phải lên án. Tuy nhiên, những cuộc xuống đường dù chính đáng hay bịp bợm thì vì nhiều quá mà không đem lại kết quả, chúng trở thành nhàm và làm giảm lòng tin nơi quần chúng. Hệ quả là cuộc xuống đường làm cách mạng để dứt điểm VGCS trong tương lai sẽ khó có cơ may xẩy ra hơn.

Đặc điểm thứ ba của cuộc cách mạng Tunisia và Ai Cập là tinh thần tự chủ của người dân. Người VN cần suy nghĩ nhiều về điểm này. Đất nước bị VGCS thống trị, lại đang đứng trước một đe dọa mất về tay Tầu. Làm thế nào để cứu nước. Nhiều người ở hải ngoại và bọn dân chủ cuội trong nước công khai cổ võ ý kiến phải dựa vào Mỹ để chống cộng. Thấy hải quân Mỹ ghé chiến hạm vào cảng VN thôi thì họ đã nhẩy tưng tưng rồi. Thấy bà Hillary Clinton đến Saigon tuyên bố vài câu nhăng nhít họ lại càng tràn trề hy vọng hơn. Đây là biểu hiện tinh thần vọng ngoại rõ ràng. Nhiều người trước kia tin rằng Mỹ chẳng bao giờ bỏ miền Nam. Bây giờ lại cho rằng Mỹ muốn giúp họ đánh CS và chống Tầu. Thật là hoang đường. Họ không hiểu rằng, Mỹ đánh giặc là đánh cho nước Mỹ chứ không đánh cho ai hết. Và, chính sách đối ngoại của Mỹ là nuôi đầy tớ để sai khiến, chứ không tìm bạn bè là nhân dân các nước.

Như vậy, VN có nên dựa vào Mỹ để chống VGCS và chống Tầu không? Câu trả lời là nên và còn cần thiết nữa. Tuy nhiên, cách dựa như thế nào mới là vấn đề phải đặt ra. Có bao giờ chúng ta tự hỏi xem tại sao sau thế chiến II người Nhật “say No” (đọc Japan that can say no (to America) của Shintaro Ishihara) với Hoa Kỳ chẳng sao mà vẫn phát triển được nước Nhật, trong khi TT Ngô Đình Diệm “say No” với Mỹ lại bị Mỹ giết để trao miền Nam cho VGCS không? Cả hai chính phủ Nhật Bản và TT Diệm đều hiểu rất thấu đáo rằng nước Mỹ rất cần Nhật và cũng rất cần VN để chận ảnh hưởng Tầu. Nhưng cùng một lời nói, mà kết quả khác nhau là vì tư thế của người nói khác nhau. Mỹ không làm gì Nhật được vì người Nhật có tư cách và người Nhật không phản lại người Nhật. Mỹ giết TT Diệm và xóa bản đồ VNCH vì người VN phản lại người VN và năng đầu óc vọng ngoại. VGCS vì bản chất tôi đòi và bán nước nên được Mỹ thuê mướn làm đầy tớ là thích hợp. Với những người VN yêu nước, điều thực sự quan trọng là phải hiểu rằng VN cần Mỹ chẳng khác gì Mỹ cần VN. Biết dựa vào cái thế tất yếu này, chúng ta mới có thể tìm ra phương cách làm thế nào cho nước Mỹ giúp nhân dân VN như một người bạn chứ không phải giúp kẻ thù của chúng ta như tên đầy tớ.

Những cuộc cách mạng nhân quyền tại Bắc Phi khiến cả thế giới vui mừng, nhưng cũng làm cho nhiều chính quyền lo sợ. Mỹ lo sợ vì mất công toi nuôi đầy tớ ở khắp nơi. Tầu, VN lo sợ vì nạn cháy rừng có thể sẽ lan mau chóng nhờ xuôi gió. Để đề phòng, nghe đâu VGCS đang tính đến chuyện tăng tỷ lệ vô quốc hội của chúng cho những thành phần không CS. Dù thế nào đi nữa thì vấn đề vẫn còn đó. Giấc Mơ VN: diệt VGCS, chống Tầu xâm lược, chỉ trở thành hiện thực nếu nhân dân VN làm được hai việc sau đây. Một là thuyết phục được Hoa Kỳ từ bỏ chính sách nuôi đầy tớ vì nó đã lỗi thời. Hai là can đảm xuống đường với đòi hỏi dứt khoát là “Communist Party must go” (đảng VGCS phải ra đi). Việc thứ nhất không khó vì buộc được VGCS phải ra đi rồi thì do phải cần đến VN như đã nói trên, Hoa Kỳ phải giúp chính quyền kế tiếp, và đó cũng là đường lối ngoại giao phù thịnh cố hữu của nước Mỹ.

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

THẾ GIỚI Á RẬP ĐANG VÙNG DẬY
Huệ Vũ
Thế giới Á Rập gồm 22 nước nói tiếng Á Rập, đa số theo Hồi Giáo, nhưng không cùng nguồn gốc chủng tộc, trải dài từ Bắc Phi tới biên giới Iran và Vịnh Ba Tư, chiếm một diện tích trên 14 triệu cây số vuông, với dân số khoảng 300 triệu người. Vùng Châu Á của Thế giới Á Rập gọi là Mashriq và vùng các nước Bắc Phi tới phía tây Ai Cập gọi là Maghreh. Mặc dù Ai Cập nằm trên lục địa Phi Châu nhưng có liên hệ văn hóa sâu xa với phía Á Châu. Tự coi là trung tâm của Thế giới Á Rập.

Sau Thế Chiến Thứ Nhất, đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ (Ottoman Empire) tan rã, các nước Á Rập, ngoại trừ Saudi Arabia, trở thành thuộc địa của Anh, Pháp và Ý. Sau Thế Chiến Thứ Hai, mới dần dần được trao trả độc lập.

Vào năm 1945, Liên Đoàn Á Rập được thành lập để lo công tác vận động thống nhất, nhưng cho tới nay không đem lại kết quả nào.

Mặc dù nhiều nước Á Rập đã có nền văn minh lâu đời và nhiều nước chiếm giữ phần lớn trữ lượng dầu lửa thế giới, Thế Giới Á Rập là thế giới bất công, nghèo đói, có tỷ lệ mù chữ cao nhất trên thế giới. Các nước đều bị cai trị dưới những chế độ độc tài hay quân chủ chuyên chế nắm trong tay tất cả tài sản quốc gia. Theo Tổ Chức Văn Hóa Giáo Dục và Khoa Học của Liên Đoàn Á Rập (ALESCO), số người trong vùng bị mù chữ trên 100 triệu người, hay 30% dân số. Phụ nữ chiếm 2/3 trong số người bị mù chữ.

Theo Chỉ số Phát triển Nhân Loại (HDI) của Chương Trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) năm học trung bình của người dân trong Thế Giới Á Rập là 5.7 năm so với mức trung bình của thế giới là 7.4 năm. Nạn thất nghiệp trung bình trong toàn vùng là 14%.

Tunisia là nước được Pháp trao trả độc lập trong năm 1957, tổng thống đầu tiên là ông Habib Bourguiba muốn làm tổng thống trọn đời, nhưng ông ta bị Thủ tướng Zine El Abidine Ben Ali đảo chánh vào năm 1987. Sau khi lên làm tổng thống, Ben Ali củng cố quyền lực và cũng muốn làm tổng thống trọn đời. Vào tháng 10 năm 2009, ông ta ra ứng cử nhiệm kỳ thứ 5 và nhận được 89% số phiếu! Mặc dù Tunisia được thiên nhiên ưu đãi, có nhiều tài nguyên thiên nhiên, nền kinh tế đa dạng, và trong 20 năm liên tiếp có mức phát triển trung bình 5% , được coi là một trong những con sư tử của Phi Châu, nhưng tài sản quốc gia nằm trong tay gia đình ông Ben Ali, gia đình bà vợ Leila Trabelsi và đảng Tập hợp Dân chủ Hiến pháp của ông ta. Chế độ Ben Ali là một chế độ tham nhũng từ mọi lãnh vực, nạn thất nghiệp lên trên 14% và 25% số thanh niên toàn quốc tốt nghiệp đại học không có công ăn việc làm. Người dân ở các vùng nông thôn và các vùng ngoại ô nghèo phải sống với lợi tức dưới 2 mỹ kim một ngày.

Ngọn lửa phẩn nộ đã bùng cháy!

Vào ngày 17 tháng 12, anh Mohamed Bouazizi, 26 tuổi, ở thị trấn Sidi Bouzid, đẩy chiếc xe rau đi bán dạo bị một nữ cảnh sát chận bắt với lý do bán rau không xin giấy phép, mặc dù theo luật, Tunisia không buộc những người bán dạo phải xin giấy phép. Bouazizi từng gặp cảnh này nhiều lần, đưa 10 đồng dinar là số lợi tức cả ngày của anh ta để hối lộ, nhưng người nữ cảnh sát chê ít, không những chỉ tịch thu chiếc xe mà còn tát tai và sỉ nhục anh ta. Bouazizi sau đó tới văn phòng cảnh sát địa phương khiếu nại, nhưng không ai thèm lắng nghe nỗi oan ức của anh. Vào lúc 11 giờ 30 phút sáng, Bouazizi quay lại bộ chỉ huy cảnh sát, chế xăng tự thiêu. Ngọn lửa của anh thổi bùng sự tức giận của thị trấn Sidi Bouzid từ lâu bị cảnh sát và viên chức địa phương hoành hành, bóc lột, đã lập tức xuống đường và bị cảnh sát đàn áp dã man. Nhưng càng đàn áp, sự tức giận càng bùng nổ, lan tới nhiều thành phố khác. Ngày 27/12/10 trên 1000 người ở thủ đô Tunis xuống đường bày tỏ sự đoàn kết với dân chúng thị trấn, đòi hỏi công ăn việc làm.

Để vuốt ve sự tức giận của người dân, ngày 28/12, Tổng thống Ben Ali đã tới bệnh viện thăm Bouazizi, nhưng sau đó Anh đã mất vào ngày 4 tháng 01/2011.

Cách mạng lan mạnh trên toàn quốc.

Trong vòng 4 tuần, từ lúc ngọn lửa uất hận của Bouazizi bùng lên, dù vừa ban lệnh thiết quân luật, vừa đàn áp, vừa hứa hẹn không ra tranh cử nhiệm kỳ thứ 6, cải tổ nội các, Ben Ali không còn ngăn chận được cuộc cách mạng càng lúc càng tăng cao khí thế, hàng chục ngàn người xuống đường.

Vào ngày 14 tháng 01, nhà độc tài nắm trong tay hàng tỷ mỹ kim đã ngồi chiếc ghế tổng thống trong 23 năm phải rời bỏ Tunisia, chạy qua Saudi Arabia lánh nạn. Tài sản, trương mục của vợ chồng và tay chân thân cận đang bị các nước Tây phương phong tỏa.

Cuộc cách mạng Tunisia thành công tạo sự ngưỡng mộ của các dân tộc bị áp bức dưới các chế độ độc tài, tham nhũng, vi phạm nhân quyền trong Thế Giới Á Rập. Các cuộc biểu tình noi gương cách mạng Tunisia đã diễn ra ở Algeria, Ai Cập, Yemen, Jordan, Mauritania, Saudi Arabia, Oman, Sudan, Syria, Lybia và Morocco.

Cuộc cách mạng Ai Cập bùng lên vào ngày 25 tháng 01.

Trong 18 ngày liên tiếp, thanh niên chiếm công trường Tahrir hay Tự Do đòi Tổng thống Hosni Mubarak cầm quyền trong 30 năm phải ra đi.

Trong 18 ngày, ông Mubarak, 82 tuổi, lần lần nhượng bộ, lần đầu tiên chỉ định một người làm phó tổng thống, cải tổ nội các, hứa hẹn không ra tranh cử trong tháng 9 năm nay, cam kết sẽ lo tổ chức bầu cử công bằng và tự do, chuyển quyền trong hòa bình, nhưng những sự nhượng bộ này không còn làm cho người dân bị đàn áp trong suốt 30 năm chấp nhận.

Ngày thứ Sáu, 11/2, ông Mubarak đã phải giao quyền lại cho quân đội, rời khỏi thủ đô.

Trong vòng 7 tuần lễ, ngọn lửa Bouazizi đã thiêu hủy 2 chế độ độc tài.

Cách mạng có thể lan rộng theo thế domino để cáo chung những chế độ khác hay không chưa thể khẳng định vào lúc này, nhưng chắc chắn nó sẽ đem lại những sự thay đổi quan trọng trong thế giới Á Rập.

Ở Yemen, trước các cuộc biểu tình, Tổng thống Ali Abdullah Saleh cai trị 32 năm, hứa hẹn sẽ không ra tranh cử khi nhiệm kỳ chấm dứt vào năm 2013 và đề nghị đàm phán với đối lập để thành lập chính phủ liên hiệp, nhưng đối lập đòi hỏi phải đàm phán dưới sự chứng kiến của quốc tế. Từ ngày 11/02, ngày ông Mubarak ra đi ở Ai Cập, dân chúng và sinh viên trường đại học Sanaa đã liên tiếp xuống đường, tuyên bố sau cuộc cách mạng Ai Cập là cuộc cách mạng Yemen. Đảng cầm quyền đã thuê bọn vô lại biểu tình phản biểu tình, ngày nào nhóm người này cũng dùng gậy gộc tấn công những người biểu tình chống chính phủ.

Các cuộc biểu tình ở Jordan phản đối vật giá leo thang, đời sống khó khăn, đã buộc quốc vương Abdullah phải cải tổ nội các, thay thế thủ tướng.

Ở Algeria, từ ngày 12 tới ngày 19/01 nhiều người đã noi gương Bouazizi tự thiêu, khởi đầu là ngọn lửa của anh Bordj Menaiel và Mohsen Bouterfif. Vào ngày 22/01, khoảng 100 người biểu tình bị cảnh sát đàn áp làm 42 người bị thương. Vào ngày 29/01, trên 10 ngàn người đã xuống đường biểu tình ở thành phố Bejaia. Tổng thống độc tài Abdelaziz Bouteflika cầm quyền từ năm 1999 đã phải tuyên bố sẽ sớm hủy bỏ tình trạng khẩn trương, nhưng không xoa dịu được tinh thần chống đối. Vào ngày 11/2, khoảng 2000 người đã bất chấp lệnh cấm hội tụ, xuống đường biểu tình tại công trường Một Tháng 5.

Ở Bahrain, vào ngày 04/2, hàng trăm người đã tập trung trước tòa đại sứ Ai Cập bày tỏ sự ủng hộ với nhân dân Ai Cập, họ cũng đã kéo xuống đường ăn mừng ngày sụp đổ của chế độ độc tài Mubarak và tổ chức một cuộc biểu tình lớn trong ngày 14/02 với trên 10 ngàn người tham dự. Quốc vương Hamad bin Isa Al Khalifa muốn dập tắt căng thẳng, hứa hẹn sẽ tặng cho mỗi gia đình 1000 dinar ($2650) mỗi tháng, nhưng lời hứa không xoa dịu được sự bất mãn trong nước. Vào ngày 14/2 cảnh sát đã bắn chết một người biểu tình và ngày 15/2 đã bắn chết một người khác. Các nhà ngoại giao cho rằng các cuộc biểu tình ở Bahrain sẽ ngày càng mạnh. Sự đứng dậy của người Shiite ở Bahrain có thể làm cho người Shiite ở Saudi Arabia đứng lên đòi sự công bằng.

Nhằm ngăn chận trước tiềm năng sẽ gặp sự chống đối, Thủ tướng Nouri al-Maliki của Iraq đã tuyên bố sẽ không tìm cách lên làm thủ tướng nhiệm kỳ thứ 3. Mặc dù vậy, ngày 12/2, hàng ngàn người đã xuống đường đòi điều tra các vụ tham nhũng và cải thiện điều kiện sinh sống, cải thiện các dịch vụ công cộng trong nước. Trong ngày Tình Yêu, thanh niên cũng xuống đường đòi cải thiện tình trạng kinh tế, dịch vụ công cộng.

Ngưỡng mộ cuộc cách mạng Tunisia và Ai Cập, đối lập Lybia sống lưu vong ở hải ngoại đã lấy ngày 17 tháng 2 làm Ngày Phẩn Nộ của dân tộc Lybia đang bị nhà độc tài Muammar al-Gaddafi cai trị.

Ở Saudi Arabia, vào ngày 21/01, một người đàn ông đã tự thiêu, và lần đầu tiên tại vương quốc này, hàng trăm người đã xuống đường ở thành phố Jeddah chỉ trích quốc vương, cảnh sát đã nhanh chóng giải tán, bắt giữ trên 40 người. Ngày 10/2, đối lập tuyên bố thành lập đảng Umma Islamic, đòi chấm dứt chế độ quân chủ chuyên chế.

Các cuộc biểu tình nhỏ nhưng nhanh chóng bị dập tắt như ở Saudi Arabi cũng đã diễn ra ở nhiều nước khác trong Thế giới Á Rập.

Cuộc cách mạng Tunisia lan sang Ai Cập, có thể theo thế domino lan tới các nước khác đã làm nhiều khách Hoa Kỳ lo ngại.

Tổng thống Hosni Mubarak từng được coi là một đồng minh thân cận của Hoa Kỳ sau khi Ai Cập ký hiệp ước hòa bình với Do Thái trong năm 1979. Qua 4 đời tổng thống Hoa Kỳ, chính phủ nào cũng coi ông Hosni Mubarak là trụ cột giữ gìn, giữ ổn định Trung Đông. Được coi là người giám sát không chính thức của tiến trình hòa bình, từng chủ tọa các cuộc đàm phán giữa Do Thái - Palestine, và các cuộc hòa giải giữa 2 phe Fatah và Hamas của Palestine. Hoa Kỳ viện trợ cho Ai Cập khoảng gần 2 tỷ mỹ kim một năm, trong đó 1.3 tỷ là viện trợ quân sự. Dưới sự cai trị của ông Mubarak, phong trào Xã hội Huynh Đệ Hồi Giáo bị cấm hoạt động. Nhiều chính khách Hoa Kỳ lo ngại cuộc cách mạng lật đổ ông Mubarak sẽ tạo thời cơ cho phong trào này chiếm chính quyền, biến Ai Cập thành thành một đồng minh của Iran.

Xã hội Huynh Đệ Hồi Giáo được ông Hassan al-Banna thành lập trong năm 1928 với châm ngôn: “ Allah là cứu cánh, Koran là hiến pháp, Thánh chiến là phương tiện, chết cho đấng Allah là nguyện vọng cao cả nhất”. Vào năm 1936, Huynh Đệ Hồi Giáo chỉ phát triển được khoảng 800 người, nhưng 2 năm sau tăng lên 200 ngàn người và cuối thập niên 1940 được tin tưởng có trên 2 triệu hội viên trong Thế giới Á Rập. Vào năm 1948, cảnh sát Ai Cập khám phá một âm mưu tấn công quân sự của Huynh Đệ Hồi Giáo, Thủ tướng Mahmud Fahmi Nokrashi ra lệnh giải tán phong trào này. Vào tháng 12 năm 1948, Thủ tướng Nokrashi bị ám sát. Trên một tháng sau, ông Al-Banna bị ám sát. Từ năm 1954, sau vụ ám sát ông Gamal Abdel Nasser thất bại, thành viên của Huynh Đệ Hồi Giáo đã bị lực lượng an ninh Ai Cập coi là thành phần nguy hiểm nhất của quốc gia. Tuy nhiên sự đàn áp này không thể tiêu diệt được Phong Trào. Dù thường bị bắt tập thể, cấm hoạt động, Huynh Đệ Hồi Giáo vẫn là một lực lượng đối lập mạnh nhất ở Ai Cập. Qua cuộc bầu cử năm 2005, các ứng cử viên của Huynh Đệ Hồi Giáo ra ứng cử với tư cách cá nhân độc lập, nhưng đã chiếm được 88 ghế dân biểu.

Không hẳn Huynh Đệ Hồi Giáo sẽ lên cầm quyền ở Ai Cập, nhưng nếu đúng, cũng không hẳn sẽ trở thành đồng minh của Iran vì người Hồi Giáo theo phái Sunni và Shiite đã có truyền thống thù nghịch lâu đời.

Bán đảo Á Rập có thể coi là vùng đất chiến lược của Hoa Kỳ.

Con kênh đào Suez là con đường thủy sinh tử nối liền Âu Châu và Á Châu.

Mỗi ngày khoảng 17 triệu thùng dầu được chở qua eo biển Hormuz.

Bán đảo Á Rập là nơi sản xuất dầu hoả và dầu khí lớn nhất thế giới.

Vì lo ngại các lực lượng Hồi Giáo lên cầm quyền tại các nước Á Rập, đe doạ cho nguồn dầu lửa chiến lược và đe doạ cho an ninh Do Thái, chính sách của Hoa Kỳ và Tây Phương đã đặt nặng sự ổn định trong vùng, và chính sách này đã ngày càng cho các chế độ độc tài ăn sâu gốc rễ, làm cho người Hồi Giáo ngày càng ác cảm với Hoa Kỳ.

Việc Do Thái tiếp tục chiếm đóng, đàn áp người Palestine, sự hiện diện của các chế độ thế quyền, nhưng tham nhũng, thối nát là những nguyên nhân đưa tới các phong trào Hồi Giáo quá khích.

Khủng bố là điều mà nhân loại văn minh ngày nay không ai có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, nguyên nhân đưa tới các sự căm thù của người Á Rập, của người Hồi Giáo, lại hình như không được các nhà làm chính sách Hoa Kỳ quan tâm. Họ có thể mạnh mẽ lên án một quân nhân Do Thái bị bắt cóc, nhưng họ lại im lặng trước tình trạng phá nhà, chiếm đất, xua đuổi người Palestine, hay thậm chí một người dân Palestine, một thiếu niên Palestine có thể bị bắn chết bất cứ lúc nào mà không ai bị buộc tội, không cần phải bồi thường cho nạn nhân.

Hoa Kỳ là quốc gia đại diện cho tự do, dân chủ, luôn luôn lên án các chế độ độc tài, vi phạm nhân quyền, áp bức, nhưng đối với sự chiếm đóng của người Do Thái, và những sự vi phạm nhân quyền của lực lượng an ninh Do Thái bị chính tổ chức nhân quyền B’Tselem của Do Thái lên án, chính phủ Hoa Kỳ cũng im lặng!

Một nhân vật ngoại giao nào tuyên bố: “People will not calm down unless and until the Palestinian question is fairly resolved ”. Không chỉ bị Do Thái mà còn cả Hoa Kỳ lên án! Ông Amr Moussa bị Tổng thống Hosni Mubarak cách chức ngoại trưởng chỉ vì tuyên bố như trên!

Nhiều nhà phân tích nhận định chính sách an ninh của Hoa Kỳ ở Trung Đông là chính sách bảo vệ Do Thái nhiều hơn là bảo vệ cho quyền lợi an ninh thực sự của Hoa Kỳ.

Không chế độ độc tài nào có thể tồn tại mãi mãi.

Không có sự áp bức và bất công nào có thể chịu đựng mãi.

Với hệ thống truyền thông hiện nay những sự bất công, đàn áp, tham nhũng không còn có thể che dấu và tiếp tục che dấu, khi chính quyền không đáp ứng nguyện vọng của người dân, nhân dân sẽ quyết định cho chính quyền.

Cách mạng đã diễn ra ở Tunisia, ở Ai Cập và đang diễn ra trên nhiều nước. Các nhà lãnh đạo Tây Phương và Tổng thống Obama cũng đã cũng nhấn mạnh đây là thời gian thay đổi lập tức, “change now”, ở Ai Cập, thì có lẽ lúc này cũng là thời gian cần “change now” đối với chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ ở Trung Đông và chánh sách chiếm đóng của Do Thái.

Đầu thế kỷ thứ 20 các nước Tây Phương là những quốc gia chiếm đóng, bóc lột đàn áp người dân các nước thuộc địa Phi Châu, Á Châu và Châu Mỹ La Tinh. Ngày nay, Tây Phương đã trở thành những nước nêu cao dân chủ, tự do, nhân quyền, và đã hoàn toàn thay đổi, thì những nhà làm chính sách, chiến lược Tây Phương cũng không thể tiếp tục cho rằng những phong trào, những đoàn thể, đảng phái tại các nước trước đây có hoạt động, phương châm, cương lĩnh không còn thích họp với giai đoạn hiện nay là những thành phần nguy hiểm.

Vào năm 1998, những người Hồi giáo ở Thổ Nhĩ Kỳ thành lập đảng Đạo Đức (Fazilet Partisi), đảng này bị cấm hoạt động trong năm 2001 vì có chủ trương vi phạm bản hiến pháp thế tục. Sau đó, những người có khuynh hướng cải cách của đảng Fazilet đã thành lập nên đảng Công lý và Phát triển (Adalet ve Kalkınma Partisi), gọi tắt là đảng AK. Xuất thân Hồi Giáo của đảng AK đã làm cho quân đội Thổ Nhĩ Kỳ, Tòa Án Thổ Nhĩ Kỳ, và dư luận Tây phương lo ngại. Đảng AK cũng suýt bị tòa án hiến pháp giải tán. Tuy nhiên, từ ngày thắng cử trong năm 2002, đảng AK đã rất thành công trong việc phát triển kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ, đẩy mạnh chủ trương gia nhập Liên Âu, và tạo cho Thổ Nhĩ Kỳ trở thành một nước dân chủ kiểu mẫu của một quốc gia Hồi Giáo.

Phong trào Huynh Đệ Hồi Giáo ở Ai Cập có thể là một phong trào bảo thủ Hồi Giáo trong đầu thế kỷ thứ 20, nhưng thực tế hiện giờ họ là một phong trào đang do các thành phần trí thức tân tiến lãnh đạo, được giới trung lưu và người nghèo trong nước ngưỡng mộ, cho nên mọi sự kết luận nếu phong trào nào này lên cầm quyền ở Ai Cập sẽ nguy hại cho Hoa Kỳ, Do Thái và Tây Phương cũng chỉ là một sự lo ngại quá sớm.

Lo ngại al Qaeda mở rộng ảnh hưởng càng không có cơ sở. Huynh Đệ Hồi Giáo đã bị al Qaeda lên án là bọn phản bội Hồi Giáo và Huynh Đệ Hồi Giáo cũng đã lên án chủ trương khủng bố của al Qaeda là chủ trương phản Hồi giáo.

Trong ngày Chủ Nhật, 13/2, Cựu Thủ tướng Tony Blair đang làm đặc sứ của Bộ Tứ (Hoa Kỳ, Nga, Liên Âu, Liên Hiệp quốc) lo vận động hòa bình Trung Đông nói: “Tổng thống Mubarak từng là một lực đẩy cho ổn định và hòa bình trong vùng. Tuy nhiên, lúc này là thời điểm vui mừng, phấn khởi và thời cơ vì tất cả những lực lượng dân chủ bị đè nén trước đây đã bật dậy. Ông Mubarak ra đi sẽ trở thành sức bật cho toàn vùng, là thời cơ để toàn vùng đứng lên thay đổi dân chủ đem lại lợi ích cho toàn vùng và cho cả thế giới.”

Sự ổn định dưới thời ông Mubarak như cựu Thủ tướng Tony Blair đã ca ngợi rõ rệt là sự ổn định như dưới mặt nước đang dậy sóng ngầm, dưới mặt đất đang sắp có động đất. Sau những trận động đất làm sao đem lại sự ổn định lâu dài không chỉ là thách thức đối với các chế độ dân chủ Tunisia, Ai Cập, ở các nước Á Rập khác, mà cũng là thử thách đối với các nước Tây Phương.

Dân chủ là giá trị thời đại, dân chủ thực sự trong một thế giới Hồi giáo không thể loại bỏ mọi yếu tố Hồi Giáo và sự tham gia của các tổ chức Hồi Giáo. Mọi sự lo ngại và mưu toan loại trừ sẽ làm cho toàn vùng trở nên nguy hiểm. Trong ngày 15/2, ông Gilles de Kerchove là giám đốc chống khủng bố Liên Âu tuyên bố: “Các cuộc cách mạng ở Tunisia và Ai Cập không có liên hệ gì với al Qaeda, chính phủ các nước Liên Âu phải giúp cho các nước Trung Đông chuyển tiếp dân chủ, nhưng phải bảo đảm không để cho những người lãnh đạo Hồi Giáo cầm quyền.” Lời tuyên bố này có lẽ mâu thuẫn với nguyên tắc dân chủ, khó thực hiện và có thể đem lại nguy hiểm nhiều hơn sự nguy hiểm mà ông Kerchove lo ngại.

Các cuộc đứng dậy ở Tunisia, Ai Cập ngoài yếu tố đòi hỏi tự do, dân chủ, còn xuất phát từ các yếu tố xã hội và kinh tế. Và rõ rệt những yếu tố sau này mới các động lực chính. Các chế độ dân chủ trong tương lai ở Tusinia, Ai Cập có sớm đem lại một đời sống dễ chịu hơn cho người dân hay không? Tạo được công ăn việc làm cho giới thanh niên thất nghiệp hay không? Đây là những thách thức vô cùng lớn lao. Hoa Kỳ và Tây Phương đã có kế hoạch nào để giúp cho các chế độ dân chủ trong tương lai nhanh chóng đem lại ổn định kinh tế và xã hội hay không là điều cần phải quan tâm tới.

Nền kinh tế của Hoa Kỳ và các nước Tây Phương còn chưa phục hồi, đang gặp khó khăn tài chánh, thâm thủng ngân sách, chồng chất công nợ là điều rất đáng lo.

Trong tuần qua, khoảng 4000 người Tunisia đã dùng thuyền đến đảo Lampedusa của Ý. Làn sóng di dân của những người muốn tìm cơ hội mới và tránh sự trả thù sau cách mạng đã tạo báo động của Liên Âu, và tạo căng thẳng giữa Liên Âu với chính phủ lâm thời Tunisia. Đây là một triệu chứng không mấy tốt đẹp.

Không thể đem lại ổn định đời sống, không thể tạo được công ăn việc làm. Dù sống dưới chế độ dân chủ và tự do, thanh niên thất nghiệp vẫn có thể dễ dàng trở thành những con mồi của các lực lượng quá khích. Sự bất ổn rất có thể sẽ kéo dài một thời gian.

Tuy nhiên, nếu dân chúng được sống trong một chế độ thực sự dân chủ, mọi sự bất công, tham nhũng, lạm dụng quyền lực được giải quyết, tự do ngôn luận được nêu cao, những chủ trương quá khích tự nó sẽ chết dần.

Cuộc cách mạng Tunisia, Ai Cập sẽ lan trong Thế giới Á Rập đến đâu? Hoa Kỳ và Tây phương có thể hướng dẫn cuộc cách mạng hiện nay theo thế có lợi hay hại có lẽ sẽ tùy thuộc phần lớn vào quan niệm đối với Hồi giáo, chính sách đối với Hồi giáo, cũng như khả năng giúp giải quyết các vấn đề kinh tế và xã hội đã bị bệnh trầm kha qua nhiều thập niên bị độc tài và tham nhũng cai trị.

Cầu mong các cuộc cách mạng dân chủ ở Thế giới Á Rập thành công.

Các cuộc cách mạng này không chỉ đang làm rung chuyển tại các nước Á Rập mà còn đang vang dội tới Châu Mỹ La Tinh, đến Á Châu. Ông Hugo Chavez đang lo ngại. Bắc Kinh đang lo ngại.

Việt Nam cũng ở trong tình trạng không khác gì Tunisia:

• Mức phát triển kinh tế cao, một nước được coi là sư tử Phi Châu, một nước được coi là hổ Á Châu, nhưng tài sản quốc gia nằm trong tay đảng cầm quyền và gia đình những người lãnh đạo.

• Thanh niên là thành phần chiếm đa số dân số.

• Mọi thứ quyền tự do của con người bị tước đoạt.

• Tham nhũng đục khoét mọi lãnh vực.

• Trong khi giới lãnh đạo có người sống hơn đế vương, đa số dân chúng phải sống dưới lợi tức 2 mỹ kim một ngày.

Cùng một hoàn cảnh, thanh niên, dân chúng Tunisia đã vùng lên, đã lật đổ chế độ độc tài, đã giải tán đảng Tập hợp Dân chủ Hiến Pháp (RCD - Rassemblement Constitutionel Démocratique).

Không biết bao giờ cách mạng Dân chủ Việt Nam sẽ bùng lên để cáo chung chế độ Cộng Sản đã và đang tàn phá quê hương?

Mong rằng “Ngày Tức Giận” này sẽ diễn ra trong một thời gian không xa.

Huệ Vũ.
http://www.thegioimoionline.com/tm.php?recordID=1974
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Ai rửa xe thuê?

Đinh Từ Thức
(Góp ý cùng nhà lý luận Hà Sĩ Phu qua bài Vong bản từ đâu?)


Image
Người đi qua những khẩu hiệu viết trên tường gần Quảng trường Tahrir 13-2, 2011: “Chúng tôi yêu Ai Cập”, “Hãnh diện là người Ai Cập”.
Hình của Reuters/Asmaa Waguih
Ngày 10 tháng 2, trên mạng Bauxite Việt Nam có bài Vong bản từ đâu? (1) Của nhà lý luận Hà Sĩ Phu, “Mạn đàm cùng nhà Sử học Dương Trung Quốc” về “phẩm chất con người Việt Nam”. Theo ông Hà Sĩ Phu, trong thế kỷ vừa qua, phẩm chất con người Việt Nam có khi cao, khi thấp. Ông nói:
Theo tôi, phẩm chất con người Việt Nam đạt đỉnh cao nhất ở nửa sau của thời kỳ Pháp thuộc. Còn đoạn lõm thấp nhất, bị tha hóa tệ hại nhất là ở nửa sau của cuộc “Cách mạng Vô sản”, tức chính là những năm tháng hiện nay.

Phẩm chất con người Việt Nam hiện nay được ông ghi nhận như sau:

Hãy nhìn vào thực tiễn xã hội: Có bao giờ người Việt Nam lại thờ ơ trước nguy cơ vong quốc, nguy cơ bị đồng hóa như bây giờ? Có bao giờ sự thờ ơ trước đau khổ của đồng loại, sự đâm chém, băm chặt nhau dễ dàng như cơm bữa, sự nhố nhăng mất gốc, sự phô bày thú tính, sự vênh vác rởm đời, sự hành hạ người yêu nước một cách ngang nhiên, sự nịnh bợ kẻ nội xâm và ngoại xâm… lại được tôn vinh trước thanh thiên bạch nhật như bây giờ? Có bao giờ sự thành thật lại thua sự giả dối, người lương thiện lại sợ kẻ gian manh, người yêu nước lại bị lép vế, bậc thức giả lại bị cười khinh, công lý lại bị nhạo báng một cách thảm hại như bây giờ?

Từ những ghi nhân trên, ông Hà Sĩ Phu đi tới kết luận là con người Việt Nam hiện bị “mất gốc hoàn toàn” hay “vong bản tuyệt đối”. Và đặt câu hỏi “Vong bản từ đâu?” Trong khi “mạn đàm” về câu trả lời, ông đã dựa vào văn học, sử học, triết học, toàn những thứ trừu tượng khó nắm bắt. Vì thế, tôi không dám phản bác ý kiến của ông Hà, chỉ xin góp với ông vài ý thô thiển để trả lời câu hỏi “Vong bản từ đâu?”

Với nhà báo chúng tôi, thường không quen lý luận cao siêu trừu tượng, mà chỉ tìm giải đáp ngay từ những gì thấy được hàng ngày, nhất là thời sự. Cho nên, trước khi góp ý, xin mời ông đọc mấy đoạn trích dịch sau đây từ bài “Out of Touch, Out of Time” của nhà báo Thomas L. Friedman viết từ Cairo, sau khi nghe ông Mubarak đọc diễn văn chót vào đêm 10 tháng 2, đăng trên The New York Times ngày 11 tháng 2, 2011 (2):

“Lời lẽ của ông Mubarak và Suleiman nói với những người biểu tình đòi dân chủ không thể nào xúc phạm hơn: “Hãy tin chúng tôi. Chúng tôi sẽ thi hành tiến trình cải tổ từ bây giờ. Mọi người có thể về nhà, trở lại làm việc và chấm dứt để cho mấy đài truyền hình ngoại quốc qua vệ tinh – như Al Jazeera – làm cho bức xúc như thế. Đồng thời, đừng để cho thằng cha Obama chỉ thị cho người Ai Cập tự hào chúng ta phải làm gì”.

“Bài bản này hoàn toàn xa rời thực tế cuộc nổi dậy đòi dân chủ tại Quảng trường Tahrir, đó hoàn toàn là cuộc tự giành quyền sau một thời gian dài bị áp bức, nhân dân không chịu sợ hãi nữa, không để tự do của mình bị tước đoạt nữa, và không chịu để các nhà lãnh đạo của mình làm nhục nữa, như đã nói với họ trong 30 năm rằng họ chưa sẵn sàng cho chế độ dân chủ. Thật vậy, phong trào dân chủ Ai Cập là tất cả những gì Hosni Mubarak nói rằng nó không phải như vậy: cây nhà lá vườn, không mỏi mệt và chính hiệu Ai Cập. Các sử gia tương lai sẽ viết về những thế lực lịch sử lớn lao đã tạo ra giây phút này, nhưng những mẩu chuyện nhỏ gặp được tại Quảng trường Tahrir cho thấy tại sao không thể ngăn chặn được nó.

“Tôi đã dành ra một phần buổi sáng tại quảng trường để quan sát và chụp hình một nhóm sinh viên trẻ Ai Cập đeo găng plastic, nhặt rác bằng cả hai tay và gọn gàng hốt rác bỏ vào những bao plastic màu đen, để giữ cho nơi này được sạch sẽ. Điều này làm tôi xúc động, nhất là bởi vì hơn một lần, tôi đã trích dẫn câu cách ngôn trong mục của tôi, là “trong lịch sử thế giới không một ai mang xe thuê đi rửa bao giờ”. Tôi dùng nó để nói rằng cũng không bao giờ có ai rửa một đất nước đi thuê – và trong thế kỷ qua người Ả Rập đã phải thuê đất nước họ từ vua chúa, độc tài và các thế lực thực dân. Vì vậy, họ đã không thèm rửa chúng.

“Người Ai Cập đã ngừng đi thuê, ít nhất tại Quảng trường Tahrir, nơi có treo một biểu ngữ hôm Thứ Năm, viết: “Tahrir – nơi tự do duy nhất tại Ai Cập”. Tôi tiến tới một trong những cậu có nhiệm vụ hốt rác – Karim Turki, 23 tuổi, từng làm việc tại một tiệm săn sóc da – và hỏi: “Tại sao anh đã tình nguyện làm việc này?” Anh vội vã trả lời bằng thứ tiếng Anh đứt đoạn: “Đây là đất tôi. Đây là nước tôi. Đây là nhà tôi. Tôi sẽ làm sạch cả Ai Cập khi Mubarak ra đi”. Quyền sở hữu là thứ thật đẹp.
“Khi rời đống rác, tôi gặp ba người đàn ông có vẻ giàu có và họ muốn nói. Một trong số là Ahmed Awn, 31 tuồi, giải thích rằng anh khá dễ chịu về tài chánh, và ngay cả chịu thiệt hại nếu vụ xáo trộn ở đây tiếp tục, nhưng anh muốn tham dự vì những lý do quan trọng hơn tiền bạc nhiều. Anh nói, trước vụ nổi dậy này, “Tôi đã không hãnh diện nói với người khác tôi là người Ai Cập. Hôm nay, với những gì xảy ra tại đây” tại Quảng trường Tahrir, “Tôi có thể hãnh diện lại nói tôi là một người Ai Cập”.
“Sự nhục nhã là tình cảm mạnh nhất của loài người, và vượt qua nó là tình cảm mạnh thứ nhì của loài người. Đó là một phần lớn của những gì đang diễn ra ở đây.

“Sau cùng, trong khi qua cầu sông Nile rời khỏi quảng trường, một người Ai Cập ăn mặc sang trọng chặn tôi lại – một độc giả của Times – đang làm việc tại Saudi Arabia. Ông ta cùng đi với vợ và hai con trai. Ông kể là ông tới Cairo hôm Thứ Năm để đưa hai con tới nhìn, nghe, cảm và sờ Quảng trường Tahrir. Ông nói: “Tôi muốn nó là dấu ấn trong tâm khảm chúng”. Có vẻ đây là cách của ông ta để bảo đảm rằng chế độ chuyên chế này không bao giờ trở lại. Đây là những người mà ông Mubarak lên án rằng họ đã hoàn toàn bị khuấy động bởi người nước ngoài. Sự thật, phong trào Tahrir là một trong những điều xác thực nhất, nhân bản nhất để đòi nhân phẩm và tự do mà tôi từng chứng kiến”.
Đó là những ghi nhận của Friedman đêm trước khi Mubarak chịu từ chức. Sau đây là ghi nhận của nhà báo Roger Cohen hôm sau ngày Mubarak ra đi, cũng liên hệ tới chuyện hốt rác tại Quảng trường Tahrir (3):

“Kamal, 26 tuồi, có vẻ hãnh diện trong bộ hijab (khăn che kín đầu tóc và chung quanh cổ nhưng hở mặt) mầu hồng. Cô đứng cạnh một biểu hiệu viết: “Xin lỗi làm phiền, chúng tôi đang xây dựng Ai Cập”. Được hỏi tại sao quét đường, cô nói: “Tất cả bụi bặm là quá khứ. Chúng tôi muốn thanh toán cái cũ và bắt đầu làm sạch”.

Ông Mahmoud Abdullah, một nhà hóa học đã về hưu chen vào, chỉ cô và nói với tôi: “Đây là một thế hệ rất quý. Họ đã làm điều chúng tôi không làm được”.

Sau đây là ghi nhận của nhà báo Kathy Lally của Washington Post, về một anh tên là Elennen, sau ngày Mubarak từ chức (4):

“Mọi Thứ Sáu trong cuộc phản đối tại Cairo, Elennen đều cùng với gia đình tới đứng tại Quảng trường Tahrir. Một anh em đồng hao về từ Saudi Arabia để có mặt tại đó; những người họ hàng khác về từ Morocco.

Anh nói: “Nếu tôi không tới, tôi cảm thấy tôi không xứng đáng là người Ai Cập”.

Anh tới đó, cùng với và vì mấy đứa con gái của anh. Vợ Elennen là người Algeria, và các con của họ thường nhận mình là người Algeria, xấu hổ vì Ai Cập và sự nghèo khổ cùng hèn mọn của nó. Bây giờ họ cảm thấy như là những công dân của một nước can đảm và hùng mạnh, và tự mình tuyên bố hoàn toàn là người Ai Cập, khiến Elennen gần khóc một lần nữa”.

*

Đến đây, dù chưa góp ý, chắc ông Hà cũng đã biết ý của tôi. Từ hơn thế kỷ qua, cũng như người dân Ai Cập, người dân Việt Nam đâu có làm chủ đất nước mình, họ là người thuê nước từ vua chúa, thực dân, và độc tài. Khi đất nước chỉ như cái xe thuê, họ đâu cần săn sóc, và thật ra, cũng không có quyền săn sóc, vì đó là quyền của chủ, không phải của người thuê.

Tại sao phẩm chất con người Việt Nam đạt điểm cao nhất ở nửa sau thời kỳ Pháp thuộc, và hiện đang ở giai đoạn thấp nhất?

Tình hình thế giới từ sau Đệ nhất đến sau Đệ nhị Thế chiến tạo cho người dân Việt Nam một hy vọng. Đó là sự kiện ông thực dân chủ xe bị đột quỵ, có thể sắp quy tiên, người thuê xe có thể trở thành chủ nhân cái xe mình đang dùng; trước sau gì cũng là của mình, nên bắt đầu săn sóc nó, tận tụy với nó. Đây là giai đoạn phẩm chất con người Việt Nam đạt cao điểm. Sang trọng có thể gọi là “Thế hệ vàng”. Dân dã hơn, có thể có những cách gọi bỗ bã khác.

Những tại sao lại là “vàng”?” Vì khi ông chủ thực dân quy tiên, trong một thời gian, quả thật người dân Việt Nam cảm thấy quyền sở hữu chiếc xe về tay mình. Cả một thế hệ đã sẵn sàng hy sinh, săn sóc, bảo vệ nó. Đó là thứ tình cảm giống như người dân Ai Cập cảm nhận khi vào năm 1952, ông Nasser không chịu thuê nước Ai Cập từ Vua Farouk nữa.

Nhưng hai năm sau, khi ông Nasser ban hành Hiến pháp, quy định Ai Cập là nước xã hội độc đảng, người dân Ai Cập trở lại là người thuê nước từ đảng cầm quyền, cho đến ông chủ cuối cùng là Mubarak. Người dân Việt Nam cũng vậy, sau thời gian tưởng mình là chủ nhân, cái xe nước đã chính thức (Hiến pháp quy định hẳn hoi) là vật sở hữu của ai khác. Người dân vẫn là người đi thuê. Trước kia thuê của thực dân, vì nó mạnh, đành chịu. Bây giờ phải thuê từ “người nhà”, tức ứ hơi. Muốn sống chỉ còn cách biết sợ và chịu nhục. “Tôi biết sợ nên tôi tồn tại”. Trong lịch sử nhân loại, có thế hệ nhục nhã nào được mệnh danh là “Thế hệ vàng”? Có cuộc sống nhục nào đạt phẩm chất cao? Đó là lý do phẩm chất con người Việt Nam đi từ chỗ cao nhất xuống chỗ thấp nhất.

Không phải chỉ thuê nước. Mỗi người dân còn là người thuê chính bản thân mình. Ông Hà Sĩ Phu đã có lần công khai phàn nàn không hiểu sao bản thân mình cứ bị nhà cầm quyền phiền hà, quấy nhiễu. Làm như vậy vì lầm tưởng ông là chủ bản thân mình. Đầu óc để nghĩ, miệng để phát biểu, tay để viết, chân đi lại, tất cả những thứ ấy đều là bộ phận của cơ thể, nhưng không phải ông, mà người ta có quyền định đoạt về cơ thể ông, như theo dõi, đụng xe, bắt giữ, buộc tội, bỏ tù, “đột quỵ”, hay “tự sát”. Ông không được quyền định đoạt cơ thể ông, vậy nó không thuộc về ông. Ông chỉ là người thuê. Thuê xe màu đỏ mà tự ý sơn xanh, ráp thêm loa, gắn thêm còi, bị chủ xe bắt “làm việc” là đúng. Không muốn “làm việc” thì cứ buông thả, sống như những gì ông đã ghi nhận trong điểm lõm hiện nay.

Mấy nhà báo Mỹ có mặt tại Quảng trường Tahrir tối 10 và 11 tháng 2 đã ghi được tâm trạng của mấy người Ai Cập từng cảm thấy nhục nhã là người Ai Cập. Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt cũng đã có lần phát biểu tương tự: Khi ra nước ngoài, ông cảm thấy nhục nhã là người Việt Nam. Điều gì đã khiến những người Ai Cập đang từ nhục nhã đổi sang hãnh diện, vui mừng tới phát khóc được làm người Ai Cập? Đó là sự ra đi của ông Mubarak, và đảng của ông hết cầm quyền.

Điều gì sẽ khiến những người như ông Ngô Quang Kiệt lại cảm thấy hãnh diện là người Việt Nam?
Hy vọng đã góp được vài ý mọn cho câu hỏi “Vong bản tại đâu?”
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

Vẫn đang xào bài....
Lữ Giang



“Nhân danh Thượng Đế nhân từ và hay thương xót, thưa đồng bào, “Trong giai đoạn rất khó khăn mà Ai Cập đang trải qua, Tổng Thống Hosni Mubarak đã quyết định rời bỏ chức vụ Tổng Thống của nước Cộng Hoà và giao cho Hội Đồng Quân Đội Tối Cao quản trị công việc của đất nước. “Xin Thượng đế phù hộ mọi người.” Đó là thông điệp ngắn mà Phó Tổng Thống Ai Cập Omar Suleiman đã đọc trên đài truyền hình quốc gia Ai Cập ngày 11.2.2011, loan báo Tổng thống Mubarak từ chức,

QUẦN CHÚNG CHỈ LÀ CÔNG CỤ

Trong hầu hết các biến cố chính trị thường được gọi là “cách mạng”, quần chúng bao giờ cũng chỉ là công cụ, những tay xào bài chuyên nghiệp đứng đàng sau hậu trường mới là những người làm chủ và lèo lái tình hình.

Việt Nam cũng đã trải qua hai cuộc “cách mạng” lớn đưa đất nước vào những ngày đen tối, đó là cuộc “cách mạng tháng 8” năm 1945 và cuộc “cách mạng ngày 1.1,1963”. Trong cả hai trường hợp, quần chúng đều bị biến thành công cụ.

Ngày 17.8.1945 Tổng Hội Công Chức tổ chức một cuộc biểu tình lớn trước Nhà Hát Lớn ở Hà Nội để ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim. Vì đã chuẩn bị trước, Việt Minh cho khoảng 100 cán bộ trà trộn trong đám biểu tình, trương biểu ngữ của Mặt Trận Việt Minh lên, bắn mấy phát súng, và nhảy lên cướp máy phóng thanh, biến cuộc biểu tình thành cuộc diễn hành của Việt Minh.

VNQDĐ và Đại Việt có số đảng viên gấp muời ngàn lần Việt Minh, nhưng không biết phải làm gì. Lê Khang đòi đem quân cuớp chính quyền thì bị bác bỏ và bảo phải đợi quân đội Đồng Minh tới quyết định. Do đó Việt Minh đã cướp chính quyền và đưa Việt Nam vào cuộc chiến kéo dài 30 năm. Lúc đầu dân chúng tưởng Việt Minh là tổ chức giàng độc lập nên đi theo.

Trong cuộc đảo chánh 1963, các tài liệu được tiết lộ cho biết nhân vụ Phật giáo xẩy ra vào tháng 5 ở Huế, cơ quan tình báo Hoa Kỳ đã đưa William Kohlmann, một điệp viên quen biết với Trần Quang Thuận khi còn ở London, đến Sài Gòn phối hợp với Trần Quang Thuận và Đại Đức Thích Đức Nghiệp thiêu Hoà Thượng Quảng Đức, rồi cho các ký giả CIA chụp hình và gởi đi khắp thế giới, tạo ra sự xúc động mạnh.

Sau đó, CIA xúi Tướng Trần Thiện Khiêm, một điệp viên khác của CIA, triệu tập các tướng lãnh lại và bàn nhau vào gặp ông Diệm, yêu cầu ban hành tình trạng khẩn cấp, ra lệnh lục xét các chùa, đưa các sư từ các tỉnh ra khỏi Sài Gòn để ổn định tình hình, nếu không làm như vậy quân đội sẽ không chịu chiến đấu. Ông Diệm không đọc kỹ Tam Quốc Chí nên bị trúng kế của CIA, ký vào bản dự thảo Sắc Lệnh ban hành tình trạng khẩn cấp do các tướng lãnh đệ trình và ra lệnh lục xét một số chùa. Washington dựa vào biến cố đó, gởi công điện khẩn cấp ra lệnh cho Đại Sứ Cabot Lodge tổ chức đảo chánh lật đổ ông Diệm. Hai nhân vật chính thực hiện kế hoạch này lại là hai người được ông Diệm tin cẩn nhất, nhưng lại là hai tay chân bộ hạ của CIA, đó là Tướng Trần Thiện Khiêm và Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu!

Cuộc đảo chánh thành công, dân chúng reo hò. Ngày 1 tháng 11 được biến thành ngày Quốc Khánh và đường Công Lý được đổi thành đường Cách Mạng 1 tháng 11. Nhưng miền Nam bị mất.

Năm 2003, Tổng Thống Bush đã tạo ra những lý do giả tạo, đưa quân đổ bộ vào Iraq bất chấp luật pháp quốc tế để khai thác dầu lửa và đấu thầu quốc phòng. Ông tuyên bố rằng giải phóng đất nước Iraq sẽ làm cho thế giới này yên bình hơn và không có Saddam Hussein, cuộc sống của người dân Iraq sẽ tốt đẹp hơn. Ông nói: “Tự do là một điều tuyệt vời. Khi có tự do, người Iraq sẽ được quyền thể hiện quan điểm, điều mà họ không thể làm trước đây”.

Dân chúng Iraq hò reo vui mừng khi Mỷ đổ quân vào Iraq. Họ đã kéo sập tượng Saddam Hussein xuống. Người Việt chống cộng còn vui mừng hơn, vì tin rằng sau Iraq sẽ đến Việt Nam. Nhiều cựu sĩ quan cao cấp của VNCH đã tình nguyện đi đánh Iraq và hiến kế để bình định Iraq, nhưng Mỹ bỏ ngoài tai. Kết quả, tình trạng ở Iraq và trên thế giới ngày nay còn tệ hơn dưới thời Saddam Hussein.

MUBARAK HẾT XÀI ĐƯỢC

Ai Cập có một vị trí chiến lược rất quan trọng: đó là một quốc gia liên lục địa, sở hữu một cầu nối lục địa giữa Châu Phi và Châu Á (Eo đất Suez), và một cầu nối giữa Biển Địa Trung Hải và Ấn Độ Dương thông qua Biển Đỏ (đường thuỷ Kênh Suez). Do đó, Hoa Kỳ và các quốc gia Tây phương đã tìm mọi cách để nắm chặt, không cho Ai Cập rơi vào tay Liên Sô hay nhóm Hồi Giáo quá khích.

Ba năm sau cuộc chiến tranh 6 ngày năm 1967, trong đó Ai Cập mất bán đảo Sinai vào tay Israel, Nasser chết và được Anwar Sadat kế vị. Sadat bỏ liên minh với Liên Sô để quay sang Hoa Kỳ, trục xuất các cố vấn Liên Xô năm 1972. Năm 1979, Sadat ký hiệp ước hòa bình với Israel để đổi lấy bán đảo Sinai.

Sadat bị những kẻ theo tôn giáo chính thống ám sát năm 1981. Hosni Mubarak lên làm Tổng Thống Cộng Hoà A Rập Ai Cập từ 14.10.1981. Ông lãnh đạo đảng cầm quyền Dân Chủ Quốc Gia, chiếm 90% số ghế trong Quốc hội. Hiến pháp phân quyền hành pháp giữa tổng thống và thủ tướng, nhưng trong thực tế quyền hành nằm trong tay Mubarak. Ông thường ra tranh cử trong những cuộc bầu cử chỉ có một ứng cử viên duy nhất. Cuộc bầu cử gần nhất được tổ chức vào tháng 9 năm 2005. Đó là nhiệm kỳ thứ 5 của ông.

Đối với Mỹ, những chuyện đó không có gì quan trọng. Vấn đề quan trọng là Mubarak phải ổn định được tình hình ở Ai Cập, một nước lớn trong vùng với khoảng 80 triệu dân. Ai Cập có một hệ thống quân đội lớn nhất trong khối A Rập với khoảng 450.000 quân phục vụ thường xuyên và Tổng Thống Mubarak là tư lệnh tối cao. Đó là một công cụ để bảo vệ quyền lực.

Mubarak cũng đã làm cho nền kinh tế Ai Cập đi lên. Tuy Ai Cập không có nhiều tài nguyên dầu lửa nhưng lại có một trữ lượng lớn khí đốt được khai thác bán qua các nước Âu Châu. Kênh đào Suez, một thông lộ rất quan trọng, đã đem lại cho Ai Cập một số thu trên 3 tỷ USD mỗi năm.

Những đền đài và di tích cổ, đặc biệt là các Kim Tự Tháp, cũng như gần đây việc mở mang các khu nghỉ mát bên bờ biển Hồng Hải đã giúp du lịch phát triển mạnh, mỗi năm có trên 10 triệu du khách, đem lại thu nhập $11 tỷ USD hàng năm.

Hoa Kỳ đã yểm trợ Ai Cập tối đa. Ai Cập là nước nhận viện trợ lớn thứ ba của Hoa Kỳ từ sau chiến tranh Iraq (khoảng 2,2 tỷ USD mỗi năm). Do đó, sau một thời gian dài ngưng trệ, nền kinh tế Ai Cập đã phát triển nhanh từ đầu thiên niên kỷ này và theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF), Ai Cập là một trong những nước trên thế giới đạt thành công tốt đẹp nhất về cải cách kinh tế.

Tuy nhiên, do chế độ ưu đãi những thành phần có liên hệ đến giới lãnh đạo và đảng cầm quyền, tình trạng tham nhũng lan tràn, lợi tức hầu hết chỉ tập trung vào tay một thiểu số, không được phân phối rộng rãi tới quảng đại quần chúng, nên khoảng 40% dân chúng Ai Cập đã phải sống với mức thu nhập dưới $2 mỗi ngày. Chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, chỉ số chứng khoán của Ai Cập giảm 54% so với năm 2008, thị trường chứng khoán Dubai xuống 72,4%.

Với tình trạng như trên, sự bất mãn ngày càng dâng lên và được các phe đối lập khai thác. Mubarak lại càng ngày càng già yếu, không còn khả năng lãnh đạo đất nước nên Mỹ đã chuẩn bị thay thế ông từ nhiều năm qua, khi thấy Mubarak có dự định tiếp tục lãnh đạo Ai Cập thêm một nhiệm kỳ thứ sáu.

CIA NHÚNG TAY VÀO

Vào mùa hè năm 2010 vừa qua CIA đã đưa ra một tài liệu nói rằng ông Mubarak đang mắc chứng bệnh ung thư dạ dày và tụy rất nặng và có thể ông không thể sống được đến kỳ bầu cử năm 2011.

Trên tờ The Daily Telegraph của Anh trong số ra ngày 5.2.2011, dưới đầu đề “Egypt protests: America's secret backing for rebel leaders behind uprising”, ba tác giả Tim Ross, Matthew Moore và Steven Swinford đã tiết lộ rằng chính phủ Mỹ đã bí mật hậu thuẫn cho các thành phần lãnh đạo đứng đàng sau cuộc nổi dậy ở Ai Cập để chuẩn bị thay đổi chế độ từ vài năm nay. Tài liệu này được biên soạn dựa vào các công điện về ngoại giao do Wikileaks tung ra.

Theo tài liệu, tòa Đại Sứ Mỹ ở Cairo đã giúp một nhân vật tranh đấu trẻ sang New York tham dự một cuộc hội thảo do Mỹ tổ chức, trong khi tìm cách che giấu danh tánh người này để không bị an ninh Ai Cập bắt giữ, nhưng bên ngoài Hoa Kỳ vẫn ca ngợi ông Mubarak như một đồng minh quan trọng ở Trung Đông.

Trong một công điện ngoại giao mật, gởi cho Ngoại trưởng Mỹ ở Washington hôm 30.12.2008, bà Margaret Scobey, Đại sứ Mỹ ở Cairo, cho hay các nhóm đối lập đang chuẩn bị các kế hoạch cho việc “thay đổi chế độ” xảy ra trước ngày có cuộc bầu cử tổng thống, dự trù diễn ra vào tháng 9 năm 2011. Một tu chính hiến pháp sẽ chuyển đổi từ chế độ hiện tại sang thể chế dân chủ nghị viện, với một tổng thống có ít quyền hơn và một thủ tướng cùng quốc hội có nhiều quyền hạn,

LỆNH TỪ WASHINGTON

Hôm 25.1.2011, hàng nghìn người xuống đường tại Cairo, thủ đô Ai Cập, hô to khẩu hiệu đòi Tổng thống Mubarak, người đã cầm quyền từ 30 năm qua phải từ chức. Cảnh sát đã đụng độ với những người biểu tình, khiến ít nhất 3 người thiệt mạng. Cuộc biểu tình kéo dài sang những ngày tiếp theo và càng ngày càng dữ dội.

Ngày 1.2.2011, gần ba tiếng sau khi Tổng Thống Hosni Mubarak xuất hiện trên truyền hình quốc gia ở Cairo tuyên bố không từ chức, từ Toà Bạch Ốc, Tổng Thống Obama tuyên bố ông tin rằng "đây là thời điểm để Ai Cập chuyển giao quyền lực hòa bình." Ông nói: "Tôi tin rằng một cuộc chuyển giao trong trật tự phải diễn ra trong hòa bình và phải bắt đầu ngay bây giờ,"

Sau đó, ông nói với những người biểu tình: "Nhân dân Ai Cập và các bạn thanh niên Ai Cập, chúng tôi đã nghe được tiếng nói của các bạn, nguyện vọng của các bạn."

Ngày 5.2.2011, Tổng Thống Obama kêu gọi "việc chuyển giao quyền lực một cách trật tự cần khởi đầu sớm". Ông muốn thấy Tổng Thống Mubarak "theo đuổi quyết định đúng đắn".

Hôm 6.2.2011, khi nói chuyện trên đài truyền hình Fox News, Tổng thống Obama nói: "Người dân Ai Cập muốn có tự do, họ muốn có bầu cử tự do và công bằng, muốn có một chính phủ đại diện cho họ, bởi thế chúng tôi cho rằng cần bắt đầu quá trình chuyển giao ngay từ bây giờ". Ông nói thêm rằng Hoa Kỳ sẽ không ép buộc ông Mubarak điều gì mà chỉ khuyên ông là "đã tới lúc ông cần bắt đầu thay đổi trong nước".

Ngày 9.2.2011, Ngoại trưởng Ai Cập Ahmed Aboul Gheit đã đến Washington gặp Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hilary Clinton để bàn về những vấn đề quan trọng giữa Ai Cập và Hoa Kỳ. Trong cuộc phỏng vấn của đài PBS NewsHour, Ngoại Trưởng Gheit nói rằng ông ta giận dữ về những thông điệp “mập mờ” trước đây của Hoa Kỳ về Ai Cập. Ông cho rằng những lời tuyên bố kêu gọi thay đổi ngay lập tức là không có lợi và bất chấp những sự tế nhị của tình hình Ai Cập. Nhưng theo ông, những thông điệp của Washington bây giờ đã tốt hơn rồi bởi vì Hoa Kỳ đã hiểu rằng cuộc thay đổi đột ngột sẽ đưa đến hổn loạn.

Ngày 10.2.2010, khi về lại Cairo, Ngoại trưởng Gheit lại nói với phóng viên Margaret Warner rằng tốt hơn là Hoa Kỳ nên khuyến khích Ai Cập trong những thay đổi của họ hơn là áp đặt ý muốn của mình.

Có lẽ đã có một sự đồng ý giữa Ngoại Trưởng Ai Cập và Ngoại Trưởng Hoa Kỳ tại Washington, nên ngày 11.2.2011, Tổng Thống Mubarak đã tuyên bố từ chức và trao quyền lại cho Hội Đồng Quân Đội Tối Cao.

Ngay sau đó, trong một cuộc họp báo, Tổng Thống Obama đã đề cao vai trò và thái độ trách nhiệm của quân đội Ai Cập trong “tiến trình dân chủ hóa” đất nước. Ông nói vì quyền lợi kinh tế và chiến lược, Hoa Kỳ có kế hoạch làm việc chặt chẽ với quân đội Ai Cập để bảo đảm ổn định tại Trung Đông.

Ngày 12.1.2011, Tổng Thống Obama tuyên bố việc tổng thống Hosni Mubarak từ chức đánh dấu sự khởi đầu của quá trình chuyển tiếp đến nền dân chủ tại Ai Cập, nhưng đó chưa không phải là điểm kết thúc. Ông cảnh báo "những ngày tháng khó khăn đang đợi phía trước". Ông kêu gọi quân đội Ai Cập hủy bỏ đạo luật ban hành tình trạng khẩn cấp mang tính trừng phạt người dân, sửa đổi hiến pháp, chuẩn bị cho bầu cử tự do và công bằng.

Ngày 13.2.2011, Quân Đội tuyên bố giải tán quốc hội, hủy bỏ hiến pháp và cam kết sẽ chuyển giao quyền hành cho một chính thể dân sự.

Những lời tuyên bố nói trên của Tổng Thống Obama được coi là những mệnh lệnh và đã được các nhà chức trách Ai Cập tuân hành.

AI SẼ THAY MUBARAK?

Sau khi lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Hoa Kỳ đã đưa Tướng Dương Văn Minh và ông Nguyễn Ngọc Thơ lên làm chính phủ trái độn, rồi để cho tình hình trở nên ngày càng xấu đi, sau đó sai Tướng Trần Thiện Khiêm, Tư Lệnh Quân Đoàn 3, làm “chỉnh lý”, và đưa Tướng Nguyễn Khánh lên làm Quốc Trưởng bù nhìn, còn Trần Thiện Khiêm làm Thủ Tướng nắm thực quyền. Nhưng tình hình lại xẩy ra không như Hoa Kỳ muốn.

Trước hết, Tướng Khánh không muốn làm Quốc Trưởng bù nhìn, đã đẩy Tướng Khiêm đi và nắm toàn quyền, gây ra những rối loạn. Ngoài ra, các kiêu binh Phật Giáo tưởng họ đã lật đổ được chính phủ Ngô Đình Diệm, nên nhảy ra xưng hùng xưng bá. Theo báo cáo của CIA, Phật Giáo đã chống bất cứ chính phủ nào không do Phật Giáo lãnh đạo, không cần biết chính phủ đó do ai cầm đầu và có chủ trương như thế nào. Hoa Kỳ phải dùng Tướng Nguyễn Cao Kỳ và Tướng Nguyễn Ngọc Loan để dẹp loạn, rồi mới đưa Tướng Nguyễn Văn Thiệu lên và Tướng Trần Thiện Khiêm về. Tiến trình này kéo dài từ 1964 đến 1967.

Sau Mubarak, ai sẽ là Nguyễn Văn Thiệu và Trần Thiện Khiêm ở Ai Cập?

Bây giờ Washington đang xào bài, nên rất khó đoán được, nhưng chắc chắn sẽ rất căm go như ở VNCH trước đây. Nhiều nguời tin rằng Mỹ sẽ đưa giới quân sự trở lại để ổn định tình hình.

Ngoài việc chọn tổng thống, việc phân chia các ghế cho các nhóm trong quốc hội cũng là một vấn đề gay cấn. Điều mà Hoa Kỳ và các nước Tây phưong quan tâm nhất là vai trò của nhóm Huynh Đệ Hồi Giáo (Muslim Brotherhood). Đây là nhóm Hồi Giáo mạnh nhất trong khối A Rập hiện nay, được Hassan al-Banna thành lập từ năm 1928 tại Ai Cập. Khẩu hiệu của nhóm là "Hồi Giáo là giải pháp” (Islam is the solution). Trong thời gia qua, nhóm này không đi theo nhóm Hồi Giáo chủ trương khủng bố và có thái độ ôn hoà trước các biến cố chính trị, nhưng bên trong vẫn tìm cách giành quyền thống lãnh đất nước Ai Cập. Trong cuộc chính biến vừa qua, Abdel Monem Abul Fotoh, lãnh tụ của nhóm Huynh Đệ Hồi Giáo, tuyên bố tổ chức của ông sẽ không phản đối việc Phó Tổng thống Omar Suleiman đảm nhiệm quyền Tổng thống Ai Cập để tổ chức các cuộc bầu cử. Nếu để nhóm Huynh Đệ Hồi Giáo chiếm đa số trong quốc hội, đó là một mối nguy lớn.

Dưới thời VNCH, CIA và Tổng Thống Thiệu đã để cho Tỉnh Trưởng An Giang và Tỉnh Trưởng Khánh Hoà phụ trách điều chỉnh kết quả bầu cử Tổng Thống và Thượng Nghị Viện, sau này Nguyễn Văn Ngân liên lạc với các tỉnh để điều chỉnh kết quả bầu cử Hạ Nghị Viện. Nhưng đó là thời chiến. Không hiểu CIA sẽ xào bài như thế nào ở Ai Cập.

HẬU CHẤN AI CẬP

Năm 1990 – 1991, khi chế độ cộng sản tại Liên Sô và các nước Đông Âu sụp đổ, nhiều người tiên đoán Trung Quốc, Việt Nam và Bắc Hàn sẽ sụp đổ theo. Nhưng chuyện đó đã không xẩy ra vì ba nước này không nằm trong quỷ đạo hay vùng địa chấn của Liên Sô. Việt Nam và Bắc Hàn nằm trong quỷ đạo và vùng địa chấn của Trung Quốc. Khi nào Trung Quốc sụp đổ hai nước này sẽ bị kéo theo.

Hiện nay địa chấn phát ra tại Tunisia và Ai Cập đang lan rộng ra là trong khối Ai Cập và Bắc Phi. Chưa ai đoán được nó sẽ gây ra tình trạng như thế nào. Nhiều người Việt chống cộng muốn nó lan tới Việt Nam, nhưng giữa ước muốn và hiện thực cách nhau quá xa.

Vấn đề đem lại dân chủ cho Ai Cập mà Tổng Thống Obama đã hô hào, cũng chỉ là chiêu bài, vì các lý do sau đây:

1.- Không bao giờ có dân chủ ở các nước theo Hồi Giáo như các nước thuộc khối A Rập và Bắc Phi, mặc dầu có bầu cử tự do. Ở những nơi đó kinh Koral và luật Shariah sẽ nghiền nát dân chủ. Một thí dụ cụ thể: Khi Mỹ đổ quân vào Afghanistan và Iraq đã hứa đem lại dân chủ tại hai nước này rồi từ đó cho lan rộng ra các cùng xung quanh, nhưng nay đã thất bại hoàn toàn. Mới đây Hội Đồng Giám Mục Canada và các nhà lãnh đạo Khối NATO đã lên tiếng kêu gọi chính phủ Afghanistan trả tự do cho ông Musa Sayed, một cựu tín đồ Hồi giáo làm việc cho Tổ Chức Hồng Thập Tự bị kết án tử hình vì đã trở lại Kitô giáo. Nhưng ông Jamal Khan, một viên chức của bộ tư pháp Afghanistan, đã trả lời rằng "bản án dành cho một người từ bỏ Hồi giáo để cải đạo sang một tôn giáo khác là tử hình và sẽ không có bất cứ luật trừ nào".

2.- Ở tại các nước A Rập và Bắc Phi còn có quá nhiều người nghèo và có kiến thức thấp. Những ngưởi nghèo chỉ lo cơm áo, còn những người có kiến thức thấp thường suy nghĩ và hành động theo cảm tính, và hay xuẩn động. Một thí dụ cụ thể: Tại nước Mỹ này, một nước có tự do dân chủ nhất thế giới, nhưng một số người Việt sống tại Mỹ đã không chấp nhận quyền tự do dân chủ. Họ bắt những người khác phải suy nghĩ và hành động như họ, làm khác đi đều bị kết án là tay sai cộng sản hay đặc công cộng sản nắm vùng, Trong khi đòi CSVN thực hiện tự do dân chủ, họ lại vạch ra một “lề đường bên phải” để bắt mọi người phải theo. LHQ biết rõ điều đó nên đang cố gắng nâng cao mức sống và kiến thức ở các nước chập tiến lên, nhưng đó là chuyện của thế kỷ.

3.- Roger Hardy, một phân tích gia về Trung Đông, nói rằng Tây phương trong nhiều thập kỷ vẫn coi ổn định ở khu vực này là ưu tiên cao hơn so với các quyền dân chủ và quyền con người.

Đợi xem Mỹ xào bài như thế nào để các nước trong khối A Rập và Bắc Phi không rơi vào những ngày đen tối.

Ngày 15.2.2011
Lữ Giang
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

Làn Sóng Dân Chủ
Trần Khải
Điều chúng ta suy nghĩ và quan tâm, rằng làn sóng dân chủ có thể tràn vào Việt Nam hay không? Có vẻ như trong khi nhà nước Trung Quốc quan ngại trước các cuộc biểu tình ở Ai Cập và ra sức ngăn các bản tin liên hệ trên mạng Internet, phía báo chí quốc nội Việt Nam vẫn loan tin về Ai Cập, tuy không xem ở tầm quan trọng. Có phải Việt Nam đã có độc chiêu ngăn cản biểu tình đòi dân chủ?

Trong khi đó, các thông tấn Việt ngữ hải ngoại bày tỏ chú tâm về tình hình có thể xảy ra những cuộc biểu tình tại Việt Nam. Hay là một mồi lửa cho dân chủ. Bởi vì Ai Cập tuy là một nước độc tài, nhưng sự sụp đổ rất là bất ngờ, ngoài tầm tiên đoán của lãnh đạo Ai Cập và ngay sau đó cơ quan CIA đã nhìn nhận là không thấy trước, và bị chỉ trích nặng nề.

Mức độ quan sát về làn sóng dân chủ này tới mức Đàì VOA hôm 10-2-2011 đã có ngay một bài viết nhan đề “Lính Việt Nam sẽ theo gương Ai Cập hay Trung Quốc?” Nghĩa là, khi đối diện với làn sóng biểu tình, dù vì lý do dân chủ hay đòi cải thiện dân sinh, bộ đội Việt Nam sẽ không bắn vào dân (như lính Ai Cập) hay sẽ bắn xối xả vào dân (như lính TQ ở Thiên An Môn).
Bản tin VOA viết về quan tâm này:

“Những biến động ở Ai Cập hồi gần đây đã khiến nhiều người, đặc biệt là những người quan tâm tới triển vọng phát triển dân chủ ở Việt Nam, nêu lên câu hỏi “Khi nào Việt Nam sẽ có một phong trào xuống đường đòi dân chủ như vậy?” Một câu hỏi khác cũng không kém phần quan trọng là "Trong trường hợp xảy ra một cuộc biểu tình như cuộc biểu tình ở Cairo, liệu những người lính Việt Nam sẽ theo gương binh lính Ai Cập để không nổ súng vào người biểu tình hay họ sẽ bước theo vết xe đổ của quân đội Trung Quốc năm 1989 để dùng xe tăng súng máy bắn giết thường dân vô tội?"...”(hết trích)

Không phải là nhìn vô căn cứ. Bởi vì làn sóng dân chủ đã lan từ Tunisia sang Ai Cập, lật đổ 2 chế độ hung hãn ở vùng naỳ, rồi các cuộc biểủ tình tràn sang Yemen, Syria, Lybia, Jordan, Bahrain, Algeria... Nghĩa là, dân chủ là ước mơ lớn của nhân loại, chỉ cần một mồi lửa là sẽ bùng lên.
Nhà báo Bùi Tín trên blog riêng ở Đaì VOA, hôm Thứ Năm 17-2-2011 đã viết bài nhan đề “Khi Ai Cập bước vào thời đại dân chủ,” ghi nhận:
“Ai Cập đã chuyển mình và đang vươn dậy. Do bề thế của một nước Hồi giáo đông dân - 83 triệu - do vị trí trung tâm giao lưu ở châu Phi và Trung Đông, do bề dày lịch sử từ cổ đại với nền văn minh Ai Cập đặc sắc, sự chuyển biến của Ai Cập từ độc đoán sang dân chủ đang được toàn thế giới theo dõi chặt chẽ và bình luận sôi nổi.

Lãnh đạo Israel nhận định «một cuộc động đất đang xảy ra trong thế giới A-rập».
Một hiện tượng chấn động dây chuyền đang diễn ra rộng khắp. Nhân dân Syria rục rịch xuống đường. Đường phố Yemen bắt đầu sôi động với sinh viên, thanh niên hoan nghênh cuộc thắng lợi lịch sử ở Tunisia và Ai Cập. Algeria loan báo sắp xóa bỏ «tình trạng khẩn cấp», hạn chế quyền tự do của công dân. Vua Bahrain vội mở kho nhà nước, phát cho công dân mỗi người một ngàn đôla. Cả thế giới A-rập không còn như trước nữa.

Trước đây luận điệu thịnh hành là: thế giới Hồi giáo và thế giới phương Tây là xung khắc, không chung sống hòa bình được với nhau, dân chủ đa nguyên đa đảng với bầu cử tự do bình đẳng và minh bạch là xa lạ với nền văn minh truyền thống Hồi giáo.

Cuộc sống thực tế đã và đang trả lời. Tự do dân chủ là giá trị phổ cập toàn nhân loại, bầu cử tự do đa nguyên đa đảng theo pháp luật là nguyện vọng sâu xa của quần chúng đông đảo mọi nước, không có trường hợp ngoại lệ, không trừ một nước nào. Hạnh phúc, niềm vui sướng của nhân dân được tự do ứng cử, bầu cử, tự do lựa chọn thật sự người đại diện cho mình là một niềm hạnh phúc, niềm vui sướng luôn có tính hấp dẫn và lan tỏa không sức gì cưỡng được...”(hết trích)

Việt Nam có thể bén mồi lửa dân chủ tương tự hay không?
Một diễn biến đáng chú ý ở Đà Nẵng hôm Thứ Năm cho thấy có vẻ như sự bất mãn chế độ đã lên tới cao độ.

Trang blog Dân Làm Báo viết bài nhan đề “Tai nạn hay “tự thiêu” trước trụ sở UBND TP Đà Nẵng ?” hôm 18-2-2011, có ghi hình ảnh và một băng video cảnh được suy đoán là tự thiêu ngay trước cổng trụ sở quan quyền Đà Nẵng. Thực tế, trông băng hình video, khó nghĩ rằng đó là tai nạn. Bản tin Dân Làm Báo viết:
“Khoảng 12h30”, trưa ngày 17/02, trước trụ sở UBND TP Đà Nẵng (trên đường Bạch Đằng) bất ngờ xuất hiện một chiếc xe máy bốc cháy dữ dội, bên cạnh là thi thể nạn nhân đã cháy đen. Ngay lập tức, lực lượng công an, cơ động… được huy động nhằm phong tỏa hiện trường. Nạn nhân được xác định là anh Phan Thanh Sơn, 31 tuổi, nhà ở đường Ngô Quyền – Quận Sơn Trà, hiện là kỹ sư CNTT tại công ty cao su Đà Nẵng.

Theo ghi nhận tại hiện trường, đám cháy khiến chiếc xe chỉ còn trơ lại khung sắt, nạn nhân chết ngay tại chỗ trên vỉa hè cách chiếc xe 2m. Công tác cứu hộ và dập lửa diễn ra rất chậm chạp, lực lượng công an được huy động chủ yếu để phong tỏa hiện trường.

Tại bệnh viện và nhà riêng của nạn nhân trên đường Ngô Quyền, ít nhất có trên 20 công an mặc sắc phục túc trực xung quanh....
Nguồn tin từ bạn đọc danlambao tại Đà Nẵng cho biết, hiện dư luận tại phường An Hải Đông – nơi nạn nhân cư ngụ – đang bàn tán xôn xao về việc có khả năng đây là một vụ “tự thiêu” để phản đối việc giải phóng mặt bằng. Được biết, gia đình anh Phan Thanh Sơn đang có bất đồng với chính quyền TP xung quanh việc giải tỏa, đền bù khu đất tại Cầu Rồng.

Cũng theo nguồn tin này, trước những lời bàn tán như trên, chính quyền địa phương đã phản ứng lại bằng cách cho rằng nạn nhân Phan Thanh Sơn là người mắc bệnh tâm thần...” (http://danlambao1.wordpress.com/2011/02 ... 1%BA%B5ng/)

Báo nhà nước lúc đầu nói là tai nạn, sau lại nghe chính quyền nói là tâm thần... Và tại sao xảy ra ngay trước cổng trụ sở Ủy Ban Nhân Dân Đà Nẵng, mà không công an nào ra dập tắt, và cứ cố ý để cho thiêu rụi?
Điều chúng ta còn quan tâm là: làn sóng dân chủ nên bùng phát ở đâu trước? Thí dụ, hai trung tâm biểu tình lớn ở Ai Cập là thủ đô Cairo và thành phố Alexandria. Nhưng quyết định cho chế độ Mubarak sụp đổ đã thấy là Cairo, nơi tập trung các công sở, dinh Tổng Thống, dinh Thủ Tướng, và là nơi thông tấn quốc tế dày đặc.

Trường hợp Việt Nam, có lẽ cũng tương tự, nếu làn sóng biểu tình dân chủ bùng phát. Đà Nẵng tất nhiên không thể là chủ điểm. Nếu tại Sài Gòn, cũng chưa chắc đã thành công, thậm chí ngay cả trường hợp bộ đội và công an Sài Gòn đứng về phía biểu tình, cũng có thể bị bao vây, cắt điện, cắt nước, cắt giao thông... liên tục vài tuần mà không lây lan ra Hà Nội thì cũng bế tắc. Như thế, phải là Hà Nội, nơi gia đình nào cũng có chiến binh chết trận thời nội chiến, nơi đại đa số các gia đình thuộc thành phần có công xây dựng chế độ CSVN.

Nhưng đa số tuổi trẻ Hà Nội lại có vẻ như đang lạnh nhạt, và chỉ quan tâm về kiếm tiền, hay vào xem tin về đám cưới các tài tử, diễn viên.
Thực ra,dân chủ cũng cần huấn luyện.

Một bản tin trên tờ Boston Globe ngày 13-2-2011 cho thấy tình hình Ai Cập thực ra là do một mồi lửa bất ngờ do Tổng Thống Goerge W. Bush quăng từ hồi xa xưa, và bây giờ mới ngún cháy. Chắc chắn, ông Bush cũng không ngờ rằng ông đã làm sụp đổ bạn vàng Mubarak mau chóng như thế, trong khi Bush và tất cả các quan chức Mỹ chỉ muốn diễn biến hòa bình để thúc đẩy bạn vàng dân chủ hóa -- kiểu như Đại Sứ Michael Michalak nói rằng, ưu tiên của Mỹ là giaó dục thế hệ trẻ tại VN.

Bản tin nhan đề “Bush program helped lay the groundwork in Egypt” (Chương trình của Bush đã giúp đặt nền móng tại Ai Cập).
Bản tin nói, một nỗ lực thời TT Bush để tài trợ và huấn luyện các quan sát viên bầu cử tại Ai Cập đã đóng vai chính trong phong trào lật đổ chế độ Tổng Thống Hosni Mubarak.

Chương trình này bơm nhiều triệu đôla trực tiếp cho các nhóm dân chủ, giúp đưa 13,000 thiện nguyện viên đi quan sát các cuộc bầu cử quốc hội Ai Cập hồi tháng 12-2010. Nghĩa là, chương trình từ thời Bush, nhưng nỗ lực dân chủ hóa là thời TT Barack Obama. Chính nhiều ngàn thiện nguyện viên này đã nổi giận vì nhìn thấy gian lận bầu cử, một số trở thành lãnh đaọ các cuộc biểu tình, những người khác sử dụng khả năng truyền thông và nối mạng từ chương trình huấn luyện này để tổ chức phối hợp biểu tình liên tục 18 ngaỳ.

Nhìn cho kỹ, nếu không có nỗ lực này của Bush, các cuộc biểu tình vẫn bùng nổ, nhưng sẽ thiếu phối hợp, một khả năng do nhóm thiện nguyện viên này thực hiện.

Stephen McInerney, giám đốc điều hành Project on Middle East Democracy, một tổ chức nghiên cứu bản doanh ở Washington, nói những người biểu tình sẽ vẫn xuống đường tích cực mà không cần Mỹ hỗ trợ, nhưng họ sẽ không phối hợp tổ chức khéo được.
Nói là Mỹ hỗ trợ, nhưng Mỹ là một nước đa nguyên. Trong khi CIA bắt tay chặt chẽ với Mubarak, thì các tổ chức bất vụ lợi ủng hộ dân chủ luôn luôn quan tâm lật đổ các chế độ độc tài toàn cầu.

Tình hình này cũng tương tự tại VN. Trong khi Mỹ muốn kết thân kinh tế, quân sự với VN... thì một số hội bất vụ lợi tại Mỹ, và cả các dân cử như DB Ed Royce, DB Loretta Sanchez... liên tục đòi dân chủ hóa VN, thậm chí đòi bầu cử đa đảng, có nghĩa là phảỉ xóa bỏ chế độ độc đảng CSVN.
Chỉ có sống ở Mỹ nhiều năm mới hiểu được các vận hành đa nguyên ở Mỹ. Do vậy, mồi lửa của Bush phựt cháy ngoài tiên đoán và ngoài mong muốn của CIA tại Ai Cập cũng là dễ hiểu.
Điều để quan sát bây giờ là, có một
mồi lửa nào từ chính sách hỗ trợ dân chủ của các đời Tổng Thống Mỹ đã được ném vào Việt Nam chưa, và ngọn đuốc dân chủ VN có thể bén lửa hay không, và sẽ khởi phát từ nơi nào?
Phải thấy, mồi lửa dân chủ tại Việt Nam đã được đưa vào âm ỉ tại Sài Gòn qua nhiều hình thức, như Hội Việt Mỹ, Trung Tâm Văn Hóa Lincoln... từ hơn nửa thế kỷ trước. Và từ sau này mới gài được mồi lửa vào Hà Nội, qua các học bổng do Hoa Kỳ ban cấp. Và gần đây là Internet, một cánh cửa tuyệt vời.

Vấn đề chỉ còn là, mồi lửa có sẽ bị tắt ngấm, hay là người mang mồi lửa sẽ bị bắt giam, hay là khi nào sẽ lan thành trận cháy rừng...
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Còn Cách Nào Hay Hơn?
Vi Anh
Các cuộc biểu tình lật đổ độc tài ở Tunisia, Ai Cập đã thành công. Mới đây hàng hai triệu người Ai cập biểu tình lại, mừng cách mạng thành công. Phong trào đang lan sang các nước Bắc Phi và Cận Đông. Cuộc nổi dậy lan đến Libya, Bahrain, Yemen, Djibouti, Jordan và Iran và bị đàn áp đẫm máu. Người dân đứng lên biểu tình, chấp nhận chết chóc, bị thương và tù đày trong hiện tại để đồng bào sống tự do, dân chủ, nhân quyền trong tương lai.

Đây là dịp cho một số ít người Việt hải ngoại chê đồng bào hải ngoại của mình thường biểu tình chống Cộng. Những người mất Việt Nam, mất gốc tỵ nạn CS này mỗi lần thấy đồng bào tay cầm quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ, ngực hay lưng đeo biểu ngữ, miệng hô to chống CS, thì tránh xa, sợ bị chụp hình, CS biết được sẽ làm khó không đi VN ăn chơi được. Thế nhưng họ dấu nỗi sợ CS của mình trong bụng bằng cách lên mặt, tỏ vẽ ưu thời mẫn thế, hiểu Mỹ hơn đồng hương ở Mỹ, trề môi chê người biểu tình, ngạo cuộc biểu tình là «chống Cộng bằng mồm». Nhưng thử hỏi không chống Cộng bằng biểu tình, không chống Cộng bằng cách bày tỏ lập trường, ý chí muốn tự do dân chủ, nhân quyền cho VN, thì chống Cộng bằng gì. Còn cách nào hay hơn ?

Các nước CS ở Đông Âu và CS ở Liên xô sụp đổ tan tành là vì cái gì - không phải do các cuộc biểu tình của dân chúng hay sao. Đâu có một người Mỹ, Pháp nào vào giúp đâu. Không có những cuộc biểu tình của dân chúng ở Ba lan, Hung gia lợi, Bảo gia Lợi, Roumanie, Đông Đức thì đâu có những cuộc cách mạng nhung, cách mạng màu sắc do dân chúng biều tình lật đổ khiến cả thế giới thán phục.

Nhứt là người Việt tỵ nạn CS ở các nước Tây Phương không dại gì nghe lời xúi dại, nói bậy của những kẻ không dám ló mặt ra biểu tình vì sợ đi biểu tình bị CS chụp hình không về VN ăn chơi được, nên chê người biểu tình, nói chán chống Cộng bằng mồm.

Chớ chống Cộng bằng võ lực à.. Đã có hai vụ án khá rõ. Người Miên bị ra toà vì vận động tiền ở Mỹ gởi về nước mua súng chống Cộng ở nước nhà. Người Lào Hmong, trong đó có Tướng Vang Pao một người từng làm việc trực tiềp cho CIA Mỹ vẫn bị truy tố vì một tội tương tự nhưng sau đó vụ án bị hủy, và Ông mới vừa qua đời. Ai cũng biết luật pháp của các nước văn minh như Mỹ không cho phép công dân tổ chức võ trang chống lại một chế độ có bang giao và giao thương với Mỹ như CS Hà nội, CS Bắc Kinh. Do vậy những tổ chức chống Cộng của VN tùy tình hình mà thực hiện nhiệm vụ chống kẻ thù Cộng sản – thường bằng hình thức đấu tranh chánh trị không bạo lực. Nhiều người ăn học ở Mỹ thắc mắc tại sao các đảng chánh trị của Việt Nam hoạt động như hội kín. Thời Thực dân Pháp nếu các đảng phái quốc gia không hoạt động như hội kín, thì Thực Dân sẽ diệt sạch. Đảng chánh trị của người Việt Quốc gia trong thời Thực dân Pháp, thời độc tài CS nếu hoạt động công khai như đảng Dân Chủ, Cộng Hoà ở Mỹ là bị tận diệt. Hoạt động khác Mỹ vì chánh đảng quốc gia của VN có mục tiêu khác chánh đảng Mỹ. Mỹ hoạt động tranh cử để thay thế nắm chánh quyền, chớ không có lật đổ chánh quyền. Còn đảng phái Việt mục đich chánh là lật đổ nhà cầm quyền Thực dân và CS.

Giáo sư chính trị học biện thuyết, chánh trị gia của Mỹ tranh cử, cạnh tranh với nhau trong tinh thần giành nắm chánh quyền không thể hiểu rõ tinh thần đấu tranh như chiến đấu của những đảng phái, những tổ chức, đoàn thể và nhân vật chiến đấu để lật đổ nhà cầm quyền độc tài như người dân Việt.

Chống nhà cầm quyền đối địch phải khôn khéo, hoạt động trong lòng địch phải linh hoạt và uyển chuyển. Phải hoạt động như một hội kín trong thời thực dân Pháp, chớ không phải như một chánh đảng hoạt động công khai, trong sáng và cởi mở được với quần chúng trong một thể chế tự do, dân chủ như Mỹ, Pháp.

Phân tích cuộc biểu tình lật đổ TT Mubarak độc tài của người dân Ai Cập ở Công Trường Tahrir cho thấy. Người biểu tình tổ chức cuộc biểu tình như một cộng hoà tự trị. Về hình thức như một tập thể, một khối không cơ cấu, không người chỉ huy, nhưng về nội dung hoạt động có tổ chức như một thực thể. Để không thể khai những thành phần nồng cốt khi bị bắt. Để tránh việc truy tố cá nhân về hình cũng như hộ nếu bị bắt.

Có một miếng đất dụng võ để có tập trung và huy động. Thường là công trường ở thành phố của đô, tỉnh, thị. Như ở Tahrir của Thủ đô Cairo và Alexandria một hải cảng lớn. Sau đó phát huy ra trước Phủ Tổng Thống và Đài Truyền hình Quốc gia khi TT Mubarak mở cuộc phản công và không từ chức.

Chọn nơi có thế cố thủ khi bị nhà cầm quyền bao vây bằng cảnh sát, xe tăng hay phe chống biểu tình. Phải có thể làm hàng rào áng ngữ và canh phòng đường ra vào. Có bất cứ vật liệu gì xài cái nấy như xác xe bị đốt, rác rưởi, hàng rào di dộng, con ngựa sắt của các cơ quan gần đó. Rất cần những vật liệu dễ đốt để nều cần làm thành hàng rào lửa.

Phải có lớp người trẻ canh phòng, tuần tra, sẵn sàng chống lại những xâm nhập bằng những đống đá gạch gom góp sẵn sàng để liện chọi kẻ tấn công. Phải có hệ thống báo động, thổi tu hít, đánh vào bất cứ cái gì bằng kim loại để tiếp cứu những chỗ phòng ngự bị địch thọc mũi nhọn mạnh. Phụ nữ Ai cập rất giỏi dùng giấy bồi nhúng nước làm thành nón an toàn tại chỗ.

Cứu thương dã chiến rất cần và phải có. Phải có dấu hiệu Hồng Thập Tự. Ở các nước Hồi Giáo như Ai cập không dùng chữ Thập tượng trưng cho Ky tô giáo nên dùng Lưỡi Liềm Đỏ. Có bác sĩ và sinh viên y dược tình nguyện là những bàn tay vàng. Ở công trường Tahrir của Ai cập, trạm cứu thương do Sherif Omar và sinh viên phụ trách chữa trị cho hàng trăm người biều tình.

Bảo đảm an ninh. Theo dõi, bao vây phe chống biểu tình xâm nhập, như cảnh sát mặc thường phục, du đảng ủng hộ người hay phe bị biểu tình. Ở Tahrir triển lãm thẻ bài của cãnh sát, bom lửa của phe chống biểu tình, dao mác, súng đạn mà phe ủng hộ TT Mubarak tấn công người biểu tình đã xài.

Liên tục tác động tinh thần người biểu tình bằng hoan hô đả dảo, diễn thuyết ngắn gọn và ca nhạc đấu tranh. Như người biểu tình Ai cập đã dùng loa tay phát liên tục và tay đờn ghi ta trứ danh Romi Essam vừa chơi vừa hát những lời ca cười ngạo Mubarak.

Cầu nguyện dùng trong biểu tình rất hữu hiệu. Ở Tunisia, Ai cập đều sử dụng. Ở VN người biểu tình đã dùng rất có kết quả, qui tụ đến một phần tư triệu người như ở Vinh.

Ăn uống, nghỉ ngơi là chuyện không thể thiếu, có sức khoẻ mới đầu tranh, dãi nắng dầm mưa, chịu sương gió lâu dài được. Bìểu tình là đấu tranh, chiến tranh chánh trị, thường là lâu dài. Ngủ ngay dưới đất, chỗ nào dựa lưng, ngã lưng được. Ở Tahrir các nữ sinh viên có sáng kiến hay, làm một cái mái chòi và lấy hiệu «Khách sạn Tự do » (Hôtel de la Liberté).

Quần chúng thường ủng hộ người biểu tình vì tinh thần binh vực kẻ yếu, yêu chuộng việc chung. Đồ ăn thức uống thì dân chúng và người biểu tình ra vào đổi phiên tiếp tế dùng không hết. Âm thầm và khéo lép kiểm soát an toàn bằng sự quen biết của người cho và hàng hoá như thức ăn họp chưa khui, trái cây còn nguyên vỏ, nước chai chưa khui. /. ( Vi Anh)
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »


Image

Nguyễn Thị Ngọc Hạnh, Mãi Mãi Một Niềm Tin!
Trường Sơn Lê Xuân Nhị


Câu chuyện của người nữ anh hùng Nguyễn Thị Ngọc Hạnh bắt đầu cách đây trên 5 năm, tại khách sạn Marriott sang trọng của thành phố San Francisco Hoa Kỳ.

Ngày 13 tháng 12 năm 2001, trong lúc cả nước Mỹ, cả thế giới đang chuẩn bị đón mừng lễ giáng sinh thì Nguyễn Thị Ngọc Hạnh và một chiến hữu tên Phạm Anh Cường âm thầm lấy vé máy bay từ Pháp sang San Francisco, nơi tên phó thủ tướng Việt cộng Nguyễn Tấn Dũng đang cư ngụ tại khách sạn Marriot chờ nói chuyện với phái đoàn Hoa Kỳ về việc giao thương giữa hai nước. Mặc dầu khách sạn được mấy lớp hàng rào cảnh sát và FBI bao phủ, hai người đã lọt vào trong được khách sạn và đến tận văn phòng tên phó thủ tướng Việt cộng. Nữ anh hùng Nguyễn Thị Ngọc Hạnh liền rút túi lấy chai xăng mang theo ra để tính làm chuyện đã dự định, nhưng chưa kịp làm gì thì cơ quan an ninh đã ụp đến và bắt chị lại. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh liền chỉ tay vào mặt tên Việt cộng rồi hô to: "Đã đảo Cộng Sản. Lịch sử dân tộc sẽ xử tội chúng bây."

Dĩ nhiên, những ngày tiếp theo là những ngày lao lý nhọc nhằn, một cái giá phải trả cho người chiến sĩ chọn con đường chiến đấu quyết liệt. Sau vài tháng tạm giam, chính quyền Hoa Kỳ khuyên, và đúng hơn, phải dùng danh từ dụ dỗ chị và chiến hữu Cường rằng, nếu hai người chịu nhận tội thì họ sẽ được trả về Pháp liền, không bị phiền lụy gì đến pháp luật cả. Người bạn của Nguyễn Thị Ngọc Hạnh nhận tội và được trả về Pháp đúng như lời hứa, nhưng nữ anh hùng Nguyễn Thị Ngọc Hạnh cương quyết nhất định không chịu nhận tội. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh đã chọn con đường của mình đi và quyết đi cho đến cùng. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh muốn dùng tòa án Hoa Kỳ, nơi chị bị truy tố và bị xét xử để biến nó thành một diễn đàn tố cáo tội ác của Cộng Sản Việt Nam. Dù rằng chị biết, chọn lựa như thế là phải chấp nhận ở tù nhiều năm vì luật pháp nước Mỹ không chấp nhận những hành động như thế. Và làm thân phận một người phụ nữ ngọai quốc đến từ Âu Châu, tiếng Anh không rành, văn hóa chưa hiểu được nhiều, những ngày tù tội sẽ là những ngày dài cam khổ. Nhưng nữ anh hùng Nguyễn Thị Ngọc Hạnh đã quyết định như thế và chị tiếp tục đi theo con đường ấy.


Và quả thật, đúng như những gì chị nghĩ, tại phiên xử, nữ anh hùng Nguyễn Thị Ngọc Hạnh đã biến thành một phiên xử tố cáo tội ác của Cộng Sản Việt Nam đối với dân tộc Việt Nam. Suốt gần hai tuần lễ, bằng những lời lẽ chân thật nhưng cảm động và tràn đầy phẫn uất, trong vai trò bị cáo, chị đã biến mình thành một một công tố viên đại diện cho dân tộc Việt Nam, cho lương tâm thế giới, dõng dạc tố cáo trước báo chí Hoa Kỳ và thế giới những tội ác của Cộng Sản Việt Nam đã phạm với dân tộc Việt Nam. Qua những lời tố cáo của chị tại tòa án, CSVN đã hiện nguyên hình một lũ ăn cướp bạo tàn, vô liêm sỉ, dã man, tham nhũng và ngu dốt.

Ngày 19-1-03, tòa chung thẩm Liên Bang kết án Nguyễn Thị Ngọc Hạnh 5 năm tù với hai tội danh: "Dự mưu phóng hỏa và chống cự nhân viên công lực." Trước khi phiên tòa chấm dứt, chị đã được mời lên nói những lời phát biểu cuối cùng trước tòa án. Chính giờ phút này, Nguyễn Thị Ngọc Hạnh đã làm cho nhiều người nhỏ lệ. Một lời phát biểu đáng lý chỉ được phép nói trong vòng dăm ba phút đồng hồ, chỉ Nguyễn Thị Ngọc Hạnh đã được quyền "thuyết giảng" hơn 30 phút. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh nói, khẩu khí oai dũng không thua gì Trần Bình Trọng năm nào nói với quân Nguyên:


"Tôi không xin ân huệ gì cho riêng tôi. Tôi chỉ xin bà chánh án quan tâm đến tập tài liệu tố giác tội ác Cộng Sản mà tôi đã trao tận tay bà... Tôi vô tội! Kẻ có tội chính là Hồ chí Minh và đảng CSVN. Hôm nay quý vị có thể nhân danh pháp luật để kết án tôi, đóng đinh tôi, nhưng không thể phủ nhận lòng yêu nước của tôi... Ngày nào tôi còn hơi thở, tôi còn tiếp tục hy sinh tranh đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền của quê hương tôi".


Nghe những lời nói của người nữ anh hùng, người thư ký đánh máy tốc ký đã khóc sướt mướt cho đến khi đánh máy những lời nói cuối cùng của chị... Chị đã bình thản và chấp nhận 5 năm tù để đổi lấy thời gian hơn nửa tiếng đồng hồ, làm một công tố trạng tố cáo tội ác của Cộng Sản Việt Nam, cho cả dân tộcVN.

Sau đó, Nguyễn Thị Ngọc Hạnh được gởi về thọ hình tại nhà tù liên bang ở California. Nơi đây, chị đã gặp một số tù nhân Việt Nam và ai cũng đem lòng quý mến và thương yêu chị. Bao nhiêu tiền bạc chị nhận được từ bên ngoài, chị chia hết cho những người tù đang ở chung với chị mà chị coi như là những đứa em. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh nói:

"Tôi đã từng ở tù nhiều năm ở Việt Nam, sang đến tù Âu Châu, bây giờ tù Mỹ, tôi rất dễ thích hợp với nhà tù. Nơi chốn này, tôi quen rồi nên tôi không cần gì cho tôi cả. Tôi sống như thế nào cũng được, nhưng các em nó còn nhỏ, các em không quen với những khó khăn, không được tiếp tế, tội nghiệp chúng nó lắm."


Tháng 7 năm 2003, vì lý do sức khỏe, Nguyễn Thị Ngọc Hạnh được đưa về giam giữ ở nhà thương đồng thời là nhà tù duy nhất của chính phủ liên bang ở ngoại ô Dallas tên Carswell. Tại nơi đây, chị liền được những nhân vật chống chộng nổi tiếng của cộng đồng Việt Nam như giáo sư Cao Chánh Cương, nhà báo, nhà văn, nhạc sĩ, chiến sĩ đấu tranh nhiều năm Trương Sĩ Lương, nhà văn nữ Thu Nga, cựu đại tá Võ Văn Ân đến thăm viếng và ủy lạo tinh thần hầu như mỗi tuần lễ. Đặc biệt riêng đại tá Võ Văn Ân, những tháng sau cùng, đại tá đến thăm chị hầu như 2, 3 lần một tuần để an ủi khích lệ và bàn thảo với chị về một sách lược đấu tranh mới...


Cá nhân tôi, đã nghe tên anh hùng Nguyễn Thị Ngọc Hạnh từ lâu, nhưng chưa hề có dịp được giáp mặt. Sau khi cơn bão Katrina tàn phá thành phố tôi ở, tôi phải lưu vong sang Dallas, tôi liền làm đơn để xin phép đi thăm chị.


Cảm giác lần đầu tiên khi gặp Nguyễn Thị Ngọc Hạnh thật là một cảm giác khó quên được trong đời. Trong hội trường thăm nuôi to lớn của nhà tù liên bang, tôi nhìn thấy một nữ tù nhân dáng người ốm, chiều cao trung bình so với một người Việt Nam trong bộ quần áo tù nhân bước ra. Dáng đi của chị hiên ngang và quả quyết như một nữ tướng, dù rằng đang mặc bộ đồng phục nhà tù, dù rằng đang bước trong nhà tù. Gương mặt chị sáng lạng, cặp mắt bất khuất kiên cường, luôn luôn chiếu sáng ánh lửa hy vọng.


Bắt tay và được giới thiệu với chị, tôi có cảm tình ngay với người phụ nữ anh hùng này. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh nói chuyện nhỏ nhẹ, rõ ràng, lý luận sâu sắc. Thỉnh thoảng, không quên chêm vào vài câu pha trò ý nhị, tươi sáng. Tôi ngồi im suốt một buổi sáng để nghe chị nói và âm thầm quan sát và tìm hiểu con người chị. Tôi muốn biết vì sao, hoặc động cơ nào đã thúc đẩy một người phụ nữ Việt Nam hiền lành, một người vợ hiền trong một gia đình bình thường của miền Tây Việt Nam, lớn lên từ chốn đồng ruộng thơm hơi lúa, trở thành một chiến sĩ chống cộng hăng say và có thể nói, quyết liệt và táo bạo có thể so sánh ngang hàng với Lý Tống. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh đã khóc khi nói đến những hình ảnh đau thương của "Anh Lính Cộng Hòa". Chị khóc một cách tự nhiên và chân thật. Chị coi những anh lính Cộng Hòa như những người anh ruột của mình. Một lần, gặp một anh lính Cộng Hòa trên một chuyến xe lửa trên đường ở tù về, chị đã móc hết tiền trong túi ra cho anh và nhường chỗ chị cho anh ngồi.

Chị đã kể lại những bất công không phải của chị nhưng mà của đồng bào chị đã phải gánh chịu trong chế độ Cộng Sản. Và Nguyễn Thị Ngọc Hạnh cũng kể phớt qua cuộc đời của chị. Cuộc đời của một người Việt Nam mà số ngày tù nhiều hơn số ngày sống tự do ở ngoài đời...

Sau nhiều giờ đồng hồ ngồi nói chuyện, tôi hiểu được lý do nào và động lực nào đã biến người vợ hiền Nguyễn Thị Ngọc Hạnh thành người nữ anh hùng Nguyễn Thị Ngọc Hạnh của thời đại này. Lý do đó là: Chị không chịu nỗi những bất công và đàn áp của bọn Cộng Sản Việt Nam đang đè xuống trên đầu trên cổ đồng bào chị. Chị không chịu nỗi cảnh chúng nó tàn phá quê hương của chị. Đơn giản như thế thôi. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh tuyên bố rằng chị không chiến đấu cho mình mà cho dân tộc Việt Nam. Chị đã hy sinh cả gia đình, mấy đứa con, chọn con đường tranh đấu, lấy hạnh phúc của dân tộc làm hạnh phúc của mình. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh tuyên bố:

"Tôi sinh ra là người Công Giáo, nhưng bây giờ thì dân tộc Việt Nam là tôn giáo của tôi. Tranh đấu giành lại tự do hạnh phúc cho người Người Việt Nam là ĐẠO, tức là con đường của tôi."
Và chị nói thêm:
"Sau năm năm ở tù, tôi đã có nhiều thì giờ để học hỏi và suy nghĩ. Tôi đã suy nghĩ rất nhiều suốt năm năm qua để tìm một con đường để giải phóng dân tộc. Và tôi rất lạc quan, tin tưởng..."

Ngừng một chút, chị ngước mắt nhìn lên bầu trời xanh ở bên ngoài hàng rào trại tù và chậm rãi tuyên bố một câu quan trọng:
"Dù ngày xưa tôi là một người chuyên môn đốt tòa đại sứ Việt cộng, nhưng bây giờ thì tôi đã quyết định từ bỏ con đường bạo lực. Tôi đã tìm ra một phương pháp tranh đấu ôn hòa bất bạo động nhưng sẽ đem lại kết quả. Tôi sẽ không dùng lửa để đốt tòa đại sứ nữa, nhưng tôi sẽ gom lửa của đồng bào, gom lửa của tôi, của anh, của tất cả chúng ta để chúng ta cùng nhau đốt cháy chế độ Cộng Sản..."


Nguyễn Thị Ngọc Hạnh mỉm cười rồi lắc đầu tiếp:



"Tôi đã đốt tòa đại sứ của chúng nó ở Anh và ở Pháp, nhưng tôi không biết rằng mình đốt thì nó sẽ lấy tiền bảo hiểm để xây lại một tòa đại sứ mới hơn, đẹp hơn, lớn hơn xưa. Tôi đã quyết định từ bỏ con đường tranh đấu bạo động như ngày xưa. Lửa của tôi bây giờ sẽ được dùng một cách hữu hiệu hơn."

Và chị lập lại câu nói mà tôi cho rằng là một câu nói vô cùng quan trọng của một điểm khởi đầu của một cuộc tranh đấu mới:



"Tôi sẽ gom lửa của đồng bào, gom lửa của tôi, của anh, của tất cả chúng ta để chúng ta cùng nhau đốt cháy chế độ Cộng Sản..."



Lần cuối cùng tôi đến thăm chị, Chủ nhật ngày 16 tháng 4 năm 2006, chúng tôi bịn rịn từ giã nhau. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh hỏi tôi về cảm nghĩ của tôi về vấn đề chống Cộng. Tôi thành thực cho chị biết rằng tôi rất bi quan. Tôi thấy rằng chúng ta mỗi ngày một già đi, yếu đi. Tình hình cộng đồng lại ly tán, chia rẽ, đố kỵ. Không đồng ý với nhau thì đâm ra ghét nhau và nếu cần thì không ngần ngại chửi nhau là....Việt cộng. Trong khi đó, chính quyền Việt cộng mỗi ngày mỗi giàu mỗi mạnh và đặc biệt, những thằng mình muốn trù ẻo cho nó... bị trúng gió mà chết thì chúng nó lại không những không chết, mà xem hình thì thấy chúng càng ngày càng béo tốt thêm. Nhìn mặt mày chúng nó phè phỡn trên các tờ báo mà tối về nhà buồn ...ăn cơm không được.

Nghe như thế Nguyễn Thị Ngọc Hạnh nghiêm sắc mặt lại và trách tôi liền, không hề có một chút rụt rè dù đây chỉ là lần thứ hai tôi gặp chị:

"Anh không được bi quan như thế. Tôi ở trong tù mà tôi còn nghĩ được sách lược chống chúng nó, anh ở ngoài tự do, có nhiều phương tiện, nhiều cơ hội, tại sao anh lại có những tư tưởng bi quan như thế? Một chiến sĩ chống cộng như anh mà bi quan như thế thì làm sao chúng ta chiến thắng Cộng Sản được?"

Tôi giật mình chưng hửng và ngồi im không biết nói gì, như một người học trò bị thầy giáo quở mắng ở những ngày còn đi học tiểu học. Đại tá Võ Văn Ân nhìn tôi ... thương hại.


Chị tiếp tục "giảng" cho tôi một bài thật dài, thật hay. Cuối cùng, chị nói:
"Chúng ta không được bỏ cuộc nửa chừng. Chúng ta phải chiến đấu đến giây phút cuối cùng. Và tôi tin tưởng chắc chắn chúng ta sẽ thành công. Tôi quả quyết như thế. Chế độ bạo tàn phi nhân của Việt cộng sẽ phải bị sụp đổ..."

Tôi nhìn thấy trong những lời chị nói, dường như có những ngọn lửa hừng hực phát ra... Tôi nghi nhận những gì Nguyễn Thị Ngọc Hạnh nói và cảm thấy những gì chị nhận xét về tôi rất đúng. Lâu nay, phần vì hoàn cảnh cá nhân, phần vì phải tranh sống hằng ngày, phần vì nhìn thấy cộng đồng chia rẽ, tôi như đâm ra thờ ơ với việc tranh đấu. Và tệ nhất, tôi cảm thấy bi quan.
Tôi xin cám ơn anh hùng Nguyễn Thị Ngọc Hạnh đã thẳng thắn chỉ trích về những nhận định sai lầm của tôi. Sự chỉ trích rất đúng và tôi hứa với chị sẽ cố gắng nhìn lại thời thế để tìm một cái nhìn sáng sủa hơn. Những lời Nguyễn Thị Ngọc Hạnh nói làm tôi chợt nhớ đến những chiến sĩ quốc gia mà tôi luôn luôn nể phục, những con người đã âm thầm chiến đấu suốt bao nhiêu năm nay và cho đến giờ này vẫn còn một lòng dạ sắt son với tổ quốc, không hề tàn phai dù chỉ một chút: Nơi tôi ở ngày xưa, thành phố New Orleans, có những người như chiến hữu Lê Hồng Thanh, chiến hữu Trương Minh Đức, Không Quân Vũ Viết Ngữ. Nơi tôi ở bây giờ, thành phố Dallas, có những người chiến sĩ như Trương Sĩ Lương, như đại tá Võ Văn Ân. Xa hơn nữa, tôi nhớ đến những người như anh Huỳnh Lương Thiện ở San Francisco, anh Đào Trường Phúc và chị Nguyệt Ánh ở DC, thằng bạn già tôi, Không Quân Nguyễn Văn Ngà ở Vancouver, và người đàn anh khả kính, trung tá KQ Khưu văn Phát ở DC, Hội trưởng Tổng Hội Không Lực VNCH...


Dĩ nhiên là danh sách còn rất nhiều và nhiều nữa và tôi không nhớ hết được ở đây, chỉ ghi vội lên vài tên, như một lời tạ tội vì đã vắng mặt khá lâu trên con đường tranh đấu, và đồng thời cũng gởi đến những lời khích lệ cùng khen ngợi tấm lòng sắt son đến các anh các chị.
Chúng tôi bịn rịn chia tay nhau và chắc phải một thời gian khá lâu mới được gặp lại. Tuần sau, Nguyễn Thị Ngọc Hạnh sẽ mãn hạn tù và sau đó sẽ được chuyển sang sở di trú trước khi lên đường trở về Pháp.



Trên đường về nhà với đại tá Võ Văn Ân, chúng tôi nói chuyện với nhau và chúng tôi nghĩ rằng nữ anh hùng Nguyễn Thị Ngọc Hạnh sẽ là ngọn lửa chiến đấu, ngọn lửa hy vọng cuối cùng của chúng ta. Tôi nguyện cầu cho chị có đủ can đảm, tài năng và phương tiện để, như lời chị nói, sẽ gom lửa của chị và của đồng bào đốt cháy chế độ Cộng Sản phi nhân tàn bạo.


Đã từ lâu, cá nhân tôi cũng như nhiều người quốc gia khác, dù không nói ra, nhưng chúng ta luôn luôn âm thầm đi tìm một ngọn lửa để khôi phục quê hương. Và chúng ta đã nhìn thấy nhiều phong trào, nhiều đoàn thể, nhiều đảng phái nổi lên. Nhưng sau 31 năm, tôi chưa nhìn thấy một niềm hy vọng hoặc một hứa hẹn nào thực tiễn cả. Thậm chí một đoàn thể chính trị hoạt động đến giờ này mà còn tồn tại được, số thành viên đi họp còn được 25% so với ngày mới thành lập thì phải được coi như là một đảng phái thành công và có thực lực. Có lẽ cái tật làm ít nói nhiều, lãnh tụ thích đọc diễn văn dài giòng hơn là tích cực dấn thân, lãnh tụ sợ thay đổi, lãnh tụ luôn luôn muốn được bao vây bởi những nịnh thần ngon ngọt của một thời quá vãng, lãnh tụ không dám đối diện với thực tế phũ phàng trước mặt vẫn là một cơn bịnh trầm kha trong các đoàn thể đảng phái của chúng ta. Cộng thêm vào đó, là kẻ thù... thời gian. Càng ngày, chúng ta càng già đi và yếu đi vì chúng.


Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy một hứa hẹn, một đốm lửa, dù chỉ là một đốm lửa rất nhỏ, rất leo lét được khai sinh và đốt lên từ một người phụ nữ Việt Nam bé nhỏ và có thể nói, chưa được nhiều người biết đến tên như Nguyễn Thị Ngọc Hạnh. Và bản chất của lửa, ai cũng biết, luôn luôn bắt đầu rất bé nhỏ, leo lét, khiêm nhường, yếu đuối, nhiều khi bị gió thổi tắt, nhưng lại bùng lên trở lại nhờ vài ngọn gió nhỏ. Và nếu ta biết đặc tính của lửa thì phải biết sự nguy hiểm của lửa. Cứ nhìn một đám cháy rừng thì biết. Nó thường bắt đầu bằng một ngọn lửa rất nhỏ, rất leo lét, chỉ đốt cháy vài ngọn lá nhỏ nằm trên mặt đất. Nhưng một khi lửa đã bắt lên nhờ những cọng lá nhỏ bé này rồi thì những cây cổ thụ to lớn, cho đến nguyên cả một khu rừng vĩ đại, cho đến cả một tiểu bang rộng vài trăm triệu mẫu tây sẽ bị chìm trong biển lửa chỉ trong vòng vài tuần lễ ngắn ngủi.

Hôm nay, nhân ngày mãn hạn tù của nữ anh hùng Nguyễn Thị Ngọc Hạnh, tôi xin kính cẩn viết lên bài này để giới thiệu Nguyễn Thị Ngọc Hạnh với những đồng hương chưa biết chị. Với những ai đã biết chị, chúng ta hãy cùng nhau chúc mừng chị. Nguyễn Thị Ngọc Hạnh đã hứa với chúng ta rằng chị sẽ dùng hết quãng đời còn lại của chị để đấu tranh cho dân tộc Việt Nam.

Tất cả chúng ta, những người đã biết Nguyễn Thị Ngọc Hạnh và mới biết chị, chúng ta cần phải tiếp một tay với chị để đốt lên ngọn lửa mà tôi mạo muội gọi rằng ngọn lửa Nguyễn Thị Ngọc Hạnh. Trong tương lai, chị Nguyễn Thị Ngọc Hạnh và những chiến hữu như đại tá Võ Văn Ân, nhóm anh em Bến Cũ và những chiến hữu liên hệ sẽ có những chương trình hoạt động và sẽ thông báo sau.

Chúng ta phải cùng nhau gom lửa chung với Nguyễn Thị Ngọc Hạnh. Với ngọn lửa này, chúng ta sẽ cùng nhau đốt cháy chế độ bạo tàn của Việt cộng như lời Nguyễn Thị Ngọc Hạnh nói... Chúng ta sẽ thắng!
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Libya bên bờ nội chiến, cả thế giới 'phát sốt'
Gaddafi không còn kiểm soát được miền đông trong khi vẫn thề chiến đấu "đến giọt máu cuối cùng" để giữ miền tây, đẩy Libya đến bờ vực nội chiến và ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế toàn cầu do giá dầu leo thang.
Sau khi làn sóng biểu tình chống chính phủ từ miền đông lan tới thủ đô Tripoli ở phía tây hôm chủ nhật, quân đội Libya đã sử dụng những biện pháp mạnh tay nhất để đối phó như máy bay chiến đấu, đạn pháo cối và cả súng bắn tỉa khiến hàng trăm người chết và bị thương.

Đây là thách thức lớn nhất mà chế độ do đại tá Gaddafi đứng đầu phải đối mặt trong suốt 42 năm qua. Con trai ông là Saif al-Islam thì lên tiếng cảnh báo có thể nổ ra nội chiến, trong khi giới phân tích nhận định việc chế độ Gaddafi hồi cáo chung chỉ còn là vấn đề thời gian.
Image
Một người biểu tình chống Gaddafi ăn mừng bên căn cứ quân sự bị bỏ không tại phía đông Libya. Ảnh: AP
Gaddafi còn gì trong tay?

Các phóng viên BBC đang có mặt tại miền đông Libya xác nhận khu vực này đã hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của phe biểu tình. Nhiều cảnh sát và binh sĩ chính phủ đào ngũ được họ chào đón. Người địa phương cho rằng chính phủ Gaddafi đã hoàn toàn sụp đổ tại đông Libya và chỉ những lính đánh thuê nước ngoài còn ủng hộ chế độ của ông.

Trong khi đó, khác với tại Tunisia và Ai Cập, quân đội chính quy không phải là lực lượng nắm quyền quyết định tại Libya. Thay vào đó là mạng lưới các lữ đoàn bán quân sự, các uỷ ban cách mạng gồm những người thân tín với Gaddafi, các tộc trưởng và lực lượng lính đánh thuê từ nước ngoài.

Quân đội chính thức của Libya chỉ mang tính biểu tượng với hơn 40.000 người, được trang bị và huấn luyện kém. Đây được coi là "bài" của đại tá Gaddafi để tránh nguy cơ bị bị đảo chính quân sự, con đường đã đưa ông lên nắm quyền từ năm 1969. Do đó sự đào ngũ của nhiều sĩ quan quân đội chưa hẳn đã đẩy Gaddafi đến đường cùng.

Sức mạnh chính của đại tá Gaddafi nằm trong mạng lưới an ninh nội bộ hùng hậu và lực lượng này có một quá khứ không ngần ngại sử dụng vũ lực nếu cảm thấy chính quyền của ông bị đe doạ. Đáng chú ý có Lữ đoàn số 32 khét tiếng, còn được gọi là Binh đoàn răn đe, đóng căn cứ tại Ouezzane giáp biên giới Tunisia do một con trai của Gaddafi là Khemis chỉ huy.

Bên cạnh đó là những "lữ đoàn đặc biệt" bán quân sự chỉ tuân theo mệnh lệnh của các Uỷ ban Cách mạng do Gaddafi lập ra mà không theo sự chỉ huy của quân đội. Nếu lực lượng này thay đổi và đứng về phía người biểu tình thì Gaddafi gần như sẽ mất tất cả. Ngoài ra còn có thông tin ông Gaddafi nắm trong tay đội quân lính đánh thuê đến từ các nước như Chad và Niger

Với những gì đang xảy ra tại Libya, giới phân tích cho rằng còn rất ít hồ nghi về việc thời của đại tá Gaddafi đã gần như chấm dứt. Nhưng họ chỉ chưa rõ chính quyền này còn có thể tồn tại thêm bao lâu nữa và cuộc đổ máu tại Libya sẽ còn diễn tiến ra sao. Nói cách khác, ngày càng có dấu hiệu dẫn đến nhận định Gaddafi của Libya có thể là nhà lãnh đạo thứ ba tại Trung Đông ra đi do làn sóng biểu tình.

Libya chia rẽ sâu sắc

Nơi mở màn làn sóng biểu tình ở Libya là thành phố Benghazi thuộc vùng Cyrenaica ở phía đông, nơi phát tích của hoàng gia cầm quyền ở Libya trước thời cách mạng. Tại đây từ lâu âm ỉ bầu không khí chống lại Gaddafi và từng chứng kiến nhiều sự kiện đối đầu với chính phủ những năm gần đây.

Trong bối cảnh đó, đại tá Gaddafi bị cho là không quan tâm một cách có chú ý tới khu vực phía đông Cyrenaica và ngược đãi người địa phương, khiến nổ ra nhiều cuộc biểu tình. Đó cũng là lý do tại sao đợt biểu tình lần này nổ ra đầu tiên ở phía đông Libya chứ không phải ở thủ đô Tripoli.

Bên cạnh chủ nghĩa vùng miền, chủ nghĩa bộ tộc cũng góp phần khiến Libya chia rẽ. Chủ nghĩa này tồn tại đậm nét thời Libya còn trong chế độ quân chủ, nhưng trong 10 năm đầu tiên kể từ khi đại tá Gaddafi đảo chính năm 1969, sự phân biệt về bộ tộc đã bị cấm và ông nhận được sự ủng hộ của hầu hết dân số.

Tuy nhiên, khi sự ủng hộ như ban đầu không còn nữa, Gaddafi bắt đầu ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào chủ nghĩa bộ tộc. Chủ nghĩa này thể hiện rõ nhất trong lực lượng vũ trang, nơi ông thực hiện chính sách khuyến khích sự cạnh tranh giữa các bộ tộc nhằm củng cố quyền kiểm soát. Ví dụ những người thuộc bộ tộc Qadhadfa của Gaddafi là kỳ phùng địch thủ với bộ tộc Magariha của Abdelbaset Ali al-Megrahi, thủ phạm đánh bom Lockerbie.
Image
Đại tá Gaddafi tuyên bố không lùi bước trước biểu tình. Ảnh: AFP
Nội công ngoại kích

Nhưng trong bối cảnh hiện nay, chủ nghĩa bộ tộc không phải là nguy cơ chính đẩy Libya tới nội chiến mà là cách giải quyết của chính quyền Gaddafi với người biểu tình. Tuyên bố hôm 22/2 của ông về việc sẽ chiến đấu "tới giọt máu cuối cùng" và ủng hộ những người thân chính phủ tấn công người biểu tình đang khiến viễn cảnh nổ ra nội chiến rõ hơn bao giờ hết.

Thực tế tại Libya hiện cũng đã bị chia thành hai nửa với phần phía đông đã nằm trong tay người biểu tình sau một tuần xuống đường. Trong khi chính quyền đại tá Gaddafi đang cố chiến đấu để giữ phần phía tây đất nước. Ông đang kêu gọi những người ủng hộ giành lại vùng đất đang do phe biểu tình điều hành.

Quyết định mạnh tay với người biểu tình cũng khiến Gaddafi bị cộng đồng quốc tế chỉ trích. Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc tổ chức họp khẩn và ra tuyên bố kêu gọi chấm dứt bạo lực tại Libya ngay lập tức. Trong nhiều tuần nổ ra biểu tình khắp Trung Đông, đây là lần đầu tiên Hội đồng Bảo an nhóm họp về vấn đề này. Tổng thống Mỹ Barack Obama lên án việc Libya trấn áp người biểu tình là "không thể chấp nhận được".

Trong khi đó, nhiều quan chức cao cấp trong nước cũng bắt đầu quay lưng với chính quyền Gaddafi. Bộ trưởng Tư pháp Mustapha Abdul Jalil từ chức để phản đối việc "sử dụng vũ lực quá lớn" của chính phủ. Đặc sứ của Libya tại Liên đoàn Ảrập Abdel Moneim al-Honi cũng tuyên bố "tham gia cuộc cách mạng".

Các nhà ngoại giao Libya tại trụ sở Liên Hợp Quốc ở New York thì kêu gọi quốc tế can thiệp để chấm dứt hành động bạo lực của chính phủ quê nhà. Đặc biệt những người thân cận nhất trong lực lượng an ninh như Bộ trưởng Nội vụ Abdel Fattah Younis đang có mặt tại thành phố Benghazi cũng tuyên bố ông từ bỏ chính phủ. Nhiều đơn vị quân đội ở phía đông Libya cũng cho biết sẽ tham gia nổi dậy.

Cả thế giới chịu ảnh hưởng

Các nước bày tỏ lo ngại tình hình Libya vì làn sóng biểu tình tại nước này đang đẩy giá dầu mỏ tăng cao vì nguy cơ nguồn cung cấp nhiên liệu cho thế giới bị gián đoạn. Libya là quốc gia xuất khẩu dầu mỏ lớn thứ 12 của thế giới và là nước đầu tiên nhóm xuất khẩu dầu mỏ Opec hứng chịu biểu tình quy mô lớn, nên tác động của sự kiện này lên giá dầu toàn cầu là điều dễ hiểu.

Sau bài phát biểu không chịu lùi bước của ông Gaddafi, giá dầu tiếp tục leo thang đẩy giá dầu tại châu Á lên mức cao nhất kể từ tháng 10/2008. Đại diện Cơ quan năng lượng quốc tế Fatih Birol nhận định giá dầu quốc tế hiện đã rơi vào khu vực nguy hiểm và còn có thể tăng cao hơn nữa. Điều này sẽ làm chậm lại quá trình phục hồi sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

"Nền kinh tế toàn cầu hiện dễ tổn thương hơn so với năm 2008. Sự tăng trưởng đang được quyết định bởi các gói kích cầu và chính sách thắt lưng buộc bụng. Tôi không tin nền kinh tế thế giới có thể chịu nổi giá dầu tăng lên 140 USD một thùng như đã từng xảy ra hai năm trước", chuyên gia Birol phân tích thêm với BBC.

Bên cạnh đó, các nước châu Âu thì báo động về nguy cơ dòng người tị nạn Libya sẽ từ bên kia bờ Địa Trung Hải sẽ ồ ạt tràn sang khi quốc gia Bắc Phi này thực sự lâm vào nội chiến hỗn loạn. Trong khi kịch bản này chưa xảy ra, dòng người tị nạn Libya đã bắt đầu gây sức ép lên biên giới với Ai Cập ở phía đông.

Đình Nguyễn
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »


Image

NẤU MÌ ĂN LIỀN ĐÚNG CÁCH
CORRECT WAY OF COOKING INSTANT NOODLES
Thưa qúy bạn, ai trong chúng ta cũng đã từng ăn mì gói ăn liền, nhưng mấy có ai biết ăn đúng cách ? Theo kiểu Việt Nam chúng ta xưa nay là đổ nước vào mì rồi chờ cho mì chín 3 phút là ăn ngay, nhanh gọn. Đó là cách làm mì gói có hại sức khỏe cho bạn, bạn hãy đọc bài dưới đây để thay đổi cách ăn sẽ thay đổi đời sống sức khỏe của bạn càng sớm càng tốt vì "Sức khỏe là Vàng" "Sức khỏe là hạnh phúc an vui"

Thường thì chúng ta nấu mì ăn liền bằng cách cho vào nước sôi, cho bột nêm vào và nấu khoảng 3 phút. Thế là mì sẵn sàng cho ta ăn.
> Normally, how we cook the instant noodles is to put the noodles into a pot with water, throw in the powder and let it cook for around 3 minutes and then it's ready to eat.
Đấy là cách SAI để nấu mì ăn liền.
> This is the WRONG method of cooking the instant noodles.

Làm cách đó, khi chúng ta nấu sôi các gia vị mà trong đó bột ngọt là chính (MSG: Monosodium glutamate). Nấu thế sẽ làm biến dạng cấu trúc phân tử của bột ngọt biến chúng thành chất độc.
> By doing this, when we actually boil the ingredients in the powder, normally with MSG, it will change the molecular structures of the MSG causing it to be toxic.
>
> Một vấn đề khác là chúng ta có thể đã không biết là sợi mì ăn liền được phủ bởi một lớp sáp và cơ thể chúng ta phải mất 4 hay 5 ngày mới tiêu hoá hết phần sáp này (hèn chi ăn mì gói hay khó chịu bụng)
> The other thing that you may or may not realize is that, the noodles are coated with wax and it will take around 4 to 5 days for the body to excrete the wax after you have taken the noodles.
>
> CÁCH ĐÚNG NHẤT LÀ: CORRECT METHOD:


1 - Luộc mì trong nồi nước sôi = Boil the noodles in a pot with water.
2 - Khi mì đã chín đủ, lấy hết mì ra và đổ bỏ nước sôi = Once the noodles is cooked, take out the noodles, and throw away the water which contains wax.
3 - Nấu nồi nước sôi mới, bỏ mì vô trở lại nồi nước sôi, tắt lửa = Boil another pot of water till boiling and put the noodles into the hot boiling water and then shut the fire.
4 - Sau khi tắt lửa, nước còn đang nóng, bỏ bột nêm vào = Only at this stage when the fire is off, and while the water is very hot, put the ingredient with the powder into the water, to make noodle soup.
5 - Tuy nhiên, nếu muốn ăn mì khô thì lấy mì ra và trộn với bột nêm = However, if you need dry noodles, take out the noodles and add the ingredient with the powder and toss it to get dry noodles.



Một số lớn bệnh nhân trong tuổi 18-24 ngã bệnh về lá lách như lá lách bị sưng hay nhiễm trùng vì đã thường xuyên ăn mì ăn liền... Nếu ăn mì ăn liền 3 lần trong mỗi tuần là có thể nguy hại cho cơ thể = A large number of patient with the ages ranging from 18-24 years are ending up with pancreatitis either as a swelling or infection of the pancreas due to regular consumption of instant noodles..... If the frequency is more than 3 times a week, then it is very hazardous...
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

ViệtKiều nuôi ViệtCộng

Việt kiều dành dụm mang tiền về nước làm từ thiện cho nhà giầu,
Hà Nội ăn chơi xa hoa
Phóng sự của Đài BBC của Anh, Alastair Leithead từ Hà nội gởi về nói về dân nhà giàu ăn chơi. Tựa đề phóng sự là “Ăn Phở 35 Đô Ở Nước Việt Nam Cộng Sản”. Chơi xe máy dầu Harley Davidson mà một thành viên người ngoại quốc của câu lạc bộ nhận xét "Ông sẽ không bao giờ nhìn thấy nhiều xe hạng sang như thế này ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới." Chơi xe hơi mắc, mới, lạ không thể tưởng. Xe Porsche hai cầu dù Alastair Leithead là nhà báo đi nhiều nhưng chưa biết có loại xe đó; xe Rolls-Royce Phantom chế tạo theo ý người đặt hàng mua.

Tin RFA, thống kê của Bộ Công thương của CS Hà nội công bố trong năm 2010, Việt Nam CS đã “nhập khẩu“ những mặt hàng xa xỉ lên đến 10 tỷ đô la. Ô tô và xe máy chỉ chiếm khoảng 1 tỷ đô la, trong khi “hàng hiệu” được xem là xa xỉ phẩm như: điện thoại di động loại mới, mỹ phẩm, rượu bia, thuốc lá, đồ trang sức, đá quý và quần áo loại sang chiếm 9 tỷ đô la.

Số triệu, tỷ phú đô la nổi ở trong nước mỗi năm đều tăng lên. Có người chẳng những mua xe sang mà mua luôn máy bay để đi nữa. Số triệu, tỷ phú chìm ắt còn nhiều hơn nữa nhưng họ dấu kín. Đó là những cán bộ đảng viên có quyền khi tham nhũng trở thành quốc nạn. Tài sản họ cướp được của đất nước và nhân dân nhiều vô số kể.

Làm gì trong bối cảnh tham nhũng là quốc nạn, một thiểu số 3 triệu 6 cán bộ đảng viên CS không hối mại quyền thế, tham ô nhũng lạm, dĩ công vi tư khi họ đang cầm quyền, nắm tiền, nắm của của nước Việt Nam. Họ giàu có, thừa mứa, mỗi năm xài hết 10 tỷ Mỹ kim cho hàng “nhập” xa xí. Họ là những người làm giàu nhờ nguời dân trong nước thì khi người dân gặp thiên tai thì họ là người phải gíup trả lại một phần cho cộng đồng chớ.

Người Việt hải ngoại đâu có giàu như họ, phải làm việc một tuần 40 giờ, hàng chục thứ hoá đơn phải trả, đóng thuế cao, đâu có được hưởng quyền lợi gì ở VN như họ, tại sao khi có thiên tai thì lại bị kêu gọi góp tiền đem về cứu trợ.

Hỏi có người Việt Hải ngoại nào ăn tô phở bò 35 Đô mắc như vàng, đi xe máy dầu loại dầu Harley Davidson hạng sang, xe hơi Porsche hai cầu, Rolls-Royce Phantom chế tạo theo ý người chủ mua. Có mấy người mua Iphone 4 mới ra giá tương đương 900 Đô.

Thử tính sơ đi, sẽ thấy cán bộ, đảng viên và những người ăn theo trong nước việt cộng giàu thế nào trong thời kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cái thời Đảng Nhà Nước và bọn tài phiệt theo cướp của quốc gia, bóc lột công người lao động như thời kinh tế tư bản hoang.

Từ hải ngoại, người Việt hải ngoại cũng đóng góp cho cái giàu của đảng viên, cán bộ và bọn tài phiệt ăn theo trong nước. Mỗi năm “Việt Kiều” gởi về nước 8 tỷ Đô và về chơi mang theo để xài tối thiểu cũng 6 tỷ nữa ( 300,000 người về, mỗi người tốn 2000$ để xài). Liên Hiệp Quốc viện trợ 3 tỷ. Sơ sơ Đảng Nhà Nước thu được 17 tỷ là giá chót. Đó là chưa nói số ngoại tệ Đảng Nhà Nước bòn vét tài nguyên dầu khí, cao su, gạo, v.v đem bán thô cho ngoại quốc. Phải hàng chục tỷ nữa.

Nếu so sánh với chánh quyền Việt Nam Cộng Hoà thời trước 75 ở Miền Nam mới thấy CS họ hoang phí vô độ. Việt Nam Cộng Hoà khi xưa chỉ nhận viện trợ dân sự 700 triệu Mỹ Kim mà phải lo cho 17 triệu dân với giáo dục công lập, y tế công cộng miễn phí. Tài trợ cho đồng bào Miền Trung ăn gạo giá có thể chịu được.

Thế nhưng khi có thiên tai bão lụt, nhân dân và chánh quyền đùm bọc lấy nhau, đâu có ngửa tay xin ngoại quốc. Và công dân VNCH lên máy bay đi ngoại được các nước xem là công dân của một nước có nền kinh tế phát triển, hơn Đài Loan, Nam Hàn, Thái Lan.

Còn bây giờ, Đảng Nhà Nước Cộng Sản Hà nội là cơ quan có nhiệm vụ pháp lý và đạo lý phải lo cứu trợ. Luật CS Hà nội qui định không tổ chức nào trong và ngoài nước được phân phối tiền cứu trợ tại Việt Nam ngoại trừ cơ quan cứu trợ có thẩm quyền từ Trung Ương tới địa phương do Mặt Trận Tổ quốc lãnh đạo (Thông tư số 72/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính & Nghị định số 64/2008/NĐ-CP ngày 14/05/2008 của Chính phủ). Thế mà Đảng Nhà Nước giàu nứt đổ đổ vách lại lơ là không làm. Mà người Việt Hải ngoại đi làm một việc Đảng Nhà Nước CS cấm không cho làm.

Người Việt hải ngoại làm là trái luật của CS Hà nội. Nên đa số thu tiền ở hải ngoại đem về nước làm từ thiện đều tuyên bố khi thu rằng sẽ giúp trực tiếp cho dân. Nhưng kinh nghiệm cho thấy tất cả đều phải qua nhà cầm quyền CS ở địa phương mới đi đứng, gặp gỡ người cần gíúp được. Ở trong xứ CS không thể họp dân mà nhà cầm quyền không hay biết.

Trong việc cứu trợ nhà cầm quyền địa phương có uyển chuyển với những người ngoại quốc vì có lợi cho họ. Họ không đòi hỏi phải giao tiền và quà cứu trợ cho họ vì họ biết đòi hỏi như thế “Việt Kiều” sẽ không đồng ý. Họ cho Việt Kiều đứng ra phát để chụp hình đem về chứng minh và làm thành tích của hội đoàn ở hải ngoại. Nhưng họ nắm quyền lợi của CS bên trong. Họ được “Việt Kiều” phải quấy với họ, làm “thủ tục đầu tiên” khi gặp để xin phát cho dân. Họ chọn người được phát đa số là thân nhân, bè bạn của họ.

Số tỷ, triệu phú Đô la ở VNCS hiện rất nhiều. Đảng Nhà Nước CS Hà nội rất giàu. Họ quá giàu đến đổi phải hoang phí. Không lý do gì người Việt hải ngoại lại đi làm vú sữa cho họ nữa. Mấy mươi năm đã quá thừa rồi. Không lý do gì để CS và những người chuyên sống bằng nghề từ thiện lợi dụng tình đồng bào, khai thác tai nạn của dân chúng để móc túi người Việt hải ngoại nữa. Người Việt có thương ai, giúp ai cứ gởi trực tiếp, đường dây chuyển tiền bây giờ quá dễ./.

Vi Anh
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Đừng hành xử như những kẻ vô ơn :
Ăn cây táo nhưng lại đi rào cây soan

Chưa bao giờ người Việt tị nạn tại Hoa Kỳ lại có đầy dẫy cơ hội làm việc từ thiện như những lúc gần đây.

Tuần trước tôi nhận được email của cô bạn học cũ xin tiền giùm một linh mục ở Việt Nam để lo cho trẻ em nghèo bên đó. Hôm sau tôi lại nhận được một email khác của người bạn mời đi xem anh ta hát với một số bạn trẻ khác ở Star Performing Art Center kèm theo lời nhắn gửi là 80% tiền thu được sẽ được gửi về Việt Nam giúp người nghèo. Sau hôm đó thì tôi nhận được một cú điện thoại mời đi ăn tối ở một nhà hàng nhằm mục đích gây quỹ từ thiện cũng để giúp đỡ người nghèo ở Việt Nam. Chiều đi làm về ghé qua chợ mua tờ báo thì thấy hình ảnh bão lụt miền Trung hiện diện ngay trang nhất kèm theo lời cứu trợ cho nạn nhân cơn bão số 9 ở Việt Nam. Vừa ra xe đút chìa khóa nổ máy thì nghe radio trong xe vang lên cuộc phỏng vấn một tu sĩ thuộc một dòng tu Công Giáo đang rầm rộ gửi người về Việt Nam giúp nạn nhân bão lụt.

Theo như vị tu sĩ này cho biết thì nhiều thiện nguyện viên ở Mỹ đã bỏ tiền túi ra mua vé máy bay về Việt Nam gấp cho kịp công tác cứu trợ sau cơn bão số 9. Tôi hy vọng vị tu sĩ này không phải bỏ tiền túi của mình ra để trả lệ phí cho talk-show trên đài. Sau khi vào nhà tôi bật tivi lên trong lúc sửa soạn bữa ăn tối, tôi lại được dịp nhìn thấy hình ảnh bão lụt miền Trung trong đoạn phim dài khoảng 3 phút và kết thúc bằng lời kêu gọi rất não lòng “Máu chảy ruột mềm”, $20 cho một bao gạo, $1000 cho một tấn gạo, xin đồng bào gửi tiền giúp cho...

Ðoạn phim này không phải chỉ được chiếu một lần trên màn ảnh tivi mà lập đi lập lại nhiều lần giống như các quảng cáo thương mại khác. Cơm nước xong, tôi lại bật tivi nhưng chuyển qua một đài Việt Nam khác thì thấy trên màn ảnh là quang cảnh đấu giá tranh coi bộ rất hào hứng tại một nhà hàng ở quận Cam mà số tiền thu được sẽ được trao cho hai nữ tu đã từ Việt Nam qua và cũng có mặt trong buổi dạ tiệc đấu giá tranh đó. Hết bức tranh này đến bức tranh khác, người tham dự coi bộ rất “hồ hởi, phấn khởi” tranh nhau trả giá cao hơn và kết thúc thật vui nhộn. Nghe đâu tiền bán tranh và lợi nhuận từ buổi dạ tiệc sau khi trừ đi chi phí máy bay và ăn ở của các nữ tu (coi bộ không nhỏ) sẽ được gửi cho các nữ tu mang về Việt Nam làm công tác từ thiện bên nhà. Dường như tôi đang sống trong một cộng đồng đang “sốt” lên và “nhà nhà thi đua, người người thi đua” làm việc từ thiện cho Việt Nam.

Ðể thay đổi không khí, tôi chuyển qua một đài tivi Mỹ thì nghe thấy một đoạn tin tức khá dài trong đó giới chức có thẩm quyền nhìn nhận là hệ thống nước uống (fountain drink) của các trường tiểu học trong rất nhiều học khu ở quận Cam đã bị ô nhiễm đường ống nước từ lâu và họ thú nhận là không có tiền để thay hoặc sửa chữa, và họ còn dự đoán là phải mất 2-3 năm nữa mới hy vọng có đủ tiền vì tình hình kinh tế thắt lưng buộc bụng hiện nay. Trong lúc chờ đợi, phụ huynh chịu khó mua nước chai cho con mang đến trường, nhưng nếu có em nào chẳng may khát quá, quên mất điều đó mà lỡ quên uống nước fountain drink thì... cha mẹ ráng chịu vì đã được thông báo rồi mà.

Trời! Ở ngay cái xứ đã từng đưa người lên cung trăng này mà con em mình phải đợi vài năm nữa mới hy vọng có nguồn nước sạch để uống ở trường. Chuyện nghe cứ tưởng như mình đang ở Phi Châu hoặc một đất nước nghèo đói xa xôi nào vậy, chứ không phải ở Mỹ. Tôi bấm nút đổi qua một đài Mỹ khác thì tin tức cũng chẳng thú vị gì, lại những mẩu tin, hình ảnh và những con số leo thang của nạn thất nghiệp, nhà cửa bị ngân hàng xiết vì không trả nổi nợ nữa (foreclosure), nạn trộm cắp gia tăng vì xã hội ngày càng thêm người nghèo, nhiều người già mất tiền hưu dưỡng vì những xáo trộn tài chánh mấy năm qua đã ảnh hưởng đến quỹ hưu trí của họ. Trên màn ảnh tivi tôi chợt chú ý đến hình ảnh ngơ ngác của các em bé học sinh mà giọng người xướng ngôn viên cho biết đó là những “homeless students” (học sinh vô gia cư, không nhà) đang ngày càng đông trong các học khu bởi vì chính cha mẹ các em cũng vừa trở thành “homeless” sau khi họ bị mất việc làm và căn nhà của gia đình họ bị các ngân hàng lấy đi để xiết nợ.

Tôi tắt tivi, tiện tay cầm lên tờ báo Mỹ địa phương nổi tiếng, Orange County Register, để mang vào giường ngủ đọc. Dưới ánh đèn phòng ngủ, tôi liếc qua trang chuyên đăng “Legal Notice” (thông báo theo yêu cầu của luật pháp) với những cột báo dày đặc tên những con nợ bị ngân hàng báo tin là sẽ mang nhà của họ ra đấu giá vì họ đã không thể tiếp tục trả nợ tiền nhà nữa. Tôi thoáng nhận ra một số tên con nợ người Việt Nam với những cái họ đặc thù rất quen thuộc: Nguyễn, Trần, Lê, Lý,... Tôi thở dài khi nhớ ra rằng khi chạy xe đi làm ngang qua những thùng rác lớn, tôi vẫn thấy hình ảnh cố hữu của những người đang moi thùng rác để nhặt những chai nhựa, thủy tinh mang về bán lại. Mà cần gì phải tìm kiếm xa xôi, mới hồi chiều này sau khi mua tờ báo và bước chân ra khỏi chợ, tôi đã nhìn thấy một người đàn bà Việt Nam đứng tuổi đang lặng lẽ ngồi xin tiền trên một chiếc xe lăn xập xệ ngay trên bãi cỏ ven lề của bãi đậu xe. Có lẽ bà đã không dám ngồi ngay trước cửa chợ vì sợ bị ông bảo vệ chợ đuổi đi. Thật chưa bao giờ tôi thấy bức tranh xã hội và kinh tế của Mỹ lại ảm đạm và thê lương như bây giờ.

Hôm sau tôi phải giữ một cái hẹn với ông nha sĩ để khám răng định kỳ. Nằm trên chiếc ghế của bệnh nhân, tôi nghe ông nha sĩ trẻ người Việt khoảng trên ba mươi tuổi vui vẻ kể lại chuyện cuối tuần vừa rồi ông đưa gia đình ông đến tham dự một buổi dạ tiệc lớn trong cộng đồng nhằm gây quỹ giúp người nghèo ở Việt Nam. Những vị thực khách mạnh thường quân đã kéo đến thật đông đầy nghẹt cả nhà hàng, và có nhiều người phải thất vọng bỏ ra về vì không tìm thấy chỗ ngồi. Thế nhưng những vị thực khách may mắn khác chưa ngồi được nóng chỗ thì đã thấy cảnh sát Mỹ túa vào nhà hàng và xe cứu hỏa đã được điều động tới. Rồi thì tất cả mọi người bị cảnh sát mời ra ngoài vì nhà hàng chỉ có giấy phép chứa 250 người mà lại có tới khoảng 400 người đang tham dự buổi dạ tiệc. Nghe đâu nhà hàng đã được sửa sang để có sức chứa 400 người nhưng trên mặt pháp luật thì nhà hàng chưa xin được (hoặc đang xin) giấy phép để tăng số thực khách như ý muốn. Sau khi chờ đợi ở ngoài khá lâu, cảnh sát cho phép đúng 250 thực khách được vào nhà hàng trở lại, số còn lại phải ra về sau khi được ban tổ chức xin lỗi và hứa hẹn sẽ mời họ lại trong một dịp gây quỹ khác rất gần.

Ông nha sĩ trẻ phân bua với tôi là việc cảnh sát làm tuy đúng với luật pháp, nhưng hơi quá đáng vì người nghèo ở Việt Nam trở thành nạn nhân do ban tổ chức mất đi cơ hội lạc quyên tiền từ 150 vị thực khách phải bỏ ra về ngang xương chỉ vì cảnh sát làm mất cuộc vui. Và ông nha sĩ trẻ của tôi còn nói thêm điều gì nữa đó, nhưng tôi không còn nghe nữa. Tâm trí tôi đang nghĩ tới những vòi nước “fountain drink” dơ bẩn trong các trường học đang cần có tiền để được thay đổi, sửa chữa. Tôi liên tưởng đến những em học sinh nhỏ ở quận Cam trong lúc khát nước đã quên khuấy lời cha mẹ dặn mà cứ vục đầu vào uống nước từ những chiếc vòi nước với đường ống dơ bẩn đó. Tôi chợt xốn xang hơn khi nhớ lại hình ảnh ngơ ngác của các em bé “homeless students” ở trên tivi tối hôm qua. Tôi tự hỏi có bao nhiêu em trong số các em học sinh vô gia cư đó là người Việt Nam với những cái họ Lê, Lý, Nguyễn, Trần,... mà tôi đã đọc thấy trên tờ báo địa phương tối hôm qua? Ước gì các vòi nước dơ bẩn trong các trường học ở quận Cam và những em bé học sinh vô gia cư kia được sự chú ý của những nhà tổ chức làm việc từ thiện lỗi lạc của cộng đồng chúng ta?

Với khả năng huy động đến cả 400-500 thực khách đến tham dự một buổi dạ tiệc gây quỹ từ thiện cho Việt Nam như vậy trong một thời buổi kinh tế khó khăn như hiện nay thì tôi tin chắc là họ có dư khả năng làm thu ngắn lại khoảng thời gian chờ đợi 2-3 năm để có nguồn nước uống sạch trong các trường học cho con em chúng ta, hoặc làm vơi bớt nỗi khổ đau của những bậc cha mẹ bị mất nhà và con cái bị liệt vào số thống kê những học sinh “homeless” không nhà. Ðó là chưa kể đến những cụ già đang sống neo đơn không người chăm sóc như người đàn bà ăn xin tôi đã gặp trong bãi đậu xe chiều hôm qua. Ðó là chưa kể đến những bệnh nhân đang âm thầm chịu đựng bệnh tật vì không có bảo hiểm y tế để vào bệnh viện chữa bệnh. Dường như làm việc từ thiện ở ngay trên xứ Mỹ và cho chính nước Mỹ này vẫn không “hấp dẫn” và “lôi cuốn” bằng làm việc từ thiện ở Việt Nam? Hay đó là việc của chính phủ, hay của người bản xứ mà chúng ta không cần lưu ý đến?

***
Từ hồi cơn bão Katrina cho tới bây giờ, tôi nghe rất ít chuyện kêu gọi làm việc từ thiện trên đất Mỹ, mặc dù ai cũng thừa biết là trong những năm gần đây nền kinh tế Mỹ như một chiếc xe không phanh lao đầu xuống dốc. Trong một bản tổng kết mới đây của một cơ quan Liên Hiệp Quốc thì Hoa Kỳ đã xuống hàng thứ 13 (thua cả Canada) trong số các quốc gia được xem là nơi sống lý tưởng nhất cho người dân trên thế giới. Theo như bản xếp hạng này thì Na Uy đứng nhất và Úc đứng thứ hai.

Ðiều đáng chú ý là những nhà làm việc từ thiện của chúng ta khi còn ở Mỹ thì ra mặt rất ư là “danh chánh ngôn thuận”, nào là hội từ thiện này, đoàn thể nọ khi kêu gọi lòng hảo tâm của người Việt hải ngoại, nhưng khi quý vị đó về tới Việt Nam thì họ là những nhà từ thiện... “chui”, hoặc núp dưới bóng một nhà thờ, chùa chiền, hay một dòng tu ở Việt Nam để làm việc từ thiện. Họ phải giấu tiền, kín đáo, âm thầm làm công việc từ thiện nếu không muốn bị công an cộng sản Việt Nam để mắt tới và khép tội là “bọn xấu” hoặc “thế lực phản động từ nước ngoài về.” Còn các đoàn y sĩ khi về Việt Nam chữa bệnh thì phải xin phép nhà nước, chỉ được đến những chỗ nhà nước đã chỉ định để chờ và tiếp những bệnh nhân do... nhà nước gửi tới.

Khách “quý” như một vị thiền sư và các môn đệ của ông được nhà nước mời và tiếp đón nồng hậu như vậy mà bây giờ đang bị cộng sản đối xử tàn nhẫn thì vấn đề an nguy của các nhà từ thiện “chui” của chúng ta chỉ là vấn đề thời gian. Chẳng qua chính quyền cộng sản còn đang bận đàn áp, bỏ tù những người đòi quyền tự do dân chủ ở Việt Nam, hoặc đang mải mê đếm tiền hối lộ và trợ giúp nhân đạo của quốc tế, hay đang bận “đốt” tiền trong các cơ sở kinh tài ở hải ngoại của họ nhằm mục đích đánh phá, chia rẽ và phân hóa cộng đồng nên họ đang tạm thời “nhắm mắt làm ngơ” cho các nhà tự thiện “chui” của chúng ta đó thôi.

Vả lại, Cộng Sản Việt Nam chưa có dại gì mà lại 'chặt dây động rừng” trong lúc này khi mà công tác cứu trợ của các nhà từ thiện “chui” của chúng ta đã và đang giúp họ rảnh tay đối phó với các “bloggers” ở trong nước tranh đấu cho Hoàng Sa/Trường Sa và sự toàn vẹn lãnh thổ, cũng như các phần tử đang phản kháng việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên,... Nhưng sự im lặng và nhắm mắt làm ngơ của Cộng Sản không phải là đồng ý.

Thế mới biết Cộng Sản Việt Nam rất kiên nhẫn trong công việc “vắt chanh bỏ vỏ.” Không chóng thì chày sẽ đến lúc những “Việt kiều yêu nước” và “thích” làm việc từ thiện ở Việt Nam, những vị khách Ðảng không mời mà tới này bị coi là... tài lanh, nhẹ thì bị kết tội “xâm phạm và làm cản trở công tác cứu trợ của chính quyền,” nặng hơn nữa là “toa rập với các thế lực ngoại bang chống phá Việt Nam.”

Xin đừng quên rằng chúng ta là những người ngoại quốc ngay trên chính quê hương của mình, và thậm chí chúng ta “được” Ðảng Cộng Sản Việt Nam đối xử còn tệ hơn là những người ngoại quốc chính hiệu bởi vì chúng ta phải đóng tiền xin visa để về thăm nơi chôn rau cắt rốn của mình trong khi dân Trung Cộng thì lại có thể ngang nhiên đến ở và làm việc tại Việt Nam mà không cần phải xin visa hay một giấy tờ gì cả mà công an Việt Nam không dám hoạnh họe hỏi han họ như đã từng hạch sách “Việt Kiều” về thăm quê hương. Xin đừng quên rằng chúng ta mang quốc tịch Hoa Kỳ, Gia Nã Ðại, Anh, Pháp, Úc, Thụy Sĩ,... và chúng ta không còn mang quốc tịch Việt Nam kể từ cái ngày chúng ta bỏ phiếu bằng chân để trở thành “bọn phản quốc chạy theo bơ thừa sữa cặn của đế quốc.”

Một điều quan trọng khác mà chúng ta ai cũng biết là sau khi Cộng Sản từ bỏ công cuộc “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Xã Hội Chủ Nghĩa” nhằm phục vụ cho sự sống còn của Ðảng, ngày nay Việt Nam đang có những đại gia, những nhà tư bản đỏ (đa phần là con cháu hay có liên hệ với Cộng Sản) đã xúng xính sắm máy bay riêng, đặt mua xe hơi Roll-Royce từ Anh Quốc trả bằng tiền mặt, đánh cá độ quốc tế với cả triệu dollars Mỹ, hoặc vung vít bạc ngàn dollars trong các sòng bài nổi tiếng trên thế giới, hay mua bất động sản đầu tư ở ngoại quốc và cho con cái đi du học với hàng trăm ngàn dollars ký gửi trong các trương mục ngân hàng quốc tế. Như vậy thì mấy chục ngàn dollars chúng ta cắc củm quyên góp để mang về Việt Nam cứu trợ có thấm thía gì, hay chỉ là việc “mang muối bỏ biển”, “vác củi về rừng”?

Tại sao vài ba chục người phải bỏ tiền túi ra mua vé máy bay vượt đại dương, hối hả về Việt Nam cứu trợ trong khi có tới 83 triệu đồng bào như một khối nhân sự khổng lồ ở sẵn trong nước? Chẳng lẽ 83 triệu dân với con số không nhỏ những đại gia, tư bản đỏ và doanh nhân lớn nhỏ với hàng triệu dollars tiêu xài vung vít đó không thể tự đùm bọc và cứu trợ cho nhau hay sao? Không lẽ chỉ có “những khúc ruột dư ngàn dặm” là 3 triệu người Việt Nam sống rải rác khắp nơi trên thế giới mới cần phải biết đến “máu chảy ruột mềm,” còn 83 triệu đồng bào cùng sống quây quần trong một đất nước nhỏ bé thì lại không biết “lá lành đùm lá rách”? Thật phi lý làm sao!

Trong lúc mải mê làm công việc Bồ Tát cứu nhân độ thế trong các chương trình cứu trợ ở Việt Nam, vô hình trung chúng ta đã gián tiếp hà hơi, tiếp sức để cho bọn chính quyền Cộng Sản được rảnh tay chuyên chú vào việc đánh phá các cộng đồng người Việt hải ngoại qua Nghị Quyết Số 36 của Ðảng Cộng Sản, và đàn áp bỏ tù những nhà đấu tranh cho phong trào dân chủ trong nước hay cho sự vẹn toàn lãnh thổ. Và cũng chính chúng ta đang “làm hư” các đại gia, tư sản và tiểu tư sản ở Việt Nam vì chúng ta chen chân đòi gánh vác công tác cứu trợ trong khi chính họ mới là những người có đủ “danh chánh ngôn thuận” và có trách nhiệm quyên góp tài chánh để lo toan các công tác cứu trợ như một phần nào đó đền bù lại của cải cho những người dân Việt Nam tầm thường đã giúp họ giàu có mà trong tiếng Anh ta thường gọi việc làm đó là “give back to the community.” Tại sao chúng ta lại phải cuống quýt bay về Việt Nam lo cứu trợ, mà vô tình để cho các đại gia và các nhà tư sản lớn nhỏ trong nước có cơ hội để ỷ lại vào sự trợ giúp của chúng ta, để họ có thể bình tâm hưởng thụ, nhởn nhơ bay lượn sang Hawaii tắm biển buổi sáng, và đáp máy bay đến Las Vegas đánh bài xì phé buổi chiều? Thử hỏi các tay đại gia, tư bản và cả đám “celebrities” đang sống đề huề với Cộng Sản... có thể yên tâm hưởng thụ và “hót” được nữa hay không khi dân nghèo và dân oan tràn về nằm đầy trên đường phố và tình trạng an ninh của họ bị đe dọa bởi chết chóc, bệnh tật, đói nghèo, trộm cắp lan tràn đầu đường cuối ngõ?

Hoàn cảnh của Việt Nam bây giờ đã khác 20 năm trước quá nhiều rồi. Tuy hơi muộn màng nhưng có lẽ vẫn chưa quá muộn để chúng ta thức tỉnh mà ra khỏi “cơn sốt” làm việc từ thiện cho Việt Nam. Có lẽ đã đến lúc chúng ta nên quay đầu nhìn lại con bò sữa Mỹ Quốc đang càng ngày càng cạn kiệt bơ sữa mà chúng ta đã thi nhau vắt để cắc củm gửi về cho Việt Nam cả ngàn tỷ dollars trong hơn 30 năm qua. Có lẽ đã đến lúc chúng ta nên chú tâm tới cái cộng đồng mà chúng ta đang sống, và với bổn phận làm công dân đối với cái đất nước đã và đang cưu mang chúng ta từ bao nhiêu năm qua. Nơi đây mới chính là nơi chúng ta phải vun đắp, tưới bồi không phải chỉ cho tương lai chúng ta mà còn cho đời con đời cháu của chúng ta.

Ða số chúng ta vẫn còn cặm cụi làm ăn để trả nợ nhà, nợ xe, nợ học phí, nợ bills này, hóa đơn nọ,... Con em chúng ta cần có hệ thống nước sạch để uống trong các trường học, các em thanh thiếu niên cần nhiều chương trình đức dục, giáo dục văn hóa Việt Nam, khoa học kỹ thuật và nghệ thuật mà chính phủ thì đã và đang cắt giảm ngân sách trong mọi lãnh vực. Còn những người già sống cô độc thì cần nơi nương tựa và các sinh hoạt cộng đồng. Xin đừng quên là chúng ta đang ở trong thời kỳ suy thoái kinh tế trầm trọng mà hậu quả là rất nhiều người trong cộng đồng chúng ta đã mất nhà, mất job,... và cần sự giúp đỡ của cộng đồng. Nói trắng ra là cộng đồng chúng ta vẫn còn nghèo, mà một phần lớn của cái nghèo đó là vì chúng ta đã và hiện vẫn còn đang “ăn cơm nhà” ở Hoa Kỳ, nhưng làm chuyện “vác ngà voi” ở Việt Nam, một công việc “tài lanh” mà Ðảng Cộng Sản và bọn tư bản đỏ ở Việt Nam đang cười mũi vì họ không mời, không kêu gọi, cũng không “appreciate” nhưng chúng ta vì muốn “thi đua” lòng yêu nước thương nòi nên vẫn “thích” và “mê” lao đầu về làm như những con thiêu thân mà quên rằng chỉ có Ðảng Cộng Sản Việt Nam mới có đặc quyền yêu nước và “yêu nước là yêu Chủ Nghĩa Xã Hội”.

Mà giả sử như chính quyền Cộng Sản và bọn tư bản đỏ ở Việt Nam giả điếc làm ngơ, không thèm đếm xỉa, hay không lo toan cho dân nghèo thì đó là một cơ hội tốt cho đất nước Việt Nam chuyển mình. Cách mạng chỉ xảy ra khi con người ta bị đẩy vào con đường cùng, khi các mâu thuẫn giữa hai giai cấp giàu và nghèo, giữa thành phần cai trị và bị trị dâng lên đến tột cùng. Lịch sử cho thấy hai triệu dân chết đói ở miền Bắc năm Ất Dậu (1945) đã tạo một cơ hội ngàn vàng cho cộng sản khơi dậy lòng căm thù của toàn dân lên đến tột độ mà đứng lên làm “Cách Mạng Mùa Thu”.

***

Không phải chỉ có cơn bão số 9 tàn phá Việt Nam mà sẽ còn có cơn bão số 10, số 11, 12,... Không phải chỉ có chuyện khai thác bauxite ở Tây Nguyên mà còn hàng trăm công trình và dự án khác đã, đang và sẽ làm cho dân ta mãi mãi mất quyền tự chủ, mất đi công ăn việc làm vào tay dân Trung Cộng. Ngư dân không ra biển đánh cá được nữa vì Việt Nam đã mất chủ quyền, bọn tham nhũng cường quyền ngày càng lộng hành vơ vét vì lòng tham không có đáy, dân nghèo càng nghèo hơn, xã hội càng mất cân bằng và xáo trộn vì khoảng cách ngày càng xa giữa thành phần cai trị và bị trị.
Thêm vào đó là sự dần dần tỉnh ngộ của giới trí thức và giới trẻ ở Việt Nam trước nguy cơ mất nước. Tuy chậm nhưng tất cả những diễn biến đó sẽ có tác dụng hỗ tương để trở thành điều kiện cần và đủ cho một cơn bão cách mạng như bao cuộc cách mạng khác đã xảy ra trong lịch sử nhân loại.
Cơn bão cách mạng đó mới chính là cơn bão mà đồng bào trong nước cần đến sự cứu trợ của chúng ta, chứ không phải cơn bão số 9 hay số 10 nào cả. Ðể làm một hậu phương vững mạnh cho cơn bão cách mạng đó chúng ta cần phải lo cho sự giàu có, hưng thịnh và đoàn kết của cộng đồng chúng ta ngay từ lúc này. Muốn vậy chúng ta cần phải nhìn nhận một sự thật là chúng ta vẫn còn nghèo, vẫn còn có quá nhiều vấn đề phải lo cho cộng đồng nơi chúng ta đang định cư, và quá nhiều nợ nần chưa trả đối với các nước đã từng cứu vớt chúng ta trên con đường vượt biên, các quốc gia ở Ðông Nam Á như Indonesia, Phillippines, Malaysia,... đã cho chúng ta tạm chân trú ngụ trên bước đường tị nạn.

Viết đến đây thì tôi nhớ đến một bản thông báo gần đây của Ban Chấp Hành Cộng Ðồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu kêu gọi người Việt tị nạn tại Úc hãy quyên góp cứu giúp nạn nhân động đất ở Indonesia để làm món quà nghĩa tình cho phái đoàn Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam trong chuyến viếng thăm Indonesia vào ngày 11 Tháng Mười vừa qua nhằm đệ trình Thỉnh Nguyện Thư lên chính phủ và các cơ quan sở tại yêu cầu tiếp tục duy trì di tích trại tị nạn Galang, một di tích đang bị chính quyền Hà Nội áp lực để dẹp bỏ vì là nó nhắc nhớ đến lý do tại sao cả triệu người Việt Nam phải bỏ nước ra đi. Lại một lần nữa cộng đồng người Việt bên Úc đã tiên phong đi đầu.

Là một người tị nạn đang sống ở quận Cam là nơi tự coi mình là “thủ phủ của người tị nạn”, tôi cảm thấy hổ thẹn vì cho đến nay tôi chưa hề nghe một hội đoàn hay đoàn thể nào đứng ra kêu gọi lạc quyên cứu giúp nạn nhân động đất ở Indonesia, hay nạn nhân bão lụt ở Phillippines mặc dù ai cũng biết là cả Indonesia và Phillippines vừa mới chịu đựng những thiên tai rất nặng nề và đang kêu gọi thế giới giúp đỡ họ. Ðây là hai quốc gia duy nhất đã rất nhân đạo với chúng ta khi không thực hiện chính sách đẩy tàu thuyền nhân Việt Nam ra biển (push-back policy) như Malaysia và Thailand đã từng làm và đã gây thiệt mạng không biết bao nhiêu ngàn thuyền nhân Việt Nam mà con số sẽ không bao giờ được biết chính xác.

Ðặc biệt, Phillippines còn là quốc gia duy nhất đã không thực hiện chính sách cưỡng bức người tị nạn hồi hương về lại Việt Nam như các quốc gia khác đã làm vào những năm đầu thập niên 1990, và mặc dù Phillippines không giàu có gì họ đã tiếp tục cưu mang gần 2,500 người tị nạn Việt Nam trong khi chính Liên Hiệp Quốc đã thông qua chương trình Hành Ðộng Toàn Diện nhằm dẹp bỏ hết các trại tị nạn tại Ðông Nam Á. Các quốc gia tạm cư đó đã không “kỳ thị” chúng ta khi mà chính “anh em Nam Bắc một nhà” đã kỳ thị chúng ta bằng những chính sách và hành vi trả thù hèn hạ nhất sau 1975 như tra tấn, trấn nước, bỏ tù, bỏ đói, khủng bố tinh thần, tra khảo lý lịch mấy đời, ngăn sông cấm chợ, rượt đuổi chúng ta đến tận cửa biển để vòi tiền nhưng vẫn bắn súng AK vói theo tàu chúng ta cho chìm tàu và để bắn bõ ghét “bọn bám chân đế quốc.”

Ðó là chưa kể hàng ngàn mộ phần của những thuyền nhân Việt Nam xấu số đã vĩnh viễn nằm lại trên những quốc gia tạm cư đó. Ơn nghĩa vậy mà chúng ta đã và đang làm được gì cho Indonesia hay Phillippines trong lúc họ đang gặp hoạn nạn vì thiên tai và đang kêu gọi sự giúp đỡ của thế giới? Hay chính chúng ta đang “kỳ thị” họ vì chúng ta chỉ biết cứu trợ cho Việt Nam mà thôi? Cứ tưởng tượng xem, nếu như trong lúc khốn khó này mà chính quyền Hà Nội tặng cho họ một món tiền cứu trợ và hứa hẹn sẽ tặng thêm tiền để họ xây nhà cửa, khách sạn hoặc các cơ sở thương mại ở ngay trên phần đất của các trại tị nạn năm xưa hoặc ngay trên các phần mộ của hàng ngàn thuyền nhân Việt Nam. Nói rằng Hà Nội làm “áp lực” thì e rằng ta hơi quá đáng vì thực sự ra trong lúc khốn khó này của Indonesia và Phillippines thì Hà Nội chỉ cần “tặng” tí tiền mà không cần gây “áp lực” gì cả cũng đủ để cho các chính phủ sở tại và người dân Indonesia & Phillippines nhận ra thái độ im lặng, dửng dưng và vô ơn của thuyền nhân tị nạn Việt Nam trong lúc này.

Hơn bao giờ hết đây là thời điểm thuận tiện nhất để cộng đồng tị nạn Việt Nam ở khắp nơi trên thế giới có cơ hội thực hiện tinh thần “uống nước nhớ nguồn, ăn trái nhớ kẻ trồng cây.” Ða số người Việt hải ngoại hiện nay đều có liên hệ ít nhiều đến các thuyền nhân 20-30 năm về trước, là con cháu của các thuyền nhân, hay được chính các thuyền nhân bảo lãnh từ Việt Nam qua, hoặc được chính các hội đoàn người Việt tị nạn vận động với các chính phủ sở tại bảo lãnh từ Việt Nam qua như diện H.O. chẳng hạn. Với một tập thể đông đảo như vậy, chúng ta không thể nào hành xử như thể... khi khổng khi không bỗng nhiên có cả triệu người Việt Nam “rơi xuống” tị nạn ngay trên đất Mỹ này. Thật là đáng trách nếu như chúng ta cố tình hành xử như những kẻ vô ơn, hoặc quên đi căn cước tị nạn của chính mình, hay chỉ biết kể cho con cháu nghe chuyện vượt biên năm xưa như một chuyện cổ tích xưa rích cần được nhắc lại vào ngày 30 Tháng Tư hằng năm mà thôi.

“Thuốc đắng dã tật. Sự thật mất lòng.” Chắc chắn là bài viết này sẽ làm cho nhiều người khó chịu hay nổi giận, nhất là các hội đoàn từ thiện hay cơ quan truyền thông đang chăm chú kêu gọi cứu trợ bão lụt miền Trung Việt Nam. Hy vọng rằng quý vị sẽ bình tâm khi đọc lại sự giải thích và trình bày lý do ở phần đầu của bài viết này.

Xin được nhấn mạnh là bài viết này không phải là ý kiến hay chủ trương của tòa báo, mà chỉ đơn thuần là ý kiến của một cá nhân. Nhưng “một con én không thể làm nên mùa Xuân.” Vì sĩ diện chung của tập thể người Việt tị nạn, và vì lợi ích chung của cộng đồng chúng ta trên đất Mỹ, tôi xin trân trọng cảm ơn tất cả các tòa soạn đã đồng ý đăng tải bài viết này của tôi trên quý báo.

Tôi trông chờ các vị đại diện cộng đồng, hoặc một hội đoàn từ thiện hay đoàn thể nào đó sẽ “can đảm” đứng lên kêu gọi một cuộc lạc quyên cứu trợ các nạn nhân động đất và thiên tai ở Indonesia và Phillippines như một sự đền đáp lại nghĩa cử cao đẹp của các quốc gia này khi đã ra tay cứu giúp thuyền nhân Việt Nam năm xưa. Tôi càng mong đợi nhiều hội đoàn sẽ để ý đến các công tác từ thiện cho chính các cộng đồng người Việt chúng ta trên đất Mỹ trong giai đoạn kinh tế khó khăn này.

Tôi cũng ước mong nhiều người sẽ vào thăm trang web của Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam (www.vktnvn.com) để tiếp tục ký tên vào Thỉnh Nguyện Thư nhằm vận động chính phủ Indonesia giữ lại các di tích trại tị nạn cho con cháu chúng ta có cơ hội tìm hiểu lý do vì sao chúng đã không mang quốc tịch Việt Nam, để chúng được tận mắt nhìn thấy chứng tích của một giai đoạn lịch sử đầy đau thương của dân tộc và cũng để chúng biết thông cảm với những nỗi khổ đau và trăn trở của thế hệ thuyền nhân Việt Nam.

Mong lắm thay!
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 2 guests