Tạp Ghi

caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »


Image

Đại Vê Chí
Blog nguoibuongio

Nhà Sản cai trị nước Vệ đến năm Canh Dần, tính ra cũng 65 năm.
Chính chiến liên miên mất quãng 40 năm, hết nội chiến rồi đến ngoại xâm, giặc xa đến giặc gần, chết mấy triệu người trai trẻ, một phần đất đai, lãnh hải lọt vào tay ngoại bang. Đổi lại nhà Sản cầm triều chính, thống nhất sơn hà vào trong tay.
Xưa tiên đế nước Vệ lúc nắm binh quyền có nói:
- Đất nước ta, rừng vàng biển bạc, tài nguyên phong phú, nhân dân cần cù, chăm chỉ.
Sau này bọn hậu thế khi tiên đế thác đi, bèn thêm vào câu:
- Triều Sản sáng suốt, lãnh đạo anh minh.
Vậy là qua bao nhiêu biến động của mấy chục năm nhà Sản cai trị, gần hết một kiếp người, trong dân gian tin tưởng rằng:
- Đất nước Vệ rừng vàng, biển bạc, tài nguyên phong phú, nhân dân cần cù, triều đại, lãnh đạo anh minh sáng suốt.
Câu này được ghi vào sử sách, vào giảng dạy ở các trường tiểu học, trẻ con nước Vệ ngay từ nhỏ đã tin rằng nước Vệ tươi đẹp và giàu có như thế, việc học hành là phụ, hoan ca công đức lãnh tụ, triều đình là chính. Còn đâu học chỉ lấy thành tích, thực chất thì có kẻ còn không biết đọc Tam Tự Kinh dù học lớp tứ, lớp ngũ.
Bởi vậy sau chiến tranh qua đi, thanh niên nước Vệ chỉ ham ăn chơi, quan hệ tình dục rồi công bố cho thiên hạ xem chơi, đua xe, dùng ma túy, đâm chém lẫn nhau, thầy hiếp trò, chồng giết vợ, mẹ hai con, cháu bóp cổ bà, bọn ca kỹ xểnh tí là tụt váy cho thiên hạ ngắm. Con quan lại đứng đầu những trò ăn chơi, phạm pháp. Công sai thì mặc sức đánh người. Nước Vệ nhìn thì bình yên nhưng là thứ bình yên vô luật pháp, kẻ mạnh có vũ lực là kẻ đúng, sau nữa là kẻ có tiền. Luật để trừng phạt những kẻ không có hai thứ đó.
Nước Vệ có rừng vàng, biển bạc, tài nguyên phong phú, nên cứ bán mà ăn. Quan lại nào khai thác, ký kết nhiều hợp đồng bán đất, tài nguyên cho ngoại bang được nhiều là hình mẫu quan tiên tiến, thăng tiến rất mau, giữ chức quyền cao hơn để bán được nhiều hơn. Đến cuối năm Canh Dần, đời Cường Vệ Vương thứ mười, cơ bản đã bán gần hết tài nguyên, đất đai chẳng còn là bao nhiêu, giá lại đắt đỏ chỉ tội những người nghèo phải đi thuê mướn nhà ở. Cơ cực vô cùng.
Trộm cắp, lừa đảo nhiều như rươi. Thiên tai, hạn hán, lũ lụt chồng chất không ngớt. Bệnh dịch hoành hành, lạm phát mọi thứ đều tăng vọt, thuốc men, gạo củi đều lên giá. Người nông dân, công nhân bị mất quyền lợi tụ tập phản đối ngày càng nhiều. Trái lại các quan ngày càng giàu nứt, đổ vách, đạo đức xã hội tỉ lệ nghịch càng suy đồi.
Trước cảnh ấy, trong đám sĩ phu nước Vệ, nhiều kẻ còn chút lòng tự trọng kẻ sĩ, cũng thấy việc chướng tai, gai mắt hoành hành quá thể bèn người thì dâng sớ, kẻ thì đăng đàn vạch trần nguyên nhân băng hoại của đất nước.
Nhà Sản thấy sĩ phu ồn ào như vậy, mới nghị rằng:
- Nguyên nhân bất ổn có thể từ đây, việc nước tốt xấu thế nào đã có triều đình lo. Bọn sĩ phu khua môi múa mép kích động dân chúng hiểu sai tình hình đất nước, dẫn đến hoang mang , bất ổn. Lệnh phải trừng phạt nghiêm khắc bất kể sang hèn, có trí thức hay không có.
Năm đó nhiều người bị bắt lắm, nhà tù chật ních người. Tòa xử bọn phạm tội '' tuyên truyền chống phá triều đình'' liên miên, đến nỗi nhiều vụ thiếu quan tòa xử, phải đặt ra lý do giam cứu đến hàng năm. Đáng nói trong đám tội phạm ấy có họ Cù người Can Lộc, dòng dõi công hầu, phụ thân từng cắp tráp theo hầu tiên đế buổi ban sơ, công lao rạng rỡ. Đến đời thứ hai là Cù Vũ, đậu tiến sĩ luật vậy mà triều đình cũng bị khép tội '' tuyền truyền chống phá'' nói nôm na tội này như tội khi quân, phạm thượng Ở phía nam nước Vệ, mấy kẻ cựu chiến binh, con nhà cách mạng như cặp Song Hải cũng vị tội ấy mà bị tù đày.
Dân chúng hãi lắm, người người đi đường chỉ biết cúi đầu mà đi, xểnh có ai nói tới những chữ như '' triều đình, nhà Sản'' bên canh là bịt, ôm đầu tai dáo dác chạy thật xa.
Quan ở bộ tuyên huấn chỉ thị cho bọn thuộc hạ, cầm loa đi khắp phố phường, làng mạc loa rằng:
- Phải giữ cho đất nước ổn định, bà con yên chí làm ăn, những kẻ phá hoại mục tiêu đó phải bị trừng trị là đích đáng.
Có kẻ điên, rách rưới, tiều tụy ở chợ nghe thấy cười mà rằng:
- Nước Vệ xuất 5 đồng, nhập về 10 đồng. Trong 5 đồng xuất thì đến 3 đồng là bán tài nguyên thô, đất đai. Trong 10 đồng thu về thì nhập hàng hóa xa sỉ đến quá nửa, buôn bán với kẻ thù phương Bắc thì thâm hụt chênh lệch quá lớn, bán cho chúng 1 đồng thì nhập đến 4 đồng. Ổn cái nỗi gì mà để yên được.
Nói xong kẻ ấy ngẩng mặt ra khỏi cái hố y mới đào cười ha hả. Thì ra y úp mặt vào cái hố y đào để nói cho đất nghe. Đúng lúc chợ đang giữa đêm, trăng sáng cao vằng vặng. Có kẻ ăn mày đắp chiếu nằm cạnh là nghe thấy. Công sai đi qua, thấy kẻ nói, kẻ nằm mới bắt tên ăn mày vào hỏi tên điên kia nói gì, kẻ ăn mày nói:
- Tôi thấy ông ta nói rằng, nước Vệ sắp tới thiên đường, vì tương lai không xa sẽ xuất 10 đồng tiền hàng hóa chất lượng cao và nhập về có 5 đồng tiền vật liệu, mọi cái tiêu dùng trong nước làm được hết thảy. Của cải dự trữ dồi dào, dân chúng vui sướng, một lòng tin tưởng triều đình.
Công sai nghe thấy hài lòng lắm, phán rằng:
- Đấy đến kẻ điên mà còn biết nói điều chí lý như vậy,nước Vệ hùng cường là chuyện tất yếu mà thôi.
Công sai nói xong bỏ đi. Kẻ điên mới lại gần ngắm kẻ ăn mày, nhìn mãi mới than:
- Trời đã sinh ra điên, sao nỡ còn sinh ra kẻ dại.
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

ĐẢNG CƯỚP Ở VIỆT NAM

Năm 2001 nhà nước việt cộng cho phép Việt kiều mua nhà, đất. Có văn bản công bố trên báo đảng đàng hoàng. Ông Michel Lý, Việt kiều Pháp, tưởng bở, mua 1,000 mét vuông đất ở Phan Thiết. Khi mua xong thì các đồng chí đến tịch thu. Kiện tới, kiện lui, kiện riết lên tới tòa tối cao. Toà phán “Việt kiều ở đâu thì về đó mà mua đất. Ở Việt Nam, đất đai, ruộng đồng, núi biển đều thuộc tài sản nhà nước”. Ông Michel nghe thế, mừng quá, làm tiệc ăn mừng. Hỏi sao, mất đất mà mừng? Ông Michel bảo “Cũng may, chưa xây building. . .”. Ở nước ngoài, mấy ông bà Việt kiều ngây thơ, chưa hiểu việt cộng là gì, nghe bọn nằm vùng dụ dỗ, tưởng bở, phen nầy giàu to, mang tiền về bỏ vô mấy cái tàu há mồm đang chờ sẵn. Rốt cuộc, bỏ của chạy lấy người. Về đến xứ tạm dung mà mặt vẫn còn xanh lè “Hú vía! Chưa vô tù”. Thời kháng chiến chống Pháp, người ta theo kháng chiến vì muốn đuổi thực dân Pháp ra khỏi nước, nhưng ai cũng bảo nhau “Nói láo như Vẹm”. Vẹm là chữ Việt Minh nói tắt VM. Tổng thống khôn nhà dại chợ Nguyễn văn Thiệu, ma mãnh cỡ đó còn ngán việt cộng “Đừng nghe những gì cộng sản nói. . .”. Việt kiều có quyền mua đất mua nhà phải là những con vật ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản như trần văn trường, phạm đăng long cơ mới đủ tư cách. Những tên làm chó săn tép riu, phát ngôn lảm nhảm mấy câu thì còn lâu. Chớ tưởng mình công trạng, thử về mua đất mua nhà coi! Chỉ ít lâu cũng bị tịch thu còn đi tù nữa. Báo đăng nhan nhản ra đó.

Còn đây là chuyện ông hoàng Nguyễn Phước Vĩnh Giu, con trai nhà vua yêu nước, chống thực dân Pháp, là Thành Thái, em ruột vua Duy Tân. Năm 1973 hoàng tử Vĩnh Giu bán hết tài sản của hai vị cựu hoàng ở đảo Réunion về Việt Nam mua hai căn nhà. Một ở thành nội Huế, một ở Cần thơ làm nơi họp mặt con cháu trong hoàng tộc. Năm 1978 các đồng chí thấy ngon ăn quá, tịch thu, đuổi ông hoàng ra đường. Nên nhớ năm 1945-1946 hồ chí minh long trọng hứa với hoàng đế Bảo Đại là sẽ bảo vệ tài sản, nhân mạng của hoàng gia nhà Nguyễn. Cũng may cho hoàng tử Vĩnh Giu, chưa bị đi tù cải tạo. Từ năm 1980 hoàng tử Vĩnh Giu làm đủ thứ nghề để nuôi cháu, và tậu được một cái chòi, bề rộng 1mét 7, dài 7mét. Đọc đến đây, bạn thử nhìn quanh chỗ bạn đang ngồi và tưởng tượng đến nơi vừa ở vừa nấu nướng, tắm giặt. . . của một ông hoàng hơn 90 tuổi và đứa cháu thất nghiệp của ông ta. Bạn tưởng tôi ghét việt cộng và nói láo để nói xấu chế độ. Khi nào có dịp về Việt Nam, mời bạn đến số nhà 158 / 36 / 4ac đường Phan đình Phùng, Cần Thơ, hỏi cụ Nguyễn Phước Vĩnh Giu sẽ rõ. Coi bộ khó tìm! Ở Việt Nam, khi tìm nhà, một cái xuyệt là một cái quẹo vào hẻm, thêm một cái xuyệt nữa là quẹo thêm một cái hẻm nữa. . . Khi đã tìm thấy số của cái hẻm, còn phải tìm theo chữ nữa. Nhà càng nhiều xuyệt càng thê thảm. Năm 1975 việt cộng vào cướp miền Nam cụ Giu đã 65 tuổi, vậy mà nỡ đuổi một ông già ra khỏi nhà để cướp nhà! Đảng (ăn cướp) của ta quả là nhân đạo! Đúng vậy, vì cụ không bị đi tù. Nếu đi tù thì chỉ ba bảy hăm mốt ngày cụ Giu đã lên thiên đường cộng sản từ lâu rồi. Đồng bào trong nước, cả Nam lẫn Bắc đang “hầm” lắm. Không ai nói ra nhưng đều nghĩ trong đầu “Bữa nào đổi đời, chúng mầy sẽ không còn đất chôn! Mả thằng giặc giết người không gớm tay là thằng hồ chí minh, cũng sẽ làm chỗ đi ỉa, như dân vượt biên thường nói mỗi khi đi ỉa “Đi thăm lăng bác!”.

Hiệp định Geneve 1954, chia cắt đất nước, các đồng chí miền nam tập kết ra Bắc (1954) được tiếp tục huấn luyện cách giết đồng bào miền Nam cho giỏi, sau đó trở về miền Nam thực hiện chỉ thị của đảng và bác là giết đồng bào miền Nam càng nhiều càng được huy chương, càng được biểu dương. Năm 1968 các đồng chí giỏi quá đảng thưởng công cho bằng cuộc tấn công Mậu Thân. Đảng ta bị (tapis) tố xả láng, các đồng chí, mười người chết bảy còn ba, chết hai còn một mới ra thái bình. (Thái Bình là đồng bào tỉnh Thái Bình vào chiếm đất trong Nam làm kinh tế mới). Năm 75, đồng chí nào sống sót vui mừng về làm chủ đất nước. Nhưng sau đó các đồng chí nam bộ mới té ngữa bò càng! Cái gọi là chính phủ miền nam Việt Nam bị quân Tam Phủ (Thanh Nghệ Tĩnh) dẹp tiệm, rồi thì các đồng chí Nam kỳ làm trong các cơ quan chính quyền phía nam cũng bị đuổi ra khỏi cơ quan. Bây giờ thì, ở việt Nam, vào cơ quan, xí nghiệp nào, ghế nào liên hệ đến tiền bạc, ghế nào có thể hoạnh họe để móc họng đồng bào, ăn hối lộ được thì các đồng chí bắc kỳ 75 với bọn nói giọng trọ trẹ Thanh Nghệ Tĩnh ngồi cả! Các đồng chí miền nam bị ra rìa, uất ức quá mới tụ tập nhau lập nên cái hội gọi là “Câu lạc bộ kháng chiến nam bộ”. Ở đó đồng chí nào cũng kể công, cũng khoe hai bàn tay đẫm máu đồng bào miền nam, khoe huân chương do bác đảng gắn đầy ngực, mà bây giờ phải ngồi rù, ăn lương hưu trí!. . . Các đồng chí tụ tập nhau, ngồi chửi thề “địt mẹ, đéo bà” ỏm tỏi được mấy bữa thì cái “câu lạc bộ kháng chiến nam bộ” đó bị dẹp tiệm. “Xéo ngay! Ngồi đấy mà phát ngôn bừa bãi!”. Mấy tên đầu têu (như trần văn trà, trần bạch đằng) thì cho mỗi đứa vài ngôi biệt thự để cho tư bản mướn kiếm tiền, vậy là mấy tên đầu têu nầy câm mồm, còn mấy tên tép riêu thì đá đít, đuổi chạy tan tác. Không cho lập câu lạc bộ kháng chiến thì mấy con gà rù “nam kỳ giết người nam kỳ” nầy lập câu lạc bộ chui, lấy tên là “ Câu lạc bộ trần bì”. Bạn đọc cũng biết, trong thuốc bắc có vị thuốc gọi là trần bì, là vỏ quít phơi khô. Ý mấy tên giết người nam kỳ muốn nói là bị đảng vắt chanh bỏ vỏ. Thời chiến tranh thì xúi mấy thằng nam kỳ tập kết, nằm vùng nhào vô bom, đạn. Chiếm được miền Nam thì đuổi cổ, cho làm thằng cán bộ trần bì. Đói quá, ở thành phố thì các đồng chí đi bán vé số, ra lề đường vá xe đạp, đến các tiệm ăn xin giữ xe, lau xe kiếm tiền bố thí của các đồng chí bắc kỳ đi ăn nhà hàng. . . Ở thôn quê thì các đồng chí quay về với ruộng đồng. Dù bị đồng bào khinh khi, tránh như tránh hủi, nhưng cũng yên thân già. Không ngờ, bọn quân tam phủ, vào nam thấy ruộng xanh, lúa tốt mới phát động hợp tác hóa nông nghiệp, nghĩa là tất cả ruộng đất đều thành của chung, mỗi ngày vác cuốc ra đồng, làm tính công điểm. Coi như các đồng chí trần bì bù trất, chẳng còn mảnh đất cắm dùi. Dân miền Nam trước giờ quen sống tự do, nay bị lùa vào hợp tác xã nông nghiệp, họ không thích. Không thích thì họ ỳ ra. Vì có làm bao nhiêu, phải đóng thuế nông nghiệp (45%) lại bị ban chủ nhiệm ăn xén, ăn bớt. . . đến tay xã viên thì được chia có mấy ký thóc! Thế là cả nước ăn bo bo với khoai mì khô. Thấy không xong, lũ quân tam phủ bèn chia lại ruộng cho từng hộ, tự cày cấy lấy mà đóng thuế. Đến đây thì màn cướp bắt đầu. Cứ ruộng tốt chúng chia cho bọn bắc kỳ 75 với bọn trọ trẹ Thanh Nghệ Tĩnh, mấy đồng chí nam bộ lại trơ khất, được thí cho mấy chỗ chó không thèm đến ỉa. . .Vậy là quá lắm! Cướp kiểu đó thì hết nước nói! Vậy là các đồng chí lại đeo mấy cái “huy chương giết người miền Nam” lên ngực, kéo cả bầu đoàn thê tử lên Sài Gòn biểu tình, đòi lại ruộng. Cả bọn cứ cà lơ thất thểu hết đến ủy ban nhân dân thành phố lại kéo nhau đến hang ổ bọn trung ương đảng ở góc đường Hiền Vương, Yên Đổ mà ngồi ăn vạ. Ngồi riết mỏi lưng thì nằm, nằm riết thì tiền, gạo cũng hết vậy là cả bọn lại thất thểu kéo về quê tiếp tục chửi thề. Những bàn tay đẫm máu đồng bào miền Nam lại ngửa ra xin ăn đồng bào miền Nam! Than ôi! Làm thằng ăn cướp xin đi theo đảng cướp cũng không được! Đành làm thằng ăn mày.
Khi đã cướp sạch miền Nam, đảng ta quay qua cướp đồng bào miền Bắc. Dân Thái Bình, Nam Định. . . đứng lên tự vệ. Họ cùm đầu bọn đảng viên, bọn hương đảng địa phương, đánh cho nhừ tử, đốt cơ quan, trụ sở. . . Vậy là bọn công an trung ương kéo về đàn áp. Trừ một số cho đi mò tôm (mất tích) số đồng bào còn lại chúng đưa ra tòa, bỏ tù. Điển hình như vài vụ sau đây để chứng minh.

Ngày 18 tháng 12 năm 2002, tại Nam Định 10 nông dân bị tuyên án tù vì biểu tình chống cán bộ địa phương cướp đất. Ngày 30 tháng 12 năm 2002, tại Hà Tây, 21 nông dân bị tuyên án tù vì chống đảng cướp ruộng. Ở quận Bình Thạnh, thành phố Sài Gòn, ông Đoàn văn Tài, 73 tuổi, bị công an đuổi ra khỏi nhà để chiếm đất. Ông Tài tưới xăng khắp nhà, quyết chết với căn nhà. Một cậu công an sớn sác nhào vô giật bình xăng, bị lửa thiêu chết ngắt, ông Tài không bị gì cả. Ngày 22 tháng 1 năm 2003, ông Tài bị kết án tù chung thân!

Người ta thường bảo “Không ai chịu cha ăn cướp!”. Ý nói là dù ăn cướp thực đi nữa thì thằng ăn cướp cũng không bao giờ nhận cái danh hiệu đó. Vậy mà đảng cộng sản Việt Nam lại vỗ ngực xưng danh là ăn cướp. Năm 1946, cộng sản việt nam nhào lên “cướp chính quyền” Đến bây giờ chúng vẫn hãnh diện tự xưng là “cướp” chính quyền. Danh chính ngôn thuận, chúng cướp đất, cướp nhà, cướp tài sản của đồng bào, bị chửi tận mặt là “Quân ăn cướp!” chúng chẳng xấu hổ gì. Mao Trạch Đông đã dạy chúng “Có súng đạn là có tất cả”.

Nghề ăn cướp chính danh nầy coi bộ khá nên đồng chí cha truyền cho đồng chí con cách ăn cướp. Để luyện tay nghề, chúng đưa súng cho con đi cướp giật ngoài đường, vào nhà lương dân, dí súng vào đầu lấy của, lấy tiền để đi nhảy đầm, chích xì ke ma túy. Thế nên khi chúng ăn cướp bị đồng bào bắt giao cho công an thì công an phải thả ra ngay khi biết chúng là con cán bộ, đảng viên. Hiện nay tại Việt Nam chỉ có con cán bộ đảng viên mới đủ tư cách làm thằng ăn cướp, và chúng chỉ được dạy có một nghề đó thôi, để sau nầy nối gót cha anh mà làm chủ đất nước, đục khoét công qũy, ăn hối lộ, bán tài nguyên quốc gia cho tư bản, cắt đất dâng biển cho đàn anh Trung quốc vĩ đại.

Người nào hi vọng hão là một ngày nào đó, bọn ăn cướp sẽ đổi mới, sẽ cởi trói, sẽ tiến bộ. . . rồi sẽ có tự do dân chủ cho đồng bào Việt Nam, hoặc hi vọng là bọn trẻ lên nắm chính quyền, chúng có đi ra nước ngoài, mục kích được cảnh người dân Âu Mỹ sung sướng trong tự do dân chủ, giàu sang. . . khi về nước sẽ tiến hành thực thi dân chủ, tự do cho người dân. Nghĩ như vậy là lầm to. Như đã trình bày ở trên, lũ cướp con sẽ theo gương cướp cha mà tiếp tục ăn cướp nhiều hơn, tinh vi hơn. Vì chúng đâu có được dạy dỗ để trở nên người tốt đâu. Ăn trộm, ăn cắp đã trở thành bản chất, thành truyền thống từ lâu rồi. Thí dụ sau đây chứng minh điều đó. Trong tháng 2 năm 2003, báo Lao Động trong nước có đăng một bài nói về người Việt đi lao động ở Malaysia đánh lộn bị đuổi cổ về nước một số lớn. Chẳng phải vì chừng đó khiến nước chủ nhà ngán ngẩm mà vì cái bản chất vô học, du thủ du thực của bọn con cái cán bộ đảng viên đã quậy nước chủ nhà muốn điên cái đầu. Báo Lao Động lượt kê một vài hành vi tiêu biểu mà chúng ta, ở nước ngoài dù chậm tiến bao nhiêu cũng không thể ngờ được. Trên máy bay, từ Sài Gòn đi Kuala Lumpur, các cậu con trời nầy chui vô phòng vệ sinh hút thuốc, máy báo động kêu ầm lên, người ta phác giác hắn hút thuốc, vậy mà hắn chối phăng, cho đến khi đưa cái tàn thuốc ra mới chịu câm họng. Đến phi trường Kuala Lumpur, bọn chúng lại tiếp tục hút thuốc trong phi trường, coi như ở nhà (đảng viên). Khi vào siêu thị, cứ la cà, lòng vòng bốc kẹo bỏ vô mồm ăn, thản nhiên như người Hà Nội. Đến Malaysia làm, lại bắt trộm chó của người bản xứ, mua rượu về nhậu. Các cô đi lao động bằng “vốn tự có” (là cái đó đó). . . nhưng xứ Hồi Giáo cấm chuyện đó nên “không khá nổi” các cô bèn quay qua “bóc lột sức lao động” của các cậu con trời nầy. Chủ bắt gặp, đuổi cổ. Làm trong công xưởng thì ăn cắp sản phẩm. Làm ở nhà máy thì ăn cắp máy móc nhỏ, làm ở nhà máy chế biến thịt gà thì ăn cắp thịt gà. . .

Bạn muốn biết tường tận, tỉ mỷ, xin tìm báo Lao Động trong nước mà đọc. Tôi không đủ xấu hổ lây, nên không viết tiếp được. Tương lai nước nhà do nơi thanh niên. Đảng ta đã đào tạo những đoàn viên ăn cắp để sau nầy thành những đảng viên lên nắm chính quyền làm những thằng ăn cướp trong cái đảng ăn cướp là đảng cộng sản việt nam.

Phó Cối
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Những tiên đoán về năm 2011

Nikki Pezaro, thầy bói nổi tiếng ở Toronto, Canada, người từng tiên đoán đúng như in về nhiều sự kiện của năm 2010 như vụ giải cứu các thợ mở ở Chile, động đất ở Toronto và Quebec, cũng như động đất và lũ lụt ở Indonesia… đã đưa ra tiên đoán của mình về năm 2011.
Image
Ảnh minh họa: Psychic
- Hai máy bay qua Washington DC, Hoa Kỳ sẽ va chạm và gặp tai nạn
- Sông Thames ở Anh sẽ bị bỏ thuốc độc trong một vụ khủng bố.
- Israel và Iran sẽ có chiến tranh.
- Có một trận động đất mạnh ở Chicago, Illinois, Mỹ.
- Tổng thống Obama phải cẩn thận trong các cuộc diễu hành.
- Ca cấy ghép não người đầu tiên sẽ diễn ra ở Mỹ hoặc Anh.
- Hillary Clinton được đề cử giải Nobel Hòa bình.
- Trong y học có bước đột phá trong việc chữa bệnh Alzheimer và mất trí nhớ.
- Triều Tiên và Hàn Quốc sẽ có chiến tranh.
- Một vụ lở đất tồi tệ nhất trong lịch sử ở California, Mỹ phá hủy hàng nghìn ngôi nhà.
- Gia đình Tổng thống Mỹ Obama có thể có 1 thành viên mới hoặc 2 thành viên sinh đôi.
- Cựu ứng viên Tổng thống Mỹ Sarah Palin sẽ ly dị chồng.
- UFO hình móng ngựa được nhìn thấy ở Roswell, New Mexico.

Phương Linh
(theo PsychicNikki)
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Mùi Hương Đàn Bà

Trung Đạo


Mùi hương này khác hơn mùi hương đàn ông nhiều lắm. Hương ở đây có nghĩa là mùi, không nên nghĩ là thơm hay thối. Có người bảo rằng cũng chưa đủ, phải nói rõ là của đàn bà nào, cao thấp mập ốm ra sao. Các bạn không nên thắc mắc nhiều vì không có mùi hương đàn bà chung chung như vậy đâu. Ngày nay khoa học tiết lộ thêm “hương mồ hôi” của một người tựa như dấu tay của người ấy, đặc sắc riêng tư lắm, không trùng mùi bao giờ. Đây là loại căn cước cá nhân. Rất có thể trong tương lai, trên giấy tờ căn cước sẽ có mục ghi “mùi’ của bạn bên cạnh chi tiết nhân dáng, màu mắt, chiều cao, sức nặng…Giới khoa học đã biết điều này từ lâu rồi. Khi bức tường Bá Linh bị phá sập, người ta phát giác trong nhà kho ở Berlin và Leipzig , chứa hàng ngàn mẫu mồ hôi giúp sở phản gián Đông Đức, sử dụng chó để tìm ra dấu vết tội phạm. Loài chó có khứu giác tinh nhuệ hơn con người gấp mười lần. Không biết nhuệ hơn thì có ướt át hơn chăng, vì chưa ai biết rõ tâm hồn con chó ra sao.

Tôi đi hơi nhanh, chưa nói hết những chức năng khoa học của khứu giác mà đã vội ước ao mình có khứu giác như loài chó để đánh mùi mồ hôi cho nhanh. Sơ khởi ta tưởng chỉ lỗ mũi làm công tác thu hồi mùi vị, không phải, bây giờ nhờ những khám phá khoa học, ngoài mũi ra còn có những cơ quan khác cũng có cách định mùi riêng biệt của chúng. Trong số ba mươi nghìn “gien” trong thân thể con người có đến 350 đơn vị có thể thu nhặt các mùi vị khác nhau. Ví dụ ruột có khả năng đánh mùi gió biển; nhiếp hộ tuyến phái nam thì thích mùi hoa đổng thảo (violette)... nhưng chung chung mùi hương dễ chịu nhất là mùi cam. Người ta bôi lên vành tai những người chịu thí nghiệm thì họ lăn ra ngủ như chết và còn thấy những giấc mơ đẹp. Nhưng thật sự thì mồ hôi đàn bà, đối với phái nam, đem lại nhiều khoái cảm đặc biệt nhất. Với đàn ông, mùi thơm cam vẫn không hấp dẫn quyến rũ bằng mùi mồ hôi đàn bà, đặc biệt các tuyến ở nách là một trong đôi ba chỗ trên thân thể. Tinh trùng đàn ông trên đầu có lỗ mũi rất thính, chúng di chuyển theo mùi, rất thích cảm thụ mùi hoa Muguet hình cái chuông màu trắng mọc ngoài bìa rừng mà người Pháp có tục lệ tặng nhau may mắn trong ngày lễ lao động.. Một nhà văn tả rằng “ngoài đồng hoa muguet rung chuông là vì vậy”. Hoá ra người đàn bà trong thời kỳ mắn đẻ có mùi hoa muguet. Khi khám phá ra điều này, nhà khoa học nghĩ ngay ra phương pháp ngăn chận sự thụ thai bằng cách “bịt mũi” các tinh trùng. Không ngửi được mùi hoa muguet quyến rũ thì tinh trùng không tìm đến và người đàn bà không thụ thai.

Tóm laị, mũi cơ quan khứu giác duy nhất thu nhận mùi vị rồi trực tiếp báo tin lên não, các cơ quan khác âm thầm thu nhận và phản ứng không qua trung gian nảo bộ. Những thí nghiệm cho thấy điều này. Tại những nơi công cộng, phòng chờ của bác sĩ, phòng tiếp khách sở thuế vân vân, người ta âm thầm đánh dấu một số ghế những người tình nguyện phái nam đã ngồi thì hầu hết các bà khi đến sà ngay vào ghế ấy và không ý thức gì về việc lựa chọn đó. Một thí dụ khác, các cô gái trình diễn vũ khỏa thân trong các hộp đêm, cô nào dùng nhiều thuốc ngừa thai sẽ ít nhận được tiền típ hơn vì thuốc đã diệt mất mùi đàn bà quyến rũ. Các thí nghiệm trên tiết lộ thể xác con người đã âm thầm đánh mùi quyến rũ tìm đến nhau và hành động theo bảng chỉ đường do những bộ phận mang khứu năng dẫn dắt.

Cho đến bây giờ những điều tôi thuật lại không mang chút hơi hướng lãng mạn thơ mộng nào vì nó thuộc phạm vi khoa học. Nhưng những điều tôi sắp nói sau đây sẽ ướt át nồng nàn hơn. Trước tiên tôi tỏ lòng tri ân đến nhà sản xuất, kịch tác gia đã thực hiện cuốn phim Mỹ nổi tiếng “Scent of a woman” (Mùi đàn bà). Phim này “suýt” đoạt giải Oscar. Sơ lược truyện phim như sau: Trung tá hồi hưu Frank Slate (Al Pacino thủ diễn) sống chung với vợ chồng người cháu gái để được chăm sóc vì ông bị mù trong một khóa huấn luyện quân sự. Trong một dịp lễ, vợ chồng cô cháu gái đi chơi xa nên đăng báo tìm người thay thế giúp đỡ ông. Một cậu học sinh nghèo muốn kiếm chút tiền còm, đã nhận lời. Cậu trai này ngoan ngoãn có lòng nhân từ, nhẫn nại vì ông trung tá rất khó tánh, mát giây, vui buồn bất chợt. Cậu vui vẻ chiụ đựng, còn cảm thấy có tránh nhiệm săn sóc con người tàn tật đó. Những sự việc diễn tiến sau đó đã thắt chặt mối thiện cảm giữa ông già và cậu trai trẻ. Nhưng cái đinh trong cuốn phim là khứu giác bén nhậy của người mù từng có một qúa khứ hào hoa, yêu rất nhiều đàn bà. Phim đã tạo ra cái scene hấp dẫn bất ngờ khi ông trung tá và cậu trẻ bước vào nhà hàng, vừa ngồi xuống bàn, ông đánh hơi ngay được một mùi đàn bà đặc biệt, nồng nàn lôi cuốn, trộn lẫn chút nước hoa nhẹ nhàng của cô gái ngồi bàn bên cạnh. Chao ôi, nó gợi nhớ mùi thân thể của người tình cũ, cái mùi ngây ngây, hăng hăng mà ông không bao giờ quên. Thật ra cô gái trẻ này đang chờ người yêu đến. Khi ban nhạc nhà hàng dạo bản tango, kỷ niệm một thời hào hoa bỗng trổi dậy, thôi thúc. Ông trung tá Slate bèn trổ tài tán tỉnh đưa được người đẹp ra sàn nhảy, mắt nhắm nghiền say đắm hít mùi hương xưa. Và ông xin phép tiếp tục được ôm cô nhảy trong khi chờ đợi người yêu cô đến trễ. Sự việc chỉ quanh quẩn chừng ấy, với tài diễn xuất tuyệt vời cuả tài tử Osca Al Pacino, đã đủ ru chúng ta vài chục phút đê mê, tạm quên đi mọi phiền muộn hằng ngày. Chúng ta phải cám ơn tài dàn dựng cuốn phim cuả nhà đạo diễn bậc thầy người Ý Adrian Lyne. Chúng ta cám ơn cái mũi biết ngửi của ông cựu trung tá “Al Pacino” biết bao.

Patrick Suskind, nhà văn Đức viết truyện Nước hoa. Câu truyện xoay quanh kẻ sát nhân, sở hữu một khứu giác lạ lùng là anh chàng Jean-Babtiste Grenouille. Anh bẩm sinh không có tuyến mồ hôi trong cơ thể, nhưng trời đền bù cho anh một khứu giác rất tinh nhuệ. Anh có khả năng ngửi thấy nhiều mùi hương khó bắt nhất, phân tích ra từng hương liệu làm nên. Cộng thêm một ký ức tinh tường về những mùi vị, anh sắp xếp hòa hợp chúng để tạo ra mùi thơm mới lạ quyến rũ hơn. Từ Paris, qua nhiều đưa đẩy của định mệnh, Grenouille trôi dạt về miền nam nước Pháp, vùng Grasse nơi người ta ướp hoa để sản xuất dầu thơm công nghệ. Anh say mê theo học kỹ thuật tạo hương và nhận thấy rằng chưa có mùi hương nào bằng mùi thân thể cô thiếu nữ bán hoa lần đầu anh gặp tại Paris . Hôm đó anh lén theo cô về tận túp lều nơi cô cư ngụ. Anh ôm chòang lấy cô, rúc mặt vào người cô, thoả thích hít mùi. Cô gái sợ hãi chống cự la hét ầm ĩ. Hoảng hốt tay anh bịt miệng cô gái và mũi thì vẫn say sưa rúc vào người cô, lúc buông ra thì cô gái đã chết vì nghẹt thở. Người con gái chết nhưng mùi mồ hôi thì theo anh đến giây phút cuối của cuộc đời. Cuối cùng anh thành công về kỹ thuật ướp tẩm nước hoa. Nhưng anh vẫn bị ám ảnh “mùi hương xưa” ma quái mà anh chưa chế tạo được. Anh quyết định bắt cóc các cô gái còn trinh, rút ra tinh chất từ tuyến mồ hôi, tham vọng chế tạo ra một loại siêu nước hoa. Anh giết tất cả 24 cô gái, và tinh chất của cô gái cuối cùng sẽ được pha lẫn với tinh chất của các cô kia làm thành một loại nước hoa siêu nhân, là tuyệt tác của J.B.Grenơuille. Cô gái cuối cùng là aí nữ của quan tổng tài đệ nhị Antoine Richis. Dù đã cố sức ngăn chận nhưng vẫn không ngăn được anh chàng không-có-mùi-da-thịt đột nhập vào phòng bắt cóc aí nữ để làm ra lọ nước hoa cuối cùng trước khi anh bị bắt. Nhưng mùi thơm của nước

hoa khiến các công nương triều đình mê mẩn, tôn sùng anh và trả tự do cho anh. Anh về lại Paris , tiếp tục nỗi đam mê chế tạo lọ nước hoa mùi da thịt của cô bán hoa năm xưa. Một ngày anh đứng giữa chợ cá hôi thối,và bọn hạ dân tức khắc bị mê hoặc bởi mùi nước hoa. Họ cho anh là thiên thần, xúm lại tranh giành cấu xé anh ta cho đến chết. Có một khứu giác bén nhạy kiểu đó chẳng phải là điều đáng mong.

Trái laị có những cái mũi khác cũng bén nhạy nhưng mang lại nhiều thú vị, thí dụ mũi cụ Nhất Linh. Trong số những tác phẩm của người anh cả nhóm Tự lực văn đàn, tôi đặc biệt thích Bướn trắng vừa lãng mạn lại vừa sâu sắc. Anh chàng Trương, nhân vật chính của câu chuyện, yêu cô Thu. Dù tư tưởng anh có cao siêu, hoài bão có to lớn đến đâu, trong truyện tình, Trương cũng chỉ nhỏ bé tầm thường, ngớ ngẩn như bất cứ môt anh con trai mê gái nào, Cũng rình rập, lén lút như mèo ăn vụng bột. Một lần nhìn thấy Thu đi vào buồng và khi trở ra nàng mặc một chiếc aó khác, chàng Trương liền lẻn ngay vào nơi ấy, nhìn thấy chiếc aó lụa vừa mới được thay ra vắt bên thành giường. Trương nhào đến ôm chiếc aó đưa lên hôn thắm thiết. Tất nhiên cô Thu của Nhất Linh còn mặc nhiều chiếc aó khác không bắt buộc phải may bằng luạ, nhưng chiếc aó nàng vừa thay ra nhất định phải là aó lụa. Và Nhất Linh sắp xếp tình tiết để chàng Trương có cơ hội chui vào đánh mùi thì nhất định phải là chiếc aó luạ. Ôi thôi, không có thứ hàng nào…sexy hơn luạ đâu! Satin ư? Nó haò nhoáng quá, có bề mặt nhưng thiếu bề sâu, vả laị satin sân khấu lắm. Gấm thì “đám cưới” qúa! Luạ mới nền nã. Luạ mới tình tứ. Lụa mới kín đáo. Và lụa mới gây…nhục cảm hứng thú. Bởi thế chúng ta mới có “Áo lụa Hà Đông” của Nguên Sa. Cụ Nhất Linh còn tả mùi aó cô Thu cay cay. Cũng đúng nữa. Hỡi các đấng nam nhi biết mê gái và có cơ hội ngửi thấy mồi hôi người đẹp, quí vị có chịu nhận rằng nó cay cay, hăng hăng không? Lại xin trở laị với khoa học: hằng ngày chúng ta thải ra khoảng 10 lít mồ hôi phát xuất từ ba triệu tuyến mồ hôi trong cơ thể, và trên mặt da có loại vi khuẩn phá hủy chất ắc-xít nhờn đó khiến mồ hôi có mùi ắc-xít butyrique và formique. Quả là nó cay cay. Nhất Linh không nói rõ là Trương hít nhằm chỗ nào, nách hoặc ngực? Mà chỗ nào cũng đáng hít thôi. Chưa hết, tôi xin trích dẫn một nhà văn khác: Milan Kundera. Trong cuốn “Sự nông nổi không thể biện giải cuả kiếp nhân sinh” (Bùi giáng dịch). Anh chàng bác sĩ Thomas có vợ rồi ly dị.Trong chuyến công tác về vùng quê, anh ghé qua quán giải khát gọi ly nước và làm quen với một cô gái ngây thơ Tereza. Không hiểu tại sao cô nàng kết anh ta ngay. Sau cuộc nói chuyện, cô tiễn đưa anh ra nhà ga. Vài tuần sau, cô lên thủ đô tìm anh, gõ cửa và hiến thân. Không may đêm đó cô ngã bệnh phải lưu lại nhà anh suốt tuần. Còn nhiều thứ khác lôi cuốn lắm tôi không thể kể hết (sách bốn trăm trang). Tôi chỉ xin thuật lại cảm giác Thomas bàng hoàng ngắm nhìn cô gái xa lạ bỗng dưng đến gõ cửa nhà mình để xin ân ái rồi sau đó sinh bệnh. Kundera viết: “Cô ta say ngủ. Chàng qùi gối bên cạnh. Hơi thở cô dồn dập vì sốt, cô rên nhẹ. Chàng ép mặt mình vào mặt cô, vào cổ, vào nách cô, và vào nhiều chỗ khác, thì thầm những lời an ủi. Một lúc sau, cô thở đều hơn, mở mắt, mặt hướng về chàng. Chàng cảm nhận ra từ đôi môi cô anh ngửi thấy mùi nồng cay cuả cơn sốt và chàng hít nó vào như muốn xâm nhập vào cõi sâu kín thân mật nhất cuả thân thể cô. Lúc bấy giờ chàng có cảm tưởng cô đã ở bên chàng từ nhiều năm qua, mùi cơ thể sao lại quá đỗi quen thuộc và người đàn bà này đang sắp chết. Chàng nằm xuống bên cạnh để cùng chết với cô. Tin vào điều mình nghĩ, chàng vùi mặt bên cạnh khuôn mặt cô trên gối như thế thật lâu, tận hưởng muì vị…” Mùi nồng cơn sốt chắc chắn không phải là loại hương thơm ngào ngạt, cũng chẳng là nhẹ nhàng hoa bưởi hoa cau. Nhưng nó là mùi thịt da, sống động, gần gũi, ma túy…

Tôi chỉ mới kể chuyện cận đại và hiện đaị. Thuở xa xưa đấng quân vương khóc người yêu thương, cũng đã nói đến những sâu kín thân mật đó:“ Đập cổ kính ra tìm lấy bóng/ Xếp tàn y lại để dành hơi”. Hơi ấy mới là hơi thật, hơi xịn, hơi từ da thịt Bằng-Phi-thiên nhiên một toà, chứ mùi mà ông trung tá Slate ngửi được chỉ là mùi ngòai da lẫn chút nước hoa nhân tạo, không đáng nói! Nó có thể dễ chịu hơn là mùi “chay tịnh” nhưng nó đâu sâu kín thân cận bằng, phải không bạn.
quangminh
Posts: 549
Joined: Thu May 27, 2010 1:54 am
Contact:

Post by quangminh »

Bài đọc trước khi ... chết!
BIẾT ĐÂU LÀ KHỞI ĐIỂM CUỘC RONG CHƠI

Mẹ vợ ông Hàn mới chết, con cháu từ xa đổ xô về chịu tang. Các anh chị em vợ của ông chọn một cái hòm do nhà quàn đề nghị, với giá 12 ngàn đô. Ông Hàn chê đắt, bảo khoan quyết định, chờ ông khảo giá đã. Ông Hàn bình tĩnh ngồi bên máy vi tinh, lục tìm khảo giá. Bà vợ ông thì chạy lui chạy tới trong phòng khách, dẫm chân đành đạch trên sàn nhà, khóc bù lu bù loa, rồi đến day áo ông mà nói:

“Giờ nầy mà anh còn ngồi đây thong dong khảo giá? Chuyện nầy cấp bách. Có phải mua món hàng gia dụng đâu mà chần chờ? Tốn kém bao nhiêu anh em chúng tôi cũng chung chịu. Mẹ chết có một lần. Làm chi cái việc hà tiện xấu thế?”

Ông anh vợ cũng bối rối nói:

“Giờ phút nầy, thì nhà quàn ra giá bao nhiêu, mình cũng phải nhận. Có đắt hơn ít trăm bạc, cũng không sao. Mình lựa chọn cái hòm đó, chứ họ có ép mình đâu?”

Ông Hàn quay ngoắt lại, nói với giọng cứng rắn:

“Ít trăm thì tôi khảo giá làm chi? Phải ít nhất là mấy ngàn đồng. Có thể tiết kiệm được từ 40% đến 60% toàn bộ chi phí tang lễ. Dù là tiền của ai đi nữa, tôi cũng không muốn phung phí.”

Bà vợ thét lên:

“Rồi mua phải thứ hòm giả mạo, không tốt. Nó đâu đem đến liền cho mình được, chờ đến bao giờ mới có? Chậm trể việc ma chay. Mà lỡ nhà quàn không chịu nhận hòm từ nơi khác đưa tới, thì đem cái hòm đi tặng ai, tôi nhất định không cho để trong nhà nầy.”

Ông Hàn cười hề hề, chậm rải trả lời:

“Giả mạo làm sao được? Cũng hòm ấy, cùng hiệu, cùng tên, cùng nhà sản xuất. Nhà quàn cũng mua tại các nơi đó thôi. Rồi cọng thêm chi phí, tiền lời, mà tăng giá lên. Ai dại mua thì ráng chịu. Nhà quàn cũng không làm gì sai trái. Họ làm thương mãi, phải kiếm cho được nhiều tiền lời càng tốt. Họ chẳng có gạt gẫm ai. Nhưng nếu mình mua được hòm đúng giá, thì người bán sẽ chuyển ngay đến nhà quàn trong vòng 24 giở. Chắc chắn. Theo luật liên bang Mỹ, bắt buộc nhà quàn không được từ chối quan tài và các vật dụng cần thiết cho người chết do thân nhân mua và đem đến. Trường hợp đó, nhà quàn chỉ lo các dịch vụ tang ma, các lễ lạc mà thôi. Tôi còn phải kêu nhà quàn cung cấp cho mình bảng ghi giá cả của từng mục, gọi là FPL (Funeral Price List) theo luật định. Tôi sẽ so sánh thêm giá cả của từng mục dịch vụ để không bị hố, trả giá cao, đắt. Bà đừng lo, nếu nhà quàn không nhận hòm, thì tôi bán lại kiếm chút lời.”

“Bây giờ không phải là lúc đùa giỡn được. Anh có chắc hòm được giao đúng thứ mình muốn, và trong vòng 24 giờ không. Giao cho nhà quàn, họ tráo hòm khác thì sao? Anh đã có kinh nghiệm nào đâu?”

“ Mình có thể đòi hiện diện trong lúc giao hàng, ai mà đánh tráo được?”

Cả nhà bực mình, xôn xao vì thái độ kỳ cục của ông Hàn. Một bà chị vợ gay gắt:

“Có phải vì không là mẹ ruột, nên cậu nhẩn nhơ, và đòi làm những chuyện trái đời?”

Ông Hàn hơi giận, giọng cứng, gằn: “Nầy, chị đừng nói thế. Mấy năm nay ai chăm sóc mẹ? Ai đưa mẹ đi bệnh viện, làm đủ thứ giấy tờ, nhắc mẹ uống thuốc hàng ngày? Thằng nầy chứ ai. Thế thì bây giờ mẹ qua đời, tôi không có quyền phụ giúp mẹ và cả gia đình nầy, cử hành tang lễ đàng hoàng hơn, ít tốn kém hơn hay sao?”

Ông Hàn gầm gừ bỏ đi, lục lọi tìm tòi trong mấy chồng hồ sơ, và quăng ra một tờ bào “US News & World Report” và nói:

“Các anh, các chị đọc bài “Đừng Chết Trước Khi Đọc Bài Nầy” (Don’t Die Before You Read This) đi, để biết.”

Vợ ông Hàn la lên: “Trời ơi, giờ nầy còn bụng dạ nào mà đọc báo? Mà nó viết gì? Sao anh không tóm tắt kể cho bà con nghe, xem có lọt tai không?”

Ông Hàn chầm chậm nói: “Tác giả Miriam Horn viết về chuyện linh mục Henry Wasielewsky. Vị linh mục nầy đã vạch trần cách làm ăn thiếu lương thiện, bóc lột quá đáng của một số nhà quàn trong lúc tang gia bối rối. Đã bị những nhà quàn bất lương hăm dọa, nhiều lần kêu điện thoại lúc nửa đêm đòi xin tí huyết, không những thế, ông còn bị cảnh sát địa phương săn đuổi, và cả vị Giám Mục địa phận cũng đày ông đi xa. Bài báo viết rất hay, kể rõ một số thủ đoạn của những nhà quàn thiếu lương thiện.”

Ngưng một lát, uống hớp nước xong, ông Hàn nói tiếp: “Tác giả viết thêm rằng, người ta không có kinh nghiệm, không có thì giờ trong thời gian cấp bách, không có đủ bình tĩnh khi đang đau buồn, bối rối, cho nên nhà quàn và nghĩa địa làm giá rất cao. Tang quyến mệt quá, và nghĩ rằng người chết chỉ có một lần, nên giá nào cũng chịu. Cò kè giá cả trong lúc đau buồn nầy, thì thấy có cái gì lấn cấn trong lòng. Trong bài báo nói, giá cái hòm chỉ 675 đô, mà nhà quàn đưa giá 3495 đô, cũng gật đầu chấp nhận. Giá xe tang mỗi giờ vào thời đó chỉ 25 đô mà tăng lên 200 đô hay cao hơn nữa. Cũng như các món khác như là hoa, bia mộ, thiệp cám ơn vân vân, tăng gấp 3 đến 8 lần. Nếu giá chỉ tăng 100% thôi, là đã là phước cho tang chủ lắm.”

Ông Hàn cười, và tiếp lời: “Bài báo viết thêm rằng, trường hợp tang chủ kêu đắt, họ nói khéo lắm. Đề nghị bỏ xác vào thùng giấy đem chôn sẽ được rẻ hơn nhiều, tang quyến nghe mà xót xa, đau lòng, tủi thân, nghĩ rằng mình thương người quá cố không đủ, thế là cắn răng chịu giá cao.”

Bà Hàn hỏi thêm: “Còn gì nữa không?”

“Đây, tác giả viết rằng, có một bà đã khóc và xin bà con bạn bè trợ giúp tiền bạc để làm đám tang cho chồng. Nhà quàn đòi 995 đô cho cái hòm. Khi có người hỏi sao đắt thế, họ bảo đó là loại hòm đặc biệt. Có người không tin, đi khảo giá, cũng hòm đó, loại đó, thì nơi sản xuất bảo rằng đó là loại rẻ nhất bằng ván ép. Người ta đến phàn nàn với nhà quàn, thì họ giảm giá xuống 50%. Có nhà quàn gián tiếp hối lộ cho tu sĩ, giáo sĩ, tặng những vé máy bay đi chơi, du lịch miễn phí, để họ dành cho nhà quàn sắp xếp chương trình tang lễ. Có thế mới ra giá cao được. Có thể tưởng tượng được không, cùng một cái hòm, mà có nơi đưa giá chỉ 1495 đô, mà nơi khác cho giá 9910 đô. Một số nhà quàn kiếm tiền của thân nhân kẻ quá cố dễ dàng, bằng cách bán các phụ kiện trong đám ma. Ví như gắn thêm một tượng kim loại nhỏ, hình Đức Mẹ Maria, giá mua chỉ chừng 3 đến 5 đô, mà tính đến một hai trăm. Người ta ngại, không dám hỏi về những biếu tượng thiêng liêng nầy.”

Ông Hàn đưa tờ báo cho mọi người và thúc hối : “Đọc đi, mọi người đọc đi để thấy việc tôi làm đây là đúng hay sai. Nếu không biết, thì để cho người khác làm, đừng cản trở”

Vừa lúc đó, thì có bà Kim đến. Bà nầy trước đây làm việc cho nhà quàn, bà là trưởng giám đốc tang lễ, nay đã về hưu. Ông Hàn như bắt được của quý, xoắn lấy bà Kim, yêu cầu giúp đỡ, hướng dẫn dể làm sao giảm thiểu được chi phí đám tang . Bà Kim ngồi cười. Vợ ông Hàn chạy ra phân bua:

“ Giờ nầy mà ông xã em còn khảo giá trên mạng để làm tang lễ. Ông ấy muốn giảm chi phí, vì nhiều nhà quàn thường cho giá cao trên trời. Chị làm trong nghề, xin chị chỉ giúp tụi em với.”

Bà Kim chậm rải: “Không phải nhà quàn nào cũng thiếu lương thiện, muốn nhân cơ hội tang gia bối rối mà moi tiền. Rất nhiều nhà quàn đàng hoàng, uy tín, nhưng họ cũng thừa khôn ngoan, để tìm lợi tức tối đa cho cơ sở kinh doanh của họ. Giá cả cũng có cao, nhưng cao vừa phải, không quá lố. Nếu họ có đề nghị, quảng cáo khách hàng mua thêm mục nầy, mục kia, thì là lẽ thường trong việc kinh doanh kiếm lời. Với chủ trương không gạt gẫm ai, nhưng ai muốn có những thứ xa xỉ, đắt tiền, mà có khả năng tài chánh, thì tại sao nhà quàn lại bỏ lỡ cơ hội ? Nhà quàn là nơi làm thương mãi, kiếm lợi tức, chứ không phải nơi làm phước thiện.”

Ông Hàn nhỏ nhẹ: “Chị có nhiều kinh nghiệm trong ngành nầy, chúng tôi xin chị vài lời vàng ngọc hướng dẫn cho, làm sao để giảm thiểu chi phí chôn cất thân nhân, tránh những sai lầm tốn kém vô ích.”

Bà Kim cười: “ Sai lầm lớn nhất của tang quyến, là không chịu khảo giá năm ba nơi khác nhau. Người ta cho giá nào, thì cũng nhận, không dám hỏi mà cũng không dám mặc cả từ quan tài, cho đến đất chôn, và các nghi lễ tốn kém khác. Sai lầm kế tiếp là chọn lựa nhà quàn. Thường chọn gần nhà, hoặc nơi đã có người quen làm đám tang rồi. Nếu không khảo giá vài ba nơi, tang quyến có thể trả giá gấp 3 lần nơi khác. Ví như cùng việc mai táng, có nơi cho giá 2500 đô mà chỗ khác đến 6500 đô. Cũng việc thiêu xác, có nơi chỉ 395 đô, mà nơi khác đến 5600 đô.”

Bà vợ ông Hàn bẻn lẻn nói nho nhỏ: “Nếu chị không nói ra điều đó thì em tưởng ông chồng em là người khùng, gàn dỡ, chướng ách. Nhưng em hỏi chị, thì giờ đâu mà đi khảo giá, thân nhân mình chết rồi, có nằm đó mà chờ được không?”

Bà Kim cười nhẹ nhàng:

“ Cứ thong thả, để xác thân nhân tại bệnh viện, nơi đây có đủ phòng lạnh để tồn trử, không ai đem xác quăng đi hoặc gởi hoá đơn xuống âm phủ đòi tiền người chết. Khi nào tìm được nơi làm tang lễ tốt, giá cả xứng đáng, chịu được, thì mới ký hợp đồng”

Một ông rể trong gia đình xen vào câu chuyện: “Trường hợp của gia đình tôi, ông bố vừa tắt thở tại bệnh viện, thì khoảng mười phút sau có nhân viên của nhà quàn đến tiếp xúc với gia đình, nói là họ được kêu điện thoại để đem thi hài thân nhân quý vị về nhà quàn. Chúng tôi vừa ngạc nhiên, vừa mừng là tự nhiên có người lo cho mình, khỏi phải đi tìm, chạy ngược xuôi trong lúc bối rối nầy. Chị có biết tại sao nhà quàn biết giỏi thế?”

Bà Kim cười: “Có gì lạ đâu? Nhiều nhà quàn liên lạc mật thiết với các y-tá trong các khu cấp cứu, hồi sinh. Khi có người qua đời, thì y tá báo ngay cho nhà quàn biết. Cũng là chuyện làm ăn thường tình”

Ông Hàn hỏi: “Làm sao giảm thiểu được chi phí tống táng, mà tang lễ vẫn được trang trọng, bình thường?”

Bà Kim nói: “Đừng gồng mình lên mua tất cả các mục không cần thiết mà nhà quàn liệt kê và khuyến cáo. Mua tối thiểu mà thôi. Vòng hoa trên ngực, vòng hoa trên quan tài, mình mua chỉ mấy chục đô, nhà quàn sẽ tính đắt gấp năm, gấp mười lần. Nếu khôn ngoan, thì làm lễ tưởng niệm tại nhà, tại chùa, nhà thờ. Trang trọng và thân mật hơn.”

Bà Hàn lo lắng hỏi: “Chỉ có mua hòm và đất chôn thôi, là đã đủ. Còn chi phí gì khác nữa chăng ?”

Bà Kim cười : “ Có lẽ ai cũng tưởng chôn cất là đơn giản như chị nghĩ. Không. Cả mấy chục thứ chi phí , tôi kể sơ ra đây mà thôi, nghe chán lằm. Nầy nhé, chi phí cơ bản tại nhà quàn để bàn định việc chôn cất, giấy phép chính quyền, khai tử, mua hòm, vải tẩm liệm, quách bao quanh hòm dưới đất, chuyển xác từ nơi chết về nhà quàn, tẩm xác bằng cách rút hết chất lỏng trong người ra và bơm chất hoá học vào, trang điểm cho người chết, áo quần liệm, giữ xác trong phòng lạnh, mướn phòng viếng thăm, đem xác ra vào, lễ viếng thăm, thức ăn, giải khát, tổ chức cử hành tang lễ, in chương trình tang lễ, cuốn tập ghi khách viếng thăm, vòng hoa trên ngực và vòng hoa trên giá, tụng niệm tôn giáo, ban nhạc, xe tang chuyển hòm từ nhà quàn ra huyệt mộ, xe lớn chở thân nhân theo quan tài, xe chở các vòng hoa ra nơi chôn, đất chôn, đào và lấp mộ, chuẩn bị mặt bằng để làm lễ hạ huyệt, căng lều, ghế ngồi, xếp đặt việc hạ huyệt, bia mộ tạm, đăng cáo phó, bia mộ, khắc chữ, dựng bia vân vân, mỗi mục là tính tiền riêng. Chưa kinh nghiệm thì tưởng chỉ có mua hòm và đât chôn là xong. Cọng tất cả lại, cũng là số tiền rất lớn, tang gia không ngờ được.”

Bà Hàn hỏi: “Thế thì mục gì mình có thể từ chối, không mua?”

“Còn tùy cách lựa chọn, thường thì mục nầy kéo theo mục kia, nhưng có nhiều mục có thể bỏ qua được. Nếu muốn tránh những chi phí linh tinh, thì tốt nhất là giảm bớt các nghi tức rườm rà, như thăm viếng nhìn mặt, làm lễ tại nhà quàn. Thân nhân có thể làm lễ tưởng niệm tại nhà thờ, chùa hay tại tư gia trong khung cảnh nghiêm trang, và bà con đỡ phải cực nhọc thăm viếng. Người quá cố được đưa từ bệnh viện đến nhà quàn, rồi thẳng ra huyệt mộ. Ngày nay, nhiều gia đình Mỹ tổ chức tang lễ đơn giản cho người quá cố, chỉ riêng trong vòng bà con thật gần gũi thân thiết, không tiếp bạn bè, quan khách, không vòng hoa, không phúng điếu”

Bà Hàn cắt ngang lời: “Thế thì không sợ người ta nghị dị, chê cười? Thiên hạ tưởng gia đình keo kiệt, bần tiện, không dám chi tiền, hoặc người ta chê mình nghèo?”

Bà Kim thở dài: “Quan trọng nhất là ước nguyện của người quá cố. Biết họ muốn gì, và mình làm được gì trong khả năng tài chánh của gia đình. Nhiều người chết, muốn tang lễ đơn giản, mà gia đình sợ bạn bè bà con dèm pha, phải gồng mình lên chi tiêu, nợ nần, mua lo âu vào thân. Cách tốt nhất, là mỗi người, làm sẵn di chúc, viết rõ các ước muốn của mình, trong khả năng tài chánh có thể. Chuẩn bị trước khi chết một chương trình và lối tang lễ mà mình ưa thích, mong muốn, và hợp với khả năng tài chánh sẵn có. Đừng để gánh nặng đè lên vai người còn sống, và đôi khi thực hiện tang lễ trái với ý muốn của mình. Đừng có dặn miệng thôi, không có bằng chứng, con cháu nhiều người quên mà không ai nghe. Khi đó, gia đình đỡ bối rối, vì kẽ muốn thế nầy, người muốn thế kia, gây gổ nhau. Nếu tang lễ có đơn giản, thì cũng không ngại ai chê cười. Nếu những người có dư tiền, muốn hoang phí đem chôn tiền xuống đất, thì cũng không ai trách móc . Bà nội tôi ngày trước, muốn con cháu mặc áo sô, thắt lưng rơm, dép cỏ, khóc lóc, nằm lăn lộn cản đường xe tang. Thuê thêm người khóc mướn làm điếc tai bàng dân thiên hạ. Thấy không đẹp, thiếu văn minh. Nghe đâu ông cố nội của tôi chết, hòm quàn trong nhà gần môt năm dài, tiếp khách viếng tang, chôn xong thì bà cố chết vì quá mệt nhọc, và gia đình sạt nghiệp.”

Ông Hàn hỏi: “Trẻ như chúng tôi, có nên viết di chúc không? Khi nào là lúc nên viết?”

“Trên năm mươi tuổi, thì viết được rồi. Những người bệnh nặng, nên viết ngay là tốt nhất. Tôi biết, nhiều người Mỹ giàu hàng trăm triệu, khi chết cũng muốn làm đám tang đơn giản, tối thiểu, không cho ai nhìn mặt, và chỉ có vài chục thân nhân tham dự. Trong nghề, tôi biết khá nhiều gia đình Việt Nam giàu có, khi chết cũng chuyển xác từ bệnh viện thẳng đến nhà thiêu luôn, khỏi phải qua nhiều giai đoạn, nghi thức rườm rà. Rồi bà con bạn bè đến nhà làm lễ tưởng niệm, nhắc chuyện vui buồn liên hệ đến người quá cố trong không khí vui vẻ, bình thường. Tôi nhấn mạnh ở điểm nầy, nếu không muốn cho thân nhân bối rối khi mình qua đời, thì mỗi người lớn tuổi, nên viết sẵn lời dặn dò cho gia đình”

Ông anh lớn nói: “Theo tôi nghĩ, người Việt mình bắt chước Mỹ, trưng bày mặt người chết cho bạn bè thân nhân nhìn lần cuối trước khi đem chôn là một việc làm không nên. Vì dù có trang điểm cách nào đi nữa, thì khi đã chết, mặt mày cũng không còn dễ nhìn như khi còn sống, nếu không nói là xấu xí, rờn rợn, hốc hác, tái mét. Cái hình ảnh cuối cùng trong trí của bạn bè rất quan trọng. Nếu không được đẹp đẽ, thiếu sống động như xưa, uổng vô cùng. Nhiều lần đi đám tang bà con, tôi thấy mặt mày người chết hốc hác, méo mó, miệng vẩu, mắt sâu, mà cứ buồn và tiếc mãi, giá như tôi đừng nhìn thấy hình ảnh đó thì hơn, để tôi còn giữ mãi trong trí cái khuôn mặt vui tươi, rắn rỏi, dễ thương ngày xưa. Nhất là nhiều người bạn, cứ nhắc đến tên, là tôi mường tượng ra đôi mắt sáng, nụ cười như hoa tươi, thay được bằng một hình ảnh vêu vao khó nhìn. Tôi cứ muốn quên đi, để lấy lại hình ảnh đẹp đẽ xưa, mà không được. Tôi chắc không ai muốn bị bạn bè nhìn họ với một nhan sắc xấu xí cả. Tuy nhiên, cũng có rất ít trường hợp, thấy mặt người chết đẹp hơn khi còn sống. Đó là những trường hợp người chết chưa bị bệnh lâu dài, nhan sắc chưa bị tàn phá nhiều. ”

Bà vợ ông Hàn nói: “Theo tôi, thì vì người trang điểm kém, hoặc chi ít tiền trang điểm, nên người chết không được đẹp”

Bà Kim cười lớn: “Một chiếc xe Ford đời cũ, làm sao mà sửa lại thành đẹp bằng chiếc xe Mercedes đời mới. Tô trát cũng có giới hạn thôi, ngoại trừ mang cái mặt nạ khác. Theo kinh nghiệm của tôi, thì không phải đám tang nào của người Mỹ cũng trưng bày mặt người chết cho bạn bè nhìn. Nhất là những người đã đau yếu bệnh hoạn lâu ngày, ngay cả khi chưa chết, họ không muốn ai thấy họ đã ốm o, hốc hác, xấu xí cùng cực.”

Ông Hàn thêm vào câu chuyện; “Khi làm mặt và trang điểm cho người chết, tôi xem chiếu trong phim tài liệu, mà sợ. Ngoài việc moi hết tim gan phèo phổi, dạ dày, ruột non ruột già, thấy người ta còn dùng mấy cây sắt dài chừng nửa thước, to hơn chiếc đũa, xiên từ trong miệng xuống cổ, vào thân, có lẽ để giữ cho cái đầu và xác ở vị trí thẳng. Rồi cắt trong nướu, để dùng dây kẽm may, xâu hàm trên và hàm dưới lại với nhau trong vị trí bình thường, cho miệng khỏi há ra, và may môi lại với nhau. Dùng chất dẻo đắp vào các nơi cần đắp. Sau đó, dùng phấn, màu, thoa lên mặt, tạo thành một lớp giống như da thường. Cắt tóc, cạo hay tiả râu lại cho đẹp. Nếu mình chứng kiến tận mắt khi họ làm cho thân nhân mình, thì đau lòng lắm.”

Ông anh vợ cắt ngang: “Thôi, thôi, dượng đừng nói chuyện đó, nghe mà ghê. Khuất mắt, mình không thấy thì đỡ sợ. Sao không trở lại câu hỏi chính, là làm thế nào để chi phí tang lễ ít tốn kém nhất?”

Bà Kim cười: “Cách tốt nhất là thiêu xác, và nếu thiêu liền, chuyển xác từ nơi chết, trực tiếp đến lò thiêu, tang lể làm tại nhà, không nhìn mặt, thì đỡ được rất nhiều chi phí khác như tẩm liệm, ướp thuốc, xem mặt, thuê phòng, xe tang. Thường phí tổn chỉ trên 1000 đô thôi.”

Bà Kim hớp thêm ngụm trà, rồi tiếp: “Có người nói sợ nóng, không dám thiêu. Nhưng khi chết rồi, thần kinh đã tê liệt, thì đâu biết chi nữa mà nóng hay lạnh. Nếu còn biết nóng lạnh, thì khi nằm dưới đất lạnh lẽo, tối om, chật chội, ngộp , dòi bọ vi trùng đục khoét, mặt mày teo rúm, há hốc mồm miệng, nhăn răng, khô đét, hoặc rữa mũn ra, thì có khó chịu hơn không? Chưa kể điều mà chủ nghĩa địa bảo là đất ‘vĩnh viễn’, thì thường là 49 năm hay 99 năm thôi. Sau đó thì thông cáo trên báo chí là sẽ dời xác. Con cháu có bao giờ đọc đến cái thông cáo nầy, mà có đọc, cũng không biết đó là mộ của thân nhân mình. Bên Âu Châu, có nhiều hầm nhà mồ, xương chất đẩy, xương của hàng trăm vạn ngôi mộ được đào lên, gom lại, xếp đặt hàng triệu miếng xương lẫn lộn , rất mỹ thuật. Luật lệ nhiều xứ, chỉ cho chôn 5 năm hay 10 năm, hoặc mấy chục năm thôi. Phải bốc mộ sau thời gian đó. Ít có nơi nào là vĩnh viễn hoặc lâu vài ba trăm năm. Ngày nay tại Mỹ, ngưòi ta càng ngày càng ưa thích việc thiêu xác. Các xứ khan hiếm đất đai như Nhật, và cả Tàu, Ấn Độ, đều thiêu xác. Ngoại trừ những vùng xa xôi, còn giữ lại việc chôn dưới đất.Theo thống kê năm 2009, thì mười tiểu bang sau đây, có tỷ lệ thiêu xác cao nhất ở Mỹ: Nevada 73.93%, Washington 69.62%, Oregon 69.24%, Hawaii 68.82%, Vermont 65.67%, Arizona 65.60%, Montana 64.81%, Maine 62.75%, Colorado 62.01%, Wyoming 61.76%”

Bà Hàn xen vào: “Người theo đạo Chúa, có thiêu xác được không?”

Bà Kim cười và tiếp lời: “Mãi cho đến khi Đức Giáo Hoàng Phao Lồ Sáu tuyên bố việc hoả thiêu là không trái với Giáo Luật vào năm 1963 và ba năm sau, các linh mục được phép làm lễ cho các đám tang hoả thiêu, thì việc hỏa táng được phát triển rất mau. Ngày xưa giáo hữu Thiên Chuá tin rằng, phải còn xác, để chờ ngày phán xét cuối cùng, mà sống lại trên thân xác đó. Chì còn đạo Do Thái là cấm hỏa thiêu thôi, vì họ cho rằng, tro cốt nằm trong hủ, không thể “đất bụi trở về lại với đất bụi được”

Ông Hàn bưng bánh ra mời bà con, và nói : “Ông anh rễ tôi kể rằng, thời mới chạy qua Mỹ mấy năm sau 1975, anh em đồng khoá Võ Bị Đà Lạt đi thăm viếng một người bạn đang hấp hối vì bệnh ung thư trong khu chờ chết ở Viện Phục Hòi. Khi đó, đa số đều độc thân, hoặc vợ con còn kẹt lại ở Việt Nam, bơ vơ, không bà con thân thích. Anh em thấy ông bạn nằm thiêm thiếp, bàn nhau đóng tiền thiêu xác. Tưởng hắn mê man không nghe được, nhưng bỗng hắn mở mắt ra và nói rõ ràng : “Ông cóc muốn thiêu, sợ nóng lắm. Chôn mà thôi” Đám bạn bè giật mình nhìn nhau. Một ông bạn nóng tánh, gằn giọng: “Đưa tiền đây, tụi tao chôn cho. Thằng nào cũng rách mướp, tiền đâu mà chôn mầy.” Một ông bạn khác nháy mắt, rồi nói: “Mầy muốn chôn cũng được, yên tâm đi.” Khi đi ra ngoải, anh bạn nói: “ Cứ hứa đại, cho nó yên tâm chết. Sau khi chết rồi, thì cóc biết chó gì nữa, thiêu hay chôn thì cũng thế.” Thời đó, mới đến Mỹ, người nào cũng đi làm việc lao động với đồng lương tối thiểu, lo nuôi thân chưa đủ, lại lo gởi tiền giúp gia đình bên Viêt Nam, tiền đâu mà bỏ ra chôn cất bạn bè, đòi việc ngoài khả năng, làm sao mà thoả mãn được? Nầy chị Kim, chị biết tại sao ngày nay người ta chuộng việc thiêu xác hơn là chôn không?”

Bà Kim ăn bánh, uống nước, rồi thong thả nói: “Theo nghiên cứu của các nhà xã hội học, người ta chuộng thiêu hơn chôn vì càng ngày người có học thức cao càng đông đảo hơn, việc thiêu xác được quần chúng chấp nhận xem như bình thường, đất chôn không còn dễ dàng và rẻ như xưa, tiết kiệm đất đai cho người còn sống, giáo luật không cấm thiêu, tiện lợi, giản dị và tiết kiệm được nhiều thì giờ, giảm thiểu chi phí không cần thiết.”

Một người khác trong gia đình hỏi: “Tôi nghe nhiều người già mua trước toàn bộ chương trình tang lễ, từ đầu tới cuối. Khi nằm xuống thì khỏi bàn cãi lôi thôi gì, và tiền bạc cũng đã thanh toán xong. Gia đình khỏi phải bận tâm. Việc mua trước đó, có thất không, và có lợi hại gì không?”

Bà Kim gật gù: “Mua trước toàn bộ các mục cho đám tang cũng là điều hay. Nhưng phải liệt kê rõ ràng từng danh mục cho minh bạch, đừng thiếu khoản nào. Để sau nầy khỏi phải trả thêm, vì thiếu sót. Cũng có nhà quàn muốn kiếm chác thêm chút chút, khi làm đám tang, nói là hòm loại nầy chưa về hoặc mới hết, phải chờ mua . Nghe chờ mua hòm là đã hết hồn, và chấp nhận trả thêm tiền cho cái hòm đắt hơn.”

Ông Hàn hỏi: “Có khi nào mình mua trước, tiền thanh toán hết rồi, mà khi chết, họ chối từ làm tang ma hay không?”

Bà Kim cười khanh khách: “Chuyện gì cũng có thể xảy ra cả. Bình thường, thì không có chuyện rắc rối đó. Ngoại trừ khi nhà quàn bị đóng cửa, hoặc đã đổi chủ. Kẹt nhất là khi mình đổi nơi cư trú quá xa nhà quàn ký hợp đồng làm tang lễ, hoặc mình chết ở một chốn xa xôi nào đó, mang xác về tốn kém hơn là chôn hay thiêu ở nơi chết. Thường thường hợp đồng nầy không trả lui được, không chuyển nhượng cho người khác được. Mua trước cũng có cái lợi, là phí tổn khòi phài tăng theo thời giá.”


Cả nhà mời bà Kim ở lại ăn cơm, để tham dự cuộc họp gia đình và điện thoại khảo giá việc tang lễ. Cả gia đình bàn cãi sôi nổi, kẻ muốn chôn, người muốn thiêu, bà chị lớn còn muốn làm đám tang linh đình, đủ các nghi thức rườm rà. Cả nhà cãi nhau thành to tiếng, mãi chưa đi đến đâu, thì cô Út lấy trong xách tay ra một là thư, nhìn mọi người và nói với giọng run run đầy nước mắt:

“Thưa các anh chị, em muốn cho mẹ có được một đám tang bình thường như mọi người. Em để các anh chị quyết định, nhà chúng ta không thiếu tiền, không cần tiết kiệm. Nhưng các anh chị không đồng ý với nhau, có thể sinh ra bất hoà, nên em xin trình lá thư của mẹ gởi cho em từ lâu, để anh chị xem. Đây, em xin đọc lá thư : “...Sau nấy mẹ chết, thì mẹ ước mong các con làm đám tang đơn giản. Không khăn sô, không tụng niệm, không để bà con xem mặt, không phúng điếu, không vòng hoa, và mẹ muốn được thiêu xác. Tro cốt thì đem thả xuống Thái Bình Dương, để mẹ hoà tan vào biển cả, may ra thấm về thấu tận quê nhà bên kia đại dương. Đừng chôn tiền xuống đất. Tiền tiết kiệm được đem cúng cho hội từ thiện ..”

Cả nhà trách cô Út tại sao không đưa là thư ra từ đầu, để khỏi bàn cãi lôi thôi, cô khóc mà không trả lời.

Sau khi nhờ bà Kim phối hợp, cả nhà hoàn tất và ký khế ước hỏa thiêu. Chi phí tang lễ chôn cất do nhà quàn đề nghị tổng cọng 34,680 đô, chỉ còn tốn 1676 đô bao gồm toàn bộ thủ tục giấy tờ, chuyển xác, hoả thiêu và bình tro tạm.

Toàn anh chị em trong gia đình góp thêm tiền, đem tặng hội từ thiện 35 ngàn đô. Cả nhà đều vui mừng, nhẹ nhỏm. /.

Tràm Cà Mau
(Tháng 12/2010 những ngáy cuối năm mưa dầm)
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »


Image

Sài Gòn một cái quán khổng lồ



Lửa nhậu nhẹt cháy sáng ngày đêmKhu Bình Phú nằm bên trái trục đường Hậu Giang, quận 6, một khu dân cư mới phát triển sau thập niên 1980, cứ đi khoảng trăm mét là gặp một quán cà phê. Ðường Lữ Gia thuộc quận 11, nối từ đường Lý Thường Kiệt đến Nguyễn Thị Nhỏ, chỉ dài chưa đến nửa cây số, trừ một bên đường là nhà thi đấu thể thao Phú Thọ, trạm biến điện... phần bên đường còn lại dầy đặc các quán nhậu.

Những khu phố trên chỉ là đơn cử hiện tượng mở quán, ngồi quán ở Sài Gòn.

Người Sài Gòn trước năm 1975 vẫn có thói quen “người sang ngồi quán sang, bình dân ngồi quán cóc,” nhưng thường thì người có công việc ổn định ít ngồi quán. Thời nay, quán cà phê, quán ăn đủ mọi hạng trở thành công sở, văn phòng, điểm giao dịch... của đủ mọi tầng lớp. Hình ảnh dễ gây khinh ngạc nhất của Sài Gòn là chuyện trong hẻm, ngoài đường xe chạy như thác lũ, và trong quán thì đông đặc người bất kể ngày đêm, bất kể trong giờ làm việc hay ngoài giờ.

Chúng tôi hỏi chuyện một cô nhân viên của một chi nhánh ngân hàng, cô nói: “Ít ra tụi này cũng ngồi quán một ngày ba bốn lần. Hạn chế lắm rồi đấy, mà cũng không rõ vì sao lại cứ phải đưa nhau ra quán, dù là có việc cần hay chẳng có việc, sếp không cho thì hẹn, cứ a lô nhau một tiếng là nhào vào quán.”

Sự bùng nổ mở quán của Sài Gòn không chỉ diễn ra ở các mặt tiền đường mà đã lấn sâu vào mọi ngõ hẻm. Những quán được ưa chuộng nhất của Sài Gòn là những quán có bàn để thực khách có thể ngồi ngó ra đường, ra hẻm. Trong lòng một đô thị người, xe chật chội, khói bụi kinh khủng thì lợi ích gì mà cứ thích ngồi hàng hàng lớp lớp ngó ra đường. Nhiều người không ngần ngại trả lời là: Ngó ra đường để có chút khoảng trống bớt ngộp thớ.

Với những người có công việc ổn định, một khi rời nhà vào buổi sáng thì họ chỉ trở về nhà vào lúc khuya để ngủ. Nếu ai có khoảng giờ trống trong ngày, họ thường không về nhà vì sợ phải di chuyển trong sự rối loạn về giao thông và môi trường, thế là kéo nhau vào quán.

Ða số dân nhập cư, trừ lúc ngủ, họ lại càng không muốn về nhà trọ chật hẹp. Cả với những người có nhà riêng, họ cũng chọn tiếp khách ở quán để dễ thở hơn là phải chạy về nhà. Một người đàn ông trung niên nói: “Trừ buổi tối, ban ngày mà muốn gặp mặt vợ vì việc cần cũng hẹn ra quán cho xong.”

Ở nhiều khu sang trọng, Sài Gòn không thiếu những quán có kiểu như một văn phòng lớn với nhiều phòng làm việc riêng, có những quán có ghế sofa, có nệm ngồi nệm lót lưng để khách ngã ngửa hàng giờ đồng hồ...

Tuy nhiên cũng có giới ngồi quán vì một lý do là dư dả tiền và dư thời gian. Ph. một người đàn ông trung niên, có con đi du học tự túc ở Úc, có 5 căn nhà nhỏ cho thuê nguyên căn, thu nhập hàng tháng trên năm mươi triệu. Có thể xếp địa vị của người đàn ông này là tiểu chủ, cũng có thể gọi đó là kẻ vô công rỗi nghề cũng không sai. Một người thường ngồi quán với ông kể: “Hôm qua, nó mới đòi hùn với tụi tôi một triệu để nhậu, tụi tôi không cho vì không họp rơ, nó giận, nói ‘nhậu coi bóng đá, hát với nhau, coi vú coi giò gái tiếp viên hoài cũng chán, xin được theo chúng mày nhậu đờn hát một chút chúng mầy không cho. Chúng mày chảnh quá, đéo cần!’ Những người rỗi việc, thu nhập cao như ông Ph. việc ngồi quán sẽ giúp giải quyết “nỗi khổ tâm,” san lấp được thời gian, vừa “được tốn tiền” với giá phải chăng vừa được hưởng thụ các món ăn chơi không quá sa đọa.

Muốn hút khách, các quán nhậu ở Sài Gòn ngày nay phải đua nhau tiến lên “hiện đại hóa” mở rộng từ diện tích quán đến việc xét tuyển các em tiếp viên chân dài - mát mẻ. Nếu Sài Gòn xưa chỉ có các sân khấu đại nhạc hội, bến xe, sân vận động mới ồn ào thì ngày nay các quán nhậu hoành tráng là nơi ồn ào tới đỉnh. Cứ vô quán nhậu là cứ hả họng hò hét, hả họng nốc bia là cách tốt nhất để quên thực tại, mỗi người đang là con cá bị ngộp thoi thóp trong vùng nước ô nhiễm từ chính trị đến văn hóa...

Một đặc điểm là quán nhậu không còn là chốn đặc quyền của giới đàn ông. Nữ giới đến quán nhậu đủ mọi thành phần, không phân biệt trí thức hay dân lao động. Chị em ta, có khi lập hội xị, kéo nhau hết quán này tới quán khác để chứng minh chuyện ăn nhậu nam nữ bình quyền. Người lạ vô quán nhậu Sài Gòn cẩn thận lời lẽ kẻo bị sỉ vả, vì lớ ngớ tưởng chị em đang ngồi nốc bia cùng bàn với đàn ông là dân không đàng hoàng.

Các bà chủ, các vị phu nhân cũng ra sức cạnh tranh ngồi quán với cánh đàn ông. Không khó tìm những quán cà phê, quán nhậu có đông quí bà đủ các hạng tuổi nhưng đa phần là tuổi từ U 40 trở lên. Có dạng kinh doanh câu lạc bộ nhảy đầm, gọi đơn giản hơn là quán nhảy, quán nhảy mở cửa từ 9 giờ sáng. Một người đàn ông là khách thường xuyên của “câu lạc bộ quí bà” kể: “Quí bà đến điểm nhảy, thay quần áo, trang điểm lại, rồi xì tiền cho người ta đi chợ thế. Nhảy nhót với kép trẻ đến gần giờ nấu cơm trưa lại tất bật xách giỏ thức ăn về nấu cho chồng con. Ðâu ra đó cả, chẳng thiếu sót gì.”

Ðối điện với hiện tượng ngồi quán miên man của dân Sài Gòn riết thành quen. Và ngày nay từ du khách ngoại quốc đến Việt kiều, nhiều người đã hiểu thực trạng chất lượng sống của đô thị này cũng hồn nhiên thông cảm và rồi cũng kéo nhau ra quán để hú hí. Và chắc ai cũng cho rằng Sài Gòn ngày nay không chỉ là một đô thị lớn mà còn là một cái quán khổng lồ.

Trần Tiến Dũng
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Đi ăn tiệm

by Gene Perret

Đi ăn tiệm là một điều thú vị phải không các bạn? Người ta nấu nướng mọi thứ cho bạn, dọn lên trên bàn cho bạn thưởng thức... và rồi sau đó còn dọn dẹp, rửa chén cho bạn nữa chứ... Đã thì thôi... Tất cả những điều bạn phải làm chỉ là nhai, nuốt và sau cùng là trả tiền. Nhưng thưa các bạn... những điều tôi vừa kể trên đã cuốn theo chiều gió hết rồi... Và đây là câu chuyện của tôi...

Một chiều cuối tuần nọ, sau khi lãnh lương, tôi bèn quyết định một cách hạnh phúc là thay vì nấu ăn ở nhà như thường lệ, tôi sẽ rủ cô bạn gái đi ăn tiệm. Xin thưa với các bạn đó là lần đầu tiên tôi đi ăn tiệm. Khi tôi đến tiệm ăn thì trời ơi... tôi có cái cảm tưởng như là đang lạc vào bát quái trận đồ của Hoàng Dược Sư trên Đào Hoa Đảo. Người hầu bàn, ăn mặc còn sang trọng hơn tôi nũa, chào đón tôi:

"Xin chào quí khách, 2 người phải không ạ?"

Tôi hãnh diện đáp: "Vâng, 2 người."

Anh ta hỏi tiếp: "Hút thuốc hay không hút thuốc?

Tôi trả lời ra vẻ như không bao giờ hút thuốc:

"Không, tôi không hút thuốc."

Người hầu bàn tiếp tục hỏi:

"Ngài thích ngồi ở khu vực trong nhà hay ngoài trời?"

Tôi trả lời như là mình có một quyết định đúng đắn:

"Tôi thích ngồi ở trong hơn là ra ngoài."

Anh ta phụ họa:

"Đúng đấy, thưa ngài" Và hỏi tiếp:

"Ngài thích ngồi ở phòng ăn chính, ở bao lơn có mái che hay là trong khu nhà kiếng chan hòa ánh nắng của chúng tôi."

Đến đây thì tôi hơi lúng túng:

"Hmm... để coi..."

Anh ta đề nghị:

"Tôi có thể sắp cho Ngài ngồi ở khu nhà kiếng với phong cảnh tuyệt vời."

Tôi hưởng ứng và đi theo anh ta:

"Tôi nghĩ anh nói đúng đấy."

Anh ta lại hỏi tiếp:

"Bây giờ Ngài thích nhìn ra sân golf hay muốn nhìn cảnh mặt trời lặn trên bờ hồ hay là cảnh núi non hùng vĩ?..."

Tôi nghĩ thầm là lần này hãy để nó chọn phứt đi cho xong, đỡ phải lúng túng:

"Chỗ nào anh thấy đẹp là được rồi!"

Thật ra anh ta đặt chúng tôi ngồi hướng về sân golf hay bờ hồ hay núi non gì đó tôi cũng cóc biết vì lúc đó trời đã tối bên ngoài.

Lúc sau, một người hầu bàn khác trẻ hơn, cũng ăn mặt bảnh hơn tôi, đến bàn tôi và nói:

"Kính chào quí khách. Tôi là Paul. Chiều nay tôi sẽ phục vụ quí khách. Quí khách có muốn ngồi ngắm cảnh thêm vài phút trước khi đặt món ăn hay không?"

Tôi nói ngay:

"Không, tôi đang đói lắm. Tôi là dân lao động. Mang lên cho tôi một dĩa thịt bò với rau và khoai tây nướng."

Anh ta hỏi thêm:

"Ngài muốn dùng thêm súp hay rau trộn?"

Tôi đáp ngay: "Rau"

Anh ta cứ hỏi:

"Chúng tôi có rau xanh nhiều loại, củ dền đỏ, cà chua... Ngài có thích trộn với tôm không?"

Tôi xẳng giọng: "Rau xanh thôi, OK?"

Anh ta đáp: "Vâng thưa Ngài. Có dầu giấm không?"

Tôi không muốn kéo dài cuộc khẩu cung này nữa:

"Bất cứ cái gì cũng được."

Anh ta cứ nói:

"Chúng tôi có dầu giấm kem Ý, phó mát xanh, giấm chua Pháp...

Tôi cướp lời:

"Đem bất kỳ thứ nào làm tôi ngạc nhiên là được..."

Anh ta vẫn đứng đó:

"Dầu giấm kem Ý là loại đặc biệt của chúng tôi. Như thế có được không thưa Ngài?"

Tôi cộc lốc: "Ừ"

Anh lại hỏi: "Còn khoai tây thì sao..."

Tôi thừa biết cái gì sắp xảy ra nên không muốn anh ta đứng lải nhải nữa:

"Tôi chỉ muốn khoai tây nướng mà thôi, hiểu chưa? Không có cái giống gì kèm theo nữa hết."

Anh ta cứ hỏi: "Không bơ, Không kem chua à?"

Tôi gằn giọng: "Không."

Anh ta vẫn hỏi: "Không để hành luôn à?"

Tôi hết chịu nỗi nên phải quát lên:

"Không. Anh không hiểu tôi nói gì à? Tôi không muốn cái gì với khoai tây hết. Cứ mang ra cho tôi khoai tây nướng với thịt bò là được rồi."

Anh ta lại chỉa mũi dùi sang thịt bò:

"Ngài muốn 200 gram, 250 gram hay 350 gram thưa Ngài?"

Tôi trả lời cho có: "Bao nhiêu cũng được."

"Ngài muốn tái, tái vừa vừa, vừa, vừa chín hay chín hẳn thưa Ngài?"

Tôi không thể nào chịu được nữa:

"Ê... Tao nổi cơn rồi đấy nhé..."

Anh ta vẫn không tha tôi: "Ngài thích cải xanh, bắp hay cà rốt chung với thịt bò?"

Như giọt nước làm tràn ly nóng giận, tôi ném khăn ăn xuống đất, đứng phắt lên, xắn tay áo, xông vào anh ta và giở giọng võ biền:

"Ê... Mày muốn ra ngoài sân chơi tay đôi không, thằng dai như đỉa kia?"

Trời ơi, đến nước này mà anh ta cũng không thể không hỏi ý kiến tôi:

"Vâng, thưa Ngài. Ngài thích ở bãi đậu xe, ngoài đường nhỏ hay đường lớn đối diện với nhà hàng, thưa Ngài?"

Tôi nói: "Tao thích ngay tại đây...", và đấm anh ta một cái. Anh ta né rồi phản công bằng một cú móc tay trái vào hàm tôi... Các bạn thân mến, đó là lần đầu tiên trong cái đêm nghiệt ngã đó anh ta đã không hỏi tôi thích bị đấm ở đâu... Tôi choáng váng ngã xuống ghế trong khi các người khác tới kéo anh hầu bàn đó ra.

Tôi có cảm giác ai đó nới lỏng cà vạt tôi ra, mở nút áo cổ và vả nhẹ vào mặt tôi... Khi tôi hoàn tỉnh, tôi thấy trước mặt tôi là gương mặt lo âu của viên phụ trách các tên hầu bàn đêm đó... Ông ta xin lỗi ráo riết và đề nghị mua nước uống cho tôi, gọi y tá hay bất cứ cái gì tôi muốn...

Tôi lúng túng nói: "Không, không... đừng gọi ai đến hết... cho tôi ly nước là được rồi..."

"Vâng thưa Ngài, có ngay", ông ta hớn hở đáp lại sự đòi hỏi quá dễ thực hiện của tôi.

Và ông ta tiếp: "Ngài thích nước suối nhập cảng, nước soda, nước chanh hay nước lọc?"
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

CHUYỆN LẠ VỀ MÈO TRONG NĂM MẸO
Trong tất cả những gia súc gia cầm gần gũi với con người, duy nhất chỉ có mèo là con vật đầy mâu thuẫn, vì nó vừa thân thiết với chủ nhân nhưng cũng không quên đòi hỏi sự tự do độc lập của riêng mình. Ðó là con vật có cuộc sống hai mặt, là một trưởng giả đạo mạo trên ghế cao nệm gấm, đồng thời cũng là một tên sát thủ ghê gớm trong bóng tối hay góc vườn. Nó luôn che giấu bộ mặt thật của mình nên họa hoằn lắm mới đem con mồi bắt được vào nhà hành hạ một cách độc ác trước khi phanh thây xơi tái.

Có một thắc mắc mà ai cũng muốn biết là tại sao loài mèo dù nhỏ hay lớn cũng đều muốn được chủ mình ve vuốt thương yêu ? Theo Desmond Morris giải thích, đó là tình mẫu tử bởi vì ngay từ thuở mới lọt lòng, mèo con được mẹ liếm láp hằng ngày. Do đó nó luôn coi mọi người chung quanh đều là mèo mẹ vì đó là sự cần thiết giúp nó sống lại thuở ấu thơ. Về chuyện mèo thích dùng chân cào vào đầu gối chủ. Ðây cũng là tập quán lúc mèo còn bé thường làm như vậy để mèo mẹ tiết sữa cho nó bú.
Còn bí ẩn, tại sao mèo thích thịt chuột, cũng đã được y học dựa theo một vị thuốc có tên “ ngưu hoàng, ngưu hoàng toan “ là những viên sỏi kết tinh bởi dịch mật của trâu, bò và thủy ngưu tiết ra. Ðó là acid mật (đảm toan) mang gốc NH2 chữa được nhiều thứ bệnh và làm tăng thị lực trong đêm. Loài chuột cũng có khả năng sản xuất được chất đảm toan như họ nhà trâu. Mèo là con vật chuyên săn mồi ban đêm rất cần thị lực, nên phải ăn chuột để thay thế chất đảm toan không có trong cơ thể mình.
Là con vật được người thuần dưỡng lâu đời và nuôi nấng sớm nhất khi được sinh ra chẳng bao lâu nên mèo luôn coi mình như con vật có nguồn gốc giữa mèo và người. Nói chung thì chúng luôn coi con người như một thứ cha mẹ nuôi, vì vậy rất trung thành với chủ. Ðiểm này cho thấy mẻo và chó có sự tương đồng vì cả hai đều coi chủ mình như là cha mẹ nuôi. Tuy nhiên tình cảm của chó đối với chủ còn mang ý nghĩa của một vị chúa tể nên hết lòng cung cúc tận tụy dù có phải hy sinh tính mạng để bảo vệ chủ mình. Trái lại mèo chỉ sống cho riêng mình, dù được nuôi nấng trong nhà hay còn sống nơi hoang dã. Ðó cũng là sự khác biệt về tâm lý của người thích nuôi mèo thường là phái nữ, giới nghệ sĩ, kẻ sống cô độc. Trái lại người ưa nuôi chó thường là nam giới, lính tráng, những người ưa hoạt động xã hội, cộng đồng..

Nên chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy các nhà sinh học xếp mèo là loài thú tự tôn và sống theo cá nhân chủ nghĩa. Mèo xuất hiện trên trái đất khoảng 10 triệu năm về trước, tuổi thọ từ 30-38 năm. VN có tới 9 loài mèo nhưng đang trên đà tuyệt chủng vì hiện là món ăn khoái khẩu của Tàu đỏ, Tàu trắng và cả nước.

1- NHỮNG CON MÈO ÐẶC BIỆT :

Ngày 24/11/1999, mèo Jazz được chào đời tại đại học New Orleans (Hoa Kỳ) bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm như con người. Ðó là con mèo được lai giống từ trứng mèo mẹ Cayenne (loại mèo nhà) và tinh dịch mèo đực hoang dã Phi Châu đang có nguy cơ tuyệt chũng Ðây cũng là kỹ thuật mà mấy năm trước tại vườn thú Cincinnat (Mỹ) đã cho ra đời con mèo NOAH giống mèo sa mạc Ấn Ðộ, sau bốn lần thử nghiệm thất bại.
+ Mèo Rừng Serval Châu Phi : Có thân mình dẽo và thon với trọng lượng không quá 18 kg, đầu nhỏ, bốn chân dài như đại thử Úc nhưng đôi tai rất to, chuyên săn mồi ban đêm và là con thú duy nhất trên thế giới tóm được chim bằng một thủ thuật chính xác và nhanh nhẹn phi thường. Ðây cũng là một bậc thầy về môn nhảy cao hơn 3m và xa với vận tốc như muốn xé rách không khí chết trong sa mạc. Nó ăn chim, ếch nhái, thằn lằn, sâu bọ và những con linh dương còn nhỏ.

Mèo Serval còn bắt cả khỉ dù con vật này nhanh nhẹn không thua nó. Nhưng nhờ vào tài rùnh rập và vồ mồi tuyệt hảo, sự bén nhạy của tai mắt và lòng nhẫn nại đợi cho con mồi lọt hẳn vào bẩy rập mới ra tay sát kẻ đích. Vì nhỏ nên mèo thường mất sức khi đuổi theo con mồi trên khoảng đường xa, trái lại trên cây hay dưới nước, nó luơn đạt chiến thắng nhờ leo trèo và bơi lội giỏi. Nó có 4 răng hàm và cửa bén như dao dùng để xé thịt con mồi ra từng mãnh vụn trước khi ăn.

Mèo này sống khắp Châu Phi trừ sa mạc Sahara và vùng Tây Nam. Nó phân định địa bàn hoạt động của mình bằng nước tiểu và các dấu cào xé trên các võ thân cây trong khu rừng. Mèo sống cô độc và chỉ cặp đôi trong mùa giao phối diễn ra một lần trong năm. Con cái mang thai từ 67 tới 77 ngày thì sinh mỗi lứa 4 con và nuôi chúng trong vòng 1 năm mới tự đi kiếm mồi. Tuổi thọ của mèo rừng chừng 20 năm nhưng giờ đây chúng đang có nguy cơ tuyệt chũng vì bộ lông đang có giá tại Âu Mỹ và thịt rất được người bản xứ ưa chuộng.

+ Mèo Giống Nhân Sư : Mèo này có tên Sphynx (tượng đá Ai Cập, có thân sư tử, đầu người), sỡ dĩ mang tên trên vì hình dáng dị kỳ với lớp da nhăn gần như không có lông. Nó có đôi tai lớn như lừa, mắt to như nai và hình dạng cổ quái như con thú Yoda trong bộ phim Star Ware (chiến tranh những vì sao). Riêng vuốt mèo này giống móng gấu trúc sống tại Mỹ.
+ Mèo Munchkin : Còn có tên khác là Chó Chồn (Dachshund) có thân dài chân ngắn, biến dạng từ sự thay đổi giống của các loại mèo dị dạng.
+ Mèo Lion King : Ðược gọi là vua sư tử (Lion King) có nguồn gốc từ Ba Tư. Mèo này rất được các người nuôi mèo yêu quí vì bộ dạng lịch sự và lạ mắt. Bộ lông ngắn bó sát thân hình một cách tự nhiên, nên còn được gọi là sư tử trụi. Người ta còn đeo cho nó một vòng chuổi bạc làm bằng xương cá, tăng thêm vẽ thanh lịch của mèo.

+ Mèo Cornish Rex : Mèo có xuất xứ từ vùng Cornwall (Anh) , có bộ lông dợn sóng và mềm như tơ. Mèo có bụng thon, đuôi dài đặc biệt bốn chân cao nghệu, thêm đôi tai to và mềm như thỏ . Bộ dạng giống như con chó ốm, chạy nhanh chuyên săn mồi .

+ Mèo Bob Tall Long Hair : Có nguồn gốc từ Nhật Bản, đuôi ngắn có chùm lông xoắn ngộ nghĩnh . Mèo có bộ lông rậm và dài, mịn màng màu trắng sáng.

+ Mèo Tai Cụp : Xuất xứ từ vùng Scotland (Anh) , có đôi tai cụp về phía sau tạo thành một vùng hào quang phản chiếu quanh đầu. Mèo tai cụp nhìn rất dễ thương. Mèo có bộ lông sặc sỡ luôn ánh lên trước mắt mọi người nên rất được ưa thích.

+ Mèo Ocicat : Có xuất xứ từ giống mèo rừng Nam Mỹ, có bộ lông vàng rực điểm thêm những chấm tròn, nhìn giống như loài mèo Bobcat (mèo lông ngắn_ hat Linh Miêu (Lynx). Ðây là loài mèo tạp chủng được lai giống từ mèo Abysainian, mèo Xiêm và mèo lông ngắn Mỹ, được coi là giống mèo cực quý trong họ nhà mèo.

+ Mèo Xiếc : gồm chin con mèo được huấn luyện từ lúc mới lên hai tháng tuổi. Tất cả được đặt theo tên các tài tử nổi tiếng trên thế giới, trong số này có con mèo cái Madonna tuy còn nhỏ nhưng tài giỏi nhất. Mèo được các sư tập luyện từ nhỏ, nghe được tiếng người và các mệnh lệnh của chủ, có thể nhảy xuyên qua những chiếc vòng nhỏ cao quá đầu người. Những tiết mục độc đáo do các con mèo xiếc biểu diễn tại ngôi chùa Nga Phe Chaung trong vùng rừng núi Miến Ðiện, do ba vị sư trụ trì tài giỏi huấn luyện mà ngay cả những nhà dạy thú tài ba tới nay vẫn chưa đạt được.

2- NHỮNG CHUYỆN LẠ VỀ MÈO :

Ngày nay ai cũng biết chó là con vật luôn trung thành với chủ, còn mèo nổi bật với tính độc lập của mình. Với cặp mắt tinh anh có thể nhìn thủng màn đêm nhưng ít ai biết được loài mèo lại mù màu đỏ, khiến cho chúng đắm chìm trong thế giới của hai màu đen trắng mà thôi

Mèo là loài vật ích kỷ đúng hơn là vô chính phủ. Tập quán trên đã được chứng minh từ khi mèo chưa mở mắt mà đã cố quờ quạng dành cho được núm sửa của mèo mẹ và bám lì nó cho tới khi bỏ bú. Sau đó chúng cũng rời đàn để tự kiếm ăn và bạc bẽo nhất vẫn là những con mèo đực. Ðó là loài vật bảo thủ không muốn bất kỳ ai đụng chạm tới mình, dù đó ghế bành, giường ngủ hay bộ ván gổ. góc vườn, khu rừng.. chỗ nào mèo cũng muốn là giang san riêng của chính mình.

Lịch sử của sự thuần dưỡng mèo của con người chỉ với mục đích gạt bỏ những sự sợ hãi của họ đối với con vật. Mèo nhà được thuần dưỡng chỉ còn mang trong mình 20% tính hoang dã, phần còn lại là ảnh hưởng của môi trường, sự giáo dục của chủ và hoàn cảnh xã hội. Những con mèo nhà hiện diện khắp thế giới ngày nay, không phải là sản phẩm được hình thành từ sự hắt hơi của con cọp như huyền thoại Hồi giáo đã kể. Nó là con cháu của giống mèo rừng Nam Mỹ (Ocelot), của loài mèo Felix Lybica Ai Cập..
Theo Rupert Sbeldrake, một nhà sinh học người Anh thì mèo đặc biệt có thêm giác quan thứ sáu “ thần giao cách cảm “ và thứ bảy là “ khả năng định hướng “ , đã giúp nó băng qua những đoạn đường dài mà không sợ lạc lối như chim và cá (trừ loài bồ câu và cá thiên di).. Hiện các nhà khoa học đã chứng minh được nó có chất kim loại Magnetite chứa sắt rất nhạy cảm với từ trường, ở xoang mặt và sau những sợi lông dài mọc ở chân trước mèo. Ngoài ra nó còn có một trí giác rất mạnh và góc nhìn rộng 187 độ, giúp nó nhớ rõ những nơi chốn đã đi qua một cách chính xác, dù chỉ một lần. Mèo còn có những máy phát sóng nằm dưới chân chuyên sản xuất chất Phéromore là một loại hormone dùng làm vạch mốc khứu giác, đánh dấu các địa điểm đã đi qua.

Còn những tiếng gầm gừ của mèo cũng là tín hiệu cho biết gia đình chúng (mèo mẹ và đám con nhỏ) đang sống hạnh phúc. Việc mèo phi tang “ của quí vừa đại tiện của mình “ không phải chúng sạch sẽ mà đó là bản tính lúc nào cũng muốn che giấu sự thật, để luôn tại hình ảnh tốt trước mặt chủ..
+ Những Bệnh Lạ Do Mèo Gây Ra : Gần đây người ta phát hiện chứng bệnh viêm loét bao tử là loại bệnh truyền nhiễm, mà nguyên nhân do vi khuẩn H.Pylori gây ra bằng đường tiêu hóa nhưng bệnh này cũng dễ trị nếu biết giữ gìn vệ sinh và uống kháng sinh. Hiện các nhà khoa học ở Lausanne (Thuỵ Sĩ) qua nhiều lần thử nghiệm, đã chứng minh rằng những người thường gần gũi với mèo, đã mất vài dạng bệnh loét bao tử do vi khuẩn H. heilmannil truyền sang từ mèo.

Ít người ngờ tới họ nhà mèo gồm mèo nhà, mèo rừng, báo.. đều có thể mắc bệnh AIDS như người, mà y học gọi là bệnh liệt kháng gây ra bởi vi khuẩn FIV (Feline Immunodeficiency Virus) không ảnh hưởng tới người và các loại động vật khác. Hiện có khoảng 2-7% mèo nhà vùng Bắc Mỹ nhiễm FIV, được phát hiện lần đầu vào năm 1986 tại California. Ðây là loại virus thuộc họ retrovirus tương tự như nhóm HIV gây bệnh AIDS ở người.
FIV có nhiều trong nước bọt mèo gây bệnh qua vết cắn, chứ không phải từ đường máu và sinh hoạt tình dục như ở người. Ngoài ra mèo mẹ lây bệnh sang mèo con qua đường nhau thai. Con đực dễ bị lây bệnh hơn con cái vì hay ra ngoài cắn lộn. Bệnh phát triển chậm ở mèo và trải qua 6 thời kỳ tới giai đoạn chót với các bệnh ung thư hạch và tuỷ xương, co giật, thiếu máu. Năm 2002 các nhà khoa học tại đại học Florida đã thử nghiệm một loại thuốc chũng ngừa bệnh AIDS mèo , tuy nhiên thuốc chỉ có công dụng rất hạn chế . Tóm lại loại virus FIV rất đặc thù, nó chỉ có thể gây bệnh ở họ nhà mèo mà thôi, tuyệt đối không truyền sang cho người được.

+ Mèo Trong Chiến Tranh : Dù là con vật yếu nhỏ nhưng mèo đã được sử dụng trong chiến tranh từ 2500 trước tây lịch, qua cuộc chiến giữa Ai Cập và Ba Tư. Với người Ai Cập, mèo được coi như một con vật linh thiêng tượng trưng cho thần Pasht , nên ai làm tổn thương mèo sẽ bị xử tử. Dựa vào yếu tố tinh thần đó, người Ba Tư đã đưa mèo ra chiến trường, khiến cho người Ai Cập chỉ còn nước đầu hàng.

Trong thế chiến I, mèo được đưa ra chiến trường để diệt chuột và làm máy dò khí gaz độc và truyền tin tức. Nhưng lạ lùng nhất là việc sử dụng mèo trong thế chiến II của Cục phản gián OSS (tiền thân của CIA ngày nay) đánh bom tàu chiến Ðức quồc xã. Người Mỹ đã lợi dụng tính sợ nước của mèo, gắn vào chúng một quả bom và thả gần tàu đich. Số mèo này vì muốn sống nên đã cố gắng leo lên booing tàu Ðức và bom nổ. Tuy nhiên kế hoạch này đã thất bại vì phần lớn mèo từ máy bay thả xuống nước đã bị ngất xỉu

Năm 1961 thời kỳ chiến tranh lạnh, CIA lại có kế hoạch gọi là “ chiến dịch mèo nghe trộm (operation Acoustic Kitty) sử dụng mèo thành một thiết bị nghe lén, bằng phương pháp giải phẩu mèo, đặt trong cơ thể chúng một thiết bị điện tử nghe lén, còn đuôi là cần ăngten. Dự án tốn hơn 15 triệu USD và mất 5 năm thực hiện, trước khi được sử dụng lần đầu để nghe lén cuộc nói chuyện tại tòa đại sứ Liên Xô ở Hoa Thịnh Ðốn. Tiếc thay con mèo gián điệp đã bị xe cán chết khi băng qua đường, nên CIA dẹp luôn kế hoạch trên.

+ Những Con Mèo Giàu Nhất Thế Giới : Ða số những người giàu trong đó có giới nghệ sĩ đều thích nuôi thú cưng trong nhà như chó, mèo và trước khi chết thường viết di chúc để lại cho chúng tài sản có khi lên tới hàng triệu USD.. Tài sản này được coi sóc bởi những quản gia trung thành với chủ.

Mèo Pepe le Pew và Ani với một con chó giống Chihuahua tên Frankie, cùng làm chủ một biệt thự ở San Diego (California). Ngoài ra chủ còn viết di chúc cho hai con mèo trên 18,5 triệu USD, riêng con chó Frankie 15 triệu USD. Tinker là con mèo mun Anh thuộc giống mèo hoang, được thừa hưởng phần gia tài của bà quả phụ Margaret Layne 800.000 USD và một căn nhà 3 phòng ở Harrow. Cuối cùng là 350 gia súc gồm chó, mèo và cừu trong trại chăn nuôi Aberdeen Angus (khu vực Mey Farm phía bắc nước Anh của mẹ Nữ hoàng Anh Elizabeth II, được thừa hưởng gần 6 triệu USD.
+ Ðảo Mèo Kinh Dị : Walter William là một nha sĩ trẻ, sống và hành nghề tại thị trấn Saint Thomas, tỉnh Ontario (Canada). Vì có máu giang hồ nên đã từ bỏ cuộc sống sung túc nơi quê nhà, quyết tâm tìm tới một hòn đảo tên Society giữa Thái Bình Dương, theo lời quảng cáo của một công ty du lịch. Và mộng ước của Walter không phải chỉ tới đó để ngắm cảnh rong chơi, mà còn nuôi tham vọng được làm chủ một hòn đảo nho nhỏ, dựng nhà, câu cá, tắm biển.. sống an một đời không màng tới lợi danh phù phiếm.

Ðó là năm 1902 và vùng đất đầu tiên sau chuyến hải trình dịu vợi mà Walter đặt chân tới là kinh đô Papeete của vương quốc Tahiti, một hải đảo thuộc địa của Pháp. Ðể kiếm sống nơi xứ lạ quê người, Walter lại quay về nghề chữa răng cho mọi người trên đảo, bằng bộ đồ nghề đã mang theo với tên mới “ ông đốc Willy “.Và đây cũng là cơ duyên giúp ông ta quen biế với hoàng gia kể cả hoàng đế, qua những lần trồng răng chữa răng miễn phí.

Ðể đền ơn, vua Pomare V đã tặng cho người nha sĩ trẻ tuổi một hoang đảo thuộc lãnh thổ vương triều. Có điều đây là một đảo “ chuột “ vì cư dân trên đảo không phải là người mà toàn là chuột, hàng ngàn, hàng vạn con lúc nhúc hiện diện khắp nơi, từ mặt đất tới cả ngọn cây dừa.. chổ nào cũng có mặt chuột. Không chịu thua trước hoàn cảnh tuyệt vọng, đầu tiên Walter dùng thức ăn trộn thuốc độc để giết chuột nhưng không có hiệu quả.
Sau cùng Walter phải sử dụng tới đạo quân mèo và nhờ đó gần như diệt được loạn chuột đã hùng cứ hằng trăm năm trên đảo, trước sự bất lực của con người. Nhưng chuột đi mà mèo vẫn ở lại trên đảo, hết chuột để ăn, đàn mèo lại sinh tồn bằng cá biển tung tăng khắp bờ và cứ thế không biết từ lúc nào, đảo Tetiaroa đã đổi thành “ đảo mèo “ . Còn chủ nhân ông Walter William không làm gì hơn, ngoài việc thay đổi thần dân của mình “ từ chuột sang mèo “ và trồng thêm thật nhiều dừa và chuối khắp đảo.
Cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, người thừa kế “ đảo mèo “ là tài tử Mỹ nổi tiếng Marlon Brando, có tham vọng biến đảo này thành một thiên đường dành cho giới văn nghệ sĩ. Nhưng nơi này không bao giờ có sự yên tĩnh bất cứ một phút giây nào, vì sự cuồng loạn của giặc mèo.

+ Giặc Mèo Ở Nhật : Trong quá khứ, đảo Ishima của Nhật từng là nạn nhân kinh khiếp của đám giặc chuột trong một thời gian dài. Cảnh tượng trên đảo lúc đó gần như là vườn không nhà trống, vì giặc chuột tới đâu là chúng ngốn hết rau quả, thức ăn, củi gổ luôn đến những gia súc gia cầm. Tới nay chưa có ai xác định được đàn chuột làm sao đến được đảo.
Ðể diệt chuột, người trên đảo đã tìm đủ mọi cách nhưng càng xua đuổi thì chúng lại càng phá phách và sinh sôi thêm đông đảo hơn trước. Cuối cùng chính quyền địa phương kể cả trung ương đã nhập cuộc để chống lại trận giặc chuột dữ tợn này. Và chiến lược cuối cùng vẫn là sử dụng mèo diệt chuột, theo truyền thống ngàn đời của con người.

Thế là hàng vạn con mèo bị bỏ đói nhiều ngày, được tàu chở tới thả lên đảo. Ðang lúc đói lại gặp mồi ngon, nên chỉ trong ngày đầu tiên đàn mèo tranh giành nhau để bắt chuột. Vì thế chỉ trong một tháng, không còn ai thấy bóng một con chuột nào xuất hiện trên đảo.

Nhưng niềm vui chưa được bao lâu thì nổi buồn phiền sợ hãi khác lại xuất hiện. Nguyên do là đàn mèo đông đảo sau khi đã ngốn hết lũ chuột nên không còn cái ăn. Vì vậy chúng phải tự kiếm sống bằng mọi thứ, từ cá thịt hoa quả bày bán ngoài chợ, trong tiệm quán.. cho tới thức ăn đồ uống cất kỷ trong tủ. Trận giắc mèo kỳ này còn ghê gớm gấp trăm lần trần giặc chuột đợt trước, Dân chúng trên đảo trước khổ vì chuột nay lại đau bởi mèo, nhiều gia đình không chịu nổi phải bỏ đảo Ishima tha phương cầu thực. Cuối cùng chính quyền phải sử dụng súng để diệt mèo nhưng không làm sao hạ hết đàn mèo tinh quái.

+ Bảo Tàng Mèo Tại Thành Phố Kuching (Mã Lai) : Kuching là thủ phủ của bang Sarawak (Mã Lai Á) nổi tiếng nhờ mèo. Ðặc biệt giống mèo ở đây đều có chiếc đuôi xoắn tít hay đuôi cụt như pho tượng mèo được tạc đứng trước chiếc cổng dẫn vào thành phố.

Cho đến nay không ai biết được xuất xứ của những con mèo kỳ lạ này tại Kuching, ngoài việc sự hiện diện đông đảo của chúng khắp thành phố. Có nhiều ý kiến về nguồn gốc của giống mèo này được các thương gia Tàu hoặc Ấn mang tới. Ngoài ra chúng cũng là hậu duệ của mèo rừng và mèo Xiêm tạo ra.

Theo tiếng Mã Lai, Kuching ngoài nghĩa chính là mèo còn dùng để chỉ một loại trái nhỏ giống như trái vải qua tên “ Saungai Mata Kuching “ mà cả người Mã lẫn người Việt đều gọi là mắt mèo, lúc đó mọc đầy hai bên bờ suối Mata Kuching. Năm 1988 Kuching trở thành thủ phủ của bang Sarawak, người dân ở đây đã dựng tượng “ đại miêu “ được coi là lớn nhất thê giới để ăn mừng. Ở đây còn có một bảo tàng mèo đặc biệt, trưng bày nhiều hình ảnh, hiện vật và tài liệu quý giá.. nên thu hút rất nhiều du khách bốn phương. Từ đó ta mới biết được sự tôn thờ mèo như thần thánh củ người cổ Ai Cập Riêng các doanh nghiệp rất thích hai tượng mèo Nhật Bản mang tên Manekineko với ý nghĩa “ chúc mừng thịnh vượng và phát tài “ Ngoài còn có một phòng đặc biệt, trưng bày hình ảnh của những nhân vật nổi danh trên thế giới rất yêu mèo như Victor Hugo, Florence Nightingale, Lincoln, Einstein, Hemingway..

“ Chuột ăn hại, mèo ăn tham “ muôn đời là một chân lý nên người VN xưa đã thâm thúy khi tạo nên bức tranh tết trong làng tranh Ðông Hồ “ đám cưới chuột “ với dụng ý nhân cách hóa con mèo và 12 con chuột trong tranh, trở thành những biểu tượng đại diện cho bọn tham quan ô lại (mèo), bọn con quan quyền quí (ông rễ chuột và đám nịnh thần) cùng với những người dân nghèo cực thấp cổ bé miệng (các chuột khiêng kiệu, vác cờ, thổi kèn, đánh trống). Cái khôi hài đầy châm biếm của bức tranh, là sự hòa họp, hòa giải sống chung hòa bình của “ mèo và chuột “ là hai kẻ thù không đội trời chung nhưng vì mèo tham ô ăn hối lộ (chim bồ câu, cá chép) nên nhắm mắt quên nhiệm vụ tiêu diệt phường ăn hại thối nát là chuột

Cuối cùng là câu chuyện “ dùng chó thay mèo bắt chuột “ đọc được trong tác phẩm “ cái cười của thánh nhân “ của Thu Giang Nguyễn Duy Cần, có kể chuyện một con chó săn rất giỏi nhưng lại bị chủ nhốt trong nhà để bắt chuột cho nên chó đã không thi thố được tài năng của mình. Câu chuyện “ cùm chân con chó có tài săn thú, để thay mèo bắt chuột “ tại những đất nước tự do chỉ có thể làm cho người ta cười nhưng tại thiên đường xã nghĩa như Nga, Bắc Hàn, Tàu đỏ.. thì lại trở thành câu chuyện cười ra nước mắt.
Là một con chó (hay con người) có tài năng, mà bị chủ cùm chân, bịt miệng bắt làm chuyện “ thay mèo bắt chuột “ hay tôi tớ phục vụ cho đảng thì thật là quá thê thảm. Nhưng có lẽ bi hài nhất cho những ai không hề bị “ cùm chân “ mà tự mình “ cùm chân “ chính mình, để làm đầy tớ nô bộc, giúp cho kẻ thù của dân tộc “ bán nước hại dân “ chỉ vì hám danh và mê bã vinh hoa phú quí. Ðó mới là chuyện nên cười hay khóc của người Việt hôm nay ?!

Từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng Giêng 2011
HỒ ÐINH
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

PHỤ NỮ THỰC SỰ MUỐN GÌ ?


Vua Arthur vị vua trẻ tuổi của nước Anh, bị quân Pháp phục kích và bắt giữ. Lẽ ra vua nước Pháp sẽ giết ngài, nhưng vẻ trẻ trung dễ mến của Arthur đã làm cho vua Pháp cảm động. Ông ta hứa sẽ trả tự do cho Arthur nếu ngài giải được một câu đố cực khó. Thời hạn để Arthur đưa ra câu trả lời là một năm. Nếu sau một năm không tìm ra lời giải, Arthur sẽ phải chết.
Câu đố là: Phụ nữ thật sự muốn gì?


Đó là câu đố mà có lẽ đến nhà thông thái nhất thế gian này cũng phải bó tay. Và với Arthur câu đố này quả là một thử thách quá lớn. Nhưng dù sao nó vẫn tốt hơn là cái chết. Arthur đành chấp nhận mạo hiểm.

Khi trở về Anh quốc, ngài hỏi tất cả mọi người từ các công chúa, các cô gái mại dâm, các vị cha xứ đến cả các quan toà, nhưng không ai có thể đưa ra một câu trả lời hoàn hảo. Điều mọi người khuyên vua là đến hỏi bà phù thuỷ già bởi vì có lẽ chỉ còn bà ta mới giải được câu đố hóc búa đó.

Những ngày cuối năm cũng đã tới gần. Arthur không còn cách nào khác là đến xin ý kiến của mụ phù thuỷ. Bà ta đồng ý sẽ đưa câu trả lời nhưng với một điều kiện. Đó là bà ta muốn lấy Garwain hiệp sĩ dũng cảm của Hội bàn tròn, bạn thân nhất của vua.

Arthur thất kinh. Bà ta vừa xấu vừa bẩn thỉu. Ngài chưa từng bao giờ thấy một ai đáng tởm như mụ ta. Không, ngài sẽ không để bạn thân của mình phải chịu thiệt thòi như vậy.

Khi biết chuyện, Garwain nói với Arthur rằng sự hi sinh đó của chàng làm sao có thể so sánh được với sự sống của vua, sự tồn tại của hội bàn tròn và vương quốc Anh. Và chàng hiệp sĩ quyết định hy sinh.

Cuộc hôn nhân được chấp thuận và vua Arthur cũng nhận được câu trả lời.

Điều phụ nữ thật sự muốn đó là “C
ó toàn quyền quyết định mọi việc trong cuộc sống của mình”.


Ngay lập tức ai cũng nhận ra rằng mụ ta vừa thốt ra một chân lý. Vua của họ nhất định sẽ được cứu. Quả thật vua nước láng giềng rất hài lòng với lời giải đáp và cho Arthur khỏi cái án tử hình.

Lại nói về đám cưới của mụ phù thuỷ và chàng hiệp sĩ. Tưởng chừng như không có gì có thể khiến Arthur hối hận và đau khổ hơn nữa. Tuy nhiên chàng hiệp sĩ của chúng ta vẫn cư xử hết sức chừng mực và lịch sự. Mụ phù thuỷ thì trái lại, trong tiệc cưới, mụ ta làm nháo nhào mọi thứ lên. Thỉnh thoảng mụ lại lấy cái tay bẩn thỉu của mụ nhón cái này một chút, bốc cái kia một tý. Thật chẳng ra làm sao cả. Mọi người thì hết sức khó chịu.

Đêm tân hôn, Garwain thu hết can đảm bước vào động phòng hoa chúc. Nhưng, gì thế này? Trên giường không phải là mụ phù thuỷ già nua xấu xí mà là một cô gái vô cùng xinh đẹp đợi chàng tự bao giờ.

Nhận thấy sự ngạc nhiên trên nét mặt chàng hiệp sĩ, cô gái từ tốn giải thích là vì chàng rất tốt với cô lúc cô là phù thuỷ, nên để thưởng cho chàng hiệp sĩ, cô sẽ trở thành một người xinh đẹp dễ mến đối với chàng trong một nửa thời gian của 24 giờ một ngày. Vấn đề là chàng phải lựa chọn hình ảnh đẹp của nàng vào ban ngày hay ban đêm.

Chao ôi sao mà khó thế? Garwain bắt đầu cân nhắc: Ban ngày nếu nàng là một cô gái xinh đẹp thì ta có thể tự hào cùng nàng đi khắp nơi, nhưng ban đêm làm sao mà ta chịu cho nổi? Hay là ngược lại nhỉ, ta đâu cần sỹ diện với bạn bè cơ chứ, cứ để nàng ta xấu xí trước mặt mọi người đi, còn khi màn đêm buông xuống, ta sẽ được tận hưởng những giây phút chồng vợ với thiên thần này.


Garwain đã trả lời “Nàng hãy tự quyết định lấy số phận của mình. Nàng muốn đẹp hay xấu vào lúc nào cũng được”.

Tất nhiên câu trả lời này đã làm cho mụ phù thuỷ đội lốt cô nàng xinh đẹp kia hài lòng và nàng ta nói rằng nàng sẽ hóa thân thành một cô nương xinh đẹp suốt đời. Đó là phần thưởng cho người biết tôn trọng ý kiến của phụ nữ.

Từ câu chuyện kể trên, ta có thể kết luận :
"Vợ đẹp hay xấu điều đó không quan trọng, từ sâu bên trong cô ta vẫn là một mụ phù thuỷ".

Sưu tầm từ blog Kgiaoru
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image

Ranh Ngôn
– Khi yêu nhau thì người ta thề sống chết có nhau , còn khi ghét nhau rồi thì người ta thường thề sẽ sống chết với nhau.

– Chết cho người phụ nữ mình yêu vẫn dễ hơn là phải sống chung với họ.

- Ly dị là sự kiện mà người đàn ông phải giặt đồ cho mình …
thay vì trước đó phải giặt đồ cho cả hai .

- Một người phụ nữ toàn diện: sáng diện, trưa diện, chiều diện!

- Phận làm trai gõ phím bình thiên hạ.
Thân anh hùng click chuột định giang sơn

- Mấy đời bánh đúc có xương.
Mấy đời chơi Net không vương tơ tình

- Trái tim em chỉ 2 lần mở cửa.
Ðón anh vào và tống cổ anh ra

- Bước đến nhà em, bóng xế tà.
Ðứng chờ năm phút bố em ra.
Lơ thơ phía trước vài con chó.
Lác đác đằng sau chổi lông gà

- Tình yêu là vĩnh cửu.
Và chỉ duy nhất một thứ được phép thay đổi.

Ðó là người yêu
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Nghĩ mông về bạn

Võ Phiến
(Nguồn: diendantheky.net)
Hôm nọ, trong lúc một mình thẩn thơ, chợt nhớ vài câu thơ xưa:

“Rượu ngon không có bạn hiền

Không mua không phải không tiền không mua.”

Câu thơ nghĩ đắn đo muốn viết v.v...

Tôi không rành về rượu, cũng không rành về thơ phú gì, chẳng qua trong lúc không có ai bên cạnh để tán gẫu cho khuây khỏa, chợt gặp hai tiếng “bạn hiền” sinh động lòng về cái tình bạn đậm đà của cổ nhân.

Cụ Yên Ðỗ khóc cụ Dương Khuê. Một ông già nhớ một ông bạn già. Nhớ làm cho miệng không uống được rượu, tay không viết ra thơ. A! Cái món bạn già! Cái đó mình thiếu thốn túng bấn lắm. Thuở bé học xong trường làng phải đi trường huyện: xa lũ nhóc trong xóm. Từ trường huyện ra tỉnh: mất bạn trường huyện. Từ tỉnh lẻ đi Huế, đi Sài Gòn múa may đôi ba chục năm: lại hao hớt thêm bao nhiêu bạn hữu. Rồi sang Mỹ ở tuốt...

Bạn bè chưa kịp già - thậm chí lắm kẻ chưa kịp lớn - đã tan tác gần hết.

Hôm ấy (chính cái hôm ấy thẩn thơ ấy) chợt thấy chỗ rắc rối của chuyện bạn.

Trong cuốn Từ Ðiển Tiếng Việt do 13 học giả cùng biên soạn, bản in năm 1967 do nhà Khoa Học Xã Hội xuất bản tại Hà Nội, thấy “bạn” có hai tiếng. Tiếng thứ nhất có hai nghĩa: Một nghĩa là “người quen biết và thân với mình”; một nghĩa nữa là “vợ chồng.” Tiếng thứ hai có một nghĩa thôi, là “người chèo thuyền.” Nhưng tiếng “bạn” thứ hai bị các soạn giả liệt vào loại tiếng địa phương. Tiếng địa phương chỉ xài ở một số vùng, xin không bàn đến. Riêng lấy làm nghĩ ngợi về tiếng “bạn” dùng chung cả nước.

Mặt khác, mỗi tiếng có loại tiếng đơn có loại tiếng ghép. Ðơn, chỉ độc một tiếng “bạn.” Ghép thì có khi hai tiếng; có khi ba, bốn tiếng ghép vào nhau. Ghép đôi như “bạn bè.” Ghép nhiều tiếng như “bạn nối khố,” bạn “đồng hội đồng thuyền.”...

Trong Từ Ðiển Tiếng Việt nói trên loại ghép đôi về tiếng bạn (theo nghĩa thứ nhất), có tất cả 12 từ, loại ghép ba chỉ thấy hai từ.

Mở xem thử một cuốn nữa: cuốn Tự Ðiển Việt Nam do Lê Văn Ðức và một nhóm văn hữu cùng soạn, được học giả Lê Ngọc Trụ hiệu đính, thấy có phong phú hơn. Ở đây “bạn” có ba tiếng khác nhau: tiếng thứ nhất chỉ người quen thân; tiếng thứ hai chỉ về người trong một ban, một đoàn; tiếng thứ ba chỉ người làm công.

Riêng chú ý vào tiếng “bạn” đầu tiên (nghĩa người quen và thân): Ở đây nhóm Lê Văn Ðức đưa ra 18 từ ghép đôi, còn ghép ba thì tung ra đến 48 từ. Chao ôi! ghép đôi ghép ba cả thảy ngót bảy chục từ. Về món bạn bè, dân tộc ta kết tập dan díu sum vầy đông đảo quá chừng.

Vậy mà rốt cuộc tôi buồn xo: tôi không gặp được cái tiếng muốn tìm. Dĩ nhiên tra vài cuốn từ điển không phải là một công việc “khảo cứu” đáng kể. Dù sao hai pho sách nọ là công trình của mấy chục học giả tên tuổi, học giả từ Nam chí Bắc. Mà cái tôi tìm nào có cao xa gì? Tôi chỉ tìm một tiếng rất phổ thông. Tìm xem chơi thôi. Mục đích tuyệt chẳng có gì đáng nói.

Bảy chục món bạn! Ta lắm bạn không ngờ.

Ấy thế mà ở hai bộ từ điển kể trên, vào hôm thơ thẩn nọ, kẻ tan tác bạn bè đã thẫn thờ tìm mãi, không gặp một loại bạn thật gần gũi: “bạn đời.”

“Bạn đời,” cả hai tiếng cùng là gốc Việt cả, thông dụng cả, hàng ngày kẻ già người trẻ, có học hay không có học, đều xài đều đều. Vì lẽ gì nó không được phép chen vào từ điển?

Ghép tiếng phải có lý do. Thinh không, vô cớ, chẳng ai tự dưng làm cho tiếng nói dài thêm, lòng thòng vô ích.

Trong từ “bạn bầy,” tiếng “bầy” thêm cái số lượng. Trong “bạn nhậu,” tiếng “nhậu” làm rõ lý do nối kết của bạn. Trong “bạn thiết,” tiếng “thiết” nhấn mạnh vào mức độ gắn bó. Trong “bạn đồng nghiệp,” đồng tuế,” “đồng viện,” tiếng “đồng” nêu lên mối liên hệ giữa các bạn v.v...

Có những trường hợp ghép tiếng không phải chỉ thêm nghĩa cho tiếng, làm rõ nghĩa thêm. Ðó là những trường hợp tiếng thêm vào lại biến đổi cái nghĩa của tiếng đơn. Biến đổi hẳn.

“Người” và “người ta,” hai từ đều chỉ một loài động vật: con “người,” tức con “người ta.” Thế nhưng tôi là “một người,” tôi không phải là “một người ta.”

Có khi “người ta” không phải là “mình.” (Ví dụ: Chuyện “người ta” đâu phải chuyện “mình” mà “mình” xía vào?). Lại có khi khác “người ta” chính thị là “mình.” Ví dụ” (Cậu bảo bó hồng này không đẹp hả? “Người ta” chọn mãi mới được đấy, cấm cậu phát biểu bậy bạ nhá.)

Lại có những trường hợp tiếng này chỉ chịu ghép với một tiếng kia, một tiếng nào đó thôi; gặp mọi tiếng khác nhất định nó từ chối. Tiếng “nối khố” cặp với tiếng “bạn” rất đắc, mà lại khước từ mọi tiếng khác. Anh em cùng lứa sống bên nhau từ bé tới già không gọi “anh em nối khố.” Không có anh em nối khố, bà con nối khố. Thậm chí khó có thể khoe: “Ðây là người nối khố, kẻ nối khố với tôi.” “Người” với “kẻ” bao trùm chung chung mọi liên hệ, trong đó có thể có luôn bạn bè, thế mà “người” với “kẻ” vẫn không nối khố được với ai. Tiếng “bạn” là lẽ sinh tồn của tiếng nối khố. Trên đời, muốn nối khố chỉ có thể nối được với bạn mà thôi.

Trót dông dài là vì không nghĩ ra lý do tại sao “bạn đời” lại lọt ra ngoài từ điển.

Tiếng ấy tầm thường vô vị quá đáng chăng? “Bạn” với “đời,” cả hai đều là tiếng Việt, không có gốc Tây gốc Tàu cao sang: nôm na, xoàng xĩnh quá!

Còn chú ý vào cái nghĩa: Hai tiếng ấy ghép lại để xác định mức lâu dài thì nghĩa ấy sao bằng cái nghĩa của tiếng “bạn trăm năm.” Nghĩa rõ đến thế, đời dài đến thế: Nhất thôi.

Bảo ghép chữ để nhấn mạnh vào tính khắng khít thì liệu “bạn đời” có hơn nổi “bạn sinh tử”? Chú ý vào cái khắng khít tâm tình thì có “bạn tri kỷ,” bạn tâm đầu”; vào cái khắng khít thể xác đã có “bạn chăn gối” v.v...

Tiếng “đời” không có khả năng minh xác rõ ràng, mạnh mẽ. Trái lại, nó cơ hồ có vẻ mông lung, hững hờ, mơ hồ! Ðôi khi nó có thể đưa vào rắc rối tai hại! Chẳng hạn: Bảo “trong đời tôi” thì có nghĩa là suốt chiều dài thời gian của đời tôi. (Thí dụ: Trong đời tôi chưa xảy ra một chuyện kỳ cục như thế bao giờ). Còn bảo”trên đời” lại có nghĩa là trên chiều rộng không gian, trên khắp thế gian. (Thí dụ: Trên đời mấy khi có cây rễ mọc lên trời ngọn đâm xuống đất).Mặt khác, nếu bảo “bạn đời” là bạn sống đời lâu dài với nhau thì e không ổn: Vợ chồng kẻ thọ người yểu, kẻ nam người nữ, kẻ trong cánh cửa người ngoài quan san, kẻ sách đèn người canh cửi v.v... Ðâu có gắn bó với nhau trăm năm, đâu phải lúc nào cũng cận kề trong gang tấc được, đâu có đồng nghề đồng nghiệp, đồng thân phận...? Tiếng “đời” (trong bạn đời) quả thực mông lung, không kết hợp họ chặt chẽ nồng nàn bằng bao nhiêu tiếng ghép khác.

Có phải vì vậy nó rơi ra ngoài từ điển”? - Vì sao, mặc. Số phận nó, nó chịu vậy. Riêng tôi, tôi mết nó. Tôi nghe nó tưởng vu vơ, mơ hồ, mà lại man mác, mà đằm thắm, mà thấm thía. Cứ thế nó tồn tại, mong nó tồn tại dài lâu hơn tờ sách.

Ðến đây, mải miết nói về tiếng “bạn.” Về một tiếng gọi, về cái danh của nó, chưa có một lời về cái thực của nó: Thực ra “bạn đời” có phải là một thứ bạn? Chỉ là một thứ bạn?

Bạn, đó là người dưng nước lã: Không có quan hệ thân tộc, không cùng dòng máu. Nói về cái gần, gần nhất với bất cứ người nào cũng là cha với mẹ: song thân, đâu có ai thân hơn. Cùng chăn gối sao bằng cùng máu huyết? Ấy vậy mà đây đó thiên hạ lại xơn xơn tuyên dương kẻ phối ngẫu: Pháp gọi vợ là cái nửa bổ đôi của chính mình (ma moitié). Anh lại vượt lên; người Ăng-lê bảo: đấy là cái nửa tốt nhất của tôi đấy (my better half)! Cha với mẹ nào đã tự bổ mình, chẻ mình ra làm con! Anh, Pháp ra rít vợ chồng đến thế, vẫn thua Việt Nam. Kẻ phối ngẫu, người Việt kêu nhau là “mình.” Chính mình. Kẻ này chính là người kia, nguyên con, không chẻ không tách gì ra cả. Vợ chồng, tuy hai mà một. Cặp kè với mình, chính thị là mình đấy.

Ðến đây, chợt giật mình thấy đã trượt ra ngoài từ điển! Trượt như thế phải thôi: Mình chỉ lật sách xem chơi không phải xem thiệt. Xem chơi đưa tới nghĩ chơi: Xin đừng ai cho là nghĩ thiệt.
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Làng Cổ Nhuế hay làng Ngoc Cuc
Lúc tôi còn nhỏ mẹ tôi thường đe tôi :

‘’Nếu không học hành tử tế thì sau này chỉ có đi hót cứt thôi con ạ ‘’.

Hình ảnh người gánh phân suốt ngày lang thang trong cái thị trấn nghèo quê tôi làm tôi rùng mình. Cái tương lai có mùi khó ngửi này chẳng quyến rũ được ai. Nhưng mẹ tôi lầm. Thời tôi lớn đây là cái nghề hái ra tiền. Ít nhất cũng hơn hẳn cái sự kiếm ăn với cái bằng tiến sĩ của tôi. Anh biết đấy, viện Khoa Học của tôi nằm cạnh làng Cổ Nhuế, tôi có đủ sở cú để khẳng định với anh điều đó. Làng này sống bằng nghề hót cứt, có đền thờ Thành Hoàng hẳn hòi. Thành Hoàng làng Cổ Nhuế là một vị hót cứt chính hiệu. Trong đền người ta thờ đôi quang và chiếc đòn gánh cùng hai mảnh xương trâu cầm tay ... Người làng Cổ Nhuế đã đời này qua đời khác, ngày lại ngày, làm sạch cho thủ đô Hà Nội.

Vua Lê Thánh Tông từng ban cho làng này câu đối :

‘’Khoác tấm áo bào giang tay gánh vác Thiên hạ
Vung hai thước kiếm, tận thu lòng dạ Thế gian’’.


Anh đừng so sánh làng Cổ Nhuế với làng Phương Lưu ; cạnh trường đại học Hàng Hải của anh ở Hải Phòng. So sánh như thế là hạ nhục làng Cổ Nhuế của tôi đấy. Ngoài cái vinh quang của nghề hót cứt (lao động là vinh quang), làng Cổ Nhuế còn là quê hương của một đại tướng : Ðại tướng Văn Tiến Dũng, cùng một tổ tiên vinh quang như các vị đồng hương gồng gánh của ông. Hơn nữa làng Phương Lưu của anh tuy hót cứt nhưng chủ yếu sống bằng nghề đạo chích, chứ đâu có được ‘’tôn chỉ mục đích’’ như dân Cổ Nhuế.

Thanh niên Cổ Nhuế ta thề
Chưa đầy hai sọt chưa về quê hương

Nhưng không phải dân làng Cổ Nhuế lúc nào cũng được hưởng cái vinh quang của lao động đâu anh ạ. Kể từ những năm hợp tác hóa ồ ạt vào cuối thập niên 50, nghề hót cứt đã phải chịu nhiều cay đắng. Người ta ngăn cấm những người nông dân đi hót cứt, coi như họ là những người trốn lao động, bỏ việc đồng áng để đi ‘’buôn’’ cứt. Người làng Cổ Nhuế phải tôn trọng pháp luật của đảng đành ngồi nhà mà tiếc rẻ những bãi...... đơn côi không người chăm sóc.

Chỉ mãi tới cuối năm 1986, sau đại hội đổi mới của đảng, đất đai được chia ra để cho các gia đình nông dân tự canh tác. Nghề trồng rau ở ngoại thành Hà Nội sống lại, người Cổ Nhuế mới lại được phép đi.... hót cứt và buôn... cứt.

Rau cỏ của xứ ta thơm ngon là nhờ phân Bắc. Các cụ lão nông chi điên dạy thế ! Phân hóa học cho dù là sản phẩm của trí tuệ văn minh, chỉ cho những thứ rau xanh tươi nhưng nhạt thếch.

Ðổi mới và cởi trói do mẫu công khai (Glasnost) có cái mặt trái của nó. Trước đây ai muốn đi hót cứt thì hót. Nhưng từ ngày người người đi hót, nhà nhà đi hót thì theo qui luật. ‘’Người khôn, của hiếm’’, dân Cổ Nhuế đã chiến đấu ngoan cường để dành lấy địa vị đầu ngành.... cứt Việt Nam.

Không biết đại tướng đồng hương , ngày ấy có can thiệp vào chuyện này hay không, nhưng theo qui dịnh của UBND thành phố HàNội dân ngoại thành không được phép tự do đi hót cứt và lấy cứt nữa. Trước đây ngoài những bãi cứt vô tổ chức, vô kỷ luật mà bất cứ ai cũng có thể hót. Người đi lấy cứt có thể đến làm vệ sinh cho các nhà xí hai ngăn ở các thành phố để để thu về cho mình một số cứt kiếm được. Bây giờ người nông dân ngoại thành bị bắt buộc phải mua phân tại chợ Cổ Nhuế, một chợ tự cổ chí kim, từ Ðông sang Tây đều không có, được thành lập năm 1989. Giá cả tùy thuộc chất lượng (nói sau).

Dân ngoại thành bây giờ trở thành người đi lấy phân thuê cho Cổ Nhuế. Họ được phân chia địa bàn hoạt động, theo lịch sắp xếp mang sản phẩm đến chợ nhưng không phải để họ tự bán. Họ chỉ được nhận phần trăm tiền bán mà giá do ban quản lý chợ Cổ Nhuế quyết dịnh. Chống lại ư ?? Mất việc ngay.

Ðội hậu bị, hàng ngàn người xung phong thay chân kiếm cứt (xã hội hiện tại cứt hơi ít lắm, nay phải kiếm, tức là phải đi làm vệ sinh để lấy cứt ở các hố xí, như đã nói trên) Ði kiếm cứt hơn hẳn làm thương nghiệp, đừng nói gì đến nông nghiệp. Mỗi lần tôi hỏi một anh Cổ Nhuế :
- Giá cả như thế chắc các anh chóng giàu lắm.
Anh đáp :
- Anh Giai ơi, trông thế thôi, chứ kiếm được hai sọt thì cũng ăn mẹ nó hết một sọt rồi còn gi !?!
Trong chợ phân, xuất hiện phân giả. Người ta dùng đất xét thuồn qua ống nứa, giã nhỏ thân chối trộn lẫn với nghệ bôi bên ngoài và cho tất cả lẫn vào phân thật. Ðó là bí quyết. Phân giả gây náo loạn cho chợ phân khiên thanh niên Cổ Nhuế phải cử ra một bộ phận ‘’kiểm tra chất lượng’’ trước khi giao hàng. Anh còn nhớ dốc Bưởi chạy về viện Khoa Học không ? Trạm kiểm tra được lập ra tại đó, hoạt động từ mờ sáng đến trưa. Mùi uế khí từ tay các kiểm tra viên thọc thẳng vào sọt phân tìm của giả. Nhờ lành nghề và cương quyết, sau đó vài tuần, những đứa làm phân giả bị cắt giấy phép.


Tại chợ cứt được chia làm bốn loại:
- Hạng nhất (first class) là phân lấy từ khu Ba Ðình... nơi có nhiều gia đình quan chức nên cứt được coi là ‘’nạc’’(tiếng nhà nghề chỉ cục phân rắn chất lượng cao) (!).
- Hạng 2, Từ khu Hoàn Kiếm, nơi có nhiều dân buôn bán, nhiều nhà hàng khách sạn.
- Hạng 3. Từ khu Hai Bà Trưng và Ðống Ða, nơi đa số dân cư là ngưòi lao động, xài nhiều rau nên ‘’mờ’’ (nhiều nước lỏng bõng)
- Hạng 4. Từ ngoại thành, loại này xanh lẹt vì ‘’nguồn nguyên liệu thuần túy là rau muống. Bà con nông dân làm gì có thịt mà ăn.
Có lần tại chợ xuất hiện một sọt phân đề chữ : ‘’Phân ngoại 100 phần trăm’’. Dân chúng không hiểu tại sao có bọn dám qua mặt Hải quan, dám nhập cảng ‘’phân ngoại’’ về xài.
Về sau chủ nhân sọt phân giải thích : Phân lấy từ bể ‘’phốt’’ (fosse septique) của các sứ quán nước ngoài thì không phải là phân ngoại còn là gì ?

Ðây là những điều tai nghe mắt thấy, tôi ghi lại gửi anh để có dịp kể lại cho bà con xa nước nghe chơi... Cho biết quê hương ta có những thứ.... mà người ta hoàn toàn không có. Tôi bảo đảm đây là sự thật ‘’chăm phần chăm’’. Chuyện có thật dưới XHCN.

Hàn Sĩ
Tiến sĩ Vật Lý, Hà Nội (troinam.net)
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Tính ưa khoe khoang và khoác lác của người Việt
Từ đứa nhỏ khoe cái áo mới đến người lớn khoe có cái nhà đẹp, cái xe đắt tiền bản chất không khác nhau (thích được khen). Người Việt chúng ta có rất nhiều thứ để khoe (quần áo, xe cộ, nhà cửa, tiền của, gia thế, địa vị, con cái...).

Về khoe quần áo, một bữa tiệc cưới gây ấn tượng mạnh cho tôi mãi đến bây giờ. Bàn tôi có 10 người gồm 5 bà, 2 đứa bé một Việt, một Mỹ với mẹ em và tôi. Ăn chưa hết món thứ nhất thì bà mặc áo dài xanh đứng lên bỏ đi, lúc sau bà ta mặc váy đỏ, sơ - mi đỏ rực rỡ, cổ đeo giây chuyền vàng to bản vàng khè nhí nhảnh đi vào. Bốn bà kia thấy thế lần lượt từng bà đứng lên, bàn ăn lại có 4 bộ quần áo mới xanh xanh, đỏ đỏ. Nhưng chưa hết, ăn xong chừng 3 món hai bà ngồi giữa đứng lên, ba bà nữa đứng lên, làm bàn ăn bỏ trống một nửa. Lúc sau bàn chúng tôi có 5 bộ quần áo mới nữa vàng vàng, xanh xanh, đỏ đỏ; vàng đeo đầy cổ, đeo cả ở 2 tay, 2 chân.

Em bé Mỹ ngồi bên tôi trố mắt ra nhìn, bé hỏi tôi :
- Sao các bà thay đồ hoài vậy?
May lúc ấy ông thợ ảnh đến, tôi nói tránh đi :
- Các bà ấy thay đồ để chụp ảnh. Người Việt Nam thích chụp ảnh !
Tôi còn được nghe nói có những bữa tiệc chẳng những các bà mà cả các ông cũng đi thay bộ mã tới 2, 3 lần.
Có lẽ trên thế giới không có người nước nào có lối sống kỳ lạ như vậy. Tại chúng ta mang nhiều mặc cảm đói rách chăng? Có thể thế, cộng thêm tính khoe khoang sẵn có.
Người có tiền thì may, người không có tiền đi thuê ở mấy tiệm đồ cưới, nhưng cũng có những người dám tới mấy tiệm bán quần áo, nữ trang sang trọng của người Mỹ mua về mặc đi ăn đám cưới sau đó đem trả lại lấy tiền về. Lối mua bán kém lương thiện như thế ở đâu cũng thấy nói tới.
Chúng ta có nhiều cái khoe, trong các cuộc gặp gỡ, họp mặt, người ta hay tự giới thiệu tôi là Kỹ sư A và đây, vợ tôi Tiến sĩ M. Ngoài giới thiệu bản thân người ta còn tìm cách để có dịp nào đó trong câu chuyện khoe về gia thế, dòng dõi qúi phái của mình, khoe cái xe Cadillac, Mercedes mới mua hay khoe cái nhà ở trên đồi, trên núi.
Khoe trong chỗ bạn bè quen biết chưa đủ, đôi khi người ta còn viết báo, làm thơ khoe vợ (hay chồng) trước đây nắm chức vụ gì ở Việt Nam, con cái mấy người có bằng bác sĩ, kỹ sư... để bà con xa gần đều biết.
Trong một cuộc hội nghị văn chương có tính cách quốc tế nọ, vị đại biểu Việt Nam thay vì trình bày những vấn đề liên hệ lại tự "giới thiệu" trước đây mình làm gì, sau năm 1975 sang Mỹ học đậu Bachelor rồi đậu tới cả Master. Ông ta quên rằng trong giới văn, thi sĩ người ta không để ý đến bằng cấp mà chú trọng vào tài năng thực sự. Thi hào Nguyễn Du chỉ có bằng Tú Tài, văn hào Anatole France nước Pháp rớt Tú Tài, thi sĩ Tản Đà Việt Nam hình như không có cái bằng nào cả.

Tính khoe khoang của chúng ta thật quá đáng .

Việc khoe khoang cái mình có đã xấu, đã kỳ nhiều người đi xa hơn khoe khoang những cái mình không có để người khác khen hoặc phục nể. Đó là nói khoác, nói không đúng sự thật.

Thời nào và ở đâu chẳng có người nói khoác nhưng ngày xưa người ta nói khoác (nói phét) không hẳn để khoe hão về mình mà nói làm cho người khác ngạc nhiên, nói cho vui nên nói khoác mà có khi vẫn để cho người ta biết mình nói khoác. Mời độc giả đọc bài thơ do Cụ Ôn Như Nguyễn văn Ngọc sưu tập đăng trong Nam Thi Hợp Tuyển (Nhà xuất bản Bốn Phương tái bản, trang 85) để hiểu người xưa nói khoác :
Anh Nói Khoác:
Ta con ông Cống, cháu ông Nghè,
Nói có trên trời dưới đất nghe.
Sức khoẻ Hạng Vương cho một búng,
Cờ cao Đế Thích chấp đôi xe .
Nhảy ùm xuống biển lôi tàu lại,
Chạy tốc lên non bắt cọp về .
Độ nọ vào chơi trong nội phủ,
Ba ngàn công chúa phải lòng mê.
Vô Danh

Đọc bài thơ trên chúng ta thấy tức cười, biết là nói khoác nhưng đọc cho vui, đọc để giải trí. Tuy nhiên chẳng ai ưa người chuyên môn nói khoác.
Câu chuyện xưa kể đại khái một ông nói khoác khoe mới trông thấy trái bí to bằng cái nong phơi lúa (đường kính độ 2 mét hay 6 feet). Ông ngồi bên thấy thế nói :
- Bác nói trái bí to bằng cái nong đâu có lớn lắm, hôm trước tôi thấy một cái chảo to bằng cái đình làng mới khiếp chứ !
Ông nói khoác hỏi :
- Bác nói phét rồi, người ta đúc cái chảo quá to như thế để làm gì chứ ?
- Ấy, để nấu trái bí của bác !

Ngày nay bản chất của nói khoác thay đổi, danh xưng cũng thay đổi, số người nói khoác tăng lên gấp bội có lẽ do cuộc chiến tàn khốc và kéo dài vừa qua làm xã hội xáo trộn, luân lý đạo đức suy đồi, lòng người đảo điên theo. Người ta nói khoác không phải để vui chơi, đùa giởn như xưa mà nói khoác để lòe người khác, để đề cao mình và nói khoác quá nên kêu là "nổ". Nổ như đại bác, nổ như kho đạn nổ.
Những năm trước Việt kiều về thăm quê ăn mặc se sua, tay cầm chai nước, vàng đeo đầy người hỏi ra nếu không là bác sĩ thì cũng kỹ sư, luật sư, chức vụ dở lắm cũng giám đốc (manager), tổng giám đốc. Đàn ông nếu trước kia đi lính thì nói khoác là sĩ quan, quan cấp úy thì nói là quan cấp tá. Các bà - bà nào cũng bà úy, bà tá hoặc giám đốc nhà xuất cảng nọ, nhà nhập cảng kia.
Nơi nào càng nhiều người Việt thì bệnh nổ càng nhiều, nhiều nhất ở Mỹ. Ở Mỹ nhiều nhất ở California thứ đến Houston, Dallas...
Nhiều người thích khoe khoang, khoác lác đến nỗi năm nào cũng về nước một lần để làm Việt kiều, để có dịp nói khoác, dù thân nhân sống hết ở Mỹ.

Căn bệnh này không phải chỉ người Việt ở nước ngoài mắc phải, trong nước từ Nam chí Bắc đều mắc cả. Đối với chính quyền thì sự khoác lác được nâng lên thành chính sách, đó là tuyên truyền dối trá để lừa gạt nhân dân.

Ít lâu nay cánh Việt kiều về nước bớt nổ vì đồng bào trong nước qua thân nhân, bạn bè (ở nước ngoài) dần dần biết rõ đời sống Việt kiều lam lũ vất vả, tằn tiện dè sẻn từng xu (cent), thức dậy từ 2 giờ sáng xếp hàng tranh mua đồ bán seo (sale) hay lượn vòng cuối tuần mua hàng garare sale ! Tất nhiên không phải ai cũng đi mua như thế, vả lại mua như thế không phải là xấu. Xấu ở chỗ hay khoác lác để biểu lộ sự giàu có, sang trọng hơn người nhưng thực chất không khá giả gì.
Chúng ta sống không thiết thực, chúng ta sống nông nổi.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Trời có cao, đất có dày?



Năm hết Tết đến, được nghe ngài Bí thư Thành ủy thành phố Hà Nội Phạm Quang Nghị huấn thị: “Đừng biếu quà Tết ai, đừng để ai biếu mình”. Ôi chao, liêm khiết quá, liêm khiết quá! Không rõ ngài Nghị leo lên được cái chức vụ béo bở, đè đầu cưỡi cổ cả mấy triệu con người Thủ đô, lại còn có chân trong Bộ Chính trị và Trung ương Đảng thì phải tốn hết bao nhiêu nhỉ?

Ngài không nhận quà của ai thì ngài lên làm Bí thư chả hoá ra chỉ để ngồi chơi xơi nước à? Anh Nguyễn Quốc Triệu năm xưa đang ung dung ở cái chức Chủ tịch Ủy ban thành phố Hà Nội màu mỡ là thế, bỗng nhiên bị hất cẳng, phải chạy chọt sang làm Bộ trưởng Bộ Y tế cũng còn mất 1.3 tỷ nữa là. Mà đó là theo lời anh Triệu tự bạch đấy nhé. Ngài Nghị chắc cũng không nằm ngoài quy luật ấy, sao còn giở giọng đạo đức giả vậy?

Cái khẩu hiệu “không biếu quà Tết” tôi nghe quen lắm rồi. Năm nào tổng kết cuối năm, chúc Tết đầu năm, lãnh đạo cơ quan tôi đều kết thúc bài diễn văn bằng việc dặn dò anh em “không được đi biếu quà Tết, lãnh đạo không nhận đâu”. Ấy thế mà nhà riêng của mấy thủ trưởng dù có xa xôi hẻo lánh đến đâu cũng vẫn tấp nập nhân viên đến như trẩy hội mỗi dịp Xuân về. Người sau chờ người trước ra để vào, anh nào anh nấy ôm một túi to, miệng thì tươi như hoa, ríu rít chúc sức khoẻ thủ trưởng, hy vọng sang năm mới được thủ trưởng đoái thương chia sẻ cho chút dự án. “Ước gì, anh lại trúng được thầu” là câu hát đầu năm mà hẳn công chức nào cũng thuộc.

Ngài Nghị còn dõng dạc: “Những ngôi nhà bị cắt ngọn do xây dựng trái phép sẽ là biểu tượng về kỷ luật của Thủ đô”. Thủ đô ta hết biểu tượng đẹp rồi hay sao mà lại đi lấy mấy cái nhà xây dựng trái phép, mái nhà bị cắt, bê tông cốt thép bị chặt ngang, cọc nhọn còn tua tuả đâm lên trời ấy làm biểu tượng? Sao không thực thi kỷ cương ngay từ khi nhà còn chưa xây, mà lại cứ thi nhau ăn tiền của dân, để cho xây dựng tràn lan rồi mới đem máy ủi đến phá nhà người ta? Của đau con xót, chẳng lẽ ông Nghị không hiểu điều đó sao? Nếu theo cái lý của ông Nghị thì hẳn nước Mỹ này chẳng có biểu tượng nào về kỷ luật, vì tôi chưa thấy có ngôi nhà nào bị cắt ngọn ở đây cả.

Một người bạn của tôi làm trong công ty xây dựng, từng bị phân công vào đội “đền bù, giải phóng mặt bằng”, nói nôm na là đi lấy đất của dân để xây nhà cao tầng bán. Cậu ấy kể: “Quá đáng lắm, ai lại đền bù cho người ta số tiền chỉ bằng mấy bát phở cho một mét vuông đất ở ngay giữa Tây hồ. Họ đồng ý hay không cũng mặc. Tớ chỉ là lính tráng, làm theo lệnh trên mà cũng còn thấy vô lý, tội nghiệp cho người ta”.

Tôi đã xem những video ghi cảnh mấy cụ già nằm lăn ra thửa ruộng đầy bùn lầy, khóc lóc thảm thiết: “Ới trời cao, đất dày ơi…” khi mồ mả tổ tiên bị đào bới để lấy đất “phục vụ cho công trình quốc gia”. Trái tim tôi dường như bị ai đó bóp nghẹt và đêm ấy tôi không tài nào ngủ được, tự hỏi cái cảnh đó sao lại mâu thuẫn với khẩu hiệu “Dân cày có ruộng” đã lôi cuốn bao nhiêu triệu người Việt Nam tham gia Cách mạng với Việt Minh từ thế kỷ trước đến thế.

Không! Trời còn ở rất xa và đất thì không dày như dân ta từng nghĩ. Chỉ có lòng dũng cảm, sức mạnh đoàn kết của người Việt Nam mới có thể phá được thứ gông cùm mà Đảng đang tròng vào cổ chúng ta. Tôi tin rằng, dù Việt Minh bắt đầu vị trí quyền lực của mình bằng cuộc cách mạng đất đai nhưng đến một ngày nào đó, chính vấn đề đất đai sẽ tạo nên cơn sóng gió làm lung lay quyền lực ấy. Chỉ khi nào người dân làm chủ vận mệnh của mình bằng một cuộc cách mạng khác thì khi đó, trời và đất mới thực sự thuộc về con cháu Tiên Rồng.

http://security.dantri.com.vn/c728/s728 ... u-minh.htm
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image

Trận bút chiến giữa Cơm và Phở


I/. Thư của bồ nhí gửi cho bà vợ già

Dù chúng ta có vô cùng xung khắc, chúng ta vẫn phải nhất trí một điểm :
Chồng bà là đàn ông. Mà đàn ông thì sao ? Đàn ông thì ham thích nhiều thứ. Họ thích đến mãnh liệt. Và bà đừng giấu em, bà hãy công nhận rằng, phụ nữ chúng ta yêu đàn ông vì họ ham thích và biết cách thực hiện nó. (Chúng ta cũng ham thích nhưng thực hiện chủ yếu bằng cách mua nó.) Ông thì thích máy móc, ông thì thích kiến trúc, ông thích vật lý và hóa học, ông dại hơn một chút thì thích thơ văn. Toàn những ham thích có lợi cho xã hội.
Nhưng đàn ông không chỉ ham thích một thứ. Nếu gà chỉ thích giun, bò chỉ thích cỏ tươi hay thỏ chỉ thích củ cải thì đàn ông lại thích đa dạng. Chuyện ấy trong bóng đá, trong ẩm thực, trong bia bọt không sao, nhưng trong vấn đề phụ nữ, tính đa dạng của nó làm cuộc sống thêm rắc rối.
Bà thân mến,
Em tin rằng, bà có rất nhiều ưu điểm. Sở dĩ em quen với ông ta là do ông ấy thông minh (chứ không phải chỉ có tiền như thiên hạ vẫn đồn). Và một người thông minh không bao giờ chọn vợ quá kém. Thậm chí, bà không quá kém, bà còn nổi bật ở nhiều phương diện.
Theo ông tiết lộ một cách đầy thành kính, bà nấu ăn ngon, bà rửa bát sạch, bà lau nhà bóng và đi chợ rẻ. Bà còn đối xử tốt với chó mèo… Em xin thú thật, các phương diện đó, em đều thua bà. Khi em nấu món canh, ai cũng nghĩ là món xào. Khi em rửa bát, tốt nhất lúc dùng nên rửa lại. Khi em lau nhà hay quét nhà, em để cái đống rác chổ nọ chổ kia. Chợ duy nhất em đi là chợ mỹ phẩm. Còn chó mèo, em chỉ nuôi chúng trong tranh.
Nhưng ông vẫn thích em. Tiện đây xin tiết lộ: thời gian thích không hề ngắn, cường độ thích không hề yếu và chi phí thích không hề thấp.
Bà kinh ngạc. Bà không tin ư? Bà nhớ rõ ông vẫn về nhà, vẫn ăn cơm tối, vẫn lịch sự với bà, v.v… Bà cảm giác chẳng có khe hở nào để em lọt vô cái pháo đài do bà xây dựng, canh gác và tuần tra.
Em xin phép không đi vào chi tiết. Em chỉ nói một cách văn học rằng, không có gì ngăn cản được con tim. Nhất là con tim già lao vào một con tim trẻ. Như đã nói em thua bà về một tỷ thứ. Đúng một tỷ thứ, chả bớt phần nào. Nhưng em lại hơn bà hai tỷ.
Bà sẽ gầm lên, Bà sẽ quát lên: Hơn ở chổ nào?
Thưa bà, những thứ em hơn lại vô cùng vớ vẫn. Em thành thật tin thế. Nhưng đàn ông, tiếc thay, lại không tin.
Em biết chớp mắt. Em biết ngồi gần ông mà lại vẹo người. Em biết đánh vào lưng ông, hay đánh ở chổ thấp hơn, vừa đánh vừa cong môi nhìn đi chổ khác. Em biết hét lên khi thấy con sâu và ù té chạy khi gặp con thằn lằn.
Cái gì em cũng ngạc nhiên và nhờ ông giải thích. Em tin ông là vô địch về tri thức, về thể thao, và luôn thể hiện lòng tin ấy ra mồm. Mỗi lời nói của ông, với em, đều là chân lý. Em khâm phục khi ông uống bia. Em kiêu hảnh khi ông châm thuốc lá. Em ngồi nép mình khi ông tụ tập. Em lo lắng nhưng chẳng bao giờ tra hỏi lúc ông đi khuya. Và, quan trọng nhất, thưa bà, da em trắng, eo em nhỏ, môi em đỏ và chân em chả khác chân dài. Em mặc váy hồng, em thắt nơ xanh và em dùng dầu thơm của Pháp. Nước Pháp, chắc bà cũng biết, vô địch về các loại dầu thơm.
Khi ở bên ông, em không ngốc và không tham lam như các phim truyền hình quay vội vàng mà bà vẫn xem đâu ạ. Chúng em không hề bàn về tiền bạc. Hai người đều mơ tới ánh trăng, tới những khát vọng chưa thực hiện và đều thích nhìn sao trên trời. Hai người có thể xung đột về một bài thơ, giận dỗi về một bức tranh và bỏ ra về vì một bông hoa bày không đúng cách (trong khi ông và bà giận dỗi vì một mâm cơm, cãi nhau vì hóa đơn tiền điện và ra khỏi nhà vì chậu quần áo chưa phơi).
Đấy, em tới ông, ông tới em là như thế đấy. Nó thanh cao thì em không dám nói, nhưng nó cũng chẳng phàm tục như sách vụ án viết đâu. Em xin bà hãy mừng vì điều đó.
Tuy ông phạm tội nhưng tội ấy còn sang. Bà hảy tự an ủi như thế. Tại sao em viết thư này? Tại vì em xin trả lại ông cho bà. Chúng em nhất trí cái gì đẹp là phải ngắn và chúng em đã ngắn đủ dài. Toàn bộ sự tinh tế của tình yêu nằm ở chổ này, và bà không biết được.
Xin bà hảy dang tay đón ông về. Em lấy danh dự thề rằng, ông không sứt mẻ quá nhiều, đơn giản vì ông có nhiều đâu mà sứt mẻ. Bà hảy coi ông như vừa sau chuyến du lịch mạo hiểm trở lại nhà. Cần che chở và sẳn sàng che chở.
Em đi đây. Cuộc sống là khám phá và em thích khám phá nhiều nơi. Bà đừng trách em. Bà cũng đừng tự trách mình. Khi em bằng tuổi bà, em cũng chả hơn gì bà đâu.
Chúc bà vui khỏe

II/ Thư phúc đáp của bà vợ gửi cho bồ nhí

Thưa cô,
Tôi đã đọc thư của cô một cách bình tỉnh. Đúng như cô đã nói, ở tuổi tôi và ở địa vị của tôi, sự bình tỉnh luôn luôn có thừa.
Này cô,
Việc chồng có bồ nhí khiến tôi ngạc nhiên. Đó là cảm giác đầu tiên, và thành thật với cô, nó hơn cả cảm giác căm phẩn.
Vì sao vây?
Thưa cô, vì tôi tin chắc rằng lão (hãy gọi sự vật với đúng tên và đúng tuổi của chúng, cô nhỉ) đã đuối sức rồi, nói một cách chắc chắn, một cách không có gì phải bàn cãi cả.
Khi viết thư cho tôi, cô có vẻ tự đắc pha chút hả hê. Cô có cảm giác thấy mình giật được từ tay bà khác một mỏ vàng, và mình có những phẩm chất khác thường nên mới gặp may như thế.
Cô nhầm thảm hại quá cô ơi!
Quả thật lão là một cái mỏ. Hay nói chính xác hơn, đã từng là cái mỏ. Điều ấy cách đây ba mươi năm về trước, cả thành phố đều phải công nhận chứ đâu cần phải một cô gái có trí tuệ siêu việt gì.
Nhưng trên trong và dưới cái mỏ ấy, tôi đã đào, đã cuốc, đã đẻo, đã nổ mìn khai thác rầm rộ, quy mô mấy chục năm. Và giờ đây, mỏ chỉ còn khung, còn lại sự hoang tàn. Chỉ có đôi mắt ngốc của cô, chỉ có đôi môi dại của cô và chỉ có một tí não khờ khạo của cô mới không nhận ra điều đó.
Cô vớ được lão, khi tôi trong một chừng mực nào đó, đã mặc cho lão tự do. Cho lão có cảm giác xổng chuồng. Đàn ông sống bằng ảo tưởng cô ạ, và nuôi dưỡng cái ảo tưởng đó một cách khéo léo là nhiệm vụ của phụ nữ chúng ta.
Tôi không vui khi lão có bồ. Nhưng chớ nói rằng tôi hoảng sợ vì điều đó. Tôi quá hiểu đứa khác sẽ được bao nhiêu trong khi mình đã vớ được bao nhiêu. Phần của cô, hởi ôi, thật là thảm hại.
Cô khéo là ngây thơ và nhí nhảnh. Cô té xỉu khi gặp thằn lằn và ngã lăn khi gặp tắc kè. Dạ thưa cô, khi bằng tuổi cô, tôi cũng ngây thơ như thế. Nhưng lúc này, gặp hai của đấy, tôi chỉ đập một cái cho bẹp đi là xong.
Rồi cô khoe là cô biết chớp mắt, biết ngã đầu và biết cười he hé nghiêng nghiêng. Ôi dào, những trò đó ngày xưa tôi làm mãi. Và bây giờ vẫn có thể làm, thậm chí còn hay hơn cô ấy chứ. Nhưng vì mục đích gì, gặt hái gì khi mọi thứ đã no nê? Cô nhìn lão trong quán cà phê hạng sang. Trong com-lê và cà vạt đắt tiền. Còn tôi có khá nhiều dịp (nhiều hơn cả cần thiết) nhìn lão trong quần đùi rộng, trong áo may ô chả hiểu màu gì.
Và tôi cam đoan rằng, cái tôi nhìn mới là sự thật. Cái cô nhìn là giả. Cô thừa biết thế, chẳng qua cô đang tự dối mình. Cô chê tôi chỉ biết rửa bát, nấu cơm. Cô thương tôi vì tôi chỉ chăm chăm lo cái nhà sạch bóng. Nhưng tôi lại thích vậy. Vì đấy là nhà tôi và lão chỉ có nữa phần. Còn lão có bóng hay không, có sạch hay không, lão tự phải lo. Tôi còn bận lo cho bản thân mình.
Tôi không chúi mũi vô bếp như cô tưởng và lão tưởng chút nào. Tôi say mê đánh bài. Tôi nghiện làm đầu và giũa móng tay. Tôi ham thích “tám” và hăng hái đi chùa. Tôi khoác áo lụa mỡ gà, khoác vòng cẩm thạch và tôi sắm đủ cho mình (bằng tiền lão, dĩ nhiên).
Còn việc cô ngắm trăng cùng chàng, đọc thơ cùng chàng hay đốt nến cùng chàng thì xin cô hãy cứ tự nhiên. Những thứ vớ vẫn và phù du đó ngày xưa tôi cũng nghĩ là ghê gớm lắm. Nhưng tôi nhanh chóng phát hiện ra chúng suốt đời loanh quanh như thế, và chả có ích lợi gì. Chúng chỉ như những hạt tiêu rắc vô bát phở, không hề bổ béo, chỉ khiến nó dậy mùi. Mà mùi thì tôi đã chán. Chán không phải do tâm hồn tôi cằn cỗi, mà là do đã quá đủ rồi !
Cuối thư cô cho biết đã chuồn ra khỏi lão, hoặc lão đã chuồn ra khỏi cô. Tôi chả hiểu ai thoát được ai. Nhưng chắc chắn là tôi suýt thoát. Tiếc quá. Giá mà lão đi với cô, giá như lão ảo tưởng về sức mình thì tôi đã có cơ hội tuyệt vời để lại được tung tăng.
Tôi tin chắc mình tung tăng chả khi nào muộn, khi mình kiêu hãnh, mình không nghèo khó và mình có sự mặn mà. Những thứ đó, cô còn lâu mới đạt tới, cô bé đáng thương ơi!
Cô yên tâm. Tôi sẽ đón lão về. Cáo chết còn quay đầu về núi, trong khi lão chả phải là cáo, lão là người. Tôi cũng chả giày vò, đay nghiến chi đâu. Tôi không phải hang tôm hang cá. Tôi chỉ cười khảy mà thôi. Một nụ cười mà đã làm lão nhớ đến cả chục năm.
Chúc cô may mắn trên con đường chinh phục các lão khác. Thế gian chả thiếu ông già. Cô cứ việc xông lên.
Chào cô..

III/ Thư của ông chồng gửi vợ và bồ nhí

Hai bà thân mến !
Tôi đã đọc thư của bà nọ gửi cho bà kia. Tại sao tôi đọc thư Tại vì khi các bà cả đời theo dõi tôi, rình rập tôi, chả lẻ không có phút nào tôi theo dõi lại.
Đọc xong hai bức thư, tôi hơi buồn. Dù cố tỏ ra lịch sự, để xứng đáng với bản thân mình và xứng đáng với tôi, nhưng các bà vẫn vênh váo và công kích lẫn nhau. Bà nọ coi thường bà kia, cho bà kia là nạn nhân của mình.
Thưa các bà,
Có một điều chắc chắn hai bà không chịu hiểu: chính tôi mới là nạn nhân của hai bà. Cả thế giói biết điều đó. Cả nhân loại tiến bộ lên án điều đó.
Ai, nếu không phải hai bà, chỉ sau mười mấy năm, đã biến một chàng trai khỏe mạnh, đầy nhiệt tình, đày sức sống như tôi thành một ông già tuy chưa già (còn lâu tôi mới già) nhưng gầy yếu, còm nhom, sợ sệt?
Ai, nếu không phải hai bà, có lúc từng người một, ngày đêm tra khảo tôi, ép uổng tôi, vùi dập tôi?
Trong cuộc tàn phá đời tôi, hai bà có rất nhiều điểm chung: cùng nấu ăn dỡ, cùng mua cho tôi những chai bia dỡ và cùng bắt tôi đi coi những bộ phim dỡ.
Nhưng hai bà, mỗi người đều có những đặc điểm riêng, ghê rợn. Bà đầu tiên thích xuất hiện trong nhà với bộ đồ nhàu nát, với mái tóc rối bù cùng với đôi dép chiếc nọ chiếc kia. Bà sau này xuất hiện nơi công cộng với quần sọc chật căng, với áo thủng ở lưng cùng với mắt xanh viền đỏ. Cả hai thứ ấy đều giết tôi, đều nện tôi chí tử về mặt tinh thần.
Nếu bà thứ nhất sểnh ra lại chạy sang hàng xóm, nghe thiên hạ kể về chồng thiên hạ, sau đó tự khai báo về chồng mình, thì bà thứ hai sểnh mắt ra là phóng thẳng tới quán cà phê, nghe thứ nhạc cả thiên hạ nghe tuy chả đứa nào hiểu được câu nào.
Nếu bà thứ nhất đay nghiến tôi bao giờ về thì bà thứ hai hỏi tôi bao giờ đi. Nếu bà thứ nhất kêu rằng tiền điện, tiền gas đã tăng thì bà thứ hai than thở son môi và phấn hồng sao không giảm giá. Nếu bà thứ nhất khảo tôi về tiền lương thì bà thứ hai khảo tôi về quà tặng. cả hai bà, trong một phạm vi nào đó, đều lái tôi và đối xử với tôi như thế tôi là giám đốc nhà băng.
Cho nên không lạ gì, cho tới tận phút này, nhiều lúc tôi ngạc nhiên là mình còn sống. Hoặc mình chưa ngồi trên chiếc xe lăn. Nhưng tôi cảm thấy rất rỏ ràng, cái giờ phút đó cũng chả còn xa nữa.
Đọc tới đây, chắc hai bà sẽ hỏi: khổ như vậy sao ông (bà thứ nhất gọi ông) và sao anh (bà thứ hai kêu anh) vẫn đèo bồng?
Khổ quá. Câu hỏi đó, chính tôi cũng thường tự hỏi mình. Và tôi cũng mang ra hỏi bạn bè tôi, tức mấy gã đàn ông khác. Số phận chúng cũng chả hơn gì. Và bọn tôi đành kết luận thế này: cái kiếp đàn ông nó thế !
Nhân đây cũng nói luôn, kiếp đàn ông thật ra là kiếp vo cùng khổ cực. Nhiều khi chả khác gì con ngựa ,con trâu (chẳng hề được như con dê mà dân gian vẫn nói).
Đàn ông sinh ra là để đàn bà lợi dụng, bóc lột (đôi khi bóc lột còn thô bạo hơn cả cướp bóc), đè nén và hành hạ. Đàn ông sinh ra là để đàn bà sai đi mua đồ, sai lái xe, sai trả tiền, sai đón con, sai luôn cả việc … đi ngủ.
Trong cái bể khổ mênh mông, bao la đó, sự khổ vì bồ nhí cũng chả nổi bật bao nhiêu. Nó chỉ được gom chung vào nổi khổ vì các bà. Đã là các bà thì một bà, hai bà hoặc ba bà cũng thế thôi !
Hai bà thân mến,
Giờ đây tôi cũng đã tỉnh ra rồi. Tôi xin hai bà tha cho. Tôi không còn sức nữa. Kể từ giờ phút này, tôi là một gã trai vô hại. Từ bỏ mọi mưu mô. Tôi ăn cơm nhà, tôi ngủ giường nhà. Tôi nuôi vài con chim, mua vài hòn non bộ, săm mấy giò phong lan. Tôi mở ti vi xem tiết mục “Thầy thuốc gia đình”. Tóm lại, tôi hoàn lương toàn diện.
Hai bà đừng xỉa xói nhau nữa. Đừng so bì nhau nữa. Tôi đã đầu hàng. Tôi đứng giữa hai phe. Tôi xin ngừng bắn.
Bà nào định đi đâu, cứ đi. Bà nào đang ở đâu, cứ ở. Tôi cũng thế. Tôi xin một phút bình yên. Tha cho tôi đi nhé.

VienDzu(sưu tầm)
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 13 guests