Bình Luận , Quan Điểm

nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Về một đối sách đối với Bắc Hàn

Trần Bình Nam
Lời nói đầu: Là “Phiếm Luận”, lời lẽ có chỗ không được nghiêm chỉnh và ý tưởng có khi phóng túng.

Xin quý độc giả thứ lỗi.

Mấy tháng nay tình hình nơi biên giới giữa Bắc và Nam Hàn căng thẳng. Ngày 26 tháng 3, 2010 Bắc Hàn lén bắn chìm chiến hạm Cheonan của Nam Hàn làm thiệt mạng 46 thủy thủ.
Image
Dân chúng Nam Hàn biểu tình chống Bắc Hàn tại Seoul, ngày 28 Tháng Mười Hai, 2010. Hình bị gạch chéo là của cha con lãnh tụ họ Kim đang cai trị Bắc Hàn.
(Hình: JUNG YEON-JE/AFP/Getty Images)



Ngày 23 tháng 11 các khẩu trọng pháo Bắc Hàn pháo kích một trại lính Nam Hàn trên đảo Yeonpyeong làm thiệt mạng 2 binh sĩ và 2 thường dân và gây thương tích cho nhiều người khác. Trong vụ pháo kích, quân đội Nam Hàn đã bắn trả một cách chừng mực.

Tình trạng căng thẳng này làm người ta nhớ tình hình năm 1939 giữa Pháp và Ðức qua chiến lũy Maginot trước khi Thế Chiến II biến thành cơn bão lửa đốt cháy Âu Châu, Bắc Phi Châu và Ðông Nam Á.

Nguyên nhân của tình hình căng thẳng Nam Bắc Hàn dễ hiểu: Trong chương trình trở thành siêu cường mở rộng biên cương ra Thái Bình Dương, Trung Quốc - bước vào năm 2010 - không dè dặt đi những bước có tính đe dọa quyền lợi của khối Asean, Ấn Ðộ, Nhật Bản và nhất là của Hoa Kỳ tại Tây Thái Bình Dương.

Một cách nửa kín nửa hở Trung Quốc cho Hoa Kỳ và thế giới biết Trung Quốc xem biển Ðông thuộc Trung Quốc và sẵn sàng dùng sức mạnh để bảo vệ quyền lợi của mình. Bước đi này của Trung Quốc buộc Hoa Kỳ phải phản ứng qua tuyên bố của bà Ngoại Trưởng Mỹ Hillary Clinton tại Hà Nội tháng 7 năm 2010 rằng biển Ðông là vùng biển quốc tế và Hoa Kỳ sẽ làm những gì cần thiết để bảo vệ quyền lưu thông hàng hải trên biển Ðông.

Khỏi cần nói, Trung Quốc bắt đầu tìm cách tạo khó khăn cho Hoa Kỳ bằng cách gây hấn với Nhật Bản và dùng con bài Bắc Hàn gây hấn với Nam Hàn. Nhật Bản và Bắc Hàn là hai đồng minh quan trọng của Hoa Kỳ trong vùng Tây Thái Bình Dương.

Sau lưng là Trung Quốc, nhưng trước mắt là Bắc Hàn, một nước có vũ khí nguyên tử và hỏa tiễn có đầu đạn nguyên tử và trong hơn một thập niên qua đã chứng tỏ là một nước cộng sản bất trị. Dùng vũ khí nguyên tử dọa gây chiến để đổi lấy thực phẩm, dầu khí của Hoa kỳ và Nam Hàn. Và cứ thế hết vòi vĩnh này đến vòi vĩnh khác.

Mới đây lãnh tụ Kim Chính Nhựt đưa con trai thứ ba Kim Jong-un mới hơn 20 tuổi mặt còn non choẹt chưa có chút kinh nghiệm quân sự nào lên hàm đại tướng, cùng cha nắm quân đội để chuẩn bị cho chú bé trở thành lãnh tụ tối cao Bắc Hàn!

Chuyện rộn ràng gươm dao trong những tháng qua ngoài ẩn ý của Trung Quốc làm rối trí Hoa Kỳ, ý của Kim Chính Nhật là chuẩn bị cho Kim Jong-un quen với súng đạn để có thể nắm các ông tướng Bắc Hàn bạc nhược.


Thế giới tự do, nhất là Hoa Kỳ cần có đối sách gì đối với Bắc Hàn?


Trung Quốc muốn quấy phá Hoa Kỳ, nhưng từ năm 2002 đã đứng ra làm trung gian thành lập hội nghị 6 nước (Nga, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Hàn, Bắc Hàn) để tìm cách giải quyết chương trình nguyên tử của Bắc Hàn. Hội nghị 6 nước họp phiên họp đầu tiên năm 2003, sau đó hằng năm họp rồi ngưng, ngưng rồi họp. Cho đến hôm nay cái “sườn” thương thuyết đó vẫn còn nhưng thực chất chỉ là miếng mồi nhử Hoa Kỳ tùy theo nhu cầu “phá đám” của Bắc Hàn và Trung quốc.

Hoa Kỳ biết Bắc Hàn là một đứa bé bất trị, nhưng văn hóa của Hoa Kỳ không chỉ cho Hoa Kỳ cách trị một đứa bé bất trị. Trong gia đình con cái hư hỏng bố mẹ không dùng roi vọt, chỉ dùng lời khuyên bảo và nhiều lắm là phạt đứng quay mặt vào tường mươi mười lăm phút, không cho xem TV trong một buổi, v.v. Kết quả đứa bé chỉ thêm hư.

Với cung cách đó Hoa Kỳ đối đãi với đứa bé hư Bắc Hàn làm cho Bắc Hàn càng lúc càng thêm hư hỏng lố lăng. Ðó là tình trạng Bắc Hàn hôm nay. Và nếu không có đối sách đúng, chú bé hư Bắc Hàn có thể tạo bất ổn định trên thế giới.

Ðối sách đúng là gì? Ðứa bé hư đến độ không dùng lời khuyên bảo được (như chú bé Bắc Hàn) thì chỉ có một cách. Mỗi lần nó hư quất cho nó một trận đòn thật đau vào đít. Vài lần như vậy nó sẽ hiểu và có nhiều cơ may nó trở thành một đứa bé ngoan. Ða số các bé ngoan bằng cách này khi khôn lớn đều biết ơn cha mẹ đã dạy dỗ, không có đứa nào trở nên hận bố mẹ. Kinh nghiệm giáo dục con cái trong các gia đình Việt Nam (tại Việt Nam) cho thấy như vậy.

Một đối sách hữu hiệu đối với Bắc Hàn (cũng như đối với Iran, và -đáng lẽ - trước đây đối với Iraq) là đừng quá quan tâm đến các chương trình chế tạo vũ khí nguyên tử của các nước đó. Thế giới đang đầy dẫy vũ khí nguyên tử: Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Anh, Mỹ, Pháp, Trung Quốc , Ấn Ðộ, Pakistan, chưa kể Do Thái ai cũng biết, và có thể cả Ðài Loan, Nam Hàn, Ba Tư... thì có thêm Iran, Bắc Hàn cũng không làm cho thế giới trở nên bị đe dọa hơn.

Bắc Hàn và Iran nếu có bom nguyên tử cũng chỉ mất công tồn trữ và để nhìn thôi chứ chẳng dám dùng đánh ai. Họ có đủ thông minh để biết rằng mang mấy quả bom thô sơ đó ra dùng đánh người khác (thí dụ Iran đánh Do Thái, hay Bắc Hàn đánh Nam Hàn) là tự sát và cũng chẳng có nước nào (như Trung Quốc, Liên bang Nga) dại dột đến bênh vực mình.

Phương cách hữu hiệu hiện nay đối với các quốc gia “bất trị” (rogue states) đặc biệt là Bắc Hàn là Nam Hàn và Hoa Kỳ công bố một chính sách “ăn miếng trả miếng”. Nếu Bắc Hàn gây hấn thí dụ như vụ bắn chìm chiếc tàu Cheonan hay vụ bắn trọng pháo vào đảo Yeonpyeong Nam Hàn sẽ trả đũa đến mức tối đa.

Nhiều học giả như Patrick M. Conin, giám đốc Asia-Pacific Security Pragram, một cơ sở không đảng phái chuyên nghiên cứu về sự an nguy của Hoa Kỳ tại Washington D.C mới đây viết cho CNN cho rằng hình thức “ăn miếng trả miếng” (escalation) có thể leo thang và đưa đến chiến tranh toàn diện. Ðó là lý thuyết áp dụng cho một quốc gia hùng mạnh (một người trưởng thành) chứ không áp dụng cho một đứa bé hư như Bắc Hàn.

Bắc Hàn chỉ có thể leo thang với tính toán rằng Hoa Kỳ và Nam Hàn sẽ không chấp nhận chiến tranh vì họ sẽ mất mát nhiều (trong khi Bắc Hàn không có gì để mất), và ngoài ra Hoa Kỳ cũng như Nam Hàn đều lo ngại sự can thiệp của Trung Quốc.

Tuy nhiên Trung Quốc cũng không dại gì đến giúp Bắc Hàn để có thể bị kéo vào chiến tranh với Hoa Kỳ. Trung quốc đang có chương trình xây dựng sức mạnh quân sự và kinh tế để một ngày kia “so gươm” với Hoa Kỳ. Một cuộc chiến tranh quá sớm sẽ làm chậm trễ chương trình trở thành siêu cường của họ. Hơn nữa Trung Quốc thừa biết rằng tại Hoa Kỳ vẫn có một phe diều hâu chủ trương đánh phủ đầu Trung Quốc để bảo vệ tư thế siêu cường duy nhất trên thế giới.

Hoa Kỳ từng lo ngại sự can thiệp của Trung Quốc như Trung Quốc đã đưa chí nguyên quân sang Bắc Hàn khi quân Liên Hiệp Quốc tiến sát biên giới Trung Quốc trong cuộc chiến Bắc Nam Hàn 1950-1953. Và sự lo ngại này đã làm hỏng chiến lược chiến tranh của Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam.

Nếu vào năm 1967, khi Hoa Kỳ có nửa triệu quân tại Nam Việt Nam, Hoa Kỳ cắt tiệt đường tiếp vận binh sĩ và quân dụng của Bắc Việt vào miền Nam qua ngỏ Lào trung lập và yểm trợ cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa đổ bộ ra Bắc cắt ngang Thanh Hóa (và ngầm thông báo cho Trung Quốc biết Hoa Kỳ không có ý định đụng chạm đến biên giới Trung Quốc hay lật đổ chế độ Hồ Chí Minh tại miền Bắc) thì Cộng Sản Bắc Việt không thể tiếp tục cuộc xâm lăng miền Nam.

Năm 1950 lúc cuộc chiến Nam Bắc Hàn diễn ra chế độ cộng sản tại Trung Quốc còn mong manh và Mao Trạch Ðông sợ cuộc tiến quân của Hoa Kỳ sát biên giới Trung Quốc đe dọa an ninh của Trung Quốc nên Mao phải can thiệp. Năm 1967 khi cuộc chiến Việt Nam lên cao độ chế độ cộng sản tại Trung quốc đã vững vàng, Trung quốc lại đang kèn cựa với Liên Xô (mà Hồ Chí Minh thì đi dây nhưng vẫn có khuynh hướng thân Nga hơn) nên Mao cũng không muốn thấy Bắc Việt thống nhất Việt Nam. Tội gì Trung Quốc nhảy vào hao người tốn của để tạo một quốc gia thống nhất và hùng mạnh tại biên giới phía Nam mà lịch sử từng chứng minh không chắc gì là một đồng minh tin cậy. Một nước Việt Nam chia đôi vẫn an toàn cho biên giới phía Nam Trung Quốc hơn. Cái logic đó làm cho Trung Quốc sẽ không can thiệp tại Việt Nam như ở Bắc Hàn.

Trong cuộc chiến tranh chống khủng bố hôm nay, chính sách: “Ăn miếng trả miếng” là một chính sách mang lại ổn định và ít tốn kém hơn là chính sách đưa vào nhiều sư đoàn bộ binh đóng dài hạn để tảo trừ quân khủng bố như đã áp dụng tại Afghanistan và Iraq.

Hoa Kỳ tấn công Afghanistan vì chế độ Taliban dung dưỡng cho al Qaeda tổ chức cuộc tấn công 911 năm 2001 giết chết 3,000 công dân Mỹ. Cuộc tấn công này được thế giới yểm trợ và NATO xem là một công tác bảo vệ hòa bình thế giới và đã đóng góp quân lính và tiền bạc.

Nhưng nếu sau đó Hoa Kỳ rút quân và Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua một đạo luật công bố cho thế giới biết rằng bất cứ nước nào dung dưỡng cho Al Qaeda làm căn cứ tổ chức khủng bố Hoa Kỳ, quân lực Hoa Kỳ sẽ dùng tất cả sức mạnh khả dụng để trả đũa theo nguyên tắc tự vệ chính đáng.

Vào thời gian 2001-2003, chính phủ George W. Bush nghi ngờ Saddam Hussein thông đồng với Al Qaeda và có thể đang chế tạo và tàng trữ vũ khí tàn sát tập thể để khủng bố Hoa Kỳ nên đã tấn công Iraq và do đó lún chân vào một cuộc chiến lâu dài và tốn kém đến nay vẫn chưa giải quyết xong.

Nếu Hoa Kỳ đã dùng chính sách “ăn miếng trả miếng” để cảnh cáo Saddam Hussein thì có lẽ Hoa Kỳ đã tránh được cuộc chiến tranh dai dẳng tốn kém nhân mạng và tài vật này.

Sở trường của quân lực Hoa Kỳ nhất là Không Quân là có khả năng đánh mạnh, đánh nhanh, đánh bất thình lình, và những cuộc cuộc đột kích trả đũa theo đúng “quy ước ra quân” (rules of engagement) sẽ được nhân dân Hoa Kỳ ủng hộ và thế giới không có lý do gì để lên án.

Và Hoa Kỳ sẽ được an toàn hơn.

Mười sáu năm qua (1994-2010), từ khi Tổng Thống Clinton ký Thỏa Ước Khung (The Agreed Framework) cung cấp cho Bắc Hàn hàng trăm triệu Mỹ kim thực phẩm, dầu nhớt đổi lấy cam kết của Bắc Hàn ngưng chương trình sản xuất plutonium (TBN: để làm bom nguyên tử) và thôi không rút ra khỏi Thỏa Ước NPT, thế giới và Hoa Kỳ đã mất quá nhiều thì giờ, tài lực và nước bọt để dỗ dành chú bé Bắc Hàn. Lúc này chú bé lại được Trung Quốc xúi bẩy sau lưng chú càng hư hơn nữa.

(Hoa Kỳ, Nam Hàn!) Hãy đánh cho chú một trận thật đau, chú sẽ ngồi yên, và tay phù thủy Bắc Kinh cũng phải suy nghĩ lại về chính sách “dương Ðông kích Tây” cố hữu của mình.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Nhân đọc bài tường thuật của Luật Sư Lê Thị Công Nhân

Nguyễn Dư

Người Việt mình lạc hậu hơn về cách cư xử giữa con người với con người so với nhiều quốc gia thì đã quá rõ ràng.
Nếu ai đọc những dòng chữ tôi viết này thì hãy kiên nhẫn suy xét, đừng nóng vội rồi nặng nhẹ, chanh chua rằng tại sao là người Việt mà không tự hào về người Việt,
không đi bênh vực cho người Việt, mà rằng thì là đi nói xấu người Việt...

Image
Luật Sư Lê Thị Công Nhân. (Hình: Báo Tổ Quốc)



Nhắc đến chuyện này làm tôi nhớ đến đức tổng Ngô Quang Kiệt và chính quyền Hà Nội cách nay mấy năm. Chuyện cũng tương tự. Là cán bộ đương quyền cao cấp thành phố thời đó mà ăn nói không “cao cấp” chút nào! Tức là chuyện đã có xảy ra quá nhiều rồi nên tôi mới rào trước, đón sau.

Nhớ cách nay cũng mấy năm, chính quyền Trung Quốc cư xử với với người dân của họ cũng không văn minh chút nào: Một tử tù ma túy bị chính quyền bắt trói, mang tấm bảng trên ngực đi khắp xóm làng bêu rếu, tuyên truyền, đồng thời vật chứng là ma túy cũng được đem ra đốt để răn đe trước mặt mọi người. Ðó là cách giáo dục, hành xử của chính quyền thiếu văn minh. Rồi tội phạm có giảm hơn không, hay là tội phạm sẽ tinh vi hơn (không riêng trường hợp ma túy) mà chính là do những bất công trong quản lý xã lại đẻ ra thêm tôi phạm?

Trong những năm chấm dứt chiến tranh, chính quyền VN cũng tùy tiện xử bắn công khai những “phần tử phản động, ác ôn.” Ðó là một cách trả thù dã man nhất trong nhân loại để răn đe, dằn mặt những người khác.

Trở về quá khứ, người Hà Nội cũng có một thời: nếu là gái ngoại tình, có chửa hoang, hư thân cũng bị những hình phạt bêu rêu tương tự: là cạo đầu, bôi vôi cho nhục nhã mà chừa. Thưa các bạn. Các bạn có thấy đó là hình phạt dã man không? Người ta có thể bảo đó là chuyện quá xưa, thời nay thì đã khác nhiều! Ðúng, thời nay đã khác hơn: phá thai tràn lan! (Ðã khác mà lại còn... hơn!) Ý tôi muốn nói rằng đó không phải là cách giáo dục hiệu quả.

Có những gia đình VN trừng phạt con cái bằng cách “đánh cho chừa,” hay cho nhịn ăn. Người ta không nghĩ rằng giáo dục một con người trở nên tốt hơn, hoàn thiện hơn, tức là nó thuộc về tâm lý, mà tâm lý thì không thể nào lấy vật chất mà đánh đổi, mua chuộc. Người ta có thể bị khống chế bằng bạo lực, bằng vật chất, nhưng tinh thần thì không. Rõ ràng, những người bị đày ải, lao tù về đấu tranh dân chủ nhân quyền, chính phủ VN đã khuất phục được bao nhiêu người! Những người tù hình sự, “phấn đấu tốt!,” sau khi thả ra, có kinh nghiệm hơn, họ sẽ hoạt động tinh vi hơn. Tâm lý, thuộc về khoa học tự nhiên, không sờ mó được, chỉ cảm nhận. Cảm nhận sai là... chết người. Vật chất đánh đổi, răn đe, trừng phạt chỉ là chuyện mua và bán, không làm cho con người tốt hơn.

Chuyện công an bắt gái mại dâm mới đây cũng làm rùm beng người dân Việt. Xét cho cùng, cách tổ chức, quản lý xã hội quá yếu kém của chính quyền nên dẫn đến tệ nạn. Tức là lỗi gián tiếp của chính quyền. Người dân, là con người, mà con người thì cần có quyền bình đẳng (nên hiểu đúng nghĩa của chữ bình đẳng), cần sự sống, cần sự tồn tại trên cõi đời như mọi người khác. Họ trả cái giá bằng nhân phẩm cho sự tồn tại của bản thân như thế là quá đắt. Xin đừng đặt ra câu hỏi: thiếu gì ngành nghề sao không kiếm mà làm! Nếu đặt ra câu hỏi này thì lại rơi vào trường hợp: lấy khả năng, sự hiểu biết, tâm trạng của mình mà đi so với người khác, muốn người khác phải giống, sống như mình. Thế thì câu hỏi đặt ra là nếu có tiền bạc đủ sống, người ta có trở thành gái mại dâm không? Tạo hóa tạo ra con người, về mọi mặt không ai giống ai, nhưng quyền bình đẳng, quyền sống thì như nhau. Có nhiều người, có nhiều quan chức có điều kiện, có khả năng (tham), chỉ cần... nháy mắt một cái là tiền thiên hạ đem đến tận nhà. So ra, những nạn nhân ngoài khả năng (do sư hiểu biết thấp kém) làm gái trong xã hội đáng thương hơn là trừng phạt.

Những quốc gia văn minh, những vấn đề có liên quan rộng rãi đến công luận, nhất là các phóng viên, họ không được công bố hình ảnh trên truyền thông nếu không được phạm nhân cho phép. Người ta có quyền thưa để bồi thường vì tội xúc phạm nhân phẩm. Xin mọi người hãy bình tĩnh xét, đừng mang cái quan niệm rằng: đã là tội nhân thì có quyền xử công khai, để chường cái mặt ra cho nhục nhã, để răn đe người khác. Tội phạm thì làm gì có nhân phẩm, cần phải trừng trị...

Trở lại chuyện của cô Công Nhân, là chuyện thời nay, mới đây thôi! Những ngày cuối năm vừa qua cô bị công an bắt thẩm vấn suốt nhiều giờ liên tục, không cho ăn uống. Ðây là cách trừng phạt, trả thù không bình thường của công an với người dân, hay nói cách khác là quá lạc hậu, không văn minh chút nào. Nếu Công Nhân vi phạm pháp luật (pháp luật của CHXHCNVN!) thì đó là “lý!” chứ không phải là tình. Ăn uống, trừng phạt hay mua chuộc thuộc về tình người chứ không liên quan đến lý. Tức là công an không có tình người. Ðây là một trong quá nhiều trường hợp mà tôi cho rằng người Việt quá lạc hậu! Nếu nghe tôi nói không xuôi chiều với thái độ này là công an bị xúc phạm liền. Họ không cần biết đúng, sai, phải, trái, chụp cho tôi cái mũ phản động: “Xúc phạm người thi hành cộng vụ, nói xấu công an nhân dân, nói xấu đảng và nhà nước, tuyên truyền chống phá theo luật 88...” Ăn nói theo lối này cũng lại là một trong những trường hợp thiếu văn minh, không suy xét. Nặng lời hơn, người ta gọi đó là hồ đồ mà hầu như trên khắp mọi miền đất nước, từ ông thủ tướng, ông chủ tịch, ông tổng bí thư... chúng ta đều thấy lối nói chuyện, suy nghĩ như thế mà chúng ta thường gặp, không chỉ riêng có mình “công an nhân dân”

(Nguồn: Báo Tổ Quốc)
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Chính trị Mỹ năm 2011

Ngô Nhân Dụng
Ðảng Dân Chủ đã có cơ hội lớn sau cuộc bầu cử năm 2008, nhưng bị thua thê thảm trong năm rồi. Trong năm 2011 này, dân Mỹ sẽ được nghe nói rất nhiều về đạo luật Cải Tổ Y Tế; và sang năm 2012 cuộc bàn cãi đó sẽ tiếp tục cộng thêm các màn đấu khẩu về giảm thuế và giảm thuế cho ai.

Ðằng sau các cuộc tranh luận đó, là những khác biệt căn bản về triết lý trị quốc của hai đảng lớn.

Cuộc chạy đua trong 2 năm tới là về hai lập trường hoàn toàn khác nhau về cách xếp đời sống của dân Mỹ. Hai đảng chính trị ở đây không cạnh tranh với nhau bằng các khẩu hiệu trống rỗng, kiểu như nói “dân giầu nước mạnh,” vân vân, ai nói cũng được. Nhưng họ đặt ra những vấn đề chính, với những biện pháp cụ thể mà họ muốn thi hành. Người dân sẽ chọn những nhân vật đứng ra quản lý việc nước, với các biện pháp đó, chứ không cần chọn người “lãnh đạo!” Một vấn đề lớn vẫn tranh luận từ hơn 200 năm nay là nên trao cho guồng máy nhà nước vai trò như thế nào, hai đảng có chủ trương khác hẳn nhau, gọi là bảo thủ hoặc cấp tiến.

Bên hữu, tức khuynh hướng bảo thủ, chủ trương nhà nước càng nhỏ càng tốt, vì chính quyền mà can thiệp vào việc chung của xã hội thì chỉ làm rách việc thôi. Do đó, không nên đánh thuế cao quá, để nhà nước không chi tiêu nhiều quá. Ðảng Cộng Hòa thường đề cao tự do cạnh tranh, muốn cá nhân càng có nhiều quyền lựa chọn càng tốt, đặc biệt là giới kinh doanh là lực lượng thúc đẩy xã hội tiến bộ qua cơ chế thị trường tự do. Ðảng Dân Chủ ở phía tả thì nghĩ ngược lại. Họ lo rằng tự do cạnh tranh không giải quyết được nhiều khó khăn chung; những người có sẵn ưu thế sẽ được lợi thêm, người yếu thế sẽ bị thiệt thòi. Khuynh hướng cấp tiến muốn guồng máy nhà nước phải can thiệp để giữ quân bình trong xã hội.

Dân Mỹ có lúc đa số nghiêng về phía tả, có lúc nghiêng về phía hữu. Số phận mỗi đảng lên hay xuống tùy thuộc ý thích của đa số cử tri, theo sức thuyết phục của mỗi đảng trước ngày bỏ phiếu. Trong năm 2010 vừa qua chúng ta đã chứng kiến một cuộc xoay chiều ngoạn mục, chính trị Mỹ từ bên tả chạy tuột sang bên hữu. Ðảng Dân Chủ đã đại bại; họ mất 6 ghế nghị sĩ ở Thượng Viện; và mất 63 ghế dân biểu trong Hạ Viện nơi đa số kiểm soát chuyển tay sang Cộng Hòa. Kết quả bầu cử trái ngược nhau trong 2 năm cho thấy cuối cùng các cử tri thật sự đóng vai trò quyết định chính sách quốc gia bằng lá phiếu.

Tại sao đảng Dân Chủ thất bại lớn như vậy? Có thể nói là trong 2 năm qua họ “vội vàng quá,” hoặc là “tham lam quá!” Họ đã thắng lợi lớn năm cuối 2008; chiếm Tòa Bạch Ốc và kiểm soát cả 2 viện Quốc Hội, ở Thượng Viện suýt nữa chiếm 60 ghế, đa số tuyệt đối. Thị trường, sau những năm được thả lỏng tự do, đã thất bại, gây ra một cuộc suy thoái sâu đậm nhất kể từ thời 1930 khiến nhà nước phải ra tay cứu những ngân hàng và công ty lớn nhất nước. Phe cấp tiến nghĩ thời cơ đã tới, thị trường tự do mà không có nhà nước giúp 700 tỷ này tới 800 tỷ khác cũng hỏng việc. Bây giờ họ có thể thực hiện những chương trình đã ấp ủ sau nửa thế kỷ chờ đợi. Lần sau cùng đảng Dân Chủ chiếm được ưu thế như vậy là từ thập niên 1960, khi các đạo luật về dân quyền và an sinh xã hội được ban hành.

Với khí thế đang lên đó, trong hai năm qua, đảng Dân Chủ đã chạy rất nhanh thông qua 30 dự luật cấp tiến, từ kéo dài trợ cấp thất nghiệp đến an toàn thực phẩm, lương bổng công bằng, học bổng cho sinh viên, ngăn ngừa kỳ thị chủng tộc và tôn giáo, vân vân. Họ say sưa làm thêm luật mà không biết lòng dân đang có những mối lo khác, cho đến khi đa số các cử tri bảo “stop!” Một dự luật rất cấp tiến đã không thành công là luật bắt các xí nghiệp phải chịu thuế trên mức độ làm ô nhiễm môi trường. Không thành luật được là vì tuy được phe Dân Chủ trong Hạ Viện thông qua nhưng chính các nghị sĩ Dân Chủ trên Thượng Viện ngần ngại không muốn bỏ phiếu! Thượng Viện bao giờ cũng dè dặt hơn, quyết định chậm chạp chứ không hấp tấp, đó cũng là chủ ý khi người ta thiết lập hai viện lập pháp.

Nên nhớ, khi nào Quốc Hội làm thêm luật mới tức là họ đang mở rộng cửa cho nhà nước chen vào công việc của người dân. Thí dụ, năm qua Quốc Hội đã làm luật cấm bán những cái giường nuôi trẻ sơ sinh có một cạnh mở ra được. Họ ra đạo luật này sau khi đã có nhiều em bé chết vì tai nạn khi dùng những chiếc giường này. Một đạo luật khác không cho các hãng máy bay bắt hành khách trả tiền khi mang túi xách tay lên máy bay. Sau những đạo luật đó, các nhà sản xuất giường cho con nít, các hãng máy bay sẽ bị thiệt và họ bất mãn. Họ sẽ hỏi: Tại sao nhà nước phải can thiệp vào những chuyện như vậy, thay vì để tư nhân người ta chọn lựa lấy? Người sản xuất giường nôi sẽ lo phòng ngừa tai nạn, người tiêu thụ sẽ chọn loại giường nào tùy ý thích, vì họ biết loại nào rủi ro hơn. Các hãng máy bay sẽ tha hồ cạnh tranh, xem bắt hành khách trả tiền thì liệu có mất khách hay không. Những thứ đó gọi là tự do, tự do lựa chọn và tự do cạnh tranh. Nếu quý vị độc giả cảm thấy phân vân trong các vấn đề này; không biết chính phủ Mỹ nên lo bảo vệ người tiêu thụ hay không, thì đó cũng là mối phân vân của các cử tri nước Mỹ. Những thí dụ giản dị này cho thấy hai chủ trương khác nhau, giữa hai khuynh hướng cấp tiến và bảo thủ.

Ðạo luật cấp tiến được chú ý nhất là luật Cải Tổ Y Tế, mở đầu một kỷ nguyên mới trong chính sách xã hội của nước Mỹ. Riêng một khoản sẽ có thêm 32 triệu người Mỹ có bảo hiểm y tế nhờ luật này đã là một cuộc “cách mạng nhỏ” rồi. Luật này quan trọng không kém những đạo luật cấp tiến về bảo hiểm thất nghiệp, an toàn lao động, quỹ hưu bổng xã hội, vân vân, thời 1930; hay các luật về dân quyền, y tế cho người về hưu và trợ cấp y tế cho người nghèo, thời 1960.

Một đạo luật lớn như vậy chắc chắn rất nhiều chi tiết và rất phức tạp, khó biết hết lợi hại thế nào, cho ai. Trong lúc đó 85% dân Mỹ đang có bảo hiểm y tế không lo lắng gì cả, và 15% còn lại thì không có tiếng nói thống nhất nào. Người đang có bảo hiểm thì chỉ lo lắng nhất là chi phí tăng nhanh quá, tiền đóng bảo hiểm leo thang nhanh hơn lợi tức cá nhân hay GDP cả nước.

Thất bại đầu tiên của đảng Dân Chủ trong vụ luật Y Tế là họ không giải thích cho người dân hiểu tại sao cần thay đổi, và thay đổi gấp như vậy. Ðảng Cộng Hòa nhắm đúng nhược điểm đó mà tấn công: Trong khi dân Mỹ đang lo nhất là kinh tế suy thoái, thì các đại biểu Quốc Hội Dân Chủ chỉ lo những làm đạo luật cấp tiến, về các vấn đề trường cửu, mai sau sẽ lo cũng được, như chuyện môi trường hay 46 triệu người không có bảo hiểm y tế! Dân lo ngân sách khiếm hụt, trong khi những đạo luật mới sẽ khiến chính phủ phải chi tiêu nhiều hơn. Vì thế, đa số cử tri bỏ rơi đảng Dân Chủ.

Thất bại của đảng Dân Chủ khiến cho trong năm 2011 này, đảng Cộng Hòa sẽ tìm cách củng cố ưu thế mới đạt được.Nhưng điều đó không dễ dàng. Trước hết họ sẽ phải tìm cách thống nhất hàng ngũ. Bởi vì vụ cử tri ào ạt bỏ rơi đảng Dân Chủ vừa qua là do một phong trào quần chúng do nhóm “Tea Party” (Trà Ðảng) thúc đẩy. Tea Party tự giới thiệu là “bảo thủ chính thống;” họ tấn công vào hai điểm là “chính phủ chi nhiều tiền quá” và “Quốc Hội bày vẽ nhiều luật lệ quá.” Cuộc tấn công đánh trúng những “yếu huyệt” của đảng Dân Chủ. Tea Party chính là lực lượng đang lên đã giúp đảng Cộng Hòa đại thắng trong năm ngoái và sẽ còn ảnh hưởng cho tới năm 2012. Ðảng Cộng Hòa nhẩy lên lưng con cọp Tea Party mà tiến tới; nhưng việc “thuần hóa” con cọp này không phải dễ. Hai Nghị Sĩ Tom Coburn và Jim Demint sẽ không ngần ngại chỉ trích các đồng viện Cộng Hòa vì không bảo thủ cho đủ mức, đặc biệt là khi biểu quyết ngân sách chi tiêu. Hai ông này đã chống cả thỏa hiệp giữa đảng Cộng Hòa và ông Obama triển hạn đạo luật cắt thuế của cựu Tổng Thống Gorges W. Bush; vì lý do thỏa hiệp đó sẽ làm ngân sách thâm thủng thêm 140 tỷ đô la một năm! Tháng 3 năm 2011 này, khi Quốc Hội phải thảo luận về nâng giới hạn số nợ của chính phủ liên bang, nội bộ Cộng Hòa sẽ tranh luận với nhau xem sẽ bắt phía Dân Chủ phải cắt bớt những món chi tiêu nào.

Ðảng Cộng Hòa sẽ phải khôn khéo thỏa hiệp với một phe “cực hữu” đang lên. Ở phía bên kia thì phe “cực tả” trong đảng Dân Chủ không phải là còn sức nữa; vì chính họ đã bị tơi tả sau trận thất bại bầu cử năm 2010. Khi Tổng Thống Obama thỏa hiệp với những người lãnh đạo đảng Cộng Hòa về vụ cắt thuế cho những người giầu nhất nước, nhiều đại biểu trong Hạ Viện bất mãn và chống đối nhưng rồi cũng đành chấp nhận.

Trong năm 2011 này, chiến thuật thích hợp nhất mà nhật báo Wall Street đã đề nghị với đảng Cộng Hòa là nhân thế đa số đạt được trong Hạ Viện hãy đem đạo luật Cải Tổ Y Tế lên bàn mổ, làm dự luật thu hồi luật đó, hoặc sửa đổi rất nhiều để cho nó thành vô hiệu. Chắc họ sẽ khó thành công, vì đảng Dân Chủ vẫn chiếm đa số trên Thượng Viện. Nhưng, như tờ báo tiêu biểu cho khuynh hướng bảo thủ chủ trương, lập trường về đạo luật y tế sẽ là tiếng nói chung mà những đại biểu ôn hòa cũng như Tea Party đều có thể đoàn kết, nhất trí. Cuộc thảo luận sẽ phơi bày cho dân Mỹ thấy hai chủ trương rõ rệt khác nhau của hai đảng. Ðó là cách chuẩn bị dư luận tốt nhất cho cuộc tranh cử năm 2012.

Ðảng Cộng Hòa sẽ dùng cuộc tranh luận này để cho dân chúng thấy hai lập trường khác biệt về vai trò của chính phủ trong đời sống xã hội. Họ sẽ vạch ra là đạo luật Cải Tổ Y Tế cho phép nhà nước can thiệp vào những quyết định của dân Mỹ. Tại sao bắt tất cả mọi người phải mua bảo hiểm, mà không để họ tự do lựa chọn? Tại sao, kể từ năm nay, chính phủ lại bắt các hãng bảo hiểm y tế chỉ được dùng 15% đến 20% tiền thu được của thân chủ vào chi phí hành chánh quản trị, còn lại bao nhiêu chỉ được dùng vào việc chữa bệnh và thuốc men? Tại sao lại bắt các nhà sản xuất thuốc phải giảm giá 50% khi bán thuốc cho chương trình D của bảo hiểm y tế medicare? Như vậy có phải là xâm phạm vào tự do kinh doanh hay không? Cũng vậy, tại sao nhà nước bắt những tiệm ăn thuộc các công ty lớn phải kê rõ thành phần dinh dưỡng trong các món ăn, còn các tiệm ăn nhỏ không cần làm?

Ðảng Dân Chủ sẽ tự vệ trước cuộc tấn công này bằng chiến thuật chờ thời gian. Họ tin rằng trong 2 năm tới nhiều điều khoản của đạo luật Y Tế bắt đầu được áp dụng, những người được hưởng sẽ thấy cần bảo vệ đạo luật này. Trong năm 2010, mới có 25 điều khoản được áp dụng, thí dụ những người có con đang đi học được giữ bảo hiểm y tế cho con tới năm 26 tuổi thay vì bị mất khi con trên 18. Những doanh nghiệp nhỏ được trừ thuế khi có bảo hiểm y tế cho nhân viên. Năm nay 2011 sẽ có thêm 21 điều áp dụng, chẳng hạn, các công ty bảo hiểm sẽ bị cấm không được cắt bớt bảo hiểm của người già khi đến mức giới hạn họ ấn định. Trong ba năm tới, mọi người mua bảo hiểm sẽ được chọn trong một “thị trường” coi chương trình nào phù hợp với gia đình mình nhất, thay vì phải theo một hợp đồng chung của nơi mình làm việc với các hãng bảo hiểm. Những người không đủ tiền đóng bảo hiểm sẽ được nhà nước trợ cấp. Sẽ có thêm 15 triệu người được gia nhập bảo hiểm Medicaid (ở California là MediCal). Trong 2 năm 2012 và 2013 sẽ lần lượt có thêm 10 và 13 điều khoản được áp dụng thêm, và tới năm 2014 thì 20 điều quan trọng nhất mới được thi hành. Ðảng Dân Chủ tin là với thời gian, nhiều người dân sẽ thích đạo luật này hơn khi thấy ích lợi cho họ. Nhưng còn chi phí thì chưa tính tới.

Có thể nói là đạo luật Cải Tổ Y Tế gia tăng quyền hạn của guồng máy nhà nước rất nhiều, ít khi tăng nhiều như vậy trong một đạo luật. Các hãng bảo hiểm đã ủng hộ đạo luật này lúc đầu, vì món lợi là sẽ có thêm 32 triệu thân chủ mới! Nhưng họ sẽ ủng hộ tất cả những luật giảm bớt các hạn chế bắt họ phải chịu. Nhưng điểm then chốt mà đảng Cộng Hòa sẽ tấn công là chi phí sẽ gia tăng vì đạo luật y tế này, một điều ai cũng lo trong lúc ngân sách đang khiếm hụt. Người ta sẽ báo động dân Mỹ rằng với số phí tổn lớn như vậy, thế nào nhà nước cũng sẽ phải tăng thuế; đó mới là mối lo lớn.

Sang vấn đề thuế má, năm 2012, hai đảng chắc chắn sẽ tranh luận nhau về một đề tài lớn, là có kéo dài thêm những đạo luật cắt giảm thuế của cựu Tổng Thống Gorges W. Bush hay không. Năm rồi, khi Tổng Thống Obama chịu thỏa hiệp triển hạn thêm 2 năm, ông vẫn nhắc lại lập trường của ông là không cắt giảm thuế cho 1% những người giầu nhất nước, với lợi tức trên 250 triệu đô la một năm. Ông Obama chỉ hoãn cuộc thảo luận vấn đề này chờ tới 2 năm nữa mới tham dự vào trận đấu quyết liệt. Lúc đó hai đảng sẽ lật ngửa tất cả các quân bài lên, giao đấu tận tình!

Cho nên trận đấu chính trị trong hai năm sắp tới sẽ rất gay go và lý thú. Tới tháng 11 năm 2012 dân Mỹ sẽ quyết định lần nữa. Các cử tri đi bầu không phải chỉ lo chọn ông hay bà tổng thống và các đại biểu quốc hội. Họ sẽ chọn lựa giữa hai quan niệm về quản lý quốc gia. Ðiểm khác biệt chính giữa hai bên là vai trò của chính phủ trong đời sống hàng ngày của người dân.

Nhiều người Mỹ đang tin tưởng rằng ngày 21 tháng 5 năm 2011 sẽ là ngày tận thế; hiện nay người ta đang quảng cáo rầm rộ cho lời tiên đoán này bằng trên tờ truyền đơn phát ở đầu phố, những bảng quảng cáo dán trên xe chạy ngoài đường, ở những thành phố như Little Rock, Ark., Bridgeport, Conn., và họ cử cả những phái đoàn đi truyền bá “tin tận thế” ở Phi Châu và Châu Mỹ La Tinh! Ở một nước tự do, ai tin cái gì thì cứ tha hồ giao giảng. Nhưng dân Mỹ sẽ không lo tận thế mà sẽ tiếp tục bình tĩnh theo dõi và suy nghĩ về thông điệp của hai đảng chính trị trong khi chờ ngày đi bỏ phiếu!
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Các đồng chí Trung Quốc rất nguy hiểm

Ngô Nhân Dụng

Người Trung Quốc có vẻ khiêm tốn hơn trước. Hoàn Cầu Thời Báo (Global Times) là một tạp chí vẫn được coi là một tiếng nói chính thức của đảng Cộng Sản Trung Quốc, vào ngày 31 tháng 12 năm 2010 mới đăng kết quả một cuộc nghiên cứu dư luận người trong lục địa. “Trung Quốc đã thành một siêu cường,” câu đó đúng hay sai, chỉ có hơn 12% dân Trung Hoa đồng ý.

So với tỷ số hơn 14% trong cuộc thăm dò tương tự vào hai năm trước thì họ đã khiêm tốn hơn lắm rồi. Trước lời phát biểu: “Trong số 4 nước lớn đang lên là Brazil, Nga, Ấn Ðộ và Trung Quốc, (khối BRIC) thì Trung Quốc có thế lên mạnh nhất,” năm nay có chỉ 57% người Tầu đồng ý, so với kết quả cuộc thăm dò năm ngoái đã tụt mất 10%.

Trong khi chỉ có 12% nghĩ Trung Quốc đã là một siêu cường thì có tới 34% nghĩ là không. Như vậy tức là trong số con cháu ông Mao Trạch Ðông số người khiêm tốn đông gần gấp ba số người kiêu ngạo. Tuy nhiên, cũng trước câu hỏi đó, lại có tới 53% người trả lời rằng lời phát biểu trên “không hoàn toàn đúng.” Tức là cũng hơi hơi đúng. Cộng 53% với 12% thì có tới 65% con cháu Tần Thủy Hoàng trong lục địa nghĩ rằng nước họ đáng coi là một siêu cường, hay gần gần siêu cường rồi! Cuộc nghiên cứu cũng cho biết có 80% người Trung Hoa nghĩ rằng các sản phẩm mang nhãn hiệu “Made in China” càng ngày càng được tin tưởng hơn về phẩm chất.

Không biết chúng ta có nên tin vào phẩm chất hàng hóa Made in China hay không, nhưng một mối lo cho người tiêu thụ, là những món hàng đó không biết món nào thật, món nào giả. Có những món hàng giả “giống như thật,” rất khó phân biệt. Có một món đang bị người Việt Nam nghi ngờ hàng giả, chính là các bài in trên Hoàn Cầu Thời Báo!

Một bài phỏng vấn đăng trên mạng báo này trước đó có 3 ngày, ngày 28 tháng 12 đang bị một người Việt tố cáo là nói láo. Người đấm ngực kêu oan vì bị báo này xuyên tạc là ông Nguyễn Huy Quý, nguyên giám đốc Phân Viện Nghiên Cứu Trung Quốc thuộc Học Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam. Câu chuyện bài phỏng vấn ông Nguyễn Huy Quý trên Hoàn Cầu Thời Báo đã làm sôi nổi dư luận mạng ở Việt Nam suốt tuần qua sau khi các mạng lưới Bô Xít Việt Nam, Blog Nguyễn Xuân Diện và X-Caf, vân vân đưa bản dịch bài phỏng vấn này lên mạng.

Bài phỏng vấn cho thấy tờ báo gán cho ông Nguyễn Huy Quý nhiều câu trả lời hoàn toàn giống lập trường người Trung Hoa. Ðối với người Việt Nam, nhiều ý kiến có thể nói là “phản quốc!” Trên các mạng lưới đã có những phản ứng dữ dội. Nhiều độc giả gọi ông Quý bằng những tiếng thô tục mà chúng tôi xin phép không nhắc lại. Có người gọi ông là “trí nô,” (trí thức nô lệ), rồi quơ tay vơ một nắm: “Loại giáo sư quốc doanh hay thứ ‘trí nô’ này ở ta hiện hơi bị nhiều. Không biết con, cháu và lớp hậu sinh của bậc ‘trí nô’ này có thấy nhục nhã và xấu hổ thay cho ông ta không nhỉ?”

Trong bài phỏng vấn của Hoàn Cầu, ông Quý nói: “Một số người Việt lưu vong ở nước ngoài đang chống đối chính quyền hiện thời đã dùng tinh thần dân tộc Việt Nam để cố tình khiêu khích những bất hòa giữa Việt Nam và Trung Quốc,” nhà phê bình Ðinh Kim Phúc hỏi: “Thưa giáo sư, những 'bất hòa giữa Việt Nam và Trung Quốc' là những bất hòa gì?... Lãnh thổ của ta, đảo của ta, biển của ta nhưng hàng trăm ngư dân Việt Việt Nam đang bị Trung Quốc cầm tù khi họ đang kiếm sống ngay chính trên quê hương của họ thì xin ông ông hãy thử gọi tên nó là gì, thưa ông?” (Ý nói: Sao lại chỉ gọi đó là “bất hòa?”) Ông Phúc báo động nếu ai cũng suy nghĩ như ông Quý thì không bao xa Việt Nam sẽ chịu chung số phận với Tây Tạng và Tân Cương.

Sau khi nhắc lại những lời của ông Quý như, “Trung Quốc và Việt Nam có nhiều yếu tố giống nhau: cùng một văn hóa, cùng nguồn gốc [?]và từng là đồng chí của nhau. Ðây là nền tảng của mối quan hệ giữa hai nước,” ông Ðinh Kim Phúc phê bình nặng hơn, “...tôi không thấy ở ông trình độ của một giáo sư Trung Quốc học, mà chỉ là những lý sự cùn của một thằng Việt gian...” Chắc ông Ðinh Kim Phúc từng đọc kỹ Hoàn Cầu Thời Báo từ lâu nên ông mới hỏi ông Quý rằng: “Cũng trên mạng Hoàn Cầu, họ chửi tôi, chửi giáo sư, chửi hơn 3 triệu đảng viên Cộng Sản Việt Nam, chửi cả dân tộc Việt Nam là đồ chó, giáo sư không thấy nhục sao?”

Tất nhiên là phải thấy nhục. Ai đặt mình vào địa vị ông Nguyễn Huy Quý cũng phải thấy nhục. Cho nên ông lên tiếng minh xác: Tờ Hoàn Cầu Thời Báo nói láo!

Tựa đề bài của ông nói nhẹ nhàng hơn, ông bảo đây là một “bài học cảnh giác” rút ra sau cuộc phỏng vấn. Bài được ông gửi cho mạng Blog Nguyễn Xuân Diện rồi được đăng trên các mạng khác. Ông Nguyễn Huy Quý kể rằng ông không hề được Hoàn Cầu Thời Báo mời gặp để phỏng vấn, “Thực ra, đây không phải là bài ‘trả lời phỏng vấn!’” Tháng trước, theo lời ông Quý, phái viên báo Nhân Dân (Trung Cộng) ở Hà Nội, tên là Lưu Cương, đã hẹn gặp, nhưng khi tới gặp thì anh ta “đưa cả bốn, năm bạn đồng nghiệp, nói là phóng viên của Hoàn Cầu Thời Báo vừa đi du lịch ở Campuchia, mới ra Hà Nội hôm qua.” Thế là ông Quý ngồi chuyện trò với họ. Ông là người chuyên nghiên cứu về Trung Quốc, tự nhiên được gặp người Trung Quốc thì không phải sợ hãi gì cả! Không ngờ, một tháng sau đọc báo của họ, đọc từ bản gốc (chữ Trung Hoa) “thì thấy phóng viên Hoàn Cầu Thời Báo đã dùng quan điểm của họ để viết bài nói là ‘trả lời phỏng vấn,’ có những chỗ cực kỳ sai trái.”

Những chỗ nào là mạo lời ông làm cho ông mang tiếng là “cực kỳ sai trái?” Ðiều đầu tiên là Hoàn Cầu Thời Báo đã gán cho ông Quý nói “Văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Quốc đồng nguyên.” Ông giải thích: “‘Ðồng nguyên’ có nghĩa là chung một nguồn gốc. Từ đó có thể suy ra văn hóa Việt Nam là từ văn hóa Trung Quốc mà ra.” Ông Quý khẳng định: “Ðó là một sự xuyên tạc lịch sử, và là một sự xúc phạm dân tộc. Tôi và các học giả Việt Nam không bao giờ dùng từ ‘đồng nguyên’ trong quan hệ văn hóa Việt-Trung.”

Những người phản đối ông Quý có thể yên tâm hơn sau khi ông đã xác định không hề nói văn hóa Việt Nam từ Trung Quốc mà ra. Ðiểm thứ nhì ông Quý cải chính là “Hoàn Cầu Thời Báo áp đặt câu nói của họ thành câu nói của tôi 'các thế lực bên ngoài không hề có liên quan đến vấn đề Nam Hải bắt đầu xâm nhập, tạo ra mâu thuẫn Việt - Trung'...” Nghe ông Quý nói như vậy, ai cũng nghĩ là ông đang chối bỏ hết cả những chuyện Trung Quốc đã làm, thí dụ như đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974, đánh chiếm nhiều đảo ở Trường Sa sau đó. Nhưng, một lần nữa, ông Quý bảo ông không nói như thế!

Một câu “kinh khủng” khác mà Hoàn Cầu Thời Báo đặt vào miệng ông Quý là: “Tôi tin tưởng 100% rằng Trung Quốc hiện nay không, sau này mạnh lên cũng sẽ không xâm lược bất cứ nước nào mà Trung Quốc công nhận. Nhưng, đối với các nước có vấn đề tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, thì... nếu một ngày đó xảy ra xung đột với Trung Quốc, thì đó không phải là xâm lược, mà là hành động của Trung Quốc nhằm thu hồi chủ quyền!” Ông Quý phải la Trời lên: “Có người Việt Nam nào, dù là bất cứ ai, lại cho rằng giả thiết một ngày nào đó Trung Quốc đánh chiếm Trường Sa là ‘lấy lại chủ quyền’ chứ không phải là xâm lược?”

Thôi, chúng ta có thể yên tâm, ông Nguyễn Huy Quý cũng là một người Việt Nam yêu nước như mọi người. Giữa một bên là ông Quý, bên kia là các phóng viên Hoàn Cầu Thời Báo thì chắc chắn tôi muốn tin một người Việt Nam hơn. Một điều chúng ta không hiểu là tại sao suốt một đời nghiên cứu về nước Tầu, năm nay gần 73 tuổi mà một học giả như ông Nguyễn Huy Quý lại để cho các bạn đồng nghiệp của tôi từ Bắc Kinh qua, cho ông “vào xiếc” một cách dễ dàng như vậy? Tại sao hẹn gặp một phóng viên Nhân Dân Nhật Báo mà lại biến thành một cuộc phỏng vấn không hẹn trước với Hoàn Cầu Thời Báo?

Một nhà xã hội học nổi tiếng ở Trung Quốc gần đây là ông Phí Hiếu Thông, chắc chắn ông Quý phải đọc nhiều rồi. Trong một cuốn sách Hương Thổ Trung Quốc, đoạn nói về đặc tính của văn minh Trung Hoa khác với Tây phương, Phí Hiếu Thông đã đưa ra một thí dụ rất vui. Nếu bạn mời một người Anh tới nhà ăn cơm tối, rồi bảo: “Mời cả gia đình anh, chị cùng tới cho vui,” thì bạn có thể biết chắc tối đa sẽ có mấy thực khách đến ăn: Vợ, chồng, con cái. Nhưng nếu bạn nói cùng một câu đó mời một người Trung Hoa thì không thể biết được bao nhiêu người sẽ tới. Ngoài vợ chồng con cái ra, có thể họ đem theo cả cha mẹ, bên nội bên ngoại, anh chị em! Chưa hết, nếu có một người bạn thân đến thăm họ bữa đó, họ vốn coi bạn thân như người trong gia đình, họ sẽ đem tới một cách rất tự nhiên không thắc mắc gì cả. Mà nếu đã coi một người bạn thân như trong gia đình, thì một người bạn khác của anh bạn đó, và vợ con anh ta nữa, cũng phải coi như trong gia đình nốt, làm sao tránh được? (Cuốn Hương Thổ Trung Quốc bản tiếng Anh, “From The Soil,” do Gary G. Hamilton and Wang Zheng dịch, Ðại Học Berkeley ấn hành).

Có lẽ nhà báo Lưu Cương đã theo đúng lối người Trung Hoa khi đem theo bốn năm đồng nghiệp trong tờ Hoàn Cầu Thời Báo đến gặp ông Nguyễn Huy Quý. Có thể các phóng viên người Trung Quốc ở Việt Nam đã lâu vẫn quen coi ông Quý như người nhà, người trong gia đình. Các đồng nghiệp của Lưu Cương họ cũng thân nhau “như trong gia đình.” Thế là họ cũng coi ông Quý như “người nhà” nốt! Người trong nhà thì “anh em chín bỏ làm mười,” ông Quý nói gì họ thuật lại, có thể nào cải chính được?

Tình trạng từ địa vị hàng xóm bỗng trở thành “người nhà” có thể diễn ra từ từ, như tầm ăn dâu vậy. Một nhà nghiên cứu chuyên về Trung Quốc, lại là viện trưởng cái cơ quan làm công việc đó, dù ông sống ở bất cứ nước nào, ông cũng phải được các “đồng chí Trung Quốc” chiếu cố, nâng niu. Thế nào họ cũng mời các nhà nghiên cứu như ông sang Tầu nghiên cứu tại chỗ nhiều lần. Cái tài chiêu đãi khách phương xa của các người Trung Quốc xưa nay vẫn nổi tiếng. Họ sẽ cung cấp đủ thứ cho các đồng chí Việt Nam để quý khách được hoàn toàn “khoái lạc” (khi người mình nói hạnh phúc thì người Trung Hoa gọi là khoái lạc). Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ? Ðức Khổng Tử chẳng đã nói tới chữ LẠC hay sao?

Vì tình anh em keo sơn như thế cho nên ông Nguyễn Huy Quý chỉ cải chính vài ý kiến mà tờ Hoàn Cầu Thời Báo đăng, nói không phải ý của ông. Còn rất nhiều ý kiến khác, ông chưa cải chính. Thí dụ, ông đã phê phán lập trường của chính quyền Việt Nam đối với các tranh chấp ở Trường Sa là “quá đáng” và “quá cứng rắn.” Ông nhắc đi nhắc lại điều may mắn là cả hai nước do hai đảng Cộng Sản cai trị và ông công nhận, “Tư tưởng xã hội chủ nghĩa hiện nay ở Việt Nam thì có lợi cho Trung Quốc,” mà không nói có hại cho Việt Nam hay không. Ông ví quan hệ Trung Quốc Việt Nam cũng giống như giữa nước Anh và nước Mỹ, mà ông nói thêm hai nước đó vốn cùng một chủng tộc. Ví von như thế thì có phải là “đồng nguyên” như Anh và Mỹ hay không? Ông Quý giải thích việc Việt Nam bãi bỏ dự án tàu cao tốc Bắc Nam trị giá 56 tỉ đô la: “Một số báo chí nói rằng Việt Nam không muốn hợp tác với Trung Quốc trong việc xây dựng đường sắt cao tốc. Trên quan điểm của tôi, dự án này bị bác bỏ không phải vì Việt Nam không tin Trung Quốc.” Ông còn tự đứng làm đại diện cho 86 triệu người Việt Nam tuyên bố: “Trong trái tim người Việt, đặc biệt là cấp lãnh đạo, mọi người luôn mong muốn phát triển quan hệ với Trung Quốc. Quan hệ (với Trung Quốc) tốt đẹp hơn... còn giúp Việt Nam giữ vững hệ thống của mình.” Tức là hệ thống chính quyền cộng sản tồn tại ở Việt Nam là trông cậy vào Trung Quốc.

Khi ông Quý nhân danh cả dân tộc Việt Nam nói như vậy, trách chi các đồng chí Trung Quốc không coi ông như “người nhà!” Bài học “cảnh giác” cần “ghi chép vào vạt áo” là chơi với các đồng chí Trung Quốc phải cẩn thận.

Hồ Chí Minh đã nêu lên khẩu hiệu “Trước là đồng chí sau là anh em.” Câu nói đó bây giờ vận vào đảng Cộng Sản Việt Nam và vào cá nhân ông Nguyễn Huy Quý. Chơi với các đồng chí Trung Quốc rất nguy hiểm. Tử tế với họ, không biết lúc nào họ bắt mình phải làm anh em, làm người nhà của họ. Cứ như thế lâu dần họ sẽ coi mình như “người làm,” bảo sao nghe vậy. Họ mời mình ăn mãi, có lúc họ đem nhét vào miệng mình những câu nói chính mình cũng không ngửi được!
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Arizona đổ máu

Ngô Nhân Dụng
Dân Biểu Gabrielle Giffords may mắn. Các bác sĩ cho thử, thấy phổi bà đã tự thở được dù đang giữ trong tình trạng hôn mê để cơ thể nghỉ ngơi. Trước đó bà đã biết làm dấu bằng tay, trả lời bác sĩ. Bị bắn xuyên qua đầu phía bên trái, phải cắt gỡ một phần xương sọ tạm cất đi để cho bộ não không bị thêm thương tích khi phồng lên, nhưng đầu vẫn làm việc. Bà Giffords, dân biểu thị xã Tucson, tiểu bang Arizona, thuộc đảng Dân Chủ, sẽ may mắn thoát chết và bộ óc bà có thể làm việc được.

Và phải nói nước Mỹ cũng may mắn, sẽ thoát được một cuộc tranh cãi đảng phái không đẹp. Vụ ám sát này dù mang tính chất chính trị nhưng không phải gây ra vì lý do phe đảng. Anh Jared Loughner, người bắn bà Giffords là người tâm thần bị yếu. Anh ta có thể đã hành động vì lý do chống chính quyền nói chung hoặc ghét bà Giffords nhưng không có dấu hiệu là anh ta đã bị tác động bởi những lời lẽ và hình ảnh do các đối thủ chính trị đưa ra trước đây để tấn công bà Giffords. Tuy nhiên dân Mỹ, nhất là những người làm chính trị, sẽ phải tự vấn lương tâm về phương pháp tấn công lẫn nhau trong những cuộc tranh cử. Và hy vọng sau vụ này những người có trách nhiệm sẽ áp dụng luật lệ kiểm soát súng một cách nghiêm ngặt hơn.

Với bao nhiêu luật lệ hạn chế việc bán súng, về quyền làm chủ súng và sử dụng súng, người Mỹ cũng không hiểu được tại sao một thanh niên 22 tuổi, từng bị đuổi khỏi trường vì tâm thần không ổn định, mà vẫn có thể đi mua súng để âm mưu giết người, rồi bắn bừa vào đám đông làm chết 6 người và 14 người bị thương. Em Christina-Taylor Green ra đời ngày 11 tháng 9 năm 2001, là một nạn nhân của Jared Loughner. Cô bé mới 9 tuổi, bơi lội giỏi, hát trong ca đoàn nhà thờ, có tài nói chuyện với đám đông, đã đến dự cuộc gặp gỡ cử tri trước cửa siêu thị của bà dân biểu vì dù còn nhỏ cô đã thích chính trị rồi. Cũng như Thẩm Phán Liên Bang John Roll, đã qua đời vì thương tích. Ông thuộc đảng Cộng Hòa, đã được cựu Tổng Thống Gorges W. Bush cử làm chánh án liên bang, nhưng là bạn của bà Giffords. Hôm xẩy ra tai họa, ông nhân đi qua vùng đó nên đã ghé vào chào bà dân biểu đang họp mặt với các cử tri, mặc dù không cùng một đảng.

Họ là những nạn nhân của súng, chứ không phải của bạo lực chính trị, đó là điều người Mỹ có thể yên tâm. Hôm qua, CBS News đã công bố kết quả một cuộc nghiên cứu dư luận. Chỉ có 32% dân Mỹ nghĩ rằng vụ mưu sát bà Giffords là hậu quả của những lời lẽ có tính chất bạo động trong mùa tranh cử năm ngoái; còn 57% cho là không. Không thấy một cuộc thăm dò dân ý về luật lệ kiểm soát súng. Năm 2008, khi Tối Cao Pháp Viện Mỹ bác bỏ một đạo luật hạn chế việc bán súng, Dân Biểu Gabrielle Giffords đã hoan hô quyết định này. Bà nói, mang súng là một truyền thống của tiểu bang Arizona. Nay chính bà là nạn nhân của truyền thống tự do mang súng này.

Người mẹ của hung thủ Jared Loughner đã nằm khóc suốt ngày đêm kể từ khi nghe tin vụ thảm sát. Hàng xóm đang cố an ủi cha mẹ anh ta: Ông bà không có lỗi gì cả. Ông bà đã dạy con hết những điều hay lẽ phải. Nhưng dù chúng ta dạy con thế nào thì cũng không biết được sẽ có chuyện gì xẩy ra. Một thanh niên tâm thần bất ổn rất dễ gây phiền nhiễu cho người chung quanh. Ở một nơi mà súng được bán tự do, đa số dân nghĩ rằng việc mang súng là một quyền hiến định, thì những thanh niên tâm thần bất ổn có thể giết người một cách dễ dàng.

Jared Loughner đã giấu trong mình khẩu súng đã nạp đạn và một băng đạn để ngoài có sẵn 33 viên. Từ năm 1968 đạo luật Kiểm Soát Súng đã cấm bán súng cho người bị bệnh tâm thần. Nhưng trong vụ thảm sát làm chết 30 người ở Ðại Học Virginia Tech năm 2007, thủ phạm Cho Seung-Hui đã từng được phép mua súng sau 2 lần kiểm tra hồ sơ liên bang, mặc dù một tòa án tiểu bang trước đó đã phán rằng anh ta tâm thần không ổn định. Luật lệ không được áp dụng cẩn thận, các cơ quan cấp tiểu bang không cung cấp đầy đủ danh sách những người bệnh tâm thần cho chính phủ liên bang để vào hồ sơ kiểm soát. Nước Mỹ quá nhiều súng, số súng trong tay tư nhân nhiều hơn số dân Mỹ. Trong khi đó, những người làm chính trị nhiều khi sử dụng ngôn ngữ của súng ống để công kích lẫn nhau và khích động người cùng phe với mình. Trong một cuộc diễn thuyết gây quỹ trong mùa tranh cử năm 2008, Tổng Thống Barack Obama đã hô hào những người đến góp tiền bằng một ẩn dụ, ông nói: “Nếu họ mang dao tới cuộc đấu, chúng ta hãy mang súng!” Câu đó muốn nói, nếu bên Cộng Hòa quyên góp 100 đô la, các bạn hãy đóng góp 200 đô la! Nhưng tại sao phải dùng những ẩn dụ dao và súng như vậy? Chỉ có một nguyên do, là người ta sống trong một không khí không lành mạnh, ở một xã hội quá nhiều súng.

Trong bản tin đầu tiên về vụ mưu sát, người viết thuật lại cuộc đời chính trị của Dân Biểu Giffords, đã nhắc tới các đối thủ chính trị của bà. Trong số đó bà Sarah Palin, cựu ứng cử viên phó tổng thống của đảng Cộng Hòa năm 2008, bị tất cả mọi người chú ý. Trong mùa tranh cử năm ngoái, bà Palin đã đưa ra một bản đổ nước Mỹ với 20 ghế dân biểu của đảng Dân Chủ mà bà hô hào mọi người tấn công giật lấy, trong số đó có bà Giffords. Trên bản đồ, những mục tiêu tranh cử đó đã được đánh dấu bằng những hình tròn đồng tâm với hai đường chỉ cắt nhau hình chữ thập. Trông như hình tiêu điểm để nhắm vào trong trường bắn, và hình nhắm trên khẩu súng trường. Khi đi cổ động tranh cử cho một số ứng cử viên Cộng Hòa được nhóm Tea Party ủng hộ, bà Palin hay khuyến khích cử tri ủng hộ họ bằng khẩu hiệu “Don't retreat; reload.” Nghĩa đen là “Ðừng lui bước; hãy nạp thêm đạn!”

Bà Palin cũng là người cực lực phản đối đạo luật Cải tổ Y tế được Quốc Hội biểu quyết năm ngoái, với những lý lẽ coi là đạo luật này đã lập ra những “hội đồng tử hình.” Ðó là những ủy ban cứu xét xem các bệnh nhân già về hưu nào có thể bị ngưng không được chữa trị - tức là để cho chết, kết án tử hình. Thực ra ngay khi chưa có đạo luật này thì nhiều bệnh nhân vẫn bị từ chối không được chữa trị, do các hãng bảo hiểm hay cơ quan y tế quyết định. Những lời lẽ khích động cuồng nhiệt lại cộng thêm với ngôn ngữ, hình ảnh liên quan đến súng ống đã tạo ra một không khí nhiễm độc trong chính trường. Nhiều người đi biểu tình chống Tổng Thống Obama đã mang theo cả súng, họ bị ngăn cản không cho dự. Nhiều người vác theo hình của ông Obama vẽ giống như nhà độc tài Ðức Quốc Xã Adolf Hitler, một tiêu biểu cho tội ác đối với người Mỹ.

Năm ngoái, sau khi Dân Biểu Gabrielle Giffords bỏ phiếu chấp thuận đạo luật Cải tổ Y tế, văn phòng của bà ở địa phương đã bị phá phách. Có lúc bà đã nhận được một viên đạn. Chính bà đã tỏ ra lo ngại về những cuộc tấn công với hình tiêu điểm nhắm bắn của bà Sarah Palin. Bà nói: “Khi người ta làm như vậy, họ không biết hậu quả sẽ ra sao.” Sau khi bà Giffords bị bắn, bà Palin đã xóa bỏ những hình tiêu điểm này trên tấm bản đồ trong mạng lưới của bà; ngoài ra bà còn bày tỏ lời chia buồn với bà Giffords và gia đình các nạn nhân khác.

Một người được bà Palin ủng hộ và ca tụng như một anh hùng là ứng cử viên Jesse Kelley, đối thủ của bà Giffords. Ông là một cựu thủy quân lục chiến, khi hô hào những người ủng hộ hãy quyên góp 50 đô la, ông nói: “Hãy bắn khẩu M16 nạp đầy đạn!” “Hãy nhắm đúng tiêu điểm!” “Hãy trừ bỏ Gabrielle Giffords!” Trên đài ti vi Fox, bà Palin tỏ lòng ngưỡng nộ Kelley, nói: “Tôi không đáng cột dây đôi giầy trận của ông ấy.”

Những giọng điệu đầy tính chất bạo động trên đây rất đáng chỉ trích và đáng bác bỏ. Nhưng không có bằng chứng nào cho thấy Jared Loughner đã âm mưu giết bà Gabrielle Giffords vì chịu ảnh hưởng của những lời lẽ và hình ảnh đó. Anh ta được bạn bè mô tả là người khuynh tả chứ không bảo thủ. Anh ta thường vào các mạng lưới của cánh tả và trong phòng anh chứa những sách như bản Tuyên ngôn Cộng sản của Karl Marx.

Vụ mưu sát một dân biểu, dù không do các đối thủ của bà đã khích động, cũng có nguyên nhân chính trị. Ðây là điều mọi người Mỹ không chấp nhận. Vì vậy, sẽ có một cuộc thảo luận công khai về vấn đề này trên các diễn đàn. Dân Biểu John Boehner, tân chủ tịch Hạ Viện thuộc đảng Cộng Hòa, đã lên án hung thủ mưu sát bà Giffords, ông nói: “Tấn công một người đang phục vụ tức là tấn công tất cả mọi người đang phục vụ.”

Trong tuần trước, tại Hạ Viện Mỹ đã diễn ra một cảnh rất đẹp khi quyền chủ tịch được trao từ đảng Dân Chủ sang đảng Cộng Hòa trong không khí thân mật, vui vẻ. Hầu như ai cũng đã quên đi những cuộc tranh luận, công kích, các màn tấn công đủ kiểu trong mùa tranh cử năm ngoái. Ai cũng biết rằng các cuộc đấu gay go sôi nổi đã diễn ra trước đó chỉ là điều bắt buộc trong “cuộc giao đấu,” cũng như các cầu thủ tham dự một cuộc đá banh đều phải chơi hết mình. Ðó là luật chơi trong chế độ tự do dân chủ. Người ta có thể tố cáo nhau là có những chủ trương, chính sách làm hại quốc gia, có thể đe dọa rằng cử tri sẽ khốn khổ nếu tín nhiệm đối thủ của mình. Nhưng không ai được coi người tranh cử với mình là độc ác hay phản quốc. Ðặc điểm của thể chế dân chủ tự do là các bất đồng ý kiến sẽ được giải quyết qua lá phiếu, chứ không phải bằng bạo lực, dù trong lời nói.

Có những người sống trong chế độ dân chủ nhưng không hiểu luật chơi này. Ðặc biệt là những người tâm thần bất ổn. Họ làm cho không khí chính trị bị nhiễm độc. Những người làm chính trị càng phải thận trọng không làm cho nó nhiễm độc hơn. Năm 1995, Timothy McVeigh đã đặt bom một tòa nhà của chính phủ liên bang tại thành phố Oklahoma City làm chết 30 người trong đó có các trẻ em, cũng vì anh ta tin rằng chính quyền liên bang Mỹ là một hiểm họa cho đất nước. Anh ta đã chịu ảnh hưởng luận điệu của nhiều nhà chính trị lúc đó, họ công kích không phải một chính quyền nhưng chống cả hệ thống chính trị nước Mỹ. Ý tưởng đó không có gì nguy hiểm ở một nước tự do dân chủ, ai cũng có quyền nói. Nhưng giọng điệu của những người đưa ra các ý kiến đó lại nặng mầu sắc bạo động. Họ không phải chỉ trình bày ý kiến mà còn gieo rắc thù hận. Lối nói năng của họ có thể khiến người không biết suy nghĩ tưởng rằng việc sử dụng bạo lực để giải quyết vấn đề là điều không tránh được, và đáng khuyến khích. Những người bị bệnh tâm thần rất dễ hiểu lầm như vậy, mà trong xã hội không thiếu gì những người như McVeigh hay Jared Loughner.

Cuối cùng, người Mỹ phải suy nghĩ lại về một xã hội sống với nhiều súng quá. Những người tâm thần bất ổn thì ở đâu cũng có. Nhưng ít nơi nào họ có thể mua súng và mang súng trong người dễ dàng như ở nước Mỹ.

Cựu Dân Biểu Jim Kolbe, Cộng Hòa, người đại diện đơn vị của bà Gabrielle Giffords 22 năm trước khi về hưu năm 2006, nhân vụ mưu sát vừa qua đã nhắc lại thời ông còn tại chức cũng có những giờ phút nguy hiểm như vậy. Ông nói lúc nào, đi đâu gặp cử tri cũng có những người khó chịu, nghe những lời chửi rủa, nhất là khi bàn về vấn đề di dân vào Mỹ. Arizona là tiểu bang năm ngoái mới làm một đạo luật rất gắt gao để ngăn di dân bất hợp pháp. Nhưng ông Kolbe phải nói thêm, thị xã Tucson không phải là trường hợp đặc biệt, “Những chuyện như thế này ở đâu cũng có thể xẩy ra.”

Muốn cho những chuyện đó, khi xẩy ra, không giết đến 6 người vô tội, làm nhiều người thân thể tàn tật suốt đời, và khiến cả một nước có thể bất hòa khi đổ lỗi cho nhau, thì cần phải kiểm soát súng nghiêm ngặt hơn nữa.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Nhân dân nào?

Vũ Nhật Khuê
(Nguồn: danlambao1.wordpress.com)
Ngày 4 tháng 1 năm 2011 trong cuộc họp tại ủy ban thường vụ Quốc Hội, ông Hà Hùng cường hiện đang là bộ trưởng Bộ Tư Pháp tuyên bố: “Sửa Hiến Pháp để tất cả quyền lực thuộc về nhân dân”. Câu nói này được nhà văn Trần Nhương bình chọn là “Câu nói mát ruột nhất trong tuần”.

Là một người lạc quan trong một đất nước lạc quan nhất thế giới chúng tôi cũng... lạc quan như vậy. Mong sao không bị Lạc Ðường như nhà văn Ðào Hiếu. Nhân đây cũng xin nhắc lại sự kiện ngày 14 tháng 6 năm 2010 tại trụ sở công an quận Phú Nhuận-Sài Gòn. Mục Sư Nguyễn Trung Tôn bị bắt giữ sau khi thăm ông Ðỗ Nam Hải, cùng bị bắt giam với ông có cô Hồ Thị Bích Khương. Tại đây có một người xưng là công an với cấp bậc lớn, không mang quân phục công an, không cho biết danh tính đã mắng nhiếc nhục mạ với các đương sự. Khi Mục Sư Nguyễn Trung Tôn từ tốn đề nghị: “Ông không được xúc phạm nhân dân, công an thì phải lễ phép với nhân dân”. Ông này đập bàn quát: “Nhân dân nào? Không thể lễ phép với bọn chúng mày”.

Vậy kính hỏi ông bộ trưởng Bộ Tư Pháp là sau khi sửa đổi Hiến Pháp thì tất cả quyền lực sẽ thuộc về nhân dân loại nào?

Hiện nay có nhiều loại nhân dân lắm, sự phân tầng giai cấp hiện nay nó còn rắc rối tù mù còn hơn là sự phân chia giai cấp trong xã hội Ấn Giáo đầy huyền mộng.

15 người trong Bộ Chính Trị cũng là nhân dân nhưng là loại siêu cấp nhân dân. Ðiều 4 Hiến Pháp 1992 tập trung toàn bộ quyền lực vào tay nhân dân loại này. Hễ bắt ai hay muốn dẹp vụ đình đám nào cỡ như Luật Sư Lê Công Ðịnh, Tiến Sĩ Cù Huy Hà Vũ hay đình bản báo Du Lịch hoặc ra tay vụ Năm Cam ngay cả chọn người kế vị tiếp theo cũng do 15 siêu cấp nhân dân này họp và bỏ phiếu biểu quyết.

Loại nhân dân cao cấp thứ nhì từ chức chủ tịch UBND tỉnh trở lên các bộ trưởng và tổng biên tập báo Nhân dân thì là loại có nhiều đặc quyền đặc lợi. Ði công cán bằng máy bay hạng VIP, tiêu chuẩn bệnh viện đặc biệt khi đau ốm (ở Sài Gòn có BV Thống Nhất, Ðà Nẵng có BV C, ở Hà Nội có BV Thanh Nhàn). Tài sản thì tính bằng triệu đô, con cháu thì du học ở Mỹ, ở Úc, Châu Âu.

Loại nhân dân trung cấp là cán bộ ở các sở, các ban ngành trong tỉnh và chủ tịch UBND huyện (quận) trở lên đây là lại nhân dân hay làm khó dễ các lớp nhân dân phía dưới họ nhất. Những ai đi làm giấy tờ nhà đất, xin cấp giấy đăng ký kinh doanh, các loại khai báo thuế, hải quan nhập xuất hàng, kiện ra tòa... gặp loại nhân dân này thì ớn lạnh bằng các chiêu hành hạ của họ.

Loại nhân dân tiểu trung cấp là các quan chức địa phương huyện xã thì tùy theo nơi nào gần ánh sáng ít hay nhiều mà các loại quyền lực bộc lộ ra nhiều hay ít. Tiền cứu trợ cho dân nghèo lũ lụt hay bị nhóm này xơi nhất.

Dân thường thì có cán bộ công chức về hưu, hay làm việc buôn bán nhỏ là các tổ trưởng tổ dân phố. Phó thường dân loại 1 thì là công nhân lao động dân nghèo thành thị, nông dân. Phó thường dân loại 2 là đám người liên quan đến chế độ cũ, hay có thân nhân nước ngoài. Phó thường dân loại 3 là dân trong sổ bìa đen cần theo dõi của an ninh. Phó thường dân loại 4 là những người có tiền án tiền sự...

Ðó là sự tạm xếp theo chiều dọc từ trên xuống chứ còn theo chiều ngang thì là một mớ bòng bong có nhiều cung bậc còn hơn 7 nốt nhạc Ðồ Rê Mi Fa Sol. Ví dụ trong ngành công an đi cho dễ hình dung. Công an ở bộ khác ở sở nhé, xuống dưới huyện và xã thì càng “xuôi dòng nước chảy” nhé. Ở bộ thì bộ trưởng Bộ Công An thì đương nhiên nằm trong 15 siêu cấp nhân dân rồi. Thứ trưởng Bộ Công An chứ quyền thì nhiều hơn tỉnh trưởng. Bằng chứng là đây: Vụ ông Chủ Tịch Tô ở Hà Giang bị báo chí lôi ra có ai bị gì đâu. Nhưng 1 entry mém mém thôi, chỉ đụng sơ sơ đến thứ trưởng Bộ Công An là Hương Trà vào tù liền trong đêm, không có chần chừ “Ngày mai trời lại sáng” gì cả. Phân chia theo ngành ngang này phức tạp lắm. Cũng là ngang hàng như nhau nhưng ai có thân thế họ hàng “ở tầng trên” thì coi ngang hàng không ra gì. Vì làm gì cũng có loại nhân dân trên đưa ô dù ra hứng mưa che nắng rồi.

Ðó là phân loại nhân dân theo quyền. Ngoài ra nhân dân còn được phân loại theo... tiền loại này thì có các thứ hạng như đại gia nhân dân, nhân dân thượng lưu, nhân dân trung lưu, nhân dân bình dân và... mạt rệp nhân dân. Phân loại nhân dân theo tiền thì dễ thấy và dễ nhận dạng hơn nhìn vào phương tiện và cơ sở vật chất của đối tượng. Không như công an thì có loại công an mặc sắc phục nhiều sao nhiều gạch còn có loại công an mặc thường phục, loại công an rình rập trên mạng, công an chìm, công an lén...

Ngay cả trong một tầng lớp nhân dân theo tiền cũng nhiều thứ hạng. Lấy loại đại gia nhân dân ra làm ví dụ. Người ta đứng cùng hàng ngũ với nhau nếu anh nào trên 1 tỷ USD thì là Câu lạc bộ tỷ phú. Loại này có Ðào Hồng Tuyển, chúa đảo Tuần Châu, giám đốc công ty Hòa Phát, Bầu Ðức Hoàng Anh Gia Lai... Rồi triệu phú USD chơi với nhau. Loại này cũng có phân biệt thứ hạng tỷ phú USD đi máy bay hay đi xe hơi. Ði xe hơi loại nào? Xưa rồi cái thời “Nhất Mẹc, Nhì Bi, Tam ry, Tứ Nis” bây giờ xe trên 1 triệu USD mới dễ “làm ăn”.

Cuộc chạy đua xếp loại nhân dân theo xe hơi có Cường Ðô La, Lê Ân ở Vũng Tàu, Nàng Diệp Sài Gòn mới dụ được tài tử luật sư Thiệu Ánh Dương bỏ vợ theo mình...

Ở bên kia của quyền và tiền là đám nhân dân hạ lưu và các mạt rệp nhân dân thì hứng hết mọi khổ đau ưu sầu: Ðóng đầy đủ các thuế, ăn thực phẩm có độc tố, con cháu học hành trong các trường gặp toàn các “cô nuôi dạy hổ” hành hạ. Ði nhà thương thì chen nhau 4-5 người một giường. Gặp chuyện gì có kêu ca thì các tầng lớp nhân dân ở trên xa quá ngoài vùng phủ sóng không nghe. Theo một thống kê không chính thức thì loại nhân dân này chiếm đa số. Trong thông báo mới đây chuẩn bị đại hội đảng XI thì ở Việt Nam có 3.6 triệu đảng viên tức là chừng này nhân dân loại trung cấp trở lên siêu cấp. Trừ số 3.6 triệu nhân dân này còn lại trong gần 87 triệu dân thì thuộc loại nhân dân bình dân, phó thường dân các loại và mạt rệp nhân dân.

Sau đại hội đảng XI sẽ có họp Quốc Hội để sửa đổi Hiến Pháp 1992. Không biết Hiến Pháp mới sẽ tập trung quyền lực vào loại nhân dân nào? Và đến bao giờ thì gần 84 triệu nhân dân thường có cuộc cách mạng để làm nên một Hiến Pháp mới không cần đổi tới đổi lui vì điều 4 Hiếp Pháp nhà nước cộng sản bị lật đổ và cho vào lịch sử? Ðến bao giờ?
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Động thái cho bay thử máy bay thế hệ mới J20
trong bối cảnh Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ sang thăm Trung Quốc đang làm dấy lên nhiều nghi vấn.

Tờ New York Times (NYT) số ra ngày 12/1 đã đặt ra câu hỏi rằng ai mới là người kiểm soát thực sự bộ máy quân sự Trung Quốc sau sự kiện nước này tiến hành bay thử máy bay tiêm kích tàng hình J-20 giữa lúc Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates đang công du Bắc Kinh.

Lãnh đạo Trung Quốc có bất ngờ về vụ thử J20?

Theo NYT, vài giờ trước khi Bộ trưởng Robert Gates gặp Chủ tịch nước Trung Quốc Hồ Cẩm Đào, Trung Quốc đã cho bay thử máy bay thế hệ mới J20. Và ngay trong cuộc họp, ông Gates đã đề nghị trao đổi về vụ thử máy bay trong cuộc gặp với ông Hồ Cẩm Đào. Tuy nhiên, lãnh đạo của Trung Quốc cùng các cộng sự tỏ ra khá ngạc nhiên về yêu cầu này và lúng túng không trả lời.
Image
NYT cho hay, phát biểu với các nhà báo sau cuộc gặp với ông Hồ Cẩm Đào, Bộ trưởng Gates cho hay: “Các lãnh đạo dân sự Trung Quốc khá ngạc nhiên trước vụ thử này”.

Với chức vụ Chủ tịch Quân ủy Trung ương, sự ngạc nhiên của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào được tờ NYT đánh giá là bất thường. Báo này cũng dẫn ý kiến của Joseph S. Ney Jr, Giáo sư ở Đại học Havard, cho rằng ông không ngạc nhiên về việc ông Hồ Cẩm Đào không có thông tin về vụ thử máy bay trên. Theo chuyên gia này, "quân đội Trung Quốc thường xuyên có chương trình hoạt động thường nhật của họ mà không cần đến sự chấp thuận của lãnh đạo chính trị".

Đây không phải là lần đầu tiên quân đội Trung Quốc hoạt động một cách độc lập. Năm 2007, các quan chức ngoại giao Trung Quốc đã không thể nào trả lời các câu hỏi của phía Mỹ về vụ quân đội Trung Quốc bắn thử loại tên lửa phá hủy vệ tinh.

Mạng phân tích thông tin chiến lược "Stratfor" cũng cho rằng vụ thử J-20 là một ví dụ nữa cho những rạn nứt giữa các nhà lãnh đạo quân sự và dân sự của Trung Quốc. Từ lâu, ở Trung Quốc đã có tin đồn rằng các quan chức quân đội cấp cao ngày càng quyết đoán về chính trị, và các lãnh đạo dân sự cấp cao không được đánh giá cao vì không có kinh nghiệm quân sự.

Trong khi đó, hãng Reuters nói rằng, trong cuộc gặp với Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào, Bộ trưởng Quốc phòngMỹ Robert Gates đã trực tiếp đặt vấn đề về cuộc thử nghiệm J20 củaTrung Quốc. Ông Hồ Cẩm Đào khẳng định cuộc thử nghiệm này đã được lên kếhoạch từ trước.

Trung Quốc vẫn coi Mỹ mối hiểm nguy lớn nhất

Bất chấp chuyến thăm của Bộ trưởng Gates nhằm cải thiện quan hệ song phương, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ, Đô đốc Mike Mullen đã bày tỏ sự lo ngại về những loại vũ khí mà Bắc Kinh mới công bố như tên lửa hành trình chống hạm hay máy bay J20.
Image
Tên lửa Đông Phong
Đô đốc Mike Mullen nói: "Trung Quốc đang đầu tư vào khả năng công nghệ rất cao, và câu hỏi đặt ra là chúng ta phải cố gắng hiểu chính xác lý do tại sao. Chính sự mập mờ đó là điều mà tôi muốn chúng ta phải tìm hiểu rõ".

Đô đốc Mike Mullen đặc biệt lo ngại tại sao Trung Quốc lại thúc đẩy phát triển các loại vũ khí công nghệ cao, cho dù đó là tên lửa chống vệ tinh hay tên lửa đối hạm. Đô đốc Mike Mullen nói: "Rất nhiều trong số những vũ khí này dường như nhằm riêng vào Mỹ, chính vì vậy mà tại sao mối quan hệ quân sự này lại quan trọng như vậy".

Trung Quốc: Phát triển vũ khí để phòng thủ đất nước

Đáp lại những lo ngại từ phía Mỹ về các chương trình vũ khí mới của Trung Quốc, trong đó có việc thử nghiệm máy bay tiêm kích tàng hình J20, Bắc Kinh khẳng định việc tăng cường sức mạnh của họ là hoàn toàn chính đáng.

Phát biểu trong cuộc họp báo tại thủ đô Bắc Kinh ngay sau khi thử nghiệm thành công J20, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi nói: “Với sự phát triển công nghệ mạnh mẽ và yêu cầu quốc phòng đặt ra, việc nâng cấp các loại vũ khí là hoạt động hết sức bình thường đối với mỗi quốc gia. Việc phát triển vũ khí của Trung Quốc hoàn toàn nhằm mục đích phòng thủ, bảo vệ an ninh, toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền”.

Ông Hồng Lỗi cũng nhấn mạnh việc tăng cường sức mạnh quân sự của cả Mỹ và Trung Quốc phải dựa trên và bảo đảm nền tảng ổn định chính trị. Điều đó có nghĩa là hai nước phải tôn trọng an ninh, chủ quyền và các lợi ích phát triển của nhau. Phía Trung Quốc cũng bày tỏ hy vọng sẽ cùng với Mỹ có những biện pháp hiệu quả nhằm bảo đảm sự ổn định và phát triển lành mạnh.

Trà My - Bảo Minh (Tổng hợp)
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Thư ngỏ gởi người em gái Lê Thị Công Nhân
Trần Bình Nam
Kính gởi cô Lê Thị Công Nhân
Thư ngỏ này tôi gởi đến cô, một luật sư trẻ tuổi đang được người Việt trong và ngoài nước và các tổ chức đấu tranh cho nhân quyền và tự do tôn giáo trên thế giới ngưỡng mộ. Vì tranh đấu cho quyền làm người của dân tộc cô bị nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đưa ra tòa bỏ tù 3 năm (6/3/2007 – 6/3/2010) và 3 năm quản chế cho đến ngày 6/3/2013.

Ngày cô mãn hạn tù tôi viết bài “ Chào mừng người em gái Lê Thị Công Nhân” và cũng như những người ngưỡng mộ cô tôi theo dõi cuộc đấu tranh ở ngoài nhà tù của tôi với lòng mong đợi.

Đầu năm 2011, qua thông tin tôi được biết cô vừa có người yêu và tính chuyện lập gia đình. Cô xứng đáng được hưởng sự êm ái của mái ấm gia đình, trong vòng tay thân yêu của chồng và gieo lại tấm lòng nhân hậu cô hấp thụ nơi người hiền mẫu của cô đến cho con cái mình.
Qua các bản tin tôi được biết kỹ sư Ngô Duy Quyền là người thanh niên diễm phúc được lọt vào mắt xanh của cô. Lòng tôi vui với những thông tin tích cực đó. Tôi vui mừng chờ đợi tin chính thức. Và chờ đợi ngày gởi thiệp mừng và viết bài lên mạng mừng cô.

Tin chính thức đến qua cuộc phỏng vấn của cô và anh Quyền bởi ký giả Nguyễn Tuyển Nhật báo Ngườiviệt hôm Thứ Hai 10/1/2011.
Đọc bản tin ghi cuộc phỏng vấn tôi không vui .

Được hỏi khi nào tổ chức đám cưới cô cho biết cô và anh Quyền không nghĩ sẽ tổ chức đám cưới. Cô nói mười người hết chín người khuyên như vậy. Lý do cô đưa ra là sợ bị chính quyền phá, dù làm giản dị cũng bị phá. Cô đưa ra những dấu hiệu sẽ bị phá như: Cô và anh Quyền định vào Huế thăm linh mục Nguyễn Văn Lý thì bị công an ngăn cản y như họ “đi bắt tù” . Dấu hiệu khác, như từ khi ra tù đến nay những sự di chuyển vô hại của cô như đi tham dự một thánh lễ, đi ăn cơm ngoài, ra phố mua quần áo đều bị công an sách nhiễu với lý do cô vi phạm các điều khoản của lệnh quản chế.

Có thể tôi là người duy nhất trong 10 người nghĩ rằng thái độ của cô “không tổ chức đám cưới” – tôi hiểu là không làm tiệc cưới – với những lý do cô nêu ra là không thuyết phục.

Tôi đồng ý với cô các điều khoản của luật quản chế quá khắc khe và vô lý nên cô không muốn tuân hành. Nhưng cô chủ trương đấu tranh bất bạo động, mà nguyên tắc và sức mạnh của bất bạo động là “tuân hành ngay cả những luật lệ phi lý của nhà cầm quyền.

Lời phỉ báng nhà cầm quyền hay lực lượng công an không hữu ích bằng những lời nhẹ nhàng có lý có tình dễ đi vào tâm can của những kẻ độc tài dù họ nhất định bịt tai bịt mắt. Cây cứng gió to cũng gãy, mềm như cây sậy vẫn còn nguyên sau một trận phong ba. Ngài Mahatma Gandhi của Ấn Độ đã áp dụng nguyên tắc bất bạo động mà giải phóng được đất nước ra khỏi vòng nô lệ của đế quốc Anh.

Nhiều lần chính quyền Việt Nam gợi ý cho phép cô ra nước ngoài sống cô đã từ chối. Đó là chọn lựa đúng đắn của một người đấu tranh có nguyên tắc như linh mục không rời giáo xứ và con chiên của mình, người tu sĩ Phật giáo không rời bỏ chùa chiền khuôn hội và tín đồ trong nước. Thái độ đó của cô làm mọi người quý mến và cảm phục cô, trong đó có cá nhân tôi.
Trong thời gian đấu tranh chống Pháp giành độc lập đầu thế kỷ 20 nhiều chiến sĩ thuộc các đảng kín chống Pháp (như Việt Nam Quốc Dân Đảng, đảng Cộng sản …) thoát ly gia đình, và trong trường hợp đó họ hy sinh gia đình, vợ con cho cuộc đấu tranh và không chấp nhận bất cứ một thứ luật lệ nào của nhà cầm quyền Pháp.

Riêng cô từ khi bắt tay vào cuộc đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền và tự do tín ngưỡng cô đã chọn con đường đấu tranh hợp pháp, nghĩa là đấu tranh trong khuôn khổ luật lệ xã hội, mặc dù biết rằng những thứ luật lệ đó không phải do một quốc hội có tính đại diện của toàn dân ban hành mà được đẻ ra bởi một đảng cầm quyền qua một quốc hội do đảng nặn ra và chỉ biết làm theo lệnh đảng.

Trong khung cảnh đó cô cần phân biệt việc đấu tranh với những gì về đời sống gia đình của cô. Cô đừng tạo ra bất cứ một điều để nhà cầm quyền có cớ can thiệp vào chuyện cá nhân của cô.

Về đám cưới cô tôi không thấy vì lý do gì cô không tổ chức đám cưới vì sợ bị chính quyền phá. Nếu cô tổ chức lễ cưới và tiệc cưới trong gia đình và dứt khoát không để cho ai biến nó thành một cuộc tập họp chính trị thì không có lý do gì để nhà cầm quyền can thiệp phá rối.

Lề cưới và tiệc cưới của cô sẽ được cộng đồng thế giới nhìn vào và chính quyền cộng sản có đủ khôn ngoan để không làm trò cười cho bàng quan thiên hạ khi ra lệnh phá một đám cưới thuần túy không có tính chính trị.
Cô hãy cố gắng sống một đời sống hạnh phúc với anh Ngô Duy Quyền, người thanh niên dũng cảm đã chọn con đường chông gai giúp cô tiếp tục con đường đấu tranh bất bạo động của cô.

Cô không nên phung phí sức lực vào những cuộc dằng co vô bổ với chính quyền (tôi muốn nói với công an). Hãy dành sức cho những cuộc đấu tranh cốt lõi và quan trọng hơn.

Cô hãy noi gương bất bạo động của Thánh Ganhhi. Hãy theo gương cương quyết của vị thủ tướng mặt sắt nước Anh, bà Thatcher, và hãy theo gương Trí, Dũng của bà Aung San Suu Kyi.

Cô hãy cố gắng duy trì nội lực cho một cuộc đấu tranh dài lâu, đấu tranh với một tấm lòng vì đồng bào và tương lai sáng ngời của tổ quốc mến yêu chứ không đấu tranh vì tiếng vỗ tay cổ võ của những người ngoài cuộc thích vui. Và cô hãy coi chừng những âm mưu thâm độc của nhà cầm quyền.

Tôi đã chuẩn bị một bình hoa đẹp để gởi về Hà Nội mừng cô trong ngày trọng đại của cô với anh Quyền và chúc cô thắng lợi trong cuộc đấu tranh bất bạo động vì dân chủ và quyền làm người của dân tộc Việt Nam.

Trần Bình Nam
Jan 15, 2011
www.tranbinhnam.com
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Câu chuyện đảng


Lê Phan

Gần đây, trong khi lần mò đọc các blogs trong nước, tôi chợt thấy có người nói là ngày nào còn thấy “có ba ông râu xồm” trên “bàn thờ đảng” là ngày đó chúng ta không khá được.

Ðã lâu lắm rồi tôi mới nghe đến “ba ông râu xồm”! Lần cuối tôi nghe đến ba ông là trong một bữa nhậu ở vùng Ðồng Bằng Sông Cửu Long.

Hồi đó, trong những ngày đầu của Ðổi Mới, tại các tỉnh, mỗi tỉnh thường có một hai ông trưởng các ban khoa học kỹ thuật. Ða số họ là những phó tiến sĩ, tốt nghiệp từ các trường đại học nổi tiếng của Ðông Âu, nhưng vì không phải là con ông cháu cha, họ bị đẩy về làm ở các tỉnh. Không có việc làm, bất lực, chướng tai gai mắt, tất cả cộng lại làm cho họ trở thành những người vô cùng bất mãn.

(Cũng xin đính chính một điều là học vị phó tiến sĩ quả là rất đáng kính nể trong hệ thống giáo dục Liên Xô cũ. Ðây là bằng cao nhất mà các trường đại học cấp. Nó tương đương với bằng PhD của các trường đại học Tây phương. Bởi theo hệ thống Liên Xô, bằng tiến sĩ chỉ có Hàn Lâm Viện cấp và phải có nhiều công trình học thuật mới được cấp bằng tiến sĩ. Dĩ nhiên, đại học xã hội chủ nghĩa có nhiều ông là phó tiến sĩ hữu nghị, nghĩa là con nhà, được cho đi học và cấp bằng mặc dầu không học được gì cả. Nhưng đa số các vị phó tiến sĩ đã có học lực thực sự.)

Ở Ninh Bình, tôi đã gặp một ông phó tiến sĩ chuyên về môi trường. Còn trẻ, vẫn còn hăng máu, ông tức mình khi thấy ô nhiễm lan tràn. Hôm tôi tới thăm, ông mời tôi đi xem một hiện tượng mà ông nói chứng tỏ “sự thiếu thông minh ngoài sức tưởng tượng”. Ông đưa tôi ra cuối thành phố, nơi Núi Cánh Diều đứng sừng sững. Những ở xa xa, một làn khói xám đặc đang từ chân núi bốc lên, bị gió đẩy lại và đang lơ lửng trên bầu trời thành phố. Ông phó tiến sĩ bảo tôi “Ðó là nhà máy nhiệt điện Ninh Bình, xây xong năm 1974, công nghệ Trung Quốc phế thải, ô nhiễm khủng khiếp. Chưa hết, các vị sợ rằng vẫn còn phải đánh Mỹ, đem nhà máy chôn sâu xuống để che cột khói. Thành ra, bây giờ bao nhiêu khói nhà máy thải ra, bình thường không đi đâu được cả, cứ nằm yên trên bầu trời thành phố!” Khi tôi hỏi có đến gần được không, ông cười trả lời “Tôi không dám tới gần. Sau nhiều lần tôi khiếu nại, nhà máy bây giờ cấm cửa tôi. Họ dọa tới gần họ giết! Không biết họ có dám giết tôi không nhưng đánh cho một trận thì hẳn là mấy tên bảo vệ dám làm. Thôi chẳng dại gì!”

Ở Ðồng Bằng Sông Cửu Long tôi gặp một ông khác. Ông này thì bất mãn về việc nuôi tôm mà ông gọi là “nuôi tôm kiểu làm rẫy”. Ông giải thích “Cũng như người Thượng đốt rừng làm rẫy, họ nuôi tôm bằng cách quây một khu đầm lầy, chặt hết tràm đước, nuôi tôm. Nuôi tôm mà không cần cho ăn. Năm đầu tôm tốt lắm. Sang đến năm thứ nhì, tôm ít dần. Vài ba năm sau, đất hết màu, không còn tôm nữa. Ta bèn bỏ đó đi sang chỗ khác. Cứ như thế, đất mất hết màu, rừng đước tàn phá, bờ biển mất bảo vệ thiên nhiên, chết dần, xoáy mòn, sụp lở. Nhưng nói họ không nghe, bảo là phá hoại chủ trương chính sách”.

Ðêm hôm đó, về ngồi nhậu, ông đứng dậy nâng lon bia không biết thứ bao nhiêu, đi đến nhìn tấm hình vốn thường được đặt ngay giữa nhà của mọi cơ quan, lớn tiếng mời “Chúc sức khỏe anh Sáu Lê-nin!” Nhìn sang hai tấm hình kế bên, ông ngẫm nghĩ rồi hô tiếp “Chúc sức khỏe hai ông râu xồm theo bác đi làm cách mạng!” Và ông quay trở về lầm bầm “Ba thằng râu xồm báo hại, giắt bác đi lầm đường, nhưng đụng vào là chết bỏ!”

Sở dĩ tôi nhớ đến chuyện này cũng vì hôm nay, nhân đọc bài của Bauxite Việt Nam, chân tình khuyên đảng Cộng Sản, có nói đến cái giai đoạn mà “Về thời gian, cách nay vài chục năm, thử hỏi có ai dám công khai đăng báo bàn về việc học thuyết có tên gọi chủ nghĩa xã hội và việc xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa là đúng hay sai? Chỉ riêng một ý nghĩ ngờ vực mới thoáng qua trong đầu, mỗi con người định bụng tư duy theo hướng đó đã vội vàng ‘tự kiểm duyệt bỏ’ để tránh tai họa - tấm gương Nguyễn Hữu Ðang, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Dần... vẫn còn nguyên giá trị cảnh báo.”

Các ông trong Bauxite Việt Nam có vẻ nghĩ giai đoạn đó đã xa rồi, nhưng không, nó vẫn còn đó. Chỉ cần nhìn lên tivi hay liếc qua báo Nhân Dân là thấy ngay hình ba ông râu xồm vẫn nhìn xuống các ông bà đại đảng viên nhóm họp. Ðảng Cộng Sản vẫn còn cương quyết thảo luận “Dự thảo cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”.

Dĩ nhiên ngày nay chủ nghĩa xã hội chỉ là một cái vỏ để che giấu cho một chế độ mà thực sự là chế độ tư bản hoang dã, trong đó quyền hành tập trung vào một nhóm nhỏ. Như Bauxite Việt Nam đã nhắc nhở họ là “kẻ cai trị chỉ bằng quyền lực tuyệt đối”. Và như ông đại sứ Hoa Kỳ đã nhận xét một cách chua chát “Cũng rất quan trọng chúng ta đừng quên là sự phân chia phe nhóm, trong đó phe nhóm miền vẫn là một đường chia rẽ quan trọng, ngày càng không dựa trên chủ thuyết nữa-nay nó chỉ dựa trên quyền lực, đỡ đầu, và tiền tài.”

Năm nay đảng lại họp để chia phần các chức vị chóp bu. Không biết ai sẽ được những chức vị này nhưng ai có được thì cũng vậy thôi. Mục đích tối hậu của họ vẫn là “quyền lực, đỡ đầu và tiền tài”. Nó cũng chẳng khác gì mục tiêu của hệ thống quyền lực của băng đảng Mafia.

Và cũng chính vì vậy mà dầu cho bao nhiêu lời khuyên chân thành của các nhà trí thức như các nhà trí thức trong Bauxite Việt Nam, họ vẫn lờ đi.

Các ông trong Bauxite Việt Nam nói đến “Cho phép chúng tôi nói một lời nói thẳng cuối cùng: Một Cù Huy Hà Vũ (dù có là tên “nghịch tử”), thì cũng không tạo thành mối nguy mất nước ta - trái lại, chính sự dốt nát, ngạo mạn và tham lam vô độ mới dẫn tới một vụ Vinashin và sẽ dẫn tới những vụ Vinashin khác vẫn có nhiều khả năng tiếp tục bùng nổ, sẽ đẩy dân tộc nợ nần này vào bàn tay người chủ nợ Bắc Kinh, và đó mới chính là nguy cơ mất nước nhỡn tiền.”

Nhưng họ nào có sợ mất nước, họ chỉ sợ mất đảng. Bởi họ biết rằng Trung Quốc rất khôn ngoan, chả dại gì xâm lăng Việt Nam. Họ chỉ cần nắm múi được các lãnh đạo, cai trị gián tiếp qua những người này, rút tỉa hết tài nguyên đất nước. Thành ra các vị này sẽ tiếp tục được cầm quyền, đảng sẽ vẫn còn, chỉ có dân tộc Việt Nam là thua thiệt.

Chả trách mà lần đó, sau thêm vài lon bia nữa, ông phó tiến sĩ ở Ðồng Bằng Sông Cửu Long đã cất tiếng ngâm, nhái giọng thơ Tố Hữu. Ông ngâm:


“Bốn ngàn năm ta vẫn là ta

Từ trong hang đá chui ra

Nhìn quanh nhìn quẩn rồi ta chui vào!

Quả cũng không khác gì hoàn cảnh của đất nước và dân tộc vậy.”
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

Phát minh "tuyệt vời" của chế độ cộng sản Trung Hoa

Trẻ em "cường quốc kinh tế hạng nhì thế giới" xách bếp củi đi học

- Nhiều trẻ em "cường quốc kinh tế đứng nhì thế giới" đã phải mang theo những bếp than củi di động đi học
để sưởi ấm trong những ngày mùa đông rét buốt.

Image
Một học sinh tại trường tiểu học Chaping ở huyện Xinhuang, tỉnh Hồ Nam,
"cường quốc kinh tế đứng nhì thế giới" để bếp than củi dưới chân nhằm sưởi ấm.

Image
Các học sinh ngồi ăn trưa bên những bếp than củi di động tại trường tiểu học Chaping.
Nhiệt độ tại Xinhuang đã giảm xuống -2,5 độ C trong những ngày gần đây.

Image
Một em nhỏ một tay đeo cặp, một tay xách bếp than đang trên đường về nhà sau giờ tan học.

Image
Bé trai đang ra sức thổi lửa để sửa ấm trên đường về nhà.

Image
Em nào cũng xách một bếp than di động.

Image

Image

An Bình
Theo Xinhua
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Ðại hội ù lì trâng tráo

Ngô Nhân Dụng
Ðại hội thứ 11 của Ðảng Cộng Sản Việt Nam có đặc tính nào nổi bật? Có thể gọi tên, đó là tính chất ù lì và trâng tráo. Ù lì vì 1,377 đại biểu nhất quyết sẽ giữ đảng ngồi tại chỗ trên đầu trên cổ dân Việt Nam, không có gì thay đổi cả mặc dù gần như toàn thể 88 triệu người Việt Nam đang khát khao muốn thay đổi, thay đổi toàn diện và càng nhanh càng tốt.

Trâng tráo, bởi vì muốn ngồi lại để hưởng thụ các “quả thực của cách mạng,” tích lũy của cải làm giầu thì họ phải theo truyền thống “văn hóa mặt dầy” mà nói dối, hô to những khẩu hiệu huênh hoang, phải đánh lừa mình và lừa người một cách thản nhiên, không biết hổ thẹn.

Thể hiện tính chất ù lì là chủ trương giữ vững độc quyền chính trị. Hai ngày trước đại hội, ông Trưởng Ban Tuyên Giáo Tô Huy Rứa đã dọa trước rằng: “Ðảng kiên quyết bác bỏ ‘nhu cầu đa nguyên’ về chính trị tại Việt Nam.” Một người có hy vọng sắp vào Bộ Chính Trị là ông Ðinh Thế Huynh, chủ tịch Hội Nhà Báo Việt Nam đã khẳng định: “Dứt khoát không đa nguyên đa đảng!” Ông Huynh giải thích rằng: “Chúng tôi đã từng thử nghiệm đa nguyên đa đảng thông qua cuộc tổng tuyển cử năm 46, với nhiều đảng tham gia Quốc Hội. Nhưng đến khi thực dân Pháp quay lại xâm lược nước tôi thì chỉ có Ðảng Cộng Sản cùng với nhân dân Việt Nam chiến đấu chống lại và giành thắng lợi trước thực dân Pháp. Và nay, Ðảng Cộng Sản Việt Nam vẫn đang tiếp tục lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.”

Ðây là một lối xuyên tạc lịch sử trắng trợn, mà xưa nay đảng Cộng Sản vẫn trâng tráo thi triển. Năm 1945 chỉ có 5,000 đảng viên cộng sản, còn các đảng phái quốc gia đông hơn nhiều. Hồ Chí Minh đã phải mời các đảng quốc gia hợp tác vào chính phủ, mời cả ông Bảo Ðại làm cố vấn, để có bộ mặt đoàn kết. Hồ còn tuyên bố giải tán đảng Cộng Sản nữa, nhưng ai cũng biết là bịp. Sau đó, Cộng Sản đã thỏa hiệp để có thời gian “hưu chiến” với Pháp, trong thời gian đó họ dùng toàn lực lượng tìm giết các người có khuynh hướng quốc gia, những người không theo đảng Cộng Sản do Stalin và Ðệ Tam Quốc Tế chỉ huy. Trước khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ, Cộng Sản Việt Nam đã hạ sát, thủ tiêu bao nhiêu người Việt yêu nước xuất sắc. Hãy nhớ tới Trương Tử Anh, Lý Ðông Á, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Huỳnh Phú Sổ. Một nhà văn yêu nước như Khái Hưng, đã từ giã cháu ở Hà Nội với câu, “Chú về quê đi kháng chiến,” nhưng cũng bị cộng sản thủ tiêu mất xác. Bao nhiêu các lãnh tụ đảng phái quốc gia phải trốn sang Tầu như Nhất Linh, Hoàng Ðạo, Nghiêm Kế Tổ, chỉ vì nếu ở lại trong nước sẽ bị ám sát như các nhân vật trên. Lịch sử sẽ ghi rõ năm 1946 đảng Cộng Sản Việt Nam đã cướp độc quyền chính trị theo đúng bài bản của Stalin. Năm 1953, Cộng Sản Việt Nam lại phát động Cải Cách Ruộng Ðất theo đường lối Mao Trạch Ðông, và một lần nữa, đi tìm giết hết những người bị nghi ngờ, hoặc bị vu cáo, là đảng viên Quốc Dân Ðảng! Vì đã nhắm mắt chạy theo một chủ nghĩa ngoại lai “đấu tranh giai cấp” để thực hiện “vô sản chuyên chính” cho nên đảng Cộng Sản tiêu diệt hết những người yêu nước không cùng ý kiến và có khả năng!

Bây giờ ông Ðinh Thế Huynh lại nói rằng năm 1946 các đảng phái quốc gia biến đi mất để đảng Cộng sản một mình kháng chiến, đó là một lời trâng tráo xuyên tạc lịch sử. Nhưng trong số các nhân vật lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam ít có người trâng tráo bằng ông Nguyễn Tấn Dũng!

Ngày hôm qua tạp chí trên mạng Tiền Vệ đã trình bày cho bà con khắp thế giới một thủ đoạn tô điểm phấn son để tung hô ông Nguyễn Tấn Dũng, người đang ngồi chủ tọa đại hội Ðảng Cộng Sản. Màn kịch này xuất hiện ở Việt Nam với một bài báo ngày 11 tháng 1, 2011, trên tờ Pháp Luật Việt Nam, nhan đề “Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng xuất sắc nhất Châu Á!”

Báo Pháp Luật nói là họ viết tin này “theo báo Firmenpress” và rêu rao rằng đó là do báo chí Châu Âu đánh giá Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng! Nhưng đảng Cộng Sản quen đánh lừa dân Việt Nam lại không biết rằng ngày nay người Việt đã khôn hơn những năm 1946 nhiều rồi. Ông Nguyễn Tôn Hiệt, trên Tiền Vệ, đã đi tìm hiểu và khám phá ra mạng firmenpresse.de ở Ðức là một trang mạng chuyên đăng các bài tự quảng cáo (PR), dưới hình thức “Thông cáo cho báo chí” trong mọi lĩnh vực, từ thương mại, nghệ thuật, công nghệ, cho đến chính trị, do các khách hàng tự viết gửi đến. Ai muốn “lăng xê” món hàng nào, ca sĩ, tài tử nào, cứ việc đưa lên mạng này!
Tìm trên trang firmenpresse.de, ông Nguyễn Tôn Hiệt cuối cùng thấy có tới hai cái “press release” quảng cáo cho Nguyễn Tấn Dũng do một khách hàng tên là “RES-Resources, Ecology, Services GmbH” gửi đăng trong hai ngày 10 và 12 tháng 1, 2011. Công ty này bản thân là một hãng chuyên về các dịch vụ chế biến rác rưởi và vệ sinh môi trường; tạm gọi là một Công ty Rác.

Sau nhiều màn điều tra, Nguyễn Tôn Hiệt đã khám phá ra đây là một “vở kịch chuyền bóng” giữa công ty chế biến rác “RES-Resources,” với hai tờ báo của Việt Nam là VnExpress và Pháp Luật. Màn mở đầu là mạng VnExpress, từ ngày đầu năm 2011, viết bài tổng kết thời sự phong ông Dũng là Nhân Vật Năm 2010 của họ. Thế rồi, qua công ty Rác RES-Resources, Cộng sản đã biến tin đó thành một bài quảng cáo trên mạng firmenpresse.de vào ngày 10 tháng 1 năm 2011, trước khi đảng Cộng Sản khai mạc đại hội. Hôm sau, báo Pháp Luật lại dùng bài quảng cáo trên firmenpresse làm thành bản tin mới, tung ông Nguyễn Tấn Dũng lên cao hơn, nói các báo ở Âu Châu coi ông ta là vị thủ tướng “xuất sắc nhất Châu Á!” Một ngày sau, họ lại dựa trên bài của báo Pháp Luật này mà đưa qua RES-Resources cho thêm một bài quảng cáo nữa trên firmenpresse với nội dung “Ngôi sao chính trị mới ở Châu Á: Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng!” Các báo khác trong nước cứ theo firmenpresse mà đăng tin theo đuôi, nói trắng trơn rằng: “Các báo Châu Âu đánh giá Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng xuất sắc nhất Châu Á!”

Sau khi những màn tung bóng trên được xuất hiện làm quà cho đại hội đảng Cộng Sản Việt Nam trong ngày khai mạc, 1,377 đại biểu thay mặt cho gần 3.7 triệu đảng viên cộng sản không biết đầu đuôi thế nào chắc sẽ “hồ hởi phấn khởi” tin tưởng vào ông Nguyễn Tấn Dũng, như một nhân vật nổi danh quốc tế, không kém gì ông Hồ Chí Minh! Như vậy thì không bầu ông ta làm tổng bí thư sẽ phí uổng một nhân tài quốc tế! tại sao công ty Rác RES-Resources lại “hồ hởi” gửi những bản tin quảng cáo cho Nguyễn Tấn Dũng như thế? Nguyễn Tôn Hiệt đã đọc kỹ bản văn bằng tiếng Đức mà họ dửi cho đăng trên mạng lưới quảng cáo firmenpresse và thấy dụng ý của h5o. Bản tin đó cho biết họ có nhân viên người gốc ở Á Châu rồi nói dài dòng về nhu cầu bảo vệ môi trường và biến chế RÁC của Việt Nam! Nhân viên đó chắc là một người Việt Nam đang lo chạy mối biến chế rác cho công ty – có liên hệ đến Nguyễn Tấn Dũng như thế nào thì chỉ họ biết với nhau!

Ít nhất, Nguyễn Tấn Dũng bây giờ còn giỏi hơn ông Hồ Chí Minh ngày xưa. Ông Dũng có thể thuê người dùng mạng lưới ngoại quốc mà dàn cảnh vở kịch “tự đánh bóng mình,” như đánh bóng chuyền. Chứ không như ông Hồ phải tự cặm cụi viết sách ca ngợi mình ký tên Trần Dân Tiên; chứ không phải là một cái tên Nga hay tên Ðức cho có vẻ quốc tế! Có thể nói, ông Dũng đã làm đúng theo chủ đề của Ðại Hội XI là “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Ðảng!” Năng lực dối trá, nói láo một cách trâng tráo không hề đỏ mặt, đã được đưa lên ngang tầm thời đại!

Một bằng chứng là trong ngày khai mạc đại hội, các đại biểu được nghe đọc “danh sách 103 đảng từ 69 nước và 14 tổ chức quốc tế” đã “gửi điện chúc mừng Ðại Hội XI của đảng Cộng Sản Việt Nam,” theo bản tin của hãng tin nhà nước. Sau khi biết chuyện về chiến dịch tung hô Nguyễn Tấn Dũng trên đây, người dân Việt Nam sẽ tự hỏi không biết có bao nhiêu điện văn chúc mừng đó ký tên là Trần Dân Tiên? Nhưng mối nghi hoặc đó cũng không ngăn cản được Nguyễn Tấn Dũng “thay mặt Ðoàn Chủ Tịch và toàn thể đại hội phát biểu ý kiến bày tỏ sự trân trọng và cảm ơn nồng nhiệt đối với tình cảm hữu nghị và hợp tác của các chính đảng, tổ chức và bạn bè quốc tế!” Tự nhiên, các “bạn bè quốc tế” như công ty Rác RES-Resources thì lúc nào cũng nồng nhiệt ủng hộ và hợp tác với Nguyễn Tấn Dũng rồi!

Bản tin báo nhà nước còn viết rằng: “Ðại hội coi đây là biểu hiện sinh động của mối quan hệ quốc tế của Ðảng ta; là sự ủng hộ, cổ vũ, động viên to lớn đối với công cuộc đổi mới của nhân dân Việt Nam do đảng Cộng Sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo.”

Ðiều đáng chú ý trong câu văn quảng cáo trên đây là họ không nói gì tới Chủ nghĩa Xã hội hay là Chủ nghĩa Cộng sản cả. Họ nói đến “sự ủng hộ, cổ vũ, động viên to lớn đối với công cuộc đổi mới...” Tức là họ coi như bỏ quên luôn cái tên của đảng họ! Mà trong thực chất, bây giờ những đại biểu ngồi trong đại hội này có còn ai là “chiến sĩ vô sản” nữa hay không?

Nhưng chúng ta biết trong báo cáo chính trị, ông Nông Ðức Mạnh đã nhắc lại một cách long trọng là đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn “tiếp tục thực hiện chủ trương đảng viên làm kinh tế tư nhân;” và “kết nạp những người là chủ doanh nghiệp tư nhân đủ tiêu chuẩn vào đảng.” Nhìn chung quanh đại hội, trong số 1,377 người ngồi đó có người nào không đang “kinh doanh” hay không? Trước khi đi dự đại hội này, có người nào còn đọc Tuyên ngôn Cộng sản của Karl Marx hay không?

Cuối cùng thì đối với gần 1,400 con người này, mối quan tâm lớn nhất của phần lớn trong số đó là bảo toàn tài sản của gia đình họ và làm sao cho tiền bạc cứ càng ngày cang phong phú hơn! Anh có một triệu đô la nhìn thấy anh khác có 10 triệu thì sẽ phấn đấu để mình cũng có 10 triệu. Anh có 10 triệu sẽ nhìn tấm gương các đồng chí có 100 triệu, có một tỷ đô la để quyết tâm tiến tới trên con đường đổi mới! Nhưng muốn giữ được tài sản và bành trướng tài sản, thì điều kiện quan trọng nhất là phải bám lấy quyền lực. Mất quyền là mất tất cả.

Ðó là tâm trạng của cả ngàn đại biểu đang ngồi nghe những bài diễn văn trống rỗng trong hội trường. Trong lúc đó, hơn 80 triệu người Việt Nam đang lo làm sao đối phó với lạm phát. Ông Nguyễn Bắc Son, phó trưởng ban Tuyên Giáo nói đến tiêu chuẩn chọn người vào Trung Ương Ðảng sắp tới: “có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức, có năng lực hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, có uy tín trong đảng, trong xã hội, có tư duy đổi mới, khả năng tiếp cận, nắm bắt, xử lý vấn đề mới và vấn đề phức tạp nảy sinh; có khả năng đoàn kết, quy tụ, có phong cách làm việc khoa học, dân chủ, sâu sát, nói đi đôi với làm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm...”

Toàn những khẩu hiệu ròn rã ghi trong sách giáo khoa cho trẻ em học, nghe hay kinh khủng. Nhưng ông ta không nói gì đến khả năng kiềm chế lạm phát cả! Cũng không nói gì đến khả năng giảm bớt khiếm hụt thương mại mỗi năm 12 tỷ đô la cả. Cũng không nói đến khả năng làm sao quản lý các doanh nghiệp nhà nuớc cho chúng khỏi ăn mòn của cải do toàn dân tạo ra cả!

Tóm lại, đảng nhất định ù lì, miễn sao tiếp tục hưởng thụ những “thành quả cách mạng” tính bằng đô la! Không biết người Việt Nam cứ tiếp tục coi những màn kịch này sẽ còn chịu đựng được bao lâu?
Đính Chính: Trước đây tong bài này viết rằng ông Nguyễn Tôn Hiệt viết trên Đàn Chim Việt; nay xin viết lại đó là mạng Tiền Vệ cho đúng. Xin quý độc giả cùng các bạn chủ trương Tiền vệ và Đàn Chim Việt tha lỗi.
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Quan hệ phức tạp Hoa Kỳ-Trung Quốc

Hà Tường Cát/Người Việt
Không ai biết Trung Quốc chờ mong gì ở chuyến công du Hoa Kỳ của Hồ Cẩm Ðào. Các giới chức tại Bắc Kinh không muốn tỏ rõ điều này và Cui Tiankai, thứ trưởng Ngoại Giao Trung Quốc trong buổi họp báo hôm Thứ Hai để trình bày về chuyến công du, chỉ dùng những lời lẽ mơ hồ về nhu cầu “phát triển vững chắc và lành mạnh mối bang giao giữa hai quốc gia.”


Chủ Tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Ðào được Phó Tổng Thống Hoa Kỳ Joe Biden đón ở phi trường căn cứ quân sự Andrews, Maryland, hôm Thứ Ba, 18 tháng 1, 2010, và cùng đứng trên thảm đỏ chào quốc kỳ hai nước. (Hình: Alex Wong/Getty Images)



Năm vừa qua quan hệ Hoa Kỳ-Trung Quốc có nhiều khó khăn và trở ngại, từ mậu dịch, tiền tệ ganh đua quân sự đến việc thiếu cộng tác trên lãnh vực ngoại giao.

Một cách chung thì tất cả mọi người đều dự đoán kinh tế sẽ là vấn đề hàng đầu trong cuộc hội đàm Obama-Hồ Cẩm Ðào, được coi là “cuộc gặp gỡ thượng đỉnh Hoa Kỳ-Trung Quốc quan trọng nhất từ hơn ba thập niên kể từ chuyến thăm viếng lịch sử của Ðặng Tiểu Bình năm 1979,” theo nhận định của Zbigniew Brzezinski, cố vấn an ninh quốc gia thời Tổng Thống Jimmy Carter. Theo ông ý nghĩa của cuộc hội kiến này, lần thứ tám giữa Hồ Cẩm Ðào và Barack Obama, “vượt trên chức nghiệp cũng như nghi thức bình thường trong những chuyến công du của các nhà lãnh đạo quốc gia và sẽ xác định quan hệ giữa hai cường quốc hàng đầu thế giới ở thế kỷ 21.”

Hồ Cẩm Ðào đến Washington lần này có lẽ là lần cuối cùng với cương vị Chủ tịch nhà nước Trung Quốc, với dự kiến nhiệm kỳ sẽ mãn vào năm 2012. Ông sẽ được dành cho một vinh dự mà trước đây 5 năm đã không có: bữa quốc yến do Tổng Thống Barack Obama và Ðệ Nhất Phu Nhân Michelle khoản đãi tại tòa Bạch Ốc tối Thứ Tư, 19 tháng 1. Các quan sát viên cho rằng biểu tượng và nghi lễ vốn là những yếu tố rất quan hệ đối với người Hoa và hình thức trang trọng này sẽ hoàn toàn làm hài lòng Hồ Cẩm Ðào, giúp gia tăng tình thân thiện giữa cá nhân hai nhà lãnh đạo. Ðây cũng là sự đáp lễ của Tổng Thống Obama đã được tiếp đãi bằng hình thức như vậy ở Bắc Kinh tháng 11 năm 2009.

Tổng Thống Obama trước đây đã hai lần tổ chức quốc yến ở tòa Bạch Ốc đãi thủ tướng Ấn Ðộ và tổng thống Mexico. Người tiền nhiệm, Tổng Thống George W. Bush, ít ưa chuộng lễ nghi này, qua 8 năm ông thường chỉ tiếp các nhà lãnh đạo nước ngoài bằng những bữa tiệc với nghi thức vừa phải hay những buổi ăn chung để làm việc. Tháng 4 năm 2006 khi Hồ Cẩm Ðào đến Washington lần đầu tiên, Tổng Thống Bush dành cho nhà lãnh đạo Trung Quốc sự đón tiếp sơ sài dù vẫn đủ thủ tục có đội quân danh dự dàn chào và bắn 21 phát súng đại bác, nhưng chỉ đãi cơm trưa thay vì dạ yến ở tòa Bạch Ốc.

Chiếc máy bay Boeing 747 của Air China chở Hồ Cẩm Ðào và phái đoàn Trung Quốc đáp xuống phi trường quân sự Andrews trưa Thứ Ba. Phi trường của căn cứ hỗn hợp Không và Hải quân này ở phía Ðông Nam Washington D.C. vẫn là nơi sử dụng cho máy bay Air Force One của các tổng thống Hoa Kỳ. Phó Tổng Thống Joe Biden đón Hồ Cẩm Ðào tại sân bay và cùng đứng trên thảm đỏ chào quốc kỳ hai nước trước khi lên đoàn xe về thủ đô.

Trong thời gian 4 ngày ở Hoa Kỳ từ Thứ Ba đến Thứ Sáu, Hồ Cẩm Ðào sẽ được tiếp đón với nghi lễ quốc khách tại tòa Bạch Ốc ngày Thứ Tư trước khi bước vào cuộc hội đàm với Tổng Thống Obama, và sẽ ghé thăm thành phố Chicago trước khi về nước. Ngoài buổi quốc yến tối Thứ Tư, ngay tối Thứ Ba ông cùng một số phụ tá còn có một bữa ăn tối thân mật trong tòa Bạch Ốc với Tổng Thống Obama, có mặt Ngoại Trưởng Hillary Clinton, và Cố vấn An ninh Quốc gia Tom Donilon.

Người tiền nhiệm của Hồ Cẩm Ðào, Chủ Tịch Giang Trach Dân và phu nhân cũng đã được Tổng Thống Bill Clinton và Ðệ Nhất Phu Nhân Hillary long trọng thết đãi quốc yến cùng với 230 khách hồi tháng 10 năm 1997. Trước đó mấy năm, Tổng Thống Clinton đã từ chối cuộc thăm viếng chính thức của nhà lãnh đạo Trung Quốc và chỉ đề nghị gặp gỡ ở Lincoln Center, thành phố new York, vào dịp các nhà lãnh đạo thế giới đến tham dự Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc.

Tổng Thống Obama rõ ràng bày tỏ một thái độ hòa hoãn và thực dụng hơn, dành cho nhà lãnh đạo Trung Quốc sự tiếp đón trang trọng như muốn có, lần đầu tiên từ sau 13 năm. Theo tin của thông tấn xã AP, cho đến bây giờ chưa thấy dựng lều ngoài sân cỏ như hai lần đón thủ tướng Ấn Ðộ và tổng thống Mexico, có nghĩa là bữa tiệc sẽ được tổ chức trong tòa Bạch Ốc. Mỗi lần đãi quốc khách đều có một đầu bếp riêng nhưng cũng chưa biết lần này sẽ là ai.

Trước và khi đến Hoa Kỳ, lời lẽ của Hồ Cẩm Ðào đều tỏ ra hòa nhã, cho rằng sự phát triển mối quan hệ vững chắc và lành mạnh trong ba thập niên vừa qua đã chứng tỏ là có lợi ích cho dân chúng cả hai nước và nền hòa bình thế giới.

Các công ty Hoa Kỳ từ lâu vẫn đòi hỏi Trung Quốc nâng giá đồng Nhân Dân tệ để cho hàng xuất cảng của Hoa Kỳ được rẻ hơn. Nhưng ở chuyến thăm của Hồ Cẩm Ðào lần này, họ sẽ chú trọng vào những mục tiêu khác như chặn đứng sự đánh cắp bản quyền trí tuệ và giành điều kiện công bằng hơn trong việc ký kết hợp đồng với nhà nước Trung Quốc. Không ai đặt nhiều hy vọng là sẽ có được những khai thông quan trọng ngay bây giờ nhưng mong là hai nhà lãnh đạo thỏa hiệp được căn bản cho những giải pháp lâu dài về tranh chấp mậu dịch giữa hai cường quốc kinh tế.

Trả lời phỏng vấn của tờ Wall Street Journal và Washington Post, Hồ Cẩm Ðào nói rằng: “Cả hai nước chúng ta đều thắng với quan hệ lành mạnh và thua bằng sự đối đầu.” Tuy nhiên ông cũng nhấn mạnh “tình trạng đồng dollar ngự trị trên thị trường tài chánh là một sản phẩm của quá khứ” và gợi ý Trung Quốc sẽ tìm cách để đồng Nhân Dân tệ có một vai trò cân xứng trong tương lai. Ðiều ấy cho thấy Trung Quốc không sẵn sàng đáp ứng đòi hỏi thay đổi tỷ giá giữa hai đồng tiền.

Myron Brilliant, phó giám đốc quốc tế vụ của Phòng Thương Mại Hoa Kỳ cho rằng: “Chúng ta nên hy vọng rằng qua thời gian sẽ có những tiến triển về mọi vấn đề.”

Thâm hụt mậu dịch của Hoa Kỳ với thế giới khoảng $500 tỷ năm ngoái, sẽ giảm được $120 tỷ nếu Trung Quốc nâng giá đồng Nhân Dân tệ lên 20% trong vòng ba năm tới, theo tính toán của Peterson Institute for International Economics, một cơ quan nghiên cứu chiến lược ở Washington. Và biến chuyển ấy sẽ tạo ra khoảng 1/2 triệu việc làm cho công nhân Hoa Kỳ trong ngành sản xuất.

Hoa Kỳ và nhiều nước trên thế giới lên án Trung Quốc làm giá đồng tiền của họ, giữ cho trị giá đồng Nhân Dân tệ thấp một cách giả tạo và do đó hàng xuất cảng của Trung Quốc hưởng lợi không công bằng. Căng thẳng về tiền tệ trong ít tuần lễ gần đây đã giảm bớt vì nhiều nguyên nhân trong đó có biện pháp QE-2 của Fed tung thêm ra thị trường $6 tỷ, từ tháng 6 đến nay đồng Nhân Dân tệ đã lên giá 3.5% so với đồng dollar và có thể còn tới 5% nếu tính đến mức lạm phát.

Hôm Thứ Ba, Bắc Kinh cho biết một phái đoàn thương mại của họ đã ký hợp đồng $600 triệu với các công ty Hoa Kỳ ở Houston về thương vụ nhập cảng đồ sứ và bông cùng với hợp tác phát triển trang bị điện mặt trời. Bộ Trưởng Ngân Khố Timothy Geithner trong một bài phát biểu ở Ðại Học John Hopkins tuần trước đưa ra một hình ảnh lạc quan hơn về quan hệ kinh tế giữa hai quốc gia, Theo ông, cái lợi trong quan hệ này khó có thể nhận định qua một thống kê đơn giản. Ông cho biết trong năm 2011, Hoa Kỳ sẽ có thể xuất cảng $100 tỷ hàng hóa và dịch vụ sang Trung Quốc và giúp cho dân Mỹ có hàng trăm ngàn công việc làm.

Nhưng không chỉ riêng kinh tế, va chạm Hoa Kỳ-Trung Quốc còn có từ nhân quyền đến vấn đề bán vũ khí cho Ðài Loan, chính sách đối với Bắc Hàn và Iran, cùng nhiều lãnh vực khác. Khi Hồ Cẩm Ðào đến Washington hôm Thứ Ba đã có những nhóm Tây Tạng và nhân quyền biểu tình ở công viên La Fayette gần tòa Bạch Ốc.

Ngược lại, Trung Quốc cũng có không ít những bất mãn với Hoa Kỳ. Thứ Trưởng Ngoại Giao Cui Tiankai cho rằng Bắc Kinh và Washington cần phải tìm ra hướng giải quyết mới trong mối quan hệ. Ông nói: “Sức mạnh của Trung Quốc và vai trò của chúng tôi trên thế giới là một thực tế. Trong khi chúng tôi hiểu biết và tôn trọng những quyền lợi của Hoa Kỳ thì chúng tôi cũng hy vọng là Hoa Kỳ tôn trọng và hiểu biết vị trí của Trung Quốc.” Ðiều ấy cho thấy sự lo ngại về việc Hoa Kỳ có thể là một trở ngại cho những ý đồ chiến lược lâu dài của Trung Quốc.

Bắc Kinh luôn luôn xác định là “không có xung đột giữa Hoa Kỳ với Trung Quốc” và sự lớn mạnh của Trung Quốc là hòa bình không đe dọa ai. Tuy nhiên những năm gần đây nhu cầu nguyên liệu và năng lượng khiến Trung Quốc gia tăng sự hiện diện ở nhiều nơi trên thế giới và đặc biệt ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương nơi mà tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ và biển đôi lúc đã có dấu hiệu vượt xa hơn những lời tuyên bố cường điệu. Dù cho đến bây giờ sự xung đột với Hoa Kỳ chưa xảy ra nhưng địa bàn này vẫn là một tiềm năng tranh chấp về quyền lợi.

Theo lời cố vấn an ninh quốc gia Tom Donilon thì, để có thể đạt tới kết quả thiết thực, hai nhà lãnh đạo Hoa Kỳ-Trung Quốc sẽ thảo luận các vấn đề gom vào 4 gói riêng biệt: quan hệ toàn bộ Mỹ-Trung, an ninh và chính trị, kinh tế và nhân quyền. (HC)
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Những chiến sĩ bị bỏ rơi
Lữ Giang
Tướng Vang Pao đã qua đời hôm 6.1.2011 tại Fresno, California, sau khi nhập viện 10 ngày vì bệnh sưng phổi, hưởng thọ 81 tuổi.

Cái chết của Tướng Vang Pao đã khiến báo chí thế giới cũng như Việt một lần nữa nhắc những chuyện bi thảm mà người Hmong đã và đang phải gánh chịu vì đã hợp tác với CIA để chống lại Cộng Sản Lào và Việt Nam. Họ đã chiến đấu rất anh dũng, nhưng rồi bị bỏ rơi và lâm vào cảnh cùng khốn.

Các ký giả Tây phương đã bỏ nhiều công sức để mở các cuộc điều tra và viết về thân phận bi thảm của người Hmong sau khi Mỹ rút khỏi Đông Dương. Đây là những tài liệu qúy báu giúp chúng ta rút ra nhiều bài học kinh nghiệm.

Trong bài này chúng tôi xin tóm lược thân phận của người Hmong trong cuộc chiến và sau cuộc chiến. Trong bài tới chúng tôi sẽ nói đến vụ án Vang Pao, một vụ án mà những người Việt “chống cộng” trên đất Mỹ không thể không biết đến.

VÀI NÉT VỀ NGƯỜI HMONG

Người Hmong thuộc ngữ hệ Mèo – Dao vốn ở phía nam Trung Quốc. Họ tạo thành nhóm sắc tộc lớn thứ 5 trong số 56 sắc tộc được chính thức công nhận ở Trung Quốc với dân số hiện nay khoảng 10 triêu người. Họ thường sống tại các tỉnh Quý Châu, Hồ Nam, Vân Nam, Tứ Xuyên, Quảng Tây và Hồ Bắc. Một số đã di cư xuống Đông Nam Á vào khoảng thế kỷ 16 và 17.

Hiện nay tại Việt Nam, người Hmong chiếm khoảng 0,8% dân số ở khắp vùng rẻo cao trên 1500 thước ở các tỉnh miền núi phía Bắc, chủ yếu tại ba tỉnh Lao Cay, Hà Giang và Tuyên Quang.

Trong chiến tranh Việt Nam, số người Hmong ở Lào được ước lượng có khoảng 350.000 người, chia ra làm ba dòng tộc khác nhau: Hmong Sọc, Hmong Xanh (còn gọi là Hmong Hoa) và Hmong Trắng. Những tên này được đặt theo trang phục của người Hmong.

Người Hmong Sọc và Hmong Xanh sống ở phía tây Lào. Hai dòng tọc này rất hiền hòa, chỉ lo canh tác làm ăn, không muốn can dự vào cuộc chiến. Người Hmong Trắng sống ở các đồi núi chung quanh Cánh Đồng Chum ở phía đông bắc Lào, gần sát với biên giới Việt Nam. Đây là một dòng tộc tương đối văn minh hơn hai dòng tộc kia và thường được coi là những chiến sĩ kiên cường (tenacious warriors). Vì thế, người Hmong Trắng được cơ quan tình báo CIA khai thác.

ĐI VÀO CUỘC CHIẾN

Người Hmong sống chủ yếu tại các vùng núi, với tập tục di canh di cư, làm nương rẫy và trồng cây thuốc phiện. Thuốc phiện có thể nói là một trong những nguồn thu nhập chính của nhiều thế hệ người Hmong. Bổng nhiên họ bị đưa vào một cuộc chiến bi thảm.

Tháng 8 năm 1960, Đại Úy Kong Le, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2 Nhảy Dù, một biệt kích được CIA huấn luyện, đã làm đảo chánh, lật đổ chính phủ thân Tây phương ở Lào và lên nắm quyền ở Vạn Tượng.

Chính quyền Eisenhower lúc đó sợ Kong Le đi theo Cộng Sản, đã yểm trợ mạnh mẽ cho quân đội của Hoàng Thân Phoumi Nosavan đang đặt bản doanh tại Savannakhet. Đồng thời, theo đề nghị của CIA, chính phủ Eisenhower cho phép tuyển dụng và huấn luyện người Hmong để thành lập một đạo quân thường được gọi là “đạo quân bí mật” dưới sự điều khiển của Tướng Vang Pao để chống Cộng. Người Hmong bắt dầu dính vào với CIA từ đó.

Dòng tộc Hmong Trắng có hai lãnh tụ lớn là Vang Pao và Touby LyFong. Vang Pao là một nhà lãnh đạo quân sự, đã từng lãnh đạo dòng tộc Hmong từ thập niên 1940 đến giữa thập niên 1970. Còn Touby LyFong thiên về các hoạt động chính trị và xã hội.

Đến mùa hè năm 1961, CIA đã huấn luyện và cung cấp vũ khí cho khoảng 9.000 quân Hmong chiến đấu. Tuy nhiên, tháng 5 năm 1962, với sự yểm trợ của bộ đội Việt Nam, Pathet Lào đã chiếm được thủ phủ Nam Tha ở bắc Lào. Tổng Thống Kennedy phải ra lệnh cho khoảng 3.000 nhân viên quân sự Mỹ rút qua Thái và sau đó mở hội nghị với Khrushchev bàn về một giải pháp trung lập cho Lào, vì Tổng Thống Kennedy tin tưởng một cách ngây thơ rằng nếu đặt Lào dưới quy chế trung lập, Việt Cộng sẽ không thể mượn lãnh thổ Lào để xâm nhập miền Nam Việt Nam nữa! Công việc thương thuyết để trung lập hóa Lào được giao cho Averell W. Harriman, Phụ Tá Ngoại Giao về Đông Nam Á Sự Vụ, phụ trách. Harriman đã thực hiện việc trung lập hóa Lào bằng mọi giá, bất chấp sự phản đối của chính phủ Ngô Đình Diệm. Ngày 23.7.1962 Tuyên Ngôn Trung Lập Lào được công bố. Khoảng 666 cố vấn quân sự của Mỹ còn lại rút ra khỏi Lào. Đạo quân Hmong được CIA huấn luyện bị bỏ rơi!

Nhưng theo báo cáo của CIA, sau khi tuyên bố trung lập, khoảng 7000 quân đội Việt Nam chẳng những không chịu rút khỏi Lào mà còn bành trướng thêm. Trong năm 1963, chính quyền Kennedy lại cho phép CIA trở lại Lào, huấn luyện và trang bị cho khoảng 20.000 quân Hmong để chống lại quân Bắc Việt lẫn Pathet Lào. Người Hmong được huấn luyện và trang bị đã chiến đấu rất kiên cường, phá hủy nhiều hệ thống tiếp tế của Bắc Việt. Tuy nhiên, quân số Hmong quá ít và không được trang bị đầy đủ, đã không thể chống lại các đơn vị khổng lồ và thiện chiến của Bắc Việt.

Vào tháng 5 năm 1968, CIA ước lượng có khoảng 35.000 quân Bắc Việt có mặt tại Lào. Trong khi đó, lực lượng Hmong bị tổn thất quá nặng. Nhưng cứ 1000 quân Hmong bị tổn thất, CIA chỉ huấn luyện và đưa vào bổ sung được 300 quân. Người ta phải vét cả những trẻ vị thành niên, người lớn tuổi và cả phụ nữ để đưa vào cuộc chiến. Theo sự ước tính của CIA, có 30% quân Hmong từ 10 đến 14 tuổi, 30% từ 15 đến 16 tuổi, 40% còn lại đa số trên 55 tuổi. Có khi CIA phải tuyển thêm những lính đánh thuê người Thái để bổ sung vào, nhưng vẫn không thấm vào đâu. Cuối cùng, Hoa Kỳ quyết định dùng không quân để chống lại Cộng quân. Khi Hoa Kỳ quyết định rút khỏi Đông Dương vào năm 1973, thân phận của các chiến sĩ Hmong chống cộng bắt đầu trở nên bi thảm.

Năm 1975, với sự hổ trợ của quân Bắc Việt, Pathet Lào hoàn toàn kiểm soát Lào. Ngày 2.12.1975 Pathet Lào làm đảo chánh, chấm dứt chế độ quân chủ. Vua Sisavang Vatthana bị buộc thoái vị nhưng được chỉ định làm Cố Vấn Tối Cao cho chính phủ mới. Thủ Tướng Souvana Phouma mới bị lật đổ, cũng được chỉ định làm “Cố Vấn Chính Phủ”.

MỘT CHƯƠNG BI THẢM

Anh Chia Vue Yang kể lại rằng lúc mới 10 tuổi, anh bị bắt đưa lên trực thăng của cơ quan tình báo Hoa Kỳ và đưa vào một trại ở giữa rừng. Họ gọi anh là “chú lính quân dịch”. Anh có biết gì đâu. Trước hết anh phải lo nấu nướng, giặt áo quần và phục vụ cho người Mỹ. Khi anh lớn lên, họ dạy cho anh xử dụng súng máy và cách đánh trận. Rồi anh ra trận. Ông Jerry Daniel, một nhân viên CIA, thường đến và nói với anh: “Đứng lo. Tao lo cho mày”. Họ đều tin ở ông Jerry. Nay thì họ cảm thấy bị phản bội. Những trường hợp “tuyển mộ” khác cũng đã xẩy ra tương tự.

Trong chiến tranh, người Hmong Trắng đã chịu nhiều thương vong nặng nề. Người ta ước lượng đã có khoảng từ 18.000 đến 20.000 chiến sĩ Hmong tử trận, trong đó có cả trẻ vị thành niên và phụ nữ. Đó là chưa kể số dân chúng bị thiệt hại vì chiến cuộc.

Nhưng khi chiến tranh chấm dứt, số phận của họ còn bi thảm hơn. Trong bài “Forgotten Soldiers” (Những chiến sĩ bị bỏ rơi), bà Susan M. Barbieri đã ghi lại những đau khổ mà các chiến sĩ Hmong đã gánh chịu khi Mỹ rút khỏi Lào. Tou Yang, một chiến sĩ Hmong năm nay 41 tuổi, đang định cư tại Hoa Kỳ, đã nói với bà:

“Năm 1974, khi người bạn Hoa Kỳ bỏ Lào, hy vọng một nước Lào tự do của người Hmong coi như tan vỡ. Khi Hoa Kỳ rút đi, kháng chiến quân bị kẻ thù săn đuổi khắp nơi, trên núi, trong thung lũng, nơi rừng rậm... Chúng tôi bị bỏ rơi, chúng tôi không trốn thoát được, chúng tôi không thể đến Thái Lan, chúng tôi không được tự do. Cấp chỉ huy của chúng tôi đã bỏ chúng tôi... Bây giờ ở trên đất Mỹ này, chúng tôi vẫn cảm thấy như chúng tôi đang bị bỏ rơi.”

Khi Cộng Sản chiến miền Nam Việt Nam, trên 200.000 người Hmong đã vượt sông Mekong chạy thoát qua Thái Lan. Phần lớn đã lần lượt được đi định cư ở Hoa Kỳ hay Úc Châu. Người ta ước lượng hiện nay có khoảng 160.000 người Hmong đang định cư tại Hoa Kỳ, tập trung ở ba tiểu bang Wisconsin, Minnesota và California. Nhưng một số người Hmong còn bị kẹt lại ở Thái Lan đang lâm vào tình trạng khốn đốn.

Khi chính phủ Thái Lan và Liên Hiệp Quốc quyết định đóng cửa các trại tỵ nạn, khoảng 26.000 người Hmong đã bị đẩy trở lại Lào. Một số trốn thoát được khỏi trại và đến xin tá túc tại tu viện Phật Giáo Tham Krabok, một trung tâm bài trừ ma túy. Nhật báo New York Times số ra ngày 12.3.1997 có đăng một bài dưới nhan đề “Những dân du mục Lào: những người còn lại của trận chiến Việt Nam” của Seth Mydans nói về số phận của 17.000 dân Hmong đang tạm trú tại tu viện này. Họ được chính phủ Thái Lan mô tả là “di dân bất hợp pháp và nguồn gốc không được xác định”. Thái Lan không muốn cho họ định cư tại Thái, còn chính phủ Hoa Kỳ tìm cách chối bỏ trách nhiệm. Họ phải lao động rất vất vả với đồng lương chết đói và có một đời sống rất cơ cực. Đến nay, thân phận họ vẫn chưa được giải quyết.

Trong khi đó, những người Hmong bị kẹt lại trên đất Lào còn lâm vào tình trạng bi thảm hơn. Trong bài “Được cấp giấy phép để giết” (Licensed to Kill) của ký giả Andrew Perrin đăng trên tạp chí Time số ra ngày 23.6.2003 cho biết như sau:

“Nhiều tù nhân chính trị và thanh niên đã bị giam giữ trong nhiều năm qua trong ngục tối mà không cần xét xử, nhiều người đã bị tra tấn. Các Kitô hữu bị ngược đãi và bị bắt phải bỏ đạo nều không sẽ bị tù. Có nhiều phụ nữ Hmong và trẻ em bị mắc kẹt ở vùng núi, đói, bị bắn và lần hồi bị chết. Hầu hết những sự tàn bạo đã xẩy ra đều không được các quốc gia Tây phương chú ý hoặc lên tiếng bênh vực, bởi vì Lào không nằm trên địa bàn quan sát của họ.”

Chế độ cộng sản ở Lào hiện nay là một chế độ khắt khe và bạo tàn, chỉ sau Bắc Hàn.

Trong cuộc triển lãm về thảm trạng của người Hmong Lào từ 17 tháng 1 đến 7 tháng 2 năm 2004 tại Sweden’s National Museum of History ở Stockholm, một tấm ảnh đã gây xúc động mạnh cho mọi người, đó là tấm ảnh của Philip Blenkinsop, một nhiếp ảnh gia người Úc, chụp 850 người Hmong đang qúy gối xuống và chảy nước mắt mừng rỡ khi thấy hai kỳ giả Mỹ tìm đến gặp họ ở bắc Lào, vì họ tưởng đó là nhân viên CIA đến cứu họ! Tấm ảnh này đã được đăng trên nhiều báo lớn trên thế giới (Chúng tôi có tấm hình này).

BI THẢM VẪN CÒN THEO ĐUỔI

Các ký giả Tây phương kể lại những chuyện bi thảm của người Hmong theo Mỹ quá nhiều, chúng tôi chỉ mới đưa ra một vài thí dụ điển hình. Nhưng cho đến nay, bi thảm vẫn còn tiếp tục. Mới đây, trên tờ Bangkok Post số ra ngày 29.12.2010, dưới đầu đề “Sự đối xử đau buồn với người Hmong”, ký giả Larry Fraser, đã viết về số phận của người Hmong theo Mỹ còn lại ở Thái Lan như sau:

“Chủ Nhật thư của bạn thông báo rằng thứ hai Thái Lan sẽ bắt đầu sử dụng quân đội để hồi hương hàng ngàn người tị nạn Hmong trở về Lào... Đó là một tình huống rất đáng buồn khi có những người đang bị chỉa mũi súng buộc trở lại một nơi mà họ muốn rời bỏ. Tuy nhiên, trong bối cảnh của câu chuyện buồn này, một bi kịch thực sự đang diễn ra - một điều đang đem lại sự xấu hổ cho cả Mỹ và Thái Lan.

Trước tiên hãy nhớ rằng người Hmong là chiến sĩ rừng núi của Lào đã chiến đấu nhân danh Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam. Họ được coi như là những người chiến sĩ, và họ đã đóng một phần quan trọng trong việc gìn giữ Lào dưới sự kiểm soát của các đồng minh của chúng ta cho đến cùng.

Trong số những người tị nạn Hmong hiện nay là một nhóm nhỏ được gọi là "Người Hmong Rừng Núi” (Jungle Hmong), những người sẽ bị bắt trở lại với sự tàn bạo có thể đoán trước và có thể bị giết. Họ là một nhóm nổi loạn vẫn còn ở trong rừng núi sau khi Cộng sản chiến thắng và từ chối hội nhập hay hợp tác. Họ nghĩ mình là người yêu nước và chờ đợi ngày họ có thể giúp giải phóng quê hương khỏi kẻ cựu thù của họ – như sự cổ võ liên tục của một số người Hmong đã chạy thoát sang các nước khác. Trong những năm qua chính phủ Lào coi họ như những kẻ tội phạm và kẻ phản quốc, đã tìm cách tiêu diệt họ có hệ thống. Bây giờ nhiều người trong số họ muốn tìm cách hội nhập, nhưng họ có lý do chính đáng để tin rằng họ sẽ bị bỏ tù hay giết chết nếu họ bị đặt dưới sự kiểm soát của các viên chức chức Lào.

Người Hmong Rừng Núi hiện nay ở Thái Lan (hầu hết là phụ nữ, trẻ em và người già) đã được chính thức công nhận là những người tị nạn, và các chính phủ khác đã tuyên bố sẵn sàng chấp nhận họ. Tháng tư vừa qua xem ra lẽ phải và lòng nhân đạo có thể áp dụng khi Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan thông báo rằng Thái Lan sẽ tạo điều kiện tái định cư cho 158 Người Hmong Rừng Núi được tổ chức tại Nông Kai. Tuy nhiên, một tháng sau, Lào yêu cầu họ phải được trả về và Thái Lan đã nhượng bộ... Một vài tháng trước đây, Lào đã trở thành một thành viên của hiệp ước quan trọng của Liên Hợp Quốc về nhân quyền, nhưng nhiều nhà quan sát tin rằng sự thù hận của Cộng Sản đối Người Hmong Rừng Núi rất sâu đậm và mạnh mẽ, mặc dù chính sách chính thức hiện nay, những người Hmong có thể sẽ bị đối xử tàn bạo nếu trở về Lào.

Thái Lan và Mỹ đã trả một số dịch vụ để tái định cư cho Người Hmong Rừng Núi, nhưng cả hai chính phủ trên căn bản đã đã tỏ ra nhu nhược. Họ biết rằng Người Hmong Rừng Núi là người tị nạn chính trị hợp pháp, họ biết rằng những người này đang sợ hãi trở lại Lào, họ biết rằng họ có lý do để cảm thấy như vậy, họ biết rằng những người đó và gia đình họ là đồng minh của chúng ta, và họ biết rằng hầu hết các người ở Thái Lan không gây ra mối đe dọa cho bất cứ ai. Tuy nhiên, họ sẽ không làm gì để tiến hành (việc định cư cho người Hmong). Người ta không ngạc nhiên nếu người Afghanistan chú ý đến ý nghĩa của sự cam kết mà nước Mỹ đã dành cho quân đội đồng minh cũ của họ.

Trong một câu chuyện liên quan, Vang Pao, Tướng già huyền thoại của Hmong, đã công bố một vài tuần trước rằng ông thích đi du lịch quay trở lại Lào để xem ông ta có thể làm giảm bớt căng thẳng giữa các chiến hữu cũ của ông và chính phủ hiện nay hay không. Tuy nhiên, chính phủ Lào tỏ ra coi thường ý tưởng đó bằng cách nói rằng ông ta phải thi hành án tử hình của ông ta trước.”

Trong bài “The great betrayal”, ký giả Bernard đã viết:

"Những người Hmong hy vọng cuộc chiến đấu của họ sẽ giúp cho chính phủ Lào đồng minh của Mỹ thắng trận và đối xử với họ như những công dân đầy đủ quyền lợi. Họ không thất bại trong vai trò của các chiến sĩ Lực Lượng Đặc Biệt nơi chiến trường. Họ chỉ thất bại vì đã tin vào khả năng thắng cuộc chiến của người Mỹ và người Mỹ giữ lời hứa.”

Ngày 18.1.2011
Lữ Giang
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Tại sao Hồ Cẩm Ðào chịu nhún?

Ngô Nhân Dụng
Ðây là một bài học cho những người cầm quyền ở Việt Nam: Ðối với giới lãnh đạo Trung Quốc, cách đối xử cứng rắn có hiệu quả hơn là mềm mỏng. Chuyến đi của ông Hồ Cẩm Ðào sang Washington kết thúc, ông Hồ chịu thua trên hai mặt trận.

Về chính trị, ông Hồ thú nhận với những lời lẽ nhún nhường, rằng Trung Quốc còn phải cố gắng thêm về nhân quyền.

Về mặt kinh tế, ông Barack Obama đem lại cho các công ty Mỹ những hợp đồng thương mại trị giá 45 tỷ đô la, sẽ tạo ra thêm 235,000 công việc. Trong khi đó chính phủ Mỹ không đưa ra một nhượng bộ nào cả. Có thể nói, trận đá bóng ngoại giao giữa Mỹ và Trung Quốc suốt năm 2010 đã đưa tới kết quả Mỹ 2, Trung Quốc 0.

Trong lúc ông tổng thống Mỹ mang bộ mặt cứng rắn, các đại biểu Quốc Hội vẫn công khai đòi Trung Quốc phải tăng hối suất đồng nhân dân tệ, phải trả tự do cho ông Lưu Hiểu Ba, phải tôn trọng tác quyền của các hãng General Motors, Boeing, Microsoft hay các nhà sản xuất phim bên Mỹ, cả một bảng liệt kê những đòi hỏi từ trước tới nay, không thay đổi. Ông Hồ phải gặp riêng các lãnh tụ hai đảng ở Quốc Hội Mỹ, cho thấy ông không muốn bị chất vấn trước đám đông. Nhưng sự kiện này cho thấy ông phải công nhận tại nước Mỹ ông tổng thống không có toàn quyền như vị chủ tịch nước Trung Hoa. Nhất là khi Hạ Viện Mỹ do một đảng đối lập với Tòa Bạch Ốc chiếm đa số. Quốc gia nào thương thuyết với Mỹ cũng phải biết như vậy. Vì thế, ông Hồ Cẩm Ðào đã phải chịu nhún mặc dù trong suốt năm ngoái đã bị Mỹ tấn công trên nhiều mặt.

Từ đầu năm 2010, chính phủ Mỹ đã bắt đầu tấn công, trên cả hai mặt ngoại giao và kinh tế. Trên các diễn đàn quốc tế, ngay tại Singapore và Hà Nội, các bộ trưởng quốc phòng và ngoại giao tuyên bố ủng hộ lập trường các nước Ðông Nam Á trong các vấn đề tranh chấp ở biển Ðông. Bắc Kinh phản đối ầm lên nhưng vẫn phải nhún. Họ chịu tiếp ông Robert Gates mặc dù trước đó năm ngoái đã cấm cửa ông vì Mỹ bán vũ khí cho Ðài Loan. Khi Bắc Hàn gây hấn với Nam Hàn, Mỹ đã đá trái banh cho Trung Quốc phải lo giải quyết với Kim Chính Nhật, trong khi vẫn củng cố quan hệ quân sự với Nam Hàn. Bà Hillary Clinton đã tuyên bố thẳng những bất đồng ý kiến với Bắc Kinh, về nhân quyền, về đồng nhân dân tệ giá quá thấp, về cán cân thương mại thiếu cân bằng, vân vân, ngay trước khi ông Hồ tới Mỹ. Ít có một chính phủ nào chuẩn bị tiếp một quốc khách với thái độ cứng rắn như vậy. Ngay trong các cuộc gặp gỡ ở Tòa Bạch Ốc, ông Obama phản đối việc bỏ tù ông Lưu Hiểu Ba, người mà bộ máy tuyên truyền của Cộng Sản Trung Hoa bôi xấu thậm tệ sau khi ông được giải Nobel Hòa Bình. Ông Obama đã lấy ngay khẩu hiệu “Xã hội hài hòa” của ông Hồ Cẩm Ðào để dậy dỗ rằng “Lịch sử cho thấy các xã hội sống hài hòa hơn, các quốc gia thành công hơn, thế giới công bằng hơn khi các quyền lợi và bổn phận của tất cả mọi quốc gia và mọi con người được tôn trọng.” Một ông tổng thống trẻ, của một quốc gia trẻ mới hơn 200 tuổi, đã “lên lớp” vị chủ tịch một nước với hơn một tỷ dân và 5,000 năm văn hiến; đó là một hành động thách đố rõ ràng.

Trên mặt kinh tế, Bộ Tài Chánh Mỹ và các đại biểu Quốc Hội cùng lên tiếng yêu cầu Bắc Kinh phải nâng giá đồng tiền của họ và chịu để cho các công ty của họ nhập cảng từ Mỹ nhiều hơn. Ngay trong lúc tiếp ông Hồ Cẩm Ðào, ông Obama cũng than phiền chính phủ Bắc Kinh đã đem tiền mua 200 tỷ đô la ra để cố ý giữ giá đồng tiền của họ thấp mãi. Chính phủ Mỹ có một thứ vũ khí để đe dọa Bắc Kinh trong vấn đề này là dùng báo cáo của Bộ Ngoại Giao cho Quốc Hội, phê bình Bắc Kinh đã dìm giá đồng tiền của họ một cách không ngay thẳng. Khi nhận được báo cáo đó, Quốc Hội Mỹ có thể làm luật đặt ra những hàng rào ngăn chặn bớt hàng nhập cảng từ Trung Quốc.

Cuộc tấn công của các ông Barack Obama, Robert Gates và bà Hillary Clinton trong một năm qua đã có kết quả. Ông Hồ Cẩm Ðào xuống nước. Ông chính thức thú nhận trong cuộc họp báo chung rằng “Trung Quốc còn phải hành động nhiều hơn trên vấn đề nhân quyền!” Hai chữ “nhân quyền” xưa nay vẫn là những chữ cấm kỵ trong ngôn ngữ ngoại giao của Bắc Kinh. Mỗi khi có ai đặt vấn đề nhân quyền là họ giẫy nẩy lên, lập tức lớn tiếng phản đối, sẽ tố cáo người ta đang can thiệp vào chuyện nội bộ giữa chính phủ và người dân trong nước họ. Nhưng lần này, chính ông Hồ Cẩm Ðào chịu thú nhận trong nước Trung Hoa có vấn đề đó và chính phủ của ông còn thiếu sót chưa làm đủ. Và nói điều đó trước công chúng, sau khi bị nhà báo đặt câu hỏi lần thứ hai, và phải nhận lỗi đã không trả lời trước vì không được thông dịch!

Tại sao ông Hồ Cẩm Ðào chịu nhún nhường như vậy? Vì những người lãnh đạo ở Trung Nam Hải biết rằng nếu việc bang giao giữa hai nước căng thẳng thì Trung Quốc sẽ chịu nhiều thiệt hại hơn so với Mỹ. Từ 30 năm nay, từ khi ông Ðặng Tiểu Bình đi thăm nước Mỹ lần đầu, giới lãnh đạo ở Bắc Kinh vẫn đặt câu hỏi: Giữa Mỹ và Trung Quốc ai cần ai hơn? Thời 1979 khi ông Jimmy Carter tiếp ông Ðặng Tiểu Bình, họ cho là Trung Quốc cần Mỹ hơn, cán cân chênh lệch 70-30 nghiêng về phía Mỹ. Trong những năm 2007 đến 2009, khi nước Mỹ rơi vào hai cuộc khủng hoảng tài chánh và kinh tế, Bắc Kinh cho là đã lập được thế cân bằng, 50-50, hai bền đều cần đến nhau. Nhưng thái độ nhún nhường của ông Hồ Cẩm Ðào trong chuyến đi này cho thấy họ có thể thấy họ cần Mỹ hơn là Mỹ cần họ, mặc dù bên nào cũng có lợi nếu hai nước giao hảo. Không những chịu nhượng bộ công khai về vấn đề nhân quyền, ông Hồ Cẩm Ðào còn nói rằng Trung Quốc và Mỹ phải cộng tác với nhau trong các vấn đề ở vòng đai Thái Bình Dương. Trong đó, chắc chắn có vùng các quần đảo ở Ðông Nam Á! Trước đây 6 tháng, Bắc Kinh còn nạt nộ rằng Mỹ là kẻ đứng ngoài, không được phép chen chân vào “việc nội bộ” giữa Trung Quốc và các quốc gia trong vùng này!

Giới lãnh đạo ở Bắc Kinh biết rõ thực lực của họ. Khi ông Gorbachev chịu nhượng bộ Mỹ trong những năm 1988, 89, chính ông ta biết rõ thực lực của Liên Bang Xô Viết hơn tất cả các cơ quan tình báo Tây phương. Nền kinh tế Trung Quốc hiện nay đang được “tiêm thuốc bổ” để tiếp tục lớn lên với những món tiền ngân hàng của nhà nước đưa cho các xí nghiệp vay mà không cần sinh lời. Tình trạng đó không thể kéo dài mãi được. Tình trạng chênh lệch giàu nghèo giữa thành phố và nông thôn cũng không thể kéo dài mãi. Nạn lạm phát đang đe dọa là hậu quả của chính sách bơm tiền vào kinh tế mà không gia tăng hiệu năng sản xuất; lạm phát sẽ còn lên cao nữa, giống như tình trạng ở Việt Nam hiện nay. Nền kinh tế tăng trưởng một cách giả tạo theo lối kinh tế chỉ huy có thể sẽ vỡ ra nếu lạm phát tiếp tục lên mà việc xuất cảng bị đình trệ. Trung Quốc còn may mắn và giỏi hơn Cộng Sản Việt Nam vì cán cân thương mại của họ vẫn thặng dư, nhưng điều đó tùy thuộc vào việc xuất cảng sang Mỹ và các nước Tây phương khác. Âu Châu đang lo suy thoái chưa có đường gỡ ra; chỉ còn khối người tiêu thụ ở Mỹ có thể tiếp tục mua hàng. Chính phủ Trung Quốc biết phải bảo vệ thị trường ngon lành này. Không phải chỉ có nền kinh tế Trung Quốc cần việc giao thương ổn định, mà chính vận mạng của chế độ cũng tùy thuộc vào đó. Người dân sẽ không thể chịu đựng sống dưới một chế độ độc tài mãi khi lạm phát làm cho đồng lương họ lãnh về mất giá trị.

Hơn nữa, giới lãnh đạo ở Trung Nam Hải cũng biết sức tăng trưởng của nền kinh tế sẽ “đụng trần” khi việc bơm tiền vào như chích thuốc bổ dần dần mất hiệu lực. Kinh tế nước Trung Hoa phải thay đổi cơ cấu nhiều hơn. Ðồng thời, phải cho người dân được tự do lên tiếng và tham dự vào công việc quốc gia nhiều hơn, để những nỗi bất mãn có con đường bộc lộ và chuyển hóa, thay vì chờ ngày bùng nổ. Vì vậy, gần đây ông Ôn Gia Bảo đã loan báo trước công chúng rằng kinh tế nước ông không thể tiến bộ nếu không cải tổ chính trị. Khi ông Hồ Cẩm Ðào nói ông còn phải nỗ lực thêm về vấn đề nhân quyền, đó là một sự thật, đó là nhu cầu của hơn một tỷ người Trung Hoa. Liệu giới lãnh đạo Bắc Kinh có thể thực hiện được điều đó không, hay là họ sẽ bị giới bảo thủ trong đảng ngăn cản? Chúng ta phải chờ tương lai mới biết.

Nhưng quả thật ông Hồ Cẩm Ðào đã chịu nhún. Cho nên đây cũng là một bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Trên mặt ngoại giao, bài học đó là: Ðối với chính quyền Trung Quốc, mềm mỏng sẽ bị họ khinh thường; cứng rắn có hiệu quả tốt. Khi ông Obama mới gặp đã nói thẳng với ông Hồ Cẩm Ðào về việc giam giữ Lưu Hiểu Ba, đồng thời lại than phiền về cán cân thương mại chênh lệch; điều đó cũng chẳng khác gì một người lãnh đạo chính quyền ở Hà Nội tố cáo thẳng thừng việc các ngư dân Việt Nam bị bắt cóc và cướp bóc, đồng thời than phiền rằng hàng hóa Trung Quốc đang tràn ngập giết chết các xí nghiệp Việt Nam.

Chỉ có điều là ông Obama dám nói. Còn giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam thì không. Barack Obama dám nói vì địa vị tổng thống của ông tùy thuộc lá phiếu của dân Mỹ chứ không lệ thuộc vào sự ủng hộ của chính quyền Bắc Kinh. Những người cầm đầu chính quyền Cộng Sản Việt Nam có dám suy nghĩ như vậy hay không?

Barack Obama dám nói, vì ông có thể dùng mối đe dọa của Quốc Hội, một định chế có thế lực ngang hàng với ông. Việc quốc gia không phải là độc quyền của một chính phủ hay một đảng. Quốc Hội Mỹ có quyền cắt ngân sách khiến chính phủ không thể thi hành các chính sách của mình. Ông tổng thống phải lắng nghe ý kiến của dân, và các đại biểu Quốc Hội cũng vậy. Khi tới Mỹ, ông Hồ Cẩm Ðào phải gặp cả ông tổng thống lẫn các người lãnh đạo Quốc Hội. Không những thế, ông còn gặp riêng các nhà kinh doanh, những người điều khiển các xí nghiệp, ít nhất hai lần chính thức. Tại sao ông chịu nhún nhường như vậy? Vì thể chế chính trị ở Mỹ. Chính các ông tổng thống Mỹ đã vận dụng sức mạnh của thể chế đó mỗi khi phải thương thuyết với các nước khác. Họ sẽ nói: Tôi có thể nhượng bộ, nhưng Quốc Hội họ sẽ không chịu! Báo chí họ sẽ phê phán, giới kinh doanh không theo! Nhượng bộ nào làm nước Mỹ bị thiệt thì dân sẽ biết hết, tôi sẽ thất cử!

Kỹ thuật thương thuyết này, những người cầm đầu chính quyền ở Việt Nam không thể nào sử dụng được. Vì ai cũng biết họ nắm toàn quyền. Quốc Hội chỉ biết gật đầu. Báo chí chỉ chờ nghe lệnh nhà nước. Dân không được phát biểu, cũng không được tự do bầu, chọn người cai trị.

Chỉ khi nào nước Việt Nam được tự do dân chủ thì các chính quyền Việt Nam mới có thế mạnh để thương thuyết ngoại giao với bất cứ quốc gia nào, trong đó có Trung Quốc. Nghĩ đến tương lai đất nước thì chúng ta phải đòi dân chủ hóa. Khi đó, người Việt Nam mới đủ sức mạnh đương đầu với Trung Quốc. Như Tiến Sĩ Ðinh Hoàng Thắng ở trong nước đã nêu ra nhận xét của Tướng Lưu Á Châu (Liu Yazhou), chính ủy Ðại Học Quốc Phòng Trung Quốc: “Vị tướng hai sao này chứng minh rằng nguyên nhân sụp đổ của đảng Cộng Sản Xô Viết chính là hệ thống chính trị, chứ không là kinh tế, hay quân sự. Tương phản với Liên Xô, bí quyết thành công của Hoa Kỳ nằm ngay trong chế độ pháp trị bền vững và hệ thống chính trị đằng sau chế độ pháp trị này, chứ không nằm trong sức mạnh tại trung tâm tài chính phố Wall, hay công nghệ cao ở thung lũng Silicon.” Người Việt Nam phải lắng nghe kinh nghiệm này.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Triều đại Nguyễn Phú Trọng

Trung Ðiền
(Nguồn: Viettan.org)
Ðúng như dự đoán chung của dư luận, Nguyễn Phú Trọng, sinh năm 1944 (67 tuổi) đã được chọn “đặc biệt” do sự vận động ráo riết của Nông Ðức Mạnh (ngược lại nguyên tắc tất cả ứng viên bầu vào trung ương đảng phải dưới 65 tuổi) để vào trung ương đảng và cuối cùng được chọn làm tổng bí thư nhiệm kỳ XI (2011-2015). Trong số các ứng viên được 1,376 đại biểu đề cử vào ghế tổng bí thư, ông Nguyễn Phú Trọng được hơn 1,000 phiếu đề cử; hai ông Trương Tấn Sang và Nguyễn Tấn Dũng đều sinh năm 1949 (62 tuổi) chỉ đạt nửa số phiếu của ông Trọng. Trong khi ông Nguyễn Phú Trọng đăng quang thành lập một triều đại mới, ông Hồ Ðức Việt, sinh năm 1947 (64 tuổi), ủy viên Bộ Chính Trị, trưởng ban tổ chức trung ương đảng đã bị loại khỏi trung tâm quyền lực vì đã chống lại các vận động của Nông Ðức Mạnh.


Nguyễn Phú Trọng, tân tổng bí thư đảng CSVN. (Hình: danchimviet.info)



Trong quá khứ, trưởng ban tổ chức trung ương đảng là người nắm quyền lực thứ 2 ở trong đảng và “cầm chịch” về những sắp xếp nhân sự ở các bộ phận. Hồ Ðức Việt đã chống lại việc lưu giữ Nguyễn Phú Trọng thêm một nhiệm kỳ với lý do quá hạn tuổi 65. Ðồng thời ông Việt đã không đưa tên Nguyễn Chí Vịnh và Nông Quốc Tuấn vào danh sách ứng viên trung ương đảng. Vào giờ phút cuối ở Hội nghị Trung ương 14 vào tháng 12 năm 2010, khi ông Trọng chỉ đạt 60% số phiếu của trung ương đảng khóa X đề cử vào danh sách ứng viên trung ương khóa XI, Hồ Ðức Việt đã vận động một số cựu lãnh đạo như Ðỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Phan Văn Khải lên tiếng đề nghị giữ Nguyễn Minh Triết hơn là Nguyễn Phú Trọng làm tổng bí thư.

Kết quả như chúng ta thấy, ông Mạnh đã thắng. Ông Mạnh không những truyền ngôi được cho Nguyễn Phú Trọng, tiếp tục ôm giữ chủ thuyết Mác-Lênin và thân thiện với Bắc Kinh mà còn đưa hai đàn em: Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng Bộ Quốc Phòng - con thoi giữa Mạnh với Bắc Kinh - và quý tử Nông Quốc Tuấn, bí thư Bắc Giang vào trung ương đảng. Cả hai nhân sự này đang ở độ tuổi 50 nên con đường hoạn lộ sẽ còn rất dài với đích nhắm là thành viên Bộ Chính Trị trong 5 hay 10 năm tới. Sự khuynh loát của Mạnh trong đại hội XI đã khiến cho dư luận nêu nhiều nghi vấn. Ông Mạnh không phải là con người mưu mô, tài giỏi. Thế thì ông Mạnh đã dựa vào ai, vào nhóm thế lực nào để vừa ngăn chận ông Trương Tấn Sang không ra tranh ghế tổng bí thư, vừa tấn công ông Nguyễn Tấn Dũng xém mất ghế thủ tướng và nhất là đánh gục và loại ông Hồ Ðức Việt ra khỏi vị trí quyền lực ở trong đảng? Nhiều xác suất cho thấy là bàn tay Bắc Kinh đã đứng sau ông Mạnh trong những cuộc đấu đá nói trên và đó cũng là điều lý giải vì sao ông Mạnh lại chọn ông Trọng làm tổng bí thư, người được coi là thân thiện với Trung Quốc từ những năm 2000 trở đi.

Với những mối liên hệ giữa Nông Ðức Mạnh và Nguyễn Phú Trọng nói trên, chúng ta có thể dự kiến là cái bóng của ông Mạnh sẽ ảnh hưởng lên các chương trình hành động của tân Tổng Bí Thư Trọng, ít ra là trong vài năm đầu. Một vài dư luận khác còn cho rằng do sự cạnh tranh ghế tổng bí thư giữa Trương Tấn Sang và Nguyễn Tấn Dũng quá gay gắt trong năm 2010, nên Nông Ðức Mạnh trong vai trò trưởng tiểu ban nhân sự đại hội XI đã phải chọn Nguyễn Phú Trọng như là cách hóa giải tạm thời những xung đột giữa hai phe Sang và Dũng. Sự kiện này cũng giống như việc đảng CSVN đã từng chọn Nguyễn Văn Linh làm tổng bí thư năm 1986 để hóa giải sự xung đột gay gắt giữa phe Lê Ðức Thọ và Trường Chinh sau khi Lê Duẩn đột tử vào năm 1985. Nguyễn Phú Trọng sẽ chỉ làm tổng bí thư một nhiệm kỳ và đến năm 2016 nếu ông Sang hay ông Dũng có tư thế vượt trội vào lúc đó sẽ giành lấy ghế tổng bí thư. Ðiều dự kiến này xuất phát từ việc 14 thành viên Bộ Chính Trị mới được bầu trong đại hội XI, đã không có ai vượt trội so với tư thế của hai ông Nguyễn Tấn Dũng và Trương Tấn Sang hiện nay.

Ngoài 9 ủy viên của khóa X được bầu lại như Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng, Lê Hồng Anh, Phùng Quang Thanh, Lê Thanh Hải, Phạm Quang Nghị, Nguyễn Sinh Hùng, Tô Huy Rứa; có 5 ủy viên mới gồm: Nguyễn Xuân Phúc, sinh năm 1954 hiện là bộ trưởng, chủ nhiệm văn phòng chính phủ; Ðinh Thế Huynh, sinh năm 1953, tổng biên tập báo Nhân Dân; Tòng Thị Phóng, sinh năm 1953, trưởng ban dân vận trung ương; Trần Ðại Quang, sinh năm 1056, thứ trưởng công an; Ngô Văn Dụ, sinh năm 1947, chánh văn phòng trung ương đảng, đều là những nhân sự ít được dư luận biết đến. Ða số họ là những người thuộc khuynh hướng giáo điều, bảo thủ. Trong khi đó, những nhân sự mà người ta kỳ vọng sẽ được bầu vào Bộ Chính Trị lần này như Phó Thủ Tướng Hoàng Trung Hải, Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân, Bộ Trưởng Tài Chánh Vũ Văn Ninh... đều bị lọt sổ.

Nói cách khác, 14 thành viên Bộ Chính Trị nói trên không có “viễn kiến” như đại hội XI đã nêu ta là tạo những bước đột phá trong sự phát triển kinh tế của Việt Nam để đến năm 2020, Việt Nam trở thành quốc gia công nghiệp theo hướng hiện đại. Viễn kiến của 14 nhân sự này nếu có là tiếp tục giữ đảng cố thủ trong lô cốt độc tài độc đảng như Ðinh Thế Huynh đã trả lời trong cuộc họp báo ngày 10 tháng 1, đồng thời dựng ra bức tường “chống diễn biến hòa bình” để cô lập và ngăn chận mọi sự trao đổi của các mạng xã hội (social network), một xu thế lớn của thế kỷ 21.

Mặt khác, trong số 175 ủy viên trung ương đảng chính thức bầu trong đại hội XI có 19 người là gốc quân đội và 9 người là gốc công an, nhiều hơn đại hội X là 5 người. Trong khi đội ngũ gọi là trí thức hoạt động trong các lãnh vực về kinh tế, giáo dục, đối ngoại... thì đếm trên đầu ngón tay. Ðương nhiên đa số vẫn là các bí thư của những đảng bộ tỉnh, thành trực thuộc trung ương và các cơ quan trung ương. Trong khi đó, chính quyền CSVN có khoảng hơn 20 bộ và ngang bộ nhưng chỉ có khoảng 10 bộ trưởng được chọn vào trung ương còn đa số bị loại hoặc không được giới thiệu vào danh sách ứng viên trung ương như Lê Doãn Hợp, bộ trưởng truyền thông & thông tin; Phạm Khôi Nguyên, bộ trưởng tài nguyên và môi trường; Võ Hồng Phúc, bộ trưởng kế hoạch & đầu tư; Nguyễn Hồng Quân, bộ trưởng xây dựng; Hồ Nghĩa Dũng, bộ trưởng giao thông vận tải; vân vân.

Ngoài ra, có một số nhân vật khá được nhiều người biết đến qua một số chức vụ mà họ đảm trách như thứ trưởng công an Nguyễn Văn Hưởng, người trực tiếp chỉ đạo những cuộc trù dập, bắt bớ phong trào dân chủ trong hơn 10 năm qua, đã bị loại khỏi danh sách trung ương. Hay ông Vũ Văn Hiền, Ttẩng giám đốc đài truyền hình Việt Nam, bị chính trong nội bộ của đài tố cáo là bè phái và tham ô, đã mất chức trung ương kỳ này. Huỳnh Ðảm, chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc cũng bị mất chức trung ương vì bị coi là “ba phải” trong công tác dân vận và đối nghịch với bà Tòng Thị Phóng, trưởng ban dân vận.

Bên cạnh những diễn tiến bầu chọn thành phần nhân sự nói trên, nội dung của các văn kiện cũng đã không có gì thay đổi so với bản dự thảo. Mặc dù CSVN dành đến 3 ngày để cho 1,376 đại biểu họp theo từng đoàn, thảo luận mổ xẻ; nhưng biểu quyết sau cũng vẫn là “nhất trí” với những cái cũ. Có hai điều sau đây đã đưa ra biểu quyết và trịnh trọng ghi vào biên bản của đại hội XI.

Ðịnh nghĩa về đặc trưng kinh tế của xã hội chủ nghĩa là gì, đại hội đã chỉ quyết định thêm chữ tiến bộ vào cuối câu giải thích đã soạn trong dự thảo như sau: “Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại với quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp.”

Ðịnh nghĩa về tiêu chuẩn đảng viên đảng CSVN trong tình hình cho tư bản tư nhân tham gia làm đảng viên, đại hội cho thêm vào nhóm từ “nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam” thành: “Ðảng viên đảng CSVN là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam...”

Nhìn vào cách thêm thắt những từ ngữ để cố giải thích về các chủ trương cho phù hợp với tình hình, người ta chỉ thấy nó biểu hiện một sự gượng ép và coi thường dư luận của đảng CSVN mà thôi. Ðiều này cho thấy là 9 ngày đại hội đảng kỳ XI vừa qua, thực chất là một cuộc tụ họp tốn kém vô ích, chỉ để nói những điều mà ai cũng đã biết và ngay cả việc chọn thành phần lãnh đạo, dư luận cũng đã tiên đoán trước khi khai mạc.

Ðại hội XI đã để lại ấn tượng trong dư luận là đại hội “bế tắc” và “đường cùng” của một thể chế đang đi giật lùi trước những trào lưu tiến hóa của nhân loại và ngược với lòng dân. Triều đại Nguyễn Phú Trọng rồi cũng sẽ đi lòng vòng như chính ông Trọng đã không dám lấy những quyết định, giải quyết các vấn đề nhức nhối của xã hội do nhiều đại biểu nêu ra, trong mấy năm ngồi ở ghế chủ tịch Quốc Hội.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest