Bình Luận , Quan Điểm

thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »


Image

Tiếng Cú
Trong biên bản hội thảo “Góp ý với Văn kiện đại hội Đảng CSVN,” đọc được trên Đàn Chim Việt Online – vào ngày 11 tháng 11 năm 2010 – TS Lưu Bích Hồ đã nêu lên mấy câu hỏi, cùng với câu trả lời, dễ ợt:

“Nền tảng của xã hội ta là gì? Tôi xin hỏi ý kiến các anh? Đảng có dựa vào công nhân không? Có dựa vào nông dân không? Tôi nghĩ không? Vậy dựa vào cơ sở nào? Có dựa vào trí thức không? Cũng không nốt!”

-Ủa, nói vậy thì Đảng dựa vào cái gì cà?

Tui cũng làm bộ hỏi (theo) cho vui vậy thôi, chớ ở Việt Nam thì ngay cả trẻ em cũng biết là Đảng dựa vô “cái gì” rồi ? Không tin hỏi thử em Dương Đình Hiếu học sinh lớp 8A, Trường THCS Xuân Phương, huyện Phú Bình là biết liền hà.

Theo báo Lao Động: “Chiều 24.11, em cùng các bạn trong lớp lao động dọn dẹp vệ sinh sân trường. Trong quá trình dọn dẹp em và các bạn có đùa nghịch, té nước vào nhau. Khi đó ông T. là Trưởng CA xã có mặt tại đó quát nhưng em vẫn té nước. Không ngờ, ông T. đã lao đến tát và bóp cổ em. Vừa nói, Hiếu vừa chỉ cho chúng tôi vết xước dài còn hằn trên cổ. Tức giận vì bị tấn công bất ngờ, Hiếu vùng thoát rồi có lời lẽ không hay với ông T.. “

“Ông T. đuổi theo nhưng không bắt được Hiếu, người đàn ông tự xưng là trưởng CA xã đã gọi thêm người dùng xe máy đuổi theo Hiếu đến tận ruộng ngô. Khi bắt được, Hiếu đã bị trói quặt cánh gà rồi dẫn về trụ sở CA xã.”

“Theo tường trình của Hiếu, tại CA xã ông T. tiếp tục đấm, đá rồi lấy dùi cui nện liên tục vào lưng. Đến khi tỉnh lại, Hiếu thấy mình nằm trên giường trong trụ sở CA xã.”

“Đến khoảng 17h00 cùng ngày, ông Dương Văn Viễn là ông của Hiếu nhận được thông báo đã ra trụ sở CA xã nhận cháu về. Nhưng trước đó, Hiếu bị buộc phải viết tường trình nhận lỗi.”

“Ông Viễn cho biết: “Đến ngày hôm sau (25.11) Hiếu kêu đau đầu, đau lưng, có biểu hiện hoảng loạn nên gia đình đã đưa đi bệnh viện.”

Trong suốt cuộc đời còn lại, em Hiếu e sẽ còn nhiều lần bị “hoảng loạn” và được đưa đi “bệnh viện” (nữa) vì ngoài công an xã, công an khu vực, công an phường, công an huyện, công an tỉnh, công an thành phố, công an thủ đô – mai hậu – em sẽ phải đối mặt với đủ kiểu, đủ cỡ, và đủ loại công an khác nữa: công an văn hoá, công an giao thông, công an mạng, công an vũ trang, công an kinh tế, công an tôn giáo, công an biên phòng, công an phòng chống tội phạm, công an môi trường, công an an ninh, công an hình sự, công an tư pháp, công an hải quan, công an phi trường, công an bến cảng, công an nhà văn, công an nhà báo …

Theo Wikipedia, Việt Nam hiện có một ông Bộ Trưởng Công An cùng với mười ông thứ trưởng, và hàng trăm ông sĩ quan cấp tướng, lãnh đạo đủ mọi ban ngành liên hệ. Họ được nhà văn Dương Thu Hương gọi (chung) là “bầy chó berger của chế độ.”

Cái “bầy” này chỉ là phần nổi, và chắc là phần nhỏ, của tảng băng sơn. Còn lực lượng công an chìm, và công an tự phát thì (ôi thôi) không biết bao nhiêu mà kể. Nói tóm lại ở nước ta nơi đâu có ruồi là ở đó có công an – kể cả chùa chiền, giáo đường, miếu đền, hay thánh thất!

Chính sách công an trị không chỉ hiện hành tại Việt Nam. Những nước XHCN anh em khác – Bắc Hàn, Cu Ba, Trung Cộng … – cũng áp dụng thể chế tương tự và đều (có vẻ) thành công tốt đẹp!

Chưa ai nghe nói đến một cuộc đình công hay biểu tình nào ráo (trọi) ở Cu Ba, hay Bắc Hàn. Ở Trung Cộng thì những vụ “khiếu kiện đông người” tuy có xẩy ra nhưng vô cùng hạn hữu, và đều được giải quyết (đẹp) trong một thời gian kỷ lục. Những nhân vật đối lập hay bất đồng chính kiến, tất nhiên, đều hiếm hoi như … lá mùa thu!

Lực lượng công an ở Việt Nam – tiếc thay – không (còn) có khả năng trị an một cách hữu hiệu tương tự. Ở xứ sở này, chuyện đình công cũng như khiếu kiện xẩy ra như cơm bữa. Còn những nhân vật bất đồng chính kiến thì lại xuất hiện hơi nhiều – dù giới người này vẫn bị bắt bớ, giam cầm, hay sách nhiễu đều đều.

Vụ án mới nhất mới diễn ra ngày ngày 26 tháng 10 năm 2010. Sáng hôm đó, toà án tỉnh Trà Vinh đã kết án ba nhà sáng lập Công Đoàn Tự Do – Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn huy Chương, Đỗ Thị Minh Hạnh – tổng cộng 23 năm tù với tội danh là “lợi dụng các vấn đề còn thiếu sót trong chế độ lao động và tiền lương của công nhân để tuyên truyền, kích động công nhân đình công, biểu tình.” (Chúng tôi xin trở lại vấn đề này, trong một bài viết khác, cũng trên diễn đàn này.)

Và người bị bắt giữ mới nhất (vào ngày 4 tháng 11 năm 2010) là luật sư Cù Huy Hà Vũ. Về sự kiện này, bỉnh bút Ngô Nhân Dụng của nhật báo Người Việt – phát hành từ California, hôm 9 tháng 11 năm 2010 – đã bình luận như sau:

“Ðảng ra tay bắt Cù Huy Hà Vũ, nhưng vụ bắt bớ này lại được đạo diễn rất vụng về, ngớ ngẩn, có thể gọi là lố bịch!”

“Nhiều người Việt Nam thấy thế rất buồn. Ðây là một bằng cớ cho thấy ngay cả bộ máy công an cũng bất lực thê thảm! Ðáng buồn, vì xưa nay công an là guồng máy chạy tốt nhất ở trong đảng Cộng Sản Việt Nam. Kỹ sư công chánh có thể xây cầu chưa xong đã sập. Bộ Giáo Dục có thể bất lực để cho trẻ em ở thôn quê thất học; đào tạo sinh viên ra trường đến hãng ngoại quốc nào người ta cũng phải huấn luyện lại. Hải quân có thể bất lực không bảo vệ được ngư phủ Việt Nam, để cho ‘tàu lạ’ cướp thuyền, cướp máy móc và tôm cá, bắt cóc, đòi tiền chuộc! Cả guồng máy cai trị có thể bất lực để cho nước cống phềnh lên tràn ngập các thành phố Sài Gòn, Hà Nội; đêm đêm dân nằm ngủ nghe tiếng nước chảy dạt dào dưới gậm giường, người này lại đổ cho người kia! Tất cả các cơ quan cai trị có thể làm ăn bết bát, không đâu vào đâu cả; nhưng công an xưa nay vẫn là bộ máy chạy tốt nhất, không ai chê được. .. Bây giờ chính guồng máy có công suất tốt nhất đó lại làm ăn loạng choạng! Nhiều người rất thất vọng!”

….

“Một cách giải thích giản dị, là thực sự công an nó như vậy, khả năng của nó không hơn gì các kỹ sư làm cột xi măng cốt tre cả! Xưa nay người ta cứ sợ công an, không phải vì họ giỏi, mà chỉ vì họ đông quá, lấy thịt đè người.”

Xin được thưa trước, và nói liền rằng trong số “nhiều người Việt Nam thấy thế rất buồn” và “rất thất vọng” (về cách làm ăn “loạng choạng” của lực lượng công an) không có em đâu đó nha. Tôi chưa bao giờ có chút kỳ vọng nào vào qúi ông qúi bà công an nên không có lý do gì để thất vọng, và cũng không cớ chi để buồn phiền về sự “bất lực thê thảm” của họ hiện nay.

Buồn bã không, thất vọng cũng không (luôn) nhưng lo âu thì … có! Loạng choạng là tư thế suýt ngã hay sắp đổ. Coi: lỡ sáng mai, chiều mốt, tuần sau, hay tháng tới mà cái giàn “xi măng cốt tre” đang chống đỡ chế độ gẫy cái rụp là chết (mẹ) cả đám. Mà ngó bộ thì nó muốn đổ thiệt (và đổ tới nơi) rồi, chớ đâu phải chuyên giỡn – mấy cha?

Cái lực lượng “xi măng cốt tre” này, được một nhà báo khác, ông Bùi Tín – người sống gần hết đời mình trong lòng cách mạng – mô tả một cách rất … đơn sơ và ngắn gọn:

“Dưới danh hiệu Công an Nhân dân, dưới khẩu hiệu Công an là bạn dân, trong con mắt của đông đảo người dân lương thiện, công an bị đánh giá là bọn kiêu binh tệ hại nhất, dùng quyền lực để hà hiếp, bóc lột, làm tiền, cướp đất, cướp nhà cửa, của cải của nhân dân một cách ngang ngược, bị nhân dân xa lánh, khinh bỉ nhất.”

Sau hơn nửa thế kỷ “dùng quyền lực để hà hiếp, bóc lột, làm tiền, cướp đất, cướp nhà cửa, của cải của nhân dân một cách ngang ngược,” chuyện gì sẽ xẩy ra cho “bọn kiêu binh tệ hại nhất” này – khi họ không còn súng đạn trong tay?

Câu hỏi được đặt ra (e) hơi bị muộn nhưng muộn còn hơn không. Bên cạnh những vấn đề cấp thiết khác trước mắt (đạo đức xã hội suy vi, tình trạng sắc tộc căng thẳng, an ninh lãnh thổ bị đe dọa, tài nguyên và ngân sách quốc gia bị thao túng, môi trường bị hủy hoại…) tưởng chúng ta cũng cần phải quan tâm và chuẩn bị để giảm thiểu (tối đa) cảnh bạo loạn – trong tương lai gần – khi mà những cô chú công an (bỗng chốc) biến thành đích nhắm cho mọi người trút sự thù hằn, oán hận, và phẫn uất đã chất chứa hơn nửa thế kỷ qua!

Tôi tin rằng đã đến lúc mà lòng bao dung, đức nhân ái, và tính độ lượng (vốn) tiềm tàng trong tâm hồn dân tộc Việt cần phải được khơi dậy và đề cao hết mức. Trong tinh thần này, giữa lúc làn sóng phẫn nộ dâng cao – ngay sau khi một đoạn video được cho là của lực lượng công an phòng chống tệ nạn mại dâm, vừa được tung lên YouTube – những lời lẽ cảnh cáo nhẹ nhàng, và ôn tồn của blogger Mai Xuân Dũng thật đáng trân trọng:



Tranh Goya. Nguồn: blog Mai Xuân Dũng
“Cũng là một lũ bần cùng khố dây khố rợ cả, nên thương nhau thì hơn. Bức tranh tôi có post lên đấy, các chú xem nhé: bão cát thì ngập đến đầu gối các chú rồi, bão đang to lên lắm, liệu mà nương nhờ nhau cho khỏi cát vùi bão dập thì hơn chứ đừng làm cái chuyện bẩn thỉu như vậy. Nếu các chú là con người, cũng có vợ và con cái như những người khác thì hối đi kẻo không kịp.”

Trước viễn cảnh “cát vùi bão dập” sắp tới, nhà văn Dương Thu Hương cũng vừa ân cần nhắc nhở mọi người đừng quên rằng giữa “bầy chó berger của chế độ” không thiếu những người trung thực và tử tế:

“Tuy nhiên, tôi không có ý nói rằng toàn thể các sĩ quan công an đều là bọn mafia, đều là quân cướp. Bởi, nói như vậy là vu khống, là hàm hồ... Trong đám công an, không thiếu những người trung thực, theo ngôn ngữ bình dân, người tử tế. Chỉ có điều họ đã trở thành thiểu số và họ gần như vô năng.”

Những kẻ “thiểu số vô năng” này, tất nhiên, đều vô tội. Còn cái đám đa số còn lại (cũng) chỉ là nạn nhân của một thể chế bạo ngược, và bất nhân thôi. Nói rộng hơn, theo nhà văn Uyên Thao: ”Mọi con dân Việt Nam, vì thế, đều trở thành nạn nhân bi thảm vì bị tước đoạt mọi quyền sống, bao gồm trong đó không ít nạn nhân đã và đang còn đóng vai thủ phạm gieo rắc tội ác không chỉ cho đồng loại mà cho ngay cả bản thân.”

Nghĩ cho cùng họ vẫn đáng tha thứ hơn là trừng phạt. Hơn nữa, hơn nửa thế kỷ qua, có người dân Việt nào dám tự hào nói rằng mình hoàn toàn (và tuyệt đối) không bị ảnh hưởng, hay lây nhiễm tính vô cảm và thói bạc ác của chế độ hiện hành?

Nói thế (e) bao dung và độ lượng quá chăng? Biết thế nhưng với hiện cảnh, và với lịch sử của một dân tộc đã triền miên sống giữa cảnh bom đạn máu lửa, giữa oán hận chất chồng, và nghi kỵ phân hoá – kéo dài hết từ đời này sang đời khác – liệu có lựa chọn nào khác (thế) không?

© Tưởng Năng Tiến
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Thoát Hiểm Nhân Quyền

Trần Khải
Mọi chuyện có vẻ như rằng, hưởng lợi về tình hình nhân quyền nhất trong thời gian này hóa ra lại là nhà nước CS Việt Nam.
Như thế không có nghĩa, Việt Nam là nơi nhân quyền được tôn trọng và bảo vệ cẩn trọng, mà chỉ vì những lý do khó hiểu nào đó, các mũi dùi nhân quyền quốc tế lại chĩa trực diện vào các nơi khác.

Thí dụ, khối ASEAN họp đủ thứ diễn đàn quốc tế mở rộng, nhưng chỉ có Miến Điện bị la mắng về mặt nhân quyền; không nghe ai la mắng gì nhà nước CSVN. Rồi tới quả bom ngàn triệu tấn của Giải Nobel Hòa Bình 2010 thì lại rơi ngay Bắc Kinh... Nghĩa là Hà Nội tuyệt vời, giữa muôn trùng phi tiêu rợp trời, vẫn thoát hiểm như thường.
Vì sao thế? Phải chăng, nói theo kiểu mê tín dị đoan của dân mình, thì các lãnh đạo CSVN được “bà độ, ông cứu”? Hay phải chăng, Hà Nội có trang phục tàng hình nhân quyền, để khi kính chiếu yêu rọi tới thì vẫn không thấy gì? Nhưng tuyệt vời nhất cho Hà Nội, là khi Giải Nobel Hòa Bình được tuyên bố trao cho Lưu Hiểu Ba, một nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc. Bởi vì sau khi thế giới chấn động vì ảnh hưởng của một cú đấm thép từ Bắc Âu tung xa ngàn dặm như thế, và rồi nhà nước Bắc Kinh giận dữ gầm thét phản ứng như thế, tất cả mọi chuyện xảy ra tại Việt Nam đều tự nhiên trở thành “chuyện nhỏ” thôi...

Thực sự, chỉ nhìn trong vài năm qua, thế giới sẽ thấy các chuyện đàn áp nhân quyền tại Việt Nam không ở tầm mức vang dội như tại Miến Điện và Trung Quốc.

Năm 2007, hàng trăm ngàn vị sư xuống đường ở Miến Điện để đòi cải cách kinh tế cho dân chúng đỡ khổ. Nguyên cớ lúc đầu vì giá xăng dầu bị gỡ bao cấp, làm giá xăng dầu tăng 66%, và giá khí hóa lỏng để chạy xe buýt tăng giá gấp 5 lần. Do vậy, chuyên chở tăng giá, năng lượng tăng giá, kéo theo mọi thứ cùng tăng. Các vị sư đã bị đàn áp dữ dội bằng bạo lực quân đội.

Năm 2008, nhiều ngàn dân biểu tình ở vùng đất Tây Tạng, lúc đầu nguyên khởi là để kỷ niệm Ngày Tây Tạng Nổi Dậy. Một số nơi bị hôi của, cướp, đốt phá. Quân đội TQ đã đàn áp dữ dội.
Năm 2009, nhiều ngàn dân vùng Tân Cương xuống đường, lúc đầu là biểu tình ôn hòa, nhưng hai ngày sau là hàng trăm dân Hán tộc dùng bạo lực xô xát với dân bản xứ Tân Cương.

Với những mức độ lớn như thế tại Miến Điện và Trung Quốc, quốc tế sẽ thấy rằng các chuyện ở VN đều là chuyện nhỏ, bởi vì tại VN bất kỳ cuộc tụ họp nào quá 5 người đều bị vây bắt tức khắc.

Thêm nữa, những cuộc tụ họp dân oan vài chục người rồ cũng bị xe công an nửa đêm xúc đưa về các tỉnh. Và những cuộc tuần hành thắp nến của giáo dân Hà Nội để đã được CSVN hóa giải nhẹ nhàng bằng các chiêu thức vận động Vatican, để rồi đẩy Đức Giám Mục Ngô Quang Kiệt vào một góc tu viện. Chưa hết, các bất ổn tại Đồng Chiêm (Hà Nội), Cồn Dầu (Đà Nẵng), Bát Nhã (Lâm Đồng... đều được chuyển sang hồ sơ tranh chấp chủ quyền đất, giải tỏa để làm dự án, nội bộ sân chùa...
Lăng ba vi bộ tuyệt vời như thế, nên thế giới vẫn cho rằng Hà Nội nhẹ tội hơn Bắc Kinh. Bởi vì những cuộc vây bắt giới bất đồng chính kiến và những người hoạt động công đoàn ngoàì luồng tại VN đều chỉ là từng đợt vài người. Nghĩa là, VN có nặng tội, thì cũng cỡ như Cuba thôi, chứ chưa tới mức “đàn áp hoành tráng” như TQ và Miến Điện. Một điểm cũng cần so sánh rằng, chính Tòa Thánh Vatican cũng đã khéo léo dịu dàng với VN và Cuba, và lấy sự thỏa hiệp này làm chính sách căn bản, cũng vì thực tế, có căng thẳng với anh em nhà Castro và ông vua nhà họ Nông thì sẽ chỉ vô ích thôi.

Cao điểm của vở tuồng hiện nay là Giảỉ Nobel Hòa Bình 2010, thì chỉ có Bắc Kinh lãnh búa. Như thế, Việt Nam sẽ đỡ lo lắng nhiều năm, vì Giảỉ này tới Châu Á, thế nào nhiều năm sau mới quay lại châu lục này.
Điều cần thấy những ngày này: chính nhiều quan chức Mỹ cũng đã khen ngợi nhân quyền VN có cải thiện. Sao lại có chuyện như thế? Nếu ngay tận gốc thủ đô Washington DC, Hà Nội được khen ngợi về nhân quyền thì kể như khó thông qua các dự luật nhân quyền VN và dự luật trừng phạt các quan chức VN vi phạm nhân quyền (mà dân biểu liên bang Cao Quang Ánh đã trình ra).

Hoặc, có thể thấy, hệt như tuần này chúng ta đã thấy dự luật DREAM Act, một dự luật nhằm ân xá sinh viên học sinh di dân lậu, thông qua Hạ Viện được, nhưng tới Thượng Viện là bị hoãn liền. Nghĩa là tối đa, dự luật nhân quyền VN chỉ qua được Hạ Viện, mà viễn ảnh này chưa chắc đã có thể xảy ra, vì thực tế Đảng Cộng Hòa đang nắm quyền kiểm soát Hạ Viện trong khi đảng này chỉ quan tâm về sức bành trướng của Trung Quốc.

Cũng cần ghi nhận rằng, mới hôm Thứ Tư 9 tháng 12 năm 2010 tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã có cuộc gặp gỡ giữa Phụ tá Ngoại trưởng là ông Michael Posner với một số đại diện các tổ chức nhân quyền và chính trị của cộng đồng Việt Nam. Nội dung bàn về các vấn đề nhân quyền và lao động tại Việt Nam và ông Posner muốn thu nhận những ý kiến để chuẩn bị cho cuộc họp với chính phủ Việt Nam tại Hà Nội vào tuần tới nhằm cải thiện tình trạng nhân quyền trong nước và yêu cầu thả những tù nhân chính trị.

Chức vụ Phụ Tá Ngoại Trưởng là chức vụ cao hàng thứ 3 tại Bộ Ngoại Giao Mỹ, chỉ đứng sau Ngoại Trưởng Hillary Clinton và hai vị Thứ Trưởng Ngoạị Giao là James Steinberg và Jacob J. Lew. Chức Phụ Tá Ngoại Trưởng cũng có thể dịch là Trưởng Phòng của Bộ Ngoại Giao đặc trách về một lĩnh vực chuyên môn.

Bản tin Việt Báo hôm Thứ Sáu ghi rằng:
“Vị đại diện của bác sĩ Nguyễn Xuân Ngãi, Phó Tổng Thư Ký Đảng Dân Chủ Việt Nam đã đặt vấn đề với ông Michael Posner là nhà cầm quyền Việt Nam đã bỏ tù một cách không chính đáng những nhà đấu tranh dân chủ trong đó có Tổng Thư Ký Đảng Dân Chủ là luật sư Lê Công Định, Chủ tịch Phong trào Tập hợp Thanh niên Dân chủ là Nguyễn Tiến Trung và Điếu Cày Nguyễn Văn Hải vẫn còn bị giam mặc dù đã hết hạn án tù.
Ông Michael Posner nhắc tới chuyện Việt Nam vào tháng 5 năm 2010 đã chấp nhận các nguyên tắc luật pháp của Hội Luật Sư Hoa Kỳ và Hoa Kỳ hi vọng là sẽ có những thay đổi lớn lao về tình trạng trao đổi thương mại và luật lao động vào năm 2011.

Bác sĩ Nguyễn Xuân Ngãi đã gởi lời cám ơn đến ông Phụ tá Ngoại trưởng Hoa Kỳ về những nỗ lực của ông và nhờ ông yêu cầu chính phủ Việt Nam phải trả tự do cho tất cả các tù nhân chính trị ngay tức khắc và vô điều kiện.

Ông Posner nói rằng chính phủ Hoa Kỳ sẽ tiếp tục áp lực với Hà Nội về vấn đề cải thiện nhân quyền và yêu cầu trả tự do tất cả các tù nhân chính trị trong cuộc họp sắp tới vào hai ngày 13, 14 tháng 12, 2010.”(hết trích)

Như thế, Mỹ-Việt sẽ nói gì về nhân quyền trong 2 ngày 13 và 14 tháng 12-2010?
Có thể là phía Mỹ sẽ nói, “quý vị hên lắm, may mà Lưu Hiểu Ba được giải Nobel, chứ nếu Giảỉ này trao cho một người Việt nào thì kể như quý vị rách việc. Thêm nữa, quý vị phải cảm ơn Hoa Kỳ vì Bộ Ngoại Giao Mỹ luôn luôn khéo léo bênh vực quý vị...”

Cũng có thể là phía CSVN sẽ tự nhìn nhận rằng đúng là đã có bắt nhiều người bất đồng chính kiến (không chối nổi chuyện này, cả thế giới đều biết), nhưng cũng đúng là có đưa ra tòa xử theo “đúng luật pháp của VN” (bảo đảm có bản án sẵn, chỗ này sẽ được Hà Nội im lặng, muốn hiểu sao cũng được), đúng là VN cũng vây bắt những người viết blog (Hà Nội sẽ đắc ý nói rằng, quý vị cũng bắt người sáng lập WikiLeaks đấy thôi, cũng vì thiếu 2 bao cao su, còn chúng tôi con cháu Bác Hồ thì lại thừa 2 bao cao su), và đúng là chúng tôi có bao vây kinh tế các gia đình của những người viết blogs, và vân vân, và vân vân.

Tuy nhiên, Hà Nội sẽ nói thêm, rằng thế giới Tây Phương (Mỹ-Châu Âu) phải biết rằng đừng có vì một vài người bất đồng chính kiến mà đẩy chúng tôi sang hàng ngũ phên dậu cho Bắc Triều, kiểu như anh Chí Phèo Bắc Hàn...

Có một số chi tiết cho thấy rằng Mỹ muốn kết thân với Việt Nam bất kể mọi đàn áp nhân quyền. Bởi vì thực tế trong ngoại giao, Mỹ đã kết thân với rất nhiều nước vi phạm nhân quyền. Thí dụ, bất kể Israel bị hầu hết thế giới chỉ trích việc bao vây nhiều thị trấn Palestine, Mỹ vẫn xem Israel là “môi hở, răng lạnh” của Mỹ, bởi vì Israel là thành trì để ngăn các nước Ả Rập đầy bất trắc. Và bất kể mọi nghị quyết kết án và trừng phạt Israel, Mỹ vẫn ngang nhiên phủ quyết hoặc bất tuân hành như thường.

Thí dụ nữa, bất kể Saudi Arabia nhiều năm nằm trên danh sách CPC để trừng phạt vì lý do đàn áp tôn giáo, Mỹ vẫn xem Saudi là bạn chí thân “phên dậu” để mở căn cứ ở Saudi thời Cuộc Chiến Vùng Vịnh lần đầu, nhằm đóng quân giúp Saudi (bây giờ đã rút quân xong, ra khỏi là năm 2003), từng đưa Hạm Đội Thứ 5 tới bảo vệ tuyến hàng hải ở Vịnh Ba Tư để giúp bạn Saudi.

Và gần nhất, vào ngày 20-10-2010, Bộ Ngoại Giao Mỹ loan báo cho Quốc Hội Mỹ ý định bán đợt vũ khí lớn nhất lịch sử Mỹ: đơn Saudi đặt mua vũ khí Mỹ trị giá 60.5 tỉ đôla.

Hóa ra, nhân quyền chỉ là nói bên bàn họp nhân quyền thôi. Còn chuyện quốc gia Hồi Giáo Saudi Arabia đàn áp các tôn giáo khác, thì chỉ là “chuyện nhỏ,” hay có đàn áp nữ quyền thì đó là chuyện Mỹ không muốn bàn tới, bất kể đó là chuyện cho cưới 4 vợ, hay bắt quý bà che mặt, hay bắt phảỉ có người thân hộ tống khi ra đường phố... Đó là chưa kể chuyện Saudi Arabia cấm ngặt đồng tính luyến ái (nhân danh tôn giáo).

Như thế, Việt Nam thực ra còn đỡ hơn Saudi Arabia, nhiều người Mỹ sẽ nghĩ như thế, vì nữ quyền và đồng tính quyền cũng còn có chỗ thương lượng ở VN (bởi vì đạo của Mác-Lê-Hồ không cấm?).

Trên đàì VOA, hôm Thứ Năm 9-12-2010, bản tin nhan đề “Đại sứ Mỹ: Các vụ bắt bớ giới bất đồng chính kiến gia tăng tại VN” đã có những lời nhận xét từ ông Đạị Sứ Mỹ, trích như sau:
“Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội nói rằng Việt Nam đang gây khó khăn cho những người bất đồng chính kiến trong việc bày tỏ quan điểm của họ, với sự gia tăng các vụ bắt bớ trong thời gian gần đây.

Đại sứ Michael Michalak hôm thứ Năm nói rằng tính minh bạch trên Internet đã bị “tấn công” liên tiếp tại Việt Nam, với những giới hạn mới được áp đặt đối với các blogger và cà phê internet, cũng như các hành động xâm nhập các trang mạng chỉ trích nhà nước.

Đó là phát biểu của Đại sứ Michalak trước một diễn đàn đánh dấu Ngày Nhân Quyền Quốc Tế hôm thứ Sáu. Ông nói trong năm nay, 24 người đã bị bắt giữ, và 14 người khác bị kết tội tại Việt Nam, chỉ vì “đã bày tỏ quan điểm của mình một cách ôn hòa.”

Trong khi nhiệm kỳ Đại sứ của ông sắp sửa kết thúc, trong 3 năm phục vụ tại Việt Nam đại sứ Michael Michalak đã chứng kiến sự kiện Washington và Hà Nội xích lại gần nhau trong các lĩnh vực thương mại và an ninh. Ông cho biết ông cũng thấy có cải thiện trong vấn đề tự do tôn giáo trong thời gian ở Việt Nam...”(hết trích)
Tuyệt vời là ông Đại Sứ. Vừa mới nói một câu chỉ trích Hà Nội, liền vuốt ve ngay câu kế tiếp.

Đại Sứ Michalak nói ông cũng thấy có cải thiện trong vấn đề tự do tôn giáo trong thời gian ở Việt Nam. Ông đã nói như thế, thì làm sao 2 dự luật của DB Cao Quang Ánh thông qua được? Mà nếu qua được Hạ Viện, thì cũng không thấy có cơ qua nổi Thượng Viện. Khỏi cần tới ông Đại Sứ Lê Công Phụng du thuyết DB họ Cao làm chi cho mệt.
Bởi vậy, Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Việt Nam là ông Lê Thành Ân có ra Đà Nẵng tắm biển, nhưng không nghĩ tới chuyện thăm Giáo Xứ Cồn Dầu gần đó.

Bây giờ lại thêm chuyện ông Lưu Hiểu Ba lãnh giải Nobel 2010. Thế giới sẽ gật gù, rằng đúng thế, VN còn nhẹ tội hơn Miến Điện và TQ, và thậm chí cũng còn có chỗ đỡ hơn là Saudi Arabia.
Thế giới chỉ thấy rằng TQ đang nổi giận, nhưng lại không thấy rằng VN đang vui mừng vì đã có đàn anh lãnh đạn giùm.
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Hết thuốc chữa_

Bằng Phong Đặng Văn Âu
“Đảng Cộng Sản Việt Nam là một đảng cướp”. Đó là lời phát biểu dõng dạc của cựu Đại tá Quân đội Nhân Dân Phạm Quế Dương trên hệ thống truyền thanh quốc tế. Ông Phạm Quế Dương là một thanh niên ái quốc như hàng trăm ngàn thanh niên Việt Nam yêu nước khác tham gia Việt Minh kháng chiến chống Thực dân Pháp, rồi trở thành đảng viên cộng sản.
Ban đầu, thanh niên Việt Nam tham gia đảng cộng sản là để thể hiện lý tưởng yêu nước của mình – chống Thực dân Pháp giành độc lập. Nhưng khi đã trở thành đảng viên rồi thì người đảng viên cộng sản không được quyền yêu nước, mà phải yêu đảng. Yêu nước là phản động. Có lẽ cũng có nhiều đảng viên cộng sản nhìn ra bản chất “ăn cướp” của chủ nghĩa cộng sản, nhưng không dám công khai nói ra, không dám trả lại thẻ đảng. Vì thời ấy đi vào đảng cộng sản bằng hai chân; nhưng ly khai khỏi đảng cộng sản thì nằm trong sáu tấm ván hòm.

Trong thời kỳ còn đang đánh nhau với Pháp, ông Hồ Đắc Liên – em trai Tiến sĩ luật khoa Hồ Đắc Điềm và anh trai Tiến sĩ dược khoa Hồ Đắc Ân – một thanh niên thành tài ở Pháp về nước chiến đấu chống quân xâm lược Pháp, đã từng hậm hực nói với các đồng đội: “Được rồi! Đánh xong giặc Pháp, bọn cộng sản này sẽ biết tay ta”. Cái “đểu” của cộng sản đã có người phát hiện rất sớm sủa.

Trên mặt lý thuyết, chủ nghĩa cộng sản vô cùng hấp dẫn đối với tuổi trẻ có lòng yêu nước, có lòng yêu thương đồng loại. Đúng thế! Ai mà không muốn có một xã hội công bằng, ai không muốn triệt tiêu sự bóc lột? Ai cũng muốn được đối xử bình đẳng, được quyền mưu cầu hạnh phúc, làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu. Nhưng trong thực tế, chủ nghĩa cộng sản kiến tạo một bộ máy độc tài chuyên chính, cướp của giết người mà bất cứ một người Việt Nam nào dù Quốc hay Cộng đều chứng kiến tận mắt. Cho nên, chàng trai người Nam Tư Molivan Djilas – tác giả cuốn sách nổi tiếng “Giai Cấp Mới” (The New Class) – với trái tim đầy nhiệt huyết đã hăng say hoạt động cho lý tưởng cộng sản, nhưng qua sự nếm trải thực tiễn đã thú nhận rằng: “Hai mươi tuổi mà không theo cộng sản là không có trái tim, bốn mươi tuổi mà còn theo cộng sản là không có bộ óc”. Con tim có thể làm bộ óc mê muội, nhưng khi đủ trí khôn, đủ trí phán đoán thì phải tỉnh ngộ để biết phân biệt cái ác, cái thiện!

Từ năm 1953 trở đi, khi cuộc đấu tố long trời lở đất trong cuộc cải cách ruộng đất xẩy ra giết chết hàng vạn sinh linh, tiếp theo cuộc di cư của đồng bào từ Bắc vĩ tuyến 17 phải bỏ mồ mả cha ông, ruộng vườn vào Nam sinh sống. Sau vụ trí thức, văn nghệ sĩ của phong trào Nhân văn Giai phẩm bị đầy đọa mà vẫn còn có người mơ hồ về chủ nghĩa cộng sản, vẫn bám theo Karl Marx, Lénine thì con người đó vừa không có trái tim vừa không có bộ óc.

Năm 1951, dù đang là đứa bé 11 tuổi, tôi đã hai lần chứng kiến tận mắt sự tàn bạo của cộng sản. Làng tôi ở giống như vùng tề xôi đậu ngoài Miền Bắc. Lính Bảo Vệ của thực dân Pháp và du kích cộng sản hoạt động đan xen như răng lược. Một buổi sáng tinh sương, trên đường đến trường, tôi thấy một đám đông chừng mươi người đứng lố nhố, bèn tò mò đến xem thì thấy hai tên du kích giữ hai tay một người đàn ông lực lưỡng và một tên du kích khác hươi cái mả tấu chém bay đầu nạn nhân. Chiếc đầu lâu rơi xuống đất, hai mắt mở trừng trừng, nạn nhân còn vùng chạy được khoảng hai thước mới đổ xuống, dòng máu tươi nơi cổ phun thành vòi lai láng. Cuộc hành quyết đó xảy ra tại Chợ Mai. Nạn nhân là người phu xe kéo (thời đó chưa có xe xích lô) tên Chu, ở làng Phổ Nam. Ông Chu bị khép tội Việt gian, vì kéo xe cho Pháp.

Một lần khác cuộc hành quyết xảy ra giữa ban ngày tại nghĩa trang hoang vắng. Một người học trò ước chừng hơn tôi vài tuổi, đi ngang qua làng bị hai tên du kích tên Sua và Cù bắt. Người học trò mặt mũi trắng trẻo khôi ngô, mặc chiếc quần đùi mầu xanh nước biển và chiếc áo sơ-mi trắng có dắt hai cây bút nguyên tử mầu xanh, mầu đỏ trên túi áo trước ngực. Hai tên du kích Sua và Cù nghi cậu học trò đó làm điểm chỉ viên cho Pháp vì hai mầu xanh, đỏ của cây bút nguyên tử trên túi áo trắng là dấu hiệu cờ tam tài xanh trắng đỏ của Pháp. Cậu học trò vừa khóc vừa khai rằng cậu đang học ở trên phố, vì được tin cha là Trung đoàn trưởng Vệ Quốc Đoàn đóng quân tại làng Mậu Tài nhắn về thăm. Mặc dầu bị hai tên du kích tra khảo, mặt mũi sưng phù, trước sau cậu học trò vẫn giữ nguyên lời cung khai đó. Một hồi lâu, có lẽ vì mất kiên nhẫn, tên du kích lấy hòn đá khá lớn đập vỡ sọ người học trò. Về sau, vì nóng lòng không nghe tin tức con, vị Trung đoàn trưởng Vệ Quốc Đoàn phái thủ hạ đi tìm thì biết con mình bị đồng chí du kích cộng sản đập vỡ sọ chết!

Hai cảnh tượng kinh hồn man rợ đó cứ ám ảnh tôi mãi cho đến ngày hôm nay. Nếu độc giả nào lớn tuổi, từng sống ở Nam Phổ, huyện Phú vang, tỉnh Thừa Thiên đọc đến đây đều biết chuyện cộng sản hành quyết ông phu xe kéo tên Chu và cậu học trò con vị Trung đoàn trưởng Vệ Quốc Đoàn.

Năm 1953, nghe tin hai ông bác và một ông chú của mình bị giết chết một cách nhục nhã trong cuộc đấu tố cải cách ruộng đất, tôi càng kinh tởm cộng sản hơn. Phải chi chú bác tôi làm mật thám cho Tây mà bị giết đã đành! Một người bác là vị quan Thượng Thư nổi tiếng thanh liêm – phụ thân của Hùm Xám Đặng văn Việt – (1) dưới triều Nguyễn, từng được Hồ Chí Minh mời làm Bộ trưởng trong Chính phủ Liên Hiệp. Một người bác khác là vị quan Tham Tri được mời làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt (một tổ chức ngoại vi của cộng sản). Bằng trực giác, chứ chẳng phải có hiểu biết gì, tôi đã lo sợ nếu nước mình mà cộng sản thắng thế thì đại họa khôn lường. Tại sao nhà thông thái Nguyễn Khắc Viện có cha cũng là một vị quan Tế Tửu cực kỳ thanh liêm bị cộng sản giết trong cải cách ruộng đất mà vẫn nhắm mắt đi theo cộng sản? Có phải tầng lớp trí thức như Nguyễn Khắc Viện bị quỷ ám chăng?

Nói rằng chủ nghĩa cộng sản là sự chọn lựa của nhân dân Việt Nam là cách nói hàm hồ, nói lấy được. Nếu đúng như thế thì tại sao đảng cộng sản lúc ban đầu phải giấu cái đuôi cộng sản của mình? Phải đổi tên thành đảng Lao Động? Chẳng qua Việt Nam bị hứng chịu thảm họa cộng sản là do sự tham lam ngu dốt của Thực dân Pháp và sự mù quáng của một số thành phần trí thức như bác sĩ Nguyễn Khắc Viện. Cộng thêm là sự may mắn mà thôi, chẳng phải tài cán gì.

Nếu Thực dân Pháp sáng suốt như Thực dân Anh để nhận ra rằng chính sách thuộc địa sẽ phải tới ngày cáo chung thì Việt Nam ta không bị rơi vào tay cộng sản. Bằng cớ là tất cả các thuộc địa của Anh không bị cộng sản thống trị. Thực dân nào cũng tàn ác như nhau, chỉ khác ở chỗ một bên thức thời và một bên u tối thôi. Nếu trí thức Việt Nam hiểu được rằng chủ nghĩa cộng sản là một chủ nghĩa quốc tế chỉ biết phục vụ quyền lợi quốc tế, chứ không phục vụ quyền lợi quốc gia dân tộc thì không đời nào họ đứng ra hô hào lôi cuốn quần chúng đi theo cộng sản. Sở dĩ chủ nghĩa cộng sản thành công trên đất nước Việt Nam là vì thành phần mang danh trí thức chỉ có trái tim mà không có bộ óc! Và sau khi chứng kiến cái gian dối, cái độc ác của cộng sản, họ cũng không dám từ bỏ hàng ngũ!

Nếu cụ Trần Trọng Kim biết được cộng sản là mối tai họa cực kỳ ghê gớm cho dân tộc Việt Nam thì cụ đã đồng ý làm theo đề nghị của viên Đại sứ Nhật bản để diệt không còn một mống cộng sản. Làm sao ông Hồ Chí Minh có thể cướp thời cơ khởi động cái gọi là cuộc Cách Mạng Mùa Thu? Nếu Mao Trạch Đông không đánh bại Tưởng Giới Thạch ở Hoa Lục thì làm sao “Bộ Đội Cụ Hồ” lập được chiến thắng Điện Biên Phủ để cho ông Hồ Chí Minh thể hiện giấc mộng làm “cha già dân tộc”? Hai sự kiện vừa nêu chứng tỏ cái may mắn của đảng cộng sản gặp thời!

Giương cao khẩu hiệu “Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc” để phỉnh gạt khát vọng của một dân tộc bị nô lệ phải hy sinh xương máu là một sự lừa đảo đáng khinh bỉ. Nói ra những điều đạo đức, nhưng thi hành những thủ đoạn tồi bại là một sự tráo trở vô luân. Hô hào “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết” để đạt “thành công, thành công, đại thành công”, rồi ngấm ngầm sai bộ hạ đi thủ tiêu những người quốc gia yêu nước và gieo lòng thù hận giai cấp thì sự thành công kia chỉ mang lại cho một tập đoàn cầm quyền gian ác hung hiểm thôi! Độc lập tự do gì mà người dân còn khốn khổ hơn dưới thời thực dân đô hộ?

Việt Nam Cộng Hòa đang trên đường xây dựng một chế độ dân chủ còn phôi thai thì bị những phần tử đảng phái xôi thịt chia rẽ xâu xé, những kẻ đội lốt tôn giáo, những trí thức “gà mờ” tiếp tay làm nội gián cho ác quỷ, tất nhiên Miền Nam phải sụp đổ. Chỉ có hạng người mất trí hoặc mù lòa mới không nhìn thấy Mặt trận Giải Phóng Dân Tộc Miền Nam là công cụ của Hà Nội. Vua An Dương Vương dù có nỏ thần vô địch mà bị đứa con gái Mỵ Châu mê trai, làm nội gián tạo phản thì cũng đành mất ngôi báu cùng xã tắc. Nào phải sự thắng trận năm 1975 là do Bắc quân tài giỏi hoặc tập đoàn cầm quyền Hà Nội là “đỉnh cao trí tuệ loài người”? Miền Nam có quá nhiều Mỵ Châu phản bội!

Chưa từng thấy trên thế giới có một đảng chính trị nào kiêu ngạo, tự cao tự đại để tự cho mình là “đỉnh cao trí tuệ loài người” giống như đám lãnh đạo cộng sản Việt Nam mới thoát thai từ vượn lên người! Thực chất tập đoàn lãnh đạo cộng sản là gian ác và ngu dốt. Từ một Miền Nam trù phú không kém gì các quốc gia trong vùng, cộng sản đã bắt nhân dân cả nước phải ăn bo bo (thực phẩm của lừa, ngựa); xua dân lên vùng kinh tế mới để chiếm đoạt nhà cửa; đánh tư sản mại bản, đổi tiền bao phen làm trắng tay hàng triệu người mà không phải quân cướp, thổ phỉ thì là gì? Mười sáu tấn vàng nay về tay ai?

Kể từ tháng 4/1975 cho đến nay, bọn làm nội gián đâm sau lưng nhân dân Miền Nam chưa hề bày tỏ một chút trắc ẩn, thương tâm đối với những nạn nhân vượt biển đi tìm tự do chết đuối ngoài biển cả! Những người chống chiến tranh Việt Nam như cô ca sĩ Joan Baez của Hoa Kỳ còn biết mủi lòng trước thảm họa thuyền nhân, đã lên án cái vô nhân đạo của chủ nghĩa cộng sản. Nhưng tuyệt nhiên không ai nghe một lời sám hối từ những người đã từng tiếp tay giúp cho quỷ dữ hoàn thành cuộc thống trị trên toàn cõi đất nước. Loại người như ông Lữ Phương ngày nay phê phán tình trạng băng hoại xã hội, chẳng qua vì bị thất sủng. Giá như ông Lữ Phương có vai vế như Trương Tấn Sang (2) thì cũng sẽ quyết tâm chống diễn biến hòa bình để bảo vệ chủ nghĩa cộng sản cho tới cùng!

Người cầm quyền cộng sản từ thời ông Hồ Chí Minh cho đến nay vẫn không hề thay đổi bản chất lừa đảo (nói một đường làm một nẻo) dân tộc và thế giới: rêu rao những điều nhân nghĩa đạo đức như kiến tạo một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh nhưng hành động thì côn đồ (dùng phân người trộn với dầu nhớt đổ vào nhà ông Hoàng Minh Chính hoặc hành hung đàn bà, con trẻ); cam kết tuân thủ quy ước Nhân Quyền để được nhận vào Liên Hiệp Quốc, để được tham gia các định chế tài chính, kinh tế nhưng lại ngầm dở thủ đoạn bẩn thỉu với dân. Khi bị thế giới tố giác vi phạm thì bào chữa mỗi quốc gia hiểu hai chữ “nhân quyền” theo cách khác nhau! Nham nhở quá sức!

Chỉ khi nào thôi chức, mất quyền thì các ông “cựu” lãnh đạo cộng sản mới bắt đầu góp ý phê phán kẻ kế tục sự nghiệp đàn áp của mình, làm như thể các ông “cựu” là người thật sự có lòng yêu nước thương dân. Thủ tướng lâu năm Phạm văn Đồng khi về vườn thì mới than mình chỉ là bù nhìn. Thủ tướng Võ văn Kiệt từng ký Nghị định 31/CP để bắt người không cần xét xử, khi thôi chức thì mới khuyên người kế nhiệm đừng làm lễ mừng chiến thắng 30 Tháng Tư, vì sẽ có một triệu người vui, một triệu người buồn! Phan văn Khải thì than sở dĩ mình bất lực vì “trên bảo dưới không nghe”!
Mới đây, ông Chủ tịch Quốc hội Nguyễn văn An sau khi trở thành “cựu” rồi mới có cuộc trả lời thẳng thắn (!) với ký giả Thu Hà của Tuần Việt Nam. Ông Nguyễn Văn An nhìn nhận: “trách nhiệm của mình về những nhận thức và việc làm còn nhiều hạn chế và yếu kém của ông khi còn đương nhiệm.” Ông Nguyễn văn An là ai? Ông đứng vào hàng thứ tư trong Bộ Chính Trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương, là người sắp xếp nhân sự vào các bộ phận của đảng, rồi giữ chức Chủ tịch Quốc hội. Chắc chắn ông Nguyễn Văn An phải là người thông hiểu hệ thống đảng hơn ai hết. Hôm nay, khi trở thành công dân thường (lời ông An) thì ông mới nói đến cái “Lỗi Hệ Thống”.

Câu hỏi đặt ra, ai là người tạo nên cái “Hệ thống Đảng Cộng Sản” từ khi cướp chính quyền? (Xin nhắc: “Cướp chính quyền” là chữ của lãnh tụ cộng sản dùng, chứ không phải của người viết). Tại sao lãnh đạo cộng sản dùng chữ “cướp”? Bởi vì bản chất của chủ nghĩa cộng sản là quân ăn cướp thì mới dựng lên một đảng cướp! Xin chứng minh:

- Việt Nam là một nước nghèo, chậm tiến, lạc hậu, dân trí thấp. Khát vọng cốt lõi nhất của người Việt Nam dưới ách đô hộ là mong thoát ra khỏi kiếp nô lệ, đủ cơm ăn áo mặc, an cư lạc nghiệp. Chỉ giản dị vậy thôi. Đem một triết lý chính trị (chưa được thực chứng) áp dụng vào Việt Nam là một sự xa xỉ. Ngay cả những người đi làm cách mạng cứu nước như Hồ Chí Minh và các đồng chí của ông cũng chưa chắc đã hiểu một cách rốt ráo biện chứng pháp, tư liệu sản xuất, công hữu, tư hữu là gì. Karl Marx là anh trí thức tháp ngà, không đủ sức nuôi thân, bạn bè phải cung cấp phương tiện sinh nhai, mà có tham vọng làm cuộc cách mạng cải thiện mức sống loài người là một thứ hoang tưởng. Tiên đoán của Marx rằng cuộc cách mạng vô sản sẽ nổ ra ở các nước tư bản bóc lột có nền kỹ nghệ tiên tiến, nhưng nước Nga là nước hãy còn trong tình trạng nông nghiệp lại là nơi đảng cộng sản ra đời. Sự tiên đoán của Marx đã sai từ đó, chứ không đợi đến khi Đông Âu, Liên Xô sụp đổ. Đặt ra luật lệ “Tài sản quốc gia thuộc sở hữu toàn dân” là một hình thức ăn cướp để tận thu tài sản của dân vào “Ngân Hàng Nhà Nước”, mà Nhà Nước là Đảng; còn nhân dân thì ốm đói trơ xương. Sở dĩ đảng cộng sản thành công là nhờ học được cái tài tổ chức lỗi lạc của Lénine và mánh khóe tuyên truyền bịp bợm, dối trá đánh lừa được các thứ trí thức tháp ngà như Bertrand Russell, Jean-Paul Sartre. Đảng cộng sản chiếm đoạt tài sản của nhân dân (bần cùng hóa mọi người) và sung vào Nhà Nước, rồi mang phân phát miếng ăn cho mọi người (chính sách hộ khẩu, bao cấp), mới nghe qua thì tưởng là công bằng, nhưng thực chất là ăn cướp! Đúng ra, đảng cướp cộng sản tồi bại hơn đảng cướp đời thường, vì đảng cướp đời thường không nhân danh những điều thiêng liêng cao quý như Tổ Quốc, Dân Tộc… để đi ăn cướp!

- Đã có hàng chục ngàn trang sách nêu rõ chứng cứ sự cướp bóc của đảng cộng sản từ khi chưa đánh xong giặc Pháp cho đến nay. Thiết tưởng người viết chẳng cần ghi ra đây. Về mặt hình thức cơ cấu, đảng cộng sản cũng có Hiến Pháp bao gồm những điều khoản về quyền con người như các quốc gia dân chủ, nhưng chỉ để trang trí mà thôi! Không điều khoản nào được nghiêm chỉnh thi hành. Lập ra hai đảng Dân Chủ (do Hoàng Minh Chính làm đảng trưởng) và Xã Hội (do Nguyễn Xiển làm đảng trưởng) chỉ là cò mồi, nhằm mục đích che mắt thế giới. Kẻ nào khen dưới thời Hồ Chí Minh có đa nguyên đa đảng là nói sai sự thật! Cả thế giới đã lên án chủ nghĩa cộng sản là tai họa thảm khốc của nhân loại. Thế nhưng người cầm quyền cộng sản cương quyết chống “diễn biến hòa bình” để tiến lên thiên đường xã hội chủ nghĩa mà không cần biết hình thù nó như thế nào. Tại sao?

Tại vì cái bộ máy cộng sản triệt tiêu không thương tiếc bất cứ đảng viên nào có tài, có đức, có chút lương tri, có đầu óc cấp tiến muốn đổi mới. Kẻ nào dám phản biện đều bị quy là phản động, cấu kết với lực lượng thù địch. Chỉ có đảng viên nào ngoan ngoãn biết gọi dạ bảo vâng, ngậm miệng ăn tiền thì mới có cơ hội leo lên chiếc ghế lãnh đạo. Mà làm lãnh đạo cộng sản còn sướng hơn bạo chúa thời Trung Cổ, họ viết ra luật là để cai trị dân đen, còn bản thân lãnh đạo thì có quyền ngồi trên luật pháp, muốn giải thích luật thế nào cũng được. Ai nói trái ý mình thì bỏ tù mọt gông, thủ tiêu mất xác. Đó là “Hệ thống” được xây lên bởi chủ nghĩa Marx, cái hệ thống chỉ sản sinh ra người lãnh đạo tham lam, phi đạo đức! Chắc chắn ông Nguyễn văn An biết rõ điều đó hơn ai hết mà không dám nói thẳng ra.

Giả thử rằng ông Nguyễn văn An biết Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh nhượng đất, nhượng biển cho Trung Cộng mà công khai lên tiếng phản đối, thì Đảng sẽ khai trừ ông An ngay lập tức, ông An sẽ không thể giữ chiếc ghế Ủy viên Bộ Chính trị, chẳng bao giờ leo lên chức Chủ tịch Quốc hội! Mà mất cái chức là mất cái quyền và mất cái lợi. Cho nên cứ thây kệ! Tương lai đất nước ra sao thì ra, dù mang tội bán nước cũng không từ, miễn là mình được ấm thân! Đó là cái hệ thống đề ra chủ trương “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” mới nghe qua thì rất dân chủ, nhưng cuối cùng chẳng có ai lãnh đạo, chẳng có ai phụ trách. Vì vậy, ông Nguyễn Tấn Dũng nói quyết định cho Trung Cộng khai thác Bauxite ở Tây Nguyên là chủ trương lớn của Đảng, nhưng nếu ai cắc cớ hỏi Đảng là ai thì cả Bộ Chính trị, cả Ban Chấp Hành Trung Ương chẳng biết Đảng là ai cả!

Cái nguy lớn lao nhất cho Việt Nam ngày nay là các lãnh đạo giữ trọng trách lèo lái con thuyền quốc gia mất khả năng biết xấu hổ! Chứ không phải vấn đề dân chủ, độc tài, đa nguyên đa đảng. Bởi vì những quốc gia như Hàn quốc dưới thời Phác Chính Hy, Đài Loan dưới thời Tưởng Giới Thạch, Singapore dưới thời Lý Quang Diệu khởi đi từ chế độ độc tài, nhưng rồi dần dà cũng tiến tới chế độ dân chủ, xã hội ổn định, công bằng, nhân phẩm được đề cao. Nói như thế, không có nghĩa người viết tán dương chế độ độc tài. Điều tôi muốn nhấn mạnh là người lãnh đạo trước hết phải có lòng tự trọng, biết xấu hổ, hứa hẹn với nhân dân, với thế giới điều gì thì phải thực thi. Nói một đường làm một nẻo là lưu manh, là mánh khóe tiểu nhân, chứ không phải lãnh đạo! Chế độ ở Việt Nam hiện nay không phải là chế độ độc tài mà là chế độ của kẻ cướp dùng mánh khóe, bạo hành để cai trị.

Con người là sinh vật duy nhất được Tạo Hóa tạo dựng nên có khả năng biết xấu hổ, có lòng tự trọng. Biết xấu hổ thì mới biết sám hối để sửa chữa sai lầm, cải tà quy chánh. Những người từng lãnh đạo đất nước, nay thôi chức nếu có thực tâm muốn cứu nước, thì trước hết tự mình dũng cảm nhìn nhận lỗi lầm bản thân để nói lời sám hối. Vì quý vị cũng là người nằm trong cái hệ thống do chủ nghĩa cộng sản đẻ ra. Không phải sau khi thôi chức vụ lãnh đạo, quý vị mới sáng mắt, sáng lòng để nhận ra sự trì trệ, sự thoái hóa, sự mất dân chủ trong đảng là do lỗi hệ thống! Quý vị biết lỗi ấy từ khuya rồi, nhưng vẫn a tòng với Sự Ác, Sự Lừa Dối của cộng sản. Vậy quý vị chỉ cần yêu cầu Đảng dứt khoát, yêu cầu Đảng từ bỏ chủ nghĩa cộng sản là đủ. Như ông Hà Sĩ Phu đã đề nghị “Chia Tay Ý Thức Hệ” từ cuối thế kỷ trước, chứ cần gì phải bàn cãi lôi thôi!

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người được coi là tương đối có trình độ học vấn trong số những người theo ông Hồ Chí Minh dựng lên cái đảng cộng sản còn sống sót. Tình trạng suy đồi về mọi mặt trên đất nước ngày hôm nay là kết quả của đường lối cai trị của đảng cộng sản, không thể đổ tội cho ai được.

Ký giả người Ý lúc sinh thời – cô Oriana Fallaci, một người tả khuynh thân Cộng sản – phỏng vấn Tướng Võ Nguyên Giáp, đặt câu hỏi: “Ông có cảm thấy hối hận khi đem nướng hàng trăm ngàn thanh niên vào chiến trường Miền Nam không?”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp bình thản trả lời: “Không! Trước sau gì rồi họ cũng sẽ chết”! Trước ông Võ Nguyên Giáp, Joseph Staline từng phát biểu: “Cái chết của một người là thảm kịch; cái chết của một triệu người chỉ là con số thống kê!”. Ôi! Lương tri của “Ngài Đại tướng” sao mà ăn khớp với đồ tể Staline đến thế!? Độc ác đến thế thì thôi! Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện nói: “Vô sản không đáng sợ bằng vô học”. Tôi xin nói thêm: “Vô học không đáng sợ bằng vô đạo”.

Mới đây, nhân dịp mừng sinh nhật 100 tuổi của “Ngài Đại tướng”, tôi đọc thấy những lời ca tụng công đức của Tướng Võ Nguyên Giáp của những “lão thành cách mạng”, của những nhà trí thức thời danh thì nỗi tuyệt vọng trong tôi càng dâng lên. Vì lợi, vì quyền, những người cộng sản, sắp sửa tiếp tục cai trị đất nước sau Đại Hội XI, cương quyết chống diễn biến hòa bình để nhắm mắt tiến lên xã hội chủ nghĩa, họ không sám hối đã đành. Những “cách mạng lão thành”, những nhà trí thức phản đối chính sách cai trị của đảng cộng sản lại đi ca tụng công đức của một ông Đại tướng gần đất xa trời, không một chút ăn năn, hối hận vì đã nướng hàng triệu sinh linh để sám hối, thì rõ ràng … HẾT THUỐC CHỮA!

Ý tứ của bài viết trên đây không phải thoát ra từ sự cay cú của một anh lính Miền Nam thua trận mà là những sự kiện thực tế lịch sử đã xảy ra từ khi đảng cộng sản độc quyền thống trị đất nước. Thay đổi tình trạng tồi tệ hiện nay là bổn phận và nghĩa vụ của những người đã, đang và sẽ lãnh đạo xứ sở. Sám hối để cải tà quy chánh, để từ bỏ chủ nghĩa cộng sản tàn ác là phương thuốc duy nhất để cứu nước.

————
Chú thích:

(1) Đặng Văn Việt, người đã chỉ huy quân kháng chiến tiêu diệt binh đoàn LePage và Charlton của Pháp trong chiến dịch biên giới Lạng Sơn cuối năm 1950, do đó ông đã được quân Pháp đặt cho danh hiệu là ‘con Hùm Xám Đường số 4’.

(2) Trương Tấn Sang gốc người Trung Hoa, sinh ngày 21 tháng 1 năm 1949, quê quán xã Mỹ Hạnh, Quận Đức Hòa, tỉnh Long An. Vào đảng chính thức ngày 20 tháng 12 năm 1970. Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung Ương, là người cương quyết chống “diễn biến hòa bình”, quyết theo chủ nghĩa cộng sản cho tới cùng, dẫu Việt Nam thành quận huyện của Tầu cũng được, vì gốc Tầu.

© Thông Luận
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

10 điều kinh ngạc mà bạn có thể chưa biết về Trung Quốc

Image
Trước khi bị bắn

Image
Xử bắn tập thể

Image
Trng Quốc, dù che giấu con số thật, vẫn đứng dầu thế giới về tử hình

1. Các nhà hoạt động nhân quyền nói rằng, Trung Quốc đã xử tử hình nhiều gấp ba lần toàn bộ phần còn lại của thế giới. Tức là bao nhiêu? “Hàng ngàn” – Tổ chức Ân xá quốc tế viết trong một báo cáo mới nhất. Không thể đưa ra con số chính xác, bởi vì tại Trung Quốc số án phạt tử hình là bí mật quốc gia. Tổ chức lớn nhất thế giới chống lại án tử hình tổng kết dữ liệu từ báo chí địa phương xác nhận rằng, trong năm 2008 đã có 1.718 án tử hình được thực hiện ở Trung Quốc (so với Mỹ, một trong những tứ đại của cửa tử thần bên cạnh Iran và Saudi Arabia, trong năm 2009 cũng chỉ có 52 vụ xử tử). Sự thay đổi ở Trung Quốc không phải là sự hủy bỏ án mà là thay đổi hình thức. Văn minh hóa hình phạt chính là chiếc xe buýt hiện đại chở can phạm đến nhà tù và thay vì lãnh đạn, hành quyết được thực hiện bằng tiêm thuốc độc.
Image
Không chỉ bị lên án về số vụ tử hình, TQ còn bị thế giới chỉ trích về cách thức tử hình.
2. Ở Trung Quốc cộng đồng người Công giáo và Tin lành gộp lại rất lớn. Họ được chia thành hai loại: loại “yêu nước” được đăng ký chính thức có nghĩa là họ phải chịu sự kiểm soát của nhà nước; loại thứ hai là “tu tại gia”, tức là bất hợp pháp. Chính quyền tìm cách loại bỏ hình thức tu tại gia nhưng điều này xảy ra ngày mỗi ít hơn. Tin vào Chúa Chrystus có nhiều hơn 100 triệu người Trung Quốc (trong đó người Công giáo từ 12 đến 14 triệu).

3. Tại Trung Quốc có khoảng 4.000 trẻ em mang tên là “Olympic” (Aoyun). Cha mẹ của chúng đặt tên ồ ạt theo sự cổ vũ lòng nhiệt tình yêu nước trước Thế vận hội Bắc Kinh 2008.

4. Người Trung Quốc mỗi năm tiêu thụ khoảng 45 tỷ đôi đũa đũa sử dụng một lần, có nghĩa là số gỗ làm đũa bằng vài khu rừng ở Indonesia hay ở Nga. Tổ chức bảo vệ môi trường lâu đời nhất của Trung Quốc “Người bạn của Trái đất” thành lập vào năm 1994 khuyến khích mọi người dùng đũa làm bằng kim loại hoặc nhựa nhưng trước khi thuyết phục được 1,3 tỷ người, sẽ còn rất nhiều thời gian trôi qua.

5. 200 triệu người Trung Quốc sống dưới mức nghèo khổ, thu nhập ít hơn 1 đôla Mỹ một ngày. Dù vậy, đây là một thành công lớn, bởi vì trong năm 1981 có tới 64% dân số sống dưới mức nghèo khổ. Ngân hàng Thế giới xác nhận rằng, những cải cách của Trung Quốc bắt đầu từ năm 1978 đã kéo được tới khoảng 400 triệu người lên trên ngưỡng đói nghèo.

6. 700 triệu người Trung Quốc không được uống nước sạch. Cứ 6 người sống trên hành tinh thì có một người Trung Quốc, vậy mà Trung Quốc chỉ có 7% tài nguyên nước toàn cầu. Ngoài ra, Trung Quốc đang trải qua cuộc công nghiệp hóa với một quy mô chưa từng thấy cho đến nay. Nước thải và chất thải của hàng ngàn nhà máy mới, cũ và các khu nhà ở tác động lên các con sông và hồ. Ngân hàng Thế giới ước tính rằng, 90% mạch nước, 75% hồ và các con sông đang bị ô nhiễm. Điều này cho thấy 700 triệu người Trung Quốc không có nước sạch để uống.

7. Chính người Trung Quốc phát minh ra kem (ice cream) và spaghetti. Điều này được chứng minh bởi những phát hiện khảo cổ. Kem lâu đời nhất thế giới là hỗn hợp sữa đông lạnh và gạo có từ thế kỷ thứ II trước Công nguyên, tiền thân của kem ngày nay. Một bát mì sợi lâu đời nhất của miền Tây Trung Quốc có từ 4.000 năm trước.

8. Hơn một nửa, chính xác là 54% hàng giả bị thu giữ trong Liên minh châu Âu đến từ Trung Quốc. Nhiều nhất là đĩa CD, DVD (44%, 79 triệu cái) và thuốc lá (23%).

9. Trong năm 2009, Trung Quốc hoàn thành cuộc phong tỏa kiểm dịch xung quanh các thành phố phía Tây-Bắc xa xôi bị dịch bệnh phổi. Dịch bệnh truyền nhiễm cao, giết chết ba làng ở tỉnh Thanh Hải. Nhưng sau hơn một tuần ghi nhận không có lây nhiễm mới, chính quyền đã quyết định dỡ bỏ phong tỏa ở mức 10 cây số cách các thành phố phần lớn thuộc khu vực dân tộc Tây Tạng. Kinh nghiệm ở Trung Quốc cho thấy, sự bùng phát của bệnh dịch hạch thường lây lan qua bọ chét và động vật gặm nhấm và có thể dễ dàng tiếp cận con người.

10. Đến năm 2025, Trung Quốc sẽ bùng nổ 10 thành phố cỡ New York.

Quy mô và tốc độ đô thị hóa của Trung Quốc phải nói là duy nhất trong lịch sử. Theo dự báo và kế hoạch dân số đô thị của chính quyền trung ương, dân số của Trung Quốc trong các đô thị sẽ tăng từ 572 triệu lên 926 triệu vào năm 2025 và một tỷ người vào năm 2030.

Trong 20 năm gần đây, trong các thành phố Trung Quốc có thêm 350 triệu cư dân mới, nhiều hơn toàn bộ dân số Hoa Kỳ. Năm 2025 Trung Quốc sẽ có 219 triệu thành phố. Để so sánh, châu Âu, các thành phố như vậy, con số là 35. Ngoài ra có 24 thành phố trên 5 triệu người. Có nghĩa rằng, sẽ phải xây dựng cho họ 40 tỷ mét vuông, tức là 5 triệu ngôi nhà. 50 ngàn cái trong số đó sẽ là những tòa nhà chọc trời – tức là 10 lần New York.

Bản Anh ngữ: “10 Amazing Things You Didn’t Know About China”.

Bản tiếng Việt: Blog Lê Diễn Đức (RFA)
Đàn Chim Việt minh họa
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

TOÀN THẾ GIỚI VUI ĐÓN GIÁNG SINH 2010
VIỆT CỘNG TRẮNG TRỢN ĐÀN ÁP TIN LÀNH


Lý Đại Nguyên
Hầu như cả thế giới không phân biệt tôn giáo, chủng tộc, quốc gia đều đang vui đón ngày lễ mừng Giáng Sinh của vị Giáo Chủ Thiên Chúa Giáo, Đức Jesus. Người phá vỡ bức trường thành kiên cố hàng bao ngàn năm đã ngăn cách giữa Trời và Người. Nâng tâm linh Con Người lên tầm cao rộng bao la của Vũ Trụ. Nối kết tình thương yêu Cha Con giữa Thiên Chúa và Loài Người. Nói lên nguyên lý tâm linh Tự Ngã thông ứng với Thần Lực siêu nhiên để hoàn thiện một Vũ Trụ Hằng Hóa trong Đức Hiếu Sinh. Từ đó dẫn tới Con Người tự nhận được giá trị Thân Tâm siêu việt của mỗi người, có tự tính thương yêu, có quyền tự do, tự chủ và khả năng sáng tạo của một vị Chủ Nhân đích thực ở xã hội nhân loại, để chủ động trải rộng tình thương đến với Đồng Bào và Đồng Loại, Rồi tự thấy có trách nhiệm về cuộc sống an vui hòa bình phát triển và thăng hóa không ngừng nơi trần thế của chính mình. Nên mới có lời hát: “Vinh danh Thiên Chúa trên Trời. Bình An dưới thế cho Người thiện tâm” truyền tụng trong ngày lễ trọng đại này.

Nhưng buồn thay, tại xứ sở Việtnam đang còn bị nằm trongchế độ vô nhân tính, vô đạo đức, vô văn hóa của Việtcộng, quyền lãnh đạo đất nước trong tay những kẻ vị kỷ, tham quyền, tham nhũng, rất tinh ma quỷ quái trong việc lừa bịp người dân và dối gạt thế giới, nhưng lại thiển cận, dốt nát, hèn hạ trong viềc điều hành quốc gia, phát triển đất nước, tạo phúc lợi cho toàn dân nhằm làm cho quốc tế tôn trọng. Khiến dân chúng từ mất tin tưởng đến chán ghét, oán hận. Thế giới buộc phải làm áp lực đòi Đảng và Nhà Nước Việtcộng phải Tôn Trọng Nhân Quyền của chính Người Dân Việtnam. Thế mà bọn Việtcộng không tự biết nhục, lại đổ oán hận lên đầu dân. Coi dân là kẻ thù, Coi kẻ thù truyền kiếp của dân tộc là Tầucộng làm chỗ dựa. Trong khi Trungcộng thì tự coi mình là Đế Quốc Thiên Triều, nuôi tham vọng đồng hóa Việtnam. Còn Việtcộng thì phải hy sinh quyền lợi của nước mình để phụng sự chủ trương bành trướng của Trung Hoa ra toàn vùng. Đây là đại họa không những mất nước trong nhất thời, mà còn mất vĩnh viễn cả sự trường tồn, tự chủ của dân tộc Việtnam, do ngàn đời cha ông dầy công vun bồi để lại cho con cháu.

Trong cuộc đối thoại về Nhân Quyền giữa Hoakỳ và Việtcộng hôm 13/12/2010 tại Hànội, trợ lý ngơại trưởng Hoakỳ đặc trách về Nhân Quyền và Lao Động, Michael Posner cho biết: “Thông điệp mà chúng tôi đưa ra trong cuộc đối thoại này, hôm nay là vấn đề nhân quyền là một yếu tố chủ chốt trong quan hệ song phương và điều kiện vô cùng quan trọng để có thể xúc tiến các lãnh vực khác là cần phải giải quyết và đạt được tiến bộ trong vấn đề này”. Ông cũng không quên đưa ra nhận định rằng: “Tôi có thể nói, có một số lãnh vực thực sự tình hình đã trở nên xấu đi. Có nhiều trường hợp người dân bị truy tố, bị bỏ tù vì điều 88, và rõ ràng đã có sự hạn chế về mặt truyền thông. Đó là những vấn đề chúng tôi đặc biệt chú trọng đến trong cuộc thảo luận”.

Để tăng thêm sức mạnh cho tiếng nói đòi nhân quyền của Mỹ đối với Việtcộng, sáng sớm hôm 17/12/2010, Các dân biểu Hạviện Hoakỳ đã thông qua nghị quyết yêu cầu bộ Ngoại Giao Mỹ đưa Việtnam vào danh sách các quốc gia “cần quan tâm đặc biệt” -CPC- vì những vi phạm nghiêm trọng trong lãnh vực quyền tự do tôn giáo. Nghị quyết mang ký hiệu H. Res. 20: “Lên án mạnh mẽ các vi phạm trắng trợn quyền tự do tín ngưỡng hiện nay tại Việtnam, kể cả bắt giam các lãnh đạo tôn giáo và các bản án tù dài hạn cho những người đấu tranh bằng phương thức hoà bình”. Nghị quyết đồng thời: “Kêu gọi Việtnam gỡ bỏ những hạn chế về tự do tôn giáo, thực hiện các biện pháp cải cách chính trị và luật pháp cần thiết để bảo đảm quyền tự do tôn giáo”. Tới đây là Hạviện Hoakỳ đã nhìn rõ cái ‘Pháp Lệnh Tin Ngưỡng và Tôn Giáo’ của Việtcộng, buộc các tôn giáo phải sinh hoạt trong quy chế ‘xin cho’ là một pháp lệnh ‘mạo pháp’ rồi. Dân biểu Cộnghòa, Ed Royce, tác giả bản quyết nghị này nhận xét: “Chính quyền Obama nói đã thấy những bước tiến tích cực tại Việtnam, nhưng bản thân tôi thì chẳng thấy gì cả. Quyền tự do tôn giáo tại Việtnam vẫn tiếp tục bị tấn công”. “Vụ đàn áp giáo dân ở Cồn Dầu chỉ vì tranh chấp đất đai, hay hành vi truy bức Phật Giáo Hoà Hảo và Giáo Hội Phật Giáo Việtnam Thống Nhất”.

Để chống lại đòi hỏi Nhân Quyền của chính phủ Hoakỳ, và phản ứng lại với Nghị Quyết H.Res.20 của Hạviện Mỹ, Việtcộng đã cho công an của chúng, trấn áp các nhóm Tin Lành Tại Gia, mặc dầu có xin phép, đã được ký hợp đồng với Trung Tâm Hội Nghị Quốc Gia ở Hànội trị giá là 160 triệu 500 ngàn đồng Việtnam, để tổ chức cho 3.000 tín hữu tập họp hát mừng Giáng Sinh, từ 14 giờ đến 19 giờ ngày 19/12/2010. Bất ngờ lúc 16 giờ hàng trăm công an Hànội với roi điện, hơi cay, xe vòi rồng tràn vào tấn công khi chương trình thờ phượng của hơn 2.000 tín hữu của các nhóm Tin Lành Tại Gia mới khai diễn. Một cuộc trấn áp, rối loạn nổ ra giữa công an với người Tin Lành từ trong hội trường chạy ra, từ ngoài mới đến bị ngăn tại cổng vào. Ngay lập tức hình ảnh được truyền đi khắp thế giới. Câu hỏi được nêu ra là, động cơ nào đã đưa đến việc nhà cầm quyền Hànội có những hành vi tự nhận mình thực sự đang đàn áp tôn giáo, để buộc Hoakỳ phải đưa Việtnam trở lại danh sách CPC?

Được biết các giáo phái Tin Lành có liên hệ mật thiết với đại đa số Người Dân Hoakỳ cùng một niềm tin. Đụng tới Tin Lành, đương nhiên là trực tiếp đụng tới dân Mỹ. Có lẽ đây là một đòn tâm lý cực mạnh đánh vào tinh thần người dân Mỹ, làm cho dân Mỹ thù ghét Việtcộng, từ đó tạo ra sự chống đối chủ trương của chính quyền Mỹ đang tích cực hỗ trợ toàn diện cho Việtnam, để hợp tác với các nước Đông Nam Á, Á Châu, Hoakỳ và thế giới Dân Chủ trong công cuộc ngăn bành trướng Bắckinh. Đây quả là một đòn hiểm độc, Trungcộng không phải chống sự hiện diện và ảnh hưởng chính trị của Mỹ tại Việtnam, mà tự dân Mỹ không muốn cho Mỹ trở lại Việtnam, khi nhóm mọi rợ còn nắm chính quyền. Như vậy là xây dựng vững chắc chỗ ngồi cho bọn tay sai Bắckinh. Chẳng là trong cuộc bình bầu chức Tổng Bí Thư ở hội nghị Trung Ương Đảng 14, con gà của Băckinh lả Nguyễn Phú Trọng được Nông Đúc Mạnh hết mình hỗ trợ, đã không chiếm được đa số tín nhiệm, mà chỉ được một thiểu số tán thành. Nhưng các đối thủ khác đương nhiên còn ít được tin hơn so với Trọng, nên Trọng được vớt vào thành ứng viên duy nhất để đưa ra Đại Hội XI, dù Trọng đã đến tuổi về hưu và không phải là Tổng Bí Thư đương nhiệm. Xem vậy phe bảo căn Xã Hội Chủ Nghĩa thân Tầu, tuy còn nhiều so với phe Quốc Tế Đa Phương thân Mỹ. Nhưng không có ưu thế tuyệt đối như xưa. Chính vì vậy, mà việc đàn áp tôn giáo và đối lập ở Việtnam hiện nay, có bàn tay của nhiều phía thọc vào để đổ tội lẫn nhau, nhằm phá thối, hoặc lập công với các ‘ông chủ’. Nhưng nó lại tạo ra cảnh hỗn loạn tại Việtnam, dẫn tới sụp đổ nền kinh tế đã quá rệu rạo, rồi kéo luôn cộng đảng Việtnam xuống hố tiêu vong. Chờ xem!

Little Saigon ngày 21/12/2010.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Mừng Chúa Giáng Sinh

Ngô Nhân Dụng

Tôi là một Phật tử, nhưng tôi không ngần ngại gì khi viết: “Mừng Chúa Giáng Sinh.” Cũng như bữa rồi khi tôi gặp một vị linh mục ở phi trường, trước khi chia tay tôi thay lời chào bằng câu chúc: “Merry Christmas, Cha!”

Tôi không nói câu đó theo thói quen. Tôi có suy nghĩ trước khi nói. Có thể nói, lời chúc tụng phát xuất từ trong lòng: Mừng Chúa Giáng Sinh. Vì trong lòng tôi thật sự đang muốn chia sẻ niềm vui với vị linh mục dễ thương, vui vẻ này. Ông sắp mừng ngày Chúa Giáng Sinh, tôi biết, đó sẽ là một ngày rất vui đối với ông.

Hôm nay tôi mới nhận được một “thiệp mừng” trong email của một người bạn. Ông bạn tôi theo Thiên Chúa Giáo, ông viết: “Chúc Mừng Lễ Hội Cuối Năm!” Cảm tưởng đầu tiên khi đọc những chữ này là: “Ông này Mỹ quá!”

Ông bạn tôi đang nhiễm một cái tính cẩn thận của người Mỹ bây giờ. Ở nước Mỹ đang có một phong trào tránh né không chúc nhau “Merry Christmas” nữa. Ði mua sắm thì được, tặng quà nhau vẫn tặng, tất cả chỉ vì Christmas, lễ Chúa Giáng Sinh. Các nhà sản xuất, các cửa hàng buôn đều chờ đến ngày Christmas để bán hàng. Bộ Thương Mại chờ số thống kê coi trong dịp lễ Christmas kinh tế có lên không. Ai cũng chờ Christmas. Nhưng lại tránh, không dám nhắc đến mấy chữ Merry Christmas! Tôi nghĩ người Việt Nam không cần phải cẩn thận như vậy. Vì người Việt vẫn hòa nhượng, bao dung, đối với tôn giáo. Và mình vẫn tin nhau còn là người Việt, vẫn giữ được các nết tốt đó, không kiêng kỵ, không chấp nê như dân Mỹ gần đây.

Người Mỹ không muốn chúc nhau “Merry Christmas” chỉ vì chữ trong đó có“Christ,” tức là Chúa. Nhiều người Mỹ nghĩ rằng khi nói với ai “Mừng Chist” tức là người nói mặc nhiên coi như người nghe cũng tin và thờ phượng Chúa Ki Ri Xi Tô như mình! Và họ sợ khi mặc nhiên nghĩ như thế là xúc phạm người khác, nếu người ta không chia sẻ niềm tin. Cho nên hiện nay, theo cuộc nghiên cứu của Religion News Service (Tin tức Tôn giáo) thì chỉ có một nửa người Mỹ (50%) còn chúc nhau “Merry Christmas.” Nửa còn lại họ chỉ chúc nhau “Happy Holidays” trong dịp lễ Giáng Sinh này. Holidays nghĩa là ngày Lễ Hội, nghe không nhuốm màu sắc tôn giáo nào cả.

Chúng ta thông cảm với những người Mỹ theo đạo Chúa khi họ không muốn bị hiểu lầm là đang ép người khác đạo phải chia sẻ một niềm tin với mình. Dù người được chúc không tin tưởng tôn giáo nào khác, thì vẫn nên tránh! Vì quả thực có nhiều người “vô thần cực đoan” cũng khó tính và quá khích không kém gì những người cực đoan trong tín ngưỡng. Họ không muốn bị người khác nghĩ là họ có tôn giáo, làm như là sợ “phạm tội với quỷ thần” vậy!

Các cửa hàng bán lẻ đã chiều theo ý những người khó tính đó; mấy năm nay họ đã kiêng cữ không trang trí cửa hàng với những hàng chữ “Merry Christmas” nữa. Ở đâu cũng chỉ thấy những chữ “Happy Holidays” thôi! Nhưng trong chữ “Holidays” cũng chứa đựng một niềm tin rồi, vì Holy cũng có nghĩa là linh thiêng. Nếu muốn tránh không tỏ ra mình tin vào Chúa Giê Su thì tại sao lại vẫn nói rằng ngày kỷ niệm Chúa Giáng Sinh là một thời gian thiêng liêng? Mà nhiều người chúc “Merry Christmas” mà trong lòng thực sự có nghĩ gì đến Christ đâu? Bắt nhau kiêng cữ chỉ vì một chữ như vậy là cố tình chẻ sợi tóc làm tư để bắt bẻ nhau.

Người Mỹ kiêng cữ như vậy một phần vì ở xứ này người ta rất nhạy cảm trước các vấn đề tôn giáo hoặc màu da. Họ lo bị gán cho tội kỳ thị tôn giáo, và không ai muốn bị coi là có đầu óc kỳ thị chủng tộc. Mối lo đó bắt nguồn trong lịch sử. Lịch sử Mỹ đã từng trải qua những thời gian kỳ thị chủng tộc (người Mỹ da trắng khinh rẻ người da đen gốc Phi Châu) hoặc kỳ thị tôn giáo (nhiều giáo phái Tin Lành đã từng kỳ thị người theo đạo Công Giáo La Mã, còn người Do Thái Giáo thì bị đa số kỳ thị). Từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 20 nhiều người di dân đã tới nước Mỹ sống chỉ vì họ đã bị kỳ thị chủng tộc và tôn giáo ở đất nước cũ của họ. Dân Mỹ đã phải tranh đấu rất nhiều đời mới xóa bỏ được những tập quán và luật lệ phân biệt chủng tộc hay tôn giáo; bây giờ không muốn nhắc lại cái quá khứ đáng xấu hổ đó nữa. Ngược lại, nhiều nhóm người trước đây đã bị kỳ thị, nay cũng muốn xác định quyền bình đẳng của họ. Vì những lý do đó nên có phong trào bỏ không chúc nhau “Merry Christmas” nữa.

Chúng tôi không phê phán cách nói năng, cư xử của người Mỹ. Họ có lối sống của họ. Nhưng đối với người Việt Nam riêng với nhau, chúng ta không cần dè dặt, kỹ lưỡng đến như vậy. Người Việt Nam không có tật kỳ thị tôn giáo như nhiều giống dân khác. Linh Mục Alexandre de Rhodes đến Việt Nam vào đầu thế kỷ 17 đã được vào giảng đạo trong cung Vua Lê và phủ Chúa Trịnh. Trong hai năm đã có gần bảy ngàn người theo đạo, trong đó có hàng trăm người trong cung, phủ. Vào thế kỷ 17, hàng trăm giáo dân và giáo sĩ người Nhật Bản đã sang tị nạn ở Hội An nước ta khi ở Nhật bị cấm đạo. Chính họ cùng với người Bồ Ðào Nha là những nhà truyền đạo Công Giáo đầu tiên ở Ðàng Trong. Những hành động cấm đạo sau này phần lớn vì lý do chính trị khi thấy tôn giáo mới có nhiều điều trái ngược với phong tục tập quán cổ truyền; có thể khiến người dân coi lòng trung thành với vua chúa là thứ yếu, không quan trọng; và mối nghi ngờ các giáo sĩ làm gián điệp cho ngoại bang. Nếu gạt bỏ hết những mối nghi ngại trên thì người Việt Nam không ai kỳ thị tôn giáo nào nữa. Ở nước Việt Nam có nhiều người theo Hồi Giáo, chưa bao giờ thấy họ bị chính quyền hay người dân đối xử phân biệt vì tín ngưỡng của họ. Có những tôn giáo mới được thành lập trong thế kỷ trước và phát triển rất nhanh, không bị chèn ép hay nghi kỵ. Ngay cả những Ông Ðạo, một mình đề xướng những cách tu hành mới, những lễ nghi thờ phụng mới, thu hút rất nhiều tín đồ, họ cũng không bị ai cấm đoán hay đả kích, bài bác. Người Việt rất khoan nhượng, bao dung về tín ngưỡng.

Bởi vậy, chúng tôi ngạc nhiên khi nhận được thiệp chúc mừng của người bạn với hàng chữ “Chúc Mừng Lễ Hội Cuối Năm!” Chắc vì ông lo mình sẽ xúc phạm tới những người bạn không theo đạo Chúa. Tính thận trọng đó rất đáng quý. Nhưng ông đã đối xử với bạn bè người Việt theo lối người Mỹ đối xử với người Mỹ. Cư xử như người Mỹ không phải là điều xấu. Người Mỹ có tính cẩn thận, họ cố ý tránh không để bị ai nghi ngờ mình áp đặt tôn giáo của mình trên người ta. Ðức cẩn thận đó đáng quý. Tức là đáng quý giữa người Mỹ với nhau.

Nhưng giữa người Việt với nhau thì khác, dù đang sống trong nước Mỹ. Người Việt Nam không duy lý như người Mỹ. Không thích kiện cáo, bắt bẻ nhau về những quyền lợi riêng theo lối người Mỹ. Giữa người Việt với nhau, chúng ta không cần phải kiêng cữ như vậy! Người Mỹ hay tranh cãi, bắt bẻ nhau về thái độ đối với tôn giáo hơn người Việt, vì họ bị quá khứ ám ảnh. Nếu trong lịch sử các nước Âu Châu không có những cuộc chiến tranh tôn giáo, không có những vụ đàn áp, hành hình người Do Thái viện cớ tôn giáo để cướp đoạt tài sản, thì chắc người Mỹ cũng giản dị giống như người mình mà thôi. Có thể trong một vài thế kỷ nữa thì người Mỹ cũng sẽ bớt bị ám ảnh về quá khứ, họ cũng sẽ cư xử như người Việt. Cho nên, ngay bây giờ người mình không nên bắt chước người Mỹ mà quá cẩn thận, e dè, nghi ngại khi chúc mừng nhau ngày lễ Giáng Sinh. Ðối với người Việt, chính lòng nghi ngại, e dè đó mới có vẻ xúc phạm. Ngược lại, bày tỏ lòng tin tưởng vào đức khoan dung của ai tức là đang kính trọng họ.

Tinh thần hòa nhượng, bao dung về tôn giáo vẫn được thể hiện trong cộng đồng người Việt. Tại buổi hôn lễ của cháu gái tôi, vị linh mục biết cô dâu đã giữ đạo Phật, ông đã lên tiếng cảm ơn gia đình cô dâu vì dù họ thuộc tôn giáo khác nhưng vẫn tới dự thánh lễ. Ông nhắc lại lời cảm ơn này hai lần, lúc đầu và cuối buổi lễ. Trước khi chấm dứt ông còn chúc “Trời Phật phù hộ” cho đôi trẻ. Ðã mấy lần, trong mấy nhà thờ khác nhau, tôi đã nghe thấy những vị linh mục trên bục giảng nói hai tiếng Trời Phật như thế.

Chúng ta cần nuôi dưỡng truyền thống bao dung của dân tộc. Cần tin tưởng vào đức bao dung đó. Bao dung về tín ngưỡng là một đức tính mà chúng ta nên thể hiện trong đời, để đóng góp cho xã hội chung quanh nơi mình đang sống, như ở nước Mỹ đây.

Nói như vậy, xin nhắc lại, không phải vì mình nghĩ người Mỹ nói chung thua kém người mình trong đức bao dung. Phải công nhận rằng từ trước khi lập quốc họ đã phải vất vả mới bảo vệ được chính sách bao dung về tín ngưỡng. Khi những nhóm di dân đầu tiên đến đất Mỹ, có những người đã bị bức hại về tôn giáo ở bên Anh nên phải trốn đi. Trong số đó có những người theo Thành Giáo (dịch chữ Puritan). Khi tới miền đất mới, họ được tự do hành đạo nhưng có lúc họ muốn bắt mọi người chung quanh phải tôn trọng các tín điều và nghi lễ của họ. Vào thế kỷ 17, có một thời chính quyền ở Boston, tiểu bang Massachussetts bây giờ đã ra lệnh cấm không ai được mừng lễ Giáng Sinh dưới mọi hình thức. Vì tín điều của họ như vậy. Nhưng may mắn cho nước Mỹ là có rất nhiều nhóm theo giáo phái khác không đồng ý, và có những người cương quyết bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do hành đạo. Ông Roger Williams, đã trốn khỏi Anh Quốc đi tìm tự do, tới Massachussetts năm 1631. Ở đâu ông cũng tuyên dương nguyên tắc “Nhà nước không được xâm phạm vào đời sống tín ngưỡng của người dân!” Ông bị trục xuất, phải chạy sang sống ở phần đất bây giờ là tiểu bang Rhode Island. Ở đó, ông tiếp tục tuyên dương quy tắc tự do tín ngưỡng. Cuối cùng thì lẽ phải đã thắng. Lẽ phải, ở đây là quyền tự do tín ngưỡng.

Những di dân đời sau đến nước Mỹ, có người theo đạo Do Thái, đạo Ấn Ðộ, người theo đạo Phật, đạo Hồi, vân vân, được đối xử bình đẳng thì phải biết ơn các thế hệ đi trước đã đấu tranh và bảo vệ tự do tôn giáo. Cũng vì tấm gương những người đã phải tranh đấu cam go như thế mà ngày nay người Mỹ trở nên rất nhạy cảm về vấn đề này. Nhưng người Việt Nam không cần cư xử giống như họ. Vì chúng ta có một di sản lịch sử và văn hóa khác.

Cho nên chúng ta có thể tiếp tục chúc tụng nhau trong những ngày này, “Mừng Chúa Giáng Sinh!” Mà không ai cảm thấy bị xúc phạm cả. Người Việt với nhau, làm gì đến nỗi phải nghĩ là khi ai chúc mình câu “Merry Christmas” tức là người đó muốn mình phải theo tôn giáo của họ? Người Việt mình đâu có nhỏ nhen, nghi kỵ, ngờ vực nhau một cách tầm thường như thế?

Cho nên, các bạn theo đạo Chúa xin cứ nói tự nhiên: “Mừng Chúa Giáng Sinh!” Những người không tin đạo Chúa vẫn có thể nghe lời chúc tụng đó mà trong lòng thật sự thấy vui mừng. Tại sao không? Loài người được coi là biết sống tử tế với nhau vì biết cùng nhau chia sẻ những niềm vui hay nỗi buồn một cách chân thật. Nhiều khi chúng ta ở trong tiệm ăn, thấy bàn bên cạnh người ta thắp nến và hát một bài mừng sinh nhật, chúng ta cũng sẵn sàng hát theo và đứng dậy nói những lời chúc tụng. Chúc mừng một người không quen biết, không hề nghĩ sẽ có ngày được người đó chúc lại, bởi vì chúng ta tử tế với nhau. Sống tử tế giữa con người với con người. Gặp bất cứ ai, thấy người ta có điều vui mừng, mình đều sẵn sàng chia sẻ niềm vui. Hôm nay, hàng tỷ người trên thế giới đang mừng ngày Chúa Giê Su ra đời. Bao nhiêu ngàn triệu con người, suốt hai ngàn năm qua, đã được sống lương hảo, đã được sống bình an nhờ ngày lễ Giáng Sinh này. Có lẽ nào chúng ta không chia sẻ với nhau một niềm vui chung của nhân loại?
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

HẬN THÙ ĐÃ VƠI , NỖI ĐAU CHƯA DỨT
Phương Duy
Ba mươi lăm năm: hận thù đã vơi, nỗi đau chưa dứt

Ngày 09/04/1865, một ngày lịch sử trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ: quân miền Nam do tướng Robert. E. Lee chỉ huy đã chấp nhận buông súng đầu hàng khi bị quân miền Bắc do tướng Ulysses Grant lãnh đạo vây hãm hết đường rút chạy tại Appomattox Courthouse, một làng nhỏ tại Virginia. Sự đầu hàng đã chấm dứt 4 năm nội chiến nồi da sáo thịt giữa người Mỹ với người Mỹ.

Điều đáng nói là người ta đã ghi lại hình ảnh các văn bản, diễn tiến và thái độ của hai phe thắng và bại trận trong sự kiện lịch sử này tỉ mỉ hơn là diễn tả sự vui mừng của phe chiến thắng hay sự đau buồn tủi nhục của kẻ bại trận.

Vì sao lại có hiện tượng như thế?

Đầu tiên, hình ảnh một viên tướng bại trận Lee uy nghi trang trọng trong bộ quân phục miền Nam với thanh kiếm chỉ huy trên tay, cưỡi ngựa đi đến đểm hẹn ký văn bản đầu hàng trong tiếng kèn chào đón của đội quân nhạc thắng trận miền Bắc, dù thua trận nhưng vẫn hào hùng.

Lại một hình ảnh tuyệt vời khác, sau khi văn kiện đầu hàng đã được ký kết, lúc ông ra đi được sĩ quan và binh sĩ miền Bắc tiễn đưa vẫy tay chào.

Cái đáng trân trọng, là thái độ cư xử của phe thắng trận. Tướng Grant ra lệnh cấm tất cả mọi hình thức biểu lộ ăn mừng chiến thắng trong khi quân miền Nam vẫn còn hiện diện.

Trong văn bản ký kết đầu hàng, ngoài việc giải giới các vũ khí quân trang cơ giới hạng nặng, các sĩ quan và binh sĩ miền Nam vẫn được phép giữ lại vũ khí cá nhân. Điều đáng chú ý nhất là không một ai bị bắt giữ làm tù hàng binh. Sau khi tan hàng, những người lính miền Nam được trở về ngay với gia đình của họ, và với khẩu lệnh (không được ghi trong văn bản) của tướng Grant miền Bắc, họ được phép mang lừa, ngựa về nhà, những thứ mà họ đã mang theo khi gia nhập vào quân đội miền Nam, để trở về tiếp tục công việc dở dang trong các nông trại của họ.

Buổi lễ chính thức giải giới quân miền Nam được thực hiện vào ngày 12/4, ba ngày sau khi ký giấy đầu hàng, đánh dấu một trang lịch sử hào hùng đầy cảm động của dân tộc Hoa Kỳ. Không ai được hay mất gì. Trong khi quân miền Nam cuốn cờ giao nộp vũ khí, quân miền Bắc chứng kiến trong cái tư thế trang nghiêm bình thản không có những lời lăng nhục miệt thị, mặc dù cuộc chiến tương tàn gây tổn thất cả triệu nhân mạng cho cả hai phía.

Cuối buổi lễ, một sự kiện bất ngờ: tướng Chamberlain, vị tướng quân miền Bắc chỉ huy buổi lễ giải giới đạo quân miền Nam đột nhiên hô lớn: Nghiêm, bồng súng, chào! Tất cả đoàn quân miền Bắc đã ở trong tư thế chào kính, một khoảnh khoắc ngắn ngủi đoàn quân bại trận cũng đưa tay chào lại với gương mặt rưng rưng cảm động.

Phe thắng trận đã tỏ ra có tinh thần mã thượng trong cách hành xử nhân đạo và đầy tình người, trong nhận thức biết tự chế xúc cảm của niềm tự hào chiến thắng để tỏ lòng thông cảm, hơn thế nữa, tôn trọng nỗi đau của người thua cuộc. Phe bại trận đã chứng tỏ cái hào khí và tư cách của người quân nhân dù phải buông súng vẫn đầy tự tin và hứng khởi vào con đường trước mắt. Điều mà nước Mỹ đã có được sau cuộc nội chiến không phải chỉ là một đất nước thống nhất thanh bình mà là sự đoàn kết.

Một xã hội sau chiến tranh, liệt sĩ cả hai phía đều được vinh danh, không một người Mỹ nào ở cả hai phe đối nghịch, dù còn sống hay đã hy sinh, bị sỉ nhục. Và từ ngày ấy đến nay, Hoa kỳ không ngừng thăng tiến để trở thành đệ nhất siêu cường trên thế giới về mọi mặt.

*******

Cũng vào tháng Tư 110 năm sau, cách xa nửa vòng trái đất, cuộc chiến Bắc Nam giữa những con người cùng một màu da, một huyết thống cũng đã kết thúc với những hành xử hoàn toàn trái ngược. Trong suốt 20 năm đưa người vượt tuyến vào gây chiến tranh tàn phá miền Nam tự do, để giành lấy chính nghĩa, quân CS miền Bắc đã luôn luôn che giấu cái mục tiêu tối hậu của họ là nhuộm đỏ cả hai miền bằng sự tuyên truyền dối trá người dân trong nước cũng như cả thế giới về một danh xưng rất kêu là giải phóng miền Nam khỏi bàn tay đế quốc Mỹ xâm lược, nhục mạ quân miền Nam, những người chiến đấu cho lý tưởng bảo vệ một miền Nam tự do không CS là bọn tay sai liếm gót ngoại bang, trong khi chính những người lãnh đạo của họ lại hết lời ca tụng bợ đỡ Liên Xô, Trung Quốc, triệt để thi hành những chính sách, mệnh lệnh của quan thầy đưa ra.

Một điều đáng lưu ý nữa trong cuộc chiến là sự lật lọng của quân CSBV. Ở đây không nói đến giai đoạn lịch sử 9 năm chống Pháp (1945 – 1954) khi chính người lãnh đạo CSBV ký kết văn kiện mời quân Pháp trở lại VN, để rảnh tay tiêu diệt các đối thủ chính trị không CS trong nội bộ, và sau khi thành công lại đưa dân tộc hy sinh vào cuộc kháng chiến chống Pháp không cần thiết, đoàn quân đã bị Nhật đánh bại trước đó, gây tổn hại xương máu vật chất của nhân dân không kể siết. Trong cuộc chiến Nam Bắc được CSBV mệnh danh là “cuộc chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược giải phóng miền Nam”, sự lật lọng được quân CS miền Bắc tôn lên hàng sách lược. Quyết tâm chiến thắng bằng mọi giá, bất chấp sự tổn hại của đất nước, nỗi đau của dân tộc, vi phạm các điều khoản trong những hiệp ước vừa mới ký kết. Họ coi sinh mạng con người như cỏ rác, sẵn sàng hy sinh tất cả, kể cả dân quân miền Bắc của họ để đạt được tham vọng của một thiểu số lãnh đạo, nhóm người thu tóm quyền lực trong tay luôn luôn lũng đoạn đất nước để củng cố địa vị và cung cúc tận tuỵ phục vụ quan thầy ngoại bang, những thế lực mà bọn chúng dựa vào để tồn tại.

Sau ngày 30/4/1975, CSBV đã đối xử với quân dân miền Nam VN như thế nào, cả thế giới, người quan tâm tới thời cuộc, ai cũng thấy rõ. Hành vi của họ với Dương văn Minh, vị tổng thống đầu hàng vi hiến và nội các chính quyền của ông ta đang chờ đợi chuẩn bị bàn giao cho đối thủ (ông gọi là người anh em bên kia) giống như một lũ côn đồ đi áp chế người hiền lương, không có tinh thần mã thượng của người chiến thắng. Sau đó là những nhục mạ đê tiện nhất cho toàn thể quân và dân miền Nam trong suốt một thời gian dài. Quân cán chính phục vụ cho chế độ miền Nam bị rủa sả là bọn lính đánh thuê, tay sai của đế quốc Mỹ. Dân miền Nam thì bị họ khinh miệt là đi làm bồi, làm điếm cho Mỹ để hưởng chút bơ thờ sữa cặn. Khi xua quân tràn vào các làng mạc phố thị miền Nam, choáng ngợp trước cảnh sung túc của xã hội miền Nam dù trong khói lửa chiến tranh so với xã hội miền Bắc nghèo nàn lạc hậu của họ vẫn hơn hẳn một trời một vực thì họ lại chề môi chế nhạo là phồn vinh giả tạo.

Khinh miệt dè bỉu nhưng họ tìm mọi cách công khai hoặc ngấm ngầm để chiếm đoạt hết hầu như những gì người dân miền Nam đang có. Từ việc gán ghép tội Việt gian, vu oan giá hoạ cá nhân để giết người cướp của đến các sách lược quy mô ảnh hưởng đến toàn dân tộc như tập trung cải tạo, đi kinh tế mới, cải tạo tư sản, tổ hợp, nông trường, mục đích cuối cùng vẫn là tiêu diệt con người miền Nam cũ hoặc cướp giựt hết mọi của cải vật chất, nhà cửa đất đai và mọi phương tiện sinh sống, phải chết dần chết mòn, hoặc có tồn tại cũng chỉ là một cuộc sống lây lất qua ngày. Một sự trả thù rất hèn hạ đê tiện.

Chính sách trả thù hèn hạ và thái độ tiểu nhân đánh người ngã ngựa đó, cho đến nay, sau hơn hai mươi năm “đổi mới” của họ, một chính sách đổi mới mà đúng hơn phải gọi là đổi chiều, từ một chiều hướng lấy chuyên chính vô sản làm nền tảng chống lại những thể chế tự do được họ gộp chung là chủ nghĩa tư bản, gây ra những cuộc chiến đẫm máu mà họ thưòng tự hào là cuộc chiến một mất một còn “ai thắng ai?”, họ quay ngoắt 180%, phản bội lại cái lý tưởng XHCN, thế giới đại đồng, ôm ấp lấy nền kinh tế thị trường nhằm mục đích bảo vệ cái thể chế đang rã rệu của họ. Đồng thời, với bản chất lật lọng, vẫn còn cố gắn thêm cái đuôi “định hướng XHCN”.

Người sống đã đành, người chết cũng bị những đòn thù ác nghiệt. Trong khi họ xây dựng tô điểm các liệt sĩ của họ khắp đất nước, các nghĩa trang tử sĩ của miền Nam bị hạ nhục, đập phá, các bia mộ bị cưỡng bức dời đi hoặc huỷ hoại. Một số nghĩa trang còn lại như Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà tuy còn tồn tại, nhưng trong một thời gian rất lâu, bị bỏ hoang phế vì thân nhân bị cấm vào thăm viếng, tu bổ chăm sóc. Vài năm gần đây, họ còn có dã tâm muốn xoá sạch Nghĩa Trang này khỏi một phần của lịch sử VN khi biến nó thành một nghĩa trang dân sự.

Ba mươi lăm năm sau ngày tàn cuộc chiến, nhiều người cho rằng người CS miền Bắc đã thay đổi. Chính họ cũng nghĩ rằng họ đã thay đổi. Nhưng thực sự có như vậy? Cuộc sống của cán bộ đảng viên có thay da đổi thịt, trái lại, đại đa số nhân dân vẫn lầm than cơ cực, chạy ăn từng bữa. Điều khôi hài đến chảy nước mắt là sau khi bị áp lực phải thay đổi để tồn tại vì những chính sách sai lầm của họ đưa đất nước đến bờ vực thẳm thì họ trâng tráo vỗ ngực tự xưng công lao rằng nhờ có đảng CSVN lãnh đạo mới có đổi mới.
Cầu cạnh bang giao với Hoa Kỳ và các nước Tây Phương, những quốc gia đã tiếp tay hỗ trợ cho quân dân miền Nam chống lại họ, CS Bắc Việt không cảm thấy trơ trẽn khi lúc nào cũng lên án quân dân miền Nam là tay sai bán nước của Mỹ Nguỵ phục vụ cho nhu cầu của đế quốc. Miền Nam bán nước hay không, thực tế đã rõ ràng, trong suốt cuộc chiến, miền Nam VN chưa hề mất một tấc đất. Ngày nay, dưới chế độ cầm quyền của CSVN, bao nhiêu biển đảo, bao nhiêu đất rừng, bao nhiêu tài sản của đất nước đã mất vào tay ngoại bang phương Bắc và trong tươg lai bao nhiêu hay cả nước sẽ còn mất nữa?

Đối với người Việt thì sao? CS Bắc Việt hiện làm gì với người trong nước đang bị họ nắm quyền sinh sát trong tay? Họ khủng bố đàn áp những dân oan, những kẻ đi đòi công lý, những người đấu tranh cho các quyền căn bản tối thiểu của con người, cho tư do dân chủ và cho cả quyền yêu nước chống bọn bá quyền bành trướng xâm lươc phưong Bắc để giành lại chủ quyền đất nước. Họ trấn áp bằng mọi phương cách không loại bỏ bất cứ thủ đoạn hèn hạ đê tiện nào, như vậy là thay đổi?

Với người Việt ở hải ngoại không kiềm chế được thì CS Bắc Việt kêu gào xóa bỏ hận thù, hoà hợp hoà giải. Đối với những người đã có quá nhiều kinh nghiệm về sự gian trá lật lọng của CS, không bị lợi dụng nghe theo đường lối họ đưa ra thì bị coi là hận thù mù quáng, chống cộng cực đoan.

CS Bắc Việt có còn hận thù không khi hàng năm vẫn tổ chức ăn mừng lễ chiến thắng miền Nam rình rang, họ vui mừng trên nỗi đau của hàng triệu sinh mạng của cả hai miền Nam Bắc, rồi vẫn tiếp tục sỉ vả những nạn nhân của chiến cuộc tưởng niệm nỗi đau ấy bằng các từ như lũ vong quốc, thù hận cá nhân?
Họ có còn hận thù không khi dùng món mồi lợi nhuận kinh tế để áp lực buộc các quốc gia đã từng cho thuyền nhân tỵ nạn CSVN tạm trú phải huỷ bỏ những đài tưởng niệm thuyên nhân VN, những người đã bỏ mình trên con đường chạy trốn CS đi tìm tự do?

Họ có thực sự muốn hoà hợp hoà giải không khi họ không cho một người nào trong nước, bất kể trí thức hay dân thường, kể cả các cán bộ đảng viên của họ cất lên tiếng nói chỉ trích phản đối đường lối cai trị độc tài và những chính sách sai lầm đi ngược lại lợi ích dân tộc của họ?

Họ có thực sự hoà hợp hoà giải không khi cái chính sách trả thù vô lý hèn hạ của họ sau ngày tàn cuộc chiến vẫn còn di hại cho đến ngày hôm nay. Quân dân miền Nam VN không hận thù vì những thiệt hại về sinh mạng và vật chất trong chiến tranh, không oán ghét vì phải chiến đấu bảo vệ tự do cho miền Nam chống lại một chính nghĩa giải phóng bịp bợm, không tức tưởi vì bị bức tử. Quân dân miền Nam oán hận vì những gì người CS VN đã làm sau cuộc chiến: gia đình tan nát, đất nước kiệt quệ, xã hội ngược ngạo luân lý đảo điên. Hãy so sánh cảnh sống xa hoa phù phiếm của cán bộ đảng viên và con cháu họ từ trong nước đến hải ngoại và cuôc sống khó khăn của hàng triệu gia đình quân cán chính miền Nam trong suốt ba mươì lăm năm qua, nạn nhân của không những một vụ cướp tập thể lớn lao nhất lịch sử, mà còn là nạn nhân của chính sách phân biệt lý lịch, gia đình không có kế sinh nhai, con cháu không được học hành lên cao. Những thương phế binh của quân đội miền Nam bị đuổi ra khỏi các bệnh viện, quân y viện trong khi thân mình còn đầy thương tích băng bó, ba mươi lăm năm sau họ vẫn còn đang lê lết tấm thân tàn đi kiếm sống qua ngày. Hãy hỏi những người này có còn hận thù không? Người CSVN đã làm những gì ngày hôm nay để hoà hợp hoà giải với họ?

Đối với người viết bài này, trước đây, hận thù không phải không có sau những năm dài tù tội trong trại tập trung cải tạo, qua những mất mát của cá nhân, của gia đình, của bạn bè thân nhân. Tuy nhiên, qua sự may mắn định cư ở nước ngoài, những thù hận cá nhân dường như đã phai mờ. Những đau thương tủi nhục trong chốn lao tù, những vất cả cơ cực của cái thời còn trong nước dưới chế độ CS dù có đôi lúc bị ám ảnh cũng không đưa đến quyết tâm phải trả thù. Cái tâm trạng này khi bàn luận với bạn bè được nhiều người chia sẻ.

Có oán ghét chăng là những hành xử người CSVN hiện nay. Họ không làm gì hết để sửa đổi những sai trái của họ trong quá khứ gây đau thương cho những nạn nhân của họ, không phải chỉ một thế hệ mà thế hệ con cháu vẫn đang gánh chịu những hậu quả thê thảm. Họ vẫn tiếp tục huyênh hoang tự đắc trước những sai lầm trong quá khứ, tiếp tục bịt mắt nhân dân để che giấu những hành vi xấu xa của họ, lừa bịp những kẻ nhẹ dạ tin tưởng vào sự tuyên truyền dối trá. Nỗi đau lớn nhất là không làm được gì khi họ lợi dụng độc quyền cai trị để dâng cúng đất đai tài sản của đất nước cho quan thầy phương Bắc để làm chỗ dựa vững chắc bảo vệ quyền lực cho họ.

Bởi vậy, với những người luôn luôn trách cứ người Việt Hải Ngoại đã mấy chục năm qua rồi, sao vẫn còn chống cộng điên cuồng, hận thù mú quáng, người viết xin có đôi lời: nếu CSVN thực sự không thù hận và có thực tâm hoà giải, trước hết, không ăn mừng chiến thắng, không gọi ngày 30/4 là ngày giải phóng, hãy đổi nó thành ngày hoà hợp dân tộc. Tức khắc bàn thảo để đưa ra những chính sách sửa đổi những sai trái của mình trong quá khứ, cố gắng giải quyết từng bước những bất công người dân miền Nam đã gánh chịu từ bao năm qua, không bóp nghẹt tiếng nói của người dân, sẵn sàng chịu đối thoại trên căn bản đồng cân đồng lượng, tương kính lẫn nhau. Ít nhất đó là bước đầu cho một sự hoà hợp hoà giải tiến đến thực sự đa nguyên.

Cứ như tình trạng hiện nay, người viết chỉ xin có một lời, ba mươi lăm năm nhìn lại: hận thù đã vơi, niềm đau chưa dứt.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Chuyện gì sẽ xẩy ra sau Đại Hội Đảng csVN Khoá 11
Đại hội đảng csVN lần này cũng giống như những lần đại hội đảng trước kia, chỉ thay đổi nhân sự trong bộ máy BCT của đảng, và cs vẫn là cs. Tuy nhiên, sau đại hội đảng khóa 11 này sẽ có những biến chuyển lớn dẫn đến sự sụp đổ hoàn toàn của đảng csVN.

Biến chuyển thứ nhất: Để quyết tâm duy trì đảng, BCT csVN sẽ có một cuộc thanh trừng trong nội bộ đảng chưa từng có từ trước tới nay của đảng csVN. Cuộc thanh trừ này được chỉ đạo bởi csTàu.

Biến chuyển thứ hai: Sẽ có một cuộc đàn áp phong trào dân chủ và tôn giáo trên toàn quốc.

Biến chuyển thư ba: Kinh tế VN hoàn toàn phá sản.

Biến chuyển thứ tư: csVN tan rã.

Những biến chuyển trên sẽ đưa đến những sự việc như sau:

Cuộc thanh trừng này không nhắm vào những đảng viên có chiều hướng đổi mới dân chủ, mà sẽ những thành phần có chiều hướng bài và chống csTàu. Cuộc thanh trừ này dẫn đến sự xáo trộn từ trung ương đến địa phương của đảng csVN, và BCT đảng csVN mất dần khả năng và quyền lãnh đạo đảng.

Các phong trào đấu tranh dân chủ và tự do tôn giáo càng ngày càng lớn mạnh và có sự hưởng ứng của toàn dân, và sẽ có những cuộc xuống đường đòi hỏi chính phủ csVN phải thực thi những quyền dân chủ. Đó là nguyên nhân csVN sẽ có một cuộc đàng áp, bắt bớ quy mô những người đấu tranh dân chủ trên toàn quốc. Nhưng csVN càng đàn áp thì phong trào đấu tranh càng lớn mạnh.

Những tập đoàn quốc doanh của csVN sẽ vỡ nợ không còn khả năng để hoạt động nữa. Kinh tế VN không phát triển được vì thiếu vốn đầu tư. Công nhân xuống đường đòi thành lập công đoàn độc lập, và những ngành sản xuất bị tê liệt bởi những cuộc đình công của công nhân. Đưa đến, csVN không còn tiền để nuôi bộ máy đảng và chính phủ. Sau cùng đưa đến kinh tế VN hoàn toàn phá sản.

Những sự việc trên đưa tới sự tan rã và cáo chung của đảng csVN. Trong giai đoạn này sẽ xẩy ra những sự việc như sau.

Nguyên Tấn Dũng sẽ bị ám sát chết. Nông Đức Mạnh và một số lãnh đạo BCT sẽ bỏ chạy qua Tàu, Trong số này có Nguyễn Bá Thanh chạy một mình bỏ vợ con lại. Lê Thanh Hải bị dân Sàigòn đánh chết ngoài đường.
Quân đội sẽ giữ vai trò trung lập để người dân thành lập một chính phủ dân chủ mới cho nước VN. VN sẽ có một quốc hội và vị tổng thống dân chủ đầu tiên, mà người này hầu như ai ở trong và ngoài nước cũng mến phục.

Tương lại VN: Cả thế giới sẽ ngạc nhiên đầy thích thú khi nhìn thấy sự phát triển về mọi mặt của VN trong một nước dân chủ tự do. Và chính người VN cũng sẽ ngạc nhiên đầy thích thú và đầy tự hào, bởi vì trong một thời gian rất ngắn VN sẽ theo kịp những nước giàu mạnh trong vùng Á Châu về kinh tế lẫn khoa học. Riêng về khoa học, VN sẽ tiến rất nhanh và rất xa. Trong số những phát minh mới lạ về khoa học sẽ phát xuất từ VN. Có một điều này tất cả người VN sẽ không ngờ tới đó là, VN sẽ là một trong những nước làm từ thiện nhiều nhất trên thế giới.

Nguồn: BaoToQuoc
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Không nhổ neo, không thể ra khơi

BùI Tín viết riêng cho VOA
Chỉ còn hơn 2 tuần nữa là khai mạc Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tại kỳ họp thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X), các văn kiện dự thảo đã được thông qua lần cuối, danh sách nhân sự khóa XI cũng đã được quyết định. Mọi nội dung quan trọng nhất đều đã được «nhất trí» cao, từ Cương lĩnh, đường lối, chính sách quá độ lên chủ nghĩa xã hội đến Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cho 10 năm, cho 20 năm nữa, cũng như danh sách 1.400 đại biểu, gần 200 ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và 15 (hoặc 17) ủy viên Bộ Chính trị khoá XI (20011-2016) đều đã được thông qua cả rồi.

Từ ngày 12 đến ngày 19-1-2011, tại hội trường lớn, đầy cờ, hoa, khẩu hiệu đỏ vàng, có cả dàn nhạc, trống kèn, chỉ là để trình diễn công khai, để quay phim, chụp ảnh, ghi vào biên bản, công bố trên báo chí các bản báo cáo, văn kiện dài dòng, các tham luận trịnh trọng,các lời chào mừng nồng nhiệt, xen lẫn những tràng vỗ tay kéo dài…

Theo nguyên lý dân chủ tập trung, có nghĩa là dân chủ có chỉ đạo, dân chủ có định hướng, cũng là dân chủ bị chặn đầu, bị chẹn cổ, mọi sự đã được quyết định trước cả rồi. Mọi sự đều xuôi chiều, trôi chảy, biết trước, được người dân gọi là «tiền chế». Các đoàn đại biểu đều cử trưởng đoàn đọc tham luận thay mặt đoàn mình. Sẽ không có tranh luận gì đáng kể, không có cọ xát ý kiến gì gay gắt. Dân chủ tập trung nó là như thế. Dân chủ lạ đời!

Sẽ có đến hơn 1 ngàn đại biểu đến đại hội chỉ để đứng lên, ngồi xuống, vỗ tay, giơ tay biểu quyết, hô khẩu hiệu, rồi tha hồ nghỉ ngơi, ăn uống, xem hát, nhảy múa, xem kịch, ăn tiệc, ăn cỗ, nhận phụ cấp, nhận quà, ưỡn ngực sung sướng vì được mang danh hiệu «Đại biểu Đại hội đảng CS lần thứ XI» mà chẳng cần suy nghĩ gì, chẳng cần đứng dậy phát biểu câu nào, còn có thể ngủ gật, hay nghĩ đến chuyện tối nay rủ nhau đi tươi mát riêng…

Cả 3 Đại hội IV (1976), Đại hội V (1981), Đại hội VI (1986), tôi đều chứng kiến từ khai mạc đến bế mạc, đều nhàm chán, hình thức, tẻ nhạt như thế cả.

Quả thật cũng có vài lúc có kịch tính. Vài lúc thôi. Đó là tại Đại hội đảng toàn quân năm 1976, 2 Đại tướng Văn Tiến Dũng và Chu Huy Mân được đoàn chủ tịch đại hội giới thiệu trong danh sách đại biểu đi dự đại hội toàn quốc, khi bỏ phiếu kín, cả 2 ông bị trượt (tướng Dũng do vấn đề chiến lợi phẩm 30-4-1975 ở Sài Gòn, tướng Mân do dùng công binh xây gấp bể bơi riêng).

Lần nữa, mang kịch tính cao hơn là tại Đại hội VI (1986), do ảnh hưởng đổi mới của đảng CS Liên Xô. Ngay trước hôm bế mạc, đa số các đoàn gặp nhau bàn việc đề cử bộ ba: Tổng bí thư Trưòng Chinh, Chủ tịch nước Phạm Văn Đồng, Thủ tướng Võ Nguyên Giáp, (rồi tiếp đó Bộ trưởng Quốc phòng có thể là Trần Văn Trà), coi như đã xong xuôi, thì ngay đêm đó, ông Lê Đức Thọ biết tin này, nảy ra sáng kiến để phá đám: «Yêu cầu anh Thận (Trường Chinh), anh Tô (Phạm Văn Đồng) và tôi (Lê Đức Thọ) sáng mai cả ba cùng xin nghỉ để nhận chức cố vấn cho Trung ương, vì tuổi cao sức yếu, nán ở thêm sẽ bị coi là tham quyền cố vị». Ngay đêm đó, ông Nguyễn Khánh, phó thủ tướng, mang đề nghị này đến tận nhà ông Trường Chinh và ông Phạm Văn Đồng để ép 2 ông phải đồng thuận. Và ngay sau đó ông Thọ đề ra sáng kiến về một bộ ba khác: «Anh Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh) làm Tổng bí thư, anh Võ Chí Công làm Chủ tịch nước và anh Phạm Hùng làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưỏng (tên gọi của Thủ tướng lúc bấy giờ». Đề nghị này được ép thông qua sáng hôm sau. Hồi ấy ở Câu lạc bộ Ba Đình người ta gọi đó là một cuộc «Đảo chính cung đình », và Đại hội VI được gọi là «Đại hội của ông Sáu» (Sáu Thọ).

Sau 2 màn kịch hiếm có như thế, Bộ Chính trị các khóa tiếp đều cảnh giác để ngăn ngừa không để xảy ra một lần nào «bị trật đường rầy», vi phạm dân chủ tập trung như thế.

Cho nên hiện nay, khi chuẩn bị cho Đại hội XI, mới có những chuyện dân chủ thụt lùi, cấm phản biện công khai, cấm các báo đài không được đăng những ý kiến trái với những đường lối chính sách hiện hành của đảng và nhà nước, cấm tất cả báo lề phải không được đăng tin, biên bản cuộc hội thảo của 22 trí thức đảng viên cao cấp, cấm không được phổ biến bài trả lời phỏng vấn của nguyên chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, cũng như những bài viết của các tướng Đồng Sỹ Nguyên, Nguyễn Trọng Vĩnh, cùng bài phát biểu của công dân Nguyễn Nguyên Bình, nhà báo, con gái của tướng Vĩnh, cũng như bài phát biểu mạnh mẽ của đảng viên kỳ cựu Lê Hữu Đắng, luật gia, hiện là phó chủ tịch của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc.

Thì ra khi Bộ Chính trị mời gọi mọi đảng viên và người dân góp ý «thẳng thắn, chân thành» vào các văn kiện Đại hội XI chỉ là mời xã giao, lịch sự, cho phải đạo, thật ra chỉ là đóng kịch một cách vụng về, phơi bày một văn hóa lãnh đạo vô văn hóa, hỗn xược, không hơn không kém.

Vậy mà trong diễn văn bế mạc, ông Tổng bí thư Nông Đức Mạnh vẫn nói không chút ngượng ngùng rằng kỳ họp Trung ương 14 đã tiếp thu những ý kiến tâm huyết, chân thành của đảng viên và nhân dân để bổ sung vào các văn kiện. Có ai tin được!

Do đó mà biết bao ý kiến tâm huyết nhất, chân thành - nhất là ý kiến kêu gọi từ bỏ dứt khoát chủ nghĩa Marx – Lenin, từ bỏ Chủ nghĩa xã hội còn mù mờ không sáng tỏ, từ bỏ chế độ đảng trị - Bộ Chính trị là ông «Vua tập thể 15 đầu», từ bỏ «chế độ quốc doanh là chủ đạo» cực kỳ tệ hại, coi đó là 4 hiểm họa kìm hãm đất nước phát triển bền vững, ngăn cản xã hội thực hiện công bằng, bình đẳng và văn minh.

Có thể coi đó là bốn xiềng xích, nối liền với 4 mỏ neo giáo điều kiên cố và cổ hủ, ngăn cản con tàu Việt Nam phóng ra khơi lộng gió thời đại, gia nhập hàng ngũ những con tàu của thời đại. Có thể gọi Đại hội XI là Đại hội của 4 mỏ neo cổ lỗ buộc chặt đất nước ta vào dĩ vãng giáo điều, kìm hãm nước ta vào cảnh lạc hậu triền miên, bất công và tham nhũng tràn lan, mãi mãi ở vào thế Bắc thuộc nguy hiểm, ngăn cản sự hòa nhập quả đoán và toàn diện của Việt Nam vào thế giới của dân chủ đầy đủ, của tự do hoàn toàn, của hạnh phúc bền lâu cho toàn dân.

Đại dương lộng gió thời đại đang vẫy gọi! Có đại biểu nào trong số 1.400 đại biểu của Đại hội XI cảm thấy ngọn gió ấy của thời đại?

BùI Tín
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Trung Quốc chỉ là “hổ giấy” về quân sự?:
Chưa Chế Tạo Nổi Động Cơ Máy

Wednesday, 29 December 2010

Tờ Washington Post của Mỹ đã đăng bài bình luận về sức mạnh quân sự thực sự của Trung Quốc trong bối cảnh hiện nay.

Image
Dù đạt được nhiều thành tích trong công cuộc hiện đại hóa quốc phòng song giới chuyên gia cho rằng khả năng quân sự của Trung Quốc đã được phóng đại. Theo tờ Washington Post, ngành công nghiệp quốc phòng Trung Quốc còn phụ thuộc nhiều vào công nghệ nước ngoài, đặc biệt là của Nga.

Chưa sản xuất nổi động cơ máy bay?

Báo chí Nga và các chuyên gia quốc phòng cho biết là sau nhiều năm phát triển, Trung Quốc vẫn chưa thể chế tạo động cơ máy bay quân sự.

Tháng trước, các quan chức Trung Quốc nói với Bộ trưởng Quốc phòng Nga Anatoly Serdyukov là họ sẽ lại mua vũ khí Nga, sau nhiều năm trời gián đoạn. Trong danh sách Bắc Kinh muốn mua có máy bay tiêm kích Sukhoi 35, các phương tiện vận tải hàng không, máy bay vận tải quân sự IL 476, máy bay tiếp liệu trên không IL 478 và hệ thống phòng không S-400.

Ông Ruslan Pukhov, Giám đốc Trung tâm Phân tích Công nghệ Chiến lược, đồng thời là cố vấn của Bộ Quốc phòng Nga, được tờ Washington Post trích lời dự báo Trung Quốc cần một thập niên nữa để hoàn thiện động cơ máy bay. Ông nói: “Trung Quốc vẫn phụ thuộc vào chúng tôi và sẽ tiếp tục như vậy trong thời gian tới”.

Thực lực thực sự của Trung Quốc về tàu ngầm

Nhiều người nghĩ rằng Trung Quốc đã có những bước phát triển mạnh về tàu ngầm. Theo nguồn tin báo chí, tháng 10/2006, một tàu ngầm tấn công động cơ diesel thuộc lớp Tống của Trung Quốc đã bí mật bám theo hàng không mẫu hạm Mỹ USS Kitty Hawk và chỉ cách có 4 dặm mà không bị phát hiện.

Trong hai năm qua, Trung Quốc đã chế tạo được ít nhất là một tàu ngầm lớp Tấn chạy bằng năng lượng nguyên tử, trang bị tên lửa đạn đạo. Trong tương lai, hải quân Trung Quốc sẽ có thêm 5 tàu ngầm loại này.
Image


Cơ quan Tình báo Hải quân Mỹ (ONI) nhận định, tàu ngầm lớp Tấn cho phép Trung Quốc có đủ khả năng đánh trả một cuộc tấn công hạt nhân với tên lửa đạn đạo tầm xa 4.000 dặm. Thế nhưng, trong một báo cáo gần đây, ONI cũng nói rõ tàu lớp Tấn còn ồn hơn cả tàu ngầm do Liên Xô cũ chế tạo cách đây 30 năm. Do vậy, nó có thể bị phát hiện sớm, ngay sau khi rời cảng.

Tình trạng phụ thuộc kéo dài vào các nhà cung ứng vũ khí Nga cho thấy sự thật quan trọng về bộ máy quân sự của Trung Quốc. Mặc dù Mỹ đã có những thay đổi để đối phó với sự lớn mạnh về quân sự của Trung Quốc, giới chuyên gia và quan chức Mỹ cho rằng phải nhiều năm, thậm chí nhiều thập niên nữa Trung Quốc mới có thể chế tạo được tên lửa đạn đạo tấn công tàu chiến.

Báo cáo trên dẫn lời Giám đốc dự án Thông tin Hạt nhân của Mỹ, ông Hans Kristensen cho biết: “Hiện có xu hướng nói về Trung Quốc như một mối đe dọa quân sự lớn sẽ xảy ra trong tương lai. Thế nhưng, các tàu ngầm Trung Quốc mang tên lửa đạn đạo lại là những mục tiêu dễ bị tấn công”.

Trà My (tổng hợp)
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Dũng Bô Xít hay Dũng Vinashin?

Ngô Nhân Dụng
Người ta đang phân vân không biết nên gọi tên ông Nguyễn Tấn Dũng là Dũng Bô Xít, hay Dũng Vinashin. Xét về hậu quả tai hại thì hành động cho người ngoại quốc đào mỏ bô xít ở nước ta sẽ gây ảnh hưởng lâu dài hơn. Nó sẽ làm hư hại nhiều tài nguyên trên rừng núi; phá hủy môi trường sống từ cao nguyên xuống dưới đồng bằng; lại có thể nguy hiểm cho cả nền an ninh quốc gia. Còn vụ Vinashin cuối cùng cũng chỉ tốn cho công quỹ 5 đến 10 tỷ đô la (trước hết phải trả số nợ là 4 tỷ 400 triệu), không thể so sánh được với những thiệt hại mà việc cho người Tàu khai thác bô xít có thể gây ra. So sánh như vậy thì nên gọi tên ông thủ tướng hiện giờ là Dũng Bô Xít.

Nhưng việc đem công nhân Trung Hoa vào cao nguyên Trung phần khai thác mỏ và đi khắp nước khai thác rừng là chính sách của cả Bộ Chính Trị đảng Cộng sản chứ không riêng gì ông Dũng. Ghi danh Dũng Bô Xít vào lịch sử thì không công bằng. Chính các ông Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Minh Triết đều nhấn mạnh việc cho những người “vừa là đồng chí vừa là anh em” vào đào mỏ bô xít và khai thác rừng, biển, là một “chủ trương lớn” của đảng Cộng Sản.

Còn câu chuyện hãng “đóng tàu thủy” Vinashin nằm trong sự nghiệp riêng của ông Nguyễn Tấn Dũng. Công ty này tên khai sinh là Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam. Những chữ “tập đoàn kinh tế” vốn chỉ thông dụng ở Trung Quốc, thời Phan Văn Khải làm thủ tướng chỉ thành lập các tổng công ty. Tập đoàn Vinashin được Nguyễn Tấn Dũng lập ra cùng với những “tập đoàn kinh tế” khác ra đời khi gom các tổng công ty lại, chắc để chứng tỏ ông Dũng nghĩ chuyện lớn hơn ông Khải.

Nhưng riêng hiện tượng lỗ lã của Vinashin không đủ để ghi vào sử sách như một thành tích kinh tế của ông Nguyễn Tấn Dũng. Nếu Vinashin chỉ làm mất mấy tỷ bạc thì, so với những thất thoát vì tham nhũng, phí phạm vì quản lý bất lực, vân vân, mấy tỷ bạc đó cũng là nhỏ, chưa đáng một phần trăm. Ðiều đáng lo bây giờ là hậu quả của vụ Vinashin đối với công việc làm ăn của các công ty khác và các ngân hàng thương mại Việt Nam trong các năm sắp tới. Nó sẽ ảnh hưởng tới cả tiến trình phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế của nước Việt Nam.

Hậu quả đó như thế nào, chúng ta đã thấy ngay từ tuần trước. Ngày 20 tháng 12 năm 2010, công ty Vinashin tới kỳ hạn phải đóng món tiền trả góp đầu tiên cho một món nợ lớn 600 triệu đô la Mỹ, nhưng không có tiền trả, xin khất nợ 3 ngày để xoay xở. Ba ngày sau, tức là Thứ Năm tuần trước, vẫn không có đủ 60 triệu, lại xin hoãn, lần này xin triển hạn một năm. Ðây là một món nợ do Credit Suisse thu xếp với nhiều ngân hàng quốc tế từ năm 2007; theo hợp đồng thì ngày 20 tháng 12 năm nay bắt đầu phải trả góp tiền vốn, mỗi sáu tháng 60 triệu, 5 năm thì trả hết. Nhưng Vinashin đã không có tiền, ngay trong kỳ hạn đầu tiên này.

Ngay lập tức, lấy lý do hệ thống ngân hàng Việt Nam đang suy yếu, công ty thẩm lượng tín dụng Standard & Poor's đã công bố hạ thấp điểm tín dụng của nước Việt Nam một bậc, từ BB xuống thành BB trừ, đúng vào ngày trước lễ Giáng Sinh 2010. Nghĩa là từ nay trở đi, chính quyền Việt Nam đi vay tiền nước ngoài sẽ phải trả lãi suất cao hơn. Theo tiêu chuẩn tín dụng thế giới thì những trái phiếu (giấy nợ) được đánh giá BB trừ đều gọi là “junk bonds,” trái phiếu dành cho những người “đánh cá may rủi.” Họ chấp nhận nếu gặp hên thì ăn lời cao, chẳng may thì con quịt nợ! Với loại giấy nợ này, người đi vay phải trả lãi suất cao hơn bình thường rất nhiều. Nếu quý vị đi vay một tỷ Mỹ kim, chỉ cần lãi suất tăng thêm 1% thì mỗi năm quý vị cũng phải trả thêm 10 triệu Mỹ kim! Khi các trái phiếu của nhà nước Việt Nam bị đánh giá xuống thấp thì tất cả các công ty do nhà nước làm chủ cũng bị đánh lây, trong đó có các ngân hàng thương mại của Việt Nam, hiện nay đại đa số vẫn nằm trong tay các cán bộ được đảng Cộng Sản tín nhiệm.

Tại sao Vinashin làm hại đến cả các ngân hàng? Vì tình trạng thua lỗ xảy ra quá nặng nề, và quá nhanh chóng (chỉ dăm năm sau khi chính quyền Nguyễn Tấn Dũng vay 750 triệu đô la cho Vinashin tiêu, 3 năm sau món nợ 600 triệu); cả thế giới tài chánh và kinh doanh phải đặt câu hỏi về cách làm ăn của người Việt Nam. Standard & Poor's là công ty thứ ba hạ thấp điểm Việt Nam. Thế giới có 3 công ty thẩm lượng tín dụng lớn. Trước đó hai công ty khác là Moody's and Fitch đã ra tay rồi, Moody's mới hạ thấp điểm tín nhiệm của chính quyền Việt Nam xuống một bậc vào ngày 15 tháng 12. Trong bản thông báo tin hạ điểm vừa rồi, Standard & Poor's giải thích lý do là vì vụ Vinashin. Họ viết: Sự nguy ngập của Vinashin làm nổi rõ lên cho mọi người thấy tính chất thiếu minh bạch, công khai (lack of transparency), tính yếu kém về quy định trách nhiệm, và khả năng quản lý rất thấp ở Việt Nam.

Hậu quả đã lan rộng. Hôm Thứ Hai tuần trước, Standard & Poor's đã hạ thấp điểm tín dụng của một công ty Việt Nam là Tập đoàn Than và Khoáng Sản (Vietnam National Coal-Mineral Industries Group), còn gọi là Vinacomin. Trước đó, ngày 15 tháng 12 là Moody's cũng đã đánh giá Vinacomin xuống thấp rồi. Cả hai vụ đánh giá xuống đó khiến cho công ty Vinacomin phải ngưng, không đi vay 500 triệu đô la trên thị trường quốc tế nữa; khi phải đứng trước viễn ảnh trả lãi suất quá cao vì điểm tín dụng xuống thấp. Khi một công ty đi vay với lãi suất cao hơn lợi suất mình tạo ra được, thì tất nhiên phải lỗ vốn, thà không đi vay còn hơn! Nhưng khi một công ty có dự án phát triển công việc làm ăn với hy vọng sinh lợi thì mới tính chuyện đi vay tiền. Nếu họ bỗng dưng ngưng lại không đi vay nữa, thì cả dự án sẽ bị gác, có thể bị vứt bỏ. Công ty đó bị thiệt hại vì bỏ lỡ mất cơ hội kinh doanh. Các công nhân bị thiệt hại vì thiếu việc làm, nhiều người có thể mất việc. Những thiệt hại mà các công nhân của Vinacomin phải gánh do đâu gây ra? Thưa trước hết là vì đám bộ hạ của ông Nguyễn Tấn Dũng đã biến Vinashin thành nơi vay tiền, xài tiền thả cửa, không cần biết ai sẽ lo trả nợ.

Các công ty Moody's và Standard & Poor's đều dựa vào viễn tượng Tập đoàn Vinashin không trả được nợ mà đánh giá Tập đoàn Vinacomin. Từ đầu tháng 12, Standard & Poor's đã báo trước cho các nhà đầu tư thân chủ của họ rằng Vinashin sẽ “không trả được nợ” (default) trong vòng 30 ngày. Trong báo cáo gửi giới đầu tư, công ty này đã trích dẫn nhận xét của các chuyên viên Ngân Hàng Thế Giới, họ nói rằng công ty Vinashin “đã làm những báo cáo tài chánh giả mạo;” đồng thời “đã đầu tư tiền bạc vào những khu vực ngoài phạm vi hoạt động chính của mình;” và nói thẳng: Sắp sửa vỡ nợ.

Khi Vinashin xin các chủ nợ cho khất một năm sau mới trả 60 triệu đô la đầu tiên, tất nhiên sẽ phải thương lượng các điều kiện. Trong cuộc thương lượng này thế nào các ngân hàng chủ nợ cũng đòi tăng lãi suất. Rất giản dị, người đi vay càng chứng tỏ có nhiều rủi ro không trả được nợ thì phải trả lãi suất cao hơn cho chủ nợ để bù cho mối lo bị quịt.

Người ta sẽ hỏi tại sao các chủ nợ khó tính như thế? Tại sao mới hôm trước hôm sau đã bắt, không những Vinashin mà cả các doanh nghiệp Việt Nam khác, khi đi vay là phải trả lãi suất cao hơn? Bởi vì khi các con nợ bị đánh giá xuống thấp thì chính các chủ nợ họ cũng đã mất tiền ngay rồi.

Trước hết là vì những trái phiếu mà họ cầm trong tay khi cho chính quyền Việt Nam vay bỗng mất giá trị trên thị trường, khi điểm tín dụng của Việt Nam xuống thấp. Trong tháng 11 năm 2010, những trái phiếu cho Việt Nam vay bằng đô la Mỹ đã mất giá 2.4% chỉ trong 30 ngày. Tháng 12 đã mất giá 5.7%. Ðây là lần mất giá cao nhất kể từ lần tháng 11 năm 2009, tụt giá 4.9%. Trong thị trường tài chánh các ngân hàng thường không giữ các giấy nợ trong tủ, chờ đến kỳ hạn thì đòi nợ. Họ luôn luôn mua qua bán lại các trái phiếu để thay đổi, giảm bớt mức rủi ro phải chịu. Khi các tờ giấy nợ xuống giá, ngân hàng cho vay mất tiền nếu cần bán. Cho nên, con nợ càng nhiều rủi ro thì càng phải trả lãi suất cao hơn.

Ngoài ra, không một ngân hàng lớn nào đem tiền cho vay mà không mua bảo hiểm. Mua Bảo hiểm Nợ (Default Swaps) cũng như bảo hiểm khi mua nhà, là trả một số tiền nhỏ mỗi năm để nếu con nợ quịt (vì vỡ nợ hay sạt nghiệp) thì có hãng bảo hiểm bồi hoàn tất cả số tiền cho vay chưa được trả. Các ngân hàng chủ nợ của chính quyền và các công ty Việt Nam đã phải trả giá bảo hiểm đắt hơn khi có tin công ty Vinashin sắp vỡ nợ. Trước đó, tiền mua bảo hiểm cho trái phiếu của Việt Nam vốn đã đắt rồi, ngày 17 tháng 12 giá là 287 điểm, trên thị trường Singapore. Nghĩa là muốn bảo hiểm cho một số trái phiếu trị giá 10 triệu trên giấy tờ thì phải trả 287 ngàn đô la. Trước ngày 20 tháng 12, giá bảo hiểm đã tăng lên 295 điểm. Sau khi công ty Vinashin xin khất nợ lần đầu, giá bảo hiểm tăng vọt lên 305 điểm; tức là chủ nhân 10 triệu đồng tiền nợ của Việt Nam phải trả bảo hiểm mất 305 ngàn một năm! Nếu quý vị đóng vai chủ nợ, chắc cũng phải đòi tăng lãi suất!

Chính quyền Cộng Sản Việt Nam, dù đã nói đổi mới, đổi mới, nói đổi mới mãi nhưng vẫn không tôn trọng các quy tắc của thị trường tài chánh. Lý do vì đảng Cộng sản vẫn Stheo các chính sách mà Hồ Chí Minh học từ Stalin: Coi lãnh vực quốc doanh là căn bản kinh tế quốc gia.

Cộng đồng thế giới qua vụ Vinashin đã trông thấy rõ những mối nguy của kinh tế Việt Nam: Cán cân thương mại thâm thủng hàng chục tỷ Mỹ kim một năm và sang năm sẽ tiếp tục thâm thủng nhiều hơn; tỷ lệ lạm phát quá cao (gần 12% theo con số chính thức); và các doanh nghiệp nhà nuớc bất lực.

Ngân Hàng Phát Triển Á Châu coi vụ Vinashin sụp đổ là một “thất bại hệ thống” trong việc giám sát các doanh nghiệp nhà nuớc. Tất cả mọi người quan sát đều thấy nhu cầu cần xóa bỏ hệ thống kinh tế quốc doanh.

Ðại sứ Mỹ ở Việt Nam Michael Michalak nói chuyện với các nhà đầu tư quốc tế đã nhận xét: “Tình trạng không ai được trông thấy bản kê khai tài chánh của các doanh nghiệp nhà nuớc khiến chúng ta phải đặt câu hỏi: Còn những Vinashin nào nữa?” Ðại Sứ Anh Anthony Stokes mới nhậm chức thì nói phải coi như chắc chắn còn những vụ Vinashin khác; câu hỏi phải đặt ra là chính quyền Việt Nam có chỉ rõ đó là những công ty nào để cộng đồng kinh doanh quốc tế có thể giúp họ cải thiện hay không.

Giáo Sư Jonathan Pincus, thuộc Harvard Kennedy School đang ở Sài Gòn thấy: “Chính quyền Việt Nam này họ không tính đường xa, không thấy hậu quả của những vụ như Vinashin này trên mức độ tín nhiệm của giới tài chánh vào nước Việt Nam.”

Công ty Moody's đặc biệt nhấn mạnh đến nhu cầu vay nợ của Việt Nam trong những thập niên sắp tới. Một nước đang bắt đầu phát triển cần phải xây dựng hạ tầng cơ sở như đường sá, cầu, sân bay, bến cảng, không thể thiếu và không thể chậm được. Muốn vậy, phải vay nợ trên thị trường quốc tế. Vì vụ Vinashin, tất cả những món nợ mà chính quyền Việt Nam bắt buộc sẽ phải vay cho việc xây dựng hạ tầng cơ sở sẽ khó vay hơn, và khi vay sẽ phải trả lãi suất cao hơn. Vì lý do đó, nhà nước Cộng Sản sẽ phải chậm trễ trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng. Hậu quả là cả nền kinh tế sẽ chạy chậm lại, trong khi nhà nước tiếp tục lo trả nợ cho công ty Vinashin.

Sau khi đọc những lời phân tích trên đây, có lẽ nhiều người Việt Nam cũng đồng ý vụ Vinashin sẽ có ảnh hưởng lâu dài và lan rộng trên tất cả các ngân hàng và xí nghiệp Việt Nam trong tương lai. Hậu quả kinh tế không phải chỉ có mươi tỷ Mỹ kim đâu. Như vậy thì cái tên Vinashin phải gắn liền với tên Nguyễn Tấn Dũng.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Tự do nhân tính và tự do thú tính

Ngô Nhân Dụng
Những ngày cuối năm, tôi mới đọc một bài của Tu Wei-ming viết về Yen Yuan (Nhan Nguyên), một triết gia người Trung Hoa đời nhà Thanh. Ông sinh năm 1635, một thế hệ sau những Hoàng Tông Hy, Cố Viêm Vũ, nhưng không được nổi danh như hai vị đại Nho này.

Cho tới đầu thế kỷ 20, Lương Khải Siêu “khám phá” ra và tán dương những tư tưởng của ông mà Lương gọi là “Thực tế, thực dụng chủ nghĩa.” Nhan Nguyên là người dám công kích những ý kiến của Trình Dị - Chu Hi đời Tống vì thấy là phù phiếm; trong lúc giới trí thức chung quanh và nhà nước quân chủ vẫn tôn sùng như các lý thuyết đó giáo điều. Ông chủ trương phải chú trọng đến thực hành, phải thực tập các tiêu chuẩn đạo lý. Ông suốt đời không ra làm quan; có lúc làm ruộng để sống, rồi bốc thuốc, dậy học.

Trong bài báo này tôi sẽ không dám làm phiền quý vị độc giả về những trước tác và tư tưởng mới mẻ của Nhan Nguyên, như Giáo Sư Tu Wei-ming (Ðỗ Duy Minh, đọc lối Việt Nam) đã trình bày. Chỉ muốn kể một câu chuyện về ông rất đáng nhớ. Năm Nhan Nguyên 15 tuổi, bố ông đã bị mất tích từ lâu, mẹ đã tái giá, ông nội lo cho tương lai cháu cho nên đút tiền các học quan trong huyện, xin cho cháu được qua kỳ khảo hạch để chuẩn bị đi thi. Khi biết chuyện ông nội đã đi hối lộ cho mình kiếm được một mảnh bằng, cậu bé 15 tuổi đã bật khóc. Cậu nói: Tôi thà làm một anh dốt chữ thật còn hơn làm một anh hay chữ giả!

Sống thật, không sống giả, đó quả là một châm ngôn dễ hiểu nhưng khó thực hành, nhất là ở Việt Nam bây giờ. Nhà giáo Hà Sĩ Phu đang ở Ðà Lạt gần đây đã bàn về thứ “Văn Hòa Mặt Dày,” nhân một bài nhan đề như vậy trên mạng Bô Xít Việt Nam. Ông viết, “Thứ ‘Văn hóa mặt dày’ sở dĩ vênh váo được vì có một hệ thống công khai nuôi dưỡng nó, (lúc chịu đòn cũng chỉ là đòn giơ cao đánh khẽ), trong khi ‘đối thủ’ của nó là một nền văn hóa biết xấu hổ, biết đau khổ (về tình trạng thua kém, về tình trạng lệ thuộc, đáng tủi nhục của nhân dân mình, của đất nước mình) lại đang ở vào thế bị bị lép vế, bị áp chế, càng yêu nước càng bị người đại diện cho nước đánh đòn.”

Hà Sĩ Phu viết bài trên trước khi có tin 16 quan chức tỉnh Hà Giang, trong đó có ông chủ tịch Nguyễn Trường Tô đã được tha, không bị truy tố gì cả trong khi hai nữ sinh trong số các nạn nhân vẫn bị đưa ra tòa về tội môi giới. Nhưng Hà Sĩ Phu đã bàn trước: Phải thương, rất thương các cháu gái nhỏ đang thành những nạn nhân khốn khổ do “lũ” người “lớn” tạo ra, và thả các cháu Hằng cháu Thúy ra ngay mới phải! Nhẹ tay với thủ phạm nhưng nặng tay với nạn nhân là nghĩa làm sao?

Quả thật, hai cô học trò bị tố tội môi giới năm nay mới 18, 19 tuổi. Trong thời gian mà hai cô bị tố đã làm nghề môi giới đưa các bạn gái cùng trường tới hiến cho các quan chức trong tỉnh, các cô bé này chưa đến tuổi thành niên để làm bất cứ nghề môi giới nào, dù môi giới đưa tiền hối lộ, môi giới ở thị trường chứng khoán hay trong mạng lưới nhện của ông Mã Giám Sinh hiệu trưởng Sầm Ðức Xương. Nhưng các quan đầu tỉnh thì được coi như vô tội, còn hai cô học trò con nhà dân dã thì sẽ bị kết tội. Sống thật khổ, sống giả sướng!

Nguyên nhân cảnh suy đồi về đạo lý này, Hà Sĩ Phu nhìn thấy trong hệ thống chính trị. Trong mỗi con người chúng ta, ông thấy có phần người thật và phần thú vật. Một chế độ chính trị bóp nghẹt không cho phần con người được tự do (tự do tư tưởng, tự do phát biểu, tự do chọn người cai trị bằng lá phiếu, vân vân) thì phần con thú trong mọi người được tự do nhiều hơn, không còn gì ràng buộc nữa.

Hà Sĩ Phu viết: “Những hiện tượng Nguyễn Trường Tô, Hoàng Thùy Linh, hiện tượng bạo lực học đường, bạo lực xã hội, nữ sinh lõa lồ đánh nhau (mà còn quay phim) đưa clip lên mạng... chỉ là những ví dụ nhỏ trong hệ thống thiếu tự do nhân tinh của một nền dân chủ, dẫn đến phát triển tự do thú tính hoang dã. Một cách tự nhiên, con ‘thú’ lớn vạch đường cho những con ‘thú’ nhỏ, noi gương nhau cả thôi.”

Phát triển Tự Do Thú Tính trong khi đàn áp Tự Do Nhân Tính, tạo nên một nền Văn Hóa Mặt Dày, không những dẫn tới một xã hội vừa vô đạo lý vừa bất công, mà còn đưa đất nước tới chỗ suy yếu, khi tất cả xã hội phải sống hoàn toàn bằng giả trá, mạo hóa, gian manh, lừa dối. Chế độ ở nước ta hiện nay tên là gì? Họ gọi là Xã hội Chủ nghĩa. Ðảng cầm quyền tự gọi là đảng Cộng Sản. Nhưng ngay cả các đảng viên Cộng Sản cũng biết, từ cách suy nghĩ đến các hành động của những người đang nắm quyền trong tay, và đang chuẩn bị nắm quyền thêm 5 năm nữa, họ không có gì liên quan đến chủ nghĩa Cộng Sản của ông Karl Marx cả. Ai cũng thấy, chế độ xã hội và kinh tế thực sự ở nước ta bây giờ là một chế độ tư bản, mà là thứ kinh tế tư bản thời hoang dã, trước đây vài thế kỷ, trước khi ông Karl Marx đề ra những phân tích của ông.

Trong một trăm năm kể từ khi ông Karl Marx viết bản tuyên ngôn Cộng Sản, chính nền kinh tế tư bản mà ông phân tích đã thay đổi. Bản chất của nền kinh tế đó không thay đổi: Kiếm lợi. Tối đa hóa doanh lợi. Nhưng con thú trong mỗi người là lòng tham không còn được tự do như thời hoang dã nữa. Bao nhiêu thứ luật lệ đã được loài người đặt ra để kềm chế lòng tham. Cho nên mới có những luật lệ cấm kết bè đảng để chiếm độc quyền; những luật lệ bảo đảm tự do lập công đoàn, bảo vệ người lao động; những luật lệ kiểm soát thực phẩm, thuốc men, bảo vệ sức khỏe và sự an toàn của người tiêu thụ, vân vân và vân vân. Mối lo của nhân loại là làm sao hạn chế những Tự Do Thú Tính.

Chế độ kinh tế tư bản đã thay đổi không phải vì lòng từ thiện của các nhà tư bản. Sự thay đổi đạt được là do người dân đã tranh đấu để được tự do. Có như vậy thì những quyền Tự Do Nhân Tính mới có cơ hội nảy nở và được tôn trọng. Sức mạnh của kinh tế tư bản là tự do cạnh tranh. Không có tự do ganh đua nhau thì kinh tế không thể tiến. quyền tự do kinh tế lại phải gắn liền với quyền tự do chính trị. Vì nếu anh không được tự do về chính trị thì có cái gì bảo đảm là quyền tự do kinh doanh của anh không bị xâm phạm? Ðến lúc nào thì những kẻ có quyền có thế sẽ không tha mà bắt đầu chiếm đoạt tài sản do anh tạo ra?

Gần đây ông Vũ Cao Ðàm cùng mấy người bạn đã đưa lên mạng lưới Bô Xít một bài về ông Trần Xuân Bách, viết nhân ngày giỗ đầu của ông. Trong các cuộc gặp gỡ, thảo luận với các nhà chuyên môn về kinh tế và chính trị, ông Trần Xuân Bách đã đi tới ý tưởng là phải thay đổi cả về kinh tế lẫn chính trị. Ông tên thật là Vũ Thiện Tuấn quê tại xã Nam Ninh, Nam Ðịnh, đã làm bí thư trung ương đảng và ủy viên Bộ Chính Trị, nhưng sau khi thấy Cộng Sản sụp đổ ở Ðông Âu ông đã tỉnh ngộ. Theo ông Vũ Cao Ðàm thuật lại thì ông Trần Xuân Bách đã thấy rằng “...đã đa thành phần kinh tế, mà anh gọi là ‘đa nguyên kinh tế,’ thì tất yếu sẽ dẫn đến ‘đa thành phần’ trong xu hướng chính trị, mà anh cũng thẳng thắn gọi là ‘đa nguyên chính trị’”. Ngoài ra, ông Vũ Cao Ðàm kể, “anh (Trần Xuân Bách) đưa ra nhận định khái quát: Thị trường và đa nguyên là những thành tựu nổi bật của nhân loại.” Chế độ Cộng Sản xóa bỏ thị trường, đàn áp chủ trương đa nguyên, Trần Xuân Bách đã nhìn ngược lại. Ngày mai là ngày giỗ ông, nhắc lại những ý kiến của ông do những người thân cận kể lại, để ghi nhận không phải người Việt Nam nào đã bước vào con đường công danh Cộng Sản cũng tự từ bỏ trí suy nghĩ và lòng khát khao muốn sống lương hảo.

Có thể nói ông Trần Xuân Bách không cần phải nghiên cứu kinh tế học mà chỉ cần dùng lương tri của con người bình thường cũng thấy được là kinh tế thị trường chỉ có thể phát triển tốt đẹp khi đi cùng chế độ tự do dân chủ. Còn như bây giờ, kinh tế Việt Nam nằm trong tay một nhóm quả đầu, họ thao túng thị trường kinh tế nhờ nắm chặt quyền hành chính trị. Khi nhìn vào chế độ gọi là Cộng Sản ở nước ta bây giờ, thấy trong thực tế họ đang xây dựng một xã hội tư bản giả, thứ tư bản thời hoang dã trước đây 200 năm! Chính trong tình trạng đó mà Tự Do Nhân Tính thì bị đè nén để nhóm quả đầu tiếp tục chiếm độc quyền. Còn Tự Do Thú Tính được thả lòng cho vẫy vùng vì cả xã hội phải sống giả dối. Trên dối dưới, dưới dối trên, tất cả đồng lõa gọi tên nhau là cộng sản nhưng ăn cắp và hối lộ theo lối tư bản thời hoang dã. Luân lý suy đồi vì một lý do mà Soljenytsin đã từng nêu ra: Một chế độ độc tài với một guồng máy đàn áp bao giờ cũng phải kèm theo một guồng máy nói dối. Guồng máy nói dối đó gọi là Ban Tuyên Huấn, Tuyên Giáo hay là Ban Văn Hóa, Tư Tưởng, những cái tên càng đẹp đẽ thì tính chất gian dối càng lộ liễu, không người dân nào không thấy là dối trá. Nhưng cuối cùng bao nhiêu người vẫn phải ngậm miệng sống hùa theo tự do thú tính, nhắm mắt không thấy nhân tính của mình bị mất tự do. Vì sống thật thì khó, sống giả thì dễ!

Chỉ còn vài tuần lễ nữa, đảng Cộng Sản Việt Nam lại họp đại hội. Chắc không ai trong đại hội đó dám nói như lối cậu bé 15 tuổi Nhan Nguyên hơn ba thế kỷ trước: Thà rằng làm tư bản thật còn hơn làm cộng sản giả!

Chế độ cai trị của nhà Thanh rất khắc nghiệt nhưng họ vẫn phần nào tôn trọng vai trò của các nhà trí thức. Vua Mãn Thanh muốn tập trung sách vở để dễ kiểm soát, nhưng chưa đến nỗi cấm tuyệt các nhà Nho không cho ai được tự do viết nữa. Cho nên mới có những người như Hoàng Tông Hy, đã đề xướng một cách tổ chức xã hội có thể coi là mang tính chất phân quyền, và hiến định, với mục đích giới hạn quyền hành của vua quan. Cho nên, Nhan Nguyên dám chỉ trích cả lý thuyết chính thống Trình Chu mà không bị ngăn cản. Nếu sống vào thế kỷ 21 này họ chắc sẽ trở thành những người làm “blog” như Ðiếu Cày, như Mẹ Nấm!

Nhan Nguyên cả đời không dính tới quan trường mà chỉ ngồi nhà dậy học, viết sách; trước khi mất năm 1704, ông còn dặn bảo các học trò: Hãy cố học, thực tập, và sống sao cho hữu ích. Thanh niên Việt Nam bây giờ có được thầy giáo, cô giáo dậy như thế hay không?

Học được đúng lời khuyên đó, các em sẽ biết hổ thẹn, không còn sống theo Tự do Thú tính nữa. Sẽ có ngày các em học sinh sẽ đứng lên đòi những Tự do Nhân tính. Ðể sống hữu ích.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Giáo Hội Việt Nam trước cơn sóng dữ

Nguyễn Kim (Vương Quốc Bỉ)
Vào dịp lễ Giáng Sinh vừa qua, đài phát thanh RFA đã phát loạt bài nói về tội ác của Cộng Sản tại trại giam Cổng Trời do thông tín viên Mặc Lâm thực hiện. Trong bài đầu tiên, tác giả đề cập đến chuyện bách hại xảy ra tại nhà thờ lớn Hà Nội vào mùa Giáng Sinh năm 1959. Kết quả là linh mục chánh xứ Trịnh Văn Căn (sau là Hồng Y thứ nhì của giáo hội Công Giáo Việt Nam) bị 12 tháng tù treo, cha phó Nguyễn Văn Vinh cùng một số tu sĩ, giáo dân khác bị bắt đưa vào trại giam Cổng Trời và tất cả đã bỏ mình trong chốn địa ngục trần gian ấy.
Điều đáng nói ở đây là thủ phạm trực tiếp của vụ bách hại chính là Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo, tiền thân của cái gọi là Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo Việt Nam hôm nay, tổ chức do nhà nước thành lập này đã gây biết bao nỗi đoạn trường cho giáo hội Công Giáo, đã giúp Cộng Sản len lỏi vào hang ngũ lãnh đạo giáo hội và hiện đang tiếp tục đóng vai trò trung gian để “nối kết” giáo hội Công Giáo và nhà nước Cộng Sản qua chiêu bài “đối thoại”. Xin bấm vào “link” để xem (và nghe) loạt bài này.

Đọc lại những trang sử viết bằng máu và nước mắt của giáo hội Miền Bắc dưới chế độ Cộng Sản, những ai còn có chút lòng với Giáo Hội không khỏi cảm thấy bùi ngùi và căm phẫn cho cái chính sách tàn độc cũa những người Cộng Sản, từ Liên Xô qua Trung Quốc, đến Việt Nam. Và cảm thông cho cái thái độ im lặng, nhẫn nhục và bất hợp tác của các vị chủ chăn miền Bắc trong một thời gian dài. Các ngài chẳng có sự lựa chọn nào khác, vì chủ trương nhất quán của Cộng Sản là tiêu diệt Công Giáo thẳng tay, không thương tiếc, không khoan nhượng. Những giáo sĩ, giáo dân tội nghiệp kia nếu muốn trung thành với niềm tin của mình thì bắt buộc phải bước đi trên những con đường khổ nạn. Qua những kinh nghiệm đau thương, giáo hội Miền Bắc đã chín chắn hơn, hiểu rõ CS hơn và cung cách tiếp cận, ứng xử với CS cũng già dặn hơn như chúng ta thấy được qua biến cố Đồng Chiêm hay Thái Hà. Người không tán thành thì chỉ trích thái độ của các giám mục miền Bắc là “não trạng tiền Vatican” và họ cổ võ việc “đối thoại” với Cộng Sản vô thần.

Đối thoại dĩ nhiên là điều tốt, nhưng dưới chế độ Cộng Sản vô thần, không bao giờ người công giáo được đối thoại theo đúng nghĩa: nói chuyện với nhau một cách bình đẳng, không có cái cung cách kẻ trên - người dưới, kẻ vênh váo - người khúm núm; trình bày một cách thẳng thắn những gì muốn nói với nhau, và lắng nghe nhau trong tinh thần tôn trọng: nếu anh sai tôi có quyền chỉ cho anh thấy cái sai mà không hề bị anh để ý, trả thù; nếu tôi nói đúng thì anh phải thành tâm phải sửa đổi. Nếu ngồi vào bàn chỉ để nghe người ta “lên lớp”, “hô khẩu hiệu”, còn mình thì cười cầu tài hay nói vuốt theo, mình chỉ có thể tán thành chứ không có quyền phản đối, khi ý kiến hai bên bất đồng thì họ giành quyền bác bỏ ý kiến của mình và hành động theo ý của họ thì đó không phải là đối thoại mà là mối tương quan của kẻ thống trị và người bị trị.

Giáo hội Công Giáo Việt Nam hôm nay bị chỉ trích từ nhiều phía về sự thụ động trước những vấn đề hệ trọng liên quan đến sự sống còn của dân tộc, hay những tệ trạng xã hội, những bất công, nghịch lý xảy ra hàng ngày, khắp nơi trên mọi lãnh vực và xảy ra khắp mọi miền đất nước. Để biện hộ cho thái độ bàng quang, vô cảm này. Người ta thường trưng ra cái lý do “giáo hội không làm chính trị”. Thoạt nghe cũng có vẻ có lý. Nhưng suy xét cho kỹ thì rõ ràng không phải vậy, mà đó chỉ là cái cớ để né tránh những va chạm với kẻ có quyền thế nhằm đổi lấy sự an toàn cho bản thân và nhận đươc những ân sủng được ban phát bằng cách này cách khác. Đồng ý là giáo hội có sứ mạng riêng, không lập đảng giành lấy chính quyền để cai trị quốc gia, hay hô hào dùng bạo lực truất phế người này, hạ bệ người kia; những việc đó không phải là ơn gọi của những người chọn con đường tu trì đang làm nhiệm vụ cai quản giáo hội. Nhưng lên tiếng trước những bất công và nghịch lý của xã hội, cổ võ cái đúng, phê phán cái sai không phải là làm chính trị. Cho dù phải chịu bách hại, phải chấp nhận hy sinh thì những người chọn con đường bước chân theo Thầy Chí Thánh cũng vẫn luôn được mời gọi làm chứng cho lẽ phải.

Xin đơn cử một thí dụ về thái độ cần phải có của những người được Thiên Chúa trao phó trọng trách dẫn dắt đoàn chiên của Ngài: Hiện nay Việt Nam là nước có tỷ lệ phá thai cao nhất Đông Nam Á. Theo thống kê chính thức của nhà nước thì mỗi người phụ nữ Việt Nam phá thai 2,5 lần trong đời. Nếu kể cả những trường hợp không chính thức (phá thai chui, phá thai ở bệnh viện nhưng không ghi vào sổ hay phá thai bằng những phương pháp dân gian…) thì số lần phá thai trong đời người phụ nữ Việt Nam còn cao hơn nữa, có thể là cao nhất thế giới cũng nên. Xin được hỏi Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã làm gì trước những tội ác kinh khủng này? Điều đáng nói là xã hội (trong đó có những con chiên mà các ngài có nhiệm vụ chăn dắt) ngày càng trở nên thờ ơ vô cảm trước tệ trạng này, họ không xem đó là tội ác nữa. Hay là các ngài vô tư quá không nhìn thấy? Hội Đồng Giám Mục có dám đặt vấn đề với những người có trách nhiệm với xã hội về việc này không? có dám gióng lên tiếng nói của lương tri trước thảm cảnh hàng triệu thai nhi vô tội bị “tàn sát” hàng năm không ? hay đó là việc của nhà nước? Giáo Hội “không làm chính trị” nên không tiện đề cập đến?

Một hiện tượng bất công đang diễn ra, không thể chấp nhận được đối với những người còn lương tâm là việc Chủ tịch tỉnh, các quan chức hàng đầu trong tỉnh Hà Giang hè nhau đi mua dâm nữ sinh, mà người dắt mối chính là ông hiệu trưởng ngôi trường các em học, sau đó chính các em nữ sinh lại bị ở tù trong khi các quan vô sự. Mới đây, các cơ quan điều tra đã đưa ra kết luận là “không đủ chứng cớ” để buộc tội các quan, nghĩa là họ được “hạ cánh an toàn” trong khi hai cô bé nạn nhân nhỏ bé tội nghiệp cô thân cô thế kia vẫn đang (và sẽ) phải tiếp tục ngồi tù. Những đấng bậc có trách nhiệm về đạo đức đâu cả rồi mà không ai có tiếng nói trước chuyện tưởng như hoang đường ấy đang xảy ra trên đất nước Việt Nam ?

Những người mang sứ mệnh Ngôn Sứ trên vai đã làm gì trước cảnh hàng trăm, hàng ngàn đồng bào bị chính quyền cưỡng bức, đánh đập, xua đuổi ra khỏi mái nhà, khu đất mà tổ tiên họ bao đời vun xới để “thu hồi” đất bán cho những doanh nghiệp với giá gấp trăm, gấp ngàn lần số tiền rẻ mạt họ trả cho những khổ chủ tội nghiệp kia. Số tiền lời thì quan chức chính quyên chia nhau bỏ túi! Thật, những người dẫn dắt giáo hội đã không có tiếng nói nào cả, thậm chí khi chính những tín hữu cô đơn, đau khổ kia chạy đến cùng chủ chăn của mình để kêu cầu (trường hợp Cồn Dầu), thì nhận được câu trả lời lạnh lùng, vô cảm, Vô Tri: “rất tiếc, tôi không làm được gì cả… ”, và bỏ mặc đàn chiên của mình trước đàn sói dữ. Những giáo dân khốn khổ kia chưa bỏ cuộc, họ tiếp tục kêu cầu đến những cấp cao hơn: Hội Đồng Giám Mục, Uỷ Ban Công Lý và Hòa Bình của Hội Đồng Giám Mục. Tiếng kêu của họ nhờ những phương tiện truyền thông đã vang đi khắp nơi trên thế giới. Lần này, người ta cảm thấy được an ủi cộng thêm một chút vui mừng (?) khi thấy lá thư của Giám Mục Nguyễn Thái Hợp chủ tịch Uỷ Ban Công Lý và Hòa Bình gởi cho chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng. Nhưng rồi sau khi lá thư được công bố thì những người dân vô tội kia vẫn bị đưa ra tòa, bị xử án, không có một dấu hiệu nào cho thấy nhà của họ, đất của họ sẽ khỏi bị chính quyền cướp mất, thậm chí họ còn tiếp tục chịu những đe dọa, khủng bố của nhà cầm quyền. Đến nay người ta chưa thấy một tiếng nói khác từ phía giáo quyền, mà chỉ thấy hình ảnh “hữu nghị thắm thiết” giữa giám mục của họ với ông xếp của lũ cướp ngày kia. Nếu sự “can thiệp” của hội đồng giám mục ngưng lại ở đó thì có lẽ không quá đáng khi bảo các ngài đã “đánh trống bỏ dùi”. Trong việc này, có thể một trong 2 trường hợp sau đây đã xảy ra: Trường hợp 1: Hội Đồng Giám Mục thực lòng muốn can thiệp nhưng chính quyền không đếm xỉa đến, cứ tiếp tục hành vi cướp đất của dân. Điều này chứng tỏ họ không xem Hội Đồng Giám Mục là đối tác để đối thoại, và Hội Đồng Giám Mục cũng im lặng, mặc nhiên chấp nhận cách cư xử bất công (và bất nhân) này. Trường hợp thứ 2 là thấy dư luận (trong cũng như ngoài nước) “bức xúc” quá nên các ngài cho tung ra một lá thư để cho dư luận xì xú bắp, rồi thôi. Trong cả 2 trường hợp, các vị chăn dắt Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đã không làm tròn vai trò của những chủ chăn đối với đoàn chiên, tự chối bỏ vai trò làm chứng và bênh vực cho lẽ phải.

Vào cuối tháng 11-2010 đại hội Dân Chúa, được Hội Đồng giám mục cho là một biến cố trọng đại của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, vừa qua đi với lễ nghi long trọng và những bài tham luận không lấy gì làm đặc biệt, đề cập đến những vấn đề chung chung, vô tội vạ, ai cũng thấy, trong khi những điều tối quan trọng lại cố tình tránh né, lãng quên. Những vấn đề “nóng” như: sự băng hoại tột cùng nền đạo đức; niềm tin của giáo dân vào những vị đại diện Thiên Chúa bị tổn thương trầm trọng; sự can thiệp thô bạo của thế quyền vô thần vào nội bộ các tôn giáo (nói chung) và Công giáo (nói riêng); những bất công, áp bức tràn lan khắp nơi mà nạn nhân chính là những con người bé nhỏ, cô đơn mà giáo hội có bổn phận phải bênh vực; phụ nữ, trẻ gái, công nhân Việt Nam bị buôn bán như những món hàng ….không hề được nêu lên trong đại hội “hoành tráng” ấy.

Đại hội dân Chúa vừa được tổ chức có rất nhiều điểm giống với cách tổ chức của những cuộc đại hội đảng: những cuộc vận động, tuyển chọn đại biểu, những thành phần “không nên cho tham dự” bị loại ra bằng cách này hay cách khác… Cho dù vị giám mục đại diện hội đồng giám mục giải thích như thế nào, cũng không thuyết phục được người tín hữu về việc dòng Chúa Cứu Thế, một hội dòng bề thế, hiện diện ở Việt Nam hàng thế kỷ nay, đã đóng góp rất nhiều cho công việc quảng bá Tin Mừng, đã đồng hành với Giáo Hội Việt Nam qua nhiều thăng trầm lại không có đại diện trong đại hội này. Điều đáng chú ý là dòng Chúa Cứu Thế không được đảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam dành cho nhiều thiện cảm (nếu không muốn nói là căm ghét, muốn khai trừ) chỉ vì các cha dòng Chúa Cứu Thế không chấp nhận cúi đầu chấp nhận cái ác, không chịu im lặng trước bất công.

Nhân đề cập đến dòng Chúa Cứu Thế, xin được mở một dấu ngoặc nhỏ : Giáo dân Việt Nam ai cũng thấy sự khác thường và vô lý khi dòng Chúa Cứu Thế ở Sài Gòn muốn phong chức cho các cha, các thầy lại phải lên tận vùng Cao Nguyên mời Giám Mục Micae Hoàng Đức Oanh “xuống núi” để truyền chức khi mà ngay tại Sài Gòn có một hồng y và một giám mục, xa hơn thì Xuân Lộc, Bà Rịa, Phan Thiết , Mỹ Tho... nơi nào cũng có giám mục. Tại sao đi đến tận Kon Tum mời một vị chủ tế? Và không phải ngẫu nhiên khi vị chủ chăn đáng kính này cũng là một đối tượng “được” nhà nước đặc biệt chú ý vì sự khẳng khái của ngài. Chẳng lẽ không được lòng nhà nước vô thần cũng có nghĩa là không được lòng giáo quyền ? có khi nhà nước chưa khai trừ thì giáo quyền đã khai trừ trước. Người giáo dân Việt Nam không dám tin điều này, nhưng trước những sự kiện hiển nhiên như vậy, xin những người có trách nhiệm hãy lý giải làm sao cho thuyết phục. Cách nay một vài năm, chú tôi, một linh mục cai quản một giáo xứ ở địa phận Xuân Lộc, đã bị giám mục địa phận cách chức, cho về ngồi chơi xơi nước dù chưa đến tuổi nghỉ hưu chỉ vì ông dám lên tiếng phản đối nhà nước lấn chiếm đất của giáo xứ ông cai quản. Trên đất nước Việt Nam còn bao nhiêu vị linh mục bị “kỷ luật” ví dám phản đối hành động cướp ngày của nhà nước như chú tôi ?

Hôm trước, đọc bài Trung Quốc: Giáo hội tự trị – Việt Nam: Tôn giáo lễ hội của cha pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh thấy ngài phân tích thật đúng, tôi cảm phục những tiếng nói can đảm (và cô đơn) như vậy của cha Tỉnh, cha Đỗ Xuân Quế và một số hiếm hoi những vị chủ chăn “uy vũ bất năng khuất”. May mà giáo hội Việt Nam hôm nay còn có các ngài. Dù biết có thể sẽ phải trả giá bởi những cách trả thù hèn hạ của chính quyền, có khi phải trả bằng cả chính mạng sống của mình nhưng các ngài vẫn can đảm cất tiếng. Sống với Cộng Sản lâu ngày, các vị có trách nhiệm trong giáo hội của mình cũng bị ảnh hưởng cái bệnh “hoành tráng về hình thức, đại khái về nội dung”, nặng phần phô trương bề mặt hơn là đi vào chiều sâu của tâm linh qua các lễ hội đình đám ở các giáo xứ, giáo phận. Tôi không vơ đũa cả nắm, vì không phải tất cả các linh muc, giám mục đều như vậy, nhưng phải đau lòng nhìn nhận rằng hiện tượng phô trương ngày càng phổ biến trong giáo hội Việt Nam. Thông thường, các Giám Mục, Linh Mục cử hành lễ kỷ niệm vào những dịp ngân khánh (25 năm), kim khánh (50 năm) ngày chịu chức. Ngày nay, nhiều vị tổ chức kỷ niệm hàng năm, rất “hoành tráng”, để phô trương thanh thế, để tiêu tiền hơn là để cảm tạ hồng ân về đoạn đường đã đi qua và cầu xin ân sủng trên bước đường sắp tới.

Vài ngày nữa đây, sẽ là lễ bế mạc Năm Thánh kỷ niệm 350 năm thiết lập Giáo Hội tại Việt Nam, kỷ niệm 50 thiết lập hàng Giáo phẩm Việt Nam, có mời đại diện nhà nước Việt Nam, nghe nói là chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết. Đã đến tham dự, lẽ nào lại không lên đọc diễn văn, thế là người Cộng Sản vô thần lại được dịp dùng chính diễn đàn của đại hội để hô khẩu hiệu, để dạy dỗ hàng giáo phẩm và giáo dân Việt Nam. Nghĩ tới việc đó, ai còn có lòng yêu mến giáo hội không khỏi ngán ngẩm, cay đắng và đau lòng .

Sự kiện gần đây ở giáo hội bên Trung Quốc là gáo nước lạnh dội và niềm hy vọng của những ai còn mơ hồ về “thiện chí đối thoại” những người Cộng Sản vô thần : Giáo Hội Công Giáo Hoàn Vũ, đứng đầu là Đức Giáo Hoàng Biển Đức 16 đã tỏ thiện chí muốn bắt tay với chính quyền Trung Cộng bằng những nhượng bộ quan trọng: công nhận một số giám mục, linh mục của giáo hội do nhà nước thành lập, đồng ý cho chính quyền Cộng Sản được có ý kiến trong việc lựa chọn giám mục. Thế nhưng Cộng Sản đã trở mặt: chính quyền Trung Cộng mới đây ngang nhiên phong chức giám mục không cần sự đồng ý của tòa thánh Vatican, cưỡng bách các giám mục hiệp thông với Vatican phải tham dự lễ tấn phong. Họ vừa cho mở đại hội giáo dân, đại diện chính quyền đến dự đại hội đã công khai công kích Vatican. Đại hội này đã bầu một giám mục quốc doanh làm chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Trung Quốc…. Đến nỗi Đức Giáo Hoàng , người chủ trương đưa bàn tay ra hòa giải với những người Cộng Sản vô thần, dù không muốn, đã phải công khai, mạnh mẽ lên tiếng chỉ trích Bắc kinh xâm phạm trắng trợn tự do tôn giáo của người dân. Thêm một chứng cứ về sự trở mặt của Cộng Sản.

Tại sao các vị lãnh đạo giáo hội Việt Nam cứ phải đặt vấn đề “đối thoại” với “đối đầu” trong tương quan với nhà nước? Tại sao không thể cư xử với nhau bằng mối tương quan giữa những con người trưởng thành : tôi luôn luôn cố gắng đến với anh với lòng tử tế, cư xử với anh bằng tình người và anh cũng hãy cư xử với tôi trong tinh thần ấy. Nếu anh có gì sai thì tôi có quyền nói là nó sai, anh không được cưỡng bách tôi phải làm ngược với lương tâm của tôi. Nói như vậy với nhà nước có phải là “làm chính trị” không? hay là cứ phải “tốt đạo đẹp đời” mới được? và “tốt đạo đẹp đời” theo lối giải thích của Cộng Sản là gì nếu không phải là ngoan ngoãn cúi đầu “chấp hành” mọi sự áp đặt của nhà nước?

Hãy nhìn thẳng vào hiện tình của Giáo Hội Việt Nam hôm nay để thấy rằng giáo hội Công Giáo Việt Nam đang đứng trước những cơn song dữ. Bàn tay thuồng luồng của Cộng Sản vô thần ngày càng luồn sâu vào những hoạt động của giáo hội không khỏi làm cho những giáo dân, giáo sĩ yêu mến giáo hội lo âu. Nhưng người Công Giáo không được quyền đánh mất niềm tin. Bước qua năm 2011 chúng ta cùng thành tâm cầu nguyện cho giáo hội mẹ được thổi vào luồng sinh khí mới, luồng sinh khí của Chúa Thánh Linh. Giáo hội chính là Nhiệm thể của chúa Kitô, chúng ta xác tín rằng Ngài không để giáo hội mà Ngài đã tạo dựng bằng chính máu của mình bị dẫn dắt vào con đường lầm lạc bởi những người đã và đang thỏa hiệp với loài quỷ dữ. Xin cùng nhau nguyện cầu cho những ai đang lầm lạc được sớm thức tỉnh để quay về như đứa con hoang đàng trong Kinh Thánh, nguyện cầu cho họ đừng quên rằng người Cha nhân từ luôn ngóng đợi từng giờ, từng phút để được ôm đứa con yêu dấu vào lòng và nói với nó lời thứ tha khi nó thành tâm quay về …

Ngày cuối cùng của năm 2010 đầy biến động.

Kim Nguyên
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Tham nhũng ở Việt Nam: Thế hệ 3.0 và 4.0!

Phan Châu Thành
Tham nhũng thời nào và xã hội nào cũng có. Nó chỉ thể hiện và bị nhận diện để ngăn chặn theo cách khác nhau, do đặc thù và trình độ văn hóa, kinh tế của mỗi xã hội. Nó luôn biến đổi cùng với mức sống vật chất và phi vật chất (văn hóa, tinh thần và pháp lý) của xã hội đó.

Ở Việt Nam, giai đoạn từ 1945 đến 1975, tham nhũng đã có nhưng không quá nhiều và ở dạng còn sơ khai, là dạng lạm dụng quyền lực thô sơ, do động lực trực tiếp là THAM vật chất, và không cần phải nhũng để có được cái mình muốn. Ðây là tham nhũng thế hệ 1.0, chỉ với quyền hạn, chức vụ và lòng tham là những kẻ tham nhũng thế hệ đầu này có thể trực tiếp CHIẾM ngay được những gì mình muốn. Ðối tượng trực tiếp của thế hệ tham nhũng này là vật chất hay “quan hệ vật chất” (ép hủ hóa với người khác). Hiện tượng tham nhũng thế hệ 1.0 thường đơn lẻ, không có tổ chức, không có hệ thống.

Công cụ chống tham nhũng thế hệ 1.0 lúc đó rất hùng hậu là đạo đức xã hội và tấm gương của lãnh tụ, cùng sự nghiêm minh của hệ thống kỷ luật tuy thô sơ. Nhưng phải nói hệ thống pháp luật, công cụ, phương pháp và lực lượng chống tham nhũng của Thế hệ 1.0 đã hoàn thành khá xuất sắc 1/2 nhiệm vụ: chống tham nhũng vật chất. Còn 1/2 tham nhũng vì tham dục thì không bị chống vì đó không phải... tài sản chung XHCN. Nhưng theo những gì còn lưu truyền lại đến nay thì... trong suốt 30 năm đó rất - rất nhiều những chị Dậu đã tiếp tục bị các quan tham dục ức hiếp bằng quyền lực mà không có pháp luật che chở hay Ngô Tất Tố nào đứng ra bênh vực (các anh Dậu đều bị ốm, im lặng và không biết gì)... Cái “đạo đức” chống tham nhũng một nửa và bỏ qua chính đạo đức gốc suốt 30 năm đó đã lòi sang... văn hóa tham nhũng ở giai đoạn sau, đến tận hôm nay.

Sang giai đoạn 1976-1999, tức là từ sau giải phóng đất nước, tham nhũng phát triển tràn lan và sang cấp độ mới: 2.0, với các hình thức công khai nhũng nhiễu (từ quan chức) để đổi lấy vật chất (tài sản hối lộ) hay quan hệ từ người bị nhũng nhiễu. Người dân bị nhũng nhiễu ở mọi cơ quan và buộc phải “mua” công việc, chức vụ, quyền lợi mà họ nhiều khi chính đáng được hưởng. Hoạt động tham nhũng đặc thù thế hệ 2.0 là TRAO ÐỔI BẮT BUỘC dù một bên không muốn. Văn hóa tham nhũng thế hệ này được công khai chấp nhận và gọi là văn hóa “CHẠY CHỌT,” “chạy” tất cả mọi thứ: quan hệ, bằng cấp, chức tước, đặc quyền và tất nhiên quyền sở hữu đất đai và tài sản công. Ðối tượng trực tiếp của tham nhũng thế hệ 2.0 thường là những quyền, lợi và giá trị không phải là vật chất nhưng có thể dễ dàng đổi ra tiền, tài sản, vật chất... Công cụ và lực lượng chống tham nhũng thế hệ 2.0 đều tham gia tham nhũng công khai. Việc chống tham nhũng chỉ làm vì, chiếu lệ, theo kỳ đại hội... và không hề có kết quả vì pháp luật chống tham nhũng vẫn lạc hậu, chỉ qui những hoạt động làm thiệt hại vật chất trực tiếp mới là tham nhũng... Ðây là giai đoạn phát triển cực thịnh và tồi tệ, ghê tởm nhất của văn hóa tham nhũng và “chống” tham nhũng xứ ta, suốt khoảng trên 25 năm: tham nhũng là bình thường!

Tham nhũng thế hệ 2.0 ở ta đến nay vẫn còn nhiều và khá tinh vi hơn trước kia, nhưng chỉ còn bị coi là tham nhũng vặt...

Từ khoảng 2000 đến nay những kẻ có điều kiện để tham nhũng - có chức có quyền - đều giàu có hơn nhiều, không tham nhũng vặt nữa. Tham nhũng do vậy đã phát triển qui mô hơn, thành các tổ chức, đường dây dọc ngang các tổ chức xã hội và các ngành kinh tế, tôi gọi là tham nhũng thế hệ 3.0! để nhắm tới những “quả” rất lớn. Ðể làm việc đó những kẻ tham nhũng thế hệ 3.0 phải bày binh bố trận rất công phu và khá lâu từ trước khi hành động để chiếm các lợi thế “canh tranh,” chiếm những quyền lợi và giá trị phi vật chất, tài sản vô hình của cơ quan, công ty nhà nước như: quyền thương hiệu, quyền kinh doanh với công ty, quyền đại diện; quyền sở hữu một phân công ty (qua cổ phần hóa “bèo”); chiếm các tài sản vô hình như thương hiệu, quyền đại diện, thị trường và thị phần của công ty; chiếm quyền tiếp cận sớm các thông tin kinh doanh, đầu tư, nhân sự, chính sánh, tài chính...; quyền cài người của mình vào các vị trí chủ chốt từ trên xuống dưới...; quyền chọn các đối tác làm ăn với công ty không qua các tiêu chuẩn minh bạch (công ty sân sau), quyền đấu thầu...

Ðộng từ chủ đạo của hoạt động tham nhũng thế hệ 3.0 là THIẾT KẾ và BỐ TRÍ, XÂY DỰNG và ÐẦU TƯ, có nghĩa là đằng sau mỗi đường dây và hệ thống tham nhũng đều có một vài ông trùm chủ chốt ở các vị trí quyền hành rất cao, chót vót... và các bộ óc sáng láng. Họ có thể kiểm soát mọi khía cạnh của hoạt động tham nhũng của mình một cách rất tinh vi, thường ở cấp độ và trình độ cao hơn, nhanh hơn những người có trách nhiệm chống tham nhũng rất nhiều. Về pháp lý mà nói, không cơ quan nào có thể có cơ sở mà bắt bẻ tính hợp pháp của một phi vụ của một đường dây tham nhũng thế hệ 3.0, trừ... một đường dây tham nhũng khác đanh cạnh tranh tồn tại trên cùng một “ngư trường đánh bắt” hay “nông trường bò sữa” là các dự án lớn và các tập đoàn nhà nước.

Nói tóm lại, tham nhũng thế hệ 3.0 bắt đầu bằng những việc “vô hại” hay “có ích” là chiếm các giá trị vô hình, phi vật chất, giá trị tri thức, thông tin, kiến thức, quyền sở hữu các giá trị phi vật chất... của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước cho các công ty “sân sau” và “người nhà,” rồi sau đó “đàng hoàng” và “hợp pháp” dùng các lợi thế đó để thắng thầu công khai, rồi thông qua các hợp đồng đầu tư, hợp tác cũng rất “công khai minh bạch” chuyển những khối tài sản khổng lồ của nhà nước sang các đối tác và các nhà thầu sân sau, chiến hữu, sau đó chia nhau tài sản tuồn ra và giải thể hay “mua lại” các công ty sân sau đó, tùy tình hình cụ thể... . Tại sao họ có thể làm vậy? Vì đó là những giá trị rất lớn mà các tập đoàn, công ty nhà nước không hề “phải” quản lý và có thể phân phát cho không, nhưng ai chiếm được và đã sẵn sàng để có thể dễ dàng biến chúng thành những khối tiền không lồ, “sạch sẽ.” Có nghĩa là họ đã rửa xong đồng tiền “bẩn” trước khi tham nhũng ra những đồng tiền đó. Và đó là không còn là những nhóm người nữa, mà là những tập đoàn tham nhũng “siêu quốc gia”...

Vì thế, các cơ quan chống tham nhũng hiện nay với luật pháp và lực lượng chống tham nhũng của thế hệ 1.0 hay 2.0 không thể “sờ” tới thế hệ 3.0 được (vì họ chỉ nhận và chia nhau tiền từ các đối tác xa lắc xa lơ ở các thời điểm khác xa hoàn toàn mà khó ai có thể có điều kiện và có đủ dũng cảm để lần ra manh mối).

Thế còn tham nhũng thế hệ 4.0? Vâng, chừng 5 năm gần đây xã hội ta cũng đã có những vụ tham nhũng trình độ cao hơn nữa đó. Ðó là những tham nhũng nhằm thông đồng và can thiệp vào hệ thống làm ra chính sách, qui hoạch, luật lệ, qui định... từ cấp tỉnh đến trung ương, nhằm mang lợi ích không công bằng cho một nhóm nhỏ đã được chuẩn bị từ trước. Ðó cũng là những tham nhũng để tạo ra dư luận xã hội qua các cơ quan thông tấn tham nhũng nhằm có lợi cho một nhóm nào đó. Tham nhũng thế hệ 4.0 của ta sẽ còn nở rộ và làm đau đầu dài lâu cả các chính phủ trong sạch nhất sau này (nếu có!).

Tham nhũng thế hệ 3.0 và 4.0 hiện nay hầu như chưa được đưa ra xét xử vụ nào ở xứ ta, vì làm sao xét và xử tham nhũng trình độ 3.0 hay 4.0 bằng luật chống tham nhũng Thế hệ 1.0 hay 2.0? Vì thế theo luật thì “nước ta làm gì có tham nhũng!” Vụ PM 18 hay Ðại lộ Ðông Tây là dạng 2.0 còn khá thô thiển. Muốn chống tham nhũng thế hệ 3.0 và 4.0 vốn đang cùng tồn tại hiện nay ở ta rất đơn giản, nhưng CP không dám làm, muốn làm: chỉ cần học theo các bộ luật chống tham nhũng của các nước phát triển như Canada, Thụy Ðiển, Sing., Phần Lan..., bắt đầu từ minh bạch và kê khai tài sản quan chức... (Ối, thôi!)

Tham nhũng để gây ảnh hưởng lên, hay dựng lên những kẻ siêu tham nhũng - những người ở vị trí cao nhất trong xã hội có thể viết ra chính sách “phù tham nhũng,” là tham nhũng cấp cao nhất, thế hệ 5.0, ở ta có không? Tôi đành để câu hỏi “Lã Bất Vi” này cho thời gian trả lời thôi.

Tham nhũng chỉ có thể được ngăn chặn hữu hiệu bởi hệ thống chống tham nhũng thuộc thế hệ tương đương hoặc cao hơn. VN hiện nay tham nhũng hoành hành ở đủ mọi cấp độ cùng lúc, từ 1.0 đến 5.0 trong khi hệ thống pháp lý và nhân lực chống tham nhũng chỉ ở cấp độ 1.0 và 2.0... Ðó là chưa kể đến tinh thần chống tham nhũng hiện nay: gần như bằng không - Zero.

Nếu ở giai đoạn 30 năm đầu lực lượng chống tham nhũng của VN rất mạnh nhưng cực tả, cực đoan, nhiều khi không cần dựa trên luật pháp, thì đến giai đoạn sau cả xã hội lại hầu như đầu hàng tham nhũng, chuyển sang thái cực ngược lại: cực loạn. Ðến giai đoạn sau nữa thì sợ và tránh né tham nhũng, muốn ngăn chặn cũng bất lực hoàn toàn trước tham nhũng thế hệ 3.0. Với tham nhũng 4.0 thì xã hội hầu như không có khái niệm và thông tin để mà chống đỡ, nếu ai đó nhận thấy thì liền phải phủ nhận nó, nếu không thì nguy hiểm cận kề...

Những đường dây tham nhũng thế hệ 3.0 có rất nhiều trong mọi tập đoàn, tổng công ty nhà nước, còn loại 4.0 thì đang tồn tại như dạng “độc quyền” của những tầng lớp chóp bu và “thượng lưu” mà thôi. Khi tham nhũng 3.0 và 4.0 đã cùng nhau hoạt động thì hầu như chẳng luật pháp nào động đến được.

Một ví dụ cụ thể là số tiền trên 86,000 tỷ đồng VNS vay rồi làm bốc hơi hết cũng là thông qua hệ thống và mạng lưới tham nhũng khổng lồ (gồm vài trăm công ty con) thế hệ 3.0 này. Luật pháp và lực lượng chống tham nhũng hiện nay (hạng 1.5!) chỉ có hy vọng “đánh đu” giữa các tập đoàn tham nhũng 3.0 hay 4.0 khi chúng cạnh tranh loại bỏ nhau, để lập công mà thôi. Nếu các tập đoàn tham nhũng thế hệ 3.0 và 4.0 đoàn kết với nhau (thỏa thuận ăn chia “ghế” xong), và thường là thế, thì xã hội ta “yên ổn” và “trong sạch” hoàn toàn, “chẳng có tham nhũng gì sất!” chỉ có dân Việt ta, nước Việt ta là ngày càng mạt vận mà thôi.

Thực tế VN hiện nay là tham nhũng tràn lan mà chẳng thấy tham nhũng đâu cả (?)là vì như vậy đó: những kẻ tham nhũng thế hệ 3.0 và 4.0 lại là người được “tin cậy” giao “nhiệm vụ cao cả” là chống tham nhũng, nên họ chỉ tìm diệt tham nhũng thế hệ 1.0 và 2.0 “tượng trưng,” rồi lại phải nuôi cho “tham nhũng vặt” 1.0 và 2.0 sinh sôi đàn đống để mà có thể diệt nó, như Càn Long nuôi một lũ heo Hòa Thân, lâu lâu đem thịt vài “con,” vừa có của ăn vừa có công với thiên hạ... và cả có nơi đổ tội làm nghèo đất nước nữa chứ - cho những con heo con Hòa Thân tham nhũng thô thiển thế hệ 1.0+2.0 (chết là đáng lắm các con ơi!)

Vậy, tham nhũng ở VN có thể ngăn chặn được không?

Câu trả lời cũng đã rõ: Chỉ là người ta - Chính Phủ - có thực sự muốn ngăn chặn hay không? Với những gì Chính Phủ đã và đang trình diễn mấy chục năm nay (từ 1969?) thì là: không. KHÔNG.

Ai có thể ngăn chặn bản chất của chính mình?
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Bộ mặt mới của phi-nhân-quyền

Trần Thanh Hiệp
Trải qua một tiến trình bốn bước, đột xuất, hình thành, phát triển và thành tựu kéo dài hàng ngàn năm, nhân quyền ngày nay đã trở thành một dạng thức phổ biến của đời sống văn minh của nhân loại.

Do đó, nhân quyền hiện là một trong những giá trị cơ bản của tư tưởng chính trị thế giới và là những nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt các chế độ chính trị trên hoàn cầu không thể không qui chiếu, nếu muốn được nhìn nhận như đã vượt qua trạng thái dã man.

Nhân quyền đã và đang bắt đầu đi vào di sản truyền thống văn hóa chính trị của nhân loại, bước đi không thể đảo ngược mở đường cho tương lai, tiến bộ.

Tuy vậy, xưa kia đã có và bây giờ cũng vẫn có, một thiểu số quốc gia trắng trợn coi rẻ, thậm chí còn khinh miệt quyền sống con người, quyền sống người dân, đến mức độ không ngần ngại chối bỏ và chà đạp lên nhân quyền, dân quyền. Trong số những quốc gia này, đứng đầu là Trung Quốc, nước đầu sỏ đã gây hàng loạt tội ác xâm phạm nhân quyền thường trực, có hệ thống, trên qui mô cả nước. Tai họa không thể coi thường, Trung Quốc còn có cơ cung cấp cho nhân loại một nguyên mẫu đầu tiên về siêu cường phi-nhân-quyền toàn cầu.

Nước Việt Nam kể từ nửa thế kỷ trước bị bất hạnh bị đặt dưới quyền thống trị của tập đoàn cầm quyền cộng sản bản địa, đã sớm thành một không gian phi-nhân-quyền. Ðược đảng Cộng Sản Trung Quốc, một trong những bà mụ cho ra chào đời, đảng Cộng Sản Việt Nam đã mang trong nó dòng máu phi-nhân-quyền từ khi còn ở giai đoạn trứng nước. Nó lại còn được đảng Cộng Sản Trung Quốc liên tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục từ đầu thập 1990 đến nay. Nên nó đã đưa dẫn cả nước vào con đường vong thân tập thể, từ vật chất đến tinh thần. Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chỉ là đứa con hoang của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc và là một bản sao mờ nhạt của bản chính phi-nhân-quyền Trung Quốc. Do liên hệ huyết thống và dinh dưỡng từ phía Trung Quốc thông qua tập đoàn cầm quyền Cộng Sản Hà Nội, dân tộc Việt Nam đang phải gánh tai họa phi-nhân-quyền với tất cả những hậu quả khốc liệt của nó.


Phải làm gì để tránh được tai họa ấy?


Một hội nghị do tổ chức UNESCO của Liên Hiệp Quốc triệu tập tại Montréal năm 1993, để bàn về giáo dục và nhân quyền, đã tiên liệu rằng việc tăng cường và củng cố tính phổ quát của nhân quyền và giúp nó hội nhập vào các truyền thống văn hóa là một thử thách gay go của thời đại. Vào thời điểm này thì Trung Quốc chưa lộ diện là một đe dọa cho nhân quyền trong nước cũng như trên thế giới. Nhưng nay thì mối nguy này càng ngày càng hiện rõ. Hai chỉ dấu mới nhất đã minh chứng điều này. Ðó là cách ứng xử của Trung Quốc, ra mặt độc tài phản tiến hóa trong một thế giới có thể nói trên đại thể đã trở thành dân chủ tự do, cùng với những tham vọng không che dấu về đất đai của Bắc Kinh trong vùng biển Ðông.


Vì sao Trung Quốc đã là một đe dọa cho nhân quyền?


Sau Ðệ Nhị Thế Chiến người ta tưởng rằng với sự chiến thắng của Ðồng Minh, họa phát xít đã bị tuyệt diệt. Và cũng không mấy ai nghĩ rằng phát xít lại có cơ hội để tái sinh. Nhưng đó lại là những gì đang xảy ra với hạt nhân Trung Quốc. Và riêng trường hợp Việt Nam, với tập đoàn cầm quyền Cộng Sản Hà Nội.

Tất nhiên, đảng Cộng Sản Trung Quốc đã không xử sự như đảng Phát xít Ý hay đảng Quốc Xã Ðức sống lại. Nhưng nó cũng không còn là một đảng cộng sản thuần túy vô sản thời Mao Trạch Ðông mà là một đảng Tân Phát xít, từ sau Ðặng Tiểu Bình và dưới thời Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Ðào... Tân Phát xít vì trong thực chất nó mang đủ những đặc tính (có thể nói những “thuộc tính”) của một đảng phát xít nguyên thủy: Ðộc tài toàn trị, lãnh tụ chế, đảng giữ độc quyền cai trị về chính trị cũng như kinh tế, chỉ cho nhà nước đóng vai công cụ làm bình phong cho đảng, khai thác tinh thần quốc gia, lòng yêu nước quá khích công an trị tận diệt đối lập để gây chiến, trên bình diện ngoại giao bất chấp tục lệ cũng như luật pháp thực định quốc tế, không từ bỏ một thủ đoạn nào, kể cả vũ lực, để thỏa mãn tham vọng đất đai... Ðó là cách ứng xử phi pháp và ngang ngược của Trung Quốc trong vùng biển Ðông Nam Á.

Nước Việt Nam Cộng Sản không có được nguồn sức mạnh nhân xã, quân sự, kinh tế, tài chánh, ngoại giao của Trung Quốc nên không có điều kiện để tự cải biến thành một nước tân phát xít. Ðúng hơn, nó chỉ có khả năng của một nước phát xít tàn dư, nhờ có những cơ cấu tổ chức cộng sản, đồng dạng với phát xít và nhất là được tân phát xít Bắc Kinh hà hơi tiếp sức và Tư bản Mỹ đối xử đặc biệt kiếm chỗ dựa ngoại giao. Do đó nhà nước cộng sản hiện nay ở Việt Nam đã chỉ phô bày, về mặt lý thuyết, đặc tính của một chế độ ”Phát xít pha chế” dưới vỏ bọc đối ngoại “pháp trị” và “tự do dân chủ hạn chế”. Nhưng đối nội thì là một chế độ “phát xít thả nổi”, trung ương bao che cho địa phương toàn quyền cai trị không kỷ cương, không pháp luật, tự do cướp của giết người. Bên cạnh một thiểu số được thừa hưởng đủ thư đặc quyền đặc lợi nhờ bám víu vào đảng cầm quyền là một đại khối nhân dân, đói khổ lầm than, rên siết dưới gọng cùm của áp bức bản địa.

Ðó là sự thật phũ phàng của hiện trạng nhân quyền ở Việt Nam. Ðó là những thử thách gay go mà gần hai thập niên trước Liên Hiệp Quốc đã tiên liệu.

Người dân Việt Nam một cổ hai tròng, Tân phát xít Trung Quốc và Phát xít pha chế Việt Nam. Phải chăng lịch sử chỉ là một sự tái diễn với ít nhiều đổi khác của quá khứ?

Bất cứ một người Việt Nam nào trong cơn lốc của thời đại hiện nay cũng phải tự đạt cho mình nghi vấn này.

Người ta có cảm tưởng như đang sống lại những năm tháng của nữ phần sau của thế kỷ trước. Giữa thập niên 1940, bài hát Diệt Phát Xít của Nguyễn Ðình Thi đã vang lên như tiếng kèn ra quân đầy quyến rũ.


Việt Nam bao năm dòng rên siết lầm than

Dưới ách quân tham tàn đế quốc sài lang

Diệt phát xít, giết bầy chó đê hèn của chúng

Tiến lên nền dân chủ Cộng hòa

Ðồng bào tuốt gươm vùng lên...


Bài hát này đã vẫn còn giữ được tính thời sự. Nhưng tiếc thay họa phát xít lúc này không còn là họa do đế quốc mà là do chính người bản địa đã gây nên và còn đang đe dọa sự sống còn của mỗi người dân cũng như của cả dân tộc.

Hơn nửa thế kỷ trước, họa phát xít đã được diệt trừ bằng cả một cuộc đại chiến thế giới, trước sự bất lực của những người Việt Nam. Họa phát xít trước mắt hiện nay sẽ được giải trừ như thế nào?

Liệu lần này người Việt Nam có góp sức được gì cho sự chiến thắng của Tự do Dân chủ không? Hay rồi lại tụ mình rước lấy họa vào thân như đã ồ ạt tham gia diệt trừ phát xít năm 1945?
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 9 guests