Thời Sự, Bình Luân

dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Hiện tượng mới mà không lạ ở Việt Nam

Ðại Dương

Bối cảnh lịch sử đã hình thành hai khối người Việt quốc nội và hải ngoại với tư duy dân chủ và độc tài đối chọi nhau
mà đôi lúc cũng có hiện tượng thỏa hiệp vì quyền lợi cá nhân.

Image
Một cuộc biểu tình chống Cộng của cộng đồng Việt Nam tại New York. (Hình: Spencer Platt/Getty Images)



Do đó, công cuộc đấu tranh vì một nước Việt Nam tự do, dân chủ, phú cường ngày càng phức tạp và khó khăn, thậm chí có vẻ muốn tuột khỏi tầm tay dân tộc.

Khối người Việt hải ngoại ngày càng phình to về số lượng mà sụt giảm về phẩm chất khi công dân xã hội chủ nghĩa thâm nhập qua các đường dây buôn người, di dân chính thức hoặc bất hợp pháp, du lịch đã mang theo các tệ nạn buôn lậu, ăn cắp, lường gạt, trồng cần sa, rửa tiền. Tỉ lệ tị nạn Cộng Sản, tị nạn chính trị ngày càng giảm so với di dân kinh tế nên “tiền là tiên là phật đánh bật lý tưởng tự do.”

May ra, người Việt hải ngoại chỉ còn nửa phần hồn hướng tới tự do, dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam vì họ chẳng có trách nhiệm và bổn phận trực tiếp đối với vận mệnh dân tộc.

Vì thế, sự thay đổi tại Việt Nam nằm trong tay khối người Việt quốc nội đang bị chi phối bởi nhiều ngộ nhận lịch sử và điều kiện tư duy khuất phục cứ như bị sa vào đầm lầy.

Hai khối này trông chờ, canh chừng nhau trong ngờ vực và đều bị nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa giám sát hoặc theo dõi với từng mức độ khác nhau.

Niềm tin về biện pháp xuyên thủng bức màn sắt bằng vũ khí tin học để làm thay đổi thể chế độc tài hình như ngày càng bớt lạc quan vì hai yếu tố chính.

Thứ nhất, Internet vốn là một phương tiện trung lập không hề thiên vị với độc tài hoặc dân chủ nên lan truyền tin tức, thu thập dữ kiện từ nhiều nguồn khác nhau chưa chắc đã dẫn tới một sự thay đổi tư duy của mỗi con người.

Tình trạng nhiễu loạn thông tin khi những tài liệu về dân chủ, nhân quyền cứ chuyển đi, truyền lại lòng vòng khiến cho người nhận không còn thích thú với hộp thư điện tử đầy ắp nội dung tương tự. Chủ nhân không còn thì giờ để tìm kiếm thông tin cần thiết nên mất hết kiên nhẫn để đọc mà chỉ có bực dọc xóa bỏ.

Rất nhiều người Việt quốc nội cũng như hải ngoại miệt mài thu thập tin tức thượng vàng hạ cám rồi chuyển cho nhiều địa chỉ cùng một lúc mà không tự hỏi người nhận sẽ thích thú hay khó chịu. Thực tế, chẳng phải ai cũng có nhu cầu tri thức giống nhau và họ đã có phương tiện truy cập tương tự ắt không cần nhờ đến kẻ khác. Cách sử dụng Internet vô trách nhiệm đã tác hại không ít đến khát vọng tự do, dân chủ mà người Việt hằng ấp ủ.

Mỗi công dân mạng đều có nhu cầu phục vụ cá nhân riêng biệt tùy thị hiếu nên khó biết lĩnh vực họ thích tìm biết, học hỏi về chính trị, kinh tế, quân sự, văn học, nghệ thuật, giáo dục hoặc giải trí. Hơn nữa, chưa chắc họ đọc để gạn lọc tinh túy hữu dụng hoặc chỉ nhằm mục đích bài xích.

Vì thế, tự do thông tin như con dao hai lưỡi mà người sử dụng cần tính toán cẩn thận mới mang lại hiệu quả như mong muốn.

Thứ hai, các chế độ độc tài biết rõ không thể ngăn cản luồng thông tin trong thế giới ảo nên tìm cách gây nhiễu loạn và lèo lái công luận, theo dõi phản ứng của quần chúng.

Chế độ độc tài không chịu sự giám sát của dư luận nên có thể đổi chác tài nguyên, lợi thế thị trường để đòi các công ty đa quốc, nhà đầu tư nước ngoài phải chia sẻ kỹ thuật tin học và trợ giúp kỹ năng nhằm tạo ra mạng lưới giám sát hoạt động của công dân trong thế giới ảo. Nhờ thế, nhà nước có thể theo dõi, hạn chế thông tin từ khắp nơi Việt Nam.

Tài liệu luân chuyển trong thế giới ảo có trung thực, thật hay giả quả khó lường vì có thể sử dụng nhiều bút hiệu, tên giả sẽ khiến cho “cộng đồng mạng” như bị rơi vào tâm bão chẳng còn phân biệt được phương hướng. Mỗi bài tiểu luận dài khoảng 5,000 chữ, rất lang bang khiến cho độc giả mệt nhừ mà chỉ tóm được toàn râu ria, kém phần bổ ích.

Nhà nước còn có thể thuê những ngòi bút hưu trí từng tham chính để đánh bóng đường lối đúng đắn của đảng Cộng Sản và phê bình đại khái các sai lầm nhỏ nhặt.

Hôm 7 tháng 10, 2010, Chủ Tịch Hội Khoa Học Kỹ Thuật Việt Nam Trần Phương đã mở cuộc hội thảo với cả tá cán bộ hưu trí từng phục vụ cho tổng bí thư, thủ tướng, hoặc cầm đầu viện nguyên cứu, hoặc cựu phó thủ tướng nhằm “Góp ý cho các Dự thảo Văn kiện Ðại hội XI của Ðảng.”

Ða số chê bai dự thảo luộm thuộm, thụt lùi so với Ðại hội X, đòi cải tổ chính trị, nới rộng dân chủ nghe rất khoa trương, nhưng, thiếu thuyết phục vì cứ như nhai lại phát biểu của giới lãnh đạo cao cấp từng được phổ biến rộng rãi mà không lọt tai dân chúng. Họ phải than “có bao giờ góp ý lọt được vào nghị quyết đâu”.

Lớp cán bộ cao cấp này khi còn tại chức, có nhiều lợi thế và môi trường để thực hiện những điều họ đòi hỏi bây giờ thì tại sao không làm? Vì sợ mất ghế hoặc vẫn chưa hiểu thấu đáo hay cố tình không phân biệt giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ tư sản?

Tại Quốc Hội, Dân Biểu Boris Yeltsin đứng lên tuyên bố từ bỏ đảng Cộng Sản Liên Xô và phủi đít ra đi trước sự sững sờ của đồng viện đã truyền tải tâm tư chán ghét chủ nghĩa cộng sản của dân chúng nên trở thành con chim đầu đàn trong công cuộc dân-chủ-hóa nước Nga mà chẳng ai lầm lẫn. Tổng bí thư Mikhail Gorbachev còng lưng cải tổ chính trị Liên Xô vẫn thất bại. Nhưng, Yeltsin rất thực tế “đảng cộng sản chỉ xóa bỏ chứ không thể cải cách”.

Ngược lại, nhiều cây bút dù với nhãn hiệu “phản kháng” hoặc “chuyên gia có lòng với dân tộc” vẫn khư khư giữ chặt chiếc vòng kim cô khi phát biểu. Những “dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng” hoặc “đảng cộng sản nên tách thành 2 đảng cấp tiến và bảo thủ để phục vụ đất nước tốt hơn” hoặc “phải dân chủ trong đảng trước”.

Tất cả mớ lý luận như thế không hề sai đường lối “đảng cộng sản lãnh đạo toàn diện xã hội”. Dĩ nhiên, chẳng còn mảnh đất nào cho dân chúng trồng cây dân chủ!

“Dân Việt Nam không muốn chiến tranh mà chỉ cần xây dựng đất nước, tránh xáo trộn làm ảnh hưởng đến phát triển kinh tế”.

Nếu Lech Walesa của Ba Lan và Vavlav Havel cũng sợ làm đất nước xáo trộn như trí thức Việt Nam thì các quốc gia Ðông Âu phải gắn thêm chiếc đuôi kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa!

Dân Việt Nam chẳng muốn chiến tranh huynh đệ tương tàn, không thích xâm lăng nước khác bằng nghĩa vụ quốc tế vô sản. Nhưng, cần quyết liệt với kẻ nội thù đang dìm dân tộc trong cảnh lạc hậu, chuyên bán tài nguyên thiên nhiên, trinh tiết phụ nữ, cho thuê sức lao động với giá bèo để lập lại niềm hãnh diện Hồng Lạc.

Vài khuôn mặt phản kháng được thổi phồng từ quốc nội cho chí hải ngoại vì những tuyên bố hùng hồn cứ như Từ Hải “gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo”, nhưng, mới bị nhà nước nháng một cái đã than “bó thân về với triều đình, hàng thần lơ láo phận mình ra sao”. Họ tự kiểm duyệt từ lời nói lẫn hành động khiến cho dư luận chỉ còn biết chép miệng “À, ra thế!”.

Bà Aung San Suu Kyi âm thầm nuốt lệ với tin người chồng đang hấp hối ở Luân Ðôn vì ra đi sợ phản bội niềm tin của người Miến Ðiện. Tấm thân tưởng như gió thổi bay của bà không hề khuất phục trước giới tướng lãnh trang bị tận răng chỉ vì dốc tâm mang lại dân chủ cho dân tộc.

Người Việt hải ngoại chỉ có nửa phần hồn hướng về Việt Nam, trong khi người Việt quốc nội cứ khư khư giữ chặt chiếc vòng kim cô do đảng cộng sản đặt lên đầu, thế thì, đến bao giờ đất nước mới được tự do, dân chủ, phú cường.

(Nguồn: Báo Tổ Quốc)
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Tổng Thống Obama chịu lùi
Ngô Nhân Dụng

Tổng Thống Barrack Obama đang được đem ra so sánh với cựu Tổng Thống George H.W. Bush, thân phụ của Tổng Thống George W. Bush (trẻ) mới đây; sau khi ông thỏa hiệp với Ðảng Cộng Hòa, kéo dài thêm 2 năm luật cắt giảm thuế cho những người lợi tức trên 250,000 Mỹ kim.

Hai mươi năm trước đây, Tổng Thống H.W. Bush (già) cũng chịu thỏa hiệp với đa số Dân Chủ trong Quốc Hội, đồng ý ký đạo luật tăng thuế những người giầu nhất nước để giảm bớt số khiếm hụt ngân sách khổng lồ thời Tổng Thống Reagan để lại. Nhưng trước đó, khi tranh cử năm 1988 ông Bush đã hứa không bao giờ tăng thuế (Lời hứa nổi tiếng của ông: “Hãy đọc môi tôi - Read My Lips” đã đi vào lịch sử).

Trong cuộc tranh cử năm 2008, ông Obama cũng nói đi nói lại là sẽ buộc những người giầu nhất nước Mỹ đóng thêm thuế, trong khi sẽ giữ mức thuế của dân trung lưu và dân nghèo thấp như cũ. Tối Thứ Hai vừa rồi, ông Obama cũng làm ngược lại lời đã hứa, chịu theo yêu cầu của các đại biểu Quốc Hội Cộng Hòa, là sẽ không tăng thuế ai hết, kể cả 2% số dân kiếm nhiều tiền nhất.

Hậu quả vụ thỏa hiệp của cựu Tổng Thống George H.W. Bush hồi 1990, chúng ta đã biết. Nhiều người trong đảng Cộng Hòa năm đó cảm thấy họ “bị phản bội.” Nhiều người bỏ rơi cụ Bush già, và 2 năm sau cụ thất cử trước đối thủ Bill Clinton. Bây giờ, đến lượt Tổng Thống Obama. Ông sẽ lãnh hậu quả như thế nào? Có giống như cụ Bush ngày xưa hay không?

Câu chuyện bắt đầu do những đạo luật cắt giảm thuế lợi tức năm 2001 và 2003 của Tổng Thống George W. Bush (trẻ). Khi đó, ngân sách Mỹ đã thặng dư, ông Bush trẻ cho cắt giảm thuế, và những người kiếm nhiều tiền nhất được cắt giảm thuế nhiều nhất. Các đạo luật đó sẽ hết hiệu lực vào ngày 31 tháng 12 năm 2010. Nếu Quốc Hội không làm gì thì chỉ ba tuần nữa thôi, kể từ ngày 1 tháng 1, 2011 tất cả dân Mỹ sẽ bị tăng thuế, trở về suất thuế trước năm 2001.

Từ hai năm qua, ông Obama và đảng Dân Chủ chủ trương giữ nguyên suất thuế của ông Bush trẻ, trừ những người làm ra 200,000 và các gia đình kiếm trên 250,000 đô la. Hạ Viện, hiện vẫn do đảng Dân Chủ chiếm đa số, đã thông qua một dự luật dựa trên ý kiến này.

Lập trường của đảng Cộng Hòa là giữ nguyên tất cả luật cũ của ông Bush. Thứ Bẩy tuần qua, các nghị sĩ Dân Chủ ở Thượng Viện đã đề nghị đem dự luật của Hạ Viện ra bàn, nhưng bị các nghị sĩ Cộng Hòa phản đối. Theo thủ tục Thượng Viện chỉ cần 41 nghị sĩ phản đối thì không dự luật nào có thể được đem ra thảo luận; mà hiện nay Cộng Hòa có 42 nghị sĩ, cộng thêm vài nghị sĩ Dân Chủ cũng đồng ý với họ. Các vị lãnh đạo Ðảng Cộng Hòa cương quyết bảo vệ lập trường đó; nếu bên Dân Chủ và ông tổng thống không chấp nhận, có thể họ sẽ không tham dự và biểu quyết một đạo luật nào khác.

Với tình trạng giằng co như vậy, mọi dự luật của Quốc Hội sẽ bị đình trệ, cho tới sang năm khi các đại biểu mới nhậm chức và đảng Cộng Hòa sẽ chiếm đa số ghế ở Hạ Viện. Mà lúc đó, công việc lập pháp chưa chắc đã thông suốt, vì Thượng Viện vẫn đo đảng Dân Chủ chiếm đa số.

Nhưng đối với đa số dân Mỹ thì không chương trình lập pháp nào quan trọng bằng việc thuế má! Nếu Quốc Hội không làm gì thì cả nước, không kể giầu nghèo, sẽ đều bị tăng thuế!

Cho nên Tổng Thống Barack Obama đã thỏa hiệp, chấp nhận ý kiến của đảng Cộng Hòa, kéo dài việc cắt thuế cho cả những người giầu, trong hai năm. Và ông bắt đầu bị các chính khách trong đảng ông chỉ trích. Năm 2008, ông Obama là người đã đoàn kết các khuynh hướng trong đảng Dân Chủ, năm nay hành động thỏa hiệp của ông chia đảng làm hai: Phe Tòa Bạch Ốc ôn hòa thỏa hiệp, và phe cấp tiến trong Quốc Hội cương quyết đối đầu.

Tại sao “chưa đánh” đã chịu thua, tại sao “đầu hàng” sớm như vậy? Các đại biểu như Anthony Weiner tiểu bang New York và Jim McDermott, tiểu bang Washington đều lên tiếng phản đối. Nghị Sĩ Sherrod Brown (Dân Chủ-Ohio) nói đáng lẽ đảng Dân Chủ nên theo chiến thuật “đánh tới cùng!” Ông giải thích: “Chúng ta muốn cắt giảm thuế cho giới trung lưu và kéo dài thêm trợ cấp cho công nhân thất nghiệp; chúng ta không chịu cắt thuế cho các triệu phú và tỷ phú; cả nước biết như vậy. Nếu chúng ta cứ giữ vững lập trường đó cho tới ngày 1 tháng 1, bên Cộng Hòa sẽ biết là họ sai lầm!” Theo chiến thuật đó, nếu bên Dân Chủ cứ cương quyết bảo vệ dự luật giảm thuế cho tất cả trừ những người giầu, và bên Cộng Hòa cứ tiếp tục ngăn không cho đem luật này bàn ở Thượng Viện nếu không cho cả người giầu được hưởng, thì cuối cùng khi cả nước bị tăng thuế, dân chúng sẽ đổ lỗi cho đảng Cộng Hòa. Nghị Sĩ Chuck Schumer, New York, có một ý kiến rất khôn: Ðồng ý nâng mức lợi tức của người giầu được giảm thuế lên một triệu đô la, thay vì 250,000 đô la, để tỏ ra bên Dân Chủ muốn nhượng bộ đảng Cộng Hòa! Như vậy sẽ có dưới 1% dân Mỹ bị ảnh hưởng! Nhưng khi đem đề tài này ra bàn cãi và bên Cộng Hòa còn tiếp tục không chịu, dân chúng Mỹ sẽ thấy các nghị sĩ Cộng Hòa chỉ lo bênh vực các tỷ phú! Nhiều đại biểu Dân Chủ tố cáo là đảng Cộng Hòa đã “bắt giữ con tin” để đòi được giảm thuế cho nhà giầu!

Nhưng cuối cùng, ông Obama không theo các ý kiến đó. Ông chịu nhượng bộ và thỏa hiệp, chịu giữ các đạo luật giảm thuế của Tổng Thống Bush thêm 2 năm nữa. Tức là đến năm 2012, trong mùa tranh cử tổng thống, cuộc đấu sẽ tái diễn! Khi đó, đảng Cộng Hòa đã kiểm soát Hạ Viện rồi, đảng Dân Chủ vẫn kiểm soát Thượng Viện, chắc chắn trận đấu lập pháp sẽ bất phân thắng bại. Mặt trận sẽ hoàn toàn là chính trị! Không ai đoán trước được vào năm 2012 hai đảng sẽ thỏa hiệp như thế nào, nhưng đây sẽ là đề tài tranh cử “nóng” nhất trong hai năm tới!

Ngày Thứ Ba, 7 tháng 12, Phó Tổng Thống Joe Biden đã tới Quốc Hội giải thích và thuyết phục với các đại biểu Dân Chủ. Cùng lúc đó, Tổng Thống Barack Obama đã trực tiếp trả lời những lời chỉ trích từ chính đảng Dân Chủ của ông.

Những lời giải thích cũng không khác lời cô Lynda Trần, phát ngôn viên của tổ chức OFA (Organizing for America), một ban vận động chính trị của Tổng Thống Obama. Cô Lynda Trần nói với nhà báo của Politico rằng: “OFA ủng hộ chương trình của tổng thống, có như vậy Quốc Hội mới có thể thông qua những dự luật như gia tăng thời hạn trợ cấp thất nghiệp, bãi bỏ việc cấm người đồng tính trong quân đội, phê chuẩn hiệp ước tài giảm vũ khí chiến lược với Nga (START), vân vân, trong khi vẫn bảo đảm là giới trung lưu vẫn được cắt giảm thuế sau ngày 1 tháng 1 tới.”

Như cô Lynda Trần giải thích, Tổng Thống Obama không đầu hàng mà chỉ thỏa hiệp với Cộng Hòa để đánh đổi; ông đòi lại những thứ khác! Các nhượng bộ từ giới lãnh đạo đảng Cộng Hòa sẽ thúc đẩy chương trình lập pháp trong những ngày cuối cùng của Quốc Hội này. Nhiều dự luật đã được đa số dân chúng và đại biểu đồng ý nhưng cần hội đủ ít nhất 60 phiếu trên Thượng Viện mới có thể thông qua, sẽ bị tắc nghẽn nếu hơn 40 nghị sĩ Cộng Hòa tiếp tục không chịu. Với thỏa hiệp của ông Obama, hiệp ước START có thể sẽ được phê chuẩn. Dự luật cho người đồng tính công khai được chấp nhận phục vụ trong quân đội, đã được ông bộ trưởng Quốc Phòng và tướng tham mưu trưởng ủng hộ sau khi nghiên cứu dư luận trong quân đội, có thể được thông qua.

Nhưng những trao đổi quan trọng nhất mà ông Obama đạt được là trong phạm vi kinh tế. Những nhượng bộ này sẽ được ghi vào trong dự luật triển hạn luật giảm thuế của Tổng Thống George W. Bush.

Món đầu tiên là trợ cấp thất nghiệp. Theo thỏa hiệp giữa Tổng Thống Obama và đảng Cộng Hòa thì những người đáng lẽ sẽ hết thời hạn lãnh trợ cấp thất nghiệp sẽ được triển hạn mặc dù đã mất việc quá 26 tuần. Hơn 2 triệu người mất việc sẽ hết trợ cấp trong mùa Giáng Sinh này, sang năm bẩy triệu người sẽ mất trợ cấp. Nay họ có thể yên tâm được trợ cấp cho đến hết năm 2011 nếu chưa tìm được việc. Ðây là một điều mà trước đây đảng Cộng Hòa cương quyết chống, vì cho là việc triển hạn sẽ khiến ngân sách khiếm hụt thêm và người ta không cố gắng đi tìm việc.

Ông Obama đạt được một trao đổi nữa là cắt giảm thuế an sinh xã hội đóng trên lương bổng cho tất cả những người đang đi làm ở Mỹ. Trước đây từ thời Tổng Thống Bush trẻ, đảng Dân Chủ vẫn đòi hỏi giảm thuế an sinh xã hội này, vì những người người đi làm, trí óc cũng như tay chân, được hưởng nhiều hơn các người giầu. Thay vì đóng 6.2% số lương vào quỹ hưu bổng xã hội, giới lao động và trung lưu sẽ chỉ phải đóng 4.2% mà thôi; trong khi phần đóng góp của các chủ nhân không thay đổi. Nhiều điều thỏa hiệp khác, cũng nằm trong chương trình của đảng Dân Chủ, nay được Cộng Hòa chấp nhận, như giảm thuế cho những gia đình đông con, giảm thuế cho sinh viên, giảm thuế 100% trên số tiền các xí nghiệp đầu tư vào máy móc, thiết bị.

Khi tính đến tác dụng kinh tế, các nhượng bộ mà ông Obama đạt được từ giới lãnh đạo đảng Cộng Hòa không khác gì một chương trình kích thích kinh tế mới, khi những món tiền khổng lồ được trao vào tay người dân. Riêng khoản giảm thuế an sinh xã hội sẽ lên tới 120 tỷ đô la trong năm tới, để các người đi làm có thêm tiền tiêu thụ! Nếu ông Obama đề nghị với Quốc Hội một chương trình “kích thích kinh tế” vài trăm tỷ Mỹ kim, chắc chắn ông sẽ bị đảng Cộng Hòa phản đối đến cùng, lấy cơ ngân sách sẽ khiếm hụt. Nay chính bên Cộng Hòa chấp thuận kế hoạch kích thích kinh tế này!

Tổng số tiền mà vụ thỏa hiệp giữa Tổng Thống Obama và đảng Cộng Hòa sẽ đưa vào tay dân Mỹ sẽ lên tới 900 tỷ đô la trong 2 năm tới. Nhưng trong số các món tiền đó, có những đồng tiền gây tác dụng kinh tế mạnh hay yếu, tùy theo người thụ hưởng có đem tiêu thụ ngay hay không. Ông Mark Zandi, trưởng nhóm nghiên cứu kinh tế của ngân hàng Moody's đã tính toán hậu quả của các đồng tiền kích thích. Một đô la trợ cấp phiếu thực phẩm sẽ tạo ra 1.74 đô la cho nền kinh tế, vì người được trợ cấp dùng mua thức ăn ngay. Một đồng tiền được lãnh nhờ triển hạn trợ cấp thất nghiệp cũng sẽ được dùng sớm, tạo ra 1.61 đô la cho nền kinh tế. Nhưng những đồng tiền giảm thuế cho giới phong lưu sẽ ảnh hưởng không đáng kể, mỗi đô la giảm thuế cho các triệu phú sẽ chỉ tạo ra thêm 32 xu (cents) cho kinh tế Mỹ, vì quý vị này thường không cầm đồng tiền ra chợ tiêu xài ngay. Do đó, cắt thuế cho nhà giầu không gây ảnh hưởng kích thích ngay trên nền kinh tế. Trong những năm ông Bill Clinton làm tổng thống, kinh tế Mỹ đã gia tăng rất mạnh, ngân sách từ khiếm hụt biến thành thặng dư. Mà hiện tượng đó diễn ra sau hai lần tăng thuế các người có lợi tức cao nhất, lần đầu do Tổng Thống George H.W. Bush (già) ký năm 1990, lần sau do ông Clinton ký năm 1993. Trong mùa Giáng Sinh năm nay, các cửa hàng bán lẻ sẽ biết ơn cuộc thỏa hiệp giữa ông tổng thống và đảng Cộng Hòa, vì rất nhiều người sẽ yên tâm đi mua sắm. Nếu vụ thỏa hiệp này được loan báo trễ vài tuần, người dân không biết sang năm mình có bị tăng thuế hay không, các cửa hàng phải ế ẩm!

Có thể coi như ông Obama đã đánh đổi, chịu giữ suất thuế nhẹ cho các người lợi tức cao nhất để đổi lại, đảng Cộng Hòa chấp nhận một kế hoạch kích thích kinh tế mới. Ông cũng có thể được lòng giới trung lưu ôn hòa nhờ chứng tỏ mình biết thỏa hiệp và không bị phe cực đoan trong đảng Dân Chủ áp đặt. Hai năm nữa, nếu kinh tế Mỹ gia tăng rõ ràng, chính ông Obama sẽ được lợi khi tái tranh cử.

Câu hỏi cuối cùng là: Liệu ông Obama sẽ phải lãnh hậu quả giống như cụ George H.W. Bush ngày xưa, chỉ làm tổng thống một nhiệm kỳ vì nuốt lời hứa hay không? Rất có thể, nhưng không chắc chắn.

Hoàn cảnh có khác nhau. Cụ Bush già trước đó vẫn bị nhiều người trong đảng Cộng Hòa chống đối, vì họ không tin cụ thực sự có khuynh hướng bảo thủ. Họ không bao giờ quên năm 1980 cụ Bush già đã gọi các chủ trương kinh tế của Tổng Thống Reagan là “Kinh tế Thầy Ðồng” (Woodoo Economics). Năm 1990 khi cụ Bush già bỏ lời hứa, tăng thuế giới thượng lưu, họ càng tin là cụ không hề bảo thủ; và cụ khó lòng bào chữa.

Năm nay, bên trong đảng Dân Chủ chưa có hiện tượng chống ông Obama mạnh như vậy. Các cuộc nghiên cứu dư luận cho thấy 80% những người tự coi là đảng Dân Chủ vẫn ủng hộ ông Obama. Nếu có một đối thủ của ông trong đảng Dân Chủ nhân cơ hội này tấn công ông để chuẩn bị tranh cử tổng thống năm 2012, lúc đó tình thế có thể khác. Hiện nay người đó chưa xuất hiện!

Trong cuộc họp báo ngày hôm qua, ông Obama đã nhấn mạnh rằng mặc dù thỏa hiệp ông vẫn tiếp tục chống việc cắt giảm thuế cho những người lợi tức cao nhất nước. Ông hứa cuộc đấu sẽ trở lại vào năm 2012. Nghe lời lẽ của ông người ta thấy như cuộc tranh cử đã bắt đầu rồi. Ông Obama giải thích: “Chính sách tốt nhất vẫn là không nên thương thuyết với những kẻ bắt cóc con tin - trừ khi con tin có thể bị hại... Trong vụ này, con tin là Nhân dân Mỹ, và tôi không muốn họ bị hại!” Chúng ta sẽ nghe những câu nói tương tự vào năm 2012!
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

GẶP LẠI BẠN CŨ

Đỗ Thái Nhiên
Lời nói đầu của Tác giả.-

Dưới đây là câu chuyện ba lần biệt ly của ba cựu học sinh Phan Châu Trinh-Đà Nẵng so chiếu với những nỗ lực đấu tranh cho dân chủ của Nguyễn Đăng Trừng và Lê Hiếu Đằng ngày nay đã nêu bật chân lý rằng: dầu trôi dạt vào nhiều môi trường chính trị khác nhau, ba chúng tôi vẫn ấp ủ trong lòng lời dạy “Chấn Dân Khí” của nhà yêu nước Phan Châu Trinh. Dân khí là khí phách làm dân. Khí phách kia không cho phép người dân quì gối cúi đầu trước cảnh đất nước bị tàn phá bởi ngoại xâm Bắc Phương với sự tán trợ của nhà đương quyền. Khí phách kia ngày đêm hối thúc toàn dân hãy đứng dậy… Và Nguyễn Đăng Trừng – Lê Hiếu Đằng đã đứng dậy… Và ba chúng tôi đã gặp lại nhau. Gặp lại ở đây không có nghĩa là Trừng và Đằng theo tôi hay ngược lại. Gặp lại ở đây chỉ có nghĩa là: Trong hiện tình của đất nước, người Việt Nam không có chọn lựa nào khác hơn là hãy cùng nhau đi chung một con đường. Con đường của khí phách làm người Việt Nam . Con đường của tự do dân chủ. Tự do dân chủ là xu thế chung của lịch sử loài người. Đó là công lý vĩnh hằng.

Sống là sống với bạn bè. Không có bạn bè, đời sống chỉ là cành cây khô. Tôi có rất nhiều bạn: bạn học cùng lớp, bạn văn thơ, bạn đồng nghiệp, bạn trong quân ngũ… Với bài viết này, tôi chỉ muốn nói tới hai người bạn đặc biệt. Đó là các anh Nguyễn Đăng Trừng và Lê Hiếu Đằng. Trừng, Đằng và tôi cùng học chung suốt bảy năm tại trường trung học Phan Châu Trinh Đà Nẵng. Thời gian sau, chúng tôi lại hội ngộ ở nhiều giảng đường khác nhau của Đại Học Luật Khoa, Saigon.

Tháng 06/1967 tôi hoàn tất học trình ban Cử Nhân Luật và bắt đầu làm việc trong hệ thống tòa án, chế độ VNCH. Chiến trận Mậu Thân 1968 đã cuốn hút Trừng và Đằng vào hoạt động tại các mật khu của CSVN. Từ đó, Trừng, Đằng và tôi sống ngăn cách bởi giới tuyến chính trị rõ rệt. Do vậy, chúng tôi xa nhau. Đây là lần biệt ly thứ nhất.

Biến cố 30/04/1975 tạo cơ hội để Trừng và Đằng bước lên sân khấu chính trị Việt Nam như những quan chức nhiều triển vọng của chế độ mới, còn được đảng Cộng Sản gọi là “chế độ cách mạng”. Dưới mắt nhìn của tôi, 30/04/75 là một thất trận đau buồn của tự do dân chủ. Tôi chia buồn với người bạn tự do dân chủ của tôi bằng những hoạt động bị cơ quan công an lên án là “âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng”. Khám Chí Hòa là nơi tôi hoàn toàn tĩnh tâm để đối diện với thực tế rằng: thời chiến tranh Việt Nam , Trừng và Đằng sống kín đáo trong mật khu, tôi là thị dân của thành phố Saigon . Hòa bình trở lại, Trừng và Đằng nghiễm nhiên là hai nhân vật của chế độ mới. Tôi là người tù của chế độ này. Đây là lần biệt ly thứ hai giữa ba cựu học sinh trường trung học Phan Châu Trinh Đà Nẵng.

Tháng 05/1985, từ Cầu Kè-Trà Vinh tôi vượt biên. Tháng 02/1986 tôi có mặt tại Hoa Kỳ. Bây giờ, Trừng và Đằng đang sống vui vẻ và làm việc bận rộn trên quê hương Việt Nam . Tôi là người ly hương miễn cưỡng. Đây là lần biệt ly thứ ba của ba người thuộc thế hệ 1940.

Biệt ly ba lần hay biệt ly nhiều lần hơn nữa, tôi vẫn không bao giờ quên các bạn Quảng Nam của tôi. Trừng, Đằng và tôi chẳng những có chung những ngày niên thiếu dưới mái trường Phan Châu Trinh thân yêu mả chúng tôi còn có chung cả trời Quảng Nam , có chung cả tâm tình Quảng Nam . Thanh âm Quảng Nam bao giờ cũng là một gợi nhớ xoáy tim óc đến Non Nước, Mỹ Sơn, Phước Tường, Thường Đức, Quế Sơn…Vùng “đất cày lên sỏi đá” này lại được vỗ về bởi các sông Thu Bồn, Vu Gia và Hàn Giang . Nhờ vào cử chỉ vỗ về kia, Quảng Nam-Đà Nẵng thừa sức chịu đựng những nóng cháy da, những lạnh nhức xương. Phải chăng cực đoan nóng và cực đoan lạnh đã sản sinh ra “Quảng Nam tính”?

Quảng Nam hay cãi bởi vì Quảng Nam thường xuyên hồ nghi: sau lưng mỗi chân lý đều có mật ngọt.
Quảng Nam là quê hương của cách mạng bởi vì Quảng Nam căm thù bất công, căm thù tham ô, nhũng lạm.
Quảng Nam thích hài hước bởi vì Quảng Nam muốn dùng âm vang của tiếng cười để khỏa lấp niềm đau của kiếp dân sinh cùng khổ…
Quảng Nam không chấp nhận vua chúa hà khắc.
Quảng Nam không cúi đầu trước độc tài, độc đảng.
Quảng Nam ngạo nghễ với Hoàng Diệu, Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh, Phan Khôi và vô số danh nhân lẫy lừng khác…

Với lòng ngưỡng vọng vô biên hướng về Quảng Nam bướng bỉnh nhưng yêu nước thiết tha, dầu bó gối trong ngục tù Chí Hòa hay sống hiu quạnh trên đất khách quê người, bao giờ tôi cũng ấp ủ trong lòng một ước mơ. Ước mơ mai kia mốt nọ, Quảng Nam Trừng và Quảng Nam Đằng sẽ làm điều gì đó khiến cho khí phách Quảng Nam bừng bừng sống dậy. Giờ đây, mơ ước kia đã thành hiện thực.

Image
LS. Nguyễn Đăng Trừng
Ngày 02/11/2010, tại nghị trường của quốc hội Viêt Nam, Luật Sư Nguyễn Đăng Trừng, Chủ Tịch Đoàn Luật Sư Saigon kiêm Đại Biểu Quốc Hội đã dõng dạc lên án các loại công ty quốc doanh, ông xác quyết:

“Cách quản trị doanh nghiệp tại các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước hiện nay làm cho các tổng giám đốc các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước coi vốn nhà nước là tài sản của trời cho, của bá tánh, của thiên hạ và chi tiêu sử dụng thoải mái mà không cần tính toán hiệu quả, giống như một bà nội trợ đi chợ bằng tiền của người khác, mua lung tung, kể cả những thứ không xài cũng mua. Tình trạng này đã xảy ra tai Vinashin. Thủ tướng đã chỉ đạo không được mua tàu đã qua sử dụng, tàu cũ, nhưng Vinashin vẫn mua tàu Hoa Sen, tàu cũ.

Chính phủ đã dành quá nhiều ưu đãi cho các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước, coi doanh nghiệp nhà nước là con chính thức, con trong giá thú, còn các thành phần kinh tế khác như kinh tế tư nhân là con ngoài luồng, con nuôi, thậm chí các doanh nghiệp có vốn nhà nước không chỉ coi là con chính thức trong giá thú mà còn coi là quý tử. Con cái mà quá nuông chiều, hư hỏng là chuyện bình thường, dễ hiểu, trách nhiệm đó thuộc về chính phủ, thuộc về thủ tướng không thể thoái thác được”.
Image
LS. Lê Hiếu Đằng
Ngày 11/11/2010, trên mạng Bauxite Viêt Nam (boxitvn.net) ông Lê Hiếu Đằng – Luật gia, đương kim Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Dân chủ và Pháp luật thuộc Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam – đã cho phổ biến bài viết có tựa đề:

“ Kiến nghị dừng khai thác bauxite do các nhà trí thức khởi xướng phải được công bố cho toàn dân và Quốc hội”. Bài này gồm bốn trọng điểm:

Trọng điểm một: Nhắc lại sự việc ông Lê Hiếu Đằng cùng nhiều nhân sĩ và trí thức Việt Nam đã hai lần ký tên vào Kiến nghị dừng khai thác bauxite. Thế nhưng kiến nghị này đã bị giới truyền thông trong nước làm như “không nghe, không thấy, không biết”.

Lê Hiếu Đằng nhận định:

“ Một kiến nghị quan trọng như thế phải được công bố rộng rãi để mọi đại biểu Quốc hội và toàn dân biết. Như thế là cung cấp thông tin đa chiều để các vị đại biểu Quốc hội và nhân dân lựa chọn. Đại biểu và nhân dân phải có điều kiện đối chiếu những luận điểm bênh vực khai thác bauxite của Bộ Công Thương và tập đoàn TKV với những luận điểm phản biện của các trí thức trong kiến nghị để suy nghĩ và rút ra kết luận”.

Lê Hiếu Đằng nói chuyện với truyền thông:

“ Tôi xin hỏi giới nhà báo nước ta: Tại sao các bạn phải sợ mà không dám đăng tải một kiến nghị có tầm quan yếu đến vân mệnh dân tộc, đã được lưu truyền khá lâu trên mạng, đã được chính thức gửi tới Quốc hội? Như thế có phải các bạn đã từ bỏ cái quyền quan trọng nhất của mình và cũng là yêu cầu cao nhất của nhân dân với các bạn: Thông tin trung thực những gì liên quan đến lợi ích của người dân? Tôi tin rằng tờ báo nào mạnh dạn đăng tải Kiến nghị nói trên sẽ chẳng bị ai bắt tù, ngược lại sẽ được nhân dân quý trọng.”

Trọng điểm hai: Lê Hiếu Đằng viết:

“Trong việc xây dựng các nhà máy bauxite, ta thấy nhân công Trung Quốc vào rất đông. Thậm chí có hiện tượng hình thành “làng Trung Quốc” ở Tân Rai. Chúng ta không thể không đặt câu hỏi: Trong số nhân công đó, có bao nhiêu quân nhân mặc áo dân sự? Họ làm gì ở đấy chúng ta có kiểm soát được không?...... Lịch sử quan hệ Việt-Trung buộc chúng ta phải cảnh giác. Bản chất, mưu toan bá quyền của người hàng xóm không hề thay đổi……. Trong khi đó, hình như tinh thần cảnh giác của các vị lãnh đạo lại khá hời hợt, cho nên mới để lọt những chủ trương nguy hiểm như khai thác bauxite, cho thuê rừng đầu nguồn.

Tại sao có thể như thế? Tôi không sao có thể trả lời được câu hỏi này. Có phải các vị chạy theo lợi ích kinh tế mà quên mối lo an nguy lâu dài của đất nước? Có phải các vị bị chi phối bởi các tập đoàn kinh tế? Đây là lúc các vị phải trả lời rõ ràng để giải tỏa những băn khoăn chính đáng của người dân.”

Trọng điểm ba: Lời kêu gọi.

Lê Hiếu Đằng kêu gọi các đồng chí của ông trong khu chiến cũ:

“Nhân đây tôi cũng xin qua mạng Bauxite Việt Nam để nhắn nhủ những đồng chí đã từng sát cánh chiến đấu với tôi ở nội thành Saigon – Gia Định, các chiến trường Đông Nam Bộ, ven Saigon… Đó là các đồng chí Nguyễn Minh Triết, Trương Tấn Sang, Lê Thanh Hải. Mong các đồng chí lên tiếng tranh đấu để ngăn chặn những nguy cơ cho đất nước như Dự án Bauxite và việc cho thuê rừng đầu nguồn nói trên.”

Lê Hiếu Đằng kêu gọi toàn đảng, toàn dân:

“Đã đến lúc tất cả chúng ta, cán bộ, đảng viên, nhân dân, phải có ý kiến, không thể nhân nhượng, không thể dĩ hòa vi quý với cái sai, cái nguy hại cho đất nước, cho dân tộc. Chúng ta không có gì phải sợ vì chúng ta trong sáng, chúng ta thực tâm yêu nước, thương nòi, chúng ta làm đúng theo luật pháp, hiến pháp.”

Trọng điểm bốn: Đặt vấn đề, nhận định vấn đề, và giải quyết vấn đề (còn gọi là phương pháp luận) là ba hiểu biết cốt lõi của khoa học lý luận. Muốn ngăn chặn thảm họa Bauxite và cho thuê rừng đầu nguồn và muôn vàn khó khăn khác của đất nước, vấn đề tiên quyết là người dân phải “không sợ”. Lê Hiếu Đằng tâm sự:

“Bản thân tôi cũng có những lúc hơi e ngại khi cần lên tiếng đấu tranh cho lẽ phải. Những lúc ấy tôi tự nhắc mình: Khi bị tòa án Vùng Ba Chiến Thuật Saigon kết án tử hình vắng mặt, mình vẫn coi khinh, vẫn mỉm cười và dấn thân chiến đấu, thì cớ gì bây giờ mình phải sợ hãi các đồng chí của mình?”

Lời tâm sự của Lê Hiếu Đằng là một khẳng định sâu sắc rằng : lòng coi khinh là nền tảng căn bản của tâm lý không sợ. Vì vậy muốn không sợ các “đồng chí” của mình thì hãy coi khinh các “đồng chí” ấy. Từ dũng khí không sợ kia, người Việt Nam cần phải làm gì để cứu nước? Trước tiên chúng ta hãy tìm đường hồi sinh nội lực dân tộc.

Ngày 15/11/2010, vẫn trên mạng Bauxite Việt Nam , dưới bài viết: “Dân Chủ là giải pháp cho các vấn đề của đất nước”, Lê Hiếu Đằng mô tả bức tranh nội lực dân tộc như sau:

“Ngày hôm nay hầu như ai cũng thấy đất nước đang phải đối mặt với những thách thức cực kỳ nghiêm trọng về mọi mặt kinh tế, môi sinh, quốc phòng, văn hóa xã hội, giáo dục. Nếu tình hình cứ phát triển như thế này thì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” khó lòng thực hiện.

Một vấn đề đáng lo hàng đầu đang nổi rõ: sự phân hóa xã hội sâu sắc, những người ăn bám vào tập đoàn kinh tế nhà nước, vào đầu tư công, vào buôn lậu, tham nhũng đang giàu lên rất nhanh trong khi đại đa số nhân dân cực khổ.

Thử nhìn thực trạng Saigon mà coi: Khu đô thị hiện đại sang trọng Phú Mỹ Hưng được coi là đô thị kiểu mẫu cùng với nhiều khu đô thị sang trọng khác, nhưng những ai đang sống ở đó? Trong khi người nông dân gốc gác lâu đời ở những khu vực này bị giải tỏa, hiện đi đâu, sinh sống thế nào, chúng ta có biết không?

Và trong khi một bộ phận không nhỏ dân cư thành phố sống thường trực trong cảnh nước ngập, sụp hố trên đường, bất an về đủ thứ tai nạn. Cách làm ăn của chúng ta liệu có khác gì thời kỳ tư bản man rợ: xua đuổi nông dân để chiếm đất, bần cùng hóa một bộ phận dân cư để công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bàn tay lông lá của các tập đoàn lợi ích ngày càng thọc sâu vào các chính sách quốc gia. Thật hết sức đáng lo. Lòng dân đang rất bất an, dân không thể tiếp tục tin yêu chế độ, nếu tình hình cứ tiếp tục thế này.”

Đứng trước bức tranh tiêu điều của nội lực dân tộc, Lê Hiếu Đằng dứt khoát nêu bật giải pháp cho Viêt Nam :

“Những vấn đề trên không thể nào giải quyết, nếu không nhanh chóng thực hiện dân chủ thực sự.”

Nhằm hổ trợ cho giải pháp của mình, Lê Hiếu Đằng nhấn mạnh:

“Đảng Cộng Sản phải nhận rõ vấn đề để chủ động chuyển đổi thể chế chính trị phù hợp với tình hình mới. Hãy nhìn sang Trung Quốc, ngay thủ tướng Ôn Gia Bảo cũng đã công khai cảnh báo nguy cơ của nước này, nếu không cải cách chính trị để dân chủ hóa xã hội.”

Một mặt kêu gọi đảng CSVN hãy “chủ động chuyển đổi thể chế chính trị”, mặt khác, Lê Hiếu Đằng vẫn nghiêm chỉnh thuyết phục người dân:

“Toàn dân không thể thụ động ngồi chờ chính quyền tự thay đổi. Trong đời hoạt động của mình, tôi luôn được dạy rằng: Không có người cai trị nào tự nguyện từ bỏ quyền lực, ghế ngồi của mình. Dân chủ chỉ có được qua đấu tranh. Đấu tranh mà không phá vỡ sự ổn định xã hội. Đó là bài toán phải giải quyết, nhưng quyết không thể nhân danh ổn định mà kìm hãm cuộc đấu tranh để xây dựng nền dân chủ.”

Dân chủ không phải là một ngôi nhà bằng gạch. Dân chủ phải được xây dựng bằng tim và bằng óc. Vì vậy cuộc đấu tranh cho dân chủ cần có sự hợp tác gắn bó giữa người dân và giới trí thức. Nghĩ về giới trí thức, Lê Hiếu Đằng viết:

“ Nhân tố quan trọng nhất trong việc hình thành xã hội dân sự là vai trò đầu tàu của trí thức. Phan Châu Trinh đã nói đến nhiệm vụ “Chấn dân khí” của trí thức. Bao giờ cũng vậy, người trí thức là người đặt lại nhiều cơ bản của xã hội. Người trí thức là người vạch đường cho xã hội tiến lên. Vì thế bây giờ, người trí thức không thể thụ động ngồi chờ, mà phải chủ động tiến lên và hành động cho nền dân chủ.”

Bài viết này đã ghi lại nguyên văn và chi tiết hầu hết những phát biểu của Nguyễn Đăng Trừng và Lê Hiếu Đằng về hiện tình Việt Nam và giải pháp thích nghi dành cho hiện tình vừa kể. Sự trích dẫn như vậy có chủ ý phản ánh trọn vẹn sự thực rằng: Nếu Nguyễn Đăng Trừng phát pháo đòi hỏi dân chủ hóa trong sinh hoạt kinh tế tại Việt Nam thì Lê Hiếu Đằng tiến xa hơn bằng cách kêu gọi mọi người Việt Nam, mọi thành phần Việt Nam hãy dũng cảm đứng lên đấu tranh triệt để và toàn diện cho một Việt Nam dân chủ. Những đòi hỏi và kêu gọi vừa kể bao gồm các nhận định chính xác, không khoan nhượng nhưng chừng mực, kèm theo đó là phần phương pháp luận khả thi. Hơn thế nữa, nhằm tạo khí thế cho phương pháp luận, Lê Hiếu Đằng hiên ngang hạ bút:

“Toàn dân không thể thụ động ngồi chờ chính quyền tự thay đổi…. Không có người cai trị nào tự nguyện từ bỏ quyền lực, ghế ngồi của mình. Dân chủ chỉ có được qua đấu tranh!” (Dân chủ là giải pháp cho các vấn đề của đất nước. Lê Hiếu Đằng)

Tuy nhiên, muốn đấu tranh người dân phải “không sợ”. Lê Hiếu Đằng khẳng định không do dự:

“Mà tại sao chúng ta phải sợ? Những người phải sợ là những người đi ngược lại lợi ích của đất nước, của nhân dân. Chắc chắn họ sẽ bị nhân dân chối bỏ.” (LHĐ)

ĐỖ THÁI NHIÊN
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Bắt Khổng Tử chạy đua với Nobel

Ngô Nhân Dụng
Nếu là người Trung Hoa chắc chắn tôi sẽ không bao giờ đem ông Khổng Tử ra làm trò cười. Như ông Ðàm Trường Lưu (Tan Changliu) vừa mới làm.

Ông Ðàm Trường Lưu, thuộc trường Ðại Học Sư Phạm Bắc Kinh đã lập ra một cái giải thưởng gọi tên là Giải Hòa Bình Khổng Tử - mục đích là để cạnh tranh với Giải Hòa Bình ở Na Uy mang tên ông Alfred Nobel.

Ý định cạnh tranh rất rõ ràng: Ủy ban tuyển chọn hôm qua đã cho biết tên người trúng giải, cố ý công bố một ngày trước lễ trao giải Nobel Hòa Bình cho Lưu Hiểu Ba, người đang bị chính quyền Trung Hoa giam giữ vì tranh đấu cho đồng bào ông được sống tự do dân chủ. Bà Lưu Hà, vợ ông Lưu Hiểu Ba bị quản thúc để ngăn cản không cho bà đi Na Uy lãnh giải thay chồng. Rất nhiều người Trung Hoa ở hải ngoại tranh đấu cho tự do dân chủ sẽ có mặt ở Oslo, và hai người Việt Nam sống ở Na Uy đã được ban tổ chức lễ trao giải mời tới dự lễ. Trong khi đó, giải Hòa Bình Khổng Tử của ông Ðàm Trường Lưu được trao cho ông Liên Chấn, nguyên phó tổng thống Trung Hoa Dân Quốc ở Ðài Loan, nhưng ông không có mặt ở Bắc Kinh khi giải thưởng được long trọng tuyên bố.

Ý định cạnh tranh với Giải Nobel Hòa Bình còn rõ rệt hơn trong bản tuyên cáo 9 điều giải thích lý do lập ra Giải Hòa Bình Khổng Tử, người Trung Quốc gọi là “Khổng Tử Hòa Bình Tưởng.”

Trong những lời giải thích này, thứ nhất, họ tuyên bố: “Trung Quốc là một biểu tượng của hòa bình.” Nghe một câu này thôi, người dân Việt Nam, người Tây Tạng, Ấn Ðộ, người Mông Cổ, Tân Cương đã thấy không lọt tai rồi. Nhưng hãy cứ nghe ông Ðàm Trường Lưu trình bày tiếp. Ông khoe nước Trung Hoa có hơn một tỷ dân, cho nên “phải có ý kiến lớn hơn các nước khác khi nói đến vấn đề hòa bình trên thế giới.” Trong khi đó, ông so sánh: “Na Uy chỉ là một nước nhỏ với dân cư thưa thớt!” Cho nên Na Uy phải chấp nhận vai trò “thiểu số” so với các nước đông dân khi thảo luận các vấn đề tự do và dân chủ. Ông đề nghị: “Vì vậy, việc tuyển chọn Giải Nobel Hòa Bình đáng lẽ phải được mở rộng cho người dân khắp thế giới tham dự, thay vì chỉ do một nhóm người tự nhận làm việc đó!”

Ðại khái, đó là lối lý luận của một giáo sư đại học Trung Quốc. Nếu cứ theo lối lý luận này thì các giải Nobel đều nên nhờ người Trung Quốc chọn, vì nước họ đông dân nhất thế giới. Giải Oscar của Hollywood cũng nên đưa sang Thượng Hải. Tổ chức Hoa Hậu Áo Dài cũng nên đưa qua Bắc Kinh nhờ họ làm giám khảo.

Ông Ðàm Trường Lưu cho biết đã được nhiều “doanh nhân lỗi lạc” trên thế giới ủng hộ tiền lập quỹ, cho nên năm nay đã có giải thưởng trị giá 15,000 đô la Mỹ. Ủy ban tuyển lựa có bẩy người do ông Ðàm Trường Lưu làm chủ tịch, chọn ngày trao giải vào “Ngày Hòa Bình Thế Giới,” và ấn định ngay đó là ngày 9 tháng 12 - đúng một ngày trước lễ trao giải Nobel Hòa Bình ở Oslo. Ông cũng đưa ra thể thức chọn người trúng giải, bằng trưng cầu ý kiến trên mạng lưới. Tuy nhiên giải đầu tiên được trao hôm qua thì chưa tham khảo ý kiến như vậy; chắc vì vội vã quá!

Tất cả trở thành một trò hề. Trong báo chí ở Trung Quốc mới thấy chỉ có một tờ Hoàn Cầu Thời Báo (do nhật báo Nhân Dân xuất bản) loan tin về giải này. Nhưng vì tất cả mọi người đang theo dõi phản ứng của cộng sản Trung Quốc đối với giải Nobel tặng ông Lưu Hiểu Ba, cho nên báo chí khắp thế giới (trong đó có báo Người Việt) đã loan tin về Giải Hòa Bình Khổng Tử, coi đó là một thủ đoạn mới do chính quyền Bắc Kinh dựng lên để đánh phá nhà tranh đấu Lưu Hiểu Ba.

Trung Quốc đã dùng rất nhiều thủ đoạn khác. Các mạng lưới ở trong nước Trung Hoa bị kiểm soát chặt chẽ, không cho người dân nào được đọc tin, bàn luận về Lưu Hiểu Ba và Giải Nobel Hòa Bình. Nhiều nhà trí thức, nghệ sĩ Trung Quốc nổi tiếng cũng bị quản thúc, hoặc bị ngăn đường cấm không cho qua Hồng Kông vì lo họ sẽ sang đó rồi bay đi Oslo, thủ đô Na Uy để tham dự lễ trao giải. Dưới áp lực của Bắc Kinh, 18 quốc gia không cho đại sứ của họ ở Oslo tới dự lễ trao giải, trong đó có Việt Nam.

Một chính phủ nắm đầu một tỷ, 300 triệu dân mà dùng hết mọi phương cách để chống lai một người dân của nước mình, đây là chuyện chỉ xảy ra ở các nước độc tài quân phiệt, phát xít và cộng sản. Ngày xưa nhà bác học Nga Andrei Sakharov cũng bị cấm đi Oslo lãnh giải Nobel Hòa Bình, nhà văn Boris Pasternak cũng bị áp lực phải cảm ơn nhưng từ chối giải Nobel tặng cho ông. Những người khác không được đi lãnh giải Nobel Hòa Bình là bà Aung San Suu Kyi nước Miến Ðiện, lãnh tụ công đoàn độc lập Ba Lan Lech Walesa.

Năm nay người ta sẽ bày một cái ghế trống làm tiêu biểu cho sự vắng mặt của ông Lưu Hiểu Ba. Lần sau cùng chuyện này xảy ra là vào năm 1935, khi giải được trao cho nhà tranh đấu Hòa Bình Carl von Ossietzky người Ðức, trong lúc ông bị Hitler cầm tù. Trong lịch sử chỉ có 2 lần lễ trao giải bày chiếc ghế trống làm biểu tượng, vì không những Carl von Ossietzky và Lưu Hiểu Ba bị tù, mà còn vì những người thân của họ cũng không được phép đi thay mặt.

Trường hợp ông Liên Chấn ở Ðài Loan khác hẳn. Liên Chấn được trao giải Hòa Bình Khổng Tử tại Bắc Kinh mà thư ký văn phòng của ông tại Ðài Bắc nói họ không hề biết tin này. Tuy nhiên, lễ trao giải của ông Ðàm Trường Lưu vẫn cử hành trước hàng trăm phóng viên. Có một em bé gái 6 tuổi xinh xắn được đưa ra thay mặt cựu phó tổng thống Ðài Loan ôm lấy tấm văn bằng và giải thưởng.

Nếu ông Khổng Tử còn sống, chắc hẳn ông cũng phải xin vào ngồi tù cùng ông Lưu Hiểu Ba. Vì nếu ở ngoài nhà tù chắc chắn ông sẽ không thể im lặng mà phải phản đối những kẻ mạo tên ông. Khổng Tử sẽ nhắc lại: “Danh không chính, thì ngôn không thuận! Lời nói không thuận thì việc không thành!”

Chính quyền Trung Quốc đang mượn tên ông Khổng Tử trong nhiều công việc. Thí dụ, họ lập ra những Trung tâm Văn hóa Khổng Tử theo lối Goethe Institute của nước Ðức; nói là để truyền bá ngôn ngữ và văn minh Trung Hoa nhưng bên trong là tuyên truyền gây ảnh hưởng cho các chính sách của Bắc Kinh. Trong khi đó, nền văn minh mà chế độ cộng sản tạo ra ở nước Tầu bây giờ hoàn toàn đi ngược lại với nền nếp xã hội mà tư tưởng Nho giáo đã gây dựng ở Trung Hoa trong hai ngàn năm trước.

Ðể thấy tính chất trái ngược giữa xã hội cộng sản và xã hội Khổng Giáo, chúng ta có thể nghe ý kiến của một nhà trí thức Trung Quốc. Ðó là Giáo Sư Tôn Lập Bình (Sun Liping), dậy môn Xã Hội Học trong Ðại Học Thanh Hoa, Bắc Kinh, ông không tích cực tham dự vào các phong trào đối kháng chính quyền cộng sản. Tôn Lập Bình cũng là giáo sư hướng dẫn của ông Tập Cận Bình làm luận án tiến sĩ, ông này sẽ lên thay Hồ Cẩm Ðào làm chủ tịch Trung Quốc. Giáo Sư Tôn Lập Bình, 55 tuổi, đã đưa lên một bài trên mạng lưới nhan đề: “Mối đe dọa lớn nhất đối với Trung Quốc không phải là Rối loạn Xã hội nhưng là Bại hoại Xã hội.” [Trong Hán văn, ông dùng hai từ Xã hội Ðộng Ðãng (ông dịch là Social Turmoil) và Xã hội Hội Bại (Social Decay)]. Ông giải thích, trái ngược với Rối loạn Xã hội là Ổn định Xã hội; trái ngược với Xã hội Bại hoại là Xã hội Lành mạnh. Ông đưa ra 17 điểm, nhận xét về sự băng hoại của xã hội chung quanh ông, và kêu gọi giới trí thức Trung Hoa đứng lên đảm nhận vai trò lãnh đạo dư luận của họ.

Giáo Sư Tôn Lập Bình nhận xét rằng hiện giờ trong nước ông người ta nhấn mạnh quá nhiều về mối lo xã hội rối loạn, mà thực ra ở bất cứ nước nào nếu tìm tòi bới móc ai cũng thấy có những điều đáng lo như vậy được. Nhưng tại nước Trung Hoa, mối lo lớn nhất là xã hội đang “hư thối,” hay là, nói như một giáo sư Xã Hội Học nổi tiếng khác, ông Phí Hiếu Thông (Fei Xiaotong), Trung Quốc đang có cảnh “xã hội bị xâm thực.”

Lý do khiến xã hội Trung Hoa đang hư hoại là quyền lực của guồng máy nhà nước không được giới hạn; mà nạn tham nhũng chỉ là một triệu chứng bên ngoài. Ðặc biệt là quyền hành của đám cán bộ lãnh đạo địa phương, họ “không bị kiểm soát từ bên trên cũng không bị giới hạn từ bên dưới.” Cho nên, “họ bỏ rơi quyền lợi chung mà chỉ lo bảo vệ địa vị và chờ được thăng thưởng.”

Ông viết tiếp: “Cảnh hư hoại đã phổ biến khắp mọi mặt. Xã hội đã mất ý thức đạo đức; những nhóm quyền lợi tham lam lưu manh làm cho mọi người dân mất cả ý thức về tính công bằng và chính nghĩa. Cả hệ thống thông tin trong xã hội bị bóp méo lệch lạc. Các số thống kê ngụy tạo cho ta thấy có những định chế để bóp méo sự thật. Như một ngạn ngữ bây giờ nói: Quan thôn đánh lừa quan xã, quan xã đánh lừa quan huyện, quan huyện lại đánh lừa quan trên, dần dần lên đến các quan cao nhất.” (điểm số 6).

Vì sống trong hoàn cảnh như vậy, nhiều người dân Trung Hoa đã trở thành thờ ơ, vô cảm trước những tai họa xảy ra chung quanh mình. Khi một tòa nhà công sở lớn bị hỏa hoạn, người dân dửng dưng. Tại sao như vậy? Tôn Lập Bình nhận xét: Vì người ta không thấy họ là một thành phần ở trong xã hội đó nữa. Ðó là tài sản của “chúng nó” chứ không phải của “chúng mình!” (điểm số 7).

Từ điểm số 10, Tôn Lập Bình phân tích ảnh hưởng của những nhóm chỉ lo bảo vệ “quyền lợi đang hưởng” của họ (ký đắc quyền lợi, trong nguyên văn). Nguyên nhân của cảnh băng hoại xã hội, Tôn Lập Bình lên án, là do “cuộc hôn nhân giữa quyền lực chính trị và kinh tế tư bản.” Ngày xưa ở Trung Quốc, quyền lực chính trị chống lại thị trường tư bản. Ngày hay hai thứ đó đã bắt tay, đã “kết hôn” với nhau. Ông phân tích: “Thị trường là thứ thị trường để cho quyền lực thao túng. Quyền lực chính là quyền lực để thi thố trong thị trường. Ðây là vấn đề lớn mà chúng ta (người Trung Quốc) phải đối phó. Các nhóm ‘quyền lợi đang thụ hưởng’ đã tạo ra mối liên kết giữa quyền lực và thị trường. Nó làm cho người dân bình thường cảm thấy họ đứng bên lề.”

“Chúng ta phải cắt đứt sợi dây nối quyền lực và thị trường,” Tôn lập Bình đề nghị. Ông nhắc lại một ý kiến của nhà kinh tế lão thành Mao Vu Thức (Mao Yushi), nói rằng: “Phải làm sao để bọn người giầu tiền không sai khiến được quyền lực, và bọn người nắm quyền thì không được sử dụng quyền hành để kiếm tiền.” Hiện nay, bọn người nắm quyền và bọn người có tiền giao kết với nhau. Công cuộc “cải tổ” ở Trung Quốc hoàn toàn nằm trong tay những nhóm đang hưởng thụ quyền lợi.

Những điều do Giáo Sư Tôn Lập Bình mô tả xã hội Trung Quốc như trên đây chắc chắn không phải là hình ảnh mà Khổng Tử muốn thấy. Thời Khổng Tử trước đây 2500 năm nước Trung Hoa chưa có kinh tế thị trường như bây giờ. Nhưng cụ Khổng vẫn khuyên những người nắm quyền lực trong tay phải hỗ trợ cái thiện, không giúp kẻ làm việc ác (Quân tử thành nhân chi mỹ, bất thành nhân chi ác). Khi Quý Khang tử hỏi kế về tình trạng xã hội nhiều trộm cắp, Khổng Tử nói: “Nếu ông không tham lam thì dù treo phần thưởng dân cũng không đi trộm cướp” (Luận Ngữ, chương 12 Nhan Uyên, câu 16 và 18).

Xã hội hư hoại chính vì những kẻ nắm quyền chỉ lo cấu kết với nhau để kiếm tiền, chỉ lo bảo vệ địa vị, quyền hành để bảo vệ tài sản.

Nhiều nhà trí thức Trung Hoa hiện nay, người tích cực tranh đấu như Lưu Hiểu Ba, người thẳng thắn phê phán như Tôn Lập Bình, cho chúng ta hy vọng ở nước Trung Hoa vẫn có những người theo mẫu người quân tử mà Khổng Tử nêu làm gương. Sẽ có ngày Khổng Tử được người ta trả lại đúng địa vị của một ông thầy già có nhiều điều đáng học. Không cần phải đặt ra một giải thưởng mang tên ông, bắt ông cạnh tranh với Alfred Nobel. Cũng không cần phải đem tên ông trương bảng rêu rao khắp thế giới. Khổng Tử có nói: “Người ta không biết đến mình, mà mình không buồn giận, như vậy chẳng phải là người quân tử hay sao?” (Nhân bất tri nhi bất uấn, bất diệc quân tử hồ? Luận Ngữ, chương 1, Học nhi, đoạn 1).
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Quân đội vì nước không vì đảng Cộng Sản - giải pháp tối ưu đối với Việt Nam

Lý Ðại Nguyên
Hiện nay Việt Cộng gồm 3 triệu đảng viên vẫn nằm trong danh sách sinh hoạt với đảng, thì đã có 2 triệu đảng viên hưu trí, chỉ còn 1 triệu là đương chức, đương quyền, đang nắm toàn bộ vận mệnh đất nước và được độc quyền tham nhũng.
Image
Một đơn vị Quân Ðội Nhân Dân CSVN diễn hành với súng M18 trên tay. (Hình: xahoimang.com)



Thế ra 2/3 số đảng viên không chức, không quyền thuộc diện chính sách của nhà nước. Họ tuy có danh nghĩa là đảng viên, nhưng chỉ để cho một thiểu số lãnh đạo nhân danh toàn đảng tước đoạt chủ quyền đất nước, quyền công dân và đàn áp khống chế toàn dân. Như vậy có thể gọi cuộc hội họp, ngày 7 tháng 10, 2010 tại Hà Nội của trên 20 đảng viên kỳ cựu, từng là ủy viên Trung Ương Ðảng, thuộc hàng phó thủ tướng, cho tới các viện trưởng, các giáo sư đã làm cố vấn chính phủ là tiếng nói tiêu biểu cho 2 triệu đảng viên hưu trí. Họ đều cho rằng: “Ðường lối kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin là sai lầm, giả dối, nguy hiểm, vì Mác đã mắc nhiều sai lầm cơ bản, do đó đã phá sản hoàn toàn tại Ðông Âu, Liên Xô và tàn phá nền kinh tế các nước Xã Hội Chủ Nghĩa, trong đó có Việt Nam.

“Kiên định chủ nghĩa xã hội cũng là sai lầm, giả dối... đã thất bại phá sản hiển nhiên. Còn chủ nghĩa xã hội trước mắt và tương lai, gắn liền với kinh tế thị trường, thì chưa ai hình dung ra sao, làm sao thực hiện được. Ðây là một quan niệm ảo tưởng viển vông, lừa dối, không khoa học.” “Còn mục tiêu xây dựng xã hội dân chủ, bình đẳng, hiện đại văn minh chỉ là nói suông, là bánh vẽ, nhằm lừa dối nhân dân và tự lừa dối mình.” Từ đó họ dứt khoát và thẳng từng “sổ toẹt” vào các văn kiện sắp được trình cho Ðại Hội XI này.

Trong số 1 triệu đảng viên tại chức, tại quyền, thì quyền lực chỉ tập trung vào một thiểu số lãnh đạo thuộc Bộ Chính Trị và một số Ủy Viên Trung Ương năng nổ, hiện nay đã chia làm 3 phe rõ rệt. Phe kiên định chủ nghĩa xã hội, thân Tầu. Phe quốc tế đa phương, thân Mỹ. Phe lửng lơ “con cá vàng,” ai mạnh thì theo. Thế nên cuộc họp Trung Ương Khóa 14 vào ngày 12 tháng 12, 2010 này, nhằm chọn ra các Ủy Viên Trung Ương khóa mới, kể cả ban lãnh đạo cao nhất sẽ khó có thể thống nhất về phương án nhân sự lãnh đạo để trình Ðại Hội XI vào giữa tháng 1, 2011. Trong trường hợp đó phía công an đã được lệnh truy quét tất cả những thành phần đối kháng nguy hiểm có khả năng phát động đấu tranh đường phố. Nhưng một khi dân chúng đã nhất tề vùng lên như trường hợp ở Thái Bình và Cao Nguyên thì công an cũng phải ù té chạy. Bởi thế đảng phải nhờ tới quân đội.

Quân đội, thì đại đa số cùng chung kiếp nghèo như toàn dân, chỉ có số ít được hưởng bổng lộc của đảng và các tổ hợp quân đội trong ngành thầu xây dựng. Hầu như tất cả quân nhân các cấp đều muốn được trở thành “quân đội nhà nghề phi chính trị” như họ đã được học hỏi, hay nhận biết ở quân đội các nước dân chủ tiên tiến, chỉ làm nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, bảo vệ tự do công dân theo luật pháp quốc gia, không thuộc quyền lãnh đạo của Ðảng. Bảo vệ đảng nhằm trấn áp dân chúng để cho giới lãnh đạo đảng lén lút dâng đất, hiến biển, nộp tài nguyên quốc gia, và nhường luôn chủ quyền dân tộc cho kẻ thù truyền kiếp của Việt Nam là Tầu Cộng. Chính vì vậy mà cơ quan tuyên truyền của đảng đã lớn tiếng chống lại khuynh hướng quân đội đòi “phi chính trị.” Ðã tới lúc quân đội Việt Nam phải tự khẳng định vị thế cứu nguy dân tộc và bảo vệ toàn dân của mình. Buộc Ðại Hội XI phải từ bỏ ảo tưởng kiên định chủ nghĩa xã hội của phe thân Tầu. Bầu ra ban lãnh đạo mới để dân chủ hóa chế độ, đáp ứng với nhu cầu toàn dân, phản ảnh khuynh hướng của toàn đảng, toàn quân đang “tự diễn biến hòa bình.”

Nếu kỳ này, Ðảng Cộng Sản Việt Nam không thoát ra khỏi bàn tay của Bắc Kinh, cứ bám lấy thứ chủ nghĩa xã hội chết tiệt, bầu ra một ban lãnh đạo đầy tớ của Tầu Cộng, thì quân đội phải có trách nhiệm lịch sử của mình là ra tay “cứu nước, yên dân.” Như Tổng Thống Yeltsin của nước Nga năm 1991 đã giải tán đảng Cộng Sản Liên Xô. Tổ chức ra một chính quyền dân sự chuyển tiếp để điều hành việc nước. Tổ chức bầu cử Quốc Hội Lập Hiến để đưa ra cho dân phúc quyết-trưng cần dân ý. Nhưng điều quan trọng là phát động phong trào văn hóa xây dựng dân chủ. Lấy thành phần chủ chốt là sinh viên của các trường đại học Việt Nam. Họ được học luật bầu cử trong ngắn hạn. Nắm vững phương pháp tổ chức và vận động tranh cử, bầu cử. Tổ chức thành từng đoàn, mỗi đoàn do một giáo sư hướng dẫn đi về từng làng xã nông thôn, Thị xã thành phố, nơi đó là đơn vị hành chánh gốc của quốc gia. Nơi trực tiếp quản lý tài sản nhà nước, bảo vệ người dân, điều hành chính quyền, tạo ra trật tự xã hội và phát triển kinh tế, xây dựng cuộc sống dân chủ trọng pháp và là môi trường phát huy truyền thống dân tộc. Việc giữ an ninh cho các đoàn sinh viên này do quân đội chịu trách nhiệm.

Chính vì vậy, mà phải cần tới tinh thần vô tư trong sáng của lớp trẻ có học, không vướng vào tranh chấp quyền hành bè phái, như Phù Ðổng Thiên Vương, việc xong về trường, nhằm gieo vào ý thức người dân về giá trị dân chủ, tự do, tôn trọng nhân quyền và dân quyền của mỗi công dân, trên tinh thần trọng pháp. Chính người dân phải có trách nhiệm công dân của mình là bầu ra những người trực tiếp “cai trị” mình, điều hành chính quyền địa phương và quản lý xã hội theo luật pháp quốc gia. Mình thực sự là chủ nhân ông xã hội, chủ nhân ông chế độ, chủ nhân làng xã nơi mình sinh sống. Mình có quyền tuyệt đối tự lựa chọn và trực tiếp bầu ra những người điều hành làng xã, thị xã và có quyền kiểm soát họ.

Ðối với dân làng họ là vị tổng thống và chính quyền dân cử trực tiếp của nền Cộng Hòa địa phương. Dân có quyền truất nhiệm họ theo luật định. Có quyền khóa sau không bầu cho họ nữa. Từ đó người dân mau chóng cảm nhận một cách trực tiếp về quyền công dân, trách nhiệm công dân và giá trị chủ nhân của công dân một nước dân chủ. Cũng từ đó những lá phiếu của công dân bầu ra cấp tỉnh và cấp quốc gia mới là những lá phiếu có ý thức trách nhiệm của người dân. Và cũng từ đó cơ quan tự quản làng xã, thị xã ý thức được chủ nhân ông đích thực của mình là dân làng. Không do ơn huệ của thượng cấp ban xuống. Thượng cấp cũng chỉ được phân công theo luật pháp, và thi hành luật pháp để bảo vệ người dân và an toàn xã hội, phát triển kinh tế...

Tất cả những ý niệm trên đây được khởi đi từ nền tảng văn hiến nhân chủ của truyền thống dân tộc Việt Nam, lấy con người làm chủ. Lấy làng xã làm gốc, tạo thành môi trường cho tinh thần độc lập tự chủ của nòi giống phát triển, nhằm chống lại với cuộc đồng hóa khắc nghiệt của Ðế Quốc Ðại Hán và ứng xử với cuộc trường kỳ bang giao giữa một nước nhỏ với nước lớn, luôn luôn ngoài vẫn phải xưng “thần” với Tầu, nhưng trong nước vẫn là Ðế. Dân giữ được văn hóa dân tộc và tinh thần độc lập quốc gia trong làng xã. Mãi tới cuộc Cải Cách Ruộng Ðất do Hồ Chí Minh và Cộng đảng, nhận lệnh của Mao Trạch Ðông tiêu diệt tinh thần làng xã tự quản đi để thiết lập chế độ độc tài toàn trị, nên khi đảng theo Nga thì toàn dân lệ thuộc Nga, theo Tầu thì cả nước phải nô lệ Tầu. Ðến lúc quân đội phải hành động cứu nước, yên dân trước khi trở thành quân đội nhà nghề phi chính trị.

(Nguồn: Báo Tổ Quốc)
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Việt Nam vẫn nghèo bởi vì đâu?

Nhìn về Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu và người dân quốc đảo Singapore thường đặt câu hỏi, tại sao Việt Nam ngồi trên nhiều núi vàng mà vẫn nghèo?

Đó là câu hỏi mà Ts Vũ Minh Khương, giảng viên trường Đại học Quốc gia Singapore thường xuyên nhận được từ đồng nghiệp hay những người dân Singapore mà ông có dịp tiếp xúc.

Họ so sánh: Singapore chỉ cần một cảng biển, một đảo Sentosa cũng có thể làm nên sự thịnh vượng giàu có, vậy mà trên khắp Việt Nam này, có bao nhiêu những Phú Quốc, Hạ Long, bao nhiêu Vân Phong…. mà vẫn không cách gì khai thác được. Việt Nam vẫn bị xếp vào hàng các quốc gia phát triển trung bình thấp và năng lực cạnh tranh thấp ngay cả so với các quốc gia láng giềng ít tiềm năng hơn.

Thực tế như một sự thách đố sự hiểu biết của người Singapore lại không quá khó hiểu với những người có chút kinh nghiệm làm việc ở xứ này. Người ta có thể tìm thấy lời giải đáp từ bất kì một quan sát nhỏ nào trong nền kinh tế đất nước.

Triệt tiêu sức cạnh tranh của chính mình

Nhìn vào thực tế phát triển ở Việt Nam, TS Vũ Minh Khương cho rằng, vấn đề của Việt Nam không phải ở chỗ chúng ta không có tiềm năng mà có lẽ vì chúng ta có nhiều tiềm năng quá, những nguồn lực xung đột, mà lại không biết lựa chọn chính xác hướng đi nào cho mình.

Giống như người ta được trời phú cho nhan sắc, lại có thông minh cộng tài năng âm nhạc, lại thêm vẽ tranh… nhưng lại không biết mình thực sự muốn gì, muốn phát triển theo hướng nào. Thôi thì, lúc này đi làm nghiên cứu khoa học, lúc khác chơi một chút nhạc, lúc khác nữa làm hội họa…., tận dụng mỗi thứ một chút, để rồi không thành ông, cũng chẳng thành thằng.

Đơn cử, tỉnh Quảng Ninh đã được trời phú một vịnh Hạ Long lại được trao thêm trữ lượng than dồi dào. Bỏ cái gì cũng tiếc, rút cuộc, chúng ta khai thác hết, nhưng đầu tư vào lĩnh vực nào cũng nửa vời. Khai thác than tàn phá môi trường Quảng Ninh, gây hại cho việc làm giàu từ Vịnh Hạ Long.
Image
Quảng Ninh đã giàu tài nguyên than

Cách làm du lịch, trong khi đó, lại mới dừng ở mức “thu bạc lẻ”, lo thu hút cho đông khách, mà quên mất, vấn đề không phải ở việc thu hút thêm được bao nhiêu khách, mà là mỗi ngày, du khách sẽ tiêu bao nhiêu tiền. “Người ta chỉ tiêu dùng nhiều khi Việt Nam có sẵn nhiều hoạt động chất lượng cao, dịch vụ tốt, nhiều sản phẩm hay để họ mua“, chuyên gia về năng lực cạnh tranh, GS Michael Porter phân tích. Thế nhưng, đó lại là điều Việt Nam hoàn toàn thiếu sự đầu tư.
Image
lại có thêm Vịnh Hạ Long.
Câu chuyện Quảng Ninh không phải là ngoại lệ ở Việt Nam. Đến ngay cả các tỉnh đồng bằng sông Hồng bây giờ cũng ngồi lo suy tính làm thế nào để khai thác được bể than sông Hồng nằm ngay dưới vựa lúa, điều nhiều nơi khác thèm được sở hữu trong bối cảnh an ninh lương thực đang là mối nguy, mà không cân nhắc hết thiệt hơn, mạnh yếu.

Định hướng bởi cách nghĩ làm thế nào để thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao, tỉ trọng công nghiệp lớn cho cái gọi là “nền kinh tế GDP tỉnh”, các địa phương mải mê vận động để xin được nhiều tiền ngân sách, thêm được nhiều vốn đầu tư vào tỉnh, có được các dự án… nhưng lại chưa suy tính xem thực sự mình mạnh gì và nên phát triển theo hướng nào.

Các quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển của các tỉnh thành là một sự sao chép lẫn nhau, không dựa trên đặc thù riêng của địa phương mình, cả về lợi thế và vị trí riêng. Thế mạnh địa phương không được phát huy, trong khi đó, “bạn không thể ra sức để trở thành mọi thứ“, GS Michael Porter đã đúc kết quy luật chung trong phát triển như vậy.

Và triệt tiêu sức cạnh tranh lẫn nhau

Không chỉ triệt tiêu sức cạnh tranh của chính mình, các địa phương còn khai thác tiềm năng theo kiểu triệt tiêu sức cạnh tranh lẫn nhau, khi chính sách phát triển của các địa phương không được đặt trong mối liên kết với các địa phương khác trong vùng và trong tổng thể phát triển chung của đất nước.

Hãy nhìn câu chuyện phát triển cảng biển Việt Nam. Dọc bờ biển Việt Nam chi chít những dự án cảng biển, tỉnh nào cũng muốn sở hữu cảng biển của riêng mình. 10 năm tới, Việt Nam có kế hoạch phát triển 39 cảng biển với 108 bến được xây dựng mới và nâng cấp, trong đó 32 cảng biển có kế hoạch xây dựng mới.

Chúng ta quên mất một điều: năng lực cạnh tranh chỉ tốt khi doanh nghiệp được sử dụng cảng biển với chi phí thấp nhất, bất kể cảng đó thuộc tỉnh nào. Càng nhiều cảng phân tán, lượng hàng càng bị chia sẻ manh mún, hiệu quả khai thác cảng càng giảm, và chi phí tất yếu tăng lên.

Chúng ta cũng quên mất rằng, ở Mỹ, dọc bờ biển phía Tây dài 1900km cũng chỉ có 3 cảng chính.

Và ta cũng quên hẳn bài học của Malaysia trong phát triển cảng biển. Trước năm 1970 chỉ có 2 cảng chính, sau đó Chính phủ quyết định mở rộng thêm 4 cảng quốc gia và 3 cảng nội địa, điều đó dẫn tới tình trạng dư thừa năng lực và cạnh tranh gay gắt giữa các cảng. Sự cạnh tranh lẫn nhau của các cảng biển làm triệt tiêu năng lực cạnh tranh chung của đất nước, khiến Malaysia rơi vào thế bất lợi.
Image
Dọc bờ biển phía Tây dài 1900km của Mỹ cũng chỉ có 3 cảng chính trong khi 10 năm tới, Việt Nam định phát triển thêm 39 cảng biển.
Không thể phủ nhận, là quốc gia có đường bờ biển dài, ở vị trí địa chiến lược, Việt Nam có lợi thế để làm trung tâm trung chuyển quốc tế. Không phải ngẫu nhiên mà hàng loạt những sáng kiến về kết nối giao thông khu vực đều tính đến Việt Nam như cửa ngõ ra biển. Thế nhưng, tận dụng thế nào điều kiện ấy là câu chuyện Việt Nam cần bàn.

Có một thời, tỉnh nào cũng đua nhau có nhà máy mía đường, xi măng lò đứng, thì nay, cùng với cuộc đua có cho được nhà máy thép…, tỉnh nào cũng lo có cho được cảng biển riêng…, mà cảng nào cũng nhỏ, lại thiếu các điều kiện đi kèm.

Hiện Việt Nam không có cảng container trung chuyển quốc tế. Ta có một số hải cảng quốc tế như Sài Gòn, Đà Nẵng, Hải Phòng đón nhận được các tàu lớn, song dịch vụ của các cảng này chưa đáp ứng yêu cầu, chi phí dịch vụ cao, thời gian thông quan lâu (từ 3 đến 7 ngày, có khi lên tới 1 tháng trong khi ở Singapore là 10 phút.) Hệ thống đường sắt, đường bộ kết nối liên tuyến với hệ thống cảng không được đầu tư. Các điều kiện hậu cần cho cảng hoàn toàn bỏ ngỏ. Cơ sở hạ tầng không theo kịp tốc độ tăng trưởng xuất khẩu.

Có một ví dụ thường được các chuyên gia dẫn chứng như một minh họa sinh động cho những ràng buộc về lợi ích cục bộ, địa phương gây cản ngại cho một chiến lược đầu tư sáng suốt trong câu chuyện cảng biển. Hiện tại, cảng Cái Mép – Thị Vải của Vũng Tàu đã được một số tàu mẹ các nước đến ăn hàng. Xét về mọi mặt, đây là cảng biển có nhiều lợi thế hơn cả để phát triển thành cảng trung chuyển quốc tế.

Thế nhưng, Tp.HCM và Long An cũng đòi đầu tư để cảng của mình thành trung chuyển quốc tế! Trong khi nguồn lực đầu tư của đất nước vào cơ sở hạ tầng vốn đang vô cùng khan hiếm.

Câu chuyện thu hút đầu tư nước ngoài của các tỉnh cũng là một ví dụ khác. Mặc dù đã có quy định về khuyến khích và ưu đãi đầu tư, thế nhưng, thực tế, các địa phương vẫn làm theo kiểu “mạnh ai nấy làm”. Ngoài các chính sách thu hút đầu tư của nhà nước, nhiều tỉnh đã phá rào, đưa thêm nhiều quy định khuyến khích đầu tư, từ ưu đãi đầu tư, miễn giảm thuế và giảm tiền thuê đất.

Cuộc khảo sát do Bộ Tài chính tiến hành năm 2006 tại 48 tỉnh, thành phố cho thấy có tới 32 tỉnh (chiếm 2/3) ban hành thêm các văn bản pháp lý trái luật nhằm quy định các ưu đãi đặc biệt để thu hút các dự án đầu tư. Theo khảo sát này, có 18 tỉnh vi phạm các quy định về ngân sách, 21 tỉnh đưa ra những ưu đãi về đất đai nằm ngoài những quy định của chính sách đất đai quốc gia, 11 tỉnh vi phạm quy định về thuế thu nhập DN và nhiều tỉnh có nhiều hơn 2 vi phạm. Hầu hết các tỉnh đưa ra các khuyến khích rất hào phóng về phí sử dụng đất, mở rộng thời kì miễn giảm thuế lên tới 10-20 năm.

Rút cuộc, cuộc đua của các tỉnh không mang lại lợi ích chung cho cả nền kinh tế. Quy hoạch tổng thể bị xới tung, cày nát. Đến nỗi có chuyên gia đã phải kêu lên rằng: cuộc đua thu hút FDI giữa các tỉnh chẳng khác nào cuộc “chạy đua xuống đáy”, khi các tỉnh hoặc là cùng chạy, hoặc là cùng chờ.

Nói như TS Vũ Minh Khương, ĐHQG Singapore, cách làm này tạo nên sự phát đạt cho một vài người nhưng lại gây hại cho sự phát triển chung của đất nước.

Vừa cạnh tranh, vừa hợp tác

“Thay vì cạnh tranh, cần khuyến khích sự phối hợp và hợp tác giữa các địa phương, các ngành”, GS Michael Porter khuyến nghị. “Các vùng và địa phương cần được khuyến khích nâng cao năng lực cạnh tranh của mình dựa trên những lợi thế và vị trí đặc thù của địa phương”.

Nhìn tổng thể quốc gia, đã tới lúc Việt Nam cần nghiêm túc thảo luận xem mình muốn đứng ở vị trí nào trong nền kinh tế toàn cầu, đâu là những ngành, lĩnh vực và thế mạnh về môi trường kinh doanh của Việt Nam mà thế giới sẽ biết tới.

Vừa cạnh tranh, vừa hợp tác, đó là mục tiêu mà Việt Nam cần hướng tới, nếu muốn thực sự định vị mình ở một vị trí cao hơn trong xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu.
quangminh
Posts: 549
Joined: Thu May 27, 2010 1:54 am
Contact:

Post by quangminh »

Nguyễn Phú Trọng sẽ là Tổng Bí thư?
Thursday, 16 December 2010
Tờ báo Nhật Bản Asahi Shimbun ngày hôm nay chạy tin nói ông Nguyễn Phú Trọng, 66 tuổi, ‘một nhân vật thân Trung Quốc’ dự kiến sẽ trở thành Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nhà báo Takeshi Fujitani, trưởng đại diện tờ báo tại Bangkok, trong bài viết đăng trên trang web của Asahi hôm nay nói ông có trong tay bản dự thảo nhân sự cấp cao, cho thấy ông Trương Tấn Sang, 61 tuổi, sẽ là Chủ tịch nước, và ông Phạm Quang Nghị, 61 tuổi, sẽ giữ chức Chủ tịch Quốc hội.

Theo bài báo, ông Nguyễn Tấn Dũng, 61 tuổi, sẽ tiếp tục là Thủ tướng.

Nhà báo Nhật nói “vì có một số phản đối dự thảo”, nên Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương đang diễn ra tại Hà Nội sẽ tập trung bàn thảo để cố gắng có sự thống nhất.

Hội nghị này sẽ tiếp tục đến ngày 21/12.
Image
Lãnh đạo tại Đại hội XI cũng sẽ lấy từ những gương mặt quen thuộc?
Cũng theo Asahi Shimbun, năm thành viên Bộ Chính trị của đảng cầm quyền hiện nay sẽ về hưu, trong đó có các ông Nông Đức Mạnh và Nguyễn Minh Triết.

Đảng Cộng sản cũng đang thảo luận liệu có mở rộng số lượng Bộ Chính trị từ 15 lên 17 hay không.

Danh sách lãnh đạo chính thức sẽ được chính thức chuẩn y tại Đại hội Đảng diễn ra vào tháng 1/2011.

Trong thời gian trước Đại hội hiện có nhiều đồn đoán cũng như thảo luận về đường lối và nhân sự của Đảng.

Nổi bật hơn cả có bài trả lời phỏng vấn của Cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An nói đến Bấm dân chủ trong Đảng và nhu cầu ra luật về hoạt động của Đảng.


Ông Nguyễn Phú Trọng, có bằng Tiến sĩ Chính trị học (chuyên ngành Xây dựng Đảng), trở thành Uỷ viên Bộ Chính trị từ năm 1997 và hai năm sau tham gia Thường trực Bộ Chính trị..

Từ năm 2000 đến 2006, ông là Bí thư Thành ủy Hà Nội và giữ chức Chủ tịch Quốc hội từ tháng Sáu 2006 đến nay.

Nguồn : BBC
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Trung Quốc chỉ trích Nhật 'vô trách nhiệm'
Bắc Kinh hôm qua có phản ứng gay gắt sau khi Tokyo công bố chính sách quốc phòng mới lấy đối phó với Trung Quốc làm trung tâm và cho rằng hoạt động quân sự của nước này là mối lo toàn cầu.
Image
Các chiến hạm của Nhật Bản. Ảnh: Telegraph

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Khương Du chỉ trích Nhật Bản là "vô trách nhiệm" khi mô tả việc Bắc Kinh phát triển sức mạnh quân đội là một mối lo ngại mang tính toàn cầu. "Không có nước nào có quyền tự cho mình cái quyền đại diện cho cộng đồng quốc tế", Telegraph dẫn lời bà Khương nhấn mạnh.

Cụ thể trong chính sách quốc phòng mới công bố hôm qua, Nhật Bản mô tả các hoạt động hải quân của Trung Quốc xung quanh hòn đảo Okinawa là "vấn đề của khu vực và cộng đồng quốc tế". Nội dung chính trong sự thay đổi chính sách quốc phòng của Tokyo là chuyển hướng quân đội từ đối phó với Nga trước đây sang đối phó với Trung Quốc.

Theo đó, trong 10 năm tới, Nhật Bản sẽ điều chuyển trọng tâm quốc phòng của mình từ hòn đảo miền bắc Hokkaido tới các đảo ở phía nam như Okinawa và các đảo đang xảy ra tranh chấp với Trung Quốc tại khu vực này.

Sự thay đổi được thể hiện qua việc Nhật sẽ tăng số máy bay chiến đấu trên đảo Okinawa và binh sĩ đồn trú trên các đảo nhỏ trong khu vực. Tokyo cũng sẽ cắt giảm xe tăng và gia tăng số tàu ngầm từ 16 lên 22 chiếc, phát triển chiến hạm có trang bị hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo Aegis từ 4 lên 6 chiếc.

Bên cạnh chiến lược tái cấu trúc quân đội, Nhật Bản cũng thúc đẩy năng lực quốc phòng thông qua mối quan hệ với đồng minh Mỹ và đẩy mạnh hợp tác với các đối tác khu vực như Hàn Quốc, Australia, Ấn Độ và ASEAN.

Đình Nguyễn
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Đối Thoại, Độc Thoại

TRẦN KHẢI

Đối thoại là phải hai chiều. Nếu một chiều thì là độc thoại. Tuy nhiên, điều tuyệt vời của nhà nước CSVN là biết cách phù phép, để làm từ một chiều độc thoại lại trông như đối thoạị nhân quyền hai chiều.

Đối với dân mình, công an sẽ làm kiểu tùy hứng -- nhẹ là quay phim chụp hình để làm bằng chứng, bắt các cô đưa hai tay lên cao mà chụp ảnh lưu niệm; nặng là bầm dập thân thể, có khi vu cáo cho đương sự về tội dám rút sợi chiếu để treo cổ tự tử, hòng làm xấu mặt công an với quốc tế. Còn với các nước thì nhà nước mở ra các cuộc đối thoại thường niên, trước đó sẽ là những màn rào đón trình diễn nhân quyền với quốc tế sau khi nhắc lại các chuyện độc chất da cam để bêu xấu Mỹ.

Tuần này, Mỹ và VN sẽ đối thoại nhân quyền. Bản tin thông tấn Đức DPA hôm 13-12-2010 nói rằng các nhà ngoạị giao Mỹ-VN hôm Thứ Hai đã họp đối thoại thường niên về nhân quyền, vài ngày sau khi đạị sứ Mỹ tại Hà Nội chỉ trích về tình hình thu hẹp quyền tự do phát biểu tại VN.

Bàn tin DPA nói rằng Phụ Tá Ngoại Trưởng Mỹ về Dân Chủ, Nhân Quyền và Lao Động Michael Posner đại diện cho phía Mỹ, còn Thứ Trưởng Ngoại Giao Phạm Bình Minh đại diện phía VN để họp.

DPA nhắc rằng, Đại Sứ Mỹ Micahel Michalak hôm Thứ Năm nói rằng VN “vẫn tiếp tục hình sự hóa quyền tự do phát biểu và quyền bất đồng chính kiến, và đã chụp mũ các đảng chính trị ngoaì Đảng CSVN là tổ chức khủng bố.”

DPA thêm, rằng “Michalak cũng khen ngợi thành tích xóa đói giảm nghèo của VN và đã nới thêm quyền tự do tôn giáo...”
Có thật vậy sao, thưa ngài Michalak?
Cùng ngày với cuộc đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ, mạng Dân Làm Báo hôm 13/12/2010 đăng bản tin nhan đề “Mục sư Nguyễn Hồng Quang và Giáo Hội Mennonite Việt Nam kêu cứu,” trong đó cho biết, trích:
“Liên tục suốt 1 tuần lễ qua, nhà cầm quyền cọng sản đã thực hiện chiến dịch bắt bớ và đe dọa tính mạng, quyền lợi của mục sư Nguyễn Hồng Quang và tòan thể tín hữu của Giáo Hội Mennonite Việt Nam.
Mục sư Nguyễn Hồng Quang ngày nào cũng bị bắt đi làm việc với PA 24, số 4 Phan Đăng Lưu, Thanh Tra Quận 2, UBND Quận 2, UBND Phường An Khánh, Phường Bình Khánh Quận 2.
Bà mục sư Lý Thị Phú Dung liên tục bị bắt đi làm việc với UBND Phường An Khánh, Phường Bình Khánh, UBND Quận 2 và Tòa án Quận 2 về các đơn kiện của bà.

Tất cả các mục sư, nhân sự của Hội Thánh bị bắt bớ từ Sài Gòn đến Tây Nguyên và Miền Trung. Những ai liên quan đến Giáo Hội Mennonite Việt Nam đều bị bắt và cho là họat động tôn giáo trái pháp luật. Riêng tại Sài Gòn những ai đến thăm gia đình mục sư Quang và cơ sở của Giáo Hội đều bị phạt hành chính, an ninh cọng sản đe dọa ghi biển số xe và hành hung, lục bóp thu Chứng minh nhân dân, giấy tờ cà vẹt xe, giấy phép lái xe, điện thọai di động đều bị tịch thu.
Hai cơ sở của Giáo Hội thì an ninh xông vào như chốn không người quay phim từng vị trí: phòng ngủ, nhà bếp, phòng làm việc, từng dụng cụ của Giáo Hội họ ghi hết. Họ dùng những lời lẽ thô tục chửi bới tín hữu, các mục sư đang cầu nguyện.

Đến nay thì phía nhà cầm quyền đã tống đạt 2 thông báo của UBND phường Bình Khánh và UBND Phường An Khánh đều thuộc Quận 2. Đó là thông báo số: 2221/TB-UBND ngày 10.12.2010 do Nguyễn Xuân Qùynh ký thay Chủ tịch UBND Phường An Khánh. Và Thông báo số: 93/TB-UBND ngày 9.12.2010 do Nguyễn Trần Thế ký thay chủ tịch UBND Phường Bình Khánh.
Nội dung cả 2 thông báo này báo cho gia đình mục sư Nguyễn Hồng Quang biết là ngày 14.12.2010 này họ sẽ cưỡng chế thu hồi mặt bằng, đồ đạc họ dọn vào nhà tạm. Chi phí cưỡng chế sẽ trừ vào tiền đền bù...” (hết trích)

Có nghĩa rằng, đúng vào ngày thứ nhì đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ, công an sẽ tới cưỡng chế thu hồi mặt bằng trụ sở của Giáó Hội Tin Lành này. Lúc đó, ông Posner đang ngồi đối thoaị với ông Phạm Bình Minh. Tuyệt vời, vài ngày sau khi Đạị Sứ Michalak khen ngợi VN nới mở tự do tôn giáo và trong khi Đặc Sứ Mỹ Posner nói chuyện ở Hà Nội, thì Mục Sư Nguyễn Hồng Quang trở thành người vô gia cư.

Nơi khác, tại tỉnh Thái Nguyên, cuộc cầu nguyện tập thể của giáó dân Công Giáo kéo dài tới ngày thứ 14 vẫn chưa được Chủ Tịch Tỉnh ra “tiếp dân.” Trong khi công an Sài Gòn dùng bạo lực với Mục Sư Lê Hồng Quang, thì công an tỉnh Thái Nguyên vẫn lặng lẽ đứng bên lề, cũng là một kiểu lặng lẽ mang sức nặng ngàn cân.
Nhưng cũng phảỉ thấy rằng CSVN rất là khéo. Bởi vì ngay tận thủ đô Hoa Kỳ, Đạị Sứ Lê Công Phụng đã có những màn trình diễn tuyệt vời, rất đúng mực ngoại giao, không thể chê được.

Trang web của đạọ Tin Lành Mormon (beta-newsroom.lds.org) trong bản tin nhan đề “Ambassador Illuminates Lights at Washington D.C. Temple Visitors’ Center” (Đại sứ thắp sáng đèn tại Trung Tâm Quan Khách ở đền thờ tại thủ đô Washington DC), nói rằng vào ngày 1/12/2010 (nghĩa là gần 2 tuần trước), Đại Sứ Lê Công Phụng đã bật nút thắp sáng nửa triệu ngọn đèn trên sân nhà thờ để mừng Lễ Giáng Sinh ở Trung Tâm Quan Khách của đền thờ Đạo Tin Lành Mormon này.
Bản tin còn nói, trước lễ thắp sáng, ông Lê Công Phụng còn đọc diễn văn trước Trưởng Lão Elder Donald L. Hallstrom, chủ tịch giáo hội Mormon. Trong quan khách còn có Thượng Nghị Sĩ Orrin G. Hatch của tiểu bang Utah, Dân biểu liên bang Howard P. “Buck” McKeon của California, và nhà đaị tư bản J. W. Marriott, Jr. Bản tin nói tham dự còn có nhiều dân biểu liên bang. Lễ Hội Ánh Sáng này sẽ kéo dài cả tháng, với dự kiến hơn 200,000 khách sẽ vào thăm nhà thờ theo truyền thống này, nơi trong khuôn viên trang trí với nhiều biểu tượng giáng sinh hiến tặng từ hơn 90 tòa đại sứ cho trung tâm này.
Câu hỏi nên nêu ra rằng, tại sao không mời Đạị Sứ Trung Quốc, hay Đại Sứ Saudi Arabia bật đèn cho lễ hội này, mà lại mời ông Lê Công Phụng? Rồi không lẽ Tin Lành Mormon không chịu suy nghĩ gì về hoàn cảnh Tin Lành Mennonite? Rồi các thượng nghị sĩ, dân biểu dự lễ này tương lai sẽ phản ứng ra sao khi bàn về dự luật nhân quyền VN và dự luật trừng phạt CPC đối với VN? Không lẽ vừa mới nâng ly chúc mừng Giáng Sinh với Lê Công Phụng, mà lại chỉ vào mặt kể tội sát thủ nhân quyền? Như thế, có thể đoán rằng Mỹ sẽ chơi màn giơ cao đánh khẽ đối với nhà nước Hà Nội. Thế nào thì chúng ta chưa rõ, nhưng nhiều phần sẽ không nặng tay.

Còn đối với cộng đồng Việt hải ngoại, các chiêu tiếp thị của ông Lê Công Phụng lại không hiệu lực gì: Vào chiều tối Ngày Quốc Tế Nhân Quyền 10 tháng 12 năm 2010, Lễ Trao Giải Nhân Quyền Việt Nam năm 2010 đã được diễn ra một cách trang trọng và ấm cúng với gần 200 quan khách người Việt và ngọai quốc, cùng số đông bà con đồng hương tham dự, tại hội trường Trung tâm Văn hóa Việt nam tọa lạc trên đường Bellaire, thành phố Houston tiểu bang Texas.

Buổi lễ được tổ chức do sự hợp tác của Mạng Lưới Nhân Quyền Việt nam có trụ sở chính tại California cùng với tổ chức Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại Houston và Phụ Cận, và được sự bảo trợ của rất nhiều tổ chức và đòan thể tại các thành phố địa phương lân cận như Austin, San Antonio, Dallas, Fort Worth trong tiểu bang Texas, và các hội đoàn cộng đồng như Hội Văn Hoá Khoa Học Việt Nam, Hội Phụ Nữ Âu Cơ, Uỷ Ban Tranh Đấu cho Nhân Quyền tại Việt Nam, Phong Trào Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại tại Houston, và Hội Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh tại Texas.

Buổi lễ được điều khiển thật nhịp nhàng trang trọng bằng cả hai thứ tiếng Việt và tiếng Anh bởi kỹ sư Nguyễn Ngọc Bảo và Cô Nguyễn Phúc Anh Lan. Sau phần nghi thức chào cờ và hát quốc ca Việt Mỹ cùng một phút mặc niệm, thì vị Trưởng Ban Tổ chức là ông Nguyễn Phi Hiệp đã lên diễn đàn chào mừng quan khách và tuyên bố khai mạc buổi lễ. Tiến sĩ Nguyễn Bá Tùng, Trưởng Ban Phối Hợp Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam, tiếp đó đã diễn giải ý nghĩa của Ngày Quốc Tế Nhân Quyền lần thứ 62 trong bối cảnh tình hình nhân quyền tại Việt Nam hiện nay. Ông cũng đề cập đến lý do MLNQVN đã bầu chọn hai nhà hoạt động nhân quyền Đoàn Huy Chương và Trương Minh Đức để trao Giải Nhân Quyền Việt Nam năm nay.

Bản tin từ Mạng Lưới Nhân Quyền VN viết:

“Lễ trao giải được bắt đầu với việc tuyên đọc tiểu sử và thành tích của mỗi nhân vật đã được Mạng Lưới Nhân Quyền bầu chọn để lãnh giải trong năm 2010.

Bà Liên Bích, đại diện cho Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Dallas và Hạt Tarrant và cô Cindy Đinh đã giới thiệu thành tích tranh đấu cho người lao động của anh Đòan Huy Chương bằng song ngữ. TS Nguyễn Bá Tùng đại diện Mạng Lưới Nhân Quyền VN đã trao bản tuyên dương ghi công lao của ông Đòan Huy Chương cho chị Thuỳ Hương, người được gia đình anh Chương uỷ nhiệm nhận thay.

Ông Cung Nhật Thành và Nha sĩ Chu Văn Cương giới thiệu thành tích đấu tranh bền bỉ và kiên cường chống tham ô và bênh vực dân oan của nhà báo Trương Minh Đức. Luật sư Đòan Thanh Liêm đại diện Mạng Lưới Nhân Quyền VN trao bản tuyên dương ghi công lao của ông Trương Minh Đức cho bà Anh Trinh, thuộc Đảng Vì dân đã được gia đình Ông Đức ủy nhiệm nhận thay.

Toàn thể hội trường chăm chú theo dõi lời phát biểu vô cùng cảm dộng cuả hai vị hiền thê của hai khôi nguyên Giải Nhân Quyền VN đã được ghi âm trước đó từ Việt Nam. Hai chị cám ơn những sự hỗ trợ của đồng bào khắp nơi đối với những nhà hoạt động nhân quyền bị đàn áp nói chung và chồng của hai bà nói riêng.

Đặc biệt Ban Tổ chức cũng cho phát lại lời phát biểu từ trong nước của Linh mục Phan Văn Lợi và của Luật sư Lê Thị Công Nhân là hai nhân vật đã được trao giải Nhân quyền mấy năm trước đây...”(hết trích)

Như thế là một chiều đối nghịch: trong khi ông Lê Công Phụng thắp đèn cho Lễ Hội Ánh Sáng ở nhà thờ Mormon, Mạng Lưới Nhân Quyền VN lại thắp sáng nhân quyền ở Houston.

Và trong ngày Thứ Ba 14-12-2010, công an sẽ biến gia đình Mục Sư Nguyễn Hồng Quang trở thành người vô gia cư. Giáo Hội Tin Lành Mormon từ thủ đô Mỹ có thể sẽ không nghe chuyện Giáo Hội Tin Lành Mennonite của MS Quang bị trấn áp, nhưng không lẽ Phụ Tá Ngoại Trưởng Mỹ Posner và Đại Sứ Mỹ Michalak đang ngồi họp ở Hà Nội lại không nghe chuyện Mục Sư Quang và gia đình bị đẩy ra ngoài hè phố?
Thế đấy: Ông Posner đối thoại nhân quyền với ông Phạm Bình Minh, còn Mục Sư Nguyễn Hồng Quang đành đối thoại với dùi cui công an. Hay, phải chăng là các chiều độc thoại?
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Image

Nhật Bản công khai xác định :
Quân đội Trung Quốc là mối đe dọa quốc tế


Trọng Nghĩa
Đang trong chiều hướng hòa dịu trở lại sau nhiều tuần lễ sóng gió, quan hệ Nhật Trung hôm nay (17/12/2010) đã lại bất ngờ trở nên căng thẳng. Nguyên nhân là vì chính sách quốc phòng mới, vừa được Tokyo công bố, đã xác định rằng tiềm lực quân sự của Trung Quốc là một mối đe dọa không chỉ cho vùng Châu Á, mà cho cả quốc tế.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc, bà Khương Du, đã lên tiếng đả kích những lời lẽ bị coi là ‘’vô trách nhiệm’’. Đối với Bắc Kinh, không một quốc gia nào "có quyền tự cho mình là đại diện của cộng đồng quốc tế, hoặc đưa ra những bình luận vô trách nhiệm về sự phát triển của Trung Quốc". Theo bà Khương Du, Bắc Kinh ‘’không hề đe dọa bất kỳ ai’’.

Phản ứng gay gắt của Trung Quốc được đưa ra ít lâu sau khi chính quyền Nhật Bản chính thức thông qua một kế hoạch quốc phòng thực hiện trong vòng 10 năm tới đây, tăng cường lực lượng quân sự xuống các đảo ở phía Nam, một kế hoạch được xem là nhằm đối phó với hiểm họa đến từ Trung Quốc và Bắc Triều Tiên.

Từ ngữ trong tài liệu, mang tên là Bản Hướng dẫn về Chương trình Quốc phòng, mang tính chất mạnh mẽ khác thường khi nhắm vào Trung Quốc và các hoạt động ngày càng gia tăng của hải quân nước này, xem đấy là một vấn đề đáng ‘’quan ngại’’ cho cả khu vực lẫn thế giới. Bản hướng dẫn nói :

« Trung Quốc đang tăng cường nhanh chóng sức mạnh quân sự và gia tăng hoạt động trong các vùng biển bao quanh nước này. Cộng thêm với tính chất thiếu minh bạch của Trung Quốc trong các vấn đề liên quan đến quân sự và an ninh, chiều hướng này trở thành một mối quan ngại cho khu vực và cộng đồng quốc tế. »

Chính sách quốc phòng mới của Tokyo được ban hành trong bối cảnh mới đây quan hệ ngoại giao Nhật Trung căng thẳng hẳn lên chung quanh sự cố tàu cá Trung Quốc đâm vào tàu tuần duyên Nhật Bản tại vùng quần đảo Senkaku/Điếu Ngư tại biển Hoa Đông. Nơi này do Nhật Bản kiểm soát, nhưng bị Trung Quốc đòi chủ quyền. Bên cạnh đó, các động thái của Trung Quốc dùng sức mạnh để áp đặt chủ quyền trên Biển Đông cũng làm nhiều nước quan ngại, từ Việt Nam cho đến Hoa Kỳ.

Một cách cụ thể, theo kế hoạch mới, Tokyo sẽ tăng cường lực lượng tàu ngầm của mình, từ 16 chiếc hiện nay lên thành 22 chiếc, cũng như sẽ hiện đại hóa các phi đội chiến đấu cơ. Hệ thống tên lửa chống tên lửa cũng được củng cố thêm, với các dàn phóng hỏa tiễn Patriot PAC-3 đặt trên đất liền, được tăng từ 3 lên thành 6 dàn, trong lúc hệ thống tên lửa ngăn chặn SM-3 trên biển, cũng được nâng lên từ 4 lên thành 6 đơn vị bố trí trên các khu trục hạm loại Aegis.

Về quan điểm phòng thủ, Tokyo cũng thay đổi đối tượng cần ưu tiên dè chừng. Nếu chiến lược cũ tập trung phòng thủ ở mạn Bắc, dự phòng nguy cơ đến từ Liên Xô, rồi sau đó là Nga, nước vẫn tranh chấp chủ quyền với Nhật Bản trên quần đảo Kuriles, thì giờ đây, trọng tâm chú ý được dồn xuống phía Nam.

Lực lượng đồn trú trên đảo Hokkaido đối diện với Nga sẽ được tái triển khai, trong lúc nhiều đơn vị hải, lục, và không quân sẽ được bố trí trên quần đảo Nansei ở phía Nam, gần Okinawa, và gần khu vực có tranh chấp với Trung Quốc. Đây cũng là khu vực mà hải quân Trung Quốc hoạt động mạnh mẽ trong thời gian gần đây.

Kế hoạch quốc phòng mới của Nhật Bản dự trù đẩy mạnh hợp tác với Hàn Quốc, Úc, Ấn Độ và các nước Đông Nam Á, đồng thời cũng khẳng định trở lại tính chất thiết yếu của liên minh với Hoa Kỳ.

Theo ông Akira Kato, chuyên gia phân tích an ninh tại trường Đại học Oberlin ở Tokyo, thì Bản Hướng dẫn về Chương trình Quốc phòng Nhật Bản thông qua phản ánh một chuyển hướng rõ rệt, mà mục tiêu là đối phó với sức mạnh hải quân không ngừng gia tăng của Trung Quốc, được xem là một mối đe dọa chủ yếu đối với Nhật Bản và Hoa Kỳ.

Lẽ dĩ nhiên, ngoài Trung Quốc, Chương trình quốc phòng mới của Nhật Bản cũng nhằm đối phó với Bắc Triều Tiên, là nước vẫn coi Tokyo là một kình địch.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Ðới Bỉnh Quốc lừa dối

Ngô Nhân Dụng
Trên trang mạng của bộ Ngoại Giao Trung Quốc ngày 6 tháng 12 đã đăng một bài dài khoảng 9,000 chữ của ông Ðới Bỉnh Quốc (Dai Bingguo), phó thủ tướng, ủy viên Quốc Vụ Viện, cố vấn cho ông Hồ Cẩm Ðào về ngoại giao.

Bản văn này nhan đề “Kiên trì theo đường lối phát triển hòa bình.” Mục tiêu của bài này để là trấn an giới lãnh đạo Mỹ, chuẩn bị cho chuyến đi thăm Washington của ông Hồ Cẩm Ðào sang vào tháng 1 năm 2011. Ông Ðới xác định rằng nước Tầu không có ý định cạnh tranh ảnh hưởng với Mỹ ở khắp nơi, kể cả Á Châu.

Ðoạn thứ năm trong bài này đặt câu hỏi: “Trung Quốc có ý xưng bá trên thế giới hay không?” Ông Ðới Bỉnh Quốc nói, Trung Quốc không muốn chiếm bá quyền, không giành ảnh hưởng bá quyền với quốc gia khác. Ðể cho người Mỹ hiểu dễ hơn và gợi lại thêm mặc cảm tội lỗi cho họ, ông nói Trung Quốc không theo một “Chủ thuyết Monroe” ở Á Châu (ông nhắc tới tên vị tổng thống Mỹ vào thế kỷ 19 chủ trương nước Mỹ độc quyền gây ảnh hưởng ở Châu Mỹ La tinh, các nước Âu Châu không nên chen vào). Ðới Bỉnh Quốc giải thích: “Kinh nghiệm về những cường quốc đã lên rồi lại xuống cho chúng tôi một bài học là không thể theo con đường bành trướng và chạy đua vũ trang được.” Chính sách và chiến lược căn bản của Trung Quốc, Ðới Bỉnh Quốc nói, là “không tìm cách chiếm bá quyền.” Ông khẳng định: “Nhìn lại lịch sử, Trung Quốc không có truyền thống chiếm bá quyền.”

Ðọc tới câu này, hễ là người Việt Nam ai cũng phải bật cười. Người Tây Tạng, người Mông Cổ, người Hồi ở Tân Cương, Thanh Hải, sẽ phải nổi giận, đến sôi gan tím ruột! Chắc chỉ có một giống người có thể nhắm mắt tin tưởng lời ông Ðới Bỉnh Quốc nói, là cái giống tin vào “16 chữ vàng.”

Ai cũng phải hỏi: Trung Quốc “không có truyền thống xưng bá quyền” thật sao? Ông Ðới Bỉnh Quốc không những không chịu đọc lịch sử mà ông còn quên cả các bài học địa dư. Có phải ông chưa coi bản đồ bao giờ hay không? Nếu trong lịch sử các chính quyền Trung Hoa không xâm chiếm lân bang thì làm sao quốc gia họ có một lãnh thổ rộng lớn như bây giờ? Bộ người dân các nước ở bốn chung quanh Hoa Hạ đều đã tình nguyện xin được lệ thuộc vào các vua nhà Hán, nhà Ðường, cho đến những nhà Mao, Ðặng, để các đám dân “man rợ” này được trở thành thần dân của quý vị thiên tử hay sao?

Ngay từ thế kỷ thứ ba trước Công nguyên, Tần Thủy Hoàng đã theo chủ trương bành trướng. Ông ta sai tướng với hàng triệu quân đi chiếm đất đai của các giống dân khác ở phía Nam Trường Giang, thường gọi là sống Dương Tử. Hành động đó không gọi là chính sách Bá Quyền thì gọi là gì? Khi một viên tướng trong đạo quân đó, ông Triệu Ðà thấy nhà Tần sụp đổ, tính cùng với các dân tộc Việt ở phía Nam lập thành một quốc gia riêng gọi tên là Nam Việt, thì đến năm 111, hoàng đế nhà Hán đã sai quân đến cướp nước đó để lập thành châu quận lệ thuộc Trung Quốc. Năm 40 sau Công nguyên, các bộ tộc người Lạc Việt ở nước Văn Lang cũ đứng lên giành độc lập, vua nhà Hán lại sai Mã Viện sang tiêu diệt lực lượng đề kháng này. Mã Viện không những đã cầm quân chinh phục Văn Lang mà còn nổi tiếng Phục Ba Tướng Quân trong lịch sử vì ông ta cũng đánh Nam dẹp Bắc, thôn tính đất đai, mở mang bờ cõi nước Trung Hoa. Nếu dân Trung Hoa không có óc bá quyền thì tại sao họ vẫn sùng bái ông Tướng Phục Ba này, lập đền thờ khắp các tỉnh vùng biên giới với Việt Nam, mà tới bây giờ vẫn còn nhiều người Việt Nam không biết gì, cứ tới sì sụp lễ ông ta?

Mã Viện là người thực sự mở đầu 10 thế kỷ đô hộ và đồng hóa của các chính quyền Trung Quốc đối với dân tộc Việt Nam. Ông đặt các quan cai trị trực tiếp một cách gắt gao như buộc thừng (dĩ thằng nhi trị); xóa bỏ các chức lạc hầu, lạc tướng vẫn có từ thời Hồng Bàng để tiêu diệt tầng lớp lãnh đạo cổ truyền; bắt dân bản xứ bỏ hết các phong tục, tập quán cũ, dần dần sẽ phải sống theo lối người Hán. Hơn 9 thế kỷ sau, người Trung Hoa đã tiếp tục chính sách của Mã Viện ở nước ta. Họ không những chỉ chiếm đất đai, chiếm tài nguyên kinh tế và bắt dân Việt Nam làm lao động phục vụ họ như nô lệ. Chủ trương của họ ở khắp nơi vẫn là tiêu diệt đặc tính của “các sắc dân mọi rợ” bằng chính sách đồng hóa. Họ muốn biến tất cả thành người Trung Hoa hết, để muôn ngàn năm sau những giống dân “man, di, nhung, địch” đó không còn dấu vết nào nữa.

Các hoàng đế Trung Hoa không coi các sắc dân này là “người!” Những ai học chữ Hán đều biết rằng trong cách người Trung Hoa viết những tên mà họ dùng để gọi các giống dân chung quanh Hoa Hạ, là “man, di, nhung, địch,” tất cả các tên đó đều được viết cùng một “bộ” như khi viết tên các thú vật và côn trùng!

Lần cuối cùng người Trung Quốc chiếm đóng và cai trị người Việt Nam là đầu thế kỷ 15. Khi vua Minh Thành Tổ sai các tướng cầm quân sang chiếm nước Ðại Việt của chúng ta, ông vua tiêu biểu của các chính quyền Trung Quốc này đã ra lệnh các tướng phải tiêu diệt nền văn hóa dân bản xứ một cách “có hệ thống.” Học giả Nguyễn Huệ Chi viết trong lời mở đầu cuốn Thơ Văn Lý Trần (quyển 1) đã thuật lại những sắc chỉ của Minh Thành Tổ gửi cho các tướng, bắt họ phải đi tìm tất cả các sách do người dân Việt viết bằng chữ Hán, bắt phải hủy diệt hết. Sắc chỉ nói rõ ràng mỗi khi tìm được các sách đó binh lính phải đốt ngay tại chỗ, không cần phải đem về trình cấp trên! Chỉ những sách Kinh Phật giáo, Ðạo giáo, sách thuốc, sách bói toán là được miễn. Ngay cả những cuốn sách giáo khoa dạy trẻ nhỏ bắt đầu với câu “Thượng đại nhân, Khổng ất kỷ” cũng phải đốt! Một đạo sắc sau đó của Minh Thành Tổ đã đưa lời trách mắng các tướng nhà Minh chưa thi hành triệt để lệnh đốt sách kể trên. Vì ông vua này được báo cáo có nhiều đám lính tìm được sách do người Việt trước tác đã quên không đem đốt tại chỗ mà còn đem về nộp! Cuộc xâm lăng của quân Minh, và 20 năm họ thống trị nước ta, chấm dứt năm 1428, đã thành công một phần trong dự án tiêu diệt văn hóa với mục đích biến người Việt thành người Trung Hoa. Bao nhiêu công trình văn học, triết học đã bị hủy, đời sau người Việt chỉ còn nghe nói đến tên nhưng không biết nội dung ra sao!

Nhắc lại những trang sử bi thương của dân tộc Việt Nam khi bị các chính quyền Trung Quốc xâm lược và âm mưu đồng hóa, không phải vì chúng ta muốn gây căm thù đối với người Trung Hoa. Các người lãnh đạo nước Trung Hoa không những đã thi hành chính sách đó đối với người Việt chúng ta, mà còn áp dụng khi đánh chiếm các nước khác nữa. Sức mạnh văn hóa của Hán tộc đã đủ để gây ảnh hưởng trên các nước lân bang, không khác gì các nền văn minh Hy Lạp, La Mã đã đã để lại dấu vết trên các nước Âu Châu đời trước. Nhưng các nước phát sinh ra hai nền văn minh Hy La không phải là những đế quốc tồn tại lâu dài; cho nên quà tặng của họ cho nhân loại bây giờ vẫn được ghi ơn mà không còn gây thù hận. Người Hán thì ngược lại. Họ truyền bá văn minh Hán tộc bằng cách tiêu diệt văn hóa các sắc dân khác. Bây giờ họ vẫn tiếp tục làm công việc đó đối với người Tây Tạng, Thanh Hải, Tân Cương. Giống dân Mông Cổ còn may mắn giữ được một mảnh đất làm xứ sở, nhờ được Nga bảo trợ một thời gian. Văn hóa, ngôn ngữ dân Mãn Châu, từng cai trị nước Tầu gần 4 thế kỷ, ngày nay hầu như đã bị tiệt diệt cả rồi. Phải nhắc lại những chuyện này chỉ để chứng minh rằng những lời ông Ðới Bỉnh Quốc mới viết là hoàn toàn sai sự thật. Ông Ðới Bỉnh Quốc chắc chắn không phải là người ngu dốt, vô học. Cố tình nói sai sự thật như vậy, phải nói là không lương thiện. Mục đích rõ ràng là để lừa gạt.

Chính sách hiện nay của Trung Quốc có thực sự hòa hoãn, không chủ trương bá quyền đúng như ông Ðới Bỉnh Quốc mới viết hay không?

Ba ngày sau khi bộ Ngoại Giao Trung Quốc công bố chính sách trên, tạp chí Hoàn Cầu Thời báo, một cơ quan chính thức của đảng Cộng Sản, đã đăng một bài phỏng vấn Trung Tướng Bành Quang Khiêm (Peng Guangqian), trong đó ông cảnh cáo người Trung Hoa về “ảo tưởng hòa bình.” Ông tướng 67 tuổi này thuộc nhóm các giáo sư “diều hâu” trong Học Viện Khoa Học Quân Sự Trung Quốc, đã viết nhiều sách, báo về chiến lược quốc phòng. Ông nói rằng tình trạng kinh tế toàn cầu hóa, các nước phải tùy thuộc lẫn nhau “không có nghĩa là chiến tranh không thể xảy ra nữa.” Lý do chính, ông giải thích, vì “bản chất bành trướng của chủ nghĩa tư bản độc quyền.” Ngoài ra, ông nêu hai lý do khác, là chính sách bá chủ của Mỹ; và nước Mỹ không chấp nhận cho Trung Quốc vươn lên. Trước đây ông Bành Quang Khiêm từng đe dọa rằng nếu Ðài Loan tuyên bố độc lập thì chiến tranh sẽ xảy ra; Trung Quốc không còn quan tâm đến các vấn đề cô lập về kinh tế, mất đầu tư ngoại quốc hay là bị các nước tẩy chay nữa.

Trong mấy năm gần đây, các vị tướng lãnh Trung Quốc đã nhiều lần lên tiếng đe dọa các nước khác. Tướng Trương Triệu Ngân (Zhang Zhaoyin), phó tư lệnh khu quân sự Thành Ðô, tỉnh Tứ Xuyên viết trong nhật báo Quân Ðội Nhân Dân là Trung Quốc phải từ bỏ chủ trương lỗi thời là xây dựng một quân lực cho thời bình. Ông nói, nhiệm vụ chủ yếu của quân đội là “chuẩn bị chiến tranh, chiến đấu và thắng trận.” Trung Tướng Kim Nhất Nam (Jin Yinan), phó giám đốc Nghiên Cứu Chiến Lược trong Ðại Học Quốc Phòng đã nêu lên chủ trương Trung Quốc phải là một “quốc gia vĩ đại.” Một giáo sư khác tại Ðại Học Quốc Phòng là Phó Ðề Ðốc Dương Nghị (Yang Yi), đã cảnh cáo các nước khác, không nêu rõ tên, là họ không nên lầm tưởng rằng Trung Quốc sẽ không dám dùng vũ lực chỉ vì muốn phát triển kinh tế một cách hòa bình. Ông nói hiểu lầm như vậy là rất nguy hiểm!

Ðiều đáng lo ngại nhất cho nước Việt Nam ta là giới tướng lãnh Trung Quốc đang đề xướng một quan niệm về “biên cương quyền lợi quốc gia.” Ông Hoàng Côn Luân (Huang Kunlun), nhà bình luận trên nhật báo Quân Ðội Nhân Dân, đã viết rằng quyền lợi của Trung Quốc vượt ra ngoài phần lãnh thổ, hải phận của họ. Quyền lợi đó phải bao gồm cả những vùng biển mà tầu thủy Trung Quốc lưu thông: Với sứ mạng lịch sử của chúng ta, quân đội Trung Quốc không những phải bảo vệ lãnh thổ mà còn phải bảo vệ “biên cương quyền lợi” của nước mình. Chính quan niệm “biên cương quyền lợi” này đưa tới việc họ coi Biển Ðông của nước ta là vùng “hạch tâm quyền lợi,” tức quyền lợi cốt lõi của người Trung Hoa.

Ngày hôm nay, các nước ASEAN và Trung Quốc bắt đầu họp với nhau ở thành phố Côn Minh để bàn về vấn đề này. Những quy tắc cư xử trong vùng Biển Ðông đang tranh chấp đã ký kết từ lâu nhưng không được Trung Quốc áp dụng. Chính sách của Bắc Kinh đối với các quốc gia Ðông Nam Á lâu nay là chỉ muốn họp tay đôi khi có tranh chấp hải phận. Trong khi đó các nước Việt Nam, Malaysia, Brunei và Philippines đang có tranh cãi với Bắc Kinh tại vùng Trường Sa thì muốn cùng nhau tiến tới những lập trương chung để đối đầu với nước khổng lồ phía Bắc. Trong cuộc họp này chúng ta sẽ thấy sự thật là chính sách ngoại giao của ông Ðới Bỉnh Quốc muốn bành trướng bá quyền bằng cách “chia để trị” như thế nào!
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

LÀM SAO ĐỂ GIỮ VỮNG ĐƯỢC
CĂN CƯỚC TỴ NẠN CHÍNH TRỊ?


LS Lê Duy San
Sau ngày 30/4/1975, cả triệu người Việt chúng ta bằng cách này hay cách khác, đã phải rời bỏ quê hương vì không chấp nhận sống dưới chế độ độc tài cộng sản dã man. Số người này, nay có thể lên tới gần ba triệu người do sự sinh sản hoặc bảo lãnh.

Lúc đầu, tinh thần chống Cộng của người Việt tỵ nạn rất cao, nên hầu như bất cứ có một cơ hội nào để hội họp hay biểu tình đả đảo Việt Cộng, đồng bào cũng tham gia rất đông đảo và tinh thần lúc nào cũng hăng hái và tích cực. Cờ quốc gia (cờ vàng ba sọc đỏ) lúc nào cũng được giơ cao, bài quốc ca lúc nào cũng được hát lớn để hùng hồn minh chứng cho lập trường không đội trời chung với Việt Cộng Sản của người Việt tỵ nạn.

Nhưng kể từ ngày Việt Cộng bắt đầu cho phép những người Việt hài ngoại về thăm quê hương và nhất là từ ngày Mỹ bắt đầu ký bang giao với Cộng Sản Việt Nam, số cán bộ Việt Cộng công du ngoại quốc càng ngày càng nhiều, số sinh viên du học ngoại quốc, nhất là tại Hoa Kỳ cũng càng ngày càng đông; một số người Việt hải ngoại vì muốn đi về làm ăn với Việt Cộng nên lập trường của họ đã trao đảo, một số khác còn công khai ca tụng, tâng bốc Việt Cộng. Trong khi đó thì bọn Việt Cộng và bọn Việt Gian Cộng Sản lại cố tìm cách làm lu mờ hình ảnh người Việt tỵ nạn Cộng Sản nhằm xóa bỏ tội ác của chúng hòng dễ xâm nhập vào cộng đồng của người Việt tỵ nạn. Chúng đã dùng áp lực ngoại giao yêu cầu các chính phủ Mã Lai, Nam Dương phải phá bỏ những bia, những đài tưởng niệm tỵ nạn Cộng Sản được đồng bào vượt biên tỵ nạn Cộng Sản xây tại các đảo tỵ nạn như Pulau Bidong ở Mã Lai và Galang ở Nam Dương.

Tại các nước đồng bào VN tỵ nạn định cư, chúng xúi dục những thành phần tỵ nạn có lập trường trao đảo hoặc thân Cộng bỏ quốc kỳ VNCH, không hát quốc ca VNCH như đã xẩy ra tại Cộng Đồng VN tại San Fernando ở California, và đề nghị xóa bỏ hai chữ tỵ nạn trong các danh xưng của các hội đoàn, các cộng đồng như đã xẩy ra tại Cộng Đồng VN tai Úc Châu. Vì thế, nếu chúng ta không có phương cách nào để bảo vệ căn cước tỵ nạn chính trị của chúng ta, thì chắc chắn căn cước tỵ nạn chính trị của chúng ta sẽ mất.

Luật Sư Đoàn Thanh Liêm đã nhìn thấy vấn đề nên gần đây có viết một bài nhan đề: “Phải giữ vững căn cước tỵ nạn chính trị”, nhưng tiếc rằng ông đã không đưa ra một phương sách cụ thể nào để giữ vững được căn cứơc tỵ nạn chính trị của chúng ta. Ông nói: “Trong mấy năm gần đây, chánh quyền Hanoi đã vươn cánh tay dài ra ngoài nước để tìm cách ve vãn, lũng loạn các tổ chức của cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Họ đã đưa ra cả một chính sách dựa trên Nghị quyết số 36 của Bộ Chính Trị Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng sản, nhằm o bế và khống chế khối đông đảo người Việt sinh sống ở ngoài nước như chúng ta. Và họ còn dùng mọi thủ đoạn nham hiểm, thâm độc nhằm gây chia rẽ, mâu thuẫn, đố kỵ trong lòng đại khối người không cộng sản, theo đúng chiến thuật cố hữu “Chia để Trị”, mà chế độ độc tài nào cũng thường hay áp dụng hầu giữ vững ngai vàng của mình. Và tiếc thay, đã có một số ít người xưa nay vẫn ở trong hàng ngũ người tỵ nạn như chúng ta, mà gần đây đã vô tình hay cố ý tiếp tay cho chính sách này của đảng cộng sản. Cái thứ “Đạo quân thứ năm này” đã thấy lai rai xuất hiện trong một số tổ chức chính trị, văn hóa, xã hội và ngay cả tôn giáo nữa. Do vậy, mà đã có hiện tượng chao đảo về lập trường tranh đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền trong hàng ngũ người tỵ nạn chúng ta.”

Luật Sư Đoàn Thanh Liêm có đưa ra ba khẳng định:

1/ Khẳng định 1: Với tư cách là công dân Hoa Kỳ, chúng ta không thể làm điều gì trái với chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ, nhưng chúng ta có thể vận động để chính phủ Mỹ có đường lối chính sách phù hợp với lý tưởng của chúng ta là tranh đấu cho một nước VN có tự do, dân chủ và nhân quyền.

2/ Khẳng định 2: Việc đấu tranh cho một nước VN có tự do, dân chủ và nhân quyền là nhiệm vụ của khối đại đa số đồng bào trong nước. Nhiệm vụ của chúng ta, những người Việt hải ngoại, chỉ là hỗ trợ.

3/ Khẳng định 3: Chúng ta là người Việt tỵ nạn Cộng Sản, chúng ta cần phải giữ vững căn cước tỵ nạn Cộng Sản của mình.

Cả ba khẳng định trên, hai khẳng định đầu là nói về phương cách đấu tranh của chúng ta. Chỉ có khẳng địng 3 nói về vấn đề cần phải giữ vững căn cước tỵ nạn Cộng Sản, nhưng rất tiếc ông đã không đưa ra một phương sách nào cả.

Để bổ túc cho vấn đề này, tôi xin đưa ra 3 phương sách sau:

I/ Đối với cá nhân: Không làm đơn xin giữ quốc tịch VN hay làm đơn xin hồi tịch VN.

Như trong bài “Vấn đề quốc tịch…” của tôi viết cách nay ít lâu, tôi có nói:
“Chúng ta bỏ nước ra đi là chúng ta không chấp nhận chế độ độc tài dã man của Việt Cộng chứ chúng ta không hề từ bỏ quốc tịch Việt Nam . Và ngay cả khi chúng ta nhập tịch Hoa Kỳ hay một nước nào khác, chúng ta cũng không hề tuyên bố từ bỏ quốc tịch VN như một số người lầm tưởng. Theo luật quốc tịch của Việt Cộng thì chúng ta chỉ mất quốc tịch khi có làm đơn xin và đơn xin từ bỏ quốc tịch của chúng ta phải do bọn chúng chấp thuận.

Theo Hà Hùng Cường, Bộ Trưởng Tư Pháp Việt Cộng thì trong vòng 5 năm, kể từ ngày 1/7/2009 tức ngày luật Quốc Tịch VN có hiệu lực mà Việt kiều nào không làm nạp đơn xin giữ quốc tịch VN thì trong vòng 5 năm, sẽ bị mất quốc tịch VN. Tuy nhiên bất cứ lúc nào họ cũng có thể xin trở lại quốc tịch VN, tức xin hồi tịch, nếu có cha mẹ, vợ chồng hay con cái là công dân Việt Nam. Nhưng hồi tịch để làm gì? Điều này chẳng qua là Việt Cộng muốn những người về làm ăn với Việt Cộng phải dứt khoát theo chúng.

Chúng ta đã dứt khoát không chấp nhận chế độ độc tài CS và bỏ nước ra đi để tỵ nạn, thì tại sao chúng ta nay lại đút đầu vào thòng lọng cho chúng thắt lại? Xin đừng vì những lời dụ dỗ ngon ngọt của chúng, xin đừng vì một chút lợi danh hão huyền mà bọn chúng đưa ra để rồi sẽ ân hận cả đời vì một khi chúng ta đã xin giữ quốc tịch VN hay xin hồi tịch VN tức là chúng ta đã từ bỏ tư cách tỵ nạn Cộng Sản và từ bỏ căn cước tỵ nạn Cộng Sản của chúng ta. Chúng ta trở thành công dân của nuớc Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa VN tức công dân Việt Cộng và lẽ dĩ nhiên chúng ta và con em chúng ta phải có những bổn phận và nghĩa vụ đối với nước “CHXHCNVN” dù chúng ta ở VN hay ngoại quốc như đóng thuế, đi quân dịch. Tới lúc đó thì có hối cũng không kịp.

II/ Đối với các Hội Đoàn và Cộng Đồng:

1/ Trong Nội Quy của các Cộng Đồng hay Hội Đoàn, dù là Hội Ái Hữu, mục đích và tôn chỉ phải ghi rõ lập trường và tôn chỉ của Hội là không chấp nhận chế độ Cộng Sản Việt Nam dưới bất cứ hình thức nào.

2/ Trong các sinh hoạt cộng đồng, phải có chào cờ VNCH và hát quốc ca VNCH

Trong các sinh hoạt cộng đồng dù chỉ có tính cách văn hoá hay giải trí, chúng ta luôn luôn phải đòi hỏi ban tổ chức phải có phần nghi lễ chào cờ Việt Mỹ* và hát quốc ca Việt Mỹ. Nếu thấy ban tổ chức thiếu sót, chúng ta phải mạnh dạn phản đối và đặt vất đề ngay với ban tổ chức. Mạnh dạn lên sân khấu nói thật lớn nếu không mượn được micro.

Ngay cả trường hợp thấy một tên thân Cộng nào tới dự cũng nên báo ngay cho ban tổ chức biết và yêu cầu họ phải mời tên đó ra khỏi hội trường. Nếu ngại đụng chạm thì cũng nên tỏ bầy quan điểm với người khác để họ lên tiếng. Nếu không bảo nhau phản đối lớn tiếng được thì bảo nhau cùng gõ lớn tiếng vào bát đũa. Hành động này chẳng có gì là bất hợp pháp và cũng chẳng đụng chạm tới ai mà sợ.

III/ Trong phần văn nghệ phụ diễn, tuyệt đối không hát nhạc Trịnh Công Sơn.

Trịnh Công Sơn không những là một tên ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng Sản mà còn là một tên Cộng sản nằm vùng. Trước 1975, hắn đã được nhiều ông lớn che chở trốn quân dịch. Thay vì làm những bản nhạc nâng cao tinh thần chiến đấu của binh sĩ, hắn đã làm những bản nhạc tình ủy mị, những bản nhạc “phản chiến”. Thực ra hai chữ này chúng ta dùng không đúng. Thực ra chúng ta đâu có gây ra cuộc nội chiến này ? Chính bọn Việt Cộng đã cố tình gây ra cuộc nội chiến này để xâm chiếm miền Nam. Bởi vậy chúng ta phải gọi nhạc Trịnh Công Sơn là nhạc phản động mới đúng.

Chúng ta đã kết tội hắn là một tên ăn cơm quốc gia, thờ ma Cộng Sản, một tên Cộng Sản nằn vùng vậy mà chúng ta lại để cho một ca sĩ lên hát nhạc Trinh Công Sơn, rồi chúng ta lại vỗ tay hoan hô ? Thế là thế nào ? Liêm sỉ để đâu? Lập trường để đâu?

Không phải chỉ để ý tới những bài hát, mà ngay cả những màn trình diễn ảo thuật hay những câu chuyện tiếu lâm, cũng phải được xem hay nghe trước và phải có thái độ dứt khoát nếu thấy có hại cho lập trường chống Cộng. Như vụ xé cờ VNCH vừa qua ở Virginia vừa qua, nếu ban tổ chức cũng như người tham dự có lập trường chống cộng rứt khoát rõ ràng thì đâu có để cho màn ảo thuật mà ảo thuật gia mời ông Hội Trưởng Hội Hải Quân vùng Virginia lên xé cờ quốc gia (cờ vàng ba sọc đỏ) làm tư, bỏ vào thùng biến thành con chim bồ câu (tượng trưng cho hòa bình) xẩy ra? Hoặc nếu đã đễ lỡ xẩy ra thì cũng phải có phản ứng tức thì , mạnh dạn và cương quyết để tỏ rõ lập trường chống Cộng rứt khoát của chúng ta chứ không thể ngồi yên gục mặt xuống ăn uống như không có chuyện gì xẩy ra.

Tóm lại, lúc này hơn lúc nào hết, chúng ta phải phân ranh rõ ràng làn ranh Quốc Cộng. Chúng ta phải cương quyết tuân theo ba điều nói trên là:

1/ Không làm đơn xin giữ quốc tịch VN hay làm đơn xin hồi tỉch VN

2/ Các Hội Đòan và Cộng Đồng người Việt tỵ nạn CS phải ghi rõ lập trường của người Việt tỵ nạn Cộng Sản là không chấp nhận chế độ CSVN dưới bất cứ hình thức nào và phải chào cờ VNCH và hát quốc ca VNCH trong mọi sinh hoạt cộng đồng.

3/ Trong phần văn nghệ phụ diễn tuyệt đối không hát nhạc Trịnh Công Sơn.
Các tổ chức, các đoàn thể, các hội đoàn không thiếu gì các tướng tá đã từng vào sinh ra tử, không thiếu gì các vị trí thức đã từng đảm trách những nhiệm vụ lãnh đạo quốc gia, mỗi khi thấy bọn thân Cộng, bọn Việt gian nghênh ngang trước mặt giở trò nịnh bợ VC hãy can đảm đứng lên phản đối. Chỗ ngồi trong các tiêm ăn hay trong các trung tâm cộng đồng đâu có vinh dự gì và thức ăn cũng đâu có ngon lành gì mà ngồi yên để mang tiếng là hèn nhát, là vô cảm?

LS Lê Duy San
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

TQ Mơ Trận Xích Bích
Trần Khải
Trung Quốc hù doạ đánh trận Xích Bích với Mỹ? Nói hù dọa, đây là hù dọa Mỹ, và như thế cũng là hù dọa toàn cầu. Không phải chuyện hù dọa nói bâng quơ ngoài phố, không phải cho dân chúng biểu tình trước tòa đại sứ Mỹ, không phảỉ tuyên truyền qua góp ý trên các làn sóng radio... mà là từ mạng thông tin BBS của tờ Huanqiu Shibao (Hoàn Cầu Thời Báo), cũng thuộc tờ Nhân Dân Nhật Báo của chính phủ TQ.
Bài chúng ta chú ý nơi đây là Hoa Ngữ, do 4 người ký tên chung, và đã dịch ra Anh Ngữ. Đăng ngày 29-11-2010, bản gốc ở http://bbs.huanqiu.com/thread-474407-1-1.html.
Điều để suy nghĩ còn là: báo Hoàn Cầu Thời Báo có mục tiêu nhắm vào Hoa Kiều hải ngoại, đặc biệt là những người sinh sống tại Mỹ. Trung Quốc xách động giấc mơ Đạị Hán thế nào? Bản văn này sẽ cho chúng ta thấy một phần tham vọng của họ.
Bài này có nhan đề “Quân Đội TQ Phải Có Tự Tin Để Bắn Chìm Chiến Hạm Mỹ và Nam Hàn tại biển Hoàng Hải.”
Duyên khởi của bài này được ban chủ biên ghi là, Nam Hàn tập trận đã gây ra chạm súng giữa Nam Hàn và Bắc Hàn, rồi Bắc Hàn pháo kích vào đảo Nam Hàn là Yeonpyeong Island ngày 23-11-2010. Tư Lệnh Quân Lực Mỹ tại Nam Hàn loan báo hôm 24-11-2010 rằng Nam Hàn và Mỹ sẽ tập trận chung từ 28-11-2010 tới ngày 1-12-2010 trên vùng biển phía tây Nam Hàn, nơi Hoàng Hải của TQ. Hàng không mẫu hạm nguyên tử USS George Washington sẽ tới Hoàng Hảỉ dự tập trận...
Và thế là Trung Quốc phảỉ lớn tiếng hù dọa.
Bài này giải thích rằng Bắc Kinh từ lâu đã phản đối tình hình Mỹ đưa hàng không mẫu hạm nguyên tử vào tuần tra Hoàng Hải, đặc biệt là với mẫu hạm nguyên tử USS George Washington vì vùng lãnh thổ chiến lược của Trung Quốc, kể cả Bắc Kinh, sẽ nằm trong tầm tấn công của mẫu hạm -- cả tầm không quân tác chiến, tầm đaị bác và tầm phi đạn. Như thế không chỉ là hiểm họa lớn nhất cho an ninh quốc gia Mỹ, mà còn bị TQ xem như thực tập để đổ bộ và xóa sổ TQ. Đó là “vấn đề sinh tử của TQ và của nhân dân TQ.”
Bài viết nói rằng, trước đe doạ quân sự do Nam Hàn và Mỹ đưa ra, việc “bàn xem có phải Nam Hàn hay Bắc Hàn kích động chiến tranh từ đảo Yeonpyeong Island đã trở thành vô nghĩa.”
Các tác giả ghi nhận định của các phân tích gia quân sự rằng “tình hình tàu chiến Mỹ và Nam Hàn vào biển Hoàng Hải tự nó đã là một khiêu khích xâm lăng, y hệt chiến tranh. Đó là những quân đội cọp và sói, mà xâm lăng là bản chất thứ nhì, và năn nỉ sẽ chỉ gợi thèm khai vị cho chiến tranh. Ngay cả thương thuyết ôn hòa cũng sẽ không cho lối thoát, và số mệnh TQ sẽ như số phận Iraq, nơi đã bị xâm chiếm và tàn phá. Chỉ có một cách cho dân TQ, những người không muốn bị sỉ nhục và áp lực từ Hoa Kỳ: cầm vũ khí lên và sửa soạn phản kích.”
Các tác giả viết cụ thể:
“Không ngờ vực gì, nếu vùng chiến lược Trung Quốc bao gồm Bắc Kinh muốn tránh bị tấn công hay bị bom bởi quân đội Mỹ hay Nam Hàn, thì Trung Quốc phải đánh chìm toàn bộ tàu chiến của Mỹ và Nam Hàn ở biển Hoàng Hải. Dĩ nhiên, bởi vì chưa có chiến tranh bùng nổ, TQ không có cớ cụ thể để khởi sự tấn công vào tàu chiến Mỹ và Nam Hàn. Tuy nhiên, TQ phải sẵn sàng và có đủ tự tin là có thể đánh chìm toàn bộ chiến hạm Mỹ và Nam Hàn trong vòng 24 giờ đồng hồ. Để được như thế, quân đội TQ không chỉ có đủ trang bị quân khí, mà cũng phaỉ có đủ huấn luyện. Để thực hiện việc huấn luyện này, việc tập trận của Mỹ và Nam Hàn ở biển Hoàng Hải cung cấp một cơ hội tốt: quân đội TQ phải có cuộc tập trận ở Hoàng Hải cùng thời gian mà Mỹ và Nam Hàn tập trận. Mục tiêu sẽ là đánh chìm toàn bộ tàu chiến Mỹ và Nam Han ở biển Hoàng Hải. Không chụp lấy cơ hội này nghĩa là bỏ lơ nhiệm vụ căn bản cuả quân lực TQ để bảo vệ an ninh quốc gia.” (hết trích)
Các tác giả sau đó phân tích rằng Trung Quốc bây giờ đã có nền kinh tế vững mạnh xây dựng quân đội có đủ sức mạnh vũ khí để đánh chìm toàn bộ tàu chiến Mỹ và Nam Hàn vào Hoàng Hải. Mà không chỉ Hoàng Hải, tác giả nói là quân đội TQ phải có khả năng đánh chìm tàù chiến Mỹ ở bất kỳ vùng biển nào.
Đẩy xa thêm một bậc, các tác giả viết rằng “chúng ta cần có đủ huấn luyện. Chúng ta phải chọn bất kỳ tàu chiến Mỹ hay Nam Hàn nào vào biển Hoàng Hải làm mục tiêu huấn luyện. Chúng ta không chỉ thực tập để có đủ tự tin để tấn công và đánh chìm toàn bộ tài chiến Mỹ và Nam Hàn trong biển Hoàng Hải trong vòng vaì giờ đồng hồ, nhưngc ũng duy trì để thực tập khả năng này vào mọi thời điểm.”(hết trích)
Sau đó, bài viết phân tích thêm về sức mạnh kinh tế giưã Mỹ và TQ, và kèm theo nhiều lời xách động tác chiến.
Trong phần góp ý từ những người sử dụng Internet, có một số ý kiến đáng chú ý như sau.
“Đây là cuộc chiến thầm lặng không phải sao? TQ vẫn bình thản làm chuyện riêng của mình, Bây giờ TQ đã hợp tác với Nga để khai tử việc thương mại song phương bằng Mỹ Kim. Không phải đó là cú đấm vào Mỹ sao?”
Hay là góp ý từ người khác:
“Ai cũng có lá bài trong tay. Mỹ có nhiều lá bài, nhưng hầu hết đã chơi và ảnh hưởng thì cũng vậy vậy. TQ không có nhiều lá bài, nhưng có một lá bài tốt vẫn chưa tung ra. Điều đó làm Mỹ khó chịu.”
Hay là một góp ý khác:
“Phải tác chiến bí mật, không để lộ!”
Và một góp ý khác:
“Bằng cách đồng thời tung ra tấn công từ hải lục không quân để làm mạng lưới hỏa lực tứ phía, sẽ không khó đánh chìm một hàng không mẫu hạm của Mỹ. Vấn để chỉ là làm sao để trả giá ít nhất.”
Và một ý kiến khác:
“Không sai gì hết khi phaỉ dùng chiến tranh để chận đứng chiến tranh. Nhưng sẽ là hoang phí để đánh chìm hết. Chúng ta sẽ phai chi trả cho giá bom. Như thế sẽ làm chúng ta phá sản! Cách siêu đẳng là mở một cuộc chiến với kế hoạch tốt. Chiến tranh quân sự không nhất thiết giải quyết bằng phương tiện quân sự. Chúng ta phải lấy lợi thế của mình để đánh vào cái yếu thế của địch. Lần trước, tôi đã đề nghị đón khách bằng súng bazookas. Lần này, TQ cũng không thiếu món ăn hảo vị. Các bạn có biết chiến tranh là gì? Chiến tranh là giết và đốt. Ai là tiền nhân đã khai hỏa? Chúng ta không cần nhắc tới lửa trận Xích Bích. Trung Quốc chỉ cần cung cấp nhiều tàu dầu để đón khách Mỹ. Khi dầu tràn ra và bắt lửa, lúc đó mới bắn từ xa. Quân Mỹ sẽ có thịt nướng. Nhân dân Bắc Hàn sẽ không đói trong thời gian nướng thịt lính Mỹ. Nhân dân TQ cũng có thể thu góp một số sắt. Xác lính Mỹ cũng có thể dùng để kiếm nhiều tiền. Tại sao lại bỏ lơ kinh doanh nhiều lợi nhuận này? Ha ha.” (hết trích)
Có thể bùng nổ trận Xích Bích hay không? Có lẽ sẽ không, vì không ai muốn đẩy xa tới bùng nổ cuộc chiến. Nhưng ngôn ngữ kích động trên mạng chính phủ TQ cho thấy một khuôn mặt khác, rất khác: họ luôn luôn sẵn sàng đánh Mỹ. Thậm chí ông nhà giàu Bắc Kinh còn mang tâm thức kiểu nhà nghèo Hà Nội: lấy xác lính Mỹ để kiếm tiền.
Nhưng điều để suy nghĩ còn là, khi TQ hung hăng như thế với Mỹ, và sẵn sàng tấn công Mỹ, thì Việt Nam sẽ không là cái gì hết dưới mắt TQ. Nghĩa là, VN chỉ là chuyện nhỏ với TQ.
Vấn đề chúng ta thắc mắc: chính phủ VN đã sửa soạn cho các trận Xích Bích Biển Đông ra sao, và Đại Hội Đảng CSVN lần này đưa ông Nguyễn Phú Trọng, một người thân TQ, lên giữ chức Tổng Bí Thư có phải là kế sách lâu dài gìn giữ hòa bình, hay chỉ sẽ làm mất quân bình thế quốc tế ở Biển Đông?

TRẦN KHẢI
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

THỜI KỲ QUÁ ĐỘ CỘNG SẢN LÊN
THỜI ĐẠI NHÂN CHỦ NHÂN VĂN TOÀN CẦU


Nhóm cầm đầu cộng sản Việtnam đang tự lừa mình dối người, bịp bợm toàn đảng, toàn quân, toàn dân bằng khẩu hiệu: “Việtnam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”. Đích ra lịch sử hiện đại đã nhãn tiền lên tiếng khẳng định: “Chủ Nghĩa Xã Hội đã chết tiệt”. Chết mất xác, mất luôn cả hồn tại quê hương gọi là ‘cách mạng cộng sản Liênxô’ và ở các nước chư hầu Đông Âu của nó, kể từ năm 1991. Rồi ngày nay, đã bị cả Loài Người kết án là một chủ nghĩa bạo tàn, phi nhân tính, phi văn hóa, vô đạo đức, nó đã 74 năm, hèn hóa, khủng bố, đầy đọa Con Người ở những Dân Tộc do nó thống trị, và giết hại tới một trăm triệu người vô tội trên toàn thế giới. Thứ chủ nghĩa quái ác ấy giờ đây vẫn còn hiện diện ở vài ba nước nghèo khó. Điển hình là tại Bắc Triều Tiên, với một hệ thống cầm quyền của lãnh tụ độc tài, chuyên chính, điên loạn, cha truyền con nối. Đẩy toàn dân vào cảnh đói khổ thường xuyên. Luôn luôn tạo ra mối đe dọa về chiến tranh nguyên tử đối với thế giới. Khiến cho quốc tế coi như ‘đồ hủi’, ngay cả nước đàn anh của họ là Trungcộng cũng đang muốn ruồng bỏ. Thế còn ở Trunghoa, tuy trên danh nghĩa họ vẫn tự nhận mình là nước cộng sản, nhưng liệu họ còn có trung thành với thứ chủ nghĩa xã hội hoang tưởng đó nữa hay không? Xin thưa rằng: Không! Ngay từ thời Mao Trạch Đông và các người tiên khởi của Phong Trào Cộng Sản Trung Hoa, họ đã có chủ trương chỉ dùng chế độ độc đảng, độc tài toàn trị, cùng một nội dung như chế độ Quân Chủ độc tôn, để thay thế cho chế độ phong kiến cổ hủ, kiên cố của truyền thống Trunghoa, đã làm cho quốc dân và xã hội Trunghoa trở thành bệnh hoạn trước mắt người Tây Phương và Nhậtbản. Nhằm phục hồi vị thế Đế Quốc Đại Hán xưa kia. Đến thời Đặng Tiểu Bình thì điều đó càng được rõ nét thêm với khẩu hiệu “Xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa mang sắc thái đặc thù Trungquốc”.Tức là sắc thái Đại Đế Quốc Bành Trướng. Từ đấy mở đường cho đảng viên Trungcộng hăm hở tham nhũng và làm giầu bất chính. Nhưng vẫn góp sức cho đảng cộng sản độc quyền chính trị, độc quyền cai trị, độc quyền kinh tế, toàn quyền ‘phong hầu, kiến nghiệp’ thay ‘phong hầu, kiến điạ’ cho con cháu, giòng tộc của các lãnh tụ đảng. Bọn đó nghiễm nhiên trở thành các nhà tài phiệt khổng lồ. Nhà nước trở thành nhà thầu cung cấp công nhân rẻ mạt cho các hãng tư bản ngoại quốc. Nước Trunghoa thoáng nhìn bề ngoài thì đúng là có mức kinh tế phát triển đáng nể. Nhưng đi sâu vào cuộc sống quốc dân thì sẽ nhận thấy cái hố giầu nghèo quá cách biệt, rất dễ sụp đổ.



Riêng Việtcộng, trước sau vẫn trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin, rồi sau khi họ Hồ chết thì đảng gắn thêm vào đó cái đuôi tư tưởng Hồ Chí Minh nữa. Vì ngay khi Hồ Chí Minh còn sống, ông ta đã cố tình lợi dụng tinh thần Dân Tộc, lôi kéo toàn dân vào các cuộc chiến. Tiếng là chống Thực Dân, Đế Quốc, nhưng khi thành công được tới đâu thì lập tức thực hiện Chủ Nghĩa Xã Hội sắt máu tới đó. Dùng chế độ ‘tem phiếu’ để kiểm soát bao tử toàn dân, đẩy dân vào cảnh cùng quẫn, đói khổ ngang nhau, mà suốt ngày cứ phải cảm ơn “Đảng và Bác” đã bố thí cho miếng cơm, manh áo. Qua cuộc ‘Cải Cách Ruộng Đất’ tại Miền Bắc. Hồ Chí Minh và Việtcộng theo sự chỉ đạo của Mao Trạch Đông và Trungcộng, phóng tay phát động cuộc đấu tố tận diệt “Trí, Phú, Địa Hào”. Phá tan hệ thống “Làng Xã Tự Quản” của truyền thống Giữ Nước Độc Lập, Giữ Dân Tự Chủ của Nòi Giống Việt. Thay vào đó bằng hệ thống “Chi Bộ Đảng” toàn trị, tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác- Lênin và tuân lệnh của Quốc Tế Cộngsản do Liênxô lãnh đạo. Ngược lại Trungcộng, họ chỉ lợi dụng chủ nghĩa xã hội để phục vụ nước Tàu. Còn Hồ Chí Minh và Việtcộng thì hy sinh Dân Tộc Việt để phụng sự Cộngsản Quốctế. Đến khi Cộng Sản Quốc Tế tan vỡ. Liênxô sụp đổ, Việtcộng quay sang thần phục Trungcộng. Trong khi đó Cộng Đảng Trunghoa đang hình thành khối “Tư Bản Cực Quyền” và không quên nuôi mộng ‘bành trướng’. Nên họ chỉ coi Việtcộng là bọn đàn em tay sai ngoan ngoãn để từ đó từng bước nuốt trửng Việtnam, lấy đà bành trướng khắp Đông Nam Á, rồi làm chủ Á châu, đương đầu với Siêu Cường Mỹ.



Thấy rõ, cái gọi là Chủ Nghĩa Xã Hội, người Việtnam đã nếm thử rồi, chỉ nghĩ tới đã buốt lạnh xương sống, đừng nói gì phải thực hiện nó một lần nữa. Vậy phải hiểu rằng: Các nước đã kinh qua chủ nghĩa xã hội thì đó phải được gọi là “Thời Kỳ Quá Độ Cộngsản lên Chế Độ Dân Chủ Trọng Pháp”. Chứ không thể là “từ một chế độ nào khác quá độ lên chủ nghĩa xã hội” được nữa. Chính vì vậy mà trong Dự Thảo Báo Cáo Chính Trị ở đại hội XI, Việtcộng phải thừa nhận họ đang lúng túng. Theo đó, Phần B, Số 6 của văn kiện này, được mở đầu bằng lời tự thú: “Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn chưa làm sáng tỏ được một số vấn đề về Đảng cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Thời của chủ nghiã xã hội hoang tưởng Mác-Lê-Hồ đã qua đi, không thể quay ngược lại được. Nên nhóm công tác nghiên cứu lý luận của Việtcộng dù có cố gắng tới mấy cũng không thể làm sáng tỏ về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội như mơ tưởng của Mác-Lê-Hồ được. Vì trong thực tế của lịch sử loài người không hề có thứ chủ nghĩa xã hội quỷ quái đó, mà hễ nơi nào vô phúc, phải thực hiện nó, thì ở đấy, lập tức trở thành ‘địa ngục trần gian’ ngay.



Nếu Việtcộng biết khôn, để không bị trả giá ‘mất hết, mất sạch, mất luôn sinh mạng chính trị, kể cả mạng sống thì nhóm Việtcộng cầm quyền hiện nay ở Hànội phải ‘tự diễn biến hòa bình’. Phải ra nghị quyết tự biến Cộng Đảng Lãnh Đạo thành Chính Đảng Cầm Quyền. Phi chính trị hóa quân đội. Tổ chức một chính phủ chuyển tiếp, nhằm thực thi công cuộc: - Dân Chủ Hóa Chế Độ - Công Chính Hóa Luật Pháp - Tự Do Hóa Xã Hội - Tự Do Hóa Tôn Giáo - Tự Do Hóa Ngôn Luận - Tự Do Hóa Nghiệp Đoàn - Tư Nhân Hóa Kinh Doanh - Tư Hữu Hóa Ruộng Đất.- Thị Trường Hóa Kinh Tế.- Đa Đảng Hóa Chính Trị.- Đa Nguyên Hóa Nhân Văn - Toàn Cầu Hóa Quan Hệ - thực hiện Nền Nhân Chủ Nhân Văn Toàn Cầu. Chỉ có như vậy, mới huy động được tinh thần dân tộc tự chủ nơi toàn dân, mới quy tụ được nội lực dân tộc để phát triển đất nước và cùng toàn thế giới xây dựng thế phòng thủ chung, ngăn cuộc bành trướng của Trungcộng. Đồng thời tạo niềm hứng khởi cho người dân Trunghoa thực hiện công cuộc Dân Chủ Hóa nước Tầu. Để nước Tầu sắm đúng vai trò một Quốc Gia Đân Chủ Liên Bang có trách nhiệm về hòa bình, an ninh, phát triển trong khu vực và toàn thế giới. Trả lại quyền tự trị rộng rãi cho các Dân Tộc Tây Tạng và Duy Ngô Nhĩ. Nhưng xem ra Việtcộng khó nuốt nổi những đóng góp hợp tình, hợp lý, hợp cảnh của những người suy tư độc lập, không bị ràng buộc bởi tham vọng quyền lực chính trị. Ở Việtnam hiện nay, do chế độ độc tài, độc đảng. toàn trị, thì quyền lực chính trị đẻ ra tất cả. Chính vì vậy, nội bộ Việtcộng đang ra sức tranh giành đấu đá lẫn nhau trước khi đại hội XI khai diễn, chẳng kẻ nào biết tự dừng lại để lo cho dân cho nước. Đây là việc Việtcộng không ‘tự diễn biến hoà bình’, mà lâm vào cảnh ‘tự diễn biến tan rã’ vậy.

Little Saigon 28/12/2010.
Lý Đại Nguyên
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Những sự kiện nổi bật tại Việt Nam năm 2010
Thanh Quang, phóng viên RFA
Dù thời gian nhanh như “bóng câu qua cửa”, nhưng những hình ảnh gây nhiều bức xúc trong năm 2010 – mà nếu nói theo lời blogger Mẹ Nấm là “rất đình đám”; nói theo nhà văn Nguyễn Quang Lập qua blog Quê Choa là “gây nhức đầu” – hẳn khó nhạt nhoà trong tâm trí người dân Việt.

Vận mệnh quốc gia

Trong mấy ngày qua, nhiều nhật ký trên mạng có đăng bài tựa đề “Nhìn Lại Năm 2010” của Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc bên Úc, đặc biệt chú trọng tới khả năng lãnh đạo của nhà cầm quyền VN bị thử thách nghiêm trọng nhất trong năm 2010 kể từ sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Nga và Đông Âu bị sụp đổ vào những năm 1989-1990 – bị thử thách bởi công luận, nhất là công luận quốc nội.

GS Nguyễn Hưng Quốc nhận thấy, ngày càng có nhiều người trong nước kiên quyết giành lại quyền tự do bày tỏ cảm tưởng của mình qua các phương tiện truyền thông từ website cho tới blog, thậm chí ngay trên diễn đàn Quốc Hội, qua đó, họ sẵn sàng đề nghị Quốc Hội bỏ phiếu về việc tín nhiệm Thủ tướng; Có người từng khởi kiện Thủ tướng về những chính sách sai trái của chính phủ khiến đe doạ đến sự tồn vong của đất nước, dân tộc; Và ngày càng có nhiều người đề cập tới nhiều sai lầm của chính phủ trong nhiều lãnh vực khác nhau.

Nhưng, theo GS Nguyễn Hưng Quốc, trong số trí thức hoặc blogger từng lên tiếng về những vấn đề trọng đại của đất nước hiện nay, dường như không ai trực tiếp đề cập tới quyền lãnh đạo của đảng CS, ngoại trừ một số nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng như Hà Sĩ Phu, Trần Khải Thanh Thuỷ hay Lê Thị Công Nhân. Tuy nhiên, Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc nhận xét:

“…Qua những vấn đề họ đề cập, như các dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên; kế hoạch cho người ngoại quốc, trong đó có khá nhiều công ty Trung Quốc, thuê rừng dài hạn; cách phản ứng của chính phủ Việt Nam trước thái độ ngang ngược của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông và đặc biệt, với các ngư dân Việt Nam; việc vỡ nợ của tập đoàn kinh tế Vinashin và cùng với nó, vai trò của nền kinh tế quốc doanh; kế hoạch xây dựng đường sắt cao tốc xuyên Việt; cách đối phó của chính phủ trước nạn lũ lụt làm chết nhiều người ở miền Trung; và phương thức tổ chức đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, v.v…, qua những vấn đề được các trí thức độc lập ở Việt Nam đề cập, phân tích và bàn luận, người ta biết được khá nhiều sự thật, có khi chỉ là những chi tiết nho nhỏ nhưng lại có khả năng tiết lộ nhiều về năng lực lãnh đạo của nhà cầm quyền.

Chúng cho thấy rõ ít nhất một số điều: Một, dường như giới lãnh đạo Việt Nam không có một chính sách nào thật rõ ràng và nhất quán liên quan đến những vấn đề sinh tử của quốc gia; hai, cách thức làm việc của họ vừa quan liêu lại vừa kém hiệu quả ngay cả ở những vấn đề ngỡ như đơn giản và dễ dàng nhất như nắm chắc các số liệu liên quan đến vụ vỡ nợ của tập đoàn kinh tế Vinashin hay chi phí tổ chức đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội; và ba, họ thiếu hẳn khả năng thuyết phục quần chúng về các chính sách mà họ theo đuổi.

Tất cả những vấn đề ấy trở thành một thử thách quan trọng nhất đối với giới lãnh đạo Việt Nam: Để tồn tại, họ phải chứng tỏ năng lực lãnh đạo thực sự của mình thay vì lấp liếm dối quanh hay ba hoa vớ vẩn, hoặc tập trung đánh phá các trang mạng hay blog độc lập và bôi bẩn hay trấn áp các trí thức có tinh thần phản biện.

Liệu trong năm 2011 sắp tới, với Ban lãnh đạo mới sẽ được bầu trong kỳ Đại hội đảng vào tháng Giêng này, họ có vượt qua được thử thách ấy hay không?”


Nhiều chuyện nhức đầu

Blog Nhân Quyền Cho VN đăng bài “Câu Chuyện Cuối Năm” của tác giả Trương Vĩnh Khôi đề cập tới tình hình chính trị trong nước qua mạng “sôi động hẳn lên” khi gần cuối năm nay, khiến “hương thơm dân chủ” tưởng như lan toả khắp nơi, nhất là qua những bài viết các cán bộ cao cấp “thẳng thừng vạch rõ những chuyện làm sai trái của chính quyền cũng như hô hào mọi người, mọi giới, mọi ngành hãy thực thi quyền làm dân, quyền làm báo và quyền đòi hỏi một thể chế dân chủ”.

“Hương thơm dân chủ” lan tỏa ấy, theo tác giả Trương Vĩnh Khôi, thể hiện từ diễn đàn Quốc Hội “thi nhau chất vấn chính phủ” cho tới 20 đảng viên, trí thức hàng đầu bác bỏ toàn bộ cương lĩnh của Bộ Chính Trị vì “xa rời nhân dân” và “quá nhiều sai trái”.
Nhưng tác giả phân tích kỹ vấn đề thì thấy “có chút gì hơi kỳ kỳ”, khi ông không thấy đảng viên cấp trung hay cấp thấp nào dám chơi trò mà ông gọi là “đùa với lửa” này, ngoại trừ một số đảng viên, cán bộ nòng cốt, kể cả ông Lê Hiếu Đằng, đương kim phó chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Dân chủ và Pháp luật thuộc Uỷ ban Trung ương Mặt Trận Tổ Quốc VN. Qua blog Nhân Quyền Cho VN, tác giả Trương Vĩnh Khôi nhận xét như sau:

“Ông Lê Hiếu Đằng đột nhiên xuất hiện với khí thế đằng đằng. Là một đảng viên gộc, 36 năm qua ông không hề mở miệng, Tới nay, đột nhiên ông nổi hứng …yêu nước, đốc thúc mọi người “Đừng có sợ. Mà tại sao chúng ta phải sợ ? Những người phải sợ là những người đi ngược lại lợi ích của đất nước, của nhân dân…”

Ông hạch hỏi giới truyền thông “Tôi xin hỏi giới nhà báo trong nước: tại sao các bạn phải sợ mà không đăng tải một bản kiến nghị ….Tôi tin rằng tờ báo nào mạnh dạn đăng bản kiến nghị nói trên sẽ chẳng bị ai bắt tù, mà ngược lại sẽ được nhân dân quý trọng…”.

Ông Lê Hiếu Đằng phát biểu như người đang …mộng du. Ông không biết luật lệ nhà nước đặt cho báo chí là “đi trên lề phải”. Nghe ông xúi dại, đi lộn lề là …toi mạng như mấy nhà báo tường trình vụ PMI, PMU…Ông không sợ, vì ông có quyền, có thế, chẳng ai dám đụng tới ông, nhưng những người dân đen, những nhà báo thấp cổ bé miệng mà nghe ông …xúi dại thì đi vào… cửa tử. Ông Tầu Ôn gia Bảo đề cao dân chủ thì vẫn vững như bàn thạch, ông Lưu Hiểu Ba cổ võ cho dân chủ thì bị tội tù.”
Trên blog Quê Choa, tác giả Nguyễn Quang Thân có cái nhìn tổng quát hơn, dẫn tới tình trạng “nhà kia lỗi đạo con khinh bố, mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng”, nói theo lời Tiên sinh Trần Tế Xương ngày xưa – hay sự xuống dốc của đạo đức xã hội VN ngày nay. Qua mạng nhật ký này, tác giả Nguyễn Quang Thân nhận xét:

Năm 2010 sắp qua. Khoan hãy nói tới những vụ “gây nhức đầu” kiểu Vinashin. Khoan hãy nói tới những bàn cãi nảy lửa quanh những vụ trọng đại khác như bauxite, cho thuê rừng hay tàu cao tốc, những vấn đề xã hội như tham nhũng, ách tắc giao thông hay biến đổi khí hậu. Những vụ việc ấy quả là trọng đại, gây bàn cãi, tranh luận, thậm chí chia rẽ, nhưng dù sao người ta cũng còn nhìn thấy điểm cuối khi cơ quan quyền lực cao nhất có quyết định CÓ hay KHÔNG.
Nhưng có những vấn đề tuy có vẻ nhỏ nhặt của đời sống hàng ngày lại gây ra cơn nhức đầu, bức bối dai dẳng cho toàn cộng đồng, không trừ một ai, như đạo đức xã hội, giáo dục, y tế xuống cấp v.v…
Cơ quan quyền lực cao nhất có thể chặn con tàu cao tốc chưa thích hợp bằng một cuộc bỏ phiếu. Nhưng thật khó khăn khi ngăn xu hướng đi xuống của đạo đức xã hội.”


Luật pháp ở đâu?

Trong khi đó, blogger Mẹ Nấm “dạo một vòng các tờ báo trong nước thì thấy có khá nhiều bài tổng kết rất đình đám, kiểu như những sự kiện tiêu biểu, những nhân vật tiêu biểu”, nhưng blogger Mẹ Nấm không thấy tờ báo nào trong số khoảng 700 tờ báo do nhà nước điều hành đề cập tới thành tích bất hảo của mấy anh công an nhân dân. Blogger Mẹ Nấm lên tiếng:

“Đó là cái tồn đọng của xã hội mà tôi thấy không có báo chí chính thống nào lên tiếng. Tại vì thực sự đây là năm mà công an gặp rất nhiều rắc rối trong việc cư xử với người dân. Điều mà người dân chờ đợi là giới cầm quyền phải có hình phạt, xử lý đúng theo pháp luật đối với những người thực thi luật pháp nhưng có hành vi sai trái. Thực sự muốn có công bằng xã hội thì giới cầm quyền phải thực thi đúng pháp luật đối với chính những người có trách nhiệm thực hành pháp luật nhưng làm sai. Đó là công an.”

Ông Nguyễn Ngọc Quang được chăm sóc tại nhà sau tai nạn hôm 18/9/2010. Ảnh do thân nhân ông Quang cung cấp. Theo tổng kết qua của blogger Mẹ Nấm, thì nếu trao giải về thành tích và sự cống hiến trong năm nay, mấy vị công an nên được giải về chuỗi thành tích bất hảo.

Từ vụ anh Bảo, anh Nguyễn Mạnh Hùng tử vong tại cơ quan công an hồi tháng Giêng năm 2010, công an cùng côn đồ trấn áp dân ở Bắc Ninh hồi tháng 3, thanh niên Võ Văn Khánh chết về tay công an Điện Bàn, Quảng Nam và 2 nạn nhân khác bị công an bắn chết ở Nghi Sơn, Thanh Hoá hồi tháng 5 vừa rồi
Dài dài cho tới cuối năm 2010, đã diễn ra cảnh công an đánh chết người, bắn trọng thương nữ sinh, đánh một thầy truyền đạo gãy tay vì mũ bảo hiểm, công an trả lại cho người mẹ chiếc quan tài và xác đứa con trai trong vụ “3 con vịt ‘nuốt’ 1 mạng người”, rồi vụ người dân mang xác 1 thanh niên đến đồn công an ở TP Long Xuyên để bắt đền thủ phạm cho tới học sinh lớp 8 bị công an xã đánh ngất xỉu, hay clip vô nhân liên quan vụ gọi là “bắt quả tang mua bán dâm”.

Trước những cảnh vô nhân như vậy, blogger Mẹ Nấm nhận xét trên mạng:

“Vấn đề đặt ra là đến giờ, đã có vụ án nào được công khai xét xử khi có án mạng xảy ra do công an chưa? Câu trả lời là: CHƯA.
Ngoài hình thức kiểm điểm, hạ bậc, cách chức, thì ít nhất là đến giờ này cá nhân tôi chưa đọc được tin đồng chí công an nhân dân nào bị đưa ra xét xử trước luật pháp như một người bình thường cả…Có người cho rằng, năm nay là năm hạn của ngành công an với quá nhiều “thành tích bất hảo”, tôi lại không nghĩ như vậy. Bởi cái gì đã là bản chất thì khó mà giấu mãi được. Năm 2010, cùng với sự phát triển của Internet và sự nâng cao trong nghiệp vụ “vượt tường lửa” của nhân dân thì bản chất hung bạo, khát máu, vô đạo đức, phi nhân tính được bộc lộ rõ nét hơn những năm trước.”

Blogger Đinh Tấn Lực nhận xét: “Qua bài viết “Năm nay là năm của các anh”, tác giả Mẹ Nấm đã dày công liệt kê và đúc kết hoành tráng những “thành tựu và cống hiến” tận tụy suốt năm của CA. Theo đó, bộ phận CA nước nhà quả xứng đáng được trao giải Cúc Cung 2010.”

Trong bối cảnh công an nhân dân lại cư xử với người dân một cách tự do như vậy, blogger Paulus Sơn không khỏi nêu lên nghi vấn rằng “Ai chỉ thị cho công an đánh đập nhân dân?”:

“Những vụ việc công an đánh dân xảy ra liên tục trên khắp đất nước Việt Nam đang là một vấn nạn vô cùng to lớn mà nhân dân Việt Nam phải gánh chịu. Không có chỉ thị thì làm sao công an lại đánh dân một cách rất thoải mái? Nếu không có chỉ thị bằng văn bản trong ngành công an mà sao khắp mọi tỉnh thành nơi đâu cũng có công an đánh dân, có lẽ là chỉ thị truyền khẩu chăng? hay ngành công an được quyền đánh dân, giết dân mà không bị pháp luật phân xử một cách nghiêm minh?”

Mục Điểm Blog tuần này xin tạm dừng ở đây. Thanh Quang kính chúc quý vị mọi điều an lành nhân Tân Niên Dương Lịch 2011 sắp tới.

Nguồn: Thanh Quang, phóng viên RFA
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 3 guests