Tạp Ghi

quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Một chữ xả

Vấn đề tôi nói hôm nay là một chữ XẢ. Quí vị biết ngược với xả là gì không? Là cố chấp, nắm chặt. Cố là chặt, chấp là nắm; cố chấp là nắm chặt. Khác với nắm chặt là buông bỏ.

Mới nghe đơn giản quá nhưng xét kỹ, quí Phật tử sẽ thấy tất cả chúng ta sống trên thế gian này, ai cũng than buồn than khổ, gốc tại cố chấp thôi, chớ không có gì khác. Bây giờ muốn hết buồn, hết khổ thì chúng ta phải làm sao? Phải xả, phải buông bỏ. Buông bỏ thì hết khổ.. Như vậy quá giản đơn, quá tầm thường. Chỉ cần quí Phật tử thực hiện được điều chúng tôi nhắc thì sẽ bớt khổ ngay trong cuộc sống hiện tại này.

Lâu nay chúng ta cố chấp những gì mà bây giờ phải buông xả?
Người thế gian luôn luôn nghĩ ai làm trái ý mình thì mình buồn, mình giận. Buồn giận nên bỏ liền hay nên giữ mãi? Có người thường hay nói: “Con giận người đó hai, ba chục năm không quên.” Giận hai, ba chục năm không quên thì nghe như khẳng khái lắm nhưng thật ra là dại, là khổ, chớ có hay gì đâu.
Quí Phật tử nghĩ trên thế gian này chung quanh mình nào xóm giềng, thân tộc v.v… có bao giờ hoàn toàn không đụng chạm nhau đâu? Người ta nói vợ chồng như chén trong sống. Chén úp trong sống thế nào cũng có khua, huống là xóm giềng, thân tộc làm sao vừa ý mình hết, mà trái ý thì mình giận. Giận rồi chứa trong tâm. Chứa là cố chấp. Giận một người chứa trong lòng, giận hai người cũng chứa trong lòng. Nếu giận một trăm người thì sao? Chứa cả một trăm cái giận trong lòng, làm sao chịu nổi.

Quí vị xét khi mình đang vui vẻ mà bỗng nhớ tới người mình giận thì lúc đó gương mặt quạu xuống liền. Sở dĩ chúng ta ngủ không ngon là cũng tại giận đó. Khi nào nằm nhớ lại hôm qua, hôm kia ai làm trái ý mình liền nổi giận lên, thì hết ngủ. Đó là chứa chấp oán hờn. Chứa chấp là khổ. Ta đang vui vẻ tươi mát mà chứa một cái giận, cũng như đem cục than bỏ trong tay hay trong da, trong thịt mình vậy. Nếu cục than bỏ trong tay, trong da, trong thịt thì sao? Nóng, khó chịu. Vậy mà lòng mình chứa một trăm cục than thì người này khổ nhiều ít? Khổ thứ nhất là khô héo vì ngủ không ngon, ăn không ngon. Giận quá làm sao ăn ngon, ngủ ngon được. Khổ thứ hai là giận làm cho mình dễ xấu. Quí vị thấy mỗi lần nổi giận lên gương mặt mình thế nào? Nổi giận lên thì con mắt đỏ ngầu, mặt đổi màu đổi sắc, không còn tốt đẹp nữa. Cả trăm cái giận ở trong lòng thì nó đốt riết mình khô héo, xấu xa. Như vậy ôm ấp cái giận mấy chục năm là khôn ngoan hay thiếu khôn ngoan?

Bởi vậy nên người biết tu ai nói gì trái ý, mình giận chút rồi bỏ đi, xả đi. Giận làm chi, ngu! Ôm cái giận là ngu chớ không phải khôn, tội gì ôm cho khổ. Trong nhà Phật có câu: “Tăng hận bất cách túc” nghĩa là Tăng (người tu) giận không quá một đêm. Chúng ta là Phàm tăng nên tham sân si cũng còn, vì vậy gặp việc trái ý cũng giận. Nhưng giận chút thôi rồi bỏ, chớ không nên chấp chứa.
Người thế gian thường thích chứa, chứa năm này qua năm nọ. Họ tưởng như vậy là hay, là khôn mà không ngờ đó là tự chuốc họa vào mình, tự đeo khổ cho mình chớ không có lợi gì hết. Vì vậy nên Phật dạy phải xả hết những giận hờn. Chứa chấp vừa bị khổ trong hiện tại, mà còn khổ cả vị lai nữa.

Trong kinh Phật dạy, người khi sắp bỏ thân này qua đời khác thì nghiệp thương và nghiệp ghét sẽ đi theo. Bởi vì thương ai thì ta nhớ người đó, ghét ai cũng nhớ kẻ đó. Như chúng ta ngồi ôn lại trong lòng, thì nhớ những người mình thương và những người mình ghét nhiều nhất phải không? Ghét không mất, thương cũng không mất. Vì vậy càng chứa sâu thì khi nhắm mắt các nghiệp đó dẫn mình đi đến chỗ thương hoặc chỗ ghét.
Do đó khi chúng ta thọ thân sau, nếu ôm ấp nghiệp ghét nhiều quá thì đến những gia đình gặp toàn chuyện buồn phiền, hờn giận, không vui. Có bao giờ chúng ta muốn gặp những người mình ghét không? Không muốn. Ai cũng muốn gặp người mình thương. Nhưng trong lòng thù oán nhiều quá thì nó sẽ dẫn mình gặp lại những người thù oán. Nên hiện tại khổ mà vị lai cũng khổ luôn. Điều này rất thiết yếu.

Chúng ta phải khéo đừng nuôi dưỡng oán thù trong lòng, nên buông bỏ hết. Cái gì qua rồi không chứa chấp nữa. Hơn thua, phải quấy, chuyện đó không có gì quan trọng. Quan trọng ở chỗ làm sao cuộc sống mình bình an, thanh thản, tươi vui. Đó mới là điều đáng lưu tâm. Chúng ta sống muốn hạnh phúc, muốn được an lạc thì nên giữ hay nên xả? Nên xả.. Vì vậy tôi nói tu muốn cho hết khổ thì phải xả, đừng chứa chấp. Đó là điều thứ hai.

Điều thứ ba, chúng ta đừng cố chấp ý kiến mình là đúng, ý kiến người khác là sai. Bởi vì ở thế gian này không có gì là đúng cố định mà cũng không có gì là sai cố định. Chúng ta mở miệng nói với ai cũng “Tôi nghĩ thế này là đúng”. Nếu nói tôi nghĩ như vậy là đúng, người thứ hai nói tôi nghĩ thế khác mới đúng, thì hai cái đúng nó đụng nhau. Mình đúng theo cái nghĩ của mình, người khác đúng theo cái nghĩ của họ. Ai cũng đúng hết thì cãi lộn hay huề? Thế gian không ai chịu thua ai, mình đúng thì người khác sai, mà người khác đúng thì mình sai. Cho nên khi người ta nghĩ khác với mình, mà họ cho rằng họ đúng thì mình bực lên liền, và người kia cũng nổi tức vậy. Hai cái nổi tức sẽ đi đến khẩu chiến. Khẩu chiến không xong thì tới thân chiến.

Như vậy chỉ một chữ Xả mà chúng ta được an ổn vui tươi. Cần gì phải nhiều. Một chữ mà biết tu là cả cuộc đời sống thoải mái, an vui. Ngược lại quí vị sẽ thấy mặt mày nhăn nhó hoài, bất mãn cái này, bất mãn cái nọ, bất mãn con cái, bất mãn vợ chồng, bất mãn xã hội… Mấy chục năm cứ nhăn nhó hoài, uổng một cuộc đời. Cho nên mình phải vui tươi xả bỏ, có mấy mươi năm ngắn ngủi, sống làm sao cho thảnh thơi, tạo phước lành để khi nhắm mắt được đến cõi lành, ở đó mà buồn giận làm chi cho khổ.

Vậy mong quí Phật tử nghe hiểu, ứng dụng tu để tất cả chúng ta sống trên thế gian này lúc nào cũng tươi cười, không còn buồn bực. Đến lúc nhắm mắt ra đi chúng ta cũng vui luôn. Đó là kết quả tốt đẹp của người Phật tử khéo tu.

THICH T. T.
dutu
Posts: 204
Joined: Sat Sep 19, 2009 8:19 pm
Contact:

Post by dutu »

NGƯỜI TA ĐÃ PHỤ TÔI RỒI …..


Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Nghe ông Ngô Kỷ la thất thanh: Ngưòi ta đã phụ tôi rồi (Chúa ơi), nhiều người giật mình, không biết có phải ông bị tình phụ không, bởi vì xưa nay ông Ngô Kỷ rất kị đàn bà. Ngưòi ta đây tưởng ai, đọc Thông Báo của ông Ngô Kỷ thì hóa ra là người Mỹ. Đúng là người Mỹ đã phụ ông Ngô Kỷ thiệt. Và như ông Ngô Kỷ nói, người Mỹ đã phụ cả cộng đồng người Việt tỵ nạn chúng ta. Thông báo của ông Ngô Kỷ viết: …… các viên chức chính quyền tiểu bang Calififornia gồm Thống Đốc Arnold Schwarzenegger (Cộng Hòa), Thị Trưởng San Francisco Gavin Newsom (Dân Chủ, và cũng vừa đắc cử Phó Thống Đốc California vào tháng 11 năm 2010 vừa qua), và Phó Chủ Tịch Thượng Viện California Leland Y. Yee (Dân Chủ) đã gởi thư và Tuyên Cáo cho Tổng Lãnh Sự Cộng Sản Lê Quốc Hùng để công nhận ngày 2 tháng 9 là Ngày Quốc Khánh Việt Nam và cũng là Ngày Truyền Thống của cộng đồng Người Mỹ Gốc Việt, và khen ngợi tên Việt cộng Lê Quốc Hùng đã khéo léo lãnh đạo cộng đồng người Mỹ gốc Việt.

Theo thiển ý của người viết, ông Ngô Kỷ là một người chống CS kiên trì và có lý tưởng. Từ Nam chí Bắc California, hầu như không mấy người là không biết điều đó. Ông là một người Việt tỵ nạn rất hiếm hoi đại diện đảng Công Hòa trong nhiều Đại Hội Đảng. Ông có học (cử nhân luật Đại Học Luật Khoa Saigon?), thông thạo tiếng Mỹ như người Mỹ, giao du chụp hình với các chính khách đảng CH Mỹ như bạn bè, kể cả tổng thống. Ông hy sinh hạnh phúc riêng tư, không vợ con, sống như dân homeless (có người gọi ông là homeless thật) để hoạt động chống cộng. Ông cống hiến cuộc đời cho lý tưởng Quốc Gia. Người viết khâm phục ông ở những điểm son đó. Thế nhưng xin phép được nghi ngờ về khả năng của ông ở một điểm, chỉ một điểm thôi. Đó là xem ra ông chẳng hiểu gì về mấy ông chính khứa Mỹ cả. Hình như ông Ngô Kỷ quá ngây thơ và khờ khạo đối với những người này. Vì thế ông bị phụ là đúng thôi. Trên thế gian này, các ông chính quyền Mỹ phụ người ta là chuyện cơm bữa, chẳng có gì là lạ. Các ngài Tưởng Giới Thạch, Lý Thừa Vãn, Ngô Đình Diệm v.v. còn bị Mỹ phụ nữa là. Một cái Quyết Định hành chánh, một tấm bằng khen chẳng là gì đối với chính khứa Mỹ. Họ ký xong rồi xé bỏ không áy náy. Khi làm việc với người Mỹ, ông Ngô Kỷ có thể vẫn thường được họ tấm tắc khen “wonderful” hay “good job” v.v., có đúng không? Chắc ông Ngô Kỷ tưởng là người ta khen thiệt. Họ khen cho ông mát bụng để ông giang thân làm chết bỏ cho họ đấy. Sự thực là chẳng có gì khác biệt giữa cái quyết định, cái bằng khen, hay một lời khen. Chỉ tiếc rằng ông đã không học được bài học từ những người đi trước, và trong cuộc sống thường ngày. Cho nên khi nghe ông Ngô Kỷ la hoảng cũng đừng có nóng lòng quá. Một người dân ngu cu đen bị Mỹ phụ không là chuyện lạ. Một người tin Mỹ, phục Mỹ, và theo Mỹ (tiếng của VGCS đấy) như ông Ngô Kỷ mà để cho Mỹ nó phụ mới đau. Giả như Mỹ Dân Chủ phụ ông Ngô Kỷ còn nghe được. Mỹ Cộng Hòa phụ ông thì thật là hết biết, còn đau hơn hoạn nữa. Hàng chục năm qua, ông bôn ba, lăn lộn cho đảng Cộng Hòa trong cộng đồng tỵ nạn, thế mà nay Họ đối xử với ông như vậy thì còn gì nữa là đạo nghĩa? Như vậy, thiết tưởng cũng nên tìm hiểu xem chính khứa Mỹ là hạng người nào?

Câu hỏi khá bao quát, nhưng một tác giả Mỹ, ông Ted Flynn trả lời vắn tắt và đầy đủ như sau: trên tầng lớp niên trưởng của đám lãnh đạo chóp bu, họ là những kẻ chẳng trung thành với cái gì cả. Không có gì khác biệt giữa Cộng Hòa, Dân Chủ, Tự Do, Xã Hội, Cải Cách hay Bull Moose (nhóm progressive tách ra từ đảng Cộng Hòa thời TT Roosevelt). (At the senior levels of the elite cabal are men with no loyalties. There is an indifference to Republican, Democrat, Libertine, Socialist, Reform, or the Bull Moose Party. The issue is, can they control the individual? -Ted Flynn: Hope of the Wicked, The Master Plan to Rule the World, p.119.) Vấn đề là họ có thể kiểm soát được con người hay không mà thôi. Đó là điểm đồng qui của tư bản và cộng sản: kiểm soát con người và kiểm soát tất cả. Việc hứa lèo hứa cuội, nói ở đầu môi quên chót môi của các chánh khách Mỹ chỉ là mầu mè riêu cua thêm một tí cho vui. Chính vì cái bản chất bất trung (disloyalty) của chính quyền Mỹ nên ngày nay cả thế giới mới ghê tởm nước Mỹ.

Ở đâu cũng thế, tham vọng của các nhà chính trị là quyền lực và tiền tài. Ít có người, vì có nhiều tiền bạc rồi, nên chê lương lương của nhà nước như ông thống đốc Arnold Schwarzenegger. Ông từ chối lương thống đốc hàng năm 175.000 Mỹ kim. Ngược lại, Clinton thì khác. Lúc tập tểnh vô chính trị, ông kể lể: “I never had a nickel to my name.” (Tôi không có lấy một xu dính túi). Nhưng nay ông thừa nhận: “Now I’m a millionaire” (bây giờ tôi là triệu phú rồi). Ngoài lương hưu, ông Clinton mỗi tháng còn kiếm thêm 84.550 USD nữa, (xin nhớ một tháng thôi đấy) bằng một anh MBA làm mửa mật một năm trời. Nói tóm lại thì quyền hành bao giờ cũng đi đôi với tiền bạc. Có quyền tất có tiền. Trừ người như ông Arnold vì ông đã quá thừa tiền rồi, chỉ say mê quyền lực thôi.

Cái tham vọng, và hơn thế nữa, là khát vọng của các chánh khách là quyền lực. W. Cleon Skousen viết trong cuốn sách của ông The Naked Capitalist: “Quyền lực bất cứ từ đâu tới đều dẫn đến khuynh hướng tạo ra sự thèm khát quyền lực. Điều không tránh được là, kẻ đã giầu nứt khố đổ vách mơ một ngày nào đó kiểm soát không những tài sản của riêng mình, mà còn luôn tài sản của cả thế giới. Để đạt mục đích này, người ta nuôi dưỡng tính đam mê của những chính trị gia lắm mưu đồ, luôn đói khát quyền lực muốn lật đổ mọi chính quyền hiện hữu để thiết lập một nền độc tài trên toàn thế giới.” Ở Mỹ, muốn leo cao trên con đường danh vọng tức quyền lực, con người phải vong thân. Vong thân ở đây có nghĩa là bán mình cho các tổ chức nắm được cái cán quyền lực trong tay. Vô các hội kín dễ thăng tiến danh vọng hơn. Khát vọng quyền lực đòi hỏi con người phải có lòng khao khát quyền hành, và sẵn sành dứt bỏ những nguyên tắc đạo đức mà con người hấp thụ được từ các tôn giáo để sống lương thiện. Xin nêu vài nhân vật mà ông Ngô Kỷ đã kể tên.

- Arnold Schwarzenegger : Ký giả Leigh mô tả Arnold là một con người bị ma ám (obsessed) bởi quyền lực. Arnold nói: “Tôi muốn là một thành phần nhỏ thôi trong số rất ít các nhà lãnh đạo, chứ không muốn ở trong cái đám đông theo đuôi. Tôi đã thấy những người lãnh đạo sử dụng toàn khả năng của mình. Tôi luôn luôn bị quyến rũ bởi việc con người này kiểm soát được người khác.” Thế nhưng tháng Tư vừa qua, nhóm Bảo Vệ Đạo Đức ( Ethics Watchdog Group) đánh giá Arnold là một trong số 11 thống đốc tồi tệ nhất.

- Gavin Newsom : San Francisco là một thành phố của đồng tính luyến ái và same sex marriage. Để lấy phiếu của hai giới này, năm 2004, Gavin chỉ thị cho thư ký thành phố cấp hôn thú cho giới đồng tính. Điều này vi phạm luật Tiểu Bang. Tháng 8-2004, Tối Cao Pháp Viện California hủy bỏ các giá thú do Gavin ký, nhưng Gavin chuyển vấn đề ra dư luận toàn quốc bằng cách nêu vấn đề quyền đồng tính kết hôn và quyền đồng tính luyến ái để tranh thủ hậu thuẫn chính trị tại San Francisco.

- Tiện đây cũng nên nói một chút về ông TT Hussein Obama. Cha của Obama là một tín đồ Muslim, nên khi sinh ra, Obama khó lòng không phải là người Muslim theo luật Hồi Giáo. Năm 2006 khi còn là thượng nghị sĩ, Obama tuyên bố mập mờ có chủ đích: Cho dù đã có thời chúng ta là gì, nhưng bây giờ chúng ta không còn phải là quốc gia Thiên Chúa Giáo nữa. Ít ra lúc này thì chưa, nhưng biết đâu chừng chúng ta sẽ là một quốc gia Do Thái Giáo, Hồi Giáo, Phật Giáo, Ấn Giáo, hay là một quốc gia vô thần. (Whatever we once were, we’re no longer a Christian nation. At least not just. We are also a Jewish nation, a Muslim nation, and a Buddhist nation, and a Hindu nation, and a nation of nonbelievers.) Điều trớ trêu là khi tuyên thệ nhậm chức, TT Obama phải đặt tay trên cuốn Thánh Kinh Thiên Chúa Giáo mà tuyên thệ. Khi tuyên thệ, không biết vì vô tình hay cố ý, ông đã đọc sai đi một chút để đến mỗi ông tòa Tối Cao sau đó phải bắt ông tuyên thệ lại trong phòng riêng.
Ông Obama coi niềm tin tôn giáo chỉ là một trò đùa chỉ biểu diễn để mị dân. Các ông Arnold và Gavin đều là tin đồ Công Giáo nhưng ly dị và làm ngược lại giáo lý của Đạo để đạt được quyền hành. Có thể rút ra một nhận định chung từ các thí dụ cá nhân trên là, cho dù theo bất cứ một tôn giáo nào, con ngưòi cần phải trung thành với điều mình đã tin theo, bởi vì đây là một niềm tin khắc cốt nhất đối với con người. Một khi đã chối bỏ hoặc coi thường niềm tin nơi tâm linh thì con người không thể là người lương thiện được, họ chẳng trung thành với ai hết. Cộng sản cũng bởi vì vô thần nên chúng mới dã man và tàn bạo như chúng ta thấy. Làm sao ông Ngô Kỷ bắt buộc các ông Arnold Schwarzenegger và Gavin Newsom, những con người bất trung thành với niềm tin khắc cốt nhất của mình phải trung thành với ông được.

Muốn các chính khách Mỹ trung thành với những cam kết họ đã hứa, chúng ta nên thực tế một chút. Người Mỹ rất thực tế. Lối sống của họ là trao đổi lợi lộc, không hơn không kém. Chúng ta không thể chống cộng bằng hai bàn tay trắng. Hoặc là phải có tiền, hoặc là phải có trong tay một cái gì đó để trao đổi. Tiền bạc, nếu không được bằng Nhà Rothschild, Rockefeller, hay Morgan, thực lực, nếu không huy động nổi ít nữa vài ba trăm ngàn lá phiếu trên tổng số 3 triệu dân tỵ nạn, chúng ta đừng hy vọng nói chuyện phải quấy với mấy ông chính khứa Mỹ. Chúng ta nên hiểu tại sao nước Mỹ lại bênh vực chằm chằm thằng bé Do Thái tí hon, vùng đất chó ăn đá gà ăn sỏi mà bỏ rơi anh chàng khổng lồ Ả Rập với lòng đất đầy ắp mỏ vàng đen.

Sau hơn ba chục năm kể từ ngày mất nước, người tỵ nạn vẫn cứ đi theo lối mòn chống cộng bằng biểu tình, kiến nghị, thỉnh nguyện thư v.v. Chẳng đi đến đâu cả. Một thí dụ cụ thể, chúng ta biểu tình chống văn công VGCS chẳng hạn, văn công đã không hết, mà càng ngày càng xuất hiện nhiều hơn, hát hò công khai hơn. Báo cáo IRS chúng hát lậu cũng chẳng ăn thua gì. Sở thuế làm ngơ. Vấn đề là, nếu chúng ta không coi hát thì chúng hát cho ai nghe đây, cho Mỹ đen hay cho Ấn Độ nghe à. Dân Mỹ đen ưa chơi nhạc Rap. Dân Ấn khoái nhạc kèn đám ma. Chỉ có vậy mà chúng ta không làm được thì còn làm cái gì. Hy sinh một chút lạc thú nhỏ nhoi thôi mà không hy sinh nổi thì làm sao chống cộng.

Sống trên đất Mỹ, người Việt tỵ nạn chúng ta nên học hỏi cách đấu tranh của người Mỹ da đen. Một điểm đáng chê trách mà người tỵ nạn cần phải đấm ngực xám hối là chúng ta rất nặng đầu óc kỳ thị, rất hay coi thường người Mỹ da đen. Về cơ sở để gắn bó với nhau, người Mỹ da đen hoàn toàn không có điểm nào được như chúng ta, ngoài một điểm duy nhất là mầu da trên thân thể. Chúng ta là một chủng tộc thuần nhất, người Mỹ đen có nguồn gốc từ rất nhiều bộ lạc, sắc tộc, quốc gia trên khắp châu Phi. Người Mỹ đen đã mất tiếng nói riêng, trong khi chúng ta vẫn còn giữ được tiếng nói và chữ viết. Họ không còn chút gì gọi là văn hóa dân tộc, chúng ta vẫn giữ nguyên phong tục, tập quán, và lối sống riêng như lễ tết, tang ma, cưới hỏi v.v. Thế nhưng phải thừa nhận rằng cái gì người Việt tỵ nạn cũng thua xa người Mỹ da đen. Ở đây chúng tôi chỉ nêu lên sự yếu kém trong cung cách đấu tranh của chúng ta so với người da đen.

Có hai mục tiêu đấu tranh: đấu tranh dành quyền lợi và đấu tranh đòi công lý. Chúng tôi không đi vào chi tiết mà chỉ nêu lên vài trường hợp làm điển hình để học hỏi. Nói đến vấn đề đấu tranh dành quyền lợi của người da đen tại Hoa Kỳ thì họ là số một. Chắc chắn rằng nếu không có cuộc tuần hành của mục sư Martin Luther King Jr. tại Washington D.C tháng 8-1963 thì cho đến bây giờ người da đen vẫn chưa thoát ra được khỏi cái nạn kỳ thị trong xã hội Mỹ. 13 triệu người Mỹ da đen đã được giải phóng sau cuộc biểu dương của 250.000 người cùng mầu da. Người ta chỉ có chung cùng một mầu da thôi, ấy thế mà khi ông mục sư Luther King hô lên một tiếng, đã có mấy trăm ngàn người tập hợp lại sau lưng ông. Chúng ta có làm được như họ không? Trong các điều kiện ký kết để được gia nhập WTO, VGCS phải chấp nhận công bằng trao đổi hai chiều các văn hoá phẩm của hai bên. Chính quyền Mỹ để chiều chuộng bọn VGCS, đã để mặc cho VGCS cấm nhập cảng sách báo của người Mỹ gốc Việt chúng ta. Nếu chúng ta tập trung được vài trăm ngàn trên tổng số 3 triệu người Việt tỵ nạn trên đất Mỹ để đòi lại quyền lợi này thì thử xem chính quyền Mỹ có dám thiên vị nữa không. Ít ra nếu cấm thì phải cùng cấm, còn nếu tự do thì cũng phải tự do đồng đều. Đó là quyền lợi mà người Mỹ gốc Việt chúng ta để mất mát thiệt thòi. Còn nhiều quyền lợi chúng ta bị chơi ép nữa chỉ vì chính sách thiên vị của chánh quyền Mỹ. Tại sao chúng ta không biết đòi hỏi như người da đen mà cứ phải khúm núm xin xỏ: thỉnh nguyện, kiến nghị lôi thôi?

Vấn đề tranh đấu đòi công lý cũng thế. Nếu chúng ta so sánh vụ Rodney King bị cảnh sát hành hạ với vụ Trần Thị Bích Câu bị cảnh sát bắn chết không có lý do, rồi tòa án xử ra làm sao, chúng ta sẽ thấy công lý phải đòi lại bằng cách nào. Cách thức tranh đấu đòi công lý của người da đen cho Rodney King so với cách thức đòi công lý của người Việt cho chị Bích Câu, rõ ràng cách của người da đen có hiệu quả hơn. Nó hữu hiệu đến độ sau đó 3 năm, năm 1995 xẩy ra vụ OJ Simpson giết vợ đã ly dị và tình địch, tòa án đã không dám xử Simpson có tội vì sợ người da đen xuống đường làm loạn. Rodney King là một anh chàng chẳng tử tế gì, việc người da đen xuống đường bạo động là hành động quá đáng, chúng tôi hiểu. Ở đây chúng tôi chỉ muốn nói đến cái tinh thần đoàn kết tương thân tương trợ của người da đen đáng làm gương cho người Việt tỵ nạn chúng ta. Chúng ta nên nhìn vào mà tự vấn. Trong vụ Rodney King, chẳng ai hô hào người da đen xuống đường cả. Khi xẩy ra nội vu tại Los Angeles, hàng trăm ngàn người da đen trên nhiều thành phố, nhiều tiểu bang trên nước Mỹ đã tự động xuống đường vì thấy người đồng mầu da với mình bị xúc phạm. Đã có không ít đồng bào chúng ta bị cảnh sát bắn chết vô tội vạ, tòa xử cảnh sát vô tội nhưng rồi vấn đề bị chìm vào quên lãng, và cộng đồng vẫn thản nhiên như chuyện hàng xóm.

Bây giờ đến chuyện mấy ông chính khứa Mỹ tung hê thằng lãnh sự VGCS Lê Quốc Hùng thì ông Ngô Kỷ mới nghĩ rằng mấy ông chính khứa Mỹ phụ ông là hơi muộn rồi đấy. Người Mỹ đã phụ ông từ lâu lắm rồi. Nhưng nói đi thì cũng phải có nói lại, chính nhiều người Việt tỵ nạn bây giờ cũng tự gọi mình là VIỆT KIỀU rồi thì ông Thống Đốc hay ông Thị Trưởng bảo rằng thằng lãnh sự VGCS lãnh đạo cộng đồng người Mỹ gốc Việt có gì là sai. Tiên trách kỷ thì hậu mới trách nhân được. Muốn cho người Mỹ nói đúng thì cách hữu hiệu nhất nên làm là học đòi cách đấu tranh của người da đen. Nhìn vào thực tế mà coi, giới lãnh đạo Mỹ đều là hạng người ưa nặng chứ không ưa nhẹ đâu. Thằng VGCS nó đập Mỹ những đòn chí tử, chửi Mỹ y như chửi chó, còn người Quốc Gia coi Mỹ thân thiết như bạn bè, thế mà mấy ông chính khứa Mỹ lại dã tâm giết chết bạn bè, coi thằng VGCS như ông cố nội của mình vậy. Còn như đấu tranh chống VGCS, chúng tôi xin lặp lại một lần nữa, không có phương pháp nào tốt hơn phương pháp boycott và embargo được. Làm thế nào để chận được 10 tỷ bạc mỗi năm người tỵ nạn tiếp sức cho VGCS, chúng ta mới có cơ thắng được chúng. Và, chừng nào lãnh sự quán VGCS tại San Francisco vắng như chùa Bà Đanh, không còn người đến xin visa nữa thì tên Lê Quốc Hùng cũng dẹp tiệm, cuốn gói trở về Hànội thôi. Lúc đó mấy ông chính khứa Mỹ mới trung thành với người Việt tỵ nạn chúng ta.

Happy ThanksGiving Day

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Lòng ganh tỵ

(Tạp ghi Huy Phương)
Bolsa vừa có chuyện một cảnh sát dọa bắn người, chuyện này có lỗi hay không, hiện chính quyền chưa giải quyết xong, nhưng người bị dọa bắn lại là một người đã dùng chìa khóa xe của mình để vạch một đường dài trên chiếc xe Mercedes của một người vô can đậu trong parking.

Chỉ trích cảnh sát trong trường hợp này là điều cần thiết, nhưng không nghe ai lên án con người đã vô cớ phá hoại tài sản của kẻ khác.

Không phải chúng ta mới nghe chuyện này lần đầu, ở Mỹ nhiều loại xe mới hay đắt tiền như Lexus, BMW, Jaguar đã chịu số phận “rạch mặt” như thế. Chủ nhân những chiếc xe này rất đau khổ không phải chỉ vì tốn tiền sơn xe mà vì một mặt, chiếc xe của mình có tỳ vết không còn trinh nguyên nữa, mặt khác trong lòng luôn luôn bị ám ảnh khổ sở bởi chuyện này. Còn thủ phạm hành động chắc chắn không phải vì sự tinh nghịch như tuổi thiếu niên phá làng, phá xóm, mà vì lòng ganh tỵ.

Thủ phạm không phải là những người đi cùng một loại xe đắt tiền tương đương, mà chắc chắn họ là chủ nhân những loại xe yếu kém hơn, và những chiếc xe lộng lẫy đắt tiền này như đâm vào mắt họ, làm cho họ “ngứa mắt”. Người ganh tỵ luôn luôn “nóng mặt” với những ai xinh đẹp hơn mình, giỏi giang hơn mình, giàu có hơn mình và cảm thấy luôn luôn bực dọc, khổ sở về những điều mình thua sút người khác. Thay vì vươn lên cho bằng người khác thì họ lại muốn kéo người khác xuống, bằng cách gièm pha, nói xấu, bôi nhọ bằng ý đồ đen tối và với tâm hồn đầy cay nghiệt của mình.

Tâm lý con người Việt Nam, vì chưa nghiên cứu tôi không dám nói chung cả loài người trên trái đất, thấy người thua mình thì để tâm khinh rẻ, thấy người hơn mình thì đem lòng ganh ghét. Cách đây hai mươi năm khi đợt sóng những người H.O. đến Mỹ dâng cao cũng làm xáo trộn phần nào sinh hoạt của những người đến trước, và không khỏi có những sự khinh miệt hay ganh tỵ, mới nhìn có vẻ mâu thuẫn nhưng sự thật thái độ này tùy theo đối tượng để người ta tỏ thái độ. Nếu có anh chàng cựu tù nhân nào mới sang xanh xao, ốm yếu, dồn cả gia đình vào trong một căn chung cư một phòng, đi cái xe cũ rẻ tiền, thì bị người đời phán một câu: “Ðúng là H.O.” Nhưng nếu có ai mới sang mà ăn mặc coi bộ tươm tất, hay có tiền để sắm cái xe mới, liền bị kê ngay một câu: “H.O. mà cũng học làm sang!” Nghề nails đôi lúc cũng bị ganh ghét, không ganh ghét sao được khi người ta học ròng rã sáu năm, ra trường tiền thu vào không bằng nghề nails học sáu tháng. Cũng có hạng người mà thành ngữ Việt Nam đã mô tả là “trâu cột ghét trâu ăn”, thấy bạn bè ăn nên làm ra thì đem lòng ganh tỵ, thù oán, nói xấu sau lưng. Trên thế giới này, không có ai giàu có nhờ nhặt của rơi ngoài đường, nhưng gầy dựng được cơ nghiệp, sự giàu có đều do cần kiệm hay vất vả cộng thêm với sự khôn ngoan, thông minh tạo thành mà không phải ai cũng bắt chước được.

Ông Bá Dương trong cuốn “Người Trung Quốc Xấu Xí” có kể chuyện một người ở gần một ngôi nhà hàng xóm lớn đẹp hơn, được mời cũng không thèm sang chơi, thậm chí cũng không muốn làm thân, chào hỏi. Sau đó khi ngôi nhà của ông xây lại, lớn hơn ngôi nhà kia, thì ông lại tỏ thái độ thân thiện vồn vã. Trước kia là vì lòng ganh tỵ, về sau là vì lòng tự mãn, trịch thượng. Trong những trường hợp càng giống nhau, lòng ganh tỵ lại càng cao, như trong danh từ Hán Việt “trí thức khinh nhau” (Văn nhân tương khinh), “cùng nghề ghen nhau” (Ðồng hành tương kỵ), “Cùng tính thì khích bác nhau” (Ðồng tính tương xích). Như vậy hai ông nhà thơ thế nào cũng chê nhau, hai cô ca sĩ có khi nào ưa nhau, đến như ông hay “ba hoa” thì lại ghét ông thích “chích chòe”. Ông Bá Dương cũng đưa ra một ví dụ: “Tôi đến thăm anh, thấy anh nhà cao cửa rộng, học vấn uyên bác. Trên đường về, đáng lẽ tôi nghĩ phải cố gắng, phấn đấu, làm việc, học hành để có thể được như anh. Ðằng này lúc ra khỏi nhà anh, tôi lại bảo: Ở nhà đẹp thế! Không biết ăn cắp hay ăn cướp ở đâu ra lắm tiền! Cầu trời ngày mai có đám cháy thiêu trụi cái nhà nó đi cho rồi!”

Con gà “tức nhau tiếng gáy” thì cố gắng gáy cho lớn hơn, nhưng con người tức nhau tiếng gáy thì tìm đủ mọi cách để triệt hạ người hơn mình. Sự ganh ghét rất phổ biến, đến nỗi Tạo Hóa cũng đem lòng ganh ghét với mỹ nhân “trời xanh quen thói má hồng đánh ghen (Kiều). Khi sự ganh ghét đến với chúng ta như đám mây làm mờ trí tuệ và con tim thì trở thành chai đá (Bourdalou).

Nhà thơ Trần Thế Xương được chúng ta hâm mộ đến thế, nhưng tôi nhận thấy ông không giấu nổi lòng ganh tỵ với những người giàu sang hơn mình phải chăng vì ông quá nghèo túng (một tuồng rách rưới con như bố):

“Công đức tu hành, Sư có lọng

Xu hào rủng rỉnh, Mán ngồi xe”.

Và tệ hơn nữa: “Ðen thủi đen thui cũng lượt là”.

Trong cái chua chát đắng cay, đôi khi chúng ta thấy ông đi quá xa. Không lẽ phương tiện di chuyển hay y phục sang trọng chỉ dành cho đồng bào Kinh hay với những con người lịch sự, đẹp đẽ? Ðồng bào Thượng du khó nhọc làm ăn lúc có tiền cũng có thể hưởng chút tiện nghi như người miền xuôi, không lẽ cứ phải đóng khố đi bộ suốt đời hay sao. Cũng không có lẽ “đen thủi đen thui” thì không được ăn mặc tươm tất, đẹp đẽ như người khác. Ông Trần Thế Xương mà sống đến thời này thì bà Michelle Obama thế nào cũng hỏi tội ông vì cái tội ví von, ám chỉ đầy kỳ thị này.

Ông “Cách Mạng” 75 khi chiếm miền Nam xong cũng đầy lòng ganh tỵ. Sao dân miền Nam bị áp bức, Saigon bị nô lệ mà nhà cao cửa rộng, sống sung sướng như thế. Trước hết ông tư bản phải cống hiến hết tài sản, dắt díu nhau mà đi “kinh tế mới”, đến người dân dành dụm chút tư hữu, thì Cộng Sản đánh sụm bằng lối đổi tiền “ăn cướp”: 500 đồng bạc Nam lấy 1 đồng bạc Bắc.

Hạnh phúc cho ai tìm thấy được một người giỏi giang hơn mình để học hỏi và gọi họ bằng thầy, chứ không phải đem lòng ganh tỵ vì người ta tài giỏi hơn mình. Kẻ có thực tâm mừng cho sự thành công hay sự giàu có của bạn mình mới là người có đạo đức. Biết vậy, nhưng là một con người tầm thường, đôi khi tôi cũng đem lòng ganh tỵ với những người chung quanh khi thấy người ta giàu có hơn mình, thành công hơn mình, danh tiếng hơn mình, may mắn hơn mình, vì không ai bằng lòng với số phận của mình cả. Nhưng nghĩ lại, biết đâu người láng giềng cạnh tôi cũng đang để tâm ganh tỵ với tôi về những điều mà hiện nay họ không được may mắn như tôi. Vấn đề là chúng ta có kềm chế được hậu quả của lòng ganh tỵ hay không và để lòng ganh tỵ ấy kéo chúng ta đi đến đâu.

Những người may mắn được làm chủ một cái xe hơi đắt tiền làm gì nên tội, nhưng những kẻ có dã tâm, cầm trong tay cái chìa khóa để vạch nát lên thân xe người khác, là người mang tâm hồn đen tối, ganh tỵ của một con thú điên cuồng.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

TIẾNG VANG
Hai cha con nọ đang đi men theo triền núi. Bỗng người con trai nhỏ trượt chân và ngã, em la lớn lên “Ối chao!”. Em lấy làm ngạc nhiên khi thấy ở miền núi xa có tiếng ai nhái lại “Ối chao!”.
Em tò mò la lên “Ngươi là ai?” thì em nhận lại tiếng nhái lại “Ngươi là ai?” Tức giận quá, em quát lên: “Quân đốn mạt!” thì em lại nghe tiếng nhái lại: “Quân đốn mạt!”.

Em nhìn người cha và hỏi “Thế là thế nào hở cha?”
Người cha mỉm cười và nói: “Này con hãy xem đây”.

Nói rồi, ông nói lớn lên: “Anh hay quá!” thì nghe tiếng trả lời “Anh hay quá!”. Rồi ông lại la lên: “Anh tuyệt vời quá!” thì cũng nghe tiếng trả lời “Anh tuyệt vời quá! ”

Người con ngạc nhiên nhưng cũng vẫn chưa hiểu. Người cha ôn tồn giảng : “Đó là tiếng vang con ạ! Khi có những khoảng trống rộng rãi như ta có trước mặt đây thì các tiếng động lớn hay tiếng nói lớn nó sẽ dội lại như vậy.

Con nói những lời tức giận thì nó sẽ dội lại những lời tức giận, cha nói những lời đẹp đẽ thì nó sẽ dội lại những lời đẹp đẽ!

Ở đời cũng vậy! đời là sự dội lại của các hành động của ta. Khi tâm ta có lòng từ bi thì chúng ta sẽ nhận lại sự yêu thương. Khi ta hành động những điều xấu thì nỗi bất hạnh sẽ lại xảy đến cho chúng ta.”
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Loạn ngôn để nổi danh

"Tôi là gái xịn 100%, rất mê trai đẹp (ca sĩ TT), "Họ thích tôi, nhưng tôi không đồng tính (ca sĩ, diễn viên QAA),
"Tôi muốn trở thành biểu tượng sexy (ca sĩ TM, TD)… Đó là những lời phát ngôn "hùng hồn" của một số nghệ sĩ trong thời gian trở lại đây.

Bên cạnh tình trạng đạo nhạc, trang phục biểu diễn hở hang, ảnh khỏa thân...
trong những năm trở lại đây xu hướng loạn ngôn đang trở thành hình thức lăng xê bản thân của giới văn nghệ sĩ, đặc biệt là các ca sĩ trẻ.


Loạn ngôn để khẳng định cái tôi

Image
Ngoài giọng hát, ca sĩ Thu Minh nổi tiếng với phong cách ăn mặc và nhiều phát ngôn “nóng”
Sự xuất hiện ồ ạt và xô bồ của các ca sĩ trẻ thời gian qua đã tạo nên một thị trường âm nhạc bão hòa, èo uột. Cùng với nó là hàng loạt các cuộc thi lớn nhỏ, những "niềm đam mê âm nhạc" bỗng chốc trở thành "tài năng âm nhạc". Và từ đó, vô hình chung các ca sĩ khi bước chân vào thị trường âm nhạc luôn ảo tưởng về sự nổi tiếng của mình, đồng nghĩa với nó là những phát ngôn gây sốc, thiếu suy nghĩ và đơn giản chỉ là "tôi nổi tiếng, tôi có quyền".

Chuyện tưởng "xưa như diễm", nhưng cho đến thời điểm này, nhiều ca sĩ vẫn lấy đó làm tiêu chí để nhanh chóng nổi danh. Lắm khi đằng sau họ là bộ máy lăng xê với nhiều ý tưởng... hãi hùng. Nhạc sĩ Nguyễn Đức Lộc - Ban nhạc Đông Đô nhận định: "Các ca sĩ hiện nay ai cũng muốn nổi tiếng. Đôi khi không dùng tài, họ dùng chiêu, mánh để được nhắc tên ở đâu đó”.

Con dao hai lưỡi

Ca sĩ là những người của công chúng, "nhất cử, nhất động" của họ luôn được khán giả theo dõi. Khán giả thưởng thức âm nhạc, không chỉ bằng tai mà còn cả bằng mắt.

"Mỗi ca sĩ đều có hướng đi của riêng mình, ca sĩ được ví như con ngựa chạy trên đường dài, để tạo dựng hình ảnh của mình thông qua những scandal đôi khi sẽ là con dao hai lưỡi. Ca si loan ngon de noi danh" - Ca sĩ Thái Thùy Linh

Không phủ nhận nhiều ca sĩ có thực tài nhưng về hình thể họ không được "bắt mắt" cho lắm. Không gây tai tiếng, đơn giản họ đến với khán giả bằng tình yêu âm nhạc của mình và được khẳng định theo thời gian.

Đã là ca sĩ thì phải ra album và đầu tư vào đó là một số tiền không nhỏ. Do vậy, các ca sĩ đã thành danh khi làm album luôn "chắc chắn" một điều ra là để khán giả không quên mình, chứ không hy vọng thu lại vốn cho dù đó là một tác phẩm hoàn hảo.

Còn các ca sĩ trẻ thì sao? Không phải ai cũng biết đến họ, scandal là con đường nhanh nhất để công chúng quan tâm, chí ít là sự tồn tại của một cái tên ca sĩ.

Ở những trường hợp này, xem ra loạn ngôn chính là phương pháp hữu hiệu nhất, tạo được tính "tò mò" của công chúng. Nhưng sự tồn tại của nó luôn luôn đi ngược lại với những yếu tố thực tế.

Hình ảnh của họ luôn gắn liền với một cái tên nào đó hết sức phản cảm. Và nó sẽ dần phải nhạt theo thời gian và khi "hết giá trị lợi dụng" thì bầu sô sẽ tìm một "tài năng trẻ" mới thay thế.

Theo Dân Việt
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Không một nấm mồ

Huy Phương


Mới đây việc đồng bào thôn An Dương thuộc quận Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên đã giúp cải táng và xây lăng mộ cho 152 quân nhân VNCH bỏ mình trên bãi biển Thuận An vào những ngày cuối tháng 3, 1975, đã gây lên niềm đau xót mà tưởng chừng như 35 năm nay đã ngủ yên trong quên lãng, không còn ai nhớ đến. Chiến tranh đã qua rồi, không chỉ một vài chục năm ngắn ngủi, mà đã một thời gian quá dài . Những đứa trẻ mới lớn lên không biết gì quá khứ, những ông già đã qua đời ở ngoài quê hương, ngậm ngùi vì những giấc mộng tàn phai. Ngày nay những hố bom đã được san bằng, đồn lũy đã mất dấu dành cho những nương khoai, trận địa ngày trước máu xương đã đem màu mỡ cho ruộng đồng xanh ngát.

Nhưng có những cánh rừng chỉ còn trơ gốc, có những con sông đã ngừng chảy, biển xưa phải chăng nay là nương dâu. Ngày nay, có những đô thị mới mọc lên, những chốn ăn chơi, giải trí mới mở ra, những khách sạn cao tầng vươn cao trong không gian như thách đố với nỗi nghèo khó vẫn còn tồn tại ở sát mặt đất.

Những người ra đi đã trở về vui chơi, đi suốt chiều dài của đất nước, quên hết chiều dài khổ đau của trận chiến mà cha ông họ đã đóng góp máu xương.

Quá khứ phải chăng đã bị chôn vùi, chiến tranh phải chăng đã không còn ai nhớ đến. Không, những nghĩa trang liệt sĩ bây giờ đã có mặt khắp nơi, bia mộ khang trang, gọi là để nhắc nhở những người đã hy sinh trong cuộc chiến tàn khốc trên quê hương kéo dài hơn ba mươi năm. Bây giờ, “khi đất nước tôi thanh bình, mẹ già lên núi tìm xương con mình” (TCS).

Nhưng không còn gì cho những người thất trận và đồng bào trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến. Bao nhiêu người đã bỏ mình trên quốc lộ 7B trên đường rút về duyên hải từ Pleiku, bao nhiêu người đã chết trên những bãi biển miền Trung trong cơn tuyệt vọng tìm con đường sống về Nam. Sau khi đất nước ngưng tiếng súng, người ta kêu gọi những người miền Nam đang chiến đấu buông súng, nhưng thực chất tại nhiều địa phương, nhiều cuộc trả thù đã xẩy ra, nhiều nhân viên đảng phái, ngành tình báo, cảnh sát đã bị đưa đi thủ tiêu. Ngay cả với nhiều toán chiến sĩ Biệt Cách Dù 81 ra đầu hàng cũng bị bắn và chôn vùi trong những giếng cạn trại địa phận Long Thành. Bao nhiêu năm qua, tội ác được giấu nhẹm, trong nước không ai dám lên tiếng, không ai dám tiết lộ tin tức cho thân nhân.

Tất cả đều bị vùi dập với đất cát, cỏ cây, qua thời gian, nắng gió, xương tàn cốt mục tan nát theo bùn đất. Ai còn nhớ đến họ, phải chăng người mẹ trước khi qua đời, vẫn còn mang nỗi đau về tin tức một đứa con ba mươi lăm năm nay biệt mù, phải chăng chỉ còn là di ảnh đã ố vàng của một người chồng trên bàn thờ, để nói với đàn con đó là người cha thuở trước.

Không bia mộ, không dấu vết, lặng lẽ, phai tàn và quên lãng.

Những người dân làng trên bãi biển Thuận An đã âm thầm chôn cất những người lính, người dân miền Nam nằm lại trên bãi biển, hay từ cơn sóng biển đưa vào, trong cơn vội vã, thương xót mà không hề bộc lộ. Rồi cơn sóng biển dập vùi, bão lụt tràn bờ, kéo xương cốt những người này trả lại cho trùng dương. Tưởng chừng những linh hồn uổng tử, oan khuất theo cơn gió giật, réo gọi, rên xiết trên những hàng dương oằn mình, run rẩy.

Trên quê hương chúng ta có bao nhiêu nấm mồ tập thể như thế và vì tình người, có bao giờ những người thắng trận nghĩ đến việc khuyến khích dân chúng tại những nơi trận địa, cải táng những thi hài này để tìm ra những tin tức cho những gia đình đã mất con, mất chồng trong cuộc chiến. Câu chuyện này, nếu làm trong thời gian vài ba năm sau khi cuộc chiến mới chấm dứt, khi thịt chưa nát, xương chưa tan, khi còn những dấu tích, chúng ta có thể tìm ra căn cước của những người chết, để giao về cho những gia đình ly tán mất mát, thì đâu có lâm vào cảnh muộn màng như thế. Nhưng điều đó đã không xẩy ra. Những danh từ “bỏ qua quá khứ,” “hòa giải dân tộc,” “xóa bỏ hận thù” chỉ là những câu khẩu hiệu chỉ để nói mua vui. Ngay như chuyện Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, đã có bao nhiêu lời hứa hẹn, đã có bao nhiêu tổ chức ở hải ngoại về nước hy vọng sẽ góp công, góp của để giữ gìn lại những hài cốt của các chiến sĩ miền Nam ngày trước, nhưng cuối cùng chỉ nhận lấy sự hụt hẫng vì những lời hứa suông, giả dối. Ngày nay nghĩa trang này rơi vào cảnh điêu tàn, hoang phế, đất nghĩa trang được “dân sự hóa,” không còn được một tên gọi, không được tôn trọng như là một di tích của lịch sử, mặc cho gió dập mưa vùi.

Rồi thời gian sẽ xóa hết dấu vết.

Chúng ta không có hy vọng gì về một đất nước văn minh, nhân ái để có một nghĩa trang chôn cất người lính của cả hai miền, dù là bên thắng bên thua, nhưng ít ra đối với người thắng trận phải có chút lòng nhân, không chỉ có thái độ trả thù đối với những người bại trận còn sống mà còn đối với những người đã chết. Chính quyền Cộng Sản ngày nay đã quay lưng đi với nỗi đau khổ của đại đa số dân chúng, nên chúng ta cũng hiểu rằng rất khó để kêu gọi tấm lòng nhân đối với những người đã chết. Khi chế độ mới có quyền lực trong tay, họ muốn làm những điều ác để bảo vệ chế độ hơn là lấy điều nhân nghĩa để lo cho dân.

Qua các đợt cứu trợ cùng với các tổ chức đang hướng về quê hương, vì hải ngoại đã thương xót mủi lòng khi nghĩ đến cảnh khổ của đồng bào ruột thịt ở trong nước, mà ngày nay những người bỏ nước ra đi, còn có tấm lòng nghĩ đến những người đã nằm lại, qua các công cuộc đi tìm hài cốt hay tu sửa bia mộ cho những người chiến sĩ VNCH. Qua tin tức, phim ảnh chúng ta đã có dịp thấy cảnh đào xới truy tìm hài cốt của những người lính Mỹ chết tại Việt Nam, với sự yểm trợ tối đa của chính quyền, huy động nhân công đông đảo, phương tiện cơ giới để đào sâu, sàng sảy để tìm những mẫu xương cốt. Lại thấy cảnh bốc mộ của đồng bào đối với hài cốt của những người lính miền Nam được tiến hành với những phương tiện thô sơ, góp nhặt những đốt xương, những chiếc răng còn lại mà cảm thấy đau lòng, xót xa.

Ba mươi lăm năm, một thời gian quá dài. Những bậc sinh thành đã không còn sống để đợi chờ tin con. Những góa phụ đã mòn mỏi héo hon. Ký ức của những đứa con đã không còn chút dấu vết của người cha thời trận mạc. Tất cả đều đã mịt mờ trong quá khứ. Những người lính chiến không bao giờ trở về, thân xác theo cát bụi về với hư vô.

Chiến tranh đã tàn khốc ác độc, mà giữa con người với con người cũng chẳng có lòng thương xót, ba mươi lăm năm rồi vẫn còn đối với nhau như kẻ thù không đội trời chung.

Nếu không như thế, chính phủ CSVN đã bảo trì, giữ gìn, tu bổ Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, theo ý nghĩa “không có người thắng, kẻ thua.” Nếu không như thế, chính phủ CSVN đã có chính sách truy tìm, khuyến khích dân chúng phát giác, khai quật những mồ chôn tập thể, sau ngày tàn cuộc chiến để trả hài cốt về cho những người mẹ mất con, những người vợ góa chồng, những đứa con không cha.

Báo chí trong nước không được phép loan tin những chuyện liên hệ đến chế độ cũ hay hình ảnh người lính VNCH, do đó việc thông tin bị hạn chế, gia đình không thể nào tìm ra những người mất tích trong cuộc chiến. Ðó là chính sách bất nhân của những con tim vô cảm.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

TT Obama: Lưu Hiểu Ba lãnh giải Nobel xứng đáng hơn tôi rất nhiều
Friday, December 10, 2010



OSLO, Na Uy - Hôm Thứ Sáu 10 tháng 12 kỷ niệm Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, Tòa Bạch Ốc đã đưa ra một bản tuyên cáo của Tổng Thống Barack Obama nói rằng nhà tranh đấu nhân quyền Lưu Hiểu Ba xứng đáng hơn ông rất nhiều để nhận giải Hòa Bình Nobel 2010 mà ông ta đã không được đến lãnh tại buổi lễ vào ngày này ở Na Uy.
Image
Chủ Tịch Ủy Ban Nobel Na Uy Thorbjorn Jagland đọc diễn văn khai mạc lễ Nobel Hòa Bình 2010 (Hình: AP /John McConnico)


Khoảng 1,000 quan khách tham dự lễ trao giải Nobel Hòa Bình 2010 tại tòa đô sảnh Oslo, Na Uy, đã đứng dậy vỗ tay khi văn bằng và huy chương được Chủ Tịch Hội Ðồng Nobel Na Uy Thorbjorn đặt vào chiếc ghế trống của người lãnh giải, ông Lưu Hiểu Ba 54 tuổi, đang ở tù tại Trung Quốc. Phần thưởng bao gồm số tiền $1.4 triệu đã thỏa thuận sẽ trao lại ở nhà tù, với điều kiện truyền thông quốc tế không được làm phóng sự tường thuật.

Trong lời phát biểu, ông Jagland nói: “Lưu Hiểu Ba không làm điều gì sai trái. Ông ta phải được trả tự do”. Theo lời ông, không một thân nhân nào của ông Lưu được phép đến tham dự buổi lễ và “điều ấy chứng tỏ phần thưởng này là cần thiết và thích đáng”.

Nữ tài tử điện ảnh Na Uy Liv Ullman đọc lời tuyên bố cuối cùng của Lưu Hiểu Ba trước tòa án năm 2009 khi bị tuyên án 11 năm tù: “Tôi không có kẻ thù”.

Cả hai kênh truyền hình CNN và BBC đã không có sóng tại Trung Quốc trong vòng một tiếng đồng hồ lúc 8 giờ địa phương tối Thứ Sáu 10 tháng 12, đúng vào thời điểm lễ trao giải Nobel diễn ra ở Oslo.

Bản tuyên bố của Tổng Thống Obama nhắc lại: “Một năm trước đây tôi cảm thấy mình phải khiêm nhượng khi được nhận phần thưởng Hòa Bình Nobel, một giải thưởng nói lên những nguyện vọng cao quý nhất của chúng ta đã được dành cho những vĩ nhân trong lịch sử cùng những con người dũng cảm tranh đấu cho tự do và công lý. Ông Lưu Hiểu Ba xứng đáng với giải thưởng này hơn tôi rất xa”. Tổng thống nhận định là sự theo đuổi một nền hòa bình công chính hãy còn chưa toàn vẹn dù rằng nhân loại đã phấn đấu để tiến bộ.

Ðề cập đến ý nghĩa ngày Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, Tổng Thống Obama viết: “Nhân quyền là quyền chung của mọi con người - không tùy thuộc vào một quốc gia, lãnh thổ hay tín ngưỡng nào. Hoa Kỳ tôn trọng văn hóa và phong tục tập quán của tất cả các quốc gia. Chúng tôi ngưỡng mộ những thành tựu kiệt xuất của Trung Quốc đưa hàng triệu người thoát khỏi nghèo khó và tin rằng nhân quyền bao gồm chân giá trị của tự do đem đến cho những cá nhân ấy. Nhưng trường hợp ông Lưu Hiểu Ba nhắc nhở chúng tôi rằng phẩm giá con người cũng còn tùy thuộc vào tiến bộ của nền dân chủ, xã hội khai phóng và luật pháp. Những giá trị mà ông ta ôm ấp là chung cho mọi người, cuộc tranh đấu của ông ta hòa bình và ông ta nên được sớm phóng thích. Tôi tiếc rằng ông Lưu và vợ ông đã bị khước từ cơ hội đến buổi lễ mà tôi và Michelle Obama đã tham dự năm ngoái. Hôm nay ngày Quốc Tế Nhân Quyền, chúng ta nên gia tăng nỗ lực để tiến tới những giá trị chung cho toàn thể nhân loại”.

Bà Chủ Tịch Hạ Viện Nancy Pelosi và Ðại Sứ Hoa Kỳ Barry White có mặt trong buổi lễ cùng với đại diện 45 quốc gia khác. Bà nói với phóng viên AP rằng cảm thấy vinh dự được hiện diện trong dịp này. Trung Quốc từ hàng tháng qua đã tung ra một chiến dịch vận động và tạo áp lực với các quốc gia, kêu gọi tẩy chay giải Nobel Hòa Bình năm nay. Kết quả có 17 nước đã không cử đại diện chính thức đến Na Uy tham dự buổi lễ trao giải.

Trong số 140 nhà tranh đấu do bà vợ của ông Lưu Hiểu Ba, đang bị quản thúc tại gia, chuyển thư mời dự lễ chỉ có một người là Wan Yanhai đến được Oslo. Wan đã đào thoát qua Hoa Kỳ hồi tháng 5 sau khi nhà cầm quyền Trung Quốc làm khó dễ tổ chức tranh đấu cho những nạn nhân bệnh AIDS của ông.

Lần cuối cùng giải Nobel không được phát là năm 1936 khi Adolf Hitler cấm không cho nhà vận động hòa bình người Ðức Ossietzky nhận giải thưởng. Ngay trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh, những nhân vật đối kháng chế độ như Andrei Sakharov ở Liên Xô và Lech Walesa ở Ba Lan cũng có bà vợ thay mặt đến Na Uy lãnh giải. Năm 1991 người con trai 18 tuổi của bà Aung San Suu Kyi ở Myanmar nhận giải thưởng cho mẹ.

Trong lịch sử, giải Nobel cũng còn gặp một số trường hợp khó khăn phức tạp khác. Năm 1968 văn hào Boris Pasternak bị chính quyền Liên Xô ép buộc phải từ chối giải Nobel Văn Học. Năm 1964 văn sĩ Pháp Jean Paul Sartre cũng từ chối với lý do không bao giờ ông nhận một giải thưởng nào.

Năm 1973 giải Nobel Hòa Bình được phát cho Henry Kissinger và Lê Ðức Thọ vì thành tích trong cuộc hòa đàm Paris, nhưng Lê Ðức Thọ sau đó từ chối với lý do chiến tranh chưa chấm dứt.

Cùng ngày Thứ Sáu 10 tháng 12 các giải Nobel khác được phát trong một buổi lễ tại Stockholm, Thụy Ðiển. Theo truyền thống giải Hòa Bình là giải Nobel duy nhất được tuyển chọn và cấp phát tại Na Uy. (H.C.)
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Những câu hỏi....
Đã bao giờ bạn nghe được một cuộc cãi vã mà toàn là những câu hỏi, mà không hề có câu trả lời chưa?

Câu chuyện xẩy ra vào một buổi tối, người chồng về nhà muộn…

- Sao anh về muộn thế?
- Mấy giờ rồi mà em bảo muộn?
- Anh không có đồng hồ à?
- Em tưởng cái đồng hồ chết tiệt của anh không bao giờ chết ư?
- Thế sao anh không hỏi người ta?
- Người ta là ai? Em định ám chỉ người nào thế?
- Anh tưởng là tôi không biết gì ư? Thế anh lê la ở những xó xỉnh nào mà đến bây giờ mới vác mặt về nhà?
- Em học ở đâu những cách ăn nói với chồng như vậy?
- Thế anh bảo tôi phải ăn nói với anh như thế nào?
- Em không thể tìm được lời lẽ có văn hóa hơn một chút hay sao?
- Thế anh tưởng rằng anh có văn hóa lắm ư? Anh đã nốc bao nhiêu bia và rượu rồi?
- Can gì đến em?
- Tại sao anh cứ trả lời câu hỏi của tôi bằng câu hỏi của anh?
- Tại sao không?
- Tôi hỏi lại: anh đã nốc bao nhiêu bia và rượu rồi?
- Tiền đâu mà bia với rượu?
- Thế thì lương mới lĩnh đâu hết rồi?
- Em tưởng rằng lương anh nhiều lắm à?
- Anh đưa hết tháng lương cho con đĩ nào vậy?
- Em cho rằng ngoài em ra, mọi người phụ nữ khác đều là con đĩ cả hay sao?
- Không phải là đĩ thì tại sao lại đưa hết tiền cho nó? Hả…? Hả…?
- Tại sao cô lại tru tréo lên như thế?
- Không tru tréo lên để anh muốn làm gì thì làm à?
- Bơn bớt cái mồm đi có được không?
- Tôi không bớt thì anh định làm gì tôi?
- Cô không thách thức tôi đấy chứ?
- Anh có dám không?
- Đến nước này thì tại sao tôi lại không dám?
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Tôi rất tự hào được Sống ở Mỹ !



Tôi nghĩ "Những ai chê Mỹ th́ cứ trở về VN mà sống !" Đến Mỷ thì khó chứ bỏ Mỷ mà đi thì quá dễ ! Chỉ ngại một điều miệng thì nói về mà lòng không dám thế !

Gần đây tôi có đọc được nhiều những bài viết nói về cuộc sống của người Việt trên đất Mỹ khiến tôi không khỏi chạnh ḷng. Ở bất kỳ đất nước nào trên thế giới, phàm là con người đều phải đi làm mới có ăn . Những người lười biếng, th́ cuộc đời của họ sẽ phải chịu thiệt thòi .Giầu và nghèo th́ không có nước nào mà không có hai tầng lớp này, bởi v́ chẳng nơi nào chỉ có toàn người giầu và chẳng nơi nào chỉ có toàn người nghèo cả.

Tôi đă theo cha mẹ qua Mỹ khi 20 tuổi và bây giờ chỉ c̣n hai năm nữa th́ tôi được 40.Như vậy có nghĩa tôi đă ở Mỹ một thời gian khá dài. Phải nói rằng trong ḷng tôi luôn cám ơn đất nước Mỹ đă cho tôi cơ hội đến trường mà không phải lo sợ không có tiền để đóng học phí , cám ơn Mỹ đă cho các em tôi cơ hội để cầm mảnh bằng Dược Sỉ trong tay, và cám ơn nước Mỹ đă cho anh em chúng tôi cơ hội kiếm được công việc làm khá tốt.

Tất cả những điều có được ngày hôm nay là do sự cố gắng vươn lên của chính bản thân mỗi cá nhân chúng tôi, bố tôi , mẹ tôi . Muốn đạt tới sự vinh quang không phải là ngồi một chỗ than trách hoặc lười biếng mà có được.Sau hơn mười năm tù cộng sản , bố tôi đi Mỷ với hai bàn tay trắng , đầu tắt mặt tối đi làm bất cứ việc gì kiếm được , cả bố lẫn mẹ , không hề than thở .Bố tôi rất ít nói , thỉnh thoảng có nói gì thì cũng không ngoài mấy lời động viên các con nên chăm lo học tập và một mực khước từ đề nghị của chúng tôi đi làm giúp gia đình . Hồi ấy thỉnh thoảng có đôi người bạn già đến thăm bố tôi , câu chuyện qua lại loáng thoáng tôi nghe được " thằng Mỷ khốn nạn " . Tôi cũng hiểu ít nhiều là người Mỷ đã đành đoạn bỏ rơi VN năm 75 . Lâu lắm , thấy cuộc sống trong gia đình tương đối ổn định , tôi yên tâm lo học và cũng chẳng còn quan tâm đến mấy tiếng thằng Mỷ khốn nạn nữa .Cho đến gần đây khi các em tôi lần lượt cầm được mảnh bằng Dược sỉ trong tay tôi lân la trò chuyện với bố tôi , tôi mới phát hiện thêm một điều : bố tôi không còn trách Mỷ bỏ rơi VN nữa vả lại bố tôi cũng đã nhận ra rằng chính con cái mình bây giờ cũng đã hiểu rằng đường lối của Mỷ xưa nay vẫn chỉ là quyền lợi của Mỷ mà thôi , bây giờ bố́ tôi lại tỏ ra xót xa cho nước Mỷ khốn nạn , khốn nạn đã cưu mang không ít một mớ người vong ân bội nghĩa ! Ở điểm này , tôi thật tình chua chát mà rất tâm đắc với bố tôi . Lục lọi trong ký ức tôi còn nhớ có lần , lúc mới qua Mỷ được một thời gian , đi đâu về , bố tôi tỏ thái độ bực bội về một phát biểu của một người bạn HO của bố " Biết tụi Mỷ đem con bỏ chợ như thế này thì tau đâu có thèm đi ..."Tôi miên mang suy nghĩ không hiểu nước Mỷ đã nợ người VN những gì mà bây giờ cam nhận những lời trách móc , chửi rủa thậm tệ nào là qua Mỷ di làm cực quá , về hưu không còn đủ sức khỏe để hưởng hưu . Thậm chí có những người mà tôi biết rất rõ họ không đi tù , qua đây do con bảo lảnh , ráng hết sức cho có quốc tịch Mỷ thế là đã có thừa điều kiện hưởng SSI mà chưa hề một ngày đi làm đóng thuế , đã nở nhẩn tâm mở miệng rằng " dm...có mấy trăm bạc mà bày đặt bao nhiêu giấy tờ , hành xác mình hết chỗ nói..." Rất nhiều người Việt vượt biển , vượt biên qua Mỹ trước kia đă thành công, có nhà cửa và có tương lai sự nghiệp vững chắc. Nước Mỹ không hề bắt buộc , thúc ép chúng ta đi , mà chỉ vì nặng tình nghĩa đồng minh , ra tay cứu vớt , tạo điều kiện cho chúng ta nối tiếp nhau , liên tục có mặt tại đây qua biết bao nhiêu diện di dân . Chính phủ và nhân dân Mỷ đã dành cho chúng ta bao nhiêu chương trình ưu đải , có nơi ăn chốn ở , có công việc làm , con cái đỗ̃ đạt , tương lai huy hoàng . Như vậy đủ biết xă hội Mỹ đă tốt đến thế nào đối với chúng ta.Nhìn cho kỷ thêm chút nữa , thử hỏi trong chúng ta , những người sang đến Mỷ khắp các diện , các thành phần , đang có cuộc sống đầy đủ ở Mỷ liệu đã có thành thật hội đủ những tiêu chuẩn chính đáng do thủ tục nhập cảnh đòi hỏi hay không , có chắc chắn không vi phạm những điều lệ hưởng các loại trợ cấp hay không .

Tôi nghĩ rằng người Mỷ đả từng chinh phục được không gian , lẻ nào họ lại không biết có không ít những mánh khóe dối gian nhưng họ cứ nghĩ rằng chỉ cần tin vào một lần giơ tay tuyên thệ , một lời cam đoan đơn giản là đủ rồi .Như vậý có bao giờ chúng ta thử gác tay lên trán , nhìn lại mình trước cái cao thượng của người Mỷ, quan sát chung quanh ,trước khi có những than phiền chê trách Mỷ , chửi đổng nước Mỷ .Về trở lại Việt nam ư ? Việt Nam là quê hương ngàn đời của mình , có ai chối cải , về VN , đâu có ai cấm đoán nếu không phải là chính mình ? Mỷ tồi , Mỷ bóc lột , Mỷ cực thì ai bắt buộc mình phải bám víu Mỷ làm gì ?Tại sao mình không chịu nói lên sự thật rằng mình đang hối tiếc cái quá khứ mà mình đã tôn thờ như một thời vàng son , một thời oanh oanh liệt liệt . Tất cả cái quá khứ vàng son đó đã không mang theo đuọc theo với vận nước một thời . Sang đây bổng đôi khi thấy mình bị : " perdu dans la masse " cảm thấy như hụt hẩng khi nhìn chung quanh thấy nguòi ta ...hơn mình ....Thế nên bèn ra sức chiêu đải một số chọn lọc trong đám bạn bè , đứa nào còn giử được chút phong độ hào nhoáng của ông cựu trung tá , ông cựu giám đóc , ông cựu trưởng ty thì tạo cách năng lui tới để cùng nhau đánh bóng cái vang bóng một thời ! Không được , buồn quá , phải nghĩ đến chuyện trở về VN để mong đập gương xưa tìm hình bóng cũ !Thì cứ mạnh dạn nói một tiế́ng GOOD BYE , nào có ai buồn cấm cản .

Nếu thật sự ở Việt Nam tốt hơn trong mắt họ th́ họ nên về đó mà sống, sang Mỹ làm ǵ ?.Căn cứ theo báo cáo cũng như từng đọc báo chí th́ tôi thấy cuộc sống ở VN khó khăn gấp vạn lần bên Mỹ. Thử hỏi một kỹ sư hóa học ra trường kiếm được bao nhiêu tiền một tháng? Ngay cả tầng lớp trí thức như giáo sư người đă cho sinh viên kiến thức, mà c̣n nghèo khổ đi làm thêm ban đêm để có đủ tiền nuôi vợ con đó thôi.

Những người giầu bên VN đa số thuộc thành phần nào chúng ta đã thừa biết, chúng ta không thể nào so sánh cuộc sống của người Việt tại Mỹ với cuộc sống của người Việt tại quê nhà được v́ đây là hai bối cảnh hoàn toàn khác nhau.

Nước Mỹ không phải là thiên đường nhưng nó đă giúp cho người Việt chúng ta ở đây có rất nhiều cơ hội, mà nếu ở VN th́ chắc chắn họ sẽ không bao giờ có được, trừ khi họ có thân nhân trong guồng máy chính quyền cộng sản.

-Tôi không quên nguồn gốc ḿnh là người Việt Nam nhưng tôi cũng sẽ không làm kẻ vong ơn, ăn cơm, uống nước của Mỹ nhưng luôn miệng che bôi Mỹ.
Tôi rất tự hào khi được sống ở bên Mỹ!

ThùyVân
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

NGƯỜI THỢ XÂY CẤT



Người thợ mộc già nọ làm việc rất chuyên cần và hữu hiệu lâu năm cho hãng thầu xây cất nọ. Một ngày kia, ông ngỏ ý với hãng muốn xin nghỉ việc về hưu để vui thú với gia đình. Tuy không còn có đồng lương nhưng ông ta muốn nghỉ ngơi để an hưởng tuổi già.

Hãng xây cất cũng vô cùng luyến tiếc là sẽ thiếu đi một người thợ giỏi đã tận tụy nhiều năm. Hãng đề nghị với ông cố gắng ở lại giúp hãng xây cất một căn nhà chót truớc khi thôi việc. Ông ta nhận lời vì biết mình sẽ giải nghệ, cùng với sự miễn cưỡng, ông ta làm việc một cách tắc trách qua quít, xây cất căn nhà với những vật liệu tầm thường kém chọn lọc miễn có một bề ngoài đẹp đẽ mà thôi.

Mấy tháng sau, khi căn nhà làm xong, ông đuợc ông chủ hãng mời tới, đưa cho ông chiếc chìa khóa của ngôi nhà và nói: "Ông đã phục vụ rất tận tụy với hãng nhiều năm, để tưởng thưởng về sự đóng góp của ông cho sự thịnh vượng của hãng, hãng xin tặng ông ngôi nhà vừa xây xong!"

Thật là bàng hoàng. Nếu người thợ mộc biết là xây cất căn nhà cho chính mình thì ông ta đã làm việc cẩn thận và chọn lựa những vật liệu có phẩm chất hơn. Sự làm việc tắc trách chỉ có mình ông tự biết và nay thì ông phải sống với căn nhà mà chỉ có riêng ông biết là kém phẩm chất.

° ° °

Lời bàn: Câu chuyện này cũng giống như chuyện đời của chúng ta. Chúng ta giống như người thợ già kia thường tạo dựng một đời sống hào nhoáng, tạm bợ, đua đòi không chú trọng tới phẩm chất của nó. Nhiều khi ngồi kiểm điểm những sự bê bối của mình trong quá khứ thì chúng ta thấy mình đang phải cam chịu những hậu quả của nó. Ðời là một công trình kiến trúc do chính mình tạo nên. Ðời sống hiện tại là kết quả của sự tạo dựng trong quá khứ, đời sống ngày mai sẽ là kết quả của sự tạo dựng hôm nay. Hãy xây dựng đời mình một cách đúng đắn.
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

PHIẾM ĐÀM VỀ … CÁI MŨI

Trần Huy Thuận



MŨI là một bộ phận của cơ thể được “ngự” ngay giữa mặt, dưới MẮT và trên MỒM! Chỉ cái “vị thế” ấy của mũi đã cho thấy vai trò của nó quan trọng đến mức độ nào! Tuy vậy, về hình thức MŨI cũng có nhiều loại lắm. Đẹp thì có mũi “DỌC DỪA”, xấu thì có mũi “SƯ TỬ” (gọi thế nhưng nhìn thì nó giống như con cóc ngồi chồm chỗm trên mặt vậy!).

”LÕ” là mũi của người phương Tây, dân Á Đông mình vốn mũi “TẸT”. Mũi lõ lại phân ra mũi “KHOẰM”, mũi “NHÒM MỒM”…. Về mầu sắc, mũi không chỉ đồng mầu với da mặt, mà đôi khi còn có mầu đỏ, thậm chí cả mầu xanh nữa, trông cũng ghê lắm!
Mũi của con người (và động vật) có hai chức năng chính, thứ nhất là “hít thở” không khí (cùng với cái mồm), thứ hai là “ngửi” mùi (thông qua cơ quan khứu giác cư trú ở đây).

Chức năng HÍT THỞ tác dụng đến sự sống mỗi người từng giây, từng phút như thế nào, chúng ta đều đã rõ – chỉ đến khi từ giã cõi đời, con người nói riêng và động vật nói chung mới không còn hít thở!

Chức năng NGỬI đối với con người tuy không ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống còn, nhưng thiếu nó – mũi bị ĐIẾC chẳng hạn, trước mắt sự hưởng thụ của chúng ta sẽ mất đi phần thi vị: Đứng trước một bông hoa, không được thưởng thức hương vị thơm tho đặc trưng của nó… Và không chỉ có vậy, khứu giác còn giúp ta sớm nhận biết sự vật ngay cả khi mắt và tai chưa kịp phát hiện – ví dụ mùi khét của lửa, sớm giúp phát hiện hoả hoạn, trước khi cái mắt nhìn thấy ngọn lửa bốc lên, còn đến lúc cái tai nghe thấy tiếng nổ “lốp bốp” của ngọn lửa thì thường là đã quá muộn! Thậm chí, có những công việc cái mắt, cái tai không làm được, mà chỉ duy nhất cái mũi làm được. Ví dụ, để phân biệt loại và chất lượng nước hoa, người ta phải nhờ đến TÀI NGỬI của một số chuyên gia. Khi người ta yêu nhau, cái mũi là quan trọng lắm đó. Ấy là lúc nó “bén mùi” của nhau, đúng như Nguyễn Du đã mô tả: “Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình”!

Con người thông minh nói chung là nhờ BỘ ÓC, còn con chó thông minh chủ yếu lại là nhờ… CÁI MŨI. Chó KHÔN là chó có tài … NGỬI, tức tài ĐÁNH HƠI (chẳng hạn, để phát hiện “ma tuý” của bọn buôn lậu “cái chết trắng”, công an phải dùng đến tài ĐÁNH HƠI của chó nghiệp vụ…)

Nhưng chức năng của MŨI không chỉ dừng lại ở hai cái đó, mà còn nhiều tác dụng khác không kém phần quan trọng.

Đó là chức năng “biểu đạt tình cảm”. Khi khó chịu điều gì đó mà chưa đến mức “đỏ mặt tía tai”, thì người ta hay “NHĂN MŨI” lại. Ngược lại khi nghe được lời nói êm tai tâng bốc mình, thì trước khi “lên mây xanh”, cái mũi thường PHỔNG LÊN phập phồng! Lại nữa, khi con người đau khổ quá mà khóc, thì thường không chỉ đôi mắt chảy nước mà ngay cả cái mũi cũng có nước chảy ra!…

Đó là chức năng “can thiệp” vào nội tình của người khác, hoàn toàn không thuộc trách nhiệm của mình – chức năng… “NHÚNG MŨI”! Cái trò nhúng mũi này có mặt ở khắp tất cả mọi lúc mọi nơi, từ công sở đến trường học, từ trong nhà ra ngoài đường… gây khó chịu, bực bội cho nhiều người!

Đó là chức năng “do thám” hành vi của bạn bè, đồng nghiệp, hàng xóm… Dân gian gọi cái đó là trò “ĐÁNH HƠI” vào công việc, vào đời sống riêng tư của người khác, để “tâng công” với chủ, để “lấy lòng” sếp, để “đẹp lòng” bề trên cũng như vì nhiều lẽ khác…. Muốn sống yên thân, mỗi chúng ta phải tìm cách lánh xa, cách ly những đối tượng ấy, càng sớm chừng nào càng tốt chừng ấy!

CÁI MŨI còn là điểm yếu của một số loài vật mà từ lâu, con người đã biết khai thác rất… hữu hiệu: Để dễ dàng điều khiển, sai khiến con trâu, con bò, người ta dùng giây thừng XỎ MŨI nó. Từ đó, muốn con vật đó đi theo hướng của mình, người chủ chỉ cần kéo cái giây thừng. Sau này, để ám chỉ một ai đó đã bị sống lệ thuộc người khác, chấp nhận sự sai khiến của người khác, dân gian cũng nói: “Cái thằng ấy đã bị… xỏ mũi rồi”.

Trẻ em nước ta không mấy em không từng đọc truyện chú người gỗ Pinochio. Sau khi đọc, các em sợ NÓI DỐI lắm, bởi truyện kể rằng, có một bà tiên đã làm phép cho chú mỗi khi nói dối thì chiếc mũi sẽ dài và nhọn ra mãi. Ôi! Giá mà ngày nay BÀ TIÊN còn có phép làm như thế đối với cả NGƯỜI LỚN chúng ta nữa nhỉ? Nếu vậy, ngoài đường sẽ tràn ngập những NGƯỜI MŨI DÀI quá khổ mất?!.

Như vậy, vai trò của cái MŨI trong cuộc sống là rất quan trọng. Quan trọng đến mức xưa nay mọi người vẫn bảo nhau: “Vuốt mặt phải nể mũi” – nghĩa là cái mặt có thể vuốt, nhưng cái mũi thì nên nể, đừng có động vào! Do đó, chúng ta nhất định phải luôn quan tâm chăm lo săn sóc, bảo vệ đến cái MŨI của chính mình một cách chu đáo! Lại phải biết cách GIÁO DỤC nó làm sao để nó có được một đời sống VĂN HOÁ thực sự, không bao giờ làm cái việc NHÚNG MŨI hoặc ĐÁNH HƠI kiểu súc vật đồi với đồng loại.

http://nguyentrongtao.org/2010/12/21/ph ... 1-cai-mui/
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image

Nghĩ Về Cho Và Nhận Trong Mùa Giáng Sinh
Trong đời sống hằng ngày, cho để nhận là một chuyện rất bình thường trong mọi sự trao đổi lẫn nhau. Tôi trả tiền, tôi nhận món hàng.
Vậy, cho để nhận là một quy luật tự nhiên hay còn là một nguyên tắc đạo đức?

Đó là một hành động tự nguyện, bất vụ lợi, xuất phát từ lòng thương người?

Một nguyên tắc tư bản: cho để nhận

“Anh hãy cho tôi những gì tôi cần và anh sẽ nhận được những gì anh cần”. Đó là nguyên tắc cho để nhận (Give and take hay Donnant - donnant) của xã hội tư bản.

Cho cũng có nghĩa là bán cho. Vô tiệm ăn mình thường gọi: cho tôi ly cà phê sữa đá. Tôi đưa anh 3$, tôi nhận ly cà phê. Tiền trao cháo múc.

Nghĩ rộng ra, nguyên tắc trên cũng có thể đem áp dụng vào cá nhân mỗi người.

Chúng ta cần phải ăn, cần phải uống và cần tập thể dục cho cơ thể được khỏe mạnh.

Người mẹ cho con bú để nó sống và lớn khôn nên người. Đó là món quà tình mẫu tử cho và nhận. Hạnh phúc của con chính là hạnh phúc của người mẹ (cycle du don).

Trong mối tương quan giữa con nguời với nhau, tiền bạc là biểu tượng để mọi người có thể trao đổi hàng hoá và dịch vụ lẫn nhau.
Cho, đổi chác và tặng Cho để nhận là nguyên tắc của mọi sự đổi chác.
Trong xã hội ngày nay, muốn sống với người khác thì cần phải có sự đổi chác qua lại.

Đôi khi cho cũng có thể là một hành động bất vụ lợi xuất phát từ lòng bác ái, thương người.

Tặng đúng nghĩa ra là cho mà không đòi hỏi phải có sự đền đáp hay trả lại.

Cho để nhận, một nguyên tắc trong mối giao tiếp xã hội.
Theo phong tục Việt Nam thì bánh ích có đi thì bánh quy phải có lại mới toại lòng nhau. Đó là phép xử thế lịch sự trong xã hội để mọi người đều được vui vẻ với nhau.

Cho tiền cho bạc, cho của cải vật chất, cho công sức và sự ân cần, săn sóc cũng có thể với dụng ý lợi dụng, tạo cảm tình, để tìm ân huệ, hoặc chức vụ sau nầy. Có khi cho ít mà nhận được nhiều. Người đời thường nói đó là thả con tép để bắt con tôm.
Cũng có người cho hay bố thí có chủ đích, để mong cầu được phước báo, cho cha mẹ và cho bản thân mình lúc chết được vãng sanh về cõi Tây Phương Cực Lạc.

Cho mà không cầu được đền đáp lại có thể bị người ta lợi dụng chăng?
Con người rất phức tạp. Cho một món quà không mấy đáng giá đôi khi có thể bị hiểu lầm là khinh khi người ta.
Có người làm ăn lươn lẹo, chôm chỉa nhiều quá nên cần bố thí bớt để nhẹ tội với lương tâm đồng thời cũng để chứng tỏ là mình là người hào phóng. Có người bố thí hầu để được giảm thuế cuối năm.
Có người cho để lấy tiếng.

Có người cho vì bị ép buộc, vì sợ người ta trù ẻo làm khó dễ, vì sợ người ta trách mình keo kiệt.
Tuy nhiên cũng có người cho vì lòng vị tha bác ái và thương người nghèo khó, khốn khổ . Họ không mong đợi được đền đáp nhưng chắc chắn là họ nhận được niềm vui tinh thần rất nhiều.

Theo nhà nhân chủng học Marcel Mauss, chúng ta bắt buộc phải trả lễ lại mỗi khi chúng ta nhận được một món quà hay một sự giúp đỡ từ một người nào đó.

Nghiên cứu về phong tục tập quán của các bộ lạc thiểu số bán khai ở quần đảo Nam Dương và Tân Tây Lan, qua tản văn Essai sur le don (1923) Gs Marcel Mass cho biết tập tục Potlatch (tập tục hệ thống quà biếu) được xem là vô cùng quan trọng trong sinh hoạt hằng ngày hay trong những dịp lễ hội giữa các bộ lạc với nhau.

Mỗi khi một cá nhân hay một bộ lạc nhận được quà biếu thì họ bắt buộc phải trả lễ lại bằng một món quà khác có giá trị tương đương hay cao hơn món quà mà họ đã nhận được.

Món quà trả lễ có thể được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: dụng cụ nhà bếp, bàn ghế, tiệc tùng ăn nhậu, nhảy múa, thậm chí có thể là phụ nữ và trẻ em v,v...

Potlatch biểu tượng của sự hài hòa trong xã hội, cũng như quyền quy và sức mạnh của bộ lạc.

Người cho quyết định giá trị món quà mà họ đem biếu.
Phải chăng potlatch cũng là một nguyên tắc và là một nền tảng trong xã hội ngày nay của chúng ta?

Người ta chào mình, vì phép lịch sự bắt buộc mình phải chào lại họ.
Theo cách suy nghĩ của nhiều người thì của biếu là của lo, của cho là của nợ. Đó là potlatch.

Hôm nay người ta đi đám cưới con mình, sang năm thì mình có bổn phận phải đi dự đám cưới của con họ để trả lễ lại.


Các tôn giáo nghĩ gì?

*Theo Thiên Chúa Giáo

Đức Chúa Trời là đấng toàn năng, tạo ra mọi sự vật trên Trời và dưới thế. Chúa cho chúng ta sự sống đời đời.
Từ thiện được xây dựng từ lòng thương yêu bất vụ lợi không màng đến sự báo đáp hay nhận lại bất cứ điều gì cả. Cho xuất phát từ lòng thương yêu không giới hạn.

Kinh Thánh có nói “Cho sẽ mang đến cho ta nhiều hạnh phúc hơn nhận.”
Act.20.35 Luc 14.12-14. « Il y a plus de bonheur à donner qu'à recevoir »

Công Giáo khuyên bảo tín đồ phải có trách nhiệm giúp đỡ người khốn khổ, kém may mắn.

«Giáo hội đã nhiều lần dạy bảo con cái mình rằng: giúp đỡ người nghèo và người kém may mắn là một trách nhiệm đặc biệt của người công giáo bởi vì họ là chi thể của Thân Thể Chúa Kitô. “Vì chính trong Thân Thể này chúng ta biết tình yêu của Thiên Chúa,” như tông đồ Gioan cho chúng ta biết: “đó là Đức Ki-tô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em. Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được” (I Jn 3: 16-17) (cf. Mater et Magistra, # 159) ». (Br. Huynhquảng. Công Giáo Việt Nam)

Nghiên cứu tâm lý xã hội học gần đây cũng chứng minh lời nói trên của Kinh thánh là cho mang đến nhiều hạnh phúc hơn nhận.
Người cho tiền của hay giúp đỡ người khác thường cảm thấy mình được sung sướng và hạnh phúc hơn những người nhận được tiền hay nhận được sự giúp đỡ.

Tuy vậy cũng có người còn nghi ngờ điều trên.

Theo họ, sự khác biệt giữa người hảo tâm và người không có lòng hảo tâm được xuất phát từ lòng tin và thái độ của họ. Có bốn động lực rõ rệt đã ảnh hưởng và nung đúc đến lòng hảo tâm của con người : đức tin vào tôn giáo, lòng bi quan không tin chánh phủ về đời sống mặt kinh tế, gia đình vững mạnh, và vào đầu óc kinh doanh làm ăn của họ.
“The difference between givers and nongivers is found in their beliefs and behaviors. Four distinct forces emerge from the evidence that appear primarily responsible for making people charitable. These forces are religion, skepticism about the government in economic life, strong families, and personal entrepreneurism.”(Arthur C.Brooks, Professor of public administration at Syracuse University’s Maxwell School of Citizenship and Public Affairs.)

*Theo Phật Giáo

Cho hay bố thí là một hạnh trong Phật giáo.
Bố thí là hạnh đầu tiên trong sáu hạnh của Bồ Tát.
Sau đây tác giả xin tóm lược các điểm chánh trong bài Bố thí có mấy loại (Kinh Điển Phật Pháp) và Bố Thí Ba La Mật (Thích Trí Siêu).

Bố thí có 3 loại:

1) Tài thí: tức bố thí tiền
2) Pháp thí: bố thí pháp
3)Vô úy thí: tức bố thí sự không sợ hãi.

Ba loại bố thí vừa nêu được gọi chung là vật thí.

*“Khi nói đến bố thí, thì chúng ta phải nhận ra ba yếu tố tạo ra nó: người cho (năng thí), món đồ (vật thí) và người nhận (sở thí). Ba yếu tố nầy rất quan trọng. Nếu thiếu một trong ba yếu tố kể trên thì sẽ không có sự bố thí.

Có người cầm trong tay một món đồ muốn cho mà không có ai nhận thì không có sự bố thí. Có món đồ mà không có người cho và người nhận thì cũng không có sư bố thí. Có người sẵn sàng nhận đồ mà không có ai cho thì cũng không có sự bố thí.

*Một sự bố thí được xem là trong sạch và đem lại phước báo vô lượng vô biên cần phải có ba yếu tố sau đây
- Người bố thí phải có tâm trong sạch.
- Vật được thí phải chân chính.
- Người nhận phải được kính trọng tối đa”.

Kết luận

Cho để làm gì? Quả thật đây là một vấn đề rất phức tạp và khó giải nghĩa cho thỏa đáng được. Tùy theo nguời, tùy theo hoàn cảnh, tùy theo sự hiểu biết và đức tinh tôn giáo mà có thể có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau.

Người viết xin mượn lời của thầy Thích Trí Siêu để nói lên sự phức tạp của ngôn ngữ Việt Nam:
“Tiếng Việt của ta rắc rối lắm, không phải dễ dàng đâu! Nếu không chú ý cẩn thận một chút là ta có thể gây phiền phức cho chính mình và cả người khác nữa.

Như ta đã thấy Bố thí gồm có nhiều nghĩa: cho, tặng, biếu, cúng dường, bố thí... ta tạm gọi tất cả những cái đó là Bố thí”.


Tham khảo:
-Thích Trí Siêu- Bố Thí Ba La Mật
http://www.thuvienhoasen.org/D_1-2_2-75 ... 14-1_15-1/
-Kinh Điển Phật Pháp. Bố thí có mấy loại
http://phatphap.wordpress.com/2007/10/2 ... E1%BA%A1i/
-Marcel Mauss (1923-1924). Essai sur le don. Forme et raison de l’échange dans les sociétés archạques
http://www.congoforum.be/upldocs/essai_sur_le_don.pdf
-James Randerson. The path to happiness: it is better to give than receive
http://www.guardian.co.uk/science/2008/ ... search.usa
-Thomas Fitzpatrick. It is better to give than to receice-No, really.
http://www.vision.org/visionmedia/article.aspx?id=4400
-Br Huynh Quảng-Công Giáo Việt Nam. Nạn nghèo đói và lòng từ thiện.
http://www.conggiaovietnam.net/index.ph ... 19&ia=5768

Montreal, Dec 18, 2010
NGUYỄN THƯỢNG CHÁNH
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Tiếng Việt của ngày hôm nay.
"Ai phụ trách khâu ẩm thực?"

Câu ấy nghe được trong cuộc họp của các thầy cô giáo ở một trường dạy tiếng Việt cho trẻ em, bàn về việc tổ chức buổi picnic cho thầy cô và phụ huynh học sinh…. Xin mạn phép có một hai ý như thế này:

Thứ nhất, câu ấy có sáu chữ thì hết bốn chữ là tiếng Hán-Việt (“phụ trách”, “ ẩm thực”).

Thứ hai, ba chữ cuối ở trong câu (“khâu”, “ẩm thực”) là những chữ “mới”, du nhập “từ Bắc vô Nam” sau năm 1975. Giá dụ học sinh nghe được câu ấy bèn giơ tay hỏi cô giáo ở trong lớp:

- “Ẩm thực” là gì thưa Cô?

- “Ẩm” là uống, “thực” là ăn. “Ẩm thực” là tiếng Hán-Việt, có nghĩa là “ăn uống”.

- Tiếng Hán-Việt là tiếng gì vậy Cô?

- Là tiếng Hán, tức là tiếng Trung Quốc, đọc theo âm Việt.

- Vậy sao mình không nói “ăn uống”, là tiếng của mình, mà lại nói “ẩm thực” thưa Cô?

Cô giáo chắc cũng hơi bối rối, và cũng hơi khó trả lời, không lẽ lại nói là “Cô cũng không rõ, nhưng nhiều người đều… nói vậy”. Em học sinh ấy nói đúng. Tại sao người Việt ở trong nước, và cả ở ngoài nước, vẫn thích nói “ẩm thực” mà không chịu nói “ăn uống”? Có phải vì nói “ăn uống” nghe phàm tục, nói “ẩm thực” nghe thanh tao và “trí tuệ” (1) hơn chăng? Trước năm 1975, người Việt ở miền Nam Việt Nam không nói “Ai phụ trách khâu ẩm thực?” mà có nhiều cách nói đơn giản hơn và dễ hiểu hơn, chẳng hạn: “Ai lo vụ ăn uống?”, hoặc “Chuyện ăn uống ai lo?”, hoặc “Thức ăn, thức uống ai lo?”…

Nếu cứ phải vay mượn tiếng Hán-Việt hoặc tiếng nước ngoài trong sinh hoạt hàng ngày, trong lúc kho tàng tiếng Việt của chúng ta không hề thiếu thốn những chữ ấy thì thật khó mà thuyết phục các em tin được rằng “tiếng Việt giàu và đẹp” như chúng ta vẫn tự hào (đã gọi là “giàu” thì tại sao lại phải đi vay, đi mượn?!?). Những tiếng Hán-Việt nặng nề và tối tăm ấy hoàn toàn không giúp gì được cho việc “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” mà những người làm công tác giáo dục ở trong nước vẫn hô hào, như là một khẩu hiệu trong số rất nhiều khẩu hiệu thuộc loại “nói mà không làm”, hoặc “nói một đàng làm một nẻo”, hoặc… “nói vậy mà không phải vậy”.

Những chữ nghĩa kiểu ấy khá phổ biến. Bên dưới là một ít ví dụ, và các đề nghị nói thế nào cho đúng, rõ nghĩa, dễ hiểu và “Việt ngữ” hơn (chỉ là câu mẫu, người đọc có thể cho những câu khác tốt hơn):

- Thay vì nói: “Cô giáo Mỹ Linh đứng lớp Năm”, nên nói: “Cô giáo Mỹ Linh dạy lớp Năm” (không có… đứng, ngồi, nằm, quỳ chi cả)

- Thay vì nói: “Giáo viên cần soạn giáo án trước khi lên lớp”, nên nói: “Thầy cô cần soạn bài giảng trước giờ dạy” (không có… lên, xuống, ra, vào chi cả)

- Thay vì nói: “Phụ huynh đăng ký cho con em học Việt ngữ”, nên nói: “Phụ huynh ghi tên (hay ghi danh) cho con em học tiếng Việt”

- Thay vì nói: “Các em tiếp thu tương đối chậm”, nên nói: “Các em hiểu chậm”.

- Thay vì nói: “Học sinh đi tham quan một xí nghiệp”, nên nói: “Học sinh đi thăm một nhà máy”.

- Thay vì nói: “Ban văn nghệ sẽ tham gia biểu diễn (2) một tiết mục”, nên nói: “Ban văn nghệ sẽ đóng góp một màn diễn”

- Thay vì nói: “Ban giảng huấn sẽ dự giờ đột xuất các lớp học của giáo viên”, nên nói: “Ban giảng huấn sẽ vào lớp xem thầy cô giảng dạy mà không báo trước”.

- Thay vì nói: “Lớp Vỡ Lòng chủ yếu tập trung vào khâu đánh vần”, nên nói: “Lớp Vỡ Lòng cần dạy các em biết đánh vần”.

- Thay vì nói: “Cô giáo phát hiện em Nga có năng khiếu về môn Văn”, nên nói: “Cô giáo nhận thấy em Nga có khiếu về môn Văn”.

- Thay vì nói: “Các em về nhà tranh thủ ôn tập”, nên nói: “Các em về nhà cố gắng ôn bài”.

- Thay vì nói: “Tuyệt đại đa số các em tiếp thu tốt”, nên nói: “Hầu hết các em hiểu bài”.

- Thay vì nói: “Cần nâng cao chất lượng (3) trong công tác giảng dạy”, nên nói: “Cần dạy sao để các em mau tiến bộ”.

- Thay vì nói: "Ai là phụ giáo?", nên nói: "Ai là phụ tá".

“Tiếng Việt còn, nước Việt còn” hoặc “Tiếng Việt còn, người Việt còn”, ở đâu ta cũng nghe những câu ấy, nhưng chắc không phải là thứ “tiếng Việt” kỳ quái hoặc nửa Hán nửa Việt, nửa Tàu nửa ta, chẳng thấy “giàu” cũng chẳng thấy “đẹp”, chẳng thấy “trong” cũng chẳng thấy “sáng” (chỉ thấy… tối mò mò)

Sưu Tầm Trên Net
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Tuổi Già Nên Phiên Phiến Mọi Chuyện...

Tràm Cà Mau.
Bạn tôi,có ông tự xưng là Hai Hô.Bởi răng ông hô.Ông rất thích thú với danh xưng nầy.Ông thường nói rằng, ngày xưa còn trẻ,hăng tiết vịt, ai nói gì, đúng hay sai,cũng tìm lời cãi lại. Bây giờ già rồi, nghe ai nói gì cũng thấy xuôi tai, đúng hết. Bởi già rồi, có nhiều kinh nghiệm, thấy được đúng-sai, có nhiều mặt khác nhau.

Bà mẹ ông đã 92 tuổi, mà thường hay nói câu: 'Mai mốt tôi già rồi thì…'Mỗi lần nghe câu đó,ông vội cắt ngang lời mẹ,và hỏi lại:'Hơn chín mươi tuổi rồi mà chưa già hở mẹ? Thế thì bao nhiêu tuổi mới là già?' Bà cụ chỉ cười,không đáp lại.Vợ ông thường nháy mắt, nhìn ông che dấu nụ cười bí mật.Người em ông nói:-'Theo tôi thì không có ai già,và cũng chẳng có ai trẻ.Già hay trẻ, là một khái niệm rất tương đối.Hồi tôi mười bốn, mười lăm tuổi, thấy các chị hàng xóm mười bảy hay mười tám tuổi là đã già khú đế.Già như sắp mua hòm được rồi.Thế mà khi tôi sáu mươi tuổi,tôi thấy các bà năm mươi là trẻ,và các bà bốn chục tuổi là bọn con nít.Thế thì già hay trẻ, không phải tùy theo số tuổi của họ'.

Ông Hai nói, có một lúc nào đó, con người trở nên già. Nầy nhé, mỗi khi đi ra đường, nếu chỉ thấy các bà già nhìn mình, mà các cô gái trẻ không dòm mình nữa, thì phải hiểu là mình đã già rồi. Lại nữa, mỗi sáng đứng trước gương, thấy trán mình cao hơn, tóc rụng nhiều, đừng tưởng mình trở nên thông thái, mà phải biết đó là dấu hiệu già. Nếu mình thấy mọi người dường như trẻ lại thì chính mình già đã đi, vì mình so sánh thiên hạ với cái bóng của mình trong gương soi mỗi ngày.

Ông nói, tuổi già báo hiệu khi sinh lý bắt đầu yếu.Nhịp độ 'gần gũi' của vợ chồng thưa dần.Và đôi khi cố gắng làm vừa lòng bà vợ theo định kỳ,mà không có hứngkhởi.Những khi đó, nếu bà vợ gạt ra,không cho gần gũi,thì trong lòng lại mừng húm,vì có cái cớ để không làm tròn'bổn phận' mà không áy náy.Ông nói, bực nhất là những lúc mình đang hăng,đang nóng máu,sắp xáp chiến mà bà vợ cứ cằn nhằn về những chuyện không đâu, như cái hàng rào bị gió vật nghiêng, cây hoa hồng lá bị bạc mốc,con chó bị rận bọ chét. Thế là cả cái thân già nó xìu xuống như cọng bún thiu.Chẳng làm ăn chi được nữa cả.Ðành bỏ cuộc vui nửa chừng. Khi còn trẻ,vào những lúc sắp gay cấn như thế nầy thì dù cho sét nổ trên đầu,cũng không nghe,không biết.
Có người hỏi ông sao không dùng viên thuốc thần kỳ, làm cho vợ chồng vui như thuở ba mươi. Ông nói, đừng tin mà chết sớm, đau tim mà dùng thuốc nầy thì lăn đùng ra mau lắm. Hồi trước, ông cũng xin ông bác sĩ cho toa thuốc nầy, bác sĩ ấy không chịu. Ông cũng hơi giận, nhưng bây giờ thì cám ơn, vì biết được cái nguy hại của nó. Vui chốc lát mà bỏ mạng, lãng nhách. Theo ông thì vợ chồng già, ghiền cái hơi của nhau hơn là chuyện vật nhau lăn lộn trên giường. Chỉ cần luồn tay vào áo bà vợ già mà tìm trái mướp, cũng đủ làm cho bà ấy vui rồi.

Nói về cái tai điếc, ông bảo: -'Có một lúc nào đó, mình nghe nhạc, cứ tưởng là các anh chị ca sĩ dạo nầy không còn hát hay như ngày xưa. Không phải vậy đâu. Thời nào cũng có ca sĩ giọng hay. Nghe không hay vì cái tai mình đã nặng, lãng. Rồi cứ tưởng nhạc dở. Ðó là dấu hiệu già. Nhất là khi nghe truyền thanh, truyền hình thì con cái, hàng xóm, cứ than phiền mở âm thanh quá lớn. Theo mình, âm thanh như vậy chỉ vừa đủ nghe, mà họ bảo oan cho mình là quá lớn'.

Ông Hai nói với một bạn già rằng, khi già, lãng tai, điếc tai cũng có cái lợi lớn. Là khi nào vợ nói lời êm ái, dịu dàng, yêu thương, thì nghe cho sướng tai. Khi nào bà trở chứng trách móc, chê bai, than vãn, nói nặng lời, thì cứ nhè-nhẹ gỡ cái máy trợ thính ra, chỉ thấy bà nhóp nhép cái miệng, trông tức cười lắm. Không nghe, thì không bực mình, không giận hờn, mà còn cười, đôi khi nụ cười rất rạng rỡ, cười rất dễ thương nữa. Bà vợ nói như gió vào phòng trống, thấy ông chồng không giận, mà còn cười vui, thì đành im miệng cho đỡ tốn hơi. Và đôi khi còn thương thêm, vì tưởng ông chồng khéo nhịn.

Nhưng một ông bạn khác, nói rằng, khi bà vợ trách móc và thở than thì để bà ấy nói, cho xả ra, nhẹ bớt bực tức trong lòng. Bởi vậy, mỗi khi vợ ông than vãn, trách móc thì ông mừng và lắng nghe. Nếu bà ngưng nói, thì hỏi rằng em có gì cần nói thêm, than vãn thêm không, hãy nói cho hết đi, anh nghe đây. Thế là bà dịu xuống, và bà cảm thấy hơi quê quê, nên thôi.

Ông Hai nói, khi già, mắt yếu, cầm cuốn sách lên, là móc túi tìm cái kiếng. Không có kiếng thì đành chịu thua. Khi đó, mình ít đọc sách hơn ngày xưa. Rất nhiều bạn ông than phiền rằng, dạo nầy, sách vở, báo chí họ in chữ nhỏ hơn, khó đọc. Không phải đâu. Mắt mình mờ, kém, chứ không phải chữ in nhỏ lại. Mấy anh trẻ hỏi ông có bực vì mắt kém không, ông Hai nói rằng, việc chi mà bực? Phải mừng chứ đừng bực. Mừng và cám ơn khoa học tiến bộ, giúp cho mình còn thấy rõ hơn, nghe rõ hơn, mà nếu mình sống mấy trăm năm trước, thì đã mù loà, và điếc đặc rồi. Dù cho nghe ít, thấy không rõ hoàn toàn, nhưng có thấy, có nghe , đã là quá quý rồi. Tuổi đã cao, mà còn thấy được người thương yêu, con cháu, bạn bè. Còn xem truyền hình, phim truyện, thì đã nhận được rất nhiều ân phước của trời ban cho. Phải biết cảm nhận và cám ơn trời

Bây giờ, đi đâu xa ông cũng ngại. Ði du lịch, điều nghĩ đến trước tiên của nhiều người già như ông, không phải cảnh đẹp, điều hay, cái lạ, mà nghĩ đến cái cầu tiểu. Không biết nơi đó có hay không. Cứ vào quán xá, hội trường, thì có thói quen, trước tiên là xem cầu tiểu nằm đâu. Quán nào mà không có cầu tiểu, thì đừng hòng có nhiều ông bà già bước vào. Ông rất sợ mai đây xui xẻo, người ta tôn ông lên làm lãnh tụ. Vì thấy mấy ông lãnh tụ đứng đọc diễn văn, họp báo, duyệt binh, diễn hành, đứng hàng giờ, phải nín tè, khó chịu, mệt và khổ lắm. Ông cũng rất ngại ngủ nhà lạ, cứ nửa đêm, nhiều lần mò mẫm trong bóng tối dậy đi tiểu. Xối nước ào ào làm người khác mất ngủ. Chưa kể lạ nhà, đêm tối, lạc đường mở lầm cửa phòng vợ, con người ta, thì cũng bẽ bàng.
Một lần,bà vợ đè đầu ông xuống mà nhuộm tóc cho ông.Mấy hôm sau, lên xe công cộng, ngồi vào ghế dành cho người cao niên.Ông thấy có một'lão trượng' đứng nhìn ông chằm chằm,như ngầm hỏi,sao không nhường ghế ngồi cho người già cả.Ông đoán chắc, chín mươi phần là 'lão trượng' kia còn nhỏ tuổi hơn ông. Ông cứ ngồi lì, làm lơ. Nhưng khi thấy hành khách chung quanh nhìn, như thúc dục, như nhắn nhủ bằng ánh mắt khó chịu, thì ông nhột quá, đứng dậy nhường ghế cho lão trượng kia. Ông nghĩ, không lẽ phải thét lên là tôi còn già hơn lão, và không lẽ phải móc căn cước ra mà chứng minh? Thôi thì đứng dậy, cho bớt nhột và ngượng ngùng. Rồi tự an ủi rằng, đứng cũng là một cách tập thể dục tốt.

Khi có ai hỏi tuổi, ông Hai Hô cũng tự cộng thêm gần chục năm.Thế là thiên hạ rối rít khen trẻ, xít xoa hỏi làm sao mà giữ được trẻ trung như thế. Ông cười, nói đùa rằng, cứ theo đúng lời dạy vàng ngọc của người xưa để lại, là 'đêm bảy, ngày ba' cho khí huyết lưu thông, điều hoà, thì cơ thể trẻ trung mãi. Ông nói rằng, nếu có khai trụt đi năm ba tuổi, cũng chẳng có lợi ích gì, vì mình đâu có toan tính chinh phục, tán tỉnh ai. Khai trụt tuổi, đôi khi người ta còn chê, là trông già trước tuổi.

Lại nữa, phong tục của mình là kính trọng người lớn tuổi. Nhưng các bà, các cô thì khi nào cũng dấu tuổi, cứ 18 tuổi thì khai là 16, khi 20 khai là 18, và lúc 23 khai là 20. Cứ khai trụt vài ba tuổi, và cảm thấy sướng khi được người khác tin. Khi phải đoán tuổi, ông thường rộng rãi hạ xuống cho các bà, các cô từ năm đến bảy tuổi, để họ sướng, mà ông không mất chi cả, cũng là làm một điều thiện nho nhỏ trong ngày, làm cho người khác vui, yêu đời hơn.
Dạo sau nầy,khi ông ăn uống, thường thức ăn bị đổ vung vãi.Nhiều lần ông tự bảo là cẩn thận. Nhưng hình như cái tay nó không hoàn toàn theo mệnh lệnh của cái đầu nữa.Ðưa cơm vào miệng không gọn gàng,cứ rớt ra vài chút.Ðôi khi tay run mà ông không biết.Ông cho đó là dấu hiệu của tuổi già.Nhiều lần bà vợ ông nhăn nhó,la nạt vì làm đổ thức ăn.Một lần ông nhớ lại câu chuyện đứa bé đẽo cái chén gỗ,cha mẹ hỏi đẽo làm gì,nó nói là để sau nầy cho cha mẹ ăn,như cha mẹ đã cho ông nội ăn chén gỗ.Ông nhỏ nhẹ nói với vợ rằng,nhờ bà đẽo cho ông một cái chén gỗ,rồi mỗi bữa dọn cho ông ăn sau viảhè,bên thềm.Nghe thế,bàvợ nhìn ông một lúc lâu,rồi rưngrưng nước mắt.Từ đó, bà hết cằn nhằn khi ông làm đổ thức ăn. Ông hay quên, đôi khi đi xuống nhà kho mà ngẩn ngơ không biết định xuống để làm gì. Quên trước, quên sau. Một bạn già của ông nói, nếu 'cái đó' mà ông trời không bắt dính chặt vào người thì có khối ông già để quên trên xe buýt, trên tàu điện, ngoài công viên; và khi cần đi tiểu thì chạy quanh, quýnh lên mà tìm không ra.Còn triệu chứng khác nữa,là làm biếng tắm,đôi khi hai ba ngày ông chưa tắm.Cứ nghĩ là có làm chi dơ đâu mà phải tắm.Nhưng rồi nhận ra thì tuổi gìa sợ lạnh, nhạy cảm với cái lạnh, nên ngại tắm.Vì thế có nhiều cụ già có mùi,họ đâu biết. Ông phải rán tập thói quen,nóng lạnh chi cũng ráng tắm mỗi ngày một lần, ngoại trừ trường hợp đặc biệt.

Bà mẹ ông 92 tuổi, đi ăn tiệm, cắn càng cua-rang-muối nghe rau ráu. Thực khách trong tiệm tròn mắt ra mà nhìn. Còn ông thì ngay cả bánh mì mềm của Mỹ cũng không dám cắn, dùng tay xé nhỏ ra rồi bỏ vào miệng. Bà mẹ ông ăn uống không kiêng cữ chi cả. Thịt heo quay, vịt quay, cá chiên, gà chiên, bún bò giò heo, phở, nước béo, các thứ độc địa đều ăn tuốt.Thế mà bà không cao mỡ, không cao máu, dù thân thể tròn quay.Cái đó cũng nhờ trời cho.Nhiều bác sĩ cũng khuyên bà, cứ ăn uống thả dàn, cho sướng cái miệng, đừng kiêng cữ làm chi nữa khi ở cái tuổi nầy.

Nhiều ông bạn ông kiêng khem kỹ lắm,kiêng đủ thứ.Họ xem ba thứ sau đây ngang hàng với thuốc độc: Ngọt, mặn vàbéo.Họ ăn lạt,không dám ăn đường,ăn béo.Thấy đồ chiên, là họ đã tái mặt. Họ ăn mãi quen miệng, và thấy các thứ thức ăn không mùi, không vị kia cũng ngon. Bởi khi đói thì cơm thiu, cơm cháy cũng thành ngon. Có kẻ bảo, uổng quá, phí thức ngon của trời cho.Nhưng những người kiêng cữ nầy nói rằng, không tội chi đem chất độc vào người, rồi bệnh hoạn, hối không kịp.

Một ông bạn cho biết rằng, theo nghiên cứu của đại học Rockefeller thì có ba điều kiện để cho người già khỏe mạnh và ít bệnh là:1) ăn bằng một nửa của bữa ăn bây giờ, 2) thể dục thường xuyên, và 3) làm tình đều đều.Ông không tin và cho rằng, cái đó chỉ đúng cho người Mỹ mà thôi. Mỗi bữa, họ ăn miếng thịt to bằng bàn tay, một bữa ăn của họ mình có thể ăn ba bốn ngày mà chưa hết. Nếu mình chỉ ăn bằng một nửa của bây giờ thì sẽ suy dinh dưỡng, sớm đau ốm mà chết. Còn chuyện thể dục thường xuyên thì đúng trăm phần trăm. Phần làm tình đều đều, có lẽ không ai chắc, vấn đề là còn làm được hay không, mà còn đòi đều đều. Mình cứ ăn bình thường, đừng ăn quá no, cũng đừng ăn đói. Cứ theo cái đạo trung dung của người xưa đã bày ra từ mấy trăm năm nay. Rượu chè, nếu uống được thì uống vừa vừa, cũng tốt cho sức khoẻ. Ðừng say sưa là được. Lâu lâu cũng ráng vui vợ, vui chồng cho khỏi lạt lẽo. Ông Hai đã chữa bệnh biếng ăn cho nhiều bạn bè rất công hiệu. Ðó là đừng ăn vặt, và chờ cho khi thật đói mới ăn, chưa đói rã thì chưa ăn. Như vậy thì ăn gì cũng thấy ngon.

Ông có quan niệm phóng khoáng hơn về sự sống và cái chết. Ông cho rằng, chết là một tiến trình của đời sống, hợp với luật thiên nhiên của tạo hóa. Sợ chết là vô lý. Không ai tránh khỏi cái chết, không sớm thì muộn. Ai cũng sẽ chết cả. Ngay cả Phật, Chúa, thần thánh cũng phải chết, huống chi mình là người trần mắt thịt. Chúa Giê-Su chết lúc mới 33 tuổi. Phật cũng chết, thọ không bằng các ông, các bà cụ bây giờ.

Cứ thử nghĩ, nếu già mà không chết thì bây giờ trên thế giới có đến hơn chín mươi phần trăm cụ già, cụ nào cũng mấy trăm tuổi, mấy ngàn tuổi, ho hen, run rẩy, chậm chạp. Lấy ai làm lao động mà nuôi các cụ? Nhân loại sẽ đói cho vêu mỏ ra. Già thì phải chết để cho thế giới dược trẻ trung hoá. Khi nào anh chị nghe tin một người già chết mà lòng không buồn, không thương tiếc, thì anh chị được giác ngộ rồi đó. Có chi mà buồn?. Nếu người chết không để lại một gánh nặng gia đình, một đàn con dại cần nuôi dưỡng, dạy dỗ, một bà vợ chân yếu tay mềm, thì mừng cho người ta thoát được cái hệ lụy của trần gian. Khỏi lo công ăn việc làm, khỏi lo nhà cửa, khỏi lo thương ghét, ghen tuông, giận hờn, khỏi lo khai thuế cho đúng hạn kỳ. Khoẻ ru.

Nếu người chết đã cao tuổi, trong nhiều năm nằm một chỗ, không nói năng, bại liệt, ăn bằng cách bơm qua ống nối với bao tử, nghe họ chết mà mình khóc lóc, tiếc thương, bi ai, thì hoá ra là không biết điều. Muốn người ta bị kéo dài thêm cái cực hình đó lâu hơn nữa, rồi mới được chết sao?. Nhiều khi, con cháu mừng cho thân nhân họ được chết, mà mình thì sụt sùi thương tiếc.
Ông thường nói, trong tuổi già, sức khoẻ là quý nhất. Nhưng nếu ai đó có sức khoẻ tốt, không hề đau ốm, thì cũng là một sự nhàm chán. Họ đâu biết họ đang có cái quý báu nhất trong đời. Lâu lâu phải đau vài trận để nhắc nhở, và nhớ rằng, không ốm đau là sung sướng, là hạnh phúc lắm lắm.Làm sao bọn trẻ, và những người khoẻ mạnh biết được cái hạnh phúc, cái sung sướng của người già, khi buổi sáng ngủ dậy, mà thân thể không đau rêm, nhức nhối?
Cũng như nếu người ta chưa sống dưới chế độ kềm kẹp, hà khắc thì làm sao biết được nỗi sung sướng khi được đặt chân lên miền đất tự do? Nên quan niệm rằng, với sức khoẻ nào cũng tốt cả, đừng so sánh với trường hợp tốt hơn. Cứ vui với cái sức khỏe mà mình đang có. Ðược khoẻ nhiều thì sướng nhiều, khoẻ ít cũng sướng hơn, vì chưa đến nỗi tệ hại lắm. Nhớ đi khám bác sĩ đều đều, để khám phá ra bệnh, kịp thời chạy chữa. Một người bạn ông cho biết, không dám đi khám bệnh thường niên, vì sợ 'bói ra ma, quét nhà ra rác'. Thế nào bác sĩ cũng tìm ra bệnh nầy, bệnh nọ trong cơ thể và thêm lo. Cứ để thế, rồi khi bệnh nặng thì chết. Bà vợ ông nầy khổ sở lắm, nhưng không thuyết phục ông được. Ông còn nói, bác sĩ thường cho uống thuốc chữa bệnh nầy, thì sinh ra thêm bệnh khác nữa. Hoặc bác sĩ chẩn đoán sai bệnh là thường. Có người đọc báo cáo y khoa, cho biết trên nước Mỹ, mỗi năm có đến hai trăm ngàn người chết, hoặc thương tật vì bác sĩ kém hiểu biết, hoặc sơ suất gây ra.
*
Theo ông Hai Hô thì đừng sợ. Vì bác sĩ giỏi nhiều hơn bác sĩ dở, và bác sĩ có lương tâm nhiều hơn bác sĩ thiếu lương tâm. Ðừng vì một số trường hợp xấu mà sợ đi khám bệnh. Khám bệnh để biết trước mà đề phòng, để chữa trị khi bệnh mới chớm, còn kịp, chữa trị dễ dàng hơn. Ðể ung thư ăn tràn lan ra rồi thì chỉ có phép lạ mới cứu được. Người ta, có thể mạnh khỏe cho đến khi chết. Ðó là trường hợp hiếm hoi. Nhưng đau yếu trong tuổi già là thường, không đau yếu là bất thường. Có một người than rằng, cứ đi vào, đi ra trong nhà hoài, chán quá.

Ông Hai bảo rằng, được đi vào đi ra như thế là sướng lắm rồi, sao mà chán, vì có nhiều người khác mong được đứng dậy đi vài bước, mà không làm được, vì bệnh. Nhưng theo ông, thì cái người nằm liệt trên giường, cũng tìm được cái thú vui riêng, khi nghe nhạc, nằm mơ mộng, nghĩ đến các kỷ niệm thời còn vàng son, nhớ đến những tội lỗi nho nhỏ mà họ đã phạm một cách cố ý và thích thú.

Ông HaiHô tập thể dục đều đặn.Ông nói không ai chối bỏ được ích lợi của thể dục,dù già dù trẻ.Không bao giờ trễ để bắt đầu tập thể dục.Không thể dục thì tấm thân nhão nhẹt ra,rất dễ làm mồi cho bệnh hoạn.Ði bộ trong tuổi già là tốt nhất.Còn khoẻ thì đi nhanh,yếu thì đi chậm hơn,yến hơn nữa thì chống gậy mà đi.Có vận động là tốt.Ði bộ,xương đỡ rỗng,đỡ gãy tay chân khi vấpté.Ði bộ cũng làm cho mặt mày trẻ ra,lưng đỡ còng, thân thể đỡ đau đớn, mệt mỏi. Ði bộ cũng vui, nhất là đi với vợ, với chồng, nói đủ thứ chuyện vui buồn.
Nhưng khi bàvợ bắt đầu cằnnhằn vì những chuyện không đâu,thì phải giả vờ chạy,để bà lại phiá sau,cho bà nói với cột đèn,cằn nhằn với cây cỏ.Không có vợ đi cùng thì đi với bà cụ hàngxóm cũng vui.Bà sẽ không baogiờ dám cằn nhằn ông vì những chuyện không đâu.Bà sẽ lịch sự hơn.Ði với bà hàng xóm,ông bảo,đừng sợ thiên hạhiểu lầm,cũng đừng sợ chính bà ấy hiểu lầm.Không hiểu lầm thì tốt.Hiểu lầmthì càng tốt hơn,vì làm cho bàấy vui,làm bà nghĩ làcòn sánggiá,còn cóngười ngưỡng mộ đến cái nhansắc mùathu của bà.Bà sẽ yêu đời hơn,sẽ ăn ngon,ngủ được,thế thì ông cũng đã làm được một điều thiện nho nhỏ.Ông nói,ông được nghe chuyện một bà cụ 88 tuổi, bà nói rằng,phải đi bộ,phải tập thể dục để chống lại bệnh hoạn.Mỗi ngày bà đi bộ hơn một giờ.Bànói rằng:'Mình phải biết tự thương mình.Con cái có thương mình,chúng có thể cho tiền bạc,quà cáp,chứ không cho mình sứckhỏe được.Mình phải tự lo lấyđể mà sống cho vui,sống cho có..chất lượng.'
Ông nói rằng, thể dục làm tăng tuổi thọ, chứ không làm giảm. Ngoại trừ ham tập, tập quá sức thì lăn kềnh ra mà chết, mau lắm. Bơi lội là tốt nhất, vận động đủ các thứ bắp thịt. Nhưng tuổi già, thường sợ nước, sợ lạnh. Cái gì sợ thì không nên làm, hại cho sức khoẻ, hại thần kinh.

Mỗi lần nghe có người than là mất ngủ, ông thường nói say sưa về bệnh nầy.Theo ông thì những người nầy, đã ngủ đủ, ngủ thừa, nên không ngủ thêm được, mà tưởng là mất ngủ.Vì ban ngày, họ cứ thấy mệt, mắt ríu lại, là ngủ những giấc ngắn. Nên biết, ngủ một giấc chừng 15 phút lúc ban ngày, có thể tương đương với một giấc ngủ 1 hay 2 giờ ban đêm. Mỗi đêm, người bình thường, chỉ cần ngủ ngon chừng 3 hay 4 giờ là đủ mạnh như gấu bắc cực. Nếu không ngủ ngày thì đêm về ngủ dễ lắm. Không phải tuổi già là mất ngủ, bằng chứng cho thấy chó mèo già ngủ li bì, ngủ ngày, ngủ đêm, ngủ liên miên. Người già dư thì giờ, ban ngày ngủ rồi, thì ban khó ngủ là chuyện thường.
Ông thường nói rằng, đừng sợ mất ngủ. Khi không ngủ được thì dậy đọc sách,viết thư, làm thơ, xem truyền hình, gõ máy vi tính, đọc thư bạn bè,hãy tận hưởng cái thời gian quý báu đang có.Rồi chờ cho thật buồn ngủ, không thức nổi nữa thì vào giường nằm, sẽ ngủ được ngay, và ngủ một giấc ngon lành cho đến sáng. Ðừng ép giấc ngủ, ép giấc ngủ sẽ khó ngủ hơn. Cũng đừng uống thuốc ngủ. Ðại kỵ. Uống thuốc ngủ nhiều, làm hư hại hệ thống thần kinh. Ðừng nằm nhắm mắt mà đếm cừu, nếu phải đếm thì đếm những người tình cũ.Mau ngủ hơn. Nếu đời chỉ có một hai người tình thôi thì đừng đếm một hai, một hai, không có lợi. Hoặc nằm mà hát trong trí những bài ca du dương, đẹp, gợi nhiều kỷ niệm êm ái, thân thương.
*
Bà chị ông, cứ than phiền là mất ngủ, nhưng khi đi chơi, cứ leo lên xe thì quẹo đầu ngáy khò khò, ngủ suốt buổi, suốt ngày, ngủ mà quên xem phong cảnh. Ngủ như thế thì no rồi, dư rồi, nên khi đến khách sạn thì làm sao mà ngủ thêm được nữa.Bà chị nói, đi chơi xa sợ mất ngủ.Bà ấy thực sự ngủ nhiều hơn ai cả,mà bà tưởng là mất ngủ. Một chị khác than là mất ngủ kinh niên, ghé nhà ông chơi. Ông nói là sẽ chữa bênh mất ngủ cho chị. Ông dẫn chị kia đi chơi, suốt ngày lội bộ, chị vừa đi vừa ngủ gật, ông không cho ngủ.Ông nhờ hết việc nầy qua việc nọ, không để chị có thì giờ mà ngủ gật. Ðêm không cho đi ngủ sớm. Mới mười giờ đêm, mệt quá chị năn nỉ xin đi nằm, và đánh một giấc ngon lành dài đến sáng hôm sau.

Trong mấy hôm liên tiếp đêm nào chị cũng ngủ li bì, ngủ ngon, không cần thuốc thang chi cả. Ông truyền bí quyết là không ngủ ngày, mệt mấy cũng không ngủ, ban đêm đừng đi ngủ sớm, phải chờ cho mắt ríu lại, mở không ra, mới đi ngủ, thì ngủ ngon.
Nhiều người già tự đặt cho họ một kỷ luật để sống. Theo ông thì có kỷ luật cũng tốt, mà không kỷ luật lại càng khỏe hơn. Nhiều người tính tình nghiêm khắc. Mọi sự đều phải răm rắp đúng như quy định mới chịu. Tội chi vậy, nếu không răm rắp mà không chết ai, hại ai, thì răm rắp làm chi cho khổ mình, khổ người? Nên dễ dãi với mọi sự, dễ dãi với chính bản thân mình, kẻo tội nghiệp nó. Khắc kỷ cũng là điều hay. Nhưng tội gì mà tự khắt khe với chính mình, người khác không khắt khe thì thôi. Nên cứ xem mọi sự như trò chơi. Chơi vui nhiều thì tốt, vui ít cũng tốt luôn. Ông không mong cái tuyệt đối, hoàn hảo.

Trong một cuộc chơi, ông không hy vọng được tất cả mọi người tham gia, có ít vui ít, có nhiều vui nhiều. Hai ba chục người cũng vui, mà năm bảy bạn bè cũng vui luôn. Nếu hụt một cuộc chơi, một cuộc gặp gỡ, ông cũng không tiếc, chẳng sao cả, ông về nhà mở nhạc, mở TV ra mà thưởng thức. Ông nghĩ, được thêm một dịp nghỉ ngơi, yên tĩnh. Có lần đi trễ máy bay? Ông bình tĩnh xin đi chuyến sau mà không được. Ông cũng cười, không bực mình,quay về nhà, pha một bình trà,đem một tập thơ ra mà ngâm vịnh, nằm ngửa mà thưởng thức cuộc tranh tài thể thao. Ông nói, đôi khi nhờ trễ một chuyến may bay mà sống sót, nếu máy bay rớt. Chiều ra ngoài quán uống cá phê xem sinh hoạt phố phường. Nói chuyện tào lao với chủ quán.

Ông không bao giờ tranh luận gay gắt với ai.Ông nói,tranh luận làm chi cho mệt,rồi giận nhau?Trong tuổi già,khi có cuộc tranh luận thì tránh là tốt nhất.Nếu không tránh được thì chịu thua đi,thắng làm chi,để cho đời ngắn lại?Thắng tranhluận,làm thiên hạ ghét,làm mất lòng bạn,làm người bị thua tứcgiận,và nóng mặt, không ưa mình.Không ai ghét người thua trong cuộc tranhluận.Người thắng cuộc,dễ bị ghét hơn.Thử đánh một ván cờ xem,nhường cho đối phương thắng, làm họ vui hơn, không chừng mình đưọc đãi đằng hậu hỉ hơn.

Ðến nhà người ta, mà cãi nhau, tranh thắng, làm họ mất mặt với vợ con, với bạn bè, thì đừng mong chi được tiếp đãi thắm thiết. Khi thua, mình không thiệt thòi, mất mát chi cả, mà lại được thương, tại sao không chọn tình thương, mà chọn cái bị ghét. Thắng tranh luận, cũng chưa chắc mình đã giỏi hơn người, mà giỏi hơn để làm chi? Và cũng chưa chắc ngưòi ta đã chịu cái lý của mình là đúng. Trong tình vợ chồng cũng vậy, nhiều ông nhiều bà tranh hơn thua từng ly, từng tí, cãi vả nhau tưng bừng về những điều không ích lợi chi cho ai cả.Rồi giận nhau,nói nặng nhau,làm nhau đauđớn vì lời nói thiếu tử tế,thiếu lịch sự.Có ích lợi gì đâu.Tranh nhau thắng thua,làm sứt mẻ hạnh phúc gia đình, làm mất đi thì giờ quý báu bên nhau, làm không khí gia đình nặng nề. Ðừng bao giờ nói là phải làm cho ra lẽ, không thì hoá 'lừng'. Hãy cứ để cho chồng mình, vợ mình 'lừng' đi, cho họ sướng. Tại sao đi ra ngoài, không dám'lừng' với thiên hạ, mà về nhà lại 'lừng' nhau làm chi cho mất vui.

Ông thường nói, cứ chịu thua đi là khoẻ nhất. Ông đã thua thì không việc chi mà ai đó gây hấn thêm. Ðúng hay sai, ông tự biết. Không cần tranh luận nhiều.Có tranh luận thì cũng chưa chắc đã thuyết phục được đối phương mà không gây mất mát. Mỗi lần phải tranh luận với ai thì ông nhớ lại chuyện ông Pol Pot. Ông nầy đã giết chết hơn hai triệu dân vô tội, tức khoảng một phần ba dân số Kampuchia của ông thời đó. Thế mà cuối đời, khi sắp chết, ông Pol Pot nói với một phóng viên Tây phương rằng, những điều ông đã làm là lợi ích cho dân tộc của ông. Nhớ chuyện đó, làm ông đỡ ngứa miệng xen vào những cuộc tranh luận.

Khi có ai chê bai ông, ông chẳng bực mình, không giận hờn mà cứ cười, và xem như không. Ông tự nhủ, biết đâu ông cũng đáng chê, đáng trách. Nghe thiên hạ chê, để mà sửa mình, biết mình còn cái chưa hay, sai sót. Không phải ông là kẻ mặt dày không biết xấu hổ, nhưng thiên hạ chê mà không phản ứng, thì như gió qua truông. Có một ông khác, bị vợ chê bai hoài, chê đủ thứ. Ông nầy chỉ cười mà nói với bà vợ rằng, ông không ngờ bà xui xẻo đến thế, lấy phải một thằng chồng tệ hại như vậy, tội nghiệp cho bà quá. Bà vợ nghe mà chột dạ, và biết đã ăn nói quá trớn.

Khi nghe ai khoe khoang, ông cũng không bắt bẻ, không lật mặt thật của họ ra, sợ làm cho họ xấu hổ, bẽ bàng. Ông cứ giả vờ tin, để mà đãi họ vài phút vui sướng, cũng là làm được một việc thiện nho nhỏ. Ông không mất gì, và chẳng thiệt hại cho ai mà cuộc đời nầy thêm vui, thêm tử tế. Bởi nghĩ thế mà ông làm.

Ông Hai Hô quan niệm rằng, trong tuổi già, có hoài bảo thì cũng tốt, mà không có hoài bảo chi cả, thì tốt hơn, và khôn ngoan hơn. Khi trẻ, nhiều thì giờ, nhiều năng lực mà chưa có hoài bão nào làm xong thì khi già rồi, mong chi đạt được. Tội chi đeo vào thân cái hoài bão cho khổ. Già rồi, đừng xem cái gì là quan trọng cả. Từ danh vọng, tiền tài, tình yêu. Ngay cả cái mạng sống của mình, cũng đừng xem là quá trọng. Có lần, ông đến thăm một nhà văn đang nằm thoi thóp, miệng ngậm một cái que gỗ có thấm nước cho đỡ khát, sắp chết vì ung thư. Ông nhà văn còn thao thức vì một tác phẩm để đời chưa khởi đầu được. Chết chưa an lòng. Ông nói: 'Thôi bác ơi, chuyện gì mình chưa làm được, thì thế nào con cháu mình sau nầy cũng làm. Yên tâm mà dưỡng bệnh đi'.

Ông Hai Hô cho rằng, cứ năm ba ông bà bạn già gặp nhau,uống vài ly trà, cà phê mà nói chuyện nhảm cũng là một thứ hạnh phúc trong đời.Ông nói, dù đến để nghe thằng bạn già nó chửi mình,cũng cứ vui, được người ta chửi, tức còn có người để ý đến mình, còn hơn là không ai khen, ai chửi cả. Những dịp ra mắt thơ, ra mắt sách, ông thường tham gia cho cuộc họp thêm xôm tụ.Cho tác giả sướng.Ông khoái các buổi ca nhạc cây nhà lá vườn, tài tử. Nó cũng có những cái hay của nó.

Những buổi họp mặt anh em bạn cũ, ông không bao giờ bỏ qua, ông nói là không tham dự thì uổng lắm. Ông cho rằng,tuổi già mà còn gặp lại được bạn xưa,thì không còn gì quý báu hơn.Nằm nhà xem sách, xem truyền hình, đá banh, đâu vui bằng gặp bạn cũ.Gặp dịp vui thì cứ vui kẻo uổng, biết mình còn sống được bao lâu nữa mà mãi phí ngày giờ chạy theo lợi lộc.

Mỗi khi có ai mời đi đám cưới, tiệc tùng, ông đến đúng giờ, mà thiên hạ tà tà đến trễ, ông cũng không bực mình. Bởi người ta quen giờ cao su rồi. Họ có cả trăm ngàn lý do để biện minh. Ông có đến sớm, thì cũng có cái lợi khác, được nói chuyện, gặp gỡ, tâm sự tào lao với những bạn bè mà từ lâu ít có dịp gặp nhau. Cũng vui và quý. Dễ chi có cơ hội thuận tiện để gặp nhau.Ðến khi dọn thức ăn ra, không còn cơ hội để nói chuyện nữa vì ai nấy lo gắp, lo nhai, không rảnh mà nói chuyện. Khi ăn xong thì bạn bè vội vã ra về vì đường xa, vì đêm khuya, vì mệt nhọc. Bởi vậy, ông cứ vui với cái bê bối của thiên hạ, và bằng lòng với câu 'Không ăn đậu không phải Mễ, không đi trễ, không phải Việt Nam.' Ông Tư Hô thường nói, tuổi già, cứ phiên phiến với mọi sự cho khoẻ, cho sướng cái thân già của mình.
Santa Ana, tháng 10/2007.

Tràm Cà Mau.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

ĐÀN ÔNG VIỆT THƯỜNG QUÊN NỊNH VỢ
Ai cũng biết “đàn ông yêu bằng mắt, đàn bà yêu bằng tai”

Đàn ông Việt thường "quên" nịnh vợ. Có nhiều anh biết phụ nữ thích khen, cho nên, đến cơ quan hay gặp chị em ở đâu anh ta cũng khen lấy khen để. Nhưng về đến nhà, anh ta lại để 'bảo bối' ấy ngoài cửa. Có anh lại sợ khen lắm, vợ phổng mũi, đâm ra tinh tướng.

Có một bà vợ thường làm các món ăn rất công phu, cầu kỳ, nhưng chồng lại tỏ ra không biết thưởng thức. Một hôm bà tức mình, luộc một mớ cỏ cho chồng ăn. Chồng ngạc nhiên: "Cái gì thế này? Không thể nào nhai được!". Bà vợ vui vẻ hẳn lên: "Thế ra ông cũng biết là không ăn được à? Vì mọi khi tôi thấy ông ăn cái gì cũng như nhau cả mà!".

Ai cũng biết “đàn ông yêu bằng mắt, đàn bà yêu bằng tai”, nhưng hình như với các ông chồng đã kết hôn vài năm, câu nói đó bị họ quên mất. Có chị may được bộ váy mới, mặc thử vào cứ đứng ngắm mãi trước gương, hết quay đằng trước lại quay đằng sau, mà chồng ngồi đọc báo ngay cạnh chẳng nói câu nào. Cực chẳng đã chị phải cất lời hỏi: “Anh thấy em mặc bộ này có được không?”. Anh ta vẫn không rời mắt khỏi tờ báo: “Cũng được”.

Đó là chưa kể còn có những anh , vợ mặc kiểu gì cũng chê không thương tiếc: “Bộ này không được, trông buồn cười lắm!”, khiến vợ ỉu xìu như bánh đa gặp nước. Có chị cảm thấy bất lực, dường như không thể làm đẹp để chồng hài lòng được. Và những ông chồng như thế, dẫu có tận tụy với vợ con đến mức nào cũng khó được vợ yêu, gia đình hạnh phúc.

Người phương Tây có một nét văn hóa truyền thống là khen phụ nữ, mà nhiều người gọi đùa là "nịnh đầm". Nó gần như một thứ "nghĩa vụ bất thành văn" của phái mạnh, không biết điều đó không phải là người lịch sự, văn minh. Chúng ta du nhập và ảnh hưởng khá đậm nét văn hóa phương Tây, nhưng "văn hóa nịnh đầm" rất đẹp này lại không vào được bao nhiêu.

Ở Việt Nam, rất ít khi nghe chồng khen vợ. Ngay cả những người đàn ông có thể nói là lịch lãm hình như cũng nghĩ rằng, nói chung phái đẹp cần được đàn ông tán thưởng, trừ... vợ anh ta. Li ệu họ có biết, người vợ nào cũng sung sướng khi được chồng khen? Chắc anh nào cũng biết, bằng chứng là khi chinh phục nàng, chẳng anh nào lại không sử dụng thứ vũ khí này, nào là: Em có mái tóc rất đẹp, em có giọng nói rất hay, có anh còn "dẻo mỏ”: "Em hút hồn anh ngay từ lần đầu mới gặp. Đôi mắt em sao mà sâu thăm thẳm"...

Thế nhưng, từ khi đã thành "của nhà”, họ không làm thế nữa. Họ xếp thứ vũ khí sắc bén đó vào kho, để cho nó hoen rỉ mà không biết, người vợ vẫn cần những lời có cánh ấy. Có người còn đi tìm nó không phải từ chồng.

Có nhiều đàn ông biết phụ nữ thích khen, cho nên, đến cơ quan hay gặp phụ nữ ở đâu đó, anh ta cũng khen lấy khen để. Nhưng chỉ cần về đến nhà, anh ta lại để "bảo bối" ấy ngoài cửa. Có anh lại sợ khen lắm, vợ phổng mũi, đâm ra "tinh tướng". Cũng có thể họ nghĩ, đàn bà nào chẳng thích khen, nhưng thích lời khen "ngoại" chứ thích gì "của nội"? Nếu nghĩ thế, bạn đã lầm. Con khen cũng thích. Chồng khen lại càng thích. Lời khen chẳng bao giờ thừa cả. Bạn thử hỏi các ca sĩ xem, có ai thấy chán ngán cảnh khán giả vỗ tay nhiều quá không, có ai khó chịu khi những "fan" hâm mộ vây qu anh xin chữ ký? Những người sống gần mình, quen biết với mình mà vẫn khen mình thì càng có giá trị.

Người ta kể rằng, có một gã chiếm được hàng trăm trái tim phụ nữ và sau đó chiếm đoạt luôn cả tài sản của họ nên cuối cùng phải vào tù. Một nhà tâm lý tò mò đến tận nơi xem hắn có bí quyết gì. Ông ta bất ngờ vì đó là một gã đã luống tuổi, hình thức bình thường, duy chỉ có cái miệng rất duyên. Ông hỏi: "Làm thế nào anh chinh phục được nhiều phụ nữ như vậy?". Hắn trả lời cụt lủn: "Có gì đâu. Cứ khen nhiều vào".
Nhà tâm lý nổi tiếng người Mỹ, Dale Carnegie thường đi giảng ở các lớp học làm vợ, làm chồng. Một hôm, sau bài giảng về nghệ thuật làm chồng, ông ra bài tập cho học viên về nhà làm. Ông yêu cầu tất cả đàn ông thực hiện một “Tuần lễ khen vợ”, ngày nào cũng khen từ sáng đến tối. Ông cam đoan sẽ thấy hiệu quả ngay. Học viên chẳng mấy người tin. Có người còn nghĩ là ông nói đùa, nhưng số đông vẫn thử “làm bài tập” xem sao và kết quả thật bất ngờ.

Một anh vừa ngủ dậy, nhớ đến bài tập, nói luôn: “Nằm cạnh em sướng thật, mùa đông thì ấm, mùa hè thì mát”. Vợ tát yêu một cái. Vợ tập thể dục xong, chồng lại khen: “Hồi này trông thần sắc em rất tốt!”. Vợ càng ngạc nhiên vì chưa bao giờ thấy chồng để ý đến mình. Lúc dọn món ăn sáng ra, anh ta lại xoa hai bàn tay: “Chà, em làm món gì trông ngon thế!”. Vợ sung sướng nguýt yêu chồng một cái nữa. Ăn xong lại khen: “Anh thấy đi ăn sáng ở đâu cũng chẳng bằng em làm!”.

Trước khi đi làm, ngắm vợ một phút, anh lại thốt lên: “Em mặc bộ này trông quá được!”. Không ngờ chỉ trong vòng một tiếng, mới khen có mấy câu mà chưa bao giờ anh ta thấy trên gương mặt vợ lại có những nét hạnh phúc ngời ngời đến thế. Ra đến cửa anh còn quay lại: “Anh đi nhá. Em rất tuyệt”. Hết tuần, có học viên báo cáo với thầy là chỉ sau một “tuần lễ khen”, anh ta được hưởng hạnh phúc hơn 10 năm chung sống cộng lại.

Một khi đã kết hôn, ai chẳng muốn có hôn nhân hạnh phúc, muốn được vợ yêu. Và để đạt được mục đích ấy, nhiều người đã phải đổ biết bao công sức. Họ lao động cật lực hàng chục giờ mỗi ngày, mua tặng vợ những tặng phẩm đắt tiền, đưa cả nhà đi nghỉ cuối tuần. Nhưng có một thứ, người vợ nào cũng khao khát thì họ lại quên. Đó là lời khen.

Tuy nhiên, nếu vợ đẹp thì khen đẹp, nếu quần áo đẹp thì khen quần áo, nếu ngoại hình không đẹp thì khen công dung ngôn hạnh... miễn sao phải chân thật. Khen bừa lỡ thành mỉa mai thì sẽ tác dụng ngược đấy.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 4 guests