Bình Luận , Quan Điểm

thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Muốn cứu nước, phải khai tử đảng

Ngô Nhân Dụng
Ðầu tháng này, trong một cuộc hội thảo bàn về dự thảo văn kiện Ðại Hội XI của Ðảng, Giáo Sư Trần Phương, một đảng viên cộng sản đã từng làm bộ trưởng, phó thủ tướng, và đứng đầu ngân hàng trung ương, ngồi chủ tọa cuộc họp này, ông đề nghị quy tắc: “Nói ngắn, nói rõ (rằng mình) muốn sửa điều này, bổ sung điều kia thôi, không cần giải thích...”

Nhưng khi đến lượt phát biểu, thì chính người chủ tọa lại không nói ngay cụ muốn sửa chữa hay bổ sung điều nào. Cụ làm cả một bản kê khai các sai lầm căn bản. Phải thông cảm với một người 83 tuổi không theo đúng các quy tắc mình đã đưa ra. Vì tất cả những chính sách, hành động sai lầm phải sửa chữa, phải bổ sung đều bắt nguồn từ những sai lầm căn bản trong tư tưởng chỉ đạo. Không sửa từ gốc thì chữa chạy những thứ trên ngọn cũng vô ích! Ông nhận xét về những sai lầm: “Không phải chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà cả quan điểm tư tưởng đấy!” Ðối với bản dự thảo các văn kiện của Ðại hội thứ 11, sắp tổ chức vào đầu năm tới, ông Trần Phương nhận xét là nó “la liệt đủ thứ; không thể góp ý gì được, không biết làm gì để tiến lên.”

Cho nên Giáo Sư Trần Phương truy thẳng vào nền tảng tư tưởng của Ðảng Cộng Sản:

“Ta nói chủ nghĩa Mác-LêNin, nhưng nó là cái gì mà bảo nó là nền tảng?”

Nên biết, năm 1954 ông Trần Phương đã được cử sang Trung Quốc học ở Học Viện Mác-Lê Nin, thế mà bây giờ chính ông nghi ngờ đặt câu hỏi: “Chủ Nghĩa Xã Hội là gì? Có ai trả lời được không?... Liên Xô cũng từ chối Xã Hội Chủ Nghĩa rồi đấy chứ!” Và cụ phê phán: “...Mác đã sai khi dự kiến về đặc trưng của Chủ Nghĩa Xã Hội.” Vì thế, chính sách “Ðổi mới của ta thực chất là ‘thụt lùi.’... Ðổi mới là (thay đổi) so với cái đã sai trong 20 năm trước!” Ông Trần Phương nhắc lại một câu mà trên thế giới người ta đã bảo nhau từ 100 năm trước: “Cái gọi là chủ nghĩa Cộng Sản là ảo tưởng.” Dù sao một người ngoại bát tuần dám nói thẳng cái chủ nghĩa mình theo suốt đời là một ảo tưởng, đó cũng là một thái độ can đảm đáng khen ngợi. Xét cho kỹ thì những sai lầm mà Giáo Sư Trần Phương nêu ra không bắt đầu với nhóm người lãnh đạo đảng hiện nay. Ðó chính là những sai lầm căn bản của đảng Cộng Sản Việt Nam từ khi thành hình cho tới nay!

Vậy thì hiện nay đảng Cộng Sản Việt Nam theo chủ nghĩa Mác như thế nào? Giáo Sư Trần Phương nói thẳng rằng đảng của ông đang “Bịp!” “Ta giả vờ theo Mác, vì nói vậy nhưng đã làm khác đi rồi. Ta nói và ta biết là ta đang bịp người khác!” Trần Phương nhắc lại: “Cương lĩnh đầy dẫy cái sai, cái mơ hồ. Nói Xã Hội Chủ Nghĩa mà không biết nó là cái gì! Nhiều chuyện ta tự lừa dối mình và lừa dối người khác.” Ông không quên nhắc lại lời Abraham Lincoln: “Người ta chỉ có thể lừa bịp được vài người suốt đời, hoặc lừa được tất cả mọi người trong đôi lúc; nhưng không thể lừa được tất cả mọi người mãi mãi được!” Như ông là một thí dụ, đảng không thể “bịp” ông suốt đời được!

Một người cũng tham dự cuộc hội thảo này là nhà kinh tế Lê Ðăng Doanh, từng làm cố vấn cho nhiều ông thủ tướng ở Ba Ðình, cũng đồng ý với ông Trần Phương. Ông Lê Ðăng Doanh khuyên Ðại Hội 11: “Phải nhìn thẳng vào sự thật. Lừa được người ta mà không lừa được thực tiễn đâu.” Một người khác là Giáo Sư Lê Du Phong. Ông phê bình dự thảo Ðại Hội 11: “Tư duy lý luận lạc hậu, mâu thuẫn,... xa rời thực tiễn,... thụt lùi so với đại hội trước.” Không những thế, các văn kiện của đảng Cộng Sản còn “xem thường lịch sử!” Thí dụ, họ viết rằng “Chủ Nghĩa Xã Hội là điều kiện để nước Việt Nam độc lập.” Ông Lê Du Phong hỏi: “Các triều đại trước có Chủ Nghĩa Xã Hội đâu mà nước ta vẫn độc lập?” Ðây cũng là một ý kiến người Việt Nam ai cũng nghe nói từ nửa thế kỷ nay rồi, nhưng được nhắc lại giữa Hà Nội, được phổ biến ngay lập tức trên các mạng, đó cũng là một biến cố đáng chú ý.

Sau khi Giáo Sư Trần Phương đã phê phán những sai lầm của Mác như vậy rồi, ông có khuyên răn đảng của ông xóa bỏ cái chủ nghĩa Mác-Lênin đi hay không? Không thấy ông nói. Ông vẫn tỏ ra còn thiết tha đến cái “chủ nghĩa không ai biết là cái gì” đó, nên còn đề nghị: “Phải xác định rõ Chủ Nghĩa Xã Hội là gì? Ðịnh hướng nó là gì?” Thời Hồ Chí Minh còn sống đảng Cộng Sản không phải nghe những nỗi băn khoăn như vậy. Ông Hồ theo một quy tắc rất đơn giản: “Bất cứ cái gì Stalin nói, Mao nói, đều là Chủ Nghĩa Xã Hội!” Thế là hết bản cãi!

Hình như là những người cộng sản lâu đời như cụ Trần Phương người nào cũng bị mang một mối bi thương trong lòng: Biết cái chủ nghĩa mình theo là ảo tưởng, là đầy những sai lầm, từng gây bao nhiêu tai hại cho dân tộc, nhưng lại không nỡ tuyên bố từ bỏ nó! Những người can đảm dám từ bỏ chủ nghĩa, từ bỏ đảng, như Nguyễn Hộ, Hoàng Minh Chính, Tô Hải, như ông Ðỗ Xuân Thọ dọa sẽ đốt thẻ đảng nếu sau Ðại hội lần thứ 11 này, đảng vẫn lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng không thay đổi, số người như thế rất hiếm. Có lẽ vì ngay khi còn là đảng viên cộng sản đó đã biết nghi ngờ và đã biết phê phán rồi, chứ không nhắm mắt tin theo.

Biết Chủ Nghĩa Xã Hội là ảo tưởng nhưng vẫn thiết tha nuôi nấng nó cho con cháu được hưởng, như Trần Phương kể: “Tôi nói với ông Ðỗ Mười, ông Phạm Văn Ðồng là đến cuối thế kỷ XXI này, con cháu chúng ta mới bắt đầu nghĩ đến Chủ Nghĩa Xã Hội.”

Thật không hiểu nổi tại sao ông còn nhắc lại ý kiến đó, mà ông nhắc lại như một điều đáng hãnh diện!

Thử ngẫm coi: Cả một đời người bắt toàn dân một nước nhắm mắt nghe theo cái Chủ Nghĩa Xã Hội ấy; đến cuối đời đã biết mình chỉ lừa bịp dân thôi, thế mà tại sao vẫn còn muốn 100 năm sau thế hệ con cháu tiếp tục “sự nghiệp nuôi ảo tưởng” của thế hệ mình! Có khác nào đang tâm đánh lừa cả đàn con cháu, muốn chúng “ngồi chờ một thế kỷ nữa” lại tiếp nối sự nghiệp nuôi ảo tưởng theo ông cha? Từ đây đến cuối thế kỷ 21, loài người sẽ sống ra sao, cụ Trần Phương có đoán trước được hay không? Chính cụ đã phê bình việc bám theo ảo tưởng của Karl Marx: “Bây giờ (thế giới) có đến 6.5 tỷ người, đến nước sạch cũng bị thiếu rồi, đánh nhau vì nước uống” để chứng tỏ thực tế thế giới đã thay đổi hoàn toàn, so với viễn kiến của Marx gần hai thế kỷ trước. Ðã biết suy nghĩ sáng suốt như vậy, tại sao vẫn còn nuôi giấc mộng tới cuối thế kỷ 21 còn có người mơ mộng Chủ Nghĩa Xã Hội?

Nhiều đảng viên cộng sản lão thành bây giờ không nói đến Chủ Nghĩa Xã Hội nữa, nhưng vẫn muốn bám ví lấy một thứ “lý tưởng xã hội chủ nghĩa.” Lý tưởng là những điều ước ao, những điều rất tốt, rất quý, thường là rất mơ mộng, xa lìa thực tế. Thanh niên cần phải có lý tưởng, nếu không thì quốc gia không thể trông cậy được. Nhưng người trưởng thành thường không bàn đến hai chữ đó nữa. Nhà báo Lê Phan kể đã phỏng vấn “Bác Ba” Nguyễn Hộ trong thời gian ông bị quản thúc tại gia. Bà mới kể lại rằng ông Nguyễn Hộ đã “khẳng định mình đã chọn sai lý tưởng.”

Nhưng tại sao một lý tưởng chứa đầy những ước mơ tốt đẹp cho nhân loại mà nó lại mang đến bao đau khổ cho loài người để đến nỗi khi các do do nó dụng lên sụp đổ thì ở chính quê hương Liên Xô của nó, chẳng ai thèm tiếc thương? Bởi vì nó đã được Lênin và Stalin bào chế thành một thứ tín ngưỡng đem mê hoặc nhiều người. Nhưng khác với các tín ngưỡng lâu đời của nhân loại, Chủ nghĩa Cộng Sản nói toàn những mục tiêu thiện nhưng lại quyết tâm sử dụng các phương pháp độc ác. Con người không thể đạt đến điều thiện khi dùng cái ác là phương tiện.

Nhưng không lẽ một người có lý tưởng, tức là biết ước ao những điều tốt đẹp nhất, mà còn muốn thế hệ con cháu mình bước lại những bước trên con đường sai lầm của mình hay sao?

Tâm trạng đó, người xưa đã từng giải thích nguyên nhân. Vì con người ta nói chung rất khó thoát khỏi nghiệp do mình tạo ra. Những sở tri chướng, những ngã kiến, ngã mạn, những nghiệp dĩ trong đời, không tỉnh ra thì sẽ ôm theo hết kiếp. Những kiến thức được tích lũy, những ước nung nấu, những thành kiến càng được nuôi nấng lâu ngày thì nghiệp chướng càng nặng nề khó bỏ!

Tuy nhiên có những đảng viên cộng sản đã biết dứt nghiệp. Ông Nguyễn Hộ, trong hồi ký của ông, tỏ ra đã biết nghi ngờ ngay từ lúc nghe Hồ Chí Minh, khi muốn bịt miệng những người có ý kiến phê phán, đã dẫn lời Stalin rồi nói: “Chúng ta có thể lầm chứ đồng chí Stalin không thể lầm được.” Khi trả lời bà Lê Phan, ông Nguyễn Hộ nói đến 60 năm bị “đánh lừa.” Ông nói đến sự hy sinh lớn lao của bản thân, của những người đồng đội, và của toàn thể nhân dân Việt Nam, mà chẳng được gì cả. Ông nói đến sự lỗi thời và phá sản của chủ nghĩa Mác-xít. Và sau cùng ông nói bây giờ đã đến lúc “đảng Cộng Sản Việt Nam phải tự khai tử đi cho rồi.”

Những lời phê phán của ông Nguyễn Hộ nói thẳng từ 20 năm trước, bây giờ lại được ông Trần Phương và nhiều người khác nhắc lại trong cuộc hội thảo trên. Nhưng ông Trần Phương và các vị khác không dám nói: “đã đến lúc đảng Cộng Sản Việt Nam phải tự khai tử đi cho rồi.”

Muốn cứu nước, phê phán chủ nghĩa Mác-Lênin không đủ, từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin cũng chưa đủ. Chính Giáo Sư Trần Phương đã thấy mối nguy hiểm nếu đảng của ông còn cai trị nước ta: “Ðảng quyết mọi thứ mà lại không chịu trách nhiệm gì. Thế mới chết chứ!” Phải hiểu rằng không phải đảng chết, không phải các đảng viên chết, mà là chết cả nước! Nên theo lời khuyên của ông Nguyễn Hộ: Phải khai tử đảng. Ở Ba Lan người ta đã làm rồi. Ở Hungary người ta đã làm rồi. Ở Nga cũng vậy. Ðất nước người ta đã tiến trong hai chục năm qua. Mình còn tự kiềm hãm, và giam hãm cả dân tộc Việt Nam cho tới bao giờ?
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Bốn nước Á Châu Dân Chủ

Ngô Nhân Dụng

Trong chuyến công du Á Châu vừa qua Tổng Thống Barack Obama chỉ thăm những quốc gia đang sống với thể chế tự do dân chủ: Ấn Ðộ, Indonesia, Ðại Hàn Dân Quốc, và Nhật Bản. Bốn quốc gia này có những điều kiện văn hóa, tôn giáo, xã hội và chủng tộc khác nhau, quá trình hình thành chế độ dân chủ tại mỗi nước cũng khác nhau.

Ðó là bằng cớ chứng tỏ rằng dân chủ tự do là một thể chế có thể áp dụng trong mọi điều kiện mà vẫn đem lại lợi ích cho các dân tộc. Ông Obama không quên nhân dịp này lên tiếng ngợi ca những ích lợi của cuộc sống tự do dân chủ.

Tại Ấn Ðộ, ông Obama đã công nhận nền kinh tế của quốc gia này đang vươn lên trong hai chục năm qua sau hơn 40 năm theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa. Ông nhấn mạnh rằng người ta không thể nói Ấn Ðộ đã phát triển “mặc dầu” theo thể chế dân chủ, mà ngược lại phải nói kinh tế Ấn Ðộ đã phát triển chính “vì nhờ” có chế độ dân chủ. Tại Indonesia, ông Obama đã được dân chúng đón tiếp nồng nhiệt vì ông đã sống 4 năm thời thơ ấu ở nước này. Ðáp lại những người bạn cũ đó, ông đã đề cao Indonesia như một kiểu mẫu cho các nước chậm tiến khác. Giống như ở Ấn Ðộ, ông Obama nói, tiến bộ kinh tế mà Indonesia đạt được gần đây cũng vì nhờ thể chế dân chủ.

Nhìn lại quá trình xây dựng dân chủ tại các quốc gia trên ta sẽ thấy hiển nhiên là một thể chế tôn trọng tự do có thể thi hành trong nhiều hoàn cảnh khó khăn mà vẫn thành công để mang lại những lợi ích thực tế. Ấn Ðộ khi lập quốc có 400 triệu dân dùng hơn một ngàn thứ tiếng nói, hàng trăm thứ tiếng được coi là ngôn ngữ chính thức. Ða số dân theo Ấn Ðộ Giáo nhưng số người theo Hồi Giáo nhiều nhất thế giới. Nặng nề nhất là hệ thống đẳng cấp cổ truyền vẫn còn đè nặng lên tập quán của người dân cho tới bây giờ, kể cả giới chuyên viên, trí thức. Trước năm 1947 Ấn Ðộ chưa bao giờ là một quốc gia, họ sống trong những nước nhỏ lệ thuộc vào các đế quốc. Khi Ấn Ðộ độc lập, nhiều người hiểu biết cũng nghĩ rằng quốc gia quá phức tạp và đầy mâu thuẫn này không thể tồn tại lâu dài được. Nhiều nhà nghiên cứu chính trị thấy con đường duy nhất mà Ấn Ðộ nên theo để tránh nội chiến là thiết lập một chế độ độc tài theo kiểu Liên Xô.

Nhưng giới trí thức Ấn Ðộ đã quyết tâm chọn chế độ dân chủ tự do. Chỉ những người sáng suốt và tin tưởng ở khả năng sống thiện của con người, của đồng bào họ, và tự tin ở tư cách chính mình, mới đủ can đảm chọn lựa như vậy. Và bản Hiến Pháp dân chủ của Ấn Ðộ đã được thi hành trọn vẹn, chỉ gián đoạn một thời gian ngắn khi bà Indira Gandhi tuyên bố tình trạng khẩn cấp. Ðến khi đảng của bà bị thất cử, Indira Gandhi đã tôn trọng Hiến Pháp, thản nhiên rút lui khỏi quyền hành, rất có tư cách đáng kính trọng.

Ðiều không may cho Ấn Ðộ là các chính quyền đầu tiên đã đi theo chủ trương kinh tế xã hội chủ nghĩa học theo lối Liên Xô. Ðến năm 1990, sau khi chế độ cộng sản đã thất bại rõ ràng, cáo chung ở Nga và Ðông Âu, Ấn Ðộ mới bắt đầu đổi mới kinh tế. Trong 20 năm qua, những thành quả ngoạn mục của kinh tế thị trường đạt được ở Ấn Ðộ chính là nhờ được đặt trên nền tảng của nếp sống tự do dân chủ và tinh thần tôn trọng luật pháp. Duy chỉ có guồng máy hành chánh, củng cố trong 40 năm quen điều khiển nền kinh tế theo lối hoạch định tập trung, đã trở thành rườm rà và cứng nhắc, hiện nay vẫn là chướng ngại lớn nhất trong việc phát triển của Ấn Ðộ.

Với những xung đột tôn giáo và chủng tộc do di sản của lịch sử hàng ngàn năm, hơn một tỷ dân Ấn Ðộ vẫn bảo vệ một bản Hiến Pháp dân chủ, bảo vệ quyền lợi của các sắc dân và tôn giáo thiểu số, nếu không nhờ tinh thần tôn trọng luật pháp của những người lãnh đạo thì quốc gia này đã chia năm xẻ bẩy từ lâu rồi. Sự tồn tại của Ấn Ðộ là bằng chứng ngợi ca thể chế dân chủ.

Indonesia có những kinh nghiệm khác. Ðây là quốc gia đông dân thứ ba trên thế giới, sau Trung Quốc và Ấn Ðộ, với 250 triệu dân mà 85% theo Hồi Giáo. Nhưng người Indonesia đối xử với các tôn giáo thiểu số bằng tinh thần rộng lượng, luật pháp được áp dụng bình đẳng. Khi Indonesia tuyên bố độc lập sau Ðại Chiến Thứ Hai, tình trạng phức tạp về địa dư, chủng tộc, ngôn ngữ cũng không khác gì Ấn Ðộ. Tổng Thống Soekarno cũng chọn chế độ dân chủ như một thỏa hiệp để thành lập một quốc gia thống nhất. Nhưng năm 1966 ông đã ủng hộ đảng Cộng Sản Indonesia chuẩn bị một cuộc thay đổi thể chế. Quân đội đảo chính ngược, lật đổ ông và thiết lập một chế độ quân nhân sau khi tàn sát hàng triệu người bị coi là cộng sản, đại đa số là người Hoa. Mặc dù vẫn theo kinh tế thị trường và bên ngoài vẫn là thể chế dân chủ nhưng dưới chế độ độc tài quân phiệt trong thực tế Indonesia đã áp dụng đường lối tư bản quả đầu; mọi quyền lợi kinh tế được giành cho nhóm người phục tùng gia đình Tướng Suharto. Sau 32 năm cầm quyền, ông Suharto phải từ chức vì người dân vùng lên khi kinh tế khủng hoảng; từ đó Indonesia mới thực sự thí nghiệm lối sống dân chủ tự do theo Hiến Pháp mới. Một điều đáng kính trọng đối với giới chính trị ở Indonesia là sau những cuộc đảo chính trên, những người lãnh đạo cũ vẫn được sống quãng đời còn lại bình yên, đời sống và phẩm giá được kính trọng.

Chính trong thời gian 20 năm dân chủ hóa vừa qua người dân Indonesia đã chứng tỏ được tinh thần bao dung của họ, nhờ thế giải tỏa được những xung đột chủng tộc, xã hội và văn hóa vẫn kéo dài từ khi lập quốc. Vùng Ðông Timor được trả lại độc lập; vùng Aceh được giành nhiều quyền tự trị; người gốc Hoa được phép mở trường dạy chữ Hán. Trong 20 năm qua bốn vị tổng thống nhậm chức rồi rời khỏi chức vụ trong hòa bình, trật tự, các đảng chính trị ganh đua mạnh mẽ, báo chí được tự do.

Gánh nặng lớn nhất mà chế độ độc tài quân phiệt để lại ở Indonesia cũng là một bộ máy hành chánh nặng nề và thối nát. Bài học của Indonesia là phải chấm dứt chế độ độc tài càng sớm càng tốt; càng trì hoãn thì càng khó sửa đổi tác phong của hệ thống cảnh sát và công chức tham nhũng, lạm quyền.

Khác với Ấn Ðộ và Indonesia, hai nước Nhật Bản và Nam Hàn đã là những quốc gia thành lập từ mấy ngàn năm và đều thuộc truyền thống Khổng Giáo như các nước Á Ðông khác. Hai nước này đã từng là thù địch trong ít nhất nửa đầu thế kỷ 20 khi Nhật Bản thống trị bán đảo Cao Ly. Nhật đã dân chủ hóa từ sau Thế Chiến Thứ Hai nhưng Hàn Quốc phải đợi sau khi ngọn lửa chiến tranh Nam Bắc nguội bớt người dân mới bắt đầu tranh đấu lập nền dân chủ vào thập niên 1980.

Hiến Pháp dân chủ của Nhật Bản được ban hành năm 1947, dưới chế độ quân quản của Mỹ. Nhưng chính quyền quân sự Mỹ và giới chính trị Nhật đã giữ đúng tinh thần trọng pháp: Hai viện Quốc Hội Nhật đã tu chính bản Hiến Pháp Minh Trị theo đúng thủ tục điều 73 trong Hiến Pháp cũ. Có thể nói nước Nhật chỉ mới tập sống dân chủ từ năm 1952 khi chế độ quân quản chấm dứt, dân Nhật Bản lấy lại chủ quyền. Thí nghiệm dân chủ ở Nhật đã thành công, chính quyền đã thay đổi từ tay đảng này sang đảng khác đã bốn lần trong hòa bình, trật tự và tinh thần tương kính. Có thể nói truyền thống Khổng Giáo đã ảnh hưởng tới tư cách và hành vi của những người lãnh đạo xứ Nhật cho nên họ đều có tinh thần trách nhiệm, tôn trọng công ích, làm gương tốt cho quốc dân.

Sau khi Hàn Quốc chịu cảnh nội chiến Nam Bắc, giới quân nhân chiếm lấy quyền hành vừa lo chống mối đe dọa của cộng sản phía Bắc vừa canh tân nền kinh tế quốc dân. Nhưng mặc dù vẫn bị đe dọa xâm lăng, dân Nam Hàn vẫn đứng lên đòi tự do dân chủ. Những năm 1970, 80 khi kinh tế đang cất cánh cũng là những năm các phong trào đòi dân chủ tự do lên cao nhất, với những cuộc biểu tình, đình công, bãi khóa của công nhân và sinh viên. Nhờ giữ được truyền thống Khổng Mạnh, đặt công ích lên trên quyền lợi riêng, các tướng lãnh Nam Hàn đã trao trả lại quyền làm chủ cho dân. Kinh tế lại càng phát triển vì người dân được tự do hơn.

Thể chế dân chủ tự do ở Nhật Bản và Hàn Quốc được hỗ trợ bởi nền đạo lý cổ truyền thấm nhuần Nho Giáo. Tại hai nước đó Khổng Giáo không hề bị một chế độ độc tài chuyên chế nào tìm cách hủy hoại. Nền tảng đạo lý này coi chữ Tín là quan trọng bậc nhất, các nhà chính trị phải nêu gương tín nghĩa, nhờ thế đã tạo nên không khí tín nhiệm chung trong xã hội. Chữ Tín cũng là nền tảng của cả chế độ dân chủ lẫn kinh tế thị trường. Ðó là bí quyết của sự tiến bộ về chính trị và kinh tế tại hai quốc gia Á Ðông này. Trong 6 nước cùng chịu ảnh hưởng truyền thống Nho Giáo tại Á Châu, 3 nước theo chế độ dân chủ là Nam Hàn, Nhật Bản và Ðài Loan cũng là những nước kinh tế tiến bộ nhất. Ba nước cộng sản từng đả phá Nho Giáo là Trung Quốc, Việt Nam và Bắc Hàn thì kinh tế thua kém. Một lý do cũng vì giới lãnh đạo cộng sản không có thói quen tôn trọng chữ Tín, khiến cho trong xã hội mất thói quen tin tưởng lẫn nhau, cũng như người dân không tin tưởng ở luật pháp và các định chế quốc gia, từ guồng máy công lực tới hệ thống tư pháp, và các cơ quan truyền thông. Thiếu chữ Tín thì kinh tế không thể tiến được.

Tổng Thống Obama đã đến 4 nước dân chủ tự do ở Á Châu, để có dịp cổ võ cho một thể chế mà nước ông đã thiết lập hơn 200 năm qua. Ông không cần nêu lên những tiến bộ mà dân Mỹ đã đạt được, chỉ cần lấy các nước Á Châu làm thí dụ. Ông nói một câu có thể sẽ trở thành khẩu hiệu cho các phong trào dân chủ: “Thịnh vượng kinh tế mà không có tự do thì vẫn còn là cảnh nghèo nàn dưới một hình thức khác.”

Ðó cũng là một lời nhắn gửi tới chính quyền và người dân Trung Quốc, Việt Nam, những nơi đảng Cộng Sản vẫn tiếp tục giam giữ nhiều người chỉ vì họ tranh đấu đòi cho đồng bào họ được sống tự do hơn. Các chính quyền cộng sản đó vẫn tiếp tục ngăn chặn làn sóng dân chủ đã lan tràn khắp thế giới từ năm 1989 đến nay, sau khi cộng sản Ðông Âu và Nga sụp đổ. Nhưng người dân Việt Nam và Trung Quốc chắc chắn mong muốn họ sẽ thoát khỏi cảnh nghèo khó không những về kinh tế mà cả về chính trị. Chỉ khi đủ no ấm và được tự do chúng ta mới được sống xứng đáng với phẩm giá con người.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Xã Hội Dân Sự tại Việt Nam trong thời đại Internet

Ðoàn Thanh Liêm
Trong một chế độ độc tài chuyên chế toàn trị (totalitarian dictatorship) như ở Việt Nam, Trung Quốc và Bắc Triều Tiên hiện nay, thì đảng cộng sản vẫn còn giữ độc quyền ngay cả trong khu vực Xã hội Dân sự (XHDS), thông qua các tổ chức ngoại vi của đảng, điển hình như các Hội Liên Hiệp Phụ Nữ, Liên Hiệp Thanh Niên, Ðoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh, Hội Nhà Văn, Mặt Trận Tổ Quốc v.v...
Image
Blogger Ðiếu Cày. (Hình: rfa.org)
Do đó, các tổ chức thiện nguyện của tư nhân hoạt động trong lãnh vực nhân đạo, hay văn hóa xã hội khác, và nhất là các tổ chức từ thiện phát xuất từ các tôn giáo, thì luôn luôn bị kiềm chế, cản trở không làm sao mà phát triển rộng rãi trong quảng đại quần chúng nhân dân, như ta thường thấy trong các xã hội tự do dân chủ khác trên thế giới ngày nay được.

Nhưng từ 10-15 năm nay, nhờ có Internet người dân ở Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, đã bắt đầu có những sinh hoạt trao đổi tin tức và hành động rất ngoạn mục khởi sắc, mà chế độ cộng sản cũng không thể nào ngăn chặn hết được. Bài viết này nhằm trình bày chi tiết hơn về tình trạng đáng phấn khởi đó.

Như ta đã biết, XHDS đóng cả hai vai trò đối với Nhà nước: đó là vai trò vừa làm “Ðối tác” và vừa vai trò làm “Ðối trọng” (Counterpart / Counterbalance), để cùng hợp tác với Nhà nước trong lãnh vực cải tiến dân sinh, cụ thể như việc “xóa đói giảm nghèo,” “cứu trợ các nạn nhân thiên tai bão lụt” v.v... Mặt khác, XHDS cũng tham gia vào công cuộc xây dựng công bằng xã hội, bênh đỡ các nạn nhân của tệ nạn bóc lột áp bức do giới có quyền hành, có thế lực gây ra. Nhờ có vai trò “làm đối trọng” đối với Nhà nước như vậy, mà trong nền nếp sinh hoạt của quốc gia mới bảo đảm được sự “kiểm soát và cân bằng” (checks and balance), như ta thường thấy nơi các xã hội dân chủ tiến bộ tại Âu Mỹ.

Vai trò làm đối trọng này thường được thực hiện qua việc phát biểu “tiếng nói lương tâm” (the voice of conscience) của giới sĩ phu, giới lãnh đạo tinh thần nơi các tôn giáo, và nhất là qua sự “phản biện xã hội” (social critique) của giới trí thức hàn lâm đại học, của giới văn nghệ sĩ, của giới lãnh đạo nghiệp đoàn công nhân, v.v... Dưới đây, ta sẽ phân tích chi tiết hơn về khía cạnh “làm Ðối trọng” của XHDS tại Việt Nam hiện nay.


A. Một số trường hợp điển hình

* Sự kiện nổi bật nhất hiện nay là blog “Bauxite Việt Nam” do một nhóm các nhà trí thức chủ trương kêu gọi chánh quyền Việt Nam phải ngưng lại dự án khai thác quặng bauxite tại vùng cao nguyên miền Trung. Cho tới cuối tháng 10, 2010, thì thông qua Internet đã có tới gần 3,000 chữ ký của mọi tầng lớp đồng bào ở trong cũng như ở ngoài nước tham gia kiến nghị với nhà nước phải xét lại việc tiến hành công cuộc khai thác này. Nhất là sau tai họa kinh hoàng “ngập lụt bùn đỏ” ở Hungary vào đầu tháng 10 vừa đây, thì quần chúng nhân dân Việt Nam lại càng quan tâm đến cái nguy cơ trầm trọng đối với môi trường thiên nhiên và sự sống còn của hàng triệu con người ở phía hạ lưu đồng bằng sông Ðồng Nai thuộc miền Ðông Nam bộ, kể cả thành phố Saigon.

*Mặt khác, với sự giam giữ kéo dài thêm nữa đối với nhà báo Ðiếu Cày Nguyễn Văn Hải và sự bắt giữ hai nhà báo blogger Phan Thanh Hải với “anhbasaigon” và Hương Trà với “cogaidolong,” thì rõ ràng là chánh quyền Hanoi đã rất hốt hoảng trước sự hưởng ứng của số đông quần chúng đối với loại mạng lưới thông tin hiện đại mà lại rất đi sát với những vấn đề thời sự này. Ðó là chưa kể những sự quấy phá đánh sập rất nhiều blog khác, mà nhà nước coi là mối đe dọa đối với chế độ độc quyền về bưng bít thông tin của họ, hay là không đi theo “lề phải” do cơ quan quản lý về thông tin đưa ra.

*Năm 2009 vừa qua, thì Nhà nước đã làm áp lực rất nặng nề khiến đưa đến sự đóng cửa cái “think tank” hàng đầu của Việt Nam, đó là “Viện Nghiên Cứu Phát Triển IDS” do Tiến Sĩ Nguyễn Quang A và các thân hữu khởi xướng (Institute of Development Studies). Sự việc đáng buồn này rõ rệt là kéo lùi sự tiến bộ về mặt trí tuệ và nhận thức của toàn thể xã hội Việt Nam chúng ta trong thế giới văn minh khoa học kỹ thuật vào đầu thế kỷ XXI ngày nay.

* Ðó là chưa kể đến phong trào tranh đấu của hàng vạn những “Dân Oan” từ khắp các địa phương kéo về Hanoi, Saigon để khiếu nại về chuyện bị mất nhà, mất đất do cán bộ nhà nước đã nhẫn tâm tịch thu của họ. Và nhất là cao trào tranh đấu đòi tự do tôn giáo của giới tín đồ và tu sĩ của các tôn giáo lớn như Phật Giáo, Công Giáo, Tin Lành, Cao Ðài, Hòa Hảo.

Các thông tin về hai khối quần chúng Dân Oan và Tôn Giáo này đã được phổ biến rộng rãi khắp thế giới thông qua mạng lưới Internet, mà nhà cầm quyền cộng sản dù mưu lược thủ đoạn thâm hiểm đến mức nào đi nữa, thì họ cũng không thể làm sao mà bưng bít cho hết được.


B. Không gian Xã hội mỗi ngày một mở rộng mãi ra

Mỗi khi một tập thể quần chúng nhân dân sinh sống hợp quần với nhau trong một khu vực địa lý nào, thì họ tạo thành ra được một cái khoảng không gian xã hội (Social Space). Khoảng không gian xã hội này bao gồm ba khu vực, đó là: khu vực Nhà nước, khu vực Thị trường kinh tế và khu vực Xã hội Dân sự.

Với sự tiến bộ của lãnh vực truyền thông ngày nay, đặc biệt là của Internet, khu vực XHDS không những mỗi ngày một phát triển mở rộng trong mỗi một quốc gia, mà còn phát triển mạnh mẽ trên phạm vi toàn thế giới nữa. Vì thế, mà ngày nay ta đã có một thứ Xã hội Dân sự Toàn cầu (The Global Civil Society) mỗi ngày một phát triển thêm mạnh mẽ, y hệt như ta có một nền kinh tế toàn cầu mỗi ngày thêm khởi sắc vậy. (Xin độc giả coi lại bài “Sơ lược về Xã hội Dân sự Toàn cầu” tôi đã viết vào năm 2009, và đã được phổ biến trên nhiều báo điện tử, cũng như báo giấy).

Như ta đã biết, từ lâu nay vào mỗi Tháng Giêng hàng năm, thì có một Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economic Forum =WEF) được tổ chức tại thành phố Davos nước Thụy Sĩ. Và gần đây, thì lại có thêm một diễn đàn khác nữa được gọi là “Diễn đàn Xã hội Thế giới” (World Social Forum =WSF) cũng được tổ chức hàng năm luân phiên tại các quốc gia thuộc Châu Mỹ La Tinh, Á Châu và Phi Châu. Tổ chức WSF đó đã thu hút được rất đông các nhân vật và đại diện của các tổ chức phi chánh phủ (NGO = Non-Government Organisations) từ khắp các nơi trên thế giới cùng đến tham dự để trao đổi về nhiều khía cạnh sinh hoạt văn hóa xã hội của thế giới hiện đại, đặc biệt là của các nước đang phát triển. Ðó là biểu hiện của một tinh thần liên đới, chia sẻ huynh đệ rộng khắp thế giới, mà còn được gọi là “Phong trào Xã hội Mới”(The New Social Movement).

Trong bối cảnh của cả một thế giới năng động và nhiều tính chất sáng tạo, đầy tình nhân ái gắn bó huynh đệ ruột rà như thế đó, các nhà tranh đấu cho dân chủ, tự do và nhân quyền ở bất cứ nước nào mà bị nhà cầm quyền sở tại đàn áp, giam hãm tù đày, thì đều được sự cảm thông và yểm trợ hết mình của những anh chị em cùng chung một lý tưởng, cùng chia sẻ cái ngọn lửa nhiệt thành, dấn thân hy sinh để bảo vệ cho phẩm giá và quyền con người của lớp người đồng loại với mình.

Việc cấp phát giải thưởng Nobel Hòa Bình năm 2010 cho người chiến sĩ yêu nước Lưu Hiểu Ba ở Trung Quốc là một biểu tượng sáng ngời của phong trào liên đới toàn cầu với cuộc đấu tranh bất bạo động, nhằm xây dựng một xã hội tiến bộ và nhân ái hiện đang diễn ra sôi nổi khắp nơi trên hành tinh trái đất chúng ta lúc này.

Các sinh hoạt gặp gỡ trao đổi và chia sẻ có tầm vóc quốc tế như vậy rõ ràng là đang góp phần mở rộng cái khoảng không gian xã hội nói chung, và khu vực XHDS nói riêng trên phạm vi toàn cầu nữa. Và cao trào tranh đấu cho Tự do, Dân chủ và Nhân quyền tại Việt Nam hiện nay cũng đã và đang đi theo đúng với xu thế thời đại của toàn thế giới vào thế kỷ XXI ngày nay vậy.


C. Quá trình không thể nào mà có thể đảo ngược lại được nữa

Tập thể các bloggers ở nước ta hiện nay đã lên đến con số hàng ngàn người, mà được hàng triệu người theo dõi truy cập mỗi ngày, mỗi tuần quanh năm, suốt tháng. Như vậy, thì việc nhà nước sử dụng bọn tin tặc để quấy phá, hoặc dùng công an để đe dọa, bắt giữ một số người, điều này thật ra cũng chẳng thể nào làm suy yếu, hoặc tiêu diệt được cái ý thức phản biện, đối kháng của hàng hàng lớp lớp những người trẻ, là con em của đất nước chúng ta ngày nay. Quả thật, đây là lớp “hậu sinh khả úy,” là “niềm hy vọng chứa chan” của dân tộc Việt Nam chúng ta. Họ tiêu biểu cho “trí tuệ thông tiệp và lương tâm trong sáng của thời đại” ngày nay.

Chúng ta thật vui mừng và cảm phục trước sự dũng cảm của những nữ nhi chân yếu tay mềm như Lê Thị Công Nhân, Phạm Thanh Nghiên, Trần Khải Thanh Thủy, Tạ Phong Tần, Ðỗ Thị Minh Hạnh, Mai Thị Dung... Và chúng ta cũng ngưỡng mộ thái độ kiên cường bất khuất của những bạn nam nhi như Ðiếu Cày, Trương Minh Ðức, Hà Sĩ Phu, Ðỗ Nam Hải, Lê Trần Luật, Ðoàn Huy Chương, Trương Văn Sương...

Rõ ràng họ là loại người thật xứng đáng với danh hiệu mà dân gian xưa nay vẫn thường nói: đó là “Con hơn cha, nhà có phúc.” Họ đã vượt ra khỏi được cái não trạng của loại người “ếch ngồi đáy giếng,” của thứ “gà què ăn quẩn cối xay.” Họ kiên quyết chối bỏ cái lối “tư duy nhiệm kỳ” của loại người ngoan cố chỉ biết bám víu vào quyền lực, bằng cách áp đặt lên đầu lên cổ dân tộc cái thứ giáo điều ngoại lai hủ lậu, mù quáng mệnh danh là “Vô sản chuyên chính, Hận thù giai cấp, Dân chủ tập trung” vay mượn từ Liên Xô, Trung Quốc đã trên nửa thế kỷ nay.

Giới trẻ của chúng ta ngày nay đang có được “cái tầm nhìn vũ trụ” (cosmic vision) cởi mở thông thoáng, theo kịp với đà văn minh tiến bộ của thế giới hiện đại. Và họ cũng đã tìm cách tự giải thoát mình ra khỏi nỗi sợ hãi trước bạo quyền chuyên chế của thế hệ trước đây, để mà ra tay hành động, tìm cách giúp dân, cứu nước.

Và rồi bằng kỹ thuật vượt được “bức tường lửa,” họ đã tiếp cận thường xuyên với thế giới bên ngoài, để liên kết với phong trào tranh đấu toàn thế giới cho nhân phẩm và quyền con người, theo tinh thần đã được ghi rõ trong các văn kiện về Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc ban hành vào giữa thế kỷ XX. Dù bị ngăn cản, vây hãm, bị cấm đoán mọi bề, họ vẫn tìm cách phát huy tính sáng tạo và lòng can đảm, để mà tiếp tục được cái sứ mệnh làm phản biện, phê phán, phơi bày tố cáo những lệch lạc sai trái trong việc nhượng đất nhượng biển cho Trung Quốc, những sự nhũng lạm phung phí tài nguyên quốc gia, chiếm đoạt tài sản của nhân dân, do bất kể giới chức nào trong guồng máy chánh quyền, kể cả giới lãnh đạo chóp bu của đảng cộng sản gây ra.

Rốt cuộc, việc tranh đấu kiên cường này đang rõ rệt có dấu hiệu trở thành một quá trình hành động quyết liệt, mà đảng cộng sản dù có ngoan cố thâm độc đến đâu, thì cũng không còn có thể nào làm đảo ngược lại được nữa rồi. Ðó là niềm hy vọng đầy phấn khởi cho tương lai tươi sáng của toàn thể dân tộc chúng ta vậy.

Ðoàn Thanh Liêm
California, Tháng Mười Một 2010
quangminh
Posts: 549
Joined: Thu May 27, 2010 1:54 am
Contact:

Post by quangminh »

Dân Chủ để phát triển kinh tế

Ngô Nhân Dụng

Trong cuộc du hành qua các nước Á Châu vừa qua, Tổng Thống Mỹ Barack Obama đã ca ngợi sự tiến bộ tại Ấn Ðộ và Indomesia. Ông nói rằng chính chế độ chính trị dân chủ ở các nước này đã giúp nền kinh tế của họ phát triển tốt đẹp.

Những lời tuyên bố của ông Obama chắc sẽ được người dân những nước kinh tế còn nghèo như Miến Ðiện, Bắc Hàn, Trung Quốc hay Việt Nam lắng nghe và suy nghĩ.

Nhưng đối với các nhà nghiên cứu chính trị và kinh tế thì mối liên hệ giữa chế độ Dân Chủ và sự phát triển kinh tế không có câu trả lời rõ ràng, vì các tác động hỗ tương rất phức tạp. Nhiều người tin rằng kinh tế có ảnh hưởng trên chính trị, cho nên khi kinh tế một nước phát triển cao thì thế nào xã hội cũng tiến tới chế độ dân chủ. Lý do vì một giới trung lưu sẽ thành hình, họ sẽ đòi sống tự do hơn. Theo lối nhìn này thì Phát triển Kinh tế là nhân, Dân chủ Tự do là quả. Tuy nhiên, ai cũng biết có những quốc gia ở vùng Trung Ðông đã đạt tới lợi tức theo đầu người hàng chục ngàn đô la một năm, mà dân vẫn sống trong cảnh độc tài chưa biết bao giờ được thay đổi. Cho nên hai hiện tượng Phát Triển và Dân Chủ không nhất thiết có tương quan nhân quả một chiều như nhiều người mong muốn.

Ý kiến của ông Obama đặt vấn đề theo chiều ngược lại, từ chính trị ảnh hưởng sang kinh tế, ông coi chế độ Dân Chủ làm hạt nhân mà kết quả là kinh tế phát triển. Ðây cũng là một đề tài đã được nhiều người khảo sát.

Từ lâu, các nhà nghiên cứu chính trị vẫn hỏi: “Liệu chế độ dân chủ tự do có giúp cho kinh tế phát triển hay không?” Câu hỏi này được đặt ra rõ rệt hơn khi so sánh: Thể chế Dân Chủ có giúp kinh tế lên nhanh hơn so với các chế độ độc tài hay không? Trả lời câu hỏi này còn phức tạp hơn nhiều so với mối tương quan từ kinh tế sang chính trị. Các nhà nghiên cứu dè dặt không dám kết luận về mối tương quan giữa chính trị và kinh tế như những định luật chắc chắn. Không thể nói ở đâu có hạt nhân dân chủ thì sẽ sinh kết quả là kinh tế phồn thịnh.

Cũng như mọi cuộc nghiên cứu xã hội, chúng ta biết đời sống con người rất phức tạp, cuộc sống xã hội gồm rất nhiều con người càng phức tạp hơn. Chúng ta khó tiên đoán phản ứng và hành động của hàng triệu người, như khi tiên đoán thời tiết - mặc dù việc đoán trước trời nắng hay mưa cũng còn khó khăn!

Vì lý do trên, những ý kiến của ông Obama được nêu lên như những lời ca ngợi và cổ võ cho chế độ dân chủ ở Ấn Ðộ và Indonesia sẽ bị các chế độ độc tài ở Á Châu bài bác. Họ sẽ biện hộ rằng giới nghiên cứu khoa học xã hội vẫn còn luôn luôn dè dặt không quả quyết những tương quan chắc chắn như lời ông Obama nói.

Tuy nhiên, chúng ta không thể coi sự dè dặt của các nhà nghiên cứu trong trường ốc là kim chỉ nam để hành động cho mọi người. Ðối với những người dân sống trong các chế độ độc tài thì câu hỏi thực tế lại khác hẳn với lối đặt vấn đề trừu tượng của các nhà nghiên cứu. Người dân các nước chậm tiến, nghèo và bị áp bức không cần đi tìm những tương quan nhân quả tổng quát, phổ biến, lúc nào cũng đúng như các định luật khoa học, mà những người ngoại cuộc có thể tìm tòi chỉ vì nhu cầu trí thức.

Ðối với một người dân ở Miến Ðiện, Bắc Hàn, hay ở Việt Nam, thì phải đặt những câu hỏi thực tế, cụ thể, chứ không nói chung chung nữa. Sống trong những quốc gia vừa nghèo, vừa mất tự do vì độc tài lại vừa bất bình vì tham nhũng, câu hỏi của người dân các nước đó là: Có cách nào cho tôi thoát khỏi cảnh nghèo khó và bất công này hay không? Ðặt câu hỏi rõ rệt là: “Thể chế Dân Chủ có giúp gì cho kinh tế quốc gia phát triển tốt đẹp hơn so với tình trạng hiện tại hay không?”

Khi đặt câu hỏi cụ thể như vậy, mọi người đỡ mất thời giờ tranh luận về những vấn đề trừu tượng, có thể trở thành viển vông. Ðiều người dân ở những nước độc tài lo lắng không phải chỉ là so sánh khả năng và hiệu quả phát triển kinh tế của các chế độ độc tài và dân chủ nói chung, ở khắp nơi. Hãy để công việc tìm tòi các quy luật có giá trị lâu dài và tổng quát cho các giáo sư đại học, phần lớn họ đang sống ở các nước đã giầu sẵn rồi. Người dân các nước đang nghèo nàn, chậm tiến chỉ quan tâm đến những câu hỏi về chính thân phận mình. Có những câu hỏi cụ thể bắt nguồn từ hoàn cảnh trước mắt:

Chế độ độc tài có tạo ra những chướng ngại ngăn cản sự phát triển kinh tế ở nước ta hay không?

Một chế độ tự do và dân chủ hơn liệu có khả năng giúp chúng ta vượt qua được các chướng ngại đó mà thoát khỏi tình trạng kinh tế trì trệ hiện nay hay không?

Ðể trả lời 2 câu hỏi này, phải phân tích quá trình phát triển kinh tế. Mọi nhà kinh tế đã đồng ý rằng có những yếu tố giúp cho kinh tế phát triển mạnh hơn, không phân biệt thể chế chính trị như thế nào. Một yếu tố quan trọng là một xã hội tôn trọng luật pháp, trong đó phải tôn trọng quyền sở hữu do luật pháp bảo đảm. Người ta chỉ làm việc hết sức khi tin rằng kết quả công việc mình làm mình sẽ được giữ và hưởng thụ. Do đó, một yếu tố quan trọng thứ nhì là trong xã hội không có những thế lực không cần làm việc cũng được hưởng, tức là tham nhũng. Khi có một khối người có quyền hành và sử dụng quyền để đòi hỏi và được hưởng những quyền lợi do công lao của người khác, thì sự phân bố tài người và sử dụng tài nguyên trong xã hội sẽ không đạt được hiệu quả tốt nhất. Yếu tố thứ ba là chính sách của những người cầm quyền có thích hợp với hoàn cảnh kinh tế của quốc gia, thúc đẩy mọi người gia tăng lợi tức hay không. Một yếu tố khác không thể thiếu được là nhân sự. Phải tạo khung cảnh xã hội và kinh tế làm sao để kích thích óc sáng tạo, trí mạo hiểm trong giới kinh doanh, và xây dựng một đội ngũ lao động có học vấn đủ để tiến vào nền kinh tế dựa trên khoa học và kỹ thuật. Không ai phủ nhận được tầm quan trọng của bốn yếu tố trên đây. Nếu không hội đủ ít nhất hai, ba trong số bốn điều kiện đó thì kinh tế rất khó phát triển bền vững.

Ðối với người dân những nước kinh tế còn nghèo nàn thì câu hỏi thiết thực là: Thể chế tự do dân chủ có giúp cho xã hội tăng cường và củng cố các yếu tố cần thiết đó hay không?

Giữa chế độ độc tài và tự do dân chủ thì thể chế nào giúp cho luật pháp được tôn trọng hơn, do đó tài sản người dân tạo ra được bảo vệ chắc chắn hơn? Không cần phải bàn luận về lý thuyết, chúng ta đều biết rằng trong chế độ độc tài mà người dân Việt Nam, Miến Ðiện, Bắc Hàn đang sống, luật pháp nằm trong tay những người nắm quyền, từ các ông bà cầm đầu Ðảng và chính phủ cho tới những người công an, cảnh sát đứng ở góc chợ hay đầu đường. Không cần phải suy nghĩ đắn đo, người ta có thể kết luận ngay được là bất cứ một hình thức tự do dân chủ nào cũng sẽ tạo ra những giới hạn trên người cầm quyền, và pháp luật sẽ được tôn trọng hơn.

Chế độ Dân Chủ đặt mọi người làm chính trị trong một cuộc chạy đua, phải cạnh tranh giành lá phiếu của dân. Khi đó, sẽ không có một nhóm người nào có thể khuynh loát tất cả mọi lực lượng khác trong xã hội để đặt họ bên trên luật pháp. Trong nhiều nước độc tài người ta cũng có thể đạt tới tình trạng luật pháp được tôn trọng, tuy nhiên điều đó không có gì bảo đảm. Dù độc tài hay dân chủ, chỉ khi nào người cầm quyền bị kiềm chế bởi những định chế hoặc thế lực xã hội và chính trị khác, thì họ mới nhất thiết tôn trọng luật pháp. Chắc chắn chế độ dân chủ tự do có khả năng hạn chế quyền hạn của những người cầm quyền hơn chế độ độc tài.

Bây giờ ai cũng phải công nhận nạn tham nhũng là một chướng ngại cho việc phát triển kinh tế. Các quan chức nhũng lạm không những ăn cướp tài sản của những người bị họ sách nhiễu, họ còn làm cho tất cả xã hội bị thiệt hại vì gây trở ngại những nhà kinh doanh có khả năng và lương thiện. Khi guồng máy nhà nước thiên vị một nhóm người này vì chịu hối lộ, chèn ép nhóm người khác, thì tài nguyên kinh tế quốc gia sẽ không được đặt vào tay những người có khả năng tạo ra nhiều của cải, nhiều công việc làm nhất. Xã hội tự do dân chủ có giúp giảm bớt nạn tham nhũng gây trở ngại cho nền kinh tế hay không? Chúng ta có thể tin chắc rằng khi các người làm chính trị bị bắt buộc phải cạnh tranh mới được đóng vai trò quyết định việc nước, thì chắc chắn xã hội sẽ bớt lạm quyền, bớt tham nhũng. Khi mới được phóng thích trong tuần trước, bà Aung San Suu Kyi đã tuyên bố rằng: “Quan trọng nhất là quyền tự do ngôn luận.” Một xã hội tôn trọng quyền tự do phát biểu là vũ khí tốt nhất để đặt ra những giới hạn trên quyền hành và giúp bài trừ tham nhũng.

Chính sách kinh tế của các chính quyền rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế. Khi so sánh chế độ độc tài và dân chủ, có thể nói chế độ nào cũng có khả năng đưa ra những chính sách hoặc tốt, hoặc xấu, ngang nhau. Nhưng chế độ dân chủ tự do có một ưu điểm, là nếu một chính quyền đưa ra những chính sách sai lầm, chính người dân sẽ sửa đổi bằng cách thay thế họ, qua các cuộc bầu cử. Ngược lại, một chế độ độc tài có thể duy trì những chính sách kinh tế tai hại suốt đời này sang đời khác, chỉ vì chính đồng đảng của họ được lợi với các chính sách đó,trong khi người dân không có phương tiện nào để thay đổi. Một thí dụ hiển nhiên là các nước độc tài thường duy trì các doanh nghiệp nhà nuớc rất lớn và chiếm độc quyền trong nhiều lãnh vực, mặc dù ai cũng biết các xí nghiệp này hiệu năng rất kém so với tư nhân.

Cuối cùng, đến yếu tố nhân sự. Nhiều nước độc tài cũng có thể xây dựng một nền giáo dục có hiệu quả, và cũng có thể tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho những người có óc sáng tạo và mạo hiểm. Nhưng điều này không có gì bảo đảm. Ngược lại, khi chế độ là tự do dân chủ thì người cầm quyền chịu áp lực của dân sẽ phải chú trọng tới việc giáo dục hơn, nhất là ở những nước có truyền thống trọng học vấn như ở Việt Nam. Mặt khác, tự do là một điều kiện thiết yếu của óc sáng tạo, trí mạo hiểm. Trong chế độ độc tài, người dân thiếu tự do cho nên óc sáng tạo khó phát triển, nhất là óc mạo hiểm, chấp nhận rủi ro của các nhà kinh doanh càng bị chính trị hạn chế.

Cuối cùng, phải nói thể chế chính trị không quan trọng bằng tình trạng xã hội có tôn trọng các quyền tự do hay không. Nếu theo thể chế dân chủ mà tự do vẫn bị hạn chế thì chưa đủ. Nhà kinh tế Ấn Ðộ Amartya Sen (giải Nobel Kinh Tế 1998) đã phân tích tương quan giữa chính trị và kinh tế, cho rằng chúng ta không nên đặt vấn đề như là mối tương quan giữa thể chế dân chủ và phát triển kinh tế; mà nên nhìn vào ảnh hưởng của tự do trên sự phát triển. Khi đặt vấn đề như vậy thì, Amartya Sen quả quyết: Càng tự do thì kinh tế càng dễ phát triển; và ngược lại, khi kinh tế tăng trưởng thì các quyền tự do trong xã hội cũng được tăng theo.

Lời phát biểu của Tổng Thống Obama tại Indonesia và Ấn Ðộ tạo cơ hội cho chúng ta suy nghĩ thêm về mối tương quan giữa dân chủ và phát triển. Chúng ta có thể kết luận là chế độ dân chủ tự do có khả năng giảm bớt tham nhũng, lãng phí, bất công xã hội. Ðó là những căn bệnh chắc chắn gây trở ngại khiến việc phát triển bị trì trệ. Ðối với người dân những nước như Việt Nam, Miến Ðiện, Bắc Hàn, thì vấn đề không phải là giữa dân chủ và phát triển phải lựa chọn lấy một, và chỉ một mà thôi. Ðó là một vấn đề giả mà các chế độ độc tài dùng làm hỏa mù gây hoang mang và che mắt dân chúng.

Hai mục tiêu đó, chúng ta phải đạt được cả hai. Phải thay đổi chính trị và kinh tế song hành và toàn diện. Không có cách lựa chọn nào khác.
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Phải biết nhục nhã hôm nay, mới có vinh quang ngày mai

Ðỗ Văn Phúc
Có lần, một người bạn Mỹ, tưởng tôi là người Tàu, đã chào tôi bằng câu chào tiếng Tàu học lóm đâu đó. Tôi bỗng thấy bất mãn, lên tiếng đính chính: Tôi là người Việt Nam, Miền Nam Việt Nam!

Bốn chữ Miền Nam Việt Nam, tôi muốn nhấn mạnh rằng tôi là người Việt của một nước Việt Nam Cộng Hòa, chứ không dính dấp gì đến nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đương thời.

Dù rằng trong thời gian chiến tranh, bọn phản chiến, báo chí truyền thông khuynh tả tại Mỹ đã gán cho chế độ miền Nam những điều xấu xa nhất, chúng ta vẫn mang niềm tự hào của một dân tộc có văn hiến, có sức sống vươn lên và có khả năng thành đạt. Những năm sau chiến tranh, với sự trưởng thành của người Việt hải ngoại, và sự lộ diện bản chất của chế độ Cộng Sản Việt Nam; người Mỹ nói riêng và thế giới nói chung, đã thay đổi rất nhiều trong cách nhìn về chế độ Cộng Hòa trước đây và chế độ Cộng Sản hiện nay.

Do đó, khi Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt phát biểu rằng ông cảm thấy nhục nhã khi ra nước ngoài mà cầm trong tay tấm thông hành của nước CHXHCN; đó là ông đã can đảm nói lên tâm tư tình cảm chung của những người Việt biết tự trọng, có nhân cách.

Thế sự có lúc thăng, lúc trầm. Quốc gia có lúc thịnh, lúc suy. Thời hưng thịnh là thời có các vị minh quân, các nhà lãnh đạo các cấp có tài đức, biết chăm lo cho an sinh của toàn dân, phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng. Nhờ đó, bên ngoài thì yên, bên trong thì ấm. Thời suy vong là thời mà các cấp lãnh đạo u mê, ích kỷ, tham tàn chỉ lo phục vụ quyền lợi cá nhân bè đảng; mà người dân lại yếu hèn không dám phản kháng đấu tranh quyết liệt. Hậu quả là bị ngoại bang chèn ép, khinh khi; đất nước bị tụt hậu nghèo đói. Người công dân phải biết ý thức từng hoàn cảnh mà có những phản ứng thích nghi cũng như quyết tâm để phục hồi.

Ðã biết ngẩng cao đầu khi đất nước vinh quang; thì cũng biết cúi đầu nhục nhã khi đất nước suy vi. Cúi đầu nhục nhã không phải là chấp nhận nó, mà phải làm sao cho thoát nỗi nhục này.

Những thời kỳ nước ta bị Tàu, Pháp đô hộ, nhục nhã trăm điều. Nhưng cha ông ta đã thấm thía nỗi nhục mà chấp nhận chiến đấu hy sinh để đất nước thoát vòng nô lệ; phục hồi quyền độc lập tự quyết, vươn lên trong cộng đồng thế giới.

Trong bài Hịch Tướng Sĩ của Ðức Trần Hưng Ðạo, và Bình Ngô Ðại Cáo của quân sư Nguyễn Trãi, hai vị anh hùng đã nêu lên nỗi nhục nhã của quan dân Việt trước sự hống hách tàn bạo của sứ nhà Nguyên (Thế kỷ 13) và nhà Minh (Thế kỷ 15) để khích động tinh thần dân tộc trong hai cuộc kháng chiến thần kỳ đánh đuổi quân Tàu xâm lăng.

Dưới sự cai trị của một tập đoàn gồm những con người kém cỏi về tri thức, khả năng; thấp kém về tư cách đạo đức, nước Việt mấy chục năm nay đã suy thoái một cách nghiêm trọng về mọi mặt. Trong tất cả các bảng xếp hạng về phát triển, văn minh, tự do dân chủ do các cơ quan quốc tế thực hiện, thì hai chữ Việt Nam lúc nào cũng đứng ở những vị trí áp chót của hơn 170 quốc gia.

Trong nước thì toàn những tin về tham nhũng, hối lộ, truy đồi về đạo đức, sa sút về giáo dục. Nhà nước Cộng Sản mấy chục năm qua chỉ biết đàn áp, cướp bóc và sa đọa. Quốc phòng thì yếu kém, chính trị thì độc tài, dựa dẫm vào quan thầy Trung Hoa, nên càng ngày càng bị bắt bí, mất đất, mất biển.

Khi các lãnh đạo nhà nước ra ngoại quốc, thì chỉ một luận điệu ăn xin rất hèn hạ. Ði đến đâu cũng thì bị đồng bào mình la ó, tẩy chay, lên án, xua đuổi.

Ngoài nước, qua các cơ quan truyền thông quốc tế, chỉ nghe đến hai chữ Việt Nam với những tin tức phóng sự đáng buồn - nói rõ hơn, ô nhục. Ngoại trừ những người Việt định cư tại hải ngoại, con dân từ trong nước Việt Nam đi ra ngoài thì bị nhà nước bán làm là lao nô, làm gái điếm, buôn lậu, trộm cắp, mánh mung. Ðã có những bản tin từ Malaysia về những đoàn du khách Việt Nam (mà hầu hết là cán bộ cộng sản hay vợ con họ) khi đến các siêu thị đã ăn cắp nhiều món hàng từ nhỏ đến lớn. Lao nô ở các nước hậu cộng sản thì mánh mung, đĩ điếm, băng đảng. Dân lao nô trốn ở lại qua các nước tư bản thì trồng, chế biến, mua bán ma túy ngay trong nhà. Phần lớn du học sinh là con cái cán bộ thì chỉ biết ăn chơi phung phí do có đồng tiền bóc lột mà cha anh họ tuồn qua.

Ngay chính người Việt hải ngoại cũng thấy xấu hổ lây.

Vậy trách chi người ngoại quốc có cái nhìn nghi ngờ, bất thiện (có thể nói là khinh khi) đối với những người đến nước họ bằng tấm thông hành của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Chỉ có những người cộng sản là không biết thấm thía nỗi nhục này, nên vẫn cứ vênh váo, khoác lác, phô trương. Giống như hình ảnh các cán binh Việt Cộng vào các thành phố miền Nam sau ngày 30 tháng 4, 1975. Chúng tôi không muốn nhắc ra đây chuyện đã xảy ra từ hơn ba mươi năm trước. Nhưng có lẽ không ai có thể quên được cái nhìn vừa thương hại vừa coi rẻ của nhân dân miền Nam trước các cán binh khoác lác, ngông nghênh, tự đắc của những người tự cho là “chiến thắng” mà thực chất thì quá thấp kém mọi mặt so với đồng bào miền Nam.

Không, người dân không xấu hổ, nhục nhã nếu chỉ vì nghèo đói, lạc hậu, kém tri thức. Vì đó là nỗi nhục của nhà cầm quyền, là hệ quả của chính sách phản động của họ. Không phải lỗi người dân.

Chỉ xấu khi không biết đó là nhục mà vẫn cứ huênh hoang. Ðây là trường hợp bọn cầm quyền.

Chỉ xấu khi biết đó là nhục mà cúi đầu chấp nhận, không một ý hướng phản kháng để đạt đến điều vinh. Ðây là trường hợp của những người dân thiếu ý thức dân tộc, thiếu lòng tự trọng.

Qua rất nhiều bài báo gửi ra từ trong nước hay các buổi tham luận trên các diễn đàn online; chúng tôi đã nghe rất nhiều thanh niên, trí thức Việt Nam trong nước đã tỏ ra vô cùng ray rứt trước hiện trạng nước nhà.

Ðức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, một người Việt Nam yêu nước có lòng tự trọng lần đầu tiên đã chính thức nói ra sự thật trước mặt nhà cầm quyền cộng sản tại Hà Nội: “Tôi cảm thấy nhục nhã khi mang tấm hộ chiếu Việt Nam” (phải được hiểu là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam).

Nỗi nhục nhã này, hoàn toàn do tội lỗi của Hồ Chí Minh và tập đoàn đảng Cộng Sản Việt Nam.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Cảm nghĩ về lá cờ
Lê Thiên
Mới ngày nào chúng ta cùng vui xuân Canh Dần! Bây giờ lại sửa soạn đón xuân Tân Mão!
Xin được có đôi cảm nghĩ về Cờ Vàng ba sọc đỏ trong các sinh hoạt của người Việt tị nạn tại hải ngoại vào các dịp sinh hoạt lễ hội truyền thống nói trên.
Mỗi năm vào dịp Tết Nguyên Đán, không phải chỉ người Việt Nam trong nước, mà người Việt hải ngoại khắp năm châu cũng háo hức mừng Xuân dân tộc! Cái Tết cổ truyền rực rỡ làm sao! Mà cũng thân thương làm sao! Nào bánh tét, bánh chưng! Nào củ cải dưa hành! Chén tạc chén thù! Rộn ràng câu chúc tụng! Rồi Hội chợ, Múa lân, Văn nghệ! Nhộn nhịp vui vẻ! Tín đồ các tôn giáo vui xuân không quên Chúa, Phật, Nhà thờ, Nhà chùa để cầu nguyện tạ ơn và cầu cho quốc thái dân an…
Tuy nhiên, đằng sau niềm vui ngày hội tụ cổ truyền dân tộc đầy ý nghĩa ấy dường như thấp thoáng những giọt nước mắt không muốn chảy mà vẫn cứ tuôn! Khóc tủi cho kiếp lưu đày! Khóc thương cho những tình cảm thiêng liêng vỡ vụn! Đau đớn làm sao trước bao nghịch cảnh của mảnh đời tị nạn!
Lá Cờ Vàng ba sọc đỏ đã từng dong ruổi theo từng bước chân người tị nạn trôi nổi đó đây, từng một thời được nâng niu trân trọng, nay dường như đang rơi vào hiện tượng bị ruồng rẫy hắt hủi một cách thảm hại bởi một thiểu số cũng đã từng trốn chạy hay ít ra là thành viên của gia đình hay gia tộc những người tị nạn chính danh, được sự che chở bảo bọc để có mặt trên những quốc gia tạm dung hôm nay.
Điều nghịch lý trớ trêu là trong khi tại nhiều các quốc gia người Việt Nam đang tạm dung, Cờ Vàng ba sọc đỏ được chính thức công nhân ít ra ở cấp tiểu bang, tỉnh thành hay thành phố thì trong nội bộ Cộng đồng Việt Nam lại có dấu hiện nổi lên một phong trào dẫn dắt người khác “quên lãng” hoặc xa lánh lá cờ ấy.
Cả một vài người khi nắm được chút quyền bính trong một khu vực nào đó cũng tìm cách loại trừ Cờ Vàng ba sọc đỏ ra khỏi vùng ảnh hưởng của mình. Hoặc cũng có một số cá nhân vì tư lợi đang tìm cách tác động người khác vô hiệu hóa sự hiện diện của Cờ vàng ba sọc đỏ ở một số nơi sinh hoạt của tập thể người Việt mà phần lớn là người Việt tị nạn Cộng sản, đặc biệt là tại các cơ sở tôn giáo.
Dĩ nhiên, những người chống sự có mặt của Cờ Vàng có nhiều lý lẽ để biện minh cho thái độ của mình mà có người gọi là thái độ “trở cờ”. Nhưng dù với bất cứ lý do gì, việc đối xử phũ phàng với lá Cờ Vàng ba sọc đỏ là một xúc phạm nặng nề tới tình cảm thiêng liêng của khối đa số người Việt hải ngoại là những người tị nạn Cộng sản.
Thống kê cho thấy hiện nay trên thế giới có khoảng 2 triệu người Việt sống tại Hoa Kỳ, Canada, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan, Pháp. Đức, Anh, Bỉ, Thụy Sĩ, Na Uy, Hòa Lan, Nhật... Trong số 2 triệu người Việt này, có hơn 90 phần trăm là thành phần được các quốc gia trên nhìn nhận tư cách tị nạn Cộng sản.
Ai cũng biết người tị nạn là những người quốc gia Việt Nam phụng sự Tổ Quốc Việt Nam dưới ngọn Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ chống lại chủ nghĩa vô thần và chế độ Cộng sản bạo tàn! Đặc tính di dân của người Việt hải ngoại là TỊ NẠN CỘNG SẢN chứ không phải vì lý do kinh tế hay vì mục đích nào khác. Là tị nạn Cộng sản, người tị nạn đương nhiên ĐỐI LẬP (chưa nói tới đối đầu hay đói kháng) với chế độ đang cầm quyền trên đất nước mình. Người tị nạn tất nhiên không thể nào chấp nhận cờ đỏ sao vàng của chế độ sắt máu mà họ đối lập.
Người CSVN trên thực tế chỉ biết phụng sự cho quyền lợi Cộng sản Quốc tế và hoàn toàn làm theo lệnh của Nga Cộng và Tàu Cộng, sát hại tàn nhẫn người đồng bào đồng loại. Họ dương cao cờ đỏ búa liềm và tung hê “Chủ nghĩa Mác-Lênin bách chiến bách thắng.” Cờ đỏ sao vàng chỉ rập khuôn cờ đỏ búa liềm và chịu sự thống lĩnh của cờ búa liềm ấy! Do tính chất lệ thuộc toàn diện của nó đối với cờ đảng, cờ đỏ sao vàng không thể nào được coi là biểu tượng của Tổ quốc, nên trong thực tế, cờ đỏ sao vàng không có tư cách đại diện cho dân tộc Việt Nam, ngay ở trong nước, nói chi tại hải ngoại. Chẳng những lệ thuộc cờ đảng CS, cờ đỏ sao vàng còn lệ thuộc cờ đỏ nhiều sao vàng của Trung cộng. Việt Nam bị đảng CSVN biến thành “tiểu tinh” CHƯ HẦU trong 4 tiểu tinh thuộc quốc chầu quanh Đại Hán Đỏ.


Trung cộng Việt cộng Cộng đảng

Cờ đỏ sao vàng có được trưng bày đâu đó ngoài Việt Nam, tại một quốc gia hay ở một số trụ sở tổ chức quốc tế thì nó cũng chỉ là biểu tượng của chế độ khai sinh ra nó, chứ không hề mang tính dân tộc. Cũng giống một Chủ tịch nước của Việt Nam Cộng sản từ trước đến nay chỉ là một thứ bù nhìn làm cảnh chứ không hề nắm lấy quyền lực quốc gia vì trong thực tế mọi quyền lực trị nước đều thuộc về Đảng dưới chế độ Đảng trị!
Trong khi đó dưới chế độ quốc gia lấy dân tộc làm chủ nghĩa, Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ không hề bị chi phối hay lũng đoạn bởi một phe phái chính trị hay chính đảng nào. Cờ Vàng ba Sọc đỏ vững vàng liên tục dưới ba thể chế (Quốc Gia của Bảo Đạo, Việt Nam Cộng Hòa I của TT Ngô Đình Diệm và VNCH II thời các tướng lãnh nắm quyền). Thế nên Cờ Vàng là cờ của chính nghĩa, là biểu tượng của quốc gia và dân tộc.
Ngoài ra, người Việt Nam quốc gia có lý do đầy thuyết phục để mà trung thành với Cờ Vàng ba sọc đỏ. Lá cờ này là biểu tượng thiêng liêng của họ trải qua nhiều giai đoạn lịch sử và lưu truyền từ nhiều thế hệ khác nhau. Người Việt quốc gia chiến đấu dưới ngọn cờ vàng này để giành độc lập từ tay thực dân Pháp. Hàng vạn người liều chế để bảo vệ lá cờ này.
Lá Cờ Vàng ba sọc đỏ cũng theo chân người Việt quốc gia chống lại Cộng sản vô thần khát máu trên mọi chiến tuyến hay chiến hào. Những người Việt Miền Nam Việt Nam còn sống đến hôm nay là nhờ các Chiến sĩ quốc gia đã hy sinh dưới lá cờ chính nghĩa này để bảo vệ họ.
Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ cũng hòa chung cuộc vật lộn của người Việt quốc gia đi tìm Tự do, dân chủ, nhân quyền trên những mãnh đất tạm dung họ đã lựa chọn. Người Việt quốc gia tị nạn mang Cờ vàng theo mình, lấy Cờ Vàng làm bảo vật thiêng liêng của cuộc sống lưu đày.
Đó KHÔNG PHẢI LÀ THÓI ĐỜI!
Mà đó là tình cảm thiêng liêng cao quý đáng được trân trọng!
Đúng! “Cờ Vàng là CĂN CƯỚC của người Việt tị nạn” như một số người đã minh thị.
Ai không ưa Cờ Vàng ba sọc đỏ, người ấy có cái quyền riêng tư của mình. Nhưng phỉ báng Cờ vàng ba sọc đỏ bằng lời nói hay hành động hoặc tìm cách loại trừ nó là sự cố tình gây chia rẽ trong hàng ngũ người tị nạn ở hải ngoại, là đấm vào mặt, đâm vào tim những người đang trân trọng lá Cờ thiêng liêng ấy.
Người Việt nào tìm cách ngăn chặn hay xua đuổi sự hiện diện của Cờ Vàng tại bất cứ cuộc sinh hoạt hay lễ hội nào của người Việt tị nạn cùng con cháu họ, có lẽ đừng nên có mặt trong tập thể người Việt tị nạn ở hải ngoại, trừ phi Đảng CS từ trong nước “”cài đặt” họ len lỏi làm công tác tuyên vận, đặc biệt là “kiều vận” và “kỳ vận” xâm nhập để quấy rối hàng ngũ người tị nạn.
Giả sử người Việt tị nạn CS tại hải ngoại chấp nhận để cho cờ đỏ sao vàng hiện diện trong các sinh hoạt lễ hội này thì hóa ra người tị nạn đã tự mình xé bỏ căn cước của mình? Dứt khoát không bao giờ xảy ra chuyện xoay chiều đổi hướng trái khuấy vô liêm sỉ như vậy.
Nhưng dù sao CSVN cũng đang mở cờ trước hiện trạng chia rẽ trong Cộng đồng người Việt tị nạn khiến có người dựa vào đó để loại trừ Cờ vàng với chiêu bài “phi chính trị” nhân danh xã hội/tôn giáo không “làm chính trị,” để không Cờ Vàng vắng bong trong một số sinh hoạt của Cộng đồng người Việt tị nạn tại hải ngoại.
Cán bộ CSVN sẽ vỗ tay reo mừng biết mấy khi thấy trong các sinh hoạt lễ hội của người Việt tị nạn tại hải ngoại không còn bóng Cờ Vàng. Dĩ nhiên, họ sẽ nhảy cẩng lên tuyên truyền rằng người tị nạn “vong quốc” vì từ chối bất cứ lá cờ nào biểu thị tinh thần quốc gia, trong khi các thành phần di dân khác như người Ý, người Ái Nhĩ Lan, người Haiti, người Nigeria… ở Mỹ lúc nào cũng dương cao ngọn cờ thiêng liêng của dân tộc họ.
Nếu người Việt hải ngoại từ chối trương Cờ Vàng ba sọc đỏ trong các sinh hoạt lớn của mình thì tức là tự xóa bỏ chính nghĩa quốc gia, chối từ cội nguồn dân tộc máu đỏ da vàng Nam-Trung-Bắc một nhà, và cũng đánh mất luôn lý tưởng đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền trên quê hương mình. Mất Cờ vàng, chúng ta và con cháu chúng ta sẽ đánh mất tình yêu đối với Tổ quốc và dân tộc mình.
Vì vậy, bằng mọi giá, người tị nạn Cộng sản ở hải ngoại kiên quyết bảo vệ đến cùng màu cờ sắc áo của mình: Màu cờ chính nghĩa quốc gia và sắc áo lý tưởng dân tộc!
Sự tàn ác của chế độ CS trên đất nước Việt Nam đã và hiện vẫn còn đang làm cho nhân dân trong nước khiếp sợ. Từ đó, người dân càng hãi hùng khi nhìn thấy bóng dáng cờ đỏ sao vàng. Những vần thơ sau đây mà nhà thơ Trần Dần đã viết ra vào năm 1956 ngay tại Hà Nội, thủ đô của nước VNDCH, hiện vẫn còn giá trị tại Việt Nam là một bằng chứng cụ thể:
Tôi bước đi
Không thấy phố
không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
trên màu cờ đỏ.


Trần Dần đã bị tù tội và hành hạ suốt đời, mất quyền làm nhà văn, mất quyền công dân và mất cả quyền làm người vì những dòng thơ trên. Và ngày nay, người dân trong nước chẳng những đồng cảm mà còn hân hoan chia sẻ biểu đồng tình với những dòng thơ bất hủ ấy.
Trong khi đó, nhà văn Chương Khuê, lại có những dòng văn súc tích trân trọng đối với Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ mà đọc lên người Việt tị nạn ở hải ngoại ai cũng cảm thấy ngậm ngùi:
“Cờ Vàng ba sọc đỏ.
Cờ đã quen ta từ những ‘ngày xưa còn bé’ sáng sáng nơi sân trường vang vang ‘Này công dân ơi …’ ;
Cờ thân thương gần gụi vờn hôn lên mặt lão trong toán Quốc Quân Kỳ những dịp diễn hành lễ trên Đồi 4100 Thủ Đức.
Cờ phất phới chào mừng những đoàn quân chiến thắng trở về .
Cờ tung bay ngạo nghễ trên cổ thành Quảng Trị…” (Chương Khuê: Hai người cựu chiến binh. Bacaytruc 11/112010).
Đối nghịch với cờ đỏ sao vàng, Cờ Vàng ba sọc đỏ gieo vào lòng người Việt quốc gia những ấn tượng hết sức thân thương:
Cờ vẩy gọi.
Cờ đón chào.
Cờ vinh danh.
Cờ reo vui .
Cờ ngậm ngùi thương tiếc… (Chương Khuê, như trên).
Nhưng thảm thương thay: Cờ bị xỉ nhục, phanh thây … (Chương Khuê, như trên).
Vâng! Cờ Vàng ba sọc đỏ đã bị Cộng sản hạ nhục và phanh thây trong nước sau Tháng Tư Đen 1975, nhưng Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ đã hồi sinh cùng đoàn lữ hành người Việt tìm đất dung thân nơi hải ngoại, tưởng đâu yên ổn nơi đất khách quê người, hóa ra bây giờ đang bị một số người âm mưu ám hại và… “phanh thây” trong sinh hoạt xã hội-tôn giáo của Cộng đồng!
Cầu mong sao Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ không bị xua đuổi tàn nhẫn ra khỏi các nhà thờ, nhà chùa người Việt lưu vong! Các Cha, các Thầy chẳng phải là người tị nạn sao? Hoặc ít ra các ngài cũng là con cái, cháu chắt hay thân bằng quyến thuộc của người tị nạn hay của những người đã hy sinh dưới ngọn Cờ vàng?
Mong đừng ai tàn nhẫn xử tệ với Cờ Vàng trong các sinh hoạt Cộng đồng! Mong những người tị nạn hay những ai được người tị nạn đón nhận để có mặt ở hải noại này đừng vì “chủ nghĩa duy lợi” (cách nói của Lm Nguyễn Thái) mà phụ bạc Cờ Vàng, phụ bạc những Chiến sĩ quốc gia đã hy sinh vì lý tưởng Cờ Vàng để gìn giữ chúng ta tồn tại tới hôm nay! Như vậy mới thực là uống nước nhớ nguồn! Mới thực là ăn cây nào rào cây nấy! Không ăn cháo đá bát!
Xin cúi đầu thán phục và bày tỏ lòng cảm mến sâu xa đối với linh mục Nguyễn Thái về bài giảng của ngài “Tai hại của chủ nghĩa duy lợi” ngày 12/11/2010 trong Thánh lễ tại Nam Cali cầu hồn cho Gioan Baotixita Ngô Đình Diệm và bào đệ Giacôbê Ngô Đình Nhu cùng các Chiến sĩ VNCH đã hy sinh vì Tổ quốc, Dân tộc và cho sự sống còn của chúng ta. Bài giảng của lm Thái thâm thúy và sâu. Tuy nhiên, để kết thúc bài viết, chỉ xin mượn một đoạn ngắn rút ra từ bài giảng của Cha Thái sau đây:
“Trong ngày tuởng niệm và cầu nguyện cho cố TT Gioan Baotixita Ngô Ðình Diệm, bào đệ Giacôbê Ngô Ðình Nhu, và các chiến sĩ VNCH, chúng ta hãy tri ân tinh thần phục vụ vô vị lợi, sự hy sinh to lớn và cao cả của các ngài cho quê hương đất nuớc.
Ðồng thời, chúng ta cũng phải noi gương các ngài mà vượt qua các tư lợi, các dị biệt, các hàng rào chia rẽ mà đoàn kết, yêu thương, biết tôn trọng nhân phẩm và các giá trị đạo đức của con người, biết đối xử tử tế với nhau, biết phục vụ lẫn nhau.”
Tất cả chúng ta, người tị nạn CSVN tại hải ngoại cùng chung lòng chung sức dưới một ngọn cờ: Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ. Chỉ có lá cờ này có tư cách đại diện ba miền Nam-Trung-Bắc, là Cờ của chính nghĩa, của Dân tộc và Tổ quốc Việt Nam thân yêu. Xua đuổi cờ này chỉ là việc làm của một số tay sai Cộng sản hoặc là của thành phần vô liêm sỉ chạy theo "CHỦ NGHĨA DUY LỢI” mà thôi.
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Ghế thủ tướng của ông Dũng lung lay?

Image
Ông Nguyễn Tấn Dũng đang chịu nhiều sức ép trước Đại hội XI của ĐCSVN
Giáo sư chuyên nghiên cứu Việt Nam hàng đầu của Úc, Carl Thayer, vừa lên tiếng bình luận rằng sự nghiệp chính trị của Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đang lung lay.

Ông Thayer, người từng cho rằng ông Dũng ra lệnh chấn chỉnh Vinashin như một đòn chặn trước các cuộc tấn công, nay nói đang tồn tại âm mưu có phối hợp nhằm đẩy ông Dũng ra khỏi vị trí thủ tướng tại Đại hội XI của Đảng Cộng sản vào tháng Một năm 2011.

Trong tài liệu tư vấn mới được công bố, ông Thayer viết:

“Giờ đã có vẻ rõ ràng rằng nếu ông Dũng có tham vọng trở thành tổng bí thư đảng, ông đã bị bỏ lại sau.

“Hiện nay vị trí thủ tướng của ông cũng bị đe dọa.

“Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương ĐCSVN tới đây sẽ quyết định vấn đề này nhưng có dấu hiệu cho thấy nếu các đại biểu không hài lòng về mức độ trừng trị đối với ông Dũng, vị trí thủ tướng vẫn có thể gặp nguy khi các đại biểu bỏ phiếu ở Đại hội Đảng.”

‘Dập tắt bất đồng‘

Ông Nguyễn Tấn Dũng, người tháng này tròn 61 tuổi, chịu nhiều sức ép trong những tháng gần đây vì sự ủng hộ của ông cho việc khai thác bauxite và chủ trương xây dựng các tập đoàn lớn như Vinashin.

Thậm chí Đại biểu Quốc hội Nguyễn Minh Thuyết còn đòi Quốc hội điều tra và bỏ phiếu tín nhiệm đối với ông Dũng và những bộ trưởng có liên quan trong vụ bauxite.

Sự bức xúc của ông Dũng trước những sức ép này được thể hiện qua một loạt bài đăng trên trang web chính thức của chính phủ chỉ trích mạnh mẽ ông Nguyễn Minh Thuyết mặc dù không nêu tên ông.

Những chỉ trích này cũng ngay lập tức bị một số chuyên gia coi là biểu hiện của sự muốn “độc quyền chân lý” và “không nhìn thẳng vào sự thật”.

Liên quan tới Đại hội Đảng Cộng sản sắp tới, ông Carl Thayer nói ông nhận thấy các tài liệu chính của Đảng Cộng sản chuẩn bị cho đại hội sắp tới vẫn tiếp tục nhắc tới “các lực lượng thù địch” và “diễn biến hòa bình”.

Ông Thayer nói có hai “lực lượng” đứng đằng sau các vụ bắt giữ những người bất đồng chính kiến gần đây ở Việt Nam – “khối công an và những đồng minh ý thức hệ của họ, và những người không muốn quan hệ với Trung Quốc bị tổn hại.”

“Luật sư Cù Huy Hà Vũ là trường hợp đặc biệt – các cuộc tấn công của ông nhắm vào vị thủ tướng tăng sức mạnh cho những người muốn đẩy ông Dũng ra khỏi vị trí hiện nay.

“Nhưng trên hết vẫn là mong muốn dập tắt tất cả những bất đồng từ bên ngoài giới chóp bu.”

Tổng Bí thư

Giáo sư Thayer cũng nói “có rất nhiều người đồn đại rằng ông Nguyễn Phú Trọng được ủng hộ nhiều hơn để trở thành tổng bí thư kế tiếp một phần vì ông được Trung Quốc chấp nhận.”

Nhưng điều này còn phụ thuộc việc Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị quyết định đồng ý để ông Trọng, năm nay 66 tuổi, ở lại Bộ Chính trị mặc dù đã qua tuổi 65, tuổi về hưu theo quy định.

Còn về ghế thủ tướng của ông Nguyễn Tấn Dũng, ông Thayer cũng nói một nhân vật khác được cho là đang muốn thay chức này là Ủy viên Bộ Chính trị Trương Tấn Sang.

Chuyên gia Việt Nam học người Úc nói, “giải an ủi” cho ông Sang, nếu ông không thể ngồi vào ghế thủ tướng, có thể là chức chủ tịch nước.

Giáo sư Thayer cũng nhận định Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng của Trung Quốc và mặc dù họ đã không còn mời các đoàn đại biểu nước ngoài tới dự đại hội từ năm 2006, ông Nông Đức Mạnh đã thăm Trung Quốc trước tiên sau khi đắc cử.

Nguồn: BBC
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Cần tự do thanh nghị

Ngô Nhân Dụng
Ở nước ta đời xưa, có một truyền thống gọi là Danh Giáo, hoặc thanh nghị, tức là các nhà Nho bình phẩm các hành vi, lời nói của người trong xóm làng, có khi bàn đến cả việc chung cả nước.

Phan Khôi đã nêu lên hiện tượng này trong một loạt bài phê bình Khổng Giáo rất gắt gao, trong nhiều số báo Thần Chung xuất bản tại Sài Gòn năm 1929.

Mục đích của cụ Phan Khôi là bài bác ảnh hưởng Nho giáo trong thời kỳ nước Việt Nam đang cần canh tân. Là một đã học đạo Nho từ nhỏ lớn lên, Phan Khôi tấn công vào những thuyết như “minh đức tân dân” (Sách Ðại Học), thuyết “trung dung,” tư tưởng mà ông gọi là “chủ nghĩa làm quan,” tinh thần coi khinh nhà nông, mà Phan Khôi cho là “trong Khổng giáo mà có ảnh hưởng xấu ở xã hội ta.” Nhưng Phan Khôi cũng thấy một điều tốt do Khổng Giáo tạo nên, mặc dù không hoàn hảo, là công việc Thanh nghị mà các nhà Nho thi hành giúp cho đạo lý xã hội. Thanh nghị, nói cách khác là “bao biếm,” Phan Khôi giải nghĩa Bao là khen và Biếm là Chê, bây giờ chúng ta gọi là dư luận.

Trong làng xã Việt Nam đời xưa, có một loại “hội tư” rất có ảnh hưởng trên xã hội là các Hội Tư Văn gồm các nhà khoa bảng và các nhà Nho khác trong làng. Nơi sinh hoạt của giới này là Văn Chỉ hoặc Văn Từ, nơi thờ Khổng Tử và các vị tiên hiền trong nước và trong làng. Trường học trong các làng đều là những “trường tư thục” do một ông đồ đứng làm chủ. Từ đó cũng sinh ra một hình thức “hội tư” gọi là “hội đồng môn” tập họp các học trò của ông đồ này. Sau khi ông thầy qua đời, hội đồng môn vẫn còn tiếp tục sinh hoạt để lo việc giỗ thầy, cho tới khi nào những người học trò cuối cùng qua đời mới chấm dứt. Hội Tư Văn và các Hội Ðồng Môn là nơi các nhà Nho bàn việc thanh nghị.

Phan Khôi viết: “Trên nền Khổng giáo ở nước Nam ta có những tư văn, văn chỉ, ấy là những cái cơ quan để phê bình xã hội theo như cái ý nghĩa của sách Xuân Thu.” Phan Khôi đã tóm lược quan điểm của Khổng Tử dùng Kinh Xuân Thu để phê phán các nhân vật lịch sử thời đó: “Sách Xuân Thu cốt để bao biếm. Bao, nghĩa là khen những điều phải; biếm, nghĩa là chê những điều quấy. Có vì tiên nho tán dương cái nghĩa bao biếm của sách Xuân Thu mà rằng: “Ngài khen cho một chữ là vinh hơn áo mão của nhà vua ban cho ; ngài chê cho một chữ là nghiêm hơn dùng búa rìu mà giết.”

Trong thời Pháp thuộc, Phan Khôi nhận xét, các tổ chức “Hội Tư Văn” trong làng bị xuống thấp vì bị chính quyền coi rẻ, các nhà Nho chỉ còn họp nhau “ăn thịt uống rượu” mà thôi. Nhưng, Phan Khôi viết: “Trước kia thì chính các hội ấy đã làm giềng mối, chủ trương cả dư luận trong xã hội. Mỗi một phủ huyện nào cũng đều có hội Văn Chỉ, mỗi một ông thầy dạy học lâu năm và đông học trò thì có hội Ðồng Môn. Những hội ấy rất có thế lực ở dân gian; người ta quen gọi là cái nền ‘danh giáo’ hay là cái cơ quan thanh nghị.’ Chẳng những người trong hội, cho đến người thường ở ngoài nữa, nếu có làm một việc gì phạm tới luân lý, trái với đạo đức thì không thể nào tránh khỏi sự công kích của hội hoặc trực tiếp hay gián tiếp. Có khi một việc trái phép mới xảy ra, pháp luật của nhà nước chưa hỏi đến, mà chính người thủ phạm trong việc ấy đã bị ‘thanh nghị’ làm cho sỉ nhục mà phải hối cải hơn là bị hình phạt. Bởi vậy cũng có khi, ở dân gian, người ta đem những việc bất bình mà cáo với các hội ấy, chớ không cáo với quan.”

Hiện tượng người dân đem những “việc bất bình” nói cho các hội tư văn hoặc hội đồng môn, chứ không “cáo” cho các quan lại, cho thấy bên cạnh “guồng máy tư pháp chính thức” có một mạng lưới lo việc phê bình, can ngăn những việc xấu do tư nhân đảm nhiệm, mà ảnh hưởng có thể mạnh hơn cả hệ thống tư pháp công cộng!

Vai trò của giới trí thức làng xã trong việc bảo vệ đạo lý, và có khi bảo vệ cả luật pháp ở trong làng cho thấy xã hội dân gian nước ta có một “không gian tư” làm các công việc mà ngày nay người ta thường coi là thuộc phạm vi của nhà nước. Những “phán quyết” của các hội tư này có giá trị tâm lý mạnh và lâu dài hơn bộ máy tư pháp chính thức, và mối ràng buộc của các phê phán đó đối với mọi người có thể còn mạnh hơn cả các tôn giáo.

Vì theo Phan Khôi: “Hồi xưa người ta sợ ‘thanh nghị’ lắm, sợ đắc tội với ‘danh giáo’ lắm, hơn là sợ tù tội nữa. Bởi vì cái nhục của tù tội còn có chừng, lại có khi theo vua thì bị tù tội, song đối với công chúng lại được khoan thứ; chớ còn đã bị ‘thanh nghị’ công kích, đã bị ‘danh giáo’ loại ra, thì gần như là không còn mặt nào trông thấy ai, không còn biết ở đời với ai, chỉ có nước vạch đất ra mà chui xuống! Cho nên lúc bấy giờ, từ hàng tấn thân cho đến hạng dân dã, ít kẻ dám công nhiên làm bậy như ngày nay.” Xin chú ý, hai chữ Ngày Nay ở đây là vào đầu thế kỷ trước. Khi nghĩ đến xã hội Việt Nam vào đầu thế kỷ 21, cảnh “công nhiên làm bậy” còn tiến thêm nhiều bước nữa!

Vai trò “thanh nghị” của giới Nho sĩ trong làng xã Việt Nam, khi dùng lời phê phán khiến người phạm lỗi “chỉ có nước vạch đất ra mà chui xuống” cũng giống như tập tục trong đô thị Athena ở Hy Lạp thời cổ, gọi là “Ostracism” (Εξωστρακισμός).Một công dân tại Athena có thể bị “trục xuất” một thời gian, không cho ở trong thành phố nữa. Quyết định này không theo những thủ tục tư pháp bình thường. Ostracism không phải là một hình phạt của tòa án, không có bên công tố và bên bào chữa. Tất cả chỉ là quyết định chung của các công dân để trừng phạt tạm thời một người. Mà không phải ai ở thành phố Athena cũng có quyền công dân, họ chỉ là một thiểu số trong tất cả dân cư, giống như các nhà Nho trong một địa phương. Hành động Thanh nghị trong làng xã nước ta nhằm bảo vệ Danh Giáo, không đưa tới việc trục xuất ai ra khỏi làng, mà chỉ tạo áp lực xã hội trên người làm điều xấu. Nhưng hình phạt tâm lý này còn nặng hơn việc trục xuất thật.

Công việc thanh nghị đó, Phan Khôi thấy là do các nhà Nho muốn tiếp nối công việc “bao biếm” của Kinh Xuân Thu mà Khổng Tử biên soạn. Ông viết: “Sự khen chê của sách Xuân Thu là suốt từ việc lớn cho chí việc nhỏ. Ðây nói những việc lớn: Ai giúp kẻ yếu, chống kẻ mạnh, cứu những nước bị tai nạn, phò những nước bị diệt vong, ấy là được khen (Bao), còn những nước chiến tranh nhau, hoặc dùng mưu kế mà khi trá nhau, cùng những con giặc, tôi loàn, và những kẻ phản quốc, thờ quân thù nghịch, thì bị chê. Nói tóm lại, phàm việc gì hại đến cuộc hòa bình của xã hội là bị chê (Biếm).”

Phan Khôi nhận xét: “Tuy vậy, xét kỹ lại thì cái hiệu nghiệm của sách Xuân Thu, bên khen không có quan hệ lắm bằng bên chê.” Trong hiện tượng “thanh nghị” ở các làng xóm cũng vậy; lời phê phán của các nhà Nho giúp ngăn ngừa những cái xấu trong xã hội, ảnh hưởng đó hữu ích hơn việc khen ngợi; vì những ai đáng khen ngợi thì “cả làng” đã biết rồi.

Phan Khôi đã mô tả ảnh hưởng của vai trò thanh nghị qua những câu chuyện cụ thể, thí dụ nhờ thanh nghị mà đời xưa người Việt Nam ít mắc ghiền ma túy. Ông viết: “Tôi xin cử ra đây một sự cấm hút thuốc phiện. Ðời Tự Ðức, khi chưa hòa với Pháp về trước, triều đình ta vẫn cấm nhân dân hút thuốc phiện. Trong sự cấm ấy, phép vua tuy nghiêm mà cũng không bằng các hội Văn Chỉ và Ðồng Môn. Tôi chưa kịp thấy, nhưng nghe các ông già nói lại rằng lúc bấy giờ thuốc phiện dầu nhiều và rẻ mà ít ai dám hút, nhứt là những người có học, không sợ hình phạt là mấy, nhưng sợ rủi bị hội Văn Chỉ hoặc hội Ðồng Môn ngoại ra thì khốn.”

Phan Khôi đã kể những câu chuyện thời đầu thế kỷ 20 ở nước ta để so sánh: “Ta thử đem việc ấy so với hai việc sau nầy. Ở gần miền tôi có một người vô đạo mà ghiền thuốc phiện. Ông cố (tức là vị linh mục) bắt xưng tội ấy thì anh ta không chịu xưng, nói rằng hút thuốc phiện không phạm vào mười điều răn của Chúa. Lại khi ở Hà Nội, tôi có gặp một ông thầy tu cũng hút. Tôi hỏi chớ thầy không sợ phạm giới sao. Ông ta trả lời rằng trong ngũ giới của Phật vẫn không cấm điều nầy, mà có lẽ hút á phiện thì tiệt được sự sắc dục, lại là có ích cho người tu hành nữa vậy! Coi đó thì thấy rằng cũng đồng một sự cấm hút á phiện mà một bên nói rằng hút thì hư nhân cách, làm cho người ta dễ nghe hơn là bên kia nói rằng hút thì ‘trái ý Chúa’ hay là ‘mang tội cùng Phật’ vậy.”

Khi bị thanh nghị chê bai, một người dân làng cảm thấy “hư nhân cách,” cũng giống như bây giờ chúng ta gọi là bị “mang tiếng.” Qua hai thí dụ trên, Phan Khôi cho thấy mối lo sợ bị mang tiếng “hư nhân cách” có tác dụng mạnh hơn cả những lời răn của các tôn giáo.

Phan Khôi viết cả một loạt bài công kích ảnh hưởng của Nho giáo, nhưng vẫn coi vai trò thanh nghị của các nhà Nho trong xã hội là rất đáng quý. Công việc thanh nghị dần dần không bị giới hạn trong đám Nho sĩ nữa mà đã lan rộng ra toàn dân, có thể gọi là một quá trình “dân chủ hóa” hoặc “đại chúng hóa.” Chính Phan Khôi mô tả: “Ngày nay dầu các hội nói trên kia không còn gì, cái thế lực của “thanh nghị” không có tỏ bày ra như trước, nhưng tôi nói rồi, nó đã bám vào trong lòng mọi người, thì không có bao giờ mất đi được, điều ấy khỏi lo.”

Phan Khôi kể: “Trong khoảng 5- 7 mươi năm nay, những người nào tỏ ra là bất trung với bổn quốc, hãm hại đồng bào, thì bị người ta chửi mắng nhiếc móc riêng với nhau.” Ðó là công việc thanh nghị do người dân phụ trách, không cần đợi giới Nho sĩ. Phan Khôi nêu mấy thí dụ: “Ở Bắc kỳ, có những sanh phần sanh từ của mấy ông quan to bị người ta đề thơ mà chửi bới, hay là đem đồ ô uế mà ném vào, cùng là lén mà phá cho hư đi. Lại có những người tuy chưa làm ra việc chi đáng trách, chỉ mới nói một vài câu chi đó mà thôi, cũng đã bị cáo là ‘bán nước dối dân,’ rất là khó chịu.”

Một giới người bị công luận chê bai nhất là những tên công an làm tay sai cho chế độ thực dân. Phan Khôi khẳng định: “Một vạn cái lòng (người) An Nam (sic) chẳng có cái nào là chẳng ghét những người làm mật thám, tức Nam kỳ kêu bằng lính kín.” Phan Khôi không có thành kiến với giới công an; nếu họ làm đúng bổn phận lo việc an ninh chung. Ông viết: “Mật thám ở các nước văn minh là những người có phần trong sự giữ cuộc trị an cho xã hội, song theo cái tình thế riêng ở xứ ta lại khác, cho nên người ta ghét cũng phải!” Sang thế kỷ 21 rồi, những ý kiến đó vẫn còn đúng!

Cụ Phan Khôi kể ngay một kinh nghiệm bản thân, có một thời gian cụ bị người ta phao tin đồn làm tay sai cho Pháp: “Trong khoảng 4-5 năm nay, có nhiều người khi không mà bị nghi là mật thám. Tôi cũng là một người trong đám ấy.” Hậu quả là “tôi đi đến đâu, người ta chào sơ qua rồi thôi, ít hỏi han chi. Nếu là chỗ đông người thì họ lấy mắt ngó nhau, dường như bảo phải giữ mình... chẳng khác nào giữ một đứa kẻ cắp. Ngoài sự giữ gìn ấy họ lại còn hằm hằm mà tỏ ra dáng khinh bỉ... lại có được thơ nặc danh gởi đến luôn luôn (cho tôi), cái thì khuyên tôi cải ác tùng thiện, cái thì chửi tôi tàn tệ.”

Bị nghi oan, bản thân bị thiệt hại, nhưng Phan Khôi lại vui mừng vì thấy công luận vẫn đóng vai trò thanh nghị: “Tôi chịu những điều đoán phạt oan ức ấy mà lại lấy làm vui lòng, vì nội đó cũng đủ chứng rõ cái lòng ái quốc và cái đức chánh trực của dân tộc Việt Nam.” Ông viết tiếp: “Dân tộc ta mà sau này có ngày cất đầu lên được, là nhờ ở chỗ đó. Chỗ đó, ta phải cảm ơn Khổng giáo, ta phải nhận rõ ràng là sự ban tứ của sách Xuân Thu.”

Bây giờ là đầu thế kỷ 21, khi coi lại những lời Phan Khôi viết hơn 80 năm trước, chúng ta vẫn ngậm ngùi khi đọc câu: “Dân tộc ta mà sau này có ngày cất đầu lên được, là nhờ ở chỗ đó.”

“Chỗ đó” mà Phan Khôi nói trên đây là cái quyền thanh nghị của giới trí thức và mọi người dân trong xã hội. “Chỗ đó” không là luật pháp thành văn nhưng là một quyền mặc nhiên được công nhận trong “hợp đồng xã hội” của người Việt Nam chúng ta trong hàng ngàn năm lịch sử.

Khi người Việt Nam bắt đầu nghĩ đến công cuộc duy tân thì công tác thanh nghị bảo tồn danh giáo trên đây sẽ còn hay không? Xã hội đã biến chuyển, tiến bộ, nhiều thứ quyền mặc nhiên phải được chính thức hóa, phải trở thành minh bạch, công khai. Phong tục cổ truyền đã được thay thế bằng một thứ quyền hiến định do luật pháp bảo vệ, là quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Nếu chế độ không thi hành đầy đủ các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí thì nước ta đã bỏ mất một định chế cổ truyền, là thanh nghị. Nhiều người bênh vực chế độ độc tài cứ nói rằng các quyền tự do này là sản phẩm của văn hóa tây phương, không thích hợp với truyền thống Á Ðông. Ðọc Phan Khôi, chúng ta thấy thực ra việc tôn trọng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí chính là theo một truyền thống của dân tộc!

Trong lúc nhà nước cộng sản chiếm độc quyền làm công việc truyền thông, giới trí thức nước ta, những nhà Nho mới vẫn tiếp tục công tác thanh nghị trên các mạng lưới. Mạng lưới Bô xít Việt Nam là một cơ quan thanh nghị. Các người chủ trương những mạng nhà báo tự do, những ông Ðiếu Cầy, Tô Hải, cô Mẹ Nấm đang làm công việc thanh nghị, để, theo dự kiến của Phan Khôi, giúp cho dân tộc Việt Nam “có ngày cất đầu lên được.”

Ðiều đáng lo là những người cầm quyền ngày nay không phản ứng giống như giới quan lại ngày xưa. Xưa kia, bị mang tiếng xấu thì người ta sợ hãi; ngày nay họ vẫn nhơn nhơn. Những công an trừ nạn mại dâm lại chụp hình làm nhục các cô gái đáng thương, họ cũng đáng thương vì không được giáo dục. Những ông hiệu trưởng như Sầm Ðức Xương đã làm nghề dẫn gái cũng vì sống trong một guồng máy cai trị coi quyền hành của các cán bộ cao hơn pháp luật. Cả tập đoàn cai trị một tỉnh Hà Giang, từ bọn đầu sỏ Nguyễn Trường Tô, Ðinh Xuân Hùng, đến các cán bộ hải quan Hướng, trưởng ban tổ chức công an Bích, và các công an như Minh, Tiến, đã tham dự vào mạng lưới ghê tởm làm hại đời các nữ học sinh. Còn biết bao nhiêu tập đoàn thống trị làm hại dân như vậy, không ai tố cáo nên hiện giờ vẫn còn tiếp tục tác hại? Họ vốn không biết liêm sỉ hay xã hội đã biến họ thành vô liêm sỉ?

Nền giáo dục cộng sản đã làm nhiều người bị thui chột đức liêm sỉ. Muốn cho việc thanh nghị đóng được vai trò giáo huấn, ngăn ngừa cái xấu thì phải thay đổi nền giáo dục, bắt đầu với việc xóa bỏ những căn bản là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Mao Trạch Ðông. Nhưng điều quan trọng nhất vẫn là phải thực hiện các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí trong Hiến Pháp! Ðó chính là quyền thanh nghị trong truyền thống nước ta.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Chuyện Người Cõi Âm

Trần Khải

Truyền thống của người quen làm việc trong guồng máy nhà nước cộng sản Việt Nam là khi gặp chuyện khó xử, sẽ đi hỏi người cõi âm. Chuyện này đã trở thành quen rồi. Câu hỏỉ là, có thực người cõi âm linh hiển hay không? Có thực rằng lời lời của người cõi âm lúc nào cũng là khuôn thước hay không? Thế thì tại sao không đưa nhà ngoại cảm Phan Bích Hằng lên nắm ghế Tổng Bí Thư cho tiện lợi, để lèo lái đất nước cho đúng đường lối người cõi âm?

Chuyện các nhà ngoạị cảm đi tìm mộ, hỏi người cõi âm... là điều chúng ta không bàn tới, vì đó là niềm an ủi cho những tang gia thân nhân. Đó là những đau đớn cần được xoa dịu, đó là những niềm tin siêu hình không thuộc lý luận trần gian, ngoàì phạm vi hiểu biết của chúng ta.

Nhưng chuyện người cõi âm mà Đảng CSVN bám víu vào để gìn giữ quyền lực, để đàn áp các ý kiến khác... mới là chuyện cần bàn luận.
Thực như thế. Khi tranh luận về đường lối, một thời là phải mang ra lý thuyết Mác – Lê – Mao.

Các bộ kinh điển bấy giờ khởi đi từ cuốn Kinh Thánh Tư Bản Luận. Sau khi hát bản thánh nhạc Quốc Tế Ca, là toàn đảng lên đồng say mê học tập kinh điển các cụ cõi âm Nga, Tàu vĩ đại. Khi tranh luận, ai trích dẫn được ngôn ngữ của người cõi âm Karl Marx, Lenin hay Mao Trạch Đông là được xem như tuyệt vời.

Và rồi lý thuyết các cụ cõi âm này hết linh nghiệm, khi khối Cộng Sản Liên Xô và Đông Âu sụp đổ từ những đầu thập niên 1990s, các quan chức Hà Nội mới nghĩ ra độc chiêu mới: dẹp bỏ ba người cõi âm Nga, Tàu, để dựng lên bàn thờ người cõi âm họ Hồ, lấy cái gọi là “tư tưởng Bác Hồ” ra để học tập. Than ôi, ông Hồ đã nói rằng ông đâu có tư tưởng gì đâu, và ông đã chỉ tay về tấm ảnh của ba ông cụ treo tường kia mà nói đó mới chính là khuôn mẫu phảỉ học.

Tuy nhiên, chiều ngược lại, trong khi các quan chức cai trị đưa người cõi âm ra để biện hộ cho hành vi đàn áp người dân, thì dân oan biểu tình vẫn phảỉ ôm trước ngực khuôn hình người cõi âm Hồ Chí Minh để công an có biểu diễn quyền cước sẽ nhẹ tay bớt. Nghĩa là, người cõi âm cũng phần nào đỡ đòn được cho người trần thế.

Thực thế, nhiều nhà trí thức khi chất vấn chính phủ CSVN, cũng phải trích dẫn vài câu nói của ông Hồ ra để cho đúng lề phảỉ. Lá bùa của người cõi âm Hồ Chí Minh có vẻ như linh nghiệm trong một số trường hợp, vừa đỡ đòn công an cho dân oan, vừa tránh cho trí thức bị an ninh quấy rối.

Thường có một số câu nói của ông Hồ thường được giới trí thức trích dẫn để chất vấn Đảng CSVN, trong đó có vài câu, thí dụ như sau:
- Nước được Độc lập mà dân không được hưởng Tự do Hạnh phúc thì Độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì.
- Dân chủ là phải để cho Dân được mở miệng.
- Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ.
Tuy nhiên, hàng loạt bài viết của giới trí thức qua nhiều năm qua đã trích dẫn hoàì những câu nói tương tự của người cõi âm Hồ Chí Minh, mà chính phủ CSVN cũng không nhúc nhích bao nhiêu về cởi mở dân chủ. Thế mới biết người cõi âm Hồ Chí Minh không linh thiêng tí nào. Bao nhiêu câu thần chú của ông Hồ được tụng đọc hoàì, mà có thấy dân chủ tí nào đâu.

Hay phải chăng, tư tưởng của người cõi âm Hồ Chí Minh không linh thiêng bằng các tờ giấy bạc in hình những người cõi âm xa lạ bên kia bờ Thái Bình Dương – thí dụ, hình người cõi âm Benjamin Franklin trên giấy bạc 100 đô la, hình người cõi âm Andrew Jackson trên giấy bạc 20 đô la? Thậm chí tới ngay như Huỳnh Ngọc Sỹ, khi nhận hối lộ từ hãng thầu Nhật Bản, cũng đòi tiền phải chi bằng đô la, chứ không chịu nhận giấy bạc có hình ông Hồ, hay ngay cả tiền yen với hình mấy ông Nhật Bản. Mới biết, nơi cõi âm này, ông Hồ chẳng có giá trị gì cả.

Một thời trích dẫn ông Hồ hết linh, thế là giới trí thức quốc nội lúng túng, nhìn quanh nhìn quẩn. Cho nên gần đây, mới trích dẫn người cõi âm Võ Văn Kiệt, nhân dịp ngày sinh của người có bí danh là Sáu Dân này.

Thí dụ, GS Tương Lai mới viết bài nhan đề “Cần lắm tinh thần Sáu Dân!” đăng trên Tuần Việt Nam hôm 23/11/2010. Nhưng cách viết cho thấy trong lòng quả nhiên có nhiều tâm sự hơn là số chữ ngắn gọn, đúng là ý tại ngôn ngoại.

Chúng ta thấy rằng, vị giáó sư này viết rằng VN đang cần tinh thần người cõi âm Sáu Dân, và dịp này đã trích dẫn một người cõi âm khác, một người cực kỳ thơ mộng – đó là nhà thơ Huy Cận.
Trích một nơi trong bài như sau:

“Cái tứ thơ của một thời xao động lòng người như khuấy động trở lại: "Mặt cúi, mặt nghiêng, mặt ngoảnh sau/ Quay theo tám hướng hỏi trời sâu/Một câu hỏi lớn. Không lời đáp/"[Huy Cận]...” (hết trích)
Tại sao lại trích dẫn Huy Cận trong khi con trai nhà thơ là Luật Gia Cù Huy Hà Vũ đang bị công an bắt giam về tội chính trị? Mà lại trích ngay những câu thơ đầy chất vấn và không có câu trả lời, không lời đáp... Có phải GS Tương Lai muốn hỏi tội cái chế độ đang bắt LS Cù Huy Hà Vũ, bởi vì trong bài có nêu lên một số ý tương hợp với những gì mà Luật Sư họ Cù đã viết trươc khi bị bắt.

Thí dụ, trích:

“...Những kiến nghị về đối nội, đối ngoại, về chỉnh đốn Đảng, về thật sự mở rộng dân chủ trong cách làm nhân sự đại hội, về đại đoàn kết dân tộc, về quan tâm giải quyết những bức xúc của dân, nhất là nông dân với vấn đề đất đai trong quy hoạch đô thị, trong công nghiệp hóa...(...)

...Với ông, đại đoàn kết dân tộc, trong đó tư tưởng khoan dung và hòa hợp có ý nghĩa rất thiết thực vào lúc này đối với đất nước phải trải qua ngót nửa thế kỷ chiến tranh, không một gia đình Việt Nam nào không gánh chịu những nỗi đau mất mát. Cũng trên suy nghĩ đó, ông dồn nhiều sức lực cho việc kết nối anh chị em trí thức trong nước và đang ở nước ngoài cùng nhau chân thành hợp tác nghiên cứu để góp phần tạo nên sức bật mới cho sự nghiệp phát triển đất nước trong bối cảnh mới của thế giới...

...Còn nếu câu nói vẫn cứ phải bật ra "phải chi lúc này có ông Sáu Dân" thì cần phải bổ sung thêm câu "phải chi dạo ấy người ta nghe ông Sáu Dân"...”(hết trích)

Phải chi nghe ông Sáu Dân? Trời ạ, người cõi âm là chuyện quá khứ. Tại sao không đặt vấn đề rằng tại sao không nghe lời của Luật Sư Cù Huy Hà Vũ?

Hãy nhớ rằng ông Võ Văn Kiệt từng giữ các chức vụ quan trọng, như cac1 chức: Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Bộ trưởng, Quyền Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh.

Sau khi về hưu từ năm 1997, thỉnh thoảng ông Kiệt mới lên tiếng với tư cách công dân, và mới có tư tưởng cởi mở. Than ôi, còn nắm quyền lực mà không làm, để tới về hưu mới nói thì ai mà làm cho. Có phải là khi nắm giữ quyền lực, cần phải bố trí, phải “cơ cấu” để đưa con cháu vào nắm các vị trí quan trọng về quyền lực chính trị, quyền lực tài chánh... rồi khi “vui thú điền viên” mới đặt vấn đề chất vấn, cho lương tâm đỡ kẹt, và để sau này các sử gia còn tìm ra điểm mà ca ngợi?

Tại sao lại nói là “phảỉ chi có ông Sáu Dân”? Tại sao lại thắp nhang nói chuyện với ông cụ cõi âm Sáú Dân nữa làm chi? Cả nước đã lên đồng với ông Hồ là mệt rồi, còn chưa thấy thay đổi gì.
Tại sao lại không nói lên sự thực rằng đất nước tự hào vì có những người như Luật Sư Cù Huy Hà Vũ, người không cần bám chân bất kỳ người cõi âm nàò hết?

Bởi vì cuộc chiến của LS Cù Huy Hà Vũ là đấu tranh cho quyền của người sống, là đòi thực thi hiến pháp với các quyền con người được công nhận, là đòi công bằng cho các dân oan, là đòi dân chủ cho người bị áp bức... và tận cùng, là đòi giữ đất, giữ rừng, giữ biển, giữ đảo và lên án mọi nhượng bộ của Đảng CSVN đối với Bắc Triều.
Than ôi, có phải trí thức Bắc Hà bây giờ chỉ còn dám nói tới chuyện của người cõi âm hay sao?

Trần Khải
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Ðộc tài là tai họa lớn nhất

Ngô Nhân Dụng
Bắc Hàn mới bắn trọng pháo sang một tiền đồn của Nam Hàn trên hòn đảo Yeonpyeong phía dưới vùng phi quân sự, làm hai binh sĩ miền Nam thiệt mạng. Hành động khiêu khích này chắc sẽ không gây lại một cuộc chiến tranh mới trên bán đảo Triều Tiên, đã ngưng từ năm 1953.

Cũng như hồi đầu năm nay, Bắc Hàn đã đánh chìm chiến hạm Cheonan của hải quân miền Nam, lần nào chính quyền Bình Nhưỡng đoán trước Hán Thành sẽ không phản ứng mạnh cho nên lâu lâu lại đánh trộm một lần. Chết người, nhưng họ đâu có quan tâm đến mạng con người?

Tại sao Kim Chính Nhật lại có những hành động khiêu khích mạo hiểm như vậy? Lỡ chiến tranh tái phát thì sao? Cả hai vụ gây hấn trên đều có mục đích, vì lý do nội bộ của chính quyền cộng sản miền Bắc. Chủ tịch Bắc Hàn đang bệnh nặng, không biết lúc nào sẽ chết. Ông muốn nâng cậu con trai út Kim Vĩnh Ân lên để nay mai nối ngôi vua mà ông bố đã được ông nội truyền cho. Nhưng cậu trẻ quá, sợ bá quan trong triều không phục. Phải cho cậu thi hành mấy công việc gây sôi nổi khắp thế giới, rồi để cậu điều khiển triều đình trong công tác ứng phó. Gây ra hai vụ giết người, để cho Kim Vĩnh Ân nhân dịp này đứng ra kiểm điểm thái độ, hành vi các tướng lãnh một cách chặt chẽ hơn, chuẩn bị cho cậu nắm đầu quân đội. Cậu Út đã được phong lên làm đại tướng và nhậm chức phó chủ tịch Quân Ủy Trung Ương Ðảng. Một chính quyền cộng sản độc tài có thể gây ra những biến cố làm thế giới lo sợ, thị trường chứng khoán tụt xuống, chỉ vì ông chủ tịch nhà nước cần củng cố địa vị của cậu quý tử!

Nhưng tại sao chính phủ Nam Hàn không phản ứng mạnh mẽ hơn những lời tố cáo trước dư luận? Bởi vì Nam Hàn, ngược lại, là một nước dân chủ. Chính quyền một nước tự do dân chủ sẽ phải lắng nghe ý kiến dân chúng. Các nhà lãnh đạo Nam Hàn biết là dân chúng không ai thích chiến tranh. Ai muốn chiến tranh tái diễn để bao tài sản tích tụ được sau nửa thế kỷ xây dựng kinh tế bị phá tan tành? Ai muốn chịu đựng cảnh hàng triệu dân Bắc Hàn chạy xuống miền Nam tị nạn khi chính quyền Bình Nhưỡng sụp đổ? Thà rằng một chính quyền phải nhịn nhục trước một vụ gây hấn nhỏ còn hơn là để cho toàn dân chịu lầm than.

Cái khác nhau giữa dân chủ và độc tài là như thế.

Nhưng trên đây là chuyện thời chiến tranh, hai miền Nam Bắc Cao Ly trên nguyên tắc vẫn còn trong tình trạng lâm chiến vì sau khi ngưng tiếng súng vẫn chưa có một hiệp ước nào thiết lập hòa bình.

Ngay trong tình trạng bình thời, chúng ta cũng có thể thấy các chế độ dân chủ và độc tài hành xử khác nhau trên nhiều phương diện. Thí dụ như khi đối phó với các tai họa, do con người gây ra hay những thiên tai. Các chính quyền dân chủ thế nào cũng lo trước cho dân dễ tránh tai họa, và lo sửa chữa các chính sách để phòng ngừa tai họa đến sau. Vì họ sợ nếu sơ suất sẽ rất dễ bị mất phiếu trong cuộc bầu cử sắp tới. Thế nào trước khi bỏ phiếu người dân cũng biết là các “cụ bên trên” có lo việc đề phòng tai họa cho đất nước hay không. Thế nào dân cũng biết các cụ có làm gì hay không để sửa đổi các điều sơ suất đã mắc phải. Tại sao dân biết? Vì có báo chí tự do, ai cũng có quyền phát biểu, không giấu diếm được.

Còn những chế độ độc tài thì khác. Thường họ kêu la rất lớn khi tai họa xẩy ra (để xin thế giới cứu trợ), nhưng sau đó họ rất mau quên, dần dà quên luôn, đâu lại vào đó! Ký sau có tai họa, cả thế giới lại lo cứu trợ! Những vua chúa độc tài không cần biết dân nghĩ gì! Dân đang khen họ hay là đang chửi, cũng không ảnh hưởng gì đến ngôi vị họ đang ngồi cả. Vì dân đâu có được tự do bỏ phiếu bầu thủ tướng hay tổng bí thư!

Chỉ cần nhìn vào cảnh tượng khi tai họa xẩy ra, chúng ta biết chính quyền loại lo cho dân chúng nhiều hơn. Hãy nói chuyện thiên tai, tai họa do Trời sinh; vì có thể giả thiết rằng ông Trời không có phân biệt chế độ tự do hay độc tài khi ông gây ra bão lụt hoặc động đất!

Tháng 8 năm 2007, trận bão Dean, cấp 5, thổi vào vùng bán đảo Yucatan, Mexico bên bờ Ðại Tây Dương, với tốc độ từ 200 đến 250 cây số một giờ. Trận bão biển này được đặt tên “El Gigante,” (Ông Khổng Lồ) trước đó đã làm 12 người chết khi đi qua các hòn đảo vùng Caribbean! Cuối cùng, tại Yucatan thiệt hại về tài sản lên tới 400 triệu đô la Mỹ nhưng chính quyền cho biết không một người dân nào bị thiệt mạng.

Gần một năm sau, vào tháng 5, 2008, một trận bão cấp 5 tương tự đã kéo vào nước Miến Ðiện (Myanmar). Bão được đặt tên là Nargis thổi từ Vịnh Bengal vào vùng châu thổ sông Irrawaddy phía Nam Miến Ðiện với tốc độ chưa tới 200 km một giờ, cuối cùng đã làm cho gần 200,000 người dân Miến thiệt mạng.

Nhiều người sẽ trách ông Trời thiên vị, thương dân Mexico mà không yêu dân Miến Ðiện. Nhưng nếu nhìn cho kỹ, hiểu cho sâu, chúng ta sẽ thấy thủ phạm gây ra tai họa của dân Miến là con người, chứ không thể đổ hết tội cho Trời.

Ngay khi nghe tin bão, tổng thống Mexico, ông Felipe Calderón bỏ ngang một cuộc họp với Tổng Thống Mỹ Gorges W. Bush và Thủ Tướng Canada Stephen Harper tại tại Quebec để bay về nước. Cảnh sát được điều động tới 100 ngôi làng để “xua đuổi” dân di tản tránh bão, vì nhiều người không muốn đi; những người khác lo ngăn ngừa nạn cướp bóc, hôi của nhà cửa bị đổ hay khi dân chạy lánh nạn. Công ty dầu lửa quốc gia Petroleos Mexicanos đã đóng cửa tất cả các giàn khoan dầu ở ngoài khơi và đưa tất cả các nhân viên cùng công nhân vào đất liền tị nạn trước khi bão đồ tới. Tất nhiên, các du khách ở Cancun là những người được di tản sớm nhất, hy vọng sẽ có ngày họ trở lại!

Tại sao trận bão tấn công Miến Ðiện lại làm chết nhiều người như vậy? Một lý do chính là người dân không chuẩn bị phòng chống bão, người ta nói cả 500 năm mới có một cơn bão lớn như vậy. Nhưng nguyên nhân chính là do chính quyền Miến Ðiện không quan tâm đến tình trạng dân chúng sống ra sao, không thông báo những tai họa sắp đến để hướng dẫn dân chúng đề phòng. Chính quyền quân phiệt Miến tự họ bầu lẫn nhau, cũng không cần dân chúng bỏ phiếu cho họ.

Tai họa lớn không phải là mưa bão mà là nước lụt sau cơn mưa. Ở vùng đồng bằng sông Irrawaddy người dân đã phá rừng và bỏ những đồn điền trồng xoài trong mấy chục năm qua, thay vào đó là những thửa ruộng trồng lúa và nuôi tôm. Chính họ đã phá bỏ những “con đê tự nhiên” ngăn nước lũ tràn về, để cho khi gặp bão thì chạy không kịp nữa, giống như nạn phá rừng ở miền Trung nước ta.

Hầu hết dân chúng trong vùng bị bão không hề biết là tai họa sắp xẩy ra. Không có viên chức nhà nước nào đi báo động với dân. Khi bão sắp đập vào, không cai lo di tản dân đi xa những vùng nguy hiểm, mặc dù cả thế giới có thể trông thấy trước cơn bão đang hướng về phía nào, với tốc độ bao nhiêu.

Chúng ta đang sống trong một thời đại có vệ tinh nhân tạo chụp hình ảnh, thu lượm tin tức, dữ kiện khí tượng từng phút một để cả thế giới sử dụng khi cần theo dõi các trận bão. Chính quyền mỗi nước phải quyết định xem có đầu tư vào việc sử dụng phương tiện đó hay không. Trận bão Nargis này đe dọa cả Ấn Ðộ và Bangladesh. Khác với hai nước kia, Miến Ðiện không có một hệ thống radar để theo dõi và tiên đoán hướng bão sẽ đi tới.

Tại Ấn Ðộ, sáu đài quan sát thuộc sở khí tượng đã loan tin sắp có bão từ 10 ngày trước, liên tiếp suốt từ 27 tháng 4. Nhưng báo, đài nước Miến Ðiện, hoàn toàn do tập đoàn thống trị kiểm soát, chỉ loan tin bão 2 ngày trước khi bão ập vào, mà không phải người dân nào cũng để ý. Tại Bangladesh, có hệ thống các còi hú, có những đài dựng lên làm nơi cho dân thấy mà chạy tới trú ẩn, nhà nước phát trước những bản đồ chỉ đường chạy lánh nạn khi cần. Nhờ thế nên trận bão Sidr năm trước đó chỉ có 3,000 người Bangal thiệt mạng. Nếu Miến Ðiện cũng có một hệ thống như vậy, thì không đến nỗi chất tới 200,000 người! Các nhà quan sát quốc tế gọi đó là “những cái chết không cần phải xẩy ra.”

Những câu chuyện bão lụt trên đây xẩy ra ở Mexico, Myanmar, Ấn Ðộ, Bangladesh, cho thấy tai họa thiên nhiên gây thảm khốc cho con người nhiều nhất ở những nước mà người dân phải sống dưới những chế độ độc tài. Khi những người cai trị không phải do dân bầu lên mà chỉ do trong đảng cầm quyền họ suy cử, bầu bán lẫn nhau mà thôi, thì họ không có “phản ứng tự nhiên” là lo trước các tai họa đe dọa đời sống người dân.

Việt Nam hiện đang sống dưới một chế độ như vậy. Hiện nay trong nội bộ Ðảng Cộng Sản đang diễn ra một cuộc tranh chấp gay go giữa những người muốn sang năm lên thay thế Nông Ðức Mạnh làm tổng bí thư, có thể kiêm luôn chức chủ tịch nước! Các ông Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang, vân vân, dùng đủ các thủ đoạn để bôi nhọ, phá đám nhau. Có ai phải trình bày một “chương trình tranh cử” cho dân Việt Nam thẩm lượng và lựa chọn hay không? Không cần. Xưa nay vẫn như vậy. Chính vì thế cuộc “tranh cử nội bộ” này càng ngày càng lộ ra những cảnh thật là nhơ nhuốc.

Trong khi đó, lũ lụt vẫn mỗi năm đổ xuống miền Trung Việt Nam, năm nào cũng chết người như năm nào. Dân đã quen rồi, năm ngoái chết 100 người, năm nay chết 50, những con số đó nghe mãi trở thành vô cảm. Có ai lo lắng đến mối lo của người dân hay không? Có ai nghiên cứu thiết lập một hệ thống báo động cho dân không? Ai đã cho phép phá rừng bừa bãi suốt từ năm 1975 đến nay để cho lũ lụt tràn về không gì ngăn cản?

Bờ biển miền Trung là nơi quá xa xôi đối với “các cụ!” Ngay tại thủ đô Hà Nội năm 2008 mưa lụt cũng đã giết chết 18 người, trong số 49 người chết ở cả các nơi khác. Từ hồi đó đến nay dân Hà Nội đã có được một hệ thống bảo vệ chống lụt tốt hơn hay chưa? Nhưng tại Sài Gòn, thì đầu tháng 11 vừa rồi lại ngập lụt nữa! Một lý do cũng vì nhà nước lì ra không cử động. Ông Nguyễn An Niên, chủ tịch Hội Khoa học Thủy Lợi thành phố nói với nhà báo rằng từ năm 2008 đã có một dự án phòng chống lụt, ngân khoản 11,500 tỷ đồng đã được chấp thuận, nhưng chưa thấy ai đem thi hành. Ông Niên không biết bao giờ nó mới được đem ra làm, nhưng sau hai năm thì tổng số chi phí đã tăng gấp đôi rồi. Không biết để vài năm nữa sẽ có tiền để thực hiện hay không! Nhiều con kinh đáng lẽ trở thành đường thoát nước thì đã bị “quy hoạch” cho lấp đi cho giới đầu tư xây cất. Riêng trong Quận II đã có 30 mẫu (ha) đất sau khi lấp bằng mấy con kinh.

Nhưng không phải nhà nước cứ đem các kế hoạch phòng chống lụt ra làm là dân đã bớt khổ. Tại một con đường quận 7, sau khi dự án phòng chống lụt hoàn tất, hàng ngàn gia đình bị lụt đe dọa, vì ngôi nhà họ ở thấp hơn con đường mới làm, thấp từ nửa mét đến một mét! Cứ mưa đến là nhà bị lụt ngay, không cần đợi! Các nhà thầu làm dự án nào, cho công việc gì thì chỉ biết công việc trong dự án của họ thôi, không chịu trách nhiệm về chuyện khác! Nếu họ xây một khu gia cư mới, họ sẽ lo đào cống rãnh đầy đủ. Nhưng việc nối đường cống mới này vào hệ thống ống cống cũ không phải việc của họ? Có nhà thầu muốn cho “công trình” của mình đẹp mắt, còn đem lấp luôn những ống cống cũ xấu xí đi. Nếu bị mưa thì nước nó ùn đi đâu “kệ mẹ nó!”

Cuối cùng thì đó là trách nhiệm của ai?

Ðó là trách nhiệm của những ông đang chửi nhau ở Hà Nội. Ông này tố ông kia bao che đàn em ăn cắp, làm công quỹ mất mấy tỉ Mỹ kim. Ông kia bèn chỉ mặt ông này kể tội đã từng sách nhiễu tình dục cấp dưới, lại nuôi mafia, tư bản đỏ. Nhưng trong cuộc đấm đá này không ông nào tự mình ra mặt cả, toàn dùng thủ đoạn ném đá giấu tay!

Thử hỏi người dân Việt Nam, rằng mấy ông ấy có ai lo về chuyện lũ lụt hay không? Chắc các ông ấy sẽ bảo đó không phải là việc của họ! Xin đồng bào thân mến hãy đi hỏi các đồng chí bên Miến Ðiện!

Tai họa của các chế độ độc tài thì kể mãi không hết!
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Lại trông người rồi ngẫm đến ta
Friday, November 26, 2010

Caubay
(Nguồn: DVC Online)
San Diego ngày 25 tháng 11 năm 2010

Thưa các vị đại biểu Quốc Hội nước Việt Nam,

Image
Bộ Trưởng Quốc Phòng Nam Hàn Kim Tae-Young. (Hình: Bay Ismoyo/AFP/Getty Images)

Thưa ông bộ trưởng Bộ Quốc Phòng nước Việt Nam,

Thưa các vị tướng lĩnh trong Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam,

Tôi viết các dòng này đến các vị đúng vào ngày lễ Tạ Ơn bên Mỹ. Ngày này là ngày sum họp gia đình, chúng tôi hầu như tạm quên đi các công việc thường ngày, từ học hành, công ăn việc làm, cho đến chuyện quê hương, đất nước để hưởng một ngày vui.

Ở xứ thanh bình này, tôi được bình yên 365 ngày một năm; nhưng xin thưa một cách rất thành thực, hiếm khi tôi có một ngày bình yên trong tâm hồn. Vì lẽ tôi là vẫn người Việt Nam, vẫn còn nhớ về quê nhà mỗi ngày trong đời tôi. Hôm nay là ngày lễ Thanksgiving, một ngày lễ quan trọng của Mỹ, khí trời cuối tháng 11 lành lạnh, mùi rượu vang thơm thơm quyện lẫn mùi gà tây mới chín... Vây quanh tôi là những người thân, có người cả năm nay mới gặp lại.Tôi tưởng mình sẽ có một ngày thú vị và bình yên, thoải mái trong tâm hồn. Ăn, uống, hàn huyên, coi các trận đấu thể thao...

Thế mà tôi lại lặng lẽ vào phòng riêng để viết các dòng này cho các vị. Chỉ vì tôi khi ngồi trên sofa ở phòng ngoài, theo thói quen, tôi táy máy rờ cái laptop. Ðọc bản tin sau đây tôi thấy lòng không yên; dẫu đó là bản tin liên quan đến một xứ khác, tôi thấy cần gởi đến quí vị. Tôi chỉ nhấn mạnh vào điểm chính, dù lược dịch nhưng chắc chắn không dịch một cách tùy tiện theo ý tôi (kiểu như bác Lại Văn Sâm). Sau đây là đoạn chính của bản tin từ hãng AP:

Bộ trưởng Quốc Phòng Nam Hàn từ chức vì vụ tấn công của Bắc Hàn
Yeonpyeong Island, South Korea
By Hyung-Jin Kim and Kwang-Tae Kim, Associated Press
Theo bản tin của hãng AP mới đây cho biết Bộ Trưởng Quốc Phòng Nam Hàn Kim Tae-young vừa từ chức hôm Thứ Năm vì bị phê bình dữ dội chỉ hai ngày sau vụ Bắc Hàn tấn công bằng trọng pháo làm chết 4 người tại hòn đảo Yeonpyeong nằm gần vùng ranh giới có tranh chấp.

Hành động này xảy ra khi Tổng Thống Nam Hàn Lee Myung-bak cho biết sẽ gởi thêm quân tới hòn đảo thuộc vùng giới tuyến. Bắc Hàn cũng đã đe dọa sẽ tiếp tục tấn công nếu bị khiêu khích.

Nhiều giờ trước khi Bộ Trưởng Quốc Phòng Kim Tae-young từ chức, các nhà lập pháp đã “chửi như tát nước vào mặt” chính phủ, cáo buộc rằng các giới hữu trách đã không chuẩn bị đề phòng vụ tấn công hôm Thứ Ba từ Bắc Hàn và cũng khiển trách phản ứng của quân đội quá chậm chạp. Ngay cả những người trong đảng cầm quyền của Tổng Thống Lee cũng đã yêu cầu sa thải các tư lịnh quân đội và một số phụ tá của tổng thống.

Tổng Thống Lee đã chấp nhận sự từ chức của ông Kim và một bộ trưởng Quốc Phòng mới sẽ được thông báo vào ngày Thứ Sáu.

Nhiều giờ trước khi từ chức, Bộ Trưởng Quốc Phòng Kim cũng đã đến thăm đảo Yeonpyeong, nơi có nhiều căn cứ quân sự và một khu chài lưới có khoảng 1,300 dân.

(Hết phần dịch)

Thưa các vị,

Ðọc bản tin trên tôi nhớ về Hoàng Sa, Trường Sa, về những người lính (Việt Nam, nói chung) và những người dân chài đã chết trên biển Ðông vì giặc Tàu và đồng thời cũng liên tưởng tới các phản ứng của các giới liên hệ thuộc chính quyền Việt Nam mà các vị là những đại diện.

Vì nhớ về họ và cũng nhớ về các vị, tôi vội vã viết những dòng này gởi đi. Tôi hy vọng khi đọc tin này các vị cũng làm một sự so sánh như tôi đã làm. Khi so sánh, tôi tự chuốc cho mình nỗi phiền muộn trong một ngày vui đoàn tụ hiếm hoi trong năm. Thế còn các vị rút ra được điều gì? Tôi hy vọng không ai trong chúng ta chấp nhận rằng người Việt kém người Hàn, nhất là về tình yêu nước và tính liêm sỉ.

Trân trọng. Trân trọng.
Caubay
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

CÁCH MẠNG DÂN TỘC, DÂN CHỦ LẬT ĐỔ
CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN ĐỘC TÀI, PHẢN DÂN TỘC, PHI DÂN CHỦ,
SẼ DIỄN RA Ở VIỆT NAM NHƯ THẾ NÀO
Không ai chối cãi rằng chế độ cộng sản Việt Nam hiện nay là một chế độ phản dân, hại nước, một chế độ phi dân chủ, phản nhân quyền, đi ngược lại đà tiến bộ của văn minh nhân loại. Chế độ này sớm muộn sẽ bị đào thải.

Nhưng nó bị đào thải như thế nào ? Dân tộc Việt Nam, kể tất cả mọi thành phần, từ nông dân, công nhân, trí thức, cho tới ngay cả những người cộng sản phản tỉnh, phải làm gì để giật sập chế độ này ?

Nói một cách khác đi là cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ sẽ diễn ra thế nào ở Việt Nam trong tương lai.

Chúng ta hãy cùng nhau xét vấn đề.

Cách mạng là gì

Cách mang theo nghĩa đông phương, thì cách là lấy đi, mạng là số mạng, theo đó một ông vua là được mạng trời để trị dân ; nhưng ý dân là ý trời ; làm trái ý dân là trái ý trời ; vì vậy những ông vua tàn bạo, làm trái ý dân có nghĩa là làm trái ý trời, nên trời đã lấy lại cái mạng đi. Như vua Trụ bên Tàu tàn bạo, nên vua Trụ đã bị trời cách cái mạng đi để trao cho cho Vũ Vương nhà Chu.

Theo tây phương, chữ cách mạng ( la révolution) lúc đầu có nghĩa là một chu kỳ ; như trái đất quay chung quanh mặt trời một vòng là cách mạng ; nhưng về sau, cách mạng có nghĩa là một sự thay đổi lớn ; như thuốc trụ sinh là một cuộc cách mạng trong y khoa ; váy ngắn phụ nữ là một cuộc cách mạng trong thời trang y phục.

Trong lãnh vực chính trị, kinh tế, lịch sử và xã hội, thì cách mạng có nghĩa là một thay đổi lớn, mau lẹ, nhằm vào 3 cơ chế chính, chứ không phải nhằm vào những cơ chế phụ, của một xã hội :

1) Thay đổi thể chế chính trị, chẳng hạn từ quân chủ sang dân chủ, ngày hôm nay thường là bắt đầu bằng thay đổi hiến pháp, vì hiến pháp thường được coi là nền tảng của một chế độ.

2) Thay đổi giai tầng lãnh đạo, vì những người này là những người thi hành của chế độ cũ.

3) Thay đổi trật tự xã hội ; vì thường khi cách mạng xảy ra là vì xã hội trở nên quá bất công, nên cần phải thay đổi trật tự cũ bất công bằng một trật tự mới công bằng hơn.

Một câu hỏi đến với chúng ta là tại sao Việt Nam hiện nay cần phải có cách mạng chứ không phải cải cách ?

Câu trả lời đó là chế độ hiện nay là một chế độ độc tài đi ngược lại lòng dân và trái với chiều hướng tiến bộ của nhân loại. Hiến pháp hiện hành vẫn cho rằng « Chủ nghĩa Mác Lê là nền tảng, là ánh sáng soi đường cho chế độ « . Trong khi đó thì cả thế giới kết án chủ thuyết này, chỉ mang lại độc đoán, độc tài, bất công và nghèo đói cho dân tộc nào phải chịu sự áp dụng của chủ thuyết này. Bà thủ tướng Đức Angela Merkel, tổng thống Nga Mevdevev, những người đã từng sống dưới chế độ cộng sản, đã không ngần ngại tuyên bố là chế độ cộng sản là một guồng máy sản xuất sự dối trá, giết người và đau khổ, không những cho chính nước theo chủ nghĩa đó, mà còn cho nước khác.

Giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam hiện nay, thì nói như nhà văn Dương Thu Hương : « Dân tộc Việt Nam dù có mù chữ chăng nữa cũng nhận thấy giới lãnh đạo cộng sản vừa tối tăm, ngu dốt, vừa ác ôn, côn đồ và hèn hạ. » Giới lãnh đạo như vật thì làn sao có thể đưa đất nước đến chỗ tiến bộ.

Về trật tự xã hội, thì trật tự hiện hành là một trật tự quá bất công. Đảng đoàn cán bộ, con ông cháu cha tiêu tiền vứt qua cửa sổ, trong khi đó người dân không có tới 1$, một ngày để sống. Tình trạng nhà thương, trường học thì xuống cấp. Bằng cấp giả tràn lan. Tệ nạn xã hội thì tăng thêm mỗi ngày. Con có thể giết cha mẹ, cha mẹ có thể bán con vì một vài chục $.

Có người còn nói cuộc cách mạng Việt Nam hiện nay còn phải là một cuộc cách mạng dân tộc độc lập cứu quốc và dân chủ kiến quốc. Tại sao ?

Đất nước Việt Nam, từ ngày Hồ chí Minh được Đệ Tam Quốc Tế Cộng sản nuôi dưỡng, rồi đưa về cướp chính quyền từ ngày 19/8/1945 tới nay chưa có độc lập. Có tương đối độc lập với Đệ Nhất Cộng Hòa, nhưng ngắn ngủi không đầy 10 năm, còn hoàn toàn bị lệ thuộc, và lỗi chính là họ Hồ và đảng cộng sản, vì họ đã đặt Việt Nam dưới gông cùm cộng sản, biến nước Việt Nam thành bãi chiến trường của cuộc tranh hùng tư bản- cộng sản. Miền Bắc, thì cộng sản hoàn toàn vâng lời cộng sản Nga – Tàu. Trước thì hoàn toàn vâng lời Nga sô, nay thì hoàn toàn vâng lời Tàu.

Trên thực tế Việt Nam hiện nay đang bị Trung Cộng đô hộ lần thứ 5. (1)

Miền Nam, thì để be bờ sự tràn xuống của cộng sản, người Mỹ đã phải đổ bộ quân vào, nhất là dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa, nên chủ quyền quốc gia cũng không còn.

Vì vậy dân tộc Việt phải can đảm đứng lên đấu tranh để làm một cuộc cách mạng dân tộc, độc lập, cứu quốc.

Tại sao lại là cách mạng dân chủ

Vì dân chủ là mảnh đất mầu mỡ để cho con người phát triển. Thật vậy, chúng ta có thể ví con người, dù da vàng, da trắng, da đen hay da đỏ, như một hạt mầm. Nếu nó được gieo trên một mảnh đất mầu mỡ, có nghĩa là khi người dân được sống dưới một chế độ dân chủ do chính bàn tay mình bầu ra hay truất phế, có thể khen hay chê giới lãnh đạo, được hưởng những quyền tự do căn bản, như tự do bầu cử, tự do ngôn luận, thì khi đó người dân cũng như hạt mầm được nẩy mầm và phát triển. Ngược lại cũng con người đó, nhưng phải sống dưới một chế độ độc tài, thì tài năng sẽ thui chột. Thí dụ cụ thể nhất là 2 dân tộc Bắc Hàn và Nam Hàn. Cùng là người Hàn, nhưng Nam Hàn theo chế độ dân chủ, mặc dầu mới gần đây, hiện nay là cường quốc kinh tế thứ 10 trên thế giới, vừa mới là chủ nhân tổ chức Hội Nghị Thượng Đỉnh 20 quốc gia lớn nhất trên thế giới. Trong khi đó thì Bắc Hàn theo chế độ độc tài cộng sản, dân đang chết đói

Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ này diễn ra như thế nào, ai là những thành phần tham dự, phải chăng chỉ có những thành phần nghèo đói, như nhiều người nghĩ từ trước tới nay.Không nhất thiết. Chúng ta thấy dân Bắc Hàn đang bị chết đói mà không đứng lên. Trong khi đó, những cuộc cách mạng dân chủ mới xẩy ra gần đây, phần lớn tại những nước có một sự phát triển tương đối cao, giai tầng tham gia phần đông là sĩ phu, trí thức, sinh viên, học sinh, thường thuộc giai tầng trung lưu.

Vì là một cuộc cách mạng độc lập cứu quốc và dân chủ kiến quốc, nên nó liên quan đến mọi người không phân biệt giai tầng xã hội, từ nông dân, tới công nhân qua sĩ phu, trí thức và ngay cả những người cộng sản, phản tỉnh yêu nước.

Cuộc cách mạng này diễn ra dưới hình thức bạo động hay bất bạo động?

Thật khó có câu trả lời chính xác. Xét kinh nhiệm lịch sử trong quá khứ và nhất là qua những cuộc cách mạng dân chủ gần đây, từ Liên Sô qua Đông Âu, tới Phi luật Tân, Nam dương, thì thường là từ những bất mãn của dân đã ngấm ngầm chồng chất từ lâu, sau đó lan sang giới sinh viên, học sinh, rồi ngay cả giới cầm quyền, làm cho chính quyền phân tán và đi đến chỗ sụp đổ.

Ngày hôm nay, nhiều người nghi ngại về khủng bố, nên khi nói đến bạo động, thường sợ bị cáo buộc là khủng bố. Nhưng chúng ta phải nhớ đến quyền tự vệ chính đáng của người dân. Khi người dân bị đàn áp bóc lột đến quá độ, thì họ có quyền dùng bất cứ phương pháp nào để tự vệ, điều được ghi ngay trong Lời Tuyên Bố Độc Lập Hoa kỳ và cả trong Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền. Hiện nay hàng năm có cả 100 000 cuộc nổi dậy ở Trung Cộng, có những vụ sô xát, để tự vệ, người dân dùng ngay cả cuốc thuổng, dao búa, để chống trả lại, có những vụ làm chết và bị thương cả ngàn người về 2 phía chính quyền và người dân; nhưng thế giới không kết án là khủng bố, vì đây là quyền tự vệ chính đáng của người dân.

Tất nhiên những cuộc biểu tình này phải được hướng dẫn và tổ chức. Những người lãnh đạo không nhất thiết là những người sĩ phu, trí thức, có thể là đại diện giới thợ thuyền, công nhân như Lec Walesa ở Ba Lan, với sự giúp đỡ của giới trí thức, có thể lãnh đạo bởi ngay những người cộng sản phản tỉnh như Boris Etlsine ở Liên Sô. Nếu biến cố Thiên An Môn thành công, thì đây cũng là một cuộc cách mạng, và người lãnh đạo không ai hơn là Triệu tử Dương, đương kim Tổng bí thư đảng cộng sản Trung quốc. Ở Nam Dương và Phi luật Tân, thì giai tầng trí thức và sinh viên giữ vai trò quan trọng, đặc biệt là ở Phi thì đằng sau có sự cố vấn của những lãnh tụ tôn giáo.

Cuộc cách mạng tương lai Việt Nam là một cuộc cách mạng dân tộc, độc lập, cứu quốc, vì Việt Nam hiện nay đang bị đô hộ bởi Trung Cộng, giới lãnh đạo CSVN chỉ là tay sai, thái thú, Trung cộng đang áp dụng một chính sách đô hộ vô cùng thâm độc, dùng người bản sứ để cai trị người bản sứ, dùng chính sách tằm ăn dâu, gậm nhấm từng tấc đất của chúng ta; đó là một cuộc cách mạng dân chủ kiến quốc, vì dân chủ là mảnh đất mầu mở để cho con người phát triển, để cho dân giàu, nước mạnh. Dân có giầu, nước có mạnh mới có thể giữ vững được nền độc lập và theo kịp đà tiến hóa của văn minh nhân loại. (1)

Nó liên quan đến mọi người, mọi giai tầng, ngay cả những người cộng sản phản tỉnh, yêu nước, sớm thức thời, đứng về hàng ngũ quốc gia, dân tộc, từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, tránh sự lệ thuộc Trung cộng.

Paris ngày 26/11/2010
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Tôi Rất Tự Hào khi được Sống ở Mỹ !
Những ai chê Mỹ thì trở về mà sống bên VN !
Gần đây tôi có đọc được một vài bài viết nói về cuộc sống của người Việt trên đất nước Mỹ khiến tôi không khỏi chạnh lòng. Ở bất kỳ đất nước nào trên thế giới, con người cũng đều phải đi làm lo cho cuộc sống của mình. Những người lười biếng, thì cuộc đời của họ sẽ dậm chân tại chỗ…

Giầu và nghèo thì không có nước nào mà không có hai tầng lớp này, bởi vì chẳng nơi nào chỉ có toàn người giầu và chẳng nơi nào chỉ có toàn người nghèo cả.

Tôi đã theo cha mẹ qua Mỹ khi lên 10 tuổi và bây giờ chỉ còn hai năm nữa thì tôi được 30.

Như vậy có nghĩa tôi đã ở Mỹ một thời gian khá dài. Phải nói rằng trong lòng tôi luôn cám ơn đất nước Mỹ đã cho tôi cơ hội đến trường mà không phải lo sợ không có tiền để đóng cho họ, cám ơn Mỹ đã cho tôi cơ hội để cầm mảnh bằng Kỹ Sư trong tay, và cám ơn Mỹ đã cho tôi cơ hội kiếm được một công việc làm khá tốt.

Tất cả những điều có được ngày hôm nay là do sự cố gắng vươn lên của tôi. Muốn bước tới sự vinh quang không phải là ngồi một chỗ than thở hoặc lười biếng mà có được.

Rất nhiều người Việt vượt biên qua Mỹ trước kia đã thành công, có nhà cửa và có tương lai sự nghiệp vững chắc. Cha mẹ tôi khi đặt chân qua Mỹ cách đây 18 năm cũng đã phải làm lại từ đầu. Ông bà không quản ngại làm việc siêng năng để lo cho anh em tôi học nên người, nhưng không bao giờ than van rằng đất nước Mỹ bắt họ phải làm việc đầu tắt mặt tối.

Đất nước Mỹ không hề mang chúng ta sang đây, mà chính chúng ta tự đòi sang vì thế nếu làm việc cực khổ thì đừng bao giờ phiền trách họ, bởi vì như thế là mình quá vô lý.

Nhiều người Việt khi mới đặt chân qua Mỹ sau những ngày vượt biên nguy hiểm đầy gian nan đã được chính phủ Mỹ nuôi dưỡng trong một chương trình trợ cấp còn được gọi là welfare vì có con nhỏ cho tới khi 18 tuổi, ngoại trừ độc thân thì chỉ được 24 tháng. Như vậy đủ biết xã hội mỹ đã tốt đến thế nào đối với chúng ta.

Người Việt ở Mỹ cũng có hai tầng lớp: một loại trí thức có văn bằng cầm trong tay và một loại người không có mảnh bằng nào cả.

Người có bằng cấp sẽ kiếm được công ăn việc làm tốt hơn, còn người không có bằng cấp thì phải làm nghề lao động. Dĩ nhiên lương sẽ không được trả cao.

Ở Mỹ tôi đã nhìn thấy rất nhiều người cùng thế hệ với tôi trở thành bác sĩ, kỹ sư giúp ích cho đời sống mọi người. Đa số những người qua Mỹ sau này muốn làm giầu nhanh nhưng không chịu học hành.
Cũng có nhiều người Việt ở Mỹ từng làm giầu bằng nghề Nail. Tôi không quen biết ai trong ngành này, nhưng theo những nhận xét từ người lớn cho biết, họ kiếm tiền rất dễ dàng . Chính họ tự chọn làm nghề chà chân, sơn móng tay để kiếm tiền, chứ chính phủ Mỹ hay người Mỹ không hề bắt họ làm như vậy. Nghề này ngồi trong bóng mát và không quá khổ cực như những người phải làm việc ở ngoài đồng nhặt trái cây giống như người Mễ, hoặc công nhân sửa đường phố, nên xin đừng than thở. Mỗi lần tôi nghe ai than làm nghề nail thế này thế nọ thì tôi không thể hiểu họ thực sư muốn gì!.

Đôi khi họ kiếm nhiều tiền hơn cả những người đã phải bỏ công ra ngồi học 4 năm trong đại học. Những người đi làm cho công ty Mỹ luôn đóng thuế đàng hoàng nhưng họ lại không.

Tôi rất ghét những người ăn cơm Mỹ, ở nhà Mỹ, kiếm tiền từ người Mỹ nhưng luôn chê trách cuộc sống và đất nước Mỹ . Những người chỉ biết đứng núi này trông núi nọ không bao giờ thành công và hài lòng với gì họ đạt được.

Nếu thật sự ở Việt Nam tốt hơn trong mắt họ thì họ nên về đó mà sống, sang Mỹ làm gì ?.

Căn cứ theo báo cáo cũng như từng đọc báo chí thì tôi thấy cuộc sống ở VN khó khăn gấp vạn lần bên Mỹ. Thử hỏi một kỹ sư hóa học ra trường kiếm được bao nhiêu tiền một tháng? Ngay cả tầng lớp trí thức như giáo sư người đã cho sinh viên kiến thức, mà còn nghèo khổ đi làm thêm ban đêm để có đủ tiền nuôi vợ con đó thôi.

Những người giầu bên VN đa số là cán bộ cao cấp, con ông cháu cha hoặc là những người buôn bán, ngoài ra số người nghèo thì hết 80% vẫn nghèo khổ đầu tắt mặt tối chỉ may ra đủ miếng ăn hàng ngày là may lắm rồi !

Chúng ta không thể nào so sánh cuộc sống của người Việt tại Mỹ với cuộc sống của người Việt tại quê nhà được vì đây là hai bối cảnh hoàn toàn khác nhau.
Ở Mỹ làm việc cực nhọc nhưng không cảm thấy bị gò bó, muốn nói gì hay đi đâu cũng được.

Ngoài ra luật pháp của Mỹ luôn được tôn trọng nên ý thức của con người rất cao, còn ở Việt Nam thì luật pháp chẳng bao giờ được người ta thực hành triệt để vì ý thức của người dân quá thấp kém (luật rừng)

-Người Mỹ rất lịch sự mặc dù có một số người kỳ thị nhưng khi gặp gỡ mình ngoài đường họ luôn nói lời chào hỏi dù không hề quen, điều này khiến cho người Việt ở Mỹ cũng lịch sự theo.
-Người Việt ở Mỹ rất có lòng tốt đối với thân nhân còn sống ở bên Việt Nam . Dù giầu hay nghèo họ đều cố gắng gởi tiền về VN lo cho gia đình, thử hỏi những người bên VN có dám cho tiền thân nhân của mình hay không, khi biết họ nghèo khổ?, giỏi lắm thì chỉ được vài bữa ăn là cùng. Tranh giành nhau từng thước đất, hoặc tranh gia tài thì có.
- Con cái ở bên Mỹ không bao giờ chờ đợi được chia gia tài từ Cha Mẹ. Họ tự tạo cho mình một cuộc sống vững chắc riêng.
-Mỗi người có một cuộc sống đi kèm theo sự thành công hay thất bại.
-Mỹ chưa phải là thiên đường nhưng nó đã giúp cho người Việt ở đây có rất nhiều cơ hội, mà nếu ở VN thì chắc chắn họ sẽ không bao giờ có được, trừ khi họ có thân nhân làm trong guồng máy chính quyền cộng sản.
-Tôi không quên nguồn gốc mình là người Việt Nam nhưng tôi cũng sẽ không làm kẻ vong ơn, ăn cơm, uống nước của Mỹ nhưng luôn miệng che bôi Mỹ.

Tôi rất tự hào khi được sống ở bên Mỹ!

ThùyVân
(Hiện đang sống ở United Kingdoms)
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

WikiLeaks với nhiều tiết lộ giật gân

Hà Tường Cát/Người Việt
Hôm Chủ Nhật, 28 tháng 11, WikiLeaks công bố 1/4 triệu công điện ngoại giao (diplomatic cables) trao đổi giữa bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ với các Sứ Quán Mỹ trên toàn thế giới mà tổ chức này đã thu được, có nội dung từ loại bình thường đến cần giữ kín và bí mật.
Image


Những hồ sơ này chứa đựng nhiều nội dung đa dạng trong đó có những công điện dưới hình thức báo cáo hay ý kiến của các nhân viên ngoại giao làm việc ở sứ quán, biên bản ghi chép những cuộc trao đổi thương thuyết với giới chức chính phủ nước ngoài.

Do bản chất mới chỉ là những ý kiến nhận định thâu thập bởi các cá nhân trong ngoại giao đoàn nên chưa hẳn là đã có giá trị ảnh hưởng đối với chính sách của Hoa Kỳ trên thế giới. Tuy nhiên do tính cách bộc trực của những đương sự trong việc trình bày, nhiều sự kiện trở thành vấn đề hết sức phức tạp tế nhị khi bị tiết lộ.

Chẳng hạn qua các tài liệu này người ta thấy được cái nhìn và sự đánh giá của người Mỹ đối với thế giới. Những hồ sơ ngoại giao đưa ra công khai cũng cho thấy việc nhiều nhà lãnh đạo Á Rập muốn Hoa Kỳ đánh Iran; Trung Quốc tìm cách phá rối Google, hệ thống liên lạc thông tin của chính phủ Hoa Kỳ và Ðức Ðạt Lai Lạt Ma; Hoa Kỳ có dự tính bí mật thâu đoạt nguyên tử liệu của Pakistan; bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ chỉ thị cho nhân viên do thám tin tức ở Liên Hiệp Quốc.

Ngoài ra còn có những chuyện liên quan đến cá nhân các giới lãnh đạo, khi bị lộ sẽ làm phiền phức trên mặt bang giao, ví dụ Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy được coi như người “có cá tính nhạy cảm và độc đoán,” tổng thống và thủ tướng Nga là một cặp bài trùng trong chuyện khoa học giả tưởng trong đó Putin giữ vai Batman còn Medvedev chỉ là Robin, Tổng thống Iran có kiểu cách Hitler, chủ tịch Bắc Hàn là “thằng cha già mềm nhũn mang bệnh tâm thần,” và một bộ trưởng Anh Quốc là “con chó chuyên đi săn phụ nữ”...

Khối lượng tài liệu bị tiết lộ

Theo WikiLeaks, tổng số tài liệu sẽ được công bố là 251,287 hồ sơ tổng cộng chứa hơn 260 triệu từ, liên quan đến bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và 274 tòa đại sứ hay lãnh sự trên toàn thế giới. Phân loại bảo mật gồm 15,652 tối mật (secret), 101,748 mật (confidential) và 133,887 không cần giữ kín (unclassified) nhưng chỉ để cho các giới thẩm quyền sử dụng.

Ðứng đầu về con số những tài liệu này tất nhiên là bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, tiếp đó là tòa đại sứ Thổ Nhĩ Kỳ, Iraq. Nhật Bản,...

Có 3,165 tài liệu từ Việt Nam qua tòa Ðại Sứ tại Hà Nội (2,403) và tòa Tổng Lãnh Sự ở thành phố Sài Gòn (776), tổng số đứng vào hàng thứ 37. Trong các công điện ngoại giao gởi đi hay đến có 78 thuộc loại tối mật, 359 thuộc loại không phổ biến và 2,738 thuộc loại không bảo mật.

WikiLeaks nói rằng những tài liệu được công bố ở giữa thời gian từ 1966 đến tháng 2 năm 2010. Muốn tìm xem những tài liệu này có thể vào mạng http://cablegate.wikileaks.org. Tuy nhiên ngay bây giờ chưa thể tìm thấy trên mạng này toàn bộ những tài liệu vì WikiLeaks đã thỏa thuận với 5 tờ nhật báo để cung cấp dần dần trong nhiều tháng, với điều kiện những báo này phải bắt đầu đưa ra trong cùng một ngày. Năm nhật báo đó là The Guardian (Anh), The New York Times (Mỹ), Le Monde (Pháp), Der Spiegel (Ðức) và El País (Tây Ban Nha).


WikiLeaks là gì

Wikileaks là một tổ chức quốc tế, bất vụ lợi, đặt trụ sở tại Thụy Ðiển, chuyên loan tải những nội dung không được công bố và các thông tin rò rỉ. Nguồn tin đều là vô danh và không được công bố. Thành lập vào năm 2006 và chỉ một năm sau website của WikiLeaks nói rằng cơ sở dữ liệu của họ đã có hơn 1.2 triệu tài liệu. Ðừng lầm lẫn tổ chức này với Wikipedia, bách khoa từ điển mở chuyên cung cấp mọi loại thông tin dòng chính, hai cơ chế này không có liên hệ gì với nhau.

Người sáng lập và là chủ tịch của tổ chức này là Julian Assange, công dân Australia, mới đây bị một tòa án hình sự Thụy Ðiển ban hành lệnh tầm nã do hai phụ nữ đã tố cáo đương sự có hành động tấn công tình dục.

WikiLeaks tuyên bố họ là một cơ quan truyền thông có sứ mạng cung cấp những tin tức quan trọng và thông tin mà công chúng có quyền được biết, hoạt động theo nguyên tắc đã được ghi trong bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền.


Phản ứng của dư luận

Tuy nhiên phản ứng khác nhau của các quốc gia đối với việc WikiLeaks tiết lộ tài liệu ngoại giao Hoa Kỳ hầu hết đều là phê phán chỉ trích và cho rằng phương hại đến lợi ích và nền an ninh chung.

Nhưng đặc biệt một trong những lời phê phán mạnh mẽ nhất lại là từ Iran. Trong cuộc họp báo hôm Thứ Hai, Tổng Thống Mahmoud Ahmadinejad khẳng định “chính Hoa Kỳ đã ra lệnh công bố những hồ sơ này.” Ông cho rằng đây là “một hình thức chiến tranh tâm lý, một mánh khóe tình báo” và tuyên bố: “Chúng ta đủ khôn ngoan để không mắc vào bẫy và chẳng cần chú ý đến những tài liệu ấy.”

Lập luận của tổng thống Iran không có gì lạ. Một số hồ sơ liên quan đến Iran vừa tiết lộ xuất xứ từ những cuộc gặp gỡ thảo luận giữa các giới chức Hoa Kỳ với Saudi Arabia, Bahrain, UAE (Liên Hiệp Tiểu Vương Quốc Á Rập) và các nhà lãnh đạo nhũng quốc gia này đều bày tỏ sự đồng ý với việc Hoa Kỳ đánh Iran để chấm dứt chương tình phát triển vũ khí nguyên tử. Thủ tướng Qatar, Hamad bin Jasim al-Thani, khi được hỏi về thực tế bị tiết lộ cho thấy có sự trái ngược với thái độ của nước ông đối với Iran từ trước đến nay, đã trả lời thẳng: “Họ nói dối chúng tôi và chúng tôi nói dối họ.”

Thủ Tướng Binyamin Netanyahu cho là Israel không bị phiền phức gì về sự tiết lộ của WikiLeaks, trái lại minh định rõ được là nhiều quốc gia Trung Ðông chia sẻ quan điểm với nước ông rằng chương trình phát triển nguyên tử của Iran là mối đe dọa nặng nề ở khu vực này.

Dù sao một số những tiết lộ vừa được đưa ra mới chỉ là một phần nhỏ trong số tài liệu mà theo WikiLeaks phải mất nhiều tháng mới công bố hết, do đó sẽ còn hứa hẹn nhiều sôi nổi, chưa kể đến vấn đề mục tiêu và ý nghĩa việc làm của WikiLeaks cũng là một đề tài gây tranh luận lâu dài. (HC)
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Khi tâm hồn con người bị tước đoạt

(tham luận gửi hội thảo “Sự xuống cấp văn hóa và đạo đức trong xã hội ngày nay” do Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh tổ chức ngày 27.11.2010 tại Hà Nội)

Phạm Anh Tuấn
Tôi cố gắng nhìn văn hóa và đạo đức từ một điểm xuất phát nào đó ở bên trong con người. Bởi vì tôi cố gắng không để mình bị hạn chế vào một cách nhìn cột chặt vào một chuyên ngành nào đó, chẳng hạn như nhìn văn hóa, đạo đức hoặc sự xuống cấp văn hóa và đạo đức từ góc nhìn của đạo đức học, tâm lý học, xã hội học, tội phạm học, luật học v.v. là những lĩnh vực mà tôi thực ra không có kiến thức trường ốc chuyên sâu. Nhưng việc tự hạn chế này hóa ra đối với tôi lại là một lợi thế, tôi có thể từ bỏ một cách nhìn chung chung, siêu hình, hoặc một cách nhìn cố định, bất biến, tuyến tính. Do đó tôi có thể quan sát tâm hồn của con người trong xã hội của chúng ta ngày hôm nay, và bằng cách đó tôi đề xuất một điều gì đó biết đâu có thể có ích cho người khác.

Nói bằng tinh thần của nhà văn Nga Fyodor Dostoyevsky, tâm hồn con người là nơi chiến địa giữa Thiện và Ác. Chiến địa đó diễn ra ở trong từng cá nhân, từ cấp độ nhỏ cho tới cấp độ lớn. Từ những việc như ăn cắp, nói dối, lừa gạt, lừa đảo người khác cho tới tước đoạt hạnh phúc, tước đoạt mạng sống của người khác, rồi cho tới tham nhũng, tước đoạt hạnh phúc, tước đoạt cuộc sống của cả một cộng đồng, một đất nước – phản bội lại lợi ích của một cộng đồng, một đất nước – tất thảy đều không phải là một hành động, hành vi nhất thành bất biến, một lần xảy ra cho mãi mãi, mà là kết quả cuối cùng của cả một quá trình lâu dài phức tạp có khi hỗn độn, phi lô-gich. Tâm hồn con người là chiến địa bởi vì tâm hồn con người là nơi lưu giữ những kỷ niệm, hồi ức, ẩn ức, niềm vui, nỗi buồn, hạnh phúc, khổ đau của quá khứ. Tâm hồn con người trở nên bất hạnh khi nó “không còn gì để mất” và càng bất hạnh hơn nữa nếu như cùng lúc đó nó không nhìn thấy bất kỳ một tia hi vọng le lói nào ở cuối đường hầm của tương lai. Khi đó, nói như nhân vật Dmitri trong Anh em nhà Karamazov của Dostoyevsky: tất cả đều được phép và do đó tất cả đều hợp pháp. Trong tình hình như vậy thì văn hóa (những thiết chế và sản phẩm tinh thần, vật chất, những thói quen tinh thần, v.v. của dân tộc, chủng tộc trong quá khứ và hiện tại) và đạo đức, khoa học, giáo dục, luật pháp, hành pháp, có thể tìm thấy chỗ đứng ở đâu, có thể đóng vai trò gì?

Hãy thử quan sát một con người bình thường trong xã hội ngày hôm nay từ lúc sinh ra rồi lớn lên. Để xem thử nó nhìn thấy gì, nó nghe thấy gì, nó suy nghĩ gì, nó có cảm xúc gì, và nó phản ứng thế nào.

Lên sáu tuổi, nó bắt đầu đến trường, đấy là nếu như nó được đến trường, nếu như bố mẹ nó có đủ tiền bạc để cho nó đến trường, nếu như có một ngôi trường nằm ở gần nơi gia đình nó sinh sống, nếu như gia đình nó sống ở nơi không bị chia cắt, không bị cô lập trong mùa mưa bão, và còn rất nhiều “nếu như” khác nữa. Ngày đầu tiên bước vào lớp học, nó được dạy lễ nghĩa – theo đúng khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” – làm như thể nó hư từ trong bụng mẹ và kể từ giờ trở đi nó sẽ được nhà trường giáo dục để trở thành đứa trẻ ngoan ngoãn. Nó học toán, học văn, học đạo đức và nhiều môn học khác nữa giống hệt như cách tổ tiên ông bà cụ kị nó học cách đây hàng trăm năm. Thế mà người ta đã chi bừa bãi hàng tỉ đôla Mỹ lấy từ mồ hôi nước mắt của cha mẹ nó để sửa đổi chương trình học triền miên suốt bao nhiêu năm qua. Vẫn là ông thầy đứng trên bục cao để giảng giải, để phân tích, để áp đặt mọi thứ, và khuyến khích duy nhất khả năng ghi nhớ của nó. Một nền giáo dục quá lý trí, cái gì cũng giảng giải sẽ làm cho đầu óc của đứa trẻ bị đần độn đi (một trạng thái abrutissement), tâm hồn nó bị đồng phục hóa, và sau này lớn lên nó sẽ tìm cách trả thù khi có dịp. Nhà trường phải biết tôn trọng cái “góc khuất tối”, cái phần khó lòng nhìn thấy rõ ở trong tâm hồn một đứa trẻ. Trẻ em phạm một sai lầm nào đó, thậm chí hút thuốc lá, bỏ học, đánh nhau, vẫn chưa phải là thảm họa. Thảm họa thực sự là khi nhà trường hất nó ra ngoài vỉa hè, đóng sập cánh cửa vĩnh viễn lại sau lưng nó, coi nó như quả bóng được đá đi đá lại giữa Nhà trường và Xã hội.

Đến tuổi 18, nó vào đại học, đấy là nếu như nó may mắn hơn hàng trăm ngàn bạn bè cùng trang lứa của nó mỗi năm bị chặn đứng một cách phũ phàng trước cánh cửa đại học, nếu như bố mẹ nó vẫn còn đủ tiền để trang trải việc học của nó trong 5 năm (tốn hơn nhiều lắm so với 12 năm học phổ thông), nếu như nó có đủ sức khỏe (vì trong 5 năm tới nó sẽ thường xuyên bị cái đói hành hạ), nếu như nó vẫn còn đủ nghị lực và lòng ham học (bởi vì đầu óc nó đã quá mệt mỏi sau 12 năm học phổ thông và bởi vì trong 5 năm tới nó vẫn tiếp tục phải ngồi thụ động nghe ông thầy giảng giải, nhồi nhét kiến thức), và nhiều “nếu như” khác nữa. Nó vẫn tiếp tục bị coi là “học trò”, nó không biết cách đọc sách, nó không biết tranh luận, tóm lại nó không biết bất kỳ một phương pháp tư duy nào khác ngoài một phương pháp duy nhất được dạy đồng loạt cho tất cả.

Trong tình hình như vậy thì nó sẽ học theo cách đối phó, đủ để thi tốt nghiệp cuối năm. Hằng tối nó sẽ la cà ở những quán cà phê rẻ tiền, những quán rượu cóc ở vỉa hè, uống rượu với chân gà nướng hai nghìn đồng một chiếc nhập lậu từ Trung Quốc, hoặc rủ bạn gái về ký túc xá leo lên giường tầng, kéo ri-đô nằm tâm sự với nhau …. Nghĩa là nó chẳng học được cái gì cho ra hồn, cho đến nơi đến chốn. Nó lười học không phải là lỗi tại nó.

Thế rồi sau khi tốt nghiệp đại học, nó bắt đầu đi xin việc rồi nếu may mắn là con ông cháu cha thì nó dễ dàng xin được vào làm ở một cơ quan, xí nghiệp, tổ chức nhà nước hoặc tư nhân nào đó (nếu không đó sẽ là một vấn đề cực kỳ nan giải, tốn rất nhiều thời gian, tiền bạc, công sức, chưa kể có khi tiền mất tật mang).

Sự tha hóa về văn hóa và đạo đức được thấy ở trong mọi thiết chế xã hội, chính trị, văn hóa, kinh tế, kinh doanh, thể thao, giáo dục. Hãy thử quan sát tâm hồn một con người bình thường, một con người được coi là “sạch sẽ” hiểu theo định nghĩa từ điển. Một tâm hồn mệt mỏi, chán chường, bạc nhược, vô cảm, nhạt nhẽo, tẻ nhạt, và do đó nó rất dễ chuyển thành thô lỗ, hung dữ, lưu manh. Nó không còn giữ được cái gì thiêng liêng hoặc nó không còn niềm tin vào cái gì thiêng liêng. Toàn bộ cuộc sống được xoay quanh làm sao kiếm được nhiều tiền, nhiều đất đai nhà cửa, chức vụ cao, hưởng thụ vật chất, tiếng tăm hão của gia đình, dòng họ. Hãy tự cứu lấy mình, đó là khẩu hiệu của hầu hết mọi người ngày hôm nay. Tất cả những kẻ tham nhũng đều có chung một tâm lý “mình không ăn thì thằng khác nó cũng ăn. Nói mình không ăn thì chẳng thằng nào nó tin”.

Dân sống ở thành phố sẵn sàng làm bất cứ điều gì phạm luật để có chỗ để ở, người nông dân sẵn sàng làm bất cứ điều gì để giữ lấy mảnh đất của mình. Tôi có dịp đi nhiều nước và tôi thấy không ở đâu việc xây cất nhà trái phép, việc khiếu kiện đất đai diễn ra phổ biến và trầm trọng như ở nước ta. Cá nhân tôi thấy một nghịch lý như thế này: thành phố Tokyo hoặc Băng Cốc còn có nhiều người vô gia cư (homeless) hơn Hà Nội. Có lần tôi đã đem chuyện này ra hỏi một số chuyên gia nước ngoài của Ngân Hàng Thế Giới. Câu trả lời của họ cũng đáng để suy nghĩ, đó là thế này: người dân ở những nơi đó họ có khả năng “cam chịu” hơn người Việt Nam. Họ không thấy bị đối xử bất công khi bị đuổi ra ngoài vỉa hè bởi vì họ tin rằng nhất định đến một lúc nào đó họ sẽ được quan tâm và sẽ lại có nhà ở. Có thể hiểu rộng ra thế này: những lợi ích, kết quả của phát triển phải được chia đều cho tất cả mọi người, dù điều đó có thể đến sớm hay muộn với người này hay người khác. Người Việt Nam không có khả năng “cam chịu” như thế. Họ muốn tự cứu mình trước cái đã, muốn ra sao thì ra!

Ngoài đường phố người ta sẵn sàng nổi khùng, chửi nhau, nện nhau, giết nhau mỗi khi va chạm xe cộ. Bởi vì người nọ không tin người kia sẽ bỏ qua, sẽ tha thứ cho mình, cho nên có thể “ra tay” được thì cứ ra tay trước cho an toàn! Ở nhiều nước khác, câu cảnh cáo “Này, hãy dừng lại ngay nếu không tôi gọi cảnh sát đấy” bao giờ cũng rất có tác dụng. Ở nước ta câu nói như vậy trở thành trò cười! Khi còn sống ở Đông Đức, tôi nhiều lần chứng kiến hai thanh niên đụng độ. Họ đứng sát vào nhau, gí đầu vào nhau giống như hai con gà chọi, mặt đỏ bừng, tay chỉ vào mặt nhau trong lúc cãi nhau bằng những lời rất gay gắt. Nhưng tuyệt nhiên chưa bao giờ tôi thấy hai bên lao vào đánh nhau. Do đó bạn bè của hai tốp chỉ cần đứng ngoài quan sát, không cần thiết phải nhảy vào ẩu đả. Cái gì giữ cho hai thanh niên đó không xúc phạm thể xác của nhau?

Tâm hồn khô cằn, chán chường, mệt mỏi, tầm thường, rỗng lòng tin là những yếu tố quyết định thái độ cư xử thiếu văn hóa và đạo đức của hầu hết con người trong xã hội ngày hôm nay. Ngày nay rất hiếm gặp những con người có tâm hồn sôi nổi, trong sáng. Xã hội giống như một sới vật khổng lồ ở đó hầu hết các đô vật đều không chơi đúng luật, sẵn sàng phạm luật để chiến thắng đối phương.

Bức tranh xã hội giờ đây nom thật ảm đạm, thảm hại, bế tắc. Sự ảm đạm, thảm hại, bế tắc càng trở nên ảm đạm, thảm hại, bế tắc hơn khi rất nhiều người cố tình không nhìn ra, cố tình không thừa nhận sự ảm đạm, thảm hại, bế tắc này. Người ta lấy hào quang văn hóa của quá khứ để phủ lên hiện tại, để che đậy hiện tại. Hệ quả của điều này là (i) người ta chỉ tập trung vào những giá trị đã trở thành hiển nhiên, những giá trị đã thành chắc chắn, hiển nhiên của quá khứ (Văn Miếu, ca trù, v.v.) và (ii) người ta thích tôn vinh cái tầm thường (médiocre) (Con đường gốm sứ – một sự chế nhạo nghệ thuật, một biểu hiện của gu thẩm mỹ nhem nhuốc – là một ví dụ cụ thể rất rõ rệt).

Cá nhân tôi cho rằng phải cứu lấy tâm hồn của con người. Đó là điều căn bản và có tính lâu dài. Tâm hồn con người phải được hưởng tự do tuyệt đối. Hãy chấm dứt dùng hào quang văn hóa quá khứ như là một mục đích tự thân. Những người trẻ tuổi phải được biết những gì thực sự đang xảy ra ngay ngày hôm nay. Chỉ khi nào họ được biết, chỉ khi nào họ được làm cho quan tâm tới những gì đang thực sự xảy ra ngày hôm nay, chỉ khi ấy cuộc sống của họ mới thực sự có mục đích. Nếu không họ ăn hạt cơm do người khác hôm nay làm ra, mặc cái áo được sản xuất ngày hôm nay, đi cái xe hiện đại nhất … nhưng cái đầu của họ hão huyền, u mê, nói chung gần giống với trạng thái tâm thần phân liệt. Những người trẻ tuổi phải được hưởng quyền nổi loạn trong học thuật. Họ không được phép tụ tập mang vũ khí xuống đường để gây rối, đốt xe hơi, cửa hiệu, nhưng họ có quyền tụ tập để tranh luận học thuật dưới mọi hình thức và về bất cứ chủ đề nào.

Nhà trường phổ thông phải là nơi để trẻ em thực hành cuộc sống dân chủ của một xã hội hiện đại. Hãy chấm dứt tâm lý cung cấp giáo dục cho trẻ em như là một sự “chăm sóc” hoặc “ban ơn”. Như vậy nhà trường sẽ trở nên khiêm nhường và nhân đạo. Khiêm nhường là bởi vì nhà trường biết đứng lùi lại một chút để quan sát, để tìm hiểu trẻ em. Nhân đạo là bởi vì nhà trường không đàn áp trẻ em một cách vô tội vạ.

Khi con người được trả lại về đúng với bản chất con người – con người là loài động vật xã hội có tư duy luôn khao khát cải tạo, đổi mới “chỗ ở” của mình – thì đầu óc của mỗi cá nhân sẽ trở nên lành mạnh hóa và nhờ đó xã hội sẽ lành mạnh hóa dần.

Luật pháp phải được trả lại đúng vị trí của nó: luật pháp là phương tiện để giải thích hành vi của con người chứ không phải là công cụ trừng phạt, răn đe. Như thế sẽ không có nhiều hơn một cách hiểu cho một hành vi nào đó. Chỉ có một cách hiểu, và đó là cách hiểu dựa vào luật pháp. Sự nghiêm minh không đến từ mức tuyên án nặng hay nhẹ. Sự nghiêm minh đến từ cách hiểu sự việc một cách rõ ràng, tường minh, trong sáng.

Nhà tù không phải là nơi tiêu diệt nốt phần nhân tính còn sót lại của con người. Nhà tù cũng phải là một cơ sở đầy tính nhân đạo. Người dân, truyền thông đại chúng phải được phép kiểm tra, kiểm soát tất cả các nhà tù một cách trực tiếp. Bất cứ ai quan tâm cũng đều được phép vào bất kỳ một nhà tù nào đó để nhìn tận mắt mọi thứ diễn ra trong đó và nói công khai những điều nhìn thấy cho toàn xã hội.

Lòng nhân đạo sẽ len lỏi, lan tỏa, ngấm dần dần vào tâm hồn của mỗi con người, ngấm dần dần vào mỗi hành động xã hội từ cấp cao nhất đến thấp nhất. Như thế xã hội sẽ dần dần trở nên an hòa, ổn định, cái ác sẽ bớt dần đi, không còn là điều diễn ra phổ biến và tràn lan như hiện nay.

Chúng ta hãy chấm dứt than vãn, chấm dứt sự liệt kê chỉ để mà liệt kê những cái xấu đang diễn ra tràn lan trong xã hội. Báo chí đưa tin cái xấu theo cách liệt kê cái xấu sẽ khuyến khích bản năng thấp hèn của người đọc. Đừng biến việc đọc báo thành một thú giải trí độc ác giống như ở thời của bạo chúa Nero công chúng sung sướng đến phát cuồng khi được xem những người Thiên chúa giáo bị xử tội bằng cách họ bị quẳng cho sư tử ăn thịt (tiểu thuyết Quo Vadis của nhà văn Ba Lan H. Sienkievich). Nhưng báo chí có quyền đi đến cùng để tìm ra sự thật.

Nói vắn tắt, cá nhân tôi kêu gọi xây dựng một xã hội nhân đạo thực sự, và tôi cho rằng hãy bắt đầu bằng việc xây dựng một nền pháp trị nhân đạo và một nhà trường nhân đạo, cả nhà trường phổ thông lẫn đại học.

P. A. T.
Hà Nội tháng 11 năm 2010.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest