Thời Sự, Bình Luân
Ưu việt XHCN:
XẾP HẠNG TỰ DO BÁO CHÍ 2010: VN XẾP THỨ 165 TRÊN LÀO 3 BẬC
Tổ chức Nhà Báo Không Biên Giới, RSF, vừa công bố bảng xếp hạng mức tự do báo chí của các nước trên thế giới năm 2010 trong đó Rwanda và Syria vào danh sách 10 nước đàn áp báo chí nhất thế giới cùng Trung Quốc, Bắc Hàn và Miến Điện.Ở Đông Nam Á, Việt Nam được xếp thứ 165, trên được Lào và Miến Điện.
Theo danh sách của tổ chức này, Cuba lần đầu tiên không nằm trong số 10 nước này kể từ khi bảng xếp hạng này được đặt ra năm 2002.
Bảng xếp hạng thường niên này đánh giá mức độ tự do báo chí ở 178 quốc gia trên thế giới và năm nay đã ca ngợi 6 nước Bắc Âu: Phần Lan, Iceland, Hà Lan, Na Uy, Thụy Điển và Thụy Sĩ, các nước đứng đầu bảng.
Theo phúc trình của RSF thì bốn quốc gia cộng sản tại châu Á là trong số 15 quốc gia xếp hạng thấp nhất trong bảng xếp hạng trong đó Bắc Hàn đứng thứ 177, Trung Quốc thứ 171, Việt Nam thứ 165 và Lào 168.
Tổng thư ký RSF, ông Jean-Francois Julliard nhắc lại kêu gọi Trung Quốc hãy thả người mới được giải thưởng Nobel vì hòa bình, ông Lưu Hiểu Ba, "một biểu tượng của tình trạng đàn áp tự do ngôn luận đang gia tăng tại Trung Quốc".
"Trung Quốc, mặc dù năng động về truyền thông và internet, vẫn ở vị trí thấp vì tình trạng kiểm duyệt và đàn áp không ngừng, đặc biệt tại Tây Tạng và Tân Cương."
Ông Julliard nói thêm rằng "trong khi tại Bắc Hàn là độc đoán như địa ngục" nơi ông Kim Chính Nhất vừa đưa con trai lên nối vị "tình trạng đàn áp đã trở nên mạnh tay hơn".
Bảng xếp hạng này cũng nhấn mạnh sự khác biệt lớn giữa tự do báo chí tại 4 nền kinh tế lớn trên thế giới - Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil và Nga.
Nhờ có những thay đổi về luật pháp, Brazil lên 12 bậc và ở vị trí thứ 58 trong khi Ấn Độ tụt 17 bậc xuống tứ 122, chủ yếu do tình trạng bạo động dữ dội tại Kashmir.
Còn tại Nga, ở vị trí 140, "cơ chế vẫn duy trì sự kiểm soát chặt chẽ vốn từ xưa đến nay".
Tại các nước Đông Nam Á còn lại, Thái Lan tụt 23 bậc, xuống vị trí thứ 53, trong khi Philippines tụt 34 bậc, xuống vị trí thứ 156.
Các nền dân chủ châu Á như Đài Loan, thứ 11, và Hàn Quốc, thứ 27, được khen về sự tiến bộ trong tự do báo chí.
( Nguồn: BBC )
XẾP HẠNG TỰ DO BÁO CHÍ 2010: VN XẾP THỨ 165 TRÊN LÀO 3 BẬC
Tổ chức Nhà Báo Không Biên Giới, RSF, vừa công bố bảng xếp hạng mức tự do báo chí của các nước trên thế giới năm 2010 trong đó Rwanda và Syria vào danh sách 10 nước đàn áp báo chí nhất thế giới cùng Trung Quốc, Bắc Hàn và Miến Điện.Ở Đông Nam Á, Việt Nam được xếp thứ 165, trên được Lào và Miến Điện.
Theo danh sách của tổ chức này, Cuba lần đầu tiên không nằm trong số 10 nước này kể từ khi bảng xếp hạng này được đặt ra năm 2002.
Bảng xếp hạng thường niên này đánh giá mức độ tự do báo chí ở 178 quốc gia trên thế giới và năm nay đã ca ngợi 6 nước Bắc Âu: Phần Lan, Iceland, Hà Lan, Na Uy, Thụy Điển và Thụy Sĩ, các nước đứng đầu bảng.
Theo phúc trình của RSF thì bốn quốc gia cộng sản tại châu Á là trong số 15 quốc gia xếp hạng thấp nhất trong bảng xếp hạng trong đó Bắc Hàn đứng thứ 177, Trung Quốc thứ 171, Việt Nam thứ 165 và Lào 168.
Tổng thư ký RSF, ông Jean-Francois Julliard nhắc lại kêu gọi Trung Quốc hãy thả người mới được giải thưởng Nobel vì hòa bình, ông Lưu Hiểu Ba, "một biểu tượng của tình trạng đàn áp tự do ngôn luận đang gia tăng tại Trung Quốc".
"Trung Quốc, mặc dù năng động về truyền thông và internet, vẫn ở vị trí thấp vì tình trạng kiểm duyệt và đàn áp không ngừng, đặc biệt tại Tây Tạng và Tân Cương."
Ông Julliard nói thêm rằng "trong khi tại Bắc Hàn là độc đoán như địa ngục" nơi ông Kim Chính Nhất vừa đưa con trai lên nối vị "tình trạng đàn áp đã trở nên mạnh tay hơn".
Bảng xếp hạng này cũng nhấn mạnh sự khác biệt lớn giữa tự do báo chí tại 4 nền kinh tế lớn trên thế giới - Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil và Nga.
Nhờ có những thay đổi về luật pháp, Brazil lên 12 bậc và ở vị trí thứ 58 trong khi Ấn Độ tụt 17 bậc xuống tứ 122, chủ yếu do tình trạng bạo động dữ dội tại Kashmir.
Còn tại Nga, ở vị trí 140, "cơ chế vẫn duy trì sự kiểm soát chặt chẽ vốn từ xưa đến nay".
Tại các nước Đông Nam Á còn lại, Thái Lan tụt 23 bậc, xuống vị trí thứ 53, trong khi Philippines tụt 34 bậc, xuống vị trí thứ 156.
Các nền dân chủ châu Á như Đài Loan, thứ 11, và Hàn Quốc, thứ 27, được khen về sự tiến bộ trong tự do báo chí.
( Nguồn: BBC )
-
tankhoasinh
- Posts: 838
- Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
- Contact:
Ký giả mất việc vì kỳ thị?
Ngô Nhân Dụng
Hệ thống truyền thanh NPR ở Mỹ mới sa thải một nhà báo vì lý do ông ta nói những lời bị coi là “kỳ thị.” Hành động này làm nổ bùng một cuộc tranh luận: Như thế nào thì một người bị coi là có ý kiến kỳ thị đối với những người khác?Ngô Nhân Dụng
Ở nước Mỹ, hầu như mọi người đều đồng ý “kỳ thị là xấu.” Nhất là nhà báo thì không nên có tư tưởng kỳ thị, tức là không được nuôi giữ thành kiến về một nhóm người nào, dựa trên chủng tộc, tôn giáo, phái tính, tuổi tác, vân vân. Những đối tượng hay được nêu lên để tránh thái độ và thành kiến phân biệt là người da đen, phụ nữ, người già, các sắc dân hoặc các tôn giáo thiểu số như người Do Thái, người gốc La Tinh, người Á Châu, người Hồi Giáo, vân vân. Ðặc biệt, các nhà báo phải tránh thái độ phân biệt. Một cơ quan truyền thông tỏ thái độ kỳ thị sẽ không được độc giả, thính giả tín nhiệm. Ðây là những nguyên tắc hầu như ai cũng đồng ý, thường được viết trong những bản văn về trách nhiệm và lương tâm chức nghiệp.
Nhưng thi hành các nguyên tắc đạo đức nhiều khi rất phức tạp. Hôm Thứ Tư vừa qua, ký giả Juan Williams, chuyên gia phân tích thời sự của hệ thống NPR (National Public Radio) đã tham dự một cuộc thảo luận trên đài ti vi của hệ thống Fox, do ký giả Bill O'Reilly điều khiển. NPR tuy gọi là “public,” nghĩa là của công, nhưng chỉ có 2% ngân sách là được chính phủ giúp, còn 98% là do gây quỹ lấy. NPR vốn có khuynh hướng “cấp tiến” (liberal), khác với Fox theo khuynh hướng bảo thủ (conservative). Ký giả Juan Williams là nhân viên của NPR nhưng đã cộng tác với Fox từ nhiều năm, cũng như nhiều ký giả khác vẫn làm cho cả hai đài.
Tuần trước, ông O'Reilly mới làm nhiều người bực mình khi ông nói hớ một câu, trong chương trình truyền hình của ông, rằng: “Người Hồi Giáo đã giết chúng ta ngày 11 tháng 9.” (Thay vì nói “một nhóm người Hồi Giáo” đã gây cuộc khủng bố đó). Lập tức, hai người cộng tác ngồi với ông trong “sô” (show) là Joy Behar và Whoopi Goldberg đã đứng dậy phản đối câu nói “vơ đũa cả nắm” này; họ còn bỏ đi luôn để tỏ ý bất bình. Nhân đó, trong “sô” ngày Thứ Hai vừa rồi, Bill O'Reilly mới hỏi bạn đồng nghiệp Juan Williams rằng ông có thấy người Mỹ đang gặp khó khăn mỗi khi đề cập đến người Hồi Giáo hay không? Williams đồng ý, và nói thêm rằng: “Bill, anh biết tôi không phải người kỳ thị; tôi đã viết những sách về phong trào đòi dân quyền (của người da đen) ở xứ này.” Juan Williams cũng là một người Mỹ da đen, ông nói tiếp, “Nhưng, tôi phải nói với anh, khi bước chân lên một cái máy bay mà tôi trông thấy một người ăn mặc kiểu như người Hồi Giáo, và tự nhiên tôi nghĩ, anh hiểu không, tôi muốn nói những người tự nhận họ trước hết là người Hồi Giáo, thế là tôi sợ, tôi lo lắng.” (Nguyên văn, I get worried. I get nervous).
Ngay sau khi cuộc đối thoại trên phát hình đi khắp nơi, nhiều tổ chức bảo vệ dân quyền của người Hồi Giáo đã phản đối. Tổ chức AIR, Ban Liên Lạc người Hồi Giáo Mỹ, ra thông cáo yêu cầu hệ thống đài NPR phải có thái độ. Ông Nihad Awad, giám đốc điều hành của AIR nói ông Williams hình như có ý nói rằng: “Tất cả những hành khách trông có vẻ Hồi Giáo đáp máy bay đều có thể coi là một mối đe dọa về an ninh một cách chính đáng.” Một ký giả Mỹ khác, Andrew Sullivan sáng Thứ Tư đã viết rằng câu Williams nói, rằng thấy người Hồi Giáo trên máy bay thì lo sợ, đúng là thái độ kỳ thị; “Nếu bây giờ có người da trắng nói thấy một người da đen đi trên đường với bộ dạng hung dữ, thì nghĩ ngay là anh da đen này sắp sửa trấn lột mình, như vậy có đáng gọi là kỳ thi hay không?”
Tối Thứ Tư, bà giám đốc tin tức đài NPR, Ellen Weiss, gọi điện thoại báo tin cho Williams biết anh bị sa thải khỏi đài NPR. Bà từ chối không cho anh gặp để giải thích, mặc dù Williams đã làm việc cho đài này từ 10 năm.
Một người lên tiếng bênh vực cho Williams là Whoopi Goldberg, ký giả đã bước ra khỏi phòng thâu hình để phản đối O'Reilly về câu nói vơ đũa cả nắm kết tội người Hồi Giáo. Goldberg nói: “Chẳng qua Williams chỉ muốn nói là anh ta lo lắng (nervous), nói như vậy có gì đâu? Sa thải anh ta thật là chuyện lố bịch.” Bernie Goldberg, một người cộng tác khác với Fox News, nói thẳng: “Nhiều người cấp tiến khi bước lên máy bay cũng cảm thấy giống như Juan vậy. Trong đó có những người cấp tiến làm việc cho NPR. Cái tội của Juan là nói nói thẳng ý nghĩ đó ra! Thêm một bằng chứng cho thấy họ chẳng cấp tiến chút nào cả!” Ðài Fox News cũng bênh vực Williams, và lập tức mời anh ký một hợp đồng cộng tác nhiều năm sắp tới. Hôm nay, Thứ Sáu 22 tháng 100, anh sẽ được mời điều khiển sô của O'Reilly.
Chủ tịch tổng giám đốc (CEO) đài NPR, Vivian Schiller, cho biết Juan Williams đã từng vi phạm các quy tắc đạo đức nghề nghiệp nhiều lần trước khi nói những câu mà đài coi là kỳ thị người Hồi Giáo hôm Thứ Hai vừa qua. Bà Shiller gửi thư giải thích với nhân viên rằng Quy Tắc Ðạo Lý Nghề Nghiệp của NPR nói rõ: “Các nhà báo và nhà phân tích tin tức của đài NPR không được phép tham dự những hoạt động truyền thông khuyến khích lối nói dạy đời và phỏng đoán (punditry and speculation) thay vì hành động phân tích dựa trên sự kiện xác thực.” Hội Các Ký Giả Chuyên Nghiệp (Society of Professional Journalists) hôm qua thông báo mặc dù hội ủng hộ quyền tự do phát biểu của Williams, nhưng “dựa trên đạo lý nghề nghiệp, yêu cầu các ký giả phải tránh nuôi thành kiến vì bất cứ lý do nào và chúng tôi thông cảm lý do đài NPR đã nêu ra trong quyết định (sa thải Williams).”
Ðiều mà mọi người sẽ tiếp tục bàn cãi là quả thật Juan Williams có “óc kỳ thị” hay không? Phát biểu một ý tưởng mà nhiều người Mỹ khác cũng nghĩ như vậy nhưng không dám nói ra, có nên coi là truyền bá tư tưởng kỳ thị hay không? Nếu trước đây Williams không bao giờ có thái độ, ý kiến ngược với chủ trương của đài NPR thì liệu anh ta có bị trừng phạt vì một câu nói hớ hôm Thứ Hai rồi hay không?
Việc sa thải một ký giả vì phát biểu quan điểm có tính cách kỳ thị xảy ra rất thường xuyên trong làng truyền thông ở Mỹ. Ðầu tháng 10 vừa qua, đài CNN đã cho nhà điều khiển chương trình Rick Sanchez nghỉ việc, vì ông đã nói những câu ám chỉ người Do Thái ở Mỹ không phải là một nhóm thiểu số. Rick Sanchez, một người Mỹ gốc Cuba. Sanchez đã phê bình một nhà hài hước, Jon Stewart, người vẫn đem Sanchez ra chế diễu trên ti vi. Anh bảo Stewart là người kỳ thị, và nói thêm trong nghề nghiệp chính anh hay bị đối xử phân biệt. Khi có người hỏi anh có biết Stewart là người Do Thái hay không, Sanchez nói: “Hầu hết mọi người điều khiển đài CNN cũng giống như Stewart!” Ngày hôm sau Sanchez bị đài CNN sa thải, mặc dù anh đã tuyên bố trên ti vi rằng anh ân hận đã nói những lời hàm hồ, chỉ trích Jon Stewart một cách bất công.
Giới truyền thông Mỹ lúc nào cũng cố tránh thái độ cho thấy họ có tinh thần phân biệt chủng tộc, tôn giáo, ngôn ngữ, văn hóa, vân vân. Nhưng ngay trong phạm vi chính trị, người ký giả cũng phải tránh không phô bày các thành kiến có tính cách thiên lệch, đảng phái. Ðó là một quy tắc đạo lý nghề nghiệp rất nghiêm nhặt, và rất khó theo!
Hồi tháng 6 vừa qua, một lý giả nhật báo Washington Post là blogger David Weigel đã phải từ chức, ngay sau khi nhận việc được ba tháng, chỉ vì những ý kiến anh đã bày tỏ trên blog của mình, trước khi nhận việc với tờ Post. Nhật báo Washington Post thường có khuynh hướng cấp tiến và nghiêng về đảng Dân Chủ. David Weigel cũng là một ký giả cấp tiến, từng gây thù oán với các ký giả bảo thủ. Một người làm blog bảo thủ đã tìm ra trong quá khứ David Weigel từng viết những lời chỉ trích (thóa mạ) rất nặng nề đối với một số nhà chính trị Cộng Hòa và các ký giả bảo thủ khác. Mặc dù chỉ viết trên blog riêng của anh, nhưng các ý kiến mà Weigel đã bày tỏ thuộc phạm vi thông tin công khai, ai cũng đọc được. Vì thế báo Washington Post phải cho anh nghỉ việc. Vì họ sợ rằng khi độc giả biết Weigel, một nhân viên của tờ báo, có tư tưởng thiên lệch chống các nhà chính trị đối nghịch như vậy, thì các ý kiến của anh ta khi phân tích, phê bình về các nhân vật trên sẽ không còn được độc giả tin tưởng là khách quan, vô tư nữa. Chính Weigel cũng thấy anh có thể không còn được độc giả tín nhiệm trong nghề làm báo, cho nên xin rút khỏi tờ báo.
Mọi người có quyền mang tư tưởng, ý kiến chính trị riêng. Nhưng khi một ký giả cho thấy vì thiên kiến của mình mà hy sinh đức công bằng, khách quan khi loan tin hay phân tích tin tức, thì người đó nên quay ra viết truyền đơn vận động bầu cử, tốt hơn là viết báo hay làm đài truyền hình. Ðó là một quy tắc đạo đức nghề nghiệp để bảo vệ uy tín của cơ quan truyền thông. Một tờ báo không thể đóng vai tờ truyền đơn chính trị! Người dân một nước dân chủ đã được cung cấp rất nhiều truyền đơn cổ động chính trị rồi. Làm báo, đài chuyên nghiệp phải cung cấp những sản phẩm khác!
Nhưng theo đúng được quy tắc trên rất khó, vì đại đa số chúng ta đều có ít nhiều thiên kiến về chính trị! Một biện pháp được các báo, đài ở Mỹ áp dụng để bớt thiên lệch trong việc làm tin và phân tích tin tức. Nhiều báo và đài đã tuyển các ký giả có khuynh hướng đối nghịch với chính tờ báo, và đăng bài của các nhà bình luận thuộc khuynh hướng trái nghịch nhau, để tạo nên những dư luận cân bằng.
Cuối cùng, quý vị độc giả thấy các anh Juan Williams, David Weigel và Rick Sanchez có đáng bị sa thải hay không? Câu trả lời của quý vị sẽ cho biết quý vị nghĩ sao về đạo lý nghề truyền thông và vai trò của truyền thông trong một xã hội tự do dân chủ. Ký giả này có ý kiến riêng, nhưng xin phép giữ kín không nêu ra. Vì muốn nêu ra một ý kiến sẽ phải trình bày thêm rất nhiều dữ kiện, một bài báo không thể đủ chỗ!
Bầu Cho Cộng Hòa Hay Dân Chủ?
Không bao lâu nữa là sẽ đến ngày bầu cử giữa mùa, ngày 2 Tháng 11 tới. Một số lớn dân Mỹ sẽ không đi bầu, nhất là trong khối Dân Chủ. Đối với những người có đủ quan tâm và chịu khó đi bầu thì vấn đề đặt ra là bầu cho ai?Một cách thực tế, cuộc bầu này là một trưng cầu dân ý về TT Obama. Phe Dân Chủ hiểu rõ vấn đề nên đưa ra chiến lược tranh cử thật giản dị: nhắc lại những tội cũ của TT Bush với hàm ý bầu Cộng Hòa là bầu cho “căn nhà đổ nát” của Bush, trong khi đúng ra thì phải bầu cho những thành quả vĩ đại của TT Obama.
Trên cột báo này, cả hai vấn đề đã được viết khá nhiều, nhưng cũng cần nhắc lại, để có dịp nhìn rõ sự thật trong cái khói hỏa mù của truyền thông “phe ta”, và có một kết luận: bầu cho ai?
TỘI CỦA TT BUSH
Trên căn bản, phe Dân Chủ mang tình trạng kinh tế của Bush ra đe dọa cử tri. Bush bị tố cáo hai tội chính, dĩ nhiên không kể một vạn tội lớn nhỏ khác.
Tội thứ nhất mà TT Bush bị tố cáo là cắt thuế nhà giàu, mà lại tiêu xài vung vít, biến dư thừa ngân sách của TT Cinton thành thâm thủng hàng ngàn tỷ.
Trước hết phải nói dư thừa ngân sách của TT Clinton là nhờ vào sự kiện hai cơn sốt điện toán dot.com và cơn sốt gia cư đã tạo ra một bong bóng phồn vinh giả tạo, gia tăng thu hoạch thuế rất lớn cho cả nước. Trong khi đó, ngay từ năm 1994, tức là hai năm sau khi Clinton đắc cử, Cộng Hoà đã chiếm được đa số tại cả Thượng Viện lẫn Hạ Viện, không cho Clinton tung ra những chương trình tốn kém nào nữa. Ta còn nhớ tháng 11 năm 1995, quốc hội Cộng Hòa không chấp thuận ngân sách của TT Clinton, khiến guồng máy chính quyền bế tắc, ngưng hoạt động mất mấy ngày vì hết tiền. Hai yếu tố bội thu thuế và giới hạn chi tiêu Nhà Nước đã đưa đến tình trạng bội thu ngân sách mà phe Dân Chủ không ngừng khoe khoang, trong khi TT Clinton thật ra không có công trạng gì. Đảng Dân Chủ không phát minh ra internet như ông Phó Al Gore khoác lác, do đó cũng không tạo ra cơn sốt dot.com, và TT Clinton cũng không phải người chặn đứng các chi tiêu của Nhà Nước.
Cuối trào Clinton, ngay trước khi Bush nhậm chức thì bong bóng dot.com xì hơi, hàng ngàn công ty điện toán dot.com vỡ nợ, và nhà nước không còn thu được tiền thuế trên hàng ngàn tỷ lợi nhuận của mấy công ty này nữa. Nước Mỹ đi vào suy trầm kinh tế. Rồi vài tháng sau đó là vụ 9/11, với hậu quả là hàng ngàn tỷ phải chi vào công tác an ninh trong nước, và diệt khủng bố ngoài nước, tại Afghanistan và Iraq. Hai yếu tố thất thu thuế do suy trầm kinh tế, và chi phí chiến tranh chống khủng bố đã đưa đến thâm thủng ngân sách không tránh được, mà khó có thể nói là lỗi của Bush được. Bush không tạo ra suy trầm kinh tế năm 2000, và Bush cũng không chủ mưu vụ 9/11 (mặc dù không thiếu gì người đầu óc không bình thường vẫn tố Bush ngụy tạo vụ này).
Phe Dân Chủ luôn tố cáo Bush nâng đỡ nhà giàu, cắt thuế cho họ. Nhưng lại không nói cho rõ là TT Bush năm 2003 cắt thuế cho tất cả mọi giới, giàu cũng như nghèo. Trên thực tế, giới nhà nghèo dưới thời Bush đóng thuế ngày một ít trong khi giới nhà giàu đóng thuế ngày một nhiều hơn. Thống kê của sở thuế IRS cho tám năm của TT Bush cho thấy tỷ lệ thuế thu được từ khối 1% những người giàu nhất đã tăng từ 33% tổng số thu năm 2001, lên đến 40% năm 2008. TT Obama đòi tăng thuế của “nhà giàu” vì nhu cầu “công bằng” (fairness). Còn công bằng gì khi 1% những người giàu nhất đóng góp 40% tổng số thuế thu được của cả nước; trong khi 40% dân Mỹ không đóng một xu thuế nào, nhưng lại lãnh tới hai phần ba tiền trợ cấp an sinh xã hội của cả nước. Con bò vắt mãi cũng sẽ hết sữa thôi.
Tội thứ hai TT Bush bị tố là tạo ra khủng hoảng gia cư và tài chánh cuối năm 2008, đưa đến khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp cao hiện nay. Thực tế, cuộc khủng hoảng lớn nhất lịch sử Mỹ này đã manh nha từ hơn ba chục năm, và lớn mạnh trong các chính sách gia cư và tín dụng mỵ dân của các TT Dân Chủ Carter và Clinton, chứ không phải mới nẩy sinh ra trong mấy năm của Bush. Phe Dân Chủ tố giác Bush thả lỏng tín dụng gia cư để giúp tài phiệt Wall Street làm giàu, mà cố ém nhẹm chuyện đảng Dân Chủ đã nắm quyền kiểm soát quốc hội từ 2006, hai năm trước khi khủng hoảng bùng nổ, và đã ngăn cản không cho Bush ra luật kiểm soát tín dụng gia cư.
Đài CNN ngày 8 tháng 10 vừa qua đã mở cuộc thăm dò so sánh Bush và Obama. Kết quả Obama thắng Bush 47%-45%, cách biệt có 2% trong khi xác xuất sai trật là 4%. Tức là cả hai ngang ngửa nhau. Cách đây chưa tới hai năm, mức hậu thuẫn của Obama là gần 70% trong khi của Bush là 35%. TT Obama càng đổ thừa Bush bao nhiêu thì khoảng cách biệt lại càng ít đi.
Lạ lùng hơn nữa, theo thăm dò của báo phe ta Washington Post, một phần tư đảng viên đảng Dân Chủ (Dân Chủ!) cho rằng trở về với các chính sách của Bush là điều … tốt! (… but almost a quarter of Democrats say a GOP-led Congress would take the country in a new and better direction or say a return to Bush’s policies would be good.)
Đổ thừa mãi thì cũng hết người tin. Dân Mỹ hình như có trình độ hiểu biết cao hơn TT Obama nghĩ, mặc dù gần đây TT Obama đã công khai than phiền dân Mỹ hơi kém thông minh khi không nhìn thấy những thành quả cùa ông.
THÀNH QUẢ CỦA TT OBAMA
TT Obama khoe bốn “thành tích vĩ đại” của ông. Chấm dứt cuộc chiến tại Iraq, ra các luật “làm nên lịch sử” kích cầu kinh tế, cải tổ y tế, và cải tổ tài chánh.
Tháng 7 vừa qua đánh dấu ngày quân lực Mỹ chấm dứt tham chiến tại Iraq. Phó TT Biden lớn tiếng khoe là sách lược của TT Obama đã thành công, giúp cho ông giữ đúng lời hứa chấm dứt việc lính Mỹ tham chiến tại đây. Không ít đệ tử của Obama đã tung hô ông ngay. Điều ông Biden –và cả Obama- không nói ra và các đệ tử ngây ngô không biết, là quân tác chiến Mỹ rút ra khỏi Iraq là tuân theo hiệp ước đã được TT Bush (không phải Obama) ký kết với Thủ Tướng Al Maliki năm 2008. Trên căn bản, tình hình Iraq vẫn nghiêm trọng. Nhưng hiển nhiên là đã có thành quả và đó là thành quả của chiến lược đôn quân của TT Bush năm 2007, không liên quan gì đến Obama lúc đó còn đang lo tranh cử và lớn tiếng chỉ trích việc đôn quân đó. Cả ông Biden lúc đó cũng lớn tiếng chỉ trích chiến thuật đôn quân, mà ông cho là mang thêm lính Mỹ vào chỗ chết. Nếu TT Bush lúc đó áp dụng chiến lược không đôn quân mà Obama và Biden kêu gọi thì chắc chắn quân Mỹ đã không rút lui êm thắm năm 2010, mà đã tháo chạy có lẽ từ ngày “30 Tháng 4” năm 2009 bằng trực thăng bay từ nóc tòa đại sứ Mỹ rồi.
Thành quả thứ hai, luật kích cầu kinh tế đã hoàn toàn thất bại, chẳng giảm được nạn thất nghiệp, mà chỉ giúp nước Mỹ ôm một khối nợ khổng lồ. Kinh tế vẫn chưa ra khỏi lủng củng gần hai năm sau khi TT Obama nhậm chức. Nguyên ê-kíp kinh tế đã tháo chạy trở về dạy học. Họ đều là “siêu giáo sư” của Harvard, Stanford, …, tuyệt hảo về lý thuyết trừu tượng nhưng không biết giá một ổ bánh mì là bao nhiêu ngoài chợ.
Tháng Chín vừa qua, đã có thêm 95.000 người mất việc (đúng ra là 159.000 người mất việc, 64.000 kiếm được việc, kết số thuần là mất 95.000). Gần hai năm sau 800 tỷ kích cầu kinh tế, thiên hạ vẫn tiếp tục mất việc. Theo các chuyên gia, muốn trở về tỷ lệ thất nghiệp 5% của thời “đổ nát” Bush, thì mỗi tháng phải có thêm 300.000 việc làm (thay vì mất 95.000), liên tục trong 60 tháng từ nay cho đến tháng 9 năm 2015. Đấng Tiên Tri cho dù có đi trên mặt nước được, cũng không thể nặn ra từng đó việc làm.
Thành quả thứ ba, luật cải tổ y tế biểu quyết bằng cửa sau, dù chưa áp dụng, đã bị gần 60% dân Mỹ chống. Một thăm dò mới nhất của cơ quan Penn-Schoen (cả hai ông đều là cựu phụ tá cao cấp của TT Dân Chủ Clinton) cho thấy ngay cả 23% đảng viên Dân Chủ cũng muốn thu hồi luật này. Trong số gần 300 dân biểu và thượng nghị sĩ Dân Chủ đang tranh cử trở lại, không có một người nào dám khoe là mình đã bỏ phiếu thông qua luật cải tổ y tế.
Tình trạng thất nghiệp cao có liên quan trực tiếp đến cải tổ y tế. Mặc dù tăng trưởng kinh tế đã hết tuột dốc từ tháng 6 năm 2009, nhưng phần lớn các công ty đã không thuê thêm nhân viên vì còn cân nhắc tác hại của luật cải tổ y tế. Công ty McDonald đe dọa cắt bảo hiểm y tế của 39.000 nhân viên bán thời vì nếu áp dụng luật mới, chi phí bảo hiểm cho các nhân viên này sẽ quá đắt, khiến chính quyền Obama phải vội vã đặc miễn không áp dụng luật cải tổ y tế cho McDonald trong ít nhất là một năm nữa. Hàng loạt công ty và nghiệp đoàn khác đã mau mắn bắt chước theo McDonald, đòi được hưởng đặc miễn này. Và TT Obama đã phải đồng ý đặc miễn cho nghiệp đoàn giáo chức (United Federation of Teachers), và khoảng ba chục công ty (tính cho đến ngày bài này được viết, sẽ còn nhiều công ty đòi hưởng đặc miễn trong những ngày tới).
Luật mới chưa áp dụng đã phải “đặc miễn” không áp dụng cho các đại công ty và nghiệp đoàn. Thế thì áp dụng cho ai? Tiểu thương và những người dân bình thường thôi sao? Những người nào vẫn còn tin TT Obama tranh đấu cho tiểu thương, cho dân nghèo thấp cổ bé họng, chống các thế lực tài phiệt và nghiệp đoàn nên suy gẫm về chuyện đặc miễn này. Cũng nên coi lại sao luật mới lại khiến chi phí bảo hiểm y tế sẽ quá đắt như McDonald và các nghiệp đoàn than phiền đến độ phải chấp nhận đặc miễn? Sao không giống lời hứa hẹn giảm chi phí y tế của TT Obama vậy?
Thành quả thứ tư là luật cải tổ tài chánh. Thiên hạ chưa ai thấy gì cụ thể. Chỉ thấy các ngân hàng vẫn than vắn thở dài, để có lý do không cho ai mượn tiền trong khi vẫn công bố lời cả trăm tỷ.
Trong bốn “thành quả vĩ đại” của TT Obama thì cái đầu là thành quả nhận vơ, còn ba cái sau là hão huyền.
Ngoài những thành quả giả tưởng này ra, thì cũng còn đầy rẫy những tin xấu khác.
- Cuộc chiến tại Afghanistan ngày càng rối mù. TT Karzai, không còn tin tưởng vào đồng minh Mỹ nữa và bắt đầu đi đêm với Taliban, đề phòng một buổi sáng tươi đẹp nào đó, TT Obama tuyên bố “đại thắng mùa xuân” rồi rút quân Mỹ về “trong danh dự”, cho Karzai vài tháng ngoi ngóp trước khi chìm, mà tiếng Mỹ gọi là “decent interval”.
- Nguy cơ khủng bố Hồi giáo quá khích vẫn không suy giảm bất chấp những vuốt ve xin lỗi của TT Obama.
- Rồi tin mới nhất: tướng Jim Jones, Cố Vấn An Ninh của TT Obama cũng ca bài cáo biệt, thay thế bằng ông Tom Donilon, là một phụ tá thân cận lâu năm của Obama từ ngày còn tranh cử. Điều đáng nói là trong cuốn sách mới đây của nhà báo Bob Woodward (đã nói qua trên cột báo này tuần trước), Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert Gates, khi bình luận về ông Donilon, đã phát biểu ông Donilon mà làm Cố Vấn An Ninh thì sẽ là đại họa (disaster). Xào xáo gia cang vẫn tiếp tục trong khi lãnh đạo … đi du lịch (đầu tháng 11 này, TT Obama sẽ công du thăm bốn nước Á Châu). Theo thông tấn xã Reuters, bộ trưởng Gates, đô đốc Mike Mullen, tổng tham mưu trưởng quân đội, và ngay cả phát ngôn viên Robert Gibbs cũng sẽ ra đi đầu năm tới, sau bầu cử. Con tàu tiếp tục chìm, thủy thủ tiếp tục nhẩy khỏi tàu.
Nếu cuộc bầu cử tới là một cuộc trưng cầu dân ý về thành tích của TT Obama, thì không cần coi thăm dò dư luận cũng biết là đa số dân Mỹ sẽ bầu cho đảng nào.
Vấn đề Việt Nam
Đối với cử tri Việt, ngoài những vấn đề về việc làm, y tế, an sinh, giáo dục, xiết nhà, v.v…, mà chúng ta phải cân nhắc kỹ khi bỏ phiếu cho một dân cử địa phương, tương tự như những công dân Mỹ khác cũng phải làm, còn có vấn đề chính sách của Mỹ đối với các vấn đề liên quan đến Việt Nam.
Nói chung, các chính quyền Mỹ, Cộng Hòa hay Dân Chủ, cũng đều ưu tư về vấn đề nhân quyền, tự do dân chủ tại Việt Nam, và hầu hết các vị dân cử của cả hai đảng trong các khu vực đông người tỵ nạn định cư, đều chia sẻ những ưu tư đó, và cũng đã sốt sắng tranh đấu bên cạnh cộng đồng tỵ nạn. Công bằng mà nói, một hay hai vị dân cử Mỹ -hay Mỹ gốc Việt- đòi nhân quyền cho Việt Nam chẳng thể khiến VN biến thành một nước tự do dân chủ, cho nên chúng ta cũng cần cân nhắc một cách thực tế vai trò và ảnh hưởng cụ thể của họ trong chính sách đối ngoại của Mỹ cũng như trong chính sách đối nội của nhà cầm quyền Việt Nam.
Nhưng nhìn vào chính sách của Mỹ đối với các vấn đề tại Đông Nam Á, người ta không khỏi lo lắng cho những biến chuyển gần đây. Người ta có thể đặt câu hỏi những vụ Trung Quốc công khai lấn lướt Việt Nam, từ Hoàng Sa, Trường Sa, bắt dân đánh cá Việt Nam, rồi vụ bauxit, tất cả đã xẩy ra không phải dưới thời cao bồi Bush, mà dưới thời tổng thống “ôn hòa” Obama. Có phải chính sách ôn hòa đó đã gửi một thông điệp yếu đuối đến Bắc Bình, khiến họ đã mạnh dạn hơn không? Và đối phó với sự “mạnh dạn” đó thì chính quyền Obama sẽ làm gì? TT Obama có thể gửi hàng không mẫu hạm qua Việt Nam cho các quan chức lên xem chơi, nhưng không ai tin ông sẽ gửi thủy quân lục chiến qua bảo vệ Việt Nam chống “Thiên Triều” hết. (10-10-10)
Vũ Linh
Mặt Thật (cũng là Mặt Trái) của Ban Việt ngữ BBC hiện tại
Ban Việt ngữ đài BBC và Việt Nam
Nguyễn Tường Tâm
Kỳ 1Ban Việt ngữ đài BBC và Việt Nam
Nguyễn Tường Tâm
Trong thời gian gần 10 năm trở lại đây, người Việt hải ngoại nhận xét với nhiều bất mãn cho rằng các nhân viên ban tiếng Việt của đài BBC là Việt Cộng, ý nói họ là nhân viên của nhà cầm quyền Việt nam, chuyên loan tin một chiều. Nhưng đó chỉ là những đồn đãi và bất mãn mà chưa ai nêu lên một bằng chứng nào. Nhưng qua dip tiếp xúc trực tiếp, một thành viên trong ban Việt Ngữ đài BBC đã vô tình hé lộ cho người viết rằng gần như họ làm việc khá chặt chẽ với sự chỉ đạo của nhà cầm quyền Cộng sản Việt nam.
Tác giả và Ban Việt Ngữ đài BBC 2001. Tác giả đứng thứ 3 từ bên phải - người đối đáp
với tác giả đứng thứ 3 từ bên trái. HÌNH DO TÁC GIẢ CUNG CẤP
Nghe giọng nói của các xướng ngôn viên trong ban tiếng Việt BBC trong gần 10 năm trở lại, người Việt hải ngoại nhận ra ngay đó là giọng nói của những người miền Bắc hay từ miền Bắc vào Nam sau 1975 hay con cháu của những người này dù được sinh đẻ trong Nam. Kể từ ngày 30/4/1975, cùng với hàng triệu người miền Bắc tràn vào Nam là giọng nói đặc biệt của họ, giọng của người Hà Nội hiện nay mà họ tự hào là một giọng nói chuẩn. Cộng đồng người Việt hải ngoại thì không cho rằng đó là giọng nói chuẩn của người Hà Nội trước 1954.
Nhưng với chương trình phát thanh Việt Ngữ của một đài hải ngoại như đài VOA mà người viết có thời gian làm việc thì nhận định của người Việt hải ngoại về giọng nói của người miền Bắc hiện nay không thành vấn đề. Điều quan trọng là các chương trình đó đang nhắm tới các thính gỉa trong nước và họ thấy rằng người Việt hải ngoại xa nước lâu ngày rồi, giọng nói không còn dễ nghe đối với người trong nước nữa, vì thế về lâu về dài họ muốn tuyển các xướng ngôn viên và biên tập viên từ trong nước để dễ tiếp cận thính giả trong nước hơn. Tuy nhiên hiện nay đại đa số nhân viên kỳ cựu của ban Việt ngữ đài VOA vẫn là người Việt hải ngoại thế hệ thứ nhất và cộng đồng người Việt hải ngoại thế hệ thứ nhất tại Hoa Kỳ, thông thạo cả tiếng Anh và tiếng Việt vẫn còn thừa khả năng cung ứng nhân lực cho nên ban Việt ngữ đài VOA chưa tuyển nhiều nhân viên từ trong nước.
Có lẽ đài BBC cũng có mục tiêu tuyển dụng nhân viên ban Việt ngữ từ trong nước như đài VOA. Đồng thời tại Anh quốc, đa số thuyền nhân thế hệ thứ nhất đều gốc miền Bắc, trình độ văn hóa thấp, lại không chịu và không có khả năng theo học đại học Anh quốc nên không cung cấp được đủ nhân lực thông thạo cả hai ngôn ngữ cho ban Việt ngữ đài BBC. Hai lý do vừa nêu khiến BBC phải tìm mướn những người trẻ tốt nghiệp đại học trong nước. Trong 10 năm qua, những giọng nói quen thuộc với thính giả từ trước 1975 của các xướng ngôn viên người miền Nam đã biến mất, chỉ còn các xướng ngôn viên gốc miền Bắc với giọng nói của đặc thù của họ.
Việc tuyển dụng người từ trong nước chính là đầu mối để nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam thực hiện 2 mục tiêu: 1-Lợi ích cá nhân: Chỉ cho phép các con cái những cấp lớn được thu dụng vào BBC. 2-Lợi ích tình báo: Thực hiện chiến thuật cổ điển về tình báo của miền bắc là “Nằm sâu, leo cao” để thu thập tin tức của nước ngoài và dần dần tiến tới khuynh đảo cơ quan truyền thông nước ngoài, biến cơ quan truyền thông nước ngoài thành cái loa tại hải ngoại của truyền thông “lề phải” ở trong nước. Chiến thuật tình báo “nằm sâu, leo cao” đã được chính quyền miền Bắc áp dụng thành công trong rất nhiều trường hợp trong chiến tranh Việt nam, ví dụ họ đã cài được cả nhân viên tình báo làm cố vấn tổng thống miền Nam (điệp viên Huỳnh Văn Trọng) và cài được một nhà báo có uy tín trong giới báo chí quốc tế (điệp viên Phạm Xuân Ẩn.)
Việc đòi hỏi văn bản qui định trọng trách đảng giao cho các nhân viên ban Việt ngữ đài BBC gốc miền Bắc sẽ không bao giờ có. Nhưng tất cả những ai từng làm việc trong đảng hay chính quyền cộng sản đều biết một qui luật bất thành văn là đảng cộng sản có thói quen và khả năng lãnh đạo hữu hiệu không cần văn bản. Ví dụ mới nhất của lối cai trị không cần văn bản là vụ cấp trên (không biết là ai) chỉ thị miệng cho nhà thơ Phạm Sĩ Sáu, trưởng ban Giám Khảo phải hủy bỏ giải nhất mà Liên Chi Hội Nhà Văn Đồng Bằng Sông Cửu Long đã trao cho bài thơ “Trăng Nghẹn” của Hoài Tường Phong (1)
Chính quyền Việt nam hiện nay có cơ quan chuyên quản lý những người làm việc cho cơ quan nước ngoài. Về mặt hành chánh không chính phủ ngoại quốc nào có thể chê trách việc nhà nước Việt Nam tổ chức một cơ quan như thế. Nhưng các cơ quan nước ngoài, với truyền thống tự do và trong sáng (transparency), họ không biết rằng nhiệm vụ chính thức của cơ quan này thực là đáng lên án. Với quyền điều tra lý lịch những người trong nước trước khi được cơ quan nước ngoài thuê mướn, trên danh nghĩa là để bảo vệ cơ quan nước ngoài, cơ quan an ninh & tình báo của nhà nước đã có quyền tuyệt đối trong việc quyết định ai được BBC tuyển dụng. Thật dễ dàng nhận ra rằng cơ quan an ninh Việt nam sẽ lợi dụng quyền tuyển dụng tối thượng này để gài đặt, ép buộc những người này phải làm thêm nhiệm vụ tình báo, thu thập các tin tức liên quan tới cơ quan nước ngoài để báo cáo về cơ quan an ninh trong nước.
Ở những văn phòng tại Việt Nam của nước ngoài hay cơ quan quốc tế, ngay cả những nhân viên thường như nhân viên hành chánh, hay lao công cũng bị ép buộc nhận thêm nhiệm vụ báo cáo định kỳ những tin tức của cơ quan họ làm việc. Đối với những cơ quan quan trọng về chính trị, truyền thông như Phòng thông tin Hoa Kỳ ở Hà Nội hay BBC, thì việc cơ quan an ninh Việt Nam cài người và ép buộc người được thu nhận phải làm thêm việc thu thập tin tức cho cơ quan an ninh là điều đương nhiên.
Bằng chứng của việc nhà cầm quyền Việt nam đã thành công trong việc gài các con ông cháu cha của họ vào ban Việt ngữ đài BBC thật dễ thấy khi thính gỉa còn nhớ cách nay khoảng hơn một năm, trong cuộc phỏng vấn một bộ trưởng trong nước, thay vì trả lời lịch sự với một phóng viên của cơ quan truyền thông có uy tín quốc tế như BBC, ông bộ trưởng nọ lại ăn nói với người phóng viên đó như với chính con em của ông ta. Ông ta dõng dạc lên tiếng dậy dỗ người phóng viên BBC phỏng vấn ông là, “Này, cần phải học hỏi thêm về văn hóa Việt nam đi nhá!” Tôi không nhớ chính xác câu “dậy dỗ” của ông ta, nhưng đại khái là như vừa trích dẫn. Rõ ràng vì anh phóng viên nọ là người của chính quyền cài vào cho nên vị lãnh đạo trong chính quyền mới coi thường và dám có giọng kẻ cả như vậy.
Việc muốn được Phòng thông tin Hoa Kỳ tại Hà Nội hay BBC thu dụng, thì người trong nước phải bị điều tra lý lịch và thi hành nhiệm vụ gián điệp do cơ quan an ninh trao phó đã được một thanh niên làm việc cho Phòng thông tin Hoa Kỳ tại Hà Nội và một thành viên trong ban Việt ngữ đài BBC xác nhận với tôi.
Năm 2000, khi tôi còn làm việc tại đài VOA ở Washington D.C., chợt thấy một thanh niên trẻ tới thăm đài tôi hỏi anh ta ở đâu tới thì anh ta cho biết làm việc tại Phòng thông tin Hoa Kỳ tại Hà Nội cho nên được cho sang Hoa Kỳ tham quan. Tò mò tôi hỏi trước khi vào làm cho Phòng thông tin Hoa Kỳ anh ta có bị điều tra lý lịch không thì anh ta nói là không. Tôi không tin nên nói với anh ta rằng trước 1975, ở miền Nam, rất là tự do, nhưng cho dù chỉ xin vào làm quét dọn cho các căn cứ Mỹ cũng phải qua cơ quan cảnh sát điều tra lý lịch, huống chi là ngày nay với đảng cộng sản mà anh lại được Phòng thông tin Hoa Kỳ tuyển dụng thì làm sao không khỏi bị cơ quan an ninh điều tra lý lịch. Anh ta cười thật thà cho biết, “Với em thì mấy bác ấy không phải điều tra nữa vì trước kia em làm ở cơ quan khác các bác ấy đã điều tra lý lịch của em rồi.” Tôi không hỏi trước kia anh ta làm cơ quan gì. Nhưng tôi hỏi tiếp, “Thế vào làm ở Phòng thông tin Hoa Kỳ tại Hà Nội anh có phải báo cáo thường xuyên cho cơ quan an ninh không?” Lần này thì anh ta không cố dấu nữa mà thú thật ngay, “Khi nào có gì thì mới báo cáo.” Như thế là đã quá rõ, và tôi không hỏi tiếp nữa.
Vài tháng sau, năm 2001, khi đi du lịch London, tôi ghé thăm ban Việt Ngữ đài BBC. Anh trưởng ban và các anh chị em trong ban tiếp tôi với thái độ niềm nở. Lúc bấy giờ trưởng ban là con em miền Nam và là một tiến sĩ ở Úc. Anh này rất trẻ, có lẽ mới ngoài 30, công dân Úc nhưng là thường trú nhân Hoa Kỳ. Anh cho biết sau khi hết khế nước với BBC anh sẽ tới sinh sống tại Nam California. Tất cả 8 nhân viên còn lại gồm có 5 nam và 3 nữ, đều rất trẻ. Tôi không thấy một nhân viên phát thanh nào người miền Nam trước kia mà tên tuổi đã được độc giả biết tới. Người miền Nam duy nhất tôi gặp là chị Lê Phan, con bác sĩ Phan Huy Quát. Nhưng lúc đó tôi thấy chị không làm phần hành phát thanh mà lại đang lo về mặt kỹ thuật, tức là cắt và lắp ráp các cuốn băng thu trước để chuẩn bị cho phát thanh.
Một thanh niên trẻ đang làm việc bên computer cho tôi biết anh đang theo học đại học tại London. Tôi không biết ai là sinh viên du học được BBC thu nhận ai là người được BBC thuê từ trong nước.
Trong câu chuyện, chị nhiều tuổi nhất có vẻ lanh lợi tiếp chuyện nhiều với tôi. Nhân đó tôi hỏi chị một câu như trước kia tôi đã hỏi anh thanh niên làm việc cho Phòng thông tin Hoa Kỳ tại Hà Nội, “Khi vào làm cho BBC anh chị có phải thường xuyên báo cáo cho công an không?” Tôi hỏi rất nhỏ nhẹ vì tò mò. Nhưng khi nghe câu hỏi, dường như chị bị sốc, bèn lên giọng “tấn công” tôi: “Báo cáo thì cũng như các anh phải báo cáo với CIA vậy.” Các anh chị khác nghe vậy không nói gì. Với tôi, câu nói của chị cũng là quá đủ để xác nhận “Quí anh chị làm cho ban Việt ngữ đài BBC đều phải thường xuyên báo cáo cho công an.” Tôi không giải thích sự hiểu lầm của chị về CIA mà chuyển sang đề tài khác vui vẻ hơn. Các anh chị trong ban Việt ngữ đài BBC không biết rằng, tại Hoa Kỳ, một xứ sở tự do, không một cơ quan an ninh nào (CIA hay FBI) có thể cưỡng ép một người nào làm việc cho họ. Thêm nữa tất cả các anh chị trong ban Việt Ngữ đài VOA trưởng thành trong nền giáo dục tự do của miền Nam, tương tự của mọi quốc gia tiền tiến phương tây, nên hiểu rõ đạo đức nghề nghiệp của người làm truyền thông cũng như hiểu rõ quyền tự do cá nhân trong một xã hội dân chủ Hoa Kỳ nên họ không bị đảng phái hay chính quyền nào ép buộc phải báo cáo mà chỉ chú tâm làm tròn nhiệm vụ truyền thông trung thực khách quan theo hướng dẫn của đài mà thôi.
Với quyền sưu tra an ninh, đảng cộng sản Việt nam đã thủ đắc một quyền tối thượng trong việc quyết định sự tuyển dụng người của BBC để khuynh đảo ban Việt ngữ đài này. Điều này thật dễ hiểu bởi vì lâu nay bằng biên pháp tương tự nhà cầm quyền Hà Nội đã khuynh đảo hàng giáo phẩm lãnh đạo giáo hội Thiên chúa tại Việt nam. Bài “Vatican, Việt Nam hy sinh một con người của chúa” của the Hanoist đăng trên trang mạng Asia Times Online ngày mùng 7-5-2010 viết, “Hà Nội chỉ cho phép một giáo hội Thiên chúa dưới sự kiểm soát của toà Thánh Vatican trên danh nghĩa. Trên thực tế nhà cầm quyền hạn chế việc phong chức các linh mục và chấp thuận tất cả mọi bổ nhiệm các tu sĩ. Điều này đưa tới việc hình thành một hàng giáo phẩm lãnh đạo giáo hội Thiên Chúa dễ bị khuynh loát tại Việt nam” (Hanoi allowed a Catholic church to exist under nominal Vatican control. In practice, Vietnamese authorities restricted the ordainment of clergy and cleared all appointments. This led to a generally pliant Catholic church leadership in Vietnam.-Nguồn: Vatican, Vietnam sacrifice a holy man Asia Times Online, by the Hanoist, 7 May 2010)
Một khi đã là công cụ của nhà cầm quyền Việt nam thì việc loan tin một chiều có lợi cho cộng sản Việt nam là điều đương nhiên.
Kỳ 2
Xét trên toàn bộ, các tin tức và bình luận của ban Việt ngữ đài BBC đã có tính cách một chiều khi giảm nhẹ những điểm yếu của xã hội Việt nam về mọi mặt nhất là về sự tôn trọng nhân quyền nói chung, trong đó có sự đàn áp các người bất đồng chính kiến, đàn áp các phong trào công nhân và nông dân khiếu kiện, đàn áp các tín đồ đòi tự do tôn giáo, đàn áp các người đòi tự do dân chủ v.v… Trái lại qua các bài vở của ban Việt ngữ đài BBC, thính giả thấy xã hội, chính trị Việt nam sáng sủa hơn thực tế. Nhưng để giúp giới lãnh đạo cao cấp nhất của BBC nhận ra được tính cách một chiều, không trung thực này thì thực là khó. Phải là người Việt nam chính gốc thì mới nhận ra được cái bầu không khí ngụy tạo của bản tin. Cho nên cổ nhân mới có câu “Ý tại ngôn ngoại”. Và người phương tây cũng có câu “Đọc giữa hai hàng chữ” (Read betwe.en the lines)
Nhưng thỉnh thoảng, nhân viên ban Việt ngữ đài BBC cũng để lộ rõ khuyết điểm loan tin không trung thực, một chiều. Tình trạng loan tin một chiều đó đã đủ nhiều để trong một chương trình phát thanh của người Việt hải ngoại “Little SRadio” do chị Mai Hân phụ trách đã phải mở cuộc phỏng vấn trưởng ban Việt Ngữ Nguyễn Giang về vấn đề này khi anh viếng thăm tiểu bang California cách nay vài năm. Trước câu hỏi này của chị Mai Hân, thay vì trả lời, anh Nguyễn Giang đã cao giọng, hỏi lại một cách thách thức những bằng chứng của việc loan tin một chiều đó. Vì người hỏi chỉ phản ảnh suy nghĩ của thính giả cho nên không có chuẩn bị các bằng chứng để trả lời Nguyễn Giang. Cuộc phỏng vấn cũng không sắp xếp cho thính giả gọi vào cho nên bằng chứng về việc ban Việt ngữ đài BBC loan tin một chiều lần đó không đưa đến một kết luận nào.
Nhưng lần này, bằng chứng rõ ràng nhất của việc loan tin một chiều là bài viết của ban Việt ngữ đài BBC về ngày 30/4/2010, có tựa đề “Nhớ về một ngày 30/4”, (cập nhật: 08:44 GMT – thứ Sáu, 30 tháng 4, 2010.) Bài viết mở đầu với một tấm hình mô tả “rất là hoành tráng” cuộc diễu hành ăn mừng ngày “Giải Phóng Miền Nam” do chính quyền Saigon tổ chức.
Dưới tấm hình là cuộc phỏng vấn những người thuộc phe chiến thắng mà không một ghi nhận nào về tâm tư, suy nghĩ về ngày này của phe miền nam chiến bại. Ban Việt ngữ đài BBC cũng không có một ghi nhận nào về hành động, phát biểu của người Việt tị nạn cộng sản ở hải ngoại liên quan tới ngày này.
Bài báo khiến những người thuộc phe miền Bắc chiến thắng hồ hỡi khi đọc những phát biểu về chiến cuộc và tình hình chính trị tại miền nam trước 1975 của mấy nhân vật nằm vùng là các ông Triệu Quốc Mạnh, luật sư, đảng viên cộng sản, từng giữ chức chỉ huy trưởng cảnh sát Sài Gòn-Gia Định trong chính phủ Dương Văn Minh, ông Nguyễn Thành Tài, cựu sinh viên nằm vùng, Phó Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh, bà Nguyễn Thanh Tùng, cựu biệt động Sài Gòn, anh hùng lực lượng vũ trang.
Để cho có vẻ cân bằng, bài báo có phỏng vấn ông Hoàng Văn Cường, một phóng viên nhiếp ảnh từng làm việc cho hãng thông tấn UPI của Hoa Kỳ. Nhưng để tránh hình ảnh chế độ mới đối xử tàn nhẫn với các cựu nhân viên nước ngoài tại miền Nam trước 1975, bài báo viết với những thông tin ngụy tạo rằng:
“Sáng 30/4, từ rất sớm tôi có mặt ở quốc lộ 1. Đến ngay ngã ba Vũng Tàu – Biên Hòa, tôi gặp một đoàn xe tăng T54 của Nga và linh cảm bảo tôi đó là đoàn tăng của Việt Cộng. Tôi vội vàng bỏ hết các quân trang mà tình cờ có trên người, chỉ đeo máy hình để đón chiếc xe tăng đầu tiên. Tôi trở thành người chỉ đường bất đắc dĩ vì họ không biết đường trong thành phố. Ngay cả quãng đường từ Ngã tư Hàng Xanh vào Dinh Tổng thống họ cũng không biết nên tôi đi theo xe tăng 390 để chỉ đường cho họ. Thực ra tôi đã từng gặp bộ đội Bắc Việt rồi nên không quá bỡ ngỡ. Năm 1972, tôi đã được đưa vào mật khu Hố Bò để tiếp xúc với bộ đội trong đó, xem họ sinh hoạt khó khăn vất vả như thế nào để chụp hình và viết bài.
Tháng Tư 1975, các phóng viên làm cho báo chí nước ngoài và người nước ngoài lần lượt đi nhiều, nhưng tôi quyết định ở lại vì nghĩ rằng mình là người Việt Nam.
Chiến tranh sắp chấm dứt, tôi phải có quyền ở lại, có quyền hưởng độc lập tự do.
Những năm đầu sau chiến tranh, tất nhiên tôi cũng gặp nhiều sự nghi ngờ, đố kỵ vì tôi làm cho hãng của Mỹ. Cải tạo thì chưa phải đi, nhưng mà cũng khổ lắm.”
Trong khi thực ra bài “Dưới bia hồi niệm” trên Tuổi trẻ online, một tờ báo của đảng xuất bản ở trong nước ngày Chủ Nhật mùng 1/5/2005, (http://tuoitre.vn/chinh-tri-Xa-hoi/7...-hoi-niem.html) tường thuật nguyên văn, “Trong ngày đó, văn phòng hãng tin UPI tại Saigòn chỉ còn lại hai nhà báo tác nghiệp và một trưởng văn phòng. Từ tinh mơ, Hoàng Văn Cường đã lái xe ra xa lộ Biên Hòa để tìm kiếm sự kiện trước giờ G. Đến ngã ba Vũng Tàu, anh bắt gặp xe tăng giải phóng ầm ầm tiến vào Sài Gòn… Sợ bị bắn lầm, chàng phóng viên ảnh này bỏ xe và ra đứng giữa đường với máy ảnh đầy ngực vẫy tay chặn đoàn xe tăng rồi quá giang trở lại Sài Gòn. Quân giải phóng ngỡ anh là một phóng viên nước ngoài nên đã cho anh tham gia (một cách bất ngờ) vào lịch sử, và đó là cách để có mặt tại dinh Độc Lập của phóng viên Hãng UPI duy nhất.” Như vậy ông Cường mang đồ nghề phóng viên nhiếp ảnh đi đón đoàn quân giải phóng Sai Gòn từ ngã ba Biên Hoà-Vũng Tầu để tác nghiệp và ông chặn chiếc tăng đi đầu để xin quá giang trở ngược lại Saigon là để thu thập hình ảnh làm phóng sự cuộc tiến quân chứ không phải ông tình cờ tới đó hay ông hân hoan đi đón giải phóng quân như giọng văn của đoạn mở đầu tạo ra.
Vì tác giả bài báo của BBC cố tình bóp méo sự kiện nên để lộ mâu thuẫn ở hai giòng trong cùng một đoạn văn: Giòng trên BBC viết “Đến ngay ngã ba Vũng Tàu – Biên Hòa, tôi gặp một đoàn xe tăng T54 của Nga và linh cảm bảo tôi đó là đoàn tăng của Việt Cộng.”
Dưới đó 4 giòng, BBC lại viết, “Thực ra tôi đã từng gặp bộ đội Bắc Việt rồi nên không quá bỡ ngỡ. Năm 1972, tôi đã được đưa vào mật khu Hố Bò để tiếp xúc với bộ đội trong đó…”
Tác giả bài báo của BBC cũng bịa ra một chi tiết quan trọng mà mấy bài báo khác viết về sự kiện ông lái xe tới Ngã ba Biên Hoà –Vũng Tầu ngày hôm đó không nói tới là “Ông vội vàng bỏ hết các quân trang mà tình cờ có trên người.”
Cũng theo bài “Dưới bia hồi niệm”, ông Cường ở lại để tiếp tục làm công việc của một phóng viên nhiếp ảnh của UPI chứ không phải như bài báo của BBC bịa đặt rằng ông Cường “quyết định ở lại vì nghĩ rằng mình là người Việt Nam.” Ông cũng không suy nghĩ “Chiến tranh sắp chấm dứt, tôi phải có quyền ở lại, có quyền hưởng độc lập tự do.” như bài viết của BBC. Bài “The Stories: Cuong” trên mạnghttp://www.pbs.org/vietnampassage/st....coung.01.html viết nguyên văn, “Cuối cùng khi hoà bình lập lại vào năm 1975, Cường nghĩ rằng đất nước cuối cùng sẽ hàn gắn đau thương (heal). Nhưng thay vì vậy, ông cùng 300,000 đồng bào miền nam của ông bị đau khổ và nhục nhã thêm bởi chế độ cộng sản mới thiết lập.” Những đau khổ và nhục nhã đó được mô tả chi tiết hơn trong bài “ONE JOURNALIST’S STORY của GRACE CUTLER, phóng viên đài VOA-TV, (http://ibb7.ibb.gov/thisweek/library...00/jounal.html). Theo bài này thì khi chiến tranh chấp dứt, chính quyền mới ở Việt nam coi ông ta như gián điệp. Chính bởi những tấm hình ông ấy chụp “gương mặt âu lo của một bà mẹ chạy nạn chiến tranh…một em bé đau khổ và sợ hại…các hình ảnh thù ghét chiến tranh… đã biến ông trở thành kẻ có tội (crime) khiến ông phải chịu 7 năm trong trại tù cải tạo. Ông nói rằng chính quyền mới canh chừng những kẻ như tôi vì họ không hiểu UPI là gì. Mà họ coi UPI, API, CIA đều như nhau. Họ gọi chung là những tên CIA.” Sau khi cộng sản chiếm miền Nam thì ông Cường, lúc đó là một phóng viên nhiếp ảnh trẻ có liên hệ mật thiết với kẻ thù cũ, phải chạy xuống đồng bằng sông Cửu Long ẩn trốn. Ông Cường thuật, “Trong năm năm tôi đi cầy ruộng, đi đánh cá, tôi mua một cái thuyền nhỏ và sống trên đó một mình…” Tới năm 1983 ông ta mới ra khỏi vùng ẩn trốn trở lại thành phố Saigon sống với gia đình. Chẳng bao lâu sau ông ta bị bắt và gửi đi tù cải tạo. Trong đó nhờ triết lý sống của ông (thiền) giúp ông sống sót. Như vậy kể từ sau ngày “giải phóng miền Nam” ông Cường bị đau khổ tổng cộng 12 năm chứ không phải như bài báo của ban Việt Ngữ đài BBC ngụy tạo là “Những năm đầu sau chiến tranh, …Cải tạo thì chưa phải đi, nhưng mà cũng khổ lắm.”
Tất cả những chi tiết vừa nêu cho thấy rõ bài báo “Nhớ về một ngày 30/4” của ban Việt ngữ đài BBC chỉ nhằm tô vẽ một chiều cho cho đảng cộng sản đương quyền tại Việt nam nhân ngày 30-4.
Trong khi đó, mỗi năm ngày 30-4 lại được hai cộng đồng người Việt Quốc Cộng đối lập nhau giải thích theo hai hướng khác nhau. Trong khi chính quyền tổ chức lễ hội ăn mừng ở trong nước thì ở hải ngoại cộng đồng người Việt lại tổ chức một ngày mà họ gọi là “để tang ngày đau thương cho đất nước”.
Vậy mà bài báo của ban Việt ngữ đài BBC tuyệt nhiên không đả động tới một người nào ở phía đối nghịch, là phe đang chiếm đa số tại miền nam và tuyệt đại đa số tại hải ngoại. Thành phần không “hồ hỡi” này thường gọi cái ngày lịch sử đó là ngày “30 tháng Tư Đen”. Thành phần đối nghịch với chính quyền hiện tại này rất đông đảo, nếu không muốn nói là chiếm đại đa số người dân miền Nam, không kể đến những người mới từ miền Bắc vào Nam sau 1975. Chính cố thủ tướng Võ Văn Kiệt, một trong những người có công đầu trong việc đưa bộ đội miền Bắc vào miền Nam, cũng phải công nhận “ngày 30/4/1975 có nhiều triệu người vui thì cũng có nhiều triệu người buồn”. Không cần khó khăn để ước tính khá chính xác số lượng đông đảo người không hồ hỡi với ngày 30-4. Con số chính thức được Cao ủy tị nạn Liên Hiệp Quốc công bố cho thấy ngay sau ngày 30-4-1975 lúc chiếc xe tăng đầu tiên của quân Bắc Việt húc đổ cổng sắt Dinh Độc Lập, biểu tượng của chính quyền miền Nam, đã có gần 200 ngàn người được Hoa Kỳ giúp di tản ra khỏi nước. Và liên tục trong 20 chục năm sau đó, mặc cho nguy cơ chết chóc vì bão tố và hải tặc, đã có 1 triệu 436 ngàn 556 người (1,436,556) vượt biển thành công.
Dư luận quốc tế cũng ước lượng có con số tương đương những người bỏ xác trên biển khơi. Ngoài ra chắc chắn nhà nước Việt nam nắm rất rõ bao nhiêu triệu người vượt biên bất thành bị bắt cầm tù. Với từng đó triệu con người cùng với thân nhân họ, không ai có thể bảo rằng họ hồ hỡi với ngày 30-4. Thế nhưng ban Việt ngữ đài BBC làm ngơ tâm tư của số người đông đảo “bị thất trận” này trước những lễ lạc “hoành tráng” do nhà cầm quyền tổ chức trên toàn quốc.
Dư luận bất mãn với bài “Nhớ về một ngày 30/4” của ban Việt ngữ đài BBC thì khá nhiều. Dưới đây là 2 trong nhiều email người viết nhận được từ những diễn đàn (email group) mà tác giả là những người không quen biết:
Email 1: “Hinh nhu dai BBC ngay cang xuong cap? Xem ho tuong thuat ve ngay 30/4 http://www.bbc. co.uk/vietnamese /vietnam/ 2010/04/100430_ 30april_faces. shtml”
Email 2: “Đây là một điều xấu xa và nhục nhã cho dân tộc VN trong thời buổi tìm đúng lối đi cho đất nước khi có một cơ quan thông tin quốc tế nhưng lại chỉ loan tin một chiều, phỏng vấn một chiều, công bố những chuyện có lợi cho độc tài Cộng sản.
Đáng lý ra, BBC phải làm gương cho báo chí trong nước thay vì chỉ truyền thông như chính mình là công cụ là cái loa của nhà nước.
Tôi đề nghị mọi người ký tên một kiến nghị lên ban quản lý BBC, khiếu kiện ban Việt ngữ BBC, đề nghị thay đổi Ban Trị sự.”
Những bực bội của thính giả quả thực có duyên cớ bởi vì ban Việt ngữ đài BBC trong gần 10 năm nay ngày càng loan tin thiếu chuyên nghiệp, không trung thực, sai đường lối cố hữu của đài BBC, và nhiều khi bịa đặt (như đoạn báo vừa viện dẫn). Uy tín quốc tế lâu nay của của ban Việt ngữ đài BBC đang dần dần bị sói mòn làm tổn thương uy tín của BBC, một cơ quan truyền thông quốc tế có uy tín lâu đời. Chỉ khi nào ban lãnh đạo cao cấp nhất của BBC biết được điều này và tìm cách chống đỡ các biện pháp xâm nhập và khuynh đảo của cơ quan an ninh tình báo của Việt nam thì uy tín của BBC mới hy vọng được phục hồi.
Các thính giả của BBC, đặc biệt các thính giả Anh quốc, là những người đóng thuế tài trợ cho BBC, có thể viết thư cảnh báo về tình trạng này gửi về ban lãnh đạo BBC tới văn phòng của hai vị hiện trực tiếp lãnh đạo đài là ông Sir Michael Lyons (Chairman) BBC Trust và ông Mark Thompson (General-Director) (Chairman of the Executive Board). *
(1) Đọc ‘Trăng nghẹn’, nhớ ‘Lời mẹ dặn’ Trùng Dương Thứ Ba, 09 tháng 3 2010 (VOA) http://www1.voanews.com/vietnamese/n...rang-nghen-nho -Loi-me-dan-03-09-10-87153522.html
Biểu tình phản đối Putin tại Matxcơva
Một cuộc biểu tình hiếm hoi phản đối Vladimir Putin diễn ra tại trung tâm Matxcơva, yêu cầu thủ tướng Nga từ chức.
Putin phát biểu tại một hội thảo ở Matxcơva hôm 20/10. Ảnh: AFP.
Một cuộc biểu tình hiếm hoi phản đối Vladimir Putin diễn ra tại trung tâm Matxcơva, yêu cầu thủ tướng Nga từ chức.
Putin phát biểu tại một hội thảo ở Matxcơva hôm 20/10. Ảnh: AFP.
Gần 500 người biểu tình thuộc cánh tả và các nhóm chống đối Kremlin đã tập trung tại quảng trường Pushkin kêu gọi Putin phải rời nhiệm sở. Họ tuyên bố đây chỉ là màn khởi động cho phong trào nhằm hạ bệ ông.
Theo Telegraph, những người biểu tình đã bắt đầu bằng một đơn khiếu nại trực tuyến đòi Putin từ chức vào đầu năm. Họ cho biết nhằm vào ông bởi ông là nhân vật chủ chốt trong hệ thống chính trị
Garry Kasparov, cựu vô địch cờ vua thế giới, phát biểu rằng nạn tham nhũng lan tràn và tự do ngôn luận bị kìm hãm kể từ khi Putin lên lãnh đạo nước Nga vào năm 2000. Những băng rôn mang dòng chữ "Đả đảo Putin" được treo khắp quảng trường lịch sử trong khi cảnh sát chống bạo loạn đứng canh chừng.
Những cuộc biểu tình như vậy hiếm khi được phép xảy ra và thường bị các lực lượng an ninh phá vỡ. Nhưng cuộc biểu tình hôm 23/10 đã diễn ra trong hòa bình và được cho phép tiến hành.
Những người biểu tình cũng kêu ca về các cuộc bầu cử. "Chẳng ai bầu họ cả".
Cuộc biểu tình diễn ra giữa những phỏng đoán rằng Putin sẽ tranh cử tổng thống năm 2012.
Song Minh
“Đâu là chỗ đáng sợ của nước Mỹ”?
Đâu là chỗ thực sự đáng sợ của nước Mỹ?: Tuy rằng Mỹ có quân đội mạnh nhất thế giới, khoa học kỹ thuật tiên tiến nhất thế giới, nhưng tôi cho rằng những cái đó không đáng sợ. Nghe nói máy bay tàng hình của Mỹ thường xuyên ra vào bầu trời Trung Quốc, nhưng điều ấy chẳng có gì đáng sợ cả. Cái đáng sợ của họ không phải là những thứ ấy.
Năm 1972, tôi học ở Đại học Vũ Hán. Lên lớp giờ chính trị, một thầy giáo khoa chính trị nói: “Nước Mỹ là đại diện của các nước tư bản mục nát, suy tàn, đã sắp xuống mồ, hết hơi rồi.” Nhưng, chính là cái nước tư bản mục nát suy tàn ấy vào thập niên 90 thế kỷ trước đã lãnh đạo cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật mới nhất trên thế giới.
Vậy cái đáng sợ của Mỹ là ở đâu? Tôi cảm thấy có ba điểm.
1. Cơ chế tinh anh của Mỹ. Chế độ cán bộ, chế độ tranh cử của Mỹ có thể bảo đảm những người quyết sách đều là tinh anh. Bi kịch của Trung Quốc chúng ta là người có tư tưởng thì không quyết sách, người quyết sách thì không có tư tưởng. Có đầu óc thì không có cương vị, có cương vị thì không có đầu óc. Nước Mỹ ngược hẳn lại, cơ chế hình tháp của họ đưa được những người tinh anh lên. Nhờ thế,
a. họ không mắc sai lầm hay họ ít mắc sai lầm;
b. họ mắc sai lầm thì có thể nhanh chóng sửa sai. Chúng ta thì mắc sai lầm rồi thì rất khó sửa sai, lại thường xuyên mắc sai lầm.
Nước Mỹ không quan tâm lãnh thổ, toàn bộ những gì họ làm trong thế kỷ XX đều là để tạo thế. Tạo thế là gì? Ngoài sự lớn mạnh về kinh tế thì là lòng dân ! Có lòng dân thì quốc gia có lực hội tụ, lãnh thổ mất rồi sẽ có thể lấy lại. Không có lòng dân thì khẳng định đất đai anh sở hữu sẽ bị mất.
Nước Mỹ hành sự thường nhìn 10 bước. Rất nhiều bạn chỉ thấy Mỹ bao vây Trung Quốc về quân sự, mà chưa thấy sự mất cân đối nghiêm trọng về chiến lược. Bạn xem đấy, mấy năm gần đây các nước xung quanh Trung Quốc tới tấp thay đổi chế độ xã hội, biến thành cái gọi là quốc gia “dân chủ”. Nga, Mông Cổ , Kazakhstan thay đổi rồi. Cộng thêm các nước như Hàn Quốc, Phillippines , Indonesia , vùng Đài Loan. Đối với Trung Quốc, sự đe doạ này còn ghê gớm hơn đe doạ quân sự. Đe doạ quân sự có thể là hiệu ứng ngắn hạn, còn việc bị cái gọi là các quốc gia “dân chủ” bao vây là hiệu ứng dài hạn.
2. Nền văn hoá hừng hực khí thế đi lên. Bạn nên sang châu Âu, sau đó sang Mỹ, bạn sẽ thấy một sự khác biệt lớn: Sáng sớm, các đường phố lớn ở châu Âu chẳng có người nào cả, còn tại Mỹ sáng sớm các phố lớn ngõ nhỏ đều có rất nhiều người tập thể dục, thậm chí cả ngày như thế. Tôi nói: Tập thể dục đại diện cho một kiểu văn hoá hừng hực khí thế đi lên. Một quốc gia có sức sống hay không, chỉ cần xem có bao nhiêu người tập thể dục là biết.
3. Sức mạnh tinh thần, sự độ lượng và khoan dung của nước Mỹ. Đây là điều đáng sợ nhất. Vụ 11/9 là một tai nạn. Khi tai họa ập đến thể xác ngã xuống, nhưng tinh thần vẫn đứng. Có dân tộc khi gặp tai nạn thể xác chưa ngã mà đã đầu hàng. Trong vụ 11/9 có xảy ra 3 sự việc qua đó chúng ta có thể để nhìn thấy sức mạnh của người Mỹ.
a. Sau khi toà nhà Thương mại thế giới bị máy bay đâm vào, lửa cháy ùng ùng. Khi mọi người ở tầng trên qua cửa thoát hiểm chạy xuống phía dưới, tình hình không rối loạn lắm.
Người ta đi xuống, lính cứu hoả xông lên trên. Họ nhường lối đi cho nhau. Khi thấy có đàn bà, trẻ con hoặc người mù tới, mọi người tự động nhường lối đi để họ đi trước. Đứng trước cái chết vẫn bình tĩnh như không. Một dân tộc tinh thần không cứng cáp tới mức nhất định thì dứt khoát không thể có hành vi như vậy.
b. Hôm sau ngày 11/9, cả thế giới biết vụ này do bọn khủng bố người A Rập gây ra. Rất nhiều cửa hàng, tiệm ăn của người A Rập bị đập phá, một số thương nhân người A Rập bị tấn công. Vào lúc đó có khá nhiều người Mỹ tự phát tổ chức đến đứng gác trước các cửa hiệu, tiệm ăn của người A Rập hoặc đến các khu người A Rập ở để tuần tra nhằm ngăn chặn xảy ra bi kịch tiếp theo. Chúng ta thì từ xưa đã có truyền thống trả thù. Trả thù đẫm máu, lịch sử loang lổ vết máu không bao giờ hết.
c. Chiếc máy bay Boeing 767 bị rơi ở Pennsylvania đã biết tin toà nhà Thương mại thế giới và Lầu Năm Góc bị máy bay đâm vào nên họ quyết định phải đấu tranh sống chết với bọn khủng bố. Dù trong tình hình ấy họ còn biểu quyết có nên chiến đấu với bọn khủng bố hay không. Trong giờ phút quan hệ tới sự sống chết ấy, họ cũng không cưỡng chế ý chí của mình lên người khác. Dân chủ là gì? đây là dân chủ. Ý tưởng dân chủ đã thấm vào sinh mạng của họ, vào trong máu, trong xương cốt. Một dân tộc như thế mà không hưng thịnh thì ai hưng thịnh. Một dân tộc như thế không thống trị thế giới thì ai có thể thống trị thế giới.
TỪ CUỘC BẦU CỬ SÔI ĐỘNG HÀO HỨNG MỸ
TỚI CUỘC BẦU BÁN ‘GIẢ CẦY’ VIỆT CỘNG
LÝ ĐẠI NGUYÊN
Cuộc bầu cử giữa kỳ tổng thống Mỹ, chọn ra 435 dân biểu của toàn thể Hạviện, với 37 thượng nghị sĩ của Thượngviện trong số 100 ghế và các thống đốc tiểu bang, vào ngày 02/11/2010 đang là điểm cực nóng tại chính trường Mỹ. Hiện nay chính quyền của đảng Dânchủ của tổng thống Obama đang kiểm soát cả 2 viện Quốchội. Có nghĩa là cử tri Mỹ đã trao rộng quyền cho ông Obama và đảng Dânchủ trong 2 năm để thực hiện cuộc “Thay Đổi” như ông đã hứa trong khi tranh cử. Thực tế cuộc đại thay đổi này chỉ diễn ra ở mầu da. Từ các vị ‘tổng thống da trắng’ thành một vị ‘tổng thống da đen’, rồi được cả thế giới loài người hân hoan ca tụng nước Mỹ và hy vọng thật nhiều vào vị thổng thống da màu trẻ tuổi có tài hùng biện này. Nhưng cuộc khủng hoảng tài chánh Mỹ và toàn cầu đã cuốn tổng thống Dânchủ Obama vào vết mòn kích thích tài chánh của tổng thống Cộnghòa Bush. Tháng 10/2008 tổng thống Bush được Quốchội do đảng Dânchủ làm chù chi cho 700 tỷ USD, và tháng 02/2009 chi tiếp cho ông Obama 787 tỷ USD để cứu các đại công ty và nền kinh tế Mỹ. Tuy giải pháp này cần để hồi sinh nền kinh tế tư bản Mỹ, nhưng nạn thất nghiệp vẫn còn quá cao, mà chính quyền của tổng thống Obama và đảng Dânchủ vẫn bó tay, khiến cho giới lao động và thanh niên trước kia hết mình ủng hộ ông Obama, nay thất vọng về ông và đảng Dânchủ của ông. Nếu ông Obama thực sự có tinh thần xã hội nhân ái, sao không chú tâm vào việc tạo ra các chương trình nâng đỡ xí nghiệp vừa và nhỏ, các thương vụ vừa và nhỏ…nhằm giảm bớt nạn thất nghiệp? Bởi vậy cuộc bầu cử này theo thăm dò dư luận và các chuyên gia chính trị thì đảng Cộnghòa đang ở thế thượng phong.TỚI CUỘC BẦU BÁN ‘GIẢ CẦY’ VIỆT CỘNG
LÝ ĐẠI NGUYÊN
Với giới hiểu biết, thì ông Obama đã để mất nhiều thì giờ về lý tưởng thực hiện cho bằng được cuộc cải cách ‘Bảo Hiểm Y Tế Toàn Dân’ kiểu ‘Xã Hội Chủ Nghĩa’ nửa vời. Vi phạm vào nguyên tắc ‘Tôn Trọng Quyền Tự Do Cá Nhân’ của truyền thống xã hội Mỹ và Hiến Pháp Hiệp Chúng Quốc. Đích ra nếu muốn làm tốt chương trình y tế ở một xã hội tự do thì chỉ cần chính phủ tài trợ, mở rộng những chương trình Y Tế Cộng Đồng Miễn Phí cho giới nghèo không có bảo hiểm. Và tìm biện pháp hữu hiệu hạ giảm hợp lý các dịch vụ y tế ở các bệnh viện là phước đức cho toàn dân rồi. Đâu phải buộc mọi người phải có bảo hiểm, như bảo hiểm xe hơi và các vật dụng khác. Chính vì vậy, nếu cuộc bầu cử này mà đảng Dânchủ không còn giữ được đa số tại Quốc hội Mỹ thì chương trình bảo hiểm y tế của tổng thống Obama sẽ có khả năng bị thay đổi. Hai năm công lao trở thành công cốc. Thế cho nên ông Obama và các chính trị gia của đảng Dân chủ đã chạy đua hết công lực, mà đảng Cộnghòa cũng chẳng vừa. Số tiền mà 2 đảng đổ vào cuộc vận động, phía Dân chủ đã lên tới 200 triệu USD, phía Cônghòa tốn 137 triệu USD để giành lấy 39 ghế tại Hạviện và 10 ghế tại Thượngviện từ tay Dânchủ. Thế nên cuộc bầu cử tại Mỹ hiện nay rất sôi động, hào hứng. Nhất là phía Cộnghòa còn được phong trào Tea Party nhập cuộc, với khuôn mặt rực rỡ của Sarah Palin hăng say khuấy động.
Theo thông lệ bỏ phiếu của cử tri Mỹ, thì họ luôn luôn muốn quân bằng quyền lực giữa 2 chính đảng Dân Chủ và Cộng Hòa. Nến đảng Dân Chủ đã nắm Hành Pháp thì cử tri Mỹ có khuynh hướng bầu cho đảng Cộng Hòa nắm Lập Pháp để hai bên kiểm soát lẫn nhau. Nếu vấn đề thuộc về chiến lược quốc gia thì 2 đảng phải dẹp bỏ đảng tính để tìm ra chung một chính sách quốc gia, nên được gọi đây là chính sách lưỡng đảng. Nhưng nếu là chính sách riêng của một đảng thì Tổng Thống phải có đa số Quốc Hội trong tay. Hiện nay quân Mỹ hết còn chiến tranh ở Iraq, chiến tranh tại Afghanistan đã dần dần trao về tay người bản xứ giải quyết. Dù Iran vẫn là mối đe dọa tiềm ẩn, nhưng vòng đai phòng thủ đã được cài đặc. Xung đột Do Thái và Palestine vẫn còn đó, nhưng không bên nào dám phát động chiến tranh. Chiến luợc toàn cầu của Hoakỳ đã chuyển sang Á châu. Trungcộng là một mối họa cho toàn vùng, nhưng chưa phải là đối thủ ngang tầm với Hoakỳ, mà chỉ là thế áp lực để cho các nước Châu Á - Thái Bình Dương gắn kết khắp mặt với Mỹ, cùng ngăn Bành Trướng TrungCộng. Còn việc buộc Trungcộng quốc tế hóa Biển Đông, phải từ bỏ nhận chủ quyền tại Hoàngsa và Trườngsa, nhằm sống hài hòa với toàn vùng thì còn để đó. Chính vì vậy mà nước Mỹ giờ này chưa cần tạo ra một chính quyền mạnh, nắm cả hành pháp, lập pháp như thời tổng thống Bush phát động chiến tranh Afghanistan và Iraq. Nên đảng Cônghòa sẽ được cử tri Mỹ cho nắm Quốc Hội.
Riềng về phía người Mỹ gốc Việt thì năm nay có đến 18 người tham gia tranh cử ở 2 ghế Dân Biểu Liên Bang, và nhiều chức vụ điạ phương. Đây là điểm khích lệ đối với người Việt tỵ nạn cộng sản. Chính vì ‘tỵ nạn cộng sản’ mà cử tri Mỹ gốc Việt luôn đề phòng bọn ma quỷ Việtcộng cài người vào các chức vụ dân cử do chính lá phiếu của người Việt bầu lên. Thực ra những người Việt tranh cử kỳ này đa số là lớp trẻ lớn lên tại xứ Mỹ. Họ có thể không còn quan tâm tha thiết mấy về số phận của Dân Tộc Khốn Khổ Việt Nam, nhưng họ không thể là cán bộ Việtcộng thuần thành. Bởi vậy khi được cử tri người Việt tín nhiệm, họ sẽ hiểu được nỗi niềm của cha mẹ, ông bà, anh chị em mình là những người chống cộng quyết liệt. Chỉ trừ trường hợp chính bản thân họ, hoặc gia đình họ đang làm ăn với Việtcộng, hay là có giao thiệp về tài chánh với Việtcộng thì họ khó thoát khỏi sự ‘dùng đồng tiền liền khúc ruột’ để sai khiến họ chọc phá cộng đồng khi Việtcộng cần đánh lạc hướng của người Việt hải ngoại. Còn bảo rằng họ dùng quyền lực để làm hại đồng bào thì đừng có hòng, vì đây là nước Mỹ, là luật pháp của Mỹ. Thế nên việc người Việt bầu cho người Việt, tuy thận trọng, mà nên làm, cần làm để mở đường cho con em mình gia nhập dòng chính trị Mỹ, rất cần cho tương lai Việtnam Dân Chủ Tự Do.
Nhìn về trong nước hiện nay, đảng cộng sản Việtnam đang chuẩn bị cho đại hội XI. Họ hô hào áp dụng một cuộc ‘dân chủ hóa’ nội bộ đảng, qua các cuộc bầu cử đảng ủy địa phương. Nhưng kết quả thì những tay đại tham ô như Lê Thanh Hải vẫn được bầu vào chức Bí Thứ Thành Ủy Hồ Chí Minh. Tay đại gian hùng Nguyễn Bá Thanh vẫn là Bí Thứ Thành Ủy Đànẵng. Tay bị kỷ luật về thi cử, Đào Ngọc Dung được bầu vào Bí thư Tỉnh Ủy Yên Bái. Tay lãnh chúa Kinh Bắc là Nguyễn Công Ngọ tái đắc cử Tỉnh Ủy Bắcninh…tóm lại ‘bọn cướp thì vẫn bầu cho kẻ cướp’. Xin đừng có hy vọng gì vào các cuộc ‘bầu cử giả cầy’ này của Việtcộng! Hiện nay nhiều yêu cầu là chức Tổng Bí Thư phải do Đại Biểu Đại Hội bầu trực tiếp và kín, mà ít nhất là phải có 2 ứng viên để đại biểu chọn lựa. Nhưng 2 ứng viên này vẫn lại do Trung Ương Đảng khóa trước lựa sẵn, thì ‘lọt sàng xuống nia’.Trungcộng vẫn dư sức nắm cả 2. Nếu muốn không để trở thành cuộc bầu cử dân chủ ‘giả cầy’ thì phải cho Đại Hội bỏ phiếu kín nhiều vòng. Từ chính Đại Hội cử ra 2 người nhiều phiếu nhất, sau đó tiến hành bầu cử chính thức giữa 2 ứng cử viên, trước khi Đại Hội nghe họ thuyết trình về đường lối lãnh đạo đảng và nhà nước. Thử chơi trò chơi dân chủ lớn này xem nào!?
Little Saigon ngày 26/10/2010.
-
tankhoasinh
- Posts: 838
- Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
- Contact:
Trung Quốc Vào Khúc Quanh
NGUYỄN XUÂN NGHĨA
Kinh tế Chính trị học Trung Quốc trước Đại hội đảng...NGUYỄN XUÂN NGHĨA
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương, kỳ V, khoá 17 của đảng Cộng Sản Trung Quốc đã khai mạc hôm Thứ Sáu 15.
Dự trù kết thúc vào ngày 18, Hội nghị Trung ương kỳ V sẽ thông qua kế hoạch năm năm 2011-2015 trước khi công bố chi tiết vào năm tới. Chúng ta sẽ nói về kế hoạch này sau. Ngoài ra, Hội nghị cũng sẽ có một quyết định chuẩn bị việc kế nhiệm lãnh đạo. Đó là đề cử Phó Chủ tịch Tập Cận Bình, năm nay 47 tuổi, vào Trung ương Quân Ủy hội. Trung Quốc có hai cơ chế cùng tên (Trung Quốc Quân sự Ủy viên hội), cùng thành phần nhân sự, để cùng chỉ đạo về quân sự, một cơ chế trong đảng, một cơ chế của nhà nước. Bất cứ ai lên lãnh đạo đều phải nằm trong cơ chế này để thực tế lãnh đạo quân đội. Việc Tập Cận Bình phải vào Quân ủy hội là bước cần thiết để lên thay thế Chủ tịch Hồ Cẩm Đào sau Đại hội đảng của khoá 18, sẽ triệu tập trong năm 2012. Sau Đại hội, đến 2013, Trung Quốc sẽ có lãnh đạo mới trong cơ chế đảng và nhà nước, Quốc hội và Chính phủ, v.v....
Trung Quốc đang ở vào giai đoạn chuyển giao lãnh đạo khi thế hệ thứ tư của những Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo và Uý Kiện Hành sẽ về hưu sau khi được để cử từ Đại hội 16 năm 2002.
Trong Hội nghị kỳ V, 371 Trung ương Ủy viên đề ra chủ trương của kế hoạch năm năm tới, bên trong có đường lối chánh sách kinh tế chính trị của hai năm giao thời, trước Đại hội 18.
Về các kế hoạch năm năm, ngày xưa người ta thường nói đùa rằng nếu chỉ tiêu về đinh là 50 triệu tấn thì kinh tế sản xuất ra toàn đinh 15 phân. Để sửa sai, chỉ tiêu là 500 tỷ cái đinh sẽ đẻ ra toàn... đinh đóng guốc! Sau 30 năm hoang tưởng thời Mao (1949-1979), Trung Quốc đã cải cách nhưng còn duy trì khái niệm kế hoạch năm năm, với mức khả tín cao hơn xưa mà vẫn chỉ có giá trị chỉ dẫn. Bài này không đi sâu vào chuyện đó.
Nhưng xuyên qua những phát biểu của Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo, người ta có thể dự đoán là kế hoạch năm năm tới sẽ chú ý đến phẩm hơn lượng, cụ thể là thu hẹp dị biệt về lợi tức, nâng cao phẩm chất cuộc sống của người dân, mở rộng mạnh lưới an sinh xã hội và kiểm soát được phần nào tình trạng hủy hoại môi sinh. Nếu không thì xứ này sẽ có loạn vì làn sóng bất mãn đã dâng cao. Động loạn có thể bùng nổ vì bất công xã hội hay tham nhũng, nhưng cũng có thể xảy ra vì một số thành phần tương đối no đủ đang đòi hỏi nhiều quyền tự do hơn.
Đáng chú ý hơn cả là một hiện tượng mới: xu hướng đòi hỏi tự do lại xuất phát từ trong đảng, với lời kêu gọi hy hữu là đảng còn phải tiến hành cải cách về chính trị, nếu không, xứ sở sẽ tụt hậu!
Một thí dụ là trong khi đảng đang chuẩn bị Hội nghị kỳ V thì một lá thư ngỏ đã được công bố hôm Thứ Hai 11.
Do 23 đảng viên lão thành và cán bộ cao cấp đề xướng, lá thư có chữ ký ủng hộ của hơn 500 người, trong đó 90% là đảng viên. Lá thư ngỏ được gửi cho Ban Thường vụ Quốc hội và lãnh đạo đảng với lời kêu gọi cải cách chính trị. Cụ thể là giải toả chánh sách kiểm duyệt thông tin, tăng cường tự do báo chí và cải tổ ban Tuyên truyền Trung ương.
Trong số các nhân vật đề xướng có Lý Duệ, nguyên bí thư của Mao Trạch Đông, Ủy viên Trung ương từ Khoá 12 (1982-1987) và Phó chủ tịch của một cơ chế quan trọng là Ban Tổ chức Trung ương. Ngoài Lý Duệ và nhiều nhân vật có uy tín trong hệ thống đảng, nhà nước, truyền thông, giáo dục, kinh doanh và cả quân đội, còn có Hồ Kỷ Vỹ, nguyên Tổng biên tập cơ quan thông tin chính thức của Trung ương đảng là Nhân dân Nhật báo.
Lá thư này được soạn thảo từ đầu Tháng 10, trước khi Ủy ban Nobel công bố trao giải Nobel Hoà bình 2010 cho ông Lưu Hiểu Ba vào Thứ Sáu mùng tám. Lá thư được phổ biến từ Thứ Hai 11 trên Internet, nhất là qua hệ thống truyền thông tương đối vẫn còn tự do của Hong Kong.
Đến Thứ Tư 13 thì nó gây ra một trận bão. Các tác giả lá thư yêu cầu lãnh đạo Bắc Kinh đừng quên lời cam kết cải cách chính trị ghi trong Hiến pháp năm 1982 và phê phán quyền tự do báo chí còn quá hạn chế so với báo chí Hong Kong và Ma Cao ngay dưới thời thuộc địa.
Từ ít lâu này, báo chí Hong Kong đã gặp sức ép của Bắc Kinh trong chế độ kiểm duyệt, nên lập tức quảng bá lời kêu gọi cải cách này. Tháng Tám vừa qua, cũng báo chí Hong Kong đã công bố lời phát biểu của Tướng Lưu Á Châu, nguyên Chính ủy Binh chủng Không quân và vừa lên Chính ủy Học viện Quốc phòng, trong đó ông tướng hai sao có truyền thống nói thẳng này đã kêu gọi đảng phải cải cách theo mô thức... Hoa Kỳ. Nếu không thì sẽ tiêu vong như Liên bang Xô viết.
Vì những chi tiết đó, ta nên chú ý đến lời kêu gọi của các nhân vật lão thành này.
Về bối cảnh thì ta thấy Tháng Tám vừa qua, Tổng lý Quốc vụ viện (Thủ tướng) Ôn Gia Bảo đã có chuyến "Nam du" - như Đặng Tiểu Bình năm xưa - nơi ông công khai kêu gọi phải cải cách chính trị. Kế tiếp là bài diễn văn ông đọc cuối Tháng Chín tại Đại hội đồng Liên hiệp quốc ở New York với cùng lập luận. Nhưng cả hai bài diễn văn đầy tính cởi mở này đã bị bộ Tuyên truyền Trung ương của Trung ương đảng ("Trung Cộng Trung Ương Tuyên Truyền Bộ") kiểm duyệt! Trước đó, đã có tin đồn, dĩ nhiên là nhảm, rằng Thủ tướng Ôn Gia Bảo sẽ phải từ chức...
Đáng chú ý hơn là ngay sau đó, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào gián tiếp phủ nhận chuyện cải cách, trong khi Trường đảng Trung ương ("Trung Cộng Trung Ương Học Hiệu") ra tuyên cáo ủng hộ quan điểm của Ôn Tổng lý và phản bác lời phê phán của truyền thông nhà nước. Cũng vậy, Tháng Chín vừa qua, khi cựu Ngoại trưởng Đường Gia Triền, Ủy viên Trung ương đảng từ khóa 14, muốn nói lời ôn hòa với Nhật Bản thì lại bị một ông Tướng (Chu Thành Hổ) gián tiếp kê tủ đứng vào miệng!
Nghĩa là ngay trên thượng tầng đảng thì đã có nhiều dị biệt quan điểm về chính trị.
Lá thư hôm 11 châm dầu vào lửa ở trên thượng tầng khi nêu câu hỏi vì sao các đảng viên cán bộ về tuyên truyền lại dám kiểm duyệt lời phát biểu của một đồng chí lãnh đạo đứng hàng thứ nhì trong đảng là Thủ tướng Ôn Gia Bảo?
Cũng trong lá thư, các đảng viên lão thành còn nhấn mạnh đến lời yêu cầu chính là "phải bãi bỏ chế độ kiểm duyệt để thiết lập một chế độ hữu trách về luật pháp" - làm sai thì phải chịu trách nhiệm. Và rằng "trong lịch sử đảng thì không thể có những mảng bị xóa. Người dân phải có quyền biết về những quyết định sai lầm của đảng!"
Vài lý luận khác cũng đáng quan tâm.
Như "trong khi kinh tế Trung Quốc tăng trưởng mạnh thì quyền tự do ngôn luận lại tụt hậu - từ nhiều thập niên rồi!" Hoặc "trong thế giới toàn cầu hóa với mạng lưới Internet đang mở ra cơ hội trao đổi thông tin và quan điểm, chế độ kiểm duyệt có thể khiến người dân Trung Quốc đi tìm sự yểm trợ của nước ngoài để quảng bá ý kiến của mình, và đấy sẽ là một vấn đề cho quốc gia!"
Trước hiện tượng có vẻ mới lạ này, ta nên nghĩ sao?
Đầu tiên, về văn hoá thì trong xã hội Á Châu, các bậc "lão thành" đều được đa số nể nang kính trọng vì tuổi đời và kinh nghiệm. Về văn hoá chính trị, trong xã hội cộng sản thì các đồng chí lão thành này đã ra ngoài vòng đỉnh chung - khỏi cần tranh giành quyền lực hay quyền lợi. Và nhiều người lên tiếng thực ra cũng đã có vị trí no đủ về vật chất và uy tín về thành tích. Họ không còn sợ gì nữa nên dám nói ra những điều nhạy cảm về chính trị.
Chuyện ấy, thật ra cũng dễ hiểu, y như sự kiện là sau khi hết quyền lực và về hưu rồi, họ mới dám nói ra những sự thật mà bản thân đã biết từ lâu, từ trước.
Cũng về văn hóa, Trung Quốc không có truyền thống của loại xã hội dân sinh, nơi mà người dân có quyền nêu vấn đề về kinh tế hay chính trị với chính quyền hay triều đình ở trên. Dưới chế độ Cộng sản, quyền lực lại tập trung vào trong tay một thiểu số, với cái thế quân bình hay đối trọng không được công khai hóa giữa các cơ chế có thẩm quyền. Cái gọi là "dân chủ trong đảng" chỉ là một tấm kính mờ, mờ ảo và nhiều khi mờ ám.
Vì vậy, đảng viên phụ trách về tuyên truyền có thể nhảy qua kiểm duyệt lời phát biểu của đảng viên phụ trách về bộ máy nhà nước, dù là một đảng viên lãnh đạo, ủy viên Bộ Chính trị, cầm đầu Quốc vụ viện là Hội đồng Chính phủ!
Về kinh tế thì 30 năm sau cải cách, chiến lược phát triển của đảng đã đi hết sự vận hành của nó và bắt đầu gặp giới hạn. Đó là hàng loạt vấn đề kinh tế xã hội như lương bổng, nhà cửa, phúc lợi y tế, việc làm, giá lương thực, môi sinh bị ô nhiễm, hay nạn tham nhũng vô tội vạ của các đảng viên cán bộ cường hào ác bá, v.v...
Thế hệ lãnh đạo như Hồ Cẩm Đào thì thấy ra vấn đề và muốn cải cách. Họ muốn tái phân lợi tức cho các thành phần và địa phương cùng khốn để san bằng dị biệt về lợi tức và nhận thức, nhưng lại gặp sự cản trở của các đảng bộ địa phương. Vì vậy họ mới muốn tập trung quyền lực vào trung ương và dùng việc thanh trừng tham nhũng cho mục tiêu ấy.
Nếu không cải cách về kinh tế và xã hội thì khủng hoảng sẽ dội ngược lên chính trị, và quyền lực cùng lẽ chính danh của đảng bị đe dọa. Nhưng tập trung quyền lực về trung ương cũng có thể dẫn tới hậu quả bất ngờ là quân mình đánh quân ta: ban tuyên truyền trung ương đòi bịt miệng thủ tướng!
Các quốc gia Đông Á đã cải cách kinh tế theo xu hướng tự do đều đi qua giai đoạn này. Họ chủ động cải cách chính trị cho thông thoáng rồi dân chủ hơn, như trường hợp Đài Loan, Nam Hàn hay nhiều nước Đông Nam Á. Đảng Cộng sản Trung Quốc và Việt Nam không thể tự ý cải cách như vậy và đang lâm bế tắc.
Lên cầm quyền từ Đại hội khoá 16, năm 2002, thế hệ lãnh đạo thứ tư chỉ còn hai năm để hoàn tất nhiệm vụ trước khi chuyển quyền cho thế hệ thứ năm như Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường hay Bạc Hy Lai. Họ đã hụt cơ hội cải cách rộng lớn từ năm 2008 vì nạn Tổng suy trầm toàn cầu và còn chưa đầy hai năm là sẽ ra đi. Trong thời gian ngắn ngủi ấy, họ không thể ban hành cải cách về kinh tế, chưa nói gì về chính trị, vì những biến động xảy ra sẽ để lại một di sản tai hại cho tên tuổi trong lịch sử.
Nhưng chính là việc trì hoãn cho an toàn này lại thiếu an toàn vì sức ép kinh tế đã dội lên chính trị trong một thế giới đang có những thay đổi lớn cũng từ vụ tổng suy trầm 2008-2009 mà ra.
Và trong nội bộ, cách thẩm định về rủi ro chính trị cũng có khác biệt.
Một số người thì cho rằng phải cấp tốc cải cách cả kinh tế lẫn chính trị, nếu không thì sẽ quá trễ. Một số người khác thì nhắc đến kinh nghiệm Gorbachev khi cải cách cả kinh tế (perestroika) lẫn chính trị (glasnost) làm Liên Xô tan rã! Họ chỉ thống nhất quan điểm về một chuyện: làm sao bảo vệ được quyền lực của đảng trong khúc quanh nguy hiểm này.
Chính là để giải nguy, người ta mới nghĩ đến một thủ thuật chính trị. Đó là gây ấn tượng.
Phải gây ấn tượng là đảng ta đã thấy vấn đề, đang thảo luận về yêu cầu cải cách để tiến tới một hình thái kinh tế công bằng, xã hội cởi mở và chính trị minh bạch hơn. Họ phả ra một chút hy vọng thay đổi cho người dân bớt nóng ruột và đừng bất mãn. Rồi tùy khả năng của từng nơi mà kín đáo thi hành một số cải cách theo kiểu "thí điểm" để rút tỉa kinh nghiệm sẽ áp dụng sau Đại hội 18.
Nhưng, người dân có kiên nhẫn được như vậy không? Và "lộng giả thành chân" cũng là một quy luật chính trị của hiện tượng ra gọi là "hậu quả bất lường". Chúng ta nên theo dõi chuyện này. Trong những kỳ sau, chúng ta sẽ điểm mặt lãnh đạo tương lai của Trung Quốc, để xem là họ sẽ xoay trở thế nào với hệ thống kinh tế chính trị.
Điều đó cũng có thể soi sáng một vấn đề nóng là việc bành trướng ra ngoài có khi làm banh ruột ở trong..
NGUYỄN XUÂN NGHĨA

"Trả Ta Sông Núi"
Ít người Việt miền Nam không biết đến ông Phạm Văn Liễu vì tên ông cứ trôi nổi với thời gian từ khi Thiếu tá Liễu tham gia cuộc đảo chính không thành chống lại chính phủ Ngô Đình Diệm ngày 11-11-1960.
Bây giờ ở tuổi 75, ông viết hồi ký "Trả Ta Sông Núi", đã in được 2 trong số 3 tập, kể lại đời mình từ khi thanh niên Phạm Văn Liễu đi kháng chiến chống Tây rồi lưu lạc sang Tầu (1946 - 1949) với ẩn danh "Cách mạng" Trần Sơn Nam trước khi trở về Việt Nam tiếp tục cầm quân đánh nhau với Việt Minh.
Đi cùng quân lính vào miền Nam sau Hiệp định Geneve 1954 chia đôi đất nước, người sỹ quan trưởng thành Phạm Văn Liễu tiếp tục chỉ huy quân đội chống lại quân Cộng sản. Năm 1955 ông là người đã thành lập Binh chủng Thủy quân Lục chiến của quân đội Việt Nam Cộng Hòa và là cấp Chỉ huy thứ hai của binh chủng này.
Đến tháng 11-1960, người từng xưng ""Thưa Tổng thống, Tôi người Bắc" với Tổng thống Ngô Đình Diệm để bị "từ chối bắt tay" vào thời các Sỹ quan Quân đội hay các chính khách, cấp chỉ huy dân chính phải "Bẩm Cụ, Thưa con", ông Liễu tham gia cuộc đảo chính trong nhóm Trung tá Vương Văn Đông và Đại tá Nguyễn Chánh Thi. Cuộc đảo chính bất thành khiến ông phải lưu vong qua Cao Miên.
Sau cuộc đảo chính lần hai chống chính phủ Ngô Đình Diệm thành công của nhóm Sỹ quan do tướng Dương Văn Minh cầm đầu năm 1963, ông Liễu giã từ cuộc đời lưu vong bên xứ Chùa Tháp trở về Quân đội tiếp tục cầm quân đánh nhau với Cộng sản hoặc đào tạo Quân đội.
Thời chính phủ Phan Quy Quát ông được mời giữ chức Tổng Giám đốc Cảnh sát Quốc gia từ 1965 đến tháng 5/1966.
Nhưng cuộc đời binh nghiệp và chính trị của "chuyên viên đảo chính" Phạm Văn Liễu , như nhiều người đã gọi ông hay như ông nhìn nhận "đã tham gia nhiều cuộc đảo chính và phản đảo chính", được coi như "bế mạc" từ năm 1969, khi Tổng thống (Trung tướng ) Nguyễn Văn Thiệu, sau thời gian củng cố quyền hành, bổ nhiệm ông giữ chức "ngồi chơi xơi nước" Chỉ huy Trưởng căn cứ huấn luyện Đồng Tâm ở vùng Cửu Long.
Tại đây, có lần ông Liễu bị "ai đó" đầu độc bằng thuốc bỏ vào một bát chè, nhưng thoát chết sau một thời gian dài chữa trị. Ông Liễu nói ông không thể gán cho ai làm việc đó vì ông không nắm trong tay bằng chứng cụ thể nhưng vào lúc bấy giờ, với tính tình bộc trực, ưa nói ngay, nói thẳng và nói thật dù mất lòng của ông Liễu, ai cũng nghi đó là một cuộc "đầu độc" có lý do của những người không ưa hay sợ ông.
Ông Liễu như cá sống trên khô như chim bị nhốt vào lồng không còn toan tính gì được nữa. Vì vậy mà ông đã coi Tổng thống Thịêu là "người có tài củng cố quyền hành chứ không có tài đánh giặc."
Tổng thống Thiệu đã có lần muốn ông đi làm Tỉnh trưởng cho "khuất mắt" nhưng ông Liễu từ chối vì, theo lời ông: "Tôi biết ông Thịêu muốn hủ hoá tôi, đưa tôi vào con đường tham nhũng để bêu xấu tôi."
Và theo lời Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng (Đại học George Mason) thì ông Liễu cũng từ chối lên cấp Tướng,nếu chỉ để "ngồi mát ăn bát vàng" chẳng có quyền hành gì cả. Ông Liễu , vẫn theo Giáo sư Hùng, chỉ muốn làm Tư lệnh Thủy quân Lục Chiến hay Tư lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh là hai đơn vị có thể làm đảo chính nên ông Thịêu không bao giờ đồng ý !
Sau ngày quân Cộng sản miền Bắc chiếm Sài Gòn ngày 30-4-1975, mái đầu "đen - bạc" Phạm Văn Liễu lưu vong lần thứ ba sang Hoa Kỳ để rồi lại rơi vào hệ lụy "kháng chiến không đi tới đâu" với "Mặt trận Quốc gia thống nhất Giải phóng Việt Nam" hay còn được gọi là "Mặt trận Hoàng Cơ Minh", từ năm 1980 .
Giấc mộng làm cách mạng của ông cựu Đại tá Phạm Văn Liễu một lần nữa không thành. Mặt trận Hoàng Cơ Minh Minh mà ông đã góp công xây dựng và lãnh đạo dưới tên "kháng chiến" Trần Trung Sơn từ những ngày còn trong trứng nước đã vỡ ra làm hai mảnh sau thời gian cơm không lành mà canh cũng chẳng ngọt giữa ông và Đề đốc Hoàng Cơ Minh và anh em nhà tướng Minh. Sự bất đồng đưa đến đổ vỡ giữa họ tập trung vào guồng máy được gọi là "tổ chức kinh tài" cho Mặt trận do anh em nhà họ Hoàng và các cộng sự viên thân tín của tướng Minh điều hành.
Những người ly khai quây quần với ông Liễu có cả Cựu Đại tá Cảnh sát Trần Minh Công đã tìm cách lấy lại uy tín "kháng chiến" sau khi Mặt trận tan hàng rã cánh năm 1983 với nhiều tai tiếng "tiền bạc lem nhem" và "kháng chiến bên ngoài Việt Nam". Nhưng ông Liễu cũng đã "sức cùng lực kiệt" không đi thêm được bước nào nữa.
Phe theo Đề đốc Minh tiếp tục con đường được gọi là "dấn thân" nhưng họ cũng đã bị đứt gánh giữa đường, trên đường xâm nhập vào Việt Nam, theo ngả miền Nam nước Lào. Tướng Minh bị thiệt mạng. Một số người khác bị mất tích hay bị bắt trong cuộc đụng độ với quân Cộng sản Lào và Việt Nam ngày 28-8-1987, theo tin của Mặt trận phổ biến ngày 28-7-2001. Sự "giấu tin" tướng Minh tử trận trong suốt 14 năm từ 1987 đến 2001 vẫn chưa được giới Lãnh đạo còn lại của tổ chức giải đáp minh bạch.
Tuy nhiên sự đổ vỡ của phong trào kháng chiến đã làm cho ông Liễu ray rứt khá nhiều vì có nhiều người đã vì tin ông mà ủng hộ hay đi về "khu kháng chiến" với Mặt trận. Mái tóc hoa râm của ông vì vậy mà đã bạc đi nhanh hơn thời gian từ dạo ấy.
Sự "bạc trắng tay không " bây giờ, 20 năm sau, đã mon men xói mòn cuộc đời thất bại nhiều hơn thành công của một Phạm Văn Liễu, chỉ mới biết khóc với thật lòng mình một lần trong đời, theo lời ông kể, là khi ông đứng trước quan tài vợ mình. Bà Liễu ra đi ngày 29-2-1992 để lại cho ông 7 người con vào năm Bà mới 54 tuổi.
Hình ảnh một Sỹ quan oai phong, hùng tráng trong bộ quân phục Thủy quân Lục chiến năm nào của ông Liễu không còn nữa. Nó cũng mất đi hình ảnh thiêng liêng của một chiến sỹ "kháng chiến áo nâu, mũ vải rộng vành và khăn rằn ri quàng cổ " của Phạm Văn Liễu khi ông còn đứng trước đám đông người Việt tị nạn chăm chú nghe ông nói chuyện kháng chiến giải phóng quê hương khỏi ách cai trị của Cộng sản Việt Nam vào những năm 1981 - 1982.
Ngày nay, sau "những cơn đau tinh thần vẫn còn ray rứt của cuộc đời binh nghiệp và chính trị" và sau nhiều cơn bạo bệnh thể xác , ông Liễu không còn đi lại bình thường được nữa. Người bạn gần gũi và thân thiết nhất bây giờ của ông không phải là hàng hà sa số bạn hữu ở khắp bốn phương trời thế giới mà là "chiếc xe lăn" vô tri vô giác ngày đêm đang gắn bó với ông!
Nhưng giọng nói của "ông già 75 tuổi" Phạm Văn Liễu bây giờ vẫn còn là của Đại tá Phạm Văn Liễu trên 40 tuổi khi xưa đứng trước hàng quân hay mỗi khi nói chuyện với các Sỹ quan và nhân viên ngành Cảnh sát VNCH. Giọng ông tuy không còn hùng dũng, sang sảng như ngày còn nắm binh quyền nhưng bộ óc minh mẫn và lối nói chuyện hấp dẫn của Tác giả "Trả Ta Sông Núi" vẫn còn đấy.
Ông Liễu đã chứng minh điều này trong buổi ra mắt hai tập Hồi ký của mình ở Trường Lụât, Đại học George Mason hôm 5-10 vừa qua. Mặc dù phải bó thân trong chiếc xe lăn chật hẹp nhưng ông đã nói không ngơi nghỉ hơn một tiếng đồng hồ và còn muốn nói nhiều nữa về những diễn biến lịch sử xung quanh lý do tại sao ông viết hồi ký và trả lời những câu hỏi của cử tọa.
Ông Liễu bảo ông viết hồi ký không phải để khoe tên tuổi hay đề cao cá nhân mà để "Viết lại những lỗi lầm đời mình dài theo dòng lịch sử quốc dân làm món quà cho những người bạn trẻ."
Ông viết trong lời mở đầu Tập I:" Cổ nhân dạy: Dẵm lên sương sớm, nhớ tới muà Đông. Biết đâu, những kinh nghịêm máu và nước mắt đời tôi chẳng giúp vài ba bạn trẻ hằng tâm với đất nước nào đó tránh được những vết xe đổ của người đi trước? Đó là tâm nguỵên duy nhất của người viết."
Ông Liễu có được mãn nguyện hay không thì chỉ có thời gian mới trả lời được. Nhưng những vinh nhục của người lính chiến đấu và người lính cách mạng Phạm Văn Liễu từ năm 1945 cho đến bây giờ vẫn còn nguyên đó. Nó bám lấy ông như hình với bóng để cùng lớn lên với những vết nhăn trên khuôn mặt khắc khổ của một người lính dường như chưa bao giờ biết mỏi mệt.
Ông tự ví mình là người "lúc nào cũng chỉ biết đội trời" nhưng ông đã "vá" được gì chưa thì tôi thiết tưởng Tác giả "Trả Ta Sông Núi" là người biết rõ mình hơn ai hết.
Ông Phạm Văn Liễu có muốn quên đi những vinh nhục của đời mình cũng chẳng dễ gì vì ông là một nhân vật lịch sử. -/-
Phạm Trần (10-03)
Thời Gian Nước Rút
VI ANH
Còn mấy ngày nữa là tới ngày bầu cử 2 tháng 11 năm 2010. Phiếu bầu khiếm diện hay bầu bằng thơ cơ quan bầu cử ở Cali, tiểu bang đông dân, đông cử tri nhứt Mỹ đã gởi đến cho cử tri. Và có nhiều cử tri bầu bằng thơ, nhứt là cử tri Mỹ gốc Việt đã gởi phiếu bầu đi rồi. Đây là thời gian chạy nước rút của hàng mấy trăm ứng cử viên. Quan trọng nhứt là ứng cử viên liên bang tranh 435 ghế dân biểu Hạ Viện, 37 ghế Thượng Nghị Sĩ (1 phần 3 Thượng Viện), 37 ghế thống đốc tiểu bang, và rất nhiều ghề dân biểu, thượng nghị sĩ tiểu bang và nhiều chức vụ dân cử của chánh quyền tiểu bang, thành phố khác.VI ANH
Theo thông lệ cuộc bầu cử nửa nhiệm kỳ tổng thống cử tri thường xem không quan trọng như kỳ bầu cử bốn năm một lần có bầu tổng thống. Nhưng kỳ bầu cử nửa nhiệm kỳ tổng thống này rất quan trọng với TT Obama, với hai Đảng Cộng Hoà, Dân Chủ, và với dân chúng Mỹ.
TT Obama còn hai năm nữa là hết nhiệm kỳ mà Ông còn nhiều dự luật cần sự ủng hộ của một Quốc Hội lưỡng viện với đa số do Dân Chủ nắm như quốc hội thời Ông mới lên làm tổng thống và hai năm đầu của nhiệm kỳ của Ông, mà nhiệm kỳ của Quốc Hội này sắp dứt sau cuộc bầu cử 2/11/2010.
Nếu Cộng Hoà chiếm đa số ở Quốc Hội sau cuộc bầu cử 2/11 này, thì TT Obama sẽ thành con “vịt què” quá sớm, nói theo danh từ chánh trị bình dân của người Mỹ. Tức là. Ông khó mà hoàn thành trong những dự luật liên quan đến chiến lược thay đổi mà Ông hứa khi ứng cử như kinh tế, tài chánh, thương mại, việc làm. Ngay cái đạo luật cải tổ y tế mà Quốc Hội đa số Dân Chủ đã thông qua và Ông đã ban hành, Cộng Hoà nếu chiếm đa số cũng có thể thay đổi gần hết như hủy bỏ vậy.
Nên TT Obama dấn thân sâu mạnh vào cuộc bầu cử Quốc Hội liên bang. TT Obama là vị tổng thống đi vận động cho gà nhà nhiều nhứt. Người đương quyền, chánh đảng, tổng thống, ứng cử viên lúc nào cũng nhiều lợi thế hơn người đối lập và mới ứng cử. TT Obama đi như con thoi ủng hộ gà nhà dưới nhiểu hình thức từ gây quỹ, cổ động. Ông cố gắng tái chinh phục lại thành phần cử tri trẻ, cấp tiến, thiên tả là thành phần nòng cốt bỏ phiếu cho Ông, làm nên sự nghiệp cho Ông. Ông mướn các kênh MTV, BET và CMT để trò chuyện trực tiếp với giới này. Ông cho chuyển trực tiếp trên Internet, cho phép hàng ngàn thanh niên mạng có thể tham gia đặt câu hỏi. Nhưng theo báo Figaro Pháp ít nhậy cảm với chuyện bầu cử Mỹ mà cũng phải nhận định tình thế không khá như thời Ông ứng cử. Ông bị giới trẻ chất vấn nhiều hơn ủng hộ. Hầu hết những lời Ông nói là để tự vệ hơn là vận động. Họ quây Ông về vấn đề thất nghiệp. Ông đã cố chống chế, cho rằng chính sách mà ông tiến hành đã giúp nước Mỹ tránh có thêm 3 triệu người thất nghiệp. Không phải mình Ông, mà Cựu TT Clinton, và vợ là Bà Hillary cũng nhảy vào tiếp.
Tình hình sắp đến ngày bầu cử Quốc Hội rất gay go cho TT Obama và chánh quyền Dân Chủ. Trước bầu cử, Dân Chủ chiếm đa số ở Thượng Viện với 17 nghị sĩ Dân Chủ, 2 Nghị sĩ độc lập thường bỏ thăm theo Dân Chủ và 1 Chủ Tịch Thượng Viện là Phó TT, là phiếu quyết định khi hai bên Cộng Hoà và Dân Chủ biểu quyết ngang ngửa.
Còn bây giờ theo các nhà quan sát bầu cử nhận thấy hai bên Cộng Hòa và Dân Chủ sát nút nhau trong hai tuần nước rút; Dân biểu Hạ viện Dân Chủ có thế mất 40 ghế, Cộng Hoà có thể thêm 39 ghế. Cơ khổ ứng cử viên Pelosi cũng không được nhiều ủng hộ từ đồng viện tái ứng cử và ứng cử viên đồng Đảng nhờ giới thiệu ở địa phương để gây quỹ hay tăng uy tín vì đồng viện và đồng đảng xem Bà là người hơi độc đoán. Nếu Bà đắc cử, Cộng Hòa đa số, Bà cũng mất ghế chủ tịch Hạ Viện và Dân Chủ đa số cũng chưa chắc các dân biểu tân cử chọn bà.
Cử tri coi vấn đề kinh tế là quan trọng nhứt. TT Obama luôn biện minh việc dùng 800 tỷ nợ thuế non do dân sẽ đóng để trả số tiền tài trợ cho các định chế tài chánh không sụp đổ và tạo thêm công ăn việc làm là có kết qủa. Nhưng con số thăm dò không cùng ngôn ngữ như Ông. Hồi Ông nhậm chức tỷ lệ thất nghiệp là 12%, sau gần 2 năm lãnh đạo đất nước, Ông xuất hàng ngàn tỷ cứu nguy kinh tài chánh nói để mong kích cầu kinh tế, tạo thêm việc làm mà tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức 9,6%.
Bộ tham mưu kinh tế chánh trị của Ông ra đi hàng loạt.
Dù TT Obama thừa nhận một số sai lầm chiến thuật nhưng Ông không tiếc uổng điều gì cả. Phe Cộng Hoà trước sau như một khai thác tối đa thất bại kinh tế này của Ông..
Cộng Hoà dồn mũi nhọn tấn công hai chương trình mà Cộng Hòa cho là thất bại nhứt của TT Obama và phe đảng Dân Chủ: cải tổ y tế và cứu nguy các công ty tài chánh của Wall Street.
Mùa bầu cử này tuy là mùa bầu cứ nửa nhiệm kỳ tổng thống nhưng chi phí kỷ lục, các cơ quan quảng cáo tranh cử và cơ quan truyền thông của Mỹ hốt bạc. Đại đa số các tổ chức quyền lợi đặc biệt hiến tiền cho ứng cử viên Cộng Hoà, theo báo chí Mỹ, đã giúp đến cuối tháng 9 là 100 triệu gấp đôi cùng thời kỳ trong mùa bầu cử 2006.
Những người Cộng Hoà muốn biến cuộc bầu cử 2010 trỏ thành một cuộc trưng cầu dân ý về sự tín nhiệm của dân chúng đối với TT Obama.
Nhiều người trong chánh phủ của TT Obama cũng nói với báo Times, Cộng Hoà đối lập chắc sẽ thêm ghế ở Quốc Hội./. ( Vi Anh)

SỰ SỢ HÃI
Huy Phương
Trong lần giới thiệu tác phẩm mới xuất bản vừa qua, tôi xin cám ơn
nhiều người bạn đã có lòng bước qua sự sợ hãi để đến với chúng tôi,
nhưng cũng có nhiều bằng hữu chinh chiến một thời, những người đã nhảy
vào An Lộc, vượt tuyến sang Hạ Lào, thường xem nhẹ cái chết, đạp lên
đầu địch, lại chùn bước trước một vài tiếng hô đả đảo của những người
cùng giới tuyến, dù chỉ nhắm vào địa điểm mà chúng tôi đã chọn để gặp
gỡ các bạn.
Chỉ vì địa điểm tổ chức giới thiệu sách, những người biểu tình đã thóa
mạ nặng lời đối với tác giả cũng như những người tham dự một buổi sinh
hoạt có tính cách văn học. Tôi nghĩ sự kiện này không đáng cho chúng ta
phải sợ hãi. Không lẽ ngày nay chúng ta lại cảm thấy sợ hãi cả bạn lẫn
thù.
Bao nhiêu năm qua, Cộng Sản phương Ðông hay phương Tây cũng đều cai trị
dân chúng bằng tạo ra sự sợ hãi. Chúng nói rằng tai mắt nhân dân (nói
đúng là tai mắt công an và bọn mật báo viên rình mò), như những mắt
trong mỗi trái thơm. Sự sợ hãi làm tê liệt ý chí và tinh thần đối
kháng. Ra đường thì sợ người theo dõi, nói lớn thì sợ người nghe, nói
thì thầm thì sợ người nghi có âm mưu, đến nỗi chồng sợ cả vợ, cha mẹ sợ
cả con cái, sợ cả tiếng chó sủa, sợ cả tiếng lá xào xạc trong vườn. Não
trạng sợ hãi của người dân khiến các chế độ độc tài càng ngày càng củng
cố thêm sức mạnh. Tự do dân chủ như các quốc gia Pháp, Mỹ thì chính
quyền lại sợ dân. Hiện nay trong nước người dân đã bắt đầu không biết
sợ, như việc biểu tình, bao vây phủ chủ tịch, kéo nhau đi khiếu kiện,
giăng biểu ngữ, viết báo, làm blog phê phán chính quyền... thì những
người may mắn đã đến đất tự do như nước Mỹ vẫn con mang tâm trạng... sợ
hãi.
Vài năm trước đây, trong khi thực hiện loạt bài về các tù nhân chính
trị, tôi có tìm cách phỏng vấn một vị cựu đại tá đã ở trong nhà tù Cộng
Sản nhiều năm. Sau khi tra hỏi nhiệm vụ và gốc gác tôi, ông vào đề:
- “Tôi sợ anh là người của Việt Cộng gài vô để hỏi tôi”.
Tôi thưa với ông, có lẽ cũng khá vô lễ:
- “Thưa anh, anh đã ở tù Cộng Sản 13 năm, anh đã làm ‘lý lịch trích
ngang’, bản tự khai hằng trăm lần, xin lỗi anh, lý lịch anh đã rách
teng beng, có gì để Việt Cộng khai thác thêm nữa mà phải giấu!”
Một cựu cán bộ XDNT có gởi cho tôi một cái CD có mấy bản nhạc thu trong
buổi trình diễn ở trại huấn luyện Vũng Tàu giữa năm 1969. Vì không gặp
mặt trực tiếp, người này gởi CD cho tôi ở “front desk” khách sạn và
nhắn cho tôi qua điện thoại:
- “Anh đến lấy gấp, đừng để cái CD này vào tay Cộng Sản thì phiền lắm!”
Gần đây, tôi có buổi hẹn thu hình cho một cán bộ để nói về những hoạt
động tại nông thôn để tranh thủ quần chúng trước năm 1975, nhưng cuối
cùng buổi phỏng vấn phải dẹp bỏ, vì lý do cán bộ này thay đổi ý kiến vì
sợ lên truyền hình, Việt Cộng thấy mặt. Còn sợ Việt Cộng trả thù, không
cho visa về nước, hay làm khó dễ sao đó, vị này không nói rõ. Cũng đã
nhiều lần, tôi có hẹn với một vài vị cựu tù nhân hay cựu quân nhân để
thăm hỏi và đưa ra những trường hợp điển hình cũng như những gương hy
sinh đặc biệt của người lính miền Nam, hy vọng để lại một tấm gương cho
con em. Nhưng phút chót (khi nào cũng phút chót) tôi nhận được một vài
lời nhắn gởi:
- “Thôi anh thông cảm, tôi còn hai đứa con gái ở Việt Nam, tôi không
muốn chúng nó phải gặp phiền phức”, hay:
- “Tôi thì không về đâu, nhưng vợ tôi thường đi Việt Nam lắm, xin hẹn
anh dịp khác!”
Tôi biết sẽ không bao giờ có dịp khác, vì mỗi năm ông bạn này càng già,
càng gần với cái chết, đáng lý ra bớt sợ hơn, ông lại càng ngày càng
sợ. Nhưng trước khi chết ông lại trăn trối muốn được phủ cờ!
Nhiều người không đi biểu tình chống Cộng vì sợ Cộng Sản quay phim chụp
hình. Nhiều người không dám tham gia hội đoàn hải ngoại vì mỗi năm còn
phải đi Việt Nam một lần. Thật tình tôi chưa nghe ai bị làm khó dễ vì
đi biểu tình hay chỉ xuất hiện trên đài truyền hình để nói lại vài câu
chuyện cũ. Hơn ba mươi năm qua, ngay cả những hồ sơ mật của CIA, Bộ
Quốc Phòng Mỹ cũng đã được giải mã, trong các trại tù “cải tạo” các bạn
tù đã khai báo hằng trăm lần, còn các “tội” như “sĩ quan, nhân viên chế
độ cũ”, “đảng viên phản động” thì chúng ta đã phải trả giá bằng nhiều
năm trong nhà tù khổ sai của Cộng Sản rồi. Có lẽ vì sợ, cho nên hiện
nay tại những vùng đất nhiều người Việt tỵ nạn Cộng Sản nhất, đã có
báo, đài CS hiện diện lẫn lộn trong chúng ta và cả báo CS từ trong nước
đã bày bán công khai trên các sạp báo hải ngoại. Nếu tiếp tục sợ, một
ngày nọ cờ đỏ sao vàng sẽ hiện diện ngay tại đất Bolsa.
Ngay đối diện với kẻ thù, trong các trại tù tập trung, cũng có người
cởi áo, phanh ngực nói với bọn cai tù:
- “Mày bắn tao đi!” hay phát biểu sau giờ “học tập”: “Tôi xác định
không bao giờ tôi tin tưởng vào đường lối khoan hồng, nhân đạo gì của
các ông!”
Bao nhiêu người đã bị nhốt vào cũi sắt, xà lim, bỏ đói hay bị đem ra
bắn vẫn hiên ngang trước mặt kẻ thù, ngay trong cảnh “chim lồng cá
chậu” và chắc chắn sẽ nhận lãnh việc trả thù tức khắc của Cộng Sản.
Thật ra người ở lại, nhất là anh em cựu chiến binh và thương binh,
trong hoàn cảnh nghèo đói và áp bức, họ cũng hy vọng vào những người
anh em chiến hữu đã có cơ hội may mắn ra đi làm được một điều gì, nói
được một điều gì cho đồng bào trong nước. Nhưng cuối cùng họ chỉ thấy
những “Việt kiều áo gấm về làng” vung vít, đãi đằng, khoe khoang, hợm
hĩnh về những điều may mắn mà có của mình. Không những sợ hãi mà một số
người còn tiếp tay tuyên truyền cho chính quyền Cộng Sản bằng những cái
nhìn và nhận xét hời hợt về cảnh tượng nhà cao cửa rộng, nhà hàng khách
sạn, “thú ăn chơi mỗi vẻ mỗi hay”. Họ lên án những người đi biểu tình ở
hải ngoại, họ không bằng lòng với những người còn chống Cộng, họ sợ sự
bất an, không đi Việt Nam được, mất quyền lợi làm ăn hay lo chuyện con
cái ở Việt Nam.
Nhiều nghệ sĩ, tiêu biểu là một số lớn ca sĩ, bỏ chế độ CS chạy sang
đây, “trắng da, dài tóc”, “ăn ngon, mặc đẹp”, nhưng ngày nay không đám
đứng dưới lá cờ Việt Nam, không dám dành một suất hát cho các thương
phế binh VNCH đói khổ ở quê nhà, vì sợ bị làm khó dễ, không được về
Việt Nam kiếm ăn.
Hiện nay tại hải ngoại, có nhiều hội đoàn, lại là những hội đoàn cựu
quân nhân VNCH, với những người đã mang màu cờ, sắc áo năm xưa, tập họp
lại với nhau mà lại tuyên bố chủ trương “không làm chính trị”, phải
chăng vì sợ hãi, không muốn nói đến chuyện Quốc, Cộng. Lúc bỏ nước ra
đi, nếu không vì lý do chính trị, không ai chấp nhận cho chúng ta vào
đây. Chúng ta có thể không làm chính trị đảng phái, chủ trương giành
quyền lực chính trị, nhưng chúng ta cần phải có thái độ chính trị, hiểu
theo nghĩa tối thiểu là thái độ của một công dân đối với chính quyền
hiện nay đang cai trị đất nước của chúng ta. Bỏ nước ra đi, mặc lại bộ
quân phục, chào quốc kỳ, hát quốc ca mà tuyên bố là không làm chính trị!
Ngay đối với tôn giáo, mà chúng ta thường nghe câu nói “tôn giáo không
làm chính trị” ngay Ðức Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ trong “Tổng huấn về Ơn
Gọi và Sứ Mệnh của Người Giáo Dân Trong Giáo Hội và giữa Trần Thế” đã
nói rằng: “...Các tín hữu giáo dân tuyệt đối không thể từ chối tham gia
vào ‘chính trị’, nghĩa là vào các hoạt động nhiều sắc thái, kinh tế, xã
hội, lập pháp, hành chánh văn hóa, có mục đích cổ võ công ích một cách
có cơ chế”. Vậy mà một vài hội ái hữu cựu quân nhân trước 1975, bỏ nước
ra đi vì chạy trốn chế độ chính trị trong nước, lẽ nào cho mình là “phi
chính trị?”
Có những người không biết sợ hãi nên lịch sử mới có Budapest, mới có
Cộng Sản Liên Xô, Ðông Âu sụp đổ, mới có việc dẹp bức tường Bá Linh. Có
những người không biết sợ hãi nên mới có Thiên An Môn.
Chỉ nói những chuyện gần đây thôi, nếu sợ hãi thì đất nước không thể
nào có những người trẻ tuổi như LS Nguyễn Văn Ðài, LS Lê Thị Công Nhân
hay nhà văn Trần Khải Thanh Thủy. Còn sợ hãi thì mãi chúng ta sẽ còn
mãi đứng trước những tên công an xấc láo, lạnh lùng, kẹp tờ giấy 5 đô
la vào passport, cười giả lả, “giả dại qua ải” cho xong một kiếp người.
Chúng ta có những người tranh đấu vì quê hương, đất nước, thì cũng có
những người sợ hãi, cầu mong chút yên thân để có thể ra vào Việt Nam,
hưởng chút lạc thú cuối đời, còn chuyện quê hương, đất nước thì “sống
chết mặc bây”.
Huy Phương
Nhân Quả
Song Chi
Song Chi
Có một thời những người cộng sản Việt Nam chỉ tin vào chủ nghĩa vô thần cũng như chủ nghĩa duy vật biện chứng của Marx-Engels đến độ không chấp nhận mọi hệ thống lý thuyết, tư tưởng thần học, siêu hình…cho đến mọi biểu hiện tín ngưỡng trong dân gian và truyền thống văn hóa của người Việt, thậm chí cả việc thắp nhang, vái lạy trước bàn thờ ông bà…Sau mấy chục năm, họ lại quay ngược 180 độ, phần lớn những “ông quan bà lớn” ở Việt Nam bây giờ lại trở nên duy tâm, đồng bóng, mê tín lạ lùng.
Cái sự mê tín ấy dường như cũng tỷ lệ thuận với tầm mức danh vọng, quyền lực, của cải mà họ có được nghĩa là càng có chức lớn, càng có nhiều tiền thì càng mê tín. Họ đua nhau cải táng mồ mả ông bà (nếu thế đất không tốt (!), xây lại mộ, xây nhà thờ họ…theo lời khuyên của các thầy địa lý, thầy bói sao cho con cháu ngày càng thăng quan tiến chức ăn nên làm ra, khi mua nhà, xây nhà họ cũng mời thầy địa lý xem xét các kiểu rất cẩn thận, ngày Tết ngày rằm họ đi chùa xin săm, phóng sinh, cúng vái rất thành tâm…Thậm chí có những ông quan bà quan trước mỗi chuyến đi công tác hay làm bất cứ chuyện gì quan trọng còn phải xem ngày xem giờ đủ cả. Cũng dễ hiểu, khi chưa có cái gì thì chưa biết sợ, có nhiều, gieo gió làm ác cũng nhiều, lại càng sợ.
Cái sự mê tín ấy bây giờ còn ảnh hưởng cả đến những quyết định có liên quan đến chuyện chung của quốc gia-chẳng hạn, vì muốn số đẹp mà những người lãnh đạo nhà nước Việt Nam nhất quyết chọn ngày khai mạc đại lễ 1000 năm Thăng Long-Hà Nội vừa rồi là 1.10.2010 và ngày kết thúc đại lễ là 10.10.2010, bất chấp sự phản đối của người dân vì trùng với ngày quốc khánh Trung Quốc và Đài Loan; vì mê tín nên ông Thủ tướng của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mới nảy ra sáng kiến cho đúc tim bằng đồng để yểm tâm cho cả tượng thánh Gióng lẫn ngựa-một việc chưa ai làm từ trước đến nay! Sự mê tín lan đến cả báo chí chính thống của nhà nước: hàng loạt báo mừng rỡ đăng tin cụ Rùa ở Hồ Gươm nổi lên trong những ngày đại lễ, như một điềm lành, một tờ báo còn đăng cả hình những đám mây nổi lên trên trời và cho là có hình con rồng, không những thế, “khá trùng hợp với hình dạng của con rồng thời Lý, triều đại đã chọn Hà Nội làm thủ đô của cả nước” (báo Vietnam Net) v.v…
Đối với những người lãnh đạo Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam, cái sự mê tín ấy phản ánh một sự bất an từ bên trong, tuy có cả đất nước, quân đội, luật pháp, bộ máy công an trong tay mà lúc nào cũng có tâm trạng như ở giữa con tàu đang bị đắm, phải vơ vét, chụp giựt rồi lại phải thành kính van vái tứ phương để cho “triều đại” được kéo dài chừng nào hay chừng đó!
Điều đó cũng có nghĩa là họ biết sợ.
Chỉ lạ lùng rằng, họ biết sợ cho sự an nguy của bản thân và chế độ, sao không biết lo sợ cho sinh mệnh của nhân dân, sự tồn vong của đất nước?
Họ biết cái lẽ Nhân Quả trong đời một con người sao không biết quy luật Nhân Quả cũng đúng cho mọi thứ trong trời đất trong đó có sự vận hành, thăng trầm của một quốc gia?
Chưa bao giờ quy luật Nhân Quả lại diễn ra rõ rành rành, ngay tức khắc, từng ngày từng giờ, trên khắp mọi lĩnh vực của đời sống xã hội chính trị văn hóa, môi sinh môi trường…như bây giờ, ở Việt Nam. Vì thản nhiên phá rừng vô tội vạ nên bão lũ ngày càng dữ dội, năm sau lớn hơn năm trước, người chết nhiều hơn, thiệt hại nặng nề hơn. Vì làm ăn vô trách nhiệm, ẩu tả nên cầu sập, nhà sập, đường xá đầy ổ gà, hố tử thần…khiến bao nhiêu người dân chết oan. Vì không đầu tư đàng hoàng vào giáo dục nên thầy không ra thầy trò không ra trò, đạo đức xuống cấp thê thảm từ trong nhà trường ra đến bên ngoài xã hội, càng ngày những vụ phạm pháp, những tội ác càng nhiều với mức độ dã man, phi nhân tính càng cao…
Đất nước như một ngôi nhà chung. Không trân trọng, gìn giữ, đối xử tệ hại với ngôi nhà đó thì mỗi người sống bên trong đều phải gánh chịu hậu quả. Mỗi người dân Việt Nam hiện nay đang phải chung sống, đối mặt với bao nhiêu “quả” đắng: môi trường sống bụi bặm, ô nhiễm, không an toàn từ không khí, nguồn nước, thực phẩm cho đến đường xá giao thông, môi trường văn hóa tinh thần cũng ô nhiễm không kém, thật-giả, xấu-đẹp, thiện-ác, tử tế-không tử tế lẫn lộn trong đó cái xấu, cái ác, cái không tử tế chiếm đa số và ngày càng lan rộng, cái đẹp, cái thiện, cái tử tế ngày càng phải chống đỡ một cách vất vả…
Bao nhiêu năm qua trên ngôi nhà Việt Nam nhỏ bé, tài sản chung chả có bao nhiêu này, các thế hệ lãnh đạo Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam cứ đào hết của cải thô lên mà bán mà xài cho bằng hết, cứ vay nợ mà tiêu hoang phí. Vậy mà họ vẫn chưa biết sợ, chưa hề có dấu hiệu dừng lại. Lỗ lã vụ Dung Quất, vỡ nợ vụ Vinashin…chưa qua, lại vung tiền tổ chức một đại lễ to đùng chơi cho thiên hạ trên thế giới cũng phải “choáng” cái tính liều lĩnh, phô trương của các ông lớn Việt Nam. Tai họa bùn đỏ ở Hunggary cũng chẳng làm họ sợ-ngay sau hàng loạt bài viết cảnh báo của giới chuyên môn, trí thức và cả thư kiến nghị của người dân một lần nữa khẩn thiết yêu cầu dừng lại dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên, báo chí đưa tin ông Thủ tướng Việt Nam vẫn tiếp tục “đồng ý cho phép đầu tư dự án xây dựng tuyến đường tránh phía Tây thành phố Bảo Lộc (tỉnh Lâm Đồng) để phục vụ khai thác và vận chuyển bôxit từ mỏ Tân Rai - Bảo Lâm ra quốc lộ 20.” (báo Vietnam Net ngày 13.10)!
Dân gian hay bảo “Trời có mắt”. Cũng chẳng phải ông Trời nào mà việc chúng ta gây ra thì chúng ta phải gánh chịu hậu quả. Bão lũ ở miền Trung bây giờ có thể chẳng chạm được đến người các quan, bùn đỏ ở Tây Nguyên mai sau nếu có xảy ra cũng chẳng chạm được vào người con cháu các quan, nhưng khi nhân dân nổi giận thì khác đấy!
-
thienthanh
- Posts: 3393
- Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
- Contact:
Một thư ngỏ mang nhiều sức nặng
Bùi Tín
(Nguồn: VOA)
Bức thư ngỏ ngày 11 tháng 10-2010 của 23 nhân vật từng có vị trí cao trong đảng Cộng Sản Trung Quốc gửi ban thường vụ Quốc Hội Trung Quốc đang được dư luận toàn thế giới quan tâm phổ biến, bình luận khá là sôi nổi.Bùi Tín
(Nguồn: VOA)

Một phiên họp của Bộ Chính Trị Trung Ương Ðảng Cộng Sản Trung Quốc. Trong hàng đầu, người đứng thứ nhất, từ trái sang, là Phó Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình;
người đứng giữa là Thủ Tướng Ôn Gia Bảo; và người đứng thứ ba là Chủ Tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Ðào. (Hình: FREDERIC J. BROWN/AFP/Getty Images)
Ðây là một bức thư rất quan trọng, được dự thảo công phu, trao đổi kỹ trong và ngoài nước, giữa lục địa và Hồng Kông, Macao, được dịch cẩn thận ở Hoa Kỳ sang tiếng Anh, có ngay những bản dịch sang tiếng Pháp, Ðức, Tây Ban Nha, và được tung ra vào một thời điểm đặc biệt, cho nên càng gây chú ý cho dư luận Trung Quốc cũng như dư luận toàn cầu.
Ðây là thời điểm ngay trước hội nghị ban chấp hành trung ương đảng Cộng Sản Trung Quốc chuẩn bị cho Ðại hội Ðảng lần thứ XVIII sẽ họp vào năm 2012, bàn cả về đường lối chính trị-kinh tế và nhân sự trên cao nhất, là thời điểm khá bất thường là Thủ Tướng Ôn Gia Bảo, nhân vật số 2 của chế độ, nhiều lần bày tỏ quan điểm công khai mạnh mẽ là Trung Quốc cần thực sự thực hiện cải cách chính trị sâu rộng, thực hiện dân chủ rộng rãi thì mới giữ được đà phát triển kinh tế và giữ được an ninh xã hội, nhưng 3 lần phát biểu của ông về nội dung này đều bị cơ quan tuyên huấn và công an trung ương kiểm duyệt, cắt bỏ, không cho Nhân Dân Nhật Báo Bắc Kinh và Tân Hoa Xã đăng tải. Lại cũng là lúc nhà ly khai Lưu Hiểu Ba được thưởng giải Nobel Hòa Bình trong khi đang ở trong tù, bất chấp sự ngăn cản, đe dọa của Bắc Kinh đối với chính phủ Na Uy, làm cho bản Hiến chương 2008 nổi tiếng của ông được phổ biến rộng rãi thêm ở ngay Trung Quốc và trên toàn thế giới.
Ðiểm đặc biệt của thư ngỏ này là ngắn gọn, súc tích, chỉ tập trung vào một điểm là tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí, trong khi khái niệm đầy đủ về dân chủ theo tài liệu của Liên Hợp Quốc bao hàm đến 27 quyền tự do của công dân, ngoài quyền tự do nói trên còn có các quyền tự do bầu cử, ứng cử, đi lại, xuất ngoại, tôn giáo, tổ chức, lập hội, tuần hành, biểu tình, học hành không mất tiền, quyền hưởng phụ cấp ốm đau, thất nghiệp, khi cao tuổi, về hưu, khi tàn tật, bị tai nạn, thiên tai, quyền được có nhà ở, v.v.
Bức thư tập trung vào mũi nhọn đòi tự do báo chí, tự do xuất bản là vì tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí luôn là tự do số một, tự do đi đầu, tự do mở đường cho mọi quyền tự do khác.
Nhà văn kiêm triết gia Pháp nổi tiếng trong thế kỷ Ánh sáng (17) Voltaire từng nhận định rằng “Tự do báo chí là linh hồn của nền dân chủ”.
Do đó thư ngỏ yêu cầu với Quốc Hội 8 điểm rất cụ thể là:
1. Giải thể cơ chế các báo phải có cơ quan đỡ đầu bảo trợ; các nhà xuất bản có toàn quyền tự lập. Thực hiện nghiêm chế độ chủ nhiệm và tổng biên tập chịu trách nhiệm về các ấn phẩm của mình;
2. Tôn trọng nhà báo, giúp cho nhà báo làm việc có hiệu quả. Nhà báo phải được xem là những “ông vua không ngai”. Chấm dứt ngay việc chính quyền, công an địa phương bắt giữ nhà báo;
3. Xóa bỏ mọi hạn chế đối với việc điều tra dư luận của các báo tại các địa phương, bảo đảm cho nhà báo làm công việc đưa tin, viết phóng sự trong phạm vi cả nước;
4. Internet là nơi quan trọng để đưa thông tin, thảo luận về những quan điểm trong xã hội công dân. Cơ quan quản lý Internet không được xóa bỏ một cách độc đoán nội dung và lời bình trên mạng, trừ khi có liên quan đến bí mật quốc gia hay xâm phạm đời tư của công dân;
5. Từ nay không có vùng cấm nào liên quan đến lịch sử đảng Cộng Sản; công dân Trung Quốc có quyền biết về những sai lầm của đảng khi cầm quyền;
6. Tuần báo Hoa Nam và Viêm Hoàng Xuân Thu cần được phép khôi phục như là một chương trình tư nhân của một cơ quan đại chúng độc lập. Việc tư nhân hóa các báo chí, tuần báo phải được coi là hướng đi tự nhiên trong cải cách chính trị;
7. Cho phép phát hành tự do trên lục địa những sách, báo từ Hồng Kông, Macao. Trung Quốc đã gia nhập Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế, đã hội nhập kinh tế toàn cầu, không thể cứ khép kín về văn hóa. Nhân dân chào đón và tỏ ra tin cậy những sách báo đến từ Hồng Kông, Macao;
8. Thay đổi chức năng của các cơ quan tuyên truyền, từ việc đề ra những điều cấm kỵ, chuyên cản trở một cách lỗi thời sự giao lưu thông tin, còn hỗ trợ cho quan chức tham nhũng, kiểm duyệt những bài viết nói lên sự thật... sang thành cơ quan hỗ trợ, tiếp sức cho nhà báo, phản đối cường quyền, bảo vệ thông tin đại chúng và nhà báo.
Tám đề nghị rất cụ thể trên đây liên quan đến tự do báo chí, quyền tư nhân làm báo và xuất bản là những đề nghị mũi nhọn, mang tính mở đường cho quyền tự do công dân và dân chủ trong xã hội ngày càng rộng rãi về sau.
Các nhân vật ký tên vào thư ngỏ nói lên tầm quan trọng, giá trị của những đề nghị và sức nặng của thư ngỏ đang được phổ biến rộng và bàn cãi trong thời gian tới.
Chỉ xin nhắc đến một số tên tuổi để chứng minh sức nặng ấy. Ðó là các ông: Lý Nhuệ, nguyên vụ phó Vụ Tổ Chức trung ương đảng CS TQ; Hồ Tích Vỹ, nguyên chủ nhiệm Nhân Dân Nhật Báo, từng là ủy viên ban thường trực Quốc Hội khóa 7; Giang Bình, nguyên viện trưởng Ðại Học Chính Trị và Luật Học, từng là ủy viên ban thường trực Quốc Hội khóa 7; Lý Phổ, nguyên phó giám đốc Tân Hoa Xã; Chu Thiệu Minh: nguyên vụ phó Vụ Chính Trị Quân khu Quảng Châu; Chung Bái Chương, cựu chánh văn phòng Cục Tuyên Truyền Trung Ương; Vương Vĩnh Thành, giáo sư Ðại học Giao Thông Thượng Hải; Trương Trung Bồi, chủ tịch Hội Khảo Cổ học Trung Quốc; Ðỗ Quang, cựu giáo sư trường đảng trung ương; Quách Ðạo Huy, cựu biên tập báo Khoa Học Pháp Lý; Tiêu Mặc, cựu lãnh đạo Trung Tâm Nghiên Cứu Kiến Trúc Quốc Gia; Trang Phổ Minh, nguyên phó giám đốc Nhân dân Nhật báo; Hồ Phủ Thần, cựu giám đốc nhà xuất bản Lao Ðộng; Vũ Hạo Thành, cựu giám đốc nhà xuất bản Quần Chúng; Trương Thanh, cựu giám đốc Trung Tâm Ðiện Ảnh Trung Quốc; Sa Diệp Tân, cựu giám đốc trường Nghệ thuật Nhân dân; Tân Tý Lăng, cựu giám đốc báo đại học quốc phòng...
Một vấn đề được nhiều blogger tự do trong nước trao đổi với nhau sau khi nhận được tin này là Trung Quốc và Việt Nam, ai là nước sẽ để cho báo chí tự do, để tư nhân làm báo và xuất bản sách báo? Ai là nước sẽ thực hiện dân chủ thứ thật là dân chủ bầu cử, tự do lập hội như hiến pháp công nhận, để có nền dân chủ đa đảng theo luật pháp như đông đảo các nước khác? Có bạn nêu tại sao ta cứ phải theo đuôi Trung Quốc, trong khi Việt Nam ta nhỏ hơn, gọn hơn, dễ đạt đồng thuận dân tộc hơn, để chuyển mình mạnh mẽ cả về kinh tế, chính trị và văn hóa, hòa nhập sớm và trọn vẹn với nhân loại tiến bộ. Sao cứ hủ lậu hoài!
Có bạn nêu vấn đề quyết định là ở trí thức và tuổi trẻ nước ta có còn trí tuệ và tâm huyết với nhân dân, dân tộc hay không? Hay đã kiệt quệ về ý chí, bị bả hư danh, hưởng thụ vật chất cổ hủ cầm tù mất rồi? Xin mở rộng cuộc tranh luận lý thú và hệ trọng này.
(Nguồn: VOA)

Khi các “còm sĩ” trở thành một lực lượng đáng sợ
Trong mấy tuần vừa qua, chính quyền Việt Nam tung ra chiến dịch đánh phá các blog độc lập một cách dữ dội. Trước hết là đợt tin tặc tấn công vào một số blog bằng cách hoặc là đánh sập hẳn hoặc là cướp chủ quyền trên các blog ấy. Sau đó là bắt bớ một số blogger (tiếp tục cầm tù blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải dù đã mãn án, bắt blogger Anh Ba Sài Gòn Phan Thanh Hải và mới đây, bắt khẩn cấp blogger Cô Gái Đồ Long Lê Nguyễn Hương Trà). Cuối cùng, bằng cách này hay cách khác, uy hiếp tinh thần của các blogger còn lại.
Rõ ràng những sự uy hiếp ấy có kết quả. Trong một, hai tuần vừa qua, không khí phần lớn các blog có vẻ im ắng hẳn. Mức độ đưa bài lên ít đi. Đề tài cũng bớt gai góc. Giọng điệu cũng trở thành nhẹ nhàng hơn. Đặc biệt, rất nhiều blog khoá hẳn phần đóng góp ý kiến của độc giả - nhiều người gọi là “còm sĩ”, nửa Anh (comment) nửa Hán Việt (sĩ), nghe cũng rất thú vị.
Ví dụ cái bản “Thông báo” đăng trên blog Quê Choa của Nguyễn Quang Lập: “Bọ tạm thời đóng cửa comments, mong bà con thông cảm.” Rồi trên blog Đông A, ở cuối bài “Ranh giới giữa dân sự và hình sự” bàn về việc công an bắt khẩn cấp blogger Cô Gái Đồ Long, Đông A viết trong lời “Lưu ý”: “Entry này không nhận comment. Bất kỳ comment nào cũng sẽ bị xoá.”
Blogger Hiệu Minh thì viết hẳn một bức “thư khẩn” gửi các “còm sĩ”. Trong bức thư khẩn ấy, sau vài dòng về lịch sử các blog, Hiệu Minh nêu bật tầm quan trọng của phương tiện truyền thông hiện đại này và cách đối phó của các nhà cầm quyền trên thế giới: “Mọi chính quyền đều để ý đến mạng mang tính xã hội này. Người thông minh dùng blog như một con thuyền để lướt sóng cho mình. Nhưng có người không hiểu hết tính năng của blog đã tìm cách cấm đoán như một số quốc gia.” Ông tế nhị không nhắc đến tên Việt Nam trong “một số quốc gia” ấy. Nhưng ông nhắc những nguy cơ rình rập các blogger đến từ các ý kiến phản hồi của độc giả:
“Như có lần Hiệu Minh đã viết, blog Osin ‘chết’ không phải do những gì anh viết vì các entry trên đó được viết vừa phải. Nhưng comment trên đó đã kết liễu blog này. Dù đã cảnh báo từ trước nhưng chẳng ai nghe. Kết quả, blog Osin đã đóng cửa gần 1 năm nay.
Tiếp đến gần đây là Trương Duy Nhất, Phạm Viết Đào và vài blog khác bị hack. Quechoa đã bỏ chế độ comment. Blog không có comment đó là blog một chiều, rượu nhạt và mồi thiu.”
Cuối cùng, ông khuyên các độc giả của ông:
“[T]rước khi viết phản hồi, xin bạn hãy nhớ hộ rằng, việc thành bại của blog là do chính bạn. Blog hay cũng do bạn đọc và blog dở cũng do còm sỹ đóng góp tới 50% giá trị vào đó.
Hãy đặt địa vị mình vào vai người đọc và người được góp ý. Nếu thấy thông điệp bạn định gửi đi mà lọt tai thì hãy viết. Nếu không, xin bạn ra làm ly café Trung Nguyên cho tĩnh tâm, rồi hãy gõ bàn phím.”
Qua những lời phát biểu và thái độ dè dặt của các blogger nêu trên, chúng ta thấy rõ được hai điều:
Một, chính quyền Việt Nam rất sợ các “còm sĩ”, những độc giả nặc danh và vô danh trên các blog.
Hai, việc họ đánh sập hay khoá cửa một số blog xuất phát, một phần, từ bài viết của các blogger, phần khác, có khi nhiều hơn, từ những ý kiến phản hồi của các độc giả được gọi là “còm sĩ” ấy.
Thế nhưng, thú thực, tôi vẫn không hiểu và không giải thích được cảm giác sợ hãi ấy.
Thứ nhất, hầu hết các ý kiến của độc giả đều ngắn và đều bộc lộ những phản ứng thiên về cảm tính hơn là lập luận chặt chẽ. Vậy thì sức thuyết phục của chúng đến đâu mà chính quyền phải sợ hãi đến như vậy? Nên nhớ là, ở các quốc gia tự do, số lượng các blog còn nhiều hơn hẳn Việt Nam, các ý kiến đóng góp của các “còm sĩ” cũng quyết liệt và gay gắt hơn hẳn người Việt, vậy tại sao chính quyền các nước ấy vẫn vững mạnh và xã hội vẫn ổn định?
Thứ hai, nếu chính quyền sợ hãi cái số đông áp đảo của những người phê phán họ, tại sao họ không huy động lực lượng phản công? Nên nhớ là họ luôn luôn tuyên bố là đảng của họ và chính quyền của họ được sự ủng hộ của toàn dân, vậy thì, cả tám mươi mấy triệu người, trong đó có trên 20 triệu người thường xuyên sử dụng internet ở đâu? Rồi mấy triệu đảng viên của họ nữa, ở đâu? Rồi hàng chục ngàn, thậm chí, hàng trăm ngàn cán bộ tuyên truyền các cấp của họ, ở đâu? Sao những người ấy không vào các blog bày tỏ ý kiến ủng hộ đảng và nhà nước cũng như phê phán lại những sự phê phán họ? Tại sao? Tại sao, trên nguyên tắc, và đặc biệt, trên danh nghĩa, họ đang là số đông, thậm chí, số đông tuyệt đối, lại trở thành thiểu số trên mặt trận lý luận chính trị và xã hội như vậy? Một thiểu số đến thảm hại: chỉ lác đác vài ba người trên các blog!
Thú thực, tôi không hiểu được. Bạn đọc nào hiểu, xin trả lời giùm. Xin thành thực cám ơn.
Nguyễn Hưng Quốc ( VOA )
Vượt qua nỗi sợ hãi
Song Chi
“Nóng” từ trong nghị trường Quốc HộiSong Chi
Trong tuần vừa qua, một trong những sự kiện được người dân Việt Nam quan tâm theo dõi nhất có lẽ là kỳ họp thứ 8, Quốc Hội khóa XII, với những cuộc thảo luận, chất vấn giữa các đại biểu Quốc Hội và các bộ trưởng có liên quan, xoay quanh những vấn đề lớn về kinh tế, chính trị, xã hội... của đất nước.
Người dân cũng thừa hiểu rằng trong một thể chế chính trị như ở Việt Nam, khi ba “chân kiềng” Lập pháp, Tư pháp, Hành pháp trên thực chất chỉ là một và chịu sự lãnh đạo bao trùm của đảng cộng sản, một cơ chế loại trừ mọi sự phản biện và giám sát, thì các đại biểu Quốc Hội rất khó có thể làm tốt vai trò là những người đại diện cho nhân dân, cất lên tiếng nói từ nguyện vọng của đông đảo người dân trước những chính sách lớn của nhà nước. Chính vì vậy trong nhiều năm dài người dân thường vẫn gọi các đại biểu Quốc Hội là “những ông nghị gật,” chỉ biết gật đầu, vỗ tay và thông qua mọi chủ trương, chính sách do nhà nước đưa ra. Nhưng dường như “gió đã đổi chiều.” Khi bỏ phiếu bác dự án xây đường cao tốc Bắc Nam vào tháng 6, 2010, Quốc Hội khóa XII đã làm được một điều mà báo chí và dư luận đều cho rằng đó là một sự bất ngờ. Tổng kết kỳ họp, chủ tịch Quốc Hội, ông Nguyễn Phú Trọng đã thừa nhận: “Dự án đường sắt cao tốc là dự án lớn, tác động nhiều mặt, được cử tri và người dân đặc biệt quan tâm. Với tinh thần trách nhiệm cao, trên cơ sở báo cáo và tờ trình chính phủ, lắng nghe ý kiến cử tri và nhân dân, Quốc Hội đã thảo luận, xem xét toàn diện, kỹ lưỡng, thận trọng dự án.” Và: “Kết quả của kỳ họp còn có sự đóng góp rất quan trọng của các cơ quan thông tấn, báo chí...” (Báo VietnamNet ngày 19 tháng 6, 2010).
Và bây giờ, Quốc Hội khóa XII lại tiếp tục ghi dấu ấn của mình với những phát biểu mạnh mẽ, đi thẳng vào những vấn đề gai góc và vạch rõ người chịu trách nhiệm, trong đó bùng nổ nhất là bài phát biểu của Giáo Sư Nguyễn Minh Thuyết. Sau khi nói về vụ phá sản Vinashin, ông kiến nghị “căn cứ Hiến Pháp và luật tổ chức Quốc Hội, tôi trân trọng đề nghị Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội tổ chức để Quốc Hội biểu quyết thành lập Ủy Ban Lâm Thời điều tra trách nhiệm của các thành viên chính phủ trong vụ việc này. Trên cơ sở đó vào thời gian cuối kỳ họp bỏ phiếu tín nhiệm thủ tướng và một số thành viên chính phủ có liên quan. Ðể tạo điều kiện cho công tác điều tra của Ủy ban Lâm Thời, tôi đề nghị Quốc Hội tạm đình chỉ chức vụ của các vị cần được điều tra.”
Báo chí “lề trái” lẫn “lề phải,” trong và ngoài nước nhất loạt đưa tin về sự kiện mà trang Bauxite Vietnam gọi là “chấn động” này. Nhiều đại biểu khác cũng đã lên tiếng đồng tình, ủng hộ kiến nghị của ông Nguyễn Minh Thuyết, chứng tỏ ngày càng có nhiều đại biểu dám nói thẳng nói thật.
Trả lời cho câu hỏi vì sao đại biểu Quốc Hội nói mạnh hơn tại kỳ họp này, đại biểu Nguyễn Lân Dũng cho rằng “vì dân bức xúc nhiều,” “vì đây là không khí chung của cả xã hội” (Báo VTC News ngày 3 tháng 11), tuy nhiên, về việc bỏ phiếu tín nhiệm thủ tướng và các thành viên chính phủ như đề nghị của đại biểu Nguyễn Minh Thuyết, theo ông: “Ðiều này không xảy ra được nếu chúng ta không sửa Luật. Theo thì phải có 20% số đại biểu ký tên đề nghị thì mới bỏ phiếu tín nhiệm. Ðiều này là rất khó.” Còn theo đại biểu Dương Trung Quốc:
“Tôi cho rằng trong luật đã quy định ÐBQH có thể đặt vấn đề như anh Thuyết. Tuy nó chưa diễn ra nhưng nếu có sự đồng thuận cao thì vẫn cứ phải tiến hành.
Cá nhân tôi muốn nhìn trong cơ chế vì đây là một lỗi hệ thống. Một trong những cơ quan phải chịu trách nhiệm chính là QH vì có những liên quan đến cơ chế vận hành của bộ máy và thông qua luật của QH ban hành.
Vấn đề đặt ra là giám sát QH khá mạnh nhưng tại sao hiệu năng lại thấp? Tức là QH không đi đến cùng.
Nói cho cùng, đảng là người lãnh đạo toàn diện. Thủ tướng hay chủ tịch QH đều là lãnh đạo của đảng. Vì vậy, đây là cơ chế và cơ chế ấy thiếu hiệu lực trong vấn đề điều hành...”
Như vậy có thể thấy rằng trong Hiến Pháp và trong luật của Việt Nam có quy định về việc các đại biểu Quốc Hội hoàn toàn có thể bỏ phiếu tín nhiệm những người lãnh đạo cao nhất của chính phủ, nhưng trong thực tế từ trước đến nay Quốc Hội Việt Nam chưa ai dám sử dụng các quyền này. Cũng như Hiến Pháp Việt Nam có quy định mọi người dân đều có quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do lập hội, đoàn... nhưng cũng chỉ là... trên lý thuyết mà thôi.
Dù sao, qua các kỳ họp của Quốc Hội gần đây đã cho thấy những chuyển biến tích cực mà cách đây chừng năm năm không ai dám nghĩ là sẽ xảy ra. Vì rõ ràng những vấn đề như phá sản Vinashin, an toàn bauxite, quốc nạn tham nhũng... đã thực sự ảnh hưởng tới tất cả mọi người Việt Nam đang sinh sống trên mảnh đất này, trong đó bản thân các đại biểu và con cháu họ cũng phải gánh chịu hậu quả từ số nợ khổng lồ của Vinashin hay hậu quả của vụ bauxite nếu dự án này vẫn được tiếp tục tiến hành. Ðiều đó đã buộc các đại biểu Quốc Hội không thể không lên tiếng.
“Nóng” bên ngoài xã hội
Trong khi từ người dân đen cho tới các đại biểu Quốc Hội ngày càng vượt qua nỗi sợ hãi để có những tiếng nói thẳng thắn, mạnh mẽ trước những vấn đề “quốc gia đại sự” thì ngược lại, phản ứng của phía chính quyền lại cho thấy tâm trạng của họ: Sự sợ hãi. Ngày càng nhiều những vụ bắt bớ, đàn áp... vì nguyên nhân này hay nguyên nhân khác. Từ vụ bắt giữ các blogger bất đồng chính kiến như Ðiếu Cày, AnhBaSG, nhà hoạt động đối kháng ôn hòa Vi Ðức Hồi,... vụ xét xử các giáo dân Cồn Dầu, bản án bất công dành cho Ðoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Ðỗ Thị Minh Hạnh - những người thanh niên nhiệt huyết bảo vệ quyền lợi của những người công nhân thấp cổ bé họng, và mới đây là vụ bắt giữ Tiến Sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ - một nhân vật nổi tiếng qua hàng loạt vụ kiện đích danh Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng như qua những hành động, phát biểu quả cảm của ông.
Bên cạnh đó, những vụ đánh phá các trang mạng, blog cá nhân “lề trái” tiếp tục diễn ra, ngay cả những trang blog không phải thuộc loại “lề trái” mà chỉ vì đôi khi có những bài viết khá thẳng thắn như blog Trương Duy Nhất hay chỉ điểm tin, báo như trang AnhBaSàm cũng bị đánh sập. Một bài viết trên BBC dẫn nguồn tin từ hãng thông tấn Associated Press, hãng AP: “Cáo giác tin tặc chính trị mới ở Việt Nam,” rằng: “Các chuyên gia điện toán Hoa Kỳ nói giới blogger chính trị ở Việt Nam đang đối diện làn sóng tấn công mới của tin tặc nhằm đánh sập website của họ và dập tắt tiếng nói bất đồng chính kiến..” (BBC Vietnamese ngày 29 tháng 10)
Có vẻ như nhà nước Việt Nam chẳng cần biết người dân hay dư luận thế giới nghĩ gì về họ. Có vẻ như họ cho rằng đây là thời điểm mà Mỹ, các nước phương Tây cho tới Nga, Nhật, Ấn... đang “chiều chuộng” Việt Nam vì không muốn Việt Nam rơi hẳn vào vòng ảnh hưởng của Trung Quốc, nên sẵn sàng bỏ qua hồ sơ nhân quyền tồi tệ của họ? Càng ngày họ càng không kiêng dè gì ai nữa, họ sẵn sàng sử dụng mọi biện pháp, mọi thủ đoạn “đánh dưới thắt lưng” trong cách đối phó, xử lý đối với chính nhân dân của mình, bỏ qua mọi sự hợp lý về luật pháp trong vụ án “trốn thuế” trước kia và trong việc tiếp tục giam giữ blogger Ðiếu Cày mới đây, gây khó dễ đủ kiểu vặt vãnh chỉ nhằm làm kiệt quệ tinh thần gia đình blogger Ðiếu Cày, bắt và cư xử hết sức tồi tệ với Luật Sư Lê Thị Công Nhân qua những gì chị tường thuật lại với báo chí, v.v...
Luật pháp VN là một kiểu luật pháp rất tùy tiện, lẽ phải nằm trong tay nhà nước và những người có quyền. Ngay trong vụ blogger Cô Gái Ðồ Long, một blogger chỉ chuyên “tán” chuyện hậu trường của giới ca sĩ, người mẫu, diễn viên,... nếu trong một xã hội dân chủ nào khác, một blogger viết bài đụng chạm đến đời tư của một ông tướng công an, thì bản thân ông ta và gia đình cứ việc kiện blogger này ra tòa, rồi tòa sẽ xét xử, ai đúng ai sai. Ðây chỉ là một vụ án dân sự, đâu có gì nghiêm trọng đến mức phải bắt khẩn cấp, phải tạm giam để điều tra? Hay nói cách khác, nếu blogger này không đụng đến gia đình ông tướng kia, như đã từng đụng đến một ca sĩ trước đây, thì công an đâu có ra tay như vậy?
Còn vụ của Luật Sư Cù Huy Hà Vũ mở đầu chỉ là một phần của kịch bản nhằm hạ thấp uy tín của vị luật sư này trước dư luận qua sự kiện “bắt quả tang quan hệ bất chính” trong khách sạn hay “hành hung người thi hành công vụ,” bởi nếu chỉ vì vậy thì chẳng có lý do gì để khám xét máy vi tính của “khổ chủ” ngay tại hiện trường hay khám xét nhà cửa của vị luật sư này ở ngoài Hà Nội cả. Mà nguyên nhân thật thì đã rõ, Luật Sư Cù Huy Hà Vũ bị tròng vào cái tội “tuyên truyền chống phá nhà nước,” theo Ðiều 88, một điều luật đã được dùng để ghép tội cho tất cả những ai dám lên tiếng nói thẳng, nói thật ở Việt Nam.
Cái cách hành xử theo kiểu dùng dao mổ bò để giết muỗi ấy chỉ phản ánh sự sợ hãi của một nhà nước đối với chính nhân dân của mình.
Chỉ khi nào một nhà nước độc tài vượt qua được nỗi sợ hãi ấy, chấp nhận mọi lời phản biện, thừa nhận những quy luật thực tế khách quan trên con đường vận động phát triển của nhân loại thì nhà nước đó mới thay đổi được. Và chính từ sự thay đổi đó, cơ hội để cho họ tiếp tục đồng hành với nhân dân là hoàn toàn có thể. Còn ngược lại, chỉ là thúc đẩy quá trình tự sát đến nhanh hơn mà thôi.
Who is online
Users browsing this forum: No registered users and 6 guests
