Tạp Ghi

thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Đọc “Hạnh Phúc Xót Xa” tạp ghi Huy Phương

Nguyễn Mạnh Trinh
Viết tạp ghi,không phải là người kể chuyện. Nguyên ủy câu chuyện đã có thực trong đời sống nhưng trong văn thể này chỉ là một yếu tố khách quan. Yếu tố quan trọng khác là cái nhìn và suy nghĩ chủ quan của người viết, đã tạo thành nét sinh động và tạo thành một cuộc sống mới, sâu sắc hơn và cũng dẫn đi đến những cảm quan xa hơn. Ở tạp ghi Huy Phương, thế giới của ông rộng khắp, từ vòng quay nhân sinh tối tăm mặt mày ở đất nước Hoa kỳ đến cuộc sống ở quê hương lầm than nhọc nhằn. Ông nhìn cuộc đời, không phải chỉ giản đơn từ những hiện tượng gần gũi mà muốn đi sâu hơn, dẫn đến những suy tưởng của những người đi tìm hai mặt trái phải của cuộc đời.
Một điều rõ nét ở văn chương Huy Phương là nét nhân bản. Nếu nói ông viết bằng cả tấm lòng của mình thì cũng không phải ngoa ngôn.Tâm tư của người tị nạn đã quay quắt nhớ theo từng ngày từng tháng, bây giờ, được dịp thổ lộ.Ông nhìn về quê hương của mình, đau xót. Nhìn trở lại cuộc sống nơi đây, cũng nhiều tiêu cực và nhiều suy tư vương vấn cứ mãi dằn vặt trong lòng.

Hạnh phúc xót xa. Nỗi niềm của những người phải chịu đựng những số phận của một dân tộc quá nhiều bi kịch. 60 đoản tác ngắn, vắn lời nhưng dài ý, phác họa một thực trạng Việt Nam. Tác giả hình như cảm thấy rằng biên giới giữa đời thường và đời văn chương dường như không hiện hữu. Có lãng mạn sương khói nhưng cũng có những cảm nhận chính xác từ thực tế. Với suy tư của người tị nạn, làm lại cuộc đời bằng bàn tay trắng, lúc nào cũng lạc quan và tin tưởng. Mạch sống như nhịp dập của trái tim luôn luôn hôi hổi trong diễn tả. Có lúc nghĩ và hướng vọng về quê nhà, để thấy đau xót cho một thực trạng lỗi lầm sa đọa. Và có lúc, đời sống hiện tại xứ người cũng có nhiều cảm nhận, những trăn trở âu lo, những nỗi niềm khó ngỏ. Những trang sách, y hệt lời tâm sự, để cuộc sống bớt phần khốc liệt và thời gian không phải là những chuỗi đen tối vô vọng kéo dài...

Đọc “Hạnh Phúc Xót Xa”, để thấy những câu hỏi được đặt ra, và chúng ta có lúc như đối diện với chính mình để nhìn thẳng vào cuộc sống. 60 câu chuyện mà hầu như chuyên chở theo cả 600 câu hỏi, 600 vấn đề, mà người tị nạn chúng ta đã nhìn thấy, đã cảm nhận, đã trực diện với,.. Sự thực đã được nhìn ngắm, để có lúc, nó trở thành kỷ niệm, hay nhiều khi, là những kinh nghiệm khó quên của cuộc đời. Ông viết về ngày tốt nghiệp của đứa cháu ngoại cũng đằm thắm tình cảm như khi ông viết để đối thoại với Brian Đoàn, một nhiếp ảnh gia trẻ có thiện chí nhưng đáng tiếc là đã suy nghĩ sai lạc đến nỗi trở thành người đối nghịch với chính cha anh mình. Lúc nào Huy Phương cũng tình cảm tha thiết, cũng nhìn người bao dung, trong phê phán có lẫn niềm thương cảm.

Nói với cháu ngoại, tác giả Hạnh Phúc Xót Xa: “...Làm sao con có thể nhớ ngày đầu tiên, ngoại đưa con đến trường vào lớp mẫu giáo, cho đến mới năm ngoái đây, dự lễ tốt nghiệp trung học của con, quãng thời gian dài nhưng đi quá nhanh, phải nói là một chớp mắt.Trong quãng thời gian đó, đã bao lần ông ngoại đưa đón, chờ xe dưới cơn nắng nóng gắt hay cả trong khi tuyết rơi, chờ con ngoài sân vận động hay ở nhà bạn bè trong một buổi hội họp cuối tuần.Ở miền Đông, ông bà ngoại đã cùng chơi tuyết với con, dắt con đi tìm các loại lá vàng mùa thu để làm bộ sưu tập mai đem vào lớp học. Cuối tuần, ông bà đã dắt con ra ngoài park để con chạy nhảy nô đùa với bạn bè. Con lớn lên từng ngày, có thể ông bà không bao giờ nhận ra, cũng như tuổi già đến lúc nào mà ông bà không bao giờ thấy, cho đến một ngày nọ. Một biến cố gì đó xẩy ra, như chuyện ông ngoại vào bịnh viện trên chiếc xe cấp cứu, ngày ra trường của con, hay đến một lúc nào đó, con được cha con đưa vào nah thờ đi trên tấm thảm đỏ để nhận chiếc nhẫn đính hôn từ tay một chàng con trai xa lạ nào đó...”

Và khi nói chuyện với Brian Đoàn, cũng vẫn là tình cảm, vẫn là nỗi niềm thiết tha, dù có phê phán trách móc, nhưng vẫn là ôn tồn khuyên giải: “Điều cuối cùng, phải nói là rất xót xa khi phải nói ra đây. Brian còn nợ những nỗi nhọc nhằn của thân phụ anh với mười năm tù để đưa anh sang đây, với mẹ anh trong những ngày gồng gánh thăm chồng, nuôi con, vất vả nuôi anh nên người, để rồi muốn làm một người nghệ sĩ 'vẻ vang', phản bội quá khứ, không 'chống Cộng mà cũng không theo Cộng' như con bọ hung dưới đất chun lên. Cái háo thắng của tuổi trẻ, cái bất cần khinh bỉ ý kiến đám đông, trong đó có cả các bậc sinh thành, cái hào quang của người nghệ sĩ chẳng có nghĩa gì khi con người không có cái tâm lành, mà có cái độc ác cào xới lên vết thương còn đau đớn của người khác, mắng mỏ vào cái cộng đồng từ đó mình đã lớn lên...”

Nhưng cũng có lúc, tác giả Huy Phương cũng mỉa mai, cũng không dằn dược những sự bất bằng trong đời sống. Như khi ông viết đoạn kết của đoản tác đầu tiên Hạnh Phúc Xót Xa:

“Trong câu chuyện của Alcantara Machado(1901-1935), một nhà báo cũng là một nhà văn của Brazil, con tàu không thể nổi loạn, nếu ngay cả người sáng mắt cũng chịu an phận trong cảnh tối tăm vì con tàu bị mất điện. Và biết đâu họ cũng cảm thấy hạnh phúc trong bóng tối như thế, cho đến lúc một người mù trong toa xe, khi nghe người bên cạnh mô tả cảnh con tàu đang chạy đắm chìm trong bóng tối, đã la lên đòi ánh sáng và cuối cùng tất cả hành khách trên con tàu đã nổi loạn.

Thứ hạnh phúc được xếp hạng thứ 5 của thế giới là thứ hạnh phúc nào đây? Phải chăng là thứ hạnh phúc của người sáng mắt trong một chuyến tàu tối đen không ánh sáng của tác giả Alcantara Machado?

Chúng ta đã thấy hình ảnh của những ngư dân Việt Nam vái lạy Tàu Cộng, chúng ta đã thấy các thiếu nữ Việt Nam xấu hổ che mặt khi bị bắt vì bày hàng cho Hàn Quốc, chúng ta đã thấy các bé gái vị thành niên thất thân làm đĩ cho Cao Miên, chúng ta đã thấy tuổi thơ Việt Nam nhọc nhằn trong đống rác ruồi nhặng ngay trên quê hương mình.Chúng ta đã thấy quá nhiều thứ 'hạnh phúc' như thế, những thứ 'hạnh phúc' xót xa hôm nay của dân tộc.”

Đọc Huy Phương, chúng ta có thể hình dung được một vóc dáng tác giả rất tình cảm thiết tha khi bầy tỏ tâm sự của mình nhưng cũng rất rõ ràng bày tỏ chính kiến của mình, một người tị nạn Việt Nam . Ông đã trải qua những tháng ngày nghiệt ngã ở quê hương nên không thể nào nhắm mắt làm ngơ trước những chướng tai gai mắt mà đời sống xã hội ở trong nước dẫy đầy. Có người bảo rằng sao mấy người ở hải ngoại sao cứ nhắm vào những tiêu cực của chế độ hiện hữu mà quên đi những thành quả trong nước từ khi bắt đầu đổi mới? Nhưng nếu nhìn kỹ thực trạng đất nước thì rõ ràng từ tất cả các phương diện từ giáo dục, y tế, xã hội, chính trị, pháp luật,… đều xuống cấp và sa đọa một cách tệ hại.Những câu chuyện không tưởng tượng được đã xẩy ra, và nếu là một người công bằng có xét đoán chính xác thì kết luận sẽ là như thế. Làm sao có người bào chữa được cho những sai lầm hiển nhiên kia?

Quá khứ luôn bên cạnh cuộc sống, nó là những quãng đời người nhiều biến cố chẳng thể nào quên. Hiện tại, ở quê nhà và nơi chốn định cư, thật nhiều điều đáng nói. Chúng ta hình như có hai cuộc sống, một vẫn phải theo dòng chính và một ở cộng đồng. Những xung đột văn hóa, tín ngưỡng, xã hội,... bao giờ cũng có và cũng là những vấn đề cấp thiết hàng ngày. Huy Phương đã lấy từ đời sống ấy, để bắt đầu những bước chân khám phá. Viết tạp ghi, để đề tài không bị hạn chế và tâm thức trải rộng, ông mang những chi tiết đời thường một cách sống động và rất thành thực vào văn chương. Không phải với tư cách một người rao giảng đạo đức mà là một cách thế chia sẻ thuyết phục.ở một tuổi già, Nhìn lại quá khứ, hướng vọng về tương lai, những bài tạp ghi không phải là những câu chuyện phiếm mà chính là những sợi vải đầy màu sắc dệt thành tấm lụa muôn màu của đời sống lưu lạc Việt Nam. Quê hương ở xa nhưng luôn gần cận, đời sống hiện tại ở nơi định cư tuy gần cận hiện hữu nhưng có lúc thật cách xa. Tâm cảm ấy, cuộc sống ấy,là những thổ ngưỡng tốt đẹp cho văn chương.

Nếu có ai hỏi, những bài tạp ghi mà đề tài theo sát với cuộc sống có giúp ích gì cho cuộc sống, tôi sẽ trả lời rằng với riêng tôi, đó là lúc mình nhìn lại chính mình, để tìm kiếm đích thực chân diện mạo của mình. Và sẽ rất vui khi thấy mình đã có những hạnh phúc mà đời trao tặng, dù là chút hạnh phúc... xót xa.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »


Image

SỮA ONG CHÚA
"Sửa Ong Chúa" dưới đây của tác giã Huỳnh Chiếu Đằng, nguyên là giáo sư về bộ môn khoa học thực dụng cũng là một nhà nuôi ong lâu năm viết ra

Thưa quí bạn,

Hôm qua tôi viết lời bàn Mao Tôn Cương về bài viết của Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết về dược thảo, tôi có đề cập tới sữa ong chúa. Nay có anh Danh ở Sydney thắc mắc như sau, đó có thể là thắc mắc của quí bạn, xin trả lời chung.

Câu hỏi:

Anh Đẳng ơi,

- Ấu trùng vẫn là do ong Thợ sinh ra. Sữa ong chúa cũng do ong thợ tạo ra. Xin phép hỏi anh, vậy con ong chúa làm gì trong ổ ong (nó không sinh ra ấu trùng và cũng không tạo sữa nuôi ấu trùng). Chuyện xã hội loài ong coi bộ lý thú nha.

Chúc sức khoẻ (tiền tài danh vọng coi như pha - tui cũng như anh vậy đó, đã đi xe còi hụ để vào bệnh viện khu Emergency rồi ra khu Intensive Care rồi đấy).

Danh Sydney

Trả lời ngay là ong thợ không đẻ trứng. Chỉ có ong chúa đẻ trứng thôi.

Hầu hết quí bạn thấy tổ ong dâu dám lại gần, do vậy không rỏ tình hình tổ chức và sinh hoạt của loài ong đâu. Xã hội loài ong tiến bộ hơn xã hội loài người nhiều. Nếu xã hội loài người được như vậy thì là thiên đàng dưới thế rồi. Xin nhắc lại tôi rành ba cái vụ nầy là vì tôi có một thời nuôi ong mật, và đã viết một quyển sách “Cẩm Nang Nuôi Ong” cùng anh bạn Thái Văn Ánh, và có lẽ đó là quyển sách tiếng Việt đầu tiên về nuôi ong mật. Những gì tôi viết ra đây là do kinh nghiệm không phải chỉ là sách vở suông.

Về câu hỏi của anh Danh thì nó như thế nầy đây:

Nhiệm vụ ong chúa là đẻ trứng, mỗi ngày từ 500 tới 2000 trứng. Trong tổ chỉ có ong chúa là đẻ trứng thôi, không có con ong nào đẻ trứng cả. Trong tổ ong mật chỉ có một con ong chúa duy nhất thôi. Ngoài ong chúa ra trong tổ ong còn có đa số là ong thợ. Quí bạn thấy ong bay theo các bông hoa hút mật đó là ong thợ. Ngoài ra trong thùng ong còn chừng 200 ong đực, trong số 200 con ong đực nầy chỉ có một con may mắn duy nhất là thụ tinh cho ong chúa một lấn duy nhất. Ong chúa dài, to gấp đôi ong thợ, ong đực tròn tròn cục mịch đen thùi lớn cở ong thợ. Còn ong thợ là con ong mật dẹp đẻ như quí bạn thấy trên các cánh hoa. Nhiệm vụ ong chúa là đẻ trứng, nhiệm vụ ong đực là thụ tinh cho ong chúa, một lần duy nhất trong đời ong chúa. Nhiệm vụ ong thợ nặng hơn hết tóm tắc như sau:

1. Ði lấy mật, lấy phấn hoa, để nuôi toàn thể thùng ong. Mùa hoa nở rộ trong một ngày, một tổ ong sản xuất chừng nữa lít mật. Ðó là ong mật Việt Nam nhỏ con, ong Mỹ to con sản xuất mỗi ngày vài pound mật (khoàng 1Kg) . Con số nầy tôi nhớ mang máng, hơn 20 năm rồi mà. Hai cục vàng vàng trên chân ong khi bay về tổ là phấn hoa, cũng là thực phẩm (protein là đa số) cần cho cả tổ.

2. Nhiệm vụ kế tiếp là nuôi nhọng (trứng). Ong chúa chỉ đẻ có một loại trứng duy nhất thôi. Tùy theo thực phẩm ong thợ bỏ vào ngăn trứng mà cái trứng đó sẽ thành ong thợ, sẽ thành ong đực hay sẽ thành ong chúa. Ngăn chứa trứng tương lai thành ong chúa được xây rộng ra từa tựa cái trứng chim nhỏ xíu, gọi là mũ chúa. Trứng nằm trong đó là trứng thường, nhưng ong thợ bỏ vào đó thức ăn khác hơn bình thường dó là sữa ong chúa. Tất cả thực phẩm nuôi mọi loại trứng đều do ong thợ ăn mật xong nhả ra bỏ đầy vào mỗi lổ tàng ong, trước khi trám kín bằng sáp. Mũ chúa cũng vậy, chúng bỏ vào đó một chất đục đục trắng như sữa, thề keo, gọi là sữa ong chúa. Sau khi bỏ đầy rồi chúng trám bít bằng sáp. Cái mũ chúa trông giống như đầu ngón tai út trẻ con. Sau hai tuần (nhớ mang máng, trong sách vở ghi rõ từng ngày) cái trứng thành nhọng rồi thành ong chúa nhờ ăn sữa ong chúa được bỏ vào niêm kín trước đó.

Mỗi thùng ong trong một năm chỉ có chừng 10 mũ ong chúa vào mùa chia đàn. Ở Mỹ nầy là tháng năm trong năm. Là tháng mà bông hoa nở rộ. Người nuôi ong kiểm soát việc chia đàn bằng cách gở bỏ mũ chúa, hay sang các tàng có mũ chúa qua thùng mới. Mũ chúa gở bỏ khi ong thợ vừa trám bít chúa đầy sữa ong chúa (chừng 0.5 phân khối). Hồi ở Việt Nam dân nuôi ong ăn cái nầy, bỏ uổng. Vì chất nầy biến trứng bình thường thành ong chúa to và sống lâu, nên mới có huyền thoại sữa nuôi ong chúa bổ dưỡng có tính cải lảo hoàn đồng. Trong ngăn ong thợ hay ngăn ong đực cũng có đầy chất sữa trắng đục như vậy, Nhưng loại sữa nầy chỉ biến ấu trùng thành ong thợ hay ong đực mà thôi. Sữa nầy cũng do ong thợ ăn mật và phấn hoa nhả ra.

Sữa ong chúa do ong thợ tiết ra khi ăn mật, dùng nuôi ấu trùng thành con ong chúa, theo tôi không có giá trị chi nhiều như người ta quảng cáo.

Và tôi nghe nói một vị “lương y” quảng cáo trong radio rằng một thùng ong mỗi năm cho tới mấy kilô sữa ong chúa. Tầm bậy hết sức, chắc là sữa giả, chớ làm chi mà có nhiều như vậy.

Vào mùa sung sức (tháng 5 ở Mỹ) mỗi lần thùng ong chỉ sinh ra mươi cái mủ chúa thôi. Thề tích mỗi cái chừng 0.5cc, tổng cộng nguyên thùng có chừng 5 gram sữa nuôi ong chúa mà thôi. Mùa nầy dân nuôi ong canh chừng các thùng ong mệt lắm. Thấy mũ chúa là phải tính liền, hoặc ngắt bỏ hoặc chia đàn (tách thùng ong ra làm đôi). Không ngắt bỏ đi hay chia đôi đàn ong thì khi ong chúa con nở, chúa con ở lại, chúa già kéo nửa lực lượng ra đi. Ði bắt lại vất vả, bỏ thì mất nguyên nửa bầy ong.

Trong thời gian nuôi ong tôi cũng thường ăn sữa nuôi ong chúa vì bỏ thì uổng. Ăn nguyên chất nhưng thấy có khỏe mạnh chi đâu. Dân nuôi ong ngày trước cũng vậy lúc đó ít ai đề cao sữa ong chúa, nên ngắt bỏ mũ chúa ăn chớ ít khi bán được cho ai. Ngày nay chắc họ để dành bán cho quí vị “lương y”. Các bạn nên nhớ rằng sữa nuôi ong chúa ít lắm, không đủ làm thuốc bán cho cả bàn dân thiên hạ như quảng cáo đâu. Mà dân chuyên ăn sữa ong chúa thứ thiệt cũng chẳng mạnh giỏi hơn ai, nói chi là người mua thuốc có tí ti sữa ong chúa giả.

Nhân đây nói thêm chút xíu về mật ong. Hồi xưa mật ong còn khan hiếm nên mới có chuyện làm mật ong giả. Ngày nay tại Mỹ nầy tất cả mật ong đều là thứ thật. Tuy nhiên mật ong có nhiều thứ bậc khác nhau tùy loại hoa thí dụ như mật hoa cam, mật hoa hướng dương, mật hoa dại (đủ loại hoa rừng), mật hoa tràm (thứ nầy Việt Nam nhiểu nhất). Mật hoa cam có mùi thơm và vị thanh thanh. Mật hoa gòn (chắc chỉ có ở Việt Nam) béo béo y như có pha nước cốt dừa trong đó.

Mật ong chỉ là đường, không có giá trị bổ dưỡng chi khác hơn là đường, nhưng tùy loại hoa mà hương và vị khác nhau Các bạn chớ tin huyền thoại về mật ong, nó không phài là thần dược hay nên thuốc chi cả. Mật ong cũng làm béo phì, cũng không tốt cho người bị bịnh tiều đường.

Ngoài mật ra tổ ong còn có phấn hoa, chứa nhiều protein và sinh tố hơn mật ong. Mỗi tổ ong có khá nhiều phấn hoa, lý do là ong sinh sống bằng phấn hoa và bằng mật. So với con người thì phấn hoa là thịt cá rau đậu, còn mật ong là cơm và đường cho loài ong. Chúng phải ăn cả hai mới sống mạnh được. Tổ ong tổ chức ngăn nắp lắm. Tầng chứa mật nằm trên, riêng ra với tầng nuôi nhọng. Nếu thùng ong nhỏ (ít quân) thì phần trên tàng ong chứa mật, phần dưới chứa nhọng. Phấn hoa do ong lấy về được chứa riêng tương tợ như mật. Phấn hoa ăn không ngon lắm, hơi ngọt, ăn giống như ăn bánh. Người thường ít có dịp ăn phấn hoa, dân nuôi ong thì dễ có hơn.

3. Nhiệm vụ kế của ong thở là quét dọn tổ. Tổ ong sạch hơn bất cứ tổ sinh vật nào khác, sạch như lau.

4. Kế đó là nhóm ong thợ quạt mát tổ trong mùa hè, sưởi ấm tổ trong mùa đông. Nhiệt độ trong thùng ong cố định y như nhiệt độ cơ thể con người, cũng nằm trong mức tương tợ.

5. Nhiệm vụ kế của ong thợ là giử tổ chống ngoại xâm, chống kẻ thù , chống kiến, côn trùng…Ong có rất nhiều kẻ thù lý do là vì chúng có kho tàng đầy mật. Mà kẻ thù nguy hiểm nhất của chúng là loài người. Bốc lột chúng dã man.

6. Nhiệm vụ khác là quạt mật hoa (nectarine) vừa được ong thợ lầy mật mang về cho mật bốc hơi nước thành mật ong (honey) xong trám ngăn chứa mật lại bằng sáp.

Còn vài nhiệm vụ khác không quan trọng tôi quên.

Nói chung thì đời sống ong thợ và ong đực rất ngắn so với dời sống ong chúa. Tùy theo tuổi mà ong thợ lần lượt giử các nhiêm vụ trên theo thứ tự định trước. Ong thợ chích người hay vật gì đó xong thì chúng sẽ chết trong ngày. Quí bạn thấy chúng hiền cở nào, chỉ ớ bước đừng cùng mới hy sinh phải không. Tấn công kẽ khác tức là tự sát.

Nói hoài còn hoài, xin tạm ngưng, vui miệng nói nữa mỏi tay lắm.

Cái thú nuôi ong là ngắm nhìn cái trật tự, ngăn nắp, cái siêng năng và sự êm đềm thanh bình của một thùng ong. Sáng sớm ra ngồi cạnh thùng ong xem chúng đi về rần rần, mùi hoa thơm ngát tỏa chung quanh quả là một cái thú khó quên. Ðó là chưa kể tới được ăn mật ong tinh khiết ngay trên tàng ong. Mỗi loại hoa cho một loại mật hương vị khác nhau.

Kẹt một chút là quí bạn không thể mang cà phê hay trà lại gần đâu, có mùi lạ ong không thích và có khi quí bạn bị sưng mặt đó. Ngay như quần áo tóc tai quí bạn cũng không được có mùi hôi, ong không ưa đâu. Muốn mở thùng ong ra lấy một miếng mật trên tàng để thường thức mà không cần mang lưới che, không cần xông khói, thì quí bạn phải mặc quần áo sạch rửa tay cho sạch… Nhưng yếu tố quan trọng hơn hết là quí bạn phải từ tốn trầm tĩnh. Loài ong như loài chó, chúng “cảm” được sự sợ hải của bạn. Khi bạn sợ thì bạn là kẻ thù của chúng. Khi bạn thân thiện không sợ thì bạn không là vật có hại cho chúng. Hợp lý quá đó chớ? Tôi không biết đó là kinh nghiệm thực tế của tôi. Khi bị một con ong chích thì rán chịu đau, phải trầm tĩnh, đừng gở kim ra hay phủi con ong đó vội, nếu quí bạn làm vở túi nọc ra, có mùi nọc ong tỏa ra là cả bầy ong nhào vào ăn thua đủ ngay.

Viết ít hàng quí bạn đọc chơi cũng là để nhớ lại một chút kỹ niệm trong đới. HCD
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Image

Ai Bảo Về Hưu là Khổ

Võ Đại Sinh


Tôi đã đọc đâu đó một tiểu luận nói về hưu, ở đó có nói dân Nam Kỳ như tôi cứ quen miệng phát âm là “hu”, khiến những người bạn Bắc Kỳ khó tính thường nhăn mặt.

Nói “hu” nghe như huýt gió, vui tai; nói “hưu” phải méo miệng, méo môi không dễ, nhưng đàng nào thì cũng có một nghĩa là thôi, là nghỉ, là không còn vật lộn với đời ... Tôi có ông anh hay chữ Nho còn ở Việt Nam, nghe tôi quyết định hưu trí ... đã dạy tôi rằng: Hưu của chữ Nho bao gồm hai bộ chữ, Nhân Và Mộc ... có nghĩa là một người về hưu là có thể ngồi an nhàn dưới gốc cây.

Năm nay tôi tròn 61 tuổi. Cách đây 2 năm tôi đã định kế hoạch về hưu ở tuổi 60. Thế nhưng, một hôm tôi đưa vợ đến vấn an một ông quan to, tuổi lớn hơn tôi, tận mắt chứng kiến cảnh huynh trưởng nhà mình không lợi tức, bị vợ con đối xử không được mặn mà, ưu ái cho lắm, tôi đâm phân vân suy ngẫm câu: Chưa hưu đời đã buồn thiu

Hưu rồi đời sẽ hắt hiu thế nào?!

Sau đó huynh trưởng đã có công ăn việc làm, và phong độ cũng đã gia tăng theo túi tiền mà phục hồi hiên ngang dần, vợ con nể trọng vô cùng!

Do vậy năm rồi, đúng 60 tuổi, sợ quá, tôi không dám về hưu và cứ chần chờ, do dự. Mãi đến khi con gái đầu lòng của tôi cùng với mẹ nó nài nỉ đủ điều, tôi mới đủ can đảm quyết định chính thức về hưu ... trễ hết một năm theo dự trù.

Hưu rồi, dứt bỏ gánh nặng của đời, tôi mới thực sự hối hận là mình đã về hưu muộn mất một năm. Đời sống hưu sao mà nhẹ nhàng, thanh tao quá! Chỉ có một chuyện chưa quen là mới 7 giờ sáng, chim ngoài vườn đã ca hót líu lo, không làm sao tiếp tục nằm vùi thêm được. Về hưu rồi mới thấy đời sống hết sức tự do, muốn đi đâu thì đi, muốn làm gì thì làm, không ràng buộc, không cần tuân theo giờ giấc.

Ban mai, lúc nào thích, bang ra bờ sông cạnh nhà, thiền hành dọc theo dòng nước chảy lững lờ, hoặc ngả lưng nằm dài trên bãi cỏ công viên mà ngắm mây trời vô tư trôi dạt về một phía chân trời xa xăm. Trưa thả bộ đến hồ tắm, tha hồ vùng vẫy, lặn hụp, vừa bàn chuyện khào với những người bạn già mới quen, hoặc chưa từng gặp bao giờ. Chiều xuống nhà có sẵn vườn trước, vườn sau, tưới kiểng, ngắm hoa chờ bụng đói. Muốn đi Footscray ăn phở, hay xuống China Town dạo phố phường; chỉ cần thả bộ mấy mươi bước, đón xe tram, xe bus; mua vé giảm giá ngược xuôi suốt ngày, muốn về lúc nào cũng êm, chẳng ai buồn nhắc nhỡ, chẳng ai thắc mắc mong chờ ... Tiếc một chuyện là tôi chưa mời được ông anh kính mến thông thạo Nho ngữ của tôi sang Úc đây chơi một chuyến, để cho ông tận mắt chứng kiến: Ngoài khu vườn sau không kể, cạnh nhà còn có một công viên mênh mông, đầy cây xanh, rợp bóng mát, mặc sức nằm ngồi dưới gốc cây .. sẽ thấy ý nghĩa chữ hưu y như tiếng Nho tượng hình mô tả.

Tôi nói điều này, không ngoa một chút nào cả: Cuộc sống vui thú điền viên của tôi sướng hơn Nữ Hoàng, nhẹ nhõm hơn quý thầy ở các Chùa Bát Nhã. Có đúng không quý vị?! - Nữ Hòang lúc nào cũng nơm nớp lo sợ đủ điều, sợ cả báo chí thường xuyên rình mò ... còn các Chư Tôn thì cũng phải chờ Phật tử bẩm thầy, bạch sư phụ kính mời thọ trai.

Tôi thì chẳng sợ, chẳng phiền, chẳng chờ, chẳng cần gì cả; đói thì ăn, mệt thì ngủ. Lười thì có sẵn cơm trong nồi tự động giữ ấm 24/24, mì ăn liền dự trữ trong kho có thừa; siêng năng hăng hái hơn thì thì ra xe công cộng, đi xa một chút thì là cơm Việt, cơm Tàu, Sushi Nhựt Bổn; gần kề một bên thì Khu Shopping High Point, món ăn xứ nào mà thiếu, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Trung Đông cũng có luôn.

Những buổi trưa nắng ấm chan hòa, tôi nằm đong đưa, kẽo kẹt chiếc võng quê hương tha hồ mà nhớ thương về con nhạn trắng Gò Công; dưới mái hiên nhà thủy tạ, gió hiu hiu mát rượi, tôi vưà đọc sách kim cổ, vừa nhắp chung trà Ô Long thượng hảo hạng, vừa nghe tiếng chim nhặt khoan, du dương bất tận, hòa lẫn với tiếng róc rách từ hòn non bộ ...

Đôi lúc giật mình, tôi tự cảm thấy cuộc sống của mình dạo sau này sao mà thiền tông và vô vi quá xá ... giống như bốn câu thơ của Thiền Sư Trần Nhân Tông:

Ở đời vui đạo hãy tùy duyên
Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền
Trong nhà có bậu, thôi tìm kiếm
Đói cảnh vô tâm khỏi phải thiền

Nói rằng cuộc sống của tôi bây giờ thiền quá, có lẽ là tôi đang múa rìu qua mắt các vị thiền sư chuyên nghiệp, quý vị Thượng Tọa, Đại Đức khả kính; nhưng chắc chắn là tôi đang tập sống trọn vẹn theo bốn câu thơ con cóc mà tôi tự đặt ra làm mẫu mực cho tôi sau đây:

Từ độ về hưu sống rất nhàn
Không danh, không lợi, chẳng lo toan
Đươc thua, hơn thiệt, không màng tới
Chỉ giữ cho lòng một thảnh thơi

Võ Đại Sinh, Australia
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Và ta viết

Joyce Anne Nguyen

Vì sao người ta viết? Không, nên bắt đầu bằng: Vì sao bạn viết? Và dĩ nhiên với tôi câu hỏi trở thành: Vì sao tôi viết? Tôi, cũng như 1 số lượng người, viết vì niềm khao khát viết, và sự thôi thúc viết, là khi bị cản trở vẫn phải viết, là khi không cần động cơ cũng viết, không cần lợi lộc vẫn viết, không cần gì cả vẫn viết, vì viết mới là mục đích cao nhất , không phải những thứ rổn rảng xa hoa đi sau hoặc đi kèm với sự viết.

Viết là khi có cái cần phải viết, cần lên tiếng, là khi sự yên lặng chỉ là dồn nén của những xúc cảm cần bật ra, viết là khi có điều cần thể hiện, không phải cố nặn ra. Viết là khi ý tưởng đến tự nhiên, cùng với mong muốn, và những cơn ngứa ngáy dưới các ngón tay buộc phải viết. Đó mới là viết thực sự.

Khi tôi không có gì để viết, tôi ngừng viết. Khi tôi không cảm thấy bị thôi thúc, tôi ngừng viết. Khi tôi cảm thấy chán ngán vì mình chỉ đang lặp lại những điều cũ kỹ của chính mình hoặc nhiều người khác đã nói trăm nghìn lần, tôi ngừng viết. Tôi chẳng có tài năng gì cả, chẳng được trời phú gì cả, tôi chỉ viết những điều mình nghĩ, thực sự nghĩ.

Thế nên tôi rất khinh những kẻ bồi bút. Rất khinh. Viết vì tiền. Viết vì địa vị. Viết vì lợi. Viết không cần sự thật. Viết không cần đúng sai. Viết không cần đạo đức. Viết không cần tin vào điều chính mình đang viết.
Tôi khinh.
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Image


Họ may mắn là người Chile


Chiến dịch cứu hộ 33 thợ mỏ Chile kẹt dưới lòng đất hơn 2 tháng bắt đầu từ đêm hôm qua, theo giờ GMT, tức chiều tối qua theo giờ địa phương. Công việc dự tính diễn ra vào tháng 12 cuối cùng đã đến sớm hơn gần 2 tháng, nhờ những nỗ lực của chính quyền Chile cộng với sự trợ giúp quốc tế về mặt kỹ thuật, đặc biệt là sự vào cuộc của cơ quan Vũ trụ Mỹ NASA.

Nín thở hồi hộp theo dõi cuộc giải cứu này không chỉ có các nhân viên cứu hộ hay gia đình của các thợ mỏ, mà còn hàng ngàn phóng viên báo chí, truyền hình trên khắp thế giới đang chầu chực đưa tin và hàng triệu người bất chấp sự khác biệt về múi giờ dán mắt vào màn ảnh nhỏ. Các kênh truyền hình như BBC, CNN.v.v. và kênh TVN24 của Ba Lan truyền hình trực tiếp toàn bộ quá trình giải cứu này mà không bỏ sót dù chỉ một phút. Mặc dù, người ta dự tính việc giải cứu sẽ mất từ 24 tới 48 tiếng đồng hồ.

Một sự chuẩn bị hết sức hoàn hảo, từ khoang cứu hộ, đội ngũ cứu hộ tinh nhuệ nhất cho tới các chuyên viên y tế, các nhà tâm lý học trợ giúp về tinh thần cho các nạn nhân và gia đình họ.v.v.

Khoang cứu hộ đã được chạy thử nghiệm để đảm bảo thật an toàn trước khi vận hành. Ba chuyên viên cấp cứu được đưa xuống tận nơi các thợ mỏ đang kẹt ở độ sâu 700m, để kiểm tra về y tế và chuẩn bị tinh thần cho những người sắp từ cõi chết trở về.

Có thể nói, công việc giải cứu hồi hộp và hấp dẫn không kém gì kịch bản phim Hollywood. Tất cả các thợ mỏ ngay khi lên tới mặt đất, sau vài phút gặp gỡ người thân đều được đưa ngay tới bệnh viện để kiểm tra sức khỏe bất kể họ yếu hay khỏe. Đất nước Chile vỡ òa trong hạnh phúc, dân chúng nhảy múa, reo hò, ca hát…

Điều đáng nói là, từ trước khi khoang cứu hộ được thả xuống, Tổng thống Chile đã có mặt, bên cạnh ông là bộ trưởng bộ Khai khoáng, bộ trưởng bộ Y tế. Dù chỉ có 1 công dân duy nhất trong số 33 thợ mỏ là người Bolivia nhưng Tổng thống nước này cũng bay tới hiện trường và chờ đợi. Ông muốn trực tiếp đón công dân của mình về nhà.

Tối qua, do không thể thức khuya hơn được nữa, tôi đã đi ngủ khi công việc cứu hộ vừa mới bắt đầu và người thợ mỏ đầu tiên được kéo lên mặt đất. Cứ tưởng, Tổng thống Chile chỉ đến động viên tinh thần hay nhiều lắm chào đón tượng trưng 1,2 thợ mỏ đầu tiên thôi, nhưng cả ngày hôm nay, lúc nào ngó vào truyền hình, vẫn thấy ông trong bộ quần áo bảo hộ lao động mầu da cam, ôm hôn từng thợ mỏ một, hòa cùng niềm vui với gia đình của các nạn nhân. Thỉnh thoảng, ông tự lấy nước uống hay với chiếc ghế để ngồi. Nếu không có vài lần trả lời phỏng vấn của phóng viên, hay phát biểu trực tiếp trên truyền hình, khó có thể biết đó là Tổng thống Chile! Cho tới giờ, 22 người đã được kéo lên, vẫn thấy Tổng thống Chile bên cạnh tốp cứu hộ, không biết ông ăn ngủ ra sao, vào lúc nào?
Image
Thợ mỏ Mario Sepulvede (đeo kính đen) được Tổng thống và đệ nhất Phu nhân (bên phải) chào đón
Cả thế giời hòa chung niềm vui với Chile trong một sự kiện may mắn hy hữu. Khi vụ nổ xảy ra hôm 5/8, giới chức ban đầu nhận định rằng, hy vọng sống sót của ê kip thợ này là 2%. Không mấy ai có thể ngờ là tất cả 33 người đều an toàn và khỏe mạnh.
Image
Dân chúng Chile nhảy múa, reo hò trên đường phố. Ảnh AP
Từ cõi chết trở về và trở thành những người anh hùng, thành đối tượng săn đón của truyền thông, báo chí, được cả đất nước, cả dân tộc chào đón, nâng niu, nhiều người nhìn những thợ mỏ Chile bỗng thấy chạnh lòng.

Báo Wyborcza hôm nay giật tít “Người Trung Quốc ghen tị với thợ mỏ Chile“. Bài báo cho biết, hoạt động cứu hộ ở Chile làm thợ mỏ Trung Quốc cảm thấy ghen tị và làm dấy lên làn sóng chỉ trích chính quyền Trung Quốc trong các hoạt động cứu hộ thợ mỏ ở nước này. Một công dân mạng Trung Quốc được trích lời cho biết: “Họ thật hạnh phúc vì sinh ra ở Chile, nếu ở Trung Quốc thì họ đã bị chôn sống rồi”.

Một công dân khác nói: “Chiến dịch cứu hộ ở Chile là một sự sỉ nhục với Trung Quốc, có biết bao nhiêu thợ mỏ Trung Quốc đã chết trong những vụ sập hầm như vậy“. Hiện, Trung Quốc được coi là nơi thợ mỏ lao động trong những điều kiện tồi tệ nhất thế giới. Chỉ tính riêng năm ngoái, con số chính thức (có thể ít hơn nhiều so với thực tế) đã có 2.500 thợ mỏ chết vì sập hầm.

Người Trung Quốc rõ ràng là kém may mắn hơn người Chile rất nhiều. Nhưng họ còn có phước lớn so với những đồng hương của tôi. Cứ nhìn cả đất nước Trung Quốc, từ lãnh đạo cho tới dân chúng, sôi sùng sục đòi Nhật trả tự do cho mấy ngư dân của họ bị bắt giữ khi đánh cá trong vùng biển tranh chấp giữa 2 nước hồi tháng trước, mà thấy tủi cho hàng trăm ngư dân ta bị đánh đập, giam giữ, đòi tiền chuộc trái phép. Đâu đó, lạnh lẽo trôi dạt giữa biển khơi là linh hồn của những ngư dân Hậu Lộc, Thanh Hóa. Chết mà người thân không được than khóc. Chết mà báo chí không được nhắc tới. Nếu họ không phải công dân Việt, thì đâu đến nỗi chết tức tưởi như vậy?

Một bạn đọc trong mục Ý Kiến gửi tới Đàn Chim Việt viết, nhìn Tổng thống Chile túc trực suốt đêm đón chờ thợ mỏ mà thấy tủi cho dân Việt Nam quá. Đừng đòi hỏi lãnh đạo Việt Nam những điều quá xa xỉ như vậy, bạn ơi! Mấy ông ấy, nếu có hạ cố thăm dân vùng lũ thì cũng com lê củ táo và che ô.

Bão lũ miền Trung làm chết dăm bẩy chục người, hàng chục ngàn ngôi nhà chìm nghỉm, dân mắc kẹt đói rã họng mấy ngày mà máy bay trực thăng còn dùng để tập duyệt kéo cờ đảng cho lễ duyệt binh. Chỉ một phút, một phút thôi, mặc niệm cho những người xấu số trước lễ bế mạc hôm 10/10, đâu có tốn công sức, tiền bạc gì, họ còn không làm. Diễn văn bế mạc của các ông lãnh đạo, bói cũng không ra một lời chia buồn với dân miền Trung chết thảm nói gì tới chuyện quốc tang cho mệt.

Một nhà báo trên tờ Hà Nội Mới còn lớn tiếng “xỉ vả” những người chỉ trích Đại lễ là “xúc phạm lòng tự hào dân tộc”. Không lẽ dân tộc này của riêng một nhúm người ở Hà Nội? Không lẽ phải reo hò nhảy múa, khi người ta tang tóc mới là tự hào?

Xin chia vui với những thợ mỏ Chile và gia đình họ. Chúc mừng đất nước Chile có vị Tổng thống giản dị, thương dân. Xin thắp một nén nhang cho những người miền Trung xấu số. Họ sống khổ và chết tủi. Hy vọng ở thế giới bên kia, họ sẽ trở thành công dân Chile.

© Đàn Chim Việt
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Nỗi đau đồng hương

Huy Phương


Tôi, người Thừa Thiên và bạn quê ở Khánh Hòa, dù “cùng lận đận bên trời một lứa”, từ Việt Nam chạy sang đây không thể xem nhau là đồng hương, vì tôi với bạn không phải là người cùng làng (hương đản).

Theo tục người Tàu, thì người cùng một tỉnh cũng gọi là đồng hương vì cùng đi thi hương ở một tỉnh, do đó ở hải ngoại chúng ta có nhiều hội đồng hương như Hội Đồng Hương Bắc Ninh hay Quảng Nam-Đà Nẵng, đặt tên như vậy là đúng. Trái lại, tôi và người bạn quê Khánh Hòa nói ở trên không thể ở chung trong một hội đồng hương được, nói theo cách nói sai bây giờ, tất cả người Việt gọi nhau là đồng hương, không lẽ có một hội đồng hương mang tên “Hội Đồng Hương Việt Nam”. Cũng như tôi và ông bạn nói trên có thể “liên lạc” với nhau, nhưng không thể nào “liên hệ” với nhau vì không phải là bà con, máu mủ, theo lối nói trong nước mà rất nhiều người bắt chước hiện nay. Nếu có một tiếng lâu nay chúng ta dùng sai, mà chúng ta biết là sai thì liệu chúng ta có sửa lại cho đúng không?

Chúng ta là người Việt ở trên đất Mỹ này chỉ có thể xem nhau là đồng bào, một danh từ mà trước đây người ta hay dùng theo nghĩa bóng là con dân chung một tổ quốc, như anh em cùng một bào thai sinh ra. Nhiều người ngại không dùng tiếng “đồng bào” vì sợ xem thường người khác, vì ngày xưa các nhân vật lãnh đạo quốc gia hay mở đầu diễn văn bằng những tiếng “quốc dân”, “đồng bào”. Nhưng không lẽ chúng ta gọi những người Việt trong nước là “đồng bào” và những người Việt cùng chúng ta tỵ nạn sang đây là “đồng hương”? Trên báo chí vẫn thường thấy những tin “cứu trợ đồng bào bão lụt tại miền Trung” nhưng lại viết “đồng hương tham gia biểu tình đông đảo”!

Điều đáng nói là hai tiếng “đồng hương” đã được lợi dụng triệt để để ca tụng tình thân ái, yêu thương, đùm bọc như “tình đồng hương”, “giá đồng hương”, giảm giá cho đồng hương, “đặc biệt cho đồng hương” nhưng nghĩa của nó là “lường gạt”, “xem thường”, “khinh bỉ”. Tôi không nói ngoa. Bạn thử vào một ngôi chợ Mỹ, rồi vào một ngôi chợ Việt để xem các cô bán hàng ở hai ngôi chợ này đối với khách khác biệt nhau ra sao? Bạn thử mua một món hàng ở tiệm đồng hương về nhà, không vừa ý, đem đổi lại, thái độ của ông chủ tiệm sẽ ra sao? Bạn thử vào một bãi đậu xe khu phố Việt để thấy lối hành xử của đồng hương chen lấn, vứt xe đi chợ giữa đường hay để sau đít xe người khác ra sao? Bạn thử vào một tiệm ăn đồng hương có nhiều người ngoại quốc đến ăn để xem người ta tiếp đãi khách da vàng, da trắng khác nhau ra sao?

Những chuyện giao tiếp giữa đồng hương với nhau, trên các tờ báo địa phương, người ta đã nói đi nói lại nhiều lần, nhưng chúng ta vẫn gặp những chuyện bực mình nghìn lần như một. Hôm qua chúng tôi từ một nhà hàng ăn trên đường Bolsa, lái xe ra trước một dòng xe nối đuôi nhau chạy liên tục. Biết thân, tôi đã chờ đợi khoảng thời gian khá lâu, những người đi qua toàn là đồng hương thân yêu, nhưng chẳng có ai đưa ra một dấu chỉ thân thiện. May quá, cuối cùng có một người ra dấu nhường xe cho tôi ra, vẫy tay chào lại thay một tiếng cám ơn, tôi thất vọng vì nhận ra người lái xe kia là một người Mỹ tốt bụng chứ không phải chủng loại da vàng mũi tẹt như tôi...

Sống trên mảnh đất có nhiều “đồng hương” nhất ở nước Mỹ này gần hai mươi năm, đã nhường lối xe ra hằng trăm lần cho tất cả mọi người lái xe, không phân biệt vàng, đen, trắng, đỏ, tôi ít khi thấy “đồng hương” mình vẫy một bàn tay để tỏ một cử chỉ thân thiện, mà chỉ thấy những khuôn mặt khó đăm đăm, ra chiều quan trọng, phớt lờ, trái ngược với nụ cười, lối xã giao của những người dân địa phương ở đây. Một lần khác trên con đường ra từ một khu chợ, một đồng hương còn trẻ, trong khi chờ xe đậu lấn qua phần đường ra, khiến chiếc xe của tôi phải mắc cạn không tiến được. Tôi xuống cửa xe nói với đồng hương xin nhích lên một tí, cho tôi đi lên, kẻo sau tôi còn nhiều xe đợi. Y có vẻ phật ý, lắc đầu. Tôi biết y coi thường người đồng hương, cũng như cái xe đời cũ của tôi. Nếu gặp một người Mỹ trắng sang trọng với cái xe đời mới, chắc y đã vui vẻ nhường đường. Cái này, ông cha ta thời xưa nói là kiểu “khôn nhà dại chợ”, đối với người nhà thì khinh bạc, lấn áp, nhưng đối với người ngoài thì sợ hãi kiêng nể.

Tôi cũng đã từng đỡ cửa cho hằng trăm “đồng hương” ở các cửa hàng trong khu người Việt, điển hình là tại thương xá Phước Lộc Thọ, người ta nghĩ tôi là một ông già điếc đặc nên đã không hề mở miệng cám ơn, đôi khi lại không buồn đưa bàn tay ra đỡ giùm cánh cửa, khiến tôi phải khép nép đứng lại một bên, ôm cánh cửa chờ đồng hương bước qua, sợ buông tay, lỡ cánh cửa đập vào mặt người ta. Chẳng phải mới chút đỉnh “thi ân” đã đòi “cầu báo”, mà sợ dân địa phương cho mình là người kém văn minh. Nhưng sự thực tôi đã lầm, vì nếu gặp một ông tây, bà đầm đỡ giúp cánh cửa thì “đồng hương” đã nở một nụ cười rất khả ái và không quên lịch sự cám ơn rối rít. Vậy câu nói “đồng hương khinh bỉ đồng hương” hẳn không sai.

Câu chuyện này đã được ông Bá Dương bên Tàu và nhiều trang báo bên Mỹ nói chuyện nhiều lần, nhưng chẳng ăn thua gì, chỉ sợ người ta lại nhớ đến câu: “Biết rồi! Khổ lắm! Nói mãi!”

Bạn bè cứ cho tôi là hận đồng hương nên mới “Khổ lắm! Nói mãi!” Quả thật là tôi có bị một anh “nhóc con đồng hương” lừa trong bệnh viện, rồi lại bị một “từ mẫu đồng hương” gửi cho cái bill $3,500 về một dịch vụ “ảo” không hề có thực khiến cơ quan medi-care phải è lưng ra trả. Tôi cũng biết tôi có khuyết điểm là nhớ dai và chưa xóa bỏ được hận thù. Tôi biết nhiều người, nhất là giới cao niên, vì ngôn ngữ hạn chế nên phải bám riết vào đồng hương, không bị lường gạt kiểu này, cũng bị lường gạt kiểu khác, nhưng nghĩ “tình đồng hương”, “chín bỏ làm mười”, “dĩ hòa vi quý”, nên bị chúng coi thường, lại càng làm tới. Nhiều người than phiền bị những “công ty đồng hương” nhận tiền cọc, tiền mua vật dụng cho những dịch vụ sửa nhà, ghép phòng, xong rồi cao bay xa chạy. Rất nhiều gia đình khá giả đã bị “đồng hương” đem xe truck đến dọn sạch nhà. Ai hiểu rõ “đường đi nước bước” và chuyện tiền bạc của đồng hương hơn đồng hương, và dọn nhà đồng hương cũng dễ hơn vào dọn nhà Mỹ. Quả thật đồng hương là một tập thể rất dễ tin nên dễ bị lừa, từ chuyện chính trị cho đến chuyện nhỏ nhặt như viên thuốc, gói trà.

Một nữ độc giả báo Viễn Đông vừa than phiền chuyện đi mua “cơm chỉ’ của đồng hương, về nhà thấy một con gián trong miếng canh mướp đắng, đem lại tiệm khiếu nại thì bị nhân viên không cho gặp chủ, lại còn bị mắng mỏ: “Mướp có gián thì ra chợ mà khiếu nại!” Một người khách khác than phiền mua phải chè thiu, bản thân người viết bài này cũng đã có dịp mua về nhà món tôm càng kho đã bị chua, đành phải mang ra gửi lại cho chủ tiệm thức ăn “to go”, được trả tiền lại, không bị sừng sộ, là may mắn, đằm thắm tình nghĩa đồng hương lắm rồi. Trong khi thức ăn “to go” của các nhà hàng Mỹ, trong ngày nếu bán không hết phải đổ thùng rác, không để qua đêm vì vấn đề vệ sinh và điều quan trọng là biết tôn trọng khách hàng, tiệm “to go” bán thức ăn ở Little Saigon này để nhiều ngày, siu thối, nếu không gọi “xem thường, khinh bỉ đồng hương” thì chúng ta gọi bằng chữ gì? Phải chăng đó là ý nghĩa của khẩu hiệu đẹp đẽ “đồng hương phục vụ đồng hương”!

Trước con mắt quan sát của thiên hạ đối với đồng hương chúng ta, nếu có ai đó có nhã ý giới thiệu nét văn hóa của đồng hương thì nên tránh xa các khu chợ đầy rác, tàn thuốc lá và cũng đừng nên giới thiệu nét “khả ái” của những cô cashier đồng hương, nó cũng không khác gì mấy các cô “Duyên Dáng Việt Nam Airlines” đâu!

Người ta nói ở nước Úc, Pháp, Canada hay ở các tiểu bang miền Đông nước Mỹ, đồng hương đối với nhau tử tế hơn nhiều. Cũng dễ hiểu thôi, cái gì ít mới quý. Một người Việt ở trong cộng đồng sắc dân khác rất dễ thương, nhưng cũng người này về với đám đông đồng hương thì sinh dễ ghét.

Tôi biết nhiều ông bà ở tận miền Đông buốt giá, ít người Việt, trong hoàn cảnh chưa gần đồng bào được, nên rất muốn về gần đồng hương. Gần đồng hương rồi mới gặp trăm thứ bực mình, nhưng chẳng thà bực mình với đồng hương còn hơn khốn khổ với trăm thứ “đồng bào” giai cấp mới hiện nay ở bên nhà.

Tôi cũng vậy. Nhưng khổ tâm lắm mới phải nói ra!

Nói mãi! Biết rồi! Khổ lắm!

Huy Phương
quangminh
Posts: 549
Joined: Thu May 27, 2010 1:54 am
Contact:

Post by quangminh »

Chiếc ghế và gói cà phê
FOUNTAIN VALLEY
Một buổi sáng và ly cà phê nóng “to go” tại một quán cà phê đã khiến nhiều người thay vì đi ngay, phải trở lại vì hình ảnh của một chiếc ghế đặt bên cửa ra vào.
Một chiếc áo jacket thêu huy hiệu binh chủng Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ máng trên lưng ghế, một chiếc mũ lưỡi trai để trên mặt ghế,
và một tấm bảng ghi dòng chữ “Xin dành chiếc ghế này cho những người lính đã hy sinh mạng sống của họ cho Tự Do của chúng ta.”
Image
Hình người lính Thủy Quân Lục Chiến chào quốc kỳ Hoa Kỳ vẽ trên cửa kính của tiệm The Coffee Bean thành phố Fountain Valley .
“Tôi thích cái không khí tại đây, nó khác thường,” lời bà Karen Ambellan, một người sống ở Long Beach và thường đi xe đạp vì thể thao, uống cà phê khi dừng chân nghỉ ngơi.
Anh Timothy Dam, sống ở Lake Havasu , cho biết rằng: “Tôi chỉ tình cờ đi công chuyện, ghé uống tại đây.
Nhìn cảnh trang hoàng giày bốt đờ sô bên trong gợi tôi nhớ đến chiến tranh Việt Nam ”
Image
Cờ binh chủng Thủy Quân Lục Chiến và cờ Hoa Kỳ.
Ngoài những khách uống cà phê lần đầu, còn những người đến thường xuyên, như ông Roger Murray, 58 tuổi, cư dân Santa Ana .
Ông nói: “Tôi từng phục vụ 13 năm trong binh chủng bộ binh trước đóng ở Hawaii .” Ðược hỏi về lý do ông đến tiệm này mỗi ngày, ông nói rằng: “Tôi thích khung cảnh lính.
Tôi đã giúp cô Tiffany, người quản lý của tiệm The Coffee Bean, trang hoàng các lưới ngụy trang trên trần nhà, các hình ảnh quân nhân...
vì tôi thấy việc làm này tốt. Ngồi uống cà phê, nghĩ đến các chiến hữu cũng thú vị.”
Image
Những gói cà phê do khách ủng hộ, ghi lời thăm hỏi từ hậu phương dành gởi tặng các chiến sĩ tại chiến trường Iraq và Afghanistan .
Khách hàng thường gọi người quản lý là “Sgt Tiff” dù cô chưa bao giờ là lính. Tên thật là Tiffany Carrol.
Cô và nhân viên tất cả đều mặc quần áo màu xanh ô liu, hoặc màu áo hoa của lính. “Tôi có người em phục vụ Thủy Quân Lục Chiến 11 năm, hai bên nội ngoại đều từng phục vụ quân đội.
Bạn trai của tôi cũng đi lính 13 năm.” Cô rất nhiệt tình nói lên ý muốn biết ơn những chiến sĩ sống xa nhà.
Image
“Trung sĩ Tiffany”, quản lý của tiệm The Coffee Bean, người có sáng kiến trang hoàng và khởi đầu chiến dịch ủng hộ tiền tuyến.
Cô khởi động chiến dịch từ 28 tháng 6 đến 12 tháng 9, kêu gọi khách hàng mua từng gói cà phê nặng một pound,
viết đôi dòng và cô gởi ra tiền tuyến cho các chiến sĩ Hoa Kỳ đang phục vụ xa nhà. Cô cho biết tiệm The Coffee Bean
(góc Newhope và Talbert, Fountain Valley ) đã gởi đi trên 5 ngàn pound cà phê qua chiến dịch này.
Image
Xin dành chiếc ghế này cho những người lính đã hy sinh cho Tự Do của chúng ta’.
“Ðiều nhỏ nhất mà gia đình tôi có thể làm được là tặng thức ăn hộp cho chương trình này,” bà Judee Higgins, cư dân Fountain Valley, nói và chỉ lên tường có ghi lời kêu gọi bảo trợ cho gia đình lính xa nhà.
Steve Trần, sinh viên năm thứ ba Cal Poly Pomona làm việc tại đây nhận xét rằng: “‘Sgt Tiff’ có mặt tại tiệm từ 4 giờ sáng,
chắc phải có lòng lắm mới siêng như thế được!” Anh cho biết tiệm cũng có nhiều bạn người Việt như Cynthya Trần, PFC Jessica, rất thích làm việc trong khung cảnh này.
Anh chỉ nghe chú bác nói về đời lính mà thôi.

Mỗi ly cà phê là mỗi gợi nhớ đến câu nói trên chiếc ghế cô đơn bên cửa ra vào. “Xin dành chiếc ghế này cho những người lính đã hy sinh mạng sống của họ cho Tự Do của chúng ta.”
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Gấp lắm rồi

Người ta nói: “đẹp tốt khoe ra, xấu xa đậy lại”. nhưng chuyện tôi kể cho qúy vị nghe tôi không biết là tốt hay là xấu, nhưng nó là chuyện ấm ức trong lòng. Không nói ra thì khó chịu, mà nếu cứ để nó trong bụng thì mính sẽ bị “stress”. Tôi đành liều mà công bố toàn dân thiên hạ. Nó là kinh nghiệm cuộc sống, là chuyện cười, nghe qua cười rồi bỏ đi.

Số là muà Đông thì lạnh, mà nhửng người tuổi loại ngũ tuần thường thì đêm về ngủ ngáy như sấm, hay như xe lửa cán đường rầy. Nếu trời ban cho cả cặp cùng ngáy thì đêm nào cũng là “giao hưởng hợp xướng” cho nên tránh tinh trạng “kết bè lập hội” chính phủ “ Quần Thâm” quyết định: Ăn chung, nằm riêng..ngủ với nhau.. khi cần”. Cuả đáng tội với cái tuổi “Chi thiên mệnh” vấn đề “ấy” hoạ chi đếm trên đầu ngón tay, vì thế ông bạn tôi mới than một câu:

Hồi xưa tuổi trẻ chịu chơi,
Ngày hai ba quả, tơi bời lá hoa.
Hôm nay anh đã về già,
vừa lên đã xuống như gà nuốt giây thung.


Các cụ còn nói “bỏ thì thương, vương thì tội”. Đúng như vậy, “tối lưả tắt đèn” nhớ “em”. Có sang sông, thì em tắt đèn lâu rồi. cuối cùng đành về phòng mình tắt đèn theo em. Còn nếu hôm nào trời ban mưa móc thì cứ “nửa đường đứt gánh” thế mới buồn phiền. Thủ tướng Phan Văn Khải đã từng than thở: “Trên bảo dưới đ. Nghe” . chỉ cần nghe lời than tự đáy lòng của ông ta cũng biết nỗi buồn trong ông. Nhà báo VT đưa ra một định luật rằng “khi mà trên bảo dưới không nghe là lúc biết mình già”.

Ông bạn tôi không nhận mình gìa, nhưng nhận mình lớn tuổi. Nhiều lần gẫy gánh, nhưng quyết tâm không thể “cũng đành một kiếp phong ba”. Khi biết mình lớn tuổi, thì mọi sự phải đi nước rút nghiã là “ gấp”. Nhà người ta treo chữ “Phúc” trong nhà, nhà ông treo ngay chữ “Gấp” trong nhà. Ông đã từ giã bạn bè, về VN kiếm cái đi ngược lại “bạn bè”. Ông gấp lắm, ông theo đúng nguyên lý “còn nước còn tát”, tát cho đến hết nước thì thôi. Bạn bè có thắc mắc: “ người ta thì mong trút bỏ đôi giầy không vưà size, còn mày bỏ được đôi này, chưa hưởng thụ được hai chữ tự do thì đã thọc vào đôi khác qúa size” ông bạn chỉ cười và nói: “vì tao có con tim

không ngủ yên nên phải gấp”.hay “toa thuộc loại gừng càng già càng cay”. Vì vậy cừ gẫy gánh này ông lại kiếm gánh khác gánh tiếp.. đời ông chân lý xây trên một chữ “gấp”.

Nếu xét theo khía cạnh ngôn ngữ học thì chữ “Gấp” thì rất là phong phú. Ta hãy đánh vần chữ này mà suy. Trước nhất là “Gờ” có nghiã là cái mép nhô lên. “â” là âm thanh phát ra khi không nói thành tiếng. lúc bị gai đâm vào tay người ta cũng phát ra âm thanh naỳ, ngay cả lúc xung sướng cũng phát ra củng âm thanh này. “p” mẫu tự này khi phát âm ta nghe thấy nó nặng và dứt ngay như “phập” hay “bập”. nó diễn tả cái vội vã, hấp tấp, phải ngay lập tức. Dấu ‘ (sắc) phát âm lên lại càng làm cho vấn đề vội vàng hơn nữa. Suy rộng hơn trước khi “gấp” thì phải “gặp”, gặp rồi gấp. sau gấp đến chữ: “Vấp”. như vậy bộ ba này đi với nhau sẽ diễn tả thành “hối bất cập”. nôm na là nếu gặp mà gấp thì sẽ vấp. Ca dao VN có câu:

Đi đâu mà vội mà vàng,
Mà vấp phải đá mà quàng vào giây..


Cũng chính chữ “gấp” mà ông vội vàng không suy nghỉ cứ việc “leo lên lưng lừa” để rồi “ lừa lồng lủi lên lề, lừa lọt lỗ ”, ông trở thành “lê lết”. Chữ gấp còn đi đôi với chữ “gáp”. Tôi không hiểu chữ gáp ở đây có nghĩa gì, nhưng khi hai chữ đi với nhau là người ta hiểu ngay là “qúa vội vàng” . ngay trong chữ gấp có chữ ấp hay áp. Áp có nghiã là trấn áp, áp đặt, đè nén, dồn ép. một không muốn muốn hai, ba…

Ngoài cái nghiã vội vàng ấy, chữ “gấp” còn cho ta một nghiã rất cụ thể nữa là “gẫy” gẫy nhưng không rời nhau, vẫn còn dính với nhau, cái này mới là tội. vì không thể dứt khoát nên mới muộn phiền. Như vậy gấp sẽ gẫy..

Chuyện “cờ người” cũng vậy, phải từ từ không cho pháo chiếu. phải cản ngay khi thấy nuớc pháo nguy hiểm sắp sảy ra. chỉ khi nào thấy địch thủ đầu hàng ta mới pháo ra. Từ từ mới có kết qủa, phải biết khi nào tiến, khi naò thoái. “biết người biết ta, trăm trận trăm thắng. Những kẻ hùng hổ khinh địch khi ra trận là nhửng kẻ dễ bị knock out nhất.

Bác H.O. kể cho tôi nghe câu chuyện về một người bạn. Anh bạn ấy ngâm 4 câu thơ khi về thăm quê hương:

Rằng đi cho biết Đồ Sơn,
Đi rồi mơí thấy rằng hơn đồ nhà,
Đồ nhà đả cũ lại già,
Làm sao so được với là Đồ Sơn


Nhưng khi thấy Đồ Sơn đẹp qúa , anh bạn ú ớ, ra lệnh không ai chiụ nghe thế là “công Giã Tràng” chỉ có nước ngó thôi. Anh bạn ca bản “ngậm ngùi” ra về lòng buồn vời vợi. Tối về gặp vợ, hai vợ chồng tâm sự chuyện đời. chuyện bất ngờ “trên không bảo dưới cứ nghe”. Anh nổi giận thở dài mà rằng “đúng là đồ khôn nhà mà dại chợ”. Bà vợ nghe thấy chồng thở dài hỏi: “có chuyện gì vậy anh?” anh bạn trả lời yếu ớt: “đâu có gì!”.

Những người theo chủ thuyết CS cho đó là thời kỳ “quá độ” . Trước khi tiến lên giai đoạn “trên bảo dưới không nghe” nó phải trải qua thời kỳ “ nghe lộn chỗ” , nghĩa là lúc cần nghe thì không nghe, lúc không cần thì cứ đòi nghe. cuối cùng anh tự yên uỉ chính mình

Rằng đi cho biết Đồ Sơn,
Đi rồi mơí thấy không hơn đồ nhà,
Đồ nhà tuy cũ tuy già,
Nhưng mà êm ái hơn là Đồ Sơn.


Một khi đã đạt tới tuổi ngũ tuần thì sức khoẻ cũng bắt đầu suy yếu và đi xuống. Xuống theo triền dốc. Vì vậy khi xuống dốc nếu thắng không tốt thì rất nguy hiểm. Cái tuổi này các cụ xếp váo tuổi “tri thiên mệnh”. Đã là tri thiên mệnh rồi mọi việc coi như “giao phó cho ông tạo”. công việc còn lại là hửơng thụ tới đâu hay tơí đó. Như vậy mọi việc tự nó trở thành “khẩn trương”. Danh từ VC này dài quá, nó không thể so sánh với chữ: “Gấp”. chữ gấp hay hơn và cụ thể hơn, vội vàng hơn. Không riêng ai mà mọi ngưòi đến tuổi tri thiên mệnh đều cảm thấy “gấp”. gấp với mọi sự việc và mọi sự việc dều gấp. Đi Đồ sơn cũng gấp, về nhà cũng gấp.

Bạn thấy thời gian một tuần nó đi nhanh lắm, thứ Hai thì đầu tuần, thứ Ba vẫn còn sớm chán, thứ Tư giữa tuần, thứ Năm gần cuối tuần, thứ Sáu sát cuối tuần và thứ Bảy cuối tuần, Chúa nhật hết tuần. Về tuổi cũng vậy. 40 tuổi còn trẻ, nhưng năm chục lên chiếu trên rồi. Sáu chục ra đường có người kính cụ. Cho nên ông bạn tôi tìm ra chân lý “qua 50 là gấp lắm”.

Nhưng Gấp thường đi đôi với gáp nên phải cẩn thận. Ngày xưa đề phòng chuyện “gáp” các ông tìm đến nào là “rượu Minh Mạng”. rượu Cắc Kè, rượu rắn, Rượu Hải Mã..Hay ăn các món mỹ vị như: “gà ác tiềm thuốc bắc, ngầu phín hầm thuốc bắc v.v..nói chung tìm đến những loại “ông ăn, ông uống, bà khen”. Nhưng ngày nay khoa học tiến bộ. Chỉ cần một viên thôi, bà khen ngay, giải quyết được tất cả..

Theo nguồn chân lý của ông bạn tôi, tôi muốn tránh cái “gáp” trong cái “gấp” ấy. Nhân dịp sinh nhật cuả vợ tôi, tôi muốn có một chuyện đặc biệt khác thường “để nhớ, để thương”. Sau khi suy đi tính lại tôi mua ngay một vỉ Viagra, quyết tâm làm cho vợ tôi ngạc nhiên.

Tính tôi hay phòng xa, nên trưóc khi nhập tiệc tôi uống ngay một viên. sợ sau tiệc quên mất. Bưã tiệc mừng sinh nhật được tổ chức tại nhà. Khách mơì toàn là bạn bè quen biết. chính vì chổ quen biết mới chết tôi. tụi bạn kéo tơí không mang theo thức ăn , nhưng lại mang tơí bia và rượu mạnh. Lúc đầu còn cầm chừng, sau khi rượu vào, cơ thể xừng xừng, thế là “chén chú chén anh” thi nhau nạp. Hết bia bọn bạn mở rượu. Tôi vị trí chủ nhà, không thể từ chối, thế là “ai tớí đâu, tôi tơí đó” để rồi cuối cùng “anh nằm xuống sau một lần anh uống say” và tôi không biết gì. Khi thức dậy thì đầu óc tôi nhức như buá bổ, chân tay tôi rã rời như mổi nơi mỗi cái. Nhìn đồng hồ thì đã trưa. Vợ tôi thấy tôi tỉnh lại chạy vào phòng nhìn ái ngại: “hôm qua anh xỉn quá, tụi bạn kiêng anh vào phòng nằm như chết, làm em sợ quá”. Tôi dựt mình nhìn vợ: “uả hôm qua anh nằm phòng anh hả”. vợ tôi; “anh ngủ phòng em thì làm sao em chiụ nổi mùì rượu, cũng may mà anh không có ói đó”. Tôi chợt nhớ tới viên Viagra hết tác dụng . thờì gian ghi trong toa chỉ có 4 tiếng., thôi “lỡ làng rồi”. Tôi vừa buồn vừa tiếc. Tôi nhủ thầm “thôi đành hẹn lại tối mai”.

Ngày mai đến rất chậm. thời gian như ngừng trôi, tôi cứ xem đồng hồ, căn giờ uống thuốc. Tôi như con chiên ngoan đạo, đúng giờ cầu nguyện. tôi ngoan ngoãn như bịnh nhân tới giờ uống thuốc. Chả bõ những khi đau, bác sĩ cho thuốc không thèm uống, giả bộ quên. Tôi hồi hộp như ngày nào mới cưới vợ. Hứng chí tôi mở máy nghe Aí Vân ca bản “Trăng sáng vuờn chè” Tôi ca theo “đêm nay mới thật là đêm, ai đem trăng sáng chiếu trên vưòn chè”.

Trời muà đông tối sớm. tôi dùng cơm tối, mắt cứ liếc nhìn vợ mà lòng bồn chồn. tôi uống một viên Viagra sau bưã ăn với ly trà Thái Nguyên. Gói trà tôi mua vào muà Noen năm ngoái khi về VN. Tôi không nghiền trà nên gói trà nằm im lìm trong tủ. hôm nay tôi mới khui. Muì trà thơm làm tôi hit hà khoái trá.. Tôi mong thời gian qua mau.

Tối thứ Sáu TV có phim hay, sau bửa cơm chiều cả nhà thường ngồi ở phòng khách để coi. Tôi cũng ngồi nhưng nào có thấy gì, nghe gì. Vợ tôi và mấy đứa con tôi cười ầm lên mổi lần thấy pha hay. Tôi im lặng như trời trồng chỉ thấy trên màn ảnh lố nhố hình người, maù xanh maù đỏ, nhấp nháy. Ngồi một lúc tôi kêu nhức đầu nên đi vào phòng ngủ.

Trong phòng ngủ tôi co ro ôm gối mong cho hết phim, tôi mong chờ, tôi bơ vơ, lạc lỏng. tôi cần vòng tay của vợ, muì thơm của tóc. người tôi nóng ran vì thuốc tác dụng. Tôi chổi dậy mở tv, coi một chút rồi tắt đi. Không biết phim dài hay tại tôi dài mong đợi. Tiếng cười của lũ con vẩn cứ vang lên khó chịu. Tôi mở tủ lấy quần áo đi tắm.

Nuớc làm tôi mát, muì xà bông làm tôi dịu. tôi khoan khoái hít thật sâu cho hơi thờ xuống tận Đơn điền. Tắm xong tôi vào phòng nằm, tôi lim dim hai mắt cố dỗ giấc ngủ để giết thời gian. Phim dài bao lâu rồi cũng hết. Tôi nghe rõ từng bước chân, bước xa dần, bước tới gần. và cuối cùng là cánh cửa phòng mở, vợ tôi mở đèn thấy tôi nằm trên giuờng.

“anh làm gì mà lên giuờng sớm vậy” . “anh nhức đầu qúa. Nhưng em vào là hết ngay”. Tôi nhổm dậy ôm chặt lấy vợ. Vợ tôi “anh đừng có lù xù”. Ngay lúc đó điện thoại reo. Vợ tôi gỡ tay tôi và nhắc điện thoại. tôi thấy vợ tôi hỏi “mày đang ở đâu”… “tao ra liền..”

Vợ tôi đặt điện thoại xuống: “ vợ chồng con Hoa cãi nhau, nó tức qúa chạy tới đây đang đứng trước cưả. Em ra mở cửa …” thế là xong. Con nhò này phá hoaị kế hoạch của tôi. Tới lúc nào không tới, tới ngay lúc này. Con Hoa là em gái vợ tôi, mổi lần nó giận chồng là chạy đến tâm sự với chị, không vậy còn ở lại đây miết cho tới khi chồng nó lên xin lổi rồi đón về. Nhà tôi có 3 phòng, phòng lớn nhất 2 cô con gái chiếm cứ, phòng trung bình thì vợ tôi dành, còn giang sơn tôi khiêm nhường. thu hẹp đủ kê một cái

giường nhò và cái bàn computer. Nhìn vào phòng người ta có cảm tưởng phòng của một vị cao tăng đắc đaọ. Nó giản đơn tới mức không thể đơn giản hơn. Mỗi khi cô em gái vợ tôi giận chồng đến nhà tôi tá túc, cô ta nằm lì trong phòng vợ tôi, coi phòng của chúng tôi như phòng của cô ta. thế là tôi một lần nữa “con tàu phải xa bến đỗ”.Tôi đành “ngậm nguì khăn gói ra đi” khỏi phòng vợ, nhường chỗ cho cô em gái yêu qúy. Tôi vưà đi vưà lẩm bẩm “người gì mà cứ hay giận chồng”. thế là viên thuốc thứ hai mất toi.

Rồi “ngày qua đi..qua đi” tôi nghe nặng sầu, lòng như muối sát, tôi nhớ vô cùng ngày nào tan trường theo em lẽo đẽo. “em tan trường về, anh theo Ngọ về.. nghiêng, nghiêng tập vở…” con đường ngập lá me bay nay chỉ còn là kỷ niệm. Tôi ngồi nhìn mưa rơi mà lòng buồn man mát. Bây giờ tôi vẫn theo em nhưng theo để vận tải hàng hoá mỗi lần “Sale”. Ấy vậy đã 25 năm gánh vác giang san, 25 năm tình lận đận. Nhưng thật sự lại hay. mỗi lần ngồi nhớ lại ôi bao nhiêu kỷ niệm. Vợ tôi thấy tôi ngồi nhìn mưa rơi, nàng tiến lại gần ôm cổ tôi: “làm gi mà suy thư thế?”. Tôi trả lời: “anh đang nhớ về dĩ vãng”. Vợ tôi buông tay nhìn qua cửa, ngoàì kia mưa trở nên nặng hạt đan nhau như tấm lươí chống B40 dầy đặc. mắt nàng nhìn xa xăm. Tôi ôm lấy vợ: “anh nhớ em quá”. Vợ tôi biết ý: Để em đi tắm trước” Tôi tranh thủ uống viên Viagra thứ 3.

Trời mưa càng lúc càng mưa to, hai cô con gái của tôi được dì Hoa đón về nhà ăn bánh xèo. Thật là may mắn, “tháng Sáu trời trơì mưa” “ trời không mưa, anh cũng lại trời mưa”

Tôi cầu cho mưa phong kín không cho 2 cô con gái tôi về. tôi muốn hôm nay hai đưá tôi sẽ có thời gian thật tuyệt vời.

Nhà thơ Nguyên Sa khóai trời mưa mặc cho trường Văn Học lụt đến đầu gối vẫn cầu trời mưa, tội cho đám học trò chúng tôi ướt như chuột. Nhạc sỉ Hoàng Thanh Tâm hùa theo đem thơ Nguyên Sa phổ nhạc. Thật tâm nhận xét “tình chỉ đẹp khi trời mưa đổ”. Ngày nào ngồi uống cà phê quán cóc đường Nguyễn Thông. cầu trời mưa cho ướt aó các em Gia Long về học. ú cha cha sao mà đẹp thế..

Trời mưa càng lúc càng lớn, tôi tắm vội, hình như tắm kỹ có một nửa rồi ôm đồ chạy vào phòng. Mưa đã lớn, gió còn lớn hơn, tiếng hú của dây điện nghe thật ma quái, và rùng rợn. tôi phóng lên giường ôm chặt lấy vợ. Một tiếng rầm đổ xập xuống phiá garage.

Tôi tung ngươì nhảy xuống xem chuyện gì. Vừa mở cửa garage, gió và nước ào ào tạt tới. Trước mắt tôi một thân cây tổ bố đổ gẫy đè bẹp cái mui xe. Nhìn lên mái nhà. một khoảng mái bị lũng xập. Nuớc tràn vào khắp nơi. Đồ đạc bay tứ tung. mấy thùng xà bông giặt thấm nuớc lũng tràn ra ngoài gặp nước xùi bọt trắng xóa che phủ toàn diện nền nhà. Tôi chụp cái áo mưa mặc vào, nhảy xuống ôm mấy món đồ cần thiết đem lên nhà. Dàn máy may và vắt sổ của vợ tôi nhìn như nhửng con tàu lênh đênh trên biển xà bông. Bọt xà bông càng ngày càng nhiều dâng lên cao che lấp tất cả. Mấy lô quần áo chưa kịp may ướt sũng chìm trong lớp xà bông dầy đặc. Tôi lấy tấm nilong che chắn phần mái nhà xập cho nuớc khỏi tràn vào phòng ngủ. Một cơn gió lớn thổi tung tâm ni lông. Mưa theo gió tràn vào trần nhà. Nước mưa thấm trần chảy xuống khắp nơi.

Vợ tôi mang xong, chảo, nồi. thùng mủ ra hứng nuớc. tất cả những gì có thể chưá nuớc đểu được huy động để hứng nước. Nưóc chảy vào xong, nồi, thùng. chỗ chảy nhanh, chỗ nhỏ giợt tất cả hợp lại thành một dàn nhạc hoà tấu nghe não nề, ai oán…

Khi trời giảm mưa, cũng là lúc viên Viagra không còn tác dụng. Viagra đã theo mưa bão trôi đi theo dòng đời nghiệt ngã. Tôi nhìn vợ xắn quần trơ đùi hứng nước mà tội nghiệp. Tôi thương vợ bao nhiêu thì tiếc viên Viagra bấy nhiêu. Đúng là “cơm đến miệng mà không được ăn”. Có Gấp lắm cũng đành thua “ mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”

Vỉ Viagra chỉ còn lại một viên. Không biết viên này có số phận hẩm hiu như 3 viên trước không xin chờ vậy.

“Trời kia đã bắt làm người có thân

bắt phong trần, phải phong trần,
cho thanh cao mới được phần thanh cao”


Tuấn Linh
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Bầy diệc ở Hoàng Sa

(Nguồn: Bauxite Việt Nam)
Lời giới thiệu của Hoàng Hưng: Bài thơ này Ngô Mai Phong viết từ lâu, bây giờ tôi mới được đọc trong chùm thơ anh gửi cho. Dễ hiểu vì sao nhà thơ nghẹn ngào, có phần buồn tủi và như bất lực. Khi chính quyền còn coi người dân biểu tình, in áo, kẻ khẩu hiệu “Hoàng Sa-Trường Sa-Việt Nam” là “tội phạm an ninh quốc gia”, thì ngay cả những bài thơ lặng lẽ như thế này cũng không thể được in trên các báo “lề phải”. Có bao giờ lòng yêu nước của người dân Việt Nam phải thầm thì như ở thời buổi này? Ðau quá! Nhưng Mẹ Việt Nam nhìn thấy hết, những đứa con tuẫn tiết cho Người và cả những đứa con phản bội Người.

Ngô Mai Phong

Image

Họ đứng như bầy diệc

Bị chôn chân giữa dải đá ngầm

Bốn mặt sóng đen rầm chiến hạm

Những con diệc không thể bay

Không có chỗ ẩn nấp

Những con diệc lặng băng như ngọn cờ tuẫn tiết

Buổi sáng ấy chỉ mẹ tôi nhìn thấy

Có đàn chim đẫm máu về trời

Hai mươi năm Hoàng Sa thành Nam Sa

Hà Nội chiều nay thanh bình thế

Triệu Vi hát trên truyền hình

“Thu thủy vô ngân” *

Nước mùa thu không vết dấu ...
Chú thích:
* Lời một bài hát trong phim “Kinh hoa yên vân” do Triệu Vi - diễn viên và ca sĩ nổi tiếng của Trung Quốc thể hiện.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »


Image

Khổng Tử thăm xóm Bưởi

TCSung

Khổng Tử cùng Nhan Hồi chu du thiên hạ, ghé qua xóm Bưởi, nơi người nước Lỗ chạy lọan đến cư ngụ rất đông. Mỗi lần gặp người nước Lỗ, Khổng Tử đều xuống xe, ngả mũ chào.

Tử Lộ hỏi: 'Người nước Lỗ có gì, khiến Thầy phải kính nể đến thế?'
Nhan Hồi đáp: 'Người nước Lỗ bỏ nước chạy đến đây mà vẫn đánh giết nhau, không ai chịu ai, là người DŨNG. Ai cũng cho mình là Vua thiên hạ, là người có CHÍ lớn. Cứ ba người là có ba đảng, ba nhóm: người nước Lỗ quyết không bỏ cái tập quán bộ lạc thời tiền sử của tổ tiên, là người TRUNG. Người nước Lỗ có CHÍ, TRUNG, DŨNG, bảo thầy không kính nể sao được?'
Khổng Tử khen: 'Học trò ta nhiều, nhưng đi guốc trong bụng ta, chỉ có Nhan Hồị'
Nói rồi lên xe, cười tồ tồ mà đi.

Lời bàn Kim Thánh Thán
Ta bình sinh đọc sách thánh hiền nhiều, không thấy sách nào chép chuyện này. Lại có chỗ không ổn. Khổng Phu Tử là bậc đại hiền tài, ăn nói chững chạc, có đâu lại bảo học trò 'đi guốc trong bụng' mình. Phu Tử chứ có phải Phu Gạo đâu mà 'cười tồ tồ'?

Ta e ông Khổng Tử này là Khổng Tử giả. Người ta bịa chuyện để khuyên người nước Lỗ bỏ cái thói kèn cựa lẫn nhau. Người nước Lỗ bỏ nước chạy, đến tá túc xứ người vẫn giữ thói đâp phá nhau. Ai kém mình thì khinh, ai hơn mình thì phá. Ngồi khoanh tay không làm gì, ai làm thì chê bai.

Khổng Tử (thiệt) nói 'Người nước Sở mất cung, người nước Sở lượm được cung, có đi đâu mà thiệt'. Người nước Lỗ mất cung không tiếc, chì sợ người Lỗ khác lượm được. Người Lỗ thấy người ngoại quốc thành công thì xút xoa khâm phục, thấy người đồng hương thành công thì khổ sở, hậm hực. Người Lỗ có tài chịu đói khổ, đến độ coi bần hàn là đức hạnh, với điều kiện là không có người Lỗ khá giả hơn mình.

Nước Lỗ có người vì đại cuộc lao tù. Người nước khác ắt coi là anh hùng, người nước Lỗ lại nghi là đối lập cuội. Nằm tù một phần tư, một phần ba đời người để làm 'khổ nhục kế': ai nghe cũng cho là quái gở, người nước Lỗ lại cho là rất thuận taị.

Ta đi mòn gót giày, chưa thấy có dân nào kỳ dị như vậy, đúng là Nam Hải Dị Nhân.
Dân trí như vậy mà nước khá được, cổ kim chưa từng có.

Cái anh nào bịa chuyện trên, chắc là muốn răn đời. Nhưng người nước Lỗ thuộc loài cà cuống, chết đến đít còn cay. Khổng Tử (thiệt) nói gặp người đáng nói mà không nói là lỡ cơ hộị, gặp người không đáng nói mà nói là phí lời. Người Lỗ còn thở thì còn phá nhau, nói cũng như nước đổ đầu vịt, ích gì ?

Lời bàn của kẻ hậu sinh
Ðọc sách cổ, không gì thú hơn lời bàn của Kim Thánh Thán. Văn Thánh Thán sắc như dao, viết như đâm vào ruột gan người ta. Ðọc Thánh Thán, ta hiểu người xưa, việc xưa hơn cả Sử Ký Tư Mã Thiên.
Có điều Kim Ðại Nhân là người uyên bác, lẽ nào không biết rõ rằng người nước Lỗ là con rồng cháu tiên, làm gì có chuyện thối thân của loài cà cuống.

Thì ra cái ông Thánh Thán này cũng là Thánh Thán giả.

Khổng Tử giả, Thánh Thán giả, hàng hóa giả, người giả, cả đến chữ nghĩa thánh hiền cũng giả. Ðúng là thời đại loạn.

Nhưng đó chỉ là chuyện người nước Lỗ, ta chỉ đọc chơi rồi bỏ, liên hệ gì mà bận tâm./.
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

TUỔI GIÀ
Cứ mỗi lần có dịp phải vào nhà dưỡng lão để thăm người quen hay bạn bè, tôi thường có những suy nghĩ và ám ảnh, liệu rồi sau này lúc già yếu, bệnh hoạn, tôi có phải vào nằm ở đây không, mà ví như cha mẹ tôi còn sống, tôi có khả năng nuôi nấng săn sóc cha mẹ tôi ở nhà không hay lại phải đưa quý cụ vào đây?

“Nước mắt chảy xuôi” là thành ngữ Việt Nam nói đến tình thương chỉ có thể từ cha mẹ dành cho con cái, theo dòng thuận của đời người, từ cao xuống thấp, để khuyên chúng ta đừng đòi hỏi một sự báo đáp từ con cái. Nhưng sự thật, các bậc cha mẹ cũng buồn lòng khi thấy con cái đối xử với mình tệ bạc, nhất là đến tuổi già, bệnh tật, có khi bị bỏ quên, cha mẹ cảm thấy cô đơn, cần sự an ủi, săn sóc. Trong một bài viết về nỗi niềm của cha mẹ già bị bỏ quên trong xã hội hôm nay, tôi nhận được lá thư của một vị cao niên ở tận miền Ðông, bày tỏ ý kiến của cụ:

“Tôi đã khóc, khóc cho chính mình và cho ai trong tuổi già ở xứ này. Ông kể lại có cụ già đã chết cả một hai tuần, không ai biết. Con cái ở đâu? Ðó là những người có con mà còn vậy, còn những người không con thì chắc phải vô trường hợp này quá. Vì tôi không con gái, chỉ hai ‘đực rựa’, một ở Cali, một ở gần đây, nhưng ít khi kêu, và có khi không kêu hỏi thăm được một tiếng, lúc cần tiền hay cần gì đó mới kêu. Có lúc tôi nghĩ: hay mình bất hiếu với cha mẹ nên con cái nó bạc với mình chăng?

Ở Florida này cũng có một bà Việt Nam ở riêng, mỗi tuần có cậu con trai mang đồ ăn tới. Hôm đó cậu ta kêu cửa, nhưng không ai ra mở. Cậu ta tưởng bà cụ đi vắng bèn treo gói đồ ăn vào hàng rào cổng. Mấy ngày sau trở lại, thấy gói đồ ăn vẫn còn, mới khám phá ra bà mẹ đã chết. Thật là thảm!”

Ðây chắc chắn là chuyện này có thể tránh được. Nếu mẹ ở nhà riêng, con nên có một cái chìa khóa nhà để dùng lúc cần thiết. Ðem thức ăn đến cho mẹ, khi mẹ đi vắng, dù bận thế nào đi nữa, thì cũng vào nhà, để thức ăn vào tủ lạnh cho mẹ. Nếu mẹ ngủ thì cũng vào nhà xem mẹ có khỏe không? Ðiện thoại cho mẹ nhiều lần mà không nghe trả lời thì phải nhờ người ở gần, đến gõ cửa nhà mẹ xem sao, hay vội vàng chạy lại xem sự thể thế nào?

Câu chuyện như trên có thể xẩy ra bất cứ ở đâu.
Trái tim của người mẹ có nhiều chỗ dành cho đứa con, như đôi cánh của một con gà mẹ có thể dang ra che kín mười đứa con bé dại, nhưng người mẹ có chỗ nào trong trái tim của con. Ngày xưa, mẹ chưa bao giờ biết nói tiếng “bận” với con. Khi đang ăn mà con “làm bậy” cũng phải buông đũa đứng dậy. Nửa đêm dù đau yếu, mỏi mệt nghe tiếng con khóc cũng phải mở mắt, vỗ về và ôm con vào lòng. Sao các con bây giờ vẫn thường nói tiếng “bận” với cha mẹ. Vì bận nên các con đưa cha mẹ già lú lẫn vào nursing home, vì bận, nên theo lời một cô y tá cho biết, nhiều gia đình bỏ cha mẹ vào đây rồi không bao giờ lui tới thăm viếng. Cô cho biết nhiều người đã ở đây năm sáu năm rồi, không hề có ai lai vãng. Có bao nhiêu lý do để những đứa con có thể nêu ra để không còn chỗ nào trong lòng, nhớ đến cha mẹ. Nếu là đàn ông chúng ta nên vui, vì hiện nay trong các nhà dưỡng lão 70% là quý bà, vì các ông đã quy tiên sớm hơn vợ mình, thông thường ít nhất là 6 năm, để ngày nay khỏi phải chịu cảnh cô đơn, buồn tẻ.
Trước ngày Giáng Sinh tôi có dịp vào viếng thăm một người bạn sắp qua đời trong một nursing home. Trên hành lang dẫn vào phòng người bạn, và ngay trước chỗ làm việc của nhân viên ở đây, tôi thấy nhiều ông bà cụ ngồi trên những chiếc xe lăn, nhìn những người qua lại. Các cô y tá đã sắp xếp cho các cụ ra ngồi trên hành lang đối điện với văn phòng làm việc, một phần để trông chừng các cụ, một phần cho các cụ đỡ buồn. Nhưng các cụ nhìn sự vật một cách dửng dưng, đôi mắt đờ đẫn, có người đã gục đầu xuống ngủ. Giá mà có người đẩy xe lăn đưa các cụ đi dạo một vòng ngoài trời nắng ấm kia, chắc hẳn các cụ vui hơn và biết đâu cuộc sống sẽ kéo dài thêm một thời gian nữa. Giờ này trong công viên hay trên những con đường trong thành phố nhiều người mẹ đang đẩy chiếc xe đưa con đi dạo, nhưng vài mươi năm nữa ai sẽ đẩy chiếc lăn cho bà. Phải chăng định luật của cuộc sống và tình thương là “nước mắt chảy xuôi”, sẽ không bao giờ có một dòng nước chảy ngược về nguồn.

Người Âu Mỹ thường thèm địa vị của các bậc cha mẹ người Á Ðông lúc về già vẫn còn được con cái lui tới săn sóc, nhưng họ cũng nên nhớ lại, họ chỉ nuôi con cho đến năm 18 tuổi là hết bổn phận, trên pháp lý, không ai trừng phạt gì họ được, mà trên mặt tình cảm cũng không có gì phải cắn rứt lương tâm. Trong xã hội văn minh này, một đứa trẻ bỏ học, đi lang thang ngoài đường hay bị đối xử tàn tệ, cha mẹ có thể ra tòa và mất quyền nuôi dưỡng, còn những cụ già vô gia cư, đói khát bị bỏ bên lề đường, không ai có trách nhiệm và chẳng có ai phải ra tòa. Ðiều đáng nói là các cụ già cũng như những đứa trẻ, đều yếu đuối, không có khả năng tự bảo vệ và rất dễ xúc động, buồn vui. Trong một xã hội đáng gọi là văn minh, các trẻ em và người cao niên đều được che chở, bảo vệ và săn sóc chu đáo. Các cụ có các cơ quan xã hội lo thuốc men, thực phẩm nhưng với nỗi cô đơn, phiền muộn ai là người lo cho các cụ, trong khi những đứa trẻ có người an ủi, vỗ về và nói với nó những lời dịu ngọt.

Ngân khoản của liên bang cấp để ngăn ngừa tình trạng lạm dụng có đến 90% dành cho việc ngăn ngừa lạm dụng trẻ con, 7% để ngăn ngừa bạo hành trong gia đình nhưng chỉ có 2% sử dụng trong việc ngăn ngừa ngược đãi người già. Không biết có bao nhiêu đạo luật và ngân khoản dành cho việc chống lại việc ngược đãi súc vật? Cứ vào “Pet-Abuse.com” chúng ta sẽ tìm thấy hàng nghìn trường hợp công dân Mỹ, già và trẻ, đàn ông lẫn đàn bà bị tù tội, phạt tiền vì bạc đãi, bỏ đói, đánh đập hoặc giết những con vật thân yêu trong nhà. Bỏ quên một bà mẹ già trong nhà dưỡng lão nhiều năm có phải là một trường hợp ngược đãi không? Tôi nghĩ là không. Nếu có, luật pháp đã bắt đứa con phải phạt vạ hay vào nhà tù.

Theo người xưa, tuổi thọ là một ơn Trời và là một phúc đức lớn cho gia đình nào có cha mẹ tuổi thọ cao, trước nhất là của chính người cao tuổi nhưng đồng thời cũng là cho con cháu, bởi vì cha mẹ có sống lâu, con cháu mới có cơ hội được thể hiện lòng hiếu thảo. Có ba điều người ta thường mong ước ở đời là Phước, Lộc và Thọ. Phước có chỗ đứng cao hơn hết, Lộc thì phù du mà Thọ chưa hẳn đã là may mắn.
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

Nhỏ mà không học lớn làm MC
Saturday, 23 October 2010


(Thương tặng các bạn trong diễn đàn Ô Thước) Câu nói đùa này không biết nhập vào đầu tôi từ bao giờ mà mỗi lần nghe thiên hạ bàn chuyện gẫu về MC tức người dẫn chương trình, nó lập tức bật ra khiến tôi tự cười thầm. Chúng ta biết, làm một MC (Master of Ceremonies), Emcee, không phải dễ và đơn giản; trở thành một MC giỏi, nổi tiếng và thành công còn khó hơn.

Tôi xin thu hẹp phạm vi bài viết này trong khu vực hải ngoại hơn là trong nước vì tôi đang sống ở hải ngoại.

Một buổi sáng cuối tuần, bạn bè tôi cùng nhau họp mặt vì có một người từ Việt Nam mới qua chơi. Chúng tôi đang chuyện trò, bỗng chú ý đến một chương trình truyền hình trực tiếp liên quan tới một tiếp viên hàng không của hãng JetBlue. Anh Steven Slater, tiếp viên hàng không Mỹ nổi điên và chửi hành khách, rồi trượt ra ngoài theo máng thoát hiểm. Câu chuyện của anh bùng nổ và trở thành một hiện tượng trên mạng. Người dẫn chương trình phỏng vấn các hành khách và có người phê bình anh Steven quá thô lỗ.

Người bạn trong nước qua chơi đang coi bỗng phán lên một câu: “Tại sao ở Mỹ người ta trả lời phỏng vấn hay như vậy, nghe thiệt là sướng. Người trả lời phỏng vấn là một thường dân mà ăn nói trên TV như một xướng ngôn viên chuyên nghiệp. Trong khi ở Việt Nam, có nhiều chương trình phỏng vấn trên TV, người dẫn chương trình cũng như người được phỏng vấn ăn nói rất là rề rà, lục cục không thông suốt.”

Thế là câu chuyện vòng quanh hai chữ MC nổ như bắp rang.

Câu chuyện lan man bắt đầu từ cái gốc của ngôn ngữ. Một anh bạn cho rằng Anh ngữ trong đối thoại nghe trôi chảy hơn, tiếng Việt nghe lục cục, giựt giựt, lại thiếu mạch lạc, thiếu từ vựng. Có lẽ vì tiếng Việt đơn âm, tiếng Anh đa âm, vả lại phong cách Việt không hợp cho “ngôn ngữ nói”. Anh dẫn chứng rằng, cứ để ý trên các chương trình của Paris by Night hay Asia, sẽ thấy các ca sĩ trả lời bằng tiếng Anh thường nói lưu loát, ngon lành hơn các ca sĩ trả lời bằng tiếng Việt dù khả năng Anh ngữ của họ chắc chắn không bằng khả năng Việt ngữ của người kia. Hay nếu ta phỏng vấn một người cán sự xã hội Việt Nam, bằng tiếng Việt, về chuyện Việt Nam và một người cán sự xã hội Mỹ bằng tiếng Anh, chuyện xứ Hoa Kỳ, thì có nhiều khả năng là người cán sự Mỹ sẽ trả lời đâu ra đó thông suốt hơn người Việt. Cũng như một người lãnh đạo Việt Nam đọc diễn văn sẽ không hay bằng một nhà lãnh đạo Mỹ, dù không xét đến nội dung.

Sau khi phân tích vấn đề bắt nguồn từ giọng nói và cấu trúc ngôn ngữ Việt, một anh khác nêu lên yếu tố giáo dục và văn hoá.

Trong nghệ thuật hùng biện, nói năng trước công chúng (public speaking), khả năng của người mình còn kém. Người phỏng vấn hay được (bị) phỏng vấn thường không quen tiếp xúc với đám đông nên nhút nhát, thiếu bình tĩnh, vụng về, lúng túng. Kỹ năng này phải được tập luyện trong trường lớp từ cấp nhỏ đến cấp đại học. Tôi thấy ở Mỹ các em nhỏ học tiểu học, mới từ lớp 1 đã rất dạn dĩ trong các buổi trình diễn kịch, múa, hát cuối năm, nói gì đến thanh thiếu niên ở cấp trung học và đại học. Học sinh trung học phải tập luyện khả năng hùng biện trước công chúng hầu như mỗi ngày trong các môn học, vì các em phải giới thiệu cũng như trình bày (presentation) bài làm của mình hay làm chung với nhóm mình trước mặt giáo viên và bạn học. Do đó khi qua cái cầu trung học, người dân Mỹ đã có khả năng nói chuyện trước công chúng. Ở cấp đại học còn có những lớp dạy về hùng biện (speach) mà sinh viên có thể học như môn nhiệm ý hay môn học tổng quát nên chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy người Mỹ tỏ ra rất tự nhiên khi tiếp xúc với đám đông.

Hơn nữa, lối giáo dục của người Mỹ không chuộng từ chương, lại khuyến khích học sinh phát biểu cảm tưởng của mình nên các em không e ngại khi giơ tay phát biểu ý kiến riêng của mình. Tự do ngôn luận khiến con người không bị cái cảm giác sợ sệt, e ngại khi cần nói bất cứ điều gì. Việt Nam ta còn có câu “Trước khi nói hãy uốn lưỡi 7 lần”. Suy nghĩ và uốn lưỡi kỹ lưỡng như thế xong, thì hết cả muốn nói! Sống trong một xã hội tự do ngôn luận bị cấm đoán, con người khi đối diện trước công chúng, nói năng thất thố có thể đi tù như chơi. Vạ miệng đôi lúc sẽ là tai hoạ không ai biết trước được, vì thế tinh thần dân chủ ảnh hưởng luôn cả đến khả năng tranh luận của công dân trong một nước.

Điều này minh chứng rõ khi chúng ta thử quan sát một cuộc phỏng vấn tay đôi hay một cuộc tranh luận bàn tròn dăm ba người. Các chính khách của ta nói chuyện rất rề rà, không có lửa, thiếu thu hút, khiến chúng ta có thể thấy vấn đề không hẳn nằm trong ngôn ngữ nói. Những người này thường biết trước nội dung, đề tài, câu chuyện trình bày hơn là từng câu hỏi. Hay biết trước từng câu hỏi cũng vậy, khi nói chuyện họ cũng bị mất tự nhiên, cung cách nói như bị gò bó theo điều chuẩn bị, nên xem ra lại càng lúng túng hơn. Rốt cuộc màn phỏng vấn mang lại cảm giác buồn ngủ, thiếu sinh động. Ngược lại, chúng ta xem những cuộc đối thoại phỏng vấn của Mỹ như với Donald Rumsfeld hay Colin Powell sẽ thấy hào hứng hơn nhiều.

Có người cho rằng ăn nói lưu loát phần nào do bẩm sinh. Không phải ai cũng có khoa ăn nói hay và quyến rũ, nên có những người được thượng đế ưu đãi, ban riêng cho cái tài vượt trội này. Làm một MC, đối thoại trước đám đông cần thông minh, ứng đáp nhanh, nghĩ nhạy, phản ứng lẹ, nói với tất cả lòng hăng say, nhiệt tình, pha thêm chút hài hước làm khán giả thấy thú vị. Những điều này người Việt mình lại thiếu nên chúng ta ít có nhân tài xuất chúng trong nghệ thuật hùng biện. Người mình lại hay nghiêm và buồn, không biết pha trò trước đám đông nên thiếu sự thu hút cần có.

Làm MC không những phải tập luyện, sửa soạn kỹ mà còn phải biết ứng xử lẹ với những điều bất ngờ như David Letterman, Jay Leno đáp ứng rất lẹ, lém và khôi hài. Ngay cả đến Ronald Regan cũng khôi hài dù là Tổng thống. Người Mỹ xem trọng nụ cười và óc hài hước vì trong đời sống tất bật nhiều áp lực, tiếng cười làm nhẹ và vơi đi sức nặng ngàn cân của công việc hàng ngày. Những sản phẩm trí tuệ được ưa chuộng của người Mỹ được sản xuất chung quanh chữ “hài” rất nhiều. Nhiều diễn viên tấu hài hàng năm thâu nhập những lợi tức cao ngất ngưởng nhờ vào năng khiếu biết chọc cười thiên hạ này.

Văn hoá Á Đông tiêm nhiễm tam giáo (Khổng, Phật, Lão) nên người Việt đặt nặng chữ “lễ” làm đầu, trong đó có sự nghiêm chỉnh, thành ra khi tiếp xúc với người lạ hay công chúng, chúng ta thiếu hẳn nụ cười. Tuy nhiên một vài MC Việt Nam ta ở hải ngoại đã biết tận dụng khả năng hài hước để tung hoành trên sân khấu và gặt hái nhiều thành công trong lãnh vực điều khiển chương trình.

Trong một vài bài viết nổi tiếng được soạn ra với mục đích giúp một người làm MC sao cho thành công, có những điều như sau: phải có cá tính và sức thu hút, có khả năng gây được ảnh hưởng và khuấy động đám đông trong khi giới thiệu đến người kế tiếp. Nói nhanh và sẵn sàng ứng biến, có được một phong cách riêng, hiểu khán giả, hiểu về người mà bạn sắp giới thiệu. Cần sự tự tin, linh hoạt, nhạy bén. Tuy vậy, nghề MC còn đòi hỏi bạn có nhiều kỹ năng và vốn kiến thức phong phú để có thể đảm nhận nhiều vị trí khi cần. MC đôi lúc là người biên tập chương trình, là người thiết kế sáng tạo cho chính chương trình của mình chứ không đơn giản là học thuộc lời và đứng nói như cái máy. Ngoài ra bạn cần có một giọng nói tốt, phải nói cho tròn vành, rõ chữ nữa.

Cộng đồng người Việt nhỏ bé ở hải ngoại có dân số không đông bằng trong nước nhưng số MC hành nghề dẫn chương trình nếu kể ra, chúng ta thấy không phải là ít. Trong các chương trình ca nhạc, kể theo thứ tự A,B,C, chúng ta có Dương Nguyệt Ánh, Đặng Tuyết Mai, Leyna Nguyễn, Nam Lộc, Nguyễn Cao Kỳ Duyên, Nguyễn Ngọc Ngạn, Phan Nhật Nam, Thùy Dương, Trịnh Hội, Vân Sơn, Việt Dũng, Việt Thảo, Vĩnh Lạc v.v…

Ngoài ra, sự phát triển của HD Tivi ngày nay đã kéo theo sự nở rộ của các chương trình truyền hình Việt ngữ. Do đó số người dẫn chương trình, đọc tin, làm phóng sự, phỏng vấn vụt gia tăng theo định luật cung cầu. Trong lãnh vực truyền thông, truyền hình, radio ở khắp nơi người Việt định cư, chúng ta đã có những MC hay xướng ngôn viên riêng của từng tiểu bang, từng quốc gia, từng chương trình phát thanh, phát hình khác nhau. Nếu kể tên, có lẽ kể không hết, tôi chỉ xin đơn cử vài thí dụ điển hình ở địa phương (Nam Cali) nơi tôi cư ngụ có: Bùi Bảo Trúc, Bùi Bích Hà, Hoàng Trọng Thụy, Hương Thơ, Minh Phượng, Mộng Lan, Ngọc Ân, Thanh Lan, Thanh Toàn, Trọng Nghĩa, Vũ Chung, Vũ Kiểm v.v…

Trước 75, chúng ta có các xướng ngôn viên với những giọng hay như Đỗ Văn, Phạm Đình Chương, Tô Kiều Ngân, Đinh Hùng, Vũ Dũng, Dạ Lan v.v…

Phải nói là bá nhân, bá ý vì mỗi MC có một lượng khán thính giả mến mộ khác nhau. Các bạn tôi thay nhau bênh vực thần tượng MC của mình. Khuyết điểm của các MC Việt Nam tôi đã nói ở trên, giờ tôi chỉ nêu các ưu điểm của một vài MC có cá tính nổi bật được họ đem ra tranh cãi.

Có người thích lối nói chuyện mới lạ, tự nhiên, mạnh, trực tiếp, duyên dáng pha chút hài rất miền Tây của Việt Thảo. Một mình ông một sân, Rock, Rap, kịch, hài, nhún nhảy, vui vẻ, đơn giản, không cứng đơ, không nói chuyện khoa học, chính trị, văn chương hay văn học như một hình thức tải đạo, không làm mất thì giờ người nghe.

Người thì khen giọng Bắc ông Bùi Bảo Trúc ấm, điệu nghệ, rõ ràng và sang hơn giọng Bắc của ông Nguyễn Ngọc Ngạn. Các cô thì mến dáng vẻ bình dị, khuôn mặt dễ nhìn, dễ gây thiện cảm, tự nhiên và thân thiện của ông Ngạn. Có người lại thích nét lạ đời của ông khi kể chuyện cười mà mặt lạnh như băng, tỉnh queo không một nụ cười. Người cảm cái giọng Sơn Tây, trầm trầm, giản dị, cách đẩy đưa mạch lạc, cách ngắt chuyện khi cần của ông. Ông đã chịu khó nghiên cứu khi soạn bài, biết chọn đề tài, các chi tiết hài được đẩy đưa tung hứng khéo léo cùng Nguyễn Cao Kỳ Duyên tạo nên sự trôi chảy duyên dáng cho cả hai. Muốn có được sự mến mộ của đám đông nhiều lúc người dẫn chương trình như ông phải có một tâm hồn thực tế và còn phải chạy theo trình độ của quần chúng.

Nhắc đến những MC trên sân khấu âm nhạc, chúng ta không thể không nhắc đến MC Vĩnh Lạc như một nhân vật gây nhiều ấn tượng và rất được giới trẻ yêu nhạc ái mộ. Ông là một dương cầm thủ (concert pianist) nên có kiến thức vững vàng về âm nhạc, lại có khoa ăn nói nên khi làm MC cho các chương trình hoà tấu hay trình diễn âm nhạc, ông khéo léo đưa các vấn đề liên hệ vào. Vĩnh Lạc có một trí nhớ tốt, chịu khó đọc cặn kẽ, lại thuộc Kiều nên hay mang những nghiên cứu về Kiều như những dẫn chứng Đông Phương. Những kiến thức triết học về Kant, Nietzsche, Bach, Mozart… cũng được ông mang ra phân tích khi bàn đến một nhạc phẩm, khiến người nghe có cái cảm giác hoà hợp dung dị giữa hai nền văn hoá Đông Tây trong một bài hát Việt Nam. Mỗi MC có một tài năng, thế đứng riêng. Nghe Vĩnh Lạc nói lưu loát về một đề tài, khung cảnh, cách nói, sẽ thấy ông mượn phong cách, âm hưởng, cấu trúc của Tây phương, nghĩa là ông nói như một người Tây về một chuyện Tây, khiến khán giả có cảm tưởng Vĩnh Lạc thoát ra khỏi cái cung cách nghiêm nghị, tẻ nhạt mà một MC Việt thường có.

Tôi có một cô bạn mê lối nói đầy đam mê, cuốn hút, có lửa, kiến thức rộng, lý luận lại thú vị đó, nên nghe ở đâu có tổ chức trình diễn âm nhạc có Vĩnh Lạc làm MC, cô không ngại mua vé máy bay đi xem Vĩnh Lạc nói. Cô kể, có lần đi xem buổi hoà nhạc có Vĩnh Lạc làm MC, ngoài lúc dẫn chương trình, trong giờ nghỉ giảo lao 15 phút khán giả không nghỉ mà kiên nhẫn ngồi lại nghe Vĩnh Lạc nói tiếp về Trịnh Công Sơn. Ông vừa bàn về nhạc thuật vừa phân tích ca từ, chỉ ra cái hay của bài hát “Đêm thấy ta là thác đổ” ở chỗ nó thấm nhuần triết lý Đông phương, Tây phương, cả nhạc cổ điển của Bach và Beethoven. Ông nói say mê, xúc động đến độ đứng khóc giống hệt như Bùi Giáng ngâm thơ Kiều trong giảng đường Đại học Vạn Hạnh ngày xưa ở Việt Nam. Có lẽ vì quá nhiều tình cảm và say sưa diễn tả cảm nghĩ của mình về những bài hát mà Vĩnh Lạc không biết dừng, khiến các ca sĩ phải chờ dài cả cổ mà chưa tới phiên mình. Sự đam mê, đầy nhiệt huyết của ông với âm nhạc là một trong những yếu tố thành công chính của một MC nhưng nó cũng làm ông thất bại vì ông vốn quen “quá đà”, khiến sau này ít ai mời ông làm MC vì sợ tốn thời giờ của ban tổ chức.

Tuy nhiên nếu đặt tài năng Vĩnh Lạc vào đúng chỗ, có lẽ khán thính giả sẽ được lợi hơn, được hiểu thêm về lý thuyết âm nhạc của các tác phẩm mà mình yêu thích. Ông có phụ trách một chương trình âm nhạc cho một đài phát thanh, được nhiều thính giả khen hay vì nó có tính giáo dục cách thưởng thức âm nhạc của thính giả. Đáng lưu ý là phần đông thính giả thích nghe ông nói thường có thể sẽ bị ảo tưởng vì ông hay lấy dẫn chứng từ những tác phẩm cổ điển để làm tăng thêm giá trị cho nhạc phẩm được ông đem ra so sánh, trong khi thật ra chúng lại rất đỗi bình thường. Điều này như một cường điệu quá đà có tính nặng phần trình diễn làm loá mắt người nghe vì chắc chắn đối tượng thính giả của ông trong những chương trình kia sẽ không phải là người có chuyên môn âm nhạc cao.

Nhạc sĩ Thanh Trang cũng có một chương trình tương tự như Vĩnh Lạc trên đài phát thanh nhưng cung cách của Thanh Trang khác hẳn Vĩnh Lạc. Khi phê bình âm nhạc, Ông ít lời, nhiều ý, với các thí dụ cụ thể làm thính giả mường tượng được ra cái đó là cái gì (ý chính của Thanh Trang là giai điệu quan trọng hơn lời ca, nhằm nâng trình độ ca nhạc người nghe lên cao hơn). Còn người rành nhạc thì có cơ hội so sánh hoặc có hứng tìm hiểu kỹ hơn.

Đây là một trích đoạn bài nói chuyện của Thanh Trang trên VOA: “Thế nhưng người nghe nhạc bình thường, cảm nhận một bài hát qua sở thích riêng tư, qua cảm tính của mình thì không nói làm gì, mà ngay cả đến các nhạc sĩ có tên tuổi nhất, đuợc đào tạo chính quy nhất về mặt âm nhạc, cũng không thể dựa vào những kiến thức chuyên môn của mình để có thể giải thích được cái hay cái đẹp nơi một bài hát. Cảm nhận đuợc mặt đó là do nơi mấy chữ người ta thường nhắc đến là ‘trình độ thẩm âm’.”

Có lẽ khi phân tích về mỹ thuật hay thơ ca, người ta dễ tập trung hơn phân tích về âm nhạc vì nó đụng tới những lý thuyết khô khan khó hiểu. Mà nói đến trình độ thẩm âm của thính giả chúng ta càng thấy trừu tượng, mông lung hơn. Nghệ thuật luôn luôn song hành với hai khuynh hướng, giải trí và trí tuệ. Mỗi MC có một địa hạt riêng của mình, không thể đòi hỏi người này phải giống người kia hay người này hay hơn người kia. Điều quan trọng là mỗi khán giả tự quyết định, xác định thứ nghệ thuật giải trí, hay nghệ thuật trí tuệ, là món ăn tinh thần của mình. Có thể Nguyễn Ngọc Ngạn và Nguyễn Cao Kỳ Duyên thích hợp với Paris by Night show vì tính giải trí của nó. Và nếu nhu cầu của người nghe chọn lọc hơn thì MC Vĩnh Lạc thích hợp với các show ca nhạc thính phòng. Còn như muốn nghe phê bình âm nhạc mà kết hợp được Vĩnh Lạc và Thanh Trang với nhau chúng ta có thể có những bài phê bình âm nhạc rất tuyệt vời.

Nói tóm lại vai trò của một MC trong một buổi trình diễn không phải nhỏ. Nó giúp cho buổi diễn được trôi chảy, hâm nóng bầu không khí cho sôi động, giữ cho khán thính giả không nhàm chán trong thời gian chờ đợi và càng không phải là một công việc thuần túy giới thiệu chương trình. Người dẫn chương trình không những quản lý giỏi giờ giấc của mình trên sân khấu, còn phải kiểm soát giờ giấc của ca sĩ hay diễn giả cho phù hợp với thời lượng của chương trình đã định sẵn. Một MC thành công là một MC biết sáng tạo, biết tạo hứng khởi cho người nghe, biết thể hiện, linh hoạt, thông minh, tự tin, mạnh mẽ mà còn phải nói với tất cả cảm hứng, đầy nhiệt huyết và say mê.

Nghe mớ lý thuyết này sao khó quá các bạn nhỉ, thực tế thì sao? Chắc chắn không phải là câu nói đùa “Nhỏ mà không học lớn làm MC”.

© 2010 Trịnh Thanh Thủy
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »


Image

Đàn bà là gì?
Đàn bà là thứ mà đàn ông không thể thiếu được.

Bận rộn như hoàng đế Napoleon, xông pha trận mạc khắp các chiến trường châu Âu mà vẫn không thể thiếu đàn bà. Chiến tranh quyết liệt như ở lòng chảo Điện Biên năm 1954 mà tướng De Castries vẫn cần một cô nhà báo xinh đẹp làm thư kí riêng. “Giai nhân tự cổ như danh tướng”. Người Trung Quốc xưa đã nói như vậy. Người Nhật Bản nói: “Vắng đàn bà nhà hóa mồ côi”.

Đàn bà là thiên thần hay quỷ dữ? Thưa rằng họ vừa là thiên thần, lại vừa là quỷ dữ.
Hễ người đẹp xuất hiện là những đôi mắt của cánh đàn ông sáng bừng lên, ham muốn, và chỉ cần một cái vẫy tay, một cái liếc mắt là đàn ông có thể đổ ngay. Tất cả các hoàng đế mạnh nhất từ xưa tới nay đều thử sức với đàn bà và đều đã thất bại. Chính đàn ông làm cho đàn bà thành thiên thần, cũng chính đàn ông khiến đàn bà thành quỷ dữ. Nguy hiểm nhất cũng là đàn bà. Trong 36 kế hiểm của người Trung Hoa thì mĩ nhân kế là hiểm nhất. Đổng Trác hùng mạnh thế mà phải chết vì Điêu Thuyền, Từ Hải anh hùng thế mà phải chết đứng vì Thúy Kiều, Phù Sai quyền lực thế mà phải chết vì Tây Thi… Đại văn hào Victor Hugo viết rằng: “Ai cũng có thể tin, cái gì cũng có thể tin, trừ đàn bà”.

Song cũng vì tính chất hai mặt này của đàn bà mà họ trở nên có sức hút mạnh mẽ hơn đối với đàn ông, vì đàn ông ham chơi mà trò chơi nếu thiếu tính mạo hiểm thì không hấp dẫn. Đàn bà ma lực như thương trường, bất trắc như thương trường, nhiều rủi ro như thương trường. Vì tôn thờ tình yêu nên cuối đời đàn bà không biết ai yêu mình.

Vì chạy theo đàn bà nên cuối đời người đàn ông không biết là mình yêu ai. Đàn bà là gì? Đàn bà là ai? Những câu hỏi đó suốt đời đàn ông không thể trả lời được một cách trọn vẹn. Song cũng vì thế mà suốt đời đàn ông cứ si mê đàn bà. Nếu đàn bà như chiếc bánh, bóc lá ra là thấy được hết cả nhân lẫn bột thì đàn ông sẽ chán ngay và sự nhàm chán là kẻ tử thù của tình yêu còn sự bí ẩn là chất xúc tác của tình yêu.

Sưu Tầm Trân Net
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Bài học cuối cùng
Một nhà hiền triết dẫn một toán học trò của mình đi ngao du khắp chốn trên đời.

Trong vòng 10 năm trời thầy trò họ theo nhau đi hầu hết các nước, gặp gỡ hầu như tất cả những người có học vấn.

Lúc này, thầy trò họ đã trở về, người nào người nấy kinh luân đầy một bụng, kinh nghiệm đầy mình.

Trước khi vào thành, nhà hiền triết ngồi nghỉ trên một bãi cỏ ở ngoại thành, nói với học trò của mình:

"Mười năm ngao du, các con đều đã trở thành kẻ sĩ học rộng hiểu nhiều, lúc này đây, sự học sắp kết thúc ta sẽ giảng cho các con bài học sau cùng".

Các học trò kéo đến ngồi vây quanh nhà hiền triết. Một lát sau, nhà hiền triết hỏi: Hiện chúng ta đang ngồi ở đâu?

Các học trò đồng thanh trả lời rằng đang ngồi trên bãi cỏ hoang ở bên ngoài thành. Nhà hiền triết lại hỏi:

Trên bãi cỏ hoang này có cây gì mọc lên? Học trò đồng thanh đáp, trên bãi hoang mọc toàn cỏ dại ạ!

Nhà hiền triết nói: Đúng! Trên bãi cỏ hoang này mọc toàn cỏ dại. Bây giờ ta muốn biết bằng cách gì để trừ hết thứ cỏ dại này đi?

Các học trò nhìn nhau hết sức ngạc nhiên, họ thực sự không ngờ rằng, nhà hiền triết xưa nay vốn chỉ đi sâu nghiên cứu những điều huyền bí của cuộc sống, vậy mà trong bài học sau cùng này lại hỏi một vấn đề giản đơn như thế.

Một người trong toán học trò lên tiếng trước: "Dạ thưa thầy, chỉ cần có một cái xẻng thôi là xong hết ạ!"

Nhà hiền triết khe khẽ gật đầu.

Một người học trò khác như phát hiện ra điều gì mới, nói tiếp: "Dạ thưa thầy, đốt lửa để diệt cỏ cũng là một cách rất hay đấy ạ!"

Nhà hiền triết im lặng mỉm cười, ra hiệu gọi một người khác.

Người học trò thứ ba nó: "Thưa thầy, rắc vôi lên cũng có thể diệt được hết tất cả các giống cỏ đấy ạ!".

Tiếp ngay sau đó là người học trò thứ tư anh ta nói: “Diệt cỏ phải trừ tận gốc, chỉ cần nhổ được rễ lớn là xong hết!”.

Các học trò đã lần lượt nói hết suy nghĩ của mình, nhà hiền triết đứng dậy, nói:

"Bài học hôm nay đến đây là hết, các con hãy về đi, rồi theo cách mình nghĩ, mỗi người hãy diệt cỏ ở một mảnh đất trên bãi hoang này.

Nếu không diệt được cỏ, một năm sau quầy lại đây ta nói chuyện sau".

Một năm sau, mọi người quay trở lại, có điều khác là bãi cỏ năm trước không còn đầy cỏ dại nữa, mà đã trở thành cánh đồng ngô lúa xanh tươi.

Toán học trò lại ngồi quây quần gần ruộng lúa, chờ nhà hiền triết tới nhưng chờ mãi vẫn không thấy ông tới.

Mấy năm sau nhà hiền triết ấy qua đời, những người học trò cũ của ông đã chỉnh lý lại những tài liệu, luận thuyết mà ông nêu ra, thấy ở một chương cuối, ông đã tự ghi thêm vào một câu:

"Muốn diệt hết cỏ dại ở bãi hoang, chỉ có một cách hay nhất, đó là hãy trồng cấy mùa màng lên đấy".

Cũng như vậy, muốn để linh hồn không phải buồn lo tản mạn, thì cách duy nhất là hãy chiếm cứ nó bằng những đức tính tốt".

Đọc câu chuyện vừa rồi, ai mà chẳng khâm phục sự vĩ đại của nhà hiền triết và sự thông minh của các học trò của ông.

Hãy thử nghĩ nếu cuộc sống của chúng ta mà thiếu những bài học sau cùng như thế này, thì dẫu có học đến hàng xe sách cũng phỏng có ý nghĩa.

(Suu Tam)
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Học làm người
Đại sư Tinh Vân có một người đệ tử, sau khi tốt nghiệp đại học liền học thạc sĩ, rồi lại học tiến sĩ, sau nhiều năm đèn sách cuối cùng cũng đã hoàn thành luận án tiến sĩ nên vô cùng mừng vui.

Một hôm người đệ tử này trở về, thưa với Đại sư.

- Thưa thầy nay con đã có học vị tiến sĩ rồi, sau này con phải học những gì nữa?

Ngài Tinh Vân bảo:

- Học làm người, học làm người là việc học suốt đời chẳng thể nào tốt nghiệp được.

Thứ nhất, “học nhận lỗi”.
Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm đều đổ cho người khác, cho rằng bản thân mình mới đúng, thật ra không biết nhận lỗi chính là một lỗi lầm lớn.

Thứ hai, “học nhu hòa”.
Răng người ta rất cứng, lưỡi người ta rất mềm, đi hết cuộc đời răng người ta lại rụng hết, nhưng lưỡi thì vẫn còn nguyên, cho nên cần phải học mềm mỏng, nhu hòa thì đời con người ta mới có thể tồn tại lâu dài được. Tâm nhu hòa là một tiến bộ lớn trong việc tu tập.

Thứ ba, ” học nhẫn nhục”.
Thế gian này nếu nhẫn được một chút thì sóng yên bể lặng, lùi một bước biển rộng trời cao. Nhẫn, vạn sự được tiêu trừ. Nhẫn chính là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không.

Thứ tư, “học thấu hiểu”.
Thiếu thấu hiểu nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm. Mọi người nên thấu hiểu thông cảm lẫn nhau, để giúp đỡ lẫn nhau. Không thông cảm lẫn nhau làm sao có thể hòa bình được?

Thứ năm, “học buông bỏ”.
Cuộc đời như một chiếc vali, lúc cần thì xách lên, không cần dùng nữa thì đặt nó xuống, lúc cần đặt xuống thì lại không đặt xuống, giống như kéo một túi hành lý nặng nề không tự tại chút nào cả. Năm tháng cuộc đời có hạn, nhận lỗi, tôn trọng, bao dung, mới làm cho người ta chấp nhận mình, biết buông bỏ thì mới tự tại được!

Thứ sáu, “học cảm động”.
Nhìn thấy ưu điểm của người khác chúng ta nên hoan hỷ, nhìn thấy điều không may của người khác nên cảm động. Cảm động là tâm thương yêu, tâm Bồ tát, tâm Bồ đề; trong cuộc đời mấy mươi năm của tôi, có rất nhiều câu chuyện, nhiều lời nói làm tôi cảm động, cho nên tôi cũng rất nỗ lực tìm cách làm cho người khác cảm động.

Thứ bảy, “học sinh tồn”.
Để sinh tồn, chúng ta phải duy trì bảo vệ thân thể khỏe mạnh; thân thể khỏe mạnh không những có lợi cho bản thân, mà còn làm cho gia đình, bạn bè yên tâm, cho nên đó cũng là hành vi hiếu đễ với người thân.

Trên Net
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest