Bình Luận , Quan Điểm

tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

Tướng lãnh Trung Quốc là mối đe dọa

Ngô Nhân Dụng

Trung Quốc đã chịu lùi một bước, trước mặt 10 bộ trưởng quốc phòng Asean và 6 nước khác ở Hà Nội. Robert Gates, bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ nhắc lại những lời Ngoại Trưởng Hillary Clinton đã nói hồi Tháng Bẩy vừa qua, cũng tại thủ đô Việt Nam.

Lần này ông Gates nói mạnh hơn, cứng rắn hơn. Hồi Tháng Bẩy, các viên chức chính phủ và báo nhà nước ở Trung Quốc phản đối mạnh mẽ những ý kiến của bà Clinton. Nhưng Trung Quốc phải đáp lễ một cách ôn hòa.

Quan điểm của Mỹ được ông Gates nhắc lại rất rõ ràng: “Hoa Kỳ luôn luôn sử dụng quyền (tự do lưu thông đường biển) của mình và bảo vệ quyền của các nước khác được thông thương và hoạt động trong hải phận quốc tế. Ðiều đó không thay đổi, cũng như sẽ không thay đổi các cam kết của chúng tôi về những hoạt động chung với các đồng minh và những nước cộng tác.” Những lời này, tuy không nói đến tên Trung Quốc, nhưng phản bác tất cả những điều mà Bắc Kinh đã nêu lên để chỉ trích bà Clinton, khi họ nói Mỹ là người ngoại cuộc muốn xen vào chuyện nội bộ của Á Châu. Robert Gates đã phát biểu trước mặt bộ trưởng quốc phòng các nước Ðông Nam Á và các quốc gia khác gồm Nga, Nhật Bản, Ấn Ðộ, Nam Hàn, và Lương Quang Liệt, bộ trưởng Quốc Phòng Trung Quốc. Ngay sau đó, Lương Quang Liệt đã ngỏ lời mời Gates sang thăm Bắc Kinh vào năm tới. Ðầu năm 2010, Bắc Kinh đã bãi bỏ một cuộc thăm viếng của Gates và ngưng mọi liên lạc về quốc phòng với Mỹ, để phản đối việc Mỹ bán hơn 6 tỷ đô la vũ khí tối tân cho Ðài Loan.

Bắc Kinh đã chịu thua trong cuộc đấu ngoại giao này, vì họ nhìn thấy các nước Ðông Nam Á đang phản ứng bất lợi vì mối lo sợ về mối đe dọa của nước cộng sản Trung Hoa. Từ khi Ðặng Tiểu Bình quyết định cải tổ kinh tế năm 1978, ông vẫn chủ trương thân thiện với ngoại bang, đặc biệt là các nước Á Ðông. Trung Quốc đã thành công khi ký được hiệp ước thương mại tự do với khối ASEAN, nhận tiền đầu tư từ Ðài Loan, Nhật Bản và Nam Hàn. Năm nay, tất cả các nước Ðông Nam Á đã đổi thái độ khi Bắc Kinh tuyên bố Nam Hải thuộc loại “quyền lợi cốt lõi” của họ - ngang tầm quan trọng với Ðài Loan và Tây Tạng. Nghĩa là coi vùng biển Ðông của nước ta cũng thuộc lãnh thổ của họ, mặc dù có nhiều quốc gia khác còn đang tranh tụng về chủ quyền trên các hòn đảo. Trong vùng quần đảo Trường Sa, có 29 đảo do Việt Nam, 8 đảo do Phi Luật Tân và 3 đảo do Mã Lai Á chiếm, nhiều đảo đủ lớn có thể xây phi trường; và Ðài Loan chiếm đảo Itu Aba lớn nhất, mặc dù Trung Quốc chỉ chiếm đóng 9 hòn đảo nhỏ nhưng họ lại biểu diễn lực lượng hải quân rất xa với khả năng đe dọa đánh đuổi các nước khác. Lời tuyên bố về “hạch tâm quyền lợi” trên không những làm các nước Ðông Nam Á phải lo đề phòng mà cả Nhật Bản, Nam Hàn, Úc, Mỹ đều coi là một mối đe dọa đối với con đường biển quốc tế này. Chính vì vậy, khi chính quyền Barack Obama bắt đầu tỏ ý bảo vệ quyền thông thương này, các nước Ðông Á đều hoan nghênh.

Trước thái độ và phản ứng của khối ASEAN, đáng lẽ chính phủ Trung Quốc phải trấn an, tỏ ra mềm dẻo hơn để trấn an họ; nhưng Bắc Kinh đã làm ngược lại. Một biến cố khiến tất cả khối Ðông Nam Á thêm lo sợ về thái độ hung hăng của Bắc Kinh, là phản ứng dữ dội của họ sau khi Nhật Bản bắt một thuyền trưởng Trung Hoa vì tầu của ông này đâm vào hai tầu tuần duyên của Nhật, trong vùng đảo Sensaku mà người Trung Hoa gọi là Ðiếu Ngư Ðài, ngày 7 Tháng Chín. Năm 1978, Ðặng Tiểu Bình đã nói: “Hy vọng thế hệ tương lai sẽ khôn ngoan hơn chúng tôi để giải quyết vấn đề này.” Thế hệ Ôn Gia Bảo cũng chưa biết giải quyết vấn đề đảo Ðiếu Ngư ra sao nhưng nhân cơ hội này chứng tỏ họ rất cứng rắn. Ðây là một hòn đảo Nhật chiếm của Trung Quốc năm 1895 cùng lúc chiếm Ðài Loan. Năm 1945, Mỹ đã chiếm đóng sau khi đánh bại Nhật. Mỹ trả lại cho Nhật cùng với Okinawa, thay vì trả cho Ðài Loan, cho nên sinh tranh chấp. Trung Quốc đã ngưng mọi tiếp xúc ngoại giao, bãi bỏ cấp visa cho 1,000 sinh viên Nhật thăm Hội Chợ Thượng Hải, không bán một số kim loại hiếm cần cho kỹ nghệ điện tử. Nhật Bản lo nhất là Bắc Kinh có thể nhân ngày kỷ niệm Sự Biến Lư Cầu Kiểu, 18 tháng 9 năm 1931, khi quân Nhật khiêu khích để tiến đánh chiếm Mãn Châu, thanh niên Trung Quốc sẽ biểu tình chống Nhật khơi lại mối hận thù!

Sau khi Nhật Bản chịu nhường, trả tự do cho viên thuyền trưởng Trung Hoa, một hậu quả bất ngờ là cuộc tranh chấp tay ba ở đảo Sensaku trở thành rắc rối hơn. Chính phủ Mỹ bỗng phải xác nhận rằng hiệp ước an ninh Mỹ Nhật bao gồm cả hòn đảo này, một điều trước đây vẫn để cho mập mờ ai muốn hiểu sao cũng được. Một hậu quả khác là vì Trung Quốc ngưng bán một số nguyên liệu cho Nhật để làm áp lực trong vụ Ðiếu Ngư Ðài, các công ty Nhật Bản lo đi đặt mua ở nước khác. Các nước Ðông Á bỗng nhiên cảm thấy mối đe dọa của Trung Quốc tăng cường độ, hậu quả là họ sẽ phải thân thiết với Mỹ hơn!

Có thể nói Bắc Kinh rất vụng về, dại dột trong vụ Sensaku, làm cho các nước Á Ðông lo ngại và đề phòng. Rồi sau đó, Bắc Kinh lại tỏ ra rất nhún nhường, hòa hoãn với Mỹ và trấn an các nước khác trong cuộc gặp gỡ tại Hà Nội vào ngày hôm qua; khi Tướng Lương Quang Liệt nói rõ chính sách quốc phòng của Trung Quốc chỉ có tính chất phòng thủ, họ không nhắm thách thức hoặc đe dọa ai, và muốn tăng cường niềm tin cẩn của các nước khác. Từ Ðiếu Ngư Ðài, tới hội nghị ASEAN, ta thấy chính sách ngoại giao của Trung Quốc có vẻ lúng túng, không nhất quán.

Nhưng cũng có thể nhìn theo cách khác để thấy là thật ra không phải giới lãnh đạo Trung Quốc đã dại dột, vụng về. Một lý do gây ra tình trạng lúc cứng quá, lúc mềm quá trên đây là vì trong nội bộ đảng cộng sản Trung Quốc đang có những tranh chấp ngấm ngầm. Phe quân đội trong chính quyền cộng sản đang tìm cách lấn áp phe dân sự, ngay cả trong diễn trình quyết định các vấn đề ngoại giao. Chính giới lãnh đạo quân sự ở Trung Quốc đang muốn tạo ra mối đe dọa cho các nước chung quanh, tác động trên tinh thần ái quốc của người dân, để gia tăng uy quyền của họ trong nội bộ, so với phe dân sự. Ðây là một thủ đoạn để các tướng lãnh tăng thêm ảnh hưởng, chuẩn bị cho việc sắp xếp các vai trò chủ chốt trong đảng Cộng Sản trong kỳ đại hội đảng vào năm 2012 sắp tới.

Trong thời gian gần đây, giới tướng lãnh Trung Quốc xuất hiện rất nhiều trên các diễn đàn quốc tế, được báo chí nhắc nhở đến luôn luôn; vì họ lúc nào cũng có luận điệu rất diều hâu, nhân danh “quyền lợi dân tộc.” Ngày 24 Tháng Chín vừa qua, tại một hội nghị ở Singapore, khi một cựu nhân viên ngoại giao Nhật, ông Hitoshi Tanaka báo tin chính phủ Nhật sắp trả tự do cho viên thuyền trưởng trong vụ Ðiếu Ngư Ðài, trong khi các người tham dự đều vỗ tay, thì một vị tướng Tầu bày tỏ một thái độ thù hằn và đe dọa, sau khi cựu Ngoại Trưởng Ðường Gia Toàn tỏ thái độ ôn hòa. Tướng Chu Thành Hổ (Zhu Chenghu) giám đốc Nghiên cứu Chiến lược thuộc Ðại học Quốc phòng ở Bắc Kinh, đã đứng lên cảnh cáo chính phủ Nhật rằng đừng tưởng chỉ tuyên bố như vậy là đủ để xây dựng mối bang giao tốt đẹp giữa hai nước. Hành động của Tướng Chu Thành Hồ làm nhiều người ngạc nhiên, nhưng đó không phải là lần đầu tiên. Vào Tháng Năm vừa qua, khi tiếp đón một phái đoàn viên chức ngoại giao Mỹ, Phó Ðề Ðốc Quan Hữu Phi (Guan Youfei, người Trung Quốc gọi là thiếu tướng Hải Quân) đã lớn tiếng cảnh cáo nước Mỹ đang có hành động bá quyền và coi Trung Quốc là thù địch; câu nói của ông khiến các nhà ngoại giao Trung Quốc có mặt đều bối rối. Ông Quan Hữu Phi cũng có mặt trong phái đoàn Trung Quốc tại hội nghị tại Hà Nội tuần này. Vào Tháng Sáu, Tướng Chu Thành Hồ cùng tướng Mã Hiểu Thiên (Ma Xiaotian), phó tổng tham mưu quân đội Trung Quốc là những người đứng lên chỉ trích ông Robert Gates tại một hội nghị ở Singapore, về vụ Mỹ bán máy bay và hỏa tiễn cho Ðài Loan. Ông Chu Thành Hồ đã từng bị cấp trên phê bình nặng vào năm 2005, sau khi ông tuyên bố với nhà báo rằng bom nguyên tử của Trung Quốc có khả năng tiêu diệt hàng trăm thành phố ở Mỹ, nếu Mỹ can thiệp vào việc giải phóng Ðài Loan! Nhưng tới nay, ông vẫn tiếp tục xuất hiện trong các diễn đàn quốc tế, khiến các nhà ngoại giao dân sự Trung Quốc phải bối rối, không biết ai là người quyết định chính sách ngoại giao.

Trên các diễn đàn quốc nội, các vị tướng lãnh Trung Quốc còn mạnh miệng hơn nữa. Tướng Trương Triệu Ngân (Zhang Zhaoyin), viết trong nhật báo Quân Ðội Nhân Dân là Trung Quốc phải từ bỏ chủ trương lỗi thời là xây dựng một quân lực cho thời bình. Ông nói, nhiệm vụ chủ yếu của quân đội là “chuẩn bị chiến tranh, chiến đấu và thắng trận.” Ông là phó tư lệnh khu quân sự Thành Ðô, tỉnh Tứ Xuyên. Trung Tướng Kim Nhất Nam (Jin Yinan), phó giám đốc Nghiên Cứu Chiến Lược trong Ðại Học Quốc Phòng đã nêu lên chủ trương là Trung Quốc phải là một quốc gia vĩ đại, và “khi một quốc gia và một dân tộc bước vào một giai đoạn khẩn trương, quân đội luôn luôn đóng vai trò chủ yếu” để đạt được mục tiêu của mình. Một giáo sư khác tại Ðại Học Quốc Phòng là Phó Ðề Ðốc Dương Nghị (Yang Yi), ông từng viết: “Một quân đội hùng mạnh là điều quan trọng nhất để bảo vệ quyền lợi quốc gia... Hải Quân Trung Quốc là lực lượng mạnh nhất để ngăn không cho các nước khác xâm phạm quyền lợi hàng hải của Trung Quốc.” Ông Dương Nghị cũng cảnh cáo các nước khác, không nêu rõ tên, là họ không nên lầm tưởng rằng Trung Quốc sẽ không dám dùng vũ lực chỉ vì muốn phát triển kinh tế một cách hòa bình. Ông nói hiểu lầm như vậy là rất nguy hiểm! Ông cũng từng nói Nhật Bản và Nga không có khả năng nhưng nước Mỹ là nước duy nhất đe dọa an ninh của Trung Quốc.

Một luận điệu đáng sợ nhất của giới tướng lãnh Trung Quốc là quan niệm về “biên cương quyền lợi quốc gia” mà một nhà bình luận trên nhật báo Quân Ðội Nhân Dân ở Bắc Kinh nêu lên. Ông Hoàng Côn Luân (Huang Kunlun) đã viết rằng quyền lợi của Trung Quốc vượt ra ngoài lãnh thổ, hải phận của họ, mà phải bao gồm cả những vùng biển mà tầu thủy Trung Quốc lưu thông, cũng như trong không gian. “Với sứ mạng lịch sử của chúng ta, quân đội Trung Quốc không những phải bảo vệ lãnh thổ mà còn phải bảo vệ ‘biên cương quyền lợi’ của nước mình.” Nói như vậy là bành trướng nhiệm vụ và phạm vi hoạt động của quân đội Trung Quốc lên gấp bội, không khác gì ông Robert Gates nói về nhiệm vụ của quân đội Mỹ! Chính quan niệm “biên cương quyền lợi” này đưa tới việc coi Biển Ðông của Việt Nam là vùng quyền lợi cốt lõi của người Trung Hoa.

Với những vị tướng hay lớn tiếng như trên, giới quân sự Trung Hoa đang lấn quyền các người lãnh đạo dân sự. Không những họ thường xuất hiện trên hệ thống truyền thông của nhà nước, mà họ còn viết sách bán rất chạy, khi bàn về các vấn đề quyền lợi quốc gia! Hiện nay trong guồng máy quyền lực Trung Quốc, bộ phận nắm quyền rất lớn là Quân Ủy Trung Ương. Mà trong số 11 người thuộc hội đồng này chỉ có một người dân sự là Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào. Trong tuần này, ông Tập Cận Ðình sẽ được bầu làm phó chủ tịch quân ủy, để chuẩn bị cho ông thay thế Hồ Cẩm Ðào vào năm 2012. Giới lãnh đạo dân sự mải lo các vấn đề kinh tế, xã hội, cho nên không đủ thời giờ và mưu trí mà đặt giới quân nhân vào khuôn khổ, như giới tướng lãnh Mỹ vẫn phải nằm dưới sự chỉ huy của các nhà lãnh đạo chính trị dân sự.

Cho nên, mối đe dọa lớn nhất đối với vùng Ðông Nam Á không phải là tất cả guồng máy chính trị của đảng cộng sản Trung Quốc mà chính là giới tướng lãnh của nước này. Theo nhật báo Wall Street, trong Tháng Chín năm 2010, chính các tướng lãnh Trung Quốc đã yêu cầu giới lãnh đạo phải điều động hải quân để đe dọa Nhật Bản trong vụ Ðiếu Ngư Ðài, và họ cũng đề nghị Bắc Kinh hãy đẩy đồng Yen của Nhật lên cao để ảnh hưởng trên việc xuất cảng của Nhật. Khi Bắc Kinh đứng ra mua mấy tỷ công trái của chính phủ Nhật, đồng Yen đã lên giá, sau đó bộ trưởng Tài Chánh Nhật phải chính chức đặt câu hỏi Trung Quốc có ý đồ gì khi đem đô la mua Yen, cho nước Nhật vay nợ một cách hào phóng như vậy? Lập tức, chính phủ Nhật đã in thêm đồng Yen để đi mua đô la Mỹ, giảm giá đồng tiền của họ xuống!

Nếu các tướng lãnh gây được ảnh hưởng trên chính sách ngoại giao của Bắc Kinh, thì đó là một mốt đe dọa cho cả vùng Châu Á. Họ có thể thay đổi đường lối ngoại giao từ hòa hoãn sang gây hấn; đặc biệt là đối với một nước nhỏ lân bang như Việt Nam thì từ gây hấn có thể chuyển tới hành động xâm lăng!
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Trung Hoa khiến Hoa Kỳ mạnh hơn ở Á Châu

Walter Russell Mead
LTS: Tòa soạn nhật báo Người Việt trân trọng giới thiệu với quý độc giả bài viết sau đây của Walter Russell Mead, một thành viên của Council on Foreign Relations và là tác giả quyển sách mới đây nhất nhan đề God and Gold: Britain, America, and the Making of the Modern World.

Phải chăng Trung Hoa là yếu tố làm lợi cho sức mạnh của Hoa Kỳ?

Những hành động vụng về mới đây nhất của Trung Hoa tại Á Châu - cứ xúc tiến việc bán lò phản ứng nguyên tử cho Pakistan đang bị lộn xộn và đe dọa một cách thô bạo Nhật Bản về việc một thuyền trưởng Trung Hoa bị bắt - hiện đang làm cho khối các nước đồng minh của Hoa Kỳ tại Á Châu thêm đoàn kết nhau.
Image
Phó Thủ Tướng Trung Hoa Wang Qishan (phải) tìm cách bắt tay Bộ Trưởng Ngân Khố Hoa Kỳ Timothy Geithner (phải)
ngay trước mặt Ngoại Trưởng Mỹ Hillary Clinton (giữa) tại Nhân Dân Ðại Sảnh ở Bắc Kinh, ngày 24 tháng 5, 2010. (Hình: Saul Loeb/AFP/Getty Images)



Tân chính phủ Nhật Bản lên cầm quyền với hy vọng làm cân bằng lại chính sách ngoại giao và giảm căng thẳng với Trung Hoa, nhưng giấc mơ đó giờ đây đã tàn lụi. Và mối quan hệ sâu đậm của Trung Hoa với Pakistan phần nào nhằm phản ứng lại việc Hoa Kỳ mở cửa chính sách hạt nhân đối với Ấn Ðộ hiện đang xô đẩy cường quốc nguyên tử đang lên này tại Á Châu ngãvào gần hơn bao giờ hết trong vòng tay của Hoa Kỳ (và Nhật Bản). Nam Hàn có lần giữ lập trường hòa bình với Trung Hoa, nay đã quay trở về lại với Hoa Kỳ tiếp theo sau vụ Trung Hoa ủng hộ Bình Nhưỡng trong vụ Bắc Hàn bị tố là đánh chìm một tàu hải quân của Nam Hàn.

Trong tất cả mọi biến chuyển này có một chủ đề rõ ràng nổi lên. Hoa Kỳ không phải đang kiềm chế Trung Hoa. Trung Hoa tự mình kiềm chế lấy mình. Vì nền kinh tế của Trung Hoa tăng trưởng và khả năng quân sự của Trung Hoa phát triển, họ đang tìm các phương thế để biến tiềm năng đó trở thành sức mạnh thật sự qua các diễn biến nói trên. Trong quá khứ, Trung Hoa từng cố lôi kéo các lân bang vào quỹ đạo của họ bằng các viên kẹo ngọt như giao thương và viện trợ.

Nhưng rõ ràng là các biện pháp này bị một thế hệ mới các nhà hoạch định chính sách của Trung Hoa coi là không đem lại kết quả thỏa đáng. Họ vẫn nghĩ rằng Trung Hoa là một cường quốc lớn quá không thể cứ phải tử tế mãi với mọi người được. Vì thế, họ xác định những đòi hỏi về lãnh thổ của họ ngày càng mạnh bạo hơn, và đã thổi phồng các cuộc tranh chấp với Nhật Bản ra ngoài khuôn khổ.

Chính sách của Trung Hoa ngày nay dường như muốn đi theo vết xe đổ của Ðức Hoàng Wilhelm. [Ðức Hoàng Wilhelm II, vị vua cuối cùng của Ðức và cũng là quốc vương Phổ, từng vụng về dọa nạt và gây hấn với các nước Âu Châu để bành trướng thế lực khiến cho phần lớn các nước này theo về với Liên Minh Tay Ba (Triple Alliance) gồm Pháp, Nga và Anh để chống lại Wilhelm II và các nước chư hầu trong Thế Chiến Thứ Nhất, dẫn đến sự bại trận của Ðức và cuộc thoái vị của Ðức Hoàng Wilhelm II ngày 18 tháng 11, năm 1918]. Các áp lực của Trung Hoa đang xô đẩy những nước như Ấn Ðộ, Nhật Bản, Nam Hàn, Việt Nam. Singapore, Mã Lai Á, Indonesia và Úc về phía cộng tác mật thiết hơn với Hoa Kỳ. Các đồng minh trong vùng của Trung Hoa thì lại suy yếu đi và gặp nhiều khó khăn hơn: Bắc Hàn, Myanmar, Pakistan.

Tệ hại nhất là theo quan điểm của Trung Hoa thì còn cần phải rất nhiều năm nữa người ta mới có thể thấy chính sách hiện nay của Trung Hoa là tệ hại. Hai mươi năm ra sức kiên nhẫn nỗ lực dụ dỗ các lân quốc đứng nhìn sự trỗi dậy một cách hòa bình của Trung Hoa bỗng dưng bị phung phí vì sáu tuần lễ ngoại giao gây hấn của họ. Cũng giống y như sự bắt nạt của Liên Xô đã từ từ làm gia tăng sức mạnh của khối đồng minh NATO nhờ nhắc nhở dân chúng Âu Châu rằng họ hết sức cần được Hoa Kỳ bảo vệ, vì thế ngày nay Trung Hoa đang vô tình làm cho các đồng minh tại Thái Bình Dương của Hoa Kỳ đoàn kết lại mà Hoa Kỳ khỏi cần phải tổn hao gì cả.

Về phương diện cá nhân, tôi không cảm thấy hả hê về điều này. Mục tiêu của Hoa Kỳ tại Á Châu không phải là để chiến thắng về ngoại giao - hoặc lạy trời xin đừng - hay trong một cuộc đụng độ quân sự với Trung Hoa. Mục tiêu dài hạn của chúng ta vẫn là phát triển một loại hệ thống quốc tế bền vững nào đó tại Á Châu từ đó tạo ra hòa bình và thịnh vượng lâu dài mà Liên Hiệp Âu Châu (dù phạm nhiều sai lầm) đã mang lại cho Âu Châu. Lợi ích của Hoa Kỳ sẽ được phục vụ khi nào và nếu như Trung Hoa thôi không lấy thịt đè người trong nỗ lực tranh ngôi bá chủ theo kiểu Wilhelmine Weltmacht (Thời Ðại Wilhem Cường Quốc Thế Giới) và nghiêm chỉnh cung hiến sức mạnh và sự phồn thịnh của họ cho việc xây dựng một mô hình Á Châu hòa bình với sự che chở thích nghi cho các lân bang của họ. Sự trỗi dậy của một nền dân chủ hòa bình ở Ðức cộng thêm với sự có mặt của Hoa Kỳ và tư cách thành viên của Ðức trong Khối NATO và khối Liên Âu đã giúp các nước Âu Châu khác thoát ra khỏi nỗi lo sợ các lân bang gốc Teutonic [thuộc gốc Germanic] của họ.

Ðối với nhiều vấn đề của khối Liên Âu, nước Ðức ngày nay thực sự tạo ảnh hưởng và có an ninh hơn là dưới thời các Ðức hoàng từng biết tới. Người ta chỉ hy vọng rằng Trung Hoa có thể học hỏi được những kinh nghiệm này mà không phải lặp lại sự đau khổ vô cùng mà Ðức quốc vừa gây ra mà cũng vừa hứng chịu trong thế kỷ thứ 20 cho tới khi Konrad Adenauer (mà theo quan điểm của tôi ông là chính khách vĩ đại nhất của thiên niên kỷ) cuối cùng đưa đất nước vào đúng con đường đi tới hòa bình và tự trọng.


Những bài học cho cường quốc Mỹ

Những diễn tiến này tại Á Châu nói lên một sự thật quan trọng về vai trò của Hoa Kỳ trên thế giới: các nền tảng nâng đỡ sức mạnh của chúng ta mạnh mẽ hơn những gì mà người trong nước và ở hải ngoại hiểu được.

Chúng ta đã từng dành ra cả thập niên để tự tạo nên sức mạnh của Hoa Kỳ. Thứ nhất, vụ 9/11 được nhiều người cho là một cú đánh chí tử vào cứ điểm của sức mạnh Hoa Kỳ, và sự sụp dổ của Tòa Nhà Thương Mại Thế Giới được coi là khởi đầu cuộc suy sụp trong tư thế chế ngự kinh tế và chính trị thế giới của Hoa Kỳ. Rồi tính cách không được lòng dân trong chính sách đối ngoại thời chính quyền Bush đã làm các bạn hữu chúng ta xa lánh. Ðặc biệt trong thế giới Ả Rập, chúng ta bị ghét nhiều tới nỗi ngay cả các nước thân hữu cũng không thể làm việc với chúng ta được. Rồi chúng ta lại thua cuộc chiến tranh ở Iraq, và các nhà phân tích cùng các chính trị gia hàng đầu (hầu hết đã ủng hộ cuộc chiến Iraq lúc ban đầu) kêu gọi hãy coi chuyện rút lui nhục nhã là giải pháp tốt nhất, và thật ra đó cũng là chiến lược khả dĩ duy nhất. Sau vụ này là sự đổ vỡ của thị trường chứng khoán và tình trạng suy sụp tài chánh hồi năm 2008, và mô thức tư bản không nương tay của Anh-Mỹ được người ta cho là đã thất bại nghiêm trọng. Sau đó là sự trỗi dậy của Trung Hoa, siêu cường mới nóng hổi tại Ðông phương đang là chủ nợ của chúng ta và vì thế họ sở hữu chúng ta - và điều này đã lùa các nước Á Châu vào thành một khối kinh tế và chính trị mới có khả năng đẩy chúng ta ra ngoài rìa.

Nhưng đây chi là trò bát nháo và nhảm nhí. Hoa Kỳ quả có lầm lẫn trong chính sách ngoại giao và có thể đã gây thiệt hại cho cả chúng ta lẫn cho các nước khác, nhưng sức mạnh của Hoa Kỳ bền bỉ hơn là những gì người ta nhìn thấy bên ngoài. Sức mạnh của Hoa Kỳ không phải là vĩnh cửu, và trật tự chính trị thế giới không phải là không thay đổi, nhưng các lực lượng mạnh mẽ và tiềm ẩn trong vấn đề ngoại giao đã đưa Hoa Kỳ tới vị thế hiện nay là tạo ảnh hưởng và sức mạnh; những lực lượng như thế không phải chỉ một sớm, một chiều là có thể biến mất đi. La Mã cũng không thể nào bốc cháy trong một ngày được.

Một loạt những biến chuyển mới nhất tại Á Châu đưa tới cho chúng ta một trường hợp bài bản cho thấy nền tảng sức mạnh của Hoa Kỳ tại Á Châu thực sự mạnh mẽ biết bao. Trung Hoa càng trỗi dậy, thì các nước Á Châu càng tập hợp về phía Hoa Kỳ. Chúng ta là sức mạnh tạo cân bằng tại Á Châu; chúng ta không có khả năng mà cũng không có ước muốn chinh phục bất cứ quốc gia Á Châu nào hoặc đánh tan bất cứ nước nào. Chúng ta không ủng hộ bất cứ sự thay đổi biên giới nào, nhưng chúng ta đang ủng hộ một hệ thống kinh tế dẫn tơi sự thịnh vượng lớn lao nhất từ trước tới nay. Ðây là thời đại hoàng kim của Á Châu, và chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ giúp duy trì tình thế đó.

Hồi thời Chiến Tranh Lạnh, nhiều chính phủ Á Châu tập họp về phía Hoa Kỳ vì họ sợ cuộc cách mạng cộng sản và sự đô hộ của Liên Xô. Trong khoảng thờ gian giữa lúc Liên Xô sụp đổ và việc Trung Hoa trỗi lên hạng cường quốc hàng đầu của thế giới, nhiều quốc gia đã không mấy hứng thú khi có quan hệ với Hoa Kỳ. Các nước như Nhật Bản, Nam Hàn, và ngay cả Úc bắt đầu suy nghĩ liệu họ có thể khấm khá hơn khi nhích lại gần hơn về phìa Trung Hoa hay không. Có một số vụ tán tỉnh ngoại giao diễn ra, và thế giới ngồi lê đôi mách khởi sự nói oang oang về sự lu mờ của ảnh hưởng Hoa Kỳ tại Á Châu và sự vươn lên của Trung Hoa.

Tuy nhiên, chắc chắn là sự vươn lên của Trung Hoa làm thay đổi mọi sự. Người Trung Hoa trở nên kém thận trọng và tự chế; các lân bang của họ đâm ra lo sợ. Việc xa lánh Mỹ quốc không còn có vẻ hấp dẫn nữa. Những thói hư tật xấu của Mỹ dường như ít xấu xa hơn, ít kém cỏi hơn - trong khi, nhìn gần lại, thì những sai lầm và những thói xấu của Trung Hoa dường như càng khó chịu hơn.

Sức mạnh của Hoa Kỳ trên thế giới vừa có cả nắp chặn phía trên mà cũng vừa có đáy cùng. Nếu Hoa Kỳ trở nên quá hùng cường và thế giới nom có vẻ đơn cực quá thì các quốc gia trên thế giới bắt đầu hành động theo cách thế muốn dìm Hoa Kỳ xuống. Giả sử Trung Hoa sụp đổ và phải trải qua những năm tháng xào xáo nội bộ, bạo loạn và bất ổn, thì Ấn Ðộ, Nhật Bản và Nam Hàn có thể lợi dụng cơ hội này mà tách rời khỏi Hoa Kỳ. Khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ, nhiều quốc gia trong Khối NATO (nhất là Ðức và Pháp) tìm cách chiếm một địa vị độc lập hơn trên thế giới.

Trong nhiệm kỳ thứ nhất của Tổng Thống George W. Bush, nhiều giới chức đã hành động điên rồ và nói những điều làm bực mình khắp thế giới. Chính quyền Bush tạo nên cảm tưởng rằng Hoa Kỳ có sức mạnh và ý chí để tái tạo toàn thể trật tự quốc tế theo ý thích của mình. Thật ra, chúng ta thiếu cả khả năng lẫn ý chí để thực hiện điều đó; ngôn ngữ của Bush làm các nước khác xa lánh và tạo nên các phản ứng tiêu cực trên khắp thế giới một phần vì nó không thu hút được mọi tiềm năng trong vai trò là một cường quốc thế giới của Hoa Kỳ.

Nhưng sức mạnh của Hoa Kỳ có cái đáy cùng cũng như là cái nắp chặn phía trên. Y như sự thất bại tại Việt Nam cuối cùng làm gia tăng mối liên hệ của chúng ta với các nước Á Châu khác thình lình bỗng sợ hãi chuyện chúng ta có thể bỏ rơi vùng này trong một cuộc rút lui toàn diện, nhưng những khó khăn mà chính quyền Bush trải qua, như nhiều nhà phê bình đã tiên đoán, đã không dẫn tới sự sụp đổ toàn diện của vị thế Hoa Kỳ trên thế giới. Một Hoa Kỳ đã tu tỉnh và còn hùng mạnh, dù ít dù nhiều, vẫn là điều mà hầu hết thế giới còn cần tới. Họ muốn một Hoa Kỳ đủ mạnh để bảo vệ cho sự thăng bằng quyền lực tại Âu Châu, Á Châu và Trung Ðông, nhưng không được hùng mạnh và tự phụ quá để họ tin là nước này có thể dùng sức mạnh đó mà tái tạo lại thế giới trong đoản kỳ.

Nhiều người Âu Châu (đặc biệt là tại Ðức và Pháp) đã nói với tôi trong nhiệm kỳ đầu của Tổng Thống Bush rằng họ hy vọng Hoa Kỳ sẽ chiến thắng tại Iraq một khi cuộc chiến đã khởi sự - nhưng họ hy vọng chiến thắng đó sẽ đến chậm và đủ đau thương để chúng ta không muốn lặp lại kinh nghiệm chiến tranh. Ðiều này, dù ít dù nhiều, đang là sự thật, và ngày nay chính những người Âu Châu được nói tới đó lại tỏ ra lo lắng hơn về chuyện Tổng Thống Obama sẽ không đủ quyết tâm dùng tới sức mạnh của Hoa Kỳ thay vì lo sợ về sự ngạo mạn và kiêu hãnh của Hoa Kỳ.

Ðối với các nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ, điểm được đề cập ở đây là chúng ta phải hiểu cả sức mạnh tự nhiên lẫn cái giới hạn tự nhiên trong vị thế của Hoa Kỳ. Chúng ta muốn và cần phải hoạt động trong vùng đất chính giữa sự rút lui vô trách nhiệm và sự khẳng định mình một cách xấc xược. Nếu chúng ta làm được như vậy, chúng ta vẫn còn phải đối mặt với các khó khăn trên thế giới, nhưng đa phần là chúng ta sẽ được các nước bạn và đồng minh đứng về phía chúng ta mà đối phó với các vấn đề.

Về lâu về dài, những gì các nhà hoạch định chính sách Mỹ cần phải nhớ (và những gì tôi e rằng quá nhiều người trong hai đảng hay quên trong mấy thập niên qua) là vị thế và nền an ninh quốc tế của Hoa Kỳ cuối cùng tùy thuộc vào sức mạnh của nền kinh tế trong nước của chúng ta - và rồi theo đó thì nền kinh tế sau cùng lại tùy thuộc vào sự sinh động, việc tự trông cậy vào chính mình, và đặc tính biết xoay xở thật sự của dân chúng Mỹ. Trừ phi các định chế giáo dục, văn hóa và chính trị của chúng ta đáp ứng và ủng hộ những đặc điểm này, sức mạnh của Hoa Kỳ có thể mai một ngay chính trong cốt lõi của nó.

Thật không biết trước được liệu các hậu quả của sự thể này [các nhà hoạc định chính sách Mỹ không nghe theo các ý kiến xây dựng nêu trên] có thể trở thành tệ hại cho dân tộc Mỹ hay cho thế giới, với nền hòa bình và thịnh vượng chung phần lớn tùy thuộc thật nặng nề vào những gì chúng ta làm. Nhưng tôi không hề nghi ngờ rằng hậu quả dành cho cả Hoa Kỳ lẫn thế giới bên ngoài sẽ ảm đạm hơn rất nhiều so với những gì thế giới từng chứng kiến từ trước tới nay trong thế kỷ đáng sợ mà giờ đây đã rút lui vào hậu trường sân khấu.

(Nguồn: In the Footsteps of the Kaiser: China Boosts US Power in Asia - Chuyển Ngữ: Vann Phan)
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »


Image

Tôi không có kẻ thù


Dưới đây là trích lược lời phát biểu của ông Lưu Hiểu Ba, nhà hoạt động nhân quyền Trung Hoa, đồng tác giả của Hiến chương 08, phổ biến tại phiên toà ngày 23/12/2009. Tháng Hai năm nay, toà kháng cáo giữ y án tù 11 năm.Bài phát biểu ngắn này đã phản ảnh khí phách một người dân chủ tại một xứ độc tài toàn trị. Trao tặng Lưu Hiểu Ba giải Nobel Hoà Bình 2010,


Uỷ Ban Nobel Hoà Bình đã thay mặt công luận thế giới, ghi nhận tầm cỡ của một khí phách, vì ông Lưu là một biểu tượng lớn của phong trào dân chủ và nhân quyền tại Trung Hoa, nói riêng, và tại các quốc gia khác còn đang chịu đựng sự đàn áp con người, nói chung.


Tháng Sáu 1989 là bước ngoặt lớn của cả cuộc đời 50 năm của tôi. Trước kia, tôi từng là một sinh viên trong lứa đầu tiên được tuyển sinh vào trường đại học vừa mở cửa lại sau Cách Mạng Văn Hoá; đường học của tôi diễn tiến êm ả từ cấp cử nhân lên cao học rồi Tiến sĩ. Sau khi tốt nghiệp, tôi được giữ làm giảng viên trường Đại Học Bắc Kinh.

Trên bục giảng, tôi là một thầy giáo được nhiều sinh viên biết đến. Tôi cũng là một trí thức của công chúng: những năm 1980, tôi viết nhiều bài báo và sách có tiếng vang. Tôi thường đi lại nhiều nơi diễn thuyết, được mời đi thỉnh giảng tại Châu Âu và Hoa Kỳ. Tôi đòi hỏi ở mình đức chân thực, tinh thần trách nhiệm, và lòng tự trọng cả trong đời sống lẫn trong bài viết.

Sau đó, khi tôi từ Hoa Kỳ trở về, tôi tham gia phong trào sinh viên 1989, bị tù vì “tuyên truyền phản cách mạng và kích động bạo loạn”, bị tước mất vị thế tôi trân trọng; tôi bị cấm không được viết lách hay diễn thuyết tại Trung Quốc. Chỉ vì mỗi một chuyện là phát biểu quan điểm khác biệt về chính trị và tham gia các phong trào dân chủ và hoà bình, mà một thầy giáo phải xa bục giảng, người cầm bút bị cấm xuất bản, và người trí thức thì mất cơ hội nói với công chúng. Điều này đáng buồn cho cá nhân tôi đã đành, mà còn cho cả đất nước Trung Hoa sau ba thập niên đổi mới và mở cửa.

Xem nào, những trải nghiệm nặng nề nhất của tôi từ sau biến cố 4 Tháng Sáu 1989 đều dính dáng với toà án; hai dịp mà tôi có điều kiện nói với công chúng đều là tại toà án sơ thẩm Bắc Kinh, một lần vào Tháng Giêng 1991 và lần này. Tuy rằng tội danh vào mỗi dịp đều khác nhau, về thực chất cả hai đều là tội danh liên quan đến quyền tự do ngôn luận.

Đã hai mươi năm qua, những linh hồn trong trắng của biến cố 4 Tháng Sáu vẫn chưa được yên nghỉ, và tôi, một kẻ đã đi trên con đường bất đồng chính kiến vì nhiệt tâm với 4 Tháng Sáu, sau khi rời nhà tù Tần Thành năm 1991, đã bị cấm ăn nói tại chính quê hương mình, và chỉ được phép phổ biến quan điểm của mình qua truyền thông hải ngoại, vì thế bị theo dõi suốt nhiều năm qua; bị quản chế (Tháng Năm 1996 – Tháng Mười 1999), và bây giờ bị đẩy vào thế đứng kẻ thù của chế độ.

Tuy nhiên tôi muốn nói với chế độ đã tước đoạt quyền tự do của tôi, rằng tôi vẫn thuỷ chung với niềm tin của mình mà tôi từng bày tỏ hai mươi năm trước, khi tôi phát biểu tại kì tuyệt thực – Tôi không có kẻ thù, không có lòng căm thù. Không một nhân viên an ninh theo dõi, bắt giữ và thẩm vấn tôi, công tố viên kết tội tôi, hay vị chánh án đã xử án tôi, không ai là kẻ thù tôi cả. Mặc dù tôi không thể chấp nhận sự theo dõi, bắt bớ, kết tội, tuyên án của các vị, tôi vẫn tôn trọng nghiệp vụ và nhân cách của các vị. Kể cả sự buộc tội lần này: Tôi biết các vị tôn trọng tôi và giữ sự chân tình trong lúc thẩm vấn tôi hôm 3 Tháng Mười Hai.

Bởi vì lòng thù hận chỉ làm hoen rỉ sự khôn ngoan và ý thức của ta; não trạng thù hận có thể làm hỏng hồn tính một quốc gia, gây ra bao nhiêu là bạo động oan khiên cho vạn sinh linh, phá hỏng lòng khoan hoà và tình người của một xã hội, và ngăn chặn bước tiến của một quốc gia trên hành trình về tự do dân chủ. Do vậy tôi mong rằng mình sẽ có thể vượt lên khỏi những thăng trầm của số phận một cá nhân nhỏ bé để mà hiểu được sự phát triển của quốc gia và những đổi thay của xã hội, vượt qua thái độ thù hận mà chế độ dành cho tôi bằng thái độ chín hđính nhất, và lấy tình thương để gỡ bỏ sự thù hận.

Tôi vững tin rằng tiến bộ chính trị tại Trung Hoa sẽ không bao giờ ngừng lại, và tôi hoàn toàn lạc quan chờ đợi ngày tự do đến với Trung Hoa trong một tương lai không xa, bởi sẽ không có thế lực nào có thể cản trở khát vọng tự do của con người. Sẽ có ngày Trung Hoa trở thành một quốc gia pháp trị, ở đó quyền con người là tối thượng. Tôi cũng chờ đợi bước tiến ấy thể hiện cụ thể qua phiên toà này, và chờ đợi một phán quyết công bằng của toà như một phép thử của lịch sử.




Những người biểu tình đòi tự do cho ông Lưu Hiểu Ba bên ngoài Bộ ngoại giao TQ hôm 08/10/2010
Hỏi rằng trong hai thập niên qua, điều gì là một trải nghiệm may mắn nhất đời tôi, tôi không ngần ngại mà nói rằng đấy là tình yêu tràn đầy của Lưu Hà, người vợ thân yêu. Em không thể có mặt tại phiên toà hôm nay, nhưng anh vẫn muốn bày tỏ với người yêu dấu của anh một điều, rằng anh vẫn vững tin vào tình yêu bền chặt của chúng ta. Đã bao năm nay, trong hoàn cảnh đời sống mất tự do, tình yêu chúng ta đã chỉ có lắm chua xót vì ngoại cảnh đưa đẩy, nhưng nó vẫn bay bổng khỏi những rào chắn. Anh bị giam cầm trong một nhà tù nhỏ, còn em thì vẫn đang vò võ đợi anh trong nhà tù lớn.

Tình yêu em là ánh sáng đã giúp anh vượt qua những bức tường và thanh sắt, vẫn dịu dàng trên từng li tấc da thịt anh, sưởi ấm từng tế bào cơ thể anh, giúp anh giữ lòng mình được thanh thản, cao thượng và trong sáng, vì vậy mỗi phút giây trong nhà tù vẫn tràn đầy ý nghĩa. Bù lại, tình yêu anh dành cho em toàn là sự thống hối, có khi làm nặng trĩu từng bước chân đi. Anh là một viên đá tảng nặng nề nơi chốn hoang vu, hứng chịu những nghiệt ngã của bão tố, và trở thành lạnh băng trước nhân gian. Nhưng tình yêu anh vẫn bền,sắc, và có thể vượt qua bao cản ngại. Cho dù ai có nghiền nát anh, anh vẫn nguyện ôm ấp em bằng tro than của mình.

Có tình yêu em, người yêu dấu ơi, anh sẽ nhìn thẳng vào phiên toà hôm nay với lòng thanh thản, không tiếc hận về những chọn lựa của mình, và vẫn lạc quan tin tưởng vào một ngày mai. Anh chờ đợi đất nước chúng ta sẽ trở thành xứ sở tự do, ở đó tiếng nói của mọi công dân được đối xử ngang nhau; ở đó mọi khác biệt về giá trị, quan điểm, niềm tin, chính kiến… đều được quyền tương tranh và cộng tồn bên nhau trong hoà bình; ở đó quan điểm của đa số và thiểu số đều được bảo đảm, nhất là những chính kiến khác biệt với quan điểm quan phương chính thống sẽ được tôn trọng và bảo vệ; ở đó tất cả mọi quan điểm chính trị đều được công khai cho nhân dân lựa chọn; ở đó mọi công dân sẽ được quyền biểu đạt chính kiến mà không phải sợ hãi, không bị trấn áp vì cất tiếng nói bất đồng.

Tôi mong mỏi rằng bản thân mình sẽ là nạn nhân cuối cùng của chuỗi dài truy đuổi bất tận những kẻ bất đồng tại Trung Hoa, và rằng sau tôi sẽ không ai còn phải chịu cảnh tù đày vì bày tỏ quan điểm của mình.

Quyền tự do phát biểu là cơ sở của nhân quyền, là nguyên uỷ của nhân tính và là mẹ của sự thật. Cấm đoán tự do ngôn luận là giày xéo lên quyền con người, bóp nghẹt nhân tính, và trấn áp sự thật.

Tôi không thấy mình có tội gì khi sử dụng quyền tự do phát biểu hiến định, để làm tròn trách vị công dân của mình. Dẫu có bị kết tội vì đã làm thế, tôi cũng chẳng than phiền điều gì cả.

Liu Xiaobo (Lưu Hiểu Ba)
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

MỘT HOÀNG HÔN THÊ LƯƠNG

trích phần KẾT LUẬN trong tác phầm Việt Nam Ngay Mai
của Cựu Thẩm Phán VNCH Phạm Đình Hưng
Trước các diễn biến tồi tệ của tình hình trong nước, người Việt tị nạn cộng sản tại hải ngoại không khỏi lo lắng cho tiền đồ của dân tộc Việt Nam. Riêng cá nhân tác giả thường tự hỏi: Nêu đảng Cộng Sản Việt Nam còn tiếp tục thống trị ước ta một vài thập niên nữa, dân tộc Việt sẽ còn tồn tại hay không trước chánh sách đồng hóa tinh vi của Hán tộc đang âm thầm áp dụng trong hoàn cảnh đất nước chung ta trong thực tại đã trở thành một nước lệ thuộc Trung Quốc về mọi mặt giống như Tây Tạng, Tân Cương. Mãn Châu và Mông Cổ. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho ký giả Đinh Quang Anh Thái của Nhựt báo Ng­ưi Việt vào tháng 7 năm 2009, ông Hà Sĩ Phu Nguyễn Xuân Tụ ở Đà Lạt cũng đã nói lên nguy cơ "Mất Dân tộc".

I- NHƯNG LẦM LỠ LỊCH SỬ

1- Năm 1945, Việt Nam đã để mất cơ hội thành lập một chế độ quân chủ lập hiến với một nhà vua có tinh thần cấp tiến như Cự Hoàng Duy Tân hoặc Hoàng đế Bảo Đại để duy trì sự ổn định chính trị trong một tân quốc gia độc lập và tượng trưng sự liên tục lãnh đạo quốc gia của nhà Nguyễn. Cựu Hoàng Duy Tân, nhân vật sáng giá đã được Thủ tướng Charles De Gaulle của chánh phủ lâm thời Pháp sau ngày giải phóng nước Pháp mời trở về lãnh đạo quốc gia Việt Nam, đã không may bị tử nạn phi cơ tại nước Cộng Hòa Trung Phi trên đường bay về đảo Reunion thăm gia đình. Cũng trong năm lịch sử đáng ghi nhớ nầy, Hoàng đế Bảo Đại đang tại vị tại Huế đã vội vàng thoái vị trước áp lực của Việt Minh sau ngày đảng Cộng sản Việt Nam cướp chánh quyền tại Hà Nội (19-08-1945) để tránh xảy ra một cuộc nội chiến. Trong chiếu chỉ thoái vị, Hoàng đế Bảo Đại đã tuyên bố minh thị lý do từ bỏ ngai vàng: tránh đỗ máu của người Việt. Sự cáo chung của chế độ quân chủ năm 1945 đã mở màn cho các hỗn loạn và thảm sát trên đất nước Việt Nam trên 34 năm và đưa đến nhiều thảm cảnh cho đồng bào quốc nội hiện nay.

2- Người lãnh tụ đảng Cộng sản Việt Nam đã cướp được chánh quyền trên cả nước Việt Nam năm 1945 là Nguyễn Tất Thành lấy bí danh Hồ Chí Minh của nhà cách mạng Việt Nam Hồ Học Lãm qua đời tại Quảng Tây năm 1943. Sau khi Thế chiến 2 vừa chấm dứt với sự đầu hàng của Nhựt Bổn, lòng yêu nước nồng nhiệt của nhân dân Việt Nam đã thục đẩy người dân Việt lao mình vào phong trào giải phóng dân tộc và tham gia Mặt trận Việt Minh để kháng chiến chống Pháp. Quảng dại quần chúng hoàn toàn không biết Việt Minh là một tổ chức ngoại vi của đảng Cộng Sán Việt Nam và Hồ Chí Minh là một cán bộ của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản đã lảnh lương công tác từ năm 1924 dưới quyền chỉ huy của Josef Stalin, Tổng Bí thư đảng Cộng Sán Liên Xô và Mao Trạch Đông, Chủ tịch đảng Cộng Sản Trung Quốc. Dưới nhiều bí danh, Hồ Chí Minh đã phục vụ Cộng Sản quốc tế tại Nga, Quảng Đông, Thái Lan, Hong Kông, Diên An và Hoa Nam trước khi về Việt Nam. Những người tham gia hàng ngũ Việt Minh đã không ngờ lòng yêu nước của họ đã bị Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam lợi dụng để thực hiện mục tiêu xây dựng một chế độ cộng sản độc tài toàn trị tại Việt Nam và trên bán đảo Đông Dương dưới chiêu bài giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân Pháp.

Nhận lãnh nhiệm vụ do đảng Cộng Sản Trung Quốc giao phó, Hồ Chí Minh đã từ Diên An trở về Hoa Nam và Việt Nam vào đầu thập niên 1940 ẩn trú trong hang Pác Bó ở Cao Bằng dưới sự bảo vệ của cán binh Trung Cộng để chuẩn bị chiếm đoạt chánh quyền theo kế hoạch của Mao Trạch Đông nhằm mục đích tái lập ảnh hướng của Trung Quốc đối với Việt Nam. Người cán bộ cộng sản quốc tế nầy tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác-Lê-nin, triệt để thi hành các chỉ thị của Liên Xô và Trung Cộng, liên tục tiến hành hai cuộc Chiến Tranh Việt Nam dưới danh nghĩa giải phóng dân tộc và thống nhứt đất nước nhưng thật sự nhằm mục tiêu bành trướng chủ nghĩa cộng sản trên bán đảo Đông Dương. Dưới quyền lãnh đạo của Hồ Chí Minh, đảng Cộng Sản Việt Nam đã đẩy mạnh chiến tranh với sự viện trợ của Trung Quốc và Liên Xô để chiếm đoạt chánh quyền bằng bạo lực cách mạng, sẳn sàng hy sinh xương máu của dân tộc Việt và tàn phá đất nước trong vài chục năm, thậm chí cả trăm năm như lời tuyên bố của Lê Duẫn, kẻ kế vị Hồ Chí Minh sau khi y xuống tuyền đài chầu Karl Marx và Lenin. Dưới tác động lừa gạt của bộ máy tuyên truyền cộng sản đại bộ phận dân tộc Việt Nam tại nông thôn đã lầm tưởng Hồ Chí Minh là người yêu nước và đảng Cộng Sản Việt Nam có chánh nghĩa khi gây ra hai cuộc nội chiến gọi là chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ cứu nước. Sự hậu thuẫn của hai giai cấp nông dân và công nhân đã giúp cho đảng Cộng Sản Việt Nam thành công trong việc xây dựng chế độ độc tài toàn trị trên cả nước từ năm 1975.

3- Khác hẳn Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam, phía người Việt quốc gia dưới sự lãnh dạo ôn hòa của cựu Hoàng Bảo Đại đã lựa chọn đường lối thương thuyết để thu hồi độc lập và thống nhứt đất nước bằng việc ký kết hiệp ước Elysee ngày 8 tháng 3 năm 1949 giữa Cựu Hoàng Bảo Đại và Tổng Thống Pháp Vincent Auriol. Trên cơ sở hiệp ước Elysee, Cựu Hoàng Bảo Đại đã xây dưng một Quốc Gia Việt Nam độc lập và thống nhứt mà không tốn một giọt máu của người dân Việt. Vào thời điểm thuận lợi đó, nếu toàn dân Việt Nam hậu thuẫn Quốc Gia Việt Nam do Quốc Trưởng Bảo Đại lãnh đạo để xây d­ng một nước Việt Nam độc lập và thống nhứt, cuộc nội chiến lần thứ nhứt giữa người Việt anh em ruột thịt đã không kéo dài đến năm 1954 và đất nước Việt Nam đã không bị chia cắt ra hai miền Nam Bắc sau trận Điện Biên Phủ. Nếu đảng Cộng Sản Việt Nam thật sự yêu nước và quý trọng sự sinh tồn của dân tộc Việt, sự ký kết hiệp ước Pháp-Việt 1949 tại điện Elysee ở Paris là một cơ hội tốt để chấm dứt chiến tranh, bảo tồn sinh lực của dân tộc và đoàn kết mọi người dân Việt không phân biệt ý thức hệ, đảng phái, tôn giáo, địa phương sát cánh với nhau phát triển đất nước, đưa dân tộc Việt Nam lên ngang hàng với hai dân tộc Nhựt và Đại Hàn.

Nhưng rất tiếc mục tiêu cuối cùng của đảng Cộng sản Việt Nam là bành trướng chủ nghĩa cộng sản chớ không phải là quốc gia và dân tộc Việt Nam. Vì chủ nghĩa vô sản quốc tế, đảng Cộng Sản Việt Nam đã tiếp tục chiến tranh với viện trợ của Nga-Hoa, hy sinh cả chục triệu người dân Việt để chiếm đoạt chánh quyền trên cả nước, nô lệ hóa dân tộc Việt Nam, dìm đất nước trong tình trạng chậm tiến và biến nước ta thành một thuộc quốc của Tàu. Đại họa Bắc thuộc lại tái diễn trên đất nước Việt Nam bất hạnh và khốn khổ dưới ách nội thực (auto-colonialism) của đảng Cộng Sản Việt Nam, một chi bộ của đảng Cộng Sản Trung Quốc.

Hiệp ước Elysee năm 1949 là một hành động ngoại giao song phương của hai nước Pháp và Việt Nam. Nhưng 4 năm trước đó, ngày 11 tháng 3 năm 1945, Hoàng đế Bảo Đại của Việt Nam đã có một hành động đơn phương tuyên bố nước Việt Nam độc lập đối với Pháp: hai ngày sau khi Nhựt đảo chánh Pháp tại Đông Dương (9 tháng 3 năm 1945), Hoàng đế Bảo đại đã lập tức tuyên bố hủy bỏ tất cả các hiệp ước bất bình đẳng của Việt Nam đã ký kết với Pháp trong thế kỷ 19 (hiệp ước 1874 nhượng Nam Kỳ làm thuộc địa của Pháp và hiệp ước 1884 công nhận nền bảo hộ (protectorat) của Pháp tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ). Hành động yêu nước đơn phương nầy của Hoàng đế Bảo Đại đã làm cho chánh quyền Pháp rất tức giận. Đó là một bản Tuyên Ngôn Độc Lập thứ nhứt của nước Việt Nam. Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã cố tình ém nhẹm sự kiện lịch sử quan trọng nầy để nhân dân Việt Nam chỉ biết Hồ Chí Minh là người công bố ngày 2 tháng 9 năm 1945 bản Tuyên Ngôn Độc Lập đâu tiên của nước Việt Nam. Lịch sử phải công bằng và trung thực. Của Ceasar phải trả lại cho Ceasar. Trong hậu bán thế kỷ 20, Cựu Hoàng Bảo Đại đã bị tô vẽ như là một nhà vua chỉ biết ăn chơi mà thôi. Vì vậy, ít ai biết rằng Cựu Hoàng Bảo Đại đã có nhiều hành động yêu nước, ích quốc lợi dân và cấp tiến.

4- Nếu năm 1963 Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã không bị đảo chánh và hạ sát, quốc sách áp Chiến Lược đã có khả năng quét sạch Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, một tổ chức chánh trị bù nhìn do đảng Cộng Sản Việt Nam dàn dựng để có danh nghĩa xâm lược miền Nam. Vì muốn đổ quân vào miên Nam can thiệp quân sự vào cuộc tranh chấp giữa miền Nam tự do và miền Bắc cộng sản, Hoa Kỳ đã làm mất chánh nghĩa của cuộc chiến đấu bảo vệ tự do, dân chủ và nhân quyền của quân dân miền Nam. Công điện ngày 24-08-1963 của bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ gởi cho Đại sứ Cabot Lodge ra lịnh đảo chánh Tổng Thống dân cử Ngô Đình Diệm đã làm yếu hắn khả năng lãnh đạo và nghiên cứu chiến lược của Việt Nam Cộng Hòa.

5 - Nếu sau khi rút quân khỏi miền Nam Việt Nam và lấy lại tù binh Mỹ từ ngục tù cộng sản Bắc Việt, Hoa Kỳ tiếp tục viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa để tự lực chiến đấu bảo vệ lãnh thổ và nhân dân miền Nam như chánh quyền Bush và Obama đang giúp đỡ chánh quyền Irak của Thủ tướng Maliki hiện nay, quân dân miền Nam thừa sức chận đứng tất cả các cuộc xâm lăng từ miền Bắc. Thay vì tiếp tục viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa, chánh quyền Nixon đã trắng trợn phản bội đồng minh, và chuyến giao miền Nam cho cộng săn để trao đổi nhiều quyên lợi kinh tế với Trung Quốc.

II-HIỆN TRẠNG VIỆT NAM

Sau Thế Chiến 2, nước Việt Nam đã kém may mắn hơn các nước cựu thuộc địa Á Châu vì có sự hiện diện của Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam. Sự tranh chấp ý thức hệ giữa người Việt cộng sản và người Việt quốc gia đã cản trở sự hợp tác của toàn dân Việt trong việc xây dựng đất nước và củng cố nền độc lập vừa thu hồi từ tay người Pháp. Dưới sự dạy dỗ của Hồ Chí Minh, người cộng sản Việt Nam đã xem chủ nghĩa Mác-Lênin là một lý tưởng cần phải thực hiện bằng mọi giá. Nhưng họ đã hoàn toàn không biết rằng Liên Xô và Trung Quốc chỉ xem chủ nghĩa cộng sản là một lợi khí đề đánh phá Hoa Kỳ và các nước Tây phương. Khi nào Liên Xô và Trung Quốc phát triển ngang bằng hoặc hơn các nước Tây phương, hai nước đầu đàn của khối cộng sản sẽ vứt bỏ không thương tiếc chủ nghĩa cộng sản. Nước Nga thật sự đã làm việc nầy năm 1991. Trung Quốc ngày nay về thực chất cũng đã biến thể thành một nước tư bản sơ khai trong hậu bán thế kỷ 19 tại Tây Âu. Giống y như Trung Quốc, nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ngày nay trong thực tế cũng là một nước tư bản sơ khai núp dưới tấm bình phong cộng sản để lợi dụng đặc quyền chuyên chính vô sản. Các nhà tư bản đỏ nắm quyền lực hiện nay tại Việt Nam có phải là người vô sản hay không?

Sự thù địch của Liên Xô và Trung Quốc đối với các nước Tây phương đã dẫn đến hai cuộc chiến tranh đẵm máu kéo dài 30 năm giữa người Việt anh em khác biệt chánh kiến, ý thức hệ và thành phần giai cấp. Hậu quả của hai cuộc Chiến Tranh Việt Nam vô cùng tai hại cho đất nước và dân tộc Việt Nam. Quê hương đất tố của chúng ta đã bị tàn phá nặng nề. Dưới quyền lãnh đạo của đảng Cộng Sản, lãnh thổ và lãnh hải của nước Việt Nam đã bị thu hẹp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam đã bị ông láng giềng Trung Quốc "vĩ đại" lấn chiếm, kiểm soát và khai thác Vịnh Bắc Việt (Gulf of Tonkin) đã bị chia đôi cho Trung Quốc, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã bị dâng hiến cho thiên triều Bắc Kinh để trả nợ chiến tranh lần thứ nhứt. Ngay cả quyền đánh cá và khai thác các tài nguyên của biên cả trong phạm vi lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam cũng bị Trung Quốc ngăn cấm một cách thô bạo. Cao nguyên Trung Phần Việt Nam đã bị Trung Quốc âm thầm xâm chiếm và hủy diệt môi trường sống dưới hình thức hợp tác khai thác bô xít (bauxite) giống y như hợp tác đánh cá ngoài biển Đông. Ngày 6 và 7 tháng 5 năm 2009, khi đệ nạp hồ sơ thềm lục địa của Việt Nam cho Liên Hiệp Quốc, bộ Ngoại Giao nước Cộng Hòa xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chỉ đặt vấn đề chủ quyền của Việt Nam trên thềm lục địa ở phía Nam quần đảo Hoàng Sa và phía Bắc quần đảo Trường Sa để tránh đụng chạm quyền lợi với Trung Quốc. Nói rõ hơn, Cộng sản Việt Nam ngày nay đã chánh thức hóa trước Liên Hiệp Quốc sự chuyển nhượng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc theo giác thư ngày 14 tháng 9 năm 1958 của Phạm văn Đồng, Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng.

Sau 30 năm hy sinh xương máu của cả chục triệu sinh mạng đồng bào để bành trướng chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa quốc tế đại đồng, dân tộc Việt đã bị áp đặt dưới sự lệ thuộc Trung Quốc về mọi mặt, kéo dài kiếp sống nghèo khổ, lầm than, lạc hậu, bị khinh miệt ở trong nước và ngoài nước, bị tước đoạt quyền làm người và tất cả quyền tự do dân chủ của công dân một nước độc lập. Lời phát biểu trung thực của Đức Tổng Giám mục địa phận Hà Nội Ngô Quang Kiệt đã phản ánh đúng đắn nỗi tủi nhục của người Việt mỗi khi đi ra nước ngoài. Do chủ trương đấu tranh giai cấp và chia để trị của đảng Cộng Sản Việt Nam áp dụng trong thời chiến tranh, dân tộc Việt đã bị chia rẽ trầm trọng. Hận thù giữa người Việt quốc gia và người Việt cộng sản đã tăng thêm gấp bội từ ngày đảng Cộng Sản Việt Nam áp dụng chánh sách trả thù tàn ác đôi với dân, quân, cán, chánh miền Nam sau ngày Việt Nam Cộng Hòa bị đồng minh Hoa Kỳ bức tử để chuyển giao miền Nam Việt Nam cho cộng sản. Việt Nam đã im tiếng súng từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 nhưng một cuộc chiến tranh lạnh vẫn còn tiếp diễn giữa một bên là quang đại quần chúng không cộng sản ở trong nước và 3 triệu người Việt quốc gia tị nạn cộng sản ở hải ngoại chống lại một bên khác là đảng Cộng Sản Việt Nam với 3 triệu đảng viên đang bám chặt quyền bính và vô số đặc quyền đặc lợi đã chiếm hữu từ năm 1945 đến nay bất chấp mọi nguyện vọng chánh đáng của nhân dân Việt Nam.

Sau trên nứa thế kỷ thống trị của đảng Cộng Sản, nhân dân Việt Nam cần phải mạnh dạn phán xét Hồ Chí Minh và tập đoàn lãnh đạo cộng sản căn cứ vào các chủ tr­ơng và hành động cụ thể của họ. Huyền thoại Hồ Chí Minh do đảng Cộng Sản Việt Nam dàn dựng có đáng được đồng bào người Việt tin tưởng hay không? Hai cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm do Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam gây ra theo chỉ thị của hai đế quốc Nga-Hoa có đem lại độc lập cho đất nước, tự do và hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam hay không? Sau ngày đánh đuôi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, lãnh thổ Việt Nam còn nguyên vẹn hay không trước tham vọng bành trướng của Trung Quốc, một kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam từ ngày lập quốc đến nay? Phải chăng dân tộc Việt Nam đã phải trả một giá quá đắt để thực hiện một trò "dịch chủ tái nô" do Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam chủ động vì bã vinh hoa, mùi phú quý? Xương máu của cả chục triệu đồng bào đã bị Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản hy sinh để chuyển giao quyền thống trị nước ta từ tay người Pháp qua người Tàu. Ngoài tội bán nước cho Trung Quốc, chế độ cai trị của bọn thực dân nội địa ngày nay còn khắc nghiệt và tệ hại hơn chế độ thực dân Pháp gấp bội phần.

Nói tóm lại, đảng Cộng Sản Việt Nam phải hoàn toàn chịu trách nhiệm đã gây ra nguy cơ mất nước và mất dân tộc Việt Nam đang ló dạng trên quê hương thân yêu của chứng ta.

Trước âm mưu của Trung Cộng muốn sáp nhập Việt Nam vào lãnh thổ Trung Quốc và Hán hóa dân tộc Việt với sự tiếp tay của tập đoàn lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay do hai Thái thú bản xứ Nông Đức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng đứng đầu, Nhân dân Việt Nam ở trong và ngoài nước phải dũng căm đứng lên bảo vệ độc lập của Tổ quốc, sự toàn vẹn của lãnh thổ, sự sinh tồn và giá trị của dân tộc Việt Nam. Chỉ có Nhân dân Việt Nam đoàn kết một lòng mới có đủ sức mạnh để đập tan đại họa nội thực và ngoại xâm từ phương Bắc. Nền Đệ Tam Cộng Hòa phải được thành lập nhanh chóng để giải cứu nước Việt Nam khỏi quốc nạn cộng sản và ách đô hộ của đế quốc Trung Hoa.

Cầu xin Thượng Đế sớm cứu vớt dân tộc việt Nam và đem lại cho đất nước Việt Nam một ngày mai tươi sáng.

Viết xong ngày 29 tháng 10 năm 2009

Westminster, Califomia, Hoa Kỳ
Mùa Thu năm 2009 (năm Kỷ Sửu)

Tác giả. PHẠM ĐÌNH HƯNGCựu Thẩm Phán VNCH
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

ĐÂU LÀ CHỖ THỰC SỰ ĐÁNG SỢ CỦA NƯỚC MỸ?
(Đây là phần lược dịch bài nói ngày 11/9/2002 của ông Lưu Á Châu, hiện đang là Chủ nhiệm chính trị bộ đội Không quân của Quân khu Bắc Kinh.)

Trong quá khứ, vì để giúp Trung Quốc thoát khỏi ách thống trị thực dân mà Mỹ đánh bại Nhật, họ có cống hiến lớn đối với tiến bộ văn minh của xã hội Trung Quốc.

Hai nước Trung Quốc- Mỹ không có xung đột lợi ích căn bản. Ngày nay, do lợi ích của Mỹ rải khắp toàn cầu nên 2 nước có xung đột. Nhưng chúng ta vẫn phải dùng tấm lòng đạo đức để bình xét sự vật chứ không thể kích động. Tôi từng nói rằng đối với Nhật, một nước từng tàn sát mấy chục triệu đồng bào ta, mà chúng ta thường xuyên nói 2 nước "phải đời đời kiếp kiếp hữu hảo với nhau". Thế thì chúng ta có lý do nào để căm ghét nhân dân Mỹ từng giúp ta đánh bại Nhật?

Đâu là chỗ thực sự đáng sợ của nước Mỹ?

Tuy rằng Mỹ có quân đội mạnh nhất thế giới, khoa học kỹ thuật tiên tiến nhất thế giới, nhưng tôi cho rằng những cái đó không đáng sợ. Nghe nói máy bay tàng hình của Mỹ thường xuyên ra vào bầu trời Trung Quốc rất thoải mái, nhưng điều ấy chẳng có gì đáng sợ cả. Cái đáng sợ của họ không phải là những thứ ấy.

Năm 1972, tôi học ở Đại học Vũ Hán, lên lớp giờ chính trị. Một thầy giáo khoa chính trị nói: "Nước Mỹ là đại diện của các nước tư bản mục nát, suy tàn, đã sắp xuống mồ, hết hơi rồi." Tôi, một sinh viên công nông binh mặc bộ quân phục, đứng ngay lên phản bác: "Thưa thày, em cảm thấy thầy nói không đúng ạ. Tuy rằng nước Mỹ không giống Trung Quốc là mặt trời nhô lên lúc 8- 9 giờ sáng, nhưng Mỹ cũng chẳng phải là mặt trời đang lặn gì gì đó, mà là mặt trời lúc giữa trưa ạ."

Thầy giáo bực mình, tái mét mặt ấp úng nói: "Cái cậu học sinh này, sao dám nói thế hả!" Ông ấy không hỏi tôi tại sao lại nói thế, mà dùng một chữ "dám". Lúc đó tôi thấy hết tâm trạng của ông. Chính là cái nước tư bản mục ruỗng suy tàn ấy vào thập niên 90 thế kỷ trước đã lãnh đạo cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật mới nhất trên thế giới. Tôi tốt nghiệp đại học đúng vào lúc bắt đầu cải cách mở cửa. Tôi lại có một quan điểm: Nước Mỹ là quốc gia do hàng chục triệu con người không yêu tổ quốc mình hợp thành, nhưng họ đều rất yêu nước Mỹ. Hồi ấy rất nhiều người lãnh đạo vừa chửi Mỹ vừa gửi con cái mình sang Mỹ. Một sự tương phản lớn!

Nói một thôi một hồi rồi, vậy thì cái đáng sợ của Mỹ là ở đâu? Tôi cảm thấy có ba điểm.

Điểm thứ nhất, không thể coi thường cơ chế tinh anh của Mỹ. Chế độ cán bộ, chế độ tranh cử của Mỹ có thể bảo đảm những người quyết sách đều là tinh anh. Bi kịch của Trung Quốc chúng ta, lớn đến nhà nước, nhỏ tới từng đơn vị, phần lớn tình hình là người có tư tưởng thì không quyết sách, người quyết sách thì không có tư tưởng. Có đầu óc thì không có cương vị, có cương vị thì không có đầu óc.

Nước Mỹ ngược hẳn lại, cơ chế hình tháp của họ đưa được những người tinh anh lên. Nhờ thế, 1 là họ không mắc sai lầm; 2 là họ ít mắc sai lầm; 3 là mắc sai lầm thì có thể nhanh chóng sửa sai. Chúng ta thì mắc sai lầm, thường xuyên mắc sai lầm, mắc sai lầm rồi thì rất khó sửa sai.

Mỹ dùng một hòn đảo Đài Loan nhỏ xíu để kiềm chế Trung Quốc chẵn nửa thế kỷ. Nước cờ này họ đi thật linh hoạt, thật thần kỳ. Một Đài Loan làm thay đổi hẳn sinh thái chính trị quốc tế. Điều tôi lo ngại nhất là bộ khung chiến lược phát triển Trung Quốc trong thế kỷ mới sẽ vì vấn đề Đài Loan mà biến dạng. Ngày nay, đối với các dân tộc có thế mạnh thì tính quan trọng của lãnh thổ đã giảm nhiều, đã chuyển từ tìm kiếm lãnh thổ sang tìm kiếm thế mạnh của quốc gia.

Người Mỹ không có yêu cầu lãnh thổ đối với bất cứ quốc gia nào. Nước Mỹ không quan tâm lãnh thổ, toàn bộ những gì họ làm trong thế kỷ XX đều là để tạo thế. Tạo thế là gì? Ngoài sự lớn mạnh về kinh tế thì là lòng dân chứ còn gì nữa! Có lòng dân thì quốc gia có lực ngưng tụ, lãnh thổ mất rồi sẽ có thể lấy lại. Không có lòng dân thì khẳng định đất đai anh sở hữu sẽ bị mất. Có nhà lãnh đạo quốc gia chỉ nhìn một bước. Nước Mỹ hành sự thường nhìn 10 bước. Vì thế cho nên mỗi sự kiện lớn toàn cầu xảy ra sau ngày Thế chiến II chấm dứt đều góp phần làm tăng cường địa vị nước Mỹ. Nếu chúng ta bị họ dắt mũi thì có thể sẽ mất hết mọi con bài chiến lược.

Tôi nhiều lần nói là trung tâm chiến lược của Mỹ sẽ không chuyển sang châu Á đâu, song điều đó không có nghĩa là Mỹ không bao vây Trung Quốc. Rất nhiều bạn chỉ thấy Mỹ bao vây Trung Quốc về quân sự, cũng như rất nhiều người chỉ thấy khoảng cách chênh lệch về KHKT và trang bị vũ khí giữa 2 nước mà chưa nhìn thấy sự mất cân đối nghiêm trọng hơn sự lạc hậu về trang bị trên mặt chiến lược lớn, nhất là trên tầng nấc ngoại giao.

Sau vụ 11/9, Mỹ nhanh chóng chiếm Afghanistan trong vòng 2 tháng, từ phía Tây bao vây Trung Quốc. Sức ép quân sự của Nhật, Đài Loan, Ấn Độ cũng chẳng bớt đi. Xem ra chúng ta giành được từ vụ 11/9 một số lợi ích trước mắt, song các lợi ích đó không quá 1- 2 năm có thể biến mất. Tôi cho rằng bao vây chiến lược đối với Trung Quốc là một kiểu khác, không phải là quân sự mà là siêu việt quân sự.

Bạn xem đấy, mấy năm gần đây các nước xung quanh Trung Quốc tới tấp thay đổi chế độ xã hội, biến thành cái gọi là quốc gia "dân chủ". Nga, Mông Cổ thay đổi rồi, Kazakhstan thay đổi rồi. Cộng thêm các nước trước đây như Hàn Quốc, Phillippines , Indonesia , lại cộng thêm vùng Đài Loan. Đối với Trung Quốc, sự đe doạ này còn ghê gớm hơn đe doạ quân sự. Đe doạ quân sự có thể là hiệu ứng ngắn hạn, còn việc bị cái gọi là các quốc gia "dân chủ" bao vây là hiệu ứng dài hạn.

Điểm thứ hai, sự độ lượng và khoan dung của nước Mỹ. Bạn nên sang châu Âu, sau đó sang Mỹ, bạn sẽ thấy một sự khác biệt lớn: Sáng sớm, các đường phố lớn ở châu Âu chẳng có người nào cả, còn tại Mỹ sáng sớm các phố lớn ngõ nhỏ đều có rất nhiều người tập thể dục, thậm chí cả ngày như thế. Tôi có một câu nói: Tập thể dục là một phẩm chất, tập thể dục đại diện cho một kiểu văn hoá khí thế hừng hực đi lên. Một quốc gia có sức sống hay không, chỉ cần xem có bao nhiêu người tập thể dục là biết.

Người Mỹ có thể lấy quốc kỳ làm quần lót để mặc. Hồi ở Mỹ tôi có mua một chiếc quần cộc cờ sao vạch. Tôi thường xuyên mặc chiếc quần ấy. Tôi mặc nó là để khinh miệt nó, là để trút giận, là một dạng trút sự bực bội và thoả mãn về tâm lý. Người Mỹ mặc nó là sự trêu chọc bỡn cợt, bản chất khác. Người Mỹ có thể đốt quốc kỳ nước mình ngoài phố. Đới Húc [7] nói: Nếu một quốc gia có thể đốt cả quốc kỳ của mình thì anh còn có lý do nào đi đốt quốc gia ấy nữa?

Điểm thứ ba, sức mạnh vĩ đại về tinh thần và đạo đức. Đây là điều đáng sợ nhất. Vụ 11/9 là một tai nạn. Khi tai hoạ ập đến, thể xác ngã xuống trước tiên, nhưng linh hồn vẫn đứng. Có dân tộc khi gặp tai nạn thể xác chưa ngã mà linh hồn đã đầu hàng. Trong vụ 11/9 có xảy ra 3 sự việc đều có thể để chúng ta qua đó nhìn thấy sức mạnh của người Mỹ. Việc thứ nhất, sau khi phần trên toà nhà Thương mại thế giới bị máy bay đâm vào, lửa cháy đùng đùng, tình thế ngàn cân treo sợi tóc. Khi mọi người ở tầng trên qua cửa thoát hiểm chạy xuống phía dưới, tình hình không rối loạn lắm.

Người ta đi xuống, lính cứu hoả xông lên trên. Họ nhường lối đi cho nhau mà không đâm vào nhau. Khi thấy có đàn bà, trẻ con hoặc người mù tới, mọi người tự động nhường lối đi để họ đi trước. Thậm chí còn nhường đường cho cả một chú chó cảnh. Một dân tộc tinh thần không cứng cáp tới mức nhất định thì dứt khoát không thể có hành vi như vậy. Đứng trước cái chết vẫn bình tĩnh như không, e rằng không phải là thánh nhân thì cũng gần với thánh nhân.

Việc thứ hai, hôm sau ngày 11/9, cả thế giới biết vụ này do bọn khủng bố người A Rập gây ra. Rất nhiều cửa hàng, tiệm ăn của người A Rập bị những người Mỹ tức giận đập phá. Một số thương nhân người A Rập cũng bị tấn công. Vào lúc đó có khá nhiều người Mỹ tự phát tổ chức đến đứng gác trước các cửa hiệu, tiệm ăn của người A Rập hoặc đến các khu người A Rập ở để tuần tra nhằm ngăn chặn xảy ra bi kịch tiếp theo.

Đó là một tinh thần thế nào nhỉ. Chúng ta thì từ xưa đã có truyền thống trả thù. Thành Đô nơi tôi ở, ngày xưa Đặng Ngải [8] sau khi chiếm được Thành Đô, con trai của Bàng Đức [9] giết sạch giá trẻ gái trai gia đình Quan Vũ. Trả thù đẫm máu, lịch sử loang lổ vết máu không bao giờ hết.

Việc thứ ba, chiếc máy bay Boeing 767 bị rơi ở Pennsylvania vốn dĩ bị không tặc dùng để đâm vào Nhà Trắng. Sau đấy hành khách trên máy bay vật lộn với bọn khủng bố nên mới làm máy bay rơi. Vì lúc ấy họ đã biết tin toà nhà Thương mại thế giới và Lầu Năm Góc bị máy bay đâm vào nên họ quyết định không thể không hành động, phải đấu tranh sống chết với bọn khủng bố.

Cho dù trong tình hình ấy họ còn làm một chuyện thế này: Quyết định biểu quyết thông qua có nên chiến đấu với bọn khủng bố hay không. Trong giờ phút quan hệ tới sự sống chết ấy, họ cũng không cưỡng chế ý chí của mình lên người khác. Sau khi toàn thể mọi người đồng ý, họ mới đánh bọn không tặc. Dân chủ là gì; đây tức là dân chủ. Ý tưởng dân chủ đã thấm vào sinh mạng của họ, vào trong máu, trong xương cốt. Một dân tộc như thế mà không hưng thịnh thì ai hưng thịnh. Một dân tộc như thế không thống trị thế giới thì ai có thể thống trị thế giới.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Vạch Áo Cho Mọi Người Cùng Xem

Phan Thanh Tâm
Ông Phan Thanh Tâm, tác giả bài này, là cháu năm đời của cụ Phan Thanh Giản. Trước 1975, ông làm ở Việt Tấn Xã, Saigòn. Sau 75, ông vượt biển trên một chiếc thuyền nhỏ 13 người từ năm 1976. Lưu lạc một tháng trời giáp một vòng bờ biển các nước Đông Nam Á, đâu đâu ông cũng bị người ta đẩy trở lui ra biển cả. Chặng cuối cùng là đảo Palawan, Phi Luật Tân, thuyền được nhận trở lại vào bờ, nhờ sự can thiệp của một ông cố đạo người Ý đang coi một họ đạo tại đảo này. Ông là một trong nhũng « thuyền nhân » đầu tiên được đặt chân lên đảo nói trên. Bài này viết cách đây sáu năm rồi, với một phong thái thẳng thắn, nhưng ôn hòa, về một vấn đền tự-bản khá gay gắt. Tác giả sẵn lòng cho phép đăng lại để độc giả có dịp chia sẻ những suy nghĩ với ông .

Tốt khoe ra, xấu xa đậy lại và nhất định không có chuyện vạch aó cho mọi người cùng xem. Đó là phương châm của phe ta. Tại sao vậy? Tự cho là thuộc dòng giống con rồng cháu tiên, và có quá khứ hơn bốn ngàn năm văn hiến nên người mình lúc nào cũng tốt , cũng bãnh, cũng anh hùng, xuất chúng. Hễ nói tới người ngọai quốc thì xách mé, trịch thượng; gọi họ bắng thằng, bắng con. Còn nước VN phải là minh châu trời đông, là bó đuốc soi đường. Tuy nhiên gần đây, có dư luận lên tiếng là phải xét lại cái ý tưởng tự tôn, tự đại, ngông cuồng đó. Họ cho rằng cứ hót ca, nâng bi dân tộc mình một cách lộ liễu như vậy hoài thì ta sẽ mãi mãi ngất ngư như con gà mắc dây thun. Chắc hằn phải có vấn đề, có trục trặc đâu đó vì tài khôn như vậy mà chưa ra cái con gì cả trong khi các nước lân bang ở Đông Nam Á nay đã là con cọp, con beo, con sư từ rồi.

Cái hay ở chỗ, người tạo ra dư luận là một nhà thơ hồi nhỏ ở Saigon, du học ỏ Nhật; năm 1966, định cư ở Pháp; năm 1996, trong khi sang Tàu, vớ đựơc một cuốn sách khiến ông “thích thú quá cơ” và ông nghĩ rằng “bất cứ người VN nào khác đọc được, bảo đảm cũng sẽ thích thú”' như ông. Ông tin rằng quyển sách sẽ “giúp nhìn lại mà đánh giá bản thân, dân tộc và văn hóa của mình trong giai đoạn hiện nay”. Vì thiện ý, ông bỏ công ra dịch và mong có nhiều người đọc. Nhà xuất bàn Chân Mây Cuối Trời phát hành bản dịch lấn đầu tiên tại Paris năm 1998. Cuốn sách được đón tiếp nồng hậu. Giới báo chí đua nhau nói về nó. Nhà xuất bản Văn Nghệ ở quận Cam, thủ đô người tị nạn, hưởng ứng in lại; quyển sách được coi là bán chạy trong năm 1999.

Nhà báo Lê Đình Điểu, trước khi qua đời, trong lúc nằm trên giường bệnh, viết bài điểm sách đăng trên Thế Kỷ 21 số tháng 4/99: “Đọc Người Trung Quốc Xãu Xí của Bá Dương, người VN nào cũng liên tưởng đến việc đây là chuyện của mình. Có lẽ chỉ thay cái tựa là Người Việt Nam Xãu Xí cuốn sách cũng vẫn có ý nghĩa. Phải chăng đó là lý do nhà thơ Nguyễn Hồi Thủ bỏ thì giờ, công sức ra dịch cuốn sách sang Việt Ngữ?”.Trả lời câu hỏi cuả nhà phê bình văn học Đặng Tiến, đăng trong Việt Mercury, dịch giả, tên thật là Nguyễn Khôi Minh, sinh năm 1945 tại Hà Bắc nói sự đời là thuốc đắng đả tật; có chướng tai cũng phải lên tiếng. Ông tâm sự, “không đọc quyển sách này có khi đở phải nghĩ ngơị lôi thôi; còn chẳng may đọc cò thể sẽ bị đau khổ nhiều hơn là thích thú”.

Trong bàì phỏng vấn hồi tháng 10/99, khi đề cập về những cuốn sách như Người Việt Đáng Yêu, Người Việt Cao Qúi, dịch giả, đã có bảy tập thơ xuất bàn ờ ngoại quốc từ năm 1968, cho biết, “Đó là chuyện ngược đời. Ở những nước tiên tiến giàu mạnh, chưa có nước nào bốc thơm dân tộc mình một cách lố bịch như thế cả. Người Mỹ, người Nhật, người Pháp, người Đại Hàn đều chỉ có những sách nói lên khuyết điểm, những cái tồi dở của dân tộc, đất nước mình. Bây giờ đến lượt người Trung Quốc. Cuốn Người Trung Quốc Xãu Xí xuất bản ban đầu ở Đài Loan; sau đó được tái bản ở lục địa. Họ đã biết nghĩ, tuy là môt nước lớn, văn hóa lâu đời, nhưng nếu cứ mãi ra rã về những cái vĩ đại thì theo nhá báo Bá Dương, tác giả cuốn sách, Trung Hoa sẽ đi đến chỗ diệt vong mà thôi”.

Nhà thơ Nguyễn Hồi Thủ, trong phần lời người dịch viết, ngay sau khi từ Trung Quốc về đến VN, ông đã đưa bản sao cho một ngươi bạn ở Hà Nội và động viên người này dịch ra tiếng Việt. Nước Trung Hoa Cọng Sản đã chấp nhận cuốn sách. Người Âu Mỹ cũng thế, thì không có lý do gì người VN lại không thề được đọc nó, cho dù không phải đề học hỏi, mà có thể vì hiếu kỳ, thông tin về một nước láng giềng. Ông đã hy vọng cuốn sách sẽ xuất hiện tại VN; nhưng cho đến nay, người trong nước vẫn chưa được đọc. Theo dịch giả, cuốn sách sẽ rất có ích cho tất cả các cộng đồng có liên quan it nhiều đến văn hóa Trung Quốc. Chủ đích của tác giả Bá Dương là nếu muốn phục hưng dân tộc, phải bắt đầu bằng việc thừa nhận các khuyết điểm, sai trái của mình.

Đọc người rồi ngẫm đến ta

Tác giả Bá Dương, là nhà báo, nhà văn, nhà thơ và là sử gia, sinh năm 1920, chạy sang Đài Loan năm 1949, ở tù 10 năm vì các bài viết bị xem là phạm thượng. Ra tù ông đi diễn thuyết về hiện tượng Người Trung Quốc Xấu Xí. Cuốn sách gồm những bài nói chuyện của ông và của những người tranh luận với ông. Có người cho rằng nếu không đọc được sách của Ba Dương là một sự thiệt thòi lớn. Sách hấp dẫn hơn chuyện chưởng của Kim Dung vì nó khiến thiên hạ phải: đọc người rồi ngẫm đến ta. Thấy sao nó giống dữ vậy. Giống dễ sợ. Theo ông, văn hóa Trung Hoa đã biến thành một đầm nước chết, càng lâu càng thối, thành một vại tương rồi. Đăc tính rõ nhất của người Trung Quốc là dơ bẩn, hỗn loạn, ồn ào. Có nhiều nơi, nếu người Trung Quốc đến ở là những người khác dọn đi.

Bất kỳ ở chân trời góc biển nào hễ có người Trung Quốc là có cắn xé nhau. Mỗi người Trung Quốc đều là một con rồng, nói năng vanh vách, cứ như là ở bên trên chỉ cần thổi một cái là tắt được mặt trời, ổ dưới thì tài trị quốc bình thiên hạ có dư. Nhưng nếu ba người Trung Quốc họp lại với nhau, ba con rồng này lại biến thành một con heo, một con giòi . Người Trung Quốc vĩnh viễn không đòan kết được. Mỗi người lại còn có đầy đủ lý do để có thể viết một quyển sách nói tai sao họ lại không đòan kết. Bất cư xã hội người Hoa nào it nhất cũng phải có 365 phe phái tìm cách tiêu diệt lẫn nhau. Họ chưa biết tầm quan trọng của sự hợp tác; nhưng họ có thể viết ngay cho anh xem một quyển sách nói tại sao cần phải đòan kết, hay ho đến Thượng Đế cũng có thể khóc được. Những thói xấu đó đã thâm căn cố đế. Cái loại triết học xâu xé nhau đó lại đẻ ra nơi chúng ta một hành vi đặc thù khác: chết cũng không chịu nhận lỗi. Họ thích nói khoác, nói suông, nói dối, nói láo, nói những lời độc địa. Hễ cứ có dính đến lập trường chính trị hay tranh quyền đoạt lợi là những lời nói độc địa sẽ được tuôn ra vô hạn định.
Người Trung Quốc sống tại Mỹ cũng vậy, nào cánh tả, cánh hưũ, trung lập, độc lập, thiên tả, trung, trung thiên hưũ, hưũ thiên trung vân vân và vân vân, chẳng biết đường nào mà mò.Người này đối với kẻ nọ đều mang mối cựu thù như nó giết bố mình. Thật không hiểu là thứ dân tộc gì? Đối xử với người Trung Quốc tệ hại nhất không phải là người nước ngoài, mà chính là ngươi Trung Quốc với nhau. Bán rẻ, hăm dọa người Trung Quốc lại không phải là ngưới Mỹ mà là người Hoa. Người Tây Phương có thể đánh nhau vỡ đầu rồi vẫn lại bắt tay nhau, nhưng người Trung Quốc đã đánh nhau rồi thì cưù hận một đời, thậm chí có khi báo thù đến ba đơi cũng chưa hết .Sống trường kỳ trong cái hũ tương lâu ngày quá tự nhiên sinh ra tâm lý cẩu thả. Một mặt tự đại khoe khoang, còn mặt khác tự ti, ích kỷ; không có can đảm dám khen người khác, chỉ có dũng khí dùng để đả kích kẻ khác; chửi bới sau lưng; yêu thì sợ chúng cười, ghét thì sợ chúng thù. Họ vĩnh viễn không thể nào so sánh được với ngươi Do Thái, chỉ cần so sánh với người Nhật, ngươi Đại Hàn là cũng thấy bị thua tới cả trăm nghìn năm ánh sáng rồi.
Người Trung Quốc sợ sệt đủ moi thứ trên đờì. Cái não trạng hãi sợ này đã nuôi dưỡng bao nhiêu bạo chuá, làm tổ ấm cho bao nhiêu bạo quan. Vì vậy bạo chúa, bạo quan không bao giờ bị tiêu diệt, và đã biến dân tộcTrung Quốc thành một dân tộc hèn mọn. Sức tưởng tượng, óc suy xét, tư duy củu giới trí thức bị bóp chết, xơ cứng. Trong 4000 năm, từ Khổng Tử trở đi, không còn có một nhà tư tưởng nào lớn nữa. Cái hũ tương văn hóa, cái hũ tương thối làm cho người Trung Quốc xấu xí, không thể dùng tư duy của mình giải quyết, phải bắt chước, phải dùng cái tư duy của kẻ khác; lớn lên trong tham ô, hỗn loạn, chiến tranh, giết chóc, bần cùng, cho nên chẳng bao giờ có cảm giác an toàn, lúc nào cũng hoảng hốt, lo âu. Trung Quốc diện tích rộng thế, lâu đời thế mà người Trung Quốc lại có một tâm điạ thật hẹp hòi, không muốn ai hơn mình. Phải chăng Thượng Đế đã phú cho chúng ta có một nội tâm xấu xa?

Trên đây là những đọan trích các ý tưởng tàn mạn trong sách của nhà báo Bá Dương. Ai cũng biết, gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Hơn một ngàn năm bị đô hộ, lại sống sát nách một kẻ như thế, chẳng lẽ ta gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn? Họ sao ta vậy hay ta tệ hơn thì chẳng có gì lạ cả. Hơn nữa, mỗi dân tộc có mỗi bệnh trạng xã hội. Bệnh trạng của ta cọng thêm bệnh trạng của anh bạn láng giềng thì chắc phải hết thuốc chữa; hèn gì nước ta lúc nào cũng loay hoay như gà mắc đẻ, lệt bệt đi sau hửi đít thiên hạ. Nếu văn hóa Trung Hoa đã biến thành một cái hũ tương thối thì văn hóa ta là cái hũ gì? Hũ vàng hay là hũ mắm thối? Còn Người VN ra sao? Thử nhìn thoáng vào gương xem .

Mẫu người Việt Nam

Trong cuốn Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim có đoạn tả tính tình người VN trước năm 1930 như sau: Về đàng trí tuệ và tính tình, thì người VN có cả các tính tốt và các tính xấu. Đại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lấy sự nhân nghỉa, lễ, trí, tín làm năm đạo thường cho sự ăn ở. Tuy vậy cũng có hay tính tinh vặt, cũng có khi quỉ quyệt, và hay bài bác chế nhạo. Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn sự hòa bình nhưng mà đi trận mạc thì cũng có can đảm, biết giữ kỹ luật. Tâm điạ thì nông nổi, hay làm liều, không kiên nhẫn, hay khoe khoang, và ưa trang hoàng bề ngoài, hiếu danh vọng, thích chơi bời, mê cờ bạc. Hay tin ma, tin quỉ, sùng sự lễ bái nhưng mà vẫn không nhiệt tin tôn giáo nào cả. Kiêu ngạo và hay nói khoác, nhưng có lòng nhân, biết thương người và hay nhớ ơn. Đán bà thì hay làm lụng và hay đảm đang, khéo chân, khéo tay, làm được đủ moi việc mà lại biết lấy việc gia đạo làm trọng, hết lòng chiều chồng, nuôi con, thường giữ được các đức tính rất quí là tiết, nghĩa, cần, kiệm.

Với mẫu người nói trên và nếu cho rằng, văn hóa là sinh hoạt, ta không hiểu văn hóa ta là văn hóa gì, lại có thề sản sinh một tay gian hùng nhưng rất thành công như Trần Thủ Độ. Việt Nam Sử Lược của học gỉả Trần Trọng Kim cho biết, vì cốt gây dựng cơ nghiệp cho nhà Trần, dù tàn bạo đến đâu Trần Thủ Độ cũng làm cho được. Ông đã chôn sống cả giòng họ Lý. Trước đó, Trần Thủ Độ nói với vua Lý Huệ Tông, tuy đã bỏ ngôi vua, xuất gia đi tu, môt câu để đời “nhổ cỏ thì phải nhổ cả rể cái”. Trong khi đó, Nguyễn Trãi, đại công thần của vua Lê Lợi , thảo ra Bình Ngô Đại Cáo, môt bản văn chương giá trị, và là tác gỉả câu đầy tình người 'Thương người như thể thương thân', trong tập Gia Huấn Ca, thì lại bị giết cả họ vì bị kết tội là dùng người thiếp đẹp và giỏi thơ, Nguyễn Thị Lộ, để mưu hại nhà vua.

Trong cuốn Từ Thực Dân Đến Cộng Sản, tác giả Hoàng văn Chí cho biết, vào những năm 1954 và 1956, khi Cộng Sản Việt Nam đem chiến thuật “Cải Cách Ruộng Đất” cuả Mao Trạch Đông, áp dụng tại Bắc Việt, mới thấy người mình sao lại có đầu óc nô lệ dữ vậy. Đúng như cụ Trần Trọng Kim phê bình:”từ tư tưởng cho chí công việc làm, điều gì mình cũng lấy Tàu làm gương. Hễ ai bắt chước được Tàu là giỏi, không bắt chước được là dơ”'. Mà theo Bá Dương, Trung Quốc hiện tại còn là một nước dã man nguyên thủy, thì việc Cọng Sản Việt Nam đưa ra phương châm: “thà sai hơn là bỏ sót” trong khi phát động chiến dịch long trời lỡ đất nói trên cũng là điều hiển nhiên thôi. Ở các nước văn minh thì khác. Nguyên tắc luật pháp của họ là: thà tha lầm hơn bắt lầm.

Mặc khác, trên sân khấu chình trị nước ta có một “diễn viên kỳ tài”, chữ cuả nhà văn Vũ Thư Hiên khi nói về Hồ Chí Minh, một người làm cách mạng chuyên nghiệp, được huấn luyện tại Nga, tên thật là Nguyễn Sinh Cung. Ông tiến, ông thoái, khi hai bước, khi ba bước, khi khóc, khi cười, khi ôm hôn thắm thiết, biến ảo khôn lường. Cả thế giới đều nghe danh ông. Cho đến nay chưa ai biết rõ “con đường bác đi”. Theo giaó sư Nga Anatoli Sokolov, chuyên viên Liên Sô về Việt Nam Học, tại Trung Tâm Nghiên Cứu Đông Phương ở Mạc Tư Khoa, trong cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh, ông có trên 150 bí danh. Để cho “chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta và trên toàn thế giới” ông sẵn sàng mua chiến thắng đó “dẫu phải đốt sạch cả dãy Trường Sơn” hay phải “đánh Mỹ đến người VN cuối cùng” .Không hiểu khí thiêng sông núi VN thế nào mà lại có thể sản sinh ra một con ngươi kỳ dị như vậy? Chính ông đã gây ra bao cuộc bể dâu, chết chóc.

Hồi thập niên 60, có bài Tâm Ca Số Năm của Phạm Duy mang tên Để Lại Cho Em nói lên thực tế của đất nước: “bây giờ chỉ còn là một mảnh đất bị chia cắt, cày xới lên bởi bom đạn. Hận thù nhân danh chủ nghĩa, bạo lực vênh vang bề thế”; và “Đường về tương lai nghẽn lối”. Thế hệ đàn anh chỉ đề lại “những giả dối, đê hèn, và vụng dạI”. Bài hát lưu hành ở miền Nam rồi rơi vào quên lãng, bị át bởi tiếng xe tăng, máy bay, hỏa tiển, AK, M16. Vũ khí này được cung cấp bởi các nước đồng minh của hai miền Nam Bắc. Đó là hệ quả của việc tìm đường cứu nước của bậc tiền bối. Kè đi Tàu, đi Nga, ngưòi đi Tây, đi Nhật, đi Mỹ. Ai cũng cho là thuốc mình mang về là thuốc tiên; nhưng vì muốn độc quyền trị nước nên VN thành nơi thử lửa cuộc chiến tranh lạnh. Nước ta hết nạn hủ nho, thì đến nạn hủ Marx, hủ Mao. “Tôi không có tư tưởng ngoài tư tưởng chủ nghĩa Mác Lê Nin”. Ông Hồ Chí Minh đã khẳng định như thế .(1)

Trong ba mươi năm nội chiến từng ngày, nửa nước từ con sông Bến Hải trở ra bắc theo Nga, theo Tàu; nừa nước phía nam chống lại bằng dựa vào Tây, vào Mỹ. Cuối cùng miền Nam sụm vì đỡ hoài thì ắt có ngày bị đánh gục. Lại nữa, Hoa Kỳ rút lời cam kết, ngưng viện trợ. Chỉ nội hai tháng ba và tư năm 1975, cả một chế độ tan tành. Khôn sống, mống chết. Tướng tá cao chạy xa bay, tìm đường thoát thân. Trong lúc trời đất nổi cơn gió bụi mới thấy nhân tài, khôn lanh thì nhiều như lá mùa thu, còn tuấn kiệt thì như sao mai buổi sớm. Có bao nhiêu người đứng lại chịu chết, chịu tù, chịu nhục, chịu chia xẽ với thuộc cấp ? Anh hùng tất phải hiếm. Điều đó dễ hiểu. Nhưng đâu rồi câu hát “Dân ta hằng anh dũng, dân ta vẫn oai hùng, dân ta dù nguy biến không nao”?

Ngày 30/4/1975 là ngày phơi bày rõ ràng bộ mặt của cấp lãnh đạo hai miền: miền Nam hèn kém, miền Bắc xảo trá, đê tiện, đầu óc nô lệ. Sau khi chiếm Saigon, chính quyền Cọng Sản tìm cách tiêu diệt các thành phần tinh nhuệ bằng học tập cải tạo và vơ vét, cướp bóc tài sản của miền Nam một cách có hệ thống bằng hai chữ quản lý. Họ lại đốt sách baó và cấm lưu trữ các sản phẩm văn hóa cũ như thời Tần Thủy Hoàng. Họ cố xoá bỏ căn cước của dân miền Nam. Dân miền naỳ không thấy được giải phóng mà thấy mình là dân bị trị, bị người anh em làm nhục, trả thù vì thế mới có chuyện người Việt dù chết vẫn tìm cách lao đầu ra biển, làm mồi cho hải tặc, cho sóng dữ. Đến ngay “cả cái cột đèn nếu biết đi cũng còn muốn bỏ nước ra đi”. Dân tộc VN, có quá khứ dài lâu; anh em như thể chân tay, sao lại không thể sống chung với nhau, mà lại đi ra xứ người sống với thiên hạ?

Con Rồng Cháu Tiên?

Sau thế chiến thứ hai, chỉ trong vòng 20 năm, hai nước chiến bại, Đức và Nhật đã phục hưng nhanh chóng, trở thành cường quốc kinh tế. Ông Bá Dương đã ví họ, “chẳng khác nào, một anh khổng lồ ba đầu sáu tay, đùng một cái bị đánh gục xuống đất, một lúc sau từ từ hồi tỉnh, đứng dậy phủi quần aó bước đi, vẫn đường đường là một hảo hán”. Còn nước ta, Việt Nam là một nước nghèo. Đời sống nói chung so với các nủớc ở Đông Nam Á hãy còn thấp. Theo tin báo, nhà nước lại tăng cường tốc độ các bức tường lửa để kiểm soát các ngươì vào Internet. Người dân chưa được tự do xử dụng máy in, một phát minh từ thế kỷ 15 của ông Johann Gutenberg. Mọi ấn phẩm đều phải có giấy phép của chính quyền. Ở thời đại tin học mà còn phải làm báo chui, báo lậu như tờ Thao Thức của một số sinh viên thì phải kể là chuyện lạ bốn phương.

Tháng 5/1999, nhà văn Dương Thu Hương, từ trong nước đã gửi lén ra hải ngoại một đoản văn. Theo cô: “sau chiến tranh ngót một phần tư thế kỷ, trên dãi đất này vẫn chỉ nghe rõ tiếng vỗ cánh của bầy quạ đen trên các nghĩa địa nối dài từ bắc vào nam, từ nam ra bắc” và “Chiến tranh không làm cho các công dân chín chắn hơn , khôn ngoan hơn, xử dụng quyền công dân mạnh bạo hơn mà ngược lại nó khiến đám đông hèn nhát hơn, dễ thỏa hiệp hơn vơi sự nhục nhã, dễ cúi đầu hơn trước tội ác”. Tại sao vậy? Ông Nguyễn Gia Kiểng, thuộc nhóm Thông Luận trong bài Vết Thương 30/4/1999 cho rằng:''Đó là vì dân tộc ta đã rã hàng, mỗi người tự thấy mình cô đơn, có muốn cũng chẳng làm được gì. Đó cũng là vì đã quá chán đất nước, đã mệt mõi, đã mất ý chí và lòng tự hào. Đảng Cọng Sản không phải chỉ đánh gục phe quốc gia hay miền Nam. Họ đã đánh gục được cả dân tộc VN. Chúng ta đã bị đả thương quá đau nên không thể đứng dậy”.

Còn hải ngoại, được coi như là một VNCH nối dài thì thế nào? Tờ báo Hợp Lưu số 49 viết: “có nước nào trên thế giới chỉ bé tí bằng lỗ chân lông như Bolsa tiểu quốc, thế mà cái gì cũng thặng dư lạm phát. Báo chí thì rợp trời kín đất như lá mùa thu.Văn bút thì chúng tôi có đến nhị vị chủ tịch (dù bây giờ chả còn ai trên thế giới công nhận, nhưng mặc xác thế giới, chúng tôi cứ là văn bút , cứ là chủ tịch, làm gì nhau?), cộng đồng cũng đương kim hai ngài tổng thống (dù thật thà mà nói, trông mặt các ngài, con nít sẽ khóc thét như gặp ma, người lớn sẽ nôn nao ruột gan muốn ói), và chính phủ lưu vong cùng đảng phái yêu nước, nói không phải khoe, trung bình mỗi tháng mọc thêm chừng mươi cái, nhanh , nhiều như nấm dại mùa đông”. Sang đây, mất tất cả, thiên hạ mơ có quyền lực, mong có cái danh. Ông nào cũng tự cho mình có sứ mệnh, như “ai bao năm từng lê gót nơi quê người” của thuở nào. Vàng thau lẫn lộn, không biết đâu là thật, đâu là giả.

Năm 1958 hai tác giả William J.Lederer và Eugene Burdick cho phát hành cuốn The Ugly American (Người Mỹ Xấu Xí), nói về thói hư, vụng về, ngu dốt, tham nhũng, dốc tướng, của các chính khách Mỹ. Cuốn sách gây xôn xao trong chính trường Hoa Kỳ, bán rất chạy. Hơn sáu triệu ấn bản được bán ra. Tổng Thống Mỹ Eisenhower phải cho thành lập một ủy ban gồm chín nhân vật có uy tín để duyệt xét lại các chương trình viện trợ quân sự. Thựơng viện Hoa Kỳ cùng lập một nhóm nghiên cưú cuốn sách và gửi cho mỗi Nghị sĩ mỗi người một cuốn. Ông Bá Dương viết, họ có năng lực sưả sai, tự điều chỉnh mình. Thay vì lấy tay che đít, họ nói toáng lên cho mọi người biết “'tôi có bệnh trĩ đây”. Họ có được cái trí tuệ và dũng cảm, tìm cách sửa đổi và giải quyết một cách thỏa đáng những lỗi lầm.

Nước Việt Nam cứ lẫn quẫn trong vòng chậm tiến, cũng “hoang mang lúng túng chẳng kém các cụ nhà Nho cách đây một thế kỷ” là vì ta không biết mình biết ta. Ta cần có một cuốn Người Việt Xãu Xí để “nôn ra được tất cả những thứ dơ bẩn trong ruột”, rồi tìm ăn những thứ có chất dinh dưỡng tốt, giúp ta có thể tự phản tỉnh. Bỏ chuyện tự kiêu hảo, giấy rách giữ lấy lề hay đói cho sạch rách cho thơm, thẳng thắng nói lên những tệ hại của dân tộc mình, để cùng nhau cải tiến. Trong thế kỷ và thiên niên kỷ mới, nhân loại đang tiến nhanh tiến mạnh trong cuộc cách mạng thông tin, chúng ta phải lẹ lẹ lên. Chậm thì chết. Chúng ta hãy hè nhau vạch áo cho mọi người cùng xem, nếu không, thay vì Con Rồng Cháu Tiên lại trở thành con khùng cháu điên mất. Phải không quí vị?

Phan Thanh Tâm
(1) Viết cho Mẹ & Quốc Hội của Nguyễn văn Trấn, nhà xuất bản Văn Nghệ năm 1995
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Bắc Kinh đang lúng túng đối phó với người tù lương tâm
Lưu Hiểu Ba, khôi nguyên Nobel Hòa Bình 2010


Đinh Ngọc Khánh và Hoàng Đỉnh
Bắc Kinh đang lúng túng đối phó với người tù lương tâm Lưu Hiểu Ba, khôi nguyên Nobel Hòa Bình 2010

Trong những năm gần đây, cứ mỗi lần đến đầu tháng 10 là chính quyền cộng sản Trung quốc lẫn cộng sản Việt Nam đều bị dị ứng bởi giải Nobel Hòa Bình. Bắc Kinh lo nhất là giải này lọt về tay ông Lưu Hiểu Ba (một nhà văn tranh đấu cho nhân quyền đang bị ngồi tù), còn Hà Nội thì sợ Hòa thượng Thích Quảng Độ được chọn để trao giải. Mặc dù Bắc Kinh đã áp lực mạnh với chính quyền Na Uy để yêu cầu không trao giải Nobel Hòa Bình cho ông Lưu Hiểu Ba, nhưng chẳng áp lực được gì. Vào ngày 08/10/2010, tên của ông Lưu Hiểu Ba được xướng lên trong buổi lễ công bố người đoạt giải Nobel Hòa Bình 2010 tại Oslo, thủ đô Na Uy. Tin này vừa được loan đi là các ký giả nước ngoài ở Bắc Kinh tìm đến nhà ông Lưu Hiểu Ba để phỏng vấn bà Lưu Hà (vợ ông Ba), thế nhưng công an còn nhanh hơn đã đến trước lập hàng rào không cho bất kỳ ai đến gần nhà bà Lưu Hà. Phỏng vấn bà Hà không được, các ký giả xoay qua hỏi cảm tưởng người đi đường về chuyện ông Ba đoạt giải Nobel Hòa Bình, nhiều người lắc đầu từ chối không dám phát biểu về chuyện này, trong số đó có một người đàn ông trung niên nói rằng bộ các ông muốn chúng tôi bị công an bắt hay sao mà hỏi như vậy. cho dù tôi có vui mừng, hãnh diện cũng phải trả lời là không vì như các ông đã biết nhà nước này chống đối tới cùng việc trao giải thưởng Nobel Hòa Bình cho ông Ba mà, nói khác là phiền lắm.

Hệ thống tiếp vận của các đài truyền hình CNN, BBC, NHK…ở Trung quốc khi loan tin này là đồng loạt bị cúp ngay. Đến lúc này thì chính quyền cộng sản Bắc Kinh không còn hơi sức đâu nữa mà che dấu hành động vi phạm quyền tự do ngôn luận nữa, làm sao không cho người dân Trung quốc biết nhiều về tin này là được.

Về phía bà Lưu Hà thì những người thân cho biết vào lúc 3 giờ chiều ngày 8 tháng 10 (nghĩa là ngay sau khi Ủy ban Nobel Hòa Bình công bố trao giải cho ông Ba), công an đã vào nhà ra lịnh cấm bà Hà không được trả lời phỏng vấn cho bất kỳ báo đài nào của nước ngoài và không cho ra khỏi nhà cho đến khi nào có khẩu lịnh mới. Đến 7 giờ tối công an đưa xe đến bảo bà Hà leo lên để chở cho đi thăm chồng ở trại tù nằm tuốt ngoài tỉnh Liêu Ninh, chẳng phải công an ra ơn gì đâu mà vì muốn đem bà Hà ra khỏi Bắc Kinh để tạm thời không cho các ký giả biết bà Hà ở đâu mà thâu tin, trong thời gian này người nhà muốn liên lạc với bà Hà cũng không được, điện thoại đến máy di động của bà Hà thì bị trả lời rằng đã hết khế ước.

Cho dù nhà nước cộng sản Bắc Kinh ra sức ngăn chận thông tin, nhưng ở vào thời đại thông tin điện tử như ngày nay thì chỉ cần một cái nhắp chuộc trên máy ví tính là có thể biết được những gì đang xảy ra trên khắp thế giới. Tường lửa lập ra kể cả việc bắt cài phần mềm Lục Bá vào máy vi tính để ngăn chận thông tin trung thực chỉ làm phiền người chưa rành cách sử dụng computer chứ đối với những ai có cơ bản một chút là việc vượt tường lửa dễ như nhảy rào thấp, qua mặt phần mềm Lục Bá chẳng khó gì vì vậy mà tin tức nhà đấu tranh nhân quyền Lưu Hiểu Ba đã được phần đông người dân Trung quốc ở Hoa lục biết đến và đem ra bàn tán khắp nơi. Trong suốt tuần qua, tại các quán cà phê, quán ăn ở những thành phố lớn, người ta thấy nhiều công an chìm ngồi đồng ở đó để rình xem hể ai đem chuyện Nobel Hòa Bình ra nói là đến hỏi giấy ngay, nhiều người đã bị bắt về sở công an làm việc cũng vì chuyện này, tuy nhiên có bị bắt cũng chẳng mấy ai sợ, bằng chứng là có nhiều nhóm trí thức với nhiều ngành nghề khác nhau như luật sư, bác sĩ tổ chức tiệc trà ở nhà hàng ăn mừng việc ông Lưu Hiểu Ba đoạt giải Nobel Hòa Bình, công an ập vào bắt mà chẳng có ai nao núng, những người bị bắt này nói là nếu sợ bị bắt thì chúng tôi đâu tổ chức ăn mừng làm gì. Ngày 10 tháng 12 tới đây, đúng vào ngày Quốc tế Nhân quyền là sẽ trao giải thưởng Nobel Hòa Bình, chắc chắn người tù lương tâm Lưu Hiểu Ba sẽ không đến Na Uy để lãnh giải được, bà Lưu Hà có thể đi lãnh giải thế cho chồng được không ?, câu trả lời là không, vì theo như bà Khương Du, phát ngôn nhân bộ Ngoại giao Trung quốc thì Lưu Hiểu Ba là kẻ phạm tội gây rối trật tự xã hội qua âm mưu lật đổ chính quyền nên đương sự và tất cả thành viên trong gia đình đều không được xuất ngoại. Thái độ hung hăng của Trung quốc bị cả thế giới lên án nặng, người ta dư đang nhìn Bắc Kinh lội ngược trào lưu tiến hóa của nhân loại, đàng sau còn dẫn theo Hà Nội, thế nhưng người bị dẫn theo cứ tưởng là đi đúng đường nên cũng tự đắt không kém đàn anh Bắc Kinh, thế mới chết chứ.

Đảng Lao Động Triều Tiên đã âm thầm gạch bỏ mấy chữ ’’Xây dựng xã hội chủ nghĩa Cộng sản’’ trong Đảng Quy của đảng này.

Cuối tháng 9 vừa qua, trong Đại hội Đại biểu đảng Lao Động Triều Tiên, người con thứ ba của lãnh tụ Kim Chính Nhật là Kim Chính Ân (27 tuổi) đã được phong hàm Đại tướng để chính thức giới thiệu với toàn đảng và toàn thế giới Ân sẽ là lãnh tụ tương lai của Bắc Triều Tiên mỗi khi ông Kim Chính Nhật chết đi. Dịp này, đảng Lao Động Triều Tiên cũng cho sửa hay tu chính một vài điều trong Đảng Quy, nhưng ít ai chú ý đến vì hai lý do. Thứ nhất. Mọi người đều chú mục vào chuyện người con nào sẽ được truyền ngôi và thứ hai là chuyện sửa đổi hay tu chính Đảng Quy âm thầm tiến hành trong thượng tầng chứ chẳng có chuyện tham khảo ý kiến của đảng viên.

Trước ngày tổ chức lễ kỷ niệm 65 năm thành lập đảng Lao Động Triều Tiên, chính quyền Bình Nhưỡng mới cho hãng thông tấn Triều Tiên Trung Ương loan tin là phần mạo đầu của Đảng Quy đã được tu chính để phù hợp với thực tại. Trước đây phần mạo đầu viết là “Mục đích tối hậu của đảng Lao Động Triều là xây dựng xã hội theo chủ nghĩa Cộng sản và tư tưởng Chủ thể , nay bỏ đi mấy chữa chủ nghĩa Cộng sản, chỉ còn giữ lại bốn chữ tư tưởng Chủ thể. Cái tư tưởng này do ông Kim Nhật Thành, lãnh tụ đàu tiên của bắc Hàn, đẻ ra. Theo tư tưởng này thì vận mệnh của mình do chính mình làm chủ; tự túc, tự cường trong việc kiến thiết quốc gia; người dân làm chủ vận mệnh đất nước.

Một số quan chức thuộc bộ Thống nhất của Hàn quốc phân tích rằng thật ra ngay từ đầu Bắc Hàn không phải là một nước theo chủ nghĩa Cộng sản như kiểu Liên Xô, Trung quốc hay miền Bắc Việt Nam, chủ nghĩa của họ là chủ nghĩa độc tài gia đình trị; cộng sản hay hệ tư tưởng Mác-Lênin chỉ là phụ nên bây giờ họ bỏ mấy chữ ’’Chủ nghĩa Cộng sản’’ trong phần mạo đầu của bản Đảng quy đảng Lao Động Triều Tiên cũng có thể hiểu được, bỏ bốn chữ đó không có nghĩa là muốn Bắc Triều Tiên trở thành một nước tự do, dân chủ, mà là để cũng cố quyền vị cai trị đất nước cho dòng họ Kim theo hệ cha truyền con nối kiểu như Vua Chúa thời xưa. Không biết khi đã bỏ bốn chữ chủ nghĩa Cộng sản đi rồi thì chính quyền Bình Nhưỡng còn đòi nhuộm đỏ miền Nam nữa hay không ?. Các quan chức này còn tiết lộ thêm cho biết rằng vào năm 2000 khi Tổng thống Kim Đại Trung sang thăm Bắc Hàn, ông Kim Chính Nhật đã hứa sẽ bỏ, không sử dụng cụm từ ’’Nhắm đến chuyện thống nhất đất nước bằng cách xích hóa (tức là nhuộm đỏ) miền Nam’’ trong mặt trận tuyên vận. Hứa thì hứa cho có vậy chứ mỗi lần có chuyện thì Bình Nhưỡng vẫn cường điệu đòi Xích Hóa miền Nam.

Một câu hỏi được đặt ra là khi bỏ mấy chữ chủ nghĩa Cộng sản đi có được sự cho phép của những người lãnh đạo ở Bắc Kinh hay không, nếu không thì chắc chắn sẽ bị áp lực mạnh, trong khi Bắc Triều Tiên gần như lệ thuộc vào Trung quốc. Các chuyên gia về tình hình bán đảo Triều Tiên cho rằng mặc dù hiện nay sự hiện diện của mấy chữ chủ nghĩa Cộng sản chỉ là hữu danh vô thực, nhưng chắc chắn Trung quốc đâu muốn Bình Nhưỡng bỏ mấy chữ đó, còn áp lực như thế nào thì phải chờ thêm một thời gian mới biết được, nếu làm mạnh thì Trung quốc sợ Bắc Triều Tiên không còn nghe lời mình nữa. Đó là đòn mà Bình Nhưỡng vẫn thường đem ra áp dụng với Bắc Kinh mỗi khi bị ức hiếp quá độ.

Thật ra những người lãnh đạo ở Bắc Kinh hay Hà Nội đều biết rằng chẳng còn mấy ai tin vào chủ nghĩa Cộng sản nữa, nhưng vẫn phải cố giữ làm bình phong để duy trì quyền lực thống trị, so ra thì đâu khác gì cha con giòng họ Kim ở Bắc Triều Tiên, nếu có khác thì chỉ khác về hình thức, một bên là cha truyền con nối, còn bên kia là phân chia quyền lực cho phe nhóm.
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Ðảng Dân Chủ sẽ thất thế vì kinh tế

Ngô Nhân Dụng
Ðảng Dân Chủ lo sẽ trở thành thiểu số ở Hạ Viện, vì kinh tế Mỹ không lên. Trong tháng 9 cả nước chỉ tạo được 95,000 việc làm mới; trong khi mỗi tháng cần có thêm 100,000 công việc cho lớp trẻ mới bước vào thị trường nhân dụng lần đầu.

Tỷ lệ thất nghiệp cao hơn 9.5% suốt 14 tháng chưa giảm bớt, dài nhất kể từ sau cuộc Ðại Khủng hoảng 1930. Không ai trách được dân chúng Mỹ bi quan trước tương lai.

Chỉ có một đốm sáng ở cuối đường hầm, là các công ty lớn ở Mỹ đều công bố gia tăng lợi nhuận, và thị trường chứng khoán đã lên. Nhưng đại đa số cử tri không thấy ảnh hưởng của giá trị các cổ phần bằng tin tức về công ăn việc làm vẫn thiếu.

Có hai kinh nghiệm trong chính trị nước Mỹ đã được coi gần như thành quy luật: Thứ nhất là đảng của vị tổng thống thường mất bớt ghế ở Quốc Hội trong các cuộc bỏ phiếu giữa nhiệm kỳ. Có lẽ dân Mỹ muốn cân bằng quyền lực giữa Hành pháp và Lập pháp. Thứ hai, khi kinh tế trì trệ thì hầu hết các đại biểu Quốc Hội đương nhiệm đều khó được dân bầu lại, đặc biệt là những người thuộc đảng nắm quyền. Căn cứ vào hai kinh nghiệm này thì trong gần hai tuần nữa các ứng cử viên Dân Chủ sẽ tơi tả!

Trong ba tháng vừa qua, các ứng cử viên Cộng Hòa đã vượt qua đối thủ trong việc gây quỹ ở những đơn vị tranh cử gay go nhất, gồm 40 đơn vị Hạ Viện và 10 nơi bầu lại nghị sĩ Thượng Viện. Những người góp tiền đã gom cho đảng Cộng Hòa 60 triệu đô la, còn đảng Dân Chủ chỉ nhận được 45 triệu ở các đơn vị trên. Thường thiên hạ hay hùn tiền cho những người có vẻ thắng lợi; các con số trên cho thấy người Mỹ đã đánh cá Cộng Hòa sẽ thắng, có thể sẽ chiếm lại đa số ở Hạ Viện!

Cử tri bỏ đảng Dân Chủ chính vì kinh tế còn yếu quá. Những đại biểu đương nhiệm mất ghế thế nào cũng than họ là nạn nhân của sự hiểu lầm. Vì theo đúng định nghĩa thì nền kinh tế Mỹ đã bắt đầu thoát ra khỏi cơn suy thoái rồi. Suy thoái (recession) tức là số lượng sản xuất cả nước (GDP) giảm, lần này đã giảm từ cuối năm 2007. Nhưng từ giữa năm 2009 GDP nước Mỹ bắt đầu tăng dần dần. Dựa vào các số thống kê về sản lượng thì trên nguyên tắc kinh tế đã hồi phục (recovery).

Nhưng người dân bình thường không coi thống kê. Họ chỉ nhìn vào túi tiền của chính họ. Khi những người thất nghiệp chưa tìm được việc làm, người còn việc làm thì vẫn đang lo trả nợ chứ không tính chuyện tiêu pha, thì ai cũng thấy kinh tế vẫn còn trì trệ. Cuộc suy thoái bắt nguồn từ những chính sách thời Tổng Thống Gorges W. Bush nắm quyền, nhưng khi kinh tế còn trì trệ thì bây giờ người ta chỉ biết Tổng Thống Obama phải chịu trách nhiệm, vì ông đã nắm quyền được gần 2 năm nay.

Tại sao trong 2 năm ông chưa giúp cho kinh tế Mỹ hồi phục lên bằng trước năm 2007?

Lý do chính là cơn suy thoái 2007-2009 lần này có hai điểm bất thường. Thứ nhất, nó kéo dài hơn thường lệ. Những lần kinh tế suy thoái mà bắt nguồn từ hệ thống tài chánh ngân hàng, rồi lan sang lãnh vực sản xuất, thì đều phục hồi rất chậm chạp.

Thứ hai là khi kinh tế đã bắt đầu lên thì nó lại tiến lên rất từ từ.

Một nguyên nhân khiến tỷ lệ thất nghiệp vẫn cao là các xí nghiệp ở Mỹ tăng lợi nhuận mà không tuyển dụng thêm người hoặc đầu tư thêm vào máy móc, cơ xưởng. Bình thường, sau khi kinh tế bắt đầu hồi phục, các vị quản đốc đều đợi khoảng một thời gian, khi nào thấy chắc bụng mới bắt đầu tuyển mộ nhân viên mới. Kỳ suy thoái này, người ta còn đợi lâu hơn, trên 2 năm. Có người tiên đoán phải mất 5 năm mới trở lại với tỷ lệ thất nghiệp thấp 6% hồi 2006.

Tuy nhiên, lợi nhuận các công ty đã tăng lên. Các đại công ty kiếm lời hơn các xí nghiệp nhỏ, khiến thị trường chứng khoán lên. Ngân hàng Citicorp cho biết trong quý thứ ba họ đã kiếm lời hơn 2 tỷ đô la, so với số lỗ lã hơn 3 tỷ cùng thời gian năm ngoái thì đúng là ngân hàng này đã hồi phục.

Trong quý thứ nhì năm nay, từ tháng 4 đến tháng 6, tiền lời của các xí nghiệp Mỹ lên tới hơn 1 ngàn 200 tỷ Mỹ kim, tức là tăng thêm gần 4% so với ba tháng đầu năm; và tăng 27% so với cùng thời kỳ năm ngoái. Con số 27% là một tỷ lệ gia tăng cao hiếm có trong lịch sử! Ðặc biệt, các công ty lớn tăng nhiều hơn và tăng nhanh hơn các công ty nhỏ, nhờ thế mà thị trường chứng khoán lên cao. Lợi nhuận của 500 công ty lớn thuộc tỷ số S&P đã tăng thêm 38% so với năm ngoái, vượt xa tỷ lệ 27% chung cho tất cả các xí nghiệp. Số tiền lời của họ trong ba tháng thứ nhì lên tới 189 tỷ Mỹ kim, và có triển vọng sẽ còn tăng thêm trong quý thứ ba.

Các đại công ty có lời nhưng đối với người dân bình thường thì họ vẫn thấy kinh tế còn bết bát. Ðây là điều nghe như nghịch lý, nhưng lại dễ hiểu. Vì các công ty có lời mà chưa gia tăng sản xuất, không tuyển dụng thêm nhân viên; có khi họ còn làm ngược lại, giảm bớt hoạt động và sa thải công nhân.

Tại công ty Ford chẳng hạn, trong quý thứ nhì năm nay số lời lên tới 2.6 tỷ Mỹ kim; so với số lỗ lã 8.7 tỷ trong cùng thời gian năm 2008. Công ty Ford đã kiếm lời trong suốt 5 quý liên tiếp vừa qua; và tiên đoán trong năm 2010 này số lợi nhuận của họ sẽ đạt một kỷ lục mới. Nhưng, điều người ngoài không biết là trong khi lợi nhuận tăng thì chính công ty lại bán ít xe hơn! Khi so sánh số tiền thu được nhờ bán xe thì trong quý thứ nhì năm nay tiền thu nhập của Ford vẫn còn thấp hơn 15% so với cùng thời gian năm 2008, hai năm trước đây. Tại sao tiền thu nhờ bán xe thì xuống, nhưng tiền lời lại tăng. Ðằng sau các con số đi ngược chiều đó là kết quả do những nỗ lực cắt giảm chi tiêu của công ty. Trong đó, có việc đóng cửa bớt những nhà máy không có lời, tất nhiên cũng phải tiết giảm nhân sự. Nếu các công ty đều theo cùng một sách như vậy thì chúng ta hiểu tại sao vẫn còn nhiều người thất nghiệp.

Công ty Parker Hannifin, sản xuất các bộ phận máy móc ở Clevelend, Ohio là một trường hợp tiêu biểu. Trong quý thứ nhì năm nay, lợi nhuận của họ đã tăng, lên tới 222 triệu Mỹ kim. Tiền lời của công ty tăng gấp 4 lần so với năm ngoái, nhưng tổng số hàng bán tăng rất yếu, chỉ được 25%. Trong tình trạng số bán lên chậm như vậy, công ty vẫn chưa gọi các công nhân cũ đi làm trở lại. Họ chỉ yêu cầu các công nhân làm thêm giờ phụ trội và làm thêm cuối tuần. Với chính sách đó, họ không lo phải trả tiền về phúc lợi cho công nhân mới tuyển, mà cũng không lo sẽ phải sa thải người nếu tình hình lại đi xuống lần nữa.

Nhiều đại công ty khác cũng cắt giảm chi phí nên lợi nhuận tăng lên mặc dù số bán tăng rất nhẹ. Ngay trong năm 2008, Texas Instruments Inc đã quyết định cắt cả một bộ phận làm “chíp” gắn trong các điện thoại di động. Lúc đó bộ phận này đem lại 20% số thu nhập của công ty, nhưng mức lời rất thấp. Nhân lúc kinh tế suy thoái, công ty đã quyết định thay đổi cả chiến lược sản xuất, nhắm vào những thị trường có mức lời cao. Họ đã giảm bớt bộ phận nghiên cứu về chíp, giảm chi phí nghiên cứu. Ðối với công ty thì kết quả rất ngoạn mục: Tiền thu nhập trong quý thứ nhì năm 2010 đã tăng 4% so với cùng thời gian năm 2008, nhưng tiền lời thì tăng thêm 31%.

Một công ty quen thuộc là Starbucks, trong lúc kinh tế suy thoái đã đóng cửa 648 cửa hàng trên khắp nước Mỹ, đưa mấy ngàn người vào đạo quân thất nghiệp. Công ty này mới công bố số tiền lời trong quý thứ nhì năm 2010 lên tới mức cao nhất trong lịch sử! Họ tính tài khóa 2011 sẽ còn tiếp tục kiếm thêm lời kỷ lục nữa!

Một tên quen thuộc nữa là Coca Cola. Họ báo tin trong quý thứ nhì số thu nhập vẫn còn thấp, 4% ít hơn so với cùng thời gian năm 2008. Nhưng tiền lời do hoạt động sinh ra (operating profit) đã tăng thêm 85% so với 2 năm trước, và tiền lời ròng còn tăng nhiều hơn nữa. Trong cơn suy thoái kinh tế, công ty Coca Cola đã thay đổi phương pháp đặt hàng mua chai lọ, tái tổ chức cả hệ thống máy điện toán, riêng công việc này mỗi năm tiết kiệm được 500 triệu Mỹ kim trong mấy năm liền! Tiền bán hàng của Coca Cola đã tăng rất nhẹ, chỉ có 2% ở Mỹ; nhưng số bán trên thế giới thì tăng nhanh hơn, 5% ngay trong cơn suy thoái này.

Nói chung, những người cảm thấy kinh tế đang lên là quản đốc các xí nghiệp lớn. Nhưng một lý do khiến họ đạt được thành tích đó là vì đa số biết cắt chi phí. Mà khi họ cắt chi phí thì trong đó có việc bớt công việc và giảm bớt số công nhân. Nhiều người sẽ mất việc làm, đó là một sự thật đáng buồn nhưng không tránh được. Vì các vị quản đốc chỉ tuyển thêm nhân viên nếu thấy số bán tăng lên và có thể tiếp tục tăng lên nữa. Nhưng tại nhiều công ty, số tiền lời tăng nhanh mặc dù số hàng bán không tăng hoặc tăng rất ít.

Ðó là hiện trạng kinh tế mà chính phủ Obama đang phải đối phó: Kinh tế đang lên thật nhưng lên rất chậm. Mà thị trường nhân dụng thì lên chậm hơn thị trường sản xuất. Vì các xí nghiệp còn đợi bao giờ thấy tương lai có vẻ chắc ăn mới tuyển thêm người! Nếu trong hai tuần nữa đảng Dân Chủ mất quyền kiểm soát ở Hạ Viện, thì họ có thể đổ tại các nhà quản lý xí nghiệp! Họ điều hành xí nghiệp để gia tăng lợi nhuận, tránh rủi ro. Mà đó là kim chỉ nam giúp cho nền kinh tế thị trường phát triển!

Tại sao các nhà chính trị, ở Tòa Bạch Ốc và trong Quốc Hội trong 2 năm qua chưa giúp cho giới kinh doanh nức lòng đầu tư thêm và tuyển mộ thêm người? Với hơn 800 tỷ kích thích kinh tế và 700 tỷ cứu cấp các ngân hàng, người dân trông đợi kết quả sớm hơn nữa. Nhưng khi cuộc khủng hoảng kinh tế bắt nguồn từ lãnh vực tài chánh thì con đường phục hồi bao giờ cũng chậm chạp. Cả hệ thống tài chánh, ngân hàng trở nên dè dặt, thận trọng hơn, tự nhiên đồng tiền luân chuyển trong nền kinh tế chạy với tốc độ thấp hơn. Nói cách khác, tiền gần như cứ nằm ỳ một chỗ! Kể từ khi ngân hàng Lehman bị phá sản đến nay, các ngân hàng đều giảm bớt không cho tiền đi ra nhanh chóng như trước nữa. Vào giữa năm 2010, tổng số tiền mặt nằm chờ được trong hệ thống ngân hàng đã lên tới 1,800 tỷ Mỹ kim, tăng thêm 400 tỷ so với hai năm trước, chưa bao giờ tăng nhanh như vậy! Ðây là số tiền mặt bất động cao nhất kể từ nửa thế kỷ nay, theo phân tích của ông Alan Greenspan, cựu chủ tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang tức Ngân Hàng Trung Ương Mỹ. Hiện các ngân hàng thương mại có dư 1,000 tỷ Mỹ kim gửi trong Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang, một số thặng dư kỷ lục. Nếu số tiền đó được tháo ra cho chạy đều như xưa vào trong hệ thống sản xuất, thì số đầu tư của các xí nghiệp ở Mỹ đã tăng gấp đôi, theo sự tính toán của ông Greenspan.

Tại sao các người giữ tiền của nước Mỹ, các ngân hàng, lại dè dặt quá như vậy?

Vì họ lo bất trắc nhiều hơn trước. Sau một cuộc khủng hoảng khiến các ngân hàng lớn nhất cũng liểng xiểng, ai cùng sợ. Cuộc khủng hoảng cũng bắt buộc chính quyền các nước trên thế giới phải cải tổ hệ thống tài chánh. Cải tổ như thế nào? Hiện nay vẫn còn chưa rõ rệt. Trong khi chờ đợi để hiểu rõ những “luật chơi mới” thì các ngân hàng và quỹ đầu tư đều dè dặt. Ðó lại là một lý do khiến những người giữ tiền trong tay không chịu thả cho tiền chạy ra!

Cho nên chúng ta có thể đoán kinh tế Mỹ phải mất nhiều năm nữa mới lên thật sự được. Hai đảng chính trị đang nhắm vào cuộc bầu cử năm 2012, khi đó Tổng Thống Barack Obama sẽ phải tái ứng cử. Liệu trong 2 năm nữa kinh tế đã tăng lên rõ rệt hay chưa?
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Cuộc chiến tranh Á châu giữa Ấn Độ -
Trung Cộng chuẩn bị khai mào.


Anh-Huy
Hai Đại Cường Quốc Trung Cộng & Ấn Độ. Sự phát-triển kinh-tế vượt bực,kèm theo sự bành-trướng quân-sự hiện-đại một cách hùng-hậu trong hai thập-niên vừa qua ( 1990-2010 )đả đưa Trung-Cộng và Ấn-Độ lên hàng Đại-Cường Quốc khu-vực Viển-Đông và Nam-Á .

Cạnh-tranh kinh-tế,chạy đua quân-sự,thế lực đôi bên càng xung-hãn,một cuộc xung -đột trầm-trọng qua nhiều mặt thế nào cũng xảy ra không tránh được.

Vào năm 1947 Ấn-Độ dành lại Độc-lập,kế đến năm 1949 sau cuộc chiến Quốc cộng, CS Trung-Hoa gồm thâu Hoa-lục, thành lập nước CHND Trung-Quốc.

Đầu thập-niên 1950 Hoa Ấn rất thân thiện nhau, hai quốc-gia hợp cùng một số quốc-gia vừa mới Độc-lập vận-động Phong-trào Phi Liên-kết,kêu gọi Sống-chung Hòa-bình,hô-hào thành-lậpThế-giới Thứ 3 ( trong lúc Chiến -tranh Lạnh phát khởi giửa Thế-giới Cộng-sản Liên-sô và Thế-giới Tự-do Hoa-kỳ ) .

Chiến-tranh Triều-Tiên 1953 và Chiến-tranh Đông-Dương 1954, Trung-Cộng hiện thân tham vọng Cộng-Sản,chủ trương Đông-Phương Hồng ồn ào và hùng hổ hơn cả Liên-Sô,tham gia trực tiếp và gián tiếp cả hai cuộc chiến.

Trong nước,chế-độ độc tài đảng trị sắt máu,chủ nghỉa Cộng-Sản chuyên chế trấn áp nhân dân bằng bạo lực...

Đối ngoại, hô hào "Đập chết Con Cọp Giấy Mỹ ". Tác động và bảo trợ các Tổ chức CS trong những nước Láng Giềng nhằm lật đổ Chính-quyền thân Tây phương. Thực hiện mưu đồ CS hóa trên toàn vùng Viển Đông; Đông-Nam Á và Nam-Á .

Cuộc Đấu-tranh Bất Bạo-Động qua sự lảnh đạo của Thánh Gandhi và Đảng Quốc-Đại, Ấn-Độ đả dành lại Độc-Lập.

Thủ-tướng Nerhu thực thi Chế-độ Đại-nghị cho Quốc-Gia mình Dân-chủ Tự-do như Âu-Mỹ.

Thi hành Kế hoạch Ngũ niên Canh-tân Đất nước và Cải-tiến Xả-hội...

Đối ngoại, Ấn-Độ chủ trương Trung-lập trong thời Chiến-tranh Lạnh. Không chen vào nội bộ những nước Láng Giềng, cổ súy phong trào Phi Liên-Kết và tha thiết sự thành hình Thế-giới Thứ 3 .

Vấn đề Pakistan; Cachemire và Sikkim cho thấy hai Quốc-gia có sự bất hòa.

Sau hội nghị Bandung 04/1955 ( Indonesia ) lập trường hai nước càng mâu thuẩn rỏ rệt và tiến dần đến đối nghịch nhau.

Vào năm 1959, Trung-Cộng dùng bạo lực cưỡng chiếm Tây-Tạng. Đức Đạt-Lai Lạt-Ma bôn đào, vượt Hy-Mã-Lạp Sơn đến Ấn-Độ.

Kế tiếp hằng trăm ngàn người Tây-Tạng không chấp nhận sự thống trị của Trung-Cộng, cùng vượt núi non hiểm trở đến Ấn-Độ tỵ nạn.

Bang giao hai nước trở nên căng thẳng, mức độ nghiêm trọng càng gia tăng...

Năm 1962, Trung-Cộng xua quân tấn công chiếm lỉnh vài vùng biên giới của Ấn-Độ ...Cuộc xung đột xảy ra rất ngắn ngủi nhưng hai nước trở thành thù nghịch và cắt đứt bang giao gần hai thập niên.

Khoảng hai thập niên gần đây, quan hệ ngoại giao được cải thiện, tình hình căng thẳng biên giới lắng dịu nhưng sự thân hữu không còn như xưa. Giờ đây, Trung-Cộng và Ấn-Độ đều là Đại Cường-Quốc Kinh-Tế và Nguyên-Tử. Vị trí Địa-lý Chính-trị của Trung-Cộng khống-chế vùng Trung-Á và Viển-đông với một lực lượng quân sự như sau :

Ngân sách Quốc phòng tăng dần :
Năm 2008 : 60,1 Tỷ Đô la
Năm 2009 : 70,3 Tỷ Đô la
Năm 2010 : 77,8 Tỷ Đô la

Quân đội gồm 2.285 000 lính ( quân dịch 2 năm ).
Bộ binh :1.600 000 ( 800 000 lính quân dịch ) trang bị súng ống hỏa lực hiện đại kèm theo 6550 Thiết giáp đủ loại.

Hải quân : 255 000 ( 40 000 lính quân dịch ) với 65 Tiềm Thủy Đỉnh trong đó có 7 Tiềm Thủy Đỉnh trang bị Hỏa tiển, tấn công bằng đầu đạn nguyên tử.
28 Khu Trục Hạm, 52 Hộ Tống Hạm.
Không quân : 300 000 lính với 1600 Chiến Đấu Cơ đủ loại.
Lực Lượng Chiến Lược với vũ khí Nguyên tử gồm 100 000 lính.
Lực lượng dự bị khoảng chừng 510 000 lính.

Vị trí Địa-lý Chính-trị của Ấn Độ án ngử vùng Nam Á và Ấn Độ Dương( con đường hàng hải vận chuyển dầu lửa và hàng hóa nối liền Trung-đông ; Đông- nam Á và Viển-đông ) với một lực lượng quân sự như sau :

Ngân sách Quốc Phòng tăng dần :
Năm 2008 : 28,39 Tỷ Đô la.
Năm 2009 : 35,88 Tỷ Đô la
Chi tiêu về Quốc phòng thực sự vào năm 2008 là 31,54 Tỷ Đô la.
Quân đội gồm 1.325 000 lính hổn hợp ( đa số tình nguyện ) Bộ binh : 1.129 900 lính trang bị súng ống hỏa lực hiện đại kèm theo 4047 Thiết giáp đủ loại.
Hải quân : 58 350 lính và 9950 lính biên hải với 16 Tiềm Thủy Đỉnh trang bị hỏa tiển tấn công bằng đầu đạn nguyên tử; 1 Hàng Không Mẫu Hạm; 8 Khu Trục Hạm và 12 Hộ Tống Hạm.

Không quân : 127 200 lính với 632 Chiến Đấu Cơ đủ loại
Lực lượng chiến lược với vũ khí nguyên tử bảo mật.
Lực lượng dự bị : 1.155 000 lính.

Vào năm 1990 / 91 Liên Sô phá sản và sụp đổ sau khi chịu đựng cuộc chiến tranh lạnh với Hoa Kỳ dần dai gần 45 năm.
Mất thế dựa Liên Sô, CSVN quay qua cầu lụy và lệ thuộc Trung Cộng. Ảnh hưởng Trung Cộng lan rộng khắp vùng Đông Nam Á và xâm nhập vào vùng Nam Á.

Ấn Độ đã từng ký Hiệp Ước Bất Tương Xâm với Liên Sô trong thời chiến tranh Lạnh. Liện Sô tan vỡ, Ấn Độ liền bắt tay thân thiện với Hoa Kỳ, Liên Âu và Nhật Bản đồng thời hợp tác ngầm với cả Do Thái đã tạo điều kiện để Ấn Độ trở thành một đối thủ cân xứng với Trung Cộng về mọi mặt

" Xâu chuỗi Ngọc trai " của Trung Cộng

Chiến lược liên hợp của Hoa Kỳ và Ấn Độ đã làm cho Trung Cộng lo ngại. Từ nhiều năm qua.Trung Cộng thiết kế xây đựng và đã hoàn thành một hệ thống căn cứ Quân sự Hãi quân hùng mạnh từ cửa biển Hồng hải băng qua Ấn Độ Dương bọc hết vùng Vịnh Bengale xuyên qua eo biển Malacca cho đến Vịnh Xiêm la .

Hệ thống căn cứ Hải quân Trung Cộng này được gọi là Xâu chuỗi Ngọc trai gồm 6 viên Ngọc trai :

1- Căn cứ Hải Quân Trung Cộng nằm trên Hải cảng Gwadar / Pakistan.
2- Căn cứ Hải Quân Trung Cộng nằm trên Hải cảng Marao / Maldives.
3- Căn cứ Hải Quân Trung Cộng nằm trên Hải cảng Hambantota / Sri Lanka.
4- Căn cứ Hải Quân Trung Cộng nằm trên Hải cảng Chittagong / Bangladesh.
5- Căn cứ Hải Quân Trung Cộng nằm trên Hải cảng Iles Cocos/ Birmanie.
6- Căn cứ Hải Quân Trung Cộng nằm trên Hải cảng Sihanoukville / Cambodge.

Xây dựng và thực hiện được " Xâu chuỗi Ngọc trai ", Trung cộng đã viện trợ quân sự, kinh tế, tài chính và kỷ thuật cho 6 quốc gia sở tại : Pakistan, Maldives,Sri Lanka, Bangladesh, Birmanie và Cambodge.
" Xâu chuỗi Ngọc trai " rõ ràng là Trung Cộng giăng chặt màng lưới Hải quân bao vây Ấn Độ toàn bộ phía Nam. Trong khi lực lượng Bộ binh ước lượng trên 100.000 người, trang bị vũ khí hiện đại án ngữ vùng biên giới dài 4057 Km phía bắc Hy Mã Lạp Sơn, sẳn sàng khai hỏa tấn công Ấn Độ.

Mặt khác, " Xâu chuỗi Ngọc trai " cũng là kế hoạch bảo vệ con đường hàng hải nếu xảy ra một cuộc chiến tranh với Hoa Kỳ.
Sự kiện hai viên Ngọc trai Hambantota / Sri Lanka và Chittagong / Bangladesh rơi vào tay Trung Cộng là điều Ấn Độ không chấp nhận được.
Bangladesh ( Đông Hồi ) độc lập vào năm 1971, thoát khỏi vòng kềm tỏa của Pakistan ( Tây Hồi ) do sự hổ trợ quân sự của Ấn Độ.
Từ lâu, ảnh hưởng của Ấn Độ rất sâu đậm vào nội tình chính trị của Bangladesh, không thể nào bất động trước mủi dao Chittagong dí vào hông, bằng bất cứ giá nào Ấn Độ cũng sẽ phải tìm phương cách hóa giải.

Sri Lanka từ khi độc lập vào năm 1948 chịu ảnh hưởng Ấn Độ. Trong cuộc nội chiến giữa dân Tamoul 25% và dân Cinghalais 75%, chính quyền Ấn Độ trung ương chủ trương hòa giải sống chung. Mặt dù, tiểu bang Tamoul Nadu ngăn cách Sri Lanka bởi một eo biển 30 Km luôn luôn ủng hộ giải pháp thành lập một nước Tamoul độc lập tách rời Sri Lanka.

Lợi dụng đường lối chính trị giữa chính quyền Liên bang Ấn Độ và Tiểu bang Tamoul Nadu mâu thuẩn, Trung Cộng chen vào viện trợ quân sự tài chính giúp chính quyền Cinghalais đánh tan lực lượng " Cọp Tamoul Tự do ", đổi lại Sri Lanka thỏa thuận cho Trung Cộng xây dựng căn cứ Hải quân Hambantota đâm thẳng vào cực nam của Ấn Độ.
Căn cứ Hải quân Hambantota là yếu huyệt kiểm soát con đường hàng hải chuyển vận mậu dịch từ Âu châu - Á Rập sang Viễn đông-Đông Nam Á - Úc Châu và ngược lại.

Từ căn cứ Hambantota, Trung Cộng có thể kiểm soát Ấn Độ Dương !
"Xâu chuỗi Ngọc trai"của Trung Cộng chính là dây thòng lọng thắt cổ Ấn Độ. 7516 km bờ biển cùng 1197 ốc đảo, quần đảo bao quanh Tiểu lục địa Ấn Độ rơi vòng kiểm soát của Trung Cộng. 95% hàng hóa xuất cảng của Ấn Độ cũng như 70% nguyên liệu dầu thô, khí đốt nhập cảng đều vận chuyển bằng con đường hàng hải ngang qua " Xâu chuỗi Ngọc trai " của Trung Cộng.

Trong 5 năm tới, khi Trung Cộng hoàn tất công trình xây dựng 3 Hàng Không Mẫu Hạm xong. Sáu căn cứ quân sự Hải Quân này chính là những cứ điểm để Hải Quân Trung Cộng diệu võ dương oai và hoành hành trên toàn vùng Viễn động, Đông Nam Á / Thái Bình Dương và Nam Á / Ấn Độ Dương.

Ấn Độ đối đầu với " Xâu chuỗi Ngọc trai "

Sự hợp tác tăng cường quân sự giữa Việt Nam Cộng Sản và Ấn Độ nhất là trên bình diện hải quân, cũng như việc chọn Cam Ranh và Hải Phòng là 2 căn cứ tiếp liệu cho Hải quân Ấn Độ, đồng thời Ấn Độ canh tân căn cứ Hải quân Blair trên quần đảo Andaman thuộc Ấn Độ nằm giữa vịnh Bengale, hiện đại hóa lực lượng Hải quân, kiện toàn hệ thống phòng thủ toàn vùng duyên hải 7516 Km đều nằm trong chiến lược của Ấn Độ đối đầu lại "Xâu chuỗi Ngọc trai" của Trung Cộng .

Mặt khác, chính lược và chiến lược toàn cầu mỗi Siêu cường mỗi khác :
- Hoa Kỳ muốn Thế giới đơn cực nhưng Á châu đa cực.
- Trung Cộng chủ trương một Thế giới đa cực nhưng Á châu đơn cực.
- Còn Ấn Độ, Nhật Bản, Nga Sô và Việt Nam Cộng Sản muốn Châu Á đa cực và một Thế giới cũng đa cực.
Sự mâu thuẩn đó chính là mầm mống sẽ tạo nên chiến tranh tại Á Châu, điểm cực nóng chính là toàn vùng Đông Nam Á.

Anh-Huy
Paris 19.10 .2010

Phụ chú :

Lực lượng Quân sự Hoa Kỳ ( bao trùm Thế giới )
Ngân sách Quốc phòng :
- 2008 : 696,3 Tỷ Dôla
- 2009 : 693,6 Tỷ Đôla
- 2010 : 692,78 Tỷ Đôla
Quân nhân tại ngũ : 1.580 255
Lục quân : 662 232 với 5850 Chiến xa đủ loại.
Hải quân : 335 822 với 71 Tiềm Thủy Đỉnh Nguyên tử
trong đó đặc biệt 14 chiếc trang bị hỏa tiển " balistiques " đầu đạn nguyên tử.
11 Hàng Không Mẫu Hạm hiện đại ; 22 Tuần Dương Hạm hiện đại ; 56 Khu
Trục Hạm hiện đại ; 22 Hộ Tống Hạm hiện đại .
Không quân : 334 342 với 2708 Chiến Đấu Cơ đủ loại.
Thủy Quân Lục Chiến : 204 261 với 403 Chiến Xa và 371 Phi Cơ đủ loại
Phòng ngự duyên hải : 43596
Lực lượng dự bị : 864 547
Ngoài ra còn nhiều lực lượng đặc biệt bảo mật.

Lực lượng Quân sự Việt Nam Cộng Sản :

Ngân sách Quốc Phòng :
- 2008 : 2,90 Tỷ Đôla
- 2009 : 2,80 Tỷ Đôla
Quân đội tại ngũ : 455 000 ( chế độ quân dịch từ 24 đến 36 tháng phục vụ )
Bộ đội : 412 000 với 1315 Chiến Xa.
Hải quân : 13 000 với 2 Tiềm Thủy Đỉnh và 5 Hộ Tống Hạm.
Không quân : độ chừng 30 000 với 219 Chiến Đấu Cơ.
Lực lượng dự bị : 5 000 000 .
( Căn cứ theo tài liệu Bilan Géostratégie - Le Monde 2010 )
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »


Image

Xóa bỏ hận thù: tại sao không?

Phan Kiến Quốc

Giáo sư Phạm Minh Hoàng, một trí thức từ Pháp về giảng dạy tại Đại học Bách khoa TPHCM đã bị công an cộng sản bắt giữ hôm 13-8-2010, với tội danh "hoạt động lật đổ chính quyền". Giáo sư Phạm Minh Hoàng đã viết nhiều bài phổ biến trên internet dưới bút hiệu Phan Kiến Quốc.

Một trong những điều người ta cảm nhận được trên truyền thông trong hai tuần gần đây là những bài viết kêu gọi sự hòa hợp, xóa bỏ hận thù. Dễ có đến hơn chục bài, thậm chí còn có cả những cuộc giao lưu giữa những người có tiếng tăm trong xã hội. Điều này cũng dễ hiểu vì chúng ta đang bước sang năm thứ 35 ngày chấm dứt chiến tranh, thống nhất đất nước.

Chủ đề này đã nhiều lần được đưa lên báo, đã nhiều cuộc hội thảo, đã có nhiều phát biểu nhưng hình như nó vẫn còn nguyên vẹn, nếu không báo chí và truyền thông chẳng có hàng loạt bài “bức xúc” như vậy. Nhưng sau khi đọc những bài viết này thì những trăn trở trong tôi chẳng những không bớt mà còn nổi sóng hơn.

Cái thắc mắc trước tiên là các bài viết hầu như đều bắt đầu bằng điệp ngữ “Không có kẻ thắng người thua mà cả dân tộc Việt Nam thắng”, nhưng tất cả các bài viết đều xuất phát từ “kẻ thắng”, họa hoằn lắm thì cũng thấy ông Nguyễn Cao Kỳ, Tướng Nguyễn Hữu Có, nhưng những nhân vật này từ lâu cũng chẳng còn ở phía “kẻ thua”. Điều đó có nghĩa rằng ngay trong lúc đi tìm sự hòa hợp, chúng ta vẫn chỉ đi tìm từ phía “kẻ thắng” (tạm gọi là như thế cho dễ hiểu), nên khó mà tìm ra sự đồng thuận.

Khi đọc các bài viết, tôi thấy tât cả hình như vẫn đóng khung - cả về hình thức lẫn nội dung – và chẳng có một cái gì mới để giải quyết một vấn đề xưa cũ từ 35 năm. Tôi có thể ví chúng như một bài luận cấp 2 gồm 3 phần, nhập đề, thân bài và kết luận:

- Nhập đề: Đại thắng mùa Xuân 1975 là kết quả tổng hợp của thời cơ cách mạng, sự phát triển có tính bước ngoặt về thế và lực của cách mạng Việt Nam, sự hội tụ các yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa để làm nên một trong những chiến thắng vĩ đại nhất của dân tộc… (Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết).

- Thân bài: Tuy nhiên sự nghiệp đặt ra sau khi thống nhất giang san là thống nhất lòng người dường như vẫn chưa hoàn thành trọn vẹn. Bằng chứng là chúng ta vẫn phải nói về hòa giải, hòa hợp dân tộc. Phải chăng 35 năm là một thời gian quá dài cho hòa giải và hòa hợp dân tộc (Phỏng vấn cựu đại sứ Võ Văn Sung).

Hay:

Sự mấ́t mát, đau khổ ở cả hai phía, trong nhiều gia đình Việt Nam. Có những vết thương lòng rất sâu nên sự hàn gắn không dễ dàng, đòi hỏi thời gian... Chúng ta đã giành được độc lập nhưng đất nước còn nghèo, còn thua kém nhiều nước xung quanh. Về mặt dân tộc, họ không có gì nổi trội hơn dân tộc Việt Nam cả nhưng họ lại hơn chúng ta về trình độ phát triển kinh tế - xã hội. (Phỏng vấn Cựu phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình).

- Kết luận: Bởi vậy, phải làm thế nào để xây dựng và phát triển một nước Việt Nam phồn vinh và vững mạnh, một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Trước mắt là tiến hành công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Đó là mục tiêu mà với mọi người Việt Nam yêu nước ai cũng thấy day dứt. (Phỏng vấn Bà Nguyễn Thị Bình).

Thú thật, cũng là một giảng viên đại học đấy nhưng tôi không đủ can đảm đọc hết chục bài viết nhưng có cùng một nội dung sáo mòn kiểu này. Hoàn toàn không có một cái gì mới và cụ thể để giải quyết vấn đề cực kỳ cấp bách như vấn đế hòa hợp, xóa bỏ hận thù. Đó là chưa kể đến văn phong của một vài vị đi ngược lại nội dung bài viết, chẳng hạn như trong bài phỏng vấn ông Võ Văn Sung, ông đã viết :”thời điểm cuối tháng 4/1975 nếu Nguyễn Văn Thiệu và bè lũ còn nắm quyền và thực hiện tử thủ như ở Xuân Lộc…”, hoặc lời phát biểu của ông Nguyễn Trọng Huấn, người đã tiếp quản miền Nam năm 1975 trong cuộc giao lưu do báo Doanh nhân Sài Gòn tổ chức:“Chúng tôi phải cải tạo các anh (…) vì rằng đó chỉ là một phần của cuộc đấu tranh giai cấp”.

Trở lại vấn đề hòa hợp, xóa bỏ hận thù, chắc chắn chúng ta không thể không đề cập đến nghị quyết 36/NQ-TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Và cũng chính vì nội dung này tôi đã có dịp tham dự một buổi hội thảo tại Sài Gòn vào tháng 7/2006 do Uỷ ban về người Việt Nam ở nước ngoài tổ chức, tại đây tôi đã ghi nhận được hai phát biểu khá lý thú. Phát biểu thứ nhất: Theo ông Nguyễn Trí Dũng (Việt kiều Nhật có nhiều đóng góp xuất sắc về công nghệ) thì ông đã tham dự "gần một trăm" cuộc hội thảo về chính sách thu hút việt kiều; điều đó cho thấy rằng đảng đã không tập hợp thêm được nhân tố mới và Nghị định 36 không tạo được chuyển biến. Phát biểu thứ hai từ ông Bùi Kiến Thành, một việt kiều Mỹ, đã có kinh nghiệm về tài chánh ngay từ thời chế độ VNCH và hiện đang là cố vấn tài chính cho chính phủ Việt Nam. Ông Thành nói: ”Sau hơn 30 năm chấm dứt chiến tranh, hố chia rẽ giữa hai chiến tuyến chưa được dẹp bỏ. Trên báo đài, trên các phương tiện truyền thông, các diễn văn chính thức người ta vẫn hô hào xóa bỏ quá khứ, xóa bỏ hậu quả chiến tranh... nhưng tất cả chỉ là những hô hào suông”. Rõ là bài toán nan giải.

Gần đây báo chí hay trích lời Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết:”Tôi mong bà con, hãy vì quê hương đất nước, gác bỏ những khác biệt của mình, hãy đoàn kết lại, cùng nhau xây dựng Mẹ hiền Việt Nam, đất nước Việt Nam giàu mạnh, hùng cường. Đó không chỉ là lời nói và ý kiến của tôi mà là tâm nguyện của cả dân tộc Việt Nam, là ý chí của Đảng và Nhà nước Việt Nam”.

Tôi cực kỳ ngạc nhiên khi đọc những giòng này hoa mỹ này, đơn thuần là vì nó xuất phát từ một người lãnh đạo đất nước. Ông Triết được bầu ra (tạm gọi là như thế) để quản lý, vậy thì nếu đó là ý Đảng và Nhà Nước thì ông cứ làm bằng cách ban hành các biện pháp cần thiết thay vì cứ kêu gọi chung chung như thế. Nhân dân đang dài cổ trông chờ những biện pháp chứ không phải những ước mơ. Đảng lãnh đạo, Nhà Nước quản lý mà cứ “huấn dụ” bằng nghị quyết hoặc bằng những từ hoa mỹ thì người dân (vốn chỉ… làm chủ) còn biết phương nào để vái?

Trong cái tận cùng bế tắc của những “bài luận cấp 2” thì bất ngờ vớ được một bài viết của nhà văn Nguyễn Quang Thân trên Phụ Nữ ngày 30/4/2010 với tựa đề “Từ vòng tay của mẹ”. Ông Thân viết :”Có lẽ vấn đề mấu chốt ở chỗ chúng ta rất dễ thống nhất với nhau, hòa hợp với nhau trên chủ trương, lời nói, nhưng cả hai phía lại khá khó khăn và thiếu những thay đổi phù hợp trong việc làm, trong từng chi tiết nhỏ như cách tiến hành một ngày kỷ niệm, thậm chí một cách xưng hô chẳng hạn”.

Tôi xin được phép khai triển ý kiến tác giả, nếu không đúng xin nhà văn và mọi người bỏ qua:

1. Cách tiến hành một ngày kỷ niệm: Cho dù đứng về phe nào đi nữa thì ngày 30/4 đúng là một ngày kỷ niệm, ngày chấm dứt chiến tranh. Nhưng cái cung cách ăn mừng rầm rộ như vừa qua rõ ràng là không có lợi cho việc xóa bỏ hận thù. Trong suốt hai tuần cuối tháng tư, đài VTV3 trong mục thời sự liên tục phát sóng về những chiến thắng từ Buôn Ma Thuột cho đến Sài Gòn. Tôi chắc chắn là sẽ chẳng có gia đình cán bộ, công viên chức, binh sĩ Việt Nam Cộng hòa (VNCH) nào có thể xem một cách vô tư mà không công chiếu thì các binh sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) cũng sẽ bất mãn vì xương máu của họ bị lãng quên. Nhưng nếu tôi không lầm thì xương máu của các binh sĩ VNCH cũng là máu đỏ da vàng thì phải.

Thử nghĩ nếu có ngày “30/4 ngược”, nghĩa là xe tăng M-48 của VNCH húc đổ trụ sở Trung ương Đảng và bắt sống Tổng Bí thư Lê Duẩn và “bè lũ” (xin được mượn từ ngữ của nhà ngoại giao Võ Văn Sung), và trong suốt 35 năm sau đó bắt cả miền Bắc xem lại cảnh các binh sĩ của mình lũ lượt ra hàng lính miền Nam, thì chắc chắn là chúng ta sẽ lại cùng nhau ngồi tìm giải pháp cho vấn đề xóa bỏ hận thù như ngày hôm nay.

Vậy có thể nào chúng ta sẽ kỷ niệm ngày 30/4 một cách khác? Đó sẽ là ngày tưởng niệm tất cả mọi người Việt không phân biệt phe phái đã nằm xuống sau 20 năm nồi da nấu thịt? Quyết không phải là lạc quan tếu mà chỉ có ý nghĩa khơi động tình cảm cao thượng trong dân chúng nếu chúng ta cho phép một chiến sĩ QĐNDVN và một chiến binh VNCH cùng thắp hương trước bàn thờ Tổ quốc?

2. Cách xưng hô: Trong các phóng sự, mỗi khi đánh chiếm được một cơ quan, một tỉnh thành nào của Chính phủ VNCH thì bây giờ người ta dùng những từ như "đánh chiếm sào huyệt của địch", "xóa tan hang ổ của ngụy quyền". Thiết nghĩ chữ "sào huyệt, hang ổ" chỉ nên dùng cho bọn cướp, cho súc vật, không nên dùng cho người, nhất nữa lại là những người mình đang kêu gọi cùng nhau xóa bỏ hiềm khích, cùng nhau sống chung. Cũng về cách xưng hô, các binh sĩ, sĩ quan VNCH thường được gọi là tên lính ngụy, tên tướng, tá ngụy kèm theo những tính từ có tính cách mạt sát, mạ lỵ... chẳng hạn tên tướng ngụy Nguyễn Khoa Nam,tên tướng ngụy Phạm Văn Phú, tên đại tá ngụy Hồ Ngọc Cẩn... Nếu ngày “30/4 ngược” xảy ra, nhân dân miền Bắc sẽ nghĩ sao khi suốt 35 được “rót vào tai” những từ “tên cộng nô” tiếp sau đó là tên các vị như Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Đồng Sỹ Nguyên? Những từ ngữ có tính cách thóa mạ này nên bỏ.

Làm như thế có thực sự xóa bỏ hận thù? Tôi nghĩ là cần nhưng chưa đủ. Đây là một vết thương nhức nhối đã kéo dài quá lâu nên không thể một sớm một chiều có thể biến mất, nhưng nếu không bắt đầu từ bây giờ thì chu kỳ 5 năm sau, kỷ niệm 40 năm chấm dứt chiến tranh, chúng ta lại phải đọc lại những “bài luận cấp 2” mà mọi người đã thuộc lòng.

Và đã làm là làm đến nơi đến chốn. Tất cả hai điều trên phải được luật hóa chứ không phải là những lời kêu gọi suông hoặc những nghị quyết không có giá trị pháp luật.

Để kết thúc, tôi xin lấy lại lời của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt vào năm 2005:”ngày 30/4/75 là ngày có hàng triệu người vui mà cũng có hàng triệu người buồn, đó là một vết thương chung của dân tộc".

Phan Kiến Quốc
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

Đại Lễ Vinh Quang và Lũ Lụt Tang Thương
http://nguoibuongio1972.multiply.com/journal/item/178

Hàng chục nghìn tỉ đồng chi cho đại lễ, các phương tiện truyền thông ra rả tung hô, vẽ vời cho đại lễ 1000 năm xứng đáng với đồng tiền bỏ ra. Như thể muốn nói rằng hàng chục nghìn tỷ ấy xứng đồng tiền, bát gạo lắm, nào là có bắn pháo hoa nghệ thuật, có trực thăng bay trên trời, hàng chục nghìn người tham gia diễu binh, đội ngũ mừng đại lễ. Rồi đèn hoa khắp nơi, nhất là cái trò nhân dân, doanh nghiệp hưởng ứng nữa, chỗ này làm cái nọ, chỗ nọ làm cái kia để mừng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long.

Lúc định làm mấy cái cổng chào, dân hỏi phí tiền thế. Ông Nghị nói tiền của doanh nghiệp tự nguyện đóng góp, thôi nếu ý kiến nhiều thì thôi vậy. Rồi lại có ông nào hứng lên tính chuyện chi hàng triệu đô bắn mây ngăn mưa. Hình như lúc ấy sẵn tiền lắm, các ông tha hồ hào hứng tính chuyện làm cái này cái nọ sao cho thật oách.

Gặp con bạn, nó bảo đại lễ là bộ mặt đất nước, thế giới nhìn vào phải làm thật to họ mới nể mình chứ.

Đất nước đang còn đi vay tiền về để làm vốn phát triển, đã mang thân đi vay mà lại ăn chơi hoàng tráng thế bố thằng nào dám cho vay. Tao hỏi mày nhé, ví dụ giờ tao còn đang vay tiền mày để làm vốn kiếm ăn nuôi con , nhưng nhân dịp sinh nhật tao, tao làm một bữa ăn chơi gấp 3 lần số mày cho vay. Xong mai tao đi vay anh mày, vay chị mày hay bạn bè khác. Họ biết chuyện tao vay mày mà sinh nhật thế họ có cho vay để tao làm ăn không.?

Con bạn nói nói bảo thôi không cần biết, chỉ cần giờ thấy ở đâu cũng hoa đèn rực rỡ sướng mắt mình cái đã.

Không biết con bạn mình có phải là dẫn chứng của phóng viên báo Hà Nội Mới đã nhắc đến tấm lòng người dân hướng về đại lễ 1000 năm Thăng Long không. Nếu quả thực những màn trình diễn hàng nghìn tỷ để cho những khán giả như thế xem thì không đáng đồng tiền bát gạo tí nào cả.

Những ngày đại lễ không thấy tin gì về bão lụt miền Trung,nhưng sau vụ nổ kho pháo hoa thì mới biết tin mấy chục người chết vì lũ, vì thế thôi không nhập pháo hoa về bắn nữa.

Miền Trung giờ lũ lại chồng thêm lũ, thêm mấy chục người nữa chết đưa con số lên tới hàng trăm, chỉ trong vòng nửa tháng. Cũng trong tháng 10 đại lễ Thăng Long cũng là đại lụt của bà con miền Trung, nhưng lúc còn trong dịp đại lễ , thông tin về cơn lũ hiếm hoi đến mức sau này khi công bố số người chết, thiên hạ mới giật mình sao lũ lúc nào mà chết lắm vậy.

Hôm nay xem cảnh trục vớt cái ô tô mới đau xót, xà lan cũ rích hoen gỉ, dây cáp kéo cũng không an toàn còn bị đứt giữa chừng khiến chiếc xe trôi văng đi. Cuộc tìm kiếm kéo dài mấy ngày, trang thiết bị tìm kiếm thô sơ, huy động cả ngoại cảm tìm hú họa cầu may. Những từ hiện đại, công nghệ cao tiên tiến, hùng hậu, kỹ càng dùng trong đại lễ chỉ thiết bị, nhân lực giờ không thấy bóng dáng trong cuộc tìm kiếm nạn nhân trong vùng lũ đau thương. Rồi cảnh người dân bơi dưới nước chìa tay đón nhận một hay hai gói mỳ tôm nữa, lại nghĩ cảnh tiền đổ đại lễ mà đắng ngắt miệng.

Dường như trời phật ý điều gì, nhưng sao lại nỡ trút xuống miền Trung nơi toàn dân nghèo khó. Hay trời làm vậy để cho nghịch cảnh được phân biệt rõ ràng từ đại lễ đến đại lụt.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Trong ta luôn có nhau

Những con cừu ngoan ngoãn đi theo đúng lề đã vạch

* Blog Vũ Ðông Hà
(Trích vudongha.wordpress.com)
Các bạn thân mến,

Mỗi công dân đúng ra đều có quyền và bổn phận biết rõ những gì đang xảy ra ngay trên đất nước của mình. Chúng ta có quyền và trách nhiệm tìm hiểu, ủng hộ hay phê bình hoặc góp ý cho mọi vấn đề liên quan đến vận mạng của dân tộc.
Image
Blogger Ðiếu Cày Nguyễn Văn Hải. (Hình: Blog Ðiếu Cày)



Tuy nhiên trên đất nước này tất cả những quyền và bổn phận đó đã phải đối diện với những cấm đoán và đe dọa:

Hàng loạt trang blog, web bị phá hoại.

Những hộp thư riêng của công dân Việt Nam bị đánh cắp.

Nhiều cá nhân bị công an đội lốt tin tặc tạo dựng dữ kiện và bôi nhọ đời tư.

Vào thế kỷ 21 này, vẫn còn một tập đoàn thiểu số muốn giữ đất nước Việt Nam trong màn đêm đen tối của bưng bít và thông tin một chiều. Ðể thực hiện mục tiêu đó, họ phải sử dụng đến những hành vi của những kẻ mà thế giới gọi là Tin Tặc.

Khi tất cả những biện pháp của Tin Tặc thất bại, khi mà trang blog này bị đánh sập thì nhiều trang blog khác mọc lên, khi mà một người bị bịt miệng thì nhiều người khác cất cao tiếng nói... những kẻ thủ ác xoay qua trò khủng bố:

Ra lệnh bắt giam khẩn cấp blogger Anhbasg.

Tiếp tục cầm tù blogger Ðiếu Cày với một tội danh mới vừa được dàn dựng - Một người đang ở trong tù mà lại bị kết tội “tuyên truyền chống phá nhà nước CHXHCNVN”.

Sự việc này chứng minh một thực tế bi thảm - ở đất nước chúng ta hiện nay, tự do của mỗi người là một con cá nằm trên thớt. Những kẻ nắm quyền lực muốn bằm muốn chém bất cứ lúc nào, đối với bất kỳ ai, bất chấp mọi quy định pháp luật, quy ước phổ quát hay tiêu chuẩn tối thiểu về lương tâm và đạo đức con người.

Sự việc này cũng chứng minh rằng - mọi kêu gọi sự tôn trọng công lý, nhân quyền từ đảng và nhà nước để trả tự do cho blogger Ðiếu Cày và Anhbasg đều vô nghĩa.

Quan trọng hơn cả là - đối tượng chính mà đảng và nhà nước nhắm tới trong việc bắt giam Anhbasg và tiếp tục cầm tù anh Ðiếu Cày chính là cả cộng đồng blogger:

Họ muốn mỗi người chúng ta vì sợ hãi để rồi sẽ rụt rè khi đăng tải một bản tin, đắn đo khi viết một bài viết, và cuối cùng chấp nhận chỉ cho phép mình nói lên những gì nằm trong cái vòng tròn mà đảng cho phép.

Họ muốn chúng ta trở về vị trí của những con cừu ngoan ngoãn đi theo đúng lề mà họ đã vạch ra.

Họ muốn chúng ta im lặng trước mọi tệ nạn xã hội, chính trị đang xảy ra cùng khắp trên đất nước mà thủ phạm chính là lãnh đạo lẫn cán bộ đảng viên các cấp; đồng thời chấp nhận mọi thông tin, giải thích của họ về tình trạng này. Và khi chúng ta im lặng, khi chúng ta chấp nhận luồng thông tin một chiều thì gần 90 triệu người dân sẽ im lặng và chấp nhận. Vì không còn chọn lựa nào khác. Ðó là điều họ mong muốn.

Các bạn thân mến,

Hãy cho tôi cùng với bạn đừng để những kẻ đang muốn bịt mồm bịt miệng nhân dân đạt được mục tiêu đó.

Hãy cho tôi nắm tay bạn để hỗ trợ cho hai người bạn blogger thân yêu của chúng ta bằng cách tiếp tục chí hướng và lý tưởng của họ.

Thành công lớn nhất mà những người bạn chấp nhận lao tù mong mỏi là sự lớn mạnh của cộng đồng blogger, của sức mạnh thông tin trung thực, góp phần vào con đường phục hưng đất nước.

Hãy cùng nhau gửi đến họ những thông tin gấp đôi số lượng ngày hôm qua của chúng ta. Hãy gửi đến họ những bài viết gấp đôi số lượng tuần trước của chúng ta. Hãy mời gọi bạn bè gia nhập đạo quân blogger - mỗi người là một chiến sỹ thông tin - gấp nhiều lần so với năm trước của chúng ta.

Thẳng tiến, không cúi đầu, không nhượng bước với trái tim nóng, cái đầu nguội và tấm lòng thiết tha với đất nước là thái độ trả lời của chúng ta với những kẻ thủ ác.

Xin gửi đến các bạn lời của người bạn blogger thân quý, ngày hôm qua còn bên cạnh chúng ta, ngày hôm nay đã ngồi trong tù ngục:

Quyền được nói, được tự do tư tưởng, chia sẻ và truyền bá tư tưởng là quyền tự nhiên không cần phải chứng minh và cũng không cần ai ban phát.

Blog là nơi mà bất cứ ai cũng có thể thực hành quyền được nói, quyền được mở miệng.

Blogger Việt Nam đã và đang làm được nhiều điều cho đất nước, họ vẫn bàn bạc, thảo luận, họp hành và nghị sự về bất cứ vấn đề trọng đại nào của đất nước. Họ là nghị viện nhân dân đích thực bởi họ đang nói lên tiếng nói của người dân.

Ðã đến lúc chọn một ngày kỷ niệm cho sự ra đời và lớn mạnh của phong trào Blogger Việt Nam.

Nhiều blogger đã hưởng ứng chọn ngày 19 tháng 10 làm ngày Blogger Việt Nam. Ngày này không còn là ngày blogger Ðiếu Cày ra khỏi tù. Ngày này còn là ngày blogger Anhbasg vào tù. Ngày này còn là ngày mà mỗi chúng ta ngẩng mặt tuyên bố với những kẻ thủ ác rằng:

Những blogger Việt Nam sẽ tiếp tục lừng lững tiếp tục tiến bước.

Một trang blog bị đánh sập hàng ngàn trang blog khác mọc lên.

Một blogger bị bỏ tù, hàng ngàn blogger khác sẽ tiếp nối...

Cho đến ngày hoa Tự Do nở rộ trên đất nước thân yêu này.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

Cho đi rồi lấy lại

Chân Nhi
Chính sách "cho đi rồi lấy lại" (give and take policy) của Mỹ đã được áp dụng rộng rãi trong các vấn đề đối nội và đối ngoại. Và hầu như khi nào Mỹ cũng áp dụng chính sách "give and take" (cho đi rồi lấy lại) chứ không dùng lối "take and give" (lấy đi rồi cho lại) vì "đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn" (cho trước được tiếng và có lợi hơn là lấy trước cho sau)!

Riêng trong lãnh vực đối ngoại, khi lấy lại (take) thì Mỹ luôn luôn lấy lại nhiều hơn là những gì đã cho đi (give). Điển hình là Mỹ đã để cho và "ngấm ngầm" (implicitly) khuyến khích CSVN cứ tự do làm bất cứ điều gì họ muốn (trên đất Mỹ) trong khuôn khổ luật pháp của một thể chế dân chủ cho phép - như việc thành lập đài VTV4, đầu tư kinh doanh, mua bán (xuất nhập cảng), thực hiện các chương trình văn nghệ đỏ, v.v... Tất cả những sự tự do "tung hoành" này của CSVN xét ra hoàn toàn không có một tí gì có hại cho Mỹ, ngược lại điều này đã mang lại cho Mỹ những mối lợi to lớn gấp 100, gấp 1000 lần so với những gì Mỹ đã cho đi!

Hãy thử xét là một khi CSVN muốn đặt đài VTV4 đế tuyên truyền, đầu tư (mua lại hoặc xây dựng) các khu thương xá, cơ sở kinh doanh, chung cư, đất đai, nhà cửa, ... để làm kinh tài và tạo ảnh hưởng thì CSVN đã phải chịu dốc ra bao nhiêu vốn liếng trong khi "phần hùn" của Mỹ chỉ có là một thể chế Tự Do, Dân Chủ - Mỹ hoàn toàn không mất lấy một xu mà lại hưởng được những mối lợi to lớn!

Đó là những cái mà Mỹ đã cho CSVN ngay trên sân nhà, còn những cái cho ra khỏi biên giới nước Mỹ như những số vốn đầu tư vào Việt Nam từ các tư nhân, những số tiền viện trợ cho Việt Nam qua các chương trình từ thiện, y tế, quân sự, ... cộng chung lại chỉ là tiền lẽ của Mỹ. Trong khi đó CSVN đã đổ vào nước Mỹ cả trăm triệu đô-la hàng năm qua các việc đầu tư, chi tiêu cho việc tuyên truyền kể trên, qua việc trả học phí cho hàng ngàn du học sinh, qua các vụ rửa tiền, gởi vào trương mục của các tay tư bản đỏ, ... cộng chung lại là những số tiền kếch xù.

Nhưng những số tiền kếch xù này từ đâu mà có? Ai ai cũng đã quá biết là từ tiền ăn cướp (sánh đoạt tài sản, nhà cửa, đất đai, bóc lột sức lao đông, xương máu của người dân Việt), từ tiền tham nhũng (rút ruột các công trình xây dựng, các chương trình viện trợ quốc tế), từ tiền buôn dân (xuất cảng lao động, phu nữ đi làm gái, ...), từ tiền bán nước (tài sản & tài nguyên quốc gia, rừng, biển, đảo, hải cảng, nhượng địa, ...), từ tiền dụ dỗ, lường gạt của các tay mơ mà đa số là Việt kiều ham danh, hám lợi và mê gái!

Để rồi CSVN lại khom lưng, cúi đầu "chở củi về rừng" cho nước Mỹ mà số "củi" chở về lại nhiều hơn số "củi" Mỹ đã cho đi. Quá nhiều! Vì số "củi" này đã được CSVN gom góp, chắt bóp từ khắp mọi nơi, đến từ mọi nguồn, để rồi cuối cùng CSVN lại tự động "hiến dâng" cho nước Mỹ! Cái hay và cũng là cái "khôn ngoan" của Mỹ là khi cho đi (give) Mỹ là người chủ động nhưng khi lấy lại (take) thì thì chính CSVN đã tự nguyện, tự động đem "tiền cho không biếu không" chú Sam chứ hoàn toàn không có một sự đòi hỏi nào từ phía Mỹ!

(Thỉnh thoảng có những mẩu tin về việc chận bắt các vụ chuyển tiền RA khỏi nước Mỹ, Úc, ... nhưng có bao giờ chúng ta nghe thấy việc chận bắt những vụ chuyển tiền VÀO đất Mỹ, Úc, ...?! Nói một cách khác, các nước Mỹ, Úc ... chỉ bắt và trừng phạt những ai có những hành vi có hại cho đất nước của họ mà thôi - quyền lợi quốc gia là trên hết! Ngược lại, đối với CSVN quyền lợi cá nhân là "chủ yếu", là "đồng ý, nhất trí", là "đạo đức cách mạng", là "đỉnh cao", … còn đất nước, dân tộc là đồ bỏ!)

Đó là những cái lợi của việc cho đi (give) của Mỹ đối với CSVN nhưng lại hoàn toàn không đáng kể khi đem ra so sánh với những mối lợi và ảnh hưởng của Mỹ tạo được trên các quốc gia Đông Nam Á mà trong đó Việt Nam và Trung Cộng là các "nhân vật" chính - CSVN bị làm mồi nhử và TC là con vật bị nhử. Hãy tự hỏi tại sao cho mãi đến giờ này Mỹ mới/lại nhảy vào biển Đông. Trước khi trả lời câu hỏi này chúng ta hãy đi ngược giòng thời gian trở lại thời kỳ chiến tranh Việt Nam để thấy rằng lúc đó Trung Cộng chưa phải là "đối thủ đáng gờm" của Mỹ. Và vì biết rỏ rằng mối tình gượng ép giữa hai đồng chí “mỏ chu, răng vẩu” VC và TC, tuy ngoài mặt vẫn ôm nhau thắm thiết và lúc nào cũng tung hô 16 chữ vàng với cái mỏ cười toe nhưng bên trong là "cơm không lành canh không ngọt" chỉ chờ chực có dịp là cắn nhau (điển hình là cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung vào năm 1979).

Do đó từ chổ chưa phải là một đối thủ đáng gờm, Mỹ đã để cho TC có thời gian lớn mạnh trở thành một "đối thủ đáng gờm" - nhưng là đáng gờm và đáng sợ đối với CSVN, và đối với các nước Đông Nam Á. Theo tâm lý học, một khi sợ ai thì mình phải làm gì đế tự vệ? Hoặc tìm cách tự trang bị cho mình các thứ vũ khí như gậy gộc, dao búa, ... và/hoặc đi tìm thầy học vỏ như trong các phim "Karate kid". Trong trường hợp Việt Nam thì vì sợ TC đến vãi đái nên bây giờ CSVN đành phải gạt cái khẩu hiệu "đánh Mỹ cứu nước" sang một bên để cúi đầu "lạy Mỹ cứu đảng". CSVN đã đi tìm thầy Mỹ xin xỏ học vỏ qua việc "hiện đại hoá" quân đội nhân dân, và các chương trình huấn luyện quân sự do Mỹ đài thọ. Và tự trang bị cho mình qua việc mua một số lượng lớn các vỏ khí tối tân của Nga, của Mỹ (đây cũng là lý do mà Mỹ đã âm thầm bỏ cấm vận vũ khí cho Việt Nam [1]).

Cái sợ hải của CSVN đã lan rộng đến các nước Đông Nam Á, và đã làm cho các nước này càng ngày càng lệ thuộc vào Mỹ, kết quả là Mỹ đã bán được và sẽ còn tiếp tục bán được những khối lượng vũ khí khổng lồ với các đơn đặt hàng lên đến hàng chục, hàng trăm tỷ Mỹ kim. Nhưng những thứ mà Mỹ lấy lại không chỉ là những mối lợi thu được qua việc buôn bán vũ khí hay các sản phẩm khác mà còn có cả vấn đề quyền lực như sự chi phối và ảnh hưởng của Mỹ trên các lãnh vực chính trị, kinh tế, ngoại giao, ... của các nước trong vùng.

Vậy trong bao năm qua Mỹ đã im lặng (dùng TC làm con ngáo ộp) để cho TC tự tung, tự tác, lên gối, "thượng cẳng chân, hạ cẳng tay" Việt Nam, hà hiếp các nước trong vùng Đông Nam Á thì bây giờ ai là người được hưởng lợi?!

Ngoài ra Mỹ còn sẳn sàng chia chác một phần nhỏ lợi lộc đế thủ đắc những lợi lộc to lớn hơn. Mỹ đã cho (give) Nga hưởng được một phần lợi lộc trong việc buôn bán vũ khí với một số các quốc gia trên thế giới, gần đây nhất là Việt Nam, để làm gì? Mục đích là lấy (take) cái vị thế đồng minh hay "trung lập" của Nga để Mỹ rảnh tay "hỏi thăm sức khỏe" TC. Nếu Nga không muốn là đồng minh giúp Mỹ bao vây, triệt hạ TC thì ít ra Nga cũng sẽ giử vị thế "trung lập" lúc Mỹ ra tay dạy cho TC biết thế nào là lễ độ, mà không còn lo sợ phải đương đầu cùng một lúc với cả 2 đối thủ.

Và xin nhớ rằng hiện nay TC là chủ nợ lớn nhất của Mỹ, có nghĩa là một phần lớn vốn liếng quốc gia của TC nằm trong tay Mỹ. Trong khi đó việc bán vũ khí cho các nước trong vùng Đông Nam Á, việc lâu lâu cố tình xì ra một vài món vũ khí tối tân lợi hại, và gần đây nhất là việc tái xuất hiện trên biển Đông (khi thời gian đã chín mùi) là những hành động "khiêu khích" của Mỹ để dụ TC móc hết hầu bao ra chay đua vũ trang với Mỹ. Để làm gì? Để TC dốc hết tài sản quốc gia đầu tư vào quốc phòng, để vượt lên làm một đàn anh, một cường quốc, để thi oai với thế giới, ... rồi có thể một ngày nào đó (nếu không biết dừng lại) TC sẽ cụt hết vốn liếng, phá sản (fiasco), sụp đỗ tan tành. Việc chạy đua vũ trang với Mỹ chẳng khác nào một canh xì phé giữa một tay chơi nhiều tiền (GDP of USA 2010: ~ $15 trillion with a population of 300+ million), điềm tĩnh và mưu lược với một tay mơ nóng máu, tham lam, háo thắng mà vốn liếng chẳng có bao nhiêu (GDP of China 2010: ~ $1.5 trillion with a population of 1.4+ billion) để rồi trước sau gì cũng bị cháy túi, thua đậm, thua đau, thua rạt gáo. Đây cũng bài học nhớ đời cho Nga và các nước trong khối Đông Âu [2]!

Vậy nếu TC sụp đổ thì ai sẽ là người được hưởng lợi nhiều nhất? Việc đầu tiên là Mỹ sẽ xù hết nợ (trên dưới 800 tỉ Mỹ kim)! Còn nếu chế độ CSVN tiêu vong thì Mỹ làm gì? Mỹ sẽ ra lệnh tịch thu (trên đất Mỹ) và yêu cầu phong toả (trên thế giới) tất cả tài sản, của cải chìm nổi kể cả các trương mục kín của các tay tư bản đỏ, như Mỹ đã từng làm đối với các tên tội phạm, tham nhũng, độc tài ở cấp quốc gia trên thế giới.

Xin được nói thêm là tất cả những gì Mỹ cho đi không chỉ giới hạn trong các thứ vật chất (material/tangible) như tiền bạc, súng đạn, máy móc, thức ăn, thuốc men, ... và cũng không phải những thứ cho đó khi nào cũng có lợi (benefit) cho người nhận! Trong trường hợp các nước Đông Nam Á thì Mỹ đã "cho" (give) họ sự "Sợ Hải" ("Sợ hải" không phải là vật chất và cũng không có lợi gì cho người nhận), và Mỹ đã lấy lại (take) được những mối lợi rất lớn mà không cần phải bỏ vốn.

Đó là chính sách và chiến lược "cho đi rồi lấy lại" (give and take) của Mỹ!
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »


Image

Dân Biểu Cao Quang Ánh Được Biểu Dương Là Chính Trị Gia Tốt


Chương trình The Good Men Project hàng năm tuyển chọn những người Mỹ gương mẫu. Trung tuần tháng 10, chương trình này công bố danh sách 10 chính trị gia tốt, The Top Ten Good Men Politicians. Mặc dù mới chỉ tham chính chưa đầy 2 năm, DB Ánh đã được bình bầu vào hạng tư trong danh sách này. “DB Ánh là người làm việc cần mẫn để phục vụ, lại có đức độ.

Tôi rất vui khi một người Việt được công nhận là có tài và có đức,” Ts. Nguyễn Đình Thắng phát biểu.
Khi còn là thanh niên, Ông Cao Quang Ánh tình nguyện với BPSOS dưới sự hướng dẫn của Ts. Thắng.

Tiêu chuẩn tuyển chọn vào danh sách 10 chính trị gia tốt là:



- Sự chân chính và lương thiện tư duy.

- Sự tương kính dành cho đối thủ chính trị, lòng tôn trọng cử tri, và tinh thần phát huy sự trong suốt và cởi mở trong chính quyền.

- Có ý tưởng thu hút và có khả năng và viễn kiến để biến ý tưởng thành hnàh động.

- Có tầm nhìn vượt qua thời hạn của nhiệm kỳ dân cử và có can đảm để thiết lập nền móng cho tương lai lâu dài của Hoa Kỳ, dù có thể phải có quyết định không được lòng quần chúng.

- Có tinh thần hợp tác với những người đối lập chính kiến để đạt thành quả.

- Không sợ đối đầu với giới lãnh đạo của đảng khi giới lãnh đạo đặt tinh thần đảng phái lên trên quyền lợi tối thượng của đất nước.

- Quan trọng nhất là không bậy bạ.

Dưới đây là phần mô tả về DB Cao Quang Ánh, giải thích lý do Ông được tuyển chọn là một trong 10 khuôn mặt gương mẫu cho các chính khách Hoa Kỳ.

Trong tiếng Việt, "Cao" có nghĩa là "cao lớn." Với chiều cao 5’2”, người dân biểu Đảng Cộng Hòa có lẽ không lột tả được tên của mình, nhưng ông đã tìm được cách để đứng riêng biệt khỏi đám đông.

Một cựu sinh viên chủng viện, Ông Cao lấy bằng luật tại Đại học Loyola ở New Orleans, thành phố nơi ông đang sống với vợ và hai con gái.

Trong năm 2008, ông ra tranh cử ghế Dân Biểu Hạ Viện New Orleans đối đầu với William Jefferson, một đương nhiệm gốc da màu đã chín nhiệm kỳ tại một địa hạt đa số là Dân chủ và người Mỹ gốc châu Phi. Vì cuộc vận động tranh cử của Tổng Thống Obama diễn ra song song, lúc đó ông Cao trông như đã chẳng có một cơ hội nào để thắng.

May mắn cho ông Cao, ông Jefferson đã bị truy tố về tội hối lộ và thông đồng. Và, nhờ có cơn bão cuối mùa, cuộc bầu cử được dời lại đến tháng 12. Cử tri đi bầu giảm đi đáng kể, và ông Cao thắng. (Ông được mệnh danh là "dân biểu tình cờ.")

Những cái tít "Ông Cao đến Washington" nhan nhản khắp mọi nơi. Trong những phỏng vấn sau cuộc bầu cử, Ông Cao, một người di dân từ Việt Nam khi lên tám, thừa nhận ông đã không bao giờ nghe nói về chính sách cắt giảm thuế trong thời của ông Bush hoặc về hệ thống ủy ban của Hạ viện. Nhưng kể từ đó, ông làm sáng tỏ vị trí của mình.

"Trên DC, Ông làm việc chăm chỉ để đại diện cho cử tri của mình, có nghĩa là Ông biểu quyết với đảng Dân chủ," ông Thomas Langston, một giáo sư khoa học chính trị tại Đại học Tulane phát biểu. "Nếu Ông không là một người bảo thủ sâu xa trong các vấn đề xã hội, ông có thể đổi đảng và có thể giữ được chức vụ của mình. Trớ trêu thay, điều đó sẽ làm cho ông ta có vẻ ít dũng cảm hơn và ít nổi bật. "

Ông Cao có tỷ số biểu quyết 69 phần trăm ủng hộ các dự luật của phe Obama -- nhiều hơn bất kỳ Dân biểu Đảng Cộng Hòa nào. Ông là đảng viên Cộng Hòa duy nhất đã hỗ trợ dự luật chăm sóc sức khỏe của Hạ Viện. Trong số những dân biểu Cộng Hòa, chỉ có Ron Paul và John McHugh biểu quyết theo với đảng Cộng Hòa ít hơn.

Danh tiếng là một Maverick của Ông như được củng cố khi ông lên tiếng phản đối vụ tràn dầu BP, và đã nói với Lamar McKay, Chủ Tịch của BP, "Trong thời samurai, chúng tôi sẽ đưa cho ông một con dao và yêu cầu ông tự mổ bụng ."

Những nỗ lực chính của ông là các vấn đề hậu-Katrina. Ông đã tổ chức lại cơ quan FEMA địa phương và giới thiệu một dự luật cho các ngành phục vụ công cộng của tư nhân được nhận tài trợ của liên bang sau tai ương thiên nhiên, mà sẽ bảo vệ người tiêu dùng không phải chịu giá cả tăng vọt. Ông cũng kêu gọi FEMA tha nợ tiền vay tai ương cho New Orleans sau bão.

"Cao là người trung thực, thông minh, và chăm chỉ," ông Langston nói. "Ông ấy còn là một chàng trai với một trái tim lớn, người đã đi vào ngành luật pháp để giúp mọi người thay vì chỉ để kiếm sống."

Trong dự kiến sẽ qua một vòng bầu cử gay go cho Đảng Dân Chủ, ông Cao có lẽ là đảng viên Cộng Hòa bấp bênh nhất. Đối đầu với Cedric Richmond, một người Mỹ gốc Phi Đảng Dân Chủ cực kỳ được ưa chuộng, việc tái cử của Ông hầu như là không tưởng cũng như cuộc bầu cử mà đã đưa Ông vào trong Quốc hội lần đầu.

Mặt-đối-mặt với Ánh Cao

Hỏi: Một người có thể vừa là một người đàn ông tốt và là một chính trị gia tốt (tức là, hiệu quả)?

CQA: Có, một người có thể được cả hai, nhưng trong thời buổi của chính trị thiên đảng phái này thì nó khó. Khi ta nói về một người đàn ông "tốt", có một vài điểm tôi nghĩ đến: a) trung thực, b) từ bi, và c) quả quyết.

Trong suốt lịch sử, chúng ta đã thấy nhiều người "tốt" có những đặc điểm này: Mẹ Teresa, Mahatma Gandhi, Martin Luther King, và Abraham Lincoln. Những đặc điểm này, khi kết hợp với khả năng lắng nghe phía bên kia và cởi mở cho ý kiến của người khác, để thỏa hiệp trừ khi liên quan đến nguyên tắc đạo đức cốt lõi, để làm việc với các đồng nghiệp, và để truyền thông giúp công chúng hiểu vị trí của một người, sẽ giúp làm cho một người đàn ông vừa "tốt" vừa là một chính trị gia có hiệu quả.

Hỏi: Nếu ông đang làm một danh sách các chính trị gia mà ông kính trọng cả hai sự chính trực và sự tận tâm của họ cho những ý tưởng mà họ tin vào, ai là người- không phải cùng trong đảng, chắc chắn sẽ được ông đưa vào danh sách? Và tại sao?

CQA: Một chính trị gia mà tôi chắc chắn sẽ đưa vào danh sách của những người tôi tôn trọng cả hai sự chính trực và sự tận tâm là đồng nghiệp Hạ Viện của tôi, ông Dan Lipinski, thuộc Đảng Dân Chủ của bang Illinois. Sự chính trực của Dân Biểu Lipinski đã được thử thách trong cuộc tranh luận về cải cách y tế. Ông đã chịu áp lực rất lớn của Đảng Dân Chủ để biểu quyết ủng hộ dự luật thông qua Thượng Viện, và mặc dù ông tin tưởng mạnh mẽ rằng cải cách là cần thiết để giảm tăng chi phí chăm sóc sức khỏe và thực hiện bảo hiểm chi phí hợp lý và dễ tiếp cận cho các cá nhân và gia đình, ông đã có e ngại nghiêm trọng về phiên bản của dự luật đến với chúng tôi từ Thượng Viện.

Ông đặc biệt quan tâm về sự thiếu bảo vệ chống lại mở rộng tài trợ liên bang cho phá thai, điều mà ông phản đối trên cơ sở đạo đức. Cuối cùng, Dân Biểu Lipinski đã giữ đúng với lương tâm của mình, chống lại áp lực đảng phái, và đã bỏ phiếu chống Patient Protection and Affordable Care Act. Tôi ngưỡng mộ và tôn trọng sự can đảm chính trị của ông.

Hỏi: Ông là người Mỹ gốc Việt đầu tiên phục vụ trong Quốc Hội Hoa Kỳ, cũng là người đầu tiên trong Đảng Cộng Hòa để phục vụ trong địa hạt của ông từ năm 1890. Những kinh nghiệm đó dạy ông điều gì về sự hội nhập?

CQA: Là dân biểu người Mỹ gốc Việt đầu tiên và là người của đảng Cộng hòa đầu tiên phục vụ trong Địa Hạt 2 của Bang Louisiana kể từ sau Tái Thiết không liên quan nhiều đến khả năng được chấp nhận của tôi với các đồng nghiệp cũng như các cử tri của tôi. Tôi nghĩ rằng các nguyên tắc căn bản làm nền tảng cho một người đạo đức, kết hợp với khả năng thân thiện và làm việc với những người khác, đã giúp tôi thích ứng cả trên Quốc Hội và trong Địa Hạt. Và ngoài đạo đức và lòng thân thiện, còn có yếu tố của hy vọng. Nó kết hợp tất cả chúng ta và cho phép chúng ta bảo bọc nhau như những cá nhân tham gia vào sự theo đuổi chung cho cuộc sống, tự do, và hạnh phúc.

Hỏi: Chúng tôi tin rằng một người đàn ông tốt sẵn sàng nhận những sai lầm của mình. Xin cho chúng tôi về một lần khi ông đã không đạt được "sự tốt", trong định nghĩa của ông.

CQA: Bởi vì các nhu cầu của công việc này và số lượng thời gian mà nó đòi hỏi, thực rất khó cho tôi để làm người chồng và người cha tốt nhất cho hai con gái của tôi. Trước đây, tôi có thời giờ nhiều tại gia đình hơn với vợ con tôi để làm bài tập với con gái của tôi, để đưa chúng đến công viên, và được có mặt với chúng trong mọi khía cạnh của cuộc sống. Điều đó không được nữa, đó là một thất vọng cho tôi, nhưng cũng khiến tôi phải khiêm nhường, vì tôi biết rằng tôi có những hạn chế và phải dựa vào sự giúp đỡ của người khác, cũng như đức tin của tôi, để bảo đảm và hy vọng tất cả sẽ trở nên tốt đẹp.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Ai Diễn Biến Hòa Bình?

Trần Khải
Chuyện khá là trùng hợp: trên cùng số báo Quân Đội Nhân Dân ngày chủ nhật 24/10/2010, hai bài viết từ hai quan chức lớn đều cùng nêu lên cuộc chiến chống “diễn biến hòa bình.” Có phảỉ đây là một hù dọa trước một số dư luận đòi cởi mở dân chủ tiền Đạị Hội Đảng? Hay đây là một cách lớn tiếng để tự chứng minh rằng bản thân các người viết đều sống trong tình trạng cảnh giác thường trực. Hay là lo sợ khi đã có một số dấu hiệu chuyển biến trong nhận thức của nhiều cán bộ, vì thấy rằng đất nước mình cần phải có diễn biến hòa bình thực sự?

Hai tác giả của hai bài viết trên cùng số báo QĐND hôm chủ nhật là: Trung tướng Dương Xuân Vinh, Chính ủy Tổng cục II; và TS Cao Đức Thái.
Bài viết của Tướng Vinh có nhan đề “Tình báo Quốc phòng - Lực lượng trọng yếu, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân” có một số câu đáng chú ý:
“...Tính chất, nhiệm vụ của ngành là lĩnh vực công tác đặc thù, phức tạp, căng thẳng, khẩn trương, địa bàn phân tán… công tác chính trị tư tưởng phải kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống, lấy xây dựng mục tiêu lý tưởng, bản chất cách mạng, bản lĩnh chính trị làm cơ sở, giữ vững trận địa tư tưởng trong mọi tình huống. Đặc biệt là tuyên truyền, giáo dục để mọi cán bộ, chiến sĩ TBQP đề cao cảnh giác, nhận rõ âm mưu phá hoại cách mạng nước ta ngày càng thâm độc và quyết liệt của các thế lực thù địch bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, phân biệt rõ bạn, thù, đối tác, đối tượng. …
...nhất là nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn nhằm phục vụ đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, xây dựng ngành TBQP về chính trị trước tác động của những biến đổi kinh tế - xã hội thì mới “dựa vào dân, đi sát địch”...” (hết trích)

Câu hỏi cần nêu với Tướng Dương Xuân Vinh là: Ai là “thế lực thù địch” mà ông nêu ra trong bàì viết? Còn “bạn, thù, đối tác, đối tượng...” là những ai? Thêm nữa, khi nói “đi sát địch,” thì địch là ai?

Có phải “thế lực thù địch” là Mỹ, một cựu thù bốn thập niên trước? Hay là Trung Quốc, một cựu thù từng gây chiến với VN những năm 1979, 1984, đã chiếm gọn Hoàng Sa và phần lớn Trường Sa, và liên tục bắt cóc ngư dân Việt?
Hay “thế lực thù địch... để diễn biến hòa bình” của chế độ là các doanh nhân phải hối lộ để dễ làm ăn kinh doanh (nhiều tới không kể xiết), là các dân oan bị mất đất, mất nhà và khiếu nại hoài không ngưng (như Tu Viện Bát Nhã, Giáo Xứ Cồn Dầu...), là các thiếu nữ chân dài tuyệt sắc đang làm hư hỏng cán bộ (như 2 nữ sinh vị thành niên đã làm Đảng mất một cán bộ trung thành là Chủ Tịch Tỉnh Hà Giang Nguyễn Trường Tô), là các Việt Kiều (như chị Võ Hồng) về nước để hô hào giữ đảo và cảnh giác hiểm họa Bắc Triều, là các blogger viết lên tấm lòng yêu nước của họ (đang trong nhà tù như Điếu Cày, Anh Ba Sài Gòn... hay còn đang bị theo dõi ngoài phố, như Mẹ Nấm, Người Buôn Gió...), là các luật sư nhân quyền liều thân đứng ra cãi cho các hồ sơ bị cán bộ trù dập bất công (như các luật sư Trần Lâm, Cù Huy Hà Vũ)?
Vậy rồi, Trung Quốc là bạn, hay là thù, là đối tác, hay đối tượng? Tại sao Tướng Dương Xuân Vinh cố ý nói mơ hồ chỗ này, sao không chỉ đích danh thẳng mặt “bạn” để dân cả nước VN ngợi ca tình hữu nghị, sao không chỉ thẳng mặt “địch” để dân cả nước rủ nhau biểu tình đấu tố?

Trong khi đó, bài của Tiến Sĩ Cao Đức Thái cố ý sử dụng nhiều chữ tối tăm hơn, cách đặt câu lại cố ý làm cho trúc trắc để như dường là “uyên bác” – nhưng nhan đề đã nói rõ trọn chủ đề là “Làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”: Sự lựa chọn đúng đắn...”

Bài viết trích như sau:
“Trong chiến lược "Diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc và các lực lượng tay sai, tấn công vào hệ tư tưởng – phần “hồn” của Đảng Cộng sản - lực lượng lãnh đạo, cầm quyền nhà nước và xã hội, luôn được xem là hoạt động quan trọng nhất. R. Ních-xơn trong sách: “1999 – chiến thắng không cần chiến tranh” rút ra kết luận: Rút cuộc sự cạnh tranh giữa các hệ thống xã hội cuối cùng, cái có tác dụng quyết định đối với lịch sử là tư tưởng chứ không phải là vũ khí. Chính vì vậy, chủ nghĩa đế quốc đã đồng thời thực hiện hai chiến lược: Chiến tranh xâm lược và "Diễn biến hòa bình" để chống phá hệ thống XHCN. Đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế thị trường…, chiến lược "Diễn biến hòa bình" có những thời cơ mới, mà chúng ta cần phải tính tới khi đấu tranh chống lại chiến lược đó.” (hết trích)
Đoạn văn trên của TS Cao Đức Thái khi dẫn ra sách của Nixon đã ám chỉ rằng chủ nghĩa đế quốc là Mỹ. Bởi vì mục tiêu nhắm vào là để tấn công Đảng Cộng sản. Và chủ nghĩa đế quốc, theo ông Thái, đã “đồng thời thực hiện 2 chiến lược: Chiến tranh xâm lược và "Diễn biến hòa bình" để chống phá hệ thống XHCN.”

Câu hỏi nên nêu ra, rằng tại sao ông Thái nói rằng Mỹ là đế quốc? Tại sao nói Mỹ đang tấn công Đảng Cộng sản? Tại sao nói Mỹ đang đồng thời chiến tranh xâm lược và diễn biến hòa bình?

Mỹ là đế quốc, là xâm lược? Nói như thế, dân Nhật sẽ nổi giận, bởi vì Nhật đã thua trận Thế Chiến 2, bị Mỹ chiếm đóng từ hơn 6 thập niên, mà không tấc đất nào cuả Nhật bị sáp nhập vào lãnh thổ Mỹ. Trong khi đó, quân đội Mỹ phảỉ năn nỉ, phảỉ vận động, phảỉ trả tiền thuê đất cho Nhật để được tiếp tục đóng quân ở Okinawa nhằm ngăn ngừa những biến động từ Trung Quốc và Bắc Hàn vì có cơ nguy sẽ nhắm vào Đài Loan và Nam Hàn.

Nói như thế dân Việt Nam sẽ nổi giận, vì Trung Quốc được hiểu “là bạn, là đối tác chiến lược toàn diện” mà tại sao lãnh thổ VN lại mất tới nửa Thác Bản Giốc, mất vài chục mét (hay vài trăm mét?) ở Ải Nam Quan, mất ngọn núi Lãõ Sơn ở tỉnh Hà Giang, mất trọn Hoàng Sa và nhiều đảo Trường Sa? TQ được hiểu là bạn mà tại sao liên tục làm tiền giả đưa nhập lậu vào VN, liên tục bắt và khủng bố ngư dân Việt ở vùng biển Việt, liên tục cấm VN kết thân với Đài Loan, liên tục hù dọa là đừng cho nước khác thuê cảng Cam Ranh...
Tuy nhiên, còn một điểm đáng chú ý, Tiến Sĩ Thái đã viện dẫn các ngôn ngữ đao to búa lớn để giảỉ thích về sự sụp đổ của nhiều nước xã hội chủ nghĩa, trong đó chê các lãnh đạo Liên Xô và Đông Âu là sai nghiệm trọng về lý luận và hoạt động. Nhưng có phải, cũng mượn ý đó để ngầm chê Đảng CSVN đã không chịu hòa hợp dân tộc, không chịu phát triển kinh tế thị trường?
Bài viết của Cao Đức Thái có những ý kiến sau cần suy nghĩ:
“Thực tiễn đã chỉ ra rằng, những người kế thừa chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã phạm sai lầm nghiêm trọng về nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn. Sau khi tiến hành cách mạng, giành và giữ chính quyền bằng các biện pháp bạo lực và chuyên chính vô sản, lẽ ra các đảng cộng sản có thể chuyển sang công tác tổ chức và xây dựng đất nước dựa trên nguyên tắc hòa hợp dân tộc, phát triển kinh tế thị trường… Song, ở các nước XHCN đã duy trì mô hình CNXH dựa trên các nguyên tắc phủ nhận kinh tế hàng hóa, cơ chế thị trường, xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản (ngay cả khi nhà nước đã thuộc về tay nhân dân)… Tình hình đó đã dẫn đến tình trạng xã hội trì trệ, sự thoái hóa về chính trị - tư tưởng, đạo đức trong đảng cầm quyền… Đây là nguyên nhân cơ bản dẫn đến khủng hoảng, sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô, Đông Âu. Xét về phương diện lý luận, sai lầm đó bắt nguồn từ chủ nghĩa giáo điều về lý luận, đồng nhất lý luận với phương pháp luận, đồng nhất “kiến trúc cảnh quan với kiến trúc xây dựng”, không biết vận dụng, phát triển sáng tạo lý luận Mác – Lê-nin khi tình hình đã thay đổi...”(hết trích)

Hòa hợp dân tộc? Có thời nào đàn áp người dân Miền Nam khốc liệt như CSVN thời sau 1975 không?
Nhưng tại sao trên một số báo QĐND đột khởi lại có hai bài mang nỗi lo sợ “diễn biến hòa bình” như thế? Có phải CSVN lo sợ quân đội sẽ đứng dậy để sẽ bênh vực những người dân oan, để sẽ đòi hỏi cứng rắn bảo vệ ngư dân ở Biển Đông, và để sẽ đòi các quyền tự do căn bản?

Hay có phải CSVN lo sợ làn sóng ký tên kiến nghị chống Bô Xít đang lôi cuốn cả nhiều vị công thần sẽ tạo ra một cơ nguy sụp đổ chế độ?
Hay có phải CSVN lo sợ những lời kêu gọi dân chủ từ chính Thủ Tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo sẽ có sức chấn động, sẽ gây tỉnh thức cho tất cả những người có quan tâm về một hướng xây dựng đất nước?

Điều thấy rõ hiện nay là chính phủ Hà Nội đang kinh hoảng về “diễn biến hòa bình”... Đơn giản, hãy thấy rằng, người dân muốn có quyền tự do phát biểu, ký giả muốn có quyền tự do báo chí, trí thức muốn có quyền tự do lập hội...
Và khát vọng tự do đó, chính là diễn biến hòa bình. Khát vọng trong tim đó được nuôi dưỡng rồi sẽ tới lúc bỏng cháy, sẽ phựt ra tia lửa để thiêu rụi mọi áp bức kềm kẹp. Không gì khác hơn, diễn biến hòa bình không phảỉ do từ đế quốc nào cả, mà chính là khởi lên từ những tỉnh thức lặng lẽ trong tim mỗi người.

TRẦN KHẢI
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 3 guests