Thời Sự, Bình Luân

KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Nhiều người cần hối lỗi

Ngô Nhân Dụng

Trong công viên sau nhà tôi có một đàn quạ bắt đầu đến chiếm ngụ từ khoảng một tháng nay. Ðảng quạ này có tới ba bốn chục con lớn, tụ tập dưới gốc và trong các tàn cây ở góc phía Ðông công viên này, suốt ngày khai hội, thảo luận, bay qua bay lại gọi nhau rối rít.

Có một cây cao lớn um tùm, họ coi đó như giang sơn của loài quạ. Tôi không ganh tị, ghen ghét với họ, vì quạ cũng cần đất sống như người. Nhưng một điều tôi chắc chắn bất đồng ý kiến với các ông bà quạ đen này, là họ không những chiếm đất sống mà còn phá hoại cuộc sống của nhiều loài chim chóc khác. Ðàn quạ bay sớn sác, ồn ào tới ngọn cây lớn này, nhưng không để làm tổ cư ngụ lâu dài đâu. Ðộng cơ chính của họ là để đi tìm tổ chim, tổ các loài chim nhỏ hơn. Nghề của các ông bà này là, ngoài việc đi mót ăn, lượm nhặt đồ ăn rơi vãi do loài người bỏ đi, họ chuyên tìm bắt chim non và ăn trộm trứng chim. Từ khi đàn quạ tới chiếm lĩnh khu “Biển Ðông” sau nhà tôi, các loài chim khác trốn đi hết.

Khu vườn sau căn nhà tôi ở dần dần không còn bóng con chim nhỏ nào lai vãng nữa. Trước đây, mỗi buổi sáng tôi có thể rắc hạt cho bầy chim sẻ bay nhào tới ăn. Hoặc đứng ngắm các loài chim tới sinh hoạt, mỗi loài mang một điệu hót, một phong thái bay, chuyền riêng. Có những đôi chim ngói, lúc nào cũng đi cặp với nhau vào lúc xế trưa, lẫm chẫm như đôi vợ chồng trẻ dò từng bước trên bãi cỏ, chân bước, đầu lắc lư, mắt dò tìm. Có những con chim bụng vàng, những con chim cổ xanh, cổ đỏ, những cô cậu chim sâu chuyền cành rất lẹ, cứ y như làm xiếc biểu diễn cho mình coi. Ðẹp nhất là những chú chim hút mật (hummingbird) đập cánh bay tại chỗ trông như con chuồn chuồn. Các cô chú chim bé tí tẹo này, ở vùng này thuộc giống Anna, có thể đập cánh mỗi phút 60 lần, nếu bay lui, và trên 75 lần nếu bay tới. Ðang vỗ cánh giữa trời các cô bỗng vọt lên bay mất hút. Rồi thoáng một cái cô bỗng vụt bay trở lại, tiếp tục đập cánh ở yên một chỗ giữa không trung, cứ y như đùa.

Thế mà từ một tuần nay, không còn bóng dáng con chim hút mật nào nữa. Các con chim ngói cũng biến mất. Ðến chim sẻ mà cũng kéo nhau đi tị nạn! Tất cả chỉ vì đám quạ ồn ào, độc ác, đã tới đây trấn lột, đàn áp, đe dọa đám chim non. Tôi hoàn toàn không đồng ý với chủ trương, chính sách của mấy ông bà quạ này. Họ phá vỡ khung cảnh sống bình an của bao nhiêu loài chim và của riêng tôi, một người cư ngụ hợp pháp trong căn nhà của mình.

Cũng giống như vậy, tôi không thể nào đồng ý với chính sách của các ông bà công an ở Việt Nam khi họ phá vỡ những trang mạng như Bô Xít, Lề Bên Trái, Ôsin, X-Cafe, vân vân. Mình không thể nói chuyện với quạ được. Nhưng công an cũng là người, có thể nói phải trái với nhau. Một bài tuần trước trong mục này viết tựa đề “Ông Vũ Hải Triều sẽ hối lỗi.” Ý kiến chính trong đó là: Hành động phá hoại các trang mạng, các blog, mà ông tướng công an Vũ Hải Triều khoe, đang phá hoại cả tương lai nước Việt Nam. Công việc đàn áp này làm cho đời sống tinh thần của đồng bào ta nghèo nàn hơn, đơn điệu hơn, không khí tri thức của cả một dân tộc bị phá hoại, bị thiêu đốt. Những nhà báo chủ trương những mạng và blog đó là những người yêu nước, người con người mà óc suy nghĩ cùng tình cảm bén nhậy nhất nước. Những mạng và blog của họ chỉ giãi bày tấm lòng ưu tư về sự an nguy, tồn tại của của dân tộc. Ðó là nơi trao đổi những mối lo âu về tương lai, nêu rõ những cái sai sót, nhầm lẫn trong hiện tại để cùng nhau sửa chữa. Ðó là những người muốn giúp nước, cứu nước. Thế mà họ bị phá.

Mạng Internet là phương tiện tốt nhất hiện nay để trao đổi hiểu biết, quan điểm, sáng kiến. Trao đổi tự do là phương pháp tốt nhất để một xã hội tiến bộ. Phá mạng lưới là ngăn cản không cho xã hội tiến tới. Nếu ông Vũ Hải Triều biện minh rằng việc phá mạng của ông chỉ cốt ngăn ngừa những cái xấu, những thứ thông tin có hại cho xã hội, thì xin ông biết cho rằng ý kiến đó đã chứng tỏ sai lầm tự căn bản. Cái thời mà một guồng máy nhà nước tự mình quyết định những gì là xấu, là tốt cho một xã hội, rồi bắt cả xã hội phải nghe theo, thời đó đã qua rồi. Ðó là chủ trương của các ông Stalin, Mao Trạch Ðông, và những học trò của họ, từ Kim Nhật Thành tới Pol Pot. Sau bao năm thi hành chính sách đó, hai ông Xít, Mao đã làm cho các nước Nga và Trung Hoa chậm tiến hàng 50, 70 năm so với các nước khác - chưa kể đã giết chết hàng chục triệu người. Muốn kiểm soát đời sống dân chúng, chế độ độc tài của các ông Mao, Xít phải tận dụng hai phương tiện: Bạo lực và dối trá. Họ làm cho đời sống văn hóa của dân tộc họ bị thui chột khi cấm đoán không cho ai nghĩ khác đảng cộng sản, không cho ai nói khác đảng cộng sản. Ðó là điều chúng ta đều không muốn tái diễn trên đất nước chúng ta.

Công an bắt các nhà báo tự do làm blog, làm mạng phải im lặng. Hậu quả là trên mạng Internet của nước ta sẽ chỉ còn những người chấp nhận bịt bớt một bên mắt, đút nút một lỗ tai, rón rén, chăm chú đi đúng trên lề đường do nhà nước chỉ định! Ðọc những bài trên các mạng còn lại, ai nói đến chính trị thì cũng chỉ toàn những giọng điệu dè dặt, nói xa nói gần, nói bóng gió mà không ai dám nói thẳng. Nói đến ngoại xâm nhưng không dám gọi tên Trung Quốc; chỉ dám nói bóng gió, “những chiếc tầu lạ” hoặc “kẻ bành trướng xấu xa đó.” Cả nước Việt Nam chỉ cho toàn những người rụt rè nhút nhát, sợ hãi được sống, y như ông Nguyễn Tuân ngày xưa hay sao?

Thanh niên đều muốn sống có lý tưởng, nhưng không ai được phép đi qua lề bên trái nên chen chân trên lề phải chật hẹp! Có những thanh niên 20 tuổi viết than thở trên mạng Tuyên Quang, rằng “chúng ta đã quá yếu, cố gắng xây dựng một hình tượng Vàng Anh để rồi bị sụp đổ!” Anh thương tiếc hình tượng cô gái sụp đổ ấy! Hình ảnh cô do đám con cháu các cụ, các ông bà lớn dựng lên. Có lúc họ muốn cô trở thành thần tượng cho mọi thanh niên con cháu Lạc Hồng! Còn những hình tượng đấu tranh của Lê Thị Công nhân, Phạm Hồng Sơn, Lê Trí Tuệ, các bạn trẻ trong nước đa số không hề biết đến vì không được phép biết! Thế hệ thanh niên mới lớn lên, vào mạng sẽ chỉ còn thấy những trò giải trí rẻ tiền, thi đua hoa hậu, phê bình phim Hàn Quốc, tài tử Hồng Kông; đi đâu cũng chỉ thấy blog của những cậu ấm cô chiêu phô bầy quần áo, thân thể, và khoe nhau thành tích ăn chơi, tiêu xài tiền bạc. Cả nước như vậy, các thế hệ trẻ sẽ đi về đâu?

Ðó là lý do chúng ta bất đồng ý kiến với ông Tướng Vũ Hải Triều và bộ phận kỹ thuật của công an, những người đi tiêu diệt các mạng cùng blog trong nước. Họ cũng phá hoại các mạng bên ngoài, từ Da Mầu đến Ðàn Chim Việt, Người Việt Online, vân vân. Cho nên khi Ðào Hiếu cho mạng Lề Bên Trái hồi sinh, ai cũng vui mừng. Ðến lúc được bạn bè trong nước cho biết tin nhà văn bị tông xe, đưa tin ngay để chia sẻ nỗi buồn của độc giả, an ủi các nhà văn khác cũng đang bị công an đàn áp.

Sau khi đăng bài trên, một độc giả đã viết email bổ túc và cải chính: “Xin thưa, bác Hiếu bị một thằng nhỏ đụng trên Ðà Lạt, khi ấy, bác đi bộ từ trong nhà hàng ra, với một đoàn người rất đông,... xui là một mình bác bị dính cú đụng trời giáng ấy (gãy xương bả vai, gãy xương đùi).”

Không biết ông bạn này “nắm vững thông tin cụ thể” hay mấy người bạn khác báo tin trước nói chính xác hơn! Nếu tin mới đúng, tin cũ sai thì đã nói oan cho công an! Dù sao, nghe tin Ðào Hiếu bị xe đụng như “trời giáng” thì độc giả vẫn buồn. Và thấy tiếc, tiếc cho một nhà văn phải án binh bất động. Dù bị ai đụng, một em bé vô tình hay guồng máy công an cố ý, thì nhà văn cũng phải nghỉ viết một thời gian. Mỗi nhà văn là một tài nguyên của một dân tộc. Một nhà văn nghỉ viết thì cả dân tộc bỏ phí mất một tài nguyên không sử dụng!

Ông bạn viết thư này nói rõ, “tôi chỉ góp ý chuyện Bác Ðào Hiếu bị đụng xe thôi.” Tức là ông không lạm bàn những ý khác trong bài Bình Luận trước. Chắc ông cũng biết ý kiến chính trong bài đó là: Công an không được tước bỏ quyền tự do của các nhà văn. Các mạng lưới độc lập phải được tự do. Ðó là bảo vệ tài nguyên của dân tộc. Nắm độc quyền chuyên chế về tư tưởng, về ngôn luận, ở bất cứ nước nào, cũng làm cho bao nhiêu tài hoa văn chương, nghệ thuật, triết lý, tư tưởng bị cạn kiệt, héo úa, hao mòn, phí phạm. Ở nước ta trong hơn nửa thế kỷ trước đã lâm vào cảnh đó rồi, bây giờ chúng ta không nên để hao phí những tài nguyên quý giá nữa!

Khi đàn quạ đen công an văn hóa còn bao phủ trên khung trời văn nghệ thì tất cả các giống chim đẹp đẽ biến mất. Loài quạ ăn thịt các loài chim khác, họ còn ăn chim non từ trong trứng, không cho ra đời. Thời xưa, khi Hữu Loan, Phùng Cung, Phan Khôi, Hoàng Cầm bị chế độ cộng sản cấm, muốn viết để kiếm ăn thì phải viết chui, đội tên khác, viết hời hợt, qua loa, không trao gửi được tâm não mình, thì lúc đó cả nước Việt Nam bị thiệt hại vì mất biết bao nhiêu tác phẩm.

Mỗi khi một nhà văn không được viết tự do là bao nhiêu tác phẩm không được thai nghén, không được ra đời. Giống như những trứng chim bị loài quạ ăn tươi nuốt sống. Làm sao chúng ta đo đếm được số tác phẩm đã bị mất, bị giết trước khi ra đời, cả trước khi thai nghén? Họ sẵn sang thủ tiêu thi sĩ. Hữu Loan kể ông đã suýt bị đảng cộng sản giết, chỉ vì làm thơ tình không đấu tranh giai cấp bằng sắt, máu; ông lại lấy con gái địa chủ, rút ra khỏi đảng. Một anh công an thú nhận chỉ vì yêu bài thơ Yên Mô của thi sĩ mà bỏ lệnh, không giết Hữu Loan. Vì quê anh ta ở Yên Mô. Nếu lần đó người công an được sai đi giết Hữu Loan mà không đọc thơ bao giờ, hoặc quê anh ở làng khác, thì tác giả Mầu Tím Hoa Sim đã chết từ lâu, không được sống thêm nửa thế kỷ nữa!

Vị độc giả gửi tin mới về vụ Ðào Hiếu bị đụng xe đã than: “Chẳng hiểu sao mấy anh chuyện gì cũng bẻ cong đi được!” Chắc vậy. Nhiều người ở Việt Nam nghe tin Ðào Hiếu bị nạn thì nghĩ ngay rằng chắc có “bàn ta lông lá” nào đó gây ra. Cũng như tới bây giờ người ta vẫn hỏi vì sao Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh bị tai nạn chết. Cũng như trong tuần này có tin nhà văn Bùi Ngọc Tấn bị một xe máy chở hàng đụng ngã bất tỉnh, buổi chiều 15 tháng 9 khi ông đang đạp xe sau trận ốm dậy. Lập tức có người nhận xét: “Rất khả nghi vì bản dịch tiếng Anh cuốn Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn vừa được báo Người Việt xuất bản ở Cali. Không lẽ lại chỉ là ngẫu-nhiên? Gần như chắc chắn là có bàn tay của bọn ma bùn Công An rồi.”

Nếu quả thật Ðào Hiếu chỉ bị đụng xe ở Ðà Lạt, thì cái tin được loan truyền trước đây không những đã bị bẻ cong, mà đúng ra là đã bẻ ngược. Tại sao? Tại sao người dân nghi ngờ bộ máy công an đến như vậy? Vì người Việt Nam nghe nhà nước nói cái gì, thì nghĩ ngay rằng sự thật phải ngược lại. Nhất là công an nhà nước. Bởi vì cả bộ máy chế độ là một màn dối trá. Như luật sư Trịnh Hội mới viết trên nhật báo Người Việt: “Một thể chế đang (nói) muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền ... (Nhưng) Họ có thể bắt người dân bất cứ lúc nào, tra khảo về bất kỳ vấn đề gì mà họ cảm thấy thích, và nếu cần họ có thể giam giữ vài tuần, vài tháng mà không cần trát tòa hay một lời định tội.” Có nên tin chế độ đó hay không?

Việt Nam là một xứ cái gì cũng bị đảo lộn, cái gì cũng dựng ngược hết! Mọi người phải tập cúi khom lưng, ngó đầu lên, nhìn ngược mọi bức tranh mới hiểu nó vẽ cái gì! Thí dụ, con người hiền lành như nhà thơ Hoàng Cầm mà lại làm thơ chống chế độ cộng sản hay sao? Có ai tin được hay không?

Gần đây nhà thơ Hoàng Hưng mới kể chuyện ông và Hoàng Cầm bị tù vào năm 1982, chỉ vì một tập thơ Về Kinh Bắc chép tay, không hề in ấn! Từ khi Hoàng Cầm hoàn thành Về Kinh Bắc (mùa Xuân 1960) cho đến tháng 8 năm 1982, đã có hàng trăm bản chép được lưu truyền, Hoàng Hưng không thấy ai phổ biến lệnh cấm dù chỉ là lệnh miệng. Nhưng công an đã sắp đạt, gài bẫy, để bắt cả hai thi sĩ vào Hỏa Lò. Họ muốn gán cho hai nhà thơ tội âm mưu phản động! Có nhiều người bạn của hai ông bị bắt buộc phải đóng vai “cá chìm” phản bội, giúp công an đánh lừa cho 2 ông nhà thơ sa vào bẫy.

Hoàng Hưng còn trẻ, bao nhiêu lần bị hỏi cung vẫn cương quyết không nhận tội “âm mưu, phản động, phổ biến thơ chống đảng, chống chủ nghĩa xã hội.” Sau mấy tháng, một bữa, ông được đưa vào phòng thẩm vấn mà không ai tiếp, chỉ thấy trên bàn một bản tự khai, nhìn kỹ thấy chữ viết nắn nót của Hoàng Cầm thú nhận tất cả các tội mà công an muốn gán cho hai người! Trên đường về phòng giam, Hoàng Hưng lại được “bố trí” cho gặp Hoàng Cầm đang ngồi ở cổng. Xin nghe lời kể của nhà thơ: “Tôi xông đến bên ông, hỏi gay gắt: ‘Anh nhận tội phản động thật à? Sao lại thế?’ Hoàng Cầm cúi đầu xuống, không nói gì, từ khóe mắt ông lăn ra những giọt nước mắt. Ðến tận hôm nay, nhớ lại những giọt lệ tủi nhục của nhà thơ đàn anh, lòng tôi vẫn còn đau.”

Chúng ta đều đau đớn. Hoàng Cầm đã bị giết! Một cách giết chết các thiên tài là làm cho họ cảm thấy nhục nhã với chính mình. Chế độ cộng sản không những bắt người ta phải tuân phục; họ còn muốn làm nhục nhà văn, hạ thấp phẩm giá nhà thơ. Họ có cả guồng máy, kỹ thuật để thi hành công tác đó. Họ muốn tiêu diệt trí thức, văn nghệ sĩ, để dễ cai trị quần chúng

Trong những năm mà Phùng Quán, Nguyễn Hữu Ðang, Trần Dần, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Ðức Thảo, Nguyễn Chí Thiện, Bùi Ngọc Tấn, vân vân, không được viết hay viết không được vì bị bắt chui vào rọ, thì nền văn học nước ta mất bao nhiêu tác phẩm? Chắc chắn chúng ta bị mất mát nhiều lắm! Bao nhiêu tài hoa, bao nhiêu bộ óc siêu việt bị làm cho tê liệt hoặc “vô dụng” dù thân thể còn được sống. Các bạn trẻ ở Việt Nam, các bạn có muốn dân tộc ta bị mất mát thêm một thế hệ văn chương nữa, để mở đầu thế kỷ 21 này hay không?

Cho nên, các vị công an đang làm công việc đàn áp mạng lưới của các nhà văn nhà báo tự do cần phải biết hối lỗi. Hối lỗi là một hành vi có tính thiêng liêng. Khi nói một người hối lỗi, chúng ta tin đó là một con người, như mình. Không những thế, đó là những con người có khả năng tiếp xúc với thế giới thiêng liêng cao hơn chính bản thân của họ. Xin chúc quý vị sớm biết ăn năn hối lỗi, sống xứng đáng con cháu Lạc Hồng.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Mời góp ý kiến, rồi bịt mồm mọi người, bịt tai mình, thế là kính trọng dân chủ ư?

Bùi Tín
Bộ Chính Trị đảng CS Việt Nam vừa trịnh trọng ra lời kêu gọi toàn dân góp ý vào 3 văn kiện dự thảo sẽ trình Ðại Hội XI. Ba văn kiện này được công bố từ ngày 15 tháng 9, 2010, gồm Dự thảo Cương lĩnh thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Bản báo cáo chính trị và Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2010-2020. Cuộc góp ý sẽ thực hiện từ 15 tháng 9 đến 31 tháng 10, 2010.

Ði cùng lời kêu gọi là bản hướng dẫn ngày 10 tháng 9, 2010 của Ban Tuyên Giáo Trung Ương Ðảng, hướng dẫn ngành thông tin báo chí về việc đưa tin toàn dân góp ý kiến, có đoạn nguyên văn như sau:

“Không đăng và phát trên các phương tiện thông tin đại chúng những ý kiến phản bác chủ trương, đường lối, quan điểm của Ðảng, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về học thuyết Mác-Lênin, về tư tưởng Hồ Chí Minh, về vai trò lãnh đạo của Ðảng, những vấn đề cần giữ bí mật về quốc phòng, an ninh đối ngoại, những ý kiến đả kích cá nhân hoặc tổ chức đảng, cơ quan nhà nước.”


Thật là lịch sự! Thật là tử tế!


Thế nghĩa là một mặt Bộ Chính Trị ra lời trịnh trọng mời góp ý kiến, nhưng lại cho cơ quan tuyên huấn dưới quyền mình rào đón, ngăn chặn trước, giao hẹn cho toàn dân không được tỏ ý phản đối, bác bỏ, phê phán những gì thuộc về chủ trương, đường lối, quan điểm của đảng, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về tư tưởng Hồ Chí Minh, về vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Ðảng Cộng Sản...

Vì sao vậy? Gần đây, ngày càng có những ý kiến của các nhân sỹ lão thành, các đảng viên có 50 năm, 40, 30 năm tuổi đảng, nhiều tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp, cả cựu ủy viên Bộ Chính Trị, cựu ủy viên Ban Bí Thư Trung Ương, cựu ủy viên Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng, đưa ra hàng loạt ý kiến, trúng phắp vào những điều cấm kỵ trên đây.

Ðó là yêu cầu từ bỏ khái niệm chủ nghĩa Mác-Lênin, từ bỏ khái niệm chủ nghĩa xã hội (kiểu Mác-Lênin), từ bỏ ý tưởng nền dân chủ - độc đảng, yêu cầu thay chủ nghĩa Mác-Lênin bằng chủ nghĩa dân tộc, thay danh xưng Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam bằng danh xưng Nước Việt Nam, hay Nước Dân Chủ Cộng Hòa Việt Nam; đổi tên Ðảng Cộng Sản Việt Nam thành Ðảng Lao Ðộng Việt Nam, hay Ðảng Dân Chủ Nhân Dân, hay Ðảng Dân Tộc, hay Ðảng Xã Hội-Dân Chủ Việt Nam... với những lý lẽ và lập luận chặt chẽ, xác đáng.

Hàng loạt chủ trương lớn cũng được góp ý rất chân thành, như từ bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa vì khái niệm này còn rất mơ hồ, không cụ thể, không nên coi sở hữu quốc doanh là chủ đạo vì các tập đoàn kinh tế quốc doanh phần lớn làm ăn thua lỗ, còn phá sản, do được quá o bế, nuông chiều, tha hồ vay mượn ngân hàng nhà nước, trong khi kinh tế cá thể vừa và nhỏ của tư nhân bị phân biệt đối xử, rẻ rúng, chèn ép; như yêu cầu trao trả hẳn quyền sở hữu ruộng đất cho các hộ nông dân thực sự làm ruộng; hoặc như yêu cầu từ bỏ chế độ độc quyền cai trị của một đảng duy nhất, vì chế độ độc đảng không có kiểm soát, không có cân bằng, không có lựa chọn, thay thế, một mình một chiếu không thể có nền pháp trị nghiêm minh, không thể có dân chủ thật sự, không thể chống tham nhũng cửa quyền có hiệu quả.

Lại còn những chủ trương đã rõ ràng là sai lầm tệ hại như chủ trương “mời” ông bạn “vàng” của họ vào Tây Nguyên khai thác bauxite, vào đánh cá chung trong Vịnh Bắc Bộ, vào trồng rừng dọc biên giới; rồi chủ trương xây dựng khu kinh tế lọc dầu Dung Quất, lại còn chủ trương huênh hoang phát triển Vinashin thành ngành đóng tầu viễn dương mũi nhọn danh tiếng nhất Châu Á (!)...;rồi chủ trương che giấu cả Trung Ương Ðảng và Ðại Hội X Bản báo cáo liên ngành tuyệt mật về vụ án siêu nghiêm trọng Tổng Cục II, mà yêu cầu trong đảng phải đưa ra rõ ràng công khai trong dịp này, ngay trong Ðại Hội XI, họ sẽ ăn nói sao đây? Lờ đi mãi được à? Bịt mồm hàng triệu đảng viên được à?

Có thể nói những góp ý quan trọng nhất, then chốt nhất, có tác dụng từ bỏ sai lầm, đưa đất nước vào con đường đúng đắn, nhằm phát triển đất nước vững bền, xây dựng xã hội tiến bộ, bình đẳng, văn minh... là đều liên quan đến chủ trương, đường lối, quan điểm của đảng.

Không phải ngẫu nhiên mà có đảng viên hơn 30 năm tuổi đảng yêu cầu từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin tệ hại, nếu không sẽ đốt thẻ đảng viên trước đông đảo thanh niên nhằm cảnh tỉnh những thế lực bảo thủ lạc hậu tàn phá đất nước.

Ðã có nhiều trí thức, chuyên gia, nhà báo, cư dân bloggers, văn nghệ sĩ lên tiếng yêu cầu sửa Hiến Pháp, đề xướng và thực thi đầy đủ quyền làm người, các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội, tự do bầu cử, xây dựng xã hội công dân thật năng động rộng khắp, lấy dân chủ pháp trị đa đảng làm nền tảng, đã được thực nghiệm mấy thế kỷ nay và ngày càng hoàn thiện trên quy mô toàn thế giới.

Ðã có những trí thức tâm huyết thét lớn rằng: xây dựng nền dân chủ đa đảng trong hòa bình và luật pháp là mệnh lệnh của thời đại!

Cũng có lời hô hào đầy nghị lực và tâm huyết, mang tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh: xây dựng chế độ dân chủ đa đảng trong hòa bình và pháp luật nhằm khơi dậy tiềm năng vô tận về mọi mặt của toàn dân, hay là chết!

Từ nay đến cuối tháng 10, 2010 sẽ xuất hiện thêm nhiều góp ý, kiến nghị phong phú, có giá trị.

Không thể coi thường công luận, khinh thường công dân để một mặt Bộ chính trị mời toàn dân phát biểu, lại để cho ngành tuyên huấn ra hướng dẫn đe nẹt, bịt mồm trước mọi tiếng nói ngay thật, có chiều sâu trí tuệ và tâm huyết.

Lãnh đạo đất nước không thể thiếu kính trọng, thiếu dân chủ với toàn dân như thế được.

Ðể xem trên báo chí, trên đài phát thanh, trên vô tuyến truyền hình, trên diễn đàn quốc hội, hàng triệu ý kiến góp ý với Ðại Hội XI sẽ được phản ánh “trung thực, khách quan, đầy đủ” ra sao, hay vẫn là thói xấu xa dại dột chỉ phô ra những lời khen, tâng bốc, giấu kỹ mọi ý kiến trái chiều.

Vậy thì các tấm lòng tha thiết với vận nước sẽ tha hồ có dịp tìm đọc những ý kiến hay ho, những kiến nghị có giá trị cao, có lập luận chặt chẽ, những sáng kiến cứu nước bổ ích trên các mạng lề trái, trên các blog tự do mà cường quyền vẫn một mực sợ ánh sáng của sự thật không thể nào cản phá nổi.

Ðảng cộng sản thường đề cao tự phê bình, coi tiếp thu phê bình, sửa chữa sai lầm như rửa mặt. Trong dịp Ðại Hội XI, chẳng lẽ lãnh đạo đảng lại không chịu rửa mặt, còn tỏ ra thiếu kính trọng, thiếu dân chủ với toàn dân, mời dân góp ý, rồi bịt tai mình lại, bịt mồm toàn dân không cho dân quyền nói thật. Qua đại hội, qua việc mời toàn dân góp ý kiến kỳ này, có vẻ như họ vẫn tự trưng ra bộ mặt còn khó coi hơn trước nữa.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Ta chợt hoá Trung Hoa!_Lê Diễn Đức


Hà Nội!
Giờ này trời Hà Nội đã là buổi sáng. Ngày 1 tháng 10 năm 2010.
Cũng là ngày kỷ niệm lần thứ 61 quốc khánh Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.Vào buổi tối ngày 13/01/2008, một buổi lễ hội mang tên “Khoảnh khắc Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội” đã diễn ra tại Đền Bà Kiệu.

Chiếc đồng hồ lớn đếm ngược đã được khởi động và trong khung cảnh cờ hoa rực rỡ dưới ánh sáng đèn màu của kỹ thuật tin học-laser, cùng với sự ầm ĩ truyền thống, người ta tính còn 1000 ngày nữa là tới đại lễ 1000 năm Thăng Long.

Một bài báo trong nước[1] ngày hôm sau tường thuật lại sự kiện đã lưu ý chuyện nhầm lẫn của ban tổ chức rằng, “từ thời điểm 22 giờ 6 phút ngày 13/01/2008 đến đại lễ 1000 năm Thăng Long, ngày 10/10/2010, thì phải là 1001 ngày nữa”.



Các tài liệu hiện có và giới sử học Việt Nam cho rằng, Chiếu Dời Đô hay Thiên Đô được Lý Thái Tổ ban hành vào mùa xuân năm 1010 và vào tháng 7 năm 1010 thì cho chuyển Kinh đô của nước Đại Cồ Việt từ Hoa Lư (Ninh Bình) về thành Đại La (Hà Nội). Lưu truyền rằng, vào một buổi sáng đẹp trời, khi thuyền vừa cập bến, nhà Vua chợt thấy rồng vàng bay lên, do đó đã đặt tên Kinh đô là Thăng Long (tức Hà Nội ngày nay).

Cho nên, tôi thấy sự nhầm lẫn không có gì đáng trách, kể cả cố ý, bởi vì người ta quen nói số chẵn cho một sự kiện nào đó. Tính còn lại 1000 ngày hay 1001 ngày không làm mất đi ý nghĩa của thời điểm 1000 năm.

Tuy nhiên, điều đáng chú ý là, bản tin trên đã làm cho rất nhiều người, nếu không nói rằng nhân dân cả nước, hiểu rằng, kỷ niệm Đại lễ Nghìn năm Thăng Long – Hà Nội sẽ nhằm vào ngày 10 tháng 10 năm 2010.

Chọn ngày 10/10 lại có sự trùng hợp với kỷ niệm 56 năm ngày giải phóng thủ đô Hà Nội: 10/10/1954 – 10/10/2010.

Thế nhưng, từ buổi tối 13/01/2008 tới nay đã có biết bao biến động xảy ra trên Kinh thành Thăng Long của triều đại cộng sản Việt Nam. Không thiếu những khoảnh khắc cả nước bị chính quyền đặt vào tình huống đã rồi, bất ngờ đến đau đớn, choáng váng, rồi uất nghẹn, tủi hổ và cay đắng vì bất lực. Ngược lại, những cơn địa chấn ấy cũng đã làm thức tỉnh lương tri nhiều người yêu nước trước số phận bất hạnh của dân tộc.

Trong cơn bão của toàn cầu hoá và nắm bắt được bản chất tham quyền, vụ lợi của tập đoàn lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, người láng giềng phương Bắc không còn dùng giáo gươm, ngựa chiến hay xe tăng, đại bác, lấy thịt đè người để tràn ngập lãnh thổ Việt Nam nữa.

Vứt bỏ sách lược “súng đẻ ra chính quyền” của Mao Trạch Đông, Bắc Kinh áp dụng chính sách bành trướng bằng xuất khẩu ồ ạt chủ nghĩa tiền là đức tin (mamonism – baijinzhuyi) với mục đích áp đặt một chủ nghĩa nô lệ mới (servilism) trên đất Việt!

Có cần liệt kê không vô vàn dẫn chứng mà dư luận xã hội, đặc biệt của giới trí thức, văn nghệ sĩ trong nước và các đảng viên cộng sản lão thành đã phổ biến công khai? Từ việc ngư dân Việt Nam bị tổn thất tiền của và sinh mạng, chịu tủi nhục trước sự trấn áp, bắt bớ của tàu Trung Quốc mà nhà cầm quyền chỉ dám gọi là tàu “lạ”? Từ việc biểu hiện lòng yêu nước và chủ quyền với Hoàng Sa -Trường Sa được xem là hành động chống đối nhà nước và bị đàn áp, cấm đoán? Từ việc đất, biển, rừng đầu nguồn, khai thác tài nguyên khoáng sản, 90% các dự án trọng điểm – tổng thầu EPC… lần lượt êm ả lọt vào vòng tay khống chế của Trung Quốc?…

Và rồi, ngày trọng đại kỷ niệm Nghìn năm Thăng Long, một cột mốc lịch sử của dân tộc với sự háo hức chờ đợi của toàn dân đã bị thay đổi đầy nghịch chướng: chọn đúng ngày quốc khánh Trung Quốc!

Tôi nghẹn ngào khi đọc bản tin của VnExpress ngày 27/09 thấy “Hà Nội vừa công bố kịch bản chi tiết lễ khai mạc đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long diễn ra sáng 1/10 tại vườn hoa Lý Thái Tổ và khu vực xung quanh Hồ Gươm”.[2]

Tại sao lại có thể như thế?

*

Tôi biết Hà Nội từ khi còn bé. Khi tuổi lên 5, lần đầu tiên ba tôi cho dừng chân nghỉ lại nhà trọ bên Ga Hàng Cỏ vài ngày, được vào xem Vườn Bách Thú và ăn phở, trên đường về thăm quê Văn Giang (Hưng Yên), cách thủ đô chỉ hơn 10 cây số, nằm phía bên kia bến đò Thanh Trì trên sông Hồng.

Tôi ra Hà Nội tập trung đi học nước ngoài tại Đại học Kinh tế Kế hoạch, trở về nước sống trong lòng thủ đô giữa các bức tường của trại giam Thanh Trì và Hoả Lò gần hai năm, rồi ra tù, cộng thêm hơn một năm lưu trú nữa trước khi quyết định vào mưu sinh tại Sài Gòn.

Có nghĩa rằng, không những chẳng là người Hà Nội, với thời gian ngắm ngủi, tôi biết rất ít về Hà Nội!

Thời gian ở cố định một chỗ dài nhất của tôi tại Việt Nam là Sài Gòn, với gần 14 năm, đầp ắp kỷ niệm của cuộc sống lăn lộn và phiêu lưu. Không kém nhạc sĩ Đức Huy, một người nhờ “Cali trời mưa ít, không như Sài Gòn” mà không “khóc một dòng sông, một dòng sông dài”, tôi bùi ngùi mỗi khi nhớ đến Sài Gòn và con đường trở lại còn xa tắp, ngay trong bài hát của mình:

… Nhớ! Ai hiểu hết nỗi nhớ nhà

Sài Gòn ơi, ta đã đi xa

Từng góc phố, từng mái nhà xưa

Hàng me khóc khi trời sang mưa!

Vậy nhưng, sâu nặng vấn vương hơn, với tôi, không phải Sài Gòn mà là Hà Nội. Bước ra khỏi nhà tù Hoả Lò với cái “Lệnh tạm tha”, trong những ngày khốn khổ và khốn nạn nhất, chui rúc, luồn lách để tồn tại, tôi đã yêu và được yêu trên mảnh đất này.

Hà Nội gắn bó với tôi bằng mồ hôi, nước mắt, bằng máu của con tim và những ý tưởng ngông cuồng của tuổi trẻ!

Trong hoàn cảnh bế tắc, không có gì làm dịu tâm hồn bất ổn của tôi hơn bằng khung cảnh thiên nhiên dịu ngọt, bình an của Hà Nội.

Chỉ có ai không biết ngày mai mình sẽ ngủ ở đâu mà không phải đăng ký tạm trú, không bị công an hộ khẩu kiểm ra giữa đêm, không biết ngày mai tiền hết sẽ ăn chực ở nhà thằng bạn nào, lang thang giữa phố phường hay trong công viên Thống Nhất, ngồi ngắm sao trời nghĩ về thân phận, về một tương lai bất định, mới thấm hiểu và chia sẻ cùng tôi hình ảnh Hà Nội đã có một thời như thế. Nó đã mang đến cho tôi sự trầm mặc, tĩnh lặng để nghĩ suy, để mưu tìm và hy vọng. Hà Nội có cái đặc thù ấy, cả khi cuộc sống với bao tất bật lo toan, vội vã, thiếu thốn, thậm chí đầy khói lửa trong những ngày máy bay Mỹ đánh phá…

Xa Hà Nội, nghĩ về Việt Nam là tôi nhớ đến Hà Nội. Hình ảnh Hà Nội trong niềm ký ức của tôi là những “quán cóc liêu xiêu một câu thơ”, bên nhau thưởng thức ly trà mộc, nhâm nhi thanh kẹo lạc và hút thuốc lá cuộn Lạng Sơn. Hà Nội đồng nghĩa với sự lãng mạn, nhân văn của từng góc phố, những mái ngói rong rêu, với cây bàng lá đỏ trong các nhạc phẩm, đặc biệt của một người bạn tôi – nhạc sĩ Phú Quang: “Em ơi, Hà Nội phố, ta còn em mùi hoàng lan, ta còn em mùa hoa sữa, con đường vắng rì rào cơn mưa nhỏ, ai đó chờ ai, tóc xoã vai mềm…”, hay: “Chỉ còn nỗi im lặng phố khuya, không gian dạ hương sâu thẳm, (…) chỉ còn mêng mông hương hồ, hiu hắt soi những cây bàng lá đỏ, từng hàng cây góc phố ngây ngô nhìn nhau, chỉ còn hơi ấm mối tình đầu, anh đi có đôi lần nhìn lại, chỉ còn em còn em, còn em, im lặng đến tê người…”

*

Hôm nay tôi gọi điện thoại về Hà Nội hỏi thằng bạn dân Hà Nội một trăm phần trăm về Lễ hội Nghìn năm. Nó bảo đọc bài của Đỗ Hoàng Diệu trên talawas rồi còn hỏi làm quái gì nữa. Tao ở nhà! Rồi nó nói, mày có biết Hà Nội đầy gái điếm rẻ tiền và nói ngọng không, nói “nè nưỡi nếm nòng nợn nuộc” ấy, xài iphone, ăn mặc thời trang “Made in China”, màu sắc chói chang cả mắt, phô “hàng” đến khiêu khích! Phiên bản của Hà Nội hôm nay đấy! Tao có cảm tưởng Hà Nội đã hoàn toàn biến dạng, hiện thân không phải trong cô gái điếm nói ngọng thì cũng là một ả lên đồng điên điên, khùng khùng. Lai căng, lố bịch, hài hước. Ngày Lễ Nghìn năm hả? Gặp đúng cơ hội may mắn, có thêm mớ tiền, ả ta thả sức bôi son, trát phấn, xức nước hoa rởm và đeo đầy mình đủ thứ trang sức vô giá trị, vô văn hoá, đã lố bịch càng lố bịch thêm. Đấy là tao không thèm nói tới chuyện Lý Công Uẩn bị người ta cho quay quẩn thể nào mà hệt như hành hương từ Trung Nam Hải về Thăng Long! Bốn ngàn năm ta lại là ta thì vẫn còn tốt chán! Mày thấy không, chỉ sau vài thập niên ta chợt hoá Trung Hoa mới đau!…

Tôi hỏi nó mày nghĩ gì về tấm hình đại tướng Võ Nguyên Giáp, nghe nói ông đang thập tử nhất sinh trên giường bệnh, phải thở bằng ống dẫn oxy, bị người ta dựng dậy mặc quân phục để bí thư thành uỷ Hà Nội Lê Quang Nghị chìa ra cái giấy của Đảng và Nhà nước mời Cụ đi dự Lễ hội Nghìn năm, rồi chụp hình. Quảng cáo? Thằng bạn chửi thề và rít lên. Một lũ bỉ ổi! Tao đã nói rồi. Lố bịch, lố bịch và lố bịch. Ở đâu đâu cũng thấy những bản mặt dối trá và lố bịch! Mày nhìn mặt kỹ mặt Tướng Giáp xem tao nói có đúng không! Có cái triều đại nào trơ tráo, nhố nhăng, lố bịch và ngu xuẩn hết cỡ như thế trong lịch sử Việt Nam? Cần gì phải làm như vậy! Cứ như thể mặc quần áo để liệm Cụ vào quan tài!

Tôi biết nói gì đây? Ôi, Hà Nội nghìn năm ơi!

Ngày 1 tháng 10/2010
© Lê Diễn Đức & Talawas Blog
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Học cách giết người của Mao

Ngô Nhân Dụng
Nói đến văn hóa, chúng ta thường nghĩ tới những điều lớn lao như tư tưởng, triết học, cách giáo dục, cách tổ chức xã hội, vân vân. Nhưng đời sống văn hóa hai dân tộc khác nhau được thể hiện trong cách sống hàng ngày, cách người ta chào hỏi nhau, ăn uống với nhau, chúc mừng, biếu xén nhau, vân vân. Văn hóa khác nhau, trong cách sống, cách chết, ngay cả cách giết người cũng khác nhau.

Văn hóa Việt Nam xưa nay biểu lộ những quan niệm về sống, chết khác hẳn người Trung Hoa. Nhưng phải thú nhận phong cách giết người của nước mình rất thô sơ, chưa bao giờ nhiều sáng kiến phong phú như bên Trung Quốc. Tiểu thuyết Ðàn Hương Hình của Mặc Ngôn cho rất nhiều thí dụ về các kỹ thuật độc đáo của người Trung Hoa trong việc tra tấn người đến chết. Trong lịch sử còn ghi những chuyện thật, không hư cấu. Ðời Võ Hậu nhà Ðường, Tố Nguyên Lễ đã sáng chế ra các khí cụ và phương pháp tra tấn gọi tên là Lồng Sắt và Phơi Cánh. Không có tài liệu mô tả các hình cụ đó thế nào, nhưng các quan trong triều chỉ nghe thấy đã rùng mình. Nguyên tắc của hình quan là hễ bắt một người thì phải làm sao cho hắn phải khai ra hàng chục người khác để trị tội. Tố Nguyên Lễ đã dùng phương pháp dây chuyền này xử tử hình cả nghìn người. Một người kế vị ông ta là Lai Tuấn Thần, đã phát minh ra những cách tra tấn kỳ diệu hơn và giết nhiều người hơn nữa. Khi tên này bị Thái Bình Công Chúa phản công bắt giết, kẻ thù khắp nơi mừng rỡ. Họ chờ sẵn để được băm vằm cái xác hắn ta rồi “tranh nhau róc thịt, chốc lát thi thể chẳng còn gì nữa.” “Chốc lát!” Chỉ có sử gia Trung Quốc mới có hai chữ thần tình như thế. Việt Nam không có những viên quan giết nhiều người bằng các phương pháp độc đáo để dân phải oán hận như vậy, vì văn hóa nước mình khác.

Cái nguy bị nhiễm “văn hóa giết người” bắt đầu từ khi Hồ Chí Minh mời các cố vấn Trung Quốc Vĩ Ðại vào nước ta thực hiện chủ nghĩa Mao Trạch Ðông. Giữa thế kỷ 20, người Việt Nam mình cũng học và áp dụng cách giết người rất tàn bạo nhờ học các cố vấn Tầu. Thí dụ, trong cuộc cải cách ruộng đất, người Việt chôn sống đồng bào mình, chôn đứng chỉ để hở cái đầu, rồi cho trâu kéo cày đi qua lại nhiều lần, đến lúc nạn nhân chết mới thôi. Thi sĩ Hữu Loan, tác giả Mầu Tím Hoa Sim đã kể chuyện này, nếu không chắc nhiều người không tin cảnh đó có thật. Chính song thân bà vợ của Hữu Loan đã bị giết như thế. Hai cụ từng được phong làm địa chủ cứu quốc; nhiều lần đã chở gạo nuôi bộ đội Sư Ðoàn 304 của ông, cho nên thi sĩ biết ơn. Khi hai cụ bị giết, Hữu Loan đã cưu mang người con gái của họ, nếu không chắc cô ta sẽ chết đói. Sau ông lấy cô làm vợ mặc dù lấy con địa chủ thì phải ra khỏi đảng, bị mất hết các quyền lợi của đảng viên.

Những cách giết người mới mẻ, như chôn người ta xuống giết bằng lưỡi cày, chắc là do các cố vấn Trung Cộng giúp đỡ, hướng dẫn và chỉ đạo trong thời Cải Cách Ruộng Ðất. Người Việt mình khó có ai nẩy ra được những sáng kiến như thế. Cũng như người mình phải học trong sách Tầu mới biết những món ăn, như múc óc khỉ còn sống ra, ăn ngay trên bàn. Người mình không ai nỡ đối xử với loài vật hay với con người ác độc như vậy. Giết một mạng người cũng là ác quá rồi; chớ đừng nói trước khi giết còn hành hạ, tra tấn người ta bằng lưỡi cày!

Ở bên Tầu thì khác. Họ là một quốc gia rộng lớn, vĩ đại, đông dân; người vùng này có khi coi người vùng kia như là dân khác giống. Mao Trạch Ðông đã nói nếu chiến tranh làm chết mất một nửa thì dân số Trung Hoa cũng vẫn còn đông nhất thế giới. Ðối với Mao, nhân dân chỉ là một con số, giết một mạng người đâu nghĩa lý gì. Các vua quan Việt Nam có đời nào nghĩ về dân, nói về dân mình như thế hay không? Trước thời cộng sản, chưa thấy có.

Việc nhập cảng một phương pháp giết người, số người bị giết không quan trọng bằng hậu quả, là hành động giết người tàn nhẫn đã thay đổi quan niệm của dân. Cách người ta nhìn giá trị một con người, về mạng sống một cá nhân đã thay đổi sau khi được chứng kiến các cảnh giết chóc mới. Nó thay đổi đến cách chúng ta nhìn vào mặt nhau, như những con người, như đồng bào. Chúng ta đã thấy xã hội mình có thay đổi thật sau khi được huấn luyện nuôi lòng căm thù, theo chủ trương của Mao.

Lòng căm thù phải được thổi lên và nuôi dưỡng bao nhiêu lâu mới khiến con người trở thành lạnh lùng, sẵn sàng giết đồng bào và chứng kiến cảnh giết người như thế? Cái tâm của người Việt đã thay đổi đến mức nào thì mới tổ chức được những cuộc giết người độc đáo y như bên Trung Quốc vậy?

Cứ nhìn các phương pháp giết người mới, Tâm con người phải thay đổi. Con người nhìn lẫn nhau không còn thấy đó là những người làng, những hàng xóm, anh em. Họ được huấn luyện chỉ còn nhìn thấy đó là những đối tượng đấu tranh, căm thù.

Bởi vậy, học giết người theo lối Trung Cộng, người Việt sẽ dần dần cũng bị đồng hóa theo nếp sống, nếp suy nghĩ và nếp tình cảm của cán bộ Trung Cộng. Cuộc đồng hóa diễn ra theo một quá trình được hoạch định rất quy mô, dưới sự chỉ đạo của các cố vấn. Cả một đội ngũ văn nghệ sĩ được lệnh làm thơ dạy bảo người Việt Nam “chưa biết căm thù thì chưa biết yêu thương.” Ý kiến đó trái ngược hẳn với những lời dạy của Lý Nhân Tông, Trần Thái Tông, Nguyễn Trãi.

Ðó là một vấn đề văn hóa. Cứ hỏi tại sao nền nếp đạo lý của nước mình bây giờ bị tàn hoại, trẻ em cũng biết ăn cắp, biết trấn lột lẫn nhau. Chỉ vì người lớn đã chấp nhận nô lệ về văn hóa từ hơn nửa thế kỷ trước. Học tập Mao chủ tịch trong cách giết người của văn hóa Trung Hoa là nô lệ văn hóa nước bạn láng giềng. Nó khiến người Việt Nam nhìn nhau theo lối người Trung Hoa. Trong lịch sử Trung Hoa có nhiều lúc họ phải nhìn nhau như thù địch, như súc vật. Vì những điều kiện địa lý, kinh tế của họ khác hẳn hoàn cảnh nước mình.

Trong lịch sử Trung Quốc có những vụ giết người “vĩ đại” không thể nào xảy ra ở Việt Nam được. Thí dụ như Tướng Bạch Khởi nước Tần, tỉnh Thiểm Tây bây giờ. Chủ trương quân sự của Bạch Khởi (không rõ năm sanh, chết năm 257 trước Công nguyên), là châm ngôn “Tận địch vi thượng” trong Chu Ngữ. Câu này nghĩa là “Giết hết quân địch là mưu lược cao nhất.” Trong cuộc đời chiến tranh 37 năm, Bạch Khởi đã chỉ huy 10 chiến dịch lớn, chiếm 70 thành trì, san bằng các nước Hàn, Ngụy, Triệu, Sở, mở rộng biên giới nước Tần, chuẩn bị cho việc thống nhất nước Trung Hoa.

Năm 293 (trước Công nguyên), Bạch Khởi đem quân đánh liên quân Hàn và Ngụy. Tuy số quân bên địch đông gấp đôi, Bạch Khởi biết nhược điểm của họ là chia rẽ. Ông đánh quân Ngụy trước rồi đánh Hàn sau, giết chết 240,000 binh sĩ địch. Nhưng trận đánh tàn bạo nhất là trận Trường Bình (Chang Ping), năm 260 ở nước Triệu. Quân Tần vây thành Thượng Ðẳng ba năm không đánh được, đã dùng kế ly gián khiến vua Triệu cách chức tướng giỏi Liêm Pha, đưa tướng dốt Triệu Quát ra chỉ huy. Bạch Khởi được bí mật đưa tới mặt trận, đã dùng kế dụ cho Triệu Quát khinh địch tấn công trước. Rồi hai cánh quân Tần xông ra cắt ngang quân Triệu. Quân Triệu phải kép lên cao cố thủ, Bạch Khởi ra lệnh quân Tần “chỉ vây mà không đánh.” Quân Triệu bị vây hãm 46 ngày, hết lương thực, hết nước uống, ăn thịt, uống máu lẫn nhau. Triệu Quát liều mạng phá vòng vây, bị trúng tên chết trong đám loạn quân. Toàn bộ quân Triệu phải đầu hàng. Bạch Khởi đã chọn 240 trẻ vị thành niên trong đám hàng binh, thả cho về nước để gieo kinh hoảng. Số còn lại, tất cả bị chôn sống. Trong trận này quân Triệu thiệt hại tổng cộng 450,000 người, quân Tần chết khoảng trăm ngàn. Ðó là chủ trương “Tận địch vi thượng.”

Làm sao một người có thể quyết định chôn sống hàng trăm ngàn hàng binh trong một đêm? Muốn đang tâm làm việc đó, phải là những kẻ không coi các “đối tượng” là những con người giống như mình nữa. Chắc phải “đối tượng hóa,” nhìn người ta như là dê, cừu, gà, lợn, hay thấp hơn cả súc vật. Khi Ðặng Tiểu Bình ra lệnh xe tăng tiến vào Thiên An Môn bắn chết các sinh viên tay không đi biểu tình năm 1989, ông ta cũng phải có tấm lòng sắt đá lạnh lùng như Bạch Khởi. Cả hai đều có trong tay một bộ máy giết người để sử dụng, đám quân sẵn sàng tuân lệnh, không suy nghĩ.

Hạng Vũ khi vào kinh đô Hàm Dương nước Tần (206 trước Công nguyên). Muốn trả mối thù ngày xưa đã tới đây bán cơ bắp kiếm việc làm và bị sỉ nhục, Vũ bắt quan, dân, lính tráng, cung phi nước Tần làm nô lệ cho đám lính người Sở của mình. Nghe đồn dân Tần oán thoán, sợ chúng nổi loạn, Hạng Vũ ra lệnh giết 200 ngàn hàng binh, trừ hậu hoạn, đốt sạch kinh thành. Người nước Tần với người Sở nói tiếng khác nhau, y phục khác nhau, điệu hát cũng khác nhau; khi lòng thù hận nổi lên thì không những họ coi nhau như kẻ thù mà còn có thể nhìn người nước kia không khác gì cầm thú. Giết mà không ớn tay. Các lãnh tụ tài giỏi biết khích động lòng căm thù trong đám quần chúng theo mình, thì dễ thành công trong chiến trận.

Những kẻ giết người đều có lý do để tự biện minh. Nhưng trên căn bản, họ phải là những kẻ coi khinh mạng sống, coi khinh nhân loại. Mạng người rẻ quá, có lẽ vì họ vẫn nhìn chung quanh, thấy đông người quá. Cứ vài thế hệ nước Trung Hoa lại bị một trận mất mùa đói kém chết hàng loạt. Bọn vua quan không bị đói bao giờ cho nên không lo ngăn ngừa trước để dân tránh nạn đói. Nhiều miệng ăn mà thực phẩm thì có giới hạn, thức ăn có khi quý hơn mạng người. Giết người để cướp một nắm cơm cũng phải giết. Ðời Ðường, thành Thương châu bị vây hãm. Một đấu gạo giá 3 vạn quan tiền. Giết được một tên địch, cắt đầu đem nộp thì được thưởng một vạn quan. Ba cái đầu mới đong được một đấu gạo. Sống mãi như vậy thành quen, chết như vậy mãi cũng thành quen. Suốt dọc lịch sử nước Trung Hoa có những cuộc tàn sát vô lý mà người Việt Nam không thể nào hiểu nổi. Chắc chắn không ai bắt chước làm như họ được, trừ khi cứ nhắm mắt nghe theo lời cố vấn vĩ đại.

Ðời Ðường, Hoàng Sào đi thi không đậu, đi bán muối lậu bị bắt phải hối lộ bọn tham quan mới thoát chết. Nổi lên làm loạn, khi Hoàng Sào chiếm kinh đô Trường An năm 880, đã tàn sát hết bọn tôn thất họ Lý của nhà Ðường, và gia tộc tất cả các quan lại. Lòng thù hận ghê gớm như thế. Cuối đời Minh chế độ sắp tan, Trương Hiến Trung đánh thành Lục An mãi không thắng, giận lắm. Ðến khi chiếm được thành (năm 1642) ông ra lệnh giết hết dân chúng. Dân kêu oan, vì họ đã bị cưỡng bách phải giữ thành chứ họ không muốn chống cự. Hiến Trung giảm tội cho, ra lệnh chặt tay tất cả, đàn ông chặt tay trái, đàn bà chặt tay phải. Cả thành phố Lục An toàn người cụt tay. Năm sau, Trương Hiến Trung tấn công chiếm Vũ Xương. Tất cả những người dân còn sống được tập họp ở bờ sông, sai lính cưỡi ngựa xua đẩy dân xuống sông Trường Giang, cho chết đuối hết. Xác người lềnh bềnh, suốt mấy tháng trời không ai dám ăn cá

Tất nhiên mỗi lần muốn giết 100 ngàn người thì kỹ thuật thời đó đòi hỏi phải có hàng chục ngàn người đồng tình tham dự việc giết chóc mà không gớm tay. Kỳ Ngạn Thần, kể lại chuyện này trong cuốn “Người Trung Quốc, những hiểu lầm lịch sử” đã nhận xét là vụ tàn sát cả thành phố Vũ Xương này còn kinh khủng hơn cuộc đại thảm sát do quân Nhật gây ra ở Nam Kinh vào thế kỷ 20. Mà ở Vũ Xương lại là người Trung Hoa giết người Trung Hoa đấy.

Trong thế kỷ 20, người Trung Hoa vẫn giữ được thói quen giết người tập thể. Tác giả Giải Tư Trung, trong cuốn viết về “Sự khủng hoảng của tố chất quốc dân” kể lại rằng trong thời Ðại Cách Mạng Văn Hóa, tháng 8 năm 1966 ở huyện Ðại Hưng, bên ngoài thành phố Bắc Kinh, có 325 người đã bị chôn sống giữa ban ngày, gồm những người được gán nhãn hiệu “phần tử loại bốn” cùng với thân nhân; tổng cộng 22 gia đình; người già nhất 80 tuổi, trẻ nhất là một em bé mới ra đời được 38 ngày! Ở huyện Ðạo tỉnh Hồ Nam, trong 2 tháng có 4,193 người bị giết oan, do “hành động tự phát” của “quần chúng cách mạng.” Người Việt mình chịu thua.

Chúng ta không thể vì những vụ tàn sát kể trên mà nói rằng người Trung Hoa tàn ác hơn người Việt; cũng như không thể nói người Ðức đều ác độc căn cứ vào những vụ Ðức Quốc Xã tàn sát người Do Thái. Ðiều mà chúng ta có thể nhìn nhận là các bạo chúa, ở Ðức hay ở Trung Quốc, đều biết kích thích lòng hận thù của đám đông, thúc đẩy cho thú tính nổi dậy, gây ra tội ác tập thể. Một điều có thể nhận thấy nữa, là trong lịch sử Trung Quốc xảy ra nhiều vụ thảm sát; có lẽ bởi vì nước họ đông người quá, người cùng nước nhưng ở xa nhau là khác cả ngôn ngữ, văn hóa, quyền lợi, khó thông cảm với nhau. Nói chung họ không quý mạng sống của đồng bào như người Việt mình.

Một trong những tội nặng của đảng Cộng Sản Việt Nam là đã nhập cảng phương cách giết người của Cộng Sản Trung Hoa vào nước ta, không biết rằng nó ảnh hưởng xấu đến cả đạo lý một thế hệ, sau này sẽ còn mất nhiều thời gian gột rửa. Tuy nhiên, văn hóa một dân tộc được xây dựng trên những điều kiện địa dư, những lưu thông, trao đổi suốt lịch sử, đã được nung nấu hàng ngàn năm. Văn hóa, phong tục có bị thay đổi một thời gian ngắn thì cũng sẽ trở về nguồn gốc. Khi nào nước ta chấm dứt được cảnh lệ thuộc chủ nghĩa Mao và lối cai trị dân theo kiểu Cộng Sản Trung Hoa, người Việt sẽ xây dựng lại nền nếp thuần hậu của dân tộc mình.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Quan tâm hàng đầu của Trung Quốc là ổn định chế độ Bắc Triều Tiên

Image
Lãnh đạo Bắc Triều Tiên Kim Jong-il (trái) và chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào trong lần sang thăm Trung Quốc hôm 27/08/2010.
Reuters / Xinhua/Ju Peng
Theo giới phân tích, sự sụp đổ của chế độ Bình Nhưỡng, ít nhất, gây ra hai hậu quả nghiêm trọng đối với Bắc Kinh. Thứ nhất là nguy cơ hàng chục ngàn người Bắc Triều Tiên chạy sang tỵ nạn tại Trung Quốc. Thứ hai là những thay đổi về địa lý chính trị, đe dọa an ninh của Trung Quốc.



Theo truyền thống « cha truyền con nối » kể từ khi thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Bắc Triều Tiên, trong tuần qua, chính quyền Bình Nhưỡng đã hoàn tất việc chuẩn bị cho Kim Jong Un lên thay cha, ông Kim Jong Il, tiếp tục lãnh đạo nước này. Theo giới chuyên gia, Trung Quốc sẽ luôn luôn là đồng minh vững chắc của Bắc Triều Tiên, bởi vì mối quan tâm hàng đầu của Bắc Kinh là duy trì sự ổn định tại nuớc láng giềng đông bắc.

Ông Sái Kiến, giáo sư Viện nghiên cứu quốc tế, đại học Phục Đán, Thượng Hải, được AFP trích dẫn, nhận định, « sự ổn định trên bán đảo Triều Tiên còn quan trọng hơn là việc biết xem ai sẽ trở thành lãnh đạo tương lai của Bắc Triều Tiên ». Đây cũng là ý kiến của chuyên gia Peter Beck, đại học Keio Tokyo, theo đó, cho dù có cách hành xử tồi tệ, Bắc Triều Tiên vẫn luôn luôn được hưởng « tình yêu vô điều kiện » của Trung Quốc bởi vì Bắc Kinh rất lo sợ phải hứng chịu những hậu quả của sự sụp đổ chế độ Bình Nhưỡng.

Do vậy, sau khi lãnh đạo Bắc Triều Tiên Kim Jong Il đưa con trai của mình vào những vị trí quan trọng trong quân đội và đảng, chuẩn bị cho nhân vật này lên kế thừa, tại Đại hội bất thường của đảng Lao động Triều Tiên diễn ra vào đầu tuần vừa rồi, chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã gửi điện « nhiệt liệt chúc mừng ». Trong năm nay, chủ tịch Trung Quốc đã hai lần tiếp lãnh đạo Bắc Triều Tiên và đã cam kết xem xét « quan hệ Trung-Triều về lâu dài » và « không tính đến những thăng trầm của tình hình quốc tế ».

Chuyên gia Beck nhấn mạnh, « đây là một thông điệp gửi tới Bình Nhưỡng và thế giới để lưu ý rằng quan hệ với Bắc Triều Tiên là không lay chuyển » và lời lẽ của chủ tịch Trung Quốc đã « làm tiêu tan mọi hy vọng » là Bắc Kinh sẽ gây áp lực với Bình Nhưỡng, đặc biệt trong hồ sơ phi hạt nhân hóa.

Theo giới phân tích, sự sụp đổ của chế độ Bình Nhưỡng, ít nhất, gây ra hai hậu quả nghiêm trọng đối với Bắc Kinh. Thứ nhất là nguy cơ hàng chục ngàn người Bắc Triều Tiên chạy sang tỵ nạn tại Trung Quốc. Thứ hai là những thay đổi về địa lý chính trị, đe dọa an ninh của Trung Quốc.

Chuyên gia Sái Kiến giải thích, « nếu tình hình Bắc Triều Tiên hỗn loạn … một bán đảo Triều Tiên thống nhất đặt dưới sự lãnh đạo của Hàn Quốc tất yếu sẽ trở thành đồng minh của Hoa Kỳ và điều này nguy hại cho an ninh của Trung Quốc ». Bỏi vì, « kể từ thời Chiến tranh lạnh, Bắc Triều Tiên đã giữ vai trò như một vùng đệm quân sự, che chắn cho Trung Quốc ».

Cho đến nay, Trung Quốc vẫn luôn tìm mọi cách ngăn ngừa tình trạgn bất ổn định tại Bắc Triều Tiên qua việc khuyến khích giới lãnh đạo nước này tiến hành cải cách kinh tế. Thế nhưng, Bình Nhưỡng lại lo sợ cải tổ, mở cửa kinh tế sẽ đe dọa sự tồn tại của chế độ cộng sản.

Hồi tháng năm, lãnh đạo Bắc Triều Tiên Kim Jong Il công du Trung Quốc và đã tới thăm các thành phố cảng Đại Liên và Thiên Tân. Trong chuyến đi Trung Quốc hồi cuối tháng tám vừa qua, ông Kim cũng đến tham quan một cơ sở chế tạo xe lửa cao tốc. Chuyên gia Beck cho rằng, các chuyến viếng thăm những cơ sở sản xuất này chứng tỏ lãnh đạo Bắc Triều Tiên quan tâm đến mô hình kinh tế của Trung Quốc, thế nhưng còn quá sớm để kết luận rằng Bình Nhưỡng sẽ tiến hành mở cửa kinh tế.

Về phần mình, Trung Quốc cũng có những lợi ích kinh tế tại Bắc Triều Tiên, qua việc khai thác và mua than, quặng sắt. Bắc Kinh cũng đã ký với Bình Nhưỡng một hiệp định cho phép Trung Quốc sử dụng trong nhiều năm các cơ sở thiết bị của cảng Rajin, để thông ra biển Nhật Bản.

Chuyên gia John Park, thuộc viện Hòa Bình, Washington, bổ xung, việc hợp tác với Bình Nhưỡng cũng làm một phương cách để Bắc Kinh phát triển vùng đông bắc Trung Quốc, hiện còn rất nghèo nàn, như các tỉnh Liêu Ninh, Cát Lâm, Hắc Long Giang.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

“Thư để lại” của một quan tham sắp bị tử hình ở Trung Quốc"

Image
Văn Cường nguyên Giám đốc Sở Tư pháp

Dương Danh Dy giới thiệu

Văn Cường nguyên Giám đốc Sở Tư pháp, nguyên Phó Giám đốc Sở Công an thành phố Trùng Khánh do phạm tội tham ô( nhận hối lộ hơn 12 triệu NDT, không thuyết minh được số tài sản trị giá hơn 10 triệu NDT..) hủ hóa, bao che cho bọn mafia.. đã bị toà án thành phố này tuyên án tử hình ngày 7/7/2010. Trước khi chết hắn đã để lại bức thư, xin lược dịch giới thiệu.

“Ta sống không nổi mấy ngày nữa đâu. Ta không ngờ lại bị phán tử hình, nhưng đã đến bước đó thì kháng cáo lên trên cũng chẳng có kết quả gì. Ta đây, cả cuộc đời làm công an, đã xử rất nhiều vụ án lớn, đã giết rất nhiều người, trước đây đã từng lo rằng sẽ có một ngày sẽ chết trong tay người nhà một số kẻ bị mình xử tử hình, không ngờ cuối cùng lại bị chết trong tay người của mình…Thế nhưng, ta đã nghĩ ra, những sự việc mà ta tham dự và biết được quá nhiều, nếu ta không chết sẽ có rất nhiều kẻ ăn không ngon ngủ không yên. Không giết ta, hậu hoạn lớn vô cùng, ta chết sẽ có lợi cho bọn chúng…Vì vậy có mấy câu muốn nói rõ trước khi đi xa.
Image
Văn Cường (người ngồi bên trái) trả lời phỏng vấn trước giờ thi hành án tử hình hôm 7/7.
Nói ta tham ô bao nhiêu tiền, chơi bao nhiêu con gái. Ta không phủ nhận điều đó.Nhưng điều ta muốn nói là, điều đó đáng trách ta nhưng cũng không đáng trách ta, tất nhiên trách nhiệm của ta là lớn hơn. Bất kể là ai nếu đặt vào vị trí của ta đều sẽ tham ô nhiều như vậy, chơi gái nhiều như vậy, thậm chí còn nhiều hơn. Có một số nữ học sinh, ta không chơi thì người khác cũng sẽ chơi. Nói Văn Cường ta đây cưỡng hiếp, ta mà lại phải cưỡng hiếp à?…Ai chẳng biết cán bộ hiện nay nếu không tham ô, không háo sắc thì ai dám tin, dám trọng dụng anh? Dù anh làm việc có tốt đi nữa cũng chẳng có ích gì! Loại cán bộ giống như ta, trong cả nước nếu không nói là mấy triệu thì chí ít cũng phải tới mấy chục vạn người. Chỉ bêu xấu rồi giết một mình Văn Cường, thì giải quyết được cái gì?

Điều ta muốn nói nữa là, con đường ta đi từ một anh cảnh sát nhỏ bé tại huyện Ba rồi lên tới chức Phó Giám đốc Sở Công an một thành phố trực thuộc trung ương, không phải là chỉ bằng con đường tham ô… Đối với ta trước tiên là công việc sau mới đến tham ô… Ai cho ta cái quyền muốn làm gì thì làm ở Trùng Khánh? Nhiều người biết rõ một số việc ta đã làm nhưng lại giả bộ là không biết? Đã không muốn để ta sống thì ta sẽ nói hết mọi điều ra: ta tham không chỉ có số tiền đến thế! Vậy số còn lại đi đâu? Tất nhiên là đến nhà người ta, có việc ta nhờ người làm, có một số việc tự ta làm. Nhờ người khác làm không có tiền có được không? Những người lấy tiền của ta cũng như những người đưa tiền cho ta hiện nay đang hướng dẫn quần chúng tham quan những trưng bầy chứng tích tham ô của ta. Ta không phủ nhận tính chân thực của các chứng tích đó, nhưng nếu các người tới nhà những kẻ đó xem xét sẽ thấy chút quà bẩn thỉu mà ta nhận thật đáng thương.

Văn Cường ta cũng là người có học… Trước đây ở Trung Quốc, đã có rất nhiều người vỗ tay khen ngợi việc chặt đầu bọn tham nhũng. Thế nhưng sau những cái vỗ tay khoái chí đó mọi việc vẫn như cũ. Mấy trăm năm qua Trung Quốc có thay đổi không? Ta thấy chẳng thay đổi gì cả. Giết ta chẳng qua là bịt được mồm một mình ta, nhưng liệu có bịt được nguồn gốc hủ bại không? Hôm qua trên đường phố Trùng Khánh có rất nhiều người đốt pháo. Ta không biết ba năm sau liệu bọn họ lại có phải đốt pháo nữa hay không? Sợ rằng đến lúc đó những người đã bán đứng ta sẽ lại ca ngợi ta và dân chúng không rõ chân tướng lúc này sẽ thấy Văn Cường cũng có chỗ tốt đấy chứ. Khi ta làm Phó Giám đốc công an Trùng Khánh tỷ lệ phạm tội có cao nhưng so với mấy thành phố lớn khác, Trùng Khánh tốt hơn nhiều…

… Biến ta thành người như thế này là do chính xã hội, chính chế độ này. Ta nói như vậy không phải là muốn đẩy hết trách nhiệm cho người khác. Nếu như năm đó ta không rời huyện Ba, yên tâm làm một anh cảnh sát bình thường ở đó thì hôm nay ta không phải như thế này.Tham công danh lợi lộc là sai lầm lớn nhất đời ta. Sau khi ta chết con cháu không lấy họ Văn nữa mà đổi thành họ khác, và con cháu các đời từ nay trở đi đừng theo nghiệp chính quyền, đừng làm quan, hãy xa lánh công danh lợi lộc.

Bình thường, bình yên mới là phúc.”
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

ĐỨNG DƯỚI BÀN TAY NHÚNG CHÀM …

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất


Đại Hội Toàn Quân! Khí thế thật hết xẩy!

Đầu năm 2003, người ta được thấy khoảng vài trăm tỵ nạn viên gặp gỡ nhau dưới một cái banner đầy hùng khí: Đại Hội Toàn Quân (ĐHTQ). Quí vị này tự xưng là Tập Thể Chiến Sĩ QLVNCH (TT hay TTCS)) để mưu đại sự. Tiếng là TTCS, nhưng có một vài vị là dân sự khoa bảng, còn lại đa số đều là cựu tướng tá cả. Cũng tốt thôi, chẳng sao hết, quân dân kết đoàn một lòng đấu tranh (Duy Khánh, bài: Đi từ ruộng đồng bao la) như thế là tốt, miễn là người ta đem cái Tâm Thành ra để làm việc. Nhìn thấy ĐHTQ, nhiều anh lính Cộng Hòa, những kẻ bị bắt buộc phải thất trận, lại một lần nữa hy vọng: Có lẽ khí hùng còn bất tử, biết đâu rồi sẽ có ngày dựng lại cơ đồ?

Khoảng năm 2007 thì phải, TT cũng lại hội họp để bầu bán gì đó. Đang lúc bù đầu để kiếm sống, không còn hơi sức màng tới việc thế sự, anh L (người đã về chầu Trời) được một người bạn rủ rê tham dự Đại Hội nhưng không muốn đi, bèn tìm cách thoái thác: Tui có là hội viên đâu mà đi. Anh bạn trợn mắt lên bảo: Có chứ sao lại không, tập thể mà. Câu chuyện xẩy ra trước mặt người viết. Thú thật, lúc đó bần bút chưa ngộ ra được hai chữ Tập Thể. Chuyện này làm nhớ lại, hồi còn mài đũng quần ở ghế nhà trường, nghe thầy Nguyễn Đăng Thục giảng trong giờ triết Đông: Luới Trời lồng lộng, bé không trong mà lớn cũng không ngoài, bần bút không sao hiểu nổi. Cái sự ngu dốt nó bám theo hàng mấy chục năm trời. Nhờ có câu chuyện này, bần bút mới khôn ra được một tí, và đã ngộ ra được, lưới Trời lồng lộng chính là hai chữ Tập Thể này đây. Nếu đã gọi là Lính rồi thì đương nhiên phải có mặt trong TT. Mấy chữ TTCS có ý nghĩa bao trùm tất cả chẳng chừa một ai, mọi thành phần tỵ nạn mà xưa kia còn ở trong nước đã từng có thời mặc kaki, mang giầy bốt, hiện hữu là một con số, nơi cư trú gọi là KBC. Anh quân nhân mặc dù không phải là hội viên, tự dành quyền đi dự Đại Hội TTCS, thiết nghĩ là đúng chứ không sai.

Mặc dù đa số đám cựu lính tráng, quan quyền đều đã quá ê chề và ngán ngẩm cái trò gạt cả tình (tinh thần yêu nước) lẫn tiền của Mặt Trợn Hoàng Cơ Minh, nhưng cái bảng hiệu ĐHTQ vẫn còn sức hấp dẫn đối với nhiều người. Nó có giá trị như một bài Hịch. Là lính bị buộc phải thất trận, nghe Hịch xuất quân, ai lại không hồ hởi (tiếng VC đấy). Bần bút là cựu lính, cũng cảm thấy mở cờ trong bụng và có phần tin tưởng, vì Hịch được ban ra từ một Tướng Quân có thành tích chiến đấu, và một ông Tá phụ tá là một khoa học gia nổi tiếng trên thế gian này.

Kiểm điểm lại, gần chục cái đông tàn, xuân tới, TT đi đến đâu, đã lập được thành tích gì, người viết khơi trọng gạn đục mãi mà thú thực chẳng tìm thấy được cái gì đáng kể, ngoài ba việc sau đây. thứ nhất, một văn bản đệ trình Liên Hiệp Quốc khiếu nại rằng Hoàng Sa, Trường Sa là của VN. Thứ hai là “chiến dịch một mỹ kim mỗi tháng” hay có người còn gọi là kế hoạch “con heo đất”. Và thứ ba, lâu lâu lại họp hẹp để bầu bán. Đáng tiếc là hồ sơ về Trường Sa và Hoàng Sa của TTCS thì lại không đầy đủ và mạch lạc bằng của một cá nhân, bạn của bần bút, nguyên là một sĩ quan Hải Quân. Đại kế hoạch Con heo đất có lẽ không có bạc cắc cho ăn nên heo đã đói mà chết từ khuya rồi. Chỉ có việc bầu bán vào các chức vụ là vẫn tiến triển đều đặn.

Ngày 02-10-2010 vừa qua, TT mới lại họp đại hội bất thường để bầu lãnh đạo. Sau khi ông tướng, sáng lập viên của TT, từ Tư Lệnh sư đoàn BB bỗng thuyên chuyển sang binh chủng Người Nhái thì TT trở thành rắn không đầu, chẳng ai biết ông tướng lặn ở mãi đâu chưa thấy trồi lên. Thế rồi nhà khoa học lừng danh thế giới lên thế vị. Nhưng ông bất ngờ bê một em hằng nga hậu duệ lên Cung Quảng rồi ở lì trên đó không trở về nữa, thành ra TT lại trở thành đứa trẻ mồ côi. Vì thế TT mới phải mở đại hội bất thường. Với tình hình lãnh đạo này, người ta khó có thể tin được rằng TTCS sẽ thực hiện được 2 mục tiêu trọng yếu trong số 5 mục tiêu mà ĐHTQ bẩy năm về trước đã đặt ra:

4- Chống lại âm mưu của Cộng Sản nhuộm đỏ cộng đồng Người Việt hải ngoại.


5- Xây dựng một chế độ, Tự Do, Dân Chủ Pháp Trị, Công Bằng và Tiến Bộ cho Việt Nam và muốn đạt mục đích này thì phải giải thể chế độ CSVN.

Uổng công cho một người từ trong lòng chế độ miền Bắc ra hải ngoại này đã đặt hết kỳ vọng vào tập thể QLVNCH. Người đó là nhà báo Việt Thường. Một số ông bà chống cộng nổi tiếng của Mặt Trợn, nhất là mấy tay em của hiền huynh “thơ sĩ” chủ quán Bà Mâu kết án ông là tình báo của VGCS, và còn của tầu cộng nữa. Đọc sách và các bài viết của Việt Thường, nghe các audio ông phát biểu, dù thiển cận và dốt nát như bần bút cũng phải thừa nhận rằng, quan điểm và đường lối nhà báo Việt Thường nêu lên sau đây nghe được lắm. Thứ nhất, cố Tổng Thống VNCH, cụ Ngô Đình Diệm, là một nhà ái quốc, đạo đức, trong sạch, và có khả năng. Thứ hai, Hồ Chí Minh là một tên thiên cổ tội đồ của dân tộc VN. Tội lớn nhất của hắn là tội bán nước. Và thứ ba, ông Việt Thường khẳng định chỉ QLVNCH mới có đủ khả năng chống lại VGCS, và sẽ thành công nếu đoàn kết và biết tổ chức. Giả thiết rằng nhà báo Việt Thường là cán bộ tình báo CS thiệt, thì với quan điểm và chủ trương nói trên, tên CS nguy hiểm này xem ra còn có tinh thần quốc gia hơn rất nhiều nhân vật quốc gia nổi tiếng trong cộng đồng tỵ nạn nữa đấy.

Người viết bắc quàng một chút chuyện nhà báo Việt Thường là vì muốn nhấn mạnh đến vai trò và sứ mệnh của QLVNCH đối với đất nước trong tình thế hiện nay.

Nhớ ngày còn trong tù, tuy ở nhiều trại khác nhau từ Nam ra Bắc, nhưng hầu hết anh em đều là lính tráng cả, lác đác vài ba ông dân chính lạc đường vô đây, đếm trên đầu ngón tay. Một bác chưa già nhưng nhất định không còn trẻ, chức vụ Tống Văn Thư Phủ Đặc Ủy Trung Tương Tình Báo. Nghe ghê quá phải không, nhưng thực ra chỉ là viên tùy phái chạy văn thư giấy tờ từ Phủ Đặc Ủy sang Phủ Đầu Rồng thôi chứ có gì đâu. Ấy thế mà VGCS cho là nhân vật quan trọng, phải đầy ông ra tận Việt Bắc chúng mới yên bụng. Hai ông nữa làm việc làng xã miền núi, một ông Ủy Viên An Ninh, một ông Xã Trưởng. Tội của các ông là cô lập gia đình “cách mạng” để du kích không còn liên hệ phá phách được. Kế hoạch Ấp Chiến Lược là tát nước bắt cá mà. Còn một anh chiêu hồi, khi trước là xã đội trưởng du kích, vợ chết chưa được một tuần lễ thì đi tù để lại 11 đứa con. Anh ta sống như một tầu lá úa, gặp bần bút lúc nào cũng hỏi: Bao giờ mình mới được tha nhỉ. Anh đã từng là VC mà không hiểu VC thì làm sao bần bút hiểu nổi VC đây. Còn nữa là một chú nhóc làm mật báo viên cho cảnh sát, ở tù nhưng còn yêu đời lắm. Tối ngày chú nhóc ngâm thơ Thế Lữ để chọc mấy ông “phượng hoàng gẫy cánh”: Than ơi thời oanh liệt nay còn đâu. Chú em vậy mà có số đào hoa, làm anh nuôi của đội nên ở ngoài rẫy đi lăng nhăng được. Chú em cua được một nàng sơn nữ “Phà Ca” xinh đáo để, chưa xơ múi gì thì đã bị tóm cổ. Chú nhóc bị nhốt nhà đá hưởng tiêu chuẩm 9 kg sắn/ tháng. Người tình của chú nhóc cùng với gia đình bị phát vãng đầy đi nơi khác cách mấy chục cây số. Thằng nhỏ nằm trong nhà đá tiếc ngẩn tiếc ngơ như người mất hồn.

Nhà tù khổ sai CS đói khát, cực khổ, chán chường, hỉ nộ đủ cả, ít có khi vài ba người cùng chung một đơn vị ngày trước. Quân dân, cấp bậc chẳng có gì phân biệt. Tôn ti chỉ dựa vào tuổi tác. Ấy vậy mà sao chúng tôi cảm thấy đầm ấm thế, tinh thần huynh đệ chi binh, quân dân thắm thiết không đâu bằng. Mọi người đều nung nấu ý chí: phải làm một cái gì đó sau khi được thả. Đó là một lời nguyền. Nhưng khi ra hải ngoại, được tự do rồi thì những ngày xưa thân ái chỉ còn là dĩ vãng xa mờ. Hàng trăm ngàn HO trong một khu vực không sao ngồi lại được với nhau. TTCS là một tổ chức bề thế nhất mà từ khắp mọi “vùng chiến thuật” gom lại cũng chỉ được vài ba trăm, nhiều khi đồng nhưng vẫn bất hòa. Anh em kèn cựa nhau từng tí, xét nét nhau đủ điều. Lời thề non nước trong tù đã quên sạch….

TTCS, một tia hy vọng có lẽ là cuối đời của người lính già, 7 năm trời rồi, cho đến bây giờ vẫn chỉ là họp hẹp để bầu bán, trong khi VGCS đã vào tới trong nhà rồi. TT tuy là lính, nhưng bây giờ không còn quân giai, không còn quân kỷ nữa. Mỗi người là một cá nhân tự do rồi. Quí vị lãnh đạo TT thay vì “LEAD” anh em, nhưng lại vẫn theo thói quen ngày nào, “COMMAND” anh em nên hỏng cả. Nhưng đấy là chuyện nhỏ. Chuyện lớn là chuyện khác cơ. Ngay từ ngày đầu thành lập, quí vị sáng lập đã không thấy được rằng thành lập một tổ chức trên đất Mỹ với cương lĩnh khơi khơi: “chống lại âm mưu của Cộng Sản nhuộm đỏ cộng đồng Người Việt hải ngoại, xây dựng một chế độ, Tự Do, Dân Chủ Pháp Trị, Công Bằng và Tiến Bộ cho Việt Nam và muốn đạt mục đích này thì phải giải thể chế độ CSVN” là một mạo hiểm chắc chắn đưa đến thất bại.

Mọi người đều thấy, có bao giờ người Mỹ cho phép dân tỵ nạn chúng ta chống lại VGCS đâu. Kinh nghiệm Mặt Trợn còn đó. Kinh nghiệm tướng Lào Vàng Pao cũng còn đó. Và không phải người Mỹ đang thả cho VGCS làm mưa làm gió trong các cộng đồng tỵ nạn chúng ta đấy sao? Người Mỹ không ra mặt cấm TT chống cộng, nhưng cho bọn chó săn Việt Tân xâm nhập để lũng đoạn thì cũng thế thôi. Dư luận cho rằng tướng Lê Minh Đảo bị bọn Việt Tân trà trộn kềm kẹp quá, chịu không nổi nên ông mới phải âm thầm bỏ cuộc. Bần bút không biết rõ. Quí vị thành viên còn mang tinh thần quốc gia thực sự trong TT có dám thừa nhận điều đó không? Người lãnh đạo kế nhiệm tướng Đảo còn bị chó săn VT chơi đòn nhục nhã hơn nữa. Thiếu gì em thơm như múi mít, nhà khoa học xếp của TT lại không ôm, mà đi ôm nạ dòng hậu duệ VT để trét kít vào mặt cả TT. Lãnh đạo coi cái lá đa lớn hơn danh dự của tổ chức, hơn cả quyền lợi của đất nước thì còn làm ăn gì được? Trước hoàn cảnh đó, TT rơi vào khủng hoảng lãnh đạo là phải.

Cái sai lầm căn bản của TT là những vị lãnh đạo TT cấp nhỏ lon đã không dám đứng lên tự khẳng định chính mình, mà lại đi bê những ông thiên lôi ra làm việc nước. Lôi một ông đại tướng bàn tay đã nhúng chàm ra làm bùa hộ mạng thì thật là hết thuốc chữa. Tây nó nói: Chiếc áo không làm nên thầy tu (L’habit ne fait pas le moine). 4 ngôi sao trên ve áo ông tướng chưa bảo đảm ông là người lãnh đạo tốt thì làm sao ông che dù cho người khác lãnh đạo được. Theo lời ông Phan Tấn Ngưu, cựu tướng Trần Thiện Khiêm (TTK) cho biết, ông chỉ muốn đến gặp gỡ tất cả các chiến hữu, nói lời cám ơn họ cũng như cám ơn các chiến hữu đồng minh đã giúp VNCH chống quân cộng sản Bắc Việt. Cả gần nửa thế kỷ qua, kể từ ngày ông tham dự vào việc giết TT Ngô Đình Diệm, qua thời gian ông thăng quan tiến chức, rồi mấy chục năm lưu vong, người ta chỉ thấy ông thủ khẩu như bình. Đáng buồn nhất là trong những lúc thăm trầm của đất nước, ông vẫn cứ một mực im lặng là vàng. Bây giờ ông đại tướng mới xuất đầu lộ diện. Nếu là để gặp gỡ chiến hữu thì cũng tốt, nhưng còn để nói lời cám ơn họ, và còn cám ơn cả các chiến hữu đồng minh nữa thì e là chuyện vô tích sự. Có ai trong các chiến hữu của ông cần đến lời các ơn của ông, một người đã đóng một vai trò quan trọng trong việc gây ra tang tóc cho họ và cho gia đình họ. Với các người bạn ngoại quốc là chiến hữu, ông còn nhân danh cái gì, và lấy tư cách gì để nói lời cám ơn với người ta?

Mục tiêu TT đặt ra cho là đúng đi, nhưng gần mười năm qua, TT đã chứng tỏ là bất lực. Lúc này TT lại toan tính đứng trú dưới bàn tay của một kẻ bán nước, đã góp phần lớn vào việc làm rã ngũ toàn quân, làm mất nước thì vô lý quá. Liệu bàn tay nhúng chàm này có cứu vãn nổi tình trạng xuống dốc của TT không. Xin đừng nghĩ rằng bần bút nói láo. Không, chúng tôi sẽ có câu trả lời cho TT ông tướng TTK là người như thế nào.

Khái niện bán nước rất đơn giản là bán hoặc dâng hiến chủ quyền quốc gia hoặc đất đai cho ngoại bang. Câu hỏi chúng tôi đặt ra là ông TTK có bán hay dâng hiến chủ quyền VN cho Mỹ không? Cả bằng lý luận lẫn bằng chứng, câu trả lời của người viết sẽ là CÓ. Những việc xẩy ra trong biến cố 1-11-63 đã chứng minh điều đó, và chính ông TTK đã xác nhận điều đó.

Thật vậy, trong cuộc bạo loạn giết TT Ngô Đình Diệm người ta cứ tưởng Dương Văn Minh là tay chủ chốt trong biến cố, nhưng không phải, TTK mới đúng. Đảo chánh quân sự phải là tướng có quân. Dương Văn Minh, Mai Hữu Xuân, Lê Văn Kim và hầu hết bọn phản loạn đều là tướng tá không quân. Nguyễn Văn Thiệu có quân và trực tiếp tham gia nhưng chỉ là kẻ theo đóm ăn tàn, không hề ở trong ban tham mưu đảo chánh, và không có mặt tại Bộ TTM vào lúc đó. Ngay như Tôn Thất Đính, nắm Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô, nhưng cũng chẳng có quân. Mặc dù trong phạm vi Biệt Khu Thủ Đô có rất nhiều BTL các quân binh chủng, tuy nhiên không thuộc quyền điều động của ông Tư Lệnh BKTĐ. Muốn sử dụng các đơn vị đó, ông TL phải thảo kế hoạch hành quân rồi yêu cầu các quân binh chủng đó phối hợp. Mời phối hợp để hành quân bảo vệ an ninh, hoặc tiễu trừ VC thì được, chứ còn để làm đảo chánh thì nhất định Tôn Thất Đính bố bảo cũng không dám. Vì thế TTĐ cũng lại là kẻ theo voi ăn bã mía mà thôi.

Bản doanh đặt ban tham mưu đảo chánh nằm ngay tại văn phòng tướng TTK, Tham Mưu Trưởng Liên Quân, nói lên vị trí và tư thế của tướng Khiêm trong việc làm loạn. Trong khi Tổng Thống TTL Quân Đội tại đào, Đại Tướng TTMT chữa bệnh xa Saigon, ông Tham Mưu Trưởng Liên Quân kể là người nắm quyền điều động quân đội lúc đó. Tức thời và trước mắt, tướng Khiêm có trong tay đơn vị Tổng Hành Dinh Bộ TTM và một đại đội Quân Cảnh. Nên biết là bọn đảo chánh chỉ có quân canh gác nhưng không có lực lượng bảo vệ. An ninh của bọn chúng nằm trong tay đơn vị Tổng Hành Dinh và đại đội Quân Cảnh của tướng Khiêm. Nếu tướng TTK không phải là người chủ chốt thì ông đã chẳng dám dùng văn phòng của mình làm bản doanh để đảo chánh. Và nếu tướng TTK không được bọn tướng tá phản loạn tin tưởng thì bọn này cũng không dám tụ tập đến đó để làm loạn, bởi vì ông Khiêm có thể tóm gọn lũ phản loạn rất dễ dàng nếu ông muốn trở cờ. Sợi giây liên kết bọn tướng tá phản loạn và làm cho chúng tin nhau chính là CIA Mỹ.

Nhiều tài liệu chính thức của Mỹ đã được giải mật, cũng như những hồi ký của những người trong cuộc (tướng phản loạn) xác nhận chính quyền Hoa Kỳ là kẻ chủ chốt tạo ra cuộc đảo chánh 1-11-63 để giết TT Ngô Đình Diệm và ông cố vấn Ngô đình Nhu. Người Mỹ liên hệ trực tiếp là tên trung tá CIA Lucien Conein. Tên Xịa này có mặt tại phòng nghỉ của tướng Khiêm, sát văn phòng làm việc của ông vào lúc 12:30 trưa ngày 2-11 để giám sát và theo dõi bọn tướng tá làm đảo chánh. Hắn mặc binh phục, mang súng lục, lựu đạn, và một cái túi đựng 3 triệu bạc tiền VNCH để thưởng công bọn tướng tá sau khi giết được TT Diệm. Theo hồi ký của tướng Trần Văn Đôn, số tiền này tướng Trần Thiện Khiêm được chia 500.000 đồng.

Tuy nhiên, những tài liệu và hồi ký đã không xác định Trần Thiện Khiêm là đầu mối nhận lệnh từ CIA. Nếu không có ông đại tá Phạm Bá Hoa, nguyên chánh văn phòng của tướng Khiêm ngày còn làm Tham Mưu Trưởng Liên Quân khui ra thì vấn đề này vẫn còn là một nghi án lịch sử. Để trả lời những chi tiết trong bài của tác giả Trần Ngọc Giang viết về cuộc đảo chánh 1-11-63 mà ông cho là thiếu chính xác, đại tá Hoa viết như sau:
Đầu tháng 3/2007 trong lúc nói chuyện với cựu Đại Tướng Khiêm sau khi đón ông và gia đình từ phi trường IAH sau chuyến du lịch Pháp quốc trở về Houston, nhân lúc vui vẻ, tôi (đại tá Hoa) hỏi: - Thưa anh Tư (đại tướng Trần Thiện Khiêm), hồi đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963, bắt đầu từ phía Hoa Kỳ hay từ phía Việt Nam mình anh Tư?
- Từ phía Hoa Kỳ.
- Vậy ai là người nối vào Việt Nam mình anh Tư?
- Ông S. (chú thích của bần bút: có lẽ là SPERA. Al Spera là cố vấn chính trị Bộ TTM)
- Ông ấy nối vào ai vậy anh Tư?
- Nối vào anh (đại tướng Khiêm), nhưng anh thấy việc lớn quá nên giới thiệu với Trung Tướng Minh

Tiết lộ trên cho thấy 3 điểm: thứ nhất, người Mỹ là kẻ chủ trương đảo chánh. Thứ hai, tướng Khiêm là người được Mỹ tín nhiệm và giao việc. Và thứ ba, tướng Minh là công cụ được tướng TTK sử dụng để thì hành lệnh của Mỹ. Thật vậy, vai trò chủ chốt của tướng TTK đã bị phơi bầy rõ ràng qua các sự việc: một, ông đã cho bọn phản loạn sử dụng văn phòng làm việc của mình làm bản doanh để chỉ huy cuộc đảo chánh như đã trình bầy ở trên. Hai, thừa biết ý định của Mỹ là phải giết chết TT Diệm và ông cố vấn Ngô Đình Nhu, nhưng ông đã lờ đi cho Dương Văn Minh hành sự để tránh tiếng. Điện thoại trong phòng làm việc của ông. Nếu ông không để cho Dương Văn Minh dành và nghe cú phone của đại úy Đỗ Văn Thọ, tùy viên TT Diệm, gọi về sáng 2-11 thì sự việc xẩy ra có thể đã khác. Ông ta là một thứ nhạc bất quần, một con người rất độc ác.

Giả thiết rằng TT Ngô đình Diệm đã phạm phải lỗi lầm cần phải trừng trị, thì trên cương vị, quyền hạn, và khả năng của ông lúc đó, tướng TTK cứ việc dành quyền chỉ huy cuộc lật đổ, bắt sống anh em TT Diệm, thiết lập tòa án quân sự mặt trận để đem ra xét xử có phải danh chánh ngôn thuận không. Nhưng tướng Khiêm đã không làm thế. Ông vâng lệnh ngoại bang đạp lên luật pháp quốc gia mà đi. Chủ quyền quốc gia đã bị tướng Trần Thiện Khiêm bán đứng. Ông chính là tên bán nước.

Cả cuộc đời tướng Khiêm chỉ biết lầm lũi tiến thân và hưởng lợi, mặc cho đất nước điêu linh, mặc cho thế sự nổi trôi. Bây giờ lại thấy ông đột ngột xuất hiện trong ĐHTQ. Người ta nghi ngờ, không biết đàng sau ông còn có bóng dáng một Lucien Conein hay một Al Spera nào không. Có phải TTCS muốn được che chở dưới bàn tay của ông, kẻ thừa sai của những thế lực đen tối ngoại quốc đã giết chết Dân Tộc VN? Dùng danh xưng Tập Thể là quí vị đã lạm dụng quá lắm rồi. Chỉ mong sao quí vị làm được cái gì coi được một tí để khỏi mất mặt KBC.Thế thôi.


Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Vô cảm?



Năm nay đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội diễn ra vào một thời điểm không mấy hay. Trong khi Hà Nội ăn mừng thì miền Trung bị nạn lũ lụt hoành hành dữ dội. Ấy vậy mà hình như các lãnh đạo vẫn chưa có động thái thực tế nào để tỏ ra quan tâm ...Hai tình cảnh đối nghịch đến vô lí. Hà Nội ăn mừng đại lễ với những chươg trình ca hát, nhảy nhót vui mừng, diễu hành. Cùng lúc đó thì ở miền Trung đang bị chìm trong lũ lụt nghiêm trọng, người dân lâm vào cảnh màn trời chiếu đất, thậm chí tử vong. Nhìn qua những ảnh dưới đây trên báo mạng mà xót ruột. Những con số thống kê làm cho ai có chút thương cảm phải chóng mặt: 20,000 hộ đang ở vào tình trạng nguy cơ bị cuốn đi; cả trăm ngàn người lâm vào tình cảnh đói khát; nhưng quan trọng hơn hết và đau lòng hơn hết là có trên 20 người bị chết vì lũ lụt. Tôi đang viết entry này nhưng cũng thử tưởng tượng đặt mình vào tình cảnh đồng hương đang chịu lụt ở miền Trung, tôi không thể nào vui mừng được.

Viết đến đây, tôi chợt nhớ đến một ca khúc mà Quang Linh thể hiện hay: "Miền Trung nước lớn, đứng ngồi không yên, suốt đêm không ngủ..." Đúng là như thế. Có lần tôi nghe Nhà thơ Đỗ Trung Quân nói về thời tiết Sài Gòn, mà có đoạn anh nói rằng khi Sài Gòn chuyển mùa thì cùng lúc người dân biết rằng ngoài Trung đang có lũ lụt, và người Sài Gòn sẽ không bày tỏ vui mừng hớn hở vì sự giao mùa. Người mình có câu “Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ”.

Còn nhớ trước đây ở Úc có nạn cháy rừng lớn làm thiệt hại tài sản của rất nhiều người (hình như không có ai tử vong), nhưng thủ tướng Úc phải hủy các chuyến công du ngoại quốc. Ở Mĩ cũng thế, mỗi khi có thiên tai ảnh hưởng lớn đến đời sống người dân, tổng thống cũng hủy các chuyến công du, thậm chí nếu họ đang công du thì họ sẽ cắt ngắn thời gian và quay về nước. Sự có mặt của họ ngay trong nước là một khích lệ tinh thần, để gián tiếp nói lên rằng tôi đang quan tâm, tôi đang đau cái đau của đồng bào, tôi đang làm hết mình để giảm nỗi đau đó.

Ấy thế mà tôi thấy báo chí và lãnh đạo chẳng có động thái nào để tỏ ra mình quan tâm đến những đồng hương đang chịu đau khổ. Các bác cao cấp thì đang công du nước ngoài. Bác cao cấp khác đang ở trong nước thì chưa thấy nói gì. Hay có nói gì nhưng chỉ là ... chỉ thị. Cấp trung ương chỉ thị cấp tỉnh, cấp tỉnh chỉ thị cho cấp huyện, huyện chỉ thị cho xã, và dây chuyền chỉ thị cứ thể mà tiếp diễn. Thật ra, hình như ở Việt Nam ta đã hình thành "văn hóa chỉ thị", chứ không có "văn hóa làm". Lãnh đạo cấp tỉnh đi thị sát tình hình mà giống như là đi … du lịch. Báo chí cũng chẳng thấy phản ảnh miền Trung tang thương. Chẳng lẽ cả xã hội đều vô cảm như thế sao? Thật là khó hiểu.

http://nguyenvantuan.net/news/6-news/1108-vo-cam-
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Các Bờ Biển Đẹp Tại VN Trở Thành Tài Sản Tư Bản Đỏ

Image
Bờ biển Nha Trang bị khách sạn cắm cờ chiếm, cầm dân vào. (Photo VB)

NHA TRANG/VŨNG TÀU (VB) -- Vài năm gần đây, bãi biển ở nhiều nơi bị thu hẹp lại với tốc độ chóng mặt bởi các khu resort liền sát nhau như một bức tường ngăn cách người dân và bãi biển. Điển hình là ở Mũi Né, Hòn Rơm (Phan Thiết), bãi biển công cộng không còn bao nhiêu do hàng trăm resort mini (chỉ rộng cỡ 1-2ha/resort) đã nêm chặt cả vùng biển đẹp đẽ này. Thậm chí nhiều nơi trước đây từng là bãi đánh cá, bến neo thuyền... để ngư dân mưu sinh nhưng giờ đây chẳng còn chỗ để họ làm ăn, kiếm sống.

Ở Đà Nẵng thì từ khu vực Non Nước đến đường Hồ Xuân Hương, do bãi tắm sở hữu của các resort quá nhiều (chỉ cần bước nhầm vào là bị bảo vệ thổi còi) nên người dân phải chen nhau đi qua một đoạn bãi thật dài mới đến bãi tắm công cộng.

Còn ở vùng Bà Rịa – Vũng Tàu, sau một thời gian đình trệ, hàng loạt dự án đầu tư vào các khu du lịch đã tưng bừng triển khai thành các dự án bất động sản du lịch, nhất là dọc con đường ven biển từ thị trấn Long Hải đến khu vực Bình Châu, như: The Long Hai, Hai Minh Luxury Seaside Villas & Hotel Zone, Sanctuary Hồ Tràm, khu biệt thự nghỉ dưỡng suối nước nóng Bình Châu.v.v… “Trào lưu” xây biệt thự biển này sẽ khiến nhiều bãi biển đẹp có nguy cơ trở thành tài sản riêng của vài cá nhân. “Cũng một khu bãi biển xinh đẹp, nếu phát triển khu du lịch, cả cộng đồng xã hội sẽ được hưởng thụ. Nhưng nếu chuyển sang làm bất động sản du lịch thì chỉ một số ít người có cơ hội hưởng thụ do những căn biệt thự trong các dự án này có giá rất cao...” - phó giám đốc một công ty du lịch tại địa phương nói.
Theo Viện Nghiên cứu phát triển du lịch thuộc Tổng cục Du lịch VN, đúng theo mô hình quy hoạch thì đường ven biển phải được thiết kế theo kiểu chạy ra/chạy vô chứ không song song với bờ biển như cách làm của các nhà xây dựng đô thị ven biển hiện nay. Chỗ chạy ra sát bờ biển sẽ là khu vực dân cư sinh sống và bãi tắm công cộng; khu đường chạy vào sẽ để cho resort đầu tư. Hình thức xen kẽ giữa khu dân cư và resort sẽ tạo con đường du lịch thật sự. Còn cách làm như khu vực bãi Sau ở Vũng Tàu, Nha Trang...thì khách sạn, resort ở một bên, khách muốn tắm biển phải băng qua đường vô cùng nguy hiểm và không đẹp, không đúng quy hoạch của du lịch.

Riêng người dân vẫn có đường ra biển, nhưng là “ra biển” chứ không sử dụng, tắm biển được, do bãi biển đã bị phân lô riêng cho ai đó gần hết rồi. Điển hình như ở đường Trần Phú, TP Nha Trang, một khách sạn liên doanh với tập đoàn Osaka (Nhật Bản) tọa lạc ở lề bên này đường đã cắm cờ, dựng dù, chiếm hẳn vạt bãi biển đối diện bên kia đường để làm bãi tắm riêng cho khách của “liên doanh.”
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Khi ông Trần Thiện Khiêm trở lại với cộng đồng!

Vũ Ánh

Hồi còn nằm trong tù Cộng sản, anh em chúng tôi thường an ủi và khuyến khích nhau giữ vững tinh thần bằng những “hot news”, một thứ Anh ngữ tự chế để chỉ những tin tức nóng bỏng thẩm lậu từ ngoài vào trại qua con đường thân nhân thăm nuôi. Ở trong nghề, tôi hiểu những tin tức do những bạn tù với tôi đem vào trại sau những lần thăm gặp gia đình là những tin vô căn cứ, nhiều khi buồn cười vì mang nhiều tính khôi hài, do chính các bạn tôi “chế”ra, hoặc do chính thân nhân cũng chỉ nghe tin đồn đại thôi, nhưng vẫn nói cho người thân của mình biết để nuôi hy vọng hầu giúp họ vượt qua những hoàn cảnh khốn khó trong chốn lưu đầy.

Trong giai đoạn đầu, tôi nghiệm ra một điều. Ðó là hầu hết những tin tức đưa vào trại đều hướng vào những tin tức liên quan đến việc “trở về kháng chiến trong rừng sâu” của những ông như Nguyễn Cao Kỳ, Ngô Quang Trưởng, Dư Quốc Ðống, Bùi Thế Lân, Cao Văn Viên. Nào là ông Kỳ “râu” về Thái Lan và từ Thái Lan đã xâm nhập vùng U Minh Hạ lập căn cứ kháng chiến, nào là tướng Ngô Quang Trưởng về Rừng Lá Bình Tuy rải truyền đơn kêu gọi thanh niên gia nhập lực lượng Phục Việt, nào là tướng Dư Quốc Ðống được Mỹ hỗ trợ trở về thành lập sư đoàn nhảy dù Ðông Dương, nào là báo chí ngoại quốc đã chụp được hình tướng Bùi Thế Lân tại Bảy Núi Châu Ðốc vân vân và vân vân.

Tuy thế, có một điểm khá lạ là trong những “hot news”, các anh em bạn tù của tôi không bao giờ nhắc tới hai tướng lãnh, một là tướng Nguyễn Văn Thiệu và hai là Tướng Trần Thiện Khiêm. Có lẽ anh em tù cải tạo chúng tôi phần lớn là quân nhân và công chức nên vẫn còn lòng hờn giận nhà lãnh đạo hàng đầu của VNCH đã không giữ đúng cam kết ở lại chiến đấu bên cạnh quân đội mà bỏ đi không kèn không trống cho nên họ không còn kỳ vọng gì vào ông ấy nữa, nên cũng chẳng buồn chế ra trong tin. Còn Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm thì khỏi nói. Ông “thủ khẩu như bình” nổi tiếng trong hàng ngũ các thủ tướng của VNCH cho nên nhiệm kỳ thủ tướng của ông kéo dài từ 1969 đến 1975, và nếu không có biến cố 30 tháng 4-1975 và ông Thiệu không từ chức thì có lẽ ông Khiêm còn ngồi lâu hơn nữa.

Tướng Khiêm làm thủ tướng nhưng chưa bao giờ ông mở miệng có ý kiến về những dự luật được thảo luận ở Quốc Hội, chưa bao giờ lên tiếng hay đề nghị những phương thức chấm dứt nạn tham nhũng, nạn mua quan bán tước, chưa bao giờ tự mình đứng ra trả đũa những lời chỉ trích của phe đối lập. Hàng năm ông xuất hiện trên hệ thống truyền hình của chính phủ THVN-9 một lần để đọc thông điệp chúc tết đồng bào với nội dung vô thưởng vô phạt. Rồi thôi, rồi bắt vô âm tín. Ngoài ra, Tướng Trần Thiện Khiêm còn là một thủ tướng ít đi kinh lý hay thăm dân cho biết sự tình nhất. Vì thế, trong tù nếu có ai trong chúng tôi thắc mắc: “Không biết bây giờ ông Khiêm ở đâu ha?” sẽ bị kê tủ đứng ngay: “Mẹ kiếp, giờ này chắc người đang ôm vợ ở đâu trên đất cờ hoa, chúng mày còn trông mong gì ở cái anh ngậm miệng ăn tiền muôn năm ấy chứ!”.

Thế rồi thời gian từ 1989 đến 1992 là thời gian được thêm một tí tự do hơn ở cái nhà tù lớn hơn là Saigon, lũ chúng tôi sống nhếch nhác với nghề lao động chân tay kiếm sống. Tưởng không khí “hot news” sẽ qua đi, nhưng không, “hot news” còn bạo hơn và còn nhiều tin thú vị hơn. Công viên trước trụ sở Bộ Ngoại Giao cũ lúc nào cũng đông ngạt nguồn tin. Bọn tôi không thường xuyên đứng ngóng tin được ở công viên đó được, chỉ thỉnh thoảng ghé qua, nhưng mỗi lần ghé chiếc xích lô để đổ khách hàng đến Sở Ngoại Vụ tiện thể tạt qua đây là tôi có thể ôm một lô những bản tin “lèo” về nhà coi chơi. Tin nóng vào giai đoạn này là tin về chương trình H.O và số phận những người Việt Nam tị nạn ở các trại Ðông Nam Á và Hong Kong. Hồi đó anh em chúng tôi biết bà Nguyễn Văn Thơ, ông mục sư Nguyễn Xuân Bảo nhiều hơn là cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu hay cựu Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm.

Rồi cũng đến ngày sang định cư ở Hoa Kỳ, vùng đất tự do và dân chủ nhưng cũng là nơi phơi bầy tất cả sự thật về những nhà lãnh đạo hàng đầu của VNCH nhanh chân chạy sang đây trước. Sang định cư đúng lúc xảy ra một vụ kiện cáo của Mặt Trận Hoàng Cơ Minh ở San Jose, rồi nghe bạn bè kể lại hoạt động của mặt trận này, hoạt động của ông Thiệu, một số các ông tướng trung tâm của những “hot news” khi còn ở trong trại giam Cộng sản, tôi đâm ra hoài nghi sự thông minh của mình. Ngồi gặm những chiếc hamburger đầu tiên trên đất Mỹ, lòng tôi nặng trĩu lo âu không biết làm sao kiếm được công việc làm khi bắt đầu làm lại cuộc đời từ tuổi 51 và nghe các bạn bè nói đến chuyện đi tìm lãnh tụ với giọng khinh bạc: “Mẹ kiếp, lo kiếm chân bus boy, rồi sau đó tìm cách đi học lại đi con. Bọn mình đã tiêu phí quá nửa đời chỉ vì nghe lệnh mấy anh lãnh tụ này rồi. Sau khi chạy trước sang đây, họ chuyển sang người nhái tuốt luốt”. Tôi còn ngây thơ: “Già như vậy còn nhái nhiếc gì nữa?”. Một thằng cười hộc lên: “Nhái tức là lặn kỹ đó thằng ông nội này. Tù cộng sản lâu thế mà đ... vỡ ra được!

Thế rồi thời gian thấm thoát qua đi. Và phải đợi đến khi thế hệ chúng tôi có cháu nội, ngoại đầy đàn rồi mấy ông thợ lặn hàng đầu của VNCH mới xuất hiện gọi là “đến với cộng đồng” nhân cơ hội có một vài nhà hoạt động cộng đồng này vẫn chưa dứt được cái bệnh “thích tìm lãnh tụ xưa để suy tôn”. Hết lễ giỗ Ngô Ðình Diệm lại đến lễ giỗ Nguyễn Văn Thiệu. Mà ông nào cũng có người thương người ghét, ông nào cũng để lại nhiều nạn nhân, ít ân sủng. Vì thế mà cộng đồng cứ rối tinh rối mù, phe phái ngày càng nhiều, rạn nứt khắp nơi, khắp chốn. Gần đây, không biết lý do nào thúc đẩy mà mấy ông trong Tập Thể Chiến Sĩ lại đưa ông tướng 4 sao “thủ khẩu như bình” Trần Thiện Khiêm ra làm cái dù cho một hội đoàn cựu quân nhân được coi như quan trọng vào bậc nhất ở hải ngoại. Cái tập thể của những người từng mặc áo lính này lúc đầu đưa ông Tướng Lê Minh Ðảo ra thì còn tạo được niềm hy vọng, vì dù muốn dù không ông Ðảo cũng là một vị tướng đánh trận đánh cuối cùng rất ngoạn mục và nổi tiếng thế giới trước 30 tháng 4 năm 1975. Ông cũng là vị tướng đương quyền vào lúc ấy không bỏ chạy trước địch quân và bằng lòng chung số phận thất trận rồi bị tù đầy rất lâu cùng với những sĩ quan và binh sĩ VNCH. Rồi đến tiến sĩ Nguyễn Xuân Vinh, hoạt động được vài năm thì cũng “cháy” luôn. Ðến nay tập thể chiến sĩ lại đưa một khuôn mặt xa lạ với cộng đồng với các hội đoàn quân đội ở đây là Tướng Trần Thiện Khiêm ra làm “bùa hộ mạng” thì đúng như nhận định của nhiều người “quả là hết thuốc chữa”. Bệnh đi tìm lãnh tụ của một số các ông cựu binh đã trở thành ngày càng nặng, không còn hy vọng gì chữa khỏi nữa khi cố tình đưa ông thủ tướng “ngậm miệng ăn tiền” ra làm mẫu mực lãnh tụ.

Có thể là vì không quen “ánh đèn sân khấu chính trị” ở quận Cam, hoặc vì xa rời đồng hương đến 35 năm rồi, nên Tướng Khiêm có vẻ “lạng quạng” ngay khi ông nói rằng ông nhờ ông Phan Tấn Ngưu tổ chức bữa cơm cho ông gặp mặt anh em cựu chiến sĩ VNCH để cám ơn họ đã chiến đấu để bảo vệ đất nước. Lập tức những lời lẽ của ông Trần Thiện Khiêm đã bị phản ứng ngay từ phía những người có thể là đồng đội với ông trước đây. Phản ứng ấy không có gì khó hiểu hay khó giải thích. Cách ông Khiêm đến với họ làm sự giận dữ trong lòng họ lại bùng lên. Lý do: từ ngày 25 tháng 4 năm 1975 tới nay, nghĩa là từ ngày gia đình ông và gia đình ông Thiệu lên chiếc C-118 rời khỏi Việt Nam giữa lúc đất nước nghiêng ngửa tới tháng 9 năm 2010, ông chưa nói một lời nào gọi là chia sẻ những nỗi đau và những nỗi nhục mà các đồng đội của ông phải nhận lãnh sau ngày Miền Nam Việt Nam sụp đổ, chưa từng một lời an ủi các đồng đội của ông đang giam thân trong các nhà tù trên khắp lãnh thổ Việt Nam nhân chiến dịch nhân quyền mà Tổng Thống Ronald Reagan mở ra năm 1982, chưa một lần nào ông lên tiếng ái ngại, an ủi những người vợ lính có chồng, con đang bị trả thù trong chốn lưu đầy, chưa một lần ông lên tiếng hay có hành động trợ giúp, hoặc đến thăm những đồng hương tỵ nạn trên các đảo tỵ nạn ở Ðông Nam Á, Hồng Kông, chưa một lần nào ông quan tâm đến những đồng hương khi họ chân ướt chân ráo đến nước Mỹ, chưa một lần nào ông bỏ ra một vài chục đô la để gởi đến các thương phế binh VNCH còn kẹt tại quê nhà... Nghĩa là chạy sang được Ðài Loan, Anh rồi tới Mỹ, chưa một ngày nào ông cũng như ông Thiệu tỏ ra quan tâm chứ đừng nói gì đến sự giúp đỡ đồng hương và đồng đội của ông tại nước Mỹ cũng như ở Việt Nam. Làm lãnh đạo mà như thế thì ngày nay không trách được có những người viết trên e-mail, trên các trang mạng gọi ông Khiêm là cái “thây ma” đã rữa thối.

Cá nhân, cũng như rất nhiều bạn tù với tôi không hề giận dữ tướng Khiêm, nhưng chúng tôi cho rằng ông Khiêm không xứng đáng làm tướng, và càng không xứng đáng ngồi vào ghế lãnh đạo. Chúng tôi cũng thừa biết ông mang những 4 sao, ngồi vào ghế “thừa tướng” thời đại cũng chỉ do phe cánh và người Mỹ đặt vào. Có điều chúng tôi rất ngạc nhiên, là với thành phần lãnh đạo chóp bu như thế mà mãi 30 tháng 4, 1975 Miền Nam Việt Nam mới rơi vào tay Cộng sản thì cũng là điều lạ. Nhưng suy đi nghĩ lại thì mới ngộ ra được rằng sỡ dĩ thượng tầng của VNCH thối nát, thiếu sáng suốt, dựa dẫm, phe phái mà VNCH vẫn đứng vững được cho tới hết tháng Tư năm 1975 được là nhờ sức chiến đấu, tinh thần, nhiệt tình và xương máu của quân đội VNCH. Nhưng nghĩ được như thế lòng lại đau thắt như có ai cắt từng đoạn. Hóa ra, một số các nhà lãnh đạo chóp bu của VNCH chỉ biết thổi kèn thúc quân và chúng tôi lao vào trận, đến khi nhìn lại để mong nhờ họ trợ giúp tinh thần giữa lúc đất nước nghiêng ngửa thì đã thấy các ông ấy lên máy bay rời khỏi Việt Nam mất hút! Than ôi!

Nhưng nghĩ cho cùng, thôi thì 35 năm đã trôi qua. Cộng đồng đã nếm trải nhiều cay đắng và phũ phàng vì sự thật diễn ra trước mắt. Ðất nước đã mất, cộng đồng đã nát tan vì chia rẽ, vì những trò múa rối chính trị, vì những mưu độc của Cộng sản, vì những tiếp tay của những kẻ lợi dụng chiêu bài chống Cộng để gây rối trong cộng đồng. Bây giờ, dù có chỉ trích cách mấy thì những tấn tuồng nói trên cũng sẽ lại tái diễn. Vấn đề của chúng ta ngày nay là bằng mọi giá hãy để những ông lãnh tụ trước đây của VNCH nằm yên trong những kho chứa. Bởi vì khi những “mummy” này được khóa vào đúng vị trí của nó và không ai có thể đem ra trưng bày được, thì sẽ không còn những tranh cãi trong cộng đồng nữa. Lúc ấy có hy vọng cộng đồng được sống bình yên và đồng hương có thể nắm tay nhau để chỉ hướng vào mục tiêu duy nhất: chống Cộng. (V.A.)
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

Bắc Kinh coi giải Nobel là 'tấn công Trung Quốc'

Image
Phát ngôn viên ngoại giao Trung Quốc Mã Triều Húc. Ảnh: AP.
Chính phủ Trung Quốc tiếp tục phê phán Nobel Hòa bình năm nay, sau khi giải thưởng này được tuyên bố trao cho Lưu Hiểu Ba, một người đang thụ án tù.

"Một số chính trị gia nước ngoài đang tìm cách dùng cơ hội này để tấn công Trung Quốc", NYT dẫn lời Mã Triều Húc, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc, tuyên bố trong cuộc họp thường kỳ hôm thứ ba. Ông nói thêm rằng giải Nobel Hòa bình "cho thấy sự thiếu tôn trọng đối với hệ thống pháp luật Trung Quốc", bởi người được nhận giải là một tội phạm đã bị truy tố.

Ông Mã đồng thời chỉ trích ủy ban Nobel của Na Uy, tuy nhiên không nói rõ liệu vợ của Lưu là Lưu Hà có được phép đi Oslo nhận giải thưởng hay không.

Bà Lưu mới đây được phép đi thăm chồng ở tỉnh Liêu Ninh để báo tin về giải thưởng. Lưu Hiểu Ba, 54 tuổi, đang thụ án 11 năm tù vì tội "kích động lật đổ chính phủ".

Trong tuyên bố của mình, Ủy ban Nobel Na Uy nói họ quyết định trao giải cho Lưu "vì cuộc đấu tranh lâu dài bất bạo động đòi nhân quyền ở Trung Quốc".

Lần thứ hai trong vòng một tuần, Trung Quốc hủy cuộc gặp với một quan chức cấp cao Na Uy, thông tin trên báo chí Na Uy cho biết. Bộ trưởng Ngư nghiệp Na Uy Lisbeth Berg-Hansen đáng lẽ có cuộc gặp thứ trưởng phụ trách an toàn thực phẩm của Trung Quốc tại Bắc Kinh hôm nay.

Trước đó, ngay khi tin về giải Nobel hòa bình được công bố, Bắc Kinh đã triệu đại sứ Na Uy tới để phản đối. Trung Quốc nói rằng việc trao giải cho Lưu Hiểu Ba sẽ khiến quan hệ giữa hai nước xấu đi.

Thanh Mai
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »


Image


Chile: Kỹ thuật + Tình người đưa tới thành công

Ngô Nhân Dụng
Người Chile có quyền hân hoan và hãnh diện. Cả nhân loại được chia sẻ niềm vui. Vụ cứu sống 33 thợ mỏ ở Chile, sau 69 ngày bị kẹt 620 mét dưới lòng đất, cho thấy loài người có khả năng chia sẻ tình thương yêu và khả năng kỹ thuật để thực hiện được những công trình đáng hãnh diện.

Thi sĩ César Vellejo, người Peru, đã cảm hứng sáng tác ngay một bài thơ, đang được truyền tụng trong thế giới nói tiếng eapagnol. Khi người thợ mỏ đầu tiên, anh Florencio Avalos được đưa từ đáy vực nóng và ẩm lên trên mặt đất, anh ôm lấy vợ, con rồi ngước mắt nhìn lên bầu trời đầy sao trong một đêm lạnh lẽo giữa sa mạc Atacama. Có ký giả đã bình luận hình ảnh đó bằng câu thơ của Dante Alighieri, một thi sĩ Ý vào thế kỷ 13: “Tình yêu làm chuyển động mặt trời và tất cả các vì sao!”

Một người đáng được tuyên dương là trưởng toán công nhân, ông Luis Alberto Urzua, 54 tuổi. Trong 17 ngày đầu tiên bị “chôn sống” trong lòng đất không liên lạc được với thế giới bên ngoài, Urzua đã đóng vai trò lãnh đạo một cách xứng đáng, giữ vững tinh thần của các đồng đội. Trong những ngày sau đó, khi đã được tiếp tế thực phẩm, thuốc men qua một cái ống rỗng chừng 10 cm, nhóm thợ mỏ đã tự động biến thành một tổ chức có quy củ. Họ đặt ra quy tắc quyết định tập thể để kiềm chế những bản năng ích kỷ, ganh tị, tham lam của con người, họ chia ba phiên thức canh cho nhau, săn sóc người bệnh, an ủi người mất tinh thần, chia sẻ thực phẩm, thuốc men, không một thiểu số nào được ưu đãi. Loài người quả thật có khả năng cộng tác với nhau trong cơn hoạn nạn theo tinh thần tự do dân chủ.

Trong tình thế tuyệt vọng, một người khác đáng được khen ngợi nữa là Tổng Thống Chile Sebastián Piỹera. Ông mới nhậm chức vào Tháng Ba năm nay, vị tổng thống hữu phái đầu tiên sau nhiều năm cánh tả nắm quyền. Nhiều cố vấn đã khuyên ông thận trọng, đừng xuất hiện trước ống kính ti vi nói về tai nạn hầm mỏ này. Hãy chờ đến ngày lễ quốc tang hãy xuất hiện chia buồn với gia đình các nạn nhân. Như vậy thì hình ảnh chính trị của ông sẽ không bị dính đến sự thất bại và kết cục bi thảm khi các nạn nhân đều tử nạn. Chưa ai từng sống sót được sau khi bị vùi 15, 17 ngày trong lòng đất, tuyệt vô âm tín. Nhưng ông Sebastián Piỹera, vốn là một nhà chính trị rất khôn ngoan, thủ đoạn, đã nghe theo trái tim chứ không theo mánh khóe tính toán. Ông dấn thân vào công cuộc cứu người, ông nuôi niềm tin và hy vọng, mặc dù thực tế không thấy có hy vọng. Người Chile đã sống trong hy vọng nhờ tấm gương của ông. Khi các chính trị gia ngưng “làm chính trị” thì họ cũng được người dân kính trọng hơn. Ông Piỹera được 56% dân chúng ủng hộ, so với 46% trước tai nạn này. Ông bộ trưởng Hầm Mỏ, lăn lộn nhiều ngày tại chỗ, được dân chúng coi như một anh hùng; trong tương lai chắc sẽ ứng cử chức tổng thống! Nhưng ông Piỹera vẫn là con người ưa tính toán. Ông nói tất cả số tiền trị giá 22 triệu Mỹ kim trong việc cứu 33 mạng người đã được chi tiêu rất đúng, “không một đồng nào bị phí phạm.” Nếu như các số tiền để bày vẽ ra công ty Vinashin hay để tổ chức Ðại lễ 1000 năm Thăng Long khi chi tiêu cũng được tính toán theo tinh thần trách nhiệm như vậy, thì nhiều người Việt Nam cũng đỡ đói, và đã tránh được nạn kẹt đường khiên tất cả ngoại giao đoàn phải chờ đợi mấy giờ rồi bỏ ra về!

Nhà báo đối lập Arturo Fontaine khen ngợi ông Piỹera, nhắc lại ý kiến của Machiavelli rằng trong một quốc gia cộng hòa người dân phê phán không căn cứ vào hiểu biết của lãnh tụ mà dựa trên tánh khí của họ. Piỹera quả thật có linh tính và sự can đảm của một nhà chính trị.

Khi tai nạn xẩy ra ngày 5 Tháng Tám vì đá trồi lấp cả khu hầm mỏ cũ, ông tổng thống đang công du ở Ecuador. Ông cử ngay ông bộ trưởng Hầm Mỏ về đêm nơi tai nạn. Ông bay về, đến tận hiện trường mặc dù các cố vấn khuyên ông nên tránh xa; rồi yêu cầu công ty khai mỏ đồng Codelco cử chuyên viên tới nghiên cứu. Họ cho biết các nạn nhân có thể sống sót. Khi các chuyên viên cho biết các công nhân bị nạn vẫn còn sống, họ cho đục ba đường đi xuống tìm. Hai công ty quốc tế cung cấp dụng cụ khoan đào trúng con đường tới nơi tụ tập các nạn nhân. Chính phủ Chile huy động các chuyên viên tàu ngầm của Hải Quân tới giúp, vì họ có kinh nghiệm về cuộc sống ở nơi chật chội. Khoang cấp cứu được chế tạo ở Hải Quân công xưởng tại Talcahuano. Hai y tá Hải Quân được cho chui xuống săn sóc sức khỏe các công nhân.

Ðêm Thứ Ba vừa qua, cả nước Chile vắng bóng xe chạy ngoài đường. Mọi người ở trong nhà chăm chú nhìn máy ti vi chờ tưng công nhân mỏ được kéo lên, lúc đầu một giờ đưa được một người lên, sau một giờ đưa lên được 3 người. Cả thế giới chia vui với dân tộc Chile khi họ gửi 2,000 ký giả tới theo dõi cuộc cứu nạn, như báo Người Việt viết: “...ngay cả đài truyền hình nhà nước Bắc Hàn cũng có mặt tại chỗ.” Cả loài người có thể chia sẻ niềm vui của anh Jimmy Sanchez, 19 tuổi, khi được ôm đứa con đầu lòng mới sinh được một tháng, trong lúc bố ở dưới lòng đất. Cũng chia sẻ được niềm vui của ông Mario Gomez, 63 tuổi khi ôm lấy bà vợ cùng với lá cờ Chile. Trong 2 tháng ở dưới đất sâu ông đã hứa với bà nhiều lần qua điện thoại là khi được cứu lên ông sẽ đưa bà tới nhà thờ làm phép cưới theo đúng luật Thánh, điều mà bà vẫn mong ước từ bao nhiêu năm chung sống. Họ sẽ làm lễ cưới, rồi đi tuần trăng mật! Từ Mỹ sang Pháp, từ Brazil tới Trung Quốc, loài người chia sẻ một niềm vui chung, không phân biệt chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, chế độ chính trị, vân vân.

Nhưng trong thế kỷ 21 này, muốn làm “chuyển động mặt trời và tất cả các vì sao” thì con người có kỹ thuật giúp việc. Khi 33 người thợ mỏ lần lượt được kéo lên mặt đất suốt 22 giờ liên tục, trong một khoang cấp cứu hình con nhộng có tên là “Phượng Hoàng 2” đi lên trong một đường ống xuyên từ trên xuống, thì đằng sau thắng lợi tập thể đó là những “anh hùng vô danh” đã đóng góp kỹ thuật vào công tác cứu nạn. Hình ảnh những máy móc đào được xuống 600 mét đá cứng, một hệ thống cơ khí vẽ ra để đưa được 33 con người lên chỗ an toàn, đó là một thành tích của kỹ thuật hiện đại. Tổng Thống Piỹera ca ngợi: “Các kỹ sư, chuyên viên cấp cứu, công nhân Chile đã chứng tỏ họ có khả năng làm được những gì!

Báo chí Mỹ cho biết nhiều người Mỹ cũng đóng góp vào công cuộc cứu nạn. Công ty Mỹ-Chile Geotec Boyles Bros. đã mở mũi khoan thành công đào ống xuyên mặt đất cho tới khi gặp được những người thợ bị nạn; và họ đã tìm được sự hỗ trợ từ khắp thế giới. Hai công ty tại Philadelphia, một tiểu bang hầm mỏ ở Mỹ, dùng kinh nghiệm cứu nạn của họ gửi xuống Chile mũi khoan đặc biệt. Mũi khoan này có thể đào con đường xuyên xuống đất đủ rộng cho người đi qua lọt, và giữ cho vách đá không bị lở, đổ. Mũi khoan này được đưa tới San Jose, Chile trong vòng 48 giờ, nhờ hãng gửi đồ UPS. Và nhà bưu điện tư UPS đã chuyển hàng đi miễn phí. Nhờ nỗ lực của Geotec Boyles nên các thợ mỏ đã được cứu lên trong tuần này, trong khi trước đó các chuyên gia tính rằng phải tới lễ Giáng Sinh 2010 mới hy vọng đưa được họ lên mặt đất.

Một chuyên viên được nêu tên là Jeff Hart, người Denver, Colorado. Ông đang thầu đào giếng nước cho cho quân đội Mỹ ở Afghanistan, đã được gọi về. Nhà thầu 40 tuổi này đã làm việc suốt 33 ngày liền để khoan con đường xuống mỏ. Sau khi những công nhân Chile được đưa lên mặt đất, Hart nói một câu giản dị: “Xong việc!” Ba bác sĩ làm việc cho NASA đã góp ý kiến về chăm sóc sức khỏe cho các nạn nhân bị kẹt dưới hầm sâu, dùng kinh nghiệm về các phi hành gia sống cô đơn xa trái đất. Một chuyên gia nữa của NASA là Clinton Cragg, cựu đại tá Hải Quân Mỹ đã dùng kinh nghiệm điều khiển tầu ngầm để chỉ huy 20 chuyên viên chế ra cái ống dài hơn 4 mét để đưa từng người lên một. Tình thương nhân loại và khả năng kỹ thuật đã cứu được 33 người thợ mỏ Chile!

Nhưng biến cố cứu nạn này không phải chỉ chấm dứt tấm thảm kịch 69 ngày mà còn mở ra một chương sử mới cho nước Chile trong luật lệ bảo vệ quyền lợi công nhân, an toàn lao động. Công ty San Esteban Mining đang trốn trách nhiệm bằng cách tuyên bố phá sản. Một hậu quả có thể xảy ra là không có tiền trả lương cho 33 công nhân mới thoát nạn. Ông tổng thống đã lập một ủy ban cải tổ. Luật lệ về hầm mỏ ở Chile sẽ thay đổi để tránh không xẩy ra những tai nạn tương tự. Năm ngoái đã có 35 vụ chết người trong hầm mỏ.

Người Chile đang hào hứng về khả năng của các chuyên viên nước họ trong cuộc cứu nạn này; trong khi mọi người Việt Nam đang xấu hổ về vụ kẹt xe, tắc nghẽn trên đường tới nơi cử hành Ðại lễ 1000 năm Thăng Long được chuẩn bị trong 10 năm qua; vụ kẹt đường khiến hàng trăm các đại diện ngoại giao quốc tế chờ đợi mấy tiếng đồng hồ rồi phải bỏ ra về. Một nhà ngoại giao Âu Châu đã hỏi: “Không biết sau vụ này ai sẽ phải từ chức?” Ai cũng biết, ở Việt Nam thì không ai từ chức cả, vì không ai có trách nhiệm về cái gì cả!

Tổng Thống Piỹera đã hứa với dân chúng rằng đến năm 2018 nước ông sẽ được xếp hạng như một quốc gia tiên tiến về kinh tế - đúng vào năm kỷ niệm ngày lập quốc khi Chile đánh bại đạo quân thực dân Tây Ban Nha trong trận đánh sau cùng. Một nước trẻ trung như Chile cũng đáng làm gương cho nước ta, với hơn 2000 năm lịch sử!

Cuối cùng, loài người cùng chia sẻ thành công trong công cuộc cứu nạn của nước Chile. Chúng ta cũng có thể chia sẻ những kinh nghiệm rất người mà cũng vượt lên trên thân phận con người của các công nhân đã thoát nạn.

Như thi sĩ César Vellejo viết về những người thợ mỏ ngoi lên trên mặt đất:

“Họ biết, qua bầu trời thấp thoáng nhìn từ những bậc thang
Con người có thể trèo xuống mà ngước mắt nhìn lên
Khi leo lên mắt vẫn biết nhìn xuống.”
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »


Image

Tại sao Bắc Kinh lại sợ hãi ông Lưu Hiểu Ba?

Willy Lam,
Asia Sentinel
Giết gà để nhát khỉ có lẽ không nhằm nhò gì trong lần này
Quý vị không thể tìm đâu ra được một nhà bất đồng chính kiến trầm lặng, khiêm tốn, và ôn hoà hơn ông Lưu Hiểu Ba, người vừa mới bị tuyên án 11 năm tù vào ngày lễ Giáng Sinh - cái ngày mà người ta cho là thế giới phương Tây đang nghỉ lễ và không đọc báo.

Là một nhà phê bình văn học, tất cả những gì mà người cựu giảng viên văn học Trung Hoa này đã làm chỉ là viết những bài báo nhẹ nhàng phê phán chế độ của Ðảng Cộng sản Trung Hoa (ÐCSTH).

Sáu bài báo làm cho Bắc Kinh giận dữ - và được trưng ra làm bằng chứng cho cái "tội" là đã "khích động để lật đổ quyền lực nhà nước", tất cả đã được đăng tải trên các trang web ở nước ngoài, mà người dân Trung Hoa lục địa bị ngăn cấm không cho đọc bởi bức tường lửa do nhà nước dựng lên.

Ðúng với sự thật là ông Lưu và một số giáo sư cùng các chuyên gia luật pháp đã thảo ra và đưa lên mạng Internet bản Hiến Chương 08, nhằm kêu gọi nhà cầm quyền hãy cho phép người dân được hưởng các quyền dân sự vốn đã được đề cao trong Hiến pháp Trung Cộng. Khi Hiến Chương 08 lần đầu tiên xuất hiện cách đây một năm, thì ông Lưu và nhiều bạn hữu đã bị những kẻ chuyên môn đâm bị thóc thọc bị gạo trong giới trí thức Bắc Kinh mắng nhiếc là không đủ dũng cảm để đương đầu với nhà cầm quyền.

Yếu điểm của ÐCSTH trong vụ kiện cáo ông Lưu có lẽ đã giải thích cho lý do tại sao ông Lưu mặc dù bị an ninh mật vụ nhà nước mời đi làm việc vào lúc trước khi Hiến chương 08 được công bố vào ngày 7/12/08, thì nhà cầm quyền phải đợi cho đến cuối tháng Sáu năm ngoái mới "chính thức bắt giữ" ông về tội âm mưu lật đổ nhà nước. Cho dù không có "bí mật nhà nước" nào dính đáng đến vụ án của ông Lưu, thế nhưng vợ ông và những người ủng hộ cũng như giới ngoại giao nước ngoài lại không được phép vào tham dự phiên tòa chỉ kéo dài có 2 tiếng đồng hồ được tổ chức vào hôm 23/12/2009.

Và nhà cầm quyền Trung Cộng đã lựa một ngày lễ quốc tế lúc mà nhiều nhà báo ký giả đang nghỉ không làm việc, đồng thời cũng là khi nhiều người ăn mừng lễ không chú ý gì đến tin tức, để đưa ra một thông báo động trời về bản án tù giam được ấn định cho nhà trí thức 53 tuổi này.

Có nhiều lý do tại sao ÐCSTH lại quá sợ hãi một nhà bất đồng chính kiến lịch lãm biết tự kềm chế, mà những yêu sách của ông ta không bao giờ vượt qua cái mức đòi cải tổ chính trị một cách chậm rãi từng bước một. Ðầu tiên, giới lãnh đạo dưới quyền Chủ tịch Hồ Cẩm Ðào bị sững sờ trước sức mạnh của Internet như một luồng điện kích thích những tiếng nói đối lập. Chỉ trong vòng hai tháng sau khi Hiến chương 08 được phổ biến, hơn 10 ngàn công dân Trung Hoa lục địa đã ký vào bản tuyên ngôn này trên mạng Internet. Những chữ ký không phải chỉ bao gồm các nhà trí thức nhưng có cả thành phần công nhân, giới hưu trí và những người nội trợ. Người ta đã thấy trong hai năm qua có hàng trăm trang blogs, chatrooms và các mạng Facebook lẫn Twitter kiểu Tàu đang đưa ra nhiều tin tức làm cho nhà cầm quyền phải bối rối.

Ðó là lý do tại sao Ủy viên Quốc vụ Mạnh Kiến Trụ, viên chức cao cấp nhất trong ngành công an của Trung Cộng, mới đây đã cảnh báo rằng mạng Internet đã trở thành một "phương tiện quan trọng cho các thế lực chống Trung Hoa thực hiện các hoạt động xâm nhập và phá hoại".
Trừng phạt ông Lưu thật nặng nề là một lời cảnh cáo báo cho cộng đồng xử dụng mạng Internet đang gia tăng nhanh chóng và càng ngày càng bị kiểm soát biết là không nên dùng phương tiện thông tin mới mẻ này để chống lại nhà nước.

Thứ hai, trong khi Bắc Kinh mặc dù đang ngồi trên nguồn dự trữ ngoại hối trị giá 2.2 ngàn tỷ đô la, đã không bỏ qua bất cứ cái gì để xây dựng một bộ máy công an trị, thì càng lúc càng có thêm nhiều kẽ hở đang xuất hiện trong chiếc áo giáp của họ. Hãy lấy một thí dụ, như vụ bạo loạn xảy ra ở Tây Tạng vào mùa xuân năm 2008 và tại Tân Cương hồi tháng Bảy và tháng Tám năm ngoái. Nhiều tuần lễ trước khi bùng nổ ra các vụ lộn xộn này, thì nhiều đơn vị an ninh nhà nước đã thu nhận được nhiều tin tức tình báo liên quan - và Bắc Kinh đã huy động thêm công an, các toán chống khủng bố, cũng như "Công an Nhân dân Vũ trang" đến các khu vực bị ảnh hưởng.

Thình lình với con số tử vong cao - cũng như một số các cáo buộc về "những kẻ đánh đập, đập phá, hôi của" - đã tạo ra một vết lõm khá lớn đánh vào uy tín của cơ chế kiểm soát phức tạp của nhà nước.
Thêm nữa, trong khi Bộ chính trị do họ Hồ lãnh đạo đã đổ hàng tỷ Nhân dân tệ vào để củng cố "công cụ phục vụ cho giới lãnh đạo độc tài của giai cấp vô sản", thì con số đếm được trên toàn quốc về "các sự cố đám đông" - một từ ngữ mập mờ nhằm chính thức ám chỉ các hành động chống nhà cầm quyền - trong năm nay được ước lượng lên đến hơn 100,000 vụ.

Ngay cả việc Bộ chính trị đã bắt đầu mất tin tưởng vào lực lượng quân đội, công an, nhân viên an ninh mật vụ và "Công an nhân dân vũ trang", được minh chứng bằng sự kiện các đảng viên nòng cốt trong bộ phận bảo vệ an ninh, chẳng hạn như uỷ viên Bộ chính trị Chu Vĩnh Khang đã điên cuồng làm sống lại những cơ chế cũ kỹ của "Cách mạng Văn hóa" - và ngôn ngữ

Trong một nỗ lực nhằm phát động một "cuộc chiến tranh nhân dân mới để bảo vệ đảng", hai ông Chu và Mạnh đã cho tuyển mộ nhiều "mật báo viên nhân dân" và thành phần "quần chúng tự phát" để cung cấp tin tức về "những kẻ thù địch với nhà nước" và "tay sai các thế lực chống Trung Hoa ở phương Tây".

Bằng cách áp đặt một bản án nặng nề lên ông Lưu Hiểu Ba, giới lãnh đạo dưới quyền Hồ Cẩm Ðào dường như đang hy vọng ngược lại nguồn hy vọng rằng những thách thức đối với chế độ - được tin rằng là sẽ gia tăng do sự tức giận vì ngăn cách giàu nghèo cũng như một đống những bất công xã hội - sẽ bị chặn đứng.
Image
Ông Lưu Hiểu Ba và vợ là bà Lưu Hà
Nhưng lý do quan trọng nhất tại sao giới cầm đầu ÐCSTH lại quá lo sợ về - và tức giận với - ông Lưu Hiểu Ba là những lời phê phán chế độ của ông ta hình như rất đúng và không chê vào đâu được. Vị cựu giáo sư cao đẳng này đã ghi nhận rằng hoàn toàn không có cách nào để các biện pháp đàn áp của Bắc Kinh có thể "một cách cơ bản và liên tục chống đỡ được cho cái kết cấu độc tài mà trong đó vô số những rạn nứt đang xuất hiện."
Ông Lưu Hiểu Ba cũng đổ lỗi cho ÐCSTH là đang cố tình xử dụng sức mạnh dân tộc để kéo dài cái mệnh trời đang tả tơi của họ.
"Lòng yêu nước chính thức mà chế độ độc tài của ÐCSTH đang quảng bá", như ông Lưu viết, là ngang hàng với việc "kêu gọi nhân dân hãy yêu một chế độ độc tài và một đảng độc đoán". Nhà bất đồng chính kiến đã chỉ rõ ra cho thấy rằng tương lai của Trung Hoa không nằm với "cách hành xử mới của giới cầm quyền" nhưng với "sự lớn mạnh không ngừng của 'các thế lực' mới trong quần chúng".

Cái ngày mà ông Lưu bị tuyên án, hàng ngàn người có cảm tình với ông đã tìm cách nhảy rào vượt qua Bức tường lửa vĩ đại của Trung Hoa lục địa để bày tỏ tinh thần ủng hộ cho người anh hùng của họ vào những chỗ xa xôi trên mạng Internet, là những nơi đã tránh khỏi được sự theo dõi của nhà nước. Dù sao đi nữa thì bên cạnh hàng triệu công an và mật vụ đang vây quanh, 330 triệu cư dân mạng Trung Hoa lục địa càng ngày càng tinh thông hơn trong việc khôn khéo đánh lừa các cơ quan kiểm duyệt.
Thêm nữa, hàng chục người ký tên vào Hiến chương 08 đã tình nguyện cùng đi tù với ông Lưu Hiểu Ba. Sau khi ông Lưu bị tuyên án, vợ ông, bà Lưu Hà nói rằng ông sẽ 65 tuổi vào lúc được trả tự do vào năm 2020. Nhưng rồi bà Lưu Hà lại nói rằng "Tôi sẽ giữ vững niềm tin như [tôi chắc chắn rằng] ông ấy cũng sẽ giữ vững niềm tin".

Như Mao Trạch Ðông đã nói, chỉ cần "một tia sét là đốt cháy cả một giải bình nguyên". Sự bất công to lớn đầy ngu xuẩn đằng sau âm mưu tàn sát của ÐCSTH đối với ông Lưu Hiểu Ba dường như làm giận dữ thậm chí cả một người đã từ lâu vẫn sợ hãi đến im lặng và khúm núm. Và Bắc Kinh có lẽ cảm thấy rằng giết một con gà để nhát khỉ có lẽ không nhằm nhò gì trong lần này.

Phan Lưu Quỳnh phỏng dịch theo "Why is Beijing Afraid of Liu Xiaobo?", Asia Sentinel 26/12/08

Why is Beijing Afraid of Liu Xiaobo?
Written by Willy Lam
Killing the chicken to scare the monkey may not work this time
You cannot find a more low-key, modest, and moderate dissident than Liu Xiaobo, who was jailed on Christmas day – when presumably the western world was on holiday and not reading the newspapers – for 11 years.
A literary critic by training, all that the former lecturer in Chinese literature has done is write articles that are mildly critical of the Chinese Communist Party (CCP) regime. The six pieces that infuriated Beijing – and were cited as evidence of his "crime" of "inciting subversion against state power" were all published in overseas websites, to which Chinese are barred by state-imposed firewalls.
It is true that Liu and a score or so professors and legal experts drafted the Charter '08 Internet petition, which called on the authorities to allow citizens to enjoy civil rights already enshrined in the Chinese Constitution. When the Charter first appeared a year ago, Liu and his friends were attacked by firebrands among the Beijing intelligentsia for not being brave enough to take on the authorities.
The weakness of the CCP's case against Liu perhaps explains why although Liu was hauled in by state-security personnel on the eve of the Charter's publication on December 7, 2008, the authorities waited until last June before "formally arresting" him on subversion charges. Although no "state secrets" were involved in the Liu case, his wife, supporters as well as foreign diplomats were not allowed to attend the two-hour trial which was held on December 23.
And the authorities picked an international holiday when many journalists were off work and when festive revelers were hardly paying attention to the news, to make the shocking announcement of the jail term meted out the 53-year-old intellectual.
There are several reasons why the CCP is so afraid of a gentle and restrained dissident whose demands have never gone beyond incremental, gradualist political reform. First, the leadership under President Hu Jintao was shocked by the potency of the Internet as a galvanizer of the voices of dissent. Within two months of the appearance of Charter '08, more than 10,000 Chinese citizens signed on to the Net-based petition. The signatories included not only intellectuals but workers, retirees and housewives. The past two years have seen hundreds of blogs, chatrooms and Chinese-style Facebook and Twitter sites breaking news that have embarrassed the authorities.
That's why State Councillor Meng Jianzhu, the nation's top cop, warned recently that the Internet had become a "major means through which anti-China forces perpetrate their infiltration and sabotage activities."
Hitting Liu hard is a warning served on the China's fast-growing and increasingly politicized Internet community to not use the new media against the regime.
Second, while Beijing, which is sitting on $2.2 trillion worth of foreign-exchange reserves, has spared nothing to build up a police-state apparatus, more and more chinks have appeared in its armor. Take for example, the riots that hit Tibet in the spring of 2008 and in Xinjiang last July and August. Weeks before the outbreak of these disturbances, various state-security units had picked up relevant intelligence – and Beijing had dispatched additional police, anti-terrorism squads, as well as People's Armed Police (PAP) to affected areas.
The unexpectedly large casualties – as well as numbers of alleged "beaters, smashers and looters" – made a big dent on the credibility of the labyrinthine state-control establishment.
Moreover, while the Hu-led Politburo has poured billions of yuan into beefing up the "tools of the dictatorship of the proletariat," the nationwide count of "mass incidents" – an official euphemism for anti-government activities – this year is estimated at more than 100,000.
That the Politburo itself has started to lose faith in its troops, police, security agents and PAP officers is evidenced by the fact that law-enforcement cadres such as Politburo member Zhou Yongkang have been frenetically reviving Cultural Revolution-vintage mechanisms – and language.
In an effort to launch a "new people's warfare to protect the party," Zhou and Meng have been recruiting vigilantes and neighborhood spies to inform on "enemies of the state" and "agents of anti-China forces in the West."
By slapping a heavy sentence on Liu, the Hu leadership seems to be hoping against hope that challenges to the regime – which are expected to mount due to the exacerbation of the rich-poor divide as well as myriad social injustices – may be kept at bay.
Yet the most important reason why CCP honchos are so afraid of – and angry with – Liu is that his criticisms of the regime seem dead on target. The former college professor has noted that there is no way that Beijing's repressive measures can "fundamentally and perpetually sustain this edifice of dictatorship in which uncountable cracks have appeared."
Liu has also faulted the CCP for trying to use the force of nationalism to extend its tattered mandate of heaven.
"The official patriotism that the CCP dictatorial regime has advocated," wrote Liu, is tantamount to "asking the people to love a dictatorial regime and a dictatorial party." The dissident points out that China's future lies not with the "new deal of the rulers" but with "the ceaseless expansion of ‘new forces' within the people."
The day Liu was sentenced, thousands of his sympathizers managed to vault over the Great Firewall of China to express support for their hero in those far reaches of the Internet that have escaped official surveillance. After all, the CCP's millions of police and spies pale beside the nation's 330 million Internet users, who are becoming increasingly adept at outwitting the censors.
Moreover, dozens of signatories of Charter '08 have volunteered to go to prison with Liu. After Liu's sentence, his wife, Liu Xia, said he will be 65 upon his expected release in 2020. But then Ms Liu said that "I will hold up faith just as he will."
As Mao Zedong said, it only took "a spark from heaven to set the whole plain on fire." The gargantuan, mind-numbing injustice behind the CCP's pogrom against Liu seems to have outraged even a people long cowed into silence and subservience. And Beijing may find that killing the chicken to scare the monkey just may not work this time.

See the Human rights in Beijing Winter slideshow of prisoners serving sentences for criticism of the government.

http://www.asiasentinel.com/index.php?o ... Itemid=171
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Hoa Kỳ tỏ rõ quyết tâm trở lại châu Á...........

Tú Anh
Trong nhiều năm dài, các chiến lược gia Hoa Kỳ lo lắng trước sức mạnh kinh tế và quân sự càng ngày càng tăng của Trung Quốc tại Á châu. Washington e rằng không sớm thì muộn sẽ mất hết ảnh hưởng tại khu vực năng động nhất địa cầu. Tuy nhiên, trong những tuần lễ gần đây, thái độ hung hăng của Bắc Kinh đã làm cho các nước láng giềng của Trung Quốc chuyển hướng mời gọi Hoa Kỳ trở lại châu Á.

Trợ lý ngoại trưởng Mỹ đặc trách Đông Á nhận định là ngay những những người đã từng tin chắc là Hoa Kỳ đang xuống dốc cũng đã thay đổi quan điểm, và nhìn nhận là Mỹ sẽ là một tác nhân then chốt trong thời kỳ 50 năm tới đây tại Á châu. Giới lãnh đạo Việt Nam phản ứng một cách tích cực.

Sau khi Trung Quốc gây sức ép bắt chẹt Nhật Bản phải thả viên thuyền trưởng lái tàu cá ủi vào tàu tuần tra của Nhật trong vùng đảo tranh chấp, Hoa Kỳ lên tiếng khẳng định xem Senkaku/Điếu ngư đài là của Nhật. Điều này có nghĩa là Mỹ sẽ bảo vệ Nhật nếu Trung Quốc gây chiến.

Song song với phản ứng này, hải quân Mỹ tiến hành một cuộc tập trận đại qui mô với Hàn Quốc bất chấp lời cảnh báo của Bắc Kinh. Cùng lúc đó, Tổng thống Barack Obama và các nhà lãnh đạo Đông Nam Á họp hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ-Asean lần thứ hai tại New York hôm 24 /9/ 2010, khẳng định quyền tự do giao thương trên biển Đông.

Thái độ của ban lãnh đạo Bắc Kinh tại Biển Đông bị các chuyên gia quốc tế gọi thẳng thừng là « ngạo mạn, hung hăng, trịch thượng ».Một chuyên gia về châu Á là ông Raph Cossa , chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế của Diễn đàn Thái Bình Dương nhấn mạnh yếu tố nhân hòa : « Trung Quốc càng phô trương cơ bắp thì các nước trong vùng càng gọi số điện thoại khẩn cấp 911 cầu cứu Hạm đội 7. Ngay nước Nhật cũng thế ».

Mặc dù chính phủ cánh tả tuyên bố « độc lập hơn » đối với Mỹ, nhưng thủ tướng Naoto Kan không nhắc đến chuyện di dời một căn cứ quân sự của Mỹ tại Okinawa, và đã bổ nhiệm một nhân vật thuộc cánh « diều hâu » trong đảng Dân Chủ, ông Seiji Maehara làm ngoại trưởng giữa lúc Trung Quốc gây sức ép.

Về phía Mỹ, Thứ trưởng Ngoại giao James Steinberg tuyên bố là Hoa Kỳ chấp nhận để cho Trung Quốc phát triển quân đội, nhưng hy vọng rằng sức mạnh này được sử dụng « tích cực » phục vụ lợi ích an ninh chung, như chống hải tặc tại Somalia.

Trên thực tế thì một bản báo cáo của Bộ Quốc phòng công bố hồi tháng 8 phát hiện Trung Quốc tăng cường vũ trang để chuẩn bị chiến tranh chiếm Đài Loan và gây ảnh hưởng trên toàn châu lục.

Thời cơ hiện nay rất thuận lợi cho Hoa Kỳ trở lại châu Á. Trợ lý ngoại trưởng đặc trách Đông Á Kurt Campell công nhận là trong những năm gần đây, vai trò của Trung Quốc không ngừng gia tăng nhưng ông nhấn mạnh « Sự thực là Hoa Kỳ không bao giờ bỏ rơi châu Á và trong nhiều thập niên tới, Mỹ sẽ là tác nhân chính tại nơi này ». Từ chính sách mập mờ, Hoa Kỳ đã tỏ thái độ dấn thân rõ ràng.

Câu hỏi đặt ra là, Mỹ và các nước Á châu bị Trung Quốc đe dọa chuẩn bị những bước tới như thế nào ? Và Việt Nam phải cải tổ ra sao để được Mỹ hỗ trợ một cách dễ dàng và lâu bền ? RFI Việt ngữ đặt câu hỏi với Giáo sư chính trị quốc tế Nguyễn Mạnh Hùng, đại học George Mason , Hoa Kỳ.

« Tại Biển Đông, thái độ hung hăng của Trung Quốc làm Mỹ phải phản ứng nhưng Mỹ không thể phản ứng một mình được nếu không có hỗ trợ của Đông Nam Á là những nước có quyền lợi thiết thân… Bây giờ họ đã phát biểu về quyền lợi thiết thân của họ rồi thì Hoa Kỳ cũng giúp họ thôi ».

« Nếu Việt Nam cải tổ dân chủ và cải thiện nhân quyền thì điều này sẽ khiến Hoa Kỳ và Việt Nam đến gần nhau hơn… vì không có quan hệ lâu dài tốt đẹp nếu không có tương đồng về thể chế chính trị. Nếu sự cải tổ củaViệt Nam tiến nhanh thì mối quan hệ với Mỹ tốt đẹp hơn, thí dụ như quan hệ dễ dàng thoải mái của Mỹ với Đài Loan, với Nhật Bản »

« Việt Nam phải nói là không chống Trung Quốc, nhưng cũng phải nói là mình có quyền của một quốc gia độc lập muốn liên hệ với ai cũng được để bảo vệ tự do, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ ».
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Những Cái Đầu Bùn Đỏ
Trần Khải
Cái bất hạnh của người kia, có khi là cái may mắn của người này. Trường hợp này có thể thấy nổi bật trong mấy ngày qua: thảm họa bung vỡ dòng sông bùn đỏ tại Hungary đã gây kinh hoàng không chỉ cho người dân Hungary, người dân vùng Đông Âu bên dòng sông Danube, mà cả ngay tại Việt Nam, nơi cũng có dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên.

Những gì mà giới trí thức thuyết phục, lý luận, phản biện từ cả năm qua không hề làm nổi thành các bản tin lớn trên các báo nhà nước. Thậm chí, những lý luận ban đầu của giới trí thức Bauxite Việt Nam khi kêu gọi chính phủ VN hủy bỏ các dự án này còn tập trung vào vấn đề an ninh phòng hộ, vào âm mưu Trung Quốc có thể thiết lập các Phố Tàu Tây Nguyên và lập làng mạc để nằm phục lâu dài... Nhưng ngay khi quả bom nguyên tử bùn đỏ bộc phát tại Hungary, lập tức các báo lớn trong nước đều nêu lên vấn đề bùn đỏ Tây Nguyên...

Và những gì mà các vị trí thức Bauxite VN không thuyết phục nổi, thì tai họa vỡ hồ bùn đỏ ở Hungary đã nói giùm thật vang dội. Từ đó, chỉ cần nghe chữ “cơ nguy hồ bùn đỏ” là đủ cho người đọc kinh hoàng rồi, là đủ để các cán bộ Hà Nội lên tiếng rồi. Lý luận giới trí thức phản biện cũng không nhắc gì về các làng Trung Quốc nữa, cũng không nhắc về cơ nguy đàn anh TQ mai phục quân đội để đánh xuyên tâm từ Tây Nguyên nữa...

Bởi vì, vỡ hồ bùng đỏ, nhuộm đục ngầu mấy dòng sông từ Hungary là đủ để biết sợ quả bom nguyên tử bùn đỏ có gài đồng hồ nổ chậm ở Tây Nguyên rồi. Bởi vậy, cái xui của người hóa ra lại là cái hên của mình.
Và một bản văn có nhan đề là “Kiến nghị về dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên, với tấm gương về thảm họa vỡ hồ bùn đỏ ở nhà máy Ajka Timfoldgyar, Hungary” do nhóm Bauxite VN đăng chỉ trong vài ngày đã thu hút được khoảng 670 chữ ký, và thấy rõ số lượng người ký tên sẽ còn nhiều thêm...

Bản văn trích như sau:
“...Ngày 05-10-2010 đã xảy ra sự cố vỡ hồ bùn đỏ chứa phế thải từ việc sản xuất alumina cho luyện nhôm của Nhà máy Ajka Timfoldgyar tại vùng Ajka, cách thủ đô Budapest 160 km về phía Tây Nam. Khoảng 1,1 triệu m3 nước thải bùn đỏ từ hồ bị vỡ này đổ xuống các vùng thấp chung quanh rộng gần 40 km2 và một số con sông, trong đó có sông Danube. Trong vùng xảy ra tai nạn có thị trấn Kolontar hoàn toàn bị ngập trong màu đỏ chết người. Tai nạn này cuốn trôi khoảng 270 căn nhà, phá hủy nhiều cầu đường, làm bị thương (dưới dạng bị bỏng hóa chất) 150 người do các hóa chất độc hại có chất ăn mòn cao trong bùn gây ra, 7 người chết và làm hư hại nhiều xe cộ, tài sản khác. Số người thương vong còn có thể tăng lên do tác động của bùn đỏ chứa hóa chất tiếp tục ngấm vào cơ thể những người đã tiếp xúc với chất thải này khi hồ vỡ.

Chính phủ Hungary coi đây là thảm họa hóa chất thảm khốc nhất trong lịch sử quốc gia này. Thủ tướng Hungary Viktor Orban nhận định thảm họa này có nhiều khả năng do lỗi của con người gây ra, vì xảy ra trong lúc tình hình thời tiết hoàn toàn bình thường, không có mưa và chưa đến mùa tuyết rơi; trước khi xảy ra tai nạn hai tuần, một phái đoàn thanh tra chính phủ đã có chuyến đi kiểm tra hồ và không thấy có dấu hiệu gì khác thường; trong khi đó nhà máy vẫn thường xuyên nhắc lại cam kết với nhà nước hồ bùn đỏ này không nguy hiểm… Thủ tướng Viktor Orban đánh giá thảm họa này lớn gấp nhiều lần so thảm họa tương tự đã xảy ra ở vùng Baia Mare tại Romania năm 2000. Trước tình hình như vậy Thủ tướng Viktor Orban đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp trong vùng nơi xảy ra thảm họa. Bùn đỏ đang chảy vào sông Danube và sông Raab.

Theo nhận định của người phát ngôn thuộc Cơ quan Quản lý thảm họa của Hungary, ông Tibor Dobson, thảm họa này sẽ có thể ảnh hưởng đến 6 nước hạ lưu là Croatia, Serbia, Bulgaria, Moldova, Ukraina và Romania, và có nguy cơ trở thành thảm họa sinh thái châu Âu. Tại một số nơi nhiều thủy sản cây cối, hoa màu và gia súc đã chết. Nhìn chung chưa đánh giá được toàn diện thiệt hại. Quốc vụ khanh Illes nói các đội cứu hộ của Hungary đang làm việc một cách tuyệt vọng, phải mất ít nhất một năm và hàng chục triệu đô-la mới xử lý được; Hungary kêu gọi sự hỗ trợ của Liên minh Châu Âu.

Thảm họa vỡ hồ bùn đỏ Ajka ở Hungary là lời cảnh báo nghiêm khắc đối với vấn đề hồ bùn đỏ chứa chất thải trong sản xuất alumina ở Tây Nguyên...” (hết trích)
Do tình hình như thế, những người soạn thảo Kiến Nghị đã yêu cầu chính phủ VN hãy:
“(1)Quyết định cho ngừng ngay việc xây dựng Nhà máy Tân Rai ở Lâm Đồng để nghiên cứu tiếp cách xử lý;
(2) Tạm hủy dự án đang đàm phán tiếp với đối tác nước ngoài về Nhà máy Nhân Cơ ở Đắc Nông;
(3) Tạm thời đình chỉ việc triển khai toàn bộ tổng dự án hiện thời về việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên để tổ chức nghiên cứu lại một cách nghiêm túc và khoa học...”(hết trích)

Trong khi trước giờ, những thanh biện về dự án bauxite Tây Nguyên đều chủ yếu đăng trên các web lề trái, thì bây giờ được các báo nhà nước đưa lên qua những cuộc phỏng vấn những chuyên gia có tiếng nói trong ngành liên hệ.
Trên tờ Tuổi Trẻ, số ngày Thứ Hai 11/10/2010, một chuyên gia nói rằng ảnh hưởng bùn đỏ Tây Nguyên sẽ ảnh hưởng hàng chục triệu người nếu có “sự cố” xảy ra.
Báo Tuổi Trẻ phỏng vấn “PGS.TS Nguyễn Đình Hòe - trưởng ban phản biện xã hội, Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường VN” và được GS Hòe trả lời:
“...Rõ ràng đó là một lời cảnh báo cho VN khi chúng ta đang tiến hành khai thác bôxit ở Tây nguyên. Hungary là một nước có cả lịch sử hàng trăm năm khai thác bôxit và Công ty Sản xuất và kinh doanh bôxit - nhôm Hungary là công ty rất lớn, có kinh nghiệm hơn chúng ta nhiều. Sự cố của họ nói với chúng ta rằng tuyệt đối không thể chủ quan với bùn đỏ.
Doanh nghiệp khai thác khẳng định bùn đỏ sẽ được chôn rất cẩn thận. Nhưng điều đó không có nghĩa là 20-30 năm sau nó vẫn được làm cẩn thận và an toàn tuyệt đối. Cần lưu ý độ pH trong bùn đỏ khoảng 13, nghĩa là gấp khoảng 1 triệu lần độ pH an toàn. Nếu sự cố xảy ra ở Tây nguyên, bùn đỏ trôi xuống sông Đồng Nai thì tính mạng, sức khỏe hàng chục triệu người bị đe dọa.”(hết trích)

Như thế, lời cảnh giác này rất minh bạch, và không cần quanh co gì nữa: rằng hồ bùn đỏ sẽ là quả bom nổ chậm, nguy cơ tiềm ẩn nhiều thập niên, và nếu sơ suất thì hàng chục triệu người thê thảm.
Trong bài có nhan đề “Từ tai hoạ bùn đỏ ở Hungary, nghĩ tới bôxít Tây Nguyên” của tác giả TS. Nguyễn Quang A đăng trên báo Sài Gòn Tiếp Thị hôm Thứ Sáu 8/10/2010 đã ghi nhận:
“Ngày 4.10.2010, đập hồ chứa bùn đỏ tại mỏ khai thác và chế biến bôxít ở Ajka, Hungary đã bị vỡ. Gần 1 triệu m3 bùn đỏ đã tràn xuống phủ một diện tích 40km2 và làm tan hoang nhiều khu dân cư.

Có nơi lũ bùn đỏ với độ dày tới 2m đã nhấn chìm mọi thứ. Báo chí Hungary cho biết, đến ngày 7.10, đã có bốn người chết, 123 người bị thương và còn năm người được coi là mất tích. Ba tỉnh của Hungary đã bị đặt trong tình trạng báo động môi trường, ba con sông bị đe doạ, bùn đỏ đã lan xuống sông Rába và đe doạ sông Duna. Đây là thảm hoạ môi trường lớn nhất ở Hungary.

Nhà máy bôxít Ajka thuộc công ty cổ phần Nhôm Hungary (MAL). Báo chí Hungary cũng đưa tin cựu Thủ tướng Gyurcsány Ferenc có lợi ích trong MAL trước khi lên làm thủ tướng và công ty này ngày nay vẫn do các bạn đầu tư của ông vận hành.

MAL đã rất tự hào về tính an toàn của hệ thống chứa bùn đỏ của mình. Họ nói “các hồ chứa bùn đỏ được cách ly, được xây dựng rất hiện đại với hệ thống giám sát tiên tiến đảm bảo chắc chắn việc chứa bùn đỏ”. MAL cũng rất lưu ý đến việc “hoàn thổ”, khôi phục lại mặt bằng liên tục bằng san lấp và trồng cây tạo ra thảm thực vật phong phú. Nhưng khi xảy ra tai hoạ, họ nói đấy là tai hoạ thiên nhiên và từ chối trách nhiệm. Họ còn nói, mới gần hai tuần trước cơ quan Thuỷ lợi đã kiểm tra đập và không thấy có vấn đề gì. Khi tai hoạ xảy ra họ nói bùn đỏ không độc hại, trong khi nhiều người bị bỏng đến 70% do bị ngập trong bùn đỏ có tính kiềm nặng!

Lập luận của MAL nghe rất quen với người Việt Nam. Trong các tranh luận về khai thác bôxít ở Tây Nguyên, tập đoàn Than – khoáng sản Việt Nam (TKV) cũng đưa ra các lời hứa tương tự về hệ thống chứa bùn đỏ của mình sẽ và đang được xây dựng. Thực ra, ở đâu cũng vậy, những người vận hành hồ chứa bùn (bùn đỏ của nhà máy bôxít hay bùn đen của các mỏ than hay các loại mỏ khác, thậm chí cả với các hồ nước sạch cho thuỷ điện) luôn tìm cách thoái thác trách nhiệm khi có sự cố xảy ra...

...Đã có rất nhiều ý kiến về các dự án khai thác bôxít ở Tây Nguyên. Người ta cũng nói đến sự chắc chắn, vững chãi của các hồ chứa bùn đỏ. Từ trên nóc nhà của Đông Dương nếu có sự cố vỡ đập như ở Hungary, thì tai hoạ sẽ rất thảm khốc.

Vấn đề chuyên chở không những là vấn đề khó khăn về kinh tế mà cũng hàm chứa những rủi ro môi trường khó lường. TKV lập dự án nhưng bỏ chuyện làm đường chuyên chở ra ngoài (và yêu cầu Nhà nước phát triển đường sắt cho TKV), tính kiểu ấy là ăn bớt chi phí đầu tư để cho dự án có vẻ khả thi hơn về kinh tế. Nếu tính hết (kể cả đầu tư cho chuyên chở) và nhất là phải có chi phí thoả đáng cho khắc phục môi trường (trong hoạt động bình thường của các nhà máy cũng như trong trường hợp có tai hoạ) thì dự án khai thác bôxít không khả thi về mặt kinh tế. Tác hại về môi trường khó có thể lường.”(hết trích)

Lời Tiến Sĩ Nguyễn Quang A rằng nếu có sự cố thì... tai họa sẽ thảm khốc, rằng TKV đang ăn bớt chi phí đầu tư... rằng tác haị về môi trường khó lường...
Bây giờ, chỉ còn thắc mắc duy nhất rằng, có phải chính phủ VN đã cấm ký tên nhiều người trong đơn khiếu kiện, trong các kiến nghị hay không? Nếu đúng như thế, bản Kiến Nghị của hàng trăm người quan tâm này sẽ bị quăng bỏ?

Và nếu đúng là chính phủ Hà Nội không muốn xét tới lời nói phảỉ của người trí thức, dù bất kỳ cớ nào, thì tự thân chính phủ này đã trở nên những quả bom bùn đỏ tiềm ẩn: di hại sẽ không chỉ là hủy diệt vài dòng sông, hay nhuộm đỏ vài chục kilômét vuông đất, hay làm thiệt hại kinh tế vài chục triệu dân, hay làm hại sức khỏe cả triệu người... mà sẽ trở thành những cái đầu bùn đỏ để có thể dâng hiến VN cho đàn anh Trung Quốc.
Bởi vì, nào ai biết được những cái đầu bùn đỏ rồi sẽ suy nghĩ những gì.

TRẦN KHẢI
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 9 guests