Bình Luận , Quan Điểm

thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Thế giới sẽ diễn ra điều gì trong 10 năm tới?


Tạp chí danh tiếng Forbes, Mỹ, vừa đưa ra những dự đoán về những đổi
thay trong thập niên 2010. Đây là những dự đoán thú vị và có thể gây
tranh cãi.
“Tầm nhìn” của Forbes dựa trên các dữ liệu thật và sự kiện, tuy họ có
thêm vào một vài ý tưởng từ những tiểu thuyết khoa học viễn tưởng.

Độc giả có thể vào trang Forbes.com/2020 để bình luận và bình chọn cho
sự kiện mà họ cho rằng có khả năng xảy ra nhất. Như Malcom Forbes đã
nói: “Đúng một nửa thời gian còn hơn lúc nào cũng đúng”.


2011

Tài chính/Kinh tế: Bernie Madoff bị phát hiện treo cổ trong nhà giam.
Những người canh ngục sẽ không loại trừ khả năng Madoff bị giết hại.

Xã hội/Môi trường: Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc - Ban Ki Moon, đến bệnh
viện Cairo, Ai Cập, để đón chào sự ra đời của đứa trẻ thứ 7 tỉ của thế
giới, đồng thời tuyên bố dự án Bình đẳng giới của thập niên.

Công nghệ: Các nhà khoa học Nga phát hiện mạng do thám khổng lồ của Mỹ/
Israel.

Công nghệ: Xe hơi bay của hãng máy bay Terrafugia được rao bán với giá
200.000 USD.


2012

Chính trị: Nhóm nổi dậy Hồi giáo Al Shabab lên nắm quyền ở Somalia, áp
đặt luật Sharia (một bộ luật thiêng của đạo Hồi), tiếp quản hoạt động
cướp biển ở vịnh Aden.

Năng lượng: Giá dầu tăng vọt sau khi Israel tấn công những cơ sở hạt
nhân của Iran. Tổng thống Iran Ahamdinejad đe dọa phong tỏa eo biển
Hormuz.

Tài chính/Kinh tế: IPO của Facebook đạt 40 tỉ USD. Giá trị tài sản của
nhà sáng lập Facebook - Mark Zuckerberg, sẽ là 10 tỉ USD.

Xã hội/Môi trường: Người bị cụt chân đầu tiên được phép tham gia thi
chạy 400 mét tại Thế vận hội mùa hè London và về thứ tư.

Công nghệ: Bộ Tư pháp Mỹ điều tra vụ Apple độc quyền thị trường máy vi
tính cảm ứng.

Sức khỏe: Bệnh lao kháng mọi loại thuốc, mang tính lây nhiễm được phát
hiện ở trẻ em ở Mexico City, sau đó lan sang Texas, Guatemala, Brazil.
Biên giới Mỹ - Mexico bị đóng.


2013

Tài chính/Kinh tế: Chỉ số Down Jones mất 4.000 điểm trong vài phút,
gây nên vụ Flash Crash lần thứ 3. Quốc hội Mỹ ra lệnh cấm buôn bán
cường độ cao.

Sức khỏe: Tổ chức bảo hiểm y tế Blue Cross Blue Shield trở thành nhà
bảo hiểm đầu tiên hoàn tiền cho việc xác định trình tự ADN.


2014

Chính trị: Khủng hoảng tên lửa ở Khartoum: Trung Quốc triển khai tên
lửa đạn đạo tầm xa ở Sudan, được Đội quân giải phóng nhân dân bảo vệ.

Tài chính/Kinh tế: Ông vua hàng hóa của Ấn Độ - Mukesh Ambani, đứng
đầu danh sách Những người giàu nhất của Forbes với 62 tỉ USD. Cựu số
một Carlos Slim bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng chính trị, tài chính ở
Mexico.

Xã hội/Môi trường: Cá ngừ vây xanh tuyệt chủng. Tập đoàn Mitsubishi
bán cá ngừ dự trữ đông lạnh với giá cao gấp 10 lần.

Công nghệ: Lực lượng hải quân triển khai hàng chục ngàn áo giáp HULC3
cho binh lính ở Afghanistan. Bộ áo giáp của Công ty vũ khí Lockheed
Martin tăng cường độ bền và sức chịu đựng.

Sức khỏe: Pfizer - hãng dược lớn nhất thế giới, chia thành 5 công ty
nhỏ hơn.


2015

Năng lượng: Đức - Algeria đi tiên phong với dự án Desertec trị giá 500
tỉ USD nhằm lắp đặt hệ thống thu ánh sáng để sản xuất năng lượng mặt
trời ở vùng sa mạc, được tiến hành ở Bắc Phi.

Xã hội/Môi trường: Bangladesh yêu cầu khoản vay 8 tỉ USD từ Ngân hàng
Thế giới để rửa mặn nước do nước biển dâng làm ô nhiễm nguồn nước
sạch.

Sức khỏe: Vận động viên bóng rổ tự do Lebron James trở về đội
Cleveland Cavaliers.


2016

Chính trị: Lần đầu tiên bầu cử Tổng thống Mỹ áp dụng phương pháp bầu
qua mạng, chiếm 7% số phiếu. Các cáo buộc gian lận lan rộng.

Chính trị: New York bầu Chelsea Clinton vào Thượng viện Mỹ. Chelsea
trở thành người đầu tiên giữ chức này khi mang thai.

Năng lượng: Lò phản ứng hạt nhân mới của Mỹ ở Georgia đi vào hoạt
động, lần đầu tiên sau tai nạn hạt nhân Three Mile Island vào năm
1979. Ngành công nghiệp tung hô “phục hưng hạt nhân”.

Xã hội/Môi trường: Thịt không qua giết mổ - được phát triển trong
phòng thí nghiệm - bày bán với giá 10 USD/pound (gần bằng 0,5 kg), có
vị như thịt gà.

Công nghệ: Trang trại ảo đầu tiên của Mỹ mở cửa ở bang South Carolina.
Công nhân lương thấp làm những việc như bảo vệ, thu hoạch vàng trong
các trò chơi trực tuyến.


2017

Năng lượng: Giá của ethanol làm từ cỏ switchgrass rẻ hơn xăng, không
cần đến cả trợ giá của chính phủ.

Tài chính/Kinh tế: Số tiền đóng góp cho Đại học Harvard tăng gấp đôi
trong vòng 7 năm, lên đến 50 tỉ USD. Học phí được miễn nhằm thu hút
sinh viên hàng đầu từ Trung Quốc.

Sức khỏe: Hai phụ nữ Úc thụ tinh đứa trẻ đầu tiên mà không cần người
đàn ông. Họ dùng tinh trùng nhân tạo nuôi cấy từ tế bào gốc của một
trong hai người phụ nữ.


2018

Chính trị: Binh đoàn cuối cùng rời khỏi Afghanistan. Cuộc chiến trên
bộ dài nhất trong lịch sử nước Mỹ chính thức chấm dứt. Taliban và Mỹ
tuyên bố chiến thắng.

Tài chính/Kinh tế: Tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ cuối cùng cũng dưới 7%.

Công nghệ: Tàu nhanh nhất thế giới đi từ Bắc Kinh đến Paris, phá vỡ
kỷ lục 483 km/giờ.


2019

Năng lượng: Những thí nghiệm phản ứng tổng hợp hạt nhân với quy mô lớn
được bắt đầu tại Pháp, gợi nên hy vọng mới về nguồn năng lượng sạch vô
tận.

Xã hội/Môi trường: Trung Quốc - đối mặt với tình trạng thiếu phụ nữ
trầm trọng - hợp thức hóa hôn nhân đồng tính.

Công nghệ: Steve Jobs nghỉ hưu, hứa sẽ tặng 50 tỉ USD cho quỹ từ thiện
Gates Foundation. Jonathan Ive trở thành CEO mới của Apple.

Sức khỏe: Tuổi thọ trung bình của người Mỹ giảm lần đầu tiên sau một
thế kỷ. Các bác sĩ đổ lỗi cho tỷ lệ béo phì 55%.


2020

Chính trị: Những người đạo Hồi rời bỏ quốc đảo Maldives đang chìm để
đến Sri Lanka, gây nên bạo động tôn giáo. Các đội quân Liên Hiệp Quốc
được huy động. Tổ chức môi trường phi chính phủ Greenpeace tuyên bố sự
khởi đầu của “chiến tranh khí hậu”.

Tài chính/Kinh tế: Doanh số của chuỗi bách hóa Wal-Mart vượt mức 1
nghìn tỉ USD, cho thấy sự bành trướng thành công của Ấn Độ và Brazil.
Lúc này Wal-Mart có 5 triệu nhân viên trên toàn cầu.

Công nghệ: Tàu không gian tư nhân đầu tiên đưa 6 người đàn ông và 2
người phụ nữ lên mặt trăng. Hãng Virgin Galatic bán vé với giá 200
triệu USD/vé.

Sức khỏe: FDA (Cục Quản lý thực phẩm và thuốc của Mỹ) đồng ý sử dụng
robot thông minh trong phẫu thuật loại bỏ khối u. Tỷ lệ chữa khỏi tăng
20% trong một số trường hợp.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Thử bàn về tin đồn "CSVN đang yểm trợ Trần Thái Văn"

Image
Có một tin đồn cho rằng CSVN đang mưu kế yểm trợ Trần Thái Văn để hạ bệ bà dân biểu Loretta Sanchez, rồi sau khi Trần Thái Văn lên ngôi được 2 năm thì CSVN sẽ tìm cách yểm trợ cho một người khác để hạ bệ Trần Thái Văn. Đây có thể là chiêu thức "Một mũi tên giết hai con chim" như câu ngạn ngữ Anh là "Kill two birds with one stone".

Chúng ta thử bàn về tin đồn nầy xem sao. Nếu thật sự CSVN mà có mưu kế như vậy thì trong vòng 2 năm, họ sẽ phải gỡ cho được hai cái gai trong mắt của họ là dân biểu Loretta Sanchez và Trần Thái Văn.

Tôi đặt câu hỏi nầy cho một người bạn của tôi, một người khá thông hiểu về chính trị, là nếu tin đồn có thật thì tại sao CSVN lại chọn Trần Thái Văn vì Trần Thái Văn cũng là một người chống cộng nhiệt huyết, cũng tranh đấu cho cờ vàng, hơn nữa ông ta lại là người VN thì có thể sẽ hết lòng tranh đấu cho người VN hơn là một người sắc tộc Mễ như bà Loretta Sanchez.

Người bạn tôi trầm ngâm khá lâu rồi chậm rãi trả lời rằng: "Thật ra bà Loretta Sanchez là cái gai lớn trong mắt CSVN. Bà đã từng lên tiếng trước Quốc Hội Mỹ nhiều lần về sự kiện CSVN vi phạm nhân quyền, đã sang VN để tìm hiểu tình hình nhân quyền cũng như tiếp xúc với các nhà tranh đấu dân chủ trong nước. Gần đây CSVN đã không cấp chiếu khán cho bà sang VN nữa".

Bây giờ chúng ta thử hình dung tình hình chung quanh cuộc chạy đua bầu cử nầy để làm sáng tỏ tin đồn "CSVN đang yểm trợ cho Trần Thái Văn" có đúng không?

Người bạn tôi cho biết, trong một bài viết của tác giả Hoàng Trung Lê đăng trên Take2tango có đoạn viết như sau :

"Hiện nay mọi nổ lực của David Dương là bỏ tiền vận động cho Ls Trần Thái Văn ra tranh cử vào chức vụ Dân Biểu Liên Bang Hoa Kỳ. Chiều chủ nhật 13-12-2009, sau khi trở về từ Đại Hội Việt Kiều, ông David Dương tổ chức buổi gây quỹ cho DB Trần Thái Văn tại GI Forum, San Jose. David Dương cho US$4,800.00, vợ của David Dương tặng US$4,800. Victor Dương và vợ cũng tặng mỗi người US$4,800.00 vì luật bắt buộc mỗi người tặng quỹ tranh cử không quá US$4,800.00".

Và một bài viết khác của tác giả Nguyễn Vinh "Sự Im Lặng của Trần Thái Văn" viết chi tiết hơn về những nhân vật đứng phía sau yểm trợ cho Trần Thái Văn :

"Để gây quỹ tranh cử cho 2010 chống lại Phạm Xuân Quang và DB Loretta Sanchez, Văn đã đích thân nhờ các người buôn bán giàu có giúp Văn. Trong vòng 4 tháng, Văn đã gây được $250,000. Trong số đó là gần $16,000 của các ông (1) Frank Jao, (2) David Duong, (3) Victor Duong và (4) Hoàng Kiều. Đồng thời nhân viên của ông Hoàng Kiều đã cống hiến khoảng $14,000 cho Văn.

*David Dương và Victor Dương là 2 anh em Người Tàu sinh trưởng tại Việt Nam. Gia đình mở Công Ty Chế Biến các đồ phế thải (recycling), California Waste Solution, tại Oakland. Đây là Công Ty có vốn trên $50 triệu. Khi cựu Thủ Tướng Phan Văn Khải thăm viếng San Francisco vào năm 2005, David Dương và Victor Dương đã ký hợp đồng cùng Thủ Tướng CS trong một buổi tiệc sang trọng. Hợp đồng cho một khoảng đất tại TP Hồ Chí Minh để California Waste Solution mở Công Ty Chế Biến Rác. Victor Dương và David Dương cũng là người bạn thân của cựu Tổng Lãnh Sự Trần Tuấn Anh, con trai của cựu Chủ Tịch Trần Đức Lương, người mà đã đồng ý bán đất Việt Nam cho Trung Quốc.

*Frank Jao là một ông thầu điạ ốc nổi tiếng tại Quận Cam. Ông là chủ shopping mall Phước Lộc Thọ. Ông là nguời Tàu sinh trưởng tại Hải Phòng. Ông đã lập ra hãng V-Home để mang tiền đầu tư từ California về Việt Nam để xây cất nhà apartment cho mướn và một số nhà kho tại Quận 7, TP Hồ Chí Minh. Đặc điểm của Công Ty V-Home không dùng nhân công Việt trong nước mà lại mang nhân công Tàu từ Trung Quốc qua.

*Hoàng Kiều là một người buôn máu lọc cho các nhà thương. Cở sở RAAS của ông đã thành lập lâu năm và ông đã bành trướng qua Tàu. Ông là người được chính phủ CSVN mời đứng ra cùng Tổ Chức Thi Hoa Hậu Miss World cho năm 2010 tại Nha Trang. Ông cũng còn giữ trách nhiệm phổ biến các thương hiệu trong ngành du lịch VN. Tết vừa qua, Hoàng Kiều được UBND TP Hà Nội trao bằng tưởng lục và ông cũng được Chủ Tịch CS Nguyễn Minh Triết đích thân đón tiếp là Khách Danh Dự."

Chưa hết, ông Trần Thái Văn còn được cô Hoa Hậu Bích Liên dấn thân làm đại diện cho ông . Bài viết trong trang http://www.vovinamus.com có đoạn :

"Sáng chúa Nhật ngày 9 tháng 5 năm 2010, vào lúc 12 giờ trưa tại hội trường Unify Center trên đường Story Rd. Một tổ chức Văn Hóa Lạc Hồng do một số báo chí và hội đoàn tại tại miền Bắc California thành lập ra mắt với một chương trình văn nghệ chủ đề về lịch sử và quê hương Việt Nam"" Nhà báo Vũ Khang thay mặt cho ban tổ chức đã mời Hoa Hậu Phu Nhân Bích Liên đại diện cho dân biễu Trần Thái Văn lên trao tặng bằng khen danh dự cho võ sư Cẩm Bình vì có nhiều công lao đóng góp cho cộng đồng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tại miền Bắc Cali."

Hoa Hậu Bích Liên đã từng về VN nhiều lần và được cán bộ CSVN khen ngợi "thành tích" của bà. Qua một bài phỏng vấn đăng trên báo Thời Trang Trẻ trong nước, Bích Liên cho biết :

" Hiện tôi đang là chủ hệ thống thẩm mỹ viện Bích Liên tại các thành phố: Sacramento, San Jose, Milpitas ở Bắc Califonia, Houston-Texas và một trung tâm thẩm mỹ lớn nhất sắp khai trương ở San Jose. Để phục vụ khách hàng tại Việt Nam tốt hơn, ngày 26/1/08, tôi đã khai trương thẩm mỹ viện Bích Liên tại 24 Lý Chính Thắng, Q.3, Saigon. Từ hơn 2 năm trước tôi đã có các đại lý ở Q.1, Tân Bình và thành phố Nha Trang. Hệ thống thẩm mỹ viện của tôi là nơi độc quyền phân phối mỹ phẩm EV Princess cho nam và nữ trên toàn thế giới".

Qua những sự kiện "tình cờ ngẫu nhiên" chúng ta thấy những người xông xáo ra giúp sức, giúp tiền bạc cho Trần Thái Văn có nhiều gương mặt đã được CSVN cấp giấy phép để mở cơ sở bên VN hay họ được CSVN cho nắm giữ các chức vụ doanh nghiệp dưới quyền điều động của đảng CSVN.

Sau khi hỏi ý kiến người bạn tôi cảm thấy miệng tôi đắng hơn. Càng tìm hiểu sâu hơn thì tôi cảm thấy có gì đó không ổn. Tôi hy vọng tin đồn trên là không có thật!

Bây giờ chúng ta loại bỏ tin đồn ra ngoài và thử tìm hiểu xem ông Trần Thái Văn có xứng đáng được đồng bào ta ủng hộ vào chức vụ dân biểu Hạ Viện không?


Hiện nay ông Trần Thái Văn có rất nhiều vị chức sắc trong cộng đồng yểm trợ, theo tôi nghĩ là vì Cộng đồng chúng ta mong muốn có thêm một vị dân biểu người Việt vào Hạ Viện Hoa Kỳ. Trong một buổi tiệc gây quỹ cho ông Trần Thái Văn ngày 27 tháng 12 - 2009 tại Bắc California, ông Huỳnh Lương Thiện, một người ủng hộ ông Trần Thái Văn, phát biểu :

"Chúng ta ủng hộ Dân Biểu Văn không phải chỉ vì anh là người Việt, mà là một người Việt xứng đáng với tài năng rõ rệt, bản lãnh vững vàng, và trên hết là có tấm lòng với cộng đồng".

Nếu nói vì ông Trần Thái Văn là người Việt nên chúng ta nhắm mắt bầu cho người Việt thì thực ra bài học xương máu đó cộng đồng chúng ta đã từng biết qua hai vị là bà Madison Nguyễn ở San Jose, Cali và ông Hoàng Duy Hùng ở Houston, Texas.

Khi ông Huỳnh Lương Thiện cho rằng ông Trần Thái Văn là một người Việt xứng đáng với tài năng rõ rệt, bản lãnh vững vàng, thì ngược lại với nhận xét của ông Huỳnh Lương Thiện, trong diễn đàn Vietland có thành viên Hạ Nhân là một trí thức khoa bảng đã từng viết sách dạy Anh Ngữ có nhận định như sau:

"Khách quan mà nhận xét, thì Trần Thái Văn ("TTV") lập rất nhiều thành tích trong việc đáp ứng lại các nguyện vọng chính đáng của Người Việt tị nạn chống Cộng, trong đó có việc công nhận Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của chính phủ California. Tuy nhiên, TTV chỉ là một dân biểu tiểu bang nên chưa được "thử lửa" như bà Sanchez.

Bà Sanchez là người dày dạn trên chính trường liên bang, một kinh nghiệm quí báu mà TTV chưa có, nhất là những hoạt động chính trị trên phương diện quốc gia và quốc tế. Tuy không phải là Người Việt, nhưng bà Sanchez từng xông pha đấu tranh trực diện với bè lũ Cộng nô Việt Nam, điển hình là bà đã đến tận sào huyệt của bọn chúng để đấu tranh đòi công lý và nhân quyền cho các nhân sĩ đang hoạt động trên các mặt trận dân chủ, tự do và nhân quyền tại Việt Nam trong thời gian gần đây.

Xét về phương diện kinh nghiệm và thành tích đấu tranh chống CSVN, thì bà Sanchez vượt trội hơn TTV thật nhiều. Lập trường chống CSVN của bà Sanchez đã được minh định rõ ràng trong những năm qua, chứ không phải chỉ dựa vào những kỳ vận động tranh cử của bà, dù bà ấy không phải là Người Việt tị nạn Cộng Sản. Hơn thế nữa, bà Sanchez là một doanh gia nên phẩm chất đạo đức của bà (rất có thể, bà là người Công Giáo) khó bị người ta nghi ngờ, một phẩm chất nhã quí mà TTV khó có thể tạo được, vì bản chất của các luật gia, trong thực tế, là gian ác và xảo trá (atrocious and deceptive), dù họ là Người Việt hay thuộc bất cứ một sắc dân nào trên thế giới. Nói một cách khác, không ai có thể biết hoặc đoán trước được khuynh hướng chính trị của một luật gia. Trường hợp của Nguyễn Hữu Liêm và Cao Quang Ánh là những thí dụ điển hình.

Xét về những điều kiện ắt có và đủ để được tái đắc cử, thì bà Sanchez có thừa, vì bà không những "nắm" số đông tuyệt đối Người Mễ tại Santa Ana, đơn vị bầu cử chính của bà, mà còn được phần đông Người Việt tị nạn Cộng Sản tại Orange County hỗ trợ, ít nhất là trong những kỳ bầu cử vừa qua.

Trên chính trường, những người am hiểu chính trị ít khi đứng về phe mà họ cho là sẽ thua trong kỳ bầu cử, dù phe thất cử là người cùng chính hướng với họ. Trường hợp của Bob Dole vào năm 1996 và John McCain vào năm 2008 (cùng trên 70 tuổi vào lúc tranh cử) là những thí dụ điển hình (theo đó, vì thấy rằng hai ứng cử viên Cộng Hòa không có cơ hội thắng cử, nên họ không đi đầu phiếu, có lẽ chỉ để thỏa mãn cái tôi của mình, rằng "ta không đứng về phe chiến bại").

Nói tóm lại, nếu đem so sánh giữa hai ứng cử viên Trần Thái Vănvà Loretta Sanchez, dựa vào kinh nghiệm bản thân, thành tích chống Cộng và đạo đức cá nhân, thì bà Sanchez hơn hẳn Trần Thái Văn về mọi mặt, kể cả tinh thần quốc gia và ý thức hệ. Theo tôi, bầu cho Trần Thái Văn là bầu vì cảm quan, còn bầu cho bà Sanchez là bầu theo lý trí. Bà Sanchez là sự chọn lựa xứng đáng hơn Trần Thái Vănrất nhiều về mọi mặt. Bầu cho bà Sanchez không có nghĩa là Người Việt tị nạn Cộng Sản (gồm cả những bạn HO) từ bỏ lý tưởng cao đẹp của mình - tinh thần quốc gia chống Cộng, hay từ chối một ứng cử viên Người Việt như Trần Thái Văn, nhưng là sự chọn lựa cái tốt nhất giữa hai cái tốt. Dĩ nhiên, đây chỉ là quan điểm cá nhân của kẻ hèn này, lại càng không thể là tiêu chuẩn hay mực thước để người khác noi theo.

Ít dòng chia xẻ ...

Hạ Nhân"

Có lẽ sự nhận định đến đây đã đủ, bà Loretta Sanchez xứng đáng được người Việt Nam chúng ta ủng hộ. Công cuộc tranh đấu cho Dân Chủ, Tự Do, Nhân Quyền cho Việt Nam chúng ta còn dài, chúng ta cần bà Loretta Sanchez góp tiếng nói cho chúng ta. Sự tồn tại của bà Loretta Sanchez trong Quốc Hội Hoa Kỳ là sự cần thiết, là nguồn nước của những người khát khao Dân Chủ cho VN. Chúng ta không phải chỉ tranh đấu có hai năm rồi sau đó chấm dứt.
Image
Trân Trọng

Phạm Xuân Nhi
Image
Dân biểu Loretta Sanchez và bà Vũ Thuý Hà, vợ của Bác Sĩ Phạm Hồng Sơn
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Việt Cộng dám cãi lời Trung Cộng hay không?

Ngô Nhân Dụng

Cuộc đấu khẩu giữa Mỹ và Trung Hoa đang tăng cường độ. Chính quyền cộng sản Việt Nam im thin thít, nhưng không tránh khỏi dính được. Ngày Thứ Sáu này, Tổng Thống Mỹ Barck Obama sẽ họp mặt với lãnh tụ 10 nước ASEAN ở New York, bên lề đại hội đồng Liên Hiệp Quốc.

Thế nào cũng nêu lên hai vấn đề: Chế độ độc tài ở Miến Ðiện, và quyền tự do lưu thông cùng các tranh chấp tại vùng Biển Ðông. Bộ Ngoại Giao Trung Quốc đã chặn trước, khuyên bảo Mỹ đừng xía vào chuyện Á Châu! Tuy là công kích Mỹ, nhưng Bắc Kinh nhắm đặc biệt vào Cộng Sản Việt Nam. Vì ai cũng biết trong khối ASEAN chính quyền Việt Nam sợ Trung Quốc nhất. Các nước khác họ có thể công khai kết thân với Mỹ mà không sợ bị nước đồng chí anh em “cho một bài học.”

Thứ Năm vừa qua, ngoại trưởng Indonesia, ông Marty Natalegawa, cùng bà Hillary Clinton khai mạc một Liên Ủy Hội Mỹ-Indonesia (Joint U.S.- Indonesian Commission). Hôm sau, ông Kevin Rudd, ngoại trưởng Úc Australia, qua Mỹ lại khuyến khích bà Clinton hãy đi Hà Nội cuối tháng 10 này dự hội nghị thượng đỉnh các nước Á Ðông. Ngoại trưởng Indo, Marty Natalegawa, cũng hoan nghênh việc bà Clinton sẽ đến Hà Nội, “để tái lập và củng cố sự tham dự của nước Mỹ trong vùng này,” và bà vui vẻ đồng ý. Có thể coi cuộc gặp gỡ giữa bà Clinton và hai ông Natalegawa và Rudd hai ngày liên tiếp, cả hai cùng nói chuyện hội nghị Thượng Ðỉnh Á Ðông, là một bước leo thang đủ làm cho Bắc Kinh tức giận, phải lên giọng dằn mặt Mỹ ngay.

Liên Ủy Hội Mỹ-Indonesia làm việc ngay tuần trước ở thủ đô Mỹ, để thể hiện các quy tắc hợp tác mà năm ngoái hai vị tổng thống đã quyết định. Sáu ủy ban Mỹ-Indo thảo luận các lãnh vực cộng tác về giáo dục, kinh tế, môi trường sống, khí hậu, và xây dựng dân chủ, vân vân. Ðứng bên cạnh ngoại trưởng Indonesia, bà Clinton giải thích để cả thế giới cùng hiểu: “Chúng tôi không phải chỉ mở rộng và làm sâu mối bang giao giữa hai quốc gia mà thôi. Hành động của chúng tôi có hậu quả liên quan đến tất cả mọi người.” Tất cả mọi người, trước hết phải kể các nước Ðông Nam Á, các nước khác ở Á Châu, ai cũng phải hiểu cuộc hợp tác Mỹ-Indo liên quan đến họ. Nước Ðông Nam Á nào cũng có thể hưởng những ích lợi hợp tác với Mỹ, như Indonesia đang làm.

Trung Quốc đã hiểu thông điệp đó, và phản công ngay, họ đánh phủ đầu. Trong cuộc họp báo hôm đầu tuần, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Khương Du (Ý) tuyên bố Trung Quốc “theo dõi sát” cuộc họp Mỹ-ASEAN sắp diễn ra ngày Thứ Sáu này. Bà Khương Du nhắc lại Bắc Kinh “kiên quyết chống hành động của những nước không liên hệ mà lại can thiệp vào cuộc tranh chấp giữa Trung Quốc và các quốc gia trong vùng.” Một nước “không liên hệ mà lại đang can thiệp” vào vùng Á Ðông, ai cũng hiểu, là Trung Quốc ám chỉ nước Mỹ.

Ba mươi năm trước đây, khi Harold Brown, bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ đầu tiên đến thăm Bắc Kinh, thời Tổng Thống Carter, một điều chính quyền Trung Cộng mong mỏi là Mỹ giúp họ kỹ thuật chế tạo phản lực cơ chiến đấu, để đọ sức với máy bay MIG-23 của Nga Xô. Vì lúc đó Nga cung cấp MIG-23 cho Bắc Việt mà không cho Trung Cộng! Tình hình bây giờ đã khác. Ðầu năm nay, khi Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Robert Gates tỏ ý muốn thăm Bắc Kinh nhân cuộc công du 5 quốc gia Á Châu, Trung Quốc đã từ chối. Họ muốn tỏ ý bất bình về việc Mỹ bán hỏa tiễn loại mới cho Ðài Loan (Giá 6 tỷ Mỹ kim, có tiền sẽ nhập cảng hàng hóa bên Tầu, làm sao từ chối không bán được?) Thái độ tẩy chay ông Gates cho thấy Bắc Kinh tự thấy ngày nay họ mạnh hơn 30 năm trước nhiều. Từ năm 2003, Trung Quốc đã chứng kiến cảnh nước Mỹ lúng túng trong hai cuộc chiến tranh ở Afghanistan và Iraq. Trung Quốc nhận đóng vai hào hiệp hỗ trợ Mỹ chống khủng bố nhưng thực ra là để lợi dụng cơ hội tấn công tiêu diệt những người Hồi Giáo ở Tân Cương muốn bảo vệ văn hóa chống lại sức ép đồng hóa của người Hán. Năm 2007, nước Mỹ bắt đầu bị khủng hoảng kinh tế, càng lung túng; Trung Quốc càng có dịp lên mặt bành trướng ảnh hưởng khắp các nước Á, Phi bằng đô la dự trữ.

Cũng vì thế, chính sách ngoại giao của chính phủ Mỹ ở Á Châu đã chuyển hướng sau khi Tổng Thống Barak Obama nắm quyền. Trong 8 năm của Tổng Thống Gorges W. Bush, ông coi phong trào khủng bố Hồi Giáo quốc tế và các mỏ dầu ở Trung Ðông là mối quan tâm chính của Mỹ, ông tránh không đụng chạm với Trung Quốc. Ông Obama đã thay đổi, bắt đầu giành thế chủ động, và bắt đầu leo thang trong ngôn ngữ ngoại giao.

Tháng 1, năm 2010, tại Hawaii, Ngoại Trưởng Hillary Clinton tuyên bố nước Mỹ muốn đóng một vai trò tích cực hơn ở Á Châu sau những năm bỏ rơi vùng Ðông Nam Á. Ðứng tại hòn đảo cửa ngõ của nước Mỹ nhìn sang Á Châu, Bà Clinton giải thích sự chuyển hướng của nước Mỹ là vì mối lo chung của các nước trong vùng, họ muốn Mỹ đóng vai trò một lực lượng bảo vệ hòa bình, bảo đảm về an ninh, trước thế lực đang lên của Trung Quốc. Chính phủ Úc ủng hộ lập trường mới này.

Khi một phóng viên hỏi nước Mỹ có nên nhường vùng Ðông Á cho Trung Quốc đảm nhiệm hay không, ông Kevin Rudd, ngoại trưởng Úc giải thích rằng suốt 30 năm qua, “Tất cả sự phát triển kinh tế mà chúng ta thấy trong vùng Á Ðông và Thái bình Dương là nhờ vào sự ổn định chiến lược do nước Mỹ có mặt trong vùng này.” Lúc đó, bà Clinton và ông Gates đang trù tính công du Úc và Tân Tây Lan. Chuyến đi bị hủy bỏ vì cuộc động đất tại Haiti gây ra một tình trạng khẩn trương ở Tây Bán Cầu. Bây giờ hai vị bộ trưởng quan trọng nhất của chính phủ Mỹ sẽ đi Úc và Tân Tay Lan vào tháng 11 sắp tới.

Nước Mỹ đã trở lại vùng Á Ðông một cách khá ồn ào, sau khi Trung Quốc làm ồn hơn với lời công bố vùng biển Ðông của Việt Nam thuộc vào loại “quyền lợi cốt lõi” của nước Trung Hoa. Ðây là một bước leo thang, nhắm đe dọa Việt Nam nhiều hơn là các nước khác. Với lời tuyên bố này, Trung Quốc chính thức coi Biển Ðông của nước ta cũng thuộc về nước họ, như là Ðài Loan và Tây Tạng! Nhưng các nước Ðông Nam Á cũng phải lo lắng và phản ứng. Một phản ứng là các nước ASEAN mời Mỹ tham dự hội nghị Thượng Ðỉnh Á Ðông, trước kia chưa từng mời.

Hội nghị Thượng Ðỉnh Á Ðông bắt đầu từ năm 2005, do sáng kiến của cựu thủ tướng Malaysia, ông Mahathir Mohamad. Lúc đầu chỉ tính gồm 13 nước, gồm 10 nước ASEAN và Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Hàn. Nhật Bản đã vận động mời thêm Ấn Ðộ, Úc và Tân Tây Lan, để tăng thêm 2 đồng minh của Mỹ. Năm 2010, đến lượt Việt Nam chủ tọa khối ASEAN, cuộc họp cuối tháng 10 này sẽ diễn ra tại Hà Nội, lần đầu tiên Mỹ và Nga đều được mời tham dự. Ai cũng biết, đó là một dụng ý của các nước ASEAN muốn giảm tầm quan trọng của Trung Quốc. Khi thông báo sẽ qua Hà Nội dự cuộc họp Thượng Ðỉnh Ðông Á (East Asia Summit) vào cuối tháng 10, bà Hillary Clinton nhấn mạnh đã đi đến quyết định này sau khi được ngoại trưởng Australia, thuyết phục Mỹ nên tham dự!

Chính phủ Mỹ đã tấn công đấu khẩu từ đầu năm nay. Tháng 5, Bộ Trưởng Gates lên tiếng tại Singapore, nêu lên quyền lợi của nước Mỹ phải bảo đảm an ninh cho các đường vận tải hàng hải trong vùng. Hiện nay Mỹ vẫn đóng vai canh gác eo biển Malaca, nơi hầu hết dầu lửa nhập cảng vào Trung Quốc và Nhật Bản phải đi qua. Tháng 7, bà Hilary Clinton tuyên bố ở Hà Nội, trước mặt Ngoại Trưởng Trung Quốc Dương Thiết Trì, xác nhận nguyên tắc các cuộc tranh chấp trong vùng biển Ðông không được giải quyết bằng vũ lực. Bà tỏ ý chính phủ Mỹ có thể trung gian tạo ra một cơ cấu giải quyết những xung đột về các đảo và hải phận giữa Trung Quốc, Philippines, Việt Nam, Indonesia, Malaysia và Ðài Loan. Thời gian tại Hà Nội vào tháng 7 vừa qua có lẽ là những giờ phút huy hoàng nhất của Ngoại Trưởng Clinton, cho tới giờ. Bà đột ngột thách thức ông Dương Thiết Trì, trong lúc ngoại trưởng các nước Ðông Nam Á khác vỗ tay hớn hở, và bên ngoài hội nghị thì người Việt Nam khắp nơi vui như mở cờ trong bụng! Ít nhất, có một người dám đứng thẳng lên đối đầu với thái độ hung hăng dọa dẫm của Trung Quốc! Mà người đó lại là một phụ nữ! Ðối với ông ngoại trưởng Trung Hoa, đây là một “cú sốc lớn.” Bình thường, các chính phủ thông báo trước cho nhau biết những ý kiến dễ gây xung đột như vậy, trước khi phát biểu nơi công cộng.

Tuần qua, để chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ giữa ông Obama và 10 nước ASEAN vào Thứ Sáu này, nhân viên bộ Ngoại Giao Mỹ đã thuyết trình với các nhà báo, nhấn mạnh đến “vấn đề tự do lưu thông đường biển, cũng như vấn đề khai thác tài nguyên trong biển” là một câu chuyện có thể sẽ được đề cập đến. Ðó là một cách khéo léo nhắc lại những đề tài mà bà Clinton đã nói hồi tháng 7 vừa qua. Chính vì thế, Trung Quốc phải lên tiếng “chặn họng” ngay, bên ngoài là chỉ trích Mỹ xía vô chuyện Á Châu, nhưng bên trong chính là để đe nẹt chế độ cộng sản đàn em ở Việt Nam. Thông điệp của họ là: “Ðừng có tin theo Mỹ mà đòi quốc tế hóa vấn đề Biển Ðông! Hãy kiên định lập trường theo Bắc Kinh: Chỉ thảo luận song phương từng nước một với Thiên triều mà thôi!”

Ðó là mâu thuẫn nổi bật trong cuộc đối đầu Mỹ-Hoa tại vùng Biển Ðông. Bắc Kinh muốn nói chuyện riêng với từng nước; Mỹ muốn giúp tất cả các nước cùng nói chuyện ngang hàng với Trung Quốc. Thái độ của Nguyễn Minh Triết trong cuộc gặp mặt với Obama ngày Thứ Sáu này sẽ cho mọi người biết cộng sản Việt Nam có dám “đi lề bên trái” không do Trung Cộng chỉ định hay không! Trong cuộc gặp gỡ Thứ Sáu này, Nguyễn Minh Triết được đóng vai long trọng nhất khi tiếp đón ông Obama, vì Việt Nam đang đóng vai chủ tịch khối ASEAN. Nếu trung thành với vai trò chủ tịch, đại diện cho cả khối ASEAN, ông Triết phải hoan nghênh sự hợp tác với nước Mỹ trong việc cân bằng quyền lực với Trung Quốc tại vùng Ðông Nam Á.

Tối thiểu, ông Nguyễn Minh Triết phải nhân danh 10 nước Ðông Nam Á bày tỏ mối lo ngại cần bảo vệ tư do lưu thông và quyền tự do khai thác hải sản, khoáng sản dưới biển của các nước trong vùng. Ðó cũng là một quyền lợi thiết thực của người Việt Nam. Vì chính các ngư dân Việt Nam đã bị “Tầu lạ” tấn công, cướp, phá, bắt cóc đòi tiền chuộc trong những năm qua mà chính quyền cộng sản Việt Nam không dám chỉ thẳng vào mặt Trung Quốc mà phản đối! Chính các công ty ngoại quốc đã ký hợp đồng với Việt Nam rồi lại bị Trung Quốc ngăn cản không cho tìm mỏ dầu khí! Cho nên ông Triết phải lên tiếng yêu cầu Mỹ giúp các nước Ðông Nam Á bảo vệ các quyền tự do lưu thông và khai thác ở Biển Ðông! Nếu ngược lại, ông Triết lờ đi, không dám nói mạnh bạo về các vấn đề trên, thì coi như ông không phải là đại diện cho 10 nước ASAEN nữa. Ông chỉ đại diện cho quyền lợi của Trung Quốc thôi! Chắc chắn, ông không đại diện cho người Việt Nam, nước Việt Nam!

Mạng lưới Bô xít Việt Nam mới cho đăng lại tài liệu trong cuốn sách “Sự Thật Quan Hệ Việt Nam-Trung Quốc.” Trong đó có một đoạn trích tài liệu mật của Bộ Chính Trị và Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, vào tháng 8 năm 1965 như sau: “Chúng ta phải giành cho được Ðông Nam châu Á, bao gồm cả miền Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Ðiện, Malayxia và Singapo... Một vùng như Ðông Nam châu Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản... xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy... Sau khi giành được Ðông Nam châu Á, chúng ta có thể tăng cường được sức mạnh của chúng ta ở vùng này, lúc đó chúng ta sẽ có sức mạnh đương đầu với khối Liên Xô-Ðông Âu, gió Ðông sẽ thổi bạt gió Tây...”

Cuốn sách này do nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, xuất bản năm 1979. Ðộc giả ở Việt Nam và ngoại quốc có thể tìm đọc cả cuốn trên mạng lưới Bô Xít Việt Nam. Ông Nguyễn Minh Triết cũng nên vào mạng lưới này mà đọc cho biết - nếu đoàn biệt kích công an của Tướng Vũ Hải Triều chưa hủy diệt mạng lưới yêu nước này!

Nếu không được đọc Bô Xít Việt Nam, ông Triết nên nhờ người dịch cho đọc một bài trên South China Morning Post ngày hôm qua. Bài của Greg Torode viết về vị thuyền trưởng Trung Quốc mới bị Nhật Bản bắt giam khiến người Trung Hoa phẫn nộ biểu tình, và nói tiếp không phải chỉ có một mình ông ta đâu. “Hàng trăm người đã bị bắt giam nhiều tháng trời, thuyền đánh cá của họ bị Hải Quân Nhật đâm vào sườn, cướp lấy hải sản. Sau khi giữ họ mấy tháng, Nhật Bản đề nghị gia đình họ trả hàng ngàn Mỹ kim tiền chuộc và những gia đình tuyệt vọng này phải chấp nhận.” Sau khi đưa câu chuyện này cho một người bạn Trung Quốc đọc, ký giả Torode kể, anh bạn đó nổi cơn thịnh nộ, nói rằng nếu người Trung Quốc biết những chuyện đó thì không một người Nhật Bản nào có thể an toàn khi thăm Trung Quốc. Lúc đó Torode mới nói thật rằng đây không phải chuyện Nhật Bản mà là chuyện Trung Quốc đối xử với người Việt Nam!

Chỉ có một điều khác, là khi dân Việt Nam biểu tình phản đối Trung Quốc thì công an Việt Nam đánh đuổi dân. Công an lãnh lương của người Việt hay người Trung Hoa?
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »

Giã từ Iraq: Chính sách ngoại giao Mỹ sẽ thay đổi

CỔ-LŨY
Ngày 31 tháng 8, 2010, bẩy năm rưỡi sau khi cuộc chiến bắt đầu, lực lượng tác chiến Mỹ âm thầm rút ra khỏi lãnh thổ Iraq qua Kuwait để tuần tự về nước theo đúng những điều trong thỏa thuận an ninh giữa hai chính quyền Mỹ và Iraq năm 2008. Cũng theo thỏa thuận này, 50 nghìn binh sĩ Mỹ sẽ ở lại Iraq trong vai trò cố vấn và huấn luyện cho quân lực và chính quyền Iraq tới hết năm 2011.

Cuộc rút quân rất lặng lẽ và trong diễn văn cùng ngày Tổng Thống Barack Obama, người từng chống đối và thừa hưởng cuộc chiến, đã đọc một diễn văn quan trọng nhưng cũng không to tiếng tung hô “nghĩa vụ hoàn tất” hay chiến thắng vinh quang - như Tổng Thống George W. Bush từng làm trên chiến hạm Abraham Lincoln ngoài khơi thành phố San Diego, chưa đầy hai tháng sau khi tấn công và chiếm đóng Iraq năm 2003. Hoa Kỳ đã học được những bài học gì, và sẽ hành xử ra sao về mặt ngoại giao trong tương lai?

Sau Iraq: Hướng ngoại giao của chính quyền Obama

Bài tuần trước đưa ra những lý luận, nhận định cho thấy Hoa Kỳ như đã thất bại và học được một số bài học quan trọng ở Iraq. Khi giã từ, Hoa Kỳ để lại một nước Iraq và nguyên vùng “Trung Ðông” trong tình trạng cực kỳ hiểm nghèo - khác hẳn với ý định Tổng Thống Bush đã công bố về ổn định, thịnh vượng, với tự do, dân chủ, và hòa bình cho Iraq và toàn vùng “Trung Ðông.” Ngoài những thiệt hại lớn lao vô cùng cho người và đất nước Iraq, Hoa Kỳ cũng chịu đựng thiệt hại không nhỏ về số thương vong, phí tổn chiến tranh và chính trị. Người Mỹ nói chung đã “quên” hay không muốn nhắc nhở tới cuộc chiến này nữa; Tổng Thống Obama, người chống cuộc chiến từ đầu, cũng rút được nhiều bài học từ cuộc chiến và muốn nhìn về phía trước.

Nhiều giới quan sát chính trị như đồng ý với ông Ronald Brownstein của tờ National Journal rằng Tổng Thống Bush chủ trương cuộc chiến Iraq nhằm phô trương khả năng của Hoa Kỳ trong việc uốn nắn dạng hình thế giới theo ý mình muốn. Ông Bush cùng Phó Tổng Thống Dick Cheney và những cố vấn tân bảo thủ “cứng rắn” như muốn cho thế giới thấy cái giá phải trả cho kẻ nào chống đối quyền lợi nước Mỹ và những cái lợi nếu “đi cùng” với Hoa Kỳ. Ông Bush từng thẳng thắn khẳng định nếu không đi cùng với “ta,” hẳn phải là “địch.” Thế giới và bang giao quốc tế không giản dị, trắng đen rõ rệt như vậy, và ông Bush và nước Hoa Kỳ như ông nghĩ không luôn luôn là tiêu chuẩn hoặc đặt ra những tiêu chuẩn tuyệt đối người ngoài phải noi theo, dù điều kiện hay hoàn cảnh không hoặc chưa cho phép làm việc này. Cuộc chiến dài và tàn khốc vẫn còn tàn khốc và sẽ kéo dài chưa biết đến bao giờ mới chấm dứt, và đây như một bằng chứng cho thấy khả năng hạn chế của Hoa Kỳ trong việc uốn nắn dạng hình thế giới theo ý mình muốn hoặc theo khuôn mẫu mình đưa ra. Ðây cũng chứng minh khả năng hạn hẹp của một chính quyền không thấy trước hệ quả khá rõ rệt của những gì mình nghĩ và làm.

Qua cuộc tấn công rầm rộ, chớp nhoáng và “ngoạn mục” lực lượng siêu đẳng của Hoa Kỳ đã đè bẹp và giải giới quân lực Iraq, dẹp bỏ chính quyền Saddam Hussein cùng đảng Baath của Saddam. Nhưng những nổi dậy liên tục chống lại cuộc chiếm đóng của Hoa Kỳ bởi đủ mọi giới và phe phái từ trong Iraq (như giáo phái Sunni thiểu số, giáo phái Shiite đa số, các hệ phái trong hai giáo phái) cho tới ngoài nước (như Iran, al-Qaeda, người Thánh chiến Hồi Giáo Jihadist) thành bận tâm chính của Hoa Kỳ. Cộng với các chính quyền Iraq bất lực, tham nhũng do Hoa Kỳ giúp dựng lên, tất cả đã vô hiệu hóa những nỗ lực làm ổn định tình trạng an ninh, chính trị và kinh tế ở đây. Tổng Thống Bush ra lệnh “đôn quân” vào Iraq năm 2007 nhằm “mua thời gian” làm chậm lại tình trạng hỗn loạn không cứu vãn nổi và cái đà đi vào nội chiến với vận tốc gia tăng. Ðây cũng tạo cơ hội cho chính quyền dàn xếp các điều đình rút lui ra khỏi Iraq cho năm sau-2008, trùng với năm chót nhiệm kỳ cuối của Tổng Thống Bush. Cái giá cho cuộc chiến, như đã trình bày trong bài trước, đã quá đắt ( thương vong Mỹ lẫn Iraq cả trăm nghìn người; khoảng $1.5 nghìn tỉ đã và còn cần; “khoảng trống quyền lực” ở Iraq bị chính quyền Iran hung hăng và đầy tham vọng trám vào; nghi ngờ và oán hận của người Hồi Giáo gia tăng) so với thành quả hầu như không là mấy.

Trong diễn văn nhậm chức nhiệm kỳ thứ nhì Tổng Thống Bush đã cao giọng không khác mấy các “kiện tướng” thời Chiến Tranh Lạnh (“Cold Warriors,” của hơn bốn thập niên) tuyên bố Hoa Kỳ sẽ ủng hộ “những phong trào và định chế dân chủ ở mọi nước và mọi văn hóa, với mục tiêu tối hậu là chấm dứt độc tài chuyên chế trên thế giới.” Ðây rất là cao cả và đáng ngợi ca, nhưng thực tế nước lửa tàn khốc kéo dài ở Iraq và tình trạng chính quyền bất lực, tham nhũng liên miên, đặt bên cạnh quyết định ra khỏi Iraq của tổng thống mang nhiều nét chua chát và oái oăm. Thậm chí, đối diện với tình trạng này vài năm trước, giới quan sát chính trị đã đưa ra nhận xét có lẽ Iraq cần một thứ “người hùng” hay nhà độc tài với kích thước Saddam Hussein (dĩ nhiên phải bớt phần “khát máu” đi) mới “khá” được. Ông Brownstein ghi nhận cuộc chiến đẫm máu kéo dài ở Iraq cho thấy “những hiểm nghèo của ước vọng quá cao, và mối nguy khi cứu cánh không đi cùng với phương tiện và mục tiêu tách biệt hẳn với khả năng.” Iraq, qua lời Giáo Sư Joseph Nye thuộc viện Ðại Học Harvard, cho ta thấy “không một đại cường quốc nào có thể thực hiện tất cả những gì mình muốn.” Dĩ nhiên chính quyền Bush đã không nghĩ như vậy, và đây cũng không phải là điều đáng ngạc nhiên nhìn theo chiều lịch sử.

Từ thế kỷ 19, khi Hoa Kỳ trở thành đại cường trên thế giới, chính sách ngoại giao đưa đẩy qua lại như quả lắc đồng hồ giữa hai khuynh hướng nổi bật và đối nghịch nhau. Khuynh hướng thứ nhất là can thiệp vào thế giới chung quanh Hoa Kỳ (interventionism) nhằm bảo vệ quyền lợi mỗi ngày một rộng lớn và “sinh tử” của mình như một đại cường, siêu cường và rồi siêu cường độc nhất thế giới. Rõ rệt là chính quyền Bush đã chọn lựa khuynh hướng “can thiệp” này khi đi vào Iraq và nhiều nơi khác. Thứ hai là chọn lựa cô lập (isolationism) đã được chấp nhận từ thời lập quốc như một nước mới mẻ tách biệt hẳn với thế giới bên ngoài. Về sau này, chọn lựa “isolationism” cũng thành phản ứng ngược lại khuynh hướng “interventionism” mỗi khi can thiệp vào thế giới bên ngoài thất bại hay không đạt nhiều kết quả mong muốn. Vậy thì sau thất bại ở Iraq, đường lối ngoại giao của Hoa Kỳ với Tổng Thống Obama có thể quay trở về chu kỳ “cô lập” chăng? Sau Iraq đa số người Mỹ, tuy có chán ngán vẫn không đồng ý với nhận xét rằng khả năng kiểm soát, chi phối và ảnh hưởng những thay đổi và biến chuyển trên thế giới của Hoa Kỳ đã bị hạn chế nhiều. Do đó có thể nói khuynh hướng “can thiệp” còn rất mạnh - và điều này khó thay đổi vì Hoa Kỳ hiện nay vẫn là siêu cường “độc nhất” trên thế giới với những quyền lợi, khả năng và vai trò lớn lao mà nhiều nước đặt kỳ vọng vào.

Tổng Thống Obama cũng không hề tỏ ra mình đi theo chọn lựa “cô lập,” ông liên tục kêu gọi quân bằng khả năng của Hoa Kỳ với những hứa hẹn, gắn bó với nước ngoài, sắp xếp ưu tiên những mục tiêu của Hoa Kỳ, và mời đón nhiều nước ngoài tham gia vào việc xây dựng một trật tự thế giới an toàn và ổn định hơn. Một trong những mục tiêu an ninh quốc gia quan trọng ông đề ra là giảm thiểu những cái giá Hoa Kỳ phải trả cho chính sách ngoại giao và quân sự của mình để đây không gây tác hại vào kinh tế trong nước. Trong diễn văn về Iraq ông đã trình bày khá rõ ràng: “Sức mạnh và ảnh hưởng ở ngoài nước của chúng ta phải gắn liền vào phồn thịnh trong nước. Chẳng may thay, thập niên vừa qua chúng ta đã không làm những gì cần thiết để củng cố nền móng cho phồn thịnh trong nước.” Ngoài ý qui trách nhiệm vào tổng thống đi trước, ông muốn xác định từ nay mọi quyết định về quân sự và ngoại giao - như chiến tranh, quân số cần thiết, ngân sách quốc phòng chẳng hạn - sẽ được xem xét gắt gao, kỹ càng dựa trên căn bản giá cả phải trả về mặt kinh tế. Có thể nói chính quyền ông sẽ một mặt “can thiệp” bằng vũ lực ở một nơi nào đó, một mặt tính toán kỹ lưỡng về phí tổn phải trả. Và Hoa Kỳ tiếp tục xiển dương tự do, dân chủ hay nhân quyền - nếu cái giá không quá đắt đỏ và quyền lợi kinh tế không bị đe dọa.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Image

Trần Thiện Khiêm - Cơn lốc rối loạn Đệ Nhất, Đệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam
Kể từ biến cố lịch sử năm 1975 đến nay đã có nhiều sách báo, đoàn thể, tôn giáo cũng như hầu hết đồng bào Việt Nam đều quy trách những nhà lãnh tụ miền Nam như Tổng thống Diệm, tuớng Minh, Đôn, Thiệu, Kỳ v.v...đều là những người đã một phần chịu trách nhiệm để Cộng sản thôn tính miền Nam. Sự quy trách này trên bình diện chính trị, truyền thông đương nhiên không ai phủ nhận, nhưng trên phương diện lịch sử thì thật là phiến diện. Do đó tiện giả sau nhiều lần suy nghĩ, trăn trở vẫn phải cầm cây viết hầu phơi bày một sự thật để phần nào giúp các sử gia sau này có những sự kiện quan trọng đưa vào dòng định mệnh của Lịch sử Việt Nam.

Ngược dốc thời gian năm 1958, Đại tá Trần Thiện Khiêm là một trong những sĩ quan được Tổng thống Diệm ưa thích vì vậy Đại tá Khiêm đã được bổ nhiệm Tư lệnh Sư đoàn 4BB. Thời gian này Đại tá Khiêm có hai người bạn thân nhất là Đại tá Nguyễn Khánh và Trung tá Nguyễn Văn Thiệu, bất cứ cuối tuần nào , Đại tá Khiêm đều lái xe đến thăm Đại tá Khánh tại đồn điền trà J'Ring, sau đó 2 người kéo lên Đà Lạt thăm Trung tá Thiệu đương là Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt.

Năm 1960 trong vụ đảo chánh do Trung tá Vương Văn Đông cầm đầu bị thất bại, bởi Đại tá Khiêm Tư lệnh SĐ 21BB từ miền Tây kéo về giải cứu Tổng thống Diệm, và kể từ đó Đại tá Khiêm được Tổng thống Diệm tín cẩn tuyệt đối, thăng cấp Thiếu tướng và được bổ nhiệm Tham mưu trưởng Liên quân Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

Sau khi nắm chức vụ trên và nhất là được sự tin tưởng của Tổng thống, Thiếu tướng Khiêm đã đề cử Trung tá Thiệu làm Tư lệnh Sư đoàn 5BB và Thiếu tướng Khánh làm Tư lệnh vùng 2 Chiến thuật. Tóm lại tất cả các chức vụ quan trọng trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa vào thới điểm này nếu có sự đề bạt của Thiếu tướng Khiêm chắc chắn sẽ được Tổng thống Diệm chấp thuận, ngoài ra TT Khiêm hơn hẳn các tướng lãnh khác là được cả ông Cố vấn Ngô Đình Nhu mến phục. Bởi vậy tiếng nói của Thiếu tướng Khiêm với hai nhân vật then chốt của nền Đệ Nhất Cộng Hòa có một tác dụng gần như tuyệt đối, các tướng lãnh và tư lệnh quân binh chủng trong QLVNCH biết như vậy nên mọi lệnh của TT Khiêm, Tham mưu trưởng Liên quân đưa ra đều được thi hành đầy đủ, chính xác.

Từ trước tới nay đã có nhiều sử gia và nhân vật chính trị đề cập đến cuộc đảo chánh ngày 1-11-63 nhưng nhiều sự kiện vẫn còn thiếu sót và không chính xác vì chưa ai nêu đúng nhân vật chủ chốt, hầu hết đều cho rằng các tướng Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính là những nhân tố chính. Nhưng mặt trái bên trong hậu trường thì không phải vậy, Trung tướng Đôn mặc dù là Quyền Tổng Tham mưu trưởng nhưng không được các Tư lệnh quân binh chủng tin tưởng, Tướng Minh không có thực lực trong tay còn lại Tướng Đính chỉ trong phạm vi Tổng trấn Sài Gòn mà thôi.

Đến đây tiện giả xin trình bày diễn tiến cuộc đảo chánh 1-11-63 để quý vị độc giả có thể thấu hiểu ai là người đã soạn thảo, móc nối và thi hành kế hoạch đảo chánh.

Khoảng đầu tháng 10-1963 Thiếu tướng Khiêm gọi Thiếu tá Giang lên văn phòng cho biết sẽ có đảo chánh để lật đổ chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa vì Thiếu tướng Khiêm được biết ông Ngô Đình Nhu đã có liên lạc với phía Việt Cộng. Đến đây tiện giả xin mở dấu ngoặc. Sở dĩ Thiếu tướng Khiêm tiết lộ cuộc đảo chánh cho Thiếu tá Giang vì Thiếu tá Giang đã từng là Chánh Văn phòng của Thiếu tướng Khiêm, và ngay sau nhậm chức Tham mưu trưởng Liên quân Thiếu tướng Khiêm đã yêu cầu Nha An ninh quân đội đưa Thiếu tá Giang sang giữ chức vụ Trưởng phòng An ninh Quân đội Bộ Tổng Tham mưu.

Ngày 20-10-1963 Thiếu tướng Khiêm chỉ thị Thiếu tá Giang qua gặp Đại tá Đỗ Mậu, Giám đốc Nha An ninh quân đội để cho Đại tá Mậu biết là ông Cố vấn Ngô Đình Nhu vừa ra lệnh cho Thiếu tướng Khiêm tạm giữ Đại tá Mậu vì ông này đang vận động đảo chánh; và Thiếu tướng Khiêm dặn Thiếu tá Giang nói với Đại tá Mậu tạm thời lánh mặt để Thiếu tướng Khiêm dễ dàng trình lên ông Cố vấn. Cũng trong thời gian này Thiếu tướng Khiêm tiết lộ với Thiếu tá Giang về phía tướng lãnh Thiếu tướng Khiêm đã tranh thủ được hầu hết, chỉ còn có Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao, Tư lệnh vùng 4 là chưa hội ý, riêng Tướng Khánh và Đại tá Thiệu hoàn toàn đồng ý với Thiếu tướng Khiêm, ngoài ra các Tư lệnh quân binh chủng đã có hứa là sẽ sát cánh với Thiếu tướng Khiêm. Nói tóm lại việc vận động, tổ chức cũng như hoàn tất kế hoạch đảo chánh hầu như do Thiếu tướng Khiêm chủ động vì chỉ có tướng Khiêm hội đủ mọi yếu tố để cho các tướng lãnh và tư lệnh quân binh chủng tin tưởng.

Sáng sớm ngày 31-10-1963 Thiếu tướng Khiêm gọi Thiếu tá Giang lên văn phòng; khi Thiếu tá Giang bước vào thì thấy Đại tá Nguyễn Hữu Có ở đó, Thiếu tướng Khiêm chỉ thị cho Thiếu tá Giang cầm công điện hỏa tốc đi cùng với Đại tá Có xuống Mỹ Tho để bàn giao chức vụ Tư lệnh Sư đoàn hiện do Đại tá Đạm là tư lệnh. Sở dĩ Thiếu tướng Khiêm ra lệnh cho Thiếu tá Giang đi với Đại tá Có là để Đại tá Đạm tin tưởng là lệnh thật do chính Thiếu tướng Tham mưu trưởng ký vì Đại tá Đạm từng biết sự thân cận giữa Thiếu tướng Khiêm và Thiếu tá Giang.

Đến 11 giờ sáng cùng ngày Thiếu tá Giang trở về Bộ Tổng Tham mưu và được Thiếu tướng Khiêm cho biết đúng 12 giờ trưa Thiếu tướng Khiêm sẽ chủ tọa buổi họp các tư lệnh quân binh chủng, và sau buổi họp nếu ai chống lại đảo chánh thì thiếu tá Giang phải giữ lại trong phòng họp Bộ Tổng Tham mưu chờ lệnh của Thiếu tướng Khiêm. Buổi họp vừa chấm dứt; trong lúc lộn xộn thì Đại úy Nhung sĩ quan cận vệ của Trung tướng Minh tự ý bắt Đại tá Lê Quang Tung, Tư lệnh Lực lượng đặc biệt dẫn đi đâu không rõ, sau đó Đại úy Nhung trở lại định bắt Đại tá Cao Văn Viên, Tư lệnh Sư đoàn nhảy dù và ông Lê Văn Tư, Giám đốc Cảnh sát Đô Thành, nhưng Thiếu tá Giang đã ngăn chặn kịp thời. Đại úy Nhung báo lên Trung tướng Minh và Trung tướng đến hỏi lý do cản trở Đại úy Nhung thì Thiếu tá Giang trả lời là thi hành lệnh Tướng Khiêm.

Khoảng 2 giờ trưa ngày 31-10-63 Đại úy Lê Quang Triệu, em ruột của Đại tá Tung dẫn 1 đại đội lực lượng đặc biệt cùng với 4 chiến xa đến cổng Bộ Tổng Tham mưu để hỏi tình trạng Đại tá Tung, ngay khi đó Đại úy Nhung chạy ra gặp Đại uý Triệu và yêu cầu Đại úy vào trình diện Thiếu tướng Khiêm, Đại úy Triệu nghe lệnh trình diện Thiếu tướng Khiêm nên Đại úy không nghi ngờ gì do đó mới bị chết thảm.

Khi tiếng súng đảo chánh nổ trưa 31-10-63 Thiếu tướng Khiêm đã chủ động qua các diễn trình như:
- Ra lệnh cho Đại tá Có điều động Sư đoàn 7 ngăn chặn lực lượng tiếp viện từ vùng 4 chiến thuật.
- Lệnh cho Đại tá Thiệu, Tư lệnh Sư đoàn 5 điều quân về Sài Gòn để làm chủ lực tấn công Lữ đoàn phòng vệ Phủ Tổng thống và Dinh Gia Long.
- Cô lập tất cả Tư lệnh Quân binh chủng nào xét ra chống lại cuộc đảo chánh.
- Ra lệnh cho Tướng Khánh, Tư lệnh vùng 2 và Tướng Trí vùng 1 chiến thuật thi hành những biện pháp cần thiết. Riêng các Tướng Minh, Đôn, Kim, Nghiêm, Xuân v.v...có mặt tại Tòa nhà chánh bộ Tổng Tham mưu chỉ có tính cách phụ giúp hơn là thực quyền vì tất cả mọi lệnh và điều hành đảo chánh đều diễn ra trong phòng làm việc của tướng Khiêm.
Tiếng chuông của chiếc điện thoại được reo đúng 3 giờ 17 phút, Thiếu tướng Khiêm nghe, đầu giây bên kia người đối thoại không ai khác là Tổng thống Diệm. Sau cuộc điện đàm Thiếu tướng Khiêm quay qua tướng Minh, Đôn nói "Tổng thống nói với các tướng lãnh đến dinh Gia Long nói chuyện. Moi trả lời để hội ý rồi sẽ trình lại Tổng thống sau" nhưng sau đó tướng Minh, Đôn, Kim và cả Khiêm không đồng ý đến gặp Tổng thống Diệm. Tuy nhiên khoảng 4:30 chiều 31-10-63 Thiếu tướng Khiêm tự ý điện thoại cho Tổng thống Diệm với đề nghị đưa Tổng thống cùng toàn thể gia đình ông Nhu ra ngoại quốc với sự bảo đảm an ninh do chính Thiếu tướng Khiêm hứa. Khoảng 6 giờ chiều Tổng thống Diệm gọi cho tướng Khiêm để cho biết là T.T. đồng ý đề nghị nói trên nhưng khi tướng Khiêm hội ý với tướng Minh, Đôn, Kim thì tướng Minh nói ngay "Giờ này quá trễ rồi, chúng ta cứ tiếp tục". Qua các cuộc điện đàm kể từ lúc tiếng súng bắt đầu nổ cho đến khi Tổng thống Diệm chạy đến nhà thờ Cha Tam, Tổng thống Diệm chỉ có gọi điện thoại cho Thiếu tướng Khiêm mà thôi.

Đọc hết đoạn trên chắc độc giả đã nhận ra vai trò của tướng Khiêm từ tiền đảo chánh đến khi cuộc cách mạng 1-11-63 thành công, nếu tướng Khiêm không được Tổng thống Diệm tin dùng, nếu không có sự hợp tác với tướng Minh, Đôn v.v...chắc chắn là cuộc đảo chánh không thể xảy ra được vì trên cương vị Tham mưu trưởng Liên quân lại được sự tín cẩn của Tổng thống vì vậy các Tư lệnh Quân Binh Chủng đã không có phản ứng nên cách mạng 1-11-63 mới thành công một cách dễ dàng. Ngược lại nếu tướng Minh, Đôn, Đính ra lệnh cho các đơn vị chắc chắn sẽ bị chống đối hoặc không thi hành, nhất là 2 lực lượng nồng cốt do chính Thiếu tướng Khiêm điều động với SĐ7 có nhiệm vụ ngăn chặn tiếp cứu của vùng 4, và Sư đoàn 5 chủ yếu tấn công Lữ đoàn Liên Binh phòng thủ phủ Tổng thống với dinh Gia Long.

Sau cuộc cách mạng 1-11-63 thành công vai trò nổi bật là những tướng Minh, Đôn, Kim, Đính, Xuân. Riêng tướng Khiêm với chức vụ Tổng trưởng Quốc phòng hữu danh vô thực, ngoài ra tiếng nói của tướng Khiêm trong Hội đồng Quân nhân Cách mạng hầu như bị lãng quên do đó cuộc chỉnh lý mới bùng nổ mà nguyên nhân chính là do sự bất mãn của tướng Khiêm.

Người tổ chức, thảo kế hoạch do tướng Khiêm chủ động với sự trợ giúp của tướng Khánh và tướng Thiệu cùng 1 số đông các Tư lệnh quân binh chủng. Tuy nhiên vì sở trường của tướng Khiêm là không bao giờ muốn lộ mặt nên tướng Khánh được tướng Khiêm chỉ định coi như lãnh đạo cuộc chỉnh lý. Trên thực tế tướng Khánh không có thực lực, không được ai tin tưởng cho nên nếu không có tướng Khiêm đẩy ra sân khấu chắc chắn không bao giờ tướng Khánh mơ tưởng được làm Chủ tịch Hội đồng Quân nhân, Thủ tướng v.v...

Mục tiêu của cuộc chỉnh lý không ngoài mục đích của tướng Khiêm là vô hiệu hóa hết quyền hành các tướng Minh, Đôn, Kim v.v...để trả thù lại sự vô ơn của các tướng đối với tướng Khiêm sau cách mạng 1-11-63 và luôn thể đưa những người bạn thân nhất nắm chính quyền là tướng Khánh, tướng Thiệu v.v... Do đó ngay khi cuộc chỉnh lý thành công tướng Khiêm không muốn ở vị thế lãnh đạo nên đẩy tướng Khánh ra thay thế tướng Minh, đưa tướng Thiệu nắm chức Tổng Tham mưu trưởng QLVNCH.

Nhưng khi tam đầu chế Minh, Khánh, Khiêm thành hình thì tướng Khánh ham quyền lực, quên đi người đã gây dựng sự nghiệp cho mình là tướng Khiêm, nên tướng Khánh một mặt củng cố uy quyền mặt khác loại bỏ những người thân cận của tướng Khiêm. Tiện giả còn nhớ câu của tướng Khánh nói với tướng Khiêm khi tướng Khánh tống tướng Khiêm đi làm Đại sứ tại Đài Loan như sau: "Anh phải dời VN trong vòng 48 tiếng, nếu không tôi sẽ không bảo đảm tính mạng của anh".

Mặc dù sau khi tướng Khánh loại được tướng Khiêm, nhưng từ Đài Loan tướng Khiêm vẫn âm thầm tổ chức để lật đổ tướng Khánh, do đó mới có những cuộc binh biến xảy ra liên miên cầm đầu bởi tướng Dương Văn Đức, Lâm Văn Phát, Đại tá Tồn, Trang v.v... Tuy nhiên, tướng Khiêm ít nhất vẫn được người bạn trả ơn đàng hoàng là tướng Thiệu, vì ngay khi tướng Thiệu đắc cử Tổng thống thì tướng Khiêm, đương kim Đại sứ Hoa Kỳ được gọi về giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội Vụ và sau đó là Thủ tướng cho đến sát biến cố 4-1975.

Xuyên qua những sụ kiện trình bày trên tiện giả chỉ với mục đích duy nhất là đóng góp nhỏ nhoi vào kho tàng lịch sử biến động nhất của 2 nền Cộng hoà mà tiện giả nghĩ rằng nhân vật Trần Thiện Khiêm dù muốn dù không đã nắm giữ một vai trò tích cực có tính cách xoay chuyển cục diện của miền Nam v.v...

Tiện giả cũng nghĩ rằng nếu không có Trần Thiện Khiêm sẽ không có đảo chánh 1-11-63, không có chỗ cho vai trò của tướng Khánh trên sân khấu chính trị "cải lương" nhất trong giòng lịch sử Việt và chắc chắn sẽ không có một Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống nền Đệ nhị Cộng hòa, người phải chịu hoàn toàn trách nhiệm làm tan rã QĐVNCH trong một thời gian kỷ lục cũng như đau khổ, tủi nhục cho hàng triệu gia đình Việt Nam.

Trần Ngọc Giang
aogiap
Posts: 14
Joined: Sat May 29, 2010 11:10 pm
Contact:

Post by aogiap »

Image


Kissinger: Những thất bại tại Việt Nam là 'chúng ta tự tạo ra cho mình'



Henry Kissinger, người giúp lèo lái chính sách Việt Nam trong những năm tháng đen tối nhất của cuộc chiến tranh, đã nói vào hôm thứ Tư rằng ông tin tưởng "đa số những sai lầm ở Việt Nam là do chúng ta tự tạo ra cho chính mình" - bắt đầu bằng việc đánh giá thấp tính bền vững của giới lãnh đạo miền Bắc Việt Nam.

Đưa ra một nhận định ảm đạm về cuộc chiến, được chấm dứt vào năm 1975 với sự sụp đổ đầy nhục nhã của Sài Gòn, Kissinger đã thông cảm với nỗi đau vốn đã đốt cháy cả một thế hệ người Mỹ khi cuộc chiến kéo dài.

Và ông nói rằng trở ngại cốt lõi của Hoa Kỳ là mục tiêu trung tâm của họ trong việc tìm cách gìn giữ một chính phủ Nam Việt Nam có thể tồn tại độc lập đã không đạt được - và đối thủ của Hoa Kỳ đã quá kiên cường.

"Mỹ muốn thoả hiệp," ông nói. "Hà Nội muốn chiến thắng."

Kissinger phát biểu tại một hội nghị của Bộ Ngoại giao về lịch sử của mối liên quan của Hoa Kỳ tại Đông nam Á. Trong những tháng gần đây cơ quan này đã xuất bản hàng loạt các báo cáo, dựa trên những tài liệu vừa được bạch hoá, chứa đựng những quyết dịnh của Hoa Kỳ về Việt Nam trong những năm cuối cùng của cuộc chiến.

Kissinger là cố vấn an ninh quốc gia và bộ trưởng bộ ngoại giao dưới thời Tổng thống Richard Nixon và đã tiếp tục vai trò ngoại giao chủ chốt trong chính quyền Tổng thống Gerald Ford.

Khi giới thiệu Kissinger, Bộ trưởng Ngoại giao Hillary Rodham Clinton - người từng phản đối cuộc chiến trong thời bà còn là sinh viên và đã viết rằng bà có những cảm xúc trái ngược về việc phản chiến của mình - đã phát biểu một cách tổng quát về cuộc chiến tranh này này đã ảnh hưởng đến thế giới quan trong thế hệ của bà ra sao.

"Như bất cứ mọi người vào thời đó, tôi có những người bạn nam giới đã nhập ngũ, đã bị bắt quân dịch, đã phản đối, hoặc trở thành những người phản chiến vì lương tâm; với nhiều cuộc thảo luận dài và đau đớn," bà nói. "Tuy thế, những bài học trong thời kỳ ấy vẫn tiếp tục giúp chúng ta tạo ra những quyết định hiện nay."

Kissinger đã chia sẻ một nhận định cá nhân và chi tiết hơn về cuộc chiến vốn đã làm thiệt mạng hơn 58 nghìn binh sĩ Hoa Kỳ.

Ông nói rằng ông hối hận về vấn đề lẽ ra chỉ là những bất đồng rõ rệt về phương cách tiếp cận Việt Nam của Hoa Kỳ, lại bị "biến dạng thành một vấn đề đạo đức - trước hết là về sự chính đáng về đạo đức của chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ nói chung và rồi đến cả sự chính đáng về đạo đức của nước Mỹ."

"Đối với tôi, thảm kịch cuộc chiến Việt Nam không phải là vì sự phức tạp của nó - mà là lòng tin giữa người Mỹ với nhau đã bị tàn phá trong quá trình này," ông nói.

Ông tự nhận mình đã "hoàn toàn không thể tái tạo được" vào lúc ấy.

"Tôi tin rằng đa số những thất bại ở Việt Nam là tự chúng ta tạo ra," ông nói, và bổ xung thêm, "Tôi muốn có một kết quả khác - ít nhất là một kết quả không quá gần với cách mà chúng ta đã xâu xé lẫn nhau."

Nhìn lại, Kissigner nói, thật rõ ràng là những người cộng sản Bắc Việt Nam đã rất kiên định trong mục đích thống nhất hai miền Nam Bắc, sau khi đánh bại thực dân Pháp vào năm 1954.

Những sử gia cũng có cùng nhận định như thế.

Trong cuốn sách tường thuật về cuộc chiến "Việt Nam: Lịch sử của một Cuộc chiến Không thắng được, 1945-1975," nhà sử gia quân đội John Prados đã viết, "Miền Bắc đã có một mục tiêu đã được vạch rõ - thống nhất đất nước - và một niềm tin tuyệt đối vào mục đích của mình."

Kissinger đánh giá cao đối thủ Bắc Việt Nam của mình trong những cuộc đàm phán hoà bình - Lê Đức Thọ - người đã khéo léo và kiên định trong việc thi hành những chỉ thị từ chính phủ mình để qua mặt người Mỹ.

"Ông ta đã mổ xẻ chúng tôi như một bác sĩ phẫu thuật với con dao mổ - với một năng khiếu đại tài," Kissinger nói.

Washington và Hà Nội đã ký một hiệp định hoà bình vào tháng Giêng 1973, Kissinger và Thọ cùng được tặng giải Nobel Hoà bình vào năm ấy vì vai trò của họ trong cuộc thương lượng. Thọ đã từ chối giải thưởng này.

Hiệp định hoà bình đã tạo ra cho Hoa Kỳ một lối thoát khỏi Việt Nam, nhưng đã bỏ Nam Việt Nam vào nguy cơ bị cộng sản chiếm đóng.

"Chúng tôi biết đấy là một thoả thuận mong manh," Kissigner nói, và rằng cuộc chiến không thực sự chấm dứt. Nhưng Washington cũng tin rằng Nam Việt Nam có thể đứng vững trước những người cộng sản, chống lại một cuộc xâm chiếm toàn bộ.

Kissigner đùa rằng những cuộc hội thương lượng kéo dài với Thọ đã ảnh hưởng trầm trọng và lâu dài đến sức khoẻ của ông.

"Tôi sẽ trông khoẻ mạnh hơn nhiều nếu tôi không từng gặp ông ấy," ông nói.

Một chi tiết thú vị về những khó khăn trong thương lượng được hé lộ trong một bản đánh máy vừa được bạch hoá về cuộc họp giữa Kissinger và Thọ tại Paris vào ngày 21 tháng Năm, 1973, trong đó họ trao đổi những khó khăn trong việc thực thi những điều khoản hoà bình.

"Chúng ta chỉ họp với nhau trong vòng 45 phút và ông đã hoàn toàn làm chúng tôi bối rối," Kissinger nói với Thọ.

Thọ đáp trả: "Không, ông không tự làm mình bối rối. Ông đã làm vấn đề trở nên rắc rối."


Nguồn: Mecury News
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Cuộc chiến trong lòng Nhà Trắng
Một số quan chức cao cấp trong đội ngũ phụ trách an ninh của chính quyền Mỹ hoài nghi chiến lược chiến tranh của tổng thống, và đã mất 20 tháng qua để tranh cãi, một cuốn sách sắp xuất bản tiết lộ. Cuốn sách mang tên "Những cuộc chiến của Obama" do nhà báo Bob Woodward viết, khắc họa một chính phủ đang bị chia rẽ sâu sắc vì cuộc chiến Afghanistan,
ngay cả khi Tổng thống Mỹ quyết định tăng gấp ba quân số ở chiến trường. Trong chính phủ có một số người ngờ rằng ông đi đến quyết định này là do sức ép của quân đội. Cố vấn cấp cao nhất của Obama về Afghanistan, cùng đặc sứ của tổng thống tại khu vực này, đều được cho là hoài nghi sự thành công của chiến lược.

Ngay từ đầu cuốn sách, Tổng thống Obama đã được trích lời: "Tôi đã mất hai năm với công chúng về vấn đề này", và yêu cầu các cố vấn đưa ra cách nào để khỏi phải leo thang cuộc chiến. "Tôi muốn có chiến lược rút quân", ông nhấn mạnh trong một cuộc họp. Nói riêng với Phó tổng thống Biden, ông muốn người phó của mình đưa ra chiến lược tại các cuộc họp nhằm phản đối việc tăng quân. Bản thân Obama không chỉ phản đối tăng quân, mà còn đặt ra lịch trình rút binh sĩ, bởi "tôi không thể mất cả đảng Dân chủ".

Biden không phải là người duy nhất nghi ngờ chiến lược đối với Afghanistan. Theo cuốn sách, Trung tướng Douglas E. Lute, cố vấn của tổng thống về Afghanistan, cho rằng việc nghiên cứu của tổng thống đã không dẫn đến quyết định của ông. Richard C. Holbrooke, đặc sứ của tổng thống ở Afghanistan và Pakistan, nói rằng chiến lược hiện nay "không thể thành công".

Woodward, phóng viên và biên tập viên lâu năm của tờ Washington Post, được quyền tiếp cận đặc biệt với các quan chức cũng như tài liệu của chính phủ, kể cả phỏng vấn Obama. Tờ NYT có được bản sao cuốn sách trước khi nó được xuất bản vào tuần sau.

Mặc dù sự bất đồng trong chính phủ về chiến lược đối với Afghanistan không xa lạ với công chúng, cuốn sách hé lộ rằng các cuộc tranh cãi ngày càng căng thẳng hơn trước, và cho độc giả biết nhiều chi tiết mới. Phó tổng thống Mỹ Biden từng gọi ông Holbrooke là "kẻ ngoan cố và tự đại nhất mà tôi từng biết". Rất nhiều quan chức chính phủ tỏ sự bất bình với James L. Jones, viên tướng thủy quân lục chiến đã nghỉ hưu và là cố vấn an ninh quốc gia. Đáp lại, ông này mô tả một số trợ lý của tổng thống là "những con bọ gậy" hay "một bộ sậu chính trị".

Đô đốc Mike Mullen, chủ tịch hội đồng tham mưu liên quân, nghĩ rằng vị phó của ông - tướng James E. Cartwright - toàn núp sau lưng ông; trong khi đó thì tướng Cartwright bỉ bai đô đốc Mullen không phải lính chiến. Bộ trưởng Quốc phòng Robert M. Gates lo ngại rằng tướng Jones sẽ được kế nhiệm bởi viên phó của ông ấy là Thomas E. Donilon - "một thảm họa".

Tướng David H. Petraeus, tổng tư lệnh khu vực Trung Đông và mới hè này trở thành tư lệnh chiến trường Afghanistan, từng nói với trợ lý của ông rằng ông không thích nói chuyện với cố vấn cao cấp của tổng thống David M. Axelrod, bởi ông ta "chuyên đơm đặt chuyện".

Cuốn sách cũng tiết lộ những sự cố giữa Đô đốc Dennis C. Blair, khi đó là giám đốc tình báo quốc gia, với Rahm Emanuel, chánh văn phòng Nhà Trắng, và John O. Brennan, cố vấn chống khủng bố của chính phủ.

Trong một cuộc họp của giới tình báo tháng 5/2009, ông Blair cảnh báo với tổng thống rằng những phần tử cực đoan có hộ chiếu Mỹ và châu Âu đang được huấn luyện ở Pakistan để tấn công chính đất nước của họ. Ông Emanuel đập lại rằng "Ông chỉ cố làm sao để nói rằng ông chẳng có sai lầm gì". Blair cũng từng xích mích với cố vấn Brennan về bản báo cáo trong vụ khủng bố bất thành nhằm vào máy bay Mỹ hôm Giáng sinh. Sau sự kiện đó, Obama cho Blair nghỉ việc.

Ngoài những trận chiến trong chốn thâm cung Nhà Trắng, cuốn sách còn tiết lộ rằng CIA có một đạo quân bí mật đến 3.000 người, chuyên săn lùng và tiêu diệt các thành viên Taliban ở Afghanistan. Thái độ không ổn định của tổng thống Afghanistan Hamid Karzai cũng là một thử thách đối với chính phủ của Obama.

Về bản thân Tổng thống Mỹ, cuốn sách mô tả ông Obama là một nhà lãnh đạo đầy chất giáo sư thường giao bài tập cho các cố vấn, và xù lông trước những gì mà ông cho là nỗ lực của các viên tư lệnh quân sự muốn ép ông đi đến quyết định mà ông không ưa. Thậm chí sau khi Obama đã gửi 30.000 quân đến Afghanistan năm ngoái, Lầu Năm góc còn đòi thêm 4.500 người nữa để hỗ trợ đội quân trên.

Tổng thống không giữ được bình tĩnh, cuốn sách tiết lộ. "Tôi đã làm rồi đấy thôi!", ông cắt ngang lời đòi hỏi.

Sự trăn trở của Obama với quyết định tăng quân này có thể thấy được qua đối thoại giữa ông với thượng nghị sĩ Lindsey Graham, người đặt câu hỏi là liệu lịch trình rút quân từ năm 2011 mà tổng thống đưa ra có chắc chắn hay không. "Tôi phải nói rằng", Obama đáp, "tôi không thể để cuộc chiến này kéo dài mãi".

Thanh Mai (lược dịch từ NYT)
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Đại Lễ Ngàn Năm Thăng Long

Trần Khảỉ

Vậy là đại lễ đã bắt đầu. Mọi thứ đều sắp xếp cho tròn con số “một ngàn” đầy phong cách trình diễn. Có nhiều vui, tất nhiên, đại lễ là nhiều niềm vui, khi văn nghệ hát múa, khi biểu ngữ giăng đầy phố, nhưng cũng có nhiều nỗi lo về ảnh hưởng Trung Quốc, đặc biệt là khi những ngày khởi đầu đại lễ và bế mạc đaị lễ đểu là hai ngàỳ lễ lớn Trung Quốc. Những dàn nhạc hòa tấu nơi Hà Nội có làm im vắng nổi tiếng sóng quan ngại ở Biển Đông hay không? Khi hữu sự, lấy đạị lễ nào mà giữ được an ninh bờ cõi? Thật quan ngại vậy.

Báó Lao Động hôm Thứ Sáu 1-10-2010 trong bản tin “Khai mạc Đại lễ Nghìn năm Thăng Long – Hà Nội” đã ghi nhận:
“...Sáng nay, 1.10, lễ khai mạc Đai lễ nghìn năm Thăng Long – Hà Nội đã diễn ra trang trọng tại vườn hoa Lý Thái Tổ.
Thời tiết Hà Nội sáng nay đã ủng hộ cho những nỗ lực, cố gắng của người Hà Nội sau nhiều ngày ráo riết chuẩn bị cho Đại Lễ. Trên khắp các đường phố Hà Nội, cờ và hoa rực rỡ đón chào ngày khai mạc. Từ 6h sáng, nhiều người dân đã tập trung bên ngoài hàng rào để chờ đợi vào tham dự lễ khai mạc...”(hết trích)

Tất nhiên là có đầy đủ các cán bộ lãnh đạo, và cũng ghi rõ con số rất “ấn tượng” là “...ngoài ra, còn có 1.000 đại biểu tham dự lễ khai mạc.” Nghĩa là, 999 là hỏng, hay 1.001 cũng là hỏng.
Bản tin báo Lao Động ghi thêm rằng trong lê khai mạc đạị lễ, UNESCO đã trao bằng công nhận khu trung tâm Hoàng Thành Thăng Long là di sản văn hóa thế giới. Bản tin viết:
“...Bà Irina Bokova – Tổng Giám đốc Unesco và bà Katherine Muller Marin - Trưởng đại diện văn phòng UNESCO tại Hà Nội trong trang phục áo dài truyền thống Việt Nam đã trao bằng công nhận cho đại diện Việt Nam là ông Nguyễn Thế Thảo - Chủ tịch UBND TP Hà Nội và ông Nguyễn Thanh Sơn – Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ tịch Uỷ ban quốc gia UNESCO Việt Nam.

Phát biểu sau khi trao bằng di sản, bà Irina Bokova đã nói: “Hôm nay trái tim của chúng ta đã hòa cùng một nhịp đập. Và tôi tin rằng, các cụ Rùa cũng đang lắng nghe chúng ta từ Hồ Hoàn Kiếm – một biểu tượng quý giá về Hòa bình của mọi người dân Việt Nam. Không có một kinh đô nào, một thủ đô nào trên thế giới có một bề dày lịch sử, văn hóa được lưu giữ một cách trọn vẹn như Hà Nội. Hà Nội xứng đáng cái nôi văn hóa không chỉ của Việt Nam mà là của cả châu Á. Trung tâm hoàng thành được công nhận là di sản là một vinh dự nhưng cũng mang đến trách nhiệm mới cho các bạn. Kể từ ngày hôm nay, các bạn có trách nhiệm gìn giữ quảng bá cho nhân loại. Không có biểu tượng nào về hoà bình lại hơn một di sản..."...”(hết trích)

Không biết người dịch có chuyển ngữ trung thực hay không, bởi vì câu nói của bà Bokova rằng không một thủ đô nào trên thế giới có bề dày lịch sử... như Hà Nội, và rằng Hà Nội xứng đáng là cái nôi văn hóa cả Châu Á... thì quả nhiên là khả vấn, và rất đụng chạm... Có thật là bà Bokova nói như thế không?

Không thấy bản nguyên văn Anh ngữ... nhưng chúng ta có thể lắng nghe từ dư luận của người Hà Nội chung quanh, theo nhiều nguồn tin khác nhau.
Đài RFI trước đó một ngày kể:
“...Theo AFP, những cố gắng của chính quyền muốn nhân sự kiện này để khuếch trương thành tựu kinh tế và di sản văn hóa của mình đã làm cho không ít người dân bất bình, khi biết rằng ngân sách để chi cho đại lễ này lên tới 63 triệu đô la. Ông Trân Văn Lam, 65 tuổi, một viên chức về hưu nói với phóng viên của AFP rằng lẽ ra số tiền trên nên để đầu tư vào các cơ sở hạ tầng cho Hà Nội. Ông không cảm thấy hứng thú với bất kỳ một hoạt động nào của đại lễ nghìn năm này mà theo ông, «Cũng giống như những sự kiện khác, lễ hội nghìn năm chỉ mang mục đích tuyên truyền chính trị »...”(hết trích)

Đài RFA trước đó một ngày cũng ghi lời một nhà trí thức:
“...Tiến sĩ Hà Sĩ Phu, từ Đà Lạt, cũng có ý kiến về phần nội dung quan trọng cần phải có của đại lễ Ngàn năm Thăng Long:
"Việt nam mềm yếu đến mức tổ chức lễ vinh danh xây dựng thủ đô của mình mà làm toàn những động tác để chiều lòng Trung Quốc; đó là một sự đầu hàng, quốc nhục không thể chịu được. Trong đợt này, do yếu kém đó nên nhân dân phản ứng; vậy các nhà trí thức, các nhà giáo dục nhân điều đó đem lại sức sống cho tuổi trẻ Việt Nam; đem bài học, hiện tượng trong đợt 1000 Năm Thăng Long này để nói rõ quan hệ Việt Nam-Trung Quốc ngày xưa ra sao, bây giờ thế nào; bồi dưỡng tinh thần yêu nước; tinh thần yêu môn lịch sử chứ không phải là một môn nhạt nhẽo, dối trá, vứt đi… Từ những điều không hay sẽ bật ra những điều tốt đẹp: nhân đó thế hệ trẻ nhớ lại lịch sử Việt Nam đáng học chứ không phải điều vô vị.”...”(hết trích)
Đài VOA trong bản tin “Hà Nội hoàn tất công tác chuẩn bị cho Đại lễ 1000 năm Thăng Long” hôm Thứ Tư 29-9-2010 kể:
“Bản tin hôm thứ Tư của hãng thông tấn Pháp trích lời một nữ nhân viên văn phòng 31 tuổi nói rằng bà không hề cảm thấy thích thú đối với bất kỳ hoạt động nào của lễ hội ngàn năm.
Một phụ nữ 44 tuổi hành nghề bác sĩ thì than phiền là Hà Nội vừa bẩn vừa hỗn loạn và rất ít du khách quay lại thành phố này sau chuyến thăm đầu tiên....”(hết trích)

Đặc biệt, giới trẻ Hà Nội nghĩ gì? Đàì VOA trong bài tường thuật nhan đề “Hà Nội: Bản sắc, nét đẹp - Còn và mất” ghi cuộc phỏng vấn do phóng viên Trà Mi thực hiện với 3 bạn trẻ đang sống ở Hà Nội, trong đó có cô Ly là người sinh ra và lớn lên tại Hà Nội. Có câu vấn đáp như sau:
“...Trà Mi: Đó là những nét đặc trưng về văn hóa, còn về đời sống chính trị-kinh tế của Hà Nội khác với những vùng miền khác ra sao?
Ly: Vấn đề kinh tế chúng ta bàn sau. Còn vấn đề chính trị, em thấy đây là vấn đề rất “nhạy cảm” ở đây. Hà Nội là thủ đô nên các cơ quan đầu não của chính phủ, của nhà nước Việt Nam đều đặt hết ở đây. Cho nên, em cảm thấy không khí chính trị ở đây khác hơn những chỗ khác. Ví dụ như ở đây muốn mở mồm bàn tán về các vấn đề chính trị cũng không dám, sợ nói ra “tai vách mạch rừng”. Sinh viên bọn em không bao giờ dám bàn tán đến những việc như các cuộc biểu tình ở đại sứ quán (Trung Quốc về Hoàng Sa-Trường Sa). Vì đất nước mình chỉ có một đảng, nên có thể ở thủ đô này mang tính ca ngợi, tôn sùng thái quá. Mình cảm giác là vấn đề “tự do” ở đây hơi bị thiếu.
Trà Mi: Dân Hà Nội ở ngay thủ đô, trung tâm chính trị, mà không dám bàn về chính trị?
Ly: Không dám đâu chị ạ.
Hương: Thực tế bây giờ ở Hà Nội, mọi người đều sợ bị ảnh hưởng, sợ liệu mình nói ra có ai đấy nghe thấy rồi báo chính quyền biết không. Ai cũng sợ bị “ảnh hưởng”.
Trà Mi: Về kinh tế thì sao? Đời sống kinh tế của người dân Hà Nội so với những nơi khác thế nào?
Ly: Hà Nội là thủ đô, nó phát triển kinh tế mạnh mẽ hơn nhiều so với những nơi như Hải Phòng quê em, hoặc các tỉnh khác. Mọi người đều nhận ra những thay đổi kinh tế. Các nhà cao tầng mọc lên, các công ty nước ngoài đầu tư vào rất nhiều để phát triển. Tuy nhiên, có một cái mà mãi không thấy đầu tư đó là cơ sở hạ tầng. Đường sá ở đây chẳng thay đổi gì. Vào Sài Gòn, em thấy dân Sài Gòn làm việc hết sức và hưởng theo đúng năng lực của mình. Ngoài Hà Nội thì không được như thế. Nếu nhà anh có chức, có quyền, có “cơ”, thì anh sẽ có một cuộc sống khác hẳn với thường dân. Em nhận thấy phân biệt giàu nghèo ngoài Hà Nội này rất rõ rệt, khác với Sài Gòn. Trong Sài Gòn, làm bao nhiêu hưởng bấy nhiêu. Còn Hà Nội thì không, người giàu ngày càng giàu, người nghèo ngày càng nghèo hơn. Khoảng cách này ai cũng có thể nhận ra, nhưng không thấy các cấp lãnh đạo có biện pháp tăng trưởng kinh tế đồng đều, giảm bớt khoảng cách giàu nghèo...”(hết trích)
Lời cô Ly nói rõ ràng nêu rõ những trái nghịch với lời của bà Bokova, Tổng Giám Đốc UNESCO... Trong khi bà Bokova nói Hà Nội là chiếc nôi văn hóa của Châu Á, thì cô Ly nói rằng Hà Nội nằm trong vòng kềm kẹp của công an, rằng dân Hà Nội sống trong bầu không khí bị khủng bố thường trực, rằng không ai dám nói gì về chính trị, rằng “tự do hơi bị thiếu,” rằng ai cũng sợ nói ra là có người nghe báo cho chính quyền ảnh hưởng... Còn về kinh tế, theo lời cô Ly, rằng Hà Nội là cung đình, nơi giai cấp vua chúa, quan lại phân chia quyền lực, lợi nhuận.
Như thế, đại lễ Ngàn Năm Thăng Long có ý nghĩa gì khi đảng CSVN đã làm biến chất thủ đô như thế?
Chưa hết, còn chất Tàu nữa chứ. Nhà bình luận Lê Diễn Đức, người có nhiều năm thời trẻ ở Hà Nội, trong bài viết nhan đề “Ta chợt hoá Trung Hoa!” đăng trên mạng Talawas.org hôm 1-10-2010 ghi lại:
“...Hôm nay tôi gọi điện thoại về Hà Nội hỏi thằng bạn dân Hà Nội một trăm phần trăm về Lễ hội Nghìn năm. Nó bảo đọc bài của Đỗ Hoàng Diệu trên talawas rồi còn hỏi làm quái gì nữa. Tao ở nhà! Rồi nó nói, mày có biết Hà Nội đầy gái điếm rẻ tiền và nói ngọng không, nói “nè nưỡi nếm nòng nợn nuộc” ấy, xài iphone, ăn mặc thời trang “Made in China”, màu sắc chói chang cả mắt, phô “hàng” đến khiêu khích! Phiên bản của Hà Nội hôm nay đấy! Tao có cảm tưởng Hà Nội đã hoàn toàn biến dạng, hiện thân không phải trong cô gái điếm nói ngọng thì cũng là một ả lên đồng điên điên, khùng khùng. Lai căng, lố bịch, hài hước. Ngày Lễ Nghìn năm hả? Gặp đúng cơ hội may mắn, có thêm mớ tiền, ả ta thả sức bôi son, trát phấn, xức nước hoa rởm và đeo đầy mình đủ thứ trang sức vô giá trị, vô văn hoá, đã lố bịch càng lố bịch thêm. Đấy là tao không thèm nói tới chuyện Lý Công Uẩn bị người ta cho quay quẩn thể nào mà hệt như hành hương từ Trung Nam Hải về Thăng Long! Bốn ngàn năm ta lại là ta thì vẫn còn tốt chán! Mày thấy không, chỉ sau vài thập niên ta chợt hoá Trung Hoa mới đau!…”
Tuyệt vời là Ngàn Năm Thăng Long khi UNESCO trao văn bản công nhận di tích lịch sử thế giới.
Nhưng cũng cực kỳ bi thảm khi tuổi trẻ Hà Nội phải sống trong thường trực “tự do hơi bị thiếu.”
Và cực kỳ là quan ngại khi nghe người Hà Nội báo động rằng “Ta chợt hóa Trung Hoa!”...
Mà như thế, chỉ mới có sau vài thập niên thôi... là bốn ngàn năm văn hóa độc đáo bản sắc Việt Nam đã bị Hán hóa...

TRẦN KHẢỈ
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Lý Công Uẩn dời đô sang Tầu?

Ngô Nhân Dụng

Ðại lễ Ngàn Năm Thăng Long sắp khai mạc chính thức. Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản cho mở hội đúng ngày quốc khánh của Trung Cộng, với một bộ phim dài về Lý Thái Tổ trong đó ông vua khai sáng nhà Lý mặc y phục kiểu Tầu, bảnh bao như tài tử Hồng Kông. Bộ phim thực hiện ở bên Tầu, các vai phụ tuyển toàn dân Trung Quốc, phim do người Tầu sửa chữa kịch bản và dàn dựng, đạo diễn toàn bộ!

Người không hiểu nổi tại sao quý quan cộng sản lại chọn bắt đầu kỷ niệm 1000 năm Thăng Long vào ngày quốc khánh Trung Cộng. Lý Công Uẩn đã chính thức dời đô trong tháng 7 âm lịch, chứ không phải đầu tháng 10.

Nhà toán học Ngô Bảo Châu tháng 5 năm ngoái (2009) đã viết một bức thư gửi cho các đại biểu Quốc Hội Việt Nam, về chuyện cho Trung Quốc khai thác mỏ bô xít ở nước ta. Trong thư có đoạn: “Trung Quốc thực hiện chính sách ‘thực dân mới’... Trong trường hợp của Việt Nam, ảnh hưởng quá mức của Trung Quốc có thể kéo thêm hệ quả nguy hiểm sau đây: quan hệ hữu cơ vốn có của văn hóa Trung Quốc với văn hóa Việt Nam trở thành đô hộ văn hóa. Ðất nước, con người, văn hóa Trung Quốc có nhiều thứ để ta cảm phục và học tập. Nhưng nếu ta rập khuôn theo mô hình của họ, đi theo con đường họ đã đi, làm theo cái họ nói tức là cái họ muốn, thì ta chỉ nhận phần thiệt thòi, còn bản sắc ta thì tồn tại được bao lâu. Vấn đề độc lập văn hóa, giữ gìn bản sắc vô cùng hệ trọng, xin quý vị lưu ý...”

Những nhận định của ông Ngô Bảo Châu về vấn đề “quan hệ hữu cơ vốn có” giữa Việt Nam và Trung Quốc và việc “giữ gìn bản sắc dân tộc” đang là một chuyện thời sự nhân vụ Lý Công Uẩn sang Tầu đóng phim. Thế kỷ 18, ông Lê Quýnh từ chối không chịu kết tóc bím và bỏ đồ Việt Nam để mặc y phục Tầu, dù chịu áp lực của nhà Thanh. Ông nói: “Ðầu tôi có thể chặt nhưng tóc tôi không thể đổi; da tôi lột ra được nhưng tôi không đổi áo.” Ngày nay, cộng sản Việt Nam đưa vua Lý sang Tầu mặc y phục, mũ mão giống y như tài tử đóng vai Tần Thủy Hoàng! Một dân tộc mất quặng mỏ, mất rừng, mất gỗ và mất môi trường sống trong lành cũng không nguy hiểm bằng mất cả linh hồn, khi bản sắc dân mình không còn nữa.

Trước khi coi đầy đủ cuốn phim Lý Công Uẩn này, cả nước đã uất lên vì giận. Ðây là âm mưu cho Lý Công Uẩn dời đô một lần nữa, từ Việt Nam sang Trung Quốc! Một nhà giáo trong nước phê bình: “Từ trang phục cho đến cảnh quan, từ áo mão cho đến búi tóc, hình ảnh toát ra cho ta thấy: Ðây là một phim Trung Quốc; chẳng khác gì những phim lịch sử Trung Quốc khác mà đông đảo người Việt Nam quen xem.” Trên Blog Gốc Xậy, trích dẫn nhận xét của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên: “Ðây là một bộ phim Trung Quốc, không có gì để tranh cãi. Ðạo diễn Trung Quốc, biên kịch Trung Quốc.” Một độc giả góp ý trong blog: “Họ đã bôi nhọ lịch sử nước ta và coi thường dân trí” của người Việt Nam! Có người tố cáo ông Trịnh Văn Sơn, một người bỏ tiền làm phim, ngoài đời “rất tôn sùng Trung Quốc, toàn chê ngoài Việt Nam thôi.” Tên ba bố con ông ghép lại thành tên Tôn Trung Sơn, quốc phụ nước Tầu từ năm 1911. Tên công ty của ông Sơn là “Công ty Cổ phần Truyền thông Trường Thành.” Hình logo của công ty này là cảnh “Ðông phương hồng, mặt trời lên” trên ngọn núi. Những lời tố giác này cũng hơi quá đáng. Bao nhiêu lãnh tụ cộng sản Việt Nam đã lấy tên Trung Hoa và đề cao thành tích của người Trung Hoa. Ông Ðặng Xuân Khu chẳng hạn. Việc ông đề cao cuộc Vạn Lý Trường Chinh khi chọn bí danh có khác gì việc ông Sơn chọn tên Trường Thành?

Những người làm cuốn phim Lý Công Uẩn đã bênh vực các quan chức trong đảng, biện hộ rằng việc thực hiện cuốn phim này hoàn toàn là do sáng kiến tư nhân, đảng và nhà nước không can dự. Nếu cuốn phim có vẻ “Tầu” quá thì những người bỏ tiền làm phim chịu trách nhiệm, còn đảng cộng sản vô can. Các bộ trưởng, phó thủ tướng chỉ ủng hộ đem phim lên chiếu ti vi sau khi nhận được quá cáp mà thôi!

Nhưng nếu điều này là sự thật thì cũng chính là mối nguy hiểm lớn hơn nữa! Người ta tự động ỷ lại vào Trung Quốc không cần Bộ Chính Trị yêu cầu. Vì người ta đã tập nhiễm thói quen ỷ lại, hướng về Bắc Kinh từ thời 60 năm nay rồi!

Khi các nhà kinh doanh văn hóa tính làm một cuốn phim biểu hiện tinh thần tự chủ của dân tộc Việt Nam, mà họ chấp nhận giao phó cuốn phim đó cho người Trung Hoa làm hộ một cách không dè dặt, không do dự, thì trong đầu óc họ nghĩ ngợi thế nào? Họ phải quen sống với một nếp suy nghĩ nào đó, thì mới tự nhiên, không ngần ngại, nhờ ngay các nhà đạo diễn, những nhà viết kịch bản Trung Hoa làm giúp việc biểu hiện tinh thần dân tộc Việt Nam! Phải chăng họ coi người Trung Hoa và người Việt cũng vậy, không có gì khác nhau cả? Phải chăng vì họ đã nghe quen những câu hát “Việt Nam Trung Hoa núi liền núi sông liền sông” từ bao nhiêu năm nay rồi? Phải chăng vì họ vẫn thuộc lòng những câu thơ Hồ Chí Minh “Mối tình thắm thiết Việt Nam-Hoa; Vừa là đồng chí vừa là anh em” đọc khi tiễn đưa Lưu Thiếu Kỳ? (Hồ Chí Minh Toàn Tập, cuốn số 11, từ trang 64 đến trang 76). Ðã là đồng chí lại là anh em thì còn lo gì mà không nhờ “ông anh đồng chí” làm phim hộ? Mấy thế hệ người Việt Nam đã được huấn luyện từ khi là học sinh mẫu giáo là phải học tập Mao chủ tịch, noi gương Mao chủ tịch, ghi nhớ công ơn Mao chủ tịch, vân vân. Cái tinh thần đó đã được thấm nhuần trong các đồng chí như Trịnh Văn Sơn.

Trên mạng Tuyên Quang Online, một bạn trẻ tên là Bạch Văn Cơ viết, từ năm 2007,

xem lại lịch sử các phim ảnh thịnh hành, anh thấy: “Ðầu những năm 90: điện ảnh Ðài Loan. Giữa những năm 90: điện ảnh Hồng Kông, Hàn Quốc. Từ đó đến nay: điện ảnh Trung Quốc, Hàn Quốc, Hồng Kông, Ðài Loan cùng ‘tổng tấn công.’”

Khán giả Việt Nam có coi phim Ðài Loan, Nam Hàn, Hồng Kông cũng chỉ để giải trí, có thể vô hại. Nhưng khi một nước Việt Nam muốn làm cuốn phim kỷ niệm một năm đại lễ của dân tộc, mà lại phải đi cầu viện năng khiếu nghệ thuật của người Trung Quốc, giao khoán cho họ kể chuyện tổ tiên mình, thì đó là quốc sỉ. Nó cho thấy tinh thần nô lệ về văn hóa đã nhiễm vào đầu óc nhiều người quá rồi, đã thành một phản xạ, một tập quán tự nhiên.

Từ khi Hồ Chí Minh tái lập đảng Cộng Sản năm 1950, 51, ông nhập cảng tư tưởng Mao Trạch Ðông, cho vào cương lĩnh của Ðảng Lao Ðộng. Quá trình nô lệ văn hóa bắt đầu. Ðây là một giai đoạn nô lệ mới, khác với thời kỳ 1000 năm từ thế kỷ thứ nhất khi Mã Viện sang chiếm nước ta, vì do một đảng lãnh đạo nước Việt Nam tự nguyện theo người Hán. Lý Công Uẩn dời đô ra Thăng Long, còn Hồ Chí Minh dời bộ óc người Việt Nam sang bên Tầu, để được nhuộm đỏ theo tư tưởng Mao! Câu thơ Chế Lan Viên viết: “Bác Mao không ở đâu xa - Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao” được lưu truyền, cho thấy Hồ Chí Minh rất hãnh diện được ví như một ông “Mao nội hóa,” một ông “Mao con.” Nếu không đồng ý với Chế Lan Viên thì chắc Hồ đã cấm không cho phổ biến hai câu thơ này!

Mối họa đồng hóa từ giữa thế kỷ 20 bắt đầu với ông Hồ, người đã không ngần ngại tuyên bố không cần viết sách nào về chủ nghĩa Mác nữa, vì tất cả những gì cần nói đã có bác Mao viết hết rồi!

Nhưng “Tư tưởng Mao Trạch Ðông” là gì? Ðó không phải chỉ là việc khai thác và áp dụng lý thuyết Mác xít mà thôi. Ðó chính là một sản phẩm của nền văn hóa độc đáo Hán tộc. Như Ngô Bảo Châu nhận định: “Ðất nước, con người, văn hóa Trung Quốc có nhiều thứ để ta cảm phục và học tập. Nhưng nếu ta rập khuôn theo mô hình của họ, đi theo con đường họ đã đi, làm theo cái họ nói tức là cái họ muốn,” thì ta sẽ mất hết bản sắc của mình. Nói vậy chưa đủ. Phải nói: Nếu rập khuôn theo mô hình Mao chủ tịch thì người Việt Nam sẽ tự tiêu diệt bản sắc của nước mình. Vì Mao là một sản phẩm của văn hóa người Hán. Hai dân tộc Việt và Hán sống trong những điều kiện địa lý, lịch sử khác nhau, các kinh nghiệm, truyền thống văn hóa khác nhau nhiều lắm. Họ không thể bắt chước mình mà mình cũng không thể theo họ được.

Tư tưởng chính trị Trung Hoa, mà Mao Trạch Ðông là một đại biểu sáng chói, thích hợp với một chế độ cường quyền tập trung, áp dụng trên một quốc gia quá rộng lớn và quá đông dân, so với nước Việt Nam ta. Việt Nam sống trên một “bán đảo” giữa hai nền văn minh Trung Hoa và Ấn Ðộ. Từ 3000 năm trước dân mình lại sớm hòa nhập với nền văn minh của các sắc dân Nam Á và Nam Ðảo. Người Việt Nam có thể chấp nhận quyền bình đẳng Nam Nữ vì ảnh hưởng văn minh Nam Ðảo; có thể bao dung chế độ xã thôn tự trị; sống với nhau vừa tình vừa lý, vua quan và dân chúng gần gũi nhau. Người Trung Hoa không thể “linh động,” “xuề xòa” hoặc “chín bỏ làm mười” như vậy.

Thời Nguyễn Ánh đã lầm lớn, khi Nguyễn Văn Thành sao chép bộ luật nhà Thanh soạn thành luật Gia Long, áp dụng ở nước ta. Những luật lệ đó khắc nghiệt, coi khinh phụ nữ, dọa nạt, đàn áp dân, để củng cố chế độ tập trung quyền hành của người Mãn trên nước Trung Hoa. Áp dụng lối cư xử đó vào Việt Nam, khiến dân chúng oán thoán, nhất là dân Bắc Thành, nơi trước đó chỉ áp dụng đạo luật Hồng Ðức nhà Lê. Cho nên, hơn nửa thế kỷ sau khi người Pháp sang xâm chiếm, dân ngoài Bắc đã hờ hững không ai muốn chết để bảo vệ vua quan nhà Nguyễn. Một tên “gác dan tu viện” như Nguyễn Văn Phụng được các cố đạo Pháp đưa từ Ma Cao về, đổi tên là Lê Văn Phụng, cũng thu hút được nhiều người theo, vì dân đang chán chế độ và còn tưởng nhớ nhà Lê. Việc Hồ Chí Minh nhập cảng tư tưởng Mao Trạch Ðông vào dùng ở nước ta, ghi trong cương lĩnh đảng Lao Ðộng từ năm 1950, cũng sai lầm y như luật Gia Long vậy. Nó bắt người Việt Nam sống như lối người Tầu, gây căm thù, chia rẽ dân tộc, đối xử với nhau theo đường lối của các cố vấn Trung Quốc.

Những cuốn sách gối đầu giường của Mao không phải là sách của Karl Marx. Mao thường mang bên mình bộ Tư Trị Thông Giám của Tư Mã Quang, bộ lịch sử các triều đại Trung Hoa diễn tả theo quan điểm Tống Nho tôn quân quyền tuyệt đối. Tư tưởng Mao Trạch Ðông thích hợp với nước Trung Hoa lúc đó đang chờ một bạo chúa ra tay “bình thiên hạ” bằng cách “sát nhất nhân vạn nhân cụ.” Nhưng chính sách, đường lối đó hoàn toàn trái ngược với phong tục, tập quán, nền nếp văn hóa của người Việt Nam. Hậu quả là sau khi học tập, bắt chước theo Mao Trạch Ðông người Việt sẽ bỏ mất bản sắc dân Việt. Cảnh nô lệ văn hóa bắt nguồn từ đó. Trong bài tới sẽ trình bày một hiện tượng nô lệ văn hóa rùng rợn: Cộng Sản Việt Nam đã học cách giết người theo Mao Trạch Ðông như thế nào. Từ đó, người Việt Nam không còn đối xử với nhau như trước nữa.
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

Cuộc chiến hối đoái Mỹ-Hoa leo thang
Ngô Nhân Dụng


Chưa bao giờ thấy ông Ôn Gia Bảo nhũn nhặn, ôn hòa như thế. Nhưng ông cũng không chinh phục được trái tim của bà Nancy Pelosi.

Tuần trước, Hạ Viện Mỹ đã thông qua một dự luật trao thêm cho chính phủ Obama vũ khí mới trong cuộc đấu về tỷ giá giữa đồng tiền hai nước. Từ hàng chục năm qua, Washington vẫn đòi Bắc Kinh phải nâng giá đồng “nhân dân tệ,” để Mỹ giảm được số khiếm hụt vì mua hàng nhiều quá, bán sang Tầu ít quá. Nếu được Thượng Viện thông qua, thì theo dự luật này hành pháp Mỹ sẽ được quyền tăng thuế nhập cảng trên hàng Trung Quốc, cho dân Mỹ sẽ bớt tiêu thụ đồ Made in China. Các đại biểu Quốc Hội hy vọng họ sẽ ép Bắc Kinh phải thả nổi cho giá đồng tiền của họ tăng lên so với đô la Mỹ, hậu quả sẽ giúp cán cân thương mại Mỹ-Hoa cân bằng hơn.

Bắc Kinh biết tình hình đang căng thẳng, đã tìm mọi cách tạo không khí hòa dịu. Thủ Tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo xuất hiện tại New York nhân dịp họp Liên Hiệp Quốc, nói ông rất lạc quan tin tưởng rằng giữa Mỹ và Trung Quốc không thể nào xẩy ra “chiến tranh thương mại.” Trước các nhà báo chữ Hoa ở New York và các ký giả Hồng Kông, Ôn thủ tướng báo tin Mỹ và Trung Quốc đang nối lại các cuộc trao đổi quân sự. Những cuộc gặp gỡ này đã bị Bắc Kinh ngưng lại hồi đầu năm khi chính phủ Obama bán hỏa tiễn cho Ðài Loan. Khi đó, Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Robert Gates đáng lẽ đến thăm Bắc Kinh, đã bị từ chối. Nhưng bây giờ thì chính ông Ôn Gia Bảo đang mời ông Gates qua thăm!

Ông Ôn Gia Bảo còn nhắc đi nhắc lại rằng: “Chúng ta không có một lý do nào để kéo lui mối giao hảo Mỹ-Hoa; trái lại, có hàng vạn lý do để các quan hệ phải chặt chẽ hơn.” Một cách cụ thể, ông Ôn Gia Bảo nói, khi Trung Quốc xuất cảng hàng sang Mỹ thì có hai giới được lợi lộc. Thứ nhất là các công ty Mỹ đã thiết lập nhà máy sản xuất ở bên Tầu sẽ kiếm thêm lời; thứ nhì là người tiêu thụ ở Mỹ được mua hàng hóa với giá rẻ.

Nhiều dân biểu, nghị sĩ Mỹ lại không quan tâm đến hai mối lợi trên. Họ chỉ lo về tỷ lệ thất nghiệp đang rất cao (9.6%). Họ nghĩ lý do chính khiến nhiều công nhân Mỹ mất việc làm là hàng Trung Quốc quá rẻ khiến cho các xí nghiệp Mỹ không thể cạnh tranh phải đóng cửa. Công việc của người lao động Mỹ vẫn làm cho Dell, Motorola, General Motors đã được đem sang Trung Quốc làm! Có người còn tính toán rằng tình trạng thâm thủng thương mại với Trung Quốc đã khiến 20 triệu công nhân Mỹ mất việc! Một dân biểu đã bác bỏ lời dỗ dành “được mua hàng rẻ” của ông Ôn Gia Bảo, hỏi ngược lại: “Khi bị mất việc rồi thì tiền đâu nữa mà mua hàng rẻ?”

Bà Nacy Pelosi, chủ tịch Hạ Viện tuyên bố đã đến lúc Quốc Hội phải trao thêm vũ khí cho chính phủ để ép chính phủ Trung Quốc phải thả cho giá đồng tiền của họ lên cao. Vũ khí đó là đánh thuế nhập cảng. Theo quy tắc của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO), một quốc gia mà trợ cấp cho các nhà xuất cảng của họ để có thể xuất cảng hàng giá rẻ thì không công bằng; do đó, nước khác có quyền trả đũa bằng cách đánh thuế trên các món hàng nhập cảng này. Dự luật của Hạ Viện cho phép chính phủ Mỹ “kết tội Trung Quốc đang trợ cấp hàng xuất cảng” vì họ đã “trợ cấp một cách gián tiếp” khi can thiệp vào thị trường hối đoái để giữ không cho giá đồng Nguyên tăng lên theo luật cung cầu.

Lý luận đó rất giản dị: Nếu đồng nhân dân tệ lên giá so với đô la, hàng Trung Quốc bán sang Mỹ giá sẽ đắt hơn, dân Mỹ sẽ nhập cảng ít hơn. Một đô la đang đổi được 6 tới 7 Nguyên thì đồng tiền Trung Quốc rẻ quá. Ðáng lẽ nếu được đổi tự do thì hối suất chỉ là 5 hay 6 Nguyên mà thôi! Vì giá đồng Nguyên rẻ cho nên một món trị giá 7 Nguyên bán sang Mỹ thành một đô la. Nếu đồng Nguyên tăng giá thì cũng 7 Nguyên đó sẽ phải bán thành 1 đô la 20 xu chẳng hạn. Hiện nay giá đồng Nguyên rẻ như bây giờ bởi vì chính phủ Bắc Kinh bỏ tiền ra mua đô la, dìm giá tiền của họ xuống. Rõ ràng, họ đã trợ cấp 20 xu cho các nhà xuất cảng của họ dễ bán hàng! Bà Pelosi nói, nếu đồng Nguyên được tự do lên giá theo thị trường hối đoái, thì “...hàng triệu người Mỹ sẽ có công việc làm, và số thâm thủng về thương mại sẽ giảm được hàng trăm tỷ đô la mỗi năm.”

Ðại đa số dân biểu cả hai đảng cũng tin như vậy. Khi bỏ phiếu chỉ có 79 phiếu chống lại, trong đó có 74 người thuộc đảng Dân Chủ; trong khi 99 dân biểu Cộng Hòa ủng hộ. Một cuộc chiến hối đoái và thương mại có thể bắt đầu, nếu Thượng Viện cũng thông qua dự luật này và chính phủ Obama đem ra áp dụng. Nhưng nếu Mỹ đánh thuế nhập cảng trên hàng Tầu nặng hơn, Tầu sẽ đánh thuế trả đũa trên hàng Mỹ nhập cảng; trong khi đi kiện nhau tại WTO. Luật sư hai bên sẽ cãi xem việc can thiệp của Bắc Kinh vào thị trường hối đoái có thể coi là một hành động trợ cấp cho các nhà xuất cảng hay không. Trong khi đó thì cuộc chiến thương mại có thể tiếp diễn.

Tại sao các đại biểu Mỹ chọn lúc này để ồn ào làm dữ với Bắc Kinh? Lý do chính là năm nay có bầu cử Quốc Hội Mỹ. Chưa đầy một tháng nữa dân Mỹ sẽ bỏ phiếu. Các dân biểu đều muốn khoe với các cử tri rằng họ đã cương quyết “đánh Trung Quốc” để bảo vệ việc làm của công nhân Mỹ.

Lý luận của các dân biểu Mỹ rất dễ hiểu, và dễ được dân tin; mặc dù sự thật kinh tế không giản dị như vậy. Nghĩa là không phải hễ đồng Nguyên lên giá thì Mỹ sẽ bớt thâm thủng thương mại, và công nhân Mỹ sẽ có thêm việc làm.

Cán cân thương mại Mỹ thâm thủng vì mua hàng Trung Hoa nhiều gấp 4 lần số bán hàng cho họ, đó là một sự thật. Trong 7 tháng đầu năm 2010, số nhập cảng hàng Trung Hoa trị giá 193 tỷ, trong khi chỉ xuất cảng gần 49 tỷ; trung bình mỗi tháng khiếm hụt 20 tỷ. Riêng trong tháng 6, số thâm thủng mậu dịch lên tới trên 26 tỷ đô la. Nhiều nhà kinh tế tin, như bà Pelosi mới lập lại, rằng nếu chính phủ Bắc Kinh không can thiệp vào thị trường hối đoái để dìm giá tiền của họ, thì cán cân thương mại của Mỹ sẽ cân bằng hơn - và công nhân Mỹ sẽ bớt thất nghiệp.

Nhưng có một sự thật kinh tế khác, là việc tăng giá đồng tiền Trung Quốc không chắc sẽ giúp cho cán cân thương mại của Mỹ cân bằng hơn. Kinh nghiệm đối với đồng Yen Nhật Bản cho thấy như thế. Trong những thập niên 1970, 80, cả nước Mỹ đã nổi giận khi Nhật bán quá nhiều mà mua hàng của Mỹ quá ít. Chính phủ Nhật cũng luôn luôn can thiệp vào thị trường hối đoái, in thêm tiền để đi mua Mỹ kim, giữ giá Mỹ kim cao để cho giá đồng Yen thấp mãi. Hồi đó, các nước kinh tế tiên tiến gọi là G-7 đồng ý với Mỹ, tất cả làm áp lực buộc Nhật Bản phải tăng giá đồng Yen. Một hội nghị quốc tế ở New York năm 1985 đã đưa ra những biện pháp thúc cho đô la Mỹ được giảm giá, và tất cả các nước đều thi hành, kể cả Nhật Bản. Nhưng trong hơn hai chục năm, sau khi giá đồng Yen đã tăng gấp đôi, cán cân thương mại của Mỹ với Nhật Bản vẫn thâm thủng y như cũ! Vì các công ty Nhật thấy hàng của họ tăng giá khi đồng Yen lên, đã tìm cách hạ giá thành bằng cách chuyển các cơ xưởng sản xuất sang các nước khác, thí dụ, sang... bên Tầu! Ở đó, giá đất đai rẻ, lương công nhân cũng rẻ! Khi nâng giá Yen, hạ giá đô la, người ta hy vọng công nhân Mỹ sẽ bớt thất nghiệp,vì các công việc làm ở Nhật sẽ quay trở về Mỹ. Nhưng không, những công việc đó đã chạy sang Ðài Loan, Mã Lai, và... Trung Quốc! Vào đầu tháng 9, khi giá đồng Yen lên cao quá, chính phủ Nhật đã tung ra hàng tỷ để mua Mỹ kim, dìm giá đồng tiền của họ xuống. Chính phủ Mỹ không than phiền một câu nào cả!

Bây giờ nếu đồng Nguyên lên giá, hàng Trung Quốc đắt hơn, thì các nhà nhập cảng Mỹ sẽ đi mua hàng ở các nước khác, thí dụ Việt Nam, Bangladesh, Miến Ðiện, vân vân, nơi lương bổng công nhân còn rẻ hơn bên Tầu,. Nước Mỹ có thể bớt khiếm hụt thương mại đối với Trung Quốc, nhưng sẽ tăng khiếm hụt đối với nước khác! Ðâu lại vào đó!

Mặt xuất cảng cũng vậy. Nếu đồng Nguyên lên giá, món hàng của Mỹ trị giá một đô la sẽ bán sang Tầu với giá 6 Nguyên thay vì 7 Nguyên, sẽ dễ bán hơn. Do đó, các nhà xuất cảng Mỹ sẽ bán được nhiều hơn, các công nhân Mỹ sẽ thêm việc làm. Nhưng khi đồng Nguyên lên giá thì cũng lên giá chung đối với các ngoại tệ khác nữa, hàng hóa của các nước như Ðức, Nhật, sẽ đều được tính giá rẻ hơn, không khác gì hàng của Mỹ. Như vậy thì các công ty xuất cảng của Mỹ bán được nhiều hay không vẫn tùy thuộc vào khả năng cạnh tranh của họ đối với các công ty Ðức, Nhật, chứ không phải chỉ vì trị giá đồng Nguyên mà thôi!

Tóm lại, việc tăng giá đồng Nguyên có thể giúp cho cán cân thương mại của Mỹ bớt khiếm hụt đối với Trung Quốc, nhưng sẽ rất chậm chạp và không có gì chắc chắn. Nhưng nếu hai nước lâm vào một cuộc chiến tranh mậu dịch thì cả hai sẽ thiệt hại. Ông Ôn Gia Bảo không ngần ngại báo trước rằng nếu Mỹ và Trung Hoa chạy đua đánh thuế hàng nhập cảng nặng hơn thì kinh tế Trung Quốc sẽ suy sụp. Sẽ có thêm hàng chục đến hàng trăm triệu công nhân Trung Hoa thất nghiệp. Những người đó cũng sẽ không có tiền để mua hàng của Mỹ, cũng như của các nước khác. Trung Quốc sẽ ngưng xây cất, ngưng mua máy móc của Mỹ hay Nhật Bản. Kinh tế cả thế giới sẽ kéo nhau xuống cảnh sa lầy.

Phần lớn hàng xuất cảng từ Trung Quốc sang Mỹ lại do các công ty Mỹ hoặc ngoại quốc sản xuất hoặc đặt làm bên đó. Cứ một món hàng bán từ nhà máy sản xuất ở Trung Quốc ra trị giá một đồng thì khi sang đến Mỹ sẽ bán lẻ với giá từ 3 đến 4 đồng. Số chênh lệch đó gọi là “giá trị gia tăng,” (value-added), thuộc về các công ty mẹ và các nhà tiếp thị ở Mỹ. Họ đã đem hàng từ bên Tầu về bán cho dân tiêu thụ, kiếm lời và trả lương cho công nhân ở Mỹ, đóng thuế cho chính phủ Mỹ. Nếu món hàng không còn bán được nữa, người Trung Hoa sẽ bị thiệt một đồng, còn người Mỹ sẽ bị thiệt mất 2 đến 3 đồng! Dân Mỹ có thể chịu bị thiệt thòi như vậy khi cuộc chiến tranh thương mại xẩy ra hay không?

Do đó, không thể tin là chính phủ Mỹ sẽ sử dụng món võ khí mà Quốc Hội sẽ trao cho, là kết án Trung Quốc trợ cấp hàng xuất cảng để đánh thuế nhập cảng từ bên Tầu, gây ra một cuộc chiến tranh thương mại. Việc Hạ Viện Mỹ bỏ phiếu cho dự luật vừa qua có hậu ý chính trị nhiều hơn là kinh tế. Nói giản dị là để các dân biểu kiếm phiếu. Tại Thượng Viện, chắc sau tháng 11 mới đem dự luật này ra bàn. Lúc đó, không khí tranh cử sẽ nguội đi, các nghị sĩ sẽ bình tĩnh hơn. Dự luật này sẽ khó thông qua Thượng Viện, mặc dù hiện nay có những nghị sĩ đang đưa ra những dự luật tương tự, chưa chắc gì sẽ được biểu quyết thành luật. Tuy nhiên, dự luật được Hạ Viện Mỹ thông qua cũng sẽ có tác dụng là làm cho chính phủ Bắc Kinh phải cảm thấy dân Mỹ đang nóng lòng muốn người Trung Hoa phải hành động mạnh hơn trong vấn đề hối suất. Họ đã tham dự trò chơi đấu trí này từ 5 năm nay rồi.

Năm 2006, cũng trong một năm có bầu cử giữa nhiệm kỳ của tổng thống Mỹ, khi đó đảng Cộng Hòa đang kiểm soát Quốc Hội, cũng có những dự luật “trừng phạt” Trung Quốc về hối đoái như năm nay. Nhưng chính phủ Gorges W. Bush khi đó đã phản đối các dự luật này; vì đi ngược lại với chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hòa, là đề cao tự do thương mại toàn cầu. Phần lớn các công ty lớn ở Mỹ chống lại các biện pháp trừng phạt thương mại bằng cách tăng thuế nhập cảng. Năm nay họ cũng vẫn giữ ý kiến đó. Có 30 nhóm ký chung lá thư gửi cho bà Pelosi xin đừng thông qua dự luật. Trong đó có hội các nhà bán lẻ, hội sản xuất đậu nành, kỹ nghệ thịt, và các nhà sản xuất đang mở nhà máy bên Tầu. Nhưng năm nay Hạ Viện cứ làm dữ, trong khi chính phủ Barack Obama không tuyên bố ủng hộ hay chống đối. Chính quyền Obama cũng muốn hỗ trợ các dân biểu Dân Chủ trong mùa tranh cử rất khó khăn này. Các công đoàn, chỗ dựa của đảng Dân Chủ thì hoàn toàn ủng hộ các biện pháp “trừng phạt” Trung Quốc về hối suất. Mặt khác, khi tranh cử năm 2008, ông Obama đã hứa sẽ mạnh tay hơn khi đối đầu với Trung Quốc!

Có thể ông Obama muốn nhân cơ hội này tạo thêm áp lực khiến Bắc Kinh phải tích cực hơn trong việc nâng cao giá đồng nhân dân tệ của họ, điều mà trước đây ông Bush vẫn kêu gọi. Từ tháng 6 vừa qua, đồng Nguyên đã được thả cho tăng giá 2%, nhưng đối với người Mỹ thì chưa đủ. Tổng thống Mỹ sắp qua Nam Hàn dự hội nghị G-20; khi đó chắc vấn đề hối suất đồng Nguyên sẽ được nêu lên, và nhiều nước sẽ hỗ trợ Mỹ. Nhật Bản ngày càng tỏ ra không thân thiện với Trung Quốc. Khi Bắc Kinh bỏ tiền dự trữ ra mua một số lớn công trái của chính phủ Nhật khiến đồng Yen lên giá, Tokyo đã công khai đặt câu hỏi nghi ngờ: Các anh có ý đồ gì vậy? Tháng 1 năm tới, Chủ Tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Ðào sẽ thăm Washington. Từ nay tới đó, có thể Bắc Kinh sẽ chịu cho đồng Nguyên tăng giá thêm nữa, một cách vừa phải đủ để làm vui lòng các nhà chính trị Mỹ.

Nhưng vấn đề cán cân thương mại Mỹ mất thăng bằng cũng chỉ là một phần nhỏ trong vấn đề lớn hơn là kinh tế cả thế giới mất thăng bằng, vì chính sách lệch lạc của chính phủ Trung Quốc. Ðiều này không phải chỉ có nước Mỹ lo mà chính người Trung Hoa còn lo lắng nhiều hơn nữa. Chính ông Ôn Gia Bảo đã bày tỏ mối lo này. Trong một hội nghị kinh tế quốc tế ở Thiên Tân giữa tháng 9, ông nói: “Kinh tế Trung Quốc không thăng bằng, thiếu phối hợp, và công cuộc phát triển không vững chắc lâu dài.” Ðây là mối lo tâm phúc của giới lãnh đạo Cộng Sản Trung Hoa, nhiều nhà kinh tế đã báo động nhưng đến giờ mới có người lãnh đạo Trung Hoa công khai thú nhận.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Cựu NT Henry Kissinger: Thất bại tại Việt Nam chủ yếu là do Hoa Kỳ

Henry Kissinger

LTS: Hôm 29 tháng 9, 2010, tại cuộc hội thảo do Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ tổ chức, với chủ đề “Kinh nghiệm Hoa Kỳ tại Ðông Nam Á, 1946-1975,” cựu Ngoại Trưởng Hoa Kỳ, Henry Kissinger, đã có bài phát biểu dài, và ngay sau đó được cử tọa đặt nhiều câu hỏi liên quan đến kinh nghiệm Hoa Kỳ tại Ðông Nam Á, đặc biệt Việt Nam.

Tòa Soạn xin giới thiệu đến độc giả phần 1 của bản chuyển ngữ tiếng Việt của phát biểu này. Nguyên văn bài phát biểu tiếng Anh được đăng tải trên trang nhà của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Trong phần Diễn Ðàn tiếp theo, chúng tôi sẽ đăng phần tiếp theo của bản chuyển ngữ và các câu hỏi mà cử tọa dành cho Tiến Sĩ Kissinger.
Image
Cựu Ngoại Trưởng Mỹ Henry Kissinger. (Hình: Chip Somodevilla/Getty Images)
Rất cám ơn quý vị. Tôi phải chỉ rõ ra rằng tôi giữ một kỷ lục thật khó mà ai thắng nổi, đó là trong thời kỳ tôi vừa là ngoại trưởng vừa là cố vấn Ðặc Biệt khi các quan hệ giữa Bộ Ngoại Giao và Tòa Bạch Ốc mật thiết chưa từng thấy. (Cười)

Giờ đây, tôi sẽ dành ra khoảng 20 phút để đưa ra các nhận định và rồi trả lời các câu hỏi. Khi tôi nghe có ai đó chọn một quyển sách của tôi viết hồi năm 1958 mà rồi bị tám nhà xuất bản và bốn nhà in đại học khước từ và rồi bán được 1,400 quyển thì tôi mới thấy rõ ràng là hầu hết những người có mặt trong phòng này chưa sinh ra khi quyển sách này được xuất bản. Và (Ðặc Sứ) Dick Holbrooke hồi tối hôm qua đã cùng tôi bàn luận về thành phần được dự trù của số cử tọa ngày hôm nay, trong đó có một số người có mặt nơi đây từng trải qua các kinh nghiệm đương thời, đó là những kinh nghiệm, những đam mê, và những biến động độc đáo không thể nào xảy ra lần nữa.

Rồi còn có một nhóm cử tọa khác biết được về các kinh nghiệm đó qua ban giảng huấn tại các đại học mà có thể nói là phần lớn nằm trong phong trào phản đối chiến tranh vào thời đó và họ cũng có quan điểm của họ. Và rồi còn có một thế hệ mới mà đối với họ kinh nghiệm này đã thuộc về quá khứ xa vời. Và đêm hôm qua, khi suy nghĩ về vấn đề này, tôi bỗng nhận thức rằng đối với thế hệ già nua của tôi hồi năm 1940 thì sự sụp đổ của Pháp là một kinh nghiệm choáng ngợp, nhất là đối với những người từng sống dưới chế độ Ðức Quốc Xã.
Image
Một đơn vị quân đội Mỹ chuẩn bị rút khỏi miền Nam Việt Nam, 1969. (Hình: STF/AFP/Getty Images)

Nhưng thật sự thì cuộc Chiến Tranh Việt Nam đã quay trở lại với chúng ta cũng xa xưa như là năm 1940 đối với hồi năm 1900 vậy. Ðối với tôi, 1900 chỉ là một thời điểm có liên hệ hết sức nhỏ trong các kinh nghiệm của tôi. Vì thế, tôi nghĩ điều tôi có thể làm là trình bày với quý vị về cách thế nào mà tôi lại liên lụy tới kinh nghiệm (về cuộc chiến) đó, sự liên lụy này có nghĩa gì đối vớ thế hệ của tôi, và rồi sau đó quý vị đặt câu hỏi với tôi về bất cứ đề tài nào mà quý vị nghĩ ra.

Trước hết, quý vị phải hiểu một sự kiện cá nhân của tôi. Tôi từng giữ chức vụ rất đặc biệt là Cố Vấn An Ninh. Chức vụ này cũng có thể có trong thời buổi này. Tôi chưa hề gặp Rchard Nixon khi ông ấy bổ nhiệm tôi. Và tôi đã dành trọn 12 năm trong đời để cố giữ cho ông ấy khỏi trở thành tổng thống. (Cười) Tôi đã là cố vấn chính yếu về chính sách ngoại giao của Nelson Rockefeller. Vì thế, khi tôi đọc một số sách viết về chuyện tôi đã âm mưu tỉ mỉ như thế nào để tiến đến chức vụ kia thì tôi vẫn nghĩ điều quan trọng là người ta phải nhớ rằng tôi từng là một người bạn thân thiết của Nelson Rockefeller, và thực ra thì tôi đã quen biết Hubert Humphrey nhiều hơn. Như thế đó, tôi không biết gì hết về Richard Nixon.

Vì vậy, đây quả là một cuộc phiêu lưu trí thức, một cuộc phiêu lưu có tầm vóc quốc gia để làm sao đối phó với vấn đề này. Ngoài ra, như hầu hết quý vị biết, tôi từng làm làm việc một năm tại Tòa Bạch Ốc dưới thời Kennedy trong giai đoạn có cuộc khủng hoảng Bá Linh, tức là không dính líu gì tới vấn đề Việt Nam mà tới vấn đề Bá Linh. Kết quả của sự thể này là các nhân vật then chốt trong chính phủ trước kia là những nhân vật mà tôi đã biết rồi. Họ đều là bạn của tôi. Tôi tôn trọng họ. Tôi hết sức cảm phục tinh thần ái quốc của (Ngoại Trưởng) Dean Rusk và cách hành xử của ông trong chức vụ của mình. Tôi từng chứng kiến nỗi vật vã của nhiều người khi phải đối phó với vấn đề Việt Nam.

Vì thế, đối với cá nhân tôi, các cuộc tranh cãi tiếp diễn sau đó mang tính cách hết sức đau thương, và tôi chưa bao giờ nghĩ đến tính chất của một cuộc nội chiến trong các cuộc tranh cãi đó như từng xảy ra sau này. Ðối với tôi, tôi biết lý do tại sao thế hệ trước của tôi bước vào cuộc Chiến Tranh Việt Nam. Tôi đồng ý với một số quan điểm của người này; và cũng không đồng ý với các quan điểm của những người kia. Nhưng tôi không nghĩ đây là vấn đề đạo đức gây chia rẽ trong chúng ta. Thực sự, tôi bị tổn hại vì niềm tin sai lạc rằng tôi tham gia chính phủ để có thể góp sức tập hợp các quan điểm khác biệt lại với nhau.

Ðối với tôi, thảm kịch của cuộc Chiến Tranh Việt Nam không phải là vì có những mối bất đồng. Ðiều này không thể nào tránh được trước cái phức tạp của vấn đề. Nhưng đó là sự thể niềm tin cậy lẫn nhau của người Mỹ đã bị hủy diệt trong tiến trình của cuộc chiến. Ðây là lần đầu tiên Hoa Kỳ kinh qua những giới hạn của nền ngoại giao, và đây quả là điều đau thương khi mình phải chấp nhận sự thể đó.

Vì vậy, những gì mà lẽ ra có thể là một sự phê bình tự nhiên các quyết định của chính quyền - mà ai cũng có thể tranh luận từ vị thế của mình - thì lại chuyển hóa thành một vấn đề đạo đức, trước hết là nền ngoại giao của Hoa Kỳ có đủ đạo đức hay không, và kế đến là Hoa Kỳ có đủ đạo đức hay không khi điều hành bất cứ chính sách ngoại giao truyền thống nào. Ðó chính là tấn thảm kịch.

Tuyệt đối tôi không hề dựng lại chủ đề này. Tôi tin rằng hầu hết những gì từng trở nên sai lầm tại Việt Nam là do chính chúng ta tự gây ra. Và trong khi tôi ủng hộ chính sách lúc đó của chính phủ Nixon liên quan tới Việt Nam, trong khi tôi cũng vui sướng nhìn thấy các đại diện của Việt Nam có mặt tại đó, ngày nay tôi nghĩ sao thì lúc đó tôi vẫn nghĩ vậy. Rất có thể là tôi vẫn ưa thích một kết quả khác của cuộc chiến, ít nhất cũng là một kết quả khác không liên hệ một cách riêng tư tới cách thế chúng ta từng dằn xé nhau như vậy. Và quý vị phải hiểu rằng đây là quan điểm của tôi vào lúc đó cũng như bây giờ.

Quan điểm của tôi là như thế, bởi vì mới đây tôi có đọc một quyển sách được xuất bản tại Hà Nội về các cuộc thương thuyết của tôi với Lê Ðức Thọ mà tôi phải nói rằng chính xác tới 98 phần trăm. Và chỗ nào không chính xác thì không phải là thiết yếu cho chính đề. Nhưng nó cũng còn đúng cả trong hai phần trăm còn lại nữa, và chuyện đó chỉ đơn giản là vì vấn đề quan điểm mà thôi. Và những gì viết trong quyển sách đó đã khơi dậy lại một vấn đề - một lần nữa, khơi dậy lại vấn đề là có một sự khác biệt căn bản: Hoa Kỳ muốn thỏa hiệp trong khi Hà Nội thì muốn chiến thắng.

Ðối với tôi, một trong những điều lý thú nếu ông ấy (Ðại Sứ Brynn, người điều hành cuộc hội thảo) cho phép tôi nói, đó là chuyện tôi phải ngày ngày đối phó với Lê Ðức Thọ, một người coi như cáo già quá mức. Tôi muốn nói rằng ông ta mổ xẻ chúng tôi như là một nhà giải phẫu, sử dụng con dao mổ một cách hết sức tinh xảo, mà lúc nào cũng tỏ ra lịch sự. Nhưng theo quyển sách đó thì thỉnh thoảng ông ta cũng còn được Hà Nội nhắc nhở để nhớ rằng sẽ không thể có thương thuyết nếu như không có thay sự thay đổi cục diện trên chiến trường. Và mục tiêu của ông ta chính là làm sao đưa chúng tôi tới chỗ đó. Tôi nói tới đều này với lòng hết sức tôn trọng ông ta. Ðiều này thì cũng có thể hiểu được thôi. Người Việt Nam (cộng sản) đã chiến đấu suốt 50 năm không phải để thỏa hiệp nhưng là để thống nhất đất nước. Mục tiêu khách quan của Hoa Kỳ là duy trì một Miền Nam Việt Nam có thể sống còn được và sẽ được trao cho cơ hội phát triển bản sắc riêng của mình, và đó chính là mục tiêu mà chúng tôi quan tâm mỗi ngày. Ðó chính là thực tế của đời sống.

Trong tất cả mọi cuộc tranh luận diễn ra về chuyện chúng ta đã làm gì và đã không làm gì trong các cuộc thương thuyết, những gì thêm nữa mà lẽ ra chúng ta đã phải đưa ra và những gì mà lẽ ra chúng ta phải rút bớt lại, thực sự đã có một vấn đề không giải quyết được, đó là: Liệu miền Nam Việt Nam có quyền có bản sắc chính trị riêng của họ hay không, liệu họ có được phép phát triển các cơ chế riêng của họ hay không, hay là ngay từ đầu người ta đã định rằng mục tiêu phải đạt chính là thống nhất đất nước. Tất cả những đề nghị được hai bên sôi nổi tranh luận - một cuộc ngưng bắn và những hệ lụy của nó - thì những đề nghị đó, bằng cách này hay cách khác, đều được giải quyết hết sức mau lẹ. Chỉ có một điều không giải quyết được là liệu chính phủ hiện hữu tại miền Nam Việt Nam có thể sống còn được hay không, có thể được phép tồn tại hay không. Một khi vấn đề này được thỏa thuận rồi thì chúng tôi giải quyết mọi sự rất nhanh. Một số người có mặt trong phòng hôm nay còn nghĩ là qua sức nhanh nữa. Mà rồi tôi sẽ vui sướng được trả lời những câu hỏi về vấn đề này cùng những đề tài liên hệ. Nhưng đó chính là vấn đề cần phải được mọi người thông suốt.

Một lần nữa, khi chính phủ Nixon lên cầm quyền, tình thế ra sao? Cuộc chiến (tại Việt Nam) đã diễn tiến bao lâu rồi thì cũng còn tùy ở cách quý vị tính toán thời điểm, tức là tính từ thời Truman hay thời Kennedy hay từ giai đoạn mà chúng ta gởi quân chiến đấu đến đó. Nếu vậy thì chúng ta có thể có những mốc thời gian khởi đầu cuộc chiến khác nhau, cách biệt nhau từ bốn năm cho tới 15 năm.

Vào thời điểm đó, đã có 550,000 - hay chính xác hơn là 536,000 - binh sĩ Mỹ tại Việt Nam. Vào năm 1968, nửa sau của năm '68, số thương vong (của Hoa Kỳ) là khoảng 400 người một tuần. Và Cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân đã xảy ra vào đầu năm '68. Hầu hết mọi người giờ đây đều coi đó là một chiến thắng quân sự của Hoa Kỳ, nhưng lại là một thất bại về mặt tâm lý vào lúc đó là lúc người ta cũng không coi nó là một chiến thắng quân sự nữa. Nhưng cuộc tổng tấn công này đã chứng tỏ rằng (Hoa Kỳ) không thể thắng được cuộc chiến tranh. Chưa có thương thuyết - vì cuộc thương thuyết mới chỉ bắt đầu. Lập trường chính thức của Hoa Kỳ là cả đôi bên cùng nhau rút quân trong đó cuộc rút quân của chúng ta sẽ tiếp theo sau cuộc rút quân của Cộng Sản Bắc Việt. Và chính phủ vừa ra đi lúc đó đã để lại hồ sơ do (các Ðặc Sứ) Harriman và Vance viết, nói rằng sau cuộc dàn xếp hòa bình thì vẫn còn cần tới 260,000 quân Mỹ ở lại (Nam) Việt Nam.

Tôi muốn giải thích về chiến lược chính của chúng ta, tức là những gì chúng ta cố thực hiện. Lúc ấy có hai trường phái tư duy mà trong đó thật sự chỉ có một trường phái là được cứu xét nghiêm chỉnh mà thôi. Quan điểm cá nhân của tôi là chúng ta phải thực hiện một đề nghị hòa bình rộng khắp và toàn vẹn. Và nếu đề nghị đó bị bác bỏ thì chúng ta hãy gia tăng các hoạt động quân sự để coi chúng ta có thể đạt tới đâu. Ðề nghị này đi xa tới mức yêu cầu cựu Ðặc Sứ Vance đi Moscow để cùng phía (Cộng Sản) Việt Nam thương thuyết tại đó. Và chúng ta đã đưa cho Liên Xô một đề nghị đi xa hơn tất cả các đề nghị vào thời điểm đó. Ðề nghị này đã không bao giờ được trả lời. Người Nga không hề trả lời và phía (Cộng Sản) Việt Nam cũng không hề trả lời.

Thế rồi chúng ta cứ nấn ná nghiên cứu việc gia tăng hoạt động quân sự khiến cho báo chí cứ lấy đó làm đề tài mà điều tra. Nhưng quyết định sau cùng được đưa ra là chúng ta sẽ rút quân từ từ, đồng thời vẫn thương thuyết, với hy vọng đạt tới chỗ Hà Nội sẽ tán thành đề nghị chính trị căn bản của chúng ta. Tôi không muốn đề cập tới tất cả các bước đã thực hiện. Và rồi trong một khoảng thời gian là bốn năm chúng ta đã thực sự đạt mục tiêu ấy.

Một trong các phụ tá của tôi là Winston Lord. Và trong thời gian có cuộc tiến đánh Căm Bốt ông này muốn từ chức. Tôi có nói với ông: “Ðược rồi, ông có thể từ chức và giương biểu ngữ biểu tình bên ngoài tòa nhà này (Bộ Ngoại Giao) hoặc là ông có thể giúp tôi chấm dứt trận chiến đó. Và rồi 20 năm sau thế nào ông cũng phải tự hỏi ông có thể cảm thấy tình thế sẽ tốt đẹp hơn hay không.” Thế là ông ấy ở lại. Và đôi khi có người hỏi tôi rằng giây phút cảm động nhất của tôi trong giai đoạn tham chính là lúc nào thì tôi có thể thưa với quý vị rằng thực ra đó là lúc Lê Ðức Thọ, vào tháng 10 năm 1972, chấp nhận các đề nghị mà chúng tôi đã đưa ra hồi tháng 1 về cấu trúc của chính quyền đó (tại miền Nam Việt Nam). Trên thực tế, chính ông ấy đã đọc một bản tuyên bố nói rằng “sau cùng thì đây cũng chính là những gì mà ông đã đề nghị.” Và khi ông nói xong, tôi đã bắt tay với Ông Winston và nói: “Ðó, chúng ta đã thực hiện được việc này.” Nhưng hóa ra là chúng tôi đã không làm được việc đó vì nhiều ý do. Khách quan mà nói, có thể rằng việc đó không bao giờ có thể đạt được, mặc dù tôi vẫn không nhìn nhận sự thể như vậy. Dẫu sao, những con người có suy nghĩ hợp lý có thể lập luận như thế.

Trên căn bản, đó chính là sự kết hợp cả hai vụ Watergate và tình trạng chia rẽ trong nội bộ đất nước chúng ta - sự kết hợp giữa vụ Watergate và chia rẽ nội bộ khiến viện trợ cho (Nam) Việt Nam bị cắt đến hai phần ba giữa lúc giá dầu đang tăng cao - đã ngăn cấm mọi trợ giúp quân sự cho (Nam) Việt Nam, điều mà chúng ta không yêu cầu các đồng minh của mình nên làm vào bất cứ lúc nào. Ðó là cảm tưởng của tôi về những gì đã xảy ra.
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Tại sao phải lo về Trung Quốc?

Ngô Nhân Dụng

Giới trí thức đang lo rừng Việt Nam bị đem nhường cho người Trung Hoa khai thác hàng 50 năm; biển Việt Nam bị người Trung Hoa chiếm; nhiều người tìm cách ngăn cản không cho các công ty Trung Quốc mang người vào khai thác bô xít (bausite) làm nguy hại môi trường sống, biến các cư xá công nhân thành những làng tự trị sống ngoài luật pháp nước Việt Nam.

Giới văn nghệ xôn xao về một cuốn phim Lý Công Uẩn “made in China!” Người Việt Nam nào cũng đau lòng khi nhân vụ Trung Quốc phản đối Nhật Bản bắt giữ một thuyền trưởng người Trung Hoa, báo chí nhắc cho các nước chung quanh biết chuyện Hải Quân Trung Quốc bắt ngư dân ngay trong hải phận nước Việt đưa về giam giữ ngay ở Hoàng Sa (mà họ đã chiếm của nước Việt Nam từ năm 1974), rồi đòi tiền chuộc. Nhiều người Việt còn lo nếu sang năm đại hội của đảng Cộng Sản bầu lên nhiều người có tinh thần độc lập đối với Trung Quốc thì không biết liệu họ có đánh nước mình hay không! Hay là họ sẽ xếp đặt trước cho chuyện đó không thể xẩy ra, để họ khỏi phải đánh mà vẫn thắng!

Từ hai ngàn năm nay, người Việt vẫn lo tự vệ trước sức mạnh bành trướng của người Hán. Nhưng chưa bao giờ mối lo đó lại đè nặng trên tâm tư người Việt như vậy. Mối lo càng lớn hơn vì Trung Quốc đang nỗ lực thay đổi để trở thành một cường quốc kinh tế đứng hạng nhì thế giới, mà trong một thế hệ nữa, Tổng sản lượng nội địa của một tỷ dân Trung Hoa sẽ vượt qua Hoa Kỳ để đứng hạng nhất. Trước viễn ảnh đó người Việt Nam nào không lo lắng?

Nhưng khi nhìn sang những nước chung quanh chúng ta phải tự hỏi tại sao các quốc gia khác trong vùng Á Ðông họ cũng lo về Trung Quốc nhưng không ai hoảng hốt lo sợ như nước mình? Hàn Quốc và Ðài Loan nằm sát bên Trung Quốc, như những con mèo nằm bên cạnh con cọp. Những quốc gia nhỏ khác trong vùng như Phi Luật Tân, Mã Lai Á, Indonesia, nhỏ bé đến như Singapore, họ đều ý thức về vai trò đang lên của Trung Quốc và biết họ phải làm gì; nhưng trong dư luận dân chúng họ vẫn bình tịnh không hoảng hốt trước sự bành trướng của cường quốc Trung Hoa như người Việt mình. Tại sao vậy?

Hãy nhìn vào hai nước Á Ðông láng giềng của Trung Quốc, gần không khác gì Việt Nam mà lại nhỏ hơn Việt Nam. Hàn Quốc đến giờ vẫn còn bị chia đôi. Nước họ đã từng bị đế quốc Trung Hoa đặt làm An Ðông Ðô Hộ Phủ vào thời gian mà nhà Ðường gọi nước ta là An Nam, bây giờ trong nước họ không ai báo động nhau về sự bành trướng của Hán tộc một cách hoảng hốt như người Việt! Tại sao Ðài Loan, hòn đảo vẫn bị coi là một tỉnh của Trung Quốc, họ không lo bị Trung Quốc lấn áp hay xâm chiếm mà còn mở rộng giao thương, trao đổi văn hóa, và mua thêm vũ khí của Mỹ để củng cố sức mạnh quân sự mặc dù bị Bắc Kinh công khai phản đối? Nước Việt Nam khác hai nước trên ở những điểm nào mà dân họ bình tĩnh, tự tin, còn dân mình thì lo sợ đến thế? Trả lời được câu hỏi này là biết được người Việt Nam phải làm gì để đứng vững trước mối đe dọa về sự bành trướng của Trung Quốc trong thế kỷ 21.

Lý do thứ nhất là kinh tế. Ðài Loan và Nam Hàn đang là những cường quốc kinh tế trong khu vực Á Ðông. Sản lượng bình quân ở Nam Hàn trên 24,000 đô la một đầu người, Ðài Loan trên 30,000 đô la, còn Trung Quốc chỉ có hơn 5,000 (Việt Nam bằng một nửa Trung Quốc, và đây là lối tính PPP, dựa theo mãi lực tương đối của người dân chứ không theo lối chỉ tính bằng đô la Mỹ). Dù tới khi tổng sản lượng nội địa của Trung Quốc tăng gấp ba lớn bằng GDP của Mỹ thì một người dân trung bình ở nước Ðại Hán vẫn còn nghèo, chưa bằng một phần ba người dân hai nước nhỏ láng giềng. Dân giầu thì nước mạnh, nhất là trong thời “thế giới hậu cộng sản” và kinh tế toàn cầu hóa bây giờ.

Sau khi chiến tranh lạnh đã chấm dứt, những quốc gia nhỏ không phải mang mối lo bị một cường quốc nào xâm chiếm nữa. Mỹ không có tham vọng chiếm đóng Iraq lâu dài cũng như Nga không dám đem quân vào các nước Georgia và Ukraine trước kia từng thuộc lãnh thổ Liên Xô. Trung Quốc dù có tăng sức mạnh quân sự gấp trăm lần cũng vẫn chưa đuổi kịp Mỹ; mà từ năm 1950 họ vẫn chưa dám đem quân sang đánh các hòn đảo Kim Môn và Mã Tổ, những đảo này gần bờ biển Phc Kiến hơn gần Ðài Loan, thì bây giờ họ càng phải dè dặt hơn.

Tuy Việt Nam và Trung Quốc vẫn còn do những đảng tự gọi là cộng sản cai trị, nhưng chúng ta thực sự đang sống trong một “thế giới hậu cộng sản” vì chủ nghĩa cộng sản đã bị vứt bỏ từ hai chục năm nay rồi, mặc dù ngoài miệng họ vẫn “mạo xưng” họ là cộng sản.

Nhưng trong “thế giới hậu cộng sản” này nền kinh tế của tất cả các nước đều liên hệ đến nhau. Tất cả các cường quốc đều muốn duy trì một tình trạng ổn định. Ðể yên tâm làm ăn. Mục tiêu của các quốc gia là nâng cao mức sống của người dân chứ không phải là thực hiện một chủ nghĩa hay một lý thuyết nào. Không hề có một “chủ nghĩa tư bản” như người cộng sản thường hô hoán. Kinh tế tư bản là một cách tổ chức xã hội cạnh tranh để sinh tồn theo luật tự nhiên; mà cơ cấu tổ chức tư bản đó sẵn sàng biến hóa theo nhu cầu từng giai đoạn, cũng là một luật tiến hóa tự nhiên. Sức mạnh của một quốc gia nằm trong lãnh vực kinh tế: Mạnh vì gạo, bạo vì tiền.

Nhưng các quốc gia, đặc biệt là các cường quốc về quân sự cũng như kinh tế, không ai muốn thế quân bình hiện có bị xáo trộn. Không một cường quốc nào sẵn lòng đi giúp một nước này chống nước khác nếu không phải vì muốn bảo vệ thế quân bình tương đối ổn định đó. Ý nghĩ kết thân với một nước này để chống lại nước khác hoàn toàn dựa trên địa lý chính trị là một ảo tưởng. Trái đất đã “bằng phẳng” hơn, núi, sông, biển cả không còn quyết định các mối tương quan quốc tế như trong thế kỷ trước nữa. Chiến tranh lạnh đã chấm dứt, mỗi cường quốc kinh tế chỉ lo bảo vệ quyền lợi của họ và họ biết các quốc gia khác cũng như vậy. Các quốc gia liên kết với nhau, chính yếu là qua những hiệp ước thương mại chứ không phải qua những liên minh quân sự như 50 năm trước nữa. Ý tưởng liên kết với một nước khác qua một chủ nghĩa, vì cùng một chế độ, một mô hình tổ chức xã hội, là một ý tưởng lạc hậu và nguy hiểm cho chính bản thân nước mình.

Các nước như Ðài Loan, Nam Hàn cũng lo lắng trước sự bành trướng quân sự và kinh tế của Trung Quốc; nhưng trong dân chúng họ không hoảng hốt lo âu như ở Việt Nam hiện nay. Lý do vì họ đã đi trước lục địa Trung Hoa trên con đường tư bản hóa; dân họ giầu có hơn, lại nhờ chế độ tự do ngôn luận người dân được thông tin đầy đủ nên hiểu biết hơn, vì thế họ vững tâm hơn.

Nhưng một sức mạnh không thể chối cãi được là ở các nước trên dân chúng và chính quyền đều đồng ý với nhau phải làm sao cho dân giầu, nước mạnh thì mới đứng vững được trong cuộc chạy đua với hơn một tỷ người Trung Hoa. Và họ biết phải làm gì để dân giầu, nước mạnh. Chế độ tự do dn chủ giúp cho cả nước một lòng.

Dân chúng các nước này có “đồng thuận” với nhau không? Có thể trả lời ngay là không! Chính sách tăng cường giao thương với Trung Quốc của chính phủ Quốc Dân Ðảng ở Ðài Loan đang bị đảng đối lập và báo chí tự do chỉ trích. Phe đối lập nêu rất nhiều lý do khác nhau, nhưng đó là những lý do thực tế chứ không dựa vào chủ nghĩa nào cả. Tại Nam Hàn mỗi lần thay đổi tổng thống là lại xác định một chính sách mới đối với Bình Nhưỡng cũng như Bắc Kinh. Nam Hàn nhỏ như vậy, dân số ít hơn nước Việt Nam mình, nhưng họ dám cho hải quân thao dượt chung với Mỹ ngay trong Hoàng Hải kề cận nước Trung Hoa; mặc dù Bắc Kinh ồn ào phản đối. Nhưng ngay trong nước họ,người Nam Hàn cũng cãi nhau về chính sách đối với Bắc Hàn.

Trong xã hội dân chủ chỉ cần mọi người cùng theo những luật chơi minh bạch, công khai để quyết định những chính sách chung. Chính nhờ những luật chơi dân chủ mà một khi chính sách quốc gia đã được đa số dùng lá phiếu để lựa chọn rồi, cả nước trên dưới một lòng. Mặc dù lúc nào cũng vẫn có người vẫn không đồng ý và tiếp tục tìm cách chinh phục đa số theo ý kiến của mình.

Chính chế độ tự do dân chủ đã gây nên sức mạnh của Hàn Quốc và Ðài Loan. Các đảng chính trị ở hai nước đó vẫn “đấu đá” nhau thẳng tay để giành quyền lãnh đạo, nhưng các quyền tự do căn bản của người dân được tôn trọng và người dân nắm quyền lựa chọn tối hậu. Trong nước họ cũng có những người lợi dụng quyền thế làm tiền; cũng có những nhà kinh doanh tìm cách hối lộ cho được việc; nhưng nhờ báo chí tự do và bầu cử tự do cho nên trong xã hội có cả một mạng lưới ngăn ngừa tham nhũng tự nhiên. Ðiều đáng kể nhất là xã hội công dân ở các nước trên đã phát triển rất mạnh nhờ các công dân đều được tự do lập hội, từ những hội từ thiện, thể thao, nghệ thuật, giải trí,cho tới đảng chính trị. Mỗi nhóm công dân có những nhu cầu và quyền lợi riêng được tự do hoạt động và phát triển mà không bị guồng máy nhà nước ngăn cản. Năm ngoái khi Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đến thăm Ðài Loan do lời mời của các Phật tử để cầu nguyện cho các nạn nhân bị bão, Bắc Kinh đã kịch liệt đả kích cuộc thăm viếng này. Chính phủ Quốc Dân Ðảng ở Ðài Loan cũng tỏ ý chống, vì không muốn làm mất lòng chính quyền cộng sản lục địa trong lúc đang bàn chuyện buôn bán làm ăn. Nhưng chính quyền Ðài Bắc vẫn phải chịu thua dân, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma được mời thì cứ tới. Chỉ trong một nước tự do người ta mới thể hiện được đủ các quyền công dân như vậy. Và năm nay Trung Quốc với Ðài Loan vẫn ký một hiệp ước thương mại mở thêm rất nhiều cửa cho các công ty Ðài Loan bán hàng vào lục địa!

Ðối với nước Việt Nam ta, điều đáng lo lắng nhất không phải là Trung Quốc tiến lên địa vị mạnh hơn ở Á Châu và trên thế giới. Ðiều đáng lo nhất là nước Việt Nam đã chậm tiến lại càng ngày càng bị bỏ lại phía sau, trong khi bên Trung Quốc người ta tiến nhanh hơn về kinh tế và trong khi các nước khác trong vùng Á Ðông tiếp tục tiến bộ cả về chính trị và kinh tế. Người Việt Nam phải làm gì để đứng vững trước mối đe dọa về sự bành trướng của Trung Quốc trong thế kỷ 21? Muốn giảm bớt mối lo người Việt chỉ còn cách phải thay đổi cả về chính trị lẫn kinh tế để theo kịp Nam Hàn và Ðài Loan! Khi nào nhà nước cộng sản trả lại các quyền tự do cho dân, người dân Việt được làm ăn tự do hơn và được góp ý kiến tự do hơn vào việc nước, thì mới hy vọng sẽ dần dần giảm bớt mối lo!

Chính quyền cộng sản ở Việt Nam hiện nay đang đẩy lùi cả nước đi ngược dòng tiến hóa khi họ đang lo bắt bớ những bloggers, cấm đoán dân phát biểu ý kiến khác với đảng. Khi các chuyên gia và giới trí thức, đa số sống ở Hà Nội dưới chế độ cộng sản nửa thế kỷ nay cũng phải tự giải tán một tổ chức khoa học chỉ nhằm mục đích nghiên cứu phát triển và bảo vệ môi trường thì các công dân khác làm sao góp phần xây dựng quốc gia? Cuộc đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long lại được khai mạc vào đúng ngày Quốc Khánh Trung Cộng, khi mà ai cũng biết vua Lý Thái Tổ dời đô vào Tháng Bẩy âm lịch! Bao nhiêu người thắc mắc mà chính quyền không thèm giải thích tại sao họ lại chọn ngày đó!

Với một chính quyền lạc hậu và coi thường ý dân như thế, dân tộc ta không lo lắng sao được? Cứ để cho một nhóm tham nhũng và bất lực tiếp tục cầm đầu, nắm cổ mọi người mãi hay sao?
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »


Image

Dư luận Trung Quốc xôn xao về 'Hiện Tượng Ôn Gia Bảo'
VOA - Trong thời gian gần đây nhiều người ở Trung Quốc và các nhà quan sát tình hình Á châu đã xôn xao bàn tán về điều được gọi là “hiện tượng Ôn Gia Bảo”, sau khi vị Thủ tướng của Trung Quốc liên tiếp đưa ra những phát biểu hô hào cho dân chủ, tự do và kêu gọi giới lãnh đạo Đảng Cộng Sản Trung Quốc nhanh chóng tiến hành cải cách chính trị.

Trong cuộc phỏng vấn được đài truyền hình CNN trình chiếu hôm chủ nhật mồng 3 tháng 10 vừa qua, ông Ôn Gia Bảo tuyên bố rằng “nguyện vọng và đòi hỏi của dân chúng về dân chủ, tự do là một sức mạnh không thể kháng cự.” Ông cũng nói với phái viên Fareed Zakaria của CNN rằng Đảng Cộng Sản Trung Quốc cần phải hành động theo đúng hiến pháp và pháp luật, chứ không thể đứng trên hiến pháp và pháp luật như trong thời kỳ còn là một đảng cách mạng đang đấu tranh để giành chính quyền.

Theo các nhà quan sát, đây là lần thứ 7 trong vòng chưa đầy 2 tháng mà nhà lãnh đạo được tiếng gần gũi với dân chúng công khai đề cập tới nhu cầu cải cách chính trị. Trước đó, vào ngày 22 tháng 8, vị thủ tướng của Trung Quốc cũng tuyên bố ở thành phố Thẩm Quyến nhân dịp kỷ niệm 30 năm đổi mới kinh tế rằng chính quyền cần phải tạo điều kiện để người dân có thể giám sát và phê phán những hoạt động chính phủ và giải quyết điều mà ông gọi là “sự tập trung quá độ của những quyền lực không hạn chế.” Ông nói thêm rằng nếu không có sự bảo đảm của cải cách thể chế chính trị, những thành quả của cải cách kinh tế có thể bị mất đi.
Những tuyên bố của ông Ôn Gia Bảo đã gây xôn xao trong giới quan sát chính trị ở Trung Quốc. Ông Dương Kế Thằng, chủ biên tờ “Viêm Hoàng Xuân Thu” – một tạp chí chính trị nổi tiếng ở Trung Quốc, cho biết như sau:
"Đây là hành vi cá nhân hay là hành vi tập thể? Ông ấy nói như vậy mà có báo trước với các nhà lãnh đạo khác hay không? Hàng ngũ lãnh đạo có đạt được đồng thuận về vấn đề này hay không? Tất cả những nghi vấn đó đều chưa có lời giải đáp. Mọi người chỉ có thể suy đoán mà thôi. Vì vậy hiện tượng Ôn Gia Bảo hiện giờ vẫn là một điều bí ẩn."

Tường thuật hôm thứ hai của tờ The Guardian ở Anh trích lời Giáo sư Edward Friedman, một chuyên gia về chính trị Trung Quốc của Đại học Wisconsin-Madison, nói rằng hiện giờ nhiều người Trung Quốc tán thành các ý kiến mà ông Ôn Gia Bảo đưa ra cũng chưa biết rõ là ông tham gia cuộc đấu tranh chính trị này vì quyền lợi của người dân hay chỉ vì muốn khẳng định vị trí của ông trong lịch sử.
Trong cuộc phỏng vấn trên đài CNN, Thủ tướng Ôn Gia Bảo khẳng định rằng tự do ngôn luận là một quyền không thiếu ở tất cả mọi nước, bất kể là nước đang phát triển hay đã phát triển, nước nghèo hay nước giàu. Tuy nhiên ông cũng viện dẫn vấn đề “trật tự” để tự bào chữa đối với những lời chỉ trích cho rằng ông đã làm ngơ trước những hành động chà đạp tự do ngôn luận của chính phủ Trung Quốc.
Mặc dù vậy, ông Phạm Á Phong, một nhà nghiên cứu luật học ở Bắc Kinh, cho rằng phát biểu của ông Ôn Gia Bảo về tự do ngôn luận là một diễn tiến tích cực cho phong trào dân chủ Trung Quốc. Ông nói:
"Tự do ngôn luận, tự do lập đảng, và tự do bầu cử là 3 mắc xích then chốt của cải cách thể chế chính trị. Hiện nay sức mạnh tổng thể cho sự thay đổi hiến chính ở Trung Quốc đang tích lũy và cô đọng. Một cao trào thay đổi hiện đang trong vòng âm ỉ. Trong lúc chờ đợi sự bùng phát của cao trào, những phát biểu liên tục, bền bỉ và tương đối sáng suốt của ông Ôn Gia Bảo có một ý nghĩa tích cực và có ích cho việc gầy dựng một ý thức và quan niệm rõ ràng về cải cách chính trị."

Ông Chương Lập Phàm là một nhà chính trị học nổi tiếng Trung Quốc. Ông tán đồng nhận định vừa kể và cho biết ông ủng hộ ông Ôn Gia Bảo hơn những nhà lãnh đạo khác ở Trung Nam hải:
"Ông ấy đã có thể minh xác niềm tin chính trị của mình, có thể trình bày một cách hoàn chỉnh về những gì mà ông tin tưởng. Nói cho cùng thì làm được như vậy vẫn tốt hơn là không làm hay chống lại những người hô hào cải cách. Như quí vị đã thấy, sau khi ông Ôn Gia Bảo đưa ra những phát biểu ở Thâm Quyến, một số thế lực đã phát động một chiến dịch mới để công kích ông ấy. Tôi nghĩ rằng so với những người khác thì ông ấy tốt hơn cho nên tôi ủng hộ ông ấy."
Ông Chương Lập Phàm cho biết việc ông Ôn Gia Bảo nói rằng Đảng Cộng Sản Trung Quốc cần phải hành động theo đúng hiến pháp và pháp luật thật ra là một chủ trương đã được đưa ra tại Đại hội Đảng lần thứ 13 vào năm 1987. Ông Chương nói thêm rằng việc quay lại với đường lối của Đại hội 13 là cách duy nhất để cữu vãn vị thế chính trị của đảng Cộng Sản Trung Quốc, nhưng việc này gặp phải những sức cản rất lớn:
"Mặc dù các nhân vật lãnh đạo đảng nhận thức được là đã tới lúc phải quay lại với thể chế cai trị theo hiến pháp, nhưng việc này có thể gặp phải những trở lực vô cùng to lớn. Như quí vị đã biết, hơn 20 năm đã trôi qua. Đã trễ nãi nhiều lắm rồi. Những nhóm đặc quyền đặc lợi đã hình thành một mạng lưới rất chặt chẽ rồi."

Ông Trần Vĩnh Miêu, một học giả và là một nhân vật bất đồng chính kiến ở Trung Quốc, cũng cho rằng sức cản đối với nỗ lực cải cách chính trị hiện nay rất lớn. Tường thuật hôm mồng 4 tháng 10 của tờ The Guardian ở Anh trích lời ông Trần Vĩnh Miêu nói rằng ông Ôn Gia Bảo chỉ còn nắm quyền được hai năm nữa; cho nên dù ông ấy có thật sự muốn cải cách đi nữa thì cũng không thể đạt được mục tiêu. Ông Trần nói thêm rằng việc thực hiện cải cách chính trị ở Trung Quốc cần tới một nhà lãnh đạo thật sự có nhiều thế lực, như Mao Trạch Đông hay Đặng Tiểu Bình, để đương cự và đánh bại guồng máy thư lại do quá nhiều người tạo nên. Ông Trần Vĩnh Miêu nhận định như sau trong cuộc phỏng vấn mới đây dành cho đài VOA:
"Nếu ông Ôn Gia Bảo không có hành động có thực chất nào thì những tuyên bố của ông ấy chỉ có thể được xem là một sự trình bày ý kiến dựa theo lương tâm của mình, hay thậm chí chỉ là một sự tuyên truyền hay một trò tung hỏa mù mà thôi. Việc suy đoán động cơ của ông Ôn Gia Bảo thật ra là không cần thiết. Bởi vì bất kể là động cơ của ông ta là gì thì rốt cuộc ông ta cũng gặp thất bại trước sức mạnh mà thể chế độc tài và guồng máy cai trị chuyên chính đã tích lũy ở Trung Quốc trong hơn 60 năm qua."

Nhà nghiên cứu luật học Phạm Á Phong không bi quan như vậy, nhưng ông nói rằng điều mà Trung Quốc cần có hiện nay là một cuộc cách mạng chính trị chứ không phải chỉ sửa đổi như ông Ôn Gia Bảo hô hào:
"Điều mà thể chế hiện nay cần có là một sự thay đổi lớn về các nguyên tắc, chứ không phải chỉ là những sự sửa đổi lẻ tẻ, vụn vặt. Điều này có nghĩa là những nguyên tắc từ trước tới nay của chính thể độc tài toàn trị, như những nguyên tắc của thời Mao Trạch Đông, cần phải được thay thể bởi những nguyên tắc dân chủ pháp trị. Xét theo khía cạnh này thì điều mà chúng ta cần có là một cuộc cách mạng chính trị chứ không phải là cải cách chính trị."

Hôm thứ 6 (08-10-2010), với việc Ủy ban Nobel Hòa bình Na Uy loan báo quyết định trao giải Nobel năm nay cho ông Lưu Hiểu Ba, một nhà tranh đấu dân chủ Trung Quốc đang thọ án tù 11 năm, chính phủ ở Bắc Kinh đã trở thành chính quyền thứ nhì trên thế giới, sau Miến Điện, giam cầm một người đoạt giải Nobel.

(Theo VOA)
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Bắc Triều Tiên: Những trò nhố nhăng của một nhà nước CS

Bùi Tín

Bình Nhưỡng đang là thủ đô của nhũng chuyện kỳ quặc, không giống ai.

Màn kịch cha truyền con nối kiểu triều đình phong kiến lại diễn ra, ông Kim Il Sung được coi là người khai sinh ra chế độ Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên truyền ngôi lãnh tụ tối cao cho con trai Kim Jong Il, và nay ông này lại chỉ định người sẽ thay ông làm lãnh tụ tối cao là cậu con trai thứ 3 mới 27 tuổi, tên là Kim Jong Un.
Image
Báo chí Nam Hàn đưa tin Kim Jong-Un được chỉ định thừa kế ngôi chủ tịch Bắc Hàn. (Hình: JUNG YEON-JE/AFP/Getty Images)

Việc kế thừa như trên là một chuyện khó thể tưởng tượng nổi ở thế kỷ 21, là một trò nhố nhăng của một nhà nước tự nhận là cộng sản, là theo chủ nghĩa Mác-Lênin, từng là tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa, do 2 đảng Cộng sản Liên Xô và Trung Quốc cầm đầu.

Thật ra cái tên, danh xưng của chế độ Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân đã không thích hợp, mang tính chất lố bịch rồi. Cộng hòa mà độc tài, Dân chủ mà dân không mảy may có quyền, Nhân dân mà dân chỉ là nô lệ kiểu mới.

Kỳ quái hơn nữa là ông bố phong luôn cho ông con lên làm đại tướng 4 sao, trong khi chưa qua cấp lính tráng, hạ sỹ quan, sỹ quan cấp úy, tá, hay thiếu tướng, trung tướng, thượng tướng, nghĩa là nhảy một phát qua 12 bậc, mà không có một chiến công gì.

Cũng là dị hợm khi cậu bé con bụ bẫm, mặt còn búng ra sữa, nghiễm nhiên thành ủy viên trung ương đảng Lao Ðộng Triều Tiên, và ngay sau đó là phó chủ tịch đảng ủy Quân sự trung ương, trong khi ông bố của cậu ta là chủ tịch.

Chuyện quái đản này cực kỳ nguy hiểm cho Bắc Triều Tiên, cho cả bán đảo Triều Tiên, cho Châu Á và toàn thế giới, khi Bắc Triều Tiên nhiều lần khoe và dọa thiên hạ rằng họ đã thử bom hạt nhân và đang có sẵn loại vũ khí này trong tay.

Lại thêm một trò quái gở độc đáo khác là ông Kim Jong Il phong luôn quân hàm đại tướng 4 sao cho cô em gái là bà Kim Kyong Hui, 64 tuổi, ủy viên Bộ Chính Trị đảng Lao Ðộng, vốn phụ trách ngành công nghiệp nhẹ.

Ðiều rất đáng chú ý ở Bắc Triều Tiên là không khí cực kỳ căng thẳng ở vùng giới tuyến giáp Nam Triều Tiên và gần như thiết quân luật ở Bình Nhưỡng, cũng như biên giới bị khóa chặt ở phía Bắc giáp với Trung Quốc và Nga, suốt từ khi chuẩn bị cho cuộc họp đại hội đảng, 44 năm mới có một lần (từ năm 1966). Họ lo sợ rằng những trò bịp bợm trên vấp phải sự phản ứng ngầm, hay có thể dữ dội của nhân dân, quân đội, binh sỹ...

Thật khó hình dung nhận thức, tâm tư, suy nghĩ của người dân Bắc Triều Tiên ra sao trước nhũng trò hề quái đản, không giống ai trên đây. Trong cung đình, người ta dấu kỹ không cho xuất hiện 2 cậu anh ruột của cậu em út Kim Jong Un, vì ai cũng biết cậu con cả của ông Kim Jong Il là Kim Jong Nam đã được ông chọn trước tiên cách đây 5 năm, nhưng vì ông con này đã phạm kỷ luật, đi sang chơi Nhật Bản bằng hộ chiếu giả chỉ để tham quan khu Disneyland ở Tokyo, nên bị bố rầy la và cho ra rìa. Ba anh em ghen tỵ nhau về ngôi báu có thể làm loạn cung đình.

Nhân đây xin kể lại vài chuyện tôi từng tai nghe mắt thấy trên đất Bắc Triều Tiên hồi 1988, khi đến Bình Nhưỡng dự cuộc họp quốc tế các nước không Liên kết trong 1 tuần lễ. Ðây là đất nước của những điều cực đoan trái ngược.

Nhìn bề ngoài thoáng qua, Bình Nhưỡng sạch, đẹp, cờ, hoa, không rác, bụi, là thiên đường, không một thủ đô nào khác sánh kịp. Toàn thể học sinh đi học bằng xe bus, mặc đồng phục lụa hoa màu, cặp sách, khăn quàng đỏ, sách vở bút nhà nước cấp phát; đường phố luôn có người quét dọn, lau chùi; tất cả cửa hàng đều mậu dịch quốc doanh hết, mua bằng tem phiếu. Khách sạn 95 tầng, không được cao hơn Tháp ngọn lửa Chuche - Tự Chủ - của ông Kim Il Sung, có thể lên thăm bằng thang máy.

Có những cuộc múa tập thể 2,000 nam, 2,000 nữ, giải lụa hồng như tiên sa, nhịp nhàng với dàn nhạc giao hưởng 800 nhạc công, trong ánh sáng của 500 ngọn đèn chiếu đủ màu.

Các quan chức cấp cao có khu ở riêng, cửa hàng riêng. Xe trong khu dinh thự trung ương ra, có 2 xe môtô hộ tống là Ủy viên trung ương, 4 xe hộ tống là Ủy viên Bộ Chính Trị, 6 xe là lãnh tụ, mọi người dân đều phải dừng chân, cúi đầu, chờ cho đoàn xe đi qua mới được đi tiếp.

Một trò lừa bịp khó quên là các xe bus công cộng, các máy thu thanh, truyền hình... dù là của Nhật, Ðức, Pháp, Mỹ, Anh... mang nhãn hiệu các nước, đều bị gỡ ra, thay bằng nhãn Triều Tiên tuốt luốt, như Thiên Lý Mã, Bạch Ðầu Sơn, Hoa Mẫu Ðơn, Nhảy Vọt, Núi Kim Cương, Doutchjé... Một kiểu ăn cắp tên sống sượng, được biết là họ bỏ tiền ra mua danh hiệu, có bồi thường để lấy le hão cho mình. Khách nước ngoài thấy vậy chỉ bịt mũi, và cười...

Ra khỏi các thành phố là nông thôn xơ xác, nhà đất lợp lá, nông dân trong mùa lạnh lội ruộng không có ủng, dân đắp đê đội sọt đất trên đầu. Mấy anh phiên dịch kể lể rỉ tai, nói lên sự thật: Có trận đói chết hàng chục vạn, có khi hàng triệu; an ninh rình mò khắp; không được tự do ăn nói, bố mẹ, vợ chồng, anh chị em cũng phải cảnh giác nhau, giữ mồm giữ miệng, hở ra bất mãn là đi tù; ai cũng muốn trốn ra khỏi nước, nước nào cũng được.

Họ kể các kiểu thủ tiêu, trừ khử mạng người lạnh lùng, sạch trơn, dù là bà Park Yong Ai, một công thần của đảng, dù là Ðại Tướng Kim Chang Bong từng là bộ trưởng quốc phòng, biến mất tăm cùng cả gia đình, họ hàng, bè bạn thân, không có tòa án, không có xét xử, cũng không có một dòng tin trên báo đài. Biến mất không vết tích, lý do, chỉ thấy không được nhắc đến nữa, không còn tin, ảnh trên báo đài, thế là tự hiểu, không một ai dám tò mò dò hỏi, thắc mắc, sẽ mang họa vào thân.

Sự lố lăng, độc ác đạt đến độ tuyệt đối vậy. Cho nên Bắc Triều Tiên 22 triệu dân, có 25 vạn tù chính trị, trong 600 nhà tù khắc nghiệt nhất trần gian.

Bắc Triều Tiên là nước kín mít nhất. Toàn dân không ai có điện thoại di động; đó là đồ quốc cấm.

Bắc Triều Tiên đang lên gân. Quân đội báo động đỏ. Một đội Cận vệ Ðặc biệt nhằm bảo vệ nhóm lãnh tụ và gia đình được tăng cường. Họ rất lo những xáo trộn tâm tư trong nội bộ, những cuộc đảo chính lớn nhỏ có thể xảy ra. Gần trăm viên tướng già, trẻ, tại chức hay nghỉ hưu, có thật lòng cúi rạp đầu vâng dạ 2 đại tướng mới được phong một cách lố bịch, một phụ nữ và một cậu bé con, đang còn i tờ về quân sự! Họ không thể không cười thầm, cay đắng, và lo.

Ai mà không lo, khi tin tức lọt ra cho biết bà Ðại Tướng Kim Kyong Hui tính khí thất thường, từng bướng bỉnh, một mực đòi cưới ông Jang Song Thaek dù cho cha bà là ông Kim Il Sung không đồng ý, và cậu Ðại Tướng Kim Jong Un đã ngổ ngáo từ khi mới 7 tuổi, dám cầm lái chiếc xe Mercedes, biết nốc rượu từ khi lên mười, và học hành dang dở, chỉ hết trung học phổ thông ở trường Berne - Thụy Sĩ, không sao kiếm được mảnh bằng cử nhân, chỉ qua trường quân sự trong nước để nhận lon đại tướng. Cậu đại tướng trẻ nhất thế giới, xưa và nay, lại chỉ có 2 sở thích, ăn sushi của Nhật và chơi games - trò chơi - trên computer. Mà game ly kỳ hấp dẫn nhất là trò chiến tranh hạt nhân trên máy.

Việc gì sẽ xảy ra khi 2 cô cháu ruột đều là đại tướng, đều có quyền uy chiến tranh tối thượng, đặt ngón tay trên nút bấm phóng tên lửa mang đầu đạn hạt nhân, chĩa sang Nhật, xuống Nam Triều Tiên hay theo hướng nào khác? Khi nổi một cơn giận đời, trong một cuộc khủng hoảng quốc tế? Như vụ chiếc tàu Cheonan bị họ ngang nhiên bắn chìm vừa qua? Ai biết trước được.

Trò lố bịch cấp nhà nước của một xứ cộng sản - hiện vẫn còn là nước bạn truyền thống của đảng Cộng Sản Việt Nam - thật sự chứa đựng nguy cơ chết người hàng loạt.

Xin mọi người chớ có coi thường, thờ ơ.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Tưởng niệm Cụ Trần Văn Hương nhân sĩ suốt đời giữ tiết tháo

Hứa Hoành
"Tôi xin phép từ chối. Tôi không nhận cái quyền công dân nầy. Dầu gì tôi cũng đã là người lãnh đạo miền Nam, trong khi binh sĩ, nhân viên các cấp, chỉ vì thừa lịnh của chúng tôi, mà giờ đây vẫn còn bị giam cầm trong các trại cải tạo, chưa được trả quyền công dân. Chẳng lý gì, tôi là người trách nhiệm, lại được trả quyền công dân trước..." (Lời cựu Tổng Thống Trần Văn Hương trả lời một cán bộ CS, khi họ đến nhà định làm lễ, quay phim "trả quyền công dân cho ông").

Hàng năm, cứ đến ngày oan trái 30 - 4, tôi lại bâng khuâng nhớ đến các anh hùng liệt sĩ đã bỏ mình vì nước. Làm tướng giữ thành, thành mất, tuẫn tiết theo thành, ngày xưa có Tổng đốc Hoàng Diệu (1828 - 1882), Tổng đốc Nguyễn Tri Phương (1800 - 1873)... Ngày nay có Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu tướng Lê Văn Hưng, Thiếu tá quận trưởng Bồng Sơn Hoàng Lê Cương (1972) và hàng trăm ngàn chiến sĩ vô danh khác, đãtự sát để giữ tròn khí tiết, không để lọt vào tay kẻ thù làm nhục. Họ nêu những gương hy sinh cao quý, tiết liệt, lịch sử ghi nhớ muôn đời.

Hai mươi năm chiến tranh, một cuộc chiến tranh vệ quốc sáng ngời chính nghĩa quân dân miền Nam đã hy sinh hàng triệu người, chỉ vì muốn bảo vệ một lý tưởng "Ðộc lập, tự dỏ và không muốn đất nước rơi vào tay CS. Nhưng cuối cùng phải thất bại trong nỗi uất hận, nghẹn ngào.

Năm nay, nhân ngày tang tóc đau thương của toàn thể dân tộc Việt Nam, chúng tôi muốn nhắc lại với thế hệ mới lớn lên, về những cái chết oai hùng. Trong phạm vi bài nầy, chúng tôi kể lại những ngày sau cùng của một chính khách thanh liêm, cương trực, suốt đời giữ được tiết tháo và lòng yêu nước: người đó là cụ Trần Văn Hương, hai lần làm đô trưởng Sàigòn, hai lần làm thủ tướng và Phó Tổng Thống, và cuối cùng là Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa chỉ được 3 ngày. Cụ Hương mất đi không một lời cáo phó. Cụ mất, nhưng gương hi sinh và thái độ sống của người quân tử mà cụ nêu gương không bao giờ mất. Tuy là người đồng hương, vì nhà tôi ở chỉ cách nhà người chị ruột của cụ Trần Văn Hương chừng 300 mét, trên đường Văn Thánh (tức Văn Thánh miếu thờ Ðức Khổng Tử và cụ Phan Thanh Giản) tại Vĩnh Long. Là thế hệ sau, thuộc hàng con cháu, nên tôi không được quen biết với cụ. Tháng Hai năm 1975, tôi là thành viên của một phái đoàn vận động thành lập Viện Ðại học Long Hồ cho 3 tỉnh Vĩnh Long Kiến Phong và Vĩnh Bình, có đến tư thất của cụ ở đường Phan Thanh Giản Sàigòn, để yết kiến và xin cụ giúp đợ Tháng 3 năm 1975, cụ với tư cách là Phó Tổng Thống, có đến tại hội trường thuộc trường Sư Phạm (cao đẳng) Vĩnh Long, để chứng kiến lễ chấp nhận thành lập Viện Ðại Học Long Hồ, do Tổng Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục Ngô Khắc Tỉnh ký trước mặt cụ. Mặc dầu rất nhiều lần giữ những địa vị cao trong chính trường miền Nam, nhưng cụ Trần Văn Hương là một người có đời sống giản dị, mẫu mực, thanh liêm không bất cứ một ai có thể mua chuộc được. Khi thôi việc, cụ Hương sống cuộc đời chật vật nhưng vẫn giữ được tư cách.

Cụ Trần Văn Hương sinh năm 1904 tại làng Long Châu, nay thuộc quận Châu Thành Vĩnh Long, trong một gia đình nghèo. Nhờ học giỏi và được sự hy sinh của gia đình, cậu học sinh Trần Văn Hương được ra Hà Nội học trường Cao đẳng Sư Phạm... Sau khi tốt nghiệp, ông giáo Trần Văn Hương được bổ về dạy tại trường Le Myrle de Vilers Mỹ Tho, cũng là ngôi trường cũ mà ông đãtheo học mấy năm trước. Thời gian từ năm 1943 - 1945, ông Hương là giáo sư dạy môn văn chương và luân lý tại trường nầy. Sau đó ông Hương được đổi lên làm Ðốc học tỉnh Tây Ninh.

Năm 1945, Việt Minh nổi dậy cướp chính quyền khắp 3 kỳ, nhóm Việt Minh mới của Trần Văn Giàu (chủ tịch Ủy ban hành chánh Nam bộ) cử cụ làm chủ tịch Ủy ban hành chánh tỉnh Tây Ninh. Làm việc với Việt Minh được mấy tháng, thấy họ không thành thật, và theo con đường bá đạo, nên ông Hương từ chức. Tuy vậy cụ vẫn còn đứng trong hàng ngũ kháng chiến. Khi thấy bộ mặt thật của Việt Minh là CS, tìm cách khủng bố, ám sát thủ tiêu những người yêu nước có tinh thần quốc gia, cụ bỏ về thành. Ban đầu cụ bán thuốc tây cho nhà thuốc của dược sĩ Trần Kim Quan (Pharmacy Kim Quan) ở góc đường Lê Lợi và chợ Bến Thành bây giờ).

Theo tài liệu của tình báo Mỹ, ông Hương có hai người con: Trần Văn Dinh và Trần Văn Doi (Giỏỉ). Hồi còn theo học trường "College de Can Thơ" kháng chiến nổi lên, Doi bỏ học theo kháng chiến. Khi phái đoàn Hồ Chí Minh qua Pháp cùng một lúc với hội nghị Fontainebleau trở về tới Vũng Tàu, ông Doi theo xuống tàu ra Bắc. Từ đó hai cha con không bao giờ gặp nhau nữa. Ông Huỳnh Văn Lang, cựu Tổng giám đốc Viện Hối Ðoái dưới thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm cho biết "Ông Trần Văn Giỏi (không phải Dõi) ở tại Sàigòn, bên cạnh ông Hương như một người cố vấn."

Năm 1964, ông Hương làm Thủ tướng chính phủ, tình báo Mỹ có đem lại một hồ sơ cho biết cụ có người con theo CS. Cụ Hương thẳng thắn nhìn nhận và cho biết từ đó cho đến nay, cụ không còn liên lạc gì với người con đó hết. Khi cụ tham chính, thì nguòi con lớn là Trần Văn Doi ở kế cận đóng vai người cố vấn thân tín.

Tháng 7 - 1967, ông cùng với ông Mai Thọ Truyền, ra ứng cử chức Tổng Thống chỉ được 10% số phiếu, về hạng tư. Tháng 5 - 1986, ông được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu mời làm Thủ Tướng, thay thế Thủ Tướng Nguyễn Văn Lộc. Trong nhiệm kỳ Tổng Thống 1971 - 75, ông Trần Văn Hương làm phó tổng thống, và khi ông Thiệu từ chức tổng thống giữa lúc tình thế đất nước lâm nguy,ông Hương được đôn lên làm tổng thống dùng theo hiếp pháp.

Các chi tiết về cuộc đời của cụ Trần Văn Hương trong những ngày tháng cuối cùng, được bà Phan Cẩm Anh cùng chồng là bác sĩ, người có dịp gần gũi với cụ Hương kể lại. Tôi được phép chỉ để trích một phần lớn trong bài ấy: "Hương trà năm cũ" trong bài viết để đồng bào, đồng hương có dịp biết thêm về nhiều chi tiết cảm động của một kẻ sĩ thế hệ cũ còn sốt lại. Kính xin anh chị Phan Cẩm Anh thể nhận nơi đây lòng biết ơn của tác giả.

"... Nhiều năm trước, khi tôi học trung học, một buổi tối sau khi dùng cơm, chị tôi dẫn tôi đến phủ "cây tùng" để thăm Mai Hương, một người bạn cùng "khóa I Nữ quân nhân" của chị, bây giờ vừa lập gia đình với đại úy Phan Hữu Chương, cháu ruột cụ Trần Văn Hương. Ba chị em đứng trò chuyện dưới táng cây của phủ phó tổng thống. Thình lình, cụ Hương từ trong nhà bước ra, nhìn về phía chúng tôi, gật đầu, rồi đưa tay ra hiệu bảo Mai Hương theo cụ vào trong phủ. Khi trở ra, Mai Hương lè lưỡi nói với chị tôi:

- Ông cụ vừa mới la.
- La về chuyện gì vậy?
- Ông cụ nói: "Sao không mời bạn bè vào phòng khách nói chuyện đàng hoàng mà để bạn đứng dưới gốc cây. Ông cụ nói tiếp: "Tiếp bạn đến chơi như vậy là không trọng bạn chút nào hết."

Ðó lần đầu tiên tôi thấy cụ Hương, nhưng nghe thuật lại những lời cụ trách, lòng tôi tự nhiên nhen nhúm một cảm tình đầy quý trọng. Sau đó, tôi có dịp trở lại phủ phó tổng thống vài lần lúc Mai Hương sắp vào nhà bảo sanh. Vì lẽ phu quân Mai Hương bận công vụ, nên Mai Hương cho tài xế đến nhờ tôi và em gái tôi giúp đưa Mai Hương vô bịnh viện. Tất cả những lần đó, tôi chẳng có dịp nào giáp mặt cụ Hương.

Thời gian trôi qua, miền Nam sụp đổ, Dương Văn Minh ra lịnh đầu hàng. Ngay buổi sáng sớm ngày đầu mất nước, tại ngôi biệt thự cũ kỹ nằm khuất trong ngõ hẻm ngăn đường Phan Thanh Giản, thân nhân sống trong biệt thự này đã đau đớn đem đặt giữa nhà hai xác người cùng nhau tìm cái chết. Họ vừa chia nhau ống thuốc ngủ đêm qua. Ðó là đại úy Phan Hữu Chương và vợ là cựu trung úy Trần Mai Hương. Họ để lại vỏn vẹn vài lời trăng trối "xin nhờ lòng tha thứ của cụ Hương và gia đình vì không thể sống khi đất nước rơi vào tay kẻ thù." Ðôi vợ chồng trẻ gởi gắm lại ba đứa con trai còn thơ dại, nhờ ông bà nội (em rể cụ Hương) dưỡng nuôi. Cũng trong ngôi biệt thự bao phủ một bầu không khí ảm đạm và im lìm đó, nơi một căn phòng khác trên lầu, cụ Hương đóng cửa, im lặng, trầm mình trong nỗi đau khổ của một người đãtừng lãnh đạo đất nước, bây giờ đành tâm chứng kiến giờ phút suy vong, cảnh nhà tang chế. Nỗi đau khổ của cụ ở mức độ nào, chẳng ai trong nhà được cụ hé môi thổ lộ.

Nhưng ý định cùng chồng đi tìm cái chết của Mai Hương, không được toại nguyện bởi lẽ một người cháu đem Mai Hương đi cấp cứu. Sự sống của Mai Hương đãđược các bác sĩ giành giựt lại từ đường tơ kẻ tóc. Nhờ đó Mai Hương trở thành một chiếc cầu để tôi có cơ hội biết thêm chút ít về cụ Trần Văn Hương trong những ngày cuối cùng của cụ.

Nhiều lần Mai Hương dẫn tôi về lại ngôi biệt thự trên để thăm các con của Mai Hương, hiện đang sống nương nhờ vào ông bà nội. Tôi đãchứng kiến cảnh sống đạm bạc, nếu không muốn nói là thiếu thốn, túng quẩn của gia đình cụ Hương. Cụ Hương luôn luôn sống lặng lẽ một mình trong căn phòng nhỏ ở trên lầu.ăn phòng bày trí thật sơ sài, chẳng có món đồ nào được coi là sang trọng. Ngoài chiếc giường nệm cụ nằm, đồ vật còn lại là hai chiếc ghế bành, một cái tủ đựng quần áo đãcũ, một chiếc bàn con trên đó cụ để một tượng Phật Di Lạc. Căn phòng có một cửa ăn thông ra sân thượng. Hầu cận, săn sóc cụ là người em rể của cụ mà tôi gọi theo như Mai Hương là Dượng. Phía dưới lầu là các gian nhà trệt nhỏ, nằm dọc theo bức tường phía trong của khuôn viên biệt thự, có lẽ trước kia là nhà kho, bây giờ trở thành nơi tá túc qua ngày cho các thân nhân gồm các em và cháu của cụ, vì phải gặp cảnh khó khăn dưới quê, tìm về Sàigòn nương náu trong ngôi biệt thự cũ nát mà tổng thống Thiệu đã cấp từ thời trước.

Ngôi biệt thự nầy, trước khi cấp cho cụ Hương, tổng thống Thiệu đã chỉ thị phải sửa chửa, chỉnh trang lại đàng hoàng, nhưng cụ từ chối viện lẽ cụ già rồi, không làm việc gì ích nước lợi dân được nữa, nên không muốn làm hao tốn công qũy. Do đó, đến khi CS vào, ngôi biệt thự trên chẳng phải là mồi ngon cho cán bộ của họ tranh nhau giành giật chiếm đoạt như các ngôi biệt thự xinh xắn khác. Tường biệt thự nhiều nơi nứt nẻ, nền nhà nhiều chỗ vở bung lên, màu vôi trải qua nhiều năm tháng vàng ố không được trùng tu, sơn quét. Hình ảnh cụ lúc nầy như một con chim đại bàng sa cơ, gãy cánh mà vẫn cố giương đôi cánh mang thương tích của mình để bảo bọc chim non. Tôi được nghe kể lại cứ mỗi lần người nhà bưng cơm lên lầu cho cụ, phần cơm rất đạm bạc, lâu lâu mới có chút cá thịt, thân nhân muốn nhường cho cụ để bổ dưỡng, cụ hỏi xem mọi người trong nhà có được ăn như cụ vậy không. Mặc dầu người nhà thường trả lời "có" cho cụ an tâm, nhưng cụ vẫn hiểu sự thật của chữ "có" nên thường cụ để dành lại thức ăn ngon trên mâm, hầu đem xuống nhà cho con cháu.

Có những lần tôi theo Mai Hương đến thăm ông bà nội các con Mai Hương, lúc trở về, ra tới cánh cổng, tôi quay đầu nhìn lên sân thượng thấy cụ Hương, ngồi yên lặng trên đó. Mình cụ để trần, mái tóc bạc trắng, đôi mắt nhìn thẳng về phía trước không hề di động... Tôi thấy cụ Hương ngồi trên sân thượng như vậy nhiều lần, và những lần như vậy, trên đường đạp xe về nhà, hình ảnh già nua, im lặng và cô độc của cụ cứ lẩn quẩn mãi trong đầu óc tôi.

Một hôm, có lẽ cũng vào dịp gần Tết, Mai Hương đưa một củ sâm Ðài Loan và nói với tôi:

- Bà nội sắp nhỏ biểu chị đem củ sâm nầy đi bán. Ðó là củ sâm người ta tặng cho ông cụ từ lúc ông cụ sang Ðài Loan, còn cất giữ mãi đến bây giờ. Ông nói chắc không dùng đến nó, nên sai đem bán lấy tiền đong gạo cho sắp nhỏ.

Mai Hương mở gói giấy bọc củ sâm ra, củ sâm vỏn vẹn bằng hai phần ba bàn tay, nằm giữa mấy lớp giấy gói đãcũ. Nhìn qua, ai cũng biết củ sâm được gói kỹ lưỡng, và bị lãng quên trong một ngăn tủ nào đó lâu lắm rồi, nay mới được nhớ lại. Tôi nhìn củ sâm nghẹn ngào. Một nhà giáo thanh bạch, một người lãnh đạo quốc gia trong sạch như cụ, chỉ lấy đạo đức bản thân làm tài sản. Cụ đâu có nén vàng nào có thể đem bán lấy tiền đong gạo cho đàn cháu, hay giúp đỡ người thân đang tá túc trong nhà, những người đa ?37;t nhiều liên lụy vì các hoạt động chính trị của cụ.

Khoảng hơn một tuần sau, ông nội các cháu, tức em rể cụ Hương, ghé lại nhà Mai Hương và tôi (lúc này Mai Hương và tôi sống chung với nhau trong một căn nhà nhỏ ở quận Tân Bình) kể cho chúng tôi biết là ông vừa làm theo ý cụ Hương: đem mấy bộ đồ veste còn tốt của cụ ra chợ trời bán. Ðể an ủi người nhà bớt đau lòng, cụ Hương bình thản giải thích:

- Từ đây cũng đâu có dịp nào mặc nó nữa, đem bán đi chớ để làm chi!

Số tiền bán áo trên, chẳng ở trong túi được bao lâu, vì ngay sau đó bà Út đi chợ mua đồ ăn cho sắp nhỏ. Gia đình cụ Hương đã chịu chung số phận đau khổ và bi đát tột cùng từ tinh thần đến vật chất khi miền Nam rơi vào tay CS. Có một sự kiện làm tôi chảy nước mắt mỗi khi nhớ đến, lòng thêm kính mến và cảm phục cụ Hương: Trước khi chính quyền CS cho tổ chức cuộc bầu cử quốc hội (bịp) đầu tiên, cụ Hương được họ thông báo sẽ có một buổi lễ để chính phủ trả quyền công dân cho cụ. Sau đó, để có buổi lễ được quay phim tuyên truyền, khi một cán bộ thay mặt chính quyền, đọc "chính sách khoan hồng, rộng lượng" của nhà nước đối với những "thành phần" như cụ, cụ dõng dạc nói:

- Tôi xin phép từ chối. Tôi không nhận cái quyền công dân này. Dù gì tôi cũng là người lãnh đạo miền Nam, trong khi binh sĩ, nhân viên các cấp chỉ vì thừa lịnh của chúng tôi mà giờ đây vẫn còn bị giam cầm trong các trại cải tạo, chưa được trả quyền công dân trước. Tôi sẽ là người sau cùng nhận cái quyền công dân này, sau khi binh sĩ và nhân viên của chúng tôi đã được nhận.

Ðại diện của chính quyền CS không ngờ sự thể xảy ra như vậy. Tức giận, họ ra lịnh cúp máy thu thanh, thu hình. Vài ngày sau cụ nhận được lịnh quản thúc tại gia 3 năm. Cụ Hương nói với người nhà:

- Bọn nó cũng chẳng cần phải quản thúc tao. Tao già và đau yếu như vầy, có khi nào bước chân ra khỏi nhà đâu mà cần phải quản thúc!
Vào năm 80 tuổi, mỗi lần theo Mai Hương ghé vào thăm ông bà nội của các cháu, tôi ít thấy cụ Hương ra ngồi ở sân thượng như lúc trước. Tôi được biết sức khỏe của cụ sa sút nhiều. Một hôm, em rể cụ Hương bảo tôi:

- Ông cụ dạo nầy yếu quá. Ông lại dứt khoát không muốn vô nhà thương khám bịnh hay chữa trị gì cả. Chắc Cẩm Anh cũng biết tại sao rồi. Dượng muốn nhờ Cẩm Anh có quen ai là bác sĩ trước 1975, xin họ đến nhà khám bịnh giùm cho ông cụ. Nếu không thì Dượng chẳng yên tâm.

Nghe ông Dượng nói tôi mới nhớ, cách đó không lâu, cụ Hương bị mệt xỉu phải đưa vô nhà thương cấp cứu. Lúc tỉnh dậy, cụ nhứt định đòi người nhà phải đưa cụ về ngay. Cụ một mực từ chối, không chịu để điều trị trong bịnh viện đã thuộc về tay chính quyền CS.

Mặc dầu có quen biết vài bác sĩ, nhưng tôi nghĩ ngay đến nhà tôi, lúc ấy còn là một người bạn, vì trong hoàn cảnh không biết tương lai ra sao, nên chúng tôi chưa nghĩ đến việc lập gia đình. Tôi nhận lời Dượng, hứa tìm một bác sĩ của "chế độ mình" để nhờ khám bịnh cho cụ. Khi nghe tôi trình bày, nhà tôi chẳng chút ngần ngại, vui vẻ nhận lời ngay. Lần đầu tiên nhà tôi đến, cụ bảo nhà tôi lại thật gần để cụ nhìn mặt vì mắt cụ đã mờ;. Cụ Hương hỏi nhà tôi:

- Con đến đây thăm bịnh cho qua, con có sợ họ làm khó dễ con không?

Nhà tôi trả lời:

- Thưa cụ, cháu chỉ làm bổn phận và công việc của người thầy thuốc, cháu không ngạị

Cụ xúc động, ghé người gần lại, đưa tay ôm lấy đầu nhà tôi. Nhà tôi tiếp:

- Thưa cụ, cháu là bác sĩ trẻ mới ra trường, kinh nghiệm và kiến thức hãy còn ít, chữa bịnh cho cụ, nếu có điều gì không biết, cháu sẽ về đọc sách lại.

Cụ Hương vui vẻ, mỉm cười cảm ơn và nắm lấy tay nhà tôi như để trấn an.

Từ đó nhà tôi lui, tới với cụ thường xuyên để thăm bịnh cụ. Dường như việc trị bịnh đối với cụ chẳng có gì quan trọng, cụ không quan tâm lắm, mặc dầu cụ luôn luôn là một bịnh nhân gương mẫu, theo đúng những lời dặn của bác sĩ. Ðiều làm cho cụ vui và thoải mái hơn có lẽ là có người để cụ nói chuyện. Do đó, nhà tôi thường ngồi lại với cụ một hai giờ sau khi khám bịnh. Cụ nói thuốc men cụ dùng hàng ngày là do bà Trần Văn Văn và bạn bè ở Pháp gởi về tặng cụ. Những thứ thuốc nào không cần dùng, cụ đưa cho người em rể cụ đem ra chợ trời bán, lấy tiền chia đều cho gia đình con cháu đong gạo. Một hôm cụ kể cho nhà tôi nghe một câu chuyện rất cảm động như sau:

- Con biết không, chú có thằng em đến thăm (cụ xưng chú với nhà tôi, khi biết thân phụ nhà tôi lớn hơn cụ vài tuổi) nó đem đến một hộp sữa bò còn tặng chú 5 đồng (lúc mới đổi tiền, 500 đồng tiền cũ ăn 1 đồng tiền mới). Chú thương nó có tình, nhưng nghĩ nó phải đạp xích lô cực khổ để sinh sống, nên chú không nỡ lấy. Nhưng nếu chú không nhận thì "sợ nỏ buồn tội nghiệp", nên chú chỉ nhận có 5 đồng, còn hộp sữa thì bảo nó đem về cho gia đình (lúc ấy sữa rất khó mua). Người mà cụ kể là "thằng em" một cách thân mật chính là thuộc hạ cũ của cụ.

Cụ Hương còn tâm sự với nhà tôi những chuyện lúc cụ còn trẻ. Có một thời gian cụ cùng với một người con trai (Trần Văn Doi) theo hoạt động cho Việt Minh chống Pháp. Nhưng khi nhận ra bộ mặt thật của Việt Minh, cụ dứt khoát trở về lại trong Nam và mất liên lạc với người con trai từ lúc ấy. Người con trai nầy đã ở lại miền Bắc, và phục vụ trong quân đội CS. Sau khi Sàigòn bị chiếm, anh có về thăm cụ với vợ là một bác sĩ VC. Có lẽ sự lui tới của cặp vợ chồng nầy cũng nhằm mục đích theo dõi cụ.

Cụ Hương cũng có một người con khác đang sinh sống tại California. Anh có một đứa con bị bịnh Thalassemia, được đưa sang Mỹ chữa trị trước năm 1975. Ðã nhiều lần anh muốn bảo lãnh cụ ra nước ngoài, nhưng cụ nói với nhà tôi:

- Trước kia đại sứ Martin năn nỉ, yêu cầu chú đi, chú đã từ chối. Bây giờ đời nào chú lại xin chính quyền CS để được đi.

Những lần đi thăm bịnh sau của nhà tôi, cụ tâm sự nhiều hơn về những vụ buồn trong cuộc đời tham chính của cụ. Cụ luôn nhắc đến tên của những người mà cụ đặc biệt quý mến như bác sĩ Bạch Ðình Minh. Cụ ngậm ngùi kể:

- Bác sĩ Minh là một người mà chú rất quý trọng. Hồi trước chú thấy bác sĩ Minh đi khám bịnh mà không có đồng hồ đeo tay. Chú mua tặng cho bác sĩ Minh một cái, nhưng đeo được vài tuần, bác sĩ Minh đem trả lại chú. Chú thấy bác sĩ Minh phục vụ trong quân đội hết lòng tận tụy và giàu tinh thần trách nhiệm, chú đề nghị lên tổng thống Thiệu tưởng thưởng "Bảo quốc huân chương" cho bác sĩ Minh. Bác sĩ Minh từ chối không nhận viện lẽ ông đang làm việc ở chỗ an toàn, xin dành huy chương ấy cho những người xả thân chiến đấu, hy sinh xương máu cho đất nước. Một lần khác cụ hỏi nhà tôi:

- Con có biết bác sĩ Trần Lữ Y không?

Nhà tôi thưa:

- Bác sĩ Trần Lữ Y dạy con môn Nội Khoa ở trường Y khoa.

Cụ Hương tâm sự:

- Hồi trước bác sĩ Hoa Kỳ sang đây khám bịnh cho chú, họ đề nghị đưa chú sang Hoa Kỳ chữa bịnh. Thằng Trần Lữ Y đi theo chú, xin lỗi con, chú gọi bác sĩ Trần Lữ Y bằng "thằng", vì chú thương nó như con chú vậy. Khi máy bay ghé Manille, suốt mấy hôm chú ăn không nổi đồ ăn của họ, nên bác sĩ Trần Lữ Y phải ra phố kiếm thức ăn mua về cho chú. Gần đây chú nghe có người nói bác sĩ Trần Lữ Y qua đời bên Pháp vì bịnh ung thư, có đúng như vậy không?

Nói tới đây, cụ im lặng hồi lâu như nén sự xúc động. Mấy tuần sau, nhà tôi được tin bác sĩ Trần Lữ Y vẫn còn khỏe mạnh ở bên Pháp và có phòng mạch tư, gần với phòng mạch của bác sĩ Phạm Tu Chính. Nhà tôi vội vàng ghé lại thăm và nói cho cụ Hương biết tin thật về bác sĩ Trần Lữ Ỵ. Nghe xong, cụ Hương nắm lấy tay nhà tôi mà chẳng nói gì. Hai giòng nước mắt từ từ lăn trên má cụ.

Mặc dầu sức khỏe cụ Hương lúc đó đã sa sút nhiều, đi đứng khó khăn, dầu chỉ vài bước cũng cần cây gậy. Bên cạnh giường ngủ có gắn một cái chuông điện, trên bàn luôn có một cái chuông nhỏ để khi cần người nhà, cụ lắc bằng tay. Nhà tôi thán phục cụ có trí nhớ đặc biệt. Cụ có thể nhớ nguyên văn câu nói của từng người, ngày tháng, giờ giấc của sự kiện đã xảy ra. Cụ không quên từng chi tiết nhỏ. Có lần cụ chia xẻ với nhà tôi rằng:

- Chú nghĩ người làm chính trị phải có giáo dục và đạo đức. Khi tham chính tất nhiên chú chấp nhận có phe đối lập, nhưng dầu khác lập trường, chú vẫn luôn luôn tôn trọng họ. Có một dân biểu trẻ tên là (xin giấu tên), trong một buổi họp quốc hội, đã đứng lên đập bàn, chỉ vào mặt chú nói những lời vô lễ (xin không ghi lại câu vô lễ nầy)... Vì dân biểu nầy đáng con chú. Chú buồn và tiếc cho người làm dân biểu mà không biết đến chữ "lễ", không tỏ ra có tư cách của người học thức, chớ không buồn về lập trường đối lập của họ.

Một hôm đến thăm cụ, nhà tôi thố lộ với cụ rằng "sớm muộn gì con cũng phải ra đi". Chuyện ra đi không biết khi nào mới thành công, nhưng không bao giờ con bỏ ý định đó. Chẳng phải vì miếng cơm manh áo, hay sự cực khổ mà phải bỏ quê hương. Nhưng vì cuộc sống lúc nào cũng thấy bị đe dọa, thiếu an toàn, ngủ một đêm thức dậy có thể bị bắt vì bất cứ một lý do viển vông nào. Nghe nhà tôi nói, cụ Hương trầm ngâm một hồi lâu mà không nói gì. Mãi một lúc sau, cụ thở dài chép miệng:

- Có lẽ chú làm không đúng khi ra lịnh ngăn người ta ra khỏi nước trong những ngày hỗn loạn.

Lúc nhà tôi từ giã cụ ra về, cụ ôm hôn nhà tôi và nói:

- Chú gặp con muộn quá!

Vào tháng 4 - 1981, tôi đạp xe đưa nhà tôi đi vượt biên lần thứ 13. Trước khi đi, nhà tôi có đến thăm cụ lần cuối. Biết cụ rất buồn, nhưng cụ giấu kín tình cảm để người đi bớt vướng víu. Một tháng sau đó, tôi cũng rời Việt Nam đi Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình do anh chị tôi bảo lãnh. Một ngày trước khi đi, tôi đạp xe trở lại đường Phan Thanh Giản, đứng một mình bên chiếc cổng sắt. Giữa một niềm vui khi sắp sửa thoát khỏi cảnh đời vô vọng, tăm tối, và một nỗi buồn khi biết rằng mình sẽ mất bao nhiêu gắn bó thân thuộc khi lìa khỏi nơi đây. Cụ Hương vẫn là hình ảnh làm cho lòng tôi se thắt, là một cánh sen nổi trên dòng nước đang giao động của tâm hồn tôi.

Dưới đây là hai mẩu chuyện được nhắc lại như một giai thoại. Hồi tháng 4 năm 1954, khi có sự vụ lịnh của thủ tướng Ngô Ðình Diệm bổ nhiệm cụ Hương làm đô trưởng Sàigòn - Chợlớn, thì cụ đi làm việc hàng ngày bằng chiếc xe đạp Alcyon. Khi vô tòa đô chính nhận việc, người lính gác cổng chận lại và không cho cụ vô. Cụ phải nói thật "Tôi là Ðô Trưởng" họ cũng không tin. Cụ phải trình sự vụ lịnh mới được bổ nhiệm, người lính mới hoảng hồn, định chắp tay lạy cụ, nhưng cụ từ tốn, an ủi mấy câu, rồi dẫn xe đạp vô làm việc. Khi cụ ra Vũng Tàu nghỉ dưỡng bịnh (1964), hàng tháng chính phủ trả phủ cấp thêm 10.000 đồng, nhưng cụ từ chối, gởi trả lại công quỹ, vì cụ nói "không có chuyện gì cần phải xài."

Nhắc lại về thái độ của cụ Trần Văn Hương trong những ngày đen tối của đất nước chúng tôi thấy có hai sự kiện đáng ghi nhớ:

Cuốn hồi ký "Saigon et moi" của cựu đại sứ Pháp tại Việt Nam, ông Mérillon kể lại: "Mãi tới tối 18 - 4 - 1975, đại sứ Hoa Kỳ Martin mới cho ông (Mérillon) hay rằng Hoa Kỳ sẽ buông VN." Ðại sứ Martin nói:

- Từ giờ phút này nước Pháp sẽ đảm nhận vai trò tái lập hòa bình cho VN.

Mérillon chuyển lời nói nầy cho Phó Tổng Thống Trần Văn Hương. Ông Hương nói:

- Ông Ðại sứ à! Tui đâu có ngán Việt Cộng. Nó muốn đánh, tui đánh tới cùng. Tui không muốn lưu vong xứ người. Nếu trời hại nước tui, tui xin thề ở lại và mất theo nước này.

Ðến ngày mất nước, đại sứ Martin còn đến gặp cụ Hương và nói:

- Ngài đi với tôi sang Mỹ Chánh phủ Mỹ sẽ nuôi dưỡng Ngài suốt đời, tôi nhân danh chánh phủ Hoa Kỳ đến mời Tổng Thống ra khỏi nước với bất cứ phương tiện nào mà ngài muốn. Chánh phủ chúng tôi cam kết bảo đảm cho Ngài một đời sống xứng đáng với cương vị tổng thống cho tới ngày Tổng Thống mãn phần.

Cụ Trần Văn Hương mỉm cười, trả lời (tiếng Pháp):

- Thưa ngài đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Ðã đến nỗi như vậy, Mỹ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông Ðại Sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cảm ơn ông Ðại sứ. Nhưng tôi đãsuy nghĩ kỹ và quyết định dứt khoát ở lại nước tôi. Tôi cũng dư biết rằng CS vào được Saigon, thì bao nhiêu đau khổ, nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lãnh đạo đứng hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại chia xẻ một phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước. Cám ơn ông Ðại Sứ đã đến thăm tôi.

Tới đây, tôi lại nhớ đến liêm sỉ và tiết tháo của một người lãnh đạo Cam Bốt, một nước láng giềng mà dân ta thường hay có thái độ coi thường. Ðó là ông hoàng Sirik Matak, Phó Thủ Tướng Cam Bốt. Cũng tháng 4 định mệnh ấy (1975) khi quân Khmer đỏ sắp tràn ngập Phnom Penh, Ðại Sứ Mỹ tại đây là John Gunther Dean đến mời hoàng thân Sirik Matak lưu vong qua Mỹ. ông Sirik Matak từ chối và trả lời bằng thư sau:

"Thưa Ngài và bạn thân (Excellence et Cher Ami)

Tôi rất thành thật cám ơn Ngài về cái thơ và đề nghị giúp đỡ của Ngài đưa chúng tôi đến nơi tự do, nhưng tôi không thể ra đi một cách hèn nhát như thế.

Về phần Ngài và quốc gia to lớn của Ngài, tôi không bao giờ ngờ rằng Ngài sẽ bỏ rơi một dân tộc đãchọn tự dọ. Quý Ngài đã từ chối bảo vệ chúng tôi, chúng tôi không làm sao được. Ngài ra đi và tôi chúc cho Ngài và quốc gia của Ngài tìm được hạnh phúc dưới bầu trời của quý ngài.

Nếu tôi chết ở đây trong nước tôi mà tôi yêu, thì thôi mặc, bởi vì tất cả chúng ta đã được sanh ra để rồi một ngày nào đó thì chết. Tôi chỉ có làm một lỗi lầm là đa ? nơi Ngài và tin nơi những người Hoa Kỳ

Xin Ngài và bạn thân, nhận nơi đây những cảm tình trung thực và thân ái của tôi.

Sirik Matak,

Theo lời người dịch, thư này sau mấy năm, có lần được đọc trong một phiên họp Quốc hội Hoa Kỳ, và được lưu giữ trong văn khố Quốc Hộị (Trích bài biết của BS Nguyễn Lưu Viên, tập san Y Tế số III, tháng 3 năm 1998).

Hứa Hoành
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest