Bình Luận , Quan Điểm

vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

CHẾ ĐỘ DU ĐÃNG TRỊ

Chu Tất Tiến.
Ngày 15 tháng 6 năm 2010, dư luận xôn xao về việc Mục Sư Tôn, cô Quỳnh Trâm, và chị Hồ thị Bích Khương bị công an cộng sản bắt cóc, đem về đồn tra tấn, khiến chị Bích Khương phải nhập viện trong tình trạng nguy kịch. Cũng trong tháng 6, nhà báo tự do Tạ Phong Tần cho biết cô không thể rời nhà bất cứ lúc nào vì luôn luôn có một bọn du đãng đứng rình bên ngoài cửa, hễ cô đi ra, thì chúng lập tức bao vây, chụp lấy, trói giật cánh khuỷu về phía sau, rồi bị liệng lên xe cây như bao gạo. Sau vài tiếng đồng hồ, hay vài ngày, chúng thả cô về, không một lời xin lỗi. Kỹ Sư Đỗ Nam Hải cũng trong tình trạng như vậy, cũng bị du đãng tấn công. Chị Dương Thị Tân, vợ cũ của nhà báo mạng Điếu Cầy, thỉnh thoảng bị du đãng đánh đập dã man. Các nhà Dân Chủ khác, không ai thoát khỏi một lần bị bọn du đãng trấn lột. Nhín chung, thì chế độ Cộng Sản đang biến hình thành MỘT CHẾ ĐỘ DU ĐÃNG TRỊ.

Chế Độ Du Đãng Trị là một hiện thực, bên cạnh các chế độ Dân Chủ, Tư Bản, hay Cộng Sản. Chế Độ Du Đãng Trị không phải là một sản phẩm tưởng tượng mà đã hình thành ngay trong cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, và cái chế độ quái đản, kỳ cục đó chính là cái chế độ đang được áp đặt lên đất nước Việt Nam yêu quý của chúng ta. Điều đau lòng và công phẫn là hiện nay, các bạn củng với 80 triệu dân chúng đang sống dưới chế độ đó từng ngày từng giờ mà hình như chưa rõ ràng nhận thức được.

Để có thể nhìn rõ hơn bộ mặt của chế độ Du Đãng đó, người viết sẽ trình bầy sự khác biệt giữa 4 loại thể chế: Dân Chủ, Tư Bản, Cộng Sản, và Du Đãng.

1-Dân Chủ (Democracy): Theo Oxford American Dictionary, chế độ Dân Chủ là một hệ thống chính trị được điều hành bởi toàn thể dân chúng, những ai có đủ tư cách công dân được bầu lên qua các cuộc bỏ phiếu công khai. Ý niệm Dân Chủ, thực sự, đã thể hiện rực rỡ nhất dưới thời kỳ Pericles, người điều hành xứ Athen, 495(?) – 429 trước Công Nguyên. Vào giai đoạn này, người dân được tự mình điều hành công việc chính trị bằng những buổi thảo luận công khai, trong đó, quyền phát biểu của mọi người dân đều ngang bằng nhau. Người quản lý quốc gia chỉ giữ vai trò điều hành trật tự trước sau và thi hành những nghị quyết của toàn dân. Cảnh sát giữ nhiệm vụ thứ yếu vì khi mà toàn dân đã đồng thuận về mọi vấn đề kinh tế và tài chánh, sẽ không có chênh lệch quá đáng giữa người giầu và người nghèo, vì thế sẽ không có trộm cướp. Tội ác rất hiếm xẩy ra, vì mọi người đều quan tâm lẫn nhau. Nếu có tội ác, nguyên nhân thường do bệnh hoạn tâm trí cá nhân mà thôi. Quân đội được lập ra để bảo vệ biên cương, mà không có bất cứ quyền hạn gì trên dân chúng. Vì thế, hầu như toàn dân đều cảm thấy hạnh phúc, thoải mái. Đất nước Dân Chủ được phát triển mạnh mẽ trên mọi phương diện. Ý niệm Dân Chủ hiện đang được theo đuổi trên các đất nước văn minh và tiến bộ.

2-Tư Bản (Capitalism): Cũng theo Oxford American Dictionary, chế độ Tư Bản là một hệ thống chính trị và kinh tế trong đó những sự trao đổi thương mại và kỹ nghệ đều do tư nhân điều hành chứ không phải do chính phủ. Thực tế, quan niệm này bổ xung cho quan niệm Dân Chủ, chứ không phải một hệ thống chính trị biệt lập với chế độ Dân Chủ, vì trong Dân Chủ có Tư Bản, ngược lại, dưới chế độ Tư Bản, người dân vẫn được hưởng quyền lợi về Dân Chủ. Các quốc gia được gọi là nước tư bản như Mỹ, Anh, Pháp.. vẫn áp dụng lý thuyết Dân Chủ nhưng đồng thời đề cao giá trị Tư Bản của mọi người dân.

3-Cộng Sản (Communism): Lý thuyết chính trị được đề ra bởi Karl Marx và Engels, cổ võ cuộc chiến tranh giai cấp để dẫn tới một xã hội trong đó nhà cầm quyền làm chủ mọi công cụ sản xuất, tư liệu sản xuất, tài sản cũng như trí tuệ và bản thân nhân dân. Mọi người làm việc theo năng lực và hưởng theo nhu cầu. Theo Carl Marx và Engels, chế độ Tư Bản là một sự bóc lột không dân chủ, nói đúng ra, là kẻ thù của nhân dân và cần phải trừng trị tuyệt đối bằng cách lật đổ chế độ Tư Bản qua bạo lực của nhân dân. Những ý tưởng cực đoan, quá khích này đã được phổ biến rộng rãi trên nhiều địa lục, tạo ra các cuộc chiến tranh tàn khốc, tiêu diệt hàng trăm triệu người. Riêng tại Liên Xô, trên 10 triệu người đã bị giết vì bị ghép tội mang theo người tư tưởng Tư Bản. Các nước Ba Lan, Hung ga ry, Tiệp Khắc, Đông Đức.. vẫn kỷ niệm những năm tháng khủng khiếp dưới chế độ Cộng sản với hàng triệu triệu người bị treo cổ, bị bắn, bị thủ tiêu tàn nhẫn. Tại Trung Cộng, trên 30 triệu người đã bị giết một cách kinh hoàng qua các cuộc đấu tố, cải cách, sự bùng nổ của Hồng Vệ Binh, và các lần thanh trừng đẫm máu các đấu thủ chính trị.

Đến nay, sau gần 1 thế kỷ tung hoành, lý thuyết Cộng Sản đã hiện rõ là một lý thuyết không tưởng, mãi mãi không bao giờ có thể thực hiện được trên bất kỳ một đất nước nào. Campuchea là một thí dụ điển hình gần gụi nhất. Với những lãnh tụ Cộng Sản cực đoan Pôn Pốt, Iêng Sari, gần một phần tư dân số bị tiêu diệt thê thảm. Tất cả những ai có học, có đeo kính, có chút tài sản đểu bị giết sạch để thể hiện một chế độ Cộng Sản đầy tính súc vật. Những cánh đồng chết mênh mông đầy sọ người. Những căn nhà giam cuối đời lủng lằng dây xích và xương. Và điều Bất Hạnh cho nhân loại là lý thuyết Cộng Sản, tuy được chứng minh là đầy tính súc vật như thế, vẫn còn được đề cao tại một số quốc gia chậm tiến tại Phi Châu, hoặc đang phát triển trong vòng kềm tỏa chính trị như Trung Cộng, Cuba và Việt Nam,

4-Chế Độ Du Đãng Trị: Hiện nay, chế độ chính trị tại Việt Nam vẫn còn mệnh danh là chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, một giai đoạn trung gian, chuyển tiếp trước khi tiến đến chế độ Cộng Sản toàn trị. Nhưng, thực tế, có khi nào mà đất nước Việt Nam trở thành Cộng Sản được không? Như đã viết ở trên, vì tính chất súc vật tàn bạo như vậy, chắc chắn là KHÔNG BAO GIỜ, VĨNH VIỄN không có một cái chế độ Cộng Sản được thực hiện trên trái đất này. Với trình độ văn minh tiên tiến, với tốc độ thông tin đi xa hàng triệu dặm vòng quanh trái đất chỉ trong một nháy mắt, nhân loại sẽ hiểu rõ bộ mặt thực của lý thuyết Cộng sản và sẽ không chấp nhận cho một chế độ Cộng Sản nào được xây dựng.

Nhưng, vậy thì, chế độ hiện nay đi về đâu? Những đảng viên Cộng Sản đã từng giơ tay thề trung với Đảng sẽ như thế nào? Xin thưa: chế độ này sẽ trở thành một chế độ Du Đãng, các Đảng viên Cộng Sản sẽ biến hình thành các tay Du Đãng có vũ khí, có sức mạnh đàn áp nhân dân trên một mặt trận toàn diện, toàn điểm, và khốc liệt.

Tại sao lại gọi là chể độ hay thể chể Du Đãng? Nhìn lại các cuộc đàn áp nhân dân gần đây, từ Thái Hà, Tòa Khâm Sứ, Tam Tòa, rồi Bát Nhã, Lâm Đồng, và hàng trăm vụ hành hung các nhà Dân Chủ.. đâu đâu chúng ta cũng thấy lực lượng Du Đãng được cử đến để tiêu diệt nhân dân. Những tên vô lại có hung khí, gào thét những câu chửi bới thô tục, hăm dọa giết dân, rồi dùng vũ lực trấn áp những người dân, những tín đồ Công Giáo, Phật Giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo không có vũ khí trong tay. Từ Linh Mục, Thượng Tọa, hay Mục Sư đến các vị lãnh đạo các tôn giáo khác, đểu bị đánh, đập, xô đẩy, giật, cướp. Các em Thiếu Nhi Thánh Thể bên Công Giáo cũng không tránh khỏi bị lôi lên xe, đấm đá. Trong các vụ Dân Oan biểu tình từ Bắc xuống Nam, đều có Du Đãng đến tấn công. Lực lượng Công An được gửi tới hiện trường thì chỉ để nhằm bắt giữ những người Yêu Nước, những Dân Oan chỉ biết nói lên tiếng nói công chính, đòi nhà cầm quyền Du Đãng trả lại tài sản và công lý cho nhân dân.

Những kẻ vẫn tự xưng là “đầy tớ của nhân dân” thì ung dung nhậu nhẹt “mút chỉ cà tha” tại các nhà hàng sang trọng mà một bữa nhậu của họ tương đương với một,hai năm lương của nhân dân, những người mà họ xưng tụng là “người chủ của đất nước”. Các Giám Đốc, Tổng Giám Đốc, sống huy hoàng như những Đại Gia Mafia, có người hầu xách cặp, bưng bô, có cận vệ nữ, có nguyên một dàn hộ tống trước sau, có những em Trợ Lý xinh như “gái gọi”, có nhiệm vụ duy nhất là chi tiền ăn, uống, tẩm bổ, mát xa, mát gần… Các biệt thự, sân Gôn của các Đại Gia Mafia đều được đánh giá là 4,5 sao, có nơi nghĩ mát còn hơn siêu sao, nghĩa là đạt giải nhất quốc tế. Những nhà lãnh tụ này điều hành đất nước như chuyện Du Đãng, nghĩa là tùy ý các quan, muốn sao được vậy, không cần tính toán hạch toàn kinh tế cấp quốc gia. Xây xưởng, xây công trình cả ngàn tỷ đồng rồi bỏ xó. Các đại gia hể hả thi hành câu: “nhất phá sơn lâm, nhì đâm hà bá”, vung tay chặt cây, phá rừng, mặc cho bão lụt tràn xuống giết dân, chưa kể dựng đập thủy điện bừa bãi, cả trăm cái đập trong một phạm vi đủ cho hai, ba cái, rồi thu hết nước hạ nguồn, giết ngư dân, nông dân chết khô. Khi bão lũ kéo tới, các tay du đãng này cho xả lũ, cứu đập, lôi luôn ra biển hàng trăm mạng người và hàng chục làng xã. Toàn bộ thiên nhiên, môi trường đều biến thành mục tiêu cho các nhà lãnh đạo Du Đãng này chơi xả láng, tiêu hủy tiềm năng của đất nước, tiêu diệt nguồn sống của muôn thế hệ mai sau. Đất đai mà Tổ Tiên hàng 4000 năm gầy dựng bán tuốt cho Tầu, miễn sao tiền vào đầy túi.

Để bảo vệ đặc quyền đặc lợi này, nhà nước lại vung tay bắt nhốt tất cả những ai dám nói lên lời “Yêu Nước”, những người phản đối việc bán đất, dâng biển, những ai dám nói lên câu: “Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam”, những người viết trong “blog” những lời yêu nước. Nhà nước Du Đãng này, vì muốn tiêu diệt triệt để các tâm hồn yêu nước nên gán cho họ tội danh “âm mưu lật đổ chế độ” như đã gán cho người trẻ Nguyễn Tiến Trung, Phạm Thanh Nghiên, và tất cả những nhà đấu tranh cho Dân Chủ, cho một nước Việt Nam toàn vẹn lãnh thổ. Nhưng, theo quy luật muôn đời của xã hội, bạo phát bạo tàn, tất cả thái độ du đãng này cùng chế độ du đãng trị sẽ có một ngày bị diệt vong, khi toàn dân ý thức được đây là một chế độ đi ngược lại tiến trình tiến hóa của nhân loại, lúc đó, thì không một lực nào cản được sức mạnh của toàn dân Việt, trên đường tiến đến Độc Lập và Vinh Quang.

Chu tất Tiến.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Sài Gòn - Những điều trông thấy mà đau đớn lòng


Đây không phải là một phóng sự hay một bài nghiên cứu xã hội với những phương pháp khoa học của nó - mà chỉ là những điều vụn vặt mắt thấy tận nơi , tai nghe tận chỗ - ghi lại môt cách trung thực ..Tôi thấy bộ mặt Saigòn đổi mới với : Những khách sạn 5 sao , 4 sao lộng lẫy . Đổi mới với những nhà hàng '' vĩ đại '' trên các tuyến đường du lịch . Với những trung tâm ''thư giản'' sang trọng, quý phái cở câu lạc bộ Lan Anh ..Với những vũ trường cực kỳ tráng lệ như vũ trường New Century Hànội . Với những trường Trung học tư thục mang tên Mỷ, giáo sư Mỷ, chương trình học của Mỷ, giảng dạy bằng tiếng Mỳ- học sinh phải trả học phí bằng tiền Mỷ - 600US$ đến 1000US$ /tháng (giai cấp nào đủ sức trả học phí nầy cho con?)Tôi cũng hiểu rằng các nơi nầy là nơi ăn chơi của vương tôn công tử ''đỏ'', các nhà giàu mới - thân nhân các quyền lực đỏ đứng đàng sau , các quan chức đỏ đô la đầy túi . Họ đến đây để ''thư giản'', uống rượu , đánh bạc ,cá độ và tìm gái . Uống chơi vài chai rượu ngoại VSOP , XO là chuyện thường. Mỗi đêm có thể tiêu hàng ngàn đô la Mỷ cũng không phải là điều lạ.
Trong khi lương tháng của một thầy giáo Trung học trường công không đủ để trả một chai rượu XỌ Vụ MPỤ18 cá độ hàng triệu US $ đã bị phanh phui..là một thí dụ cụ thể . Vũ trường New Century bị Công an đến giải tán vì các công tử và tiểu thư con các quan chức lớn nhảy đã rồi...'' lắc'' suốt đêm. Vài hôm sau - đâu cũng vào đó .Tôi cũng thấy Sàigòn- người, xe và phố xá dầy đặc, nghẹt thở - vài tòa cao ốc mọc lên vô trật tự - ở xa xa,có cái trông giống như chiếc hộp quẹt ..nhà cửa mặt tiền hầu hết đều lên lầu nhiều tầng. Kiến trúc hiện đại .Vật liệu nhập cảng đắc tiền . Nhà trong hẻm - phần lớn cũng lên nhiều tầng cao nghệu. Có nhiều khu xây cất bừa bãi, nhô ra thụt vào như những chiếc răng lòi sĩ vô duyên, lấn chiếm ngang ngược đất công hoặc lề đường...
Tôi thấy Sàigòn bị ô nhiểm trầm trọng với hằng triệu tiếng động cơ , ngày đêm đinh tai nhức óc và 3.000.000 chiếc Honda - phun khói mịt mù - chưa kể đến xe hơi. Và hệ thống cống rảnh lạc hậu - mỗi khi trời mưa lớn - nước rút không kịp, ứ đọng tràn ngập nhà cửa . Hệ thống đổ rác còn lạc hậu.. không đáp ứng nổi nhu cầu thải rác của 8.000.000 dân nhun nhúc như kiến..
Sàigòn đầy dẫy những hàng ngoại do công ty ngoại quốc sản xuất tại chỗ ..hàng lậu của Trung quốc tràn vào vô số kể.. Máu kinh tế Việt Nam bị loảng ra. Nhưng chế độ xã nghĩa im thin thít chịu trận, không dám một lời phản kháng. Một chiếc xe Honda nhãn hiệu Trung quốc giá khoản chừng 1000 đô la Mỷ ..chưa kể hàng Trung quốc lậu thuế, rẻ mạt.. Thuốc lá và bia - bia nội, bia ngoại - có đủ .. Nhậu và hút là 2 cái mốt bình dân thời thượng nhứt ở Sàigòn. Đảng viên, cán bộ - giai cấp thống trị - nhậu .. Già nhậu, trẻ nhậu... con nít cũng tập tành nhậu .. Hút thì khỏi nói .. Giai cấp cán bộ răng đen mã tấu bây giờ là giai cấp nắm thống trị - đã lột xác - không còn quấn thuốc rê, bập bập phà khói mịt mù nữa - mà lúc nào cũng lấp ló một gói 3 con 5 , Craven A, trong túi. Lãnh đạo hút, cán bộ hút, dân chúng hút - thậm chí con nít 9,1 0 tuổi ở đồng quê cũng phì phà điếu thuốc một cách khoái trá.. Các hảng bia và thuốc lá ngoại quốc đã tìm được một thị trường tiêu thụ béo bở. Cán bộ lớn cũng âu phục, cà vạt hẳn hoi, xe hơi bóng loáng.. nhưng bộ răng hô, mái tóc bạc thếch, và nước da mốc mốc .. cũng không dấu được nét thô kệch của một anh nhà quê lên Tỉnh ..Tôi còn thấy Sàigòn với hiện tượng ''tiếm công vi tư'' lộng hành, ngang ngược của Công an đến độ dân chúng quen thuộc, xem là một chuyện đương nhiên như chuyện hối lộ đã trở thành cái lệ .. bất thành văn trong chế độ xã nghĩa. Chiếm đoạt một nửa công viên, xây nhà gạch dùng làm quán cà phê .. Chưa thỏa mãn - ban đêm còn dọn thêm bàn ghế trên sân cỏ của phần công viên còn lại và thắp đèn màu trên mấy chậu kiểng cho thêm thơ mộng .. Ông chủ bự nầy chắc chắc không phải là dân thường. Ông lớn nầy xem công viên như đất nhà của ông vậy . Ai có dịp đi ngang qua mũi tàu - nơi gặp gở của 2 đường Nguyễn Trải và Lê Lai cũ, ngang hông nhà thờ Huyện Sĩ - thì rõ .

Còn nhiều.. rất nhiều chuyện lộng hành chiếm đất công,l ấn lề đường nhan nhãn ở khắp Saigòn. Chỉ đưa ra vài thí dụ cụ thể : Một công thự tại vườn Tao đàn (có lẽ là nhà cấp cho viên Giám đốc Công viên Tao đàn) - mặt tiền ngó vào trong - mặt hậu nhìn ra phía đường Nguyễn Du (Taberd cũ ) - bèn có màn trổ cửa mặt sau nhà , xây thêm phía sau thành 2 căn phố thương mãi mặt tiền ngó ra đường Nguyễn Du , trị giá mỗi căn, nhiều trăm ngàn mỷ kim - ngon ơ ! Tương tự như vậy - ở góc đường Thành Thái và Cộng Hoà cũ .. trước sân nhà của ông Hiệu Trưởng trường Quốc gia Sư Phạm trước 75 - phố thương mãi, quán xá la liệt chiếm mất mặt tiền. Ngang ngược và lộng hành nhứt là 2 căn phố thương mãi bên hông trường Trương minh Ký, đường Trần hưng Đạo , chễm chệ xây lên ngay bên góc phải sân trường như thách đố dân chúng ..Còn trên lề đường khá rộng trước câu lạc bộ CSS cũ, bây giờ là câu lạc bộ Lao động - nhiều gian hàng thương mãi bán quần áo ,giày vớ thể thao .. buôn bán ầm ỉ, náo nhiệt suốt ngày.Công an chiếm đất công, xây nhà tư. Công viên, lề đường trước nhà dân là đất riêng của Công An. Công an sử dụng làm chỗ gửi xe, bịt kín cả lối đi vào nhà .. Không ai dám hó hé. Im lặng là an toàn.Thưa gửi là dại dột. Mà thưa với ai?Tất nhiên là phải thưa với công an. Không lẽ công an xử công an ? Tướng CS Trần Độ phản ảnh còn rõ rệt hơn : ''Xã hội Việt Nam ngày nay là một xã hội vô pháp luật mà phần đầu tiên gây ra là Đảng. Không thể nào chống tham nhũng được vì nếu Đảng chống tham nhũng thì Đảng chống lại Đảng sao? '' ( Nhật ký ''Rồng rắn'' của Trần Độ ) .Nón cối, nón tai bèo, dép râu, áo chemise xùng xình bỏ ngoài chiếc quần màu xanh của người cán bộ CS ngơ ngác khi mới vào Sàigòn - đã biến mất.. Cũng không còn thấy những chiếc áo dài tha thướt của những cô gái đi dạo phố ngày cuối tuần trên các đại lộ Lê Lợi, Lê thánh Tôn, Tự do những ngày trước 75 nữa. Thay vào đó là một đội ngũ phụ nữ - mũi và miệng bịt kín bằng ''khẩu trang'', găng tay dài đến cùi chỏ, cỡi Honda chạy như bay ... trên đường phố .Tôi còn thấy những người nghèo khổ chở trên chiếc xe thồ, những thùng carton và bao túi Ny long, chồng chất lên nhau cao ngất như sắp đổ xuống ...những bà cụ già, những cậu bé tuổi đáng được ngồi ở ghế nhà trường.. những anh phế binh cụt tay, cụt chưn, lê lết trên một miếng ván gổ ....đi bán vé số ( một cách ăn xin trá hình)

Bộ mặt Sàigòn ''đổi mới'' bằng những khách sạn lộng lẫy, những câu lạc bộ thời thượng, những phố xá thương mãi sang trọng, những hiệu kim hoàn lóng lánh kim cương, những nhà hàng ăn vĩ đại , những vũ trường cực kỳ tráng lệ, những biệt thự đồ sộ nguy nga mới xây bằng vật liệu ngoại đắt tiền .. trang trí cây cảnh như một mảng vườn Thượng uyển của vua chúa ngày xưa .. những xe hơi bóng loáng nhởn nhơ trên đường phố - nhiều người chóa mắt .. choáng váng , cho là ''Việt Nam bây giờ tiến bộ quá''. Riêng Phó thường dân tôi tự nghĩ : Như vậy có phải là tiến bộ không ? Sự tiến bộ của một nước cần phải nhìn về nhiều mặt : Mặt y tế và giáo dục, mặt đời sống vật chất và tinh thần của dân chúng.. Lợi tức đầu người của Việt Nam - theo thống kê của báo The Economist - bằng : 555 US$ năm 2007 ( Hà Nội bốc lên 730 US $ )chỉ hơn Lào và Cambodia chút đỉnh .. So với các nước láng giềng : Thái Lan : 2550 US $ - Phi luật Tân : 1040US$ - Nam Dương : 1160US$ .Tân gia Ba 24840US$ .( The Economist World, năm 2007 - p.158, 176, 238 ) - Việt Nam còn lẹt đẹt đàng sau rất xa . Và trước bộ mặt thay đổi choáng ngợp nầy - nếu đặt câu hỏi : Ai là chủ nhân của những xe hơi, khách sạn- vũ trường, những thương hiệu lớn, những biệt thự lộng lẫy kia ? - thì câu trả lời không sợ sai lầm là của cán bộ đảng viên (tại chức hoặc giải ngủ) hoặc con cháu thân nhân của họ. Và ở thôn quê - giai cấp giàu có bây giờ là ai ? giai cấp địa chủ là ai ? Có phải do của cải của ông cha để lại hay do sự kinh doanh tự do, mua bán làm ăn mà có ? ?Cho dù núp dưới cái hào quang chiến thắng ''đánh Tây, đuổi Mỷ'' - cho dù che giấu, lấp liếm, giải thích thế nào chăng nữa - thì dân miền Nam ( gồm cả Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do ) vẫn thấy một sự thật. Sự thật đó là người Bắc XHCN tràn ngập, chiếm hữu toàn bộ phố xá thương mãi trọng yếu của Sàgòn. Làm sao nói khác được khi đi một vòng quanh Sàigòn .. và các khu phố sầm uất nhứt .. vào những hiệu buôn lớn để mua hàng hay hỏi han chuyện trò thì thấy toàn là người Bắc Cộng sản - từ cô bán hàng đến bà chủ ngồi phía trong - cũng toàn là người của xã hội chủ nghĩa miền Bắc. Các tiệm buôn lớn trước 75- như các tiệm vàng Nguyễn thế Tài, Nguyễn thế Năng, Pharmacie Trang Hai, tiệm Émile Bodin của bầu Yên, nhà hàng Bồng Lai, Thanh Thế, Nguyễn văn Đắc, Phạm thị Trước ... hiện nay, một số đã đổi bảng hiệu hoặc xây cât lại ..nhưng đều do người miền Bắc XHCN làm chủ. Các cơ sở khác như nhà hàng ăn lớn, tiệm phở, công ty thương nghiệp, dịch vụ lớn, những tiệm buôn bán dồ nhập cảng v.v.. cũng đều do người Bắc XHCN chiếm giữ .. Tuy không có con số thống kê chính xác nhưng tự mình đi đếm hàng trăm tiệm buôn sang trọng quanh các khu phố lớn ở Sàigòn.. thì khám phá ra được chủ nhân là người Bắc XHCN . (Tất nhiên là vợ con,thân nhân cán bộ lớn ) .Những gái Bắc XHCN bán hàng là con cháu của chủ nhân người Bắc CS (do các cô tự nói ra ) . Các cô chiêu đãi viên trên phi cơ VNHK đều là người Bắc thân nhân hay con cháu cán bộ - dĩ nhiên - vẻ mặt lạnh lùng, hách dịch với người Việt Nam và khúm núm lịch sự với khách ngoại quốc..Cán bộ, công nhân viên trọng yếu - cũng đều là người Bắc - trừ một số cán bộ gốc miền Nam tập kết - theo đoàn quân viễn chinh vào đánh chiếm miền Nam - thì cũng kể họ là người XHCN miền Bắc ..Hệ thống quyền lực từ trên đến dưới - từ Trung ương đến địa phương - từ Tỉnh thành đến quận lỵ, thị trấn, làng xả gần - đều do đảng viên người miền Bắc XHCN - nắm giữ. Những công Ty dịch vụ có tầm cở, những công Ty thương mãi sản xuất lớn - điển hình là một công Ty vận tải và du lịch có đến 6000 xe hơi đủ loại.. chủ nhân cũng là người Bắc XHCN. Từ chính trị đến văn hóa , từ giáo dục đến truyền thông, từ nhà cầm quyền cai trị đến chủ nhân cơ sở thương mãi, sản xuất - cũng do người miền Bắc XHCN nắm giữ ..

Đó là sự thật trước mắt ai cũng thấy . Còn những vàng bạc, kim cương, đô la ,tài sản tịch thu, chiếm đoạt được trong các cuộc đánh tư sản, cải tạo công thuơng nghiệp - nhà cửa của tù cãi tạo, của dân bị đuổi đi kinh tế mới, những tấn vàng của VNCH để lại, những luợng vàng thu được từ những người vuợt biên bán chánh thức - tài sản những người thuộc diện tư sản - toàn bộ tài sản nầy từ Saigòn đến các Tỉnh miền Trung, miền Nam - được đem đi đâu ?
- Không ai biết .Thông thường - những của cãi nầy phải được sung vào công quỷ - để làm việc công ích như các ông cộng sản thường rêu rao bằng những mỹ từ đẹp đẻ.. Thế nhưng - sự thật trước nhứt - là các ông đem chia chác nhau . Chia nhau một cách hợp hiến và hợp pháp theo Luật pháp XHCN ( Đọc Đất đai-Nguồn sống và Hiểm Họa của Tiến sĩ Nguyễn thanh Giang). Ông lớn lấy tài sản lớn .Ông nhỏ - nhà cửa nhỏ . Có ông cán bộ trung cấp chiếm hữu đến 4, 5 căn nhà. Ở không hết ... đem cho công Ty ngoại quốc thuê. Điều phổ biến nhứt là các ông cán bộ nầy - vì lo sợ cái gì đó - bèn đem '' bán non'' những căn nhà đó lấy tiền bỏ túi trước. Một căn nhà của một viên chức tù cãi tạo đã sang tay đến 3 đời chủ. Nhà cửa thuộc diện tù cải tạo là dứt khoát phải tịch thu - không ngoại lệ . Những trường hợp con ruột có hộ khẩu chánh thức còn được phép ở lại - là những biện pháp vá víu. Chủ quyền căn nhà nầy là Nhà nước XHCN .. Không chỉ có những người thuộc diện cải tạo công thương nghiệp, tù cải tạo, vượt biên mà người dân thường có nhà cửa phố xá ..đều bị '' giải phóng'' ra khỏi nhà bằng nhiều chánh sách : Đuổi đi kinh tế mới, dụ vào hợp tác xả tiểu công nghiệp, mượn nhà làm trụ sở, cho cán bộ vào ở chung (chủ nhà chịu không nổi... phải bỏ đi ), đổi tiền để vô sản hoá người dân, khiến họ bắt buộc phải bán tất cả những gì có thể bán để mua gạo ăn, cuối cùng chịu không nổi, phải bán nhà với giá rẻ bỏ..để vô hẻm ở, ra ngoại ô hoặc về quê ... Cán bộ hoặc thân nhân cán bộ miền Bắc XHCN tràn vào ''mua'' nhà Saigòn với giá gần như cho không...và bây giờ là chủ những căn nhà mặt tiền ở Saigòn.

Mang xe tăng T.54, cà nông Liên xô, AK Trung cộng, đẩy hàng hàng lớp lớp thiếu niên ''xẻ dọc Trường Sơn'' bằng máu , nước mắt và xác chết ... vào xâm chiếm miền Nam. Chiêu bài là ''giải phóng'' nhân dân miền Nam – nhưng sự thật khó chối cãi được - là vào để chiếm đoạt tài sản, đất đai , của cải, đuổi dân Saigòn (gồm cả người Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do ) ra khỏi Thủ Đô bằng nhiều chánh sách khác nhau - để bây giờ chính các ông đã trở thành những nhà tư bản đỏ triệu phú, tỉ phú đô la, vàng bạc kim cương đầy túi - những ông chủ công Ty có tầm vóc, những địa chủ đầy quyền lực ... Trương mục ở nước ngoài đầy nhóc đô la. Con cái du học ngoại quốc (Trường hợp con Thủ Tướng CS Nguyễn tấn Dũng đang du học Mỷ là trường hợp điển hình) .. Như vậy hành vi nầy gọi là gì ? Trong những lúc canh tàn rượu tỉnh - một mình đối diện với luơng tâm thuần luơng của mình - các ông tự gọi mình đi . Đến thời ''mở cửa'' - cơ hội hốt tiền còn nhiều hơn..gấp bội. Tư bản ngoại quốc ồ ạt đầu tư, khai thác dầu khí, thâu đô la Việt kiều về thăm quê hương - đô la khách du lịch ngoại quốc, bán đất cho Công Ty ngoại quốc xây cất cơ xưởng, cấp giấy phép các công Ty ngoại quốc, các dịch vụ đấu thầu xây cất cầu cống, làm đuờng xá, xây cất đại công tác. Những món nợ kếch xù từ Ngân hàng thế giới, từ quỷ tiền tệ quốc tế - những món nợ trả đến mấy đời con cháu cũng chưa dứt .. Những đại công tác nầy mặc sức mà ăn.. no bóc ké.. Nhiều công trình vừa xây cất xong ...đã muốn sụp xuống vì nạn ăn bớt vật liệu. Một thí dụ diển hình : Một bệnh viện gần chợ ''cua'' Long Hồ - quê hương của Phạm Hùng - nước vôi còn chưa ráo .. đã muốn sụp . Hiện đóng cửa không sử dụng được.
Hiện tượng người Bắc XHCN khống chế toàn bộ, làm chủ nhân ông mọi lãnh vực , chiếm hữu nhà cửa, phố xá thương mãi ở những khu thương mãi quan trọng nhứt - là một sự thật không thể chối bỏ. Cán bộ lớn đã trở thành những nhà tài phiệt đầy quyền lực - những ông chủ lớn giàu có nhứt lịch sử .
Trong khi dân chúng miền quê - nhứt là miền Nam - ngày càng nghèo khổ, thất nghiệp kinh niên .. Khoản cách giàu nghèo càng lớn - đời sống cán bộ và dân chúng càng ngày cách biệt ..Giàu thì giàu quá sức. Nghèo thì nghèo cùng
cực ..

Nhà văn - bác sĩ Hoàng Chính - gọi thời kỳ sau 75 là thời ''Bắc thuộc'' :
- ''Năm Bắc thuộc thứ 2 : Lưu vong tại quê nhà trong cái đói lạnh ..
- Năm Bắc thuộc thứ 6 : Cầu cho em nhỏ 10 tuổi đầu đủ cơm ăn giữa bầy thú hát điên cuồng chuyện thù oán.
- Năm Bắc thuộc thứ 12 : Trong ngục thất quê hương ấy, có những bộ xương thôi tập khóc cười ..'' Miền Bắc XHCN đem quân xâm chiếm miền Nam để khống chế nơi đó bằng sự đô hộ hà khắc và tinh vi.BÔ MẶT THÔN QUÊ MIỀN NAMCó nhìn tận mắt, nghe tận nơi , mới hình dung được khuôn mặt miền Nam sau 32 năm dưới chế độ cọng sản . Để được trung thực - người viết ghi những điều thấy và nghe - không bình luận - tại những nơi đã đi qua . Thôn quê miền Nam - những làng xóm gần tỉnh lỵ quận lỵ đã có điện . Những làng xã xa xôi hẻo lánh vẫn còn sống trong sự tăm tối . Đường sá có tu sửa phần nào ..Đường mòn đi sâu vào thôn xóm được lót bằng những tấm dalle lớn ( đường xóm Cái nứa,Cái chuối xã Long Mỷ VL), xe Honda và xe đạp chạy qua được. ''Cầu tre lắt lẻo'', cầu khỉ được thay thế bằng cầu ván, cầu đúc (vật liệu nhẹ ) . Cầu tiêu công cộng trên sông các chợ quận (Cái bè, Cái răng ) nay không còn thấy nữa . Nhà cửa dọc theo bờ sông Cần Thơ - chen vào những nhà gạch ngói, nhà tôn - còn nhiều nhà lá nghèo nàn. Tương tự như vậy - dọc theo bờ sông Long hồ - một số nhà gạch nhỏ mới cất ..xen kẻ những mái lá bạc màu . Vùng Trà ốp, Trà cú (Vĩnh Bình) , chợ Thầy Phó (Vĩnh Long ) nhiều nhà gạch mới xây nhưng vẫn không thiếu nhà lá, nhà tôn. Đường mòn chạy sâu vào thôn xóm vẫn còn đường đất lầy lội vào mùa mưa nước nổi..
Hai bên đường xe chạy từ Mỷ Tho, Cao Lãnh, Châu Đốc, Hà Tiên, Rạch Giá ,Cần Thơ .. Nhìn chung - có một sự thay đổi rõ rệt . Nhà cửa, hàng quán dầy đặc , động cơ ồn ào, người ta chen chúc .. Cảm giác chung là ngột ngạt, khó thở . Những vườn cây xanh um bên đường đã biến mất .. hoặc thụt sâu vào trong , không còn thấy nữa. Không còn vẻ đẹp thiên nhiên ngày nào của vườn xoài cát sai hoằng, mát mắt vùng Cái Bè, An Hữu ,vườn mận Hồng Đào chạy dài hang mấy cây số ở Trung Lương ...
Dưới sông - từ kinh Vỉnh Tế chảy dài ra sông Tiền Giang - hai bên bờ toàn là nhà sàn, phía sau chống đở sơ sài bằng những trụ cây tràm. Mỗi nhà hoặc 2, 3 nhà đều có cầu tiêu tiểu bắc phía sau. Tắm rửa giặt giũ, múc nước lên uống, phóng uế - cũng cùng trên một dòng sông. Không có gì thay đổi. Làng Chàm còn gọi là chà Châu Giang cũng còn đó. Cũng nghèo như trước. Những chiếc ghe vừa dùng làm nhà ở, vừa là hồ nuôi cá .. Basa, cá điêu hồng v.v.. ở dọc bờ sông khá dài ..Dường như ngành nầy hoạt động khá mạnh . Dọc trên những nhánh phụ lưu của 2 con sông Tìền và sông Hậu - người ta không còn thấy bóng dáng của những cô gái thướt tha trong chiếc áo bà ba và chiếc quần lãnh Mỷ A , chèo ghe tam bản , bơi xuồng như thời trước 75 nữa .. Hỏi một ông già tên Ph. tại Cái Răng,được trả lời : '' Đi lấy Đại Hàn, Đài Loan hết rồi ông ơi !'' Tôi hỏi thêm : '' Các cô gái có nghe nhiều người bị gạt bán vào ổ mãi dâm, nhiều cô gái bị chồng bắt làm lao động khổ sai, bị ngược đãi, đánh đập .. các cô gái nầy không sợ sao ông ? - '' Biết hết - mấy cổ biết hết, báo Tuổi trẻ đăng hàng ngày. Nhưng cũng có những cô có chồng Đại Hàn, cho tiền cha mẹ xây nhà gạch .. Cô khác thấy vậy ham . Phần nghèo , phần không có việc làm kinh niên. Họ liều đó ông. Biết đâu gặp may.'' Câu chuyện gái Việt lấy chồng Đại Hàn, Đài Loan hiện không ai là không biết .

Tờ Tuổi trẻ - số ra ngày mùng 1 Tết năm Đinh Hợi - trong bài : '' Nỗi đau từ những con số''- có nói đến số phận của 65000 phụ nữ đang làm vợ những ông chồng Đài Loan già, tàn tật đui mù, làm vợ tập thể cho cả gia đình cha lẫn con. Cũng do tờ báo nầy : ''Tại một tổ chức kết hôn lậu, hàng chục cô gái đang ''bày hàng'' để 2 ông Hàn quốc tuyển chọn làm vợ và 118 cô gái khác đang nằm, ngồi, lố nhố chờ đến luợt mình '' Và cũng do tờ Tuổi Trẻ số phát hành ngày 25-04-2007,viết : ''Hơn 60 cô gái ,tuổi từ 18 đến 20 từ miền Tây Nam bộ lên Saigòn để dự tuyển .Các chàng rể Hàn Quốc được quyền soi xem kỷ, chú ý đến cả từng vết thẹo trên thân thể cô gái. Dich vụ môi giới hôn nhân lậu có chiều hướng gia tăng. Chỉ trong vòng nửa tháng mà Công An đã phát hiện 3 vụ môi giới hôn nhân trái phép ở quận 6, 10 và Tân Bình với gần 400 lượt cô gái hiện diện . Thậm chí - những cô gái được xe ôm chở tới địa điểm dồn dập gây náo loạn cả xóm''.

Người viết có lần lang thang trên đường Nguyễn tri Phương tìm quán ăn cơm trưa, có chứng kiến tại chỗ : Từng cặp trai gái lố nhố xếp hàng đôi trước cửa một trường học, để lần luợt vào trong. Hỏi một người trung niên lái xe Honda ôm, được anh trả lời : ' '' Đó là những người con gái đi lấy chồng Đài Loan và Đại Hàn. Hàng bên trong là những đang làm thủ tục xuất ngoại theo chồng. Hàng bên ngoài là những người đang vào ký giấy hôn thú sau khi đã qua các cửa ải môi giới và thủ tục tuyển lựa.''. Tôi nhìn kỷ các cô gái nầy tuổi rất trẻ .. khoản chừng 18 đến 20 ..đứng cặp với những anh Tàu già sồn sồn- có một người tàn tật. Không thấy có thanh niên trẻ. Nhìn cách ăn mặc và nghe họ nói chuyện - tôi đoán chừng họ đến từ miền Tây Nam Bộ. Đây là tổ chức môi giới chánh thức có giấy phép hành nghề ..

Song song với tổ chức chánh thức, còn có một tổ chức '' môi giới hôn nhân lậu''- sự thật là một tổ chức buôn người, chuyên đi dụ dỗ trẻ em và gái , nói gạt là đi bán hàng hay đi làm việc tại các cơ xưởng ngoại quốc nhưng làđể bán thẳng vào các ổ mãi dâm ở Kampuchia, Thái Lan, Ma cau.. để nơi đây huấn luyện trẻ em làm nô lệ tình dục..các cô gái làm điếm .. hoặc bán cho người Tàu bỏ tiền ra mua nô lệ .. Tất nhiên là phải có sự tiếp tay che chở ăn chia của Công An . Nói là lậu nhưng thật ra là nhan nhãn xảy ra hằng tuần - thậm chí hằng ngày trước mặt dân chúng tại các quận Bình Thạnh, quận 11..Sàigòn.

Cho dù chánh thức hay lậu.. hậu quả cũng gần giống nhau . Chánh thức thì có giấy phép, có công an làm thủ tục, chánh phủ thu tiền lệ phí . Lậu thì lén lút với sự che chở của Công An . Hậu quả gần giống nhau . Nhiều cô gái
về làm vợ mấy tên Đài Loan, Đại Hàn bị ngược đãi, đánh đập tàn nhẫn – ban ngày làm nô dịch.. ban đêm phục vụ tình dục.. rồi bán vào động mãi dâm lấy tiền gở vốn lại ..( Trại cứu giúp nạn nhân của cha Hùng ở Đài Bắc là một bằng chứng) Còn lậu thì .. bán thẳng vào ổ điếm. Biết bao nhiêu thảm cảnh .. biết bao nhiêu bi kịch thương tâm làm rúng động lương tâm nhân loại .Cựu Quốc Trưởng Sihanouk không giấu được nỗi xót xa trước thảm cảnh người phụ nữ Miên làm vợ mấy thằng Tàu ...lên tiếng kêu gọi họ trở về nước. Không thấy Việt Nam nói nửa lời !

Những cô gái nầy có biết những thảm kịch đau thương, những sự hành hạ, ngược đãi, đánh đập.. nầy khi lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn không ? Có bị cưỡng bức, bị dụ dỗ hay tự nguyện ? Cha mẹ có đồng ý hay cản trở ? Nguyên nhân nào đã thúc đẩy họ dấn thân vào con đường hiểm nguy, tương lai mù mịt..? Trừ những trường hợp bị dụ dỗ qua đường dây buôn người - những người con gái này thật sự là họ TỰ NGUYỆN . Họ còn phải vay tiền mua sắm, ăn diện , hối lộ để đuợc giới thiệu. Nhưng nguyên nhân nào thúc đẩy họ đi lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn ?

Có thể có nhiều nguyên nhân phức tạp . Phó thường dân tôi chỉ đưa ra vài nhận định thiển cận như sau : Quá nhiều chương trình ngăn chống lũ lụt, chương trình công nghiệp hóa, đô thị hoá..vừa bãi, không được nghiên cứu cẩn trọng.. đất đai canh tác bị thu hẹp. Dân số gia tăng..Khối lượng đông đảo người miền Trung, Bắc XHCN tràn vào .. Nông dân miền Nam thiếu đất canh tác.. Các cô gái miền Tây.. quẩn bách vì không có việc làm kinh niên - cuộc sống vô vọng mịt mờ - có nhiều trường hợp bị thúc đẩy vì cha mẹ mắng nhiếc, đay nghiến ..khi so sánh con gái mình với cô con gái làng bên có chồng Đại Hàn mang tiền về xây nhà gạch cho cha mẹ .Và cũng vì hấp thụ một nền giáo dục của chế độ CS (sinh sau 75 ) - những người trẻ tuổi không có ý niệm về luân lý đạo đức cũ .. thang giá trị bị đảo lộn.. nên họ không đặt nặng danh dự, sĩ diện như thời trước.. Do vậy - khi bị dồn vào đường cùng .. họ đành đánh liều nhắm mắt đưa chưn.. Nhưng động lực chánh là nghèo.. ;

NGHÈO.......Là nguyên nhân chánh đưa đẩy các cô gái miền Tây Nam Bộ đi lấy chồng Đại Hàn và Đài Loan ... để hy vọng thoát khỏi cảnh đời cơ cực , vô vọng không lối thoát.. Thế nhưng tại sao đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) - vựa lúa
nuôi sống cả nước - sau 32 năm dưới chế độ CS lại trở nên nghèo nhưvậy - nghèo hơn cả đồng bằng sông Hồng (ĐBSH ) ? Theo tiêu chuẩn nghèo từng vùng của Tổng cục thống kê Việt Nam - thì tỷ lệ ĐBSCL năm 1998 : ĐBSC : 37% .. ĐBSH : 29% . Năm 2002 : ĐBSCL : 13 % . ĐBSH : 9% . ( Nhà x.b Thống kê - Hànội, trang 13 - LVB trích dẫn ). Dù theo tiêu chuẩn nào : tiền tệ (tính bắng tiền hay bằng gạo) - mức sống ( bao gồm lương thực, nhà ờ, mứcsống văn hóa ) - ĐBSCL vẫn nghèo hơn ĐBSH - bởi lẽ khi nghèo về lương thực - thì khó có thể giàu về nhà ở và đời sống văn hoá .
Đó là cái nghèo mà anh Lâm văn Bé đã nhìn qua những con số có giá trị của những chương trình nghiên cứu thống kê khoa học . Và sau đây là cái nghèo miền Nam qua cái nhìn tận mắt , nghe tận nơi của người viết : Cái nghèo ở Việt Nam bao gồm cả thành thị lẫn thôn quê là cái nghèo thiếu trước hụt sau , ăn bữa sáng lo bữa chiều - cái nghèo của một nông dân , nhà dột nát .. khi trời mưa lúc ban đêm..không có chỗ để nằm phải tìm một góc nhà, phủ cái mền rách lên người ngồi run cằm cặp.. trước từng cơn gió lạnh buốt lùa vào căn nhà trống hốc... Cái nghèo của một người đi mượn tiền , muợn gạo.. tới ngày hẹn không tiền trả.. Cái nghèo của một thanh niên thất nghiệp ..cha bị lao phổi không tiền mua thuốc nằm ho sù sụ..mẹ bơi xuồng đi bán bắp nấu không đủ gạo cho một đàn con 4 đứa, mũi dãi lòng thòng đang bốc đất cát chơi ngoài sân
.
Tục ngữ bình dân có câu : Ít ai giàu 3 họ, khó 3 đời .- Có. Tôi quen biết ông Sáu S. làm nghề chày lưới.. ở sông Long Hồ. Đời con là anh Tư Te tiếp nối nghề nầy : nghề đi nhủi tép .. Và trên bờ sông Long Hồ năm nay ( 2007 )tôi thấy vợ chồng một cậu thanh niên tên M. vừa cặp xuồng vào bến, đem miệng nhủi còn dính đầy rong rêu phơi trên mái nhà lá đã nhuộm màu thời gian bạc thếch.. Hỏi thăm thì té ra là con của Tư Te .Đời ông nội - nghèo
! Đời cha nghèo ! Đời cháu cũng nghèo! Khó 3 đời đó. Cọng Sản đổi đời cho người giàu thành nghèo - không đổi đời cho người nghèo thành giàu ..Người nghèo vẫn tiếp tục nghèo. Nói chung thì nông dân Việt Nam chiếm 85% dân số mà đất không đủ để canh tác - còn công nghiệp không có khả năng biến nông dân thành thợ thuyền ..trong khi dân số lại gia tăng quá tải . Cho nên thất nghiệp không thể tránh . Nghèo là hiện thực . Tiến sĩ Lê đăng Doanh trong một bài phổ biến trên mạng,viết : ''Nông dân đã nghèo,đất đã kém đi ,nhưng mỗi năm thêm 1 triệu miệng ăn, lấy đâu ra mà ăn. Lao động vất vả mỗi ngày trên 8m2 đất thì lấy gì mà giàu có được ? '' MIỀN NAM - 32 NĂM DƯỚI CHẾ ĐÔ C.S ..Kinh tế Việt Nam - trong đó có miền Nam - có chút tiến bộ - so từ thời kỳ bao cấp đến thời kỳ mở cửa . Nhưng chỉ là tiến bộ với chính mình. Đối với các nước khác trong vùng thì còn lẹt đẹt .. cầm lồng đèn đỏ... Và điều quantrọng là sự phát triển nầy có đem lại phúc lợi cho dân chúng qua sự tái phân lợi tức quốc gia ,để tài trợ các chương trình y tế ,giáo dục ( hiện nhiều người nghèo không có tiền đóng học phí bậc Tiểu học cho con ) – các chương trình tạo công ăn việc làm , phát triển nông nghiệp, xây dựng hạ tầng cơ sở hay không ? Hay là phát triển bằng những con số báo cáo rổng tuếch ? Lợi tức tạo được đã bị cả hệ thống của những con virus tham nhũng đục nát cơ thể .. Và hiện tại - muốn phát triển công nghiệp - nhà cầm quyền địa phương - theo lệnh Đảng - mở rộng khu công nghiệp, khu du lịch, đã quy hoạch lấy đất, phá mồ phá mả , chiếm nhà dân một cách bạo ngược.. Lòng dân phẩn uất, kêu la than khóc.. Oán hận ngút trời xanh ! (19 Tỉnh miền Nam biểu tình khiếu kiện trước trụ sở quốc hội 2 Sàgòn ) . Như vậy có gọi là phát triển không ?

KẾT LUẬN

- 32 năm nhìn lại :Người ta thấy miền Bắc đã ''giải phóng'' dân Sàigòn ra khỏi đất đai, nhà cửa của họ . Họ phải rút vô hẻm, ra ngoại ô hay về quê bằng nhiều chánh sách khác nhau . ''Giải phóng'' miền ĐBSCL ra khỏi sự trù phú do thiên nhiên ưu đãi từ nhiều thế kỷ.''Giải phóng''quân nhân, viên chức chế độ cũ ra khỏi nhà, để đưa họ vào các trại tù cải tạo hoặc đẩy họ ra biển ...'' Giải phóng'' phụ nữ miền Tây, để họ được tự do đi làm ''vợ nô lệ'' , đi làm điếm ở Kampuchia, Thái Lan .. - 32 năm nhìn lại : Người ta thấy Việt Nam trở lại thời kỳ mua bán nô lệ như thời Trung cổ. Phụ nữ Việt Nam bị bán đấu giá trên E-bay Taiwan website(2003) - bị trưng bày trong lồng kính, cũng để bán đấu giá như một con súc vật ở Singapour (2005) . Chỉ trong năm 2005 - có khoản 400.000 phụ nữ và trẻ em bị bán ra ngoại quốc .. (Theo UNICEF - LHQ và Bộ Tư Pháp Việt Nam )

- 32 năm nhìn lại : Mượn lời nhà báo Claude Allegre, báo L'express ngày 29-8-2002 :'' Người ta không thể cho qua một cách im lặng những Khơ me đỏ, những trại tập trung ở Cambodia và những cuộc tàn sát man rợ ở đó. Và Việt
Nam không được biết đến như là một chế độ nhân đạo hơn . Dưới cái cớ là dân tộc can đảm nầy đã chiến thắng các siêu cường quốc - người ta đi đến chỗ quên đi một nền độc tài đẫm máu đang thực thi trên xứ sở đó ''

- 32 năm nhìn lại : Miền Bắc XHCN rõ ràng đã thiết lập một nền đô hộ miền Nam - khắc nghiệt, tinh vi hơn cả thời Pháp thuộc . Và điều quan trọng trên hết là Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước .Một trí thức Việt Nam lên tiếng cảnh cáo :'' Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước. Mất cả đất đai, sông núi và dân tộc.Việt Nam sẽ trở thành một tỉnh lẻ của Tàu (Trích Người việt hải ngoại - Nguyễn văn Trấn)

PHÓ THƯỜNG DÂN
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Image

ĐỘC LẬP CÓ RỒI, DÂN CHỦ Ở ĐÂU?

Phạm Trần
Những người lãnh đạo của đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam (CSVN) nói nhiều đến “quyền làm chủ của nhân dân” trong dịp Lễ độc lập lần thứ 65 để tưởng nhớ đến Hồ Chí Minh và Bản tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945, nhưng Độc lập có rồi, Dân chủ ở đâu?

Trước khi đi tìm xem “quyền làm chủ” của người dân nằm ở chỗ nào trong xã hội Việt Nam ngày nay, mọi người hãy nghe Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch Nước nói tại Lễ kỷ niệm ngày 1/9 (2010) ở Hà Nội : “Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc ta, một cuộc đổi đời chưa từng có đối với mỗi người dân Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám lật đổ chế độ phong kiến nhiều thế kỷ đã lỗi thời, đập tan xiềng xích thực dân gần 100 năm, giành chính quyền về tay nhân dân.

Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, một nhà nước kiểu mới - nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân được xây dựng.”

Nhưng 65 năm qua, cuộc đời của người dân Việt Nam đã thay đổi ra sao? Có phải Hồ Chí Minh đã tiêu diệt giấc mơ đổi đời của nhân dân ngay trong trứng nước bằng chiếc bánh vẽ đòan kết dân tộc, dân chủ trong việc thành lập các Chính phủ lâm thời (2-9-1945), Chính phủ Liên hiệp Lâm thời (1-1-1946) và Liên hiệp kháng chiến (2-3-1946) , trước khi lực lượng Cộng sản dùng mọi thủ đọan chính trị để nắm trọn vẹn Chính quyến trong Chính phủ mới ra đời ngày 3/11/1946.

Do đó khi Triết nói Cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã tạo nên “nhà nước kiểu mới - nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” là hòan tòan nói dối, một sự bịa đặt bôi nhọ lịch sử. Bởi vì nhân dân chỉ được đóng vai bù nhìn trong một thời gian ngắncho nền dân chủ sơ khai gỉa tạo do đảng CSVN đại diễn.

Triết còn tự chế ra rằng : “Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là thắng lợi của trí tuệ, bản lĩnh và tinh thần đấu tranh quật cường của toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh; là sự lựa chọn của chính nhân dân Việt Nam, của lịch sử dân tộc Việt Nam qua nhiều thập kỷ khảo nghiệm, tìm tòi con đường cứu nước; là kết quả tổng hợp của các phong trào cách mạng liên tục diễn ra trong 15 năm sau Ngày thành lập Đảng và để lại nhiều bài học lịch sử vô cùng quý giá cho cách mạng Việt Nam.”

Làm gì có chuyện đảng CSVN lãnh đạo Cuộc Cách mạng tháng 8 năm 1945? Nếu không tin thì Triết cứ đi hỏi những người có mặt trong ngày này hãy còn sống ở Việt Nam.

Nhà văn Tô Hải, một cựu đảng viên kỳ cựu đã nói thẳng chuyện Việt Minh “Cướp chính quyền từ trong tay Nhật + Pháp không hề có!. Mà đơn giản chỉ là một cuộc lật đổ một chính quyền còn non trẻ: Chính phủ Trần trọng Kim với những nhân vật nổi tiếng cả trong lẫn ngoài nước.”

Ông viết như hét ra từng chữ : “Nói trắng ra rằng, dân Việt Nam chẳng hề biết đến cái sự lãnh đạo tài tình nào của Đảng Cộng Sản trước cái ngày 19 tháng 8 năm 1945 ấy.”

Trong bài viết “Nhân ngày Quốc khánh 2/9, bàn chuyện chính danh”, Phó Giáo sư, Tiến Sỹ (Đại học Quốc gia Hà Nội) Phạm Duy Nghĩa đã bổ túc thêm : “Cách mạng tháng 8, đánh Pháp, đuổi Nhật, giành lại nền độc lập – người ta vẫn nói như thế nhân ngày Quốc khánh. Trên thực tế, vào tháng 8 năm 1945, Pháp đã mất Đông Dương, hàng vạn quan, lính Pháp đang bị Nhật cầm tù hoặc lẩn trốn nhục nhã ê chề. Vào tháng ấy, Nhật cũng đã bại trận, quân tướng mất tinh thần ủ rũ chờ ngày nộp vũ khí cho quân Đồng minh (Mỹ, Anh, Trung Hoa Dân quốc). Việt minh trên thực tế cũng tránh đánh Nhật… Như vậy, Cách mạng tháng 8, về bản chất là một cuộc khởi nghĩa cướp chính quyền trên danh nghĩa từ tay chế độ Bảo Đại - Trần Trọng Kim.”

Vậy mà Triết còn nói hươu nói vượn rằng sự thành công của Cuộc Cáh mạng tháng 8 năm 1945 đã để lại “ bài học về nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc.”

Liên kết độc lập với chủ nghĩa xã hội là hành động rất trơ trẽn. Hãy nhìn sang nước Ấn Độ, độc lập từ Anh quốc năm 1947 có cần phải đi theo chủ nghĩa xã hội theo kiểu Cộng sản chủ nghĩa để dành được độc lập đâu, hay người CSVN đã xã hội hóa chủ nghĩa Cộng sản để che đậy cho hành tung Cộng sản của mình?

Bằng chứng mặc “áo gấm đi đêm” của người CSVN còn lộ nguyên hình trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (gọi tắt là Cương lĩnh năm 1991) của Đại hội đảng kỳ VII tháng 6/1991. Cương lĩnh này, được coi như Kinh Thánh của đảng đã khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước ta theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Như vậy thì hành động phô trương theo “xã hội chủ nghĩa” bây giờ của người Cộng sản Việt Nam có khác chi với “chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng (Cộng sản) Hồ Chí Minh” không?

Tính gian dối của Bài diễn văn còn lộ ra khi Nguyễn Minh Triết kể công lực lượng Cộng sản đánh thắng quân Pháp năm 1954 ở Điện Biên Phủ.

Triết xuyên tạc rằng: “Thực dân Pháp vừa rút đi, đế quốc Mỹ lại nhảy vào xâm lược Việt Nam với mưu đồ biến miền Nam nước ta thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự chống chủ nghĩa xã hội. Trước thách thức chưa từng có trong lịch sử dân tộc, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta và Lời hiệu triệu “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả nước nhất tề ra trận, quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược. Trải qua cuộc chiến đấu trường kỳ, đầy hy sinh, oanh liệt, cuối cùng bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân ta đã giành thắng lợi vẻ vang, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu non sông về một mối.”

Triết sinh ngày 8 tháng 10 năm 1942 tại xã Phú An, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương ắt phải biết rõ hơn ai hết rằng Hoa Kỳ có xâm lược Việt Nam như quân đội Cộng sản miền Bắc xâm lăng miền Nam Việt Nam hay không?

Trong chiến dịch xâm lăng miền Nam của quân đội miền Bắc từ năm 1972 đến ngày chấm dứt chiến tranh 30 tháng 4 năm 1975 từ lâu đã được guồng máy tuyên truyền của đảng bịa đặt là “cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975” cũng được Triết lập lại như con vẹt trong Bài diễn văn. Triết không nhớ rằng khi lực lượng Bắc việt tiến gấn Sài Gòn thì lúc đó Triết là một Du kích quân Cộng sản miền Nam họat động ở vùng ven biên. Chẳng lẽ Triết không thấy dân miền Nam đã lũ lượt bồng bế nhau bỏ làng, bỏ xóm chạy về phía Quân đội Việt Nam Cộng hòa mỗi khi bị quân Cộng sản tấn công hay sao?

Vì vậy, kể cả người dân miền Bắc và Bộ đội Cộng sản chiếm Sài Gòn, ai cũng biết không làm gì có chuyện “nổi dậy” của người dân miền Nam chống Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa trong chiến dịch tấn côn quân sự năm 1975 của quân đội Cộng sản.

Lớn lên ở miền Nam trong chiến tranh chẳng lẽ Triết không thấy sự thật này mà còn ngang nhiên xuyên tạc lịch sử và danh dự Chủ tịch Nước của mình khi đồng lõa với những cuộc được gọi là “nổi dậy” tự chế này.

Nhưng Triết đã làm mà còn nói dối trước mặt cả Ngọai giao đòan nước ngòai có mặt trong buổi lễ.

Đâu phải chỉ có một mình Triết đã ăn nói hồ đồ về quyền làm chủ đất nước của người dân.

Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng còn hăng say bôi bác chuyên nghiệp hơn.

Trong Bài viết “Phát triển nhanh và bền vững là quan điểm xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta” được phổ biến mới đây, chỉ trong một đọan ngắn mà Dũng đã dùng tới 11 chữ “Dân chủ” để to son cho chế độ độc tài đảng trị phi dân chủ bậc nhất ở Đông Nam Á.

Dũng viết trong điểm thứ 5 : “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hành dân chủ (1) rộng rãi, nhất là dân chủ (2) trực tiếp, xây dựng xã hội đồng thuận, cởi mở.

Thực hiện dân chủ (3) là một thành tố của phát triển bền vững, được Đảng ta nêu rõ tại Đại hội Đảng lần thứ X, nhằm hoàn thiện, làm phong phú thêm nội dung phát triển bền vững. Điều này xuất phát từ luận điểm rất quan trọng: con người vừa là mục tiêu vừa là chủ thể của phát triển. Nguồn lực con người là lợi thế cạnh tranh dài hạn, là yếu tố quyết định sự phát triển của một quốc gia. Thực hành dân chủ (4) rộng rãi sẽ phát huy khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, đóng góp vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Dân chủ (5) càng cao thì đồng thuận xã hội càng sâu, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc càng được củng cố vững chắc.

Để phát huy dân chủ, làm cho dân chủ (6) trở thành nguồn lực phát triển, phải bảo đảm hai điều kiện: (1) tạo cơ hội cho mọi người được học tập, xây dựng xã hội học tập nhằm nâng cao dân trí; (2) thực hiện quyền làm chủ của nhân dân thông qua các thiết chế bảo đảm dân chủ (7) trong mọi mặt của đời sống xã hội, mở rộng dân chủ (8) trực tiếp.

Dân chủ (9) phải gắn với kỷ luật, kỷ cương.

Có thể nói nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường đi liền với bảo đảm phúc lợi - an sinh xã hội và dân chủ (10) xã hội chủ nghĩa là 3 trụ cột chính trong tiến trình phát triển của đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong đó, dân chủ (11) vừa là mục tiêu vừa là động lực. Cả 3 trụ cột này phải mạnh và có sự phát triển tương thích, đồng bộ. Một trụ cột yếu sẽ cản trở sự vận động của các trụ cột khác và ảnh hưởng đến sự phát triển chung.”

Nhưng đâu phải cứ nói phát triển dân chủ hay thực hiện dân chủ là người dân có dân chủ ? Bằng chứng dân chủ ở đâu khi người dân không có quyền ứng cử và bầu cử tự do, không có quyền được hội họp, lập hội, ra báo, lập đài phát thanh, truyền hình, tự do tôn giáo mà không phải gia nhập Mặt trận Tổ quốc của đảng?

Nếu ai ở Việt Nam cũng được tự do ăn nói, tự do phê bình nhà nước, tự do chỉ trích lãnh đạo thì đất nước đâu có nhiều bất công và cán bộ tham nhũng ngập đầu như bây giờ?

Luật sư mới ra tù Lê Thị Công Nhân đã chứng minh cho tình trạng phi dân chủ của đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam trong Cuộc Phỏng vấn của Báo điển tử Đối Thọai ngày 28-8-2010.

Chị nói : “Mọi cái trong đời sống dân sinh cơ bản nhất đều quá tải: giao thông quá tải, bệnh viện quá tải, trường học quá tải, môi trường quá tải, nhà tù lại càng quá tải chỉ có có pháp luật dân chủ và văn hóa dân chủ là cực kỳ thiếu thốn, thậm chỉ gần như không có. Tôi cho rằng, hậu quả của những sự quá tải kia là do thiếu thốn về dân chủ, thiếu thốn không phải vì nó không có, mà nó đã bị hủy diệt, lừa đảo, đánh tráo từ khi Việt nam rơi vào ách cai trị độc tài của băng đảng cộng sản. Có lẽ là tôi hơi đi xa so với câu hỏi rồi, nhưng mong quý vị cũng thông cảm cho tôi vì nói lên được suy nghĩ của mình cũng làm nhẹ lòng, mà nhẹ lòng thì chắc chắn là sẽ đỡ mệt hơn.”

Do đó lý luận dân chủ kiểu “thùng rỗng kêu to” của Nguyễn Tấn Dũng có gía trị gì trong đời sống của dân bây giờ?

Dũng còn khoe Nhà nước của Việt Nam bây giờ là “nhà nước pháp quyền” nhưng lại đảng lại dung túng và nuôi dưỡng những cán bộ, đảng viên coi dân như con tôm, cái tép muốn chà, muốn đạp lúc nào cũng được.

Hơn nữa nếu là một nhà nước pháp trị thì tại sao những kẻ tham nhũng có chức có quyền lại được bao che, để cho lọt luới pháp luật còn kẻ an cắp cò con lại bị ngồi tù khói trán?

Và nếu Nguyễn Tấn Dũng thật lòng muốn thực thi dân chủ và tôn trọng quyền làm chủ của dân thì tại sao lại ra lệnh cho Công an đàn áp những người dân yêu nước xuống đường chống Tầu tiếp tục chiếm đóng Hòang Sa (từ ngày 19 tháng 1 năm 1974) và toan tính đánh cuớp Trường Sa, sau khi đã chiếm mất 8 đảo của quần đảo này năm 1989 như đã xẩy ra ở Sài Gòn và Hà Nội năm 2007?

Cả Triết và Dũng hãy trả lời trước nhân dân về những hành động phản dân chủ của mình để cho dân biết dân chủ đang nằm ở đâu khi họ ăn mừng lễ Độc lập ?

Phạm Trần
(09/010)
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Đâu Là Chỗ Thực Sự Đáng Sợ Của Nước Mỹ?
(Đây là phần lược dịch bài nói ngày 11/9/2002 của ông Lưu Á Châu, hiện đang là Chủ nhiệm chính trị bộ đội Không quân của Quân khu Bắc Kinh.)

Trong quá khứ, vì để giúp Trung Quốc thoát khỏi ách thống trị thực dân mà Mỹ đánh bại Nhật, họ có cống hiến lớn đối với tiến bộ văn minh của xã hội Trung Quốc. Hai nước Trung Quốc- Mỹ không có xung đột lợi ích căn bản. Ngày nay, do lợi ích của Mỹ rải khắp toàn cầu nên 2 nước có xung đột. Nhưng chúng ta vẫn phải dùng tấm lòng đạo đức để bình xét sự vật chứ không thể kích động. Tôi từng nói rằng đối với Nhật, một nước từng tàn sát mấy chục triệu đồng bào ta, mà chúng ta thường xuyên nói 2 nước "phải đời đời kiếp kiếp hữu hảo với nhau". Thế thì chúng ta có lý do nào để căm ghét nhân dân Mỹ từng giúp ta đánh bại Nhật?

Đâu là chỗ thực sự đáng sợ của nước Mỹ?

Tuy rằng Mỹ có quân đội mạnh nhất thế giới, khoa học kỹ thuật tiên tiến nhất thế giới, nhưng tôi cho rằng những cái đó không đáng sợ. Nghe nói máy bay tàng hình của Mỹ thường xuyên ra vào bầu trời Trung Quốc rất thoải mái, nhưng điều ấy chẳng có gì đáng sợ cả. Cái đáng sợ của họ không phải là những thứ ấy.

Năm 1972, tôi học ở Đại học Vũ Hán, lên lớp giờ chính trị. Một thầy giáo khoa chính trị nói: "Nước Mỹ là đại diện của các nước tư bản mục nát, suy tàn, đã sắp xuống mồ, hết hơi rồi." Tôi, một sinh viên công nông binh mặc bộ quân phục, đứng ngay lên phản bác: "Thưa thày, em cảm thấy thầy nói không đúng ạ. Tuy rằng nước Mỹ không giống Trung Quốc là mặt trời nhô lên lúc 8- 9 giờ sáng, nhưng Mỹ cũng chẳng phải là mặt trời đang lặn gì gì đó, mà là mặt trời lúc giữa trưa ạ."
Thầy giáo bực mình, tái mét mặt ấp úng nói: "Cái cậu học sinh này, sao dám nói thế hả!" Ông ấy không hỏi tôi tại sao lại nói thế, mà dùng một chữ "dám". Lúc đó tôi thấy hết tâm trạng của ông.
Chính là cái nước tư bản mục ruỗng suy tàn ấy vào thập niên 90 thế kỷ trước đã lãnh đạo cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật mới nhất trên thế giới. Tôi tốt nghiệp đại học đúng vào lúc bắt đầu cải cách mở cửa. Tôi lại có một quan điểm: Nước Mỹ là quốc gia do hàng chục triệu con người không yêu tổ quốc mình hợp thành, nhưng họ đều rất yêu nước Mỹ. Hồi ấy rất nhiều người lãnh đạo vừa chửi Mỹ vừa gửi con cái mình sang Mỹ. Một sự tương phản lớn!

Nói một thôi một hồi rồi, vậy thì cái đáng sợ của Mỹ là ở đâu? Tôi cảm thấy có ba điểm.

Điểm thứ nhất, không thể coi thường cơ chế tinh anh của Mỹ. Chế độ cán bộ, chế độ tranh cử của Mỹ có thể bảo đảm những người quyết sách đều là tinh anh. Bi kịch của Trung Quốc chúng ta, lớn đến nhà nước, nhỏ tới từng đơn vị, phần lớn tình hình là người có tư tưởng thì không quyết sách, người quyết sách thì không có tư tưởng. Có đầu óc thì không có cương vị, có cương vị thì không có đầu óc.

Nước Mỹ ngược hẳn lại, cơ chế hình tháp của họ đưa được những người tinh anh lên. Nhờ thế, 1 là họ không mắc sai lầm; 2 là họ ít mắc sai lầm; 3 là mắc sai lầm thì có thể nhanh chóng sửa sai. Chúng ta thì mắc sai lầm, thường xuyên mắc sai lầm, mắc sai lầm rồi thì rất khó sửa sai.

Mỹ dùng một hòn đảo Đài Loan nhỏ xíu để kiềm chế Trung Quốc chẵn nửa thế kỷ. Nước cờ này họ đi thật linh hoạt, thật thần kỳ. Một Đài Loan làm thay đổi hẳn sinh thái chính trị quốc tế. Điều tôi lo ngại nhất là bộ khung chiến lược phát triển Trung Quốc trong thế kỷ mới sẽ vì vấn đề Đài Loan mà biến dạng. Ngày nay, đối với các dân tộc có thế mạnh thì tính quan trọng của lãnh thổ đã giảm nhiều, đã chuyển từ tìm kiếm lãnh thổ sang tìm kiếm thế mạnh của quốc gia.

Người Mỹ không có yêu cầu lãnh thổ đối với bất cứ quốc gia nào. Nước Mỹ không quan tâm lãnh thổ, toàn bộ những gì họ làm trong thế kỷ XX đều là để tạo thế. Tạo thế là gì? Ngoài sự lớn mạnh về kinh tế thì là lòng dân chứ còn gì nữa! Có lòng dân thì quốc gia có lực ngưng tụ, lãnh thổ mất rồi sẽ có thể lấy lại. Không có lòng dân thì khẳng định đất đai anh sở hữu sẽ bị mất. Có nhà lãnh đạo quốc gia chỉ nhìn một bước. Nước Mỹ hành sự thường nhìn 10 bước. Vì thế cho nên mỗi sự kiện lớn toàn cầu xảy ra sau ngày Thế chiến II chấm dứt đều góp phần làm tăng cường địa vị nước Mỹ. Nếu chúng ta bị họ dắt mũi thì có thể sẽ mất hết mọi con bài chiến lược.

Tôi nhiều lần nói là trung tâm chiến lược của Mỹ sẽ không chuyển sang châu Á đâu, song điều đó không có nghĩa là Mỹ không bao vây Trung Quốc. Rất nhiều bạn chỉ thấy Mỹ bao vây Trung Quốc về quân sự, cũng như rất nhiều người chỉ thấy khoảng cách chênh lệch về KHKT và trang bị vũ khí giữa 2 nước mà chưa nhìn thấy sự mất cân đối nghiêm trọng hơn sự lạc hậu về trang bị trên mặt chiến lược lớn, nhất là trên tầng nấc ngoại giao.

Sau vụ 11/9, Mỹ nhanh chóng chiếm Afghanistan trong vòng 2 tháng, từ phía Tây bao vây Trung Quốc. Sức ép quân sự của Nhật, Đài Loan, Ấn Độ cũng chẳng bớt đi. Xem ra chúng ta giành được từ vụ 11/9 một số lợi ích trước mắt, song các lợi ích đó không quá 1- 2 năm có thể biến mất. Tôi cho rằng bao vây chiến lược đối với Trung Quốc là một kiểu khác, không phải là quân sự mà là siêu việt quân sự.

Bạn xem đấy, mấy năm gần đây các nước xung quanh Trung Quốc tới tấp thay đổi chế độ xã hội, biến thành cái gọi là quốc gia "dân chủ". Nga, Mông Cổ thay đổi rồi, Kazakhstan thay đổi rồi. Cộng thêm các nước trước đây như Hàn Quốc, Phillippines , Indonesia , lại cộng thêm vùng Đài Loan. Đối với Trung Quốc, sự đe doạ này còn ghê gớm hơn đe doạ quân sự. Đe doạ quân sự có thể là hiệu ứng ngắn hạn, còn việc bị cái gọi là các quốc gia "dân chủ" bao vây là hiệu ứng dài hạn.
Điểm thứ hai, sự độ lượng và khoan dung của nước Mỹ. Bạn nên sang châu Âu, sau đó sang Mỹ, bạn sẽ thấy một sự khác biệt lớn: Sáng sớm, các đường phố lớn ở châu Âu chẳng có người nào cả, còn tại Mỹ sáng sớm các phố lớn ngõ nhỏ đều có rất nhiều người tập thể dục, thậm chí cả ngày như thế. Tôi có một câu nói: Tập thể dục là một phẩm chất, tập thể dục đại diện cho một kiểu văn hoá khí thế hừng hực đi lên. Một quốc gia có sức sống hay không, chỉ cần xem có bao nhiêu người tập thể dục là biết.

Người Mỹ có thể lấy quốc kỳ làm quần lót để mặc. Hồi ở Mỹ tôi có mua một chiếc quần cộc cờ sao vạch. Tôi thường xuyên mặc chiếc quần ấy. Tôi mặc nó là để khinh miệt nó, là để trút giận, là một dạng trút sự bực bội và thoả mãn về tâm lý. Người Mỹ mặc nó là sự trêu chọc bỡn cợt, bản chất khác. Người Mỹ có thể đốt quốc kỳ nước mình ngoài phố. Đới Húc [7] nói: Nếu một quốc gia có thể đốt cả quốc kỳ của mình thì anh còn có lý do nào đi đốt quốc gia ấy nữa?

Điểm thứ ba, sức mạnh vĩ đại về tinh thần và đạo đức. Đây là điều đáng sợ nhất. Vụ 11/9 là một tai nạn. Khi tai hoạ ập đến, thể xác ngã xuống trước tiên, nhưng linh hồn vẫn đứng. Có dân tộc khi gặp tai nạn thể xác chưa ngã mà linh hồn đã đầu hàng. Trong vụ 11/9 có xảy ra 3 sự việc đều có thể để chúng ta qua đó nhìn thấy sức mạnh của người Mỹ. Việc thứ nhất, sau khi phần trên toà nhà Thương mại thế giới bị máy bay đâm vào, lửa cháy đùng đùng, tình thế ngàn cân treo sợi tóc. Khi mọi người ở tầng trên qua cửa thoát hiểm chạy xuống phía dưới, tình hình không rối loạn lắm.

Người ta đi xuống, lính cứu hoả xông lên trên. Họ nhường lối đi cho nhau mà không đâm vào nhau. Khi thấy có đàn bà, trẻ con hoặc người mù tới, mọi người tự động nhường lối đi để họ đi trước. Thậm chí còn nhường đường cho cả một chú chó cảnh. Một dân tộc tinh thần không cứng cáp tới mức nhất định thì dứt khoát không thể có hành vi như vậy. Đứng trước cái chết vẫn bình tĩnh như không, e rằng không phải là thánh nhân thì cũng gần với thánh nhân.

Việc thứ hai, hôm sau ngày 11/9, cả thế giới biết vụ này do bọn khủng bố người A Rập gây ra. Rất nhiều cửa hàng, tiệm ăn của người A Rập bị những người Mỹ tức giận đập phá. Một số thương nhân người A Rập cũng bị tấn công. Vào lúc đó có khá nhiều người Mỹ tự phát tổ chức đến đứng gác trước các cửa hiệu, tiệm ăn của người A Rập hoặc đến các khu người A Rập ở để tuần tra nhằm ngăn chặn xảy ra bi kịch tiếp theo.

Đó là một tinh thần thế nào nhỉ. Chúng ta thì từ xưa đã có truyền thống trả thù. Thành Đô nơi tôi ở, ngày xưa Đặng Ngải [8] sau khi chiếm được Thành Đô, con trai của Bàng Đức [9] giết sạch giá trẻ gái trai gia đình Quan Vũ. Trả thù đẫm máu, lịch sử loang lổ vết máu không bao giờ hết.

Việc thứ ba, chiếc máy bay Boeing 767 bị rơi ở Pennsylvania vốn dĩ bị không tặc dùng để đâm vào Nhà Trắng. Sau đấy hành khách trên máy bay vật lộn với bọn khủng bố nên mới làm máy bay rơi. Vì lúc ấy họ đã biết tin toà nhà Thương mại thế giới và Lầu Năm Góc bị máy bay đâm vào nên họ quyết định không thể không hành động, phải đấu tranh sống chết với bọn khủng bố.
Cho dù trong tình hình ấy họ còn làm một chuyện thế này: Quyết định biểu quyết thông qua có nên chiến đấu với bọn khủng bố hay không. Trong giờ phút quan hệ tới sự sống chết ấy, họ cũng không cưỡng chế ý chí của mình lên người khác. Sau khi toàn thể mọi người đồng ý, họ mới đánh bọn không tặc. Dân chủ là gì; đây tức là dân chủ. Ý tưởng dân chủ đã thấm vào sinh mạng của họ, vào trong máu, trong xương cốt. Một dân tộc như thế mà không hưng thịnh thì ai hưng thịnh. Một dân tộc như thế không thống trị thế giới thì ai có thể thống trị thế giới.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Image

Nước Mỹ của Tôi và Ước Mơ Về Nguồn

Sơn Tùng
“Có điều gì vượt xa hơn con người đang xảy ra. Hôm nay nước Mỹ bắt đầu quay trở về với Thượng đế.” Glenn Beck nói lớn và được các loa khuếch âm chuyển tới gần nửa triệu người đã đáp lời kêu gọi của ông ta từ mọi nơi về tụ họp trước Điện Tưởng niệm Abraham Lincoln ở thủ đô Washington sáng ngày Thứ bảy 28.8.2010.

Nhưng, Glenn Beck là ai?

Ông ta không phải là một nhà truyền giáo lớn. Không phải là lãnh tụ một đảng chính trị đang nuôi mộng vào toà Bạch ốc. Cũng không phải là một siêu sao màn ảnh hay âm nhạc.

“Tôi chỉ là một người cha, một công dân ưu tư,” Glenn Beck trả lời trong một cuộc phỏng vấn của Chris Wallace trên hệ thống truyền hình Fox News sau cuộc biểu dương khổng lồ được gọi là “Restoring Honor” (Phục hồi Danh dự).

Số người tham dự (được ước tính từ 300,000 tới nửa triệu) được so sánh với năm cuộc biểu dương quan trọng nhất tại Washington trước đây.

Vụ đầu tiên diễn ra vào ngày 3.3.1913 khi khoảng 5,000 phụ nữ và những người ủng hộ tập họp và diễn hành tại Washington để đòi quyền đi bầu cho phụ nữ. Họ đã bị đám đông la ó chống đối gây ra bạo động khiến nhiều người bị thương.

Vụ thứ hai vào ngày 17.6.1932, khoảng 20,000 cựu chiến binh cuộc Thế Chiến I đã diễn hành tại Washington để đòi trả trước tiền thưởng được hứa hẹn khi họ đầu quân. Nhiều người đã bị thương và chết khi xô xát bùng nổ.

Vụ thứ ba là cuộc biểu dương và diễn hành của 250,000 người ngày 28.8.1963 do TS. Martin Luther King Jr. lãnh đạo để đòi việc làm và tự do cho người da đen với bài diễn văn đi vào lịch sử “I Have A Dream”.

Vụ thứ tư là cuộc biểu tình của hơn nửa triệu người ngày 15.11.1969 do “Phong trào Phản chiến” tổ chức để đòi Mỹ rút quân ra khỏi Việt Nam và chấm dứt chiến tranh.

Vụ thứ năm là cuộc biểu dương của người da đen được mệnh danh là “Million Man March” để đàn ông da đen tự hối và tự hứa cải thiện mối quan hệ với gia đình và cộng đồng. Số người tham dự được ước tính từ 400,000 tới 800,000.

Cuộc biểu dương ngày 28.8.2010 của Glenn Beck trùng với ngày của Martin Luther King 47 năm trước, nhưng Beck nói rằng đó chỉ là ngẫu nhiên, không có chủ tâm. Tuy nhiên, đã có những liên hệ giữa hai biến cố lịch sử này.

Glenn Beck, 46 tuổi, chưa sinh ra đời khi Martin Luther King đọc bài diễn văn “I Have A Dream”, nay đứng trước thềm Điện Tưởng niệm Lincoln, chỉ cách vài bước nơi mà Mục sư King đã đứng gần nửa thế kỷ trước, ông ta và các diễn giả khác đã kêu gọi dân Mỹ trở về với những giá trị và nguyên tắc của các Cha già Lập quốc đã tạo nên đất nước vĩ đại này. Trong các diễn giả nổi tiếng có cựu Thống đốc Alaska Sarah Palin và Tiến sĩ Alveda King, cháu của Martin Luther King. Bà Alveda King nói: “Tôi cũng có một ước mơ. Tôi có một ước mơ rằng…mỗi người trong mọi sắc tộc sẽ tiếp nhận tất cả mọi người như anh chị em trong tình yêu thương của Thượng đế.”

Nhưng, cách đó vài khu phố, con trai của Martin Luther King Jr., Martin Luther King Jr. III, đã tham dự một cuộc mít-tinh khác do Mục sư Al Sharpon tổ chức để tưởng niệm ngày này 47 năm trước nhưng với số người tham dự nhỏ hơn nhiều – vài ngàn tụ họp quanh bức tượng của Mục sư King. Các diễn giả đã thay nhau chỉ trích cuộc biểu dương của Glenn Beck được cho là những người cực hữu với sự căm hờn. Hầu hết báo chí, truyền thông dòng chính tại Mỹ cũng dán nhãn hiệu như vậy cho Glenn Beck và miệt thị cuộc biểu dương mang tính chất “về nguồn” của ông ta.

Glenn Beck nhắc nhở người tham dự không nên mang theo những biểu ngữ chính trị và xác nhận rằng đây không phải là một cuộc biểu dương chính trị. Ông ta và các diễn giả thuộc nhiều thành phần trong xã hội Mỹ đã thay phiên nhau kêu gọi mọi người hãy trở về với đức tin tôn giáo và làm một cái gì để thay đổi con đường đang đưa nước Mỹ xa dần những giá trị và nguyên tắc của thời lập quốc.

Những tiếng reo hò đáp ứng của một biển người đáp lại đã vang dội vùng trời Washington một ngày nắng đẹp cuối tuần nhưng đã không xảy ra một vụ bạo động nào, không có một vụ bắt giữ nào. Mấy trăm ngàn người đã biểu lộ sự hiền hoà và ý thức công dân rất cao. Khi họ rời khu vực tập họp sau mấy tiếng đồng hồ đứng dưới trời nắng, không một vỏ chai hay bao giấy bỏ lại trên những bãi cỏ xanh. Trái với cũng nơi này vào ngày Tổng thống Obama tuyên thệ nhậm chức đầu năm 2009, khi đám đông ra về đã để lại phiá sau một biển rác.

Cuộc biểu dương đã không xảy ra một sự đáng tiếc nào ngoài chương trình. Tuy nhiên, ít người biết chính Glenn Beck đã phải mặc một chiếc áo giáp chống đạn khi ông ta say sưa truyền giảng về đức tin, hy vọng và lòng nhân ái trên thềm Điện Tưởng niệm Lincoln. Beck biết rõ tính mạng ông ta bị đe dọa, và sau cuộc biểu dương, ông ta đã không tiết lộ danh tánh những người đã tham gia vào việc tổ chức vì không muốn họ phải sống trong ác mộng như mình.

Từ mấy năm nay, Glenn Beck, một người đàn ông cai rượu và tín đồ Mormon cải đạo, đã trở thành kẻ thù số một của phe tả tại Mỹ trong khi ông ta được hàng triệu người coi như một nhà tiên tri tân thời qua một chương trình phát thanh và một “sô” truyền hình hàng ngày trên Fox News. Với kiến thức uyên bác, với lối lập luận đanh thép và trình bày đầy nhiệt tình pha lẫn hài hước, Glenn Beck liên tục tấn công phe tả qua những dẫn chứng cụ thể cho thấy họ đang đưa nước Mỹ đi vào chỗ suy đồi bằng cách phủ nhận những giá trị và nguyên tắc mà George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, John Adams… theo đuổi để không đầy 200 năm đã đưa đất nước của những người di dân tạp chủng lên hàng siêu cường số một thế giới.

Quả thật không thể chối cãi trong hơn 200 năm qua, Hoa Kỳ đã vươn lên từ miền bắc tây bán cầu hoang dã để đóng vai trò lãnh đạo thế giới về chính trị, khoa học, kinh tế…, và với sức mạnh quân sự vô địch, Hoa Kỳ đã hai lần cứu Âu Châu và thế giới khỏi họa độc tài qua hai trận Thế Chiến, và đã loại trừ mối đe dọa của Đế quốc Đỏ Liên-Sô trong Thế kỷ 20.

Sau Chiến tranh Lạnh, vị thế siêu cường duy nhất trên thế giới của Hoa Kỳ bị lung lay vì sự vươn lên của nước Trung Hoa Đỏ và cuộc chiến tranh kéo dài với Hồi giáo cực đoan. Ngày nay, Hoa Kỳ không còn hùng mạnh như trước, và đang bị chỉ trích ở khắp nơi, của cả thù lẫn bạn, nhưng người ta khó chối cãi rằng nếu thế giới không có nước Mỹ thì trong vòng 48 tiếng đồng hồ, mặt đất này sẽ biến thành biển lửa và nhân loại sẽ sống trong cảnh điêu linh chưa từ từng thấy với những địa ngục ở Trung Đông, ở Bắc Á, Trung Á, ở Đông Âu mà lâu nay chiến tranh không bùng nổ là vì những hung thần hiếu chiến vẫn còn sợ sức mạnh của anh “sen đầm quốc tế” Hoa Kỳ.

Người Mỹ là dân tộc hào hiệp đã đóng góp nhiều nhất cho tiến bộ và hoà bình thế giới, nhưng cũng bị ganh ghét và ít được biết ơn, đúng như nhận định của một người ngoại quốc, Gordon Sinclair, một nhà bình luận trên truyền hình Canada, sau khi Mỹ bị khủng bố Hồi giáo tấn công ngày 11.9.2001:

“Người Gia-nã-đại này nghĩ rằng đây là lúc để nói thay cho người Mỹ, một dân tộc quảng đại nhất và có thể cũng ít được biết ơn nhất trên mặt đất.

“Nước Đức, nước Nhật và, ít kéo dài hơn, Anh và Ý, đã được Mỹ vực lên từ đống gạch vụn của chiến tranh bằng cách đổ vào vài tỉ đô-la và xóa bỏ nhiều tỉ đô-la tiền nợ khác. Ngày nay, không nước nào trong số này đang trả ngay cả chỉ tiền lời của số nợ còn thiếu Hoa Kỳ.

“Khi nước Pháp ở trong nguy cơ sụp đổ năm 1956, chính người Mỹ đã kéo nước ấy dậy, và phần thưởng cho họ là bị lăng mạ và vu khống trên đường phố Paris. Khi ấy tôi đã ở đó. Tôi đã nhìn thấy.
“Khi động đất xảy ra tại các thành phố xa xôi, chính Hoa Kỳ đã vội vã tới trợ giúp. Mùa xuân năm nay, 59 cộng đồng tại Mỹ bị san bằng vì những trận bão lốc. Không một ai giúp đỡ.

“Kế hoạch Marshall và Chính sách Truman đã bơm nhiều tỉ đô-la vào những quốc gia không còn hy vọng. Ngày nay, báo chí tại những nước này đang viết về những người Mỹ tồi bại, gieo rắc chiến tranh…

“Tôi có thể kể tên cho bạn năm ngàn lần khi người Mỹ chạy tới cứu các dân tộc khác trong cơn nguy khốn. Bạn có thể nói cho tôi chỉ một lần khi ai đó chạy tới giúp người Mỹ trong lúc khó khăn?”

Hiển nhiên trên đây chỉ là một phần trong những đóng góp của người Mỹ về của cải vật chất để cứu nguy các dân tộc khác, chưa kể đến những đóng góp trong những lãnh vực khác, và chưa kể đóng góp quý nhất: máu của hàng triệu thanh niên Mỹ đã đổ xuống mọi miền đất trên thế giới để Tự do có thể nở hoa.

Ngày nay nước Mỹ đang trên đà xuống dốc, về kinh tế tài chánh, quân sự, cũng như đạo đức xã hội. Và đúng như Glenn Beck đã khẩn thiết kêu gọi người Mỹ:

- Chỉ có một người có thể thay đổi tình trạng này. Người ấy là bạn. Nếu bạn không làm gì cả, sẽ không có gì xảy ra.

Hàng triệu người đã nghe lời ông ta, và hàng trăm ngàn người đã đổ tới Washington ngày 28.8 từ mọi nơi trên nước Mỹ để tạo nên một biến cố mà ít ai nghĩ có thể xảy ra. Sau biến cố vĩ đại ấy, Chris Wallace hỏi Glenn Beck có ý định ra tranh cử tổng thống vào năm 2012 không. Beck trầm ngâm cho biết không có ý định ấy và giải thích: “Nước Mỹ đang có vấn đề, và chính trị không phải là giải pháp vì chính trị quá chia rẽ.”

Giải pháp mà Glenn Beck đưa ra là “về nguồn”. Trở về với những giá trị và nguyên tắc khởi thủy đã làm nên nước Mỹ vĩ đại trước đây. Nhờ dựa trên những giá trị và nguyên tắc ấy, những người di dân lớp trước đã đặt nền móng cho một quốc gia tự do đầu tiên khác hẳn Âu Châu, nơí mà họ đã rời bỏ để đi tìm đất mới, giải phóng mọi trói buộc, tạo điều kiện cho sự phát triển tối đa của con người về trí tuệ cũng như tâm linh. Và “phép lạ” đã xảy ra. Chỉ hơn 100 năm, miền đất hoang dã ở phiá bắc tây bán cầu đã trở thành một siêu cường dân chủ giàu mạnh nhất thế giới, thiên đường ước mơ của mấy tỉ con người chìm đắm trong lầm than trên mặt đất.

Rồi những người di dân lớp sau tiếp tục đến từ mọi lục địa đã có được cơ hội để mưu tìm hạnh phúc và thành công lớn, đồng thời cũng đóng góp vào sự hùng mạnh của xứ sở này.

Đất nước quảng đại này đã đón nhận khoảng hai triệu người Việt Nam trong một hoàn cảnh đặc biệt, và sau ba mươi năm, đã xác định một điều: họ đã hội nhập dễ dàng, và trong môi trường tự do người Việt Nam đã phát triển tài năng và góp mặt bình đẳng trong mọi lãnh vực của xã hội Mỹ.

Nhưng cộng đồng người Mỹ gốc Việt đã mang những nét đặc thù: nói chung, người Việt Nam đã đến Mỹ vì lý do chính trị nên đã mang theo những quá khứ khó thể xóa mờ và có nhiều gắn bó với quê hương cũ. Thậm chí, có những người vẫn coi đất nước này chỉ là nơi tạm dung thân, dù đã trở thành công dân Mỹ hàng chục năm. Họ quan tâm tới những gì diễn ra tại Việt Nam hơn là chuyện thời sự nơi xứ sở này”, và chưa bao giờ sử dụng lá phiếu của một công dân Mỹ. Họ coi đó là chuyện của người khác.

Từ nhiều năm nay, dù không thể dứt bỏ những ràng buộc tâm linh với quê hương cũ, và vẫn tự coi mình là một người Việt tị nạn, tôi cảm nhận sâu xa đất nước này là quê hương thứ hai của mình với mối liên hệ mỗi ngày một thêm đâm rễ nẩy cành. Tôi không thấy mình khác với những di dân lớp trước. Với tư cách là một công dân xứ này, tôi vui niềm vui của họ, tôi buồn nỗi buồn của họ, tôi lo cái lo của họ.

Tôi hiểu dân Mỹ đang có những mối ưu tư, và sẽ có những quyết định lớn vào ngày bầu cử đầu tháng 11 sắp tới. Tôi cũng có mối ưu tư và chuẩn bị như họ. Những cuộc bầu cử sắp tới sẽ có những kết quả khít khao mà tôi nghĩ lá phiếu của công dân Mỹ gốc Việt sẽ có tính cách quyết định ở vài nơi.

Xin Thượng đế phù hộ cho “nước Mỹ của tôi”.

Sơn Tùng (5.9.2010)
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

MỘT VÀI NHẬN ÐỊNH VỀ
quan niệm và thái độ PHI CHÁNH TRỊ của người Việt hải ngoại
cùng công cuộc đấu tranh cho một nước
VIỆT NAM TỰ DO - DÂN CHỦ hiện nay

Nguyễn Thế Phong

Tôi là một kẻ hậu sinh, không có được cái diễm phúc diện kiến hay chính tai nghe được những gì Gs Nguyễn Ngọc Huy đã nói hoặc trình bày. Tuy nhiên như hàng triệu triệu những sinh viên học sinh và thanh niên khác của VN, tôi đã thổn thức và dâng trào lòng yêu nước, tự hào về di sản và sự hy sinh của hằng ngàn thế hệ cha ông cho sự độc lập và vẹn toàn lãnh thổ qua những vần thơ và tấm gương tận tuỵ, mẫu mực, khiêm tốn và tận hiến vô bờ bến cho dân tộc và đồng bào của giáo sư.

Từ sự kính phục đó, tôi đã tìm hiểu nhiều hơn về tinh thần, học thuyết và những di cảo mà giáo sự Huy đã để lại. Những di sản và công trình nghiên cứu quý giá mà GS để lại đã giúp rất nhiều cho những người hậu sanh như chúng tôi để hiểu và xử dụng trong nỗ lực giải quyết những bài toán hóc búa mà dân tộc VN và cộng đồng người Việt hải ngoại đã và đương phải đương đầu.

Một trong những bài toán ấy là một câu nói, một quan niệm và môt hiện tượng đã xãy ra truớc năm 1975 và càng ngày càng phổ biến hiện nay trong cộng đồng ngưòi Việt tỵ nạn hải ngoại của một số tổ chức tôn giáo, từ thiện và văn hoá, văn nghệ hoặc cá nhân cho rằng: “Tôi/chúng tôi/ tổ chức của chúng tôi chỉ làm từ thiện, tôn giáo hay văn hoá văn nghệ chứ không làm chánh trị” hay “ Không nên đem chính trị vào tôn giáo, từ thiện, văn nghệ văn hoá v.v..” và “Tôi/chúng tôi/ tổ chức của chúng tôi là một tổ chức phi chánh trị” để từ đó không tham gia vào hay đứng ngoài các sinh hoạt hay nỗ lực chống Cộng, tranh đấu dân chủ nhân quyền hay lên án CSVN của cộng đồng người Việt hải ngoại, thậm chí có người và tổ chức còn cho rằng việc tiếp xúc, thương lượng, đối thoại, kể cả việc ca ngợi nhà cầm quyền CSVN của mình hay tổ chức mình là một điều cần hoặc đáng làm vì nhu cầu nhân đạo, văn hoá, văn nghệ hay tôn giáo.

Là một vị giáo sư lỗi lạc và uyên thâm về chánh trị thế giới cũng như chánh trị VN, giáo sư Nguyễn Ngọc Huy đã nhìn ra và phân tách một cách tỉ mĩ những nguyên nhân đưa đến tình trạng và quan niệm sai lạc về chánh trị và hoạt động chánh trị này của người Việt cách đây 4, 5 thập niên. Thể theo giáo sư, để hiểu và phân tách một cách đúng đắn về thực trạng này việc đầu tiên mọi người cần phải biết đó là: Ðịnh Nghĩa của 2 chữ Chánh Trị: "Chánh Trị" là gì, trước khi bàn và phân tách về những thái độ và quan niệm “Phi Chánh Trị” của người VN không Cộng Sản.

Trong tập “Tài Liệu Huấn Luyện Trung Cấp - Tập I “ của Liên Minh Dân Chủ VN, giáo sư đã sơ lược qua những định nghĩa từ Âu đến Á về hai chữ “chánh Trị” mà theo ông thì nhiều người dân Việt, ngay cã một số nhà lãnh đạo quốc gia trước đây đã không hiểu rỏ và thấu đáo. Thể theo giáo sư việc hiểu cho đúng đắn về chánh trị là gì là bước đầu căn bản trong việc quyết định về thái độ và quan điểm chánh trị của mỗi cá nhân đối với quốc gia và dân tộc. Giáo sư cũng cho thấy bên cạnh việc không hiểu rỏ thấu đáo ý nghĩa của hai chử chánh trị hay hiểu sai lạc về chánh trị ấy, những kinh nghiệm chánh trị của người dân miền Nam VN trong hai nền đệ I và đệ II Cộng Hoà và sự cấm đoán, độc tài đảng trị của CSVN ở miền Bắc và sau năm 1975 đã khiến cho nhiều người chán nản, coi thường, không muốn dính líu đến hay thậm chí còn sợ hay chống những gì mà họ cho là chánh trị hay liên can đến chánh trị.

Để giúp cho người đọc hiểu rỏ ý nghĩa của danh từ “chánh trị”, giáo sư trình bày về định nghĩa chánh trị của người Trung Hoa thời cổ. Trong Hán văn chử “Chánh” bao gồm hai chữ gộp lại đó là “ngay thẳng” và “hành động”. Nói một cách khác là làm cho ngay thẳng. Chử “Trị” mang ý nghĩa chửa trị bệnh, về sau chử này được mỡ rộng nghĩa ra để chỉ việc trừng trị để loại bỏ những phần tử xấu xa cho xã hội được lành mạnh. Như thế theo nghĩa gốc thì “chánh trị” nói chung là việc làm cho xã hội được ngay thẳng và lành mạnh. Kế đến GS dẫn chứng cho thấy người Tây phương ngày xưa cũng đã có chung một quan điểm với Á châu qua đó họ cho rằng: “Chánh trị là sự điều khiển ngay thẳng nhiều gia đình và những gì chung của những gia đình ấy với một quyền lực chủ tể”.

Theo giáo sư, nếu hiểu được ý nghĩa của chánh trị như thế thì chúng ta thấy chánh trị, có thái độ chánh trị, có tiếng nói chánh trị và có hành động chánh trị là một điều đáng kính và đáng làm, hữu ích và quan trọng cho sự sống còn của xã hội nhơn loại, không có gì là xấu cã!! và mọi người trong xã hội – không phân biệt là kẻ tu hành hay giáo dân, già hay trẻ, giàu hay nghèo, nam hay nữ, đảng phái hay không đảng phái- ai cũng đều có quyền, có bổn phận và nên đóng góp và LÀM CHÁNH TRỊ cho xã hội, dân tộc, quốc gia trở nên ngay thẳng, công bằng, nhơn vị nhơn quyền được tôn trọng và tốt đẹp hơn.

Vì nhiều người đã hiểu sai hay bị hướng dẫn, tuyên truyền, nhồi sọ, đe doạ, cấm đoán và nhập tâm bỡi những thế lực hay ngay cã bỡi sự suy diễn sai danh từ chánh trị trong một thời gian dài trong xã hội VN theo nghĩa tiêu cực, hạn hẹp và một chiều như:

- Chánh trị là việc xử dụng quyền lực quốc gia , chánh trị là đồng nghĩa với chánh phủ và chánh quyền
- Làm chánh trị là tranh giành quyền lợi, địa vị hay có thủ đoạn lưu manh
- Làm chánh trị là muốn cầm quyền,
- Chánh trị là việc riêng của những người cầm quyền, không phải là chuyện của người dân thường, không nên dính vào để tránh phiền phức v.v…

Nên nó đã đưa đến tình trạng hễ nhắc đến chử “làm chánh trị” là đại đa số người Việt - có học cũng như không có học, có địa vị cũng như không có địa vị, tham gia đảng phái hay không đảng phái, thành thị cũng như thôn quê - đều bị dị ứng, nghĩ hoặc hiểu lầm là muốn làm chánh quyền, muốn tham chánh, là phe nhóm, là tranh giành, là thủ lợi chứ không còn phải là “LÀM/THAM GIA/ĐÓNG GÓP/LÊN TIẾNG HAY GÓP PHẦN CẢI THIỆN CỘNG ĐỒNG, XÃ HỘI, QUỐC GIA CHO TỐT ĐẸP, CÔNG BẰNG VÀ NHƠN VỊ HƠN” như nó đáng lý ra phải được hiểu nữa.

Nếu hiểu cho đúng như những gì GS Huy đã định ngĩa thì làm chánh trị đâu phải là bổn phận hay vai trò duy nhất và độc tôn của một đảng phái hay một phe nhóm nào, nó càng không phải chỉ là của chánh quyền hay ai muốn ra cầm quyền mà là BỔN PHẬN THIÊNG LIÊNG CỦA MỘT CÔNG DÂN, MỘT PHẦN TỬ TRONG XÃ HỘI VÀ QUỐC GIA bất kể người đó là ai và ở vị trí nào kể cã tôn giáo. AI CŨNG CÓ QUYỀN VÀ CÓ BỔN PHẬN CÓ THÁI ĐỘ CHÁNH TRỊ, NÓI VỀ CHÁNH TRỊ VÀ LÀM CHÁNH TRỊ vì chánh trị không có nghĩa và không đồng nghĩa với nắm quyền hay chánh quyền.
Nhìn lại lịch sữ cận đại của xã hội VN, chúng ta có thể hiểu được phần nào lý do tại sao những quan niệm sai lạc về “hành động chánh trị” nêu trên đã trở thành phổ biến và ăn vào tiềm thức của người VN.

• Đối với người dân sống dưới chế độ CS miền Bắc, danh từ “làm chánh trị” chẳng những bị cấm xử dụng mà còm đem tai hoạ lại cho bản thân và gia đình của người nói vì đảng CSVN và chánh quyền CS tuyệt đối cấm không cho ai làm chánh trị hay bàn thảo về chánh trị.

Là chế độ độc tài, độc đảng toàn trị, họ luôn lo sợ nhơn dân và mọi hành động mang tính cách bàn bạc hay thảo luận về chánh trị. “Có tật giật mình” vì độc tài nên nơi nào có ai tụ tập họ cũng cho là âm mưu lật đổ chánh quyền, là phản động. Vì thối nát, họ bị dị ứng với mọi hình thức hay những cuộc bàn luận về ích nước, lợi dân, tốt đẹp, công bằng và dân chủ. Sống dưới họng súng, ngục tù, đe dọa, theo dõi, rình rập và bắt bớ triền miên, đa số người dân miền Bắc trước 1975 trở thành thụ động, chỉ biết tuân phục để sống còn. Những người đối kháng dám lên tiếng thì bị thủ tiêu hay cầm tù không nương tay như thi sĩ Nguyễn Chí Thiện v.v..

Chữ “chánh trị” vì thế trở thành một danh từ đồng nghĩa với “cách mạng”, “quốc cấm”, “chống chánh quyền” vì thế “chuyên chế, độc tài, đảng trị” và chánh trị thuộc về giai cấp cai trị của đảng chứ không còn là của dân nữa. Những kẽ cầm quyền làm chánh trị thì coi dân còn thua cã con vật, không có một thứ quyền hạn gì ngoài quyền “dạ, vâng” Người dân miền Bác trước 1975, không phải là chán 2 chử “chánh trị” mà là SỢ hai chữ này.

• Ðối với người dân không cộng sản sống dưới chế độ Cộng Hoà miền Nam, danh từ “chánh trị”, tuy được nói đến, bàn bạc và làm một cách tự do, nhưng lại bị nhiều người đồng hoá hay hiểu lầm nó với “có ý tham gia hay tranh giành chức vụ gì đó trong chánh quyền” nói một cách khác làm chánh trị bị coi là đồng nghĩa với “làm chánh quyền hay muốn cai trị”. Trong cã nền đệ I và đệ II Cộng hoà mà người dân miền Nam được hưởng, tình trạng gia đình trị, bè phái, tư lợi, lấn áp cách đảng phái nhỏ hoặc đối lập và tham những bỡi những giới cầm quyền đã khiến cho nhiều người dân miền Nam trước 1975 coi thường hay thậm chí còn khinh khi những gì liên quan đến hai chử “chánh trị” vì nó có vẽ “xôi thịt” quá.

Tuy nhiên, khác với miến Bắc, dưới cã 2 chế độ Cộng Hoà, người dân miền Nam và báo chí vẫn có quyền chỉ trích, xuống đường biểu tình, đã đảo và tự do lập đảng phái chánh trị để ra tranh cữ và chánh quyền các cấp và vào các cơ quan lập pháp và hành pháp mà không sợ bị ở tù hay thủ tiêu. Có nhiều người còn cho rằng người dân miền Nam đã đi quá xa vì không hiểu rỏ chánh trị là gì và giới hạn của chánh trị nằm ở đâu và làm sao để làm chánh trị mà không phương hại đến sự an nguy của quốc gia, đặc biệt là khi quốc gia và chánh phủ đương nhiệm đang phải đương đầu với một thế lực mạnh, lớn và độc tài toàn trị hơn gấp bội phần là CSVN.

Kết quả của hơn 30 năm dưới 2 chế độ tự do của miền Nam là “chánh trị” trở thành một thứ “dirty word” hơn là một điều mà người lớn khuyến khích hay đôn đốc con cháu của mình tham gia vào. Nói một cách khác, là người dân miền Nam VN đã “Chán” chánh trị và bị “Dị ứng” với chánh trị.Vì đại đa số quần chúng miền Nam không được giáo dục, cỗ suý để hiểu được chính xác danh từ và ý nghĩa của 2 chử chánh trị và vai trò đúng đắn mà mọi người, mọi giới cần phải có ( như GS Huy đã làm) nên việc hiểu sai và có thái độ tiêu cực, sai lạc về hai chữ “chánh trị” vẫn còn kéo dài cho đến ngày hôm nay và được CSVN khai thác và lợi dụng tối đa qua hình thức “không làm chánh trị hay phi chánh trị”.
Thể theo GS Huy thì vấn đề then chốt của chánh trị là: việc “làm (Hành) chánh trị” và “Xử dụng Chánh Trị” (cho mục đích gì)?

GS cho thấy có hai loại hành xử chánh trị đó là:

a/ các loại giải pháp và xử thế chánh trị với những hành động khôn ngoan, khéo léo nhưng chánh trực, đạo đức và ngay thẳng nhằm phục vụ quyền lợi chung của cã xã hội hoặc quốc gia đúng như định nghĩa của danh từ “chánh trị”, đó là làm cho xã hội được ngay thẳng, tốt đẹp và lành mạnh hơn kể cã việc loại bỏ những phần tử xấu xa hầu đạt được mục tiêu ấy. Đó là CHÁNH TRỊ.

b/ các loại giải pháp và hành động chánh trị phản đạo đức, bất nhơn bất nghĩa, bất chấp luân thường đạo lý, lấy cứu cánh biện minh cho mọi thủ đoạn lường gạt, dối trá hay phương tiện xấu xa, tàn ác để đạt được mục đích cho quyền lợi tiêng tư, đảng phái hay chủ nghĩa và đặt những quyền lợi này lên trên quyền lợi của đa số quần chúng và xã hội hay đất nước. Đây là TÀ TRỊ chứ không phải là CHÁNH TRỊ

Đây là hai thực tại mà ngưòi bình dân hay gọi nôm na là “vương đạo và tà đạo”

Nhưng muốn thay đổi hay phát triển xã hội cho lành mạnh, dầu muốn hay không, chúng ta cũng đều cần phải có sự tổ chức chung và tập hợp nhân sự c ủa những người hay thành phần đồng chí hướng để điều hành và tham gia ứng cử vào chánh quyền để lãnh đạo hầu đạt đến mục tiêu chung có hiệu quả, công bình và trật tự. Đây là lý do tại sao chúng ta cần phải có các đảng phái, phong trào, đoàn thể và tổ chức để thực thi công tác chánh trị.Với tư cách cá nhân không ai có thể đơn phương làm được chánh trị cho cã xã hội hay quốc gia, vì thế nếu không trực tiếp tham gia vào được thì cũng nên ủng hộ, đóng góp tinh thần hay vật chất vào các sinh hoạt tranh đấu chánh đáng về chánh trị của cộng đồng hay những tổ chức chánh trị nào mà mình cho rằng trong sáng, chánh đạo, thật sự vì nước vì dân hơn là thờ ơ, bỏ mặc hay cho rằng:

Tháp đổ đã có vua xây
Tội gì gái goá lo ngày lo đêm

Hay

Quan có cần nhưng dân không vội
Quan có vội quan lội quan đi

Chính thái độ thờ ơ, bỏ mặc, không hiểu hay không muốn hiểu, không tích cực, không chủ động hay không để ý đến chánh trị và không hành xử bổn phận và quyền hạn đóng góp vào việc chánh trị của mỗi cá nhân sẽ hoặc đã tạo cơ hội cho những phần tử bá đạo lợi dụng tình trạng ấy để thao túng, ra tay nắm lấy hay cướp chánh quyền và tiếp tục cầm quyền gây ra không biết bao nhiêu thảm hoạ cho xã hội, quê hương, dân tộc, tổ quốc và đặc biệt là cho chính bản thân và gia đình của chúng ta. Lúc ấy, có thức tỉnh thì cũng đã quá muộn rồi. Nói một cách khác, “We are deserved for what we have or have not done politically” (“khi nói đến chánh trị, thể chế hay chánh quyền mà chúng ta có là do chính những gì chúng ta đã hay không làm chánh trị ”) hay “ Thành môn thất hoả, uơng cập trì ngư - Cửa thành cháy thì cá dưới ao cũng bị vạ lây”.

Cách đây gần 3 thập niên, trong tập “Tài Liệu Huấn Luyện Trung Cấp - Tập I “ của Liên Minh Dân Chủ VN, giáo sư Huy đã viễn kiến nhận ra được và tỏ ý quan ngại về hệ quả của quan điểm “phi chánh trị” này của người Việt Quốc Gia hải ngoại như sau:

“Đối với người Việt Nam hiện cư ngụ ở quốc ngoại, thái độ phi chánh trị có thể có nhiều ý nghĩa khác nhau. Nó có thể phát xuất từ nhu cầu phải tôn trọng luật pháp của nước trong đó mình cư ngụ bắt buộc mình phải tự chế trong lời nói hay việc làm có liên hệ trực tiếp đến nền chánh trị nước ấy. Sự tự chế này thật sự không ngăn cản người VN thương nước tích cực hoạt động để giúp đỡ đồng bào hay tranh đấu để giải thoát dân tộc mình khỏi ách độc tài của bọn cộng sản Hà Nội. Nhưng thái độ phi chánh trị cũng có thể phát xuất từ ý muốn chối bỏ nguồn gốc Việt Nam của mình và bỏ mặc đồng bào còn đói rách khổ sở trong nước để hoàn toàn hội nhập vào xã hội đã tiếp đón mình. Trong trường hợp sau này, phi chánh trị có nghĩa là chấp nhận cho CSVN cai trị VN mãi mãi. Bỡi vậy, bọn CSVN khi nhận thấy rằng chúng không có hy vọng lôi kéo người VN cư ngụ nước ngoài theo chúng, đã mỡ chiến dịch xúi giục mọi người theo thái độ phi chánh trị. Do đó chủ trương phi chánh trị lại trở thành một hành động giúp cho bọn CSVN duy trì chánh quyền của chúng ở VN”.

Cộng Sản VN hôm nay đang khai thác tối đa những quan điễm sai lầm và tiêu cực này trong cộng đồng người Việt hãi ngoại cũng như người dân ở trong nước để duy trì quyền lực và địa vị độc tôn độc đảng của mình trên dân tộc VN bất kể hậu quả. Một mặt họ tung ra những hình thức bôi nhọ và chia rẽ mọi hội đoàn đoàn thể, cộng đồng đặc biệt là các tổ chức hay đoàn thể hay cộng đồng có uy tín hay khả năng về đấu tranh chánh trị để cho quần chúng hãi ngoại hoang mang, không tin tưởng và xa lánh. Một mặc khác họ khai thác tối đa quan niệm “làm từ thiện, làm đạo, làm văn hoá, làm văn nghệ, làm nghệ thuật là phải không làm chánh trị” để thủ lợi, để tránh bị chỉ trích lên án về những hành vi và chánh sách TÀ TRỊ của họ, đồng thời chia rẽ gây mâu thuẫn giửa cộng đồng người Việt hãi ngoại với những người trẻ, những tổ chức từ thiện và tôn giáo trong cũng như ngoài nước. Nói một cách khác, tiền trợ giúp giảm đói, giảm nghèo thì đảng nhận, đảng cho nhưng nguyên nhân và thủ phạm TÀ TRỊ đưa đến cái nghèo cái đói thì là “chánh trị” không được nói, miễn bàn chỉ nên nhắm mắt, bịt tai làm từ thiện và tôn giáo mà thôi. Vì lên tiếng hoặc có phản ứng là “làm chánh trị”.

Nếu chúng ta không lên tiếng nói cho CHÁNH TRỊ thì chúng đã vô tình cho phép CSVN tiếp tục tạo ra, duy trì và phát triển một thứ KỸ NGHỆ (Industry) TÔN GIÁO và TỪ THIỆN tại VN: một bên thì tiếp tục bỏ tiền của ra để giảm đói, giảm nghèo (CHÁNH), một bên kia thì tiếp tục sản xuất ra nghèo, đói và bất công (TÀ) nhưng bên chánh thì bị chiêu dụ để cho rằng việc GIÚP hay GÓP PHẦN LÊN TIẾNG để TẮT cái máy sản xuất ra nghèo đói không phải là chuyện hay bổn phận của tôi vì tôi “KHÔNG LÀM CHÁNH TRỊ”. Phe điều khiển máy sản xuất ra nghèo đói và bất công chỉ mong có thế!!!
Như đã nói trên, nếu chúng ta hiểu cho thấu đáo và đúng đắn ba chử “làm chánh trị” thì chúng ta càng theo đạo, chúng ta càng theo đuổi những công việc từ thiện xã hội, chúng ta viết lách hay sáng tác VÀ LÊN TIẾNG để cho xã hội tốt đẹp hơn, công bằng hơn và hoàn mỹ hơn đều là làm chánh trị rồi đó. Vì làm chánh trị không đồng nghĩa với làm chánh quyền hay tham chánh, mà là lên tiếng, bày tỏ thái độ, có phản ứng, và tranh đấu bảo vệ lẽ phải, công bằng, sự thật và quyền làm người của xã hội, quốc gia và dân tộc như là một bổn phận và nghĩa vụ thiên liêng, bất khả phân ly và bất khả xâm phạm của một con người, nên dù là một tu sĩ hay là một nghệ sĩ, văn nhân hay là một người bình thường không là ai hết chúng ta vẫn có bổn phận LÀM CHÁNH TRỊ và có thái độ, tiếng nói chánh trị đối với chính quền TÀ TRỊ song song với những công việc từ thiện hay tôn giáo hay văn hoá, văn nghệ mà chúng ta đang làm.

Vì thế, đi biểu tình, lên án những hành vi vi phạm nhân quyền, phản đối hành động bán nước của CSVN, lên tiếng chính thức bênh vực cho những quyền lợi căn bản của giáo dân, của người nghèo, cô thế để cho con người và đất nước VN được tốt đẹp và công bằng hơn là LÀM TỪ THIỆN ĐÚNG NGHĨA, LÀ HÀNH ĐẠO ĐÚNG NGHĨA VÀ LÀM VĂN HOÁ, VĂN NGHỆ ĐÚNG NGHĨA. Những công việc tốt đẹp và cao cã của chúng ta phải có những điều kiện và giới hạn được đặt ra đối với TÀ QUYỀN CSVN. Nếu cần chúng ta thà không làm còn hơn là mang tội đồng loã hay trợ giúp làm lợi cho bóng tối, tội ác và đi ngược lại với lương tâm.

Cộng sản VN cho rằng ai chỉ trích hay để ý đến việc của “Nhà Nước” là làm chánh trị, nhưng đi theo, ủng hộ và tùng phục Đảng CS thì lại không là chánh trị. Đảng CSVN chỉ mong mọi người tiếp tục nghĩ rằng hễ đã làm đạo, từ thiện, văn hoá, văn nghệ thì không thể có thái độ, lập trường và lên tiếng về chánh trị và quốc sự. Hoà thượng Quảng Độ, Linh mục Nguyễn Văn Lý, các nhà văn đang bị bắt bớ, giam cầm trong nước đã và đang là những tấm gương cho thấy thế nào là làm chánh trị trong khi vẫn làm trọn vẹn vai trò tôn giáo, văn sĩ của mình. Xin đừng để TÀ QUYỀN và TÀ TRỊ CS tiếp tục lừa gạt và diễn giải sai lạc vai trò và quyền hạn CHÁNH TRỊ của chúng ta một lần nữa.

Xin Giáo sư linh thiêng soi sáng và phù hộ cho người Việt hãi ngoại và trong nước tinh thần và trí tuệ minh mẫn để nhìn ra thủ đoạn “Phi Chánh Trị” này của CSVN đễ sớm đoàn kết và quang phục quê hương.

Nguyễn Thế Phong
Melbourne, 31-7-2010
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Bà Sakineh Ashtiani bị tử hình

Ngô Nhân Dụng
Một gia đình thuê căn lầu có lối đi riêng trong ngôi nhà cháu tôi ở Montréal, Canada. Bữa đầu tháng 7 khi tôi đang ở đây, ông thuê nhà xuống gõ cửa, lễ phép nói: “Thưa bà, chúng tôi sắp về Tunisie nghỉ hè, thăm gia đình. Xin nhờ bà đưa cho chồng bà hai ngân phiếu này, chúng tôi trả tiền nhà tháng 7 và tháng 8 luôn.”

Cô cháu tôi kể lại chuyện, lắc đầu: Tháng nào ông ấy cũng nói như vậy. Không bao giờ ông ta trả tiền nhà trực tiếp cho mình mà luôn luôn nhờ đưa tiền nhà “cho chồng bà!” Hai vợ chồng họ còn trẻ, ăn ở rất lịch sự, tử tế; họ giữ nhà cửa sạch sẽ, gọn gàng hơn nhà mình nữa, không thể chê vào đâu được. Cả hai đều đi làm, ông ấy làm nghề kế toán, đã tốt nghiệp đại học ở đây, nói tiếng Anh, tiếng Pháp trôi chảy; đứa con trai thì đi học, rất ngoan ngoãn, lễ phép. Nhưng hình như họ không thể nào chấp nhận được rằng một người đàn bà cũng là một chủ nhà, như người chồng!

Nhiều người gốc từ các xứ Hồi Giáo đã trở thành công dân Canada nhưng vẫn giữ phong tục, văn hóa cổ truyền. Một câu chuyện bi thương mới xẩy ra năm qua khi một gia đình người gốc Afghanistan đã giết đứa con gái 16 tuổi, vì cô gái đã đi chơi với bạn trai, dù bố mẹ cấm. Người mẹ cũng tham dự vào vụ giết con này với chồng và con trai. Sau khi giết con gái, người cha điện thoại báo cho cảnh sát biết để đến bắt ông ta đưa ra tòa. Là công dân Canada, họ muốn tỏ ra biết bảo vệ danh dự, ăn ở lương thiện, có trách nhiệm, tôn trọng luật lệ của xứ sở này. Nhưng mặt khác họ vẫn thấy bổn phận phải “bảo vệ danh dự gia đình” theo truyền thống quê hương họ. Họ coi truyền thống đó có tính chất thiêng liêng, vượt lên trên luật lệ của thế gian. Ông Jose Manuel Barroso, chủ tịch Ủy Hội Cộng Ðồng Aạu Châu có thể kết án những hành động như vậy là “dã man không thể tả được,” như ông đã kết án chính quyền Iran trong vụ xử tử một phụ nữ về tội ngoại tình bằng cách ném đá. Nhưng những người tin tưởng và thực hành các truyền thống lâu đời đó lại coi chính họ mới thực sự sống văn minh, những người khác họ mới là dã man, mọi rợ.

Cả thế giới đang chăm chú nhìn về nước Iran, chờ đợi quyết định của tòa án tối cao của các giáo sĩ. Từ mấy năm nay nhiều người đã ký kiến nghị gửi chính quyền và giáo quyền ở đó xin đừng giết bà Sakineh Mohammad Ashtiani. Bà Sakineh đã bị kết tội “ngoại tình.” Bà có thể bị xử tử bằng cách ném đá cho tới chết theo phong tục cổ. Bà bị truy tố vì, sau khi chồng đã chết vào năm 2006, bà ăn nằm với người đàn ông khác. Ðối với họ, đó là tội ngoại tình. Bà bị kết án phạt đánh đòn 99 roi. Người con trai lớn, lúc đó 17 tuổi, đã yêu cầu có mặt lúc mẹ bị hành hạ, vì anh “không muốn bỏ rơi mẹ tôi phải chịu bao đau đớn, sỉ nhục trong cảnh cô đơn.”

Chính quyền Iran từng tố cáo bà Sakineh Ashtiani đồng lõa trong vụ giết chồng bà. Họ còn nói rằng bà đã thú nhận tội giết chồng - chắc cũng như Bukharin ra tòa đã thú tội phản bội đảng cộng sản sau khi được công an của Stalin hỏi cung! Khi ra tòa bà đã phủ nhận lời thú tội đó. Sau khi được tòa án ở thành phố Tabriz tha bổng vì thiếu bằng cớ, bà Sakineh bị đem ra xử lại về tội ngoại tình, với bản án tử hình sau được đổi cho chết bằng cách treo cổ thay vì bị ném đá. Hai người con của bà Sakineh đã vận động khắp nơi với sự hỗ trợ của các tổ chức nhân quyền trong nước Iran, để cứu mẹ. Các nhân vật nổi danh và nhiều tổ chức trên trên thế giới lên tiếng can thiệp; cho nên bản án tử hình đáng lẽ thi hành vào tháng 7 vừa qua, đã được hoãn lại, cho Tòa án Tối Cao phúc thẩm.

Người con trai lớn Sajad, 22 tuổi, lại báo tin mẹ anh còn bị kết thêm tội về hành vi phản đạo đức, sau khi tờ Thời Báo ở Teheran đăng bức hình bà không quàng khăn trùm đầu. Bà bị kết án đánh roi 99 lần, vì chụp hình để đầu trần, trái pháp lệnh của các giáo sĩ. Tờ báo này sau đó đã đính chính, giải thích đó là hình một phụ nữ Iran khác, nay đã sống tị nạn ở Thụy Ðiển. Nhưng người con trai không biết bà Sakineh Ashtiani đã bị đánh hay chưa.

Cả thế giới bày tỏ lòng phẫn nộ trước cách đối xử của chính quyền Iran đối với một góa phụ 43 tuổi. Nhiều cuộc biểu tình ở London, Paris, Washington. Thành phố Roma treo một chân dung lớn của bà (đội khăn kín đầu) trước cửa tòa đô chính. Tòa Thánh Vatican, với chủ trương bác bỏ án tử hình ở mọi nơi, đã can thiệp một cách tín đáo để xin hội đồng giáo sĩ tối cao ở Iran trả tự do cho bà. Tổng Thống Brazil Luiz Inácio Lula da Silva nói ông đã ra lệnh đại sứ nước ông trực tiếp can thiệp với Tổng Thống IranMahmoud Ahmadinejad xin ân xá, và hứa sẽ cho bà Sakineh được sang Brazin tị nạn. Bà Carla Bruni, vợ Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy viết cho bà một lá thư ngỏ, nói: “Sakineh, bà nên biết tên của bà đang là một biểu tượng của cả thế giới. Chồng tôi sẽ lên tiếng bênh vực bà, nước Pháp sẽ không bỏ rơi bà.”

Sau khi bức thư được công bố, các tờ “báo đảng” ở Teheran chửi tác giả bằng những từ thô lỗ. Ngoại Trưởng Mỹ Hillary Clinton cũng can thiệp, yêu cầu chính phủ Iran tôn trọng quyền tự do làm người của dân, đặc biệt là các phụ nữ.

Chính quyền Iran đã tự bào chữa hệ thống pháp luật của họ bằng cách chỉ trích lại các nước Tây Phương. Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Iran nói các nếu chính phủ Âu Châu coi việc xử tử hình một người đàn bà ngoại tình và giết chồng là vi phạm nhân quyền, thì hãy thả tất cả các tên sát nhân trong nhà tù của họ đi! Họ còn lên giọng dạy bảo các nước Âu Mỹ hãy coi lại hệ thống xã hội của mình xem có tốt hay không trước khi phản đối Iran. Họ hỏi tại sao các nước Âu Châu lại ủng hộ Israel khi nước này đối xử bất công với người Palestine?

Những phản ứng trên có thể cho thấy quan niệm về công lý và nhân quyền của chế độ thần quyền ở Iran khác hẳn thế giới bên ngoài. Nhưng việc tự bào chữa mình bằng cách kể những lỗi lầm của người khác, như chính quyền Iran hay làm, không phải là phương cách hợp lý nhất để chối bỏ tội lỗi. Không phải vì có nhiều người đã vi phạm nhân quyền mà hành động vi phạm của mình được coi là hữu lý. Một người ăn cắp trong một cửa hàng không thể tự biện hộ bằng cách tố cáo lại rằng chủ hàng đã bán giá đắt để kiếm lợi quá nhiều. Những chính quyền độc tài ở Miến Ðiện, Bắc Hàn,Việt Nam, Sudan, thường chỉ trích các cảnh bất công trong xã hội Tây phương để biện hộ cho các chính sách khinh thường quyền tự do của người dân trong nước họ.

Trên thế giới đã có nhiều nơi xử tử các phụ nữ ngoại tình bằng cách ném đá tới chết. Luật cổ truyền của Do Thái Giáo nói đến 18 trường hợp có thể xử tử bằng cách ném đá. Có chứng tích cho thấy lối hành hình này cũng đã phổ biến ở Hy Lạp thời cổ đại. Trước đây 2000 năm có thể đó là một phương pháp xử án bình thường ở vùng Trung Ðông; vì vậy mới có câu chuyện chúa Giê Su hỏi, “Ai thấy mình không có tội thì ném hòn đá đầu tiên đi!” Phong tục ném đá chắc rất phổ biến trong thời đó, không ai muốn đi ngược lại. Cho nên những tác giả Tân Ước cũng không ghi lại ý kiến của Chúa Giê Su, ngài có thể phản đối ngay việc giết người, dù người đó bị coi là có tội trong cõi nhân gian này. Nhiều tác giả công nhận một Hội Ðồng Phán Quan (Sanhedrin) của Do Thái Giáo đã bãi bỏ hẳn án tử hình từ năm 30, Tây lịch, vì tin con người không thể cướp quyền sống chết do Thượng Ðế ban cho người khác.

Các học giả cho biết trong Kinh Kuran của Hồi Giáo không hề có một chữ nào viết về “rajm” tức là Ném Ðá hay ném đá cho đến chết. Một số quốc gia Hồi Giáo đã áp dụng cách xử tội này dựa trên những luật lệ được phát triển sau này, nhân danh Kinh Kuran. Hiện nay một số quốc gia Hồi Giáo còn áp dụng hình phạt ném đá như Afghanistan, Iran, Saudi Arabia, Somalia, Sudan, và Nigeria. Nhưng hiện có nhiều phong trào phụ nữ tại các nước Iran hoặc Afghanistan đang công khai vận động bãi bỏ phong tục này.

Phong tục hành hình bằng cách ném đá hầu như chỉ áp cho các phụ nữ ngoại tình, ít khi dùng cho các tội khác. Ðúng ra, đó không phải chỉ là việc xử tử hình mà còn là tra tấn, hành hạ nữa. Ðiều đó cho thấy tinh thần trọng nam khinh nữ cũng là một phong tục phổ biến từ mấy ngàn năm trước còn lưu cữu tới giờ.

Loài người được coi là càng ngày càng văn minh hơn vì đã biết thay đổi các phong tục, trong đó có việc bác bỏ thái độ trọng nam khinh nữ. Phụ nữ có thể đã bị kỳ thị từ khi có sự phân công, phái nam đi săn bắn, đàn bà phải cho con bú nên chỉ đi hái lượm ở gần. Nhưng nhân loại đã tiến bộ từ tình trạng săn bắn du mục sang công việc chăn nuôi, trồng trọt là nhờ phụ nữ. Chỉ có những người đàn bà sống ở gần hang ổ, nhà cửa, mới có cơ hội và đủ tính kiên nhẫn để thí nghiệm các việc trồng trọt và chăn nuôi. Loài người thực sự văn minh, một số ít người sản xuất đủ thực phẩm cho nhiều người, nhờ phát minh vĩ đại đó. Nhờ phát minh căn bản đó mà mỗi xã hội cổ sơ mới có thể nuôi những người không cần làm ra thực phẩm, nhưng các nghệ sĩ, những nhà phát minh, các thợ khéo, giúp tiến tới những hoạt động thương mại, công nghệ, vân vân sau này. Không phải vì biết ơn phụ nữ đã sáng tạo ra nền văn minh nhân loại, mà vì tôn trọng quyền của tất cả mọi người được quyền sống như nhau, mà loài người đã đề cao quyền bình đẳng giữa nam và nữ.

Một cổ tục khác rất phổ biến trong lịch sử là tội tử hình, theo một điều luật cổ của Hoàng Ðế Hammurabi, ban hành 17 thế kỷ trước Công nguyên, đưa tới câu tục ngữ nổi tiếng: “Mắt trả bằng mắt, răng trả bằng răng.” Nhưng loài người văn minh cũng nhận thấy việc giết chết một phạm nhân không giúp cho tội ác giảm bớt, mà có thể vì muốn tập thể trả thù một cá nhân.

Hiện nay có 95 quốc gia trên thế giới đã bãi bỏ án tử hình. Những nước còn giữ, chiếm kỷ lục là Trung Quốc, năm 2009 đã giết 1700 người (nghi có thể trên 10,000 người nhưng không được báo cáo), rồi đến Iran, giết 388 người, sau tới Iraq (120), Á Rập Saudi (69), nước Mỹ đứng hàng thứ 5 với 52 vụ hành hình vào năm đó. Ở những nước còn giữ án tử hình, người ta cũng tìm cách làm cho việc nhân danh xã hội, nhân danh công lý mà giết người có thể nhân đạo hơn. Dân chúng Mỹ hiện còn đang tranh luận về phương pháp xử tử bằng ghế điện hay chích thuốc, cách nào nhanh hơn và bớt gây đau đớn hơn.

Tiến từ tình trạng dã man sang văn minh, người ta cũng không muốn để cho việc xử tử hình mang tính chất trả thù, và nhất là không khích động thú tính trong con người. Những vụ hành hình công khai, nhất là những vụ treo cổ, ném đá, đều là những dịp để nhiều người thỏa mãn khuynh hướng giết chóc của họ. Ở các nước, kể cả ở Việt Nam, khi còn những vụ hành hình trước công chúng, nói là để răn đe người khác, thực sự có nhiều người đã kéo nhau đi xem, như một cuộc giải trí. Các bạo chúa thường lợi dụng thú tính tiềm tàng trong mọi người dân để biện hộ cho những cuộc hành hình công khai đó. Những vụ đấu tố bằng “tòa án nhân dân” do cộng sản Trung Hoa tổ chức thời cải cách ruộng đất cũng vậy. Những “phiên tòa” đó vừa kích thích óc trả thù, máu giết người của đám bần cố nông, vừa là cơ hội để bọn cướp được chính quyền tiêu diệt những người bất đồng ý kiến. Cộng sản Việt Nam đã học được phương pháp đó của các đồng chí Trung Quốc, đem áp dụng ở nước ta, dưới sự chỉ đạo của các “cố vấn.” Trong lịch sử dân tộc Việt Nam chưa bao giờ người Việt lại đối xử với nhau một cách tàn bạo, như đem chôn sống người, chôn đứng người còn sống chỉ để hở cái đầu rồi cho cầy bừa đi qua. Phương pháp đó chắc phải là sáng kiến của các đồng chí “cố vấn Trung Quốc vĩ đại,” đem sang nước ta từ một quốc gia đã sáng chế ra những phương pháp giết người tinh vi mô tả trong Ðàn Hương Hình của Mặc Ngôn. Hoàn toàn do thú tính thúc đẩy. Nghĩ lại, chúng còn thấy chia sẻ nỗi nhục, khi người Việt Nam lại giết nhau như vậy.

Chúng ta cùng góp lời cầu nguyện cho bà Sakineh Mohammad Ashtiani. Bà hiện là biểu tượng cho cả thế giới nhìn vào, như Carla Bruni viết. Chúng ta thẩm lượng trình độ văn minh của nước Iran qua vụ này. Việc họ có làm bom nguyên tử hay không cũng không quan trọng cho danh dự quốc gia của họ bằng cách họ đối xử với bà Ashtiani. Hy vọng các giáo sĩ ở Iran sẽ không giết bà chỉ vì muốn chứng tỏ họ coi thường các lời nói của bà Hillary Clinton ở Mỹ hay ông Jose Manuel Barroso ở Âu Châu. Một dân tộc đã sản xuất ra những bậc Thánh như Zaratgustra, Mani, các triết gia như Jalaleddin Ashtiani, Kazem Assar, Ibrahim Ashtyani (không biết có họ với bà Ashtiani ngày nay hay không), những thi sĩ như Omar Khayyam, Rubi, Sadi, vân vân, chắc sẽ cố sống xứng đáng với tiền nhân của họ. Cũng như người Việt Nam mình sẽ cố sống xứng đáng là con cháu của Lý Nhân Tông, Trần Thái Tông, Nguyễn Trãi. Phải sống hòa vào chiều tiến hóa của nền văn minh nhân loại.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Ngã rẽ

Lê Dân
Blog Lê Dân

Sự thay đổi về nhận thức và tư tưởng của một chàng trai trẻ.

Tôi đang loay hoay tìm cho mình một con đường. Có nên tiếp tục sống như một kẻ hèn nữa hay không? Tại sao tôi phải làm ngơ và im lặng trước những sai trái, bất công, tàn bạo? Tại sao ư? Vì những sai trái, bất công, tàn bạo ấy xuất phát từ những kẻ làm ra và thừa hành quyền lực của đất nước. Tôi còn có gia đình, gia đình chính là điểm yếu nhất của tôi, đó chính là lý do khiến tôi sống hèn không dám cất lên tiếng nói của sự thật. Tôi yêu Tổ quốc, tôi yêu Đất nước và tôi yêu Dân tộc tôi hơn bất cứ thứ gì khác. Nhưng điều đó không bắt buộc tôi phải nhất nhất nghe theo Đảng, tin theo Đảng. Nói như thế có kẻ sẽ bảo tôi là lệch lạc về tư tưởng, mờ nhạt về ý chí. Tư tưởng? Đúng tôi đang cố tình làm lệch lạc cái tư tưởng cổ điển, pha tạp và lỗi thời đã nhồi sọ không những riêng tôi, bạn bè tôi mà cả lớp lớp người trên đất nước Việt Nam. Ý chí? Làm gì có ý chí khi con người ta được sinh ra và lớn lên trong một môi trường xã hội mà như ông nhạc sỹ Phạm Duy từng nói "đói niềm tin và bội thực tự hào".

Tôi, một anh chàng sinh viên ngô nghê vừa mới ra trường, đang vật vã trong cơn đói lả để kiếm việc làm. Có lẽ không có gì khiến tôi ân hận hơn việc đã thi vào trường Luật, bởi học luật nên tôi mới thấy rõ hơn những bất công do chính thể nhà nước này mang lại cho những người dân thấp cổ bé họng. Họ làm ra luật pháp nhưng rồi chính họ lại dẫm đạp lên trên luật pháp. Phương thức làm việc của chính quyền là nói một đằng làm một nẻo và phương pháp làm việc là hứa và "ngâm". Mỗi khi chính quyền dọa nạt mà dân tỏ ra cứng đầu thì dùng chiêu thức đàn áp hay mỹ miều hóa là "cưỡng chế nhà nước" còn chính xác hóa là "cướp và tra tấn có công văn". Nhà nước là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; Xây dựng nhà nước giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh..., đây là những mỹ từ mà tôi (ta) thường xuyên được nghe thấy. Nhưng những thứ đó có thực sự tồn tại không? Câu trả lời là có, dưới chính thể nhà nước hiện tại ở Việt Nam, những khái niệm vừa nêu đối với phần đông dân số thì nó quả là thứ khái niệm xa xỉ, nếu không muốn nói là "chỉ có trong giấc mơ".

Trước đây, đúng, nhưng chỉ là trước đây thôi, tôi thực sự rất yêu Đảng. Tôi yêu Tổ quốc bao nhiêu thì tôi cũng yêu Đảng bấy nhiêu. Bởi không riêng gì với suy nghĩ của tôi mà còn có rất nhiều người đều nghĩ như tôi rằng yêu Đảng là yêu Tổ quốc và ai đó yêu Tổ quốc thì phải yêu Đảng(???) Còn bây giờ tôi đang băn khoăn đứng giữa ngã ba đường - ngã ba đường của tư tưởng. Tôi từng yêu Đảng bao nhiêu, tự hào bao nhiêu thì giờ đây niềm tin với Đảng trong tôi đã vơi cạn đi bấy nhiêu. Gia đình tôi, một gia đình thuần nông bình thường như bao gia đình khác trên đất nước Việt Nam. Ông tôi, Cha tôi, Chú tôi họ đều từng là những người lính. Từng cầm súng để chiến đấu chống lại kẻ thù theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, của Đảng. Vì Ông, Cha, Chú tôi đã đổ xương máu trên chiến trường nên gia đình tôi cũng được Nhà nước công nhận là gia đình vẻ vang. Hoàn cảnh gia đình là thế nhưng tại sao tôi lại có những suy nghĩ "lệch lạc" như thế này? Rõ ràng hoàn toàn ở đây không phải vì lý do thù hằn có sẵn hay bất mãn chế độ. Chỉ có một điều duy nhất khiến tôi không còn tin vào Đảng nữa đó là Đảng đang phản bội lại chính niềm tin của nhân dân, trong đó có tôi. Đảng có bao giờ sai không? Chắc chắn có! Sai có nhận không??? Nhận có sửa không??? Mù mờ!!! Tức là tung hỏa mù hoặc là đổ lỗi trách nhiễm cho cá nhân còn Đảng thì chẳng bao giờ sai cả.

Trong lịch sử của nhân loại, từ cổ chí kim không thiếu những chính thể nhà nước do sự đấu tranh của nhân dân mới thành lập được nhưng sau đó quay lại phản bội nhân dân. Đảng, đúng, trước đây chính là ngọn cờ hiệu triệu và lãnh đạo toàn dân chống lại và chiến thắng những kẻ xâm lược hùng mạnh nhất trên thế giới. Lúc đó toàn dân một lòng nghe theo Đảng là vì sao? Bởi khi Tổ quốc lâm nguy, Đảng đứng ra lãnh đạo đất nước vì một mục đích chung cho cả dân tộc, đại diện quyền lợi của cả dân tộc. Còn bây giờ liệu Đảng có còn vì mục đích chung của cả dân tộc nữa hay không? Vì quyền lợi chung của cả dân tộc nữa hay không? Tôi đã có câu trả lời cho riêng mình. Tôi không việc gì phải trung thành với kẻ đã phản bội lại niềm tin của tôi.

"QUỐC GIA HỮU SỰ, THẤT PHU HỮU TRÁCH" - đây là những lời nói tầm thường nhất từ những kẻ tâm thường nhất như tôi. Nhưng nó thật sự xuất phát tự đáy lòng. Nó khẳng định rằng tôi vốn không phải kẻ hèn nhát. Tôi yêu Đất nước tôi, tôi yêu Đồng bào tôi và tôi sẵn sang hy sinh cho quyền lợi của Đồng bào tôi, Đất nước tôi. Buồn thay, đất thiêng của Tổ quốc đang bị ngoại bang xâu xé, giày vò. Người Việt trong nước thì nghèo đói, đi làm ăn, đánh cá trên biển, đảo của mình mà cũng bị bắt bớ, đánh đập hết sức tàn nhẫn. Người Việt ở nước ngoài thì bị người ta coi khinh, rẻ mạt. Ôi... buồn thay, buồn lắm thay...

HÃY ĐỂ TÔI ĐƯỢC NHẬN PHÁT ĐẠN ĐẦU TIÊN CỦA KẺ THÙ NẾU PHẢI ĐẤU TRANH CHO TỔ QUỐC VÀ DÂN TỘC VIỆT NAM!
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Thử thách của mọi người Mỹ

Ngô Nhân Dụng

Một người bạn trên mạng kể chuyện anh đi coi phim “Invictus” về Nelson Mandela; anh nhắc lại sau khi lên làm tổng thống Nam Phi, ông Mandela vẫn sử dụng hộ vệ là lính da trắng cũ. Người da trắng lúc đó hoang mang, sợ bị trả thù hay bị cướp hết tài sản, chuẩn bị sẵn sàng “vượt biên.” Ông Mandela giữ nguyên đội bóng bầu dục (rugby) quốc gia mặc dù dân da đen đa số muốn giải tán. Chỉ có dân da trắng thích chơi rugby, môn thể thao vẫn bị coi là biểu tượng của chế độ phân biệt chủng tộc. Sau khi đội rugby này thắng một giải quốc tế 1995, thì cả dân da trắng lẫn da đen đều cảm thấy hãnh diện. Nhờ thế họ thân thiện, đoàn kết hơn, Nam Phi cũng không bị khủng hoảng kinh tế hay chính trị. Ðội trưởng đội bóng rugby thắc mắc, không hiểu sao một người đã từng bị chế độ phân biệt chủng tộc bỏ tù 27 năm mà không thù người da trắng?

Nelson Mandela không phải chỉ là một vĩ nhân của Nam Phi. Ông là một biểu tượng của một người có mắt nhìn xa về chính trị, người có đức bao dung đáng làm gương cho mọi người thuộc tất cả mọi chủng tộc. Chúng ta nhìn những tấm gương như vậy để tự bảo mình cũng phải học cách sống độ lượng, bao dung. Vì thế giới lúc nào cũng cần những gương sáng như Mandela.

Một người Mỹ đang gây sóng gió, bị khắp nước phản đối, vì có ý định đi ngược lại với đức bao dung và quyền tự do tôn giáo ở Mỹ. Ông Terry Jones, một mục sư tại thành phố Gainesville, Florida, đang tính tổ chức một cuộc đốt Kinh Thánh Hồi Giáo vào Thứ Bẩy này, để tưởng niệm các nạn nhân ngày 11 tháng 9 năm 2001. Ông Jones không thuộc giáo hội lớn nào, lãnh đạo một nhà thờ chỉ có 30 tín đồ chính thức. Ðang là một người vô danh bỗng nhiên ông nổi tiếng khắp thế giới.

Ông Jones nhân danh quyền tự do phát biểu ghi trong Hiến Pháp Mỹ. Ông nói rằng: “Cảnh sát bảo vệ chúng tôi, Sở Cứu Hỏa nói việc chúng tôi đốt lửa trại không có vấn đề gì cả.” Ông kêu gọi người Mỹ khắp nước ai có cuốn Kinh Kuran nào cứ gửi về cho ông đốt. Trong khi đó, hội đồng thị xã Gainesville nói họ chưa hề cấp giấy phép.

Ðiều may mắn là ông Terry Jones cuối cùng đã quyết định không đốt kinh Kuran nữa. Nhưng câu chuyện không phải vì thế mà dừng lại.

Mạng điện tử mang tên Nhà thờ The Dove World Outreach Center của ông Jones đang bán những chiếc áo thun (T-shirts) với khẩu hiệu: Hồi Giáo là Quỷ dữ. Ðó cũng là khẩu hiệu treo trước nhà thờ của ông. Với dự án đốt kinh Kuran khiến ông nổi tiếng, có thể Jones sẽ thu hút thêm nhiều tín đồ, nhà thờ của ông sẽ nhận được thêm nhiều tiền quyên tặng. Ông có thể sẽ được mời đi diễn thuyết ở nhiều nơi, với thù lao lớn. Vì ở nước Mỹ cũng như ở bất cứ quốc gia nào khác, có rất nhiều người sẵn sàng ủng hộ những ý kiến quá khích như vậy, khi nó phù hợp với khuynh hướng kỳ thị và đầu óc thù hận của họ.

Vì vậy, cả nước Mỹ đã nỗ lực không để diễn ra việc đốt kinh sách ở Gainesville, Florida. Một mối lo cụ thể là người ta sợ hình ảnh công khai đốt Kinh Kuran ở Mỹ sẽ được chiếu trên ti vi khắp thế giới; sẽ khích động thêm nhiều người Hồi Giáo thù ghét nước Mỹ. Tất cả mọi người Mỹ, các quân nhân hay du khách Mỹ tới các nước như Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ, hoặc Indonesia, Mã Lai, vân vân, có thể sẽ trở thành mục tiêu để trả thù, trút hận. Việc đó có thể xẩy ra ngay bây giờ và sẽ kéo dài trong nhiều năm sắp tới. Ðức bao dung thường giúp nẩy sinh thêm đức bao dung. Hành động cuồng tín sẽ cũng khích động các hành động cuồng tín khác. Những tổ chức khủng bố như al Qeda sẽ thêm hình ảnh làm động cơ tuyển mộ các thanh niên cuồng nhiệt với đầu óc chống Mỹ. Nhiều thanh niên mù quáng sẽ sẵn sàng tự sát trong những vụ khủng bố giống như ngày 11 tháng 9 năm 2001.

Trước mối lo cụ thể này, phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc đã lên án dự định của ông Terry Jones, vì lo cho quân đội Mỹ ở khắp nơi. Tổng thư ký khối Minh Ước Bắc Ðại Tây Dương (NATO) Anders Fogh Rasmussen sau khi gặp Tổng Thống Barck Obama, đã lên án dự định đốt Kinh Kuran, gọi đó là một hành động bất kính, có thể gây thêm nguy hiểm cho quân đội NATO tại ở Afghanistan. Tướng David Petraeus, chỉ huy quân đội Mỹ và đồng minh ở Afghanistan cũng cảnh cáo như vậy. Sau khi ông Jones loan báo vào cuối tháng 7 dự định đốt Kinh Kuran ở nhà thờ của ông, trong tháng qua nhiều người đã biểu tình phản đối tại các nước Hồi Giáo. Mấy trăm thanh niên, phần lớn là học sinh các trường Hồi Giáo đã tập họp trước Thánh đường Milad ul-Nabi ở Kabul, thủ đô Afghanistan hô khẩu hiệu “Death to America” - Giết Chết Mỹ! Ông Terry Jones đã vô tình hỗ trợ tích cực cho các nhóm Taliban và al Qaeda. Họ không những sẽ lợi dụng vụ đốt kinh sách này mà sẽ nhắc nhở các tín đồ Hồi Giáo khác hãy nhớ đến những cuộc chiến tranh, thù hận xẩy ra từ hàng ngàn năm trước, để khích động mối hận thù lịch sử.

Nhưng mối lo sợ của người Mỹ, của nước Mỹ không phải chỉ liên quan tới sinh mạng của binh sĩ và thường dân của mình. Ðiều quan trọng hơn cả mạng sống con người, là linh hồn của quốc gia trẻ trung này. Người Mỹ thường vẫn hãnh diện về các quyền tự do mà họ muốn giúp tất cả loài người đều được hưởng, trong đó có tự do tín ngưỡng. Họ cũng hãnh diện là, trong suốt lịch sử, họ đã cố gắng phát triển đức bao dung, vượt qua được óc kỳ thị hẹp hòi dưới nhiều hình thức: chủng tộc, tôn giáo, màu da. Từ thế kỷ 17, vùng đất miền Bắc Châu Mỹ đã là nơi tỵ nạn của những người dân Âu Châu bị bức hại về tôn giáo; cho nên các di dân tị nạn này rất thiết tha với quyền tự do hành đạo. Từ tình trạng trước đây một thế kỷ rưỡi nhiều dân Mỹ coi người da đen không đáng gọi là người, hoặc không đáng được chấp nhận là công dân; nước này giờ đã bầu một vị tổng thống da mầu đen. Cuộc hành trình dài hơn 200 năm không đơn giản, chắc chắn không dễ dàng; nhưng đã được thể hiện thực sự trong luật pháp, trong các định chế quốc gia và trong hành động. Ðức bao dung và quyền tự do tôn giáo là những niềm tin tưởng nhiệt thành, tự nhiên gần như một bản năng của mọi người Mỹ biết suy nghĩ. Mọi người Mỹ đều muốn bảo vệ được những giá trị tinh thần là đức bao dung và quyền tự do tôn giáo, như những đặc tính của dân tộc trẻ trung và phức tạp này; nếu họ không bảo vệ được tất cả mọi binh sĩ, mọi thường dân có thể trở thành nạn nhân của khủng bố ở khắp nơi.

Cho nên, trước dự án đốt kinh sách của một tôn giáo với hàng tỷ tín đồ khắp thế giới, những người có tín ngưỡng ở Mỹ đã lên án mạnh mẽ. Cuộc họp của các nhà lãnh đạo tôn giáo, trong đó có Ðức Hồng Y tổng giám mục vùng thủ đô Washington, Cardinal Theodore McCarrick, Tiến Sĩ Michael Kinnamon thuộc Hồi Ðồng Quốc Gia Các Giáo Hội (National Council of Churches) và Pháp Sư Do Thái Giáo David Saperstein, đứng đầu Liên Hiệp Do Thái Giáo Cải Cách (Union for Reform Judaism), đã đưa bản tuyên cáo bày tỏ mối quan tâm về hiện tượng chống Hồi Giáo đang lên một cách cuồng nhiệt ở Mỹ, và sự “kinh hoàng trước thái độ bất kính với một kinh sách thiêng liêng” là Kinh Kuran.

Cũng trong ngày Thứ Bẩy, sau một lễ tưởng niệm các nạn nhân ngày 11 tháng 9 năm 2001, hai cuộc biểu tình dự trù sẽ được tổ chức song song tại nơi đã xảy ra vụ khủng bố đó tại New York. Những người ủng hộ, và những người chống việc xây một Thánh đường Hồi Giáo trong khu phố này sẽ tập họp để cổ động cho lập trường của họ. Hai cuộc biểu tình ôn hòa đó có thể sẽ bị những phần tử quá khích quấy rối biến thành bạo động nếu không ai kiểm soát được họ.

Buổi tối ngày Thứ Sáu này cũng là Lễ Iftar, khi mọi tín đồ Hồi Giáo ăn mừng ngày chấm dứt Tháng Chay Ramadan. Người Hồi Giáo khắp thế giới và trên nước Mỹ sẽ tụ họp nhau trong bữa tiệc Iftar này, và chắc chắn câu chuyện được mọi người nói tới nhiều nhất sẽ là vụ đốt Kinh Kuran ở thành phố Gainesville nước Mỹ.

Ngoại Trưởng Hillary Rodham Clinton tổ chức một tiệc Iftar mời các tín đồ Hồi Giáo tham dự. Bà đã tuyên bố ủng hộ bản tuyên ngôn của các nhà lãnh đạo tôn giáo vừa qua, lên án việc đốt kinh Thánh của Hồi Giáo là hành động bất kính và không có tư cách. Ông P J Crowley, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao kêu gọi mọi công dân Mỹ hãy đứng lên bảo vệ những giá trị tinh thần của đất nước họ. Ông lên án hành động đốt kinh sách là “phản Mỹ” (un-American).

Nhiều người Mỹ theo Hồi Giáo đã đứng lên. Ủy Hội Liên Lạc Mỹ-Hồi Giáo (Council on American-Islamic Relations) đã kêu gọi các tín đồ ở quanh vùng Gainesville hãy tổ chức một sinh hoạt “Chia Sẻ Kinh Kuran,” đem Kinh Thánh Hồi Giáo tặng cho mọi người muốn tìm hiểu, cho người thường, các cảnh sát viên và báo chí.

Chúng ta hy vọng sau khi cả nước Mỹ lên tiếng một cách rõ ràng như vậy, người Hồi Giáo khắp thế giới sẽ hiểu nhóm ông Terry Jones chỉ là một thiểu số không đáng kể. Họ phải hiểu rằng ông này không đại diện cho nước Mỹ hay cho nền văn minh theo truyền thống Do Thái và Thiên Chúa Giáo. Cũng như mọi người Mỹ phải hiểu rằng Osama bin Laden không đại diện tất cả người Hồi Giáo.

Nhưng chính phủ Mỹ và mọi người Mỹ sẽ còn phải tiếp tục giải thích thêm nhiều nữa. Hoa Kỳ là một xứ sở tự do, quyền tự do của mọi người, kể cả những thiểu số quá khích cũng được tôn trọng. Ðừng hiểu lầm hành động của một nhóm người Mỹ là tiêu biểu cho cả nước Mỹ. Tiến Sĩ Ingrid Mattson, chủ tịch Hội Hồi Giáo Bắc Mỹ (Islamic Society of North America) đã giúp việc giải thích đó. Bà kêu gọi các tín đồ Hồi Giáo trên thế giới hãy “lui một bước,” xin họ đừng lợi dụng những “lời ăn to nói lớn” của một thiểu số người Mỹ để biện hộ cho các hành động chống các người Mỹ theo đạo Thiên Chúa hoặc đạo Do Thái. Bà Mattson cũng là người tổ chức và tham dự cuộc họp của các tôn giáo ở Washington vừa qua.

Hy vọng dự án đốt kinh của nhóm ông Terry Jones sẽ bị chính quyền thành phố Gainesvilles ngăn chặn một cách khôn khéo, tìm được những lý do để cấm việc làm tai hại của nhóm này. Như thi sĩ Heinrich Heine đã viết: “Kẻ đốt sách sẽ có ngày giết người.” Nếu những cuốn sách bị đốt lại là kinh thánh của một tôn giáo, thì không phải chỉ một người giết một người. Cảnh giết chóc có thể trở thành tập thể và kéo dài, còn kinh khủng, khó tưởng tượng nổi.

Chúng ta biết hành động của một cá nhân có thể gây ra những phản ứng dây chuyền làm thay đổi lịch sử, khi các điều kiện chín mùi vì quyền lợi xung khắc giữa các quốc gia thúc đẩy. Tháng 7 năm 1914, một thanh niên 20 tuổi bị bệnh lao sắp chết Gavrilo Princip đã bắn chết Arch Duke Ferdinand, người sẽ kế vị hoàng đế Áo Hung, tại thành phố Sarajevo, lúc đó thuộc Serbia. Vụ ám sát này do một nhóm ái quốc Serbia chủ mưu, đã châm ngòi cho cuộc Ðại Chiến Thứ Nhất, kéo dài 4 năm, giết 8 triệu người, làm 22 triệu người bị thương nặng, và 4 đế quốc sụp đổ. Hiệp ước chấm dứt cuộc chiến đó lại gieo mầm cho Ðại Chiến Thứ Hai, hơn 20 năm sau.

Chúng ta phải ngăn ngừa không cho những hành động lẻ loi của một cá nhân châm ngòi cho mối thù hận kéo dài giữa các tập thể. Nhiều cuộc chiến tranh vì lý do tôn giáo đã từng diễn ra nhiều lần trong lịch sử, có khi kéo dài hàng trăm, hàng ngàn năm chưa dứt. Phải dập tắt những ngọn lửa hận thù, dù nhỏ bé nhất, khi chúng mới chớm lóe lên. Ðể tránh hậu họa, có thể là thảm họa.

Nếu nước Mỹ có một nhân vật như Thánh Gandhi hoặc Nelson Mandela thì chắc người đó có thể tự mình đi tới thành phố Gainesvilles yêu cầu người ta hãy đốt chính mình cùng với các cuốn Kinh Kuran. Các vị lãnh đạo tôn giáo có thể phát động cuộc hành trình này. Chắc nhiều người Mỹ khác sẽ cùng đi theo họ, để cho thấy nước Mỹ thực sự là một quốc gia bao dung và tôn trọng các tôn giáo. Có ai sẵn sàng hay không?
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

TRỐNG ĐÁNH XUÔI KÈN THỔI NGƯỢC....HU-RA!!!_

TÔ HẢI



Lâu nay cụm từ "trống đánh xuôi kèn thổi ngược" hoặc "ông chẳng ,bà chuộc" luôn mang một ý nghĩa chế giễu hoặc góp ý ,nhận xét một cách châm biếm . Với tớ, trong bối cảnh đất nước những ngày này của thế kỉ thứ 21, tớ lại mong có thật nhiều tiếng kèn,tiếng trống thổi lên những giai điệu khó nghe, những tiếng trống lạc nhịp trong mọi thứ "dàn nhạc" tả pí lù ,từ giao hưởng quốc gia cho tới....
đội kèn đám ma ở khắp nơi trên đất nước.... Vì là chuyện "kèn trống" cho nên tớ cũng lợi dụng entry này để giới thiệu cho các bạn trẻ tìm hiểu thêm về một số thuật ngữ âm nhạc, đặc biệt là trong tổ chức và điều khiển một dàn nhạc chính quy như dàn nhạc giao hưởng có đủ 4 bộ gỗ, đồng, dây, gõ ...mà một anh nhạc sỹ dỏm, chưa được học hành tử tế không thể nào viết được, một anh chỉ huy không được đào tạo đến nơi đến chốn mà cầm đũa chỉ huy thì , chỉ có làm cho nhạc công đánh lung tung xoè, làm khổ tai người nghe hoặc bị đám nhạc công bất phục cố tình lên giây sai,thổi sai,vào sai,thậm chí nghỉ chơi cả chục nhịp để thẩm định cái tài của thầy!... Chuyện này y hệt cái tình trạng "trống đánh xuôi kèn thổi ngược" trong các "dàn nhạc chính trị" của xã hội ta hôm nay .Cái chuyện "mỗi ông một phách","trên bảo dưới không nghe" ấy mà!:

Tớ tuyệt đối không khai thác những tiếng kèn tiếng trống ngược- xuôi ,xuôi- ngược vang lên từ những "thế lực thù địch", những trang báo mạng, kể cả blog của những người tớ không quen biết. Tất cả tớ đều dựa vào những hiện tượng "ông chẳng, bà chuộc" của ngay các vị chỉ huy dàn nhạc tại chức,các vị chỉ huy,(dirigeur) các nhạc trưởng (chè d'orcherstre),các nhạc công đã bỏ bục ,bỏ đũa (chỉ huy), bỏ đàn,bỏ kèn nay quay lại phê phán dàn nhạc này ngu,dàn nhạc kia càng ngày càng... "phô" (faux) đáng giải tán từ ngày các vị ấy ...ra đi !

Tớ cũng không dám xếp các lý lẽ "phản biện"công khai của các vị sĩ phu trong nước thường lên tiếng công khai góp ý,phản bác... nhằm tổ chức lại các dàn nhạc cho nó khỏi bị thính giả tẩy chay ngày càng nhiều.Tớ không dám xếp tiếng nói của họ vào loại "trống đánh xuôi-kèn thổi ngược vì tớ nghĩ :họ là những thính giả có đầy đủ lỗ tai âm nhạc và trình độ thẩm mỹ thấy mình bị lừa ,nên chỉ huýt còi hay "mời anh xuống" trong những buổi trình diễn cực kỳ "phô"!

Tớ chỉ nói về những tiếng trống ,tiếng kèn lạc điệu cất lên từ chính ở những dàn nhạc đang hàng ngày vang lên những bản hoà tấu chối tai bàn dân thiên hạ để người nghe thấy khổ tai hơn là hàng ngày cứ phải nghe đi,nghe lại những âm thanh nền trì tục (bass ostinato) của tiếng bật bông!

Vậy mà chưa bao giờ khán thính giả Việt Nam lại được nghe những "những nghệ sỹ cung đình" tấu lên những giai điệu lạ lẫm những tiếng trống nhỏ,trống to lạc cung (mode) lạc giọng (ton)đến như thế!Dàn nhạc đang "tự diễn biến"hay đang bị các "lực lượng thù địch" phá hoại đây? Các bạn cùng tớ thử khảo cứu một cách vô tư nhé!

Phi lộ dài dòng vì méo mó "nghề (thất)nghiệp mãi,mong các bạn cảm thông!Tớ xin đi vào vấn đề chính như sau:

- Giữa lúc giai điệu hùng dũng và tiếng trống thúc giục ra trận nổi lên trong lòng quân dân ta từ Bạch Long Vĩ nơi gần với đất Tầu nhất với lời lĩnh xướng hào hùng của anh Nguyễn Minh Triết "Quyết bảo vệ từng tấc đất, tấc biển của tổ quốc."

- Giữa lúc người nghe đang bay bổng về những hoà thanh, phối khí của một chương ấm áp tình hoà giải, quên quá khứ, hướng tới tương lai do ngoại trưởng Hillary Cliton tuyên bố tại hội nghị các ngoại trưởng các nước ASEAN về việc người Mỹ sẽ quay trở lại biển Đông .

- Giữa lúc một số tướng tá của ta được máy bay Mỹ đưa ra tham quan diễn tập, cứu hộ... ngay trên hàng không mẫu hạm G.Wasington của Hoa kì ...

-Giữa lúc khu trục hạm J.M.Cain ghé cảng Đà Nẵng được đón tiếp tưng bừng như người anh em đi lâu xa mới về.... THÌ:

-Bên kia biên giới, một cây kèn Trumpet (to miệng nhất trong bộ đồng) bỗng cất lên một "phức điệu" phá tan chương nhạc êm dịu của bộ dây . Phức điệu đó mang nội dung: "Chúng tôi sẽ không bao giờ trở thành đồng minh quân sự của Mĩ !!!" và một chủ đề mới "3 không trong chính sách quốc phòng"được tung ra như một phản "chủ đề vô điệu thức"đập chát chúa vào cái chủ đề "hợp tác toàn diện" đang được bộ giây réo rắt cất lên!

- Những chuyện trống đánh xuôi kèn thổi ngược có tính chất "quốc gia đại sự" như thế, nếu kể cả các bè hoà thanh phức điệu ,đối vị mới được bổ xung của các "nghệ sĩ -chính trị" đã về vườn nay bỗng dưng "ngứa nghề" phát lên những khúc nhạc đầy hợp âm nghịch (dissonance) và "phức điệu tự do" kiểu các vị Nguyễn Văn An, Nguyễn Đình Lộc , Cao Sĩ Kiêm, Trần Xuân Giá nếu kể hết ra thì lại mất công nhận xét hay, dở? Thôi thì, cứ xếp vào những loại trống, kèn bị... lỡ nhịp! Nhưng dù sao cũng phải công nhận đã có những sắc màu mới trong dàn nhạc đã quá lâu chỉ có diễn tấu "nhất tề" (tutti).Và sau đây là những hiện tượng đồng chửi gỗ, gỗ chửi dây, dây chửi gõ,giây,đồng,gõ....chửi nhau gần nhất:

- Ông tổng Hiến (VTV), tháng trước được Ban kiểm tra trung ương bêu đích danh trên báo chí về những sai phạm .Chỉ một tháng sau chưa thấy ai xử lí cho ông cái việc cầm đầu cả một bộ dây (bà chúa ngợi ca) của một dàn nhạc lớn thì bỗng dưng nghệ sĩ Hiến lại được trao tặng huân chương độc lập !? Khúc tuỳ hứng lạc điệu này gọi là "Trống đánh xuôi kèn thôi ngược" e rằng còn nhẹ . Cái nghiêm trọng của nó là : Coi thường tất cả trình độ công chúng bắt phải công nhận chuyện trống xuôi kèn ngược này là hay,là đúng...Tiếng trống lớn (timpani) đã khẳng định trong mấy nhịp cuối cùng sự kết thúc huy hoàng của phần ý a,ỳ a của Bộ Kiểm Tra T.Ư là không có phần...nhắc lại (réexposition),một cấu trúc giao hưởng cực kỳ...hậu tiên phong (post-avantgardiste)!

Và sau đây là lẻ tẻ những tiếng kèn báo động, những tiếng "trống ngũ liên vỡ đê" gần nhất :

-VUSTA (Liên hiệp các hội khoa học kí thuật Việt Nam) phản đối quy hoạch thủ đô Hà Nội dù đã trình chính phủ,quốc Hội...

- Viện trưởng viện nghiên cứu luật pháp Đinh Văn Thảo tuyên bố "sở hữu toàn dân là... chẳng ai sở hữu cả (báo Tiền Phong).

-An Ninh Thủ Đô ngày 11/9 cũng cất lên câu hát xoá bỏ "9 không" trong pháp luật: Không đầy đủ, không rõ ràng, không cụ thể, không tương thích,không minh bạch, không tiên liệu, không hợp lí, không hiệu quả, không hiệu lực.!? 9 cái "không" này nó cồng kềnh, rối rắm một cách cố ý để tránh phải nói cái câu ngắn gọn là luật pháp nước ta nó...chẳng ra sao cả! phải làm lại từ đầu!Cái tiếng kèn thổi ngược này nó đáng chú ý vì nó cất lên ngay ở khu dành riêng cho những người thi hành "pháp luật.. 9 không! (Báo An Ninh TĐ)"Chả trách...

- Đáng chú ý là trong rất nhiều bản nhạc ,bài ca tràng giang đại hải nghe mãi nhàm tai ,nhìn mãi trên Tivi thêm chướng mắt,thỉnh thoảng cũng thấy vang lên một vài câu hát bè trầm hoặc tiếng sáo piccolo , tức ngực ,sóc óc đến giật mình như: "Ngày xưa ra ngõ gặp anh hùng, ngày nay ra ngõ gặp người phạm pháp !(Nguyễn đình Lộc)

-Và đây:một tiếng kèn linh xướng cho cả "bày kèn đồng" :Tiến sỹ Đỗ Xuân Thọ,cựu chiến binh,30 năm tuổi Đảng tuyên bô với Đài RFI ngày hôm nay (12/9/2010) :"Tôi sẽ đốt thẻ Đảng trước mặt các sinh viên nếu Đại Hôi Đảng lần này không ra tuyên bố từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lê.Sẽ có quay phim,chụp ảnh đàng hoàng kẻo người ta tưởng tôi điên mà nhốt vào bệnh viện tâm thần!"

-Không thể nào không "kể công"của những tiếng kèn ,tiếng trông ngược nhịp vang vọng về từ các nước láng giềng hay xa xôi mà bao chí lề phải đã khéo léo nhắc lại kiểu ca-nông (canon-thủ pháp nhắc lại) để cảnh cáo những nhạc công trong nước. đang tấu lên những giai điệu lỗi nhịp.Tỉ như:

Bên Tầu người ta ra tay xử lý bọn tham quan thẳng tay ra sao,kể cả các cấp từ T.Ư đến cấp tỉnh,bất kể là phụ trách những nghành quan trọng như giám đốc công an,bất kể là đàn ông hay đàn bà,(gần đây nhất là một nữ quan tham lấy tiền để nuôi "trai nhí").

-Một hồi trống đặc biệt "Những bài học lịch sử từ sự xụp đổ của Đảng Cộng Sản Liên Xô"kéo dài cả mấy số liền trên sân khấu "Nhân Dân" ,công khai tuyên truyền , phanh phui nhứng nguyên nhân quy tụ ở mấy lãnh tụ tối cao thời đó với "quốc nạn" ,cũng biến chất,cũng tham ô đô-la tiền tỷ ...cũng con ông cháu cha đi chợ nước ngoài với cả va-ly đô-la , kim cương.Thậm chí tài liệu được phép(?) phổ biến trên cũng chẳng ngại nêu cả tên các đồng chí cũ đã từng không ít lần ôm hôn nhau thắm thiết như Khruchev ,Brejnev,Gorbachev...Ai đọc xong nghĩ thế nào thì nghĩ.Riêng tớ,thì cho đây là những tiếng kèn thổi ngược cực kỳ quan trọng.Nó cất lên giữa lúc khắp nơi đang vang lên tiếng hát "80 năm đời ta có Đảng","65 năm nước ta có Độc lâp Tự Do",giữa lúc các cơ quan Đảng và nhà nước ăn mừng ngày thành lập và nhận bằng khen ,huân chương búa xua,thì những tiếng "kèn lạc điệu" này cất lên ,chẳng làm cho người nghe không ít thì nhiều phải đặt ra cho mình muôn vàn giấu hỏi ????.Gây được suy nghĩ cho người nghe,theo tớ, những tiếng kèn này dù ít,dù nhiều cũng là có ích cho người đọc và...vô cùng tai hại cho mấy ông bảo thủ (vờ) đang ra sức "tuyên giáo" cho 87 triệu dân ta về "con đường xã hội chủ nghĩa là con đường tất yếu của nhân loại!". Đọc cả mấy chục trang chi chít chữ mà nắm được cả ngàn thông tin mới lạ,đặc biêt một câu có tính khắc họa lại chủ đề để kết thật hoành tráng mà tớ phải ghi ngay vào sổ tay.Đó là câu :"Đảng Cộng sản Liên Xô là đảng chính trị duy nhất làm giầu qua đám tang của mình"(David Code) làm tớ liên tưởng tới một cái kết theo kiểu Beethoven :Khẳng đinh---Khẳng đinh nữa ---Khẳng định thêm để ...Kết trọn rồi HẾT!

-Hôm nay ,12 tháng 9 lại có thêm chuyện bằng giả, bằng mua của bên Nga...Chỉ một nhà máy chế tạo máy bay Komsomolsk on Amur mà đã phát hiện ra 60 kỹ sư bằng giả?Tất cả đã bị cho đi cải tao,tước bằng và nộp mỗi người 2600 USD tiền phạt!Người ta làm đến nơi đến chốn ,tại sao ta lạ né tránh,?Phát triển chủ đề có lẽ dành cho những người biết nghe và gióng lên đươc những tiếng trống,tiêng kèn vọng về từ nơi xa vạn dặm?

Đọc những mẩu tin kiểu ấy,may ra bọn tiến-sỹ giáo sư tự phong,tự mua hay nhà nước bỏ tiền ra "mua cho",có lỳ mấy chắc cũng phải nửa đêm thức giấc giật mình vì những ác mộng búa thần công lý sắp lấy đi cái thủ cấp!Chắc chắn sẽ bớt đi những bài ca "Như ta đây là tiến sỹ Đảng phong ý a!"...

Những loại trống đánh xuôi kèn thổi ngược... hay âm vang của những bài ca tang lễ (marche funèbre)hay những khúc kinh cầu hồn(requiem) từ nơi gần ,nơi xa vọng tới ,dù kiên trì bằng mấy cũng phải làm khối kẻ phải sởn gai ốc là cái chắc.

Vậy thì, tại sao không hua-ra những tiếng "trống đánh xuôi,kèn thổi ngược" phát ra ngay từ trong nhà mình cơ chứ!Chẳng lẽ người ta lại trừng trị kẻ vỗ tay mà lờ đi kẻ thổi kèn?

Bởi dzậy,các bạn hãy cùng tớ chọn ngay những nhịp trống,điệu kèn nào "nghe được" mà hùa nhau hua ra thật to, thật nhiều ,dù nó có đánh xuôi,thổi ngược nhưng hợp với lỗ tai thì cứ mạnh dạn mà....hua-ra !

Hoan hô những người dám "cách tân" các dàn nhạc ,các dàn hợp xướng ở Việt Nam lâu nay chỉ biết tấu có một bè (unisson)bằng cách mang tới cho chúng những mầu sắc mới ,nhũng mảng mầu mới(palette orcherstrale)với một tư tưởng nghệ thuật.. "siêu hâu tiền phong (super-post-avantgardiste)!Hua-ra!Hua-ra.!!! .

Nhạc sĩ Tô Hải
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

Vụ ‘11/9’ dưới mắt tướng Trung Quốc, Lưu Á Châu

Bùi Tín (Blog - VOA)
Nhân kỷ niệm 9 năm vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 ở Hoa Kỳ, xin giới thiệu một vài ý kiến độc đáo của một trung tướng Trung Quốc. Ðó là Trung Tướng Lưu Á Châu, 58 tuổi, hiện là chính ủy Học Viện Quân Sự của Quân Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc.
Image
Một tòa nhà trong số thápđôiWTC trong ngày bị tấn công, 11 tháng 9, 2001

Cần hiểu rõ trong quân đội Trung Quốc, chính ủy coi như là người đại diện cho đảng Cộng Sản Trung Quốc ở đơn vị, có quyền hành rất lớn, khi có tranh chấp ý kiến giữa chính ủy và tư lệnh trong bộ chỉ huy thì ý kiến của chính ủy có ý nghĩa quyết định. Ðó là nguyên tắc ‘Chính ủy tối hậu quyết định’, từng được ghi trong điều lệnh của quân đội.

Người chính ủy được xác định một cách dễ hiểu là:

“Ngang lưng thì thắt phương châm

Ðầu đội chính sách, tay cầm chủ trương”

Nếu được biết Học Viện Quân Sự Trung Quốc là lò rèn luyện cao nhất của quân đội Trung Quốc, nơi đào tạo mọi tướng lĩnh của hải, lục, không quân của quân giải phóng, sẽ thấy rõ vai trò và ảnh hưởng của Tướng Lưu Á Châu đối với nhận thức và tư tưởng của sỹ quan cấp cao trong toàn quân như thế nào.

Chính vì vậy mà báo chí phương Tây nói đến Tướng Lưu Á Châu như một hiện tượng - a phenomenum - một nhân vật kỳ lạ, với những tác phẩm văn học, truyện ngắn, bài nói chuyện, bài trả lời phỏng vấn luôn bộc trực, có tư duy độc lập, rõ ràng, mạch lạc, ra ngoài mọi khuôn sáo giáo điều, thường là độc đáo, ít giống ai.

Dưới đây là vài ý kiến của Tướng Lưu về cuộc khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 ở Hoa Kỳ.

Ông kể rằng sáng ngày 12 tháng 9 năm 2001, quanh nơi ông ở tại Bắc Kinh bỗng nghe thấy tiếng kèn trống nổi lên sôi nổi, ông nghĩ rằng thanh niên ăn mừng kết quả của đội bóng quốc gia đêm qua, nhưng không, một số thanh niên cho biết họ ‘ăn mừng Tháp Ðôi, Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế của Mỹ ở New York đã bị đánh sập’. Ông đau buồn nhận ra một bộ mặt xấu xa của nền văn hóa Trung Hoa hiện tại. Sao con người Trung Quốc - đồng bào của ông - lại có thể độc ác, vô ý thức, vui mừng trước thảm họa khủng khiếp của đồng loại đến mức ấy.

Ông giở tờ báo sáng ra xem, tin ở trang nhất là: Các trường tiểu và trung học ở Bắc Kinh tựu trường cho năm học mới. Không một dòng tin nào về Tháp đôi ở New York. Ông thở dài. Văn hóa thông tin của Trung Quốc là vậy, đưa toàn những tin vô ý nghĩa, còn những tin người đọc muốn biết thì tìm không ra.

Sau đó ông được tin, một đoàn nhà báo Trung Quốc đang ở thăm Hoa Kỳ đúng ngày 11/9. Khi họ được tin và thấy hình trên máy vô tuyến bọn khủng bố đâm đầu vào tháp đôi, khói lửa phụt ra, họ vui mừng bắt tay nhau, hoan hô ầm ỹ, trước con mắt ngỡ ngàng, sửng sốt rồi phẫn nộ của người Mỹ. Kết quả là cả đoàn được ‘mời về nước ngay’, và được vào danh sách không bao giờ có thể trở lại nữa. Văn hóa Trung Quốc thiếu đạo đức là thế, Tướng Lưu đau buồn kết luận.

Tướng Lưu ca ngợi nền văn hóa và văn minh Hoa Kỳ. Khi khủng bố xảy ra, một vài nơi trên đất Mỹ xảy ra chuyện căm ghét người đạo Hồi, lập tức họ được giải thích thấu đáo, có nơi còn tăng cường bảo vệ các cơ sở người Hồi Giáo sinh sống, không để xảy ra trả thù hay cướp phá đáng tiếc.

Tướng Lưu cũng ca ngợi cảnh thảm họa xảy ra, người cứu trợ lao đến cấp cứu khẩn trương, có trật tự, không có chen lấn, xô đẩy, giẫm đạp lên nhau, còn biết chạy theo 2 chiều, không bị tắc nghẽn, lại còn nhường bước cho đàn bà, trẻ con, người mù... Tất cả do có một nền văn hóa và văn minh ăn sâu vào nếp sống, vào tiềm thức, nổi bật trên đất Mỹ.

Tướng Lưu còn ca ngợi những hành khách Mỹ trên chiếc máy bay Boing 767 khi bọn khủng bố cướp đoạt buồng lái, họ đã được tin Tháp Ðôi bị bọn chúng phá sập bằng cách đâm đầu máy bay vào, họ đã hè nhau kháng cự, máy bay bị rơi ở vùng Pennsylvania. Sau này được biết bọn khủng bố dự định đâm chiếc Boing 767 này vào Nhà Trắng hoặc nhà Quốc Hội Hoa Kỳ. Tướng Lưu coi đó là lòng dũng cảm của công dân có văn hóa khi lâm nạn. Ông từng so sánh và kể chuyện ở Trung Quốc, khi phát xít Nhật tràn sang, có nơi chỉ có 7, 8 tên lính Nhật cầm tù và tước khí giới 3 vạn dân quân Trung Quốc, có nơi chỉ một tên sỹ quan Nhật cùng tay sai cai quản cả một huyện.

Tại sao tướng họ Lưu lại có cách nhìn có vẻ độc đáo như trên? Ông là người thân Hoa Kỳ, thân phương Tây chăng? Không hoàn toàn không.

Ông nói rõ, ông không thân Mỹ, cũng không thù ghét Mỹ, ông chỉ tìm hiểu Mỹ để học những điều tốt, để áp dụng những điều hay, lẽ phải, có lợi, bổ ích cho nước mình.

Ông có tinh thần tự phê bình rất cao, coi đó là một phẩm chất yêu nước, nhất là của tuổi trẻ.

Ông cho rằng Trung Quốc không có nhà tư tưởng đúng nghĩa, không có tư tưởng triết học mang tính khai phá, không có nền văn hóa nhân bản, chỉ có những ‘mưu sỹ’, với những mưu mẹo, thủ đoạn, những Gia Cát Lượng, Tào Tháo, Chu Du... Ông dám chỉ trích Mao Trạch Ðông là từng có 31 chủ trương, trong đó 20 chủ trương sai lầm, mang tính hủy diệt con người, từ Tam phản, Ngũ phản, đến Ðại nhảy vọt, Cách mạng Văn hóa Vô sản, tàn phá đất nước...

Tướng Lưu có những kết luận rõ ràng, minh bạch. Ông kêu gọi muốn cứu nước, hãy áp dụng nền văn hóa, khoa học phương Tây, tiến bộ, nhân bản, hãy vận dụng theo chế độ pháp trị đa nguyên đa đảng kiểu Hoa Kỳ, nếu không có những cải cách chính trị - kinh tế - văn hóa - ngoại giao sâu rộng như thế, thì Trung Quốc sẽ không thể nào tránh khỏi sụp đổ bi đát như Liên Xô hồi 1991.

Tại sao Tướng Lưu lại mạnh mồm đến thế? Có dự đoán rằng ông dựa vào thế Con Ông Cháu Cha, con nhà nòi cộng sản, bố vợ là cố chủ tịch nước Lý Tiên Niệm - 1 trong 8 nhân vật khai sinh ra nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa; những con cháu các ông lớn khác lao vào làm giàu, hưởng lạc, ông chọn con đường khác để cứu nước theo cách nghĩ riêng. Ông được quý trọng còn vì sống ngay thẳng, bình dị, không hút thuốc, không uống rượu, không ăn nhậu, xuống thăm đơn vị ông ăn cùng ở cùng chiến sỹ, không nhận quà cáp của ai. Ông đọc nhiều, viết nhiều, suy nghĩ nhiều, biết nhiều thứ tiếng, Anh, Nhật, Ðức, Pháp... từng là giáo sư thỉnh giảng ở Ðại học Bắc Cali-Mỹ.

Cũng có phán đoán là ông được sự ủng hộ ngầm của Thủ Tướng Ôn Gia Bảo, người có tư tưởng cởi mở, và ông không được ông Hồ Cẩm Ðào tán thành.

Hiện tượng Lưu Á Châu rất đáng được nghiên cứu, trao đổi trong dịp 9 năm cuộc khủng bố 11 tháng 9 năm 2001 ở Hoa Kỳ, trong tưởng niệm vong linh của những nạn nhân bi thảm, niềm đau thương chung của cả loài người văn minh.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

VẺ VANG CỘNG ĐỒNG

Hôm Thứ Tư 01/09/10 trong chương trình tin tức và thời sự buổi sáng, đài truyền trình số 7 có thực hiện một cuộc phỏng vấn với danh hài người Úc gốc Việt Anh Đỗ nhân dịp anh cho ra mắt quyển hồi ký: The Happiest Refugee - tạm dịch: Người Tỵ Nạn Hạnh Phúc Nhất.

Trong cộng đồng người Việt Tỵ Nạn cộng sản (CĐNVTNCS) ở Úc, nhất là ở NSW chắc có lẽ không ai lạ gì hai anh em nhà họ Đỗ. Anh Đỗ (AĐ) là một danh hài người Úc gốc Việt nổi tiếng, thường xuyên xuất hiện trên các đài truyền thanh, truyền hình SBS, ABC, v.v… AĐ cũng đã từng xuất hiện rất thành công trong các chương trình Dance with the Stars, Deal or No Deal của đài truyền hình số 7. Ngoài ra AĐ còn là một diễn viên điện ảnh, đã xuất hiện trong rất nhiều phim, chẳng hạn như: Footy Legends (2006) trong vai Lực Vũ, Double the Fist (2008) trong vai Krakbot, Solo (2006) trong vai Nguyễn, Pizza (2005-2007) trong vai Chong Fat, v.v… Em của AĐ là Khoa Đỗ cũng là một người trẻ nổi tiếng, đã từng đoạt được danh hiệu: “Người Úc Trẻ Xuất Sắc trong năm 2005”. Khoa Đỗ hiện nay là một đạo diễn và nhà viết kịch phim. Trong CĐNVTN CS ở Úc chúng ta chỉ có hai người trẻ duy nhất đoạt được danh hiệu “người Úc trẻ xuất sắc trong năm” đó là Tần Lê ở Victoria vào năm 1998 và Khoa Đỗ ở NSW vào năm 2005.

Điều làm cho tôi ngưỡng mộ và kính mến AĐ không phải vì anh là một danh hài nổi tiếng hoặc vì sự học cao hiểu rộng với 5 năm học luật ở đại học mà ở cái phong cách bình dân, tính khôi hài, giản dị, lối trình diễn chuyên nghiệp, sống động và đặc biệt nhất là anh luôn luôn hãnh diện về căn cước tỵ nạn của mình. Có lần trong một show truyền hình anh đã say mê kể về vai trò của Ba anh trong cuộc chiến Quốc-Cộng trước 1975 ở VN và đời sống lao khổ trong tù cải tạo của các chú, bác (uncles?) anh dưới chế độ CS. Thay vì hành nghề luật sư (LS) thì anh đã chọn con đường hài hước. Theo anh thì: “LS thì phải làm việc đến 70 tiếng một tuần, còn diễn viên hài thì làm chỉ có 4 tiếng mà thôi. Nếu chọn giữa 70 và 4 tiếng làm việc, dĩ nhiên là tôi chọn 4 tiếng”.

Trong quyển hồi ký the Happiest Refugee, AĐ đã tường thuật một cách chi tiết về cuộc hành trình tìm tự do, vượt thoát chế độ bạo tàn CS. Trên con thuyền nhỏ bé mong manh, bề dài chỉ có 9 thước với 40 con người, vừa đàn ông, đàn bà và trẻ con nheo nhóc, chồng chất lên nhau như cá mòi trong hộp. Bị bộ đội biên phòng CS bắn khi tàu của anh còn trong hải phận VN. Lênh đênh trên biển cả nhiều ngày, lương thực và nước không còn, bệnh tật, đói khát hành hạ triền miên, 1 người chết, đã vậy mà tàu của anh còn bị hải tặc tấn công 2 lần nữa chớ, chuyện thật kinh hoàng xảy ra như thế mà cứ tưởng như đùa. Có lúc cả gia đình anh tưởng đã phải bỏ thây trên biển cả, lúc ấy anh chỉ mới 2 tuổi. Chắc có lẽ nhờ phép lạ và may mắn, gia đình anh đã an toàn đến được bến bờ tự do và nước Úc đã mở rộng vòng tay thân ái đón nhận. Đến đất Úc với hai bàn tay trắng, gia đình anh hầu như đã mất tất cả sau cuộc đổi đời nghiệt ngã 30/04/75 và chuyến vượt biển hãi hùng. Ba Mẹ anh cũng như bao nhiêu gia đình TNCSVN khác đã phải chật vật phấn đấu để thích nghi với cuộc sống mới và làm việc gian khổ cực nhọc để ổn định cuộc sống cũng như lo cho anh và các em ăn học. Với ý chí phấn đấu, quyết tâm vượt qua mọi thử thách để vươn lên, cộng thêm sự thành đạt ở học đường cũng như trong sự nghiệp hài hước và điện ảnh của hai anh em nhà họ Đỗ đã làm cho khán giả hâm mộ hai anh nói riêng, người dân Úc nói chung phải kính mến và ngưỡng phục.

Mặc dầu trong lúc trình diễn, trả lời phỏng vấn anh không có đề cập đến vấn đề chính trị, nhưng qua cách trình bày trung thực, pha lẫn sự dí dõm hài hước nhưng đầy sức thuyết phục về cuộc vượt thoát chế độ CS hãi hùng, ly kỳ rùng rợn của gia đình anh và lúc nào anh cũng hãnh diện về nguồn gốc tỵ nạn của mình, khiến cho đồng nghiệp cũng như những khán thính giả người Úc hâm mộ anh tự hỏi: tại sao một con người có óc khôi hài, nổi tiếng, thông minh, giỏi giang, học cao hiểu rộng và dễ mến như anh lại phải bỏ chính nơi nhau cắt rốn của mình để ra đi trên con thuyền mong manh, nhỏ bé, bất chấp mọi hiểm nguy trên biển cả? Và đất nước nơi anh sinh ra chắc bị cai trị bởi chế độ độc tài, hà khắc lắm vì thế Ba Mẹ anh cũng như hàng mấy triệu người VN khác chịu không thấu mới phải lìa bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, mồ mả Ông Bà, đánh đổi cả mạng sống của mình để trốn chạy cái gọi là “thiên đường xã hội chủ nghĩa”. Thật thế! dưới chế độ hà khắc CS, cây cột đèn mà biết đi thì nó cũng đã đi vượt biên từ lâu rồi. Có con nhỏ còn ẵm ngữa, bước ra ngoài đã sợ con bị cảm lạnh rồi, vậy mà Ba Mẹ anh đã can đảm bồng bế anh vượt biển thì thú thật Ba Mẹ anh phải là những người hết sức can đảm và theo tôi thì một động lực khác cũng vô cùng quan trọng đó là quyết tâm tìm lại hai chử tự do đã mất trên chính quê hương của mình. Một câu hỏi khác xin được đặt ra ở đây là: tại sao có những người cùng dòng máu, màu da, tiếng nói lại đuổi xô, đàn áp và ghét bỏ chúng ta, trong khi những người không cùng dòng máu, màu da, khác ngôn ngữ và phong tục tạp quán đã mở rộng vòng tay đón nhận những người TNCSVN cùng khổ như chúng ta bằng một nghĩa cữ chân thành và tấm lòng bác ái bao dung?

Ông bà mình có câu: “bà con xa không bằng láng giềng gần” tôi rất vui và hãnh diện khi được tin giáo sư Ngô bảo Châu (GS NBC) vừa được trao tặng huy chương Fields, một giải thưởng cao quí nhất của ngành toán học thế giới. CSVN rất trân trọng ông, mời ông về giảng dạy. Phó thủ tướng CS Nguyễn Thiện Nhân đích thân đến thăm GS NBC khi ông có mặt ở VN. GS NBC được “chúa đảo” Tuần Châu (sao giống tiếng Tàu quá vậy!?) Đào Hồng Tuyển tặng một ngôi biệt thư sang trọng, cũng may là GS NBC từ chối. Điều tôi thắc mắc là tại sao ông Đào Hồng Tuyển không bán ngôi biệt thự sang trọng ấy để dùng tiền đó mà hiến tặng cho những người dân nghèo khổ cùng đinh mà cứ nằng nặc đòi tặng cho GS NBC, một người đã có tất cả tiền tài và danh vọng? Hiện nay GS NBC có song tịch VN và Pháp (được cấp hồi đầu năm nay) và hiện đang làm việc tại đại học Chicago Mỹ với mức lương khoảng 300 ngàn Mỹ kim một năm.

Nhưng tôi phải thú thật một điều rằng: dầu cho GS NBC có nổi tiếng khắp thế giới, được CSVN trân trọng và đề cao, được mọi người ca ngợi, ngưỡng mộ và kính nể như thế nào đi nữa thì riêng cá nhân tôi vẫn coi GS NBC là “bà con xa” còn danh hài AĐ mới thật sự là “láng giềng gần” vì giữa tôi và AĐ có những điểm tương đồng. Tôi và AĐ đều là người TNCS. AĐ vượt biên khi mới lên 2, còn tôi vượt biên ở tuổi thiếu niên. Gia đình AĐ đến đến đất Úc với 2 bàn tay trắng, thì tôi một thân một mình đặt chân đến xứ sở phúc địa này cũng là kẻ trắng tay sau hơn 2 năm trời lây lất ở trại tỵ nạn. Tôi và AĐ luôn luôn tự hào về căn cước tỵ nạn của mình. Tuy nhiên giữa tôi và AĐ vẫn có sự khác biệt đó là: AĐ vừa học rộng hiểu cao, vừa là một danh hài, một diễn viên điện ảnh nổi tiếng khắp nước Úc, làm vẻ vang Cộng Đồng và là một niềm hãnh diện cho gia đình anh. Còn riêng tôi chỉ là một người dân bình thường, đi làm đóng thuế cho chính phủ coi như là một cử chỉ đền ơn đáp nghĩa quê hương thứ hai này đã mở rộng vòng tay đón nhận tôi trong suốt gần ba chục năm qua. Với tài hèn sức mọn của mình, tôi chẳng làm một điều gì để gọi là “vẻ vang cộng đồng” cả, nhưng ít ra tôi không làm gì mang tiếng CĐ hoặc bị mọi người lên án là một kẻ háo danh và là một tên Việt gian.

Tôi luôn luôn trân quí sự tự do dân chủ mà tôi được hưởng trên quê hương thứ hai này. Vì thế, không vì một chút lợi danh nhất thời mà tôi có thể đánh mất đi lương tâm, lòng tự trọng và căn cước tỵ nạn CS của mình.

Hồ NGUYỄN (Victoria)

*Trang web của Anh Đỗ: http://www.anhdo.com.au/
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Tên Tổng Thống Bush lại thành thời sự

Ngô Nhân Dụng

Tên Tổng Thống Gorges W. Bush sẽ được nhắc nhở nhiều lần trong mấy tuần tới; không phải vì ông đang chuẩn bị xuất bản hồi ký, nhưng vì Quốc Hội Mỹ sẽ bàn luận, tranh cãi về những đạo luật cắt giảm thuế mang tên ông. Dân Mỹ sẽ lắng nghe các đại biểu bàn chuyện giảm thuế hay tăng thuế.

Ðây không phải là chuyện lạ. Nước nào cũng vậy, cả guồng máy nhà nước sống được là nhờ thuế của dân. Ai cũng muốn mình kiếm ra đồng nào thì được giữ đồng ấy để chi tiêu, nghĩ đến đóng thuế lợi tức là đau cắt ruột! Và dân Mỹ thì tự do, tha hồ bàn chuyện nhà nước.

Khác với dân Mỹ, các đại gia ở Việt Nam và ở Trung Quốc không phải lo lắng gì về việc đóng thuế lợi tức hết. Họ sướng hơn các anh nhà giầu ở Mỹ nhiều. Khi nhà nước cộng sản thâu thuế thì không phân biệt giầu nghèo, toàn dân ai cũng đóng như nhau. Những món tiền nhà nước cộng sản thu lấy như thuế mở hàng ăn hay tiệm hớt tóc, tiền mãi lộ các ông cảnh sát đầu đường, thuế nhập cảng, tiền hối lộ để được chích thuốc trong bệnh viện, thuế trị giá gia tăng, vân vân, ai cũng chịu như nhau. Anh đạp xe xích lô hay anh làm tổng giám đốc Vinashin, khi mua cây cà rem hay uống một chai bia thì trả cùng một thứ thuế tiêu thụ! Các đại gia kiếm ra tiền tha hồ tiêu pha, mua xe hơi, nhà nghỉ mát, mua cả máy bay, hoặc xây nhà thờ tổ thật lộng lẫy để “ông cha lừng lẫy bốn phương trời!”

Các ông bà nhà giầu ở nước Mỹ không được “tự do, hạnh phúc” như vậy. Mỹ là một nước dân chủ từ lâu, ý thức về công bằng xã hội đã được nuôi dưỡng như một lý tưởng và được thí nghiệm dần dần trong đời sống, bằng pháp luật. Một bước tiến tới của công bằng xã hội là quyết định đánh thuế lợi tức. Ðến năm 1913 dân Mỹ mới chính thức phải đóng thuế lợi tức, sau khi hiến pháp được tu chính (Tu chính án số 16). Các đại gia nước Mỹ thời đó cũng đã phản đối dữ, có người dọa sẽ bỏ nước ra đi, nhưng không bảo được Quốc Hội vâng lời! Một bước thứ hai tiến gần tới lý tưởng công bằng hơn là đánh thuế lợi tức lối lũy tiến. Thời 1913 người nghèo đóng 1% trên lợi tức kiếm được, người giầu đóng 7%. Thời 1950, người giầu có lúc phải đóng thuế 80% tới 90% lợi tức! Thuế lũy tiến là khí cụ để nhà nước lấy tiền người giầu nhiều hơn người nghèo, đem chi cho tất cả mọi người cùng hưởng.

Câu chuyện thuế năm nay lại nổi lên thành đề tài tranh cử vì các đạo luật cắt thuế do Tổng Thống Gorges W. Bush ký những năm 2001 và 2003 sắp hết hạn. Câu hỏi là Quốc Hội có cho triển hạn hay không, và nếu có thì triển hạn cho ai? Trong một năm bầu cử (chỉ còn chưa đầy 2 tháng nữa) đây sẽ là chuyện cả làng muốn lắng nghe và muốn góp ý kiến.

Năm 2001 khi Tổng Thống Bush chấp chánh, hầu như cả nước Mỹ ủng hộ việc cắt giảm thuế lợi tức. Cắt thuế là giảm bớt số thu của nhà nước; vì lúc đó ngân khố Mỹ dư tiền: Ngân sách thu nhiều hơn chi. Theo chính sách thời đó, người ta ước tính trong 10 năm số thặng dư ngân sách sẽ lên tới 5 ngàn 600 tỷ Mỹ kim! Mấy năm sau đó tình hình khác hẳn, số thặng dư đó tan ra mây khói. Nhà nước chi nhiều hơn số thu; năm nay chính phủ liên bang sẽ thiếu hụt một ngàn 340 tỷ đô la.

Ðạo luật cắt thuế năm 2001 mang tên ông Bush giảm thuế cho tất cả mọi người. Những người giầu nhất và đóng thuế nặng nhất, suất thuế từ 39.6% được hạ xuống 35%; hạng thứ nhì giảm từ 36% xuống 33%. Theo đạo luật năm 2003 suất thuế đánh trên tiền lời do đầu tư và cổ tức (các công ty chia tiền lời cho chủ nhân cổ phần) đều được giảm từ 20% xuống 15%. Các đạo luật đó đều bị giới hạn, chỉ được áp dụng cho đến ngày 31 tháng 12 năm 2010. Tại sao Tổng Thống Bush không thừa thắng xông lên, cho cắt thuế như vậy mãi mãi? Vì thủ tục Quốc Hội Mỹ bắt buộc muốn giảm một món thuế nào vĩnh viễn thì phải ấn định sẽ tăng những món khác, hoặc cắt bớt chi tiêu, để chúng cân bằng lẫn nhau. Vì việc đó khó được Quốc Hội đồng ý, rồi không muốn làm mất lòng ai, cho nên lúc đó mới ấn định thời hạn 10 năm thì các đạo luật đó hết hiệu lực. Trước cuối năm nay, Quốc Hội Mỹ phải quyết định có gia hạn hay không. Nếu họ không làm gì cả thì hiệu lực chấm dứt, cả nước sẽ bị tăng thuế lợi tức. Tất nhiên các nghị sĩ và dân biểu không muốn trở về đơn vị nghe toàn dân chửi vì tăng thuế, cho nên họ phải bàn sẽ gia hạn các luật của ông Bush hay không, và gia hạn như thế nào.

Khi các đạo luật của Tổng Thống Bush đem áp dụng, năm 2001 mọi người Mỹ tự dưng có nhiều tiền chi tiêu hơn nhờ được bớt thuế. Một gia đình trung lưu lãnh lương hơn 52,000 đô la một năm thấy mình được đem về nhà thêm hơn 1,000 đồng - đủ để mua hai cái xe đạp cho cả hai vợ chồng. Những người thuộc 1% dân số kiếm nhiều tiền nhất, lợi tức từ 350,000 đến nhiều triệu đồng một năm chẳng hạn, thì được bớt thuế 72,000 đô la, đủ mua một chiếc xe Lexus mới.

Bây giờ, ngân sách Mỹ đang khiếm hụt trầm trọng, có thể tăng các suất thuế trở lại thời trước năm 2001 để chính phủ bớt phải vay nợ hay không?

Cả nước Mỹ lại bàn chuyện thuế là vì như vậy. Tổng Thống Barack Obama đề nghị Quốc Hội gia hạn luật cắt thuế của Tổng Thống Bush, nhưng không cho tất cả mọi người. Ông chỉ cho những người kiếm từ 200,000 đô la, và những cặp vợ chồng lợi tức từ 250,000 đô la trở xuống được hưởng suất thuế Bush mà thôi. Còn những ai kiếm nhiều tiền hơn thì sẽ bị đánh thuế theo suất thuế cao hơn, như trước thời ông Bush. Cộng với những biện pháp khác được giữ lại, dự án Obama sẽ giữ nguyên 82% tổng số các khoản cắt thuế của Tổng Thống Bush, cho 98% dân đóng thuế ở nước Mỹ được hưởng. Những người kiếm lợi tức cao nhất, 2% tổng số, sẽ phải trả theo suất thuế cao như trước năm 2001 (39.6% thay vì 35%). Số người bị tăng thuế nặng nhất là những ai may mắn kiếm được từ 600,000 Mỹ kim trở lên mỗi năm, họ chiếm 1% tổng số toàn dân đóng thuế. Một gia đình kiếm ra 1.8 triệu Mỹ kim sẽ phải đóng thêm 53,675 đô la. Nước Mỹ có khoảng 120,000 người giầu nhất, khai báo lợi tức trung bình trên 8 triệu Mỹ kim một năm, mỗi vị này sẽ phải đóng thêm 310,140 đô la tiền thuế theo dự án Obama. Chủ trương của chính phủ Obama là đánh thuế người giầu để tăng thu, bớt khiếm hụt ngân sách, trong khi vẫn bớt thuế cho người trung lưu, như ông Bush đã bớt.

Hầu hết, không phải tất cả các nghị sĩ, và các dân biểu đảng Dân Chủ ủng hộ ý kiến của ông tổng thống. Tất cả các đại biểu Cộng Hòa không đồng ý, cộng với dăm nghị sĩ Dân Chủ nữa. Họ muốn gia hạn toàn bộ luật cắt thuế của Tổng Thống Bush, không chừa ai cả. Nếu phe chống đối quyết tâm thì đảng Dân Chủ không đủ 60 phiếu trên Thượng Viện, phe chống có thể dùng thủ tục nói không dứt (filibuster) để ngăn cản không cho Thượng Viện biểu quyết, tức là sẽ không có đạo luật mới theo ý kiến của ông Obama. Bây giờ là lúc người ta tố cáo lẫn nhau, cho dân Mỹ phán xử.

Phe Dân Chủ tố cáo phe Cộng Hòa muốn bảo vệ việc cắt thuế cho những người giầu, để sau cùng Quốc Hội sẽ không biểu quyết được đạo luật gia hạn giảm thuế cho 98% dân chúng, và như thế thì cả giới trung lưu sẽ phải đóng thuế nhiều hơn.

Ngày Chúa Nhật vừa qua, lãnh tụ phe thiểu số (Cộng Hòa) ở Hạ Viện, Dân Biểu John A. Boehner (CH-Ohio), bị ép hỏi ông có muốn “bắt giới trung lưu làm con tin” để bảo vệ quyền lợi của người giầu hay không, trên ti vi ông Boehner đã nói ông có thể sẽ biểu quyết ngưng giảm thuế cho nhà giầu nếu đó là cách duy nhất để cho giới trung lưu khỏi bị tăng thuế. Ngày hôm sau, Nghị Sĩ Mitch McConnell (CH, Ky), trưởng khối Cộng Hòa ở Thượng Viện đã bác bỏ ý kiến của ông Boehmer, và Dân Biểu Eric Cantor (CH-Va.), nhân vật Cộng Hòa số 2 ở Hạ Viện hoan nghênh ý kiến của ông McConnell. Họ chứng tỏ các đại biểu Cộng Hòa ở cả 2 viện vẫn cùng một ý kiến. Họ chỉ trích chính phủ đã tăng thuế trong lúc kinh tế suy yếu làm nản lòng giới đầu tư, đặc biệt là bắt những nhà kinh doanh nhỏ phải đóng thêm thuế sẽ khiến họ không thể tuyển thêm nhân viên, trong lúc tỷ lệ thất nghiệp rất cao.

Những ý kiến chống đối trên sẽ được dân Mỹ suy nghĩ trong gần 2 tháng trước khi bỏ phiếu. Trong đảng Dân Chủ có nhiều đại biểu phân vân, không ủng hộ ông tổng thống phe mình, vì họ bị áp lực cử tri không muốn tăng thuế trên lợi tức, dù chỉ tăng với những người giầu nhất.

Ðầu tuần trước, ông Peter Orszag, cựu giám đốc Ngân Sách Tòa Bạch Ốc của Tổng Thống Obama đã gợi ra ý kiến mới: Tiếp tục giảm thuế cho cả những người lợi tức cao, cùng với giới trung lưu, nhưng chỉ trong vòng 2 năm; đến năm 2012 sẽ bãi bỏ. Ông Martin Feldstein, cựu cố vấn kinh tế thời Tổng Thống Reagan cũng đồng ý. Ông Alan Greenspan, cựu chủ tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang thì cảnh cáo rằng nếu gia hạn tất cả luật giảm thuế của Tổng Thống Bush mà không giảm bớt số chi tiêu tương đương thì sẽ vô cùng tai hại. Nếu tiếp tục giảm thuế cho tất cả mọi người, thì trong 10 năm ngân sách sẽ thu về ít đi 3 ngàn tỷ Mỹ kim. Nếu chỉ giảm cho giới trung lưu trở xuống, chỉ có 2% giầu nhất bị tăng thuế thì sẽ tăng số thu thêm được 700 tỷ Mỹ kim.

Một câu hỏi là: Tiếp tục giảm thuế cả những người giầu nhất nước có hiệu quả kích thích trong lúc kinh tế suy yếu này hay không? Phần lớn số tiền thuế được giảm cho những người giầu nhất hưởng, họ có thêm tiền sẽ không đem ra tiêu pha ngay như những người nghèo hơn. Ngược lại, nếu thu thêm thuế của họ để có tiền trợ giúp các tiểu bang chi tiêu, bớt sa thải nhân viên; hoặc giúp các xí nghiệp tuyển thêm người, thì sẽ kích thích số tiêu thụ nhiều hơn. Tính ra, một đồng kích thích kinh tế có hiệu quả gấp 3 lần một đồng giảm thuế cho những người trong số 2% giầu nhất nước. Ðối với các doanh nghiệp nhỏ, hầu hết hiện nay không có lợi tức đủ để phải đóng thuế. Chỉ có 3% doanh nhân nhỏ kiếm được 250,000 đô la một năm trở lên thôi. Nếu tuyển nhân viên, tiền lương nhân viên sẽ giúp họ trừ vào lợi tức đóng thuế.

Cuộc tranh luận về thuế sẽ ngày càng ráo riết hơn trong những ngày gần tới lúc bỏ phiếu. Không nhà chính trị nào muốn bị mang tiếng là tăng thuế giới trung lưu. Không ai muốn bị coi là thủ phạm làm ngân sách khiếm hụt hơn. Ðảng Dân Chủ sẽ bị chỉ trích là tăng thuế trong lúc này sẽ làm kinh tế càng suy yếu. Ðảng Cộng Hòa sẽ bị chỉ trích là chỉ bảo vệ quyền lợi những người giầu. Lý luận nào sẽ chinh phục được nhiều người dân Mỹ, điều đó sẽ quyết định sang năm đảng nào sẽ chiếm đa số ở Quốc Hội.

Trong khi đó, ngày hôm qua, sau nhiều tháng bị trì hoãn, Thượng Viện đã đồng ý sẽ thông qua dự luật cấp 30 tỷ đô la tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ khó vay tiền, sau khi được hai nghị sĩ Cộng Hòa ủng hộ, không còn lo bị “filibuster.' Ðó là một tin mừng, vì các doanh nghiệp đó sẽ tuyển thêm người để hưởng trợ cấp. Có một tin kinh tế khích lệ khác, nói số thương vụ của các cửa hàng bán lẻ tăng thêm được 0.4% trong tháng 8, tỷ lệ tăng cao nhất trong 5 tháng qua. Tin mừng này hỗ trợ lời tỷ phú Warren Buffett tuyên bố ngày hôm trước, rằng ông tin kinh tế Mỹ sẽ chỉ có đi lên, không sắp bị suy thoái lần nữa như nhiều người lo ngại.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Ông Vũ Hải Triều sẽ hối lỗi

Ngô Nhân Dụng
Một bạn từ trong nước báo tin cho biết: Nhà văn Ðào Hiếu bị xe tông. Mặc dầu ông Ðào Hiếu là một nhà văn rất nổi tiếng, nhưng một vụ đụng xe chắc không thể coi là một tin đặc biệt.

Vì xe cộ ở Việt Nam chạy như thế nào, ai cũng biết. Không, tin này quan trọng vì, người bạn nói thêm: Ðào Hiếu bị xe tông trong lúc ông đang đứng thơ thẩn ở trong sân nhà mình, tại Nha Trang. Chưa hết, chiếc xe nó chạy xồng xộc từ ngoài đường vào giữa sân, nhắm thẳng chỗ ông đứng mà tông, húc trúng phóc, cứ y như trong rạp xiếc ấy! Tôi đoán ông bạn này thêm thắt cho câu chuyện thêm ly kỳ. Nhưng một ông bạn khác xác nhận vụ đụng xe trong sân nhà này có thật. Nhà văn Ðào Hiếu phải vô bệnh viện; các chi tiết có thay đổi chút đỉnh nhưng rất nhiều người biết có tai nạn ấy và biết cả lý do. Họ bảo, tuy đang đứng trong sân nhà mình đấy, nhưng thực ra ông nhà văn Ðào Hiếu, tác giả tiểu thuyết Lạc Ðường, lúc nào cũng vẫn đi! Mà ông ta lại không theo đúng luật đi đường của nhà nước cộng sản, cho nên mới bị xe tông! Ý nói: Chẳng oan chút nào cả!

Nguyên do, vì Ðào Hiếu đã cho sống lại, tái sinh, trang mạng của ông mang tên “Lề Bên Trái.” Cái website này vốn không được các vị công an văn hóa ưa thích, họ đã nhiều lần nhắn bảo ông phải bỏ nó đi. Có lúc Ðào Hiếu chán quá, đã buông rồi. Nhưng độc giả khắp nơi họ kêu rêu, cho nên, gần đây ông cho mạng “Lề Bên Trái” sống lại. Ðược ít ngày thì xẩy ra tai nạn lưu thông. Ở Việt Nam tất cả các giống trâu bò đều biết phận, chúng chỉ đi bên phải thôi, các nhà văn đi lề bên trái rất nguy hiểm!

Thế đấy, ngày xưa Nguyễn Vĩ than với Trương Tửu: “Nhà văn An Nam khổ như chó.” Thời nay thì “Nhà văn An Nam khổ như bò!” Bởi vì có làm thân con bò mới bị người ta quất roi bắt đi theo một con đường nhất định, đi trệch ra ngoài một bước là bị xe đụng! Giáo Sư Ngô Bảo Châu mới nói với phóng viên Người Việt rằng mình là người thì phải có quyền tự do đi lại. Chỉ có bầy cừu mới để cho chúng nó bảo đi đâu thì cứ đó mà đi. May mắn ông Ngô Bảo Châu chỉ là một nhà toán học, không phải nhà văn. Và ông đang sống ở Mỹ chứ không ở Việt Nam. Xin chúc mừng ông đi đường được bình an và ngồi trong sân nhà cũng được bình an. Chưa thấy guồng máy công an Việt Cộng sang tới Mỹ hoạt động trong lãnh vực lưu thông!

Cái tội của Ðào Hiếu, như một nhà toán học trong nước giải thích, là nhà văn này đã làm cho số thống kê của cả ngành công an bị sai trật. Chỉ sai một con số thôi, nhưng cũng làm mất uy tín lãnh đạo, không tha thứ được.

Hồi đầu năm, Tướng Vũ Hải Triều, tổng cục phó Tổng Cục An Ninh mới báo cáo thành tích, là trong vòng dăm tháng giữa hai năm 2009 và 2010, cái cục lớn của ông đã phá sập 300 trang mạng và blog của dân chúng nước Việt Nam Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa! Ðó là một chiến công lẫy lừng, được gọi là một trận Ðiện Biên Phủ trên mạng, đánh thẳng vào các mạng dân chúng, lập công với Ðảng! Khi ông tướng công an nói “phá sập” thì không nhất thiết phải hiểu là các ông mất công phá bằng kỹ thuật điện tử với những cái máy vi tính. Một vụ đụng xe ngoài đường (hay suýt bị đụng xe có báo trước), cũng có thể gây tác dụng điện tử. Qua một đêm, sáng hôm sau một mạng lưới bỗng dưng tắt ngóm! Ðây là một kỹ thuật giản dị, thời ông Stalin đã áp dụng rồi. Không biết trong số 300 mạng mà Tướng Vũ Hải Triều khoe đã tiêu diệt, có bao nhiêu mạng chết vì bị đụng xe?

Trang nhà Lề Bên Trái của nhà văn Ðào Hiếu đã từng bị tắt ngóm như vậy, trong thời gian Tướng Vũ Hải Triều phấn đấu lập thành tích tiêu diệt 300 mạng, mạng lưới chứ chưa phải mạng người. Nay nếu ông Ðào Hiếu cho mạng Lề Bên Trái của ông hoạt động trở lại, thì số thống kê 300 mạng của Tổng Cục An Ninh sẽ tụt xuống chỉ còn 299 mà thôi, không còn là một số tròn nữa!

Cũng giống như nhật báo Người Việt làm mục “Mỗi ngày một con số,” các ông bà công an cũng rất thích nêu cao các con số thành tích. Thí dụ, 300 mạng bị đánh sập trong 5 tháng; 25 mạng (người) bị đụng xe trong một ngày; 5 thùng phân đã được đổ trước cửa nhà 3 tên trí thức phản động trong 3 ngày, vân vân. Mỗi con số là một thành tích báo công. Các chiến sĩ công an có nhiều nghề; có chiến sĩ vào Internet phá mạng lưới Mẹ Nấm, X-Cafe hoặc boxit.vn; trong khi chiến sĩ khác thì bưng thùng phân tới đổ trước nhà bà Trần Khải Thanh Thủy. Cả hai đều lập công với Ðảng như nhau! Làm cho một con số thống kê thành tích bị sai lệch, 300 giảm bớt còn 299 thôi, tức là phá hoại, âm mưu lật đổ chính quyền vô sản! Công an phải uốn nắn, giáo dục, cải tạo!

Sau khi rút kinh nghiệm, công an thấy đem phân tới đổ vào cửa nhà cũng không thể giáo dục, cải tạo được các nhà văn. Bà Trần Khải Thanh Thủy mỗi lần ra cửa thấy mùi lại kêu lên: Chúng nó đổ tư tưởng Hồ Chí Minh đầy cửa nhà tôi rồi! Nhưng bà vẫn chưa chịu cải tạo! Nhà văn rất khó thấm nhuần loại tư tưởng mà các đồng chí công an đem tới giúp đỡ uốn nắn họ! Cho nên bây giờ mới đổi mới, một chiếc xe chạy thẳng vào sân nhà người ta, tông trúng mục tiêu cần cải tạo. Kết quả, lập lại thành tích tiêu diệt 300 mạng và blog, không thiếu mạng nào.

Phải công nhận các nhà văn Việt Nam rất may mắn. Có thể nói, họ đã được chế độ nuông chiều. Họ chỉ bị đổ phân trước nhà hay bị xe tông ở trong sân. Nhiều người Việt Nam khác không may mắn, không được ưu đãi như vậy.

Như báo Người Việt mới đăng tin, nhiều thanh niên khỏe mạnh chỉ được mời đến “làm việc” với công an phường rồi bỗng đột ngột tự treo cổ chết trong đồn công an. Còn những vụ đột ngột treo cổ trong phòng giam, trong nhà xí, thậm chí dưới chân tường đồn công an thì nhiều vô kể. Phải coi là có một bệnh dịch treo cổ.

Chưa có một quốc gia nào lại có nhiều thanh niên đột ngột treo cổ trong đồn công an như thế. Thanh niên đột ngột treo cổ ở Bà Rịa, ở Bắc Giang, ở Ðắc Nông, ở Thanh Hóa, ở Quảng Nam, Hậu Giang, Ðồng Nai, vân vân. Ðọc danh sách trên nhật báo Người Việt hôm qua thấy kinh hoàng. Mà những người này không bị bắt vì phạm những tội lỗi nặng như ăn hối lộ hàng triệu đô la hoặc quản lý kinh doanh lỗ lã thiệt hại công quỹ hàng tỷ đô la. Những kẻ phạm những tội nặng đó mới đáng hối hận, tự tử (mai mốt chắc sẽ có). Phần lớn các thanh niên bị công an giữ chỉ vì ăn trộm vặt hay cãi cọ trong gia đình. Vậy thì tại sao họ lại đột ngột treo cổ? Tại sao vào trong đền công an thì những thanh niên này lại chán đời muốn chết?

Cách giải thích duy nhất là các chiến sĩ công an xã hội chủ nghĩa làm việc giỏi. Các thanh niên này chỉ ở trong đồn một ngày thôi cũng đủ tự thấy họ có tội, cho nên tự sát. Sẽ có ngày chúng ta đếm đủ con số thanh niên đột ngột treo cổ trong suốt những năm đảng cộng sản cai trị nước ta, đưa ra một con số để nêu cao thành tích của công an Việt Nam.

Ở nước ta, ngay thời Pháp thuộc cũng chưa bao giờ công an, mật thám lại làm việc giỏi như thế. Chắc hẳn không phải người mình tự nghĩ ra mà đây là một kỹ thuật các chiến sĩ công an đã theo gót Bác Hồ đi học hỏi ở Nga Xô đem về.

Nhưng ông Tướng Vũ Hải Triều có lúc cũng nên tự hỏi giết ba trăm mạng, dù chỉ là mạng Internet chứ không phải mạng người, có phải là tạo quá nhiều ác nghiệp hay không? Bởi vì trong thế giới bây giờ Internet là một dụng cụ rất quan trọng cho sự tiến bộ kinh tế. Giết mạng Internet cũng là giết những mầm mống cơ bản tạo nên cảnh kinh tế tiến bộ, văn hóa phong phú, và xã hội tự do. Ông Vũ Hải Triều có nghĩ sẽ đến ngày con cháu ông họ đọc lại tờ báo cũ, cũng tự hỏi ông cha chúng đã làm gì khiến cho nước Việt Nam chậm tiến, thua kém các nước lân bang hay không?

Ai cũng biết, các xã hội tiến bộ là vì tạo ra nhiều cơ hội trao đổi với nhau. Trao đổi nông sản, hàng hóa, rồi tới trao đổi sức người, dịch vụ; và sau cùng trao đổi đến hiểu biết và ý kiến. Nền kinh tế hiện đại dựa trên hiểu biết, gọi là kinh tế tri thức. Nhờ có trao đổi, kiến thức của người này gặp gỡ hiểu biết của người khác, chúng giao hòa, sanh ra những ý kiến mới. Tất cả đóng góp và bộ não chung của xã hội. Chính bộ não chung tiến bộ tạo ra kinh tế tiến bộ.

Khi kinh tế dựa trên tài nguyên, tư bản hay lao động, dựa trên năng lượng, thì còn có ngày lo tài nguyên thiên nhiên sẽ cạn, giếng dầu lửa, mỏ than đá cũng hết, sức lao động bị giới hạn. Nhưng khi nền kinh tế đặt trên việc khai thác các ý kiến, tri thức, thì cái nguồn cung cấp đó vô tận. Càng sử dụng nó lại càng nhiều thêm, giầu có hơn, sắc xảo hơn. Nhưng phải làm sao cho tri thức được kích thích, tự nó sinh ra, trao đổi với nhau, đẻ ra những tri thức mới. Phương tiện trao đổi tri thức và ý kiến hữu hiệu nhất hiện nay là internet. Ðó là bậc thang cần thiết để bước lên cảnh kinh tế phồn thịnh.

Internet không thể giúp gì được xã hội loài người nếu không được tự do trao đổi. Phải cho nó sống trong khung cảnh xã hội tự do. Ðó là lý do những thành công lớn gần đây nhất trong lãnh vực này, như eBay, Google, Facebook, vân vân, đều xuất phát từ nước Mỹ, nơi người ta dám thí nghiệm các ý kiến mới, không bao giờ phải lo nhìn trước ngó sau xem có được ai đó ở trên cho phép hay không! Ngăn cấm sinh hoạt trên Internet, phá hoại các blog, các trang mạng, tức là xâm phạm những quyền tự do căn bản vẫn giúp cho xã hội tiến bộ. Như Lê Phan viết trong Câu Chuyện Cuối Tuần vừa qua, quyền tự do phát biểu là quyền căn bản cho các quyền tự do dân chủ khác, thiếu nó thì không thực hiện được những quyền khác, không có dân chủ. Tự do trao đổi cũng là quyền căn bản cho việc phát triển kinh tế. Trong cuộc sống kinh tế tri thức bây giờ, tự do trao đổi ý kiến là nền tảng, thiếu internet thì kinh tế không tiến được.

Những người bênh vực việc phá hoại 300 mạng và blog sẽ nói rằng nhà nước và công an chỉ phá đổ những mạng xấu, những blog xấu mà thôi; không làm hại gì đến sự tiến bộ cả. Nhưng thế nào là xấu? Ai quyết định chỉ tiêu phân biệt xấu và tốt? Bênh vực công an như vậy là vẫn nghĩ rằng trong xã hội chỉ có nhà nước và công an của họ mới biết cái gì là tốt và cái gì là xấu cho anh, cho tôi; còn người dân thường như anh và tôi thì không biết gì đâu! Thử nhớ lại thời ông Stalin, ông Mao Trạch Ðông còn ngự trị; họ đều nhân danh một chủ nghĩa “nhà nước cha chú” như thế cả. Nhân dân cứ theo lệnh nhà nước như đàn cừu, vì chỉ có đảng và nhà nước biết cái gì là tốt nhất cho dân. Các ông đó có giúp cho xã hội tiến bộ hay không, hay chỉ gây cảnh trì trệ, bế tắc? Cuộc thí nghiệm cộng sản đã hoàn toàn thất bại, phải mở mắt ra chứ?

Cho nên, thế nào cũng có ngày ông Vũ Hải Triều sẽ hối lỗi có lúc đã ra tay phá hoại sự tiến bộ của dân tộc Việt Nam, phá tự nền tảng của tiến bộ, là những mạng lưới trao đổi ý kiến tự do và độc lập. Một mạng lưới như Lề Bên Trái của nhà văn Ðào Hiếu không gây tiếng xấu cho chế độ bằng một vụ ăn hối lộ của bọn Huỳnh Ngọc Sĩ; không thể gây oán hận trong lòng dân bằng một cái chết của anh Nguyễn Hữu Thiện, một thanh niên trai tráng (sinh năm 1990) “chết trong tư thế treo cổ trên trần nhà tạm giữ của công an huyện Trảng Bom” như báo Người Việt thuật ngày hôm qua. Phá hoại 300 mạng lưới không cứu cho chế độ sống lâu thêm được bao lâu, nhưng sẽ để tiếng nhơ muôn đời. Muôn đời người Việt Nam sẽ nhớ đến những các nhà thơ Hữu Loan, Phùng Quán, Nguyễn Chí Thiện, Ðặng Ðình Hưng, vân vân, và sẽ nguyền rủa cả chế độ đã hành hạ và cướp giật tự do của họ. Một Ðào Hiếu bị tai nạn nằm nhà thương, sẽ có hàng ngàn người khác quyết tâm tiến bước tự do không cần phải đi theo bên lề do công an chỉ định! Phải tỉnh ra chứ?
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Từ Bảo Ðại đến Hồ Chí Minh: Hai bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập

* Phạm Cao Dương

Image
Trong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập.
Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Ðế Bảo Ðại và lần thứ hai vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 bởi Chủ Tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh.
Cựu hòang Bảo Đại ( trái) tới Hà Nội, năm 1945 ( Hình : AFP/Getty Images )



Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết hay chỉ được học bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết hay không được học bản tuyên ngôn của Bảo Ðại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn. Bài này nhằm bổ khuyết cho tình trạng thiếu sót đó, đồng thời phân tích nội dung và ý nghĩa của từng bản.

Tuyên ngôn của Hoàng Ðế Bảo Ðại

Hoàn cảnh được công bố


Bản tuyên ngôn độc Lập của Hoàng Ðế Bảo Ðại được công bố ngày 11 tháng 3 năm 1945, hai ngày sau khi Nhật đảo chính Pháp ở Ðông Dương và sau một thời gian dài hơn bốn năm, từ tháng 9 năm 1940, sau khi quân Nhật vào phần đất này của Ðông Nam Á, gần năm tháng trước khi Nhật Bản đầu hàng và Thế Chiến Thứ Hai kết thúc. Trong thời gian này Việt Nam bị sống dưới sự cai trị của cả người Pháp, từ sau khi Hòa Ước 1884 được ký kết, lẫn người Nhật, từ ngày 22 tháng 9 năm 1940, với một hậu quả khủng khiếp là Trận Ðói Tháng Ba Năm Ất Dậu. Hoàn cảnh này đã làm cho không chỉ riêng những người Cộng Sản, vốn chủ trương đánh đổ chế độ quân chủ để cướp chính quyền (chữ của chính người Cộng Sản) để từ đó thực thi cách mạng vô sản mà luôn cả những người không những không có cảm tình với chế độ quân chủ đương thời mà còn chủ trương lật đổ chế độ này để thay thế bằng một chế độ dân chủ, không nhìn nhận giá trị đích thực của bản tuyên ngôn này. Lý do là vì Bảo Ðại luôn luôn bị coi như một ông vua bù nhìn, trước kia trong tay người Pháp và lúc đó trong tay người Nhật. Theo họ trước kia người Pháp bảo sao, ông làm vậy và sau đảo chính 9 tháng 3 năm 1945, người Nhật bảo ông tuyên bố độc lập thì ông tuyên bố độc lập, thế thôi. Người ta hiểu hay được học đơn giản như vậy. Nền độc lập mà Bảo Ðại tuyên bố theo họ chỉ là do người Nhật ban cho và bản tuyên ngôn của ông chẳng có một giá trị gì trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của người Việt. Thực chất của nó chỉ là “sự tuyên bố công khai việc thay thầy đổi chủ của triều đình Bảo Ðại” (1) không hơn không kém. Sự thực không đơn giản như vậy. Người Nhật có lý do làm đảo chính lật đổ người Pháp và Bảo Ðại có lý do phải chấp nhận yêu cầu của người Nhật tuyên bố Việt Nam độc lập. Lý do của Bảo Ðại đã được ông giải thích khi tiếp kiến Trần Trọng Kim và cố gắng thuyết phục ông này chấp nhận làm thủ tướng đầu tiên của chính phủ Nam Triều độc lập. Nguyên văn câu nói của Bảo Ðại được Trần Trọng Kim kể lại như sau:

- “Trước kia nước Pháp giữ quyền bảo hộ nước ta, nay đã không giữ được nước cho ta, để quân Nhật đánh đổ, vậy những điều trong hiệp ước năm 1884 không có hiệu quả nữa, nên bộ thượng thư đã tuyên hủy hiệp ước ấy. Trẫm phải đứng vai chủ trương việc nước và lập chính phủ để đối phó mọi việc.” (2)

Người ta cần phải nhớ là hơn mười năm trước đó, sau khi du học từ Pháp về tới Huế được hai ngày, ngày tháng 10 tháng 9 năm 1932, Bảo Ðại đã ra Dụ số 1 tuyên bố chấp chính và khẳng định chế độ quân chủ của Nam Triều hủy bỏ Quy Ước 6 tháng 11 năm 1925 do Hội Ðồng Phụ Chính, đứng đầu là Tôn Thất Hân, ký với Toàn Quyền Ðông Dương thời ông còn nhỏ tuổi và đang du học bên Pháp, tước bỏ hầu hết các quyền hành còn lại của nhà vua trừ các quyền có tính cách nghi lễ, ân xá, sắc phong, tế lễ... kèm theo nhiều dụ khác nhằm thực hiện những cải cách qui mô trong nền hành chánh của chính phủ Nam Triều, nhưng đã bị người Pháp ngăn cản và bị thất bại. Ðảo chính 9 tháng 3 năm 1945 và lời yêu cầu tuyên bố độc lập của người Nhật dù gì đi chăng nữa cũng là điều vị hoàng đế còn trẻ tuổi từ lâu mong đợi. Ngoài ra theo nhận định và giải thích nhằm thúc đẩy Trần Trọng Kim chịu khó lập chính phủ mới. Ông nói:

- “Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước.” (3)

Hai tiếng “cơ hội” Bảo Ðại dùng ở đây cho ta thấy ông từ lâu mong có dịp này. Ðồng thời ông cũng hiểu rằng nền độc lập mà ông tuyên cáo chưa phải độc lập hẳn. Chưa hết, tuyên bố rồi ông còn có nhu cầu phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập và nhất là để tránh không cho người Nhật “lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta.” (3) Một sự e ngại chỉ có những người có kiến thức về lịch sử và chính trị học mới biết được. Ngoài ra những tiếng “rất có hại cho nước ta” cũng cho người ta thấy đối tương của hành động tuyên cáo độc lập của ông không phải là ngôi vua mà là đất nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam, đất nước của ông và thần dân của ông. Cái nhìn và quan điểm này cũng như sự hiểu biết của ông về tình hình thế giới và thế thất bại của người Nhật về sau đã được ông nói rõ trong hồi ký của ông. Riêng đối với người Nhật, ông đã không tin tưởng ở họ cũng như chiêu bài Ðại Ðông Á của họ. Nói cách khác Bảo Ðại ở vị thế phải chấp nhận nhập cuộc dù ông hiểu rõ sự phức tạp của vấn đề. Phần khác như ông cũng nói tới trong hồi ký của ông: Ðộc lập là ước mơ của tất cả mọi người Việt Nam thời đó.

Nội dung bản Tuyên ngôn

Ðây là một bản văn tương đối ngắn so với những bản văn cùng loại, nhằm ba mục tiêu chính yếu là hủy bỏ một hòa ước Triều Ðình Huế đã ký với nước Pháp, tuyên bố Việt Nam độc lập, đứng vào khối Ðại Ðông Á trong chương trình phát triển chung, đồng thời bày tỏ sự tin tưởng vào lòng thành của nước Nhật với nguyên văn như sau:

- Cứ tình hình chung trong thiên hạ, tình thế riêng cõi Ðông Á, chính phủ Việt Nam tuyên bố từ ngày này điều ước bảo hộ với nước Pháp bãi bỏ và nước Nam khôi phục quyền độc lập.

- Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập và theo như lời tuyên ngôn chung của Ðại Ðông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vượng chung.

- Vậy chính phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế quốc, quyết chí hợp tác với nước Nhật, đem hết tài sản trong nước để cho đạt được mục đích như trên. (4)

Bản tuyên bố được đề ngày 11 tháng 3 năm 1945 tức ngày 27 tháng 1 năm Bảo Ðại thứ 20 được Bảo Ðại ký tên với sáu thượng thư phó thự. Sáu vị thương thư gồm có: Phạm Quỳnh, bộ Lại, Hồ Ðắc Khải, bộ Hộ, Ưng Úy, bộ Lễ, Bùi Bằng Ðoàn, bộ Hình, Trần Thanh Ðạt, bộ Học, và Trương Như Ðịnh, bộ Công. Theo Bảo Ðại đây là lần đầu tiên trong lịch sử một văn kiện được ký bởi nhà vua và tất cả các nhân vật quan trọng nhất trong triều đình.

Ðọc bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập này của Bảo Ðại, người ta cần chú ý tới những chi tiết sau đây:

Thứ nhất: Gọi là tuyên ngôn nhưng thực sự đây chỉ là một văn kiện hủy bỏ một điều ước đã được ký kết trước đó vì do tình hình biến chuyển một trong hai phía đã không tôn trọng những gì mình đã ký kết hay không thực thi được những gì mình đã ký kết trong một sinh hoạt quốc tế. Ðiều ước bị hủy bỏ ở đây là Hòa Ước Giáp Thân được ký kết giữa Triều Ðình Huế và người Pháp ngày 6 tháng 6 năm 1884, đặc biệt hai điều khoản của hòa ước này là điều khoản thứ nhất, theo đó Việt Nam công nhận và chấp nhận Quyền Bảo Hộ của nước Pháp và điều khoản thứ mười lăm, theo đó nước Pháp cam kết bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ của các xứ do vua Việt Nam cai trị và bảo vệ nhà vua chống lại những sự xâm nhập từ bên ngoài và những cuộc nổi loạn từ bên trong... (5). Sự hủy bỏ này phải được hiểu là do người Pháp bất lực không bảo vệ được Việt Nam trước sự bành trướng của quân đội Nhật và cuối cùng là chính người Pháp đã bị người Nhật lật đổ trong cuộc Ðảo Chính ngày 9 tháng 3 năm 1945. Sự hủy bỏ này cũng có tính cách đơn phương từ phía Bảo Ðại với tư cách là người kế vị chính thống của Triều Ðình Nhà Nguyễn căn cứ vào những gì đã xảy ra vào thời điểm này. Ðiểm cần được lưu ý ở đây là từ ngữ hòa ước trong văn kiện này được dùng theo số ít, trong tiếng Việt, không có chữ “các” hay “những” đi kèm và trong tiếng Pháp không có chữ “s” theo sau. Ðiều này có nghĩa là bản tuyên cáo chỉ hủy bỏ hòa ước bảo hộ tức Hòa Ước Giáp Thân 1884 mà thôi thay vì hủy bỏ tất cả các hòa ước đã được ký kết trước đó. Ðó là các Hòa Ước Nhâm Tuất 1862 và Hòa Ước Giáp Tuất 1874 liên hệ tới xứ Nam Kỳ theo đó xứ này đã bị nhường dứt cho người Pháp và trở thành thuộc địa của họ, không còn thuộc quyền cai trị của Vua và Triều Ðình Huế nữa. Vấn đề thâu hồi xứ Nam Kỳ do đó chưa được giải quyết ngay nhưng đã trở thành mối bận tâm và một phần hành quan trọng của chính Bảo Ðại ngay từ buổi nhà vua tiếp kiến Ðại Sứ Nhật Yokoyama và của Chính Phủ Trần Trọng Kim trong gần suốt thời gian chính phủ này tồn tại. Xứ Nam Kỳ chỉ được người Nhật trao trả trong những ngày cuối của chính phủ này và chỉ chính thức trở về với lãnh thổ quốc gia Việt Nam ngót năm năm sau, vào giữa tháng 6 năm 1949, và do Bảo Ðại với tư cách Quốc Trưởng tiếp nhận từ tay người Pháp. Ðây cũng là một sự kiện ít người biết đến.

Thứ hai: “Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập... giúp cho cuộc thịnh vượng chung.” Câu này xác định phương thức hoạt động nhằm thực hiện tư cách độc lập (tự phát triển như một quốc gia độc lập không phụ thuộc vào nước ngoài cho xứng đáng một quốc gia độc lập) và thế đứng của Việt Nam trên trường quốc tế (tự coi mình là một phần tử Ðại Ðông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vượng chung). Nên để tới khẩu hiệu Châu Á của Người Á do người Nhật đưa ra trong thời gian này, một khẩu hiệu hàm chứa sự độc lập của các nước Á Châu lúc đó còn là thuộc địa của các đế quốc Âu Châu. Ðây cũng là một cách nói trước một cách khéo léo để ngăn chặn trước sự can thiệp vào nội tình Việt Nam của người Nhật.

Thứ ba: “Chính phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế quốc...” Câu này nhằm buộc chặt lời hứa của người Nhật bằng cách nhấn mạnh vào sự trung thành với những gì họ đã nói, với quan niệm trung thành như một truyền thống chung của các dân tộc Á Ðông.

Thứ tư: “Quyết chí hợp tác với nước Nhật đem hết tài sản trong nước để cho đạt được mục đích như trên.” Mục đích như trên là mục đích gì? Phải hiểu mục đích này bao gồm hai phần là “tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập” và “giúp cho cuộc thịnh vương chung” như là một phần tử của khối Ðại Ðông Á.

Nói cách khác, đây là một bản văn tuy ngắn ngủi, cô đọng nhưng rất quan trọng vì nó vừa mang tính cách pháp lý, có liên hệ tới nhiều văn kiện ngoại giao khác đã được hình thành trước đó, vừa biểu lộ chủ trương của một quốc gia được trao trả độc lập trong một hoàn cảnh không nhận không được, vô cùng tế nhị và phức tạp vào lúc tình hình thế giới biến chuyển quá nhanh và hoàn toàn bất lợi cho quân đội và quốc gia đảm nhận sự trao trả nền độc lập này. Mỗi điều nói ra, mỗi chữ được viết đều đòi hỏi người soạn thảo phải vô cùng thận trong và ước tính kỹ càng.


Ai là tác giả của bản tuyên ngôn này?


Người được nói đến nhiều nhất là Phạm Quỳnh, lúc đó đang giữ chức thượng thư bộ lại. Ðiều này có nhiều phần đúng nếu người ta để ý tới khả năng nghị luận và viết văn, viết báo kèm theo sự hiểu biết và kinh nghiệm của một học giả, một người làm báo, và sau đó là một ngự tiền văn phòng tổng lý của nhà vua cũng như thượng thư bộ lại trước đó. Nó cũng được Phạm Khắc Hòe, đương thời là ngự tiền văn phòng tổng lý của Bảo Ðại, trong hồi ký của ông này xác nhận. (6)

Bản tuyên ngôn của Chủ Tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh

Hoàn cảnh được công bố


Bản tuyên ngôn này đã được Hồ Chí Minh một mình soạn thảo, một mình đứng tên và đọc tại Quảng Trường Ba Ðình ở Hà Nội vào buổi chiều ngày 2 tháng 9 năm 1945, ngót năm tháng sau bản tuyên ngôn của Bảo Ðại, hơn hai tuần lễ sau khi Nhật Bản đầu hàng, mười ba ngày sau khi Việt Minh cướp được chính quyền ở Hà Nội và hai ngày sau khi Bảo Ðại chính thức thoái vị. Vì được công bố sau bản tuyên ngôn của Bảo Ðại, sau khi người Nhật đã đầu hàng cũng như chế độ bảo hộ của người Pháp đã bị người Nhật lật đổ trước đó, bản tuyên ngôn này đã bị nhiều người cho là thừa, không cần thiết, chưa kể tới sự kiện là chính phủ mới do Hồ Chí Minh thành lập là kế vị chính phủ Nam Triều do Bảo Ðại thoái vị nhường cho dựa theo chiếu thoái vị của Bảo Ðại. Chiếu này đã được Hồ Chí Minh và chính phủ mới của ông chấp nhận. Chính Phủ Lâm Thời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trong những điều kiện này đương nhiên kế tục những gì Bảo Ðại và chính phủ Trần Trọng Kim đã làm trước đó, trong đó có Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập ngày 11 tháng 3 năm 1945. Lập luận như vậy là hoàn toàn hợp lý đứng trên phương diện công pháp quốc tế. Một lập luận đơn giản và hoàn toàn dễ hiểu.

Câu hỏi được đặt ra là Hồ Chí Minh, và những cộng sự viên của ông, khi đưa ra bản tuyên ngôn của mình có biết là trước đó Bảo Ðại đã làm công việc này rồi hay không? và biết như vậy tại sao ông lại còn làm lại việc đó một lần nữa? Cho câu hỏi thứ nhất, câu trả lời là chắc chắn có; Hồ Chí Minh chắn phải biết là Bảo Ðại trước đó đã tuyên cáo hủy bỏ hòa ước bảo hộ 1884 rồi. Nhưng ông vẫn làm lại công việc này vì ông có nhu cầu phải làm. Những nhu cầu đó là những nhu cầu gì? Thứ nhất là vì từ lâu toàn dân ai nấy đều khao khát được thấy nước nhà độc lập, đúng như Bảo Ðại đã viết trong hồi ký của ông, độc lập là ước mơ của mọi người dân Việt (7), cũng như nó được phản ảnh ở khắp nước ngay trước và sau ngày 2 tháng 9 năm 1945. Nói tới độc lập vào lúc đó là gõ đúng tần số của bất cứ một người dân Việt Nam nào từ đó đem lại công lao và thanh thế cho người chính thức công bố ra điều đó. Thứ hai là cho tới ngày 2 tháng 9 năm 1945, cái tên Hồ Chí Minh hoàn toàn xa lạ ở trong nước cũng như ở ngoài nước. Võ Nguyên Giáp, một trong những cộng sự viên thân cận nhất của Hồ Chí Minh trong thời gian này, đã viết trong hồi ký của mình rằng: “Ba tiếng Hồ Chí Minh không bao lâu đã vang đi khắp thế giới với những truyền thuyết mà người ta thường dành cho các bậc vĩ nhân. Nhưng vào ngày hôm ấy, cái tên mới của Bác vẫn còn mới lạ với nhiều đồng bào. Số người biết Bác chính là đồng chí Nguyễn Ái Quốc khi đó không nhiều.” (8)

Ngay vua Bảo Ðại ngày 23 tháng 8 năm 1945, khi nhận được điện tín của của các ông Nguyễn Xiển, Nguyên Văn Huyên, Ngụy Như Kon-Tum và Hồ Hữu Tường nhân danh Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng, yêu cầu nhà vua thoái vị nhường quyền lãnh đạo quốc gia cho Chính Phủ Nhân Dân Cách Mạng với chủ tịch là “Cụ Hồ Chí Minh” đã không biết Hồ Chí Minh là ai. Còn Phạm Khắc Hòe, người được Việt Minh gài vào cạnh nhà vua cũng không biết nốt, phải chạy đi hỏi Tôn Quang Phiệt, một đảng viên Cộng Sản, rồi Ðào Duy Anh nhưng Tôn Quang Phiệt đi vắng và Ðào Duy Anh lục lọi, truy tìm các tài liệu, sách vở ông có nhưng cũng không ra tên này. Cuối cùng Vũ Văn Hiền, ở Bắc về mới xác nhận Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc. (9)

Tuyên bố Việt Nam độc lập đối với Hồ Chi Minh vào thời điểm này do đó là cách tự giới thiệu mình tốt nhất và hữu hiệu nhất vói toàn thể đồng bào và để được nhìn và được chấp nhận như là lãnh tụ đầu tiên đã mang lại được độc lập cho tổ quốc và cho toàn dân Việt Nam, một nhu cầu tối cần thiết, dầu rằng nền độc lập này hoàn toàn không phải do ông hay do Mặt Trận Việt Minh tạo ra mà là do những biến cố khác của lịch sử, trong đó quan trọng nhất là Ðảo Chính 9 tháng 3 năm 1945, trong đó người Nhật đã loại bỏ người Pháp, kèm theo là bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập của Hoàng Ðế Bảo Ðại nói trên, và cuối cùng là sự bại trận sau này của người Nhật. Chúng ta cũng cần để ý là đối với đa số người Việt Nam thời đó, ngày 2 tháng 9 là Ngày Ðộc Lập, đúng như Nguyễn Hữu Ðang, người được Hồ Chí Minh chỉ định tổ chức ngày này, gọi qua các văn thư chính thức ông đã gửi cho các cơ quan liên hệ, trong đó có thư gửi cho Thị Trưởng Hà Nội (10) và theo bìa in bản tuyên ngôn của bản đầu tiên năm 1945, do Chủ Tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Hồ Chí Minh đọc trong Ngày Ðộc Lập.” (11)

Nhưng đối với Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 còn có một ý nghĩa quan trọng hơn nữa. Ðó là “ngày khép lại cuộc Cách Mạng Tháng Tám, và khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa,” theo lời ông nói với Nguyễn Hữu Ðang, “Chú phải nhớ... (12).” Tại sao vậy? Tại vì Hồ Chí Minh phải làm chuyện này trước khi quân Ðồng Minh kéo vô Việt Nam, đặc biệt là thủ đô Hà Nội, nhằm đặt họ trước một sự đã rồi, không thể đảo ngược được... Sự kiện vua Bảo Ðại thoái vị được nhắc tới và câu “Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp” là nhằm vào mục tiêu này.

Nội dung bản Tuyên Ngôn

Bản Tuyên Ngôn Ðộc lập của Hồ Chí Minh, vì được phổ biến rộng rãi và hầu như được coi là duy nhất gắn liền với ngày 2 tháng 9, ngày Quốc Khánh của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa r ồi Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nên đã được nhiều người đọc, phân tích và tìm hiểu. Trong phần này người viết chỉ nêu lên những gì ít được mọi người nhắc hay để ý đến.

Trong khi Tuyên Cáo của Bảo Ðại đơn giản chỉ là một bản văn thuần túy pháp lý nhằm hủy bỏ hòa ước bảo hộ mà triều đình Huế đã ký trước đó căn cứ vào sự bất lực của người Pháp, vì người Pháp đã không giữ được cam kết ghi trong điều khoản thứ nhất và điều khoản thứ mười lăm của hòa ước này, mà không nhằm vào một đối tượng-quần chúng hay quốc tế, thì bản Tuyên Ngôn của Hồ Chí Minh nhằm vào toàn thể người Việt qua lời mở đầu “Hỡi đồng bào cả nước...” Tuy nhiên ở những đoạn cuối tác giả lại nhắm vào các nước Ðồng Minh. Ðiều này phải tinh ý người ta mới nhận ra được. Về tư cách, Bảo Ðại nhân danh Hoàng Ðế Việt Nam, người đứng đầu của một quốc gia độc lập đã tồn tại từ trước khi người Pháp xâm lăng và là người kế thừa chính thống của các vua Nhà Nguyễn, thì Hồ Chí Minh đã nhân danh “Lâm Thời Chính Phủ của nước Việt Nam mới.” Mới là vì đến ngày đó chính phủ này mới chính thức được ra mắt trước quốc dân. Lời văn do đó phản ảnh hai tư cách của hai bản chất con người khác nhau. Một người là hoàng đế kế thừa chính thống của một triều đại đã trị vì một quốc gia từ hơn một trăm năm trước dù cho là chỉ còn hư vị; người kia là lãnh tụ của một phong trào cách mạng vừa chủ trương chống Pháp, vừa chủ trương chống Nhật và lật đổ chế độ quân chủ để giành chính quyền. Văn phong trong bản tuyên ngôn của Bảo Ðại là văn phong bình thường của người cầm quyền; còn văn phong của Hồ Chí Minh mang tính cách kêu gọi và ở một mức độ nào đó có tính cách bình dân, kể lể dài dòng và nhất là sách động.

Mở đầu cho bản tuyên ngôn, Hồ Chí Minh đã trích dẫn một số câu trong phần đầu của Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập của người Mỹ và một câu trong Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách Mạng Pháp. Sự trích dẫn này, vào lúc mà sự hiểu biết của quần chúng Việt Nam còn thấp kém, đặc biệt là về lịch sử Hoa Kỳ và thế giới, chắc chắn không nhằm vào quần chúng người Việt mà nhằm vào người Mỹ và người Pháp. Lý do là Hồ Chí Minh như là một đảng viên Cộng Sản Quốc Tế chắc chắn đã hiểu hơn ai hết là người Mỹ vào thời điểm này đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong chính tình ở Á Châu, trong đó có Việt Nam. Ðược người Mỹ công nhận là coi như làm chủ được chính quyền. Hiểu được như vậy, ngay từ khi còn ở chiến khu Hồ Chí Minh khi tiếp xúc với người Mỹ đã yêu cầu họ cung cấp cho ông một bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập của nước Mỹ, đồng thời nói về lịch sử nước Mỹ như là một cách để chinh phục cảm tình của họ. Cũng vậy, với những gì chứa đựng trong bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của người Pháp. Có điều sự trích dẫn này chỉ nhằm mục tiêu lôi cuốn sự chú ý và cảm tình của người Mỹ mà thôi. Hồ Chí Minh không cần đi xa hơn nữa và rất có thể ông cũng không hiểu rõ hơn hay cố tình không hiểu sự khác biệt trong quá trình giành độc lập của mười ba thuộc địa của người Mỹ vào cuối thế kỷ XVIII và của nước Việt Nam thời ông. Vì vậy ông đã áp dụng quan điểm của người Mỹ về quyền bình đẳng, quyền được sống tự do và mưu cầu hạnh phúc của mọi-người -như-là-những-cá-nhân vào trường hợp Việt Nam như một-quốc-gia đòi quyền độc lập một cách gượng ép hay ít ra là suy luận theo quan điểm chủ quan của mình với dụng ý riêng của mình. Cũng vậy với những gì ông trích dẫn từ bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách Mạng Pháp.

Phần kế tiếp, Hồ Chí Minh lên án người Pháp và người Nhật, đồng thời ông kể công cho Việt Minh: “Trước ngày mồng 9 tháng 3, đã bao lần Việt minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật...,” sau đó “đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ” và kết luận rằng “Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.” Ðiều như người viết đã nói ở trên là không đúng sự thật. Sự thật là Chính Phủ Bảo Ðại-Trần Trọng Kim đã lấy lại được toàn thể nước Việt Nam từ trước khi người Nhật đầu hàng kể cả lấy lại xứ Nam Kỳ và Việt Minh đã cướp chính quyền từ trong tay của chính phủ Bảo Ðại-Trần Trọng Kim trong những ngày 17 và 19 tháng 8 năm 1945 sau đó. Lý do là vì Việt Minh “đã có đường riêng của họ rồi,” nói theo Phan Anh, bộ trưởng Thanh Niên trong chính phủ Trần Trọng Kim và sau này là bộ trưởng Bộ Quốc Phòng trong Chính Phủ Liên Hiệp của Hồ Chí Minh.

Trong những đoạn này Hồ Chí Minh đã dùng các từ ngữ ta hay “dân ta” hay “đất nước ta,” nhưng mục đích không nhằm vào người Việt Nam mà vào người Pháp.

Phần cuối cùng của bản văn, từ “Bởi thế cho nên...” cho đến hết, lời văn cho người ta thấy Hồ Chí Minh không hướng về người Việt mà về cả thế giới. Trong phần này ông xưng là “chúng tôi, Lâm thời Chính phủ, đại biểu cho toàn dân Việt Nam” để tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, kêu gọi các nước Ðồng Minh công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam... Phần này Hồ Chí Minh thay vì quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của mọi-người-như-những-cá-nhân do Tạo Hóa ban cho, những quyền phải hiểu là tự nhiên ai cũng có, đã nói về quyền hưởng tự do và độc lập của- cả-nước-Việt-Nam. Ðiều này hoàn toàn không đúng với tinh thần của bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập của Người Mỹ và nhất là của bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách Mạng Pháp mà danh xưng của nó đã nói lên một cách rõ ràng: Nhân Quyền và Dân Quyền, không thể hiểu sai được. Ðộc lập không phải luôn luôn đồng nghĩa với tự do, dân quyền và nhân quyền. Không những thế, thay vì coi những quyền này là do Tạo Hóa ban cho, Hồ Chí Minh lại lý luận là vì dân tộc Việt Nam là “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Ðồng Minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc ấy phải được độc lập!”

Lý luận như vậy người ta phải hiểu, theo Hồ Chí Minh, rằng những dân tộc không gan góc chống lại những thế lực đè nén, áp bức mình và không gan góc đứng về phe Ðồng Minh, chống phát-xít là không đáng được tự do, độc lập. Cũng vậy, với các quyền độc lập, tự do và mưu cầu hạnh phúc của con người như là những cá nhân trong xã hội. Chính vì vậy Luật Sư Trần thanh Hiệp, khi được Ðài Á Châu Tự Do phỏng vấn ngày 2 tháng 9 năm 2007, đã có lý khi ông gọi bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh này là một bản tuyên ngôn phi nhân quyền, (13) dù cho là nó đã được chính tác giả của nó trích dẫn và soạn thảo theo của bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Cách mạng Pháp. Nhưng dù nói thế này hay thế khác sự kiện này đã phản ảnh chủ trương cách mạng bạo lực của những người Cộng Sản mà Hồ Chí Minh ở đây là một trường hợp điển hình.

Người ta có thể giải thích sự thiếu rõ ràng trong bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập của Hồ Chí Minh kể trên là do nó đã được soạn thảo trong một thời gian quá ngắn và trong tình trạng tác giả của nó còn phải bận rộn với nhiều vấn đề cấp bách khác. Ðiều này không đúng vì trước đó từ lâu, khi tiếp xúc với một sĩ quan người Mỹ, Hồ Chí Minh đã xin một bản tuyên ngôn nhân quyền của người Mỹ rồi. Nói cách khác, Hồ Chí Minh đã nghĩ tới và đã thai nghén bản tuyên ngôn của ông từ lâu chứ không phải chỉ ít ngày trước ngày 2 tháng 9 năm 1945. Do đó những gì ông nói tới, những từ ngữ ông dùng đều được cân nhắc kỹ càng và đều có dụng ý riêng với những mục tiêu riêng mà chỉ sau này phải phân tích kỹ, đối chiếu kỹ và có thể sau này khi mọi việc liên hệ đã xảy ra rồi, người ta mới có thể hiểu được.

Phạm Cao Dương

Chú thích:

(1) Dương Trung Quốc. Việt Nam: Những Sự Kiện Lịch Sử (1919-1945). Hà Nội: Nhà Xuất Bản Giáo Dục, 202.tr. 388.

(2) Lệ Thần Trần Trọng Kim. Một Cơn Gió Bụi (Kiến Văn Lục). Saigon, Nhà Xuất Bản Vĩnh Sơn, 1969. tr. 49.

(3) - nt - , tr. 51.

(4) Dương Trung Quốc, Việt Nam... tr. 388; Nguyễn Vỹ. Tuấn, Chàng Trai Nước Việt (Chứng Tích Thời Ðại Từ 1900 đến 1970, Quyển II. Saigon, ? , 1970. Fort Smith, AR tái bản ở Hoa Kỳ, ?. tr. 512.; S.M. Bao Dai. Le Dragon d'Annam. Paris, Plon. 1990. Cameron, Allan W. Viet-Nam Crisis, A Documentary History, Volume I: 1940-1956. Ithaca, N.Y. Cornell University Press, 1971.. tr. 31-32. Hai bản tiếng Việt in trong tác phẩm của Dương Trung Quốc và tác phẩm của Nguyễn Vỹ hơi khác nhau về ngôn từ nhưng hoàn giống nhau về nội dung. David G. Marr trong Vietnam 1945, The quest for Power (Berkeley, University of California Press, 1995, tr. 71) có nói tới các bản tiếng Việt và tiếng Pháp ở văn khố Pháp và bản đăng trên tờ Dân Báo, ngày 12 tháng Ba. Vũ Ngự Chiêu cũng nói tới tờ Tin Mới, nhưng nhất thời người viết bài này chưa đến được các nơi cần đến để tìm kiếm.

(5) Taboulet, Georges. La Geste Francaise en Indochine,Histoire par les textes de la France en Indochine des origines 1914, tome II, Paris, Adfrien - Maisonneuve, 1956. tr. 809 - 812; Phan Khoang, Việt Nam Pháp Thuộc Sử, 1884 - 1945.Saigon, ? ,1961. Tái bản ở Hoa Kỳ. tr. 322 - 328.

(6) Phạm Khắc Hòe, Từ Triều Ðình Huế Ðến Chiến Khu Việt Bắc. Huế, Thuận Hóa, 1987, tr. 16.

(7) Bảo Ðại, Le Dragon d'Annam, đã dẫn, tr. 103.

(8) Võ Nguyên Giáp, “Những Năm Tháng Không Thể Nào Quên,” trong Tổng Tập Hồi Ký. Hà Nội, Nhà Xuất Bản Quân Ðội Nhân Dân, 206, tr.. 255.

(9) Phạm Khắc Hòe, Từ Triều Ðình Huế..., tr. 76.

(10) Phùng Quán, Ba Phút Sự Thật. Thành Phố Hồ Chí Minh, Nhà Xuất Bản Văn Nghệ, 2006, tr. 114 - 115.

(11) Hồ Chí Minh, Tuyên Ngôn Ðộc Lập Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Hà Nội, Nhà Xuất Bản Sự Thật, 1976, tr.13. Nguyễn Khánh Toàn và Lữ Huy Nguyên, Tổng Tập Văn Học Việt Nam, Tập 36. Hà Nội, 1980. tr. 812 - 823.

(13) Trần Thanh Hiệp và Trương Giang, “Một Bản Tuyên Ngôn Phi Nhân Quyền,” trên Nhật Báo Người Việt, số 7940, ngày Thứ Hai, 3 tháng 9 năm 2007.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 2 guests