Thời Sự, Bình Luân

thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Chính Trị và Truyền thông dòng chính

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
Dòng Chính

Lúc này, từ ngữ “Dòng Chính” được sử dụng khá phổ biến trong cộng đồng người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ. Nhan nhản trên báo chí, trên radio, trên talkshow, trên internet, người ta không ngớt nói đến báo chí dòng chính, chính trị dòng chính. Thiển nghĩ, trong tương lai, biết đâu sẽ có thêm: Tôn giáo dòng chính, Thương mại dòng chính, Kỹ nghệ dòng chính, Dịch vụ dòng chính nữa v.v. Những chữ mới ước đoán chưa đi vào sử dụng, chúng tôi chưa dám bàn tới, chỉ xin tản mạn đôi điều về hai từ ngữ đang được nói hoặc viết nhiều là các chữ truyền thông dòng chính, và chính trị dòng chính thôi.

Truyền Thông Dòng Chính

Nhóm chữ “truyền thông dòng chính” là một chuyển ngữ từ Mainstream Media của tiếng Mỹ. Chắc chắn thế rồi. Đã “chính”, thì tất nhiên phải có “tà”. Chính/tà là hai phạm trù đối nghịch. Đã có truyền thông dòng chính thì ắt phải có truyền thông dòng tà, nhưng không nghe ai nói đến truyền thông dòng tà. Cũng vậy, có chính thì không thể không có phụ. Chính/phụ là hai giá trị đẳng cấp. Có truyền thông dòng chính, nhưng không thấy có truyền thông dòng phụ ở nước Mỹ này. Ít nữa bên VN hiện nay, người ta còn phân biệt ra báo chí lề phải của bọn thống trị, với báo chí lề trái tức báo chui của người dân bị trị. Hoặc, thông tin trong luồng do các ống loa chính thức phát ra, với thông tin ngoài luồng của dân chúng ngoài đường, ngoài chợ. Chung nhất, có cái chính thì ít ra cũng phải có cái gọi là “không chính” nào đó. Như thế mới phải. Nhưng đáng tiếc, chúng ta đã không có truyền thông nào là truyền thông ngoài dòng chính cả. Như thế có phải truyền thông dòng chính một mình một chợ trong cái chế độ dân chủ đa nguyên của nước Mỹ mà chúng ta đang sống không? Tò mò một chút, đi tìm câu giải đáp cho cái thắc mắc này có lẽ cũng không phải là chuyện vô ích.

Trong Thế Chiến I, qua những thỏa thuận bí mật và xảo quyệt, sau khi nước Mỹ cam kết tham gia vào cuộc chiến, các chiến lược gia chính trị nhận ra rằng mọi sự đã sẵn sàng, nhưng còn có một cái gì đó chưa ổn, đó là vấn đề lòng dân. Làm sao chinh phục được cảm tình của quần chúng là vấn đề cần phải đặt ra. Lúc đó Wall Street kiểm soát nhiều bộ phận quan trọng đáng kể của ngành truyền thông. Gia đình Morgan, một thế lực nổi tiếng về ngành ngân hàng, phát triển tới mức thành một đế quốc tài chánh và kỹ nghệ, đã lựa chọn những nhà quản lý hàng đầu để điều khiển nhà phát hành Harper & Brothers lúc đó đang gặp khó khăn. Riêng trong lãnh vực báo chí, Pierpont Morgan đã kiểm soát các tờ The New York Sun, The Boston, News Bureau, Barron’s magazine, và The Wall Street Journal. Tháng 3 năm 1915, khả năng của nhà Morgan, của các ngành sắt thép, đóng tầu và vũ khí, cũng như những cơ sở phụ thuộc của họ đã tập hợp được 12 nhà báo thượng thặng trên thế giới. Những nhà báo này được mướn để làm công việc là lựa ra một số tờ báo có ảnh hưởng nhất tại Hoa Kỳ và đủ hữu hiệu để kiểm soát chính sách chung hàng ngày của báo chí. Họ thấy rằng cần phải mua chuộc sự kiểm soát của 25 tờ báo và các hãng tin lớn như NewYork Times, Washington Post, NBC, CBS v.v. Sự thỏa thuận đạt được tức là đường lối của tờ báo đã bị mua đứt. Mỗi tờ báo được đặt một chủ bút để giám sát cặn kẽ mọi thông tin liên hệ tới các vấn đề thời sự, quân sự, các chính sách về tài chánh, và tất cả các vấn đề quốc gia cũng như quốc tế được coi là sống còn đối với lợi ích của những người đã bỏ tiền mua các tờ báo đó. Đến năm 1937, tập đoàn Morgan đã kiểm soát được dịch vụ quảng cáo hơn bất cứ một nhóm tài chánh đơn độc nào. Đấy là bước khởi đầu báo chí Mỹ sắp hàng đi vào hệ thống, có lãnh đạo, và được chỉ đạo cho mục đích làm ăn của các “đại gia”.

Qua thời gian và qua những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, truyền thông trở thành một sức mạnh có thể nói là vô địch. Kết quả thần sầu quỉ khốc của chiến dịch phản chiến của hệ thống truyền thông Mỹ trong cuộc chiến VN là một thí dụ điển hình nhất. Thời Đệ I VNCH, trong biến cố HT Thích Quảng Đức “tự thiêu”, chỉ có hai nhà báo thuộc truyền thông dòng chính Mỹ được mời đến chụp hình và làm phóng sự là David Halberstam của New York Times và Malcolm Brownes của AP. Hai nhà báo này sau đó được lãnh giải thưởng Pulitzer vì công lao thổi lửa thiêu rụi được cả chế độ Đệ I VNCH, đưa miền Nam dần đến chỗ mất nước hoàn toàn. Hệ thống này bao gồm không những báo viết, radio, mà lợi hại nhất là truyền hình và internet. Chính vì thế các tập đoàn tư bản, các chính quyền, dù là dân chủ hay độc tài, đều muốn nắm truyền thông trong tay. Hệ thống truyền thông đề cập đến trên đây hiện nay được xây dựng thành một đội ngũ, mà những cơ quan truyền thông khác của Mỹ nằm ngoài nó gọi nó là Truyền thông dòng chính, tức Mainstream Media. Cũng có khi người Mỹ gọi là truyền thông cấp tiến (Liberal Media). Và đôi khi nữa là truyền thông tả phái (Leftist Media). Mainstream Media do đó mà có. Như vậy là người Mỹ muốn gọi Mainstream Media là nhóm truyền thông khuynh tả hoặc cấp tiến để phân biệt với những cơ sở truyền thông khác theo đường lối bảo thủ (conservative) hay độc lập. Người Việt tỵ nạn thường quen gọi là báo chí khuynh tả hay truyền thông phản chiến. Mainstream Media là sở hữu của các tập đoàn tư bản. Nhiệm vụ của nó là phục vụ cho các mục tiêu của tư bản.

Truyền thông dòng chính hiện nay do Hội Đồng Liên Lạc Ngoại Giao (The Council On Foreign Relations viết tắt là CFR) nắm giữ. CFR do Edward Mandell House, một tay Marxist, cố vấn trưởng của TT Woodrow Wilson (1913-1921) sáng lập năm 1921 và được nhà Rockefeller tài trợ. CFR là một hội vô vị lợi (non profit), vô đảng phải (non partisan). Kết luận của phái đoàn điều tra Reece của Quốc Hội năm 1953 cho thấy CFR công khai truyền bá khái niệm toàn cầu hóa thế giới với mục tiêu thiết lập một Trật Tự Thế Giới Mới (New World Order). Ảnh hưởng của CFR tập trung vào các Bộ Ngoại Giao, Quốc Phòng, và Tài Chánh Mỹ. Hội viên của CFR có mặt và giữ nhiều trọng trách tại các bộ vừa kể và hầu như tại tất cả các cơ quan quyền lực khác của chính quyền Hoa Kỳ. Tháng 10-1993 Richard Harwood của tờ Washington Post tiết lộ một chút về phận sự của các nhà báo của CFR. Ông nói: Tư cách thành viên của CFR là việc thừa nhận mình được bước lên giai cấp cai trị, qua đó, họ không thuần chỉ phân tách và cắt nghĩa chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ, mà còn giúp thiết lập ra chính sách nữa (Their membership is an acknowledgment of their ascension into the American ruling class where they do not merely analyze and interpret foreign policy for the United States, they help make it). Các tạp chí lớn có liên hệ với CFR là các tờ Life, Money, People, Fotune, Time, US News and World Report, Newsweek và một số khác nữa. Những nhà phát hành nổi tiếng đại diện cho CFR như IBM Publishing and Printing, Xerox, Viking Press, Harper and Row, Random House, và Harper Brothers. Song song với các hệ thống chính, báo và tạp chí, cơ sở Rockfeller còn có mặt ở trong ngành xuất bản sách. Tính ra có chừng 50 gia đình kiểm soát toàn bộ báo chí Mỹ. Qua CFR, Bộ Ngoại Giao, Ngũ Giác Đài, và Tòa Bạch Ốc đòi nắm quyền điều hành mọi tin tức. Do đó, người dân chỉ được nghe những gì mà người ta muốn cho nghe. Sự thể này chính đáng dẫn đến sự dị nghị về các giá trị của tính vô tư và trung thực của truyền thông dòng chính Mỹ.

Chính Trị Dòng Chính

Tiếng Mỹ chữ “Chính Trị Dòng Chính” có lẽ là Mainstream Politics? Trong phạm vi hiểu biết hạn hẹp của mình, người viết thú thực chưa gặp thấy chữ này trên sách báo Mỹ, mà chỉ thấy một số các nhà hoạt động chính trị và cộng đồng người Việt sử dụng. Nếu có thì hẳn là người Mỹ sử dụng với một ý nghĩa nào đó riêng của họ. Những người VN này hình như muốn ngụ ý rằng Chính Trị Dòng Chính tức là tham gia chính quyền các cấp thông qua các cuộc bầu cử. Như vậy, người ta có thể nêu thắc mắc rằng: vậy thì những người Mỹ hoạt động chính trị ngoài hệ thống công quyền và không do dân bầu, phải nên gọi họ là chính trị dòng gì? Nhiều người hoạt động chính trị rất thành công ngoài hệ thống công quyền như Mục Sư Luther Martin King Jr., các thành viên của CFR v.v., phải gọi họ là gì? Như trên vừa nói, CFR là một tổ chức phi chính phủ hoạch định ra các chính sách cho chính quyền Mỹ. Họ chỉ là một hội tư nhân, không đảng phái. Đàng khác từ trước tới nay, hai chính đảng Cộng Hòa và Dân Chủ thay nhau cầm quyền, nhưng đường lối chính sách của Mỹ tại VN vẫn liên tục chứ có thay đổi gì đâu. Điều đó cho thấy cái mà nhiều người VN gọi là chính trị dòng chính là một sản phẩm hoàn toàn tưởng tượng. Dù Cộng Hoà hay Dân Chủ, chỉ có một dòng là dòng nắm quyền thi hành mục tiêu toàn cầu hóa của tư bản Mỹ.

Bằng vào thực tại CFR, và như mọi người đều tin tưởng: nước Mỹ được cai trị bởi một chính phủ vô hình. Chính phủ vô hình nói trắng ra là CFR mới là những người lãnh đạo thật sư đang “Run” nước Mỹ tại hậu trường. Chính quyền Hoa Kỳ tại Washington chỉ là những nhà điều hành công việc của nước Mỹ. Hai hệ quả phát sinh từ thực tế chính trị này là: thứ nhất, nền dân chủ Mỹ trở thành một nền dân chủ có định hướng. Và thứ hai, chính quyền Mỹ là một cơ chế được điều hành bằng remote control. Nền dân chủ Mỹ được cả thế giới ngưỡng mộ, và coi là mô hình đáng bắt chước nó là như thế. Đường lối chính trị đặc thù này, ngoài việc phục vụ quyền lợi quốc gia, còn nhắm tới cái chủ đích của những người làm ra chính sách là thiết lập một trật tự thế giới mới (New World Order), hoặc còn gọi là nền Cộng Hòa Toàn Cầu (Universal Republic). Tất cả chính sách đối ngoại do CFR hoạch định đều nằm trong mục tiêu toàn cầu hóa (globalization) của Mỹ. Như thế thì những người cho rằng gia nhập cái gọi là chính trị dòng chính Hoa Kỳ để mưu đồ giải trừ chế độ CS trong nước, nghĩa là làm thay đổi chính sách của Mỹ về VN, là một chủ trương hoàn toàn phiêu lưu và không tưởng. Phiêu lưu bởi vì nó chẳng đi đến đâu cả. Và không tưởng ở chỗ là đã tỵ nạn CS trên đất Mỹ, sống với người Mỹ, mà cứ còn mơ tưởng rằng Hoa Kỳ sẽ giúp mình tiêu diệt CS để khôi phục lại đất nước. Nhiều nhà lãnh đạo Mỹ và thế giới như Truman, Eisenhower, Nixon, cha con Bush, Churchill, Gorbachev … chủ trương việc toàn cầu hóa. TT Bush con trong bài Diễn Văn Tình Trạng Liên Bang năm 1991, cổ võ cho cái trật tự này như sau: …. để hoàn thành khát vọng của toàn nhân loại, dựa trên sự chia sẻ các nguyên tắc và luật lệ, nó là ánh sáng của hàng ngàn đốm sáng, là những luồng gió thay đối đến với chúng ta.

Xây dựng một trật tự thế giới thật ra không phải là một khái niệm mới mẻ gì. Khoảng năm thế kỷ trước Công Nguyên, ở bên Tầu, Khổng Tử đã rao giảng một trật tự xã hội phong kiến dựa trên 3 trụ cột “Quân, Sư, Phụ”. Người đàn bà trong xã hội phong kiến không có tư cách độc lập, mà chỉ là một nhân tố phụ thuộc: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, và phu tử tòng tử. It lâu sau tại Âu Châu, triết gia và nhà toán học Hy Lạp Plato cổ võ một mô hình quản lý xã hội khác. Ông hô hào dẹp bỏ chính phủ và các cấu trúc xã hội đang có, để thiết lập một trật tự mới, trong đó có 3 giai cấp: giai cấp cầm quyền, giai cấp quân nhân để bảo vệ giai cấp nắm quyền, và giai cấp lao động. Bãi bỏ hôn nhân, gia đình và tư hữu. Tất cả đàn bà là của chung đàn ông và ngược lại. Trẻ con sinh ra được xã hội nuôi. Khái niệm cộng sản bắt nguồn từ tư tưởng của Plato. Tầng lớp chóp bu nắm quyền quản lý xã hội, Plato gọi là triết gia (philosopher). Tại Mỹ ngày nay, philosopher là các elite của các hội kín như CFR, Trilateral Commision, Skull & Bones v.v. Trật tư xã hội của Plato được các elite cải biên và đang từ từ hình thành. Vì thế về nhiều mặt, tư bản và cộng sản có những điểm giống nhau, vì đều bắt nguồn từ tư tưởng của Plato, nhưng tư bản ở tầng trên cao hơn cộng sản.

Trật tự thế giới mới được thiết lập bằng con đường Toàn Cầu Hóa. Thế giới mới được điều hành bởi một nhà nước. Hội Quốc Liên rồi Liên Hiệp Quốc ngày nay là những bước hình thành của cái cơ chế nhà nước toàn cầu. Cơ chế toàn cầu này nắm tất cả quyền lực chính trị, tiền tệ, tinh thần và các giáo hội. Việc lưu động hóa các nhà máy sản xuất có tác dụng làm phát triển đồng đều tất cả mọi khu vực trên thế giới. Phong trào tự do luyến ái và tự do phá thai sẽ chận dứng sự bùng nổ dân số, quân bình và ổn định nền kinh tế trên toàn cầu. Điểm đáng nhấn mạnh là Nền trật tự thế giới mới sẽ đưa đến một tôn giáo toàn cầu, đó là đạo thờ Thần Tài (Mammonism, đúng ra là thờ Satan). Các chiến dịch chống phá, bài bác tôn giáo, đặc biệt là Thiên Chúa Giáo, tục hóa các nếp sống và văn hóa mang tính cách tôn giáo v.v. đều nhắm đến mục đích tối hậu này. Đại cương cho thấy những điểm gần như tương đồng giữa tư bản và cộng sản: xóa mờ các ranh giới quốc gia để tiến tới một thế giới “đại đồng”, biến con người thành công cụ sản xuất, phá bỏ mọi tôn giáo, cách riêng Thiên Chúa Giáo. Để tiến tới một thế giới như thế, CS áp dụng đường lối cưỡng bách, trong khi tư bản sử dụng các biện pháp kinh tế, nhẹ nhàng nhưng hiệu quả hơn nhiều. Tư bản ở bậc cao hơn CS là như thế.

Đường lối chính trị tại Mỹ có thể tóm gọn trong một câu ngắn, rất thông dụng: Có tiền mua tiên cũng được, hay, đồng tiền làm nên tất cả. Sự giầu sang luôn luôn mơ ước quyền lực, và quyền lực đẻ ra sự giầu sang. Quyền lực và tiền tài là chị em sinh đôi. Chúng là mơ ước bất tận của nhiều người. Để đạt được chúng, người ta gạt bỏ tinh thần dân tộc, lòng yêu tổ quốc, chối bỏ mọi lý tưởng, và đạp tên mọi lâp trường chính trị. Vì thế không lạ gì khi thấy nước Mỹ đã đẻ ra kẻ thù, nuôi dưỡng nó, rồi diệt nó. Tất cả chỉ để thu lợi. Sự thể xẩy ra đã quá nhiều. Mỹ đã giúp đỡ tiền bạc cho cuộc Cách Mạng Vô Sản Nga thành công. Mỹ đã giúp cho Sadam Hussein nắm quyền tại Irak. Mỹ đã giúp kỹ thuật nguyên tử và hỗ trợ kinh tế cho Trung Cộng trở thành một cường quốc như ngày nay. Và chính quyền Obama đang ngấm ngầm nâng đỡ khủng bố tại Hoa Kỳ. Tất cả những chính sách ngoài binh thơ đó đều được báo chí dòng chính ủng hộ triệt để.

Chính sách của Mỹ tại VN cũng nằm ngoài binh thư, sách vở như đã thấy. Trong khi chiến tranh nghiêng về phía có lợi là VNCH, thì truyền thông dòng chính Mỹ thổi phong trào phản chiến bùng lên để giúp quân đội Mỹ rút lui. Nước Mỹ chẳng cảm thấy hổ thẹn là một cường quốc số một phải thua trận. Đợi hơn ba thập niên sau cho đến khi VGCS cùng đường, rơi vào ngõ bí không lối thoát, Mỹ mới chứng minh việc tự ý thua trận của mình là có lý. Đây rõ ràng là mưu đồ của nước Mỹ mà những chính khách tỵ nạn không nhìn ra. Đã có đồng minh VNCH để ngăn Trung Cộng thì lý do gì Mỹ lại triệt bỏ VNCH? Tại sao Mỹ cố tình dung túng VGCS đến ngày nay để dùng nó làm lực lượng án ngữ Tầu cộng? Có ba lý do để giải thích:

- Thứ nhất, VN là một vị trí chiến lược tối quan trọng tại Á Châu, lại giầu tài nguyên trong mắt bất cứ một cường quốc nào. Do đó Mỹ không thể bỏ mặc.
- Thứ hai, bản chất của đảng VGCS là bán nước nên chúng sãn sàng làm đầy tớ cho bất cứ kẻ nào miễn là được sống còn. VGCS hiện ở vào cái thế nếu muốn sống bắt buộc phải làm tay sai, không tay sai cho Mỹ thì tay sai cho Tầu. Người Quốc Gia không như thế. Chịu cúi đầu làm tay sai phục vụ cho quyền lợi của ngoại bang để được sống, người QG không thể làm được. Người Mỹ hiểu điều này.
- Thứ ba, trên bình diện lý thuyết, với chủ trương xây dựng một Trật Tự Thế Giới Mới, Mỹ không thể chấp nhận học thuyết Cần Lao Nhân Vị, vì học thuyết này chủ trương phục vụ con người trong tư cách là một nhân vị, trong khi Trật Tự Thế Giới Mới cũng giống như CS, phục vụ tập thể (class) chứ không phục vụ cá nhân. Vì thế Mỹ phải giết TT Ngô Đình Diệm và lý thuyết Cần Lao Nhân Vị của ông. Nên nhớ, William Averell harriman, phụ tá Bộ Trưởng Ngoại Giao phụ trách Á Đông Sự Vụ dưới thời TT Kennedy, là người cực kỳ nham hiểm và độc ác đã dùng mọi thủ đoạn và biện pháp lươn lẹo để giết anh em TT Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu. Ông ta là hội viên hội kín Skull & Bones và là thành viên rất có thế giá của CFR. Năm 1968 khi làm đại diện Hoa Kỳ tại Hội Đàn Paris, Harriman thực hiện mưu đồ trao miền Nam cho cộng sản bắc Việt. Văn bản kết thúc hội đàm chứng minh điều đó.

Sự thật rành rành là Hoa Kỳ chủ tâm nuôi dưỡng và sử dụng VGCS, thế mà còn có nhiều ngưòi còn mơ ngủ, tưởng dựa vào Hoa Kỳ để giải quyết chế độ CS là xong thì có điên không. Họ không thể dựa vào Hoa Kỳ để muốn làm gì thì làm. Trái lại, chắc chắn họ sẽ bị người Mỹ lợi dụng cho những mục tiêu của Mỹ. Việc có thể tiên đoán được là một ngày nào đó, họ sẽ được tham gia vào chế độ dân chủ cuội tại VN, một kiểu hòa hợp hòa giải mà Mỹ và VGCS đang ra sức tiền chế. Nhưng nhiệm vụ chính của họ là làm chó canh giữ cho quyền lợi của các tập đoàn tư bản của Hoa Kỳ tại VN. Có ông chính khách còn đem cộng đồng Do Thái ra so sánh để bênh vực cho quan điểm của mình. Họ không biết rằng vào đầu thập niên 1990 người ta ước lượng nhà Rothschild có thể kiểm soát số tài sản tương tương với một nửa của cải của cả thế giới. Rothschild là một gia đình Âu gốc Do Thái. Cho nên người Do Thái nắm đầu các chính quyền Âu Mỹ bắt phải bảo vệ Israel không lạ gì.

Một vài ông dân cử VN cấp làng xã hoặc quận huyện trên nước Mỹ tin tưởng xoay chuyển được chính sách của Mỹ về VN là chuyện hão huyền. Một đàng họ nên học bài học của tướng Vang Pao của nước Lào. Một đàng hãy có thực lực như người Do Thái và đoàn kết mưu đồ phục quốc như người Do Thái rồi hãy nói đến chuyện lợi dụng Hoa Kỳ để làm việc này việc nọ. Một mình, không thương cũng chẳng ngựa, lại không được đồng hương hậu thuẫn như Hoàng Duy Hùng mà tính chuyện về VN để xoay chuyển càn khôn có phải là tức cười không? Dân cử cấp xã ấp hay tỉnh thành chỉ có thể làm công việc ở xã ấp tỉnh thành. Cho dù có là dân cử liên bang, việc xoay chuyển vận mệnh quốc gia nơi quê hương vẫn là chuyện đội đá vá trời, bởi vì quí vị không phải là người đẻ ra chính sách của nước Mỹ. Muốn đảo ngược lại chính sách Mỹ để cứu nước, quí vị cần có tiền bạc như nhà Rothschild hay ít là Rockefeller. Hoặc quí vị phải chui vào thật đông các tổ chức CFR, Illuminati, Trilateral, Skull & Bones. Nếu không, quí vị chỉ còn cách là người tỵ nạn nên làm theo cách thức riêng của người tỵ nạn. Dựa hơi mất mạng dễ như chơi. Có như thế, độc lập tự chủ cho dân tộc mới được bảo đảm, nhân dân VN mới có thể nhìn bạn bè năm châu một cách kiêu hãnh, và việc làm của quí vị mới vẻ vang được.

Nỗ lực đóng góp cho cộng đồng để thăng tiến và bảo vệ quyền lợi của cộng đồng, phát huy những giá trị truyền thống của cộng đồng đều là những việc làm rất đáng khen và cần được khuyến khích, nhưng cần phải biết người biết mình mới trăm trận trăm thắng được. Nói rằng tham gia chính trị dòng chính để dựa vào Mỹ hầu lật đổ CS chỉ là huênh hoang phét lác. Trên bình diện quốc tế, để giải quyết các vấn đề thế gìới, nước Mỹ đã có một sách lược chung do CFR làm ra. Chẳng hạn về vấn đề chống CS, sách lược độc đáo này được nữ biên tập viên Edith Kermit Roosevelt, cháu gái của TT Theodore Roosevelt, trình bầy đơn giản như sau: Cách chống cộng hữu hiệu nhất là dùng một nhà nước xã hội chủ nghĩa toàn cầu được cai trị bởi các chuyên gia theo chuyên môn của họ (The best way to fight communism is by a One World socialist state governed by experts like themselves). Từ sách lược chống CS, người ta có thể suy ra sách lược chống khủng bố cũng như vậy chăng: Cách chống khủng bố hữu hiệu nhất là dùng một nhà nước khủng bố toàn cầu được cai trị bởi các chuyên gia?!

Nước Mỹ Bừng Tỉnh

Thời gian hai tuần lễ đầu tháng 8-2010, sinh viên Mỹ tại Texas và một số tiểu bang kề cận đã kéo nhau xuống đường biểu tình. Họ xuống đường không mang khẩu hiệu “Make love, not war” (làm tình chứ không gây chiến) như thời xưa, mà với biểu ngữ rất khác lạ là “ May God protect America from Socialism” (xin Chúa gìn giữ nước Mỹ khỏi chủ nghĩa xã hội). Và đây là vài câu trao đổi chớp nhoáng trên đường phố:

- Các em thấy xã hội chủ nghĩa có gì mà khó chịu? - một người phụ nữ đi đường hỏi.

Sinh viên trả lời:

- Có nhiều lắm, ăn cắp của người giầu cho người ngèo là một. Điều đó không đúng. Không chỉ là sai lầm, mà bất cứ ở đâu có chủ nghĩa xã hội hoặc CS, chỉ có người nghèo càng nghèo thêm. Hãy nhìn vào các nước mà lý tưởng đại đồng ngự trị như Cuba, Tầu, Vietnam, Nga, Venezuela, ở đó mọi tư hữu bị triệt tiêu hết.

Thứ Bẩy cuối tuần rồi (28-8-2010), một cuộc xuống đường tuần hành khác vĩ đại với trên nửa triệu người tham dự diễn ra tại Washington do nhà truyền thông Glenn Beck tổ chức. Cuộc tuần hành đặt tên là Phục Hồi Danh Dự (Restoring Honor Rally). Cuộc tuần hành kêu gọi sự hồi sinh tôn giáo và văn hóa Mỹ, bởi vì nước Mỹ ngày nay đã đi lạc quá lâu vào đêm tối. Nước Mỹ cần trở về với Thượng Đế.

Từ hai năm nay, phong trào Tea Party (Tea Party Movement) với mục đích kêu gọi nước Mỹ trở về nguồn với các giá trị truyền thống đã gây được những ảnh hưởng đáng kể. Tại nhiều nơi, các ứng cử viên đi theo đường lối của Phong Trào và được Phong Trào ủng hộ đã gặt hái thành công.

Nước Mỹ lâu nay đi vào đêm tối do cái mà một số người tưởng tượng ra và gọi nó là “chính trị dòng chính” hướng dẫn và được giới “truyền thông dòng chính” hỗ trợ. Đó là con đường nhầm lạc. Sự thật là nước Mỹ đang đi theo vết chân xã hội chủ nghĩa qua toàn cầu hóa. Và sự thật còn là truyền thông dòng chính thiên tả đã từng hủy diệt VN, và nay đang hủy hoại các giá trị nhân bản của nước Mỹ. Nhiều người Mỹ đã nhận thức điều đó, và họ đã bầy tỏ ý thức bằng hành động. Các chính khách, các nhà truyền thông tỵ nạn không biết đã thức tỉnh chưa?
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

KẺ SĨ VỚI CHÍNH QUYỀN

Trong mọi nền văn hóa, đều thấy quây quần quanh chính quyền nếu không nắm hẳn chính quyền một lớp người có uy tín đặc biệt nhờ sự hiểu biết hay học thức thực sự hoặc quy cho của họ. Từ đẳng cấp Bà La Môn ở Ấn Ðộ hay giới scribes (thư lại) tại Ai Cập và Do Thái qua lớp clercs (thầy tu) và intellectuels (trí thức) tại Âu Châu tới giới sĩ rồi trí thức tại Việt Nam và Trung Hoa, tên đặt và sự đào tạo tuy có khác, vai trò và tâm lý dường như tương tự : người được coi hay tự cho là có học thường được coi hay tự cho là nắm chân lý và xứng đáng lãnh đạo quần chúng. Tại Trung Hoa và Việt Nam, sự (muốn) lãnh đạo đó thể hiẹn ra sao và quan hệ giữa kẻ sĩ với chính quyền hay quyền hành diễn tiến như thế nào, đó là vấn đề thử được phân tích trong bài này .

Nguyên chữ sĩ như ai cũng biết chỉ người học trò tức người có học, rồi theo đó kẻ làm trai vì thời xưa chỉ con trai mới được phép đi học (theo từ điển “Từ Hải” thì sĩ nguyên chỉ con trai đến tuổi lấy vợ nhưng chưa có vợ), rồi rộng hơn nữa mọi kẻ có chút kiến thức về chữ nghĩa hay nghề nghiệp (theo nghĩa đầu trong Từ Hải, sĩ là kẻ “nhậm sự” tức có công việc làm). Những từ ghép như bác sĩ, thạc sĩ..., binh sĩ, sĩ tốt..., nha sĩ, nghị sĩ..., phản chiếu ba định nghĩa trên của chữ sĩ. Nhưng chữ sĩ mà các sách báo đề cập đến bao hàm một ý nghĩa đặc biệt hơn, liên quan đến một kẻ sĩ lý tưởng hay trượng phu, một hình ảnh đầy huyền thuyết do hai ngàn năm nho giáo tạo truyền. Trong bài này kẻ sĩ chỉ chung những kẻ có học, bất kể nội dung của môn học.

Trước khi nho giáo chiếm thượng phong bên Trung Hoa và đưa ra triết thuyết về kẻ sĩ, kẻ sĩ đã được coi như lớp dân đứng hàng đầu trong nước. Hai trăm năm trước Khổng Tử, thang xã hội “sĩ, nông, công, thương” trong đó từ sĩ chỉ lớp người có học và sống nhờ cái học, đã được mặc nhiên công nhận. Nó là một tiết mục của thiên “Thặng mã” trong sách “Quản Tử” (xem bản dịch của Phạm Tất Ðắc, Houston, Xuân Thu in lại, 19.., t.1, tr. 71). Nhưng đọc Quản Tử không thấy ông tách hẳn kẻ sĩ ra như một tầng lớp đáng quý trọng hơn cả : sự phân biệt sĩ, nông, công, thương là một kiểu phân chia hàng ngang hơn hàng dọc, nhằm mục đích duy trì trật tự và tiện đường giáo huấn (Quản Tử,...,thiên Tiểu Khuông, tr.195-96), căn bản vẫn là nhà nông, sĩ công thương, khi không làm quan lại buôn bán hay hành công nghệ, cũng phải góp sức vào việc cầy cấy (Quản Tử,..., tr.74). Từ sĩ đến thương tất cả đều là dân, tức cùng chung số phận kẻ thừa hành. Vượt trên họ tuy xuất phát từ họ là một nhóm có đức có tài gọi là hiền nhân, đại nhân, cao trọng hơn nữa là thánh nhân (rất hiếm hoi – từ này thường dành cho nhà vua anh minh hay những bậc anh tài đã khuất), xứng đáng cầm quyền hành chính, tham gia vào việc quốc sự . Theo Quản Tử, người hiền là người “có đạo nghĩa, hiếu học, thông minh, nhân hậu, hiếu thảo với cha mẹ, thuận hòa với anh em, được tiếng khen trong hương lý” ngang với người tài là người “dũng cảm, có sức lực siêu quần xuất chúng” và người hiền tài có “công lao, đức hạnh đoan chính“ phải được đề cử để làm “phụ tá các quan thượng khanh, đại phu” (Quản Tử, ..., tr. 100-101). Hiền nhân, đại nhân không bắt buộc phải xuất từ lớp kẻ sĩ: trước khi làm tể tướng cho vua Thang ông Y Doãn cầy ruộng ở đất Hữu Sằn; Giao Cách đương bán cá bán muối được Văn Vương nhà Chu mời ra cộng sự; Bá Lý Hề, quan đại phu giúp Tần Mục Công, xuất thân là kẻ nuôi bò.

Vào thời Xuân Thu của Quản Tử, đế quyền nhà Chu bị hàng trăm vương hầu tranh giựt; ai nấy đều muốn tổ chức địa phận của mình thành một tiểu quốc có qui củ, số sĩ cần thiết cho việc hành chánh quản trị nhờ đó có nhiều cơ hội tiến thân hành sự không khỏi gia tăng. Phần đông làm gia thần cho nhà quyền quí, nhưng kẻ học giỏi biết nhiều có hy vọng gần nhà cầm quyền hơn. Vương hầu nào cũng có tham vọng làm bá chủ, thâu gồm các nước lân bang, nên sẵn sàng trọng dụng ai khéo dâng mưu cao kế lạ khiến nước họ giàu mạnh. Các học phái vì vậy đua nhau ra đời (bách gia chư tử), đả kích lẫn nhau, theo gót các nhà mưu sĩ thuyết khách. Nhưng biết nhiều đến đâu, kẻ sĩ cũng không cạnh tranh nổi đám thừa cơ ít học, thiện võ hơn thiện văn, và thường bị nhà cầm quyền, cầu lợi hơn cầu hiền, coi nhẹ. Giữa thời buổi Chiến quốc nhiễu nhương đó, nho giáo bảo cựu do Khổng Tử (551-479 ttl) đề xướng xuất hiện như một phản ứng tự nhiên của kẻ có học trước cảnh luân lý suy đồi và sự thiếu đạo đức của nhà cầm quyền khiến kẻ có tài phải lang thang nay đây mai đó (như chính trường hợp của Khổng Tử, nổi danh là hiền sĩ mà vẫn phải chu du khắp thiên hạ, mong gặp minh quân biết trao quyền nhiếp chính cho mình), phải biến thành phường giảo hoạt nếu muốn được tín dụng. Kể từ Khổng Tử, kẻ sĩ được lý tưởng hóa và đồng hóa với kẻ hiền tài, như sự thông dụng dần của những từ ghép như hiền sĩ, chí sĩ, dũng sĩ ... cho thấy.

Học thuyết đề cao kẻ sĩ của Khổng Tử dĩ nhiên gặp sự hưởng ứng nồng nhiệt của giới sĩ, như số đông học trò (khoảng 3000 vào cuối đời ông) đến thụ huấn ông chứng tỏ. Ðược các thế hệ học trò ông – xuất sắc nhất là Mạnh Tử - nối tiếp nhau tu bổ và truyền bá, sĩ đạo của ông bành trướng sâu rộng và lấy tên là nho đạo hay nho giáo. Cái tên này đủ tóm tham vọng của kẻ sĩ, vì nho có nghĩa là kẻ cần thiết, thông thái (“thông thiên địa nhân viết nho”). Vững mạnh nhờ số lớn kẻ theo cùng nhờ một học thuyết cố kết có thể biện luận được với các học thuyết khác như thuyết kiêm ái của Mặc Ðịch hay vị ngã của Dương Châu (bị Mạnh Tử công kích trong “Mạnh Tử”, chương Ðằng Văn Công thượng, tiết 5, và ÐVC hạ, tiết 9), Khổng phái tranh được sự nể nang của giới cầm quyền sẵn sàng thỉnh giáo các nho gia hay vời họ làm phụ tá, ví như Tử Tư làm quan đại phu cho Lỗ Mục Công và Tề Huệ Công, Mạnh Tử làm quân sư cho Lương Huệ Vương và Tề Tuyên Vương hay Nhạc Chính Tử là cận thần của Lỗ Bình Công .

Với nho giáo kẻ sĩ vượt hẳn dân thường, vì là kẻ được giào dục để trị dân. Xét theo kinh thư thì quan niệm này trải qua hai thế kỷ mới hình thành. Trong sách “Luận ngữ” gồm những lời giảng dạy của Khổng Tử (551-479), chỉ thấy nhấn mạnh đến đức độ phải có của kẻ sĩ . Ông cho kẻ sĩ là người có học, không hẳn học chữ mà học đạo làm người. Trong Luận ngữ, thiên Tử Lộ, ch.20 (Lê Phục Thiện dịch, Hà Nội, Văn học, 1992, tr. 471) ông tôn là sĩ những kẻ biết hổ thẹn cho mình và cho nước (“hành kỳ hữu sĩ, sử ư tứ phương bất nhục quân mệnh”), những kẻ hiếu đễ (“tông tộc xưng hiếu yên, hương đảng xưng đễ yên”) hay những kẻ dốt kém nhưng biết giữ lời và làm việc đến nơi đến chốn (“ngôn tất tín, hạnh tất quả...”). Kẻ sĩ có kiến thức hay nhà nho, nếu hội đủ đức tính được gọi là quân tử. Trong giới sĩ chỉ kẻ quân tử là đáng phục, và mục đích của sự học hỏi và tu thân của nhà nho chính là để thành người quân tử và tránh làm kẻ tiểu nhân. Bởi giữa nhà nho, cũng có sự phân biệt nho quân tử và nho tiểu nhân như Khổng Tử từng khuyên Tử Hạ : “Nhữ vi quân tử nho, vô vi tiểu nhân nho” (Luận ngữ, th.Ung dã, ch. 11, ... tr. 189). Nhưng phong độ quân tử theo ý của Khổng Tử thật khó đạt; chính ông cũng công nhận như vậy : “Bậc thánh nhân, ta chẳng được thấy! Được thấy bậc quân tử ấy là khá vậy!„ (“Thánh nhân, ngô bất đắc nhi kién chi hỹ! Ðắc kiến quân tử giả, tư khả hỹ » - Luận ngữ, th. Thuật nhi, ch. 24).

Nhưng phải làm sao mới đáng được gọi là quân tử? Các kinh thư của Khổng phái cốt viết cho kẻ sĩ nhằm mục đích trả lời câu hỏi này. Ngay như Kinh Dịch là sách về siêu hình học thường được dùng làm sách bói toán cũng lấy quân tử làm đối tượng qua trung gian các lời giải thích quẻ hào răn dạy kẻ sĩ đối phó với hoàn cảnh sao cho đúng tư cách bậc quân tử, ví như lời phê của đại tượng truyện quẻ càn là quẻ đầu tiên : “Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức„ (Chu dịch, Phan Sào Nam diễn giải, Sàigòn, Khai Trí, t. 1, 1969, tr. 54). Duy nói về kẻ sĩ và quân tử nhiều nhất vẫn là hai bộ Luận ngữ và Mạnh Tử. Theo Luận ngữ, kẻ sĩ phải là kẻ học đạo lý, cho nên trước nhất phải luyện cho được đức nhân lấy sự hiếu đễ làm gốc, sau mới lo học lễ học văn (Luận ngữ, th. Học nhi, ch. 6; th. Ung dã, ch. 25), đủ chất đủ văn thì thành người quân tử (Luận ngữ, ch. Nhan Uyên, ch. 8 ). Mẫu người quân tử là một người ngay thẳng, ham điều nghĩa, biết nhận xét, cư xử khiêm tốn, có lễ độ, vừa ôn hòa, thư thái, thành tín, vừa can đảm cứng cỏi (Luận ngữ, th. Nhan Uyên, ch. 8, 20; th. Tử Lộ, ch. 23, 26; th. Vệ Linh Công, ch. 27; th. Dương Hóa, ch. 8 ).

Vì muốn giáo hóa dân chúng Khổng Tử nhấn mạnh vào đạo đức và chú trọng đến việc tu dưỡng nhiều hơn chuyện thành đạt. Công trình phổ biến nho giáo, nâng cao uy tín của nhà nho rồi củng cố địa vị xã hội chính trị của kẻ có học thức sẽ do học trò ông và những người theo họ chủ trương. Từ đức nhân (không hẳn là yêu thương người mà là cư xử hợp đạo với người - x. Luận ngữ, th. Dương Hóa, ch. 6) là nòng cốt của Khổng giáo, Mạnh Tử (371-289) chuyển sang đức nghĩa (biết phải trái – thời Khổng Tử đã là một điều căn bản) là đạo lý phải theo (“Nhân, nhân tâm giã; nghĩa, nhân lộ giã” - x. Mạnh Tử, Ðoàn Trung Còn dịch, Sàigòn, Trí Ðức, 1950, T.2, chương Cáo Tử thượng, tiết 11, tr. 166) bởi nhân do lương tâm mà ra mà tâm sở dĩ có nhờ chứa sẵn lý nghĩa, nên làm người phải noi theo lý nghĩa. Mà lo việc nghĩa tức là lo bằng tâm trí, tức thuộc vào tầng lớp cai trị. Mạnh Tử đã không ngần ngại chia xã hội ra làm hai thành phần có thứ bậc trong đó lớp kẻ sĩ đóng vai bề trên : “Có phần việc của người đại nhân, lại có phần việc của người tiểu nhân ... Có người làm việc bằng tâm trí, có kẻ làm việc bằng tay chân. Người làm việc bằng tâm trí thì cai trị dân chúng; kẻ làm việc bằng tay chân thì chịu quyền điều khiển. Kẻ chịu điều khiển có phận sự cung cấp cho người bề trên; nhà cai trị dân chúng được dân chúng phụng dưỡng.” (“Hữu đại nhân chi sự, hữu tiểu nhân chi sự ... Hoặc lao tâm, hoặc lao lực. Lao tâm giả trị nhân; lao lực giả trị ư nhân. Trị ư nhân giả tự nhân; trị nhân giả tự ư nhân“ – Mạnh Tử, t.1, ch. Ðằng Văn Công thượng, tiết 4, tr. 166-67).

Lời lẽ trên của Mạnh Tử cho thấy tư thế của kẻ sĩ đã biến đổi lớn lao từ thời Quản Tử, trội hẳn trên lớp nhà nông. Thời Khổng Tử, nhờ sự sùng bái đức nhân, tư tưởng tự tôn của kẻ sĩ chưa quá trớn, tuy (theo Luận ngữ, th. Tử Lộ, ch.4) Khổng Tử đã bắt đầu tách kẻ sĩ rời đám nông dân, coi việc nông không xứng đáng với phận sự của kẻ sĩ. Nhưng với Mạnh Tử kẻ sĩ vượt hẳn nhà nông. Không còn có chuyện kẻ sĩ cũng phải cầy cấy khi không làm quan như Quản Tử đề nghị : đã có công phu học thành người hiếu đễ, biết noi theo đạo thánh vương để truyền lại cho học giả hậu lai là xứng đáng được cung cấp vật thực hơn những người hành nghề khác không cao xa bằng (“U thử hữu nhân yên, nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ, thủ tiên vương chi đạo, dĩ đãi hậu chi học giả, nhi bất đắc thực ư tử. Tử hà tôn tử, tượng, luận, dư, nhi khinh vi nhân nghĩa giả tai ?” – Mạnh Tử, t.1, ÐVC hạ, tiết 4, tr. 190-191). Vào cuối thời chiến quốc, kẻ sĩ không còn (muốn) là một thành phần xã hội ngang hàng với các thành phần khác tuy đã có thể tách rời khỏi quần chúng nếu có tài đức hay gặp vận may, mà (muốn) trở thành một đẳng cấp biệt lập với đặc quyền dính liền với phẩm thế : được dành nhiệm vụ cai trị dân và bất kỳ có giữ quan chức hay không cũng được dân cung phụng. Dân, bị xếp vào hạng tiểu nhân, và kẻ sĩ được coi như tất nhiên phải là người quân tử, gắn bó với nhau theo thứ tự trên dưới : “Vô quân tử, mạc trị dã nhân; vô dã nhân mạc dưỡng quân tử” (Mạnh Tử, t.1, ÐVC thượng, tiết 3, tr. 158 ).

Suy theo sách Mạnh Tử, có thể nghĩ rằng vào thời cuối đời Chu, đám nho gia đủ đông đủ mạnh và đủ uy tín để đương đầu với nhà cầm quyền, dám viện lý để đòi tham gia chính quyền thay vì chờ đợi lòng sủng ái thất thường của nhà vua. Dĩ nhiên tham vọng của họ vấp vào sự chống đối của các học phái khác cũng như của những nhà cầm quyền độc đoán không muốn chia quyền. Vụ tàn sát các môn đồ nho giáo bởi Tần Thủy Hoàng dễ hiểu trong phối cảnh này. Nếu không cùng tư tưởng, chịu sao được tính cao ngạo của các nho gia tự cho mình là kẻ thừa kế của các bậc thánh nhân xưa (ngay thời Khổng Tử, nho sĩ đã bị Án Anh quan đại phu nước Tề chê là “kiêu ngạo vị kỷ”), am hiểu đạo lý hơn người, có tài “bình trị thiên hạ” (Mạnh Tử, t.1, Công Tôn Sửu hạ, tiết 12, 13) đặt mình trên cả nhà vua, vua không thể triệu mà phải đến viếng, bởi theo đạo đức vua có bổn phận phụng sự trang hiền sĩ (Mạnh Tử, t.2 , Vạn chương hạ, tiết 7)? Các pháp gia, cũng xuất thân từ lò nho giáo (họ chịu ảnh hưởng của Tuân Tử là một nhà nho uyên bác) nhưng thiên về “tri tân” thay vì “ôn cố”, hiểu rằng trong chế độ quân chủ tập quyền mới được gây dựng trên xã hội phong kiến đã tan, kẻ sĩ muốn có chức vụ không còn giải pháp bỏ đất này sang đất kia, chỉ còn nước phục vụ hết mình kẻ duy nhất nắm quyền thế, giúp nhà cầm quyền duy trì địa vị. Bài học này cũng như thuật lấy hình pháp làm phương cách trị dân, giới nho sĩ được phục hưng dưới triều Hán sẽ để lòng ghi nhớ.

Trái với dư luận thông thường, tư tưởng của các pháp gia không hề nhất thời và tan vào dĩ vãng với sự đắc thắng của nho giáo vào đời Hán; những ý chính của phái họ, như sự tôn quân tuyệt đối và sự dùng pháp dùng danh để cai trị, tồn tại mạnh mẽ hơn bao giờ sau khi được sáp nhập vào nho giáo, phủ dưới tấm khăn đạo lý và lễ nghĩa. Những bộ luật do các nho gia soạn thảo từ đây là những khí cụ bảo vệ đắc lực nhà cầm quyền, giúp họ thống trị thần dân. Ngõ hầu thực hiện yêu sách tham chính của mình, các nho sĩ sốt sắng theo gương pháp gia biện hộ cho quyền thế của nhà vua, bổ túc thuyết thiên mệnh mà bỏ quên những lời đặt dân trên vua (Mạnh Tử, ch. Tận tâm hạ, t. 14) hay khinh miệt nhà vua bất nhân và những quan lại thờ họ (Mạnh Tử, ch. Cáo Tử hạ, t. 9) của Mạnh Tử, đồng thời nguyện làm “kẻ phụng sự”, vì “kẻ sĩ không tới bậc làm việc cảm hóa (như bậc đại phu) chỉ nên giữ phận theo người trên mà thôi” (theo Ðổng Trọng Thư, trích trong Nguyễn Ðăng Thục, Lịch sử triết học phương đông, Sàigòn, nxb Thành phố HCM, 1991, t.4, tr. 77).

Ðể cai trị một đế quốc rộng mênh mông, các tiên đế nhà Hán đã hiểu rằng triều đình cần dựa trên một đẳng cấp quan lại vừa có học vừa ưa chuộng lễ nghi và tôn ti trật tự nhưng cũng cần kiểm soát nghiêm ngặt lớp sĩ đầy thế lực kia. Kết quả của sự hội tụ quyền lợi giữa nhà cầm quyền và các nho sĩ là Hán Vũ đế cho nhận Khổng Tử là bậc thánh cao nhất trong đám bách gia và chọn nho giáo làm quốc giáo độc tôn sau khi nho giáo được tu bổ và chấn chỉnh theo một ý thức hệ chặt chẽ xoay quanh chữ hiếu với cha mẹ và chữ trung với nhà vua, có hiệu lực củng cố và duy trì chế độ phụ quyền chuyên chính. Phần lớn các chức vụ quản trị và hành chánh được dành cho nho sĩ miễn họ thỏa mãn một cuộc khảo hạch hay thi cử do triều đình tổ chức. Tuy mang tiếng là có mục đích chọn nhân tài cho nhà nước, các cuộc thi thực ra có tác dụng lọc giữ những kẻ sĩ theo thời có tinh thần phục tùng chính quyền cùng gạt bỏ những kẻ sĩ còn cá tính hay ương ngạnh, cho nên chương trình và bài thi có khuynh hướng (càng ngày càng rõ với sự nho giáo hóa xã hội và trung ương tập quyền) trọng hình thức nhiều hơn trình độ học vấn (quay quanh kinh thư chính thức của nho giáo).

Trên nguyên tắc, với sự thắng lợi của nho giáo,giới sĩ thỏa được nguyện vọng “sự đạo” mang được cái học của mình ra hành với thế gian. Trong thực tế, vì muốn bảo toàn địa vị và mua chuộc lòng tin của nhà cầm quyền, các nho sĩ đã ra công đả phá các kẻ sĩ thuộc học phái khác, dù là những phái cũng xuất thân từ cửa Khổng như môn phái của Tuân Tử (ngược lại cũng rất đối nghịch với phái “chân” nho) khiến các học phái ấy suy yếu dần và danh từ kẻ sĩ tới đời Tống chỉ còn chỉ nho sĩ; tệ hại hơn, họ đã bóp nghẹt tính năng động của nho học (là sức đã có năng lực đem quyền hành vào tay nho giáo) với ý chí áp đặt một chủ thuyết thiên vị có lợi cho chính quyền nhờ lối chú giải kinh sách một cách hẹp hòi khô cứng. Như sự học (được nhắc đi nhắc lại trong kinh sách, đặc biệt trong “Ðại học”) là căn bản của đạo nho, tuy trên hết chỉ sự học đạo, chính ra bao gồm cả sự học hỏi mọi môn mọi ngành (“văn” - trong Luận ngữ, th. Nhan Uyên, ch.15, Khổng Tử cho sự học rộng về các môn “văn” không trái tức hợp đạo lý) và sự tìm hiểu đến nơi đến chốn (“cách vật trí tri”), nhưng đối với triều đình và các nhà nho chính thống nó vẹn chỉ là sự học đạo thánh hiền, các môn học khác không bị cấm thì thôi đừng mong được nâng đỡ.

Theo nho giáo, kẻ sĩ chăm lo học hỏi chỉ với mục đích cai trị dân hay ra làm quan. Cho nên “Kẻ sĩ mất chức cũng như vua chư hầu mất nước nhà ... Kẻ sĩ đối với việc ra làm quan cũng như nhà nông đối với việc cầy ruộng“ (Mạnh Tử, t.1, Ðằng Văn Công hạ, tiết 3, tr. 187). Nhưng số chức vụ có hạn mà số sĩ tử tương đối quá đông, thi cử đâm khó, lại thêm nhà vua không khỏi sử dụng quyền chuyên chế thăng cách tùy hứng, khiến cho đường quan hoạn của kẻ sĩ bấp bênh không lường. Ðể giữ vững tinh thần của họ, thuyết “xuất xử” đã được đưa ra làm qui tắc xử sự của bậc quân tử hay trượng phu đối với quan chức : đắc chí hay được thời, kẻ trượng phu phải “xuất“ (gia) tức nhập thế tham gia chính sự, ra làm quan chung sức với dân thi hành đạo nghĩa; không được thời (tình thế hỗn loạn, vua bạo ngược hoặc không biết dùng hay nghe người) hay bất đắc chí (hỏng thi, bị truất với lý do này nọ), kẻ trượng phu phải biết “xử” tức ở nhà ẩn dật mà tu thân hành đạo với riêng mình. Thuyết này dựa trên những lời răn học trò nên biết giữ chí khí không vì hoàn cảnh mà xao nhãng đạo lý của hai ông Khổng Mạnh như: “Thiên hạ hữu đạo tắc hiện, vô đạo tắc ẩn” (Luận ngữ, th. Thái bá, ch. 13, tr. 276) hay “Hữu quan thủ giả, bất đắc kỳ chức tắc khứ” (Mạnh Tử, Công Tôn Sửu hạ, tiết 5) và “Hành thiên hạ chi đại đạo, đắc chí dữ dân do chi, bất đắc chí độc hành kỳ đạo“ (Mạnh Tử, Ðằng Văn Công hạ, tiết 2).

Trong chủ quan của các nho sĩ, thuyết xuất xử biểu lộ tiết tháo của kẻ sĩ không lệ thuộc sự cất nhắc tùy tiện của nhà cầm quyền và các bài thơ tự sự của các danh sĩ đều nêu tâm chí ấy. Xét ra, thuyết đó có công giúp nhà cầm quyền nắm giữ và kiểm soát kẻ sĩ một cách hết sức tinh tế. Trước nhất nó xoa dịu lòng oán hận dễ có của kẻ tài danh không được trọng dụng, thanh cao hóa một sự kiện bất đắc dĩ, tránh sự nẩy nở óc đa tâm phản loạn đối với chính quyền. Ngay khi kẻ sĩ là một người không ham danh lợi, qui ẩn vì ghét chính trường thế tục, nó cũng có hiệu lực của một van an toàn, ru kẻ xử sĩ an phận với thú ngao du sơn thủy, không còn thì giờ và ý muốn bận tâm với các vấn đề xã hội có cơ khích động lòng bất mãn đối với chính quyền. Sau nữa, với sự biểu dương lòng trung quân (song song với đức hiếu thuận) như một lý do để xuất và đặc biệt để xử, nhà cầm quyền ngăn sự thay lòng đổi dạ của các viên chức thuộc hạ có thể vào thời biến loạn bị dụ chạy theo kẻ đối đầu họ. Khỏi nói, chính Khổng Tử không hề quyết đoán về sự xuất xử, nhiều trường hợp ông tỏ ra khó nghĩ về việc này (Luận ngữ, th. Vi Tử, ch. 5,6,7), trong khi Mạnh Tử rất uyển chuyển, để kẻ sĩ tùy nghi xuất xử miễn “giữ cho thân mình được trong sạch”, nếu cần có thể vì nhân dân đánh phạt vua vô đạo như ông Y Doãn chống vua Kiệt (Mạnh Tử, ch. Vạn Chương thượng, t. 2).

Sự ca ngợi chữ trung đúng là một phát kiến của các nhà nho phục tùng chính quyền. Hai ông Khổng Mạnh chẳng hề khen kẻ trung thành với một vua và không thờ hai vua như các nho gia sau này đề xướng, mà chỉ dặn học trò khi thờ vua nào thì nên hết lòng kính cẩn (Luận ngữ, th. Vệ Linh Công, ch. 37). Vả lại, thời hai ông, sự thay vua đổi chúa là lệ thường, chính hai ông từng chu du thiên hạ để mong không được vua này thì được vua khác vời làm quan. Nhân bàn về thái độ khác biệt của ba ông Bá Di (“chẳng phải vua mình thì chẳng phục sự, chẳng phải dân mình thì chẳng sai khiến, đời bình trị thì tấn lên làm quan, đòi loạn lạc thì lui về ẩn”), Y Doãn (“vua nào chẳng phải là vua mà mình phục sự, dân nào chẳng phải là dân mà mình sai khiến, đời bình trị cũng tấn lên làm quan, đời loạn lạc cũng chẳng bỏ chức phận”), và Liễu Hạ Huệ (“chẳng lấy làm xấu hổ mà phục sự một vua ô nhược”, vì “người vẫn là người, ta vẫn là ta”), Mạnh Tử (x. Mạnh Tử, Công Tôn Sửu thượng, tiết 2, và Vạn chương hạ, tiết 1) tôn trọng cả ba vì mỗi người một vẻ, họ có phong độ của bậc thánh nhân (thanh khiết, trọng nhiệm, ôn hòa), tuy đối với ông quan niệm trung dung thức thời của Khổng Tử (“lúc nên làm quan thì làm quan, lúc nên bỏ chức thì bỏ chức, cần làm quan lâu thì làm quan lâu, cần ra đi gấp thì ra đi gấp”) đáng phục nhất.

Thời Bắc thuộc, Hán học dưới hình thức nho học xâm nhập Việt Nam theo gót quan quân Tàu. Nhờ uy quyền của Trung quốc cùng một học thuyết vững chắc, nho học áp đảo dễ dàng nền học bản xứ (không rõ cao thấp tới đâu), nhưng gặp sự cạnh tranh của Lão học và nhất là Phật học được đồng thời truyền vào Việt Nam (có thể Phật giáo du nhập Việt Nam qua đường biển từ lâu trước). Nếu trước kia kẻ được tôn trọng là có kiến thức chắc hẳn là các thầy pháp giỏi chuyện ma thuật biết thiên văn địa lý phụ tá cho nhà vua hay tù trưởng (thần Kim Qui giúp An Dương Vương có thể là một nhân vật như vậy), kẻ sĩ từ đây là các nho sĩ, đạo sĩ và sư tăng. Ngay từ đời Hán và đặc biệt vào đời Ðường, nho học rất thịnh tại Việt Nam với một số danh sĩ có tên ghi trong sử sách như Trình Bỉnh dưới thời Tam quốc được Tôn Quyền cử làm thái phó cho thái tử, đến độ có nho sĩ thi đậu đại khoa bên Trung quốc làm đến tể tướng như Trương Công Phụ dưới đời Ðường Ðức Tông. Nhưng Lão học và Phật học lan rộng hơn nhiều nhờ sức hấp dẫn đối với quần chúng, Lão vì tính cách thần bí hợp với tín ngưỡng vật linh trong dân gian, Phật với triết thuyết từ bi siêu phàm thỏa mãn khát vọng tâm linh trong mỗi người.

Vì những người thụ huấn nho học sẵn sàng tuân theo tôn chỉ trung hiếu (đối với chính quyền tại vị) của nho giáo và phục tùng Thiên triều, các bậc anh hùng đối kháng Trung Hoa thường xuất phát từ đám người hoặc còn giữ tín ngưỡng vật linh xưa, hoặc theo Phật giáo. Cho nên thời Việt Nam tự trị trở lại cũng là thời huy hoàng của Phật Lão. Vua cuối cùng nhà Tiền Lý có tên là Lý Phật Tử (571-602), đủ thấy đạo Phật thời đó được tôn sùng ra sao. Khi lên ngôi vua, Ðinh Bộ Lĩnh (968-979) lập giai phẩm cho các sư tăng đạo sĩ, dùng cả tăng (Ngô Châu Lưu tức Khuông Việt, Ðặng Huyền Quang) lẫn đạo (Trương Ma Ni) làm quan cạnh các quan văn võ. Nhà Tiền Lê tiếp tục chính sách này. Triều Hậu Lý (1010-1225), đạo Phật phát triển mạnh nhờ các vua Lý ngoan đạo. Ðược dạy dỗ dưới cửa thiền, vua Lý Thái Tổ hết sức nâng đỡ Phật giáo, xây dựng chùa chiền, khuyến khích nhân dân làm sãi (năm 1086, cấp độ điệp cho hơn 1000 người làm tăng đạo tại Kinh sư), đặt tên thái tử là Phật Mã (Lý Thái Tông), và dĩ nhiên biệt đãi sư tăng, cho các đại sư như Vạn Hạnh ra vào thường xuyên trong cung, tham gia triều chính.

Tuy đạo Phật chỉ chú trọng đến sự giải thoát cá nhân khỏi vòng khổ não cũng như Lão giáo chỉ khuyên lánh đời với thuyết vô vi, không mấy thực tế và không dạy việc xử thế chính trị, các cao tăng đạo sĩ cố vấn cho vua quan thường là những người giỏi chữ nghĩa hiểu rộng việc đời. Không biết trước thời Hán thuộc dân Việt có chữ viết hay không, có thể họ dùng một lối chữ rằn ri như chữ Mường, nhưng sau gần ngàn năm đô hộ Tàu, chỉ mỗi sách Tàu tồn tại, kinh sách Phật truyền sang Việt Nam cũng được viết bằng tiếng Tàu nếu không bằng tiếng Phạn, sư tăng đạo sĩ muốn học đạo bắt buộc phải thông chữ Tàu tức thông nho vì nền học do người Tàu để lại là nho học. Ngược lại, tới đời Trần, do ảnh hưởng của Phật Lão, các nho sĩ Việt Nam cũng như nho sĩ nhà Ðường có tinh thần phóng khoáng không câu nệ ý hệ nho giáo. Do đó mới có sự cả nhà nho Ðào Cam Mộc lẫn nhà sư Vạn Hạnh, đều là đại thần nhà Lê, không hiềm tội bất trung ác đức, xúi Lý Công Uẩn (Thái Tổ) soán ngôi vua Lê.

Nhưng dù chính họ rất hâm mộ Phật giáo, các vua Lý ý thức sự hữu ích của một học thuyết biểu dương đức trung hiếu như nho giáo trong nỗ lực duy trì ngai vàng. Năm 1028, sau khi xuýt mất ngôi vì bị các em vây đánh, Lý Thái Tông ép triều thần hàng năm phải dự lễ thề “làm con phải có hiếu, làm tôi phải biết trung, ai bất hiếu bất trung xin quỷ thần làm tội” (lời thề ghi trong Ðại Việt sử ký toàn thư, đời Lý Thái Tông ; bản dịch của Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược – lệ thề này được tiếp tục tới cuối triều Lê). Vả lại muốn trị vị lâu dài (lần đầu tiên từ thời Bắc thuộc có một triều đại qua được hai đời vua), cần phải quy định phép tắc (Hình thư được ban năm 1041), chấn chỉnh phong tục hành chánh, tức cần đào luyện một lớp người có kiến thức để bổ nhiệm vào việc quan nha. Mà thời bấy giờ văn học được đồng nhất hóa với nho học. Cho nên để khuyến khích văn học, Lý Thánh Tông cho lập Văn miếu thờ Khổng Tử và chư hiền, cho thái tử đến đấy học (1070). Sang đời Lý Nhân Tông thì khoa cử bắt đầu được mở để lựa nhân tài cho ra làm quan (năm 1075 với khoa thi minh kinh bác sĩ và nho học tam trường). Ngoài các đại khoa còn có cuộc thi viết chữ, toán và luật (kể từ 1077) nhằm tuyển thư lại để đáp ứng nhu cầu của các cơ quan hành chánh mới được thiết lập.Vào buổi đầu sĩ tử chắc hẳn không nhiều, số thí sinh được cho đậu cũng ít, ảnh hưởng của nho sĩ trong guồng máy nhà nước do giới quý tộc thân thuộc nhà vua nắm giữ không là bao so với uy tín của các sư tăng.

Vào cuối triều Lý, dưới thời Lý Cao Tông (1175-1210), mặc dầu vẫn được triều đình che chở và sùng bái, Phật giáo dường như mất địa vị ưu việt đối với nhà cầm quyền. Khoa thi tam giáo được tổ chức lần đàu tiên năm 1195 chứng tỏ Thích đã bị đặt ngang Khổng Lão tức nho giáo đã bành trướng mạnh (cuộc thi tam giáo này cũng có thể được giải thích như một nhượng bộ của nhà cầm quyền đối với giới nho sĩ thường chê bọn mũ vàng áo thâm là hạng thất học). Trên đà phát triển, nho giáo bắt đầu ganh đua với Phật giáo : năm 1198, nghe lời thái phó Ðàm Sĩ Mông, vua cho sa thải bớt sư sãi. Sự hưng thịnh dần của nho giáo cùng sự tranh chấp giữa Nho Phật tiếp tục gắt gao hơn dưới đời Trần. Nho học được cổ súy với sự mở khoa thái học sinh năm 1232 (được đổi thành tiến sĩ năm 1347) và sự lập viện Quốc học năm 1253 rồi học đường giảng dạy tứ thư ngũ kinh. Trong khi nho sĩ được trao càng ngày càng nhiều trọng trách trong triều đình (năm 1267 chức Hành khiển là chức then chốt về chính sự cho phép bàn việc nước với vua và thân vương trong Nội mật viện, xưa nay chỉ dành cho hoạn quan, lần đầu tiên được trao cho người có học tức nho sĩ đỗ đại khoa), trừ nhà vua và các thân vương đi tu, không thấy sư tăng tham dự triều chính nữa. Sau năm 1247, là lần thứ nhì và lần cuối sách sử nhắc tới khoa thi tam giáo, có thể không còn sự bổ tăng đạo lam quan nữa.

Phật giáo rút lui khỏi chính trường nhưng không vì thế mà suy sút; vào cuối đời Trần, đạo Phật ngự trị trong dân gian. Theo lời Lê Quát ghi trên văn bia chùa Thiệu Phúc, thôn Bái, tỉnh Bắc Giang, khoảng trước 1370,“từ trong kinh thành đến ngoài châu phủ, kể cả những nơi thôn cùng ngõ hẻm, không bảo mà người ta cứ theo, không hẹn mà người ta cứ tin; hễ nơi nào có nhà ở là ắt có chùa chiền, bỏ rồi lại dựng, hỏng rồi lại sửa, số chuông trống lâu đài chiếm gần một nửa dân cư” (trong Ðại Việt sử ký toàn thư, đời Trần Nghệ Tông; bản dịch của Tuấn Nghi đăng trong “Thơ văn Lý Trần”, Hà Nội, nxb Khoa học xã hội, T.3, 1978, tr.145). Song chính sự quá sùng đạo của dân chúng và sự phung phí ngân quỹ vào việc xây cất chùa chiền kích thích sự đối lập của đám nho sĩ cho nho giáo là “chính đạo phải được phục hưng” ngược với các đạo khác là trò “dị đoan đáng phải truất bỏ” như bài văn bia chùa Khai Nghiêm do Trương Hán Siêu viết năm 1339 cho thấy (Thơ văn Lý Trần, T.2, 1988, tr. 748-9 – Ðọc bộ Thơ văn này có thể theo dõi diễn biến của cuộc tranh giành ảnh hưởng giữa Nho Phật : văn chương siêu thoát đượm ý hư không dần dần nhường chỗ cho văn chương thế tục càng ngày càng sặc mùi Tàu vì đầy điển tích Tàu). Nhưng cái chính đạo mượn của Tàu, mà các nho sĩ muốn áp dụng triệt để, có nhiều điểm nghịch với truyền thống văn hóa Việt Nam (điển hình là tục nội hôn của nhà Trần) bị họ chê là “phong tục đồi bại”. Thói tôn sùng văn hóa Tàu bất chấp dân tộc tính của lớp sĩ đã bị vua Trần Minh Tông (1314-1329) cảnh cáo : “Nhà nước đã có phép tắc nhất định. Nam Bắc khác nhau, nếu nghe theo kế của kẻ học trò mặt trắng tìm đường tiến thân thì sinh ra loạn ngay“ (Ngô Sĩ Liên, Ðại Việt sử ký toàn thư, Hà Nội, 1967, T.2, tr. 145). Trí sáng suốt của nhà vua (và một số triều thần) không cầm được óc vọng ngoại gia tăng của lớp nho sĩ do chính triều đình đào tạo khi chọn nho học làm quốc học, nên năm 1370 Trần Nghệ Tông lại mất công minh định : “Triều trước dựng nước, tự có pháp độ, không theo chế độ nhà Tống, là vì Nam Bắc đều chủ nước mình, không phải noi nhau. Khoảng năm Ðại Trị, kẻ học trò mặt trắng không hiểu ý sâu xa của sự lập pháp, đem phép cũ của tổ tông thay đổi theo tục của phương Bắc cả, như về y phục nhạc chương, không thể kể hết” (ÐVSKTT, t.2, tr. 158 ).

Nhờ các vua Trần khôn ngoan, có óc rộng rãi cởi mở (Trần Minh Tông còn dặn con cái “nên xem việc làm của người đời xưa, việc gì phải thì theo, việc gì không phải thì lánh xa, không cần gì cha phải dạy” - Nên so sánh câu này với lời dụ của Lê Thánh Tông năm 1471 : “Từ nay trở đi, là con cháu ta nên biết rằng, làm ra quy chế này là do ở sự bất đắc dĩ, pháp thức một khi đã định, nên kính cẩn giữ theo, chớ cậy mình thông minh còn ví với tiên triều mà đổi lại, thành ra lật đổi điển hình, mắc tội bất hiếu”, ÐVSKTT, t.3, tr.241), thế quân bình giữa các học phái (chia nhau sự chiếu cố của các nhà quyền quí) được giữ vững khoảng một thế kỷ tới cuối đời Trần Hiến Tông (1329-1341), xui nên một không khí cạnh tranh bổ ích và một nền văn học phong phú đa dạng. Sĩ phu đời Trần có tinh thần tự do ít câu nệ hình thức và thích tìm hiểu : Chỉ đời Trần mới thấy những nhân vật thông thái như Trần Quang Khải hay Trần Nhật Duật, học cả tiếng mường mán nên dễ chiêu dụ các bộ lạc) đến trình độ dịch được sách mán sang chữ nho. Tiếc một điều là tinh thần dân tộc tự chủ của triều đình nhà Trần không đủ cao để khích lệ một nền quốc học dựa trên quốc ngữ (như triều đình Heian bên Nhật Bản ngay từ thế kỷ thứ 9), mặc dầu Nguyễn Thuyên và Nguyễn Sĩ Cố đã chứng tỏ chữ nôm có đủ điều kiện để chống đỡ một nền quốc văn phồn thịnh. Chắc hẳn có nhiều người trong chính quyền (như Hồ Quí Ly đã mạnh dạn dùng chữ nôm trong công văn) ý thức sự bất tiện của việc dùng một ngoại ngữ (khác hẳn văn phạm cũng như từ ngữ) thay vì quốc âm làm chính ngữ, nhưng nho học do chính triều đình sắp đặt từ thời dựng nước đã huấn luyện quá nhiều nho sĩ (ngay trong hoàng tộc) với một bản chất sùng nho tức sùng cả nền văn hóa Tàu đã sản xuất ra nho giáo. Không bị nhà cầm quyền thúc ép, lớp nho sĩ này không thể không theo đà bảo thủ tự nhiên, quyết duy trì Hán học.

Ngay Hồ Quý Ly, sính nôm như vậy, cũng vẫn giữ Hán học làm gốc cho các khoa thi được mở dưới triều ông. Nhiều sử gia bị lòe bởi số lớn cải tổ trong một thời gian ngắn ngủi của họ Hồ cho ông là một nhà cách mạng dân tộc. Xét kỹ đến mấy cũng không thấy tính dân tộc hay cách mạng trong mấy cải cách về thi cử va hành chánh (những sửa sang về kinh tế gồm việc ban hành tiền giấy bắt chước nhà Tống, chỉ là cách gây quĩ hầu có phương tiện chuẩn bị chiến tranh chống quân Minh không kể) của ông mà chỉ thấy sự áp dụng một số tư tưởng nho giáo được dịp bành trướng vì không còn sự cản trở của các vua Trần đa đoan : phép thi dùng văn thể cho bốn trường và bỏ bài thi ám tả chỉ là sự mô phỏng lệ nhà Nguyên thiên về hình thức gò bó ; việc làm sổ hộ và phép hạn nô nhằm hạn chế quyền lực của lớp quý tộc là một bước tiến của ý chí tập quyền của các nho gia (bấy giờ là Hoàng Hối Khanh, Nguyễn Hy Chu...) rất thù địch với chế độ phong kiến thời Lý Trần. Sự Hồ Quí Ly “dám” phê bình vài điểm trong kinh thư nho trong sách “Minh đạo” do ông soạn năm 1392 nếu chứng tỏ tính độc lập của ông đối với nho học, cũng thể hiện óc nặng nho (dù là nho không hoàn toàn chính thống, theo gương Vương An Thạch) cùng lòng tự phụ về sự thông nho của ông (hiện rõ trong thái độ khinh mạn của ông đối với những nho sĩ thủ cựu). Lại nữa, tính chuyên chính của ông (sẵn sàng giết hại những kẻ hơi ho he đối lập) có tác động dung dưỡng óc phục tùng sẵn có của lớp sĩ khiến họ thêm thụ động và bảo thủ.

Các tác giả cũng thường kêu họ Hồ thất bại vì không được giới quan liêu vẫn trung thành với nhà Trần và nhân dân ủng hộ bởi coi ông như một gian thần tiếm nghịch. Thật ra có thể họ Hồ bị ghét vì gây nhiều xáo trộn với các cải cách liên tiếp, nhưng sự thất bại của họ chỉ có nguyên do là sự kém tài quân sự. Còn thì, cũng như thời đầu Trần dân chúng chẳng buồn oán vua Trần thoán ngôi nhà Lý, ít ai để ý (nếu chống đối đã bị giết rồi) đến chuyện nhà Hồ với nhà Trần. Vả lại đến như cha con Nguyễn Trãi thuộc gia tộc nhà Trần mà còn chẳng ngượng ra làm quan với kẻ đã tàn sát gần toàn thể họ ngoại mình (vụ giết quí tộc năm 1399), huống hồ chi dân thường. Như Lê Quí Ðôn có than trong “Kiến văn tiểu lục” (Sài Gòn, Bộ giáo dục, 1964, t.2, q.5, Tài phẩm) số cao sĩ biết giữ tiết tháo dám can vua và bỏ quan về ẩn thời Trần (cũng như sau này) chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Ngay trong những vị được ông kể tên chỉ Chu Văn An vì không xin được đầu 7 kẻ nịnh thần với Trần Dụ Tông bèn bỏ về Chí Linh, và Lý Tử Cấu nhất định từ chối quan tước của họ Hồ, thực có khí phách mà thôi. Tính nhút nhát cầu vinh của giới nho sĩ nếu chỉ nằm ở sự qui thuận nhà Hồ cũng vô thưởng vô phạt, nhưng nhục nhã là khi quân Minh thắng đuổi nhà Hồ (rất dễ dàng vì họ Hồ là một kẻ võ rát, chỉ biết chạy khi chạm chán với quân Chiêm năm 1389 hay quân Minh năm 1407, đã thế lại không có tướng giỏi, mấy tướng lão thành thuộc lớp quí tộc nhà Trần như Trần Khát Chân đã bị giết hại cả), đặt nền đô hộ trên nước ta, các nho sĩ từng làm quan cho nhà Trần và nhà Hồ không ngại đua nhau ra ứng thí vào những kỳ thi lấy nhân sĩ đưa về làm quan bên Tàu. Theo Lê Quý Ðôn (tr. sách trên) chỉ có vài người như ông Lý Tử Cấu và Bùi Ứng Ðẩu từ chối không ra thi. Mà những sĩ nhân ra thi hay làm quan với nhà Minh, nếu không có hành vi bợ đỡ quá trớn quân Tàu, chẳng lo bị giết phạt khi Việt Nam tự trị trở lại, vì họ thừa biết dưới triều nào kẻ có học chịu phục tùng cũng có chỗ đứng, như sắc lệnh năm 1429 vài tháng sau khi Lê Thái Tổ lên ngôi minh chứng : “Phàm những người văn võ hào kiệt, hoặc bị bỏ sót trẩm trệ, không có chức tước, không ai tiến cử, vì thù hằn mà bị đè nén che giấu thì đến ngay chỗ thiếu phó Lê Văn Linh mà tự tiến, xét ra thực có tài đức thì tâu trình đẻ cất dùng, không kể là ngụy quan hay là sĩ thứ, lấy tài đức (đức đây phải hiểu là qui phục tân triều) là hơn” (ÐVSKTT, T. 3, tr. 69-70). Với tinh thần xu thời của sĩ phu Việt Nam lúc đó, dễ hiểu tại sao họ hân hoan đón nhận lối học nhồi sọ của Tống nho do quân Tàu du nhập.

Tống nho là chữ dùng dưới nhà Thanh để chỉ học thuyết nho dưới hình thức hoàn chỉnh và hệ thống hóa nhờ sự đóng góp của các nho gia đời Tống (Chu Liêm Khê, Thiệu Khang Tiết, Trương Hoành Cư, Trình Minh Ðạo, Trình Y Xuyên, và đặc biệt Chu Hy, là người đúc kết lại thành hệ các thuyết). Nó không phải là một mớ học dốt rỗng theo lời những người bài bác nó, mà là kết tinh của ba tư tưởng Nho Thích Lão do sự sáp nhập của phần lý và siêu hình trong Phật học và Lão học vào Nho học (xem Nguyễn Ðăng Thục, Lịch sử triết học phương Ðông, Sài Gòn, nxb Thành phố HCM, 1991, T. 5). Nhờ sự bao gồm này, nho học không còn chỉ là một luân lý xã hội mà trở thành một triết thuyết có mạch lạc quán triệt mọi khía cạnh đời sống con người. Nhưng cũng như mọi thuyết hoàn bị, có câu trả lời đáp sẵn mọi thắc mắc, nó là đầu mối cho sự tắt cạn tư tưởng của những ai chỉ biết có nó, và dễ biến từ một cái học phong phú thành một cái học giáo điều, tự tôn mình là chân chính và bác các học thuyết khác (dù chỉ hơi khác) như tà hoặc ngụy thuyết. Huỳnh Thúc Kháng có viết một bài rất hăng và tha thiết về sự tệ hại của Tống nho (dưới đề “Lối học khoa cử và lối học của Tống nho có phải là học đạo Khổng Mạnh không?”, đăng trên báo Tiếng Dân, in lại tr. Phan Bội Châu, Khổng học đăng, Houston, Xuân Thu, ?, tr.774-787, và tr. Chương Thâu, Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng, Ðà Nẵng, nxb Ðà Nẵng, 1989, tr. 292-312), nhưng ông chỉ biết than về sự hấp thụ Tống nho bởi sĩ phu Việt Nam mà không hỏi tại sao họ lại nồng nhiệt hay ngoan ngoãn đón nhận lối học đó để rồi từ trên xuống dưới trong hàng thế kỷ, tới tận thời Pháp thuộc, không mấy ai lên tiếng đả kích nó.

Vì sao Tống nho gặp sự hưởng ứng của sĩ phu Việt Nam, lý do bề ngoài (sự áp đặt bởi nhà cầm quyền Minh rồi Lê và óc phục tùng của sĩ nhân Việt Nam) đã thấy ở trên. Nhưng sâu hơn là sức quyến rũ tự muôn thuở của quyền lực đối với lớp sĩ. Khổng Tử cũng như Mạnh Tử đều mặc nhận quyền lực (làm quan, cai trị kẻ khác) là mục đích của kẻ sĩ, nên triết học của hai ông cốt rèn kẻ sĩ biết giữ lòng nhân và làm điều nghĩa khi quyền vào tay; đồng thời vì kẻ sĩ ít khi là kẻ nắm quyền tối cao, hai ông cũng mách nước cho kẻ sĩ khéo ăn khéo ở để bảo toàn chức vụ và tính mệnh, kiểu như :“Người quân tử làm cho dân tin rồi sau mới khiến dân làm việc khó nhọc, nếu dân chưa tin thì cho là làm hại mình. Ðối với người trên có được lòng tin rồi sau mới khuyên can; nếu người trên chưa tin thì cho là hủy báng mình” (Luận ngữ, th. Tử Trương, ch. 11). Hai ông mong học trò luyện lấy những đức hiếu, tín, liêm, sỉ, vv. nhưng hai ông cũng biết đấy là những đức tính mơ tưởng (trên cả ngàn học trò trực tiếp của Khổng Tử, chỉ vài người vừa lòng ông) hiếm thấy nơi kẻ sĩ ngoài thực tế. Và sau này những châm ngôn điển tích mà các nho gia sưu tập để giáo dục học trò tuy nhắc đến những đức tính ấy, hầu hết là những công thức xử sự thực tiễn (chớ khoe khoang, chớ hấp tấp, chớ lộ ý, chớ ăn hối lộ, vv.) chú trọng vào tính cẩn mật, rất xa tính quảng đại vị tha của đức nhân hay tính cao thượng của đức nghĩa (xem Lê Quí Ðôn, Vân đài loại ngữ, q.8, Sĩ qui, do Tạ Quang Phát dịch, Sài Gòn, Phủ QVKFT Văn hóa, 1973 - và Lê Quí Ðôn,Kiến văn tiểu lục, q. 1, Châm cảnh, do Lê Mạnh Liêu dịch, Sài Gòn, Bộ QGGD, 1962).

Với Tống nho, trước nhất nho giáo bước lên địa vị độc tôn, các nho sĩ không còn sợ sự cạnh tranh của các sư tăng đạo sĩ bị gán tội “làm mê hoặc chúng sinh”, “làm cho hư nát đạo thường, hao phí tiền của“ (theo văn Trương Hán Siêu trong bài ký tháp Linh Tế, núi Dục Thúy - Thơ văn Lý Trần, t.2, tr.754). Một trong những lệnh đầu tiên của Lê Thái Tổ (tháng 3 và 12/1429) là kiểm soát và hạn chế số tăng đạo, bắt họ phải thi kinh điển, có trúng thì mới được cấp giấy (độ điệp) cho phép tu hành (chứ không phải để làm quan như xưa kia), nếu trượt phải hoàn tục. Bộ luật triều Lê được ban bố sau đó (1430) cấm tự tiện in và bán sách Phật Lão cũng như xây chùa chiền, và ấn định chỉ người trên 50 tuổi mới được cấp giấy phép cho làm tăng đạo, không có giấy phép không được tu, mà tu rồi còn ham thói tục (ăn mặn, uống rượu, thông dâm) thì bị sung quân hay tội đồ (điều 215,288, 289 trong bản “Quốc triều hình luật”, Hà Nội, nxb Pháp lý, 1991).

Kế tiếp, khoa cử, dựa trên một mớ sách chính thức có hạn, trở thành lối tuyển quan lại gần như (vì vẫn còn ngoại lệ vua cất nhắc gia thần, và lệ bảo cử để vớt những nhân tài bị bỏ sót, thêm thỉnh thoảng triều đình muốn gây quỹ sẵn sàng bán chức vụ nhỏ cho dân giàu có dù thất học – tục bán chức tước có từ triều Lý, chứ không phải chỉ vào thời Lê Trung hưng - x. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Hà Nội, nxb Sử học, t.2, Quan chức chí) độc nhất. Tất nhiên sự học và dạy học (chỉ cần chú trọng vào một ít kinh điển, không cần hiểu sâu xa –dần dà kể từ thời Lê Trung hưng bài mẫu theo những đề thi có thể ra được đưa cho học trò học thuộc lòng, bữa thi trúng tủ cứ thế viết ra là có nhiều hy vọng đậu) đâm dễ hơn và số sĩ tử được chấm đậu tức sẽ có quan chức bổng lộc đông hơn. Số quan chức dành cho sĩ tử cao hơn nhiều con số suy ra từ số người đậu tiến sĩ (trung bình khoảng 5 người một năm kể từ đời Trần đến cuối đời Nguyễn) và cử nhân hay tứ trường (khoảng mười lần lớn hơn), vì các nho sinh qua được các cuộc thi khảo hạch tiên quyết tại phủ huyện và những người chỉ đỗ tam trường (cả 1000 người mỗi khoa) cũng được bổ dụng (vào các chức nhỏ cho tới tri huyện). Thêm vào những người chỉ cần biết viết và làm tính có thể được tuyển vào hàng thư lại, có thể nói thời xưa kẻ đi học (cả nước chỉ có từ 3000 đến nhiều nhất hơn 10 000 dưới cuối triều Nguyễn đọc và viết thạo chữ nho, dám đi thi) có may có công ăn việc làm hợp với bằng cấp hơn học sinh sinh viên ngày nay. Các chức vụ quan trọng trong nước hầu như nằm trong tay kẻ sĩ, về văn cũng như võ (theo một lý tưởng nho giáo được Vương An Thạch đời Tống đề cao, kẻ sĩ kiêm toàn phải biết cả văn lẫn võ; cho nên sách sử cho thấy rất nhiều nhân vật đương làm quan văn bỗng đổi sang ngạch võ hay ngược lại). Các chính sách, luật lệ, sắc dụ, tiếng gọi là của vua, thật ra do đám triều thần đề nghị và soạn thảo.

Dĩ nhiên, nho sĩ trong triều gặp sự cạnh tranh của lớp vương hầu trong hoàng tộc, nhưng so với thời phong kiến Lý Trần, sứ cạnh tranh ấy giảm đi nhiều. Nhờ ý hệ nho giáo cho tài đức cá nhân (chọn qua thi cử) là trọng, các vương tôn công tử không được truyền y chức của cha, chỉ được tập tước, tập ấm (được cho giữ quan tước nhưng kém dần mỗi đời), phải có công riêng mới được thăng thưởng.Thân nhân nhà vua chỉ được lĩnh bổng lộc cao nhưng không được phong thái ấp nữa, và cũng không được dự triều chính nếu không có tài cán đặc biệt.

Nho sĩ có quyền tức có lợi. Ngay những học trò chưa đỗ đạt gì nhưng có quan khảo hạch chứng nhận là thông chữ nghĩa, đã được hưởng lộc vì được miễn thuế thân lại không phải đi lính. Có quan chức, là có lương bổng (từ 6 đến 92 quan thời Hồng Ðức, chưa kể sự miễn thuế và điền sản). Quan niệm chung của các tác giả là lương lậu của các quan quá ít, nhiều danh sĩ (như Ngô Thời Sĩ với bài “văn trách con ma nghèo”) có thơ văn than nghèo (bởi liêm khiết hay không có quan chức), nhưng nghèo giàu là một sự tương đối, trong một xã hội chậm tiến, thường dân bị đánh mỗi năm hơn 1 quan tiền thuế mà còn không trả nổi, làm việc lam lũ mà không đủ ăn, đám nho sĩ không chịu thuế, không phải làm việc nặng nhọc, có ăn có mặc, có sách, có trà, là sung túc rồi, nếu còn than nghèo là so với người ngang hàng quyền quí.

Sau rốt, luân lý Tống nho không cốt ở tâm mà ở hình thức. Với sáo văn và hành vi hợp thức kẻ sĩ có thể tự đắc về đức hạnh của mình. Ăn ở trong gia đình sao không có tai tiếng và cử hành tang lễ đúng phép là được coi như kẻ hiếu đễ (có đạo đức theo nho giáo), ý tứ trong lòng ra sao không ai cần biết. Dưới nghi thức lễ mễ tỏ lòng tôn kính, kẻ sĩ che đậy dễ dàng sự khúm núm sợ sệt của mình trước kẻ có quyền thế. Thái độ phục tùng, lời lẽ khiêm cung, nếu không xu nịnh, thay thế cho chữ trung, một chữ trung co rãn tùy theo tư cách của mỗi người. Từ nghĩa rộng như trong bài “Minh quán Trung Tân” của Nguyễn Bỉnh Khiêm (“Còn như biết trung với vua, kính người huynh trưởng, hòa thuận với anh em vợ chồng, giữ điều tín với bè bạn, tức là trung đó. Thấy tiền tài mà không tham lam, thấy lợi mà không tranh giành, thích làm việc thiện để dạy người, đem tấm lòng thành để xử thế, cũng là trung đó” – tr. Hoàng Việt văn tuyển, Nguyễn Ðình Diệm dịch, Sài Gòn, PQVKDT Văn hóa, 1971, t.2, tr. 130), đến nghĩa hẹp là một lòng một dạ với người nâng đỡ ban ơn cho mình (như trong bài tạ của một bác sĩ trường Quốc tử giám nhà Lê : “chỉ biết lòng trung giữ vững, nhớ ơn thánh chúa sáng soi”- tr. Hoàng Việt văn tuyển, t.3, tr.170), đức trung được gán cho cả những quan thờ hai “thánh thượng”, cả vua lẫn chúa (thời Trịnh), hay cho kẻ vì vua rước giặc dầy xéo nước nhà (như Bùi Bá Kỳ, hai lần vì vua sang Tàu rước quân Minh sang đuổi nhà Hồ và nhà Mạc, được Lê Quí Ðôn khen là kẻ đại trung (Kiến văn tiểu lục, t.2, tr. 34).

Chữ trung eo hẹp không bó buộc phải đi với chữ liêm chữ sỉ vì nhà vua sẵn sàng dung túng kẻ tiểu nhân để đổi lấy lòng phụng thờ của họ : Ông vua nho sĩ Lê Thánh Tông coi nhẹ sự ăn của lót (đùa cợt với Vũ Hữu về tính thích ăn hối lộ của ông ta – x. ÐVSKTT, t.3, tr.219), gạt bỏ những vụ tố cáo triều thần không thanh liêm như năm 1464 với lời lẽ rằng : “Khoảng năm Thái hòa Diên ninh, trên thì tể tướng, dưới đến các quan, mưu lợi lẫn nhau, bừa bãi hối lộ, ngươi (thiêm đô ngự sử Nguyễn Thiện) bảo Nguyễn Ðình Mỹ là kẻ tiểu nhân, không nên tin dùng. Trẫm lên ngôi báu đến nay 5 năm, Ðình Mỹ bôn tẩu phục vụ, hết lòng hết sức, khi trước là nịnh hót về sau là lương thiện, có hại gì đâu?...” . Nho giáo, đặc biệt dưới hình thức Tống nho, sở dĩ thích hợp với nhà cầm quyền, không phải vì những nét cao đẹp nó đòi hỏi nơi kẻ sĩ, mà vì thuyết trung hiếu bắt toàn dân thờ vua như thờ cha mẹ, khiến kẻ sĩ coi quan chức như ơn mưa móc vua ban. Với thuyết trung hiếu, nhu cầu một lớp phụ tá thừa hành trung thành dễ bảo được đáp ứng. Lại nữa, nhờ qui mọi mối về ngôi vua, sánh vua với ông trời trong vũ trụ, nho giáo ăn khớp với ý chí tập quyền và củng cố quyền lực của nhà vua kể từ triều Lê. Trong bối cảnh của một sự đồng lõa giữa nho giáo và quyền lực, vẫn còn nho sĩ lo giữ tiết tháo, thanh liêm thẳng thắn, như Vũ Tụ thời Lê Thánh Tông hay Ngô Tuấn Kiệt thời Lê Chiêu Tông (ghi trong Lê Quí Ðôn, Kiến văn tiểu lục, t.2, tr.28) nhưng số người như vậy rất hiếm và ngoại lệ.

Sự phù hợp quyền lợi giữa sĩ phu và vương quyền kể từ triều Lê đưa đến sự áp đặt trên Việt Nam một chế độ chuyên chế dựa trên nho giáo kéo dài khoảng sáu thế kỷ, tới cuối triều Nguyễn (dấu ngoặc Tây Sơn không mang lại thay đổi gì trong thể chế). Nhờ Lê Thái Tổ, sĩ phu Việt Nam đã đạt được tham vọng nắm giữ guồng máy chính quyền, thực hiện cái thiên hướng cai trị của kẻ sĩ do Mạnh Tử đề xướng. Nhưng sự mãn nguyện của họ đã được trả bằng một sự tha hóa chưa từng thấy trong lịch sử thế giới : trong khi cũng bị ảnh hưởng bởi văn hóa Tàu, Nhật Bản có quốc ngữ từ thế kỷ 12 và Cao Ly từ thế kỷ 15, khởi nguồn cho nước họ một nền văn hóa độc đáo (cũng như bên Âu Châu, vào cuối thời Trung cổ, các quốc gia ngưng sử dụng la-tinh để trở về với một ngôn ngữ bản xứ toàn dân hiểu được), tại Việt Nam, tới thế kỷ 19, các cụ đồ nho vẫn khăng khăng coi Hán ngữ là “quốc văn”, đáng quí trọng hơn chữ nôm chỉ là “quốc âm”. Nội dung cái học mà kẻ sĩ Việt Nam tự hào thông hiểu và vin vào đó để cai trị dân vỏn vẹn là cách viết văn Tàu, một triết thuyết sơ lược của Tàu và lịch sử Tàu tới đời Tống (năm 1823 Minh Mạng tính nới sử Tàu tới triều Minh Thanh nhưng rồi bỏ qua). Lê Thái Tổ cũng như Gia Long, khi tái lập thiết chế, cho toa rập gần y nguyên thể chế Minh Thanh, tin tưởng mình giáo hóa dân chúng khi ép dân chúng chấp nhận phong tục và văn hóa nước ngoài. Quân Tàu bị nhà Lê đánh đuổi, nhưng nhờ nhà Lê văn hóa Tàu đại thắng Việt Nam, trói sĩ phu Việt Nam bằng một chuỗi xiềng xích vô hình đến giờ chưa phá gỡ nổi.

Tự ru mình trong sự tự mãn (lời tự tán dương đầy rẫy trong văn chương Việt Nam, nhất là trong công văn) vua quan triều Nguyễn không để ý đến mối nguy từ phương Tây tới, mặc dầu từ thời Gia Long quần thần đã biết sự hiện hữu và thế lực của các quốc gia Tây phương. Trước khi quân Pháp chiếm đóng miền Nam, sĩ phu quá chịu ảnh hưởng của nho học, không biết (hay dám) tố cáo sự hủ lậu của nó. Ngay Cao Bá Quát, bất mãn với chế độ đến nỗi nổi loạn chống triều đình, cũng chỉ tỏ ý thức trong vài câu thơ như : “Từ vượt bể qua Ba Sơn đất mới, Bừng mắt trông ôi sáu cõi mênh mang ! Rõ trò chơi tự trước chuyện văn chương.” (trong bài “Ðề sau khúc Yên Ðài anh ngữ của ông đô sát họ Bùi”, Hoàng Tảo dịch, tr. Thơ văn Cao Bá Quát, Hà Nội, nxb Văn học, 1984, tr. 171). Phải đợi năm 1867 mới thấy một Nguyễn Trường Tộ mạnh dạn lên án cái học ngược đời “chân không đi đến, mắt không trông thấy” (trong “Tế cấp bát điều” - x. Trương Bá Cần, Nguyễn Trường Tộ con người và di thảo, Sài Gòn, nxb Thành phố HCM, 1988, tr. 249) của nho giáo, dạy học trò chuyện xưa của Trung quốc trong khi việc làm phải theo nước Việt ngày nay. Song, dù lớp sĩ có nhận thức được sự tệ hại của cái học từ chương vay mượn, quán tính của họ, do áp lực vun xới của nhà cầm quyền chuyên chế không dung thứ sự phản biện (nói chi đến sự đối lập) và của nho giáo khuyên họ trung cẩn, thúc họ thụ động trì hoãn mọi cải tổ để tránh phiền phức. Lòng sốt sắng của vài thức giả không lay chuyển nổi sức trơ ì đó.

Cuộc đô hộ Pháp, tuy nhục nhã cho đất nước, ít nhất có lợi ích làm lung lay niềm tin cứng nhắc của lớp sĩ, khiến họ đặt cái học và bản thân thành vấn đề. Sau sự tự xét đau đớn các sĩ phu đã đoạn tuyệt hẳn với nho học, quyết chạy theo tân học Tây phương, nhưng muốn cứu vớt nho giáo bằng cách quay về nguyên lý Khổng Mạnh, định nghĩa lại những từ như trung tiết khí khái xưa nay vẫn là căn bản của lòng tự kiêu của nho sĩ. Trung không còn là trung với vua chúa hay triều đại, mà là trung với nước, cho nên đặc tính của kẻ sĩ xứng với cái danh sĩ trở thành lòng yêu nước (“dựng cái tiếng nước độc lập, đấy là trách nhiệm của người đức sĩ vậy ... kêu linh hồn yêu nước về, đấy là trách nhiệm của người chí sĩ vậy”, theo Phan Bội Châu trong “Hòa lệ cống ngôn“ - x. Thơ văn Phan Bội Châu, Hà Nội, nxb Văn học, 1985, tr. 80). Vì bị đánh giá bằng lòng yêu nước, dù chọn thái độ đối kháng hay cộng tác với Pháp, sĩ nhân (cũng được chỉ bằng danh từ “trí thức” mới đặt, thích hợp hơn vì không gắn bó với nho học) nào cũng lấy nó để giải thích thái độ của mình. Chẳng bao lâu, chút bột phát lương tâm do cái nhục mất nước gợi lên nhường chỗ cho một sự mù quáng mới bắt nguồn từ một lòng yêu nước tự tôn tự mãn, coi đường lối yêu nước của mình là chính đáng nhất và phủ nhận lòng yêu nước của kẻ khác, với kết quả là một cuộc nội chiến hại nước hại dân vô tiền khoáng hậu.

Trí thức Việt Nam sở dĩ dễ lăn vào vết cũ cũng tại không triệt để tự đặt
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Một phụ nữ sắp bị hành hình kiểu trung cổ
Luật sư của một phụ nữ Iran - bị kết án tử hình bằng cách ném đá vì tội ngoại tình - hôm qua cho biết người mẹ của hai con này có thể bị giết bất cứ lúc nào.

Ngoài án tử hình, luật sư cho hay cô Sakineh Mohammadi Ashtiani, 43 tuổi, còn bị đánh 99 roi trong tuần vừa rồi vì một tờ báo Anh đã đăng ảnh của một phụ nữ không che mạng mà họ cho là cô. Theo luật Hồi giáo, phụ nữ phải che tóc khi xuất hiện trước công chúng. Tờ báo trên sau đó đã xin lỗi vì sai sót.

Do tháng lễ Ramadan vừa kết thúc tuần trước, án tử hình sẽ được thực thi "bất kỳ lúc nào", luật sư Javid Houtan Kian cho AP hay.
Image
Một phụ nữ Italy đi qua tấm poster ủng hộ Ashtiani ở Rome, Italy. Trên poster viết: "Vì tính mạng của Ashtiani". Ảnh: AFP.


Bản án được hoãn thi hành hồi tháng bảy, sau một làn sóng phản đối từ cộng đồng quốc tế. Hiện nay án đang được tòa tối cao Iran xem xét lại.

Năm 2006, cô Ashtiani bị kết tội có quan hệ bất chính với hai người đàn ông sau khi chồng cô chết một năm trước đó. Cô bị kết án 99 roi. Năm ngoái, Ashtiani bị kết tội ngoại tình kèm án tử hình bằng cách ném đá. Người phụ nữ này đã phản cung đối với một bản khai mà cô cho biết là do bị ép.

Sau khi việc thi hành án ném đá được tạm dừng, Iran tuyên bố Ashtiani có tham gia trong vụ giết chồng cô năm 2005. Luật sư của cô khiếu nại. Tháng 8 vừa rồi, truyền hình Iran phát hình ảnh một phụ nữ tự xưng là Ashtiani, thừa nhận có vai trò trong vụ giết chồng.

Mới đây nhất, sau khi tờ Times of London đăng bức ảnh một phụ nữ được cho là Ashtiani, cô bị đòn roi trong tù, một người mới ra tù kể cho luật sư như vậy.

Một loạt quốc gia đã lên tiếng yêu cầu Iran có sự linh hoạt trong trường hợp này, trong đó có Pháp và Italy. Ngoại trưởng Pháp Bernard Kouchner phát biểu cho rằng bản án này là tàn bạo, và rằng ông "sẵn sàng làm bất cứ điều gì để cứu mạng bà ấy. Nếu tôi phải đi Tehran để cứu bà ta, tôi sẽ đi Tehran".

Con trai 22 tuổi và con gái 18 tuổi của Ashtiani hiện vẫn ở Iran. "Chúng tôi rất nhớ mẹ", người con trai nói. "Chúng tôi mong tất cả cac cơ quan hữu trách giúp cứu mạng mẹ tôi".

Hôm chủ nhật vừa rồi, Vatican cũng đã nêu khả năng sử dụng các biện pháp ngoại giao hậu trường để cứu tính mạng Ashtiani.

Mai Trang
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Ông bạn đồng minh cồng kềnh

Bùi Tín

Hai nhà lãnh đạo Trung Quốc và Bắc Triều tiên gặp nhau 3, 4 hôm nay tại một thành phố ở phía Ðông Bắc Trung Quốc, nhưng nội dung ra sao, Bắc Kinh và Bình Nhưỡng đều kín tiếng. Chỉ có những lời đồn đoán của báo chí Nhật Bản, Nam Triều Tiên và phương Tây.

Có gì mà phải giấu kín vậy?

Bên ngoài chỉ biết rằng ông Kim Jong-il ốm khá nặng từ 3 năm nay, gần đây phải mời thầy thuốc từ Pháp sang để chữa bệnh về tim; ông đi trên đoàn xe lửa đặc biệt - như bố ông là ông Kim Il-sung khi sinh thời, vì 2 cha con đều bị chóng mặt khi đi máy bay; và lần này ông Kim Jong-il dắt theo cậu con trai thứ 3, là con út, tên là Kim Jong-un, 27 tuổi, là người ông đã chọn làm thế tử, để giới thiệu với ông Hồ Cẩm Ðào, người vừa là tổng bí thư đảng Cộng Sản Trung Quốc, vừa là chủ tịch nước CHND Trung Hoa. Ở Bắc Triều Tiên, báo chí, đài phát thanh, đảng viên và nhân dân từ 2 tháng nay đã gọi “đồng chí Kim Jong-un” là “Ðồng chí xuất sắc”, sau khi ông nội của cậu ta đã mang danh hiệu “Lãnh tụ vĩ đại” và bố cậu mang danh hiệu “Lãnh tụ kính yêu”. Theo ý ông Kim Jong-il, khi ông qua đời, người thay ông sẽ là cậu Kim Jong-un, vừa là người đứng đầu đảng Lao Ðộng, vừa đứng đầu Nhà nước, lại vừa là Tổng tư lệnh tối cao một quân đội được khoe là đã có vũ khí hạt nhân, và đã hơn một lần đe dọa thiên hạ về bom hạt nhân của mình.

Có nhiều phỏng đoán rằng đây chính là nỗi phân vân, do dự, không mặn mà của phía Trung Quốc. Việc chọn người kế thừa kiểu phong kiến, hoàng đế thời xưa, sao mà lạc lõng, khi thế giới đã bước vào thế kỷ XXI. Ông Hồ Cẩm Ðào e ngại là rất có lý, vì ông Hồ Cẩm Ðào cùng tuổi với ông Kim Jong-il - 68 tuổi. Khi cậu Kim Jong-un lên ngôi, chẳng lẽ ông sẽ bằng vai ngang vế với một cậu bé 27 tuổi, còn non nớt, chưa hiểu biết gì chuyện triều chính, trong tay lại cầm bom hạt nhân, thống lĩnh ba quân luôn hò hét hiểu chiến, sẵn sàng nghe lời lãnh tụ tối cao để lao vào lửa.

Chuyện lựa chọn thế tử của họ nhà Kim cũng có lắm lời đàm tiếu. Cậu cả Kim Jong-nam đã được bố chọn, nhưng vấp sai lầm là năm 2001 đã vô kỷ luật, dùng hộ chiếu giả lẻn du hành sang Tokyo để tham quan khu giải trí Disneyland của Hoa Kỳ tại đó, nhưng bị lộ. Cậu thứ hai Kim Jong-chul đã được tính đến, nhưng bị 2 vị xem tướng và tử vi ở thủ đô Bình Nhưỡng cho là mệnh yểu, tính tình ẻo lả như con gái, giọng cũng the thé kiểu á nam á nữ, không ổn. Cậu con út được cử đi học ở Berne, Thụy Sĩ, học hành chỉ đạt trung bình, trình độ chỉ hết bậc trung học phổ thông, chỉ được cái mặt mũi giống bố, biết trượt tuyết, cưỡi ngựa, chơi bóng rổ, vừa lòng ông bố nhất. Nhưng nhược điểm của cậu út là phì nộn, ăn uống quá độ, 27 tuổi đã gần 80 kilô, chỉ số thông minh thấp, lại sớm bị 2 bệnh là tháo đường và cao huyết áp.

Ông Hồ Cẩm Ðào còn nhiều mối lo khác về người bạn đồng minh phía Ðông Bắc này. Ðó là 2 lần thử nghiệm hạt nhân - vào tháng 4 và tháng 5 - 2009 - mà không bàn bạc trước với người láng giềng khổng lồ. Ngay cả việc bắn chìm tàu Choenan của Nam Triều Tiên gần đây.

Bắc Kinh cũng để mọi người hiểu rằng họ không được bàn trước, lại phải bênh người anh em đồng minh Cộng Sản (cũ) khi sự đã rồi. Bắc Kinh cũng không hài lòng khi Kim Jong-il tâm thần bất định, lên cơn cao ngạo, dùng lời lẽ ngang ngược đe dọa Nam Triều Tiên, “sẽ biến các ngươi không phải thành biển lửa, mà là thành tro, thành bụi hết!” Bắc Kinh lo vì cảm thấy Kim có máu điên, bướng, không thăng bằng, rất khó kiểm soát. Nghĩa là một đồng minh rất cồng kềnh, dễ gây chuyện bất ngờ trong quan hệ quốc tế.

Gần đây, Trung Quốc càng thêm lo ngại về Bắc Triều Tiên vì bao nhiêu tai ương trên đất này Bắc Kinh đều phải gánh chịu phần lớn. Mất mùa liên miên, lụt lớn 2 bên bờ sông Áp Lục, dân di cư từng đoàn hàng ngàn người tràn sang... toàn là những gánh nặng liên miên, gây bất ổn cho cả vùng Ðông Bắc.

Mới đây, chính quyền Barak Obama tỏ ra kiên quyết, rõ ràng, trừng phạt Bình Nhưỡng do đã vi phạm thỏa ước ngừng chương trình vũ khí nguyên tử và khiêu khích quân sự Nam Triều Tiên là đồng minh của Hoa Kỳ. Dù cho Bình Nhưỡng hứa sẽ ngồi vào đàm phán 6 bên, Hoa Kỳ vẫn trừng phạt, và trừng phạt nặng. Washington vừa ghi vào danh sách đen những nhân vật khả nghi có những việc làm phi pháp trên đất Hoa Kỳ, trong đó có 4 nhân vật thân cận với Kim Jong-il, kể cả Kim Yong-chol là thủ lãnh cơ quan tình báo Bắc Triều Tiên, cánh tay phải của Kim Jong-il.

Ðã vậy, đầu tháng 9 này, Washington yêu cầu các ngân hàng Hoa Kỳ ngưng ngay các chuyển khoản tài chính với 8 cơ quan tài chính Nam Triều Tiên để mở những cuộc điều tra do bị nghi ngờ phạm pháp. Việc này sẽ ảnh hưởng rõ đến tài chính Trung Quốc vì các cơ quan tài chính Bắc Triều Tiên vốn có quan hệ gắn bó với Trung Quốc.

Ngay khi Bắc Triều Tiên tiến hành thử nghiệm hạt nhân lần thứ hai vào tháng 6-2009, Hoa Kỳ đã lập tức phong tỏa nhiều ngân hàng có quan hệ với Bình Nhưỡng. Washington cũng vạch mặt cái cơ quan mang bí danh “Văn phòng 39” làm kinh tài quốc tế, chuyên cung cấp những hàng xa xỉ cao cấp mà Kim Jong-il rất ham muốn, bao gồm những đồ trang sức, mỹ phẩm hảo hạng, rượu, thuốc lá, xì gà, đồ hộp hiếm; Kim Jong-il quen dùng kho hàng quý hiếm này để hưởng riêng, còn phân phát cho nhóm cận thần để mua lòng trung thành của họ. Sau đó, việc cung cấp cho Bình Nhưỡng 2 chiếc du thuyền nhỏ rất lộng lẫy, trị giá 15 triệu đôla Mỹ, cũng bị ngăn lại, nhiều chuyến xuất khẩu vũ khí do Bình Nhưỡng thực hiện bị chận bắt và tịch thu. Khi tàu chiến Cheonan của Nam Triều Tiên bị bắn chìm ở Hoàng Hải tháng 3 vừa qua, Hoa Kỳ đã cùng Nam Triều Tiên và Nhật Bản phản ứng mạnh mẽ, bằng những cuộc thao diễn, tập trận chung lớn nhất chưa từng có bằng thực binh, để khẳng định thái độ có trách nhiệm của Hoa Kỳ cùng đồng minh ở vùng Ðông Bắc Á.

Hãy nghe nhà Ngoại Giao Robert J. Einhorn theo chỉ thị của bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton tuyên bố: “Chúng ta cần làm cho Bắc Triều Tiên hiểu rằng những hành động khiêu khích của họ không thể tránh khỏi bị trừng phạt”.

Ðáng chú ý là Hoa Kỳ đã tỏ ra cứng rắn ngay cả khi Bắc Kinh đứng ra cùng Bình Nhưỡng hứa hẹn sẽ ngồi vào đàm phán 6 bên, với nội dung chính là Bình Nhưỡng phải ngừng ngay mọi cuộc thử hạt nhân.

Thông điệp của Hoa Kỳ rất rõ ràng. Mỹ trở lại Châu Á. Với trách nhiệm đàng hoàng, với lẽ phải và trên thế mạnh. Mỹ trở lại rõ ràng, ở cả Ðông Nam Á và Ðông Bắc Á.

Mỹ có nhiều đồng minh vững chắc ở cả Ðông Bắc Á và Ðông Nam Á. Hiện tại và lâu dài.

Còn Trung Quốc, tham vọng bành trướng của họ tuy lớn, dai dẳng, nhưng lực bất tòng tâm. Hiện nay và còn rất lâu nữa. Họ cần biết rõ điều ấy.

Ở Ðông Bắc Á họ đang có một bạn đồng minh truyền thống ốm yếu, hung hăng không phải lúc, đang là gánh nặng, và khá là cồng kềnh, vướng cẳng, rất khó xử cho chính họ.

Ðể xem cuộc gặp Hồ-Kim sẽ thai ngén ra được một bản tuyên bố ấp úng ra sao đây
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Tranh chấp Mỹ – Trung, một cảnh giác
cho lòng yêu nước


Trần Trung Đạo
Tại Diễn đàn Khu vực về Hợp tác an ninh ở châu Á tổ chức tại Hà Nội hôm 23 tháng Bảy, 2010, Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tuyên bố: “Hoa Kỳ, giống như các quốc gia khác, có quyền lợi quốc gia về tự do hàng hải, mở cửa những thủy lộ chung tại châu Á, và tôn trọng luật pháp quốc tế trên Biển Đông. Hoa Kỳ chia sẻ quyền lợi này chẳng những với các quốc gia thành viên ASEAN hoặc các quốc gia tham dự Diễn đàn Khu vực ASEAN; mà còn với các quốc gia có nhu cầu về hàng hải khác và cộng đồng quốc tế rộng lớn hơn”. Ngoài ra bà cũng tuyên bố Hoa Kỳ ủng hộ việc quốc tế hóa cuộc tranh chấp hải phận và giải quyết tranh chấp trên cơ sở công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển và “chống lại việc bất cứ một quốc gia tranh chấp nào xử dụng vũ lực”. Mặc dù Ngoại Trưởng Clinton xác định vai trò trung lập của Hoa Kỳ, những lời tuyên bố của bà rõ ràng nhằm bênh vực các nước nhỏ trong vùng, nhất là Viêt Nam. Ngoại Trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì giận dữ phản ứng: “Nhận xét của bà Clinton có vẻ như thực sự nhằm mục đích tấn công Trung Quốc bằng cách tạo ra một ảo ảnh rằng tình hình Biển Đông là đáng báo động”. Theo bình luận của báo New York Times, đây là “một chiến thắng đầy ý nghĩa đối với Việt Nam”.

Trong ba tuần qua, lần đầu tiên sau 35 năm, các phương tiện truyền thông của Đảng lẫn chống Đảng từ trong nước cũng như chống Cộng từ ngoài nước đã loan tải những lời tuyên bố cứng rắn của bà Ngoại Trưởng Mỹ Hillary Clinton kèm theo những lời bình luận vui mừng, tích cực giống nhau.

Điều đó cũng dễ hiểu. Khoan kể mối thù truyền kiếp giữa Trung Quốc và Việt Nam từ mấy ngàn năm trước, khi tổ tiên chúng ta phải sáng xuống biển tìm ngọc trai, chiều lên non tìm ngà voi, trầm hương, châu báu; khoan kể đến hàng triệu tấn súng đạn, xe tăng, đại pháo Trung Quốc đã cày xéo lên quê hương Việt Nam trong suốt cuộc chiến dài; khoan kể những tư tưởng độc hại Cộng sản Trung Quốc đã cấy vào tâm hồn bao thế hệ Việt Nam, chỉ nhắc đến Hoàng Sa Trường Sa, chỉ nhắc đến ngư dân Thanh Hóa thôi là máu hận đã xông lên trong mỗi con người Việt Nam. Trong lúc đang hoàn cảnh sức yếu thế cô, có một người mạnh như Mỹ từ xa đến bênh vực và nói lên lời phải trái, vui mừng là chuyện tự nhiên.

“Mỹ đang trở lại !”. Câu nói đó, suốt tháng qua, hẳn đã dội lại từ Nam ra Bắc và từ Bắc vào Nam trong tâm trạng hồi hộp đợi chờ của rất đông người Việt. Hình ảnh một hàng không mẫu hạm George Washington hùng mạnh đậu ngoài khơi Đà Nẵng như nhắc nhở câu chuyện của tháng Ba 1965 khi Chuẩn Tướng Frederick J. Karch và các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Viễn Chinh đổ bộ xuống thành phố này mở đầu cho cuộc chiến lâu dài nhất mà Mỹ đã tham gia. Khác chăng lần này Mỹ trở lại không phải để bảo vệ miền Nam nhưng bảo vệ Việt Nam. Ở hải ngoại, thậm chí có người còn đi xa hơn khi cho rằng người Mỹ sẽ giúp xây dựng một chế độ tự do dân chủ để họ sớm trở về sống những ngày cuối đời trong thanh bình, an lạc. Ở trong nước có vị còn nóng lòng cho rằng Việt Nam phải gấp rút chế bom nguyên tử. Tất cả không hẹn đã vô tình sắp hàng dưới ngọn cờ của Đảng. Như thế mới biết tình yêu nước, dù trong một thanh niên hay một chính trị gia giàu kinh nghiệm, có khi cũng vội vàng và đầy cảm tính như nhau.

Những lời tuyên bố của bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton thật ra phát xuất từ chính sách ngăn chận (containment) đã bắt nguồn từ sau Thế Chiến thứ Hai. Một số nhà bình luận gọi chính sách Mỹ đang áp dụng là ngăn chận mới (new containment) mang nội dung kinh tế quân sự để phân biệt với chính sách ngăn chận thời Chiến Tranh Lạnh mang nội dung chống Cộng sản. Để hiểu các hoạt động của Mỹ trong vùng Đông Nam Á, thiết tưởng nên đọc lại chính sách ngăn chận mà Mỹ đã và đang áp dụng.

Tháng 2 năm 1946, George F. Kennan còn là một nhân viên ngoại giao trung cấp làm việc cho tòa đại sứ Mỹ tại Liên Xô. Để đáp lại câu hỏi của Bộ Tài Chánh Mỹ gởi tòa đại sứ tại sao Liên Xô lại chống lại việc thành lập Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế, George F. Kennan gởi Bộ Ngoại giao Mỹ một bản phân tích qua hình thức một điện tín dài 5,500 chữ, trong đó ông trình bày một cách chi tiết quan điểm của Stalin về tương lai nhân loại, mục tiêu và chiến lược của Liên Xô sẽ được áp dụng trên phạm vi toàn thế giới, điểm mạnh và điểm yếu của chế độ Cộng sản, đồng thời đề nghị một số biện pháp cần thiết phải được áp dụng để ngăn chận làn sóng Cộng sản.

Bài phân tích của George Kennan không có tựa đề nên chỉ được biết ngày nay như là Bức Điện Tín Dài. Nếu bản phân tích được gởi đến Bộ Ngoại giao Mỹ một năm trước đó, có lẽ nó đã vào sọt rác hay đi thẳng vào phòng lưu trữ vì Mỹ và Liên Xô còn đang liên minh nhau tấn công Đức từ hai hướng Đông, Tây. Nhưng tháng 2 năm 1946, văn kiện đã làm Bộ Ngoại giao chú ý. Chính tổng thống Harry S. Truman cũng chỉ thị thành lập một nhóm nghiên cứu để phân tích bản tường trình của George Kennan và phát thảo một chính sách đối ngoại dựa trên các dữ kiện mà ông đưa ra. Bức điện tín của George Kennan được xem như một trong những văn kiện lịch sử bởi vì nó ảnh hưởng đến toàn bộ chính sách đối ngoại của Mỹ trong gần nửa thế kỷ, từ sau Thế chiến thứ Hai cho đến khi hệ thống Liên Xô sụp đổ năm 1991. Chính sách đối ngoại chỉ đạo của Mỹ đặt cơ cở trên những phân tích của George Kennan được gọi là ngăn chận (containment).

Hàng loạt các chủ thuyết như Domino, Nixon, Reagan; các kế hoạch kinh tế như Marshall Plan; các liên minh như Liên phòng Bắc Đại Tây Dương (The North Atlantic Treaty Organization) gọi tắt là NATO tại châu Âu, Liên Phòng Đông Nam Á (Southeast Asia Treaty Organization) gọi tắt là SEATO tại Đông Nam Á hay Hiệp ước Hỗ tương Liên Mỹ Châu (Inter‐American Treaty of Reciprocal Assistance) tại Mỹ Châu cũng đều phát xuất từ chính sách chỉ đạo ngăn chận đó. Suốt 9 đời tổng thống từ Harry Truman đến George Herbert Walker Bush, tùy thuộc vào điều kiện chính trị quốc tế trong mỗi giai đoạn, các chiến lược chiến thuật cũng được thay đổi thích nghi nhưng đều không đi xa mục tiêu chính là ngăn chận sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản. George Kennan được xem như là cha đẻ của lý thuyết ngăn chận.

Chính sách ngăn chặn đã diễn ra dưới nhiều hình thức. Bên cạnh cuộc chạy đua vũ trang, Star Wars, viện trợ và phản viện trợ, đảo chánh và phản đảo chánh, cách mạng và phản cách mạng, các cuộc giành dân chiếm đất bằng súng đạn cũng đã diễn ra tại một số quốc gia độn với nhiều mức độ khác nhau.

Các lý thuyết về quốc gia độn có nguồn gốc rất xa xưa nhằm chỉ các vùng đất hay quốc gia nhược tiểu nằm giữa hai cường quốc đối nghịch. Từ thời La Mã, các hoàng đế của đế quốc mênh mông đó đã nghĩ đến việc thiết lập các vùng đất rộng được gọi là vùng giới hạn nằm ngoài biên giới. Về sau, các học giả giải thích khái niệm vùng độn một cách rộng rãi chứ không chỉ thuần nguyên nhân địa lý. Vùng độn có khi chỉ là một dải đất rộng vài chục cây số vuông để bảo đảm cho an ninh nội địa như trường hợp các làng xã nằm phía Nam Lebanon và khu vực Golan Height đối với nền an ninh Do Thái, có khi là một quốc gia như trường hợp Ba Lan sau Thế chiến thứ Nhất nằm giữa Nga và Đức, có khi bao gồm nhiều quốc gia như hàng loạt các nước Đông Âu nằm giữa Liên Xô và khối dân chủ Tây phương, cũng có khi bao gồm chỉ một quốc gia và một khối như trường hợp Thổ Nhĩ Kỳ, Phần Lan.

Sau chiến tranh Việt Nam, chính sách Ngăn Chặn của Mỹ dưới thời Tổng thống Jimmy Carter và nhất là Ronald Reagan đã chuyển từ thế thủ sang thế công ở Afghanistan như Brzezinski kể lại “Nay chúng ta cơ hội để tặng cho Nga một Việt Nam riêng của họ”, bằng việc yểm trợ vũ khí cho phe Contras ở Nicaragua, giúp đỡ cho Liên minh Dân tộc Vì Độc lập Hoàn toàn của Angola (The National Union for the Total Independence of Angola, UNITA) ở Angola, đồng thời đẩy mạnh với kế hoạch chạy đua vũ trang vô cùng tốn kém nhằm làm phá sản nền kinh tế Liên Xô. Cuối cùng hệ thống Liên Xô kiệt quệ và tan rã.

Hiện nay, chủ nghĩa Cộng sản chỉ còn thoi thóp ở vài nơi, Chiến tranh Lạnh đã chấm dứt nhưng chính sách ngăn chận đối với Nga và Trung Quốc, hai đối thủ nguyên tử đang cạnh tranh kinh tế và quân sự với Mỹ vẫn được tiến hành.

Đối với Nga, bất chấp lời hứa vào những năm đầu 1990 rằng NATO sẽ không mở rộng ra khỏi biên giới Đức, Mỹ đã mời hàng loạt quốc gia, không chỉ các nước thuộc khối Cộng sản Đông Âu trước đây mà còn những quốc gia nhỏ nhưng có biên giới sát với Nga như Latvia, Lithuania, Estonia tham gia vào NATO. Ngoài ra, Mỹ còn dự tính thiết lập hàng rào hỏa tiễn tại Ba Lan để gọi là “phòng thủ” nhưng thực tế là “trung lập hóa” hàng rào hỏa tiễn Nga.

Lãnh tụ Nga Vladimir Putin xem kế koạch của Mỹ chẳng khác gì dựng lên một Cuba ở Đông Âu. Ở phía Nam, Mỹ bao vây Nga bằng cách ủng hộ Ukraine và Georgia. Ukraine giữ một vị trí cực kỳ quan trọng về cả chiến lược lẫn văn hóa. Các sử gia Nga theo truyền thống vẫn gọi thủ đô Kiev là “Mẹ của các thành phố Nga”. Mỹ cũng ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Kosovo và công khai phản đối Nga khi họ thẳng tay đàn áp phong trào đòi ly khai của dân Chechnya, một trong 83 Cộng hòa độc lập trong Liên bang Nga.

Dù sao, chuyến viếng thăm Nga của tổng thống Barack Obama vào đầu tháng 7, 2009 đã giúp làm dịu một số căng thẳng giữa hai nước. Nga đơn phương cho phép võ khí và quân đội Mỹ được sử dụng không phận Nga trên đường đến Afghanistan thay vì phải vượt qua đèo Khyber hiểm trở. Hai tháng sau đó, Obama đã làm Vladimir Putin ngạc nhiên khi tuyên bố hủy bỏ kế hoạch xây dựng phòng tuyến hỏa tiễn tại Ba Lan. Đáp lại, Nga cũng hủy bỏ ý định trả đũa các dự tính quân sự tại Ba Lan của cựu tổng thống George W. Bush.

Việc làm dịu quan hệ ngoại giao giữa Mỹ và Nga cũng dễ hiểu vì đối thủ chính trong thế kỷ 21 của Mỹ không phải Nga mà là Trung Quốc.

Nếu tính từ thời điểm 1978, khi chính sách đổi mới của Đặng Tiểu Bình ra đời đến nay, Trung Quốc là quốc gia phát triển nhanh nhất thế giới. Chỉ trong vòng chưa đầy 30 năm, lợi tức bình quân tính theo đầu người của Trung Quốc vào năm 2005 tăng gấp 9 lần. Mới đây, đệ nhị cá nguyệt của 2010, Trung Quốc chính thức qua mặt Nhật Bản để trở thành nước có nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Trung Quốc là nhà máy sản xuất hàng tiêu dùng cho cả thế giới. Dù thương hay ghét, dù ủng hộ hay bài trừ, một nửa đồ dùng trong trong nhà một gia đình Mỹ được chế tạo tại Trung Quốc. Từ chiếc DVD, TV, máy in, máy điện toán cá nhân, giày dép, áo quần và ngay cả lá cờ Mỹ, cũng “Made in China”.

Ngoài các lý do chủ quan phát xuất từ chính sách kinh tế của họ Đặng, một yếu tố khách quan thuận lợi cho việc phát triển nhanh chóng là việc nước này hội nhập vào thế giới đúng thời điểm nền kinh tế thế giới đang bắt đầu chuyển động theo hướng toàn cầu hóa. Chỉ trong vòng 25 năm, từ một quốc gia tự cô lập, Trung Quốc trở thành một cường quốc và đang tiếp tục xuất hiện như một siêu cường của thế kỷ 21. Chính sách của Trung Quốc ảnh hưởng cả thế giới, không phải chỉ trong lãnh vực kinh tế, tài chánh, ngân hàng mà cả chính trị và quân sự.

Nếu lịch sử là một chu kỳ lặp lại, tham vọng bành trướng của Trung Quốc không khác nhiều so với thời kỳ sau cuộc cách mạng kỹ nghệ và chủ nghĩa Thực dân Âu châu bắt đầu xâm thực các nước Á, Phi vào đầu thế kỷ 18. Chỉ trong vòng 6 năm, từ 2001 đến 2006, quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và các nước Phi Châu đã tăng từ 1 tỉ đô la đến 50 tỉ đô la. Hai chục năm trước đây, ít khi các lãnh đạo Trung Quốc đặt chân đến Phi châu, nhưng chỉ trong 5 năm qua, các lãnh đạo hàng đầu Trung Quốc đã viếng thăm Phi châu 5 lần để tăng cường các hợp tác kinh tế quân sự giữa Trung Quốc và lục địa đầy tài nguyên thiên nhiên này. Trung Quốc hiện diện cùng khắp Phi Châu, từ bệnh viện đến trường học, từ cầu cống đến phi trường và đang tiêu diệt tận gốc rễ mọi mầm mống phát triển kinh tế của các quốc gia mới vừa thoát khỏi ách thực dân và nội chiến. Giấc mơ độc lập của các nước châu Phi chỉ là một giấc mơ trong quá khứ.

Tuy nhiên, con bạch tuộc Trung Quốc rất hùng hổ, rất đe dọa đối với thế giới bên ngoài nhưng lại rất yếu đuối, mong manh trong nội bộ. Bà Susan L.Shirk, một học giả quan tâm đến Trung Quốc khi còn là một những sinh viên Mỹ thăm viếng Trung Quốc và được Thủ tướng Chu Ân Lai chào đón vào năm 1971, trong tác phẩm Trung Quốc, siêu cường dễ vỡ cho rằng đe dọa lớn nhất của Trung Quốc là từ bên trong.

Về chính trị. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc không phải lo ứng cử đề cử như các quốc gia dân chủ, nhưng lại cho sợ mất quyền hành hơn là các lãnh đạo Tây phương dân chủ. Bài học Liên Xô và các chế độc tài khác trong lịch sử đã cho giới lãnh đạo Cộng sản Trung Quốc biết không sớm thì muộn tòa lâu đài xây trên cát hiện nay cũng bị ngọn sóng dân chủ cuốn ra khơi. Các lãnh đạo Cộng sản Trung Quốc luôn bị ám ảnh với các những cuộc nổi dậy như Thiên An Môn có thể xảy ra bất cứ lúc nào và bất cứ tại đâu trên lãnh thổ mênh mông và đầy dị biệt sâu sắc về kinh tế, văn hóa, xã hội. Sự thay đổi các triều đại phong kiến Trung Quốc là những cuộc thanh toán nhau bằng máu. Ngày nay, những mâu thuẫn giữa mức độ xã hội hóa của nền kinh tế và cơ chế chính trị ngày càng trầm trọng đến nỗi nhiều học giả cho rằng vấn đề không phải chế độ độc tài Cộng sản tại Trung Quốc có sụp đổ hay không mà là sớm hay muộn.

Về kinh tế. Nền kinh tế Trung Quốc tăng liên tục trong mấy chục năm qua nhưng không có nghĩa là sẽ tăng mãi mãi. Nền kinh tế Trung Quốc tuy nằm trong tay một đảng có tổ chức rất cao, nhưng sự tăng trưởng kinh tế Trung Quốc phần lớn lệ thuộc vào kinh tế thế giới. Một định luật có tính lặp lại theo chu kỳ của nền kinh tế thị trường là tăng trưởng, suy thoái và điều chỉnh. Và khi có sự điều chỉnh, kinh tế thị trường sẽ dẫn đến hậu quả thất nghiệp trong kỹ nghệ và trong nông nghiệp, lạm phát gia tăng, giá cả đắt đỏ, tiền lương hạ thấp, tiền tiết kiệm ký thác trong ngân hàng sẽ bị hàng trăm triệu người đạp lên nhau để rút ra. Thời đại tin học có lợi nhưng cũng vô cùng tác hại khi các nguồn tin được tung ra quá nhanh chóng, nhưng lại không có phương tiện để kiểm chứng. Quân đội dù có đông đảo và tàn bạo bao nhiêu cũng không thể ngăn được làn sóng của một tỉ người từ Hải Nam đến Tân Cương đều có một phản ứng tiêu cực giống nhau. Các cuộc biểu tình ở Tân Cương mới đây cho thấy không nhất thiết phải có một tổ chức quy mô nhưng chỉ cần một tin ngắn được phát ra đúng lúc và đúng chỗ cũng có thể tạo nên một biến cố lớn. Bom nguyên tử, hỏa tiễn, chiến hạm, tàu ngầm đều trở thành vô dụng.

Về quân sự. Trung Quốc là một đất nước có lịch sử phân hóa và nội phản từ trong xương tủy. Là một nước lớn, nhưng Trung Quốc thường không đủ khả năng bảo vệ chính mình. Đừng nói chi thời cuối đời nhà Thanh bị 8 nước Mỹ và Âu Châu cấu xé, mà ngay thời nhà Tống vàng son nhất của Trung Quốc cuối cùng rơi vào tay Mông Cổ, một nước rất nhỏ trên thảo nguyên phía Bắc. Và một lần nữa vào thế kỷ 17, khi nhà Minh, một triều đại rất mạnh về quân sự nhưng cũng không tránh bị tiêu diệt trong bàn tay của dân tộc Mãn Thanh nhỏ bé. Lịch sử Trung Quốc cũng để lại rất nhiều bài học về các cuộc nổi loạn lớn làm lung lay tận gốc rễ nhiều đế chế trước đó tưởng chừng không thể nào sụp đổ. Cuộc nổi dậy Thái Bình Thiên Quốc là một ví dụ điển hình. Mặc dù loạn Hồng Tú Toàn bị dẹp nhưng đã mang theo sinh mạng của 20 triệu người trong 15 năm khói lửa. Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ không được may mắn như nhà Thanh vì họ sẽ không tồn tại được lâu như thế.

Về xã hội. Trước thời mở cửa kinh tế, đại đa số người dân Trung Quốc lớn lên từ nơi họ sinh ra nhưng từ khi kinh tế phát triển, lực lượng lao động của Trung Quốc đổ dồn vào các thành phố. Sự chênh lệch giữa giàu và nghèo, đô thị và nông thông ngày càng trầm trọng. Tại Trung Quốc, chỉ 10 phần trăm dân số chiếm hữu 45 phần trăm tài sản quốc gia. Sự phân cực trong xã hội do hậu quả của phát triển kinh tế không cân bằng sẽ dẫn đến tình trạng bất ổn xã hội. Giống như các nước dân chủ, khi gặp khó khăn, người dân sẽ đặt vấn đề với hàng ngũ lãnh đạo, nhưng khác với các nước dân chủ, cách giải quyết tại Trung Quốc cũng như tại hầu hết các nước độc tài thường diễn ra bằng sắc máu. Với sự phân cách về địa lý và dị biệt về chủng tộc tại Trung Quốc, sẽ không có một hình thức cách mạng nhung, cách mạng da cam, da vàng nào dành cho Trung Quốc. Cách giải quyết dùng xe tăng, đại pháo bắng thẳng vào những thanh niên tay trắng tại Thiên An Môn của Đặng Tiểu Bình đối với phần lớn nhân loại là dã man nhưng lại phù hợp với truyền thống dã man của Trung Quốc. Biến cố Thiên An Môn đã qua gần 20 năm nhưng vẫn là mối ám ảnh thường xuyên trong giấc ngủ của các lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc bởi vì đảng chỉ dập tắt ngọn lửa trên quảng trường Thiên An Môn nhưng không dập tắt được ngọn lửa chống đối trong lòng người. Ngọn lửa tự do dân chủ đó vẫn sáng và sẽ một ngày bùng cháy.

Về đối ngoại. Trung Quốc có nhiều đối thủ lợi hại, trong đó gồm Nhật Bản, Ấn Độ, và Mỹ. Quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và Mỹ trong 10 năm qua đã phát triển đến một mức độ vô cùng phức tạp. Mỹ là một trong những quốc gia nhập cảng nhiều nhất từ Trung Quốc, từ 100 tỉ đô la năm 2000 đến 296 tỉ đô-la vào năm 2009. Trung Quốc nhập cảng từ Mỹ cũng tăng từ 16 tỉ đô-la năm 2000 đến 70 tỉ đô-la năm 2009. Tuy nhiên, sự phụ thuộc vào nhau về mặt kinh tế không có nghĩa là các chính quyền Mỹ không xem Trung Quốc là đối thủ nguy hiểm trong tương lai gần và không có nghĩa là Mỹ ngồi yên để nhìn bàn tay tham vọng của Trung Quốc vươn xa toàn thế giới.

Ngày 29 tháng Giêng, 2010, chính quyền Obama chấp thuận thương vụ trị giá 6.4 tỉ đô-la gồm trực thăng Black Hawk và võ khí chống hỏa tiễn Patriots, tàu vét mìn cho Đài Loan, cùng với việc hợp tác để sản xuất tàu ngầm hoạt động trong vùng biển mà Trung Quốc cho là thuộc lãnh hải của họ. Trung Quốc luôn xem Đài Loan thuộc về Trung Quốc, do đó, như Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc He Yafei tức khắc phản đối cho rằng Mỹ đã can thiệp vào vấn đề nội bộ của Trung Quốc. Trung Quốc trả thù bằng cách hủy bỏ các thương vụ của Trung Quốc với các công ty Mỹ đang bán võ khí cho Đài Loan. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ đáp lại: “Đây là một bằng chứng rõ ràng, chính phủ Mỹ phải cung cấp cho Đài Loan các võ khí phòng thủ mà họ cần”. Ngoài ra, chính phủ Mỹ xác định tiếp tục xem xét nhu cầu phòng thủ không phận Đài Loan trước khi bán cả phi cơ chiến đấu F-16 tinh xảo cho Đài Loan.

Sau đó hai tuần lễ, ngày 18 tháng Hai 2010, Tổng Thống Barack Obama đã tiếp kiến Đức Đạt Lai Lạt Ma tại tòa Bạch Ốc. Lần nữa, Trung Quốc đã phản đối mạnh mẽ và cho rằng việc tiếp vị lãnh đạo tinh thần nhân dân Tây Tạng là vi phạm lời cam kết của Mỹ rằng Tây Tạng là một phần của Trung Quốc. Mỹ đáp lại, mặc dù Mỹ công nhận Tây Tạng là một phần của Trung Quốc nhưng Trung Quốc cũng phải tôn trọng sự khác biệt văn hóa giữa Tây Tạng và phần còn lại của Trung Quốc. Để làm nhẹ ảnh hưởng của buổi tiếp kiến, chính quyền Obama không cho phép báo chí vào chụp hình, nhưng sau buổi tiếp kiến, tòa Bạch Ốc đã công bố bức hình Đức Đạt Lai Lạt Ma và Tổng Thống Obama ngồi cạnh nhau. Phát ngôn viên tòa Bạch ốc ca ngợi Đức Đạt Lai Lạt Ma đã theo đuổi mục tiêu bằng phương pháp bất bạo động và cho báo chí biết tổng thống Obama đã ủng hộ một cách mạnh mẽ việc giữ gìn đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa, và tôn giáo độc đáo của dân tộc này.

Nhưng dù bán bao nhiêu võ khí cho Đài Loan hay tiếp kiến Đức Đạt Lai Lạt Ma, Đài Loan và Tây Tạng cũng chỉ là những yếu tố tĩnh chứ không phải yếu tố động. Cả hai đều không hội đủ điều kiện để tạo nên những biến cố có ảnh hưởng vùng hay thế giới. Những cuộc nổi dậy của nhân dân Tây Tạng đều mang tính địa phương, gây được thiện cảm nhưng không có tác dụng lớn với chính quyền Trung Quốc. Chuyện Trung Quốc thanh toán Đài Loan bằng võ lực cũng rất khó xảy ra vì Trung Quốc biết Hoa Kỳ không bao giờ để xảy ra và dù có xảy ra cũng chưa chắc đã thắng, còn chuyện Đài Loan giải phóng Trung Hoa lục địa thì đã chết theo Tưởng Giới Thạch từ 1975. Chỉ có hai quốc gia độn là Bắc Hàn và Việt Nam mới thật sự đóng vai trò quan trọng.

Không ai biết rõ, hiểu rõ Bắc Hàn và Việt Nam hơn đàn anh Trung Quốc và cũng không ai hiểu thế mạnh thế yếu của đàn anh Trung Quốc hơn Bắc Hàn và Việt Nam. Như lịch sử chứng minh, Trung Quốc sẽ phải làm tất cả những gì có thể làm, kể cả hy sinh mạng sống của nhân dân họ để duy trì ảnh hưởng với hai Đảng Cộng sản Việt Nam và Bắc Hàn.

Đối với Bắc Hàn, ngoài mấy chục ngàn chí nguyện quân Trung Quốc đã bỏ thây trong chiến tranh Nam Bắc Hàn, Trung Quốc hàng năm đã phải dành riêng một nguồn tài nguyên, của cải lớn để nuôi dưỡng Bắc Hàn. Mặc dù không có tài liệu chính thức nào cho biết tổng số viện trợ Trung Quốc dành cho Bắc Hàn là bao nhiêu nhưng cả thế giới đều biết nguồn viện trợ chính của Bắc Hàn không đến từ đâu khác hơn là Trung Quốc. Theo báo Korea Times, Trung Quốc cung cấp gần hết nguồn năng lượng cho Bắc Hàn và một nửa số thực phẩm người dân Bắc Hàn đang dùng mang nhãn hiệuTrung Quốc.

Một số nhà phân tích chính trị cho rằng hành vi và cách cư xử bất thường của lãnh tụ Bắc Hàn Kim Chính Nhật trong quan hệ ngoại giao quốc tế nhiều khi đặt giới lãnh đạo Trung Quốc vào vị thế khó xử. Nhận xét đó chỉ đúng một nửa. Với Trung Quốc, một Kim Chính Nhật bất bình thường vẫn tốt hơn là một Kim Chính Nhật bình thường, một Bắc Hàn tự cô lập vẫn tốt hơn là một Bắc Hàn mở rộng. Giả thiết, vì bất cứ lý do gì, Bắc Hàn trở mặt với Trung Quốc, quay sang bắt tay với Mỹ, hòa giải với Nam Hàn, mở cửa ngoại thương, hội nhập vào thế giới v.v… quả thật vô cùng bất lợi cho Trung Quốc. Nếu một ngày nào đó Kim Chính Nhật giống như nhà độc tài Libya Muammar al-Gaddafi, người mà trước đây từng bị cố Tổng Thống Reagan gọi là “Chó dại vùng Trung Đông”, bỗng dưng “buông đao đồ tể” lên tiếng kết án khủng bố, xin lỗi nạn nhân, Trung Quốc sẽ phải lo lắng nhiều hơn là mừng rỡ. Không có Kim Chính Nhật, chung quanh Trung Quốc sẽ còn lại toàn là kẻ thù. Ngoài mấy chục ngàn quân Mỹ và Hạm đội thứ Bảy hùng hậu đặt bản doanh ở Yokosuka, Trung Quốc bị bao vây bởi hai anh khổng lồ Nhật Bản và Ấn Độ. Kim Chính Nhật biết rõ thế yếu của Trung Quốc nên sử dụng vị trí sân sau và lá bài võ khí nguyên tử của mình một cách có lợi cho việc duy trì quyền lãnh đạo tuyệt đối trên bán đảo Triều Tiên. Không có tài trợ từ Trung Quốc, Bắc Hàn sẽ sụp đổ; nhưng không có Bắc Hàn, phòng tuyến an ninh dài 1400 km phía Đông Bắc sẽ bị phá vỡ. Trung Quốc ưa thích Kim Chính Nhật? Chắc chắn là không, nhưng cần thì quá sức cần.

Khác với Phi Châu, chính sách bành trướng của Trung Quốc tại Đông Nam Á không chỉ nhằm mục đích kinh tế mà quan trọng hơn là an ninh và quân sự. Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm phần lớn các đảo trong vùng Biển Đông mà nhiều nước đang tranh chấp chủ quyền. Tháng Hai 1992, quốc hội Trung Quốc ngang ngược thông qua một đạo luật tuyên bố rằng 80 phần trăm biển Đông là của họ. Năm 1994, Trung Quốc ngang nhiên thiết lập các căn cứ quân sự trên các đảo bất chấp sự phản đối của thế giới. Trong quá trình bành trướng của Trung Quốc, Việt Nam là nước bị thiệt hại nặng nhất về lãnh thổ, lãnh hải và nhân mạng.

Quan hệ giữa Trung Quốc và Cộng sản Việt Nam có một lịch sử lâu dài từ ngày Đảng Cộng sản hai nước được thành lập. Năm 1950, Trung Quốc là nước đầu tiên công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Cả hai nước đã thừa nhận sự đóng góp của cải và xương máu của Trung Quốc vào mục đích thiết lập chế độ Cộng sản tại Việt Nam.

Không giống như Kim Nhật Thành đầu độc cán bộ đảng và nhân dân Bắc Hàn bằng mớ lý luận Juche mơ hồ, không tưởng, các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam là những người Cộng sản đệ Tam chính thống, vốn thấm nhuần lý thuyết Mác Lê và tư tưởng Mao Trạch Đông. Các lãnh đạo đảng là những người tuyệt đối trung thành với lý tưởng Cộng sản và có một thời rất lâu tin một cách chân thành vào đàn anh Trung Quốc. Việc chọn đứng về phe Liên Xô và tiến chiếm Campuchia của Việt Nam đã dẫn đến cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 và hàng loạt các cuộc đụng lớn vào những năm sau đó như trận Cao Bằng 1980, Lạng Sơn và Hà Tuyên 1981,Vị Xuyên Hà Tuyên 1984, Lão Sơn Hà Giang 1984, Vị Xuyên lần nữa vào 1985 và 1986.

Sau khi hệ thống Liên Xô sụp đổ, chỗ dựa vững chắc của Đảng Cộng sản Việt Nam về tư tưởng lý luận, bang giao quốc tế, viện trợ kinh tế cũng sụp đổ theo. Đảng Cộng sản Việt Nam đứng bên bờ vực thẳm và không còn con đường nào khác là lần nữa tìm nơi nương tựa dưới tàng cây Trung Quốc.

Tháng 9 năm 1990, lãnh đạo cao cấp của hai đảng gặp ở Thành Đô để bàn về việc giải quyết xung đột Campuchia và tái lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Ngay vào thời điểm một siêu cường như Liên Xô và cả khối Đông Âu đã sụp đổ mà các lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn còn tin rằng Trung Quốc sẽ thay thế Liên Xô lãnh đạo phong trào Cộng sản thế giới và tiếp tục giương cao ngọn cờ Xã hội Chủ nghĩa. Cựu Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ đã viết lại trong hồi ký của ông: “Sở dĩ ta dễ dàng bị mắc lừa ở Thành Đô là vì chính ta đã tự lừa ta. Ta đã tự tạo ra ảo tưởng là Trung Quốc sẽ giương cao ngọn cờ CNXH, thay thế cho Liên Xô làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam và CNXH thế giới, chống lại hiểm hoạ ‘diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc do Mỹ đứng đầu. Tư tưởng đó đã dẫn đến sai lầm Thành Đô cũng như sai lầm ‘giải pháp Đỏ’, tức giải pháp nhằm loại bỏ các thành phần không Cộng sản ra khỏi chính quyền liên hiệp tại Campuchia.

Dù sao, sau lần gặp gỡ đó, quan hệ Việt Trung đã cải thiện. Hàng loạt các thỏa hiệp đã được ký kết. Năm 1999, Giang Trạch Dân đề ra một khẩu hiệu để biểu hiện cho mối quan hệ mới giữa hai nước và được gọi là 16 chữ vàng: “Láng giềng hữu nghị. Hợp tác toàn diện. Ổn định lâu dài. Hướng tới tương lai”. Một vài quan điểm cho rằng mười sáu chữ vàng là chiếc vòng kim cô Đảng phải đội trên đầu, nhưng cũng có nguồn tin khác cho rằng Đảng còn muốn lệ thuộc hơn thế nữa bằng việc thay chữ hợp tác “toàn diện” thành hợp tác“chiến lược” nhưng Trung Quốc không đồng ý.

Trung Quốc hiểu vị trí khó khăn của Đảng Cộng sản Việt Nam, do đó, trong lúc Việt Nam tìm cách để được phụ thuộc vào Trung Quốc như một đàn anh Xã hội Chủ nghĩa, Trung Quốc tỏ ra thiếu tin tưởng vào người đàn em có một quá khứ đầy phản trắc này. Ngoài miệng tuy không ngừng lặp lại mười sáu chữ vàng, trong thâm tâm, Trung Quốc không từ bỏ tham vọng nước lớn bằng việc ra lịnh hải quân Trung Quốc bắn thủng các tàu thuyền đánh cá của Việt Nam một cách không thương tiếc. Hành động coi thường sinh mạng người Việt là một cách thể hiện thái độ khinh bỉ giới lãnh đạo Cộng sản Việt Nam.

Ngày 23 tháng Bảy vừa qua, cái nút chặn Việt Nam mà Trung Quốc tin rằng không thể nào thoát được bỗng dưng lỏng lẻo. Chiếc vòng kim cô Trung Quốc gắn lên đầu Đảng Cộng sản Việt Nam có nguy cơ rơi xuống. Chuyến viếng thăm Việt Nam của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton và một loạt những biến cố chung quanh bao gồm việc hợp tác hạch nhân mà không bao gồm các điều khoản cấm tinh chế Uranium và chuyến viếng thăm vùng biển Đà Nẵng của Hàng không Mẫu hạm USS George Washington đã làm thay đổi cán cân quyền lực trong vùng. Và lần nữa, Việt Nam lại đóng vai trò của một vị trí chiến lược trong chính sách ngăn chận của Mỹ đối với Trung Quốc tại Đông Nam Á.

Đất Việt Nam, máu Việt Nam, xương thịt Việt Nam trong số phận của một sân sau an toàn của Trung Quốc và một tiền đồn của phe chống Trung Quốc bành trướng, do nhu cầu của chính sách ngăn chận mới, có thể sắp bắt đầu lên giá.

Nhìn vào bản đồ Á châu, chúng ta không khỏi nghĩ đến chiến tranh Trung Mỹ rồi sẽ phải xảy ra. Dù các nhà bình luận có cho rằng quyền lợi của các siêu cường ngày nay đã phụ thuộc, quyện lẫn vào nhau đến mức độ không thể có một bên thắng, một bên bại nếu chiến tranh bùng nổ. Nhưng quan niệm đó không phải là mới. Trước đây đã có nhiều người nói như thế. Sau Thế chiến thứ Nhất, Hội Quốc Liên được thành lập với chức năng duy nhất là bảo đảm nhân loại sẽ không bị tàn sát khủng khiếp như thế nữa. Bao nhiêu tài năng và nỗ lực đã được dành vào mục đích đó, nhưng chưa đầy 20 năm sau, nhân loại lại phải lao vào cuộc chém giết với hậu quả trầm trọng gấp nhiều lần hơn trước.

Cuộc xung đột Mỹ, Trung, Nga trong Chiến tranh Lạnh để lại nhiều bài học quý giá về số phận của những sân sau, tiền đồn và vùng độn. Có những tiền đồn chìm đắm trong chiến tranh hận thù nghèo đói như Cu Ba, Việt Nam, Bắc Hàn, Afghanistan nhưng cũng có những tiền đồn nhờ xung đột đã trở nên giàu có như Nam Hàn, Tây Đức, Đài Loan. Có những vùng độn phải trở thành chư hầu lệ thuộc như các nước Đông Âu thời Liên Xô nhưng cũng có những vùng độn nhờ tài năng của những người lãnh đạo mà duy trì được độc lập như Phần Lan, Thụy Điển, Thổ Nhĩ Kỳ. Và đặc điểm chung rõ nét của những quốc gia vượt qua được số phận sân sau, tiền đồn và vùng độn để trở nên thăng tiến giàu mạnh chính là dân chủ. Dân chủ là đôi cánh thời đại đã giúp Nam Hàn, Đài Loan, Tây Đức, Phần Lan, Thổ Nhĩ Kỳ vượt qua những vị trí địa lý chính trị khó khăn và trở thành quốc gia giàu mạnh, được kính trọng, có tiếng nói độc lập trong bang giao quốc tế.

Không ai có thể tiên đoán một ngàn năm nữa Việt Nam sẽ ra sao. Nhưng dù ra sao thì đó cũng là trách nhiệm của các thế hệ sau này. Trách nhiệm của các thế hệ hôm nay là giữ nguyên vẹn được mảnh đất mà tổ tiên để lại và xây dựng trên đó một căn nhà thương yêu, đoàn kết, tự do, dân chủ và giàu mạnh. Dân chủ sẽ là vũ khí hữu hiệu nhất để ngăn chận những đe dọa từ Trung Quốc và dân chủ cũng là phương tiện giúp Việt Nam thăng tiến cùng thế giới.

Những lời tuyên bố của bà Ngoại trưởng Hillary Clinton chưa hẳn giúp gì cho số phận của các anh Nguyễn Văn Đài, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Xuân Nghĩa, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Anh Kim v.v… đang ở trong tù như một số người đang nghĩ, trái lại các nỗ lực của họ có thể bị quên đi hay bị cuộc tranh chấp Mỹ – Trung che mờ đi. Với Mỹ, chủ nghĩa Cộng sản thế giới đã chết. Những chế độ độc tài còn rơi rớt ở Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Cuba, Bắc Hàn phát xuất từ điều kiện riêng của các quốc gia này chứ không phải nhờ vào các tinh hoa tinh huyết gì của chủ nghĩa Cộng sản. Ngày nay, Mỹ đối xử với các chính quyền Trung Quốc hay Việt Nam như là những chính quyền hợp pháp mặc dù Mỹ biết không ai bầu các chính quyền này ra.

Cuộc vận động dân chủ tại Việt Nam, vì thế, còn nhiều khó khăn và sẽ đòi hỏi nhiều thời gian, công sức, hy sinh. Tuy nhiên như bác sĩ Lê Nguyên Sang vừa phát biểu sau khi vừa ra khỏi tù “Con đường dân chủ Việt Nam là con đường không thể đảo ngược được”. Đúng vậy. Dân chủ, tự do, bình đẳng là quyền bẩm sinh của mỗi con người. Không một ông Harry Truman nào đến Nam Hàn để trao món quà dân chủ trước đây và cũng không có bà Hillary Clinton nào đến Việt Nam để ban phát tự do hôm nay. Sáu chục năm trước, từ đống tro tàn của cuộc chiến, nếu có người tiên đoán rằng năm 2010, Nam Hàn sẽ là một cường quốc kinh tế thứ tư của Á Châu và thứ mười hai của thế giới, người đó có thể bị cho là mỉa mai dân tộc Triều Tiên hay là điên khùng. Tương tự hôm nay, có thể cũng có người cười mai mỉa khi nghe rằng dân tộc Việt Nam rồi cũng sẽ đạt đến điểm hẹn huy hoàng tự do, dân chủ, giàu mạnh như bất cứ dân tộc nào khác trên thế giới đã từng đạt được. Đó không phải là một khẩu hiệu, một ước mơ, nhưng là sự thật, là chân lý: Đảng Cộng sản Việt Nam muốn có mặt trong cuộc vận hành lịch sử của dân tộc Việt Nam trước hết họ phải tự tan biến đi.

© 2010 Trần Trung Đạo
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Người Già Có Nên Về Sống Tại VN Không ?
(bài do bạn BaTran giới thiệu)

Đây là câu hỏi mà linh mục Hồ Sĩ Mậu đặt ra cho cử tọa trong Thánh lễ ngày 26/6/2007.
Và có nhiều người trả lời, nhưng tựu trung không ai muốn về sống luôn ở Việt Nam . Tại sao?

1. Tại sao lại muốn về Việt Nam ? : Đã là người Việt Nam thì ai chẳng muốn về sống trên quê cha đất tổ, để được gần mộ phần của tổ tiên, ông bà, cha mẹ? Nhất là được nói tiếng Việt mà không phải dùng một ngôn ngữ khác, đó là tiếng Anh mà có nhiều người già không hiểu và không biết nói.
Sống ở Việt Nam mà nếu có tiền thì có thể thuê người hầu hạ, nấu ăn, dọn dẹp và săn sóc cho mình. Đời sống ở Việt Nam thì tương đối đơn giản, thoải mái. Chi phí sống ở Việt Nam cũng thấp hơn sống ở Mỹ. Các món ăn hợp với khẩu vị, lại tươi tốt, giá cả rẻ hơn ở Mỹ. Nói tóm lại, nếu được về sống ở Việt Nam để gần gũi thân nhân, gia đình và quê hương thì còn gì bằng? Thế mà vấn đề không đơn giản như vậy.

2. Một số người muốn về Việt Nam vì những lý do sau:
Có một số ít người về Việt Nam để xây biệt thự để về hưởng thụ. Ở Mỹ, ai cũng phải làm việc quần quật như trâu bò cả ngày, không ai biết mình là ai. Nay về Việt Nam được người ta trọng vọng, nể vì bởi cái “mác” Việt kiều thì thích chí. Họ về Việt Nam để tự ái được thỏa mãn, cái tôi được vỗ về.
Một số khác để kiếm bồ bịch và hưởng lạc thú xác thịt. Đó là những sự thật trơ trẽn mà ai ai cũng biết.
Cũng có những kẻ chuyên lường gạt tiền bạc của người khác rồi đem tiền về Việt Nam đầu tư đất đai, nhà cửa và sống hưởng thụ và truỵ lạc trên mồ hôi, nước mắt và đồng tiền khó nhọc của kẻ khác. Khi chết, họ sẽ đối diện với những tội ác của họ. Gia đình tôi và một số bạn bè tôi là một trong những nạn nhân của hạng người này.

3. Những trường hợp thực tế có thật:
-Một vị linh mục trên 90 tuổi đã suy xét rất kỹ về việc nên về Việt Nam sống và chết hay nên ở lại Mỹ. Kết cuộc, ngài chọn xin vào sống dưỡng lão trong Dòng Đồng Công ở Mỹ mà không về sống ở Việt Nam.
-Nhiều bà cụ già sống độc thân, muốn về Việt Nam ở trong các tu viện và trả tiền chi phí ăn ở cho các nữ tu, để sớm hôm được dự Thánh lễ. Lúc sống hy vọng có các nữ tu đùm bọc, lúc hấp hối hy vọng có người lo cho phần rỗi linh hồn, nhưng rốt cuộc, các bà không thể về sống ở Việt Nam được, vì một số nữ tu không nhận nuôi các bà, dù cho các bà có trả tiền đi nữa.
-Khi gia đình tôi về thăm Việt Nam, mẹ chúng tôi có ý định về dưỡng già ở Việt Nam nên chúng tôi đi tìm một dòng tu nữ để xin trả tiền cho mẹ tôi được về Việt Nam sống trong tu viện, nhưng bà bề trên nói rằng họ không thể cho bà ở trong tu viện của họ vì Dòng họ không có dòng Ba (dành cho giáo dân), và vì họ sợ sống chung đụng mất lòng.
-Còn một dòng tu khác thì cho giá cả là 100USD tiền thuê phòng, chưa kể tiền cơm nước và công thuê người giúp việc để săn sóc cho bà. Căn phòng quá nhỏ và thiếu tiện nghi tối thiểu. Đi thăm Việt Nam lần ấy về, mẹ tôi bỏ ngay ý định: ”Ta về ta tắm ao ta” ngay. Thực tế nói nhiều hơn là trí tưởng tượng!
-Một lần khác, chúng tôi lại đưa mẹ tôi ra Huế. Bà lại có ý định ở lại trong một dòng tu nữ ở Huế. Lần ấy, các nữ tu cho gia đình chúng tôi ở trong những phòng chật chội và nóng bức, thiếu những tiện nghi vệ sinh tối thiểu. Một phòng có đến 4, 5 chiếc giường lát gỗ. Nắng rọi vào phòng nóng như thiêu như đốt, mà phòng không có lấy một cái quạt máy. Mẹ tôi nhìn thấy thực tế mà tỉnh mộng. Gia đình chúng tôi vội vàng thuê khách sạn ở ngay, và không ai đề cập gì thêm đến chuyện về sống ở Việt Nam nữa.
-Có hai vợ chồng cụ già ở Úc với con cháu nhưng hai cụ nằng nặc đòi về Việt Nam sinh sống với người con nuôi. Mặc dù các con của hai cụ ngăn cản chuyện hai cụ về lại Việt Nam , nhưng không giữ hai cụ được. Cuối cùng, họ gửi tiền về Việt Nam cho người con nuôi chăm sóc cho hai cụ, nhưng người con nuôi ở Việt Nam đã đối xử rất tồi tệ với hai cụ. Thậm chí, họ lấy dây cột trói hai cụ lại, rồi chụp hình gửi sang cho các con ruột của hai cụ để đòi tiền thêm. Các con ruột của hai cụ nóng ruột, đi về lo cho cha mẹ trở lại Úc, nhưng giấy tờ di trú đã hết hạn nên hai cụ không thể trở lại Úc được. Cụ ông buồn và chết, còn cụ bà thì đau khổ vì đã chọn lầm và lựa sai. Đây là một bài học cho những người già không chịu an phận ở với con cháu.
-Có hai cụ cố là cha mẹ của một vị linh mục. Hai cụ cố chỉ muốn về lại Việt Nam . Khi ra phi trường, hai cụ “cay cú” xé hết giấy tờ di trú vì không còn muốn ở Mỹ nữa. Về Việt Nam được khoảng 6 tháng, hai cụ chịu không được, muốn trở lại Mỹ thì không còn giấy tờ di trú nữa. Thành ra tội nghiệp cho người con linh mục phải lặn lội về lại Việt Nam chạy chọt giấy tờ để đưa cha mẹ trở về Mỹ.

4. Các lý do mà Việt Kiều không muốn về sống luôn ở Việt Nam :
Có nhiều lý do mà người Việt Kiều không muốn về sống luôn ở Việt Nam . Sau đây chỉ là một số lý do tại sao người ta không về sống ở Việt Nam :
- Điều kiện an ninh chưa tốt, còn có những sự khó khăn và không hoàn toàn tự do. Nay người này đến kiếm chuyện, mai người kia đến khám xét.
- Khi hậu Việt Nam quá khắc nghiệt, nắng và nóng nực hơn 30 năm về trước nhiều. Đã nóng lại còn ẩm ướt, làm cho con người không được thoải mái.
- Ô nhiễm môi sinh: đường đi không tốt, ổ gà, bụi bặm, đầy khói xe, đông người chen chúc, ồn ào, kẹt xe… Ở Sàigòn, không có một con đường nào là yên tĩnh và nên thơ để hít thở chút không khí trong lành. Như vậy con người dễ bị theo đường hô hấp, bịnh phổi, bịnh lao.
- Cách nấu ăn và thức uống không hợp vệ sinh. Đã có trường hợp rượu đế có pha thuốc rầy làm cho nhiều người chết. Rồi nạn bánh phở có chất độc cho bánh dai, làm người ăn chết oan. Nguồn nước uống không trong lành. Người ở Mỹ về thường bị đau bụng tiêu chảy, và bị ngứa ngáy khắp cơ thể.
- Cách lái xe của các tài xế quá ẩu, không có sự an toàn. Họ đã nhiều lần lái xe lấn áp những người lái xe gắn máy cho đến khi người ta té ngã hay chết. Trong thân nhân tôi, có trường hợp một phụ nữ có thai bị chết oan cả hai mẹ con vì bị tái xế xe hàng ép té bể đầu. Bản thân chúng tôi thuê xe đi mà tài xế suýt đụng xe mấy lần. Tại sao mình lại dại dột giao mạng sống mình cho những kẻ mình không biết gì về họ?
- Bước chân ra là tốn đủ mọi thứ tiền: Tiền di chuyển, tiền xe taxi, tiền tiêu, tiền tặng, và nhiều chi phí khác. Trong khi ở Mỹ, ngoài hai bữa cơm, không tốn tiền xe cộ, và không tốn những món tiền không cần thiết khác.
- Nạn hối lộ và đút lót làm cho hệ thống hành chánh thối nát và chậm chạp.
- Điều kiện chữa trị y tế chắc chắn là thua xa Hoa Kỳ. Hoa Kỳ có hệ thống y tế tiến bộ nhất thế giới. Khi về già thì hay sinh ra nhiều bịnh. Tại sao lại chọn cái xấu mà chê cái tốt, khi càng già càng mang nhiều bịnh? Đó là chưa kể khi mình bị bịnh nặng, lại mang danh là Việt kiều, liệu các nhân viên y tế có hết lòng chăm lo cho Việt kiều hay là để cho mình chết cho mau?

- Lối sống, lối suy nghĩ và mọi sinh hoạt khác biệt giữa hai nền văn hoá, khiến cho người Việt kiều đôi lúc có cảm tưởng mình là kẻ xa lạ trên chính quê hương của mình.
- Điều quan trọng nhất là: những người già ở Mỹ có tiền trợ cấp xã hội, một tháng cũng gần 900USD. Nếu các ông bà này ra khỏi Mỹ trên 29 ngày là bị chính quyền cắt viện trợ ngay.
Vậy khi về ở luôn ở Việt Nam là xem như quý vị không còn tiền trợ cấp xã hội nữa. Liệu có ai hầu hạ và chăm sóc không công cho một người già không tiền hay không?
-Quý vị thử đến thăm thân nhân hay ngay cả các tu sĩ mà không tặng họ tiền, thì sẽ thấy ngay phản ứng của họ. Thử tưởng tượng mình đem thân xác bịnh tật về Việt Nam mà không có tiền, liệu còn tình nghĩa gì không?

5. Giải pháp tốt nhất:
Nếu quý vị không muốn sống với các con cháu vì họ đi làm, đi học suốt ngày, không có giờ để săn sóc cho quý vị, thì xin hãy vào trong các viện dưỡng lão có đông người Việt Nam ở California. Chúng tôi đã từng đi thăm nhiều viện dưỡng lão. Tại đó có Thánh lễ hàng tuần và có các Thừa Tác Viên Thánh Thể kiệu Mình Thánh Chúa đến cho quý vị hàng ngày.
-Nếu các cụ theo đạo Phật thì cũng có các vị thượng toạ đến tụng kinh và cầu siêu cho các cụ còn sống cũng như đã qua đời.
-Ngoài ra còn có những hội đoàn đến thăm viếng, an ủi, và giúp vui cho quý vị. Các cụ thường tụ tập đọc kinh và cầu nguyện chung. Các con cháu thường đến thăm viếng các cụ bất cứ lúc nào. Chúng tôi đã phỏng vấn một số cụ già, cả nam lẫn nữ. Họ rất vui khi ở trong các viện dưỡng lão này.

6. Kết luận:
Vì thế, nhiều người kết luận rằng: Họ chỉ về thăm quê hương và giúp đỡ người nghèo và tàn tật, chứ không về ở luôn tại Việt Nam . Những ông bà cụ có con cháu còn ở lại Việt Nam thì họ về thăm cho đỡ nhớ, rồi sau đó, họ cũng trở lại Hoa Kỳ vì nhiều lý do tế nhị khác mà không thể nói ra hết được.
Tốt hơn hết, mình nên sống ở Hoa Kỳ. Con cháu mình ở đâu thi gia đình mình ở đấy. Nhà mình ở đâu thì tổ ấm ở nơi đấy. Có thương dân nghèo, thương quê hương thì về thăm và giúp đỡ.
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »


Image

“HỒI GIÁO HOÁ” PARIS:
MỘT CẢNH BÁO VỚI TÂY PHƯƠNG VÀ NƯỚC MỸ _

Dale Hurd

Thứ sáu ở Paris. Một camera được giấu kín cho thấy các đường phố bị phong toả bởi những đám đông khổng lồ những tín đồ đạo Hồi, được tăng cường bằng một lực lượng an ninh riêng. Điều này trái pháp luật ở Pháp: việc thờ phượng nơi công cộng, các đường phố bị phong toả và lực lượng an ninh riêng. Nhưng cảnh sát nhận được lệnh không can thiệp.

Điều đó cho thấy rằng cho dù một số người trong chính phủ Pháp muốn cứng rắn với những người Hồi giáo và cấm mang khăn trùm mặt, thì những thành phần khác trong chính phủ Pháp vẫn tiếp tục cho Hồi giáo một quy chế ưu đãi.

Một công dân Pháp bình thường đã theo dõi sự “Hồi giáo hoá” Paris, đã quyết định rằng thế giới cần phải nhìn thấy những gì đang xảy ra cho thành phố của anh. Anh dùng camera giấu kín để bắt đầu gửi các băng hình lên YouTube. Mạng sống anh đã bị đe doạ và vì thế anh dùng biệt danh “Maxime Lepante”. Camera của anh cho thấy rằng các tín đồ Hồi giáo “đang phong toả các đường phố với các rào chắn. Họ đang cầu nguyện trên đất này. Các cư dân quận này nội bất xuất ngoại bất nhập trong thời gian người Hồi giáo cầu nguyện. Một số nói người Hồi phải cầu nguyện ngoài đường vì họ cần một nhà thờ rộng hơn. Nhưng Leoante đã quan sát kỹ các xe hơi đến từ các vùng khác ở Paris và anh cho rằng đó là một sự phô trương hằng tuần quyền lực Hồi giáo đang tăng cao. Anh nói: “Họ đến đó để tỏ cho thấy họ có thể chiếm một số khu phố nước Pháp, để cho thấy rằng họ có thể chinh phục một phần lãnh thổ nước Pháp”.

Nếu Pháp phải đối mặt với một tương lai Hồi giáo, thì một tác giả người Nga đã viết về điều này. Cuốn tiểu thuyết có tên là “Nhà thờ Hồi giáo Đức Bà, 2048” (The Mosque of Notre Dame), một cuốn best-seller ở Nga, không phải ở Pháp. Nhà xuất bản người Pháp Jean Robin nói các phương tiện truyền thông Pháp không biết cuốn sách này, vì nó không đứng đắn về mặt chính trị. Hồi giáo được coi là tôn giáo của dân nghèo, vì thế bạn không thể nói với người nghèo: “các anh lầm rồi”, nếu không thì “bạn là một tay phát xít”. Cuốn sách này trình bày một tương lai đen tối khi nước Pháp đã trở thành một quốc gia Hồi giáo và vương cung thánh đường bị biến thành một nhà thờ Hồi giáo.

Hồi giáo hiện chiếm hơn 10% dân số Pháp, mặc dù không ai biết chắc vì luật pháp nước Pháp cấm thống kê dân số theo từng tôn giáo. Nhưng tỷ lệ sinh đẻ người Hồi cao hơn rất nhiều so với dân gốc Pháp. Một số đàn ông Hồi giáo thực hành chế độ đa thê, với mỗi bà vợ cộng thêm có nhiều con cái và được cấp thẻ trợ cấp phúc lợi.

Triết gia người Pháp Radu Stoenescu, một chuyên viên về Hồi giáo, tranh luận với các nhà lãnh đạo đạo Hồi trên truyền hình Pháp, nói: “Vấn nạn đạo Hồi còn hơn là một vấn nạn về các con số. Vấn nạn này là một trong các nguyên tắc cơ bản. Đó là một câu hỏi mở. Hồi giáo là một ý thức hệ hay chỉ là một tín ngưỡng?”. Ông nói thêm: “Điều này không có nghĩa là họ có bao nhiêu người. Vấn nạn là những người đi theo Hồi giáo, một cách nào đó, họ ở trong một đảng chính trị, có một chương trình hành động chính trị, muốn căn bản thực hiện đầy đủ luật Sharia và xây dựng một nhà nước Hồi giáo”.

Từ thập niên 1980 cho tới gần đây, việc chỉ trích hoặc chống lại Hồi giáo bị coi là một điều cấm kỵ xã hội và vì thế chính phủ và các phương tiện truyền thông giúp đạo Hồi lan rộng khắp nước Pháp một cách hiệu quả.

Robin nói: “Chúng ta đang trông đợi Hồi giáo sẽ thích nghi với nước Pháp và chính nước Pháp đang thich nghi với Hồi giáo”. Về khăm trùm mặt gây tranh cãi, một người đàn ông Pháp theo đạo Hồi nói với một phóng viên rằng người Châu Âu phải tôn trọng y phục đạo Hồi. Một phụ nữ người Paris mang một khăm trùm đầu nói “khăn là ở trong Coran” và “chúng tôi chỉ phục tùng Thiên Chúa chứ không tuân phục một ai khác ngoài”.

Nhưng ngay cả nếu nhiều thành phần ưu tú trong chính quyền Pháp từ chối chấp nhận sự kiện về Hồi giáo, thì dân chúng trong các khu phố lại ngày càng không như thế. Một số người đã chán ngấy với những gì họ nhìn thấy như là sự Hồi giáo hoá nước Pháp đang tăng cao. Họ bắt đầu bày thịt heo và rượu “khai vị” hoặc tiệc coctail trên đường phố. Có những cuộc biểu tình yêu nước có ý muốn đánh trả lại Hồi giáo. Một cuộc biểu tình toàn quốc nữa dự tính vào thứ bảy ngày 4-9. Quốc hội Pháp được trông đợi tranh luận luật về khăn trùm đầu vào tháng 9.

Jean-Francois Cope, Chủ tịch Liên minh vì một Đảng Chính trị Phong trào Nhân dân, đã đưa ra lời cảnh báo với Tây phương và Mỹ. Ông nói: “Chúng ta không thể chấp nhận sự phát triển của thực hành như vậy vì nó không tương thích với cuộc sống trong một xã hội hiện đại. Và vấn đề này không chỉ là vấn đề của nước Pháp. Tất cả các bạn sẽ phải đối mặt với thách thức này”.
(CBN 01.09 - Dale Hurd)
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Về vụ Thái Lan ngăn ông Võ Văn Ái

Một số tờ báo gồm cả Bangkok Post đặt câu hỏi về hồ sơ nhân quyền của chính phủ Thái

Tờ Christian Science Monitor (CSM) nhận định việc Thái Lan ngăn hai nhà vận động nhân quyền nhập cảnh vì yêu cầu của Việt Nam trong bối cảnh Asean và Trung Quốc.

Bài của Simon Montlake trên trang của CSMhôm 13/9 nói vụ ngăn ông Võ Văn Ái và cộng sự đến dự họp báo của CLB Phóng viên Nước ngoài tại Bangkok (FCCT) "chắc chắn sẽ khiến Việt Nam hài lòng".
Nhưng tác giả cũng nói đây lời nhắc nhở đến ảnh hưởng của Trung Quốc trong vùng.

Vụ việc là lý do cho thấy "tại sao Đức Đạt Lai Lạt Ma không được hoan nghênh tại các nước muốn có quan hệ hữu hảo với Trung Quốc".
Bài báo cũng đánh giá sự tụt dốc của Thái Lan trong vòng năm năm qua theo các tiêu chuẩn tự do dù trước đó, nước này có tiếng là cởi mở so với các quốc gia láng giềng:

"Trong 5 năm biến động chính trị, danh giá của Thái Lan đã trượt dốc cùng việc kiểm duyệt truyền thông và các hình thức trấn áp khác tăng lên nhanh,"

"Năm 2009, các hành xử trái nhân quyền bị phê phán sau khi quân đội Thái kéo gần 1000 người tỵ nạn Hồi giáo từ Miến Điện ra ngoài biển và bỏ ở đó với chỉ chút ít thức ăn, nước uống."
Tuy nhiên, theo tác giả, hiện chưa rõ Thái Lan sẽ mong đợi Việt Nam "lại quả" bằng cái gì cho vụ việc liên quan đến ông Võ Văn Ái vừa qua.
Quyết định này làm ảnh hưởng đến hình ảnh trong khu vực của Thái Lan như một vương quốc đang che đậy hồ sơ nhân quyền xấu của các nước thành viên khác trong Asean."

Sunai Phasuk

Tác giả chỉ phỏng đoán rằng may ra "tỏ tình đoàn kết với Việt Nam sẽ giúp ích cho Thái Lan trong cuộc tranh chấp biên giới với Campuchia".
Có vẻ như điều khiến tác giả Simon Montlake đi đến câu hỏi đó là sự khác biệt giữa cách đối xử của Thái Lan với vấn đề Miến Điện và Việt Nam.

Các tổ chức phê phán chính quyền quân nhân Miến Điện thường được phép phát biểu, hội họp ở Thái Lan.

Nhưng với Việt Nam thì không, cụ thể là qua vụ cấm ông Võ Văn Ái và bà Penelope Faulkner từ Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam, có trụ sở tại Paris tới Bangkok để thực hiện một cuộc họp báo về tình hình nhân quyền ở Việt Nam vào hôm 13/09.
Trả lời BBC ông Võ Văn Ái cho hay tại cuộc họp báo được lên kế hoạch, Ủy ban của ông cùng một tổ chức khác là Liên đoàn Quốc tế về Nhân quyền dự kiến sẽ công bố phúc trình"Từ Viễn mơ đến Thực tế: Nhân quyền Việt Nam dưới quyền chủ tọa của Asean".
Ông cũng cho hay dù đã có visa, ông Ái và bà Faulkner được Sứ quán Thái Lan ở Paris cảnh báo không nên đến Thái Lan.
Bà Faulker sau vẫn ra phi trường thì được hàng không Thái Lan ngăn lại không cho đi.

Cuộc họp báo dự kiến tại Bangkok sau đã bị hủy bỏ, sau sự can thiệp của Bộ Ngoại giao Thái Lan.

Ý kiến khác nhau
Phát ngôn nhân của Bộ Ngoại giao Thái Thaini Thongpakdi gửi công văn tới FCCT nói:

"Chính quyền Hoàng gia Thái Lan coi trọng các nguyên tắc tự do ngôn luận và đa dạng quan điểm, thế nhưng lâu nay cũng có lập trường là không cho phép các tổ chức và cá nhân sử dụng Thái Lan để thực hiện các hoạt động chống lại các quốc gia khác."
Hiện Asean đang làm việc để đưa vào áp dụng Hiến chương Nhân quyền của Hiệp hội được lãnh đạo khối thông qua không lâu trước đây.
Tại Thái Lan, Bộ trưởng Tư pháp đồng thời là tướng công an Chidchai Vanasatidya hồi tháng 8 năm nay cam kết ủng hộ công việc của Nhóm Công tác Thái Lan thuộc Cơ chế Nhân quyền Asean.

Theo trang web của Asean (Bấm aseanhrmech.org), ông Chidchai Vanasatidya cũng hứa sẽ hỗ trợ các tổ chức vận động cho nhân quyền.
Nhưng nay, chính báo Thái Lan, tờ Bangkok Post cùng ngày 13/9 thì có bài trích lời ban tổ chức FCCT phê phán quyết định của chính quyền.

Ông Võ Văn Ái bị báo chí Việt Nam phê phán

Bài báo cũng ghi nhận ý kiến của nhà tư vấn cho Tổ chức Nhân quyền Human Rights Watch, bộ phận đóng ở Thái Lan là Sunai Phasuk nói vụ việc "làm hoen ố nỗ lực của chính phủ muốn cải thiện hình ảnh về nhân quyền sau đợt giải tán phe áo đỏ hồi tháng 5".
"Quyết định này làm ảnh hưởng đến hình ảnh trong khu vực của Thái Lan như một vương quốc đang 'che đậy hồ sơ nhân quyền xấu' của các nước thành viên khác trong Asean."
Gần đây có tin Malaysia trục xuất ông Bấm Trần Ngọc Thành, quốc tịch Ba Lan, chủ tịch Ủy ban bảo vệ lao động người Việt Nam khi ông đến Malaysia hoạt động trong giới lao động người Việt.
Cũng liên quan đến vụ ông Võ Văn Á, báo chí Bắc Mỹ đăng bài của hãng AP so sánh Thái Lan và Việt Nam trong lĩnh vực kiểm soát truyền thông.

"Thái Lan bị phê phán gần đây vì hạn chế tự do báo chí. Các trang web và ấn bản chống chính phủ bị kiểm duyệt với cáo buộc nhà nước đưa ra rằng chúng thôi thúc các cuộc phản đối chính trị,"

"Việt Nam kiểm soát truyền thông chặt chẽ và các nhóm nhân quyền nói giới nhà báo và cầm bút bị bắt, đuổi việc hoặc phạt vì phê phán chính phủ hoặc vì cung cấp thông tin cho mà chính quyền cho là tế nhị."

Về phía mình, chính quyền Việt Nam luôn bác bỏ những các buộc của các tổ chức nhân quyền ở bên ngoài nêu ra.

Riêng về ông Võ Văn Ái, báo chí trong nước, đặc biệt là tờ Bấm Công an Nhân dân thường có các bài phê phán ông và tổ chức Ủy ban Bảo vệ Quyền làm Người Việt Nam với lời lẽ nặng nề.

Một bài hồi 2009 trên báo này viết rằng ông Ái là "một trong những người trí thức, có trình độ trong đám phản động, lưu vong ở nước ngoài, chuyên nghề câu kết với một số đối tượng cơ hội chính trị trong nước và các phần tử phản động lợi dụng tôn giáo để kích động gây rối xã hội Việt Nam".

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2 ... tion.shtml
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Mỹ sẽ tấn công Iran bằng đường không?
Giới chuyên gia phân tích và bình luận cho rằng, hợp đồng vũ khí lớn nhất từ trước tới nay trong lịch sử Mỹ cho Ả Rập Xê Út là bước đệm khởi đầu để Mỹ tấn công vào Iran bằng đường không.

Nhiều chuyên gia phân tích và bình luận nhận định rằng, mục đích chính của hợp đồng đặc cách này cho Ả Rập Xê Út là nhằm thiết lập và củng cố liên minh quân sự ở Trung Đông chống lại Iran, bảo đảm ưu thế vượt trội về đường không trước quốc gia Hồi giáo này.

Ngoài số lượng lớn máy bay và máy bay trực thăng trang bị cho quốc gia Trung Đông (Ả Rập Xê Út) thì điều rất đáng chú ý ở đây chính là chủng loại phương tiện. Gần như tất cả số máy bay và máy bay trực thăng này đều là phiên bản tấn công.

Mặc dù không chính thức thừa nhận song động thái này cũng khó tránh khỏi mối ngờ vực: Mỹ đang vũ trang hóa cho các đồng minh Trung Đông để chuẩn bị tấn công đường không vào Iran hoặc ít ra cũng là để chuẩn bị cho một kế sách lâu dài chống quốc gia Hồi giáo cứng đầu nhất thế giới ở khu vực Trung Đông.

Về phần mình, đại diện phía Nhà Trắng khẳng định, nếu hợp đồng quân sự lớn này được thông qua thì các Tập đoàn lớn như Northrop Grumman, Lockheed Martin và General Electric sẽ có thể giữ vững công ăn việc làm cho khoảng 75.000 nhân công.

Để trấn an tinh thần của “ông bạn” đồng minh thân cận nhất ở Trung Đông, Tổng thống Obama khẳng định, mối lo ngại của Israel sẽ không thể xảy ra vì Mỹ sẽ chỉ cung cấp máy bay và máy bay trực thăng cho Ả Rập Xê Út chứ không cung cấp tên lửa tầm xa, hơn nữa khi Ả Rập Xê Út có được F-15 thì trong biên chế của Israel đã có F-35 hiện đại hơn nhiều.

Theo kế hoạch, nếu Hạ viện Mỹ thông qua hợp đồng quân sự lớn này thì quá trình cung cấp nó cho Ả Rập Xê Út sẽ kéo dài trong khoảng 10 năm tới. Bên cạnh đó, Mỹ cũng đang tiến hành xem xét cung cấp một số hệ thống trang bị quân sự khác cho Hải quân như tàu tuần phòng ven biển và tổ hợp tên lửa phòng không Taad với tổng trị giá ước tính lên tới 30 tỷ USD.
Image
Máy bay trực thăng AH-6 Little Bird
Đồng nhất với nhận định của Tổng thống Obama, phát biểu trước báo giới trong buổi họp báo về hợp đồng quân sự lớn này, trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phục trách thông tin xã hội và báo chí Phillip Crawley cho biết, “trọng tâm” trong chính sách của Washington tại Trung Đông chính là “bảo đảm an ninh và ổn định trong khu vực”.
Image
Máy bay trực thăng Black Hawk.


Mặc dù hợp đồng vẫn chưa được chính thức thông qua, song thông tin này đã không khỏi khiến cho đồng minh thân cận nhất của Mỹ tại Trung Đông là Israel lo ngại và “ghen tị” khi cho rằng, việc vũ khí hóa cho Ả Rập Xê Út sẽ làm phá hủy thế cân bằng lực lượng trong khu vực.
Image
Máy bay trực thăng tấn công Apache.


Tuy nhiên, mọi việc sẽ trở nên rõ ràng hơn chỉ khi Hạ viện Mỹ chính thức thông qua hợp đồng “siêu khủng” này. Để đơn giản hóa quá trình thông qua các văn bản, dự án, hợp đồng trước Hạ viện, Tổng thống Barack Obama đã bổ sung thêm một số vị trí làm việc mới trong Hạ viện mà các Nghị sỹ Mỹ chưa chắc đã muốn từ bỏ, đặc biệt là ngay trước thềm bầu cử Nghị viện giữa nhiệm kỳ diễn ra vào tháng 11 tới.
Image
Máy bay tiêm kích F-15/SA.
Mặc dù không chính thức tiết lộ “danh tính” của vài trăm chiếc máy bay và máy bay trực thăng cho Ả Rập Xê Út, song theo một số nguồn tin dấu tên từ Lầu Năm Góc, hợp đồng quân sự lớn nhất từ trước tới nay cho Ả Rập Xê Út bao gồm có 84 máy bay tiêm kích mới F-15/SA, 70 máy bay chiến đấu đã nâng cấp và cải tiến, 70 máy bay trực thăng tấn công Apache, 72 máy bay trực thăng tấn công Black Hawk và 36 máy bay trực thăng AH-6 Little Bird, đồng thời còn có cả bom, tên lửa mang đầu đạn dẫn đường vệ tinh và laser.
Image
Mỹ có thể sử dụng không quân của các nước đồng minh ở Trung Đông để tấn công Iran.


Hiện nay, Hạ viện Mỹ vẫn đang cân nhắc để thông qua hợp đồng bán vũ khí lớn nhất từ trước tới nay trong lịch sử Mỹ (vài trăm chiếc tiêm kích phản lực và máy bay trực thăng chiến đấu với tổng trị giá hợp đồng lên tới 60 tỷ USD) cho Ả Rập Xê Út, quốc gia nằm liền kề với Iran.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Đứng Nguyên Một Chỗ, Lùi Thêm Một Đời

Phạm Trần

3 Dự thảo Văn kiện của đảng Cộng sản Việt Nam đem ra thảo luận tại Đại hội XI tòan quốc vào tháng 1 năm 2011 đã được phổ biến ngày 15/9 (2010) để lấy ý kiến cán bộ, đảng viên và tòan dân, nhưng đảng đã đạp lên những điều viết chưa ráo mực mang danh nghĩa "dân chủ xã hội".

Để chứng minh cho việc làm giấu đầu hở đuôi, dân chủ trá hình này, mọi người hãy đọc trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011):"Nhà nước gắn bó chặt chẽ với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân."

Đảng cũng hứa trong Báo cáo Chính trị : " Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân; cán bộ, công chức thật sự là công bộc của nhân dân. Nâng cao ý thức về quyền và nghĩa vụ công dân, năng lực làm chủ, tham gia quản lý xã hội của nhân dân. Có cơ chế cụ thể để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ trực tiếp. Thực hiện tốt hơn Quy chế dân chủ và Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở. Phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm công dân, kỷ luật, kỷ cương xã hội; phê phán và nghiêm trị những hành động vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, những hành vi lợi dụng dân chủ để gây rối; chống tập trung quan liêu, khắc phục dân chủ hình thức. Quan tâm hơn nữa việc chăm lo hạnh phúc và sự phát triển tự do, toàn diện của con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam ký kết."

Vậy mà vào ngày 10/9/2010, khi ban hành văn bản (số 112-HD/BTGTW) hướng dẫn việc công bố và lấy ý kiến góp ý của các tổ chức, cán bộ, đảng viên và nhân dân vào các dự thảo văn kiện Ban Chấp hành Trung ương (khoá X) trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Ban Tuyên giáo Trung ương đã ra lệnh cho tòan hệ thống đảng phải thi hành những việc như sau :
-"Việc đăng, phát trên phương tiện thông tin đại chúng các ý kiến góp ý cần có sự chọn lọc, thận trọng, đảm bảo phát huy được trí tuệ, dân chủ của nhân dân, không để những phần tử xấu lợi dụng diễn đàn công kích, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta."
-" Đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, kết hợp đấu tranh trực diện với việc tuyên truyền khẳng định những thành tựu của đất nước."
- "Không đăng và phát trên các phương tiện thông tin đại chúng những ý kiến phản bác chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về học thuyết Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, về vai trò lãnh đạo của Đảng; những vấn đề cần giữ bí mật về quốc phòng, an ninh đối ngoại, những ý kiến đả kích cá nhân hoặc tổ chức đảng cơ quan nhà nước."
Chỉ thị này do Nguyễn Bắc Son, Phó Trương Ban Tuyến giáo Trung ương ký tên còn ra lệnh :
- "Bộ Thông tin và Truyền thông: Chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương chỉ đạo các phương tiện thông tin đại chúng ở Trung ương và địa phương mở các chuyên trang chuyên mục, chuyên đề đặc biệt tuyên truyền các dự thảo văn kiện. Chỉ đạo, theo dõi, kiểm soát việc đăng, phát và tổng hợp ý kiến góp ý cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chỉ đạo đấu tranh chống các luận điệu sai trái, tiêu cực xuyên tạc các dự thảo văn kiện trên diễn đàn thông tin đại chúng."
- "Ban Tuyên giáo tham mưu cho cấp uỷ nội dung thảo luận tại đại hội cơ sở; chỉ đạo công cụ thông tin của ngành, lĩnh vực tuyên truyền nội dung văn kiện, biên tập tài liệu hướng dẫn đoàn viên, hội viên tìm hiểu, nghiên cứu văn kiện; theo dõi tình hình tư tưởng, dư luận về các vấn đề của văn kiện trong đối tượng phụ trách."
- Các Ban Tuyên giáo địa phương phải : "Theo dõi các sinh hoạt chính trị, nắm tình hình tư tưởng, dư luận cán bộ, đảng viên, nhân dân xung quanh các dự thảo văn kiện. Tham mưu cho cấp uỷ công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng trong nội bộ và chỉ đạo đấu tranh đối với các thế lực thù địch."
Như vậy thì dân chủ ở lỗ nào chui lên trong chế độ độc tài, đảng trị và tự biên tự diễn là "nhà nước pháp quyền" ?

TÊ LIỆT NÃO TRẠNG

Trong nội dung tất cả 3 Văn kiện, chỗ nào đảng CSVN cũng dành quyền làm chủ của dân để cai trị mà cứ hô lên là nhân dân muốn mình làm như vậy nên Cương lĩnh đã tự ý hợp thức hóa vai trò lãnh đạo cho đảng tự thỏa mãn : "Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo và góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, bản lĩnh chính trị và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra."

Cho đến Thế kỷ XXI, sau khi nhân dân Nga đã vứt Chủ nghĩa Mác-Lênin vào thùng rác được 18 năm mà Đảng CSVN vẫn còn thương vay khóc mướn rằng: "Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ là một tổn thất lớn đối với phong trào cách mạng thế giới" thì có lẽ cái đảng này còn bảo hòang hơn cả các vua chúa thời Nga hoàng.

Vì vậy mà không ai ngạc nhiên khi thấy đảng CSVN tìm mọi cách để trù yểu Chủ nghĩa Tư Bản như họ viết trong Cương lĩnh rằng : "Hiện tại, chủ nghĩa tư bản còn tiềm năng phát triển, nhưng về bản chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công. Những mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, chẳng những không giải quyết được mà ngày càng trở nên sâu sắc. Khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội vẫn tiếp tục xảy ra. Chính sự vận động của những mâu thuẫn nội tại đó và cuộc đấu tranh của nhân dân lao động các nước sẽ quyết định vận mệnh của chủ nghĩa tư bản."

Ảo tưởng hão huyền như thế vì những người sọan ra Cương lĩnh vẫn chưa hiểu, hay cố tình che tai trước lời tuyên bố chân thành mới đây của Lãnh tụ Nhà nước Cuba, Fidel Castro với Nhà báo Jeffrey Goldberg của Tạp chí The Atlantic. Trong một cuộc phỏng vấn cho số Báo tháng 10 (2010), Fidel Castro đã nói : "Mô hình Cuba không còn hoạt động được nữa", khi được hỏi : "Liệu hệ thống kinh tế của Cuba có còn đáng để xuất cảng ra nước ngoài hay không?"

Cuba là một trong số 4 nước Cộng sản còn lại sau khi các nước Xã hội Chủ nghĩa Đông Âu và khối Liên bang Sô Viết tan rã từ 1989 đên 1992. Ba nước còn lại là Trung Hoa, Việt Nam và Bắc Triều Tiên.

Có thể người CSVN cãi cối rằng kinh tế Việt Nam khác với kinh tế Cuba, nhưng nền kinh tế được gọi là "thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa" vẫn do Nhà nước nắm vai "qủan lý", "chủ đạo" của Việt Nam là chủ trương dành đặc quyền, đặc lợi cho các doanh nghiệp nhà nước để cho đảng, nhất là những kẻ có chức, có quyền tự do thao túng, làm giầu trên sức lao động bằng mồ hôi và nước mắt của người dân.

Bằng chứng nhãn tiền đã xẩy ra với Tổng Công ty tầu thủy Vinashin bị phá sản với khỏan nợ khổng lồ 86,000 tỷ đồng trên tổng số vốn 90,000 tỷ đồng.
Người có trách nhiệm lớn nhất trong vụ này là Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng vì Dũng chủ trương và ủng hộ thành lập các tập đòan kinh tế lớn. Chính phủ đã ngửa tay đi vay tiền nước ngòai 750 triệu dollars trao cho Vinashin đầu tư để bây giờ tiêu tan mà vẫn không có ai bị cách chức mà lại để cho dân gánh chịu thì chỉ có ở Việt Nam trong thời Cộng sản bao che mới có chuyện thổ tả này !

Điểm tối dạ thư hai là Cương lĩnh bổ sung vẫn giữ nguyên quan điểm tăm tối của Cương lĩnh năm 1991 khi viết rằng : " Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thử thách, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội."

Căn cứ vào đâu để đảng CSVN ăn nói bừa bãi như thế? Nếu nhân lọai muốn bỏ chủ nghĩa Tư bản để theo Chủ nghĩa Xã hội thì nhân dân các nước Cộng sản Đông Âu và khối Liên Xô cũ đã không đứng lên xóa bỏ chế độ lạc hậu của nước họ.

Vậy mà trong Cương lĩnh năm 2011 , đảng CSVN vẫn tiếp tục chũi đầu xuống cát để kiên định thứ Chủ nghĩa đã bị nhân dân Nga, thành trì của Chủ nghĩa Mác-Lênin, vứt vào sọt rác từ năm 1992.

QUÁ ĐỘ MỆT NGHỈ

Đảng viết trong Cương lĩnh: "Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ."
Họ còn nói viển vông: "Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng xong về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hoá phù hợp, tạo cơ sở làm cho nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh.
Từ nay đến khoảng giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa."

Một nửa thế kỷ là 50 năm, nhưng bây giờ mới qua 10 năm mà đất nước vẫn trì trệ đứng nguyên sau 24 năm đổi mới thì đến bao giờ người dân Việt Nam mới thấy được ánh sáng ở cuối đường hầm ?
Nhưng cứ gỉa thử như đảng CSVN sẽ đưa Việt Nam tiến lên một nước "công nghiệp hiện đại" thì còn các yếu tố tối cần khác như "dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ" thì 40 năm sau chắc gì đã có ?
Vậy đảng còn bắt dân phải "qúa độ" đến bao nhiêu năm nữa, hay chính đảng cũng ngu ngơ mù mịt như người rừng về thành phố ?

Đảng CSVN cũng vẽ ra cái xã hội lý tưởng phải đạt tới là "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ", nhưng đến bao giờ xã hội lý tưởng này mới có, hay sẽ muôn đời không tìm thấy đâu nếu đảng CSVN vẫn cai trị đất nước như hiện nay ?

Vì vậy người dân trong nước đã muốn đảng cho họ biết phải "qúa độ" đến bao giờ ? Nhiều đảng viên cũng muốn đảng cho họ biết "dứt khóat tư tưởng" một lần cho xong, chứ cứ ỡm ờ mãi thì không chừng sẽ chết cả lũ !
Nhưng đảng thì dường như họ đã mất đi qúa nhiều thính giác và thị giác nên cứ khư khư quan điểm : "Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; là di sản tư tưởng và lý luận vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi."

Thật tội nghiệp cho hai giai cấp công nhân và lao động là những người đã hy sinh nhiều nhất nhưng lại tiếp tục chịu nhiều thiệt thòi hơn mọi người trong xã hội bây giờ. Lớp người cùng đinh này những tưởng những mất mát của họ trong 30 năm chiến tranh sẽ được Đảng đền bù khi có hòa bình, nào ngờ sau 35 năm im tiếng súng họ còn bị đảng quay lưng phản bội và tiếp tục cho ăn bánh vẽ là "đại biểu trung thành" của mình !

Vậy mà, trong Cương lĩnh mới, đảng vẫn không biết ngượng để tiếp tục lý luận áp chế và tiếm quyền làm chủ đất nước theo lối cả vú lấp miệng em rằng: "Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu. Đảng thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo, đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị."

Đảng còn hưá : "Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Để đảm đương được vai trò lãnh đạo, Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo. Giữ vững truyền thống đoàn kết thống nhất trong Đảng, bảo đảm đầy đủ dân chủ và kỷ luật trong sinh hoạt Đảng.
Thường xuyên tự phê bình và phê bình, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội và mọi hành động chia rẽ, bè phái. Đảng chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, có phẩm chất, năng lực, có sức chiến đấu cao; quan tâm bồi dưỡng, đào tạo lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và của nhân dân."

Lậy Trời, lậy Phật nếu đảng CSVN đã làm được những việc như họ viết trong Cương lĩnh từ 20 năm qua, kể từ khi Cương lĩnh 1991 ra đời, thì quốc nạn tham nhũng, lãng phí tiền mồ hôi nước mắt của dân đâu có còn cao hơn núi như hiện nay. Nạn mua quan, bán tước, mua bán bằng gỉa, suy thóai đạo đức, phẩm chất trong hàng ngũ cán bộ đảng viên cũng đã biến mất từ lâu rồi chứ đâu có thể bám trụ mãi như đảng đã thừa nhận trong Báo cáo Chính trị ?
Hơn nữa, nếu quyền làm chủ đất nước và quyền giám sát của người dân được đảng chấp hành như các văn kiện đảng viết thì đảng CSVN cũng đã biến mất từ khuya rồi chứ đâu còn tồn tại để tiêp tục đè đầu, bóp cổ dân đen như bây giờ ?

Thế mới biết câu nói :"đừng nghe những gì Cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm" của Cố Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu vẫn còn có nhiều ý nghĩa, nhất là đối với hòan cảnh của đất nước trong lúc đảng CSVN chuẩn bị tổ chức Đại hội đảng lần thứ 11 vào tháng 1 năm 2011.

Vì vậy nội dung của 3 Văn kiện: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng" và "Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020" đã phản ảnh một não trạng xơ cứng, giáo điều, bảo thủ và tê liệt của một cơ thể hết máu không còn cử động được nữa.
Chúng chỉ là những thây ma không hồn đang níu chân dân tộc đứng lại để lùi thêm một đời . -/-

Phạm Trần
(09/010)
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »


Image

Những nấm mồ vô danh

Những bài thơ viết từ đồng hoang

Ba mươi lăm năm qua rồi, cuộc chiến bi thương
Huynh, đệ tương tàn
Những nấm mồ vô danh
Vẫn nhói đau lòng đất Mẹ


Ba mươi lăm năm qua rồi, hàng cau sau hè đã không còn cho quả
Vẫn đứng đó lặng im màu máu đỏ
Ðợi người đi biền biệt mãi không về
Và nắng...
Và mưa...
Và gió...
Gió lạnh từng cơn
Thổi vào miền đau...

Ba mươi lăm năm qua rồi, cuộc xáo thịt, nồi da
Những bắn giết rợn người thấu chín tầng mây bạc
Mẹ ngơ ngác
Cả đất, trời ngơ ngác...
Khói lửa tắt lâu rồi còn bỏng rát nỗi đau

Bởi:

Tuổi xuân các anh, đối mặt khác chiến hào
Khi phiêu diêu tụ về lại gọi chung tiếng: Mẹ!

Bởi:

Thua bàng hoàng
Thắng cũng là ác mộng
Xám ngắt thiên đường
Ðắng ngắt trái bồ hòn
Vàng úa những Mùa Xuân
Thương đất nước gian lao
Mấy thế hệ nối nhau dại khờ cơn binh lửa


Chiến tranh!
Mẹ không cần đâu chiến tranh
Những nấm mồ vô danh
Nơi các anh nằm
Mãi ấm lời Mẹ ru
Ôi! Tình Mẹ bao dung

Tiếng Mẹ ngọt ngào như muôn thủa
Xin xóa sạch từ đây tất cả những hận thù.

Nguyễn Chính
(Nha Trang)
(Nguồn: Thông Luận 2010)
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Tiệc Trà” Đắng Ghét

Nguyễn Xuân Nghĩa
Dân Chủ tanh bành, nhưng có khi Cộng Hoà gẫy cánh...

Cử tri Hoa Kỳ đang có phản ứng mạnh với hệ thống chính trị hiện nay.
Qua các đợt đầu phiếu đặc biệt để thay thế một Nghị sĩ đã tham chính năm ngoái, hoặc để tuyển chọn một ứng cử viên trong cuộc bầu cử tháng 11 này, họ đều có khuynh hướng tuyển chọn một khuôn mặt mới. Phản ứng đó có lợi cho đảng Cộng Hoa đang ở trong vị trí đối lập. Nhưng dường như nếu làn sóng đáy có thể quét đảng Dân Chủ vào bờ thì cũng làm đảng Cộng Hoà bị vỡ đôi.

Ta sẽ nói về phong trào phản kháng xưng tên "Tea Party" đang làm đảng Cộng Hoà điêu đứng.
Bốn năm trước, cột báo này đã viết về hiện tượng gẫy cánh của đảng Cộng Hoà vì phe bảo thủ về đạo đức ở bên trong bị bể làm hai, hai cánh bay hai hướng.

Một cách vắn tắt, đảng Cộng Hoà thường được gọi là "bảo thủ" so với khuynh hướng thiên tả hay cấp tiến của đảng Dân Chủ. Nhưng khối bảo thủ ấy gồm có ít nhất ba thành phần. Thứ nhất, tự do về kinh tế (và kỷ luật về ngân sách) với chủ trương thu hẹp tầm can thiệp của nhà nước; thứ hai là thành phần cứng rắn về an ninh nên chủ chiến hơn chủ hoà; và thứ ba là thành phần bảo thủ về xã hội, với tinh thần sùng chuộng tôn giáo, đề cao kỷ cương gia đình và chống lại tinh thần phóng túng xã hội, như quyền phá thai hay hôn nhân đồng tính.

Đảng Cộng Hoà bị khủng hoảng nặng khi xu hướng bảo thủ về xã hội và phong trào Thiên chúa giáo cực hữu trở thành lực lượng có khả năng gạn lọc các ứng viên ngay từ cấp sơ bộ. Trong khi đó, nước Mỹ đang lâm chiến và thành phần cứng rắn về an ninh, một trong ba cột trụ của đảng, bị đẩy vào thế yếu trước phong trào phản chiến. Khi đó, trong nội bộ Cộng Hoà đã có tranh luận. Một thiểu số cực đoan trong thành phần bảo thủ xã hội nhất quyết không thay đổi lập trường và coi chuyện phá thai hay đồng tính là "hòn đá thử vàng". Những người còn lại trong thành phần đó thì có khuynh hướng tương nhượng, với lý do là phải đắc cử đã thì mới có cái thế về chính trị - làm luật - để chặn đà bành trướng của trào lưu phóng túng xã hội.

Như mọi khi, sự phân hoá và phản ứng gần như tự sát về chính trị trong đảng Cộng Hoà đã khiến đảng này liên tục thất cử.
Ngày nay, trong cuộc bầu cử tới đây, vấn đề đạo lý xã hội hết là đề tài chính vì bị chìm trong nạn suy trầm kinh tế, thất nghiệp, bội chi ngân sách, gia tăng công trái và sự phình nở quá đáng của chính quyền. Nhưng đảng Cộng Hoà vẫn lại gẫy cánh và tuần qua cho thấy sự phân hoá nội bộ vì phong trào Tea Party. Phong trào này đã cướp diễn đàn Cộng Hoà tại vòng sơ bộ và loại bỏ các ứng viên do bộ máy đảng đề cử để đưa lên khuôn mặt mới, dù ứng viên đó ít hy vọng thắng cử và còn có thể giúp cho đảng Dân Chủ giữ được đa số tại Thượng Viện. Tiêu biểu là trường hợp Delaware, một tiểu bang gần như là thành đồng của đảng Dân Chủ. Nữ ứng viên Christine O'Donnel loại bỏ chánh khách kỳ cựu của đảng Cộng Hoà là Michael Castle và sẽ đụng ứng viên Dân Chủ trong thế yếu hơn, nên mất hy vọng chiếm lấy ghế của Nghị sĩ Joe Biden đã trở thành Phó Tổng thống.
Khi ấy, tranh luận lại xảy ra. Nên bảo vệ nguyên tắc lý tưởng hay là nên dung hòa để chiếm được đa số đã, rồi sẽ dùng luật lệ đẩy lui làn sóng bao cấp của đảng Dân Chủ và chính quyền Obama? Đấy là một cách nhìn, một đề tài khá hấp dẫn.

Nhưng thật ra, có lẽ chúng ta đang chứng kiến một hiện tượng rất lạ mà lại khá cổ điển trong xã hội Hoa Kỳ. Bài này sẽ mở đầu việc tìm hiểu về hiện tượng ấy.

Từ cả thập niên rồi, các cuộc khảo sát dân ý cho biết là tỷ lệ những người Mỹ tự xưng là thiên tả (liberal) ở khoảng 20%, chừng hơn 30% tự xưng là ôn hòa và 40% là bảo thủ. Có thể là phản ứng bảo thủ quá đáng về xã hội, sự mệt mỏi về chiến tranh và nhất là tinh thần kiêu mạn trong đảng Cộng Hoà đang nắm đa số khiến cử tri ôn hoà dồn phiếu qua đảng Dân Chủ và dẫn đến trận động đất năm 2006, nhồi theo cuộc tổng tuyển cử năm 2008 khiến đảng Dân Chủ thắng lớn.

Nhưng, chuyện ấy chưa đáng chú ý bằng hai sự kiện: một phần ba cử tri Hoa Kỳ tự nghĩ mình là ôn hoà và thành phần tự xưng là bảo thủ thật ra còn đông hơn thành phần tự xưng là thiên tả. Chìm bên dưới là sự kiện thứ hai: một số cử tri khá đông đảo lại không hài lòng với cả hai đảng. Năm 1992, một nhân vật thứ ba, tỷ phú Ross Perot đã chiếm 19% số phiếu trong cuộc bầu cử Tổng thống, khiến ứng viên Cộng Hoà là George H. Bush (ông Bush cha) thất cử. Nhưng ứng viên Dân chủ là Bill Clinton chỉ đắc cử với 43% số phiếu mà thôi.

Chúng ta thường quên mất chừng một phần năm các cử tri bất mãn với cả hai đảng, có khi họ còn đòi lập ra một đảng thứ ba, như đảng Cải cách của Perot. Một số không ít của thành phần này đang lao vào phong trào "Tiệc Trà", ban đầu tưởng là để đẩy lui đảng Dân Chủ bao cấp mà bây giờ còn để đặt ra luật chơi mới cho đảng Cộng Hoà. Nếu không khéo xử, đảng Cộng Hoà sẽ bị phong trào Tiệc Trà chia mất phiếu và mất cơ hội phục thù.

Nhưng, nếu phong trào này lại ngày một lớn mạnh, thì chính là đảng Cộng Hoà sẽ biến chất, và điều ấy mới làm xã hội Hoa Kỳ thay đổi....
Chúng ta không nên đơn giản - do bị ảnh hưởng của truyền thông thiên tả - mà cho rằng phong trào Tea Party chỉ quy tụ loại Mỹ ruộng, Mỹ trắng, Mỹ đấm ngực, quá khích, kỳ thị, v.v... Hình như họ đang kết hợp thành phần dân chúng bất mãn với chính quyền và cả các chính khách chuyên nghiệp trong hai đảng. Mà hiện tượng này thật ra đã xảy ra nhiều lần trong lịch sử, lần đáng chú ý nhất mà không là duy nhất là vụ Ross Perot tại Texas đã đánh văng ông Bush 41 ra khỏi toà Bạch Cung năm 1992.
Trong những kỳ tới, ta sẽ tìm hiểu thêm về hiện tượng khá ly kỳ này....


NGUYỄN XUÂN NGHĨA
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

XIN ĐỪNG XUẤT CẢNG NỀN GIÁO DỤC XHCN

Nguyễn Phúc Bảo Ân
Trong mọi xã hội, giáo dục đóng một vai trò hết sức quan trọng: Là cơ sở đào luyện con người về nhân cách và tri thức. Tri thức hậu thuẫn cho nhân cách để tránh cho con người khỏi bị lợi dụng vào những mục đích bất thiện hoặc phi nhân bản, đồng thời nhân cách cũng trợ giúp biến tri thức của con người trở thành những phát minh, những công trình, hữu ích cho cuộc sống và cũng tạo môi trường cho con người gần gũi nhau hơn, bởi trong thế giới loài người dù phát triển ở mức độ nào, mọi sinh hoạt của họ đều có tính hổ tương lẫn nhau.

Chế độ cộng sản không coi giáo dục là nền tảng quan trọng của xã hội với mục tiêu đào luyên con người về cả nhân cách lẫn tri thức mà chỉ nhằm đào tạo họ thành những con người chỉ biết cúi đầu tuân phục, biết hô khẩu hiệu và biết dối trá một cách có hệ thống, biết đánh lừa người khác và biết đánh lừa luôn cả nhận thức của bản thân, vì lẽ này mà trong các xã hội do cộng sản cai trị không thể có những công dân đích thực mà chỉ có những thần dân như những con rối không hơn không kém mà thôi.

Từ năm 1945 ở miền Bắc và sau năm 1975 ở miền Nam, nhiều thầy cô giáo giàu lòng tự trọng đã mạnh dạn rời khỏi bục giảng, chấp nhận mưu sinh bằng tất cả mọi việc làm nặng nhọc và bần hèn nhất trong xã hội, bởi chính cái sỹ của những kẻ sỹ đã không cho phép họ phủ nhận chân lý, bóp méo sự thật, bôi đen hay tô hồng cho lịch sử để tào tạo thế hệ trẻ thành những con rối, những thần dân chỉ biết cúi đầu tuân phục. Một số khác vì sự sống còn của bản thân và gia đình mà chấp nhận uốn lưỡi mình để nói theo chủ trương đường lối của đảng dù từ sâu thẳm trong nhân thức của cá nhân, họ hiểu rằng họ đang dối trá, họ đang đánh lừa lương tri của họ và đang nói hoàn toàn dối trá với các thế hệ đàn em, thế hệ cháu con, bởi đảng và nhà nước đang cho họ bước đi trong một hành lang thật thấp, thật hẹp, họ không thể ngẩng đầu, cũng không thể quay trái, ngoảnh phải, bởi chính từ các buổi “quán triệt” nghị quyết của cấp trên đảng và nhà nước vẫn luôn nhắc nhở họ rằng “sách giáo khoa là pháp lệnh!”

Bởi thực tế này khiến gần 50 năm theo đảng, để đến những ngày tháng cuối đời, tướng Trần Độ phải ngậm ngùi và uất nghẹn nói ra những tâm tư của mình liên quan đến vấn nạn giáo dục ở quê nhà rằng: “Bộ máy quản lý xã hội đã thực hiện một nguyên tắc chuyên chính tàn bạo hơn tất cả các thứ chuyên chính. Đó là chuyên chính tư tưởng, được thực hiện bởi một đội ngũ nòng cốt là “những lưu manh tư tưởng”. Nền chuyên chính tư tưởng định ra những điều luật tàn khốc để bóp nghẹt mọi suy nghĩ, mọi tiếng nói. Nó làm cho tất cả trí thức không dám suy nghĩ gì, hay ít nhất cũng không muốn suy nghĩ. Từ đó làm tê liệt toàn bộ đời sống tinh thần của dân tộc và biến họ trở thành những con rối, chỉ biết nhai như vẹt những nguyên lý bảo thủ giáo điều. Nó cũng làm cho nền giáo dục khô cứng, làm cho các hoạt động văn học nghệ thuật nghèo nàn, mất hết cơ hội sáng tạo và mất hết cảm hứng. Nó cũng làm cho các hoạt động khoa học bị khô cứng và nô dịch. Nó tạo ra và nó bắt buộc nhân dân phải có một tâm lý lệ thuộc đảng, lệ thuộc nhà nước, lệ thuộc cán bộ, và một tâm lý phải tuân phục, kể cả người cao nhất cũng phải tuân phục vào một cái gì bí và hiểm. Nói chung, nền chuyên chính tư tưởng hiện nay ở Việt Nam là một tổng hợp các tội ác ghê tởm của Tần Thủy Hoàng cùng các vua quan tàn bạo của Trung Hoa phong kiến, cộng với tội ác của các chế độ độc tài phát xít. Nó tàn phá cả một dân tộc, hủy hoại tinh anh của nhiều thế hệ. Suy cho cùng, đó là tội nặng nhất về sự vi phạm nhân quyền. Vì không phải nó chỉ xâm phạm đến quyền sống của con người, mà nó còn hủy hoại đời sống tinh thần, đời sống tư tưởng của cả một dân tộc. Nó đang làm hại cả một nòi giống”.

Từ sau khi cướp chính quyền từ tay thực dân Pháp năm 1945 cũng như sau khi cưỡng chiếm hoàn toàn Miền Nam vào tháng 4 năm 1975, chính sách giáo dục của lãnh đạo Cộng sản Việt nam trên toàn cõi Việt Nam là nhằm mục tiêu phục vụ chính trị, nhằm đào tạo những thế hệ thần dân để tuân phục họ, trong khi dối trá ích kỷ với mọi người chung quanh. Giáo dục, chẵng những không giúp tuổi trẻ khai phá óc sáng tạo, trái lại chính sách của chế độ đã bịt mắt bịt tai bịt miệng tuổi trẻ và mọi người, đồng thời trừng phạt những ai suy nghĩ khác, làm khác, nói khác với những gì đảng dạy. Nói chung, để giữ vững vai trò độc tôn lãnh đạo của đảng, nhà nước cộng sản Việt nam đã và đang áp đặt lên xã hội một hệ thống giáo dục giáo điều cho cả người dạy và người học mà để tồn tại, để được trọng dụng thì cả người dạy và người học phải nhất nhất tuân theo cho dù những điều họ phải nghe, phải nói, phải nhìn là dối trá, là bịp bợm, là ngược hẳn với các quy luật của tự nhiên và trái hẵn với chân lý, với sự thật. Hệ lụy của hệ thống giáo dục giáo điều này mà theo tài liệu của một nhà giáo dục trong nước, tiến sỹ Bửu Sao thì:

“Hiện nay, trong cả nước, hệ giáo dục trung học, gồm cả hai bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông có khoảng 17.600.000 học sinh. Đa số trong số hơn 17 triệu học sinh này có trình độ rất thấp về kiến thức xã hội, kỹ năng thực hành, và vận dụng kiến thức trong tinh thần sáng tạo. Đội ngũ giáo viên giáo sư trong tình trạng vừa thiếu lại vừa thừa, thiếu về số lượng và thừa vì trình độ thấp nên không sử dụng được bao nhiêu. Giáo dục trung học chuyên nghiệp, có 1.500.000 học sinh. Kiến thức chuyên nghiệp không cao so với đòi hỏi của thị trường lao động. Trong hằng chục năm qua đã đào tạo được khoảng 1.500.000 chuyên viên, nhưng khả năng của họ không thích ứng với nhu cầu việc làm, đã dẫn đến tình trạng “thầy không phải thầy mà thợ cũng chưa phải thợ”, họ đành phải làm những công việc không phải là những gì mà họ đã học mấy năm trong trường. Giáo dục bậc đại học, có 1.030.000 sinh viên. Số lượng giáo sư vào khoảng 40.000 nhưng trình độ còn thấp, chỉ khoảng 45% có trình độ thạc sĩ mà đa số trong số này đều cao tuổi. Cơ sở vật chất nghèo nàn chất lượng giáo dục thấp. Tình trạng “học thì giả mà bằng thì thật” khá phổ biến trong xã hội Việt Nam ngày nay. Trong mấy chục năm qua, lãnh đạo đảng với lãnh đạo nhà nước xem Giáo sư với Phó Giáo sư đại học là “học hàm” do nhà nước phong, chớ không phải tước vị của người giảng dạy có trình độ đại học trở lên. Muốn được nhà nước phong chức “học hàm” này, cho dù có mấy cái bằng đại học đi nữa mà không có bằng chính trị do Học Viện Chính Trị Quốc Gia cấp, vẫn không được phong chức vị đó!”.

Cũng theo Tiến sỹ Bửu Sao: “Việt nam hiện nay có khoảng 6.384 Giáo sư và Phó Giáo sư, mà một số đáng kể trong số này không đọc được một tờ báo ngoại ngữ. Thêm nữa, có khoảng 75% số nhân sỹ có học hàm giáo sư và phó giáo sư này lại không giảng dạy trong ngành giáo dục, trong khi ngành này chưa bao giờ đủ giáo sư. Hiện thời Việt nam đang có khoảng 20.000 thạc sĩ, và dự tính đến năm 2010 sẽ tăng lên 38.000 thạc sĩ và 15.000 tiến sĩ. Xem ra bằng cấp đại học và trên đại học khá nhiều, nhưng đa số là bằng cấp giả, hoặc những bằng cấp loại đặc cách, hữu nghị với vài năm đại học là có bằng tiến sĩ.

Một điển hình cho nhận định này đó là giáo sư Cao Xuân Hạo, khi làm phản biện cho một luận án tiến sĩ ngôn ngữ học dài 380 trang, trong tờ trình lên Bộ Giáo Dục, có đoạn ông viết: “Là tiến sỹ phải hơn một học sinh trung học. Nghiên cứu sinh này không bằng một học sinh lớp 3 thì làm sao trở thành một tiến sỹ?” Thế nhưng Bộ Giáo Dục vẫn cho nghiên cứu sinh này bảo vệ luận án, và Bộ cử 3 vị gọi là trong làng “ngôn ngữ học” vào Hội Đồng Phản Biện, kèm theo cái lệnh “bằng mọi cách phải giúp nghiên cứu sinh đó có bằng tiến sỹ!”

Khi nói về những trường hợp đặc cách, hữu nghị cho những học hàm, học vị này, tiến sỹ Dương Thiệu Tống, giảng dạy tại trường đại học Bách Khoa Hà Nội, mỉa mai rằng: “Thật ngược đời, khi có những người không có trình độ về chuyên môn lẫn đạo đức lại được cử vào Hội Đồng Phản Biện, còn người không có trình độ trung học lại có bằng tiến sĩ”.

Cũng bởi chính sách giáo dục giáo điều nhằm đào tạo con người thành những con rối, những thần dân hơn là đào luyện công dân này mà xã hội Việt nam đã băng hoại đến mức không còn có thể băng hoại hơn được nữa, từ những bảo mẫu trong các nhà trẻ mẫu giáo dùng nhục hình với trẻ thơ ở Biên Hòa Đồng Nai, cho đến công an tra tấn học sinh lớp 4 ở Châu Thành Đồng Tháp vì bị giáo viên chủ nhiệm nghi học sinh này đánh cắp 47 ngàn đồng tiền quỹ lớp. Từ các học sinh ở Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà nội đâm chết cô giáo ngay trên giảng đường và ở Cái Bè Tiền Giang đâm trọng thương thầy cô giáo ngay trong giờ học cho đến sinh viên ở Đại Học Nông Lâm, Sài gòn đâm chết thầy giáo, từ phó chủ nhiệm khoa ở trường cao đẳng phát thanh truyền hình ở Nam Hà gạ tình sinh viên để đổi diểm thi tốt nghiệp cho đến hiệu trưởng trường trung học Việt Lâm, Vị Xuyên Hà Giang đã mua trinh hàng chục học sinh tiểu học… và còn nhiều nhiều nữa, còn vô số nữa những hành vi vô đạo, trụy lạc, suy đồi của thầy cô giáo và sinh viên học sinh trong các cơ sơ giáo dục ở Việt nam cho thấy rằng lời tiên báo của cụ Tú Xương nay đã trở thành hiện thực: “Sự học ngày nay đã hỏng rồi….”.

Với chính sách giáo dục bưng tai bịt mắt của đảng, những thầy cô giáo ở Việt nam không còn là những nhà mô phạm, những gương vàng thước ngọc như ngày xưa nữa, học sinh sinh viên cũng không còn là những sỹ tử, những thầy khóa dung dị mà đạo mạo của ngày nào nữa rồi và theo đó, những ý niệm mới cũng xuất hiện để thay cho những ý niệm xưa cũ lạc hậu như là tàn dư của nền giáo dục phong kiến, chẳng hạn, những nhà mô phạm ở Việt nam hiện nay được hiểu là những con người mà “ở bất cứ chổ mô cũng phạm” hay sư phạm là một ngành học đào tạo ra những con người “ăn như sư và ở như phạm”…

Ấy vậy mà gần đây đảng và nhà nước Việt nam có chủ trương xuất cảng giáo dục sang các nước phương tây nơi có đông đảo các cộng đồng người Việt đang sinh sống để thông qua dạy chữ mà dạy cho con em người Việt hải ngoại thành những thần dân chỉ biết tuân phục đảng và bác, biết dối trá, bịp bợm, biết đâm chém thầy cô giáo, biết dùng nhục hình với học sinh, biết gạ tình sinh viên để đổi lấy điểm thi, biết mua bán trinh tiết học sinh tiểu học. Hay bằng chính sách xuất cảng giáo dục này, đảng và nhà nước chỉ đơn thuần để vươn vòi bạch tuộc ra hải ngoại để truyền bá tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh để đào tạo con em người Việt hải ngoại thành những thần dân kệch cỡm biết dùng nhiều bút danh bút hiệu khác nhau để tự đánh bóng cho mình, biết tự tôn mình lên thành bậc “Cha già dân tộc”, biết dùng xảo ngôn để có thể đi qua đời hàng trăm thiếu nữ, để có đến hàng chục đứa con rớt con rơi và rồi cũng biết cách để không thừa nhận chúng…

Ôi đảng ơi, chính sách giáo dục của đảng áp dụng trên đất nước này mấy chục năm qua đã làm băng hoại cả xã hội Việt nam này rồi, hãy có ngay những giải pháp nào thật hữu hiệu cho cái thực trạng đau thương này đi để còn kịp cứu lấy giống nòi. Con em của cộng đồng người Việt hải ngoại hiện biết rất rõ tại sao cha anh của họ đã phải bỏ nước ra đi và tại sao họ lại phải trở thành những người Mỹ người Pháp, người Úc… da vàng… Xin đừng cố gắng lằm băng hoại họ bằng chính sách giáo dục theo mô thức bịt mắt bưng tai của đảng nữa.

Huế Mùa Khai Trường 2010

Nguyễn Phúc Bảo Ân
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Hãy cùng cất lên lời nói thẳng_

Bùi Tín
Sắp đến Đại lễ Ngàn năm Thăng Long, kỷ niệm một ngàn năm khai sáng Triều đại nhà Lý, mở ra một thời kỳ thịnh trị an hòa tự cường cho đất nước. Một điểm son đáng ghi nhớ của Triều Lý là năm 1076, nhà Vua xuống Chiếu kêu gọi thần dân hãy cất lên «lời nói thẳng» cho Vua nghe.Đây có thể coi như bản Tuyên ngôn đầu tiên có ý nghĩa lịch sử về thực hiện tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do phản biện trong xã hội.

Lúc này Đảng Cộng sản Việt Nam (DCSVN) đang mở đại hội các cấp. Bộ chính trị kêu gọi toàn dân góp ý kiến vào các văn kiện của đại hội, nghĩa là phê bình xây dựng cho đảng, nhận xét về sự lãnh đạo của đảng cũng như kiến nghị những điều hay lẽ phải. Thật là quý hóa. Có thể coi như Bộ chính trị thời nay cũng kêu gọi toàn dân. cất lên «lời nói thẳng».

Được lời như cởi tấm lòng. Tôi xin có lời nói thẳng, rất thẳng. Nói thẳng có thể mếch lòng, nhưng thuốc đắng đã tật. Và không có gì quý bằng lòng thành thật. Tôi rất quý câu nói của nhiều bạn, ý rằng: sự thật, chỉ có sự thật là cứu rỗi nổi đất nước này khỏi thảm họa và trầm luân. Tôi đã tự uốn lưỡi hơn 10 lần, để cân nhắc, lựa chọn chữ nghĩa cho chính xác, không tô hồng cũng không bôi đen, mong được các vị dự đại hội đảng các cấp lắng nghe, tùy nghi chấp nhận hay bác bỏ, cũng là để xã hội cùng nghe.

Trước hết tôi chân thành đề nghị đại hội xóa bỏ hết các khái niệm «chủ nghĩa Mác – Lênin», khái niệm «chủ nghĩa xã hội (theo kiểu Mác-Lênin)» cũng như nội dung «xây dựng chế độ dân chủ độc đảng» ở nước ta trong mọi văn kiện, nghị quyết của đại hội. Nếu còn có ý kiến khác nhau, đề nghị tổ chức tranh luận và biểu quyết rạch ròi về các khái niệm then chốt ấy.

Lý do rất rõ ràng, đơn giản. Chủ nghĩa Mác – Lênin từng được vận dụng trong cuộc sống xã hội ở Liên Xô, Đông Âu… đã thất bại triệt để, được kết luận rõ ràng, được Nghị viện Châu Âu cho là sai lầm của lịch sử và tội ác của nhân loại. Chưa có một chế độ độc đảng nào, mang tính chất độc quyền đảng trị, có thể thực hiện được một nền pháp trị công bằng và một nền dân chủ đích thật. Cũng chưa có một chế độ xã hội chủ nghĩa kiểu Mác – Lênin nào mang lại những phúc lợi xã hội như những chế độ xã hội dân chủ đa đảng ở Bắc Âu, cũng như những phúc lợi ở các nước tư bản bình thường khác, như ở Pháp, Đức, Anh, Mỹ, Nhật, Úc…Ai lại phát rồ, phát dại ôm chặt những của nợ cả loài người vứt bỏ.

Xin nhắc lại lời tâm huyết của đảng viên Nguyễn Trung Thành gửi Bộ chính trị và Ban chấp hành trung ương đảng mới đây, yêu cầu triệu tập một Ban viết hẳn dự thảo văn kiện mới, thay đổi hẳn nội dung, theo hướng dân chủ đa đảng, văn minh, hội nhập với thế giới hiện đại. Ông Nguyễn Trung Thành cho rằng chính bọn trùm bành trướng phương Bắc đã dở ngón chiến tranh tâm lý cực kỳ thâm hiểm – thức ăn thiu thối, gắp bỏ cho người. Họ luôn dụ dỗ phía đảng CS Việt Nam kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin, kiên trì chủ nghĩa xã hội kiểu Mác – Lênin - độc đảng, trong khi trên thực tế họ lại thực hiện chủ nghĩa tư bản với kinh tế thị trường phát triển, và chuẩn bị từng bước chuyển lên chế độ đa đảng từ thí nghiệm đến hiện thực.

Hãy nghe Trung tướng Lưu Á Châu, chính ủy học viện Quốc phòng Trung Quốc, - người chịu trách nhiệm chính trước Đảng cộng sản Trung Quốc rèn luyện chính trị cho tất cả tướng tá của hải lục không quân Trung Quốc - ca ngợi chế độ dân chủ tiên tiến, mẫu mực của Hoa kỳ, «một chế độ tuyệt hảo có thể làm người xấu, kém cũng làm được việc tốt», «nơi có điều kiện thật sự tuyển lựa nhân tài cho đất nước», «một mô hình xã hội dành cho người kém cỏi cũng vận dụng được để làm nên việc tốt». Tướng Lưu kết luận như đinh đóng cột rằng nếu cứ ôm chặt chế độ độc đoán thì không tránh khỏi diệt vong, không tránh khỏi sập đổ như chế độ xô viết năm 1991.

Cái tâm địa thâm hiểm độc địa của bọn trùm bành trướng là tìm mọi cách kìm hãm nước ta trong lạc hậu, khủng hoảng, phụ thuộc, không để nước ta vươn lên trước họ, dù rằng nước ta gọn, nhẹ, dễ đồng thuận, uyển chuyển, dễ chuyển mình lên nền dân chủ đa nguyên, như phần lớn các nước, như tất cả mọi nước dân chủ giàu, mạnh, phồn vinh khác. Họ quyết kềm giữ chặt ta, không cho ta bứt phá lên trước, luôn buộc ta lẽo đẽo đi theo, đi sau họ hẳn vài bước, thực hiện trò 2 mặt, nói một đằng làm một nẻo, toàn xui dại ta đủ mọi mặt.

20 năm nay, kể từ cuộc họp bí mật Việt – Trung ở Thành Đô, Bộ chính trị DCSVN đã dại dột, sai lầm, tự nguyện chui vào bẫy của Trung Quốc, ký những hiệp định về biên giới trên bộ và trên biển thua thiệt rõ rệt. Rồi đánh cá chung là thua to, thiệt vô kể khi đội đánh cá của họ lớn gấp 20 lần của ta. Để họ khai thác bôxít trên Cao nguyên là một đòn thua thiệt nặng nề về kinh tế-tài chính-môi trường -an ninh- văn hóa không sao tính hết, với 35 ngàn trai tráng Trung Hoa đột nhập. Để họ tán tỉnh mua rẻ việc quay phim Lý Công Uẩn tại Trung Quốc có 20 tỷ đồng VN (bằng 1 triệu đôla), có nghĩa là bán đứng cả linh hồn dân tộc tự lực tự cường, cũng là bán đứng cả gíá trị tinh thần của Đại lễ Ngàn năm Thăng Long, để đến nay không chiếu phim không được nữa, mà chiếu lại càng không xong, tự dấn vào ngõ cụt. Thế rồi lại còn cho thuê hàng chục vạn héc-ta rừng biên giới để họ trồng phần lớn là keo và bạch đàn, tàn phá đất mầu suốt 50 năm dòng.

Ai chịu trách nhiệm về tất cả những thảm họa quốc gia chồng chất ấy? Lãnh đạo là chọn hướng đi, là đề ra chủ trương, chính sách. Vậy thì ai nhẹ dạ, xiêu lòng, theo hướng «kiên trì chủ nghĩa Mác – Lênin» đã phá sản triệt để trong thực tế, theo hướng «kiên trì chủ nghĩa xã hội» hoang tưởng, chỉ mới có những thử nghiệm méo mó èo uột, trên thế giới không còn ai theo, cho đến Fidel Castro cũng phải công nhận là một mô hình không còn sức sống.

Tất cả là thuộc trách nhiệm của Bộ chính trị, của Ban chấp hành trung ương đảng khóa X, của Đại hội đảng CS khóa X. Không còn có ai khác. Mặc cho biết bao can ngăn, biết bao cảnh báo.

Suốt 20 năm toàn là những sai phạm nghiêm trọng về lý thuyết, về đường lối, về chiến lược, về chủ trương. Có thể lẩy Kiều rất chính xác là:

Ma đưa lối, quỷ dẫn đường,
Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi!

Lãnh đạo là phải nhìn xa trông rộng, lựa chọn đúng hướng đi, lấy tự do hạnh phúc toàn dân làm đích, giương cao ngọn cờ độc lập tự cường, sao lại cứ như cố tình dẫn dắt cả dân tộc lao vào bãi lầy, chui vào bụi rậm.

Xin quý vị tham dự các đại hội đảng hãy biết giật mình lấy một lần, nhìn thẳng vào sự thật đi, hãy chịu nghe những tiếng nói tâm huyết vang lên khắp nơi. Không có phản động hay đế quốc nào xui dục đâu. Lương tâm dân tộc mách bảo đấy.

Có 2 bài học kinh nghiệm bổ ích về không chịu nghe lời nói thẳng. Từ năm 1993 khi đề án khu lọc dầu Dung Quất hình thành, chuyên gia ta, chuyên gia Nga, chuyên gia Pháp đều cho là vị trí Dung Quất không mảy may thích hợp, quá xa nguồn dầu khí, vận chuyển 2 chiều quá đắt, xa nguồn nhân lực kỹ thuật, không có cảng sâu, bất lợi đủ đường. Chuyên gia Nga, Pháp lão luyện trong nghề lắc đầu bỏ đi. Nay đã rõ. Bỏ thì thương, vương thì tội. Một cục bướu khổng lồ dai dẳng. Ma nào đưa lối, quỷ nào dẫn đường vậy ? Một của nợ sừng sững giữa lòng đất nước. Cố thủ tướng Võ Văn Kiệt trước khi chết ngậm ngùi hối hận là đã sai lầm quá lớn vì bị lừa dối trong đề án Dung Quất và cảng Tiên Sa..

Kinh nghiệm Vinashin còn sống động hơn. Khi đặt vấn đề xây dựng nền công nghiệp đóng tàu hiện đại vào bậc nhất châu Á (!), vào loại tiền tiến của thế giới (!), đã có nhiều ý kiến phản biện, từ trong nước, rồi từ Singaporeo, Hồng Kông. Xin đừng ảo tưởng. Đóng tàu viễn dương đâu chỉ có hàn thép tấm với nhau rồi đặt máy lên. Nước Anh, nước Úc, Na Uy, Thụy Điển, Singapore … đi trước ta hơn nửa thế kỷ đóng tàu còn cân nhắc khi đóng tàu nửa triệu tấn, mà sao ta nói tàu 1 triệu tấn cứ ngon ơ. Mỗi con tàu lớn hơn một cỡ là những yếu tố chất lượng cao hơn hẳn một bậc, đâu phải những con số cộng! Riêng nghề nạp đinh, hàn thép tấm lớn, làm vỏ tàu, sơn tàu, các loại máy nổ, máy kéo, xà lan, bến tàu, cầu tầu, bảo quản, sửa chữa, ăn hàng bốc dỡ đủ thứ hàng khác nhau…phải vài chục năm mới thích ứng. Sao mà nhảy một phát thành nước đóng tầu viễn dương hàng đầu châu Á dễ dãi thế được !

Ma nào dẫn lối, quỷ nào đưa đường cho Vinashin chìm ngỉm ngoạn mục đến vậy ? quẳng một lúc 5 tỷ đô la xuống sông, xuống biển. Để đến nay sống dở, chết dở, tái cơ cấu lại càng mờ mịt, tốn thêm hàng núi sức lực, tiền của, thời gian.

Kinh nghiệm lớn nhất của mọi thảm họa là lãnh đạo không ưa, không chịu, không quen nghe lời nói thẳng.

Vậy thì vì nhân dân này, vì đất nước này, yêu cầu lãnh đạo trong thời gian ngắn ngủi trước mắt trước khi bước vào đại hội đảng CS toàn quốc hãy thật sự lắng nghe lời nói thẳng của anh chị em trí thức, chuyên gia, các vị nhân sỹ lão thành, của các bạn trẻ có kiến thức và tâm huyết. Hãy nghe lời nói thẳng về lựa chọn chế độ chính trị đa nguyên, đa đảng trong trật tự, theo chế độ pháp trị công bằng bình đẳng, với một bản Hiến pháp mới tiến bộ, dân chủ, văn minh.

Xin các vị lãnh đạo chú ý cho một điều: bên Trung Quốc, 2 ông Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo vừa mở mạng thông tin giao lưu tự do với toàn dân, ngày đầu đã có 27 ngàn ý kiến giao lưu, đối thoại, hỏi và trả lời. Vậy thì Bộ chính trị Hà Nội cấm phản biện công khai, cấm công dân, cấm tư nhân xuất bản báo chí, các báo phải chịu sự chăn dắt chặt chẽ của ngành tuyên huấn, của bộ thông tin truyền thông, liệu có phải như thế là từ chối không muốn nghe «lời nói thẳng» của nhân dân hay không? Vậy mời toàn dân góp ý vào văn kiện Đại hội XI là trò đùa ư?

Biết nghe lời nói thẳng, sao mà khó thế!
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »


Image

Trung cộng: tứ diện thọ địch


Tôi viết những dòng này để trang trải mối ưu tư day dứt trong lòng vì tương lai của dân tộc Việt nam tùy thuộc vào viễn tượng của một trật tự sẽ hình thành trong tương lai: mà ở đó sẽ quyết định vận mệnh của bản thân mình, gia đình mình và cả đất nước. Hạnh phúc hay bất hạnh, tồn tại hay tiêu vong tất cả tùy thuộc vào cục diện của khu vực và thế giới.

Trong trật tự thế giới ngày hôm nay, nước Mỹ đóng vai trò quyết định, không những quyết định đối với bản thân họ, bạn bè và đồng minh của họ mà còn có vai trò quyết định đối với vận mệnh của một quốc gia xa lơ xa lắc, và chẳng có quan hệ gì về chủng tộc và văn hóa đối với họ, đó là Việt nam.

Đầu thế kỷ 21, người ta chứng kiến sự trỗi dậy của Trung cộng, một con sư tử sau một giấc ngủ dài đầy mộng mị và đắng cay. Con sư tử mang trong ký ức mình một quá khứ vàng son và đầy tủi nhục trong 100 năm của thế kỷ 20.

Lịch sử của Trung quốc là lịch sử của chiến tranh, chính vì lẽ đó người Trung quốc phát triển một tư duy chiến tranh mãnh liệt. Binh pháp Tôn tử là “nghiệp báo” của dân tộc Trung Hoa và theo như ông Lưu Á Châu nói: người Trung Hoa không có tư tưởng, chỉ có mưu lược!. Việt nam chúng ta lại nằm cạnh anh khổng lồ vừa tham lam, tàn bạo, lại đầy mưu lược này. Đây là hiểm họa của dân tộc chúng ta. Để tồn tại, dân tộc chúng ta phải có đầy đủ Trí và Dũng.



Tự thân sự phát triển của dân tộc Trung hoa tạo nên mối đe dọa đối với Việt nam, các nước láng giềng và cả nước Mỹ. Người Hán muốn thực hiện giấc mộng bá chủ thế giới, buộc lòng họ phải vượt qua một trở lực lớn là Mỹ, nói theo ngôn ngữ của “xã hội đen” là “bước qua xác chết của Mỹ”. Nước Mỹ ngày hôm nay là khắc tinh của Trung Hoa cho dù đó là một nước Trung hoa dân chủ hay cộng sản. Nhưng nếu là một nước Trung hoa cộng sản thì nguy hiểm hơn nhiều.

Trung cộng và Mỹ cách xa nhau về địa lý, khác biệt về chủng tộc và văn hóa. Họ không có sự tranh chấp về lãnh thổ và quyền lợi trực tiếp như quan hệ Trung-Nhật, hay Trung-Ấn, Trung-Nga. Nhưng có một thực tế là quyền lợi của Mỹ trải rộng ra khắp thế giới. Người Mỹ chỉ có lợi khi trật tự thế giới được ổn định. Nhưng Trung cộng lại muốn có sự thay đổi và họ cố gắng tạo ra sự thay đổi theo chiều hướng có lợi cho họ.

Cuộc sống thì luôn luôn vận động và thay đổi, thế giới cũng vậy. Một điều hiển nhiên là trong tương lai sẽ hình thành một thế giới đa cực, đó là một điều tốt. Nhưng hiện nay một thế giới đa cực chưa định hình. Trong tương lai gần chỉ có hai thế lực có sức hút mãnh liệt, có tương tác mãnh liệt và cũng có mâu thuẫn mãnh liệt, đó là Mỹ và Trung quốc. Nếu không có gì xảy ra, thì Trung cộng sẽ là một thế lực làm thay đổi tương quan lực lượng rất nhanh chóng và nó sẽ tiếp tục thay đổi nhanh chóng để hình thành một cục diện mới, mà Trung cộng chiếm ưu thế.

Một câu hỏi lớn đặt ra là: Trung cộng sẽ làm gì với ưu thế này. Không ai yên tâm và vui mừng cho dù đó là người lạc quan nhất. Một chế độ độc tài toàn trị và cực kỳ hung ác mà mọi quyết sách lớn nhỏ đều do một nhóm người quyết định thì sẽ vô cùng nguy hiểm. Một nền kinh tế do một nhóm đặc quyền kiểm soát trên danh nghĩa nhà nước sẽ không có động cơ gìn giữ hòa bình vì lợi nhuận. Một xã hôi bị kiểm soát và cai trị bởi một Đảng cầm quyền sẽ không có chỗ cho những tiếng nói bình tĩnh, sáng suốt để có sự lựa chọn đúng đắn và thông minh. Một thế lực như vậy mà có trong tay sức mạnh áp đảo kinh người thì sẽ là một hiểm họa khôn lường cho thế giới, tương lai của nhân loại sẽ bị tuyệt diệt vì sự điên khùng của thế lực này.

Sự phát triển và tham vọng cộng với một chính sách đối ngoại mờ ám như: bảo trợ cho các chế độ toàn trị như Việt nam, Miến điện, Bắc Hàn, Iran ở châu Á, các nhà nước bất hảo ở châu Phi, và những “phi vụ” làm ăn với các nước Hồi giáo cực đoan chống Mỹ. Một mặt Trung cộng làm ăn (và nhờ đó mà giàu có) với Mỹ và phương Tây, mặt khác họ tìm mọi thủ đoạn để làm cho Mỹ và phương Tây suy yếu bằng một chính sách kinh tế bất bình đẳng, và chính sách đối ngoại bất hợp tác và thù địch.

Gần đây Trung cộng gây ra những nghi ngờ, lo ngại và tranh chấp với các quốc gia lớn trong khu vực. Chúng ta hay nghe chính phủ và các nhà lãnh đạo các nước láng giềng lớn nói gì về sự trỗi dậy của Trung cộng (TC).

1/ Nhật Bản:Trong báo cáo thường niên về Quốc phòng được công bố hôm 10 tháng 9 Nhật đã bày tỏ sự quan ngại sâu sắc về sức mạnh quân sự ngày càng tăng của TC.

Tranh chấp chủ quyền biển đảo giửa 2 nước Nhật-Trung là một hồ sơ dai dẳng, tiềm ẩn một nguy cơ xung đột trong tương lai khi tương quan lực lượng thay đổi, hoặc nhu cầu về tài nguyên trở nên bức bách.

Ngoài ra còn có vết thương do lịch sử để lại từ thời kỳ chiếm đóng của Nhật (đây là một điều hệ trọng và nhạy cảm trong quan hệ 2 nước vì người Hoa là một dân tộc đầy lòng tự tôn vẫn mang nặng trong tiềm thức điều sỉ nhục này).

2/ Ấn độ: Quan hệ Ấn-Trung là quan hệ đầy sóng gió và tiềm ẩn nguy cơ tranh chấp, việc TC hậu thuẩn cho đồng minh của họ là Pakistan (kẻ thù nguy hiểm của Ấn độ) là một nhức nhối trong quan hệ 2 nước. Trước Quốc hội Ấn ngày 31/8, Ngoại trưởng Ấn độ S.M Krishma đã tuyên bố rằng: “Trung quốc có v ẻ quan tâm hơn mức bình thường đến khu vực Ấn độ dương. Chúng tôi sẽ theo dõi sát những ý đồ của Bắc kinh và sẽ chú ý đặc biệt đến khu vực này”.

- Ngày 7/9 vừa qua Thủ Tướng Ấn độ Mamohan Singh vốn nổi tiếng về sự ôn hòa đã có lời tuyên bố rất mạnh mẽ “Trung quốc muốn lấn sân tại Nam á. Người Trung quốc ngày càng tự tin về bản thân, họ muốn kìm hãm Ấn độ. Thật khó nói điều này sẽ đi đến đâu, điều quan trọng là cần phải chuẩn bị.”

3/ Nga: Nhóm Valdai (một nhóm chuyên gia nghiên cứu độc lập về chiến lược) thì cảnh báo về nguy cơ từ Trung quốc, trước mắt đối với vùng Viễn đông Nga. Viễn đông là vùng đất giàu tài nguyên như than, dầu mỏ, khí đốt, những thứ mà TC rất cần cho sự phát triển ồ ạt về kinh tế, ở đây đất rộng người thưa và làn sóng di dân người Hán có nguy cơ biến người Nga thành thiểu số ở trên chính đất nước của họ!

Thủ tướng Putin một người thân TC và chống Phương Tây với lời lẽ lạc quan khi nói về TC, nhưng cũng không giấu nổi sự lo lắng hoang mang về ý đồ thực sự của TC với nước Nga! (theo RFI)

Còn Mông Cổ: một quốc gia to lớn về diện tích, giàu có về tài nguyên nhưng chỉ có bốn triệu dân. Ở đây, một làn sóng bài người Hán lên cao đến mức báo động. Họ ý thức rõ ràng cái hiểm họa đang treo lơ lửng trên đầu người Mông cổ.

Ngày hôm nay không biết trong nhãn quan chiến lược của người Mỹ họ coi Trung cộng là gì: đối tác hay đối thủ, là bạn hay thù. Người Mỹ là một dân tộc cởi mở, thực dụng, không hề có tham vọng lãnh thổ, nên sự phát triển của nước Mỹ không những làm cho an ninh thế giới được bảo đảm, trật tự thế giới được ổn định mà nó còn mang lại sự phồn vinh cho cả nhân loại. Đó là một thực tế mà ai cũng công nhận. Tất nhiên người Mỹ luôn vì quyền lợi của nước Mỹ. Quốc gia nào mà chẳng vậy!

Nước Mỹ sẵn sàng sống hòa hợp với mọi quốc gia trên thế giới, kể cả Trung Hoa, nhưng không ai có thể tin chắc rằng người Trung Hoa sẽ chấp nhận chung sống hòa bình, chia sẻ không gian sinh tồn với Mỹ trong 20 năm nữa không? Người Việt chúng ta có đủ kinh nghiệm để đưa ra câu trả lời chính xác là: Không!!

Đối với người Trung Hoa, thế giới này không thể có hai mặt trời. Cho nên tự thân sự phát triển của Trung Hoa tạo ra mối hiểm họa đối với nước Mỹ và thế giới.

Tuy nhận thức được hiểm họa tiềm tàng từ phía Trung Cộng nhưng các nước như Nga-Nhật-Ấn cũng không tìm ra đối sách đơn phương ứng phó với Trung Cộng vì họ còn thua kém TC.

Hiện nay chỉ có Mỹ mới có đủ thực lực đương đầu với hiểm họa này nhưng chẳng lẽ Mỹ lại “thúc thủ” chờ đợi cái hiểm họa chắc chắn sẽ đến?!

Tham vọng và ý đồ của Bắc Kinh đang đẩy họ vào thế tứ diện thọ địch!

Chuyện gì sẽ xảy ra trong tương lai gần khó mà biết được nhưng một điều chắc chắn là sẽ đầy sóng gió… đứng trước thế giới bất ổn và đầy mâu thuẩn, những ai quan tâm đến vận mệnh và tương lai của đất nước không thể không âu lo. Một câu hỏi lớn đang đặt ra là: Liệu CSVN có đủ bản lĩnh và khôn ngoan để lãnh đạo đất nước trong giai đoạn đầy sóng gió trước mặt?

Đảng CSVN luôn đặt lợi ích của đảng lên trên lợi ích của dân tộc nên đối sách và sự chọn lựa của họ sẽ đi theo hướng này.

Để biết được hành động của TC trong tương lai chúng ta cần phải xác định, mục đích tối hậu của Trung Cộng là gì?

- Đó là mở rộng không gian sinh tồn của người Hán, chiếm đoạt tài nguyên của các quốc gia khác và thống trị thế giới. Như vậy các nước đất rộng người thưa và giàu tài nguyên sẽ là mục tiêu mà Trung Cộng nhắm tới. Trước tiên là Kadactan, Mông cổ và các nước Trung Á, tiếp theo sẽ là nước Úc (Không nghi ngờ gì khi Úc là miền đất mà TC sẽ “đặc biệt” quan tâm) TC sẽ dùng Chiến tranh để nuôi dưỡng chiến tranh! Nếu ngày hôm nay Mỹ không đủ bản lĩnh để đánh phủ đầu Trung Cộng thì 10 năm nữa điều này khó khăn hơn nhiều nếu không muốn nói là bất khả!

Nhưng có những chỉ dấu cho thấy tuy bên ngoài Mỹ “tỏ vẻ” không lo lắng nhiều về TC, nhưng họ đang ráo riết chuẩn bị đối đầu với TC trong một ngày không xa. Nói như chuyên gia Rick Rozoff: Chiếc thòng lọng đang siết chặt dần chung quanh TC.

Quan hệ Trung-Mỹ những ngày tháng tới sẽ đầy sóng gió.

Đối với dân tộc VN, sự thắng thế của Trung cộng hoàn toàn bất lợi và nguy hiểm cho đất nước Việt Nam. Hiện nay tập đoàn CSVN là cây tầm gởi trên cây cổ thụ Trung Cộng. Trung cộng sụp đổ sẽ tất yếu dẫn đến sự sụp đổ của Việt cộng, chính vì vậy mà VC không muốn TC sụp đổ nhưng cũng không biết đối phó như thế nào trước tham vọng quá lộ liễu của TC nhất là ở Biển Đông.. Đây chỗ bế tắc của CSVN.

- Giải pháp cho dân tộc VN là cần có ngay một hội nghị Diên Hồng… và mọi quyết định liên quan đến vận mệnh đất nước cần phải được trưng cầu dân ý.

Huỳnh ngọc Tuấn
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 8 guests