Bình Luận , Quan Điểm

hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Thành Lập NATO Phương Đông

Lê Văn Xương
Nhiều cuộc phô diễn quân sự liên tục tại Thái Bình Dương của Mỹ cùng các đồng minh trên vùng biển Hawai cũng như vùng biển Triều Tiên ; các lời tuyên bố mạnh của nhiều quan chức cao cấp Mỹ liên quan đến Biển Đông ; hàng loạt các cuộc thăm viếng của các giới chức Anh đến Ấn Độ ; các dấu hiệu khác cho thấy lần đầu tiên kể từ sau khi rút khỏi Đông Dương năm 1955 theo thỏa hiệp Geneve chia đôi VN năm 1954, Pháp đang tỏ dấu hiệu cho thấy cũng đang chuẩn bị trở lai vùng Đông Dương theo một cách nào đó ; Nga cũng đang tập trận tại vùng Sibia với phương tiện chiến tranh được tăng cường mạnh mẽ, song song với việc mở rộng quan hệ quân sự với VN ; Nhật cũng đang tìm kiếm cách thức củng cố quan hệ chính trị an ninh với VN . Đối lại với các diễn biến đó, Bắc Kinh lên tiếng đả kích dữ dội nhắm vào Mỹ , tập trận bắn đạn thật trên quy mô lớn kết hợp hai hạm đội tại vùng biển Đông của nước ta .

Đụng độ quân sự tuy chưa sảy ra theo cách thức kiểu cổ điển, nhưng hình thái chiến tranh hiện đại nhất thực tế đã sảy ra rồi . Tình hình này đặt ra câu hỏi là : có sự khác biệt nào giữa việc Âu Châu xâm lăng Á Châu để biến thành thuộc địa hồi thế kỷ 19, với cuộc trở lại Á Châu của các thế lực Phương Tây hôm nay hay không ? và rồi tương lai của Á Châu sẽ ra sao ? một lần nữa trọng tâm tranh chấp tại Á Châu vẫn tập trú vào vùng bán đảo Đông Dương nà VN là điểm chiến lược quan trọng nhất trong cuộc chiến tối hậu này . Lịch sử đang được lập lại nhưng với chủ hướng mới, hy vọng mới ; cũng khá giống với chính tình Âu Châu trước khi thế chiến II nổ ra vào năm 1939 để dẫn đến chỗ quân Mỹ phải có mặt lâu dài tại Tây Âu để giúp ổn định tình hình tại đấy, xây dựng lại Tây Âu, đối đầu với Liên Xô trong chiến tranh lạnh ; để dẫn đến chỗ về căn bản thì toàn Âu Châu được thống nhất về một mối vào cuối thế kỷ 20 .

THẾ GIỚI ĐÃ THAY ĐỔI QUÁ SÂU RỘNG TRONG HAI THẾ KỶ QUA

Văn minh Âu Châu vào thế kỷ 19 thực ra vẫn chỉ mới ở bước khởi đầu trong quá trình chuyển hóa xã hội Âu Châu Trung Cổ sang xã hội Âu Châu hiện đại . Họ chưa thực sự hiểu về chính mình cũng như thế giới khách quan ; cho nên Âu Châu vào thế kỷ 19 vẫn bị chi phối bởi lối hành xử theo kiểu cổ lấy việc chiếm đoạt làm mục tiêu tối hậu để bảo đảm sức mạnh . Chủ trương như vậy đã được biết bao chế độ khác nhau từ đông sang tây thực thi trong suốt mấy ngàn năm lịch sử đã qua . Trước các tranh chấp liên miên tại Âu Châu nhân danh quyền lợi quốc gia, được cổ vũ bởi việc Tây Ban Nha mau chóng trở nên giầu có vượt bực khi xâm chiếm thuộc địa tại Nam và Trung Mỹ . Tây Ban Nha có khả năng chi phối cả Giáo Hoàng La Mã trong việc bảo vệ quyền lợi của Tây Ban Nha tại Tân Thế Giới, cũng như Bồ Đào Nha tại Viễn Đông . Nhiều quốc gia Âu Châu khác có lợi thế trên biển đua nhau tìm kiếm các cơ hội xâm chiếm thuộc địa để vơ vét tài nguyên cũng như bảo vệ thị trường của mình . Anh Quốc nổi lên để rồi đụng độ với Pháp trên biển vào đầu thế kỷ 19 khi thế lực Tây Ban Nha suy yếu hoàn toàn .

Nước Mỹ Hội Kín cứ tĩnh tọa chiêm quan các diễn biến sảy ra tại Âu Châu cũng như các vùng thuộc địa do Âu Châu chiếm đóng . Mỹ biết rõ một Âu Châu phân hóa đầy mâu thuẫn sẽ là cơ hội lớn để Mỹ vượt lên lãnh đạo thế giới, giải tán chế độ thực dân cũng như chủ nghĩa Cộng Sản để đem lại cho hòa bình cho thế giới . Các thế chiến, chiến tranh lạnh trong thế kỷ 20 đều nằm trong các toan tính thống nhất đó . Lịch sử lâu đời hàng ngàn năm của Hội Kín Freemason kết hợp với Hội Kín Cựu Dòng Tên là một nhánh thuộc Giáo Hội Công Giáo La Mã tự khắc biết cách thức bình định và xây dựng lại thế giới như thế nào . Cho nên chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa Cộng Sản phải bị dẹp tan là vậy .

Có như vậy thì thế giới mới huy động tổng lực được trí tuệ toàn cầu trong việc phát triển khoa học kỹ thuật , vốn được coi là chìa khóa giải quyết hàng loạt các tranh chấp do trình độ chậm tiến về trí tuệ đối với phần còn lại của thế giới gây ra, cũng như các cuộc tranh chấp đòi quyền quyền sống đối với nhiều vùng trên thế giới . Chỉ trong một thế kỷ kể từ khi Albert Einstein xuất hiện chánh thức năm 1915 đến nay, thế giới đã đạt được nhiều tiến bộ rất ngoạn mục không thể tưởng tượng nổi , hứa hẹn khả năng giải quyết căn bản mối lo của nhân loại liên quan đến miếng ăn, chỗ ở, an toàn bản thân . Tài nguyên thiên nhiên chẳng thiếu trên trái đất này, khoa học kỹ thuật cho phép loài người có thể khai thác được các loại tài nguyên trong vũ trụ cũng như khôi phục lại hệ sinh thái toàn cầu . Nhưng nỗ lực lớn lao ấy chỉ thực hiện được khi tranh chấp giữa một nhóm quốc gia vẫn bị chi phối bởi chủ nghĩa bành trướng theo lối cũ phải bị dẹp tan .

Nhiều người cảm thấy bi quan khi nhìn thế kỷ 20 toàn thấy chiến tranh thôi, chết chóc quá lớn, tương lai vẫn đầy bất ổn . Thực tế không phải như vậy . Tiến bộ mà con người đạt được trong thế kỷ 20 lớn lao lắm . Xin cứ nhìn Âu Châu trong đầu thế kỷ 20 hỗn mang như thế nào, chế độ thực dân tồi tệ ra sao, nhiều quốc gia Âu Châu cũng như Nhật Bản tiếp tục lao vào con đường chủ nghĩa đế quốc . Sau chiến tranh, đến cuối thế kỷ 20 Âu Châu ổn định, mầm mống chiến tranh bị dẹp bỏ . Người dân Âu Châu - kể cả vùng Balkan đầy xáo trộn về chủng tộc , tôn giáo đã từng là chiến địa của biết bao nhiêu cuộc chiến từ thời cổ đại để lại - ngày nay đã biết đến hòa bình , ổn định và thịnh vượng . Hãy cứ xem nước Nga chủ trương đế quốc từ khi lập quốc đến giờ, cũng chỉ miệt mài thôn tính nước khác, nay đang đạt được các tiến bộ rất đáng khích lệ trong việc hội nhập toàn diện với Âu Châu và đang đóng góp tích cực vào việc tạo dựng một thế giới mới .

Đối với phần còn lại của thế giới mà cụ thể nhất là tại Á Châu đầy dẫy các tranh chấp do lịch sử để lại vốn được coi là phức tạp hơn tình hình tại Âu Châu vào đầu thế kỷ 20 rất nhiều, thì ngày nay các giá trị về tự do dân chủ đang từng bước bén rễ trong lòng các xã hội ấy , dĩ nhiên ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào lịch sử của từng vùng . Á Châu quá rộng lớn nên mọi so chiếu với Âu Châu vào hồi đầu thế kỷ 20 cần được chia làm ba vùng khác nhau , đó là vùng Trung Đông Lưỡng Hà, vùng Nam Á, vùng Viễn Đông . Mỗi vùng có những đặc trưng khác nhau, mức độc chín mùi khác nhau , cho nên cách giải quyết cũng khác nhau đối với thế giới trong thế kỷ 21 này . Mặc dù về tổng quát thì cả ba vùng thuộc Á Châu mênh mông đó bị chi phối sâu rộng bởi chủ nghĩa bành trướng Hán Hoa , các đối sách của Ấn Độ cũng như Nga ở phía Bắc, cũng như các nước Đông Nam Á sẽ làm cho cục diện Á Châu thay đổi sâu sắc trong 20 năm đầu của thế kỷ này .

HIỆN TÌNH Á CHÂU

Hai thế chiến cũng như chiến tranh lạnh nhằm mục tiêu cụ thể là giải quyết các mâu thuẫn về quyền lợi giữa các quốc gia Âu Châu với nhau . Dù có những khác biệt nhất định, nhưng nền tảng các xã hội Âu Châu vẫn thống nhất dựa trên tinh thần Kyto giáo ; ấy thế mà Âu Châu cũng không thể tự mình giải quyết được bất đồng quyền lợi, phải nhờ đến sự tiếp tay của Mỹ một cách kiên quyết mới thống nhất Âu Châu được .

Tình hình Á Châu phức tạp hơn rất nhiều :
a / tại đó các đế chế đã từng tồn tại liên tục đến 2500 năm , như Hán Hoa, Iran chẳng hạn , họ lại rất hãnh diện về lịch sử lâu dài của mình nên luôn muốn tái tạo dựng đế chế kiểu xưa bất chấp các thay đổi của tình hình thế giới .
b / tại đó các tôn giáo đã từng là đầu mối của biết bao cuộc chiến sảy ra , các xã hội ấy vẫn chưa thoát khỏi tình trạng bị các nhóm giáo quyền chi phối về mặt tinh thần, nên mọi thay đổi hoặc can thiệp từ bên ngoài dễ dẫn đến điều mà ta gọi là chiến tranh tôn giáo hay chiến tranh văn hóa (Culture Schock) .
c / tại đó họa da vàng trở thành một thực tế hiển nhiên trong thế kỷ này khi Á Châu không còn bị các thế lực phương tây chi phối kềm hãm như đã xảy ra trong quá khứ ; Hồi Giáo có tỷ lệ sinh sản cao nhất thế giới bất chấp các hệ lụy để lại cho thế giới nhỏ bé này ; khối dân Tầu trên 1.3 tỷ sẵn sàng xâm thực thế giới .
d / Á Châu quá khác biệt về chủng tộc do quá trình thiên di cả trên chục ngàn năm để lại , cho nên mâu thuẫn chủng tộc cũng nặng nề hơn rất nhiều so với Âu Châu . Có vùng tiến bộ như Nhật Bản chẳng hạn, nhưng nhiều vùng khác vẫn sống và suy nghĩ như thời Trung Cổ ở Á Châu còn sót lại như Afghanistan chẳng hạn . Các chủng tộc như người Huns trắng sống trong vùng Trung Á đến Afghanistan, người có nguồn gốc Ariel tại Trung Đông, người Huns vàng xuất phát từ Malta thuộc bắc Mông Cổ thuộc Nga ngày nay, người Liujiang tức là Bách Việt cổ xuất xứ từ vùng Quảng Đông hiện nay . Các yếu tố chủng tộc, văn hóa, tôn giáo kết hợp lại làm cho Á Châu trở thành vùng phức tạp nhất thế giới .
e / Thời kỳ bị Âu Châu cai trị để lại cho Á Châu nhiều dị nghị đối với Âu Châu . Chiến tranh lạnh thông qua chủ nghĩa Cộng Sản chủ yếu nhắm vào việc tàn phá trật tự cũ tại vùng đất đầy bất ổn này ; đã đẩy Á Châu rơi vào tình huống bị một vài nước lớn trong vùng nuôi tham vọng thôn tính kiểu thuộc địa cũ .

Á Châu nay bất ổn toàn diện là vậy . Cần giải quyết tình trạng này thì thế giới mới yên được .

Á CHÂU KHÔNG THỂ TỰ GIẢI QUYẾT ĐƯỢC BẤT ỔN TẠI ĐÓ

Lịch sử đã để lại cho ta nhiều bài học để đời, mâu thuẫn song phương luôn dẫn đến chỗ một thế lực khác từ bên ngoài nổi lên nhằm giải quyết các tranh chấp song phương . Trong thời cổ đại tại Trung Đông, Assyrian với Ai Cập tranh chấp đã dẫn đến chỗ bị Persia nổi lên thanh toán cả hai để hình thành đế chế Achaemenid lừng danh một thời . Đế chế vĩ đại do Alexander the Great thành lập sau đó cũng từng bước phải nhường chỗ cho đế quốc La Mã . La Mã suy tàn để hình thành nhiều quốc gia Âu Châu ngang tài ngang sức để dẫn đến chỗ Âu Châu lâm vào chiến tranh triền miên suốt thời Phục Hưng cũng như Trung Cổ . Âu Châu tự mình chẳng thể giải quyết được mâu thuẫn của mình cho đến khi nước Mỹ Hội Kín can thiệp trực tiếp mới giải quyết được vấn đề Âu Châu .

Á Châu không có biệt lệ nào cả . Hán tộc bành trướng theo đúng truyền thống của mình là điều chẳng xa lạ gì đối với những ai để tâm quan sát lịch sử Á Châu trong lâu dài . Hán tự coi là chủ của toàn Á Châu xuất phát từ tranh chấp Việt Hán từ thời thái cổ để lại , xuất phát từ cuộc xâm lăng của Mông Cổ trên toàn cõi lục địa Á Châu trải dài đến Trung Đông và Nam Âu thuộc Nga , xuất phát từ chỗ bị Phương Tây khinh mạt trong thời thuộc địa . Dù sao, so với các quốc gia khác tại Á Châu đã bị cái bóng của Hán che khuất trong thời gian lâu dài của lịch sử vùng này . Tại Á Châu này cũng chỉ có hai quốc gia không bị Âu Châu biến thành thuộc địa là Nhật và Hán, mặc dù Hán đã bị Liệt Cường xâu xé bắt phải mở tô giới đối với một số cảng dọc duyên hải , hai lần nha phiến chiến tranh khiến Hán phải mở cửa để người Anh bán thuốc phiện sản xuất từ Afghanistan , Hán phải bồi thường chiến phí . Hán cũng đã từng bị Nhật xâm lăng phải nhượng đất đai cùng vùng ảnh hưởng trên bán đảo Triều Tiên khi Nhật nương theo thế của Anh thông qua các ưu đãi tài chánh kỹ thuật để tạo dựng sức mạnh trong vùng Đông Bắc Á, cản chân Nga đi ra biển, xâm chiếm lãnh thổ Hán trong đầu thế kỷ 20 .

Nhưng chủ quyền của Hán nói chung vẫn tồn tại trong thực tế, Hán đã biết lợi dụng cơ hội đó để học hỏi phương Tây, đưa người đến định cư tại Đông Nam Á cũng như nhiều nơi trên thế giới để hình thành nước Hán hải ngoại . Điều này làm cho Hán có được những hiểu biết về phương tây đầy đủ hơn so với các quốc gia khác vẫn tranh đua với Hán ở phía Nam nay thuộc Đông Nam Á . Đông Nam Á lại là vùng không có quốc gia nào đủ hùng mạnh để làm đối trọng với Hán trên vùng Viễn Đông . Quốc gia có thể làm đối trọng với Hán duy nhất tại Á Châu Lục Địa là Ấn Độ nằm phía tây Hy Mã Lạp Sơn không tiện giao thông đi lại nên hai khối này chưa hề có dịp đụng nhau trong suốt lịch sử lâu đời của Á Châu . Nhưng Ấn Độ lại không phải là quốc gia được hình thành dựa trên cấu trúc chính quyền trung ương hùng mạnh như Hán đã đạt được từ trước thời nhà Hán (tức là nhà Tần) . Tại đó (Ấn Độ) mỗi vùng một thời nổi lên chi phối các vùng khác để hình thành kiểu chính quyền trung ương lỏng lẻo , trong khi các nhà nước nhỏ vẫn tồn tại một cách độc lập . Điều này làm cho nước Ấn dễ trở thành kiểu nhà nước Liên Bang hơn so với Hán .

Theo ghi nhận được Concise History of the World ghi lại thì năm 1800 dân số Hán được ghi nhận là 300 triệu , năm 1850 dân số thuộc đế quốc nhà Thanh được ghi nhận là 420 triệu , năm 1854 thì người Hoa đầu tiên tên là Yung Wing đã tốt nghiệp trường Yale . Các con số nêu trên chỉ dựa trên vùng lãnh thổ Hoa Lục do nhà Thanh cai trị hay bao gồm cả các vùng phụ cận mà Thanh Triều tự coi là lãnh thổ của mình là điều không được nói tới rõ ràng . Nhưng như lời Napoleon đã nói : “ Trung Hoa thức giấc, thế giới rung chuyển ” . Rất đúng như vậy, các sự kiện nêu trên là bước khởi đầu để báo hiệu một Trung Hoa thức giấc . Và như lịch sử toàn vùng đã để lại : “ một Hán-Hoa thức giấc thế nào cũng đụng độ với lân bang , chính yếu là với Việt Nam ” .

Lịch sử Á Châu cho đến cuối thế kỷ 18 vẫn là lịch sử của các cuộc tranh chấp giữa Việt với Hán . Tình hình thay đổi khi văn minh Phương Tây xuất hiện chi phối chính tình trong vùng . Nhiều nước khác vẫn giữ thái độ chống phương Tây cực đoan nên đã bỏ lỡ nhiều cơ hội tìm hiểu về văn minh phướng Tây một cách có hệ thống (như trường hợp nhà Nguyễn với Ông Nguyễn Trường Tộ và Bùi Viện chẳng hạn) , nên hiểu biết về thế giới bên ngoài thực tế chậm hơn Hán đến mấy chục năm .

Nhà Thanh nổi lên cai trị Hoa Lục đã đẩy rất nhiều tầng lớp cựu quan lại nhà Minh phải đi lưu vong tại Đông Nam Á , từ Đông Nam Á khi thế lực phương Tây xuất hiện trong vùng, những di dân này trở thành những người đầu tiên hợp tác với các thế lực cai trị phương Tây về thương mại, tài chánh . Thế là nước Tầu hải ngoại hình thành , tiếp tục mở rộng đến khắp thế giới, để đặt nền tảng cho chủ nghĩa bành trướng Hán Tộc thời cận đại (dù CS hay Quốc Dân Đảng cũng thế thôi) . Mạng lưới toàn cầu này của Hoa Kiều Hải Ngoại đã thúc đẩy Tôn Văn hình thành chủ nghĩa Tam Dân để vừa đối phó với nhà Thanh đang suy tàn vừa đáp ứng đối với thế lực Phương Tây . Thực ra Tam Dân là khẩu hiệu chính trị có mục đích hứa hẹn cho người dân Trung Hoa về một nước Hán Hoa mạnh về mọi mặt (Dân Tộc) trên căn bản xã hội dân chủ để đem lại đời sống ấm no cho nhân dân (Dân Sinh) , chứ chẳng phải là học thuyết gì cả như nhiều người vẫn hằng suy tôn .

Mao Trạch Đông đến với chủ nghĩa Cộng Sản tại Nga là biết xử dụng mâu thuẫn giữa Nga với Tây Âu , dựa trên nhận định mang tính chiến lược là : “ kẻ thù của kẻ thù ta là bạn ta ” . Mặt khác Nga với Hoa liền biên giới sâu trong nội địa, như vậy Phương Tây không thể can thiệp nhằm hủy diệt sức mạnh của Mao được . Mao coi chủ nghĩa Cộng Sản là công cụ củng cố sức mạnh cho Hán Hoa trong tham vọng bành trướng lãnh thổ để từng bước tới tới việc thôn tính thế giới . Cần lưu ý rằng, một số ít người Cộng Sản thân cận với Mao đều là những người được học hỏi kỹ lưỡng tại Âu Châu như Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình đều du học tại Pháp trước khi tham gia thành lập Đảng CS tầu . Do thế, họ hiểu biết về thế giới hơn hẳn các lãnh tụ chính trị tại các nước Đông Nam Á . Cho nên Mao coi Tưởng chỉ là công cụ của Phương Tây, nên không triệt để thi hành chủ trương bành trướng Hán Tộc được . Mao quyết liệt chống Tưởng là vậy, vì Mao tin rằng Tưởng không biết thương thuyết với Phương Tây dựa trên sức mạnh nên dễ chấp nhận tương nhượng làm mất quyền lợi chiến lược của Hán . (thương thuyết phải dựa trên sức mạnh để hậu thuẫn cho các tương nhượng quyền lợi) .

Sự việc Mao bành trướng kết hợp với chủ trương bành trướng của Nga được Stalin thi hành triệt để là cội nguồn của chiến tranh lạnh . Phương Tây mà cụ thể ở đây là Mỹ chủ trương diệt chủ nghĩa bành trướng Nga trước , sau đó đến chủ nghĩa bành trướng Hán Hoa . Việc này ta đang chứng kiến các diễn biến chính trị quân sự đang sảy ra trên toàn cõi Á Châu .

Chiến tranh tại Âu Châu làm cho Âu Châu suy yếu đi , đó là cơ hội để Hán cũng như Hồi Giáo nổi lên tạo dựng sức mạnh nhằm cố khôi phục lại vị trí của mình đối với Phương Tây, dựa trên khối dân số mang tính áp đảo để từng bước dẫn tới mục tiêu thống trị toàn cầu của hán kết hợp với Iran cũng là quốc gia có truyền thống xâm lăng suốt từ thời cổ đại đến giờ này . Tham vọng bành trướng đó tất yếu sẽ dẫn đến chỗ đụng độ giữa Hán với Ấn Độ ở phía Tây cũng như với Nga ở phía Bắc, với các quốc gia Đông Nam Á ở phía Nam .

SỰ HÌNH THÀNH LỰC LƯỢNG

Khi Mỹ tham chiến trong thế chiến II, Mỹ trực tiếp điều hành hai mặt trận tại Âu Châu cũng như tại Thái Bình Dương . Sức mạnh của Mỹ vào thời điểm đó đã vượt xa Âu Châu cũng như Nhật Bản về mọi mặt . Ngày nay Âu Châu cũng như Nga về căn bản đã thống nhất cùng với Mỹ để tạo dựng lực lượng Đồng Minh thực sự trong lâu dài chứ không phải chỉ là đồng minh ngắn hạn như kiểu hợp tác Nga Mỹ hồi thế chiến II . Mặt khác, khi Tầu bành trướng trên bộ, trên biển, dựa trên sức mạnh kinh tế (Tầu mới tuyên bố vượt qua kinh tế Nhật, để trở thành nền kinh tế đứng hạng hai trên thế giới ) cũng như sức mạnh của đạo quân thứ năm nay có mặt trên khắp thế giới, nhất là vùng Đông Nam Á hiện do Tầu kiểm soát về kinh tế , tài chánh . Việc này ngay tức khắc tạo ra mối quan ngại của các quốc gia trong vùng liên quan đến chủ trương xâm thực của Tầu nhắm vào vùng Đông Nam Á , nên các quốc gia Đông Nam Á phải gấp rút tìm kiếm đồng minh để ngăn chặn đà bành trướng của Tầu xuống phía nam .

Tầu bành trướng sẽ tạo ra đe dọa đối với Ấn Độ, với Úc, với Nhật cũng như Nam Triều Tiên . Khi Tầu tuyên bố chủ quyền trên toàn vùng biển Đông của nước ta . Việc đó ngay tức khắc vi phạm luật quốc tế về biển cả . Mỹ cũng như Âu Châu kể cả Nga chẳng thể đứng im nhìn Tầu đe dọa an ninh toàn vùng . Thế lực Đồng Minh nay được mau chóng hình thành dựa trên sự kết nối hàng loạt quốc gia bị Tầu đe dọa quyền lợi sinh tử theo cách trực tiếp hay gián tiếp . Trên tầm nhìn rộng hơn nữa liên quan đến toàn vùng Thái Bình Dương , các nước bên bờ tây của Châu Mỹ cũng chẳng thể đứng ngoài cuộc được , các nước Âu Châu cũng chẳng thể làm ngơ trước hiểm họa do Tầu cố tình gây ra đối với thế giới .

Đó là những gì ta đã chứng kiến trong thời gian chưa đầy ba tháng qua khi chiến hạm Cheonan của nam triều Tiên bất ngờ bị tầu ngầm của Bắc Triều Tiên đánh đắm vào cuối tháng ba vừa qua trên vùng biển Hoàng Hải thuộc lãnh hải còn đang tranh chấp giữa hai miền Nam, Bắc Triều Tiên . Biến cố này cảnh tỉnh các nước trong vùng Đông Nam Á về hiểm họa do Hán gây ra đối với an ninh toàn Á Châu trên lục địa cũng như trên biển . Họ phải quyết định một thái độ lập trường cụ thể với Tầu , họ phải chọn một đồng minh trụ cột để tập hợp lực lượng nhằm đối phó hữu hiệu với các đe dọa xuất phát từ Bắc Kinh . Lực Lượng Đồng Minh Lớn được hình thành là vậy .

Như thế, xét về tương quan lực lượng thì Hán ngoài dân số trên 1.3 tỷ người được xử dụng như công cụ tràn ngập lân bang khi Hán bị đẩy vào chân tường . Hán tự coi đây là kế sách tối hậu theo kiểu “ bất chiến tự nhiên thành ” . Một khi Hoa Lục có bị tan hoang do chiến tranh với Mỹ, Nga, Ấn Độ cũng như Nhật trong trận chiến toàn diện bằng vũ khí nguyên tử với hỏa tiễn , thì các nước đối đầu với Hán cũng bị sứt mẻ ở mức độ nhất định . Khi đó số dân Hán cũng đã tràn ngập các lân bang rồi (kể cả vùng Siberia hay Trung Á cũng như Đông Nam Á) . Cho dù có thua trận chiến này thì thực tế, Hán cũng đã chiếm hoàn toàn vùng lãnh thổ xung quanh Hán, diện tích nước Hán sẽ mau chóng tăng lên ít nhất 3 triệu Km vuông đất chỉ trong một coup chiến tranh do Hán cố tình gây ra, và sẽ tiếp tục mở rộng theo cấp số nhân sau đó . Một khi đã chiếm xong Đông Dương cùng với Thái Lan, Miến Điện thì con đường đến Ấn Độ Dương được mở rộng thênh thang cho Hán bành trướng .

Hán tự biết là đang bị vây hãm đến mức tối đa bởi nhiều lực lượng Đồng Minh được kết hợp bởi nhiều quốc gia có chủ quyền . Hán đề ra nhiều sách lược khác nhau, tựu chung vẫn là từ từ gặm nhắm các lân bang thông qua mọi hình thức đầu tư thương mại, di dân để tạo dựng thế lực thân Hán tai chỗ, kết hợp với đường lối thương mại lươn lẹo thông qua các công ty khai thác tài nguyên, thực ra là các đội quân xâm lăng trá hình với sự yểm trợ bởi lực lượng quân sự để đe dọa tinh thần các nước lân bang trong kế hoạch xâm lăng mềm . Tuy vậy Hán sẵn sàng đi vào chiến tranh toàn diện kết hợp với di dân ồ ạt chiếm khắp vùng Đông Nam Á cũng như các hải đảo tại Thái Bình dương thuộc dẫy hải đảo thứ hai mà Hán đã dự trù .

Trước hiểm họa đó, Hoa Kỳ cũng như Đồng Minh đâu còn chọn lựa nào khác ngoài việc củng cố vững chắc khối Đồng Minh rộng lớn, sẵn sàng đánh trả Hán toàn diện về mọi mặt . Cuộc chiến này quả thực vô tiền khoáng hậu là vậy . Điều kiện hiện nay khi so chiếu với thế chiến II có những khác biệt nhất định , trong thế chiến II phe Đồng Minh chỉ hình thành sau khi cả Đức, Ý, Nhật tuyên chiến với Mỹ mà thôi . Vào lúc này Hán không hề tuyên chiến với Mỹ một cách chánh thức, hai phía vẫn đối thoại về những vấn đề có thể đối thoại được, ấy thế mà Mỹ lại thúc đẩy hình thành phe Đồng Minh thì điều này cũng lạ lắm . Như vậy đằng sau đó phải có những vấn đề thật sự nghiêm trọng đang sảy ra trong mối quan hệ Hoa, Mỹ .

DIỄN BIẾN TÌNH HÌNH

Sự kiện Cheonan được coi như giọt nước làm tràn ly, lần đầu tiên từ sau thế chiến II đến nay, một chiến hạm bị đánh đắm bởi lực lượng đối nghịch . Thế giới phải phản ứng đúng mức thôi . Nếu không phản ứng đúng cách các quốc gia hung đồ như Iran chẳng hạn có thể đánh đắm chiến hạm các nước khác di chuyển trên vùng biển quốc tế (một tầu dầu của Nhật mới bị tấn công nhẹ trong vùng biển Hormutz thuộc vịnh Persia) . Việc này dẫn đến chỗ hải quân Mỹ cùng với Nam Triều Tiên tập trận trên vùng biển Hoàng Hải phía đông Nam Triều Tiên, vốn được coi là vùng biển nhạy bén đối với an ninh của Tầu . Như vậy việc tập trận này ngoài việc gởi đến cho Bắc Triều Tiên một tín hiệu mạnh mẽ . Mỹ còn gởi đến cho Bắc Kinh một thông điệp rõ ràng : “Mỹ trở lại Á Châu” . Chính thông điệp này đã làm cho Bắc Kinh cảm thấy ngột ngạt . Bắc Kinh cảm nhận được rằng : Mỹ bắt đầu coi Bắc Kinh là kẻ thù trong thực tế . Bắc Kinh không ngờ rằng mối quan hệ Mỹ-Hoa lại tồi tệ đi mau chóng như vậy .

Sự kiện Cheonan làm nổ bùng các tranh chấp tại vùng Biển Đông nước ta , cả vùng này Tầu tự coi là lãnh thổ thuộc tuyến hải đảo thứ nhất, được Tầu gọi là vùng biển lưỡi bò . Như thế, an ninh toàn vùng thực tế bị đe dọa nghiêm trọng và rất cụ thể bởi Hán . Hôm nay chiến hạm Nam Triều Tiên bị đánh đắm mà không bắt được tận tay kẻ thù vì Bắc Triều Tiên vẫn chối , ngày mai chiến hạm Mỹ bị đánh đắm theo kiểu như vậy thì sao . Một khi trật tự hàng hải bị đe dọa sẽ dẫn đến biết bao hệ lụy khác tiếp theo sau , như vậy thế giới này thực tế lâm vào thế bị khủng bố bởi quốc gia chứ không phải chỉ là các tổ chức vô chính phủ như al Queda chẳng hạn . Suy rộng thêm nữa ta lại thấy các quốc gia khác cũng chứa chấp các hành vi như vậy, đối với trật tự thế giới thì hệ lụy đối với thế giới là không thể lường được, do thế Mỹ cũng như các đồng minh trong vùng phải hành động quyết liệt là vậy .

Xét trên cục diện toàn vùng thì, trước tham vọng bành trướng của Bắc Kinh nay ra mặt cấu kết với Iran chủ trương Hồi Giáo Cực Đoan nhằm thao túng vùng Nam Á, thông qua các công cụ tại Pakistan cũng như các nhóm Maoist tại Ấn Độ cũng như các nước nằm ở triền phía Tây của Hy Mã Lạp Sơn, đe dọa an ninh của Ấn Độ trên biển cũng như trên đất liền . Iran là quốc gia thuộc đế chế Achaemenid cách nay trên 2500 năm, có dân số lớn nhất trong vùng Trung Đông ; từ thời cổ đại đã có các tranh chấp với Thổ Nhĩ Kỳ cũng như Ai Cập nhằm dành quyền kiểm soát Lưỡng Hà, đã từng nhiều lần thôn tính Afghanistan cũng như Pakistan . Nay cũng nuôi tham vọng lớn cố khôi phục lại hào quang khi xưa . Do thế sự cấu kết giữa Tầu với Iran là điều hiển nhiên . Điều này giải thích tại sao trên 90,000 trang tài liệu liên quan đến cuộc chiến tại Afghanistan được phổ biến trên mạng điện toán mới đây . Việc thẩm lậu ấy chỉ muốn nhấn mạnh đến một điều duy nhất : “chính là vai trò của Pakistan trong mối liên hệ giữa Tầu với Iran, cụ thể là giữa Pakistan với Al Queda ” .

Tại sao Pakistan hành động kiểu hai ba mang như vậy ? Thật rõ ràng là Pakistan muốn dụng thế của Tầu để gây sức ép với Ấn Độ trong việc đòi chủ quyền vùng Kashemir nơi có đa số dân là người gốc Hồi Giáo . Điều này giải thích tại sao cuộc họp mới đây giữa ngoại trưởng hai nước Pakistan và Ấn Độ đã thất bại , vì Pakistan không muốn tiếp tay giải quyết vấn đề Afghanistan . Trong bài viết trước đây , tôi đã nói : “cuộc chiến tại Afghanistan phải thất bại mới đúng, vì các nước Hồi Giáo liên quan đâu có muốn hợp sức giải quyết các vấn đề của thế giới Hồi Giáo nói chung” . Xét cho cùng ra : Các quốc gia Hồi Giáo đều là các quốc gia thất bại ở những mức độ khác nhau (failed nation) , nếu không có sự can thiệp từ bên ngoài để từng bước cải tiến tinh thần Hồi Giáo nói chung, nhiên hậu đưa các quốc gia Hồi Giáo vào con đường dân chủ tự do thật sự , thì Hồi Giáo luôn là mối đe dọa đối với an ninh toàn cầu .

Tại vùng Viễn Đông, trước tham vọng bành trướng công khai của Tầu trên biển cũng như trên lục địa . Không nước nào tại Đông Nam Á đủ sức ngăn chặn đà bành trướng của Tầu trong vùng . Giữa Đông Nam Á với Đông Bắc Á, về mặt chiến lược Đông Nam Á chi phối an ninh toàn cầu , từ Nam Đại Tây Dương đến Ấn Độ Dương đến Thái Bình Dương , cho nên nỗ lực chính của Tầu tập trung vào đây được coi như mũi nhọn tấn công chính . Do cục diện trong vùng thay đổi mau chóng như ta đã chứng kiến trong mấy tháng qua, nên các nỗ lực ngoại giao từ phía Mỹ và các đồng minh đã được thúc đẩy mạnh mẽ như chưa từng sảy ra trong quá khứ . Các nỗ lực ngoại giao nhằm hình thành lực lượng toàn vùng chống lại chủ trương bành trướng của Bắc Kinh dựa trên chủ điểm : Quốc Tế Hóa vấn đề Biển Đông .

Vấn đề Biển Đông liên hệ mật thiết đến an ninh của VN vốn được coi là khu vực chiến lược quan yếu nhất chi phối an ninh toàn vùng cũng như toàn cầu . Việc sắp xếp để VN nắm giữ vai trò Chủ Tịch Luân Phiên của Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á đã được dự kiến từ gần mười năm trước , trùng hợp với thời điểm Tầu tung đòn đe dọa xâm lăng Á Châu trên mọi mặt trận trên lục địa cũng như trên biển . Trước các đe dọa cụ thể đó, các nước Á Châu tự biết là không thể một mình đương cự với Tầu nên đã thống nhất chủ trương yêu cầu Mỹ cùng kết hợp với NATO trở lại Á Châu để ổn định tình hình . Chủ trương này rất phù hợp với ước muốn của nhân dân các nước Á Châu, đặc biệt tại Đông Nam Á , là nơi hiện bị Tầu đe dọa nặng nề nhất và cũng là nơi hiểu thấu các lợi ích của dân chủ với thị trường tự do trong việc tạo dựng một xã hội thịnh vượng , như đã được chứng minh trong hơn 40 năm qua .

Các hoạt động ngoại giao của Mỹ trong thời gian hơn năm qua là sự tiếp nối các hoạt động ngoại giao từ thời Ông Bill Clinton đến Ông Bush để lại, chủ yếu thuyết phục VNCS biết nhìn thấy các hiểm họa tiềm ẩn để thực hiện các thay đổi nhằm đáp ứng với tình hình như đang diễn biến hiện nay . Vấn đề quốc tế hóa Biển Đông là chủ đề an ninh quan trọng nhất đối với Đông Nam Á, VN trong vai trò làm Chủ Tịch luân phiên hiện nay, đồng thời cũng là nước bị Bắc Kinh trực tiếp đe dọa nặng nhất , nên là quốc gia đứng mời họp Diễn Đàn An Ninh khu vực tại Thăng Long mới đây quả là rất phù hợp . Để hỗ trợ cho cuộc họp của Diễn Đàn khi Bà Ngoại Trưởng Mỹ tuyên bố chủ trương an ninh mới của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông(tức là Quốc Tế Hóa ) , Mỹ điều ba tiềm thủy đỉnh loại Ohio đến ba địa điểm khác nhau là Pusan thuộc Nam Triều Tiên, Subic bay thuộc Phi Luật Tân, Diego Garcia thuộc Ấn Độ Dương . Sự xuất hiện của ba tiềm thủy đỉnh nguyên tử chiến thuật này tạo thành một tam giác mang ý nghĩa bao vây Tầu về mọi hướng trên biển .

Mỹ điều động một lực lượng hải quân hùng mạnh đi vào Ấn Độ Dương thông qua kinh đào Suez như biểu tượng nhấn mạnh đến an ninh khu vực vịnh Persia nhắm vào Iran . Mỹ tiếp tục mở rộng việc tập trận mỗi tháng từ nay đến cuối năm với quân đội Nam Triều Tiên . Điều này cho thấy, cuộc tập trận tại Hawai và vùng phụ cận nhắm vào vùng biển Guam đến Coral Sea (bắc Úc) chắc chắn sẽ được tiếp tục song song với các cuộc tập trận với Nam Triều Tiên . Các chuẩn bị như vậy nhằm hoàn thiện phối hợp tác chiến đa phương nhằm đối phó với các đe dọa từ hải cũng như không quân Tầu . Đối lại với hàng loạt các diễn biến mới nhất như vậy, Bắc Kinh ra lệnh thực hiện một cuộc tập trận bắn đạn thật trong vùng biển đông của ta lên đến vùng Hoàng Hải trực tiếp dưới quyền của Tư Lệnh Hải Quân Tầu (vùng biển Hoàng Hải hiện đang bị dầu tràn trên quy mô lớn hơn dự kiến ban đầu của Bắc Kinh, cũng như hàng loat thiên tai khác nữa ) .

Đối với Ấn Độ, lịch sử Ấn Độ luôn để lại nhiều bước ngoặC rất bất ngờ . Tuy chủ trương bất bạo động nhưng họ cũng có thể bất ngờ trở thành thế lực mạnh . Việc này được minh chứng rất rõ khi triều đại Chandragupta Maurya mau chóng trở thành thế lực hùng mạnh thống nhất vùng này vào năm 325 BC khi Alexander Macedoine thất bại trong cuộc trường chinh nhắm vào vùng Nam Á, trùng hợp với cuối thời Xuân Thu Chiến Quốc bên Tầu . Đến thời vua Ashoka năm 250 BC phát triển cực thịnh song song với thời nhà Tần, nhà Hán bên Tầu . Lịch sử Ấn Độ sau này cũng luôn chứng minh như thế : mỗi khi Hán mạnh lên thì Ấn cũng mạnh lên , mặc dù hai phía chưa hề đụng độ trực tiếp trong quá khứ . Thật cũng trớ trêu là mỗi khi Hán mạnh lên thì Việt cũng mạnh lên để cản chân Hán . Ba khối này : Việt, Hán, Ấn dường như có cái nghiệp phải như thế để bẻ gẫy tham vọng bành trướng của Hán Hoa . Truyện xưa đã thế, truyện nay cũng vậy . Việc kết thân giữa Việt với Ấn là tất yếu lịch sử . Cả lịch sử của Việt lẫn Ấn về mặt văn hóa và văn minh cũng như địa lý chiến lược cũng xứng đáng để kết thân với nhau trong canh bài chiến lược này .

Với Nga thật rõ ràng là nay cảm nhận được hiểm họa Hán Hoa một cách cụ thể . Nga cần hành động quyết liệt đúng theo truyền thống của mình nhằm bảo toàn lãnh thổ ; đồng thời chuẩn bị cho thời đại Toàn Cầu Hóa ngay trên lãnh thổ Nga, để cả vùng Siberia rộng lớn đó được khai thác có trật tự trong khuôn khổ luật pháp thế giới do Chính Quyền Toàn Cầu quy định sau này . Cho nên việc Tầu quyết chiếm vùng này sẽ không bao giờ được thế giới chấp nhận . Song song với các cuộc tập trận giữa Mỹ với các đồng minh trong vùng Á Châu, Nga cũng tiến hành tập trận trên đất liền thuộc vùng Siberia . Về mặt trận trên biển, Nga không có gì phải âu lo về sự hiện diện hùng mạnh của hải quân Mỹ trong vùng , Nga cần tập trú vào vấn đề an ninh trên lục địa trải dài từ Trung Á đến vùng Viễn Tây thuộc Siberia thuộc Nga . Trong điều kiện hiện nay của Á Châu Lục Địa , việc Nga tăng cường quân đội trên quy mô lớn trong vùng phía đông Ural dường như là một thực tế rõ ràng khi tai ương trong vùng này sẽ gia tăng mạnh trong thời gian sắp tới đây . Như vụ cháy đang sảy ra tại vùng trung Nga đã thiêu hủy nhiều trăm căn nhà là rõ rệt ; tai ương chưa chấm dứt ở đấy , còn nhiều tai ương khác sẽ xảy ra trong vùng Sibia trong tương lai tới đây .

Thực tế, không ai có thể dự liệu được tai ương do thiên nhiên gây ra đối với trái đất này . Các tai ương đó đều có liên hệ theo cách nào đó do việc khai thác thiên nhiên một cách vô trách nhiệm do con người gây ra . Lũ lụt tại Hoa Nam, lũ lụt tại Pakistan đã làm cả ngàn người chết, lượng mưa lên đến 300 mm trên vùng lãnh thổ Pakistan chắc chắn sẽ gây ra các thảm họa đối với trên 30,000 con đập được xây dựng vô trách nhiệm tại Tầu . Việc này sẽ gây ra thảm họa đối với các quốc gia ở hạ nguồn , quan trọng nhất chính là con đập khổng lồ Tam Khẩu . Không ai thực sự biết được được hậu quả sẽ ra sao một khi con đập này bị vỡ hoặc lượng nước quá lớn khiến Bắc Kinh phải xả nước để cứu nguy con đập . Vụ tràn dầu tại vùng biển Hoàng Hải thuộc Tầu quả thực rộng lớn hơn rất nhiều so với những gì mà Tầu chánh thức công bố, để dẫn đến chỗ Tầu không thể kiểm soát được lượng dầu tràn ra biển . Trong lâu dài ảnh hưởng sâu rộng đến hệ sinh thái trên vùng Hoàng Hải . Một khi dầu lan đến các nước láng diềng của Tầu phá hủy sinh thái các nước ấy, thì ai chịu trách nhiệm tẩy sạch ; Tầu có chịu trách nhiệm bồi thường phí tổn do phá hủy môi sinh cũng như tẩy sạch hay không ? Trong một diễn biến khác cũng rất đáng quan tâm khi nhà máy hóa chất tại Quảng Đông bị nổ mới đây, đã phóng khí độc vào không gian . (ai chịu trách nhiệm ? ) .

Những việc như vậy xảy ra đều do Tầu bất chấp các quy luật an toàn tối thiểu do việc gia tăng sản xuất tối đa trong khi lại giảm tối đa việc bảo trì cũng như giữ cho máy móc hoạt động trong giới hạn an toàn mà điều kiện kỹ thuật đòi hỏi . Những vụ nổ như vậy sẽ còn xảy ra dài dài tại Tầu trong thời gian tới đây . Một nước Tầu vô trách nhiệm đối với dân Tầu, cũng là vô trách nhiệm đối với các lân bang cũng như thế giới . Như thế giải quyết vấn đề Á Châu, thực tế chính là giải quyết vấn đề Hán Hoa chủ trương tàn phá thế giới một cách vô trách nhiệm để nhiên hậu đặt ra luật pháp toàn cầu quy định các biện pháp an toàn công nghiệp được coi là nguy hại đối với môi sinh và thế giới (toxic) .

Á Châu thực tế đang chứng tỏ rằng : Á Châu không thể tự mình giải quyết được vấn đề của chính Á Châu . Tình hình này cũng giống như Âu Châu vào thế kỷ 20 , Âu Châu cũng đã từng thất bại trong việc giải quyết các vấn đề của chính Âu Châu, nên Mỹ bắt buộc phải can thiệp để hình thành lực lượng Đồng Minh giải quyết tranh chấp tại Âu Châu . NATO Phương Tây được thành lập để ổn định tình hình Âu Châu là vậy ; trên nền tảng đó, các bất đồng giữa Âu Châu với nhau được giải quyết để vĩnh viễn chấm dứt chiến tranh tại Âu Châu để thống nhất Âu Châu về một mối . Á Châu ngày nay cũng không mấy khác biệt . Muốn giải quyết tận gốc rễ bất ổn tại Á Châu ; Mỹ cũng như Âu Châu không còn chọn lựa nào khác ngoài việc thành lập và củng cố Khối Đồng Minh Lớn trên quy mô toàn cầu, bao gồm các quốc gia tự do dân chủ nằm trên hai bờ Thái Bình Dương kết hợp với các quốc gia Âu Châu cũng như Ấn Độ . Các nhà làm chính sách toàn cầu gọi đó là NATO Phương Đông, như lời bà Thủ Tướng Đức Angela Mackel nói cách nay trên sáu tháng .

Á Châu quá rộng lớn, quá phức tạp về văn hóa chủng tộc, nối liền với Âu Châu lục địa, nối liền với Châu Mỹ qua Thái Bình Dương . Lục địa Á Châu lại gồm nhiều quốc gia thất bại (Failed Nation) nên không thể tự mình giải quyết các vấn đề của Á Châu được . Do thế, sự hiện diện của Mỹ với Âu Châu là thực sự cần thiết nhằm bảo đảm cho hòa bình tại Á Châu . Chủ hướng này hiện được nhiều nước Á Châu dân chủ, tự do ủng hộ nhiệt tình . Cho nên việc Âu Mỹ trở lại Á Châu vào thời điểm này, tuyệt đối không thể coi như tương đồng với thời kỳ thực dân chủ nghĩa vào thế kỷ 19 được .

Vì :
a / Chủ nghĩa thực dân đã bị loài người vĩnh viễn gạt bỏ sau thế chiến II rồi .
b / Á Châu nay bao gồm các quốc gia dân chủ có chủ quyền hoàn toàn .
c / Việc Âu Mỹ trở lại Á Châu là đáp ứng đúng với nhu cầu thiết thân của chính đa số người dân Á Châu trong ước vọng muốn có được đời sống an hòa và sung mãn hơn.
d / Giải quyết vấn đề Á Châu được coi là mấu chốt trong thế kỷ 21 này, nhiên hậu mới thống nhất nhân loại về một mối được . Khối Đồng Minh Lớn hoàn toàn có đủ chính nghĩa để dẹp tan chủ nghĩa bành trướng Hán Tộc do một nhóm nhỏ tại Bắc Kinh chủ trương .

Các chuẩn bị hiện nay xét về tổng thể đang diễn biến đúng như thế khi Bà Ngoại Trưởng Mỹ chánh thức tuyên bố tại Diễn Đàn An Ninh khu vực tại Hà Nội tuần qua là : Mỹ có quyền lợi tại Á Châu, Mỹ ủng hộ chủ trương Quốc Tế Hóa tranh chấp tại Biển Đông do Tầu gây ra, Mỹ không đứng về phe nào trong cuộc tranh chấp này . Dĩ nhiên Tầu phản ứng quyết liệt khi cho Bộ Trưởng Ngoại Giao cũng như Quốc Phòng Tầu đều lên tiếng quyết liệt chống lại chủ trương này của Mỹ , Bắc Kinh vẫn khăng khăng xác định chủ quyền không thể tranh cãi trên toàn vùng biển Đông . Lập trường của Bắc Kinh như thế nên được coi là : Tầu công khai xâm lăng các quốc gia có chủ quyền trên toàn vùng, thế giới đâu còn chọn lựa nào khác ngoài việc gia tăng tối đa các nỗ lực vây hãm Tầu về mọi mặt để bẻ gẫy tham vọng bành trướng của Bắc Kinh. Việc hình thành Khối Đồng Minh Lớn quả thực quá cần thiết vào thời điểm này của lịch sử .

Để đáp ứng với các lời kêu gọi đó , các thành viên trụ cột của Âu Châu đã đáp ứng tích cực ngay tức khắc khi : Thủ Tướng Anh Cameron đến thăm Ấn Độ - vốn là cựu thuộc địa của Anh - để minh định lập trường của Anh là : “ nước Anh sẵn sàng nhận trách nhiệm cùng với người Nga trên vùng Nam Á ” . Trong một diễn biến khác, Bộ Trưởng Quốc Phòng Pháp Herve Morin đến thăm VN ngày 26-7-2010 để bàn về hợp tác quân sự Pháp-Việt , việc này cho thấy Pháp cũng sẽ nhận lãnh một vai trò tại Đông Dương vốn là cựu thuộc địa Pháp . Mặt khác Giáo Hoàng đã cử nhiệm Đặc Sứ Tòa Thánh không thường trực tại VN là Linh Mục Tổng Quản Hội Thừa Sai Paris, Pháp (theo tin từ WWW Nữ Vương Hòa Bình) . Việc này không đơn giản như nhiều người nghĩ . Chỉ xin lưu ý quý bạn đọc về lời phát biểu trước đây của tôi liên quan đến vụ Đức Cha Kiệt cũng như Giáo Hội Thiên Chúa Giáo VN là : Các hoạt động của Giáo Hội Thiên Chúa Giáo VN báo hiệu chiều hướng đến mấy trăm năm tới đối với tương lai của nước ta .

Tầu chủ trương bành trướng, xâm thực lân bang là điều đã trở thành lời nguyền của Hán, chúng chẳng thể dễ dàng từ bỏ . Thời kỳ thực dân tại Á Châu đã tạo điều kiện cho Tầu bành trướng mềm xuống vùng Đông Nam Á cũng như trên toàn thế giới . Chiến tranh lạnh đã tạo cơ hội để Bắc kinh củng cố sức mạnh để chuẩn bị lực lượng xâm lăng toàn vùng, đe dọa an ninh thế giới một cách có hệ thống . Thế giới đã dành quá nhiều thời gian cũng như kiên nhẫn để thuyết phục Bắc Kinh từ bỏ tham vọng của mình . Bắc Kinh một mực cự tuyệt . Như thế các nước dân chủ tự do tại Á Châu đâu còn chọn lựa nào khác ngoài việc hợp tác với thế giới để giải quyết dứt khoát vấn nạn Hán Hoa . Chiến tranh hiện nay rất vi diệu, các kinh nghiệm cũ chẳng thể ứng dụng được , các kế sách chẳng thể để lộ ra ngoài . Nhưng các diễn biến hiện nay cho thấy : Tầu sẽ bị khốn khổ vì chính lối hành động vô trách nhiệm do chính Tầu tự gây ra cho mình đối với tự nhiên .

Khi Bắc Kinh không thể giải quyết được vấn đề nội bộ, như truyền thống của Hán để lại, chúng sẽ tung lực lượng xâm lăng các lân bang bằng đủ mọi cách khác nhau . Thế giới cũng như các nước Á Châu cần cảnh tỉnh trước âm mưu này của Tầu . Một nước Tầu bị phân rã mới bảo đảm an ninh lâu dài của Á Châu và thế giới được . Nhưng như nhiều bài học lịch sử đã để lại : một con thú lớn khi dãy chết thế nào cũng gây ra các hệ lụy cho vùng xung quanh , thời gian từ khi con thú bị chết cho đến khi thân xác bị thối rữa cũng lâu hơn . Các lân bang của Tầu càng cần hợp tác mật thiết hơn nữa trong tương lai, chẳng nên hợp tác trước kẻ thù chung sau đó lại đường ai nấy đi . Tương lai của Đông Nam Á nằm trong chủ trương hợp tác chân thành giữa các nước Đông Nam Á với nhau , cũng như giữa Đông Nam Á với các nước Âu Mỹ . Khối Đồng Minh Phương Đông hay cũng gọi là NATO Phương Đông quả thực là đáp ứng đúng với nguyện vọng của đa số người dân Á Châu vậy , bất kể anh là Hồi Giáo hay Phật Giáo, bất kể anh ở Hoa Lục hay Nam Á hoặc Đông Nam Á .

Hy vọng đa số người Việt trong ngoài nước biết phải làm gì cho tương lai lâu dài của đất nước .

Xin cám ơn quý vị đã đọc bài này .
Lê Văn Xương
July – 30 – năm 2010 .
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

BÀI MỚI NHẤT CỦA LM NGUYỄN VĂN LÝ:
16 ĐIỀU GIAN TRÁ VĨ ĐẠI CẤP HCM



Các Đức Giám mục Công giáo hoàn cầu 5 năm 1 lần về Rôma để viếng mộ 2 Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô. Ngoài buổi gặp chung của Hội đồng GM hoặc từng nhóm GM với Đức Giáo hoàng, mỗi GM còn gặp riêng ĐGH để trình bày về Giáo phận mỗi GM coi sóc, mỗi Vị 15-30 phút. Cuộc thăm gặp này gọi là Ad Limina, có nghĩa là “đến ngưỡng cửa”.

Trong lần Ad Limina của Hội đồng Giám mục VN năm 1980, Đức cố TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền hỏi Đức cố Giáo hoàng Gioan-Phaolô II : “Đức Thánh Cha nghĩ gì về Cộng sản ?”. Đức Gioan-Phaolô II trả lời ngay không do dự, rất ngắn gọn, súc tích và chính xác, nguyên văn bằng tiếng Pháp : “Mensonge ! Et rien que mensonge !” (Dối trá ! Và chỉ là dối trá !).
Trước 1954, lúc mới 5-6 tuổi, tôi đã thuộc lòng bài thơ về Cộng sản dối trá :

Dối thiên dối địa dối vô cùng,
Dối giấy dối tờ dối tứ tung,
Dối từ đất Âu sang đất Á,
Dối từ xuân hạ đến thu đông,
Dối gạt Dân mê không hóa có,
Dối phỉnh Dân mù có hóa không,
Dối mãi dối hoài không hết dối,
Dối thiên dối địa dối vô cùng. @@@

Tôi đã nhiều lần lặp đi lặp lại trước công luận quốc tế : “Việt Nam hiện nay là một trường dạy nói dối tinh vi và khổng lồ. Từ một phụ huynh tìm trường cho một em học sinh mẫu giáo và chính em mẫu giáo ấy đến ông Chủ tịch Nước, kể cả các Chức sắc các Tôn giáo, đều buộc phải biết nói dối để xuôi thuận công việc. Một Việt kiều văn minh ở Na-Uy, Thụy Sĩ, Nhật Bản,... đặt chân xuống Tân Sơn Nhất, Nội Bài,... là phải biết nói dối để dễ trót lọt hải quan sân bay ngay !”

Cha đẻ của các bệnh thành tích, bệnh học giả, thi giả, bằng giả, báo cáo giả, thuốc giả, thực phẩm giả,...hiện nay tại VN là ai ? Dối trá “made in VN” bắt nguồn từ đâu ? Chắc chắn chính xác là từ ông HCM : đại gian ác, siêu cao thủ, lừa gạt được gần cả thế giới.
Những điều gian trá của CSQT và CSVN nhiều vô kể không thể ghi ra hết được. Để bổ sung phần nào các điều gian dối của CS mà nhiều người đã nêu lên trong nhiều sách báo mấy chục năm qua, tôi xin lược kê thêm 15 bằng chứng tiêu biểu mang tính khái quát cao, bộc lộ đúng bản chất khách quan của phong trào CS quốc tế, CSVN và của ông HCM, hoàn toàn không hề do định kiến của một số người nào đó cố tình bóp méo xuyên tạc, để lấy cớ mà tẩy chay CNCS và CNXH tại VN và trên toàn thế giới :

1. Cuối năm 1945, để lừa mị công luận, HCM tuyên bố giải thể đảng CS Đông Dương, nhưng thực ra là chỉ rút lui vào bí mật. Năm 1951 đổi tên là đảng Lao Động VN. Sau 1975 đổi thành đảng CSVN. Thực tế cả 3 đảng chỉ là một (vô ra chỉ một con ma ấy !!!).

2. Trong Tuyên ngôn Độc lập 2-9-1945 và Hiến pháp 1946, HCM và CSVN khôn khéo cố tình không nhắc đến một lần nào CNXH, CNCS. Nhưng sau đó lại áp đặt : Độc lập Dân tộc phải gắn liền với CNXH, rồi độc đoán cột buộc mọi Dân Việt : yêu Nước là yêu CNXH !?!

3. Sau Hiệp định Genève 20-7-1954, tất cả các Cán bộ CS ở miền Nam nào muốn tập kết ra Bắc đều được tự do đi và chính Pháp cung cấp đủ tàu thủy chở đi. Trái lại rất nhiều Đồng bào ở miền Bắc muốn di cư vào Nam thì bị đủ mọi hăm dọa, thủ đoạn ngăn chặn, kể cả bắn chìm ghe, thuyền, bè của Dân và nhấn chìm Dân chết đuối. Nếu được tự do di cư, không chỉ có hơn một triệu Đồng bào miền Bắc di cư vào Nam, mà con số phải cao hơn nhiều lần.

4. Năm 1955, HCM ký Sắc lệnh Tự do Tôn giáo. Kết quả là tất cả các Tiểu và Đại chủng viện là những trường đào tạo LM ở miền Bắc đều bị đóng cửa, tất cả các Nữ Tu sĩ đều bị ép buộc phải về nhà lấy chồng (vì là bọn trốn đẻ), chỉ một số ít kiên trì bám trụ, khôn ngoan trốn tránh (tu chui) mới tồn tại cho đến 1975. Rất nhiều Linh mục, Nam Tu sĩ, Giáo dân nòng cốt bị nhốt vào các trại cải tạo, một số đã chết trong tù. Sau 1973 CSVN mới cho mở lại 2 Đại chủng viện Hà Nội và Vinh với giới hạn tuyển sinh rất ngặt nghèo. Hiện nay, trong cả Nước, tất cả các Tiểu chủng viện (cấp phổ thông và đại học) đều đang bị CSVN tịch thu, có khi bằng bạo lực với quân đội, súng ống (như Tiểu chủng viện Hoan Thiện, 11 Đống Đa, Huế, 13-19.12.1979). 26 Giáo phận cả Nước hiện nay đều không Giáo phận nào có Tiểu chủng viện hết mà lẽ ra mỗi Giáo phận đều cần một Tiểu chủng viện để đào tạo các thanh thiếu niên tu học chuẩn bị vào Đại chủng viện. CSVN chỉ cho mở lại 6 Đại chủng viện: Hà Nội, Vinh, Huế, Nha Trang, Sài Gòn, Vĩnh Long. (ĐCV Sài Gòn có một cơ sở phụ tại Xuân Lộc). Các ứng sinh linh mục bị buộc phải học nhồi sọ chủ nghĩa Mác-Lê và tư tưởng HCM. Không còn một tờ báo, nhà xuất bản, nhà in,... nào của Tôn giáo nào.

5. Từ 1960 đến 1975, Bộ đội miền Bắc tràn vào xâm lược miền Nam với đường HCM trên Trường Sơn, trên Biển Đông, với hệ thống xăng dầu rõ ràng, với hàng ngàn chiến xa đủ loại, với hàng núi vũ khí kinh người, thế mà CSVN vẫn rêu rao trước công luận quốc tế là “Đồng bào miền Nam tự nổi dậy” với lá cờ xảo trá 3 màu xanh, đỏ, vàng. Nay thì lại trơ trẽn tự hào là quân ta có “đường Trường Sơn huyền thoại” !!!

6. Hiệp định “Ngừng chiến và tái lập hòa bình tại VN” tại Paris năm 1973 qui định: Quân đội các bên tham chiến đều ngưng chiến, và phải rút khỏi lãnh thổ VNCH, để Dân miền Nam tự quyết định tương lai của mình trong hòa bình. Quân đội Hoa Kỳ “ngây thơ” (?) rút. Quân Bắc Việt chẳng những không rút mà còn phát huy bản chất và thói quen cực kỳ xấu xa là âm mưu gian trá chuẩn bị đánh lớn. Kết quả là trong những năm 1973-1975 chiến tranh liên miên ở miền Nam và ngày càng ác liệt, mãi cho đến ngày đứt phim gãy súng 30-4-1975. Hoa Kỳ ăn no bánh lừa. Hơn 2,5 triệu người Dân miền Nam thì quá sợ hãi tìm mọi cách trốn khỏi “thiên đàng CS”, đành bỏ mạng nửa triệu trên đường liều chết vượt rừng hoặc lao ra biển, tạo nên thuật ngữ tiếng Anh mới : boat peoples (thuyền nhân) made from VN “không nơi nào có được”. Nếu cột điện đường chạy được, chúng cũng vượt biên luôn. Hàng triệu quân-cán-chính Việt Nam Cộng Hòa phải tù đày 2-13 năm (đợt thả cuối cùng đầu năm 1988). Có người tù đi tù lại lần 2, 3, 4 trong 35 năm “thống nhất” mà đã “chung thân” đến 33-34 năm rồi !!!

7. Từ 1975 -2010, các cấp chóp bu và phát ngôn nhân của Bộ ngoại giao của Nhà cầm quyền CSVN đi đâu cũng luôn rêu rao không biết ngượng : “Ở VN, không hề có tù nhân tôn giáo, tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị.” Thực tế là chỉ nguyên hiện nay đang có hơn 200 tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị, tù nhân tôn giáo của các Giáo hội Tin Lành, Phật giáo, Phật giáo Hòa Hảo, Công giáo. Tôi luôn hỏi lại các Công an bắt và giam tôi : “Thế tôi là loại tù gì ?” các CA ấy luôn im lặng, không thể trả lời được. Trong trại giam, bất cứ lúc nào báo chí đưa tin câu rêu rao nêu trên, tôi đều có tuyệt thực phản đối, để được “bị lập biên bản” hầu có giấy bút ghi lý do tuyệt thực đằng sau trang giấy biên bản để bênh vực các Tôn giáo, Nhân quyền, Tự do, Dân chủ, Công lý, Sự thật. Dịp Tết Kỷ Sửu 2009, sau khi nghe Ông Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch Nước, rêu rao như vậy tại Hoa Kỳ, tôi tuyệt thực không ăn 3 ngày tết và hát nghêu ngao cho các bạn tù ở các khu kỷ luật và khu biệt giam khác nghe bài “Pháo Tết” cải biên : “Tết, Tết, Tết, Tết đến rồi ! Nhưng rất buồn vì Cộng sản nói dối. Xuân ơi, Xuân ơi, Xuân đến rồi ! Nhưng rất buồn vì Cộng sản không thật.”

8. Hiến pháp CHXHCNVN năm 1992 đã bổ sung năm 2001, điều 59, b : “Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí.” Mời chính ông HCM đốt đuốc tìm cho ra dù chỉ một trường mầm non, mẫu giáo, tiểu học bất kỳ (của Nhà nước) ở khắp Việt Nam hiện nay mà học sinh “không phải trả học phí”, thì tôi chết liền. Trái lại, tất cả các phụ huynh của những học sinh nhà nghèo các cấp này đều phải lo toát mồ hôi đầu năm học và các kỳ học giữa năm : nào là học phí, nào là các khoản đóng góp đủ kiểu, đủ loại. Nếu không có các Nhà Chùa, Nhà Xứ, Tổ chức, Nhà hảo tâm,... tìm cấp học bổng cho các em, thì hầu như tất cả học sinh con nhà nghèo đều phải chịu thất học, bỏ học và mù chữ hàng loạt. Còn các học sinh cấp cao hơn, sinh viên thì khỏi phải bàn. Học phí là một gánh quá nặng là chuyện đương nhiên...

9. Hiến pháp CHXHCNVN năm 1992 đã bổ sung năm 2001, điều 52 : “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.” Chỉ có người điên, dại, khờ mới tin vào điều này ở VN. Hãy nhìn vào 2 vụ việc gần đây nhất (giữa năm 2010 này) : Ông Nguyễn Trường Tô, Phó Bí thư tỉnh ủy Hà Giang, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang đã công khai mua dâm, cưỡng dâm vẫn ung dung ngoài vòng pháp luật, trong khi các cô gái nạn nhân lại đang rên siết trong nhà tù. Và Ông Phạm Thanh Bình, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Tập đoàn Vinashin) đã làm vỡ nợ lên đến 4 tỷ USD (80 ngàn tỷ VNĐ), sau khi công luận bức xúc quá, ngày 4-8-2010 vừa qua, CA đã bắt và khởi tố kiểu “tế thần”. Để xem, mức án, nếu có cũng nhẹ hều, và nếu có hơi nặng tí chút vì “yêu cầu chính trị”, thì cũng luôn được tha trước thời hạn cách rất “ngoạn mục”, như hàng trăm vụ chìm xuồng “made by CSVN” tương tự rồi. Vào tù rồi, CB CSVN vẫn luôn được ưu tiên 01 !!!

10. Các cấp quyền lực CSVN hiện nay đều đại ý luôn miệng rêu rao : “Nhà Nước bồi hoàn thỏa đáng cho Dân khi có kế hoạch “giải phóng mặt bằng” vì các công trình phúc lợi chung, để người Dân đến định cư ở nơi mới phải có cuộc sống tốt hơn hoặc ít ra là bằng ở nơi cũ. Việc này luôn phải được người Dân cùng tự nguyện đồng thuận hợp tình, hợp lý.” Hàng vạn vụ “giải phóng mặt bằng” trong cả Nước đã và đang gây ra bao bất công uất ức cho Dân nghèo từ hơn 35 năm nay. Hãy nhìn vào 2 vụ việc gần đây nhất : Ngày 25-5-2010, Công an nổ súng bắn chết em Lê Xuân Dũng, 12 tuổi và anh Lê Hữu Nam, 40 tuổi tại xã Tĩnh Hải, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa chỉ vì họ không chấp nhận mức bồi hoàn sản nghiệp đất đai của họ một cách quá bất công. Và ngày 03-7-2010, Công an đã đánh chết giáo dân Tôma Nguyễn Thành Năm, 43 tuổi sau khi đã tra tấn hành hạ anh cùng hàng mấy chục giáo dân khác nhiều ngày trước, từ ngày CA cướp quan tài và đánh đập rất dã man nhiều giáo hữu, trong đám tang của Cụ bà Maria Đặng Thị Tân hôm 04-5-2010 ở giáo xứ Cồn Dầu, phường Hòa Xuân, quận Cẩm Lệ, Đà Nẵng, chỉ vì họ không thể chấp nhận mức đền bù nơi ở của họ quá rẻ mạt, khi Nhà cầm quyền CS Đà Nẵng muốn cưỡng chiếm quê hương họ để làm khu du lịch sinh thái, sinh gian, sinh dơ và sinh tội !?!

11. Giáo sư Phan Huy Lê, hiện là Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, trả lời báo Người Việt là “Nhân vật lịch sử anh hùng Lê Văn Tám hoàn toàn không có thật”, ông nói : “Tôi còn món nợ với anh Trần Huy Liệu mà đến nay chưa trả được. Đó là lúc anh Liệu làm Bộ trưởng Bộ tuyên truyền, đã bịa ra nhân vật Lê Văn Tám, một thiếu nhi tự tẩm xăng vào người và chạy vào đốt kho xăng giặc Pháp ở Thị Nghè…Lúc sáng tác ra câu chuyện Lê Văn Tám, anh Liệu có nói với tôi rằng :“Bây giờ vì nhiệm vụ tuyên truyền tôi viết tài liệu này, sau này khi đất nước yên ổn, các anh là nhà sử học, các anh nên nói lại dùm tôi, lở khi đó tôi không còn nữa”. (Người Việt, 21-3-2005). Giảng viên Đại học Khoa học Huế Hà Văn Thịnh cũng như rất nhiều chuyên gia khoa học đều cho rằng : Lê Văn Tám chắc chắn chỉ là nhân vật bịa đặt. Lý do đơn giản là không thể có chuyện một thiếu nhi tự châm lửa cả người rồi chạy xa hàng mấy chục mét được, vì “em đuốc lửa” ấy chạy chưa được 5 mét là phải gục xuống liền. (Tham chiếu “CSVN lấy gian dối làm phương châm hành xử” của Đại Nghĩa ngày 6-7-2010). Chuyện lừa bịp quá trắng trợn này đã bị phơi bày cả chục năm rồi, thế mà hiện nay các sách giáo khoa học sinh cấp I, II vẫn lì lợm nêu gương Anh hùng Thiếu niên Lê Văn Tám, Sài Gòn vẫn ngang bướng trêu ngươi với công viên Lê Văn Tám, nhiều nơi có trường học Lê Văn Tám, tôn vinh người Anh hùng Thiếu niên bịa bịp, để lớp lớp triệu triệu thiếu nhi-thiếu niên ngây thơ trong trắng Việt Nam noi gương sống theo !?!

12. Từ hơn 35 năm nay, CSVN phát động chương trình “Bảo vệ bà mẹ và trẻ em” (?) đại ý như sau : Vì hạnh phúc và chất lượng cuộc sống tương lai của các em bé đã sinh ra, phải trục giết bớt các em chưa sinh ra từ 1,2 tháng tuổi cho đến 6,7 thậm chí 8 tháng tuổi, mỗi năm ở VN khoảng 2 triệu em; hoặc đặt vòng tránh thai, hoặc hút điều hòa kinh nguyệt (thực chất là phá thai non) đều là các hành vi đạo đức !!! Lập luận theo kiểu của chủ nghĩa Mao trong cuộc đại cách mạng văn hóa (1970-1977) : “Để làm cho hơn 1 tỷ Dân TQ hạnh phúc mà phải giết 30 triệu Dân TQ, đó là hành vi đạo đức !!!”. (Tôi ở tù với một số gián điệp người Tàu, có thời đã là đệ tử trung kiên của Mao, tại K1 Thanh Cẩm, Cẩm Thủy, Thanh Hóa và K1 Nam Hà, Ba Sao, Kim Bảng, Hà Nam những năm 1984-1992, họ đều lập luận như thế).
Dù lấp liếm bao biện gì gì, thì việc trục giết, nạo giết các thai nhi là tội “mẹ giết con cách rất dã man, chủ mưu và đồng phạm”. Ai có lương tri đều phải hiểu chính xác như thế và chỉ được hiểu đúng như thế : “Trục giết vô số nhi thai – Ngút trời tội ác họa tai lâu dài!!!” (Thơ đấu tranh cho Tự do Tôn giáo của tác giả).
“Đặt vòng tránh thai, điều hòa kinh nguyệt là gì” ? Chính xác là : Bình thường, với phụ nữ khỏe mạnh, mỗi buồng trứng bên phải và bên trái thay phiên nhau, mỗi tháng một lần, từ buồng trứng của phụ nữ, trứng tốt khỏe mạnh rụng xuống 01 trứng, nằm ở đầu vòi trứng đợi tinh trùng nam 48 giờ. Sau 48 giờ, nó bắt đầu thối rữa và chuyển dần xuống tử cung. 12 ngày sau, cơ thể chủ nhân tống trứng thối ra ngoài với chút máu, gọi là kinh nguyệt. Từ khi trứng rụng đến đầu kỳ kinh, mọi phụ nữ toàn cầu đều có nửa chu kỳ này là 14 ngày. Nhưng từ đầu kỳ kinh đến khi trứng rụng lại của nửa chu kỳ sau thì mỗi phụ nữ không đều nhau : 14, 16, 18, 20, 30, 40,... ngày. Khi trứng đã thụ tinh (em bé rất bé mới chỉ là phôi) sẽ tự di chuyển dần từ cửa buồng trứng, men theo vòi trứng, xuống bám vào thành tử cung để làm tổ. Nếu đặt vào tử cung 1 vòng plastic hình lò-xo ziczac dẹt, khi người phụ nữ di chuyển, xê dịch, thì vòng plastic này sẽ đánh tơi em bé rất bé này, dù chỉ mới 1-2 tháng tuổi. Cơ thể người mẹ sẽ tống xuất em bé đã chết này ra với một ít máu “gần giống như kinh nguyệt”. Do đó, thực chất, phụ nữ nào đặt dụng cụ bị gọi cách gian trá là “vòng tránh thai” này, nếu có sinh hoạt với người nam, mỗi tháng đều có phá thai non một lần mà không biết. (Rất hiếm khi phôi ép vòng qua một bên, nên dù đặt vòng, phụ nữ nào đó vẫn mang thai bình thường).

Nhà cầm quyền CS lừa gạt Dân nghèo dụng cụ phá thai non, phá phôi này là “vòng tránh thai”, trong khi hầu hết các bác sĩ, trí thức đều biết rõ, nhưng rất ít người can đảm và chân tình tận tụy giải thích cho Dân. Tội phá thai non này ai chịu ???
Cũng tương tự, khi phụ nữ thấy mất kinh, đến phòng “Bảo vệ bà mẹ trẻ em” xin “điều hòa kinh nguyệt”, thực chất là vô tình hoặc cố ý nhờ cán bộ sát thủ y tế “hút thai non” ra. Tội này ai gánh ???
Thay vì dối gạt Dân nghèo như trên, lẽ ra Chính quyền chân chính cần đầu tư tăng thêm cán bộ y tế am tường sinh học, biết giải thích và chỉ dẫn cho Dân các phương pháp sinh con theo ý muốn hợp đạo đức, như phương pháp Billings,... Ngân khoản ít hơn mà hiệu quả vừa đạo đức, vừa văn minh, vừa ổn định, vừa vững bền.

13. Quá nhiều điều ông HCM tự gian trá hoặc thuộc hạ gian trá về ông ấy mà nhiều sách báo đã chứng minh rồi, sau khi lược qua vài điểm mốc, ở đây tôi chỉ chủ yếu đề cập đến 2 án văn đặc biệt liên quan đến học sinh-sinh viên và UNESCO có tôn vinh HCM thật không ? :

- Ngày sinh (19-5-1946 là ngày Hà Nội treo cờ giăng hoa đón Đô đốc Pháp D’Argenlieu, HCM ngụy nhận cho oai);
- Chiếm đoạt biệt danh/bút hiệu của các Nhân sĩ đã nổi tiếng và có hàng trăm tên giả: (Nguyễn Ái Quấc/Quốc là bút hiệu của cả nhóm Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền, Hoàng Quang Giụ, Hoàng Quang Bích, Văn Thu, Nguyễn Như Phong, Nguyễn Văn Tự mà HCM chôm tất cả công trình sách báo của nhóm này thành của Nguyễn Tất Thành (tức HCM); HCM là hiệu của Cụ Hồ Học Lãm, người thành lập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội năm 1935. Sau khi Cụ Hồ Học Lãm qua đời (1938 ?), Nguyễn Ái Quốc (tức Lý Thụy, Hoàng Quốc Tuấn, Già Thu, Sáu Sán, Ông Ké) đoạt luôn Hội này năm 1941 và chiếm đoạt trọn đời biệt danh HCM của cụ Hồ Học Lãm, sát nhập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội và VN Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội của Trương Bội Công-Nguyễn Hải Thần thành Mặt Trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh, gọi là Việt Minh, vì lúc đó, biệt danh HCM của cụ Hồ Học Lãm giới chính khách Trung Hoa và Đồng Minh Âu Mỹ chống Nhật đã biết nhiều);

- Đóng vai sĩ quan T.Lan tự viết “Vừa đi đường vừa kể chuyện” để tự đề cao mình quá lố;
*** Đóng vai nhà báo Trần Zân Tiên (nguyên bản là Zân) tự viết tiểu sử “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” tự ca tụng mình như một Vị Thánh, một siêu nhân;
*** Tập thơ chữ Hán “Ngục Trung Nhật Ký” (Nhật ký trong tù) thực sự là của ai ?
- Ngày chết (lúc đầu CSVN công bố 3-9-1969, về sau giấu không nổi nữa đành thú nhận là HCM đã “đi gặp Các-Mác Lênin” đúng ngày “Quốc Khánh” 2-9-1969);
- “Di chúc” : Một người phải chịu trách nhiệm chính về thảm nạn đấu tố hết sức tàn bạo và giết bỏ quá dã man kinh hoàng hàng trăm ngàn người Dân vô tội trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất theo bài bản của Mao Trạch Đông những năm 1953-1957 tại miền Bắc Việt Nam, bỏ tù và đày đọa đến kiệt sức chết bằng cưỡng bức lao động hàng vạn nhà trí thức và người Dân bất đồng chính kiến những năm 1945-1969-1975, giết luôn cả người tình-đồng chí của mình, mà đến gần chết vẫn cả gan tiếp tục dối gạt mọi người qua Di chúc : “Suốt đời tôi không ân hận gì hết”, trong khi Đức Khổng Tử dạy rằng : “Người quân tử mỗi ngày sám hối bảy lần”.

*** UNESCO của LHQ có tôn vinh HCM là nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại không ?
***
Nhằm cứu thoát hàng chục triệu học sinh-sinh viên hàng năm vẫn bị buộc học và bị thi đi thi lại đến toát mồ hôi mà lòng trĩu nặng như bị đá đè về thân thế và sự nghiệp của HCM (khá nhiều em thi lại lần 2, 3 vẫn không thể đủ điểm về các môn học gian quái), để khỏi quá dài dòng, điều gian trá thứ 13 của bài này chỉ đề cập 2 “đại tác phẩm” của “Siêu lừa” và vấn đề UNESCO thôi :
a) “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” của Trần Zân Tiên. Ngay từ đầu, 1948, ban biên tập của NXB Sự Thật đã ngờ rằng chính HCM tự ca tụng mình qua văn phong đậm nét tự thuật. Họ kín đáo so mẫu chữ máy đánh chữ trên bản thảo thấy giống hệt mẫu chữ máy hiệu Hermes của HCM, nhưng không ai dám nói, cứ tạm coi Trần Zân Tiên như một nhà báo cực kỳ bí ẩn xuất quỉ nhập thần nào đó, không ai biết được tung tích. Không thể che giấu mãi được, cuối cùng gần đây các cơ quan chính thức của CSVN đều phải thừa nhận Trần Zân Tiên chính là HCM, vô liêm sỉ đầy mình khi cả gan tự phong là “nhà văn hóa lỗi lạc”, “lãnh tụ vĩ đại”, được “toàn dân gọi là Cha Già Dân tộc kính yêu / Bác vĩ đại”.
Năm 1985, giáo sư Hà Minh Ðức đã xuất bản cuốn “Những Tác phẩm Văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, trong đó có đoạn : ‘‘Ðáp lại tình cảm mong muốn của đồng bào và bạn bè trên thế giới. Hồ Chủ tịch với bút danh Trần Dân Tiên đã viết tác phẩm Những Mẩu Chuyện Về Ðời Hoạt Ðộng Của Hồ Chủ Tịch.’’ (Hà Minh Ðức, sđd, tr 132, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1985).
Thật tội nghiệp là “nhà báo Trần Zân Tiên” không tài nào moi được thông tin gì từ HCM cả : “Nguyên nhân rất đơn giản : Chủ tịch HCM không muốn nhắc đến thân thế của mình”. Trần Zân Tiên đặt lên miệng HCM : “Hiện nay có nhiều việc cần thiết hơn… Còn tiểu sử của tôi, thong thả sẽ nói đến…”. HCM tự viết về HCM : ‘‘Bác Hồ của chúng ta vô cùng khiêm tốn; Bác không muốn kể cho ai nghe về hoạt động của mình; rồi Bác Hồ được nhân dân ta coi là cha già của dân tộc; Bác còn vĩ đại hơn Lê Lợi, Trần Hưng Ðạo vì đã đưa dân tộc ta vào kỷ nguyên xã hội chủ nghĩa…’’! Năm 1948 ‘‘vị cha già của dân tộc’’ ấy 58 tuổi !!! Chỉ cần đọc thêm một câu sau đây thôi là hiểu được bản chất thật của HCM. Trần Zân Tiên-HCM tự viết: “Một người như Hồ Chủ tịch của chúng ta, với đức khiêm tốn nhường ấy và đương lúc bề bộn bao nhiêu công việc, làm sao có thể kể cho tôi nghe bình sinh của Người được ?” (trang 7, 8 hoặc 9 tùy lần xuất bản).
Có những người dùng quyền lực / tiền bạc để bắt người khác ca ngợi mình. Có thể có người mặt dày ẩn danh tự viết tiểu sử mình, nhưng tự tán dương bốc thơm mình cách cực kỳ “khiêm tốn nhường ấy” thì may ra trên đời mới chỉ có một “kết tinh bốn ngàn năm văn hóa của Việt Nam” trâng tráo vô liêm sỉ hết cỡ đến thế mà thôi. HCM đã vi phạm tận gốc những giá trị văn hóa mà tổ tiên ta vẫn hằng nâng niu, trân trọng, giữ gìn từ bao đời nay. HCM đã dùng sự gian trá điêu ngoa tự hủy hoại những giá trị văn hóa thiêng liêng của Dân tộc và Nhân loại.
Điều này không phải là một sự phỉ báng cực kỳ vĩ đại đối với Dân tộc VN và lương tri nhân loại là gì ? Các nhà giáo và trí thức VN thẳng thắn trả lời cho bao thế hệ học sinh Việt Nam đi !!!
b) “Ngục Trung Nhật Ký” (Nhật ký trong tù – từ đây gọi là NKTT) được sáng tác bởi ai ?
* Về ngoại vi : Theo các tài liệu chính thức của CSVN xuất bản : Từ thôn Ba Mông, huyện Tĩnh Tây, tỉnh Quảng Tây, HCM muốn đi Trùng Khánh để gặp một lãnh tụ CSTQ là Chu Ân Lai, nhưng bị bắt sáng sớm ngày 29-8-1932 tại thôn Túc Vinh, Tĩnh Tây, Quảng Tây cùng với Dương Đào dẫn đường, trên người có nhiều loại tiền, nhiều giấy giới thiệu khác nhau do nhóm HCM tự khắc dấu, tự làm từ Lạng Sơn, VN với các tên cũng khác nhau (Nguyễn Ái Quốc, HCM, Lý Thụy, Hoàng Quốc Tuấn, Già Thu) và một số giấy do Trung Quốc cấp từ trước. Trong đó có 2 giấy giới thiệu của Phân hội VN của Quốc tế phản xâm lược (chống Nhật), và của VN Độc Lập Đồng Minh Hội. Do đó, HCM bị nghi là Hán gian, phải ở tù từ 29-8-1942 đến 10-9-1943, trong 18 nhà tù của quan quân Tưởng Giới Thạch ở vùng Tĩnh Tây, Liễu Châu, Thiên Bảo, Bình Mã, Long Tuyền, Điền Đông, Quả Đức, Long An, Đồng Chính, Ung Ninh, Nam Ninh, Quế Lâm,… tỉnh Quảng Tây. Trong thời gian ở tù 12 tháng 12 ngày ấy, HCM viết NKTT bằng chữ Hán trên hàng trăm tờ giấy rời (nguyên bản). Sau đó, HCM được CSVN phối hợp với CSTQ tìm mọi cách cứu ra tù, nhưng vẫn bị đưa về quản chế hơn 1 năm tại Cục Chính trị Chiến khu 4 của Chính phủ Tưởng Giới Thạch đến 20-9-1944. Thời gian này, HCM ghi chép lại (bản biên tập lại - nguyên bản đã bị HCM hủy bỏ) 133 bài thơ ấy + 1 bài (b.) cuối làm thêm khi vừa ra tù (Tân xuất ngục học đăng sơn, vừa ra tù học leo núi), tất cả 134 bài thơ ngắn, trên 1 sổ nhỏ (9,5cm x 12,5 cm) dày 82 tờ (164 trang) bằng giấy bản tốt hơn, cũng toàn bằng chữ Hán chuẩn, đóng thành 1 tập, ngoài bìa có vẽ hình đôi tay bị xích, ghi thời biểu 29-8-1932 đến 10-9-1933 (lệch trước thời gian bị tù thật đúng 10 năm). Bản dịch phổ biến nhất (134 b.) là của 2 ông Nam Trân-Văn Trực, do Viện Văn Học chịu trách nhiệm xuất bản lần đầu năm 1960, dựa trên bản biên tập lại này. Có lần xuất bản chỉ 111-113 b. Tài liệu khác lại ghi rằng ngay từ đầu HCM đã viết NKTT trên một cuốn sổ nhỏ, và những tháng tù cuối cùng kỳ này HCM bị giam ở nhà tù của Cục Chính trị Chiến khu 4 của Chính phủ Tưởng Giới Thạch. Tại đây HCM tiếp tục viết xong NKTT cho đến ngày ra khỏi tù 10-9-1943. Có tài liệu ghi thời gian ở tù thật sự lần này là gần 14 tháng (28.8.1942-10.1943).

HCM về lại VN cuối tháng 9-1944, mang theo tập thơ, giữa đường từ Pác Bó đi Tân Trào, lưu lại lán tranh của ông Hoàng Đức Triều ở Lam Sơn, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng từ 29-4 đến 9-5-1945. Lần kia HCM tiện tay giắt tập thơ vào mái lán tranh của ông Triều và bỏ quên nó ở đó. Sau khi HCM đi khỏi vài ngày, ông Triều phát hiện tập thơ, cậu Hoàng Triều Ân là con trai út của ông Triều bảo bố cất đi. Gần 5 năm sau, đầu năm 1950, ông Triều trao tập thơ cho cậu Triều Ân dặn là phải gửi cho HCM. Hoàng Triều Ân trao tập thơ cho Bí thư tỉnh ủy Cao Bằng là Dương Công Hoạt. Ông Hoạt giữ nó thêm 5 năm, đến năm 1955, tập thơ được gửi đến Phủ Chủ tịch theo đường công văn : “Gửi văn phòng Chính phủ để trình lên Bác Hồ”. (Tài liệu khác : Khoảng cuối năm 1954, 1 người Nùng về Phủ Chủ tịch tận tay trao lại tập thơ mà HCM đã bỏ quên ở nhà ông ấy). HCM tiếp nhận tập thơ quí của mình, mừng rỡ, cảm ơn, rồi không màng chi đến nó, trao cho phòng lưu trữ của Trung ương đảng Lao Động VN hơn 4 năm nữa (nó bị quên tất cả gần 14 năm).

Đầu năm 1959, ông Phạm Văn Bình (Văn Trực), trưởng ban giáo vụ trường đảng Nguyễn Ái Quốc, tình cờ phát hiện “đại tác phẩm” này, mượn ông Hùng, người quản thủ phòng lưu trữ, đưa về nhà, nhờ ông Văn Phụng dịch chữ Hán, rồi ông Văn Trực (PVBình) dịch thành thơ quốc ngữ. Sau đó, ông Bình trao tập thơ gồm 133-134 b. cho 2 ông Trường Chinh, Tố Hữu. Ông Tố Hữu giao cho 2 ông Đặng Thai Mai và Hoài Thanh thuộc Viện Văn Học trách nhiệm xuất bản. 2 ông Mai-Thanh lại giao cho ông Nam Trân cùng ông Văn Trực xem lại bản dịch để tháng 5-1960 xuất bản vừa là lần đầu, vừa đại trà 47 vạn bản (NXB Phổ Thông 45 vạn bản, NXB Văn Hóa 2 vạn bản) kịp mừng HCM 70 tuổi và phổ cập cho toàn dân học tập (sau gần 16 năm 4 tháng kể từ khi nó ra đời). Về sau có thêm các bản dịch khác, nhưng bản phổ biến nhất vẫn là bản dịch của 2 ông Nam Trân-Văn Trực do Viện Văn Học chịu trách nhiệm này. Đến lúc đó, xem ra HCM vẫn thờ ơ lãnh đạm với việc dịch, xuất bản tập thơ “rất lừng danh” của mình. Khi cận vệ đọc cho nghe, HCM chỉ hững hờ nói : “Thơ các chú dịch hay hơn thơ của bác”. Những cận thần đều cho là vì HCM rất mực khiêm tốn, đã siêu thoát khỏi vòng danh lợi thường tình. (Thực ra HCM có tự dịch b.134 với bút danh T.Lan như một dịch giả ẩn danh nào đó).

* Về nội dung : Trong cả tập thơ 133 b. chỉ có 2 câu duy nhất đề cập đến VN khi tác giả tự khẳng định mình là người Việt ở phần mở đầu đoạn II (b.5) của b. Thế Lộ Nan (Đường đời gian nan – b.4-5-6) : Dư nguyên Đại biểu Việt Nam dân, Nghĩ đáo Trung Hoa kiến yếu nhân. (Ta vốn là Đại biểu của Dân Việt Nam, Định đến Trung Hoa gặp nhân vật quan trọng), có lẽ HCM khi chép lại (10.9.1943-20.9.1944) đã làm thêm. Còn b.134 “Tân xuất ngục học đăng sơn” (vừa ra tù học leo núi) có câu cuối : Dao vọng Nam thiên, ức cố nhân (Trông lại trời Nam, nhớ bạn xưa) được hiểu về Việt Nam, không có trong tập thơ chính, được HCM làm sau khi đã ra khỏi tù.

Ngoài 3 câu thơ trên, tuyệt nhiên tác giả không hề gợn nhớ đến một danh lam thắng cảnh đặc sắc nào của Việt Nam, không hề hồi tưởng lại một phong tục tập quán nào của người Việt, không hề đề cao một nét đặc trưng hay một đức tính cao đẹp nào của con người thuần Việt, không hề đề cập đến tính chân chất của dân quê hoặc miền quê Việt Nam. Tất cả các Danh nhân và Anh hùng Dân tộc lừng danh như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Lê Quí Đôn, Chu Văn An, Mạc Đỉnh Chi…, các địa danh nổi tiếng của VN như Ba Đình, Bạch Đằng, Chi Lăng, Đông Đô, Đống Đa, Hạ Long, Hoàng Liên Sơn, Sa Pa, Thăng Long, Yên Tử…các biến cố sôi động tại VN, kể cả các đồng chí CSVN của HCM… đều hoàn toàn vắng bóng trong NKTT. Tất cả đều chỉ nói về đất nước Trung Quốc, người Hán và quan quân Tưởng Giới Thạch… kể cả tâm sự của tác giả cũng đa phần là của một người Hán, nhiều bài lại là tâm sự của một người Hán tầm thường nữa.
***

*** Thử phân tích đôi điều : - Tôi đã ở tù 5 lần (1968 tại quận 8, Sài Gòn; 1977 tại Thừa Phủ, Huế; 1983-1992 tại Thừa Phủ, Huế + Thanh Cẩm, Thanh Hóa + Nam Hà, Hà Nam; 2001-2005 tại Thừa Phủ, Huế + Nam Hà, Hà Nam; 2007-2010 tại Thừa Phủ, Huế + Nam Hà, Hà Nam). Cũng như hầu hết các tù nhân khác mới bị bắt + tạm giam, như CSVN vẫn rêu rao, thời nay “văn minh – nhân đạo” hơn thời Tưởng Giới Thạch rất nhiều, thế mà một mảnh giấy, một cây bút bi cũng rất khó có, rất hiếm khi Cán bộ lờ đi hoặc cho dùng. Chỉ khi nào đã xử xong, ở trại giam, tùy loại tù nhân có thể được giữ giấy bút và cũng chỉ tùy từng giai đoạn. Làm sao trong tù thời ấy HCM mới bị bắt và đang bị tạm giam mà có sẵn giấy, bút lông, mực xạ dễ dàng đến thế ? HCM xuất nhập trại 18 lần, chuyển trại 17 lần, mỗi lần phải đi bộ hàng mấy chục cây số, làm sao che mắt nổi quan quân Tưởng Giới Thạch với hàng trăm mảnh giấy ghi thơ trực tiếp phê phán chế độ lao tù “rất khắc nghiệt” của họ Tưởng ? Thần thông biến hóa hơn lão Tôn Ngộ Không chăng !?! Bị tù gần 2 năm ở Hồng Kông (6.1931-1.1933) lâu hơn, điều kiện tốt hơn, thuận lợi hơn, văn minh hơn rất nhiều, nhưng tại sao HCM không làm một bài thơ nào ?
- HCM bị bắt vì bị nghi là Hán gian. Vậy sự thường, cách tốt nhất để chứng minh mình không phải là Hán gian, là bằng mọi cách HCM phải luôn khẳng định mình là người Việt (như 2 câu mở đầu đoạn II (b.5) của bài Thế Lộ Nan : “Ta vốn là Đại biểu của Dân Việt Nam, Định đến Trung Hoa gặp nhân vật quan trọng”, mà nhiều người cho rằng khi chép lại ở Cục Chính trị Chiến khu 4, HCM đã thêm đoạn II - 4 câu này - vào sau), phải làm thơ bằng tiếng Việt, sao lại bằng chữ Hán ? Là nói nhiều về Việt Nam, sao lại chỉ nói về Trung Quốc, người Hán ? Là luôn tự hào mình là người Việt Nam, sao lại tự hào mình là một “lương Hán (hán)”, sao chỉ đến khi ra tù mới nhớ đến trời Nam ? Lạ lùng nhất là tại sao HCM lại phải tự hạ đến mức là “nô thần, nghiệt tử” của lãnh tụ Tưởng Giới Thạch (Độc Tưởng công huấn từ b.120) ???

- Thường tình hợp lẽ tự nhiên nhất, khi bị bắt, với các loại tiền, nhiều giấy tờ, tên tuổi trên người, HCM trước tiên đã phải bị nghi là một người Việt rất nguy hiểm, đang có âm mưu chính trị gì đó khi xâm nhập vào Trung Quốc, chứ không thể bị nghi là Hán gian được. Phải chăng việc bị nghi là Hán gian là do chính HCM tự hô lên cốt để dễ ăn khớp với ý thơ của Ngục Trung Nhật Ký của một người Hán nào đó quả thật đang bị chê trách là đồ Hán gian, như tác giả tâm sự ở đoạn III bài Thế Lộ Nan (b.9) : Trung thành, ngã bản vô tâm cứu, Khước bị hiềm nghi tố Hán gian (Ta người ngay thẳng, lòng trong trắng, Lại bị tình nghi là Hán gian). HCM chỉ có thể bị nghi là Việt Cộng, Việt gian, chứ không thể bị nghi là Hán gian được !!!

- Các bài “Nan hữu Mạc mỗ” (Bạn tù họ Mạc-b.26), “Nan hữu nguyên Chủ nhiệm L.” (Bạn tù L. nguyên là Chủ nhiệm-b.27), “Long An Lưu Sở trưởng” (Sở trưởng Long An họ Lưu-b.40), “Quách tiên sinh” (Tiên sinh họ Quách-b.91), “Mạc Ban trưởng” (Ban trưởng họ Mạc-b.92), “Mông ưu đãi” (Được ưu đãi-b.110), “Ngũ khoa trưởng, Hoàng khoa viên (Khoa trưởng họ Ngũ, khoa viên họ Hoàng-b.114), “Lương Hoa Thịnh tướng quân thăng nhậm Phó Tư lệnh” (Tướng Lương Hoa Thịnh thăng chức Phó Tư lệnh-b.121),“Tặng tiểu hầu Hải” (Tặng chú hầu Hải- b.122), “Trần Khoa viên lai thám” (Khoa viên họ Trần tới thăm-b.126), “Tức cảnh” (b.132) chỉ toàn ca tụng hoặc đề cập đến người Tàu/Hán: Trương Phi, Quan Vũ, chúc mừng, khen tặng, đón tiếp, mô tả các Tướng lãnh, Đại nhân họ Mạc, Chủ nhiệm L., họ Lưu, họ Quách, họ Lương, họ Ngũ, họ Hoàng, họ Trần, họ Tưởng, chú giúp việc người Tàu…
- Bài “Dạ Bán” (Nửa đêm-b.99) mở đầu : Thụy thì đô tượng thuần lương Hán, Tỉnh hậu tài phân thiện, ác nhân (Ngủ thì ai cũng là người Hán tốt, Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền). Hán đây cũng có thể hiểu là người đàn ông : hán tử, hảo hán. Ngủ thì ai cũng là chàng hảo hán tốt. Nam Trân dịch gượng : Ngủ thì ai cũng như lương thiện. Hoàng Quảng Uyên dịch diễn nghĩa o ép : Lúc ngủ, mọi người đều có vẻ thuần hậu. Đâu là sự thật ?
- Bài “Song Thập Nhật Giải Vãng Thiên Bảo” (Tết Song Thập Bị Giải Đi Thiên Bảo-b.28) mở đầu : Gia gia kết thái dữ trương đăng, Quốc Khánh hoan thanh cử quốc đằng. (Nhà nhà hoa Tết với đèn giăng, Quốc Khánh reo vui cả nước mừng). Vì sao HCM lại nặng lòng với Quốc Khánh Song Thập của Trung Hoa Dân Quốc, để mừng Cách Mạng Tân Hợi 10-10-1911 ở Vũ Xương, Trung Quốc đến thế ?

- Bài “Hầu Chủ Nhiệm Ân Tặng Nhất Bộ Thư” (Chủ nhiệm họ Hầu tặng một cuốn sách-b.127) : “Khoảnh thừa Chủ nhiệm tống thư lai, Độc bãi tinh thần giác đốn khai, Lãnh tụ vĩ ngôn như tại nhĩ, Thiên biên oanh động nhất thanh lôi” (Sách Ngài Chủ nhiệm mới đưa sang, Đọc đoạn, tinh thần chợt mở mang, Còn vẳng bên tai lời lãnh tụ, Chân trời một tiếng sấm rền vang). Hầu Chủ nhiệm tức Hầu Chí Minh, Chủ nhiệm chính trị chiến khu 4, người đã trực tiếp thả Hồ Chí Minh theo lệnh của Tưởng Giới Thạch. Cụ Hồ Học Lãm thành lập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội năm 1935. Tháng 5-1941, Nguyễn Ái Quốc (cũng là Lý Thụy, Hoàng Quốc Tuấn, Già Thu, Sáu Sán, Ông Ké) đoạt luôn Hội này và đoạt luôn biệt danh HCM của cụ Hồ Học Lãm, sát nhập VN Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội của Trương Bội Công – Nguyễn Hải Thần thành Mặt Trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh, gọi là Việt Minh, do HCM làm lãnh tụ. HCM còn lắng nghe “…vẳng bên tai lời lãnh tụ” Trung Hoa nào nữa ? Như vậy vị lãnh tụ nào đó và tác giả đều là 2 người Tàu, không thể là 2 người Việt được !
- Một số bài đề cập đến các việc rất lặt vặt, lời văn quá thô thiển như : Chúc than (Hàng cháo-b.38), Quả Đức ngục (Nhà lao Quả Đức b.39), Bào Hương cẩu nhục (Thịt chó ở Bào Hương-b.82), Nhân đỗ ngã (Nhân lúc bụng đói-b.125),… chỉ là văn chương của tù thường phạm, sao có thể xứng đáng là tâm tư của một lãnh tụ đang nóng lòng cứu nước thương dân ?
* Độc đáo nhất là bài “Độc Tưởng công huấn từ” (Đọc lời giáo huấn của Ông Tưởng”-b.120) : Trong phòng giam, nhân đọc Lời Giáo Huấn của Tổng Tư lệnh Quân đội Quốc Dân Đảng Tưởng Giới Thạch, tác giả là thuộc hạ, con cái càng tăng thêm quyết tâm kiên trì chiến đấu : “Bách chiến bất hồi, hương tiền tiến, Cô thần nghiệt tử, nghĩa đương nhiên; Quyết tâm, khổ cán dữ ngạnh cán, Tự hữu thành công đích nhất thiên” (Gian khó không lùi vẫn tiến lên, Thuộc hạ côi cút, phận con bất hiếu, đương nhiên phải giữ nghĩa; Quyết tâm cố gắng cương nghị, Nhất định có lúc phải thành công) (Cô thần nghiệt tử, ai cũng phải hiểu là : Thuộc hạ côi cút, phận con bất hiếu. Thế mà Đỗ Văn Hỷ cả gan dịch điêu : Thù nhà nợ nước. Hoàng Quảng Uyên lại dịch càn: Phận tôi con bơ vơ nhà tan nước mất để bao thế hệ triệu, triệu sinh viên-học sinh học và thi !!!). HCM đang bị quan quân Tưởng Giới Thạch bắt oan, dù giả bộ làm diễn viên đóng kịch tôn thờ Tưởng Giới Thạch y như thật đến đâu nữa, cũng không thể nào lại vô liêm sỉ đến mức hạ mình bộc lộ tâm can, tự coi là thuộc hạ côi cút, phận con bất hiếu của Tưởng Giới Thạch, nguyện quyết tâm kiên trì chiến đấu cho đến thành công. Trong khi ở nhiều bài thơ khác thì lên án chê trách nhà tù họ Tưởng hà khắc đủ điều. Vậy tác giả thật sự là ai ??? Bộ Chính Trị ĐCSVN và hàng ngàn giáo sư-tiến sĩ-sử gia giả và thật của Bắc Bộ Phủ giải thích sao cho lọt tai đây ???

- Khi đã thong thả để chép lại thành 1 tập thơ khổ nhỏ, còn phải đánh lạc hướng bằng cách ghi lệch thời gian ở tù đúng 10 năm trên bìa trước làm gì ? Hoặc là các cận thần cố tình ghi lại thời gian tù dài hơn 12 tháng này (29-8-1932 đến 10-9-1933) cho khớp ngày, tháng trên bìa tập thơ, chỉ cố tình cho lệch đúng 10 năm ? Tại sao lúc đầu, các tài liệu ghi thời gian tù lệch bìa cũng 10 năm nhưng dài gần 14 tháng (28.8.1942-10.1943) ? Nếu nói tập thơ được làm trong khi bị tù gần 2 năm ở Hồng Kông (6.1931-1.1933) thì gần khớp với thời gian ghi trên bìa (29-8-1932 đến 10-9-1933) hơn, nhưng về nội dung thì không có gì ăn khớp cả. Tắc tị. Bó tay.

- Một người rất trâng tráo tự viết tiểu sử mình đến độ vô liêm sỉ, ham mê danh vọng đến nỗi tự tán dương mình như một Vị Thánh “khiêm tốn nhường ấy”, tự phong là “nhà văn hóa lỗi lạc”, “lãnh tụ vĩ đại”, được “toàn dân gọi là Cha Già Dân tộc kính yêu” như HCM-Trần Zân Tiên, đã vì chiến tranh mà quên “đại tác phẩm” của mình ở lán tranh Lam Sơn 11 năm, có thể tạm chấp nhận được. Nhưng vì sao, một người hay làm thơ, yêu thơ đến thế, khi đã vững trên ngai tại Hà Nội rồi, mà còn cố tình bỏ quên “tập thơ kiệt xuất” con đẻ cực kỳ trân quí của mình trong kho đến những 5 năm nữa ? Đến khi nó, sau gần 17 năm, đã được long trọng xuất bản đến thế, để mừng chính sinh nhật thượng thọ 70 của mình, HCM vẫn xem ra thờ ơ lãnh đạm với nó. Có cơ sở nào để cho rằng chỉ vì HCM rất mực khiêm tốn, đã siêu thoát khỏi vòng danh lợi thường tình như những cận thần xun xoe ? Phải chăng HCM không mấy vui vẻ tự hào về “đạo văn kiệt tác” (kiệt tác văn ăn cắp) này ? Nhất là sau khi nghe cận thần xầm xì về Trần Zân Tiên, HCM đâm ra rất e ngại với “đại tác phẩm” hầu hết không phải của mình ? Nhỡ có ai đó tỉnh táo bén nhạy soi mói mà phát hiện ra điều gian ngụy gì thì đại khốn nạn thay !!!
Ngay sau ngày gãy súng 30-4-1975 ít lâu, khi một học giả miền Bắc thuyết trình về NKTT tại Sài Gòn, Giáo sư Lê Hữu Mục đã đứng lên giữa hội trường chất vấn và khẳng định rằng NKTT không phải của HCM. Và Gs Mục đã viết một sách chứng minh như thế. Hiện nay, nhiều “học giả” và nhiều “học thật” cũng cho là như vậy. Phim “Sự thật về HCM” cũng khẳng định NKTT không thể là của HCM.

*** Chỉ sơ lược qua như trên, phải chăng đây là cách giải thích gần sự thật trần trụi nhất mà chúng ta có thể nhận ra: Gần trọn tập thơ Ngục Trung Nhật Ký (NKTT) là do một người Hán nào đó làm, HCM đã chép lại và có thể chỉ làm thêm một số bài như đoạn II - 4 câu của bài Thế Lộ Nan (9), bài “Các báo hoan nghênh Uy-Ki đại hội” (35), bài Việt hữu tao động (79), bài “Anh phỏng Hoa đoàn”(Đoàn Đại biểu Anh thăm Trung Hoa – bài 80), bài Ký Ni-lỗ (Gửi Nê-ru – 87-88), bài Dương Đào bệnh trọng (116) nếu bạn đồng hành của HCM đúng là có một ông Dương Đào... Còn bài Tân xuất ngục học đăng sơn (134) chính HCM nói HCM đã làm sau khi đã ra khỏi tù, không có trong tập thơ chính.

Các giáo sư, giáo viên không nên cứ cúi đầu dạy và bắt triệu triệu học sinh-sinh viên ép lương tâm nhai đi nhai lại một tác phẩm chứa đựng quá nhiều gian trá, mâu thuẫn, uẩn khúc, mà không hề phân tích tự hỏi ngộ nhỡ đa phần nó chỉ là đạo văn (thơ ăn cắp) của một tù nhân người Hán nào đó thì sao ? Trước đây một số giáo sư, giáo viên, người dân chỉ vì dám nói lên vài sự thật nho nhỏ về HCM mà đã bị đi cải tạo mút mùa. Nhưng nay tình hình đã khác, các học trò ruột trường phái HCM sắp hết hơi rồi, không thể tiếp tục gian trá mãi được !

Các nhà nghiên cứu, các nhà giáo và trí thức VN hãy tỉnh táo, can đảm, mạnh dạn, trung thực, thẳng thắn thừa nhận hoặc phanh phui sự dối gạt kéo dài quá lâu trên tâm hồn và lương tri bao thế hệ học sinh Việt Nam. Đó chính là sự giải phóng đích thật mà toàn Dân - nhất là giới trẻ - đang rất bức thiết cần đến !
c) UNESCO mù hay sao mà tôn vinh HCM là nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại ? Sự thật như sau : Năm 1987, CSVN có đệ trình một đơn xin UNESCO (Tổ chức Văn hóa Giáo dục của LHQ) đến năm 1990 tôn vinh HCM là nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của HCM. Tại Paris, khóa họp 24 từ ngày 20-10 đến 20-11-1987, Tiểu ban Văn hóa đã ghi vào nghị trình Đại hội đồng UNESCO năm 1987 danh sách sẽ được tuyên dương năm 1990 gồm 7 người : Phya Anuman Rajadhon (Thái Lan), Thomas Munzer (Đông Đức), Anton Semionovitch Makarenko (Liên Sô), Jawaharlal Nehru (Ấn Độ), HCM (Việt Nam) và Sinan (Thổ Nhĩ Kỳ). Lời tuyên dương HCM dùng trọn bản văn do phái đoàn CSVN soạn cũng như lời tuyên dương các nhân vật khác do phái đoàn quốc gia liên hệ đề nghị, được Đại hội đồng thông qua không thảo luận. Trong khóa họp 24 năm 1987 này, với sự ủng hộ của Tông Thư ký M’Bow, người châu Phi, UNESCO đã ra một Nghị quyết chấp thuận, lời lẽ theo đơn xin của CSVN: “The year 1990 will mark the centenary of the birth of President Ho Chi Minh, Vietnamese hero of national liberation and great man of culture”. (Năm 1990 sẽ kỷ niệm 100 năm sinh nhật Chủ tịch HCM, anh hùng giải phóng dân tộc và nhà văn hóa lớn).
Nhưng rồi bộ mặt thực của chế độ CS và các siêu lãnh tụ CS Staline, Mao Trạch Đông, Ceaucescu, HCM, Kim Nhật Thành… dần lộ rõ, làm rơi mặt nạ các thần tượng được tô phết mấy chục năm qua. Có quá nhiều chống đối rằng HCM và CSVN vi phạm nhân phẩm nhân quyền, hủy diệt văn hóa, mâu thuẫn với mục tiêu của Liên Hiệp Quốc và UNESCO.

Tân Tổng Thư Ký Frederico Meillor, Tây Ban Nha, cho rằng không cần một Nghị quyết khác để hủy bỏ Nghị quyết năm 1987 ghi nhận đề nghị của VN về việc kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông HCM vào năm 1990, nhưng UNESCO sẽ không tổ chức kỷ niệm và không can dự bất cứ hành động nào để vinh danh HCM tại trụ sở Paris. UNESCO không dự trù ngân khoản cho việc đó. Việt Nam muốn kỷ niệm sinh nhật 100 năm của HCM là tùy ý riêng, không liên quan UNESCO.

Ngày 19.5.1990, UNESCO không tổ chức gì liên quan đến HCM, đồng thời cấm CSVN lấy danh nghĩa UNESCO để tổ chức (hội trường, thiếp mời). CSVN đã tự tổ chức. Ngày 19.5.1990 Sứ quán CSVN chỉ mướn được một phòng sinh hoạt nhỏ của LHQ với khoảng 60-70 khách, hầu hết là Việt kiều CS, vài đảng viên CS Pháp, bạn bè Cuba, Trung Cộng, Bắc Triều Tiên, Kămpuchia, Lào. Vào đúng giờ khắc buổi kỷ niệm của sứ quán CSVN, hơn 100 Việt Kiều đã biểu tình phản kháng ở công trường Fontenoy gần trụ sở UNESCO, đả đảo sự vinh danh HCM, người có tội trước lịch sử nhân loại, đã tàn hại đất nước và dân tộc Việt Nam và 2 nước Kămpuchia, Lào.

Những điều này đã có nhiều tài liệu chứng minh đủ rõ rồi. Nghĩa là có nộp đơn xin thi hoa hậu, ban tổ chức chấp thuận đơn xin, nhưng hoàn toàn bị đánh trượt. Chỉ có thế và chỉ có thế. UNESCO thấy không cần phải lên tiếng xác minh lại. (Xin đọc thêm : “Lật tẩy việc mạo danh UNESCO lừa gạt công luận & 84 triệu Dân VN” do tác giả sưu tập năm 2006).

14. Từ gần 65 năm nay, CSVN luôn phỉnh gạt là VN có Tự do Bầu cử, Ứng cử. Thực chất là do ĐCSVN tự biên, tự diễn, độc diễn toàn trị. Các Đại biểu ứng cử cũng tự biết mình chỉ là con cờ trong tay Đảng sai khiến, làm bung xung cho trò dân chủ giả hiệu. Còn các Đại biểu đắc cử cũng biết mình chẳng phải là Đại biểu cao cả của Nhân dân gì cả. Đích thật là bù nhìn, hầu như chỉ biết đưa tay biểu quyết nhất trí theo ý của Bộ Chính trị của Trung Ương Đảng. Đây không phải là điều gian trá vĩ đại đẳng cấp HCM siêu lừa ngay giữa cộng đồng quốc tế thì là gì ? Mời Bộ Chính trị giải thích sao cho lọt tai toàn Dân đang dần dần thức tỉnh đây.

15. Nhân dân làm chủ ? “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” thật không ? Ai cũng thấy hoàn toàn chỉ là láo lường. Chính xác là : Đảng lãnh đạo Nhà nước, quản lý Nhân dân, làm chủ. Hoặc chính xác hơn nữa là : Đảng CSTQ lãnh đạo, Đảng CSVN quản lý, Nhân dân TQ làm chủ lãnh thổ và nền kinh tế của VN. HCM nói : “Dân chủ là làm cho Dân mở miệng” và “Cán bộ là đầy tớ của Nhân dân”. Nhưng Dân mở miệng là bị bịt miệng ngay, là bị nhốt vào tù tấp bá lị. Đầy tớ mà muốn hăm dọa, đàn áp, bắt bớ, đánh đập, bắn giết… các Ông Chủ sao, lúc nào và bao nhiêu cũng được. Dân chủ kiểu XHCN made in VN là như thế ! HCM cũng nói : “Dân chủ là một báu vật, để sơ hở sẽ dễ mất, phải để vào hòm khóa lại. Chuyên chính vô sản chính là cái ổ khóa để bảo vệ Dân chủ cho khỏi mất” !!! (x. Vũ Đình Hòe, Pháp quyền HCM, 2 tập, tập 1. Sách bị nhốt, chưa ghi số trang, NXB và năm XB được. Mong thứ lỗi).

16. Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam hay của Trung Quốc ? Trước khi về tiếp quản Hà Nội, sáng 19-9-1954 tại cửa Đền Giếng, khu di tích Đền Hùng, núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ trước cán bộ Đại đoàn Quân tiên phong, HCM đã nói : “Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.”(?) HCM muốn liệt mình vào hàng khai quốc ngang hàng các vua Hùng.

Nhưng chỉ 4 năm sau, để Trung Cộng viện trợ vũ khí và lương thực hầu xâm lược miền Nam, CS Bắc Việt đã thỏa thuận ngầm với Trung Cộng. Ngày 4-9-1958, Trung Cộng tuyên bố 2 quần đảo Hoàng Sa (hơn 20 đảo) và Trường Sa (hơn 100 đảo) là của TQ (trong khi Việt Nam Cộng Hòa đang quản lý canh giữ). Chỉ 10 ngày sau, ngày 14-9-1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng của Việt Cộng, theo lệnh của HCM, đã ký công hàm xin tôn trọng bản Tuyên bố “ăn cướp” của Trung Cộng và cúi đầu vâng phục. Năm 1974, Trung Cộng xua hải quân đánh chiếm Hoàng Sa, ngoài khơi Đà Nẵng, lính VNCH phải tử trận hơn 150 chiến sĩ. Bắc Việt lúc đó im re, lại còn mê muội vừa nhẫn tâm gọi những người anh em ruột thịt của mình đã liều chết đổ xương máu bảo vệ giang sơn của Tổ Tiên để lại là “Ngụy quân, Ngụy quyền”, vừa hèn hạ gọi quân xâm lược Trung Cộng là “các đồng chí vĩ đại Trung Quốc kính yêu” (Đó là đạo lý của CSVN). Năm 1982, Trung Cộng lại xua quân đánh chiếm thêm hơn 10 đảo thuộc quần đảo Trường Sa ngoài khơi Vũng Tàu của VN.

Hiện nay, trong khi hầu như toàn Dân, nhất là giới trẻ VN, tìm mọi cách để giành lại Hoàng Sa-Trường Sa, thì NCQ CSVN lại theo đuổi một thủ đoạn vòng vo phức tạp : 1) Vừa lật lọng phủ nhận công hàm bán nước ngày 14-9-1958 của CS Bắc Việt rằng : Lúc đó chủ quyền 2 quần đảo này đang thuộc về Chính quyền VNCH Sài Gòn trước công pháp quốc tế, nên công hàm 14-9-1958 của CS Bắc Việt vô giá trị; 2) Vừa tổ chức hội thảo rùm beng về chủ quyền của VN trên 2 quần đảo này để che mắt Dân chúng VN; 3) Vừa úp mở trong hồ sơ chính thức nộp cho LHQ về lãnh hải VN; 4) Vừa không thật lòng quyết tâm bênh vực bảo vệ tàu thuyền và ngư dân VN qua lại vùng biển quanh Hoàng Sa-Trường Sa; 5) Vừa nhượng thêm đất liền qua việc giao đất rừng miễn phí 50 năm cho Trung Cộng lên đến 300 ngàn hécta và tạo điều kiện cho Tàu Cộng có mặt lâu dài ở VN; 6) Vừa thẳng tay đàn áp Dân chúng biểu tình bày tỏ lòng yêu Nước chính đáng của mình về chủ quyền lãnh thổ do Tổ Tiên để lại, đến nỗi Dân và thanh niên VN chỉ dám lén lút ghi tên lãnh thổ của mình bằng các từ viết tắt HS-TS-VN, để khi bị đàn áp quá chịu không thấu thì phải nói dối méo miệng là Học Sinh-Trong Sạch-VN theo gương siêu gian trá của HCM !!!

Nếu CSVN đã trao Hoàng Sa – Trường Sa cho TQ rồi, thì phải công bố thật rõ cho người Dân biết, để Dân VN đừng liều mạng đến mưu sinh quanh 2 quần đảo này nữa, vì không được lực lượng nào bảo vệ hữu hiệu cả.
Còn nếu CSVN thật tâm cương quyết và kiên trì thu hồi lại trọn vẹn 2 quần đảo này thì lẽ ra phải tự hào hãnh diện và vui mừng khuyến khích, tại sao lại bôi mặt và nhẫn tâm đàn áp, bắt giam những người Dân xả thân liều chết biểu tình đòi lại 2 quần đảo đã mất gần hết này?

Nại lý do đây là vấn đề ngoại giao nhạy cảm để 2 đảng CS dễ bề thậm thụt với nhau về một vấn đề cực kỳ hệ trọng đối với SỰ TOÀN VẸN LÃNH THỔ và AN NINH TỔ QUỐC như thế, có thể tiếp tục lừa bịp toàn Dân đang thức tỉnh không ???

Thay lời kết : Những ai tự coi hoặc được gọi là Trí thức, Sĩ phu,... đã biết rõ 16 điều gian trá vĩ đại siêu lừa trên, mà vẫn hoặc im lặng đồng lõa tiếp tay, hoặc đã hèn nhát ngậm tăm hàng mấy chục năm nay : Lẽ nào lại cam tâm đồng lõa với tội ác ngút trời trục giết vô số thai nhi sao ? Hay đồng lõa với tội ác giết người cướp đất sao ? Lẽ nào biết được mỗi năm hàng chục triệu học sinh-sinh viên phải cúi đầu ép lòng học những điều dối trá, mà có thể coi như không có gì đụng đến mình sao ? Lẽ nào lại cam phận tiếp tục sống ô nhục vậy mãi được sao ? Lẽ nào yên lương tâm mà đọc sách thánh hiền sao ? Lẽ nào cứ tiếp tục hăng hái đi bầu cách miễn cưỡng giả tạo như vậy mãi, lại còn thúc giục người thân, thuộc nhân tham gia trò hề dân chủ giả hiệu ấy mà không tự thẹn sao ???

Những ai chưa biết, hoặc chưa nhận ra hết 16 điều gian trá vĩ đại đẳng cấp HCM siêu lừa nêu trên, thì nay kính mời lắng nghe, thấu hiểu và tiếp tục nghiên cứu sâu rộng hơn, nhất là tìm cách tự giải thoát, để có khả năng giúp càng nhiều người Dân càng tốt, càng sớm càng mừng :
Từ bớt sợ hãi đến hết sợ hãi. Từ bớt nói dối đến hết nói dối.
Tương lai Tổ quốc-Dân tộc chúng ta trước tiên và cơ bản cốt tại 2 điều này, làm nền tảng cho tất cả các điều hệ trọng bức thiết khác tiếp theo.
Xin chân thành cảm ơn nhiều, nhiều lắm và rất nhiều.

Lm TNLT Nguyễn Văn Lý
Huế, 14-8-2010
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Ðảng là ai? tên gì? ở đâu? mấy đứa?
Sunday, August 15, 2010

Ðinh Tấn Lực
(Trích dinhtanluc.multiply.com)

Image
(Hình minh họa: freelecongdinh.wordpress.com)

Dạo này, chỉ nội trong một quý, cả nước rộ lên toàn chuyện động trời, mà đảng ta thì cứ lấp ló/làm lơ/lập lờ/làm liều/lếu láo/lấp liếm... lẫn lấm le lấm lét.

***

Ðảng viên thiếu úy “chiến sĩ công an” Trương Ðình Hoàng ở Thái Nguyên, mặc thường phục, rượt dí xe máy công dân như trong phim hành động xã hội đen, truy đuổi đến khi ép dừng được “đối tượng” thì mắng dân té tát: “Con kia sao chưa chịu xuống (xe), mày chán cơm thèm đất hả?” rồi rút súng bắn xuyên đùi trái, chui qua hố xương chậu, găm vào tủy xương đùi phải của người thiếu nữ ngồi sau xe máy, xong phân trần với đám đông tụ tập là đang “truy bắt tội phạm,” bỏ mặc cho nạn nhân đứng tại hiện trường đầm đìa trong máu. Vụ việc được ghi lại thành biên bản “vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ.”

“Tội phạm,” người ngồi sau người lái xe vi phạm giao thông, là cô Hoàng Thị Trà, sinh viên khoa Toán-Tin, Ðại Học Sư Phạm Thái Nguyên.

Còn chiến sĩ công an Trương Ðình Hoàng, mới chính thực là đảng. Kẻ máu lạnh, lúc mắng dân là thằng này con kia, khi rút súng nhả đạn buộc nhân dân phải chán cơm thèm đất, và nghĩ rằng mình có toàn quyền sinh sát, thực ra đang vỗ ngực: đảng là tao!

***

“Trả lời báo giới sáng 11 tháng 8, Ðại Tá Nguyễn Như Tuấn (phó giám đốc, thủ trưởng cơ quan Ðiều tra Công an tỉnh Thái Nguyên) khẳng định, việc nữ sinh Trà bị găm đạn thủng đùi, có nhiều người chứng kiến nên không thể giấu diếm, bao che.”

Tức là, nếu ở một nơi vắng vẻ, không người chứng kiến, thì các vụ công an tùy hứng nhả đạn vào dân thế này đều có nhiều xác suất im ắng/chìm xuồng?

Rõ ràng, mỗi một công an và lãnh đạo của nó đều là đảng, hoặc đều ngấm ngầm xưng đảng là tao!

***

Ðảng viên thiếu úy “chiến sĩ công an” Nguyễn Mạnh Thư huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa, đã nổ súng vào đám đông nhân dân tụ tập phản đối tiến trình giải phóng mặt bằng bất công ở Nghi Sơn, gây tử vong tại chỗ cho cháu bé 12 tuổi Lê Xuân Dũng, gây thương tích cho bà Lê Thị Thanh, và gây tử vong sau đó cho ông Lê Hữu Nam.

Nguyễn Mạnh Thư, nã đạn vào dân, là đảng.

Lãnh đạo địa phương, cố bao che bằng kết luận ban đầu là “bắn chỉ thiên/súng cướp cò,” tất nhiên, cũng trong tâm thức coi đảng là tụi tao!

***

Chỉ vì mấy con vịt hay phá rối, hai mẹ con va chạm với nhau, bà mẹ trong lúc nóng giận đã làm đơn gửi đến cơ quan công an với mong muốn công an dọa cho đứa con một trận để nó ngoan hơn. Thế nhưng sau một ngày, cơ quan công an đã trả lại cho bà chiếc quan tài và xác chết đứa con trai. Nạn nhân là anh Vũ Văn Hiền, nông dân ở thôn Bình Xuân, xã Bình Thuận, huyện Ðại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Ngày trước, khẩu hiệu của CA là: “Không đánh cho có, có đánh cho chừa.” Nay thu gọn lại chỉ còn 3 từ: “Ðánh cho chết.”

Giống hệt mọi nơi khác, công an Ðại Từ là đảng.

***

Thanh niên Nguyễn Văn Khương bị cảnh sát giao thông huyện Tân Yên, Bắc Giang, bắt giữ về tội đi xe máy không đội mũ bảo hiểm, sau đó đã gục chết ngay trên ghế thẩm vấn tại đồn. Vì bất bình, nhiều người dân đã cùng gia đình nạn nhân mang quan tài của người chết đến trụ sở UBND tỉnh để yêu cầu làm sáng tỏ vụ việc. Lực lượng công an được huy động tới giải tán đoàn biểu tình đòi công lý lên đến cả vạn người, bằng dùi cui và hơi cay.

Nguyễn Thế Nghiệp, tay công an đánh chết anh Khương, là đảng.

***

Chiều Chủ Nhật, 25 tháng 7, 2010, gia đình nạn nhân bị công an đánh chết đã đưa thi thể anh Khương lên Ủy Ban Nhân Dân (UBND) tỉnh để đòi làm rõ vụ việc. Hỗ trợ gia đình anh Khương, một số rất đông người dân đã đi theo quan tài, bao vây UBND tỉnh từ 14 giờ đến tối. Ðến 5 giờ chiều thì 6 đoạn tường rào (60 mét) của UBND tỉnh bị phá hủy. Nhiều tiếng nổ lớn xảy ra do người dân đốt mìn tự tạo. Thi thể nạn nhân vẫn được quàn tại cổng UBND tỉnh. Cổng phụ của UBND đã bị phá cùng với biển ghi tên UBND tỉnh Bắc Giang. 9 giờ tối, nhà chức trách cho thợ làm lại tường và biển tên UB trước sự hiếu kỳ của hàng trăm người dân. Không như mọi ngày, tối nay UBND tỉnh tối om không có cả đèn trang trí ở sân...

Trong khi đó, “thái tử” Nông Quốc Tuấn (con trai Nông Ðức Mạnh, sắp trở thành bí thư tỉnh ủy) vẫn thản nhiên tiếp đãi bạn bè trong tiệc nhậu đặc sản bằng món thịt bò tót do 2 đầu bếp từ Hà Nội được điều về Bắc Giang để nấu nướng theo yêu cầu của Tuấn tại nhà hàng Tài Lộc.

Nông Quốc Tuấn, một mình, tự thân, chưa ngồi vào ghế tỉnh ủy, đã là đảng.

***

Ngày 3 tháng 7, 2010, giáo dân Tôma Nguyễn Thành Năm ở Cồn Dầu đã chết vì bị công an Ðà Nẵng lùng bắt, đánh đập, tra tấn tàn bạo. Nhìn những vết thương dã man trên thân xác anh, nhìn cái chết đau đớn của anh, giáo dân Cồn Dầu đã sợ hãi trước những con người hầu như trở thành loài thú dữ. Anh đã ra đi trong đau đớn, trong vòng vây của đội quân công an ngăn chận những người thân quen đến tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng. Anh ra đi không có những ngọn nến giải oan, để soi rọi sự bất công, dối trá trên miền đất Cồn Dầu. Anh ra đi bên những tiếng khóc thương nhớ, uất ức của vợ con. Anh ra đi trong bối cảnh dối gian, lọc lừa biến hóa hành động giết người của công an và chính quyền Ðà Nẵng trở thành vô tội. Hiện gần 2,000 hộ dân bị giải tỏa tại Cồn Dầu không có nhà mà ở.

Không thể nhầm: công an, ở mọi nơi trên đất nước này, đều là đảng.

***

Dự án đúc tim cho tượng Thánh Gióng gây xôn xao dư luận cả nước trước hạn kỷ niệm 1000 năm Thăng Long.

Phù Ðổng Thiên Vương không phải là đảng viên.

Nguyễn Thị Thoa, giám đốc Cty ATS, người đề xuất dự án này, cũng không chắc là đảng viên.

Chỉ riêng kẻ vận động và phê duyệt dự án, biết trước là sẽ có phần chia chác, mới là đảng.

***

Huỳnh Ngọc Sỹ, nguyên phó giám đốc Sở Giao Thông Vận Tải kiêm giám đốc Ban Quản Lý Dự Án Ðại Lộ Ðông Tây và Môi Trường Nước Sài Gòn, bị báo Nhật phanh phui đường dây tham nhũng PCI, lãnh án sơ thẩm 3 năm tù về tội danh “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ,” ra tòa phúc thẩm bị nâng mức án lên thành 6 năm tù, hiện có nhiều xác suất ra tòa lần nữa về tội danh chính thức là “nhận hối lộ” nhiều triệu USD.

Huỳnh Ngọc Sỹ, là đảng.

Mỗi cá nhân trong đường dây chung chi của Sỹ cũng là đảng.

***

Thượng Tá Ðặng Ðình Tiến, phó tham mưu trưởng Sư Ðoàn 324, Quân Khu 4, cùng các sĩ quan dưới trướng, kết hợp với Nguyễn Thị Kim Hoa, giám đốc Công ty TNHH Liên Kết và Giới Thiệu Việc Làm Bắc Miền Trung, để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 114 gia đình quân nhân (130 triệu đồng/1 quân nhân/1 hồ sơ xuất khẩu lao động). Các nạn nhân đã tố cáo lên các cấp cầm quyền địa phương cũng như trung ương, và trong suốt năm qua đã trên dưới 30 lần tìm cách khiếu nại đến các cơ quan liên hệ: Sư Ðoàn 324 QK4; Bộ Tư Lệnh QK4; Phòng Ðiều Tra Hình Sự QK4; Tỉnh Ủy, UBND, Công An các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình, đặc biệt là Bộ Quốc Phòng. Nhưng không được trả lời.

Ðặng Ðình Tiến là đảng.

Thủ trưởng của mỗi cơ quan nêu trên cũng đều tự coi mình là đảng.

***

Nguyễn Ngọc Ân, giám đốc sở Văn-Thể-Du của tỉnh Phú Thọ đã tiêu tốn non hai vạn USD tiền thuế của dân để lấy bằng tiến sĩ của Ðại Học Nam Thái Bình Dương (Southern Pacific University - SPU). Ðến khi bị trưng ra ánh sáng những góc đen khuất tất này thì Ân than rằng: Tôi là kẻ kém may! Té ra có nguyên một đường dây giới thiệu của Bộ Tài Chánh cho những quan chức muốn có bằng tiến sĩ mà không cần học.

Nguyễn Ngọc Ân (kém may), và cả những đồng chí (còn may) chưa bị lộ, chính là đảng.

***

Sầm Ðức Xương, hiệu trưởng trường trung học Hà Giang, cưỡng dâm nhiều nữ sinh, biến các nữ sinh đó thành gái gọi để thu tiền, rồi cống nạp lên thượng cấp, từ lãnh đạo ngân hàng đến cấp lãnh đạo cao nhất tỉnh, hoàn thành một danh sách đen hoành tráng. Khi vụ việc vỡ lở, các lãnh đạo nhất trí xử lý tình huống bằng cách phù phép cho các nữ sinh nạn nhân phải lãnh án tù về tội bán dâm. Trong số đó, một nạn nhân bỗng dưng mất tích. Nguyễn Trường Tô, chủ tịch tỉnh Hà Giang, với nick trên phôn di động là Tình yêu Chủ tịch, đứng tên hàng đầu trong danh sách đó...

Sầm Ðức Xương, hiệu trưởng, chuyên ngành trải ga giường để tiến thân, là đảng.

Nguyễn Trường Tô, tỉnh ủy viên, dùng quyền lực để cưỡng dâm nữ sinh, tất yếu là đảng.

***

11 chiến sĩ công an thuộc Cục Kỹ Thuật Nghiệp Vụ II (A-23), còn được gọi là CAM, vừa mới được Lê Doãn Hợp, bộ trưởng 4T, trao kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp 4T,” bởi đã tận tình “sử dụng các phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ phối hợp với các lực lượng chủ động đấu tranh với âm mưu hoạt động của các loại tình báo, gián điệp, phản động và tội phạm khác.”

Mới vài tháng trước, Thiếu Tướng Công An Vũ Hải Triều cũng đã báo cáo thành tích đánh sập 300 trang mạng và blogs, đồng thời, đã chộp được mật khẩu để xâm nhập nhiều trương mục email của một bộ phận không nhỏ nhân dân.

A-23 là đảng. CAM là đảng. Tự thân Lê Doãn Hợp/Vũ Hải Triều cũng là đảng.

***

Văn Ðình Ưng, phó chánh Văn Phòng Bộ GD-ÐT phân tích sâu sát rằng có 4 lý do khiến học sinh đỗ tốt nghiệp cao năm nay:

Thứ nhất do năm nay là năm thứ tư thực hiện cuộc vận động “hai không” nên những thí sinh yếu kém đã cố gắng học tập để thi đỗ.

Thứ hai, do công tác tư vấn tốt của các cơ quan truyền thông.

Thứ ba, do các ngày thi trên toàn quốc thời tiết mát mẻ.

Thứ tư là có thể do các em phấn đấu lập thành tích để chào mừng đại lễ 1000 năm Thăng Long-Hà Nội!

Văn Ðình Hưng, đích thị là đảng.

***

Ban Tuyên Giáo thuộc Thành Ủy thành phố Ðà Nẵng vừa ra một văn bản, không rõ thuộc loại gì, nhưng có vẻ ngang với một cái lệnh, đề gửi cho “Văn phòng đại diện báo Ðại Ðoàn Kết tại Ðà Nẵng,” đòi cơ quan báo chí này cử phóng viên phải “là đảng viên” đến để “thông tin, tuyên truyền về Ðại hội lần thứ XX đảng bộ thành phố Ðà Nẵng.” Thế là... tịt, bởi văn phòng đại diện báo ÐÐK tại Ðà Nẵng không có nhà báo nào là đảng viên.

Các ban Tuyên Giáo, từ TW xuống tới địa phương đều tự coi mình là đảng.

***

Nguyễn Thế Thảo, chủ tịch UBND TP Hà Nội, và Hoàng Tuấn Anh, bộ trưởng Văn-Thể-Du, đã hè nhau đề xuất một phương án thực sự động trời có tên là phương án... “bắn mây ngăn mưa,” với phí tổn vào tầm 1 tỷ USD cho 3 ngày đại lễ nhiệt liệt chào mừng 60 năm hữu nghị Việt-Trung và 1000 năm Thăng Long. Ðề án này được chuyển đường tắt lẫn đường vòng lên tới Phó TT Nguyễn Sinh Hùng. Tức là toàn giới IQ thượng hạng ngoại hạng. Không may cái là thời điểm của đề án này rớt vô sau vụ đường sắt cao tốc bị bác. Nguyễn Sinh Hùng, dù rất mê tính béo ngậy của dự án, nhưng cũng đành nuốt nước bọt nói “không,” kèm theo một lời phán nuối tiếc: “Nếu ta làm được thì nên làm, đằng này ta chưa làm được thì thôi.”

Kẻ đề xuất theo cảm hứng và trong tâm thức toàn quyền, tất nhiên là đảng.

Kẻ phê chuẩn, dù không được như ý, cũng vẫn xưng xưng rằng đảng là tao!

***

Chỉ riêng 16 bộ phận tổ chức của đảng CSVN, chưa phải toàn đảng, trong nhiệm kỳ 10 đã “vi phạm trong sử dụng tiền bạc” tăng gấp đội nhiệm kỳ 9: số tiền vi phạm phát hiện được ở cấp do trung ương kiểm tra là trên 80 tỷ đồng, tương đương 4,2 triệu đô la. Ở cấp cơ sở, con số này là 56 tỷ đồng. Lưu ý rằng đây chỉ là những con số “phát hiện được.”

Nguyễn Văn Chi, Chủ nhiệm Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương, thừa nhận “vi phạm qua kiểm tra tài chính đảng là đáng lo ngại, kiểm tra đâu cũng có vi phạm ở mức độ khác nhau.”

Thủ trưởng bất kỳ cơ quan nào của đảng cũng tự coi mình là đảng.

***

Hai anh em Trần Văn Chính (nguyên vụ phó Vụ Tổ Chức Cán Bộ của Bộ Giáo Dục & Ðào Tạo) quyết tâm chiếm lấy bằng được trường Ðại Học Phan Châu Trinh ở Hội An (một tư thục phi lợi nhuận). Theo một vài (trong số rất nhiều) đường dây (nổi tiếng của bộ), việc vận động của anh em Trần Văn Chính đã đưa đến kết quả là Nguyễn Thị Nghĩa, thứ trưởng Bộ GD- ÐT, cùng một đoàn công tác hùng hậu về “làm việc” với ban giám hiệu của trường trong suốt... một giờ đồng hồ, trên nguyên tắc định sẵn là... miễn đối thoại.

Hệ quả là 2 cái quyết định ngồi xổm trên luật pháp của Nguyễn Thị Nghĩa đều được hoàn trả cho khổ chủ: 1) Bãi miễn trách vụ hiệu trưởng của ông Phạm Hữu Thu; và 2) Ngưng tuyển sinh cho trường Phan Châu Trinh.

Hai anh em Trần Văn Chính tất nhiên là đảng.

Nguyễn Thị Nghĩa cũng là đảng. Thậm chí, còn hơn cả đảng, bởi đã bị mắng ngay trong buổi họp với thành ủy Hội An: “Chị là thứ trưởng thôi chứ chị to hơn đảng à?”

***

Trường Cao Ðẳng Nghề số 8 (thuộc bộ QP, ở Biên Hòa, Ðồng Nai), từng được vinh danh “Ðiểm sáng về dạy nghề,” là nơi mà mọi thí sinh đều an tâm đóng tiền đi thi “bảo đảm đậu.” Kể cả những thí sinh ngồi ngoài quán uống cà phê, thậm chí, đi tắm biển tận Vũng Tàu Bà Rịa, cho hết giờ thi, đều được cấp bằng. Ngô Phước Sánh, chủ tịch UBND thị trấn Tân Thạnh, cũng là 1 trong các tay cò mua bán bằng, tuyên bố: “Chỉ đạo của huyện là làm sao thì làm, miễn có bằng thì thôi!”

Hiệu trưởng trường nghề số 8, với toàn quyền cấp bằng, là đảng.

Các chủ tịch UBND đồng loại với Ngô Phước Sánh, cũng là đảng.

***

Một trong các bộ đứng đầu công nghiệp nuôi dưỡng nhiều cò lắm chợ là Bộ GD-ÐT. Ngoài chợ phao, các chợ tuyển sinh là nơi sầm uất phồn thịnh hơn cả. 200 triệu đồng/1 suất đại học! Khẩu hiệu bắt mắt thời đại là: “Trường nào cũng chạy được,” “Trôn kim nào cũng qua lọt.”...

Quan chức bộ GD-ÐT là đảng.

Cò chạy trường, không nhất thiết đảng viên, cũng hành xử không khác đảng.

***

Phạm Thanh Bình, chủ tịch HÐQT kiêm tổng giám đốc Vinashin, quản trị thua lỗ/thất thoát 86,000 tỷ đồng tiền thuế của dân. Tính trung bình ra là mỗi công dân VN phải trả khoảng một triệu đồng tiền nợ do Bình gây ra.

Nguyễn Sinh Hùng, phó thủ tướng, lãnh trách nhiệm vực dậy tập đoàn kinh tế khánh tận Vinashin bằng dự án vay nợ 56 tỷ USD dưới danh nghĩa xây dựng đường sắt cao tốc, nhưng rất tiếc là Quốc Hội phản bác, không thông qua.

Phạm Thanh Bình, kẻ phá hoại tài sản của nhân dân ở tầm kỷ lục bằng tính khí tùy tiện và ngu muội lộng quyền như trên, chính là đảng.

Nguyễn Sinh Hùng, nâng đỡ/bảo kê/bao che/cứu vớt cho một tội phạm như Bình, vẫn bằng tính khí tùy tiện và ngu muội lộng quyền như trên, cũng đã tự coi mình là đảng.

***

Võ Kim Cự, ủy viên Ban Thường Vụ Tỉnh Ủy, phó chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Hà Tĩnh, từng “bị kỷ luật vì làm cho một cô giáo mầm non mang bầu,” từng mua bằng dỏm của Western Pacific University, vừa được bổ nhiệm giữ chức chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh.

Nguyễn Nhật, chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị, tổng giám đốc Tổng công ty Khoáng Sản và Thương Mại Hà Tĩnh, nổi danh xài bằng dỏm của Ðại Học Irvine và Nam Thái Bình Dương, cũng vừa được bổ nhiệm giữ chức phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh.

Quyết định bổ nhiệm mang số 1385/QÐ-TTg.

Võ Kim Cự và Nguyễn Nhật, lọc lừa cả nước, dùng bằng dỏm để thành lãnh đạo, chính là đảng.

Nguyễn Tấn Dũng, kẻ hồn nhiên bổ nhiệm cho mấy đứa xài bằng dỏm làm lãnh đạo như nó, tất nhiên, càng là đảng “gộc.”

***

Ngần ấy thời sự nhục nhã xảy ra chỉ trong khoảng trên dưới một quý.

Ðủ để cả nước thất kinh khi phải lược qua tình hình cần duyệt lại xem đảng là ai? tên gì? ở đâu? mấy đứa?

Ðảng ta là đạo đức, là văn minh, như thế ư?

Thẻ đảng là giấy chứng thực tất cả những lề thói đạo đức/văn minh như thế chăng?

Những đảng viên khác nghĩ sao?

Phải chăng đã đến lúc để vất bỏ những tấm thẻ đảng ô nhục đó?

Nơi nơi đang sục sôi. Chỉ cần Ðại Tướng Võ Nguyên Giáp phát pháo tiên phuông, làm gương dẫn dắt, là trở thành động lượng đại trà, giúp cho mọi người mạnh dạn hơn để cùng vất bỏ thẻ đảng, chối từ cái hàng ngũ phi nhân đang nhân danh cộng sản mà vơ vét tư lợi; nhân danh xã hội chủ nghĩa mà bóc lột công nông; nhân danh Tổ Quốc mà bán đứng Tổ Quốc; nhân danh Dân Tộc mà đọa đày/giết hại Dân Tộc...

Hãy cùng nhau vất bỏ thẻ đảng để sang trang lịch sử.

Không chỉ thuần để giữ nguyên bờ cõi, mà còn để kiến tạo bệ phóng cho đất nước cất cánh, con người thăng hoa.

Chuẩn bị chào mừng 65 năm ngày Cách Mạng Tháng Tám.

14 tháng 8, 2010.
Blogger Ðinh Tấn Lực
bobinh
Posts: 221
Joined: Fri Feb 26, 2010 1:35 am
Contact:

Post by bobinh »

Image

Cả nước thích đùa


Lê Thị Thanh Chung
(Tham luận của nhà văn Aziz Nesin* gửi Đại Hội – Hội Nhà Văn VN lần thứ VIII)

Các bạn đồng nghiệp Việt Nam thân mến,

Cách đây gần hai thập kỷ, Aziz Nesin tôi được các bạn độc giả Việt Nam biết đến như một người “thích đùa”. Vâng, tôi đã phải trả giá cho sự bông đùa của mình bằng nhiều năm ngồi bóc lịch sau song sắt. Nhà cầm quyền ở nước tôi không thích đùa. Những tín đồ Hồi giáo cực đoan ở Thổ Nhĩ Kỳ không thích đùa. Các bạn may mắn hơn tôi vì được sinh ra và hành nghề cầm bút ở một xứ sở con người luôn lạc quan, mơ mộng và hài hước.
Chẳng có một dân tộc nào trên thế giới rầm rập đi tìm lối tắt khi trong tay chỉ có chiếc la bàn “made in China”. Sau mấy chục năm loanh quanh không tìm được lối ra, các bạn vẫn vui vẻ quay về vị trí xuất phát và không ngừng tìm cách “đón đầu”. Các bạn đã rút ngắn được đáng kể con đường dẫn đến kho tàng tri thức loài người. Nước Mỹ luôn tự hào là một trong những cường quốc trên thế giới, có những trường đại học hàng đầu như Havard, MIT… nhưng họ vẫn phải mất từ 7 đến 10 năm mới đào tạo xong một tiến sĩ. Tiến sĩ của Việt Nam không cần biết tiếng Anh, bảo vệ thành công luận án trong vòng sáu tháng.

Con người cất cánh bay lên được vì đã dám ước mơ. Và cũng chỉ ở Việt Nam, ước mơ đã sải cánh suốt rộng dài đất nước. Ngành giáo dục của các bạn mơ có những trường đại học mang đẳng cấp quốc tế. Sinh viên nước ngoài đến du học ở Việt Nam phải qua mấy kỳ phỏng vấn mới xin được visa. Các nước sẽ được cấp quota gửi sinh viên sang nhờ Việt Nam đào tạo. Ngành đường sắt mơ một ngày có đường tàu cao tốc. Bước lên tàu từ sân ga Hàng Cỏ, chưa kịp viết hết một khổ thơ đã tới ga Hòa Hưng. Ngành điện mơ những lò phản ứng hạt nhân. Bán điện cho các nước láng giêng lạc hậu. Ngành khoáng sản mơ giấc mơ bô-xít. Bùn đỏ biến thành hồ nước trong veo. Vinashin mơ sẽ cho hạ thủy những con tàu hiện đại đi khắp đại dương. Thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ làm chao đảo cả phố Wall. Ngân hàng Thế giới sẽ chọn Việt Nam làm Hội sở.

Nếu chỉ số hạnh phúc của Liên Hiệp quốc lấy tiêu chí hài hước làm trọng thì Việt Nam sẽ đứng trong “top ten” các dân tộc hạnh phúc trên thế giới. Chỉ có ở đất nước của các bạn, “thế giới ngày mai” mới đeo cặp đu dây qua sông tới lớp. “Vì lợi ích mười năm trồng cây”, các bé gái tuổi vị thành niên thành món quà của thầy hiệu trưởng gửi tới cho bạn bè trên tỉnh. “Tiên học lễ”, nữ sinh lột quần áo nhau quay phim đưa lên youtube. Cô giáo túm vào chỗ kín của học sinh nam. Trò hư phải thay nhau liếm ghế. “Hậu học văn”, quay cóp được nâng lên thành nghệ thuật. Thầy ra bài, thầy thu tiền, thầy cho đáp án trước ngày thi. Trò thuê người học thay, thuê người viết luận văn, bằng giả bày như rau dưa ngoài chợ.

Chỉ có ở đất nước của các bạn, cảnh sát gọi người vi phạm giao thông vào góc đường làm luật. Cò kè cưa đôi. Người anh hùng bỗng chốc trở thành tội phạm vì mấy chục triệu quỹ đen. Kẻ tham nhũng tiền tỷ tỷ được xem xét vì có nhân thân tốt. Chưa tranh tụng trước tòa đã biết bao nhiêu năm nằm khám. Tử tù sinh con trong phòng biệt giam.

Chỉ có ở đất nước của các bạn, bê tông mới được đúc bằng cốt tre. Cầu vượt đang xây dầm đã lao xuống đất. Hầm đường bộ thành sông trong thành phố. Đường chưa bàn giao đã sụt, lún, chân chim.

Chỉ có ở đất nước các bạn, mới có thủ tướng chân tình “ba năm qua tôi chẳng kỷ luật ai”. Các nghị sĩ hồn nhiên đồng thuận. Anh bạn láng giêng – tặng nhau cả 16 chữ vàng vẫn là “nước lạ”. Chiến sĩ hòa bình bờ đông canh giữ cho giấc ngủ bở Tây.

Chỉ có ở đất nước các bạn, người viết bằng mọi giá chen chân vào Hội Nhà văn. Một phần ba số hội viên muốn được làm lãnh đạo. Đại hội không bàn chuyện văn chương, chỉ lo bầu bán. Ai cần Hội Nhà văn? Hội Nhà văn cần ai?

Các bạn may mắn hơn tôi, mỗi buổi sáng vào mạng đọc tin, có thể tìm thấy hàng trăm ngàn đề tài để viết. Cả một dân tộc thích đùa. Tác phẩm không hấp dẫn mới là chuyện lạ.

Vẫn biết Đại Hội mới bắt đầu, nhưng chắc chắn sẽ thành công rực rỡ. Chúc các bạn có một Ban chấp hành mới, hoạt động không cần tiền thuế của dân. Chúc các bạn có nhiều tác phẩm đoạt giải Nobel, tất cả nhà văn sống được bằng ngòi bút.
---

(Ngàn lần xin lỗi nhà văn Aziz Nesin vì vụ “đạo” tên này)

Aziz Nesin sinh năm 1915. Ông được đề cử cho nhiều giải văn chương ở Ý, Thổ Nhĩ Kỳ, Bulgari và Liên Xô cũ. Tác phẩm của ông được dịch ra trên ba mươi thứ tiếng. Về cuối đời, ông là nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ duy nhất sống được bằng thu nhập từ viết sách. Năm 1972, ông lập ra quỹ Nesin. Mỗi năm, quỹ này chọn ra bốn trẻ em nghèo, đưa về chăm sóc, nuôi cho ăn học từ cấp cơ sở, hết phổ thông trung học, đại học hoặc đào tạo nghề. Ông tặng cho Quỹ toàn bộ tiền bản quyền in ấn, dịch thuật và sử dụng các tác phẩm của mình ở Thổ Nhĩ Kỳ cũng như các nước khác trên thế giới. Ông mất ngày 6 tháng 7 năm 1995 vì một cơn đau tim.

* Theo góp ý của một số bạn đọc, Thanh Chung xin đổi lại tiêu đề là "Cả nước thích đùa" thay cho chữ "Dân tộc"
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Mỹ báo động việc Trung Quốc củng cố quân đội

WASHINGTON - Ngũ Giác Ðài lên tiếng báo động về việc Trung Quốc đang ngấm ngầm củng cố quân đội, tập trung đầu tư vào hệ thống hỏa tiễn và phi đạn tầm xa, khiến một ngày nào đó có thể trở thành một thách thức đối với việc kiểm soát vùng Tây Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, theo Wall Street Journal.
Image
Hải Quân Trung Quốc phóng hỏa tiễn thử nghiệm trong cuộc tập trận ở Biển Ðông. (Hình: AP)

Nay quân đội Trung Quốc đã có khả năng tấn công trên một diện rộng, tới tận đảo Okinawa của Nhật và quần đảo Trường Sa, ngoài khơi Việt Nam. Các nhà hoạch định chính sách của TQ còn nhắm tới các mục tiêu xa xôi hơn như đảo Guam và Philippines, theo BBC. Việc xây dựng khả năng tác chiến xa bờ này, theo Ngũ Giác Ðài, thể hiện học thuyết quân sự mới của Trung Quốc.

Trung Quốc đang nâng cấp hệ thống hỏa tiễn, mở rộng các căn cứ tàu ngầm, hiện đại hóa lực lượng hạt nhân và chuẩn bị đưa hàng không mẫu hạm vào hoạt động vào cuối thập niên này. Nay Bắc Kinh có trong tay 1,150 hỏa tiễn đạn đạo tầm ngắn và một số lượng không xác định hỏa tiễn tầm trung.

BBC cũng tường thuật tin TQ mới lập căn cứ hỏa tiễn mới ở Quảng Ðông với tầm bắn xa tới vùng Ðông Nam Á. Báo chí địa phương cho hay căn cứ mới đặt tại khu vực miền núi có tên Thiều Quan và thuộc quản lý của binh chủng chuyên trách hỏa tiễn chiến lược của quân đội Trung Quốc.

Giới quan sát cho rằng tại căn cứ này quân đội Trung Quốc sẽ đặt các hỏa tiễn đạn đạo DF-21C hoặc hỏa tiễn tầm xa CJ-10. Cả hai loại này đều có tầm bắn trên 2,000 cây số, tức vươn tới tận quần đảo Trường Sa. Ngoài ra, hồi tháng 6 năm ngoái, quân đội nước này đã lập một căn cứ tương tự tại Thanh Viễn, một huyện miền núi khác thuộc tỉnh Quảng Ðông.

Ðược biết hỏa tiễn đạn đạo chống tàu chiến DF-21D, có khả năng tấn công tầu lớn như hàng không mẫu hạm. Trung Quốc được cho là đã có trong tay kỹ thuật này, nhưng thực sự đã sản xuất và sử dụng DF-21D hay chưa thì chưa rõ.
Trung Quốc hiện có 1,150 hỏa tiễn đạn đạo tầm ngắn

Một số lượng không rõ hỏa tiễn tầm trung bắn xa trên 2,000 km

Trung Quốc đang tân trang một hàng không mẫu hạm cũ mua của Urkraina

Ðang huấn luyện 50 phi công có thể đáp máy bay trên hàng không mẫu hạm

Năm nay Trung Quốc tăng ngân sách quốc phòng lên 7.5% lên thành $78 tỉ

Ngân sách quốc phòng của Mỹ: $700 tỉ

Mỹ muốn bán cho Ðài Loan số lượng vũ khí trị giá $6.4 tỉ

Cũng theo Wall Street Journal, phúc trình hàng năm của Bộ Quốc Phòng gửi cho Quốc Hội về “Các diễn biến Quốc phòng và An ninh của Trung Quốc” cho rằng, TQ còn đẩy mạnh về chiến tranh tin học nữa. Chính quyền Hoa Kỳ từng là mục tiêu của những vụ xâm nhập các trang mạng của chính phủ, mà báo cáo cho là tuồng như xuất phát từ Trung Quốc nhằm đánh cắp những bí mật về quân sự. Báo cáo này nói: “Những vụ xâm nhập này nhắm đến việc lấy cắp thông tin, một số có thể là thông tin thuộc về chiến lược hay tiện ích quân sự.”

Mặc dù hai nước đang gia tăng hợp tác về kinh tế, nhưng mối dây liên kết giữa quân đội Hoa Kỳ với TQ trở nên tồi tệ hơn kể từ hồi tháng 1, khi chính phủ Obama thông báo với Quốc Hội kế hoạch bán cho Ðài Loan số lượng vũ khí trị giá $6.4 tỉ.

Theo BBC, Bộ Quốc Phòng Mỹ cáo giác Trung Quốc đã chi hàng tỷ dollar để nâng cấp quân đội mà không cho thế giới biết. Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ kêu gọi Trung Quốc hãy cùng giao ước trở lại để tránh nguy cơ có những hiểu lầm về quân sự. Ông Gates nói: “Việc thiếu minh bạch trong lãnh vực quốc phòng và an ninh của Trung Quốc đang làm gia tăng sự không rõ ràng, gây nguy cơ hiểu lầm và tính toán lầm (giữa các nước).”

Phúc trình của Bộ Quốc Phòng đưa ra hôm Thứ Hai cũng nói Trung Quốc đã đẩy mạnh đáng kể năng lực vượt trội trong tương quan với Ðài Loan. Ngũ Giác Ðài còn cho rằng bàn tay của Trung Quốc nay vươn ra tận Thái Bình Dương.

Trong chương nói về vấn đề Trung Quốc mở rộng tầm tác chiến của quân đội, bản báo cáo ghi nhận là quân đội Trung Quốc đang phát triển nhiều cơ sở và phương tiện cho phép họ tung lực lượng đến can thiệp tại vùng biển Hoa Ðông (tức là biển Nhật Bản), và biển Hoa Nam (tức Biển Ðông), thậm chí qua cả Ấn Ðộ Dương và vượt qua dãy đảo thứ hai tại vùng Tây Thái Bình Dương, theo RFI.
Image
Hỏa tiễn tầm xa CJ-10 diễn hành trên đại lộ Tràng An, bên ngoài Tử Cấm Thành Bắc Kinh, dùng để tấn công mục tiêu trên đất nhưng nghe nói cũng có khả năng bắn hạ tàu chiến. (Hình: Wikipedia/China-PLA)



Ðối với Ngũ Giác Ðài, tình hình Biển Ðông đã bắt đầu căng thẳng trở lại từ năm 2007 do các tranh chấp chủ quyền. Theo bản báo cáo, Trung Quốc trước hết muốn bảo đảm các đòi hỏi chủ quyền rộng khắp của họ tại Biển Ðông, và hành xử quyền khai thác tài nguyên của khu vực mà họ tự nhận chủ quyền. Ngoài ra, một sự hiện diện quân sự hùng hậu sẽ cho phép Trung Quốc tung lực lượng, phong tỏa hay kiểm soát các tuyến hàng hải thiết yếu trong vùng, nơi qua lại của 50% lượng hàng vận tải đường thủy trên toàn cầu.

Cũng theo RFI, để đạt các mục tiêu trên đây, Hải Quân Trung Quốc đã xây dựng gần xong căn cứ của họ trên đảo Hải Nam, đủ lớn để chứa các tàu ngầm tấn công có khả năng bắn hỏa tiễn đạn đạo, và các loại tàu lớn khác. Căn cứ này cho phép Hải Quân Trung Quốc trực tiếp tiếp cận các tuyến hàng hải chính, và nhất là cho phép họ kín đáo tung tầu ngầm xuống Biển Ðông.

Cũng trong chiều hướng tạo năng lực khống chế Biển Ðông, Trung Quốc đang cho tân trang một hàng không mẫu hạm mua lại của Ukraina, và trong năm nay, có thể tiến hành đóng một chiếc của riêng mình. Một chương trình đào tạo 50 phi công sử dụng được máy bay trên hàng không mẫu hạm cũng đã được quyết định.

Bản báo cáo còn nêu rõ chương trình chế tạo loại oanh tạc cơ tầm xa B6/Badger có khả năng mang theo hỏa tiễn không đối địa tầm xa, đủ sức bắn tới rặng đảo thứ hai. Mặt khác, năng lực và phương tiện tiếp liệu trên không cũng được phát triển, mà theo Ngũ Giác Ðài, cho phép mở rộng các chiến dịch không quân xuống đến Biển Ðông.

Wall Street Journal tường thuật, mối quan ngại đặc biệt của Mỹ là Trung Quốc đang triển khai một loại hỏa tiễn đạn đạo chống tàu chiến với tầm bắn gần 1,000 dặm, như vậy TQ có thể tấn công tàu thuyền trong khu vực Tây Thái Bình Dương. Theo một số chuyên gia, các hỏa tiễn này có thể làm mất thế thống trị của hải quân Hoa Kỳ. Một số khác lại cho rằng TQ chưa hề thực hiện một thử nghiệm nào về loại hỏa tiễn đạn đạo trang bị đầu đạn qui ước, và cũng chưa có phương tiện để nhắm bắn trúng lực lượng đặc nhiệm hàng không mẫu hạm vì TQ chưa có đủ số vệ tinh trinh sát bay ở quỹ đạo thấp.

Một viên chức quốc phòng cao cấp công nhận hỏa tiễn chống tàu chiến quả thật là “mối quan tâm,” nhưng thêm rằng “từ nay đến đó đường còn xa chán.”

Theo Telegraph, Zhu Feng thuộc phân khoa Nghiên Cứu Quốc Tế trường Ðại Học Bắc Kinh nói: “Ngũ Giác Ðài thừa biết về hố ngăn cách to lớn về khả năng quân sự giữa hai nước. Cho rằng Trung Quốc sắp sửa tấn công các hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ chắc chỉ là nói đùa.”

Báo cáo của Bộ Quốc Phòng cho hay Trung Quốc vừa thiết lập các đơn vị chiến tranh thông tin, nhằm phát triển những vi khuẩn điện tử để tấn công hệ thống máy điện toán của đối phương, vừa là chiến thuật để tự bảo vệ cho hệ thống của chính họ.

Wall Street Journal có tường thuật năm ngoái và giới thẩm quyền Hoa Kỳ công khai xác nhận gần đây rằng, chương trình vũ khí to lớn nhất của Ngũ Giác Ðài, The Joint Strike Fighter, đã từng bị xâm nhập. Các nhà điều tra vụ này có dính dáng đến bàn tay của Trung Quốc, nhằm thu thập thông tin về các thiết kế cùng những thông tin khác.

Theo AFP, bản báo cáo của Bộ Quốc Phòng Mỹ liên quan đến cán cân lực lượng năm 2009 tức là trước khi Hoa Kỳ thông báo hồi tháng 1 năm nay, sẽ bán cho Ðài Loan các loại vũ khí mới như hệ thống hỏa tiễn chống hỏa tiễn, Patriot, tàu phá thủy lôi, trực thăng đa năng Black Hawk với tổng trị giá $6.4 tỉ. Nay Ðài Bắc đưa ra lời thúc giục Hoa Kỳ nhanh chóng cung cấp máy bay chiến đấu F16CD đời mới, tàu ngầm và trang thiết bị. Phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Ðài Loan cho biết thêm là chính phủ họ đang theo dõi chặt chẽ động thái gia tăng vũ trang của Hoa Lục.

Trong khi đó, ở dọc biên giới Ấn-Hoa, Trung Quốc thiết lập hệ thống phi đạn tầm xa mới CSS-5, đồng thời phát triển kế hoạch di chuyển lực lượng không vận cấp thời vào trong khu vực, theo báo Times of India.

Mặc dù hai nước vẫn gia tăng quan hệ về chính trị lẫn kinh tế, căng thẳng biên giới giữa hai nước vẫn tiếp tục, với nhiều vụ vi phạm biên giới và lính biên phòng TQ tuần tiễu thường xuyên hơn.

Bộ Quốc Phòng Mỹ báo cáo: “Trung Quốc hiện đang xây dựng ồ ạt hệ thống đường sá và phát triển hạ tầng cơ sở đường thiết lộ dọc theo biên giới Ấn-Hoa, nhằm để phát triển kinh tế cho vùng phía Tây nhưng cải thiện đường sá cũng nhằm mục đích yểm trợ cho hoạt động quân sự.”

Tháng 3 năm nay, Trung Quốc tuyên bố sẽ tăng ngân sách quốc phòng thêm 7.5% lên 532.1 tỉ yuen, tức $77.9 tỉ, trong khi ngân sách quốc phòng Hoa Kỳ là khoảng $700 tỉ, theo BBC. Tuy nhiên, một viên chức quốc phòng cao cấp Hoa Kỳ ước lượng rằng trong thực tế chi tiêu về quân sự của TQ trong năm 2009 đã lên đến $150 tỉ, theo Telegraph.

Báo cáo của Ngũ Giác Ðài phân tích hoạt động quân sự của TQ trong năm 2009 nói rằng, quân đội TQ “hiện có nhiều phi đạn tầm xa khá chính xác” và việc TQ bắn hạ thành công một vệ tinh hồi năm 2007 cho thấy khả năng của quân đội nước này đã được một bước tiến mới.

Từ lâu nay vẫn bao phủ trong màn bí mật, quân đội Trung Quốc vài năm trở lại đây khởi sự đưa ra các báo cáo của họ về lực lượng, nhiệm vụ và trao đổi liên lạc với quân đội các nước khác qua hình thức viếng thăm của các chiến hạm, tham gia đạo quân gìn giữ hòa bình, và tập trận hỗn hợp. Các nhà ngoại giao nói họ hy vọng rằng điều này sẽ giúp giảm bớt lo ngại về chủ đích đằng sau nỗ lực phát triển quân đội của quốc gia này.

Tuy nhiên, giới sĩ quan cao cấp hàng đầu vẫn bày tỏ sự nghi ngờ đối với chính sách minh bạch này, đặc biệt với Hoa Kỳ, quốc gia bị Bắc Kinh coi là đối thủ chính yếu.

Hiện chưa có lời bình luận gì về bản báo cáo của Ngũ Giác Ðài từ bộ Ngoại Giao Trung Quốc hay bộ Quốc Phòng vốn chịu trách nhiệm điều động lực lượng quân sự với nhân số 2.3 triệu người.

Bản báo cáo đưa ra giữa lúc có sự bất bình trầm trọng của Bắc Kinh về các cuộc thao dượt quân sự hỗn hợp giữa Hoa Kỳ và Nam Hàn ở Hoàng Hải (Yellow Sea). Trung Quốc cũng không hài lòng về lời tuyên bố tháng qua của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Rodham Clinton, được coi là sự can dự vào cuộc tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và các quốc gia vùng Ðông Nam Á tại biển Ðông.

Hồi tháng 1, Bắc Kinh tạm ngưng các liên lạc quân sự với Hoa Kỳ sau khi Washington đồng ý bán võ khí trị giá $6.4 tỉ cho Ðài Loan. (TP)
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Báo Nhân Dân tả cảnh Cộng Sản thoát hình thành tư bản

Ngô Nhân Dụng

Có thể nào viết bài trên nhật báo Nhân Dân báo trước sự sụp đổ của đảng cộng sản trên hay không? Có thể nào viết ngay trên mặt báo đó vẽ ra quá trình sụp đổ của chế độ cộng sản được không? Có thể! Cả hai đều có thể làm được! Một cách là vừa viết vừa lách ghi lại một tài liệu về “Những bài học lịch sử từ sự sụp đổ của Ðảng Cộng sản Liên Xô.” Ðó là nhan đề loạt bài thuộc loại Hồ Sơ được đăng nhiều kỳ trên mạng báo Nhân Dân Ðiện Tử từ mấy tuần qua, nay vẫn chưa đăng hết.

Người đọc loạt bài này có thể đoán: Trong tờ báo “cơ quan chính thức của đảng cộng sản Việt Nam” chắc có nhiều người muốn đưa những thông tin đầy đủ hơn giúp cho độc giả biết rõ sự thật về sự sụp đổ của Cộng Sản Liên Xô. Căn cứ vào các thông tin đó, người dân và các cán bộ sẽ tự suy diễn rằng ngày tàn của đảng Cộng Sản Việt Nam đã bắt đầu từ lâu rồi! Vì người đọc sẽ thấy tại Việt Nam đang diễn ra đầy đủ những triệu chứng suy đồi của đảng Cộng Sản Liên Xô trước khi tan rã. Nhìn cảnh Việt Nam bây giờ người ta thấy ngay cùng những căn bệnh đó thì không thuốc nào chữa khỏi!

Không những thế, những người viết Hồ Sơ này đã nhân cơ hội lấy cớ “viết lịch sử” để dẫn ra những lời người Nga từng kết án cả chủ nghĩa cộng sản lẫn thực tế của đảng cộng sản. Họ có thể công khai nhắc lại trên mặt báo Nhân Dân những lời người Nga đã nói về chế độ Xô Viết. Trên căn bản, họ cũng nói giống như lời ông Nguyễn Khắc Toàn hay bà Trần Khải Thanh Thủy đã viết; mà gần đây nhất là nhà văn Trần Mạnh Hảo viết bài lên án chế độ, trước hội nghị các nhà văn vừa qua! Nhắc lại các lời người Nga kết tội đảng ở Liên Xô là một cách nhắc nhở cho độc giả báo Nhân Dân biết những điều mà Nguyễn Khắc Toàn, Trần Mạnh Hảo, Trần Khải Thanh Thủy vạch ra chính là sự thật, Liên Xô ngày xưa cũng vậy! Ðây là một thủ đoạn rất khéo léo có tác dụng truyền bá những ý kiến lên án chế độ cộng sản nhưng lại đội dưới chiêu bài rút kinh nghiệm Liên Xô, làm như viết để bảo vệ chế độ cộng sản!

Chẳng hạn, Hồ Sơ đã thuật lời Gorbachev đánh giá chủ nghĩa Marx như thế này: “Trong toàn bộ những kết luận kinh tế cụ thể mà Marx dựa vào đó để xây dựng lâu đài thế giới quan của chủ nghĩa xã hội khoa học của ông không có cái nào được chứng thực trong thực tiễn.”

Phần 1 của mục Hồ Sơ này là bài, “Sự tan rã của Ðảng CS Liên Xô và Liên Bang Xô Viết.” Bài đầu giúp người đọc nhớ lại các biến cố đưa tới cảnh chấm dứt chế độ cộng sản ở Nga. Mặc dù tường thuật với quan điểm của đảng cộng sản, trút tội cho các cá nhân như Gorbachev, nhưng người đọc đủ thông minh cũng hiểu ý kiến và hành động của một cá nhân không thể nào làm đổ cả một đế quốc lớn như Liên Xô được. Chắc chắn phải có những nguyên nhân sâu xa. Thí dụ trong Hồ Sơ viết: Năm 1990 Cộng Sản Liên Xô họp đại hội lần thứ 28 thông qua tuyên bố có tính cương lĩnh “tiến tới xã hội chủ nghĩa dân chủ hóa nhân đạo.” Ðọc điều này ai cũng phải hiểu là chủ nghĩa cộng sản thiếu tính nhân đạo và tại Liên Xô chưa hề có dân chủ! Vì cả một đại hội đảng phải quyết định làm cho chính họ dân chủ hơn và nhân đạo hơn!

Khi chế độ Xô Viết sập, Hồ Sơ trên cho biết bao nhiêu tài sản của Ðảng CS Liên Xô đều bị chính phủ Nga niêm phong và tịch thu. “Trong hồ sơ của Trung Ương hay của địa phương, đều không thấy ghi chép gì về việc đảng viên Ðảng Cộng Sản Liên Xô tập hợp lại một cách có tổ chức để tiến hành bất cứ một hoạt động phản đối quy mô lớn nào nhằm bảo vệ Khu ủy, Thành ủy hoặc Huyện ủy của mình.” Ðọc tới đây, người đọc nào cũng hiểu rằng gần 20 triệu đảng viên cộng sản không mấy người còn thiết tha bảo vệ đảng nữa? Tại sao? Tất nhiên không phải vì một anh Gorbachev nó bắt được 20 triệu người! Người Nga không phải đều ngu cả, đảng viên cộng sản Nga cũng không ngu. Thế thì tại sao họ thản nhiên nhìn chế độ cộng sản tan rã? Ai cũng biết câu trả lời!

Câu trả lời được loạt bài Hồ Sơ này dẫn ra, khỏi phải tìm đâu xa: “Trước khi Ðảng CS Liên Xô sụp đổ không lâu đã có một cuộc điều tra dân ý về chủ đề: ‘Ðảng CS Liên Xô đại diện cho ai?’”

Kết quả là, có 7% số người trả lời rằng Ðảng CS Liên Xô đại diện cho nhân dân Liên Xô , 4% nói Ðảng đại diện cho công nhân, và 11% nghĩ Ðảng đại diện cho toàn thể đảng viên. Nếu Ðảng không đại diện cho dân chúng, cũng không đại diện cho quyền lợi đảng viên và các công nhân; vậy họ là cái gì? Bài số 2 trong Hồ Sơ kể: “Có tới 85% số người được hỏi trả lời rằng: Ðảng CS Liên Xô đại diện cho các quan chức, cán bộ và nhân viên nhà nước.” Ðó là những người gọi là nomenclatura, giai cấp đặc quyền, một đề tài được viết trong hai bài thuộc phần 4.

Bài “Lý luận cơ bản và phương châm chỉ đạo của Ðảng CS Liên Xô” thuộc phần 2. Các tác giả đã viết về các biến chuyển từ thời Khrushchev phủ nhận toàn bộ Stalin, tiến tới phủ nhận Lenin, qua thời Brezhnev, vân vân, tới khi cộng sản tan rã. Nhờ các tác giả Hồ Sơ này, người đọc báo được biết từ năm 1961 ở Liên Xô “Chuyên chính vô sản không cần thiết nữa, Liên Xô là một nhà nước chuyên chính vô sản hiện nay đã biến thành nhà nước của toàn dân.” Qua các giai đoạn, có lúc tác giả Hồ Sơ phê bình Stalin làm đúng chủ nghĩa Marx, có lúc chê ông ta làm sai. Ít nhất, trong bài này người đọc thấy không phải bao giờ Ông Sít cũng đúng, như Hồ Chí Minh thường quả quyết!

Phần 3 là bài “Công tác tư tưởng và tác phong của Ðảng CS Liên Xô” mô tả cảnh sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản trong phạm vi ý thức hệ. Thí dụ, Yakovlev viết: “Chủ nghĩa Marx đã chà đạp phong trào tiến tới dân chủ.” Tháng 1, 1987, Gorbachev gây ra một phong trào “ào ào, dấy lên như bão” đòi thẩm tra, xem xét lại, cho đến thanh toán toàn bộ Ðảng CS Liên Xô và lịch sử Liên Xô xã hội chủ nghĩa. Năm 1987, Gorbachev chính thức đưa ra “quan điểm mới” như “tính công khai, dân chủ hóa, đa nguyên hóa, đặt giá trị của toàn nhân loại cao hơn tất cả, để thay thế một loạt nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Marx.” Năm 1989, Liên Xô bãi bỏ môn học Chủ nghĩa Marx-Lenin trong trường học. Các tác giả Hồ Sơ viết: “Một số tờ báo và tạp chí đặc biệt cấp tiến như Họa Báo, Tia Lửa và Tin Tức Moscow, dần dần bộc lộ bộ mặt thật của nó, phủ định quá khứ, phủ định lịch sử Ðảng CS Liên Xô, phủ định chủ nghĩa xã hội.” Người đọc phải mừng cho các người làm báo ở Nga được sống với “bộ mặt thật” của họ, chứ không cần đeo mặt nạ đi ca ngợi, tô vẽ cho chủ nghĩa cộng sản nữa!

Khi các cơ sở truyền thông đổi chiều quay ra chống cộng sản, kết quả là họ được dân chúng hoan nghênh. Hồ Sơ kể thí dụ: “Tạp chí Thế Giới Mới nhờ đăng tiểu thuyết Quần đảo Gulag của Solzhenitsyn mà lượng phát hành từ 420,000 bản tăng lên 2,500,000 bản. Tác phẩm này của Solzhenitsyn là tập tài liệu lên án chế độ tàn khốc cộng sản! Cùng lúc đó, “một số người một thời là danh nhân trong giới trí thức Liên Xô” như nhà kinh tế học Popov, nhà chính trị học Bolaski, nhà triết học Phlor, vân vân, đua nhau phê phán chế độ và thể chế của Liên Xô. Hàng triệu lần lặp đi lặp lại rằng Ðảng Cộng Sản Liên Xô và chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô thất bại, trong khi đó “không còn ai đứng lên để bảo vệ Ðảng Cộng Sản và chủ nghĩa xã hội.” Người đọc nào cũng phải hiểu: Trừ khi nghĩ cả nước Nga toàn người ngu đần, quả tình Chủ Nghĩa Xã Hội không có gì đáng bảo vệ!

Phần thứ 4 của Hồ Sơ gồm 2 bài nói về tầng lớp đặc quyền Nomenclatura từ thời Brezhnev cho tới Gorbachev, có lẽ là phần lý thú nhất. Ðọc những hàng chữ mô tả sau đây, người đọc nào cũng thấy cảnh Liên Xô thời xưa sao giống cảnh Việt Nam bây giờ đến thế: “Con cái tầng lớp đặc quyền chỉ cần dựa vào địa vị đặc quyền của bố mẹ là có thể dễ dàng được vào học tại những trường đại học tốt nhất. Sau khi tốt nghiệp lại được nhận vào các ban, ngành ưu việt nhất, đồng thời nhanh chóng được nắm giữ những cương vị quyền lực quan trọng. Ðặc quyền còn có thể trở thành ‘lá bùa hộ mệnh’ để cán bộ lãnh đạo mặc sức tham nhũng mà không bị cản trở.”

Thêm nữa: “Ðể bảo vệ những lợi ích hiện có, tầng lớp đặc quyền chống lại bất cứ sự cải cách nào ảnh hưởng đến đặc quyền của mình. Bởi vậy, không thể chủ động ngăn chặn tình trạng tham nhũng đang lan tràn trong toàn Ðảng, toàn xã hội.” Trong bài có kể các chi tiết về những vụ buôn lậu (kim cương), xuất cảng lậu (trứng cá hồi, caviar, mà các tác giả viết là cavian), cảnh trong căn nhà của Gorbachev (người đọc liên tưởng đến cảnh trong nhà của Lê Khả Phiêu, tuy Việt Nam nghèo hơn Nga). Ðó là những cảnh mục nát vì tham nhũng, lộng quyền mà người Việt Nam đã biết cả rồi. Câu kết luận có tính cách cảnh báo: “Khi Ðảng Cộng Sản Liên Xô đã bị khối u ác tính làm cho thối rữa, biến chất thì bản thân nó bị nhân dân phỉ nhổ.” Nghe câu này, người Việt Nam nào cũng cảm thấy hả dạ! Ðây là một lời cảnh cáo hay tiên tri?

Phần đáng chú ý nhất, có lẽ quan trọng nhất trong Hồ Sơ, trong phần 4, là đoạn mô tả nước Nga chuyển tiếp từ cộng sản sang tư bản. Vì nó cũng giống hệt như cảnh đang diễn ra ở Việt Nam, mặc dù đảng cộng sản nước ta vẫn đeo cái mặt nạ “xã hội chủ nghĩa.”

Cuộc cải tổ kinh tế chính trị ở Nga “là cơ hội tuyệt vời để tầng lớp đặc quyền tha hồ mưu lợi cá nhân.” Nhân danh đổi mới, trong Hồ Sơ viết: “tầng lớp đặc quyền chuyển biến thành giai cấp tư sản mới.”

Xin đọc rõ hơn để xem đây là cảnh ở Nga hay ở Việt Nam: Tầng lớp đặc quyền quyền lợi dụng quyền lực đang nắm trong tay để ra sức vơ vét, làm giàu cho bản thân không đủ, họ còn “muốn chiếm hữu lâu dài mọi đặc quyền. Thậm chí còn để lại cho con cháu đời sau. Nhất là các vị quan kinh tế trực tiếp quản lý tài sản của doanh nghiệp nhà nước.”

Cho nên sau khi Liên Xô sập rồi, “trong số hàng vạn triệu phú ở Moscow, đại bộ phận nguyên là những cán bộ làm việc trong các cơ quan Ðảng, chính quyền.” Các tác giả Hồ Sơ biết hài hước, trích lời một kinh tế gia Mỹ David Code: “Ðảng cộng sản Liên Xô là đảng chính trị duy nhất làm giàu qua đám tang của chính mình.”

Phần 5 của Hồ Sơ mới bắt đầu tuần này với bài “Những vi phạm về nguyên tắc xây dựng Ðảng.” Bài đầu tiên kể lại lịch sử từ thời Lenin qua Stalin. Trái với quan điểm của Hồ Chí Minh coi Stalin như thánh sống, các tác giả Hồ Sơ phê phán ông Sít rất nặng nề, coi như ông ta đã vi phạm nhiều nguyên tắc. Thí dụ, dưới thời ông Sít “Ủy Ban Giám Sát chỉ giới hạn trong việc kiểm tra hoạt động của tổ chức cấp dưới, không thể giám sát cơ quan mỹ kim,... bản thân cơ quan giám sát được giao trọng trách điều tra, xử lý chủ nghĩa quan liêu lại cũng bị nhiễm căn bệnh quan liêu... Kiểu kiểm tra qua loa, chiếu lệ diễn ra ngày càng nhiều,” vân vân.

Sau khi đọc những bài trong loạt Hồ Sơ này chúng ta thấy Ðảng Cộng Sản Liên Xô không hề bị ai tấn công, mà đã tự nổ ra từ bên trong! Những nguyên nhân đưa tới vụ bùng nổ này là chế độ tham nhũng, đặc quyền khiến toàn dân chán ghét, kể cả các đảng viên cộng sản. Làm sao để tránh? Muốn tránh, phải đi theo chính sách cũ, độc tài triệt để, không chấp nhận dân chủ tự do. Nhưng điều này rất khó. Vì giai cấp đặc quyền sẽ bị dân chán ghét quá rồi. Mà chính họ cũng tìm kế thoát thân bằng con đường tự tư sản hóa, mà không sợ mất các đặc quyền!

Chắc chắn trong các bài tiếp theo, các tác giả Hồ Sơ sẽ tìm cách chứng tỏ họ vẫn trung thành với đảng cộng sản, vẫn quyết tâm bảo vệ chủ nghĩa Mác, vân vân. Nhưng qua những bài kể đã đăng, chúng ta thấy họ đã cố tình cho thấy khi chủ nghĩa cộng sản hết thời, thì ngay tại nước Nga, bọn “chiếm đặc quyền nomenclatura” đã tìm cách “tiến tới chủ nghĩa tư bản” cho chính họ và con cháu họ. Ðó là một lời cảnh báo cho toàn thể mọi người Việt Nam. Chúng ta có chấp nhận một cảnh tương tự như vậy tiếp tục diễn ra tại nước ta hay không?

Các tác giả loạt bài Hồ Sơ này viết rất công phu. Tuy nhiên họ không thực sự viết lịch sử cho nên đã lựa chọn các chi tiết thích hợp với ý kiến của họ, bỏ qua các điều quan trọng khác. Thí dụ, Hồ Sơ không nói gì về tình trạng nguy kịch của kinh tế Nga khiến cho giới lãnh đạo Cộng Sản Liên Xô không có đường nào khác ngoài việc tháo gỡ toàn thể bộ máy làm lại từ đầu. Có lúc Hồ Sơ cũng viết nhầm tên, hoặc nói Khrushchev qua đời khi còn đương tại chức, thực ra ông ta bị cất chức năm 1964 trước khi chết vào năm 1971.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Mỹ và Trung Quốc đối đầu

Ngô Nhân Dụng

Trung Quốc có lý do để than phiền với Mỹ. Cả hai nước trong tháng qua đã biểu diễn sức mạnh quân sự ở vùng biển phía Ðông lục địa Á Châu. Nhưng hiển nhiên là vùng này nằm sát bên nước Tầu và rất xa nước Mỹ. Thử tượng tượng nếu Tầu hay Nga đem một hạm đội tới vùng biển Trung Mỹ thao diễn cùng với Hải Quân Cuba, dân Mỹ có ngồi im ngó hay không? Phải to tiếng!

Như vậy, liệu hai nước sắp đụng độ nhau chăng? Trong ngắn hạn thì chuyện đó khó xảy ra. Vì nếu đánh nhau cả hai đều sẽ thiệt hại nhiều hơn là được lợi. Hồi 1960 Nga đem hỏa tiễn sang Cuba, tình trạng gay cấn hơn nhiều. Nhưng không ai có thể đoán chắc trong 25 hoặc 30 năm nữa sẽ không có chiến tranh. Cũng như năm 1910, Dân Biểu Anh Quốc Norman Angell đã in một cuốn sách quả quyết hai nước Anh và Ðức không thể nào đánh nhau được vì không được lợi gì về kinh tế. Cuốn sách “Ảo tưởng vĩ đại” của ông được tái bản nhiều lần trước khi hai nước lăn vào cuộc giết chóc năm 1914.

Mà hiện nay thì Mỹ và Trung Quốc có quá nhiều xung khắc. Vào tháng 7, 2010, ba tầu ngầm của Mỹ mang theo tổng cộng 452 hỏa tiễn Tomakawk đến ba hải cảng vùng Á Châu chung quanh nước Tầu. Cuối tháng, bà ngoại trưởng Mỹ nói tại hội nghị ASEAN ở Hà Nội về chủ trương bảo vệ quyền lợi của Mỹ trong vùng biển Ðông nước ta, khuyến cáo không nước nào nên dùng vũ lực. Mấy ngày sau, Hải Quân Trung Quốc đã mở cuộc thao diễn ngay trong vùng biển này. Ðó là một cuộc tập dượt lớn nhất từ trước đến nay của quân đội Trung Hoa. Bộ ngoại giao Trung Quốc phản đối Mỹ có ý quốc tế hóa các tranh chấp ở biển Ðông và cảnh cáo chính quyền Việt Nam về hùa với Mỹ trong âm mưu quốc tế hóa này, cũng như việc ký kết hợp tác nghiên cứu nguyên tử.

Cùng lúc đó, Hải Quân Mỹ và Nam Hàn thao diễn trong biển Nhật Bản, với hàng không mẫu hạm USS George Washington đóng vai chính. Mỹ còn báo trước lần sau sẽ tập diễn trong biển Hoàng Hải. Biển này nằm giữa Hàn Quốc và Trung Quốc, máy bay F 18 từ mẫu hạm có thể bay tới Bắc Kinh rồi trở về. Bắc Kinh lại lên tiếng phản đối lần nữa.

Sau cuộc tập trận ở phía Bắc, hàng không mẫu hạm USS George Washington đi về phía Nam, tới ngoài biển Ðà Nẵng. Nhiều viên chức quân sự Việt Nam lên thăm chiếc tầu này trong lúc nó lượn vòng qua các đảo thuộc Hoàng Sa. Nhiều người Việt Nam yên tâm hơn khi thấy Hải Quân Mỹ vẫn có mặt trong vùng Biển Ðông của nước ta. Vì ai cũng ghi nhớ, Hải Quân Trung Cộng vẫn không ngừng tấn công các tầu đánh cá Việt Nam, bắn thuyền, cướp của, bắt cóc các ngư phủ đòi tiền chuộc; và không biết trong tương lai sẽ còn làm gì nữa. Indonesia, Malaysia, Phi Luật Tân cũng thường xuyên lo Trung Cộng gây sự về chủ quyền trên các đảo. Ít nhất, bây giờ có tầu chiến Mỹ ở đó, vùng này không thể là cái “ao nhà” của người Trung Hoa.

USS George Washington là chiếc tầu lớn nhất của Hải Quân Mỹ, hoạt động trong vùng biển từ Nhật Bản tới Singapore; có đường bay diện tích 18,000 mét vuông và dài hơn 300 mét. Tầu có sức chở 6,250 quân; nhà bếp có thể dọn 18,000 bữa ăn mỗi ngày với bốn máy lọc nước sản xuất 1.5 triệu lít nước; 4 thang máy dùng vào việc đưa 80 chiếc máy bay từ hầm lên sân bay hoặc ngược lại. Mẫu hạm này có mặt thường xuyên ở phía Tây Thái Bình Dương.

Trung Quốc đang học chế tạo hàng không mẫu hạm, chiếc đầu tiên mua lại của Ukraina đang được cải thiện để người Trung Hoa học phương pháp chế tạo. Phải mất một vài thế hệ nữa họ mới có được một lực lượng hải quân tương đương với Mỹ. Trong khi chờ đợi, họ chế các vũ khí nhằm hạn chế khả năng hành động của Mỹ. Trung Quốc đang sản xuất một loại hỏa tiễn Ðông Phong mới, Dong Feng 21D. Ðến cuối năm nay thì sẽ được bắn thử lần cuối cùng, hỏa tiễn này bay với tốc độ gấp 10 lần âm thanh và có khả năng bắn trúng chính xác một hàng không mẫu hạm đang di chuyển ở cách xa 1,500 cây số. Tầm bắn này sẽ ngăn chặn tầu chiến ngoại quốc từ khoảng cách rất xa, trước khi tới gần bờ biển Trung Quốc 18,000 kilô mét. Tháng 9 năm 2009, Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Robert Gates đã nói trước một đại hội Không Quân rằng Hải Quân Trung Quốc còn lâu mới có thể so sánh với Mỹ, nhưng ngay bây giờ họ có thể đe dọa trên sự vận chuyển và giảm bớt ưu thế chiến lược của Mỹ. Năm 2007 họ cũng đã bắn hỏa tiễn phá vỡ một vệ tinh đang bay ngoài khí quyển trái đất. Từ đầu năm 2010, Trung Quốc đã thí nghiệm thành công loại hỏa tiễn phòng thủ có thể bắn hạ những hỏa tiễn đang bay tấn công họ. Cả hai loại vũ khí đó đều nhắm vô hiệu hóa vũ khí Mỹ khi hai nước xung đột vì Mỹ muốn bảo vệ Ðài Loan. Nhưng mặt khác, Mỹ cũng vẫn bán hỏa tiễn Patriot cho Ðài Loan có thể bắn hạ các hỏa tiễn Trung Quốc đang bày hơn một ngàn chiếc trên bờ biển Phúc Kiến nhắm vào Ðài Loan.

Trên mạng Xinhuanet.com của Tân Hoa Xã, một bài không ký tên gần đây đã tưởng tượng cảnh một ngày nào đó Trung Quốc tấn công Ðài Loan và Mỹ đưa USS George Washington tới bảo vệ hòn đảo này. Trong câu chuyện giả tưởng này, Trung Quốc phóng một trận mưa Ðông Phong 22D, mấy đầu đạn chọc thủng sườn chiếc tầu Mỹ, phá hỏng sân bay làm tê liệt các phi cơ Mỹ. Ðợt phóng DF 22D thứ nhì phá hư động cơ tầu, cùng lúc đó phi cơ Trung Quốc từ lục địa bay ra tấn công. Các hỏa tiễn đợt thứ ba đưa chiếc USS George Washington chìm xuống đáy biển.

Ðó là chuyện Tầu. Ở Mỹ cũng có người viết truyện giả tưởng. Cựu sĩ quan hải quân James Kraska viết một bài trên tạp chí Orbis, số đầu năm (Winter) 2010, nhan đề “Nước Mỹ đã thua trận hải chiến năm 2015 như thế nào?” Kraska tưởng tượng vào năm 2015 một ngày USS George Washington, trong lúc đang di chuyển về hải cảng Yukosuka thì bị hỏa tiễn DF 22D đánh đắm. Hơn 4,000 thủy thủ và phi công thiệt mạng, mất 80 chiếc phi cơ. Từ đó, Trung Quốc làm bá chủ phía Tây Thái Bình Dương và cả Châu Á! Bài báo này cốt kêu gọi các nhà chính trị Mỹ phải quan tâm tăng cường sức mạnh hải quân, không nên chỉ chú tâm vào việc chống khủng bố và những trận chiến tranh nho nhỏ như Iraq và Afghanistan!

Hai câu chuyện giả tưởng trên đây cho thấy trong cả 2 nước Mỹ và Trung Quốc có người đã lo có ngày, một ngày không xa, hai nước sẽ đụng độ! Nhưng trong vòng 20 năm nữa, đó là chuyện khó xảy ra. Trước hết, cán cân quân sự vẫn nghiêng về phía Mỹ, trên toàn thế giới và trong vùng Á Châu. Hơn nữa, kinh tế Trung Quốc chưa đủ mạnh để gây chiến với Mỹ dù trong phạm vi địa phương Á Châu.

Tuy đến cuối năm nay Trung Quốc có thể bắt đầu chế tạo DF 22D nhưng tốc độ sản xuất vẫn còn hạn chế. Việc chế hỏa tiễn không giản dị như việc may quần áo hoặc ráp máy móc điện tử. Với ngân sách quân sự chỉ lớn bằng một phần mười của Mỹ (một phần năm, nếu nghi ngờ họ che giấu ngân sách) thì phải mất nhiều chục năm số tầu thủy, máy bay, hỏa tiễn của nước Tầu mới có khả năng so sánh với lực lượng của Mỹ ở trong vùng Á Châu, Thái Bình Dương. Ngay việc hoàn thiện một loại hỏa tiễn tối tân như FD 21, cũng phải mất hàng chục năm mới tiến đến các bộ phận điện tử phức tạp để tìm mục tiêu và tránh đạn, tinh xảo như Mỹ.

Ngân sách quân sự của Trung Quốc lên tới gần 80 tỷ đô la Mỹ, nhưng cũng chưa lớn bằng ngân sách quốc phòng của ba nước Nhật Bản, Nam Hàn và Ðài Loan cộng lại. Riêng một vụ bán vũ khí cho Ðài Loan mà Tổng Thống Obama mới ký cũng trị giá trên 6 tỷ đô la rồi. Sức mạnh vũ khí của Không Quân Trung Quốc chỉ bằng một phần 10 của Mỹ, và xấp xỉ bằng Nhật Bản. Chính phủ Mỹ mới giảm bớt một chiếc hàng không mẫu hạm cho “về hưu” chỉ còn 10 chiếc, nhưng vẫn gấp 10 Trung Quốc. Số tầu ngầm của Trung Quốc ít hơn của Mỹ, tuy rằng lớn gần gấp đôi tổng số của Nhật, Nam Hàn và Ðài Loan. Với tương quan lực lượng như vậy, chắc những người lãnh đạo Trung Quốc không nghĩ tới chiến tranh với Mỹ và các đồng minh của Mỹ.

Hiện nay không ai tin Mỹ và Trung Quốc phải đánh nhau. Tháng 4 vừa qua, chiến hạm U.S.S. Fitzgerald, 6,800 tấn, thuộc Ðệ Thất Hạm đội đã tới Thanh Ðảo cùng hải quân của 21 nước khác tham dự lễ kỷ niệm ngày thành lập Hải Quân Trung Cộng, khi mấy chiếc tầu chiến của Quốc Dân đảng đào tẩu sang phía địch, năm 1950, thay vì chạy sang Ðài Loan!

Nhưng lý do lớn nhất để hai nước không đánh nhau là các quyền lợi kinh tế của họ gắn bó chặt chẽ. Mỗi ngày công ty Wal Mart nhập cảng một tỷ Mỹ kim hàng hóa từ Trung Quốc để bày bán khắp nước Mỹ. Tiền do dân tiêu thụ ở Mỹ trả không được đưa tới tay người lao động Trung Hoa mà một số lớn lại được đem trở về Mỹ. Vì Bắc Kinh đang cầm trong tay những giấy nợ trị giá 800 tỷ Mỹ kim của chính phủ Mỹ, chưa kể các món đầu tư vào các ngân hàng và công ty của Mỹ. Bắc Kinh không thể nào rút hết các “món nợ” đó về, vì chính họ sẽ bị mất hàng trăm tỷ Mỹ kim nếu các chứng khoán đó mất giá trên thị trường khi đem bán nhiều quá.

Nhưng lý do quan trọng nhất khiến Trung Quốc không muốn gây chiến tranh là nền kinh tế của họ còn rất mong manh. Ðằng sau những con số về Tổng Sản Lượng Nội Ðịa gia tăng là những chính sách không thể kéo dài được vì thiếu quân bình và quá tùy thuộc thị trường xuất cảng. Chế độ cộng sản bảo vệ các doanh nghiệp nhà nuớc khiến cho tài nguyên đất nước bị phí phạm, trong khi hai nền tảng của sự thịnh vượng hiện nay đang bắt đầu yếu dần. Ðó là số nhân lực rẻ tiền và dân chúng bị cưỡng ép phải tiết kiệm với một tỷ lệ rất cao. Dân số Trung Hoa đang thay đổi, số người trong tuổi lao động giảm dần, số người già tăng lên. Chi tiêu cho những người về hưu sẽ gia tăng, làm giảm bớt số tiết kiệm chung của xã hội. Khi bị mất 2 “lợi thế tương đối” đó, kinh tế Trung Hoa sẽ bước chậm lại. Với tình trạng kinh tế còn đang phát triển và dựa vào xuất cảng, Trung Quốc không thể nào gây chiến tranh mà không bị các nước khác trừng phạt. Chỉ cần Nhật Bản, Mỹ và Âu Châu cấm vận trong một thời gian ngắn là đủ khiến kinh tế Trung Quốc ngưng chạy. Chế độ cộng sản sẽ sụp đổ nếu kinh tế không tiếp tục tăng lên như hiện nay.

Về phía nước Mỹ, họ cũng không có lý do nào để gây chiến với Trung Quốc. Chính sách của Mỹ vẫn là đóng vai ông nhà giầu, buôn bán làm ăn với tất cả các nước trong hòa bình thì có lợi hơn là đánh nhau.

Nhưng nếu giữa Mỹ và Trung Quốc xảy ra xung đột quân sự thì có thể đoán chắc lý do không thể nào vì Việt Nam. Có thể nói, trong chiến lược toàn cầu của Mỹ, từ thế kỷ trước đến giờ, Việt Nam không phải là điểm quan trọng nhất, mà chỉ là một quân cờ trong cả bàn cờ Á Châu. Từ năm 1950 Mỹ lo bảo vệ Nam Hàn, Ðài Loan, và Việt Nam vì lo khối cộng sản sẽ bành trướng khắp Á Châu, sẽ lan sang Nhật Bản, Phi Luật Tân, Mã Lai, Thái Lan, Ấn Ðộ, v.v... Khi thấy các quốc gia trong vùng này đã đủ mạnh nhờ phát triển kinh tế, và khối cộng sản rạn nứt vì xung đột Nga, Hoa, thì lúc đó Mỹ sẵn sàng buông Nam Việt Nam ngay, không muốn tốn tiền thêm nữa. Có thể nói dân Mỹ chống chiến tranh Việt Nam trong những năm từ 1965 vì họ thấy Tổng Thống Johnson đã bỏ quá nhiều tiền vốn vào một cuộc đầu tư nhỏ, không tương xứng. Có thể đạt được cùng những mục tiêu địa lý chính trị đó với số đầu tư nhỏ hơn nhiều. Ông Nixon trong khi tranh cử năm 1968 đã báo trước cho Ðại Sứ Nga Anatoly Dobrynin biết nếu đắc cử ông sẽ rút quân, sau đó miền Nam Việt Nam trở thành cộng sản cũng được. Và khi lên làm tổng thống rồi, ông Nixon đã đi Tầu, vấn đề Việt Nam càng trở thành thứ yếu.

Liệu bây giờ, đối với quyền lợi nước Mỹ, Việt Nam có trở thành quan trọng hơn thế kỷ trước hay không? Chắc là không. Liệu bây giờ mối đe dọa của Trung Quốc đối với miền Ðông Á Châu có lớn hơn cuối thế kỷ trước hay không? Chắc là có. Nhưng để đối đầu với Trung Quốc trong vùng này, người ta phải dựa vào những nước mạnh như Nhật Bản, Nam Hàn, Ðài Loan, Indonesia, chứ không phải những nước còn nghèo chưa thực sự phát triển.
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Ngành toán học Pháp thành công
nhờ hệ thống tuyển chọn sinh viên ưu tú


Image
Hai nhà toán học đoạt giải Fields 2010 :
Ngô Bảo Châu ( trái ) et Cédric Villani ( phải).
Ảnh : MFO và Valerie Touchant-Landais / RFI ghép hình.

Thụy My RFI

« Các nhà toán học Pháp lên đến tột đỉnh vinh quang ». Đó là tựa đề bài xã luận đăng ngay trên trang nhất của nhật báo uy tín Pháp, tờ Le Monde ra từ chiều hôm qua, bình luận về sự kiện hai nhà toán học Ngô Bảo Châu và Cédric Villani đã đoạt được giải thưởng Fields, được coi như giải Nobel ngành toán.

Tờ báo nói đến một nghịch lý : trong cuộc thi Olympic toán quốc tế năm nay, nước Pháp chỉ đứng hàng thứ 31. Nhưng hôm qua tại Hyderabad, Ấn Độ, trong số bốn nhà toán học đoạt giải thưởng Fields vốn có giá trị như một giải Nobel toán học, đã có đến hai người Pháp. Đó là Ngô Bảo Châu, giáo sư đại học Chicago và Cédric Villani, giám đốc Viện nghiên cứu Poincaré ở Paris. Hai nhà toán học này đại diện cho hai mặt khác nhau của ngành toán học nước Pháp.

Ngô Bảo Châu là người gốc Việt, nghiên cứu về lý thuyết số học, và anh đã mở được một cánh cửa mà nhiều người tin là không thể xâm nhập nổi. Còn Cédric Villani nghiên cứu những hiện tượng vật lý cụ thể hơn. Le Monde cho biết thêm, kèm theo giải thưởng Fields – được trao bốn năm một lần cho các nhà toán học dưới 40 tuổi – còn có giải thưởng Gauss, cũng được trao cho một người Pháp là Yves Meyer, cho các nghiên cứu về lý thuyết các làn sóng nhỏ cho phép phát triển các hệ thống nén hình như JPEG.

Le Monde nhận định, như vậy ngành toán học Pháp đã được vinh danh trên mọi phương diện. Và sự kiện này cũng đã khẳng định truyền thống quốc gia xưa nay : từ khi giải thưởng cao quý này được khai sinh vào năm 1936, gần một phần tư số huy chương Fields đã được trao cho các nhà toán học Pháp, hay đã từng học tại Pháp, mà thường nhất là xuất thân từ trường đại học lẫy lừng của Pháp là Ecole Normal Supérieur, tạm dịch là trường đại học sư phạm. Vui mừng trước thành tựu mới này, nhưng tờ báo cũng cho rằng chưa nên ca khúc khải hoàn.

Nếu ngành toán vẫn đứng đầu trong các ngành khoa học và đã leo lên tột đỉnh vinh quang tại Hyderabad, thì trong bảng xếp hạng Thượng Hải cách đây vài ngày, trường đại học danh giá của Pháp là Paris VI chỉ được xếp thứ 39 trong số các trường đại học trên thế giới.

Như vậy vinh quang do ngành toán học Pháp mang lại vẫn là một ngoại lệ. Ngành này cho đến nay vẫn được hưởng lợi từ hệ thống đào tạo lâu nay, với các lớp dự bị để tuyển chọn vào những trường đại học nổi tiếng, khiến cho các trường đại học Sư phạm và Bách khoa thu hút được những bộ óc thông minh nhất. Hơn nữa, đây là một ngành học ít tốn kém, so với các ngành như vật lý hay sinh học, vốn cần nhiều hỗ trợ trên các phương diện tài chính, kỹ thuật, công nghiệp…để có thể lao vào cuộc đua trên trường quốc tế. Theo nhận định của Le Monde, sự cạnh tranh trên thế giới đặc biệt về lương bổng là rất gay gắt. Tờ báo cảnh giác, mức lương cao thường thu hút các nhà toán học Pháp đem tài năng của mình phục vụ cho nước khác.

Le Monde kết luận, sự kiện hai nhà toán học Pháp giành được giải thưởng cao quý nhất là một câu trả lời đích đáng cho những nghi ngờ lâu nay, thậm chí ở cấp cao nhất của nhà nước, về sự hữu ích của các ngành nghiên cứu cơ bản vốn không cho ra kểt quả cụ thể trước mắt. Đây là một bài học cần được

Các tờ báo Pháp xuất bản hôm nay cũng đưa tin về giải thưởng Fields, với tấm ảnh cả hai nhà toán học đang cầm chiếc huy chương, và đều thống nhất với ý kiến cho rằng thành tựu của ngành toán Pháp phần lớn nhờ vào hệ thống tuyển chọn sinh viên ưu tú vào các trường đại học nổi tiếng qua các lớp dự bị.

Nhật báo cánh hữu Le Figaro cũng đưa tin trang nhất, và ở bài viết trang trong, đã phấn khởi nhận xét, sau những huy chương vàng của thể thao Pháp, đến lượt những huy chương vàng khác, lần này dành cho chất xám. Chiếc huy chương bằng vàng thật của giải Fields, mặt sau có chân dung nhà toán học thời cổ đại Archimède, có giá trị trên 10.000 euro.

Tờ báo cho biết, tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy và thủ tướng François Fillon đều lên tiếng khen ngợi thành tựu của hai nhà toán học trẻ, còn Bộ trưởng Bộ Nghiên cứu Valérie Pécresse cho rằng giải thưởng năm nay «Một lần nữa cho thấy sự xuất sắc của ngành nghiên cứu toán học Pháp ». Tính đến nay, nước Pháp đã chiếm 11/52 giải thưởng Fields, đứng nhì sau Hoa Kỳ.

Le Figaro thông tin, cả hai khuôn mặt đoạt giải đều đến với toán học rất sớm. Tờ báo nhấn mạnh đến trường hợp Ngô Bảo Châu, sinh năm 1972 tại Hà Nội, nhập quốc tịch Pháp vào năm 2010, nhờ khả năng toán học đáng kinh ngạc đã được học bổng nghiên cứu tại đại học Paris VI, và sau khi đậu tiến sĩ đã giảng dạy tại Hoa Kỳ. Công trình của ông đã đặt chiếc cầu nối giữa hai lãnh vực tách biệt là hình học và lý thuyết nhóm, được tuần báo Times vào cuối năm qua đánh giá là « Một trong những phát hiện ngoạn mục nhất trong năm ».

Nếu Le Figaro đặt câu hỏi, bao giờ mới có được một nhà toán học nữ người Pháp đoạt được huy chương, thì nhật báo Le Parisien tỏ ra lo âu trước tình hình học sinh trung học Pháp ngày càng dở toán. Còn nhật báo kinh tế Les Echos nhấn mạnh đến sự tự chủ của trường đại học Paris VI trong việc quản lý công tác nghiên cứu, việc kết hợp với các trường danh tiếng để tổ chức các khoa song ngành chọn lọc.
Trả lời nhật báo cánh tả Libération, ông Jean-Pierre Bourguignon, giám đốc Viện Nghiên cứu Chuyên sâu Khoa học cho rằng, sở dĩ nước Pháp vẫn là một trong những quốc gia hàng đầu về toán học, là do đã có sẵn truyền thống. Học lên cao trong ngành toán lâu nay vẫn được quý trọng, thêm vào đó là vai trò của Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia CNRS. Các tiến sĩ trẻ có thể tìm được việc làm ổn định, và có thể yên tâm lao vào các công trình nghiên cứu gai góc.

Ông cho biết, hiện nay có 3.500 nhà toán học tại Pháp, trong đó có 500 đến 600 nhà nghiên cứu ở độ tuổi 30 đến 40. Đây là một thế hệ trẻ đầy tương lai, cần phải tạo điều kiện cho họ. Ngành toán tuy ít tốn kém nhưng cũng cần khoảng 15 triệu euro một năm, và ông Bourguignon hy vọng với thành tựu mới đây của hai nhà toán học trẻ Ngô Bảo Châu và Cédric Villani, chính phủ sẽ tiếp tục hỗ trợ cho ngành này.
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Nhìn Vu Lan bằng đôi mắt tình yêu
Friday, August 20, 2010

Kinh Tâm - Thích Pháp Bảo
(Trích vanhoaphatgiaophapbao.blogspot.com)


Thuở nhỏ cứ mỗi khi đến rằm Tháng Bảy, hình ảnh Ðại Hiếu Mục Kiền Liên luôn hiện về trong tôi với đoản văn “Bông Hồng Cài Áo” của Thầy Nhất Hạnh. Rảo bước lang thang trên những con đường heo hút, nhiều lá vàng cũng bắt đầu rụng đầy ngõ, từng chiếc lá như một âm hưởng triết trời vào mùa Thu hiếu hạnh và vầng trăng luôn bừng sáng khắp mọi nơi có mẹ. Vào một đêm, tôi vẫn còn nhớ cái ngày Vu Lan năm Bính Tý, hai người em rủ tôi ra sau nhà hái một vài bông hoa và mấy trái chanh, hương chanh thơm phức, lan tỏa khắp khu vườn. Tôi cố gắng hỏi cho ra lẽ, các em hái mấy cái này để làm gì? Chúng thật bí mật chẳng chịu nói cái điều mà chúng nó sắp thực hiện. Bầu trời đã xuất hiện những ngôi sao lấp lánh như muốn báo hiệu niềm mơ ước gì đó sẽ xảy ra! Sân nhà bỗng sập tối. Thế là hai đứa thắp đèn dầu lên. Chừ tới đây tôi mới hiểu ra ý của hai đứa muốn gì và Mẹ cũng bất ngờ nghe tiếng gọi “Mẹ.” Từ trong lều bếp mẹ với hơi ra giòn tan là “mẹ đang nấu nồi khoai mót cho các con đây!” Tôi chợt hỏi lại: “khoai mót là gì vậy mẹ?” Mẹ cũng phải nực cười, đáp lại: “khoai mẹ đi lượm nhặt lại đó con ơi!” Chắc có thể là mẹ cũng nghĩ tối nay trăng sáng nên mới luộc khoai nóng cho tụi anh em tôi, nhưng chúng tôi thì thầm nghĩ đây là phần thưởng mẹ muốn khích lệ trước lúc vào năm học mới. Vừa chia nhau mỗi đứa mỗi phần, sau đó khoai ai nấy bỏ gọn vào túi. Thằng nhỏ cũng biết ý, giả vờ thật thà thương mẹ, nó cũng bày đặt lựa cho Mẹ củ to nhất trong rổ (nghĩ cái cảnh khốn khổ, nhà nghèo mà tủi thân buồn bã). Sau năm đó Ba tôi đã trở thành người quá khứ.
Image
Lễ Vu Lan trong cộng đồng người Việt hải ngoại. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)


Chỉ còn duy nhất là có Mẹ bên đời với mái nhà tranh xiêu vẹo trong những đêm khuya vắng. Chúng tôi cố cầm lại nước mắt để ngồi xích thật gần Mẹ, nắm lấy bàn tay khô khan thấm mùi sương trời và liếc mắt nhìn nét mặt vất vả đơn độc của mẹ. Một bà Mẹ quê bấy lâu đã mang theo nỗi bôn ba nhọc nhằn khắp chặn đời. Ăn khoai xong, bắt đầu các anh em chúng tôi thay phiên nhau đọc bài thơ của Thầy viết:


“Năm xưa tôi còn nhỏ

Mẹ tôi đã qua đời

Lần đầu tiên tôi hiểu

Thân phận trẻ mồ côi

Quanh tôi ai cũng khóc

Im lặng tôi sầu thôi

Ðể dòng nước mắt chảy

Là bớt khổ đi rồi

Hoàng hôn phủ trên mộ

Chuông Chùa nhẹ rơi rơi

Tôi thấy tôi mất mẹ

Như mất cả bầu trời”


Các bạn biết không? Mẹ tôi thì vẫn ngồi lặng lẽ câm nín nhưng từng giọt nước mắt lắng đọng của Mẹ đã tuôn dài xuống đôi gò má gầy yếu. Bởi lẽ chúng tôi đọc những lời lẽ ấy ra đây không chỉ sợ mất thêm một người yêu quí nữa, mà vì quá thương Mẹ của mình. Bởi Ba chúng tôi vĩnh biệt ra đi từ lúc tôi lên năm tuổi (cái hôm ấy bầu trời hiền hòa, đất tự dưng rung chuyển như có tiếng sét đánh vô tri) kể từ đó thân phận trẻ mồ côi đã đổ ụp xuống trên những búp măng non mới lớn. Sau phút kinh hoàng ấy! Mẹ chỉ biết cặm cụi và có những hôm chúng tôi cứ thức trắng bên mẹ.

Hằng ngày bà thường thui thủi một mình gồng gánh mọi việc đồng áng chợ đò, khi tuổi vẫn chưa đủ bốn mươi. Căn nhà mục nát đầy gió và nằm heo hút cuối làng ấy giờ trở nên quạnh quẽ hơn nhiều, chắc thiếu đi bóng dáng của Cha mình. (Những đêm thắp đèn đánh thức con học bài, những đêm đông, Ba luôn cận kề sưởi ấm cho bảy gót chân còn non mềm vào lòng). Tôi biết đó là nỗi niềm bất hạnh lớn đã xảy ra trong đời nhưng cũng đành cam chịu theo dòng thời gian ảo hóa và định luật vô thường đến rồi đi ‘vô khứ vô lai’ mà bất kể ai đang sống trên cõi đời dương thế này điều phải chấp nhận sự sống qua vô lượng kiếp phù sinh.

Thế là Mẹ tôi vẫn trầm ngâm lắng nghe tiếng đánh vần “cà lăm” từng con chữ, sau đó mới hết một bài thơ. “Thầy” thì mất mẹ khi tuổi Thầy còn rất trẻ giống y hệt bảy đứa chúng tôi vậy. Có lẽ đọc vần thơ ấy xong, tôi mới thấu hiểu được sự cô đơn của Thầy, lúc Thầy mất mẹ và thầy đã cho tôi cảm nhận được nỗi buồn tri kỷ sinh thành, khi đời mất đi người Cha thân yêu. (Trong màn sương chiều giăng giăng đầy ắp con đường hôm ấy cả nhà phải chạnh lòng ngậm ngùi đau xót).

Từ đó Mẹ tôi mang gióng chạy ngược lên non, quay lưng thức khuya dậy sớm, mong sao con mình đủ bữa, có cái chữ đến trường. Bây giờ lớn lên nhớ lại cái ngày tháng rát da của một gia đình miền biển xa xôi, tôi không thể nào quên nỗi hình ảnh Mẹ hiền, một bà Mẹ chân quê “buôn chín bán lân” giã gạo nuôi con từng ngày, không lời than vãn thở dài cũng chưa bao giờ để con mình đói rách phải thiệt thòi thua chúng bạn. Mặc dù đến tận hôm nay các con đã lớn khôn, đang có mặt khắp mọi nẻo đường chông gai mưu sinh và dần lớn lên trong sự thương yêu đùm bọc của mọi người, nhưng đôi mắt hiền hậu của Mẹ lúc nào cũng mỏi mòn vì luôn dõi theo hành trang trên bước đường tha phương của mỗi đứa con yêu... Có lần Mẹ ngồi im lặng, nghẹn ngào trong giọt nước mắt khô, nhắc thằng ở Cần Thơ, đứa giờ Sài Gòn, tận Mỹ, Canada... còn lại hai thằng có biết chúng chịu sống chung với tôi hôm sớm nữa không? (Nói như vậy không phải Mẹ tự hào bầy con của Bà sãi bước đi xa thế đâu.)

Ân tình! Thầy Minh Niệm viết: Trong bản chất của tình thương chân thật phải có chất liệu của sự nâng đỡ, của hy sinh, của hiến tặng. Có lẽ vì thế mà mối liên hệ thiêng liêng giữa cha mẹ và con cái không bao giờ có thể rứt ra được.

Và có một người kể rằng “...Có hôm, tôi không làm xong bổn phận, đến bữa cơm ông phạt tôi ăn cơm lạt. Nghĩa là chỉ ăn cơm không thôi, không có đồ ăn, và phải quay mặt vào tường bưng tô cơm mà ăn để sám hối về sự lười biếng của mình. Tôi vừa thút thít vừa cố nuốt muỗng cơm đầu tiên nhạt thếch. Ðến muỗng thứ hai, thì, ô cái gì thế này? Dưới mặt tô cơm trắng là cả một “kho tàng.” Nào thịt kho, nào tôm rim, nào đậu hũ, được chôn giấu và “ngụy trang” cẩn thận. Tôi ngưng khóc, lấm lét vừa ăn vừa thủ tiêu tang vật. Chắc các bạn biết kẻ nào là thủ phạm của hành vi mờ ám, thông đồng với tội phạm này rồi. Quả là mẹ tôi yêu tôi, một tình mẫu tử mù quáng.” Nam Ðan còn thốt lên: “...Giá mà mẹ tôi còn tại thế thì tôi đã có một người sẵn sàng đứng ra bảo lãnh cho cái sự đàng hoàng của tôi. Tiếc thay! Nhìn lại đời mình, những khi mà tôi đàng hoàng thì chỉ có mình mẹ tôi chứng kiến mà thôi, nay bà đã qua đời thì lấy ai làm chứng bây giờ?”


Xin có mặt cho người

Bằng tất cả trong tôi

Phút giây này tỉnh thức

Với ân tình chưa vơi


Như Ðức Phật có dạy: Có bốn chữ Hiếu trong kinh - tiểu hiếu, đại hiếu, chân hiếu, cận - viễn hiếu. “Hạnh Hiếu tức Hạnh Phật” - Gốc rễ của cách làm người là ta phải biết bổn phận hiếu thảo với cha mẹ. Bởi vì cha mẹ chính là trời đất, cha mẹ là Sư trưởng, cha mẹ cũng là chư Phật. Nếu như quý vị không có cha mẹ thì quý vị sẽ không có được thân thể này, mà không có thân thể này thì quý vị sẽ không bao giờ thành Phật. Cho nên quý vị muốn thành Phật thì trước tiên phải hiếu thảo với cha mẹ.


Dù xây chín đợt phù đồ

Không bằng hiếu thuận Mẹ Cha một ngày.


“Một bên vai cõng Cha, một bên vai cõng Mẹ, như vậy suốt 100 năm, cũng không đủ để đền đáp công ơn sinh thành và dưỡng dục của Mẹ Cha” (Tăng Chi I, 75).

Hoặc “Này các Tỳ kheo, cái này là nhiều hơn, tức là sữa Mẹ các người đã uống, trong khi các ngươi lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài, chứ không phải là nước trong bốn biển” (Tương Ưng II, 208). Hiếu thảo với Cha Mẹ có công đức lớn như vậy, lại phù hợp với đạo lý thế gian cũng như với đạo lý nhà Phật. Ở đời chớ đừng:


Mẹ nuôi con, như Trời như bể,

Con nuôi Mẹ, con kể từng ngày.


Ðược lớn lên trong vòng tay ấm áp của Mẹ và Mẹ tôi từng trải qua cuộc sống không có chỗ dựa. Thế mà Mẹ đã gánh vác che chở cho đàn con nương tựa tới tận bây chừ! Phận làm con khi nghĩ về tình Mẹ thiêng liêng, lấy gì đền trả cho hết công đức sâu nặng như biển rộng rì rào với sóng muôn năm:


Ðêm đêm khấn nguyện Phật Trời

Cầu cho Cha Mẹ sống đời với con.


Có một lần, tôi nắm tay một người sư em đi thiền hành, dọc theo con suối nhỏ, nước trong veo, hoa rừng ở đây thơm nức nở. Dòng nước cứ muốn lặn lội cuốn mình về đại dương, hai bên lối đi là một màu xanh thăm thẳm của trà non Bảo Lộc. Ðôi chân có lúc dừng lại để tự thưởng thức món quà Mẹ cho. Thật hạnh phúc biết bao, từng bước, như từng nấc thang đi trên cõi đời mênh mông. Sự tạo hóa... mầu nhiệm chỉ có hơi thở chánh niệm mới nhận ra lòng biết ơn vi diệu ấy thôi; huynh đệ chúng tôi khép mắt để cảm nhận nguồn năng lượng thương yêu từ con tim chảy dài xuống gót chân, có lúc Mẹ muốn chúng tôi đứng thật vững chãi, có lúc mẹ dìu bước bên cạnh những khi giông tố khó khăn, nhưng mẹ chỉ muốn đôi chân tự bước vào đời. Tôi hiểu được Mẹ, tôi còn thấy cả khuôn mặt mẹ hiện về thật rõ mỗi lần mẹ nở nụ cười thắm thiết.

Một hôm trên con phố nhỏ, lác đác hàng ngàn cánh hoa phượng vàng, tôi chợt nhận ra rằng mẹ là tình yêu, thứ tình yêu ngọt ngào nhất trong đời, chỉ đến một lần bên ta và lòng mẹ mở ra trước mắt tôi:


Chiều nay tóc mẹ phủ bóng tuyết

Nụ cười mẹ còn trong gương nguyệt

Cánh hoa thủy triều dâng đâu đó

Mẹ mãi dòng Hậu Giang trôi êm.


Dường như bức thư tình gửi về cho Mẹ mỗi năm trong mùa báo hiếu Vu Lan là một lần được minh chứng sự tri ân và sẻ chia vào trái tim biết nói, hai tiếng Mẹ ơi! Một lần nữa, thiết nghĩ có lúc mẹ phải giã từ chia tay em tôi, các anh tôi, chị gái của tôi nên mỗi khi tiếng kinh chiều vang lên là lúc tôi nhận lại tình yêu thương của mẹ biểu hiện như một khung trời hiện hữu “mẹ vẫn còn đó, nắng chiều như hơi thở.” Lời tỉnh thức gọi tôi về giữa trang kinh niệm Phật chính là thời gian chúng ta trân quí sự có mặt của Mẹ. Ý thức nhận ra lẽ thường nhiên của cuộc đời là vô thường, sinh diệt là tiếp nối thì tôi mới hiểu Ðức Phật trong lòng tôi. Mỗi ngày giúp tôi tiếp xúc chừng ấy chất liệu thôi là đến một lúc nguồn từ bi sống dậy giữa muôn loài gần gũi bên nhau.

Trong phút khoảng lặng buổi sáng, trong lúc ngồi thưởng thức chén trà độc ẩm, múc nước tưới rau, ngắm trăng lên hay bữa cơm chiều dưa muối đạm bạc. Ðó là những khi dòng suy thức hiện tại đi ngang qua thì càng cho ta cảm nhận về chân dung Mẹ, với ý niệm là mình đang có may mắn lớn “Và diễm phúc cho ta hơn thế nữa, Có pháp môn, tăng chúng giữa bụi hồng.”


Ðã bao kiếp mẹ làm dòng sông lặng

Ðể chiều về phủ kín ánh tà dương

Từng hạt nắng mẹ chắt chiu gói lại

Ðể đêm về sưởi ấm mái đầu xanh.


Những ngày Vu Lan sau này, có Thiền Sư Tuệ Nguyên dạy về tình yêu khi còn có mẹ trong bài thơ “Tình Hoa Trắng” lòng tôi càng khắng khít, hiểu hơn về cuộc đời của người mẹ ở cái tuổi thời gian lam lũ, ôm ấp nhiều đắng cay bởi vì con. Qua nhiều cái nhìn, hóa thân của mẹ vào đại dương, trăng ngàn hay một bông hoa ven đồi, giọt sương lam, bờ cát mịn và đôi khi mẹ biếng thành trang kinh giữa nghìn trùng vì sao:


Áo tôi vàng em cài tình hoa trắng

Ðóa hoa xưa ngày mẹ xới đất trồng

Giữa những ngày mưa chang và nắng quái

Giữa biển cồn đời mẹ hóa thành bông.


Với mẹ, tôi không bao giờ nghi ngờ điều gì cả, dù điều mẹ dạy có khác với lời cô giáo dặn, công thức hóa học để chế tạo ra vũ khí mang đi lấn chiếm đất liền. Bởi vì công thức đó ta sẽ nhanh chóng tìm ra ở mọi cột mốc thời gian nhưng công thức tình thương của mẹ chỉ dành riêng cho ta lúc ta đau ốm, lắng nghe lời vỗ về dạy bảo và tận mắt nhìn mẹ mỉm cười. Ðó chính là thứ tài sản quí báu mà bạn không thể nào tìm lại được. “Dù bạn có đội lưng lên non, mang mình xuống biển” dám chắc rằng điều đó sẽ không bao giờ xảy ra dù có phép màu hiện hữu... vô vàn kiếp sau.”


Như cuộc đời - không thể thiếu trong con

Nếu có đi một vòng quả đất tròn

Người mong con mỏi mòn

Chắc không ai ngoài Mẹ

Cái vòng tay mở ra từ tấm bé

Cứ rộng dần theo con trẻ lớn lên


Thầy còn khuyên chúng ta: “Mẹ là một dòng suối, một kho tàng vô tận, vậy mà lắm lúc ta không biết, để lãng phí một cách oan uổng. Mẹ là một món quà lớn nhất mà cuộc đời tặng cho ta, những kẻ đã và đang có mẹ. Ðừng có đợi đến khi mẹ chết rồi mới nói: “Trời ơi, tôi sống bên mẹ suốt mấy mươi năm trời mà chưa có lúc nào nhìn kỹ được mặt mẹ!” Lúc nào cũng chỉ nhìn thoáng qua. Trao đổi vài câu ngắn ngủi. Xin tiền ăn quà. Ðòi hỏi mọi chuyện. Ôm mẹ mà ngủ cho ấm, giận dỗi, hờn lẫy. Gây bao nhiêu chuyện rắc rối cho mẹ phải lo lắng, ốm mòn, thức khuya dậy sớm vì con. Chết sớm cũng vì con. Ðể mẹ phải suốt đời bếp núc, vá may, giặt rửa, dọn dẹp. Và để mình bận rộn suốt đời lên xuống ra vào lợi danh. Mẹ không có thì giờ nhìn kỹ con. Và con không có thì giờ nhìn kỹ mẹ. Ðể khi mẹ mất mình có cảm nghĩ: “Thật như là mình chưa bao giờ có ý thức rằng mình có mẹ!”

Thương mẹ là một cái gì rất tự nhiên. Như khát thì uống nước. Con thì phải có mẹ, phải thương mẹ. Chữ phải đây không phải là luân lý, là bổn phận. Phải đây là lý đương nhiên. Con thì đương nhiên thương mẹ, cũng như khát thì đương nhiên tìm nước uống. Mẹ thương con, nên con thương mẹ. Con cần mẹ, mẹ cần con. Nếu mẹ không cần con, con không cần mẹ, thì đó không phải là mẹ là con. Ðó là lạm dụng danh từ mẹ con. Ngày xưa thầy giáo hỏi rằng: “Con mà thương mẹ thì phải làm thế nào?” Tôi trả lời: “Vâng lời, cố gắng, giúp đỡ, phụng dưỡng lúc mẹ về già và thờ phụng khi mẹ khuất núi.” Bây giờ thì tôi biết rằng: Con thương mẹ thì không phải “làm thế nào” gì hết. Cứ thương mẹ, thế là đủ lắm rồi, đủ hết rồi, cần chi phải hỏi “làm thế nào” nữa!

Vu Lan về cũng là dịp chúng ta biết sử dụng đôi mắt nhìn mẹ thật rõ ràng, một cách cung kính tràn đầy niềm biết ơn sâu sắc, quỳ xuống dưới chân mẹ, để nói lời thỏ thẻ “con cám ơn mẹ” đã sinh ra con và đó là lúc tình yêu đạo lý lên ngôi. Tôi muốn chia sẻ thêm với các bạn rằng, điều đó chính là chiếc chìa khóa để mở cánh cửa tâm linh cho tình mẹ con luôn gần bên nhau và bạn nên tận hưởng nữa hạnh phúc còn lại giữa cuộc đời càng thêm ý nghĩa. Lấy nguồn cảm hứng, Võ Tá Hân chấp bút mấy dòng thương yêu:


Mẹ cho ta một tình yêu thương, mẹ cho ta một mùi thanh hương, con tim mẹ truyền đạt tất cả, mẹ dạy rằng yêu thương quê hương.

Tình của mẹ vời vợi trời cao, tâm của mẹ như vầng trăng sao, đôi mắt mẹ mặt trời ánh sáng, bàn tay mẹ cứu vớt thương đau.

Mẹ là Phật đại nguyện hóa thân, mẹ là hoa, hoa đẹp tuyệt trần, mẹ là nước nước nguồn vô tận, cuộc đời mẹ chỉ biết hiến dâng.

Con chắp tay chiêm ngưỡng ơn người, con nhiếp tâm khấn chúc vạn lời, mẹ là Phật là Phật hằng hữu, cho cuộc đời con mãi thắm tươi.


Khúc ca ấy, ngợi ca lòng mẹ và ông đã mời mẹ lên một tầm nhìn mới trong chiều sâu của đất trời. Ðó là Phật hóa thân, là dòng suối mát róc rách tuôn chảy ở mọi ngóc ngách tâm hồn như Mẹ tôi sẽ sống mãi với trái tim thời gian.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Tản Mạn về Ngàn Năm Thăng Long

Mai Thanh Truyết
Chỉ còn non hai tháng nữa, Việt Nam sẽ tổ chức đại lễ Ngàn Năm Thăng Long. Buổi lễ sẽ diễn ra ngày 1/10/2010. Ông Lê Tiến Thọ, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao, và Du lịch, Chủ tịch Ban Chỉ đạo Quốc gia kỷ niệm 1000 năm Thăng Long là người tổ chức và điều hành buổi lễ nầy.

Kinh phí cho buổi lễ là 94 ngàn tỷ Đồng Việt Nam (VNExpress) tương đương với 4,5 tỷ Mỹ kim (1tỷ Đồng # US$50.000). Với một kinh phí tương đương gần 10% ngân sách quốc gia chỉ để cho “lễ hội”. Quả thật Việt Nam đi đầu so với thế giới về việc phí phạm cho những cuộc vui chơi vô bổ nầy.

Nhưng chưa hết, vì buổi lễ diễn ra vào giữa mùa mưa Hà Nội, cho nên sác xuất mưa rất cao, và mái che của sân vân động Mỹ Đình, nơi hành lễ không đủ để che trên dưới 40.000 người dự khán. Vì vậy, có dự án dùng phi cơ “bắn mây” để ngăn mưa trong ngày khai mạc. Theo VNExpress, mỗi lần ”bắn mây” trong 3 ngày có thể tiêu hết hơn 1 tỷ Mỹ kim.

Trên đây là kinh phí dự trù cho 3 ngày “lễ hội”, nhưng chắc chắn kính phí thực sự sẽ “phải” lớn hơn nhiều vì những “rò rỉ” trong thời gian xây dựng và chuẩn bị!

Chương trình đại lễ rất đồ sộ. Theo dự trù, ngày khai mạc sẽ được tiến hành tại vườn hoa tượng đài Lý Thái Tổ và đường Đinh Tiên Hoàng chung quanh hồ Hoàn Kiếm. Sẽ có diễn binh và diễn hành tại Quảng trường Ba Đình. “Chương trình kỷ niệm sẽ được tổ chức trọng thể, sinh động, đậm đà bản sắc dân tộc, truyền thống lịch sử, văn hóa”, đó là lời của một thành viên trong Ban chỉ đạo.

Nhưng cho đến hôm nay (12/8), nhiều người dân Hà Nội, cũng như trong nước vẫn không hiểu buổi lễ hội nầy có mục đích để “mừng” cái gì? Vì, Ngày Đại lễ đã được Thủ tướng cọng sản ấn định khai mạc vào 1 tháng 10, rơi đúng vào ngày Quốc khánh của Trung Cộng. Đây là một sự trùng hợp vô tình hay cố ý, và chính vì vậy mà người dân hoang man!

Vài dòng tản mạn trong bài viết nhằm mục đích khơi dậy vài tự ái dân tộc, nếu còn sót lại trong lòng người dân Việt ở cả trong lẫn ngoài nước.

Một ngàn năm Thăng Long là một ngày đánh dấu mốc thời gian từ lúc tổ tiên dân Việt dành lại nềm độc lập tự chủ thoát khỏi gần 1000 năm bị giặc Tàu đô hộ. Mà nay, Việt Nam lại tổ chức đúng vào ngày quốc khánh của kẻ thù truyền kiếp (cho đến ngày nay và cả ngàn sau nữa).

Đây có phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên hay không? Cá nhân người viết nghĩ là không mà là một chủ đích có tính toán kỷ lưỡng của đảng Cọng sản Việt Nam.

Vì, qua quá trình lịch sử trong vòng vòng 20 năm trở lại đây, rỏ ràng là đường lối, chính sách phát triển đều “rập khuôn” theo hướng phát triển của Tàu; thậm chí những sự khai thác khoáng sản, rừng phòng vệ, cùng những xây dựng khu kinh tế duyên hải miền Bắc đều nằm gọn trong tay những nhà đầu tư TC.

Như vậy có phải là Độc lập chăng?
Như vậy có phải là Tự chủ chăng?

Có xứng đáng tiêu tốn gần 10% ngân sách quốc gia cho những ngày lễ hội thể hiện một tinh thần nô lệ cho ngoại bang, trong lúc 1/3 dân số còn sống dưới mức nghèo tuyệt đối theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc là 1 Mỹ kim/ngày?

Trong Tuyên ngôn Thiên niên kỷ của Liên Hiệp Quốc mà Việt Nam đã phê chuẩn, trong đó một số giá trị căn bản giữ vai trò thiết yếu trong quan hệ quốc tế của thế kỷ 21 là:

· Về Tự do: …Điều hành đất nước theo nguyên tắc dân chủ, có sự tham gia của người dân và trên căn bản ý chí của người dân là bảo đảm tốt nhứt cho việc thực hiện quyền tự do nầy.

· Về Bình đẳng:… Không được phép tước đoạt cơ hội thụ hưởng kết quả từ hoạt động phát triển của bất cứ cá nhân nào hoặc dân tộc nào.

· Về Khoan dung:… Con người phải tôn trọng lẫn nhau, trong sự đa dạng về tín ngưỡng, văn hóa, và ngôn ngữ.

Bản tuyên ngôn còn nêu rõ ý thức và hành động về hòa bình, an ninh và giải trừ quân bị, về phát triển và xóa đói giảm nghèo, về việc bảo vệ môi trường chung, về nhân quyền, dân chủ và điều hành tốt, về việc bảo vệ những người dễ bị tổn thương…

Tất cả chỉ nhằm vào mục đích là thế giới cùng nhau phát triển theo chiều hướng toàn cầu hóa nhắm vào 3 mục tiêu: 1- Phát triển xã hội, 2- Tăng trưởng phúc lợi cho người dân, và 3- Bảo vệ môi trường.

Trong tất cả những ghi nhận trên của Bản Tuyên ngôn, Việt Nam cho đến hôm nay vẫn chưa thực hiện được điều gì cả mà còn làm cho đất nước, xã hội Việt Nam ngày càng tệ hại thêm lên. Người dân ngày càng trực diện với với nhiều nỗi đau thường trực, nào là tệ trạng nguồn nước sinh hoạt và thực phẩm tiêu dùng, nào là tệ trạng y tế cùng hạ tầng cơ sở như đường xá, cầu cống ngày càng xấu thêm, nào là tình trạng đạo đức suy đồi qua hệ hệ thống giáo gục còn quá lạc hậu. Và còn bao nhiêu tệ trạng khác nữa!

Phải chăng đã đến lúc người dân cần phải đứng lên để tự cứu lấy mình?

Câu hỏi trên xin dành cho tất cả bà con trong và ngoài nước suy nghĩ, suy nghĩ để cùng tháo gở việc thực thi qua lệnh truyền trong quân đội TC là:

Lộ ố Nàm phồ
Dìu ố Nàm sình
Chì ố Nàm tì

Nghĩa là: Lấy vợ An Nam – Tiêu tiền An Nam - Ở đất An Nam.

Lịch sử sẽ ghi thêm một tội ác của cường quyền, cam tâm làm nô lệ và dẫn dắt cả dân tộc đi làm nô lệ cho kẻ thù truyền kiếp.

Ngàn năm Thăng Long sắp đến không phải để đánh dấu mối vinh quang của dân tộc mà là một dấu ấn, chuẩn bị cho chính sách đô hộ lần thứ 5 của giặc Tàu, tiếp nối ngàn năm Việt Nam bị Tàu đô hộ trong quá khứ.

Mai Thanh Truyết

Nhớ về ngày Tết Kỷ Dậu,
Ngày Đại phá quân Thanh của
vua Quang Trung Nguyễn Huệ
8/2010
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Khi công an cộng sản Việt Nam bàn về nhân quyền
Monday, August 23, 2010

LS. Trần Thanh Hiệp

Trong phiên họp công khai của Liên Hiệp Quốc nhằm kiểm điểm định kỳ việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam, được tổ chức năm ngoái tại Thụy Sĩ, nhà cầm quyền Hà Nội đã tuyên bố với thế giới rằng: “Nhà nước Việt Nam coi con người là mục tiêu và động lực của mọi chính sách phát triển kinh tế-xã hội và luôn nhất quán trong việc đảm bảo và thúc đẩy các quyền con người. Hiến Pháp 1992, văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất, đảm bảo mọi công dân có quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, bình đẳng trước pháp luật; quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và xã hội; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do đi lại và cư trú trên đất nước Việt Nam; quyền khiếu nại và tố cáo; quyền lao động, học tập, chăm sóc sức khỏe... không phân biệt giới tính, sắc tộc, tôn giáo. Trên cơ sở Hiến Pháp, pháp luật Việt Nam tiếp tục cụ thể hóa các quyền này, phù hợp với các chuẩn mực pháp lý quốc tế về nhân quyền.”

Nhưng đó chỉ là một luận điệu gian dối rất bỉ ổi để che giấu chính sách cai trị phi nhân quyền mà Hà Nội không ngừng theo đuổi suốt hơn nửa thế kỷ nay. Trong thực tế, người dân Việt Nam chẳng những bị tước đoạt hết tất cả những nhân quyền được Hà Nội liệt kê ở trên mà còn bị đàn áp một cách thô bạo có hệ thống và thường trực. Ðó là một sự thật mà nhân dân Việt Nam ở cả trong nước lẫn ngoài nước, cũng như các tổ chức quốc tế tranh đấu cho nhân quyền, không ngừng lên tiếng tố cáo và lên án.

Mới đây nhà cầm quyền Hà Nội lại không ngần ngại leo thang trắng trợn, qua sáng kiến một mặt, bịt miệng kín như bưng nhân dân và mặt khác, ngang nhiên để cho bộ máy đàn áp là công an ấn hành một tờ lá cải lập luận bừa bãi để biện minh cho thực trạng phi nhân quyền ở Việt Nam.

Người được chỉ định làm nhạc trưởng, đánh lên âm mẫu cho bản nhạc đại hòa tấu xuyên tạc và khinh miệt nhân quyền, có tên gọi đẹp đẽ Tạp Chí Nhân Quyền Việt Nam, là Thứ Trưởng Bộ Công An Nguyễn Văn Hưởng, người đã có những lời “thông tin miệng” để hù dọa những ai dám lấy thái độ đối lập với chế độ đảng trị rằng: “Nước ta Ðảng lãnh đạo, không có phản biện gì cả, phản biện là phản động,” “Các anh muốn phản biện hả? Nhà tù còn nhiều chỗ lắm! Mà cũng chẳng cần bắt bớ tù đày làm gì, thời buổi này, tai nạn giao thông là chuyện cơm bữa; mà cũng chẳng cần tông xe làm gì, buổi sáng các vị đi uống cà phê, về tới nhà cứng đơ, không làm gì được nữa; các nước người ta đều biết kĩ thuật này, chúng tôi cũng chẳng thua đâu.” Ðó không là gì khác hơn những điệp khúc làm nhớ lại thời vàng son của phát xít, quốc xã và vô sản toàn trị.

Vậy mà cái biểu tượng sống của những thủ đoạn thủ tiêu con người để xóa bỏ quyền con người ấy lại dám lớn tiếng giảng dạy về “nhân quyền,” chỉ vẽ cho mọi người phải làm sao để “hiểu đúng về nhân quyền ở Việt Nam.” Qua một bài báo đóng vai đầu trò cho cái gọi là Tạp chí Nhân Quyền ở Việt Nam dài gần 1000 từ, ông Thứ Trưởng Hưởng tuyệt nhiên không nói được gì nhiều về nhân quyền, chỉ đưa ra một hệ thống lập luận khẳng định suông một chiều để biện hộ một cách quá lộ liễu cho chính sách phi nhân quyền của Ðảng cầm quyền. Vì vậy, những luận cứ mà ông Hưởng triển khai để ngợi ca sự nghiệp đàn áp nhân quyền của Ðảng Cộng Sản đã chẳng có được một hiệu lực thuyết phục nào.

Cũng là điều dễ hiểu thôi. Vì ông thứ trưởng càng lý luận thì người ta càng thấy nổi bật những mâu thuẫn đầy rẫy chứa đựng ở ngay trong hệ thống lập luận mà ông vận dụng. Ông đả kích kịch liệt “xã hội có nền chính trị đa nguyên, đa đảng... luôn luôn đề cao tự do cá nhân, nhân quyền là quyền không có biên giới, không bị phụ thuộc bởi chính trị, địa lý hay chủ quyền quốc gia, áp đặt những ‘tiêu chí’ về nhân quyền cho các quốc gia đang muốn chuyển hóa, thay đổi các thể chế chính trị, tạo ra ở các quốc gia này một lực lượng ‘dân chủ’ và sẽ trở thành lực lượng phản kháng, chống đối lại chính quyền...” Nhưng ông không chứng tỏ được rằng ông có một sự hiểu biết sâu rộng và chắc chắn về xã hội này. Ông chỉ đưa ra những lời buộc tội chung chung và vu vơ. Hơn nữa ông cũng không giải thích được sự kiện nếu “nhân quyền” của phương Tây mà tồi tệ như vậy thì tại sao Ðảng của ông năm 1982 lại tự nguyện xin tham gia không dè dặt? Rồi tham gia nhưng không tôn trọng và thi hành nghiêm chỉnh những cam kết của mình, chỉ hành động ngược lại những gì đã cam kết rồi kêu than là bị áp đặt. Ðể tìm cớ vi phạm. Ðể khẳng định rằng bộ máy cầm quyền đảng trị phi nhân quyền cộng sản ở Việt Nam hữu lý tự phong cho mình có đủ thẩm quyền, tư cách để làm ra những luật pháp đàn áp. Nhưng thử hỏi đó có phải là những cơ sở pháp lý, chính trị đích thực dân chủ không, hay chỉ là những quyết định tự quyền, độc đoán và đơn phương.

Ngoài ra, ông Thứ Trưởng Hưởng cũng dẫn ra một số hành vi đàn áp nhân quyền để kể là những thành tựu của việc thực hiện nhân quyền. Ông không ngần ngại giải thích hiện tượng “Việt Nam hiện nay có hơn 700 đầu báo và tạp chí; 25 triệu người được sử dụng Internet và rất nhiều người trong số đó đã sử dụng Internet để đóng góp ý kiến vào các vấn đề xã hội” là một thành tích đáng kể về mặt thực hiện nhân quyền. Ai không biết rằng Ðảng của ông đã tước đoạt hết quyền tự do ngôn luận của người dân để giành độc quyền ra báo, viết báo cho Ðảng của ông? 700 đầu báo và tạp chí, 25 triêu người sử dụng Internet ấy không phải là sự thể hiện của quyền tự do ngôn luận của dân mà là những công cụ đàn áp của Ðảng. Nhưng điều gây kinh ngạc lớn cho dân chúng cũng như cộng đồng quốc tế chính là sự táo bạo của một ông tướng công an cộng sản đã coi thường khả năng phán đoán bình thường của mọi người khi ông dám khẳng định tằng tất cả những tội ác vi phạm nhân quyền ở Việt Nam chính là “tự do, chính là nhân quyền. Người dân Việt Nam chấp nhận sự lãnh đạo của một Ðảng cầm quyền, bởi lẽ họ thấy rõ hơn ai hết về những gì mà Ðảng Cộng Sản đã đem lại cho người dân trong suốt bao nhiêu năm qua.”

Sự gian dối vụng về lại quá hiển nhiên của ông Thứ Trưởng Nguyễn Văn Hưởng tự nó đã là những phản chứng hùng hồn bác bỏ luận điệu ngụy biện của ông tướng Công an họ Nguyễn đổi trắng thay đen, bất chấp thực trạng để hòng biến “địa ngục nhân quyền” hiện nay tại Việt Nam thành một “thiên đàng quyền con người” chỉ có trong thế giới tuyên truyền lừa bịp của tập đoàn cầm quyền cộng sản. Ông Thứ Trưởng Hưởng chắc không ngờ rằng “tác phẩm” ngợi ca bừa bãi và lố bịch nhân quyền ở Việt Nam - nhân quyền lề phải - mà ông là tác giả đã trở thành bản cáo trạng vi phạm nghiêm trọng nhân quyền ông đã vô tình tuyên đọc cho chế độ mà ông có nhiệm vụ bảo vệ.

Người ta không thể không tự hỏi rằng trong những cuộc đối thoại về nhân quyền ở Việt Nam với chính giới quốc tế, liệu ông Thứ Trưởng Hưởng có cảm thấy rằng bản thân ông cũng như đất nước ông trong địa hạt nhân quyền vẫn còn lạc hậu hàng thế kỷ so với các nước tiên tiến trên thế giới.

Nghĩ cho cùng, ông Thứ Trưởng Công An Nguyễn Văn Hưởng cũng khó mà nói khác với tiếng nói của Ðảng về nhân quyền vì quan điểm của Ðảng của ông là Ðảng ấy đã đạt được “thành tựu to lớn trong việc thực hiện đường lối của Ðảng về bảo đảm và phát triển quyền con người.” Theo ông Phạm Bình Minh, ủy viên Trung Ương Ðảng, thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại Giao thì “sau gần 8 thập kỷ dưới sự lãnh đạo của Ðảng, có thể nói, những thành tựu dân tộc ta đạt được trong việc bảo đảm và phát triển quyền con người là rất cơ bản, rất to lớn. [...] Quan trọng hơn cả, vấn đề quyền con người xuất phát từ chính mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, từ bản chất của chế độ và bao quát rộng rãi nhiều lĩnh vực. Vì vậy, bảo vệ và phát huy quyền con người là trách nhiệm chung mà tất cả các cấp, các ngành và địa phương phải tích cực, chủ động thực hiện.” “Ðường lối của Ðảng về quyền con người cũng được xây dựng từ một nền tảng lý luận vững chắc, trên cơ sở tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, áp dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ khác nhau.”

Sự kiện đến bây giờ mà đảng Cộng Sản vẫn còn coi nhân quyền là bắt nguồn từ chủ nghĩa Mac-Le-nin đã giải nghĩa vì sao mà nhân quyền của dân Việt Nam vẫn còn.
KýCóp
Posts: 1118
Joined: Tue Jun 29, 2010 1:44 am
Contact:

Post by KýCóp »

Kỳ thị hay bao dung

Ngô Nhân Dụng
Cuối tuần trước, hội Nippon Issuikai ở Nhật Bản đã tổ chức một hội nghị quốc tế thu hút những người theo “chủ nghĩa dân tộc,” thường được báo chí gọi là những phe phái “cực hữu” từ nhiều quốc gia tới dự. Ông Mitsuhiro Kimura, người sáng lập tổ chức có 10 ngàn hội viên này nói rằng ông muốn liên kết các đảng chính trị có khuynh hướng “chủ nghĩa dân tộc” trên toàn thế giới.

Hội nghị có tính chất quốc tế thật! Trong số 20 đại biểu của Nghị Viện Âu Châu có mặt, ông Philip Claeys, thuộc đảng Vlaams Belang ở Bỉ đang đòi tách ra lập một nước của những người cùng chủng tộc Flemmish; ông Geert Wilders đại biểu Hòa Lan nổi tiếng vì chống di dân, đặc biệt là người Hồi Giáo. Ngoài ra còn đại diện của các đảng cực hữu Hungary, Bồ Ðào Nha, Bulgaria, Ý, Ukraina, vân vân. Một đại biểu của Ðảng Dân Tộc Anh Quốc (BNP) là Adam Walker, đã từng sống 6 năm ở Nhật, bằng nghề dạy võ. Không thấy nói đến đại biểu nào từ Trung Quốc, Hàn Quốc hay Việt Nam đến dự!

Ngày 14 tháng 8, 2010 lãnh tụ Mặt Trận Dân Tộc (FN) ở Pháp là Jean-Marie Le Pen còn đến viếng ngôi đền Yasukuni tại Tokyo, là nơi thờ các anh hùng tử sĩ của Nhật Bản, nhưng cũng thờ cả các người lãnh đạo cuộc Chiến Tranh Thứ Hai, khi Nhật Bản xâm lăng các nước Á Châu. Mỗi lần các vị thủ tướng Nhật Bản đến viếng đền này vào tháng 8, các chính phủ Hàn Quốc và Trung Quốc đều phản đối. Năm nay Thủ Tướng Naoto Kan, trong khi lên tiếng xin lỗi dân Hàn Quốc về ách thống trị của Nhật Bản trên xứ họ từ năm 1910 đến 1945, đã không đến viếng đền Yasukuni nhân ngày kỷ niệm chấm dứt chiến tranh vừa qua. Nhật Hoàng Akihito chưa bao giờ đến viếng đền này.

Mitsuhiro Kimura trước đây là một người rất ngưỡng mộ Saddam Hussein, tổng thống Iraq đã bị Mỹ giết, vì coi ông Hussein là người theo Chủ nghĩa Dân Tộc Á Rập, nhưng cũng vì cả hai đều chống Mỹ. Ông tổ chức hội nghị vừa qua để bàn về “Tương lai của những phong trào Dân Tộc Chủ Nghĩa, để các “người ái quốc” trao đổi và học hỏi kinh nghiệm của nhau.

Ðây là một điều rất khó thực hiện. Vì những người tự xưng theo “Chủ Nghĩa Dân Tộc” quá khích thì cũng thường không coi người nước khác là ngang hàng với mình. Ông Kimura chẳng hạn, ông không chịu công nhận là quân đội Nhật Bản đã tàn sát hàng trăm ngàn thường dân Trung Hoa ở Nam Kinh, năm 1937; cũng như ông không đồng ý việc chính phủ Nhật xin lỗi đã đô hộ Hàn Quốc một cách tàn bạo.

Chủ nghĩa Dân Tộc là một khái niệm rất đáng trọng, đồng thời cũng rất nguy hiểm. Nếu chủ nghĩa này chỉ mang ý nghĩa đề cao tình yêu nước, thương nòi, lo bảo vệ quyền lợi quốc gia, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, thì rất đáng kính trọng; và nhiều khi cần thiết nữa. Tinh thần dân tộc của người Việt Nam hiện nay đang lên rất cao, vì mọi người cảm thấy mối đe dọa của nước láng giềng phía Bắc về kinh tế, chính trị cũng như quân sự. Khi sự sống còn bị đe dọa, một giống dân quay về với Chủ Nghĩa Dân Tộc để lập một hàng rào tự vệ; giống như cơ thể con người tự sinh ra các chất đề kháng khi bị vi trùng tấn công. Người Việt Nam ai cũng đồng ý phải củng cố tinh thần dân tộc trong lúc này.

Nhưng các lãnh tụ độc tài thường lợi dụng Chủ Nghĩa Dân Tộc để đánh lừa, mị hoặc dân chúng, nhằm bắt dân phải xếp hàng sau lưng họ, không được bàn cãi. Ðề cao chủng tộc, sắc thái của dân mình, coi là cao hơn các dân tộc khác, các đảng Phát Xít Ý, Quốc Xã Ðức, và Quân Phiệt Nhật đã dùng lối đó huy động dân các nước này hy sinh cho tham vọng bành trướng của họ. Hiện nay, chính quyền Cộng Sản Trung Hoa cũng sử dụng mánh khóe tương tự. Lâu lâu, họ cho phép các nhóm quá khích hô hào chống người ngoại quốc, như chống Nhật khi nhắc lại các tội ác của quân đội Nhật phạm trong thời gian 1937-1945; hoặc biểu tình chống Mỹ sau vụ ném bom nhầm ở Belgrade năm 1999. Trên nhiều mạng lưới ở Trung Quốc hiện nay có những thanh niên Trung Quốc đang hô hào chống người Việt Nam, miệt thị dân Việt Nam, có người còn vẽ ra kế hoạch tấn công Việt Nam. Chủ nghĩa Ðại Hán là một mối nguy hiểm đe dọa cả vùng Ðông Nam Á, người Việt Nam cần phải đánh thức các dân tộc láng giềng về hiểm họa này.

Tại nước Mỹ, chủ nghĩa dân tộc không thể mang tính chất quá khích, vì nước này là tập hợp của rất nhiều giống dân trên thế giới. Thời Ðại Chiến Thứ Hai, chính phủ Mỹ đã lập trại tập trung người Mỹ gốc Nhật, sau này chính phủ Mỹ đã phải chính thức xin lỗi và bồi thường thiệt hại. Gần đây, Nghị Viện California đã chính thức xin lỗi những người Mỹ gốc Ý trong tiểu bang vì đã đối xử bất công với họ trong thời Thế Chiến II. Mặc dù đại đa số dân Mỹ vẫn nghĩ rằng quốc gia của họ không những mạnh nhất mà còn “tốt” nhất thế giới vì tiêu biểu cho những giá trị cao thượng và phổ biến của nhân loại, nhưng các người lãnh đạo nước Mỹ lúc nào cũng tỏ ra khiêm tốn khi nói đến các dân tộc khác, các nền văn hóa khác. Nước Mỹ vẫn luôn luôn tìm cách chứng tỏ họ là một dân tộc bao dung về chủng tộc, văn hóa, tôn giáo.

Cho nên, hiện nay cả nước đang xôn xao bàn tán về vụ xây dựng những “Trung tâm Hồi Giáo.” Ngay tại California, cuối tháng 7 nhiều người Mỹ trong quận Riverside đã biểu tình chống việc xây cất một Trung Tâm Hồi Giáo mới trên mảnh đất đã có một trung tâm cũ tại thị xã Temecula. Những người tổ chức biểu tình để cầu nguyện và hát những bài ca ái quốc, cũng kêu gọi ai tới dự hãy mang theo chó, vì người Hồi Giáo rất ghét chó! Cho đến nay, việc xây cất vẫn tiếp tục, và vị giám đốc về kế hoạch phát triển của thị xã tuyên bố tất cả mọi người Mỹ đều có quyền thực hành tín ngưỡng của mình theo cách nào họ thấy thích hợp nhất.

Trước đây, tại Murfreesboro, Tennessee; tại Brooklyn và Staten Island trong tiểu bang New York, và tại tiểu bang Wisconsin cũng có những cuộc biểu tình chống xây dựng giáo đường Hồi Giáo. Năm 2007, một dự án xây thánh đường Hồi Giáo đã bị bãi bỏ vì áp lực dân chúng thị xã Walkersville, tiểu bang Maryland.

Nhưng sôi nổi nhất hiện nay là dự án xây dựng một Trung Tâm Hồi Giáo, hai con đường cách “Ground Zero” là nơi gần 3,000 người Mỹ đã chết trong vụ khủng bố 11 tháng 9 năm 2001.

Rất nhiều người đang kịch liệt chống lại dự án này, trong đó có cựu Thị Trưởng Giuliani, và bà Palin nguyên ứng cử viên phó tổng thống năm 2008. Một người lên tiếng ủng hộ việc xây cất là Tổng Thống Obama, nhưng ông không xác định nên xây ở địa điểm nào. Thị Trưởng New York Michael Bloomberg chính thức ủng hộ việc xây dựng tại địa điểm dự trù gần “Ground Zero.” Tối Thứ Ba, mặc dù là người Do Thái giáo, ông Bloomberg đã mở một dạ yến nhân lễ Iftar, ngày người Hồi Giáo chấm dứt tháng chay Ramadan. Ông Bloomberg, thuộc đảng Cộng Hòa, nói rằng “chính phủ không bao giờ có quyền bảo người ta hãy cầu nguyện cái gì và cầu nguyện ở đâu!”

Ngày hôm qua, Thống Ðốc New York David Paterson đã mời Ðức Tổng Giám Mục Timothy Dolan gặp gỡ để chuẩn bị một cuộc họp gồm nhiều tôn giáo tìm một giải pháp cho vấn đề này. Ông Paterson và Chủ Tịch Nghị Viện New York Sheldon Silver, dại diện đơn vị bầu cử gồm Ground Zero đang đề nghị di chuyển dự án sang một miếng đất khác, xa khu vực này, để tránh tranh cãi.

Giáo sĩ (Imam) Feisal Abdul Rauf, và bà vợ Daisy Khan là những người đưa ra dự án lập Trung Tâm Hồi Giáo trên. Ông Rauf sinh năm 1948 ở Kuwait, đã sống tại New York từ lâu, từ năm 1983 ông đã là Imam của một thánh đường Hồi Giáo ở thành phố này. Ðịa vị Imam không có tính cách thiêng liêng như chức vị giáo sĩ trong nhiều tôn giáo; vì Hồi Giáo không có hàng giáo phẩm chính thức. các imam chỉ là những “giáo sư luật” theo Kinh Kuran, tương tự các giáo sĩ Do Thái Giáo. Hiện nay ở New York đã có 200 thánh đường Hồi Giáo; nhưng trung tâm mới dự trù lập ra trong một tòa nhà 13 tầng, chi phí xây cất khoảng 100 triệu Mỹ kim, sẽ là một trụ sở rất lớn. Ông Rauf định đặt tên trung tâm này là Cordoba, tên một thành phố ở Tây Ban Nha từng là nơi người theo ba tôn giáo gồm Do Thái Giáo, Thiên Chúa Giáo, và Hồi Giáo đã sống chung hòa bình với nhau từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 15.

Trong trung tâm Cordoba sẽ có nhiều tiện nghị cho sinh hoạt cộng đồng, mà thánh đường Hồi Giáo chỉ là một. Trong bản thiết kế có nhiều tiện nghị cho công chúng, một phòng cầu nguyện chung cho các tôn giáo, có cả nơi tập thể dục và lớp dạy nấu ăn, và có một đài kỷ niệm những nạn nhân của vụ khủng bố 11 tháng 9. Những người chống đối dự án này viện lẽ khu vực Ground Zero có tính cách thiêng liêng, mà những thủ phạm đều đã nhân danh Hồi Giáo khi gây tội ác. Nhiều người quá khích nói rằng một trung tâm như Cordoba sẽ là nơi nuôi dưỡng tinh thần Hồi Giáo quá khích. Ngược lại, những người ủng hộ dự án này coi việc xây dựng trung tâm Cordoba chỉ chứng tỏ nước Mỹ là nơi bao dung, hòa bình, cho tất cả mọi tôn giáo, chứng tỏ bọn quá khích là sai lầm. Họ còn thấy nếu từ chối không cho xây một trung tâm Hồi Giáo thì sẽ chỉ giúp cho các nhóm Hồi Giáo quá khích có thêm lý do để khích động thanh niên của họ đi làm các hành động khủng bố khác. Người Mỹ vẫn kêu gọi người Hồi Giáo ôn hòa hợp tác với mình, nay một nhóm người ôn hòa ra mặt thì không nên từ chối.

Ông Abdul Rauf đang đi Bahrain, trong một chương trình do bộ Ngoại Giao Mỹ bảo trợ, đã tuyên bố rằng ông mong muốn đưa ra một hình ảnh tốt về Tây phương cho thế giới Hồi Giáo nhìn thấy, ông cũng muốn tất cả những người Hồi Giáo ở Mỹ hãy hoàn toàn yêu nước Mỹ (complete nationalism) và thi hành mọi quyền, làm mọi bổn phận với nước này.

Tuy nhiên, như Dân Biểu Tiểu Bang Sheldon Silver nói, những người dự định xây dựng Trung Tâm Cordoba cũng nên quan tâm đến tình tự của những người dân New York còn đang bị ám ảnh về vụ khủng bố 11 tháng 9.

Chúng ta có thể tin rằng các nhà chính trị ở New York sẽ tìm ra giải pháp thỏa hiệp về vụ Trung Tâm Cordoba này. Nhưng hiện tượng nhiều người Mỹ chống đối việc xây cất các Thánh đường Hồi Giáo ở Mỹ là điều đáng quan tâm.

Vì là một quốc gia lập nên bởi những người di dân từ khắp thế giới, vẫn tiếp tục thu hút những di dân ưu tú từ khắp các lục địa, nước Mỹ không có lựa chọn nào khác là phải đề cao, nuôi dưỡng tinh thần bao dung về chủng tộc, cũng như về văn hóa, tôn giáo. Mối tị hiềm đối với người Hồi Giáo có lý do lịch sử, là vụ 11 tháng 9 năm 2001. Nhưng sau một tời gian, có thể dài một hay nhiều thế hệ, mối tị hiềm đó cũng sẽ được xóa bỏ. Người Do Thái Giáo đã từng bị kỳ thị như vậy cho đến thời 1940. Trước đây một thế kỷ, người theo Thiên Chúa Giáo giáo hội La Mã vẫn bị kỳ thị, cho nên khi ông J.F. Kennedy ứng cử tổng thống nhiều người không tin ông có thể nào đắc cử được - cũng như năm 2008 nhiều người nghĩ vậy về ông Obama, vì ông da đen. Vào năm 1960 đó, cũng không ai có thể ngờ có ngày đa số các thẩm phán Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ là người Thiên Chúa Giáo La Mã!

Ðiều đáng mừng nhất trong cuộc tranh luận sôi nổi về dự án Trung Tâm Cordoba là mọi người vẫn tôn trọng tinh thần đấu tranh ôn hòa. Ở Ấn Ðộ, nhiều người theo Ấn Giáo đã chống việc xây đền thờ Hồi Giáo hay nhà thờ đạo Sikh bằng phương cách bạo động. Chính tinh thần tôn trọng phá luật của đại đa số dân Mỹ là một điểm son khiến người Mỹ có quyền hãnh diện về dân tộc họ, một dân tộc rất trẻ. Những lãnh tụ theo Chủ Nghĩa Dân Tộc ở Âu Châu hay Á Châu có thể học hỏi phương pháp đấu tranh ôn hòa này, chính thức lên án những nhóm quá khích ở nước họ lúc nào cũng tìm cách tấn công các di dân. Người Việt Nam ở Nga, ở Ðức và nhiều nước Ðông Âu đã từng là nạn nhân của các nhóm quá khích như vậy.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Phía trong chiếc áo choàng sặc sỡ của phát triển

* Lê Diễn Ðức

Nếu không bị những chính sách sai lầm của đảng Cộng Sản và thất thoát, đất nước có khả năng phát triển hơn gấp nhiều lần nữa với số tiền hàng trăm tỷ đô la do nhân dân trong nước làm ra, do người Việt hải ngoại gửi về, do nước ngoài đầu tư trực tiếp và những khoản tiền lớn vay của các tổ chức tài chính quốc tế... trong hơn 20 năm qua.

Một Chicago Hoa Kỳ ở Trung Quốc
Image
Thành phố Trùng Khánh tại Trung Quốc. (Hình: OLLI GEIBEL/AFP/Getty Images)
Tờ “Foreign Policy” trong bài “The Global Cities Index 2010” hôm 16 tháng 8 có nói về Chongqing - tức là Trùng Khánh, một trong bốn thành phố Trung Quốc cấp tỉnh với cảng lớn trên sông Dương Tử, cạnh đường thoát của hồ chứa nước Ðập Tam Hiệp.

Trong chiến lược tăng trưởng của Trung Quốc, Trùng Khánh phải đạt được những gì của Chicago bên Hoa Kỳ.

Từ những ngày cải cách đầu tiên, các nhà hoạch định chính sách đã đổ dày lên đất Trùng Khánh nhiều tỷ đô la với hy vọng thúc đẩy nền kinh tế nghèo của Trung Quốc Ðại Lục. Người ta đã đầu tư xây dựng sân bay Trùng Khánh tuyệt vời, rất nhiều tòa nhà chọc trời, những đại lộ ven sông sáng chói ánh đèn neon...

Nhưng song song, Trùng Khánh cũng là ổ của căn bệnh tham nhũng và các tổ chức mafia lớn.

Trong năm 2009, bí thư đảng ủy địa phương Bo Xilai đã cho biết có gần 5,000 người được xem là bố già của các băng nhóm hình sự. Trong các băng đảng này, nhiều bố già có quan hệ mật thiết với các thẩm phán và cảnh sát.

Năm nay, cái nóng ở Trùng Khánh phải nói là khủng khiếp, người ta ví như một lòng cái chảo bị đốt nóng của Trung Quốc.

Ðường phố Trùng Khánh rất dốc nên vắng bóng xe đạp.

Ðội quân nông dân nghèo không sống nổi trên cánh đồng, rủ nhau đổ về đây làm dịch vụ cửu vạn rất đông đảo, được gọi là “bang bang”.

Với cây gậy tre và dây gai, “bang bang” chuyên chở trên đôi vai của mình đồ đạc, hàng hóa, va li, thiết bị gia dụng từ các cửa hàng đến địa chỉ của những người thuê mướn. Mỗi chuyến đi nặng nhọc như vậy họ được trả công từ 2 đến 10 Nhân dân tệ, tức là vài chục cent cho tới hơn 1 đô la!

Bề ngoài của Trùng Khánh cho ta cảm giác một đô thị hiện đại, nhưng với khái niệm đúng của hai chữ “thành phố” thì Trùng Khánh tuyệt đối không phải là thành phố lớn nhất thế giới.

Trên địa giới hành chính của Trùng Khánh có 32 triệu người dân sinh sống nhưng riêng thành phố Trùng Khánh thì không quá 5 triệu người.

Trùng Khánh nếu nói đúng thì là một thành phố lớn, có khu vục kinh tế khổng lồ, cộng cả khu vực nông thôn với hàng trăm làng mạc.


Từ Trùng Khánh nghĩ đến Vinashin Việt Nam

Trùng Khánh cho ta bức tranh là đặc thù của các thành phố Trung Quốc và của cả Việt Nam: phát triển không đồng bộ và khoảng cách như trời với đất của một bộ phận nhỏ giàu có và đa số người nghèo.

Ðối mặt với sự khuếch trương phát triển kinh tế, sự giàu có, hiện đại là sự thiếu vắng văn minh đô thị về vệ sinh công cộng, giao thông đường phố, hoạt động tội phạm kinh tế, xã hội có tổ chức và cuộc sống nghèo nàn, cực nhọc, chạy cơm từng bữa của dân lao động bình thường.

Các tòa nhà chọc trời, sang trọng ở đô thị thường là những trung tâm thương mại, dịch vụ, giải trí, dành riêng cho một giai cấp đặc biệt mới phất lên nhờ những đồng tiền bất chính, tham nhũng, ăn cắp, rút ruột các công trình hoặc nhờ tận dụng cơ chế đặc quyền đặc lợi, móc ngoặc với giới chức nhà nước, thậm chí với cả xã hội đen, để đầu cơ trục lợi.

Cho nên, chỉ những người có suy nghĩ nông cạn mới ngợi ca khơi khơi sự phát triển của đất nước nhờ sự lãnh đạo tài tình của đảng Cộng Sản Việt Nam.
Image
Chủ Tịch Vinashin Phạm Thanh Bình vừa bị cách chức. (Hình: VietNamNet)

Nếu không bị những chính sách sai lầm của đảng Cộng Sản và thất thoát, đất nước có khả năng phát triển hơn gấp nhiều lần nữa với số tiền hàng trăm tỷ đô la do nhân dân trong nước làm ra, do người Việt hải ngoại gửi về, do nước ngoài đầu tư trực tiếp và những khoản tiền lớn vay của các tổ chức tài chính quốc tế... trong hơn 20 năm qua, chỉ tính từ năm 1986 khi có chính sách “đổi mới và “cởi trói”.

Ðây không phải là nhận định của chỉ riêng cá nhân tôi.

Khá nhiều người Việt trong nước, ít thông tin, duy ý chí và bảo thủ vẫn thường coi nhẹ ý kiến của các tác giả viết độc lập trong dòng báo chí “Lề trái”. Họ cho rằng, báo chí Lề trái cố tình nói xấu, vạch lá tìm sâu, bôi nhọ đảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam (đôi khi còn đánh đồng luôn cả với đất nước, dân tộc!), thậm chí dễ dàng áp đặt cho người khác chính kiến hai từ “phản động” một cách trâng tráo, mà không biết chính họ mới là kẻ “phản động” vì đi ngược lại lẽ phải và tiến bộ.

Cho nên, tôi vẫn thường dùng phương pháp “nói có sách, mách có chứng”, cố gắng đưa vào các bài viết của mình nhận định của những người trong cuộc, trong nước, với mục đích đảm bảo tính khách quan.

Trên trang web của “Viện Những Vấn đề Phát triển” (VIDS), cơ quan được xem là một think-tank của nhà nước Cộng Sản Việt Nam - cũng đã chỉ ra cho thấy nguồn gốc của đồng tiền tạo ra khuôn mặt và cái áo choàng phồn vinh, phát triển làm nhiều người ngợp đến mức ngộ nhận, kể cả một vài bạn đọc trên Weblog này. Tác giả Vũ Duy Phú trên VIDS viết:

“...Tỷ lệ thất thoát của các công trình đầu tư nhà nước được thừa nhận từ chính thức đến chưa chính thức là từ 15% đến 30-45%. Từ đó, chỉ trong số tiền thống kê chính thức là 29 tỷ đô la ta sẽ thấy phần thất thoát tài sản của nhà nước (chỉ phần đi vay) là không nhỏ: từ 4.38 tỷ đô la đến 8.7-12.75 tỷ đô la!

Số tiền khổng lồ sinh ra do thất thoát này lan tỏa vào xã hội dưới các dạng đầu tư chứng khoán, mua cổ phần, cổ phiếu, xây nhà xây cửa, mua sắm, tiêu xài, du lịch... và các dịch vụ ăn theo, làm cho nền kinh tế xã hội của chúng ta cứ dường như đang ‘phát triển’ mạnh từ vốn tự có, nhưng thực ra phần đáng kể sự ‘sôi nổi’, ‘năng động’, ‘đổi đời’ đó là do đồng vốn vay chưa trả nói trên thất thoát lan tỏa ra”.

Ðể minh chứng, chỉ cần nói đến số tiền hơn 4,5 tỷ đô la mà đảng và chính phủ đẩy đất nước vào gánh nặng nợ nần qua “quả đấm thép” Vinashin, chúng ta đã choáng và có thể ngất xỉu.

Trong bài “Trách nhiệm cá nhân và Vinashin” trên tờ “Ðại Ðoàn Kết” của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày 13 tháng 7 năm 2010, tác giả Thái Duy làm phép so sánh cụ thể như sau:

“Ðất nước chưa bao giờ có một vụ thua lỗ như Vinashin. Tiền đều là của dân đóng thuế. Năm xuất khẩu gạo nhiều nhất là năm 2009, được 6 triệu tấn thu về hơn 2 tỷ USD, cũng chỉ bằng nửa số nợ của Vinashin. Cơn bão lớn nhất ở Ðà Nẵng, Quảng Nam năm 2007, thiệt hại tính thành tiền là 8,000 tỷ đồng, cũng chỉ bằng 1 phần 10 nợ của Vinashin. Số vốn nhà nước tung ra cho gói kích cầu hỗ trợ lãi suất 4% cho cả nền kinh tế trong đợt suy thoái vừa qua cũng chỉ bằng phần nợ của Vinashin. Tổng số vốn nhà nước đầu tư cho cả chương trình xóa đói giảm nghèo chỉ bằng một nửa nợ của Vinashin”.

Có bao nhiêu cái lỗ của các “quả đấm thép” khác như Vinashin còn chưa được biết đến? Nên nhớ rằng, toàn bộ chính sách làm ăn dẫn Vinashin đến bờ phá sản và núi nợ trên đã được những người có trách nhiệm và lương tri cảnh báo từ 5 năm trước. (Xem bài “Sự phá sản của Vinashin đã được cảnh báo trước 5 năm” - 6 tuần trước khi có quyết định 104/TTG ngày 15/5/2006 thành lập Vinashin - trên trang Bauxite Việt Nam ngày 20/08/2010.) Ðiều này có nghĩa là, biết trước hậu quả nhưng lãnh đạo đảng và nhà nước vẫn nhắm mắt làm. Ðến khi “cháy nhà ra mặt chuột” thì than ôi, tiền đã mất mà tật thì dân phải mang với lòng xót xa, cay đắng!

Câu hỏi đặt ra là: Vậy thì tại sao bộ ba cặp bài trùng Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ Trưởng Tài Chính Nguyễn Sinh Hùng, Bộ Trưởng Giao Thông Vận Tải Hồ Nghĩa Dũng vẫn rót tiền bạc liên tiếp cho Phạm Thanh Bình? Và giờ đây họ lại tiếp tục kêu gào “toàn đảng, toàn dân” xúm tay cứu để Vinashin không trở thành đống sắt vụn! Tiền bạc của ai mà họ cứ cho phép mình mãi mãi rót hoài vào cái thùng không đáy vậy?

Lời đáp, thiết nghĩ không có gì khó, nếu chúng ta nhìn vào các yếu tố kể trên.

(Nguồn: Lê Diễn Ðức Blog)
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

BS bất đồng chính kiến Lê Nguyên Sang:
Không có cái tội gọi là “tuyên truyền”


Image
Bác sĩ bất đồng chính kiến Lê Nguyên Sang (phải). (Hình: VOA)

Một nhà tranh đấu dân chủ trẻ vừa được trả tự do sau 4 năm tù giam về tội danh“ tuyên truyền chống phá nhà nước CHXHCNVN”. Phiên tòa phúc thẩm ngày 17/8/2006 giảm án từ 5 xuống còn 4 năm tù đối với bác sĩ bất đồng chính kiến Lê Nguyên Sang, người có những hoạt động mà giới cổ súy dân chủ cho là kêu gọi dân chủ và cổ võ đa nguyên đa đảng tại Việt Nam. Bác sĩ Sang từng theo chuyên khoa tâm thần, công tác tại Bệnh viện Tâm thần Hòa Khánh, Đà Nẵng, trước khi anh vào Sài Gòn học cao học về khoa Nội Tổng quát rồi tốt nghiệp và hành nghề tại Phòng khám Đa Khoa Thị Nghè.

Bốn năm trước, dư luận đột ngột hay tin bộ ba trí thức trẻ gồm bác sĩ-luật sư-doanh nhân là Lê Nguyên Sang, Nguyễn Bắc Truyển, và Huỳnh Nguyên Đạo bị phạt tù vì vi phạm điều 88 Bộ luật hình sự, tức tội “tuyên truyền chống phá nhà nước”.

Bốn năm sau, ngay ngày ra tù, trong cuộc trao đổi với Tạp chí Thanh Niên đài VOA, bác sĩ Sang chia sẻ về niềm tin, lý tưởng, cũng như những hoạt động của anh dẫn tới bản án này:

Từ năm 2000, tôi viết bài trên Câu lạc bộ Dân chủ Việt Nam, tiền thân của Đảng Dân chủ Nhân dân. Ngày 31/5/2005, tôi cùng với Đỗ Thành Công thành lập Đảng Dân chủ Nhân dân, kêu gọi đa đảng và đòi thả tù nhân chính trị. Sau đó, an ninh Việt Nam theo dõi và bắt tôi, xử tôi 4 năm tù giam. Tôi được “tự do” ngày 17/8, “tự do” theo đúng nghĩa là ra khỏi bốn bức tường nhỏ. Còn đối với bốn bức tường lớn thì những ai đã từng sống trong chế độ cộng sản, họ sẽ hiểu được sự chèn ép như thế nào. Nhiều lúc đến mức chịu không nổi muốn tự sát chết. Khi vô tù, tôi thấy rằng sai lầm của tôi là đã không đi vượt biên mà trước đây bao nhiêu người đã cố tìm cách đi ra nước ngoài, thoát khỏi cái ngục tù lớn đó. Bản thân tôi vì nghĩ là đất nước sẽ ngày một thay đổi khác đi và sẽ tiến bộ hơn nên tôi ở lại để rồi cuối cùng tôi phải vào cái ngục tù nhỏ. Những việc tôi làm là đúng. Ra trước tòa, tôi chưa bao giờ nhận tội. Họ ép tội tôi, bảo là nhận tội tôi sẽ được khoan hồng, nhưng tôi dứt quyết không. Tôi cho rằng hành vi của tôi là cần thiết vì đảng CSVN đã đánh mất lòng tin của dân chúng và để lại quá nhiều sai lầm trong sự lãnh đạo của họ. Thứ hai, xã hội Việt Nam đang xuống cấp. Nhiệm vụ của chúng tôi là phải vực dậy cái xã hội đó, thức tỉnh nhiều người. Tôi là một trí thức. Tôi hiểu được trách nhiệm của mình đối với đất nước này thì tôi làm tròn nghĩa vụ của tôi thôi. Còn chuyện ở tù hay không đối với tôi không quan trọng lắm.

Họ chưa bao giờ cho tôi là khủng bố hết. Nếu họ bắt tôi vì tội khủng bố thì họ sẽ giam tôi 15-20 năm. Còn tôi bị họ bắt về tội “tuyên truyền chống nhà nước XHCNVN”. Và tôi đã lý luận rằng không có cái tội gọi là “tuyên truyền”. Nếu tôi nói sai sự thật thì bắt tôi về tội vu khống, nhưng mà đây tôi đâu có vu khống? Nếu anh bắt người ta về tội “tuyên truyền” thì anh đã giết chết tư tưởng phản biện và bỏ tù một trí thức. Trí thức mà không nói được những suy nghĩ, tư tưởng, tư duy của mình đối với sự mất mát, tổn thất của đất nước thì đâu còn là trí thức. Tôi nói tiếng nói phản biện, sáng tạo thì người ta lại cho tôi tội “tuyên truyền”. Tôi bác bỏ chuyện “tuyên truyền” là không đúng sự thật. Tôi nói đúng sự thật, tôi không nói gì sai. Hỏi tôi có tội không? Tôi không có tội. Hành vi tôi có làm không? Tôi có làm, nhưng tôi không có tội.

Tôi cảm thấy rằng trong 4 năm qua, cái nhìn của đảng CSVN này đối với tôi khác. Hôm nay, tôi nói với chị với tính cách mạnh mẽ, tự tin hơn. Trước đây, đài cũng phỏng vấn tôi, nhưng tôi phải nói lén lút, không dám nói trước mặt mọi người. Nhưng hôm nay, tôi tự tin đứng trước mọi người nói cho họ biết tôi là một lực lượng đối lập với đảng CSVN. Nếu cộng sản không chấp nhận đối lập, đến một ngày nào đó, nó sụp đổ, nó sẽ đè chết hết, nhưng nếu có một lực lượng khác cùng gánh vác thì sự sụp đổ đó ít tổn hại hơn. Chúng tôi làm nhiệm vụ đó. Còn nếu CSVN cho rằng chúng tôi “sai lầm, vu khống, xuyên tạc, nói xấu, tuyên truyền”…, họ có quyền bắt chúng tôi. Bắt là quyền của họ vì trong tay họ có công an, nhà tù, nhưng họ nên nhớ rằng họ bắt tôi cũng không làm thay đổi được cục diện của đất nước Việt Nam và sự sụp đổ của chính họ.

Tôi đã từng cầm súng đi bộ đội chiến đấu. Một điều tôi muốn nói là giới trẻ phải chọn con đường lý tưởng mà đi. Khi đã chọn được rồi, thì phải quyết đi đến cùng và phải cương nghị, không bao giờ thay đổi. Tôi chọn con đường dân chủ là con đường đúng cho đất nước này, và tôi theo đuổi con đường đó. Tôi có thể gặp thất bại, bị ở tù lại, bị ngược đãi, hay bị hành hạ, nhưng tôi cho rằng con đường mình chọn là đúng, mang lại lợi ích cho 86 triệu dân Việt Nam thì tôi vẫn cứ làm. (Theo VOA)
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »

Thời sự đất nước:
"Không thể nghi ngờ, hiểm nguy ngay trước mắt !"


Mấy tuần qua, nhiều sự kiện trong quan hệ Việt - Mỹ và Việt – Trung xảy ra, dẫn đến những phán đoán và nhận định khác nhau, có khi trái ngược nhau.

Có nhận định dễ dãi, hời hợt cho rằng tình hình đã và đang’ thay đổi dồn dập’ theo hướng chính quyền hiện nay đã dám đương đầu cứng cỏi với họa bành trướng và thực hiện một hướng mới thắt chặt quan hệ bè bạn, hợp tác về quốc phòng – an ninh với Hoa kỳ, châu Âu và Asean ; người đưa ra nhận định này còn phán đoán sẽ có nhiều thay đổi dồn dập nữa theo hướng tiến bộ, tôt đẹp và dân chủ (!). Được vậy thì tốt quá ! Nhưng …

Tôi cũng ngờ ngợ điều đó, nhưng còn thận trọng đặt dấu hỏi ‘Bẻ lái chiến lược thật chăng? ‘. Có thể đây là một động tác giả, một biện pháp tình thế, chơi trò bắt cá 2 tay, một tay vẫn liên minh ma quỷ, một tay giả liên minh với phía khác, hòng thoát búa rìu phẫn nộ của đồng bàa, của trí thức đang thức tỉnh, của sỹ quan cựu chiến binh yêu nước…



Tình hình nay đã rõ.

Một loạt hành động có thể gọi đúng tên là bán nước, là phản bội Tổ quốc của một nhóm người trong bộ máy đảng CS và trong bộ máy nhà nước đang diễn ra nhãn tiền, rõ ràng, không sao còn che dấu được. Nhóm này cực kỳ nham hiểu, xảo quyệt, đã và đang lao vào một nước cờ liều, được ăn cả, ngã về không, do mù quáng đánh giá sai tình hình, coi thường nhân dân và công luận, khinh thường ngay cái cơ chế hiện hành.



Vì sao ngay sau khi tiếp thứ trưởng Quốc phòng Hoa kỳ ở Hànội, Nguyễn Chí Vịnh lại sang ngay Bắc kinh, xin gặp bộ trưởng quốc phòng Lê Quang Liệt để tường trình, thanh minh? - Rằng việc tàu quân sự Mỹ cặp bến Việt nam chỉ là thỏa thuận hình thức kỷ niệm 15 năm quan hệ ngọai giao, - rằng đây là theo yêu cầu của phía Mỹ, - rằng chỉ có quan chức điạ phương Việt nam lên thăm tàu Mỹ … Việc gì mà phải thanh minh như thế?



Nghiêm trọng hơn, Vịnh dám đưa ra chính sách 3 không, nói rõ là : Việt nam sẽ không bao giờ tham gia một liên minh quân sự nào ; Việt nam sẽ không là đồng minh quân sự của bất cứ nước nào ; Việt nam sẽ không cho nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt nam, không dựa vào nước này để chống nước kia.



Ai cho phép Vịnh, một thứ trưởng quốc phòng, không có chân trong bộ chính trị, không có chân trong Ban chấp hành trung ương đảng, không có chân trong đảng ủy quân sự trung ương, cũng không hề là đại biểu quốc hội, lại dám khẳng định một đường lối chính trị - ngoại giao - quốc phòng trọng đại như thế? Và đường lối này chưa hề được bàn cãi, quyết định, công bố bởi quốc hội, ngay khi quốc hội chỉ là một công cụ của đảng. Chủ tịch nước, thủ tướng, bộ trưởng ngoại giao và cả đến tổng bí thư đảng CS cũng chưa bao giờ công bố một đường lối chính trị - quốc phòng - ngọai giao mang nội dung như thế. Đằng sau Vịnh là ai? Ai cho phép Vịnh công bố điều ấy? Sao lại công bố trên đất người ta?



Lý do duy nhất chỉ có thể là Vịnh đã nói theo sự mong muốn của bọn trùm bành trướng, theo chỉ thị của nhóm tay sai bọn bành trướng, nhằm tước đi quyền lựa chọn đồng minh khi cần thiết để bảo vệ lãnh thổ của Tổ quốc và cuộc sống an toàn của nhân dân. Vịnh đã dâng bọn trùm bành trướng chiếc dây thừng trói chặt tay dân ta, không còn được quyền tự do hành động khi Tổ quốc lâm nguy, khi gặp quốc nạn thì đành chịu chết, không được kêu cứu ai !



Hãy nghe phản ứng của phía Trung quốc. Ngay sau khi Vịnh cúi đầu khuất phục thiên triều, Trung quốc giở ngay trò cho tầu ngầm cắm cờ dưới đáy biển Đông, ra oai cho thiên hạ biết đây là vương quốc của ta, các nguồn tài sản dầu mỏ, hơi đốt, khoáng sản, hải sản vô tận vùng này là của ta hết. Chưa thấy phản ứng gì của các nhà lãnh đạo ở Hànội. Hay cũng chỉ phản ứng chậm, lấy lệ, vuốt đuôi, nhẹ nhàng. Báo chí bị bịt mồm. Các mạng yêu nước ở nước ngoài bị phá liên tiếp. Một kiểu trói tay, bịt mồm để cho quan thầy bành trướng của chúng tha hồ hoành hành.



Trên Nhân dân Nhật báo Bắc kinh, cây bút bình luận Lý Hồng Mỹ tỏ ra ngạo mạn với lời cảnh cáo : ‘ Quan hệ Trung - Mỹ đang đi tới giai đoạn gay go, bất cứ quyết định thiếu khôn ngoan nào của Việt nam sẽ chỉ làm căng thẳng thêm khi tình hình đã tồi tệ ‘.

Bà Lê Hồng Mỹ còn chua ngoa : ‘ đu giây là nguy hiểm, nếu Việt nam thúc đẩy 2 cường quốc xung đột thì Việt nam sẽ bị thiệt hại trước hết ‘.

Đúng ngày 25-8, báo China Post ở Hồng kông đăng lời đe doạ của Khương Du người phát ngôn của Bộ ngoại giao Trung quốc, rằng : ‘chúng tôi cảnh cáo Việt nam và Nam Hàn đã tập trận chung với Hoa kỳ, làm vậy là không tốt cho sức khỏe của họ ‘ ngụ ý là sẽ ăn đòn, ốm đòn đấy

Khương Du còn láo xược và ngạo mạn khinh thường nhân dân ta, rằng ‘ Việt nam đang làm cho người Trung quốc không hài lòng ; Hà nội có thể đánh giá quá cao khả năng bảo vệ của Mỹ ; nếu Việt nam và Trung quốc giao chiến thì không có hàng không mẫu hạm nào của bất cứ quốc gia nào có thể bảo đảm an ninh cho Việt nam ‘.

Trên đà miệt thị Việt nam, Khương Du lên giọng bĩu môi : ‘ Với nhiều nguy cơ đến từ mọi phía, Việt nam hiện trong tình trạng mong manh như vỏ quả trứng ‘.



Vì sao có những lời lẽ hung hăng, xấc xược đối với nước ta đến vậy. Chỉ vì trên đất ta hiện có một nhóm lãnh đạo bạc nhược, tham nhũng, dấn thân vào con đường phản bội tổ quốc và nhân dân, nên mới bị họ khinh thị đến thế.

Vì sao họ thốt ra những lời thách thức Hoa kỳ, lên án Hoa kỳ, cảnh cáo Hoa kỳ mạnh mẽ như thế? Báo Trung quốc huênh hoang rằng Trung quốc đã đạt tổng sản lượng quốc gia lần lượt vượt Anh, vượt Đức, nay vừa vượt Nhật bản và không bao lâu nữa sẽ vượt Hoa kỳ để trở thành siêu cường số Một của thế giới ; rằng Thế kỷ XXI là thế kỷ của Trung Hoa (!). Nhiều học giả trong các think-tank Mỹ đã bác bỏ thẳng thừng sự ngạo mạn ấy, vì tổng sản phẩm Trung quốc lớn do dân số quá đông, rằng tính sản phẩm theo đầu người, Trung quốc chỉ bằng 1/10 của Mỹ (3.600 US$ so với 38.000 US$), khoảng cách về tiềm lực quân sự giữa 2 nước còn rất lớn, phải 12 năm nữa TQ mới gần bằng tiềm lực Hoa kỳ hiện nay, khi ấy tiềm lực Hoa kỳ đã tiến rất xa. Huống gì Trung quốc gặp hàng loạt thách thức nghiêm trọng về dân tộc, dân chủ, nhân quyền, chênh lệch giàu nghèo, khu vực, môi trường, khoa học, kỹ thuật, giáo dục …còn lạc hậu, lâu mới khắc phục được.



Vì sao phó trợ lý bộ trưởng quốc phòng Hoa kỳ Robert Scher sau khi gặp thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh tại Hànội ngày 17-8 vừa qua lại tỏ ra ’ phấn khởi, lạc quan về quan hệ quân sự - chiến lược giữa 2 nước đang được thắt chặt, nâng cao với nhiều triển vọng ‘, vì

sao đại sứ Mỹ M.Michalak cũng tin rằng ‘ quan hệ quân sự mạnh mẽ giữa 2 nước sẽ đóng góp cho hòa bình, ổn định của khu vực ‘?. Họ không thấy được rõ bản chất của con người mà họ đối thoại cùng những mưu đồ của con người ấy chăng? Hay đó là những lời xã giao thuần túy của các nhà đối ngoại? Và vì sao nữa, khi quan hệ với Việt nam và Asean đang mang nhiều triển vọng, Hoa kỳ lại không cử một đại biểu nào đến Đà nẵng để họp cuộc họp kinh tế của ASEAN mở rộng mới đây nhất?

Ở trong nước, có bạn lo ngại rằng Hoa kỳ chưa hiểu thật rõ nội tình chính trị ở Việt nam, nhất là về một nhóm từ 20 năm nay thực hiện quyết sách « nhất biên đảo » - ngả hẳn về một bên -, dưới chiêu bài ‘làm bạn với mọi nước’, thắt chặt liên minh - đồng chí anh em - đồng minh ưu tiên – quan hệ toàn diện gắn bó 16 chữ Vàng với Trung quốc, dưới chiêu bài ‘không liên minh quân sự, không đồng minh quân sự với ai’.

Hãy nghe nhà ngoại giao lão luyện Dương Danh Dy từng làm việc hơn chục năm ở Bắc kinh cho rằng hiểu cho thật rõ, thật sâu, thật đúng bản chất của chủ nghĩa Đại hán trong cái đầu các nhà lãnh đạo Trung quốc không hề đơn giản, phải là một quá trình lâu dài, quan sát, phán đoán, chiêm nghiệm mới ngộ ra được. Vì họ rất lắm mưu cực thâm, kế cực độc, với những ngón lọc lừa, đe dọa, mua chuộc khi thì tinh vi, khi thì xấc xược ra mặt, thù bạn xoay như chong chóng, thực hư hư thực đan xen, lồng vào nhau…

Hiện nay họ đang thao diễn trên đất nước ta một đại âm mưu, biến Việt nam thành một thuộc địa kiểu mới, một chư hầu kiểu mới, một tay sai kiểu mới, nhằm đi đến khống chế, khuất phục toàn vùng Đông Nam Á có nhiều nước nhỏ, tài nguyên vô tận về khoáng sản, nhiên liệu, hải sản, có đường hàng hải huyết mạch …

Cái sai lầm lớn nhất của bọn Đại hán mới và bọn tay sai là chúng luôn chủ quan, duy ý chí, tham lam, nôn nóng, nghĩ rằng phương Tây đang lâm vào khủng hoảng kinh tế - tài chính và suy thoái, chính quyền B. Obama bị vướng vào chiến tranh, đây là thời cơ vùng dậy. Trong cơn say bành trướng, chúng quên khuấy lời khuyên của Đặng Tiểu Bình là hãy

giấu mình, khiêm nhường trong vài chục năm, chờ cho khi có thực lực hãy khởi sự, cần ‘ nín thở qua sông’, thu nhanh khoảng cách với thiên hạ đã.

Trong cơn liều có tính toán hiện tại ở Việt nam, xem ra bọn trùm bành trướng Bắc kinh và nhóm tay sai đang tính sai, đang phán đoán sai.

Cái sai lớn nhất là bọn chúng coi thường nhân dân ta, những người công dân bình thường, nông dân, lao động, trí thức, văn nghệ sỹ, học sinh …cho rằng đa số nhân dân trong thời « đổi mới » hài lòng với cuộc sống có được cải tiến ít nhiều, không còn nghĩ gì đến việc nước, đến quốc sự, hay có nghĩ thì cũng không dám dấn thân.

Bọn chúng cũng khinh thường cái cơ chế hiện hành, do chúng đã mua chuộc được một số nhân vật cốt cán, khống chế những người còn lại. Khi cần chúng có thể gạt bỏ dễ dàng chủ tịch nước, thủ tướng, phó thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao, các bộ trưởng, các tướng lĩnh, nếu không cúi đầu theo chúng. Vì chúng quen lộng quyền, và đàn áp.

Nguyễn Chí Vịnh không phải không có kẻ đối kháng trong quân đội. Gần 20 viên tướng trong uỷ ban trung ương đảng đều có quá trình, thành tích vượt xa Vịnh, trong khi Vịnh bị đánh giá là ‘không xứng đáng là một sỹ quan sơ cấp’, bị nhiều tướng lĩnh công khai ngăn cản ‘không được cử Vịnh đi dự Đại hội đảng toàn quân’ (sắp họp vào tháng 11 tới ) cũng như Đại hội đảng toàn quốc (tháng 1-2011). Hãy xem, dễ gì mà đại tướng Phùng Quang Thanh, đại tướng Lê Văn Dũng, đại tướng Nguyễn Huy Hiệu, thượng tướng Nguyễn Văn Được, thượng tướng Phan Trung Kiên cũng như các trung tướng Huỳnh Ngọc Sơn, Bùi Văn Huấn, Trương Quang Khánh, Nguyễn Khắc Nghiêm, tất cả đều có chân trong Ban chấp hành trung ương đảng, lại chịu để cho Vịnh vượt qua đầu mình, khi Vịnh đã bị loại dứt khoát tại cuộc họp trung ương cuối của khoá IX năm 2006, dù đã được chính tổng bí thư Nông Đức Mạnh đích thân giới thiệu.

Trong nước, các trí thức quan tâm đến việc nước, các văn nghệ sỹ có công tâm, các đảng viên cộng sản trung thực, các tướng lĩnh, sỹ quan, binh sỹ, cựu chiến binh thật lòng vì nhân dân đang tìm hiểu để xác định một vấn đề hệ trọng. Đó là có một nhóm có thể gọi là ‘nhóm tay sai của Bắc kinh’, nhóm tay trong của bọn bành trướng, nhóm tự nguyện làm chư hầu cho thiên triều, chúng gồm có những ai? Những ai là đầu sỏ, những ai là a dua, theo đóm ăn tàn, ai là cánh tay, bộ hạ tạo nên thế lực của chúng? Đã đến lúc những người yêu nước thương dân xem xét, lập hồ sơ, nhận rõ diện mạo của chúng.



Bọn bành trướng Đại Hán rât thâm, rất độc, chúng không nương nhẹ với bọn tay sai, chúng cố tình làm nhục chúng, dồn chúng vào đường cùng không chút nể nang, thương xót, vì chúng cho rằng càng ở thế cùng, chúng càng bám chân chủ. Những lời mắng mỏ trịch thượng gần đây nhất, dám cảnh cáo, đe doạ nhân dân ta, dù cho Nguyễn Chí Vịnh đã cúi mình thanh minh, chứng tỏ sự thâm độc của chủ và nỗi nhục ê chề của kẻ tôi tớ.



Thời cuộc tháng 9 và tháng 10 tới sẽ đầy những sự kiện nghiêm trọng. Đại lễ Ngàn năm Thăng long sẽ diễn ra từ 1-10 đến 10-10 ; 1-10 lại là ngày quốc khánh Trung quốc. 12-10 họp bộ trưởng quốc phòng các nước ASEAN mở rộng tại Hànội, có bộ trưởng quốc phòng Hoa kỳ và Trung quốc dự. Ngày 20-10 sẽ họp quốc hội cho đến 27-11. Chủ nhiệm Ủy ban quốc phòng – an ninh Lê Quang Bình yêu cầu sẽ nghe báo cáo về tình hình biển Đông, bị chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng gạt đi ‘vì một năm nay không có gì mới’ (!). Nhiều đại biểu tỏ rõ ý định sẽ nhấn mạnh yêu cầu này.

Các đại hội đảng của Hà nội, Sàigòn, của quân đội, ngành công an, các cơ quan trung ương …sẽ họp, cử đoàn đại biểu đi dự đại hội toàn quốc. Những hoạt động của nhóm bán mình cho quỷ dữ sẽ dần dần lộ rõ, không sao còn che dấu được. Đây là thước đo tình trạng sức khỏe của đảng CS, xem trong đảng, lực lượng khoẻ khoắn lành mạnh có tồn tại và vươn dậy ra sao, hay toàn đảng đã suy yếu đến tận cùng, không còn một sức đề kháng nào trước hiểm họa dân tộc.

Đây cũng là thước đo xem trong xã hội ta, lực lượng yêu nước, thương dân, ngay thẳng, trỗi dậy trứớc hiểm họa dân tộc sẽ thể hiện ra sao trong cơn nguy biến của Quê hương, Tổ quốc.



Tôi bỗng nghĩ đến số phận của Lũ 4 tên (Tứ Nhân Bang ) ở Trung quốc, thanh thế lên như diều trong 3 năm Cách mạng Văn hóa điên loạn, có hàng 50 vạn tay sai thân tín, thế mà sau khi ông Mao Trạch Đông chết (ngày 9-9-1976) chưa đầy tháng đã bị tóm gọn từ trên xuống dưới vào đêm 6-10-1976, dù cho Giang Thanh là vợ của Mao, là ủy viên bộ chính trị, cũng như Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên, Vương Hồng Văn uy lực ghê gớm một thời, vẫn bị trói tay, tống giam, ra tòa và cúi đầu nhận tội với nhân dân, đất nước.



Đất nước đang lâm nguy thật sự. Sự phản bội đất nước đang diễn ra rõ ràng, nghiêm trọng.

Những người yêu nước thật lòng, thương dân thật lòng, - trong đảng CS và ngoài đảng CS, trong nước và ngoài nước -, các anh chị em trí thức, văn nghệ sỹ, các nhà báo chân chính, sinh viên, học sinh, tuổi trẻ, nông dân, lao động, nhà kinh doanh tự do … hãy tìm hiểu tình hình, tìm lối ra cho đất nước.

Xin chớ ai bàng quan, thờ ơ, buông trôi thời cuộc, hãy nói lên ý nghĩ của mình và tìm ra hành động chung để cứu dân cứu nước, cũng là cứu mình vậy.


Bùi Tín
Paris 28-8-2010
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 2 guests