Chân Dung Người Lính VNCH

Quân sử, những bài viết, ký sự, ...
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

ĐỨNG VỮNG KHÔNG LÙI

Có lẽ trại Tân Kỳ này trước đây đã xây dựng trên một vạt rừng. Trong sân trại còn một số cây cổ thụ còn sót lại. Ở cuối sân “tập kết” bên “Tây Đức”, trước cửa mấy lán tù có một cây đa cổ thụ. Cụ Nguyễn Du đã nói “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Ở đây không những người buồn, (một lũ tù nhân rạc rài đói cơm thiếu áo xác xơ như một lũ vượn người thời mông muội) mà cây lá cũng buồn theo. Cây gì mà khẳng khiu, trơ trụi, không còn một chút màu xanh, chỉ có những rễ phụ nâu đen rũ xuống, trông giống như một ông già đầu râu tóc bạc đang đứng giơ tay chịu tội giữa trời. Xưa nay cây thường là một biểu tượng thuần hậu của thiên nhiên: cây cho lá cho hoa, cho bóng mát, cho nơi che chở, cho chim ca và gió hát. Ở đây thì ngược lại; cây đa già trơ lá trụi cành đang biểu tượng cho sự tàn bạo của con người và sự lạnh lùng của thiên nhiên khắc nghiệt. Lũ tù nhân chúng tôi ít khi dám ra chơi dưới gốc cây đa. Những cái rễ ngoằn ngoèo nổi lên sần sùi trông giống như một đàn trăn gió đang rình mồi, những hốc tối mò làm liên tưởng đến hang ổ của lũ cáo, chồn, rắn rết, nhưng điều chúng tôi ngại nhất là bên gốc cây đa này nghe nói đã có hơn một người tù treo cổ chết. Người tù treo cổ thường thiêng lắm. Tiếng bình dân gọi là “có hương”. Con ma treo cổ thường dẫn dụ một người nào khác kết liễu cuộc sống giống như mình để oan hồn uổng tử kia được đầu thai kiếp khác.

Hôm ấy vào khoảng cuối tháng 3 năm 1983. Trời dù đã cuối Xuân nhưng cái lạnh miền bán sơn địa vẫn còn buốt giá. Như thường lệ buổi sáng các đội ra sân tập kết ngồi xuống, đợi điểm danh xuất trại đi làm. Chợt một tiếng thét thất thanh vang dậy, phát ra từ cuối sân tập kết, phía cây đa. Mọi người nhìn lên, một bóng người đang đứng trên chạc ba của cây đa trụi lá, vươn cổ ra hò hét: “Tộ cha bây. Bây hại dân hại nước. Bây hại con tao, hại vợ tao. Tộ cha bây, bất nhân, vô hậu...”. Cán bộ trực trại vội vàng đi lại gốc cây đa, giơ tay quát nạt “Anh kia, anh chửi aỉ” - “Tao chửi bây, chưởi tộ cha tụi bây”. Một công an bảo vệ xách carbine chạy tới, kéo “cu lat” loạch xoạch. “Anh kia, xuống ngay”. Một phát súng nổ vang lên; mọi người giật mình nhưng nhìn lại, đó chỉ là phát súng chỉ thiên, bắn dọa... Người đứng trên cây, nhìn kỹ, cổ đã quàng sẵn vào một sợi dây thừng buộc vào một cành cây cao cạnh đó. Người đó nói như thét: “Bắn cho tao một phát đi, tao khỏi thắt cổ”. Cán bộ trực trại giơ tay, anh công an bảo vệ hạ carbine xuống. Người đứng trên cây tiếp tục chưởi bới, tiếp tục hò hét, trong khi cán bộ trực trại hấp tấp đi ra trước sân tập kết, vội vã thổi còi ra lệnh xuất trại gấp. Tù nhân vừa xúc động vừa tê điếng trước phản ứng bất ngờ của một bạn tù. Các đội hôm nay được ra khỏi trại rất mau, rất vội. Trại không muốn các tù nhân ở lại nghe những lời chửi rủa tận từ kia. Anh em xì xào “Ai đấy nhỉ?” - “Nghe như tiếng Th. thiếu tá địa phương quân người Huế hay Quảng Bình, Quảng Trị” - “Đúng hắn rồi còn ai nữa, nghe đâu ít lâu nay hắn bị tâm thần”.

Các đội tù xuất trại hết rồi. Sân tập kết trở lại vắng người, im vắng. Tiếng chưởi rủa của thiếu tá Địa Phương quân Th. vẫn còn róng rả: “Tộ cha bây, bây giết con tao”. Mấy tên làm việc trong trại như đội “nhà cầu” tụi tôi vẫn tiếp tục làm việc nhưng không ngớt băn khoăn, lo lắng cho người bạn tù đang nổi cơn điên loạn. Ông bạn đồng nghiệp nhà cầu, Đại Đức Như L. cho hay “Tội cho anh ta lắm. Anh ta đi tù cải tạo mà con trai mới lớn lên ở nhà lại phải đi ‘nghĩa vụ’ sang Campuchia. Anh vừa nhận tin con trai anh mới chết; chết mà không mang được xác về. Vợ anh ta là cô giáo, nghèo sát ván, ngất đi khi nhận được tin con và từ đó bịnh luôn. Đi làm lương không đủ nuôi con, làm gì có quà cáp cho chồng nữa. Th. lâu nay là con bà phước. Ở nhà vợ anh ta ốm nặng, đứa con gái phải nghỉ học ở nhà nuôi mẹ, nuôi em. Đứa em trai út khốn thay lại bị bệnh tâm thần ngớ ngẩn. Cả nhà bây giờ trông vào một cô con gái mới đâu 15, 16 tuổi. Đêm nằm anh Th. thường ú ớ gọi vợ, gọi con... Anh ta vẫn đi làm được, không ngờ sáng nay anh ta lại phản ứng bất thường như vậỵ..”

Anh Th. vẫn đứng trên cây, vẫn chửi bới, hò hét. Nhưng tiếng chửi bới, hò hét thưa dần vì không còn “đối tượng”. Vào khoảng 9 giờ sáng, trại trưởng Trung tá công an T. mới từ từ đi tới gốc cây đa nói: “Anh Th., có chuyện gì xuống đây tôi giải quyết”. - “Bắn cho tôi một phát đi, tôi không xuống”. Thấy không xong, trại trưởng liền đi vào trong lán tù. Hình như y đi tìm một người nào đó. Tôi được nghe nói là Trung tá công an đi tìm đại úy Biệt Kích Dù Nguyễn Hữu Luyện. Trời đã gần đứng bóng. Anh bạn tù nổi cơn điên vẫn đứng trên cây, cổ quàng sẵn vào một vòng dây thừng oan nghiệt. Chợt có một bóng người cao lênh khênh đi ra đứng dưới gốc cây đa. Đó là Nguyễn Hữu Luyện. Hai người đứng nói chuyện gì với nhau không rõ. Nhưng sau đó người tù nổi cơn điên Th. tháo bỏ cái vòng dây oan nghiệt ra khỏi cổ, và từ từ trèo xuống. Nguyễn Hữu Luyện đỡ người bạn tù bước xuống đất và dìu anh ta vào trong lán. Không biết người thủ lãnh Biệt Kích Dù đã nói những gì, đã làm thế nào để cho người tù khốn khổ kia trở lại với cuộc đời.

o0o

Những ngày tiếp theo đó cả trại Tân Kỳ nín thở theo dõi hậu quả đến với người tù cựu Thiếu tá Địa Phương Quân. Hậu quả đầu tiên là biên chế lại. Tù đội này đổi sang đội kia, từ lán này sang lán khác. Giản bớt khu “Tây Đức”. Cho một số đội sang khu “Đông Đức”. Mỗi lần biên chế là mỗi lần trại phá bỏ những khuôn sinh hoạt tinh thần cũng như vật chất của tù gây dựng được trong những tháng ngày qua. Đội mới, chỗ mới, bạn mới. Cái thân quen vừa tạo lập đã mất đi. Chủ trương của trại tù là luôn luôn bắt tù nhân ăn ở trong một tình trạng tạm thời, nghi ngờ, bất trắc.

Sau vụ biên chế này, tôi vẫn làm công tác nhà cầu nhưng không ở cùng lán với Nguyễn Hữu Luyện nữa. Ba ngày sau, một chuyến xe GMC (lấy được của miền Nam) chở một số tù mới đến trại Tân Kỳ. Tôi vội chạy ra xem có gặp lại người quen? Tưởng bạn tù nào xa lạ, hóa ra toàn là bạn cũ. Đây là chuyến xe chở một số các linh mục tuyên úy Công giáo từ trại Bình Đà ngoài Bắc đổi trại vào miền Trung. Các bạn tù linh mục này năm ngoái tháng 4, 1982 đã từ biệt tụi tôi ở trại Thanh Phong ra Bắc. Tôi gặp lại bạn cũ, đội trưởng đội rau kiêm đội trưởng văn nghệ nghiệp dư, linh mục Nguyễn Quốc T. Chúng tôi ôm lấy nhau, linh mục Nguyễn Quốc T. nói “Xã hội tù xoay chuyển vòng tròn. Mình lại gặp nhau ở đây, mừng quá”.

Nhưng cái mừng của người bạn cũ không được lâu. Ngày hôm sau (tôi nhớ là ngày 23 tháng 3, 1983), chuyến xe GMC lại chở một số tù từ trại Tân Kỳ đi nơi khác. Trong số 33 người tù di chuyển kỳ này có tên tôi. Chuyến xe đi vội vã. Ngồi trên xe chật cứng, tôi giơ một bàn tay vẫy vẫy. Từ biệt trại Tân Kỳ, từ biệt những người bạn tù đã cùng tôi trải qua một thời kỳ gian khổ. Tôi nhìn thấy trong lán tù ở lại có những bàn tay vẫy theo. Trong số những bàn tay tiễn biệt kia, biết đâu chẳng có bàn tay của người tù kiệt xuất Nguyễn Hữu Luyện. Tôi không được gặp lại các anh từ ngày ấy, đến nay thấm thoát đã 12 năm rồi. Xin những anh em tù cải tạo nào từng có mặt tại trại Tân Kỳ đầu năm 1983, hiện giờ ở hải ngoại tình cờ đọc đến những dòng này, nếu các anh được biết tin gì về người bạn tù khốn khổ của chúng ta Thiếu tá Th. Địa Phương Quân xin các anh vui lòng cho tôi được biết.

Đặc biệt về người tù kiệt xuất Nguyễn Hữu Luyện tôi lúc nào cũng nhớ anh, cũng cảm phục anh, nhưng có một điều tôi hứa với anh mà tôi không giữ được tròn. Một buổi sau khi anh cho tôi xem tấm hình con gái anh bữa lấy chồng, đang cúi lạy trước chân dung người cha đã khuất (là anh) tôi mới nói với anh rằng “Sau này nếu có dịp tôi sẽ kể, sẽ viết ra chuyện này”. Anh nắm tay tôi mà nói: “Thôi đừng anh ạ, mình xét ra cũng chỉ làm nhiệm vụ của một người lính tình nguyện gia nhập cuộc chiến tranh bí mật. Quy luật của nó là thế thì mình đành phải chịu, thưa anh”. Nhớ lời nhắn nhủ của anh, nên mấy năm nay ở nước ngoài, có dịp viết đôi ba bài báo tôi đã muốn lắm, muốn được kể chuyện người tù kiệt xuất là anh và đồng đội của anh, những anh em Biệt Kích Dù bất khuất. Nhưng tôi cứ đắn đo e ngại mãi. Bây giờ tôi được biết rõ là anh đã tới Hoa Kỳ được một thời gian và anh đang đứng ra lo lắng cho một số anh em Biệt Kích Dù đồng đội của anh làm thủ tục xuất ngoại. Chuyện Biệt Kích Dù trên 30 năm cũ tưởng đã nằm im trong cát bụi lãng quên bây giờ đang được mở lại hồ sơ. Cho nên bữa nay tôi mới dám viết ít dòng này với tư cách của một người bạn tù cùng trại nói ra những điều tai nghe mắt thấỵ...

Phan Lạc Phúc
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

"Tâm Tư" Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu

NGUYỄN XUÂN NGHĨA

Image
Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu và TT Hoa Kỳ Richard Nixon.


Vào thời điểm này, nhiều người Việt Nam lại có thể trông đợi vào Hoa Kỳ như một sức mạnh có khả năng quân bình tương quan lực lượng ngoài Biển Đông. Có thể lắm, nếu đó là vì quyền lợi của Hoa Kỳ. Trong khi chờ đợi, hãy nhìn lại trang sử cũ, khi Hoa Kỳ dùng Việt Nam làm bàn đạp để nói chuyện với Trung Quốc. Rồi cho bàn đạp này tuột xuống biển đỏ...

Sách mới của Giáo sư Nguyễn Tiến Hưng, cuốn “Tâm Tư Tổng Thống Thiệu” có thể giúp cho một cái nhìn về giai đoạn đó.

Xin nhắc lại rằng ngay từ cuối năm 1967 – trước khi tranh cử Tổng thống năm 1968 – ông Richard Nixon đã viết trên tờ Foreign Affairs (số tháng 10) rằng: “Về lâu dài [Hoa Kỳ] không thể mãi mãi để Trung Quốc nằm bên ngoài cộng đồng các quốc gia để nghiền ngẫm sự hoang tưởng, ôm ấp hận thù và đe dọa các nước láng giềng.”

Sau khi đắc cử, ông thận trọng chuẩn bị việc giải vây và kéo Trung Quốc ra khỏi tình trạng bế quan toả cảng, để sẽ đứng cùng phe với Hoa Kỳ. Mục đích của Nixon là giải toả tình trạng cô lập của quốc gia đông dân nhất địa cầu – khi đó có hơn 500 triệu dân – hầu lập thế liên minh Mỹ-Hoa trong mối quan hệ tay ba giữa Hoa Kỳ, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Liên bang Xô viết.

Ông thành công mỹ mãn, với cái giá là đẩy một đồng minh là Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) ra khỏi Liên hiệp quốc.

Còn đồng minh kia, “tiền đồn thế giới tự do” là Việt Nam Cộng Hoà, thì bị đẩy xuống biển. Câu chuyện ấy khiến người ta cần nhìn lại để còn nhìn tới.

Là Giáo sư danh dự về kinh tế học tại Howard University ở thủ đô Hoa Kỳ, ông Nguyễn Tiến Hưng từng làm Tổng trưởng Kế hoạch của Việt Nam Cộng Hoà. Khi miền Nam hấp hối, ông được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trao cho các mật thư cam kết của Tổng thống Nixon và phái đi vận động viện trợ của Hoa Kỳ mà không thành.

“Có lẽ đây là lần đầu mà một cách gián tiếp độc giả có thể nhìn ra tâm tư của ông Thiệu”

Tỵ nạn từ năm 1975, ông vừa dạy học vừa thu thập các chứng liệu về mối quan hệ giữa Việt Nam Cộng Hoà với Hoa Kỳ, và đã xuất bản ba cuốn sách. Thứ nhất là cuốn “The Palace File”, xuất bản năm 1986, được Cung Thúc Tiến dịch sang Việt ngữ thành “Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập”, kể lại sự bội tín của Hoa Kỳ với miền Nam tự do.

Cuốn thứ hai xuất bản năm 2005, “Khi Đồng Minh Tháo Chạy”, nói rõ hơn về những tình tiết của sự bội phản.

Cuốn thứ ba sẽ ra mắt ngày 16 tháng 5 này tại California nói về khung cảnh lịch sử đó và về tâm tư của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Mỗi cuốn lại cung cấp thêm những văn kiện đã được Hoa Kỳ giải mật hoặc được tác giả sưu tập và kết hợp thành một chuỗi dài của thảm kịch.

Cuốn “Tâm Tư Tổng thống Thiệu”, dày hơn 700 trang với rất nhiều tài liệu mới, được Thư khố Hoa Kỳ giải mật sau này và đặc biệt là 150 trang tài liệu Anh ngữ để giới trẻ tham khảo.

Riêng tựa đề cuốn sách cũng khiến tác giả đắn đo vì Nguyễn Tiến Hưng vừa muốn trình bày những dữ kiện lịch sử về miền Nam, về Tổng thống Thiệu và về chính sách Hoa Kỳ với Việt Nam, nhưng cũng đề cập tới tâm lý và con người của ông Thiệu, một nhân vật ông có nhiều chia sẻ riêng tư trước khi ông Thiệu tạ thế vào năm 2001.

Bố cục cuốn sách gồm bốn phần và một lời kết về thân phận Việt Nam.

Trong phần một, tác giả trình bày một số diễn tiến dẫn tới việc Tổng thống Thiệu phải từ chức và rời Việt Nam.

Độc giả có dịp tìm hiểu những uẩn khúc trong các quyết định rút quân, nào Đà Nẵng, Huế, Pleiku, hay những hy vọng bừng sáng sau trận Xuân Lộc, rồi những vận động bên trong để cố cầm cự cho tới khi miền Nam thực tế bị bức tử. Rồi bị giao nộp gần như nguyên vẹn cho Cộng sản Bắc Việt.

Phần hai mới truy nguyên lên chính sách của Hoa Kỳ tại Việt Nam từ thời Tổng thống Lyndon Johnson đến Richard Nixon. Lồng bên trong là những tính toán của Hoa Kỳ với Trung Quốc.

Con đường đối thoại giữa Hoa Thịnh Đốn và Bắc Kinh thực ra mở đầu tại Việt Nam và Hoa Kỳ đóng cửa Sài Gòn để mở cửa vào Bắc Kinh.

Kết luận là bốn năm hoà đàm để đưa tới Hiệp định Paris năm 1973 chỉ là hư vô – vô ích.

Trong phần ba, tác giả Nguyễn Tiến Hưng tập trung vào con người Nguyễn Văn Thiệu, một nhân vật đa nghi và những nguyên nhân sâu xa của sự đa nghi, đặc biệt với Hoa Kỳ, ông Thiệu đã dự tính rồi lại bỏ ý định viết hồi ký. Ông không quan tâm đến dư luận Mỹ, cũng chẳng muốn phân bua giải thích với người Mỹ về những lập luận hàm ý đổ lỗi cho Việt Nam Cộng Hòa và bản thân mình. Nhưng ông chú ý đến dư luận của người Việt Nam, nhất là của các chiến binh trong quân đội, và muốn giãi bày cảm nghĩ của mình với họ. Có lẽ đây là lần đầu mà một cách gián tiếp độc giả có thể nhìn ra tâm tư của ông Thiệu.

Phần thứ tư có thể khiến độc giả tại miền Nam ngậm ngùi vì đề cập tới những thành tựu của Việt Nam Cộng Hoà và những cơ hội bỏ lỡ cho một nước Việt Nam phú cường và tiến bộ.

Có lẽ đây là một niềm an ủi muộn màng: ông Thiệu không toại nguyện, phải sống lưu vong tại Anh rồi tại Mỹ. Ông lâm bệnh tại Hawaii ngay khi Mỹ bị vụ khủng bố 9-11. Sau khi phi trường Boston được giải tỏa sau vụ khủng bố thì ông mới được trở về nhà. Và sau đó tạ thế....

Tổng kết lại về con người Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cùng số phận của miền Nam, tác giả Nguyễn Tiến Hưng đưa ta về hiện tại, về đối sách của Hoa Kỳ tại Iraq hay Afghanistan…

Đây là một tài liệu hấp dẫn và hữu ích cho độc giả hiểu thêm về Hoa Kỳ và có một cách đánh giá về ông Nguyễn Văn Thiệu, một người mà thảm kịch cũng phần nào là số phận bi thảm của miền Nam. -Nguồn BBC.
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

Ông Sáu Lèo Nguyễn Ngọc Loan
HoangHaiThuy

Image
Tướng Nguyễn Ngọc Loan xử bắn tại trận tên Việt Cộng ác ôn từng giết nhiều người trong trận Việt Cộng đánh vào Sài Gòn Tết Mậu Thân.

Hình được trích trong quyển NAM: A Photographic History của 2 tác giả Leo J. Daugherty và Gregory Louis Mattson.

Đây là lời dưới hình bằng tiếng Mỹ:
The head of South Vietnam’s National Police, Brigadier General Nguyen Ngoc Loan, executed a capture Viet Cong officer in a Saigon street. Loan had just learned that the Viet Cong had killed a fellow police officer and his completed family. Captured on film and in this photograph, this horrifyng image shocked public opinion in the United States, bringing the atrocities of the war home to them to become a matter of public interest. This image, taken by AP photographer Eddie Adams, earned the photographer a Pulitzer Prize in 1969.

Phỏng dịch: Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tổng Giám Đốc Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia Vịêt Nam, xử tử một tên Việt Cộng bị bắt trong một đường phố ở Sài Gòn. Tướng Nguyễn Ngọc Loan vừa mới biết tên Việt Cộng đã giết một sĩ quan cảnh sát và giết tất cả vợ con ông sĩ quan. Được ghi lên phim, và trên bức hình này, hình ảnh ghê rợn trong hình làm công luận Hoa Kỳ xúc động, bức hình cho dân Mỹ thấy cảnh tàn ác của chiến tranh và làm họ chú ý đến cuộc chiến Việt Nam. Bức hình do Eddie Adams, Phóng viên Nhiếp Ảnh của AP (Associated Press) chụp, đã làm cho Eddie Adams được Giải Pulitzer năm 1969.
Image
Trang 574, Tập Ảnh NAM, in bức hình thứ hai của Tướng Nguyễn Ngọc Loan. Trong hình, trước mặt ông Tướng là bà Nguyễn Ngọc Loan. Đây là lời tiếng Mỹ đăng dưới hình:

The former South Vietnamese National Police Chief Nguyen Ngoc Loan with his wife in the burger, pizza, and Vietnamese restaurant he managed in Burke, Washington after escaping Vietnam. Honest Vietnamese officials and soldiers settling in the U.S. were often forced to take quite menials jobs as unlike others, they were innocent of corruption and therefore had no money waiting in overseas accounts.

Phỏng dịch: Ông Nguyễn Ngọc Loan, Cựu Tổng Giám Đốc Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam, với bà vợ ông trong một tiệm burger, pizza và hàng ăn Việt Nam ông bà mở ở thị trấn Burke, gần Washington D.C. Những viên chức và quân nhân Việt Nam lương thiện định cư ở Hoa Kỳ thường phải làm những công việc tay chân không như một số người Việt khác. Những người Việt lương thiện ấy không tham nhũng, không thối nát nên họ không có tiền để sẵn trong những trương mục ngân hàng ở nước ngoài.

Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ tưởng niệm Tử Sĩ Trận MẬU THÂN

DALLAS, Texas — “Almighty Father, we are gathered here today to celebrate and honor the brave warriors who served in Vietnam and who fought to bring us victory during The Tet Offensive. Bless all who served or who died to protect our nation and its values, founded on the bedrock of Thy Word. Bless and reward their spouses, widows and children.,”

Đó là lời cầu nguyện của Mục sư – Cựu Chiến Binh Marcus Evans tại Bệnh viện VA North Texas Health Care System của Hội Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ tại thành phố Dallas, Texas trưa Ngày Mồng Ba Tết Bính Tuất, tức Thứ Ba 31 Tháng Giêng năm 2006, để vinh danh chiến công của các Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa trong trận chiến Tết Mậu Thân. Mục sư xin Đấng Toàn Năng ban phúc lành cho những chiến binh còn sống, cho những người vợ, những quả phụ và con cháu của những chiến binh đã hy sinh trong trận đánh xẩy ra 38 năm trước.
Tôi, một người Việt mất nước sống buồn ở xứ người, đọc bài báo tưởng niệm, vinh danh các Cựu Chiến Binh Chiến Tranh Việt Nam với niềm ngậm ngùi và kiêu hãnh.
Ngậm ngùi vì 38 năm sau trận đánh những chiến binh mới được vinh danh, kiêu hãnh vì trong đời tôi, tôi được thấy ngày người thế giới sáng mắt, sáng lòng, nhìn thấy sự thật là Quân Đội Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, và Quân Đội Hoa Kỳ, “đã không thua” trong Chiến Tranh Việt Nam, những hy sinh máu xương của những chiến binh Việt, Mỹ trên đất nước Việt Nam không phải là vô ích. Vì những hy sinh ấy Chủ nghĩa Cộng Sản bị tiêu vong, mãi mãi tiêu vong, ngàn ngàn triệu triệu kiếp không bao giờ bọn đảng viên cộng sản còn có thể làm người thế giới đau khổ, đọa đầy. Trận Chiến Tranh Việt Nam góp một phần sức công phá làm cho cái gọi là Liên Xô Thành Trì Vô Sản Quốc Tế của bọn Nga Cộng sụp đổ tan tành, làm cho nhân dân các nước Đông Âu có thể vùng lên đập phá những gông cùm cộng sản, làm cho những tượng đồng, tượng đá, tượng gỗ, tượng xi-mo Lê-nin, Sịt-ta-lin bị kéo đổ, hạ xuống, cưa đầu, kéo ra cho nằm ở bãi rác.
Trong những đêm cuối năm, ở xứ người Kỳ Hoa Đất Trích, tôi đọc những bài viết về Trận Tết Mậu Thân và những người dự trận đánh ấy.
Mời quí vị đọc bài viết về Cố Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan, đăng trong:
CON ONG. Bán Nguyệt San ấn hành ở Houston, Texas. Số 179. Tháng 2, 2006. Bài “Đón Xuân này tôi nhớ Xuân xưa.” Người viết Cao Hồng Lê.

Sáng Mồng 2 Tết Mậu Thân, Trung Tâm Hành Quân Bộ Tổng Tham Mưu họp, Tướng Nguyễn Ngọc Loan thuyết trình về tình hình chiến sự, Tướng Nguyễn Cao Kỳ, bay trực thăng, tới họp..

Sau Tướng NN Loan là phần thuyết trình của Đaị Tá Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô. Đại Tá nói tới một tin mà ở Trung Tâm Hành Quân Bộ Tổng Tham Mưu nhiều người đã nghe nói. Đó là tin Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp Binh của ta ở Gò Vấp bị địch tấn công, quân ta phản công mạnh nên bọn VC đã phải tháo lui. Kho Đạn Gò Vấp bị một tiểu đoàn đặc công VC đánh vào. Đúng lúc bọn VC kéo vào Kho Đạn thì vị sĩ quan Trực Kho Đạn cho phát động hệ thống phá hoại. Kho đạn nổ tung, cả một tiểu đoàn đặc công VC chết tan xác. Ông Trung Úy Quân Cụ Trực Kho Đạn, người cho Kho Đạn phát nổ, bị sức ép của hàng ngàn tấn đạn làm cho miệng, mũi, tai trào máu, khó lòng sống sót, dù ông được tải thương về ngay Tổng Y Viện Cộng Hòa cứu cấp. Nghe nói đến đây, tự nhiên Tướng Loan tỏ vẻ khác lạ, ông đứng lên, nói:

- Ê! Kỳ! Cho “moa” mượn trực thăng “moa” bay xuống Gò Vấp. Muời phút “moa” về liền!

Không đợi Tướng Kỳ trả lời, Tướng Loan đi ngay ra khỏi phòng. Đaị Tá Trưởng Phòng 3 Bộ Tổng Tham Mưu, chạy theo, nói với:

- Thiếu Tuớng! Cho tôi gửi một người theo ông.

Ông Đại Tá đưa cho tôi cái máy Truyền Tin HT1, máy to, nặng nhưng cách xử dụng cũng giống như cái hand phone bây giờ. Ông nói với tôi:

- “Toa” chịu khó đi theo ông Sáu Lèo, coi tình hình ở đó ra sao, có gì gọi về cho “moa” biết ngay.

Chuyện được sai đi cấp kỳ như vậy đối với tôi đã quá quen. Ông Đại tá là niên trưởng Võ Bị của tôi, tôi đã làm việc dưới quyền ông lâu ngày rồi, tôi cầm ngay cái máy truyền tin, chạy theo Tướng Loan ra phi cơ trực thăng. Chỉ 2 phút sau trực thăng đáp xuống sân Kho Đạn Gò Vấp. Ở đó một Đaị Đội Dù đã tái chiếm từ hôm qua. Đạn trong kho đã nổ hết. Xác bọn VC tan tành thành những mảnh thịt xương vụn, súng AK gẫy còng queo, rải rác khắp nơi.

Sau khi xem Kho Đạn, Tướng Loan đi sang Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp cạnh đó. Trụ sở Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp không bị tổn hại gì nhiều, ngoài một lổ hổng lớn do đạn SKZ phá, nhưng VC không vào được trong Trụ sở vì Binh sĩ Thiết Giáp tập trung hoả lực bắn vào bít lỗ trống gọi là “Đột Phá Khẩu của VC”. Các đơn vị xe tăng đều đi đánh giặc xa cả, bao nhiêu lực lượng binh sĩ ở căn cứ đều tập trung bảo vệ Bộ Chỉ Huy, thành ra việc phòng thủ Traị Gia Binh Thiết Giáp ở ngay bên cạnh Bộ Chỉ Huy không được vững mạnh, bọn VC đã xông vào Trại Gia Binh, bắn giết một số vợ con binh sĩ ta.

Một Trung Úy Thiết Giáp đưa Tướng NN Loan vào Trại Gia Binh để ông Tướng thấy cảnh vợ con binh sĩ ta bị VC sát hại. Sau khi đến thăm một số nhà binh sĩ có người bị VC giết, nhiều xác người chưa được mang đi, còn quàn tại chỗ, Tướng Loan nói ông có người bạn cùng khóa là Đại Tá Tuấn, Binh Chủng Thiết Giáp, đã giải ngũ nhưng không có nhà riêng ở ngoài thành phố, nên cả gia đình vẫn ở trong Trại Gia Binh này. Ông bảo ông Trung Úy Thiết Giáp đưa ông tới nhà Đại Tá Tuấn. Tôi đi theo đến một hầm trú ẩn. Hầm này vốn là cái xác của chiếc xe M113 đã phế thải, Đại Tá Tuấn xin về đặt bên cạnh nhà, đắp thêm bao cát bên ngoài, cho vợ con ông làm hầm tránh pháo kích của bọn VC.

Khi mở cửa hầm ra thì… tôi rởn tóc gáy trước cảnh tôi nhìn thấy: Cả gia đình Đại Tá Tuấn vẫn còn nằm trong hầm. Máu ngập cao cả chục phân tây, kín cả cái sàn xe thiết vận xa phế thải. Trong vũng máu là 8 xác chết, đủ cả đàn ông, đàn bà, trẻ con, người nào cũng bị chém đầu lìa khỏi cổ. Cả đến đứa cháu ngoại, mới 3 tuổi của Đại tá Tuấn về ăn Tết với ông Ngoại cũng bị VC chặt đầu.

Tướng NN Loan đứng nhìn thảm cảnh. Ông lặng người, không nói được lời nào! Rồi ông đứng nghiêm, giơ tay chào vĩnh biệt gia đình Đại Tá Tuấn.

Trên trực thăng bay trở về Bộ Tổng Tham Mưu, Tướng Loan, mặt tái xám, hai mắt ông đỏ ngầu. Ông chỉ nói một câu mà, đến nay gần 40 năm, tôi còn nhớ:

- Đ.. Cụ thằng nào từ nay bắt được Việt Cộng còn cho nó làm tù binh.

Về đến Bộ Tổng Tham Mưu, Tướng Loan không vào Trung Tâm Hành Quân, ông lên xe jeep đi ngay đến chỗ có VC. Phần tôi, tôi vào phòng báo cáo với các vị đang họp những gì tôi thấy ở Kho Đạn Gò Vấp và ở Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp. Còn xúc động vì những hình ảnh ghê rợn, thảm khốc nên tôi nói lập cà lập cập, không rõ ràng chút nào. Đaị Tá C, Trưởng Ban 2 của Trung Tâm Hành Quân hỏi tôi có chụp được tấm hình nào không? Khi biết tôi không đem theo máy ảnh, ông cho nhân viên của ông đi Gò Vấp chụp hình ngay.

Không biết những tấm hình đó bây giờ ở đâu? Nếu có những tấm hình đó bây giờ thì đó là những chứng tích chứng tỏ sự bạo tàn ghê rợn của bọn cán binh CS khi chúng vào được một trại gia binh của Quân Đội ta ở Sài Gòn trong trận Tết Mậu Thân.

Hai ngày sau, khi Lực lượng Cảnh Sát Dã Chiến đánh phá một hang ổ của VC ở trong chùa Ấn Quang, bắt sống được ở đây tên Thượng tá VC chỉ huy cánh quân đánh vào Kho Đạn Gò Vấp. Sau khi hỏi cung sơ qua, binh sĩ ta trói tay nó, dẫn giải về traị tù binh. Đọc đường tên VC đó gặp Tướng Loan. Và cái gì đã xảy ra thì cả thế giới đều biết do người phóng viên nhiếp ảnh Mỹ chụp được tấm hình giật gân Tướng NN Loan dí súng vào đầu tên VC mặt hung ác, ngu đần, bận áo sơ-mi ca-rô. Nhờ tấm hình này mà người phóng viên Mỹ nổi danh. Cũng vì cái hình này mà Tướng Loan đã bị một số người Mỹ chụp cho cái mũ “Killer”. (.. .. .. )

Khi là Tổng Giám Đốc Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia, là cái chỗ “Ho ra Bạc, Khạc ra Tiền”, Tướng NN Loan không bị báo chí thời đó, và ngay cả bây giờ, cho tên vào Băng Tham Nhũng Đệ Nhị Cộng Hòa. Việc ông xử tử tại trận tên VC, như ông nói: “Tôi làm nhiệm vụ của tôi..” thì đúng quá còn gì nữa. Nghe nói quí vị thân nhân của Tướng NN Loan đã phải chịu nhiều khổ tâm vì người ta xét đoán lầm ông Tướng qua bức hình ông xử tử tên VC trong trận Tết Mậu Thân. Xin quí vị thân nhân của Tướng Nguyễn Ngọc Loan coi bài tưởng niệm này là “Một Vòng Hoa Muộn, Một Nén Hương Thêm” cầu chúc anh hồn Cố Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan yên nghỉ nơi miền an lạc; xin Bà Quả Phụ Nguyễn Ngọc Loan nhận cho sự kính trọng Cố Thiếu Tướng của tôi, một tên lính bại trận mà không chết, và sự phân ưu muộn màng của tôi với quí gia đình.

Cao Hồng Lê
tiendung
Posts: 884
Joined: Tue Jun 19, 2007 7:47 am
Location: Paris
Contact:

Post by tiendung »


Image

Khi Bài Hát Trở Về

Trần Trung Đạo
Nếu phải xếp hạng những bài hát được sinh ra và lớn lên cùng với thăng trầm của đất nước, với thao thức của thanh niên, sinh viên, học sinh, với tâm trạng của những người lính trẻ trong cuộc chiến tranh tự vệ đầy gian khổ ở miền Nam trước đây, tôi tin, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ của nhạc sĩ du ca Nguyễn Đức Quang sẽ là một trong những bài ca được xếp hàng đầu.

Không giống như một số hành khúc quen thuộc trong giới trẻ trước 1975 như Dậy Mà Đi của Nguyễn Xuân Tân, Tổ Quốc Ơi Ta Đã Nghe của La Hữu Vang thiết tha, mạnh mẽ nhưng chỉ giới hạn trong các phong trào sinh viên tranh đấu và ngay khi ra đời đã bị Đảng sử dụng cho mục đích tuyên truyền trong các trường đại học, các đô thị miền Nam, hay Việt Nam Việt Nam của Phạm Duy chan chứa tình dân tộc, kêu gọi người người thương mến nhau nhưng thiếu đi cái hùng khí, sôi nổi của tuổi trẻ, Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ của Nguyễn Đức Quang không dừng lại ở nỗi đau của đất nước mà còn nói lên cả những bi thương, công phẫn, thách đố của tuổi trẻ Việt Nam trước những tàn phá của chiến tranh và tham vọng của con người. Trong vườn hoa âm nhạc Việt Nam, Việt Nam quê hương ngạo nghễ nổi bật lên như một biểu tượng cho khát vọng của một dân tộc đã vượt qua bao nhiêu gian nan khốn khó để tồn tại và vươn lên cùng các dân tộc khác trên mặt đất nầy.

Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn
Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang
Lê sau bàn chân gông xiềng của thời xa xăm
Đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loang xoang.

Lời nhạc của Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ tương đối khó nhớ nhưng nhờ cách sử dụng ngôn ngữ trẻ trung, mạnh mẽ, tượng thanh, tượng hình như “tiếng cười ngạo nghễ”, “xích kêu loang xoang”, “trên bàn chông hát cười đùa vang vang” hay “Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân trời” đã làm cho Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ trở thành độc đáo, không giống như những bài ca yêu nước khác với những ý tưởng quen thuộc và lời ca phần lớn là lập lại nhau. Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ đẹp tự nhiên như một đoá lan rừng, không mang màu sắc chính trị, không nhằm cổ võ hay biện minh cho một chủ nghĩa nào, không cơ quan nhà nước nào chỉ đạo thanh niên sinh viên học sinh phải hát và bài hát cũng chẳng nhằm phục vụ lợi ích riêng của chính quyền, tôn giáo hay đảng phái chính trị nào.

Trước 1975, từ thành phố đến thôn quê, từ các trường trung học tỉnh lẻ đến đại học lớn như Huế, Sài Gòn, từ các phong trào Hướng Đạo, Du Ca đến các tổ chức trẻ của các tôn giáo như Thanh niên Công giáo, Gia đình Phật tử, từ các quân trường Đà Lạt, Thủ Đức, Quang Trung, Nha Trang đến các tổ chức, đoàn thể xã hội từ thiện đều hát Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ.

Sau 1975, bài hát theo chân hàng trăm ngàn sĩ quan và viên chức miền Nam đi vào tù. Nhiều hồi ký, bút ký kể lại Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ đã được hát lên, kín đáo hoặc cả công khai, ở nhiều trại tù khắp ba miền đất nước. Trong tận cùng của đói khát, khổ nhục, đớn đau, Việt Nam quê hương ngạo nghễ đã hoá thành những hạt cơm trắng, hạt nếp thơm nuôi sống tinh thần những người lính miền Nam sa cơ thất thế.

Những năm sau đó, bài hát, như tác giả của nó và hàng triệu người Việt khác lên đường ra biển tìm tự do. Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ lại được hát lên giữa Thái bình dương giông bão, hát lên ở các trại tị nạn Palawan, Paula Bidong, Panat Nikhom trong nỗi nhớ nhà, hát lên ở Sungai Besi, White Head trong những ngày chống cưỡng bách hồi hương, hát lên ở San Jose, Santa Ana, Boston, Paris, Oslo, Sydney trong những cuộc biểu tình cho tự do dân chủ Việt Nam, hát lên ở các trại hè, trại họp bạn Hướng Đạo, các tổng hội sinh viên Việt Nam tại hải ngoại.

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang, trong buổi phỏng vấn dành cho chương trình Tiếng Nói Trẻ đã kể lại câu chuyện ra đời của Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ trong âm nhạc Việt Nam: “…Thế bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ cũng vậy, nó không phải là một bài ca tôi nghĩ là quá lớn, nhưng lúc bấy giờ khi tôi kết thúc tập Trường Ca vào năm 1965, cuối 1965 hay đầu 1966 gì đó, khoảng thời gian đó, 10 bài trường ca, những bài như Nỗi buồn nhược tiểu, Tiếng rống đàn bò, Lìa nhau, Thảm kịch khó nói v.v. những bài nói về đất nước của mình rất là khổ sở, tôi nghĩ nên kết nó bằng một bài hát có tiếng gọi hùng tráng và tha thiết hơn. Thành ra tôi viết bài Việt Nam quê hương ngạo nghễ một cách rất là dễ dàng. Tất cả những ý đó tôi đem vào hết trong bài hát đó để nó vượt qua cái khốn khó, vượt qua cái quê hương nhỏ bé, nhược tiểu mà trở thành một nước to lớn, và lòng người cực kỳ dũng mãnh.

Viết xong bài đó tôi nghĩ chỉ kết thúc tập Trường Ca mà thôi, không ngờ về sau càng ngày đi các nơi càng thấy nhiều người ưa thích bài đó, có lẽ đáp được ước vọng của nhiều người, tôi nghĩ tiếng gọi đáp ứng đúng được tiếng của nhiều người, không riêng gì giới trẻ đâu, cả người lớn tuổi ở các hội đoàn về sau này, rồi đi vào trong quân đội, đi rất nhiều nơi. Thành ra, tôi cho đó là một bài hát tự nó trưởng thành nhưng khi viết tôi chỉ đúc kết cho tập Trường Ca lúc đó mà thôi.”

Thật đơn giản và tự nhiên như thế. Không một ông bộ trưởng Bộ Chiêu Hồi nào đặt hàng hay một ông tổng ủy trưởng Dân Vận nào chỉ thị anh phải viết. Anh viết không phải để thi đua sáng tác hay mong mang về giải thưởng, huân chương. Trong tâm hồn của một nghệ sĩ chân chính, tình yêu nước bao giờ cũng là sự thôi thúc tự nguyện. Anh viết Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ để kết thúc tập trường ca của riêng anh nhưng cũng nối tiếp tập trường ca lớn hơn của đất nước.

Sau ba mươi năm, nhiều nhạc sĩ, ca sĩ đã trở về qua nhiều ngã, trong nhiều tư cách khác nhau, một số tình ca sáng tác trước 1975 đã được nghe lại trong nước, nhưng đây là lần đầu tiên một bài hát đã về lại quê hương qua ngã của trái tim, trở về trong vòng tay nồng ấm của tuổi trẻ Việt Nam.

Bất ngờ và cảm động, một buổi sáng tuần trước, khi đi dạo một vòng qua các blog Việt ngữ, tôi bắt gặp không chỉ những mẩu tin nóng viết vội vàng trên đường phố, những đoạn phim biểu tình vừa mới đưa lên YouTube, những tấm hình ghi lại cảnh xô xát giữa đồng bào, sinh viên với công an, nhưng còn được nghe lại bài hát quen thuộc Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ. Tôi cảm nhận qua lần gặp gỡ đó một niềm vui chung khi có một bản nhạc mà các em sinh viên Việt Nam ở California, Washington DC, Oslo, Paris, Hà Nội, Sài Gòn cùng hăng say hát trong những cuộc biểu tình chống Trung Quốc bành trướng bá quyền mà không cảm thấy ngần ngại, nghi ngờ, xa cách.

Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người
Nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi
Nụ cười xa vời nụ cười của lòng hờn sôi
Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian.

Trong số một trăm em đang hát trong nước hôm nay có thể hơn chín mươi em chưa hề nghe đến tên Nguyễn Đức Quang lần nào, và nếu có nghe, có đọc qua bộ máy tuyên truyền của Đảng, cũng chỉ là một “nhạc sĩ ngụy đã theo chân đế quốc”. Biết hay không biết, nghe hay không nghe không phải là điều quan trọng. Điều quan trọng là bài hát đã đáp ứng được ước vọng về tương lai và tình yêu tổ quốc của tuổi trẻ. Tổ quốc, vâng, không có gì lớn hơn tổ quốc.

Văn hoá không phải chỉ là đời sống của một dân tộc mà còn là những gì giữ lại được sau những tàn phá, lãng quên. Việt Nam quê hương ngạo nghễ sau 30 tháng Tư 1975 hẳn đã nằm trong danh sách các tác phẩm “văn hoá đồi trụy” mà Đảng tìm mọi cách để xóa bỏ, tận diệt.

Thế nhưng, như giọt nước rỉ ra từ kẽ đá và như bông hoa mọc giữa rừng gai, bài hát đã sống sót, đã ra đi và đã trở về. Để tồn tại, một bài thơ, một bản nhạc cũng phải trải qua những gạn lọc, những cuộc bỏ phiếu công bằng không chỉ của người nghe, người đọc dưới một chế độ chính trị nào đó mà còn của cả lịch sử lâu dài. Bài hát phát xuất từ tình yêu nước trong sáng như Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ sẽ ở lại rất lâu trong lòng tuổi trẻ Việt Nam hôm nay và nhiều thế hệ mai sau.

Là một người thích tham gia các sinh hoạt văn nghệ cộng đồng, bài hát mang tôi về thời trẻ tuổi của mình. Tôi còn nhớ, mùa hè 1973, khi còn là sinh viên năm thứ nhất, Việt Nam quê hương ngạo nghễ cũng là nhạc sinh hoạt chính của trại hè sinh viên toàn quốc quy tụ đại diện sinh viên các trường đại học và cả sinh viên du học về nghỉ hè, do Bộ Giáo Dục Và Thanh Niên tổ chức lần đầu và có lẽ cũng là lần cuối tại trường Thiếu Sinh Quân, Vũng Tàu. Đêm trước ngày chia tay, chúng tôi không ai ngủ được. Ngày mai sẽ mỗi người mỗi ngả, chị về Huế, anh về Đà Lạt, em về Cần Thơ và đa số chúng tôi sẽ trở lại Sài Gòn. Cùng một thế hệ chiến tranh như nhau, khi chia tay biết bao giờ còn gặp lại. Những ngày tháng đó, cuộc chiến vẫn còn trong cao điểm.

Mỹ đã rút quân nên máu chảy trên ruộng đồng Việt Nam chỉ còn là máu Việt Nam. Thảm cảnh của mùa hè đỏ lửa chưa qua hết. Trên khắp miền Nam, đâu đâu cũng có đánh nhau, đâu đâu cũng có người chạy giặc. Mơ ước của tuổi trẻ chúng tôi là được thấy một ngày đất nước hoà bình, một ngày quê hương không còn nghe tiếng súng. Đêm cuối trại hè, chúng tôi ngồi quây quần thành một vòng tròn rộng quanh cột cờ trường Thiếu Sinh Quân và hát nhạc cộng đồng như để vơi đi những vương vấn, lo âu đang trĩu nặng trong lòng. Bài hát được hát nhiều nhất trong đêm đó là Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ, và khi điệp khúc cất lên cũng là khi chúng tôi hát trong nước mắt:

Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại
Xương da thịt này cha ông miệt mài
Từng giờ qua cười ngạo nghễ đi trong đau nhức không nguôi.
Chúng ta thành một đoàn người hiên ngang
Trên bàn chông hát cười đùa vang vang
Còn Việt Nam triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng.

Những giọt nước mắt của tuổi sinh viên nhỏ xuống xót thương cho dân tộc mình. Tại sao có chiến tranh và tại sao chiến tranh đã xảy ra trên đất nước chúng tôi mà không phải tại một quốc gia nào khác?

Mấy tháng sau, tháng Giêng năm 1974, bài hát Việt Nam quê hương ngạo nghễ đã được hát vang trên đường phố Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ sau khi Hoàng Sa rơi vào tay Trung Quốc. Những bản tin đánh đi từ Đà Nẵng, danh sách những người hy sinh được đọc trên các đài phát thanh làm rơi nước mắt.

Và hôm nay, ba mươi ba năm sau, trong cái lạnh mùa đông trên xứ người, những lời nhạc Việt Nam quê hương ngạo nghễ từ YouTube phát ra như xoáy vào tim. Tôi lại nghĩ đến các anh, những người đã hy sinh ở Hoàng Sa tháng Giêng năm 1974, ở Trường Sa tháng Ba năm 1988. Các anh khác nhau ở chiếc áo nhưng cùng một mái tóc đen, một màu máu đỏ, một giống da vàng, cùng ăn hạt gạo thơm, hạt muối mặn, cùng lớn lên bằng giòng sữa mẹ Việt Nam, và cùng chết dưới bàn tay hải quân Trung Quốc xâm lăng.

Việt Nam, sau ba mươi ba năm “độc lập, tự do” vẫn chưa thoát ra khỏi số phận nhược tiểu bị xâm lược, vẫn chưa tháo được cái vòng kim cô Trung Quốc trên đầu. Việt Nam có một lãnh hải dài trên ba ngàn cây số nhưng thực tế không còn có biển. Cả hành lang Đông hải rộng bao la từ Hải Nam đến Hoàng Sa và xuống tận Trường Sa đã bị Trung Quốc chiếm. Nếu vẽ một đường cung dọc theo lãnh hải đó, ngư dân Việt Nam chỉ còn có thể đi câu cá ven bờ chứ không thể đánh cá như ngư dân Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan hay các quốc gia khác trong vùng biển Đông. Phía sau tấm bảng in đậm “mười sáu chữ vàng” hữu nghị thắm thiết giữa hai Đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc là thân xác của ngư dân Việt Nam trôi bềnh bồng dọc các hải đảo của tổ tiên mình để lại.

Trong suốt dòng lịch sử, hoạ xâm lăng từ phương Bắc vẫn là mối đe doạ thường xuyên. Khác với các thời đại trước đây, cái bất hạnh của Việt Nam ngày nay không phải chỉ là mất đất nhưng mất đất mà không đòi lại được ngay. Cuộc kháng Nguyên lần thứ nhất trong hàng vương tước nhà Trần chỉ có mỗi Trần Nhật Hiệu chủ trương “Nhập Tống” và lần thứ hai chỉ có Trần Ích Tắc và đám hầu tước Trần Kiện, Trần Văn Lộng, Trần Tú Viên chủ trương “Hàng Nguyên” nhưng ngày nay, về mặt lập trường quan điểm, Việt Nam có đến 14 Trần Ích Tắc và 160 Trần Kiện. Trận đụng độ giữa Việt Nam và Trung Quốc diễn ra tại Trường Sa năm 1988 theo tác giả Daniel J. Dzurek trong biên khảo “Xung Đột Trường Sa: Ai có mặt trước?” (The Spratly Islands Dispute: Who's on First?) chỉ kéo dài vỏn vẹn 28 phút và Việt Nam chịu đựng hầu hết thương vong. Với một giới lãnh đạo tham quyền cố vị và sự chênh lệch quá xa về kỹ thuật chiến tranh như thế, cuộc đấu tranh giành lại hai quần đảo sẽ vô cùng khó khăn.

Dù sao, tuổi trẻ Việt Nam, khác với các thế hệ Tân Trào, Pác Bó trước đây, thế hệ Hoàng Sa, Trường Sa ngày nay có nhiều cơ hội tiếp xúc, học hỏi và so sánh giữa chế độ các em đang sống với các tư tưởng tự do dân chủ, khoa học kỹ thuật tiên tiến, nhờ đó, hy vọng các em sẽ có những chọn lựa đúng cho mình và cho đất nước phù hợp với dòng chảy của văn minh nhân loại.

Trong cuộc chiến Việt Nam dài mấy mươi năm Đảng đã sản xuất ra không biết bao nhiêu bài hát, bài thơ kích động lòng yêu nước nhưng tại sao các em không đọc, không hát nữa? Như một độc giả trong nước đã trả lời, đơn giản chỉ vì chúng nhạt nhẽo. Ý thức sâu sắc đó đã được thể hiện không chỉ trong khẩu hiệu các em hô mà ngay cả trong những bài hát các em hát. Sau những “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”, “Dậy mà đi”, “Nối vòng tay lớn” của những ngày đầu phong trào, các bạn trẻ trong nước đã đi tìm những nhạc phẩm nói lên lòng yêu nước trong sáng, tích cực, không bị ô nhiễm, chưa từng bị lợi dụng và họ đã tìm được Việt Nam quê hương ngạo nghễ.

Ta như giống dân đi tràn trên lò lửa hồng
Mặt lạnh như đồng cùng nhìn về một xa xăm
Da chân mồ hôi nhễ nhại cuộn vòng gân trời
Ôm vết thương rỉ máu ta cười dưới ánh mặt trời.

Mỗi khi nhắc đến những khó khăn đất nước, chúng ta thường nghe đến những "bất hạnh”, "nỗi đau", "tính tự ti mặc cảm", vâng đó là một thực tế hôm nay, thế nhưng dân tộc Việt Nam “vốn xưng nền văn hiến đã lâu, nước non bờ cõi đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác” như Nguyễn Trãi khẳng định, không phải chỉ biết đau, biết tự ti mặc cảm mà thôi nhưng từ những nỗi đau đã biết lớn lên bằng tự hào và kiêu hãnh làm người Việt Nam. Chỗ dựa tinh thần của tuổi trẻ Việt Nam hôm nay không có gì khác hơn là lịch sử. Không thể làm nên lịch sử mà không cần học lịch sử. Lịch sử sẽ là vũ khí, là hành trang trong hành trình tranh đấu cho một nước Việt Nam mới, cũng như để xây dựng một Việt Nam tươi đẹp sau nầy.

Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người
Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam
Làm người ngang tàng điểm mặt mày của trần gian
Hỡi những ai gục xuống ngồi dậy hùng cường đi lên.

Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ như giọt nước mắt bi tráng của tuổi trẻ Việt Nam ngày nào nhỏ xuống trên quê hương chiến tranh khốn khổ, đã bốc thành hơi, tụ thành mây và sau bao năm vần vũ khắp góc bể chân trời đã trở về quê hương qua ánh mắt của em, qua nụ cười của chị, qua tiếng hát của anh, hồn nhiên và trong sáng. Từ “vết thương rỉ máu” của một dân tộc đã từng bị nhiều đế quốc thay phiên bóc lột, lợi dụng và hôm nay còn đang chịu đựng trong áp bức của độc tài đảng trị, Việt Nam quê hương ngạo nghễ cất lên như một lời khuyên, hãy sống và hãy vững tin vào lịch sử, sẽ có một ngày, sẽ có một ngày.

Trần Trung Đạo
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Những ngày cuối đời của Đại tướng Cao văn Viên



Bài viết của chúng tôi về đại tướng Cao văn Viên gồm có ba phần, ghi nhận vào ba thời gian khác nhau. Năm 2003, năm 2005 và năm 2008.Mon General: (Tháng 10-2003)Mùa Ðông năm nay, niên trưởng Cao Văn Viên sẽ trải qua những ngày băng giá khó khăn. Năm nay 82 tuổi, ông mới bị té ngã. Tưởng đã quỵ luôn, nhưng một lần nữa y khoa Hoa Kỳ đã đỡ vị Tổng Tham Mưu Trưởng cuối cùng của QLVNCH đứng lên để tập cho ông đi lại từng bước ngắn.

Chắc chắn là các bác sĩ và chuyên viên Mỹ đều không biết vị cao niên Á Châu này là người đã từng làm chức vụ gì ở Việt Nam. Bởi vì hàng ngày cũng không có nhiều người đến thăm ông. Sau trận té gẫy xương chậu, chân ông đã sưng thật to, nhưng mãi cả mấy tuần lễ sau ông mới có cơ hội chiếu điện và chữa trị chính thức. Trước đó ông tự soa lấy bằng dầu nóng và mùi Nhị Thiên Ðường thơm ngát cả căn phòng tại khu chung cư cao niên lầu hai của quận Fairfax miền Virginia. Ông đang cố gắng đứng lên tập đi trở lại trong một chương trình hồi phục để tránh phải ngồi xe lăn là điều mà tuổi già rất quản ngại.

30 năm trong quân ngũ, ông Cao Văn Viên chỉ sống với cấp trên và cấp dưới. Riêng cá nhân ông, gần như không có nhiều bằng hữu tương giao để chén tạc, chén thù. Gần 30 năm sống cuộc đời di tản, vị Ðại Tướng đứng đầu Bộ Tổng Tham Mưu, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bây giờ cũng vẫn tiếp tục độc hành. Ông luôn luôn cố tránh liên hệ vào các tranh chấp chính trị ngay từ lúc còn trong quân đội cũng như trong hoàn cảnh di dân tỵ nạn hiện nay.Từ khi người vợ quán xuyến của ông qua đời, rồi đến người con trai duy nhất của ông cũng vắn số, ông Cao văn Viên đã trải qua những mùa đông cô độc ở Nữu Ước, hoàn toàn xa cách mọi người. Ông đi chợ nấu ăn lấy, đóng vai ông già Á Châu vô danh giữa chốn đô thị phồn hoa đông đảo nhất thế giới. Những năm gần đây ông dọn về ở luôn trong một căn hộ của khu chung cư ở miền Ðông Hoa Kỳ, bên cạnh Thủ Ðô Hoa Thịnh Ðốn.

Nơi đây đa số là người già Ðại Hàn. Ông tiếp tục đi chợ và nấu ăn lấy. Cô con gái lớn trưởng thành của ông đã tốt nghiệp luật, đi dạy học, lập gia đình và làm việc ở nơi xa. Ðời sống đã không cho phép cha con được gần nhau và vị tướng già cũng đã quen sống như thế. Bây giờ thực ra ông cũng không có nhiều nhu cầu. Người già ở Hoa Kỳ lợi tức thấp hoặc không có lợi tức được lãnh bao nhiêu thì niên trưởng Viên của tôi cũng lãnh được bằng đó. Số tiền này đã dành trả hết cho gian phòng ông đang cư ngụ. Trung tá Tâm là một sĩ quan hiếm hoi trong số các thân hữu quân ngũ còn lại quanh ông. Vâng, chính cái anh Tâm đó đang tìm cách xin cho niên trưởng của anh vào một Nursing Home có người săn sóc ngày đêm. Ðó là nhu cầu thực tế và là một ước mơ nhỏ bé của một con người đã một thời mang hình ảnh lớn lao của quân đội chúng ta. Vào đầu thập niên 50, gặp nhau tại tiểu khu Hưng Yên, bên bờ sông Hồng Hà có 3 sĩ quan Việt Nam còn trẻ. Trung úy Nguyễn Văn Thiệu, quê Phan Rang miền Trung, lém lỉnh tinh ranh. Ðại úy Trần Thiện Khiêm quê miền Nam, ít nói, thâm trầm. Trung úy Cao Văn Viên, quê miền Bắc, cao lớn, trắng trẻo và đẹp trai nhất. Nếu coi đây là nhóm bạn đầu đời quân ngũ thì quả thực họ đã từng là chiến hữu. Và Trung úy Cao văn Viên lại là niên trưởng.

Ông Viên tuy người Bắc nhưng thực ra vì cha mẹ làm ăn bên Lào nên ông ra đời tại Vạn Tượng và Thủ Ðô Vientian là dấu ấn của thân phụ đặt tên cho con trai. Vào thời còn trẻ trung, các sĩ quan quốc gia bắt đầu trưởng thành trong vòng tay của quân đội Liên Hiệp Pháp. Các ông quan một, quan hai còn đeo trên vai những gạch kim tuyến vàng chóe với tương lai mở rộng một đời binh nghiệp. Nhưng không ai có thể nghĩ rằng Trung úy Thiệu sẽ trở thành Tổng Thống. Ðại úy Khiêm trở thành Thủ Tướng và Trung úy Viên trở thành Ðại Tướng, Tổng Tham Mưu Trưởng. Ðó là chuyện sau này. Ðịnh mệnh quả nhiên đã có những ước hẹn với lịch sử. Cả ba người chiến binh Bắc Trung Nam, cùng thăng trầm với chiến tranh, với đất nước để cùng thăng tiến. Họ làm việc với nhau, họ chia nhau những chức vụ tối cao của quân đội và chính quyền. Cùng yểm trợ nhau, nhưng đồng thời cũng rất xa cách dù ở bên trong hay bên ngoài công vụ. Họ không còn ngồi với nhau những giây phút tửu hậu trà dư. Ông Viên đã nói rằng mối liên hệ của ông với Tổng Thống Thiệu hoàn toàn là công vụ. Các niên trưởng của tôi khi nói chuyện đều thưa gửi với nhau bằng chức vụ. Thưa Tổng Thống, Thủ Tướng, Ðại Tướng vân vân. Khách sáo vô cùng. Cái thời “toa moa” ngày xưa ở Secteur Hưng Yên bây giờ đã xa lắm rồi, chẳng ai còn nhớ nữa.

Với sĩ quan Cao Văn Viên, từ cấp Úy lên cấp Tá, ông luôn luôn là người cần mẫn và hòa nhã. Bước ngoặt của đời ông là cánh chim bằng nhảy dù trên ngực áo. Khi ông còn là Trung Tá tại Tham Mưu Biệt Bộ lúc đó ông Nguyễn Chánh Thi đang coi Liên đoàn Nhảy dù. Cả hai cùng là bạn cũ. Thi rủ Viên học nhảy dù để gột rửa bớt cái vẻ sĩ quan văn phòng. Nhảy thì nhảy. Trung tá Viên lấy bằng Dù và tiếp tục ngồi bên Tham Mưu Biệt Bộ thời kỳ ông Diệm còn đang tại chức. Ðảo chính xẩy ra, Ðại tá Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Dù chạy qua Cam Bốt. Tổng thống Diệm vừa thoát nạn, ngó tới ngó lui thấy ông sĩ quan thân cận gần gũi có bằng cấp nhẩy dù bèn đưa qua nắm liên đoàn Mũ Ðỏ. Từ đó ông Cao Văn Viên bắt đầu làm tư lệnh và cuộc đời đi vào khúc quanh mới. Nhảy dù vốn là đơn vị ưu tú của quân đội, nhưng mũ đỏ đang bị thất sủng vì cú đảo chánh hụt. Giai đoạn này là lúc thử thách của cả vị tư lệnh lẫn các tiểu đoàn nhảy dù. Hai bên thăm dò lẫn nhau. Ông Viên trở thành một vị Ðại Tá tư lệnh hăng hái xông xáo từ kỹ thuật nhảy dù đến các chiến trường trên khắp bốn quân khu. Ông lấy bằng huấn luyện viên Dù và nhảy biểu diễn tự điều khiển cùng với các cố vấn Hoa Kỳ. Cuộc đảo chánh ông Diệm lần thứ hai mới là giai đoạn đặc biệt của Ðại tá Cao Văn Viên. Trong khi hầu hết các tư lệnh quân đội đều ngả theo cách mạng thì riêng mình ông từ chối. Ðó là hành động mà sau này ông cũng không chắc là một thái độ khôn ngoan.

Ông Viên thực sự cũng không muốn đóng vai anh hùng, nhưng chỉ muốn giữ tấm lòng chung thủy. Ðã có những người chống đảo chánh bị giết chết như vị Tư lệnh Hải quân, Tiểu đoàn trưởng Nhảy dù và sau này chính anh em Tổng thống Diệm cũng bị giết chết. Nếu viên Tư lệnh Nhảy dù không chịu theo cách mạng mà bị thanh toán thì cũng là chuyện có thể xảy ra. Nhưng chính bà vợ quán xuyến và can đảm đã lên tiếng khi ông chồng bị giam riêng một chỗ. Bà Viên đã quyết liệt can thiệp trực tiếp với tất cả các tướng lãnh đảo chánh mà ngày hôm trước vẫn còn là anh em thân hữu với gia đình ông. Cho đến sau này ông Viên vẫn còn ghi nhớ thái độ mạnh mẽ của người vợ đã cứu sống ông trong năm đảo chánh. Ông cũng không ngần ngại mà nói thẳng ra như thế. Sau khi cách mạng thành công, ngôi sao bản mệnh của ông lại trở nên rực rỡ. Phe thân hữu của Ðệ Nhất Cộng Hòa tuy đang bị thất thế nhưng vẫn kín đáo ca ngợi thái độ của vị Tư lệnh Nhảy dù. Ngay cả các tướng lãnh và sĩ quan phe cách mạng cũng đều vì nể thái độ của ông. Ông Cao Văn Viên gần như là người duy nhất không theo cách mạng nhưng vẫn được tiếp tục về chỉ huy nhảy dù.

Ðịnh mệnh vẫn tiếp tục chiều đãi. Ông tham dự hành quân Cao Lãnh miền Tây đạt chiến thắng và bị thương. Thêm vào chiến thương bội tinh với ngôi sao đỏ, ông lên Thiếu Tướng với hai sao lấp lánh trên cổ áo và nón đỏ vẫn đội trên đầu.Trong thời gian đảo chánh ông Diệm xảy ra, ông Cao Văn Viên đã không có những kỷ niệm tốt đẹp với tướng Dương Văn Minh. Mấy năm sau, vào giai đoạn chỉnh lý bắt các tướng cách mạng giam lỏng trên Ðà Lạt và cô lập Big Minh thì cũng toàn là lính Nhảy dù của ông Cao Văn Viên. Vì vậy lại thêm một kỷ niệm không đẹp giữa hai người.

Ðó cũng là lý do mà sau này ông nghĩ rằng không thể ngồi lại trong chính phủ Dương Văn Minh. Phải chăng đây cũng là một cái cớ chính thức để có thể ra đi vào đúng thời điểm cần thiết. Tuy nhiên, đó là câu chuyện 75. Trở lại với giai đoạn giữa thập niên 60, từ giã nhảy dù, tướng Viên về làm Tư lệnh Quân đoàn III và sau cùng lên chức Tổng Tham Mưu Trưởng. Với chức vụ quan trọng nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, tướng Viên là người có vóc dáng đường bệ nên trong các cuộc thăm viếng đơn vị, hình ảnh của ông cạnh các tướng lãnh Hoa Kỳ đem lại niềm hãnh diện cho các binh đoàn. Lớn tuổi hơn các tướng lãnh cùng thời, nhưng ông có khuôn mặt trẻ trung và giữ được thân thể gọn gàng của một cựu huấn luyện viên thể dục lúc còn niên thiếu. Và mặc dù có dư luận chê trách, nhưng tướng Viên vẫn thực sự là người hiếu học ngay từ lúc còn làm Tư lệnh Quân đoàn III. Ông rất chịu những bài giảng về triết học bay bướm của thầy Trần Bích Lan tức nhà thơ Nguyên Sa đã một thời là Trung úy Quân nhu. Phần lớn các tư lệnh quân chủng và các quân đoàn đều kính nể vị Ðại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng vốn từ bên Nhảy Dù đi lên. Ngay cả sau này khi các Tư lệnh Quân đoàn liên lạc thẳng với Tổng thống Thiệu những vẫn giữ lễ độ lịch sự với Bộ Tổng Tham Mưu. Tướng Viên có biệt nhãn với ngành Tiếp Vận vì ngày xưa ông đã từng là trưởng phòng 4 đầu tiên dưới thời quân đội quốc gia phôi thai năm 1954. Mặt khác, ông cũng giữ mối thiện cảm và theo dõi các hoạt động của binh chủng mũ đỏ mà ông luôn luôn hãnh diện đã góp phần trong binh nghiệp. Tướng Viên cũng được sự tin cậy và vị nể của các giới chức Hoa Kỳ. Tuy nhiên, chính ông cũng tự nhận thấy chưa bao giờ nghĩ đến ngày có thể lên đến chức tước lớn lao như vậy. Ông luôn luôn mong được làm tròn nhiệm vụ, nhưng ông không phải là hàng tướng lãnh nóng nẩy ồn ào, lấy gậy chỉ huy đập vào đầu sĩ quan, hay la hét thuộc cấp tối ngày. Tướng Viên cảm nhận vai trò phối hợp của một vị Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân như bên Ngũ Giác Ðài Hoa Kỳ chứ không phải là Tổng Tư Lệnh ban hành các lệnh trực tiếp. Như ông đã giãi bày trong tác phẩm mới xuất bản, khi nhận thấy bị Tổng thống Thiệu qua mặt dành trực tiếp quyền điều hành bộ máy chiến tranh thì ông lặng lẽ lui vào vai trò tư vấn cho đến khi xin từ nhiệm.

Tháng 10-2003 khi dịch giả Nguyễn kỳ Phong cho phát hành bản Việt ngữ tác phẩm của Ðại tướng Cao Văn Viên, phóng viên BBC Luân Ðôn có hỏi đi hỏi lại Kỳ Phong nhiều lần một câu hỏi. Ðó cũng là thắc mắc của rất nhiều thính giả và độc giả. Tại sao Ðại Tướng bị thất sủng, xin từ nhiệm lại không được chấp thuận. Dịch giả Kỳ Phong không thể thay mặt tác giả mà trả lời cho suôi câu hỏi phức tạp này. Quả thực đã có lúc ông Thiệu muốn tìm người thay ông Viên nhưng không phải là dễ dàng. Chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng phải lựa chọn trong các Tư lệnh Quân đoàn xuất sắc. Tướng Ngô Quang Trưởng với sự yểm trợ của phía Hoa Kỳ cũng không phải là người làm ông Thiệu an tâm. Tướng Ðỗ Cao Trí cũng đã được phía Hoa kỳ tiến cử trong danh sách nhưng ông Trí vừa nghe tin đã tuyên bố lăng nhăng nên đã làm ông Thiệu quản ngại và gạch tên ngay cả trước khi trực thăng của ông Trí lâm nạn.

Ðối với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, việc thay thế tướng Cao Văn Viên chưa phải là nhu cầu cấp thiết. Ông Thiệu hoàn toàn yên tâm với một vị Tổng Tham Mưu Trưởng dứt khoát không chịu tham dự vào các cuộc đảo chánh chính trị. Ông không sợ ông Viên làm phản. Trước sau như một tướng Viên đã kiên định như thế. Thông thường ông Viên thân với tướng Kỳ hơn là gần gũi ông Thiệu. Nhưng không bao giờ ông Kỳ rủ được ông Viên tham gia đảo chánh ông Thiệu, ngay như vào giờ thứ 25 của thời điểm năm 75.Ông Thiệu và ông Viên, như trên đã viết ra, các niên trưởng của tôi sinh hoạt xa cách và khách sáo. Không có cái kiểu như thời kỳ còn ở Hưng Yên: “Này, Moi làm ở État Major lâu quá, thôi Toi kiếm thằng khác để Moi nghỉ một thời gian. Việc gì Toi cũng chơi thẳng với các Quân đoàn như thế thì còn cần Moi ở đây làm gì?” Không, các Xếp của tôi không ăn nói lăng nhăng như vậy. Ðại Tướng thưa rằng xin Tổng Thống cho tôi tạm nghỉ vì sức khỏe. Tổng Thống nói là xin Ðại Tướng vui lòng tiếp tục ở lại một thời gian. Bây giờ là lúc khó khăn, quân đội cần ổn định v.v… Và Ðại tướng Viên có lúc đã nhờ quân nhu tìm cho một số dụng cụ làm vườn để thực sự chuẩn bị vui thú điền viên, nhưng khi ông Thiệu nói như vậy đành chần chờ ở lại Bộ Tổng Tham Mưu cho qua ngày.

Cũng phải ghi lại là trong chức vụ cao cấp nhất của quân đội, tướng Viên đã có lần phác thảo kế hoạch tấn công ra Bắc và đó là một trong các phương cách tự vệ mãnh liệt nhất. Tuy nhiên chắc chắn rằng phía Hoa Kỳ hoàn toàn không yểm trợ và ông Thiệu không thể nào đơn phương quyết định được. Thêm vào đó, một trong các quyết định quan trọng nhất của tướng Cao Văn Viên là xử dụng tướng Ðồng Văn Khuyên từ Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 3 Tiếp Vận lên Tổng Cục Trưởng, Tổng Cục Tiếp Vận rồi là Tham Mưu Trưởng Liên Quân. Ông Khuyên đã không phụ lòng tin cậy của tướng Viên trong các chức vụ này và đặc biệt ông cũng được Hoa Kỳ hoàn toàn yểm trợ. Và chính guồng máy Tiếp Vận với viện trợ Mỹ là con bài tẩy của chiến tranh Việt Nam.

Trong phần ghi chú của tác giả Cao Văn Viên viết trong tác phẩm Việt ngữ mới phát hành, một đề nghị chiến lược tối mật quan trọng nhất cho chiến tranh Việt Nam là việc bỏ đất, triệt thoái do Tổng Cục Tiếp Vận, Tổng Tham Mưu soạn thảo. Hoàn toàn dựa vào bài toán quân viện, nghiên cứu khả năng thực sự giữ đất, giữ dân, Việt Nam Cộng Hòa muốn tồn tại thì phải thu về các vùng đồng bằng và duyên hải. Kế hoạch phải áp dụng ngay từ sau Hiệp Ðịnh Paris chứ không thể căng mỏng quân lực ra khắp nơi theo kiểu dành dân lấn đất và chôn chân các đơn vị Tổng Trừ Bị tại các tiền đồn. Ðại tướng Viên đã chỉ thị tướng Ðồng Văn Khuyên lên trình riêng Tổng Thống để rồi không hề nghe được bất cứ một chỉ dấu gì của ông Thiệu cho đến những ngày đau thương 30 tháng 4-1975.

Chuyến đi thăm: (Tháng 4-2005)

Ba mươi năm trôi qua như một giấc mộng dài. Tháng tư năm 2005 từ San Jose CA, chúng tôi lên thủ đô tổ chức họp mặt anh em chiến hữu trại Trần Hưng Ðạo. Ðây chính là tổng hành dinh của bộ Tổng tham Mưu ngày xưa. Ba mươi năm hội ngộ, gặp lại lần đầu nhưng ai cũng biết đây là lần cuối. Ðại tướng lấy lý do già yếu nên không đến được. Hội họp xong, tôi nhờ trung tá Tâm đưa đến thăm ông. Tháng tư là tháng không vui mà cảnh trí nơi ông ở trông thật là buồn. Tâm nói rằng, đại tướng rất đúng hẹn và rất nguyên tắc. Khi chúng tôi bước vào phòng khách của khu cao niên Á châu, “Mon General” đã đứng chờ sẵn, quần áo chỉnh tề. Hình ảnh của vị tướng lãnh cao lớn mang 4 sao, áo hoa dù, mũ đỏ không còn nữa.

Ðại tướng của tôi bây giờ là một cụ già tóc bạc lưng còng, vóc dáng nhỏ bé, chỉ còn lại cặp mắt long lanh, và tiếng nói dịu dàng. Chúng tôi ngồi xuống bên nhau nói chuyện không có chủ đề. Trung tá Tâm ngồi một bên luôn luôn để ý săn sóc cho ông cụ.

Bao nhiêu câu hỏi cần tìm hiểu vị niên trưởng mà tôi đã chuẩn bị bây giờ buông suôi hết. Nào là rút quân, nào là tử thủ, từ chuyện ông Thiệu đến chuyện ông Kỳ, chuyện Mỹ, chuyện Tàu. Trong cái buổi chiều buồn và ảm đạm đó, tôi chợt thấy tất cả đều trở nên vô nghĩa. Toàn quân, toàn dân, cấp trên cấp dưới, bây giờ không quá khứ, chẳng vị lai.

Lời người xưa còn vẳng bên tai. Bại binh chi tướng, bất khả ngôn dũng. Tướng lãnh thua trận, không thể nói mạnh. Bây giờ là tháng tư, 30 năm sau ngồi đây mà đổ tội cho ai. Nhất tướng công thành, vạn cốt khô. Mà công thành, có thành công cho cam. Tôi không hỏi và ông cũng chẳng nói. Tôi đưa cả hai tay cho ông nắm thật chặt. Hình như có một lời ca từ 50 năm trước trong bài Tình Lính: Thương nhau, tay nắm lấy bàn tay; Ông nắm thật chặt và Ông bắt đầu giảng cho tôi về Thiền Tông và Phật Pháp. Chẳng có thu thanh, thu hình phỏng vấn gì cả.
Image
DT Cao Van Viên đi giữa hai thân hữu
Hai mươi năm chinh chiến điêu linh và ba mươi năm lưu lạc tù đầy của cả đạo quân nay bỏ qua một bên để ngồi bàn về đường đi của Phật. Trước khi chia tay, tôi ngỏ lời xin đại tướng một di vật cho viện Bảo tàng. Ông nói: Tôi có còn gì đâu. Bèn hỏi rằng hôm niên trưởng ra đi đem theo cái gì. Ông cho biết có cầm cái cặp. Bên trong có cuốn sách viết về đạo Phật. Tôi xin ông cuốn sách đó, có bút tự ghi dấu của đại tướng. Quay sang anh Tâm, tôi xin xác nhận, khi nào… Chúng tôi ra xe, ông cụ đứng ngó theo… Giữa những người lính trẻ ngày xưa, cuộc ra đi nào cũng có thể là lần cuối.

Bây giờ chúng tôi là những người lính già, chắc chắn phải hẹn nhau gặp lại ở nơi khác.

Lần cuối. (Tháng Giêng 2008)

Giây phút .. khi nào.. đã đến. Ðại tướng Cao văn Viên ra đi ngày 22 tháng 1 năm 2008 tại Fairfax, VA. cũng không xa nơi ông cư ngụ những ngày sau cùng. Gia đình tuy đơn chiếc nhưng chiến hữu rất đông đảo.

Những vị niên trưởng lừng lẫy của tôi, quý vị do thời thế tạo nên. Lúc còn trẻ tôi có thể đã kỳ vọng và trách cứ quý vị rất nhiều, nhưng bây giờ cấp dưới chúng tôi cũng già rồi, tôi đã suy nghĩ khác đi nhiều. Quả thực chúng ta không thay đổi được định mệnh và không vượt qua được thời thế. Tôi cũng đã từng là anh Thiếu Úy trẻ Bắc kỳ của mùa thu 54, bây giờ cũng đã cao niên như mọi người. Tôi bao dung với chính tấm thân già của mình.

Nhìn cuộc đời nhẹ nhàng hơn và tôi thông cảm với niên trưởng Cao Văn Viên. Tôi vẫn hình dung những buổi chào cờ đầu năm ở Bộ Tổng Tham Mưu. Lá cờ sao của Ðại Tướng Tổng Tư Lệnh bay trên nhà lầu chính. Tướng Cao Văn Viên đội mũ đỏ, áo hoa dù đứng giữa hàng quân để đọc nhật lệnh tại Vũ Ðình Trường Tổng Tham Mưu mênh mông. Hàng chục ông tướng xếp hàng ngang. Trên 50 cấp Ðại Tá xếp hàng dọc. Các sĩ quan, HSQ và binh sĩ của các phòng sở với đủ mọi loại quân phục Liên Quân. Bên trái là đoàn xe với quân cảnh hộ tống thật uy nghi lẫm liệt. Phía xa là trực thăng riêng đậu chờ sẵn.

Cách đó thật xa hơn nữa về cả không gian lẫn thời gian là hình ảnh Trung úy Cao Văn Viên trẻ trung của Secteur Hưng Yên trên chiến trường Bắc Việt. Rồi đến những ngày qua khi niên trưởng Cao Văn Viên sống một mình từ Nữu Ước đến DC. Ông chậm chạp đi bộ từ chợ về nhà, leo lên lầu hai của căn phòng nhỏ, tự mình chuẩn bị bữa ăn. Sáng nay ông ăn món gì? Bánh mì trứng hay trứng bánh mì? Ông có uống sữa hay không? Ông còn nhớ gì đến chuyện di tản ở miền Bắc 54.

Chuyện di tản ở miền Nam 75. Trung úy Thiệu ngày xưa nay đã đi xa rồi, Ðại úy Khiêm ngày xưa vẫn im lìm như thuở nào. Và Trung úy Viên ngày xưa mãi mãi vẫn cô đơn. Tuổi trẻ và danh vọng rồi cũng qua đi. Ai rồi cũng chỉ còn lại một mình. Khi ra đi lần cuối cũng chỉ có một mình. Tất cả quý niên trưởng và chúng tôi ai cũng muốn sống lại cái thời đeo lon cấp Úy của tuổi hoa niên. Phải mà được làm lại từ đầu thì chúng ta sẽ làm biết bao nhiêu điều tử tế hơn, đẹp đẽ hơn, cho bản thân, cho chiến hữu và cho đất nước.“ Tuổi hoa niên cùng mặc áo chinh y. Lòng mở rộng giữa dòng đời ấm áp. Tám mươi năm, kiếp người như gió thoảng. Chiều cô đơn về chậm hồn cao niên.”

Giao Chỉ – San Jose
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Sleeping With the Enemy
Chăn gối với kẻ thù


By James Webb,
THG chuyển ngữ


Biết giải thích như thế nào với những đứa con của tôi rằng khi tôi mười mấy, đôi mươi, những tiếng nói ồn ào nhất của những người cùng thời lại nhằm mục đích phá nát những nền tảng của xã hội Hoa Kỳ, để xây dựng lại một xã hội dựa theo quan điểm đầy tự mãn của họ. Giờ đây nhìn lại, ngay cả chúng ta, những người đã trải qua giai đoạn này, cũng không hiểu được tại sao lại có những kẻ với trình độ học vấn cao, đa số sinh ra từ gia đình thượng lưu, lại có thể gieo rắc những tư tưởng phá hoại làm nhiễm độc bầu không khí của thập niên 1960 và những năm đầu của thập niên 1970. Ngay cả Quốc Hội cũng bị nhiễm những con vi khuẩn nầy.

Sau khi tổng thống Nixon từ chức vào tháng Tám 1974, cuộc bầu cử mùa thu năm ấy mang lại 76 tân dân biểu thuộc đảng Dân Chủ và 8 thượng nghị sĩ. Đại đa số những dân cử chân ướt chân ráo này đã tranh cử dựa trên cương lĩnh của Mc Govern. Nhiều người trong số họ được xem như những ứng viên yếu kém trước khi Nixon từ chức, vài người không xứng đáng thấy rõ, chẳng hạn như Tom Downey, 26 tuổi, thuộc New York, người chưa từng có một nghề ngỗng gì và vẫn còn ở nhà với mẹ.

Cái gọi là Quốc Hội hậu Watergate nầy diễu hành vào thành phố với một sứ mệnh vô cùng quan trọng mà sau này trở thành điểm tập hợp cho cánh Tả của Hoa Kỳ: chấm dứt sự giúp đỡ của nước Mỹ dưới bất kỳ hình thức nào cho chính quyền đang bị vây khốn Nam Việt Nam. Không nên lầm lẫn ở chỗ này – đây không phải là sự kêu gào thanh niên Mỹ đừng đi vào cõi chết của những năm trước đây. Những người lính Mỹ cuối cùng đã rời Việt Nam hai năm trước rồi, và đã tròn bốn năm không có một người Mỹ nào bị tử trận.

Bởi những lý do mà không một viện dẫn lịch sử nào có thể bào chữa được, ngay cả sau khi quân đội Mỹ triệt thoái, cánh Tả vẫn tiếp tục những cố gắng để đánh gục nền dân chủ còn phôi thai của Nam Việt Nam. Phụ tá sau này của Nhà Trắng Harold Ickes và nhiều người khác trong “Chiến Dịch Kiểm Soát Tài Chính” – có một lúc được giúp đỡ bởi một người tuổi trẻ nhiều tham vọng Bill Clinton – làm việc để cắt toàn bộ những khoản tài trợ của Quốc Hội nhằm giúp miền Nam Việt Nam tự bảo vệ.

Liên Hiệp Hoà Bình Đông Dương, điều hành bởi David Dellinger và được quảng bá bởi Jane Fonda và Tom Hayden, phối hợp chặt chẽ với Hà Nội suốt năm 1973 và 1974, đi khắp các khuôn viên đại học Mỹ, tập hợp sinh viên để chống lại điều được cho là những con ác quỷ trong chính quyền miền Nam Việt Nam.

Những đồng minh của họ trong Quốc Hội liên tục thêm vào những tu chính án để chấm dứt sự viện trợ của Hoa Kỳ cho những người Việt Nam chống cộng, ngăn cấm cả đến việc sử dụng không lực để giúp những chiến binh Nam Việt Nam đang bị tấn công bởi các đơn vị Bắc Việt được khối Sô Viết yểm trợ.

Rồi đến đầu năm 1975 Quốc Hội Watergate giáng một đơn chí tử xuống các nước Đông Dương không cộng sản. Tân Quốc Hội lạnh như băng từ chối lời yêu cầu gia tăng quân viện cho Việt Nam và Cam Bốt của tổng thống Gerald Ford.

Ngân khoản dành riêng này sẽ cung cấp cho quân đội Cam Bốt và Nam Việt Nam đạn dược, phụ tùng thay thế, và vũ khí chiến thuật cần thiết để tiếp tục cuộc chiến tự vệ. Bất chấp sự kiện là Hiệp Định Paris 1973 đặc biệt đòi hỏi phải cung cấp “viện trợ để thay thế trang thiết bị quân sự vô giới hạn” cho Nam Việt Nam, đến tháng Ba phe Dân Chủ trong Quốc Hội biểu quyết với tỷ số áp đảo, 189-49, chống lại bất kỳ viện trợ quân sự bổ sung cho Việt Nam và Cam Bốt.

Trong các cuộc tranh luận, luận điệu của phe Tả phản chiến gồm toàn những lời lên án các đồng minh đang bị chiến tranh tàn phá của Hoa Kỳ. Và đầy những hứa hẹn về một tương lai tốt đẹp cho các quốc gia nầy dưới sự cai trị của chế độ Cộng Sản.

Rồi dân biểu Christopher Dodd , tiêu biểu cho sự ngây thơ hết thuốc chữa của các đồng viện, lên giọng đầy điệu bộ “gọi chế độ Lon Nol là đồng minh là làm nhục chữ nghĩa…Tặng vật lớn nhất mà đất nước chúng ta có thể trao cho nhân dân Cam Bốt là hòa bình, không phải súng. Và cách tốt nhất để đạt được mục đích này là chấm dứt viện trợ quân sự ngay lập tức.”

Sau khi trở thành chuyên gia đối ngoại trong vòng chỉ có hai tháng kể từ lúc thôi bú mẹ, Tom Downey chế diễu những cảnh cáo về tội ác diệt chủng sắp sửa xảy ra ở Cam Bốt, cái tội ác đã giết hơn một phần ba dân số của quốc gia này, như sau, “chính phủ cảnh cáo rằng nếu chúng ta rời bỏ các quốc gia ấy thì sẽ có tắm máu. Nhưng những cảnh cáo cho việc tắm máu trong tương lai không thể biện minh cho việc kéo dài việc tắm máu hiện nay.”

Trên chiến trường Việt Nam việc chấm dứt viện trợ quân trang, quân cụ là một tin làm kinh ngạc và bất ngờ. Các cấp chỉ huy quân đội của miền Nam Việt Nam đã được đảm bảo về việc viện trợ trang thiết bị khi người Mỹ rút quân – tương tự như những viện trợ Hoa Kỳ vẫn dành cho Nam Hàn và Tây Đức – và đảm bảo rằng Hoa Kỳ sẽ tái oanh tạc nếu miền Bắc tấn công miền Nam, vi phạm hiệp định Paris 1973.

Bây giờ thì họ đang mở mắt trừng trừng nhìn vào một tương lai bất định khủng khiếp, trong lúc khối Sô Viết vẫn tiếp tục yểm trợ cho Cộng Sản Bắc Việt.

Trong lúc quân đội Nam Việt Nam, vừa choáng váng vừa mất tinh thần, tìm cách điều chỉnh lại lực lượng để đối phó với những thiếu thốn trang thiết bị cần thiết, quân miền Bắc được tái trang bị đầy đủ lập tức phát động ra cuộc tổng tiến công. Bắt giữ được nhiều đơn vị bị cô lập, quân miền Bắc tràn xuống vùng đồng bằng trong vòng có 55 ngày.

Những năm về sau tôi phỏng vấn các người lính miền Nam Việt Nam còn sống sót trong các cuộc giao tranh, nhiều người trải qua hơn chục năm trong các trại tập trung của cộng sản sau khi cuộc chiến chấm dứt.

Điệp khúc này không bao giờ chấm dứt:

“Tôi không còn đạn dược.”
“Tôi chỉ còn 3 quả đạn pháo cho mỗi khẩu một ngày.”
“Tôi không còn gì để phát cho binh sĩ của tôi.”
“ Tôi phải tắt máy truyền tin, bởi vì tôi không thể nào chịu đựng được nữa những lời kêu gọi xin tiếp viện.”

Phản ứng của Hoa Kỳ trước sự sụp đổ này cho thấy có hai nhóm khác nhau, và điều này vẫn còn tiếp tục được thấy rõ trong nhiều vấn để chúng ta đang đương đầu ngày nay.

Đối với những người đã từng chiến đấu ở Việt Nam, và đối với gia đình, bạn bè, và những người cùng quan điểm chính trị với họ, đây là là một tháng đen tối và tuyệt vọng.

Những khuôn mặt mà chúng ta thấy đang chạy trốn sự tấn công của Bắc Quân là những khuôn mặt rất thật và quen thuộc, không phải đơn thuần là những hình ảnh truyền hình. Những thân người xoay trong không gian như những bông tuyết, rơi xuống chết thảm khốc sau khi đeo bám tuyệt vọng vào thân trực thăng hay phi cơ, có thể là những người chúng ta quen biết hoặc từng giúp đỡ.

Ngay cả đối với những kẻ không còn niềm tin vào khả năng đánh bại Cộng Sản, đây không phải là cách để chấm dứt cuộc chiến.

Đối với những kẻ từng trốn tránh cuộc chiến và lớn lên tin rằng đất nước chúng ta là quỷ dữ, và ngay cả khi họ thơ mộng hoá những ý định của người cộng sản, những tuần lễ sau cùng này đã chối bỏ trách nhiệm của mình trong sự sụp đổ này bằng những phê phán quân đội Nam Việt Nam đầy tính sa lông, hay là công khai reo mừng.

Ở trung tâm Luật Khoa của đại học Georgetown nơi tôi đang theo học, việc Bắc Việt trắng trợn ném bỏ các điều cam kết về hòa bình và bầu cử trong hiệp định Paris 1973, và tiếng xe tăng của Bắc Quân trên đường phố Sài Gòn được xem như là một cái cớ để thực sự ăn mừng.

Sự chối bỏ trách nhiệm vẫn còn tràn lan trong năm 1997, nhưng thực ra cái kết cuộc này chính là mục tiêu của những cố gắng không ngừng nghỉ của phong trào phản chiến trong những năm theo sau sự rút quân của Mỹ.

George McGovern, thẳng thắn hơn nhiều người, công khai tuyên bố với người viết trong lúc nghỉ khi thâu hình cho chương trình “Crossfire” của CNN vào năm 1995.

Sau khi tôi đã lý luận rằng cuộc chiến rõ ràng là có thể thắng được ngay cả vào giai đoạn cuối nếu chúng ta thay đổi chiến lược của mình, ứng cử viên tổng thống năm 1972, người tình nguyện đi Hà Nội bằng đầu gối, bình luận, “Anh không hiểu là tôi không muốn chúng ta chiến thắng cuộc chiến đó sao?”

Ông McGovern không chỉ có một mình. Ông ta là phần tử của một nhóm nhỏ nhưng vô cũng có ảnh hưởng. Sau cùng họ đã đạt được điều họ muốn..

Có lẽ không còn minh chứng nào lớn hơn cho không khí hân hoan chung quanh chiến thắng của Cộng Sản là giải thưởng điện ảnh năm 1975, được tổ chức vào ngày 8 tháng 4, ba tuần trước khi miền Nam sụp đổ.

Giải phim tài liệu hay nhất được trao cho phim Hearts and Minds, một phim tuyên truyền độc ác tấn công những giá trị văn hóa Hoa Kỳ cũng như những cố gắng của chúng ta để hỗ trợ cho sự chiến đấu cho nền dân chủ của miền Nam Việt Nam.

Các nhà sản xuất Peter Davis và Bert Schneider (người thủ diễn một vai trong câu chuyện của david Horowitz) cùng nhau nhận giải Oscar. Schneider thẳng thừng trong việc công nhận sự ủng hộ những người Cộng Sản của mình. Đứng trước máy vi âm ông ta nói ”Thật là ngược đời khi chúng ta đang ở đây, vào thời điểm mà Việt Nam sắp được giải phóng.”

Rồi giây phút đáng kinh ngạc nhất của Hollywood xảy ra – dù giờ đây đã được cố tình quên đi-.

Trong lúc quốc gia Việt Nam, mà nhiều người Mỹ đã đổ máu và nước mắt để bảo vệ, đang tan biến dưới bánh xích của xe tăng, Schneider lôi ra một điện tín được gởi từ kẻ thù của chúng ta, đoàn đại biểu Cộng Sản Việt Nam ở Paris, và đọc to lên lời chúc mừng cho phim của mình. Không một phút giây do dự, những kẻ nhiều quyền lực nhất của Hollywood đứng dậy hoan nghênh việc Schneider đọc bức điện tín này.

Chúng ta, những người đã từng chiến đấu ở Việt Nam hoặc là những người ủng hộ những cố gắng ở đó, nhìn lại cái khoảnh khắc này của năm 1975 với sự sửng sốt không nguôi và không bao giờ quên được.

Họ là ai mà cuồng nhiệt đến thế để đầu độc cái nhìn của thế giới về chúng ta?

Sao họ lại có thể chống lại chính những người đồng hương của mình một cách dữ tợn đến thế?

Sao họ có thể đứng dậy để hoan nghênh chiến thắng của kẻ thù Cộng Sản, kẻ đã làm thiệt mạng 58000 người Mỹ và đè bẹp một đồng minh chủ trương ủng hộ dân chủ?

Làm sao có thể nói rằng chúng ta và họ đang sống trong cùng một đất nước?

Từ lúc ấy đến nay, không một lời nào của Hollywood nói về số phận của những con người biến mất sau bức màn tre của Việt Nam. Không ai đề cập đến những trại tập trung cải tạo mà hàng triệu chiến binh miền Nam Việt Nam đã bị giam giữ, 56000 người thiệt mạng, 250000 bị giam hơn 6 năm, nhiều người bị giam đến 18 năm.

Không người nào chỉ trích việc cưỡng bách di dân, tham nhũng, hay là chế độ công an trị mà hiện vẫn còn đang tiếp diễn. Thêm vào đó, ngoại trừ phim Hamburger Hill có ý tốt nhưng kém về nghệ thuật, người ta chỉ hoài công nếu muốn tìm một phim thuộc loại có tầm vóc diễn tả các chiến binh Hoa Kỳ ở Việt Nam với đầy đủ danh dự và trong những khung cảnh có thật.

Tại sao?


Bởi vì cộng đồng làm phim, cũng như những kẻ thuộc loại đỉnh cao trí tuệ trong xã hội, chưa bao giờ yêu thương, kính phục, hay ngay cả thông cảm với những con người đã nghe theo tiếng gọi của đất nước, lên đường phục vụ.

Và vào lúc mà một cuộc chiến âm thầm nhưng không ngừng nghỉ đang diễn ra về việc lịch sử sẽ ghi nhớ đất nước chúng ta tham dự ở Việt Nam như thế nào, những kẻ chế diễu chính sách của chính quyền, trốn lính, và tích cực ủng hộ kẻ thù, cái kẻ thù mà sau cùng trở nên tàn độc và thối nát, không muốn được nhớ đến như là những kẻ quá đỗi ngây thơ và lầm lẫn.

Giữa những người dân Mỹ bình thường, thái độ của họ trong khoảng thời gian rối ren nầy lành mạnh hơn nhiều. Đằng sau những tin tức bị thanh lọc và những bóp méo về Việt Nam, thực tế là những công dân của chúng ta đồng ý với chúng ta , những người đang chiến đấu, hơn là với những kẻ làm suy yếu cuộc chiến đấu này. Khá thú vị là điều nầy đặc biệt đúng với tuổi trẻ Mỹ, mà giờ đây vẫn còn được mô tả như là thành phần nổi loạn chống chiến tranh.

Như được tường trình lại trong bài Ý Kiến Quần Chúng, những kết quả thăm dò của Gallup từ năm 1966 cho đến khi Hoa Kỳ chấm dứt sự tham dự cho thấy tuổi trẻ Mỹ thực ra ủng hộ cuộc chiến Việt Nam lâu bền hơn bất cứ lứa tuổi khác.

Ngay cả cho đến tháng 1 năm 1973, khi 68 phần trăm dân Mỹ trên 50 tuổi tin rằng chuyện gởi quân sang Việt Nam là một sai lầm, chỉ có 49 phần trăm những người tuổi từ 25 đến 29 đồng ý.

Những phát hiện nầy cho thấy giới trẻ nói chung rõ ràng là không cực đoan, điều này đã được củng cố thêm bằng kết quả bầu cử năm 1972 – trong đó lứa tuổi từ 18 đến 29 ưa thích Richard Nixon hơn là George McGovern bằng tỷ lệ 52 so với 46 phần trăm.

Tương tự như vậy, mặc dù trong quá khứ những người chống đối này, mà ngày nay đang thống lĩnh giới báo chí và giới khoa bảng, đã khăng khăng nói ngược với thực tế, sự xâm nhập vào Cam Bốt năm 1970 đã được ủng hộ quần chúng mạnh mẽ.. – Sự xâm nhập này đã gây ra sự phản đối rộng khắp ở các sân trường đại học, kể cả một vụ xung đột làm cho bốn người chết ở Kent State University.

Theo những kết quả thăm dò dư luận của Harris gần 6 phần 10 dân Mỹ tin rằng sự xâm nhập vào Cam Bốt là đúng đắn. Đa số được hỏi ý kiến, trong cùng bản thăm dò này vào tháng 5 năm 1970, ủng hộ tái oanh tạc miền Bắc, một thái độ cho thấy sự bác bỏ hoàn toàn phong trào phản chiến.

Các cựu chiến binh Việt Nam, dù bị bôi bẩn thường xuyên trên phim ảnh, trong các bản tin, và trong các lớp học, như là những chiến binh miễn cưỡng và thất bại, vẫn được những người dân Mỹ bình thường tôn trọng.

Trong một nghiên cứu toàn diện nhất từ trước đến giờ về những cựu chiến binh Việt Nam (Harris Survey, 1980, ủy quyền bởi Veterans Administration) , 73 phần trăm công chúng và 89 phần trăm cựu chiến binh Việt Nam đồng ý với câu phát biểu:

“Vấn đề rắc rối ở Việt Nam là quân đội chúng ta được yêu cầu chiến đấu trong một cuộc chiến mà các lãnh tụ chính trị ở Washington không để cho họ được phép chiến thắng”,
70 phần trăm những người từng chiến đấu ở Việt Nam không đồng ý với câu phát biểu “Những gì chúng ta gây ra cho nhân dân Việt Nam thật đáng xấu hổ.”

Trọn 91 phần trăm những người đã từng phục vụ chiến đấu ở Việt Nam nói rằng họ hãnh diện đã phục vụ đất nước, và 74 phần trăm nói rằng họ thấy thoải mái với thời gian trong quân đội. Hơn nữa, 71 phần trăm những người phát biểu ý kiến cho thấy họ sẵn sàng chiến đấu ở Việt Nam một lần nữa , ngay cả nếu biết rằng cái kết quả chung cuộc vẫn như thế và sự giễu cợt sẽ đổ lên đầu họ khi họ trở về.

Bản thăm dò này còn có cái gọi là “nhiệt kế đo cảm giác,” để đo lường thái độ của công chúng đối với những nhóm người khác nhau, với thang điếm từ 1 đến 10.. Cựu chiến binh từng phục vụ ở Việt Nam được chấm điểm 9.8 trên thang điểm này. Bác sĩ được 7.9, phóng viên truyền hình 6.1, chính trị gia 5.2, những người biểu tình chống chiến tranh 5.0, kẻ trốn quân dịch và chạy sang Canada được cho 3.3.

Trái ngược với những câu chuyện huyền thoại được dai dẳng phổ biến, hai phần ba những người phục vụ ở Việt Nam là quân tình nguyện chứ không phải bị động viên, và 77 phần trăm những người tử trận là quân tình nguyện.


Trong số những người tử trận:86 phần trăm là da trắng,12.5 phần trăm người Mỹ gốc Phi Châu và 1.2 phần trăm thuộc các chủng tộc khác.

Những cáo buộc rất phổ biến như là chỉ có dân thuộc các nhóm thiểu số và người nghèo được giao cho những công tác khó khăn trong quân đội khi ở Việt Nam là điều sai lạc. Sự bất quân bình trong cuộc chiến, thực ra chỉ đơn giản là do những thành phần đặc quyền đặc lợi trốn tránh trách nhiệm của mình, và chính những người này kể từ thời gian ấy đã kiên trì bôi bẩn những kinh nghiệm về cuộc chiến để nhằm tự bào chữa cho chính mình, phòng khi sau này bị lịch sử phán xét.

Thế còn những kẻ không những đã hiểu sai ý nghĩa một cuộc chiến, mà còn không hiểu nổi dân tộc của mình, những kẻ thuộc thành phần tinh hoa của xã hội đó bây giờ ra sao?

Bây giờ họ đang ở đâu nếu không phải ở trong tòa Bạch Ốc?

Trên vấn đề lịch sử quan yếu này, cái vấn đề đã xác định thế hệ của chúng ta, họ dấu mình thật kín. Họ nên dấu mình như thế.

Đối với những kẻ đã đem cuộc hành trình tuổi trẻ đánh bạc trên cái ý tưởng rằng tổ quốc mình là một lực lượng ác quỷ, sau khi nhận ra sự ngây thơ của mình trong những năm sau năm 1975, chắc họ phải có một cảm giác rất kinh khủng.

Thật là sáng mắt sáng lòng cho những kẻ đã tỉnh thức, đã tự vượt qua được phản ứng chối tội, để chứng kiến cảnh tượng hàng trăm ngàn người dân miền Nam Việt Nam chạy trốn “ ngọn lửa tinh nguyên của cách mạng “ trên những con tàu ọp ẹp, sự chạy trốn mà chắc chắn 50 phần trăm sẽ vùi thây ngoài biển, hoặc là nhìn thấy những hình ảnh truyền hình của hàng ngàn chiếc sọ người Cam Bốt nằm lăn lóc trên những cánh đồng hoang, một phần nhỏ của hàng triệu người bị giết bởi những người Cộng Sản “giải phóng quân.”

Thực vậy, chúng ta hãy thẳng thắn nhìn nhận. Thật đáng tủi nhục biết bao khi nhìn vào khuôn mặt của một thương binh, hay là nghe diễn từ tốt nghiệp của một học sinh thủ khoa người Mỹ gốc Việt Nam, mà người cha quá cố của em đã chiến đấu bên cạnh những người Mỹ, cho một lý tưởng mà bọn họ công khai mỉa mai, chế diễu, và xem thường.

Và thật là một điều đáng xấu hổ khi chúng ta có một hệ thống chính quyền đã để cho em học sinh đó thành công nhanh chóng ở đây, mà lại không thực hiện được một hệ thống như vậy ở quê hương của em
Last edited by hoanghoa on Thu Jun 10, 2010 5:40 am, edited 1 time in total.
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Sleeping With the Enemy
Chăn gối với kẻ thù


By James Webb,
THG chuyển ngữ


Biết giải thích như thế nào với những đứa con của tôi rằng khi tôi mười mấy, đôi mươi, những tiếng nói ồn ào nhất của những người cùng thời lại nhằm mục đích phá nát những nền tảng của xã hội Hoa Kỳ, để xây dựng lại một xã hội dựa theo quan điểm đầy tự mãn của họ. Giờ đây nhìn lại, ngay cả chúng ta, những người đã trải qua giai đoạn này, cũng không hiểu được tại sao lại có những kẻ với trình độ học vấn cao, đa số sinh ra từ gia đình thượng lưu, lại có thể gieo rắc những tư tưởng phá hoại làm nhiễm độc bầu không khí của thập niên 1960 và những năm đầu của thập niên 1970. Ngay cả Quốc Hội cũng bị nhiễm những con vi khuẩn nầy.

Sau khi tổng thống Nixon từ chức vào tháng Tám 1974, cuộc bầu cử mùa thu năm ấy mang lại 76 tân dân biểu thuộc đảng Dân Chủ và 8 thượng nghị sĩ. Đại đa số những dân cử chân ướt chân ráo này đã tranh cử dựa trên cương lĩnh của Mc Govern. Nhiều người trong số họ được xem như những ứng viên yếu kém trước khi Nixon từ chức, vài người không xứng đáng thấy rõ, chẳng hạn như Tom Downey, 26 tuổi, thuộc New York, người chưa từng có một nghề ngỗng gì và vẫn còn ở nhà với mẹ.

Cái gọi là Quốc Hội hậu Watergate nầy diễu hành vào thành phố với một sứ mệnh vô cùng quan trọng mà sau này trở thành điểm tập hợp cho cánh Tả của Hoa Kỳ: chấm dứt sự giúp đỡ của nước Mỹ dưới bất kỳ hình thức nào cho chính quyền đang bị vây khốn Nam Việt Nam. Không nên lầm lẫn ở chỗ này – đây không phải là sự kêu gào thanh niên Mỹ đừng đi vào cõi chết của những năm trước đây. Những người lính Mỹ cuối cùng đã rời Việt Nam hai năm trước rồi, và đã tròn bốn năm không có một người Mỹ nào bị tử trận.

Bởi những lý do mà không một viện dẫn lịch sử nào có thể bào chữa được, ngay cả sau khi quân đội Mỹ triệt thoái, cánh Tả vẫn tiếp tục những cố gắng để đánh gục nền dân chủ còn phôi thai của Nam Việt Nam. Phụ tá sau này của Nhà Trắng Harold Ickes và nhiều người khác trong “Chiến Dịch Kiểm Soát Tài Chính” – có một lúc được giúp đỡ bởi một người tuổi trẻ nhiều tham vọng Bill Clinton – làm việc để cắt toàn bộ những khoản tài trợ của Quốc Hội nhằm giúp miền Nam Việt Nam tự bảo vệ.

Liên Hiệp Hoà Bình Đông Dương, điều hành bởi David Dellinger và được quảng bá bởi Jane Fonda và Tom Hayden, phối hợp chặt chẽ với Hà Nội suốt năm 1973 và 1974, đi khắp các khuôn viên đại học Mỹ, tập hợp sinh viên để chống lại điều được cho là những con ác quỷ trong chính quyền miền Nam Việt Nam.

Những đồng minh của họ trong Quốc Hội liên tục thêm vào những tu chính án để chấm dứt sự viện trợ của Hoa Kỳ cho những người Việt Nam chống cộng, ngăn cấm cả đến việc sử dụng không lực để giúp những chiến binh Nam Việt Nam đang bị tấn công bởi các đơn vị Bắc Việt được khối Sô Viết yểm trợ.

Rồi đến đầu năm 1975 Quốc Hội Watergate giáng một đơn chí tử xuống các nước Đông Dương không cộng sản. Tân Quốc Hội lạnh như băng từ chối lời yêu cầu gia tăng quân viện cho Việt Nam và Cam Bốt của tổng thống Gerald Ford.

Ngân khoản dành riêng này sẽ cung cấp cho quân đội Cam Bốt và Nam Việt Nam đạn dược, phụ tùng thay thế, và vũ khí chiến thuật cần thiết để tiếp tục cuộc chiến tự vệ. Bất chấp sự kiện là Hiệp Định Paris 1973 đặc biệt đòi hỏi phải cung cấp “viện trợ để thay thế trang thiết bị quân sự vô giới hạn” cho Nam Việt Nam, đến tháng Ba phe Dân Chủ trong Quốc Hội biểu quyết với tỷ số áp đảo, 189-49, chống lại bất kỳ viện trợ quân sự bổ sung cho Việt Nam và Cam Bốt.

Trong các cuộc tranh luận, luận điệu của phe Tả phản chiến gồm toàn những lời lên án các đồng minh đang bị chiến tranh tàn phá của Hoa Kỳ. Và đầy những hứa hẹn về một tương lai tốt đẹp cho các quốc gia nầy dưới sự cai trị của chế độ Cộng Sản.

Rồi dân biểu Christopher Dodd , tiêu biểu cho sự ngây thơ hết thuốc chữa của các đồng viện, lên giọng đầy điệu bộ “gọi chế độ Lon Nol là đồng minh là làm nhục chữ nghĩa…Tặng vật lớn nhất mà đất nước chúng ta có thể trao cho nhân dân Cam Bốt là hòa bình, không phải súng. Và cách tốt nhất để đạt được mục đích này là chấm dứt viện trợ quân sự ngay lập tức.”

Sau khi trở thành chuyên gia đối ngoại trong vòng chỉ có hai tháng kể từ lúc thôi bú mẹ, Tom Downey chế diễu những cảnh cáo về tội ác diệt chủng sắp sửa xảy ra ở Cam Bốt, cái tội ác đã giết hơn một phần ba dân số của quốc gia này, như sau, “chính phủ cảnh cáo rằng nếu chúng ta rời bỏ các quốc gia ấy thì sẽ có tắm máu. Nhưng những cảnh cáo cho việc tắm máu trong tương lai không thể biện minh cho việc kéo dài việc tắm máu hiện nay.”

Trên chiến trường Việt Nam việc chấm dứt viện trợ quân trang, quân cụ là một tin làm kinh ngạc và bất ngờ. Các cấp chỉ huy quân đội của miền Nam Việt Nam đã được đảm bảo về việc viện trợ trang thiết bị khi người Mỹ rút quân – tương tự như những viện trợ Hoa Kỳ vẫn dành cho Nam Hàn và Tây Đức – và đảm bảo rằng Hoa Kỳ sẽ tái oanh tạc nếu miền Bắc tấn công miền Nam, vi phạm hiệp định Paris 1973.

Bây giờ thì họ đang mở mắt trừng trừng nhìn vào một tương lai bất định khủng khiếp, trong lúc khối Sô Viết vẫn tiếp tục yểm trợ cho Cộng Sản Bắc Việt.

Trong lúc quân đội Nam Việt Nam, vừa choáng váng vừa mất tinh thần, tìm cách điều chỉnh lại lực lượng để đối phó với những thiếu thốn trang thiết bị cần thiết, quân miền Bắc được tái trang bị đầy đủ lập tức phát động ra cuộc tổng tiến công. Bắt giữ được nhiều đơn vị bị cô lập, quân miền Bắc tràn xuống vùng đồng bằng trong vòng có 55 ngày.

Những năm về sau tôi phỏng vấn các người lính miền Nam Việt Nam còn sống sót trong các cuộc giao tranh, nhiều người trải qua hơn chục năm trong các trại tập trung của cộng sản sau khi cuộc chiến chấm dứt.

Điệp khúc này không bao giờ chấm dứt:

“Tôi không còn đạn dược.”
“Tôi chỉ còn 3 quả đạn pháo cho mỗi khẩu một ngày.”
“Tôi không còn gì để phát cho binh sĩ của tôi.”
“ Tôi phải tắt máy truyền tin, bởi vì tôi không thể nào chịu đựng được nữa những lời kêu gọi xin tiếp viện.”

Phản ứng của Hoa Kỳ trước sự sụp đổ này cho thấy có hai nhóm khác nhau, và điều này vẫn còn tiếp tục được thấy rõ trong nhiều vấn để chúng ta đang đương đầu ngày nay.

Đối với những người đã từng chiến đấu ở Việt Nam, và đối với gia đình, bạn bè, và những người cùng quan điểm chính trị với họ, đây là là một tháng đen tối và tuyệt vọng.

Những khuôn mặt mà chúng ta thấy đang chạy trốn sự tấn công của Bắc Quân là những khuôn mặt rất thật và quen thuộc, không phải đơn thuần là những hình ảnh truyền hình. Những thân người xoay trong không gian như những bông tuyết, rơi xuống chết thảm khốc sau khi đeo bám tuyệt vọng vào thân trực thăng hay phi cơ, có thể là những người chúng ta quen biết hoặc từng giúp đỡ.

Ngay cả đối với những kẻ không còn niềm tin vào khả năng đánh bại Cộng Sản, đây không phải là cách để chấm dứt cuộc chiến.

Đối với những kẻ từng trốn tránh cuộc chiến và lớn lên tin rằng đất nước chúng ta là quỷ dữ, và ngay cả khi họ thơ mộng hoá những ý định của người cộng sản, những tuần lễ sau cùng này đã chối bỏ trách nhiệm của mình trong sự sụp đổ này bằng những phê phán quân đội Nam Việt Nam đầy tính sa lông, hay là công khai reo mừng.

Ở trung tâm Luật Khoa của đại học Georgetown nơi tôi đang theo học, việc Bắc Việt trắng trợn ném bỏ các điều cam kết về hòa bình và bầu cử trong hiệp định Paris 1973, và tiếng xe tăng của Bắc Quân trên đường phố Sài Gòn được xem như là một cái cớ để thực sự ăn mừng.

Sự chối bỏ trách nhiệm vẫn còn tràn lan trong năm 1997, nhưng thực ra cái kết cuộc này chính là mục tiêu của những cố gắng không ngừng nghỉ của phong trào phản chiến trong những năm theo sau sự rút quân của Mỹ.

George McGovern, thẳng thắn hơn nhiều người, công khai tuyên bố với người viết trong lúc nghỉ khi thâu hình cho chương trình “Crossfire” của CNN vào năm 1995.

Sau khi tôi đã lý luận rằng cuộc chiến rõ ràng là có thể thắng được ngay cả vào giai đoạn cuối nếu chúng ta thay đổi chiến lược của mình, ứng cử viên tổng thống năm 1972, người tình nguyện đi Hà Nội bằng đầu gối, bình luận, “Anh không hiểu là tôi không muốn chúng ta chiến thắng cuộc chiến đó sao?”

Ông McGovern không chỉ có một mình. Ông ta là phần tử của một nhóm nhỏ nhưng vô cũng có ảnh hưởng. Sau cùng họ đã đạt được điều họ muốn..

Có lẽ không còn minh chứng nào lớn hơn cho không khí hân hoan chung quanh chiến thắng của Cộng Sản là giải thưởng điện ảnh năm 1975, được tổ chức vào ngày 8 tháng 4, ba tuần trước khi miền Nam sụp đổ.

Giải phim tài liệu hay nhất được trao cho phim Hearts and Minds, một phim tuyên truyền độc ác tấn công những giá trị văn hóa Hoa Kỳ cũng như những cố gắng của chúng ta để hỗ trợ cho sự chiến đấu cho nền dân chủ của miền Nam Việt Nam.

Các nhà sản xuất Peter Davis và Bert Schneider (người thủ diễn một vai trong câu chuyện của david Horowitz) cùng nhau nhận giải Oscar. Schneider thẳng thừng trong việc công nhận sự ủng hộ những người Cộng Sản của mình. Đứng trước máy vi âm ông ta nói ”Thật là ngược đời khi chúng ta đang ở đây, vào thời điểm mà Việt Nam sắp được giải phóng.”

Rồi giây phút đáng kinh ngạc nhất của Hollywood xảy ra – dù giờ đây đã được cố tình quên đi-.

Trong lúc quốc gia Việt Nam, mà nhiều người Mỹ đã đổ máu và nước mắt để bảo vệ, đang tan biến dưới bánh xích của xe tăng, Schneider lôi ra một điện tín được gởi từ kẻ thù của chúng ta, đoàn đại biểu Cộng Sản Việt Nam ở Paris, và đọc to lên lời chúc mừng cho phim của mình. Không một phút giây do dự, những kẻ nhiều quyền lực nhất của Hollywood đứng dậy hoan nghênh việc Schneider đọc bức điện tín này.

Chúng ta, những người đã từng chiến đấu ở Việt Nam hoặc là những người ủng hộ những cố gắng ở đó, nhìn lại cái khoảnh khắc này của năm 1975 với sự sửng sốt không nguôi và không bao giờ quên được.

Họ là ai mà cuồng nhiệt đến thế để đầu độc cái nhìn của thế giới về chúng ta?

Sao họ lại có thể chống lại chính những người đồng hương của mình một cách dữ tợn đến thế?

Sao họ có thể đứng dậy để hoan nghênh chiến thắng của kẻ thù Cộng Sản, kẻ đã làm thiệt mạng 58000 người Mỹ và đè bẹp một đồng minh chủ trương ủng hộ dân chủ?

Làm sao có thể nói rằng chúng ta và họ đang sống trong cùng một đất nước?

Từ lúc ấy đến nay, không một lời nào của Hollywood nói về số phận của những con người biến mất sau bức màn tre của Việt Nam. Không ai đề cập đến những trại tập trung cải tạo mà hàng triệu chiến binh miền Nam Việt Nam đã bị giam giữ, 56000 người thiệt mạng, 250000 bị giam hơn 6 năm, nhiều người bị giam đến 18 năm.

Không người nào chỉ trích việc cưỡng bách di dân, tham nhũng, hay là chế độ công an trị mà hiện vẫn còn đang tiếp diễn. Thêm vào đó, ngoại trừ phim Hamburger Hill có ý tốt nhưng kém về nghệ thuật, người ta chỉ hoài công nếu muốn tìm một phim thuộc loại có tầm vóc diễn tả các chiến binh Hoa Kỳ ở Việt Nam với đầy đủ danh dự và trong những khung cảnh có thật.

Tại sao?


Bởi vì cộng đồng làm phim, cũng như những kẻ thuộc loại đỉnh cao trí tuệ trong xã hội, chưa bao giờ yêu thương, kính phục, hay ngay cả thông cảm với những con người đã nghe theo tiếng gọi của đất nước, lên đường phục vụ.

Và vào lúc mà một cuộc chiến âm thầm nhưng không ngừng nghỉ đang diễn ra về việc lịch sử sẽ ghi nhớ đất nước chúng ta tham dự ở Việt Nam như thế nào, những kẻ chế diễu chính sách của chính quyền, trốn lính, và tích cực ủng hộ kẻ thù, cái kẻ thù mà sau cùng trở nên tàn độc và thối nát, không muốn được nhớ đến như là những kẻ quá đỗi ngây thơ và lầm lẫn.

Giữa những người dân Mỹ bình thường, thái độ của họ trong khoảng thời gian rối ren nầy lành mạnh hơn nhiều. Đằng sau những tin tức bị thanh lọc và những bóp méo về Việt Nam, thực tế là những công dân của chúng ta đồng ý với chúng ta , những người đang chiến đấu, hơn là với những kẻ làm suy yếu cuộc chiến đấu này. Khá thú vị là điều nầy đặc biệt đúng với tuổi trẻ Mỹ, mà giờ đây vẫn còn được mô tả như là thành phần nổi loạn chống chiến tranh.

Như được tường trình lại trong bài Ý Kiến Quần Chúng, những kết quả thăm dò của Gallup từ năm 1966 cho đến khi Hoa Kỳ chấm dứt sự tham dự cho thấy tuổi trẻ Mỹ thực ra ủng hộ cuộc chiến Việt Nam lâu bền hơn bất cứ lứa tuổi khác.

Ngay cả cho đến tháng 1 năm 1973, khi 68 phần trăm dân Mỹ trên 50 tuổi tin rằng chuyện gởi quân sang Việt Nam là một sai lầm, chỉ có 49 phần trăm những người tuổi từ 25 đến 29 đồng ý.

Những phát hiện nầy cho thấy giới trẻ nói chung rõ ràng là không cực đoan, điều này đã được củng cố thêm bằng kết quả bầu cử năm 1972 – trong đó lứa tuổi từ 18 đến 29 ưa thích Richard Nixon hơn là George McGovern bằng tỷ lệ 52 so với 46 phần trăm.

Tương tự như vậy, mặc dù trong quá khứ những người chống đối này, mà ngày nay đang thống lĩnh giới báo chí và giới khoa bảng, đã khăng khăng nói ngược với thực tế, sự xâm nhập vào Cam Bốt năm 1970 đã được ủng hộ quần chúng mạnh mẽ.. – Sự xâm nhập này đã gây ra sự phản đối rộng khắp ở các sân trường đại học, kể cả một vụ xung đột làm cho bốn người chết ở Kent State University.

Theo những kết quả thăm dò dư luận của Harris gần 6 phần 10 dân Mỹ tin rằng sự xâm nhập vào Cam Bốt là đúng đắn. Đa số được hỏi ý kiến, trong cùng bản thăm dò này vào tháng 5 năm 1970, ủng hộ tái oanh tạc miền Bắc, một thái độ cho thấy sự bác bỏ hoàn toàn phong trào phản chiến.

Các cựu chiến binh Việt Nam, dù bị bôi bẩn thường xuyên trên phim ảnh, trong các bản tin, và trong các lớp học, như là những chiến binh miễn cưỡng và thất bại, vẫn được những người dân Mỹ bình thường tôn trọng.

Trong một nghiên cứu toàn diện nhất từ trước đến giờ về những cựu chiến binh Việt Nam (Harris Survey, 1980, ủy quyền bởi Veterans Administration) , 73 phần trăm công chúng và 89 phần trăm cựu chiến binh Việt Nam đồng ý với câu phát biểu:

“Vấn đề rắc rối ở Việt Nam là quân đội chúng ta được yêu cầu chiến đấu trong một cuộc chiến mà các lãnh tụ chính trị ở Washington không để cho họ được phép chiến thắng”,
70 phần trăm những người từng chiến đấu ở Việt Nam không đồng ý với câu phát biểu “Những gì chúng ta gây ra cho nhân dân Việt Nam thật đáng xấu hổ.”

Trọn 91 phần trăm những người đã từng phục vụ chiến đấu ở Việt Nam nói rằng họ hãnh diện đã phục vụ đất nước, và 74 phần trăm nói rằng họ thấy thoải mái với thời gian trong quân đội. Hơn nữa, 71 phần trăm những người phát biểu ý kiến cho thấy họ sẵn sàng chiến đấu ở Việt Nam một lần nữa , ngay cả nếu biết rằng cái kết quả chung cuộc vẫn như thế và sự giễu cợt sẽ đổ lên đầu họ khi họ trở về.

Bản thăm dò này còn có cái gọi là “nhiệt kế đo cảm giác,” để đo lường thái độ của công chúng đối với những nhóm người khác nhau, với thang điếm từ 1 đến 10.. Cựu chiến binh từng phục vụ ở Việt Nam được chấm điểm 9.8 trên thang điểm này. Bác sĩ được 7.9, phóng viên truyền hình 6.1, chính trị gia 5.2, những người biểu tình chống chiến tranh 5.0, kẻ trốn quân dịch và chạy sang Canada được cho 3.3.

Trái ngược với những câu chuyện huyền thoại được dai dẳng phổ biến, hai phần ba những người phục vụ ở Việt Nam là quân tình nguyện chứ không phải bị động viên, và 77 phần trăm những người tử trận là quân tình nguyện.


Trong số những người tử trận:86 phần trăm là da trắng,12.5 phần trăm người Mỹ gốc Phi Châu và 1.2 phần trăm thuộc các chủng tộc khác.

Những cáo buộc rất phổ biến như là chỉ có dân thuộc các nhóm thiểu số và người nghèo được giao cho những công tác khó khăn trong quân đội khi ở Việt Nam là điều sai lạc. Sự bất quân bình trong cuộc chiến, thực ra chỉ đơn giản là do những thành phần đặc quyền đặc lợi trốn tránh trách nhiệm của mình, và chính những người này kể từ thời gian ấy đã kiên trì bôi bẩn những kinh nghiệm về cuộc chiến để nhằm tự bào chữa cho chính mình, phòng khi sau này bị lịch sử phán xét.

Thế còn những kẻ không những đã hiểu sai ý nghĩa một cuộc chiến, mà còn không hiểu nổi dân tộc của mình, những kẻ thuộc thành phần tinh hoa của xã hội đó bây giờ ra sao?

Bây giờ họ đang ở đâu nếu không phải ở trong tòa Bạch Ốc?

Trên vấn đề lịch sử quan yếu này, cái vấn đề đã xác định thế hệ của chúng ta, họ dấu mình thật kín. Họ nên dấu mình như thế.

Đối với những kẻ đã đem cuộc hành trình tuổi trẻ đánh bạc trên cái ý tưởng rằng tổ quốc mình là một lực lượng ác quỷ, sau khi nhận ra sự ngây thơ của mình trong những năm sau năm 1975, chắc họ phải có một cảm giác rất kinh khủng.

Thật là sáng mắt sáng lòng cho những kẻ đã tỉnh thức, đã tự vượt qua được phản ứng chối tội, để chứng kiến cảnh tượng hàng trăm ngàn người dân miền Nam Việt Nam chạy trốn “ ngọn lửa tinh nguyên của cách mạng “ trên những con tàu ọp ẹp, sự chạy trốn mà chắc chắn 50 phần trăm sẽ vùi thây ngoài biển, hoặc là nhìn thấy những hình ảnh truyền hình của hàng ngàn chiếc sọ người Cam Bốt nằm lăn lóc trên những cánh đồng hoang, một phần nhỏ của hàng triệu người bị giết bởi những người Cộng Sản “giải phóng quân.”

Thực vậy, chúng ta hãy thẳng thắn nhìn nhận. Thật đáng tủi nhục biết bao khi nhìn vào khuôn mặt của một thương binh, hay là nghe diễn từ tốt nghiệp của một học sinh thủ khoa người Mỹ gốc Việt Nam, mà người cha quá cố của em đã chiến đấu bên cạnh những người Mỹ, cho một lý tưởng mà bọn họ công khai mỉa mai, chế diễu, và xem thường.

Và thật là một điều đáng xấu hổ khi chúng ta có một hệ thống chính quyền đã để cho em học sinh đó thành công nhanh chóng ở đây, mà lại không thực hiện được một hệ thống như vậy ở quê hương của em
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

Tâm Tư Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu
Nguyễn Ðạt Thịnh

“Tâm tư tổng thống Nguyễn Văn Thiệu” là quyển sách mới nhất của ông Nguyễn Tiến Hưng; tác phẩm trước ông viết, “Hồ sơ mật dinh Ðộc Lập” đã tạo tín nhiệm với độc giả, do đó lần này tác phẩm mới của ông rất thành công, ngay trong buổi ra mắt tại Nam Calif. Ký giả Vi Anh viết, “Mười bốn năm ở Little Saigon chưa bao giờ người viết bài này thấy một cuộc ra mắt sách nào số người tham dư đông đảo, nghiêm trang như cuộc ra mắt sách “Tâm Tư Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu”
Ông Vi Anh kể, “Ngày Chủ Nhựt 16-5-2010, tại Rose Theater, Thành phố Wesminster, tác giả tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng từng là bộ trưởng kế hoạch, cố vấn ngoại giao cho cố TT Nguyển văn Thiệu ra mắt sách “Tâm Tư Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu”.
Ông Hưng là người làm việc gần gũi TT Thiệu khi ở trong nước, và khi ra hải ngoại tới lui rất thường với TT sau 75. Có thể nói ông là một nhân chứng sống, hiểu biết tường tận tâm tư TT Thiệu đối với đồng minh Mỹ.”
Vi Anh mô tả chi tiết cuộc ra mắt sách,“ khoảng 650 ghế trong hội trường ngồi đầy cả, mà nhiểu người còn đứng lắng nghe phía sau. Trong bài nói chuyện có vẻ hàn huyên tâm sư, tâm tình với nhau hơn là diễn thuyết, hay diễn giảng, tác giả tâm tình tâm sự cứu cánh của Ông khi viết quyển “Tâm Tư Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu”, Ông muốn cho lớp trẻ người Mỹ gốc Việt ở quê hương thứ hai là nước Mỹ này rút kinh nghiệm. Tại sao một chánh quyền qui mô như Mỹ lại có một lổ hỏng trong thòi kỳ chiến tranh như Chiến tranh VN. Cái lổ hỏng đó Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng gọi là hiện tượng Kissinger (phenomenon Kissinger – chữ phenomenon (Anh), phénomène (Pháp) hiểu theo nghĩa một thứ kỳ quặc. Kỳ quặc nhưng đóng một vai trò quan trọng cho sư sụp dổ VNCH. Phần dẫn nhập của Ts Hưng làm cho người nghe liên tưởng đến những câu hết sức quen thuộc trong tập thề người Mỹ gốc Việt lâu nay, làm kẻ thù Mỹ thì dễ làm bạn với Mỹ thì khó.”

Chưa được đọc quyển “tâm tư tổng thống Nguyễn Văn Thiệu”, nhưng tôi biết nhiều khó khăn, nhục nhã của ông Thiệu qua quyển “Hồ sơ mật dinh Ðộc Lập”.
Mặc dù thương cảm cho cái yếu thế của vị tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, trong cảnh lãnh tụ một quốc gia nhược tiểu đi xin, rồi nhận, và cố giữ viện trợ Mỹ cho đất nước mình vừa nghèo đói, vừa lâm nguy trước cuộc chiến tranh xâm lược của Việt Cộng, nhưng tôi vẫn không đồng ý với tác giả về việc vẽ chân dung ông Thiệu qua một góc duy nhất: góc đối ngoại, cắn răng chịu nhục với những chính phủ Hoa Kỳ, người đồng minh thiếu tín nghĩa, không tôn trọng danh dự, hèn nhát bỏ chiến trường tháo chạy.
Ông Hưng biết rất rõ là ngoài bức chân dung “người đồng minh bị phản bội”, ông Thiệu còn một vai trò nữa: ông là tổng thống của một quốc gia 30 triệu dân, và là tổng tư lệnh của một quân đội 1 triệu quân nhân, đã chiến đấu trong suốt vài chục năm dưới quyền ông, từ lúc ông là một thiếu úy cho đến lúc ông trở thành một tướng lãnh tư lệnh sư đoàn, quân đoàn, rồi tổng tư lệnh quân đội.
Ông đã làm những gì để 30 triệu người dân Nam Việt được tiếp tục sống trong tự do, và để 1 triệu người lính dưới quyền ông có thể chiến đấu bất khuất dù không có viện trợ Mỹ.

Ðó chỉ là một trong nhiều nhận định của tôi về tổng thống Thiệu; trong những năm ông còn sống tôi đã viết rất nhiều bài báo chỉ trích việc ông, một tổng tư lệnh, bỏ chạy, an toàn đem toàn bộ gia đình ra ngoại quốc, trong lúc quân đội còn đang giao tranh với địch và đang thất thế vì lỗi lầm chiến lược và chính trị của ông. Tôi không muốn dùng những chữ nặng hơn chữ “lỗi lầm”.
Có lần nhân khi ông tuyên bố tại hải ngoại là ông sẵn sàng đóng vai quyển từ điển sống về chiến tranh Việt Nam cho bất cứ người Việt nào muốn hỏi về cuộc chiến này, tôi đã viết bài xin ông mở quyển từ điển đến chữ “T” để cùng thảo luận với tôi về “tỉnh lộ 7b” và cuộc rút lui thê thảm ngày 15 tháng Ba, giúp Văn Tiến Dũng tiêu diệt toàn bộ lực lượng của Quân Ðoàn 2, sau khi ông Thiệu đã lột hết vũ khí nặng của họ.
Giờ này ông Thiệu không còn nữa, tôi xin thảo luận với ông về cuộc rút quân mà ông ghi nhận không chính xác, phê phán bất công.
Ðiều không chính xác thứ nhất, trên trang 444 của quyển “HỒ SƠ MẬT DINH ÐỘC LẬP”, ông viết như sau, “Toàn bộ sư đoàn 23 bộ binh đã được điều động về Pleiku: việc phòng thủ Banmethuột giao lại cho một liên đoàn Biệt Ðộng Quân và Ðịa Phương Quân, phần lớn gồm dân Thượng. Tướng Phú ở lại Pleiku, cách Ban Mê Thuột 94 dậm về phía Bắc. Khi địch tấn công Ban Mê Thuột ông ta bị cô lập hoàn toần và không thể điều động SÐ 23BB để chiếm lại thế thượng thủ được nữa.”
Chi tiết này hoàn toàn sai, tướng Phú không hề có toàn bộ SÐ 23BB tại Pleiku; và một trung đoàn của SÐ này, trung đoàn 53, do trung tá Ân chỉ huy vẫn phòng thủ BMT, cả vị tư lệnh phó SÐ, đại tá Nguyễn Thế Quang, cũng có mặt tại thành phố này, thành phố từ 1975 đã trở thành Buồn Muôn Thủa đối với người Việt lưu vong.
Tối mùng 9 tháng Ba, tư lệnh QÐ 2, thiếu tướng Phạm Văn Phú, còn đáp trực thăng xuống BMT, đi thanh tra hệ thống phòng thủ của phi trường Phụng Dực, căn cứ tử thủ sau này của trung đoàn 53. Ông và đại tá Quang, trung tá Ân đã thảo luận rất lâu về phương thức phòng thủ của một trung đoàn, chống lại 3 sư đoàn bộ binh địch, có một lực lượng pháo binh và thiết giáp hùng hậu yểm trợ.
Nói cách khác là cuộc tấn công BMT không hề là một bất ngờ chiến thuật đối với những giới chức quân sự tại QK II, mặc dù nó là một bất ngờ chiến lược cho vị tổng tư lệnh quân đội tại Sài Gòn, trung tướng Nguyễn Văn Thiệu.
Tại Pleiku, thiếu tướng Phú chỉ có một trung đoàn 45 (trú đóng tại căn cứ Hàm Rồng); sáng ngày 14 tháng Ba 1975, đại tá Phùng Văn Quang, trung đoàn trưởng, được lệnh đưa trung đoàn về giải cứu BMT. Ðêm hôm trước, ông Phú chỉ thị cho ông Quang võ trang tối đa súng chống chiến xa cho chiến sĩ trong nhiệm vụ tái chiếm BMT, vì trung tá Ân đang đối phó với vài chục chiến xa quanh phi trường Phụng Dực.
Quân nhân trong trung đoàn háo hức chờ trực thăng đến căn cứ Hàm Rồng đón họ, họ háo hức trong nhiệm vụ vô cùng thiết thân là giải cứu BMT, nơi có hậu cứ của trung đoàn với toàn bộ vợ con họ ở đó. Bà đại tá Quang, mặc quân phục của chồng, cũng xách theo một khẩu M 72. Ông bà còn 2 đứa con sống trong thành phố đang lọt vào tay giặc.
Tôi dài lời mô tả cuộc hành quân “tái chiếm” BMT là để ông thấy tướng Phú không hề có nguyên cả SÐ 23 BB tại Pleiku, nếu có ông đã không đưa chỉ 1 trung đoàn xuống đánh 3 sư đoàn Việt Cộng. Hy vọng ông thấy đây là biện pháp tuyệt vọng của vị tư lệnh Quân Ðoàn 2.
Sáng 14 tháng Ba chính tướng Phú đã có mặt tại Hàm Rồng, kiểm điểm vũ khí chống chiến xa của binh sĩ trước lúc đoàn trực thăng đầu tiên cất cánh; sau đó ông đi Cam Ranh phó hội.
Tại đây ông xin hai vị tướng cấp trên của ông, một vị là tổng tư lệnh Nguyễn Văn Thiệu, vị kia là tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên tăng viện cho QK II (trang 447). Ông Nguyễn Tiến Hưng, viết, “Ông ta xin thêm quân tăng cường và trực thăng, nhưng được Viên cho biết quân trừ bị đã xử dụng hết rồi,” câu trả lời này khiến tôi viết ở đoạn trên là dù trên cấp chiến thuật, tướng Phú không bị bất ngờ vì cuộc tấn công BMT, nhưng BMT đã là một bất ngờ chiến lược cho tổng tư lệnh Nguyễn Văn Thiệu.
Bất ngờ này được nhìn thấy rõ qua câu trả lời của đại tướng Viên khi ông nói lực lượng tổng trừ bị của Việt Nam “đã bị xử dụng hết rồi.”
Lực lượng TTB là quân xe, quân pháo trên bàn cờ chiến tranh Việt Nam; năm 1972 chính lực lượng này đã tự xé thành 3 cánh để giữ vững cả 3 mặt trận Quảng Trị, Kontum và An Lộc.
Nhưng tháng Ba 1975 “quân trừ bị đã xử dụng hết rồi” là xử dụng ở đâu?
Tháng Giêng 1975 khi Việt Cộng tấn công tỉnh Phước Long để thử nghiệm phản ứng của Hoa Kỳ và của VNCH, thì tướng Viên cũng không có lực lượng tổng trừ bị để đưa vào cứu viện Phước Long; ông phải dùng đến Liên Ðoàn 81 Biệt Kích Nhẩy Dù, một đơn vị chuyên tác chiến sau phòng tuyến địch, và tác chiến bằng những đơn vị cấp nhỏ.
Trả lời một câu hỏi của truyền thông về việc không xử dụng lực lượng Nhẩy Dù như thường khi, trung tướng Dư Quốc Ðống nói toàn bộ sư đoàn NDù bị “kẹt” ngoài giới tuyến vì điều khoản cấm chuyển quân của thỏa ước Ba Lê 1973. Ông kể lại việc ông đưa một tiểu đoàn ND về Long Bình dưỡng quân, thì bị Việt Cộng phản đối với người Mỹ, và Mỹ yêu cầu ông đưa tiểu đoàn vừa về miền Nam trở ra miền Trung.
Tôi còn biết một giai thoại khác chứng minh việc các cấp chỉ huy chiến lược của VNCH bị bất ngờ vì cuộc tổng tấn công 1975 của địch.
Giai thoại đó là một sĩ quan Việt Nam, sau trận Phước Long và sau tiết lộ của trung tướng Ðống, đã viết phiếu trình lên đại tướng tổng tham mưu trưởng đề nghị thiết lập một lực lượng tổng trừ bị thứ nhì, tăng cường cho 2 sư đoàn tổng trừ bị -Nhẩy Dù và TQLC- bị bất động vì lý do chính trị.
Phiếu trình nói rõ là với gần 50 tiểu đoàn BÐQ tinh nhuệ, VNCH có thể thành lập 4 sư đoàn tổng trừ bị, sau khi võ trang cho họ thêm thiết giáp và pháo binh. Nếu có 4 sư đoàn này, tướng Viên đã không phải trả lời tướng Phú bằng 2 chữ “hết quân” khiếp đảm; khiếp đảm vì không có tăng viện trung tá Ân với trung đoàn 53 của ông, đại tá Quang với trung đoàn 45 của ông, dù có tài giỏi đến đâu cũng không chống cự nổi với 3 sư đoàn địch.
Xin nhắc lại thời điểm của trận Phước Long là tháng Giêng 1975, lúc chúng ta còn nguyên 3 tháng trời để tái tổ chức lực lượng tổng trừ bị. Cuối tháng Ba đại tướng Frederic Weyand được tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford cử sang Việt Nam để khuyến cáo một giải pháp.
Weyand, vị tư lệnh cuối cùng của lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam, là vị tướng tương đối trẻ (vào những năm ông phục vụ chiến trường Việt Nam), có nhãn quan chiến lược, và cũng là người đã bất đồng ý kiến với tướng Westmoreland về mục tiêu tấn công của Việt Cộng trong trận Mậu Thân. Westmoreland đưa quân ra biên giới và Khe Sanh để chờ một Ðiện Biên Phủ tái diễn năm 1968, trong lúc Weyand giữ một lực lượng của Chiến Ðoàn 2 do ông chỉ huy lại Long Bình; do đó ông là lực lượng Hoa Kỳ đầu tiên giúp quân lực VNCH đánh bật Việt Cộng ra khỏi Sài Gòn.
Ðến Việt Nam lần chót, Weyand khuyến cáo VNCH nên sử dụng những tiểu đoàn, liên đoàn BÐQ để thành lập tổng trừ bị. Nhưng thời gian quá cấp bách và thế giặc đuổi sát sau lưng, chúng ta không còn thì giờ nữa.
Một điều nữa tôi muốn viết về việc trận BMT bị trình bầy sai lệch trong quyển HÔ SƠ MẬT DINH ÐỘC LẬP là câu ông Hưng viết trên trang 447, “Thiệu ra lệnh cho Phú rút lui khỏi Pleiku để tái chiếm BMT, và trên trang 448, “Quân Ðoàn II sẽ triệt thoái khỏi Pleiku và Kontum, tập trung lại tại Tuy Hòa, rồi tiến đánh BMT.”
Không phải là một quân nhân, ông Hưng có thể lầm về điểm này, vì muốn tái chiếm BMT, thì Tuy Hòa không thuận lợi bằng Pleiku. Tôi nghĩ ông Hưng viết câu này chỉ để bênh vực quyết định sai lầm của ông Thiệu là triệt thoái Cao Nguyên, quyết định đưa đến việc mất nước.
Tướng Phú cũng đã nỗ lực tái chiếm BMT ngay ngày ông xuống Cam Ranh phó hội với ông Thiệu; nếu lực lượng ông đến Hàm Rồng sáng hôm 3/14 để thị sát trước khi đưa vào chiến trường là sư đoàn Nhẩy Dù hay sư đoàn TQLC thì tình hình đã khác hẳn. Nhưng Sài Gòn thản nhiên trả lời ông là toàn bộ lực lượng tổng trừ bị bận việc khác, quan trọng hơn công tác cứu viện BMT.

Chỉ riêng việc Phước Long thất thủ, rồi BMT bị tấn công mà chính phủ VNCH vẫn không dám vi phạm hiệp định Ba Lê, rút hai sư đoàn Nhẩy Dù và TQLC từ giới tuyến trở về Sài Gòn để đảm nhiệm vai trò tổng trừ bị tối cần thiết cho giai đoạn quyết định của chiến trường, thì quả khó tìm được chữ để mô tả tâm trạng của tổng tư lệnh Nguyễn Văn Thiệu trong giai đoạn này.
Ấy là chưa bàn đến lệnh của ông Thiệu bắt Quân Ðoàn 2 rút quân bằng tỉnh lộ 7b, con đường bỏ phế từ sau năm 1954, không còn cây cầu nào nguyên vẹn, khiến lực lượng rút lui bị tước hết vũ khí nặng, bỏ lại bên bờ sông, bờ rạch, ngay tại cây cầu gẫy đầu tiên.

Ông Nguyễn Tiến Hưng đã thành công trong buổi ra mắt quyển “Tâm tư tổng thống Nguyễn Văn Thiệu”, vì số tài liệu phong phú và đặc biệt ông trích dẫn trong quyển HỒ SƠ MẬT DINH ÐỘC LẬP. Là một tác giả khoa bảng biết cách viết một quyển sách tài liệu, ông còn là một người thân tín của ông Thiệu, được ông này trao lại toàn bộ hồ sơ cất giữ nhiều năm tại lầu 3 dinh Ðộc Lập.
Hai yếu tố này giúp ông thành công, nhưng ngoài giá trị đơn thuần của những tài liệu lịch sử, nhiều dữ kiện khác liên quan đến chiến tranh đã bị ông diễn dịch không đúng, dù ông cố ý hay không.
Trận đánh BMT là một thí dụ.

Nguyễn Ðạt Thịnh
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Nhân lễ Chiến Sĩ Trận Vong Mỹ, nhớ Nghĩa Trang Biên Hòa !

Tác Giả : Huy Phương
Vào ngày thứ Hai cuối cùng của tháng 5, người Mỹ kỷ niệm lễ Chiến Sĩ Trận Vong, tưởng nhớ đến các chiến sĩ đã hy sinh trên khắp các mặt trận
kể từ sau cuộc nội chiến Nam Bắc 1860. Ngày này cũng là dịp để người Việt nhớ đến những người đã nằm xuống trong cuộc chiến vừa qua. Ông Vũ Văn Lộc, Giám đốc tổ chức IRCC ở San Jose, California trao đổi với VOA về Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa nơi vẫn còn 16.000 mộ phần quân nhân miền Nam vào tháng 4 năm 1975.
Image
Hình: IRCC / Tượng “Thương Tiếc” trước cổng Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa bị giật sập sau 1975
VOA: Xin ông cho biết sự liên hệ giữa tổ chức IRCC của ông và Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa?
Ông Vũ Văn Lộc: IRCC là cơ quan định cư của người di dân. Bên cạnh đó, tôi có thực hiện một viện bảo tàng thuyền nhân Việt Nam Cộng Hòa tại San Jose. Trong viện bảo tàng, tôi có nhu cầu thực hiện lịch sử và mô hình của nghĩa trang quân đội Việt Nam Cộng Hòa, thành ra cơ quan này là cái duyên của tôi.
Trước năm 75 tôi là một trong những người có liên hệ đến việc xây dựng nghĩa trang này, chúng tôi có theo dõi để biết các diễn tiến của nghĩa trang cho đến bây giờ.
VOA: Cách đây mấy năm, Thủ tướng Việt Nam đã ký quyết định dân sự hóa nghĩa trang này, quyết định này có ý nghĩa gì và kết quả cụ thể cho tới giờ này ra sao?

Ông Vũ Văn Lộc: Tôi nghĩ các ông ấy đã đến lúc phải làm nhưng tôi nghĩ biến thành nghĩa trang nhân dân thì chẳng đi đến đâu cả, bởi vì cái ý nghĩa quan trọng nhất là những người chiến binh miền Nam, khi người ta nằm xuống trong nghĩa trang đó, người ta không thể biến thành nhân dân được. Các ông ấy làm như vậy là lẩm cẩm, cho nên từ lúc đó chúng tôi đã yêu cầu nó phải là một di tích lịch sử của chiến tranh, vẫn luôn luôn là những ngôi mộ và nghĩa trang của phía quân lực Việt Nam Cộng Hòa, như vậy mới đúng.
Thực ra thì có vẻ như họ đã nhìn nhận có sự kiện đó, nhưng họ muốn bẻ ngoặt sang phía khác. Trên thực tế có một điểm như thế này: họ chưa có hành động tàn nhẫn là bốc đi chỗ khác hay là di tản.

Nếu đó là một nghĩa trang nhân dân thì sẽ giống như các nghĩa trang nhân dân khác trên đất nước. Có thể một ngày nào đó, nếu có nhu cầu muốn giải tỏa thì vẫn giải tỏa được. Nhưng nếu là một di tích lịch sử của chiến tranh để lại thì việc giải tỏa có thể không thể thực hiện được.
Thêm nữa, đã là nghĩa trang nhân dân thì sẽ theo quy chế của nghĩa trang thường, tức là ai muốn bốc mộ đem đi chỗ khác cũng được, muốn chôn thêm người vào đó cũng được. Như vậy chỉ độ vài chục năm sẽ có dân thường chôn ở đó; thế thì ý nghĩa của một nghĩa trang quân đội trong một thời kỳ chiến tranh hoàn toàn mất hết.

VOA: Cũng cách đây mấy năm, cựu Phó Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Cao Kỳ cũng kêu gọi Việt Nam xét lại vấn đề Nghĩa Trang Biên Hòa khi ông ấy về Việt Nam, ông có ghi nhận kết quả nào về lời kêu gọi này hay không?
Image
IRCC / Một góc của Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa trước năm 1975
Ông Vũ Văn Lộc: Tôi có theo dõi nhiều nhưng không thấy kết quả gì cụ thể cả, mà ông Kỳ không có một suy tính tham mưu khoa học đầu đuôi. Ông chỉ nói theo ngẫu hứng, theo nhu cầu chính trị và cá nhân. Ông ấy cũng chẳng biết trong đó còn lại bao nhiêu ngôi mộ, chia lô như thế nào, hoàn cảnh thực tế như thế nào.

Do nhu cầu nghiên cứu nên chúng tôi biết khi chúng ta bỏ nước ra đi năm 75 thì ở đó có 16.000 ngôi mộ, và do diễn tiến từng ngày một xảy ra thì bây giờ cũng còn vào quãng 11.000. Như vậy đang còn một số đất trống có thể chôn cất thêm được quãng bốn năm ngàn người nữa. Còn nhà máy nước Bình An thì bên cộng sản họ cho đóng vào ngay chính giữa khu nghĩa trang, làm cho con đường đi từ cổng nghĩa trang đi qua Đền Tử Sĩ tới Nghĩa Dũng Đài bị cắt ra. Xong họ mở một cửa hông nhỏ để cho mọi người vào thăm. Tính chất họ làm chẳng có gì gọi là đàng hoàng cả.

Vì thế tôi nghĩ ông Kỳ cũng chưa tạo được một ảnh hưởng gì và cũng không biết mình đòi hỏi cái gì cho đúng đắn và làm cái gì cho nó rõ ràng cả. Ông chỉ nói có tính cách chính trị mà thôi.

VOA: Ông vừa nói nghĩa trang bây giờ đã mở cửa cho mọi người vào thăm. Hiện nay việc thăm viếng này đã dễ dàng hay vẫn còn khó khăn như trước?
Ông Vũ Văn Lộc: Nói một cách công bình thì không khó khăn nhưng cũng rất lẩm cẩm. Chẳng hạn như không giống một nghĩa trang dân sự thực sự, nó vẫn tạo ra sự nghi ngờ và thân nhân vào thăm viếng không thoải mái, phải ghi tên, phải trả lời xem thăm ngôi mộ nào, ở đâu. Những cái đó không giống một di tích lịch sử mà cũng không giống một nghĩa trang thường.

Còn một điểm quan trọng nhất là bởi vì không có sự gìn giữ đàng hoàng nên có cây mọc giữa ngôi mộ, đường xá có cỏ mọc, thành ra tôi có một ước mong là chẳng cần xây cất bằng một ngân khoản lớn lao gì, chỉ cần giữ cho cây cỏ đừng tàn phá nghĩa trang; rồi nhiên hậu, lịch sử đến một giai đoạn nào người ở hải ngoại hay trong nước còn mồ mả thân nhân có thể có cơ hội chấn chỉnh cho đàng hoàng.
VOA: Mới đây, nhà sử học Tạ Chí Đại Trường đề nghị Quốc hội Việt Nam công nhận Nghĩa Trang Biên Hòa là chứng tích lịch sử quốc gia, ông nghĩ sao về đề nghị này?
Image
IRCC / Bia mộ hư hỏng của Hạ sỉ Lê Văn Cảnh
Ông Vũ Văn Lộc: Cái đó phải là một di tích của quốc gia. Đệ nhất, đệ nhị thế chiến, chiến tranh Nam Bắc của Mỹ, hay bất cứ một cuộc chiến tranh nào, khi có một nơi tập trung chôn cất những tử sĩ như vậy thì đương nhiên nó phải là một di sản lịch sử của quốc gia.
Nhưng thực tình mà nói, cái này nó nằm trong Chính Trị Bộ, chứ còn Quốc hội thì tôi chả có hy vọng gì. Cái này phải do đảng cộng sản phải nhìn ra vấn đề rồi đến chính phủ phải làm.

Ở hải ngoại này mình phải vận dụng các chính phủ thông qua Quốc hội các nước thì mới có thể được, thành ra tôi cũng có biên thơ cho nhiều ông Dân biểu và Thượng nghị sĩ Mỹ, nói với họ bây giờ chúng tôi là công dân Mỹ, và đó là những mồ mả của thân nhân chúng tôi thì các ông phải lưu ý chứ.
Nhưng lẽ dĩ nhiên vấn đề này chưa phải là ưu tiên của họ. Tôi ước mong toàn thể khối hải ngoại và cả người trong nước cùng nhau vận động, bởi vì kể cả các chiến binh đối phương của chúng tôi họ cũng phải nhìn nhận như thế.

Cuộc chiến tranh Nam Bắc của Hoa Kỳ là một bài học về tính chất văn minh của một nước là luôn luôn phải tôn trọng những người chết, cho nên ba mươi mấy bốn chục năm sau thì tất cả những tử sĩ của miền Nam rải rác đều được đưa vào trong nghĩa trang quốc gia Arlington của liên bang chôn cất. Họ làm cũng đàng hoàng lắm. Việt Nam muốn học đòi văn minh thế giới thì cũng phải làm như vậy.

VOA: Theo ông, giải pháp lý tưởng đối với Nghĩa Trang Biên Hòa nên theo hướng giải quyết như thế nào?
Ông Vũ Văn Lộc: Bây giờ tôi nghĩ người cộng sản họ có những khó khăn nội tại, nhưng họ vẫn có thể tiến từng bước một. Thứ nhất là tuyên bố đó là di sản lịch sử quốc gia.

Thứ hai, các ông ấy phải di tản ngay nhà máy nước đá Bình An đang nằm chình ình ngay giữa nghĩa trang, làm sao một di sản quốc gia mà có một nhà máy chặn đường vào nghĩa trang được.
Thứ ba, không cần phải xây cất lại cho nó hoành tráng, chỉ cần giữ cho nó có căn bản để nhiên hậu những bước kế tiếp, có thể con cháu của các liệt sĩ đã chết từ từ sẽ làm lại.

Khi chúng tôi đi khỏi Sài gòn thì ở đó còn 16.000 ngôi mộ, bây giờ đã cải táng được ít nhất 5.000; và cũng còn một số đất trống nữa. Nếu theo đúng kiểu trên thế giới người ta làm, thì những liệt sĩ được chôn rải rác ở khắp nơi, khi tìm được thì họ đem vào cải táng ở đó.
Bây giờ những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa chết trong lúc bị tù cải tạo ở các nơi, nếu bây giờ muốn cải táng từ những miền xa xôi thì cũng phải được chôn ở đó. Lẽ dĩ nhiên, gia đình hay bạn bè có thể làm, không cần chính phủ cộng sản phải làm. Như vậy nó mới trở thành một di sản quốc gia một cách rõ ràng, thể hiện được tình người Việt Nam nói chung cho các thế hệ tương lai.

Cũng có thể ngay cả những người như chúng tôi có thể cải táng đem về chôn ở đó. Tôi cũng sẵn sàng rất mong khi tôi chết trở về nằm ở đó, giống như nhạc sĩ Nam Lộc đã đặt trong một bài hát “xin cho tôi một mộ phần, bên ngàn chiến hữu của tôi.”
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Người lính Nghĩa Quân trong tim tôi !

Năm tôi được 10 tuổi, gia đình tôi bỏ ruộng vườn vào ở trong khu Ấp chiến lược, được bao bọc bởi một vòng thành kiên cố có kẽm gai, có hào sâu chung quanh. Ở hai đầu ấp có hai cái đồn nghĩa quân nhỏ. Ba má tôi thỉnh thoảng trở về nhà làm ruộng, gặt lúa ban ngày, rồi ban đêm vào xóm ở. Ấp Chiến lược là một công trình chiến lược dùng để cô lập Việt Cộng ra khỏi dân chúng. Việt Cộng hay trà trộn trong dân và bắn giết dân chúng, quân lính Việt Nam Cộng Hòa.

Lúc nầy VC bắt đầu nổi dậy mạnh ở miền Tây, thâu thuế, giết hại dân thường, ám sát Xã trưởng, Ấp trưởng của VNCH gây kinh hoàng cho dân chúng, gây mất ổn định cho xã hội miền Nam đang sống trong thanh bình. Họ bịt mắt, chặt đầu hay chôn sống bất cứ người nào họ nghi ngờ là đang cộng tác với chính quyền VNCH. Khu ấp chiến lược tôi ở được bảo vệ bởi một trung đội nghĩa quân, gồm có 3 tiểu đội. Các chú lính hay ở trong đồn còn vợ con họ sống trong các căn nhà nhỏ trong xóm. Nhà tôi ở gần nhà ông Tiểu đội trưởng, tôi kêu là chú Tấn.


Lúc mới vào ấp tôi chỉ là một đứa con gái nhỏ quê mùa ngơ ngác. Nhưng lần lần tôi cặp bè bạn chơi với mấy đứa bạn, gái có, trai có, lớn tuổi, lanh lợi hơn, tôi học được nhiều thứ mới mẻ . Tôi biết cả tên cây súng nào là cây Carbine, cây nào là Garant, Thompsom, cây nào là cây súng phóng lựu .

Tôi biết tên hầu hết các chú lính nghĩa quân trong tiểu đội của chú Tấn, nào là chú Tường, chú Sanh, chú Đúng, chú Quít, chú Mực ... Các chú rất hiền và chú nào cũng nghèo. Bộ quân phục được các bà vợ vá nhiều chổ. Tôi hay lân la đến nhà các chú chơi với con của họ. Với đồng lương nghĩa quân khiêm tốn, các chú ăn uống rất đạm bạc, thường là cá linh, cá lòng tong kho, với rau lang luộc hoặc chút ít canh bí, canh bầu . Hầu như chú nào cũng có vợ và vài ba đứa con. Khi rãnh rỗi tôi thấy các chú hay giúp việc nhà cho vợ buôn bán chút đỉnh kiếm thêm tiền. Có chú giữ con cho vợ ngồi bán rau ngoài chợ. Có chú xay bột cho vợ làm bánh tầm, bánh bò bán cho dân trong xóm ..

Chú Tấn còn trẻ, nhưng ít nói . Thím Tấn là một người đàn bà hiền lành, có đôi mắt đẹp, to và dễ khóc Chú hay xay đậu nành làm thành bánh đậu hủ cho thím ủ chao, ủ tương, rồi thím đem bán vào những buổi chợ rằm, chợ ba mươi cho người ta ăn chay . Chú thím Tấn có hai đứa con . Thằng Dũng được 6 tuổi, con Lan 3 tuổi . Khi bận bán tương, chao , thím Tấn hay gởi 2 đứa nó nhờ tôi giử dùm . Tôi hay chơi đùa và coi chúng nó như em. Tụi nó cũng rất thương tôi .

Rất ít khi dân trong xóm gặp các chú nghĩa quân ra đi hành quân, các chú lặng lẽ ra đi khi trời sụp tối để giử bí mật . Họ âm thầm canh gác đâu đó dọc theo bờ thành ấp chiến lược, sáng sớm mới trở về. Họ đi về im lặng như những cái bóng mờ . Có những sáng tôi hay gặp các chú trở về, thường thì chỉ có cái áo khô, quần các chú ướt đẫm, sình bùn lên trên đùi. Các chú thường đi dép hay đi chân không, chẳng mấy ai có được đôi giầy .

Có khi đang đêm, tôi nghe súng nổ dòn giả . Sáng hôm sau các chú lính quen thuộc mang về hai cây súng chiến lợi phẩm của VC cùng với vài trái lựu đạn . Các chú kể cho mọi người trong xóm nghe là đêm rồi một toán VC băng qua ruộng phá hàng rào định đột nhập vào ấp chiến lược thu thuế và bắt dân đi làm dân công, qua sự hướng dẫn của một tên giao liên là người trong ấp. Các chú bắn chết hai tên, thây còn bỏ ngoài bìa ấp . Chúng tôi rủ nhau đi coi xác VC. Có lần các chú bắn chết cả một xuồng VC đang băng qua sông . Nhờ các bác ghe chài vớt lên, được nhiều súng . Sáng hôm sau ông Quận trưởng bất ngờ đến đồn nghĩa quân xóm tôi, khen ngợi và thưởng tiền mua một con heo quay thật lớn . Các chú được dịp ăn nhậu vui vẽ . Mấy đứa con các chú nghĩa quân cũng hí hửng được dịp ăn thịt heo quay .

Một ngày nọ tôi đi học về thấy cả xóm nhốn nháo lên, mấy thím vợ lính hớt hãi lo lắng. Thím Tấn nước mắt đoanh tròng. Tôi hỏi thì thím cho tôi hay Trung đội nghĩa quân vừa bị tấn công và 2 chú nghĩa quân hiền lành của xóm tôi vừa hy sinh, đền nợ nước. Chú Mực mà tôi quen thì bị đạp mìn VC gảy giò . Thật là một cái tang lớn cho cả xóm tôi . Linh cửu của 2 chú được quàng tại chùa, vợ con lối xóm khóc lóc tỉ tê . Đến chiều thì người ta chôn 2 chú ngoài bờ rào ấp . Một hàng 6 chú nghĩa quân đứng chào trên bờ huyệt . Quan tài hạ xuống, các chú bắn 6 loạt đạn điếc tai . Mặt các chú rất đau khổ, gầm lại khác hẳn các khuôn mặt hiền từ hàng ngày mà tôi thấy .

Vợ con hai chú đòi nhảy xuống huyệt chết theo chồng . Nhiều người phải xúm lại kéo các thím lên, khó khăn lắm mới dẩn được họ về nhà . Bọn chúng tôi và mấy đứa con trai ngày thường hay chạy nhảy, phá phách, la hét, mà giờ cũng đứng im ru . Tôi không biết VC là ai, nhưng tôi lờ mờ hiểu rằng họ là người không tốt, vì họ bắn phá mà gia đình tôi phải bỏ thôn xóm vào đây . Giờ họ còn theo định đột nhập vào cái ấp chiến lược nầy làm chi nữa ?


Cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt . VC bắt đầu tấn công miền Nam ở cấp số lớn hơn. Họ đặt mìn giật xe chạy trên quốc lộ , họ giật xập cầu , bắt dân chúng đi đắp mô cản đường xe chạy . Có khi họ giật mìn chết cả một chiếc xe đò . Nhiều người chết có cả đàn bà và trẻ em, thịt xương văng tung toé . Có lúc họ pháo kích hay đặt mìn giật xập trường học của học sinh miền Nam. Tiểu đội của chú Tấn phải đi kích liên miên. Thím Tấn lo âu thấy rõ . Trung đội nghĩa quân lập được nhiều chiến công . Nhưng các chú nghĩa quân mà tôi quen biết cũng vơi dần . Họ đã âm thầm ra đi như những người chiến sĩ vô danh và trở về im lìm, trong những chiếc chiếu, những cái poncho, trong cái cảnh da ngựa bọc thây .

Rồi cái ngày đau thương của thím Tấn và 2 đứa con dại đã đến Chú Tấn và một chú nghĩa quân nữa hy sinh trong một cuộc đụng độ dữ dội với VC năm 1965. Xác chú được khiêng để trên bộ ván trong căn nhà nhỏ của chú . Khi tôi đi học về , tôi thấy người ta đang tắm rửa thay đồ rồi để một nải chuối lên bụng chú, ngọn đèn dầu leo lét được thắp trên đầu nằm có để một chén cơm và một cái trứng vịt . Đầu chú được băng bông trắng. Máu còn rĩ ra bên màng tang . Vợ con chú vật vã khóc than, đau đớn không thể nào kể xiết. Tôi đến mắm tay 2 đứa nhỏ. Thằng Dũng thỉnh thoảng hỏi tôi “Bộ Ba em chết rồi hả chị ?”. Tôi chỉ ừ, không biết trả lời làm sao !

Đến khi chôn chú Tấn, hàng loạt đạn đưa tiễn vang rền. Thím Tấn chết lên chết xuống, bộ đồ tang trắng bê bết bùn sình. Người ta phủ lên cái mã đất của chú Tấn một lá cờ Việt Nam Cộng Hoà thật dài . Bốn phía có cắm bốn lóng trúc có gạo và muối . Tôi phải dẩn con Lan và thằng Dũng về nhà. Nước mắt tôi tuôn rơi. Cuộc sống chúng tôi đang êm đềm hiền hoà , thì tại sao người ta phải tấn công thôn ấp, giết hết người nầy người nọ. Để làm gì ? Miền Nam độc lập tự chủ, có ai chiếm đóng miền Nam đâu, mà phải giải phóng chúng tôi. Cuộc đời dân miền Nam không hạnh phúc, sung sướng gấp chục lần dân miền Bắc hay sao ? Tại sao các người phải giết chú Tấn của chúng tôi để cho cuộc đời mẹ con thằng Dũng từ đó ảm đạm, sa sút hẳn đi. Thím Tấn khóc hoài không dứt ...

Năm sau, gia đình tôi dời đi chổ khác. Tôi ít được gặp lại Thím Tấn, thằng Dũng và con Lan. Năm năm sau, tôi mới được về thăm ấp cũ, tôi mừng rỡ gặp lại thím Tấn và 2 đứa con. Bây giờ ngày nào thím cũng phải ra chợ bán tương chao nuôi con. Thằng Dũng vẫn còn nhớ tôi nhưng con Lan thì không nhận ra tôi nửa.

Sau nầy tôi có dịp tiếp xúc với nhiều binh chủng oai hùng khác của quân lực VNCH, nhưng lòng tôi vẫn còn nhớ về các chú nghĩa quân hiền lành mà tôi đã biết năm nào . Hơn phân nửa các chú đã nằm xuống để bảo vệ làng xóm, quê hương tôi . Số còn lại có người gẫy chân , có người cụt tay, sống đời tàn phế. Việt Cộng đã chà đạp lên Hiệp Định Hoà Bình Paris mà họ vừa ký kết năm 1973, cưỡng chiếm miền Nam vào năm 1975, đưa cả nước xuống 10 tầng địa ngục.
Thân tôi giờ xa xứ xa quê, đã hiểu được ý nghĩa sự hy sinh cao cả của các anh, các chú quân nhân quân lực miền Nam, thỉnh thoảng tôi nhớ lại các chú lính nghĩa quân tôi quen biết mà thấy lòng thương lắm . Cùng với bao nhiêu binh chủng khác của quân đội, các chú âm thầm lặng lẽ hy sinh, cho dân chúng trong ấp tôi được sống trong yên bình . Các chú đem xương máu ra bảo vệ nền tự do, dân chủ mới được thành hình trên miền Nam yêu dấu .

Các chú đã nằm xuống - bỏ lại con thơ, vợ dại - để ngăn cản bọn quỷ đỏ hung tàn trong công cuộc tiến chiếm miền Nam, áp đặt cả nước trong một chế độ độc tài, hung bạo, không lối thoát . Các chú đã đem sinh mạng, xương máu của mình, để ngăn cản bọn bán nước buôn dân đày đoạ cả dân tộc, và đưa đất nước Việt Nam đi ngược dòng tiến hoá cũa nhân loại . Các chú đã anh dũng hy sinh, ngăn cản bọn CSVN chiếm đoạt đất nước làm tài sản riêng tư cho đảng, rồi tự ý dâng hiến đất đai, hải đảo của tiền nhân cho quan thầy Trung Cộng .

Hởi cô bác, hởi anh chị ơi ! Nếu vị nào may mắn, có cuộc sống bình yên xin đừng quên các chú lính nghĩa quân đang sống đời tàn phế . Xin đừng quên các chú nghĩa quân đã lặng lẽ hy sinh để bảo vệ tự do, dân chủ cho dân tộc Việt Nạm Xin đừng quên vợ con họ , bị bỏ lại sau lưng với cuộc đời đau khổ.

Nguyễn Thanh Thuỷ.

(Bài nầy được viết dựa vào những sự kiện có thật. Vì sự an toàn của một số người còn kẹt lại, tác giả tạm thời không đề cập đến những địa danh và tên người cần thiết trong bài nầy)
quangminh
Posts: 549
Joined: Thu May 27, 2010 1:54 am
Contact:

Post by quangminh »


Image

Chuyện Về Bức Tượng TQLC

ToVanCap

(Xin gửi bài này như một món quà Giáng Sinh và năm mới đến tất cả quý vị đã một lần đứng ngắm bức tượng TQLC. Xin bái phục các Mũ Xanh đã góp công sức thực hiện và bảo vệ bức tượng, và cám ơn quý anh đã cung cấp tin tức để viết)


“Lão Xit đẻ ở nước Nga, cớ sao sang đứng vườn hoa nước mình?”

Thằng cháu con ông anh ngâm xong câu thơ rồi quay sang hỏi tôi:

- Chú có thể cho cháu biết “lý lịch” của bức tượng hai người lính TQLC trước tòa nhà Quốc Hội ở Sài-Gòn được không?

- Ư, ư ! Tưởng cháu hỏi lý do lão Xít lão Mao tại sao lại bị gậy sang ăn mày nước ta thì chú sẽ giải thích cặn kẽ rõ ràng, còn hỏi về bức tượng TQLC đứng trước tòa nhà quốc hội thì quả thực chú không rành lắm, chú không biết!

- Chuyện lão Mao lão Xít muốn thịt dân ta thì tụi cháu cũng còn biết, huống chi là người lớn. Nhưng các chú thường hãnh diện là lính Mũ Xanh, đi hành quân từ Bến Hải đến mũi Cà Mau, từ Cao Nguyên xuống đầm lầy, có mặt khắp mọi miền đất nước, vậy mà ngay tại trung tâm thủ đô VNCH có bức tượng TQLC nổi tiếng mà chú không biết gì về lý lịch của bức tượng này thì lạ thật..!

Thằng cháu con ông anh bỏ lửng câu hỏi rồi mỉm cười khiến tôi nóng mặt. Nhưng sự thật là vậy thì biết phản ứng ra sao, thôi thì đành hứa với cháu là chú sẽ tìm hiểu rồi trả lời sau.

Nghĩ lại mà ngượng và buồn, gia đình tôi có ba anh em đều là lính và hiện tỵ nạn tại Little SG nên mỗi cuối tuần, anh em tôi luân phiên họp mặt cả ba gia đình với con cháu, nhân dịp này cha chú kể chuyện đời lính cho thế hệ sau nghe. Người em kể về đời lính Không Quân, ông anh Cảnh Sát nói chuyện đô thành, còn tôi TQLC nói về hành quân và lao tù CS, như vậy là đầy đủ những chuyện trên trời dưới đất và hỏa ngục. Vậy mà tôi lại mù tịt về bức tượng nổi danh của Binh Chủng sừng sững giữa trung tâm thủ đô! Buồn thật! Ta buồn ta đi hỏi.

Hỏi từ các anh cao đến em thấp trong binh chủng, hỏi trên diễn đàn TQLC, mỗi người cho một tin, góp một ý, tất cả đều do trí nhớ cách nay đã hơn 40 năm. Những ý kiến tương đối chính xác, nhưng rất tiếc không tìm được tài liệu trên giấy tờ để chứng minh cụ thể nên tôi chỉ xin ghi lại, xem như một giai thoại về bức tượng hơn là một “tài liệu” chính thức. Vì vậy nếu có những chi tiết không phù hợp với ý nghĩ của bất cứ ai thì xin miễn trách.

Năm 1966, Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ giao cho mỗi đơn vị quân đội dựng một biểu tượng cho đơn vị mình tại các công viên hay công trường trong thành phố Saìgon và Chợ Lớn, những kiến trúc ấy như sau:

Hải Quân dựng tượng thánh tổ Trần Hưng Đạo tại bến Bạch Đằng.

Không Quân với “Tổ Quốc và Không Gian” trước tòa Đô Chính.

TQLC với bức tượng 2 người lính ở vườn hoa trước Quốc Hội.

Pháo Binh có biểu tượng trước hội trường Diên Hồng.

Truyền Tin với thánh tổ Trần Nguyên Hãn trước chợ Bến Thành.

Thiết Giáp là Phù Đổng Thiên Vương tại bùng binh ngã sáu Saigon.

BĐQ có tượng 3 người lính tại ngã sáu Lý Thái Tổ.

Nhẩy Dù có biểu tượng đặt trước bệnh viện Sùng Chính.

Quân Nhu đặt biểu tượng trên đường Hồng Bàng Chợ Lớn.

Quân Cụ đặt biểu tượng trên đường Khổng Tử.

Cảnh Sát đặt hai nhân viên đứng thao diễn nghỉ trên đường Thành Thái v.v..

Cái lý do thủ tướng cho thiết lập các biểu tượng này là muốn thay đổi nét mặt của thủ đô đẹp hơn và cũng mang một dáng dấp “Nội Các Chiến Tranh”. Nhưng thời gian đó cũng có những cuộc biểu tình phản chiến thường tập trung tại những địa diểm này để phản đối chính phủ, đồng thời nhiều tin đồn là một số tu sĩ của tôn giáo nọ dự định chiếm các nơi này để dựng những “hình ảnh” tôn giáo với mục đích làm khó dễ chính phủ nên chính phủ phải ra tay trước (người viết xin nhắc lại đây chỉ là tin đồn, thực hư tùy người nghe), giao cho các đơn vị quân đội thực hiện biểu tượng của mình thật gấp với lý do để kịp khánh thành vào ngày kỷ niệm NCCT chấp chánh.

Vị trí cho từng đơn vị thì được bốc thăm (?) và chính phủ cấp cho mỗi đơn vị một ngân khoản rất hạn chế. Ngân khoản hạn chế, thơi gian gấp rút nên đa số các biểu tượng không được đúng với tiêu chuẩn nghệ thuật. Đẹp và có ý nghĩa nhất là tượng Phù Đổng Thiên Vương, Thánh Tổ Thiết Giáp (TTTG), Đức Trần Hưng Đạo (TTHQ), ĐứcTrần Nguyên Hãn (TTTrTin). Người viết không dám có ý kiến về các biểu tượng khác, nhưng riêng về biểu tượng của TQLC là hai người lính trước tòa nhà Quốc Hội thì nhiều người cho là có vị trí đẹp nhất. Nhưng với tôi, vị trí lý tưởng nhất là công viên trước tòa Đô Chính với biểu tượng “Tổ Quốc và Không Gian” của KQ, và tượng Đức Trần Hưng Đạo của HQ tại công trường Mê Linh, bến Bạch Đằng.

Nói về tượng TQLC, họa sĩ Lương Trường Thọ (TTHL/TQLC) góp ý:

- “Tượng TQLC đặt trước quốc hội là một vị trí đẹp nhất của đô thành Saigon, chính vì vậy mà được nhiều người biết đến. Đầu tiên là Thiếu Tá Huỳnh Huyền Đỏ, thuộc bộ TTM làm phác thảo mẫu tượng với ba người lính TQLC. Th/tá Đỏ là điêu khắc gia xuất thân trường Mỹ Thuật Gia Định, khi đang thực hiện công trình này thì vì một lý do nào đó ông không thể tiếp tục được nữa nên giao công việc đang còn dang dở cho TQLC.

Vì phải hoàn thành đúng thời hạn để kỷ niệm ngày chấp chánh nên TQLC giao cho Thiếu Úy Đinh Văn Thuộc tiếp tục công việc với sự góp ý và hường dẫn của Họa Sĩ Lê Chánh (BTL/TQLC) và HS Lương Trường Thọ (TTHL/TQLC).

Thiếu úy Đinh Văn Thuộc là đại đội trưởng đại đội Công Vụ TQLC. Tuy không là họa sĩ hay điêu khắc gia mà chỉ là tay ngang, tay súng vậy mà ông cùng anh em đại đội Công Vụ đã nhận lãnh trách nhiệm do trên giao, họ làm việc liên tục 24/24 và anh em đã hoàn thành nhiệm vụ.

Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu đã tốn công tốn của và được phủ tồng thống yểm trợ tối đa nên mới hoàn thành được bức tượng “Tiếc Thương”, còn Thiếu Úy Đinh Văn Thuộc và anh em binh sĩ TQLC chỉ là tay ngang mà đắp được bức tượng đồ sộ như thế thì đáng khâm phục, không thể phê bình hay đòi hỏi gì hơn về nghệ thuật chuyên môn như của một điêu khắc gia được.

Nhưng bức tượng hai người lính TQLC lại là một bức tượng nổi tiếng, nhiều người biết đến do nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên nhân đó có thể là do hướng súng đại liên, và nhất là trong ngày cuối cùng của VNCH, một vị anh hùng đã chọn chân tượng đài TQLC để tự sát, chết theo thành (phố).

Hai người lính TQLC ôm súng xung phong vào tòa nhà Quốc Hội?

Chi tiết này là nguyên do chính được nhiều người biết đến và cũng là lý do khiến bức tượng hai người lính này “vất vả” với các vị dân cử ngồi trong tòa nhà quyền lực cao nhất nước! Lính TQLC thật thì đang vất vả với súng đạn khói lửa, sống chết trong nháy mắt trên khắp chiến trường để bảo vệ chế độ. Khi họ đã hy sinh mạng sống, hồn thiêng về ngồi nghỉ bên bức tượng thì lại bị các vị dân cử trong Quốc Hội hỏi “giấy phép” và bắt đi chỗ khác chơi !

Tại sao? Vào thời điềm này thì các vị dân cử thường “mổ bò” thay vì bàn quốc sự, môt số dân cử trốn lính “trốn làm” quay sang đối lập với Nội Các Chiến Tranh nên tranh dành đủ thứ gây ra tình trạng hỗn loạn và rồi đổ thửa tại hai người lính TQLC hướng súng vào tòa nhà Quốc Hội khiến họ bị xúi-quẩy!

Đồng thời một vị dân biểu bị ám sát chết (dân biểu Văn) nên một số vị dân cử càng tin “cuốc hội xui xẻo” vì cái họng súng đen ngòm kia! Dị đoan bói toán đã là một “yêu” điểm của các ông tai to mặt lon ở hậu phương nên các ông này chính thức lập phái đoàn để chất vấn TQLC về lý do tại sao lại cho lính ôm súng “xung phong vào quốc hội?”.

Thiếu Tá Lê Đình Bảo, Trưởng Phòng Chính Huấn BTL/TQLC nói:

- Một phái đoàn gồm nghị sĩ và dân biểu ( Th/Tá Bảo có nêu đích danh một số vị nhưng người viết xin miễn ghi, phí giấy) họp và thảo luận với BTL/TQLC về bức tượng với mục đích muốn dời tượng đi chỗ khác. Lý do là súng đại liên TQLC chĩa vào quốc hội? Nhưng một vị thuộc BTL xác định với phái đoàn như sau:

- “TQLC không hướng súng vào Quốc Hội mà là bảo vệ Quốc Hội, súng TQLC nhắm vào bên hông trái* QH, nơi có hang ổ của phản chiến và nội tuyến. Quý vị có thể ra tận nơi để xác định hướng súng. Hơn nữa, mỗi ngày có hằng trăm anh em chúng tôi hy sinh tại chiến trường trong khi ở hậu phương chỉ có một dân cử bị nạn mà quý vị đòi dẹp bỏ biểu tượng của TQLC chúng tôi!”

(* Xin mở dấu ngoặc ở đây để nói thêm về vị trí nhà hàng Givral và khách sạn Continental. Nếu chúng ta đứng dưới chân tượng TQLC nhìn về QH thì bên tay trái chúng ta, góc đường Lê Lợi và Tự Do là nhà hàng Givral, băng qua đường Tư Do là khách sạn Cotinental, cả hai nơi này là tụ điểm của những nhà báo và những tên tình báo thường xuyên lui tới để trao đồi tin tức, luận bàn tình hình chính trị và chiến trường thường có khuynh hướng bất lợi cho chế độ VNCH)

Thú thực khi được Th/tá TP/CH nhắc lại lời của cấp chỉ huy ngày trước, cách nay gần nửa thế kỷ, mà tôi cảm động đến nóng người, như trông thấy ông là “cây tùng trước bão”, trông thấy ông như bức tượng đồng trơ gan cùng “tuế nguyệt”. Tôi kính phục ông, kính phục ông, chỉ tiếc một điều là ông thiếu một cái nắm tay đập mạnh xuống mặt bàn., ngón tay chỉ ra cửa .. “get out”.

Rồi những con người “dị đoan” kia ra đứng dưới “chân” bức tượng để nhắm hướng và quả thực họ đã nhận thấy mũi súng của anh lính TQLC hướng thẳng vào ổ gián điệp, vào lũ phản chiến, một bọn luôn mong nền Đệ Nhị Cộng Hòa sụp đổ! Nhưng hai người lính TQLC vẫn sừng sững giữa thủ đô trong khi những người muốn đuổi họ đi chỗ khác thì đã cao bay xa chạy! Tụt quần mà chạy, bỏ lon bỏ chức mà chạy và họ đã cảm thấy an toàn hạnh phúc, thở phào nhẹ nhõm khi được chùm lên người một bộ áo giáp an toàn: “Thuốc DDT”, còn hai anh lính vẫn vững tay súng, họ chỉ sụp đổ sau khi chế độ đã bị giật sập!

Nhưng bức tượng hai anh lính TQLC không cô đơn, còn có một anh hùng khác cũng thác theo thành (phố) ngay bên cạnh các anh. Ông Phan Tấn Ngưu, THT Tổng Hội Cảnh Sát Quốc Gian VN Hải Ngoại xác nhận:

“Người tự sát dưới chân tượng đài TQLC là Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long, Ông là Chánh Sở Tư Pháp vùng I, mới vừa di tản về Saigòn. Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn long có biệt danh là .. “Long-Lý”.

Người ta gọi ông là Long-Lý, vì ông làm việc với phương châm “Pháp bất vị thân”. Thân sơ gì cũng không tha, một khi vi phạm luật pháp quốc Gia thì chỉ có nhẹ thì giam, nặng thì “trảm”. Dễ gì có được một “Bao Công” thời đại như ông, tôi xin kính cẩn cúi đầu lạy ông: Ông Long-Lý.

Trở lại cây súng của hai anh linh TQLC, Tr/Tá Đoàn Trọng Cảo nói:

- Khi đặt bức tượng, các thẩm quyền TQLC cũng suy nghĩ nhiều lắm, không phải vì lý do phong thủy quỷ quái gì cả mà vì vấn đề tế nhị, không thể để hai cái mông hướng về các vị dân cử được, mà phải là hướng mặt về cơ quan quyền lực nhất nước. Nhưng phải xê dịch làm sao cho mũi súng chếch sang một bên, sang bên trái thì có ý nghĩa hơn. Continental là nơi bọn phá thối, bọn ăn cơm Quốc Gia thờ ma VC hay ngồi bàn chuyện “dại sự”, hãy hướng mũi súng về đó.

Chỉ huy là tiên liệu, cấp chỉ huy của chúng tôi đã tiên liệu và sự việc đã xảy ra đúng như dự đoán, các cấp chỉ huy của chúng tôi đã đi “bốt-đờ-sô” vào trong bụng mấy anh dân cử đối lập cuội nhưng phản chiến thực. Để kiểm chứng, tôi gọi cho cựu dân biểu Tô Đức H. đơn vị Lâm Đồng, hiện ở Alhambra:

- Ê H.. hồi đó có chuyện mấy tên dân cử đòi bứng tượng TQLC đi không?

- Có, nhưng họ bị hố, khi xem lại thì mới biết súng nhắm vào Continental.

Nội dung bức tượng hai người lính TQLC như vậy là tuyệt vời, đầy đủ ý nghĩa, nhưng hình thức thì .. với cái nhìn méo mó mắt trần của cá nhân tôi thì có một vài khuyết điểm, thí dụ như lòng cây súng đại liên ngắn quá. Còn cái mông của người lính thì ôi thôi.. đời lính hành quân chỉ nhá toàn cơm sấy với rau rừng, khô cá mối, thịnh soạn thì may ra có thêm thịt ba-lát ration C thì lấy gì tẩm bổ mà cái mông to thế! Nghe tôi phê bình nghệ thuật, mấy MX bên cạnh kê nhẹ một phát:

- “Anh không thích mông to nhưng nhiều người lại yêu nét duyên dáng ấy”

Thấy các tay súng này bắt đầu bàn ngang, bắn hoảng, hs Thọ vội giải thích:

- Một điêu khắc gia chính hiệu có khi ngồi hằng giờ chỉ để sửa lại một nét trên tác phẩm của họ, có khi sửa hôm nay, mai đục đi đắp lại, nghệ thuật mà, trong khi Th/Úy Thuộc và anh em thuộc Đ.Đ Công Vụ chỉ là tay ngang lại phải đắp tượng trong điều kiện “khắc nghiệt”, thời gian bị hạn chế, tự lo tìm vật liệu thì không có bất cứ một nhà điêu khắc nào làm hơn các anh được. Theo bản vẽ lúc đầu của điêu khắc gia Huỳnh Huyền Đỏ là ba người lính, nhưng khi toán Th/Uy Thuộc đắp thì chỉ có hai, có lẽ vì đắp lớn quá nên thiếu chỗ.

- Thực ra các với sự góp ý của họa sĩ Lê Chánh, các anh đắp cũng nghệ thuật lắm, nhưng vì toàn trọng lượng của bức tượng này quá nặng, phải dùng xe cần cẩu để đưa vào đúng vị trí, lại phải xê dịch nhiều lần theo ý của cấp trên sao cho hướng súng không “trực xạ” vào Quốc Hội, vì thế lòng súng bị cong và mông người lính bị nứt! Ngày khánh thành gần kề, không còn thời gian sửa chữa nên ông Thuộc cho cưa bớt phần cong lòng súng đi. Còn cái mông anh lính? Lại phải độn thêm, đắp thêm nhiều lớp đề che đi chỗ bị nứt và kết dính các bộ phận khác vào với nhau, đó cũng là một nghệ thuật.

Người viết lại tiểu sử bức tượng hai người lính TQLC trước tòa nhà QH/VNCH với sự góp ý khá chính xác của những nhân chứng sống, nhưng vẫn xin được xem như câu chuyện “bên lề” vì thiếu tài liệu chứng minh. Trong tương lai nếu có những góp ý khác tôi sẽ xin bổ sung sau, nhưng nếu ai chưa có tài liệu chính xác mà phản bác điều tôi ghi chép thì tôi xin miễn trả lời đúng sai.

Nhưng có một điều mà những ai có một tấm lòng của con người thì đều thấy sai, đó là hành động phá bỏ những tác phẩm nghệ thuật của bọn Taliban. Taliban chính hiệu lấy súng cà-nông bắn nát những bức tượng Phật, bọn taliban cu-mu-lít vixi thì !!! Bần tiện hơn, chúng đục đẽo bào gọt phá bỏ cả bảng tên kỷ niệm những nạn nhân hy sinh trên đường tìm tự do ở một hòn đảo hoang vu ngoài lãnh thổ VN thì chúng tha gì những hình ảnh của VNCH, dù là nghệ thuật.
quangminh
Posts: 549
Joined: Thu May 27, 2010 1:54 am
Contact:

Post by quangminh »


Image

Từ vực sâu kêu lên cha tôi
Tô Văn Cấp


Đêm tưởng niệm ngày quốc hận 30/4/75 chấm dứt từ lâu, mọi người đã về hết, chỉ còn lại những vòng hoa, sương mù bao phủ, những ngọn đèn trong công viên tạo nên một vùng ánh sáng mờ ảo bao quanh ngọn đuốc trên lư hương chập chờn theo gió hú. Đêm khuya trời lạnh, giữa khung cảnh tĩnh mịch thê lương ấy, tôi thấy một bóng người đi quanh quẩn bên tượng đài, sinh nghi người này là kẻ phá hoại, dù đã trễ giờ làm việc ca đêm tôi vẫn dừng xe bên lề đường để quan sát.

Cái bóng đi tới đi lui, khi ngồi khi đứng, đốm lửa liên tục lóe sáng cho tôi biết người đó đang hút thuốc. Tôi nghĩ thái độ ung dung như thế không phải là kẻ gian, người này hẳn có chuyện buồn phiền khó giải quyết gì đây nên mới tìm nơi vắng vẻ, phải báo cho ông ta biết đêm khuya lởn vởn quanh tượng đài Việt Mỹ có thể sẽ bị cảnh sát bắt, nếu cần về nhà thì sẵn xe tôi cho quá giang luôn.

Khi tới gần, tôi giật mình nhận ra đó chính là thằng em con ông chú, nó đi lính TQLC. Hồi chiều nó đến rủ thằng em vợ tôi, thuộc lính HQ đi dự lễ tưởng niệm ngày quốc hận. Tôi bực mình vì cái tính lang thang này nên sẳng giọng:

_ Đêm khuya rồi chú không về mà lại ở đây làm gì? Còn Tuấn đâu?

_ Tuấn nó có chỗ về đàng hoàng rồi, còn em thì về đâu bây giờ?

_ Tại sao? Tuấn nó đi về đâu?

_ Tại vì tối nay có sáu vị thượng tọa đến cầu nguyện dâng hương câu Phật nên Tuấn được Phật thương cho về niết bản rồi. Còn em! Có “cha” nào đến cầu xin cho em được về với Chúa đâu nên em đành lang thang chứ biết về đâu bây giờ?

_ Chú mày đã làm đơn xin quý cha đến giúp đỡ chưa?

_ Dạ em đã làm nhiều lần nhiều lời thỉnh cầu rồi.

_ Thư thỉnh cầu chú mày viết như thế nảo?

_ “Lạy cha ở trên Bolsa,chúng con ở dưới vực sâu, kêu lên quý cha, xin quý cha lắng nghe lời chúng con cầu xin”.

Thưa quý cha và quý đọc giả, đoạn viết trên chỉ là tưởng tượng thôi, thực tế thì cả hai thằng em, một Phật tử, một con chiên, cả hai đã tử trận từ lâu và xác các em còn nằm lại ở bờ biển Thuận An, đảo Hoàng Sa, còn linh hồn họ hiện lang thang nơi đâu thì không ai biết! Vì thế thân nhân và vợ con các em hiện đang tỵ nạn ở HK, luôn đến tham dự các buổi tưởng niệm cầu nguyện cho các em cùng các anh hùng tử sĩ quân đội Việt Nam Cộng Hòa, hy vọng với sự thông công của đồng hương, nhất là các chức sắc tôn giáo, linh hồn các em được sớm siêu thoát.

Chính vì thế chúng tôi mới nhận ra một sự thật đau lòng muốn khóc là chưa bao giờ chúng tôi thấy sự hiện diện quý báu của các linh mục trong thành phần Hội Đồng Liên Tôn hoặc các linh mục thuộc các cộng đoàn Công Giáo đến để dâng hương cho những người đã chết cho quê hương để người khác được sống.

Đã nhiều lần, nhiều năm như thế rồi và gần đây nhất, đêm tưởng niệm 35 năm mất nước được tổ chức tại tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ, thị xã Westminster California để cầu nguyện cho Tổ Quốc trường tồn và anh linh tử sĩ sớm về miền vĩnh cửu. Chưa bao giờ số người tham dự đông như thế, kể cả các vị dân cử liên bang, tiểu bang, địa phương, dĩ nhiên không bao giờ thiếu các chức sắc trong Hội Đồng Liên Tôn, đặc biệt có tới 6 vị thuộc giáo hội Phật Giáo và đặc đặc (2 chữ đặc) biệt nhất là về phía giáo hội Công Giáo thì đếm không được! Có cha nào đâu mà tính với toán! Có lẽ các ngài đã tính toán kỹ càng hết cả rồi!

Sau phần giới thiệu của MC Minh Phượng và Đỗ Tân Khoa, mắt tôi cứ hoa lên và vội cúi xuống vì sợ người bên cạnh biết tôi là “con chiên”, trong số trên dưới 3 ngàn người tham dự thì có “con chiên” nào ở trong tinh trạng phập phồng lo sợ như tôi, lỡ có ai hỏi: “Cha ơi! Bây giờ cha ở đâu?” Thì biết trả lời sao!

Mà thà rằng họ hỏi đi để tôi còn có dịp biện minh cãi chày cãi cối rằng thì mà là quý chủ chăn không thể có mặt là tại bị lý do các vị chủ chăn không tới được là ..không tới được, còn hơn là họ im lặng, coi sự hiện diện của quý ngài không cần thiết, coi như “ne..pas”, thế mới là thốn .. cho cho chúng con chứ.

Hy vọng mọi chuyện rồi sẽ quên đi, lâu .. sẽ hóa bùn như những lần trước. Ai dè, đùng một cái lại nhiều điều ong tiếng ve về ngày lễ “Thương Xót Chúa” tại Long Beach mà ban tổ chức đã phải thuê an ninh bảo vệ vị chủ tế, giáo dân khó mà được phép lại gần để quỳ gối hôn nhẫn trên tay Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn! Sao thế nhẩy? Chúa thương xót mục tử mà sao mục tử không thương xót con chiên? Kẻ chết bị cha xa lánh, kẻ sống cũng bị cha tránh xa!

Nghe tin đồn có giáo luật cấm tu sĩ làm chính trị nên tôi đành đi tìm hiểu sự thật, hỏi một lần cho xong để được bình an trong tâm hồn, không còn hồi hộp lo âu mong chờ “có tin vui giữa giờ tuyệt vọng”, chờ cha trong tuyệt vọng nữa. Hỏi ông Chánh thì ông tránh.. , hỏi ông Trùm thì ông chùm.., hỏi cha gần nhiều lần thì cha vẫn làm thinh! Thôi thì đi hỏi cha ở xa để biết sự thật. Sự thật có luật giáo hội không cho phép các tu sĩ làm chính trị không.

Theo Lm Tôn-Ngô (TX) thì ngài không nhớ năm nào bộ Giáo Sĩ Tòa Thánh ban hành luật cấm giáo sĩ làm chính trị, nhưng chắc chắn luật này có trước Cộng Đồng Vaticano II (1962-1965).

Theo LM Nguyễn Hải (Colorado) và Nguyễn Hùng (Iowa) thì luật cấm các giáo sĩ làm chính trị đã được tu chính nhiều lần và luật hiện hành do Đức Thánh Cha John Paul II ban hành ngày 25/1/1983 gồm mấy điểm chính như sau:

_ 1/Luật số 285/3: Cấm các giáo sĩ đảm nhận các chức vụ công quyền.

_ 2/Luật 286: Cấm các giáo sĩ làm thương mại.

_ 3/Luật số 287/1: Các giáo sĩ hãy tận tâm cổ võ duy trì hòa bình hòa đồng giữa mọi người dựa trên nền tảng Công Bằng.

_ 4/Luật số 287/2: Cấm các giao sĩ không được tham gia tích cực vào các đảng phái chính trị hoặc dự phần lãnh đạo trong các nghiệp đoàn.

Luật là vậy, nhưng muốn hiểu luật để thi hành thì phải có luật sư, luật giáo hội là như vậy nhưng muốn hiểu thì đi hỏi cha, và Lm Nguyễn Hùng trả lời:

_ “Những điều luật trên không cấm tu sĩ đi biểu tình để đòi hỏi tự do dân chủ hòa bình dựa trên nền tảng Công Bằng mà còn phải tận tâm (287/1). Luật không cấm các tu sĩ đọc kinh cầu nguyện làm lễ cho các chiến sĩ đã hy sinh cho tự do, công bằng và Tổ Quốc, vì đó là nghĩa vụ của người công dân. Linh mục cũng là một công dân mà” (Lm Nguyễn Hùng Iowa).

Lm Nguyễn Hùng (Iowa) là con của một cựu quân nhân VNCH, ngài đi tu và thụ phong linh mục ở Hoa Kỳ, nay Lm phụ trách mấy giáo xứ đạo nghèo vùng đồng quê trồng bắp Iowa toàn là con chiên không phải Việt Nam nên ngài nghèo theo. Nhưng ngài luôn dành dụm những số tiền mà ngài quyên góp được để gửi về cho những TPB/VNCH ở tại VN, hoặc ngài gửi tiền ủng hộ tới các hội TPB tai HK (Manthanh, Latma, Kimnguyen, Sanseo v.v.. là nhân chứng sống).

Lm Nguyễn Hải (Colorado) cũng được thụ phong linh mục tại HK, hồi nhỏ ngài tu dòng Đồng Công Thủ Đức, có dịp tiếp xúc nhiều với anh em quân nhận TQLC, ông thường nhìn thấy những vành khăn tang trên đầu quả phụ và tuổi thơ quanh các trại gia binh nên hiện nay, dù rất nghèo, vì cha phụ trách giáo xứ ít người Việt, nhưng lúc nào cũng nghĩ đến TPB/VNCH, cha thường gửi 2 cái ngân phiếu, mỗi cái có 4 con số cho 2 binh chủng để ủng hộ TPB của các đơn vị này. Sau đây là ý kiến của Lm Hải về việc giáo hội cấm các tu sĩ làm chính trị:

_ “ Giáo hội tuy cấm các Lm không được tham gia các hoạt động chính trị như điều 285/3 và 287/2, nhưng con trộm nghĩ nếu tham dự cầu nguyện cho quê hương dân tộc thì đâu có phải là làm chính trị như luật nói đâu? Bản thân con cũng tham dự những buổi cầu nguyện này, vì Lm là thuộc giáo hội, nhưng vốn là một Lm gốc Việt Nam, quê hương mình đau khổ thì chối bỏ, quên đi được hay sao? Cầu Nguyện cho quê hương đất nước thì ai cũng nên làm. Và phúc âm cũng buộc các Lm phải lên tiếng cho công bằng, tự do, bác ái, đăc biệt là phải lên tiếng đòi hỏi quyền làm người, phản đối các tệ nạn xã hội, buôn bán phụ nữ. Các LM phải lên tiếng chứ không thể làm thinh được.” (Lm Nguyễn Colo).

Ngoài ra Lm Louis Maria Phạm Hữu (TX), Lm Lê Tiến (FW) làm lễ cầu nguyện và khuyên giáo dân ký vào thỉnh nguyện thư hổ trợ giáo xứ Thái Hà, Đồng Chiêm. Lên tiếng trong thánh lễ cầu bình an, tự do tín ngưỡng cho VN, cho người linh VNCH hy sinh trong cuộc chiến, trong lao tù và trên đường vượt biên, vượt biển, cho những nhà đấu tranh cho dân chủ. Các cha tham dự những buổi lễ của cộng đồng tỵ nạn, chào Quốc Kỳ VNCH ngày khai giảng các lớp giáo lý.

Còn ý kiến của Lm Tôn-Ngô (TX) thì sao?

Khi được hỏi Giáo Hội có cấm các tu sĩ than gia các đảng phái chính trị hay ứng cử hoặc giữ các chức vụ công quyền không?

Để giải thích về vấn đề này, Lm Tôn xác nhận Giáo Hội cấm các tu sĩ làm chính trị như đã nói ở mục 1 và 4 kể trên. Tuy nhiên ngài còn viết một bài dài, lấy kinh thánh dẫn chứng, ngài phân tích tình và lý một cách tỉ mỉ giữa đạo và đời mà một cái đầu “bình vôi” như tôi không thể nào hiểu nổi nên tôi không dám lãm bạn hay trích dẫn nhiều, sợ mang tiếng là cắt của ngài chỗ này gắn vào chỗ kia có thể sai ý của ngài, tôi chỉ xin trích một vài đoạn:

a/ Giáo Hội không làm chính trị theo nghĩa tranh dành với ai quyền cai trị con người và quyền khai thác tài nguyên để trục lợi cho cá nhân. Tuy nhiên Giáo Hội vẫn dành quyền lên iếng và có thái độ về vấn đề có liên quan mật thiết đến quyền căn bản của con người như tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo. Nếu chế độ nào vi phạm thì Giáo Hội phải lên tiếng đòi hỏi cho đến khi được tôn trọng.

b/ Giáo Hội không can thiệp xúi dục ủng hộ chế độ nào, nhưng phải lên tiếng can thiệp khi chế độ nào chủ trương và đường lối đi ngược hay vi phạm những quyền căn bản của con người.

c/ Tuy không tự mình tham gia vào chính trị nhưng Giáo Hội tôn trọng và khuyến khích người giáo dân chu toàn nhiệm vụ công dân của mình trong các lãnh vực chính trị, quân sự, xã hội kính tế văn hóa giáo dục.

d/ Riêng hàng giáo sĩ tu sĩ, Giáo Hội không bao giờ cho phép tham gia các đảng phái chính trị và ra ứng cử vào các chức vụ công quyền.

Trên đây là tóm tắt bài viết của Lm Tôn Ngô về vấn đề giáo hội cấm tu sỉ làm chính trị, nhưng trong thư gửi trả lời người viết, ngài tâm sự thêm:

_e/ Giáo Hội cấm các tu sĩ không được làm chính trị kể cả tham gia những hoạt động chính trị. Có lẽ vì lý do này mà các linh mục VN ở Mỹ nói chung và ở CA nói riêng đã không xuất hiện trong những dịp lễ hội có màu sắc chính trị. Bản thân tôi cũng không tham gia những sinh hoạt trên ở địa phương tôi ở, mặc dù tôi không về VN như các Lm khác”. (Lm Tôn-Ngô)

Về danh từ “Chính Trị”, nếu đi tìm nghĩa trong các tự điển tiếng Việt thì hầu như chỉ diễn giải một cách tổng quát, cũng như luật Giáo Hội đưa ra một cách tổng quát là cấm giáo sĩ đảm nhận chức vụ công quyền, không tham gia đảng phái và không làm thương mại. Dĩ nhiên luật Giáo Hội ban chung cho tất cả mọi nơi, nhưng mỗi quốc gia, mỗi địa phương có những thể chế chính trị khác nhau thì lại cần phải áp dụng sao cho hợp tình hợp lý giữa đạo và đời.

Ở các quốc gia có tự do dân chủ, thí dụ như Hoa Kỳ, các nước Âu Châu v.v.. một tu sĩ giữ chức vụ công quyền như tổng thống, bộ trưởng, dân biểu nghị sĩ v.v.. muốn tham gia đảng phái thì buộc phải từ bỏ tước vị giáo hội ban cho, cái nghĩa “chính trị” chỉ đơn giản và dễ hiểu như thế, các tu sĩ này không còn việc gì khác để tham gia, nhưng đối với chế độ Cộng Sản thì không đơn giản như vậy.

Ai cũng biết từ khởi thủy đến hiện tại và tương lai, CS không chấp nhận bất cứ tôn giáo nào, có CS thì không có tôn giáo. Không cần phải vác kính hiển vi đi tìm virus này, nó hiện rõ và đang tiêu diệt tôn giáo ở các nước Trung Cộng, Việt Cộng, Hàn Cộng, Cuba Cộng. Tôn giáo muốn tồn tại phải tranh đấu, mà theo giáo luật việc tranh đấu này là đòi hỏi quyền căn bản của con người. Cái GƯƠNG sáng để soi là Giáo Hội Công Giáo Ba Lan và Công Đoàn Đoàn Kết.

Khởi thủy Ba Lan không phải CS, nhưng rồi CS Liên-Xô xâm chiếm đem đạo “CS” áp đặt lên xứ sở này, sau bao năm kiên trì tranh đấu, đạo “CS” đã phải chết và đạo Công Giáo hồi sinh, cả thế giới phải công nhận vai trò tối quan trọng trong thành công này của Đức cố Giáo Hoàng và Công Đoàn Đoàn Kết. Vậy thì vai trò và nhiệm vụ của các tu sĩ Ba Lan trong việc bảo vệ được tôn giáo của họ có vi phạm giáo luật không? Đấu tranh với “bọn thu thuế” có phạm giáo luật không? Các tu sĩ trong Giáo Hội Công Giáo Ba Lan kêu gọi đoàn kết yểm trợ vả tham gia đấu tranh cho tự do tín ngưỡng, không riêng cho Ba Lan mà còn cho cả đồng đạo ở trong nước Việt Nam. Nhân vụ Đồng Chiêm ngày 4 tháng 2 năm 2010, xin quý tu sĩ quận Cam nghe đài phát thanh quốc tế RFI:

_ Giáo hội Công Giáo Ba Lan chọn ngày 4 tháng 2 làm ngày toàn quốc Ba Lan cầu nguyện hòa bình cho giáo dân Việt Nam, đặc biệt là đối với Đồng Chiêm. Ngoài việc cầu nguyện ở các thánh đường, các vị chủ chăn và giáo dân Ba Lan còn gửi thư, gọi điện thoại đến tòa đại sứ VC để chất vấn về hành động dã man đối với giáo sĩ giáo dân Đồng Chiêm (RFI 4 tháng 2/01)

Nhìn thẳng vào XHCNVN hiện tại, chưa bao giờ mà chùa chiền thánh thất giáo đường v.v.. có đông người đến dâng hương, đốt nhang, đốt vàng mã quỳ lạy khấn vái bốn phương tám hướng như bây giờ. Quý vị cho đó là có tự do tôn giáo à? Rõ ngớ ngẩn, đó là do lòng dân mất tin tưởng vào hiện tại mà đành cầu xin thánh thần thiên địa ra tay độ trì và nhà cầm quyền thả lỏng cho thiên hạ hiểu rằng đó là tự do tôn giáo, cái thứ tôn giáo của đảng là đạo “CS”. Quý vị hãy thử giảng đạo, học đạo, cử hành đạo theo nghi thức chính của tôn giáo mình xem, VC nó trảm liền, dùi cui roi diện đập cho quý vị té đái vãi c.. và thực tế đã xẩy ra như thế!

Sở dĩ tôn giáo còn tồn tại và vì CS chưa đủ mạnh để tiêu diệt các tôn giáo, nhất là đối với GHCG, vì còn lòng tin vào Chúa của con chiên trong nước như các giáo xứ Thái Hà, Đồng Chiêm v.v.. và những “cây tùng trước bão” như Đức Tồng Kiệt, cha Lý, cha Hợi, cha Giải v.v..

Nhưng các tu sĩ giáo dân trong nước đang đứng trước muôn vàn khó khăn , trước súng đạn, tù đày và đã đổ máu và nước mắt để bảo tồn đạo giáo nhưng không biết còn chịu đựng được bao lâu nếu không được “đồng đạo” hải ngoại tiếp sức, góp tiếng nói. Điển hình như cây đại thụ Đức Tổng Ngô Quang Kiệt còn bị bên trong chặt rễ bên ngoài bứng gốc!Theo giáo luật, Đức Tổng Kiệt không làm chính trị, không làm đại biểu “hội đồng nhăn răng”, không buôn thần bán thánh, ngài chỉ lên tiếng bảo vệ tài sản giáo hội và tự do tín ngưỡng.

Trong khi đó thì giới tu sĩ Công Giáo ở hải ngoại vẫn bình chân như vại, nhất là các linh mục gốc Việt ở thủ đô tỵ nạn CS thuộc Giáo Phận Orange, rất ít vị dám lên tiếng bênh vực cho chính đồng đạo đồng tu của mình đang bị bức tử tại VN! Qúy ngài đã và đang thủ trong pháo đài tháp ngà, xung quanh là các giáo dân “không đội trời chung với VC”, nếu quý ngài có lên tiếng phản đối VC, ủng hộ giáo dân trong nước VN như các giáo sĩ, tu sĩ Ba Lan đã tranh đấu cho giáo dân Việt Nam thì cũng không có bất cứ một loại vũ khí tối tân nào của VC có thể làm rụng lông chân của quý ngài trừ phi qúy ngài phản đối VC xong rồi đi thăm XHCN, đi cứu trợ XHCN mà không xin phép nó thì nó vặt lông.

Để được an toàn từ chân tơ đến kẽ tóc, không rụng một sợi lông thì cứ im lặng là vàng, nếu cần bảo đảm cho việc vô ra được an toàn thong thả thì lúc nào cũng sẵn sàng ở đầu môi để thở “hắt ra”: “Tôi không làm chính trị”.

Giáo luật cấm giáo sĩ làm chính trị tức đảm nhận các chức vụ công quyền (điều 285/3), cấm tham gia tích cực hay lãnh đạo các đảng phái (điều 287/2) thế rồi vì lý do riêng tư, vì muốn “ra vô” nên quý vị suy diễn rộng thêm theo chiều hướng có lợi cho bản thân, không tham gia các sinh hoạt với cộng đồng tỵ nạn, không dám đến các buổi lễ kỷ niệm để thắp nhang trước bàn thờ Tổ Quốc để dâng lời cầu nguyện cho các anh linh tử sĩ vốn là con chiên của quý ngài đã đi lính để quý ngài đi tu, đã tử trận để quý ngài được sống an toàn trên đất tạm dung.

Kính thưa Linh mục Nguyễn Hải (Colorado) và Nguyễn Hùng (Iowa).

Hai cha là những người trẻ, thụ phong linh mục ở Hoa Kỳ mà còn phân tích tình lý, đạo đời, nhiệm vụ chủ chăn và bổn phận người dân tỵ nạn CS, quý cha yểm trợ hết mình cho TPB/QLVNCH, tham gia các buổi sinh hoạt đòi hỏi tự do tín ngưỡng, tự do dân chủ cho quê hương và con tin chắc rằng còn rất nhiều linh mục đồng quan điểm với hai cha. Sáng danh Thiên Chúa thì hai cha đã làm vậy thì ước mong hai cha làm sáng trí cho đồng tu, cho những ai còn mê ngủ.

Riêng với Lm Tôn-Ngô và những quý vị cùng quan điểm chính trị như ngài Tôn là không đến tham dự những buổi lễ kỷ niệm có “màu sắc chính trị”, có nghĩa là đụng chạm tới VC, làm VC phiền lòng thì con xin trình lên quý ngài một vài thắc mắc sau đây:

1/ Luật Giáo Hội ghi rõ ràng cấm tu sĩ tham gia các đảng phái chính trị, cấm ứng cử các chức vụ dân cử, cấm giữ các chức vụ công quyền. Đoạn nào, chương nào cấm các tu sĩ, linh mục tham gia các buổi lễ cầu cho quốc thái dân an, cho tự do tôn giáo, cho những người đã hy sinh cho chính chúng ta, cho quý Lm? Quý vị gọi đó là có “màu sắc chính trị”! Ráng nhét chữ “CT” vào để có cớ tránh né!

2/ Quốc Gia và CS khác biệt như Thiên Đàng và địa ngục, chọn một trong 2 chế độ này, yêu cái này mà ghét cái kia có phải là chính trị không?

_ Nếu không thì tại sao quý Lm không đến tham dự các buổi lễ kỷ niệm và chỉ để cầu nguyện cho quốc thái dân an, cầu cho anh linh các tử sĩ sớm siêu thoát. Không phải chính trị thì quý ngài không vi phạm giáo luật cấm tu sĩ làm chính trị.

_ Nếu có, tức bỏ CS để đi tìm tự do là một thái độ chính trị thì quý ngài đang sống trên đất tạm dung này với tư cách gì? Du học hay di dân? Du học thì đã tới giai đoạn hồi hương, về phục vụ giáo dân trong nước. Di dân ư? Con chiên ở đâu là Chúa ở đó, tất cả các giáo phận trong nước, nhất là những vùng xa xôi hẻo lánh, có giáo dân mà không có cha! “Xin các cha về đây dâng thánh lễ cho các con”.

Không du học, không di dân thì ắt phải là vượt biên, vượt biển, hoặc HO, đây là thành phần có một thái độ chính trị dứt khoát. Nếu quý cha thuộc diện này tức là đã hoạt động chính trị, tức là quý ngài đã vi phạm giáo luật.

Nói gần nói xa chẳng qua nói thật là việc các Lm gốc Việt Nam tỵ nạn tại Hoa Kỳ đã không đến tham dự các buổi lễ kỷ niệm của QLVNCH, không tham dự các buổi lễ cầu nguyện cho anh linh tử sĩ là một thái độ rất ư là khó hiểu, “hiểu chết liền”. Ngoài nhiệm vụ là một tu sĩ, quý ngài còn là một người dân tỵ nạn CS, mỗi một năm chỉ có 2 ngày kỷ niệm đáng nhớ để dâng hương cầu nguyện cho anh linh tử sĩ (tôi cứ phải nhắc 4 chữ này) là 30/4 và 19/6, nếu mỗi buổi lệ như vậy chỉ cần một cha thôi thì phải 11 năm mới tới phiên. Vậy mà nỡ lòng nào!

Ngày xưa dưới chế độ VNCH có biết bao linh mục đã là quân nhân, là tuyên úy quân đội, sống chết với lính và sau 30/4/75 còn bị VC “trừng trị đích đáng” trong các nhà tù và nhiều vị đã hy sinh! Quý linh mục hiện nay ở hải ngoại nghĩ gì về vai trò của các vị “đồng tu” này.

Ngày xưa dưới chế độ VNCH có một tên gọi là “Phan Khổ Ác” bày trò đi làm nghề hốt rác để mị dân đề che mắt quý ngài mà làm tay sai cho VC. Ngày nay ở hải ngoại có nhiều vị cũng bắt chước Phan Khổ Ác đi vào XHCN làm đơn xin hốt những đống rác do VC tạo ra! VC nó thải ra bao nhiêu đói khát, đĩ điếm, xì ke là xin hốt hết, quý vị nghĩ gì về vai trò của anh “triệu tấn hàng” này.

Kính thưa quý Giám Mục, quý Đức Ông và 22 linh mục thuộc thuộc 14 Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam thuộc Giáo Phận Orange California, xin quý ngài tôn trọng giáo luật là không được lập đảng chính trị, không được ứng cử các chức vụ dân cử, không được làm tổng bộ trưởng. Nhưng đừng vin cớ gì mà suy diễn 2 chữ chính trị để khỏi làm nhiệm vụ một người dân tỵ nạn. Dù đã là công dân Mỹ nhưng quý ngài là Lm gốc Việt Nam, con chiên của quý ngài tuyệt đại đa số là dân tỵ nạn CS, xin làm gương hướng dẫn cho chúng con việc phải làm để đòi hỏi tự do tín ngưỡng cho dân tộc Việt Nam như lời giải thích của Linh Muc Tôn Ngô ở các tiểu đoạn a, b, c kể trên.

Nay Kính. Những con chiên không ngoan đạo. Cả đời chỉ vào giáo đường 3 lần, một lần được bế vào, một lần dắt tay nhau vào và một lần được khiêng vào .
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

TRUNG TÁ VÕ VÀNG
XIN MỘT LẦN ĐƯỢC NHẮC TÊN ANH


Trương Đức Thủy





Thời gian vẫn vô tình trôi qua ,như nước chảy dưới cầu , như vó câu qua cữa sổ .... Và lòng ngươì thì bị cuốn hút vào trong cơn lốc xoáy nghiệt ngã của thời cuộc . Tháng Tư uất hận một lần nữa lại về ......
Đã bao lần tôi muốn viết vài giòng trân trọng ,để tưởng nhớ anh , nhưng tiếc thay tôi biết quá ít về đời tư của anh , dù đã có thời gian anh đối xử và thương mến tôi ,như thằng em nhỏ dại .Sau khi cãi taọ về , tôi đã cố tìm gặp những người có mặt bên anh trong những giây phút cuối , để lấy thêm dữ kiện sống ,nhưng cũng không thỏa mản được, những điều tôi muốn biết . Ngay khi mới đinh cư tại Hoa kỳ, tôi đã tìm tòi qua báo chí , nhất là những thiên hồi ký trong tù của nhiều người , nhưng cũng chỉ thoáng qua tên anh .Tháng Tư năm 1975 , tháng Tư 2004 : 29 năm , một phần ba đời người sống thọ ,Thời gian thật dài .Sợ chờ đợi mãi , có khi trí óc bị bào mòn . và thời gian sẻ đưa tất cả vào quên lảng . Thà thắp lên tia lửa nhỏ ,còn hơn ngôì nguyền ruả bóng đêm .Tôi quyết định, mạo muội viết những kỷ niệm về anh ,goị là thắp nén hương tưởng niệm người anh-hùng , tôi hằng kính yêu ,nhân ngày giổ thứ 27 sắp tới của anh . Tháng 7 năm 1977 .......... Tháng 7 năm 2004.

QUEN ANH NHƯ LÀ MỘT ĐỊNH MỆNH : . Ngươì ta ở đời ,có hai trường hợp . thứ nhất : Mới thoáng gặp nhau là đã có cảm tình , muốn trò chuyện . muốn kết thân, hay trai gái mơí gặp nhau đầu mày ,cuối mắt đã phãi lòng nhau , muốn trao nhau trái tim yêu nóng hổi , sách tướng số, bói toán goị là hạp căn , hạp tuổi , hạp mạng v v .... Thứ hai : Mới gặp nhau dù chưa từng quen biết , mới thoáng qua là đã muốn doa , muốn đục , muốn đuổi đi cho khuất mắt , sách tướng số gọi là xung khắc , không hạp căn , không hạp mạng , gần nhau là như chó với mèo ... Tôi hân hạnh quen anh nằm trong hai trường hợp trên . Sau chuyến công tác , trở về Đànẵng , buổi chiều hôm đó tôi dẫn cô bé Lệ H...đi ăn ở nhà hàng nổi ,trước khách sạn Bạch đằng , đây là lần đầu tiên tôi đưa cô bé đi ăn ở nhà hàng , thường thường chúng tôi đi ăn kem Diệp hãi Dung , cơm gà Hãi Nam , hay bánh hỏi thịt nướng , chè Ngã Năm ....đi vào chỗ nào cô bé cũng rụt rè , e-lệ ,tôi muốn đưa vào nhà hàng ,để cô bé làm quen với không khí mới lạ .Bước chân vào trong , cô bé đã tỏ ra mất bình tỉnh ,trước không khí nhiểm đầy khói thuốc và sắc aó rằn ri ., tôi trấn tỉnh em và đưa vào một góc cuối , hai đứa đang cúi xuông trên tấm thực đơn , chọn thức ăn ,thì có một bóng người đến đứng trước bàn tôi , tôi ngẩng đầu lên , bắt gặp khuôn mặt đỏ ké . trong bộ quân phục ` rằn ri Biệt động , trên cổ aó một bông mai đen ,tôi tưởng bạn nhìn lầm người ,nên định đứng lên chào , nhưng không , anh chàng đưa mắt nhìn Lệ H.. và gằn giọng nói vơí tôi : Ai cho phép mầy nghinh bọn tao ???Tôi biết mình đang bị kiếm cớ gây sự . Tôi thầm kêu khổ trong bụng , không phãi tôi sợ , tôi là thằng lì có tiếng , ngàn lần tôi không sợ , nhưng làm sao tránh cho cô bé khỏi bị tổn thương .Tôi xin vắn tắt vài giong , xem tôi đã làm gì mà các bạn Biệt Động ngứa mắt . Tôi vưà ra trường trên một năm , xông pha trận mạc vài lần , nhưng nhỏ con , chưa qua khỏi tuổi 21 , nên còn rất thư sinh , nếu cởi bỏ binh phục thay vào aó trắng quần xanh , tôi cũng chỉ là cậu hoc trò trung học . Thế mà dám dẫn đào vào đây rước đèn , Aó quần cũng rằn ri nhưng khác màu cuả Biệt động ,binh chũng chúng tôi có cái thói quen lập dị là không bao giờ mang cấp bậc , nếu có mang cũng rất kín đáo , như muốn không cho ai thấy , gắn ở chuôi dao găm ,sau nắp túi aó .....Rừng nào thì cọp nấy , Thanh phố ĐN là rừng của anh em Liên đoàn I BĐQ .Tôi biết tôi đã làm cho các anh gai con mắt ,và muốn đục tôi dằn mặt . Anh Thiếu uý chưa thấy tôi trả lời ,đã cao giọng ra lệnh : Mầy hảy đến bàn kia xin lổi mấy anh đi , thì tau tha cho ! Tôi biết tình hình quả gay go . thực khách lần lượt ra khỏi nhà hàng . Xin lổi ư ? không bao giờ , vì tôi có lổi gì đâu .vì tự- aí , vì màu aó tôi đang mặc , tôi biết chắc là có đổ máu , đổ máu một cách vô i'ch ,vì trong tuí quần trận tôi luôn luôn có khẩu Breta nhỏ , Lệ H.. tái mét mặt mày . Tôi bảo nhỏ : Em qua ghế đá ngồi đợi anh .Tôi bỏ tay vào tuí quần, chạm cục thép lạnh , tôi nghĩ nếu anh bạn xáng tôi bạt tai , thì máu sẻ đổ. Trong giây phút quả bong bóng căng sắp nổ ,thì có tiếng tằng hắng nghe rỏ mồn một ở gần quầy , anh chàng Thiếu úy nhìn lên , lẳng lặng về bàn và cả bộ ba keó nhau rời nhà hàng . Lệ H.. như chết khiếp , tôi phãi trấn an nàng ,nên chưa để ý xem ai vưà tằng hắng ,mà mấy ông thần gây sự bỏ đi . thì một ngươì cao to ,bước đến trước mặt , tôi nhìn thấy cặp galong Thiếu tá trên cổ aó rằn ri , bảng tên trên túi : VANG . tôi đứng thẳng ngươì chào ,nhưng Thiêú tá vổ vổ vào vai tôi và noí : Em hay ngồi xuống và tự nhiên cùng bạn gái em ăn uống ,. xem như không có gì xẫy ra , Ông hỏi tôi về đơn n vị , tôi trinh bày đơn vị ,cấp bậc và noí : Em vừa về sau chuyến nhảy dài nên chưa cắt tóc , các anh kia thấy gai mắt mà sinh chuyên , xin Thiếu tá tha lổi , Ông dịu dàng : Em không có lổi gì cả ,thôi quên đi mà vui vẻ với bạn gái , chúng tôi chưa ăn gì cả, và thức ăn cũng chưa mang ra . Lệ H... một mực đòi về , tôi đành chìu nàng , tôi đứng lên : Thưa Thiếu tá, cho em đưa bạn gaí về , không ngờ ông sốt sắng lấy xe Jeep đưa chúng tôi về , dù tôi quyết liệt từ chối , sợ làm phiền ông , sau khi trả Lệ H...về nhà nàng , tôi lại đi chơi và tâm sự với ông gần sáng đêm . Đó là Thiếu tá VÕ VÀNG , Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 21 BĐQ , lừng dang trên chiến trường Miền Trung , từ lúc còn mài đủng quần trên ghê Trường TH/PCT/ ĐN , tôi đã nghe danh và ngưởng mộ người anh hùng nầy , không ngờ tình cờ như một định mênh xui khiến ,tôi được quen Ổng và được ổng thương mến như em út ,Ông bắt tôi gọi bằng anh và goi tôi bằng mày ,( tiếng mày từ miệng ông sao mà thân mật quá , không như tiếng mày của anh bạn Thiếu-uý BĐ gọi tôi trong nhà hàng , nghe qua đã lộn máu nóng lên đầu ....) Tôi thưa : Trước mặt lính tráng cuả Thiếu tá ,mà em goị như vậy e bất tiện qúa ! Ổng nghiêm giọng : Có sao đâu , mầy là em tau ,là em tau thì phãi gọi tau bằng ANH ...

NHỮNG NĂM THÁNG CÓ ANH TRONG ĐỜI :.Từ đó sau ,những lần về ĐN tôi thường ra căn cứ Liên đoàn 1/BĐQ ở Phú lộc ( trên đường ra Hoà khánh,quẹo tay mặt)để thăm anh ,nhờ đó mà tôi quen gần hết cac bạn trong Tiểu đoàn 21/BĐQ , kể cả anh Thiếu uý T . người đòi đục tôi trong nhà hàng .Thơì gian những năm 66 /67 chiến trường miền Trung vô cùng sôi động , Đồng minh ào ạt đổ quân vào , Tiểu đoàn 21 BĐ của Thiếu ta Võ Vàng đã tạo những chiến công vang dội , báo chi trong và ngoài nước nức lòng ngơị khen , Các cấp chỉ huy Quân Đồng minh nể mặt .Những lần gặp lại anh , tôi được anh thương mến đặc biệt , thường dặn dò và bày vẽ những kinh nghiệm chiến trường , vì duới mắt anh , tôi chỉ là con dê non ưa húc càn . Anh luôn nói về đời lính , và yêu đời quân ngủ trên hết mọi chuyện ,ở anh chỉ có chiến công và mong sớm có thanh bình cho Quê hương ,Tết Mậu thân ,hai anh em cùng hành quân trên một địa bàn , Nam sông Hương , khi tạm yên tiếng súng , anh goị tôi sớm mai đến Bộ chỉ huy (BCH) cuả anh để uống bia , nhưng đêm đó ,tôi nhận lệnh bàn giao khu vực trách nhiệm cho đơn vị bạn , để đến vùng hành quân khác ,thất hẹn với anh . Sau Mậu thân , anh được vinh thăng Trung tá và giữ chức vụ Liên đoàn phó LĐI /BĐQ . Sau đó anh được thuyên chuyển về Trường Vỏ Bị Quốc Gia Đà lạt , giữ nhiệm vụ Trưởng ban Quân vụ , đây là thời gian dài ,chúng tôi không gặp nhau , Trương Vỏ bị Đà-lạt là chỗ dung thân tốt nhất ,cho những ai muốn tìm chữ THỌ , nhưng trong những bức thư anh gởi cho tôi , anh luôn luôn than buồn chán và nhớ chiến trường , hơn ai hết , tôi biết con hổ bất đắc dĩ phãi xa nuí rừng thì rất nhớ rừng xanh , núi thẳm ,anh mong được trở lại thời ngang dọc cũ . Và anh được toai nguyện , anh trở ra cầm quân trong chức vụ Trung đòn trưởng ,trung đòan 5 SĐ2/ BB ,tôi cứ đinh ninh với tài thao lược, và kinh nghiệm của anh , đương tiến thân của anh sẻ thanh thang ,rộng mở . Những ngaỳ trước khi Hiệp dịnh Paris được bốn bên ký kết , V.C cố đánh chiếm Sa huỳnh ,để làm cữa khẫu và cắt đứt con đương huyết mạch Nam Bắc của VNCH , đây là đất anh dụng võ , anh muốn đánh trận đánh để đời , nhưng đột nhiên tôi nghe anh bị cất chức Trung Đoàn trưởng , nguời cách chức anh là Ch/T Trần văn Nhựt . Tư lệnh SĐ2 / BB. Tôi xin dành it giòng để điểm qua báo chi về vị tướng nầy : Trong suốt cuộc đời binh nghiệp của CH/ T Nhựt thì canh bạc xì phé ,ông ăn đậm nhất là khi mặt trận Bình long nổ ra , ổng đã về nhiệm sở kịp thời để xí phần , vì trên cương vị Tỉnh trưởng và Tiểu khu trưởng Bình Long , ông không góp tí công lao nào cả , mà moị chuyện đã có Ch/Tướng HƯNG Tư lệnh SĐ5/ BB , Đ/Tá Lê quang LƯỞNG LĐ/ Dù . Đ/Tá HUẤN , Liên đoàn 81 Biệt cách / Dù lo trọn gói ..Khi An lộc được quân dân anh hùng tái chiếm , Bà vợ C/Tướng Nhựt đã chạy cửa hậu ,với chi Sáu Thẹo ,kiếm cho cái chức Tư lệnh SĐ2 /BB và một ông sao (,ông này có số núp bóng quần hồng ). Trong trận tái chiếm Sa huỳnh , SĐ2/ BB dưới tài cầm quân của Ch/T Nhựt thì ra sao ??? xin mời qúy vị hảy nghe nhân chứng sống, Tr/ Uy Trần thi VÂN , ngươì trực tiếp dự trận đánh ,với chức vụ Đai đội trương ĐĐ1 , tiểu đoàn 21 BĐQ , kể sau đây trong tập bút ky chiến trường ANH HÙNG BẠT MẠNG của Ông :(Theo lời Th/ tá Quách Thưởng kể, trước khi T/T Nguyễn văn Thiệu đến BCH Trung đoàn 6 xem thành quả tái chiếm Sa huỳnh, các khối vũ khí được trình bày riêng rẻ ,với tấm bảng đề tên đơn vị tịch thu , dĩ nhiên chiến lợi phẫm của LĐI/BĐQcũng được ghi rỏ . Đặc biệt thêm một tấm tương tự treo trên nòng súng phòng không 12 ly 8. Nhưng khi phài đoàn T/T đáp trực thăng xuống ,và các Sĩ quan Mũ nâu ra sân đón rước, thì CH/T TRẦN VĂN NHỰT LIỀN CHO BỘ HẠ NƠI PHÒNG TRIỂN LÃM ĐA'NH THÁO HẾT CÁC TẤM BẢNG GHI CHIÊ"N LỢI PHẪM, NGHĨA LÀ MỘT DÃY 300CÂY SÚNG ĐỦ LOẠI DO BĐQ TRịCH THU, BỖNG TRỞ THÀNH CHIẾN LỢI PHẪM CỦA SĐ2/ BB . Ông còn trắng trợn, bỉ ổi không thể tả được là độc nhất có cây phòng không 12ly 8 của Đ/Đ tôi cũng bị đánh tráo luôn , không chút ngượng taỵ Rỏ ràng hành đông của Ch/T NhỰt như anh hàng thịt ,treo đầu heo bán thịt chó .Tội nghiệp đám tướng sĩ tượng ,cả xe pháo mã đứng xem chỉ biết tâm tắc khen tài , chứ đâu có ngờ ông bình vôi , nữa người nữa ngợm ,vừa làm trò aỏ thuật cướp công xương máu BĐQ ....) ( Xin ngưng trích ). Tháng Tư năm 75 . Ch/T Nhựt ( hay là GIỰT chạy ) kéo được ít quân tháo chạy về Tuy Hoà , được Tr/T Vĩnh Nghi ,Tư lệnh Tiền Phương Quân Đoàn 3 ,giao cho làm phụ tá hành quân ,tái phối trí lực lượng , gìữa lúc dầu sôi lữa đỏ , CH/T Nhựt lên trực thăng xin đi thị sát mặt trận , nhưng vù thẳng ra Hạm đội , đào ngủ .Theo kỹ luật Quân đội : khi đối diện với đich mà đào ngũ thì ra toà án binh , bị tước đoạt binh quyền và có thể bị Tử hình , Nhưng khi qua đến Mỹ Ch/T Nhựt đã không bị lột long ,mà còn tự phong là Thiếu tướng , ba hoa chích choè , khi bị báo chí vạch lưng ,thì đánh lận con đen ,xưng là Tướng ( General )để người ta có thể tưởng là Major General , hay LT General hay hơn nữa , mà thực chật là phường biển lận , tên hèn nhát , kẻ vô liêm sĩ .bất taì . Đất nước chúng ta ,để cho những tên như vậy, giữ trọng trách trấn nhậm , những vùng hiểm yếu , mà mãi đến 75 mới rơi vào tay CS , âu cũng là một phép lạ , hy vọng sữ sách ,sẻ dành cho những tên tướng Quảng -lạc nầy vài chương ,để hậu thế tránh vết xe cũ . Hiệp định Paris được ký kết , trong đó ,có kèm theo 2 Nghị định Thư , tổ chức hai cơ quan thi hành , đó là ICCS ( international commission control , surpervision) goi là Uỷ ban kiểm soát và giám sát quốc tế , gồm hai nước CS la Ba lan và Hungary , hai nước tự do là Indonesia và Canada , nhưng sau Canada thấy không đi đến đâu ,nên rút lui và Iran vaò thay thê' ( Thời gian nầy Iran còn có Vua Penlavi , thân Mỹ ) và cơ quan kia là :Ban liên hợp quân sự bốn bên và sau còn lại hai bên ( VNCH Và thằng giải phong đội lốt ) Trung tá VÕ VÀNG bị đưa về Phú bài ,giử chức vụ trưởng toán BLH/ QS/ VNCH Phú bài ,một chức vụ ngồi chơi xơi nước vối ,anh như con cọp bị chặt hết nanh vuốt , buồn rầu , chán nản ,tôi đến thăm anh , tìm cách an uỉ anh ,cũng như tìm hiểu nguyên nhân tại sao ,cờ đến tay anh đang phất ,mà bị ngươì ta giựt mất , anh chỉ buồn rầu nói : Chỉ vì anh biết qúa nhiều ,ngươì ta sợ anh nổi lên thì ngươì ta sẻ mờ đi , nó nhiều tham vọng, nhưng tài hèn và nhiều thủ đoạn ....Tôi sợ anh buồn chán , nên đem đến cho anh đủ dụng cụ thể dục và khuyên anh tập đều đặn ,để giữ sức khoẻ , ngươì ta sẻ cần đến anh . Trong thời gian ở Phú bài ,công việc của anh có phần nghi lể , nghĩa là đón tiếp các phài đoàn từ Sài gòn ra ,tại sân bay Phú bài . Một hôm anh ra đón một Đại tá người Hunggary , Tr/Ta Võ Vàng trong cái bắt tay xả giao,đã bóp nát tay tên Đ/Tá CS ,tên Đại tá nầy sau đó làm lớn chuyện . gởi văn thư phản kháng đến Trung ương . Anh rất căm thù CS ,dù dưới màu da nào . Hiệp định Paris chưa ráo mực , CS đã vi phạm khắp nơi , Tướng Ngô quang Trưởng sáng suốt , thấy được viên dõng sĩ đang ngồi chơi xơi nước vối , nên vội gọi vào trình diện và giao cho Liên đội ĐPQ / Quảng Nam , hình thức tổ chức của Liên đội ĐPQ, cấp số cũng tương đương với lữ-đoàn hay Trung đoàn .Khi đi nhận nhiệm vụ , anh có hỏi tôi : Muốn làm việc cạnh anh không ? . Tôi biết anh thương tôi , muốn nâng đỡ tôi tôi qúa quyến luyến màu aó đang mặc ,nên xin cho thời gian nữa , Nhưng không có thời gian nào cho chúng tôi nữa cã .Tháng 3/75 ĐN tan tác , ĐN uất nghẹn đau thương , tan đàn rẻ nghé .....Ngày 5 tháng Tư năm 1975 , một buổi sáng tôi ra giếng nước trong Quân Điện Bàn / QN ( nơi đám tù tàn binh tập trung )để lấy nước , bất ngờ gặp anh ,tôi như chết lặng , tay trái anh được treo lên : Anh cho biết ngaỳ 29 /3 mới về đến ĐN, đang đi trên đương Thống nhất, gần Câu vòng , thì bi một chiếc xe dân sự tông anh , may mà anh văng lên lề , chỉ bị thương .Tôi thật sự lo lắng cho anh ,vì anh nổi tiêng quá , ngay đây , nơi tập trung tù binh , cũng không có ai dám gần anh để giúp anh trong khi đang bị thương , Tôi chỉ nói với anh , ngay bây giờ anh phãi tìm cách thoát , lợi dụng lúc nầy để thoát , nguy hiểm quá . Tuần lể sau ,tôi bị đưa đi chổ khác với thầy Hoàng thế Diệm , không còn qua lại thăm anh .

NGƯỜI ANH HÙNG BỊ THỦ TIÊU :Sau thời gian tập trung tại Quận đường Điện bàn / QN , tất cả tù tàn binh ,trình diện hay bị bắt tại ĐN, được đưa lên Trại Kỳ Sơn . Trại Cãi tạo Kỳ Sơn , gồm 1 tổng trại và 4 phân trại , Sĩ quan cấp tá ở traị I , gần mỏ vàng Bông Miêu , trại 2 , nằm sâu về hướng Tây , dành cho Sĩ quan cấp Đại uý , trại 3 và 4 dành cho cấp trung uý trở xuống ,gần trại 1 và Tổng trại . Anh Võ Vàng nằm trong trại 1 .Sau thời gian đầu lo xây dựng doanh trại , phát rẩy canh tác . ổn định nơi ăn chốn ở . Tháng 5 năm 77 , đợt hoc tập chính trị được mở ra trên quy mô rộng lớn .Tất cả đều nghĩ lao động và tham dự 100% .. Những buổi học, tất cả tập trung tại hôi trường để nghe cán bộ chinh trị lên lớp ,và sau đó về tổ thảo luận. những bài :Đế quốc Mỹ tên sen đầm quốc tế , kẽ thù số I cuả nhân dân ta và loaì ngươì tiến bộ trên traí đất . Hệ thông Xã hôị chũ nghĩa ..... Nhưng hóc búa và điên đầu nhất là bài Nguỵ quân và nguỵ quyền , Tập đoàn tay sai bán nước .Sau khi ngồi nghe chưởi ruả trên hội trường , trở về tổ phãi liên hệ bản thân , tự giác khai ra những viếc đã làm trong thời gian phục vụ trong quân đội VNCH .Đây là bản án ,tự mình viết cho mình , ai cũng phãi tìm cho mình một cái tội , Sau đợt hoc tập chính trị ,có ngươì như bị kiệt sức vì bị những đòn tra tấn cân não . Nhiêù lúc giữa đêm khuya bị goi lên khung ( Bộ chi huy) làm việc , cứ tra đi hỏi laị nhũng họat động đã qua . Tr/ Ta Võ Vàng là mục tiêu chính ,bọn cai tù nhắm đến , luôn luôn chúng đặt câu hỏi : Trong quá trình chỉ huy BĐQ . Trung đoàn trưởng , Liên đội trưởng , anh đã giết bao nhiêu Cán bộ CS và dân lành , mấy ngày đầu anh trả lời : Trên cương vị chỉ huy , tôi chưa bao giờ trực tiếp bắn , còn lính dưới quyền ,lúc xung trận ,ai bắn chậm thì chết , tôi không biết . Bọn chúng đâu có chịu ,Bọn chúng quây anh từ sáng ,tới tối , ngày nọ sang ngaỳ kia , nhưng anh vẫn kiên gan giữ lơì khai , đến lúc đó , bọn chúng mới đem những tờ báo cũ , có ghi kết quả các trận đánh ra , và tổng kết tổn thất địch ( VC) ,trong khoảng thơì gian anh Vàng chỉ huy , không dưới 20 ngàn VC phơi thây .Bản án Tử hình cho anh đã manh nha thành hình . Trong số các vệ binh coi tù . có nhiêù tên mới theo VC sau 30 thang 3/ 75 ,gồm nhiêù thành phần , có tên rất khát máu , thù hận ,vì có thân nhân , bà con chết trong cuộc chiến , nhưng cũng có tên nguyên trước 30 thang 3 là hoc trò của vợ tù , nên cũng dễ dãi và dễ bị mua chuộc để lấy tin tức . Sau đợt học tập chính tri ,quy mô kéo daì trên một tháng , tất cả tù được lệnh đi lao động trở lại . Một đêm đầu tháng 7 năm 1977 . Bộ chi huy trại 1 có cuộc họp chi bộ đãng , bản án tử hình danh cho Tr/Tá VÕ VÀNG đã được tổng trai Kỳ Sơn ký từ trước , buổi họp nầy, có mục đích tìm ngươì tình nguyện thi hành bản án . Tên Nguyễn Bốn , tên vê- binh loắt choắt , nhỏ con nhưng khét tiếng ác độc và khát máu đối vời tù , đứng lên tình nguyên thi hành .(tên Bốn nầy có cha hoạt đông nằm vùng cho VC bi nghĩa quân giết) . Buổi trưa hè , tháng 7 năm 1977 , tổ của Tr/tá Võ VÀNG có nhiệm vụ tiả bắp trong rẩy ,cạnh sông Vàng , ( nói là sông , nhưng thật sự là giòng suôí nhỏ ,chảy qua các ghềng đá bị xoi mòn rất đẹp )trong khu vực Mỏ Vàng Bông miêu, trời đứng bóng , nắng chang chang , tất cả tổ nghĩ lao động kéo nhau vào bóng mát ,lấy vắt cơm sắn và chút nước mắm cáí ra ăn ,thì tên Nguyễn Bốn xuất hiên với AK trên tay , ra lệnh : Anh Vàng theo tôi lên đồi nhổ sắn ( củ mì ) về bồi dưởng cho cả tổ . Linh tính báo cho biết ,việc chẵng lành , anh em trong tổ nhao nhao lên : Xin anh cho tôi đi nhổ sắn thay , vì anh Vàng mấy hôm nay bi kiết lị, yếu lắm . Nhưng tên Bốn vẫn khăng khăng bắt anh Vàng đúng lên đi lên đồi . Khoảng từ 7 đến 10 phút sau thì một loạt AK nổ , lát sau tên Bốn trở xuống noí : Các anh lên đem xác tên Vàng xuống chôn cất , nó Giựt súng tôi , nên tôi đã xử lý . Bọn khốn nạn , lủ hèn nhát đã giết anh một cách hèn hạ, tại sao chúng lại dựng nên tấn tuồng giết người tay không ,một cách hen hạ như vậy ??? vì bản chất chúng là bọn ngươì hèn hạ,bọn đê tiện , làm việc gì cũng không quang minh, chính đại , hành động của lủ đầu trộm , đuôi cướp ....Anh đã tức tưởi nằm xuống bên giòng sông Vàng , trong khu Mỏ Vàng Bông miêu , như là một định mệnh .....

Anh VÕ VÀNG kính yêu , đã 29 năm , ngày Tổ quốc bị bức tữ , 27 năm ,ngày anh bị chúng hành hình , một cách hèn nhát .Thời gian đủ để mọi ngươì mở mắt,nhìn thấy rỏ Thiên đường CS , thời gian đủ dài để xác thân anh trở về với cát bụi , và em tin tưởng linh hồn anh đang oai nghi , thanh thản ở cỏi vĩnh -hằng. Xin hảy cho em một lần được nhắc đến tên Anh , Anh VÕ VÀNG ,với lòng kính phục và thương tiếc sâu xa , một ngươì anh , một chiến sĩ QLVNCH kiệt -suất , hy sinh hết tuổi thanh xuân và cống hiến thân xác cho đại cuộc : Bão vệ tự do cho Tổ quốc . Xin anh cho em được đốt nén hương tưởng niệm anh ,nhân ngày giổ thứ 27 của anh . Xin anh cho em một lần nữa nhỏ nước mắt khóc thương Anh .
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Đêm Chờ Ngưng Bắn Nhớ An Lộc

Đào Vũ Anh Hùng

Tưởng niệm Trần Thế Vinh, Nguyễn Cao Hùng... Và những cánh chim đã bay cao, không bao giờ hạ cánh.
Cấm quân gắt gao từ nửa tháng trước Tết. Vụ nổ kho bom đầu tháng mười làm căn phòng tạm trú trong dãy cư xá sĩ quan độc thân bên cạnh Phi Đoàn bị xụm tang thương khiến tôi lêu bêu không chỗ ngủ những đêm cấm trại. Tôi phải xuống phòng Hải mượn tấm nệm dư, mỗi tối vác lên Phi Đoàn trải lên bàn làm chỗ ngả lưng qua đêm. Sáng lại hì hục vác xuống trả. Hải đùa:

- Sao mà cực khổ vậy? Lao động quá không tiếc sức sao?

- Tốn bao hơi. Mình cũng nên vận động tay chân một chút cho nó khỏe.

Hải nhăn răng cười:

- Chắc cũng không khỏe hơn được chút nào đâu. Đêm nay còn bao nhiêu đạn nó pháo tối đa cho chạy vung vít cả lũ, tha hồ mà khỏe.

Tôi cuốn tấm nệm cho gọn, lăn xuống đất và ngồi lên:

- Tối nay tụi nó chơi nữa là cái chắc.

Đêm qua địch pháo một loạt 122 và 107. Hai giờ sáng hỏa tiễn nổ tung giấc ngủ. Tôi choàng thức khi quả pháo đầu tiên nổ phành dữ dội như ở ngay bên cạnh. Còi hụ ré lên. Tiếng rít của hỏa tiễn bay vút trên đầu. Nổ chới với, nổ lung tung khắp chung quanh và thật gần trong khu vực Không đoàn.

Tôi tỉnh như sáo, vùng dậy nhanh cấp kỳ. Vội vàng mặc áo bay, vội vàng xỏ chân vào đôi giày trận, vớ theo cây súng cá nhân, bước nhanh ra cửa...

Loạt pháo dứt tiếng khi tôi đứng dưới mái hiên trước phòng hành quân Phi Đoàn. Đêm về sáng trong quang và mát lạnh. Đêm pháo kích mang vẻ lạnh lùng dè dặt. Đêm như co mình lại trong tiếng còi báo động liên miên rền rĩ kéo dài từ ngay khi quả nổ đầu tiên chạm đất.

Chung quanh và trong tầm mắt tôi vắng hoe không một bóng người nhưng tôi nghe như đêm có tiếng thở phập phồng hồi hộp. Tôi nghĩ mọi người đều đang co người trong các hầm tránh pháo hay đang bối rối trong phòng, nằm bẹp dưới chân giường đợi dứt cơn pháo đầu tiên mới phóng chạy tìm nơi trú an toàn.

Tôi chống nạnh nhìn những trái hỏa châu nổ lụp bụp soi sáng vòng đai phòng thủ phi trường và bên Quân Đoàn III. Hỏa châu như những chiếc đèn lồng sáng rỡ treo ngược bằng những giải khói mỏng manh uốn éo, bay la đà lờ lững trên trời xanh lấm tấm sao.

Một đám khói đen cuồn cuộn bốc lên phía chung cư Mỹ gần cổng Một. Ánh châu soi tỏ bóng cột khói đen ngòm vắt ngang những mái nhà và phi đạo trực thăng. Tôi đợi tiếng nổ của đợt pháo thứ hai nhưng đã qua mấy phút chỉ nghe rền rĩ tiếng còi báo động và tiếng pháo binh ta phản pháo. Không khí của những phút chờ đợi đặc sệt và, đột nhiên, khi đám cháy khu barrack Mỹ bùng cao ngọn lửa, tro than bay tung tóe lên không với tiếng nổ lốp bốp của tôn gỗ bị hỏa thiêu, đêm bỗng náo nhiệt…

Có thêm tiếng xe cứu hỏa chạy cuống cuồng. Những xe Jeep chở quân phòng thủ phóng vội vã qua khu vực. Tôi nghe những bước chân thình thịch. Rồi tiếng ồn ào và những đầu người nhô lên khỏi lớp bao cát vây bọc quanh cái trailer phòng nghỉ trực của nhân viên phi hành, cách nơi tôi đứng chừng vài ba bước nhẩy. Thì ra những ông hoa tiêu trẻ trung của Phi đoàn tôi đã nhanh chân trốn pháo ở đó tự bao giờ. Sự xuất hiện đột ngột của những cái đầu sau ụ cát gần bên khiến tôi bỡ ngỡ. Nhưng cái bỡ ngỡ đó cũng chưa bằng nỗi ngạc nhiên khi tôi nghe ngoài phi đạo trực thăng có tiếng phi cơ quay máy và lần lượt đủ ba chiếc UH-1 đèn chớp sáng lòa ầm ầm nối đuôi nhau cất cánh. Tôi phải ngạc nhiên, bởi tôi không tưởng tượng nổi bằng phản ứng nhậm lẹ nào, bằng ý thức trách nhiệm nào mà những nhân viên phi hành trực phòng thủ đêm của Phi Đòan tôi lại có thể khi đang say ngủ, nghe tiếng pháo, vùng dậy lấy nón bay, chạy băng băng một quãng đường dài - dưới đợt mưa pháo kích, mở dây cột cánh quạt, bình tĩnh cho nổ máy phi cơ, bình tĩnh ngồi chờ một Phi Hành Đoàn đầy đủ và cất cánh trong vòng không đầy mươi phút kể từ quả pháo đầu tiên phóng vào căn cứ?

Tôi nói với Hải:

- Đêm qua nó pháo, tao tưởng tao nhanh nhất rồi mà vẫn còn thua nhiều đứa. Pilot vậy mà vẫn còn bị chê. “Tây” nó cũng không có mặt trên trời nhanh bằng “Mít” mình đêm qua.

Hải gật đầu:

- Tụi nó ngon lành. Đêm nay mày trực Night Alert, ráng khi nghe pháo thì phóng liền ra tàu nghe cưng. Hay mày đem mùng mền ra phi cơ mà ngủ, giữ tàu luôn. Tụi nó đứa nào cũng khoái đêm nay lên trời hơn nằm dưới đất, pháo kích nhức tim... Dám tối nay có thằng không trực ra giành phi cơ để bay lắm ạ.

- Tám giờ sáng mai ngưng bắn. Từ giờ tới tám giờ sáng mai còn bao nhiêu bom đạn, hỏa tiễn khuân ra mời nhau đớp cho bằng thích.

- Nản nhỉ? Những đứa mà đi đoong cuộc đời trước giờ ngưng bắn trong đêm nay, một phút trước tám giờ sáng mai, nghĩ mà nản nhỉ?

- Làm như ngưng bắn rồi thì không còn ai chết nữa đấy?

Đột nhiên Hải cao giọng hỏi tôi:

- Khóa mày chết bao nhiêu thằng, nhớ không?

- Nhớ, nhưng không dám đếm. Đếm nhiều chết nhiều, kinh bỏ xừ.

Tôi thở dài, đăm đăm nhìn ngọn đèn điện sáng tỏa căn phòng hẹp. Ngọn sáng làm tôi nhớ cảm giác tê lạnh hãi hùng của phút giây chứng kiến cuộc hóa thân bi thảm của người bạn thiết đang lúc vẫy vùng bay bổng, bỗng rụng rời gẫy cánh trên vùng đất Tân Khai mịt mù lửa đạn, tháng năm, năm ngoái...

Chiếc khu trục thả rơi trái Napalm dữ dội ngay đầu quân địch, xòe đôi cánh sắt, vút lên cao, đột nhiên biến thành một khối lửa cháy bùng, rực sáng, nổ tung trên bốn ngàn độ cao và ngay trước mắt tôi đang bay gần phía Nam. Tôi hãi hùng tưởng như tê liệt trong cái sát-na khủng khiếp ấy. Tôi há hốc miệng, không kêu được một tiếng, mắtmở trợn trừng. Khối lửa hồng rực rỡ như ngọn pháo bông, như tinh cầu lạc loài tinh thể, lao chớp nhoáng một đường thẳng băng, tóe tung tàn lửa trên đám ruộng khô rồi cháy hiu hiu để lại không gian một sợi khói mỏng manh dần dần tan nhạt. Con chim sắt đã rơi… đem theo một đời trai trẻ Phi công mà thịt xương tan nát dính bám vào từng mảnh kim loại vô tri của thân tàu vỡ vụn. Tôi nào biết cánh chim bất hạnh đó là ai? Khổ thân tôi, đến khi biết ra người Phi công tên Nguyễn Cao Hùng, tôi tím lịm cả hồn, mắt mờ giọt lệ, long đong bay trở lại Lai Khê mà lòng tan nát. Tôi đâu ngờ lại có phút giây sầu thảm chứng kiến cuộc giã từ đời, vĩnh biệt không gian đau đớn và âm thầm tội nghiệp của người bạn thân, thật dễ thương cùng khóa.

Một buổi sáng qua Không đoàn 23 họp thuyết trình Quân báo, tôi đến sớm 15 phút, ghé Câu lạc bộ gọi ly càfé sữa với đĩa Pâté chaud. Vừa xoay người toan kiếm chỗ ngồi, bỗng một vòng tay quàng lấy cổ khiến tôi giật mình.

- “Hi” Hùng! Bonjour bồ. Lâu quá mới thấy bồ, nhớ bồ quá bồ ơi. Không bay bổng gì sao mà bò qua đây ăn sáng vậy?

Tôi nhận ra ngay. Lối “bồ bồ tôi tôi”, giọng nói nồng nhiệt thân quen hết sức của Nguyễn Cao Hùng. Hai thằng lâu ngày mới gặp nhau, Hùng nọ vồ vập lấy Hùng kia, tíu tít vui mừng như vớ được người yêu trong mộng. Tôi ôm lấy tay Cao Hùng, vỗ vỗ:

- Bonjour...! Lâu gì, mới gặp nhau đây mà kêu nhớ? Nhớ thì… hôn đi! Hôn một miếng cho đỡ nhớ!

Cao Hùng cười vang, ghé môi gần má tôi, giả vờ hôn “chụt” một tiếng rồi nheo mắt kêu lên:

- Bồ “đĩ” quá bồ ơi. Nước hoa thơm lừng!

Tôi cũng kêu lên: - Nhờ cậu tí. Đĩ mà biết cạo râu? Bồ không có râu bao giờ biết được Xê-kỳ nó có cái gọi là after-shave “East Jade”?

Như thế đấy, hai đứa mỗi lần gặp nhau thường vui đùa, giả vờ hôn hít loạn cả lên. Kỷ niệm hồi ở Lackland. Hoa Kỳ tổ sư đồng tình luyến ái, lại làm ra vẻ ghê tởm mấy chú “Mít” nắm tay khoác vai nhau diễu phố. Bọn này bèn diễn cảnh Homo trêu ngươi mấy anh bạn đồng minh cho bõ ghét. Thêm hai tên bạn cùng khóa cười cười tiến lại. Tưởng “khu trục” lừ lừ như chiếc Skyraider đang vào cận tiến hạ cánh. Ẩn chìa bắt tay tôi, siết chặt. Ẩn lùn mà bắt tay như bóp nghiến và cất giọng oang oang bất cần thiên hạ:

- “Hi” Hùng! Ăn gì đi toa? Uống cái chi gọi nó đem ra luôn. Ăn uống “free”, đừng ngại.

Tôi nắm tay Ẩn, tay kia ôm vòng lấy Cao Hùng và Tưởng “khu trục”:

- Xong! Xong ngay..! Đớp “chùa” mà từ chối thì phụ cả tấm lòng...

Bốn đứa thân mật dính vào nhau, hể hả. Ẩn nói:

- Đại tá đãi bữa ăn sáng trước khi bọn moa biệt phái Đà Nẵng.

- Bao giờ đi?

- Chín gìờ mới có C-123 ghé đón... Mẹ, Quảng Trị đang sôi sục, tụi moa đi chuyến này cũng thấy hơi lạnh cẳng.

Tôi cười:

- Bay ở đây mà không rét à? Mày biết câu hát này không...“Ta vào An Lộc hay Tân Khai! Phòng không ơi là phòng không!...”

- Đi biết có về hay bỏ mạng sa trường? Khóa mình trận này mất thêm Phan Quang Tuấn, Trần Thế Vinh, buồn ghê há toa?...

Ẩn nhắc đến Tuấn “Khùng”, đến Vinh “Tô Tô”, khơi dậy trong tôi nỗi ngậm ngùi xúc động râm ran buốt nhói suốt từ hôm được Thụy Hùng báo tin Vinh gẫy cánh.

Khóa 65A Phi Hành có ba đứa tên Hùng. Thụy Hùng inapte sức khỏe, ra khỏi Không Quân, đi biệt kích Delta một thời gian rồi trở lại Không Quân khi ngành trực thăng bành trướng. Thụy Hùng rất thân và ở chung phòng với Vinh bên cư xá Bắc Tiến. Tôi nhớ hôm đó là sáng thứ hai 10 tháng 4. Vinh rớt hôm chủ nhật mùng 9 tháng 4. Tôi xách Helmet đi bay, gặp Thụy Hùng ngoài phi đạo. Hùng thắng khựng chiếc Vespa ngay trước mặt tôi, mếu máo:

- Mày biết tin chưa? Thằng Vinh “Tô Tô” nó rớt rồi.

Tôi sửng sốt. Thụy Hùng ngồi lặng trên chiếc Vespa nổ máy, đôi vai run nhẹ, thẫn thờ hướng về phía cuối đường bay, đầm đìa nước mắt trên gò má. Tôi choáng váng, toàn thân bỗng lạnh. Tay tôi run, lời tôi khàn đục như không phải tiếng tôi hỏi bạn:

- Lấy được xác nó về không?

Thụy Hùng cắn môi, đờ đẫn lắc đầu. Tôi phập phồng muốn khóc. Một lát sau, hết nghẹn ngào, tôi mới nói:

- Tao linh cảm được cái chết của Vinh “Tô Tô” ngay từ tối hôm thứ bảy. Coi TV thấy Thiếu tá Nguyễn Quốc Hùng Phi đoàn trưởng 518 ca tụng có quá. Câu nào cũng Đại Úy Trần Thế Vinh chiến đấu xuất xắc. Đại úy Vinh hạ xe tăng Cộng Sản nhiều nhất. Thứ hai này Đại úy Vinh sẽ về Sàigòn, lên TV nói chuyện với đồng bào... Tao nghe, vừa khoái thằng Vinh, vừa hãnh diện, vừa sợ. Tao hỏi vợ tao, “Em nhớ Vinh “Tô Tô” không? Vợ tao bảo nhớ. Tao nói đấy đấy ông Hùng “Tây Lai” vừa bốc thơm nó đấy. Nhưng anh nghi quá em ơi. Phải làm sao kéo nó về sớm chứ bốc nó nổi quá, khó sống. Nó say máu, bay hoài thế nào cũng “dính”. Phòng không Việt cộng đâu có ít?” Tao nghĩ vậy thôi, đâu ngờ nó chết thật. Nhảm quá.

Suốt ngày hôm đó đi bay, tôi như đứa mất hồn. Vinh bô trai, dễ thương, bay giỏi và tư cách, chết đi thật uổng phí. Gặp Huỳnh Hạnh Kim Hồng ở Lai Khê, Hồng nói Xê kể nghe phút cuối anh hùng của Vinh:

- Nó nói, “Mẹ kiếp phòng không thì đứa nào chẳng sợ. Nhưng cậu bay trên quốc lộ thấy dân chạy loạn lếch thếch mà còn bị tụi nó bắn giết dã man, cậu si-neẹc. Nó bắn mình hả? Thì mình dội bom lên đầu nó, chết bỏ!

Thế là Vinh hùng hục đi bay. Thời tiết xấu tàn nhẫn. Trần mây 500 bộ. Nó bay rasemotte trên mặt biển, tới cửa Việt rẽ vào Đông Hà. Đại bác trên xe tăng bên này sông bên kia sông câu lẫn nhau, Vinh nó chui dưới hai lằn đạn, ngóc lên, bổ nhào xuống. Nó đánh bom thật trúng. Một Napalm là một tăng bốc cháy. Tiếp theo là loạt đại bác, bộ binh tùng thiết VC ngã la liệt. Mỗi pass đánh xong nó chui tọt lên mây tránh phòng không, rồi lại rình rình nhào xuống...

Xê với Định bảo Vinh Tô Tô đánh đẹp và lì, chưa từng thấy ai bay đẹp và lì như nó trong khi thời tiết xấu chỉ sợ hai phi tuần đụng nhau. Cuối cùng Vinh rơi tan xác với con tàu trúng đạn phòng không bắn trực xạ ở cao độ thấp.

Buổi chiều từ mặt trận An Lộc về, tôi mua tờ báo Sóng Thần. Thấy ảnh Vinh, nụ cười má lúm “tí ti đồng tiền”, dáng hiên ngang, tôi nhớ Vinh muốn khóc. Nhớ ngày Vinh mới nộp đơn gia nhập Không Quân, rất sữa. Vinh cao cồ, mặc áo ca rô ngắn tay màu vàng, quần ka ki xám. Khám tổng quát bên Trung Tâm Giám định Y khoa, vì huyết áp cao, cu cậu chui vào phòng tắm xối nước lạnh cho hạ tension. Ai ngờ trúng gió bị rút gân cổ, đầu Vinh tự nhiên ngoẹo một bên, cứng ngắc đến vài phút.

Rốt cuộc Vinh cũng thành Phi công khu trục. Mà là một phi công khu trục tuyệt vời nữa. Một lần gặp Vinh đang học bay ở Randolph qua Lackland chơi, tôi đùa hỏi:

- Ê Vinh, nếu đang bay formation, đầu mày ngoẹo như hôm khám sức khỏe thì làm sao?

- Sao mày hay bới móc đời tư cậu thế? Cậu lại “vật” cho một trận bây giờ.

Vinh to con và khỏe, tính tình đàng hoàng, rất tốt với bạn bè và có tư cách, có tướng chỉ huy. Ngày ở quân trường, Vinh được đề cử làm trưởng toán, làm SVSQ cán bộ và là một trong mấy đứa cao lớn hầu kỳ trong các buổi lễ hay diễn hành. Những ngày đó Vinh dẫn khóa đi học, đi ăn, chạy phạt, v.v… bằng tiếng hô đếm bước dõng dạc và bắt giọng cho chúng tôi vừa di chuyển vừa hát những khúc quân hành. Có bao giờ Vinh ngờ được mình là một “Phi công danh tiếng”, cái chết trở thành huyền sử cánh chim tự do hào quang sáng rỡ?

Về cái hỗn danh Vinh “Tô Tô”, tôi muốn nhắc với các bạn 65A nhớ đến xuất xứ của nó. Ấy là cái hỗn danh do Đỗ Phụng Hoàng đặt cho Vinh khi thấy Vinh làm dáng, viết tên mình theo lối Mỹ: Vinh T.T. – Vinh T2 hay Vinh, Trần Thế - với hai dấu chấm sau mỗi chữ T viết tắt như hai chữ “O” nhỏ và Hoàng “Tôbia” gọi đầu têu là “Vinh Tô Tô”....

Cao Hùng thủ thỉ nói với tôi:

- Vinh “Tô Tô” chết uổng ha bồ? Nó bay “nghề” nhất phi đoàn, tư cách không ai hơn. Bữa nào rảnh bồ nên viết về nó một bài. Tôi gật đầu cười, nói tôi cũng định hôm nào rảnh sẽ viết cho Vinh một bài tưởng niệm. Tôi là bạn thân của Vinh, thật tình hãnh diện vì Vinh đã chết anh hùng, thật tình thuơng tiếc bạn tôi bất ngờ gẫy cánh. Vinh bây giờ đã là người của cả nước, là thần tượng hào quang chói lọi. Việc làm của Vinh và cái chết của Vinh ngời ngợi hai tiếng “anh hùng”, không cần đến ai đánh bóng. Không cần phải dựng đứng lên rằng “Vinh mãn khóa hoa tiêu quan sát tại Nha Trang, được du học khóa T28 tại Hoa Kỳ và đậu thủ khoa..” mới xứng đáng với công nghiệp Trần Thế Vinh dâng cho Tổ Quốc? Đâu cần phải đậu thủ khoa, phải học Cessna mới thành anh hùng khu trục hạ 21 xe tăng địch?

Tôi muốn Trần Thế Vinh là Trần Thế Vinh. Nguyên vẹn là Vinh “Tô Tô” thân mến của chúng tôi đã bay xa, bay cao, không bao giờ hạ cánh. Cao Hùng nhắc đi nhắc lại hoài, bắt tôi phải hứa viết bài tưởng niệm Trần Thế Vinh trước phút Hùng chia tay tôi lên đường biệt phái.

Tôi vui với sự nồng nàn thân mến của Cao Hùng, đồng thời bỗng rờn rợn âu lo cho chuyến biệt phái hành quân vùng địa đầu giới tuyến của bọn Hùng. Người vừa nằm xuống đã có người vội vã bước lên thay nơi tuyến đầu máu lửa.

Tôi quyến luyến không muốn rời gương mặt trắng hồng như con gái của Nguyễn Cao Hùng. “Baby” Hùng môi hồng, răng ngọc, má lúm đồng tiền, tóc mềm lả lơi nghệ sĩ. Tôi vẫn đùa gọi Cao Hùng là “Tây con” hay “Babilac”. Hùng nhà giàu, thế lực, học trường tây, cốt cách phong lưu quý phái. Hồi đó tôi cứ tiếc cho Hùng sao vào Không quân bỏ dở việc học. Hùng có nỗi khổ tâm riêng về tình cảm gia đình, tôi loáng thoáng biết nhưng không bao giờ hỏi han và càng thương quý bạn.

Những ngày Cao Hùng đi biệt phái, tôi vẩn vơ lo lắng hồi hộp chờ tin bạn. Chưa bao giờ tôi lại nghĩ ngợi đến nỗi an nguy của Cao Hùng nhiều như vậy. Nhớ hôm từ giã, Hùng với Ẩn dặn tôi bay cẩn thận, chúc tôi may mắn. Nhớ đôi má bầu bĩnh có lúm đồng tiền sâu hoắm của Hùng, nhìn gần đầy những tàn nhang và lông măng phơi phới.

Cao Hùng thật dễ thương. Ngày tôi lên lon, Hùng lấy dao găm cắt bỏ cặp mai Trung úy trên vai áo bay tôi, bảo mua tặng tôi một cặp lon Đại úy.

- Bồ đeo Trung úy hơn 4 năm rồi còn gì. Bây giờ mang cái lon Đại úy cho “gồ ghề”, đàn em nó khó dỡn mặt.

Mấy ngày sau, Hùng nhờ văn thư đánh máy và thị thực cho tôi mười mấy bản sao quyết định thăng cấp Đại úy thực thụ, đem qua tận Phi đoàn cho tôi, đùa:

- Đeo lon mới, Quân cảnh hỏi, bồ lấy cái này dán vào mắt nó cho đui luôn...

Cao Hùng biệt phái lần đó về vô sự. Tôi gặp Hùng lần cuối cùng là hôm Hùng lái chiếc xe Floride mui trần, mặc đồ bay đen, thấy tôi, cười vẫy vẫy. Tôi cũng đưa tay vẫy lại rồi vội công việc, đi luôn.
***
Hôm 20 tháng 5, tôi bay quần quần phía đông Tân Khai chờ bốn phi tuần khu trục săn hạ hai chiếc xe tăng VC trốn lẩn dưới gầm cầu xe lửa và khóa họng những ổ phòng không dọn đường cho tôi dẫn hợp đoàn vào đáp. Tôi bay trên năm ngàn bộ, theo dõi từng chiếc Skyraider nhanh nhẹn luân phiên đâm bổ xuống mục tiêu, say sưa hào hứng. Bỗng một chiếc AD-6 vừa thả xong hai trái Nalpalm, vút ngược lên cao... Tôi thấy một tia khói cuộn lên từ bụi cây bên bờ con suối cạn. Chiếc phi cơ bỗng phát nổ. Ngay trước mắt tôi, thấp hơn cao độ phi cơ tôi một chút. Và thật rõ ràng kinh khủng, tôi thấy một khối lửa chói lòa rực rỡ như quả pháo bông, vun vút rơi thẳng băng xuống đất...

Tôi trợn tròn đôi mắt. Miệng há hốc không kêu được tiếng nào. Khối lửa bắn tung tóe và đang cháy hiu hiu trên mặt ruộng, để lại không gian một sợi khói đen theo đường rơi của chiếc phi cơ xấu số. Tôi không thấy một cánh dù bung nở. Như là hoa mắt. Như ảo tưởng trong mơ. Tôi nhói điếng ở tim khi nhìn thấy ba chiếc khu trục cơ còn lại gầm rú điên cuồng bay lượn trên vùng trời phi cơ rớt.

Tôi gọi máy báo với toán Liên lạc Điều không:

- 17 giờ 25, SA-7 Cộng Sản bắn rơi một phi tuần khu trục tại Tân Khai. Tọa độ XT… Không thấy hoa tiêu nhảy dù.

Nghĩ thế nào, tôi hỏi thêm:

- “Panther” cho “Charlie One” biết ai bay chiếc Skyraider vừa bị rớt?

Một giọng đầy kích động trong máy UHF, như mũi dao nhọn hoắt xói giữa tim tôi:

- Đại úy Nguyễn Cao Hùng, Phi đoàn 518... Giọng Trung tá Hoàng Thanh Nhã.
***
Tôi bùi ngùi nói với Hải:

- Đứa bạn nào của mình nằm xuống cũng đều đáng thương và tiếc nhớ. Nhưng cái chết của Hùng “Babilac” khiến tao đau đớn nhất bởi vì tao thấy tận mắt và Cao Hùng nó dễ thương thật là dễ thương.

Rồi tôi với Hải xoay qua những kỷ niệm từ xa lắc thời gian gĩa từ sách vở vác đơn đi tình nguyện bước qua cổng trại Phi Long. Thời gian chia xẻ vui buồn sướng khổ nơi quân trường Nha Trang với chuỗi ngày huấn nhục. Những ngày vui tếu ăn học vui chơi trên đất Mỹ. Đời một Phi công trực thăng vùi lăn trong cuộc chiến miệt mài sầu thảm từ miền núi cao biển sâu đến những đồn điền bát ngát. Nỗi lao đao vất vả, sự cực khổ hiểm nguy. Bạn bè ở gần và xa nhau, còn sống hay đã nửa đời gẫy cánh...

- Thời gian qua mau quá Hải ơi. Nhớ hôm nào An Lộc mới ầm tiếng súng và bọn mình dài dặc điêu linh như còn nóng hổi mới hôm qua. Vậy mà đã gần một năm trời, nhanh thật.

- Ừ, nghĩ lại rùng mình. Trận An Lộc như ác mộng.

Tôi thở ra thật nhẹ. Nhớ lại những ngày nắng cháy mưa dầm hành quân mặt trận Bình Long. Thân thể hao mòn, thần kinh căng đứt. Những buổi trưa ở Lai Khê nắng lửa ngột ngạt hay mưa giăng giăng âm u trời đất, Hoa tiêu hàng đàn ngồi dưới mái quán sơ sài ướt át thắc thỏm đợi chờ phi vụ.

Phi vụ như bay vào đất chết. Đất chết kéo dài theo Quốc lộ 13 -.con số xấu xa định mệnh. Từ Lai Khê, điểm cùng là An Lộc, khoảng giữa Bầu Bàng, Chơn Thành, Suối Tàu Ô, Minh Thạnh, Tân Khai, Xa Cam, Xa Trạch... An Lộc như điểm đợi kinh hoàng. Điểm tử. Là nơi hạ cánh để không bao giờ trở lại của những mảnh đời trai trẻ, hiệp sĩ không gian. An Lộc đã trở thành hỏa ngục, thành lò thiêu xác, thành bãi tha ma, vạc dầu sôi bỏng....

An Lộc, bãi chiến trường kinh khiếp phơi bầy bộ mặt hãi hùng ghê tởm của cuộc tương tranh tàn sát tới điểm cực cùng bi thảm. Nói như Phan Nhật Nam, đây là nơi thử lửa cuối cùng, nơi chạm nổ kinh hồn giữa hai sức mạnh từ một khối oai hùng lịch sử bốn ngàn năm đã phân rời thành hai chủ nghĩa đắng cay thù nghịch. Nơi minh chứng hùng hồn cho sức đề kháng dữ dội và kiêu dũng của lý tưởng tự do và sự hủy diệt của ý thức hệ ngông cuồng vong bản. Cái sức mạnh được đề cao là sức mạnh vô sản vạn năng dựng xây xã hội chủ nghĩa, thành trì cách mạng Cộng Sản thế giới đã ngừng bước tiến bạo tàn, đã tang thương gẫy đổ tại An Lộc. Bởi An Lộc đã vẫy vùng chiến đấu. Giữ vững ngọn cờ chói lòa sức mạnh thiêng liêng của bản năng sinh tồn dân tộc.

An Lộc, Bình Long. Mặt trận đau thương dữ dội và đầy nét bi ai hùng tráng có tôi góp phần tham dự. Cái phần tham dự chỏ nhoi không đáng nhưng nhiều kỷ niệm để đời. Trong trận tàn phá, An Lộc tanh banh quằn quại. An Lộc cháy ngút ngày đêm. An Lộc vỡ, An Lộc nổ. An Lộc gào rú rên la hàng ngày, bừng bừng dẫy nẩy cơn sốt kinh mang hàng tháng. Miền đất máu sông xương núi như bốc dậy mùi tanh lên tận trời cao mà mỗi lần bay trên An Lộc, tôi như ngửi được.

Chưa có mặt trận nào bằng An Lộc. Những cánh trực thăng mỏng manh mỗi lần vào An Lộc như bay vào cõi chết. Đạn bắn như mưa. Bắn cùng mọi phía. Bắn bằng đủ loại phòng không dữ tợn, hỏa tiễn tầm nhiệt, đại bác phòng không, súng cá nhân, 12 ly 7 chụm lại trực xạ, đại bác nổ chụp, súng cối rót vào bãi đáp...

Hợp đoàn tám phi cơ nối đuôi nhau bay hối hả vòng qua Minh Thạnh vào đáp bãi B15 từ hướng tây nam An Lộc năm phút sau trận mưa bom B52 cuối cùng vừa dứt. Những hố bom tươi mới nở, rỗ hoa chằng chịt trên cánh rừng cao su đã tanh banh sơ sác làm một hành lang an toàn cho cuộc chuyển quân không vận. Bụi đỏ chưa tan, những cây cao su âu sầu ngún cháy. Đoàn trực thăng bay thấp, lướt trên ngọn rừng rách rưới theo lệnh “C & C” hướng dẫn:

- Hợp đoàn quẹo phải 10 độ, đi thẳng..! Chiếc số ba bay nhanh một chút. OK đi thẳng... Bãi đáp mười hai giờ, ba trăm thước. Giảm Air speed...coi chừng! Coi chừng nó bắn phòng không bên trái!...

Tôi nín thở. Hợp đoàn đã tới gần bãi đáp. Nhưng trước cả tiếng la coi chừng hốt hoảng của chiếc phi cơ chỉ huy, tôi thấy điểm sáng dưới lòng một hố bom loang loáng lóe lên như chớp kính....

- Quẹo phải! Hợp đoàn quẹo phải!....Chiếc số hai rớt rồi. Số ba nhanh lên! Lead quẹo phải 90 độ bay ra!.. Bay ra! Đừng đáp!...

Tôi kinh khủng. Chiếc số hai đang bay đột ngột cắm đầu đâm thẳng xuống triền đồi, lăn lông lốc như cục đá. Một vùng bụi đỏ mù mịt bốc lên và lửa cháy bùng.

- “Chiếc số hai rớt rồi!”. Mẹ bố cái giọng như tường thuật một quả banh trên sân cỏ. Chiếc phi cơ bất hạnh của Tuân. Cả một phi hành đoàn và 11 lính bộ binh vào An Lộc tiếp hơi cho đoàn người tử thủ đã rơi chết ngon lành khi vừa tới thềm địa ngục. Tuân mới trò chuyện với tôi dưới bóng cao su ở Lai Khê trong giờ cơm trưa dã chiến. Hoa tiêu Thiếu Úy độc thân. Hai mươi tuổi trẻ. Vừa nuốt chưa tiêu bữa cơm rau cỏ Việt Nam, gạo Hoa Kỳ viện trợ... đã chết nổ tung, chết như sét đánh.

An Lộc đầy trời lửa đạn, đầy đất phong ba. Ngày xưa có một Kinh Kha thật ra cái “dũng” chỉ bằng móng tay so với những đôi bàn tay dũng cảm của Hoa tiêu không lực ta hiện đại. Kinh Kha đi thích vua Tần, tiếng gươm đao sát phạt nghe không kinh bằng tiếng súng. Kinh Kha chết, chân còn vững vàng trên đất. Người Phi công phí bỏ cuộc đời, chân lửng lơ bay trên trời cao rộng. Một kẻ ra đi, trên bờ sông Dịch, có hàng ngàn tân khách mời ruợu tiễn đưa, biết mình táng mạng cũng còn được người đời ca tụng, cái dũng đẩy đưa từ cái danh và trả ơn đời đãi ngộ. Còn Pilot trực thăng? Lao thân vào cõi chết, họa hoằn mới được thêm những giọt nước mắt bạn bè âm thầm nhỏ xuống.

Xin lỗi những phi công các cường quốc trên thế giới. Tôi muốn ngỏ lời thách đố các người vào An Lộc bằng chiếc trực thăng, vai lon Thiếu Úy mới ra trường. Treo mạng sống mình từ cao năm ba ngàn bộ, tắt máy cho rơi tự do như lá mùa thu. Mắt không thấy kẻ thù nhưng tai điếc loạn bởi đạn thù tưng bừng chào đón rền vang trời đất. Vẫn phải vững vàng đôi chân đạp, tay kiềm, chao liệng tránh né phòng không và tìm hướng vào bãi đáp. Bãi đáp khi chưa đ̣ậu xuống đã nẩy tung, mịt mù pháo kích. Bàn tay nào điều khiển con tàu tránh pháo. Khối óc nào quyết định cho phút giây sinh tử đời người và quả tim nhiệt huyết nào thúc đẩy lòng chu toàn nhiệm vụ? Để tìm nơi hạ cánh thả đồ tiếp tế cho bao sinh mạng đợi chờ, đón cho bằng được những thương binh khốn khổ chật ních phi cơ đoạn ì ạch bay xuyên lưới đạn về đáp Lai Khê với thân tàu đầy thương tích? Như thế. Hàng ngày. Hàng mấy tháng trường ròng rã, lao đao khổ nhọc. Một lần thoát chết cũng khiến chim sợ cây cong. Nhưng những người hoa tiêu UH-1 rất nhiều lần trong chuỗi ngày cơ cực tang thương An Lộc đó đã bao bao người là những anh hùng mất ngựa. Phi cơ trúng đạn, đồng đội bị chết, bị thương, vẫn bình tĩnh bay khỏi vùng kinh khiếp tìm trảng cỏ giữa rừng đáp khẩn cấp, bỏ tàu bay, may mắn lắm sẽ được phi cơ bạn nhào xuyên lưới lửa đón về. Hay bỏ tàu mà chạy, vượt qua rừng qua bụi trốn tránh kẻ thù về đất sống hoặc long đong phần số hẩm hiu rơi vào tay giặc. Những người anh em đã rơi vào tay giặc hay đã biền biệt ra đi, vĩnh viễn cùng với xác tàu vỡ vụn trên cánh rừng cao su tơi tả đầy đặc hố bom. Đi không còn ai nghe tiếng nói. Xác rữa. Xương phơi khô trắng tới ngày An Lộc giải tỏa, bạn bè ngậm ngùi tìm đến đem về những mảnh xương khô. Có những anh em đã thành tàn phế. Và người còn sống nguyên lành vẫn sáng lửa đấu tranh trong mắt, vẫn kiêu hãnh nụ cười trên môi, ngày ngày tung bỗng cánh chim lao vào trận địa.

Bây giờ An Lộc đã tàn, Bình Long đã thành vùng đất vang danh của lịch sử đấu tranh dân tộc. Điêu tàn và đổ vỡ của An Lộc là vết tích thảm thương đau đớn cực cùng mà ai qua đó cũng ngậm ngùi cay đắng trong niềm đau buốt và xấu hổ như mang một vết thương nhục nhã trên cơ thể, nghe âm âm “Điếu cổ chiến trường văn”…

Điếu vô thanh hề sơn tịch mịch
Dạ trường hề phong tích tích
Hồn phách kết hề thiên trầm trầm
Quỷ thần tụ hề vân tịch mịch..
Huyết mãn trường thành
Thương tâm thảm mục
Thiên địa vi sầu, thảo mộc thê bi...

Quả thật chim chóc cũng không dám bay vào An Lộc giữa cơn ầm ầm chấn động miên man như đất sụp. Côn trùng cũng không dám cất tiếng kêu trong những đêm An Lộc dẫy dụa ̣̣điên cuồng. Mờ sáng khi mặt trời chưa mọc, tôi bay trên An Lộc cũng thấy An Lộc nổ và cháy sáng lòa. Những cơn mưa bốc thành khói khi rơi xuống An Lộc bỏng dẫy ngàn độ nhiệt. Nửa đêm tôi bay “C and C” cho trướng Hồ Trung Hậu vào An Lộc “để mấy đứa em nó nghe tiếng nói của qua trên trời tụi nó yên tâm”... Mây mù. Bão Mannie. Bão đánh phi cơ đùng đùng và phũ phàng như hàng loạt B40 thổi muốn bay đuôi chiếc phi cơ nhỏ bé tưạ cánh bèo dập dềnh trên biển động. Bão dúi tôi từ sáu ngàn bộ xuống tận đất đen, lại đưa tôi bổng lên khỏi không gian mù mù tối thẳm như chót tầng địa ngục. Nỗi rụng rời tưởng chết chưa tan, đèn ngoài phi cơ tắt hết, những cụm lửa phòng không địch bắn cầu âu lên trời như thắp đuốc soi đường cho chiếc trực thăng đi tìm thần chết.

Hung hiểm không phải chỉ vì súng đạn. Không giới hạn thời gian. Thành ra tôi phải nghiêm trang nói với một vài người ngỏ lời dị nghị tinh thần chiến đấu của các anh em Thiếu Úy phi công trực thăng trong một lần nói chuyện về mặt trận An Lộc. Rằng xin đừng chê trách các hoa tiêu cấp nhỏ. Tôi hơn họ vài ngàn giờ bay, đeo lon Đại Úy. Nhưng cái hồi Thiếu Úy của tôi bay H-34, VC chưa có súng AK chứ đừng nói chi tới hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7. Mặt trận hồi đó cũng chưa bằng một góc Bình Long. Đất nước này còn không phải nhờ những người tự phụ có giờ bay nhiều, kinh nghiệm chiến trường nhiều, mà là nhờ lớp đàn em mang lon Thiếu Úy có bộ đồ bay rách phải mất càfé thuốc lá mới được anh Thượng sĩ gìà “thông cảm” cho đổi gấp.

Tôi nói thêm về cái hèn mọn của tôi. Là chiến đấu nhiều, bay bổng nhiều, thoát chết nhiều lần, bây giờ có vợ con, cũng thực tình hơi lạnh cẳng. Nhưng cái hèn chỉ đôi khi làm tôi nhận phi vụ, đờ đẫn lo âu, nhưng không bao giờ từ chối những phi vụ coi là chơi đỏ đen lần chót với số mệnh. Vả lại những phi vụ đó tôi có hoàn tất tốt đẹp, cũng không đáng để ai khen bởi kinh nghiệm và khả năng tôi làm được. Đáng khen phục là những người hoa tiêu trẻ trung, giờ bay chưa tới số ngàn, vừa chân ướt chân ráo về nước đã được tung vào cuộc chiến tàn khốc như An Lộc. Họ trưởng thành quá mau và tôi phải yêu và phục.

***

Tôi ngồi như thế, trầm mặc miên man với những hồi tưởng về chiến trận đau thương thảm khốc đã qua và những nỗi điêu linh vất vả của người Phi công thời chiến. Tất cả đã qua đi. Thực tình như một cơn mộng dữ. Như một ám ảnh khổ đau chung cho dân tộc. Tôi hỏi Hải:

- Ngưng bắn chắc hòa bình không? Thực tình tao chẳng quan thiết chút nào và cũng chẳng nôn nao đón đợi tám giờ sáng mai ngưng bắn. Tâm hồn mình đã chai mòn và thờ ơ đến thế sao?

- Bây giờ coi như giờ thứ hai mươi lăm. Ráng đêm nay nếu có pháo kích thì giữ lấy thân. Mai, ngưng bắn rồi sao nữa, cứ “wait and see” và hy vọng.....

Đào Vũ Anh Hùng
Saigon 1973
(Ngày Ấy Khi Ta Yêu Nhau)
quangminh
Posts: 549
Joined: Thu May 27, 2010 1:54 am
Contact:

Post by quangminh »

Bố Tôi, Người Lính Việt Nam Cộng Hòa

Tác Giả : Kiệt
Lời mở đầu: Một vài ngày nữa Ngày lê của Cha lại trở về. Một văn hào đã viết “Nơi chốn bình an nhất của đứa trẻ trên thế giới này là căn phòng của cha nó!”

Tình cha nhiều người cho rằng không đằm thắm bằng tình mẹ, có lẽ chỉ vì người cha ít chịu diễn tả mà thôi. Thật ra tình cha như nền móng của căn nhà, giá trị của nó là phần nằm sâu dưới mặt đất.
Nhiều người còn ví tình cha như miếng cam thảo, phải ngậm lâu mới ra chất ngọt.
Riêng người Việt ly hương chúng ta, Ngày Của Cha (Father's Day) thường rơi đúng vào ngày kỷ niệm Quân Lực VNCH 19 tháng 6 mỗi năm.
Nhớ lại hình ảnh những người trai thời chinh chiến, vừa làm người lính ôm súng gìn giữ quê hương, vừa phải lo cho gia đình chu toàn bổn phận làm cha. Nên người cha trong đất nước khói lửa, hầu như phải hy sinh tình nhà nhiều.
Nhưng không vì thế mà tình cha không đậm đà. Nhân ngày Quân Lực và Ngày Của cha, Hải Lê xin đóng góp một câu chuyện nhỏ kể theo Angie Kucer, nhằm vinh danh những người cha bất hạnh, hy sinh nhiều, nhưng nhận... chẳng có bao nhiêu!
Nhất là những người đã nằm xuống để vợ con, đồng bào mình được sống mãi mãi.
Tôi có một người cha già, lại tàn tật, cụt một chân. Khi tôi sinh ra đời bố tôi cũng đã gần 50 tuổi. Trong một thời gian dài, bố tôi đóng vai trò của một người mẹ, tuy di chuyển khó khăn, nhưng ông lo lắng cho tôi không còn thiếu một thứ gì. Bạn bè thường gọi là “Ông nội trợ” và khen là đàn ông mà bố tôi có đầy đủ các đức tính của người phụ nữ Á đông “công, dung, ngôn, hạnh”, nuôi con khéo léo không ai bằng.

Hồi còn bé, tôi không hiểu được, vì sao không phải mẹ tôi, mà bố tôi luôn luôn ở nhà chăm sóc cho tôi. Từ từ tôi mới nhận ra, trong đám bạn bè, tôi là người duy nhất luôn luôn có người bố bên cạnh. Thiếu tình mẹ, tuy nhiên, tôi cũng cảm thấy an ủi, mình là người rất may mắn, còn hơn nhiều đứa trẻ thiếu cả tình thương của cha lẫn mẹ.

Sau này tìm hiểu thì tôi biết, bố tôi là một lính VNCH, bị thương trên chiến trường, được mẹ tôi bảo lãnh theo diện đoàn tụ, bà lo cho ông hưởng tiền trợ cấp tàn phế. Lúc tôi được hơn 3 tuổi, bố tôi và mẹ tôi ly dị, bà đã lập gia đình với một người đàn ông khác, nhường tôi lại cho bố tôi nuôi. Trong ký ức trẻ thơ, tôi có hình dung được hình ảnh của mẹ tôi một vài lần, khi bà đến thăm, nhưng rất xa lạ, vì luôn luôn bà đi với một người đàn ông nhìn tôi với ánh mắt lạnh lùng.

Tôi có tí mặc cảm về địa vị bố tôi ngoài xã hội, so với bố của những đứa trẻ khác, tuy nhiên việc chăm sóc tôi thì hoàn hảo, ông chăm lo cho tôi từ việc lớn đến việc nhỏ, không phải đụng tay vào bất cứ thứ gì. Trong suốt thời gian tôi học tiểu học, ông còn thuyết phục ông tài xế xe bus đón tôi đi học ngay tại cửa nhà, thay vì ở trạm xe , cách xa nhà tôi 4 dãy phố. Khi tôi bước vào nhà, lúc nào bố tôi cũng chuẩn bị sẵn thức ăn trưa, nào cá kho, thịt kho, rau xào và có cả canh nữa. Lâu lâu cũng có thức ăn Mỹ, sandwich, hamburger, bơ đậu phộng, và còn thay đổi theo mùa. Giáng Sinh bánh có viền xanh hình cây thông, Valentine có hình trái tim..vv...

Khi tôi lớn hơn một chút, vào năm đầu tiên trung học, tôi lại thích sống độc lập, tôi muốn thoát ra những cử chỉ yêu thương dành cho con nít của bố, vì sợ chúng bạn trêu chọc. Nhưng chẳng bao giờ bố buông tha tôi cả, một đôi khi tôi rất bực mình.

Cấp trung học, tôi không thể về nhà ăn cơm được nữa, phải bắt đầu tập tự lo cho mình. Nhưng bố tôi lại thức dậy sớm hơn thường lệ để chuẩn bị bữa ăn trưa cho tôi. Ông cẩn thận ghi cả tên tôi bên ngoài túi giấy đựng đồ ăn. Lật dưới đít bao giấy, luôn luôn có một vài hình vẽ nhỏ, khi thì căn nhà, khi thì dòng suối, ngọn núi, chim cá và hình trái tim với dòng chữ “I Love You Tammy!” Nào hết đâu, bên trong những chiếc khăn giấy cũng có những dòng chữ triều mến “Bố thương con nhiều”. Ông luôn viết, hay có những câu nói bông đùa như thế để nhắc nhở là ông yêu thương tôi nhiều, và muốn làm cho tôi vui.

Tôi thường lén ăn trưa một mình để không ai thấy được cái túi giấy và khăn ăn. Nhưng cũng chẳng giấu được lâu. Một hôm, một đứa bạn tình cờ thấy khăn ăn của tôi, nó chộp lấy la lên và chuyền đi khắp căn phòng cho mọi người xem. Mặt tôi nóng bừng, bối rối, mắc cỡ muốn chui đầu xuống đất.

Bữa hôm đó tôi về, đã làm mặt giận với bố tôi và “cấm” ông ấy không được viết, vẽ “bậy bạ” trên khăn giấy nữa, để bạn bè không coi tôi như đứa con nít lúc nào cũng cần người lớn chăm sóc. Lần đầu tiên tôi thấy bố tôi buồn, lặng lẽ vào phòng đóng cửa.

Ngày hôm sau, tôi vô cùng ngạc nhiên vì tất cả bạn bè bu chung quanh tôi, chờ để được xem chiếc khăn ăn, nhưng lần này thì trống trơn, không có dòng chữ hay hình vẽ gì cả. Nhìn mặt bọn chúng thất vọng, hụt hẫng, tôi mới hiểu ra, tất cả chúng nó đều mong ước có một ai đó biểu lộ tình thương yêu ngọt ngào giống vậy đối với chúng. Lúc đó lòng tôi len lén cảm thấy vui vui, dâng lên niềm tự hào về bố. Tôi vội về làm lành với bố, và những giòng chữ, những hình vẽ yêu thương lại tiếp tục.

Những năm còn lại trong trường trung học, tôi vẫn đều đều có những chiếc khăn đặc biệt ấy. Và từ đó, tôi giữ lại, chứa trong một cái hộp riêng, giấu kín.
Chưa hết, khi vào đại học, tôi phải rời xa bố, tôi nghĩ thông điệp xưa kia của bố sẽ phải chấm dứt. Nhưng tôi và bạn bè rất vui sướng vì những cử chỉ biểu lộ tình cảm của bố tôi vẫn tiếp tục qua hình thức khác.
Ở cấp đại học, dĩ nhiên không còn thấy bố tôi đứng chờ khi tan học, vì thế, tôi hay gọi điện thoại cho ông, chi phí điện thoại khá cao, nhưng không sao, tôi chỉ muốn nghe được giọng nói của ông mà thôi.

Suốt năm học đầu tiên, chúng tôi quen lối nói chuyện như thế và sau đó kéo dài một năm. Thường thì sau khi tôi nói lời tạm biệt, câu cuối cùng không bao giờ thiếu.
“Này Tammy”
Tôi thường trả lời “Dạ, gì thế bố?”
“Bố thương con nhiều.”
“Con cũng thế. I Love You!”

Hình như bố tôi nhận ra chi phí mắc mỏ cho những cuộc điện đàm, từ đó, tôi bắt đầu nhận thư mỗi thứ sáu. Ban thường trực phát thư của trường đều biết ai là người thường gửi lá thư này, mặc dù địa chỉ hồi âm luôn luôn ghi là KBC 1678. (Sau này tôi khám phá ra, KBC viết tắc là Khu Bưu Chính, địa chỉ trong quân đội ngày trước nơi bố tôi phục vụ. Còn số 1678 dễ quá, là số nhà tôi hiện tại.)

Nhiều lúc bên ngoài bì thư, địa chỉ được viết bằng bút chì và tiếp theo đó là những lá thư có hình con mèo và con chó của gia đình tôi, có vẽ những hình tháp nhiều từng, hình cây cầu nhiều nhịp in trên sóng nước. Hè năm đó, bố tôi và tôi du lịch về Việt Nam, lúc đó tôi mới biết là Chùa Một Cột, Chùa Thiên Mụ, Cầu Tràng Tiền v.v...

Sau chuyến du lịch ấy, tôi tìm hiểu về Việt nam nhiều hơn, nhất là cuộc chiến tranh trước 75, tôi bắt đầu thấy thương bố nhiều, ông là người lính bại trận, nhưng quân lực ấy đã chiến đấu dũng cảm cho tự do, cho hạnh phúc của người dân miền Nam trong suốt 20 năm. Nếu không bị đồng minh bán đứng, cuộc chiến chưa chắc ai thắng ai.

Thư đến và được phát mỗi ngày sau buổi ăn trưa. Tôi thường đi nhận thư và mang theo mỗi khi đi uống cà phê. Tôi nhận thấy chẳng cần phải giấu giếm làm gì nữa, bởi bạn cùng phòng tôi là những đứa bạn hồi còn trung học, chúng nó biết rất rõ về những chiếc bao giấy, khăn ăn. Và rồi trở thành như một tập tục, tôi đọc thư, còn bì thư và hình vẽ thì được chuyển khắp bạn bè, thư từ bố tôi thành niềm vui của cả phòng.

Trong năm cuối cùng đại học, bố tôi bị căn bịnh ung thư hành hạ. Mỗi khi tôi không nhận được thư vào ngày thứ sáu, tôi biết ông ốm nặng, không thể viết được. Ông thường thức dậy lúc 4 giờ sáng để có thể ngồi trong nhà yên tĩnh nắn nót viết những lá thư. Nếu không kịp cho đợt phát thư vào thứ sáu, thì chỉ sau đó, một hai ngày, thế nào rồi thư cũng đến. Bạn bè tôi bình bầu ông là “Người cha thương con nhất trên thế giới này!”

Ngày lễ cha, Father's Day, chúng nó gởi một tấm thiệp phong tặng ông danh hiệu đó và tất cả đều ký tên trên tấm thiệp. Tôi tin rằng ông đã dạy cho tất cả chúng tôi về tình phụ tử, bạn bè tôi bắt đầu nhận những tấm khăn ăn giống như tôi từ gia đình chúng nó, với những lời để lại ấn tượng mà sẽ thôi thúc họ hãy biểu hiện tình thương của họ với con cái sau này.

Suốt thời gian đại học, những lá thư và những cú điện thoại như một chu kỳ đều đặn.
Ngày ra trường, tôi quyết định chọn công việc làm gần nhà, để được ở cạnh bố tôi, vì căn bệnh bố càng ngày càng nặng. Thời gian được ở gần bố không còn bao nhiêu lâu nữa.
Đó là những giây phút khó khăn, đau khổ nhất cuộc đời tôi phải trải qua.

Tôi ở bên cạnh bố tôi một vài ngày trong bệnh viện trước khi ông mất. Vài giờ trước khi hấp hối, ông nắm tay tôi bảo “Bố nhờ con một điều, con về nhà lấy cho bố cái hộp gỗ mà bố để trên đầu tủ, đây là hộp chứa đựng những kỷ niệm đời lính mà bố yêu thương nhất. Bố muốn nhìn nó lại một lần.”

Tôi lái xe về nhà, và cũng tìm ra ngay chiếc hộp phủ đầy bụi thời gian. Có gì bên trong? Tôi tò mò mở nắp hộp. Mắt tôi bắt đầu cay cay nhòa lệ, khi nhìn thấy những tấm hình của bố tôi còn trẻ, trong những bộ quân phục thật oai phong. Có những tấm cầm súng đằng sau chiến trường còn bốc mùi lửa khói. Lật ra đàng sau, những ngày tháng cũ, 68, 70, 71, 72... với những địa danh xa lạ: An Lộc, Bình Long, Đồng Xoài, Khe Sanh... Dưới đáy hộp là căn cước quân nhân, giấy giải ngũ và những tấm huy chương, bộ lon gắn trên cổ áo khi ông mặc những bộ quân phục.

Bây giờ thì tôi mới hiểu hết, không còn mặc cảm hình ảnh có ông bố tàn tật chỉ biết lo việc “nội trợ”, ngược lại là đàng khác, Bố tôi đã một thời là một người lính chiến oai hùng, đổ máu hy sinh một phần thân thể mình cho một cuộc chiến đầy chính nghĩa, bảo vệ quê hương.

Rõ ràng bố tôi chăm sóc tôi, vui vẻ làm những việc của người phụ nữ bao nhiêu năm nay, chỉ vì tình thương con mà thôi. Ông thật là người cha tuyệt vời

Tôi ôm cái hộp, chạy gấp lại bệnh viện, định nói lời xin lỗi với người cha thân yêu của mình, nhưng đã trễ! Người y tá trực cho biết, bố tôi vừa trút hơi thở cuối cùng. Rồi người y tá trao cho tôi chiếc khăn giấy nhà thương, với giòng chữ cuối cùng run rẩy của một người cha dành cho con “Tammy, ba thương con nhiều! Vĩnh biệt!”

Nước mắt tôi trào ra như suối, cầm tấm khăn giấy trong tay áp vào ngực, tấm khăn giấy cuối cùng, mà cả cuộc đời mãi mãi không còn nhận được nữa.

Lúc liệm xác, tôi bỏ theo chiếc hộp kỷ niệm đời lính vào hòm cho bố, còn những chiếc khăn giấy tôi sẽ giữ mãi bên cạnh cả cuộc đời tôi.
Bây giờ thì những chiếc khăn giấy đã đổi màu vàng khè, nhưng tình tôi dành cho người bố càng ngày càng thấm thiết, bất diệt, muôn đời không thay đổi.

Happy Father's Day
Mừng Ngày Của Bố
Mừng ngày Quân Lực 19/6/2010
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 3 guests