Thơ Tình

Thơ nhạc trữ tình, thơ nhạc lính, video...
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Để tưởng nhớ nhà thơ Hữu Loan vừa qua đời,
(12.4.1916 – 18.3.2010)
Thân mời quý Anh Chị nghe lại những nhạc khúc được phổ
từ bài thơ Màu Tím Hoa Sim của Ông.



Image

Màu Tím Hoa Sim
Chương trình thơ nhạc do Bích Huyền biên soạn

Chuyện Hoa Sim
Nhạc : Anh Bằng Tiếng Hát : Đan Nguyên

Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà
Nhạc : Phạm Duy Tiếng Hát : Elvis Phương

Những Đồi Hoa Sim
Nhạc : Dũng Chinh Tiếng hát : Hương Lan & Duy Quang
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »


Image

Nhà thơ Hoàng Cầm và những 'chiếc lá diêu bông'
(VietNamNet) - Cho đến bây giờ, nhiều người vẫn phải thừa nhận, ông là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất của kháng chiến chống Pháp.... Đến giờ, ông cũng không đếm được đã có bao nhiêu "chiếc lá diêu bông" đã "bay" qua đời mình" nhưng ông nhấn mạnh: "Tôi là người rất quý trọng tình yêu"...

Tám mươi ba tuổi, một quãng đời dài sống và viết song hành cùng những thăng trầm số phận, hoàn cảnh; Bây giờ, trên chiếc giường nhỏ, vật lộn với thời gian và đôi chân bất lực, nhà thơ Hoàng Cầm vẫn cho tôi cảm giác về một tâm hồn anh minh và sâu lắng, một hoàng hôn Kinh Bắc buổi giời lạnh giá nhưng trữ tình, se sắt và quyến rũ không lẫn vào đâu được.

“Cúi lạy Mẹ con trở về Kinh Bắc, Chiều xưa giẻ quạt voi lồng, Thân cau cụt vẫy đuôi mèo trắng mốc, Chuồn chuồn khiêng nắng sang sông…”, những “Đêm Thổ”, “Đêm Kim”, Đêm Mộc”…, những chiếc “Lá diêu bông”, cỗ xe hồng và “Cây tam cúc”… dường như đã nâng sức nhà thơ Hoàng Cầm qua những bước đi số phận, và mới đây, lại dẫn dụ ông trở về với quê hương, với những mối tình của cậu bé trai thưở mười hai tuổi…

Hoàng Cầm - vị thuốc đắng

Thưở ấy, vào ngày đầu xuân 22 tháng 2 năm 1922, lúc miền Kinh Bắc còn xe giá và tưng bừng những lễ hội năm mới, cậu bé Bùi Tằng Việt đã chào đời. Tên của cậu được đặt theo những chữ có trong tên làng quê: xã Phúc Tằng, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

Mẹ của cậu, một cô “hàng xén răng đen, cười như mùa thu toả nắng”, và bố, một ông thầy lang vườn bốc thuốc hay có tiếng có lẽ đã không bao giờ nghĩ rằng, sau này, đứa con trai được đặt tên một cách dân dã ấy, lại có duyên với làng quê, có nợ với thi ca, đã đưa làng quê của cậu lên một tầng cấp mới, với hơi thở đằm sâu về văn hoá, tâm hồn Kinh Bắc mà chỉ những ai thật sự gắn bó với nơi ấy mới có thể viết nên. Bút danh của thi nhân hiện đại cũng được bắt đầu với một cách không giống ai: lấy tên một vị thuốc đắng trong tủ thuốc chữa bệnh của bố - tên vị thuốc ấy là Hoàng Cầm.

Học tiểu học ở quê nhà, năm 1938, cậu bé Bùi Tằng Việt ra Hà Nội học trung học. Từ đây, cậu đã bắt đầu cuộc đời văn chương với những tác phẩm dịch phóng tác cho Nhà xuất bản Tân Dân do ông Vũ Đình Long, người đã viết những vở kịch đầu tiên của nước ta, làm chủ bút với số tiền lương 25 đồng/tháng. 25 đồng lúc ấy to lắm, một bát phở chín ngon nhất Hà Nội bấy giờ cũng mới chỉ có 3 xu. Cậu còn được hưởng chế độ ưu đãi đặc biệt cứ 6 tháng lại tăng lương thêm 5 đồng.

Tuy nhiên, cái “máu” mê làm thơ từ những ngày viết lục bát gửi tặng Chị - nhân vật trữ tình xuyên suốt trong hồn thơ Hoàng Cầm đã khuyến khích ông gửi thơ đăng ở báo Bắc Hà, nơi nhà thơ Thanh Tâm phụ trách. Bên cạnh đó là viết văn, viết kịch, khi tham gia cách mạng thì “kiêm” luôn cả việc thành lập một ban kịch, rồi lại trở thành Đoàn trưởng Đoàn văn công Tổng cục Chính trị, Trưởng đoàn kịch nói quân đội…

Những cái mốc trong cuộc đời nghệ thuật của Hoàng Cầm tưởng có lẽ rất suôn sẻ và đầy may mắn như thế. Nhưng nghệ thuật bao giờ cũng là con đường gập ghềnh nhiều chông gai, không chỉ tóm gọn trong mấy dòng, nhất là “sự kiện” 1958, khi Hoàng Cầm “uống” phải “vị thuốc đắng” của đời thơ mình: vừa được cử vào Ban giám đốc Nhà xuất bản Hội Nhà văn một năm, sau đợt học tập đấu tranh chống Nhân văn giai phẩm, ông phải rút khỏi Hội Nhà văn.

Từ đấy, cuộc đời văn chương của ông đã mở sang một hướng khác, lặng lẽ hơn, trầm tĩnh hơn, không quan tâm đến chính trị, xã hội nhiều nữa. Và cũng chính lúc cô đơn cùng cực ấy, miền Kinh Bắc đã thực sự mở cánh cửa đón ông vào lòng như đón một đứa con tha nhân nhiều nặng nợ.

Si tình như thuở mới mười hai!

Nói về đời thơ Hoàng Cầm, không thể không nhắc đến những mối tình lạ lùng nhất trong thơ ông. Tuy không còn sức khoẻ thế, mà ông vẫn hóm hỉnh và háo hứng lắm khi nghe tôi hỏi về cái thuở ban đầu lưu luyến, lúc ông mới bước chân vào văn chương, trường tình, trường đời, và những “cố sự” đã xảy ra trong đời mình đầy run rủi. Ông mơ màng như một cậu bé mười hai tuổi năm nào, lũn cũn theo bước chân của cô gái Kinh Bắc, “mê” cô như điếu đổ. Có lẽ, đấy là mối tình đầu đời của Hoàng Cầm, là giấc mơ ngọt ngào nhưng cũng là vị thuốc đắng khác trong đời khi ông choàng tỉnh giấc, mà dư âm của nó là những vần thơ kỳ lạ.

“…Chị ấy tên là Vinh, bố mất sớm, nhà rất nghèo, chị ở cùng mẹ và một đứa em lên 5 tuổi. Họ cất một gian nhà ở phố để bán hàng kiếm ăn. Suốt từ năm 8 đến 12, 13 tuổi, lúc nào đi theo chị được là tôi đi ngay, không rời nửa bước. Cũng nhờ đi theo chị, tôi mới có những kỷ niệm để sau này trở thành “Lá diêu bông”.

Trong một buổi tối thanh niên, trai gái ở làng tụ họp nhau hát đối, chị vịn lấy vai tôi mà hát. Rồi chị bảo bọn trẻ chúng tôi: “Đứa nào tìm được lá diêu bông, ta sẽ gọi là chồng”. Nghe thấy thế, mặt tôi đỏ lên. Rồi một hôm nắng vàng giời lạnh, buổi chiều tha thẩn ra sân, tôi thấy chị đi ra phía cánh đồng liền cũng đi theo. Giữa đồng, chị một mình mê mải vạch từng cái lá, cành cây như đang tìm cái gì đó. Tôi liền hỏi: Chị Vinh ơi chị tìm cái gì đấy? Chị nhìn tôi đáp lời: ờ chị đi tìm cái lá... (chị nói tên một cái lá gì như là lá thuốc).

Hai mươi lăm năm sau, năm 1954, sau khi trở về Hà Nội mấy năm, một đêm, trong chính căn nhà này (43 phố Lý Quốc Sư), tôi trằn trọc không sao ngủ được. Độ 2, 3 giờ sáng, giữa thinh lặng như thế, chợt tôi nghe cất lên một giọng đọc rất thong thả, rõ ràng: “Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng...”. Bài thơ “Lá diêu bông” ra đời như thế. Nó là những kỷ niệm ăn sâu trong mình rồi bật ra thành thơ, khiến những lúc say sưa viết lại kỷ niệm đó, tôi cứ tưởng có ai đang đọc cho mình chép”…

Cùng với “Lá diêu bông”, “Cây tam cúc”, “Quả vườn ổi”… tập thơ “Về Kinh Bắc” được viết trong những năm 1959 -1960 ngồi nhà lặng lẽ không giao du với ai đã trở thành tác phẩm cốt tuỷ xương sống trong đời thơ Hoàng Cầm.

Sau này, những mối tình Chị-Em vẫn bãng lãng bay lên trong những câu thơ của ông như một tâm sự thầm kín mà ông hằng níu giữ. Ngay chính những bài thơ thuộc một “dòng” thơ khác, dòng thơ trữ tình Anh - Em, thì cái âm hưởng của những “mối tình diêu bông”, “mối tình tam cúc” vẫn còn phảng phất. Bài thơ mới nhất của ông, được viết vẫn còn chưa ráo mực trong những ngày cuối năm này là bài “Namô Xuân” cũng trở lại hiển hiện một Hoàng Cầm si tình như thế, si tình ngay cả lúc… namô: “Địa cầu bằng quả táo gầy, Cắn bao giờ chạm ngón tay em cầm”…

Tuy nhiên, nói như vậy, không có nghĩa là phủ nhận phần đời trước của một Hoàng Cầm sôi nổi hăng say tham gia hoạt động cách mạng. Cho đến bây giờ, nhiều người vẫn phải thừa nhận, ông là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất của kháng chiến chống Pháp.

Cái huyền thoại về Sông Đuống “nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ” có thể là không có thật với bất kỳ ai, nhưng với Hoàng Cầm, người mà mỗi bài thơ đều như được phát tích từ một huyền tưởng cổ tích, thì tôi tin lắm lắm là ông đã từng thấy sông Đuống nằm nghiêng thật, trong tâm khảm của ông. “Bên kia sông Đuống”, “Đêm liên hoan”, kịch thơ “Kiều Loan”… chính là một trong những thành công vang dội nhất của Hoàng Cầm thời chống Pháp.

Những bóng hồng trong mộng của thi sĩ bây giờ cũng đã chẳng còn như xưa. Chị Vinh - mối tình đầu đẹp nhất của cậu bé trai mười hai tuổi bây giờ chỉ có thể nói về chị bằng một lời ngắn ngủi buồn: “hồng nhan bạc mệnh”. Một người Chị khác, với mối tình “Cây tam cúc” nghe đâu hiện đang ở Thủ Đức, nhưng bà không dám nhận mình đã từng “gọi đôi cây trầu cay má đỏ, kết xe hồng đưa Chị đến quê Em”.

Người vợ thứ hai của ông, bà Tuyết Khanh, người vào vai “Kiều Loan”, đã hạ sanh cho ông một nàng tố nữ đặt tên nhân vật vở kịch để kỷ niệm, cũng là một mối tình lớn mà những thi sĩ cùng thời thường hay trầm trồ bàn tán, nhất là khi thuở trẻ bà còn là “mối tình si” của nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Do trắc trở số phận, bây giờ, bà đang sống ở Mỹ.

Còn bà Lê Hoàng Yến, người sau cùng sống với nhà thơ, chính là người đã sống với ông lâu nhất. Nhưng bà mất cũng đã 20 năm nay…

Cánh phượng hoàng Kinh Bắc

Ba mươi năm lặng lẽ ngồi nhà như một vị thiền sư, kỳ thực, hồn thơ Hoàng Cầm đã lặng lẽ hướng về Kinh Bắc, đi tìm một mối giao cảm mà chính ông mới là người hiểu rõ. Những bài thơ hay nhất trong đời thơ của ông ra đời, tuy không được phát hành nhưng vẫn được chuyền tay.

Sau cao trào đổi mới, được khôi phục quyền công bố, đăng tải tác phẩm, liên tiếp những tập thơ “Về Kinh Bắc”, “Lá diêu bông”, “Mưa Thuận Thành”, “99 tình khúc” của Hoàng Cầm ra mắt đã khiến độc giả sửng sốt. Một giọng thơ đầy sức quyến rũ bởi cái nội tâm sâu thẳm và chiều sâu văn hoá của một địa danh rờ rỡ hiện lên.

Thơ Hoàng Cầm mượt mà như một điệu dân ca, lại có sự tha thiết, quyến rũ, bồng bềnh và cũng lắm lúc hồn nhiên, dân dã của hát xoan, hát ghẹo, lại có cả sự khó cắt nghĩa rõ ràng của một tâm thức luôn hướng về những gì tưởng như là mộng ảo. Nên đọc thơ ông, thường, người ta thấy cảm nhiều hơn là dễ phân tích. “Nghé cây bài tìm hơi tóc ấm, Em đừng lớn nữa Chị đừng đi, Tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa, ổ rơm thơm đọng tuổi đương thì”…(Cây tam cúc), “Ngày cưới chị, em tìm thấy lá, Chị cười xe chỉ ấm trôn kim, Chị ba con em nhìn thấy lá, Xoè tay phủ mặt chị không nhìn” ( Lá diêu bông)…

Những câu thơ này, với tôi, luôn chất chứa một nỗi buồn kiêu sa, trong vắt, nỗi buồn của một người từ thuở bước chân sẻ đồng nhảy chim chim trên bờ nghiêng sông Đuống, ngây thơ lắm, hồn nhiên lắm, nhưng đã biết những gì mộng ảo của mình sẽ chẳng bao giờ thành sự thật, mà vẫn tin và yêu tất cả những gì mộng ảo, để một ngày nào đó, con sẻ đồng kia sẽ hoá thành phượng hoàng bay đi tìm những câu truyện do mình từng mong ước dệt nên. Con chim sẻ ấy, cánh phượng hoàng ấy, đều là một Người Thơ cả, đều là câu thơ do chính ông viết ra “ Đợi sau khi Em qua đời, sẻ đồng thành phượng núi” (Đếm giờ), và cũng đều là vị thuốc đắng -giấc mơ ngọt cho Hoàng Cầm vượt lên những thử thách nhân gian.

- 30 năm sống trong “án kỷ luật”, mặc dù đã có lúc nó tưởng chừng được cởi bỏ, ông đã sống như thế nào?
- Sống nội tâm quá nhiều. Chỉ có cuộc sống bình thường với chính mình, chứ không thuộc Hội nào, không đi thực tế sáng tác ở đâu, quanh quẩn ở nhà. Ở cơ quan thú thực cũng chẳng có việc gì cho tôi làm, ngoài một số việc lặt vặt. Cứ thế, mãi đến năm 1970, khi tôi 48 tuổi, chưa đủ tuổi về hưu, các vị lãnh đạo thấy sốt ruột quá thì cho tôi về hưu.

- Giả dụ thế này, không có cái thời lặng lẽ ấy, chắc đâu đã có một Hoàng Cầm của chiều sâu tâm hồn Kinh Bắc?
- Cũng chưa biết thế nào. Chuyện gì đến thì biết là nó đã đến, chứ lúc đó làm sao mà biết trước được. Nhưng cũng phải nói là do kỷ luật mà mình phải “chìm” đi. Các sáng tác thì viết ra đút vào ngăn kéo, không phổ biến ở đâu ngoài đưa cho mấy người bạn đọc.

- Ở tuổi “xưa nay hiếm, ông có thể tự hào mà “tổng kết” bao nhiêu “lá diêu bông” đã bay qua đời mình?
- Không đếm được. Nếu đếm và kể ra thì liên quan đến đời tư của rất nhiều người. Trong đời tư, tôi yêu nhiều người và cũng có nhiều người yêu tôi. Nhưng không phải mối tình nào cũng suôn sẻ, trọn vẹn. Có rất nhiều thất vọng và thất bại. Tôi là một người rất quý trọng tình yêu, không yêu đương bừa bãi để thoả mãn nhu cầu. Đã gọi là tình yêu thì người đàn bà mình yêu phải hướng thiện với những gì đẹp đẽ nhất. Khi thực tế ngược lại với mơ ước, tôi thất vọng và thành ra tan vỡ. Mà càng như thế, càng yêu nhiều, tình yêu càng được nhân lên.

- Sau “Về Kinh Bắc”, hình như “tinh hoa phát tiết ra ngoài” ở ông không còn nữa?
- Tôi vẫn viết đấy. Cũng có thêm “99 Tình khúc”, “Thơ tình Hoàng Cầm”...Nhưng độ vài năm gần đây thì sức khoẻ sút kém hẳn, chỉ viết được mấy bài chứ không nhiều.

Tuy nói thế, nhưng trên chiếc bàn con đặt cạnh giường ông, tôi vẫn thấy ngổn ngang giấy trắng. Giấy trắng đắp hờ qua chiếc chăn con những vần thơ mới trầm tư, hướng về một cõi không nào đó. Những vần thơ ấy, năm nào, gần đến Tết, nhiếp ảnh gia Nguyễn Đình Toán lại tạt qua, làm một túi bản thảo, mang đi gửi cho các toà báo, rồi sau Tết, lại đi một vòng, lấy nhuận bút về đặt bên bàn cho nhà thơ xe điếu.

Chỉ bấy nhiêu thôi, cũng đủ biết Hoàng Cầm vẫn còn say sưa với mộng thơ nhiều lắm. Sau này, nhiếp ảnh gia Nguyễn Đình Toán cười đầy vẻ… bí mật, tôi sẽ có một số lượng bản thảo viết tay của nhà thơ rất độc đáo mà không ai có… Âu đấy cũng là cái tình của một người trót yêu nghệ thuật, trót yêu bạn bè văn.

Bây giờ, sau chuyến trở về quê hương, chuyến đi không ai mong sẽ là cuộc tuần du cuối cùng của nhà thơ qua những trang sử đời, Hoàng Cầm dường như đã thanh thản hơn. Ông cười vui hơn khi thấy chúng tôi đến. Mắt cũng mơ màng rưng rưng hơn khi thấy nhà điêu khắc Lê Liên khệ nệ mang một… cái hộp gỗ, trên đó, có mấy trăm chiếc phong bì và dòng chữ “anh em, con cháu bè bạn góp một giọt đồng, dựng tượng thi nhân Hoàng Cầm”.

Ước mong làm một pho tượng đồng chân dung Hoàng Cầm, như đã từng dựng tượng Văn Cao của nhà điêu khắc khiến chúng tôi ai nấy đều xúc động. Riêng tôi, (bắt chước nhà thơ một chút), đã nghe trong mình một tiếng nói văng vẳng bên tai: Hoàng Cầm, cánh chim sẻ đồng đang trên hành trình nâng bước phượng hoàng đi vào cổ tích ấy, đã được dựng một bức tượng vĩnh hằng - bức tượng Thơ trong lòng độc giả rồi. Và ngoài một đời thơ đáng nâng niu ấy ra, có lẽ, nếu ai cũng như tôi, lúc nào cũng thấy ông như cậu bé trai thưở mười hai tuổi, đang thẫn thờ “đồng chiều cuống rạ”, “Em đứng nhìn theo Em gọi đôi”, hẳn, ông sẽ thấy mình hạnh phúc lắm!

Hà Nội, một ngày cuối năm
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Xa Xôi

Tóc mây chiều lụa ai bay
Em xa xôi thưở lưu đày đời nhau
Muà trăng trôi nổi tình đau
Đêm hoang man dại , nát nhàu hồn ta

Gió mùa biển động xót xa
Yêu thương chìm giữa nhạt nhòa sóng xô
Tình em nét chém hư vô
Ta bâng khuâng nỗi , mơ hồ yêu em

Giọt cà phê đắng từng đêm
Rơi trên kỷ niệm êm đềm hôm nao
Nhớ em ngày tháng xanh xao
Hỏi em tình cũ chút nào còn không


Khiếu Long
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

Gởi Vầng Trăng Cũ

Tháng ngày nào rồi cũng qua mau
Thời gian xa mãi bóng con tàu
Trăng xưa chìm giữa trời xa lạ
Ta kẻ đợi chờ tim thắt đau

Thôi đành quên nhớ mãi làm chi
Gặp nhau nhìn chẳng nói năng gì
Mai đây trên phố thành xa lạ
Đừng hỏi gì tình đã phân ly

Kỷ niệm giờ là những bài thơ
Yêu thương nhung nhớ nỗi mong chờ
Gởi đêm về phía vầng trăng cũ
Cùng gió sao buồn đến ngẩn ngơ


Khiếu Long
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Ướt Mi

Nhạc & Lời : Trịnh Công Sơn
Tiếng Hát : Quang Dũng


Ngoài hiên mưa rơi rơi
Lòng ai như chơi vơi
Người ơi nước mắt hoen mi rồi
Đừng khóc trong đêm mưa

Đừng than trong câu ca...
Buồn ơi trong đêm thâu
Ôm ấp giùm ta nhé
Người em thương mưa ngâu

Hay khóc sầu nhân thế
Người ơi mưa về
Tìm ấm hồn em thêm say mê
Mưa lạnh lùng

Rơi rớt giữa đêm về nghe não nề...
Mưa kéo dài lê thê những đêm khuya
Lạnh ướt mi
Ai còn nhìn mưa mãi rớt bên song thấy lạnh buồn
Ai còn buồn khi lá rớt rơi trong một cuối đông

Ngoài hiên mưa rơi rơi
Buồn dâng lên đôi môi
Buồn đau hoen ướt mi ai rồi

Buồn đi trong đêm khuya
Buồn rơi theo đêm mưa
Còn mưa trong đêm nay
Lòng anh buồn biết mấy
Trời sao chưa thôi mưa
Ôi mắt người em ấy
Từ đây thôi mờ
Nước mắt buồn mi em ngây thơ ./.


vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Image

TRĂNG CŨ

Em vầng trăng cũ cổ xưa
Ta cơn gió thoảng giao mùa ngất ngây
Nghìn năm tình vẫn như mây
Bay trong hư ảo tháng ngày phù vân

Cúi đầu nhặt trái bâng khuâng
Chợt nghe qúa khứ ngại ngần dần qua
Trăng xưa cơn mộng tình xa
Lặng trong thiên cổ đậm đà hư hao

Đừng bao giờ hỏi vì sao
Có vầng trăng cũ lạc vào thiên thu


Khieu Long
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

Đêm thật khuya nhu chìm sâu vào nỗi cô đơn dài thăm thẳm của tôi , chung quanh tôi cái không gian lặng im bao phủ đến lạnh lùng , trong cái lúc này đây chỉ cần một tiếng động nhẹ cũng có thể làm vỡ tan linh hồn tôi , cái linh hồn bây giờ đang như những mãnh băng buốt cóng ....

Tôi muốn mở to mắt để nhìn vào bóng đêm , cái bóng đêm đang bao quanh tôi chập chùng đen ngòm như cái không gian hiu hắt đến tận cùng của dưới tầng địa ngục .

Em bây giờ đang ở nơi đâu , đã thật xa qúa phải không em ...thật xa như hình bóng con thuyền mong manh trôi mãi dần vào lòng biển mênh mông ...thật xa cái tình yêu mà em cho rằng điên cuồng đến độ như mù quáng của tôi , Tình yêu của tôi như vậy đó , và tôi đã yêu em như vậy đó , cái tình yêu say mê đắm đuối như những cơn gió mênh mông mù lối , như những cơn bão loạn cuồng trong tàn phá của chia phôi ....

Trong đêm nay , trong cái không gian đầy vắng lặng này , em biết không , con tim tôi bây giờ đang khắc khoải đến vô cùng , tôi ngồi đó để những nhịp tim cuối cùng quặn thắt nỗi đớn đau khi em đã ra đi.....hãy đi đi...cứ tiếp tục đi và đừng bao giờ nhìn lại , đừng nhìn lại để thấy được cái khắc khoải mệt nhoài âm thầm trong cơn hấp hối gục ngã của tôi ...

Hãy để cho tôi được ngủ yên và lặng chết trong cái bóng tối cô quạnh mịt mùng này , cái bóng tối mà tình yêu vẫn như những vòng tay ma quái cứ quấn quít bám chặt lấy linh hồn tôi...cái linh hồn thật ra thật yếu đuối trong tình yêu , và em biết không , tôi vốn là như vậy đó nhưng tôi sẵn sàng chấp nhận , tôi không hề sợ hãi hoặc hối hận dù phải đớn đau đắm chìm trong cái bóng tối chia phôi ....

Trong cơn mê chất ngất nỗi u sầu này , hình như tôi nghe được dòng nhạc của ai bềnh bồng , ray rứt đến phiêu lãng đang theo tôi trôi mênh mông âm thầm dần vào cõi hư vô ......
Image

Khắc Khoải

Nhạc & Lời : Diệu Hương
Tiếng Hát : Trần Thái Hòa


Tôi ngồi đây sợ bóng tối,
bóng tối qua đêm dài
Đêm quạnh hiu...
ôi xơ xác linh hồn tôi khắc khoải

Mong từng dây,
từng phút đến hết những đau thương này
Chờ ánh sáng
trong ban ngày như một lần niềm hy vọng hết đắng cay

Vì em đã xa rồi, khuất xa rồi
Lời em nói yêu thương xưa vang vọng tới
Ngày đang đến chia lìa tình tôi với em rồi
Từng đêm qua đày đọa tôi trong bóng tối chia phôi

Tôi ngồi đây..
lần từng bước đếm gót chân em về
Nhưng đường xa,
xa quá em còn đang mải mê
Đã từng yêu đừng dày xéo những nỗi đau ê chề
Làm vỡ nát
trong tâm hồn cho một đời in hằn những vết thương....
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Image

Chuyện Mình Ngày Xưa

Chuyện mình xưa có nhớ không
Vườn lan có trận mưa hồng vôị qua
Xưa em aó luạ vàng hoa
Chiêù nay dư ảnh nhạt nhoà con tim

Tưởng như là đã lặng im
Cũng như yêu dâú đắm chìm từ lâu
Muà yêu thương đã về đâu
Theo từng nôĩ nhớ uá maù thời gian

Chuyện mình em buổi sang ngang
Ta ngơ ngác đếm lá vàng nhớ ai
Dâú yêu chất ngất bờ vai
U mê trong giấc mơ dài nôỉ trôi


Khiếu Long
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »


Image

Nỗi Nhớ Không Quên...

Dĩ vãng đó
sao mãi mãi không thể nào quên
Nỗi nhớ đó
vẫn nồng nàn trào dâng như sóng biển
Cuộc tình buồn biết bao lần đưa tiễn
Trong tim anh
em vẫn luôn trìu mến rất dịu dàng

Bóng em về
trong những ngày mưa lũ mênh mang
Niềm dấu yêu vẫn tuyệt vời
với tình yêu anh đơn độc
Có những khi thật buồn như muốn khóc
Khi em xa rồi
anh vết thương làm ứa máu con tim

Rất âm thầm trong nỗi nhớ lặng im
Mưa mênh mông
vẫn bay mịt mù trên từng con phố cổ
Tiếng mưa rơi nao lòng
như những lời ru trên cuộc tình đã cũ
Từng giọt rơi buồn trên nỗi nhớ tả tơi ...

Em biết không ...dù thế nào
Vẫn còn trong nhau nỗi nhớ đến chơi vơi .....


Khiếu Long
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Image


Phạm Thiên Thư quyết "giống" cụ Nguyễn Du

Đọc những bài thơ tình của Phạm Thiên Thư, không ai nghĩ ông đã từng trên 10 năm xuất gia tu hành nơi cửa Phật. "Con chim chết dưới cội hoa/Tiếng kêu rụng giữa giang hà xanh xao" (Động hoa vàng).
Tiếng kêu của loài dị điểu trong thơ ông thật bi thảm, vừa cất lên đã rụng xuống dòng sông rộng. Cái chết sinh ra để phụng hiến tình yêu. Yêu đến buồn chết, thật là khó để người đời hình dung một tu sĩ có đời sống phong kín nơi cảnh chùa lại có ý nghĩ như vậy.

Tôi hay đến ngồi chơi với ông ở bên ngoài quán cà phê Hoa Vàng ở cư xá Bắc Hải. Một đôi dép nhựa, một túi xách lỉnh kỉnh thơ, tài liệu, thuốc… dưới chiếc ghế xếp. Ông như một lão nông hiền hậu luôn tươi cười đón khách. Sau những vòng khói thuốc, đôi mắt như nhìn vào một cõi hư không nào đó. Hàng chục lần đến thăm ông, tôi vẫn thấy ông ngồi như vậy. Không biết ông viết khi nào nhưng số lượng những câu thơ, những tác phẩm ra đời đều đều. Đến nay ông đã viết được 126 nghìn câu thơ… Ông là người viết rất nhanh, lại viết theo kiểu “rót” thơ ra từ vô thức. Ông nói ông thi hóa kinh Kim Cang trong 4 ngày, 10 bài Đạo ca ông chỉ viết trong 2 ngày, tập trường thi Động hoa vàng cũng chỉ 7 ngày liền động bút là xong...

Phạm Thiên Thư là người Việt Nam độc nhất đã thi hóa 7 bộ kinh Phật bằng một ngôn ngữ thuần Việt, sáng tác Từ điển cười (Tiếu liệu pháp) bằng thơ, làm Từ điển châm ngôn, viết 3.320 câu lục bát kể chuyện lịch sử trong Hát ru Việt sử thi. Có rất nhiều kỷ lục, nhiều điều để tự hào, để kiêu hãnh, nhưng dường như ông không để ý đến những thứ ấy. Ông khoái nhất là chuyện ông "rất giống" với cụ Nguyễn Du. Ông kể một tràng: "10 tuổi bố Nguyễn Du mất, tớ cũng vậy. Mẹ Nguyễn Du là một người phụ nữ đất quan họ Bắc Ninh, vợ lẽ dòng thứ hai. Gia đình cụ Nguyễn có bốn anh em, cụ lại sinh hạ được bốn người con (?). Tớ cũng y chang như vậy". Ông còn tâm đắc kể thêm "cụ Nguyễn và tớ đều là tú tài. Cụ Nguyễn lưu lạc 10 năm ở Thái Bình, còn bố tớ quê chính cũng là Thái Bình. Cụ Nguyễn mất năm 1840 (?), đúng 100 năm sau, 1940 tớ ra đời…".

Nói chung, thi sĩ họ Phạm “vận” hết mọi dữ kiện có thể có để thấy mình “giống y xì” cụ Nguyễn Du. Thế nhưng, thực sự mẹ Nguyễn Du là vợ lẽ thứ ba của cụ Nguyễn Nghiễm, một đại quan có đến 8 bà vợ và 21 người con trai. Mẹ Nguyễn Du có đến 5 đứa con, còn cụ Nguyễn mất năm 1820 chứ không phải 1840 như Phạm thi sĩ kể…

Song cũng có một điều cho thấy ông khá "gần gũi" đại thi hào Nguyễn Du, ấy là Phạm Thiên Thư đã “dũng cảm” dám qua mặt cụ Nguyễn để viết lại Truyện Kiều. Ông đĩnh đạc “phá bỏ” thành tích đỉnh núi thơ ca dân tộc để viết Đoạn trường vô thanh, một tác phẩm xem như hậu Truyện Kiều. Ông đã cố gắng Việt hóa câu chuyện Kim Kiều để “sáng tác phải có cái riêng của Việt Nam” như ông nói. Ở thi phẩm này, ông còn "hơn" cụ Nguyễn Du những… 20 câu lục bát. Lục bát là một thể tính đặc thù của văn hóa Việt, trên hành trình sinh hóa của nó, Phạm thi sĩ chính là một trong số ít các nhà thơ đã chạy tiếp sức cho cụ Nguyễn Du một cách rất xứng đáng bằng những vần thơ sang trọng, tuyệt bích…

Tôi không rõ nét mặt của cụ Nguyễn Du, nhưng theo chính sử nhà Nguyễn đã ghi thì khuôn mặt cụ Nguyễn dường như nhàu nhĩ, in hằn nếp nhăn ưu tư về phận người và sự chán nản cảnh quan trường gượng ép. Trong khi khuôn mặt Phạm tiên sinh ngời lên vẻ thanh thoát, cười cợt, vô ưu. Không biết ông có phải “hậu thân” của Hồng Sơn lạp hộ (biệt hiệu của cụ Nguyễn Du) hay không nhưng chỗ ông trú ngụ hiện nay lại là đường Hồng Lĩnh, cũng là tên một ngọn núi ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh, quê cụ Nguyễn.

Chuyện “hậu thân” Nguyễn Du là Phạm Thiên Thư có lẽ nên hỏi con vạc đậu bờ kinh vậy: Hỏi con vạc đậu bờ kinh/Cớ sao lận đận cái hình không hư/Vạc rằng: Thưa bác Thiên Thư/Mặc chi cái áo Thiền Sư ỡm ờ... (Động hoa vàng).

Tuệ Lãng
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Image

Một lần

Em chẳng buồn, chẳng giận dỗi chi đâu
Khi thật lâu anh chẳng còn nhớ nữa
Chiều tháng ba trống lòng thêm một nửa
Giảng đường buồn, hương hoa đại vương bay

Cái ngày ấy anh lãng mạn lắm thay
Nhặt hoa đại rải đầy trang vở trắng
Em hồn nhiên cài hoa lên mái tóc
Anh mơ màng im lặng nghĩ xa xôi

Những buổi chiều chỉ có chúng mình thôi
Gió thổi lật từng trang thơ anh đọc
Có một lần, một lần, em đã khóc
Hoa đại buồn rụng trắng cả góc sân...


Ngọc Tuấn
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Nhà thơ Hoàng Cầm qua đời, thọ 88 tuổi
Thursday, May 06, 2010
HÀ NỘI (NV) - Nhà thơ Hoàng Cầm, một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào 'Nhân Văn Giai Phẩm' vừa qua đời tại Hà Nội, thọ 88 tuổi.

Sự nghiệp thơ ca của Hoàng Cầm rất đồ sộ nhưng những bài thơ của ông mà nhiều người biết đến là “Bên kia sông Ðuống” và “Lá Diêu Bông.”

Truyền thông tại Việt Nam loan tin, “nhà thơ Hoàng Cầm qua đời hồi 9 giờ sáng Thứ Năm, ngày 6 tháng 5, tại bệnh viện Hữu Nghị Việt-Xô, Hà Nội vì tuổi cao sức yếu,” nhưng tuyệt nhiên không nhắc tới quãng đời của nhà thơ sau khi nhóm “Nhân Văn Giai Phẩm” bị “đấu tố” và đàn áp.
Image
Nhà thơ Hoàng Cầm. (Hình: Trần Công Nhung)
Trả lời phỏng vấn của Người Việt về tin nhà thơ Hoàng Cầm qua đời và sự nghiệp thi ca của ông, nhà thơ Du Tử Lê ở Nam California, cho biết, “Với cá nhân tôi, bài thơ ‘Ðêm Liên Hoan’ của Hoàng Cầm là một bài thơ lớn. Nó mang tính lịch sử. Nó gắn liền với giai đoạn đầu của sự kiện toàn dân kháng chiến chống Pháp. Toàn bài, là một cuộc đối thoại giữa kiêu hãnh và ngậm ngùi như:“Trong tiểu đội anh, những ai còn ai mất? Không, không ai còn ai mất. Ai cũng chết mà thôi. Kẻ trước người sau lao vào giặc. Giữ vững ngàn thu một giống nòi.”

“Nó như một một liều thuốc bổ cực mạnh, kích thích lòng yêu nước của thanh niên Việt Nam từ thành thị tới thôn quê, thuở đó.” Nhà thơ Du Tử Lê nhấn mạnh.

Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh ngày 22 tháng 2, 1922 tại xã Phúc Tằng, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

Theo Bách Khoa Toàn Thư Mở, “quê gốc của Hoàng Cầm ở xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ông xuất thân trong gia đình nhà nho lâu đời. Thân sinh ông thi không đỗ, về dạy chữ Hán và làm thuốc bắc ở Bắc Giang. Tên ông được đặt ghép từ địa danh quê hương: Phúc Tằng và Việt Yên. Thuở nhỏ, ông học tiểu học, trung học đều ở Bắc Giang và Bắc Ninh; đến năm 1938, ra Hà Nội học trường Thăng Long. Năm 1940, ông đỗ tú tài toàn phần và bước vào nghề văn, dịch sách cho Tân dân xã của Vũ Ðình Long. Từ đó, ông lấy bút danh là tên một vị thuốc đắng trong thuốc bắc: Hoàng Cầm.”
Image
Thủ bút của nhà thơ Hoàng Cầm. (Hình: NV)
Từ năm 1944 đến năm 1957 ông tham gia kháng chiến, viết kịch làm thơ tuyên truyền văn nghệ và từng là trưởng đoàn văn công Tổng Cục Chính Trị (năm 1952).

Tháng 4 năm 1957, ông tham gia thành lập Hội Nhà Văn Việt Nam, và được bầu vào Ban Chấp Hành. Tuy nhiên, không lâu sau, do vụ án “Nhân Văn Giai Phẩm”, ông phải rút khỏi Hội Nhà Văn vào năm 1958, rồi “bị” cho về hưu non năm 1970 lúc 48 tuổi.

Năm 2007, đúng 50 năm sau vụ án “Nhân Văn Giai Phẩm,” cùng với nhà thơ Lê Ðạt, ông được nhà cầm quyền Việt Nam trao “Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật,” tuy nhiên họ không hề nhắc đến những oan khuất mà ông cùng những người chủ trương nhóm “Nhân Văn Giai Phẩm” phải gánh chịu trong hàng chục năm trời. (KN)
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Đi tìm người con gái trong thơ “Ngày xưa Hoàng Thị” của Phạm Thiên Thư

NGUYỄN VIỆT
Một người con gái không “ảo”, một người con gái có thật trong cuộc sống đời thường, rồi bỗng trở nên “nổi tiếng” sau khi nhạc phẩm “Ngày xưa Hoàng thị” của Phạm Duy được phổ từ thơ Phạm Thiên Thư, và từ giọng ca truyền cảm của nữ ca sĩ Thanh Thúy trình bày trên các làn sóng phát thanh, truyền hình, băng nhạc, sân khấu đại nhạc hội, phòng trà trước những năm 1975, đã gây nhiều ấn tượng đến với người yêu thi ca và âm nhạc. Để rồi từ đó mọi người đi tìm “Hoàng thị.. “ là ai ?



Riêng nhà thơ Phạm Thiên Thư thì biết rất rõ về người con gái này, bởi ông là người sáng tác ra thi phẩm “Ngày xưa Hoàng thị”, và sau này có một người đàn ông khác với tên H.H. trả lời trên một tờ tuần báo xuất bản tại California (Hoa Kỳ) cũng nhận mình biết rất nhiều về cô “Hoàng thị…” ngày xưa, cả hai từng có một thời tình cảm với nhau, tuy nhiên khác với nhà thơ Phạm Thiên Thư ông không chỉ yêu đơn phương, và diễn tả cảm xúc của mình qua những vần thơ mà bằng những lá thư tình. Rồi tiếp theo có một nhân vật thứ ba xuất hiện, nhưng là một nhân vật nữ, tức bà Hoàng Dược Thảo một nhân vật đang làm “chính trị chính em” là chủ báo tờ Sài Gòn Nhỏ ở khu “Tiểu Sài Gòn” (bên Hoa Kỳ), cho rằng nhân vật “Hoàng thị..” này chính là bà.

Có lẽ bà Hoàng Dược Thảo tự nhận như thế là để nhằm đánh bóng tên tuổi của mình với nhiều mưu đồ, khi với nhiều người thì "Ngày xưa Hoàng thị" (kể cả thơ lẫn nhạc) từng là một tuyệt tác làm say mê những người yêu thi ca lẫn âm nhạc. Nhưng rồi chính nhà thơ Phạm Thiên Thư cùng nhân vật thứ hai là ông H.H. nào đó đang còn là nhân chứng sống, phủ nhận bà Thảo không phải “Hoàng thị…” của mình.

Nhưng trước khi mổ xẻ “Hoàng thị…” là ai, chúng ta nên đọc qua nguyên tác bài thơ “Ngày xưa Hoàng thị” của nhà thơ Phạm Thiên Thư sau đây :
Image

“Hoàng thị…” của Phạm Thiên Thư
Nhà thơ Phạm Thiên Thư quê ở Kiến Xương - Thái Bình nhưng sinh ở Lạc Viên - Hải Phòng. Vào năm 1954, khi mới 14 tuổi, ông theo gia đình di cư vào Nam, ngụ tại căn nhà gần khu Tân Định - Sài Gòn.

Theo lời nhà thơ Phạm Thiên Thư tâm sự :

- “Tôi vẫn nhớ căn nhà những ngày ấy, đó là một căn nhà nhỏ nằm đằng sau chợ Tân Định. Cha tôi xin cho tôi học tại trường trung học Văn Hiến cách nhà không xa. Tôi đã học hết tú tài ở đó. Cũng trong những năm học tú tài này, tôi để ý một cô bạn học cùng lớp tên là Hoàng Thị Ngọ, cô gái đó quê gốc Hải Dương, ở gần nhà. Nhưng chỉ là để ý thôi chứ không dám ngỏ lời.

“Hàng ngày, khi xếp hàng vào lớp, cô gái đứng ở đầu hàng bên nữ, nổi bật với mái tóc dài xoã trên bờ vai mảnh dẻ. Tôi chỉ im lặng ngắm nhìn. Rồi khi tan trường, cô gái một mình trên đường về nhà, tôi lại là kẻ lẽo đẽo theo sau.

“Cô ấy ôm cặp đi trước còn tôi theo sau nhưng không dám lên tiếng. Trong bóng chiều tà, ánh nắng hắt qua hàng cây, cô ấy lặng lẽ bước, gây cho tôi những cảm xúc bâng khuâng khó tả. Cứ thế, tôi chỉ biết lặng lẽ đi theo sau cô ấy hàng ngày, giấu kín những cảm xúc của mình không cho bất cứ ai biết…".

Sau khi học xong tú tài, nhà thơ Phạm Thiên Thư chọn cửa Phật làm chốn dừng chân. Ông theo học tại trường Đại học Vạn Hạnh, một trường vừa đạo vừa đời, chỉ mong gửi hồn trong lời Kinh tiếng Kệ. Nhưng về sau ông thôi không chọn đường tu và sau này gia đình ông dời về khu Ông Tạ. Còn bây giờ ông mở quán cà phê Hoa Vàng sinh sống với quá khứ nhiều kỷ niệm.

Ngày gia đình dọn đi nơi khác không còn ở sau chợ Tân Định, mỗi khi đi ngang con đường xưa, nhìn về mái trường xưa, hình ảnh người con gái với mái tóc xoã ngang vai lại hiện về trong ông. Và trong một lần đắm chìm trong cảm xúc ấy, nhà thơ Phạm Thiên Thư đã cầm bút viết lên bài thơ “Ngày xưa Hoàng thị”.

- “Đây không phải là bài thơ đầu tay của tôi. Cha tôi tuy làm nghề thuốc nhưng ông có làm thơ, tôi còn nhớ ông đã từng đoạt giải Nhì về thơ do một tờ báo ở Hà Nội trao tặng. Nên khi còn tuổi học trò, tôi làm vài bài thơ và được cha tôi khen hay. Nhưng tôi làm thơ chủ yếu để trải lòng mình chứ không làm thơ chuyên nghiệp. Mãi đến năm 1968, tôi mới tự xuất bản tập thơ đầu tiên. In ít thôi, chủ yếu để mình đọc và tặng một số bạn bè thân quen. Tôi chẳng muốn nhiều người biết về mình.


“Còn về bài thơ “Ngày xưa Hoàng thị”, là khi nhờ nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc 10 bài “Đạo Ca” do tôi viết lời, Phạm Duy tình cờ đọc được. Tôi cũng không nghĩ Phạm Duy lại thích bài thơ này đến như thế, nhạc sĩ đề nghị được phổ nhạc bài thơ đó. Dĩ nhiên được một nhạc sĩ nổi tiếng như Phạm Duy để ý đến bài thơ của mình thì có gì hạnh phúc bằng. Và tôi cũng bất ngờ nghe lại bài thơ của mình khi đã phổ nhạc. Nhạc sĩ Phạm Duy đã tôn bài thơ lên rất nhiều qua những giai điệu nhạc bay bổng”.

“Vào những năm 70, nhạc phẩm “Ngày xưa Hoàng thị” đã trở thành một hiện tượng tại miền Nam. Nữ ca sĩ Thanh Thúy là người đầu tiên thể hiện bài hát này và sau đó nhiều ca sĩ khác cũng chọn bài “Ngày xưa Hoàng thị” để hát, tạo thành trào lưu. Thậm chí báo chí Sài Gòn thời bấy giờ cũng vào cuộc, nêu câu hỏi “Nhân vật chính trong “Ngày xưa Hoàng thị” là ai ?”. Một số người tự nhận mình là nhân vật của bài thơ, số khác thì phân tích bài thơ rồi cho rằng nhân vật chính trong bài thơ là cô A, cô B nào đó... Ngày đó báo chí cũng gặp tôi hỏi chuyện, tôi nói rằng đó là cô Hoàng Thị Ngọ nhưng không biết tại sao nhiều người vẫn không tin”. .

Ngoài bài “Ngày xưa Hoàng thị”, nhạc sĩ Phạm Duy còn phổ nhạc thêm một số bài thơ tình khác của nhà thơ Phạm Thiên Thư như Đưa em tìm động hoa vàng, Gọi em là đóa tình sầu, Em lễ chùa này… Còn bây giờ căn nhà của nhà thơ đang ở nằm trong khu cư xá Bắc Hải thuộc Quận 10 gần ngã ba Ông Tạ, đây cũng là một quán cà phê nhỏ mang tên “Hoa vàng”, có lẽ nhà thơ lấy từ bài “Đưa em tìm động hoa vàng” để đặt tên. Quán nhỏ nhưng bài trí khá đẹp nên khá đông khách.

Dư luận trong giới thi văn hải ngoại trước đây thường xôn xao về việc “đã phát hiện ra bà Hoàng Thị Ngọ”, nhân vật trữ tình trong bài thơ nổi tiếng “Ngày xưa Hoàng Thị” của nhà thơ Phạm Thiên Thư, bài thơ này càng nổi tiếng hơn sau khi được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc trước 1975 ở Sài Gòn.

Đi tìm "Hoàng thị..."

Bởi vì lúc đó sau khi bà Hoàng Dược Thảo từng là vợ của nhà thơ Du Tử Lê (đã ly dị) đang có tờ báo Sài Gòn Nhỏ trong tay, bà tự nhận mình là Hoàng Thị Ngọ, thì Tuần báo Việt ở Mỹ vào năm 2005 đã đăng tải một bức thư của nhà thơ Phạm Thiên Thư do chính tay nhạc sĩ Phạm Duy chuyển cho báo chí, nhà thơ phủ nhận “nhân vật nữ” đó – bà Hoàng Dược Thảo tên thật Huỳnh Thụy Châu – không phải “Hoàng thi…” của mình.

Gần đây nhất cũng tại quận Cam bên Hoa Kỳ, lại xuất hiện một người đàn ông khẳng định rằng mình có liên hệ tới cô Hoàng Thị Ngọ “thứ thiệt” (?). Tuy thực hư còn phải kiểm chứng. nhưng xét thấy đây cũng là một câu chuyện khá thú vị về một thi phẩm nhạc phẩm đang vang dậy lòng người, nên chúng ta hãy cùng theo dõi các thông tin dưới đây và đây là bài phỏng vấn của phóng viên Nguyễn Quang Minh với nhân vật vừa nêu trên.

Người đàn ông này là một nhân vật kín đáo, không muốn khoe khoang về mình, cũng không muốn làm chuyện “giựt gân”. Tuy nhiên như ông nói, rất muốn được gặp lại “cố nhân” tức cô HoàngThị Ngọ. Theo ông, Hoàng Thị Ngọ hiện đang có mặt tại Cali (?). Người đàn ông này nói tiếp, dù ông đã có vợ con đang sống rất hạnh phúc, nhưng vì có bài báo phủ nhận tin bà Hoàng Dược Thảo là Hoàng Thị Ngọ, nên ông chỉ muốn được gặp lại Ngọ, để có thể giúp gì được cho tri kỷ đã không gặp nhau từ mấy chục năm qua. Nhân vật xin được giấu tên nên được viết tắt là H.H.
Image
Khi phóng viên NQM hỏi, ông quen với cô Hoàng Thị Ngọ, nhân vật trong thơ/nhạc của Phạm Thiên Thư, Phạm Duy trong trường hợp nào? Được ông H.H. trả lời:

- “Đó vào khoảng năm 1963, 1964. Nhà của Ngọ ở đường Trần Quang Khải, gần trường Văn Hiến (gấn ngã ba Hai Bà Trưng – Cầu Kiệu)… Mỗi lần cô đi học phải đi ngang nhà tôi. Nhà tôi ở số 90 trên đường Trần Quang Khải. Trường Văn Hiến cách nhà tôi chỉ độ 100 thước. Tôi thấy cổ thiệt là hiền hậu, dễ thương nên mới viết thư làm quen. Năm đó tôi đang học Đệ thất, còn Ngọ cũng chỉ độ bằng tuổi tôi thôi. Gốc Hải Dương, gia đình Công Giáo.


“Tôi viết thư gởi cho Ngọ, cổ đáp ứng, mời tới nhà chơi. Ba của Ngọ là một nhà thầu khoán, gia đình rất khá, có anh chị em đi du học, làm bác sĩ, kỹ sư thời đó. Thành thật mà nói, Ngọ không phải là một thiếu nữ có nhan sắc lộng lẫy. Ngọ có mái tóc dài ngang lưng. Thường khi đi học, chỉ mặc hai màu áo vàng và đen. Nhưng rất là dễ thương… Ngọ có một dáng dấp mặc áo dài thật đẹp. Lúc đó là thời gian chúng tôi quen nhau. Đi chơi với nhau rất vui. Một thời gian sau, tôi vào lính. Một vài năm, tôi trở về thăm Ngọ, cổ kể lại cho tôi nghe về một người con trai theo đuổi Ngọ, viết thơ cho Ngọ, nhưng cô ấy từ chối, không nhận mối tình đó. Người đó sau này cạo đầu đi tu, đó chính là nhà thơ Phạm Thiên Thư như chúng ta ai ai cũng biết. Và bài thơ “Ngày xưa Hoàng thị” làm ra lúc Phạm Thiên Thư đã đi tu. Sau này, bài thơ được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, trở nên một bài hát có một thời vang bóng. Nói tóm lại, Hoàng Thị Ngọ không có gì với nhà thơ họ Phạm kia.

- Như vậy, Hoàng Thị Ngọ là người yêu của ông ?

- Nói là người yêu, tôi e là cũng không đúng. Nó lưng chừng thôi. Chúng tôi có đi xem phim với nhau, nhưng rồi tôi đi lính, trở lại… do đó chuyện liên hệ giữa tôi và Hoàng Thị Ngọ cũng không liên tục. Cho tới sau 75, mỗi người phải bươn chải riêng.

Tới năm 1978, tôi mới liên lạc gặp lại Ngọ tại nhà. Lúc đó, tôi đã có gia đình.

Tôi nói: “Ngọ à, bây giờ tôi có tổ chức tàu đi vượt biên, đây là cơ hội cuối cùng tôi muốn giúp Ngọ, nếu Ngọ muốn đi vượt biên với tôi, tôi sẽ cho Ngọ cùng thêm 1 người nữa cùng đi. Lúc đó Ngọ chưa có gia đình. Chỉ có tôi là có vợ con. Ngọ nói để cổ suy nghĩ vài ngày. Sau đó tôi trở lại, Ngọ cho biết gia đình cô ấy có tới 4 người, nếu đi 2, bỏ lại 2 thì không được. Do đó, nếu đi thì đi hết, còn không thì thôi. Trong hoàn cảnh đó, phần tôi chỉ có thể lo cho 2 người, nên không thể làm gì hơn được. Tôi đi được… còn Ngọ ở lại.

Từ đó chúng tôi mất liên lạc luôn. Mới đây tôi có về Việt Nam, tôi có ghé lại khu nhà Ngọ ở hồi trước, đó là căn nhà số 19E, đường Lý Trần Quán (tên cũ, bây giờ đổi Thạch Thị Thanh) gần khu chợ Tân Định. Khi vào khu nhà Ngọ, bà hàng xóm vẫn nhận ra tôi. Bà cho tôi biết là gia đình Ngọ đã bán nhà, dọn đi nơi khác từ lâu lắm rồi. Nghe nói hiện ngay Ngọ đang ở Mỹ, ở California ! Tôi nghe thì cũng buồn, nhưng lại vui vì biết cổ đang ở Cali.

- Xin ông mô tả lại chân dung của Hoàng Thị Ngọ theo trí nhớ của ông ?

- Ngọ chỉ là một thiếu nữ tầm thước, cỡ 5’2” (cao cỡ thước rưỡi), ốm, da mặt không đẹp lắm, rơm rơm một chút. Tóc dài, chải thẳng ra phía sau mà không rẽ ngôi. Mặt hơi xương xương, dài dài. Ngọ có một cái mụn ruồi cũng hơi lớn lớn dưới cánh mũi bên phải. Một nhan sắc trung bình. Chỉ có dáng mặc áo dài rất đẹp. Tôi mê vóc dáng và mái tóc đó, đúng là một cô gái Việt Nam. Đi đứng nghiêm trang, không ngó qua ngó lại. Mặt nhìn thẳng, nhìn lên chút xíu. Một mẫu người con gái có bị mưa cũng không dám chạy. Rất Việt Nam. Bây giờ có gặp lại chỉ còn là kỷ niệm. Nhưng tôi rất muốn gặp lại Ngọ. Hồi đó chúng tôi viết cho nhau những câu đùa vui, rất dễ thương, như lúc tôi đi lính đã từng viết là : “Nếu mà anh tử trận, hồn anh sẽ về báo tin cho em biết, em có sợ không?”. Ngọ trả lời tôi rằng : “Em sẽ không sợ đâu. Dù anh là lính chết trận, là ma, nhưng với em, anh là con ma dễ thương !”

Cổ (H.H. nói giọng Nam, tức nói về cô Ngọ) là một trí thức, tiếng Pháp giỏi, có khả năng viết văn bằng tiếng Pháp. Hình như cổ sau nay cũng học tại đại học Vạn Hạnh cùng thời với nhà thơ Phạm Thiên Thư nữa. Theo Ngọ kể, nhà thơ si tình Ngọ dữ lắm, đi theo chọc, làm thơ, rồi thất tình dữ lắm v.v... Nhưng Ngọ không đáp lại mối tình si này. Còn tôi, cũng không biết Ngọ thích tôi ở điểm gì. Tôi nghĩ nếu không phải thời chiến, chuyện tình cảm của chúng tôi không chừng sẽ tiến xa thêm. Vì thời của chúng tôi, khoảng cách giữa nam và nữ rất nghiêm túc, nên hầu như giữa chúng tôi không có vấn đề gì khác ngoài kỷ niệm. Tôi viết cho Ngọ khoảng 10 lá thư, và Ngọ cũng trả lời cho tôi khoảng bằng đó lá thư. Thư viết cho nhau cũng không phải là người yêu viết cho người yêu, mà như hai người bạn thân. Tôi nghĩ, có lẽ tình bạn này mới là bất diệt.

Nhân chuyện Tuần báo Việt nhắc tới bài thơ và nhạc “Ngày xưaq Hoàng thị”, rồi có người ngộ nhận mình là Hoàng Thị Ngọ, rồi nhạc sĩ Phạm Duy phải đi đính chính v.v..., tôi thấy mình cần lên tiếng. Tuy nhiên, về phía Ngọ, nếu Ngọ có mặt ở Cali, tôi là người rất muốn được gặp lại bạn xưa, xem nhau như tri kỷ mà thôi, chứ không dám mong gì hơn.

Câu chuyện trên đây như một chút “gia vị” thêm vào thi phẩm “Ngày xưa Hoàng Thị” của nhà thơ Phạm Thiên Thư. Nếu như HoàngThị Ngọ là một Việt kiều hiện đang định cư tại California, và tình cờ đọc được bài viết này thì mong nhận được thông tin từ bà để xác tín về một “nhân vật trữ tình” trong một thi – nhạc phẩm từng gây những cảm xúc cho những người hâm mộ thi ca và âm nhạc. Là lời Tuần báo Việt kết thúc bài viết trên.

Sự thật về Hoàng Thị Ngọ ?

Có lẽ nhân vật nữ Hoàng Thị Ngọ không ở California, càng không phải là bà Hoàng Dược Thảo; hay như ông H.H. cho biết Ngọ là con gái của một nhà thầu khoán. Bởi giới văn nghệ sĩ Sài Gòn ai cũng biết Hoàng Thị Ngọ là ai, con của ai và nhất là nhà thơ Phạm Thiên Thư càng biết rõ hơn.

Tuy nhiên chính “nhân vật nữ” này không bao giờ tự nhận mình là “Hoàng thị..” ngày xưa của Phạm Thiên Thư, nhưng “nhân vật nữ”này từng sống chung với nhà thơ từng muốn đi vào cửa Thiền. Vì “Hoàng thị…” không phải là tên họ của “nhân vật nữ” này, đấy chỉ là một ẩn dụ từ một cảm xúc của nhà thơ khi sáng tác ra bài thơ “Ngày xưa Hoàng thị”.

Tại sao “nhân vật nữ” này biết đến tình cảm của nhà thơ Phạm Thiên Thư nhưng không tự nhận mình là nhân vật Hoàng Thị Ngọ, theo sự tưởng tượng của nhà thơ đã cố giấu tên vì một nguyên nhân khác, và chính “người ấy” đã có thời gian sống cùng với nhà thơ.

Vậy “nhân vật nữ”này là ai ?
Image
Mọi người nói chính là nhà thơ Mai Trinh Đỗ Thị, con gái của nhà văn Hoàng Ly. Lúc biết nhà thơ Phạm Thiên Thư, bà vẫn còn đang cắp sách đến trường, chưa biết làm thơ. Sau này theo hiện tượng “văn nghệ trẻ” đang bộc phát trong giới học đường, bà bắt đầu đi theo nghiệp văn chương như cha của bà, tức nhà văn nổi tiếng chuyên viết tiểu thuyết đường rừng, có tên tuổi từ miền Bắc trước năm 1954 và sau khi gia đình vào Nam ông vẫn tiếp tục viết tiểu thuyết đăng báo hàng ngày. Mai Trinh là con gái của người vợ đầu của nhà văn Hoàng Ly (nhưng lại sinh sau con của bà hai). Bà cũng viết văn nhưng lại nổi tiếng về thơ.

Mai Trinh Đỗ Thị hay Phạm Thiên Thư bây giờ đều là nhà thơ, mà nhà thơ nào cũng mang thứ tình cảm lãng mạn trong người, không thích phô trương, nhất là trong tình cảm nam nữ, nói xa hơn cả hai đã ly dị, mỗi người tìm lấy cuộc sống riêng (nhà thơ Phạm Thiên Thư giờ đã có gia đình khác, có vợ có con riêng). Cũng bởi do cả hai từng biết nhau qua cuộc sống, còn bây giờ tình cảm chỉ còn là kỷ niệm, nên nhà thơ Phạm Thiên Thư chỉ tâm sự : “Hàng ngày, khi xếp hàng vào lớp, cô gái đứng ở đầu hàng bên nữ, nổi bật, mái tóc dài xoã trên bờ vai mảnh dẻ. Tôi chỉ im lặng ngắm nhìn. Rồi khi tan trường, cô gái một mình trên đường về nhà, tôi lại là kẻ lẽo đẽo theo sau”.

Vì sao giới văn nghệ sĩ Sài Gòn lại cho rằng Mai Trinh Đỗ Thị chính là “Hoàng thị ngày xưa” của nhà thơ Phạm Thiên Thư ? Dù Mai Trinh một thời từng là vợ của nhà thơ. Xin thưa “cây kim trong bọc cũng có ngày lòi ra”, trong những lúc nhà thơ không đè nén được cảm xúc nhất thời đã bộc bạch ra thân phận của “nhân vật nữ” trong bài thơ “Ngày xưa Hoàng thị”, tên họ chỉ mang một ẩn dụ tức có nghĩa “bà Hoàng” hay “Hoàng hậu” trong tâm hồn nhà thơ; và nói cô gái đó tên Hoàng Thị Ngọ để mang sự lãng mạn, bí ẩn, cũng như không đánh mất kỷ niệm đẹp trong lòng mọi người.

Còn với Mai Trinh Đỗ Thị trước đây và bây giờ, dù tình chung không còn và bà thuộc giới phụ nữ trầm lặng, kín tiếng; không hề lên tiếng phủ nhận hoặc chấp nhận mình từng là “Hoàng thị” của nhà thơ Phạm Thiên Thư, nhưng bà không thể phủ nhận mình từng là vợ của nhà thơ Phạm Thiên Thư !


NGUYỄN VIỆT
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Image

Cánh hoa gọi hè

Nắng hồn nhiên buông mình trên ngọn cỏ
Mặc tháng năm hoa đỏ gọi mùa hè
Em vô tình nên cứ mặc tiếng ve
Thay lời anh ngân phím đàn tha thiết.

Bài thơ nào ngây ngô ngày xưa viết
Gom nỗi niềm thương nhớ gởi vào đêm
Em cứ hồn nhiên như giọt nắng bên thềm
Cứ nồng nàn trong ánh vàng rực rỡ.

Tháng năm rồi mà sao ta cứ ngỡ
Khoảng trời hồng em chở ngày chia xa
Cây sấu già còn lưu giữ tên ta
Ta lén khắc lồng tên mình, hai đứa!

Nắng chiều nay cũng đủ chia hai nửa
Nửa em về ngợp trong nắng ban mai
Nửa cho tôi là mong ước tương lai
Gom yêu thương để đong đầy năm tháng.

Em có bao giờ nhớ quê hương bến cảng
Gọi mùa về hoa phượng đỏ rưng rưng...!


HOA NẮNG
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Vớt lục bát chiều

Buông tay vớt lục bát chiều
Để ngơ thì ít ngẩn nhiều hơn chăng
Ra về bỏ cả nói năng
Thôi đành vui với chị Hằng vu vơ

Xè xè thả giấy đề thơ
Cho ai sao nỡ hững hờ với ai
Non tơ tẽ cỏ buông hài
Rơi nghiêng cả chút nắng mai vội vàng

Ô kìa xuân ỡm ờ sang
Cánh cò gẫy, cả mơ màng cũng rơi
Trách chi một cọng rơm phơi
Tan lòng ợ cả lời mời qua mau

Đừng buông lục bát mà đau
Xáo xào nốt chút váng màu chiều qua
Môi mềm mật ướp cho ta
Giật mình bởi một tiếng gà vỡ đêm


Nguyễn Đình Vinh
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest