Góc Phố Cà Phê

Tin trong và ngoài nước, tin Cộng Đồng ...
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »


Image

Tin và Không Tin

Joyce Anne Nguyễn
Blogger từ Na Uy
Ở đây tôi nói về việc tin và không tin trong xã hội VN.

Khi viết bài này trong chuyến tàu đi từ Prague đến Warsaw, tôi không có hy vọng sẽ tạo nên một sự thay đổi về quan điểm của người đọc, không hy vọng lớp trẻ VN đang sống tại VN có thể có cách nhìn khác hơn về hệ thống xã hội VN, đơn thuần là tôi viết chỉ để viết, viết quan điểm và cách nhìn của tôi. Tôi đã cố gắng để không bị xem là phiến diện nhưng quan điểm cần rõ ràng hoặc bên này hoặc bên nọ, không có thói quen đứng dạng chân cùng lúc 2 quan điểm.

Tôi sinh ra ở Sài Gòn, và lớn lên ở Sài Gòn. Và tôi rời Sài Gòn ngày 22/4/2009, đến Na Uy ngày 23/4. Tương đối đủ để hiểu về cuộc sống của con người tại VN, để thấy những ngóc ngách khía cạnh khác nhau của xã hội VN mà nhiều người VN sinh tại nước ngoài chỉ về một vài lần không thể thấy hết được. Trong cách nghĩ của tôi, sống trong một thời gian dài và ghé thăm vài lần, mỗi lần vài tuần là 2 việc hoàn toàn khác nhau. Những người sống trong nước có thể không biết nhiều về chính trị nhưng thấy rõ những mặt xấu và hạn chế trong môi trường mình đang sống.

Khi tôi sinh ra và bắt đầu đến trường, tôi đã được dạy về Bác Hồ, được dạy đó là vị Thánh sống hoàn hảo không vợ không con cả đời hy sinh vì quốc gia dân tộc, không một xu trong tay rời khỏi nước tìm đường cứu nước.

Tôi đã được dạy xã hội VN tốt đẹp tự do và tôn trọng con người ra sao.

Tôi đã được dạy về những điều vỹ đại siêu việt của chủ nghĩa Marx- Lenin tôi phải học trong môn triết tại trường, được dạy về chiến tranh, về tinh thần đấu tranh bền bỉ bất khuất của con người VN đánh đuổi ngoại xâm.

Khi ấy tôi vẫn còn nhỏ và tôi tin những gì tôi đã học tại trường. Tôi không nghĩ ta có thể lừa gạt con nít và nhồi nhét những điều dối trá cho trẻ thơ. Tôi đã nghĩ dân tộc VN là dân tộc hào hùng không bao giờ nhún nhường trước bọn xâm lược. Tôi đã nghĩ những điều ấy thật tuyệt vời và đáng tự hào. Tôi đã nghĩ…

Nhưng rồi tôi được đến nước ngoài. Tôi sống tại Na Uy, tôi đi qua Pháp, qua Đức, qua Tiệp Khắc và sắp tới sẽ là Ba Lan. Tôi phải tự hỏi, nếu chế độ này hoàn mỹ đến thế, tại sao nó lại sụp đổ ở hàng loạt các nước Đông Âu và trên thế giới?

Bài viết là những suy nghĩ trên chuyến đi xuyên châu Âu sang Ba Lan.

Ở những nước Đông Âu đã từ bỏ chế độ cộng sản, tôi có thể thấy rõ cuộc sống của họ trở nên tốt hơn rất nhiều so với trước kia. Con người không dễ dàng bằng lòng chấp nhận số phận thụ động mà chủ động đứng lên đấu tranh vì nhân quyền và tự do dân chủ, khi họ được quyền đến sự thật thay vì những lời tuyên truyền dối trá và được phản kháng và cất lên tiếng nói của mình.

Xã hội VN hay TQ có thể tiếp tục tồn tại vì họ từ lâu đã từ bỏ chủ nghĩa xã hội ban đầu - cái xã hội lý tưởng không giai cấp, và đi theo nền kinh tế tư bản. Rất nhiều người đã nói với tôi về công nghiệp hoá, hiện đại hoá định hướng xã hội chủ nghĩa và đất nước ta đang đi theo con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa, thế nhưng họ đã bênh vực mù quáng mà không nhìn lại một chút để nhận ra sự tương phản 180 độ giữa mô hình chủ nghĩa xã hội và những gì nhà nước đang thực hiện. Kêu gọi công nghiệp hoá, hiện đại hoá và khuyến khích mọi người làm giàu, ấy là tư bản. Đó là lý do TQ, VN có thể tồn tại.

Yêu nước?
Tôi đã được dạy về tinh thần yêu nước không khuất phục của con người VN. Nhưng khi cuộc biểu tình của sinh viên nổ ra chống đối TQ liên quan đến vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa, họ bị đàn áp và bắt giữ. Mẹ tôi cũng đã bị bắt vì biểu tình chống TQ. Chỉ vì yêu nước.

Những công an bắt giữ mẹ tôi và những người khác nói rằng mẹ tôi bị bắt vì lý do tụ tập không xin phép (không dùng từ “biểu tình”), nhưng không nói được muốn tụ tập phải xin phép ở đâu. Và từ sau đó họ bắt đầu chú ý đến gia đình tôi. Họ đọc mail, họ nghe điện thoại, họ theo dõi.

Khi mẹ tôi bắt đầu viết blog, tình hình trở nên khác đi. Đôi khi công an đến nhà tôi và hỏi về giấy tờ và hộ khẩu, một cách bất thường. Và đôi khi công an gọi mẹ tôi thuyết phục, bảo biểu tình như thế là ảnh hưởng đến an ninh, đến quan hệ ngoại giao của VN và TQ. Một người công an khi ở quán cà phê cũng nói thẳng, thật ra những gì mẹ tôi viết là không có gì sai, nhưng không nên viết trên blog như thế cho người khác thấy, nếu bức xúc mẹ tôi có thể viết nhật ký.

Tình hình không đủ nghiêm trọng để ảnh hưởng đến việc học của tôi. Tôi vẫn được đến trường như bình thường và cũng không ai xuất hiện để dạy dỗ và gây khó dễ. Tôi cũng không nghĩ họ có nói gì với các giáo viên hoặc nhân viên trong trường.

Nhưng mẹ tôi không thể tiếp tục làm việc. Công việc đang làm dở bị ngưng nửa chừng, không một lý do rõ ràng, chỉ vài lời giải thích nhập nhằng mơ hồ khoả lấp. Có giai đoạn mẹ tôi hoàn toàn không có việc làm, và nợ càng lúc càng dồn. Mỗi khi mẹ tôi đến nơi làm mới, họ đều đến nói đôi lời với tổng giám đốc để dặn dò.

Yêu nước là gì?
Có lẽ người khác sẽ không tin và cho rằng đó là điều dối trá. Trong xã hội VN, người ta có câu “Một điều dối trá nói trăm lần, ngàn lần sẽ trở thành sự thật.” Những điều nhà nước bắt ta phải tin, dần dần ta tin không cần đắn đo suy nghĩ để kiểm chứng mức độ xác thực. Ta tin vì ta đang sống trong xã hội này, ta tin vì ta đang ở dưới chế độ này. Ta tin để tiếp tục sống. Còn nhiều điều khó tin rút cuộc lại là sự thật. Những điều tôi vừa kể, nếu được nghe từ ai đó xa lạ, có lẽ tôi sẽ không bao giờ tin. Nhưng vì đó là những chuyện đang thực sự xảy ra và tôi đã tận mắt có mặt, chứng kiến và trải qua.

Tôi cũng đã thấy họ bôi nhọ danh dự mẹ tôi cùng những người khác bất đồng chính kiến bằng những lời bôi xấu trước báo chí hoặc trên chính báo chí. Tôi đã được học trong chính nền giáo dục VN về xã hội phong kiến khi người phụ nữ không được nói lên suy nghĩ của mình, không được đặt câu hỏi thắc mắc và phản kháng. Nhưng ngày nay rút cuộc trong chính xã hội hiện tại, không chỉ phụ nữ mà tất cả mọi người nói chung không được phép tự do nói lên cách nghĩ của họ, không được phản kháng và biểu tình chống đối.

Bây giờ tôi đang sống trong một nước khác và thời gian vừa qua may mắn tôi đã có cơ hội đến thăm một số nước tại Châu Âu. Tôi đã nhìn, đã thấy, đã quan sát và so sánh.

Tôi thấy họ tôn trọng mạng sống, tôn trọng dân họ. Tại Na Uy, người thất nghiệp không thể tìm việc làm, dân tỵ nạn, người điên, chậm phát triển, tàn tật, người già… đều được nhà nước cấp tiền nuôi. Có những trường hợp người bệnh, nhà nước bỏ tiền đưa người mẹ từ nước khác sang săn sóc con. Họ cấp tiền cho người tâm thần mua rượu và thuốc lá, nghe có lẽ hơi kỳ lạ, nhưng theo cách họ nghĩ, đó là nhu cầu bình thường của người tâm thần. Tôi đã từng cười việc họ thổi phồng, viết báo và phỏng vấn con gái một người đàn ông bị tù 3 ngày trong Thế chiến thứ 2, nhưng rút cuộc nó chỉ bắt nguồn từ nguyên nhân: họ tôn trọng dân họ, từng cá nhân trong đất nước họ, và số lượng người chết quá ít.

Tại một nước Bắc Âu, một lần một thị trưởng phải đứng lên xin lỗi nhân dân trong thành phố vì một con đập mở ra và đóng lại đều đặn mỗi ngày, một lần sớm hoặc trễ vài phút chẹt chết một con thiên nga, ảnh hưởng đến sinh thái.

Tại Pháp, mỗi khi giá cả xuống thấp, nông dân đi biểu tình và nhà nước đền bù một số tiền nhất định cho họ.

Tại Đức, một lần các ôtô đều được thông báo về việc có trẻ con trên tuyến đường dành riêng cho xe ôtô chạy tốc độ cao, đây là một cậu bé 9 tuổi trễ xe buýt quyết định tự đi bộ đến trường, sau vài phút xe cảnh sát đến và đưa thẳng cậu bé đến trường học.

Tại VN. Cháy nhà. Sập nhà khi vừa thi công công trình. Lũ và dự báo thời tiết sai. Sập cầu. Cây đổ. Dây điện rớt. “Lô cốt” chắn đường. Tai nạn giao thông. Ung thư vì thức ăn kém vệ sinh và môi trường ô nhiễm. Vướng vào cột điện và ngắt điện quá trễ… Người ta có thể chết vì hàng trăm hàng nghìn cách khác nhau.

Nói sự thật
Ở đây tôi không muốn chê bai chỉ trích đất nước tôi và vọng ngoại tâng bốc nước ngoài. Đơn thuần tôi chỉ nói lên sự thật. Nói lên những gì tôi đã nhìn thấy, đã quan sát tận mắt.

Và tôi tự hỏi, một nhà nước có tốt không khi mạng người xem như cỏ rác, bao nhiêu người chết họ không quan tâm, đôi khi vì số lượng quá lớn họ phải đứng ra nói vài lời sáo rỗng cho qua và đền bù vài triệu cho xong? Một nhà nước có tốt không khi họ đàn áp từ công nhân đến nông dân, từ Công giáo sang Phật giáo? Một nhà nước có tốt không khi họ phải theo dõi, bôi xấu, vu khống, chặn đường kinh tế, đàn áp và bắt giữ những người bất đồng chính kiến ?

Tôi đã đi, đã gặp và trò chuyện với rất nhiều người Việt ở Đông Âu, và họ đều chỉ muốn về chơi chứ không muốn về sống. Và rất nhiều người VN tôi biết không muốn trở về.

Nói thẳng thắn, tôi cũng không muốn về. Tôi không về được và cũng không muốn về. Đó không phải là không yêu nước. Đó không phải là không muốn góp phần xây dựng đất nước. Mỗi người chúng ta đều muốn làm gì đó cho đất nước, nhưng rút cuộc công sức sẽ chỉ tan thành tro bụi và đổ sông đổ biển vì bạn có thể xây dựng được gì trong xã hội một thằng xây 9 thằng phá này ?

Đây không phải là xã hội chủ nghĩa như cái họ đang rao giảng nhồi nhét tuyên truyền cho mọi người, khi có những người làm việc cực khổ, nợ nần chất đống đến độ phải tìm những công ty môi giới tìm cách sang các nước Đông Âu làm việc cho nhà máy (tôi đã gặp họ). Trong khi có những người có thể bay một chuyến từ Hà Nội vào Sài Gòn chỉ để ngủ một đêm để đổi không khí, có những người đồng hồ 800 đô mỗi tuần thay một cái và đến sinh nhật tặng bạn bè mỗi đứa một cái.

Và tôi tự hỏi. Tại sao chúng ta lại phải cam chịu chấp nhận? Tại sao chúng ta không thể lên tiếng phản đối? Tại sao chúng ta không thể đứng lên đấu tranh cho cuộc sống tốt đẹp hơn? Tại sao chúng ta không làm gì đó cho đất nước, thay vì chịu đựng hoặc bỏ sang nước ngoài và không cần quan tâm đến VN nữa?

Tại Ba Lan công nhân đình công và thổi bùng cách mạng với sự dẫn dắt của Giáo Hoàng. Quân cờ domino đổ đầu tiên dẫn đến hàng loạt các quân cờ khác đổ một loạt tại các nước Đông Âu. Người dân biểu tình hoà bình vì nhân quyền và tự do dân chủ, và người lính hạ súng từ chối bắn vào nhân dân họ. Tại Đức, khao khát tự do người ta tìm cách vượt qua bức tường từ Đông sang Tây (như dân VN trước đây hàng loạt kéo nhau vượt biên gây chấn động Thế Giới) dẫn đến kết quả cuối cùng là giật đổ cả bức tường.

Họ đã đứng lên. Nổi dậy. Phản kháng. Cất lên tiếng nói và đòi hỏi cho tự do dân chủ.

Nhưng liệu nhân dân VN sẽ tranh đấu cho cuộc sống tốt đẹp hơn hay tiếp tục cam chịu những mục ruỗng thối nát của chế độ với quan niệm đánh đồng yêu quê hương Tổ quốc và yêu nhà nước và suy nghĩ an ủi xã hội đang dần dần phát triển?

Nhà nước này và những người tự nhận mình yêu nước hơn người khác chỉ vì bênh vực Đảng và chế độ luôn tìm ra cách giải thích và biện minh cho mọi sự kiện và vấn đề, nhưng tại sao thay vì tìm cớ, tìm cách giải thích khoả lấp cho qua chuyện, chúng ta không tìm giải pháp và làm gì đó để cải thiện những mặt không tốt ấy?

Tại sao thay vì chờ đợi cho một điều không bao giờ đến - sự can thiệp của một nước khác, chúng ta không tự quyết định cho số phận của chính mình?

Tại sao thay vì cam chịu sống cùng những mục ruỗng lũng đoạn của xã hội và những lời giải thích khập khiễng, chúng ta không đấu tranh cho cuộc sống tốt đẹp hơn?

Những điều tôi đã nói, các bạn không tin và hỏi tôi bằng chứng thuyết phục đâu, thế các bạn đã bao giờ thắc mắc và nghi vấn về những điều các bạn đã được dạy dỗ bao lâu nay chưa?

Các bạn có bao giờ nghi ngờ tính xác thực của những điều ấy hay trong quan niệm của bạn, nhà nước không thể tuyên truyền áp đặt dối trá cho dân chúng? Và rằng bạn sống trong đất nước này, các bạn cần phải đặt lòng tin tuyệt đối vào nhà nước này và bạn tin (hoặc thuyết phục bản thân phải tin) rằng ban lãnh đạo đều đang cố gắng hết sức mình để làm những điều tốt đẹp nhất cho xã hội Việt Nam?

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, đang sống cùng gia đình ở Na Uy.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image

Để Làm Người Đàn Ông Hấp Dẫn
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng đàn ông sau khi kết hôn thường có "sức hút" với nhiều người phụ hơn bởi vẻ ngoài chững chạc cùng phong cách manly của mình.

Được 'yêu' thường xuyên

Các quý ông thường "yêu" nhiều hơn những anh chàng độc thân. Nghiên cứu của học Kinsey mới đây đã chỉ ra: 23% đàn ông độc thân không có sex trong vòng một năm trong khi chỉ 1% đối với những người đã có gia đình. Cũng như vậy, 19% đàn ông độc thân làm "chuyện ấy" hai tới 3 lần một tuần và 36% những người kết hôn làm điều đó thường xuyên hơn.

Những người đàn ông độc thân thường tới quán bar và sử dụng tiền để thu hút các cô nàng còn những người đã làm chồng thì ở nhà làm "chuyện đó" với vợ mình. Và một điều thú vị nữa, những người chồng sẽ thường xuyên có cuộc ân ái nóng bỏng và thỏa mãn bởi người chung chăn gối không phải ai khác mà chính là vợ họ, người họ biết rõ "đường đi lối vể".

Hạnh phúc

Nghiên cứu tại trường đại học Astralia nói rằng xây dựng gia đình sẽ làm cho người đàn ông hạnh phúc hơn và dễ dàng thành công trong mọi khía cạnh của cuộc sống.

Trở thành người đàn ông tốt hơn

Nếu là một chàng trai thông minh, bạn sẽ tìm được cho mình một người phụ nữ nhanh nhẹn, sáng suốt, có chủ kiến và trung thực. Người phụ nữ này có thể mang tới những thứ tốt đẹp nhất và làm cho bạn trở thành một người đàn ông tốt hơn. Kết hôn rồi, bạn sẽ học được sự hy sinh và thỏa hiệp.

Theo Kim Chi
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

CHỬI CHO... CHẮC BỤNG !

Miệt mài trong cuộc bể dâu
Giựt mình tỉnh lại hàm râu bạc rồi.

TƯ ĐẦM ĐẦM
Khi những kẻ có quyền làm những điều gì đó không đúng khiến đám đông bị ảnh hưởng, chẳng hạn như nhân dân trong nước, hay đồng hương ở hải ngoại; thì đám đông sẽ bắt buộc phải lên tiếng. Lên tiếng chỉ trích, lên tiếng góp ý kiến, và gay nhất là lên tiếng tố cáo. Để phản ứng lại, những kẻ có quyền đó bèn chụp mũ và xuyên tạc rằng... chúng nó chửi tui !

Chỉ trích, góp ý, tố cáo những kẻ có quyền bị đồng hóa với... chửi. Nghĩa là những chuyện ở tầm mức cao và chung bị chụp mũ, xuyên tạc, hạ giá xuống thành ... chuyện cá nhân mất gà. Chửi mất gà !

Bà con mình, nhân dân trong nước và đồng hương ở hải ngoại biết đấy là chụp mũ, xuyên tạc, hạ giá trị, nhưng nghe chữ “chửi” ngắn gọn này mãi đâm ra... nghe quen quen, rồi xữ dụng thoải mái luôn.

Vậy “chửi” trong bài này có nghĩa như thế.

DÂN MỸ CHỬI MẤT TIỀN
Không phải chỉ có dân Việt trong nước hay gốc Việt ở hải ngoại mới biết ... chửi. Hổng dám đâu, dân tộc nào cũng biết chửi cả, chẳng những vậy mà còn ... chửi đẹp như nhau, mỗi khi có uất ức đối với thành phần có quyền, cầm quyền.

Ngày 2-3-2010 Thượng viện Huê Kỳ bỏ phiếu bác đề nghị cho người già – người tàn tật – cựu chiến binh mỗi người được lãnh một cái “chét” 250 đô nhằm bù đắp chút đỉnh cho việc tiền trợ cấp sẽ không được tăng trong năm nay.

Một số báo Mỹ (on-line) mấy năm nay đã có lệ cho độc giả góp ý ở phía dưới mỗi bản tin. Với bản tin nói trên, độc giả Mỹ ngay lập tức ào vào góp ý ... chửi. Như tờ OC Register ở địa phương Quận Cam, nơi có Little Saigon của người Mỹ gốc Việt, tất cả ý kiến góp vào bản tin cái “chét” 250 đô toàn là ... góp ý chửi. Chửi các quan Thượng đực + cái là một bọn mèo mập ú ù nu (fat cats) ăn dộng no nê chẳng thèm đếm xỉa đến dân ngu khu đen. Chửi cả lò nhà cầm đồ chỉ giỏi mang tiền đi rãi khắp ta bà thế giái, mặc mẹ dân ở nhà khổ như chó. Kêu gọi rủ nhau đi bầu vào tháng 11 tới, đuổi cổ hết bọn quan chức ra khỏi thủ đô Oa Sinh Tơn Đi Xi.

Có anh độc giả quạu hơn, gọi tàn thể quan Thượng đực + cái là ... bọn khủng bố kinh tế ! “Trình độ móc lò” của “ngành chửi” xứ Mỹ có thể gọi là đã lên đến ... đỉnh cao trí tuệ, qua cái vụ “khủng bố kinh tế” của cha nội độc giả này.

Kể ra thì nhân dân Mỹ vẫn còn sướng chán, mỗi khi muốn chửi đã có sẳn báo chí tại địa phương. Chẳng hề có vụ công an hùng hổ xông tới mời độc giả hay chủ báo Mỹ ... về đồn mần việc vì chửi nhà cầm đồ Huê Kỳ.

DÂN VIỆT CHỬI MẤT ĐẤT, MẤT BIỂN
Dân gốc Việt ta ở Huê Kỳ có thể hưởng phước như dân Mỹ địa phương, nhưng nhân dân ta trong nước thì lại khác. Mỗi lần có ... nhu cầu chửi, nhân dân ta lại phải ... xuất ngoại. Báo trong nước đều do nhà cầm đồ làm chủ, đâu lẽ nào cho xãy ra chuyện cho dùng báo của ta để chửi ... tui ? Biết bao nhiêu anh chị nhân dân đã được cho đi nghĩ mát nhà đá vì có ý kiến ý cắn ! Nên khi uất lên, nhân dân ta chỉ còn mỗi cách dùng keyboard “đằng vân điện tử” sang tận ... xứ Ăng Lê, tạm xài đỡ diễn đàn của báo ngoại BBC (on-line) để ... chửi ké.

Mà nhiều chuyện uất khí lắm ...

Đầu tiên, nhân dân ta giật thót lên vì cái vụ Tầu Cộng le lưỡi bò ra liếm trọn Biển Đông, “xực phàn” luôn Hoàng Sa – Trường Sa của ta. Các báo Tầu thì hô hoán đòi xua đoàn quân Ô Mã Nhi – Thoát Hoan tân thời sang Việt Nam chơi tới bến, tộng luôn cả cái lệnh hành quân lên báo. Nhà cầm đồ của người anh em Việt Cộng mình im re như đồng chí kéo xe. Được đàng chân lân đàng đầu, công an hải tặc Tầu uy hiếp – cướp bóc – giết chóc ngư phủ Việt, nhà cầm đồ ta bèn buộc báo chí mình gọi những tàu công an hải tặc ấy là ... tàu lạ. Ra cái điều kiêng cử ... phạm húy thiên triều, lại cấm cản không cho nhân dân ta lên tiếng ... chống Tầu kíu nước. Đứa nhân dân nào cãi lệnh, a lê hấp, mời nó vào “lò” nghĩ mát !

Có uất không chứ ?

Với thằng giặc xâm lược như thế, không đề phòng thì thôi, thế mà sau đó thì nhà cầm đồ ta lại mời “bateaux” sang vùng tây nguyên xứ mình khai thác quặng bauxite, lại còn cho quyền lập trại tự trị. Má ơi, rước giặc vào, mời ... lập chiến khu chăng ?!

Có uất không chứ ?

Hết mời “bateaux” sang khai thác quặng bauxite, mới đây nhà cầm quyền ta lại khiến nhân dân cả nước thêm hãi hùng vì vụ cho “batầu” mướn dài hạn 50 niên nhiều khu rừng đầu nguồn của nước ta. Đang bị chú ý nhất là rừng đầu nguồn tỉnh Lạng Sơn, tuyến đầu đất nước.

Có uất không chứ ?

Cho nước nào khai thác quặng, mướn rừng có thể không đáng lo, nhưng nước ấy là nước Tầu thì nhân dân ta phải bèn xin thôi. Mẹ, cái thằng đang cướp biển - cướp đảo ta, cái thằng đang uy hiếp – cướp bóc – giết chóc ngư phủ ta, cái thằng đã kéo quân sang đục nhau với quân ta năm 1979; mời nó vào nhà khác chi đưa dao mời nó lụi giùm đi ?!

Vì vậy diễn đàn độc giả của báo ngoại BBC (on-line) bèn đắt khách Việt bất ngờ. Nội đề tài “cho mướn rừng đầu nguồn” tới nay đã có hơn 23 trang góp ý của độc giả Việt, đa số là từ trong nước.

Nếu dân Mỹ đã móc lò các quan Thượng của họ là ... bọn khủng bố kinh tế, thì dân Việt móc lò vụ cho mướn rừng cũng độc đáo không kém. Một độc giả Việt trong nước góp ý trên BBC (on-line) rằng sẽ có một ngày nào đó 50 năm sau, phát ngôn nhân của Bộ Ngoại giao ta phải lên tiếng khẳng định rằng chúng tôi có đầy đủ chứng cớ ... Lạng Sơn là thuộc Việt Nam !

Trời. Nghe đau khổ quá chừng đi !

Nhân dân này góp ý xong thì có nhân dân khác góp thêm, Tầu chiếm Hoàng Sa – Trường Sa trưng chứng cớ chủ quyền là ... đào thấy mấy bộ xương Tầu chôn trên đảo. 50 niên sau, họ sẽ đào được bao nhiêu bộ xương Tầu chôn trong rừng Lạng Sơn và các khu rừng khác của Việt Nam do họ mướn ?

Có một số nhân dân lo âu rất ... hài: Sau 50 niên đứa Tầu đứng ra mướn rừng bây giờ đã ngủm củ tỏi, giấy tờ đã dùng gói dầu chấu quẩy rồi, con cháu nó bèn nằng nặc nói đây là ... đất hương hỏa tía nó để lại, và lúc đó thì nhà cầm quyền của người anh em Việt Cộng mình cũng đã đi chơi chỗ khác rồi, vậy ai đứng ra đối chất và chịu trách nhiệm ?

Có nhân dân uất quá độ bèn hỏi ... lẩy, cho mướn rừng còn ít tiền quá, sao không cho mướn luôn ... Hà Nội, Sài Gòn, sẽ quơ quào được nhiều đô na hơn ? Thì lại có nhân dân khác ... châm dầu: Tầu cho Anh mướn Hồng Kông, tới khi Anh trả lại Tầu có được một Hồng Kông giàu có, thịnh vượng; vậy cứ cho mướn Hà Nội, Sài Gòn đi chớ, Tầu sẽ phát triển hai thành phố này ... giùm cho ta, phẻ lắm !

Một nhân dân khác nữa góp ý trả lời : Tầu không phải là Ăng Lê, thưa đồng bào.

Rất nhiều góp ý của độc giả Việt trong nước đọc qua thì thấy có vẻ hài hước, nhưng là thứ hài hước đến ... phát run, thay vì được cười ha hả thống khoái.

Và cũng có độc giả, có lẽ là cựu bộ đội, đã ngậm ngùi góp ý. Trong những khu rừng ở tuyến đầu đất nước, đã có nhiều bộ đội anh hùng chôn xác tại đây qua những trận đánh khốc liệt năm 1979 mà tồng chí đại ca Đặng Tiểu Bình gọi là “dạy cho đảng Cộng Sản đàn em Việt Nam một bài học”. Thôi thì hãy bốc dời xương cốt của họ trước khi cho mướn rừng để linh hồn họ khỏi phải uất hờn.

Trước đánh lấy, bây giờ mướn lấy, đàng nào cũng ... lấy !
*
Người Việt tỵ nạn Cộng Sản ở hải ngoại lo sợ rằng các thế hệ sau chẳng còn hiểu Việt Cộng là gì. Nỗi lo sợ này đúng ... phân nửa !

Có chịu khó mò mẫm đọc hết thảy ý kiến của nhân dân ta trên BBC (on-line) về vấn đề toàn vẹn lãnh thổ mới thấy rằng mặc dù người anh em Việt Cộng mình cố tình lèo lái cho nhân dân chỉ quan tâm tới cái lưỡi, cái bao tử, và cái ở giữa háng mà thôi; nhưng người dân biết quan trọng cái tâm càng lúc càng đông hơn, dù chưa nhiều lắm.

Vâng, nỗi lo sợ chỉ đúng ... phân nửa ! Các thế hệ sau không hiểu Việt Cộng trong chiến tranh, nhưng đang và sẽ hiểu Việt Cộng rất rõ ràng trong hiện tại, tương lai. Thành ra sẽ có khác đi một chút, chúng ta chống Cộng Sản còn họ thì chống nhà cầm quyền.

Chúng ta chống Cộng Sản vì chúng ta không công nhận Cộng Sản là nhà cầm quyền của chúng ta. Họ chống nhà cầm quyền vì phải công nhận đó là nhà cầm quyền nhưng cũng là ... Cộng Sản.

Thấy dậy mà hổng phải dậy ! Nông dân Nam bộ nói dậy đó. Trúng phóc thôi, chạy trời đâu cho khỏi nắng ?!

“Bảo vệ tổ quốc” đang là đề thi khó nuốt cho thí sinh đảng Cộng Sản Việt Nam, còn hội đồng giám khảo là toàn thể nhân dân ta thì đang quạu lắm rồi !

Cuộc thi công khai hóa theo thời gian, đếch giữ bí mật mãi được !

Hồi Tết, tờ Việt Weekly ở Little Saigon có làm một cuộc phỏng vấn với ông Lê Quốc Hùng, Tổng Lãnh Sự tại San Francisco của người anh em Việt Cộng mình. Được hỏi về vấn đề vẹn toàn lãnh thổ nước Việt Nam, ông Tổng Lãnh Sự Lê Quốc Hùng trả lời vắn tắt chính phủ sẽ có những giải pháp khôn ngoan nhất. Tờ Việt Weekly sau đó mời độc giả góp ý, nhưng tới nay thì chưa thấy có ai.

Đó là thái độ hiểu được.

Tổng Lãnh Sự là chức vụ ngoại giao trung cấp, có nhiệm vụ diễn đạt mọi chuyện theo ý của nhà cầm quyền, cho dù ông ... hổng hiểu ý của nhà cầm quyền thiệt sự là cái ý gì ! Vậy thì góp ý mần chi với ông Lê Quốc Hùng cho sứt mẻ tình ... chân thành hòa hợp hòa giải ? Ngay cả ông Đại sứ Lê Công Phụng, ông này đã từng trân trọng giải thích vụ chia đất biên giới Việt – Tầu trên tờ Văn Hóa (ở Little Saigon), nhưng có mấy ai tin là ông đã thiệt sự biết những điều ông nói ?!

Ngay chính 15 cán cối trong Bộ Chính trị đảng ta, nhân dân còn phải thắc mắc là quý cán cối này ... có “hiểu ý” nhau thiệt không ?

Khôn ngoan, thông minh. Trên cõi đời ô trược này có anh chị nào tự nhận là mình ... ngu, đâu hà ? Tui ... hổng đỉnh cao thì thôi, ngu sao được chớ !

Phải chi các ông được quyền diễn tả cặn kẻ khôn ngoan ấy là khôn ngoan như thế nào, tiến trình khôn ngoan ra sao, và cho tập thể ngu hơn có quyền đóng góp tí ngu ý vào cho chắc bụng thì tốt quá !

Vì hổng chắc bụng nên nhân dân ta đành phải ... góp ý chửi, ké trên báo ngoại BBC (on-line) mới là quê một cục !

Tư Đầm Đầm
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Khủng bố gài mìn trong ngực của nữ và mông của nam .


Mạng lưới khủng bố Al Qaeda đang có một chiêu qua mắt lực lượng an ninh mới lạ, chưa từng được biết tới.
Đó là gài mìn trong miếng độn ngực của phụ nữ và ở mông của đàn ông.

Image
Chất nổ được giấu trong miếng độn ngực của phụ nữ

Cơ quan tình báo Anh MI5 cho biết, Al Qaeda gài mìn bằng cách trang bị cho các nữ đánh bom liều chết túi độn ngực chứa chất nổ, vốn không thể bị phát hiện tại các điểm kiểm soát an ninh ở sân bay.

"Những phụ nữ được Al Qeada đào tạo đã được cấy chất nổ vào ngực theo cách tương tự với phẫu thuật nâng ngực", chuyên gia khủng bố Joseph Farah nói.

Chất nổ chết người, tên là PETN, được nhét vào bên trong túi nhựa trong khi phẫu thuật, trước khi ngực được khâu lại, ông Farah nói thêm.

Theo MI5, các bác sĩ của Al Qeada đã từng được "rèn luyện" ở một số bệnh viện trường y hàng đầu của Anh trước khi quay về nước mình để thực hiện các cuộc phẫu thuật.

Cơ quan tình báo Anh còn phát hiện được, những kẻ cực đoan còn nhét chất nổ vào mông của một số kẻ đánh bom liều chết là đàn ông.

Các bác sĩ phẫu thuật hàng đầu của Anh đã xác nhận tính khả thi của việc cấy chất nổ vào ngực nữ giới. "Khi được phẫu thuật đúng cách, các thiết bị quét thông thường ở sân bay hầu như không thể phát hiện được cái bẫy này", một chuyên gia cho biết.

"Bạn phải đưa nghi phạm tới trước một máy quét tinh vi. Hơn nữa, do chất nổ được nhét bên trong một túi nhựa niêm phong và với một lượng nhỏ nên hầu như không thể phát hiện được chất nổ với máy quét cơ thể thông thường", chuyên gia y tế trên bổ sung.

Một túi độn ngực chứa 141,75g PETN có thể tạo nên một lỗ hổng tương đối trên vỏ máy bay, và khiến phương tiện này gặp nạn, các chuyên gia cho biết.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Barca tôn vinh Johan Cruyff làm Chủ tịch danh dự

Huyền thoại 62 tuổi có ảnh hưởng lớn đối với thành công của đội bóng xứ Catalan trong 40 năm qua.

Người phát ngôn Joan Oliver của Barca cho biết, Chủ tịch danh dự sẽ không kiêm trách nhiệm điều hành CLB.

Chủ tịch Joan Laporta đã phê chuẩn chức vụ trên hôm thứ sáu.

Image
Cruyff là người mở đường cho thành công của Barca.
"Ban lãnh đạo nhận thấy Cruyff có đủ điều kiện cần thiết để đảm đương chức vụ chủ tịch danh dự. Ông từng là một cầu thủ lớn, một HLV lớn. Ông cũng là người có khả năng truyền cảm hứng, và là người sáng tạo ra mẫu hình đem lại thành công trong những năm gần đây của Barca", Oliver nói.

Từng đoạt ba danh hiệu Quả bóng vàng châu Âu (năm 1971, 1973, 1974), Cruyff bắt đầu sự nghiệp cầu thủ tại CLB Ajax Amsterdam (Hà Lan). Trong mùa bóng đầu tiên sau khi gia nhập Barca (1973-1974), ông và đồng đội giành trân thắng 5-0 trên sân Bernabeu của Real Madrid.

Sau khi giải nghệ, Cruyff vẫn có ảnh hưởng lớn. Trong vai trò HLV, ông dẫn dắt Barca giành Cup C1 năm 1992, đoạt 4 chức vô địch Tây Ban Nha liên tiếp (1991 - 1994).

Tháng 11 năm ngoái, ông được bổ nhiệm làm HLV đội tuyển xứ Catalan (Tây Ban Nha).

Nguyễn Tuấn
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Dưới đây là 10 thành phố giàu có và có ảnh hưởng nhất thế giới:

Image
New York chiếm vị trí đầu bảng về tổng thể.
Tính riêng các tiêu chí, thành phố này nhất về kinh tế và khả năng nghiên cứu, nhưng mức sống đứng thứ 8.

Image
London, trung tâm tài chính của thế giới, chiếm vị trí thứ nhì trong bảng xếp hạng.

Image
Kinh đô ánh sáng Paris của Pháp xếp thứ ba.

Image
Thành phố giàu nhất châu Á là Tokyo, đứng thứ tư trên thế giới.

Image
Tiếp theo là Los Angeles của Mỹ.

Image
Thủ đô Brussels của Bỉ đứng thứ 6.
Thành phố này là trung tâm chính trị của châu Âu, nơi có trụ sở của Liên minh.

Image
Một thành phố nữa của châu Á là Singapore cũng góp mặt trong top 10 đô thị giàu có nhất. Quốc đảo sư tử nhận vị trí thứ 7.

Image
Berlin đứng thứ 8 trong bảng tổng sắp, nhưng dẫn đầu về mức sống của cư dân.

Image
Thủ đô Trung Quốc - Bắc Kinh - đứng thứ 9.

Image
Cuối cùng trong top 10 là Toronto của Canada.
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

Cựu Chiến Binh Mỹ Vinh Danh Cờ Vàng Vnch


Image
Cựu Chiến Binh Mỹ Vinh Danh Cờ Vàng VNCH
Cờ Việt Nam Cộng Hòa vẫn được nhiều cựu chiến binh Mỹ từng tham gia Cuộc Chiến VN vinh danh theo cách riêng của họ. Tấm hình trên là một cựu chiến binh Mỹ về từ Cuộc Chiến VN đang chào quốc kỳ Hoa Kỳ trong cuộc biểu tình của những người thuộc Tea Party tại Searchlight, Nevada hôm 27-3-2010. Trên mũ cựu chiến binh này có may huy hiệu quốc kỳ VNCH. Hàng trăm ngàn người tham dự cuộc biểu tình này, nhằm khởi phát chiến dịch phản kháng toàn quốc Mỹ để phản đối luật cải tổ y tế vừa thông qua và ký hoàn tất. (Photo AFP/Getty Images)
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

Lyon thắng đậm Bordeaux để giành lợi thế trước lượt về

Một loạt sai sót của hàng thủ Bordeaux gián tiếp giúp Lyon giành phần thắng 3-1 trong trận tứ kết lượt đi toàn Pháp hôm qua.
Cánh cửa lần đầu tiên vào bán kết Champions League đang rộng mở trước mắt thầy trò HLV Puel.

Chiến thắng cho Lyon được quyết định bởi cú đúp của tiền đạo Lisandro và một bàn thắng đẹp mắt khác của cầu thủ chạy cánh trái Bastos.
Tuy nhiên, bên cạnh các toan tính chiến thuật, đấu pháp hợp lý và khả năng tận dụng cơ hội,
lợi thế mà đội chủ sân Gerland có được trước trận lượt về còn đến từ những sai sót khó tha thứ của hàng thủ đối phương.

Image
Chiến thắng trước Bordeaux hôm qua giúp Lyon (áo sẫm) có cơ hội lớn để lần đầu tiên vượt qua tứ kết Champions League. Ảnh: AFP.
Hàng thủ Bordeaux từng được đánh giá là góp công lớn giúp đội vào tới vòng 8 đội mạnh nhất Champions League hiện tại. Nhưng chỉ trong 90 phút so tài với Lyon hôm qua, hàng phòng ngự ấy đã để thủng lưới tới 3 lần, đúng bằng số bàn thua của họ trong 6 trận vòng bảng và hai trận vòng 1/8 trước đó. Ngay phút thứ 10, từ một đường chuyền dài vào vòng cấm của hậu vệ trái chủ nhà Cissokho, trung vệ Ciani đánh đầu cản phá rất cẩu thả, đưa bóng tới vị trí của Bodmer. Cú căng ngau sau đó của Bodmer được Lisandro kết thúc gọn gàng ở cự ly gần. (Xem Clip)


Khi Lyon ghi nâng tỷ số lên 2-1 sau đó 22 phút, tới lượt Tremoulinas mắc sai lầm. Đó là tình huống Miralem Pjanic lật bóng bổng từ cánh trái vào vòng cấm và quỹ đạo của trái bóng đi không hiểm, nhưng hậu vệ trái của Bordeaux lại phán đoán sai điểm rơi và đánh đầu hụt. Bastos không để lỡ thời cơ, không chế bóng một nhịp trước khi dứt điểm sấm sét bằng chân trái ở góc hẹp. (Xem Clip)

Không chịu kém cạnh hai đồng đội trong hàng thủ Bordeaux, hậu vệ phải Mathieu Chalmé cũng mắc sai sót quyết định giúp Lyon ghi bàn thứ ba ở phút 77. Anh này để bóng chạm tay trong vòng cấm khi nỗ lực cản phá một quả căng ngang từ cánh trái của Cissokho. Và từ chấm 11 mét, Lisandro dễ dàng đánh bại thủ môn Carrasso, ấn định thắng lợi 3-1 cho Lyon. (Xem Clip)

Ngoài ba bàn thắng kể trên, Lyon còn tạo ra không dưới 5 pha uy hiếp có thể dẫn đến bàn thắng nữa. Nhưng Bastos, Delgado rồi Makoun đều không thể tận dụng thành công để giúp đội chủ sân Gerland thắng đậm hơn. Đáng kể nhất trong số này là tình huống ở phút 90 khi cú đánh đầu hiểm hóc của Makoun bị Tremoulinas phá ra ngay trên vạch vôi.

Bordeaux không còn giữ được lối chơi bùng nổ như khi họ đánh bại những Juventus hay Bayern Munich ở vòng bảng. Thất bại dưới tay Marseille trong trận chung kết Cup Liên đoàn Pháp cuối tuần trước ít nhiều đã tác động tiêu cực đến tâm lý đội bóng xứ rượu vang, khiến các học trò của HLV Laurent Blanc mất đi sự hưng phấn cần thiết khi hành quân đến sân Gerland.
Image
Trong lần đầu tiên vào tới tứ kết Champions League, Bordeaux (áo đỏ trắng) thua kém hoàn toàn Lyon về kinh nghiệm, sự già dặn cần thiết ở những cuộc đấu cân não.
Ảnh: AFP.
Sự non nớt về kinh nghiệm cũng là một yếu tố nữa gián tiếp khiến thầy trò Blanc không thể chơi khởi sắc ở những trận cầu cân não như lượt đi tứ kết hôm qua. Đây mới là lần đầu tiên Bordeaux vào tứ kết Champions League, trong khi với Lyon, đây đã lần thứ ba, sau các mùa 2003-2004, 2004-2005 và 2005-2006. Bản lĩnh, sự tự tin của thầy trò HLV Claude Puel cũng được nâng lên đáng kể nhờ chiến tích loại người khổng lồ Real Madrid ở vòng 1/8.

Nhưng với một bàn thắng ký gửi vào lưới Lyon hôm qua - Gourcuff đi bóng kỹ thuật bên cánh phải rồi lật vào cho Chamakh đánh đầu cận thành ở phút 14 (Xem Clip), cánh cửa vào bán kết vẫn chưa khép lại hoàn toàn trước mắt Bordeaux. Tuy nhiên, liệu lợi thế sân nhà và khát vọng ghi dấu ấn của thầy trò Blanc có đủ giúp họ làm nên một trận thắng 2-0 vừa đủ để lật ngược tình tế thì lại là câu hỏi không dễ trả lời.

Đội hình thi đấu:

Lyon (4-2-3-1): Lloris - Reveillere, Cris, Bodmer, Cissokho - Makoun, Toulalan, - Delgado (Gonalons 86), Pjanic (Kallstrom 66), Bastos (Govou 66) - Lisandro.

Bordeaux (4-2-3-1): Carrasso - Chalme (Henrique 82), Ciani, Sane, Tremoulinas - Fernando, Plasil - Gouffran (Bellion 84), Gourcuff, Wendel (Jussie 72), Chamakh.

Minh Kha
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Cô Giáo Trẻ Vùng Quê
Thái Quốc Mưu
Chiếc xe thổ mộ (1) nhét bốn người đã đầy nhóc, chạy lọc xọc lọc xọc, trệu qua trệu lại trên con hương lộ vừa mới trải đá, chuẩn bị cho việc hình thành một con đường nhựa trong tương lai. Có những đoạn đường đang cày ủi khiến hai chiếc bánh xe bằng cây, niềng sắt với những cây căm bằng gỗ căm xe, to cỡ cườm tay, chụm từ cái đùm ở giữa, chia khoảng cách đều đặn, tỏa ra cắm vào vành xe có đường kính gần mét rưỡi, tua tủa như những nhánh sao, trồi lên hụp xuống kêu ken két, ken két khiến thành xe lắc lư như con thuyền giăng buồm trên biển giữa trời lộng gió.

Ba người, một già hai trẻ, ngồi chung xe với Hạnh, hết nhìn nhau lại nhìn nàng như thầm hỏi. Họ là những người nông dân địa phương, từ xã An Thuận, một xã chỉ cách thị trấn Thạnh Phú chưa đầy năm cây số. Họ đi chợ Huyện gần như thường ngày để bán con gà, cặp vịt, mớ cá tôm rồi mua về những nhu cầu cần thiết cho đời sống miền thôn dã nghèo nàn vật chất nhưng đầy ấp tình người.

Ở cái xã gần như xa xôi hẻo lánh đó, ít khi họ gặp được cô gái có màu da sáng sủa, có nét mặt thanh tú như Hạnh. Họ muốn thân mật nhưng ngại ngùng.
Con đường lởm chởm đá, sau cơn mưa đêm đôi chỗ còn bùn lầy, nước đọng. Đó cũng là con đường thân thương, từng mài nhẵn gót những đôi dép Nhật nhỏ bé của những bàn chân tràn nhựa sống và cũng từng thấm hàng hà sa số giọt mồ hôi của tuổi thơ chập chững bước vào trường cấp hai ở Huyện lỵ.
Gặp nhau trên bến xe ngựa gần chợ Huyện, những người nông dân bây giờ đang cùng chuyến xe với Hạnh, họ nhìn Hạnh một cách soi mói tìm tòi, thương cảm lẫn e dè thắc mắc. Chẳng ai bảo ai, họ tự ngồi sát vào nhau, nhường cho Hạnh một chỗ ngồi khả dĩ đủ khép chặt hai chân và co gối lên ngực.
Trên quãng đường dài, dằn, xóc, cà giật cà tâng, nghiêng qua, chao lại, gập ghềnh, khúc khuỷu, mọi người cố bám chặt hai bàn tay vào thành của chiếc xe xệu xạo.
Sau tiếng troóc troóc, ông Năm, lão đánh xe nói bâng quơ:
- Con lộ nầy hỏng đầy năm cây số, vậy mà mấy ổng làm cả năm trời chưa xong. Troóc! Troóc! Troóc!…
- Anh Năm, anh tính coi để con cháu đây ở nhà nào cho tiện? Bà Hai Nghề thân mật hỏi.
Một cô gái ở lứa tuổi hăm, chen vào:
- Con thấy để cô giáo ở nhà anh Tư Tân thì tốt hơn hết. Nhà ảnh ở ngay Ngã Tư, gần trường, lợi (2) rộng rãi.
Bà Hai Nghề giẫy nẩy:
- Ý! Đâu có được mậy. Thằng tư Tân mới chết vợ. Ở “dzậy” coi sao được! Tai tiếng hổng tốt đâu! Tao thấy để cháu đây ở nhà ông chủ tịch xã là hay hơn hết.
Hà, cô gái đôi mươi lên tiếng phản đối:
- Ở đó cũng đâu có được Bác Hai. Ông chủ tịch có thằng con cũng bằng tuổi cô giáo mà! Ở vậy coi cũng đâu có được...
Bà Hai Nghề giọng cả quyết:
- Mầy coi hổng được nhưng tao coi được. Ở đó tốt nhất. Thằng lớn của ông chủ tịch nó lên trên Tỉnh học lâu lâu mới về một lần, ở đó có sao đâu? Ăn nhậu gì tới mâày mà mầy lo?
Nghe giọng bà Hai Nghề sừng sỏ, Hà rụt cổ im re. Ông Năm đánh xe thấy vậy, cười, hỏi vặn bà Hai Nghề:
- Chị có chắc lâu lâu thằng đó về là hổng có sao phải hông?
Bà Hai Nghề ấp úng, không trả lời thẳng câu hỏi của ông Hai. Bà chậc lưỡi, than:
- Chậc! Vậy chớ tui biết để ở đâu bây giờ?
Cô gái tuổi hăm, bạn của Hà - cô nàng vừa bị bà Hai Nghề cự nự, nghe bà Hai Nghề than thở, nhìn bà Hai Nghề nói:
- Bác hai cũng không chắc ăn, vậy mà hồi nãy bác la con nhỏ nầy.
Hạnh cười. Ông lão đánh xe cũng cười, nói:
- Ỷ lớn hiếp bé, ỷ già hiếp trẻ mà cháu! Bả (3) chỉ làm hùm làm hổ với tụi cháu thôi. Chớ gặp bác thì...
Bà Hai Nghề hùng hổ:
- Thì sao? Anh nói tui gặp anh thì sao? Nói đi!
Ông Năm lại cười văng cả nước miếng:
- Gặp tôi hả? Tôi vả cho chị phù mõ, rồi mua tặng chị vài trứng đà điểu.
Ba cô gái cười theo, cô gái tuổi hăm ngây thơ hỏi:
- Bác tặng bác Hai trứng đà điểu chi vậy Bác Năm?
Ông Năm đánh xe, cười ồ ồ:
- Bác vả bả sưng mỏ, tặng bả mấy trứng đà điểu để bả luộc mà lăn cho hết sưng.
Bà Hai Nghề đấm mạnh vào lưng ông lão:
- Anh đúng là thằng cha già mắc dịch. Ăn nói vậy rồi tụi nhỏ nó coi tui ra gì...
Ông Năm đánh xe không tha:
- Đó, đó! Hai cháu thấy chưa. Bà Hai thấy bác đánh xe mệt mỏi nên đấm bóp cho bác đó. Troóc! Troóc! Troóc!
Bà Hai Nghề xì một tiếng dài, nghe rõ nồm nộp:
- Có quỷ mới đấm bóp anh.
Ông Năm không vừa:
- À, té ra, quỷ vừa đấm tui.
Hạnh cùng hai cô gái trên xe cả cười, nhưng chẳng cô nào dám lên tiếng. Nhất là Hạnh.
Bà Hai Nghề đổi giọng nghiêm chỉnh:
- Thôi, anh đừng có ba trợn nữa. Tui về mà mét ông xã tui, ổng xé xác anh ra đó!
Ông Năm xuýt xoa:
- Trèn ơi! cái gì mà chị tính làm lớn chuyện dữ vậy? Ai biểu hồi nãy chị làm tình làm tội mấy đứa nhỏ mần chi, để tụi nó buồn xo. Thấy tụi nó ngồi co ro tội nghiệp, tôi chọc chị cho vui vậy mà. Troóc! Troóc! Troóc!
Bà Hai Nghề cười dễ dãi, nói - sau khi sửa cách ngồi:
- Thôi bỏ chuyện tào lao thiên đế đó đi. Bây giờ anh cho tui biết mình nên để cháu nầy ở nhà ai?
Ông Năm đánh xe, chẳng chút do dự:
- Tôi nghĩ để cháu ở nhà bà Chín Xôi thì hay hơn hết! Bả có một mình, nhà cửa sạch sẽ gọn gàng, cũng gần trường nữa, lợi là chỗ yên tĩnh. Tui nói ở đó là hay hơn hết!
Bà Hai Nghề đánh mạnh vào vai ông Năm, tỏ sự đồng tình:
- Đúng! Đúng rồi! Vậy mà tui nghĩ không ra.
Rồi bà quay sang nói với Hạnh:
- Cháu yên lòng, đừng lo nghĩ gì hết nghen! Có bọn Qua (4) lo hết cho cháu rồi.
Hạnh cảm động, nàng nhỏ giọng:
- Dạ! Cháu xin cảm ơn hai bác với hai chị. Cháu rất xúc động trước sự giúp đỡ, lo lắng tận tình của hai bác với hai chị.
Bà Hai Nghề giọng dài thượt:
- Ối! Ơn yết gì đâu nè! Cháu về đây giúp dạy dỗ con cháu của bọn Qua, thì bọn Qua phải hết lòng lo lắng cho cháu chớ.. ớ.. ớ..!
Cô gái tuổi hăm, giọng e dè:
- Chị Hạnh! Sao chị không dạy ở Sègòn mà xuống chi cái xứ khỉ ho cò gáy nầy cho cực khổ?
Hạnh cười thân mật:
- Em thích sống ở miền quê. Ở thôn quê em sẽ học được rất nhiều điều mà ở Sàigòn không thể nào em học được.
Cô gái bẽn lẽn:
- Chời! Chị no...ói... học là học ở Sègòn, còn ở dưới nầy có cái gì đâu mà học!
Hạnh sung sướng cười, đáp:
- Ở quê có nhiều thứ để em học lắm chị. Chẳng hạn như chuyện hai bác với hai chị hết lòng lo lắng nơi ăn chốn ở cho em vừa rồi. Ở Sàigòn khó tìm được những tấm lòng cao quý như vậy lắm chị!
Cô gái đỏ mặt, rụt rè:
- Sao kỳ vậy cà? Em tưởng người mình ở đâu cũng vậy.
Hạnh thương cảm:
- Không phải đâu chị, tuy người mình cùng là đồng bào với nhau, nhưng người ở thành thị là dân tứ phương đến và phải tranh đua với cuộc sống, giành giựt nhau từng công việc, từng miếng ăn, cái uống... lại còn bon chen đua đòi xa hoa vật chất, nên người dân thành thị gần như khô khan tình cảm, không giống như bà con ở nông thôn mình.
Bà Hai Nghề xen vào, giọng như người sành sỏi:
- Ối! Hơi hiết đâu mà cháu nói với nó. Tối ngày nó không rời đít ông Táo nên hổng biết gì ráo tro..o.ọi! Nó có biết Sègòn sè ghiết gì đa..â..âu! Cháu nói mần chi cho mất công...
Hạnh nắm bàn tay đen đúa của cô gái tuổi hăm. Bàn tay trắng phau, mềm mại của nàng vừa chạm vào làm cô gái khẽ giật mình. Hạnh chân thành nói:
- Khi nào về Sàigòn, em sẽ mời chị đi với em cho vui.
Trong khi cô gái còn cảm động muốn rơi lệ, Hà thấy vậy bèn nói:
- Em cũng hổng biết Sègòn. Chừng nào về trển chị dẫn chỉ (5) theo thì cho em theo với…
Không để Hạnh kịp trả lời, bà Hai Nghề dọa hai cô gái:
- Tụi bây lên trển lạng quạng dám bị xe bắt chó bắt lắm đó!
Ông Năm đánh xe phản bác:
- Chị nói sa.. a.. ao! Nên khuyến khích con cháu đi đây đi đó cho nó biết với người ta. Troóc! Troóc! Hù dọa tụi nó mầm gì...
Bà Hai Nghề cười ngất:
- Thì tui nói chơi vậy mà. Cái ông nầy hổng biết gì hết!
Đến bến, ông Năm cho chiếc xe ngựa dừng lại. Mọi người lần lượt xuống xe. Hai cô gái giành phần đỡ chiếc vali khá to của Hạnh. Ông Năm nhìn cái vali, nói với hai cô gái:
- Tụi bây mỗi đứa giúp một tay, khiêng nó về nhà chị Chín Xôi rồi về thể..!
Hai cô gái khẻ dạ rồi khiêng chiếc vali đi trước. Còn lại ba người. Bà Hai Nghề giọng kẻ cả nói với ông Năm đánh xe:
- Tôi giao anh lợi nhà bà Chín Xôi nói cho xong chuyện ăn ở của con cháu nầy. Giờ tôi về lo cơm nước cho Tía (6) tụi nhỏ. Chiều tôi qua bển.
Thấy Hạnh mở bóp định trả tiền xe, ông Năm xua xua hai bàn tay:
- Cháu cất vô đi, Qua hổng lấy đâu!
Hạnh cố nhét tiền vào tay ông Năm, ông quyết liệt:
- Qua nói một là một, hai là hai! Hổng lấy là hổng lấy. Cháu cất đi!
Hạnh đang còn bỡ ngỡ thì bà Hai Nghề chen vào, nói với Hạnh:
- Nhà qua ở dưới bến thằng Quyền, khi nào yên nơi yên chỗ rồi, cháu xuống đó chơi nghen!
Ông Năm nói:
- Cái bà nầy, đúng là “thấy sang bắt quàng làm họ.” Chuyện ăn ở tui chưa lo xong gì hết mà bà bày đặt giành mời mọc rồi!
Bà Hai Nghề đã quay lưng mấy bước còn quay lại, giơ cao nấm tay, cười, dọa ông Năm:
- Tui giao anh chuyện lợi nhà bà Chín lo việc ăn ở cho cô giáo mà anh lo hổng xong thì biết tay vợ chồng tui.
Ông Năm nói với Hạnh:
- Cháu đứng đây chờ chút, Qua đi thả ngựa rồi lợi dẫn cháu đi.
***
Hôm sau, Hạnh đến trường, nàng được thầy trưởng giáo - một người còm cõi, xấp xỉ năm mươi, dẫn nàng đi quan sát ngôi trường, ông nói:
- Tôi dạy đây gần hai chục năm. Quen nước quen cái rồi, nên coi như là quê hương mình. Dân tình ở đây rất dễ mến, họ chất phác, chân thật, lòng ngay như ruột ngựa, còn biết thương yêu, đoàn kết, đùm bọc, giúp đỡ nhau nhiều lắm. Để rồi cô sẽ thấy.
Bây giờ tôi nói với cô chuyện nghề nghiệp của bọn mình. Trường nầy có năm lớp, trong đó có hai lớp từ lâu tôi dạy, được cô về đây giúp sức, tôi rất mừng. Tuy nhiên, cũng cần thêm một thầy cô nữa về mới đủ cấp số. Tôi đã xin nhiều lần, nhưng cứ phải chờ, vì xa xôi quá, chẳng ai chịu về. May mà có cô, không thì tôi quán xuyến hoài cũng mệt. Chỉ tội là tội cho đám học sinh. Thiếu thầy, thiếu cô làm sao học hành tiến bộ được. Tội nghiệp, chúng rất hiếu học mà mình thì không có phương tiện dạy dỗ. Đáng thương nhất là có những em học hành rất siêng năng, chăm chỉ nhưng, gia đình cha mẹ các em đó nghèo khổ quá, không kham nổi tiền học phí phải đành nghỉ học ở nhà đi làm thuê, làm mướn người ta...
Hạnh nghe qua lòng cảm thấy bùi ngùi, chua xót. Trong khi thầy chủ nhiệm trường vẫn bình thản thả bước. Có lẽ ông đã quen rồi. Ngừng một chút cho thấm giọng, ông tiếp:
- Ước nguyện của tôi là xin cô cố gắng giúp tôi, mình nương nhau mà sống để dạy dỗ chúng nó. Tôi nghĩ hoàn cảnh ở đây có thể làm cô buồn, nhưng lâu rồi cũng quen.
Hạnh gật đầu chấp nhận.
Hôm sau Hạnh đi dạy, Thầy trưởng giáo nhìn cách ăn mặc đơn giản của Hạnh, ông hài lòng, nhưng vẫn nói:
- Ở đây, khi đến trường mình nên ăn mặc vừa phải thôi, không nên cầu kỳ diêm dúa thái quá! Người dân ở đây họ cực khổ, nghèo khó mà mình ăn diện tươm tất quá trớn sẽ làm họ khó chịu và tủi thân.
Hạnh cười, đáp:
- Cám ơn sự chỉ dẫn của thầy. Cháu đã biết trước những điều đó rồi! Trước khi cháu quyết định nhận về địa phương nầy, Ba cháu đã nói cho cháu biết nhiều về cuộc sống ở nông thôn. Chính Ba cháu đã khuyến khích cháu nên chọn về vùng quê để có cơ hội học làm người, học về bản chất thật thà chất phác của người nông dân mình. Và thật sự cháu đã học được nhiều, học ngay trên chuyến xe ngựa từ huyện về đây.
Thầy trưởng giáo thở hắt ra cái mạnh, lòng cảm thấy nhẹ nhõm. Ông cười, nói:
- Như vậy thì tốt quá! Tôi chỉ ngại...
Ông bỏ lửng câu nói, lại cười, nụ cười thật đôn hậu. Ông quay bước vào lớp. Còn lại một mình. Hạnh bắt đầu quan sát kỹ chung quanh ngôi trường. Ngôi trường thật cũ kỹ, vách ván nhiều nơi mục bể, mái ngói phủ rêu, màu xanh nhờn nhợt, một vài chỗ ngói bể trơ sườn.
Trước trường, bên nầy đường, mấy cây me keo (7) to tướng che mát cả sân trường. Mé bên kia, ngay trước sân trường một dãy nhà nửa giống phố chợ, nửa như nhà ở.
Giờ chơi, Hạnh rời khuôn viên trường, thả dọc theo dãy nhà phố, ngược với hướng Huyện lỵ Thanh Phú, theo con đường độc đạo Hạnh đến cuối ven làng. Phía trái con đường là ruộng lúa mênh mông; bên phải, một con sông nhỏ uốn khúc ngoằn ngoèo chảy cặp kè theo ven hương lộ. Hạnh bỗng giật mình khi thấy cái cầu vệ sinh che sơ sài bằng những tấm lá dừa nước ở trên ao cá vồ nằm sát mé làng. Hạnh nhẩm trong lòng: “chỉ có cách xong xuôi ở nhà”, nếu không, đến lớp rủi ro “bị” bất ngờ chỉ có nước chết!” Nàng quay lại.
Một vài học sinh chạy nô đùa, cố tình ngang qua Hạnh, chúng vùng (8) đứng trước nàng lễ phép cúi gập đầu rồi chạy tiếp. Nhóm khác đứng xa xa chỉ trõ cô giáo mới. Học sinh vùng quê là vậy!
Chiếc trống trường bị thủng cả hai mặt. Thầy Trưởng giáo phải dùng còi để báo giờ ra, vào lớp. Học sinh yên lặng sắp hàng đôi trật tự bên tay phải cửa lớp. Hạnh nhìn chúng khoác nhẹ tay, chúng tuần tự vào lớp đứng trước chỗ ngồi. Hạnh vừa bước vào, vừa nói:
- Các em ngồi.
Giữa giờ chính tả, Hạnh nhìn ra thấy một người đàn bà mặc chiếc quần vải đen khá mới, nhưng nhăn nheo, trên, mặc chiếc áo trắng đã ngả màu ngà cũng nhăn không kém, đang đứng lấp ló ở cửa. Hạnh biết, đó là những thứ mà họ cố để dành khi có ra ngoài “đi đứng với người ta”. Nàng rung cảm trong lòng: “Quê hương tôi ơi! Sao còn quá nhiều những người nghèo khó. Ba ơi! Con cảm ơn Ba đã khuyên con nên chọn vùng nông thôn để cho con biết được những thực trạng đau lòng nầy”.
Nàng ra cửa. Người đàn bà nhìn Hạnh e dè:
- Thằng nhỏ tui bị bịnh cả tuần nay, mà xin phép nghỉ có hai ngày, nay hết bịnh, nghe có cô giáo mới, nó hổng dám đến trường. Tui dẫn nó lợi đây xin cô vui lòng tha cho nó.
Hạnh nói với người đàn bà:
- Dạ! không sao đâu chị, em bị bệnh, khi hết bệnh thì cứ đến lớp. Chẳng có gì chị phải lo lắng!
Rồi nhìn sang đứa bé, nàng tiếp:
- Lần sao em đừng làm phiền mẹ nữa. Em vào lớp đi!
Người đàn bà cảm ơn ríu rít, kiếu từ ra về. Hạnh nhìn theo lòng cảm thấy man mác buồn. Trở vào lớp, Hạnh thấy bọn trẻ nhao nhao, nàng nghiêm giọng:
- Cô muốn tất cả các em đều phải là học sinh gương mẫu, học hành siêng năng, chăm chỉ và có kỷ luật. Các em...
Nàng chưa dứt lời, cả lớp im phăng phắc.
Thắm thoát hai tháng trôi nhanh. Hạnh dần dà quen với cuộc sống mới nơi thôn xóm. Những bữa tiệc cưới, giỗ chạp, đình đám ở vùng quê nầy, người ta rất tôn trọng các nhà mô phạm. Lần đầu khi cùng thầy chủ nhiệm đến ăn giỗ nhà bà Hai Nghề, trên đường đi, Hạnh hỏi thầy trưởng giáo:
- Cháu nghe nói bác Hai Nghề, không phải tên Nghề, nhưng sao lại gọi bằng Hai Nghề, thầy có biết không?
Thầy chủ nhiệm cười xòa:
- Chẳng có gì là khó hiểu hết, tánh tình con người ở đây mộc mạc chất phác, họ rất kiêng úy họ tên người lớn tuổi. Để phân biệt ông hai bà hai nầy, với ông hai bà hai kia, người ta đem nghề nghiệp của họ mà ghép vào thứ bậc trong gia đình của người đó mà gọi thành tên.
Hạnh tròn xoe đôi mắt. Nàng thắc mắc:
- Nhưng Hai Nghề có liên quan gì đến nghề nghiệp đâu thầy?
Thầy chủ nhiệm lại cười:
- Có chứ cô! Ông Hai làm nghề thợ mộc kiêm luôn thợ hồ, nên người ta gọi là ông “Hai Nghề” cho tiện. Bà Chín Xôi cũng vậy. Người ta gọi như vậy chỉ vì trước kia bà Chín bán xôi ở chợ Ngã Tư mình.
Hạnh phì cười:
- Cháu nghĩ, như vậy cũng hay phải không thầy?
Thầy chủ nhiệm cười đồng tình, tiếp:
- Nhưng ở đây có cái địa danh rất đặc biệt. Cô phải thận trọng.
- Địa danh nào vậy thầy?
- “Bến Thằng Quyền”. Cái tên nầy người ta gọi hàng năm, sáu mươi năm về trước, nghĩa là khi ấy nhà cha mẹ thằng Quyền ở gần bến nước nầy. Bây giờ thằng Quyền năm xưa ã là cụ Quyền ngoài bảy chục rồi. Nhưng do quen miệng có người vẫn gọi “Bến Thằng Quyền”. Cũng có người sửa lại gọi là “Bến Ông Quyền”, nhưng đa số vẫn là “Bến Thằng Quyền”.
Ngưng một chút, thầy Trưởng giáo cười tiếp:
- Mấy tháng trước, có ông lái trâu, đem bầy trâu mua được ngang qua đây, lùa xuống Bến Ông Quyền cho uống nước. Trong khi trâu uống nước, ông lái trâu vào nhà hàn huyên với gia chủ. Ông Quyền đem trà ra đãi khách. Ông lái trâu muốn có chút bánh kẹo cùng gia chủ đưa hơi, nên hỏi:
- “Cháu Quyền có nhà không anh?”
Ông Quyền biết người khách nhầm lẫn, nhưng vẫn hỏi:
- “Anh có cần sai việc gì hông?”
- “Tôi định nhờ cháu chạy lại đằng tiệm mua ít bánh kẹo về anh em mình uống nước.”
Ông Quyền đứng lên, nói:
- “Để tui đi mua cho”
Ông lái trâu vội nói:
“Hổng dám! Hổâng dám! Thôi, để tiểu đệ đi.”
Ông Quyền cười ngất:
- “Thì tui là thằng Quyền nè!”
***
Trong đêm hôm ăn giỗ. Hạnh bị chột dạ, sáng hôm sau, thầy chủ nhiệm lại về huyện họp, Hạnh vẫn phải đến lớp. Đang giờ dạy, bụng Hạnh đau thắt, nàng muốn đi... nhưng khi ra đến ao cá vồ, nhìn cái cầu vệ sinh che sơ sài, Hạnh không đủ can đảm bước vào ngồi trơ mặt ra làm việc bài tiết. Trên đường trở về lớp, nàng cảm thấy không thể chịu đựng được nữa, nên quay lại “làm liều, họ sao, mình vậy!” Trong khi Hạnh đang thắt thỏm sợ có người đi đến, bỗng nàng nghe có tiếng động cơ máy đuôi tôm nổ xình xịch, mỗi lúc một gần rồi vụt thoắt lướt nhanh qua như phản lực, Hạnh choáng váng, điếng người. Phía sau cầu vệ sinh quay ra con sông trống trơn.
***
Sáng thứ Hai tuần sau, Hạnh bước vào lớp thấy trò Cúc con của Tư Tân, chủ tiệm bán tạp hóa gần trường, một người đàn ông trẻ, góa vợ mới ngoài ba mươi. Nhìn cặp mắt em còn đỏ hoe, Hạnh nghĩ có lẽ em bị trò nào hiếp đáp, gọi lên, hỏi:
- Sao em khóc?
Bé Cúc đáp giọng ngọng nghịu:
- Ưa ô, Ba on ánh on (Thưa cô ba đánh con)
- Em đã làm gì ba em giận?
- Ưa ô, Ba ấm, on ổng dám ói! (Thưa cô, ba cấm con hổng dám nói)
- Em nói đi! Để cô biết mà can thiệp với ba, sau nầy ba đừng đánh em nữa.
Vẫn giọng ngọng nghịu, bé Cúc thì thầm:
- Anh ò am, hôm thứ áu đi ài, ấy cô đi... bèn ạy uồng ngang qua dể oi ít ô. Về nhà òn ói ới người ta cái ít của cô ắng ếu (Anh trò Nam hôm thứ Sáu đi chài, thấy cô đi... bèn chạy xuồng ngang qua để coi “ít” cô. Về nhà còn nói với người ta cái “ít” của cô trắng hếu”
Hạnh bủn rủn cả tay chân. “Trời Phật! Phải biết vầy, mình đừng hỏi có hơn không?” Hạnh thầm nghĩ. Nhưng đã lỡ rồi, đã hỏi thì hỏi cho tới nơi tới chốn:
- Chuyện như vậy có can hệ gì đến em mà ba em đánh?
- Ưa ô, on nghe anh ò am ói vậy ới người ta, on ét Ba, Ba ánh on, ấm on ỏng được ói. (Thưa cô, con nghe anh trò Nam nói vậy với người ta, con mét Ba, Ba đánh con, cấm con không được nói).
Hạnh biết anh trò Nam là ai rồi! Đó là một thanh niên chừng tuổi nàng, con thứ Hai của ông Trưởng ấp, được gia đình cho lên tỉnh học, không hiểu sao về quê chơi trong mấy ngày qua. Phải rồi! Chỉ có anh ta, lên tỉnh học hành, lại học đòi mới lém lỉnh như vậy, chứ thanh niên nông thôn có cho vàng cũng không dám làm điều đó. Hạnh nghĩ.
***
Trong khi Tư Tân đỡ bó lá chầm (9), thì ông Năm lấy mấy cái nẹp bằng thân dừa nước từ trên xe thổ mộ xuống. Ông tiết lộ:
- Hôm qua, lại nhà thằng Trưởng ấp, tao mắng vốn vụ thằng con trai của nó chơi rắn mắt. Nó hứa sẽ đập cho thằng đóù một trận còn đoan chắc với tao không bao giờ để tình trạng đó xảy ra nữa. Nó nói, từ nay đứa nào dám lạng quạng như vậy là nó cạo đầu khô.
Tư Tân cười:
- Nghĩ mình cũng bậy, cái cầu vệ sinh nằm chình ình ngay chỗ đông người qua lại trống trơn như vầy mà hổng có ai dòm ngó, sửa sang gì cả. Bây giờ chuyện xảy ra như vậy rồi mình mới chú ý. Thôi bác về nghỉ đi, mình cháu làm được rồi, một chút là xong.
Ông Năm nói:
- Trời cũng nhá nhem tối rồi, để tao phụ mầy một chút nữa cho xong, rồi về thể. Tao tính, mình làm thêm tấm bửng (10) để che phía trước nữa. Thằng Tư mầy nghĩ thế nào?
Tư Tân đồng tình:
- Cháu cũng có ý đó.
***
Sáng sau đến lớp, Hạnh thấy đám học sinh bu quanh cái cầu vệ sinh mới, chúng thi nhau chỉ trõ cười nói om sòm. Hạnh làm như không quan tâm đến, nhưng lòng thầm cảm ơn ai đó đã làm việc ấy. Bất chợt lòng rộn niềm vui.
Ngồi nơi bàn viết, nhìn đám học sinh đang cắm cúi làm bài. Hạnh nhớ lại lời thầy trưởng giáo nói với nàng sau khi ăn giỗ nhà Bác Hai Nghề về:
- “Nền phong hóa dân tộc ta, còn tồn tại đến ngày nay là nhờ bản sắc của người dân nông thôn. Nông thôn là nơi cất kín, giữ kỹ tinh thần truyền thống dân tộc mình. Nông thôn vừa là cội nguồn, gốc gác vừa là nền tảng của dân tộc ta. Mất nông thôn chúng ta sẽ mất tất cả. Đáng tiếc! Trong chúng ta không ít kẻ (dù có những kẻ trước khi về thành thị đã xuất thân từ nông thôn) nhìn về nông thôn chẳng những bằng ánh mắt thiếu thân thiện mà còn khinh thường. Nỗi đau của dân tộc mình khởi đầu từ chỗ đó...”

Atlanta, tháng 4 / 1997

Ghi chú:
Truyện nầy tôi cảm hứng sau khi đọc truyện ngắn Cô Giáo Trẻ (khoảng năm 198...), đăng trong Kiến Thức Ngày Nay (đáng tiếc quên tên tác giả và số báo). Tôi lấy ý mà khai triển nội dung mới. Cốt truyện, cách viết hoàn toàn khác với Cô Giáo Trẻ trong Kiến Thức Ngày Nay. Dù sao, cũng xin tác giả, báo Kiến Thức Ngày Nay và bạn đọc vui lòng cảm thông.
1. Xe thổ mộ: Một loại xe ngựa, có thùng dài, không băng, không ghếâ ngồi. Hành khách ngồi bẹp xuống sàn xe.
2. Lợi: lại, đến.
3. Bả: Bà ấy.
4. Qua: Tôi, bác, chú. Đại từ ngôi thứ nhất, người lớn tưổi dùng để tự xưng một cách thân mật với người nhỏ tuổi, bậc dưới. Thí dụ: “Qua đây là bạn của ba cháu!” Qua ở đây là đại từ. Khác với “Đi qua” (động từ), và Hôm qua (danh từ).
Thí dụ:
Hôm Qua, QUA nói, QUA qua, mà QUA không qua.
Bữa nay QUA hổng nói QUA qua mà QUA qua.
Chữ qua trong “hôm qua”, tô đậm là danh từ. Chữ “QUA” in, tô đậm là đại từ ngôi thứ nhất. Chữ “qua” tô đậm là động từ.
Trong tình yêu nam nữ, Qua thường đi với Bậu (đại từ ngôi hai, có nghĩa, em, mình, cưng,...) Thí dụ: Áo Qua đứt chỉ đường tà, Ai may áo Bậu hay là Bậu may! (Qua, Bậu đều là từ cổ, hiện không thấy ai dùng).
5. Chỉ: Chị ấy.
6 Tía: Cha, Ba. Đại từ ngôi thứ hai. Từ cổ, vùng quê miền Tây, trong Nam vẫn còn có người dùng.
7. Me keo: Miền Tây Nam Bộ, thường gọi là “Me nước”. Trái có từng mắt, như trái me chua, múi bên trong, ăn chát hoặc ngọt, tùy loại.
8. Vùng: Đột nhiên, tự dưng, bất ngờ.
9. Lá chầm: Lá của cây dừa nước, được lạt (cọng lá dừa nước còn non, đập dập, phơi khô heo héo) kết hợp lại theo bề ngang của cánh lá, thành tấm dài chừng mét, dùng để ngăn vách nhà. Khác với lá “chầm nốp” (chiếc lá được bẻ gấp lại, bề bụng vào trong, bên trong chỗ gấp có cọng cây dài làm sống, được kết dính bằng sợi lạt đan ngang, dài chừng mét hoặc hơn; Gọi lá “chầm nốp, vì sau khi hoàn thành, trông từa tựa như “cái nốp”. “Nốp” là chiếc đệm, gấp đôi lại, may hai đầu, người giữ đồng, đi bắt cá chui vào trong ngủ tránh muỗi. Thời kháng Pháp trong một bài hát có câu: “Nốp với giáo mang lên vai...” Còn “lá xé” cũng là cây lá dừa nước được xé chia đôi theo chiều dọc của cây lá. Lá “Chầm nốp” và “lá xé” dùng để lợp nhà hoặc làm vách quanh nhà, không dùng để ngăn phòng như “lá chầm”, trong khi lá chầm chỉ để dừng vách, không thể dùng lợp nhà.
10. Tấm bửng: Tấm chắn ngang để che kín vật gì đó hoặc để ngăn gió.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Image
Điều nên biết về Cellular Phone
Điện thoại cầm tay (Mobil phone, Cellular phone) hiện nay là một vật dụng rất cần thiết của mọi giới từ quý vị con nít tới quý cụ bô lão tại bất cứ chỗ nào vào bất cứ lúc nào, ngay cả lúc đang lái xe rất nguy hiểm . Tuy nhiên rất ít ai biết rằng công ty điện thoại KHÔNG có ý định muốn giúp bạn để ngăn chặn sự thiệt hại một khi bạn lỡ đánh mất cái cellular phone của mình.

Đôi khi bạn tưởng mình chỉ cần biết cái Account Number hoặc cái SIM Number là đủ.Nên biết rằng có thể công ty điện thoại CÓ cách ngăn chặn, nhưng họ GIẢ BỘ không biết NẾU bạn không khai báo được con số cần nhất là số đăng bộ (Serial Number) của cái điện thoại đã mất.
Lý do đơn giản là đằng nào thì họ cũng có lợi:
1. Dĩ nhiên là vì nhu cầu, bạn sẽ phải mua một cái phone khác và ghi danh vào một chương trình (Plan) khác chứ không thể xử dụng Plan cũ được và như vậy, hãng điện thoại sẽ có thêm tiền cho một account mới.2. Họ không cần biết bạn xài hay kẻ cắp xài bởi vì căn cứ vào cái hợp đồng mà bạn đã ký với họ ngay khi nhận điện thoại thì bạn vẫn phải trả tiền cho đủ 24 tháng sau mới được THA, đó là chưa kể tới trường hợp kẻ gian xử dụng tối đa số phút và bạn sẽ là người trả tiền . Phương cách đơn giản nhất để ngăn chặn kẻ gian không thể xử dụng cái điện thoại của bạn như sau:- Mỗi máy điện thoại có một số đăng bộ (Serial Number) RIÊNG (khác với con số Account Number).Bạn cần phải biết con số này (gồm 15 con số)- Muốn biết con số này, bạn hãy dùng cellular phone của bạn, bấm vào 5 chữ số sau :

* # 0 6 # thì sẽ thấy một hàng gồm 15 con số sẽ hiện ra.

- Hãy ghi lại và giữ kỹ hàng số này để xử dụng khi cần.- Hy vọng rằng bạn sẽ cẩn thận, nhưng nếu bị mất Cellular phone, bạn chỉ cần đưa số này cho người bán Cellular phone, họ sẽ BLOCK được kẻ gian ( dù kẻ gian có thể thay cái SIM Card mới ) cũng không thể dùng cái Cellular phone đã mất của bạn.

Ngưu Lão (Sưu tầm)
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Hoàng Cầm, người thơ Kinh Bắc

Image
... Hoàng Cầm vẫn lặng lẽ nằm chiêm nghiệm đời mình trên ô gác xép tồi tàn của Hà Nội. Bao nhiêu thăng trầm cuộc sống đè nặng trên mắt ông, khiến chúng có phần nào tối tăm hơn những lần gặp trước đây. Hoàng Cầm vẫn nằm nghiêng, ấp ủ những câu thơ gãy gập như cơ thể ông, mặc cho màu thời gian tái tê trên từng vuông đất sàn nhà nơi ông nằm cô quạnh...


Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trang giấy điệp
(Bên kia sông Đuống)

Chỉ vài nét chấm phá, Hoàng Cầm không những đã truyền được hương vị, màu sắc, chất liệu của sản vật quê hương ông mà còn thổi vào đó linh hồn ngàn đời của đất trời Kinh Bắc. Những bức tranh Mẹ con đàn lợn âm dương, Đám cưới chuột, Hứng dừa, Đánh ghen... chắc chắn còn đọng lại mãi trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam như hương lúa nếp thơm nồng. Câu thơ tuyệt nhiên không nhắc đến Mùa Xuân, cũng không nói đến ngày Tết, vậy mà khi đọc, chúng ta cảm nhận niềm hân hoan của những ngày Tết cổ truyền.
Nhắc đến Hoàng Cầm không thể không nhắc đến 'Bên Kia Sông Đuống.'


Hoàng Cầm (Hình: Người Việt)


Đây là bài thơ nổi tiếng trong thời kháng chiến chống Pháp. Không phải vì nhạc điệu, cũng không phải vì mục đích tuyên truyền mà bài thơ nổi lên hơn tất cả những bài thơ khác xuất hiện cùng thời. Bên Kia Sông Đuống nổi bật bởi tính sử thi của tác phẩm.

Bài thơ ngợi ca lòng yêu quê hương, rộng ra là lòng yêu nước, của một lớp thanh niên trí thức trong những ngày đầu kháng chiến. Hình ảnh mà Hoàng Cầm miêu tả trong bài thơ nhắc nhở một cách thao thiết những yếm thắm, những lụa hồng, những trẩy hội... Bất cứ ai, khi đọc lên, đều thấy hiển hiện màu sắc thanh bình, đã từ lâu không còn nữa...
Bao giờ về bên kia sông Đuống
Anh lại tìm em
Em mặc yếm thắm
Em thắt lụa hồng
Em đi trẩy hội non sông
Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh
'Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh” bừng nở cả không gian Kinh Bắc. Ánh sáng nào thành em mà tỏa sáng? Tỏa sáng bởi nụ cười của em, nụ cười rất đẹp, rất lạ, rất khó nắm bắt, được vờn vẽ bằng ngòi bút siêu thực và nhìn bởi không gian tâm linh của Hoàng Cầm. Bài thơ khép lại với khát vọng trở về. Về với 'sông Đuống,' về với quê hương, về với cội nguồn để tận hưởng Mùa Xuân của tạo vật, tận hưởng Mùa Xuân của lòng người. Về với 'Em!'

Viết về Mùa Xuân, Hoàng Cầm còn nổi tiếng với bài Tâm sự đêm giao thừa được ông sáng tác vào dịp Tết 1948, khi ông xa nhà đi kháng chiến. Bài thơ này chính là tâm trạng của Hoàng Cầm trong chiến tranh, đã được những người lính thời đó chép tay, rồi chuyền cho nhau đọc và cất giữ cẩn thận trong ba lô của họ trên đường hành quân. Bài thơ vẽ ra trước mắt người đọc bức tranh vừa sinh động vừa cảm hoài của người lính xa nhà, đứng gác một mình trong đêm giao thừa, giữa không gian bao la của rừng thiêng, nước độc. Trong thời khắc thiêng liêng đó, anh hướng lòng về quê hương, nơi có người vợ nghèo và đứa con thơ:
Đêm nay hết một năm
Đứng gác đến giao thừa
Quê hương chừng rét lắm
Lất phất mấy hàng mưa
Tôi có người vợ nghèo
Đời vất vả gieo neo
Từ khi chồng ra lính
Nhà gianh bóng hắt heo
Hơi thơ chậm rãi, tình tiết chân thực, vậy mà lay động lòng người đến nhiều chục năm sau và sau nữa. Trong đêm giao thừa rét mướt đó, người lính chợt quên mình trong cái giá rét đêm đông để quặn thắt với hình ảnh tội nghiệp, cô đơn, đói rét của vợ con anh:
Đêm ba mươi gió thổi
Tôi lại nhớ con tôi
Vợ đói con cũng đói
Khóc lả lặng từng hồi
Mẹ thì nước mắt nhiều hơn sữa
Ngực lép con nhay đã rã rời
Một ngày bốn năm bữa
Con khóc chừng đứt hơi
Sục tìm vú mẹ không còn sữa
Há miệng uống no dòng lệ rơi
Với người Việt, hình ảnh ngày lễ Tết đồng hành cùng với sum họp gia đình. Để khởi đầu một năm mới, mọi người mừng tuổi nhau bằng những món quà, bằng những lời chúc. Vậy trong đêm giao thừa, đói rét, lại có chiến tranh, người lính mừng quà gì cho vợ, cho con?
Đêm nay Xuân sắp tới
Quê nhà ai héo hon
Vợ tản cư đâu đó
Mừng tuổi gì cho con
Xuân về với núi sông
Quê nhà ai ngóng trông
Thương vợ con nghèo đói
Mừng tuổi bằng chiến công
'Mừng tuổi bằng chiến công'! Có cường điệu lắm không, khi lấy chiến công làm quà cho hai mẹ con người đàn bà khốn khó kia? Hãy nghe trong thinh lặng, tiếng thì thào của thần chết từ phía quân thù. Tiếng gió rít thê lương trong bóng đêm và tiếng ầu ơ xa vắng trong tâm trí người lính. Lúc này đây, chúng ta, những người bên ngoài, sẽ hiểu được ý nghĩa thật của hai chữ “chiến công” như thế nào. Nó vừa là ý hướng chống lại cái chết bằng niềm tin chiến thắng. Nó cũng là tấm huy chương cao nhất đổi bằng máu của người lính, vậy thì lấy 'chiến công' để tặng vợ hiền con dại không phải là món quà vừa lạ vừa cao quý hay sao?
Đồn giặc bên kia sông
Đêm nay tôi phải diệt
Nó chia vợ rẽ chồng
Nó làm nên đói rét
Sáng mai mùng một tết
Lửa còn bốc đồn cao
Tôi đạp đầu giặc Pháp
Cắm cờ trên chiến hào
Rồi người chồng, bằng sự liên tưởng của mình, anh tin rằng ở nơi quê nhà, vợ con anh sẽ nhìn và thấu hiểu được những chiến công của anh. Và thật kì diệu, quà mừng của anh đã tiếp thêm sức mạnh cho vợ con anh trong ngày tết, làm tươi thắm lại niềm hạnh phúc từ lâu ngỡ như đã héo khô:
Lửa bốc con tôi nhìn cũng rõ
Cờ bay vợ cũng thấu tình thương
Dân sự truyền đi tin thắng trận
Một chiều nao nức chợ quê hương
Vợ tôi ngồi trong quán
Mưa lùa tóc rối tung
Bỗng có người đến bảo
- Chồng chị lập chiến công!
Mặt vợ nghèo lấp lánh
Da xanh ửng sắc hồng
Sẽ vuốt lại mái tóc
Ôm chặt con trong lòng
... Như một cơn mưa sớm
Ươm mầm non sắp thui
Sữa căng lên đầu vú
Máu chảy mạnh trong người
Vợ tôi cho con bú
Con uống mạnh từng hơi
Đứa bé no rồi ngủ
Xuân ấm nồng trên môi
Tài năng thơ của Hoàng Cầm thể hiện ở chỗ kêu gọi lòng yêu nước nhưng không mang tính tuyên truyền, không cường điệu, không giả tạo. Bởi vì thơ Hoàng Cầm cũng chính là tiếng chuông lòng của thi sĩ, nhằm góp phần thức tỉnh hồn quê, hồn người trong mỗi chúng ta.
Sau khi chiến tranh kết thúc, năm 1956, Hoàng Cầm cùng với Văn Cao, Trần Dần, Lê Đạt, Sỹ Ngọc, Phùng Quán... họp nhau lại và thành lập Nhân Văn Giai Phẩm với khát vọng đổi mới nghệ thuật, nhất là nghệ thuật thơ ca.

Mùa Xuân 1956, tạp chí Giai Phẩm Mùa Xuân xuất hiện. Nhưng con đường nghệ thuật là con đường đầy nhọc nhằn, chông gai, trắc trở, Giai Phẩm Mùa Xuân vừa mới ra đời đã bị phê phán nặng nề. Trong tạp chí này, Hoàng Cầm có bài thơ Mùa Xuân đến rồi đây nói lên thân phận khổ đau của hai mẹ con, hai cuộc đời, cũng như nhiều cuộc đời khác trong suốt bảy mươi năm ròng dưới chế độ thực dân:
Bảy mươi Mùa Xuân không xuân
Bảy mươi năm cùng tháng tận
Dòng sông Nhị ơi!
Con cò lận đận
Bãi ngô dài cát trắng
Lòng sông cuốn nặng
Phù sa
Nước mắt mẹ con ta
Chảy ra ngoài biển rộng
Réo lên đầu sóng
Đùn đùn mây đen
Mưa lọt mái nhà rách thủng
Mưa thốc xuống tầu chuối khô
Ướt đẫm manh tải
Mẹ con nằm trong đêm mưa
Nằm trong nước mắt đỏ như máu
Nằm trong nước sông đầy bùn nhơ
Bản lĩnh nghệ sĩ của Hoàng Cầm được thể hiện qua câu chữ, qua nếp sống thanh nhã, hiền lành và điềm đạm. Con người của Hoàng Cầm xứng đáng là bài học cho những ai còn chưa đủ lòng trân trọng đối với sự sống trong cuộc đời này. Sau vụ Nhân Văn Giai Phẩm, Hoàng Cầm, dù bị kỷ luật, rơi vào lãng quên, vẫn lặng lẽ và bình thản đi con đường riêng của mình để tạo nên nhiều kiểu thơ, nhiều giọng thơ khác nhau, mà một trong những loại thơ khác biệt làm nên Hoàng Cầm là những bài thơ viết về Kinh Bắc.

Có thể nói, trong nền thơ Việt Nam hiện đại, khó có ai hơn được Hoàng Cầm khi viết về Kinh Bắc, đặc biệt về lễ hội Kinh Bắc. Không hẳn Kinh Bắc là vùng đất cổ còn lưu giữ được nhiều truyền thống văn hóa dân gian, mà hội hè còn là mặt chủ yếu của đời sống phi chính thức, đời sống thứ hai. Chính hội hè đã điểm trang, đã cân bằng lại đời sống thường ngày. Tất cả những hình thức hội hè ấy, nằm ngoài phạm vi sinh hoạt nhà nước, mang tính chất mua vui, chứ không mang hơi hướm tôn giáo cần sự trang nghiêm. Chúng tạo ra bên cạnh cuộc sống chính thức một thế giới thứ hai và cuộc đời thứ hai. Những hội hè Kinh Bắc được thể hiện trong thơ Hoàng Cầm như : Hội Long Khám, Hội Vân Hà, Hội Gióng, Hội Lim, Hội đền tám vua triều Lý... đặc biệt là Hội chen Nga Hoàng: nửa đêm đèn nến tắt phụt, cho phép trai gái thỏa nguyện cái tình lớn lao, say mê vào bậc nhất đời sống của con người. Trong mùa lễ hội, người đàn bà vốn bị xem thường, bạc đãi sẽ tìm lại được bản thân mình trong các hội thi trổ tài khéo léo: Thi sợi bún, Thi ăn mía thổi cơm, Thi đánh đu, Thi hát đúm, Thi dệt vải, Thi thêu gấm. Không có nhà thơ nào viết về lễ hội nhiều và hay như Hoàng Cầm.

Những câu thơ viết về hội hè, đình đám của Hoàng Cầm làm thăng hoa trong thơ Việt một không gian vừa thực vừa ảo, biến hóa khôn lường... tất cả được vẽ bằng một ngòi bút tài hoa, quyến rũ. Hãy nghe Hoàng Cầm thầm thì với cọng bún Kinh Bắc:
Ơi đêm Đông Hồ
Nát nhầu thân tố nữ
Sợi bún ngà vá lại dung nhan
(Thi sợi bún)
Và rồi theo vết Xuân Hương, ông đánh đu cảm hứng của mình giữa Mùa Xuân rộn rã:
Luồn tay ôm say giấc bay lay đỉnh núi
Tuột hàng khuy lơi yếm tóc buông mành
Đùi chảy búp dài thon nhún vội
Bàng hoàng tia chớp liệng nghiêng xanh
(Thi đánh đu)
Đừng rụt rè, hãy đam mê, như Hoàng Cầm đã từng đam mê:
Chen Nga Hoàng
Len chèn nguyệt tận
Phụt nửa đêm đèn nến tắt
(...) Hỗn mang mê vô cùng
Địa đàng say tới tấp
Không giờ không
Thăm thẳm nguyện cầu hơi em nồng
Nhẩn nha thôi
Ôi dùi nhẹ buông tênh... tang vờ câm
Ai nện xin thương ngầm
Gõ hờ đôi ba tiếng cuối buồn vang âm
Vì tay ải tay ai
Chưa nguôi tê mê thầm
(Hội chen Nga Hoàng)
Trong Hội chen Nga Hoàng, chúng ta nghe Hoàng Cầm thầm thì với ngữ điệu và trong những đam mê huyền ảo đó, giới tính không còn phân biệt được nữa. Những nốt nhạc trầm trong thơ ông quấn quýt không gian ân ái trong hơi thở đêm của Mùa Xuân bất tận. Mùa Xuân của luyến ái, của tái sinh.

Hoàng Cầm yêu cuộc sống đến từng hơi thở, từng nhịp đập của con tim qua mỗi câu trong đời thơ của ông. Tác phẩm của Hoàng Cầm luôn toát lên sự giản dị của tâm hồn, lòng trung kiên và tình yêu vô bờ đối với mảnh đất Kinh Bắc. Hoàng Cầm muốn chúng ta cùng ông lắng nghe đời sống để nhận ra hương vị quê hương. Thơ Hoàng Cầm, như một bó hoa đẹp mà vẻ đẹp của mỗi bông hoa được thắp lên bằng chính ánh sáng của tài năng nghệ thuật.

Gần một tháng trước, tôi có dịp đến thăm nhà thơ Hoàng Cầm, ngôi nhà số 43 Lý Quốc Sư của người thơ nằm sâu trong con hẻm hẹp. Ông vẫn sống với con trai thứ trong căn gác nhỏ, hẹp trên lầu năm. Mọi vật trong căn gác nhỏ vẫn y nguyên như bốn năm về trước, lúc tôi đến thăm ông những lần đầu. Vẫn cái điếu hút thuốc lào đặt ngang tầm với, vẫn chiếc giường kê sát đất. Hoàng Cầm vẫn nằm tiếp khách như mọi khi. Cú ngã cầu thang cách đây năm năm đã neo ông lại với chiếc giường con. Nhìn ông nằm trông rất thương. Cả ngày lẫn đêm, Hoàng Cầm chỉ giữ tư thế nằm ngửa, mắt nhìn chăm chú lên trần nhà như đang nghĩ ngợi hay tìm kiếm điều gì.

Xưa nay, người ta vẫn thường nói đến cái chết đầy bi kịch của một Nguyễn Trãi. Cái con bệnh ghê khiếp đọa đày thiên tài Hàn Mặc Tử. Nhưng có ai nhắc đến bi kịch Hoàng Cầm hay không? Ông đã sống vô cùng cô đơn. Cô đơn khi còn là một cậu bé mới lên năm. Cô đơn giữa một thời đại có những Tố Hữu, những Xuân Diệu, những Chế Lan Viên hết lời cổ vũ cho văn chương Cách Mạng trong khi ông vẫn mài miệt với những vần thơ đậm tính nhân văn. Cô đơn khi bị kỷ luật, bị lãng quên. Và bây giờ, ông nằm một mình một giường, sống chung với bệnh tật, với sự cô đơn của tuổi già.

Nghĩ đến bi kịch Hoàng Cầm, tôi lại liên tưởng đến thân phận con người, bé nhỏ và mong manh như cỏ hoa: cỏ khô, hoa rụng. Ngoài kia bây giờ là Mùa Xuân đang đến. Đất trời lại chuyển mình thụ thai một mầm sống mới trong niềm hân hoan của vũ trụ. Hoàng Cầm vẫn lặng lẽ nằm chiêm nghiệm đời mình trên ô gác xép tồi tàn của Hà Nội. Bao nhiêu thăng trầm cuộc sống đè nặng trên mắt ông, khiến chúng có phần nào tối tăm hơn những lần gặp trước đây. Hoàng Cầm vẫn nằm nghiêng, ấp ủ những câu thơ gãy gập như cơ thể ông, mặc cho màu thời gian tái tê trên từng vuông đất sàn nhà nơi ông nằm cô quạnh...
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Image

Giữ Đời Cho Nhau
Lý do tôi đặt tựa bài viết này là Hãy Giữ Đời Cho Nhau, bởi vì nhạc sĩ Từ Công Phụng gửi một thông điệp quý giá về tĩnh yêu. Anh chia sẻ cuộc sống như một nguồn chảy, trôi qua những biến chuyển, những khúc rẽ, mình cũng trưởng thành, chín chắn hơn, suy nghĩ sâu sắc hơn về cuộc đời, tình yêu, nhân sinh quan. Thập niên 1960 là thời kỳ lãng mạn khi mới lớn còn nhút nhát, mơ mộng nhiều. Sang những năm 1970, với những suy nghĩ sâu xa hơn, chín chắn hơn, âm nhạc của anh bắt đầu ghi lại những nét đọng, nét đậm của tình yêu. Đến thập niên 1980, anh cảm nhận sự thiết yếu giữ đời cho nhau cần được tôn vinh, nên nhạc của anh từ đó chuyên chở những lời nhắn nhủ, muốn tạo nên những thông điệp nhỏ trong tình yêu: những người yêu nhau đừng rời xa nhau vì tình yêu quý giá vô ngần, nó làm cho đời sống mình thăng hoa. Cả sự đau khổ, hy sinh trong tình yêu cũng quý giá như thế.


Bài ca Giữ Đời Cho Nhau này anh làm chỉ trong hơn một giờ đồng hồ, vì bài thơ gây anh một xúc động mãnh liệt, nó gợi lại cho anh những lời ru mà bà mẹ thường hát ru anh, và giai điệu bài thơ dường như đã có sẵn trong bài thơ ấy. Anh cho biết anh có những bài nhạc phổ từ thơ là do tình cảm với thi sĩ, rồi cho ra đời những tác phẩm đó.


Mỗi bài ca mà ta nghe có thể chứa đựng một kỷ niệm nào đó. Nhạc Từ Công Phụng cho tôi những kỷ niệm êm đềm của ngày tháng cũ, mỗi khi nghe dòng nhạc xưa đem ta về dĩ vãng của những xao xuyến, những quyến luyến nào đó. Khi tôi học năm thứ nhất đại học tại Sài gòn, tôi và cô bạn học cũ thường vào Thư viện Quốc Gia trên đường Gia Long để học bài chung, có những lúc chúng tôi ra sân sau của thư viện giáp với đường Lê Thánh Tôn, buổi chiều ngồi trên sân cỏ xanh mướt bạn tôi hát các bài Tuổi Xa Người, Trên Ngọn Tình Sầu, Mùa Xuân Trên Đỉnh Bình Yên và Lời Cuối. Cô thích hát, với tôi đây là những bài ca đong đầy ký ức buồn vơi, hay cho tôi một sự gợi nhớ thích thú. Sau năm 1975, bạn tôi vượt biên và không bao giờ đến được bến bờ của sự sống. Tôi cho là những tựa đề này sao mang nhiều ý nghĩa nhất trong hồn tôi, vì ôi như lời tiên tri, tuổi đã xa người, nhung nhớ trên ngọn tình sầu và lời cuối xin cầu chúc bạn tôi mãi mãi an nghỉ với một mùa xuân trên đỉnh thật bình yên.

"Ơn em thơ dại từ trời, theo ta xuống biển, vớt đời ta trôi.
Ơn em dáng mộng mưa vời, theo ta lên núi, về đồi yêu thương.
Tạ ơn em ... tạ ơn em."

Nhạc sĩ Từ Công Phụng vượt biên rời Việt Nam sang định cư tại Portland , tiểu bang Oregon từ năm 1980. Mặt dù anh đỗ cử nhân luật khoa Sài gòn, nhưng khi sang xứ người anh tự bương chãi để lo cho gia đình. Anh mở một cơ sở như nguồn sinh sống trong ngành ấn loát.


Về âm nhạc thì anh khởi sự viết nhạc từ năm 1960, tự học nhạc và sáng tác từ thiên khiếu. Từ Công Phụng xử dụng guitar và piano và là một trong những nhạc sĩ có thể ca, giọng ca trầm ấm, điêu luyện khi chuyên chở nội dung những sáng tác của anh gần gủi nhất. Anh tâm sự về những cảm hứng và kỷ niệm khi sáng tác nhạc là cuộc đời mỗi người luôn hiện hữu với tình yêu. Trải qua bao năm tháng đó, niềm cảm xúc từ tâm tư để anh có dịp bày tỏ và chia sẻ với quý khán thính giả những gì anh gửi gấm trong tất cả tác phẩm của mình. Vào năm 1960, sáng tác đầu tay là Bây Giờ Tháng Mấy, một top hit được công chúng đón nhận nồng nhiệt khi anh mới 18 tuổi.


Âm nhạc dâng cao tột đỉnh khi người nhạc sĩ lột tả được cảm nghĩ sâu kín nhất của tâm hồn mình từ người bạn đồng hành của mình, với Từ Công Phụng đó là hạnh phúc hay nỗi buồn. Bởi thế nên trong bài Tuổi Xa Người anh tâm sự nỗi lòng buồn da diết:

"Kể từ em đem cô đơn mọc lên phố vắng
khi em mang nụ cười khỏi đời
Từng chiều rơi nghe như cõi lòng mình tê tái
ngỡ như đời còn gọi tên nhau"

hay trong bài Lời Cuối, nội dung của ca từ nghe những nhuốm buồn và cảm thấy lòng ta chùng xuống trong tâm trạng cô liêu:

"Thôi đừng tìm đến nhau làm gì
Thôi đừng nhìn nhau nữa mà chi
Đường về ngày mai xa lắm
Tương lai chưa vừa tầm hái tay này
Trời đọa đày cho cay đắng
Nên ta không còn nương cánh nhau mà đi"

Nếu nỗi buồn đến một khi tình yêu vắng bóng cho tâm hồn hụt hẫng, thì hạnh phúc của cuộc sống lại đến cho buổi bình minh bừng sáng khi niềm vui tình yêu dâng tràn trong đời, dâng tràn trong hồn và dâng tràn trong nhạc mênh mang, vì mãi mãi có em, hay Mãi Mãi Bên Em:

"Nếu có điều gì vĩnh cửu được
Thì em ơi đó là tình yêu chúng ta
Bờ môi ngoan, hương tóc rũ vai mềm
Từng ngày dài hồn anh mãi tương tư
Gọi tên em lòng náo nức đêm mơ
Anh mơ sẽ bên em cho đến tận cuộc đời"

Niềm hạnh phúc trong cuộc sống là tình yêu đích thực, những gì vĩnh cửu để giữ mãi lời nguyền cho nhau:

"Nếu có điều gì vĩnh cửu được
Thì em ơi đó là tình yêu chúng ta
Dù mai đây trăng có úa bên thềm
Và ngày buồn thu tàn kéo qua đây
Rồi mùa đông vội vã đến bên ta
Anh giữ mãi lời nguyền cùng bên em"
Image
Gia đình nhạc sĩ Từ Công Phụng

Những ca khúc mà lời ca do Từ Công Phụng sáng tác là những thi khúc, những bài thơ do anh nắn nót, chọn lọc cho vào khung nhạc. Từ đó cho ta nhạc của Từ Công Phụng.

Ngày Chủ nhật, 21 tháng Ba, năm 2004, anh xuống Nam Cali tham dự chương trình Chiều Nhạc Tình Ca Từ Công Phụng do một người bạn thực hiện để kỷ niệm 40 năm sáng tác tình ca tại phòng trà Majestic, tôi đọc những dòng chữ kể chuyện xưa của nhạc sĩ Từ Công Phụng, do ký giả Nguyên Huy viết:

"Nhớ lại “ngày xưa” đâu như vào khoảng những năm đầu thập niên 60 gì đó bản nhạc “Bây Giờ Tháng Mấy” của Từ Công Phụng đã như ngọn gió mát tình cảm cho tuổi trẻ đang hoang mang trước thời cuộc vì tình hình chính trị nội bộ và chiến tranh gia tăng đe dọa cuộc sống yên vui của mọi người. Âm hưởng thanh thoát của “Bây giờ tháng mấy” đã nhanh chóng dọi thổi vào tâm hồn người nghe đến độ lời nhạc cũng nhanh chóng bị bóp méo đi thành “Bây giờ mấy tháng”. Và cũng chính vì thế mà nhạc Từ Công Phụng càng trải rộng hơn, càng đi sâu hơn vào lòng người. Từ trên đỉnh cao “Bây giờ tháng mấy”, Từ Công Phụng như cánh diều lộng trong gió chiều trên một vùng thênh thang của những tâm hồn chất ngất yêu đương. Anh bay trên những giòng nhạc tình diệu vợi như “Mùa thu mây ngàn”, “Trên đỉnh Bình Yên” cho đến “Tuổi xa người” để hòa cảm cùng Du Tử Lê mà biết đến “Ơn Em” mà ngùi ngùi ly biệt.

Nhắc lại ngày xưa ấy, Từ Công Phụng chậm rãi:” Tuổi trẻ xưa của chúng mình là lãng mạn, là thánh hóa cuộc tình. Chúng ta trang trọng tình yêu qua hình hài những người con gái. Họ như những bóng mây chợt có chợt không trong bầu trời tình yêu trong vắt đối với chúng ta nhưng dù có thế họ cũng vẫn không làm hỏng được bầu trời tình yêu của chúng mình.” Bốn mươi năm qua, mùa đã thay nhiều lần và gió cũng chuyển dữ nhưng khung trời yêu thương thì muôn đời vẫn đọng sâu trong cuộc sống mỗi người. Chúng ta có đi và mang theo quê hương nhưng dù không muốn, những cuộc tình vẫn thường hằng đeo đuổi. Và nó được nuôi dưỡng bằng tình ca, nhất là tình ca Từ Công Phụng."
Image
Song Thao - Từ Công Phụng - Luân Hoán và pv Việt Phương
Nhân sinh quan của nhạc sĩ Từ Công Phụng về tình yêu, dù thành công hay thất bại, tình yêu đích thực sẽ vĩnh cửu làm thăng hoa cuộc sống. Để rồi âm nhạc Từ Công Phụng lãng mạn tôn vinh tình yêu: Mãi Mãi Bên Em hay Giữ Đời Cho Nhau.

Cám ơn nhạc sĩ Từ Công Phụng. Âm nhạc của Từ Công Phụng hay của nhiều nhạc sĩ khác cho quần chúng ái mộ những món ăn tinh thần vô cùng cao quý. Do vậy, bài viết này tôi xin gửi đến nhạc sĩ Từ Công Phụng và các bạn bè trong các forums Diễn Đàn Tình Nghệ Sĩ, Câu Lạc Bộ Văn Nghệ, Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ và Văn Đàn Đồng Tâm.

VHLA
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Xã hội Na Uy trong cái nhìn của tôi

Song Chi
Một sự tình cờ của số phận đã đưa tôi đến với đất nước Na Uy, quốc gia có diện tích lớn hơn Việt Nam nhưng dân số chỉ khoảng 4,8 triệu, trong đó số người nhập cư từ các nước khác chiếm khoảng trên 10%. Và con số này vẫn đang tăng lên hàng năm.

Nhưng dẫu sao, một xã hội mà điều tốt, sự tử tế, lương thiện là phổ biến còn cái ác, sự không tử tế là chuyện hiếm hoi, một xã hội mà con người tin nhau, và tin vào điều tử tế, đó là một xã hội lành mạnh, là giấc mơ mà tôi đang mơ cho Việt Nam – đất nước tôi, dân tộc tôi.
Tại các thành phố của Na Uy bây giờ bạn có thể bắt gặp dân nhập cư đến từ khắp nơi trên thế giới, từ châu Mỹ như Chi lê, Brazil, Mexico… châu Âu như Ba Lan, Đức, Ý, Tây Ban Nha… châu Á như Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan, Philippines… nhiều nhất là từ vùng Trung Đông của châu Á như Iran, Palestine, Afghanistan… Nghĩa là chẳng khác gì trên đất Mỹ. Ngay trong ngôi trường dạy tiếng Na Uy cho người nước ngoài mà tôi đang học, đã có thể đếm được khoảng gần 50 quốc tịch khác nhau của học sinh. Có lẽ ý thức được vấn đề dân số ít ỏi của mình trong khi đất đai khá rộng và tiền bạc, tài nguyên cũng không thiếu, chính phủ Na Uy đã mở rộng vòng tay đón dân nhập cư từ các quốc gia khác nhau đến Na Uy theo nhiều con đường khác nhau. Những năm gần đây thì số người từ các nước Trung Đông chiếm tỉ lệ rất cao.

So với các cộng đồng khác, người Việt ở Na Uy có khoảng gần 20 ngàn người, có mặt tại đất nước này từ sau năm 1975 với những đợt thuyền nhân bỏ nước ra đi may mắn được tàu Na Uy vớt hoặc vào trại tị nạn rồi chuyển đến Na Uy. Một cộng đồng cũng không phải là nhỏ nếu tính trên tỉ lệ dân số của Na Uy.

Na Uy là một đất nước yên bình. Cảm giác được an toàn có lẽ sẽ là cảm giác đầu tiên và chung nhất của những người dân nhập cư dù đến từ quốc gia nào khi chấp nhận chọn Na Uy làm tổ quốc thứ hai. Phải chăng đó là một trong những giá trị lớn nhất mà quốc gia này đem đến cho nhân dân của họ khi tạo ra một môi trường xã hội mà ở đó người ta có thể quên đi nhiều nỗi lo âu, sợ hãi? Nhìn khuôn mặt, dáng dấp người Na Uy trong đời sống hàng ngày cũng thấy toát lên vẻ bình an, không lo lắng không vội vàng, mà thật sự thì có gì phải lo lắng, căng thẳng? Từ khi còn là một đứa trẻ cắp sách đến trường, học sinh ở Na Uy hầu như không phải chịu áp lực về việc học hành – không có sự xếp loại hay phân biệt học sinh giỏi với học sinh kém, xã hội Na Uy quan niệm nên tạo cho trẻ em một tâm lý nhẹ nhàng, thoải mái, mọi đứa trẻ đều như nhau; nếu có một đứa trẻ học kém thì nhà trường sẽ cử giáo viên kèm cặp riêng những môn nào mà em bị kém chứ không bắt em học sinh đó phải học một lớp khác; thầy cô hay nhà trường không bị áp lực vể thành tích để ép các em phải học; bố mẹ các em cũng không ép…Trong suốt cuộc đời một người Na Uy họ cũng không phải lo lắng nhiều hay chịu nhiều sức ép từ xã hội. Gần như mọi thứ đều được nhà nước lo toan, đảm bảo; đi học thì được miễn phí cho đến hết trung học, nếu học tiếp đại học thì vay tiền ngân hàng sau này đi làm trả, khi có công ăn việc làm thì coi như khỏi phải lo cho tuổi già hay lúc đau yếu, còn nếu không có việc thì vẫn có trợ cấp thất nghiệp với thời hạn khá là… ưu ái; nếu lập gia đình và có con thì đứa con đó mới sinh ra đã được nhà nước phụ một tay chu cấp v.v… Môi trường sạch, thực phẩm sạch, tỉ lệ tai nạn giao thông thấp (chủ yếu vì dân số ít nên xe cộ không phải chen lấn nhau gây ra tai nạn!), bệnh tật cũng ít (ngoài lý do môi trường và thực phẩm sạch vừa nói trên, ở Na Uy các bác sĩ rất hiếm khi cho bệnh nhân sử dụng thuốc nặng đô, thuốc kháng sinh lại càng khó khăn, còn nếu mua thuốc ở các hiệu thuốc thì luôn luôn phải có toa bác sĩ nên có lẽ đó cũng là một trong những lý do giúp người Na Uy ít bệnh). Xã hội ổn định. Người dân cũng không có những nỗi lo về việc không được nói điều này không được viết điều kia chỉ trích chính quyền hay không được phép tụ tập, lập đảng v.v… Sống trong một xã hội như vậy nên nhìn chung tính cách của người Na Uy hiền lành, lương thiện, tử tế, không phức tạp. Xã hội thế nào con người thế ấy (hay ngược lại – như con gà và quả trứng chẳng biết cái nào có trước vậy!).

Có một vài mẩu chuyện nhỏ mà tôi sẽ kể ra đây như những ví dụ về tính cách lương thiện, tử tế của người Na Uy. Con gái tôi mua một chiếc điện thoại di động cũng khá đắt tiền, nhưng một thời gian sau chỗ cắm để sạc điện trên chiếc điện thoại bị lờn, không sạc được. Vì vẫn đang trong thời hạn bảo hành nên con bé mang ra cửa hàng. Đầu tiên người ta đổi cho cháu một cái giống hệt để xài tạm trong thời gian họ giữ máy để sửa chữa. Đúng hẹn khi con bé đến, họ thông báo không sửa được và đền cho cháu một cái y hệt nhưng mới toanh. Một vài lần khác cũng tương tự như vậy với những món hàng khác mà tôi đã mua về, đã xé bao ra dùng thử không được, mang ra họ vẫn trả lại đủ tiền.

Hay một lần hai mẹ con tôi mua vé xe bus từ Oslo về Kristiansand (giá vé khoảng gần 60 USD/người) , chẳng biết loay hoay thế nào rớt mất hai cái vé, khi bước lên xe trình bày với người tài xế, ông ấy liền bảo “Tôi tin chị. Chị cứ lên xe đi, không sao”.

Tính tôi vốn lơ đãng, ra đường không quên cái này thì cũng quên cái kia. Có lần tôi mua một mớ mỹ phẩm, bỏ quên luôn tại cửa hàng, ngày hôm sau ra họ vẫn còn giữ đó, nhưng như thế vẫn chưa đủ, tôi xách cái túi vừa lấy lại đi sang một cửa hàng khác mua một cái áo và lại… bỏ quên ở đây, đi một lúc sực nhớ quay lui, lại lấy lại lần thứ hai!

Và còn rất nhiều những ví dụ khác.

Một cô giáo dạy tiếng Anh mà tôi quen, vốn là người Malaysia lấy chồng Na Uy cũng kể cho tôi nghe nhiều chuyện mà chị đã từng lấy làm ngạc nhiên dù sống ở Na Uy nhiều năm. Như một lần con gái chị về nhà và kể con nhường hết phần ăn trưa cho một bạn người nước ngoài học cùng lớp vì bạn không mang theo thức ăn, chị hỏi nhường hết vậy con lấy gì ăn, cô bé hồn nhiên trả lời: nhưng cô giáo dạy vậy mà, cô bảo nên nhường cho bạn khi bạn không có.

Ngay từ nhỏ, người Na Uy đã được dạy những điều tử tế, dạy sống lương thiện, dạy trước tiên hãy tin vào người khác nếu muốn người khác tin mình, cũng như không phân biệt, kỳ thị chủng tộc, màu da… nên trong cuộc đời người dân Na Uy nói chung đã sống như vậy.

Nói như vậy không có nghĩa xã hội Na Uy là một xã hội hoàn hảo. Cái gì cũng có tính hai mặt của nó. Xã hội Na Uy, có thể gọi là một mô hình xã hội chủ nghĩa khá lý tưởng dù theo chế độ quân chủ lập hiến, cũng có những điểm mạnh và điểm yếu. “Tính chất xã hội chủ nghĩa” coi trọng sự bình đẳng đôi khi lại là một sự cào bằng, làm giảm đi nỗ lực cạnh tranh trong mỗi con người. Thực vậy, người Na Uy có thói quen chấp nhận, bằng lòng với những gì mình có, ít khi muốn đua tranh với người khác hay vươn lên hơn nữa. Khác hẳn với xã hội Mỹ nơi con người phải “cày như trâu”, phải cạnh tranh không mệt mỏi, phải vươn lên không ngừng để có một ngày mai tốt hơn ngày hôm qua, hôm nay và để không bị đào thải. Chính điều đó tạo ra sự tiến bộ không ngừng của xã hội Mỹ, còn các xã hội Bắc Âu nói chung trong đó có Na Uy bị cái sức ỳ vì không có tính cạnh tranh dữ dội như vậy. Và khi đời sống hiền lành, bằng phẳng quá thì con người cũng đơn giản. Không biết có chủ quan, phiến diện không nhưng đôi khi tôi cứ nghĩ, nếu là người làm văn hóa nghệ thuật ở Na Uy thì không biết tôi sẽ sáng tác về cái gì (!). Rất là khó bởi trong cuộc sống có xung đột, mâu thuẫn xã hội gì nhiều đâu, chỉ trừ sáng tác về nỗi cô đơn của con người hay tình yêu chẳng hạn, vốn là những đề tài muôn thuở!

Nhìn chung, với một người thích cuộc sống an phận, không lo nghĩ nhiều thì Na Uy là một thiên đường, còn những ai thích một cuộc sống nhiếu tính cạnh tranh, nhiều cơ hội khác nhau… thì chưa chắc đã cảm thấy phù hợp với Na Uy.

Nhưng dẫu sao, một xã hội mà điều tốt, sự tử tế, lương thiện là phổ biến còn cái ác, sự không tử tế là chuyện hiếm hoi, một xã hội mà con người tin nhau, và tin vào điều tử tế, đó là một xã hội lành mạnh, là giấc mơ mà tôi đang mơ cho Việt Nam – đất nước tôi, dân tộc tôi.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

MỘT GÓC QUÊ HƯƠNG MỘT THỜI KHÓI LỬA

Thái Quốc Mưu

Làng quê tôi, một con giồng nằm vắt ngang những cánh đồng lúa xanh ngát bạt ngàn. Một đầu giáp mí dòng Hàm Luông cuồng cuộc sóng trào ra biển. Đầu bên kia chạm ngang hông dòng Cổ Chiêng vun đắp phù sa ngọt ngào.

Tôi rời làng quê khi chưa tròn bảy tuổi. Lớn lên ở thị xã Mỹ tho bốn mùa cây trái xanh tươi.

Anh em tôi trưởng thành trên quê hương đầy khói lửa. Hết giặc Pháp xâm lăng đến cuộc chiến tranh dân tộc tương tàn. Gia đình tôi lại dời về Chợ Lớn.

Cha tôi vốn dòng tộc Hán, Mẹ tôi cháu con dòng LạcViệt. Anh em chúng tôi mang trong người hai dòng máu Việt Hoa và nghề thương mại như là một thứ gène di truyền trong huyết thống. Ngoại trừ ông Chánh Đạo – Cha của chúng tôi, xé lẻ, viết cho tờ Hoa văn Á Châu Nhật Báo.

Vốn mang trong người năm mươi phần trăm dòng máu Trung Hoa và nghề thương mại thắm nhuần trong huyết quản từ thuở chúng tôi còn là cái phôi trong lòng Mẹ nhưng, do ảnh hưởng của phụ thân, anh em chúng tôi đều muốn tiến thân bằng con đường học vấn.

Chúng tôi lớn lên trong sự dạy dỗ nghiêm khắc của Cha chúng tôi. Mỗi khi anh em chúng tôi lỡ vi phạm điều gì ông ngăn cấm là y như rằng phải chịu những trận đòn chí tử. Tuy sự dạy dỗ có phần nghiêm khắc, nhưng chính nhờ những trận đòn hằn sâu mông đít mà anh em tôi - mười hai đứa, chẳng đứa nào bị sa ngã vào con đường ăn chơi, hư hỏng.

Từ người anh thứ Sáu trở lên đều làu làu Minh Tâm Bửu Giám, Tứ Thư, Ngũ Kinh,... Và ngày hai buổi chúng tôi đều đặn đến dưới hai mái trường Việt – Hoa.

Đến khi tôi trưởng thành, vì thất bại trong vài lần làm ăn, gia đình chúng tôi có phần sa sút! Cha má tôi quyết định đầu tư trí thức cho anh chị tôi, như ý định của ông bà: “lo xong cho mấy đứa lớn, để khi thành đạt tụi nó tiếp sức mình lo cho mấy đứa nhỏ.”

Thế là, từ tôi trở xuống các em tôi, bị tạm thời đình chỉ cắp sách đến trường Hoa.

Các nah chị tôi học hành rất chăm chỉ, lần lượt đỗ đạt, thành danh. Mấy năm sau đó, ở bệnh viện An Bình xuất hiện một bác sĩ chuyên khoa Nhi Đồng, hai trường Hoa ngữ Sùng Chính, Việt Tú có ông hiệu trưởng và một giáo sư mới. Trong giới luật sư tập sự có thêm hai người. Tất cả đều là anh chị của tôi.

Không như tôi, vừa kém thông minh, vừa biếng nhác, nên việc học hành chẳng ra hồn gì cả. Các em tôi dường như giành hết tinh anh của phụ thân tôi, đứa nào cũng thông minh, cần mẫn.

Năm 1969, khi thằng em Uùt (nó còn một đứa em gái Út) tôi vừa lấy cái BAC II thì chiến tranh bùng lên dữ dội. Lệnh Tổng Động Viên ra đời. Các anh tôi đã lớn tuổi, không bị luật nầy chi phối. Trừ đứa em gái Út, tôi với năm thằng còn lại bị “dính chấu”.

Năm ấy, năm thằng em tôi gần như cùng lúc bị đẩy vào quân trường. Hai năm sau, gia đình tôi có năm chàng sĩ quan bất đắc dĩ.

Tôi nhớ rất rõ, ngày các anh chị tôi tốt nghiệp đại học Cha tôi rất vui, trên tờ Á Châu Nhật Báo dẫy đầy những khung chúc mừng. Độc giả người Hoa của tờ báo tầm cỡ nầy được đọc những bài viết, bài thơ của văn thi sĩ Chánh Đạo hay hơn, sinh động hơn. Má tôi, trẻ hẳn ra, đôi mắt bà long lanh, ngời sáng hơn.

Đến khi nhà tôi chưa đầy hai năm có đến năm “ông quan” mặt còn non choẹt, tôi thường thấy đôi mắt của Cha tôi đăm chiêu nhiều hơn, ánh mắt của má tôi dường như lúc nào cũng có áng mây mù bao phủ và tiếng thở dài đều dặn hơn. Bà gầy trông rõ nét!

Thuở ấy, Cha chúng tôi đã ngoài bảy chục. Chẳng biết do chúng tôi đã trưởng thành hay do “người già thay đổi tính nết”, hay do giác quan thứ sáu báo hiệu điều gì đó nên sự khắc nghiệt về giáo huấn ở Cha tôi có phần lơi lỏng, cởi mở hơn. Khi nói chuyện với chung tôi ông ban tặng những nụ cười nhiều hơn nét lạnh lùng nghiêm nghị cố hữu.

Phần tôi, có lẽ do số trời đã định, bản tính lè phè, chẳng có số làm quan. Tự biết yếu điển mình, tôi chơi bài “chuồn” với luật chiến tranh. Tới đâu thì tới. Bí quá, đi lình là cùng.

Chẳng những tôi trốn luật Tổng Động Viên mà trốn cả Cha tôi về vấn đề nầy. Và, sự trốn tránh của tôi rất được sự đồng tình của má tôi, tuy nhiên trong lòng Má tôi luôn lo âu hồi hộp.

Mỗi khi có cảnh sát xét nhà, mười lần như một, lồng ngực Má tôi muốn nổ banh ra. Khi tôi ra đường, Má bảo tôi phải đem tiền theo kha khá để nếu không may bị xét hỏi thì có “tiền trà nước” với mấy thầy cảnh sát hầu được làm ngơ trở về.

Ở đời, dầu chuyện long trời lở đất đến mức nào chăng nữa, lâu dần cũng quen. Vả lại, mỗi khi “gặp chuyện”, nhờ có tiền “chung” cho các thầy đứng đường xét hỏi, nên tôi thấy mình không bị gò bó như những người “đồng bệnh”, nhưng nghèo khó hơn tôi.

Trong một dịp vui chơi, tình cờ tôi gặp, quen với cô con gái rượu của một vị “quan đại thần”. Ông ta là nhân vật thứ ba của một Bộ. Ban đầu sơ giao, lâu dần thân thiết, mãi đến một hôm nàng báo tin: “Sao tháng nầy em chẳng thấy gì cả!”

Trái bom nếu nổ ra, chẳng khác nào hũ mắm treo đầu giường. Hiểu được điều đó, vị quan đại thần bảo con gái cưng, dẫn tôi về cho ông xem mặt. Là kẻ “gây án” lại là lần đầu tiên bước vào ngôi biệt thự sang trọng của ông lớn đương thời. Vừa bước qua cánh cổng trước nhà, hai đầu gối tôi run bần bật, dường như đứng không muốn vững, chúng chực chờ khuỵu xuống bất cứ lúc nào. Thấy vậy, người đẹp đến bên tôi bảo nhỏ: “Anh đừng sợ, nếu anh có bề gì em tự vận chết liền!” Lời nói bảo chứng của nàng như là một thứ đan được cực kỳ hiếm hoi. Tôi yên tâm tiến bước.

Tôi bước vào nhà, thấy quan ngài áo quần chỉnh tề như sắp sửa ra đi, đang ngồi trên chiếc ghế sofa ba chỗ bằng mây. Đồi diện ông to là bà lớn. Trong khi tôi cúi đầu chào, thì người đẹp của tôi nói:

- Ảnh đến nè Papa!

Vị quan đưa ánh mắt sáng rực nhìn thẳng vào tôi, xong gật gật mái đầu, khẽ bảo:

- Ngồi xuống đi cháu!

Tôi còn đang luýnh quýnh, chần chừ chưa biết phải như thế nào. Ngay lập tức nàng ấn tôi ngồi xuống rồi nói:

- Ngồi xuống đi! Papa bao anh ngồi kìa!

Người tôi vừa chạm xuống chiếc ghế êm đềm, nàng bèn ghé mông tựa vào tay ghế, một tay choàng sau ngang vai tôi nghiêng người chống tay vào tay ghế bên kia. Phu nhân vị đại quan cũng gật gật đầu tủm tỉm cười. Tôi liếc nhìn, thấy bà tuyệt đẹp, màu da quý phái trắng ngần. Sau, vào thời đó, tôi chưa bao giờ thấy một mệnh phụ phu nhân nào đẹp như thế! Nhờ vậy, lòng tôi giảm bớt chín chục phần trăm lo lắng.

Khi tôi ra về, được tài xế lấy công xa bốn bánh đưa đến tận nhà. Lần đầu tiên trong cuộc đời, ngồi trên chiếc công xa du lịch của quan lớn tôi cảm thấy như mình đang bay bổng trên chín tầng mây.

Bữa cơm tối hôm ấy, tôi kể hết những gì vị đại quan nhắn gởi đến Cha Má tôi. Nghe tới đâu mái đầu trắng phau của Cha tôi gật gù tới đó. Cuối cùng ông nói:

- Tử vi của con, mệnh tại cung quan lộc. Mà mầy thì làm quan cái nỗi gì, cho nên ý Trời đổi thành thân cận đại thần là như vậy đó!

Nói xong, ông tâm đắc, cất giọng cười to:

- Số Trời! Đúng là số trời! Ha! Ha! Haaaa!

Sau ngày cưới, vì vợ tôi vốn là trâm anh tiểu thư, chẳng lẽ về làm dâu nhà dân giả lao động? Lại càng không thể “anh nhà anh, em nhà em”. Cho nên, tôi phải giả từ can phố ba tầng bên hông Bình Tây, từ giã hết tất cả những kỷ niệm êm đềm, ấm áp của mình để dời tên tuổi đến nhập tên vào sổ gia đình trong ngôi biệt thự. Tôi không ngờ mình đi ở rẻ. Và, khúc ngoặc đời tôi từ đó!

Thế là, từ một thằng người học hành dở dở ương ương, bản chất lè phè, trốn lính, tôi phủi chân cái rụp nhảy tót lên chỗ mà nhiều anh chàng thanh niên, nhiều vị công tử của những ông quan lớn khác chỉ sống trong mơ ước.

Mỗi lần tôi muốn làm điều gì thì có gia nhân vâng vâng, dạ dạ. Một điều cậu Hai, hai điều cậu Hai. Khi vợ chồng tôi muốn đi đâu chi cần bảo chú Mười tài xế một tiếng, là những cánh cửa của chiếc công xa du lịch rộng mở.

Thời thế đổi thay, tính tình con người cũng thay đổi. Mỗi lần ngồi trên chiếc công xa của ông lớn, thằng tôi hách ra phết, mỗi khi xe chạy ngang qua những ngả đường có các thầy Cảnh sát đứng xét bắt quân dịch – đó là những nơi mà trước kia tôi rất kiêng kỵ léng phéng đến – tự dưng cái bản mặt của tôi vác hất, nét kênh kênh phách lối trông mất dại làm sao! Khi đó trong tôi như thách thức, thầm bảo: “Có ngon thì chận xe lại xét giấy tờ ông đi! Sao đứng đó nhìn? Sợ ông rồi à?... Tôi quên bẵng lúc trước, khi cùng đường con người tôi co rún lại, vậy mà đến khi có chút hơi “cứt cọp” liền lên mặt, hợm mình. Cái khốn nạn của đời là thế và tôi cũng là một trong những kẻ khốn nạn như thế!

Tôi sống bên nhà vợ rất yên ấm, vì vợ tôi là con trưởng, rất được ông bà lớn tâng tiu chiều chuộng.

Chiều chiều, nếu không cùng vợ tôi rong xe trên đường phố, tôi lấy chiếc xe đạp thể thao chạy rong rong cho thư giản... Đến một hôm...

Thấy cảnh sát hách dịch:

- Đưa giấy tờ xem!

- Giấy tờ gì?

Thầy cảnh sát nói như gằn giọng:

- Giấy tùy thân.

Tôi đáp nhát gừng:

- Quên đem theo!

Ông ta nói như hét:

- Dẫn xe vô lề. Lên xe!

Tôi nhìn theo cánh tay của thầy Cảnh sát, thấy trên xe có năm bảy thanh niên ngồi, vẻ mặt buồn thiu. Tôi hiểu ngay họ vừa bị chận xét bắt... đưa đi nhập ngũ. Tuy trong người không có tờ giấy lộn, nhưng ỷ thế mình con rể quan to. Tôi bướng bỉnh:

- Không lên! Mầy biết tao là ai không?

Thầy Cảnh sát nghiến răng:

- Đụ mẹ! Trốn lính mà còn cương hả? Cái mửng nầy bọn tao đã gặp thường rồi...

Nói xong, thầy Cảnh sát đưa tay làm hiệu, hai thầy đứng bên kia đường ào tới, xô tôi chúi xuống xe đạp, rồi ba thầy vừa cặp nách vừa khiêng tôi đẩy lên xe.

Biết mình gặp nạn, ngồi trên xe hai cánh tai tôi tự nhiên quặp xuống, tôi thu người ngồi co ro, mặt xanh chàm như gà nuốt dây thun. Vẻ hách dịch, phách lối khi ngồi trên chiếc công xa du lịch biến mất tự lúc nào...

Cuộc hành quân bắt quân dịch, cuối cùng cũng chấm dứt. Trên xe bấy giờ có bốn, năm chục người. Họ đều nằm trong lứa tuổi bị động viên.

Chiều hôm ấy, bọn thanh niên bất hạnh trong chúng tôi được chở đến Trung Tâm 3 Nhập Ngũ. Trong bữa ăn tối, lợi dụng cơ hội nầy và với lời hứa sẽ tặng hậu hĩ một số tiền, một ông Trung sĩ trẻ đồng ý giúp nhắn tin cho vợ tôi.

Sáng hôm sau, chúng tôi, đông lắm bắt đầu làm thủ tục nhập ngũ. Tại đây, tôi phát hiện ra điều kỳ quặc – Họ bắt chúng tôi làm đơn xin đi lính. Mẹ kiếp! Thật là lếu láo. Chúng tôi trốn lính thấy mẹ chớ có tự nguyện đi lính đâu mà bắt chúng tôi phải làm đơn xin đi lính? Sau nầy, cái ngu của tôi được khai sáng ra. “Làm đơn xin đi lính”, cũng chỉ là một sự cưỡng bách mà thôi.

Khi sang Mỹ, tôi nghe một vị “mất quan” khoe rằng, “tôi là người có lý tưởng vững chắc, có tinh thần chống Cộng đầy mình, được đào tạo chính quy, tôi vào đại học... (một trong các đại học nhà binh) phải làm đơn, tôi...” Mẹ! đời sao lắm thằng lếu láo thế? Tôi là thằng trốn lính chí tử, bị bắt, bị ép buộc đi lính cũng phải làm đơn kia mà! Khi ấy, giả như tôi cắc cớ hỏi ông ta, “nếu không bị luật Tổng Động Viên chi phối, khi tốt nghiệp Tú Tài toàn phần, ông chọn các viện Đại Học dân sự hay chọn nghề lính?” Đáng tiếc, tôi đã quên, không hỏi điều ấy!

Bữa cơm trưa hôm ấy, bọn tân binh chúng tôi đứng sắp hàng quanh những bàn ăn chuẩn bị nghi thức trước khi ăn, thì...

Một ông thượng sĩ già hộc tốc chạy đến, chưa kịp đến nơi, ông ta vữa thở vừa hét trướng lên:

- Diệp Sĩ Hùng! Ai là Diệp Sĩ Hùng?

Tôi tách khỏi bàn ăn, rụt chân đứng nghiêm hét:

- Có mặt!

Người Thượng sĩ già tiến đến bên tôi, thẳng người, chào theo quân cách:

- Chào “xếp”, mời cheff trở lại phòng thu dọn đồ đạc ra về.

Tôi khoác tay đáp:

- Không cần, tôi chẳng có gì để thu dọn.

- Trả quân trang?

- Ông trả giùm tôi! – Tôi nói như ra lệnh.

Vừa theo chân người Thượng sĩ già, vừa quay đầu nhìn lại những chàng thanh niên cùng cảnh ngộ. Tôi thấy họ nhìn tôi bằng những cặp mắt cả nể, thèm thuồng. Tôi nhìn họ bằng vẻ mặt ta đây, kênh kiệu. Khốn nạn thật!

Đến văn phòng, người sĩ quan trẻ đang ngồi làm việc, thấy tôi anh ta vội vàng đứng lên niềm nở bắt tay, rồi anh ta trao tôi những giấy tờ cần thiết. Sau gió, nói mấy lời xã giao, xong anh ta rời khỏi bàn tiễn chân tôi ra tận cửa. Ngoài sân, chú Mười tài xế chẳng biết đến từ bao giờ, vừa thoáng thấy tôi vội vàng nhảy xuống mở cửa xe. Bên trong, vợ tôi đang ngồi ở ghế sau. Tôi vừa yên vị, vợ tôi cầm tay tôi xuýt xoa thương cảm. Tôi ôm đầu nàng ép chặt vào ngực mình xong, hôn mạnh một phát, nói đùa:

- Anh tưởng, kỳ nầy em có dịp làm vợ “quan” rồi.

Vợ tôi cười, đáp:

- Làm vợ quan bé sao bằng làm con quan lớn? Em thích làm con quan lớn hơn!

Câu nói vô tình của vợ tôi, khiến tôi chợt nghĩ đến sự việc vừa qua. Từ khi tôi bị các thầy Cảnh sát bắt lính, cặp nách, khiêng đẩy lên xe đến khi vào làm hồ sơ nhập ngũ, thằng người tôi chẳng khách gì con mèo ướt. Các quan ngài làm việc ở Trung Tâm 3 không một chút lòng thương cảm. Họ lớn tiến quát tháo, nạt nộ. Đến khi ông già vợ tôi gọi phòng và cho người đến đón tôi thì cách đối xử của họ với tôi hoàn toàn khác biệt. Tôi rút ra kết luận, ở đời, chẳng những người ta sợ cọp mà còn sợ cả cứt cọp. Tôi lại nghĩ, nếu mình không phải là cứt cọp thì giờ nầy, chẳng khác gì hàng hàng lớp lớp thanh niên bất hạnh từ khắp nẻo đường đất nước bị bắt lính tống vào đây. Đặc biệt, những người tuổi trẻ đang ngồi quanh những dãy bàn ăn. Tương lai họ sẽ đi về đâu?

Mấy năm sau, gia đình tôi lại làm ăn phất lên, trong một mùa Xuân, nhà tôi tràn ngập hoa mai. Những chậu mai thực vật được kẻ ăn người ở trong nhà o bế, cẩn thận đặt vào những nơi thích hợp nhất. Những đóa hoa mai bằng kim loại vàng, trắng ngời sáng lấp lánh trên cổ áo các em tôi.

Nhưng “ông quan” nầy, không ai biết rõ chúng bằng gia đình tôi. Tụi nó là hiện thân của những chàng thành niên bất hạnh, sinh ra, lớn lên trong thời chiến và bị cướp mất tất cả mọi hoài bảo. Chúng nó, bị cưỡng bách làm những điều chúng nó không bao giờ muốn. Chúng nó chẳng có lý tưởng lý tiết quốc gia hay tinh thần chống Cộng gì cả! Mộng của tụi nó là tiếp tục học để trở thành những bác sĩ, kỹ sư, nhà giáo,... Nhưng người ta đã áp đặt lên đầu và bắt buộc chúng nó làm quan, đày ra chiến trường biến chúng nó thành những tên đồ tể, những công cụ giết người và để bị người giết. Sự gian lao, nguy hiểm mà chúng nó cùng những người thanh niên thời đó phải gánh chịu chỉ để cho một thiểu số nhưng đầy quyền lực buôn lậu, bán xì ke, ma túy, tham ô, tham nhũng, lộng quyền,... cho vợ con của chúng được tha hồ đi lu lịch đó đây, chơi bạc bài, trách táng,...

Trong bữa ăn tối cuối năm, tôi nhìn bông mai trắng trên cổ áo thằng em kế tôi, hỏi đùa:

- Nhân! Bây giờ có lẽ mầy đã mang lý tưởng đầy mình?

Nó trả lời giọng trầm buồn:

- Lý tưởng gì anh! Thời nầy thằng nào nói lý tưởng, thằng đó là chúa xạo! Nó dối người và dối chính bản thân nó. Thử hỏi, nếu nó không bị chi phối bởi luật Tổng Động Viên thì họ có dám lăn mình vào chỗ chết hay không? Trong đời lính, không có chỗ dựa bề thế, mồ côi như tụi em mới chẳng được làm việc ở văn phòng, phải chịu đi tác chiến mà thôi. Ai mà chẳng sợ chết? Anh nghĩ coi, thằng nào đang ở ngoài đơn vị tác chiến được rút về làm ở những nơi ngày ngày đi về hai buổi, tối nằm ôm đít vợ mà không mừng thấy mẹ hả anh?

Em nói thật, khi hành quân, ra chiến trận nếu mình không giết đối phương thì sẽ bị họ giết. Do đó, bằng mọi mưu lược mình phải diệt họ, giết càng nhiều càng tốt! Nếu không, mình chết làm sao? Nhưng khi đứng trước hàng quân, trước mọi người em phải “giương cao lý tưởng” của mình. Nếu không, sẽ bị trù dập làm sao cất đầu lên được. Phét riết rồi cũng quen, đi đâu, ở chỗ nào cũng đem lý tưởng ra hù thiên hạ.

Nghe cách nó nói, Cha tôi làm thinh. Má tôi khẽ lắc đầu ngao ngán!

Năm đó, kể từ khi các em tôi bị bắt buộc vào quân trường học làm quan rồi ra làm quan, nhà chúng tôi mới có một mùa Xuân đoàn tụ, không khí gia đình ấm cúng, vui vẻ.

Chiều hôm ấy, Má tôi bảo tôi lên sân thượng. Bà nghẹn ngào nói:

- Má không ngờ, người ta đào tạo, nhồi nhét vào đầu các em con như vậy đó! Thật là khủng khiếp, thật là kinh khủng! Toàn là sự lừa bịp dối trá!

Nói xong, Mà tôi ngồi phệt xuống ghế, ôm đầu khóc nức nở. Tôi ngồi xuống kế bên, ôm vai má tôi an ủi:

- Má đừng buồn! Thời chiến tranh gia đình ai cũng vậy! Đâu chỉ gia đình mình! Con nghĩ, gia đình mình các em con được như vậy cũng là phúc lắm rồi!

Má tôi gạt nhẹ tay tôi ra, Bà nói:

- Phúc gì con? Các em con nhờ có chút vốn liếng chữ nghĩa nên được làm quan nầy quan nọ. Còn những người khác thì sao? Mấy ai may mắn như tụi nó? Những kẻ thống trị chỉ là một lũ độc ác. Rất độc ác! Chúng chỉ tranh giành và nghĩ đến quyền lợi riêng tư, chớ yêu nước yêu non gì con...

Tôi lặng người, đứng lên nhìn hai bờ vai Má tôi rung rung theo nhịp nấc. Tôi chợt hiểu ra, Má tôi chẳng những lo nghĩ đến sự nguy hiểm đang đe dọa các em tôi mà còn nghĩ đến sự gian nan nguy hiểm của những người trai trẻ khác. Ôi lòng những bà Mẹ Việt Nam rộng lớn, bao dầu cả năm đại dương kết lại cũng không bằng!

Sau ba ngày tết,các em tôi chia tay gia đình trở ra mặt trận. Thằng Nhân (thứ Tám), em kế tôi, trở về đơn vị Biệt Động Quân ở tận Pléku; thằng thứ Chín, đại úy Chỉ Huy Phó Pháo Binh Diện Địa trở lại tiểu khu Bạc Liêu; thằng thứ Mười, Trung úy sĩ quan truyền tin ở Bộ Tổng Tham Mưu; thằng thứ Mười Một, Trung úy Địa Phương Quân vể tiểu khu Biên Hòa; thằng thứ Mười Hai, Trung úy Đại Đội trưởng trinh sát Sư đoàn 7 Bộ Binh vội vàng trở lại căn cứ Đồng Tâm.

Trong nhà chỉ còn lại Cha, Má chúng tôi và đứa em gái Út – Con nhỏ nầy đang học Đại học Sư Phạm. Tối hôm đó, vợ tôi lái xe đến rước, tôi về gia đình ông Nhạc.

Mùa Xuân năm ấy, là mùa Xuân đoàn tụ vui nhất và cũng là mùa Xuân đau đớn nhất của gia đình tôi.

Rằm tháng Giêng năm đó, gia đình tôi nhận được hung tin, thằng em kế tôi, Thiếu Tá Diệp Sĩ Nhân bị tử thương trong trận đáng giáp lá cà với đối phương. Năm ngày sau, thằng em trai Út, Diệp Sĩ Cường mang niềm mơ ước kỹ sư Công Chánh xuống lòng đất. Đâu tháng Hai, gia đình tôi lại nhận thêm được giấy báo Trung Úy Địa Phương Quân, Diệp Sĩ Chí (thằng thứ Mười Hai) trong khi đi trinh sát bị lọt ổ phục kích bị tử vong. Những hung tin đổ ập xuống, tràn đến gia đình tôi như thác lũ, chẳng chút xót thương. Má tôi đã già càng khô héo hơn. Cha tôi đáy mắt càng sâu thêm.

Trong mỗi lễ trang của một đứa em tôi ra đi, anh em chúng nó đều về đủ mặt. Một vài đứa nghiến răng với lời thề quyết chí báo thù. Mấy thằng ở đơn vị bộ binh, truyền tin, pháo binh có ý xin về Biệt Động Quân, Thủy Quân Lục Chiến để có cơ hội diệt địch nhiều hơn.

Cha tôi nói:

- Thù gì mà trả? Thằng Nhân đã nói, ở chiến trường mình không giết đối phương thì đối phương giết mình. Đó là quy luật chiến tranh. Tao với Má tụi bây, chưa đầy một tháng phải khóc ba đước con, như vậy chưa đủ sao? Tụi bây muốn tao với bả phải khóc thêm đứa nào nữa đây? Thời súng đạn, đứa nào ở yên nơi nào thì nên giữ nơi đó!

Ngừng một chút, Cha tôi tiếp:

- Chưa đầy một tháng, mất ba đứa con, tụi bây có biết tao đau đớn dường nào không? Thế mà tao chưa hề nghĩ đến thù hận mà chỉ nghĩ do số Trời. Phải tất cả đều do số Trời!

Tôi tự nghĩ: Số Trời! Đúng không? Nhưng rồi tôi chợt hiểu đó chỉ là cách nghĩ thụ động, một cách chấp nhận để tự an ủi mình, nhưng tốt nhất, hữu hiệu nhất!

Cha tôi trầm giọng, tiếp:

- Tao nhắc lại, đứa nào đã yên thân ở chỗ nào thì cứ ở đó. Các con đừng để tao với má tụi bây phải khóc thêm. Còn nếu muốn trả thù, hãy tìm những kẻ đẩy các con vào chỗ chết mà trả thù. Chính những kẻ đó mới là tội phạm. Những kẻ đó là những tên đẩy người khác vào chỗ chết để bản thân cùng vợ con chúng vui hưởng giàu sang.

Sau khi tôi bị cảnh sát chận đường bắt lính rồi từ Trung Tâm 3 Nhập Ngũ ra về. Một hôm, Me (không có dấu nặng) vợ gọi tôi đến, bảo:

- Papa con bảo Me hỏi con, nếu muốn làm chung Bộ thì ông ấy đưa vô làm. Nếu muốn làm nơi khác Papa con sẽ gởi cho, chớ tình hình bây giờ con không thể nhong nhong như vầy hoài...

Tôi kính cẩn đáp:

- Thưa Me, vợ chồng con cũng có nghĩ đến vấn đề nầy...

Tôi chưa dút lời, vợ tôi chen vào:

- Ảnh nói với con rất thích làm ở Phủ Tổng Ủy Công Vụ. Me nói với Papa nha!.

Khoản hai tháng sau, tôi lọt vào làm ở nơi mình muốn.

Điêu nầy, cho tôi thêm nguyên lý sống: Trong bất cứ thời kỳ nào hay bất cứ dưới chế độ nào, nếu muốn được sống an nhàn, yên ổn... điều tiên quyết phải là “Xê Ô Xê Xê” (CÔCC = viết tắt cụm từ Con Ông cháu Cha), nếu không phải có thề lực đầy mình, không nữa phải có rất nhiều tiền. Nếu những thứ đó đều không có cả thì phải chấp nhận số phận hẩm hiu của những cuộc đời bất hạnh nhất.

Thời đó, anh em chúng tôi hoàn toàn không hề có chút lý tưởng, không hề có tham vọng, dù rất nhỏ nhoi! Tất cả đều bị cưỡng bách và trong trường hợp bất khả kháng. Nhưng sau ngày 30/4/1975, tôi cùng mấy thằng em còn lại một lần nữa bị cưỡng bách phải chấp nhận, phục tùng một mệnh lệnh khác, Tập Trung Cải Tạo. Một lần nữa, Cha Mà chúng tôi nhỏ lệ khóc vì chúng tôi.

Tháng 11/1984, trong khi tôi được “Trả Tự Do”, thì các em tôi vẫn còn “Đền Nợ Máu” ở các nhà tù khác nhau.

Tết năm đó, tôi tìm về nơi chôn nhau cắt rốn.

Sau ba mươi năm xa cách, trở về quê cũ, tôi thật sự bàng hoàng, cảm thấy như mình đang lạc trong lòng hoang mạc. Chẳng nhận ra một người quen. Cảnh vật hoàn toàn khác biệt. Tôi hỏi thăm và cuối cùng cũng tìm được những người muốn tìm, tới được những nơi mình muốn tới.

Đến nơi thứ nhất, ấn tượng đầu tiên trong tôi là mái nhà lợp lá dừa nước, vách phên tồi tàn. Ấn tượng thứ hai là vị chủ nhà. Ông ấy là Hai Căn, người anh con Dì của tôi.

Hai Căn là con đầu của người thứ Hai, còn tôi thứ Bảy, con của người thứ Sáu. Vì thế, anh ấy lớn hơn tôi khoảng trên dưới ba chục tuổi. Nhìn Hai Căn, tôi vô cùng xúc động, cả thân người anh đen như cột nhà cháy, giả như anh là con vật thì cơ thể ấy lóc ra chưa đầy năm ký thịt.

Vốn là đảng viên cộng sản nghỉ hưu, mỗi tháng Hai Căn được lãnh bốn-trăm ngàn đồng hưu liễm. Nhưng sổ hưu anh đã đem cầm bốn trăm ngàn đồng, lấy tiền chạy thuốc cho cháu ngoại của anh. Gần năm qua, anh chưa có tiền chuộc lại.

Trong khi ngồi trò chuyện, tôi hỏi anh:

- Anh theo Cộng sản từ hồi nào?

- Từ sau ngày đồng khởi *

- Sao tự nhiên anh đi theo Cộng sản? Anh thích lý tưởng đó phải không?

Anh Hai Căn sửa lại cách ngồi rồi thở dài, nói:

- Chú mầy cũng biết, tụi tao ít học có biết lý tưởng là cái gì đâu! Đi theo cách mạng chẳng qua là có cơ hội trả thù cho con gái Út của tao.

- Trả thù? Sao lại trả thù?

- Sau ngày đồng khởi, trong một cuộc càn quét ngang đây, con nhỏ Út của tao bị một thằng Chuẩn úy cưỡng hiếp. Tao thưa lên Quận, rồi ở Tỉnh, tuốt lên cả Sàigòn, chẳng chỗ nào thèm giải quyết hết. Bất mãn, đường cùng anh em tao quyết định trả thù! Muốn trả thù chỉ còn cách là đi theo cách mạng. Thế là anh em, con cháu tao gần năm chục người quyết định vào rừng hết. Đi rồi thì có đứa chết, đứa sống. Thằng chết thì yên mồ yên mả, nhưng mối căm thù lại chất thêm lên vai thằng sống. Vì thế tụi tao cứ tiếp tục đi. Đi để tiếp tục trả hận thù...

Nghe anh kể, tôi giật mình. Tôi sống ở Sàigòn, lại là thứ “cưt cọp”, có hơi hám uy quyền, nên tôi không thể nào tưởng tượng nỗi có những trường hợp như thế xảy ra trong đời sống của người dân hiền lành ở nông thôn.

Hành vi tồi bại của tên Chuẩn úy khiến tôi chiêm nghiệm ra điều: “Trong những vườn hoa đẹp, không thể tránh khỏi những con sâu!”

Tôi tự hỏi, điều bất hạnh của gia đình người anh con Dì tôi là một rồi chấm hết hay những chuyện tương tự còn xảy ra vô vàn ở gia đình những người nông dân khác tôi chưa được biết?

Những kẻ như tên Chuẩn úy nào đó, không những làm suy sụp đạo đức, vi phạm pháp luật mà còn đánh phá kỷ cương của một quân đội hùng mạnh nhất nhì châu Á thời bấy giờ. Vậy mà vì sao chúng được bao che? Phải chăng đó cũng là một thứ cứt cọp, cứt beo? Hay là kẻ lắm bạc nhiều tiền và bạc tiền nhà nó đã đốt cháy lương tâm những thằng cấp trên của nó?

Còn tên Chuẩn úy kia, sau khi thỏa mãn dục tính, có biết chăng hắn để lại bao nhiêu căm thù ở lòng người và sự hận thù ấy biết đâu đã nhắm, trút vào thân xác các em tôi khiến chúng ngã gục?

Thời ấy, tôi không biết có bao nhiêu người bị cưỡng bách làm quan như các em tôi? Bao nhiêu người bị bắt lính đày ra trận địa? Và, bao nhiêu người dân nông thôn hiền lành, chân chất như Hai Căn khi bị đẩy vào bước đường cùng đã trở thành đảng viên Cộng sản?

Tôi thật sự đau lòng, thật sự chảy nước mắt vì quê hương khói lửa. Lỗi bởi đâu? Phải chăng do tham vọng của những kẻ đầy quyền uy, thế lực xây dựng uy quyền và làm giàu trên xương máu của người khác?
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Nhã Ca, một xuất hiện rực rỡ của văn học miền Nam,

Du Tử Lê
Nói tới bối cảnh của hai mươi năm văn học, nghệ thuật miền Nam, người ta không thể không ghi nhận sự hiện diện có tính cách khởi công, vỡ đất của những tạp chí văn học. Mặc dù không phải tạp chí nào, xuất hiện trong khoảng thời gian từ phôi thai, tức trước điểm mốc 1960 tới giai đoạn chín mùi, sung mãn sau 1960 cũng đều có những đóng góp tích cực cho nỗ lực thay da, đổi thịt của dòng văn học này.

Tuy thế, người ta vẫn cần ghi lại những diễn đàn văn học chính trong giai đoạn vừa kể. Như tạp chí Sáng Tạo, ra đời năm 1956; Bách Khoa, 1957; Hiện Ðại, đầu năm 1960; Thế Kỷ 20, giữa 1960 và, Văn Nghệ 1961...
Image
Nhã Ca - Tranh NguyễnTrung

Ở hai thời điểm trước và sau 1960, một số người cho rằng, chúng ta cũng không nên gạt bỏ phần đóng góp của hai đài phát thanh chính là Ðài Phát Thanh Quốc Gia, tức Ðài Phát Thanh Saigon, và đài Quân Ðội. Hai cơ quan truyền thông này không chỉ là nỗ lực chính đưa dòng tân nhạc của miền Nam tới với quảng đại quần chúng, mà còn góp phần quảng bá sáng tác thơ văn của một số nhà thơ nhà văn miền Nam nữa.

Ở Ðài Phát Thanh Saigon, ngoài chương trình Tao Ðàn nổi tiếng của cố thi sĩ Ðinh Hùng, những nhà văn, nhà thơ như Mai Thảo, Nguyễn Ðình Toàn, Phan Lạc Phúc, Trần Dạ Từ,... hàng tuần cũng có những chương trình phát thanh nhằm giới thiệu sinh hoạt văn nghệ và, sáng tác mới của bằng hữu.

Tôi gọi giai đoạn đầu từ 1955 tới 1960 là giai đoạn khởi công, vỡ đất mà tiêu biểu là tạp chí Sáng Tạo. Tạp chí cổ suý dòng văn chương mới. Một dòng văn chương chủ trương đoạn tuyệt hẳn dòng văn chương tiền chiến.

Nhưng ngoài những lời lẽ, đi kèm những lên tiếng chung một cách mạnh mẽ, của những thành viên nhóm Sáng Tạo, người đọc vẫn không thấy nhóm này đưa ra những tiêu chí, hay những chuẩn mực để có được sự phân biệt cụ thể giữa “văn chương tiền chiến” và “văn chương hôm nay” (theo cách gọi của nhóm Sáng Tạo).

Nhóm Sáng Tạo không vạch rõ đâu là đặc tính của dòng nền văn chương cũ và, đâu là đặc tính của dòng văn chương mới.

Về văn xuôi, ngoài một Mai Thảo làm mới hình thức câu văn, bằng chủ tâm không đặt nặng nhu cầu tuân thủ văn phạm như vai trò chủ từ, động từ, bổ túc từ một mệnh đề, mà ông lại chú trọng tới phần hình ảnh, sử dụng nhiều tính từ để tạo làm thành một câu văn óng ả, đối xứng, nhịp nhàng... Nó có thể chảy dài lướt thướt hay ngắn ngủn. Cách viết của ông, sớm được một số người trẻ bắt chước.

Trong khi nhà văn Doãn Quốc Sỹ, một trụ cột khác của nhóm Sáng Tạo vẫn trung thành với lối viết cũ. Truyện của ông vẫn được xây dựng trên những yếu tố căn bản như cốt truyện, tâm lý nhân vật. Thí dụ truyện dài “Dòng Sông Ðịnh Mệnh.”

Người thực sự bước cả hai chân vào thế giới văn chương mới lại là họa sĩ DuyThanh với những truyện ngắn của ông. Mặc dù nỗ lực của ông không được dư luận thời đó chú ý đúng mức.

Về thơ, ngoài những bài thơ tự do của Thanh Tâm Tuyền, những tác giả khác vẫn tiếp tục dòng thơ tiền chiến hiểu theo nghĩa vẫn áp dụng âm luật một cách chặt chẽ, vững chắc cho những bài thơ bảy, tám hay, năm chữ của họ. Ðiển hình như đa số thơ của Tô Thùy Yên.

Ngay cả những bài thơ lục bát của Cung Trầm Tưởng, từng gây xôn xao văn giới một thời, khi ông đem nhiều hình ảnh đậm tính chất tây phương vào thơ. Nhưng lục bát Cung Trầm Tưởng vẫn tạo dựng trên nhịp chẵn hay nhịp đều và, căn bản là khai triển, đi nốt con đường lục bát do Huy Cận, Hồ Dzếnh khai phá từ thập 1940.

Ðó là khuynh hướng đoạn tuyệt loại lục bát được dùng như một phương tiện kể chuyện dễ dàng nhất. Hoặc hình thức chuyển tải tâm sự riêng của tác giả, dễ tìm được sự đồng cảm nơi người đọc.

Lục bát thời Huy Cận, Hồ Dzếnh là loại lục bất tiêu trừ chủ thể “tôi.” Chí ít cũng đẩy lui chủ thể “tôi” xuống hàng thứ yếu - Ðể tự thân hình ảnh, ngôn ngữ, không gian của bài thơ chiếm giữ ngôi vị hàng đầu. Tự thân bài thơ là xương sống, là máu huyết, là sức sống rực rỡ, chói lòa của chính nó.

Sự xuất hiện của lục bát Cung Trầm Tưởng trên Sáng Tạo, từng được cố nhà văn Mai Thảo gọi một cách thân yêu là “Bà Huyện Thanh Quan... Mới”!

Chưa một lần tôi hỏi tác giả “Ðêm Giã Từ Hà Nội” nguyên nhân sâu xa của ví von này. Nhưng hiển nhiên, theo tôi, khó có thể có một biểu lộ nào khác về lòng yêu mến lục bát Cung Trầm Tưởng nồng nàn hơn thế.

Tới đây, tôi cũng thấy cần ghi lại một sự kiện mang tính văn học miền Nam, 20 năm. Ðó là sự xuất hiện của dòng thơ Nguyên Sa, từ đầu mùa Sáng Tạo. Tiếc rằng, sự cộng tác của tác giả này, với Sáng Tạo không được dài lâu vì sự ngộ nhận hay xung khắc giữa Nguyên Sa và Thanh Tâm Tuyền. (Tương lai, có thể tôi sẽ có một bài viết riêng về ngộ nhận đáng tiếc giữa hai nhà thơ tên tuổi đó.)

Ngay tự những số đầu tiên của Sáng Tạo, thơ Nguyên Sa dù là thơ vần điệu, thơ tự do hay, thơ xuôi, đã như cơn địa chấn, có sức quyến rũ dữ dội, đẩy xô những người làm thơ đang/còn ngập ngừng, e ngại trước phong trào thơ Tự Do, lao mình vào phong trào thơ tự do với niềm tin và, lòng hăm hở phơi phới.

Thí dụ “Tiễn Biệt” một trong những bài thơ của Nguyên Sa, in trong Sáng Tạo, có những câu như:

“...Sao người không đi vào không gian trong - Bức tường vô hình nên bức tường dầy mênh mông - Và sao lòng tôi không là vô tận - Cho gặp gỡ những đường tàu đi song song...” (1)

Hay bài “Paris,” hình dung những phản ứng của tác giả, sau khi rời bỏ nơi chốn này. Ông viết:

“...và có lẽ tôi sẽ kể chuyện Paris - để khói thuốc xám trên môi dăm người bạn - và trên môi tôi - điếu thuốc sẽ run trên những đường cong lận đận - điếu thuốc sẽ run như chân người vũ nữ vừa quen - đôi chân người mà tôi không dám nhớ cũng không dám quên - còn quay đảo giữa điệu nhạc mềm như khói thuốc...” (1)

Hay bài “Tôi Sẽ Sang Thăm Em”:

“Tôi sẽ sang thăm em - Ðể những mớ tóc màu củi chưa đun - Màu gỗ chưa ai ghép làm thuyền - Lùa vào nhau nhóm lửa...” (1)

Hoặc nữa, một bài thơ xuôi nhan đề “Mời”:

“...Tôi mời em vứt bỏ lại đàng sau những kinh thành buồn bã với phong tục, thói lề, bạc vàng giả dối: muốn làm người yêu thì phải đỗ tú tài.

“Tôi muốn mời em đi ngay. Không cần lấy vé. Không phải đợi chờ vì điều kiện du hành là những ngón tay lồng vào nhau và tâm hồn đơn chiếc.

“Còn nếu cần thì tôi sẽ làm người bán vé. Nhưng tôi sẽ không quên làm người đồng hành duy nhất để đưa em đi. Và tôi sẽ làm người lái tàu để không ai được dự phần vào câu chuyện đôi ta...” (1)

Ðó là một số bài thơ Nguyên Sa, xuất hiện trên Sáng Tạo. Lùi lại thời điểm trước 1960, tôi chưa thấy ai đem vào trong thơ, những hình ảnh, những liên tưởng, ẩn dụ... như thế.

Một số người có thể không thích thơ Nguyên Sa, vì nó không đáp ứng được những thắc mắc, những đòi hỏi siêu hình; hoặc vì thơ Nguyên Sa không thỏa mãn những tư duy triết lý trầm trọng của họ. Nhưng khó ai có thể phủ nhận những cái mới của thơ Nguyên Sa.

Trở lại với nhóm Sáng Tạo (không có Nguyên Sa), sự kiện trên diễn đàn này đã có cùng lúc hai dòng chảy cũ và mới. Tôi cho, cũng dễ hiểu. Thời gian đó, đa phần các nhà văn, nhà thơ của miền Nam vẫn tiếp tục đi tiếp con đường của dòng văn chương tiền chiến. Khác chăng, họ đào sâu hơn, tâm lý nhân vật. Những bối cảnh xã hội cũng mở rộng hơn và, không nhất thiết phải quy kết, tập chú vào một chủ đề. Chẳng hạn chủ đề giầu nghèo, chủ đề đả phá nếp phong kiến, ao tù hủ tục v.v...

Nói cách khác, ngay trên diễn đàn Sáng Tạo và, qua những bài lai cảo, được chọn đăng, người đọc thấy dường có song song, hai dòng chảy: Dòng thơ văn nỗ lực hướng về cái mới và, dòng thơ văn tiền chiến nối tiếp.

Với những nhận định trên, tôi muốn được gọi giai đoạn này là giai đoạn “dò đường” hay “mở đường.”

Phải đợi tới đầu thập niên 1960, khi lớp người mới, những cây bút sung mãn khát khao đi tới, thực sự nhập cuộc, lúc đó dòng văn chương miền Nam mới thực sự tách thoát và, từ đó, định hình.

Ðó là giai đoạn xuất hiện những tên tuổi như Dương Nghiễm Mậu, Quách Thoại, Nguyễn Ðình Toàn, Trần Dạ Từ, Mai Trung Tĩnh, Ðỗ Quý Toàn, Sao Trên Rừng (Nguyễn Ðức Sơn), Viên Linh, Nguyễn Xuân Hoàng, Diễm Châu v.v... Hàng ngũ đông đảo những cây bút tiêu biểu này, dứt khoát tiến về phía trước, đã giúp cho con tầu văn học, nghệ thuật miền Nam vừa rời bến, còn dùng giằng, lưu luyến bờ cũ, thẳng ra biển khơi.

Trong bối cảnh này, thơ Trần Thy Nhã Ca xuất hiện.

Du Tử Lê
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 6 guests