Góc Phố Cà Phê

Tin trong và ngoài nước, tin Cộng Đồng ...
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Liverpool tiến bước ở Europa League

Chiến thắng ngược dòng trên sân của Unirea Urziceni tại lượt về vòng 32 đội tối qua giúp thầy trò HLV Rafael Benitez giành quyền vào vòng 16 đội.

Kết quả 3-1 xứng đáng được xem là phần thưởng cho bản lĩnh của Liverpool, hơn là phản ảnh thực tế trận đấu.

Ở lượt đi trên sân nhà Anfield, Liverpool khá chật vật mới giành được chiến thắng tối thiểu 1-0.
Và đó không thể xem là lợi thế đủ đảm bảo cơ hội cho họ, nhất là khi tối qua phải thi đấu trên sân của một Unirea Urziceni khó chịu.

Image
Europa League chính là nơi duy nhất còn có thể giúp Liverrpool tránh cảnh trắng tay mùa này.
Và thực tế đã diễn ra gần giống với nhận định. Đội bóng của Romania khởi đầu trận đấu sáng sủa hơn và không mất quá nhiều thời gian để có bàn mở tỷ số. Phút 18, hệ thống phòng ngự khu vực của Liverpool bôc lộ điểm yếu, để dễ dàng băng vào đón quả phạt góc của đồng đội, đánh đầu tung lưới.

Tỷ số chung cuộc sau hai lượt trận như vậy tạm thời được cân bằng, nhưng sức ép rõ ràng dồn nhiều hơn lên vai Liverpool. Vì vậy họ hầu như không cải thiện được thế trận, chơi rất thiếu ý tưởng. Nhưng rồi, khoảng khắc xuất thần của Javier Mascherano phút 29 bất ngờ đem đến cho đội khách bàn gỡ hòa 1-1. Đó là một cú sút xa uy lực từ khoảng 25 mét, đưa bóng cắm thẳng vào mành lưới đội chủ nhà.

Tình thế này đẩy đội chủ nhà đến việc phải mạo hiểm tấn công mạnh mẽ hơn. Trên thực tế họ vẫn là đội chơi có nét và ý đồ rõ ràng. Khung thành của Pepe Reina vì vậy không ít lần lại chao đảo.
Image
Liverpool (đỏ) không có màn trình diễn tốt, nhưng nhỉnh hơn đối phương ở khả năng tận dụng cơ hội.
Tuy nhiên, như một nghịch lý trận này, Liverpool chơi thường hơn nhưng lại tiếp tục có bàn thắng để nâng tỷ số lên thành 2-1. Từ quả đá phạt của Steven Gerrard, bóng tìm đến Ryan Babel đang đứng trong cấm địa và được đưa vào lưới khá dễ dàng trong lúc hàng thủ đội chủ nhà còn lộn xộn.

Sau giờ nghỉ, Unirea tiếp tục triển khai được thế trận tích cực. Nhưng mọi hy vọng của họ sớm bị cắt đứt khi ngay phút 57, Gerrard đã có bàn ấn định chiến thắng 3-1 cho Liverpool. Benayoun nhồi bóng vào cấm địa để thủ quân của anh nhanh chân tung ra cú sút chìm thành bàn.

Quãng thời gian còn lại khá nhiều nhưng với lợi thế dẫn bàn áp đảo, Liverpool thoải mái thi đấu nên đội chủ nhà không thể gây đột biến. Chiến thắng của họ chỉ kém vui đôi chút vì chấn thương của trung vệ Martin Skrtel.

Vòng đấu tới, Liverpool sẽ gặp đại diện đến từ Pháp, Lille.

Hà Uyên
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

Nhân cách Bình Nguyên Lộc

Mai Thảo
Thời gian đầu, sau khi cộng sản đã lấy nốt được miền Nam là thời gian còn được để yên, chưa bị kết tội, chưa bị lùng bắt, tôi thường sáng sáng một mình đạp xe đạp qua một Sài Gòn tan nát tới thăm một nhà thơ và một nhà văn, ngưởi trước Bắc, người sau Nam, cả hai đều thuộc thế hệ trước tôi, cả hai đều đã tên tuổi lẫy lừng từ thời tiền chiến.

Những thăm viếng thường xuyên này của tôi, giữa Sài Gòn và trong đổi đời lúc đó được đọc bởi hai điều. Một, hai khuôn mặt lớn ấy của văn học Miền Nam, từ quốc nạn 1975, đã đóng kín địa chỉ, dựng cao lũy hoa, cắt đứt với đời, không ra khỏi nhà, muốn gặp họ tôi phải tìm tới. Hai, giữa cái thể chế chuyên chính đã trùm kín, chưa bao giờ trong đời tôi lại cảm thấy sự cần thiết lớn lao phải giữ chặt lấy một số thân tình bền vững tôi hằng mến yêu và kính trọng. Và hai cái đối tượng của thăm viếng thường xuyên thì với tôi lại là hai niềm mến yêu và kính trọng vô cùng. Nhà thơ miền Bắc tôi vừa nói tới là Vũ Hoàng Chương. Và nhà văn miền Nam, Bình Nguyên Lộc.
Vũ Hoàng Chương thời gian đó ở khá xa, mãi bên vùng Khánh Hội, trong một ngõ hẻm khuất khúc giữa phường Cây Bàng, trên căn Gác Bút lừng tiếng, nơi thi sĩ bị công an cộng sản tới bắt đem giam nhốt vào khám Chí Hòa rồi trở về trong hấp hối lâm chung và lìa đời ở đó. Bình Nguyên Lộc ở gần hơn. Thăm viếng do vậy cũng ngắn đường hơn, trong cuối đáy một con ngõ yên tĩnh một thời Vũ Hoàng Chương đã ở, khu Cô Giang Cô Bắc, đầu ngõ là con đường Huỳnh Quang Tiên, khúc từ con ngõ nhìn ra có những vì tường xám của hãng thuốc lá MIC chạy dài trước mặt.

Tới ngõ, tôi xuống xe dắt bộ đi vào, và ngừng lại trước một căn nhà một tầng cổ cũ, căn nhà này là của gia đình Bình Nguyên Lộc, nhà văn chỉ mới dọn về ở một thời gian từ sau cái chết của người con trai lớn là Bác sĩ Giám Đốc Dưỡng Trí Viện Biên Hòa, để sống gần với người chị ruột ở căn nhà kế cận.

Mở cánh cổng thấp, dựa xe vào thành tường, bên cạnh hai chậu vạn niên thanh trấn môn xanh ngắt, một màu xanh muôn thuở, tôi gõ nhẹ tay vào thành cửa đóng kín. Nhớ lần nào tôi cũng phải đứng chờ ít phút, nhưng không lần nào phải trở về. Căn nhà yên lặng hoàn toàn. Tiếng gõ cửa ngân vào thật sâu thật xa ở bên trong, rồi là tiếng chân người đi ra. Rồi là cánh cửa hé mở từ từ và cái thân hình nhỏ bé, bộ đồ ngủ lùng thùng và cái mái tóc rẽ giữa duy nhất của văn học miền Nam, cái mái tóc rẽ giữa của Bình Nguyên Lộc.
Bao nhiêu lần như bao nhiêu lần, và cảm giác này càng rõ rệt những buổi sáng tới bạn sau vực thẳm 1975, lần nào nhìn thấy Bình Nguyên Lộc, tao nhã, gầy guộc, trên cái nền mờ tối của căn nhà đóng kín, tôi cũng có được tức khắc, ở trong tôi, như một mầu nhiệm êm đềm, một ấm áp và một yên tâm không thể nào tả được. Ấm áp như cái thế giới tiểu thuyết Bình Nguyên Lộc, không siêu hình, không gió bão, cái thế giới đã bốn mươi năm văn học ở trong đời sống và làm cho đời sống muôn vàn tươi thắm. Yên tâm như cái văn phong, cái nhân cách Bình Nguyên Lộc, dung dị mà bác học, đơn giản mà trí thức, Bình Nguyên Lộc con người và Bình Nguyên Lộc tác phẩm chính là niềm yên tâm lớn nhất một thời của văn học chúng ta.

Thấy anh, lần nào tôi cũng nói, cảm động thành thực:
- Còn được tới thăm anh.
Lần nào anh cũng cười:
- Còn được gặp anh. Vào đây.
Anh bảo tôi đưa xe vào nhà, kẻo xe mất “hết đường tới thăm bạn”. Đoạn đóng cửa lại, bật ngọn đèn đầu giường và đi về phía sau đun một ấm nước.
Giữa đám sách vở, tài liệu bề bộn, cạnh một chỗ nằm cũng là chỗ ngồi làm việc của ông, trước một khay trà, thật bình dân, không cầu kỳ như khay trà Vũ Hoàng Chương và những điếu thuốc đen ông đốt theo một nhịp điệu đều đặn, tôi thường ở rất lâu với Bình Nguyên Lộc. Tới trưa. Tới sau trưa. Tới cái gạt tàn có ngọn. Tới bình trà nguội tiếp thêm một bình trà. Một vài lần còn tới giữa bữa cơm ông ấy lấy thêm bát đĩa ép tôi cùng ăn, bữa ăn cực kỳ thanh đạm, chỉ một soong cơm và một con cá khô hấp nóng. Phải, nhớ lần nào tôi cũng ở lại thật lâu. Với cái mái tóc rẽ giữa. Với những cử chỉ chậm rãi. Với cặp mắt thông minh sau làn khói. Với những đứng ngồi lên xuống từ tốn. Trong cái thế giới rất riêng tây, cách biệt của Bình Nguyên Lộc, càng riêng tây, càng cách biệt từ cộng sản đã vào tới Sài Gòn.
Những lần tới thăm Bình Nguyên Lộc như vậy, ông thường nói ít lời như một tạ lỗi, nhờ tôi nói lại với anh em, với mọi người. Rằng từ ngày người con trai lớn mất, ông đã chẳng muốn đi đâu. Rằng chứng áp huyết nặng tối kỵ chững di chuyển, những họp mặt. Rằng “họ” đã vào tới rồi, thành phố là của “họ”, đời sống chẳng còn gì đáng thấy, đóng cửa trong nhà thôi.

Lập luận về một thái độ sống thu vào im lặng và ẩn dật, thoạt nghe ở Bình Nguyên Lộc tưởng thật dễ dàng. Sự thật, nó chẳng dễ dàng chút nào, với Bình Nguyên Lộc, với chế độ mới và Bình Nguyên Lộc, suốt thời gian ở đó. Và cái lý do giản dị chỉ là ông chẳng phải là một người viết văn như bất cứ một người viết văn nào mà là nhà văn hàng đầu, nhà văn lớn nhất miền Nam.

Bây giờ, đó là thời gian từ 30 tháng tư 75, tới đầu 76, Trung Ương Đảng Cộng Sản ở Hà Nội, tuy chưa phát động đàn áp và cầm tù văn nghệ sĩ, đã cho thi hành ở Sài Gòn một chính sách lũng đoạn hàng ngũ văn nghệ cực kỳ hiểm độc. Chính sách đó nhằm tạo kỳ thị, gây chia rẽ, giữa những nhà văn miền Bắc vào Nam trong đợt di cư 1954 với những nhà văn sinh trưởng ở Nam Phần. Suốt ba mươi năm văn học, Nam Bắc đã một nhà, Bắc Nam đã bằng hữu. Cộng sản muốn chấm dứt cái tình trạng hòa đồng tốt đẹp đó. Và người chúng đã dành hết mọi nỗ lực khuynh đảo là Bình Nguyên Lộc. Thoạt đầu là đám văn nghệ nằm vùng. Như Sơn Nam, Vũ Hạnh. Kế đó, đến nhóm văn nghệ của Mặt Trận Giải Phóng về thành, tạm thời được nắm giữ những địa vị quan trọng như Trần Bạch Đằng, Giang Nam, Anh Đức, nhiều kẻ đã quen biết Bình Nguyên Lộc từ xưa. Cuối cùng là đám nhà văn, nhà thơ công thần của chế độ và vào từ Hà Nội như Nguyễn Công Hoan, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi, Huy Cận. Tất cả, trên từng địa vị khác biệt, đã viết thư, điện thoại ân cần thăm hỏi tác giả Đò Dọc, về sức khỏe, về đời sống của ông, nói thân thế ông mãi an toàn, sinh kế vẫn bảo đảm, sự nghiệp không chôn vùi, ông vẫn nhà văn lớn. Tất cả đã lần lượt đến khu Cô Giang Cô Bắc, tươi cười, nhã nhặn gõ cửa xin gặp người trong ngôi nhà có hai chậu vạn niên thanh. Bình Nguyên Lộc tiếp hết, từ tốn, chững chạc vậy thôi. Duy có một lần, không sao được, ông phải tới dự đại hội văn nghệ thống nhất lần thứ nhất ở Bộ Thông Tin cũ đường Phan Đình Phùng. Kỳ họp này, Vũ Hạnh, Thanh Nghị báo cáo kể công, Sơn Nam đóng trò nhiệt tình khóc lóc, riêng Bình Nguyên Lộc ngồi im lặng từ đầu đến cuối, không chịu phát biểu một lời nào.

Đó là lần đầu tiên, cũng là lần cuối cùng. Của tiếp xúc Bình Nguyên Lộc với chế độ mới. Cố nhân quen biết tương đối thân thiết nhất với anh là Giang Nam, được Thế Lữ ca ngợi là tiếng thơ cách mạng lớn nhất miền Nam, về Sài Gòn giữ chức vụ Chủ Tịch Hội Văn Nghệ Giải Phóng, mặc dù đã viết cho Bình Nguyên Lộc một lá thư thật dài, thật tình cảm, cũng thất bại. Thư mời Bình Nguyên Lộc tới trụ sở Hội. Mời sinh hoạt. Mời hội họp. Mời viết lại. Và Bình Nguyên Lộc đã nhã nhặn viết một lá thư trả lời. Nói ông rất đau yếu. Nói bị chứng áp huyết. Nói chẳng còn làm được gì. Nói chẳng thể đi đâu. Nói xin được yên thân. Cuối cùng rồi mọi ve vuốt, mọi khuynh loát đều chịu thua, đều lùi bước trước sự nhã nhặn khuớc từ, trước cái nhân cách và sự tự trọng chói lọi của Bình Nguyên Lộc. Hò đành để cho Bình Nguyên Lộc được cách biệt, được một mình, được vẫn mãi mãi là Bình Nguyên Lộc trong căn nhà đóng kín.
Nhân cách trí thức độc lập ấy của Bình Nguyên Lộc, thái độ tuyệt vời của người nhà văn miền Nam ở Bình Nguyên Lộc, không một lần nào, ông phô trương mà chúng tôi đều biết, cả miền Nam đều biết và sung sướng vô cùng và quý mến rất mực.
Nhớ Bình Nguyên Lộc ở xa, tin tức quê nhà đã lâu không nhận được, chẳng biết vẫn còn hay đã mất, những lần sau cùng tới khu Cô Giang Cô Bắc, hình ảnh hai chậu vạn niên đại xanh ngắt một màu xanh muôn thuở trước ngôi nhà văn học đóng kín, lại trở về, xanh ngắt trong tôi.

Bình Nguyên Lộc. Cái mái tóc rẽ giữa, hai miền trung dung phân định như tấm lòng người quân tử một đường ngôi đời thẳng tắp. Bình Nguyên Lộc, bộ đồ lụa trắng, rất thông phán tòa sứ, rất trăng nước miền Nam, trên chiếc cyclo đạp chậm đưa ông tới gặp các tòa soạn Nghệ Thuật, Văn, Vấn Đề chúng tôi làm, phần lớn là anh em nhà văn miền Bắc. Không có Nam Bắc với Bình Nguyên Lợc, chỉ có văn chương, chỉ có hợp tác, chỉ có bằng hữu. Tôi làm biếng lắm, ít khi đi đâu, đến chơi tôi nhé. Thân tình, hòa nhã. Cái truyện ngắn này dục tôi viết gấp, thì phải viết gấp, không được tốt lắm, thôi dùng tạm vậy. Nhũn nhặn, bình dị. Một năm trong bốn năm liền cùng ở chung trong Hội Đồng Giám Khảo giải thưởng Văn Chương toàn quốc, ông từ chói nói chứng áp huyết không còn leo nổi những bực thềm cao của Dinh Độc Lập, cặp mắt đã yếu chẳng thể nào đọc hết được những tác phẩm dự thi. Nài mãi mới nhận. Nhưng cười, giao hẹn: “Vậy phải đọc hết giùm tôi, rồi đưa cho tôi đọc mười cuốn khá nhất.” Nghiêm chỉnh. Ngay thẳng. Năm đó, ông không vào Dinh Độc Lập được thật. Những bực thềm cao quá cho tài viết hàng đầu.

Rồi là cái công trình Văn Học cuối đời của Bình Nguyên Lộc. Cuốn Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam đã phác thảo, đã in thành sách, trọn năm năm trời, tìm kiếm, sưu tập, thu thập thêm một kho tàng tài liệu mới, đã hoàn tất thành một biên khảo vĩ đại hơn một ngàn trang. Cộng Sản vào Nam. Thiên biên khảo kỳ công vẫn còn là bản thảo. Một lần tới thăm, tôi hỏi Bình Nguyên Lộc về công trình văn học đó. Và đó cũng là lần thứ nhất tôi thấy Bình Nguyên Lộc buồn phiền và thất vọng. Trèo qua cái giường ngủ, ông lấy từ một giá sách cao xuống một tập bản thảo nặng chĩu, trao nó cho tôi. Giọng ông trào lộng mà nụ cười thật buồn:
- Nó đây.
Và chỉ tay lên cái giá sách bụi bậm:
- Kia là mồ chôn nó.
Kế đó, ông thuật cho tôi hay về số phận của thiên biên khảo lịch sử, mà nguồn gốc dân tộc Việt, theo sử quan và chứng minh Bình Nguyên Lộc, không từ miền Bắc xuống mà từ biển ngoài vào. Một nhóm những người cao cấp về biên khảo lịch sử của nhà nước Cộng Sản từ Hà Nội vào, được nghe nói về công trình biên khảo này của Bình Nguyên Lộc. Họ tới. Tỏ lòng ngưỡng mộ, rồi xin được mượn tập bản thảo về đọc, nói sẽ có nhận xét, sẽ có thảo luận. Mấy tuần sau, tập bản thảo được gửi trả lại với một lá thư ngắn nói quan điểm lịch sử nói chung và nguồn gốc dân tộc nói riêng của Bình Nguyên Lộc hoàn toàn thoái hóa và sai lầm đối với quan điểm biện chứng duy vật lịch sử cách mạng, khoa học và tiến bộ.

Thuật lại xong, ông lắc đầu, sự thất vọng hiện rõ nhưng giọng nói vẫn từ tốn:
- Thế là gạt bỏ, thế là phủ nhận. Nói là để đối chiếu, để thảo luận, mà không có gì ráo trọi. Tôi buồn vì cái công trình của mình, nhưng buồn hơn cả là cái sự gạt bỏ của miền Bắc đồi với sách tôi không phải là một thái độ văn học, không hề được đặt trên căn bản văn học. Nói đến văn học, tuyệt đối không thể nói đến một lập luận, một giá trị độc tôn nào. Phải nhiều lập luận khác biệt, phải nhiều khái niệm đối nghịch, một vấn đề văn học, một nghi vấn lịch sử mới được chiếu sáng. Khoa học lịch sử thiết yếu phải có được yếu tính và tinh thần đó. Tôi buồn nhất là ở cái sự không có tranh luận, không có đối thoại ấy mà thôi. Chứ không hoàn toàn vì sách tôi không bao giờ còn hy vọng được in ra.

Tập bản thảo nghìn trang, mồ chôn là cái giá sách bụi bậm. Hai chậu vạn niên thanh xanh ngắt một màu xanh muôn thuở. Trí thức dựng cao lũy hoa. Một nhân cách chói lòa trong tự trọng một đời, đã tám năm im lặng trong ngôi nhà đóng kín. Chẳng bao giờ tôi còn được sàng sáng tới thăm Bình Nguyên Lộc nữa và Vũ Hoàng Chương đã mất. Nhưng ở thật xa và cách thật lâu rồi mà rõ thì vẫn thật rõ. Về Bình Nguyên Lộc, nhà văn miền Nam hàng đầu của văn học ta rõ bởi cái ánh sáng ấy, cái ánh sáng của một nhân cách rực rỡ, tôi đã nhìn thấy không ngừng, sau đổi đời và giữa cộng sản, sáng sáng đạp xe qua một Sài Gòn đổi chủ ngừng xe lại trước nhà có hai chậu vạn niên thanh.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Image
BẢY THỨ QUÍ HƠN VÀNG

Có nhiều người cho rằng
VÀNG là thứ quí nhất

Điều đó thì chưa chắc
Vì đời còn nhiều thứ
Có thể quí hơn VÀNG !

1 SỨC KHỎE không quí sao?

Hẳn là quí lắm chứ!
Có VÀNG nhưng ốm đau
Lúc nhất sinh thập tử
VÀNG quí? SỨC KHỎE quí ?

Ai chết, mang VÀNG theo???

2 TỰ DO không quí sao?

Hẳn là quí lắm chứ!
Có VÀNG nhưng tội tù
Suốt ngày nằm một xó
Khi nước mất nhà tan
Nhục nhằn thân nô lệ

Những khi ấy thử hỏi :

VÀNG quí hay TỰ DO ???

3 BÌNH AN không quí sao?

Hẳn là quí lắm chứ !

Thà rằng ít của cải
Mà thờ Đức Chúa Trời
Đặng BÌNH AN tự tại
Còn hơn lắm tiền bạc
Mà rối rắm tơi bời !!!

Sách Châm Ngôn có câu :
“Thà ăn bát canh rau
Mà đầm ấm thương yêu
Còn hơn ăn bò mập
Mà gấu ó lẫn nhau !”

[Châm ngôn 15:16-17]

Xem vậy thì đủ biết :
Sự BÌNH AN là quí
Chứ VÀNG chẳng quí đâu !!!

4 ĐẠO LÝ không quí sao?

Hẳn là quí lắm chứ!
ĐẠO LÝ dạy con người
Sống khác với loài thú !!!
Nhờ ánh sáng ĐẠO LÝ
Con người nên giá trị
Khác với bọn ngu si !!!

ĐẠO LÝ Đức Chúa Trời
Là đỉnh điểm tuyệt vời
VÀNG sao so sánh đặng
Với ĐẠO LÝ của Ngài ???

5 LINH HỒN không quí sao ?

Hẳn là quí lắm chứ !
Lời Chúa phán rất rõ :
“Ích lợi chi cho kẻ
Chiếm được cả thế gian
Nhưng LINH HỒN sứt mẻ?”

[Mác cô 8:36-37]

Có VÀNG, mất LINH HỒN
Khác gì bầy ác quỉ
Biến quê hương giàu đẹp
Thành địa ngục trần gian ???

6 DANH DỰ không quí sao ?

Hẳn là quí lắm chứ !
Lời Chúa là ánh sáng
Qua đó Ngài hé lộ
Cho mọi người biết rằng :

“Danh tiếng tốt quí hơn
BẠC VÀNG và tiền của !”
[Châm ngôn 22:1]

Có VÀNG, mất DANH DỰ
Kẻ chê, người chưởi rũa
Mang tiếng xấu để đời
Còn gì buồn hơn nữa ???

Vậy VÀNG hay DANH DỰ ?
Thứ nào quí báu hơn ???

7 THIÊN ĐƯỜNG không quí sao ?

Hẳn là quí lắm chứ !

Có VÀNG mà hung dữ
Cứ giết người, cướp của
Cứ tham lam, ích kỷ
Cuộc đời như địa ngục
VÀNG sao sánh THIÊN ĐƯỜNG ???

Phải, THIÊN-ĐƯỜNG-là-đây
Là-bây-giờ, lúc-này
Là-LINH-HỒN, ĐẠO-LÝ
Là-BÌNH-AN, SỨC-KHỎE,
Là-DANH-DỰ, TỰ-DO

Ai cho VÀNG là quí
Hơn những thứ vừa kể
Là kẻ ấy lầm to!!!

VÀNG, theo sách KHẢI HUYỀN :
Nhiều nơi trong Nước Chúa
Chỉ là loại vật liệu Được dùng để trải đường !

[Khải Huyền 21:21]

Saigòn, ngày 13.8.1985
Thuận Châu PHAN VĂN KHẢI
(Phỏng theo một bài giảng của MS. Quoc Fok Wo – Singapore)
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

NGUỴ

Tác giả : Tiểu Tử

Trong ngôn ngữ thông thường miền Nam Việt Nam trước tháng tư 1975, tiếng "ngụy" – nghĩa là "giả" – ít thấy có ai dùng tới. Cái gì không phải thứ thiệt, không phải thứ "chánh cống", không phải thứ "có cầu chứng tại tòa"... là người ta gọi hoạch tẹt là "đồ giả", chớ không ai gọi là "đồ ngụy" hết. Ví dụ như rượu giả, thuốc giả, vú giả, bạc giả... vv. Bởi vì từ ngữ hồi đó rất... thật !

Sau tháng tư 1975, tiếng "ngụy" đã theo gót... dép râu (Xin lỗi ! Chỗ này văn chương nghe chỏi lỗ tai một chút, nhưng rất... tả chân. Không thể viết "theo gót giày" như xưa nay thường viết, vì đối tượng ở đây toàn mang dép râu cả !) quân nón cối và quân mũ tai bèo vào Nam làm cách mạng...

Sau biến cố, toàn dân miền Nam đều phải đi "học tập" ba hôm. Chính trong ba hôm đó người ta mới nghe lần đầu tiên tiếng "ngụy". Và nghe... đầy lỗ tai !

Vậy là đầu hôm sớm mai, tiếng "ngụy" được... nhét vào ngôn ngữ miền Nam một cách "ngang xương", không cần… trưng cầu dân ý ! Mới đầu nghe lạ hoắc, không hiểu ý nghĩa sâu đậm của nó. Cũng chẳng có ai giải thích. Mà ví dụ có ai to gan lớn mật đặt câu hỏi thì cán bộ cũng chỉ giải thích... ngang như cua thôi !

Thành ra nhân dân miền Nam hiểu tiếng "ngụy" một cách rất... tự do, và sử dụng tiếng "ngụy" rất... rộng rãi (được "giải phóng", có khác !). Thôi thì cái gì của miền Nam cũng đều biến thành "ngụy" ráo. Để phân biệt với "cách mạng" !.. Thằng ngụy, vợ ngụy, con ngụy, lính ngụy, chánh quyền ngụy, cơ sở ngụy, xí nghiệp ngụy, công nhân ngụy, "hàm-bà-lằng" ngụy... Và người ta nghĩ một cách rất đơn giản, rất thật thà: "Hể thấy không có đ óng con dấu ngôi sao đỏ thì cứ xếp vào đồ ngụy, là ăn chắc !".

Thật ra, khi dán cái nhãn "ngụy" lên miền Nam, "Đảng và Nhà Nước" muốn nhân dân – chủ yếu là nhân dân miền Bắc – hiểu theo định nghĩa "ngụy" là giả – giả nhân giả nghĩa, giả đạo đức, giả yêu nước thương dân – "ngụy" là đoạt của người ta mà nói là của mình, là bịp, là láo, là phiến loạn... Về sau, khi nhân dân cả hai miền đều... mở mắt, tiếng "ngụy" ít thấy dùng tới. Nhưng bây giờ thì mọi người đều nhận ra ai mới đúng là ngụy. Lớp ngụy trang bị rơi xuống, những ngụy ngôn bị vạch trần, thì chân tướng ngụy lòi ra rõ rệt, đến người mù cũng phải thấy !

Viết dài dòng để... "đả thông tư tưởng" trước khi vào chuyện.

…Ông H là thiếu tá quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Ông làm việc ở Tổng tham mưu. Ông thuộc gia đình trung lưu. Hồi 1945, cha và anh của ông đi kháng chiến rồi đi luôn ra Bắc. Từ đó, không được tin tức gì hết. Mẹ của ông là giáo viên tiểu học, xem việc dạy dỗ trẻ con là một thiên chức. Bà thường nhắc về người cha và người anh vắng mặt, nhứt là người anh với những kỷ niệm đẹp của thời mà hai anh em còn ở chung với nhau: "Anh Hai của con thương con lắm. Đi học về là cởi trần rồi cõng con chạy cà bồng cà bồng quanh sân vừa chạy vừa hí rân như ngựa làm cho con cười hắc hắc. Mà con thì hay nhõng nhẽo với anh Hai con, đi đâu cũng bắt nó cõng hết. Còn khi nào con đòi cái gì không được, con hay vừa khóc vừa la để ba tưởng là anh Hai chọc con, ba rầy ảnh ! Tội nghiệp ! Những lúc thấy con sắp sửa làm trận như vậy, anh Hai con thường đưa đầu biểu con đánh nó đi chớ đừng khóc la, sợ ba rầy !". Rồi bà kết luận: "Tánh tình nó tốt lắm !".

Ông lớn lên trong vòng tay người mẹ, được giáo dục bằng tình thương, xem gia đình là căn bản, lấy đạo đức làm phương châm. Và ông giữ mãi trong lòng sự mến mộ "người anh Hai lúc nào cũng làm vui lòng em, lo lắng cho em, bảo vệ em".

Mãi đến năm 1973, mới được tin qua một người bà con rằng cha mất đã lâu và người anh bây giờ là tướng của "ngoài đó". Thật là bàng hoàng. Mẹ ông khóc hết nước mắt. Thời gian sau, bà nói: "Mẹ chỉ mong cho mau hết giặc, để anh em con về sống bên mẹ yên vui như ngày xưa. Chừng đó, mẹ mãn nguyện để theo ông theo bà...". Mẹ ông qua đời vào giữa năm 1974, chưa kịp thấy cảnh "hết giặc" ra làm sao và chưa kịp gặp lại đứa con làm tướng...

... Mấy hôm sau ngày 30 tháng tư 1975, ông tướng nhờ người bà con đưa lại nhà ông H. Xa cách đã ba mươi năm, nhưng hai anh em vẫn nhìn ra được nhau. Bởi vì họ giống nhau như đúc. Sau mấy giây ngỡ ngàng, họ xà vào ôm lấy nhau siết chặt. Cả hai đều không cầm được nước mắt. Bà H và bốn đứa con – ba trai một gái, đã lớn hết, hai đứa đại học và hai đứa trung học cấp hai – đứng nhìn cảnh hai anh em ôm nhau, cũng bồi hồi xúc động...

Sau đó là bữa cơm gia đình để hai anh em kể cho nhau nghe những biến thiên của đời mình, của thời cuộc. Tiếp theo là ông tướng mang hành trang lại ở với gia đình ông H, để có anh có em.

Ông bà H có hai cái nhà. Cái mà ông bà đang ở với hai con học trung học, là loại vi-la lầu có sân lót gạch và vườn cây kiểng hồ cá trang trí theo kiểu Nhựt. Nhà này do ông bà tự cất lấy hồi thời các con còn nhỏ. Về sau, ông được thuyên chuyển ra miền Trung một thời gian. Ông đem hết gia đình ra ngoài đó, để nhà cho Mỹ mướn. Nhờ vậy, mấy năm sau, ông mua thêm một căn phố nhỏ cho hai đứa con trai lớn ở, khi chúng nó vừa vào đại học.

Sau khi đi xem nhà, ông anh bảo:

- To thế thì ở làm gì cho hết ? (Bây giờ ông anh nói pha giọng Bắc rất nhiều). Nguyên cái buồng ngủ thôi cũng chứa cả môt hộ bốn nhăm người đấy !
Hôm sau, ông H được người anh khuyên:

- Chú làm cái vườn như thế này là phí đất. Đào lên đi để trồng trọt khoai, bắp cho các cháu có mà ăn. Phải biết tăng gia chứ !

Mới đầu, ông hơi phật ý. Nhưng, khi nhìn sang hàng xóm thấy nhà nào cũng đào cũng xới kể cả dải đất hẹp té nằm dọc theo chân tường rào phía ngoài đường, ông nghĩ: "Mình cũng phải làm như thiên hạ, cho yên thân". Vậy là cha con ông hè hụi đập nạy cạy khượi, gạch, bê-tông, hồ cá... cho lòi đất rồi trỉa đậu trồng mì ! Khu vườn Nhụt Bổn mà ông Bà H đã tự tay xây đắp, bây giờ tan hoang lồi lõm giống như bãi đổ... xà bần. Nhà ông H bây giờ mới thật sự mang nét cách mạng !

Ông anh – tên R – làm việc ở đâu, hỏi không bao giờ nói. Chỉ thấy mỗi sáng có xe của cơ quan đến rước, chiều đưa về. Ông H, sau khi trình diện khai lý lịch , tối ngày ngồi nghe tin tức qua ra-đi-ô. Bà H không dám nấu nướng trong bếp bằng lò ga, bà sợ làm như vậy nó... ngụy quá đi, nên bà dựng ở hàng ba mấy cục gạch rồi nấu bằng củi bằng lá khô... Bà kê cạnh đó một cái bàn thấp để chén đũa mắm muối, còn nồi niêu dao thớt thì cứ bỏ nằm lỏng chỏng dưới đất bên cái thau nhôm lớn đựng nước để dùng cho việc nấu nướng rửa ráy. Nước lấy từ ống cao su trước đây dùng tưới vườn. Nước dơ thì cứ tạt... cha nó ra sân. Bà H ngồi chồm hổm làm bếp, chổng khu thổi lửa khói bay um tùm làm đôi khi bà nhớ thời thơ ấu – bốn mươi mấy năm về trước – hồi ở dưới quê với bà ngoại, bà hay nhìn bà ngoại nấu cơm như bà làm bây giờ. Chỉ khác là hồi đó chưa có cách mạng ! Ông anh có vẻ hài lòng về tác phong của bà H, nên khen: "Cô thật là sớm giác ngộ !".

Một hôm, đài phát thanh gọi các sĩ quan ngụy đi trình diện học tập. Và nói rõ: "Đem theo tiền ăn cho một tháng". Ông H lo lắng, hỏi ý kiến ông anh thì được trả lời:

- Chú cứ yên tâm đi học tập. Anh bảo đảm không sao hết.

Vậy là ông H hun vợ con, xách ba-lô lên đường, còn dặn:

- Ở nhà có bác Hai. Mẹ con bây cần gì thì nhờ bác, nghen.

... Một tháng sau, không thấy ông về, bà H hỏi ông anh thì được trấn an một cách rất bình thản:

- Cô yên tâm. Vài hôm là về thôi !

Cứ thế, vài hôm rồi vài hôm... dài dài... Bà H nóng lòng, chạy đi gặp mấy bà bạn cũng là vợ sĩ quan, mới hay rằng có thể chồng đã bị chở đi luôn ra ngoài Bắc. Bà lau nước mắt, về quây quần với mấy con, ngồi đợi ông anh. Gặp ông, bà mếu máo:

- Họ chở nhà tôi đi mất rồi...

- Đi đâu mà mất ? Còn tập trung cải tạo ở trong Nam chứ phải biệt xứ đâu mà mất ? Đi học tập chứ đi tù đâu mà cô sợ.

- Nghe đồn trong trại khổ lắm. Nhờ anh can thiệp cho nhà tôi về. Dù gì anh cũng là tướng và cha đã hy sinh vì cách mạng.

- Cách mạng không phải như ngụy đâu cô ! Không có chuyện móc ngoặc bè phái. Không có chuyện tư vị nể nang. Luôn luôn xử sự có tình có lý. Chú ấy cứ học tập tốt là về ngay thôi ! Nói thế chứ... để tôi xem có làm gì được không.
Một hôm, ông anh họp các con ông H lại, khuyên:

- Ba các cháu là ngụy. Cách mạng khoan hồng gởi đi học tập cải tạo. Ba các cháu có sớm được trả về hay không là còn tùy thuộc ở thái độ học tập của ba các cháu. Và cũng tùy thuộc ở trình độ giác ngộ cách mạng của má các cháu và các cháu nữa.

- Vậy, mình phải làm sao ?

- Dễ thôi ! Bác sẽ giới thiệu các cháu vào đội thanh niên xung phong, nếu các cháu muốn giúp ba các cháu.

- Vô đó để làm cái gì, thưa bác ?

- Để phục vụ nhân dân theo khả năng của mình. Nếu các cháu có tinh thần phục vụ cao, Nhà Nước sẽ cho điểm tốt trong việc cứu xét trường hợp của ba các cháu.

Sau một lúc bàn tính, cả bọn bốn đứa đều đồng ý... xung phong. Bốn đứa được thâu nhận nhưng không cùng ở chung một đơn vị. Phân tán chúng nó ra, cô lập từng đứa một, để dễ theo dõi kiểm soát, tránh mầm móng phản loạn... Nhà Nước đi một nước cờ thật cao !

Chúng nó được đưa đi đào đất đắp nền ở các vùng kinh tế mới hay đi đào kinh làm thủy lợi. Lâu lâu mới về thăm nhà một vài hôm. Nhưng không bao giờ cùng về một lúc. Và đứa nào về cũng xác xơ hốc hác, tay chân ghẻ lở giống như bị đi đày ! Đứa con gái trước đây học năm thứ bảy dương cầm ở quốc gia âm nhạc, bây giờ tay cứng còng, không đánh nổi một bài tầm thường của hồi đó. Bà H nhìn các con mà đứt ruột. Cho nên mỗi lần đứa nào về, bà cũng chạy lo thuốc men và nấu nướng cho ăn uống tẩm bổ. Chỉ có ông anh là hài lòng và cho rằng đó là thành quả tốt đẹp của lao động !
Một hôm, ông anh bảo người em dâu:

- Bây giờ các cháu đã có Nhà Nước lo. Cô giữ làm gì đến hai cái nhà ? Đây là lúc mà cô phải chứng tỏ trình độ giác ngộ cách mạng của mình bằng cách hiến cái nhà này cho Nhà Nước để làm cơ quan phục vụ nhân dân. Như vậy, chú ấy có cơ được về sớm.

Sau vài phút suy nghĩ, bà H chỉ bằng lòng cho Nhà Nước mượn thôi.

- Ừ ! Thì cho mượn cũng được, tôi nghĩ thế. Để tôi liên hệ với các đồng chí ấy xem sao.

Vậy là tuần lễ sau, bà dọn về căn phố nhỏ ở cách đó độ mười lăm phút xe đạp, nhưng thuộc về một quận khác. Sự chuyển hộ – nghĩa là dời chỗ ở, địa chỉ – không gặp khó khăn, nhờ ông anh cách mạng (Trong thời này, muốn chuyển hộ phải làm đơn xin phép nơi mình sắp dọn đến. Phải "có lý do chánh đáng" và điều này phải được chứng nhận bởi chánh quyền nơi mình đang ở ! Khi đã được nơi sắp dọn đến chấp thuận – có ký tên đóng dấu – đương sự phải vác đơn đó về trình cho chánh quyền nơi đang ở để... xin phép được di chuyển. Khi được chấp thuận – ký tên đóng dấu- mình mới được quyền dọn đi ! Rắc rối như vậy nên lúc nào cũng có một sự giải thích rất "có trình độ": "Đằng kia có cho anh vô thì ở đây tôi mới cho anh ra. Chớ tôi cho anh ra mà đằng kia không cho anh vô thì anh... đi đâu ?". Rõ như vậy, nhưng nhiều khi vác đơn đến "đằng kia" trước, thì bị từ chối và dĩ nhiên được giải thích cũng rất "có trình độ" không kém: "Anh phải xin phép nơi anh đang ở trước rồi mới đến đây sau. Anh có được cho đi thì tôi mới nhận cho anh đến. Chớ bảo tôi nhận cho anh đến, trong lúc anh chưa được cho đi thì làm sao được ? Phải có đi rồi mới có đến chớ ! Dễ hiểu thôi !". Cứ lẩn quẩn loanh quanh như vậy nên việc chuyển hộ thật là khó khăn. Trong trường hợp chuyển từ tỉnh sang tỉnh hay từ vùng sang vùng thì khỏi nói, thật là "trần ai gian khổ" !).Ông tướng có "động viên" một số đồng chí trẻ trong cơ quan đến phụ dọn nhà cho bà H. Và có cho mượn một chiếc xe cam-nhông-nét – cũng của cơ quan – nên việc dọn nhà cũng nhanh. Sau đó, ông anh cho bà ký tên tờ ủy quyền để ông anh thay mặt bà quản lý cái nhà lớn mà ông đang ở. Bởi vì bây giờ, bà đã chuyển hộ thì mặc nhiên ông anh trở thành chủ hộ ở ngôi nhà đó, mà muốn sử dụng cái nhà thì phải có sự ủy quyền của chủ nhà.

Mười lăm ngày sau, bà H được biết là nguyên cả tầng trệt nhà của bà đã trở thành "tổ gạo", còn ông anh thì vẫn ở một mình trên lầu. Nghe nói bà tướng có vào thăm chồng một lần, ở độ mười lăm hôm rồi trở về Hà Nội. Không hiểu sao ông tướng không có đưa bà vợ lại thăm cô em dâu. Cách mạng có khác !

Bẵng đi một thời gian dài gần cả năm, một hôm ông anh ghé nhà thăm bà H để báo tin đã tìm ra trại cải tạo của người em ở ngoài Bắc và chỉ vẽ cho bà cách thức xin đi thăm nuôi, đường đi nước bước, xe cộ vv... và nhứt là những thứ cần thiết như lương khô quần áo. Nghe như vậy, bà H đã đoán ra phần nào đời sống của chồng ở ngoài đó, nên bà rớt nước mắt hỏi:

- Sao trước đây anh không nói rõ để tôi lo cho nhà tôi có đầy đủ phải hơn không ?

- Chuyện Nhà Nước, đâu nói ra được. Cô phải hiểu như thế chứ !

- Cái gì cũng che đậy. Cái gì cũng giấu giếm. Nhưng lần hồi thiên hạ đều biết hết. Bộ anh tưởng thiên hạ đui sao ?

Đến đây bỗng nghe tiếng bà hàng xóm la lớn: "Đi đâu đó nữa ? Mấy bữa nay tao nói mầy kê lại giùm mấy ông Táo kẻo mấy ổng sụm xuống thì không còn khỉ gì để nấu nướng... mà mầy cứ ăn rồi là xách đít đi hà !". Giọng người con trai: "Bộ má tưởng con đi chơi hả ?". Giọng bà hàng xóm: "Chớ đi đâu mà ngày nào cũng đi, mầy nói tao nghe coi !". Giọng người con, có vẻ hảnh diện, nói rời ra từng tiếng: "Con-đi-phục-vụ-nhân-dân !". Giọng bà hàng xóm, tức tối: "Phục vụ nhân dân ! Phục vụ nhân dân ! Con gái mẹ mầy cũng là nhân dân đây nè ! Mầy phục vụ cho nó đi ! Kẻo không chổi chà nó đơm lên đầu bây giờ !". Ngừng một lúc, lại nói: "Cha... Lúc này nói giọng cách mạng quá há ! Phải mà ! Con mẹ buôn gánh bán bưng này hăm mấy năm nay nó kềm kẹp mầy quá mà ! Nó nhét cho mầy ăn để mầy lớn ! Nó ép mầy học để mầy khôn ! Nó ác ôn quá phải hông ? Nó ngụy quá phải hông ? Nó giả nhơn giả nghĩa quá phải hông ?"
Nghe đến đây, ông tướng nhăn mặt:

- Ăn với nói ! Rõ là không có trình độ !

Rồi ông đứng lên:

- Tôi phải vào cơ quan. Bao giờ cô được phép đi thăm nuôi, gặp chú ấy nhớ bảo tôi nhắn chú ấy luôn vững tin vào sự sáng suốt của Đảng và Nhà Nước. Ta khác ngụy ở chỗ xử sự có tình có lý và lúc nào cũng khoan hồng đối với những người biết quay về với nhân dân.

Bà H làm thinh, nhưng nhìn người anh chồng chỉ có nửa con mắt ! Lúc đó, nghe tiếng thằng con trai nhà hàng xóm: "Rồi đó ! Con kê lại mấy ông Táo rồi đó !". Giọng bà mẹ, vẫn còn hậm hực: "Dữ hôn ! Có bao nhiêu đó mà cũng phải đợi tao nhắc năm lần bảy lượt ! Thôi ! Mầy đi phục vụ nhân dân của mầy, đi. Chiều, vác mỏ về, con mẹ ngụy nà y nó nấu cơm cho mà ăn".

... Từ ngày dọn về đây, bà H đi làm ở tổ hợp may thêu gần đó. Cũng phải đi làm như thiên hạ để đừng bị để ý theo dõi, chớ thật ra bà chưa đến nỗi túng thiếu nhờ đã cất giữ nữ trang trong nhà thay vì gởi ở ngân hàng. Bây giờ, lâu lâu bà bán một vài chỉ...

Bà hàng xóm – tên là bà Năm – có cái sạp cháo lòng ở đầu ngõ. Sáng nào, bà cũng đi bộ theo thằng con trai đạp xe ba bánh chở thùng tô dĩa muỗng đũa, thùng lòng dồi gia vị, nồi cháo lớn bằng nhôm, lò dầu hôi và mấy can nhựa đựng nước rửa chén... ra cây trứng cá nằm trên lề đường Phan Đăng Lưu (tức là đường Chi Lăng hồi trước). Ở đây, có cái sạp gỗ dựng đứng và bốn năm cái ghế gỗ nhỏ được... xiềng vào gốc cây trứng cá. Hai mẹ con mở ống khóa, hạ cái sạp rồi kê ngay ngắn dưới tàn cây. Xong, thằng con về nhà lấy xe đạp, đạp đi "phục vụ nhân dân" cho tới tối. Thành ra, đến trưa khi bán hết nồi cháo – bà chỉ bán có buổi sáng – bà thâu xếp dọn dẹp một mình, rồi đẩy xe ba bánh chở đồ nghề về nhà (Bà không đạp vì không biết đi xe đạp !).

Cứ vài bữa, bà lại mang biếu bà H một tô cháo lòng. Bà biết bà H là vợ thiếu tá quốc gia và chồng đi học tập nên bà hay tới lui thăm viếng để an ủi. Bà H thật cảm động. Có hôm bà nhắc chừng:

- Bà Năm cẩn thận. Có thể tụi nó theo dõi.

- Ối... Cái lũ cô hồn đó tôi đâu có sợ, cô Hai. Hồi tụi nó mới vô, bắt mình làm tờ "báo công báo tội". Tôi phát ghét nên khai là tôi tội lỗi đầy đầu bởi vì gần hai chục năm nay tôi bán cháo lòng cho ngụy ăn chớ không cho cách mạng ăn ! Vậy mà có thấy thằng nào đụng tới tôi đâu, cô Hai !

- Coi vậy chớ cũng nên coi chừng, bà Năm à ! Nhứt là khi bà rầy la thằng nhỏ, nói đụng chạm tới họ quá, không nên.

- Tụi nó đã coi mình là ngụy thì cứ thí mạng cùi chửi cho sướng miệng. Tội vạ gì mà nín thinh ? Há ?

Nói xong, bà Năm nhếch mép cười, làm như bà đang thách đố cách mạng vậy !

... Khi bà H được giấy phép đi thăm nuôi chồng, bà báo tin cho bà Năm và nhờ bà Năm coi chừng nhà giùm. Bà Năm mừng rỡ, làm như ông H là người nhà:
- Dữ hôn ! Tới bây giờ mới cho con người ta đi thăm nuôi. Quân ác ôn ! Được rồi, cô Hai cứ yên tâm, tôi giữ nhà cho. Mà chừng nào cô Hai định đi ?

- Chắc mười hôm nữa, bà Năm à. Để có thì giờ lo cho đầy đủ. Chớ gấp rút quá thì quên trước quên sau...

- Cô Hai nói phải đó. Đi ra tới ngoài Bắc chớ bộ gần gụi gì hay sao ?

Ngừng một chút, bà Năm cầm tay bà H lắc nhẹ:

- Cần gì thì cứ nói nghe cô Hai, đừng ngại. Mình với nhau mà...

Bà H xúc động, lí-nhí "cám ơn" mà nước mắt chảy quanh. Lạ quá ! Chỉ có mấy tiếng "mình với nhau" mà sao nghe ấm cúng vô cùng. Nhứt là trong hoàn cảnh này, trong giai đoạn này. "Mình với nhau" là sự nhận diện của những người cùng đứng về một phía. "Mình với nhau" nói lên sự cảm thông của những người cùng cảnh ngộ, cần nương tựa vào nhau, nâng đỡ nhau để sinh tồn. "Mình với nhau" là tình người không phân biệt giai cấp. Cho nên, khi mở rộng vòng tay, bà Năm cháo lòng chỉ cần nói có mấy tiếng đó thôi là quá đầy, quá đủ...

Hai hôm trước ngày bà H khăn gói đi thăm chồng, bà Năm qua nhà đưa một lon ghi-gô được ràng chằng chịt bằng dây thun:

- Cô Hai cho tôi gởi ổng lon thịt chà bông. Tôi làm có hơi mặn để ăn cho lâu. Tôi ém chặt và ràng kỹ, cô Hai đừng lo đường xa nó sút sổ. Cô cho tôi gởi lời thăm ổng, nghen.

Bà H "cám ơn" mà có cảm tưởng như bà Năm là người trong quyến thuộc ! Trong khi đi ra cửa, bà Năm còn quay lại nói:

- Cô Hai đi yên tâm. Tụi nhỏ của cô có về chơi thì tôi lo cơm nước cho hết. Cô nhớ viết ít chữ để lại cho tụi nó biết, nghen !

Bà H gật gật đầu, nhìn theo mà thấy bà bán cháo lòng đó còn cao cả gấp mấy mươi lần người anh chồng làm tướng của cách mạng !

... Đi thăm chồng về, bà H như già đi năm bảy tuổi. Mắt bà sưng húp, tóc tai rối bời, mặt mũi hốc hác. Bà Năm nhìn bà H, động lòng chảy nước mắt. Ngồi xuống bên bà H, bà Năm hỏi:

- Sao, cô Hai ? Khổ lắm phải không ?

Bà H mếu máo khóc, chỉ gật gật đầu chớ không nói được một lời. Bà Năm nhích lại gần, choàng tay ôm vai bà H, chửi đổng:

- Mẹ bà nó ! Quân ác ôn !

Bà H bỗng quay sang ôm chầm lấy bà Năm, khóc nức nở. Vừa khóc vừa cố gắng nói, câu nói đứt ra từng khúc:

- Ảnh... ốm... đến nỗi... tôi... nhìn... ảnh... không ra...

Đến đây, bà Năm cảm động nghẹn lời. Bà
chỉ còn biết vuốt vuốt lưng bà H, giống như bà đang vỗ về người em gái.

Hôm sau, bà H đội nón lá cầm cái thơ ông H viết cho người anh để gởi gắm vợ con, đi bộ về cái vi-la của bà ở quận kế bên. Bà cố tình đi bộ, vì bà nghĩ đến chồng. Đối với những gian khổ cùng cực mà chồng bà đã chịu đựng từ bao lâu nay – theo lời kể lại của ông H – thì sự đi bộ của bà không thấm thía vào đâu hết. Nhưng, khi bà đi bộ, bà tưởng chừng như bà đang chia xẻ một phần nào những khổ dịch của chồng, người tù cải tạo.

Vi-la của bà, bây giờ thấy khác trước. Tường rào đã xây lên cao. Cổng song sắt được gắn thêm lưới sắt ô vuông. Nhìn vào trong không còn tổ gạo, mà sân thì đã được tráng xi-măng lót gạch khía sạch sẽ.

Thấy có bóng người, bà H bấm chuông. Có giọng đàn bà hỏi vọng ra, giọng Bắc:

- Ai đấy ?

- Dạ... tôi.

Một bà cỡ tuổi bà H bước ra hất hàm:

- Chị muốn gì ?

- Thưa... Tôi muốn tìm ông R. Nhà tôi có viết cho ổng cái thơ...

- Đồng chí R à ? Đồng chí ấy đã phục viên lâu rồi. Đồng chí bán nhà cho chúng tôi, xong, dọn hết về thủ đô. Thế... chị là gì của đồng chí ấy ?

Bà H choáng váng mày mặt, chỉ còn kịp tỳ người vào trụ cổng để khỏi quị xuống. Tuy nhiên, bà vẫn nghe tiếng mình nói:

- Dạ... Tôi... À... Không !

Rồi câm luôn. Thấy bên ngoài làm thinh, bà người Bắc bỏ đi vào trong, nhưng vẫn nói vói ra:

- Đồng chí R hiện ở đâu, tôi cũng không biết. Thôi, chị về đi !

Phải một lúc lâu sau, bà H mới hoàn hồn. Bà đứng thẳng nhìn vào trong. Bà bỗng thấy bà đã biến thành một người khác. Một người cứng rắn hơn, lì lợm hơn. Một người sẽ dám nhìn thẳng vào mặt kẻ địch mà chửi như bà Năm cháo lòng. Ví dụ có người anh chồng đứng trước mặt bây giờ, bà sẽ xáng cho anh ta một bạt tay – điều mà trước đây bà chẳng bao giờ dám làm dám nghĩ !

Bà H vẫn đứng thẳng, nhìn vào trong. Mắt mở to, ráo hoảnh. Môi mím chặt. Tay bà vò nát cái thơ của chồng viết. Bà vò nó mà bà không hay ! Bà chỉ cảm thấy một sự câm thù đang dâng lên làm bà trạo trực. Bà nghe buồn nôn ! Phải rồi ! Bà muốn nôn mửa lên những giả dối gian manh mà bọn chúng nó thằng nào cũng có sẵn trong đầu. Bà muốn nôn mửa lên những lời lẽ giả nhân giả nghĩa mà bọn chúng nó thằng nào cũng có sẵn trên đầu môi chót lưỡi. Bà muốn nôn mửa lên những thủ đoạn xảo quyệt được ngụy trang bởi những chiêu bài yêu nước thương dân, có nghĩa có tình... mà bọn chúng nó thằng nào cũng sẵn sàng hành động. Bà muốn... Bà muốn...

Bà H liệng cái thơ nhàu nát xuống đất, phun nước miếng nghe cái phụt một cách khinh bỉ, rồi cúi lượm cái nón lá bỏ rơi khi nãy đội lên đầu, đi thẳng.

... Mấy năm sau, ông H vẫn "còn được cải tạo", bà H lâu lâu vẫn lặn lội đi thăm nuôi chồng, hai thằng con lớn vượt biên rồi định cư ở Úc, đứa con gái lấy chồng đánh cá ở Minh Hải, thằng con út cặp với con bạn cùng xóm mở quán cà phê vỉa hè cạnh hàng cháo của bà Năm. Còn bà Năm vẫn bán cháo lòng, lâu lâu vẫn chửi thằng con nghe giống như bà chửi Nhà Nước !
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Du Tử Lê lầm lẫn về sự kiện tập thơ Thiên Tai của Nguyễn Tất Nhiên
Sunday, February 28, 2010
Đọc bài viết của nhà thơ Du Tử Lê, tôi thấy ngay một điều là ông đã lầm lẫn về sự kiện tập thơ Thiên Tai của Nguyễn Tất Nhiên.

Đúng như lời cô Minh Thủy viết, tập thơ Thiên tai của anh xuất bản vào năm 1970. Hồi đó, tôi đang học lớp đệ nhị (lớp 11) trường Khiết Tâm cũng gần với trường Ngô Quyền. Vào dịp tết, các trường trung học thường làm các giai phẩm xuân học trò. Năm đó, Ban báo chí của trường giao cho tôi nhiệm vụ vẽ bìa, minh họa và trình bày báo. Báo được in ở một nhà in nhỏ nằm trong con hẻm phía sau trường Ngô Quyền. Nhà in này của thầy Thân Trọng Hưng, dạy môn Việt văn ở Khiết Tâm và Ngô Quyền.

Tôi thường phải tới nhà in sau giờ học để xem các bản in thử. Có lần tôi gặp một một chàng cao, gầy đang loay hoay xếp các trang in của một tập thơ nào đó. Tôi đọc loáng thoáng các dòng thơ mới in, không chú ý lắm vì nghĩ cũng là thơ học trò như 'bọn mình' thôi. Vì cùng coi các “bản vỗ” nên tôi và anh có dịp trò chuyện với nhau và biết anh là học sinh Ngô Quyền. Anh xưng tên là Hải, bút hiệu Nguyễn Tất Nhiên, làm thơ, hát du ca…

Một lần, tôi thấy anh cầm một trang bìa gấp thử. Nhiên hỏi tôi bìa này thấy sao? Xem bìa tôi mới giật mình vì bìa do 'vua bìa' lúc đó là họa sĩ Đinh Cường vẽ. Bức tranh vẽ nét đen in trên nền màu vàng đất xậm. Phía trên bức tranh in tên Nguyễn Tất Nhiên và tựa đề “Thiên tai”. Bìa sau in hình tác giả và tiểu sử. Dĩ nhiên là tôi khen tranh Đinh Cường nhưng cũng nhận xét là mẫu chữ trên bìa không đẹp lắm. Đọc mấy dòng tiểu sử, tôi ớn nhất là câu Nhiên viết đại ý: thỉnh thoảng có ý tưởng 'tư sát'!

Lúc in tập thơ đó, Nhiên mới thi rớt tú tài 1. Mấy người bạn nói với tôi Nhiên bán cả xe máy để in thơ, Tập thơ in vào thời điểm đó gần Tết Tân Hợi. Đây là một bản in typo như tất cả những sách vở thời đó. Tập thơ được phát hành vào những ngày giáp Tết. Trên tạp chí Văn số xuân Tân Hợi, tôi đọc thấy mấy dòng nhắn tin: “Anh Đinh Cường, Huế. Sách tôi đã phát hành. Rất mong tin anh, về địa chỉ 50 Phan Đình Phùng, Biên Hòa. (Nguyễn Tất Nhiên. Cậy đăng).

Vậy tập thơ “Thiên tai” không phải là tập thơ được in “theo loại copy(?)” và đề tên tác giả là Hoài Thi Yên Thi như nhà thơ Du Tử Lê đã nhầm lẫn.

Nhà thơ Du Tử Lê cho biết lần gặp ở quán Pagode là lần đầu tiên. Tôi thấy không phải như vậy.

Giai phẩm xuân của trường Ngô Quyền ra năm 1969 do Nhiên phụ trách (lúc đó là học sinh Nguyễn Ngọc Hải), có in lời cảm ơn của Ban báo chí cảm ơn anh Du Tử Lê đã giúp đỡ mọi mặt để hoàn thành tờ đặc san đó. Tôi nhớ khi đọc mấy dòng đó tôi rất “nể” Ngô Quyền vì họ quen cả với Du Tử Lê mà tôi biết là một nhà thơ tên tuổi.

Vậy sự “diện kiến” giữa hai thi sĩ này chắc chắn phải có trước thời điểm 1970. Lúc đó Nhiên vẫn là Hoài Thi Yên Thi, mới in hai tập thơ và chưa có “Thiên tai”. Sự “diện kiến” này không ai biết ra sao vì Nhiên không kể và Du Tử Lê thì nhớ không đúng. Không rõ khi ở trong quân ngũ, nhà thơ Du Tử Lê có thời gian nào trú đóng tại Biên Hòa không?

Do đó những sự kiện mà nhà thơ Du Tử Lê kể về việc ông đặt tên Nguyễn Tất Nhiên thay cho Hoài Thi Yên Thi cũng không chính xác. Theo lời Du Tử Lê, Nhiên đã thường gửi bài cho tạp chí Văn mà không được “ban tuyển đọc” chọn đăng. Tạp chí Văn thường thông báo tên các tác giả có bài gửi mà “không được chọn đăng” trong mục “Bài lai cảo nhận được”. Truy tìm trong các số báo Văn cũ còn giữ, tôi thấy như sau:

-Các số Văn ra năm 1968, tôi thấy tên Hoài Thi Yên Thi xuất hiện trong mục này ở số 113, ngày 1/9/1968 (về Bertolt Brecht), ở số 116, 15/10/1968 (về Norman Mailer).

-Các số Văn ra năm 1969, có 2 số báo: số 131, 1/6/1969 (tuyển tập Lệ đá đêm sâu) và 134, 15/7/969 (Sầu xưa chín rụng) những số này cũng đăng tên HTYT ở mục bài lai cảo.

- Nhưng đến số 138, 15/9/1969 (tuyển tập Những cây bút trẻ) thì tên Nguyễn Tất Nhiên bắt đầu xuất hiện trên mục này và những số sau đó chỉ còn “Nguyễn Tất Nhiên” mà không còn HTYT nữa.

Cách làm này có vẻ “lẩm cẩm” nhưng nó cho thấy bút hiệu Nguyễn Tất Nhiên chính thức xuất hiện vào khoảng tháng 9 năm 1969. Bút hiệu này là do nhà thơ Du Tử Lê đề nghị vì như Minh Thủy viết:

'Thành thật mà nói, trong thời gian chung sống, anh Nhiên đã kể cho tôi biết, trước khi có bút hiệu Nguyễn Tất Nhiên, anh dùng tên Hoài Thi Yên Thi khi ra tập thơ “Dấu Mưa Qua Ðất” (1966) và “Nàng Thơ Trong Mắt” (1968). Tôi từng cười ngặt nghẽo về bút danh quá con gái, khác nhau một trời một vực với bút hiệu hiện thời này của anh, và anh cũng vui vẻ công nhận rằng từ lúc anh nghe theo lời khuyên của đàn anh Du Tử Lê đổi bút hiệu thì sự nghiệp thi ca “lên” rõ ràng. Hỏi tại sao là Tất Nhiên thì anh cười ha hả, bảo tất nhiên phải là Tất Nhiên thôi.'

Vậy “đàn anh Du Tử Lê” đã khuyên Nhiên đổi bút hiệu vào một ngày nào đó trong khoảng thời gian từ tháng 7/69 đến tháng9/69 ở một nơi nào đó cũng có thể là ở Pagode chăng?

Hai tập thơ trước của Nhiên không rõ được in theo kỹ thuật nào. Vào thời đó, các “thi sĩ” học trò thường hay in thơ bằng cách quay ronéo, vừa nhanh vừa đỡ tốn kém. Tập thơ “Thiên tai” nếu có ý định xuất bản, Nhiên phải chuẩn bị bản thảo, trình bày.v..v. Do vậy nó phải được “thai nghén” ít nhất là trong khoảng năm 1969 vì lúc Nhiên có mặt tại nhà in để xếp chữ tập thơ thời gian đó là vào cuối năm 1969, gần Tết Tân Hợi. Thời điểm này trùng khớp với thời gian thay đổi bút hiệu của Nhiên. Có thể Nhiên đã đem bản thảo tập “Thiên Tai” in ronéo “trình” cho đàn anh xem và góp ý. Nhà thơ Du Tử Lê gọi tập thơ này in theo loại copy có lẽ muốn nói là ronéo chăng? Nhà thơ Du Tử Lê đã giúp Nhiên từ việc làm báo xuân nhà trường nên việc trọng đại như in thơ làm sao Nhiên có thể không nhờ đến ông?

Tôi luôn luôn nghĩ nhà thơ Du Tử Lê đã giúp đỡ và cư xử với Nguyễn Tất Nhiên không chỉ như bực đàn anh trong văn nghệ mà còn trong tình cảm của một người anh đối với em mình. Tôi viết những dòng này với hy vọng góp phần vào việc giải tỏa những nhầm lẫn đáng tiếc, vì thời gian đã quá lâu, trong bài viết về Nhiên của nhà thơ Du Tử Lê.

Đinh Bình
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image

Uống bia thế nào thì khỏe?

Tác giả: BS Nguyễn Phương
Theo các nhà khoa học Anh và Bỉ, bia là loại đồ uống có hàm lượng silicon cao, yếu tố giúp cho xương chắc hơn. Hơn nữa, lượng silicon trong bia được hấp thụ dễ dàng hơn trong các loại thực phẩm khác. Tỷ lệ hợp lý nhất để đảm bảo được ích lợi này là 300ml bia mỗi ngày cho mỗi người.

Trước tiên, bia giúp giảm nguy cơ phát triển các bệnh về tim mạch. Theo các nghiên cứu của Mỹ và Israel, những người đàn ông tiêu thụ bia ở mức độ vừa phải giảm được 40 – 60% nguy cơ đau tim so với người không hề uống bia.

Uống bia có thể giúp ngăn ngừa việc hình thành các cục máu đông có thể gây tắc động mạch ở tim, cổ và não – những nguyên nhân chính gây ra tình trạng đột quỵ của người.

Đối với những người bị tiểu đường, uống bia vừa phải giúp giảm nguy cơ mắc bệnh mạch vành, loại bệnh nguy hiểm nhất đối với sức khỏe của nhóm người này. Trong bia có nhiều chất giúp phân giải các chất béo trong cơ thể và giúp bộ máy tiêu hoá làm việc tốt hơn.

Uống bia điều độ còn có tác dụng tốt cho não, giúp nâng cao khả năng nhận thức. Từ 65 tuổi trở lên, uống bia giúp giảm tỷ lệ sa sút về tâm thần so với nhóm người không uống hay uống nhiều.

Những người uống bia vừa phải, tỷ lệ lạc quan về sức khoẻ của họ luôn được ghi nhận là cao hơn nhiều so với những người còn lại.

Tuy nhiên, uống nhiều bia cũng không có lợi.

Coi chừng hội chứng tim bia

Các thành phần cơ bản của bia bao gồm nước (91-93%), các hidrat cacbon (1,5%-4,5% ), cồn etanol (3-7%) và đạm (0,2-0,65%). Loại cồn etanol trong bia khi vào cơ thể không gây tác động khử nước nhờ có hàm lượng nước cao ngay trong bản thân loại đồ uống này.

Nói cách khác, nếu so với uống các loại rượu nặng, uống bia khó có thể đưa vào cơ thể một lượng cồn lớn.

Một số tài liệu nghiên cứu của tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho rằng, nghiện bia cũng gây tác hại chẳng kém gì nghiện rượu. Thói quen nghiện bia được hình thành dần dần và khó nhận biết hơn.

Chẳng hạn, một quốc gia uống nhiều bia như Đức cũng đang đau đầu với nạn nghiện loại đồ uống này. Tác hại trước tiên từ việc sử dụng quá nhiều bia là năng suất lao động bị giảm.

Kết quả một công trình nghiên cứu 21 năm của các nhà khoa học Scotland đăng trên tạp chí y học Anh năm 2001 cho thấy, trong một nhóm đối tượng gồm 7.126 đàn ông được theo dõi, những người sử dụng hơn 35 đơn vị cồn mỗi tuần (khoảng 7 lít bia hàm lượng cồn 5%), tỷ lệ chết vì đột quỵ cao gấp đôi nhóm người không uống.

Nhiều đệ tử của bia khẳng định, lượng axit cacbonic trong bia giúp mở rộng các mao mạch thúc đẩy máu lưu thông tốt hơn. Nhưng uống một lượng bia lớn trong thời gian ngắn sẽ làm giãn tĩnh mạch và giãn tim mà các chuyên gia X-quang gọi là hội chứng tim-bia.

Việc lạm dụng bia trong thời gian dài sẽ khiến cơ tim nhão dần, chức năng bơm máu nuôi cơ thể suy giảm. Phần lớn các nghiên cứu phân tích mối liên hệ giữa nguy cơ tim mạch với việc sử dụng bia đều cho thấy, uống bia nhiều làm tăng xác suất thiếu máu cục bộ ở tim.

BS Nguyễn Phương
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

YÊU THƯƠNG ĐỜI

Quyên Di
Ngày xưa, có lần một cậu học trò nói với tôi: ''Thầy ạ, em thích nhạc Lê Hựu Hà, nhưng có một câu hát em không đồng ý.'' Tôi hỏi, ''Em không đồng ý câu gì?'' Cậu học trò đáp: ''Đó là câu: Bạn thân ơi, cố gắng yêu thương đời... Em nghĩ, yêu là một tình cảm rất tự nhiên, yêu là tự lòng mình yêu, tự trái tim mình rung động. Yêu mà lòng phải ép uổng, yêu mà bảo trái tim phải cố gắng rung động, em nghĩ không phải là yêu nữa!"

Tôi đã nhìn thật sâu vào đôi mắt cậu học trò để cố tìm hiểu xem điều gì đã xảy ra cho cậu, khiến cậu không muốn ''cố gắng yêu thương đời'' như thế. Cậu học trò người miền Trung, hiếu học và đa tài, cha mất sớm chỉ còn mẹ. Bà mẹ quê muốn con có tương lai mà không biết phải làm gì với sự hiểu biết hạn hẹp của mình, bà để mặc cho con tự định liệu. Cậu bé rời bỏ miền Trung khô cằn tìm đến Sài Gòn hoa lệ. xin vào sống trong cô nhi viện Lâm Tì Ni do các ni cơ Phật giáo coi sóc, rồi chạy vạy kiếm tiền đi học trường tư. Cuộc sống đặc biệt hơn những bạn bè cùng lớp khiến cậu trưởng thành sớm, hay suy tư và thường có những câu hỏi về ý nghĩa đời người. Tôi biết chắc rằng cậu đã gặp nhiều đắng cay, chua chát trong cuộc sống.

Ngày hôm ấy, tôi không trả lời cậu học trò. Tôi cảm thấy phần nào đó cậu có lí. Mới hai mươi mấy tuổi, tôi không đủ kinh nghiệm trường đời để trả lời cho cậu học trò chỉ kém mình bảy, tám tuổi yề một vấn đề sâu xa của kiếp người. Tôi rủ cậu đi uống cà phê, và để cho câu nhận xét về chuyện ''cố gắng yêu thương đời '' của cậu bé theo những giọt cà phê đắng thấm vào tâm can tôi.

Chuyện xảy ra đã hai mươi năm. Bây giờ tôi đã lớn, đã sống cuộc sống của tôi, qua bao nhiêu đoạn đường, bao nhiêu thăng trầm trôi nổi, bao nhiêu ngọt ngào cay đắng, bao nhiêu thương ghét, vui buồn... và tôi khám phá ra rằng có thứ tình yêu tự nhiên, nhưng bên cạnh đó, cũng có thứ tình yêu phải cố gắng. Cả hai thứ tình yêu này đều có giá trị riêng và đều đáng quí. Người biết yêu là người không từ chối, hay nói đúng hơn, không để lòng mình hạn hẹp ở trong, một thứ tình yêu nào cả.

Yêu cha, yêu mẹ, với tôi là một tình yêu tự nhiên, không có vấn đề cố gắng hay không cố gắng. Yêu cha mẹ, điều ấy đương nhiên quá. Nhưng nếu phân tích ra, thì tình yêu ấy đương nhiên, trước hết vì Thiên Chúa đã đặt một mối dây thân tình ruột thịt giữa cha mẹ và con cái. Sợi dây ấy vô hình nhưng ràng buộc cha mẹ, con cái một cách bền chặt, sâu đậm. Thứ nữa, vì cha mẹ tôi yêu tôi quá, tốt với tôi quá hi sinh cho tôi nhiều quá ... làm sao tôi không yêu cha mẹ tôi cho được.

Rồi khi có người tình, tôi yêu người tình say đắm, yêu khi người ấy dễ thương với tôi, và cả khi người ấy dễ ghét. Tôi như khám phá ra tôi, tìm được chính bản thể tôi trong người ấy. Lắm khi tôi lạ lùng tự hỏi, tại sao mình yêu người ấy đến như thế, dù người ấy không gần gũi tôi như cha mẹ tôi, không có một thời gian sống cạnh nhau lâu dài để mà biểu lộ lòng hi sinh cao độ như cha mẹ tôi đã biểu lộ, cũng chưa từng chia sẻ với tôi một cách tận cùng những khó khăn, cực nhọc trong cuộc sống. Thế mà tôi vẫn cứ yêu, yêu đắm say, cuồng nhiệt. Sau này, tôi biết được trong tình yêu nam nữ, có ba loại tình. Thứ nhất là tình ''nếu''. Tôi yêu người ấy, nếu người ấy thế này hay thế khác. Tình "nếu'' chỉ là thứ bánh vẽ, thực ra thì tôi không yêu, bởi vì người ấy có như thế đâu ? Thứ hai là tình ''vì''. Tôi yêu người ấy, vì người ấy thế nọ, thế kia. Tình ''vì'' là thứ tình có điều kiện, và thường là vụ lợi. Nếu người ấy không còn những cái mà ''vì '' nó, tôi yêu người ấy, thì có nghĩa là khi người ấy mất những cái đó, tôi không còn yêu nữa! Thứ ba là tình ''mặc dầu'', tôi yêu người ấy, ''mặc dầu'' người ấy sẽ như thế nào đi nữa. Tình ''mặc dầu'' là tình vô điều kiện, tình quảng đại và vững bền. Tôi nghĩ tình của tôi dành cho người tình là thứ tình "mặc dầu" ấy.

Tôi yêu vợ con, với thứ tình vừa nồng nàn của ảnh yêu, vừa êm đềm gắn bó của tình nghĩa. Một thứ bổn phận, trách nhiệm ràng buộc tôi với vợ con. Tôi mang bổn phận, trách nhiệm ấy như mang một thứ ''ách êm ái, nhẹ nhàng'' khiến cho cuộc sống của tôi có ý nghĩa. Tôi là một người cần thiết, là chỗ tựa nương cho người khác, mà những ''người khác'' ấy lại chính là những người tôi rất mực yêu thương, trân trọng. Điều ấy làm cho tôi vui và hãnh diện. Tình tôi dành cho vợ con đúng là thứ tình ''mặc dầu '' trọn vẹn nhất.

Và tôi yêu thương bạn bè. Tình bạn là một tặng phẩm quí giá Thiên Chúa dành cho tôi. Tôi có nhiều bạn và rất quí bạn. Tôi cũng thích chiều bạn và vui khi thấy bạn vui. Chiều bạn và không đòi hỏi điều gì quá đáng nơi bạn, đó là nguyên tắc giúp tôi giữ được tình bạn lâu dài. Tôi có bạn đồng tâm và bạn đồng chí. Bạn đồng tâm là người bạn mà tôi có thể kể hết những khúc mắc trong lòng, những bí mật của cuộc sống một cách tự nhiên, tín cẩn, không hề e ngại, không sợ bị hiểu lầm, phản bội. Tôi cũng sẵn lòng nghe bạn tâm sự và sẵn lòng cảm thông với bạn. Bạn đồng chí là những người bạn gần tôi trong lí tưởng. Chúng tôi nương vào nhau để cùng hướng về đích điểm, cùng đạt mục tiêu. Chúng tôi chia sẻ với nhau những gian lao vất vả, cùng nắm tay nhau tiến bước, nâng đỡ, khuyến khích nhau trong hành động. Cũng có khi bạn đồng chí sau này trở thành bạn đồng tâm và ngược lại. Là bạn đồng chí, chúng tôi có thể cười với nhau, nhưng khi là bạn đồng tâm, chúng tơi còn có thể khóc với nhau. Tôi thấy yêu bạn thật là dễ, không mấy khi phải cố gắng.

Và chung quanh tôi còn biết bao nhiêu người đáng yêu đáng mến, những người tôi cảm thấy sung sướng, hạnh phúc khi được gần họ. Những người mà nếu được gặp họ, tôi thấy ngày hôm ấy vui hơn, dễ thương hơn, tươi đẹp hơn.

Nếu thực sự tình yêu là cái gì tự nhiên, không cần rán sức cố gắng gì cả, thì ngần đó người đã đủ cho tôi yêu thương, quí mến. Nhưng bên cạnh những người ấy, còn có những điều và những người, mà theo sự tự nhiên, không những tôi không yêu, mà còn phải ghét.

Cái đầu tiên, theo lẽ tự nhiên là đáng ghét, chính là cuộc đời. Đời sống đúng là nỗi ưu phiền cay đắng của tôi. Tôi hi vọng, cuộc đời làm cho tôi thất vọng. Tôi ước mơ hạnh phúc, cuộc đời đem lại cho tôi nỗi đớn đau. Tôi muốn sống bình an, cuộc đời đẩy đưa tôi đi vào sóng gió. Tôi mong được nếm hương vị ngọt ngào, cuộc đời dâng tặng tôi toàn những đắng cay chua chát. Tôi muốn được cư xử bình đẳng, cuộc đời đối xử với tôi một cách bất công. Tôi cần được thông cảm, cuộc đời khắt khe lên án tôi. Tôi cần được ủi an nâng đỡ, cuộc đời cho tôi sự lạnh lùng và vùi dập. Tôi thích sống chân thật, cuộc đời đây những giả trá điêu ngoa. Tôi muốn sống yêu thương, cuộc đời cho tôi hận thù. Dĩ nhiên, phải công bình mà nói, nhiều khi cuộc đời cũng cho tôi niềm vui và hạnh phúc, nhưng nếu đem ra mà cân thì đĩa cân đựng những buồn phiền bất như ý bao giờ cũng nặng hơn. Chẳng thế, mà bao giờ người ta cũng nói về cuộc đời, thế gian, trần gian... kèm theo một tiếng thở dài.

Cuộc đời nói cho cùng là những hoàn cảnh sống do chính con người tạo nên. Và bởi vì có nhiều người không tốt nên có nhiều cảnh đời đáng buồn. Khi nói rằng ''cố gắng yêu thương đời'' thì cũng có nghĩa là "cố gắng yêu thương người'. Người đáng ghét, người không dễ thương, cho nên muốn yêu thương người, tôi cần phải cố gắng.

Vấn đề là ở chỗ: tôi có nên, có cần phải cố gắng để yêu thương người hay không. Và yêu một cách cố gắng như vậy tình yêu có giá trị không? .

Người ta được sinh ra đời, chia sẻ với nhau kiếp người. Nghe đến chữ ''kiếp người" hay ''kiếp nhân sinh'', không cần phải hiểu sâu xa cho lắm, ai cũng thấy cái ''kiếp'' ấy đầy những đau buồn, đó là một cái ''thấy'' vừa do kinh nghiệm vừa do trực giác nên nó đúng lắm. Muốn cho cái kiếp ấy đỡ đau buồn, chỉ có một cách là có nhiều người sống đẹp, cư xử tốt với những người khác. Mà ta đừng chờ mong người khác sống đẹp trước, cư xử tốt trước. Chính ta là người phải thực hiện điều ấy trước người khác. Ở một xã hội có nhiều người đám đi bước trước trong cách sống đẹp, dám có can đảm chấp nhận thiệt thòi mà không đôi co hơn thiệt, xã hội ấy sẽ đẹp hơn, dễ thương hơn, hay ít nhất là cũng dễ thở hơn.

Sống đẹp, cư xử tốt là cách nói khác của chữ ''yêu thương''. Trong khi ta yêu thương người, mà người chưa theo kịp ta để cũng sống yêu thương, thì một là ta bỏ cuộc, hai là ta phải cố gắng. Chuyện rất đơn giản.

Thường người ta cảm thấy người khác khó thương, không tha thứ được, khi cái khó thương của họ ảnh hưởng trực tiếp trên ta. Một người làm điều xấu cho một người khác, ta có thể thông cảm được, hay ít nhất là chê trách rồi cũng bỏ qua được. Nhưng khi người ấy làm hại chính ta, ta không thể bỏ qua, không thể chấp nhận được hành động ấy. Đó là phản ứng chung của con người, và điều ấy biểu lộ lòng thiếu quảng đại. Người ''cố gắng yêu thương đời'' là người tập sống quảng đại, tập sống vượt lên trên cái bản chất bình thường của một con người. ''Cố gắng yêu thương đời'' tức là đang tập sống với thứ tình yêu ''mặc dầu'': mặc dầu đời không yêu ta, mặc dầu đời bao gian dối, mặc dầu đời cay đắng như vôi... thì ta vẫn cứ yêu thương đời như thường! Sống như thế, yêu như thế tức là chọn thái độ can đảm, không bỏ cuộc.

Yêu thương người đời cũng chính là yêu thương mình. Bởi vì mình cũng là một sinh vật đầy những khuyết điểm như những con người khác. Khi ta biết thông cảm với người và yêu thương người, ta cũng dễ thông cảm với chính ta và yêu thương ta. Thông cảm và yêu thương một cách ý thức, chứ không phải là dễ dàng bỏ qua tất cả những cái xấu xa của mình và tìm tư lơi cho mình chỉ vì tính vị kỉ.

Như thế thì cố gắng yêu thương đời, yêu thương người là điều nên làm lắm và tình yêu ấy cũng có giá trị lắm. Tôi cảm thấy tình yêu tự nhiên giống như một bông hoa, tỏa hương thơm nhẹ nhàng quyến rũ, còn tình yêu do sự cố gắng giống như một trái cây, trải qua nhiều phen mưa nắng, qua bao đợt trưởng thành từ chát qua chua, từ chua sang ngọt. Qua bao nhiêu ngày phơi mình dưới ánh nắng mặt trời gay gắt, trái cây ấy chín, thơm tho ngon ngọt, đem lại khoái cảm cho khứu giác và vị giác con người.

Tôi mong ước một ngày nào đó, được gặp lại cậu học trò cũ, và chia sẻ với cậu về kinh nghiệm "cố gắng yêu thương đời'' của mình. Tôi muốn nói với cậu học trò ấy rằng sự cố gắng trong tình yêu có một giá trị đặc biệt và có vẻ đẹp riêng của nó. Nhưng, cũng có thể tôi không cần nói gì cả. Cậu học trò nhỏ ngày nào bây giờ nếu gặp lại, cũng là một người trưởng thành với số tuổi băm lăm, băm sáu. Cậu đã sống cuộc đời của cậu, và tôi nghĩ cậu đã không bỏ cuộc trong đời sống tình cảm con người. Nếu không bỏ cuộc, thì tất nhiên cậu cũng trải qua kinh nghiệm ''cố gắng yêu thương đời '' như tôi vậy. Có lẽ thầy trò tôi sẽ ngồi bên nhau, và chúng tôi sẽ cùng lẩm nhẩm với nhau lên hát: ''Bạn thân ơi, cố gắng yêu thương đời, dù đời không yêu ta...

Chỉ có một điều, tôi muốn chia sẻ với cậu, và nhất định sẽ chia sẻ nếu gặp lại cậu, mặc dầu cậu là một Phật tử và đã có một giai đoạn được các ni cô tại cô nhi viện Lâm Tì Ni dẫn dắt về mặt tâm linh. Điều tôi muốn chia sẻ là lời nói của Chúa Giê su, khi Ngài giảng cho con người về ý nghĩa và giá trị của lòng yêu thương:

''Anh em hãy yêu thù địch, hãy làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy cầu nguyện cho kẻ bắt bớ và vu cáo anh em. Như thế, anh em được nên con cái Cha ở trên trời, là Đấng làm cho mặt trời mọc lên cho kẻ lành và kẻ dữ, cùng làm ma xuống cho kẻ công chính và kẻ gian ác. Nếu anh em yêu kẻ yêu mình thì anh em có công phúc gì... Và nếu anh em chào hỏi bà con mình thôi, thì nào có hơn gì người khác? (Mạt 5, 44-47)

Tôi sẽ nói với cậu học trò rằng: rõ ràng Chúa Giê su muốn người ta ''cố gắng yêu thương đời'' và yêu thương với thứ tình ''mặc dầu''

Nhà Văn Quyên Di
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

NGUYỄN NGỌC NGẠN: ngoài đời và trên video

Image

I - Nguyễn Ngọc Ngạn ngoài đời...
Nguyễn Ngọc Ngạn là một người nổi tiếng, trong lãnh vực văn chương cũng như trong vai trò MC. Điều đó ai cũng biết. Sự nổi tiếng của anh đưa tới lòng yêu thích nơi nhiều người và ngược lại cũng không tránh được tình trạng trái ngược hoặc có khi là sự dửng dưng. Một người được coi là “người của đám đông” chắc chắn không sao tránh khỏi những dị biệt nơi vấn đề tình cảm ở phiá độc giả hoặc khán thính giả dành cho mình. Ái mộ anh hoặc không là một chuyện khác, tưởng chẳng nên đề cập tới.

Nhưng dù thế nào, không ai phủ nhận được những đóng góp của anh trong giới chữ nghĩa.. Và nhất là từ 12 năm qua, anh đã trở thành một người điều khiển chương trình – thường được gọi là MC – vững vàng với một con đường đi riêng biệt.

Tuy nhiên, cuộc sống ngoài đời của anh cùng những sinh hoạt của anh, đặc biệt trong những sinh hoạt trình diễn có những điều ít hoặc chưa được biết tới. Có lẽ đây là thời điểm để có được một số khám phá về Nguyễn Ngọc Ngạn, do chính anh kể...

“Tôi không có e-mail, không có computer và là người nghệ sĩ duy nhất trên thế gian này không có Cell phone. Tôi không biết computer là gì. Người ta cứ bảo tôi là e-mail, tôi không hiểu e-mail là gì . Người ta hỏi ông có vào internet không? Tôi bảo không biết internet là cái gì mà vào”.

Lời Nguyễn Ngọc Ngạn vừa nói hẳn cũng đáng được coi như một khám phá thú vị về một người được coi như ở trong thành phần những nghệ sĩ nổi tiếng nhất, không những ở hải ngoại mà còn ở cả trong nước.

Việc không sử dụng những phương tiện hiện đại trong một xã hội văn minh, tân tiến của Nguyễn Ngọc Ngạn cũng đã khiến cho ban giám đốc trung tâm anh hợp tác từ 12 năm nay là Thúy Nga lưu ý, khi có việc cần liên lạc gấp.. Tuy nhiên, Nguyễn Ngọc Ngạn có một lý do xác đáng cho việc không dùng điện thoại di động chẳng hạn:“Thủy với ông Lai bảo tôi là làm việc hàng ngày mà sao không có e-mail, không có Cell phone. Tôi trả lời là thứ nhất tôi không ra khỏi nhà, tôi xài cell phone làm chi?”

Như vậy, những khán thính giả của Nguyễn Ngọc Ngạn còn có được thêm một khám phá về một con người mà họ cho rằng rất bận rộn trong việc giao tế và có những tiếp xúc rất rộng rãi.. Nhưng thật ra con người đó sống một cách gần như biệt lập cùng vợ và một con trai trong một ngôi nhà khang trang tại thành phố Toronto , là nơi chỉ tiếp đón những bạn bè thân.

Ngoài những chuyến lưu diễn cho các “live shows” hoặc thu hình cho trung tâm Thúy Nga, Nguyễn Ngọc Ngạn chỉ dành thì giờ cho việc đọc sách, viết sách hoặc coi phim: “Nhất là phim thì tôi phải coi thường xuyên, gần như ngày nào cũng phải coi những shows Mỹ để có thể học hỏi ở đó rất nhiều“.

Chính nhờ sự học hỏi và tìm tòi đó, Nguyễn Ngọc Ngạn đã có thêm được nhiều kinh nghiệm để bổ sung cho hai nghề nghiệp chính của anh từ nhiều năm qua là viết văn và điều khiển chương trình.. Nghề sau này càng ngày càng tỏ ra lấn lướt nghề trước là nghề anh bắt đầu theo đuổi từ năm 1979...

Nguyễn Ngọc Ngạn sinh ngày 9 tháng 3 năm 1946 tại Sơn Tây và là người con thứ ba trong một gia đình có 6 người con, 5 trai và một gái. Năm lên 8, anh theo gia đình xuống Hà Nội, sau đó ra Hải Phòng để theo “tầu há mồm” di cư vào Nam năm 1954. Những năm đầu tiên, gia đình anh cư ngụ trong một xóm Công Giáo gần Củ Chi.

Nhờ có một trí nhớ tốt cùng với một đầu óc quan sát tinh tế từ khi còn nhỏ, nên những sinh hoạt diễn ra trong cái giáo xứ nhỏ bé và nghèo nàn thời đó đã in sâu trong đầu một cậu thiếu niên chưa quá 10 tuổi. Bối cảnh đó sau này đã được Nguyễn Ngọc Ngạn khai thác để viết thành tiểu thuyết “Xóm Đạo”:“ Trời sinh cho tôi được một trí nhớ rất là đặc biệt tức là có những chuyện gì tôi đọc qua hoặc tôi nghe người ta kể qua một lần thì có thể mấy chục năm sau tôi vẫn nhớ “.

Mặc dù không nuôi giấc mơ đến với lãnh vực văn chương, nhưng Nguyễn Ngọc Ngạn công nhận là do sự mê đọc sách từ khi còn nhỏ đã giúp anh rất nhiều trong nghề viết văn mà anh bước vào một cách thật tình cờ sau khi rời Việt Nam:“Đặc biệt là tôi mê đọc tiểu thuyết từ nhỏ. Bố mẹ cấm, tôi cũng trùm mền đọc. Thí dụ những cuốn đầu tiên là của Tự Lực Văn Đoàn trong khi tôi học năm đệ Thất, đệ Lục. Dù bố mẹ có cấm cũng đi ra lề đường Lê Văn Duyệt để mua sách đọc. Nhiều khi gia đình ngủ rồi,tôi vẫn ra ngoài hè đọc sách một mình dưới trời sáng trăng hay thắp ngọn đèn dầu ngồi đọc lén. Thời bấy giờ bố mẹ khó khăn, cấm đọc tiểu thuyết mà! Phải công nhận là tôi đã có năng khiếu về văn chương từ nhỏ “.

Cũng do có một khả năng ghi nhận đặc biệt, cộng với một trí nhớ tốt, mặc dù không sống nhiều ở Việt Nam sau biến cố tháng 4 năm 75, nhưng qua những chuyện kể lại từ những người quen biết về những trường hợp “đổi đời” mang nhiều nét châm biếm trong một xã hội đổi thay, cùng với 3 năm đi tù cải tạo, Nguyễn Ngọc Ngạn đã có một số vốn liếng tích lũy – về ngôn từ cũng như những câu chuyện thật được kể lại hay do chính mắt thấy tai nghe - dồi dào để đưa vào những tác phẩm của anh sau này.

Đó là do “sự quan sát, do những tiếp xúc, do đọc báo và từ 3 năm ở trại cải tạo. 3 năm ở trại cải tạo thì hàng ngày mình lên lớp, phải nghe cán bộ giảng thì để ý tới những từ đó nhiều hơn. Tôi về được có mấy tháng rồi vượt biển, đâu có sống ở trong nước”.

Với cách sử dụng ngôn ngữ dí dỏm và lối hành văn gọn gàng và xúc tích, Nguyễn Ngọc Ngạn đã gây được nhiều cbú ý ngay từ tập sách được phát hành đầu tiên của anh tại hải ngoại là “Truyện Ngắn Nguyễn Ngọc Ngạn”.

Vào năm 57, gia đình Nguyễn Ngọc Ngạn di chuyển vào Sài Gòn và cư ngụ trên đường Thoại Ngọc Hầu, vùng ngã ba Ông Tạ. Những năm trung học, Nguyễn Ngọc Ngạn theo học trường Nguyễn Bá Tòng đến năm đệ nhị. Nhờ đậu cao kỳ thi Tú Tài 1, anh được nhận vào trường Chu Văn An và lấy được mảnh bằng Tú Tài 2 tại đây.

Một điểm đặc biệt là trong những năm theo học trường Nguyễn Bá Tòng, anh luôn được giữ vai trò trưởng ban kịch của lớp. Ít người ngờ rằng một nhà văn, một MC nổi tiếng như Nguyễn Ngọc Ngạn khi còn trẻ lại nuôi một giấc mơ là bước vào lãnh vực kịch mặc dù tự nhận có năng khiếu về văn chương“Lúc trẻ tôi có 2 giấc mộng. Thứ nhất là kịch, tôi mong trở thành một người viết kịch hay một người diễn kịch, chứ giấc mộng nhà văn nó mờ nhạt lắm.”

Khi lên đệ Tam, Nguyễn Ngọc Ngạn chuyển qua ban Văn Chương để được giáo sư Pháp Văn là nhạc sĩ Lê Thương chú ý đến khả năng đóng kịch nên đã khuyến khích anh theo học bộ môn này tại trường Quốc Gia Âm Nhạc. Do sự khuyến khích đó, Nguyễn Ngọc Ngạn đã ghi danh theo học kịch vào năm đệ Nhị, là thời kỳ mà hai nghệ sĩ Trần Quang và Bích Thủy vừa tốt nghiệp về kịch nghệ.

Nhưng sau hai tháng theo học, anh nhận ra mình bị hạn chế rất nhiều do bị cận thị nặng, trong khi thời đó chưa có sự xuất hiện của “contact lens”. Sau khi quan sát những vai trò trên sân khấu, anh cho rằng nếu có đóng kịch thì chỉ có vai trò... thầy giáo là thích hợp nhất đối với mình do cặp kính cận dầy cộm. Trong khi đó thân phụ anh - cùng với thân mẫu anh mở một tiệm bán tạp hoá ngay tại nhà - khuyên anh nên để tâm vào việc học hành để phải lấy cho được mảnh bằng Tú Tài toàn phần hơn là đi theo con đường văn nghệ..

Nhưng trước khi giã từ trường Quốc Gia Âm Nhạc, Nguyễn Ngọc Ngạn còn chuyển qua lớp chèo cổ một thời gian ngắn “Là vì có mấy cô gái học chèo cổ rủ tôi sang, tôi cũng sang, cũng học vài câu chèo cổ như “ông Giăng khuyết chứ ông Giăng lại tròn này kia! Tôi học chèo cổ thêm được mấy tháng nữa. Rồi bố tôi bảo sắp thi thì đi về, tôi mới đành về đấy chứ !”

Cũng vì yêu thích văn nghệ, Nguyễn Ngọc Ngạn đã tự học nhạc lấy qua sách vở, để có một thời gian được mời dạy nhạc cho các trường Lê Bảo Tịnh và Saint Thomas .

Hết trung học, Nguyễn Ngọc Ngạn theo học đại học Văn Khoa và sau đó trở thành giáo sư ngoại ngạch cho một số trường công.

Ngoài giấc mơ trở thành một diễn viên hay một nhà viết kịch lúc còn trẻ, Nguyễn Ngọc Ngạn còn mong muốn thực hiện được những công tác xã hội “Thí dụ như thích xây một ngôi trường hoặc xây một cái cô nhi viện. Ngay từ nhỏ tôi đã thích làm được những việc như vậy...”

Nhưng riêng về việc làm MC thì anh chưa bao giờ nghĩ tới. Nhất là thời đó chưa có nghề MC hay làm talk show tại Việt Nam ngoài những người được gọi là hoạt náo viên hay giới thiệu chương trình.

Năm 1970, Nguyễn Ngọc Ngạn bước vào đời sống quân ngũ, sau khi lập gia đình với một nữ sinh trường Saint Thomas tên Lê Thị Tuyết Lan. Đầu tiên anh ở Sư Đoàn 9 Bộ Binh, sau đó được đổi về Tiểu Khu Định Tường, nhưng không về tiểu khu mà về tiểu đoàn tác chiến ở quận Cái Bè.

Đến năm 74 , khi anh mới có con được nửa năm thì được bộ giáo dục biệt phái về dạy học tiếp với cấp bậc trung úy. Sau khi dạy được đúng một niên khoá thì xẩy ra biến cố tháng 4 năm 75.

Nhớ lại cuộc đời quân ngũ, Nguyễn Ngọc Ngạn có rất nhiều kỷ niệm, nhưng anh nhớ nhất là những kỷ niệm trong thời gian phục vụ tại Tiểu Đoàn Địa Phương Quân Tác Chiến: ”Gần như cả một tiểu đoàn không có một người nào là người Bắc cả. Cho nên ông tiểu đoàn trưởng không cần nhớ tên tôi. Ông ấy cứ kêu tôi là thiếu úy Bắc Kỳ”.

Tại đây, “thiếu úy Bắc Kỳ” giữ chức vụ trung đội trưởng vũ khí nặng, coi về súng cối và đại bác 75 ly không giật, mặc dù cận thị nặng 5 độ rưỡi và nhất là ốm yếu “như Hoài Linh bây giờ”, như lời anh nói đùa.

Thời gian này là năm 1972. sau đó anh được làm đại đội phó và một thời gian sau được chuyển về bộ chỉ huy và cuối cùng được làm sĩ quan quản trị nhân viên, coi quân số của tiểu đoàn.


Và cũng như tất cả những sĩ quan khác, sau biến cố tháng 4 năm 75, Nguyễn Ngọc Ngạn phải đi tù, tại những nơi được goi là “trại cải tạo”. Anh được trả tự do sau 3 năm. Trở về vào năm 78, Nguyễn Ngọc Ngạn tìm đường vượt biên ngay với người vợ đầu tiên cùng con trai lúc đó được hơn 4 tuổi.

Nguyễn Ngọc Ngạn là người đầu tiên trong gia đình vượt biển một cách bán chính thức vào muà Giáng Sinh năm 78 đúng vào mùa có nhiều bão lớn, với vợ lúc đó mới 26 tuổi với một con tên Nguyễn Trần Lê Chân, được đặt tên theo địa danh Tống Lê Chân, nơi xẩy ra những trận đánh khốc liệt vào năm 74 “Lúc đó là những ngày mà đài phát thanh quân đội loan những tin về vụ đánh đồn ở Lê Chân. Tôi cứ nghe đài phát thanh suốt ngày nói về Tống Lê Chân. Để nhớ cái thời gian mà tôi trong quân đội và lúc đang có biến cố về đồn Lê Chân nên tôi đặt tên cháu là Lê Chân”.

Khi chiếc tầu chở khoảng 300 người, trong đó có tiểu gia đình Nguyễn Ngọc Ngạn, đến gần Mã Lai thì bị cảnh sát Mã Lai ở trong bắn ra. Do tình trạng cuống quít của tài công nên đã loay hoay khiến tầu bị lật úp do bị sóng lớn khiến 161 người bị chết, trong số có vợ và con anh. Anh chỉ nhìn thấy được xác đứa con thân yêu bị sóng cuốn đi, trong khi không được thấy tận mắt hình ảnh cuối cùng của người vợ trẻ.

Những người sống sót của chiếc tầu định mệnh đó được đưa vào trại tỵ nạn trên đảo Kota Baru ở Mã Lai. Tại đây, Nguyễn Ngọc Ngạn được bầu làm phó trưởng trại, từ tháng 12 năm 78 đến tháng 5 năm 79. Trong thời gian này cái chết của vợ và con đã là một nỗi ám ảnh ghê gớm với Nguyễn Ngọc Ngạn, để từ đó mang nhiều suy tư khi hồi tưởng về thân phận những người phụ nữ.

Và cũng từ đó, anh đã không ngờ là mình bắt đầu bước vào nghề viết văn, trước đó rất mờ nhạt trong đầu óc, với tiểu thuyết đầu tay “Những Người Đàn Bà Còn Ở Lại”, theo lời anh kể “Khi bà xã tôi mất với lại cháu mất thì tôi ngồi trên đảo thì tương đối tôi cũng nhàn vì là phó trưởng trại. Tôi mới ngồi tôi nghĩ lại một điều quan trọng trong đầu tôi lúc đó là trong cuộc chiến VN thì hoá ra người đàn ông không khổ bằng người đàn bà. Là bởi rằng đàn ông dù sao tuy là ra mặt trận, kề cận cái chết nhưng không như người phụ nữ ở hậu phương vừa nuôi con, vừa, lương của chồng lại ít quá. Đôi khi lại phải làm dâu, nhiều khi lại chạy loạn vì chiến tranh. Rồi sau đó khi người chồng đi vào cải tạo thì người vợ ở nhà lại phải đi tiếp tế chồng ở trong trại cải tạo. Sau đó chồng được thả về thì có nhiều người đàn bà lại phải hy sinh, dành dụm lo cho chồng vượt biên trước, mình ở lại sau là bởi biết rằng chồng ở lại thì vất vả hơn. Thì tôi mới nghĩ lại là trong cuộc chiến và hậu chiến của mình thì người đàn bà VN là khổ nhất chứ không phải là đàn ông, cho nên vì cái ý nghĩ đó tôi mới xin giấy bút để viết truyện dài đầu tiên mà tôi chưa viết bao giờ. Tôi xin giấy bút của bà Sơ trong trại để viết truyện dài đầu tiên lấy tên là “Những Người Đàn Bà Còn Ở Lại “.

Tiểu thuyết “Những Người Đàn Bà Còn Ở Lại“ được viết liên tục trong vòng 3 tháng, dưới cái nóng như thiêu đốt trên đảo Kota Baru. Nguyễn Ngọc Ngạn cho biết anh viết tác phẩm đầu tay này vừa để tưởng niệm cái chết của vợ và con, vừa để thông cảm với những người đàn bà còn ở trong nước.

Khi mang bản thảo tiểu thuyết này sang hải ngoại, anh cho nhiều người đọc và họ rất thích thú. Vì vào thời đó những chuyện về VN còn lạ đối với những người ở hải ngoại, ra đi từ những ngày đầu vì được viết trong bối cảnh sau năm 75. Nhiều người có ý ủng hộ anh để xuất bản, trong số có ông Nguyễn Thế Năng, chủ nhân tiệm vàng nổi tiếng ở Sài Gòn trước kia.. Ông Nguyễn Thế Năng viết thơ cho nhà xuất bản Dziên Hồng đề nghị xuất bản, nhưng được những người chủ trương là các giáo sư Lê Bá Kông và Lê Bá Khanh trả lời là còn người thân ở VN nên không tiện xuất bản mặc dù rất thích.

Sau đó anh giao đưá con tinh thần của mình cho nhà báo Quốc Nam, nhưng mãi đến năm 87 mới ra mắt độc giả, sau khi một số tác phẩm của anh đã thành hình và đã tạo được tên tuổi cho Nguyễn Ngọc Ngạn. Đó là những tác phẩm: Truyện Ngắn Nguyễn Ngọc Ngạn, Nước Đục, Biển Vẫn Đợi Chờ, vv... Tổng cộng cho đến nay đã có 32 tựa sách được phát hành, phần lớn là truyện dài, mang tên tác giả là Nguyễn Ngọc Ngạn.

Trả lời cho câu hỏi tại sao chọn Canada làm nơi cư trú, Nguyễn Ngọc Ngạn cho biết ”Nhưng mà tôi thấy tôi ngồi lâu quá tôi cũng sốt ruột. Mà thứ hai nữa là buồn bã. Coi như hàng tuần tôi phải tiếp các phái đoàn thì tôi thấy phái đoàn Canada rất là lịch sự. Họ hỏi tôi là có muốn đi Canada không thì chúng tôi bốc ông đi ngay. Thì tôi nói là vâng, ông kiếm cho tôi một vùng nào ấm, thì họ bảo vậy thì ông đi Vancouver , có vậy thôi.“

Thế là Nguyễn Ngọc Ngạn được đưa về một đảo gần Vancouver là Prince Rupert cho đến năm 86, anh chuyển về sống tại Toronto cho đến nay. Sau khi đặt chân đến thành phố này, anh dành ra hai năm để ôn lại Anh Ngữ vì được một số thân hữu có ý định giới thiệu anh vào làm cho đài VOA tại Washington, D.C. và BBB ở Luân Đôn. Cuối cùng vì có những quan hệ ở Toronto nên anh quyết định lưu lại đây để đi làm cho công ty bảo hiểm Canada Life, ngoài việc viết sách và hoạt động trong lãnh vực văn chương, báo chí cho đến khi được mời cộng tác với trung tâm Thúy Nga vào năm 1992...

Image
II - Nguyễn Ngọc Ngạn trên video...
Nguyễn Ngọc Ngạn đến với trung tâm Thúy Nga trong một trường hợp rất bất ngờ, đến chính anh cũng không biết lý do: ”Tôi không hiểu tại sao một hôm 10 tháng 5 năm 92 khi đi làm về thì thấy ở trong máy nhắn có một người nói là trung tâm Thúy Nga mời tôi sang Paris giới thiệu chương trình. Về sau tôi mới biết đó là ông Tô Văn Lai...“

Thật ra, Nguyễn Ngọc Ngạn được ban giám đốc của trung tâm Thúy Nga để ý và muốn mời cộng tác vì lúc đó anh đã là một người viết văn nổi tiếng, có được một số độc giả đông đảo. Cùng một lúc, họ muốn tìm một đường hướng mới cho vai trò MC mà trước đó qua những chương trình video chưa được đặt lên hàng quan trọng.

Thời gian này Nguyễn Ngọc Ngạn đang đi làm cho một công ty bảo hiểm. Ngoài ra anh còn làm thêm về thông dịch và cùng với người vợ sau tại một thư viện ở Toronto . Trước lời mời bất ngờ trong một lãnh vực quá mới lạ đối với anh, Nguyễn Ngọc Ngạn trả lời cần có thời gian suy nghĩ. Trước đó từ năm 87 ngoài việc sáng tác, Nguyễn Ngọc Ngạn còn hợp tác với một người Đài Loan tên Chiêu, làm tại thư viện trung ương Toronto, để viết truyện song ngữ thiếu nhi Anh Việt như Hoa Mộc Lan, Tôn Ngộ Không, vv...

Ông Chiêu nhận thấy sách của Nguyễn Ngọc Ngạn được hỏi mượn rất nhiều ở thư viện nên nẩy ra ý định mời anh cộng tác. Tổng cộng anh đã viết được khoảng 50 quyển sách loại này, hiện vẫn được lưu giữ trong các thư viện... Trước khi đến với Thuý Nga, Nguyễn Ngọc Ngạn đã chính thức bước vào nghề viết văn khi còn ở đảo Prince Rupert , tại Vancouver , Canada . Anh cũng là người tỵ nạn đầu tiên có sách viết bằng tiếng Anh được xuất bản. Ngoài ra anh còn giữ chức chủ tịch đầu tiên của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.

Trong lãnh vực văn chương, chỉ trong một thời gian ngắn, Nguyễn Ngọc Ngạn đã trở thành “nổi đình nổi đám “ với những Nước Đục, Cõi Đêm, vv.... và được rất nhiều báo chí và nhà xuất bản mời viết. Chủ nhiệm tờ Phụ Nữ Diễn Đàn thời đó là nhà báo Chử Bá Anh từng ngỏ ý muốn lo giấy tờ cho anh qua Mỹ để giữ vai trò chủ bút cho tờ báo này. Ngoài ra chủ nhiệm tờ Ngày Nay là Lê Hồng Long cũng đưa ra cùng đề nghị, nhưng anh đã từ chối tất cả những lời mời đó vì còn “rụt rè lắm” như lời anh nói.

Nguyễn Ngọc Ngạn cho biết thêm có lẽ anh ảnh hưởng tính không thích bon chen của thân phụ nên đã có quyết định như vậy. Nhưng số mệnh đã đưa đẩy Nguyễn Ngọc Ngạn đến một lãnh vực hoàn toàn xa lạ, chắc chắn anh không bao giờ nghĩ tới, ngoài sự đưa đẩy của số mệnh để “tôi nằm ở đây mà có người bưng tôi lên sân khấu chứ tôi không có tìm, thành thử về sau, tôi mới tin người ta phải có số”.

Nguyễn Ngọc Ngạn tâm sự thêm: “Thật sự ra trước khi tôi làm Paris By Night và nhất là trước khi xẩy ra vụ cuốn video Mẹ thì tôi không tin lắm... Nhưng sau, tôi nhờ những ông thầy giỏi coi tử vi cho thì tôi thấy y chang”.

Cũng về số mệnh, Nguyễn Ngọc Ngạn có lần tình cờ hỏi nhạc phụ anh là một người giỏi về khoa tử vi về tương lai của mình và được cho biết là “tên tuổi như vậy có ăn thua gì đâu, vài năm nữa sẽ lừng lẫy”, trong khi anh cho là nổi tiếng như anh vào thời đó đã là quá đủ. Nhưng sau khi cộng tác với trung tâm Thúy Nga, Nguyễn Ngọc Ngạn mới nghiệm thấy rất đúng vì dù sao viết văn cũng chỉ có một số độc giả cũng hạn chế, không sao so được với khán thính giả đông đảo của những chương trình Paris By Night.

Cũng theo sự giải đoán của nhạc phụ anh, thời kỳ cung mệnh của Nguyễn Ngọc Ngạn gặp hạn Thái Tuế, là giai đoạn anh rất nổi tiếng, nhưng sẽ rất vất vả bởi những điều thị phi nên sẽ gặp phải những tranh luận, cãi vã đưa đến vấn đề pháp luật. Nghiệm lại, anh thấy rất phù hợp với giai đoạn xẩy ra vụ video “Mẹ” (Paris By Night 40), từng gây nhiều sôi nổi...

Đúng 10 năm trước khi cộng tác với trung tâm Thúy Nga, Nguyễn Ngọc Ngạn lập gia đình lần thứ hai vào ngày 19 tháng 6 năm 1982 với một thiếu nữ tên Diệp, khi đó 28 tuổi. Diệp vượt biển và được đoàn tụ tại Paris với gia đình gồm bố mẹ và các em vào năm 80. Người anh cả của chị cùng đi với gia đình sang trại tỵ nạn ở Hoa Kỳ từ năm 75, nhờ làm việc cho cơ quan D.A.O của Mỹ nên được mang theo 10 người trong gia đình. Diệp phải ở lại với người chị đã có chồng. Từ trại tỵ nạn, song thân chị sang Pháp định cư, trong khi các em chọn Mỹ và người anh chọn Calgary , Canada làm nơi cư ngụ. Người anh cả sau đó đã qua đời do ung thư khi được đúng 40 tuổi.

Sau khi tới Paris , Diệp được thân mẫu đưa sang Calgary để thăm mộ anh.. Và chính tại đây, Nguyễn Ngọc Ngạn gặp người vợ tương lai của mình lần đầu tiên, qua sự giới thiệu của một người bạn đi cùng tầu vượt biển với Diệp, nhờ anh đi đón giùm hai mẹ con vì cả hai còn quá xa lạ với nơi đặt chân tới.

Nguyễn Ngọc Ngạn đã đi đến một quyết định rất nhanh: khi mới quen Diệp vào ngày thứ Sáu, qua đến ngày Chúa Nhật đã ngỏ lời xin cưới “tại vì tôi nghĩ là bây giờ hai người ở hai phương trời cách biệt. Bà ấy ở Paris , tôi ở Canada dễ gì gặp lại nhau. Mà lúc đó thì nghèo rớt mồng tơi, mới sang đâu có đồng bạc nào. Làm bao nhiêu thì lại phải tuôn về Việt Nam hết thành thử đâu có tiền mà đi tới đi lui. Nhân dịp có bà già ở đây thì hỏi béng cho rồi”.

Thân mẫu Diệp cho biết sẽ về hỏi ý kiến chồng, trong khi Diệp đã nhận lời cầu hôn của Nguyễn Ngọc Ngạn. Nên dù ở Paris có nhiều người theo đuổi chị vẫn không đổi ý, dù mẹ chị không tán thành. Ý bà không muốn con gái lấy một người ở tận Canada vì sẽ khó lòng khi muốn gặp sau này.. Nhưng Diệp vẫn giữ lời hứa để cùng Nguyễn Ngọc Ngạn chung sống cho đến nay và có với nhau một con trai, năm nay 21 tuổi.

Sau khi thành hôn, Nguyễn Ngọc Ngạn bảo lãnh vợ sang Canada , về Prince Rupert ( Vancouver ) sinh sống. Trong 10 năm kế, năm nào chị Diệp cũng đưa con về Paris thăm Mẹ, nhưng Nguyễn Ngọc Ngạn không đi theo bao giờ vì bận công việc, nhất là trong thời gian đầu cần giúp đỡ gia đình còn lại Việt Nam . Cho đến năm 92, nhân dịp Thúy Nga mời sang Paris , lúc đó anh mới đi cùng với vợ về thăm gia đình bên ngoại.

Dịp này, Nguyễn Ngọc Ngạn mới tìm đến trung tâm Thúy Nga – là một cửa tiệm bán băng nhạc ở quận 13 Paris, trong khi trung tâm chính được đặt tại nam California từ lâu mà anh không biết - với mục đích cám ơn ông Tô Văn Lai đã gửi tặng một số video, trong khi anh vẫn chưa quyết định có nhận lời cộng tác hay không.

Khi vào đến tiệm, anh cũng không hề biết mặt vợ chồng người điều hành trung tâm. Anh hỏi muốn gặp ông Lai qua bà Thúy, vợ ông. Anh tự giới thiệu là người đã được mời làm MC cho một chương trình video sắp tới.. Nguyễn Ngọc Ngạn nhận thấy sự mừng rỡ trong ánh mắt của ông Tô Văn Lai trong lần gặp gỡ đầu tiên, ít ra là qua cách ăn mặc tươm tất, tóc tai gọn ghẻ, có thể khác với sự hình dung về một nhà văn trước đó của ông giám đốc trung tâm Thuý Nga, “Rồi tôi thấy ống ấy chạy vô nói nhỏ với bà Thúy là “Thúy ơi, ông này coi còn được”. Sau khi thảo luận trong bữa ăn tối, Nguyễn Ngọc Ngạn vẫn còn lưỡng lự trước lời mời làm người điều khiển chương trình, “vì trong văn giới đã có tiếng, bây giờ làm MC mà không được thì kỳ.”

Với lý do đó, Nguyễn Ngọc Ngạn khất ông Lai thêm một thời gian. Trong khi đó, anh dò hỏi ý kiến những người cháu trong gia đình cùng một số học trò cũ gặp tại Paris thì tất cả đều phản đối. Ngay cả mấy người em vợ và chính vợ anh cũng không ủng hộ cho việc nhận lời làm MC của anh...

Nhưng chỉ có một người duy nhất ủng hộ anh là nhạc sĩ Ngọc Trọng, người em út trong gia đình, với lý do muốn bố còn ở Việt Nam thấy mặt anh, dù là qua hình ảnh và chỉ cần xuất hiện trên một chương trình video, rồi sau đó ngưng luôn cũng được. Vợ anh, trước lý do xác đáng đó cũng đã khuyên anh nên nhận lời.

Từ những khuyến khích với lý do nặng về tình cảm đó, Nguyễn Ngọc Ngạn gọi điện thoại cho ông Tô Văn Lai, đồng ý xuất hiện trong chương trình Paris By Night 17, thu hình tại Paris, ”Nhưng không biết có làm lâu dài hay không, nên tôi dứt khoát không may quần áo mới, tôi mặc bộ đồ tôi vẫn đi làm ở thư viện thường ngày. Tôi vẫn mang cái kính cũ, tôi đi đôi giầy cũ, tôi không có thay một cái gì cả. Và tóc tai là tôi cũng tự chải chứ không để ai chải đầu, làm tóc hết. Vì không biết người ta có mướn mình làm nưã hay không và mình cũng không có ý định làm lâu, thành ra tôi không có gì thay đổi”.

Chỉ sau khi nói vài lời mở đầu và sau đó giới thiệu nhạc phẩm “Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội” của Phạm Đình Chương do Ái Vân và Hương Lan trình bầy trên Paris By Night 17, ban giám đốc trung tâm Thúy Nga đã đề nghị Nguyễn Ngọc Ngạn cộng tác độc quyền.

Với một giọng nói “ăn micro” cùng một đường hướng khác biệt với những người đi trước, Nguyễn Ngọc Ngạn đã ít nhiều gây được một ấn tượng tốt. Anh kể: ”Tôi chỉ biết là khi lên sân khấu, tôi chỉ mới nói mấy câu mở đầu thôi, nhờ cái giọng tôi ăn micro lắm nên gây được ấn tượng cho người ta. Thứ hai là lối nói của tôi có vẻ thầy giáo. Tôi nghĩ trong đầu là những người MC trước họ cười nhiều quá. Bây giờ mình phải làm ngược là không cười. Họ nói những chuyện bình thường trong đời sống, bây giờ tôi phải đưa một chút văn chương và một chút triết học vào”.

Ngay trong chương trình video đầu tiên, Nguyễn Ngọc Ngạn đã đưa vào phần giới thiệu chương trình một số câu thơ của Thanh Tâm Tuyền vì muốn làm một điều gì khác biệt với trước đó như anh đã nói, nhất là muốn khai thác kiến thức về văn chương của mình.. Theo anh, đó là một cách thử, nhưng không ngờ lại gây được chú ý. Trước đó, chính vợ anh cũng không tỏ ra tin tưởng mấy khi anh đảm nhiệm một vai trò quá mới lạ. Khi tiễn chân Nguyễn Ngọc Ngạn ra cửa trong lần đi thu hình đầu tiên, chị Diệp cho rằng chuyến này anh đi sẽ “ôm đầu máu “ trở về, theo lời anh kể.

Sau khi video Paris By Night 17 phát hành, đã có một số trung tâm gọi đến mời anh đảm nhiệm vai trò MC, nhưng anh đều từ chối vì đã nhận lời cộng tác độc quyền với Thuý Nga vì nhận thấy trung tâm này thích hợp với đường lối của mình. Với đường lối đó, “Ông giáo làng Nguyễn Ngọc Ngạn“ đã chứng tỏ được điều “hữu chiêu thắng vô chiêu”, như nhạc sĩ Song Ngọc đã nhận xét về anh sau khi cuốn video trên phát hành trong một bài báo ngắn.

Trước khi gặp Nguyễn Ngọc Ngạn, trung tâm Thuý Nga đã mời Đỗ Văn làm MC cho video 18 với chủ đề Phạm Duy. Ngoài ra cũng đã mời Kim Anh – Trần Quốc Bảo cho chương trình đặc biệt Giáng Sinh; Lê Văn cho chương trình Phạm Duy 2 và La Thoại Tân cho một chương trình khác. Cho nên dù đã nhận lời cộng tác độc quyền nhưng anh muốn Thúy Nga giữ lời hứa với những người đã mời nên anh đã chỉ xuất hiện sau đó từ chương trình Paris By Night 20 trở đi.

Tổng cộng tính đến chương trình Paris By Night 72 anh đã có mặt trên 70 chương trình, hầu hết là đảm trách phần MC với Kỳ Duyên, ngoài một vài chương trình “độc diễn”, như chương trình 21 với chủ đề Ngô Thuỵ Miên hoặc 22 dành cho Lam Phương.

Nguyễn Ngọc Ngạn cho biết anh không hài lòng một chương trình nào một cách trọn vẹn, do đầu óc luôn căng thẳng vì những chương trình thu hình thường kéo quá dài. Nhiều khi có những chương trình được thu hình 2 xuất trong một ngày, chỉ cách nhau chừng hai tiếng với sự thay đổi về thành phần ca sĩ.

Anh luôn cố gắng làm thế nào để những khán giả tham dự xuất thứ hai có cảm tưởng mới lạ đối với những diễn biến trên sân khấu mặc dù trước đó không lâu, trong cùng một ngày, cũng chương trình đó đã được diễn ra với anh là người điều khiển chương trình, cùng với Kỳ Duyên.

Đặc biệt mỗi lần thay đổi cảnh trí đối với những chương trình thu hình “live”, Nguyễn Ngọc Ngạn luôn phải tìm cách “câu giờ”, tùy theo thời gian chuyển cảnh giữa những tiết mục, nhưng “khó ở chỗ là nói làm sao để khán giả không biết là đang câu giờ “, theo anh nói.

Thời gian ngắn nhất để chuyển cảnh khoảng 3 phút và dài nhất có khi lên đến 10 phút hoặc hơn. Không ít khán thính giả thắc mắc về việc bằng cách nào người MC biết được cảnh trí đã được dàn dựng xong, sẵn sàng cho tiết mục kế tiếp, để ngưng câu chuyện đang kể trên sân khấu.

Điều này được Nguyễn Ngọc Ngạn giải thích: ”Ở giữa hoặc ở cuối rạp có một người cầm đèn pin mà khán giả không nhìn thấy. Người ta cho mình biết anh đó sẽ ngồi ở đâu. Thí dụ ngồi ở chân camera nào hay là ở hàng ghế thứ mấy. Anh ta đeo một headphone và trên sân khấu có stage manager cũng đeo một headphones. Khi nào trên stage manager dọn xong sân khấu ở sau bức màn, sẽ báo cho đạo diễn biết để ở trên sẽ nói xuống cho anh cầm đèn pin. Anh cầm đèn pin sẽ bấm hai cái thì tôi với cô Kỳ Duyên nhìn thấy. Nếu đang kể chuyện dở dang thì mình gấp rút kết luận để chuyển mục. Cho nên có nhiều chuyện định kể hoặc chưa kịp nói thì bỗng dưng thấy chớp đèn rồi thì mình mừng quá, mình vào luôn”.

Qua lời kể của Nguyễn Ngọc Ngạn, khán giả đã nhận biết được tầm mức quan trọng của một người được gọi là MC trong một chương trình video hoặc một “live show”. Ngoài tài ứng biến nhậm lẹ, thích ứng tức khắc với những thay đổi chương trình vào giờ chót cùng những lời đối đáp duyên dáng, vv...; người MC cần có một số vốn kiến thức về nhiều lãnh vực liên quan đến thời sự, xã hội, văn chương, vv... qua sự để tâm tìm tòi và nghiên cứu nhằm tạo thành “bài bản” để tạo cho người theo dõi những giây phút thích thú hay những nụ cười thoải mái.

Sau 12 năm lăn lộn trong nghề, không ai phủ nhận là Nguyễn Ngọc Ngạn có được đầy đủ những yếu tố đó. Nhưng không phải từng có nhiều kinh nghiệm mà anh không còn cảm thấy khó khăn với một số chương trình: ”Có nhiều cuốn tôi không hài lòng là những cuốn nói chung không có đề tài để nói, chẳng hạn như chương trình gồm Thế Sơn-Nguyễn Hưng-Don Ho.. Tức là chủ đề chỉ có 3 ca sĩ đó thôi, mà ba ca sĩ đó thì bao nhiêu lời mình giới thiệu trong 10 năm nó đã đủ quá rồi, bây giờ không thể nhắc lại được nữa. Những cái cuốn đại khái như vậy là những cuốn khó khăn nhất cho tôi. Nói chung là những cuốn mà không có đề tài để nói là những cuốn khó khăn nhất”.

Ngược lại, Nguyễn Ngọc Ngạn cảm thấy dễ dàng hơn trong vai trò MC với những chương trình video có một chủ đề rõ ràng như: ”chủ đề về Tình Yêu hay là Chúng Ta Đi Mang Theo Quê Hương, Cây Đa Bến Cũ, vv... đại khái như vậy hoặc những chủ đề rõ ràng như Tiền, hay Đàn Bà, hay là 20 Năm Nhìn Lại ,vv... Những cuốn đó thì dễ soạn bài”.

Với người đồng đảm nhiệm phần MC với anh là Kỳ Duyên, Nguyễn Ngọc Ngạn thường bỏ ra nguyên một ngày để cùng soạn “script” cho một chương trình thu hình: “Tụi này có thói quen là cứ thứ Bẩy trình diễn thì bắt buộc phải dành trọn ngày thứ Tư làm việc. Qua đến thứ Năm, thứ Sáu ai rảnh thì ngồi coi. Coi để thêm đuợc cái gì thì thêm. Nhưng dĩ nhiên gọi là làm mất một ngày đó thì trong cái đầu mình phải tìm tòi, gom góp những chất liệu... Kiến thức đâu có phải là cái một sớm một chiều mà xong, nó là cái chuyện tích tụ từ lâu rồi. Rồi đến lúc gặp một tình huống hay một cái gì vui vui thì trong đầu mình nẩy ngay ra ý tưởng thích hợp”.

Tuy nhiên có những trường hợp tuy đã soạn “script” sẵn, nhưng khi lên sân khấu lại phải thay đổi để thích nghi với diễn biến trên sân khấu vì “có khi đổi cảnh nhanh quá, mình chưa kịp nói thì đã đổi xong. Khi đèn pin nó chớp tức là đổi cảnh xong thì phải giới thiệu ngay vào tiết mục kế tiếp”.

Đối với Nguyễn Ngọc Ngạn, mỗi khi hoàn tất vai trò MC cho một chương trình, anh đều cảm thấy “nhẹ bụng như đẻ xong đứa con”, vì đã phải trải qua những giây phút quá nặng nề khiến đầu óc luôn bị căng thẳng. Nhất là những chương trình lớn như “Thuý Nga 20th Anniversary” thực hiện ở San Jose vào tháng 8 năm 2003. Như trong trường hợp quay bằng hình thức MTV thì nếu hư thì sẽ thu hình lại dễ dàng, nhưng đây là một buổi thu hình có sự tham dự của khán giả nên rất khó khăn.

Nhất là khán giả tham dự một chương trình thu hình “live” có tính cách tổng hợp gồm nhiều thành phần với những thị hiếu về nghệ thuật khác biệt: ”Theo tôi, khán giả tham dự những buổi trình diễn văn nghệ là một sự tổng hợp. Thí dụ có những người chỉ thích loại nhạc do Khánh Hà, Khánh Ly, Ý Lan, vv... trình bầy, thì khi nghe những ca sĩ khác thì coi như họ đành ngồi nghe thôi. Ngược lại, có những người chỉ thích loại nhạc trình bày bởi Trường Vũ, Như Quỳnh, Phi Nhung, Mạnh Quỳnh mà không thích loại nhạc tiền chiến. Nên khi những ca sĩ hát loại nhạc tiền chiến ra thì họ cũng phải chịu đựng, ngồi đó thôi. Cho nên chen vào giữa các bài hát mà mình không làm được cái gì để cho không khí vui lên thì sẽ làm khổ khán giả”.

Những gì Nguyễn Ngọc Ngạn phải thực hiện khi làm MC không chỉ dừng lại ở đó mà anh còn được giao phó một số vai trò khác “như tôi phải làm ảo thuật, phải làm xiệc thì phải tập dượt trước. Rồi những màn như trước đây tôi đu trực thăng hay là nhảy xuống Niagara Falls , vv... Bên cạnh đó, tôi và cô Kỳ Duyên cũng có khi đóng những tiểu phẩm nhỏ. Thí dụ như Phi Nhung-Mạnh Quỳnh hát cải lương xong kêu tôi bằng ba, tôi phải đi ra. Có nhiều thứ lắm, không phải MC của Thuý Nga chỉ đứng giới thiệu không mà thôi. Thành ra chiếm rất nhiều thì giờ và đầu óc của mình”.

Ngoài Kỳ Duyên, trong những lần tham dự những chương trình “live show” tại khắp nơi, Nguyễn Ngọc Ngạn đã từng làm MC bên cạnh Thụy Trinh, Mai Phương, Quỳnh Hương, Khánh Ly, vv...Với bất cứ ai, anh cũng có khả năng tạo được một sự ăn khớp nhịp nhàng, nhờ biết nương theo cách ứng xử của từng người.. Hiện nay, ngoài phần làm MC độc quyền cho những chương trình video Paris By Night, Nguyễn Ngọc Ngạn thường xuyên nhận được lời mời đi show khắp nơi tại Bắc Mỹ, Âu Châu cũng như Úc Châu.

So với những ca sĩ nổi tiếng, anh đi show không nhiều bằng - mặc dù có những tháng anh nhận tới 5 shows - vì có những vũ trường hay những chương trình nhỏ của các hội đoàn không cần đến vai trò MC. Nhưng anh nhận được rất nhiều lời mời làm MC cho những tiệc cưới, tiệc kỷ niệm thành hôn, vv... nhưng anh không nhận lời, ngoài một vài chương trình do những bạn bè thân tổ chức mà không đòi hỏi một khoản thù lao nào. Đặc biệt hơn cả là có lần anh được mời làm MC cho một... đám ma, theo lời trối trăn của người quá cố, muốn anh đọc điếu văn, nhưng anh cũng không nhận lời. Anh nói đùa thêm là “thật sự nếu làm MC cho đám ma thì sướng hơn vì không phải kể jokes !”

Đối với người MC nhiều năm kinh nghiệm này, vấn đề khó khăn nhất hiện nay chính là vấn đề tìm kiếm để có được những mẩu chuyện vui để kể trên sân khấu, vì những câu chuyện thích hợp với khán thính giả Việt Nam càng ngày càng cạn. Tuy anh có cả một tủ sách truyện vui cười của Mỹ, nhưng khi dịch sang tiếng Việt đã không áp dụng được với khán giả người Việt do cách chơi chữ đặc biệt hoặc mang tính cách thời sự, không thích hợp với các khán thính giả Việt Nam . Cũng đã từng có rất nhiều người đóng góp những chuyện vui cười với anh, qua trung tâm Thuý Nga, nhưng vấn đề tuyển chọn không phải là dễ dàng để hoạ hoằn mới có một chuyện được dùng.

Vai trò MC nổi bật của Nguyễn Ngọc Ngạn hầu như đã khiến vai trò một người cầm bút của anh bị lu mờ phần nào. Mặc dù hiện nay anh vẫn viết đều, nhất là những chuyện được thu vào những “audio books” mà không ai ngờ là những sản phẩm được tiêu thụ rất mạnh hiện nay.

Sau 12 năm vui buồn với nghề ăn nói, Nguyễn Ngọc Ngạn không còn bao lâu sẽ bước vào lớp tuổi 60. Anh cho rằng cũng chẳng còn bao lâu nữa, sẽ đến lúc anh bước xuống sân khấu, từ giã ánh đèn mầu, bỏ lại phiá sau nghề MC cùng cái thế giới nghệ sĩ đối với anh có nhiều gắn bó. Anh luôn mang hy vọng trong thế hệ những MC tiếp nối con đường của mình sẽ có những khuôn mặt, những giọng nói nâng cao được giá trị của cái nghề xét ra không phải dễ dàng này...
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Huyền Thoại Kim Ngân Hoa

Linh Bảo chuyển ngữ
Truyện kể rằng ngày xưa, rất xưa ở một làng hẻo lánh gần rừng núi có hai vợ chồng nông phu rất phúc hậu. Họ sống nghèo nàn nhưng rất thương yêu quí mến nhau. Và dù phải làm lụng vất vả để sinh sống họ vẫn thấy tràn đầy hạnh phúc.

Nỗi khổ tâm duy nhất là tuy kết hôn đã lâu năm vẫn chưa có con. Hai người ngày đêm cầu nguyện cũng như tìm thầy xin thuốc khắp nơi để mong được hoài thai.

Không biết lời cầu nguyện của vợ chồng nông phu được đáp ứng, hay uống thuốc hữu hiệu, một năm sau sinh đôi được hai gái. Dù sao họ tin tưởng là Trời Phật đã cảm lòng thành nên sung sướng vô cùng, đặt tên cô chị là Kim Hoa, và cô em là Ngân Hoa.

Kim Ngân Hoa được cha mẹ cưng chiều, nhưng rất ngoan và khỏe mạnh quanh năm không hề có bệnh tật gì.

Ngày tháng trôi qua, hai cô càng lớn càng xinh đẹp, làng trên xóm dưới đều nghe danh tiếng. Suốt ngày mối mai tấp nập.

Những người giàu sang quyền quí cũng như bạn bè thân sơ của cha mẹ Kim Ngân Hoa đều muốn cưới một trong hai cô về làm con dâu nhà mình. Vợ chồng nông phu thương con nên không theo phong tục cổ gả chồng sớm cho con. Hai cô càng lớn càng xinh đẹp và càng nhất quyết không sống rời xa nhau, nên cũng từ chối tất cả những lời cầu hôn.

Đến năm 16 tuổi, một hôm khí trời sang thu lạnh, Kim Hoa bỗng sinh bệnh. Ban đầu cô cảm thấy đầu nặng chân nhẹ, toàn thân rất đau đớn khó chịu. Ban ngày tuy nói cười được nhưng ban đêm thì lên cơn sốt nóng như lửa đốt. Miệng và lưỡi đều khô bỏng nức nở, cả thân mình hiện đầy chấm mụn đỏ lở loét.

Vợ chồng nông phu kinh hoảng lo lắng, đón mời thầy thuốc đến thăm bệnh. Thầy nào thăm xong cũng chỉ nhìn, cho vài vị thuốc cầm chừng lắc đầu bảo bệnh nặng quá, chỉ còn nhờ Trời.

Kim Hoa uống thuốc gì cũng không bớt, trái lại bệnh càng nặng thêm. Ngân Hoa săn sóc chị ngày đêm không rời.
Kim Hoa bảo em tránh xa mình vì thầy lang bảo bệnh này sẽ bị truyền nhiễm. Ngân Hoa quyết tâm ở lại cạnh chị săn sóc, chỉ tiếc rằng không thay được chị chia sẻ bớt đau khổ. Kim Hoa nhất định đuổi em ra khỏi phòng bệnh, bảo em phải sống để phụng dưỡng cha mẹ già. Ngân Hoa vẫn không vâng lời, ở lại săn sóc chị và nhắc chị lời thề “Sống cùng giường, chết cùng mồ”, mà hai chị em đã hứa với nhau.

Chỉ mấy hôm sau Ngân Hoa bị lây bệnh và cùng chị nói lời trối cuối cùng với bố mẹ: “Chúng con chết rồi nhất định sẽ biến thành một thứ dược thảo, để cứu sống những người mắc bệnh đậu mùa. Chúng con xin bố mẹ tha tội chúng con đi trước, chúng con sẽ đợi bố mẹ ở thế giới bên kia, và xin cảm đội công ơn bố mẹ nuôi dưỡng.”

Vợ chồng nông phu trong sự đau đớn cùng cực, chôn hai con gái chung một mồ để hai cô giữ trọn lời nguyền.

Cách ít lâu, từ trong mộ của Kim Hoa và Ngân Hoa mọc ra một thứ cây leo. Chỉ vài tháng sau, cây trưởng thành, lá màu lục đậm rất sum suê. Đến mùa hạ, cây nở ra thứ hoa đối chiếu nhau màu vàng và màu trắng sóng đôi.

Hoa rất xinh đẹp, rất hòa hợp nở từ cạnh của cành dây leo, và cũng rất dễ bị tổn thương vì hoa quá mong manh.

Người làng đến thăm mộ Kim Ngân Hoa để xem giống hoa lạ, và mách miệng nhau lời thề nguyện của hai chị em: “Chết rồi sẽ biến thành một thứ dược thảo để cứu người” nên đặt tên hoa ấy là Kim Ngân Hoa.

Dược Thảo Kim Ngân Hoa

Dược thảo Kim Ngân Hoa cũng có tên Nhẫn Đông vì chịu được khí lạnh của mùa đông. Hoa hái lúc mới chớm nở từ tháng 3 đến tháng 6. Lá hái quanh năm. Phơi hoặc sấy khô để dành pha thay trà uống chống dị ứng, thanh nhiệt, giải độc. Có tác dụng kháng khuẩn,chữa mụn nhọt, lỡ ngứa, ban sởi, đậu mùa, rôm sảy, thấp khớp, viêm mũi dị ứng, thấp khớp .

Theo Trung y, Kim Ngân vị ngọt, tính hàn, không độc, đi vào 4 kinh Phế, Vị, Tâm và Tỳ.

Dùng chữa bệnh ngày từ 4 đến 8g hoa, hoặc 10 đến 20g cành có lá, dùng như cách sắc thuốc , cao thuốc hoặc ngâm rượu .

Kim Ngân Hoa tươi hay khô, hoa hay lá đều có thể dùng như trà .

Cháo Kim Ngân Hoa dùng khi muốn thanh nhiệt, giải độc .

Cháo trắng nấu riêng . Kim Ngân Hoa nấu riêng . Khi ăn, hâm cháo sôi lên, pha thêm trà Kim Ngân Hoa đã nầu riêng vào cháo . Ăn ngọt mặn tùy thích .
Những người Tỳ Vị hư hàn, không có nhiệt độc không nên dùng.

Cho đến bây giờ, không biết đã qua bao nhiêu trăm năm, vào khoảng tháng 5, tháng 6 lúc Kim Ngân Hoa hàm tiếu, thơm ngát cả một vùng trời, những bà mẹ quê lại kể huyền thoạI Kim Ngân Hoa cho các con nghe, để học tính chất một dược thảo và cũng để nhắc nhỡ các con là tình chị em sâu đậm đến chết không phai
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Image


Mộng tinh ở người cao tuổi
Sự lẫn lộn giữa giấc mơ và đời thật đôi khi lại khiến cuộc sống trở nên thi vị hơn, như một liều thuốc giảm stress, nhất là cho những người cao tuổi. Vậy nên có một người đàn ông 75 tuổi đã kể cho tôi nghe câu chuyện của mình và ông ta kết luận với tôi là sau giấc mơ đáng giá ngàn vàng đó, ông ta trở nên yêu đời hơn, trẻ trung hơn và khí lực có vẻ khả quan hơn nhiều.

Giấc mơ mà ông có là gặp lại người vợ hiền đã quá cố cách đây 5 năm. Ông đã hưởng lại được cái phút giây hạnh phúc bên người vợ trẻ 40 năm về trước.

Và lý do mà ông đến với chúng tôi: "Giúp ông tìm lại giấc mơ đó lần thứ 2 trong đời một lần nữa". Giấc mơ mà trong đó ông đã ân ái với vợ. Ông nói: "Hiện tại ham muốn tình dục thì vẫn còn, nhưng hoạt động tình dục, kể cả thủ dâm cũng là một điều rất khó thực hiện ở tuổi 75 của ông. Ông không muốn thực hiện tình dục với ai khác vì ông chỉ yêu vợ mà thôi".



Theo chuyên gia Freud thì có 3 loại giấc mơ:

- Những giấc mơ giúp giải tỏa những uẩn khúc trong đời sống hàng ngày.

- Những giấc mơ mang dấu hiệu tâm linh.

- Những giấc mơ huyền bí.

Mỗi loại giấc mơ đều mang một thông điệp khác nhau chuyển tải từ tiềm thức cho cá nhân nhằm giải tỏa, cảnh báo hoặc tiên tri về một điều bí ẩn trong đời sống nội tâm.

Trong Khoa tình dục có một loại giấc mơ mà người ta thường gọi là mộng tinh.

Những người lớn tuổi 60-70 cả đàn ông lẫn đàn bà có còn mộng tinh nữa hay không? Nếu có thì mỗi tháng hay mỗi năm có bao nhiêu lần? Trong giấc mơ có thấy giao hợp với người khác phái không? Có xuất tinh không? Hay là những giấc mơ tương tự như thế đã biến mất từ lúc nào mà trong cuộc sống lo toan người ta không còn để ý đến nữa, nếu có chỉ là những trường hợp hi hữu?

Giấc mơ cũng là một trong những tiêu chuẩn để thăm dò bệnh tật thước đo sức khỏe của người lớn tuổi.

Chưa hẳn là một người lớn tuổi luôn luôn có những giấc ngủ bình yên không mơ thấy điều gì lại tốt hơn một người khác thỉnh thoảng có giấc mơ đẹp, yêu đời, vui vẻ, được trở về với tuổi thanh xuân.

Một giấc mơ đẹp có khả năng xóa tan đi những âu lo, phiền muộn cô đơn của tuổi già, một phương pháp chống stress và cũng là một cách chống lão hóa trí tuệ.

Quan niệm của Tuệ Tĩnh Thiền sư và Hải Thượng Lãn Ông

Mộng là giấc mơ.

Vậy tinh là gì?

Trong từ điển Việt Nam chữ "tinh" có đến 12 nghĩa, trong đó chữ tinh trong bài này có nghĩa một chất lỏng trong cơ quan sinh dục loài đực tiết ra khi giao cấu.

Người xưa nói: người ta có 3 cái quý là tinh, khí, thần.

Nếu giữ được thần, vững được khí, vẹn được tinh thì mọi bệnh tật không sinh ra được.

Trong Nam dược thần hiệu đã định nghĩa về di tinh như sau: "Di tinh là tinh khí trong ngọc hành tự chảy ra, phát bệnh chia ra làm hai loại hư thực khác nhau, phàm người trai tráng khỏe mạnh ở lẻ (rảnh rỗi một mình) vì mơ tưởng dục tình, hoặc nằm mộng thấy gái mà xuất tinh, đấy là tinh khí tràn đầy mà tiết ra, không cần phải dùng thuốc, được thỏa mãn tình dục là hết bệnh...".

Còn Hải Thượng Lãn Ông cho rằng: "Lòng dục động thì hỏa bốc lên, hỏa bốc lên thì tinh thần mỏi mệt, tinh thần mỏi mệt thì tinh hoạt mà hóa thành di, mộng tinh...".

Y học phương Tây thì định nghĩa mộng tinh là xuất tinh trong lúc ngủ, tình trạng này thường xảy ra ở con trai tuổi dậy thì.

Trong sách Tố Nữ kinh thì khuyên: Ở tuổi 70 mà khỏe mạnh thì mỗi tháng giao hợp một lần, ốm yếu thì nên kiêng cữ không nên xuất tinh, còn chuyện mộng tinh thì không hề đề cập đến.

Trong nghiên cứu chúng tôi: những giấc mơ tình dục trong đời sống của một số người lớn tuổi chỉ gặp dưới 1%. Có cách nào để giúp tái lập lại giấc mơ tình dục cho họ hay không? Có, công trình nghiên cứu của chúng tôi nhằm giải thích sự khác biệt giữa mộng tinh của người trẻ tuổi và sự biến mất của loại giấc mộng này ở người cao tuổi có liên quan tới nồng độ kích thích tố testosterone. Qua nghiên cứu, nhận thấy có sự gia tăng testosterone khá nhanh ở tuổi dậy thì và suy giảm ở tuổi sau 50.

Ảnh hưởng phụ của testosterone ở tuổi dậy thì trong việc tạo ra mụn (acne) và biến mất ở người cao tuổi, mụn ở phụ nữ ít hơn nam giới.

Có sự đột biến nồng độ testosterone trong những trường hợp hi hữu.

Có thể gia tăng nồng độ testosterone một cách đột biến trong máu ở mức độ cho phép.

BS. Hồ Đắc Duy
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Cô giáo và học trò lớp 5
Câu chuyện đã xảy ra từ nhiều năm trước. Lúc đó, cô Thompson đang dạy tai trường tiểu học của một thị trấn nhỏ tại Hoa Kỳ.

Vào ngày khai giảng năm học mới, cô đứng trước những em học sinh lớp 5, nhìn cả lớp và nói cô sẽ yêu thương tất cả các học sinh như nhau. Nhưng thực ra cô biết mình sẽ không làm được điều đó bởi cô đã nhìn thấy cậu học sinh Teddy Stoddard ngồi lù lù ngay bàn đầu. Năm ngoái cô đã từng biết Teddy và thấy cậu bé chơi không đẹp với bạn bè, quần áo thì lôi thôi lếch thếch, còn người ngợm thì lại quá bẩn thỉu. "Teddy trông thật khó ưa".

Chẳng những thế, cô Thompson còn dùng cây bút đỏ vạch một chữ thập rõ đậm vào hồ sơ cá nhân của Teddy và ghi chữ F đỏ chói ngay phía ngoài (chữ F là hạng kém).

Ở trường này, vào đầu năm học mỗi giáo viên đều phải xem thành tích học tập của từng học sinh trong lớp mình chủ nhiệm. Cô Thompson đã nhét hồ sơ cá nhân của Teddy đến cuối cùng mới mở ra xem, và cô rất ngạc nhiên về những điều đọc được. Cô giáo phụ trách lớp 1 đã nhận xét Teddy như sau: "Teddy là một đứa trẻ thông minh và luôn vui vẻ. Học giỏi và chăm ngoan... Em là nguồn vui cho người chung quanh". Cô giáo lớp 2 nhận xét: "Teddy là một học sinh xuất sắc, được bạn bè yêu quý nhưng có chút vấn đề vì mẹ em ốm nặng và cuộc sống gia đình thật sự là một cuộc chiến đấu". Giáo viên lớp 3 ghi: "Cái chết của người mẹ đã tác động mạnh đến Teddy. Em đã cố gắng học, nhưng cha em không mấy quan tâm đến con cái và đời sống gia đình sẽ ảnh hưởng đến em nếu em không được giúp đỡ". Giáo viên chủ nhiệm lớp 5 nhận xét: "Teddy tỏ ra lãnh đạm và không tỏ ra thích thú trong học tập. Em không có nhiều bạn và thỉnh thoảng ngủ gục trong lớp".

Đọc đến đây, cô Thompson chợt hiểu ra vấn đề và cảm thấy tự hổ thẹn.

Cô còn thấy áy náy hơn khi đến lễ Giáng sinh, tất cả học sinh trong lớp đem tặng cô những món quà gói giấy màu và gắn nơ thật đẹp, ngoại trừ món quà của Teddy. Em đem tặng cô một gói quà bọc vụng về bằng loại giấy gói hàng nâu xạm màu mà em tận dụng lại từ loại túi giấy gói hàng của tiệm tạp hóa. Cô Thompson cảm thấy đau lòng khi mở gói quà ấy ra trước mặt cả lớp. Một vài học sinh đã bật cười khi thấy cô giơ lên chiếc vòng giả kim cương cũ đã sút mất vài hột đá và một chai nước hoa chỉ còn lại một ít. Nhưng cô đã dập tắt những tiếng cười nhạo kia khi cô khen chiếc vòng đẹp, đeo nó vào tay và xịt một ít nước hoa trong chai lên cổ tay. Hôm đó Teddy đã nán lại cho đến cuối giờ để nói với cô: "Thưa cô, hôm nay cô thơm như mẹ em ngày xưa".

Sau khi đứa bé ra về, cô Thompson đã ngồi khóc cả giờ đồng hồ. Và chính từ hôm đó, ngoài dạy học cô còn lưu tâm chăm sóc cho Teddy hơn trước. Mỗi khi cô đến bàn em để hướng dẫn thêm, tinh thần Teddy dường như phấn chấn hẳn lên. Cô càng động viên em càng tiến bộ nhanh. Vào cuối năm học, Teddy đã trở thành học sinh giỏi nhất lớp. Và trái với phát biểu của mình vào đầu năm học, đã không yêu thương mọi học sinh như nhau. Teddy là học trò cưng nhất của cô.

Một năm sau, cô tìm thấy một mẩu giấy nhét qua khe cửa. Teddy viết: "Cô là cô giáo tuyệt vời nhất trong đời em".

Sáu năm sau, cô lại nhận được một bức thư ngắn từ Teddy. Cậu cho biết đã tốt nghiệp trung học, đứng hạng ba trong lớp và "Cô vẫn là người thầy tuyệt vời nhất trong đời em".

Bốn năm sau, cô lại nhận được một lá thư nữa. Teddy cho biết dù hoàn cảnh rất khó khăn khiến cho cậu có lúc cảm thấy bế tắc, cậu vẫn quyết tốt nghiệp đại học với hạng xuất sắc nhất, nhưng "Cô vẫn luôn là cô giáo tuyệt vời mà em yêu quý nhất trong đời".

Rồi bốn năm sau nữa cô nhận được bức thư trong đó Teddy báo tin cho biết cậu đã đậu tiến sĩ và quyết định học thêm lên. "Cô vẫn là người thầy tuyệt nhất của đời em", nhưng lúc này tên cậu đã dài hơn. Bức thư ký tên Theodore F. Stoddard - giáo sư tiến sĩ.

Câu chuyện vẫn chưa kết thúc tại đây. Một bức thư nữa được gửi đến nhà cô Thompson. Teddy kể cậu đã gặp một cô gái và cậu sẽ cưới cô ta. Cậu giải thích vì cha cậu đã mất cách đây vài năm nên cậu mong cô Thompson sẽ đến dự lễ cưới và ngồi ở vị trí vốn thường được dành cho mẹ chú rể.

Và bạn thử đoán xem việc gì đã xảy ra? Ngày đó, cô đeo chiếc vòng kim cương giả bị rớt hột mà Teddy đã tặng cô năm xưa, xức thứ nước hoa mà Teddy nói mẹ cậu đã dùng vào kỳ Giáng sinh cuối cùng trước lúc bà mất.

Họ ôm nhau mừng rỡ và giáo sư Stoddard thì thầm vào tai cô Thompson: "Cám ơn cô đã tin tưởng em. Cám ơn cô rất nhiều vì đã làm cho em cảm thấy mình quan trọng và cho em niềm tin rằng mình sẽ tiến bộ".

Cô Thompson vừa khóc vừa nói nhỏ với cậu:

"Teddy, em nói sai rồi. Chính em mới là người đã dạy cô rằng cô có thể sống khác đi. Cô chỉ biết thế nào là dạy học kể từ khi cô được gặp em".
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »



Image

Sự Bình Yên

Một vị vua treo giải thưởng cho họa sĩ nào vẽ được bức tranh đẹp nhất về sự bình yên. Nhiều họa sĩ đã cố công.. Nhà vua ngắm tất cả những bức tranh, nhưng ông chỉ thích có hai bức, và phải chọn lấy một..

Trong hai bức tranh đó, một bức tranh vẽ hồ nước yên ả. Mặt hồ là tấm gương tuyệt mỹ với những ngọn núi cao chót vót bao quanh. Bên trên là bầu trời xanh với những đám mây trắng bồng bềnh, trôi lững lờ. Tất cả những ai ngắm bức tranh đều cho rằng đây là một bức tranh bình yên thật hoàn hảo.Bức tranh thứ hai cũng có những ngọn núi, nhưng là những ngọn núi trần trụi và lởm chởm đá. Bên trên, bầu trời giận dữ đổ mưa như trút, kèm theo sấm chớp ầm ầm. Bên vách núi là dòng thác cuồn cuộn nổi bọt trắng xóa. Thật chẳng bình yên chút nào!

Nhưng sau khi nhà vua ngắm nhìn, ông thấy đằng sau dòng thác là một bụi cây nhỏ mọc lên từ khe nứt của một tảng đá. Nơi đó, giữa dòng thác trút nước xuống một cách giận dữ, có con chim mẹ đang thản nhiên đậu trên tổ của mình, bên cạnh đàn chim con ríu rít… Bình yên thật sự…

“Ta chấm bức tranh này!” – nhà vua công bố. “Sự bình yên không có nghĩa là không ồn ào, không giận dữ. Bình yên có nghĩa là ngay chính khi đang ở trong phong ba bão táp, ta vẫn cảm thấy còn có sự yên tĩnh hiện diện trong trái tim mình. Đó mới là ý nghĩa thực sự của sự bình yên”.


…Có khi nào bạn cảm thấy thật cô đơn, mặc dù xung quanh bạn vô cùng ồn ào, náo nhiệt? Bởi vì bạn chẳng nhận được chút thân thiện nào từ đám đông ấy cả…

…Nhưng cũng có lúc bạn cảm thấy vô cùng ấm áp, hạnh phúc, dù bên cạnh bạn chỉ có một người? Đó là khi trái tim bạn vừa nhận được một tín hiệu thân thương từ người ấy – một người mà bạn vô cùng yêu mến…
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Mỹ bị loại ngay vòng 1 Davis Cup

Ít người nghĩ rằng một đội tuyển hiện giữ kỷ lục 32 lần vô địch như Mỹ lại có thể phải tham dự lượt đấu play-off nhằm giữ lại một suất ở World Group.
Nhưng đó là sự thực sau khi họ bị loại ngay sau vòng đầu.

Image
Serbia chặn đường vào tứ kết của Mỹ (áo trắng). Ảnh: AFP.


Bị Serbia dẫn 2-1 sau ngày thứ bảy, gánh nặng gỡ hòa đã dồn cả lên vai John Isner khi anh phải đối đầu với Novak Djokovic tại Belgrade. Và mặc dù rất cố gắng cứu đến 6 matchpoint, tay vợt cao đến 2m06 này vẫn không tránh khỏi thất bại 5-7, 6-3, 3-6, 7-6 (6), 4-6 sau một cuộc marathon thể lực kéo dài đến 4 giờ 16 phút. Trận thua của Isner khiến cho chiến thắng 7-5, 6-2 của Sam Querrey trước Viktor Troicki ở loạt đánh đơn cuối cùng trở nên vô nghĩa.

Thất bại 2-3 ngay vòng 1, Mỹ sẽ phải tham dự loạt đấu play-off vào tháng 9 tới để xác định đội nào sẽ trụ lại World Group của giải đồng đội Davis Cup. Đó là nỗi đau với đội tuyển giữ kỷ lục 32 lần vô địch, song thực tế lại là kết quả hợp lý. Việc phải làm khách trên sân Serbia mà không có tay vợt chủ lực Andy Roddick, đồng thời anh em nhà Bryan không thể cùng xuất trận, đã khiến sức mạnh của họ giảm đi trông thấy. Trong khi đó, Serbia đã lần đầu tiên trong lịch sử lọt vào tứ kết. Vào tháng sau, vòng tứ kết sẽ được chứng kiến một cuộc đấu giữa hai đội cùng ở bán đảo Balkans, khi Serbia chạm trán Croatia.
Image
Djokovic cùng đội Serbia mừng chiến thắng.
Nhìn chung vòng 1 Davis Cup vẫn chưa phải chỗ dành cho nhiều bất ngờ. Tại sân nhà Luzniki, dù gặp một chút khó khăn, Nga vẫn giành thắng lợi 3-2 trước tân binh Ấn Độ, và họ sẽ tiếp tục được thi đấu trên sân nhà khi tiếp đương kim á quân Argentina ở tứ kết. Đó sẽ là một cặp đấu rất đáng chú ý bởi Argentina vừa thể hiện một tinh thần quật cường ở Thụy Điển, với chiến thắng quyết định 7-5, 6-3, 4-6, 6-4 của Nalbandian trước Vinciguera. Đương kim vô địch Tây Ban Nha cũng đại thắng Thụy Sĩ 4-1 dù không cần tới Nadal và Verdasco, và sẽ chạm trán Pháp tại vòng 2.

Cặp đấu diễn ra muộn nhất diễn ra tại Chile, với loạt trận đánh đơn thứ hai sẽ diễn ra vào tối nay. Hiện Chile đang dẫn Israel 2-1, và đội thắng trong cặp đấu này sẽ đụng CH Czech tại vòng tứ kết.

Giải quần vợt Monterrey mở rộng cũng đã tìm ra được nhà vô địch mới, đó là tài năng trẻ người Nga Anastasia Pavlyuchenkova, sau khi cô đánh bại “chân dài” Hantuchova với tỷ số 1-6, 6-1, 6-0 ở trận chung kết tối qua. Đây là danh hiệu WTA đầu tiên trong sự nghiệp của tay vợt 18 tuổi này.

Kết quả chung cuộc vòng 1 Davis Cup

Tây Ban Nha – Thụy Sĩ 4-1
Pháp – Đức 4-1
Nga - Ấn Độ 3-2
Thụy Điển - Argentina 2-3
Croatia - Ecuador 5-0
Serbia – Mỹ 3-2
Bỉ - CH Czech 1-4
Chile - Israel 2–1* (chưa kết thúc)


Tuấn Sơn
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »


Image

Tản Mạn Về Phụ Nữ Ngày Nay
Phạm Thị Quang Ninh


Trong các lời chúc tụng của người Việt ta ngày xưa có một câu chúc cho các cặp vợ chồng trẻ, xem ra không hợp với thời đại này nữa, đó là “Chúc đầu năm con trai, cuối năm con gái”. Tuy nhiên, nếu ta ngẫm nghĩ một lúc thì thấy câu này hàm một triết lý sâu sắc là sự cân bằng giới tính trong xã hội của ta.

Thật ra, cái thời tôi còn trẻ, tôi cũng đã bị ảnh hưởng của các cụ là lấy chồng thì “phải có con trai” nối dõi tông đường cho nhà chồng. Nhưng thật ra cái “phải có” ấy là do trời chứ đâu có do mình. Quan niệm đầy thành kiến “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, một người con trai đã kể là có, mà mười người con gái cũng kể như không, làm cho mọi người xem trọng con trai hơn.

Tuy phong tục là thế nhưng khi có con, trai hay gái cha mẹ nào cũng thương yêu đồng đều, không phân biệt. Nếu cha mẹ săn sóc con cái đầy đủ như nhau thì khi lớn lên trai hay gái đều sẽ có cơ hội tiến thân để trở thành người hữu ích cho xã hội.

Đứng ở vị thế một người mẹ, tôi còn thấy con gái dễ thông cảm khi người mẹ tâm sự những lúc buồn hơn là con trai. Khi bàn đến chuyện này, các bạn tôi cũng đều nghĩ thế.

Mới đây, đài Á Châu Tự do đã loan một tin liên quan đến giới tính của các em bé. Một cuộc nghiên cứu của Liên Hiệp Quốc báo động tình trạng bất quân bình về giới tính của Việt Nam sẽ xảy ra trong vòng mười năm nữa. Theo tờ Strait Times, tỉ lệ là 100 bé gái thì có 120 bé trai. Điều này sẽ đem đến tệ nạn trai thừa, gái thiếu như nước Trung hoa hiện tại.

Theo phúc trình của quỹ Dân Số Thế Giới vào tháng 10 năm 2007, thì ở Việt Nam dân số đã hạ thấp và có sự bất quân bình giới tính. Nguyên do đưa đến sự chênh lệch này là nhiều cặp vợ chồng thích con trai, lợi dụng kỹ thuật tân tiến siêu âm, biết được giới tính của bào thai và đã nhẫn tâm cho phá những bào thai con gái. Cũng theo tổ chức này thì việc phá thai gần như được khuyến khích.

Một nhật báo bên Trung quốc loan tin, hàng năm có khoảng 1.5 triệu phụ nữ Việt Nam đi nạo thai. Khi phá thai thì thể chất và tinh thần của người mẹ chắc chắn bị tổn thương không ít thì nhiều. Viện Phụ sản Trung ương ở Hànội đã cho biết cứ 5 ngày lại có một phụ nữ chết vì phá thai.

Thật khủng khiếp và vô nhân đạo!

Hãy nhìn sang thế giới văn minh, họ không phân biệt giới tính của trẻ em. Vì quan niệm rộng rãi như thế, phụ nữ không bị mặc cảm và trở nên những người đàn bà giúp ích nhiều cho gia đình và xã hội. Không những họ chu toàn việc nhà mà còn chứng tỏ họ có nhiều khả năng đa dạng bên ngoài nữa.

Mặc dù vẫn còn một vài nước lạc hậu, xã hội công khai xem đàn bà là “công dân hạng hai,” “trọng nam khinh nữ” nhưng không ai phủ nhận được trong giai đoạn này người phụ nữ trên thế giới tự do đã thành công trong nhiều lãnh vực. Sự thành công của họ là do tinh thần cầu tiến.

Đọc tin tức hàng ngày, chị em bạn gái chắc phải hãnh diện về những thành quả này. Phụ nữ đã thành công trên mọi mặt, kể cả những lãnh vực mà rất khó chen chân với nam giới. Đã có phái nữ được dân của họ bầu để lãnh đạo đất nước. Các vị nữ tổng thống, thủ tướng trên thế giới, như Aquino, Arroyo của Phi Luật Tân; Thatcher của Anh, Gandhi của Ấn, Merkel của Đức, Bhutto của Pakistan, Bachelet của Chili và hàng trăm nữ lưu đã và đang lãnh đạo quốc gia của họ. Ngoài ra còn một nhà nhân quyền nổi tiếng, bà Aung San Suu Kyi được toàn thế giới kính phục và đang bị quản chế tại nhà bởi tập đàn quân phiệt cầm quyền Miến Điện.

Xa hơn, theo tin AFP, các phụ nữ lãnh đạo toàn cầu đã họp thượng đỉnh lần đầu tiên (International Women Leaders Global Security Summit) tại Nữu Ước ngày 16, 17 tháng 11 năm nay. Họ không những quan tâm về những vấn đề liên quan đến phụ nữ mà còn những vấn đề của thế giới như độ nóng toàn cầu, khủng bố vv…

Tại Hoa Kỳ, bà Hillary Clinton, cựu đệ nhất phu nhân, thượng nghị sĩ, ứng cử viên tổng thống của nước Mỹ là một đảng viên sáng giá của đảng Dân chủ. Tuy không được đại diện cho đảng, bà là ngôi sao sáng của phần lớn người dân Hoa Kỳ. Gần đây nhất, một đệ nhất phu nhân trẻ đẹp, trí thức của xứ Argentina, bà Cristina Fernandez de Kirchner mới đắc cử tổng thống. Và bà là vị nữ tổng thống đầu tiên của nước này.

Thật sự bà Kirchner không phải là người phụ nữ đầu tiên cầm quyền tại Argentina. Trước bà, một đệ nhất phu nhân khác, tuy không được dân bầu nhưng lại có nhiều quyền lực. Đó là bà Isabel Peron, còn được gọi là Evita. Mỗi người một cảnh, bà Evita không được may mắn khi còn bé vì là con ngọai hôn. Thời đó, những người con không chính thức bị xã hội khinh bỉ nên mẹ con bà sống rất nghèo khổ. Từ cái nỗi khổ đó, bà có tâm thức vươn lên.

Bà Evita đã bỏ miền quê lên tỉnh lập nghiệp. Sau bà trở thành ca sĩ, vũ nữ không nổi tiếng. Nhưng nhờ có sắc đẹp, bà có cơ hội may mắn được làm vợ một tướng lãnh, sau ông đắc cử tổng thống Argentia.

Trong thời gian ông tổng thống Peron cầm quyền, bà là người rất gần với người nghèo, và giai cấp lao động. Bà dùng quyền lực để chia sẻ của cải người giàu cho kẻ nghèo. Bà xây nhà thương, trường học và viện dưỡng lão. Dân chúng thương yêu và tôn sùng bà với cái danh hiệu là “Lady of Hope”, tuy rằng bà không được tôn trọng ở vài quốc gia khác vì ông chồng là một nhà độc tài. Nhưng ít ra dân Argentina cũng còn may mắn hơn nhiều nước độc tài khác vì vị đệ nhất phu nhân đã biết thương dân.

Cuộc đời của bà Evita quá đặc biệt nên đã được dựng thành phim. Phim “Evita”, do ca sĩ Madona đóng vai chính với bài hát bất hủ “Don’t Cry for Me Argentina”.

Theo tôi, phim ảnh không những để giải trí, mà còn cho khán giả biết thêm về lịch sử hay hiện trạng xã hội trong thời điểm nào đó.

Nhà đạo diễn Guy Jacobsen mới cho trình chiếu phim Holly (2007), nói về thảm cảnh các bé gái Việt Nam bị bán sang Cambodia làm gái mãi dâm. Trước khi thực hiện, ông Jacobsen đã đi tới tận nơi để sưu tầm sự thực. Sau đó ông cùng với ông Gay Moshe viết thành truyện phim.

Image
Trong phim Holly (2007), tài tử Ron Livingston đóng vai
một Mỹ Kiều sống ở Cam-Bốt muốn cứu một bé gái Việt Nam
12 tuổi ra khỏi nghề mãi dâm


Phim Holly hiện đang trình chiếu, và tất hẳn làm khán giả bàng hoàng và quan tâm. Những hoàn cảnh đau thương của trẻ em trên thế giới, nhất là trẻ em Việt Nam được những cơ quan truyền thông đăng tải nhiều, nhưng hình như tệ nạn không có gì thay đổi.

Tôi vô cùng cảm phục những nhà làm phim đã can đảm phơi bày sự thật như phim Holly. Do đó tôi tin rằng phim ảnh còn có tác dụng giáo dục và đánh động lương tâm con người, nhất là các cấp lãnh đạo Việt Nam hiện tại, nếu họ còn lương tâm. Tục ngữ tây phương có câu “một bức hình bằng cả ngàn lời nói”. Theo tôi, một cuốn phim cũng có giá trị bằng cả ngàn bài diễn thuyết.

Trở về với thế giới tự do bây giờ, các ngôi sao phụ nữ đã và đang sáng chói trên nền trời. Riêng người Việt Nam là di dân mới nhất, hơn ba mươi năm, thế hệ thứ hai, thứ ba cũng đã thành công trong nhiều lãnh vực. Đặc biệt nhất là người trẻ đã vào được dòng chính của các quốc gia tạm dung.

Ở hải ngoại, chúng ta đã có nhiều luật sư, bác sĩ, kỹ sư vv… và đã có những nhà nữ dân cử gốc Việt trên nhiều quốc gia trên thế giới. Tại Hoa kỳ, chúng ta còn có các nữ khoa học gia lẫy lừng trong chính quyền. Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh vừa được Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ vinh danh là người đã góp nhiều công sức cho lợi ích quốc gia. Tổ chức phi chính phủ The Service To America Medals đã kỹ lưỡng chọn người xứng đáng nhất để trao huy chương. Bà Dương Nguyệt Ánh đã thắng trên hàng trăm nhân vật tài ba nhất nước Mỹ. Đặc biệt, bà là một người đàn bà có cuộc sống bình thưòng. Bà vẫn chu toàn bổn phận người vợ, người mẹ trong gia đình.

Một tổ chức phi chính phủ khác tại Mỹ, tổ chức MacArthur Foundation đã trao một giải thưởng cao quí nhất về khoa học cho một nữ thiên tài trẻ gốc Việt Nam. Đó là nữ khoa học gia tiến sĩ Huỳnh Mỹ Hằng đã được tổ chức này cho giải MacArthur Fellowship 2007, giải thiên tài với năm trăm ngàn Mỹ kim. Tiến sĩ Huỳnh Mỹ Hằng hiện làm việc trong phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos.
Image
Tiến sĩ Huỳnh Mỹ Hằng trong hình chụp ở nhà riêng,
Los Alamos, New Mexico


Đọc tiểu sử của hai nhà khoa học gia gốc Việt nổi tiếng này, ai cũng phải cảm phục. Họ đến Mỹ không có vốn liếng tiếng Anh như người bản xứ nhưng trí tuệ và niềm tự ái dân tộc đã thúc đẩy họ thành công trong sự nghiệp. Đó chỉ là vài thí dụ, còn biết bao phụ nữ Việt sống ở hải ngoại thành công trên mọi lãnh vực nữa.

Từ những ngôi sao rực rỡ của nền trời tự do, nhìn vào cái chấm nhỏ Cộng sản trên bản đồ thế giới, sự âm u bao phủ hơn tám chục triệu người Việt Nam. Trong cái tối tăm đó, sáng rực lên những ngôi sao hiếm hoi. Đó là phụ nữ đủ các lớp tuổi, chen cánh với nam giới để tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam.

Điển hình là luật sư Lê Thị Công Nhân, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy và những bà vợ hiền của các nhà tranh đấu dân chủ, luôn luôn sát cánh bên chồng khi hoạn nạn.

Nói về luật sư Lê Thị Công Nhân, cô còn rất trẻ và là phát ngôn nhân của đảng Thăng Tiến Việt Nam, người đang bị CS cầm tù. Cô vừa được Tổ Chức Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam trao giải Nhân Quyền 2007. Luật sư Lê Thị Công Nhân có những lời tuyên bố bất khuất “Một lần nữa tôi xin khẳng định tôi không bao giờ đầu hàng, không bao giờ thoả hiệp với CSVN….”

Thân bé bỏng liễu mềm trước gió
Hồn thép gang thách đố bạo quyền

(Trích bài thơ tặng LS Lê Thị Công Nhân của Ngô Đức Diễm)

Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy cũng là một anh thư, dám đứng lên tranh đấu cho dân oan. Bà bị CS đấu tố, trù dập và bị ngồi tù. Bà có nhiều bài viết hùng hồn, châm biếm chế độ Công Sản rải rác trong báo chí hải ngoại và “báo chui” trong nước. Vì tranh đấu cho dân chủ, nhà văn Trần Khải Thanh Thuỷ đã được tổ chức Human Rights Watch trao giải thưởng cao quí Hellman-Hammett. Mới đây bà còn được tổ chức Văn Bút Quốc Tế mời làm hội viên danh dự. Những bài viết của nhà văn Trần Khải Thanh Thủy đã được in thành sách, “Viết Từ Hang Đá, Nhỏ Lệ Cùng Dân”. Trong đó có mấy vần thơ khí khái :

Nếu tôi chết hãy ghi lên huyệt mộ
Rằng đây là người yêu nước thương dân

(thơ TKTT)

Dù các nhà tranh đấu dân chủ như nhưng vì sao sáng nhưng họ đã sống trong xã hội Cộng sản chập chùng đầy bóng tối, nên những vì sao ấy vẫn không soi nổi được vào lương tâm của những kẻ cầm quyền.

Theo thói thường, cái gì có tự do thì được phát triển. Trí tuệ cũng vây. Bác sĩ Robert Butler, rất uy tín về lão khoa, sau nhiều năm nghiên cứu đã tìm ra rằng trí óc người ta không bị suy yếu khi tuổi già mà chỉ bị yếu đi khi không suy nghĩ. Như vậy ta có thể giải thích tại sao có những cụ già còn rất minh mẫn mà người trẻ hơn lại bị lú lẫn. Bác sĩ Butler cho biết rằng nếu để con người sống cô lập với thế giới bên ngoài và không dùng trí óc thì một thời gian sau người đó sẽ trở nên thụ động.

Người Cộng sản tìm cách ngu dân để dễ trị nên không cho dân có tự do. Khi không có tự do và bị áp chế, người ta sợ hãi nên không suy nghĩ, bảo sao nghe vậy. Trong trường học, các sinh viên chỉ biết có một chiều về những gì mà nhà nước dạy. Vì không suy nghĩ nên trí óc của người dân thành ù lì, không mở mang.

Các quốc gia có văn minh là nhờ người dân được tự do. Cho nên muốn xã hội thăng tiến phải thay đổi chế độ, nâng cao dân trí, đất nước sẽ phát triển theo nền văn minh thế giới.

Những ngôi sao sáng như luật sư Lê Thị Công Nhân, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy và những nhà dân chủ khác là những bông hoa hiếm quí có trí tuệ và lương tri. Như lời luật sư Lê Thị Công Nhân đã nói “Sống thế nào thì sống, vẫn phải giữ lòng tự trọng và lương tâm của mình…”

Câu nói để đời của LS Lê Thị Công Nhân đáng để cho tuổi trẻ Việt Nam lấy làm phương châm cho quan niệm sống.

Nếu những người con gái nổi tiếng ở trong nước vì cái danh tài tử, ca sĩ, người mẫu biết chọn LS Lê Thị Công Nhân làm thần tượng, sẽ không bao giờ lạc hướng, trụỵ lạc như bây giờ. Họ sẽ biết tự trọng. Những cô gái dùng nhan sắc để sống dâm ô, trác táng là những người thiếu giáo dục. Làm ra “sex scancal”, làm gái mua vui cho đàn ông… là những điều đáng khinh bỉ.

Những cô gái Việt lạc hướng này, theo như báo chí đăng tải củng là những người có cắp sách đến trường. Vậy ai giáo dục họ như vây? Phải chi họ có liêm sỉ, suy nghĩ cẩn thận, biết tôn trọng sắc đẹp của mình để giúp mình và giúp người, thì không chừng họ trở thành “Evita Việt Nam”, cứu vớt được bao nhiêu cô gái nhà nghèo ít học khác. Nhưng thật buồn, nhiều cô gái sống trong xã hội CS đang hư hỏng.

Mới đây ông đại sứ Mỹ tại Việt Nam Michael Michalak nói sẽ cho nhiều sinh viên Việt Nam sang du học tại Hoa Kỳ. Ông nói “ Hai mươi năm sau chúng ta sẽ không nói Mỹ đã vào Việt Nam để kiếm tiền, mà chúng ta sẽ nói rằng hơn 75% của nội các Việt là những người đã sang Mỹ du học”. Nghe vậy, tôi rất hồi hộp.

Tôi lo rằng Cộng Sản sẽ mánh mung để đưa con cháu họ sang Hoa Kỳ. Nếu toàn con cán bộ công an sang du học, mục đích chỉ để chuyển ngân mua nhà, mua cửa, ăn chơi trác táng thì vô cùng tai họa. Họ sẽ làm gương xấu cho các sinh viên trẻ và làm mang tiếng cho cộng đồng người Việt. Nếu thành phần này lại sẽ là giai cấp lãnh đạo thì đất nước Việt Nam càng nát bấy. Đã có nhiều phóng sự cho thấy các học sinh du học trở nên “thân tàn ma dại” vì chơi bời và rượu chè, nhất là nữ sinh viên.

Nhưng tôi lại nghĩ nước ta còn nhiều thanh niên, thanh nữ ưu tú. Nếu được đi học nước ngoài họ sẽ có cơ hội phát triển tài năng giúp nước. Tôi mong Hoa kỳ sẽ công bằng tuyển lựa sinh viên Việt Nam cầu tiến sang du học, trong đó có những nữ sinh viên. Và tôi cầu nguyện người Mỹ thành công trong cuộc “khai sáng” cho giới trẻ Việt Nam, để họ nhận biết thế nào là dân chủ và dân quyền của thế giới tự do.

Nếu Hoa Kỳ tuyển chọn những sinh viên hiếu học và cầu tiến, tôi tin chắc giới trẻ này sẽ có tâm thức, biết chọn lựa những tinh hoa nước ngoài mang về nước. Họ sẽ thay thế chế độ hiện tại để lập lại nền giáo dục quần chúng, cải tổ xã hội, bảo vệ nhân phẩm phụ nữ và trẻ em, bảo vệ môi sinh, bảo vệ lãnh thổ và những vấn đề xã hội khác nữa. Như vậy thì sớm muộn chế độ Cộng sản Việt Nam phải sụp đổ.

Trong khi chờ đợi sự thành công mong muốn đó, dân trong nước vẫn phải sống chung với những tệ nạn chung quanh, dưới chế độ Cộng Sản.

Đài Á Châu Tự Do đã nói đến một trong những tệ nạn đó. Theo đài, “nước Việt Nam Cộng sản đang có tệ nạn buôn bán phụ nữ, trẻ em. Đó là một hình thức nô lệ mới”. Nước Việt Nam đã từng bị nô lệ người Tầu, người Tây nhưng đây là lần đầu tiên phụ nữ và trẻ em gái bị hạ nhục như vậy. Theo tôi, tệ nạn nào cũng phải núp dưới cái dù nào đó. Mà cái dù đó chắc chắn phải rất lớn, rất quyền lực và cái dù đó phải được nhiểu lợi nhuận.

Vì có tệ nạn này, giới nghèo ở vùng quê, vì miếng cơm manh áo, cha mẹ, ông bà đã nhẫn tâm bán con, bán cháu gái mình cho bọn bất lương. Thật là những hành động của những kẻ mất hết lý trí và lương tâm. Quá ghê sợ! Tình người dưới chế độ CS duy vật đã cạn hết rồi chăng?

Theo linh muc Tonlop Sophai, người đang phục vụ tại Battambang, Cambodia, những đứa trẻ gái bị bán sang Cambodia phần lớn là các em bé gái Viêt Nam còn rất nhỏ. Tình trạng này nhiều đến nỗi người Cambodia phải khinh bỉ mà nói rằng họ nghèo nhưng không bao giờ bán con gái như người Việt Nam.

Rất đúng là những hành động vô nhân tính ấy là vì nghèo quá và không được giáo dục nên mất lương tri, nhưng ai đã làm nên nỗi? Ai đã phá sản nền đạo đức của một nước có hàng ngàn năm văn hiến để trở về thời man dã, lạc hậu? Có phải vì người cầm quyền vô tài, thiếu đức? Hay là tại cái chủ thuyết ma quái duy vật? Hay tại cái cơ chế xã hội độc tài, độc đảng lạc hậu đưa đến tham nhũng, cướp cạn đất đai và của cải của người dân? Hỏi mà chính là đã trả lời.

Người ta nói tuổi trẻ là tương lai của đất nước. Nhìn cách sống cuả tuổi trẻ tại Việt Nam bây giờ, con cái cán bộ thì trác táng, dùng tiền tham nhũng của cha mẹ ra ăn chơi, tung đô la qua cửa sổ. Mà tiền ấy chắc có phần nào của người hải ngoại.

Con gái tỉnh thành có nhan sắc, không túng thiếu vẫn tự bán mình, gạt gẫm đàn ông để có thêm tiền. Con gái quê, nhà nghèo thì chịu cảnh oan khiên, thất học bị lợi dụng, bị bán buôn như nô lệ. Con gái có cơ hội được học hành tới nơi tới chốn thì ích kỷ và bàng quan trước những tệ nạn xã hội, đất nước. Cứ như thế này mãi, đất nước Việt Nam sẽ đi về đâu?

Hơn lúc nào hết, đất nước chúng ta cần nhiều, thật nhiều ngôi sao sáng. Chính quyền CS đã bất tài, bất lực, bất lương thì cờ phải vào tay tuổi trẻ trí thức và có tri thức, như Lê thị Công Nhân, Trần Khải Thanh Thuỷ và các người trẻ đang tranh đấu cải tổ xã hội, đòi hỏi nhân quyền, dân chủ tại Việt Nam, như lời thơ của thi sĩ Ngô Minh Hằng:

Xin nối tiếp những công trình hiển hách
Gương anh hùng bất khuất của Cha Ông

———

Và hỡi sóng, cuốn phăng đời tàn bạo
Cứu giống nòi và quang phục giang sơn”

(Xin Nối Tiếp Công Trình, thơ NMH)

Tôi tin rằng, với bốn ngàn năm văn hiến, nước Việt Nam còn rất nhiều nhân tài, giòng giõi bà Trưng, bà Triệu đang ở đâu đó sẽ nhập cuộc. Các thanh nữ sẽ đi theo gương sáng của LS Lê Thị Công Nhân, biết tự trọng, tự cứu mình và cứu người. Xã hội Việt Nam sẽ sống trong Công Bằng và Nhân Ái như hoài bão của bà mẹ Việt Nam Trần Thị Lệ, thân mẫu của LS Lê thị Công Nhân. Bà đã giáo dưỡng con gái thành một nữ lưu phi thừơng, được mọi người kính trọng.

Và sau hết, cầu mong các thanh niên, thanh nữ ưu tú trong nước cũng như hải ngoại, mở rộng nhãn quan cùng nhau tìm ra sinh lộ cho Việt Nam. Những lãnh tụ tương lai sẽ không tự tôn, tự ti, biết tổ chức qui mô và hành động hữu hiệu, để cứu lấy mảnh đất thân yêu ra khỏi sự lãnh đạo lạc hậu của CSVN.

Trong biến cố Trung cộng xâm chiếm lãnh hải Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, thanh niên, thanh nữ, trí thức trong và ngoài nước, cùng đồng bào đã nổi dậy biểu tình oai hùng chống lại nước Cộng sản phương Bắc. Tuổi trẻ Việt Nam trong nước chứng tỏ họ không ươn hèn như những người CS đang lãnh đạo.

Khi tuổi trẻ trí thức đã nhận trách nhiệm, thì chắc chắn sẽ có ánh sáng cuối đường hầm cho dân tộc Việt.
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Chopin, Quê Hương và Âm Nhạc

Quỳnh Giao

Image
Bức tượng bán thân nhạc sĩ thiên tài Ba Lan, Frederic Chopin, được trưng bày tại cuộc triển lãm “Chopin, một người Châu Âu,” từ ngày 9 tháng 3, đến 6 tháng 6, 2010.
(Hình: Olivier Laban-Mattei/AFP/Getty Images)

Trong một bài tạp ghi về Gilbert Bécaud - Ta Sẽ Làm Chi Ðời Ta - để nhớ đến bài “Et Maintenant”, Quỳnh Giao nhắc đến ca khúc “Người đánh dương cầm tại Varsovie” do Bécaud soạn nhạc và Pierre Delanoé viết lời. Ðấy là ca khúc nghệ thuật không mấy phổ biến trong giới yêu nhạc phổ thông của Pháp, và không được thế giới quen biết bằng bài “Et Maintenant” dưới tên Anh ngữ là “What Now My Love”...

Bài “Người đánh đàn dương cầm tại Varsovie” gợi nhớ đến Chopin và đất nước Ba Lan.

Chopin là nhạc sĩ sinh tại Ba Lan, thân phụ là người Pháp, và nổi danh khắp Âu Châu là từ Paris, khi ấy là kinh đô hoa lệ của cả lục địa. Năm nay, từ tháng 3, cả thế giới tổ chức nhiều sinh hoạt kỷ niệm hai trăm năm ngày sinh của Chopin, nhưng ca khúc của Gilbert Bécaud khiến chúng ta nhớ đến một người đánh dương cầm tại Varsovie. Trong cảm hứng của Bécaud, có khi chính là ông thầy của Fréderic Chopin trước khi Ba Lan chìm trong máu lửa và trước khi Chopin trở thành nhạc sĩ thiên tài.

Uống nước nhớ nguồn, xin trước tiên trở lại ông thầy đàn tại Varsovie...

Chopin hay tổ chức mừng sinh nhật vào ngày mùng 1 tháng 3, dù giấy rửa tội tại nhà thờ thì ghi là ông sinh ngày 22 tháng 2 năm 1810. Sau cuộc cách mạng Pháp năm 1789, thân phụ ông qua lập nghiệp tại Ba Lan khi mới 16 tuổi và trở thành người có học, có hiểu biết. Hình như ông cũng hiểu là đứa con thứ nhì của mình, Fréderic, có năng khiếu phi thường về nhạc, như đã được học nhạc từ tiền kiếp. Thân mẫu của Chopin cũng thế. Cha là thầy dạy Pháp văn, mẹ là một dương cầm thủ, và hai ông bà nuôi nấng năng khiếu của Frédéric từ khi còn bé.

Có người giải thích rằng cho đến khi lên bảy, một đứa trẻ vẫn còn có thể nhớ lại những gì tiếp nhận từ tiền kiếp nếu được nuôi nấng trong hướng ấy. Nếu không, đứa trẻ sẽ quên dần, và có khi mất luôn, để rồi sẽ... đi lại từ đầu. Fréderic Chopin có duyên may từ cha mẹ nên năm tuổi đánh đàn, sáu tuổi học nhạc và bảy tuổi viết nhạc, tám tuổi trình diễn, làm mọi người, từ bậc vương tôn cho tới thứ dân của Âu Châu đều khâm phục.

Duyên may thứ hai là Chopin có một ông thầy dạy đàn xuất chúng, đó là Jósef Elsner.

Ông Elsner này biết môn sinh của mình thuộc loại thiên tài và muốn Chopin được bung khỏi lối mòn đã cũ, kể cả khi viết nhạc lẫn đánh đàn, và nhất là không chỉ sử dụng dương cầm. Về sau, Chopin vẫn chuyên về dương cầm, trở thành một diệu thủ virtuoso mà trong một thế kỷ thì nhân loại chỉ có được một hai người. Người kia là Franz Listzt, một bạn thân và cũng là kỳ phùng địch thủ trên phím đàn của Chopin. Chuyện này, kỳ khác thì Quỳnh Giao sẽ lại... tạp ghi.

Nhưng, Chopin có học được phép phóng túng mà thầy Jósef Elsner khuyến khích khi viết nhạc. Nên ông trở thành nhạc sĩ đã thổi một sinh khí mới trong dòng nhạc lãng mạn của Âu Châu, trên cung bậc của cây đàn dương cầm. Ông thầy xuất chúng này không chỉ có vậy.

Ngày tiễn môn sinh rời khỏi Varsovie vào cuối năm 1830, Jósef Elsner điều khiển một dàn hợp xướng hát lên những khúc khánh ca, cantate, để mừng Chopin lên đường. Hành lý của chàng thanh niên ở tuổi đôi mươi có một chén bạc đựng một dúm đất của quê hương. Trong đầu là một lời căn dặn của thầy: có thể phục vụ cho sự quang vinh của Ba Lan bằng nghệ thuật. Chứ không cần bằng cách tòng quân nhập ngũ. Ảnh hưởng của ông thầy cũ vẫn còn được thấy qua thư từ hai người viết cho nhau.

Sở dĩ Josef Elsner có lời khuyên đó vì Ba Lan khi ấy bị dìm trong ách thống trị của Ðế quốc Nga và dân chúng đang chuẩn bị nổi dậy trong biển máu. Chopin ra đi vào đúng giai đoạn bi thương ấy và cho đến chết, vẫn không có dịp hồi hương. Quê hương của ông là âm nhạc và Tổ quốc của ông là Ba Lan. Cả hai đã quyện làm một và là nỗi ám ảnh không rời...

Khi Gilbert Bécaud đánh dương cầm trên giai điệu gợi nhớ Chopin và ngợi ca ông thầy dạy đàn tại Varsovie, rồi kết thúc với tiếng nhạc hùng tráng của bài Polonaise Héroique, “Ba Lan anh dũng,” có lẽ ông muốn kể lại chuyện ông thầy này tại Varsovie. Nhớ lại thì mình càng thấy sự cảm động đầy nghệ thuật của ca khúc.

Ngoài tình yêu thiêng liêng cao quý với âm nhạc và quê hương Ba Lan, Chopin cũng có những mối tình thật đẹp với các nhân vật tài sắc nhất của thời đại. Bền lâu và đẫm lệ là với nữ sĩ George Sand, nhà văn đầy tính chất “phá cách” và phá phách của văn chương Pháp. Thời ấy mà bà ăn mặc và lấy bút hiệu của đàn ông, lại phì phèo xì gà thuốc lá thì quả là ngổ ngáo!

Hơn Chopin có sáu tuổi, George Sand yêu Frédéric Chopin như một thần tượng, một người tình, một người em, thậm chí một người con! Có thể là George Sand mang “Mặc cảm Jocaste” của tâm phân học, và bảo bọc Chopin như một người mẹ...

Mà thiên tài này quả là cần được chăm sóc, bảo bọc.

Người ta thường nói rằng Frédéric Chopin bị lao từ sớm và tạ thế vào tháng 10 năm 1849 tại Paris. Trong thế kỷ 20, giới khoa học ngưỡng mộ ông nên cố tìm hiểu thêm về bệnh lý của thiên tài và nêu giả thuyết là ông bị nhiễm độc nội tạng từ bẩm sinh khiến cơ thể suy yếu dần, nhất là vào mùa lạnh, rồi mất sớm, trước tuổi bốn mươi. Phải chăng cũng như Mozart, các thiên tài không chịu ở lâu hơn với chúng ta? Phải chăng, thể chất yếu ớt khiến nhạc của Chopin có sự lung linh của ngọn đèn trước gió và nét ủy mị của một loài bướm đêm? Nhưng đôi tay trên phím đàn thì vũ bão như muốn trút hết sinh lực vào nhạc, để ra đi trong một đêm Ðông...

Trong 39 năm tại thế, Chopin sống ở quê nhà được hai chục năm. Còn lại thì sống nhiều nhất, tổng cộng là 17 năm, ở Paris. Ông dạy dương cầm, soạn nhạc và kết giao với những nghệ sĩ nổi tiếng nhất tại Pháp. Ông trở thành một biểu tượng cho sự văn minh và nghệ thuật của cả một thời đại và được dân Pháp tôn vinh như một báu vật. Sau khi tạ thế, Chopn được chôn cất tại Paris, nhưng con tim được đưa về chôn dưới chân một nhà thờ tại Varsovie.

Kỷ niệm hai trăm năm ngày sinh của Chopin, chính quyền Pháp muốn đưa di hài của ông vào điện Panthéon của các anh hùng dân tộc Pháp để làm lễ vinh danh, trước khi cùng Ba Lan tổ chức sinh hoạt tưởng niệm và thắt chặt tình đoàn kết giữa hai nước. Một hiện tượng rất đẹp...

Chúng ta có thể còn phải viết nhiều về Chopin, viết cả năm chưa hết. Các sinh hoạt kỷ niệm hai trăm năm cũng vậy, sẽ tưng bừng trong suốt năm nay. Từ Chopin, âm nhạc cổ điển đã đổi khác và nghệ thuật sử dụng dương cầm cũng thế. Quê hương của Chopin thì không, vì sau rất nhiều thăng trầm, vẫn trở thành một xứ sở anh dũng đáng kính.

Nhưng, nói đến Ba Lan quật khởi và Ba Lan vĩnh cửu, người ta không thể không nhớ tới Chopin.

Và nhớ đến lời căn dặn của ông thầy đàn tại Varsovie: Làm cho quê hương vinh quang cũng là thể hiện lòng yêu nước...
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 6 guests