Chân Dung Người Lính VNCH

Quân sử, những bài viết, ký sự, ...
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »


Image

HOÀNG SA, NHỮNG ANH HÙNG HẢI QUÂN BẤT TỬ
Đúng 26 năm, vào ngày 19 tháng 1 năm 1974 đã xãy ra trận hải chiến giữa Hải Quân VNCH và Hải Quân Trung Cộng tại quần đảo Hoàng Sa. Đây là một biến cố trọng đại trong lịch sử chiến tranh VN mà mãi tới bây giờ vẫn còn được nhắc nhở trong nước cũng như ở hải ngoại.

Ngày Chủ Nhật, 17 Tháng Giêng năm 2010, tại trụ sở Cộng Đồng Dallas, TX, Hội Hải Quân Trùng Dương Dallas-FortWorth dưới sự điều hành của Hội Trưởng, HQ Nguyễn Xuân Dục, đã long trọng tổ chức một buổi lễ tưởng niệm 76 chiến sĩ hải quân đã anh dũng hy sinh trong trận chiến mùa Xuân 74 tại quần đảo Hoàng Sa. Danh sách gồm có Hạm Trưởng Ngụy Văn Thà và các Sĩ quan, Hạ sĩ quan, Binh sĩ hải quân tham dự trận chiến này. 76 ngọn nến đã được quan khách tham dự thắp sáng trước bàn thờ Tổ Quốc trong tiếng nhạc truy điệu thiêng liêng và cảm động trong khi MC Nguyễn Côn xướng danh các vị anh hùng. Một vòng hoa tưởng niệm cũng đã được Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai cung kính đặt trước đài kỷ niệm. Quan khách tham dự khoảng 100 người gồm đại diện các hội đoàn tại Dallas - FortWorth, đại diện báo Thế Giới Mới, đồng hương, gia đình hải quân ở địa phương và các thành phố khác, như Austin, Oakland, Houston.

Đăc biệt Trung Tá Hải Quân Trần Đỗ Cẩm đến từ Austin, TX thuyết trình trong 1 tiếng đồng hồ những diễn tiến trước, trong và sau trận đánh lịch sử này với những hình ảnh và dữ kiện sưu tầm được từ tài liệu và nhân vật sống là Đại Tá Hải Quân Hà Văn Ngạc đã từng tham gia trận đánh. Anh Hà Mạnh Chí, hậu duệ cũa Đại Tá Ngạc đã lên trình bày tác phẩm do Đại Tá Ngạc viết về trận chiến Hoàng Sa được anh dịch ra Anh ngữ. Tập sách này đã được phổ biến đến quan khách. Đây là một tập tài liệu quí giá nói lên đầy đủ trận hải chiến Hoàng Sa (liên lạc: haiquantrungduong@ yahoo.com).

Hoàng Sa hiện nay là một điểm nóng thời sự của Việt Nam và Quốc Tế. Từ năm 1958, Thủ Tướng VN Cộng sản đã ký dâng Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung Cộng. Và những năm gần đây Trung Cộng đã thiết lập Huyện Tam Sa và sát nhập vào lãnh thổ Trung Quốc. Giới trí thức và sinh viên trong nước đã đứng lên biểu tình phản đối Trung Cộng và bị nhà cầm quyền VN Cộng sản thẳng tay đàn áp. Một câu hỏi được đặt ra trong buổi thuyết trình của Trung tá Hải quân Trần Đổ Cẫm là bằng cách nào để có thể lấy lại chủ quyền Hoàng Sa. Câu trả lời đã được cử tọa hoan nghênh là không có cách gì khác ngoài khả năng thay đổi chế độ chính trị trong nước.

Người trong nước cũng như ở hải ngoại rất phẩn uất trước trước thái độ ngang ngược của Trung Cộng và thái độ hèn nhát của Đảng và Chính phủ VN Cộng Sản. Trung Tá Trần Kim Anh, Tiểu Đoàn Trưởng bộ đội Cộng sản từng tham gia trận chiến xâm lăng của Trung Cộng năm 79 đã ca ngợi các chiến sĩ Hải quân VNCH là những anh hùng đã can đảm hy sinh tính mạng để bảo vệ Tổ quốc VN không như bộ đội Cộng Sản hèn nhát khiếp nhược trước sức mạnh của Trung Cộng. Một nhà thơ trong nước, cựu đảng viên CSVN Trần Mạnh Hảo, nguyên ủy viên Hội Đồng Thơ Hội Nhà văn VN đã viết bài thơ ca ngợi “Người Anh Hùng Họ Ngụy” (Trung Tá HQ Ngụy Văn Thà) với lời thơ khẳng khái, thống thiết như sau:

Người yêu nước không thể nào là ngụy
Người chết vì nước như anh không thể nào là ngụy
Nhưng anh là Ngụy Văn Thà
Anh Hạm Trưởng chiến hạm Nhật Tảo
Lao thẳng vào tàu giặc cướp
Tên anh còn mãi với Hoàng Sa
Biến vật mình thét đại bác
Giặc bủa vây chiến dịch biển người
Lửa dựng trời dìm tàu giặc
Máu anh cùng đồng đội ngời ngời
Ôm chặt tàu
Ôm chặt đảo
Anh hóa thành Tổ Quốc giữa trùng khơi
Gió mùa đông bắc gào khóc Ngụy Văn Thà
Mãi mãi neo tàu vào quần đảo
Tổ quốc ngoài Hoàng Sa
Trận chiến ba mươi phút
Tượng đài anh là phong ba
Đỉnh sóng khói hương nghi ngút
Biển để tang anh bằng sóng bạc đầu
Quần đảo nhấp nhô mộ phần liệt sĩ
Linh hồn anh hú gọi đất liền
Ngụy Văn Thà, tên anh không phải bài ca
Tên anh là lời thề độc:
Phải dành lại Hoàng Sa


(Saigon 15-09-2009)
Ở hải ngoại nhà thơ Vinh Hồ (CHTY), Orlando đã viết bài : “Hoàng Sa, Người Lính và Chim Biển” để tường niệm các anh hùng vị quốc vong thân tại quần đảo Hoàng Sa, có đoạn như sau:

“…Hoàng Sa là thiên đường
Của loài chim Hải âu bạt ngàn sóng gió
Chim và người thương nhau
Rồi một ngày
Tháng Giêng
Giặc tràn về xâm lăng
Bải cát vàng loang máu
Ôi! Hoàng Sa điêu tàn
Người chiến sĩ can trường
Vẫn chiến đấu kiên cường
Quyết giữ từng tấc đất
Dù phải trả máu xương
Một ngày xuân não nề
Người chiến sĩ không về
Bãi cát vàng thay chiếu
Sóng vỗ lời tái tê
Hải đảo giữa trùng dương
Đàn chim mất thiên đường
Bay về nơi vô định
Tiếng kêu buồn thê lương
(Orlando, 05-01-08).


Khi trận chiến Hoàng Sa xãy ra thì người viết đang học Khóa Quản Trị Quốc Phòng tại trường Đại học Hải quân Naval Postgraduate School ở Monterey, California. Chúng tôi được dịp làm quen với hai vị sĩ quan hải quân là Trung Tá Lương và Trung Tá Tài cùng học chung một trường. Sau này vào tù cải tạo tại trại 8 Hoàng Liên Sơn Bắc Việt, một vị Trung tá Hải quân, Hạm Trưởng ở cùng đội cho biết là Trung Tá Lương đã tuẩn tiết sau khi bắn vào vợ và hai con, khi Cộng Sản Bắc Việt chiếm cứ Nha Trang. Đây là một tin buồn, nhưng chúng tôi cũng lấy làm hãnh diện đã có thêm một vị Sĩ quan trung kiên với lòng yêu nước vô bờ, không muốn đội trời chung với Cộng Sản. Trung Tá Lương cũng là một vi Anh Hùng của Binh chủng Hải Quân VNCH vậy.
Chúng tôi xin thắp một nén hương lòng nghiêng mình trước anh linh của 76 vị anh hùng Hoàng Sa và Trung Tá Lương, những vị anh hùng bất tử của Binh chủng Hải quân VNCH.

Lê Quang Sinh
Dallas, 18-01-10
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Anh, người lính miền Nam

Huy Phương
Từ ngày Trung Cộng chiếm cứ Hoàng Sa, phong toả biển Ðông, tỏ thái độ ngạo mạn đối với Việt Nam, bắn giết bắt bớ ngư dân chúng ta ngay trên vùng biển của quê hương, tôi bỗng dưng nhớ đến những người lính Ðịa Phương Quân Quảng Nam trên đảo Hoàng Sa ngày trước đã chiến đấu và sống chết với đảo nhà. Từ ngày chính quyền Cộng Sản Việt Nam đàn áp thanh niên trong nước khi đụng đến chủ quyền Hoàng Sa và xem hai chữ Hoàng Sa như tiếng húy kỵ phải kiêng dè mà truyền thông trong nước không có quyền nói đến, chúng ta không khỏi nghĩ tới người lính Hải Quân VNCH một thời đã dám đương đầu với một thế lực mà ngày nay Hà Nội đang cúi đầu chịu nhục.

Trời thì quá cao, đất thì quá rộng, kẻ cầm quyền thì mắt mù tai điếc, chẳng biết xót xa cho nỗi đau của “nhân dân” người được đề cao trên miệng lưỡi thời cướp chính quyền, nhưng thân phận không khác hơn con vật thời chiến thắng. Trong tình nghĩa đồng bào, chúng ta làm sao khỏi xót xa khi nhìn thấy hình ảnh xác những ngư dân bị giết được ướp nước đá đang được đưa về đất liền, hay những người sống đang co ro như những kẻ tội phạm ngồi trên thuyền của mình, trong vùng biển của quê hương trước mũi súng của lính biển Trung Cộng. Người lính miền Nam ngày trước đã bày tỏ thái độ biết bảo vệ tổ quốc, người lính Cộng Sản ngày nay chỉ biết bảo vệ đảng hơn là bảo vệ tổ quốc.

Cựu Ðề Ðốc Trần Văn Chơn, nguyên Tư lệnh HQ trong thời điểm trận Hoàng Sa xẩy ra, đã nói rằng “hải quân của chúng ta là hải quân một nước nhỏ, không dự trù phải đánh nhau với hải quân các nước lớn như Trung Cộng chẳng hạn, nhưng khi chúng ngang ngược xâm phạm vùng biển của chúng ta thì bắt buộc chúng ta phải nổ súng.” Ðó phải chắc chắn là một thái độ anh hùng.

Qua thất trận, tù đày, mất mát, chia ly và chịu bao nhiêu điều đắng cay của người lính phải buông súng bất đắc dĩ, tôi cho rằng chưa lúc nào hình ảnh người lính miền Nam hiển hách và sáng chói trong lòng dân tộc như hôm nay, dù thời gian ba mươi lăm năm quá dài, tưởng chừng như đã làm lu mờ mọi vết tích, mọi câu chuyện, đôi khi tưởng như thần kỳ của một thời đã qua. Những người chết, hình hài, xương cốt đang bị bỏ quên hoang lạnh trong nghĩa trang, trên vùng núi đồi, sông rạch của quê hương, dưới những hầm chôn tập thể sau ngày thất trận, hay thất lạc trong những vùng đất tù đày khổ nhục. Những người sống mang nỗi hận xót xa trọn đời, lưu lạc xứ người hay lạc loài, lạ lẫm trên quê hương. Những ai đã quên và những ai còn nhớ?

Tướng Douglas MacArthur có nói “người lính không chết, người lính chỉ phai nhạt dần” nhưng hôm nay chúng ta có bao nhiêu người lính đã nằm xuống, mà sao hình ảnh họ vẫn còn như hiển hiện trước mắt chúng ta. Trước mệnh nước, bao nhiêu tướng lãnh của chúng ta như người hạm trưởng phải là người rời con tàu cuối cùng, nên đã đành chọn cái chết để rửa mối nhục của kẻ mất thành. Với phong cách như thế, Hạm trưởng Ngụy Văn Thà đã chết theo con tàu Nhật Tảo, thân xác ông cùng với thủy thủ đoàn đã chìm sâu xuống biển Ðông, nơi thủy mộ, cho chúng tôi những kẻ đời sau được ngưỡng mộ và mang ơn.

Những người lính của chế độ CSVN hôm nay chỉ biết đàn áp những người yêu tổ quốc thay vì bảo vệ tổ quốc, vì bây giờ chống Tàu Cộng là có tội, nói như nhà thơ Trần Mạnh Hào: “Tôi yêu Tổ quốc tôi mà tôi bị bắt.”

Cũng nhà thơ này, người đã mang tội chống đảng và ly khai đảng, đã viết những dòng về một người lính miền Nam, một người yêu tổ quốc, “Người Anh Hùng Họ Ngụy” tức là Hạm trưởng Ngụy Văn Thà của chúng ta:

“Người yêu nước không thể nào là ngụy
Người chết vì nước như anh không thể nào là ngụy

Nhưng anh:
Là Ngụy Văn Thà
Anh- hạm trưởng chiến hạm Nhật Tảo
Lao thẳng vào tàu giặc cướp
Tên anh còn mãi với Hoàng Sa

Biển vật mình thét đại bác
Giặc bủa vây chiến dịch biển người
Lửa dựng trời dìm tàu giặc
Máu anh cùng đồng đội ngời ngời

Ôm chặt tàu
Ôm chặt đảo
Anh hóa thành tổ quốc giữa trùng khơi
Gió mùa đông bắc gào khóc

Ngụy Văn Thà
Mãi mãi neo tàu vào quần đảo
Tổ Quốc ngoài Hoàng Sa

Trận chiến ba mươi phút
Tượng đài anh là phong ba
Ðỉnh sóng khói hương nghi ngút
Biển để tang anh bằng sóng bạc đầu

Quần đảo nhấp nhô mộ phần liệt sĩ
Linh hồn anh hú gọi đất liền

Ngụy Văn Thà
Tên anh không phải bài ca
Tên anh là lời thề độc:
- Phải giành lại Hoàng Sa
Sóng vẫn vồ lấy đảo...

*

Anh, Người Lính Miền Nam, chúng tôi mang ơn và hãnh diện vì Anh.
(17 tháng 1 năm 2010)
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »


Image

Chuyện Tiểu Đoàn 1 Quái Điểu TQLC

Bao Bất Đồng

Hôm trước, nhân nhớ tới Phan Nhật Nam, nhân đọc lại Mùa Hè Đỏ Lửa, Bao Bất Đồng bỗng thấy hào khí bốc ngất trời, bỗng thấy muốn rút đao ra khỏi vỏ. Bèn nhất bộ nhất bái đến phòng mạch bác sĩ Trần Xuân Dũng, người mà ngày xưa cũng đã có một thời đi lính. Lính thứ thiệt, lính tay tổ, lính mũ xanh, lính Thủy Quân Lục Chiến, còn tục gọi là... "Lính Thủy Đánh Bộ"

Trần Xuân Dũng, xuân xanh nay tuy mới được... 57, nhan sắc giờ tuy không lấy gì hoa nhường nguyệt thẹn, bộ vó từ bé chí lớn tuy chẳng to bằng ông hộ pháp, nhưng năm 1965 chàng đã bợ nhẹ cái bằng bác sĩ y khoa tại Sàigòn, năm 1966 đã là quan tu bíp của Tiểu-Đoàn 6 Kình Ngư, năm 1968 đã là Đại-Úy Y Sĩ Trưởng Lữ-Đoàn Thủy Quân Lục Chiến.

Kẻ mà một thuở đã cầm gươm theo Trung-Tá Tôn Thất Soạn đánh vỡ mặt kẻ thù năm Mậu Thân. Kẻ đã từng cỡi ngựa theo Đại-Tá Tư Lệnh Phó binh chủng Nguyễn Thành Trí luận kiếm hoa sơn khắp 4 vùng chiến thuật. Kẻ đã được đặc cách thăng cấp hai lần ngoài mặt trận, đã được bầu là chiến sĩ xuất sắc, đã được ân thưởng Anh Dũng Bội Tinh, đã được gắn cho cái lon Thiếu-Tá. Thế nên sau ngày 30 tháng 4, nước CHXHCNVN đã ưu ái kính tặng cho người... nhiều năm tù cải tạo.

Vừa giáp mặt, quan tu bíp đã cười nhạt:

- Thiện tai, thiện taị.. Bao thí chủ đã từ lâu rửa tay gác kiếm, nay bỗng dở chứng mà giáng lâm tệ xá, chắc hẳn là muốn cùng ta chơi một trận xả láng để phân tài cao thấp?

- Không phải vậy đâu là không phải vậy đâu. Đánh đấm với ai chớ cho kẹo tại hạ cũng cóc dám đánh nhau với Thủy Quân Lục Chiến. Hôm nay chắp tay đến nhà quan, trước là xin có một sự thắc mắc, sau là rửa lỗ tai nghe luận chuyện anh hùng.

- Thắc mắc? Thắc mắc cái chi chi?

- Như là, phàm... đã là sĩ quan của binh chủng TQLC, thì ai nấy nếu không râu hùm hàm én thì cũng cao lớn bệ vệ, cớ sao ông lại mảnh dẻ thư sinh, lại mày râu nhẵn nhụi như vậy?

Quan tu bíp đáp:

- Xét về râụ Giờ ta không để, thứ nhất là vì thời cuộc, thứ nhì là vì soi vào gương, 12 con giáp thấy mình chẳng giống con nào cả. Nhưng hơn 30 năm trước, lúc mới vào lính tò te, ta cũng có râu, dù chỉ là râu mép, diễn nôm là râu ria

Bao mỗ lại thắc mắc:

- Nhưng thời đó, nghe nói lính tráng muốn để râu, dù chỉ là thứ râu ria, cũng phải có giấy phép của cấp trên?

- Đúng, diễn nghĩa là phải có... licence để râu!

- Vậy ai cấp licence cho ông?

- Trung-Tướng Lê Nguyên Khang!

- Tướng Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến?

- Phải! Nguyên hồi đó mới về Tiểu-Đoàn 4, vì là lính mới nên cóc biết sợ trời đất là gì. Thấy có người để ria, ta cũng để. Quan Thiếu-tá Tiểu - Đoàn-Trưởng Nguyễn Thành Trí thấy cũng ngứa mắt lắm nhưng chưa kịp dạy dỗ thằng em thì một hôm Tướng Lê Nguyên Khang xuống thăm đơn vị.

- Nguy tai... nguy tai.

- Phải nói là... bỏ mẹ! Tiểu-Đoàn tập trung ở giưã sân cờ. Ta lẩn ở hàng thứ nhì để dấu "bộ ria vô phép". Nhưng ông Tướng đang hăng hái duyệt hàng quân, tới chổ ta, ông bỗng đứng lại rồi đi vòng vào.

- Hết ý! Hết ý.

- Phải nói là hết hồn! Ta vừa run lập cập vừa dơ tay chàọ Nào ngờ, ông Tướng vừa thò tay ra bắt tay ta, vừa nói với Thiếu-Tá Trí một câu đáng đi vào lịch sử... "Bác sĩ của Tiểu-Đoàn mình để bộ ria coi cũng hách lắm"!

- Và thế là câu nói lịch sử ấy trở thành cái giấy phép?

- Đúng là cái giấy phép có một không hai, là cái licence đáng đồng tiền bát gạo.

Quan tu bíp lại luận:

- Còn xét về cái thân, không phải ai là lính TQLC đều to lớn kềnh càng. Tỷ như xếp lớn của ta là Trung-Tá Chiến-Đoàn-Trưởng Chiến-Đoàn A Hoàng Tích Thông, kẻ đã đánh một trận vỡ trời năm Mậu Thân ở Huế, người đã lập đầu cầu cho Tiểu- Đoàn 1 Quái-Điểu kéo cờ trên đỉnh Phú Văn Lâụ Đấng võ công cao siêu đến thế mà đem lên bàn cân thời trọng lượng chưa tới 45 kí lô. - Đáng nể! Đáng nể!

Quan tu bíp bỗng hỏi:

- Đố bạn chớ trong binh chủng TQLC, đấng nào vừa có bộ râu oai phong lẫm liệt, vừa có bộ vó anh dũng gồ ghề?

Bao Bất Đồng đáp:

- Là Đường Sơn Đại Huynh Trung Tướng Lê Nguyên Khang!

Quan tu bíp lắc đầu:

- Tướng Khang là sư phụ, đem sư phụ ra mà đố vui để học sợ mang tội bất kính.

- Là Thủ Lãnh đại ca Chuẩn Tướng Bùi Thế Lân.

- Tướng Lân là Tư Lệnh. Đem ông Tư Lệnh ra mà giỡn mặt sợ mang tiếng khi quân.

Bao mỗ xin thua, quan tu bíp đáp:

- Là... Trung-tá Nguyễn Đăng Hòa!

- Hòa râu?

- Đích thị! Đây là một trong những tay tổ của binh chủng, một trong những tay hảo hán của QLVNCH, mà tư cách, mà võ công, mà đởm lược đều khiến cho tại hạ đây phải tâm phục, khẩu phục.

Quan tu bíp kể:

- Trong cuộc chiến tự vệ vừa qua, Quân Lực ta đã sản sinh ra hàng ngàn những tay hào kiệt. Người lính mũ xanh Nguyễng Đăng Hòa là một trong những trang hào kiệt đó. Bởi anh mặc áo kaki từ thuở 12 tuổi.

- Thiếu sinh quân?

- Phải, bởi anh sống cả đời trong quân ngũ, bởi anh sống cả tuổi lính cho chiến trường, bởi tất cả những lon lá đều được đặc cách ngoài mặt trận, bởi trước ngực đều có đủ mọi loại huy chương. Nào là một đệ ngũ đẳng và một đệ tứ đẳng BBảo Quốc huân chương, nào là 12 Anh Dũng bội tinh với nhành dương liễu, rồi 5 Anh Dũng bội tinh với ngôi sao vàng, 3 Anh Dũng bội tinh với ngôi sao bạc, 2 Anh Dũng bội tinh với ngôi sao đồng, 3 Chiến Thương bội tinh, nào là bằng tưởng lục và nhất là Anh Dũng bội tinh của chính phủ Hoa Kỳ.

- Hách thật!

- Hách là cái chắc. Sinh năm 1938 tại Phan Rang, gia nhập trường Thiếu Sinh Quân lúc 12 tuổị Tốt nghiệp khóa 2 Sĩ Quan Đặc Biệt Nha Trang. Năm 1961 tình nguyện vào TQLC. Anh chiến đấu trong khắp các đơn vị, từ Tiểu-Đoàn 5 đến Tiểu-Đoàn 4, từ Chiến-Đoàn B đến Lữ-Đoàn 147, mà cao điểm là lúc anh làm Tiểu-Đoàn-Trưởng Tiểu-Đoàn 1 "Ó Biển". Ở đâu Hòa cũng chơi đẹp, ở đâu Hòa cũng dấy động được gươm đao.

- Xuất sắc! Xuất sắc!

- Phải nói là number one, là số một, là thứ vàng ròng. Năm Mùa Hè Đỏ Lửa, Hòa dẫn 700 Quái Điểu nhẩy trực thăng xuống đầu địch tái chiếm quận Triệu Phong, Quảng Trị. Đây là một trận đánh để đời, một trận đánh đáng đồng tiền, một trận đánh hách nhất trong quân sử, một trận đánh mà cho tới hôm nay, các bô lão tại thôn Gia Đẳng quận Triệu Phong, trong những lúc trà dư tửu hậu, vẫn thường thì thầm kể cho con cháu nghe về câu chuyện thần kỳ của những chàng hiệp sĩ mũ xanh từ... trên trời rơi xuống.

Quan tu bíp kể tiếp:

- Dứt điểm xong hậu cần địch, Hòa dẫn Quái Điểu đánh một cái ào vào Cổ Thành. Phối hợp với những Tiểu-Đoàn bạn, TQLC việt Nam đã chọ.. "Cờ baỵ.. cờ baỵ.. oai hùng trên thành phố thân yêu, vừa chiếm lại đêm qua bằng máu". Đây là chiến thắng vĩ đại nhất trong lịch sử chiến tranh Đông Dương.

- Đáng phục... đáng phục...

- Nhưng hởi ơi, tới ngày 30 tháng 04, vì vận nước, vì đồng minh đểu, vì ông tổng thống tồi, nên Ó Biển, nên Kình Ngư, nên Quái Điểu bị bắt buộc phải gãy súng. Lớp thì tự sát, lớp thì vào tù. Riêng Nguyễn Đăng Hòa phải lãnh cái án 13 năm nằm ấp và... con đại bàng gãy cánh, và đàn Quái Điểu phải tan hàng để bay vào cõi vô cùng.

Quan tu bíp kết luận:

- Nhưng đến hôm nay, con đại bàng đã phục sinh, và một thiểu số trong đàn Quái Điểu còn sống sót đã tìm lại được người anh cả. Những người đã chết thì lưu danh thiên cổ, những người còn sống thì trở thành anh hùng.

Thôi thì chào anh Nguyễn Đăng Hòa, chào những con Quái Điểu của một thời xưa oanh liệt. Xin được gởi tới anh em hai câu thơ của tiền nhân...

"Số hàng di biểu lưu thiên địa
Nhất phiến đan tâm phó sử thơ",

nghĩa là...

"Đôi hàng roi dấu lưu muôn thuở
Một tấm lòng son tạc sử xanh".

Quan tu bíp lại kể:

- Mới đây tại Hoa Kỳ, nhân ngày đại hội của các cựu chiến binh TQLC Việt Nam, người ta thấy sự hiện diện của gần 100 vị Tướng, Tá trong Quân Lực Mỹ.

Bao mỗ giật mình đánh thót:

- Tướng tá đương quyền?

- Phải, họ đang tại ngũ, họ đang là Chỉ huy trưởng các đại đơn vị, đang là Tư Lệnh các binh chủng, các Sư Đoàn, Quân Đoàn trong Quân Lực Mỹ. Nhưng xưa, trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, họ là các sĩ quan cố vấn của các Tiểu-Đoàn TQLC Việt Nam.

- Cảm động quá! Cảm động quá!

- Còn cảm động hơn, khi một vị Tướng Hoa Kỳ khẳng định trong bài diễn văn... "Trong chiến dịch bảo táp sa mạc để giải phóng Kuwait, đa số các vị Tư Lệnh Sư Đoàn đều là cố vấn cho các đơn vị TQLC Việt Nam" và rằng... "Chúng tôi đạt được những chiến thắng thần tốc tại chiến trường Iraq hôm nay, hoàn toàn nhờ vào sự học hỏi các TQLC Việt Nam ngày trước".

- Tuyệt vời... tuyệt vời...

- Phải nói là hãnh diện. Một hãnh diện lớn, một hãnh diện lịch sử. Đặc biệt trong ngày Đại Hội này, Nguyễn Đăng Hòa còn gặp lại một người bạn thiết, các anh em trong Tiểu-Đoàn 1 Quái-Điểu còn gặp lại một người bạn thân. Đó là... Larry Livingston.

- Là... ai?

- Là sĩ quan cố vấn của Tiểu-Đoàn năm 1972. Kẻ đã theo đơn vị đánh một trân kinh thiên động địa tại quận Triệu Phong tỉnh Quảng Trị. Hôm nay, Larry Livingston đã là Trung Tướng chỉ huy các Lực Lượng tác chiến tiền phương của Quân Lực Mỹ. Trước một rừng người, Tướng Livingston vừa ôm chặt lấy Hòa, vừa nước mắt rưng rưng: "Chào Quái Điểu của tôi, chào Tiểu-Đoàn 1 TQLC của tôị Các anh em là những người lính vĩ đại". Và rằng: "Sau trận Triệu Phong, Tiểu-Đoàn 1 TQLC Việt Nam là Tiểu-Đoàn giỏi nhất trên thế giới"!

Đặc biệt bà Larry Livingston cũng đến ôm hôn Nguyễn Đăng Hòa. Bà vừa khóc vừa phát biểu:

- "Chồng tôi đã ca ngợi ông, đã viết về ông, đã nói nhiều với tôi về ông. Rằng nhờ ông mà chồng tôi còn sống được đến ngày hôm nay. Nguyễn Đăng Hòa! Xin cám ơn ông. Tiểu-Đoàn 1 Quái-Điểu! Xin cám ơn quí vị.

- Hết xẩy! Hết xẩy!

- Trong ngày Đại Hội hôm đó, do cơ duyên, ta bỗng được nghe riêng một câu chuyện thần kỳ, một câu chuyện rất ư là... Thủy Quân Lục Chiến.

- Ai kể?

- Một cựu Hạ sĩ I của Tiểu-Đoàn 1 Quái-Điểụ Nhân thấy anh ta đứng khóc một mình, ben` hỏị Anh đáp: "Thấy người sống hôm nay bỗng nhớ tới người chết năm nào, thấy ngày vui hôm nay bỗng nhớ tới ngày buồn năm xưa, thấy anh em xum họp bỗng nhớ tới ông thầy của hai mươi mấy năm về trước"

Ta hỏi tới:

- Ông thầy? Ông thầy nào?

Anh nghẹn ngào:

- Là... Thiếu-Úy Lâm Văn Diệp, Trung-Đội-Trưởng trung đội 1, Đại Đội 3, Tiểu-Đoàn 1 Quái Điểu Thủy Quân Lục Chiến.

Anh chậm rãi kể:

- Thiếu-úy Lâm Văn Diệp, một sĩ quan trẻ, một người lính chịu chơi. Anh thương bạn như thương thân, anh t hương thuộc cấp như thương ruột thịt., lại trọng nghĩa khí, lại can đảm có thừa. Tỷ như, một lần có người hỏi: "Thiếu uý là con trai một, sao không xin hoản dịch vì lý do gia cảnh, sao không xin về làm văn phòng tại Bộ TTM? Cớ chi mà lại đâm đầu đi Thủy Quân Lục Chiến"?

Diệp cười ha hả: "Trượng phu nếu không được đi lính TQLC thì thà làm lính Nghĩa Quân đứng gác cầu, còn hơn là phải ở nhà bú vú mẹ, còn hơn là phải ngồi cạo giấy đến rách đít quần". Tỷ như một lần có tiền, thấy Trung đội đang "héo", Diệp ném xấp bạc lên trên không: "Lấy đi, chia nhau ra mà xài, thằng nào không lấy là... đồ con chó"! Tỷ như, một lần đụng trận, trung đội của anh bị một khẩu đại liên khống chế. Diệp hét: "Nó hỗn đã có tao, thằng nào giành công là... đồ con nhà mất dạy"!

Và Diệp chơi bạo tay, và Diệp đánh một cú liều, và anh một mình bò sang tuyến địch, một tay ném lựu đạn, một tay chơi gao găm. Và anh thắng, thắng đẹp.

- Hiệp sĩ! Hiệp sĩ!

- Đúng là hiệp sĩ, thứ hiệp sĩ thời đạị Ngày 11/7/1972, Tiểu-Đoàn 1 Quái Điểu nhẩy xuống quận Triệu Phong. Bãi bốc là khu nhà thờ Hai Chuông. Có Tướng Ngô Quang Trưởng và Tướng Bùi Thế Lân đến bắt tay từng người lính, có Đại-tá Nguyễn Năng Bảo, Lữ Đoàn Trưởng 147 đến tiễn chân từng đứa con.

- Hồi hộp... hồi hộp...

- Phải, rất là hồi hộp. 32 chiếc trực thăng đổ quân, xuống tới mục tiêu thì 29 chiếc trúng đạn. Hai chiếc rớt, một nổ tại chổ và một rơi ngoài biển. Ngay phút đầu chạm đất, tiểu đoàn đã có hơn 200 chiến sĩ... anh dũng hy sinh.

- Lạỵ.. Chúa tôi!

- Riêng Trung đội của Thiếu úy Diệp, nhờ có số cầm tinh... con chuột, nên thay vì nhảy xuống bãi đáp, trực thăng lại thả lộn vào... bộ chỉ huy một tiểu đoàn đặc công địch. Nên thay vì chơi nhau bằng súng, trung đội đành phải chơi bằng lưỡi lê và M26.

- Kinh thật! Kinh thật!

- Cũng may Trung đội của Thiếu-Úy Diệp là Trung đội của... thế kỷ 21, là Trung đội gốc toàn những tay sát thủ, nên chỉ chưa đầy cái chớp mắt, các quan lớn quan bé của bộ chỉ huy đặc công Vẹm đã được mời về thăm ông bà ông vải. Rồi sau đó Trung đội xếp hàng 1, Thiếu úy Trung đội trưởng làm lính khinh binh đi đầu, Chuẩn úy Trung đội phó làm lính bắn xe tăng đi hàng thứ 2 và đơn vị mở đường máu, và đoàn quân đi trong vòng vây của giặc. Hoàn cảnh tựa Triệu Tử Long đơn thương độc mã trong trận Đương Dương trường bản.

- Chết tươi! Chết tươi!

- Thì cũng tưởng là chết tươi, nhưng một phần nhờ phép lạ, một phần nhờ tài thao lược của Thiếu úy Diệp, một phần nhờ toàn là những người lính của thế kỷ 21, nên sau mười mấy ngày đêm đánh đấm tưng bừng hoa lá, Trung đội đến được bến sông Vĩnh Dinh, chi nhánh của sông Thạch hãn, bên kia sông là vùng an toàn, nơi đóng quân của Tiểu-Đoàn 2 Trâu Điên...

- Thoát rồi... thoát rồi...

- Chưa thoát, Trung đội có 46 con, lúc ấy chỉ còn lại 14 nhưng đui, què, sứt mẻ hết 5. Đang hè nhau đóng bè, thì lại bị chúng nó táp-pi một cú chót. Riêng tôi bị một viên bắn xẻ ruột! Chao ôi, lúc ấy tôi cứ ngỡ là đời mình đã hai năm mươi nhưng nhờ Thiếu úy Diệp ghé vai vào cõng, và ông ấy vừa đánh vừa chạy, đánh suốt ngày, chạy suốt đêm... và cuối cùng, chúng tôi được cứu thoát. Nằm trên cáng, tôi nắm tay ông khóc ròng: "Thiếu úy! Cảm ơn ông đã cứu sống tôi". Ông cười: "Chúng ta cùng cảm ơn thượng đế"!

- Hào sảng quá!

- Sau này, tôi nghe kể lại, khi theo đoàn quân tái chiếm Cổ Thành Quảng trị, Thiếu úy Diệp đã vào nhà thờ La Vang cầu xin Đức Mẹ rằng: "Con là người ngoại đạo, nếu Đức Mẹ phù hộ cho con được sống sót sau trận đánh kinh khiếp sắp đến, thì con sẽ xin vô đạo".

- Rồi sao?

- Rồi Đức Mẹ phù hộ cho ông, rồi ông được cha tuyên úy rửa tội dưới chân tượng Thánh giá gãy.

Kể tới đây, anh Hạ sĩ I thở dài:

- Tiểu-Đoàn 1 Quái Điểu đã đánh tới giờ thứ 25 của cuộc chiến, rồi 30 tháng 4 gãy súng. Rồi Nguyễn Đăng Hòa, rồi Lâm Văn Diệp, rồi toàn bộ Sĩ quan Quái Điểu bị đày vào những lò cải tạo.

- Thương lắm thay! Thương lắm thay!

- Nhưng bởi là lính của thế kỷ 21 nên Lâm Văn Diệp không chịu đầu hàng. Năm 1979 anh vượt ngục, rồi giang hồ, rồi chết. Bỏ lại người vợ hiền và đứa con trai kháu khỉnh. Cháu tên là Lâm Đăng Khoạ Ngày bố nằm xuống cháu vừa lên 8. Và cháu khóc hết nước mắt và cháu đau đớn đến tận cùng bởi ngoài mẹ, không ai thương bố bằng cháu và bởi ngoài mẹ cũng chẳng ai thương cháu bằng bố.

- Tội nghiệp quá!

- Phải, rất là tội nghiệp. Mẹ cháu, trong nổi xót xa đến cùng cực, đã đêm ngày vừa cầu xin ơn trên, vừa cầu xin ơn chồng phù hộ cho mẹ con bà. Năm năm sau ngày anh Diệp mất, bà tái giá với một cựu sĩ quan...

- Sĩ quan phe ta?

- Là phe ta. Có chém chết bà cũng chẳng đời nào gá nghĩa với một thằng chúng nó. Trước khi tái giá, bà đã dẫn người chồng sau đến quì trước mộ Thiếu úy Diệp. Và như có một linh thiêng và như có một sự phù hộ, người cha sau thương yêu cháu Đăng Khoa chẳng kém gì bố ruột, và họ quấn quít với nhau không rời, và họ thương yêu nhau như chim liền cánh, như cây liền cành. Đến nổi hàng xóm có người phải bảo: "Cha con họ như có nợ nần với nhau từ kiếp trước"!

Thôi thì... xin được thắp nén hương cho Thiếu úy Lâm Văn Diệp, cho những anh hùng của Tiểu-Đoàn 1 Quái Điểu Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam.

BAO BẤT ĐỒNG
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Thái Dương" NGUYỄN VĂN XANH
Một người như mọi người!


* William S. Reeder
(Nguyễn Hữu Thiện phỏng dịch và đặt tựa)


Lời nói đầu: Sau cuộc chiến Việt Nam, đã có nhiều huyền thoại đầy anh hùng tính viết về các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Và trong rất nhiều trường hợp, chỉ tới khi ấy, chúng ta mới giật mình nhận ra những người "anh hùng" được nhắc tới lại chính là những cấp chỉ huy, những đồng đội, những thuộc cấp rất bình thường của mình. Một trong những con người rất bình thường ấy vừa được vinh danh là cựu Trung-úy hoa tiêu khu trục Nguyễn Văn Xanh, Phi Đoàn 530 Thái Dương, Không Đoàn 72 Chiến Thuật (Pleiku).

Thời gian ấy – Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, với tư cách Sĩ quan Thông Tin Báo Chí đơn vị, có nhiệm vụ báo cáo hàng tuần về tổng số phi vụ và kết quả hoạt động của đơn vị cho Phòng Thông Tin Báo Chí – BTL/KQ , có lẽ chúng tôi đã chỉ ghi ngắn g=E 1n trong phần tổn thất của quân bạn: "Phi Đoàn 530: một A-1 Skyraider bị phòng không địch bắn hạ ngày 9/5/1972 tại Kontum; phi công nhảy dù và được ghi nhận mất tích". Chấm hết!
Nhưng với một phi công Đồng Minh xa lạ, tới đây câu chuyện của ông mới bắt đầu. Xin mời độc giả theo dõi câu chuyện cảm động ấy qua hồi ký của Đại-tá Lục Quân (hồi hưu) William S. Reeder, nguyên phi công trực thăng tấn công AH-1G Cobra, phục vụ tại Căn cứ Halloway, gần phi trường Cù Hanh, Pleiku, mới được phổ biến trên Internet. Cũng cần viết thêm, sau khi giải ngũ, ông Reeder đã trở lại trường đại học, và đạt tới học vị Tiến sĩ.

Tôi còn nhớ đợt phục vụ luân phiên (tour of duty) thứ nh ì của tôi khởi đầu vào ngày 7 tháng 12 năm 1971. Lúc ấy, chương trình rút quân Mỹ theo kế hoạch "Việt Nam hóa chiến tranh" của Tổng thống Nixon đang được tiến hành một cách suông sẻ. Gánh nặng trong cuộc chiến đã được chuyển giao gần hết cho Quân Lực VNCH, và quân Mỹ đã được đưa về nước với một nhịp độ chóng mặt. Giờ này nhìn lại, phải công nhận chương trình Việt Nam hóa ngày ấy đã đạt kết quả tốt đẹp. Hoạt động của địch quân ở miền Nam đã giảm hẳn, và hình thức chiến tranh du kích của quân phiến cộng đã không còn hiện hữu. Thế nhưng, sự yên tĩnh ấy đã không kéo dài..
Mùa xuân 1972, quân Cộng Sản Bắc Việt bất thần mở những cuộc tấn công vũ bão chưa từng thấy trong cuộc chiến – đợt t5n công mà người Mỹ quen gọi là "Cuộc tổng công kích mùa Phục Sinh 1972" (1972 Easter Offensive). Đây không phải là một cuộc tổng nổi dậy của Việt Cộng trong Nam như hồi Tết Mậu Thân 1968, mà là một chiến dịch quy mô với hàng loạt cuộc tấn công quy mô của quân CSBV băng qua vùng phi quân sự, và từ những căn cứ đóng quân trên lãnh thổ Lào và Căm-bốt, với mưu đồ cắt đôi lãnh thổ VNCH tại vùng Cao Nguyên, và tiến đánh Sài Gòn, thủ đô miền Nam. Kết quả, quân CSBV đã thất bại trước sức chiến đấu mãnh liệt của lục quân và không quân miền Nam, với sự trợ lực tận tình của những đơn vị Hoa Kỳ còn đồn trú tại đây.
[1972 Easter Offensive được phía Việt Nam gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa 1972; và từ đoạn này, người dịch sẽ sử dụ ng "Mùa Hè Đỏ Lửa" thay cho "Easter Offensive"]
Cuộc tổng tấn công bắt đầu vào tháng Tư năm 1972 với các cuộc tấn công của quân chính quy Bắc Việt từ Căm-bốt tiến về hướng Sài gòn, và băng ngang vùng phi quân sự tiến chiếm cố đô Huế. Sau cùng là mặt trận mang tính cách quyết định của chiến dịch: quân CSBV từ miền Bắc Căm-bốt và Nam Lào vượt biên giới tiến đánh vùng Tây Nguyên, với mục đích giành quyền kiểm soát dải đất Trung phần, và tiêu diệt lực lượng VNCH tại đây - giống như Việt Minh đã thực hiện, và đã thành công trong chiến tranh với Pháp vào năm 1954. Lần này, quân cộng sản đã thành công trong bước đầu, tuy nhiên sau đó họ đã không chiếm được một mục tiêu quan trọng nào. Ở phía bắc, họ chỉ tiến chiếm tới Quảng Trị, và sau đó đã bị lực lượng Nhảy Dù của VNCH đánh bại. Tại Tây Nguyên, họ chỉ chiếm được một số tiền đồn chung quanh Kontum, nhưng sau đó cũng bị đẩy lui.
Câu chuyện tôi kể lại sau đây chính là bối cảnh của một bi kịch đời người diễn ra vào lúc ấy, với vai chính là tôi, và một phi công VNCH tên là Xanh Văn Nguyễn – hay gọi theo cách gọi của người Việt, họ luôn đứng trước tên gọi, thì là Nguyễn Văn Xanh. Vào thời gian Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 khởi sự, tôi đang bay trực thăng tấn công AH-1G Cobra tại Căn cứ Halloway của Lục Quân Hoa Kỳ, ở gần tỉnh lỵ Pleiku. Trung-úy Nguyễn Văn Xanh thì bay khu trục cơ A-1 Skyraider ở Căn cứ Không Quân Pleiku. Chúng tôi không hề quen biết nhau, cũng chưa từng gặp gỡ bao giờ.
Hôm đó là ngày=2 09 tháng 5, 1972, vào lúc hừng đông, tôi chỉ huy một phi vụ gồm 2 chiếc trực thăng Cobra yểm trợ một căn cứ bộ binh đang bị địch công hãm ở Polei Klang, ở cực tây tỉnh Kontum, gần biên giới Căm-bốt. Một lực lượng quân CSBV với sự yểm trợ của chiến xa đang tấn công căn cứ và tình hình thật bi đát. Sau nhiều vòng tấn công và sử dụng toàn bộ rocket, đạn M-79 và đạn đại liên, chúng tôi bay về phi trường Kontum để tái trang bị và lấy thêm nhiên liệu. Nhân viên phi hành bay chung với tôi, tức phi công phụ kiêm xạ thủ ngồi ghế trước của chiếc Cobra, là Thiếu-úy Tim Conry, quê ở Phoenix, tiểu bang Arizona. Tim là sĩ quan trẻ xuất sắc nhất mà tôi được biết, vì thế ngay sau khi anh tới đơn vị, tôi đã chọn anh vào phi đội do tôi chỉ huy, và luôn luôn để anh bay chung v ới tôi. Anh không chỉ là một nhân viên phi hành xuất chúng mà còn là một con người toàn hảo. Nhưng vào chiều ngày hôm ấy, anh đã trở thành người hùng thiên cổ!
Trở lại với phi vụ của chúng tôi, trên đường quay trở lại Polei Klang, chúng tôi được lệnh thay đổi mục tiêu tấn công: đó là tới yểm trợ cho một tiền đồn ở vùng Tam Biên – tức giao điểm của ba biên giới Việt Nam, Căm-bốt và Lào. Địa danh này có tên là Ben Het. Lực lượng trấn giữ là một tiểu đoàn Biệt Động Quân, với quân số khoảng 300 người, và hai cố vấn Mỹ. Lực lượng bé nhỏ ấy đang phải chống trả sức tấn công của hàng ngàn bộ đội thuộc hai sư đoàn CSBV có chiến xa tăng cường. Khi chúng tôi tới nơi, các chiến xa đã vượt qua hàng rào phòng20thủ, và bộ đội Bắc Việt đã chiếm gần hết căn cứ.
Trước đó, trên đường tới Ben Het, khi bay ngang qua Polei Klang, tôi nhìn xuống quan sát. Chiến sự đang sôi động, và tôi có thể thấy những chiếc khu trục A-1 Skyraider đang nhào xuống thả bom. Bỗng một chiếc A-1 bị trúng đạn phòng không, bốc cháy, đâm xuống đất nổ tung. Nhưng viên phi công đã kịp thời phóng ghế thoát hiểm vì tôi thấy cái dù của anh đang lơ lửng. Tôi liền gọi máy về xin được ở lại Polei Klang để yểm trợ cho cuộc cấp cứu. Lời thỉnh cầu của tôi bị từ chối. Tôi xin thêm một lần nữa, cũng bị từ chối. Và tới lần thứ ba thì bị từ chối một cách dứt khoát, cộc lốc. Lúc đó, chưa được biết tình hình ở Ben Het nguy kịch tới mức nào, cho nên tôi đã20vô cùng phẫn nộ vì đã không được phép cứu giúp một phi công lâm nạn đang cần tới sự yểm trợ của mình.
Tôi bay vào Ben Het mà tưởng như đang bay vào một tổ ong bị động. Lúc đó, 5 chiến xa địch đã vượt qua hàng rào kẽm gai, và bộ đội Bắc Việt thì tràn ngập khắp nơi. Các quân nhân đồn trú còn sống sót đã rút vào hầm chỉ huy ở trung tâm để cố thủ. Chúng tôi tác xạ một hồi rồi yểm trợ cho một chiếc trực thăng đặc biệt được trang bị một loại hỏa tiễn chống chiến xa mới nhất. Sau khi sử dụng hết đạn dược, chúng tôi lại bay về Kontum để tái trang bị và lấy thêm nhiên liệu. Rồi quay trở lại Ben Het để thi hành phi vụ chiến đấu thứ ba trong ngày.
Sau khi cất cánh khỏi phi trường Ko ntum, chúng tôi được lệnh hộ tống một trực thăng có nhiệm vụ tiếp tế đạn dược cho Ben Het. Lúc đó, đạn của lực lượng cố thủ đã gần cạn, riêng hỏa tiễn chống chiến xa thì đã hết sạch.
Sau khi gặp nhau, chúng tôi hộ tống chiếc Huey (tức trực thăng UH-1) tới Ben Het, tất cả đều bay sát ngọn cây. Vừa bay tới Ben Het thì súng nổ như pháo Tết, súng của ta lẫn súng của định. Ở ghế trước trên chiếc Cobra của tôi, Thiếu-úy Tim Conry rải từng tràng mini-gun và những trái M-79 xuống thật chính xác. Tôi thì bắn từng cặp rocket. Chúng tôi càng tiến sâu thì hỏa lực phòng không của địch càng dày đặc. Nhưng rồi chiếc Huey cũng vào được tới nơi và hoàn tất nhiệm vụ cực kỳ khó khăn ấy, phần lớn là nhờ hỏa lực yểm trợ thật20chính xác của Tim: sau khi lơ lửng tại chỗ ở cao độ gần sát mặt đất, và đạp các thùng đạn xuống, chiếc Huey bay ra dưới sự yểm trợ hỏa lực của chúng tôi. Cùng lúc, chiếc Cobra của tôi bị trúng vô số đạn đủ loại của địch, bốc cháy và đâm xuống theo đường xoáy trôn ốc.. Chỉ trong giây lát, chiếc trực thăng chạm đất, và phát nổ ngay sau khi tôi và Tim - dù bị thương nặng – tìm cách thoát ra khỏi phi cơ.
Tim chết vào chiều tối hôm đó. Riêng tôi thì bị gẫy xương lưng, phỏng ở mặt và phía sau cần cổ, một miểng đạn nằm sâu ở mắt cá, và vô số vết thương nhỏ ở mặt và đầu. Nhưng mặc dù phi cơ rớt ngay trong khu vực có hàng trăm địch quân đang tấn công căn cứ, tôi cũng lẩn tránh được ba ngC3y trước khi bị bắt.
* * *
Tôi bị tra khảo trong mấy ngày liền; và bị đối xử khá tàn bạo. Khi ấy tôi ở trong một tình trạng cực kỳ thê thảm về thể xác. Lưng tôi bị gẫy. Máu từ vết thương ở mắt cá chảy ra đầy chiếc giày bốt, giờ này đã khô lại thành một khối cứng ngắt. Đã ba ngày tôi không cạo râu. Tôi không còn khả năng điều khiển ruột già và bàng quang, cho nên tôi đã đại tiện, tiểu tiện ra đầy quần.. Tôi bị vô số vắt bám vào người để hút máu, và chúng đã bị tôi bứt ra hết, trừ một con đang chui vào lỗ mũi phía bên trái mà tôi không hề hay biết. Khi bắt được tôi và thấy cảnh này, đám bộ đội đã được một trận cười khoái trá.
Tôi bị tra khảo, đánh đập, hăm dọa. Hai tay tôi bị trói ngược ra phía sau bằng dây nhợ, và càng ngày càng bị xiết chặt theo thời gian bị tra khảo, cho tới khi hai vai tôi bị trật khớp, và hai cùi chỏ bị trói cứng với nhau, cấn vào chỗ xương lưng bị gẫy khiến tôi đau đớn khôn tả. Cuối cùng thì cuộc tra khảo cũng chấm dứt, và tôi được lệnh đi bộ trong ba ngày liên tiếp, để tới một trại giam trong rừng già – mà theo sự ước đoán của tôi, nằm ở phía bắc lãnh thổ Căm-bốt, ngay bên kia biên giới. Tôi đã được bọn họ trả lại trả lại đôi giày bốt, nhưng đã lấy mất hai sợi dây giày và đôi vớ. Sau ba ngày đi bộ, khi lết một cách đau đớn tới cổng trại giam, đôi bàn chân của tôi đã trở nên bầy hầy, giống như hai20cái hamburger còn sống.
Trại giam này là một điển hình của những trại mà nhiều người đã từng sống qua. Trại được dựng trên một khoảnh đất trong rừng sâu, tất cả đều làm bằng tre. Chung quanh là một bức tường bằng tre, khiến người ta liên tưởng tới những tiền đồn của kỵ binh Mỹ vào thời khai phá miền Viễn Tây. Bên ngoài bức tường này lại có một bức tường khác. Giữa hai bức tường là một cái hào, giống như hào thành thời trung cổ. Dưới hào có vô số chông - là những thân tre vót nhọn, sắc bén như dao, cắm sâu dưới một lớp phân người.. Nếu rớt xuống đó, không chết vì bị chông đâm vào những bộ phận trọng yếu thì bạn cũng sẽ chết vì bị mất máu, hoặc nếu không chết ngay vì những vết thương thì c ng chết từ từ vì bị nhiễm trùng. Một thân cây được bắc ngang cái hào, mà phải cố gắng giữ thăng bằng, người ta mới có thể đi trên cái "cầu" này để vào trại.
Bên trong những bức tường tre ấy là những cái cũi, cũng bằng tre, để nhốt tù binh. Nào là quân nhân VNCH, nào là những người Thượng đồng minh của Biệt kích Mỹ; và hai người Mỹ - gồm tôi và một phi công trực thăng bị bắt trước đó một tháng. Tổng cộng, ít nhất cũng có vài trăm tù binh. Tình trạng trong trại giam thật tồi tệ. Chúng tôi sống như thú vật. Phần lớn những cái cũi để nhốt chúng tôi không đủ cao để có thể đứng dậy. Tuy nhiên điều đó cũng không cần thiết bởi vì chân chúng tôi đã bị cùm vào những cái cùm gỗ. Vì xương lưng bB gẫy, tôi không thể nằm mà phải ngồi để ngủ. Đêm đêm, lũ chuột chạy tới chạy lui trong cũi và gặm nhấm vết thương ở mắt cá chân của tôi. Vì hai chân bị cùm, tôi không thể nhúc nhích nên không có cách nào để đuổi chúng đi. Cho tới ngày nay, tôi vẫn còn ghét chuột!
Mỗi ngày, chúng tôi được ra khỏi cũi một lần để làm công việc thải cặn bã trong cơ thể ở nhà vệ sinh dành cho tù binh. Giờ giấc mỗi ngày đều khác nhau, cho nên tù binh nào không có khả năng chờ đợi, kiềm chế, đã tự phóng uế ra quần khi đang còn bị cùm trong cũi (rất nhiều người trong số chúng tôi bị tiêu chảy). Sau khi ra khỏi cũi, chúng tôi phải đi một khoảng mới tới nhà vệ sinh ở một góc trại.
"Nhà vệ sinh" này thực ra chỉ là vài c i hố xí để bạn phóng uế xuống. "Vấn đề" là có nhiều người trong số tù nhân bị đau yếu đã không thể nín trên đường tới hố xí, nên đã đại tiện ngay tại chỗ, khiến cả khu vực đầy rẫy những đống phân người. Một số tù nhân đau nặng, gần chết, thì được đặt trên những cái võng gần các hố xí. Khi có "nhu cầu", người nào còn đủ sức thì ráng xuống khỏi võng để tới hố, người nào kiệt sức thì đành nằm trên võng mà phóng uế ra quần. Hậu quả là cả khu vực chung quanh mấy cái hố được mệnh danh là "nhà vệ sinh" ấy đầy rẫy phân người, mà những tù nhân còn tương đối khỏe mạnh, trên đường đi tới hố xí phải cẩn thận lắm mới né tránh được. Trên đường trở về cũi, không c bất cứ phương tiện nào để chúng tôi lau chùi, rửa ráy.
Theo ký ức của tôi thì nước uống không có "vấn đề". Nước phân phát cho tù nhân được đựng trong những ống tre. Họ nói rằng nước đã được đun sôi, nhưng tôi vẫn bị tiêu chảy một cách thậm tệ. Nhưng lương thực thì có "vấn đề".. Hầu như chỉ có một món duy nhất là cơm. Vào lúc gần trưa, mỗi người được một nắm to bằng trái cam, tới xế chiều được một nắm nữa. Thỉnh thoảng, chúng tôi được "chiêu đãi" bằng những khúc rễ cây có bột, gọi là sắn dây, tương tự như rễ cây "yucca" ở châu Mỹ La-tinh.. Chỉ trong vài tuần lễ, tôi đã sút mất hơn 20 ký-lô. Tôi giống như bộ xương cách trí với bộ râu dài. Trong khoảng thời gian 5 tháng, tôi không hB được cạo râu.
Tôi không hề được chăm sóc về y tế hay được cấp phát bất cứ thứ thuốc men nào cả. Nhưng người nào cũng thế thôi. Người tù binh Việt Nam bị nhốt chung cũi, nằm cạnh tôi bị một vết thương rất nặng ở ngực, không hiểu đã được băng từ đời nào, nhưng trong suốt thời gian bị nhốt chung cũi, tôi không hề thấy anh được thay băng. Cái lỗ sâu hoắm trên ngực anh không bao giờ lành. Anh còn trẻ và tương đối khỏe, nhưng tôi biết chắc chắn anh sẽ không qua khỏi.
Chúng tôi sống như thú vật, trong điều kiện môi trường nhơ bẩn, đói khổ, không một chút thuốc men, cho nên hầu như ngày nào cũng có người chết. Xác họ được chôn trên sườn đồi phía bên ngoài trại.
* * *
Ngày 2 tháng 7 năm 1972, tôi được đưa ra khỏi cũi và sắp hàng cùng với một toán tù binh. Có khoảng 25 người Việt và một người Mỹ khác. Chỉ một lát sau, tôi được biết trong toán tù binh này có một phi công bị bắn hạ cùng ngày với tôi, khi anh bay chiếc khu trục A-1 Skyraider yểm trợ cho trại Polei Klang. Tên anh là Trung-úy Xanh. Tôi sẽ không bao giờ quên tên anh. Không bao giờ!
Viên chỉ huy trại tới nói chuyện với chúng tôi, theo đó, chúng tôi sẽ di chuyển tới một trại mới, khá hơn. Nơi đó, chúng tôi sẽ được ăn uống đầy đủ hơn, và được chăm sóc về y tế; chúng tôi sẽ được nhận thư từ và bưu phẩm của gia đình gửi. Ông ta cho biết cuộc hành trình có thể sẽ kéo dài tới 11 ngày, vì thế chúng tôi phải cố g=E 1ng hết sức để đi cho tới nơi. Sau khi nghe ông ta nói, tôi tưởng tượng ra một trại nào đó cũng ở trong rừng, nhưng vị trí thuận tiện, có nhiều nhân viên và được tiếp tế đầy đủ hơn, nằm ở đâu đó phía bắc Căm-bốt hoặc ngay bên kia bên giới Lào. Riêng về lời cảnh giác của viên trại trưởng nói rằng chúng tôi "phải cố gắng hết sức để đi cho tới nơi", tôi đã chẳng mấy quan tâm. Cho tới mấy ngày sau đó.
Với đôi chân trần, tôi bắt đầu cuộc hành trình. Các tù binh đều bị trói, người này bị cột lại với người kia bằng một sợi dây. Sau vài ngày, chúng tôi không còn bị trói nữa, vì bước đi còn không đủ sức nói gì tới chạy trốn. Tôi rất đuối, vì thiếu dinh dưỡng, vì đủ thứ bệnh không tên, và vì những vết thương lâu ngày không được chăm sóc nay đã làm độc, và ngày càng trở nên tệ hại hơn cùng với cuộc hành trình. Nhưng phải nói chính những con vắt mới là mối nguy hàng đầu; chúng không chỉ hút máu mà còn gây viêm nhiễm do các độc tố chúng truyền sang.
Trung-úy Xanh cũng ở trong tình trạng bi đát như tôi, mỗi bước đi là một sự phấn đấu cả về thể xác lẫn nội tâm, để đối phó với sự kiệt quệ của cơ thể, sự xuống dốc của tinh thần. Bởi nếu bạn không tiếp tục bước, bạn sẽ chết. Ở cuộc sống đời thường, muốn chết bạn phải có một hành động cương quyết nào đó. Bạn phải tự sát.. Nhưng một khi bạn là tù binh chiến tranh thì trong bất cứ tình huống nào, sự thể cũng trái n gược lại. Bạn phải phấn đấu từng ngày để sống sót. Còn muốn chết thì dễ quá. Cứ việc bình thản, đầu hàng một cách êm ái, là bạn sẽ chết. Nhiều người đã làm như thế. Họ chết trong trại tù đầu tiên, họ chết trên đường di chuyển. Ngay sau ngày đầu, một số người đã không chịu bò dậy nữa. Một số khác cố gắng tiếp tục cuộc hành trình nhưng rồi cũng lần lượt bỏ cuộc. Trong lúc đoàn người tiếp tục tiến bước, mỗi khi nghe một hay vài tiếng súng nổ ở phía sau, họ biết họ sẽ không bao giờ còn gặp người tù binh đáng thương ấy nữa. Toán 27 tù binh chúng tôi đã mất ít nhất là nửa tá trong hoàn cảnh nói trên, và tới lúc cuộc hành trình kết thúc, Wayne Finch, người tù binh Mỹ duy nhất ngoài tôi ra, cũng đã bỏ mạng.
* * *
Cuộc di chuyển không kéo dài 11 ngày, và đích tới cũng không phải là một trại tù nào đó nằm trong khu vực. Mà là một cuộc hành trình gian khổ kéo dài 3 tháng, đưa chúng tôi vượt gần 1000 cây số, ngược đường mòn Hồ Chí Minh, và cuối cùng hướng về Hà Nội, thủ đô của miền Bắc. Thật là một cơn ác mộng – một cơn ác mộng kinh hoàng nhất. Mỗi một bước, với tôi là một sự đau đớn tận cùng thân thể. Các vết thương làm độc ngày càng tệ hại. Tử thần đã kề bên. Cái chân bị thương đã sưng phù lên gấp đôi bình thường, với những vết nứt dài, từ đó chảy ra một thứ mủ cực kỳ hôi tanh.
Bệnh tiêu chảy của tôi càng thêm tồi tệ, lA 1i còn bị tới 3 loại sốt rét khác nhau cùng với vô số ký sinh trùng trong ruột. Mỗi cuối ngày, khi tôi kết thúc cuộc hành trình trên dưới 10 cây số, thần chết cứ lảng vảng bên cạnh. Mỗi buổi sáng, ngay sau khi thức giấc, tôi phải phấn đấu để cố đứng dậy, máu dồn xuống cái chân bị thương cùng với sức nặng của thân hình đè xuống, tạo ra một cảm giác đau đớn vô cùng tận. Và Trung-úy Xanh, mặc dù bản thân cũng trong tình trạng hết sức tệ hại, luôn luôn hiện diện để khích lệ tôi, giúp đỡ tôi với tất sức lực còn lại nơi anh. Tới bữa chiều, chúng tôi được phát một nắm cơm nhỏ. Xanh nói với tôi đây không phải là cách ăn uống bình thường của người Việt. Người Việt rất coi trọng bữa ăn, và có nhiều món ăn ngon lFm. Đừng đánh giá văn minh ẩm thực của Việt Nam qua những gì chúng tôi đang được cấp phát. Tôi cố gắng duy trì đầu óc khôi hài. Đây là một việc rất khó khăn nhưng tối cần thiết. Tinh thần là yếu tố quan trọng nhất trong việc sống còn, và kể cả khi tình hình trở nên tuyệt vọng nhất, óc khôi hài sẽ giúp bạn giữ vững được tinh thần – từ đó nảy sinh hy vọng. Và trong việc này, Trung-úy Xanh cũng lại giúp đỡ tôi. Anh luôn luôn quan tâm tới tôi, và làm bất cứ những gì anh có thể làm để giúp tôi giữ được lạc quan, hy vọng. Vì thế, cho dù tình hình càng ngày tồi tệ, tôi chưa bao giờ mất hy vọng. Kể cả trong cái ngày mà đáng lẽ ra tôi đã chết, nếu như không có Xanh.
Mỗi ngày, tôi đã phải sử dụng toàn bộ ý chí để thức dậy, đứng lên và bước đi. Rồi tôi phải phấn đấu hết mình trong suốt ngày hôm đó để tiếp tục tiến bước trên con đường mòn dài vô tận. Tôi đã không còn đứng vững, nhưng bằng cách nào đó, tôi vẫn hoàn tất mục tiêu của mỗi ngày, để sáng hôm sau mở mắt chứng kiến thêm một bình minh nữa mà Thượng Đế đã ban cho.
Nhưng rồi tới một ngày tệ hại nhất trong đời. Tôi đã phấn đấu hết mình. Tôi lảo đảo muốn ngã xuống. Tôi cố gắng vận dụng hết sức lực.. Tôi loạng quạng bước đi. Rồi tôi lại lảo đảo, tôi cố gắng phấn đấu, tôi vận dụng toàn bộ sinh lực còn sót lại, và tôi cầu nguyện xin có thêm sức mạnh. Rồi tôi ngã gục, tôi bò dậy tiếp tục đi, nhưng rồi lại20ngã gục. Tôi lại tiếp tục phấn đấu, phấn đấu với tất cả những gì còn lại trong cơ thể, trong trái tim, trong linh hồn.. Nhưng rồi tôi lại ngã gục, và lần này tôi không thể đứng dậy được nữa. Ý chí của tôi vẫn còn, nhưng cơ thể đã hoàn toàn kiệt lực. Cuộc đời của tôi đến đây là tận. Quân thù đến kia rồi; tên vệ binh nhìn xuống, ra lệnh cho tôi bò dậy, nhưng tôi không thể. Hắn quát tháo lớn hơn, tôi vẫn bất động. Coi như xong đời!
Nhưng Xanh đã tiến tới, vẻ mặt lo âu, cúi xuống nhìn tôi.. Mặc cho tên vệ binh quát tháo, xua đuổi, Xanh vẫn không chùn bước. Khi hắn quát tháo dữ dội hơn, nét mặt Xanh bỗng trở nên đanh thép lạ thường, và bất chấp những lời đe dọa của tên vệ binh, Xanh cúi xuống vực tôi dậ y, rồi kê cái lưng ốm yếu cho tôi gục lên, để hai cánh tay của tôi ôm vòng lấy cổ anh, hai cổ tay ghì chặt, và với tư thế ấy, anh đã kéo tôi lết theo cho tới cuối ngày.. Đôi lúc, có một tù nhân khác tạm thay thế Xanh, nhưng phải nói gánh nặng trong ngày hôm ấy dồn hết lên vai anh. Xanh là người đã bất chấp nguy hiểm tới tính mạng để lo lắng và chăm sóc tôi cho tới khi kết thúc cuộc hành trình ngày hôm đó.
* * *
Sáng hôm sau, tôi trải qua mọi đau đớn thường lệ trong việc thức dậy, đứng dậy và cố gắng lê lết cái chân bị thương trong những bước đầu tiên, để tạo quyết tâm cho một ngày sắp tới. Tôi cảm thấy đau đớn như chưa từng thấy nhưng vẫn cố gắng vận dụng ý chí để bư ớc đi. Ngay phía bên ngoài cái trại vừa dừng chân là cây "cầu" bằng một thân cây lớn bắc ngang một dòng nước chảy xiết xen lẫn những tảng đá lớn. Tôi bắt đầu băng qua, cố gắng giữ thăng bằng nhưng không còn sức lực mà cũng chẳng còn một chút ý thức gì về thăng bằng nữa. Cái chân bị thương vô dụng kia đã hại tôi, kéo tôi nghiêng về một phía khiến tôi loạng quạng và cuối cùng rớt xuống sông. Xanh và Wayne đang đi phía trước, vội vàng quay trở lại phía bên này, lội xuống vào kéo tôi lên bờ. Họ năn nỉ đám cộng sản cho phép cả toán tù binh tạm dừng chân tại trại này cho tới khi nào tôi đủ sức tiếp tục cuộc hành trình, nhưng bị từ chối. Xanh và Wayne nhất định không chịu rời tôi. Cho tới khi đám vệ binh tiến tới, dí súng v0o người và lôi cổ họ đi. Nhìn bóng hai người khuất dần cùng với toán tù binh, tôi biết mình sẽ không bao giờ gặp lại Xanh trên cõi đời này nữa!
Bởi vì, như các bạn tù đồng cảnh ngộ đều biết, trong trường hợp này, tôi bị bỏ lại trại để chết – như nhiều người khác đã chết. Thế nhưng không hiểu vì nguyên nhân hay lệnh lạc nào đó, đám cộng sản lại quyết định chích penecillin cho tôi trong mấy ngày liền. Tôi bắt đầu bình phục, và sau một khoảng thời gian ngắn, đã có thể đứng dậy. Và ngay sau khi tôi đủ sức bước đi, đám cộng sản đã ra lệnh cho tôi tiếp tục cuộc hành trình. Lần này, tôi đi chung với một đoàn bộ đội di chuyển về hướng Bắc, một tay vệ binh được chỉ định đi theo tôi làm cB 4ng việc áp giải.
Cuộc hành trình cũng gian khổ như những đoạn đường đã qua, nhưng với tôi, những gì kinh hoàng nhất đã được bỏ lại sau lưng. Thậm chí tôi còn có cơ hội chạy trốn: một ngày nọ, khi đi tới một khúc quẹo và khuất tầm nhìn của tên vệ binh đi phía sau, tôi đã bỏ chạy vào rừng. Nhưng rồi hắn đã mau chóng lần ra dấu vết và đuổi kịp; mặc dù tỏ ra vô cùng giận dữ, hắn đã không bắn tôi chết, mà chỉ hung hăng chĩa súng ra lệnh cho tôi quay trở lại. Sau đó, khi bắt đầu tiến vào lãnh thổ Bắc Việt, tôi được cho nhập bọn với một đoàn tù binh VNCH, và cuối cùng, tới Hà Nội. Nơi đó, sau khi đã trải qua mọi thủ tục và nhiều nhà tù khác nhau, tôi được đưa tới "khách sạn Hilton - Hà Nội" lừng danh (tức nhà tù Hỏa Lò), và ở đó cho tới khi được trao trả vào giai đoạn cuối của cuộc chiến.
* * *
Ngay sau khi trở lại Hoa Kỳ, tôi đã đi tìm hỏi tin tức về Trung-úy Xanh nhưng không có kết quả. Tôi đã tìm gặp các quân nhân Việt Nam đang thụ huấn tại Mỹ, cũng không ai biết gì. Sau khi miền Nam rơi vào tay cộng sản năm 1975, tôi càng ra sức tìm kiếm, để rồi lại bị thất vọng.
Mấy năm sau, tôi được dịp tái ngộ với một quân nhân VNCH đi chung với tôi trong toán tù binh nhứ nhất, cùng với một người khác trong toán thứ hai, tên là Phạm Văn Tăng và Nghiêm Kế. Tôi nhờ họ giúp đỡ trong việc tìm kiếm tin tức về Trung-úy Xanh.. Lúc đầu, không có kết quả gì cả. Về sau thì có tin đồn nói rằng sau khi Sài Gòn thất thủ, Xanh đã bị cộng sản bắt lại và có lẽ đã chết sau nhiều năm gian khổ trong tù. Nhưng tôi vẫn nuôi hy vọng sẽ có ngày được biết đích xác những gì đã xảy ra cho Xanh, và có thể cả những tin tức liên quan tới gia đình anh.
Trong những năm gần đây, tôi ra sức tìm kiếm trên internet, nhưng luôn luôn thất bại. Thế rồi cách đây mấy tuần lễ, tôi tình cờ khám phá ra trang mạng của các hoa tiêu bay khu trục A-1 Skyraider của Không Quân VNCH, trong đó có một số người cùng phi đoàn với Xanh ngày trước. Tôi gửi cho "trang chủ" mấy lời nhắn tin, và chỉ vài ngày sau, tôi đã liên lạc được với Xanh bằng email, và sau đó qua điện thoại – lần đầu tiên sau 35 năm, chúng tôi mới được nói chuyện với nhau. Tôi sẽ gặp lại Xanh trong m t ngày gần nhất, có thể là mùa thu này. Tôi sẽ được nhìn thấy anh lần đầu tiên kể từ cái ngày tôi nằm lại bên đường mòn Hồ Chí Minh, mắt nhìn theo con người đã cứu mạng mình – đang bị vệ binh dí súng cưỡng ép bước qua cây cầu, trong lòng đau đớn vì phải bỏ tôi ở lại để chờ chết.
Xanh đâu có ngờ chính những cố gắng giúp đỡ tận tình của anh trong những ngày đen tối nhất đời tôi, đã trở thành động lực để tôi phấn đấu cho sinh mạng của chính bản thân mình – tôi không thể để uổng phí công lao của Xanh. Tất cả những gì Xanh làm đã giúp tôi sống sót, và chính những hành động quên bản thân của anh đã giúp tôi có thêm nghị lực và quyết tâm để vượt qua bất cứ khó khăn, tr ngại nào trong thời gian chờ đợi ngày được trả tự do.
Xanh luôn luôn là một con người đáng ngưỡng phục. Và giờ đây anh còn là một công dân Mỹ đáng quý. Tôi cám ơn trời đã cho tôi gặp được một người bạn như Xanh - vào lúc mà tôi cần tới sự giúp đỡ của anh hơn lúc nào hết; và giờ đây, xin cám ơn trời một lần nữa, vì đã cho tôi tìm lại được người bạn quý mến ấy.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Đón Xuân Nầy
Nhớ Xuân Xưa

Nhân dịp sum họp ngày đầu xuân chúng ta hãy ôn lại một chút lịch sử đau thương của đất nước. Năm 1960 ngay sau khi Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam ra đời ( không giải thích mọi người trong chúng ta ai cũng biết MTGPMN/VN do ai lập ra và do ai chỉ đạo)

Người Mỹ thấy trước hiểm họa xâm lăm của Cộng Sản Quốc Tế đối với vùng Đông Nam Châu Á, nên họ muốn đưa quân vào giúp Miền Nam VN ngăn chậm làng sóng đỏ.


Tổng Thống Ngô Đình Diệm không chấp thuận vì VNCH biết trước Hà Nội sẽ tuân lệnh quan thầy Nga, Tàu lấy cớ Mỹ xâm lăng VN xua quân gây chiến tranh cốt nhục tương tàn anh em chém giết nhau.

Tổng Thống Diệm đề cử Cố Vấn Ngô Đình Nhu mật liên lạc với Hồ Chí Minh và đề nghị, qúi ông có được Miền Bắc, qúi vị xây dựng Miền Bắc thật giàu đẹp, VNCH chúng tôi cũng cố gắng xây dựng Miền Nam Việt Nam thật giàu mạnh. Chờ một ngày đẹp trời chúng ta sẽ cùng nhau ngồi xuống nói chuyện thống nhất.


Bất chấp lời đề nghị chân tình của chính phủ VNCH, Hà Nội thi hành tham vọng của quan thầy Liên Xô & Tàu Cộng xua quân xâm lăm VNCH, hệ qủa sau ngày 30 tháng tư năm 1975, Hà Nội đã phải trả một giá qúa đắc trên 3 triệu con dân Bắc Việt chết mất xát vứt bỏ khắp trường sơn. VNCH trong tư thế tự vệ miền Nam VN cũng phải hy sinh trên 4 trăm 50 ngàn Nam Nữ thanh niên tài trí kiên cường bất khuất những đứa con yêu của mẹ Việt Nam.


Suốt 21 năm chiến tranh đã hai lần đọ sức thư hùng một mất một còn giữa Quân Lực VNCH và Quân Cộng Sản Bắc Việt, Tết Mậu Thân năm 1968, Hà Nội đã bội ước Hiệp Định ngưng bắn 7 ngày để bà con hai miền vui xuân, bất thần Hà Nội tấn công khắp Thôn làng Miền Nam VN, đem tiếng súng thay tiếng pháo ngay trong đêm Giao Thừa giây phút thiêng liêng nhất của Dân Tộc Việt Nam, với 21 ngày chiếm Thành Phố Huế Bộ Đội Bác Hồ đã giết và chôn sống trên 5,327 đồng bào (con một mẹ) trong tay không một tấc sắc tại Huế. Tài liệu được giải mật sau 75 Hà Nội bị thiệt hại gần 10 Sư Đoàn phải kéo chạy qua Miên & Lào trốn né.

Trận chiến thứ hai Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972, QL/ VNCH cũng đã cắm Cờ chiến thắng trên Cổ Thành Quảng Trị với khúc quân ca “Cờ bay Cờ bay trên thành phố thân yêu vừa chiếm lại hôm qua bằng máu” Tại An Lộc một Tỉnh Lỵ nhỏ bị tấn công bằng 3 Sư Đoàn thiện chiến của Bắc Việt, cũng bị đánh bật “An Lộc địa danh ghi chiến tích, Biệt Kích Dù vị quốc vong thân”


Năm 1989 thành trì của Mác-Lê cùng với bức tường Ô Nhục Bá-Linh đã hoàn toàn sụp đổ, 13 nước cộng sản giờ chỉ còn có 3 nước XHCN đói nghèo qùe quặt VN, Bắc Hàn, Cuba.


Chủ nghĩa anh hùng tìm đâu chẳng thấy, Việt Nam ta ngày nay chỉ biết ôm chân bọn Tư Bản Đang Dãy Chết, Đón Xuấn Nầy nghĩ tới Xuân Xưa thật đau lòng cho quê hương Tổ Quốc Việt Nam. Cũng nhân dịp nầy người việt chúng ta thử đọc qua mấy câu hỏi của các cháu nhỏ sinh ra và lớn lên sau ngày chiến tranh chấm dứt.

Lê-Nin ông ở nước Nga

Mà sao lại đứng vườn hoa nước mình

Nam Quan, Bản Giốc, Hoàng Sa

Biển Đôn Bô Xít ai là chủ nhân

Bình Khánh
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »


Image

Tướng Lê Văn Hưng

Ngày 21/4/1975, khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, trao quyền lại cho cụ Trần Văn Hương, tôi còn nhớ rõ lời ông Thiệu nói: "Mất một Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, quân đội còn Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, đồng bào còn một chiến sĩ Nguyễn Văn Thiệu. Tôi nguyện sẽ chiến đấu kế bên anh em chiến sĩ." Lời tuyên bố của ông Thiệu đã gây cho tôi sự xúc động. Thế rồi lời tuyên bố ấy cũng đã bay theo gió, khi số lớn cấp chỉ huy trực tiếp điều hành guồng máy quốc gia đã vỗ cánh chim bay sang ngoại quốc, tìm nơi ẩn trốn an lành, bỏ mặc quê nhà, dân tộc và quân đội đang chết đuối trong cuồng phong súng đạn tơi bời, Thiếu Tướng Nam, Hưng, Hai, Vỹ, Phú. Nhắc đến đây tôi không ngăn nổi tiếng nấc nghẹn ngào.

Ôi tiếng súng nổ rền vang trên khắp lãnh thổ. Mùa hè năm 1972, nhà văn Phan Nhật Nam đã mệnh danh là mùa hè đỏ lửa. Mùa hè máu. Mùa hè cuối đày yêu đương. Mùa hè tận cùng vực thẳm. Còn mùa hè 30/4/1975 bi thương thê thảm ngần nào? Chúng ta còn đủ ngôn từ để diễn tả tận cùng nỗi thương tâm kinh hoàng của sinh ly, từ biệt, cuống cuồng ấy không ? Tin thất trận từ các Vùng 1,2,3 bay về dồn dập. Có những nơi chưa đánh đã bỏ cho địch tràn vào. Cũng có nơi quyết liều tử chiến. Thảm thương thay, cuộc rút quân hỗn loạn bi đát chưa từng có trong lịch sử và quân sử.

Ðài VOA và BBC tuyên bố những tin thất bại nặng nề về phía QLVNCH khiến lòng dân càng thêm khiếp đảm. Những đoàn quân thất trận, tả tơi manh giáp, không người chỉ huy, cuống quýt chạy như đàn vịt bị săn đuổi. Tinh thần binh sĩ rối loạn hoang mang tột độ. Họ thì thào bảo nhau: "Tổng Thống Thiệu, Thủ Tướng Khiêm, Ðại Tướng Viên đã cao bay xa chạy, còn đánh đấm gì nữa. Ông Tướng này, ông Tỉnh nọ, đã trốn đi ngoại quốc, chúng ta còn đánh làm gì." Họ còn hỏi nhau: "Bao nhiêu năm chúng ta chiến đấu cho tổ quốc, hay chiến đấu cho tập đoàn tham nhũng? Hay cho cá nhân của ai đây?" Mất người chỉ huy, những quân nhân như rắn không đầu, rối rít, tan rã. Lại có những câu hỏi: "Quân không Tướng chỉ huy thì sao?" Có những kẻ chủ tâm dè bỉu, thường chỉ trích chê bai: "Có những ông Tướng mà biết đánh giặc cái gì! Chỉ có lính đánh để các ông Tướng hưởng."

Lời phê bình của những kẻ bất mãn hay những kẻ có tâm địa hạn hẹp, thật chẳng khác nào ếch ngồi đáy giếng. Cho dù có những vị Tướng bê bối, làm cho quân đội bị nhục, thì cũng có những vị Tướng trong sạch đức độ, lỗi lạc, tài ba, đáng cho dân quân khâm phục. Những phần tử bất mãn ấy đã vô tình hay cố ý không thấy việc tối quan hệ của sự hỗ tương, hỗ trợ, giữa các Tướng Lãnh, Sĩ Quan, và Binh Sĩ thật cần thiết cho quân đội và quốc gia như thế nào. Ðối với những vị cao minh, hiểu biết giá trị hy sinh của những người tuẫn tiết, tôi trang trọng cúi đầu cảm tạ, tri ân.

Có nhiều người đã nêu lên câu hỏi với tôi: "Tại sao Tướng Nam, Tướng Hưng chết làm chi cho uổng? Tại sao các ông Tướng ấy không tiếp tục chiến đấu? Tại sao các ông không trốn sang ngoại quốc?" Lại có người nghiêm khắc trách tôi: "Bà thật dở. Nếu là tôi, tôi quyết liệt can ngăn không để cho các ông ấy chết. Vợ con như thế này, ông Hưng chết đành bỏ vợ con lại sao?" Ngay cả vài vị phu nhân của các Tướng Lãnh, hoặc còn ở trong tù, hoặc đã an nhàn nơi xứ người, cũng thốt ra những lời chỉ trích tôi. Nghe những lời phê bình ấy, tim tôi đau nhói. Tôi tôn trọng sự nhận xét "theo tầm hiểu biết của họ". Tôi ngán ngẩm không trả lời, chỉ mỉm cười lắc đầu. Nhưng hôm nay tôi phải lên tiếng. Lên tiếng để tạ ân những người đang âm thầm chiến đấu ở Việt Nam, để tạ ân những người hùng can đảm đã, đang, và sẽ tiếp tục đánh đuổi Cộng Sản cứu quê hương, để trả lời những người đã nêu lên nhiều câu hỏi đó. Tôi trân trọng xin những vị nào đã có những lời chỉ trích nên bình tâm suy nghĩ lại, trước khi phán đoán vì...những vị Tướng Lãnh bách chiến bách thắng lại lẽ nào chịu xuôi tay nhục nhã trước nghịch cảnh, trước kẻ thù? Những vị Tướng đã từng xông pha trong mưa đạn, bao lần thử thách với tử thần, với nhiều chiến công từ cấp bậc nhỏ lên tới hàng Tướng Lãnh, đã từng khắc phục gian nguy, xoay ngược thế cờ, chuyển bại thành thắng trên khắp mặt trận, lẽ nào những vị Tướng ấy chỉ nghe hai tiếng "buông súng" rồi giản dị xuôi tay tự sát hay sao?

Viết đến đây tôi mạn phép nêu lên câu hỏi: "Thưa toàn thể quý vị sĩ quan QLVNCH. Ngày quý vị nhận lãnh chiếc mũ sĩ quan của trường Võ Bị, quý vị còn nhớ sáu chữ gì trên chiếc mũ ấy không? Sáu chữ mà quý vị trịnh trọng đội lên đầu là: "Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm." Ngày mãn khóa sĩ quan với những lời tuyên thệ, quý vị hẳn nhớ? Cũng như những điều tâm niệm ai lại chẳng thuộc lòng? Những vị bỏ nước ra đi trước binh biến, những vị ở lại bị sắp hàng vào trại tù Cộng Sản, tôi xin tạ lỗi, vì thật tình tôi không dám có lời phê phán nào. Tôi chỉ muốn nói lên tất cả sự thật về cái chết của hai vị Tướng Nguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng. Hai vị Tướng này đã ba lần từ chối lời mời di tản sang ngoại quốc của viên cố vấn Mỹ, cương quyết ở lại tử chiến, bảo vệ mảnh đất Vùng 4. Viên cố vấn Mỹ hối thúc, đợi chờ không được, sau cùng chán nản và buồn bã bỏ đi.

Trước đó, vào ngày 29/4/1975, lời tuyên bố của Vũ Văn Mẫu và Dương văn Minh trên đài phát thanh Sài Gòn ra lệnh tất cả người Mỹ phải rời Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ, thì chính lúc "kế hoạch hành quân mật của hai Tướng Nam Hưng đã hoàn tất."

Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, người thay thế Tướng Vĩnh Lộc vào những ngày giờ cuối tới tấp điện thoại về Cần Thơ. Ông Hạnh đã dùng tình cảm chiến hữu, dùng nghĩa đàn anh thân thuộc, khẩn khoản yêu cầu Tướng Hưng về hợp tác với Dương văn Minh và Nguyễn Hữu Hạnh. Thâm tâm có lẽ ông Hạnh lúc đó muốn đò xét thái độ của hai Tướng Vùng 4 như thế nào. Nhiều lần, qua cuộc điện đàm với Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Tướng Hưng đã luôn khẳng định: "Không hợp tác với Dương văn Minh.. Không đầu hàng Cộng Sản. Tử chiến đến cùng."

Khi Tổng Thống Thiệu từ chức, trao quyền lại cho cụ Trần Văn Hương, và rồi vì hoàn cảnh đắm chìm của vận mệnh đất nước, trước nhiều áp lực nên cụ Hương đã trao quyền lại cho Dương văn Minh, để rồi "ông Tướng hai lần làm đổ nát quê hương, ố hoen lịch sử này, hạ mình ký tên đâng nước Việt Nam cho Cộng Sản." Vị Tướng Lãnh trấn thủ một vùng, tùy hoàn cảnh đất nước, và tình hình chiến sự địa phương, trọn quyền quyết định, xoay chuyển thế cờ, không cần phải tuân lệnh một cách máy móc theo cấp chỉ huy đầu não đã trốn hết, thì còn chờ lịnh ai? Phải tuân lịnh ai? Tóm lại, lúc đó lệnh đầu hàng của Dương văn Minh và lời kêu gọi của Nguyễn Hữu Hạnh đã không được Tướng Nam và Tướng Hưng đáp ứng.

Viết đến đây, tôi xúc động lạ thường. Tôi nghẹn ngào rơi lệ khi nhớ đến một số sĩ quan binh sĩ đã bật oà khóc lên khi nghe lệnh đầu hàng của Dương văn Minh. Anh em đã ôm lá cờ tổ quốc, ôm khẩu súng vào lòng nức nở. Có những chi khu trưởng và những đồn trưởng nhất định đã không chịu đầu hàng. Họ đã tử thủ đến viên đạn chót. Và viên đạn chót dành để kết liễu đời mình. Cấp bậc của những anh em ấy không cao, chỉ chỉ huy khu nhỏ, hay một đồn lẻ loi, nhưng tinh thần tranh đấu của anh em cao cả và hùng thế đấy.

Trong khi Sài Gòn bỏ ngỏ đầu hàng thì Cần Thơ vẫn an ninh tuyệt đối. Kế hoạch hành quân đã thảo xong. Vũ khí lương thực đạn dược sẵn sàng. Tất cả đều chuẩn bị cho các cánh quân di chuyển, sẽ đưa về các tuyến chiến đấu. Kế hoạch di quân, phản công, và bắt tay nằm trong lịnh mật quân hành đó. Vùng 4 có nhiều địa thế chiến lược, có thể kéo dài cuộc chiến thêm một thời gian. Bởi lúc đó, cho đến ngày 29 tháng 4 năm 1975, chưa có một đồn nào, dù ở quận lỵ xa xôi hẻo lánh ở Vùng 4 đã lọt vào tay giặc Cộng.

Nhưng, Cần Thơ, sáng ngày 30/4/1974, dân chúng nhốn nháo hoang mang. Ðã có một số binh sĩ bỏ ngũ. Tại thị xã, cảnh náo loạn đáng buồn chưa từng có đã xảy ra. Từng nhóm đông đảo bọn ác ôn và thừa nước đục thả câu đã ra tay cướp giật tài sản ở các cơ sở Mỹ, và ở những nhà tư nhân nào đã bỏ trống, bất chấp tiếng súng nổ can thiệp của cảnh sát duy trì an ninh trật tự công cộng. Chúng cướp giật, đập phá, hò hét như lũ điên. Chắc chắn trong số này có bọn Cộng Sản nằm vùng có ý đồ gây rối loạn áp đảo tinh thần binh sĩ.

Lúc ấy Tướng Nam và Tướng Hưng vẫn còn liên lạc với các cánh quân chạm địch. Nhiều cánh quân nồng cốt được đưa về thị xã Cần Thơ để bảo vệ Bộ Chỉ Huy Quân Ðoàn, nằm chung quanh vòng đai Alpha.. Từ 2 giờ đến 4 giờ chiều ngày 30 tháng 4, giờ đã điểm. Ðúng theo kế hoạch lệnh hành quân bắt đầu. Nhưng hỡi ôi, khi liên lạc đến các cấp chỉ huy của các đơn vị thì mới hay họ chưa biết tý gì về kế hoạch, chưa rục rịch chi hết, ngoài việc thay đổi các cuộc bố trí từ sáng đến giờ phút này.

Tìm kiếm Ðại Tá anh ninh, người mà đã lãnh nhiệm vụ phân phối phóng đồ và lệnh hành quân mật đến các đơn vị, thì mới vỡ lẽ ra vị sĩ quan này đã đưa vợ con tìm đường tẩu thoát sau khi ném tất cả mật lệnh vào tay vị Ðại Úy dưới quyền. Ông này cũng đã cuốn gói trốn theo ông Ðại Tá đàn anh, cho có thầy, có trò. Các phóng đồ và lệnh hành quân mật cũng đã biến mất. Thiếu Tướng Nam và Thiếu Tướng Hưng tức uất không sao tả nổi. Tôi không ngăn nổi tiếng nấc nghẹn ngào khi hồi tưởng lại vẻ bối rối của Thiếu Tướng và sự đau khổ thất vọng của Hưng.

Những đường gân trán nổi vòng lên, răng cắn chặt, biểu lộ sự đau đớn và chịu đựng kinh hồn. Người đập tay đánh ầm xuống bàn khi thấy kế hoạch sắp xếp thật tinh vi bị kẻ phản bội hèn nhát làm gãy đổ bất ngờ. Hưng ngước mắt nhìn tôi như muốn hỏi : "Có đồng ý đem con lánh nạn không?" Tôi cương quyết từ chối. Tôi không cầu an ích kỷ, tìm sống riêng, bỏ mặc người trong cảnh dầu sôi lửa đỏ. Tôi nhất định ở lại, cùng chịu hoạn nạn, cùng liều chết. Hưng hỏi tôi: "Thành công là điều chúng ta mong ước, nhưng rủi thất bại, em định liệu lẽ nào?" Tôi đáp: "Thì cùng chết! Các con cũng sẽ thế. Em không muốn một ai trong chúng ta lọt vào tay Cộng Sản."

Và để khỏi phải sa vào tay giặc Cộng, tôi bình tĩnh thu xếp cho cái chết sắp tới cho mẹ con tôi, đường giải thóat cuối cùng của chúng tôi. Bốn giờ 45 chiều ngày 30/4/75, Tướng Hưng rời bỏ văn phòng ở Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn 4, về bộ chỉ huy phụ, nơi chúng tôi tạm trú. Hưng không muốn chứng kiến cảnh bàn giao ơ nhục sắp tới giữa Thiếu Tướng Nam và tên Thiếu Tá Việt Cộng Hoàng Văn Thạch. Năm giờ rưỡi chiều ngày 30 tháng 4, khi Hoàng Văn Thạch tiến vào Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn là lúc Hưng gọi máy liên lạc với Tướng Mạch Văn Trường, ra lệnh đưa hai chi đội thiết giáp tới án ngữ ở dinh Tỉnh Trưởng để bảo vệ Bộ Chỉ Huy Sư Ðoàn 21 mới về đóng nơi đây. Sau đó Hưng tiếp tục liên lạc với các đơn vị đang tiếp tục chạm súng ở các tiểu khu. Ðồng thời Hưng mời Tướng Mạch Văn Trường cùng các đơn vị trưởng ở chung quanh vòng đai thị xã Cần Thơ về họp.

Sáu giờ 30 chiều ngày 30 tháng 4, khi các vị sĩ quan vừa ra đến cổng, có một toán thân hào nhân sĩ quen biết tại Cần Thơ đang chực sẵn. Họ gồm khoảng 10 người. Họ xin gặp Tướng Hưng, với tư cách đại diện dân chúng thị xã, yêu cầu: "Chúng tôi biết Thiếu Tướng không bao giờ chịu khuất phục.. Nhưng xin Thiếu Tướng đừng phản công. Chỉ một tiếng lệnh của Thiếu Tướng phản công, Việt Cộng sẽ pháo kích mạnh mẽ vào thị xã. Cần Thơ sẽ nát tan, thành bình địa như An Lộc. Dù sao, vận nước đã như thế này rồi, xin Thiếu Tướng hãy vì dân chúng, bảo toàn mạng sống của dân, dẹp bỏ tánh khí khái, can cường..." Nghe họ nói, tôi cảm thấy đau lòng lẫn khó chịu. Tôi cũng không ngạc nhiên về lời yêu cầu đó.

Bởi mới tuần lễ trước, Việt Cộng đã pháo kích nặng nề vào khu Cầu Ðôi, cách Bộ Tư Lệnh không xa, gây thiệt hại cao về nhân mạng và tài sản của đồng bào. Dân chúng Cần Thơ còn khiếp đảm. Hưng như đứng chết lặng trước lời yêu cầu ấy. Một lát sau, Hưng cố gượng nở nụ cười trả lời: "Xin các ông yên lòng. Tôi sẽ cố gắng hết sức để tránh gây thiệt hại cho dân chúng." Toán người ấy ra về. Hưng quay sang hỏi tôi: "Em còn nhớ tấm gương cụ Phan Thanh Giản? Bị mất ba tỉnh miền đông, rồi cũng vì dân chúng mà cụ Phan Ðã nhún mình nhường thêm ba tỉnh miền tây cho quân Pháp. Cụ Phan không nỡ thấy dân chúng điêu linh và cũng không để mất tiết tháo, không thể bó tay làm nhục quốc sĩ. Cụ Phan Thanh Giản đã nhịn ăn rồi uống thuốc độc quyên sinh." Trầm ngâm vài giây, Hưng tiếp: "Thà chết chứ đâu thể bó tay trơ mắt nhìn Việt Cộng tràn vào."

Sáu giờ 45 chiều ngày 30 tháng 4, Tướng Nam điện thoại cho Hưng, hỏi tình hình các nơi. Hưng báo với Tướng Nam về việc đại diện dân chúng thị xã đến yêu cầu thẳng với Hưng. Hưng cũng cho Tướng Nam biết đặc lệnh truyền tin mới nhất sẽ giao cho người tín cẩn phân phối. Tướng Nam cho Hưng hay là ông đã cho thu băng lời lêu gọi dân chúng và lời yêu cầu này sẽ cho đài Cần thơ phát thanh. Nhưng mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên. Thêm một lần nữa, sự gây đổ đau lòng. Ðài Cần Thơ bị nội ứng trước đó, khoảng một giờ, viên giám đốc đài bị uy hiếp, thay vì phát thanh cuốn băng của Thiếu Tướng Nam trước, chúng thay cuốn băng có lời kêu gọi của Thiếu Tá Cộng Sản Hoàng Văn Thạch. Khoảng mười phút sau, đài mới phát thanh cuốn băng của Tướng Nam. Muộn màng rồi. Không còn níu kéo được sự tin tưởng nơi dân chúng và binh sĩ được nữa. Hàng ngũ các đơn vị đã thưa thớt lại càng thêm thưa thớt.

Bây giờ 7 giờ 30 tối ngày 30 tháng 4, Hưng gọi tôi lên văn phòng làm việc. Ðây là giờ phút nghiêm trọng nhất, không có ai hiện diện hết. Sau khi kể cho tôi nghe hết sự đổ vỡ từ trưa đến giờ phút đó, Hưng nhấn mạnh: "Hoàng, em đã hiểu sự thất bại do các nguyên nhân sau đây: Vị Ðại Tá không tuân lệnh, nên giờ chót không điều động quân về các vị trí chiến lược, trù liệu theo kế hoạch. Việc níu kéo sự tin tưởng của dân chúng và binh sĩ không thành. Lời kêu gọi trễ tràng của Tướng Nam không có tiếng vang. Cũng như lời yêu cầu của dân chúng thị xã Cần Thơ. Quắc đôi mắt sáng, Hưng nhìn tôi dằn giọng: "Em phải sống ở lại nuôi con." Tôi hoảng hốt: "Kìa mình, sao mình đổi ý?" "Con chúng ta vô tội, anh không nỡ giết con." "Nhưng không thể để con sống với Cộng Sản.

Em sẽ thay mình làm chuyện đó. Chỉ cần chích thuốc ngủ cực mạnh cho con. Chờ em một chút, chúng ta cùng chết một lúc." "Không thể được. Cha mẹ không thể giết con. Anh van mình. Chịu nhục, cố sống. Ở lại thay anh, nuôi con trở thành người công chính. Phú quý vinh hoa địa vị hãy đề phòng, những thứ đó dễ làm mờ ám lương tri. Nhớ, giang san tổ quốc là trọng đại hơn hết. Gắng chịu cúi lòn, nhục nhã để nuôi con và cũng nuôi luôn ý chí để có ngày còn phục hận cho đất nước chúng ta." "Nếu vì con, mình thương con, sao mình không đi ngoại quốc?" Hưng đanh mặt lại, nghiêm khắc nhìn tôi trách móc: "Em là vợ anh. Em có thể nói được câu ấy sao?" Biết mình vụng về, lỡ lời xúc phạm đến người, tôi vội vàng tạ lỗi: "Xin mình tha thứ. Chẳng qua vì quá thương mình nên em mới nói thế."

Giọng Hưng thật nghiêm trang mà cũng thật trầm tĩnh: "Nghe anh nói đây. Người ta trốn chạy được. Chớ anh không gao giờ trốn chạy. Mấy ngàn binh sĩ dưới tay, hồi nào sinh tử có nhau, giờ bỏ mặc họ tìm sống riêng mình sao? Anh cũng không đầu hàng. Bây giờ thì rút cũng không kịp nữa, vì vào mật khu mà không có nguồn tiếp liệu vũ khí, đạn dược, lương thực thì không cầm cự được lâu. Ðã muộn rồi. Việt Cộng đang kéo vào đừng để anh không dằn được nổ súng vào đầu chúng, thì gây thiệt hại cho dân chúng và anh em binh sĩ. Anh không muốn thấy bóng dáng một tên Việt Cộng nào." Tôi phát run lên hỏi: "Nhưng mình ơi, còn em? em phải làm gì trong lúc này?" Nắm chặt tay tôi, Hưng nói: "Vợ chồng tình nghĩa bao nhiêu lâu, anh hiểu em và em hiểu anh. Em tuy chỉ là con cá nhỏ nhưng biết mang ý chí kình ngư. Gắng chịu nhục. Dù phải chịu trăm ngàn sự nhục nhã để nuôi con, để phục hận cho quê hương. Cải trang, cải dạng, len lỏi mà sống. Anh tin em. Vì anh, vì con, vì nợ nước, tình nhà, em có thể chịu đựng nổi! Nghe lời anh đi. Anh van mình, anh van mình."

Tôi không sao từ chối được trước ánh mắt van nài, trước những lời tha thiết ấy: "Vâng, em xin nghe lời mình." Hưng sợ tôi đổi ý, tiếp lời thúc giục: "Em hứa với anh đi. Hứa một lời đi." "Em xin hứa... Em xin hứa mình ơi. Nhưng xin cho em hai điều kiện. Nếu Cộng Sản bắt em phải sống xa con, nếu giặc Cộng làm nhục em, lúc ấy em có quyền tự sát theo mình chứ?" Hưng suy nghĩ giây lâu, gật đầu đồng ý, và ra lệnh cho tôi: "Em mời má và đem các con lên lầu gặp anh."

Tôi quay đi. Ánh mắt bỗng chợt đập vào lá cờ vẫn dựng ở góc phòng. Tôi vội vàng đem cờ đến bên người. Tôi nói: "Bao nhiêu năm chiến đấu để bảo vệ tổ quốc. Bây giờ mình hãy giữ nó." Chúng tôi nhìn nhau cảm thông. Hưng ôm lá cờ, áp vào mặt, đôi mắt Hưng chợt ướt. Sau cùng Hưng cũng rán đứng lên hối tôi: "Mau mời má và mấy đứa nhỏ lên." Khi mẹ tôi và các con lên văn phòng, Hưng nói rõ cho mẹ tôi hiểu vì sao người phải chết và tôi phải sống.

Vâng lệnh Hưng, tôi mời tất cả sĩ quan binh sĩ còn tụ họp dưới nhà lên văn phòng. Mọi người đứng xếp hàng nghiêm trang và vô cùng cảm động. Giờ phút từ biệt sanh ly giữa những người từng bao ngày sống chết bên nhau. Hưng dõng dạc nói: "Tôi không bỏ các anh và đưa vợ con trốn sang ngoại quốc. Như các anh đã biết, cuộc hành quân chưa chi đã bị gẫy đổ nửa chừng. Tôi không phản công vào phút chót là vì dân chúng. Tôi không muốn Việt Cộng pháo kích bừa bãi, biến Cần Thơ thành An Lộc thứ hai. Tôi cũng không chịu nhục đầu hàng. Các anh đã từng cộng tác với tôi, những lúc các anh lầm lỗi, tôi rầy la. Rầy la không có nghĩa là ghét bỏ. Rầy la để mến thương nhau, để xây dựng nhau. Mặc dầu đất nước ta bị bán đứng, bị dâng cho Cộng Sản, nhưng các anh không trực tiếp chịu tội với quốc dân. Chính những người trực tiếp nắm vận mệnh các anh, mới chính là những kẻ trọng tội. Xin các anh tha thứ cho tôi những lỗi lầm, nếu có. Tôi bằng lòng chọn cái chết. Tướng mà không giữ được nước, không bảo vệ được thành, thì phải chết theo thành, theo nước, chớ không thể bỏ dân, bỏ nước, trốn chạy, cầu an. Tôi chết rồi, các anh hãy về với gia đình, vợ con. Nhớ rõ lời tôi căn dặn: Ðừng bao giờ để bị Cộng Sản tập trung các anh, dù tập trung dưới bất cứ hình thức nào. Tôi có lời chào vĩnh biệt các anh."

Tướng Hưng đưa tay chào và bắt tay từng người một. Mọi người đều khóc. Ðến bên Thiếu Tá Phương, Trung Úy Nghĩa, Hưng gởi gấm: "Xin giúp đỡ giùm vợ con tôi. Vĩnh biệt tất cả." Mọi người đều đứng yên không ai nói lên được lời nào. Mẹ tôi nhào lại ôm chầm lấy người, xin được chết theo... Hưng an ủi mẹ tôi. Yêu cầu mẹ tôi cố gắng chăm lo cho cháu ngoại. Hưng ra lệnh cho tất cả mọi người phải ra ngoài.

Không ai chịu đi. Hưng phải sô từng người ra cửa. Tôi van xin: "Mình cho em ở lại chứng kiến mình chết." Người từ chối. Nghĩa hoảng sợ bỏ chạy. Hưng quay vào văn phòng đóng chật cửa lại. Tôi gọi giật Nghĩa: "Nghĩa trở lại với tôi." Tôi bảo Giêng tìm dao nạy cửa. Giêng bỏ chạy như bay. Nghĩa trở lên, đứng trước cửa chờ đợi. Có tiếng súng nổ. Tiếng nổ nghe chát chúa. Tôi đưa tay xem đồng hồ: 8 giờ 45 phút tối ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ngày kết liễu cuộc đời của chúng tôi. Lê Văn Hưng, anh đã chết. Giêng run run lấy dao nạy cửa. Cửa bật ra. Nghĩa lách mình nhường tôi chạy vào phòng trước. Hưng ngả người nằm trên, nửa người nằm dưới, hai cánh tay dang ra, cong lên và giật mạnh, toàn thân run rảy từng cơn. Ðôi mắt Hưng mở to căm hờn. Miệng Hưng há ra, đôi môi mấp máy. Tôi ôm chầm lấy Hưng hỏi: "Mình, mình ơi! Mình còn lời gì dặn dò em nữa không?" Hưng không còn trả lời được tiếng nào. Nghĩa gào lên nức nở: "Thiếu Tướng! Trời ơi, Thiếu Tướng!" Giêng chạy vào phụ Nghĩa đỡ lưng và chân, tôi đỡ đầu Hưng, đặt nằm ngay ngắn trên giường. Máu tim nhuộm thắm áo trận, ướt đỏ cả tấm drap trắng. Tôi đưa tay vuốt mắt cho người. Nghĩa vẫn gào khóc: "Thiếu Tướng! Thiếu Tướng ơi!"

Tôi bảo Giêng: "Nói Hòa đưa Hải, Hà, Quốc lên nhìn xác ba lần cuối. Dặn Phương cho Khiết, Hoàng giữ ở cầu thang, bất cứ giá nào chũng phải ngăn chận Việt Cộng." Tôi đi tìm đầu đạn và đuôi đạn. Còn khẩu súng, lạ lùng thay không biết khẩu súng ở đâu. Ðến lúc tắm rửa người, thay drap dấy máu, tôi mới hiểu. Trước khi hồn lià xác, với ý chí cuối cùng, người còn bình tĩnh nhét khẩu súng, dấu dưới nệm. Có lẽ người sợ tôi quá xúc dộng, quên lời hứa, tự sát theo. Bé Hải lúc ấy năm tuổi, ôm hai chân ba, khóc than, kể lể thảm thiết. Bé Hà hai tuổi, thơ ngây ôm chai sữa, lên nằm trên bụng ba, bé mở tròn đôi mắt to, ngạc nhiên không thấy ba đưa tay bế bé như mọi khi.

Nghĩa điện thoại khắp nơi tìm Thiếu Tướng Nam, không thấy trả lời. Tôi vội vã mở đặc lịnh truyền tin, lên máy gọi liên lạc với Thiếu Tướng. Lúc ra máy, chỉnh tần số, tôi chỉ nghe những giọng nói rặc mùi Cộng Sản trên các tần số thuộc đơn vị của chúng ta. Lũ Việt cộng, ngày 30 tháng 4, tràn vào nhà. Phương cương quyết chận chúng ở cầu thang. Chín giờ rưỡi, 30 tháng 4, chuông điện thoại reo vang: "Alô, Alô, ai đây?" "Dạ thưa chị đó à? Hồ Ngọc Cẩn đây." Tôi bàng hoàng: "Anh Cẩn! Có chuyện chi cần không?" Tôi cố gắng giữ giọng nói cho bình thường, để Cẩn không nhận biết sự việc xảy ra. Trong điện thoại, về phía Cẩn, tôi có nghe tiếng súng lớn nhỏ thi nhau nổ ầm ầm. Cẩn hỏi: "Thiếu Tướng đâu chị? Cho tôi gặp ông một chút." Tôi lúng túng vài giây: "Ông đang điều động quân ngoài kia." "Chị chạy ra trình Thiếu Tướng, tôi cần gặp. Trung Úy Nghĩa đâu chị?" "Nghĩa đang ở bên cạnh Thiếu Tướng. Cẩn chờ một chút nhé." Tôi áp chặt ống điện thoại vào ngực. Mím môi, nhìn xác Hưng rồi nhìn sang Nghĩa tôi hỏi: "Ðại Tá Cẩn đòi gặp Thiếu Tướng, làm sao bây giờ Nghĩa?" Nghĩa lúng túng: "Cô nói Thiếu Tướng chết rồi." "Không thể nói như vậy được. Ðại Tá Cẩn đang cự chiến với Việt Cộng."

Trí óc tôi chợt lóe sáng phi thường. Tôi muốn Cẩn chiến đấu anh hùng. Sống anh hùng. Chết anh hùng. Tôi đưa máy lên giọng quyết liệt: "Thiếu Tướng không thể vào được. Cẩn cần gì cứ nói. Tình hình ở Chương Thiện ra sao? Anh còn đủ sức chiến đấu không? Tinh thần binh sĩ thế nào? Ðịch ra sao?" "Tụi nó dần tụi tui quá.. Tinh thần anh em vẫn cao. Chị hỏi Thiếu Tướng còn giữ y lịnh không?" "Cẩn vui lòng chờ chút." Tôi lại áp chặt ống điện thoại vào ngực. Cắn chặt môi suy nghĩ. Tôi hiểu lời Cẩn hỏi. Trong tích tắc tôi biết khó cứu vãn tình thế. Nhưng tôi muốn Hồ Ngọc Cẩn phải luôn hiên ngang hào hùng. Tôi quyết định: "Alô. Cẩn nghe đây: Lịnh Thiếu Tướng. Ông hỏi Cẩn có sẵn sàng tử chiến?" Cẩn đáp thật nhanh; "Lúc nào cũng sẵn sang, chớ chị!" "Tốt lắm, vậy thì y lịnh." "Dạ, cám ơn chị." Tôi buông máy gục xuống bên xác Hưng. Nước mắt trào ra, tôi kêu nho nhỏ: "Vĩnh biệt Cẩn. Vĩnh biệt Cẩn!"

"Anh Cẩn ơi, hồn linh anh có phảng phất đâu đay, khi tôi ngồi viết lại những dòng này, nước mắt rơi trên giấy, Anh có biết cho rằng trả lời điện thoại với anh rồi, tôi đau khổ tột cùng không? Tha thứ cho tôi!" Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, anh đã hiên ngang hào hùng đến giờ phút chót của cuộc đời. Hiểu rõ Hưng, hiểu rõ tôi, bên kia thế giới không thù hận, chắc anh hiểu rõ tâm trạng của tôi lúc bấy giờ, hẳn anh tha thứ cho tôi?"

Kính thưa toàn thể quý vị thuộc thân bằng quyến thuộc của Ðại Tá Cẩn. Kính thưa quý vị đã đọc những giòng chữ này. Xin quý vị chớ trách tôi sao dám quyết định. Ngộ biến tùng quyền. Tướng Hưng đã chết. Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam chưa liên lạc được. Vợ người lính nghĩa quân trưởng đồn, khi Việt Cộng tấn công, chồng chị bị tử thương, chị đã thay chồng phản công ác liệt. Tôi không thể để một người như Hồ Ngọc Cẩn đưa tay đầu hàng, hạ mình trước Việt Cộng vào dinh tỉnh trưởng Chương Thiện.

Mười một giờ đêm ngày 30 tháng 4, 1975. Ðiện thoại lại reo. Lần này, chính giọng của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam: "Alô, chị Hưng!" Tôi vừa khóc, vừa đáp lời Thiếu Tướng: "Thưa Thiếu Tướng..." Giọng Tướng Nam buồn bã u uất: "Tôi biết rồi, chị Hưng. tôi chia buồn với chị, nghe chị Hưng." tôi vẫn nức nở: "Thiếu Tướng nghĩ sao về kế hoạch đã gãy đổ?" "Hưng đã nói với chị nghe hết rồi hả? Ðành vậy thôi. Không phải lỗi chúng ta hèn nhát hay bỏ cuộc. Sự sụp đổ không cứu vãn được vì lệnh hành quân không được Ðại Tá...thi hành, phóng đồ và lệnh không tới tay các đơn vị trưởng, lời yêu cầu của dân chúng, lời kêu gọi của tôi quá muộn màng, không hiệu quả, khó cứu vãn nổi tình hình."

Nói đến đây, Thiếu Tướng Nam hỏi tôi: "Chị biết vụ đài phát thanh bị nội ứng chứ?" "Thưa biết. Hưng cũng bảo tôi như Thiếu Tướng đã vậy. Bây giờ Thiếu Tướng định liệu lẽ nào, có định phản công không?" "Chị quên còn dân chúng sao? Cộng Sản coi rẻ mạng dân, còn mình thì...Ðàng chị thế nào?" "Thưa Thiếu Tướng, chúng nó đã tràn đầy dưới nhà. Có vài tên định nhào lên, nhưng bị Giêng cương quyết đuổi xuống. Hiện chúng đang thu dọn tài sản. "Còn mấy chú đâu hết?" "Chỉ có Nghĩa và vài ba người lính ở lại. Còn tất cả đã bỏ đi hết. Hưng đã chết rồi, tôi không màng đến tài sản. Miễn là chúng đừng đụng đến xác Hưng." "Chị tẩm liệm Hưng chưa?" "Thưa chưa. Vừa tắm rửa, thay quần áo xong thì Thiếu Tướng gọi tới." "Chị nên tẩm liệm Hưng ngay đi. Tôi sợ không còn kịp. chúng nó sẽ không để yên."

"Thiếu Tướng còn dạy thêm điều gì không? Chẳng lẽ Thiếu Tướng chịu đầu hàng thật sao?" Người thở dài trong máy. Người nói những lời mà đến chết tôi cũng sẽ không quên: "Số phận Việt Nam khốn nạn thế đó, chị Hưng ơi! Tôi và Hưng đã sắp đặt tỉ mỉ, hoàn tất kế hoạch xong xuôi, còn bị phản bội giờ chót." Người chép miệng thở dài: "Thôi chị Hưng ơi." Bỗng giọng người trầm xuống, ngậm ngùi: "Hưng chết rồi, chắc tôi cũng chết! Chúng tôi làm Tướng mà không giữ được nước thì phải chết theo nước." Giọng người bình tĩnh và rắn rỏi: "Cố gắng can đảm lên nhé chị Hưng. chị phải sống vì mấy đứa nhỏ. Ðêm nay có gì nguy cấp, nhớ gọi tôi. Nếu gọi không được, dặn Nghĩa gọi Thụy, lấy mật mã mới." "Dạ, cám ơn Thiếu Tướng."

Nói chuyện với Thiếu Tướng xong, tôi bước ra lan can nhìn xuống. Ở dưới sân, sĩ quan và lính tráng đã đi hết. Trừ có Nghĩa còn ở lại. Cổng rào bỏ ngỏ. Gío thổi đong đưa cánh cửa rít lên những tiếng kẽo kẹt bi ai. Mảnh trăng cuối tuần 19 tháng 3 âm lịch chênh chếch soi, vẻ ảm đạm thê lương như xót thương cho số phận Việt Nam Cộng Hòa, cho trò đời bể dâu hưng phế. Viết đến đây, tôi nhớ lại từng lời của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, của Ðại Tá Tỉnh Trưởng tỉnh Chương thiện Hồ Ngọc Cẩn. Trọn đời tôi, làm sao tôi có thể quên giọng nói gấp rút của anh Cẩn, giọng trầm buồn của Tướng Nam.

Bảy giờ sáng ngày 1 tháng 5, năm 1975. Vừa tụng dứt đoạn kinh Sám Tỉnh Thế trong nghi thức cầu siêu cho Hưng, tôi nghe có tiếng nấc sau lưng. Quay lại, chính là Trung Tá Tùng, bác sĩ trưởng Quân Y Viện Phan Thanh Giản, Cần Thơ. Ông đến thăm Hưng lần cuối. Ông cho biết phải trở lại Quân Y Viện ngay vì Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam đã tự sát, xác còn nằm tại Quân Y Viện. Tướng Nam đã bắn vào thái dương, lúc 6 giờ sáng ngày 1 tháng 5, 1975. cho đến chết, mắt Tướng Nam vẫn mở trừng trừng, uất hận, miệng người há hốc, đớn đau. Sau cuộc điện đàm với người, tôi đã linh cảm, biết trước chuyện gì sẽ xảy ra. Nhưng khi nghe bác sĩ Tùng báo tin, tôi xúc động vô cùng, tôi quỳ xuống, hướng về Quân Y Viện, nơi Tướng Nam còn nằm đó, cầu nguyện: Xin Thiếu Tướng tha thứ. Tôi không dám bỏ xác Hưng để đến vuốt mắt Thiếu Tướng và lo việc tẩm liệm cho Thiếu Tướng. Bây giờ linh hồn của Thiếu Tướng đã gặp Hưng, xin linh thiêng phò hộ cho mẹ con tôi thoát khỏi tay Cộng Sản. Xin thương xót cho quê hương, cho dân tộc chúng ta. Xin thương xót cho toàn thể anh em binh sĩ.

Trung Úy Nghĩa thay tôi đến viếng xác người. Trung Úy Thành, vị ân nhân can đảm đặc biệt, đến với tôi trong giờ phút nguy nan đó. Thành đã mời được Trung Tá Bia đến tẩm liệm cho Hưng. Những vị ân nhân trong cơn biến loạn ấy, trọn đời tôi xin ghi khắc ơn sâu. Tám giờ sáng ngày 1 tháng 5, 1975, các sĩ quan quân đoàn, mặc thường phục, đến viếng xác Hưng. Mầu nhiệm thay, khi gặp lại những cộng sự viên cũ, trong thoáng chốc, mắt Hưng hé mở, nhìn lên. Và từ trong đôi mắt người chết, có hai giòng lệ chảy. Mặt người chợt đỏ bừng lên.

Người khóc cho quê hương đất nước bắt đầu đắm chìm trong điêu linh. Người khóc cho đám tàn quân khốn khổ. Cho lúc đến chết, hai Tướng Nam và Hưng chỉ phân tách nguyên nhân thất bại, làm hỏng kế hoạch của hai người. Chớ không ai lên tiếng nặng lời trách móc vị Ðại Tá kia. Xin quý vị hiểu rõ giùm tôi. Tôi tôn trọng danh dự của hai ông, vợ con và gia đình hai ông. Trong hoàn cảnh căng thẳng của đất nước, khi lòng người mất niềm tin, hai ông cũng như nhiều người khác, thật sự đáng thương hơn đáng trách. Không hiểu hai ông có đi thoát, hay bị bắt ở lại. Vận nước ngàn cân treo sợi tóc, một vài người dù đánh đổi cả vận mệnh cũng không nâng đỡ nổi tòa nhà Việt Nam đang sụp đổ tang thương.

Nhưng, một ngày chúng ta còn mang trong người dòng máu của dân tộc Lạc Hồng, còn hít thở được khí trời, là một ngày chúng ta còn nợ nần quê hương. Ðó là món nợ thiêng liêng và cao quý mà ngôn từ loài người chưa thể diễn tả được sát nghĩa, và thật đúng ý. Sao chúng ta không noi gương oanh liệt của tổ tiên, của cha ông, nối tiếp ý chí bất khuất của tiền nhân, để trang trải món nợ ân tình đó? Sao chúng ta cứ lo chê bai, công kích, hãm hại, đạp chà nhau, để rồi vô tình làm lợi cho bọn cướp nước Cộng Sản?

Ðọc những gì tôi kể ở đoạn trên, những vị từng hỏi hay mỉa mai tôi, đã hiểu tất cả sự thật vì sao Tướng Nam và Tướng Hưng đã phải tự sát để bảo tồn tiết tháo. Không ai đem việc thành bại luận anh hùng. Cũng chớ bao giờ lấy tâm địa tiểu nhân để đo lòng người quân tử. Chúng ta, những người còn sống, những người Việt Nam ở trong nước hay lưu vong khắp bốn phương trời, chúng ta phải tự nêu lên câu hỏi: "Chúng ta đã làm được gì cho đừng hổ thẹn với những người đã nằm xuống? Họ đã nằm xuống không phải là vì họ hèn nhát! Họ đã nằm xuống là vì muốn bảo toàn sâu chữ mà họ từng mang trên đầu: Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm. Nếu chưa làm được gì cho quê hương, xin hãy thận trọng lời phê phán vô ý thức. Ðừng vô tình thành tàn nhẫn sỉ nhục những người dám chết cho tổ quốc.

Bà Lê Văn Hưng
(Nhũ danh Phạm Thị Kim Hoàng)
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Image

XIN ANH MỘT LỜI HỨA

Xuân nầy nếu anh về quê ăn Tết
Còn thương em xin anh hứa một lời
Thương phế binh còn khổ lắm anh ơi !
Tìm thăm họ, nói đôi lời an ủi .

Họ không trách anh, nhưng em thấy tủi
Nhớ ngày nào vì đất nước tang thương
Họ theo anh trên khắp các chiến trường
Cùng chia xẻ cảnh dầm sương dãi nắng .


Image
Trên đường ra mặt trận


Họ chiến đấu không vì riêng thù hận
Nhưng vì muốn giử nước chống xâm lăng
Cứu dân Nam khỏi cộng phỉ bạo tàn
Gây thảm cảnh nước tan nhà cửa nát .


Image
Trên đường ra mặt trận

Từ Lai-Châu núi rừng cao bát ngát
Từ Thái-Bình, Phủ-Lý, Vĩnh- Phúc-Yên
Từ sông Gianh và từ Bình-Trị-Thiên
Anh mang họ đến Cà-Mâu, Rạch-Giá .


Đời chiến binh trải qua nhiều nghiệt ngã
Anh lưu vong họ cũng chả vui gì
Vì thương binh đành im lặng đợi thì
Mong gặp bạn mừng nâng ly tái ngộ.


Image
Thương binh BĐQ Nguyễn Văn Lộc, mất hai chân,
sống ngoài đường phố Saigon, sau 30-04-75


Đừng áo gấm về làng đi dạo phố
Hay nâng ly trong lữ quán năm sao
Mà nỡ quên cựu chiến sĩ, đồng bào
Đang thống khổ bởi cộng Hồ thổ phỉ


Tìm thăm họ không vì bất đắc dĩ
Mà vì nặng tình huynh đệ chi binh
Yêu tổ quốc nên họ đã hy sinh
Một nửa phần tay chân cho dân tộc .


Image
Một Thương Binh (không biết tên), tại nơi cư ngụ của Anh.
Hình chụp Giáng Sinh 1999, không biết Anh còn sống hay đã vĩnh viễn ra đi..


Họ là những thương phế binh bất khuất
Là anh hùng, là chiến sĩ hiên ngang
Như quân Nam chiến thắng Bạch Đằng Giang
Là con cháu của Hùng vương lập quốc .



Nhớ nghe anh nếu còn thương Việt tộc
Còn biết hờn, biết nhục mất quê hương
Thì giúp dân diệt công sản bất lương
Xây dựng nước phú cường dân chủ trị ./.


Không biết tên tác giả.
Nhận từ một thân hữu..…
nuoclanh
Posts: 163
Joined: Wed May 30, 2007 12:09 pm
Contact:

Post by nuoclanh »

Chào Quốc Kỳ và Mặc Niệm Đầu Năm Canh Dần



[flash width=425 height=355][/flash]
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

VIÊN ĐẠN CUỐI CÙNG

Bảo Định Nguyễn Hữu Chế

Người lính trận không còn trận để đánh, khi vị Tổng Thống 48 giờ kiêm Tổng Tư Lệnh QLVNCH Dương Văn Minh kêu gọi quân sĩ đâu ở đó, ngưng nổ súng và chuẩn bị bàn giao cho phía bên kia. Thật là khôi hài cho hai chữ “bàn giao” và gọi bọn cộng sản Bắc Việt xâm lược là “phía bên kia” một cách nhẹ nhàng thân ái. Trong lúc chúng chỉ là những tên đồ tể khát máu, mất tính người, là công cụ của bọn Cộng sản Đệ Tam quốc tế, cần phải loại chúng ra khỏi đất nước này, loại chúng ra khỏi tâm tư của mọi người dân Việt. Chúng chỉ là loài sâu bọ biến thành người, hay như chúng tự nhận là con cháu của loài khỉ trên rừng “trải qua quá trình lao động nên biến thành người”. Tại sao ông Minh có thể ngây thơ đến như vậy! Nếu trong con người của ông còn một chút gì là lính, người lính VNCH chân chính, thì ông đã không hành động như vậy. Hoặc ít ra nếu suy nghĩ nông cạn, bị bọn trí thức khoa bảng ăn hại bu quanh bàn ra tán vào lếu láo, bị tên Dương Văn Nhật, Thiếu tá tình báo cộng sản, em ruột móc nối, bị mấy ông thầy tu xách động xúi giục, sợ dân chúng đổ máu (chỉ là cái cớ để biện minh), thì sau lời tuyên bố dâng đất, dâng dân, dân thành cho Cộng sản, ông phải biết kê khẩu súng vào mang tang để bóp cò một phát cho tròn khí tiết của một người lính, nhất là khi ông đã là một vị Tướng 4 sao! Từng hai lần làm Quốc trưởng (nhưng chẳng nên cơm cháo gì). “Mất thành phải chết theo thành” như Võ Tánh ngày xưa tuẫn tiết tại thành Bình Định, hay Hoàng Diệu tại thành Hà Nội.

Người lính trẻ mệt mỏi, mặt mày bơ phờ vì đã nhiều ngày đêm không ngủ, đang lê đôi chân nặng nhọc từ cầu Sơn hướng về ngả tư Xa lộ Hàng Xanh. Anh định về Thị Nghè, nhà anh ở đó. Anh biết mẹ anh, chị Dung của anh đang chờ tin tức của anh. Anh biết Loan, người yêu của anh, đang trông chờ anh từng giờ, từng phút. Hay nàng đã theo gia đình di tản đang lênh đênh trên mặt nước. Nàng có dám hy sinh, dám cãi lời cha mẹ không lên tàu, dám ở lại để chờ chàng, người lính trận của phe thua trận?

Thôi hết rồi khi đài phát thanh Saigon đọc lời tuyên bố của ông Dương Văn Minh, lệnh cho tất cả quân sĩ không được nổ súng, đâu ở đó, chờ phía bên kia vào bàn giao! Việt Nam Cộng Hòa không còn, QLVNCH không còn, đơn vị anh tan hàng, nhưng lần này không “cố gắng” như trước. Đây là lần tan hàng cuối cùng! Vị Tiểu đoàn trưởng của anh tập họp Tiểu đoàn và tuyên bố: “Việt Nam Cộng Hoà không còn, QLVNCH không còn, Tiểu đoàn của chúng ta cũng không còn. Tôi xin cảm ơn các bạn đã đồng cam cộng khổ, vào sinh ra tử, đã cùng nhau chiến đấu trong bao nhiêu năm. Chúng ta đã tạo được nhiều chiến thắng lẫy lừng ghi trong quân sử. Nhưng ngày hôm nay, vận nước không còn. Là quân nhân, chúng ta phải tuyệt đối thi hành mệnh lệnh. Dù đó là mệnh lệnh gì. “Thi hành trước, khiếu nại sau”. Với tư cách là Tiểu đoàn trưởng, tôi tuyên bố giải tán đơn vị. Các bạn ai về nhà nấy để gặp lại gia đình, sống cuộc đời thường dân lương thiện. Chúc các bạn sức khỏe. Chào VĨNH BIỆT! Vừa dứt lời, vị Tiểu đoàn trưởng khả kính đã kề khẩu colt 45 vào màng tang và bóp cò.

Buổi trưa ngày 29, tuyến phòng thủ Trảng Bom vỡ. Một Đại úy Đại đội trưởng chết ngay tại trận tiền. Một vị Tiểu đoàn trưởng bị cộng quân bắt sống. Đoàn quân xâm lăng Bắc Việt đã chiếm cứ Trảng Bom, tiền đồn xa nhất của Saigon lúc đó, chỉ cách Thủ đô yêu dấu miền Nam hơn 30 cây số. Từ đây, súng 122ly, 130ly có thể bắn tới.

Căn cứ Long Bình bị pháo kích nhiều nơi, nhiều kho đạn bị nổ. Phi trường Biên Hòa bị oanh kích bởi chính những chiếc F5E của QLVNCH do Không quân không kịp di tản, để lại tại Đà Nẳng, tại Phan Rang, do chính tên Trung úy phản bội Nguyễn Thành Trung theo giặc hướng dẫn. Dân chúng hoảng hốt, bồng bế nhau dồn về Saigon. Lẫn trong đoàn dân chạy loạn, có những người lính vừa thất trận tại phòng tuyến Trảng Bom. Đơn vị Tuấn phải củng cố tuyến phòng thủ để bảo vệ BTL/SĐ. Kể từ khi rời mặt trận Xuân Lộc, vì là đơn vị sau cùng làm lực lượng chặn hậu cho đại đơn vị rút ra an toàn, đã bị thiệt hại nặng, nên đã được chỉ định làm lực lượng phòng thủ BTL. Công việc tương đối an nhàn, ít nguy hiểm. Ngay trong không khí hổn quân hổn quan và loạn lạc đó, một chiếc xe honda từ Saigon trờ tới trước cửa BTL. Đó là chị Dung, chị ruột của Tuấn và Loan, cô bạn gái, người yêu của chàng.

Vừa gặp mặt Tuấn, chị Dung nói ngay:

- Họ đi hết rồi, cả Saigon đang đi. Anh rể em ở bên Không Quân có lệnh đưa gia đình ra Phú Quốc. Bên Hải Quân cũng chuẩn bị cho gia đình xuống tàu ra biển. Còn chị làm trong DAO cũng đã làm danh sách cho cả gia đình mình đi. Mấy ngày chị và Má cứ trông em về để đi, tất cả đã sẵn sàng.
- Nhưng ông Tướng, các cấp chỉ huy và đồng đội của em vẫn còn ở lại, vẫn còn tiếp tục chiến đấu.
- Ông Thiếu Tướng Kỳ, cựu Thủ Tướng, cựu Phó Tổng Thống, chiều ngày 28 tháng 4 còn đến xứ Tân Sa Châu thuộc quận Tân Bình hô hào tử thủ, hô hào sẽ chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, nhưng mới sáng sớm ngày hôm nay, tức 29 tháng 4, ông đã dùng máy bay trực thăng riêng bay ra Hạm đội. Ông Tướng Toàn, Tư Lệnh Quân đoàn III kiêm Quân khu 3 của em, buổi sáng ghé đây họp với các Tư lệnh Sư đoàn, chỉ thị các vị ấy phải tử thủ, phải chiến đấu, thì sau đó ông bay về Gò Vấp thu gom đồ đạc và bay thẳng ra Hạm đội 7 rồi. Chỉ có ông Tướng của em, các cấp chỉ huy của em điếc không sợ súng, không am hiểu tình thế mới ở lại để tiếp tục chiến đấu.
- Không được, em phải ở lại, em phải cùng đơn vị chiến đấu. Dù là trong tuyệt vọng. Em không thể đào ngũ trong lúc này. Em xin lỗi chị, xin lỗi Má.
- Loan, em hãy nói vài lời với Tuấn đi, em hãy thuyết phục Tuấn dùm chị. Em hãy nói em không thể sống xa Tuấn, sống thiếu Tuấn. Má, chị và cả nhà sẽ mang ơn em nhiều. Nhưng Tuấn vẫn kiên trì. Tình yêu gia đình, tình yêu trai gái, Tuấn đã coi nhẹ hơn tình yêu đơn vị, tình yêu đồng đội, ít ra là trong lúc này, trong hoàn cảnh dầu sôi lửa bỏng này. Nói thế có nghĩa là trong quá khứ, cũng đã nhiều lần Tuấn dù về nhà thăm mẹ, thăm chị Dung, người chị mà chàng thương yêu nhất, và Loan, dĩ nhiên là Loan, mối tình từ thuở học trò của chàng. Không thuyết phục được người em, người tình cứng đầu, Dung và Loan thất vọng trở lại Saigon.

Tuấn đi như người mất hồn. Anh không có một chủ định nào cả. Chân bước đi, đôi chân chàng di động như cái máy. Chàng hướng về Thị Nghè, nơi đó có Má, có chị Dung, có Loan đang chờ chàng.

Một chiếc xe Lam chạy qua. Mui xe cắm lá cờ nửa xanh, nửa đỏ, chính giữa có ngôi sao vàng 5 cánh của bọn Côn đồ “Giải phóng Miền Nam”. Trên xe đầy lũ nhóc cách mạng 30 tay đeo băng đỏ. Xe vừa chạy qua chổ Tuấn, chúng ngừng lại. Một tên có lẽ là chỉ huy, quát Tuấn:
- Thằng lính ngụy kia! Giờ này mà còn bận đồ lính và cầm súng. Hãy vất súng xuống, cởi mau đồ lính ra không ông cho phát AK bây giờ.

Tuấn như con người máy. Anh vất súng xuống bên vệ đường, ngồi xuống từ từ cởi đôi dày trận – đôi dày đã theo anh dẩm nát biết bao nhiêu là mật khu của VC – sau hết là bộ đồ trận. Giờ này đâu còn trận nữa, thôi thì cởi phắt cho xong – Tuấn vừa cởi vừa suy nghĩ. Rốt cuộc, trên người anh chỉ còn lại cái quần xà lỏn và áo thun ba lá. Thấy Tuấn đã cởi đồ xong, tên chỉ huy ra lệnh cho xe nổ máy tiếp tục chạy.

Người lính ngơ ngác một lúc. Anh bình tĩnh trở lại. Anh vội vàng mặc lại bộ quần áo trận, không kịp mang dày, anh nhặt khẩu súng lên, anh lên đạn và nhắm ngay vào chiếc xe Lam đang từ từ lăn bánh. Anh bóp cò. Nhưng lòng anh không chút hận thù oán trách. Trước mắt anh là lũ địch, bọn VC ác ôn. Anh phải bắn chúng, nếu không chúng sẽ bắn anh. Ai nhanh tay, người ấy sống. Một tràn đạn M16 tuôn ào ào ra khỏi nòng súng. Vài tên chết và bị thương, chiếc xe đảo qua đảo lại, lật nghiêng bên đường. Người lính từ từ kê nòng súng vào cằm như chống gậy. Anh dùng ngón cái tay phải xiết cò súng. “Việt Nam Cộng Hòa muôn năm! Việt Nam Cộng Hòa muôn năm! Việt Nam Cộng… Câu thứ ba mới phát âm đến chữ “Cộng” thì: Rầm! anh ngã xuống. Máu phun có vòi. Lúc đó là giữa trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975. Vĩnh biệt Tuấn, người con yêu của Tổ Quốc, người lính trận không còn trận để đánh. Người lính trận anh hùng bất khuất của đơn vị anh hùng không chịu hàng giặc. Thà chết vinh hơn sống nhục!

Bảo Định,
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

Thiên Thần Mũ Ðỏ Ai Còn Ai Mất
Thiếu Tướng Lê Quang Lưỡng
Tôi vẫn nhớ rõ như mới nhìn thấy hôm qua những khuôn mặt, giọng nói tác phong của những anh em Dù đã cùng tôi vào sinh ra tử. Thiếu Tá Thanh Tiểu đoàn 8 mà đồng đội của người Tiểu Ðoàn Trưởng nầy thường gọi là Thành Râu. Anh em chúng tôi có Thiếu Tá Châu Lùn Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 1, Thiếu Tá Hạnh, Hào Hoa Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 2, Thiếu Tá Trang Trĩ Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 3, Trung Tá Bùi Quyền, Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 5 nổi nóng mặt đỏ gay, Thiếu Tá Lô Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 7, biệt danh là Lô Lọ Rượu. Anh em chúng tôi còn có Cậu Út Biên Hòa hay cậu "Bảy Tình" Mười Lựu Ðạn tức Trung Tá Thành, Tiểu Ðoàn 6, Trung Tá Trần Ðăng Khôi Lữ Ðoàn 2 tài đức song toàn.

Thiếu Tá Ðường TÐ9, thích làm thơ tình lãng mạn, gọi là Ðường Thi Sĩ, anh em chúng tôi có Thiếu tá Hồng Thu, Tiểu Ðoàn Trưởng TÐ 16 gọi Cô Thu. Chúng tôi có 2 Ngọc, Ngọc Long Lữ Ðoàn Trưởng Lữ Ðoàn 1 và Ngọc Nga, Lữ Ðoàn Trưởng Lữ Ðoàn 4, Làm sao anh em Dù chúng tôi quên được, chúng tôi có 2 người bạn anh hùng, mỗi người chỉ có một mắt. Trung Tá "Bùi Ðăng" trong thẻ quân nhân không phải họ "Bùi" cũng chẳng có tên "Ðăng", tên anh là Bằng, Anh chỉ có một mắt. Nhưng những chiến sĩ của anh gọi anh một cách âu yếm là Bùi Ðăng. Trung Tá Trần Văn Sơn, Lữ Ðoàn Phó Lữ Ðoàn 2 cũng chỉ có một mắt từ ngày còn là Ðại Ðội Trưởng Tiểu Ðoàn 5, anh em Dù gọi là Hiệp sĩ Mù, tội nghiệp Sơn đã hy sinh trong trận chiến sau cùng tại mặt trận Phan Rang. Chúng tôi có Hiệp sĩ mù của chúng tôi, Hiệp sĩ mù của Thiên thần mũ đỏ không xử dụng cùng một loại vũ khí như Hiệp sĩ mù của phim ảnh và tiểu thuyết. Nhưng oai phong người Hiệp sĩ của Quê Hương ta chẳng thua sút sự hào hiệp của người trong truyện. Chúng tôi có Hiệp sĩ mù, chúng tôi có Bố Già. Làm sao quên Bố Già Lương Ruột Ngựa. Ðỉnh Tây Lai, Bố già Ðại Tá Lê Văn Phát, người tử thủ Khánh Dương, người lính già có mặt hầu hết những trận lớn của Quê Mẹ? Bố Già Lữ Ðoàn 3? Ðúng, chúng tôi có Bố Già đó.

Tháng 6/1972, sau trận Bình Long, tôi được trả về Sư Ðoàn Dù, ít lau sau SÐ Dù được đưa ra Ðà Nẵng để tăng phái cho Quân Ðoàn I. Lúc đó tôi là Lữ Ðoàn Trưởng LÐ1 Nhảy Dù. Cùng với LÐ1 ra vùng I có LÐ2 và LÐ3. Thời gian nầy, Trung Tướng Dư Quốc Ðống là Tư lệnh Sư đoàn Nhảy Dù.

Sự phân phối các đơn vị Dù tại Quân Ðoàn I lúc ấy như sau: 2 Lữ Ðoàn ở phía Nam Ðèo Hải Vân. Tháng 9/1972, tôi được bổ nhiệm làm phụ tá hành quân Tư Lệnh Sư đoàn Nhảy Dù. Vào tháng 8 năm đó, Trung Tướng Dư Quốc Ðống bị bệnh, Chuẩn Tướng Hồ Trung Hậu, Tư lệnh phó Sư Ðoàn được chỉ định đảm nhận Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh, còn Ðại Tá Bảo, Tham Mưu Trưởng Sư Ðoàn thì vừa tử nạn phi cơ, do đó tôi được đảm nhận trách vụ xử lý thường vụ Tư Lệnh Sư Ðoàn Nhảy Dù một cách không chính thức. Cuối tháng 8, cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu triệu hồi tôi vào Dinh Ðộc Lập để làm lễ tăng chức Chuẩn Tướng cho tôi, và sau đó tôi được bổ nhiệm Tư Lệnh phó, xử lý thường vụ chức vụ Tư Lệnh Sư Ðoàn Nhảy Dù đóng tại căn cứ Hiệp Khánh, cây số 17 Bắc Huế. Ðến tháng 11/1972, tôi chính thức nhận chức Tư Lệnh Sư Ðoàn Nhảy Dù, thay thế Trung Tướng Ðống từ nhiệm vì lý do sức khỏe. Khoảng thời gian 72 đến 75 ải địa đầu của Tổ Quốc của ta không phải là vùng đất bình lặng, Quảng Trị, Thạch Hãn, Chu Lai, Cố Ðô Huế. Những danh xưng đủ nói lên những trời giao động. Những người lính chiến được đồng bào gọi một cách âu yếm là "Thiên Thần Mũ Ðỏ". Trong suốt thời gian máu lửa đó đã có mặt khắp cùng trên những vùng đất ải địa đầu, cùng anh em quân nhân thuộc các quân binh chủng khác, mang lại cho đồng bào, tuy không phải sự bình yên tuyệt đối cũng là một tình hình khả quan.

Năm 1975, vào những ngày tháng Lịch Sử, chúng tôi đứng vững vùng I. Ðập những nhịp tim tin tưởng, anh em chúng tôi, một mặt nhìn bao quát tình hình chiến trường khắp nước, một mặt theo dõi mọi tiến thoái của các đơn vị đối phương trong vùng, tay cầm súng sẵn, chờ địch quân. Thói quen tiến vào chỗ chết, thói quen chấp nhận trận địa mười thua một ăn mà vẫn chiến đấu oai hùng, làm cho anh em Dù, mặc dù tin tức giao động đến từ bốn phía, vẫn tiếp tục sẵn sàng chiến đấu, tiếp tục cố gắng.

Lệnh của cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu gọi Sư Ðoàn Dù về SàiGòn hiện ra với tôi, bởi đó như một chấn động. Tôi chờ đợi mọi thứ trong tư thế sẵn sàng. Ðợi đối phương ào ạt vượt sông Thạch Hãn, đợi chiến xa địch đến đây, miền Trung kiêu hãnh từ những vùng rừng rậm Nam Lào. Nhưng tôi không chờ đợi được điều đó. Lệnh di chuyển SÐ Dù về SàiGòn, lệnh không phải chỉ nghe một phía mà từ mọi hướng. Ngày 10.03.1975, Việt Cộng tấn công Ban Mê Thuộc. 11.03.1975 Ban Mê Thuộc thất thủ. Tổng Thống Thiệu gọi Trung Tướng Trưởng vào SàiGòn nhận chỉ thị. Lệnh khủng khiếp, lệnh làm choáng váng, làm tan nát, đó là "Bỏ vùng I". Dường như muốn cho lệnh tổng quát đó được thi hành chính xác, Tổng Thống Thiệu đòi Trung Tướng Trưởng phải tức khắc cho rút Sư Ðoàn Dù về SàiGòn ngay. Cho chắc ăn, SàiGòn qua lệnh rút Sư Ðoàn Dù về, muốn trói tay Trung Tướng Tư Lệnh Quân Ðoàn I. "Trói tay" là một hình ảnh dễ hiểu nhưng có lẽ không đủ nghĩa. SàiGòn đã lấy mất thanh gươm và chặt hết một cánh tay, cánh tay cầm gươm của Tướng Trưởng khi đối phương bắt đầu tiến tới.

Chỉ sau vài chục giờ sau khi lệnh Tướng Trưởng trả Dù về SàiGòn, công điện tối mật của Tổng Tham Mưu do chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ký gởi cho Tư Lệnh Sư Ðoàn Dù hạ lệnh toàn bộ Sư Ðoàn Dù rời khỏi miền Trung không chậm trễ. Lúc đó tin Thủy Quân Lục Chiến rút khỏi Quân Ðoàn I cũng bắt đầu loan ra.

Ngày 17/03/75, sau khi đã thực hiện đầy đủ những giải pháp kỹ thuật cho các anh em Dù rời miền Trung, chuyển vận, tiếp liệu, an toàn khi ra đi v.v...tôi lên gặp Trung Tướng Trưởng để chào từ giã. Tôi nói với Trung Tướng Trưởng về việc Thủy Quân Lục Chiến cũng sẽ ra đi. Tôi cũng nói lên những lời hàm ý chia sẻ ưu tư của Trung Tướng về sự "Trói tay", sự tước bỏ mọi hỗ trợ trước một trận đánh lớn. Khuôn mặt Tướng Ngô Quang Trưởng, vẫn sẵn ưu tư, càng hiện ra ảm đạm. Ông chỉ cầm tay tôi nói:"Cảm ơn anh và các Anh em Nhảy Dù đã giúp tôi rất nhiều trong những năm qua".

Anh em quân nhân Nhảy Dù nghĩ rằng mình được di chuyển toàn bộ về SàiGòn. Các Sĩ quan chỉ huy từ Ðại Ðội cho đến Lữ Ðoàn được loan báo là họ được di chuyển về thủ Ðô VNCH. Tướng Trưởng được lệnh "trả Sư Ðoàn Dù về SàiGòn". Lệnh tôi nhận được cũng rất rõ rệt: Ðưa Sư Ðoàn Dù về SàiGòn.

Có thể những sử học trong tương lai cũng tóm tắt sự di chuyển của anh em chúng tôi bằng những dòng chữ "Tướng Thiệu, để chặt tay Tướng Trưởng, để gây cho Dân, Quân miền Trung sự kinh hồn tột độ, mở đầu cho tan rã ồ ạt, hạ lệnh rút Sư Ðoàn Dù ra khỏi tuyến đầu".

Sự việc không hoàn toàn đơn giản như thế. Lệnh rút Sư Ðoàn Dù về SàiGòn chỉ là một lệnh bề mặt mà chiều sâu là phân tán Sư Ðoàn Dù. Ông Thiệu áp dụng kế hoạch "Bẻ bó đũa" làm tan tành một đoàn quân bách chiến, một Binh chủng oai hùng, xô đẩy những Thiên Thần vào hỏa ngục. 12 Tiểu Ðoàn Trưởng trên 18 linh hồn của đoan quân Mũ đỏ hoặc gục ngã ở chiến trường sắp đặt, hoặc rơi vào tay địch, có cả một Lữ Ðoàn tan thành mây khói, có cả một Lữ Ðoàn đánh đoạn hậu bảo vệ cho đồng bào di tản và tới phiên mình quân trải trên một diện tích rộng lớn, chỉ xuống tay được mấy trăm con.

Lệnh tôi nhận được là chia Sư Ðoàn Dù ra làm hai nhánh, một đi tàu thủy và một do không vận. Lữ Ðoàn 1 và 2 di chuyển bằng phi cơ của Không Lực VNCH. Lữ Ðoàn 3 di chuyển bằng tàu HQ-404 của Hải Quân VN. Lữ Ðoàn 1 và 2 đến điểm hẹn như ấn định, nhưng Lữ Ðoàn 3 không được đưa đến nơi. Khi HQ-404 đến gần Nha Trang thì Hạm Trưởng nhận được lệnh đổ anh em xuống Nha Trang. Tôi chưa kịp ngạc nhiên, nhưng ý tưởng thắc mắc vì sao Tổng Thống Thiệu nói đưa toàn bộ Sư Ðoàn Dù về SàiGòn để rồi phân tán một phần đi nơi khác. Dù vậy, không bao giờ tôi quên được khuôn mặt, mắt liếc xéo, nụ cười khoái trá, giọng nói chứa đựng thỏa mãn, toàn bộ khuôn mặt toát ra một sự khoan khoái kỳ lạ. Cựu Tổng Thống nhìn tôi với tia mắt kỳ lạ đó với nụ cười ở cuối môi, ông nói: "Theo anh liệu Trung Tướng Trưởng có giữ nổi Quân Ðoàn I khi tôi rút Sư Ðoàn Dù về đây không?".

Mặc dù lệnh lạc lung tung, bảo về SàiGòn lại đổ xuống Nha Trang, mặc dù bảo về dưỡng quân lại được ném ra mặt trận, là một quân nhân kỷ luật, ý thức được rằng sức mạnh đến từ kỷ luật sắt thép, anh em Lữ Ðoàn 3 xuống Cầu Ðá Nha Trang là lên đường đi chiến đấu ngay. Ðại Tá Lê Phát, người nắm Lữ Ðoàn 3 cũng là người có biệt hiệu "Bố Già" đặt Bộ Chỉ Huy Lữ Ðoàn tại Trung Tâm Huấn Luyện Dục Mỹ. Nhiệm vụ của Lữ Ðoàn 3 là nút chặn địch ở Khánh Dương giúp cho các Ðơn vị của Quân Ðoàn II rút lui an toàn. Biết rõ sự oai hùng của các Thiên Thần Mũ Ðỏ của QLVNCH, Văn Tiến Dũng tung 2 Sư Ðoàn với quân số 6 lần, là những SÐ 320 và SÐ 10 đánh bọc ngang hông. Lữ Ðoàn 3 Dù bình tĩnh và oai hùng chiến đấu, quất cho quân địch tổn thất nặng nề. Lữ Ðoàn 3 còn ở Khánh Dương, địch không thể đi lên một bước. Ngày 28/03, vì quân số đối phương đông gấp 10 lần, nên không thể ngăn chặn vĩnh viễn, vì lệnh SàiGòn hay vì một lý do nào khác, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú đã ra lệnh cho Ðại Tá Phát rút Lữ Ðoàn 3 từ Nha Trang vào Phan Rang, sau đó lệnh lại được đưa xuống là bộ Chỉ Huy Lữ Ðoàn và các thành phần yểm trợ thì rút về Phan Rang, còn 3 Tiểu Ðoàn 2, 5, 6 thì rút lên núi trấn giữ ở đó. Tại sao lại đưa 3 Tiểu Ðoàn Dù lên núi? Nghe tin này tôi vội vã bay ra Phan Rang.

Tư Lệnh Nhảy Dù trên nguyên tắc và bởi định nghĩa là người chỉ huy binh chủng Nhảy Dù. Nếu không được tham dự vào việc hoạch thảo chiến lược, thì ít nhất trách nhiệm chiến thuật phải được trọn vẹn. Tôi không được Tổng Tham Mưu hay Phủ Tổng Thống tham khảo một lần nào về chiến lược lui quân, kể từ ngày binh chủng Dù được bốc khỏi Vùng I, quyền chỉ huy, chiến thuật binh chủng Dù, quyền xử dụng anh em quân nhân Dù cũng vượt ra khỏi tầm tay của Tư Lệnh Dù. Anh em binh chủng tôi đặt chặt và giao cho người nầy một mảnh, người kia một miếng. Khi nhìn thấy chiến hữu của tôi bị vất vả cùng cực, tôi chạy ngược chạy xuôi đi can thiệp. Trong những giờ chạy đôn chạy đáo, ý tưởng ghê gớm lóe lên trong tôi, "Phải chăng một ác thần đang làm tê liệt hàng vạn tinh binh trước khi mở ra cuộc hỏa thiêu thành La Mã?".

Tôi bay ra Phan Rang gặp ngay Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi lúc đó là Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn III, đang chỉ huy Bộ tư Lệnh tiền phương tại đây. Nơi đó tôi cũng gặp Tướng Sang Tư Lệnh Sư Ðoàn 6 Không Quân. Tôi yêu cầu cho trực thăng lên núi bốc 3 Tiểu Ðoàn 2, 5, 6 về Phan Rang. Tướng Nghi chấp thuận, chỉ thị Tướng Sang cho Không Quân giúp. Anh em trực thăng đã rất nhiệt tâm và can đảm trong việc bốc hơn 1000 người bỗng nhiên bị ném lên một ngọn núi chơ vơ mà không một lý do chiến lược hay chiến thuật nào giải thích được cả. Lữ Ðoàn 3 trong tư thế vững vàng, sẵn sàng chiến đấu nghiêm chỉnh trong vị trí đứng đắn. 30.03.1975, tôi tạm yên tâm, bay về SàiGòn.

Vừa đặt chân đến Thủ Ðô, tôi được lệnh Tổng Tham Mưu cho Lữ Ðoàn 2 ra Phan Rang thay thế Lữ Ðoàn 3, Lữ Ðoàn 3 về SàiGòn tái chỉnh trang Ðơn vị. Tôi muốn hét to lên: Tăng cường chớ sao lại thay thế? Mặt trận đang nặng, rút một đập ngăn nước lớn đi, đập mới chưa dựng xong, nước sẽ ùa tới mang lụt lội tàn phá tan tành! SÐ 310 và 320 của đối phương đang di chuyển nhanh về vùng 3 chính vào lúc đầu tháng tu nầy. Sư Ðoàn 10 của địch càn quét Nha Trang. Mặt Bắc là Sư Ðoàn 10, Nam là các SÐ 310 và 320, tăng chúng ào ào, tù nhân thả ra do bàn tay bí mật từ các khám đường, một số quân nhân của một binh chủng bị mất cấp chỉ huy sinh rối loạn, chính trong biển hỗn loạn và tan vỡ đó, người ta ném Lữ Ðoàn 2 Dù, những đứa con thân yêu ruột thịt của tôi, những bằng hữu vào sinh ra tử, nằm gai nếm mật của tôi trọn lượng ném vào khoảng trống, viên ngọc quý ném vào đại dương giông bão. 3 Tiểu Ðoàn 3, 7, và 11 của Lữ Ðoàn 2 chiến đấu như những con cọp bị vây hãm, dường như sợ cái đại dương hỗn loạn đó chưa đủ làm thành một hỏa ngục rực lửa, người ta không ai còn nhớ đến việc tiếp tế cho những Thiên thần Mũ Ðỏ từ trời cao đáp thẳng xuống địa ngục A Tỳ. Anh em Lữ Ðoàn 2 mặc dù tình hình rối loạn, mặc dù tin tức giao động từ bốn phía, mất Quân Ðoàn I, Quy Nhơn thất thủ, Nha Trang thất thủ, anh em vẫn chiến đấu, cho đến viên đạn cuối cùng. Tiểu Ðoàn 6 sau những trận oai hùng được lệnh Tổng Tham Mưu rút khỏi Phan Rang, Liên Ðoàn 3 Biệt Ðộng Quân của Ðại Tá Biết thay thế. Nhưng Tiểu Ðoàn 3 chỉ 100 anh em được trực thăng bốc về Phan Thiết, Tiểu Ðoàn 11 mất liên lạc toàn diện. Tôi mất Thiếu Tá Thành, con chim đầu đàn của Tiểu Ðoàn 11 và Ðại Tá Nguyễn Thu Lương, mà anh em chúng tôi thường gọi một cách thân thương là "Lương Ruột Ngựa", con chim đầu đàn của Lữ Ðoàn 2 cũng tại vùng đất lửa này. Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi cũng lọt vào tay địch ở Phan Rang.

Chiếc đũa Lữ Ðoàn 2 bị bẻ gãy, chiếc đũa Lữ Ðoàn 3 bị ném tại Khánh Dương, bốc về Phan Rang, lửa hỏa lực nung nấu mệt nhừ. Ngày 8.4.1975, viên Trung Úy Không Quân tên Trung ném bom Dinh Ðộc Lập, về mặt dân sự, một số chính khách đối lập bị bắt giữ. Nhưng phản ứng của Tổng Thống Thiệu là đưa "chiếc đũa Lữ Ðoàn 1" chiếc đũa còn nguyên vẹn của bó đũa bị tách rời từng chiếc, ra tăng phái Quân Ðoàn III, dưới quyền chỉ huy của Tướng Nguyễn Văn Toàn. Ý tưởng rõ rệt trong tôi, và cả bây giờ là Tổng Thống Thiệu sợ đảo chánh nên phân tán các đơn vị Nhảy Dù ra các nơi. Tôi là Tư Lệnh Nhảy Dù nhưng tay chân hoàn toàn bị chặt hết.

Ý tưởng làm sống dậy hình ảnh, một ngày tại vùng I, ở Cố Ðô Huế, tôi nói với Trung Tướng Ngô Quang Trưởng: "Trung Tướng cứ để anh em tôi về SàiGòn làm một chuyến, thử xem sao?" Trung Tướng lắng nghe lặng lẽ. Tôi hiểu Tướng Trưởng cũng như anh em chúng tôi là những người lính đơn thuần, chỉ lấy việc bảo vệ Quê Hương làm quan trọng, không màng gì tới danh vọng và chính trị, chúng tôi không có thói quen chọn lựa những quyết định không liên quan trực tiếp đến chiến trường. Cựu Tổng Thống Thiệu có nghe phong phanh về những toan tính đó không? Trong mọi trường hợp, lúc đó tôi nghĩ là ông phân tán anh em chúng tôi vì nghi ngờ. Bây giờ tôi còn muốn nghĩ như thế. Trừ khi ông muốn bẻ tan bó đũa vì lý do khác - Lý do khủng khiếp - Tôi không muốn nghĩ tới lý do đó. Tôi muốn nghĩ đến một sự nghi ngờ. Như một sự xua đuổi ý nghĩ ghê gớm kia.

Lữ Ðoàn I ra Quân Ðoàn III trấn giữ Xuân Lộc, tăng phái cho Sư Ðoàn 18 do Chuẩn Tướng Lê Minh Ðảo chỉ huy. Nhiệm vụ của Lữ Ðoàn là chận đứng bước tiến của VC vào SàiGòn. Anh em Dù của Lữ Ðoàn 1 đã oai hùng làm tròn nhiệm vụ, địch quân không tiến thêm được một tấc đất. Ðoàn quân viễn chinh của Võ Nguyên Giáp, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Văn Tiến Dũng, tiến như thác đổ, bị khựng lại ở ngay cửa ngõ của SàiGòn. Từng đợt xung phong có chiến xa và pháo binh yểm trợ, tất cả đều bị đánh bật, tiến lên là phải lùi lại, tấc đất đánh được buổi sáng, buổi chiều anh em Dù ngạo nghễ giành lại. Sau nhiều ngày giao tranh, Sư Ðoàn 18 được lệnh rút về Biên Hòa, Lữ Ðoàn 1 chiến đấu giữ vững trận tuyến, từ đầu tới cuối. Sau chót đến đêm 28 rạng 29/04, Bộ Ðội CS tấn công Lữ Ðoàn 1 Dù ở Lăng Can, Bà Rịa đánh đến giờ chót, Lữ Ðoàn 1 Dù mới rút ra Vũng Tàu. Tôi được lệnh trực tiếp do Trung Tá Nguyễn Văn Ðỉnh, Lữ Ðoàn Trưởng Lữ Ðoàn 1 Dù, mà anh em chúng tôi âu yếm gọi là Ðỉnh Tây Lai đứng ở dưới bờ bảo vệ cho những đứa con lên tàu. Người chỉ huy Nhảy Dù có thói quen ở với hiểm nguy cho tới phút cuối cùng, dành sự an toàn cho từng đứa con yêu quý. "Ðỉnh Tây Lai" là một trong những Thiên Thần lẫm liệt đó.

Về phần Lữ Ðoàn 4, từ Ðà Nẵng được rút về SàiGòn giữa tháng 02/74, biệt phái Biệt Khu Thủ Ðô. Chính Lữ Ðoàn 4, dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Lê Minh Ngọc, mà anh em Dù chúng tôi âu yếm gọi là "Ngọc Nga", đã chận VC ở cửa ngõ Thủ Ðô, ngang Xa Lộ Biên Hòa, trong những giờ khắc SàiGòn bắt đầu rơi vào rối loạn. Lữ Ðoàn 3 của Trung Tá Trần Ðăng Khôi (Lữ Ðoàn Phó mới thay thế Ðại Tá Phát trong chức vụ Lữ Ðoàn Tưởng Lữ Ðoàn 3 Dù, Trung Tá Bùi Quyền Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 5, thay thế Khôi trong chức vụ Lữ Ðoàn Phó) từ Phan Rang rút về đóng ở Hoàng Hoa Thám, đánh những trận chót ngay trong lòng Thủ Ðô, mặc dù trăm nghìn giao động cho tới phút chót. Ðến những giây phút cuối cùng, anh em Dù vẫn giữ vững từng tấc đất được giao phó, hoàn thành nhiệm vụ thiêu thân nút chặn để đồng bào ra đi, để được ngã gục trên thân thể của Quê Mẹ nghìn đời.

Thiếu Tướng Lê Quang Lưỡng
Tư Lệnh Sư Ðoàn Nhảy Dù QLVNCH
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

TIỂU ĐOÀN 5 NHẢY DÙ, 1972:
TRẤN THỦ BÌNH LONG - THƯỢNG KỲ QUẢNG TRỊ


Chân thành cổ chất đầy xương máu
Anh hùng ôm nỗi hận thiên thu.
Đ-C-V.
Xin cùng tôi thắp nén hương lòng tưởng niệm các anh hùng tử sĩ của Tiểu đoàn 5 Nhảy dù QLVNCH trên chiến trường
An Lộc-Quảng Trị 1972. Tưởng nhớ đích thân “Minh Hiếu”

Việt-Long (GĐMĐ/D.C.)

Lời tác giả: Bài này được trình bày như một bút ký chiến tranh của một chiến binh Nhảy dù, QLVNCH, xoay quanh những trải nghiệm cá nhân cùng những dữ kiện được tổng hợp, gạn lọc và tóm lược từ lời thuật của một số sĩ quan thực sự tham chiến. Thêm vào đó, chiếm một phần không nhỏ để trình bày bối cảnh của trang chiến sử, là phần tóm lược một tài liệu liên quan và một số hình ảnh trên website chính thức của Sư đoàn Nhảy Dù QLVNCH, nhaydu.com. Hầu hết những tài liệu trên website này do hai cựu sĩ quan Nhảy Dù dày công thu thập và tổng hợp, biên soạn một cách nghiêm chỉnh và trung thực, đại uý Võ Trung Tín, Tiểu đoàn truyền tin, và đại uý Nguyễn Lưu Viên, Tiểu đoàn 3 Nhảy dù. Mong hai “đích thân” nhận nơi đây lời cám ơn chân thành của tác giả, người đang làm phụ công việc của hai anh, là ghi nhận để lưu giữ và phổ biến những dữ liệu chân thực của cuộc chiến đấu của Đoàn quân Mũ đỏ QLVNCH.

Tái chiếm Quảng Trị : Hành Quân Lam Sơn 72 28/6/1972 là ngày N của kế hoạch phản công tái chiếm Quảng Trị do trung tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh QĐI, dày công thiết kế, sau khi ông tổ chức xong một Trung tâm phối hợp hoả lực có khả năng điều động và phối hợp toàn bộ hoả lực yểm trợ của các đơn vị Hoa kỳ và Việt Nam. <>Lực lượng tham chiến gồm có SÐND làm nỗ lực chính, SÐTQLC tấn công cánh phải, Thiết Ðoàn7KB tăng phái, LÐ1BÐQ và SÐIBB trừ bị và bảo vệ hậu tuyến. SÐIBB bung rộng sang vùng tây Huế, tái chiếm các căn cứ trong khu vực thung lũng Ashau. Trung Ðoàn 57BB hành quân bảo vệ địa bàn Quảng Nam . SĐ3BB trấn ngự chung quanh Đà Nẳng. Thành phần trừ bị gồm Trung Ðoàn 4/2BB, Trung Ðoàn 51 và Thiết Ðoàn 17KB.

Sư Đoàn Nhảy Dù khởi động chiến dịch Lôi Phong:
Ngày N-2 và N-1: không tập toàn diện bằng tất cả hỏa lực của Việt Nam và đồng minh: B52, hải pháo, hoà lực không quân chiến thuật của Việt Nam và hạm đội 7, toàn thể pháo binh của ba sư đoàn tham chiến, nhắm vào các vị trí tập trung quân, kho tàng cơ giới và vị trí pháo binh địch. Thêm vào đó là một kế hoạch nghi binh bằng một lực lượng Nhảy Dù chuẩn bị nhảy xuống Cam Lộ, cùng lúc TQLC đổ bộ vào cửa Việt để cắt đường tiếp vận của đối phương. Kế hoạch này nhằm đánh lạc hướng chú tâm phòng thủ của địch. Ngày N. Lấy QL1 làm trục tiến quân, hai đơn vị Tổng Trừ Bị của QLVNCH tiến song song: SÐND bên trái, SÐ/TQLC bên phải, TĐ7KB tăng phái,. Hằng vạn quân rải từ bờ biển đến tận chân dãy Trường Sơn. Mục tiêu: cổ thành Quảng Trị. Theo kế hoạch, SĐND sẽ được trực thăng vận qua sông Mỹ Chánh rồi dàn quân tấn công về hướng Bắc. Nhưng 5.00 giờ chiều ngày N-1, Trung Tướng Dư Quốc Đống, tư lệnh SĐND, bất ngờ thay đổi lệnh hành quân .

3.00 giờ sáng ngày N, 28/6, 3 Tiểu Ðoàn Nhảy Dù thuộc quyền BCH/Lữ Đoàn 3 âm thầm vượt sông Mỹ Chánh. TÐ2ND do Thiếu Tá Nguyễn Ðình Ngọc chỉ huy đi cánh trái, TÐ1ND do tân Tiểu Đoàn Trưởng là Thiếu Tá Lê Hồng chỉ huy đi giữa và TÐ3ND do Thiếu Tá Trần Văn Sơn làm Tiểu Ðoàn Trưởng đi cánh phải. Tất cả súng phòng không của CSBV ở bên kia bờ sông sẵn sàng chĩa mũi lên trời dàn chào các “Thiên Thần Sát Địch” bằng lửa địa ngục của quỷ. Nhưng bất ngờ, hằng ngàn quân mũ đỏ nổ súng tấn công ngay các vị trí chỉ huy và phòng ngự của VC. TÐ2ND đánh thẳng vào BCH Trung Ðoàn 203 chiến xa của VC. TÐ1ND xung trận tiêu diệt hết các vị trí phòng không, tịch thu 14 súng phòng không 12.7 ly và 37 ly, 2 đại bác 57 ly phòng không, bắt sống 5 tù binh.

TÐ3ND đi cánh phải chiếm vùng Lương Ðiền, Tân Tường, Trường Vinh đến tận phía Nam sông Ô-Khê để bảo vệ bãi đáp cho 2 TÐ9ND và TÐ11ND. Sau đó TÐ3ND tiến về phía Bắc quét sạch các chốt địch dọc theo Quốc Lộ I (Ðại Lộ Kinh Hoàng) rồi hướng mũi dùi qua phía Ðông tái chiếm Quận Hải Lăng

Lữ Đoàn I Nhảy Dù xung trận: Sáng ngày 2/7/1972, Trung Tá Lê Văn Ngọc tân LÐT/LÐIND chỉ huy 3 Tiểu Đoàn Nhảy Dù gồm:
TÐ9ND (Trung Tá Trần Hửu Phú TÐT), TÐ11ND (Thiếu Tá Lê Văn Mễ) và TĐ7ND (Thiếu Tá Trần Đăng Khôi TĐT) giữ trách nhiệm lùng quét địch trên trục phía Tây dưới chân dãy Trường Sơn, từ phía Bắc sông Mỹ Chánh qua sông Nhung đến La Vang, quét dọc theo bờ sông Thạch Hản rồi vào thị xã Quảng Trị.

TÐ9ND và TÐ11ND được trực thăng vận đổ xuống phía Bắc Sông Nhung, tiến song song diệt từng dãy chốt liên hoàn trên những dãy đồi trọc không một bóng cây, dưới ánh nắng cháy da của mùa hè đỏ lửa.
TÐ9ND chia quân thành 2 cánh tiến đánh vùng Tân Lê Phước Môn, tất cả 4 ÐÐT đều bị thương vì pháo địch. Ðại Úy Ngưu ÐÐT94 tử thương tại Tân Téo. TÐ11ND là trục chính của cuộc tiến quân, từ Hải Lâm chia làm 2 cánh tiến chiếm mục tiêu nhà thờ La Vang, “Song kiếm trấn ải” (hai con số 1 song song) dàn quân phục kích một đoàn chiến xa BTR85 và PT76 chuyển quân của địch ngược chiều trên QL1. Sau 2 giờ quần thảo, chiến xa địch quay đầu bỏ chạy, hoảng loạn khi qua cầu. dồn đè lên nhau lật xuống sông. Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù do Thiếu Tá Trần Đăng Khôi làm TĐT được trực thăng vận xuống khu vực nhà thờ La Vang, lập tức tấn công bắn cháy 2 chiến xa T54 bố trí trước sân nhà thờ, làm chủ tình thế sau 3 giờ kịch chiến. Trưa 7/7, TÐ3ND tấn công vào quận đường Hải Lăng sau 5 ngày bứng chốt. ÐÐ33ND xung phong, địch tháo chạy về hướng Bắc, quận đường Hải Lăng về tay ta lúc 4.00 giờ chiều. <>Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù giã từ An Lộc, hẹn với Cổ Thành:

Ba Tiều đoàn Nhảy dù 5,6,8 thuộc BCH/Lữ đoàn 3 dưới quyền Đại tá Lê Quang Lưỡng tăng cường cho mặt trận Bình Long-An lộc, sát vai cùng nhiều đơn vị bạn quần thảo với trên 3 sư đoàn cộng quân từ trung tuần tháng 4 đến cuối tháng 6/1972. Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù dưới quyền Trung Tá Nguyễn Chí Hiếu,“Minh Hiếu”, từ An Lộc trở về căn cứ Ngô Xuân Soạn ở Tam Hiệp lúc gần cuối tháng 6. Tôi, lúc đó là trung uý Nguyễn Tiến Việt, “Đại Cồ Việt”, lên làm đại đội trưởng đại đội 51 trong An Lộc từ khi đại uý Trương đăng Sỹ “Sỹ Biên” bị thương, di tản. Lúc lên đường hành quân, đại đội 51 chất đầy 5 chiếc GMC, anh Sỹ và truyền tin đi xe Jeep. Cả tiểu đoàn hùng binh mũ đỏ, quân phục láng o, súng sạch đẹp như ngày khám xét, ngồi chật 30 xe quân vận, chưa nói đến xe tăng và pháo binh cùng cả một lữ đoàn hành quân bộ, khí thế đổ thành nghiêng nước. Một lần xuống xe lúc nửa đường tới Chơn Thành, một đợt tấn công, bóng dáng nhỏ thó của thiếu tá tiểu đoàn phó Lê Hồng đứng sừng sững trên mặt đường nhựa trong làn mưa đạn địch phất bản đồ thúc xung phong, hai đại đội 53,54 tung 200 quân hàng ngang tràn qua mặt đường như sóng vỡ bờ, diệt liên hoàn chốt gần 100 VC đóng sát quốc lộ 13, đếm trên 40 xác cộng quân và vô số vũ khí. Trực thăng võ trang UH-1B còn đuổi tàn quân VC tuốt trong rừng sâu, rocket, đại liên bắn xoẹt đùng tắc tắc như trống múa lân. Sau đó là trận phản phục kích bắc Chơn Thành trên QL13, rồi gần ba tháng trường đánh trộn trấu vùi dập với địch quân quanh An Lộc và trong thành phố. Đổ trực thăng xuống chân đồi Gió hôm 17 tháng 4, sáng hôm sau TĐ5ND nhắm hướng tây hành quân vào An Lộc. Địch phục kích chặn đánh trong rừng cao su, bị đẩy lui lập tức. Tiểu đoàn chia đôi đóng thế ỷ dốc trên hai đồi cách thành phố chừng 2 km hướng đông nam. Đêm xuống hai trung đoàn địch tấn công. Trung uý cố vấn Cover gọi smart bomb 500 pound thả một trái một sát tuyến đại đội 51, dập tắt ngầm đợt xung phong của tiểu đoàn địch. Sáng ra đếm 30 xác sát tuyến và vô số súng ống. Vừa thu dọn rút về hướng tiểu đoàn, qua con suối giữa, thì địch gom một đại đội quay lại bất ngờ quật một mũi vu hồi. Khá khen cho địch quân thiện chiến, nhưng các con xung phong đông như kiến vào vị trí trống, lãnh M79 tơi bời, chạy ra không kịp. Lực lượng chính xung phong vào tuyến tiểu đoàn. “Minh Hiếu”, “Chí Bệu” (trưởng ban 3) đứng thẳng trên nóc hầm điều chỉnh air show. Phản lực và Cobra Mỹ luân phiên từng pass một đánh bom và rocket theo hướng thẳng góc với nhau block hai mặt tiểu đoàn, nhuyễn chưa từng thấy. Quân ta đứng nhìn VC chạy bom xuống suối, thì Cobra tọc tọc xịt rocket xoẹt đùng dọc lòng suối cạn. Quân ta ôm súng há mỏ sau cây cao su nhìn VC sinh Bắc tử Nam không đếm kịp.

Địch tung xác đầy rừng, nhưng tiểu đoàn chưa lấy được bao nhiêu súng thì đã vội rút chạy marathon vào An Lộc, bỏ cả nồi niêu xoong chảo: B-52 trên đường bay tới đánh mục tiêu. Đến cạnh nam thành phố nhìn sang Xa Cam, chưa kịp đào hầm hố thì VC pháo kích, tấn công. Quân ta của hai đại đội 53,54 bám gốc cao su chống trả, may sao cối 82 pháo trật, ta lấn ra và tung quân phản xung phong truy kích. Đại uý Dũng 54, “Dũng Sĩ” hy sinh ngay trận này.

Ba đại đội 50, 52, 53 tổn thất nặng trong rừng cao su Xa Cam Xa Cát trong vòng nửa tháng. Tiểu đoàn phó Lê Hồng đã trúng thương trong trận đoạn chiến ở QL13 trên đường tới Tàu Ô. Năm đại đội trưởng, thì Dũng Sĩ 54 hy sinh, Từ Khánh Sinh 50, “Sỹ biên” 51 và Hồ Tường 52 bị thương, đều bị ở Xa Cam Xa Cát. ĐĐT53 Hải Thần cũng cùng số phận. 50, 52, 53 gom lại chưa bằng một đại đội lúc nhập trận, phải ở cạnh BCH tiểu đoàn làm trừ bị cuối. Bồ Tát Quán Thế Âm, phải, chỉ có Ngài, đã ban phép lạ cho tôi đứng đội trời tới phút chót, sau hơn chục lần rách áo, thủng quần, đạn bứt quai nón sắt, mà chỉ xây sát chưa đủ báo cáo chiến thương, trong khi đồng đội ngã như rạ ở xung quanh. Đại đội 51 của tôi và 54 của trung uý Nguyễn Vũ Dương chỉ còn mỗi đơn vị từ 40 đến 60 quân khiển dụng, dựa nhau đội pháo đạp mìn đánh giặc, giải toả và giữ vững phòng tuyến nhà thương An Lộc ở phía tây, đối diện ty công chánh và toà nhà cải huấn kiên cố cách đó chừng 500 mét, bẻ gãy nhiều đợt tấn công của địch. Sau lúc trình diện đại tá Lê quang Lưỡng trong compound của tướng Nhựt, tôi và Dương dẫn đại đội đội pháo chạy qua ty cảnh sát và nhiều dãy phố đổ nát còn dính đầy máu vì pháo kích, vượt qua bộ tư lệnh chiến trường, nhắm tới nhà thương và ty công chánh. Tôi được chọn vị trí, bèn chọn phòng thủ chính diện hướng tây, làm tấm khiên thép cho bộ tư lệnh của tướng Lê Văn Hưng. Compound chỉ huy chiến trường của vị tướng anh hùng chỉ cách một con phố nhỏ phía sau. Dương thủ vị trí trừ bị bên trái. Một đêm 700 trái 105mm và 155mm toàn đạn delay từ hướng Cần Lê phóng về, ù ù vèo vèo sát mái tôn bệnh viện bên tôi tưởng chừng tốc mái, nhưng rớt qua nổ chìm sập nhà tơi bời bên Dương, Dương bị đè vẹo xương sống, không chịu knock-out, quỷ thần đếm chưa tới 10 đã lồm cồm bò dậy chỉ huy, giữ vững vị trí và tải thương anh em ra phía sau. Cộng quân mở hai đợt tấn công đêm, dùng chiến thuật đặc công. Chúng chưa biết đang đụng phải Nhảy dù mới vào trám tuyến, từng nắm tẩy các công trường cộng quân quá rõ. Anh em tôi thắp sáng đêm không ngủ bằng lửa đỏ của 12 thùng lựu đạn, bò ra sát đường ném qua, không nổ một tiếng súng, giết vô số địch bên kia đường, khu vực ty công chánh, chỉ tức là không thể qua lấy súng. Không tên nào lọt qua tới bên Dương 54. Gần sáng, C-130 bao vùng bắn spector và stinger. Từng phát từng phát, tóc tóc bùng bùng, lửa toé pháo bông đẹp như mơ. Cộng quân định dở trò một đợt gần sáng, phải bung hàng chạy tán loạn, làm mồi cho cây đại liên M60 thiện xạ của hạ sĩ Sơn và cây M79 bách phát bách trúng của trung sĩ Đổng, tới lúc đó mới khai hoả. Đang vui nhộn um sùm thì spector tóc bùng một phát cuối trúng ngay cái container chứa nước đặt trên bệ cao phía cạnh bắc của nhà thương, ngay phòng tuyến của chuẩn uý Ngưỡng. Hên quá, một em bị thương nhẹ. Xạ thủ Mỹ từ cao độ 12,000 feet báo là thấy chiến xa địch nằm ở đó! Có đêm được lệnh chờ đánh xe tăng địch. Đại đội xé lẻ đóng chốt rộng và sâu, theo binh thư Sư đoàn Dù vừa huấn luyện. Ba toán chống tăng phục kích chân chim từ ngã tư trở vô. XM-202 bắn được 4 hoả tiễn liền nhau, cho lên tháp nước, nằm im chờ nổ liền 4 phát mà không bắn cháy được nó là phải đu dây phóng xuống. Sáu tổ hoả lực sẵn sàng bọc lưng cho khinh binh vác M72 đuổi bắn vào đuôi xe tăng. Nhưng chưa tới 11 giờ đêm, C-130 lên vùng, dập tóc tóc bùng bùng tưng bừng trong rừng cao su phía tây, minigun réo như bò rống tới gần sáng. Các bạn bộ binh nói có thấy lửa bùng như xe tăng cháy trong rừng. Sáng rõ, SA-7 từ mặt phía bắc phóng lên. Làn khói leo cao leo cao mãi. Hồi hộp sợ máy bay rớt, quân ta ngóng cổ nhìn theo, thấy cục lửa bám vào hông chiếc C-130. Nó bay vòng lại, xả mimigun “bò rống” xuống điểm phát pháo, rồi mang cả đốm lửa bay về. Hên quá!

Hai bên đối diện cầm cự suồt gần hai tháng qua con đường nhựa rộng chừng năm mét. Địch đánh kiểu gì cũng bể gáo với Nhảy dù. Tôi chưa là một đại đội trưởng đủ kinh nghiệm và tự tin để dám tung hơn 50 sinh mạng anh em tấn công một lực lượng địch có trừ bị mạnh, có ưu thế về hoả lực vá địa thế. Bên ta không có yểm trợ hoả lực pháo binh. Cả mặt trận An Lộc lúc đó chỉ có được đúng hai cây súng cối 81 ly, đạn dược hạn chế tối đa, nhưng hoả lực không yểm rất mạnh, giúp đỡ rất lớn cho việc phòng thủ. Tất cả các căn cứ hoả lực pháo binh từ An Lộc sang hướng tây đều lọt vào tay địch, chúng sử dụng để pháo bên ta suốt ngày đêm. Vậy mà mọi cuộc tấn công của địch đều bị quân Dù bẻ gãy. Trung đoàn địch đóng bộ chỉ huy trong trại cải huấn, điều động bổ sung quân số cho tuyến trước mặt tôi, nhưng mon men đánh vô bao nhiêu là bị anh em mũ đỏ chúng tôi tôi hốt gọn bấy nhiêu. Nhưng bên tôi bung ra cũng không được vì toà nhà trại cải huấn kiên cố với tường cao, hoả lực yểm trợ trực tiếp cho quân địch bằng súng không giựt và B-41 trực xạ từ trên cao xuống khu vực nhà đổ trống trải của ty công chánh, có lúc quân ta đã nhào qua chiếm được nhưng không thể giữ được tới một ngày, phải rút về để tránh tổn thất vô ích. Skyraider đánh bom nhà cải huấn bị trúng SA-7, phi công VN thiệt giỏi, còn xả bom và ngóc đầu máy bay lên, nhảy dù ra, rớt qua phía bộ binh ta ở hướng nam. Đại đội bộ binh tăng cường cho tôi, có được đâu hơn 20 quân, tôi nhờ đóng giữ sườn cánh phải, hướng bắc, ít khi phải nổ súng. Ông trung uý đại đội trưởng hơn tôi 10 tuổi, dong dỏng cao, có bộ râu đẹp, lúc nào cũng lạc quan và hài hước, thích nói chuyện về phụ nữ, có hôm anh làm cả hầm chỉ huy cười ầm ỹ giữa lúc đạn pháo kích bay ào ào qua mái tôn... Đại đội 51 của tôi cũng bị tổn thất trung bình. Ngoài giao chiến, bắn sẻ, đại bác và súng cối mỗi ngày pháo kích lai rai hằng trăm trái, không cách gì thoát nổi. Trên hai tháng trời, tôi mất nhiều em út thân yêu. Nhớ nhất là binh nhứt Hiền, người Quảng Trị, phụ xạ thủ đại liên, từng bắn lui cả một đại đội địch đang lấp ló xung phong lúc Lữ đoàn đoạn chiến ở QL13 để lên trực thăng vào An Lộc, tôi dành cây M60 bắn tiếp, để chú kéo M72 thảy tung một khẩu đội 75 li không giựt đang mon men đặt súng cách 200 mét để trực xạ trung đội tôi đang nằm lại chống cự quân truy kích, bao chót cho cả Lữ đoàn. Sau khi phản lực đánh tung lên trời đại đội địch trong đội hình tấn công từ bên kia đường QL13, chúng tôi mới khiêng được xác trung uý Kiều Nại vừa chết vì pháo cối ngay đó, còn nóng hổi, về tới căn cứ hoả lực. Trong An Lộc Hiền còn bắn sẻ hạ 7 tên địch phía bên ty công chánh. Rối em bỏ mình vì một viên bắn sẻ.. .. .An lộc an bình, Lữ đoàn Dù chúng tôi với ba tiểu đoàn 5,6,8 kéo ra, thay phiên nhau bứng chốt dọc QL13 tới căn cứ Tân Khai để về Sài Gòn... Đánh nhau trong rừng cao su rất “sòng phẳng”. Bên nào thiện chiến hơn là thắng, dù trong điều kiện yểm trợ tiếp vận chênh lệch. Trong số ba tiểu đoàn mũ đỏ này chỉ có Tiểu đoàn 6 Nhảy dù là gần đủ quân số, vừa từ Tân khai đánh ngược lên bắt tay với Lữ đoàn. Hai tiểu đoàn 5 và 8 chỉ còn chừng ¼ quân số. .. Nhưng chốt kiềng dọc đường đều bị nhổ sạch, hoặc địch buộc phải rút vào sâu tránh quân Dù, chờ Dù đi qua lại ra chặn đường trở lại...

Tướng Hollingsworth ra lệnh cho trực thăng Mỹ phải bốc hết lữ đoàn trong ngày, ở cạnh phía nam căn cứ Tân Khai. Tiểu đoàn trưởng TĐ5ND, “Minh Hiếu”, chấp thuận ý kiến của tôi đề nghị bốc quân ngay trên quốc lộ, tránh được hoả tiễn 107 ly và 122 ly bắn qua đầu sang hết cánh rừng phía đông… Đoàn xe Tiểu đoàn 5 chạy chậm hẳn lại khi vào cổng xã Tam Hiệp. Hai bên đường đầy những đồng bào và cả xứ đạo với ban nhạc kèn trống nghênh đón. Đại đội tôi chỉ còn 3 xe ngồi còn trống gần một nửa. Tôi không ngăn được dòng nước mắt tuôn trào. Tiếng hoan hô và quân nhạc đón chào như văng vẳng bên tai. Hình ảnh đồng bào hân hoan nhoà nhạt như lẫn vào những hình bóng chập chờn các anh em huynh đệ như thủ túc đã không còn quay lại nơi chốn thân yêu này để về trại gia binh tiều đoàn với vợ con được nữa. Ngoài mặt trận không hề biết lo buồn, suy nghĩ, nay lễ tuyên dương đang tưng bừng giữa sân cờ Tiểu đoàn, tim tôi rướm máu. Anh em binh sĩ cũng đồng tâm trạng, lòng cứ hướng về phía những chiếc khăn tang mới của các quả phụ cô nhi tử sĩ dựa nhau khóc ngất dưới hàng phượng vĩ quanh sân cờ. Chồng và cha họ không bao giờ còn trở về trại gia binh ấm êm hạnh phúc kia… Rồi hình ảnh mặt trận đầy chặt trong giấc ngủ chập chờn chờ sáng tung cánh về Sài Gòn với gia đình, lúc đó Sài Gòn chưa biết tiểu đoàn đã về hậu cứ.
*********
Lệnh Sư đoàn cho nghỉ ngơi bổ sung quân số 1 tuần lễ trước khi đi Quảng Trị. Nghỉ phép 4 ngày chưa hết thì hậu cứ phóng người về Sài Gòn triệu tập hết sĩ quan chúng tôi lên doanh trại. Tiểu đoàn nhận lệnh không vận ra Huế vào đúng 4 ngày sau đêm từ An Lộc trở về. Hầu hết quân nhân cơ hữu ở bên ngoài trại gia binh vẫn chưa trở về. Anh Sỹ bình phục, về nắm lại 51. Tôi qua làm đại đội trưởng 54, đem đại đội ra phi trường chỉ có gần 30 quân, toàn hạ sĩ quan và binh sĩ của ĐĐ54 ở trong trại gia binh. Tiểu đoàn chuẩn bị lên phi cơ với khoảng 25% quân số, gồm bộ chỉ huy tiểu đoàn và các bộ chỉ huy của 5 đại đội cơ hữu, cộng thêm 52 tân binh bổ sung tại phi trường Tân Sơn Nhứt. Nhưng đó lại là lúc tôi phải luyến tiếc bàn giao đại đội 54 cho trung uý Dương vừa ra phi trường trình diện hành quân; trước đó ai cũng tưởng sau gần ba tháng An lộc anh chàng này phải trốn ở nhà với vợ thêm ít hôm rồi mới lên đường ra trận. Té ra anh chàng cũng ghiền đánh giặc không kém gì tôi. Tôi trở về 51 với đại uý Sỹ. ĐĐ51 dưới quyền tôi sau hai tháng trong An Lộc chỉ còn hai sĩ quan khiển dụng: tôi với thiếu uý Vũ Văn Hợi (các trung đội trưởng Trung, Ngưỡng, Lượm đều bị thương, trung uý Tuyết tử trận) tuy quân số lúc kéo từ An Lộc ra đánh chốt dọc QL13 về tới Tân Khai vẫn còn được đâu khoảng 52 quân, nhiều nhất trong cả tiểu đoàn. Đại uý Trương Đăng Sỹ là đại đội trưởng duy nhất trong hàng ngũ chỉ huy kỳ cựu của tiểu đoàn mà còn sống sót sau An Lộc và trở lại hành quân. “Sỹ Biên” cùng đại đội 51 là element de choc của “Minh Hiếu” trong nhiều năm nay, tôi là cánh tay mặt của anh, nên anh lấy tôi về cho kỳ được. Ra mặt trận Huế- Quảng Trị, tiểu đoàn trú đóng tại một căn cứ cũ khoảng một tuần lể. Thành phần quân nhân cơ hữu đi phép về lần lượt ra hành quân từ lúc đó đến lúc di hành đi Cổ thành thì đã được 90% quân số. Đó là tinh thần của nhảy dù: không bỏ đồng đội lúc gian nguy. Hai sĩ quan bổ sung ĐĐ51 là một chuẩn uý địa phương quân và một trung uý từ không quân đưa sang. Anh trung uý cao nghều, đeo cặp kính cận dày cộp, không biết về sau số phận ra sao trong cơn bão lửa. Tôi ngồi suốt ngày trên nóc một căn hầm cao, trong nắng gắt, bên cạnh là hai chiếc bi đông nước, gói thuốc lá Bastos de Luxe, máy truyền tin PRC 25, dùng ống dòm theo dõi các trung đội trưởng tân đáo thực tập điều động hành quân vùng làng mạc và đồi trọc, đánh trận giả với nhau, thao dượt tác chiến trong làng mạc đông dân và thành phố. Tiểu đoàn huấn luyện và thực tập bắn các loại hỏa tiển TOW, M72, XM202 chống chiến xa.

Ngày 5/7/1972, TĐ5ND di chuyển bằng đường bộ đến La Vang Tả rồi tiến về hướng Tây. Sau khi B52 trải thảm dọc bờ sông, TĐ5ND tung quân vào lục soát đến tận bờ sông Thạch Hản, thấy rất nhiều xác cộng quân, tịch thu 2 khẩu phòng không 37 ly.
Ngày 9/7/1972, bàn giao khu vực lại cho TĐ7ND, TĐ5ND di chuyển về hướng Đông, băng ngang QL1, hôm sau dừng quân tại khu vực thôn An Thái cách Cổ thành khoảng 3 km về hướng Đông Nam. Tại đây BCH/TĐ lập sa bàn chuẩn bị kế hoạch điều quân tấn công Cổ Thành.

Ngày 10/7/1972, “Minh Hiếu” ban lệnh hành quân. Di chuyển vòng xa lên hướng đông bắc qua nhiều làng mạc nhiều cây cối để tiếp cận Cổ Thành với yếu tố bất ngờ, TĐ5ND vây bọc diệt gọn những chốt lẻ tẻ nằm trong các làng canh giữ đường về thành cổ, không một tên nào chạy thoát về báo tin quân Dù đánh mặt đông bắc. Tôi dẫn quân đi, vừa đánh vừa nhai cơm sấy thịt hộp trong nỗi hân hoan như một viên tiểu tướng của vua Quang Trung vừa thần tốc diệt được chốt Hà hồi, Ngọc Hồi, chuẩn bị gươm giáo ngựa voi giết hết những tên Tôn Sĩ Nghị của giặc xâm lăng phương bắc mang tội tàn sát hằng ngàn đồng bào Huế trong Tết Mậu thân chưa xa. <>Ngày 11/7/1972, bay qua đầu là TÐ1TQLC được trực thăng vận đổ xuống thị xã Quảng Trị 2 km về hướng đông bắc để chận đường tiếp vận của địch cho Cổ Thành, và có thể cũng để bảo mật cho đường tiến sát của quân Dù. Hai trực thăng chuyển quân CH53 của Mỹ bị hỏa tiển SA-7 bắn rơi, 30 quân nhân TQLC và phi hành đoàn tử trận.
2 giờ sáng 14/7/1972, le Quatorze de Juillet, TĐ5ND xuất phát, tiến về cổ thành. Pháo 130 mm của địch nổ lác đác cầm chừng về hướng quân ta. 51&52 “từng bước từng bước thầm” tiến qua cánh đồng 2 km quanh những ngôi mộ cao như đồi nhỏ, nhắm hướng làng Tri Bưu sát cạnh đông bắc cổ thành Đinh Công Tráng. Pháo thủ phòng không VC đang ngồi hút thuốc rê ngóng lên trời chờ phi cơ ta tới. Đại đội 52 hí hửng lặng lẽ dàn quân, Hồ Từơng tung 2 trung đội xung phong, bợ ngay mấy cây phòng không và súng cối ngon ơ, chiếm được bìa làng không tốn một giọt máu. Đại đội 51 tiến vô theo, vượt qua 52 kiểu chân rết, bắt đầu đánh chốt. Tới đêm đó tôi mới tiến được gần 100 mét. Anh Sỹ hỏi thăm liên tục. Chưa quen địa thế, quân ta ăn đậm pháo, nhưng pháo trật chỉ trong vài chục một trăm mét qua hướng nam, ta chỉ tổn thất nhẹ, phải nghỉ đêm chờ phi pháo diệt địch. Sỹ Biên thức suốt đêm điều chỉnh phi pháo. Sáng hôm sau, tôi xin lệnh anh giao cho tôi dẫn quân bung ra phía trước thật nhanh để tránh cối 61 ly cấp tập bảo vệ chốt, anh cứ lo theo dõi để đánh phi pháo ở xa và phản pháo các vị trí cố. Tôi hô hào anh em “bám thắt lưng địch mà đánh” để tránh pháo, chính là huấn lệnh chiến trường của VC mà tôi bắt được trên xác cộng quân ở An lộc, mà chúng không bao giờ làm được. Chốt địch trong làng thường đóng rải ngoài sân, trong nhà; nằm quan sát thấy rõ cách bố trí, ta kín đáo dàn quân, mở tối đa hoả lực, VC chưa thò đầu khỏi hầm là xung phong liền, như vậy mới vượt mau khỏi vùng hoả tập dự phòng và địch không kịp kéo hoả lực cối về sát tuyến. Chiến thuật chốt kiềng của VC đã bể từ lâu. Xông xáo tới xế trưa, tôi chỉ có hai ba em bị thương. Cách đánh thật hiệu quả, thấy nguy hiểm nhưng lại ít tổn thất. Ai ai cũng hăng hái. Cộng quân vừa nhác thấy bóng áo hoa dù thấp thoáng là đã bị xung phong tràn ngập, tên nào sống sót chỉ kịp bương về hướng cổ thành. Đánh như quân Quang Trung diệt Tôn Sĩ Nghị, anh em ơi! Dân ta đã chạy giặc hết. Quân ta quan sát không thấy hầm chốt ngoài sân thì bắn M72, M79 vào cửa sổ những ngôi nhà chỉ cách nhau mảnh vườn, nhảy tới tung lựu đạn rồi ria M16 từ đất lên nóc. VC trốn núp trong nhà chịu không nổi, bỏ chạy tán loạn, quân ta cứ thế chiếm từng nhà, từng vườn. Đạn pháo lọt tọt rớt phía sau, rõ ràng nó bắn không kịp. Đại đội 52 của Hồ Tường bên cánh trái kêu oai oái. Thiếu uý Hợi đánh giặc rất hăng, tay trái móc lựu đạn, tay phải bắn M16 kẹp hông, nhảy ngang, ria sủi đất chém ngang miệng hầm (ông này là thiện xạ của khoá 24 Đà lạt, với tôi thân hơn anh em ruột), miệng chỉ huy hô hào như sấm, lăn bò và phóng qua rào lẹ hơn cả khinh binh. Trung đội của anh đeo sát bên tôi không nhường nửa bước. Lính Dù Tiểu đoàn 5 xung trận như xi-nê. Anh em tôi đánh giặc đẹp tuyệt vời, nhất là trong thế chủ động tấn công, sở trường của đoàn quân bách chiến. Nhưng… Một đợt xung phong nữa, một trái lựu đạn từ hầm VC trong mảnh vườn lọt giữa hai trung đội, ngang hông trái, nhắm ngay tôi thảy qua. Vừa nhác thấy cái gì lạ trên không thì nghe khinh binh hét vang “lựu đạn, trung uý!”. Bay đại vô một góc tường, mới được nửa ngực, liền cảm thấy chân trái tung lên cao, lật ngửa cả thân người, tưởng đâu nguyên cẳng trái đã đi chơi chỗ khác. Lính tôi chĩa M16 xả liên thanh hội đồng, nhào tới tông xuống hầm cái kẻ khờ khạo đáng thương kia hai trái lựu đạn, lấy 2 cây AK xong mới cõng tôi ra sau. Dọc đường tôi chợt thấy thiếu tá Bùi Quyền “Tố Quyên”, đã nghe danh từ lâu, vừa bổ sung làm tiểu đoàn phó, tay cầm combiné nhảy từ hầm này qua hầm khác giữa trận pháo dữ, điều động hai đại đội 51, 52. Lòng tôi đầy ấm ức, y như lúc cây fender đứt giây Mi giữa đoạn solo nóng bỏng trên sân khấu hội quán trường Võ Bị vào đêm có người yêu ở Nha Địa Dư vô coi. Anh Sỹ cầm tay tôi, không dấu được vẻ lo âu. Tôi nói uổng quá không cùng anh zô Cổ thành rồi lên Ti Vi được nữa rồi. “Sỹ biên” biểu tôi “thôi mày lo về dưỡng thương rồi ra sớm với tao”. Tôi chợt mỉm cười nhớ lại hồi trận Hạ Lào, anh Sỹ cũng cầm tay tôi dưới giao thông hào trong tiếng Cobra vần vũ, nói “thôi mày zìa zới con zợ mày cho rồi, bày đặt xin ở lại! Bị thương zô gân tay đêm lạnh chịu không nổi đâu em!” Tới lúc đó quân Cộng từ bên kia sông Thạch hãn đã gấp rút ồ ạt bổ sung, đi ngờ ngờ giữa ban ngày, bắt đầu phản kích dữ dội với hoả lực yểm trợ tối đa. Quân ta đã hết yếu tố bất ngờ để tốc chiến tốc thắng. Tôi rời mặt trận, đúng lúc anh em tôi bắt đầu đổ đầy máu xương trên đoạn đường tiến vào cổ thành Đinh Công Tráng, nơi quân Dù đã giữ cả thị xã Quảng Trị vững như bàn thạch trong trận Mậu thân choáng váng. Ngày 17/7/1972 ba tiểu đoàn Dù đã vây kín ba phía tây, nam, đông của cổ thành. Góc chính bắc qua sông Thạch hãn vẫn là đường tiếp vận của địch. Hướng đông bắc thì TĐ5ND dưới quyền “Minh Hiếu”, “Tố Quyên”, đánh rát qua nhà thờ Tri Bưu nhắm bức tường thành. “Minh Hiếu” ban lệnh tái chiếm thành Đinh Công Tráng với một toán tiền thám cảm tử xâm nhập vào thành trong đêm 18 tháng 7, quan sát và lập đầu cầu cho tiểu đoàn tung lực lượng tấn công, trong 2 ngày phải chiếm và cố thủ được ít nhất phân nửa chu vi bờ thành và nội thành.
Một toán "thám sát cảm tử" tình nguyện được thành lập, tuyển chọn ưu tiên các quân nhân gốc người Quảng Trị. Trong số đâu chừng hơn 20 người, 8 anh em được chọn đều thuộc đại đội 51. Hạ sĩ nhứt Trần Tâm làm trưởng toán, hai hiệu thính viên rất chăm chỉ của đại đội là hạ sĩ Hậu, người Nam, và hạ sĩ nhứt Lịch, người Quảng Trị, đều tình nguyện, binh nhứt Hồ Khang đòi mang lá quốc kỳ, thêm nữa là hạ sĩ Hồ Con, và ba binh sĩ khác. (Danh sách này dựa theo lời kể của đại uý Trương Đăng Sỹ). Giờ G đêm 18. Từ điểm xuất phát đến mục tiêu cách hơn 200 mét, toán quân dũng cảm tiến vào đêm tối, mong lách chốt nhập thành. Gần sáng, Hậu thì thầm báo cáo đang lội qua hào nước sâu. 5 phút sau, đột nhiên cả tiểu đoàn chợt thấy lá cờ vụt nhô lên tung bay trên nền trời mờ tối, trên nền ánh hoả châu lập loè phía xa. Rồi lại giựt mình nghe tiếng Hồ Khang hô vang trong cái tĩnh lặng rợn người đúng vào khi chiến địa chợt im tiếng súng: “Việt Nam Cộng Hoà muôn năm – Nhảy dù cố gắng- Nhảy dù chiến thắng|” Hậu hét luôn trong máy báo cáo với đại uý Sỹ : “Quốc kỳ dựng rồi, đích thân ơi!” Lập tức lửa đạn vang ầm vĩnh viển cắt đứt tiếng Hậu. Đạn lửa thượng liên xanh lè hội tụ dập vùi toán anh hùng mũ đỏ, giữa những tảng lửa B40, B41 nổ tập trung vào giữa chân cờ. Tiểu đội cảm tử quân hoàn toàn mất liên lạc. Hai đại đội 51, 52 rùng rùng xuất phát. Pháo binh Dù bắn hằng trăm trái vào thành, yểm trợ và che chở cho lực lượng bạn. Ôi ván bài lộ tẩy quá sớm mất rồi các em ơi. Trần Tâm, Hồ Khang, Hồ Con, Hậu và Lịch vình viễn nằm lại trên mặt thành, chung quanh lá cờ tổ quốc. Ba em còn lại trúng thương lăn xuống chân thành, được quân bạn cứu sống. Quân ta đến nơi, không sao vượt được bức tường thành kiên cố có hoả lực bảo vệ vững chắc. Ngày 21/7 lực lượng TĐ5ND được lịnh dãn lui để không quân Mỹ đánh bom lớn phá thành. Địch phản công hàng hàng lớp lớp, toàn tân binh mặc kaki còn mới. 51 và 52 bị hai tiểu đoàn địch tấn công, cắt hậu, chơi sang toàn trực xạ không giựt 82 ly. Quân Dù phải tử chiến và cứu ứng nhau, sử dụng phi pháo tối đa, phối hợp thọc mũi phản kích vào sườn quân địch để hoá giải sức tấn công, mới thoát khỏi vòng vây. Ba ngày sau, 25/7, lực lượng đặc nhiệm nhảy dù bất ngờ phản kích. Tiểu đoàn phó TĐ5ND “Tố Quyên” trực tiếp điều động, được tăng cường Đại Đội 111/ND của Trung Úy Đinh Viết Trinh “Ba búa” đánh từ hướng Tây Bắc, đỡ đòn cánh trái. Sườn cánh phải, hướng Bắc Cổ Thành, có hai đại đội 81 biệt cách tăng cường, đều sa lầy trong biển chốt. Đại Đội 2/Trinh sát ND của Đại Úy “Út Bạch Lan” cũng vướng chốt địch bố trí chiều sâu. Địch quyết chiến, tăng cường đông như nêm, chốt dày như vỏ dừa, liều thân kháng cự. Út Bạch Lan trúng B40 “ép-phê một băng” qua cửa mả, may sao đạn trúng lớp áo giáp mà không nổ. ĐĐ2/TSND của đại ca Út bị hóc nặng, không theo kịp đà tiến nỗ lực chính, theo lời thuật của “Sỹ Biên”. Ngày 26, nỗ lực chính là hai ĐĐ51, 52 cũng tràn tới bờ hào, vì nỗi uất ức mất nguyên toán cảm tử. Phải lui lại đào hầm hố tránh hoả lực từ mặt thành cao nã xuống, điều chỉnh phi pháo, chờ bom phá thành, đánh đêm. Tố Quyên thuật tiếp: “54 lo bảo vệ khu vực đông bắc Tri Bưu và tải thương, 51 và 52 nhào vào Cổ thành sau khi smart bomb của Mỹ đục một mảng tường lớn ở góc phía đông bắc để lấp đoạn hào sâu ở đây và do đó mà con cái trúng miểng” (Email này từ San Jose anh Quyền gửi tôi hôm mùng 9 tháng 9 năm 2009, quá sơ lược, vì anh đang gom góp tài liệu, ký ức và nhân chứng sống để viết lại đầy đủ).

Trong email này Tố Quyên cũng xác nhận vài chuyện trước đó: “Tôi theo Sĩ và Hồ Tường vào Tri Bưu ngay buổi sáng khi 2 ĐĐ từ làng Quy Thiện tờ mờ sáng sang chiếm khu mả ở phía đầu làng rồi từ đó bám được đầu cầu ven làng sau đó dánh dọc lên hướng nhà thờ Tri Bưu (đó là lúc Đại Cồ Việt bị tản thương ra như đã kể: LTG) v.v.. Khi Út Bạch Lan bị một trái B40 trúng vào thành mả rồi văng qua trúng áo giáp nên ê ẩm cả ngực, tôi có gọi anh hỏi có cần tản thương không. Cả Đinh Viết Trinh khi dẫn ĐĐ 111 vào găp tôi trong Tri Bưu đã xin lệnh tôi cho ra trấn khúc làng sát ngay góc con đường Duy Tân và Lê văn Duyệt ở ngay góc đông bắc Cổ Thành. Sau đó đại tá Trần Quốc Lịch còn cho tôi thêm 2 ĐĐ của 81 Biệt cách do 2 Trung úy Châu văn Tài và Nguyễn Đắc Lực sang Tri Bưu để tìm cách đột kích vào thành. Những người này còn sống và một ở Westminster,một ở Houston , Texas . Khi đó (ngày 25: LTG) viên cố vấn Mỹ cho tôi biết là mờ sáng hôm sau sẽ có phi cơ Mỹ dùng bom lớn do tia laser điều khiển để đánh từ trong ra cho tường lở lấp cái hào ở gần sát góc đông bắc thành để quân ta có thể xông vào. Nhờ thế 51 & 52 mới vào được. Sau đó phi tuần VN (phải là A-37 của KQVN, đánh rất bạo và chính xác: LTG) đánh vào cáí cột cờ chỗ kỳ đài rất tốt… Sỹ Biên, từ Australia, cách đây mấy tháng, kể tiếp: Hai trung đội đầu của 51 vượt hào khá dễ, bám được góc thành đã vỡ, lựa thế tiến vào trong, trong khi anh kêu pháo binh Dù bắn đạn nổ và khói che phủ mục tiêu. Ta lên chiếm được mặt thành, bèn cắm cờ lần nữa, chuẩn bị xung phong. Nhưng khói vừa tan địch bắn trả dữ dội, nhất là từ hai lô cốt ở mặt tiền và giữa sân cờ còn hầm hố kiên cố. L19 bao vùng cho biết VC từ bên kia sông tràn qua như kiến. Sỹ Biên đòi phi pháo yểm trợ chặn viện và tung thêm một trung đội vào thành, nhứt quyết xả láng đánh bứt sân cờ trước khi viện binh địch ứng cứu. Một trái cối 82 nổ giữa Sỹ Biên và Hồ Tường, hai vị anh hùng bị thương đẫm máu, nhưng quyết không rời trận địa. Những ai từng xả thân cùng đồng ngũ anh em trên những chiến trường một mất một còn vì màu cờ sắc áo mới hiểu tại sao có những lúc người chiến sĩ coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, đặt danh dự trách nhiệm lên trên hết. Nhưng, ai oán thay, ông trời cao kia chẳng chịu chiều người. Tố Quyên, từ San Jose , viết tiếp: ... phi tuần VN đánh vào cái cột cờ chỗ kỳ đài rất tốt, thì lúc đó tự nhiên có 2 phi tuần Mỹ ở đâu vào vùng. Cố vấn hỏi tôi có muốn xài không thì tôi nói cứ xài và bảo nó đánh ngay vào chỗ VN vừa đánh. Nhưng than ôi, trời nỡ hại TĐ5ND mình, khói bụi từ chỗ mới đánh vừa tỏa ra bị gió đưa về phía 2 ĐĐ 51, 52. Trời ơi thế là bom bên mình giáng xuống quân ta…. Ôi... Ai hiểu được nỗi uất hận của những người chiến binh Nhảy dù lúc ấy khi thành quả máu xương của cả đơn vị đã nằm trong tầm tay toàn đội… Đại đội 51 máu thịt của tôi chỉ còn 38 quân nhân sống sót; đại đội 52 tất cả 5 sĩ quan đều bị thương, gần 50 thương vong. TĐ5ND đã mất hết máu. Tố Quyên, Sĩ Biên, Hồ Tường, Ba búa, Út bạch Lan, Châu Văn Tài, Nguyễn Đắc Lực suy kiệt hết tâm lực, chỉ còn như những xác không hồn. Trung Tá Nguyễn Chí Hiếu lặng lẽ ôn tồn ban lệnh trở về tuyến xuất phát.

Sau đó, cùng ngày, trên hệ thống liên lạc siêu tần số cơ hữu của SĐND, sĩ quan truyền tin Võ Trung Tín nghe cuộc điện đàm ngắn giữa Trung Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lịnh SĐND và Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lịnh Quân Đoàn I như sau: - Trung Tướng Đống : Trưởng có thấy không, trước khi tấn công vào mục tiêu, Tổng Thống Thiệu ra lịnh tuyệt đối không cho phá hủy cổ thành, đến khi vừa vào được trong thành thì bom dội xuống trên đầu như thế nầy thì đánh giặc cái gì đây. Đánh giặc như thế nầy thì tôi không đánh nữa, Trưởng cứ cho ai vào đánh thì đánh đi.
- Trung Tướng Trưởng: Thưa Trung Tướng được rồi, để sáng ngày mai tôi bay ra Sally gặpTrung Tướng sẽ bàn định lại… Ngày 27/7/1972 , ba lữ đoàn hùng binh quân mũ đỏ đã tận sức lót đường xương máu, bàn giao chiến trường cho Sư đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến. Những người anh hùng mũ xanh của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà cũng hy sinh máu xương không kém, lập nên kỳ tích dựng lá cờ vàng tổ quốc trên Cổ thành Quảng Trị lần thứ ba và là lần sau cuối.

23:40H, ngày 17 tháng 11, 2009
Việt-Long, GĐMĐ/D.C
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Nhớ những ngày này năm xưa đi dựng cờ tổ quốc

SVSQ Nguyễn Phúc 343
Buổi trưa ngày 24-01-1973, một buổi trưa kỳ quái trong chambre chúng tôi. Không khí trong phòng thấy nao nao lên cả, có lẽ vì thông điệp của Tổng Thống VNCH đọc lúc 11 giờ nói về ngày ký Hiệp Ðịnh ngưng bắn; đằng này, đàng kia chúng tôi nhảy múa, gõ nhịp vào giường mà ca hát. Một vài anh trong tuổi động viên cấp thời đang ngồi tính chuyện “một mai giã từ vũ khí”. Ngay cả anh Luyện, danh số 123 của Ðại Ðội C chúng tôi, con người “khô” nhất phòng cũng đang áp tai vào chiếc radio transitor nghe bài Bình Luận, miệng lẩm bẩm hát: “Ta đã thấy gì trong đêm nay, cờ bay trăm ngọn ...”

Những ngày cuối năm và cũng là những ngày cuối cùng giai đoạn I thụ huấn tại Quang Trung của chúng tôi, thật có nhiều chuyện, nhiều vấn đề bàn cãi; một vài tin cho hay chúng tôi sẽ về Thủ Ðức vài hôm nữa... ăn Tết tại Quang Trung rồi đi... hoặc đi chiến dịch Chiến Tranh Chính Trị đợt 2.

Sáng ngày 25-01-1973, chúng tôi được lệnh chuẩn bị qua sân vận động trại Bùi Như Luông học tập Chiến Tranh Chính Trị, để thông suốt vấn đề trước khi đi chiến dịch. Thế là cả Tiểu Ðoàn Gia Long chúng tôi náo động lên, kẻ biên thư, người nhắn tin, mua sắm một vài vật dụng cần thiết khi ra đi.

Sau khi đã lãnh lương, cùng mấy ngày lương khô, sáng 27 chúng tôi được xếp vào từng toán và làm lễ xuất phát tại sân vận động Bùi Như Luông. Trong buổi lễ đơn sơ không kém phần ý nghĩa, chúng tôi được Thiếu Tướng Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung gắn Alpha giả định để đi công tác. Giã từ bè bạn được tung bốn phương trời, toán chúng tôi theo anh em lên xe về Hậu Nghĩa. Ðến trưa chúng tôi đến Hậu Nghĩa dưới ngàn con mắt hiếu kỳ tò mò của dân chúng. Ðám “lính sữa” sau khi nghỉ trưa vào phòng hội của Ty Chiêu Hồi Tỉnh Hậu Nghĩa để nghe Phòng 2 thuyết trình về tình hình an ninh và dân số trong tỉnh. Trong khi ấy hàng loạt súng pháo binh gần đó càng lúc càng nổ dữ dội. Trung Úy Trưởng Ban 2 cho chúng tôi biết Việt cộng từ mật khu Bời Lời vừa kéo về cách phòng hợp độ hơn cây số và đang đụng với mấy Ðại Ðội Ðịa Phương Quân (ÐÐ/ÐPQ) ở đó. Chúng tôi nhìn lên bản đồ tỉnh, thấy mịt mù, những vòng đỏ qua đó ghi chú Bời Lời, Ba Thu, Hố Bò v.v... Toàn thứ dữ. Ðến 4 giờ 30 chiều, chúng tôi đến Quận Trảng Bàng ở đây một lần nữa, chúng tôi nghe thuyết trình về anh ninh ở Quận. Ðại Úy Chi khu phó cho biết VC vừa pháo vào quận lỵ 2 hỏa tiễn 122 ly cách đó mấy giờ.

Buổi tối đầu tiên tại quận chúng tôi ngủ thiếp đi, có lẽ do một ngày mệt mỏi.

Sáng hôm sau, trong khi chúng tôi đi ăn sáng, cũng ngập ngừng bước chân không dám đi xa vì chốn đây đất khách quê người, chúng tôi 10 người được chỉ định về Xã An Hòa, nhưng chưa rõ ở đâu. Lân la lại một bà bán bánh canh (món ăn hảo hạng ở Trảng Bàng) hỏi thử xem. Bà không nói, chỉ ngước nhìn chiếc F-5 đang lao xuống hướng sau lưng chúng tôi cách chừng hơn cây số. Một hoặc hai quả bom lao vút xuống, từng tiếng nổ rền. Tôi nhìn đồng hồ đã 7 giờ 45 rồi, có lẽ những quả bom này là những quả bom cuối cùng. Tôi nghĩ thầm như thế. Bà nọ lắc đầu rồi bảo:

- Ðó chú, An Hòa đang bị VC vây đánh sát từ tối hôm kia đến giờ, nghe đâu nó ở Ấp Lò Rèn tràn qua Hòa Hưng rồi đánh lan mặt An Lợi, tụi nó bắn “quá trí”... Tôi thấy có gì lạnh lạnh chạy qua tay áo.

Ðến 8 giờ thiếu mấy phút, chúng tôi ngồi đợi từng giây, Trung Tá Chi Khu Trưởng vừa lên xe ra khỏi Quận, hình như đến thị sát một mặt trận nào đó. Ðúng 8 giờ, với chiếc radio nhỏ trong tay, cả toán chụm đầu lại nghe Tổng Thống lên tiếng và chiếc phản lực cơ vẫn lao xuống, rất gần, có một đoàn trực thăng đang đảo gần đó, thỉnh thoảng một tràng đại liên rú lên.

Chúng tôi đến Xã An Hòa vào lúc 9 giờ bằng 2 chuyến xe lôi, dưới sự hướng dẫn của Thiếu Úy Trưởng toán thuộc Ðại Ðội Chiến Tranh Chính Trị Hậu Nghĩa. Một lần nữa, chúng tôi được nghe nói về tình hình ở Xã. Tôi vẫn nhớ cái giây phút ngỡ ngàng khi bước xuống xe lôi, bên chợ vắng người, một vài kẻ qua lại nhìn, không rõ họ thế nào, chúng tôi bấm nhau nói nhỏ - K54 đấy.

- Ðây là ranh giới Xã An Hòa chúng tôi, đây Xã Lộc Giang, Xã Gia Lộc và đây là Gia Bình, ông Xã Trưởng giới thiệu trên bản đồ với chúng tôi... Xã chúng tôi từ đêm 26-01-1973, Trung Ðoàn 271 VC cố đánh vào các hướng này hy vọng chiếm ít đất giữ lợi thế khi ký Hiệp Ðịnh. Ông chỉ cho chúng tôi 6 mũi tên đỏ, hướng đánh của địch. Cách đó một Trung Ðội Trưởng Nghĩa Quân đang chấm tọa độ trên bản đồ và xin Pháo Binh ở Chi Khu (ở đây về sau chúng tôi thấy những Trung Ðội Trưởng Nghĩa Quân hay nhân viên xã ấp đều có thể chấm tọa độ một cách nhanh chóng và chính xác, có lẽ họ đã quen địa thế) - Thỉnh thoảng một vài nơi nào đó báo cáo địch treo cờ nhưng lực lượng Nhân Dân Tự Vệ đã hạ và xé rồi.

Chúng tôi bắt đầu đi công tác vào chiều hôm đó, không một vũ khí, chúng tôi phải mượn tạm mấy quả lựu đạn của Nghĩa Quân xã theo hộ tống chúng tôi, đề phòng khi hữu dụng. Trạm đầu tiên là trường Cộng Ðồng Xã An Hòa, nơi mà dân chúng kéo về tị nạn, chúng tôi chia nhau mỗi người một phòng học để hỏi han và được biết thêm một vài tin tức về dân tình ở đây. Hầu như tất cả đều ngán Cộng Sản (CS) vì lẽ Xã này ngót 20 năm chưa một lần binh lửa dấy lên. Chúng tôi mang hết tất cả những kiến thức, những hiểu biết về ngưng bắn và thủ đoạn của CS giải thích cho họ. Một cụ già bế đứa cháu nhỏ ở chân có một vết thương nhẹ hỏi chúng tôi:

- Mấy chú coi nè, nghe đâu ngưng bắn ngưng bùng gì mà chúng nó làm “quá trí” vậy hả chú ?

Chúng tôi giải thích thật lâu để họ hiểu, hay những câu hỏi:

- Trời ơi, Tết nhất tới nơi rồi mà còn “dô” phá đám nữa, năm nay chắc không thể nào vui hưởng Tết được rồi!

Một vài người thật xem thường súng đạn, len lén bò về tưới đám cải dưới lằn đạn đôi bên. Họ cố bảo vệ cái gia tài sống của họ, hay về lùa bầy heo, trong số này cũng đã có người lãnh B40 của giặc, hoặc họ còn mang theo một vài lớp bánh có lẽ để cúng giỗ trong những ngày đầu năm. Tất cả đều ủ rũ buồn chán, chúng tôi an ủi và nói rất nhiều. Xế chiều sau khi dùng bữa, chúng tôi được lệnh úp nón sắt và vào hầm, nghe đâu chúng nó về còn độ 500m nữa là đến nơi chúng tôi. Trong đồn Xã còn lại Tiểu Ðội Nghĩa Quân và đám Nhân Dân Tự Vệ chưa quá 16 tuổi, gác chỉ lo ngủ và vặn đồng hồ “ma giáo”. Chúng tôi phải chia phiên gác một mặt phụ để yên tâm hơn. Chúng tôi không quên những buổi đi ăn cơm với đội hình hai hàng dọc, khoảng cách đều và tiến chậm, hoặc 5 người ăn và 5 người gác.

Thế rồi những ngày đầu năm trôi qua, giặc cũng bị Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù đuổi ra khỏi các Ấp. Chúng tôi đi góp nhặt tang thương cùng với các giáo chức các trường trong Xã, phụ giúp dân làm đơn khiếu nại CS vi phạm ngưng bắn, phá hoại tài sản và gia đình họ. Chúng tôi viết hàng trăm lá đơn mỗi ngày ghi vào những số tiền xin bồi hoàn thiệt hại thật khiên tốn, nhưng trong thâm tâm tôi, một ý nghĩa quay cuồng mãi “không biết bọn CS ngoan cố có bồi hoàn được 1/10 số tiền này không?”

Những ngày đi dựng cờ Tổ Quốc, chúng tôi không thể nào để nhạt phai trong tiềm thức một buổi nắng lên giữa rừng cờ phơi phới, hàng ngàn lá cờ Vàng ba sọc đỏ tung bay trước gió. Vỏn vẹn mấy ngày sau, sự sinh hoạt trở lại bình thường, tôi có dịp đi một vòng Xã, đến từng nhà và bắt tay từng người, hỏi han. Ðoàn cải lương nho nhỏ cũng vừa ở nơi nào đó về đóng tại hội trường xóm đạo Thala, bên cạnh buổi hội chợ do giáo xứ tổ chức, (Thala đã nhiều lần nghe đến, bây giờ chúng tôi mới có dịp đến). Những ai đến Thala Xóm Ðạo giờ này không thể tin được trước đó vài tuần, bên kia lũy tre xanh, VC đã chết rãi ở đó vì bom đạn, những đổ nát vẫn còn vết tích nhưng được hàng lũy tre xanh che khuất. Những buổi sinh hoạt Nhân Dân Tự Vệ hay phụ giúp một vài việc như chỉnh đốn hồ sơ hay đơn từ của dân chúng đã thất lạc vì chiến tranh là việc của chúng tôi.

Khi đã được gọi là quen với địa thế, chúng tôi được tung ra mỗi người hoạt động ở một Ấp. An Thới là vùng vừa định cư đi đường thủy gần 4 km, cạnh sông Vàm Cỏ Ðông nên được cử 2 người, còn lại 1 người để điều hành công tác ở Xã.

Tôi được về một Ấp loại A, đó là Ấp An Phú thuộc Xã này. Cái không khí ngỡ ngàng của những buổi sinh hoạt đầu với các liên toán Nhân Dân Tự Vệ, hay dân chúng dần dần tiêu tan đi mất, bên cạnh những đêm khó ngủ, có lẽ ban chiều bắt gặp một ánh mắt, một mái tóc nào đó, tôi vơ lấy khẩu M-16 của một Cán Bộ BÐPT mang đạn vào và theo toán xung kích Nhân Dân Tự Vệ đi nằm bên bìa bưng.

Một vài lần ngồi tâm sự, chỉ giáo “kinh nghiệm Quân trường” hay sùi bọt mép với những ly rượu đế đầy mùi quê hương, ở đây chỉ có “nước mắt quê hương” này với cá lóc nướng là tuyệt hảo.

Sau hai tháng sống vui buồn tại đây, chúng tôi đã thu góp được một gia tài quý báu của câu “đi một ngày đàng học một sàng khôn”. Chúng tôi may mắn và diễm phúc khi để lại trong lòng dân ở đây một cảm tình sâu đậm, và trong chúng tôi, cũng đã có kẻ mang theo kỷ niệm trong tim, những niềm tin ngày nào trở lại và...

Ngày chúng tôi trở lại Quân Trường để tiếp tục dùi mài cung kiếm, Trời Thala bỗng trở mưa, cơn mưa đầu mùa làm chúng tôi nao nao. Trong 10 người, 6 người đã trở về Chi Khu từ sáng sớm, còn lại chúng tôi 4 người với Ba-lô đầy đủ nhất đi bộ từ nhà thờ Xóm đạo Thala, dọc đường có những cái bắt tay, những cái chào, những câu nói và những câu giã từ trìu mến.

Chúng tôi vẫy tay chào những trại sinh trong một khuôn viên gần đó, buổi sinh hoạt Nhân Dân do Xã tổ chức. Những ánh mắt trông theo. Tôi đưa tay vẫy chào một ánh mắt nai vàng bên mái tóc dễ thương “Hẹn em ngày trở lại...”

Buổi sáng giã từ không có mặt trời và không có gió.

(Những ngày đi chiến dịch Dựng Cờ Tổ Quốc tại An Hòa, Trảng Bàng)

SVSQ Nguyễn Phúc - 343

Nguồn: h*p://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer ... 08807&z=36
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Mùa Xuân của người tù

TNCT Phạm Văn Tiền

Chúng ta đang bước vào những ngày tháng cuối cùng của một năm cũ. Mọi người đang chuẩn bị đón xuân sang, thêm một mùa Xuân tha hương mà đường về còn xa tít. Ðón Xuân nầy ta lại nhớ Xuân xưa. Mùa Xuân thường là mùa hy vọng, của tuổi trẻ vươn lên và mầm sống đâm chồi. Nhưng không phải chúa Xuân bao giờ cũng bình đẳng với mọi người. Có mùa Xuân sum họp đầy tiếng cười hạnh phúc bên bếp lửa bập bùng của tuổi thơ đầy kỷ niệm. Nhưng cũng có mùa Xuân khóc hận khổ đau nghẹn ngào bao nước mắt của Mậu Thân 1968, với những cái chết đầy rẫy tình cờ của Ất Mão 1975 mất nước, lưu lạc tù đày. Bao ngày tháng cùng cực khổ đau cho người ở lại quê hương “thiên đường” CS. Riêng Tần vẫn nhớ mãi những ngày tháng bị cùm trong xà lim phân trại 3, vào những ngày tết Xuân Ðinh Tỵ năm 1977.

Thượng đế hỡi trên trời cao có thấu!
Thân đọa đày của một kiếp tù binh
Chịu khổ đau cùng bao nỗi cực hình
Trong “cũi sắt” của những loài dã thú
Mang con đến một nơi nào ẩn trú
Có mây hồng và nắng ấm rọi ban mai
Có đàn chim tung cánh hót bay dài
Nhưng không được quanh con đường bít lối
Con đang sống trong căn hầm tăm tối
Bao đêm nằm trăn trối nghĩ không ra
Suốt đời con bỗng chốc đã tiêu ma
Giờ còn lại thân tàn trong ngục lạnh

Các câu thơ này đã được cảm tác trong những giờ phút đau khổ tuyệt vọng nhất. Tần và một số bạn tù khác đã bị bắt còng tay dẫn đi vào một đêm mưa gió lạnh, cùng với nhiều trận đòn đau. Lòng hoang mang chẳng biết số phận mình sẽ ra sao khi bị lùa lên những chuyến xe đêm bão táp.

Một buổi chiều cuối năm, mọi người đang cố gắng vun thêm những luống khoai lang còn lại cuối cùng để chuẩn bị ăn Tết. Không như thường lệ, các hồi kẻng báo động liên hồi giục giã được người tù gióng lên toàn phân trại. Bao giờ cũng vậy, theo thói quen đây là điềm chẳng lành cho cuộc đời tù tội. Vài tên vệ binh dẫn tù vội vã la hét gom dụng cụ nhanh gọn tập họp trở về. Trại là những dãy nhà tranh vách đất cũ kỹ, do công sức người tù làm ra, trải dài trên ngọn đồi nhỏ, bao bọc bởi dòng suối quanh co, nằm gọn giữa nhiều tầng thép gai dầy đặc.

Tần cẩn thận kín đáo xem lại chiếc nhẫn vàng 24 kara, 2 chỉ mà chính vợ Tần đã cẩn thận nhét sâu vào thẩu ruốc trong chuyến thăm gặp kỳ rồi, nói là để hộ thân vì có tin tất cả tù nhân sẽ bị áp tải ra miền Bắc, được ngụy trang nằm gọn trên đỉnh chiếc mũ cối rách nát.

Lệnh tập họp bày hàng khám xét khẩn cấp được công bố toàn phân trại, chỉ có 10 phút chuẩn bị bên các họng súng AK đen ngòm. Ai cũng hồi hộp lo âu làm bổn phận của mình, thôi thì đủ thứ lọ chai, bao cát, bao bố, khoai khô, sắn độn được bày ra đầy sân, những thứ thật tầm thường nhưng không thể thiếu cho sinh hoạt tù mỗi ngày. Các tên quản giáo, vệ binh chia nhau lục soát thật tỉ mỉ từ trong nhà cho đến mỗi một cá nhân, không từ chỗ nào kể cả lai quần, bâu áo. Có lệnh vất bỏ tất cả những thứ không cần thiết, thu giữ lương thực có tính dự trữ lâu dài, chuẩn bị hành trang sẵn sàng di chuyển. Ngay từ giờ phút này đến khi có lệnh mới, không ai được quyền ra khỏi lán của mình, ngay cả tiếp xúc với người cùng trại.

Sở dĩ có chuyển biến đột xuất này là vì sau khi Thiếu Tá Nguyễn Ngọc An, Trưởng Phòng An Ninh Sư Ðoàn 1 BB, đã tự kết liễu đời mình vì không chịu nổi những trận đòn đau sau nhiều ngày bị thẩm cung liên tục và đồng thời để bảo vệ đồng đội và tổ chức. Thiếu Tá Bửu Kế đã tự sát trong conex biệt giam vì không chấp nhận sự đày đọa nhục mạ người chiến sĩ Quốc Gia, cùng toán vượt trại đầu tiên của Châu Ðức Thảo, Trần Văn Loan, Mai Ðức Hòa, Lê Văn Cang, Hồ Văn Liệu đã lên đường đêm hôm trước sau nhiều tháng chuẩn bị. Trưởng Toán là Châu Ðức Thảo, người niên trưởng tốt bụng, tốt nghiệp khóa 19 VBQG Ðà Lạt. Thảo ít nói, sống hòa nhã và hay giúp đỡ mọi người. Vợ Thảo lên thăm rất thường nhờ khéo léo quà cáp cho các tên vệ binh trực trại. Chị phát đạt nhờ một nghề mới, nghề buôn lậu thuốc tây. Thức ăn của anh bao giờ cũng nhiều và anh thường hay giúp đỡ kẻ khác. Anh sống rất cương trực hào phóng, mọi vật chất đều tầm thường đối với anh chẳng có gì quan trọng. Chính chị Thảo là người cung cấp đầy đủ lương thực, thuốc men cho chuyến vượt trại này.

Hành trình của các anh là vượt dãy Trường Sơn bằng địa bàn và bản đồ, xuyên qua lãnh thổ Lào đến Thái Lan. Ðiều này chính Loan K-23 Võ Bị Ðà Lạt, người cùng đơn vị đã nhiều lần gợi ý với Tần. Nghĩ mình sức khỏe kém, không kham nổi đoạn đường dài, thôi thì đành chịu vậy. Cơn suyễn hay lên bất chợt buổi chiều, thêm vào chứng sưng khớp xương hành hạ. Nơi dự trữ lương thực là các hố bí mật dưới chân căn cứ Phượng Hoàng, chỗ mà đơn vị TQLC của Tần, lần đầu tiên dùng hỏa tiễn tầm ngắn M72 hạ nhiều chiến xa địch.

Ðêm vượt trại loay quay sao đó mà Liệu bị lạc toán phải trở về, chỉ còn lại 4 người lên đường giữa cơn mưa bão trong sự mến phục bùi ngùi của bao người còn lại. Tối hôm đó tên quản giáo xuống lán điểm danh sớm hơn thường lệ, kèm theo một danh sách chia phiên nhau gác đêm, ai cũng có tên, ngoại trừ Thức và Tần. Thức cũng như Thảo sống rất ngang tàng, là người miền Bắc di cư 1975 nên anh rất căm thù CS. Anh là Trung Tá Tham Mưu Phó Không Ðoàn 4 đóng tại Cần Thơ, vào những ngày cuối cùng của Tháng Tư 1975, sẵn phương tiện trong tay nhưng ra đi chẳng đành, tìm về Sài Gòn với gia đình, nhưng vợ và các con anh đã theo người chú họ di tản vào mấy hôm trước.

Thế là tốt, anh cùng người em trai giả dạng bộ đội CS, đi xe đến Ðông Hà, Quảng Trị, men theo quốc lộ 9 đến tận miền Savanakhet Hạ Lào. Việc bại lộ cả hai người đều bị bắt tại đồn biên giới Khe Sanh. Còn Tần, là đơn vị trưởng của một đơn vị tác chiến bị thượng cấp bỏ rơi lại tại miền giới tuyến khi đại bộ phận xuôi Nam, vất vả ngược xuôi tại bãi biển Thuận An vào những ngày cuối cùng của Tháng Ba sầu thảm, đau lòng phải vứt bỏ súng xuống biển sâu, khi những chiếc T54 của địch bắt đầu tràn vào tuyến. Tần bắt đầu cuộc đời tù đày khi toàn thể miền Nam chưa thất thủ.

Tần thuộc dạng lao động cầm chừng qua loa lấy lệ, hay phát biểu linh tinh, đơn vị TQLC của Tần đã có nhiều nợ máu với “nhân dân” nên bị liệt kê vào danh sách cần quan tâm theo dõi đặc biệt. Có lần đi củi tận rừng sâu, vì đói quá sẵn tiền thu giấu, Tần có lén mua vài lon gạo của dân tại vùng kinh tế mới. Khi ra điểm tập trung, bị tên vệ binh phát giác liền bị kiểm điểm và kết tội “liên hệ” với dân với ý đồ trốn trại, biệt giam Conex nửa tháng trời.

Ðêm ấy là đêm 29 Tết Ðinh Tỵ, trong cơn mưa dai dẳng đáng sợ của miền Trung “khô cằn sỏi đá, của trời hành cơn lụt mỗi năm” ở một quê hương nghèo khó, “mùa Ðông thiếu áo, mùa Hè thiếu ăn” này. Cái lạnh tê tái làm buốt lòng người, bão rồi lại bão, hết cơn số 10, rồi 11. Gió thì giật cấp 8, cấp 9. Chiều hôm trước Tần và Liễn cùng nhau lén lút nấu lon gạo còn lại tại nhà bếp, ăn với nhau mặc dầu có lệnh cấm “liên hệ.” Tần đã bị các ăng ten báo cáo, và chắc là họ cho đây là ăn bữa cơm chia tay người bạn cùng khóa, cùng binh chủng với mình.

Không thấy tên mình trong danh sách trực đêm, Tần đoán biết rồi thế nào cũng có điều chẳng lành đến với mình. Trong giấc ngủ chập chờn lo âu chờ đợi, Tần nghe có tiếng xe rì rầm đang đổ dốc hướng về trại. Linh tính cho biết rồi ra sẽ có điềm chẳng lành sẽ xảy đến. Tần vội bật dậy, bấy giờ là khoảng nửa đêm, người bạn tù vừa bàn giao phiên trực. Có nhiều tiếng người và ánh đèn pin soi vào lán, ra lệnh cho Thức và Tần thu gọn hành trang di chuyển. Bố Chi người đội trưởng già tốt bụng, len lén nhét vào túi Tần hai bánh đường và những giọt nước mắt chia ly!

Sống là phải thẳng lưng và chấp nhận, đợi chờ mọi gian nan thử thách kể cả hiểm nguy đang chực sẵn trước mặt, cố gắng mà ngoi lên từ vũng bùn đen, hãy vùng thoát ra cái bóng đêm quái ác đáng nguyền rủa, cho một tương lai tươi sáng hơn. Sân tập họp là bãi đất trống trước nhà kho, nơi lãnh dụng cụ lao động hàng ngày, đã có nhiều tiếng la than khóc của trò “bề hội đồng” đê tiện bỉ ổi. Thêm hàng chục người nữa cũng bị còng tay dẫn đi trong cơn rên rỉ đau nhức. Tần cũng vậy, đây không phải là lần đầu tiên chàng bị hành hạ đánh đập, mà đã có nhiều lần lắm rồi, khổ sở mãi rồi cũng quen, chẳng gì lạ đối với con người sống trong thiên đường Cộng Sản. Chiếc xe Molotova cũ kỹ ráng sức ì ạch, rú lên con dốc ngược, nặng nề uể oải như cuộc đời sầu thảm của hàng chục người tù bị còng tay, mặt mày bị đánh sưng húp đầy máu me, mang đi trong màn đêm u tối.

Bỗng nhiên Tần cảm thấy nhớ nhà, nhớ ba mẹ Tần hiện già yếu đang mòn mỏi trông chờ, nhớ vợ và các con thân yêu trong cơn tuyệt vọng, như những lần đơn vị tan hàng tại Hạ Lào, hay bị bao vây tại mặt trận Cửa Việt. Cảm giác hối tiếc mất mát đã làm Tần lạnh cả người. Lần cuối cùng vợ ra thăm sau thời gian dài chắt chiu dành dụm, một lần bị đuổi trở về khi chúng biệt giam Tần tại nhà “kỷ luật,” và một lần khác đến Quy Nhơn thì bị cướp giật sạch đồ đạc, nhờ một hành khách tốt bụng cho tiền trở về. Từ những biến cố đau thương dồn dập, trong thư mới nhận được vợ Tần bị bệnh lao phổi nặng, cần được chữa trị lâu dài.

Nước mắt Tần đã chảy tự bao giờ, lăn trên đôi gò má gầy làm đôi môi mằn mặn, Tần đã khóc thật sự cho những hối tiếc muộn màng. Phải chi biết sống một chút, biết nhân nhượng cố gắng mà nín thở qua sông, hầu sớm tìm được tờ giấy phóng thích hay ít ra cũng có được những ưu đãi nào đó như các “tên trật tự thi đua.” Phải biết giả khóc như tên Th., đội trưởng đội mộc, khi ôm ảnh thương tiếc Bác Hồ, hay các tên Trần văn S., sẵn sàng chỉ điểm anh em, khi tổ chức ăn mừng tròn một năm miền “Nam được giải phóng.” Ôi! Những trò đời bỉ ổi, rẻ tiền của những kẻ bán rẻ lương tâm theo giặc.

Rồi chuyến xe bão táp đêm nay sẽ đưa chàng về đâu? Có thể thật xa tít nơi miền Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Thái, tiếp tục cuộc sống đọa đày, hay kết thúc ở một hang hóc nào đó bằng các loạt đạn của những tên đồ tể, sát nhân. Dù thế nào đi nữa thì cũng chẳng còn gì để mà hy vọng. Vài người được lệnh xuống xe, riêng Tần, Thức, Tr., còn lê lết cho đến trạm cuối cùng. Có tiếng nước chảy rì rào và cơn gió dữ gào thét điên cuồng. Tần bị đạp xuống xe tay bị còng nằm lăn như con vật. Nơi giam chàng là căn hầm kín được đào sâu dưới lòng đất, toàn mùi hôi thối ẩm mốc.

Thức và Tr. bị nhốt ở một nơi khác, gần đó. Có tiếng chửi thề thô tục của tên vệ binh, cùng âm thanh rổn rẻng của chiếc xích ổ khóa oan nghiệt, trước khi trả lại màn đêm sự cô độc, im lặng hoàn toàn.

Làm sao có thể thản nhiên được trong niềm lo lắng tột cùng này, chiếc đũa đã bị tách ra thế nào rồi cũng bị bẻ gãy, bằng cách này hay cách khác. Minh và Sang chẳng đã bị xử bắn tận núi rừng Cự Tài khi có lệnh dẫn đi vào buổi sáng đang lao động tại đập Chấm, Quảng Trị như vậy đấy sao! Ðối với Tần, cái chết chẳng bao giờ đến dễ dàng, bao năm xuôi ngược hành quân, chàng vẫn còn nguyên vẹn. Làm người ai cũng một lần chết, vậy thì cái chết chỉ có ý nghĩa khi ta hãy làm kẻ thù chết với mình càng nhiều càng tốt. Tần ước mơ về những chuyến vượt ngục của người tù Papillion thuở nào.

Gà đã gáy sáng và các hồi kẻng báo thức liên hồi vang lên sau một đêm dài trăn trở, lo âu. Mặt trời đã ló dạng bao giờ ở phương Ðông, cố gắng mang đến một vài tia sáng yếu ớt xuyên qua kẽ hở của căn hầm tăm tối. Có tiếng mở cửa lách cách và tên vệ binh dẫn người tù mang thức ăn đến, Tần mới biết đây là phần ăn trưa của ngày đầu năm Tết. Nỗi lo sợ đã tan biến khi xác nhận được mình đang ở phân trại 3 và người mang thức ăn cho mình là Trung Úy Ðiểu thuộc đơn vị của Tần. Ðiểu đã ứa lệ khi thấy “ông thầy mình” quá thê thảm trong tình cảnh quá đau lòng này.

Thường thì con người hay thương tiếc, thèm khát những gì quý báu nhất mà mình đã đánh mất đi khi chạm trán với thực tế phũ phàng. Tần cũng vậy, cố gắng mà nhớ lại những giờ phút thiêng liêng tuyệt vời với những ngày Xuân nơi đơn vị thắm đượm tình nghĩa thầy trò. Những ngày Xuân đoàn tụ quay quần cùng với gia đình, có pháo nổ đầy hoa và bao lời chúc tụng ngọt ngào. Ðêm hôm qua súng đã nổ ròn rã khắp nơi của bọn vô lại, mừng chiến thắng trong giờ phút giao thừa, họ đang ca khúc khải hoàn cho một sự ăn cướp trắng trợn. Chiến tranh là thế, cái vẻ vang của phe này là sự đại bại của nhóm khác, điều chẳng may lần này lại xảy đến với tổ quốc thân yêu của chàng.

Sau cơn mưa trời lại sáng, một ngày mới bình minh lại ló dạng, xua tan những đám mây mờ và những cơn bão quái ác. Giờ chỉ còn lại những nhầy nhụa tang thương, đau khổ tận cùng cho biết bao người dân vô tội. Qua cơn gió thoảng chiều nay, Tần được tin có người chết cùng nhiều nhà cửa bị cuốn sạch vì cơn Sóng Thần dữ dội tràn qua từ một chiếc loa phóng thanh đâu đó trong trại. Lại thêm một đại họa nữa đến cho dân tộc này sau cái xiềng xích Cộng Sản. Chàng cảm thấy an tâm hơn vì ít ra mình cũng còn cái hầm để trồi lên, trụt xuống, che nắng đụt mưa, một bữa cơm đói cho sự thèm khát mỗi ngày.

Lệnh cho Tần lên cơ quan làm việc những ngày sau Tết, đây là lần đầu tiên họ điều tra thẩm cung chàng từ cái đêm khủng khiếp đó. Dùng đủ mọi hình thức tra tấn để buộc chàng vào tội âm mưu tổ chức vượt trại, Tần quả quyết với họ rằng chàng chẳng bao giờ có ý nghĩ đó. Biết chẳng có bằng cớ gì để buộc tội chàng, họ quay sang buộc tội Tần cứng đầu không chịu “học tập cải tạo.” Bằng những lời lẽ thật dịu ngọt, họ khuyên chàng hãy an tâm cải tạo để hưởng được chính sách “khoan hồng của Ðảng và Nhà nước.” Thì ra kẻ giết người cũng biết mặc áo thầy tu khi cần thiết, họ nhân danh nhân đạo để làm chuyện vô nhân đạo, đạo đức của họ là “đạo đức cách mạng bác Hồ,” của nền chuyên chính vô sản, của đấu tố dã man và các hầm chôn sống tập thể! Người Cộng Sản hô hào “không gì quý hơn độc lập tự do” để tròng lên cổ người dân thêm cái còng nô lệ, đem địa ngục trần gian để hứa hẹn một thiên đường!

Bộ chỉ huy Ðoàn 76 nằm trên dãy đồi cao có cờ đỏ sao vàng và đầy những băng roll khẩu hiệu. Thức và Tr. cũng có mặt tại đây từ lúc nào trong phòng chờ đợi, chỉ có Thức và Tần bị còng tay, còn Tr. trông có vẻ thản nhiên thoải mái. Thức bơ phờ mệt mỏi, mặt bị đánh sưng húp bầm tím, còn Tr. vẫn khỏe mạnh bình thường. Mỗi người được cấp phát giấy viết để làm bản tự kiểm điểm sau khi đón nhận biết bao lời lẽ ngọt mật chết ruồi của tên chính trị viên đoàn.

Thời gian kế tiếp là thời gian thê thảm nhất của Thức và Tần. Bị dẫn độ đi hỏi cung nhiều nơi kể cả đánh đập, xỉ vả. Chiêu bài “thành thật khai báo” để sớm được hưởng lượng khoan hồng không bịp được ai, vì đối với kẻ thù “tự thú là tự sát.” Có tin Thức đã mắc bẫy Tr. khi cùng anh ta đào hầm trốn về Huế và bị bắt tại nhà Tr., Thức đã bắt đầu một cuộc đời mới, vất vả khốn đốn hơn trong nhiều xà lim với hình phạt biệt giam vĩnh viễn. Còn Tr. thản nhiên thênh thang với tờ giấy phép 7 ngày rong chơi khắp thành phố Huế, trước khi nhận được giấy ra trại sau khi trại đã chuyển về cho Công An Bình Ðiền. Tr. đã thành công một cách xuất sắc nhiệm vụ của một tên ăng ten cò mồi. Còn Tần vẫn sống khổ sai đọa đày từ trại này sang trại khác với chiếc bánh vẽ “tập trung cải tạo.”

Tên trung tá Chính ủy Ðoàn 76 tuyên bố, “Các anh giải phóng lòng Hồ sông Mực thì lòng Hồ sông Mực sẽ giải phóng các anh.” Cả vùng đất trũng bao la hàng chục hecta rừng được khai phá cho công trình dẫn thủy nhập điền tại huyện Ðô Lương, Thanh Hóa. Rất nhiều người tù đã ngã bệnh vì sốt rét rừng, hay bị chết vì đói. Nhưng lời nói đó đã bị phản bội sau ba tháng hoàn thành xong công tác, để rồi tất cả cùng bị lùa lên toa xe bịt bùng hạng bét của chuyến tàu hỏa xuôi Nam về một vùng đất mới xa lạ khủng khiếp hơn. Ở đó có sự canh giữ, kềm kẹp hàng ngày của bọn công an mật vụ. Trại tù “cải tạo Bình Ðiền” với biến cố ngày 20 tháng 4, 1979 lịch sử, chúng thẳng tay đánh đập người tù mà không cần biết phải trái luật lệ là gì. Những cái chết thật bất khuất của Ðại Úy Nguyễn Ngọc Báu, Nguyễn Thuận Cát, Thiếu Úy Nguyễn Thiếu Sơn,... đã minh chứng một cách hùng hồn ý chí bất khuất của lớp người sĩ quan trẻ dưới áp lực bạo quyền.

Thời gian là liều thuốc mầu nhiệm dễ làm phôi phai mọi chuyện. Những đau đớn về thể xác rồi sẽ qua đi dễ dàng, nhưng còn nhiều thứ khác mãi mãi vẫn hằn sâu vào tâm trí không thể nào quên được. Ðó là sự thù hận, lòng ích kỷ, đê tiện gian ác của con người.

Người cộng sản vinh danh chiến thắng mùa Xuân 1975 bằng sức mạnh và chủ thuyết ngoại lai, họ chẳng làm gì được sau hơn 32 năm cầm quyền. Có chăng là một đất nước Việt Nam vẫn còn nghèo đói, lạc hậu, bưng bít thông tin với thế giới bên ngoài. Chúng thẳng tay chà đạp quyền sống con người, các nhà đấu tranh vẫn còn trong vòng lao lý. Bán đất dâng biển triều cống ngoại bang, mua bán phẩm giá người phụ nữ, kể cả trẻ em. Các phong trào khiếu kiện của dân oan đang nổi dậy đòi công lý khắp nơi. Liệu họ, những người cộng sản Việt Nam, yêu chủ nghĩa Mác Lênin vô địch, có thể tồn tại được bao lâu, khi mà lòng dân đã đến lúc căm phẫn tột độ và sự tan rã của chủ thuyết Cộng Sản toàn cầu.

Hãy hướng về Việt Nam, tổ quốc thân yêu nhất của chúng ta với lời tâm nguyện đẹp nhất, hy vọng một mùa Xuân đoàn tụ sẽ không còn xa nữa.

Mùa Xuân nào là ta về
Về quê hương yêu dấu sống bên mẹ cha
Về sống cạnh dòng sông hiền
Về nghe giọng hò ba miền
Về thăm đôi má, lúm sâu đồng tiền
Sài Gòn ơi!... Bao giờ là ta về?!!

TNCT Phạm Văn Tiền
Arlington, TX - Ngày họp mặt trại tù
“Ái Tử-Bình Ðiền” 24 tháng 11, 2007
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

2 Liên Đoàn BĐQ Tử Chiến Với CQ Ở Vùng Đèo Chu Pao

VƯƠNG HỒNG ANH

* Chu Pao, ngọn đèo chiến lược ở Cao nguyên:

Là một ngọn núi có đỉnh cao 1059 mét, cách Pleiku khoảng 17 km về phía Bắc, đỉnh núi là pháo đài quan sát để bảo vệ đoạn Pleiku-Kontum trên quốc lộ 14, Chu Pao là một vị trí chiến lược mà Cộng quân đã nhiều lần tung quân cố chiếm giữ bằng mọi giá. Do địa thế quá hiểm trở có lợi cho địch quân trong thế thủ, nên mỗi lần vùng đèo này bị lọt vào tay Cộng quân, bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 đã điều động lực lượng hùng hậu để tái chiếm. Từng trung đoàn, liên đoàn bộ chiến có chiếm xa yểm trợ, với các phi tuần oanh kích liên tục và cả B 52 dội bom, trận chiến kéo dài nhiều ngày, Cộng quân mới bị đánh bật ra khỏi vùng đèo.

Do tầm quan trọng về chiến lược của vùng đèo này, nên trong cuộc chiến mùa Hè 1972, Chu Pao trở thành một trong những mục tiêu trọng điểm của Cộng quân tại Cao nguyên. Như đã trình bày trong bài viết giới thiệu trận chiến giữa Sư đoàn 22 Bộ binh và Cộng quân tại mặt trận Dakto-Tân Cảnh, ngày 23 tháng 4/1972, Cộng quân đã tung quân tấn công cường tập vào bộ chỉ huy hành quân Sư đoàn 22 Bộ binh. Ngày 24 tháng 4/1972, sau khi các cứ điểm trọng yếu tại Dakto và Tân Cảnh thất thủ, đối phương đã tung quân gây áp lực quanh thị xã Kontum. Ngày 28 tháng 4/1972, trung đoàn 95CSBV đã đánh chiếm một khoảng đường ngắn trên Quốc lộ 14 nối liền Pleiku-Kontum và tổ chức các cụm chốt cố thủ trên vùng đèo Chu Pao. Khi Cộng quân chiếm đèo thì cũng vào lúc Sư đoàn 23 Bộ binh vừa hoàn tất cuộc chuyển quân từ Ban Mê Thuột theo Quốc lộ 14 về phòng thủ Kontum, do đó không xảy ra giao tranh trên lộ trình di quân.

* Lực lượng đặc nhiệm Biệt Động Quân kịch chiến với CQ quanh Kontum và Chu Pao:

Việc trung đoàn 95 CSBV CSBV lập các chốt chận tại vùng đèo Chu Pao đã khống chế trục lộ giao thông huyết mạch này, đồng thời cô lập thị xã Kontum với các tỉnh phía Nam vùng Cao nguyên. Trong khi đó, ở phía Bắc thị xã Kontum, sau khi lữ đoàn 2 Nhảy Dù được lệnh rời khu vực Võ Định để tăng cường cho Quân đoàn 1, ngày 20 tháng 4/1972, liên đoàn 6 Biệt Động Quân đã được điều động từ chiến trường Trị Thiên vào thay thế để phòng thủ khu vực này. (Liên đoàn 6 BĐQ thống thuộc bộ chỉ huy Biệt Động Quân Quân đoàn 3, vào thượng tuần tháng 4/1972, đã cùng với liên đoàn 3 BĐQ tăng phái cho mặt trận Quảng Trị).

Theo kế hoạch, các tiểu đoàn của liên đoàn 6 BĐQ đã bố trí quân trên các dốc đứng án ngữ Quốc lộ 14 về hướng Nam căn cứ Võ Định. Do bị áp lực nặng của địch, ngày 27 tháng 4/1972, bộ chỉ huy liên đoàn được trực thăng vận lui về hướng Đông Nam 12 km, căn cứ Đồi Chiến Lược, hướng Bắc Kontum. (Trong liên lạc Không-Lục với các phi cơ của Không quân Hoa Kỳ, căn cứ này còn có danh hiệu là căn cứ hỏa lực November). Ngày 1 tháng 5/1972, một đơn vị của liên đoàn 6 BĐQ bị địch tấn công cường tập. Để bảo toàn quân số, tiểu đoàn này được liên đoàn trưởng cho lệnh triệt thoái. Như thế, tuyến phòng thủ của lực lượng VNCH đã lui lại vài km, chỉ cách thị xã Kontum 13 km về hướng Tây Bắc.

Sau khi Cộng quân bị thất bại trong 2 đợt tấn công vào thị xã Kontum (đợt 1: 14/5/1972, đợt 2: 20/5/1972), Quân đoàn 2 quyết định tung quân dể giải tỏa áp lực tái khu vực nhằm tái lập giao thông trên Quốc lộ 14 và vòng đai tỉnh ly Kontum. Để thực hiện kế hoạch này, một lực lượng đặc nhiệm đã được thành lập gồm 2 liên đoàn Biệt Động Quân được tăng cường Thiết giáp và Công binh chiến đấu, do đại tá Nguyễn Văn Đương, chỉ huy trưởng Biệt Động Quân Quân khu 2 tổng chỉ huy.

Cũng cần ghi nhận rằng liên đoàn 2 BĐQ được thành lập từ 1967 sau cải danh thành liên đoàn 23 BĐQ, gồm các tiểu đoàn: 11, 22, và 23 BĐQ. Còn liên đoàn 6 BĐQ được thành lập từ 1969 với các tiểu đoàn 34, 35, 51 BĐQ. Tất cả 6 tiểu đoàn của 2 liên đoàn nói trên là những đơn vị kỳ cựu của binh chủng Mũ Nâu, đã có mặt trên chiến trường từ thời kỳ 1963-1964.

Trong 10 ngày cuối của tháng 5/1972, lực lượng đặc nhiệm đã nỗ lực tung các cuộc tấn công quyết liệt để triệt hạ các cụm chốt của đối quanh đèo chiến lược này. Tuy nhiên, do đối phương đã xây dựng được một hệ thống cụm điểm kháng cự liên hoàn rất kiên cố trên các dốc đá hướng Nam núi Chu Pao, và các cụm chốt cố thủ hai bên Quốc lộ 14, nên các đơn vị Biệt Động Quân đã gặp rất nhiều khó khăn trong tấn công, dù được sử yểm trợ mạnh mẽ của hỏa lực Pháo binh và Không quân chiến thuật, cùng B 52 và sử dụng cả chùm địa lôi CBU-55.

Từ các vị trí cố thủ, Cộng quân đã chống trả quyết liệt để cố chận cuộc tiến quân của lực lượng đặc nhiệm. Phối hợp với hỏa lực hung bạo của các trận địa pháo do các tiểu đoàn pháo CQ mở ra với hàng loạt đợt hỏa tập, các cụm chốt cản của Cộng quân dọc hai bên đường đã gây tổn thất cho các đơn vị Biệt Động Quân và tiếp tục cản trở sự lưu thông tiếp vận từ Pleiku về Kontum.

Cuối tháng 5/1972, sau khi Cộng quân bị đánh bật khỏi thị xã Kontum trong trận tấn công đợt 3 (ngày 28/5/1972), Quân đoàn 2 gia tăng nỗ lực giải tỏa áp lực Cộng quân tại đèo Chu Pao. Cùng lúc đó, địch quân cũng tăng cường lực lượng để cố bám giữ ngọn đèo này. Thế trận giằng co giữa Biệt Động Quân và Cộng quân. Giữa tháng 6/1972, bộ chỉ huy Biệt Động Quân điều động liên đoàn 22 Biệt Động Quân nhập trận. Liên đoàn này nhận khu vực do đơn vị bạn bàn giao.

Theo kế hoạch của bộ chỉ huy Biệt Động Quân Quân khu 2, tiểu đoàn 62 thuộc liên đoàn 22 Biệt Động Quân và tiểu đoàn 71 BĐQ là những nỗ lực chính để triệt hạ các chốt cố thủ của Cộng quân quanh đỉnh Chu Pao. Cùng lúc đó, 4 tiểu đoàn Biệt Động Quân tiếp tục hành quân giải tỏa áp lực Cộng quân ở vòng đai ngoại vi đèo Chu Pao. Trong cuộc tấn công tái chiếm vùng đèo Chu Pao, từng đại đội Biệt Động Quân được giao nhiệm vụ làm sạch từng cụm chốt liên hoàn của Công quân. Từ đội hình đại đội tấn công, mỗi trung đội của từng đại đội Biệt Động Quân lại là một mũi tấn công vào từng chốt địch quân. Sau các đợt pháo yểm trợ dập vào các vị trí trọng điểm của địch- được ghi nhận là có đặt súng cối 82 ly, từng toán Biệt Động Quân cầm lựu đạn bò sát đến các hầm và đánh từng hầm một. Các hầm ở Chu Pao, Cộng quân đều đào theo kiểu hầm Triều Tiên. Bom và đạn đại bác có đánh trúng ngay trên hầm thì mới có kết quả. Với lối đánh bằng lựu đạn, cuối cùng lực lượng Biệt Động Quân đã đánh bật Cộng quân ra khỏi vùng đèo Chu Pao.

* Chiến binh Biệt Động Quân nói về trận Chu Pao:

Sau khi hai tiểu đoàn 71 và 62 Biệt Động Quân đã “dứt điểm” khu vực trung tâm đèo Chu Pao, giao thông trên trục lộ 14 được tái lập. Cuối tháng 6/1972, một số phóng viên báo chí đã đến thăm các đơn vị Biệt Động Quân thuộc lực lượng đặc nhiệm. Khi được hỏi về về trận địa Chu Pao, đại tá Nguyễn Văn Đương, chỉ huy Biệt Động Quân Quân khu 2 chỉ một vết mẻ trên phía đá lớn gần đó và nói:

- Bom B 52 mà chỉ làm trầy xơ xịa hòn đá như vậy thì mong gì dùng bom trục địch quân ra khỏi hầm được.

Tại ban chỉ huy tiểu đoàn 71 BĐQ, thiếu tá Đồng Văn Khoa, tiểu đoàn trưởng đã nhắc lại những hình ảnh hãi hùng của những trận cận chiến:

- Chúng tôi thanh toán từng mục tiêu bằng lựu đạn, đánh từng hầm một, không còn cách nào khác để làm im tiếng tiếng súng của đám xạ thủ đã bị xiềng chân vào hầm.

Một hạ sĩ quan của tiểu đoàn 71 đứng gần thiếu tá Khoa kể lại trận đánh:

- Chiếm được hầm rồi, còn phải kéo súng lấy được xuống núi. Muốn vậy, buộc phải chặt chân cái xác chết để tháo súng ra. Nhưng địch quân bố trí hầm theo hình chữ V, tử thần hẹn gặp chúng tôi ở khắp bốn phía.

Một phóng viên nhìn lên đỉnh Chu Pao, Chu Thoi đã ngán ngẩm:

- Leo được lên đó và leo dưới hỏa lực của địch quân thật không phải là chuyện đi dạo.

Đại úy Lê Thanh Phong, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 62 Biệt Động Quân gật đầu xác nhận:

- Cam go lắm anh ạ. Nhưng cũng may lúc này có sương mù buổi sáng. Sương mù dày dặc đến mức cách nhau khoảng 10 thước là không nhìn thấy gì nữa rồi. Cũng nhờ sương mù mà chúng tôi bò lên đánh được những vị trí súng của địch.


VƯƠNG HỒNG ANH
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

CHIẾN TÍCH ĐẦU XUÂN.
Tặng các chiến hữu TĐ 11 BĐQ

Dương Thượng Trúc

Ngày đầu Xuân chúc non nước thanh bình,
Ngày mùng hai chúc cho lứa đôi mình,
Và mùng ba anh chúc đôi má em xinh,
Tết không về chắc em trách anh nhiều lắm
…
Chiều buông chầm chậm, cả cánh rừng già chìm trong lặng lẽ, dù rằng phía dưới những tàn lá xum xê ấy là gần bốn trăm con người, tóc tai thậm thượt, áo quần nhếch nhác, cùng có chung một nhịp thở, một nỗi băn khoăn.
Đang độ vào xuân, những trảng cỏ non xanh mượt , nõn nường như cô gái mười tám, lấm tấm điểm những cánh hoa sim tím lãng mạn, tạo nên một bức tranh thật hữu tình, thế mà cũng chẳng làm cho những con người ấy có một chút xúc động nào trước vẻ đẹp của thiên nhiên.
Chẳng phải họ không có nhãn quan thẩm mỹ để thụ hưởng những gì thượng đế đã trao tặng cho loài người.
Mà vì nhiệm vụ còn đè nặng trên hai vai họ, khi địch quân đang chuẩn bị những mưu đồ thâm hiểm để nhuộm đỏ mảnh đất miền Nam này.
Nên thay vì thưởng ngoạn nét đẹp của cỏ cây, thì họ phải luôn căng mắt ra để canh chừng cái chết đang rình rập đến với bản thân họ và đồng đội họ.Nó có thể xảy đến bất cứ lúc nào, ngay cả hôm nay là ngày ngưng bắn.Những bài học xương máu về sự tráo trở của địch quân chẳng bao giờ họ quên…
Trên bầu trời cao vút, xao xác tiếng chim gọi bầy, là những âm thanh duy nhất có thể nghe được một cách gần gũi.
Xa hơn một chút, thỉnh thoảng những tiếng đạn pháo binh nổ lẻ tẻ, nhưng khi va vào vách núi dội lại, trở thành những chuỗi âm thanh bất tận.
Không hiểu vì lý do gì, tết năm nay lệnh hưu chiến được bọn chúng tuân hành nghiêm nhặt hơn mọi năm, có lẽ tụi nó đã kiệt lực sau lần cắn trộm vào dịp tết Mậu Thân và rồi ôm đầu máu, chạy về miền Bắc.
Dù thế anh em binh sĩ cũng không thể lơ là, mất cảnh giác được.
Đơn vị đang nằm rừng, và cũng tiếp tục phải nằm rừng, đón Xuân.
Thụy đong đưa trên cái võng dù, treo tòn teng dưới tấm poncho, nghe Đầu Xuân Lính Chúc qua cái radio nhỏ xíu máng trên đầu võng.
Vào dịp này, những ca khúc với chủ đề lính và mùa Xuân được phát thanh suốt ngày trên hệ thống Đài Quân Đội và cả đài Sàigòn.
Chẳng biết tự lúc nào, Thụy bằng lòng cho hai lỗ tai khó chịu của anh tiếp nhận những giai điệu này. Và rồi sau đó, anh thấy nó cũng có cái hay riêng của nó…
Vài năm trước thôi, khi những âm thanh tương tự vừa cất lên là anh đã tắt ngóm đi ngay. Kèm theo một câu phê bình :
-Ba cái nhạc sến này mà tụi bay mở lên hoài, nghe điếc lỗ tai.
-Nhạc này hay mà ông thày.
-Hay cái con khỉ mốc gì, quanh đi quẩn lại cũng chỉ có Boléro, Rumba, Slow, với những tiếng rên rỉ nghe cải lương thấy mẹ luôn…
Nhưng đó lại là sở thích của nhóm thuộc cấp trong ban chỉ huy đại đội, gồm ba chú lính truyền tin và hai anh chàng tà lọt của Thụy.
Ngoại trừ y tá Khiết khá lớn tuổi, nên gác ngoài tai chuyện thị phi thiên hạ.
Thụy trở thành thiểu số, nếu đem trưng cầu dân ý
Anh chẳng ngăn cấm và bọn họ cũng không dám chống đối anh ra mặt, nhưng hễ có cơ hội là họ lại dò tìm những chương trình nhạc như thế và xúm xít lại cùng nghe…
-Trời ơi ! Ông thày nghe nè ! Duy Khánh mà ca Xưng Này Con Hổng Dìa là nhức nhối luôn đó…
Thằng An, mang máy Đại Đội, nói giọng miền Nam đặc sệt, tán tụng …
Anh nhái giọng nó, rồi châm chọc :
-Ừa mày vô thêm mấy câu vọng cổ mùi tận mạng nữa đi, cho đủ bộ …
-Em chưa tìm ra bài Tân Cổ Giao Duyên, chứ nếu có , em sẽ vô liền cho ông thày nghe, hổng đẹp hổng ăn tiền…
-Mày ráng kiếm rồi tập đi, mai mốt giải ngũ, dìa bến Bến Bắc Cần Thơ ngồi, với cái nón lá rách và cây đàn guita cũng đủ sống qua ngày, khỏi dìa quê cầy ruộng.
Lời nói của anh nào ngờ lại biến thành sự thật. An đã giải ngũ vĩnh viễn, khi bộ Chỉ Huy Đại Đội bị trái pháo 130 ly rơi trúng. Một mảnh đạn cắt ngang cổ họng An, để mãi mãi chẳng bao giờ nó còn có dịp vô mấy câu Vọng Cổ trên bến Bắc Cần Thơ nữa.
Sau ngày An hy sinh, mấy thày trò không còn tranh cãi với nhau về những bản nhạc ấy nữa.
Cái tướng lùn lùn, mình đúc, cái vai to bè của thằng An luôn lởn vởn trước mặt Thụy, dù sự kiện đã xảy ra mấy tháng nay.
-…Nếu bây giờ mày còn sống, ở đây, mày muốn nghe bản nhạc nào cũng được, anh sẽ không cấm cản mày đâu An ơi !...
Thay vào chỗ An là Hạ sĩ Kía, một chú chệt Chợ Lớn, nói tiếng Việt sành sõi, pha chút “ Quảng Túng dành.” Khi bị quýnh quáng, Kía nói cà lăm.Và trở thành trò cười cho mấy thằng lính “ …bán trời không mời thiên lôi…” trong Bộ chỉ huy.
-Thầm Quyền…Thẩm Quyền có lịnh đi họp trên Tiểu Đoàn kìa !
-Chuyện gì đó A Kía?
-Dạ em hổng piết nữa…
A Kía, nằm trên cái võng kế bên, lên tiếng.
Thụy ngồi bật dậy, nhìn xuống đồng hồ đeo tay, lẩm bẩm :
-Hơn ba giờ chiều rồi, sao có cuộc họp đặc biệt vậy kìa.
Rồi anh lớn giọng hơn một chút :
-Thiếu Úy Quang đâu rồi ?
-Dạ, tôi đây Trung Úy !
-Ông tới đây, tôi bàn chút chuyện…
Võng của Quang nằm cách xa anh một đỗi, đễ tránh tình trạng khi bị pháo kích, cả bộ chỉ huy tan hoang.
Anh tất tả bước đến bên lều của Thụy, hỏi nhỏ :
-Bộ có gì thay đổi hả Trung Úy ?
-Tôi có lệnh lên họp trên Tiểu Đoàn, ông ở nhà lo kiểm soát con cái gác sách cẩn thận nhe ! Đừng ỷ y ngưng chiến, rồi lơ là, coi chừng chết cả lũ. Hôm nay mùng ba tết rồi. Mười hai giờ khuya là hết hiệu lực, biết đâu tụi nó chẳng giở trò…
-Dạ ông cứ đi họp đi, tôi sẽ đôn đốc canh gác.
Thụy đứng dậy, cầm tấm bản đồ đã được chú ta lọt Lễ để sẵn nơi đầu võng, đi về hướng bộ chỉ huy Tiểu Đoàn.
Tại căn lều chỉ huy, đã có mặt đầy đủ, gồm: ba vị đại đội trưởng tác chiến, đại đội trưởng chỉ huy cùng với Tiểu Đoàn Phó và Trưởng ban ba.
Tất cả ngồi quây quần chung quanh Thiếu Tá Minh, ôngTiểu Đoàn Trưởng già, mà Thụy hằng quý mến.
Trên cái thùng đạn pháo binh dùng làm bàn, là một xấp bản đồ dầy cộm, vẽ chi chít những dấu xanh dấu đỏ, lăng quăng…
-Ngồi đi Thụy.
-Dạ cám ơn đại bàng.
-Đủ cả rồi phải không ! Anh em nghe cho rõ ! Một chút nữa, Đại Tá Như, Liên Đoàn Trưởng sẽ đáp xuống đây, để giao cho chúng ta một nhiệm vụ đặc biệt.
Hy vọng rằng khi nhận chỉ thị ấy, Tiểu Đoàn chúng ta sẽ hoàn thành một cách tốt đẹp nhất.
Tiếng máy bay trực thăng văng vẳng từ xa, càng lúc càng rõ dần như xác nhận lời nói của ông.
-Anh em cứ ngồi lại đây, để tôi và ông Trưởng Ban Ba ra đón Đại Tá được rồi, đừng xúm xít ngoài bãi đáp nhiều quá không tốt.
Chiếc trực thăng hạ cánh an toàn và chỉ trong khoảnh khắc, đã bốc lên, mất hút về phía chân trời.
Vài phút sau phái đoàn trở lại lều chỉ huy.
Đại Tá Liên Như xộc vào với ông Thiếu tá Trưởng ban ba Liên Đoàn, hai Sĩ Quan phụ tá, cùng bốn người cận vệ.
Mỗi người xách theo một giỏ cói nặng trịch.
Tất cả cùng đứng bật dậy, nghiêm chào.
-Anh em ngồi xuống đi.
Tiểu đoàn Trưởng nhường vị trí ông ngồi lúc nãy cho cấp chỉ huy.
Đại Tá Như nhìn lướt qua tất cả các thuộc cấp đang có mặt, nói nhẹ nhàng:
-Hôm nay, tôi lên đây ăn tết với anh em Tiểu Đoàn 11, các Tiểu đoàn khác tôi đã ghé thăm rồi. Chắc anh em ngạc nhiên lắm nhỉ! Lẽ ra tôi phải đến đây trước khi thăm thằng 22 và thằng 23.
Nhưng vì có một nhiệm vụ quan trọng muốn giao cho các anh em, nên tôi để dành chuyến thăm chót này cho Tiểu Đoàn 11.
Dừng lại một chút, ông liếc mắt về phía mấy người cận vệ :
-Mấy chú bày mồi màng ra đi - Quay lại phía Tiểu Đoàn Trưởng, ông nói tiếp - Tôi có đem lên đây vài con vịt quay, mấy hũ Ngũ Gia Bì, chúng ta làm ít chung mừng Xuân rồi sẽ bàn đến công chuyện.
-Dạ cám ơn Đại Tá ! Chúc Đại Tá năm nay mọc sao…
-Chuyện đó còn tùy thuộc vào chiến công của anh em đây ! À ! Mà hình như ở đây chỉ có các Đại Đội Trưởng thôi sao ?
-Dạ Phải, thưa Đại Tá ! Thiếu Tá Minh trả lời.
-Tôi muốn có mặt cả các anh em Đại Đội phó nữa.
Mười phút sau, thêm bốn vị nữa bước vào phòng họp. Đại đội phó chỉ huy vừa về hậu cứ công tác, nên vắng mặt.
Đích thân Đại tá Liên Đoàn Trưởng khui hũ rượu đầu tiên.
Mọi người cùng xúm vào chén tạc, chén thù trong tinh thần huynh đệ chi binh thật vui vẻ.
Được khoảng ba bốn tuần rượu, nghe chừng máu trong người đã ấm lên, Đại Tá Như hắng giọng, tạo sự chú ý cho mọi người, rồi lên tiếng :
-Theo tin tức tình báo mới nhận được, thì sư đoàn 3 Sao Vàng của địch quân đã xâm nhập vùng hoạt động của chúng ta rồi.Và đơn vị ở gần nhất là Trung Đoàn 2 của sư đoàn này.Chúng đặt chỉ huy sở chỉ cách đây khoảng hơn hai mươi cây số.
Ngừng lại giây lát để mọi người thẩm định được tầm mức quan trọng của sự việc, ông nói tiếp :
-Tôi cần một Sĩ Quan tình nguyện, gan dạ và có kinh nghiệm ...
-Để làm gì Thưa Đại Tá ?
Ông Tiểu đoàn trưởng nêu thắc mắc, khi thấy cấp chỉ huy ngừng lại khá lâu, và có lẽ cũng là thắc mắc chung của mọi người đang có mặt.
-Dẫn khoảng hai trung đội, đột kích vào Bộ Chỉ Huy trung đoàn này, trước khi nó kiện toàn cơ sở phòng thủ.
-Hai trung đội, mà đột kích vào bộ chỉ huy trung đoàn, e có quá mạo hiểm không, thưa Đại Tá ?
Đại úy Chính, Trưởng ban ba Tiểu Đoàn nêu ý kiến.
-Đúng thế, mới nghe qua thì thấy là quá mạo hiểm, nhưng khi đi vào thực tế, với những tin tức tình báo thu lượm được, thì lại không phải vậy.
-Xin Đại Tá giải thích rõ hơn ạ ! Tiểu đoàn trưởng hỏi thêm.
-Tuy là Bộ chỉ huy trung đoàn, nhưng lực lượng bảo vệ của chúng chỉ ở cấp số một đại đội trừ.
-…Ồ ! Sao lạ vậy nhỉ !
Thiếu Tá Công, Trưởng Ban Ba Liên Đoàn góp tiếng:
-Chẳng có gì lạ đâu, chúng không kịp bổ sung quân số, nên bây giờ chính những tên cán binh kỹ thuật cũng phải ở trong các đơn vị chủ lực bảo vệ bộ chỉ huy trung đoàn. So sánh tương quan lực lượng, thì nhiệm vụ này hoàn thành không khó khăn lắm. Chỉ cần làm sao từ điểm xuất phát, cho đến khi chạm mục tiêu, đừng để các chốt dọc đưòng của chúng phát giác.Và khi trở về phải chuẩn bị một lộ trình thật an toàn, là tốt rồi…
-Thưa Đại Tá, biết rõ vị trí đóng quân của chúng, sao ta không dùng phi pháo, có hiệu quả hơn không ạ !
-Đó là vài năm trước kìa, chứ bây giờ điều đó bất khả thi.Vị trí này ngoài tầm tác xạ của 105, còn không quân, thì bây giờ rất khó khăn. Chỉ khi nào đụng trận mới có thể xin được vài phi tuần.
Mọi người lặng lẽ suy nghĩ, không khí trầm mặc một cách ngột ngạt.
Thêm vài ba tuần rượu nữa trôi qua trong im lìm, một hồi lâu, Đại Tá Như nói chậm rãi :
-Bây giờ, tôi cần một Sĩ Quan tình nguyện làm nhiệm vụ này, và sẽ được thực hiện ngay sáng sớm mai …Anh em hãy nhớ, đây là một nhiệm vụ đặc biệt, rất nguy hiểm, hãy suy nghĩ chính chắn trước khi tình nguyện.
Không gian như chùng hẳn xuống, rơi vào sự im lặng đến ngột ngạt.
Thời gian lặng lẽ trôi qua, những tuần rượu vẫn được chuyền tay nhau, những điếu thuốc vẫn lóe sáng, và những cái đầu vẫn đang gục gặc suy nghĩ.
Ly rượu đến phiên anh, Thụy xoay xoay trong tay một lát như làm một quyết định quan trọng. Anh đưa lên miệng, ực nhanh một cái, chất nước màu nâu sậm, hăng hăng mùi thuốc bắc, chạy dài từ cổ xuống bao từ, đi đến đâu, anh nghe nóng ran đến đó.Và giòng máu nóng trong anh cũng sôi lên sùng sục :
-Tôi…Trung Úy Thụy, xin tình nguyện thưa, Đại Tá !
Tiếng nói của Thụy vang lên phá tan bầu không khí lặng lẽ đang vây phủ căn lều. Mọi người cùng thở phào như vừa trút được một gánh nặng. Dù những tiếng thở rất nhẹ.
Thiếu Tá Minh phản đối, giọng gay gắt :
-Mày không thể đi được…
-Sao vậy Thiếu Tá Minh? Liên Đoàn Trưởng ngạc nhiên hỏi.
-Thưa Đại Tá, nó bây giờ rất cần cho Tiểu Đoàn, hơn nữa vợ nó lại mới sanh…
-Lý do đầu tiên thì không chấp nhận được, nhưng nếu vợ chú mới sanh thì nên suy nghĩ lại đi Thụy…
-Dạ xin cám ơn Đại Tá và Thiếu Tá… nhưng tôi đã quyết định rồi…
-Nếu chú mày đã muốn thế, thì OK thôi ! Thiếu Tá Minh hãy để Trung Úy Thụy được toàn quyền chọn lựa anh em binh sĩ và cán bộ trong các đại đội để thực hiện nhiệm vụ này nhé !
-Dạ xin tuân lệnh Đại Tá !
-Tất cả kế hoạch hành quân, đều do Trung Úy Thụy quyết định, nhưng cần thông báo cho ban ba Liên Đoàn, vì sẽ có một toán viễn thám hướng dẫn lộ trình…Mọi yểm trợ dành ưu tiên cho anh đó…
-Dạ, xin cám ơn Đại Tá…
Cuộc tiệc tiếp tục cho đến lúc hũ Ngũ Gia Bì cuối cùng được dốc ngược lên, thì rừng chiều cũng ngả sang màu tím sậm.
Chiếc C&C đáp xuống vội vã, mang vị chỉ huy trở về phố phường, để lại bên dưới những lời bàn tán sôi nổi về nhiệm vụ của Thụy sáng mai.
Anh đến gặp Đại Úy Chính, Trưởng Ban Ba Tiểu Đoàn để nhận phóng đồ hành quân, rồi khật khưỡng bước về phía lều của mình. Quang lặng lẽ theo sau.
-Ông Quang làm ơn thông báo giùm, tôi sẽ chọn ba Tiểu Đội xung kích của ba Đại Đội, và trung đội bốn của Đại Đội mình, vậy là đủ rồi…
-Dạ tôi đi làm ngay đây, Trung Úy.
-Thượng sĩ Thường Vụ đâu ?
-Có tôi đây Trung Úy !
-Anh coi anh em gác sách thế nào ?
-Dạ đã hoàn tất mọi chuyện, thưa Trung Uý.
-OK vậy là tốt rồi.
Bóng đêm đang phủ trùm lên vạn vật, một màu đen hoang lạnh.
Thụy chui vào trong lều, dùng cái đèn pin cá nhân soi vào tấm phóng đồ hành quân mà Đại úy Chính mới trao.
Chi chít những dấu đỏ trên con đường anh sẽ đi qua. Chứng tỏ địch quân kiểm soát gần hết lộ trình.
“…Quả thật đây không phải là một nhiệm vụ dễ nuốt…”
Lễ bước đến bên, nói nhỏ :
-Trung Úy dùng cơm bây giờ chưa ?
-Chờ ông Quang về rồi ăn luôn.
Ngay lúc đó, Thiếu Úy Quang bước trờ đến, lên tiếng :
-Tôi về rồi đây Trung Úy, mời ông ra ăn cơm đi thôi!
Anh tắt cái đèn pin, bước ra :
-Chuyện tôi nhờ anh, ra sao rồi ?
-Dạ tất cả OK hết Tango.
Cả ban chỉ huy đại đội ngồi xúm xít thành một vòng tròn, dưới bóng đêm mờ ảo. Trên nền đất, được trải một tờ báo cũ, ở giữa là nồi thịt ba lát kho với măng rừng, và những bịch gạo sấy đã nguội lạnh, vì không ngờ hôm nay Thụy họp lâu như thế.
Họ ăn uống trong im lặng, dưới ánh sáng lập lòe của những con đom đóm đi hoang.
Hình như tất cả mọi người đều biết chuyện gì sẽ xảy ra vào sáng mai.
Thụy buông chén đũa xuống trước nhất.
-Sao Trung Úy ăn ít vậy ?
-Uống ba cái rượu Tàu, nó no ngang, không thấy đói…
Đợi cho mấy người lính tản về vị trí của họ. Quang bước vào bên trong mấy tấm poncho quây thành cái lều, bao phủ võng của Thụy, và của ba người truyền tin.
Anh ngồi xuống bên võng Thụy, khẽ nói:
-Trung Úy…sáng mai… để tôi đi thế cho…
-Anh nói giỡn chơi hoài…Tôi nhận lời thực hiện nhiệm vụ này, trước bao nhiêu người, khi không lại giao cho anh đi, coi sao được…
-Đi kỳ này nguy hiểm lắm đó Trung Úy…
-Tôi biết mà ! Có sao đâu, tôi đã ở đây bốn năm năm trời rồi, nguy hiểm nào mà chưa gặp qua…
-Nhưng chị nhà mới sanh được có mấy bữa…
-Chẳng ảnh hưởng gì đến chuyện ở đây cả…
-Tôi thật không yên tâm chút nào cả…Hay cho tôi đi chung với ông …
-Anh đi với tôi, ai coi đại đội ? Sống chết có số mệnh cả, anh đừng lo…nhưng anh nói thế, tôi cũng cám ơn anh. Chỉ cần anh chăm lo đại đội đàng hoàng, lúc vắng tôi, hoặc lỡ khi tôi có bề gì…là được rồi…
-Trung úy đừng nói vậy…
-Anh …-Thụy định nói, sao bây giờ anh mới đòi đi thay, trong khi họp lúc chiều thì lại im lặng, nhưng kịp dừng lại- …Thôi anh đi kiểm soát việc canh gác đi.Tôi cần nghỉ ngơi, để sáng mai lên đường sớm.
Quang vén lều bước ra, Thụy che tay mồi điếu thuốc, rít một hơi thật dài, để luồng khói chạy sâu xuống đến tận cùng những hang hóc của buồng phổi.
Hình như từ lúc rời lều Tiểu Đoàn Trưởng đến giờ, anh chưa có một hơi thuốc nào cả. Mặc dù anh không thấy căng thẳng lắm, nhưng vẫn nôn nao trong lòng một cách khó tả.
“…Bao nhiêu lần vào sinh ra tử rồi, lần này thì cũng thế thôi, chứ có quái gì mà bận tâm…”
Tiếng A Kía rù rì hỏi:
-Mai mình hành quân hả, ông thày ?
-Ừ ! Nhưng chỉ có Trung Đội bốn thôi, A Kía có đi với tao không, hay muốn đổi truyền tin khác?
-Ý đâu có được ! Em đi với Trung Úy chớ, làm sao mà đổi kỳ cục dị…
-Tại vì đây không phải là nhiệm vụ của đại đội…A Kía có quyền xin đổi, nếu không muốn đi theo tao…
-Ông thày đi đâu, em đi đó…Đồng sanh đồng tử mà…Ví lại, ông thày có vợ con mà còn dám đi, em độc thân, hổng lẽ nhát hơn ông thày sao ?
Thụy dụi cái tàn thuốc xuống cỏ, cười khe khẽ trong cuống họng, vì lời nói nhiệt tình mang đầy tính cải lương của người thuộc cấp.
-Nhưng …sao mày chưa lấy vợ, A Kía?
-Lính nghèo thí mẹ, tiền đâu mà lấy vợ, ông thày.
-Mày nói vậy, bộ lính ở giá hết hay sao…
-Hổng phải vậy, nhưng…
-Nhưng cái con khỉ, tao nghe nói tháng lương nào mày cũng đem cúng vô sòng xập xám hết phải không ?
-Tại vậy mà con Hai, bồ em nó hăm he cho em đi số de đó…
-Rồi bây giờ mày còn chơi nữa không ?
-Dạ em hứa với nó là em bỏ…mà …mới bỏ đuợc có năm mươi phần trăm hà…
-Không có người phụ nữ nào thích chồng cờ bạc rượu chè đâu, nếu lỡ vương mang, thì cũng phải ráng kềm chế…Mày bỏ năm mươi phần trăm là sao ?
-Mỗi thứ em bỏ một nửa…Cờ bạc thì em bỏ cờ, chỉ đánh bạc , rượu trà, em bỏ trà, mậu nhẩm xà mà nhẩm chẩu lớ…
-…Còn hút sách, thì mày bỏ đọc sách, chỉ hút thôi, trai gái, thì mày bỏ bạn trai, chỉ chơi với bạn gái, đúng không ? Mày mà bỏ cái kiểu đó …chắc con bồ mày nó cũng bỏ mày luôn…
-Coi vậy mà con Hai nó vẫn còn thương em lắm đó ông thầy…
-Vậy là mày có phước rồi…Chứ gặp người khác, chắc đã bỏ mày tám mươi đời vương. Ủa, mà sao nó thương mày dữ vậy ?
-Tại vì nó là học trò của em mà…
-Cái gì ?
-Thì ..thì… em dậy cho nó học ….
-Mày dậy cái giống gì cho con Hai vậy?
-Em dậy nó học tiếng Tàu …
Thụy lại bật cười khùng khục trong cuống họng, có tiếng thằng Tùng, truyền tin nội bộ, thì thào xen vào :
-Trời ơi A Kía mà làm sư phò… nữa hả ?
Thụy đã dằn được cơn cười, hỏi khẽ:
-Đâu, mày kể đầu đuôi câu chuyện tao nghe xem
-Thiệt mà ông thày! Nhà em có cái quán cóc, bán cà phê, bánh bao, xíu mại trong khu xóm người Tàu không hà ! Má em mướn con Hai phụ chạy bàn. Nó không nghe được tiếng Tàu, nên bị khách la hoài. Bởi vậy, nó biểu em dậy cho nó nói.
-Rồi mày dậy nó những gì ?
-Mới đầu em dậy nó đếm số : Dách dì xám xây ựng lục sách bạc cẩu xập….
-Bồi đầm già…
Tiếng thằng Tùng lại chen vào, làm cả mấy thày trò đều phải đưa tay bụm miệng, để tiếng cười không phát ra.
-Rồi sau đó mày dậy tới cái gì ?
-Em dậy nó nói vài ba câu thông thường như “Kỷ tố” là bao nhiêu , “ nị cỏn mát dệ” là anh nói gì ?Nị cỏn xám cỏn xây, là anh nói dóc, “Tố chè” là cám ơn…
Lại tiếng thằng Tùng ngắt ngang:
-A Kía, A Kía có dậy cô Hai nói Ngộ ái nị không ?
- Ê ! Có chế, có chế ngu sao hổng dậy…
Suýt tí nữa thì cả mấy thày trò rơi xuống võng, vì một tràng cười, bị nén lại trong lồng ngực.
-Ông Thày biết hông. Một buổi trưa, hổng có khách, ba má em đi ngủ hết, con Hai mới nói :
-A Kía dạy thêm cho tui một chút nữa đi.
-Cô Hai muốn học cái gì cứ nói tiếng Việt đi, tui nói lại bằng Tiếng Tàu há.
-Ừa ! tui bắt đầu nhe : Anh Hai, anh muốn uống cái gì ?
-Tài Cố, nị nhẩm mát dệ ?
-Tui uống cà phê.
-Ngộ nhẩm café
-Cho tui một cái dầu cháo quẩy
-Bỉ ngộ dách cô dầu cháo quẩy.
-Bao nhiêu tiền một cái bánh bao ?
-Kỷ tố dách cô tài páo?
-Ba đồng một cái…
-Xám mắn dách cô…
-Cho tui một ly cà phê đen.
-Bỉ ngộ dách cô xây chừng…
Ngày nào cũng vậy, đợi cho ba má đi ngủ trưa, là em mon men xuống bếp, dạy con Hai học tiếng Tàu.
Con Hai dáng người thon thả, đẹp hết xẩy luôn đó, tóc để dài, chải dầu dừa bóng lưỡng, làm em mê mệt cả tâm hồn, nằm chiêm bao thấy nó hoài.
Em biết con Hai cũng khoái em nữa đó ông thày.
Một bữa nọ, thấy nhà vắng vẻ, mà con Hai đang ngồi chải tóc một mình, em hỏi nhỏ:
-Hai à ! Hai có piết … Nị hủ leng là gì hông ?
-Hổng biết…
-Là …là cô đẹp lắm đó.
Con Hai đỏ mặt sung sướng, làm em muốn ngất ngư con tàu đi.Rồi em hỏi tiếp :
-Rồi …Hai có piết Ngộ…ái ..nị là gì …hôn dị ?
-Hổng biết luôn…chưa có học mà…
-Thì bi giờ học nè…
-Ngộ…ái nị…là …gì …dzậy ?
-Là…là…anh yêu em …đó…
Con Hai cúi mặt mắc cỡ, rồi nói một câu làm em chới với:
-Nị cỏn xám cỏn xây, ngộ tả nị xảy á…
-Kía hổng có cỏn xám cỏn xây, hổng nói xạo đâu…
-Ai mà tin được, Kía là con ông chủ, còn Hai chỉ là người làm công…
-Ngộ thề có Quan Công làm chứng, ngộ ái nị thiệt đó, ngộ ái nị mà nị không ái ngộ, thì ngộ …ái ngại …lắm đó !
Lại tiếng thằng Tùng xen vào :
-Ngộ ái nị mà …nị hổng ái ngộ…thì ngộ ái ngại, dồi ngộ ôm đại lớ…
Cả mấy thày trò lại ôm bụng, nén tiếng cười.
-Tùng để cho A Kía kể tiếp đi.
-Rồi cái em dòm trước dòm sau, thấy không có ai, em liền nắm tay con Hai. Chu cha ơi, cái bàn tay mới mềm mại, mới mát mẻ làm sao đâu á!
-Hai à ! Nị hủ leng lớ, ngộ …ngộ ái nị lớ…
-Ngộ …ngộ…cũng ái nị …nữa…
-Vậy là từ đó, hai đứa yêu nhau, bưổi trưa nào em cũng xuống nhà bếp…dạy tiếng Tàu cho con Hai.
Tiếng thằng Tùng lại chen vào :
-Dậy tiếng Tàu thôi, hay có làm gì con người ta không vậy A Kía ?
-Tầm pậy nè, ngộ đâu có làm gì. Rồi em đăng lính Biệt Động Quân. Con Hai vẫn ở nhà phụ với ba má em bán quán cà phê, nó nói sẽ chờ em dìa.
-A Kía có thể hoãn dịch, vì là người Tàu, sao đăng Biệt động quân chi vậy ? Tùng lại cắt ngang lời Kía.
-Tui là người Tàu, nhưng ở trên nước Việt Nam, thì phải bảo vệ Việt Nam chế. Để tụi chó chết Việt Cộng ló vô đây, A Kía cũng đâu có được sống yên ổn.Thôi để tui nói tiếp há …
…Ông thày biết hông, Bi giờ con Hai nói tiếng Tàu dành lắm rồi đó. Có bữa được về phép, nó dám chọc em nữa chế, nó nói:
-A Kía biết…Xám cô dành xực dách cô xường toại…là gì hôn dị?
-Em ngơ ngẩn, bởi vì nghe cái âm thì có pha tiếng Tàu, mà cái nghĩa thì bù trất. Con Hai cuời lớn, nói :
…Là xám cô dành… xực dách cô xoài tượng, tức là ba cô dành ăn một trái xoài tượng đó…
Thụy phải lấy cái khăn tay nhét vào miệng để tiếng cười không phát ra giữa đêm khuya thanh vắng.
-Thôi khuya rồi.Ngủ đi mai còn phải lội đó…
Mấy thày trò cùng im lặng, nhưng không phải giấc ngủ có thể đến một cách dễ dàng, khi mà những ý tưởng hài hước vẫn còn lảng vảng trong đầu họ, qua câu chuyện ngô nghê của chú Tàu A Kía.
***
Trời chưa sáng, đoàn quân đã xuất phát, lên đường.
Thụy phân chia tất cả thành bốn toán, mỗi toán được chỉ huy bởi một Hạ Sĩ Quan xuất sắc, mà anh đã lựa chọn.
Tất cả đều được trang bị hệ thống truyền tin liên lạc trực tiếp với anh.
Dẫn đầu là ba người lính Viễn Thám của Liên Đoàn, đến một Toán xung kích, rồi đến ban chỉ huy của Thụy. Còn lại, tất cả một hàng dọc lặng lẽ di chuyển trong lúc sương đêm còn se lạnh, ướt đẫm vai áo mọi người.
Nhờ trang bị nhẹ, nên họ lòn lách một cách dễ dàng để tránh né những trạm gác của bọn chúng trên đường đi đến mục tiêu.
Tất cả những đoạn đường họ đi qua, đều được xóa hết dấu vết, phòng khi trở về không bị phục kích.
Đi qua một con suối nhỏ, thấy hai tên còn căng võng ngủ tỉnh bơ, AK dựng một bên, khiến nhiều anh em nổi điên, muốn bước đến vặn cổ chúng cho rồi.
Đến một cánh rừng lồ ô khác, thấy vài cái lều của bọn chúng vẫn còn im ắng trong giấc ngủ nướng.
Nhưng cả toán đều lặng lẽ vượt qua, vì tiêu diệt bọn chúng không phải là nhiệm vụ chính. Mà mục tiêu là bộ chỉ huy trung đoàn kìa.
Trên bầu trời cao, trong vắt, không gợn một áng mây, những cánh én bay lượn lờ một cách vô tư lự.
Cạnh bìa rừng, những tiếng hót líu lo của các loài chim muông đủ loại như chào đón chúa xuân, khiến mọi người nghe tâm hồn trở nên thư thái.
Phải chi những kẻ ngông cuồng không đem tham vọng áp đặt lên dân tộc, thì một buổi sáng mùa Xuân trong lành như thế này sẽ đẹp đẽ biết bao.
Khoảng gần mười giờ sáng, Thụy ra lệnh cả toán dừng lại nghỉ chân bên một cánh rừng thưa, sau bốn năm tiếng đồng hồ băng rừng vượt suối, nhưng vẫn bố trí nghiêm nhặt. Theo dõi trên bản đồ, và phối kiểm với anh em Viễn Thám, Thụy biết là anh còn cách mục tiêu không xa nữa. Có thể chạm súng với các đơn vị tiền đồn của địch bất cứ lúc nào.
Sau khi quan sát, thấy ở đây có vẻ tạm an toàn, anh cho lệnh các toán dùng cơm trưa.
Thụy liên lạc với những đơn vị yểm trợ, và biết là tất cả vẫn đang theo dõi từng bước đi của các anh.
-Tango yên tâm đi, ở nhà lúc nào cũng theo dõi bước chân mày, đã có một trung đội 155 sẵn sàng yểm trợ tối đa.Và xin được được một phi tuần trực thăng võ trang nữa đó…
Tiếng Thiếu Tá Minh Tiểu Đoàn Trưởng, vang lên khe khẽ qua ống liên hợp, khiến anh thêm vững tâm.
Mười một giờ, đoàn quân lại lặng lẽ lên đường, sau khi đã chôn dấu những vỏ lon đồ hộp, bịch nylon gạo xấy và xóa hết những vết tích trên cỏ.
Toán quân vừa vượt qua một trảng cỏ tranh rộng lớn, để đến một cánh rừng lồ ô rậm rạp.
Đoàn quân vẫn như một con rắn dài ngoằng, trườn đi nhẹ nhàng giữa những thân cây lồ ô to bằng bắp chân thẳng tắp, vươn cao lên trời xanh.
Bỗng mọi người chựng lại, Thụy hỏi Tùng, mang máy nội bộ :
-Chuyện gì vậy Tùng ?
-Dạ, anh em viễn thám mời thẩm quyền lên phía trước.
Thụy bước nhanh tới, A Kía và Tùng cũng vội vã nối gót theo.
Người trưởng toán Viễn Thám vừa chỉ vào những dấu chân còn mới, vừa thì thầm với Thụy :
-Thẩm quyền coi kìa, cỏ còn đang ngóc đầu lên, vậy là chúng nó mới đi qua đây thôi.Mà có lẽ đông lắm.
Anh gật đầu đồng ý với nhận xét của người lính Viễn Thám, vì thân cỏ bị đạp rạp xuống, tạo thành một vệt dài, khá rộng, chứng tỏ có nhiều bước chân dẫm lên.
Anh nhìn xuống bản đồ, so lại phương hướng trên cái địa bàn, để xác nhận lại một cách chính xác vị trí của mình.
-Mình đang ở rất gần với mục tiêu rồi…
-…Lày các đồng chí, chặt những cây thật to vào ấy nhé…khẩn trương nên, không đạt chỉ tiêu chiều lay về nại bị kiểm điểm đấy…
Chợt tiếng nói lồng lộng từ trên gió đưa xuống, rồi thì âm thanh của những nhát mã tấu phạt vào cây lồ ô nghe sắc ngọt vang lên rõ mồn một.
Thụy bước lui về phía sau, ra thủ hiệu cho tất cả sẵn sàng chiến đấu.
Nơi đây thật sự không phải là một chiến trường lý tưởng, vì những bụi lồ ô chẳng thể là vị trí ẩn nấp an toàn. Nhưng được cái, mình phát giác địch trước, và quyền quyết định nổ súng là ở phía mình.Tiên hạ thủ vi cường mà.
Hơn bốn mươi người lính nấp dọc theo con đường mòn mà bọn địch quân vừa đi qua sáng nay.
-Một, hai, ba đây Tango .Tất cả phải tuyệt đối im lặng, mục tiêu chúng ta là phía trước, bất khả kháng, mới đuợc nổ súng…
Tạch… tạch… tạch…
Anh chưa dứt câu nói thì tiếng súng M16 đã nổ ran trước mặt.
-Tango đây một gọi, tụi nó đi ngay vô gia đình tui..
-Chơi luôn…
Tiếng súng AK chống trả một cách rời rạc, vì hình như bọn chúng nghĩ nơi này là an toàn khu, nên có vẻ lơ là.
Thế là toán cán binh đi chặt cây về làm hầm, đều được đưa về chầu diêm vương.
Những tràng M16 vừa dứt thì hàng loạt tiếng depart của súng cối 61 ly, 82 ly, pha trộn với tiếng súng nhỏ, súng lớn, súng cộng đồng đủ loại, râm ran vang lên ngay sau lưng, tạo thành một bản hợp tấu kinh dị của thần chết.
Ầm… ầm… ầm…
Tạch… tạch… tạch…đùng …đùng… ầm
Cả một màn lưới lửa chụp xuống cánh rừng lồ ô.Thân cây đổ gẫy răng rắc, tiếng người la hét, rên rỉ vì trúng đạn, tiếng hô xung phong dậy đất.
-…Hàng sống chống chết, hàng sống chống chêt…”
-Một, hai, ba Tango gọi?
-Dạ một nghe Tango.
-Dạ hai…nghe rõ.
-Ba nghe thẩm quyền…
-Tất cả bám lấy vị trí, tụi nó chỉ hù thôi chứ không dám xung phong đâu. Pháo binh sẽ bắn yểm trợ liền.
Anh quay qua cầm máy liên lạc với Tiểu Đoàn, sau khi đã quan sát trái khói bắn điều chỉnh:
-Đại bàng đây Tango, phải một trăm mét, gần lại 50 chục mét, bắn, trả lời.
-Gần lại 50 chục mét thì sát mày quá đó Tango, rất nguy hiểm.
-Không sao đâu đại bàng, tụi tui zulu… bắn hết.
Qua hỏa lực của địch vừa phản công, anh đã xác định được, đó đúng là vị trí của bộ chỉ huy trung đoàn cộng quân. Chỉ cách anh chừng hai trăm thước.
Ầm… ầm… ầm…
Tiếng đạn 155 ly nổ vang dội, át hẳn những tiếng nổ đã rời rạc của các loại súng cá nhân, từ trong phòng tuyến địch.
-Đẹp lắm, bắn hết...
-Tango, ông núp xuống cũng điều chỉnh pháo được mà, đứng vậy nguy hiểm lắm…
Thụy chưa kịp làm theo lời khuyên của Thượng sĩ Tốt, toán phó, bỗng anh giật nảy mình lên một cái, và nghe buốt lịm cánh tay bên phải.Cơn đau truyền nhanh lên óc, cho biết là anh vừa lãnh một viên đạn của đối phương.
Một giòng máu tuôn nhanh, ướt đẫm tay áo trận.
-Chết mẹ, Tango áo vàng rồi ! ( Bị Thương )
Thụy đặt ngón trỏ của bàn tay trái lên môi, ra dấu cho Tốt im lặng, trong khi đó, Y tá Khiết đang loay hoay cắt tay áo của anh để băng bó vết thương. Anh thì thào với Thượng Sĩ Tốt:
-Đừng cho anh em biết gì cả…
Anh bốc máy nội bộ bằng tay trái:
-Một hai ba đây Tango, tất cả nghe lệnh, chúng ta từ từ zulu về đường cũ, để cho gà cồ và chuồn chuồn làm việc. Bắt đầu từ thằng ba, lên đường, nói các thẩm quyền giữ đội hình nghiêm chỉnh, bằng mọi cách đưa tất cả áo vàng, áo đỏ theo, nếu có…
Anh quay qua liên lạc với Tiểu Đoàn ;
-Đại bàng đây Tango, xin lỗi đại bàng, chắc không thể hoàn thành nhiệm vụ, vì tôi đã mặc áo vàng.
-Vậy thì rút đi. Có nặng không ?
-Dạ, không sao, xin đại bàng tiếp tục cho gà cồ gáy, sau khi chúng tôi zulu, sẽ kéo gần lại để tránh bị tụi nó truy kích…
-OK tao hiểu, sẽ đưa chuồn chuồn lên ngay.
Tiếng ù ù của những chiếc trực thăng võ trang đã rõ dần nơi phương trời xa, trong khi cả toán vừa bắn, vừa thối lui, về đường cũ.
Ầm… ầm …ầm…
Những loạt đạn rocket từ các trực thăng võ trang bắn xuống một cách hiệu quả, và chính xác, đã giúp cả toán rút lui an toàn.
Lễ và Linh hai chú lính sữa, đệ tử trung thành lúc nào cũng kè sát một bên Thụy, dìu bước anh đi qua những hố sâu, những con suối cạn…
Khi tiếng súng cá nhân của địch chỉ còn nghe rất mơ hồ từ đàng xa vọng lại.Và rồi mất hút hẳn.Thụy cho anh em tạm dừng chân để kiễm điểm quân số, và cũng để anh có cơ hội nghỉ ngơi một chút.
Chỉ có bốn người bị thương đều được đem theo và Thụy là năm.
Toán một của Trung sĩ nhất Hạnh còn tịch thu được hai khẩu AK 47 và một CKC.
Tiếng bắn phá của những chiếc trực thăng vẫn vần vũ trên không, khiến cả toán cảm thấy yên lòng hơn.
Tốt lên tiếng :
-Mình đi khoảng ba cây số nữa thì có một trảng tranh lớn, có thể làm bãi đáp được đó Tango.
Thụy nhìn vào bản đồ, ước lượng khoảng cách đến vị trí đóng quân của Tiểu Đoàn, nơi này có thể là trung điểm.
Tương đối an toàn rồi.
Máu vẫn thắm ướt ra ngoài lớp băng mà Khiết mới thay cho anh.Thụy liếm môi:
-Cho tôi xin ngụm nước.
-Tango đừng xuống nước nhiều quá, chảy máu nữa đó.
Anh gật đầu, cầm ống liên hợp, nói chuyện với Tiểu Đoàn.
-Khoảng chừng hơn một giờ nữa chúng tôi sẽ đến điểm H, để bốc mấy thằng em áo vàng.
-Tao đã đưa một râu (một đại đội) của thằng Chấn ra đó đón Tango. Mày liên lạc hàng ngang với nó đi.
-Cám ơn Đại bàng.
Hơn một tiếng đồng hồ sau, Thụy bắt tay được với đại đội bốn của Đại Úy Chấn, ngay tại bãi đáp.
Anh em gặp nhau, mừng mừng tủi tủi, vì khó có thể ngờ Thụy còn được an toàn trở về với ba chiến lợi phẩm.
Ngồi dựa lưng vào thành máy bay tải thương đang bốc lên cao, Thụy nghe lòng dâng lên một nỗi xúc động nghẹn ngào .
Những người bạn, những chiến hữu, những đồng đội của anh dưới kia nhỏ dần, nhỏ dần, và mờ nhạt trong sương chiều lãng đãng. Nhưng khí phách của họ, tinh thần huynh đệ chi binh của họ, sẽ không bao giờ có thể mờ phai trong anh .
Ánh nắng chiều Xuân chỉ còn thoi thóp, trên những ngọn cây đang vùn vụt lướt qua dưới thân máy bay.
Họ, những người chiến sĩ ấy vẫn âm thầm, lặng lẽ đón xuân nơi rừng sâu, núi thẳm, vẫn xả thân để tạo nên những chiến tích lẫy lừng, những chiến tích thấm máu đẫm của họ, vẫn cợt đùa với thần chết, để giữ yên bình cho mọi người. Và vẫn yêu đời với những lời lẽ tỏ tình hết sức ngây ngô như A Kía đã nói :
-…Nị hủ leng…Ngộ… ái… nị…lớ…

Wichita, KS -15 Năm ly xứ
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 4 guests