Tạp Ghi

thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Image

Saigon Quán Cà Phê Và Tuổi Lang Thang

Nguyễn Mạnh An Dân

Ai có thể trả lời được về số phận của những con người nhỏ nhoi trong nổi tan tác chung của cả một dân tộc!
Ly cà phê Sàigòn thân quen ngày nào

Anh em nào có ở Đại Học Xá Minh Mạng những năm 1966-67, đã từng lê la ngồi ngắm đất trời ở Ngã Sáu Chợ Lớn, chỗ quán cóc ngay góc đường Minh Mạng và Nguyễn Tri Phương, từng ít nhiều là thân chủ có ký sổ dài hạn với chú Tàu con phì lũ, xin nhận một lời nhắn, “hồi đổi đời mấy anh tứ tán muôn phương hết, ba bốn cuốn sổ đầy những con số em không lấy được đồng nào nhưng em không buồn. Nhớ lại những ngày vui cũ mà rầu thúi ruột. Ước gì có được không khí hồi đó, con người hồi đó. Mấy anh đi ra đi vào, hớn hở kể chuyện tán đào, rầu rĩ ôm gối thất tình, nồng nhiệt tính chuyện lấp biển dời sông, bàn tán tính đường trốn lính, cái gì cũng ồn ào bộc trực, thoải mái tự nhiên, không màu mè rào đón, không kiểu cách đóng trò gì cả, sống đã thiệt. Vui kiểu đó em bán cà phê cho mấy anh ký sổ hoài cũng được.”



Đầu năm 1980, giữa rừng già Bình Long tôi đã tình cờ gặp lại người chủ, người bạn nhỏ này. Tôi là tù cải tạo, bạn khổ sai kinh tế mới, cả hai đều thảm như nhau nhưng đều có chút rộn ràng nhịp thở khi nhắc lại những chuyện mới đó nhưng như đã lâu lắm rồi. Người bạn nhỏ đã nói với tôi những lời ấm áp, không nguyên văn thì cũng đúng ý như đã ghi ở trên và tôi muốn gởi những lời này đến các bạn như một kỷ niệm chung và tôi cũng muốn mượn dịp này để nói về cà phê Sài Gòn, ngày đó.

Bạn đã uống cà phê nhiều, bạn biết mà, muốn pha một ly cà phê tuyệt vời đâu có khó: cà phê sẽ loãng nước nhưng đậm mùi thơm, cà phê Mít đặc quánh mà vô vị, hãy chọn một tỷ lệ pha trộn thích hợp là đã đi được 70% đoạn đường rồi. Muốn kẹo thêm nữa hả? Muốn hưởng cái cảm giác chát chát, tê tê đầu lưởi phải không? Dễ mà, thêm vào chút xác cau khô là xong ngay. Bạn muốn có vị Rhum, thì Rhum. Bạn thích cái béo béo, thơm thơm của bơ, cứ bỏ chút Bretain vào.

Bạn hỏi tôi nước mắm nhĩ để làm gì à? Chà, khó quá đi, nói làm sao cho chính xác đây! Thì để cho nó đậm đà. Đậm làm sao? Tôi không biết, không tả được, mời bạn hãy thử và tự cảm lấy. Bạn đòi phải có tách sứ, thìa bạc. Bạn nói phải nghe nhạc tiền chiến, phải hút Capstan mới đã đời, thú vị phải không? Thì đó, bạn đã có đủ hết những gì bạn cần sao không tự pha ra mà uống, lại cứ đòi đi uống cà phê tiệm, dị hợm không?

Nói vậy chứ tôi biết, tôi không trách bạn đâu. Cà phê ngon chỉ mới được một nửa, nhưng chúng ta đâu chỉ cần uống cà phê, chúng ta còn ghiền “uống” con người cà phê. “Uống” không khí và cảnh sắc cà phê. “Uống” câu chuyện quanh bàn cà phê và nhiều thứ nữa. Vậy thì mời bạn đi với tôi, quanh quanh Sài Gòn làm vài ly chơi. Dĩ nhiên là tưởng tượng, cả bạn và tôi đều biết, đã xa rồi, biền biệt lắm rồi, ngày đó.

Tôi xin bắt đầu từ giữa thập niên 60, những năm đầu tôi sống ở Sài Gòn và cũng là giai đoạn đất nước thực sự có những trở mình to tát. Những cơn lốc kinh hồn. Những bùng vỡ vượt mọi giới hạn. Những xô đẩy, mời gọi đầy lôi cuốn và cũng nhiều cạm bẩy.

Niềm vui và nỗi hy vọng về một vận hội mới sau biến cố năm 1963 qua nhanh theo với sự yểu tử tất yếu của những người đã nhân danh một cuộc cách mạng, nhưng là thứ cách mạng nửa vời, có khả năng đả phá nhưng lại thiếu bản lãnh và tâm lực để xây dựng, kiến tạo; rồi chỉnh lý, tái chỉnh lý. Chính quyền quân nhân. Chính quyền dân sự. Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc ở Huế và các tỉnh miền Trung. Phong Trào Nhân Dân Tự Quyết ở Đà Nẵng. Phật Giáo đưa bàn thờ xuống đường. Thiên Chúa Giáo biểu dương lực lượng ở chỗ này chỗ khác.

Người Mỹ đổ bộ càng lúc càng đông, theo với nó là các Snack Bars, gái làm tiền và sự phá sản nghiêm trọng của nhiều giá trị luân lý và đạo đức. Chiến trường càng lúc càng khốc liệt, càng áp gần và đã trở thành một nỗi ám ảnh dai dẳng; một cơn ác mộng thường trực. Đủ thứ chiêu bài, đủ thứ lý thuyết mới mẻ và lôi cuốn được nhân danh, được nhắc đến…

Như vậy đó, miền Nam Việt Nam những năm giữa thập niên 60. Như vậy đó, tuổi trẻ Việt Nam lột xác: phải biết lớn ra, phải tự già đi trước tuổi của mình. Những “lưu bút ngày xanh” đành gấp lại. Những mơ mộng hoa bướm tự nó đã thành lỗi nhịp, vô duyên. Tiếng cười dường như ít đi, kém trong trẻo hồn nhiên. Khuôn mặt, dáng vẻ dường như tư lự, trầm lắng hơn và đầu óc không còn, cũng không thể vô tư nhởn nhơ được nữa.

Những điếu thuốc đầu tiên trong đời được đốt lên. Những ly cà phê đắng đầu tiên trong đời được nhấp vào và dù muốn hay không, tuổi trẻ đã thực sự bị chi phối, và phải thường xuyên đối diện với những bất hạnh của dân tộc mình. Những thảm kịch của thân phận mình và quán cà phê trở thành cái nơi chốn hẹn hò để dàn trải tâm tư, để trầm lắng suy gẫm. Có một chút bức thiết, thật lòng. Có một chút làm dáng, thời thượng. Thông cảm giùm đi, tập làm người lớn mà.

Những ngày mới vào thủ đô, tôi ở Đại Học Xá Minh Mạng. Đối với một thanh niên tỉnh lẻ mới mẻ và bỡ ngỡ, Sài Gòn lớn lắm, phồn vinh và náo nhiệt lắm. Trong suốt nhiều tuần lễ đầu tiên tôi đã dè dặc khi đi lại và lúc nào cũng lẩm nhẩm câu “thần chú” bạn bè mớm cho: Phan Thanh Giản đi xuống, Phan Đình Phùng đi lên và mườn tượng ra một “lá bùa” như một thứ kim chỉ nam khả dụng.

Hai con đường một chiều và ngược nhau như cái xương sống xuyên dọc trung tâm thành phố giúp định hướng, tạo dễ dàng cho việc di chuyển. Dĩ nhiên nếu tính từ đại học xá, Phan Thanh Gian được hiểu như bao gồm cả khúc Minh Mạng nối từ Ngã Bảy đến Ngã Sáu Chợ Lớn và Phan Đình Phùng phải cộng thêm khúc Lý Thái Tổ rẽ phải đến Ngã Bảy hay rẽ trái đến Trần Hoàng Quân để về Ngã Sáu.

Về sau, khi đã khá quen quen, lá bùa được vẽ lớn thêm ra: Từ Phan Thanh Giản , rẽ phải theo Lê Văn Duyệt sẽ đến phố chính Lê Lợi, nhà sách Khai Trí, chợ Bến Thành, rẽ trái lên Hòa Hưng, Bảy Hiền. Từ Phan Thanh Giản rẽ phải ở Hai Bà Trưng sẽ đến bến Bạch Đằng, rẽ trái sẽ qua cầu Kiệu, Ngã Tư Phú Nhận. Cũng từ Phan Thanh Giản rẽ trái ở Đinh Tiên Hoàng sẽ đến rạp Casino Dakao, Lăng Ông Bà Chiểu và hướng ngược lại là trường Văn Khoa. Cứ như thế, cái xe Gobel hai số cọc cạch, nổ bành bạch như máy xay lúa, trung thành như một người bạn thân thiết tha tôi đi khắp Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định.

Những ngày này tôi là khách thường trực của quán cà phê Thu Hương đường Hai Bà Trưng. Quán nằm ở một vị trí đẹp, chiếm ba lô đất ngó chéo qua phía trại hòm Tobia. Nơi đây có một căn phòng hẹp vừa đặc quầy thu tiền, vừa là chỗ ngồi cho những ai thích nghe nhạc với âm thanh lớn, phần còn lại là một sân gạch rộng, có mái che nhưng không ngăn vách, từ trong có thể nhìn rõ ra đường qua những song sắt nhỏ sơn xanh với một giàn hoa giấy phủ rợp. Ngồi đây có thể nghe được văng vẳng tiếng nhạc vọng ra từ bên trong. Cảm được chút riêng tư cách biệt, nhưng đồng thời cũng có thể nhận ra được sức sống bừng lên mỗi sáng, dáng vẻ mệt mỏi, u ám mỗi chiều đang lặng lờ chảy qua trên đường phía ngoài.

Chủ quán ở đây là một người đặc biệt: Khó chịu một cách dễ thương. Hình như với ông, bán cà phê chỉ như một cách tiêu khiển và pha cà phê là một nghệ thuật kỳ thú. Ông hãnh diện với tên tuổi của Thu Hương và muốn bảo vệ nó. Bạn là khách uống cà phê phải không? Xin cứ ngồi yên đó, việc của bạn là uống vậy thì đừng táy máy đụng vào làm hư cà phê của tôi.

Cà phê được bưng tới, ông chủ sẽ ngồi đâu đó quan sát và chờ. Yên tâm đi, đừng nôn nóng gì cả, bạn sẽ có cà phê ngon để uống mà. Ông chủ sẽ xuất hiện đúng lúc cạn phin, sẽ bỏ đường cho bạn, khuấy đều cho bạn và sẽ lịch sự “xin mời” khi mọi việc hoàn tất. Ly cà phê như vậy mới là cà phê Thu Hương. Đó là cung cách của Thu Hương, đặc điểm của Thu Hương. Nhiều người mới đến lần đầu không biết, cà phê bưng tới là tự lo liệu cho mình đều bị chỉnh ngay: Ông nôn nóng mở phin lỏng như vậy nước chảy ào ào còn gì là Thu Hương! Ông bỏ đường ngọt như ăn chè vậy còn gì là Thu Hương! Ông klhuấy cốp cốp kiểu đó cà phê sẽ chua lét là ông giết Thu Hương rồi! “Thằng cha” này rắc rối thật nhưng là sự rắc rối có thể hiểu được, thông cảm được miễn là cà phê ngon. Mà cà phê Thu Hương ngon thiệt, ngon lắm.

Trong lãnh vực kinh doanh quán cà phê, có người dùng âm thanh. Có người dùng ánh sáng và trang trí. Có người nhờ sự duyên dáng của tiếp viên. Có người dùng phẩm chất của cà phê để hấp dẫn khách. Ông chủ Thu Hương đã chọn cách cuối cùng, cách khó nhất và ông đã thành công.

Khách đến với Thu Hương là ai? Nhiều lắm, có thể họ từ bên trường Luật qua, từ dưới Văn Khoa, Dược, Nông Lâm Súc lên. Từ Trung Tâm Văn Hóa Pháp, Hội Việt Mỹ lại. Từ Huỳnh Thị Ngà, Nguyễn Công Trứ, Vương Gia Cần, Võ Trường Toản, Thư Viện Quốc Gia tới, quanh quanh khu Tân Định, Dakao cả mà. Cũng có người từ xa hẹn nhau đến nhưng dù từ đâu họ đều có điểm giống nhau là tất cả đều trẻ và đều có vẻ “chữ nghĩa”lắm, “ông” nào “bà” nào cũng tha tập cours quằn tay, cọng với nào là “Hố Thẳm Tư Tưởng” của Phạm Công Thiện, Cho Cây Rừng Còn Xanh Lâu của Nguyễn Ngọc Lan, Nói Với Tuổi 20 của Nhất Hạnh, v.v

Ở Thu Hương dĩ nhiên là có thể “uống ly chanh đường, uống môi em ngọt” hay nhiều thứ giải khát khác. Tuy nhiên, phần lớn là nhâm nhi ly cà phê. Thu Hương nổi tiếng như vậy. Ông chủ điệu như vậy, dù rành hay không cũng phải ráng tỏ ra sành điệu với người ta chứ! Lại còn phải cố bậm môi kéo Basto xanh cho có vẻ phong trần. Cứ như thế mà trầm ngâm suy tư, rì rào tâm sự; đốt bao tử, đốt phổi và đốt thời gian. Nghĩ lại thật phí phạm và đáng tiếc nhưng hồi đó thì không thấy như thế. Phải như vậy chứ sao! Thời chiến mà, buổi nhiễu nhương mà!

Ngày đó tôi thường ngồi Thu Hương với VCT, một người bạn đang học năm cuối ở trường Y Khoa, anh là người rất mê giáo sư Trần Ngọc Ninh, coi ông là một nghệ sĩ tài hoa, một tay dao bậc thầy trong ngành giải phẩu và vẫn thường say sưa kể việc thầy Ninh có thể cầm lưỡi dao lam khẻ vào tập giấy quấn thuốc và cho biết trước là sẽ rạch đúng mấy tờ. Bạn tôi đúng là người trời sinh ra để làm thầy thuốc, anh muốn xoa dịu mọi khổ đau và không chịu được những điều tàn nhẫn, thô bạo.

Hồi sinh viên LKSN té lầu chết ở trường Y Khoa, báo đăng nói là tai nạn nhưng không biết từ đâu bạn tôi khẳng định đây là một vụ ám sát, thanh toán lẫn nhau và anh đau đớn, tức giận lắm. Người với người, chả lẽ không còn cách nào để có thể đối với nhau phải chăng hơn hay sao? Câu hỏi này theo anh rất lâu. Anh ra trường, làm y sĩ tiền tuyến, ở lại với thương bệnh binh ngày thành phố di tản và vào tù. Đến lúc này anh đã có câu trả lời cho điều ám ảnh nhiều năm trước: Không phải không có cách mà là dường như người ta không cần và cũng không muốn phải chăng với nhau. Đau thật, nỗi đau quặn thắt tim gan.

Bạn thường ăn phở gà Hiền Vương, phở Pasteur. Bạn thường đi qua đi lại liếc liếc mấy bộ đồ cưới đẹp ở nhà may Thiết Lập, vậy bạn có biết Cà Phê Hồng ở đâu không? Thì đó chứ đâu, gần nhà may Thiết Lập, cách vài căn về phía đường Nguyễn Đình Chiểu, ngó chéo qua mấy cây cổ thụ ở bờ rào Trung Tâm Thực Nghiệm Y Khoa (Viện Pasteur). Tôi phải hỏi vì tôi biết có thể bạn không để ý. Quán nhỏ xíu hà, với lại cái tên Hồng không biết do ai đặt, gọi riết thành quen chứ thực sự dường như quán không có bản hiệu, và tiền diện của nó trông ủ ê cũ kỹ lắm chứ không sơn phết hoa hòe, đèn treo hoa kết gì cả. Từ ngoài nhìn vào, quán như mọi ngôi nhà bình thường khác, với một cái cữa sổ lúc nào cũng đóng và một cánh cửa ra vào nhỏ, loại sắt cuộn kéo qua kéo lại.

Quán hẹp và sâu, với một cái quầy cong cong, đánh verni màu vàng sậm, trên mặt có để một ngọn đèn ngủ chân thấp, với cái chụp to có vẽ hình hai thiếu nữ đội nón lá, một bình hoa tươi, một con thỏ nhồi bông và một cái cắm viết bằng thủy tinh màu tím than. Phía sau, lúc nào cũng thấp thoáng một mái tóc dài, đen tuyền, óng ả, vừa như lãng mạng phô bày vừa như thẹn thùng, che dấu.

Cà Phê Hồng, về ngoại dáng, thực ra không có gì đáng nói ngoài cái vẻ xuề xòa, bình dị, tạo cảm giác ấm cúng, thân tình và gần gũi. Tuy nhiên, nếu ngồi lâu ở đó bạn sẽ cảm được, sẽ nhận ra những nét rất riêng, rất đặc biệt khiến bạn sẽ ghiền đến và thích trở lại. Hồi đó nhạc Trịnh Công Sơn, đặc biệt là loại nhạc “mệt mỏi” cở như “Đại Bác Đêm Đêm…” hay “Đàn Bò Vào Thành Phố…” đã trở thành một cái “mốt,” một cơn dịch truyền lan khắp nơi, đậu lại trên môi mọi người, đọng lại trong lòng mỗi người. Cà Phê Hồng đã tận dụng tối đa, nói rõ ra là chỉ hát loại nhạc này và những người khách đến quán, những thanh niên xốc xếch một chút, “bụi” một chút, đã vừa uống cà phê vừa uống cái rã rời trong giọng hát của Khánh Ly.

Đến Hồng không chỉ có nghe nhạc về quê hương, chiến tranh và thân phận. Ở đây còn có thể đọc về những điều đó. Không hiểu do sáng kiến của các cô chủ, muốn tạo cho quán một không khí văn nghệ, một bộ mặt trí thức hay do tình thân và sự quen biết với các tác giả mà ở Cà Phê Hồng lâu lâu lại có giới thiệu và bày bán các sách mới xuất bản, phần lớn là của hai nhà Trình Bày và Thái Độ và của các tác giả được coi là dấn thân, tiến bộ.

Hồi Nguyễn Đăng Trừng chuẩn bị ứng cử vào Tổng Hội Sinh Viên, ban tham mưu của anh ta thường gặp nhau ở Cà Phê Hồng và khi Trừng thành chủ tịch, Đặng Tấn Tới phụ trách tờ Nội San Sinh Viên, mặc dù lúc đó đã có trụ sở ở số 4 Duy Tân, rất nhiều anh em cũng vẫn thường kéo nhau đến Cà Phê Hồng. Những ai hồi đó nhỉ? Đông lắm và vui lắm, vui và có ý nghĩa vì dường như tất cả đều muốn làm một điều gì. Tôi nói dường như bởi vì, nhiều năm sau thực tế đã chứng minh là không phải chỉ có những người đến với phong trào sinh viên vì nhiệt huyết và lý tưởng, muốn một miền Nam tốt hơn, muốn bảo vệ hữu hiệu và xây dựng đất nước hoàn hảo hơn mà còn một số khác, dù không nhiều, đến với chủ tâm lợi dụng, coi phong trào như một cơ hội để phục vụ cho những ý đồ đen tối mà họ đang theo đuổi.

Say này, khi đã đắc thời, người Cộng Sản vẫn thường hãnh diện nhắc đến phong trào sinh viên, coi đó như là sản phẩm của họ. Ai cũng biết là không phải như vậy. Thật tội nghiệp cho những người cứ phải giả vờ như không biết. Cứ phải ra rả như cái máy lặp đi lặp lại những điều mà chính họ cũng biết là không có thật.

Tôi đã đi quá xa rồi phải không? Xin lỗi, cho tôi được mượn cơ hội này để nói về tuổi trẻ của chúng ta một chút, tôi đang trở lại với Cà Phê Hồng đây. Hồng là ai? Tôi không biết, quán có ba cô chủ, ba chị em. Người lớn nhất trên hai mươi và người nhỏ nhất mười lăm, mười sáu gì đó.

Nói thật lòng, cả ba cô đều chung chung, không khuynh quốc khuynh thành gì nhưng tất cả cùng có những đặc điểm rất dễ làm xốn xan lòng người: Cả ba đều có mái tóc rất dài, bàn tay rất đẹp và đều ít nói, ít cười. Cái kiểu ít nói ít cười làm chết người ta. Còn cái dáng đi nữa, bạn còn nhớ không? Làm ơn nhắc giùm để tôi tả cho chính xác đi, khó quá.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có những lời hát khó giải thích nhưng dễ cảm nhận như “vết lăn, vết lăn trầm” hay “vết chim di” gì đó có lẽ có thể mượn để hình dung ra dáng đi của mấy cô chủ Cà Phê Hồng. Nó nhẹ lắm, êm ái thước tha lắm và cũng lặng lờ khép kín lắm. Chính cái vẻ lặng lờ vừa như nhu lệ thẹn thùng, vừa như kênh kiệu kêu sa, vừa lãng đãng liêu trai đó đã làm khổ nhiều trái tim trai trẻ lắm, rất nhiều.

Giữa những năm 80, sau nhiều năm bầm dập ở nhiều trại giam khác nhau, tôi về lại Sài Gòn và có nhiều lần đi qua đi lại ở đường Pasteur. Cà Phê Hồng không còn, dãy phố nhỏ buồn thiu, im lìm và trống vắng như nét ảm đạm chung của toàn thành phố một thời rộn rã của chúng ta. Đối diện nơi quán cũ, gần cuối bờ thành viện Pasteur là một bãi rác khổng lồ, ruồi nhặn đen gật và mùi hôi thối nồng nặc, trùm tỏa. Ở đó, hàng trăm ông lão bà cụ. Hàng trăm trẻ em trai gái tranh nhau giành giật, đào móc từng chút sắt vụn, từng mảnh nhỏ nylon.

Tôi đã thường đứng lại rất lâu, nhìn cảnh não lòng này và tự hỏi: Những người đã có thời ngồi đây mơ ước và hy vọng giờ đâu cả rồi? Anh em ta có bao giờ tự thấy là dường như mình đã đắc tội, đã phụ lòng, đã không làm hết, đã không cố gắng đủ để bảo vệ cho những gì cần bảo vệ, giữ gìn hay không? Và những người bên kia, có bao giờ nghĩ lại và tự hỏi họ đã nổ lực để đạt đến điều gì? có xứng đáng cà cần thiết không? Còn chị em cô Hồng: những nhỏ nhẹ tiểu thư, những thon thả tay ngà, những uyển chuyển “chim di” giờ mờ mịt phương nào? Ai có thể trả lời được về số phận của những con người nhỏ nhoi trong nổi tan tác chung của cả một dân tộc!

Viện Đại Học Vạn Hạnh mở cữa muộn màng nhưng ngay từ những năm đầu tiên nó đã thừa hưởng được những thuận lợi to lớn về tâm lý: Hào quang của phong trào Phật giáo đấu tranh từ nhiều năm dồn lại, cùng với những tên tuổi chính trị Trí Quang, Thiện Minh, Huyền Quang, Hộ Giác… những cổ thụ văn hóa Minh Châu, Mãn Giác, Tuệ Sĩ, Trí Siêu, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Tôn Thất Thiện… đã giúp cho Đại Học Vạn Hạnh được nhìn vừa như một cơ sở giáo dục khả tín vừa như một tập hợp của những thành phần trẻ tuổi ý thức và dấn thân nhất.
Image

Ở Sài Gòn, ngoài viện Đại Học Vạn Hạnh và các trường Bồ Đề, Tổng Vụ Giáo Dục và Thanh Niên thuộc Giáo Hội Phật Giáo còn nhiều cơ sở trực thuộc khác như cư xá Quảng Đức ở đường Công Lý, trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội ở chùa Ấn Quang. Nói chung là dân Vạn Hạnh có nhiều chỗ để lui tới, để “dụng võ” lắm. Tuy nhiên, dường như “tổng đàn” của Vạn Hạnh không nằm ở những nơi chốn “thâm nghiêm” này, nó đặt tại một tiện cà phê: Quán Nắng Mới ở dốc cầu, ngó chéo về phía chợ Trương Minh Giảng.

Quán Nắng Mới có nhiều ưu thế để trở thành đất nhà của dân Vạn Hạnh, trước nhất vì gần gũi, kế đến là khung cảnh đẹp, nhạc chọn lọc và cuối cùng, có lẽ quan trọng nhất là sự thấp thoáng của những bóng hồng, có vẻ tha thước, có vẻ chữ nghĩa. Chừng đó là quá đủ, quá đạt để phe ta tụ lại: Các anh chị em thuộc khối Văn Thể Mỹ của thầy Phạm Thế Mỹ tấp vào nói chuyện văn nghệ. Nhóm làm thơ trẻ Nguyễn Lương Vỵ, Võ Chân Cửu lúc đó đang lên và đang chiếm đều đặng nhiều cột thơ trên báo Khởi Hành, ngồi đồng từ sáng đến tối để… làm thơ. Những “chuyên viên xuống đường trong sáng” chụm đầu lại để bàn kế hoạch. Những “chuyên viên lợi dụng xuống đường” cũng chụm đầu lại để bàn quỷ kế và đông hơn cả, ấm áp hơn cả là những nhóm hai người, một tóc dài, một tóc ngắn chờ vào lớp, chờ tan trường và chờ nhau ở Nắng Mới.

Đại Học Vạn Hạnh có một phân khoa mà bên Văn khoa không có: Phân khoa báo chí. Vạn hạnh còn có một lợi thế như là một sự ưu đãi đặc biệt vì nhu cầu giáo dục là phân khoa sư phạm thi tuyển và được tăng một tuổi theo luật động viên. Vì lẽ đó anh em đến với Vạn Hạnh đông lắm. Không khí ở Vạn Hạnh hào hứng và sôi nổi lắm. Mỗi lần có đợt tranh đấu, xuống đường, ngày Vạn Hạnh chạo rạo, đêm Quảng Đức không ngủ, sáng Nắng Mới không có chỗ ngồi. Vạn Hạnh như một lò lửa, một điểm nóng, một trung tâm. Tiếc thay đàng sau những nhiệt tình trong sáng, những lý tưởng vô cầu là những bóng đen rình rập, những nanh vuốt hờm sẵn.

Hình như Nắng Mới đã sống với Vạn Hạnh, sống theo Vạn Hạnh cho đến ngày cuối cùng. Nó chứng kiến cảnh Nguyễn Tổng cởi áo thầy tu, đi tiếp thu một trường Trung học. Nguyễn Lương Vỵ bỏ bộ mặt hiền thi sĩ đóng vai mặt lạnh ở phòng giáo dục Phú Nhận. Võ Như Lanh xông xáo từ Thành Đoàn qua báo Tuổi Trẻ. Trần Bá Phương làm chúa một trại giam, gọi đẹp đẽ là hiệu trưởng trường giáo dục lao động và còn nhiều lắm, kẻ thù mai phục và bạn bè bạc bẽo trở cờ. Tất cả thành một bầy kên kên nhởn nhơ trên nỗi khổ của anh em, nỗi đau của cả dân tộc.

Ngày tôi về lại Sài Gòn sau nhiều năm phải xa, cà phê Nắng Mới không còn. Đại học Vạn Hạnh biến thành một cư xá sinh viên, áo thun quần lót treo la liệt từ trên xuống dưới, quang cảnh vừa đìu hiu vừa bát nháo nhìn thấy mà đứt ruột. Nghe nói núi sách của thư viện bị lấy hết, đốt sạch. Thầy Minh Châu dời lên một Phật học viện nhỏ trên đường Võ Di Nguy gần Trung Tâm Tiếp Huyết. Thầy Quảng Độ bị quảng thúc đâu đó tuốt ngoài Bắc. Thi sĩ, thầy Bùi Giáng lang thang ngạo đời ở đầu phố cuối chợ. Không lâu sau đó Đại Đức Tuệ Sĩ, Trí Siêu lần lược bị bắt. Vạn Hạnh không còn gì, thật sự không còn gì. Những con người cũ tứ tán muôn phương. Cái nơi chốn đầy sức sống và niềm tin ngày nào giờ tiêu điều buồn bã như giòng kinh nước đen uể oải dưới chân cầu Trương Minh Giảng.


Mấy năm trước đây tôi có được đọc một bài báo, nội dung của nó cũng thường thường không có gì đặc biệt lắm. Tuy nhiên bài báo có nhắc đến một chi tiếc làm tôi ngẩn ngơ nhiều ngày. Tác giả đã nói về một quán cà phê thân quen: Quán chị Chi ở Dakao. Thật ra đây không phải là quán cà phê mà là quán trà, mà thật ra có lẽ cũng không thể gọi là quán trà mà chỉ có thể nói là chỗ uống trà ở nhà chị Chi mới hoàn toàn đúng.

Bạn hãy tưởng tượng giùm tôi cái khu gia cư xưa cũ, rất yên tĩnh và rất dễ thương, nằm phía sau rạp hát Văn Hoa Dakao, ở đó có những con đường rất nhỏ, những ngôi nhà mái ngói phủ đầy rêu xanh, những hàng bông giấy che kín vỉa hè. Ở đó không có cái ồn ào náo nhiệt như ngoài Trần Quang Khải, khúc đổ về Tân Định, cũng không có cái tập nập mắc cưởi của đoạn Lê Văn Duyệt hướng về Lăng Ông. Nó trầm lắng cô liêu và im ả tách biệt lắm. Nhà nào cũng nhỏ, cất cao hơn mặt đường mấy bực tam cấp xi măng, mở cữa ra là có thể nghe người bên trái nói, thấy người bên phải cười và có cảm tưởng như có thể đưa tay ra bắt được với người đối diện bên kia đường.

Quán chị Chi ở một trong những ngôi nhà này. Làm sao để nhận ra? Không biết, tôi đã nói là không phải quán xá gì cả mà, chỉ là tới nhà bà chị uống trà chơi vậy thôi và đã là nhà bà chị thì phải tự biết chớ, cần gì hỏi. Phòng khách, được gọi là quán, chị Chi nhỏ lắm, chắc độ chín mười thước vuông gì đó, chỉ đủ chỗ để đặc ba bốn chiếc bàn nhỏ. Nhà không có nhạc, không trưng bày trang trí gì cả ngoại trừ một bức tranh độc nhất treo trên vách, bức tranh đen trắng, cỡ khổ tạp chí, có lẽ được cắt ra từ một tờ báo Pháp. Tranh chụp để thấy một bàn tay giắt một em bé trai kháu khỉnh, vai đeo cặp sách, miệng phụng phịu làm nũng, hai mắt mở to nhưng nước mắt đang chảy dài theo má, phía dưới có hàng chữ nhỏ: “Hôm qua con đã đi học rồi mà.”

Giang sơn của chị Chi chỉ có vậy và chị mở “tiệm.” Khách đến với chị Chi không phải coi bản hiệu mà vào, cũng không phải nghe quảng cáo trên đài địa phương hay đọc giới thiệu trên báo chợ báo bán gì cả, mà hoàn toàn do thân hữu chuyền miệng cho nhau để đến, nhiều lần thành quen, từ quen hóa thân và quyến luyến trở lại. Chị Chi có bán cà phê nhưng tuyệt chiêu của chị là trà. Loại trà mạn sen, nước xanh, vị chác nhưng có hậu ngọt và mùi thơm nức mũi. Trà được pha chế công phu trong những chiếc ấm gan gà nhỏ nhắn, xinh xinh. Ấm màu vàng đất, thân tròn đều, láng mịn, vòi và quai mảnh mai, cân đối. Mỗi bộ ấm có kèm theo những chiếc tách cùng màu, to bằng ngón tay cái của một người mập, vừa đủ cho vài hốp nước nhỏ.

Ấm có ba loại, được gọi tên ra vẻ “trà đạo” lắm: độc ẩm, song ẩm và quần ẩm nhưng hồi đó chúng tôi thường “diễn nôm” theo kiểu “tiếng Việt trong sáng” thành ấm chiếc, ấm đôi và ấm bư. Trà được uống kèm với bánh đậu xanh, loại bánh đặc biệt của chị Chi, nhỏ, màu vàng óng và mùi thơm vô cùng. Nhắp một ngụm trà, khẽ một tí bánh, cà kê đủ chuyện trên trời dưới đất trông cũng có vẻ phong lưu nhàn tản và thanh cao thoát tục lắm.

Đến với chị Chi có cái thú vị là được hưởng một không khí thân mật, thoải mái như đang ngồi trong nhà của mình, điều thích nữa là không bao giờ phải bận tâm đến chuyện tiền bạc gì cả, muốn đến lúc nào cứ việc đến, không có tiền thì chỉ cần ngồi cười cười, chị Chi sẽ nói giùm cho bạn điều bạn khó nói, “Cuối tháng chưa lãnh măng đa phải không? Uống gì nói chị lấy.” Chưa hết đâu, khi đã thân, đã thành “bạn của chị Chi,” hai lần mỗi năm vào khoảng trước Giáng Sinh và hăm ba ông táo về trời bạn sẽ được chị Chi kêu “đến chị chơi.” Đến chị chơi có nghĩa là đến uống trà mà không phải trả tiền và nếu gặp lúc chị Chi vui và khoẻ, “chơi” còn có nghĩa là có bánh bèo tôm chấy hay bánh hỏi thịt nướng kèm thêm nữa.

Khách của chị Chi không đông, giá nước ở chị Chi không đắt vì vậy chắc chắn chị Chi không sống bằng “cửa tiệm,” chị bán cho vui, bán mà như kêu anh em góp chút tiền cho chị để chị nấu giùm chút nước uống cho vui. Mà quả tình ở chỗ chị Chi vui thật, vui vì những đậm đà tình nghĩa.

Hồi đó chị Chi đã khá lớn tuổi, bây giờ sợ chị đã lìa xa chúng ta hoặc nếu không thì cũng không còn đủ sức để nấu nước giùm cho ai được nữa. Quán chị Chi chắc không còn nhưng dù sao cũng xin cảm ơn chị và xin đại diện cho những anh chị em đã từng ngồi quán chị Chi bày tỏ lòng tiếc nhớ đến chị và đến những ngày khó quên cũ. Tôi nghĩ anh chị em cũng không hẹp lòng gì mà không cho tôi nói lời đại diện này. Cuộc đời chúng ta đẹp vì những niềm vui nho nhỏ không tên. Sài Gòn của chúng ta đáng nhớ vì những dễ thương nho nhỏ không tên. Chị Chi, chị đã cho chúng tôi những niềm vui ấy. Chị đã góp cho Sài Gòn một phần của cái dễ thương ấy. Cảm ơn chị.

Những năm cuối thập niên 60 Sài Gòn có mở thêm nhiều quán cà phê mới, những quán sau này thường được trang hoàng công phu hơn, có hệ thống âm thanh tối tân hơn và nhất là quán nào cũng chọn một cái tên rất đẹp, phần lớn là dựa theo tên những bản nhạc nổi tiếng: Cà Phê Hạ Trắng, Lệ Đá, Diễm Xưa, Hương Xưa, Hoàng Thị, Biển Nhớ, Hoài Cảm, Da Vàng… Tuy nhiên, ở một con đường nhỏ, hình như là Đào Duy Từ, gần Sân Vận Động Cộng Hòa có một quán cà phê không theo khuôn mẫu này, nó mang một cái tên rất lạ: Quán Đa La. Đa La là Đà Lạt, quán của chị em cô sinh viên Chính Trị Kinh Doanh, có lẽ vừa từ giả thác Cam Ly, Hồ Than Thở để về Sài Gòn học năm cuối tại nhà sách Xuân Thu hay sao đó, mở ra.

Trường kinh doanh quả là khéo đào tạo ra những môn sinh giỏi kinh doanh: Tin mấy cô sinh viên mở quán thật tình là không được chính thức loan báo ở đâu cả. Tuy nhiên, cứ úp úp mở mở như vậy mà tốt, nó được phóng lớn, lang xa, tạo ấn tượng mạnh và quán được chờ đón với những trân trọng đặc biệt, những náo nức đặc biệt. Những cô chủ chắc có máu văn nghệ, đã cố gắng mang cái hơi hướng của núi rừng Đà Lạt về Sài Gòn: Những giò lan, những giỏ gùi sơn nữ, những cung tên chiến sĩ đã tạo cho quán một dáng vẻ ngồ ngộ, dễ thương; rồi những đôn ghế, những thớt bàn được cưa từ những bi cây cổ thụ u nần, mang vẻ rừng núi, cổ sơ đã giúp cho Đa La mang sắc thái rất… Đa La.

Ngày khai trương, Đa La đã mời được Linh Mục Viện Trưởng Viện Đại Học Đà Lạt đến dự và đã chuẩn bị một chương trình văn nghệ hết sức rôm rả với những bản nhạc “nhức nhối” của Lê Uyên Phương, Nguyễn Trung Cang, Lê Hữu Hà… Chừng đó là đủ chết người ta rồi. Dân Đại Học Xá kéo qua, dưới Sư Phạm, Khoa Học lên, Y Khoa. Phú Thọ xuống. Cả Petrus Ký, Chu Văn An nữa là đủ bộ, quanh quanh khu Ngã Sáu chấm Đa La và dồn tới.

Những ngày đó Đa La đông vui lắm, nó trở thành một chốn tụ tập hết sức văn nghệ. Nó đã chứng kiến sự nở hoa của nhiều mối tình và cũng chia xẻ sự héo tàn của nhiều mối tình khác. Nó có thể tiếp tục buồn vui với những người bạn trẻ như thế nếu như đất nước không có những đột biến to tát: Biến cố Tết Mậu Thân với cảnh nhà cháy người chết ngay tại thủ đô Sài Gòn. Rồi tổng công kích đợt hai. Rồi tổng động viên lần thứ nhất năm 1968. Quân sự học đường. Tổng động viên lần thứ hai năm 1972. Tất cả những điều đó đã làm thay đổi rất nhiều nhịp sống chung và tác động sâu xa đến suy nghĩ và hành động của từng con người.

Đa La vắng dần những người khách cũ, lưa thưa có thêm những người mới với dáng vẻ ủ dột trầm ngâm hơn, lác đác những bộ đồ vàng quân sự học đường, những bộ đồ phép Thủ Đức, những bộ đồ lính thứ thiệt của nhiều quân binh chủng vội đến, vội đi. Đa La lần lược nhận được tin tức về nhiều người bạn cũ không bao giờ còn trở về. Đa La tiếp tục có thêm nhiều buổi cà phê cuối cùng để tiễn những người đến lược ra đi. Đa La không vui và những người bạn của Đa La cũng không vui bởi vì cả đất nước không vui, cả dân tộc đang muộn phiền.

Đa La còn đến lúc nào? Đóng cữa bao giờ tôi không biết, có điều là đã có thời Đa La giống như một tri kỷ của nhiều người, nó cũng buồn, cũng vui, cũng hy vọng, cũng rã rời, cũng phấn chấn, cũng mệt mỏi, cũng khóc, cũng cười, cũng muốn ngoan ngoãn xây dựng, cũng thích tung trời phá phách, cũng tỉnh, cũng điên, nói chung là nó chung chịu với bạn bè những tháng ngày nhiều chuyện, dễ thương lắm và đáng nhớ lắm, một chút Sài Gòn.

Hồi đã vào Thủ Đức tôi còn rất nhiều dịp để ngồi cà phê Hân, đường Đinh Tiên Hoàng. Thật ra phải nói tôi bị bắt buộc phải ngồi ở đó vì thời gian trong quân trường tôi thuộc loại con bà phước, gia đình ở xa, người yêu thì mặc dù đã quen từ thời còn ở tỉnh nhỏ quê nghèo nhưng cũng vẫn chưa qua được giai đoạn “mặt ngoài còn e,” cuối cùng tôi chỉ còn bạn bè. Hồi đó mỗi lần đi phép, xe quân trường sẽ thả xuống và đón về ở khu Mạc Đỉnh Chi, gần Hội Việt Mỹ. Tuy nhiên dạo đó tình hình sôi động lắm, quân trường lúc cắm trại, lúc xả phép, không chắc lúc nào có thể về được vì vậy tôi chỉ có thể nhắn chung chung là “đón tao ở Hân,” phòng hờ có trục trặc gì thì bạn bè kể như đi uống cà phê chơi với nhau, đỡ sốt ruột. Tôi thật sự vui mừng và cảm động, chưa bao giờ tôi đến Hân mà không có người chờ, cũng chưa bao giờ tôi chờ ở Hân mà không có người đến. Bạn bè! Biết nói sao cho đủ cái nghĩa đặc biệt của hai chữ ấy.

Hân là quán cà phê thuộc loại sang trọng, khách phần lớn ở lớp trung niên và đa số thuộc thành phần trung lưu, trí thức. Bàn ghế ở đây đều cao, tạo cho khách một tư thế ngồi ngay ngắn, nghiêm chỉnh và bàn nào cũng có đặt sẵn những tạp chí Pháp ngữ số phát hành mới nhất. Câu chuyện ở Hân chắc là quan trọng lắm, lớn lắm. Nhìn cái cách người ta ăn mặc. Trông cái vẻ người ta thể hiện là biết ngay chứ gì. Có lẽ cả thời sự chính trị, kinh tế tài chánh, văn chương, triết học đều có cả ở đây. Một chỗ như vậy tốt lắm, đáng trân trọng lắm chứ. Tuy nhiên, dường như có một chút gì rất xa, rất lạ với một người lính.

Thật tình tôi chỉ là một người lính bất đắc dĩ, lệnh tổng động viên giới hạn tuổi ở đại học, ông tướng Đạm không ký giấy hoãn dịch nữa thì trình diện. Tôi rời Sài Gòn cũng chưa được bao lâu, ở Thủ Đức thì cũng chỉ mới là lính tập sự, lính sữa. Đđã có tối nào nhìn toán tiền đồn lầm lũi đi vào đất địch để phục kích, để lấy tin đâu mà hiểu được nỗi cô đơn. Đã có đêm nào trùm poncho ghìm súng ngồi dưới mưa giữa vòng vây quân địch đâu mà biết được cái cảm giác trống vắng, khiếp hải. Đã bao giờ ôm thân thể thủng nát của một đồng đội rạp người dưới làn đạn thù, nhìn máu chảy cho đến hết đâu mà hiểu được nỗi bi uất, tuyệt vọng. Vậy mà tôi đã tự nhân danh là một người lính để cảm thấy xa lạ, lạc lõng với Hân, với Sài Gon. Kỳ cục không?

Cảm giác của tôi lúc ấy lạ lắm, khó nói lắm. Nhưng tôi không có thì giờ để suy nghĩ, để phân tích điều gì, tôi đang đi phép mà, cho tôi nghỉ một chút, chơi một chút dù cả lúc chơi, lúc nghỉ tôi đều bị cái cảm giác lạ lạ, khó nói kia ám ảnh. Sau này, Nhà văn Thế Uyên có viết một quyển tạp bút tựa là “Mười Ngày Phép Của Một Người Lính.” Tôi đọc và thấy nhẹ nhàn thơ thới lắm. Đại khái tác giả đã nhân danh một người lính mà đặc vấn đề với những con người, những cách sống, nói chung là với một hậu phương mà ông cho là bất xứng. Tôi nhẹ nhõm vì ông Thế Uyên đã nói giùm tôi cái mà tôi gọi là cảm giác khó nói ở trên.

(Đoạn sau đây lẽ ra không có trong bài viết này, nhưng tôi vừa nhắc đến nhà văn Thế Uyên với một cách nói được hiểu như là một sự mến mộ vì vậy nên tôi xin phép nói thêm vài đều trong cái ngoặc đóng này. Đúng, có một thời gian rất dài tôi mến mộ ông Thế Uyên. Tôi mê Thế Uyên từ truyện ngắn “Những Kẻ Thuộc Bài.” Đại khái chuyện muốn nói là mỗi chúng ta đều học được từ sách vở, học đường, tôn giáo và nhiều nguồn giáo dục khác những điều tốt đẹp. Thật đáng buồn, thực tế không giống như những gì ta được dạy. Trong cuộc đời có quá nhiều những kẻ không thuộc bài, có quá nhiều những ngụy quân tử, nói rất đúng bài vở nhưng chính họ lại làm khác và Thế Uyên nhân danh một người thuộc bài, phê phán về điều đó. Tôi đã từng có lúc bạo gan nghĩ là mình cũng thuộc loại thuộc bài nên hết sức thông cảm và chia xẻ nỗi buồi của Thế Uyên, ủng hộ Thế Uyên. Về sau Thế Uyên lập nhà xuất bản Thái Độ, lại đúng nữa, xã hội của chúng ta quả là có nhiều vấn đề cần tỏ thái độ và tôi lại tiếp tục ủng hộ Thế Uyên dù tôi chưa bao giờ gặp gỡ hay quen biết gì với ông. Tôi giữ một tình cảm rất đặc biệt về Thế Uyên cho đến năm 1979. Hồi đó các trại tù đã được thăm nuôi và tôi được bạn bè lén lút gởi cho tờ báo Đứng Dậy hay Đối Diện gì đó của nhóm Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan. Trong tờ báo này có một bài viết của Thế Uyên, anh ta kể về một cái Tết ở trại giam Kà Tum. Nhà văn lớn có khác, tả tết thì đúng là tết, có thịt cá bánh trái ê hề, có cà phê thuốc lá vui vẻ, có giọng nói tiếng cười “hồ hỡi phấn khởi,” có những khuôn mặt rạng rỡ tin yêu, có các cán bộ khoan hòa nhân ái như những nhà tu, đặc biệt là cảm tưởng sung sướng xúc động của tác giả khi được đứng nghiêm chào lá cờ máu trong ngày đầu năm. Tôi đọc bài báo mà buồn lắm, buồn ghê gớm lắm. Tôi biết là trong hàng ngũ những kẻ không thuộc bài đã có thêm một người và tôi tự buộc mình phải quên hai chữ Thế Uyên đi, thật đau lòng nhưng phải quên, nhất định).

Tôi xin trở lại với cà phê Hân và xin làm ơn bỏ qua một bên cái cảm giác xa lạ của riêng tôi. Hân vốn tự nó là một nơi chốn hết sức đáng yêu và chắc chắn là một nơi chốn rất đáng nhớ của nhiều người. Về sau, ở đối diện với Hân người ta mở thêm quán cà phê Duyên Anh (không biết nơi này có liên quan gì với nhà văn Duyên Anh hay chỉ là tên đặt bỡi một người chủ ái mộ nhà văn này). Hai tiệm cà phê, một sang trọng chững chạc, một trẻ trung sinh động, cả hai đã trở thành một điểm hẹn, một đích tới mà khi nhắc đến chắc nhiều anh chị em ở trường Văn Khoa, trường Dược, trường Nông Lâm Súc ngay góc Thống Nhất - Cường Để và các anh em bên khu Đài Phát Thanh, Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị hướng Phan Đình Phùng, Nguyễn Bỉnh Khiêm sẽ mỉm cuời và sẽ thấy rất gần gũi, rất thân thiết.

Tôi vừa mời các bạn đi thăm một vòng mấy quán cà phê mà chắc nhiều anh em trong chúng ta từng quen biết, từng có những gắn bó thế này hay thế khác. Tôi xin ngừng ở đây nhưng anh em có thể tiếp tục đến những nơi chốn kỷ niệm khác của riêng mình. Tôi biết anh em đều là những người nặng tình cho nên tôi tin là mỗi hẻm nhỏ, mỗi góc phố, mỗi hàng cây, mỗi cổng trường đều thấp thoáng bóng hình của tuổi nhỏ, của quê xưa.
Image
Nhà hàng La Pagode ngày xưa

Tôi xin nhắc là anh em nào muốn gặp các nhà văn nhà thơ, muốn nhìn họ ngậm ống vố, đeo kiến cận nói chuyện văn chương thì mời đến quán Cái Chùa, anh em nào muốn có không khí trẻ trung đầm ấm mời đến Hầm Gió. Anh em nào muốn có chỗ riêng tư tâm sự thì cứ theo đường Nguyễn Văn Học chạy tuốt lên Gò Vấp, vào quán Hương Xưa, ở đó có vườn cây đẹp, các cô chủ đẹp và cái cách người ta đối với nhau cũng rất đẹp. Tất cả những gì tôi nhắc tới là một chút ngày cũ, một chút cảnh xưa, một phần hơi thở và nhịp sống của Sài Gòn trong trí nhớ. Xin tặng anh, tặng chị, tặng em, tặng tất cả những ai còn có lúc bỗng bàng hoàng nhận thấy, dường như một nửa trái tim mình còn đang bay lơ lửng ở đâu đó, nơi quê nhà.

Nguyễn Mạnh An Dân
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Một bài viết hay dành cho những người Việt tại Hoa Kỳ...
Có phải nếu mình ở một nơi nào trên dưới ba mươi năm thì mình là người thuộc địa phương đó, đúng không? Đã biết bao nhiêu lần tôi
đặt ra câu hỏi đó sau một ngày nhìn vào lịch thấy con số ghi năm đã bước vào năm thứ ba mươi của một người tị nạn.

Bây giờ có ai mới quen gặp tôi, hỏi: Bà ở đâu đến vậy? Thì chắc tôi sẽ trả lời rất tự nhiên, tôi ở San Jose, hay khi đang đi du lịch thì sẽ trả lời, tôi ở Mỹ đến. Tôi sẽ không trả lời là tôi ở Việt Nam đến nữa, chỉ trừ người ta hỏi, bà là người nước nào? Thì lúc đó tôi chắc chắn nói, tôi là
người Việt Nam, để cho họ không nhầm với người Trung Hoa, Nhật, hay Phi.

Đúng, tôi ở Mỹ trên dưới ba mươi năm rồi, tôi là một người Mỹ. Bây giờ thử xem lại con người Mỹ của tôi.
Trước tiên mặt mũi, chân tay tôi chẳng có gì thay đổi cả. Vẫn khuôn mặt cấu trúc ít góc cạnh của người Á Đông và cái mũi tẹt khiêm tốn, tóc sợi to và đen, khi có tóc bạc thì nhìn thấy ngay, muốn giấu thì phải nhuộm.

Đối với người Á Đông thì tôi được gọi là người có nước da trắng, nhưng mầu trắng này thực ra là mầu ngà, và đứng cạnh một ông Tây, bà Mỹ nào thì nó vẫn cho cái căn cước da vàng rất rõ rệt. Khi tôi nói tiếng Anh thì cách phát âm vẫn có vấn đề, đôi khi nói nhanh quá thì sẽ vấp phải lỗi nói tiếng Anh theo cách dịch tiếng Việt trong đầu. Như thế bị chê là nói tiếng Anh bể (broken English). Về cách phục sức, nhà ở, xe cộ bên ngoài, tôi có thể không kém một người Mỹ chính gốc.
Nhưng khi bước vào nhà tôi, từ những bức tranh treo ở phòng khách, bát đũa bầy ở bàn ăn, chai nước mắm, hũ dưa cải trong bếp và nhất là
sách, báo tiếng Việt ở khắp nơi trong nhà, thì chắc ai cũng sẽ nhận ra ngay đó là một gia đình Việt Nam. Như thế thì tôi là người San Jose hay người Hà Nội, người Mỹ hay người Việt? Tôi ở đất này đến ba mươi năm rồi cơ mà.
Người ở Lạng Sơn, Thanh Hóa ra Hà Nội ở trên dưới ba mươi năm thì tự nhận mình là người Hà Nội; người ở Hải Phòng, Hải Dương vào Sài Gòn lập nghiệp từ năm 75, 76 tự nhận mình là người trong Nam.
Tôi ở Mỹ tìm về Việt Nam không ai chịu nhận tôi là người Việt nữa, dù tôi có yêu quê hương đến quặn thắt cả ruột gan, có gặp lại họ hàng nước mắt khôn cầm thì khi thăm viếng, hỏi han, họ vẫn thỉnh thoảng nói rất tự nhiên: chị đâu có phải là người Việt nữa, bây giờ chị là người Mỹ rồi, chắc cái này không hạp với chị, cái kia chị không ăn được, cái nọ chị không biết đâu. Những lúc đó tôi chẳng biết mình phải phản ứng thế nào cho đúng. Cứ cãi tôi vẫn Việt, hay nhận đúng rồi tôi là Mỹ? Không, cả hai cùng sai cả. Những khi cần quyên tiền đóng góp vào việc công ích nào ở Việt Nam thì ai ai cũng nhắc lại cho tôi đến ngàn lần tôi là một người Việt Nam chính gốc. Rằng tôi phải có bổn phận và tình thương với đất nước, đồng bào. Tình thương thì nhất định lúc nào tôi cũng đầy ắp trong ngực rồi, tôi chẳng cần ai nhắc nữa, nhưng bổn phận thì cho tôi... nghĩ lại.
Tôi đã đóng góp bổn phận của tôi cho đất nước đó rồi. Một mối tình chết tức tưởi trong chiến tranh hơn ba mươi năm về trước, xương thịt của người tôi yêu nằm trong lòng đất, rồi lại phải đào lên, đốt thành tro than, bị đuổi mộ như đuổi nhà, đã trả bổn phận đó thay tôi rồi. Không đủ hay sao?

Bây giờ tôi phải có bổn phận đóng thuế hàng năm ở đất nước tôi đang sống để phụ với chính phủ sửa đường, xây trường học và nuôi những người ở khắp nơi mới tới, như trước kia đất nước này đã nuôi người Việt, vì giấy tờ cá nhân hiện tại xác định tôi là người Mỹ. Tôi phải làm bổn phận công dân.
Có những ngày tôi lái xe bị kẹt ở xa lộ vào một buổi chiều mưa mùa thu; hay một buổi sáng mùa xuân vắng lặng, êm ả, đứng trong nhà nhìn ra mặt hồ, tôi cảm nhận được nơi mình đang hiện diện không phải là quê mình, không phải nước mình.

Chẳng có một lý do gì cụ thể, chỉ là những giọt mưa đập vào kính xe, chỉ là mặt nước hồ gờn gợn sóng. Mưa trên xa lộ Mỹ nhắc nhớ đến những cơn mưa tháng Năm ở Thị Nghè, nhà mình ở Trần Quý Cáp, nhà anh ở trước rạp ciné Eden đứng trú mưa với nhau.

Nước ở hồ San Jose trước nhà nhắc đến nước sông ở bến Bạch Đằng mỗi lần qua phà sang bên kia Thủ Thiêm chơi với bạn, hay sóng nước ở bắc Mỹ Thuận những lần qua phà đi thăm họ hàng ở tận Bạc Liêu. Những lúc đó tôi bất chợt bắt gặp mình Việt Nam quá, vì những cái bóng Việt Nam thật mờ, thật xa lại chồng lên hình ảnh rõ rệt ngay trước mặt mình. Và kỳ diệu làm sao, những cái bóng đó nó mạnh đến nỗi mình quên mất là mình đang ở Mỹ. Chắc tại tôi là người Việt Nam.
Lại có những lần ở Việt Nam, tôi bị muỗi đốt kín cả hai ống chân, bị đau bụng liên miên cả tuần lễ. Đi đâu cũng phải hỏi đường, ai nhìn mình cũng biết mình từ đâu đến và đang đi lạc. Tiền bạc tính hoài vẫn sai. Nhiều khi đứng chênh vênh trên đường phố Sài Gòn, biết đất nước này vẫn là quê hương mình, những người đi lại chung quanh là đồng bào mình, nhưng sao không giống Việt Nam của mình, hình như đã có điều gì rất lạ.

Ngôn ngữ Việt thì thay đổi quá nhiều, pha trộn nửa Hán nửa Ta, chắp đầu của chữ này với cuối chữ của chữ kia, làm nên một chữ mới thật là "ấn tượng". Cách phát âm của người Hà Nội bây giờ không giống cách phát âm cũ của ông bà, cha mẹ tôi ngày trước, và họ nói nhanh quá, tôi nghe không kịp. Cái tiếng nói trầm bổng, thanh lịch, chậm rãi, rõ ràng từng chữ của thời xa xưa bây giờ chỉ còn là cổ tích.
Ngửng mặt lên nhìn bầu trời, vẫn bầu trời xanh biếc của thời tuổi trẻ, cúi xuống nhìn mặt đất, vẫn mặt đất thân quen, nhưng sao lòng hoang mang quá đỗi, và thấy đã có một khoảng cách nghìn trùng vô hình giữa mình và quê hương đất Việt. Chắc tôi là người Mỹ! So sánh thời gian tôi sinh ra, sống ở Việt Nam và thời gian tôi bỏ Việt Nam ra đi, sống ở Mỹ, hai con số đó đã gần ngang nhau. Tôi được học từ nhỏ quê hương là nơi tổ tiên lập nghiệp, là nơi chôn nhau cắt rốn. Ở trong nước có bài hát nổi tiếng “Quê hương mỗi người có một”, như là chỉ một mẹ thôi. Nhưng có người lại nói:
Nơi nào mình sống ở đó suốt một quãng đời dài, có những người thân chung quanh mình, hưởng những ân huệ của phần đất cưu mang mình, thì nơi đó cũng được gọi là quê hương mình. Như vậy thì tôi có một hay hai quê?
Tôi sống ở Mỹ thì bạn bè gặp nhau thường nói: Cái này người Việt mình không hạp, hoặc người Mỹ họ mới thích nghi được việc này, người Việt mình không quen.

Khi đi dự buổi tiệc cuối năm của một công ty lớn ở Mỹ, toàn là những người Mỹ sang trọng thì thấy rõ ngay mình là người Việt đi lạc, dù mình có sang trọng, lịch sự như họ. Hóa ra ở Mỹ hay về Việt Nam mình đều lạc chỗ cả. Tôi nhớ mấy năm trước có lần trò chuyện với mẹ của một người bạn, lúc đó cụ ngoài 80 hãy còn minh mẫn, cụ theo đạo Phật. Trưởng nam của cụ và con dâu cụ tự nhiên rủ nhau theo đạo Công giáo. Găp tôi, cụ hỏi: Không biết anh Bình nhà tôi khi chết thì đi đâu? Phật giận anh ấy, vì anh ấy bỏ đi, Chúa chắc gì cho anh ấy vào, vì anh ấy mới quá! Năm nay cụ ngoài 90 tuổi rồi và không may, cụ bị Alzheimer. Vậy là cụ không còn minh mẫn để lo con mình không có chỗ dung thân cho phần hồn. Bây giờ thỉnh thoảng nghĩ lại những lời cụ nói, thấy mình ngay ở đời sống này cũng đã là một vạt nắng phất phơ bay. Quê nhà, quê người, quê Mỹ, quê Việt. Chao ôi! Cái thân cỏ bồng.
Nhưng lạ lắm, tôi biết chắc mình là người Việt, nhất là khi tôi nằm mơ. Trong giấc ngủ tôi thường gặpcha mẹ, gặp ngay trong những ngôi nhà cũ ở Việt Nam, gặp bạn bè cũng gặp trên đường phố Việt Nam từ ngày rất xa xưa, và bao giờ trong mơ cũng đối thoại bằng tiếng Việt. Tỉnh dậy đôi khi vẫn ứa nước mắt, dù là một giấc mơ vui. Thấy nhớ quê nhà quá đỗi!
Tôi nhớ lại trong những truyện ngắn, những bài thơ Đường tôi đọc thời rất xa xưa về người bỏ làng đi xa lâu năm trở về không ai nhận ra nữa. Hồi đó sao mà mình thương những ông già trong thơ đó thế! Bây giờ nghĩ lại thì người trong sách đó còn may mắn hơn mình, họ đâu có đi đến tận một nước khác như mình.
Họ chỉ bỏ làng, chứ không bỏ nước. Thế mà khi về còn ngơ ngác, bùi ngùi, tủi thân vì lạc chỗ ngay trong làng mình.

So sánh tôi với người bỏ làng ra đi trong những trang sách đó thì hoàn cảnh của tôi đáng buồn hơn nhiều. Không những đã bỏ làng, bỏ nước đi, còn nhận quốc tịch của một nước khác.
Khi về đổi họ thay tên. Núi chùng bóng tủi, sông ghen cạn dòng. (tmt)

Kim Thu tùy bút
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Image

Con gái tên Dần tuổi Cọp

Má tôi tuổi Dần. Năm 23 tuổi má lấy chồng. Cũng năm Dần má đẻ ra tôi. Một con cọp con. Người ta nói hổ phụ sinh hổ tử. Hai má con tôi là hổ mẫu sinh hổ tử. Có sao đâu! Nhà có hai con cọp. Con cọp cái là má, mạnh mẽ, quyết đoán.

Con cọp con là tôi, "hậu sinh khả úy", ngang bướng và hung dữ - theo cách nói của em trai tôi. Thằng quỷ đó nó tuổi Thìn, nhỏ hơn tôi hai tuổi.

Nhà có hai chị em. Má tôi cũng không thoát khỏi câu "tuổi Dần cao số". Năm thằng em tôi lên bốn tuổi, tía đi lấy tiền bán cá về, dọc đường mấy thằng cha buôn lậu đường quốc lộ chạy xe nhanh như bị bà nội nó rượt đâm sầm vào xe đạp của tía tôi. Tía qua đời tức tưởi, đột ngột. Người ta đi đám ma, chửi mấy đứa buôn lậu chạy ẩu thì ít mà rủa má tôi tuổi Dần làm tía tôi yểu mạng thì nhiều! Thây kệ, má một nách hai đứa nuôi tụi tôi khôn lớn. Thật ra là một đứa con gái hơn sáu tuổi tóc tai ngắn cũn, hở ra một chút là chạy nhong nhong trong xóm, bỏ ở nhà một đứa con trai chưa đầy bốn tuổi khóc nhèo nhẹo trên võng, mũi dãi lòng thòng.

Mấy lúc đó má lăng xăng gánh bún trước nhà, gọi giựt ngược: "Con ôn dịch, về đưa em cho má. Tao mà kêu một tiếng nữa không về là tao oánh cho té đái bây giờ". Tất nhiên là tôi chạy về, ham chơi nhưng sợ má một phép. Người ta nói hổ dữ không ăn thịt con, chứ tôi thấy lúc đó mà không chạy về vừa đưa võng cho em, vừa lầm bầm chửi nó nhõng nhẽo thì thế nào má cũng ăn thịt tôi là cái chắc.

Là nói vậy thôi, chứ quậy phá ham chơi cách mấy hổng lẽ má tôi đem tôi hầm nhừ tử trong nồi nước súp của má ? Má dữ nhưng má đẹp lắm. Mới ngoài ba mươi nhưng hôm nào ở xóm có đám tiệc, xong việc bán buôn, bới lại mái tóc rối thức từ lúc hai, ba giờ sáng chưa chải kỹ, má mặc bộ đồ áo bà ba bông với cái quần xa-ten màu đen bóng, cắp cái giỏ đệm là má mướt rượt, nhìn còn bén ngót. Về cái khoản này tôi cũng giống má.

Càng lớn, ai cũng nói tôi đẹp y chang má hồi trẻ. Nhan sắc má cũng hút lũ ong bướm làng trên xóm dưới xáp vô. Nhưng hễ thằng cha nào bén mảng tới gần, má quắc mắt một cái, hỏi, cọp cái hai con nè, dám xớ rớ vuốt râu hùm thì nhào vô kiếm ăn! Chỉ có vậy thôi, đàn ông cỡ nào cũng chạy tám cây số là ít.

Sau này tôi mới biết má không đi bước nữa là tại sợ hai chị em tôi gặp cảnh cha ghẻ, con riêng. Hồi đó, thấy má dữ dằn như vậy tôi rất tự hào, đi học hay đi chơi, tôi và thằng nhóc em tôi ít khi nào bị ai ăn hiếp. Má mà bênh con thì phải biết, má chửi té tát không có đường mà đỡ. Nhưng về tới nhà, thế nào hai chị em cũng phải cúi xuống bộ ván ngựa, nhổm mông lên ăn đòn vài cây là ít. Vì vậy tụi tôi ra đường cũng ngó trước ngó sau, không lên mặt hay làm điều gì bậy bạ sợ má buồn. Hò hét, la rầy, dằn mâm xáng chén vậy chứ khi hai đứa lăn ra ngủ, tôi lén thấy má chắc lưỡi hít hà xoa mông xức dầu cho hai đứa, rồi buông mùng thở dài, ngồi đờ đẫn trong đêm.

Không biết má ngồi tới hồi nào vì chỉ một lát hai con mắt tôi ngủ trước nên tôi không còn dòm má để canh má ngồi tới mấy giờ. Giấc ngủ trong tiếng kêu của con tắc kè từng chập đã đưa tôi vào những giấc mơ, ở đó có má ngồi che chắn, y như con cọp cái bảo vệ lũ nhóc cọp con trong chuyện cổ tích Chú Cuội cung trăng vậy. Về cái khoản tình cảm này tôi thấy mình cũng giống má luôn. Hung dữ nhưng rất dễ động lòng...

Lụi hụi vậy tụi tôi lớn lên lúc nào không hay. Tôi, như đã nói, thừa hưởng cái gen di truyền của má. Mười bảy tuổi, bẻ gãy sừng trâu, mái tóc cũn cỡn ngày nào giờ dài đen nhánh, mắt to mà lông mi dài mướt rượt nhưng tính tình thì cứ ngang tàng chụp giựt, cứ bài hải hét ra lửa như một "bà chằn" theo cách gọi giễu cợt của tụi con trai cùng lớp. Thằng em thì dù có lí lắc cách mấy cũng có vẻ hiền lành điềm tĩnh hơn. Chắc nó giống tía tôi. Ký ức về tía không nhiều nhưng tôi vẫn nhớ những lời răn dạy nhẹ hều của tía, những cái xoa đầu bẹo má mềm xèo của tía mà tôi không tài nào bắt chước được.

Một bữa, thằng em thấy tôi vui vẻ bèn kiếm chuyện:

- Nè bà chị, bữa hổm đi với mấy đứa bạn rình anh Tám với chị Mận tâm sự ở bãi sậy cánh đồng hoang, em nghe anh Tám thủ thỉ vầy nè, em Mận ơi, con mèo nhỏ dễ thương của anh ơi!

Tôi vừa bĩu môi, vừa xì thành tiếng:

- Trời, nghe mà nổi ốc cùng mình. Sến như con hến! Rồi sao nữa?

Thằng nhóc cười hí hí:

- Em biết là chị tò mò mà. Mà nè chị, chắc chị Mận tuổi con mèo hé?

Tôi cộc lốc nhưng khờ khạo rơi nhẹ nhàng vô cái bẫy của nó:

- Ừ, mà tuổi con khỉ gió gì thì mắc mớ gì tới tao?

Ai dè nó xích ra một chút cảnh giác rồi tung "chưởng":

- Em nghi quá, mai mốt anh Hiệp của chị mỗi lần tâm sự chắc kêu là em Dần ơi, con cọp cái của lòng anh ơi, cưng cưng lắm nè!

Nói xong câu động trời đó tất nhiên là nó bỏ chạy với vận tốc ánh sáng, nhưng nụ cười khiêu khích vẫn còn rớt lại phía sau để chọc tức tôi.

oOo

Tôi nổi máu tam bành thật sự, Dần là tên cúng cơm của tôi, con cọp là cầm tinh của tôi... Và Hiệp là cái thằng, ủa, mà không... là cái "anh chàng" học cùng lớp tôi, lớn hơn tôi một tuổi nhưng má còn búng ra sữa. Hôm nọ dám nhờ thằng em quỷ quái nham nhở của tôi đưa giùm tấm thiệp xuân cho bà chị với lời đề tặng "táo bạo" mà lại làm cho tôi mất ngủ mấy bữa liền. Đó là một tấm thiệp xuân mà tôi dám chắc không có ở đâu bán vì nó được tự tay người tặng tỉ mẩn và kỳ công thực hiện. Trên cái nền màu đỏ thắm là một nhánh mai vàng rực được chăm chút từng cánh giấy.

Quả là Hiệp rất khéo tay khi cắt từng mẫu chữ bé xíu kiểu thư pháp dán lên mặt thiệp một cách tự nhiên nhưng cũng rất thẩm mỹ. Ấn tượng nhất là lời đề tặng bên trong, quê quê mà dễ thương ác: "Dù cho thiệp có phai màu, nhưng mà Hiệp vẫn không sao thay lòng. Dần ơi, Dần có biết không? Tim Dần có thấu tấm lòng Hiệp đây?". Tại sao một lời đề tặng rất "sến" như vậy mà lại làm cho con cọp "gái" hung dữ mồm hô miệng hét như tôi động lòng?

Không như tụi nhóc học cùng hay chọc ghẹo kêu tôi là bà chằn, và tôi cũng không hổ danh với thương hiệu giang hồ đã gán cho mình, Hiệp không bao giờ kêu tôi như vậy. Anh chàng có đôi mắt biết cười luôn nhìn về phía tôi một cách dịu dàng, và con mắt đó, bực mình một cái là nó như thôi miên để lần lượt nhổ hết móng vuốt, bẻ hết nanh nọc của tôi. Tức mình hơn là biết mình sẽ rất khác, sẽ rất bối rối khi đối diện với Hiệp, nhưng đôi khi tôi không cưỡng được mình cứ thích nhìn về phía Hiệp ngồi để phát hiện ra ánh mắt ấy như một mũi tên dịu dàng bay từ "sát thủ Đại Hiệp" xuyên qua trái tim con gái của mình, cắm phập và nằm yên đó, lì lợm và cứng đầu, bứng mãi không ra (mà hình như tôi có chịu bứng đâu).

Về việc này, tôi định khi nào có dịp thuận lợi sẽ hỏi má. Má hung dữ phùng mang trợn má y chang bà cọp cái như vậy nhưng có ai làm cho má trở nên hiền lành như con mèo chưa ? Hồi đó tía thương má thế nào? Má có trở nên dịu dàng một cách khó hiểu mỗi khi gặp tía hông? Phải chi tía còn sống, tôi hỏi tía coi bộ dễ hơn. Hai mẹ con đều nóng tính, gặp câu trước câu sau tôi đã bị má rầy do cái tính bộp chộp và ngang bướng của mình. Mà hỏi má chẳng khác nào thừa nhận cái tính dịu dàng tiềm ẩn của mình mà tôi còn chưa hiểu hết.

Nói vậy chứ cũng có lúc hiếm hoi ngồi chải tóc cho tôi, má tằng hắng nói:

- Nè, lớn bộn rồi đó nghen mậy, liệu đi đứng nói năng cho đàng hoàng ý tứ, con gái con đứa như mày con trai nó chạy mất dép.

Tôi cắc cớ:

- Ủa, con mà dịu dàng thùy mị vậy chắc con trai thích lắm, má hén?

Má hứ cái cốc:

- Đừng có mà tào lao, lo học hành ngon lành, lẹ lẹ có nghề có ngỗng với người ta kìa, tao nuôi hai đứa bây oải lắm rồi, đừng có mới nứt mắt ra là nập nợn!

- Hí hí, ai biểu má chê con chi! Mà "nập nợn" là gì vậy má?

- Tao cũng hỏng biết, hồi đó bà ngoại cũng hay rầy má vậy đó. Chắc là chửi má ham chơi, kết bầy kết bạn đó mà!

Kết bầy kết bạn? Chắc là bây giờ người ta hay gọi là "kết môđen" chứ gì? Như Hiệp với tôi vậy chắc? Má biết, chắc má chửi tắt bếp. Nghĩ tới Hiệp, vừa bực vừa nhớ, vừa thấy ghét vừa thấy thương thương thích thích. Nhưng nhớ tới Hiệp, tôi cũng nhớ tới thằng em quỷ sứ của mình. Hôm đưa thiệp cho tôi, chính nó đã xâm phạm đời tư, mở thư ra đọc trước. Đó là tội thứ nhất; để bụng chờ cơ hội để chọc ghẹo bà chị "hiền lành tội nghiệp" của nó là tội thứ hai. Hai cái tội này tôi sẽ quyết trừng trị cho bõ ghét.

Chưa kịp trị tội nó, chỉ hôm sau nó lại lân la tới cầu hòa và ỉ ôi năn nỉ:

- Nè, chị, em biết lỗi rồi, hôm nay cho em lập công chuộc tội nghen!?

Miệng xin lỗi nhưng mắt nó thì lém lỉnh. Tôi cảnh giác cao độ:

- Gì nữa đây? Mày mà lộn xộn tao méc má đó! Sao mày em mà mày cứ ăn hiếp chị mày là sao?

Mặt nó nhăn nhúm tỏ vẻ đau khổ:

- Chị méc má là chị hối hận trước đó, vì má đánh, em không chịu nổi thế nào cũng cung khai để má khoan hồng cho coi.

Tôi lại nổi nóng trợn mắt:

- Khai cái gì thằng quỷ dịch?

Nó ấp úng:

- Thì khai là... là... anh Hiệp lớp chị nhờ em đưa chị món quà này, chị mừng quá nhảy lưng tưng lên... đạp trúng em, hi hi!

Tôi bỗng nhiên mềm nhũn như con cọp bị bỏ đói trong sở thú, nhẹ giọng bất thường:

- Quà gì, đưa đây "chị”.

- Trời, xưng chị nghe ngọt ngào quá ta. - Thằng em cà rỡn chịu không nổi - Đúng là tình yêu thật là kỳ... cục. Có thể cảm hóa được cái ác. Cả "chằn tinh" cũng cải tà quy chánh!

Tôi chịu hết nổi:

- Tao đếm tới ba, đưa đây! Một...

- Má ơi, cứu con! - Thằng nhóc hăm dọa.

Tôi vội xuống nước:

- Muốn gì, nói!?

- Muốn chị thương em.

- Ừ, chị thương.

- Muốn chị ký giao kèo Tết này lì xì thật nhiều cho em!

- Tao... - Tôi bặm môi, nuốt cơn nóng giận một cái ực - Rồi, chị hứa!

- Hì hì, móc ngoéo, đứa nào nói láo, hứa cuội, bồ bỏ luôn nghen!

Tôi xùy ngón út ra ngoéo lấy tay nó. Tới lúc này thằng em quỷ quái mới chịu tung ra món quà cho tôi.

Quà của Hiệp. Món quà gói thật đẹp. Tôi hồi hộp mở ra, bên trong là một con cọp nhồi bông rất xinh. Lạ một điều là con cọp này có thắt một cái nơ màu hồng trên đầu, đích thị là cọp "gái" rồi. Một tờ giấy cũng màu hồng rơi ra, tôi nhặt lên và đọc: "Tết này Dần cho Hiệp đến thăm con cọp đáng yêu này ở nhà của Dần nhe? Hiệp muốn xông đất nhà Dần ngay mồng một đó!

Trời ạ, Hiệp có biết là nhà tôi có hai con cọp? "Hổ ma ma" và hổ tiểu thư, mà con cọp nào cũng "đáng yêu" hết trọi. Cọp má ơi, đây là "khắc tinh" của cọp con gái đó má.

Cầu trời cho ngày Hiệp "vào hang cọp" mọi chuyện đều "như ý cát tường"...

TRẦN TÙNG CHINH (An Giang)
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »


Image

Ngụ ngôn về hổ
Có một cô gái cô đơn yêu đơn phương một chàng trai trẻ đẹp. Một hôm cô gái đem câu chuyện buồn của mình kể với mẹ. Bà mẹ bảo:

- Con vào rừng lấy được ba sợi râu cằm của con hổ đem về đây thì mẹ sẽ bỏ bùa nó, bắt nó yêu con.

- Nhưng mà con làm sao được chuyện đó? - cô gái hỏi.

- Lấy một túi thịt và đi vào rừng mà tìm hổ...

Cô gái mang theo một túi thịt cừu vào rừng. Cô đi rất lâu trong rừng, vô cùng mỏi mệt nhưng cuối cùng cô cũng gặp một con hổ định vồ cô để ăn thịt. Cô gái sợ hãi vứt túi thịt trước mặt hổ rồi bỏ chạy.

Ngày hôm sau, cô lại mang một túi thịt đi vào rừng. Lại gặp con hổ nọ nhưng cô không bỏ chạy mà vứt túi thịt rồi đứng xem con hổ ăn ngấu nghiến.

Lần thứ ba cô lại đi vào rừng. Và lần này thì cô hiểu rằng con hổ đã quen với cô nên cô giơ tay đưa thịt lên miệng hổ. Con hổ ăn no rồi nằm ngủ say bên cạnh cô gái. Thế là cô lấy được ba sợi râu cằm của hổ.

Khi cô đưa ba sợi râu cằm của hổ về cho mẹ thì mẹ cô cầm vứt vào bếp lửa đang cháy rồi bảo:

- Chuyện này chỉ là vớ vẩn nếu đem so với tình yêu của con với chàng trai kia... Con hãy đi mà chinh phục nó như đã từng chinh phục con hổ dữ tợn kia, bằng lòng tốt, vẻ dịu dàng và lòng kiên nhẫn. Hãy nhớ rằng trong mỗi người đàn ông đều có một con hổ...

Hạnh phúc tình yêu: Hành trình cô gái thu phục con hổ chính là hành trình của tình yêu. Trước lòng tốt, vẻ dịu dàng và lòng kiên nhẫn của tình yêu, chẳng có trái tim nào cứ mải đóng cửa im ỉm được. Hỡi những cô gái tuổi Dần vốn mang tiếng là "cao số" trong tình duyên, còn chần chờ gì nữa!
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Image

Năm mới đọc báo Xuân

Ngọc Lan/Người Việt

Khi nghe sếp giao cho công việc điểm báo Xuân 2010, tôi hí ha hí hửng nhận lời ngay lập tức, không chút đắn đo, không chút câu nệ, không chút phụng phịu, không chút mè nheo.

Không chỉ khệ nệ ôm hết trong vòng tay ba anh em nhà Việt, gồm Việt Herald, Việt Báo, Việt Tide, mà tôi rinh luôn Chí Linh, Viễn Ðông, và cả Người Việt về nhà.

Sắp 6 tờ báo ra sàn nhà, nhìn qua nhìn lại, nhìn tới nhìn lui, tôi bỗng nhận ra rằng tôi đang ôm bom tấn! Có hối cũng đã muộn.

Như bàn tay ngón dài ngón ngắn, nếu Người Việt, Viễn Ðông, Việt Hearald và Chí Linh nằm thẳng đều tăm tắp cùng ngang cùng dài như nhau, thì Việt Báo với trang bìa đỏ rực hơi lùn một chút và béo một chút. Trong khi đó Việt Tide lại nhỏ nhắn thanh mảnh khoác trên mình chiếc áo đẹp nhất, theo tôi. Năm nay là năm Cọp, bìa Việt Tide là hình ảnh của một gia đình cọp, biểu tượng cho sự sum vầy, lẫn sung túc khi cả cọp cha, cọp mẹ, cọp con đều ngồi trên một đống tiền vàng. Cành mai vàng rực, cùng bao đỏ lì xì cho ngày Xuân Canh Dần 2010 cũng không thiếu trên trang bìa ấy.

Nếu như mỗi cuộc đời là một câu chuyện, câu chuyện đó có thể buồn chán với người này nhưng lại là nguồn cảm hứng cho người khác, thì những tờ báo Xuân tôi có trong tay cũng là như thế. Mỗi tờ mỗi vẻ, mỗi tờ mỗi nét, thể hiện đầy đủ quan điểm, cách nhìn và thái độ của những người chủ trương tờ báo. Tựu chung lại, vẫn là mang đến những món ăn tinh thần đa dạng, phong phú, độc đáo nhất cho tất cả độc giả trong những ngày đầu năm con Cọp.

Nếu tôi dành ra hai tiếng để đọc hết tờ Chí Linh, thì tôi phải mất cả ngày để đọc lướt hết Người Việt, bởi lượng bài viết quá nhiều, cái nào cũng muốn đọc, cái nào cũng muốn xem. Thế nhưng tôi lại thích cách sắp xếp mục lục của tờ Việt Báo: 35 năm Ðổi đời, Thăng Long Ngàn Dặm, Viết về nước Mỹ, Âm nhạc và Nghệ thuật, Thơ, Truyện và Ký, Y học và Ðời sống, Tử vi Lý số... Rành mạch, rõ ràng, muốn đọc gì cứ dò ngay vào đấy mà tìm.

Năm nay là năm của Ông Ba Mươi, nên như lẽ đương nhiên, ông Cọp sẽ chễm chệ trên mỗi tờ báo, dưới nhiều hình thức, nhiều góc nhìn, nhiều góc khám phá.

Ai muốn cùng nhà báo Bùi Bảo Trúc “Nói Chuyện Hổ Năm Dần” thì mời xem Việt Tide, sẵn đó đọc luôn bài viết “Ông Ba Mươi” của tác giả nào chẳng thấy để tên bên dưới lẫn bên trên. Hay bắt đầu từ trang 6 của Viễn Ðông để hiểu tại sao tác giả Hoài Mỹ bỗng la lên “Cọp! Cọp! Cọp!” Hoặc thử cùng nhà du lịch Trịnh Hảo Tâm tìm hiểu “Lai Lịch Chúa Sơn Lâm” trên báo Người Việt. Sau khi nghe tác giả Hồ Hữu Tường kể chuyện “Cọp Hú” trong Việt Herald, nên chăng tìm đọc luôn “Bài Thuốc Cu Cọp” - một tiêu đề rất “ấn tượng” của Nguyễn Thượng Chánh trên Việt Báo, để rồi nếu muốn có được “hàng độc” đó thì phải tìm tác giả Ðặng Tiến của tờ Chí Linh để hỏi thêm “Tục săn Cọp” như thế nào.

Xuân Canh Dần 2010 trùng với thời điểm kỷ niệm ngàn năm Thăng Long, nên lượng bài viết liên quan đến chuyện thành quách cũ cũng rất đáng kể.

Nếu “Nhớ Tổ Tiên Một Ngàn Năm Trước” của nhà bình luận Ngô Nhân Dụng trên Người Việt cho tôi cái nhìn tổng quát về lịch sử ngàn năm trước còn được nuôi dưỡng, vun trồng đến ngày nay thì bài viết “Ðặt tên ‘Thăng Long’: Ðòn tuyên truyền chính trị của Lý Thái Tổ?” của Vũ Quí Hạo Nhiên, cũng trên Người Việt, lại giúp tôi có cái nhìn mới mẻ hơn về một vấn đề lịch sử. Nói đúng hơn, tôi cảm thấy rất thú vị với chuyện “Ðược một con rồng ‘bảo kê’ (cho dù là rồng sa cơ hiện trên thuyền vua), nhà Lý trị vì tới 200 năm” mà tác giả đã gợi ra.

Những người quan tâm đến chuyện thế giới chính trị sẽ không thể bỏ qua “2000-2009 thập niên của Khủng Bố và Khủng Hoảng” của nhà báo Lê Phan, hay “2010 một năm hứa hẹn nhiều khó khăn cho ông Obama” của nhà báo Lê Mạnh Hùng trên tờ Việt Tide.

Tôi chưa có điều kiện đến White House nên cũng rất tò mò muốn biết nhà báo Nguyễn Văn Khanh trong suốt “Một Năm Nhìn Lại Tòa Bạch Ốc” ông đã nhìn ra được những gì. Rất ngạc nhiên khi biết điều ông Nguyễn Văn Khanh nhìn ra là các vị lãnh đạo Hoa Kỳ của chúng ta cũng văng tục chẳng kém gì thường dân. Ðọc trang 202 Giai phẩm Xuân Người Việt sẽ hiểu thêm “Làm càng lớn, chửi thề càng dữ” là như thế nào.

Báo Xuân ngày Tết, đương nhiên phải nhắc chuyện ăn chuyện uống, xem hò xem hát, và xem hình người đẹp!

Viễn Ðông tiếp tục phát huy tay nghề bếp núc thường ngày qua “Món ngon Nam bộ ‘Ðộc chiêu’”. Chỉ là những hình ảnh bánh xèo ăn với đủ thứ đọt, rau; cá thác lác muối xả ớt ăn với cơm cháy chấm kho quẹt, Còi biên mai nướng đậu bắp; Cá lóc nướng trui, Chuột đồng nướng lu... đủ làm quay quắt lòng người nhớ về một miệt vườn ở Cần Thơ, Sóc Trăng, Trà Vinh, hay tận Cà Mau.

Chí Linh thì đưa người đọc về với “Phở, Bún Chả, Bún ốc, Bánh cuốn Hà Nội thời xưa” để tìm về cảm giác của những “món ăn thuần túy.”

“Gói Bánh Ít Ăn Tết” ở Việt Herald, “Nấu Bánh Chưng, Bánh Tét Ngày Xuân” nơi Việt Tide cũng góp phần làm thoang thoảng đâu đây mùi của lá chuối, lá dong, của thịt, của nếp, của đỗ.

Ăn uống, xem ca nhạc và lòng nhớ về những cái Tết xa xưa, nay thỉnh thoảng dội về trong ký ức.

“Sài Gòn Mùa Thương Nhớ” của Song Nguyên trên tờ Người Việt vẽ ra trước mắt người đọc cái không khí của phố phường, cái mùi hương trên bàn thờ, cái cảm giác nôn nao, chộn rộn những ngày giáp Tết. “Hương vị Tết ngày xưa trên quê hương miền Bắc” của tác giả Huy Trâm trên tờ Việt Herald lại đưa lòng người tìm cảm giác Tết nơi chốn văn vật ngàn năm.

“Nhớ những cái Tết ‘Chợ Trời’ sau 1975” của nhà báo Ðinh Quang Anh Thái khiến người đọc có thể vừa bật cười vừa đưa tay quẹt nước mắt. Vào trang 58 của giai phẩm Xuân Người Việt để thấy “còn nguyên đó thôi, trong nỗi nhớ thường xuyên của bạn bè,” những người bạn đã cùng nhau có mặt trong chốn “chợ trời” nhiễu nhương của một thời khốn khó.

“Trũng mù sương” của tác giả Trần Hồng Linh trên tờ Việt Báo lại lôi tuột ký ức những thuyền nhân trở về năm tháng sống nơi những trại tị nạn. Những kỷ niệm thấm đẫm máu và nước mắt năm nào, giờ được nhìn trong ánh mắt và nụ cười độ lượng, bởi dẫu gì “chúng ta đã qua trũng mù sương,” để thấy yêu thương và trân trọng giá trị cuộc sống hiện tại của mình.

Cuối cùng, với người khác thì sao không biết, nhưng với tôi thì không gì thú vị hơn khi đọc những điều các nhà chiêm tinh bói toán dự đoán cho số phận mình trong năm mới!

Mà càng hấp dẫn hơn nữa khi xem cùng là tuổi mình đó, sao mình đó, mạng mình đó nhưng mỗi nhà chiêm tinh của mỗi tờ báo nói cho mình nghe những điều đôi khi trái ngược nhau hoàn toàn. Ai muốn tin sao cũng được. Riêng tui thì tờ nào nói số tui năm nay “may mắn, phúc lộc dồi dào, làm ít hưởng nhiều,” không bị chủ bút và tổng thư ký bắt sửa đi sửa lại bài viết là tui thấy tin liền vào dự đoán đó!

Cũng như tất cả các tờ báo đều kết thúc nội dung báo Xuân bằng mục Tử vi Lý số, tôi cũng xin dừng công việc điểm báo của mình ở đây.

Ngoài đường pháo đã nổ rền nhiều lắm. Tiếng lân tiếng trống cũng khiến tôi phải nhấp nhỏm chạy ra xem.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

Bên đời hiu quạnh
Tùy bút Của Khánh Ly
Tôi không bao giờ nghĩ rằng có một lúc nào đó như lúc này, cuộc sống của ca sĩ Hải Ngoại và Việt Nam lại được mang ra mổ xẻ rạch ròi, tới tấp như thế. Có lẽ, trong đầu óc đơn giản của tôi, ca sĩ ở đâu cũng là ca sĩ…. Âm nhạc là một thứ ngôn ngữ đặc biệt chung cho mọi người, ở mọi nơi, mọi phía. Không có biên giới…. Nhạc đã được khẳng định như vậy, lẽ nào người hát lại bị loại ra ngoài.

Tôi không hề phân biệt ca sĩ trong hay ngoài nước. Có chăng, điều bị chỉ trích là cách sống của những người cùng chung một nghiệp dĩ ở hai bờ đại dương. Những ca sĩ lớn lên hay thành danh ở trong nước dường như không có một khái niệm nào về nghệ thuật và quá trình của lớp người đi trước họ cả một phần tư thế kỷ. Và cũng không ai nói cho họ nghe về một thời bình an, đẹp đẽ của sân khấu Miền Nam, trước mùa Xuân 75.

Chúng tôi, lớp người đã được quần chúng chấp nhận trước 75, thật sự đã trải qua bao nhiêu khó khăn, bằng chính năng khiếu của mình. Chỉ có một ít may mắn đủ trình độ văn hoá Đại học và tốt nghiệp Quốc Gia Âm Nhạc như Hoàng Oanh, Thanh Lan, Đức Huy, Quỳnh Giao, Mai Hương…. Còn lại, đa số chỉ đến Trung học, chưa bao giờ bước chân vào Quốc Gia Âm Nhạc. Lên sân khấu, với năng khiếu Trời cho và may mắn được chấp nhận.

Thời đó, ca sĩ rất ít và không phải bất cứ ai bước lên sân khấu, là đều được coi là ca sĩ… Quần chúng phải chấp nhận. Các ca sĩ phải chấp nhận. Các trung tâm thâu băng, đĩa phải chấp nhận. Các đài phát thanh phải chấp nhận, chúng tôi mới có được… tạm coi như là ca sĩ và vẫn nằm trong sự kiểm soát, nghe ngóng, chăm sóc của các Trung Tâm mà trung gian là nhạc sĩ.

Chỉ một bài “Nỗi Buồn Hoa Phượng”, Thanh Tuyền lúc đó mới 15 tuổi đã trở nên mỏ vàng của Hãng đĩa. Chỉ với “Chuyện Một Chiếc Cầu Gảy” Hoàng Oanh, cô sinh viên văn khoa không hề thua kém Thanh Tuyền của trường Bùi Thị Xuân Đà Lạt. Không ai có thể hát lại chị Bạch Yến bài Đêm Đông. Không ai có thể làm xao xuyến người nghe như chị Lệ Thanh với Tà Áo Xanh của Đoàn Chuẩn. Chị Trúc Mai bài “Hàn Mặc Tử”. Chị Lệ Thu với Ngậm Ngùi và cô Thái Thanh gần như “độc quyền” nhạc Phạm Duy.

Không ai có thể thay thế ai. Vì sao thế, vì thời đó, các nhạc sĩ… đo ni may áo cho ca sĩ. Không thể trật đi đâu được và vì thế, bài hát làm nên ca sĩ. Trúng một cái, cả nhạc sĩ lẫn ca sĩ đều như sóng dội. Thời đó nhạc sĩ nhiều hơn ca sĩ. Ngoài công việc chính, họ chỉ chú tâm sáng tác và chọn những giọng hát hợp với bài hát. Phần chúng tôi, mỗi người có một chất giọng riêng. Nghe là biết ai ngay. Chúng tôi đủ thông minh để không giẫm chân người khác.

Năm 69, ông Thiêng, ông Quân có 2 bài… hai bài này chỉ có Khánh Ly, đó là “Kinh Khổ” và “Trên Hoang Tàn Đổ Nát”… Ông Minh Bằng giao cho tôi… “Người Thợ Săn Và Đàn Chim Nhỏ”. Kim Loan với “Căn Nhà Ngoại Ô”. Giao Linh với “Những Đóm Mắt Hoả Châu”. Phương Hồng Quế có bài “Giờ Này Anh Ở Đâu”. Mai Lệ Huyền và Hùng Cường có một loại nhạc riêng, quen gọi là nhạc kích động.

Chỉ hát một nơi với bài “Mùa Thu Cho Em”, Xuân Sơn đã làm bao người điêu đứng, chưa kể đến bài “Trăng Sáng Vườn Chè”- dẫu sau này Ái Vân dựng lại bằng nhạc cảnh – cũng không làm người nghe quên nổi Xuân Sơn. Carol Kim hát “Hãy Khóc Đi Em”. Ông Sơn bảo… chỉ có Carol Kim hát bài đó trội nhất… Duy Quang trình làng “Thà Như Giọt Mưa”. Elvis Phương bài “Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang”… Còn ông Chế Linh thì bài nào vào tay ông là lập tức trở thành của ông.

10 năm đầu, tôi chỉ nhận được 2 bài hát của ông Sơn “Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên”, “Một Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui”. Cả hai đều bị giam, cấm phổ biến. Dĩ nhiên tác giả cũng không thể ngồi yên. Lý do đơn giản thôi… viết cho KL. Mấy năm sau đó, một bài hát nữa cũng của T.C.S bị dập, bài “Nhớ Mùa Thu Hà Nội”… cũng lại vì KL. Tôi nhận được bài hát từ những người vượt biển. Cũng khoảng thời gian đó, từ Pháp gởi qua cho tôi một số bài hát ký tên Hồng Ngọc, trong số đó có bài “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên”. Thực tế bài hát đó có tựa nguyên thuỷ là “Nước Mắt Cho Sài Gòn”. Ông Võ Văn Ái đã đổi tựa và viết thêm lời hai, Hồng Ngọc là bút hiệu của Nguyễn Đình Toàn, và trong bài viết có câu “đâu rộn ràng giọng hát Khánh Ly”.

Nhưng phải nói rõ, ngay từ những ngày mới tới Mỹ, khi mà mọi người còn bị chia ra, sống riêng lẻ mỗi người một nơi, khó có thể tìm ra nhau từ những trang trại rộng lớn, nằm khuất sau những dãy núi cao mà ngay khi chạy qua trên các xa lộ, chúng ta không thể nhìn thấy được, “Sàigòn Ơi Vĩnh Biệt” của Nam Lộc đã được viết trong thời gian đó. Một ca khúc đơn giản xuất phát từ nỗi lòng của một người vừa rời xa quê hương. Không cầu kỳ văn hoa chải chuốt nhưng rất thật thà nói lên sự tiếc thương, nỗi đau xót và mơ ước ngày trở về, cho dẫu đã nói lên lời vĩnh biệt.

Đức Huy trình làng “Đường Xa Ướt Mưa” năm 1979 cùng lúc với Tùng Giang “Tôi Với Trời Bơ Vơ” và Nam Lộc “Người Di Tản Buồn”. Linh Giang “Tôi Muốn”. Phạm Duy “Nguyên Vẹn Hình Hài”, Hoàng Quốc Bảo “Mưa Trên Thành Phố Cũ”, Nguyễn Đức Nam với “Buồn Tháng Mưa”… trong khi đó nhạc Vàng ở VN bị xoá sổ. “Rơi Lệ Ru Người” viết từ năm 75 (khi nghe tin tôi chết trên biển) phải chờ đến năm 1992 khi gặp ở Canada, ông Sơn mới chép in cho tôi bài đó.

Giữa thập niên 80, một số ca sĩ ở VN mới được phép hát lại, nhưng vẫn chỉ loanh quanh ở những tỉnh nhỏ. Nhạc sĩ Trịnh Lâm Ngân từ Nhật Ngân lập đoàn gồm Duy Khánh, Nhật Trường, Thanh Lan… bữa đói, bữa no, ngủ đình, ngủ chợ, mong được hát cho nhiều hơn là kiếm miếng ăn dẫu rằng ai cũng đói. Nhã Phương và Bảo Yến nổi lên, rồi Ngọc Bích, Thanh Lan ở tù liên miên vì tội vượt biên. Nhưng một số ca sĩ may mắn hơn Thanh Lan là Lệ Thu, Ngọc Minh, Hoàng Thi Thao, Lê Uyên và Phương đã đi được. Thanh Tuyền, Giao Linh, Chế Linh cũng thoát. Vài năm sau đó có Thái Thanh đến Mỹ. Như thế, lớp ca sĩ cũ của chúng tôi còn ở VN là Hồng Vân, Lan Ngọc, Nhật Thiên Lan, Mộng Xuân Lan, Ngân Hà, Giang Tử, Anh Khoa… và rất nhiều nhạc sĩ.

Sau thời VN tưng bừng “mở cửa” rồi tưng bừng “khép lại”. Bài tình ca đầu tiên được viết ở trong nước, ra Hải Ngoại và lọt vào lỗ tai tôi là bài “Giọt Nắng Bên Thềm” rồi bài “Em Ơi Hà Nội Phố”, bài này, trong nước coi như… rửa mặt cho Hà Nội sau mấy chục năm. Và từ đó trở đi, nhạc tình được viết với tốc độ khá nhanh bởi những tác giả trẻ và xa lạ - ngoại trừ Quốc Dũng, Bảo Chấn và Bảo Phúc tung ra Hải Ngoại những khuôn mặt lạ, trẻ và một kiểu hát như nhau, chất giọng như nhau, đến nỗi có đôi khi chợt nghe, tôi không thể phân biệt ai là ai.

Tôi không nghĩ những bài hát được sáng tác ở trong nước là dở - có lẽ tại tôi bảo thủ quá chăng – nhưng với một thành phần nhạc sĩ đông đảo, sáng tác liên tục không ngưng nghỉ trong một môi trường thuận tiện, rộng lớn – 70 triệu người nghe. Nói thật lòng, tôi chỉ nghe được “Giọt Nắng Bên Thềm”, “Em Ơi Hà Nội Phố”, “Thuyền Và Biển”, “Phượng Hồng”, “Hà Nội Mùa Vắng Những Cơn Mưa”, “Tháng Tám Mùa Thu”, “Quê Hương”. Và chỉ có như thế (tôi không nói về nhạc T.C.S). Những bài hát khác không hề ở lại trong đầu tôi. Nó có một chút gì của Mỹ. Một chút gì của Nhật. Một chút gì của Tầu. Một chút gì của Đại Hàn. Một chút gì của Thái.Tất cả có chung một lối hoà âm.

Khoảng trong 2 năm đầu khi những bài hát ở VN tràn ra Hải Ngoại, nhiều người điên cuồng tìm mua nghe, tưởng như nhạc trong nước đã đè bẹp, giết chết nhạc Hải Ngoại phá nát thị trường băng nhạc ở đây. Bạn bè xôn xao hỏi. Tôi nói không bi quan cũng không chủ quan… rồi cũng qua nhanh như lửa rơm… Chỉ đơn thuần là ý nghĩ của tôi với những bài hát viết từ trong nước tôi đã nghe không phải một lần. Vả lại trong số những tác giả trẻ, có người tôi biết trước năm 75.

Các trung tâm cũng xôn xao. Tại sao thế nhỉ… Có nhiều TT ở đây phát hành băng đĩa VN cơ mà. Họ bán 10 đồng 3 cuốn CD rồi 10 đồng 4 cuốn. Nếu CD của chúng tôi bị in giả tại VN lan tràn từ Nam ra Bắc, từ hàng thịt chó tới hàng bún chả, đến phòng tắm hơi, đến những quán karaoke. Từ taxi đến xe đò thì tại sao ở đây không? Một cuốn master thực hiện ở VN giá thành không bao nhiêu và khi được tung ra thị trường thì lại không chỉ dành cho một TT nào mà là cho cả chục người, rồi ai muốn bán kiểu nào, giá nào thì bán.

Bà con mình vốn tính luôn thích của lạ. Lạ mà rẻ, ai lại bỏ qua nhất là nó lại mới lại lạ (như mấy ông chồng bị ăn mãi cơm nhà, quà vợ, nay bỗng thấy người lạ, dẫu không đẹp, cũng vẫn thèm). Bèn mua về nhà ngay - giống phong trào phim bộ năm nào – và mê ngay. Có lạ gì đâu, 27 năm nằm gai nếm mật xứ người, nghe chừng đó ca sĩ, thuộc mặt từng người, coi bộ cũng… mệt mỏi rồi. Thích là phải. Đương nhiên thôi. Bao lâu thì chưa biết nhưng cứ thích, cứ mua cái đã. Thị hiếu của quần chúng đối với một thị trường lạ, tưởng không cần phải bàn ra tán vào, dài dòng, mất thì giờ.

Hai năm trôi qua – như tình yêu vậy, không còn gì mới lạ nữa. Những bài hát theo gió cuốn đi.

Sau mùa Xuân năm 75, đồn rằng tất cả nhạc vàng đều bị thiêu huỷ, ai giữ trong nhà như giữ đồ quốc cấm. Sách, truyện cũng cùng chung số phận. Phim ảnh dù bị hủy hoại cũng còn những bản phụ ở nước ngoài. Mọi người bị lùa đi học tập cải tạo không hứa hẹn ngày trở về. Ca nhạc sĩ bắt buộc phải trình diện gọi là bồi dưỡng chính trị. Những tà áo xanh, đỏ rực rỡ bỗng nhiên biến mất, chỉ còn quần đen áo cánh trắng hoặc nâu cho đúng với tôn chỉ cách mạng. Bao nhiêu khuôn mặt xinh đẹp, nổi tiếng của Sài Gòn nay e dè nhìn nhau như thăm hỏi… Họ nói cái gì thế nhỉ… Người nói cứ nói, người ngồi nghe như vịt nghe sấm, lòng thì cứ như đi đẩu, đi đâu. Nghĩ đến bạn bè ai đi thoát, ai kẹt lại… cái gì đã xảy ra cho SàiGòn… cái người đang giảng giải cái gọi là Chủ Nghĩa Xã Hội kia là ai, ở đâu ra thế… tất cả bàng hoàng hoặc lo âu. Lo cho mình thì ít, cho gia đình thì nhiều bởi đa số ca nhạc sĩ đều có con em cha chồng là quân nhân, là có… nợ máu với nhân dân. Đã gọi là nợ thì phải trả nhưng trả thế nào đây?

Thật ra thì các ca nhạc sĩ không bị đày ải quá lâu với những chương trình bồi dưỡng chính trị. Họ khổ vì bị cấm hát. Suốt mấy năm trời cả miền Nam đều phải nghe một loại nhạc, một kiểu hát cùng một giọng giống nhau.

Những bài hát của miền Bắc mà dân Sàigòn phải nghe đã được sáng tác lâu rồi, giờ mới có dịp tung ra. Chỉ một loạt bài đó thôi sau năm 75, hầu như nhạc sĩ miền Bắc không viết loại nhạc ấy nữa vì người Sàigòn không muốn nghe. Nghe không vô cũng như họ phải chịu đựng những bảng hiệu tên đường ngô nghê, buồn cười, chẳng ra làm sao…đường Nguyễn Văn Bánh, đường Võ Thị Sáu… những người là ai… Khai quốc công thần của nhà Nguyễn chăng… Những bài hát cứ ồm ồm tra tấn lỗ tai người Sàigòn. Những con đường cũ làm cho người ta… khi hẹn nhau, ta lạc lối tìm… chắc cũng họp hành dữ lắm. Nghị quyết này, nghị quyết kia… tôi thấy thế này, tôi thấy thế nọ vân vân. Thanh Lan thành tích vượt biên nhiều quá. Cấm. Hồng Vân, Lan Ngọc tàn tích cũ. Cấm. Thế nhưng các tiếng hát miền Bắc lại không được Sàigòn chấp nhận. Bảo Yến và Nhã Phương lên tiếng đánh bạt các giọng ca… có dấm càng thêm chanh… Ngọc Bích cũng lên tiếng mạnh mẽ lẫy lừng một thời, cô là con gái của nghệ sĩ Ngọc Hùng, Ngọc Nuôi. Cô đã từng là giọng ca chính của ban nhạc The Crazy Dogs thì đương nhiên cô phải nổi bật.

Nhà nước cũng cho mời các nghệ sĩ nổi danh cũ, cho phép thành lập đoàn hát. Cho tập dượt tại nhà hàng Queen Bee. Có ban nhạc Shortguns, ông Lê Uyên Phương có Thái Thanh… Tập cho đã đến chừng phúc khảo ra mắt các quan to sừng dài thì… không đủ tiêu chuẩn (ông Lê Uyên Phương kể lại) thật cay đắng cho những tên mối lớn ở Saigòn. Ông Trịnh Công Sơn đi thực tập, học trồng sắn, trồng lúa, nuôi heo, ông đi theo con trâu ông chủ nhà tốt bụng cho mượn… tôi thấy chú tội nghiệp tôi thương, nơi đó là cả một bãi mìn, ngày mô cũng có người chết, chừ tôi cho chú mượn con trâu, chú cưỡi theo chân nó mà đi… Thời gian này, ông sáng tác bài “Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui”… Mình cứ vừa cày ruộng, trồng khoai vừa hát cho mình nghe – có thế mới sống nổi chứ. Ấy thế mà bài hát bị cấm… Đất nước thống nhất rồi, anh không đủ vui hay sau mà phải tự chọn cho mình một niềm vui?

Sau khi đã giữ chân mấy trăm ngàn người trong trại cải tạo. Làm bà con ta điêu đứng sau mấy đợt đổi tiền. Nhạc tình bắt đầu ngoi ngóp bằng những bài hát. Nửa mùa, quốc không quốc, cộng không ra cộng. Loại nhạc thăm dò dư luận cấp lãnh đạo. Cửa đã hé mở đón Việt kiều hồi hộp về thăm dân cho biết sự tình. Thanh Lan vượt biển hoài mà đường đi không đến bèn leo lên sân khấu hát lại. Cẩm Vân hừng sáng với giọng trầm, ấm áp, rõ ràng. Hồng Hạnh giọng mỏng hơn nhưng xinh đẹp, song nghiệp hát không lâu dài. Các ca sĩ được chú ý vẫn là Nhã Phương, Bảo Yến, Cẩm Vân, thỉnh thoảng mới có đề cập đến Lan Ngọc, Hồng Vân, Anh Khoa. Nhạc sĩ Duy Hải qua đời, nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang qua đời trong tù. Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 gần như đóng cửa ở ẩn, không cộng tác với đoàn hát nào. Cô Thái Thanh, nhạc sĩ Hoài Trung bị cấm hát vĩnh viễn sau cái buổi phúc khảo tại nhà hàng Queen Bee. Một thời gian ngắn sau đó, nhạc sĩ Hoài Bắc vượt biên, nhạc sĩ Văn Phụng, cô Châu Hà cũng đi thoát….

Bài “Quê Hương” là bài tôi thích, bài “Thuyền Và Biển” do Cao Minh hát. Đùng một cái tôi thấy bà con trong và ngoài nước đua nhau hát… bằng lòng đi em… về với quê anh… nghe cũng có vẻ mời gọi lắm nhưng với tôi, nó có vẻ quê quê thế nào ấy. Bài “Ở Hai Đầu Nỗi Nhớ” ấy thế mà tôi lại nghe được. Thì ra “Thuyền Và Biển” thơ Xuân Quỳnh, nhạc Phan Huỳnh Điểu. “Ở Hai Đầu Nỗi Nhớ” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, tác giả bài “Dư Âm” ngày xưa…. Rồi sau đó là bông điên điển, là rau đắng, rau ngọt, rau mồng tơi. Lá sầu riêng, chôm chôm… thì thề… đi mô cũng nhớ về Hà Tĩnh… Quê hương nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người. Tôi nghe mà còn khóc thì bảo sao bà con không đổ xô đi mua, không đè xấp, đè ngữa nhau giành chỗ trên những chuyến bay đi tìm những chùm khế ngọt. Đi để… thành người.

Sau đợt Cẩm Vân, Hồng Hạnh, Ngọc Bích, Nhã Phương, Bảo Yến là những Mỹ Linh, Thanh Lam, Hồng Nhung, Phương Thanh, Thu Hà, Trần Thu Hà là những ca sĩ, nghe nói có được đào tạo trường lớp hẳn hòi và những ca sĩ này sáng tạo ra một lối hát giống nhau nhưng không giống ai. Không giống ai là điều tốt bởi mỗi người phải có cái riêng của mình như các lớp ca sĩ trước. Thanh Tuyền cất tiếng hát là biết ngay Thanh Tuyền. Lệ Thu vừa… nắng chia nửa bãi…. thì đó là Lệ Thu… Em tan trường về, anh theo Ngọ về…. là cô Thái Thanh. Bang bang, em bắn ngay anh… là Thanh Lan. Những ca sĩ không qua một trường đào tạo nào, họ qua… trường đời và họ có cá tính, có cái chất giọng riêng để phù hợp với các bài hát các nhạc sĩ viết riêng cho họ.

Tôi thường hay bị… đố nhạc… Đố chị biết ai hát đấy… và bao giờ tôi cũng thua vì cùng trường, cùng thầy, cùng một cách đào luyện ca sĩ trẻ ở VN hát giống nhau. Bốn năm người hát mà nghe như chỉ một người. Trường lớp có cái hay mà cũng có cái dở và cái sai lại quá lớn. Chẳng còn biết ai là ai mặc dù họ hát vững, kỹ thuật cao, chất giọng tốt và khoẻ nhưng mà ai mới được chứ. Cái… là ai… mới quan trọng. Theo trường lớp để biết kỹ thuật trình diễn, học hát để biết cách hát, biết cách ngân, biết cách lấy hơi chỗ nào, biết cách nhưng sao cho đúng đó là chưa nói đến vấn đề thầm âm. Người ca sĩ phải có cái lỗ tai tốt, nghe nhạc mới chính xác, bát cũng bị chênh. Một người ca sĩ, ngoài tiếng hát nếu biết rõ về nhạc lý thì càng tốt, tốt lắm lắm (nếu không, trường nhạc mở ra để làm gì) như các chị Kim Tước, Mai Hương, Quỳnh Giao và bác sĩ Bích Liên.

Âm nhạc và nhất là các ca sĩ trình diễn không thể bị đóng khung bởi những điều trường lớp dạy. Khi đã có căn bản, phải tự mình tìm cho mình lối trình diễn riêng và sử dụng tiếng hát của mình theo lối riêng lợi điểm của các anh chị không giỏi nhạc… như tôi chẳng hạn. Ngoài các thầy cô ở trường, khi ra tranh đua với đời, ta cũng nên tìm một người thầy hướng dẫn cho mình con đường nào tốt nhất. Đôi khi người thầy đó không giỏi nhạc nhưng họ có cái lỗ tai của người nghe, cái nhìn xa trông rộng giúp cho ca sĩ chọn đúng bài, cách trình diễn và cách hát. Người thông minh có thể không cần ai giúp vẫn tìm được cho mình một đường riêng, tuy nhiên điều này hơi hiếm. Phần lớn, các ca sĩ sau khi tốt nghiệp thường tự cho mình là giỏi, không cần ai nữa. Điều này thì nhiều.

Tôi viết những cảm nghĩ của một người nghe nhạc chứ không phải của một ca sĩ có 40 năm trên sân khấu. Tôi cảm thấy một nỗi thất vọng mênh mang khi cứ tình cờ phải nghe… nghèo 1 rồi nghèo 2 (đến nghèo 3 là sạt nghiệp)… Chim sáo ngày xưa 1, rồi chắc chim còn bay nên lại… chim sáo ngày xưa 2, (nếu không có chim 3 thì có nghĩa con chim này đã nằm trên đĩa). Chim này bắt chước chim đa đa, chim đa đa... đi mất thì đừng trách chim. Tôi nghe ông Song Ngọc hát… ngày chị sinh ứ…ư trời cho tôi làm thơ…ứ ư nhưng chữ ứ… ư này tôi không dám viết ra sợ bà con mắng. Tôi nghe bạn bè bảo bài… Nếu anh nói yêu em là thật ra anh đang dối lòng… là lời của một bản nhạc Mỹ nhưng tôi chưa nghe, không dám bàn tới, tuy nhiên, đó là một bài hát thành công của Bảo Chấn. Trần Tiến tướng tá bậm trợn, to như một đô vật nhưng lại thương cho một lá Diêu Bông, lại thương cho tóc gió thôi bay, lại làm riêng một bài hát về ông TCS. Nhìn ông TCS ngồi cạnh Trần Tiến, tôi nghĩ, đúng là…ở hai đầu nỗi nhớ….
Thì cứ cho là vì sống xa quê hương vì sự sống, các nhạc sĩ ở Hải Ngoại cạn hứng không có sáng tác nào đáng kể. Điều đó lầm. Ông Lê Minh Hằng đó chi. Ông Tuấn Khanh đó chi. Nghe “Nỗi Niềm”, “Nhạt Nhoà” mà không ngây ngất sao, nghe “Dĩ Vãng” của TNS mà không ngẩn ngơ sao. Nghe “Người Di Tản Buồn” của Nam Lộc mà không chảy nước mắt sao. Nghe “Có Những Niềm Riêng” của Lê Tín Hương mà không ngậm ngùi sao. Nghe “Tôi Muốn Hỏi Vì Sao” của Diệu Hương mà không thương cảm sao. Nghe “Anh Đã Ngủ Yên Trên Quê Hương” của Trần Duy Đức mà không thấy lòng ??? ??? sao. Nghe “Đêm Nhớ Về Sài Gòn”, “Một Ngày Việt Nam - Những Bước Chân Việt Nam”, “Cám Ơn Anh”, “Cờ Bay Trên Phố Bolsa” của TrầmTử Thiêng mà không thấy xót xa sao. Nghe đi. Nghe “Ta Hát Tình Thương Về Biển Đông” của Trúc Hồ - Trầm Tử Thiêng để thấy tấm lòng VN ở Hải Ngoại lớn lao, bao dung và nhân hậu biết bao nhiêu. Nhạc hay là nhạc đến rồi ở lại trong lòng chúng ta. Ở đây, mọi người cần phẩm, không cần lượng. Đối với người nghe nhạc như tôi, nhạc thế mới xứng đáng gọi là nhạc phẩm.

Việt Nam trên 70 triệu người, có bao nhiêu nhạc sĩ sáng tác và những bài hát của họ giờ đi về đâu. Nhà nước vốn kỵ nhạc vàng, đốt sạch hết nhạc vàng năm 75 sao giờ đây lại cho… chim bay tùm lum, lại than nghèo chí chạp, lại khuyến khích nhạc sĩ lấy nhạc Thái Lan, Hồng Kông, Đại Hàn, Nhật Bản… viết lời Việt làm thành của mình, toàn những lời thương mây khóc gió, yêu thương vung vít.Tuổi trẻ VN bây giờ được quyền… bỏ học đi hát karaoke, không cần thi vẫn đậu. Cả nước được quyền xem phim bộ và nghe nhạc vàng… Là tại sao?

Nếu bây giờ có ai hỏi tôi rằng tuổi trẻ VN ở Hải Ngoại làm gì. Xin thưa… chúng nó đang ngồi trong thư viện. Tuổi trẻ ở trong nước đang làm gì. Xin thưa… chúng đang hát karaoke. Dĩ nhiên không phải các em nhỏ ở đây đều ở trong thư viện còn các em ở VN đi hát, hoặc đi chích hoặc ra trường rồi nhưng đang đi lang thang xin việc làm. Cái gì cũng có mặt trái của nó. Vì các anh chê chúng tôi nên nói…chơi cho vui. Nhạc các anh làm ra, bên này bán tự do 10 đô 4 cuốn, đổ đống ra, tha hồ mà lựa. Rồi 10 đồng 5 cuốn, mua về nghe không hay, không thích. Dụt. Coi như mất 2 tô phở.

Nhạc của chúng tôi lọt được về VN thật là thiên nan vạn nan, bài nào không có lợi, chủ tiệm băng bèn cắt, bỏ vào đó một bài khác. Bìa băng và tựa băng đổi luôn và như thế, làm sao người nghe có thể nghe được bài hát có giá trị. Các anh chơi như thế là không công bằng, không fair, hoặc là các anh… rét, không muốn phổ biến những bài hát đó. Ở Hải Ngoại chúng tôi có một dúm người, các anh có hơn 70 triệu dân. Chúng tôi không sợ nhạc của các anh làm ảnh hưởng đến đời sống của chúng tôi, sao các anh sợ.

Các bạn của tôi giờ không ngại gì nữa. Nhạc Việt bây giờ là nhạc… lai căng (chính báo của Đảng CSVN đã than vãn việc này).

Tôi mơ ước được nghe lại những sáng tác đầy sáng tạo và đẹp đẽ của các nhạc sĩ ở trong nước cũng như chúng tôi ưu ái tiếng hát của các ca sĩ ở Việt Nam.

Khánh Ly
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Image

1000 Con Hạc Giấy !!
Sự hiểu lầm có thể làm cho con người ta mất đi vĩnh viễn 1 thứ gì đó mà ta rất yêu quý, để rồi, khi nhận ra thì đã quá muộn...

Có một chàng trai đã gấp 1.000 con hạc giấy tặng người anh yêu. Mặc dù lúc đó anh chỉ là một nhân viên quèn trong công ty, tương lai chẳng có vẻ gì sáng lạng nhưng họ vẫn luôn rất hạnh phúc bên nhau.

Rồi cho đến một hôm người yêu của anh nói rằng nàng sẽ đi Paris, sẽ không bao giờ còn có dịp gặp lại anh nữa. Nàng rất lấy làm tiếc về điều này và an ủi chàng rằng rồi nỗi đau của chàng cũng sẽ trở thành dĩ vãng. Hãy để cho nó ngủ yên trong ký ức của mỗi người.

Chàng trai đồng ý nhưng trái tim tan nát. Anh lao vào làm việc quên cả ngày đêm, cuối cùng anh đã thành lập được công ty của riêng mình. Nó không chỉ giúp anh vươn đến những điều mà trước đây vì thiếu nó mà ngưới yêu đã rời bỏ anh, nó còn giúp anh xua đuổi khỏi tâm trí mình một điều gì đó của những tháng ngày xưa cũ.

Một ngày mưa tầm tã, trong lúc lái xe, chàng trai tình cờ trông thấy một đôi vợ chồng già cùng che chung một chiếc ô đi trên hè phố. Chiếc ô không đủ sức che cho họ giữa trời mưa gió. Chàng trai nhận ngay ra đó là cha mẹ của cô gái ngày xưa. Tình cảm trước đây anh dành cho họ dường như sống lại.

Anh chạy xe cạnh đôi vợ chồng già với mong muốn họ nhận ra anh. Anh muốn họ thấy rằng anh bây giờ không còn như xưa, rằng anh bây giờ đã có thể tự mình tạo dựng một công ty riêng, đã có thể ngồi trong một chiếc xe hơi sang trọng. Vâng, chính anh, chính người mà trước đây con gái họ chối từ đã làm được điều đó.

Đôi vợ chồng già cứ lầm lũi bước chậm rãi về phía nghĩa trang. Vội vàng, anh bước ra khỏi xe và đuổi theo họ. Và anh đã gặp lại người yêu xưa của mình, vẫn với nụ cười dịu dàng, đằm thắm nàng từng đem đến cho anh, đang dịu dàng nhìn anh từ bức chân dung trên bia mộ.

Cạnh cô là món quà của anh, những con hạc giấy ngày nào,
đến lúc này anh mới biết một sự thật: nàng đã không hề đi Paris. Nàng đã mắc phải căn bệnh ung thư và không thể qua khỏi.

Nàng đã luôn tin rằng một ngày nào đó anh sẽ làm được nhiều việc, anh sẽ còn tiến rất xa trên bước đường công danh. Và nàng không muốn là vật cản bước chân anh đến tương lai của mình. Nàng mong ước cha mẹ sẽ đặt những con hạc giấy lên mộ nàng, để một ngày nào đó khi số phận đưa anh đến gặp nàng một lần nữa, anh có thể đem chúng về bầu bạn.

Chàng trai bật khóc.

Chúng ta cũng vậy, như chàng trai kia, cũng chỉ nhận ra giá trị lớn lao về sự có mặt của một người mà cuộc đời đã ban tặng cho cuộc sống của chúng ta khi một sáng mai thức giấc, người ấy đã không còn ở bên ta nữa. Có thể họ đã chẳng yêu bạn như cách mà bạn mong đợi ở họ nhưng điều này không có nghĩa rằng họ không dâng hiến tình yêu của họ cho bạn bằng tất cả những gì họ có.

Một khi bạn đã yêu, bạn sẽ mãi mãi yêu. Những gì trong tâm trí bạn có thể sẽ ra đi, nhưng những gì trong tim bạn thì mãi mãi ở lại.

Sưu tầm
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

NỤ CƯỜI THANH THẢN TÂM TƯ
Việt Hải

Người cao niên, lớn tuổi khi giữ mãi nụ cười trên môi thì tâm hồn của họ sẽ trẻ trung, ngừời trung niên vui cười thì họ sẽ xóa bớt lo âu, phiền não của gánh nặng cuộc sống, còn trẻ thơ khi cười thì cuộc đời các em thật sự hồn nhiên và vô tư khiến người lớn vui lây. Do đó mà nhà triết học Bertrand Russel đã nói là:
"Nụ cười ít tốn kém nhất và là liều thuốc kỳ diệu nhất."
http://d93.k12.id.us/~tech/smile.html

Con người sinh ra là đã biết cười. Trẻ em cười trung bình khoảng 400 lần mỗi ngày. Với các em thì cười là hành động tự nhiên thể hiện niềm sung sướng. Nhưng điều ngược lại đáng buồn là càng lớn tuổi, chúng ta càng ít cười hơn. Theo các cuộc thăm dò thì người lớn cười trung bình khoảng 14 lần mỗi ngày. Các chuyên gia tâm lý và tâm thần đã khám phá ra mối liên hệ giữa hài hước như yếu tố gây ra tiếng cười và sức khỏe thể chất. Cười mang lại nhiều lợi ích tích cực cho sức khỏe. Các nghiên cứu khoa học chứng minh cho thấy cuộc sống sẽ tốt hơn khi con người cười. Đây là một số tác dụng đối với sức khỏe của nụ cười:

- Tăng sự tiết ra các hormone tích cực như endophins làm giảm đau tự nhiên hay loại hormone serotonin làm điều hòa trạng thái của tâm hồn.
- Tăng sức đề kháng vì cười làm giảm các hormone tiêu cực và tăng hormone tích cực. Nụ cười còn làm tăng số lượng và mức độ hoạt động của các kháng thể chống lại các yếu tố viêm hay nhiễm các cơ quan nội tạng trong cơ thể.
- Có tác dụng đem mức máu hạ cho người mang bệnh cao huyết áp vì nó giúp ta một tâm hồn hân hoan thư dãn và giảm bớt căng thẳng.
- Làm tăng mức độ hô hấp hít thở và cải thiện chức năng của phổi.
- 20 giây cười thoải mái tương đương với tác dụng của 5 phút tập thể dục chèo thuyền.
- Kích thích nhiều vùng não làm việc khiến cho não bộ có sự linh hoạt sáng tạo và giúp cho trí nhớ minh mẫn, tránh bệnh lú lẫn.
- Những người hay cười thường phục hồi bệnh tật mau hơn hoặc sau khi chịu phẫu thuật sẽ bình phục nhanh hơn. Một số nghiên cứu cho thấy những bệnh nhân có tính hoạt bát vui vẻ sử dụng thuốc gây mê ít hơn các bệnh nhân sầu não.
- Người sầu não, hay lo âu có nguy cơ mắc bệnh tim mạch nhiều hơn.
- Khi ta cười càng nhiều khiến tâm trạng càng vui hơn và đời sống lý thú hơn.

Chung qui thì nụ cười chẳng mất tiền mua mà có ích lợi cho ta rất nhiều. Câu nói của triết gia Bertrand Russel vẫn là chân lý cho cuộc sống chúng ta về triết lý của nụ cười. Vậy tại sao ta không nuôi dưỡng với óc ý nhị của nụ cười ?
Vã lại nụ cười không làm nghèo người phát ra nó mà còn làm giàu người nhận nó. Một người cười chỉ nở trong khoảng khắc, nhưng có khi làm cho người ta nhớ nó suốt đời. Người giàu sang phú quí mà không có nó thì họ cũng vẫn còn nghèo, còn những ai nghèo hèn tới đâu mà sẵn sàng cho nó thì vẫn còn cái vốn liếng hữu ích vô tận trong cuộc sống.

Trên bình diện xã hội rộng lớn nụ cười gây hạnh phúc cho các đơn vị nhỏ gia đình, nhiều gia đình cười làm thành một cộng động vui tươi, nhiều cộng động biết thưởng ngoạn ý khôi hài thì cả xã hội bớt bệnh hoạn, bớt già nua đi. Nụ cười tự bản chất của nó có nguồn gốc cho những hảo ý trong thương trường, thương nghiệp và là dấu hiệu của tình thân thiện, tình bạn bè thắm thiết với nhau hơn. Nụ cười như chất dưỡng tố bồi bổ cho con người giảm mệt nhọc, nó là hình ảnh bình minh xóa đi những chán nản, ngã lòng, là nắng xuân loại trừ đi những cơn buồn rầu, sầu não và là liều thuốc màu nhiệm nhất của tạo hoá để chữa lo âu trong cuộc đời xung quanh chúng ta.

Trên phương dện bình luận về nụ cười người ta hằng tốn hao không biết bao nhiêu giấy mực ngợi ca và tri ân nó trong cuộc sống. Nụ cười không thể mua được bằng chính bản thể của nó, không thể xin xỏ hay không vay mượn được, mà cũng như không thể nài ép gượng gạo được. Nụ cười vốn bắt nguồn do bản năng tự nhiên tự lòng người. Vì nếu ta ôm nó khư khư thì có thể nó chẳng có giá trị gì, nhưng nếu ta bộc lộ thể hiện biếu tặng nó cho người với sự chân tình của ta thì giá trị của nó sẽ cao cả hay ý nghĩa vô cùng. Thế nên khi bạn gặp một người bệnh hoạn, tâm thần sa sút và mệt nhọc, không còn ý muốn vui cười với bạn được thì bạn hãy mĩm cười với người đó đi, hãy tặng người nụ cười như hoa nở trên bờ môi, vì người nào không còn lấy nụ cười để tặng kẻ khác thì theo tôi thiết nghĩ chắc hẳn người đó cần nhận một nụ cười hơn ai hết.


Người Âu Mỹ cười ra sao?


Các nhà tâm lý học làm bản nghiên cứu về nụ cười giữa hai dân tộc Anh và Mỹ, họ cười ra sao. Người Anh cười bằng cách cắn môi và để lộ ra hàm răng bên dưới, thì người Mỹ lại chỉ đơn giản cười xuề xòa hé môi và nhếch hai bờ môi khoe cả mồm. Đó là điểm khác biệt rỏ rệt mà các nhà tâm lý học đã phân tích tìm ra sau khi nghiên cứu các bức hình nụ cười của hai dân tộc có liên hệ gắn bó trong lịch sử.
Theo bản nghiên cứu do giáo sư tiến sĩ tâm lý học Dacher Keltner thuộc viện đại học California tại Berkeley thực hiện. Ông đã phân tích các trường hợp khi mà con người sử dụng nụ cười trong những trạng thái tâm lý khác nhau như lúc trao đổi đàm thoại vui vẽ, xã giao quyến rủ, hay an ủi âu yếm, cảm thông. Ông tìm thấy là người Anh thường nhếch hai gò má lên khi cười và để lộ. Những vết nhăn nơi khoé mắt. Nó tạo ra môt nụ cười thân thiện, chân thật.

Keltner đã đặt tên cho nụ cười kiểu người Anh là "nụ cười Thái tử Charles", bởi ông cho rằng hoàng tử xứ Wales có nụ cười Anh điển hình nhất cho vương quốc Anh. Keltner cho là hoàng tử Charles để lộ rỏ nét cười từ hàm răng dưới, hé mở nhẹ chạy dọc quanh mồm. Đó là cách biểu hiện sự hài lòng một cách lịch thiệp và hòa nhã. Nhưng nó cũng là một kiểu cười bảo thủ kiểu cổ điển. Có lẽ nó bắt nguồn từ thuở ban đầu sơ khai khi tổ tiên người Anh mở mồm cười để mời chào sự hợp tác thay vì gây hấn đánh nhau như trong lịch sử lập quốc của họ.

Ngược lại, Keltner tìm thấy hầu hết người Mỹ có nụ cười mang tính cách trình diễn cảm thông, mà ông gọi là nụ cười "Pan-Am" tiêu biểu cho sự trình diễn từ một cử chỉ chào khách, theo lối cổ điển truyền thống trên các chuyến bay Pan-Am. Nó ảnh hưởng các bắp thịt từ vùng gò má xuống quanh cằm, nên được gọi là nụ cười Botox, bởi vì nó giống như loại mỹ phẩm nổi danh này, nó làm cho con người có khoé mắt bất động. Cũng theo Keltner thì vị Thủ tướng Anh Tony Blair đã ảnh hưởng bởi đường lối chính trị của nước Mỹ, tuy vậy nụ cười của ông vẫn còn mang đặc tính Anh quốc. Về nụ cười của tổng thống Mỹ George W. Bush thì mang nét hoài nghi hơn là hài lòng.

Trong chính giới Mỹ, chúng ta vẫn không quên nét cười của 3 vị tổng thống tiền nhiệm là nụ cười toe toét trên gương mặt của tổng thống Jimmy Carter mà các tranh hí họa thường vẽ nét khôi hài khi ông cười như khoe cả 32 cái răng trên các trang báo chí. Còn cái cười của tổng thống Ronald Reagan rất tươi tắn khi ra ông xuất hiện trước ống kính truyền hình trả lời báo chí. Ông làm chính trị nhưng lại mang cái cười trình diễn của người tài tử từ phim trường Hollywood. Còn như tổng thống Bill Clinton thì thế nào ? Ông cười mím môi che dấu như sự bí hiểm, cần sự thông cảm cho qua những giai đoạn khó khăn trong đời sống.

Cái cười của những nhà lãnh đạo được giới TV, phim ảnh Hollywood khai thác tận tình, được lập đi lập lại thì vô hình chung nó ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân, và cho tới lúc nào đó nó nghiễm nhiên trở thành nụ cười Mỹ quốc chăng ?


Người Việt Nam cười ra sao ?


Cụ Nguyễn Văn Vĩnh viết một bài khảo luận về cái cười của người Việt Nam qua bài mang tên "Gì cũng cười", bài dăng trong Đông Dương tạp chí hồi đầu thế kỷ 20. Hãy nghe cụ viết:

"An Nam ta có một thói lạ là thế nào cũng cười. Người ta khen cũng cười, người ta chê cũng cười. Hay cũng hì, mà dở cũng hì; quấy cũng hì. Nhăn răng hì một tiếng, mọi việc hết nghiêm trang. Có kẻ bảo cười hết cả, cũng là một cách của người hiền. Cuộc đời muôn việc chẳng qua là trò phường chèo hết thảy không có chi là nghiêm đến nỗi người hiền phải nhăn mày mà nghĩ ngợi. Ví dù được y như vậy, thì ra nước An Nam ta cả dân là người hiền. Nếu thế tôi đâu dám đem lời phường chèo mà nhủ người nhếch mép bỏ tính tự nhiên mà làm bộ đứng đắn lại, nghiêm nhìn những cuộc trẻ chơi.
Nhưng mà xét ra cái cười của ta nhiều khi có cái vô tình độc ác; có cái láo xược khinh người; có câu chửi người ta; có nghĩa yên trí không phải nghe hết lời người ta mà gièm trước ý tưởng người ta; không phải nhìn kỹ việc người ta làm mà đã chê sẵn công cuộc người ta" .

Cụ viết tiếp:

"Ta phải biết rằng, khi người ta nói với ta, là để hỏi tình ý ta thế nào. Ai nói với mình thì mình phải đáp. Tùy ý mình muốn tỏ tình ý cho người ta biết thì nói thực; không hiểu thì hỏi lại; mà không muốn nói tình ý cho người ta biết, thì khéo lấy lời lịch sự mà tỏ cho người ta hiểu rằng câu hỏi khi phạm đến một điều kín của mình. Hoặc là có khôn thì lựa lời mà tỏ cho người ta biết những điều mình muốn cho biết mà thôi, và khiến câu chuyện cho người ta không khỏi căn vặn được mình nữa. Nhưng phàm người ta hỏi, mình đã lắng tai nghe, là mình nợ người ta câu đáp."

Tại hải ngoại ngày hôm nay, các băng video được hưởng ứng nồng nhiệt cho thấy người Việt chúng ta vốn thích cười bên cạnh màn ảnh nhỏ hay những buổi đại nhạc hội mà những danh hài hầu như xuất hiện nhiều hơn theo thời gian và kỹ thuật pha trò có phần tăng cao hơn về phẩm và lượng. Tôi thăm dò những cuộn băng video tại hải ngoại, nhiều kho cười hoạt náo màn ảnh Ti Vi cho khán giả những pha cười quên thời gian. Điểm qua vài khuôn mặt tiêu biểu như Văn Chung, Việt Thảo, Vân Sơn, Bảo Liêm, Hoài Linh, Chí Tài, Quang Minh, Hồng Đào, Trang Thanh Lan, Hồng Vân,... và các tài năng trẻ đang lên còn nhiều.

Thực vậy, người ta nhận thấy hình như Thượng Đế ban cho người Việt Nam có một bộ óc khôi hài, thích thưởng ngoạn nụ cười, từ những cái cười trong văn học, phim ảnh, kịch nghệ đến những nụ cười dân gian qua những câu đồng dao hay như cụ Nguyễn Văn Vĩnh đã nhận xét.


Cười có ích lợi cho tim mạch của bạn:

Theo một nghiên cứu mới đây của trường Đại Học Y khoa Maryland cho biết: “Cứ mỗi mười lăm phút cười thoải mái mỗi ngày sẽ tăng cường sự khỏe mạnh của mạch máu trong cơ thể. Tác dụng này giống như khi bạn tập thể dục ba lần mỗi tuần, mỗi lần bạn tập 30 phút. Bản nghiên cứu này do bác sĩ Michael Miller thuộc Trung Tâm Y Khoa Maryland, đã công bố ngày 7 tháng 3 năm 2004 tại hội nghị của Hiệp Hội Tim Mạch Hoa Kỳ. BS Miller đã cho 20 tình nguyện viên xem các đoạn băng của cuốn phim hài King Pin. Trước và sau khi xem phim, ông sử dụng làn sóng siêu âm để đo dòng máu và độ dãn nở của động mạch nằm trong cánh tay. Kết quả cho thấy là sau khi xem phim mạch máu của 19 tình nguyện viên dãn ra và dòng máu di chuyển tự do hơn bình thường trong vòng 30 đến 45 phút.

Điều ngược lại là khi những tình nguyện viên trên xem những đoạn phim kinh dị, hãi hùng trong cuốn phim chiến tranh Saving Private Ryan. Thành mạch của 14 người bị co thắt lại, làm giảm lượng máu lưu thông. Tính về tổng thể, dòng máu giảm 35% sau khi họ xem phim kinh dị căng thẳng và tăng 22% khi xem phim vui cười. Như vậy kết quả nghiên cứu cho thấy nụ cười có thể làm cho thành động mạch khỏe mạnh hơn, nên nó làm giảm nguy cơ cho các chứng bệnh tim mạch. Cũng theo BS Miller thì chỉ nụ cười cũng đem lại bao ích lợi khi bù lắp được sự căng thẳng về tinh thần. Căng thẳng về tinh thần đem đến tổn hại cho thành động mạch trong cơ thể của chúng ta.

Để giải thích cho lý do tại sao cười lại có lợi cho mạch máu, thì có thể là yếu tố vui cười làm cho cơ thể bài tiết chất endorphins, hormone được tiết ra sau khi luyện tập và góp phần sửa chữa mạch máu. Một khả năng nữa là khi cười tiết ra nitric oxide, một chất hóa học làm dãn mạch máu:

"Cười lên đi nhe cái răng vàng sáng chói
Hỡi cô em xinh có răng vàng le lói"



Khi bạn đang mải khúc khích cười lúc xem một bộ phim hài thì trong cơ thể của chúng ta sẽ làm dòng máu đột nhiên lưu thông dễ dàng hơn. Như dã trình bày, BS Michael Miller đã so sánh ảnh hưởng của phim vui hài và phim gây căng thẳng đối với hệ thống tim mạch của con người. Theo nhóm nghiên cứu này, nụ cười khiến cho các mô cấu thành lớp niêm mạc trên thành mạch máu dãn nở và làm tăng dòng chảy. Lớp niêm mạc này có tác dụng điều tiết dòng máu, kiểm soát độ đông đặc của máu, đồng thời tiết ra một số hóa chất để phản ứng với các vết thương, sự lây nhiễm hoặc kích thích. Lớp niêm mạc này còn đóng vai trò quan trọng đối với bệnh tim mạch. Sự suy thoái chức năng của nó là dấu hiệu đầu tiên của các biến cố về tim mạch.
"15 phút cười thoải mái và 30 phút tập thể dục mỗi ngày là cách tốt nhất để bảo vệ sức khỏe về tim mạch", trưởng nhóm nghiên cứu là BS Michael Miller đã kết luận như vậy.


Nụ cười là Ngôn ngữ đại đồng:



Tôi đọc bài khảo luận viết rất công phu bàn về nụ cười dân gian của tác giả Angela Bennett dưới tựa đề "Universal language" (hay "Ngôn ngữ đại đồng"). Bài viết thuộc loại biên khảo về nguồn gốc của nụ cười, sự đóng góp của nó cho xã hội loài người, nụ cười được phân tích theo môn y khoa và tâm lý,... Tôi xin tóm luợt trích dẫn như sau.


Nụ cười (laughter) hay sự khôi hài (humor) đã xuất hiện từ lâu lắm rồi. Ta hãy trở về nguyên thủy thì Kinh Cựu Ước thì câu 17:22 nói là: "Con tim trở nên vui thì là một liều thuốc bổ, nhưng một tâm hồn tuyệt vọng sẽ làm cho xương tủy ta trở nên khô héo". Tham chiếu theo từ thuở Khai thiên lập địa thì Thượng Đế đã khuyến khích chúng ta hãy có nụ cười.
Vào thế kỷ 14 bác sĩ người Pháp Henri de Mondeville viết là: "Hãy để cho bác sĩ của bạn làm điều hòa cuộc sống của bệnh nhân thêm vui tươi và hạnh phúc, để bà con thân thuộc hay bằng hữu dem đến bệnh nhân niềm vui và hãy kể cho bệnh nhân những chuyện khôi hài". Thực vậy, tâm lý bệnh nhân thường lo âu, buồn chán, họ cần dược an ủi, cần những nguồn vui của cuộc đời, nếu những nguồn vui hữu hiệu nhất không phải là những chuyện hài hước hay một vở kịch tếu lâm hay một cuốn phim vui nhộn cho quên cuộc đời u ám hay sao ?”.

Sang thế kỷ 16, nhà tôn giáo Martin Luther áp dụng hình thức chửa trị tâm lý buồn nản, yếm thế, tuyệt vọng bằng chuyện vui làm cho người bệnh thêm phấn khởi.
Mỗi dân tộc có một nền văn hóa đặc thù riêng, nên nụ cười sẽ bị ảnh hưởng phần nào đó bởi những mẫu chuyện phiếm hài. Bác sĩ Brian Luke Seaward bàn về văn hóa và nụ cười. Có những nơi người ta dùng chuyện phiếm hài, vui cười trị bệnh hay nâng cao tâm thần của bệnh nhân cho vui lên. Tuy vậy không phải lúc nào cũng được xem là phương thuốc trị bênh. Trong quá khứ dưới thời Thanh giáo (Puritans) khắc nghiệt tại Anh quốc lại cho là nụ cười đồng hóa với tội lỗi trong bất cứ trường hợp nào, và nó bị cấm chỉ. Điều này nói lên quan niệm hay chủ thuyết cá biệt của một nền văn hóa quá khích.


Trong y học có chữ lành bệnh là "heal", mà nó ngay từ nguyên thủy thoát thai từ chữ Hy Lạp "haelen" mang ý nghiã "làm lại toàn bộ" mà nhà hiền triết Socrates thuở trước lập luận trong lý thuyết y khoa như là sự lành bệnh bao hàm ý nghĩa từ đôi mắt đến cả phần đầu, từ đầu đến cơ thể, và cơ thể dến tâm linh. Đó là sự toàn bộ của sự lành bệnh.
Trong nền văn hóa Á đông, người Tàu và Nhật cho là nụ cười tốt cho phần "Qi", tức phần khí, năng lực khi tăng cao. Do đó nụ cười cũng có vai trò trong đông y học vậy.


Nụ cười Hollywood và Âu châu:



Sang thế kỷ thứ 20 con người càng tiến bộ, sự thưởng ngoạn nụ cười vươn lên tột đỉnh của nó. Bao gánh xiệc mở ra phải có những màn hề giúp vui. Kỹ nghệ kịch hay phim ảnh khai thác tối đa nụ cười ta có Charlie Chaplin (hề Charlot), Laurel & Hardy (Stan Laurel và Oliver Hardy), Jerry Lewis, Woody Allen,… Điện ảnh Pháp có vua hề Louis de Funes, và bên Anh có tay chọc cười Benny Hill.


Trong phạm vi TV Mỹ sau này phát sinh ra bao tay hề của màn ảnh nhỏ từ Johnny Carson, Bill Maher, Conan O'Brien, David Letterman, Jay Leno, Roseanne Barr, đến tay chọc cười giả giọng chuyên nghiệp Darrell Hammond hay Jon Stewart. Khi xã hội tự do, dân chủ thăng tiến, sự phiếm hài diễu cợt thói hư tật xấu của nhà lãnh đạo, nụ cười đóng góp cho tư cách hay hành động sai quấy của nhà lãnh đạo. Darrel Hammond nổi danh nhờ thủ vai tổng thống Bill Clinton hay phó tổng thống Al Gore trong show "Saturday’s Nightlive" trên đài NBC vào chiều tối thứ 7, cho khán giả Những pha cười nghiêng ngữa. Còn Jon Stewart là người trông coi "The Daily Show" khá ăn khách trên Ti Vi, anh có nét giống tổng thống Bill Clinton khi bắt chước với đôi mắt mơ huyền và giọng nói mang âm hưởng người miền nam Hoa Kỳ. Một tay chọc cười ý nhị nổi danh khác của đài NBC là Jay Leno. Tôi nhớ xem xem show của Leno anh kể chuyện về sự thiếu hụt ngân sách giữa tiểu bang Cali và liên bang Hoa Kỳ. Khi Jay Leno nghe tin thống đốc Arnold Schwarzenegger đi lên Hoa Thịnh Đốn cầu viên Tổng thống GW Bush giúp đỡ sự thiếu hụt ngân sách của Cali, Jay đùa là: "Arnold Schwarzenegger tuyên bố sẽ yêu cầu Tổng thống Bush giúp đỡ về ngân sách. Có phải tốt hơn hết thương lượng với sự khiếm hụt 38 tỷ mỹ kim hơn là đi hỏi ông liên bang mang nợ như chúa chổm đến 450 tỷ mỹ kim".
Thống đốc Arnold vốn là một tay dân chơi, ông là một tài tử nổi danh, lại có tính dê xồm với đôi tay táy máy thích bốc hốt phụ nữ, khi ông ra tranh chức thống đốc bao nhiêu nạn nhân cũ của ông đem chuyện cũ ra tố giác. Jay Leno đùa tiếp: "Có 6 phụ nữ đã ra mặt tố khổ Arnold Schwarzenegger phạm tội sờ mó không có sự đồng ý của đương sư. Điều này chứng tỏ ông là người thống đốc có kinh nghiệm", mà tiếng Anh lại là "Six women have come forward that say Arnold Schwarzenegger groped them without their consent. This proves he would be a hands-on governor."

Rồi lần khác Jay đùa về Arnold và người vợ Maria Shriver thuộc gia đình Kennedy: "Rỏ ràng cách đây 26 năm, Arnold được báo Oui phỏng vấn về đời sống tình dục. Bản tin tốt là anh ta cưới Maria Shriver và bây giờ anh ta bị một sex scandale, nên gia dình Kennedy cuối cùng chấp nhận ông ta làm rể". Mọi người đều biết gia đình Kennedy vốn nổi tiếng bao nhiêu sex scandale vây quanh.
Đó là phạm trù chính trị và nụ cười liên quan tới một tài tử điện ảnh Hollywood. Thần tượng của Arnold Schwarzenegger cũng là một tài tử Hollywood và là tổng thống thứ 40 của nước Mỹ, đó là Ronald Reagan. Reagan được xem như vị tổng thống duyên dáng thường nói đùa trước công chúng. Trước khi bắt đầu những cuộc họp báo với báo chí, ông thường mang chuyện vui ra kể làm cho những sự căng thẳng được thư thái hơn sau tiếng cười. Khi ông mất cả thế giới thương tiếc ông, trong tuần lễ đưa tiễn ông người ta kể về chuyện vui Reagan (Reagan’s jokes).

Tổng thống George H. Bush, thứ 41 của Hoa Kỳ, người từng sát cánh với TT Reagan, khi đi dự tang lễ của TT Reagan đã kể chuyện vui về TT Reagan như sau:
"Trong vai trò phó TT trong 8 năm, tôi học rất nhiều điều hay từ TT Ronald Reagan hơn bất cứ ai mà tôi đã từng cộng tác trong suốt quá trình công vụ của tôi. Tôi học đức tính đôn hậu của ông cũng như chúng ta tất cả đã làm. Tôi học lòng quả cảm của ông cũng như quốc gia của chúng ta đã làm. Ai có thể quên được cái ngày khủng hoảng tháng 3 năm 1981, TT Reagan nhìn hết các bác sĩ trong phòng cấp cứu và ông nói: "Tôi hy vọng là tất cả các ông là người của đảng Cộng Hòa” (Tiếng cười vang lên)... TT Reagan vốn thích chuyện vui. Khi tôi hỏi ông buổi họp với giám mục Tutu ra sao. Ông trả lời: "So-so". (Tiếng cười vang lên)... Và khi ông rời Tòa Bạch Cung vào ngày cuối cùng ông treo một tấm bản nhỏ bên ngoài cánh cửa Phòng Bầu Dục (Oval office) thông báo cho mấy chú sóc. Ông rất yêu quý loài sóc này. Và tấm bản này cho biết là "Coi Chừng Chó Dử", vì con chó Millie của chúng tôi khi vào toà nhà này sẽ ăn tươi nuốt sống những chú sóc nhỏ của ông. Nhưng rồi bên trên tấm bản ông lại đề "Nhưng mà đừng vì thế mà chết nhát". Vâng, đó là bản tính thích đùa của TT Reagan với loài thú vật. Trong mẫu chuyện TT Bush thuật lại khi cái ý nhị của nghiã bóng của âm Tutu là "Too-too", nghe như tương dương với chữ lóng "So-so", một lối chơi chữ khôi hài. Ngày khủng hoảng Tòa Bạch Cung năm xưa khi ông bị tên hung thủ John Hinckley toan ám sát vào ngày 30-03-1981. Ông may mắn thoát chết trong đường tơ kẽ tóc.

Còn kỷ niệm chuyện vui TT Reagan do con trai Michael Reagan nhắc lại trong tình gia đình. TT Reagan rất thích viết thơ, thơ ông viết chân tình cho người thân và bằng hữu, ông rất thích viết đùa. Michael kể lại tại đám tang chôn cất cha mình: "Ông thường biên thơ thăm con cháu. Dù rằng ông không thể làm tròn cái chức ông nội như nhiều quý vị làm, vì công việc của của ông quá bề bộn. Và vì thế ông chỉ còn mỗi cách là viết thơ thăm cháu mà thôi. Ông viết thơ thăm con trai Cameron của tôi như sau: "Cameron con, có người dã bán chữ ký ông nội của con được $10,000. Lá thơ này có thể giúp con trả tiền học phí đại học, con à". Rồi ông ký tên ông trên lá thơ, "Ông nội của con. Tùy bút: Ông nội của con là tổng thống thứ 40 của nước Mỹ, Ronald Reagan".


Những Nụ Cười Hái Ra Tiền:


Chuyện TT Reagan kể cho người cháu nội cho ta thấy xã hội Mỹ đã khai thác nụ cười tận tình. Nhà tâm lý học Paul McGhee là một cố vấn ngành khôi hài(humor consultant), ông làm trong ngành này rất thành công trong vòng 20 năm. Khi các hãng kỹ nghệ cần đến ông, ông đến mở những khóa luyện cho nhân viên, khi họ bị căng thẳng về công ăn việc làm, ông đem kinh nghiệm tâm lý của mình, nhất là đề tài cười cho quên đi những căng thẳng, những vất vã, cho ngày bớt dài, và cuộc đời dược dài thêm vì đời rất đáng sống khi ta biết cách lèo lái nó theo quan niệm của Paul McGhee.

Bệnh trầm cảm (anxiety) hay bệnh buồn sầu hay buồn chán, xuống tinh thần (depression), lo lắng căng thẳng (stress) hàng năm tốn cho nước Mỹ $150 tỷ mỹ kim. Theo công ty MarketData Enterprises, Ltd. cho biết sự thăm dò có gần 23 triệu người bị những vấn đề căng thẳng bởi việc làm. Do vậy kỹ nghệ mang nụ cười cho thiện hạ rất rộng lớn khi mà xã hội tiêu pha hằng trăm tỷ mỹ kim hằng năm cho nụ cười, dù nụ cười chỉ mua vui cho mục tiêu giải khuây hay nụ cười làm cho bớt căng thẳng, bớt đau bệnh trong lãnh vực y khoa. Cô y tá Patty Wooten phục vụ trong phòng cấp cứu khẩn cấp tại nhà thương vùng San Diego, cô thường xuyên chứng kiến cảnh chết chóc hay đau khổ trong phòng cấp cứu (ER) của nhà thương, cộng thêm sự căng thẳng, vất vã của nghề nghiệp, cô còn chịu hoàn cảnh ly dị trong gia đình. Để tự cứu vãn mình cũng như cho các bệnh nhân cô đưa ra phương cách khôi hài tạo nguồn vui cho sự kiểm soát thần kinh căng thẳng (stress management). Cô cũng hiểu khi con người trong trạng thái căng thẳng thì chất hormone andrenaline dâng cao làm cho áp huyết tăng. Do đó nguy cơ của căn bệnh tim mạch. Bên ngoài việc cấp thuốc cho bệnh nhân, bệnh nhân còn được truyền kinh nghiệm đối phó với tâm lý, đem nguồn vui đến cho chính mình. Trong 30 năm làm việc Patty Wooten đã gặt hái thành công về danh tiếng và cũng như về tài chánh.
Hai bác sĩ Lee Berk và BS Stanley Tan thuộc nhà thương Loma Linda vùng Nam Cali cũng thành công trong ngành được gọi là sức mạnh của nụ cười trong y khoa.

Cuộc sống của chúng ta ngày hôm nay không thể thiếu tiếng cười. Nó là một nhu cầu làm nhẹ nhõm tâm hồn, cho ta niềm vui của sự sống để chúng ta thư thái thoãi mái và yêu đời hơn. Như vậy tại sao chúng ta không nuôi dưỡng nụ cười trên bờ môi nhỉ ? Trong cái ý tưởng của Bertrand Russel cho thấy nụ cười là viên thuốc bổ mầu nhiệm. Cũng như từ thuở xa xưa của con người, Kinh Cựu Ước cho là khi con tim vui vẽ là một liều thuốc khỏe cho chúng ta, rồi lại ý niệm của sự lành bệnh của nụ cười theo Socrates cho đến về sau liên tục được giới y khoa như bác sĩ Henri de Mondeville, BS Michael Miller, BS Lee Berk hay BS Stanley Tan cho thấy sự cần thiết của nụ cười trong cuộc sống. Người viết bài này xin quý vị giữ mãi nụ cười tin yêu để thanh thản tâm hồn mình, quý vị nhé.

Việt Hải, Los Angeles.
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

Nguyên Sa
Màu kỷ niệm khó phai

Image
Hôm đó, lũ học trò chúng tôi lao xao trước lớp chờ thầy tới. Không hiểu sao, hôm đó tôi lại láu táu hỏi giật các bạn:

“Lan phệ đến chưa?”

Lan phệ là hỗn danh lũ học trò con gái vẫn gọi lén thầy Lan. Tiếng trả lời ngay phía sau làm tôi bủn rủn tay chân trong tiếng khúc khích của chúng bạn:

“Nó đây rồi!”

Người trả lời là Trần Bích Lan, ông thầy dạy triết mà vóc dáng lại chẳng có vẻ gì khô cằn khắc khổ của triết gia như lũ học trò vẫn hình dung. Ông tỉnh khô bước vào lớp.

Tuổi học trò có kỷ niệm khó quên như vậy là nhờ những ông thầy triết nhân kiêm thi sĩ. Thơ Nguyên Sa Trần Bích Lan đến với chúng tôi ở lứa tuổi đó. Giờ đây nếu chẳng còn nhớ gì về môn triết thì thơ ông vẫn khơi dậy những cảm xúc học trò. Ðây là nói về thơ Nguyên Sa thời trước, chứ sau này, cho đến khi ông gần mất, thơ ông đã vươn ra những không gian khác.

Tuổi ấu thơ của chúng tôi trùng hợp với tuổi xuân của Việt Nam Cộng Hòa, của miền Nam tự do sau Genève. Lúc đó, mọi người như đều khao khát cái mới, có lẽ một phần để đoạn tuyệt với một nửa đau thương bên kia Bến Hải. Phần nữa là do sự thôi thúc của miền Nam, vùng đất có sự khoáng đạt rất mới. Lúc đó, hình như một thế hệ nhà thơ đã xuất hiện, trong đó có người du học từ Pháp về. Nguyên Sa là một, và có lẽ nổi bật nhất, trong lớp người đó.

Image
Nguyên Sa và phu nhân trong Jardin du Luxembourg Pháp, 1954
Hình Trương Trọng Trác

Nguyên Sa từ Paris về lại thổi vào Sài Gòn hương vị dịu mát của Hà Nội. Bài Áo Lụa Hà Ðông có tác dụng đến như vậy mà không lạ sao? Từ bài đó, tôi tin rằng khi nghe thơ Nguyên Sa người di cư từ miền Bắc đều nhớ về Hà Nội hoặc khí hậu tưởng như Hà Nội. Không mấy ai băn khoăn về Paris nữa dù lúc đó rất thời thượng, có một ma lực với người làm thơ ở Sài Gòn. Với Nguyên Sa, Paris có lẽ đã là tiền kiếp. Chứ Hà Nội, chứ miền Bắc và kỷ niệm ấu thời trước buổi di cư mới là hiện tại trong thơ.

Ðọc thơ Nguyên Sa - lúc đó, mới đọc thôi, chưa nghe và chưa hát - đọc thơ Nguyên Sa, lũ học trò đều thấy bồi hồi đến nóng đôi má vì ông viết thơ tình mà không hiểu sao, chúng tôi nhất quyết rằng đó là thơ tình cho học trò. Giờ này đây tôi vẫn nghĩ vậy và chỉ mong là thế hệ nào cũng có mấy cậu học trò pha mực làm thơ, khiến các cô gái đến tuổi đôi tám lại phân vân khi chọn màu áo đi học.

Thời đó, hầu như đứa nào trong chúng tôi cũng giấu trong cặp vài bài thơ, không Nguyên Sa thì Nhất Tuấn. Các nhà thơ ấy làm thơ cho lũ con gái kẹp tóc thời Sài Gòn còn thanh bình, và với tôi, kỷ niệm ấm êm đó vẫn là những gì đáng nhớ nhất. Không phải vậy sao, mỗi khi thấy mưa rào nổi bong bóng trên sân là mình lại nhớ về quê nhà, về tuổi mộng mơ còn vầy mưa ngoài ngõ, và thơ Nguyên Sa lại khua trong trí nhớ cả một trời ấu thơ đã mất.

Một điều phải nói ngay là thơ Nguyên Sa được phổ nhạc không nhiều bằng một số nhà thơ khác, nhưng bài nào đã được đưa vào nhạc là ngự trị mãi ở một vị trí rất cao.

Quỳnh Giao nghĩ rằng thơ Nguyên Sa khó phổ nhạc hơn nhiều bài khác vì tự nó đã có nét nhạc riêng, ở tiết tấu nhịp điệu riêng. Có bài đọc lên là đã như hát rồi. Mưa Tháng Sáu là một ví dụ làm tôi liên tưởng tới một bài luân vụ dìu dặt nhịp. Bài Cần Thiết cũng có giai điệu riêng, đọc lên đã thấy chất nhạc rất mới ở ý thơ. Người nhạc sĩ thật rất khó phả thêm hồn nhạc vào bài thơ đã có sẵn cái thần của nó.

Ngược lại, thơ của ông còn đòi hỏi nơi nhạc sĩ một sự hy sinh lớn, đó là dụng công làm nổi chất nhạc vốn có của bài thơ. Trước có Phạm Ðình Chương và sau có Ngô Thụy Miên là đã thành công như vậy. Nếu có yêu Màu Kỷ Niệm của Phạm Ðình Chương hay Áo Lụa Hà Ðông của Ngô Thụy Miên, chúng ta nên cám ơn sự cố gắng đầy tài hoa của hai nhạc sĩ này. Vì họ đem nhạc làm đẹp cho bài thơ, chứ không dùng bài thơ diễn tả chất nhạc của mình.

Hai điều đó khác nhau rất xa, và khi trình bày các ca khúc này, ca sĩ là người trước tiên cảm được điều đó.

Những người quen Nguyên Sa thường nói rằng ông chính là một enfant terrible mà làm gì cũng phải thành công thì thôi, chứ không phải là con người thơ, lãng mạn với thơ tình. Quỳnh Giao không dám luận bàn về mấy điều ấy và cho rằng Nguyên Sa đi tới thành công ở thơ.

Ông là người làm thơ đã thổi vào tuổi thơ của nhiều thế hệ chúng tôi những rung động đầu đời, khi thấy cây lá xôn xao nơi sân trường. Và điều đó là đáng kể nhất. Nguyên Sa không còn nữa, nhưng cầm thơ ông trên tay, đọc thơ ông ở trong trí, hát thơ ông khi nhìn ra khoảnh vườn, Quỳnh Giao thấy màu xanh của kỷ niệm vẫn nuột nà mơn mởn.

Nguyên Sa để lại một cây cầu vẫn đưa chúng tôi về quê hương và tuổi thanh xuân của mình...

Quỳnh Giao
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

ĂN CHAY

Chuyện phiếm của Gã Siêu

Ăn chay là một trong số những việc làm đạo đức quan trọng mà hầu như tôn giáo nào cũng thực hiện. Tuy nhiên, cách thức giữ chay lại khác biệt tuỳ theo chủ trương của mỗi tôn giáo.

Chẳng hạn theo Phật giáo, ăn chay là ăn và uống những thứ có nguồn gốc từ thực vật, không được ăn thịt cá hay những thứ có nguồn gốc từ động vật vì liên quan đến việc sát sinh.

Thực vậy, với quan niệm về luân hồi, sau khi chết, tuỳ theo công phúc mình đã làm khi còn sống, mà được đầu thai làm kiếp loài vật hay loài người, cho tới khi được lên cõi Niết Bàn.

Thời gian ăn chay được gọi là trai kỳ, nhiều hay ít tuỳ theo lòng mộ mến của mỗi người:

* Nhị trai là ăn chay 2 ngày mỗi tháng: Mùng 1 và 15 âm lịch.

* Tứ trai là ăn chay 4 ngày mỗi tháng: Mùng 1,14,15 và 30, nếu tháng thiếu, thì lấy ngày 29.

* Lục trai là ăn chay 6 ngày mỗi tháng: Mùng 1,8,14,15,23 và 30, nếu tháng thiếu thì lấy ngày 29.

* Thập trai là ăn chay 10 ngày mỗi tháng: Mùng 1,8,14,15,18, 23,24,28, 29 và 30, nếu tháng thiếu thì lấy các ngày 27.28. và 29.

* Nhất nguyệt trai là ăn chay suốt một tháng.

* Tam nguyệt trai là ăn chay suốt ba tháng.

* Ăn chay trường là ăn chay suốt cả đời.

Phật tử được khuyến khích ăn chay vào những ngày 1,14,15 và 30 vì đó là những ngày mở cửa âm và các linh hồn được tự do!

Đối với Hồi giáo, thì có tháng “Ramadan”. Tháng này được bắt đầu một cách thống nhất, từ ngày 13.9 cho toàn thể cộng đồng Hồi giáo trên khắp thế giới. Nhiều người thường gọi một cách đơn giản tháng Ramadan là “tháng nhịn ăn”, hoặc “tháng ăn chay”, nhưng cả hai cách gọi đều không chính xác cho lắm, bởi vì các tín đồ Hồi giáo thực sự không ăn chay và cũng không nhịn ăn, bởi vì nếu nhịn ăn suốt cả một tháng, thì e rằng khó mà sống nổi.

Trong tháng này, tất cả các tín đồ Hồi giáo đều thực hiện nghiêm túc qui định: Không ăn, không uống, không hút…nghĩa là không được đưa bất cứ thứ gì vào miệng. Tuy nhiên, qui định này chỉ được áp dụng vào ban ngày, cụ thể là từ lúc mặt trời mọc cho đến khi mặt trời lặn mà thôi. Ngoài ra, luật cũng qui định: những người đau ốm, phụ nữ mang thai, trẻ em dưới 5 tuổi…đều được miễn trừ, không phải nhịn.

Việc nhịn ăn và nhịn uống như thế có mục đích tạo sự thông cảm với những người nghèo đói, đồng thời tập luyện sự tiết chế, chống lại những cám dỗ về vật chất. Chúng ta thử tưởng tượng xem: Với thời tiết nóng và khô của sa mạc, thế mà suốt ngày trong cả tháng không được động đến một giọt nước, thì đó phải là một hy sinh to lớn.

Tuy nhiên khi mặt trời đã lặn và tiếng loa từ các giáo đường vang lên, người ta lại được phép tổ chức tiệc tùng và ăn uống linh đình, như kiểu xứ ta ăn tết. Theo một thống kê của Ai Cập, thì lượng thực phẩm tiêu thụ trong tháng Ramadan thường gấp 2, gấp 3 lần các tháng khác trong năm.

Rồi vào lúc 2 hay 3 giờ sáng, mỗi khu phố lại có một người mang một cái trống nhỏ, tiếng rất đanh, vừa đi vừa đánh theo nhịp ngũ liên, lại vừa hô to để đánh thức mọi người thức dậy, lo nấu nướng cho kịp ăn uống trước khi mặt trời mọc, để bắt đầu một ngày nhịn mới.

Còn bên Do Thái giáo, thì ăn chay, cầu nguyện và làm phúc bố thí là ba sinh hoạt chính trong đời sống đạo đức. Người Do Thái có một cuộc “đại chay”, nhân ngày lễ xá tội. Đây là một việc bắt buộc mang tính cách cá nhân đối với mọi thành phần Dân Chúa. Đồng thời họ cũng có những cuộc chay tịnh khác mang tính cách tập thể, chẳng hạn vào các ngày quốc hận. Ngoài ra, những người đạo đức còn ăn chay vì lòng sốt sắng, như các môn đệ của Gioan Tẩy giả và những người Biệt Phái, họ thường ăn chay mỗi tuần hai lần.

Sau cùng là Kitô giáo nói chung và Công giáo nói riêng. Ăn chay là rèn luyện cho bản thân cách thức chống lại những ham muốn xác thịt và tỏ lòng sám hối ăn năn, quay trở về cùng Thiên Chúa. Người Công giáo phân biệt giữa “ăn chay” và “kiêng thịt”, nhưng trong thực tế hai việc này lại thường đi đôi với nhau.

Ăn chay là giới hạn phần lương thực được tiếp nhận vào cơ thể. Chỉ được ăn một bữa no và hai bữa đói mà thôi. Còn kiêng thịt là không được ăn thịt những động vật máu nóng như heo, bò, gà…nhưng lại được phép ăn cá, tôm, cua, ếch và các thứ hải sản vì chúng thuộc vào loại máu lạnh! Tuy nhiên trứng, sữa và những chế phẩm từ thịt có máu nóng, đều không phải kiêng.

Giáo Hội luôn đề cao tinh thần của việc ăn chay, đôi khi ăn ít hơn hay ăn đạm bạc hơn bình thường cũng được cho là một hình thức ăn chay. Đồng thời Giáo Hội khuyến khích nên dùng số tiền do việc hy sinh ăn uống này, để giúp cho những người nghèo túng.

Những người đạo đức sốt sắng có thể ăn chay ngày thứ sáu trong tuần và 40 ngày trong suốt cả mùa chay. Tuy nhiên hiện nay, chỉ buộc phải giữ hai ngày, đó là thứ tư Lễ tro và thứ sáu Tuần Thánh mà thôi. Mặc dầu mỗi năm chỉ có hai ngày ăn chay, thế nhưng người ta lại hay bị “cám dỗ” để rồi mất chay, hay mất ý nghĩa của ngày ăn chay.

Đúng thế, bên Tây phương, người ta thường cử hành lễ hội “Mardi gras”, tức là “Thứ ba béo”, ngày cuối cùng trước khi bước vào mùa chay. Trong ngày này, người ta tổ chức tiệc tùng linh đình, ăn uống cho thật đã, để bù lỗ cho bốn mươi ngày khắc khổ sắp tới. Người ta múa hát tưng bừng, nhảy nhót cho thật xả láng, để bù lỗ cho cái bầu khí ảm đạm của mùa chay. Có những nước đã tổ chức lễ hội này thật hoành tráng, chẳng hạn như Brasil với những trò giả trang và vũ điệu Samba, đã thu hút được rất nhiều du khách đến tham quan.

Tất cả những tiệc tùng và nhảy múa được kết thúc vào lúc 24 giờ ngày thứ ba, để rồi sau đó người ta bước sang ngày thứ tư Lễ tro, khởi đầu cho mùa chay, với màu tím tê tái nơi tâm hồn, với khuôn mặt ủ rũ như treo cờ tang, với luật buộc ăn chay và kiêng thịt.

Còn đối với người Việt Nam, nhất là vào những năm tháng xa xưa, khi đời sống còn thấp kém. Trong bữa cơm gia đình, quanh đi quẩn lại, thì cũng chỉ có cà ghém mắm tôm, canh cua mồng tơi, hay rau muống luộc...Thỉnh thoảng lắm mới có tí cá, hay tí thịt. Thành thử, những người nghèo, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, thì hầu như mỗi ngày của họ đều ăn chay và kiêng thịt, cuộc đời họ vốn dĩ đã là một mùa chay kéo dài.

Vào ban sáng, có người chỉ uống một ly cà phê, có người chỉ ăn một chút, gọi là “điểm tâm”, rồi làm việc cho đến trưa mới dùng bữa mà vẫn vui vẻ khoẻ mạnh. Thế nhưng trong ngày ăn chay, ban sáng cũng vẫn theo thói quen bình thường, thế mà mới hơn 9 giờ, đã cảm thấy đói ngấu đói nghiến. Mới nhịn nhim nhím có tí xíu, thế mà đã cảm thấy như kiến bò bụng, đói cồn đói cào.

Một khi bụng đã đói, thì mắt liền mờ tịt và tay chân bỗng bủn rủn, thậm chí con ruồi đậu vào mép cũng chẳng buồn xua. Và người lớn thường bảo:

-‘ Đó là chước mốc ma quỉ.’

Ở nông thôn, vào ngày ăn chay kiêng thịt, người ta cũng thường kiêng luôn cả việc xác, bởi vì bụng đói thì làm sao có thể kham nổi những công việc đồng áng nặng nhọc. Và thế là ngoài những lúc đến nhà thờ tham dự thánh lễ hay ngắm nguyện, các cụ có tí tuổi, thường hay tổ chức “kiệu lá”, tức là…ăn gỏi cá. Các cụ chuẩn bị cho việc kiệu lá, cho việc ăn gỏi một cách rất công phu.

Ngay từ ngày hôm trước, các cụ đã bảo con cháu đi chợ mua cá, hay kéo lưới dưới ao để bắt cá. Cá dùng để ăn gỏi thường là cá chép, cá rô, hay cá lóc…

Rồi sáng hôm ăn chay, người thì rang gạo để giã làm thính. Người thì thái cá. Thịt cá thái xong, được đặt và gói trong những tấm giấy bản để thấm nước cho thịt được khô. Người thì làm nước chấm. Nước chấm được làm bằng mẻ nấu với cá băm nhuyễn. Người thì đi kiếm rau gồm các thứ lá như: Lá mơ, lá đinh lăng, lá sung, lá tầm duộc, lá cóc…Phải chăng cũng vì thế, các cụ thường gọi ăn gỏi là “kiệu lá”. Xem ra một bữa ăn gỏi, một lần kiệu lá như vậy vừa hoành tráng, vừa tốn kém lại vừa vui vẻ hơn một đám tiệc bình thường!

Còn dân bợm nhậu, thì chỉ mong sao cho ngày ăn chay và kiêng thịt qua mau, đề rồi còn tụ lại, gầy độ và lai rai với nhau nữa chứ. Chuyện rằng: Vào tối ngày thứ tư lễ tro, mấy ông bợm nhậu cùng nhau mần thịt một con chó. Họ chờ cho đúng không giờ ngày thứ năm là bắt đầu nhậu. Họ làm như đã thật lâu không gặp nhau, đã thật lâu không được cụng ly với nhau, cũng như đã thật lâu không đụng đũa tới món cờ tây. Ngồi chờ hút thuốc lào vặt cũng sốt ruột, lợi dụng lúc mọi người lui hui dưới bếp, một anh bạn vội vặn chiếc kim đồng hồ treo trên tường, vì anh ta thầm nghĩ rằng:

- Thà một người chết cho toàn dân được nhờ, thà một kẻ chịu tội cho bè bạn được sớm lai rai.

Người ta ăn để mà sống, đó là chuyện đời thường, nhưng đời thường vốn có những cái nghịch lý của nó. Vì thế, không thiếu gì những kẻ sống để mà ăn. Họ đi tìm những khoái cảm trong việc ăn uống. Có những bữa tiệc thâu đêm suốt sáng, kéo dài từ ngày này qua ngày khác. Ăn no uống đủ nhưng vẫn chưa đã. Và thế là ‘’a-lê-hấp’’ móc cổ họng cho chó ăn chè để tiếp tục nhậu nữa. Tiệc một chưa đủ, bèn rủ nhau gầy sòng làm tiệc hai. Tăng một chưa đã, bèn mần tiếp tăng hai.

Bên cạnh những kẻ thiếu ăn, có những bàn tiệc mâm cao cỗ đầy, thức ăn thừa mứa, mà mỗi khẩu phần trị giá bằng cả một năm lao động cực nhọc của những kẻ khố rách áo ôm. Đúng là tác phong ném tiền qua cửa sổ. Thánh kinh diễn tả rất đúng về hạng người thừa tiền và rửng mỡ này, khi gọi họ là những kẻ chỉ biết lấy cái bụng của mình làm chúa, ‘’quorum deus venter est’’ !

Thượng Đế đã ban cho con người một cái miệng và như chúng ta đã biết: Công dụng của cái miệng là để ăn và nói. Rất nhiều lần chúng ta đã phải khổ sở vì những lời dèm pha đầy ác ý. Lưỡi người còn sắc hơn cả gươm giáo và độc hơn cả nọc ong. Số người chết vì cái lưỡi còn nhiều hơn vì những cuộc chiến tranh tương tàn. Lời nói có thể làm cho chúng ta bị thân bại danh liệt, tiêu tan sự nghiệp, như ca dao diễn tả:

-‘ Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo,

Miệng không vành, miệng méo tứ tung.’

Còn về cái khoản ăn cũng không kém phần nhiêu khê và rắc rối. Người ta lao động quần quật cũng để tìm kiếm của ăn đút vào miệng. Cái miệng con người đã làm cho bao súc vật bị tuyệt chủng, bao cây cối đi đến chỗ xác xơ tiêu điều… và đến núi cũng phải lở. Rồi những cuộc chiến tranh giữa người với người đã xảy ra cũng chỉ vì miếng ăn. Và miếng ăn quả là miếng nhục!

Giá như con người không phải ăn nữa thì sẽ lợi biết bao nhiêu. Lợi được thời gian. Lợi được công sức. Lợi được tiền bạc. Nhưng mà có lẽ lúc bấy giờ cuộc đời cũng sẽ buồn đi rất nhiều. Vì thế, gã vẫn cứ phải chịu khó ăn để mà sống mỗi ngày, cho dù là ăn những của đắng đót.

Gã không biết Thượng đế có bé cái lầm hay không khi trao ban cho mỗi người chúng ta một cái miệng trong khi đó lại có những hai con mắt, hai lỗ tai và hai lỗ mũi. Phải chăng Ngài muốn chúng ta nghe nhiều hơn, nhìn nhiều hơn, hít thở nhiều hơn, còn ăn và nói thì nên giảm bớt, “sì tốp” lại phần nào.

Và theo gã nghĩ đó cũng chính là sống tinh thần chay tịnh. Thực vậy, nếu hiểu sống tinh thần chay tịnh là kiêng, là nhịn, là dẹp bỏ, là chấp nhận hy sinh, thì một tác giả nào đó đã đưa ra những cách giúp chúng ta sống tinh thần chay tịnh như sau :

- Dẹp bỏ những lời nói phạm và lấp đầy cõi lòng bằng những lời cảm thông, an ủi và khích lệ.

- Dẹp bỏ những thái độ khó chịu và lấp đầy cõi lòng bằng những tâm tình biết ơn.

- Dẹp bỏ những hiềm khích và lấp đầy cõi lòng bằng sự tha thứ và kiên nhẫn.

- Dẹp bỏ thái độ bi quan và lấp đầy cõi lòng bằng niềm hy vọng và sự lạc quan.

- Dẹp bỏ những băn khoăn lo lắng và lấp đầy cõi lòng bằng niềm tin tưởng vào Chúa trong khoảng khắc hiện tại.

- Dẹp bỏ những chiếm hữu và lấp đầy cõi lòng bằng những điều đơn giản của cuộc đời.

- Dẹp bỏ những ý tưởng hời hợt và lấp đầy cõi lòng bằng những suy gẫm và những lời cầu nguyện.

- Dẹp bỏ những phê bình chỉ trích và lấp đầy lòng bạn bằng hình ảnh Đức Kitô nơi những người chung quanh.

- Dẹp bỏ tính ích kỷ và lấp đầy lòng bạn bằng tình yêu thương đối với người khác.

- Dẹp bỏ những hận thù oán ghét và lấp đầy cõi lòng bạn bằng một thái độ hoà giải.

- Dẹp bỏ thói quen nói quá nhiều và lấp đầy cõi lòng bạn bằng sự thinh lặng và lắng nghe người khác.

Sống tinh thần chay tịnh như thế, chắc chắn cuộc đời chúng ta sẽ ngập tràn bình an, yêu thương và hạnh phúc./.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Mấy ai học được chữ ngờ _

Trịnh Hội


Có thể nói khoảng thời gian ấy là khoảng thời gian tôi cảm thấy khó xử và thương xót nhất mỗi khi phải gặp các anh. Từng cặp vợ chồng bước vào văn phòng gặp tôi để rồi phải nhìn nhau và chẳng biết phải nói sao nên lời.Chính phủ Úc, chính phủ Mỹ từ chối hồ sơ của tôi chỉ vì tôi có vợ, con Phi? Họ gặng hỏi. Đúng vậy. Tôi gật đầu trả lời.

Có thể nói khoảng thời gian ấy là khoảng thời gian tôi cảm thấy khó xử và thương xót nhất mỗi khi phải gặp các anh. Từng cặp vợ chồng bước vào văn phòng gặp tôi để rồi phải nhìn nhau và chẳng biết phải nói sao nên lời.

Chính phủ Úc, chính phủ Mỹ từ chối hồ sơ của tôi chỉ vì tôi có vợ, con Phi? Họ gặng hỏi.

Đúng vậy. Tôi gật đầu trả lời.

Và nếu bây giờ tôi không còn thương vợ tôi nữa, chúng tôi quyết định chia tay nhau thì hồ sơ sẽ ra sao?

Thì đương nhiên anh sẽ được đi. Một lần nữa tôi lại phải xác nhận một thực tế quá phủ phàng trước mặt người vợ Phi đã không còn kềm được nước mắt.

Nếu chưa có con cái thì câu chuyện còn có thể tương đối dể dàng cân nhắc (vì không có luật lệ nào cấm những đôi vợ chồng cũ tái hôn sau này nếu họ muốn!).

Nhưng nếu đã có hai, ba mặt con thì quả thật quá đau lòng.

Nếu bằng lòng cam tâm chấp nhận thực tế thì xem như cả gia đình, con cái ai cũng sẽ phải đối diện với một tương lai mù mịt. Vì tuy sinh ra ở Phi nhưng nếu cha là người Việt tỵ nạn thì các bé vẫn bị cho là người vô quốc gia, không phải là người Phi.

Nhưng nếu như họ quyết định chia tay để cho người chồng tự cứu mình đi trước thì… biết ra sao ngày sau?

Đến lúc ấy tôi mới hiểu được một phần nào nỗi khổ đau vò xé tâm can của những người vợ, người mẹ phải đành lòng cho chồng, cho con lên thuyền vượt biển xa gia đình, xa quê hương sau ngày Sài Gòn sụp đổ.

Một lần đi là một lần vĩnh biệt. Một lần đi mà chẳng biết đến khi nào mới gặp lại nhau. Lúc ba tôi lên thuyền vượt biển tôi chỉ mới được 9 tuổi. Làm sao tôi có thể hiểu rõ nỗi lòng của ông và mẹ tôi lúc ấy? Tôi đã phải đợi đến trên 20 năm sau mới cảm nhận được chút nào nỗi khổ đau của những người đi trước.

Và cũng là của những người đã chậm bước đi sau đang ngồi trước mặt tôi.
…

Đã có những đôi vợ chồng vì lẽ đó tình cảm đã bị sứt mẻ, phải chia tay nhau mãi mãi trong cảnh kẻ ở, người đi.

Cũng có những đôi vợ chồng cùng nhau quyết định cho người chồng đi trước để hứa rằng trong tương lai họ sẽ lại tìm đến nhau.

Nhưng cũng có những cặp vợ chồng đã quyết định cùng nhau ở lại có phúc cùng hưởng, có nạn cùng chia. Nếu có chết họ cũng muốn ở gần nhau mãi mãi.

Lúc ấy đã có một số người, trong đó có tôi, nghĩ rằng họ đã hơi ngây thơ, không biết tự tìm cách cứu mình và cứu cả gia đình khi hoàn cảnh đã quá tuyệt vọng. Vì chính tôi là người đang đi vận động các nước để thâu nhận họ cũng không tin rằng phép lạ sẽ xảy ra.

Vậy mà nó vẫn xảy ra. Cách đây gần 3 năm về trước khi chính phủ Canada thay đổi chính sách và tuyên bố sẽ cứu xét tất cả mọi hồ sơ còn kẹt lại của những gia đình tỵ nạn chồng Việt vợ Phi.

Rõ là ở đời khó có ai biết được trước chữ ngờ phải không bạn?

Thế là một lần nữa chúng tôi đã gặp lại nhau. Nhưng lần này không phải là ở tại văn phòng của tôi ở Manila. Và cũng chẳng có ai phải rơi nước mắt. Lần đầu tiên chúng tôi đã có một buổi họp mặt ăn uống tràn đầy tiếng cười rộn rã và đã cùng nhau nghêu ngao hát karaoke đến 3, 4 giờ sáng ở Edmonton, quê hương thứ hai của họ.

Cảm ơn các anh em đã cho tôi có một đêm đáng nhớ. Và một bài học về tình thương yêu vợ chồng cho dù có gặp cảnh trái ngang
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Kỹ Nghệ Nuôi Cá Hồi Của Cộng Sản VN
Trước hết, để tránh mọi ngộ nhận, xin nói ngay rằng đây là chuyện của cá hồi, và chỉ riêng có cá hồi mà thôi. Nói theo tiếng Mỹ là cá hồi only. Chớ còn cá chim, cá chuồn, cá chép, cá chốt, cá lóc, cá lạt, cá lìm kìm, cá mập, cá mú, cá măng, cá cơm, cá cam, cá cờ, cá trê, cá trích, cá trẻm, cá heo, cá hương, cá hố, cá lù đù, cá lìm kìm, cá lia thia, cá đổng, cá đối, cá đèn cầy, cá bè, cá bẹ, cá bống – bất kể là bống kèo hay bống đá – hoặc bất cứ một loại cá thổ tả nào khác đều hoàn toàn (và tuyệt đối) không có dính dáng gì tới vụ này.

Cá hồi sinh ở sông nhưng phần lớn thời gian sống ở biển. Ðặc điểm của loài cá này là dù có rong chơi phiêu du ở chân trời góc biển nào chăng nữa, thế nào cũng tìm về nơi chôn nhau cắt rốn để sinh nở. Cá hồi Thái Bình Dương (Pacific salmon), sau khi từ giã nếp sống hải hồ, sẽ không bao giờ trở lại biển cả nữa. Lý do giản dị chỉ vì chúng sẽ chết sau khi đẻ và cho thụ tinh lứa trứng đầu tiên.

Cá hồi Đại Tây Dương (Atlantic salmon) thì khác. Chúng có thể đi đi về về từ sông ra biển và ngược lại nhiều lần mà không hề do dự hay nao núng, dù khoảng cách phải vượt qua có thể dài đến hàng ngàn dặm, với vô số khó khăn và chướng ngại.

Bản năng về nguồn của cá hồi, tất nhiên, đã được loài người ghi nhận và khai thác từ lâu. Riêng người Nhật, dân tộc đứng thứ nhì về kỹ nghệ cá hồi, vẫn đều đặn sản xuất ra thị trường mỗi năm cỡ một trăm ba mươi ngàn tấn.
Xét về số lượng, mức sản xuất của người Nhật không hơn người Nga bao nhiêu và thua xa người Mỹ. Tuy nhiên, cách thức mà dân Nhật bắt cá hồi mới là điều cần phải được lưu tâm và học hỏi.

Họ thiết lập nhà máy đóng hộp cá hồi ngay ở ven sông. Cũng chính nơi đây cá được nuôi nấng, đẻ trứng, thụ tinh để mỗi cặp sẽ cho từ hai đến mười ngàn chú cá hồi con ra đời. Sau đó, chúng sẽ được cho phiêu lưu vào đại dương, để bắt đầu cuộc đời… tha phương cầu thực.

Tùy theo từng loại, cá hồi sẽ sống ở biển từ sáu tháng đến năm năm. Nhờ vào khả năng “cảm” được từ trường của lòng đất và sự chuyển động của hải lưu, nó sẽ tìm được về chốn cũ. Khi vào gần đến bờ, giác quan đặc biệt của loài cá này giúp chúng nhớ được đúng hương vị quê nhà – tức sông xưa bến cũ – và cứ theo đó mà lần về nguồn cội, đến tận nơi sinh nở.

Người ta đặt sẵn nhiều dụng cụ từ cửa sông để giúp cho cá hồi dễ dàng và mau chóng vào đến nhà máy. Tại đây, họ sẽ tạo ra một loại chướng ngại vật giả khiến chúng phải phóng lên cao và khi rơi xuống thì rớt ngay vào một mạng lưới. Mạng lưới này chuyển động không ngừng, qua nhiều khâu chế biến, để đưa cá từ sông vào… hộp!

Nói tóm lại là người Nhật thả cá hồi con ra biển, theo kiểu đem con bỏ chợ, để biển cả nuôi nấng. Rồi khi chúng theo bản năng trở về, họ dụ cho cá vào nhà máy để đóng hộp và mang bán.

Cách họ kiếm tiền ngó bộ dễ và (chắc) là nhiều. Bởi vậy, có kẻ bắt chước. Chính phủ Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (tên kêu gọn thường dùng là Việt Cộng) cũng học theo cách làm ăn không vốn gần như vậy. Chỉ khác có chút xíu xiu là họ dùng người để kinh doanh, thay cá.

Từ năm 1978 cho đến năm 1990, bằng hình thức này hay hình thức khác, Việt Cộng đã “thả” ít nhất là hai triệu người dân ra biển. Người ta ước tính rằng trên bước đường lưu lạc cứ ba con cá hồi rời bến sông ra đi thì ít nhất cũng có một con bỏ mạng. Nó trở thành mồi săn cho loài người, cho loài chim, hoặc những loài cá khác. Tương tự, trong số hai triệu người Việt phiêu lưu vào biển cả – tối thiểu – cũng phải một phần ba đã vong mạng.

Họ chết vì bão tố, vì hải tặc, hay vì bị xô đuổi một cách lạnh lùng tàn nhẫn tại bến bờ của những quốc gia lân cận. Nơi đây thuyền bè của họ thường bị lôi kéo trở ngược ra khơi. Họ sẽ lênh đênh giữa trời nước bao la cho đến chết vì không còn tìm được nơi để đến, và cũng không còn đủ lương thực (cũng như nhiên liệu) để tiếp tục đi.

Những kẻ may mắn thoát nạn đều sẽ biến thành cá hồi (theo tinh thần của Nghị quyết 36) của nhà đương cuộc Hà Nội. Đám dân trôi sông lạc chợ này sẽ bị tận tình khai thác, và khai thác dài dài, cho đến khi tắt thở, bằng nhiều cách.

Nếu cá hồi Thái Bình Dương chỉ hồi hương một lần rồi chết thì những thuyền nhân rời khỏi Việt Nam sau ngày 19 tháng 6 năm 1988 – đã có thời gian dài sống tạm trú ở những quốc gia Ðông Nam Á – cũng mang số phận y như vậy. Họ bị cưỡng bách hồi hương và không bao giờ còn có dịp ra đi nữa. Riêng với những thuyền nhân ở Hồng Kông – khi phần đất này còn thuộc Anh – Anh Quốc đã thoả thuận trả sáu trăm hai chục Mỹ kim mỗi đầu nguời để Hà Nội chịu nhận họ trở về, cùng với lời hứa hẹn là họ sẽ không bị hành hạ hay ngược đãi!

Số người Việt may mắn hơn, hiện đang phiêu bạt tứ tán khắp bốn phương trời, có thể được coi như là cá hồi Ðại Tây Dương – giống cá có khả năng đi đi về về nhiều lần từ sông ra biển và ngược lại. Những kẻ này vẫn tiếp tục kiếp sống tha phương cầu thực, chăm chỉ cặm cụi kiếm và để dành tiền, rồi hàng năm làm đơn “xin phép” được hồi hương. Mỗi Việt kiều về thăm quê nhà chắc chắn đều chi trải một số tiền không phải chỉ là sáu trăm Mỹ kim mà có thể là đến sáu ngàn Ðô la, hay nhiều hơn nữa.

Tuổi Trẻ Online, đọc được vào ngày 7 tháng 1 năm 2010, cho biết: “Theo Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 31-12-2009 kiều hối chuyển về đạt 6,283 tỉ USD, giảm 12,8% so với năm 2008. Riêng tại TP.HCM, kiều hối năm 2009 đạt 3,2 tỉ USD. Như vậy, kiều hối đã không giảm mạnh do suy thoái kinh tế như dự báo trước đó.”

Hà Nội có lý do để hãnh diện về thành quả này – thành quả kinh tế duy nhất (thực sự) vượt chỉ tiêu – về kỹ nghệ xuất và nhập cảng người, sau hơn nửa thế kỷ mà họ đã nắm được quyền bính ở Việt Nam. Họ đẩy ra khỏi nước những con nguời cùng quẫn và sôi sục bất mãn, rồi “thu về” những Việt kiều yêu nuớc và giàu sang.
Thiệt khoẻ!
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Huy Chương Tham Nhũng

Trần Khải


Các viên chức Việt Nam đã tham nhũng cỡ nào? Đối với bản thăm dò mới phổ biến hôm Thứ Hai, nhà nước Việt Nam được huy chương đồng tham nhũng Châu Á. Nghĩa là, đứng hạng thứ ba.
Bản tin Reuters hôm Thứ Hai 8-3-2010 cho biết Indonesia đứng đầu tham nhũng trong bản thăm dò thực hiện bởi cơ quan Political & Economic Risk Consultancy, có trụ sở chính ở Hồng Kông. Thăm dò thực hiện nhắm vào 16 quốc gia Châu Á Thái Bình Dương đối với cộng đồng giới đầu tư. Nghĩa là, dưới mắt những người ôm tiền vào các nước này đầu tư.
Bản tin Reuters viết rằng Indonesia đoạt huy chương vàng tham nhũng, điểm là 9.07 trên 10 điểm, theo bản thăm dò 2010, tăng từ 7.69 điểm hồi một năm về trước.
Bản thăm dò khảo sát 2,174 nhà lãnh đaọ doanh nghiệp cao cấp và trung cấp tại Châu Á, Châu Úc và Hoa Kỳ.
Cam Bốt đoạt huy chương đồng tham nhũng, nghĩa là nhiều hạng nhì, sau đó là Việt Nam, rồi Phi Luật Tân, Thaí Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, Mã Lai, Đaì Loan, Nam Hàn, Macao, Nhật Bản, Mỹ, Hồng kông, Úc Châu và -- được kể là ít tham nhũng nhất -- là Sinagpore.
Vậy rồi ai có thể chống tham nhũng? Một bà cụ ở Hà Nội, được chính phủ CSVN ca ngợi là có nhiệt tâm và quyết tâm đã chống tham nhũng tuyệt vời hơn cả Tổng Cục Chống Tham Nhũng (nếu có cơ quan nào như thế) lần naỳ không nghe ai nhắc gì tới. Có thể là bà cụ đang “tàng hình nơi các mỏ bô xít và rừng đầu nguồn” để xem có quan chức nào nhận tiền hối lộ để bán rừng, bán mỏ?
Điều chúng ta vẫn luôn luôn thắc mắc là vì sao mấy năm trước, chính phủ vinh danh một bà cụ ngồi viết thư tay để tố tham nhũng, trong khi laị tống giam hai nhà báo đã khui ra vụ tham nhũng PMU 18?
Nếu bạn đọc còn nhớ, vào tháng 10-2008, hai phóng viên của tờ Thanh Niên, Nguyễn Việt Chiến và Tuổi Trẻ, Nguyễn Văn Hải đã ra tòa với tội danh ''lợi dụng quyền tự do dân chủ '' vì đã tham gia điều tra về vụ tham nhũng PMU 18. Nhà báo Nguyễn Việt Chiến đã bị tuyên án 2 năm tù giam, còn Nguyễn Văn Hải được trả tự do, nhưng bị phạt hai năm cải tạo. Phiên xử này đã bị các tổ chức nhân quyền quốc tế và các chính phủ phương Tây cực lực chỉ trích.
Còn trường hợp khổng lồ kiểu như con voi giữa nhà: Huỳnh Ngọc Sĩ bị tòa án Nhật chỉ đích danh là ăn tiền đầu tư ODA gần cả triệu đô la, bây giờ vẫn chưa thấy tòa án Việt Nam nào xét xử. Vụ này được đài RFI mô tả trong một bản tin năm 2008 là, chính các quan chức của công ty Nhật Bản đã hối lộ cho ông Huỳnh Ngọc Sỹ, giám đốc Ban quản lý dự án Đại lộ Đông Tây, để nhận được các hợp động tư vấn cho dự án này. Tổng số tiền PCI hối lộ cho ông Huỳnh Ngọc Sĩ lên tới lên tới 820 ngàn đôla. Phía Nhật đã bắt bốn cựu quan chức của PCI liên quan đến vụ hối lộ này. Vấn đề ở chổ là vụ án đã được báo chí Nhật Bản đăng tải từ tháng 6-2008, nhưng mãi đến tháng 11-2008, phía Việt Nam mới có phản ứng bằng cách đình chỉ công tác ông Huỳnh Ngọc Sĩ ''để phục vụ điều tra''.
Rồi còn vụ Lương Ngọc Anh được báo Úc chỉ đích danh là thân tín của Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã ăn tiền để móc nối in giấy bạc nhựa polymer cho cả nước VN xóa sổ tiền giấy cũng êm luôn.
Trong khi đó, chính Báo Đất Việt cũng từng ghi nhận qua bài “Việt Nam: Chung sống với tham nhũng để được việc” rằng tham nhũng là cái giá để cho được việc.
Có nghĩa là giá để bôi trơn. Baó naỳ lúc đó viết là có tới 96% các doanh nghiệp Việt Nam đang chấp nhận chung sống với tham nhũng miễn sao “được việc” trong kinh doanh, theo kết quả thăm dò thực hiện bởi tổ chức kiểm toán hàng đầu thế giới Ernst & Young công bố tại Hà Nội.
Lúc đó, báo Đất Việt kể, là cuộc khảo sát gian lận trên toàn cầu lần thứ 10 (chu kỳ hai năm) được Ernst & Young tiến hành với 1.186 cuộc phỏng vấn lãnh đạo cấp cao của các doanh nghiệp ở 33 quốc gia năm 2008, trong đó có Việt Nam.
Theo đó, có tới 96% các doanh nghiệp Việt Nam được phỏng vấn đã từng có liên quan đến việc hối lộ hay tham nhũng trong vòng hai năm trở lại đây. Tỷ lệ này gần gấp đôi mức trung bình của khu vực châu Á - Thái Bình Dương và gấp gần bốn lần mức trung bình toàn cầu.
Thôi thì, xem như trời mưa, trời nắng vậy, có nên chăng?
Không thấy ai đo được chính xác là khi biển, rừng, và mỏ đã bốc hơi kèm theo các khoản tiền tham nhũng, rồi dân tộc mình và các thế hệ sau sẽ còn lại gì?
Nhưng tại sao thế giới không tổ chức lễ trao huy chương tham nhũng? Nên thấy, cũng khó mà lấy huy chương đồng tham nhũng như chính phủ Hà Nội làm được, đã phải qua mặt biết là bao nhiêu chính phủ khác...
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

“Nước mắt chảy xuôi”


Tạp ghi Huy Phương
Cứ mỗi lần có dịp phải vào nhà dưỡng lão để thăm người quen hay bạn bè, tôi thường có những suy nghĩ và ám ảnh, liệu rồi sau này lúc già yếu, bệnh hoạn, tôi có phải vào nằm ở đây không, mà ví như cha mẹ tôi còn sống, tôi có khả năng nuôi nấng săn sóc cha mẹ tôi ở nhà không hay lại phải đưa quý cụ vào đây?

“Nước mắt chảy xuôi” là thành ngữ Việt Nam nói đến tình thương chỉ có thể từ cha mẹ dành cho con cái, theo dòng thuận của đời người, từ cao xuống thấp, để khuyên chúng ta đừng đòi hỏi một sự báo đáp từ con cái. Nhưng sự thật, các bậc cha mẹ cũng buồn lòng khi thấy con cái đối xử với mình tệ bạc, nhất là đến tuổi già, bệnh tật, có khi bị bỏ quên, cha mẹ cảm thấy cô đơn, cần sự an ủi, săn sóc. Trong một bài viết về nỗi niềm của cha mẹ già bị bỏ quên trong xã hội hôm nay, tôi nhận được lá thư của một vị cao niên ở tận miền Ðông, bày tỏ ý kiến của cụ:

“Tôi đã khóc, khóc cho chính mình và cho ai trong tuổi già ở xứ này. Ông kể lại có cụ già đã chết cả một hai tuần, không ai biết. Con cái ở đâu? Ðó là những người có con mà còn vậy, còn những người không con thì chắc phải vô trường hợp này quá. Vì tôi không con gái, chỉ hai ‘đực rựa’, một ở Cali, một ở gần đây, nhưng ít khi kêu, và có khi không kêu hỏi thăm được một tiếng, lúc cần tiền hay cần gì đó mới kêu. Có lúc tôi nghĩ: hay mình bất hiếu với cha mẹ nên con cái nó bạc với mình chăng?

Ở Florida này cũng có một bà Việt Nam ở riêng, mỗi tuần có cậu con trai mang đồ ăn tới. Hôm đó cậu ta kêu cửa, nhưng không ai ra mở. Cậu ta tưởng bà cụ đi vắng bèn treo gói đồ ăn vào hàng rào cổng. Mấy ngày sau trở lại, thấy gói đồ ăn vẫn còn, mới khám phá ra bà mẹ đã chết. Thật là thảm!”

Ðây chắc chắn là chuyện này có thể tránh được. Nếu mẹ ở nhà riêng, con nên có một cái chìa khóa nhà để dùng lúc cần thiết. Ðem thức ăn đến cho mẹ, khi mẹ đi vắng, dù bận thế nào đi nữa, thì cũng vào nhà, để thức ăn vào tủ lạnh cho mẹ. Nếu mẹ ngủ thì cũng vào nhà xem mẹ có khỏe không? Ðiện thoại cho mẹ nhiều lần mà không nghe trả lời thì phải nhờ người ở gần, đến gõ cửa nhà mẹ xem sao, hay vội vàng chạy lại xem sự thể thế nào?

Câu chuyện như trên có thể xẩy ra bất cứ ở đâu.

Trái tim của người mẹ có nhiều chỗ dành cho đứa con, như đôi cánh của một con gà mẹ có thể dang ra che kín mười đứa con bé dại, nhưng người mẹ có chỗ nào trong trái tim của con. Ngày xưa, mẹ chưa bao giờ biết nói tiếng “bận” với con. Khi đang ăn mà con “làm bậy” cũng phải buông đũa đứng dậy. Nửa đêm dù đau yếu, mỏi mệt nghe tiếng con khóc cũng phải mở mắt, vỗ về và ôm con vào lòng. Sao các con bây giờ vẫn thường nói tiếng “bận” với cha mẹ. Vì bận nên các con đưa cha mẹ già lú lẫn vào nursing home, vì bận, nên theo lời một cô y tá cho biết, nhiều gia đình bỏ cha mẹ vào đây rồi không bao giờ lui tới thăm viếng. Cô cho biết nhiều người đã ở đây năm sáu năm rồi, không hề có ai lai vãng. Có bao nhiêu lý do để những đứa con có thể nêu ra để không còn chỗ nào trong lòng, nhớ đến cha mẹ. Nếu là đàn ông chúng ta nên vui, vì hiện nay trong các nhà dưỡng lão 70% là quý bà, vì các ông đã quy tiên sớm hơn vợ mình, thông thường ít nhất là 6 năm, để ngày nay khỏi phải chịu cảnh cô đơn, buồn tẻ.

Trước ngày Giáng Sinh tôi có dịp vào viếng thăm một người bạn sắp qua đời trong một nursing home. Trên hành lang dẫn vào phòng người bạn, và ngay trước chỗ làm việc của nhân viên ở đây, tôi thấy nhiều ông bà cụ ngồi trên những chiếc xe lăn, nhìn những người qua lại. Các cô y tá đã sắp xếp cho các cụ ra ngồi trên hành lang đối điện với văn phòng làm việc, một phần để trông chừng các cụ, một phần cho các cụ đỡ buồn. Nhưng các cụ nhìn sự vật một cách dửng dưng, đôi mắt đờ đẫn, có người đã gục đầu xuống ngủ. Giá mà có người đẩy xe lăn đưa các cụ đi dạo một vòng ngoài trời nắng ấm kia, chắc hẳn các cụ vui hơn và biết đâu cuộc sống sẽ kéo dài thêm một thời gian nữa. Giờ này trong công viên hay trên những con đường trong thành phố nhiều người mẹ đang đẩy chiếc xe đưa con đi dạo, nhưng vài mươi năm nữa ai sẽ đẩy chiếc lăn cho bà. Phải chăng định luật của cuộc sống và tình thương là “nước mắt chảy xuôi”, sẽ không bao giờ có một dòng nước chảy ngược về nguồn.

Người Âu Mỹ thường thèm địa vị của các bậc cha mẹ người Á Ðông lúc về già vẫn còn được con cái lui tới săn sóc, nhưng họ cũng nên nhớ lại, họ chỉ nuôi con cho đến năm 18 tuổi là hết bổn phận, trên pháp lý, không ai trừng phạt gì họ được, mà trên mặt tình cảm cũng không có gì phải cắn rứt lương tâm. Trong xã hội văn minh này, một đứa trẻ bỏ học, đi lang thang ngoài đường hay bị đối xử tàn tệ, cha mẹ có thể ra tòa và mất quyền nuôi dưỡng, còn những cụ già vô gia cư, đói khát bị bỏ bên lề đường, không ai có trách nhiệm và chẳng có ai phải ra tòa. Ðiều đáng nói là các cụ già cũng như những đứa trẻ, đều yếu đuối, không có khả năng tự bảo vệ và rất dễ xúc động, buồn vui. Trong một xã hội đáng gọi là văn minh, các trẻ em và người cao niên đều được che chở, bảo vệ và săn sóc chu đáo. Các cụ có các cơ quan xã hội lo thuốc men, thực phẩm nhưng với nỗi cô đơn, phiền muộn ai là người lo cho các cụ, trong khi những đứa trẻ có người an ủi, vỗ về và nói với nó những lời dịu ngọt.

Ngân khoản của liên bang cấp để ngăn ngừa tình trạng lạm dụng có đến 90% dành cho việc ngăn ngừa lạm dụng trẻ con, 7% để ngăn ngừa bạo hành trong gia đình nhưng chỉ có 2% sử dụng trong việc ngăn ngừa ngược đãi người già. Không biết có bao nhiêu đạo luật và ngân khoản dành cho việc chống lại việc ngược đãi súc vật? Cứ vào “Pet-Abuse.com” chúng ta sẽ tìm thấy hàng nghìn trường hợp công dân Mỹ, già và trẻ, đàn ông lẫn đàn bà bị tù tội, phạt tiền vì bạc đãi, bỏ đói, đánh đập hoặc giết những con vật thân yêu trong nhà. Bỏ quên một bà mẹ già trong nhà dưỡng lão nhiều năm có phải là một trường hợp ngược đãi không? Tôi nghĩ là không. Nếu có, luật pháp đã bắt đứa con phải phạt vạ hay vào nhà tù.

Theo người xưa, tuổi thọ là một ơn Trời và là một phúc đức lớn cho gia đình nào có cha mẹ tuổi thọ cao, trước nhất là của chính người cao tuổi nhưng đồng thời cũng là cho con cháu, bởi vì cha mẹ có sống lâu, con cháu mới có cơ hội được thể hiện lòng hiếu thảo. Có ba điều người ta thường mong ước ở đời là Phước, Lộc và Thọ. Phước có chỗ đứng cao hơn hết, Lộc thì phù du mà Thọ chưa hẳn đã là may mắn.
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

Phở...và...cơmmmm. ..

Phở và cơm ....làm từ gạo tẻ
Phở ...ăn 'khoẻ'... giá rẻ...hơn cơm
Phở khỏi đơm...tay lùa ....miệng nuốt
Phở..là thuốc...'trau chuốt'....bệnh già

Phở ...chục tô...ăn hoài chẳng ngán
Cơm...nhàm chán...ngao ngán..thở dài...?
Phở ...miệt mài...húp chan...xùm xụp...
Cơm...lạy lục...tiếp tục...mà nhai...

Cơm ...nguội tanh....chỉ hoài...một món
Phở...được chọn...một món...ăn hoài
Cơm...vừa nhai...hai hàng ...lệ chảy
Phở...hết xảy...vừa nhảy...vừa nhai...

Cơm...ăn xong...phải chùi...đĩa,bát
Phở....húp xong...quẹt miệng...đi liền
Cơm...tính tiền ...bằng lương ...cả tháng...
Phở...ăn sáng..cuối tháng...trả tiền...

Cơm...dọn ra...nhâm nha với vợ
Phở...ngoài chợ...ăn với ...bạn bè
Cơm ...muối mè...vừa khô...vừa mặn
Phở...muôn mặt...gân, nạm, tái, vè....
............ .........
tùng xèng...cóc cóc...tùng xèng
****
Lý do đàn ông thích "phở".
Nếu xét về "thành phần cấu tạo" thì cơm và phở rất giống nhau, đều được làm chủ yếu từ... gạo tẻ.
Phở có thịt có hành thì cơm có cũng có, đã vậy cơm còn hay hơn vì không bao giờ bị trộn... hàn the. Cơm cũng rẻ hơn và.... no lâu hơn.
Dân gian gọi vợ là cơm, bồ là phở. Nếu xét theo khoa học thì cách gọi đó chẳng xúc phạm ai cả vì hai "món" này đều có giá trị độc lập, chả cái nào cao hơn cái nào.
Nhưng rõ ràng phở luôn luôn tượng trưng cho sự bay bướm Ưu thế của phở so với cơm là quá rõ ràng trong chuyện tình ái, mặc dù nhiều lúc "phở" xấu hoặc già hơn "cơm".
Một số lý do hài hước sau góp phần lý giải việc đàn ông thích phở nhưng vẫn không bỏ được cơm:
Ðàn ông thèm "phở" vì ít được ăn phở. Muốn ăn phở, nhất là phở đặc biệt, thì phải có tiền, có xe, trong khi cơm ngày nào cũng được ăn và phải ăn.
Ðàn ông dùng cơm ở nhà trong không khí quen thuộc, ấm áp đến nhàm chán, còn dùng phở ở xa nhà, trang trí lạ mắt, đôi khi đẹp mắt và có cả âm nhạc.
No thì rất khó ăn thêm cơm. Còn phở, no tới mấy cũng có thể làm thêm một tô.
Ăn phở xong có thể đứng dậy, đi ngang hoặc ngồi, nằm một chút. Còn ăn cơm xong nhiều khả năng phải thu dọn và rửa bát đĩa.
"Phở" không quán nào giống quán nào, thậm chí là không tô nào giống tô nào.
Còn cơm thì có khi bao nhiêu năm vẫn thế, chỉ có nguội hơn.
"Phở" có thể ăn chung với bạn bè. "Cơm" thì rất ít, phần lớn là ăn chung với... bà nấu cơm.
Lúc ăn phở, có thể dễ dàng yêu cầu thêm tý hành, tý bánh hoặc thêm tý ớt cho mặn nồng.
Còn cơm, có gì trên mâm hãy xơi nấy, yêu sách lôi thôi còn bị mắng hoặc bị gắt gỏng "không ăn thì thôi".
Phở tuy cùng một chỗ nhưng có thể ăn tái, chín, nạm, gân.. tùy thực khách quyết định. Cơm thì do mụ nấu cơm quyết định.
Nếu ăn phở nhiều tới mức độ trở thành khách quen, khách có thể ăn... nợ. Còn nếu không đưa tiền lương, "cơm" sẽ dừng ngay
Bỏ tiệm "phở" này, có thể dễ dàng tìm tiệm khác. Còn bỏ "cơm" thì phức tạp vô cùng.
Một lý do nữa là "phở" nhiều Nước, còn "Cơm" thì Khô queo. HaHaHa..!!!
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest