Nắm Đất Quê Nhà
Nguyên Nhung
Chỉ còn mấy hôm nữa là lên đường, cả nhà anh Nam tất bật với mấy va ly hành lý lỉnh kỉnh cho một chuyến đi xa. Chuyến đi này không hẹn ngày về, cho nên ai cũng ngổn ngang với biết bao tâm sự. Nhìn quanh cái nào cũng không muốn bỏ, hình như mỗi vật trong nhà này đều đã gắn bó với chủ nhân trong từng khoảnh khắc của đời sống, mang theo ít nhiều kỷ niệm.
Anh Nam tiếc nhất những giò phong lan sau hè, giá mang được anh cũng mang đi hết. Sau ngày đi tù về, ngoài lúc phụ vợ việc nhà, chạy hàng ở ngoài chợ, bao nhiêu thì giờ còn lại, anh luẩn quẩn ở mảnh sân sau chăm sóc mấy giò phong lan. Những khi hoa nở, anh say sưa ngắm nhìn những bông hoa mềm mại đủ màu, trong khoảng sân vuông vức đó lỏng chỏng những thứ cũ kỹ, nếu không có những giò phong lan cuộc đời anh chừng như ảm đạm lắm.
Vợ anh có một sạp bán tiêu tỏi, mắm muối, đường sữa ngoài chợ, vậy mà cũng đủ ngày hai bữa cho một gia đình năm miệng ăn. Sáng sáng, anh phải dậy từ mờ đất để dọn hàng cho vợ, rồi quay về đánh thức lũ nhỏ dậy đi học. Tám năm “ học tập cải tạo “, lúc về vợ chồng vẫn hương lửa mặn nồng như xưa, thế là một thằng cu nữa chào đời. Không thêm của lại thêm con, tuy vậy vợ chồng vẫn vui vì thằng nhóc thông minh, xinh xắn.
Suốt ngày vợ ngồi chợ, anh ở nhà giữ con, loay hoay vô bao những gói đường, gói tiêu, gói bột ngọt. Chợ nằm gần đường xe lửa, đa số là dân nghèo, người nghèo thì làm gì có tiền mua thực phẩm trữ sẵn trong nhà, người ta ghé vào mua bịch mỡ, tí bột ngọt, gói đường, ngày nào xào ngày nấy, nhờ vậy mà vợ anh mới kiếm được cơm cháo cho lũ con và nuôi anh những ngày tù tội.
Mảnh sân vuông tráng xi măng sau nhà lâu không được sửa chữa nay đã loang lổ, có một cái bể chứa nước mưa và một hòn non bộ. Mé bên trái là một cây mận lớn, cây mận này mẹ anh trồng từ lúc anh lấy vợ, trái đỏ thẫm, ăn ngọt như đường. Hòn non bộ cũng của ông nội lũ nhỏ để lại, nay cũ kỹ đến mọc rêu, từng hòn sỏi trải trên lối mòn đưa lên núi chỗ hai ông tiên đánh cờ cũng do ông cụ nhặt nhạnh, gắn vào mấy tảng đá ong nay đã nhẵn thín. May quá, ngày anh đi ở tù vợ anh hầu như đã bán tất cả những gì quý giá, hòn non bộ cũ kỹ không ai khuân đi cho nên nó mới còn đó.
Những sáng khi mặt trời mọc, con chim chìa vôi vẫn nhảy nhót trên cây mận đỏ tìm mồi, những buổi chiều gió hiu hiu, hoặc một đêm trăng sáng, vợ chồng con cái vẫn bắc mấy cái ghế con con ra sân chuyện vãn, nghe anh kể chuyện tháng ngày lao nhọc trong tù, nay được thế này là nhà anh đại có phước. Dưới ánh trăng suông, nhìn vợ trong chiếc áo cánh trắng đơn sơ , anh thấy vợ vẫn nồng nàn như thủa xưa, cái đẹp của tâm hồn khiến anh thấy mình càng ngày càng yêu vợ. Vợ anh nay không mượt mà như trước, nắng sớm mưa chiều đã làm chị đen đúa hơn, nhưng mặn mòi duyên dáng vì khuôn mặt thuần hậu không son phấn, mớ tóc bới cao vén gọn sau gáy, giọt mồ hôi rịn trên trán , vợ anh vẫn dễ thương như thuở nào.
Ai ngờ lại có chương trình cho mấy người tù nhân chính trị được tỵ nạn bên Mỹ, lúc mới nghe bạn bè rỉ tai nhau anh Nam không làm sao tin nổi. Dạo trong tù, có mấy người chuyên môn tung tin vịt, buồn thì nói láo chơi cho đỡ buồn, vậy mà ai cũng hy vọng. Thật ra trong những lúc tuyệt vọng như thế, người ta vẫn cứ bám vào những tin đồn bên ngoài hàng rào kẽm gai để nuôi một chút hy vọng, đợi ngày về với vợ con. Tác giả của những tin đồn xuất phát từ đám vợ tù đi thăm nuôi, hoặc một anh nào đó lúc đi gánh phân bón rau tăng gia sản xuất, nghĩ ngợi ra để mọi người xì xào với nhau cho đỡ buồn, vậy mà cũng trở thành sự thật.
Từ lúc đi làm giấy tờ xuất cảnh ở trên quận anh Nam đã không “ hồ hởi” lắm. Anh nghi ngờ cũng phải, thứ nhất là ..." hãy nhìn kỹ những gì chúng làm...", lại nữa, mình có phải ông nội cha gì của Mỹ mà nó rước qua cho chật đất. Riêng vợ con anh thì nôn nao lắm, muôn sự cũng tại quá khổ, cứ thoát ra được cảnh đời tối tăm chạy ăn từng ngày là mừng, còn cái buồn vì phải lang thang nơi đồng đất quê người như thiên hạ nói, nào có nhằm nhòi gì so với cái đoạn trường từ ngày hòa bình đến nay. Lũ con anh thiếu thốn đã lâu, nhà có mỗi cái " TiVi" đen trắng cũng bị hỏng, tối tối lũ nhỏ phải đi coi " cọp " ở nhà hàng xóm, bà ta tuy tử tế thật nhưng lũ nhỏ vẫn sợ nem nép, trước khi vào nhà phải giơ tay giơ chân lên cho bà khám xem có bùn đất gì không. Dưới nền gạch bông, bọn trẻ con chen lấn nhau, huých vào mạng sườn nhau dành chỗ, bà chủ nhà quơ chiếc roi lên, cả bọn im phăng phắc, chỉ sợ không được xem nốt bộ phim Tề Thiên đại Thánh đang hồi gay cấn.
Những thứ thiếu thốn lặt vặt hằng ngày, đối với những người từng lăn lộn với cái khổ, cái đói của một đời tù tội thì chẳng nghĩa lý chi, vì anh đã quen chịu đựng. Nhưng từ lúc lũ con lớn lên, anh Nam nhìn thấy nỗi ao ước nhỏ nhoi của lũ trẻ, lại là những vết roi cào xước tâm hồn anh, nếu cuộc sống cứ tiếp tục thế này mãi mãi, mong gì đời con anh sẽ khá.
Chỉ bây nhiêu đó đã làm anh Nam xót xa biết bao nhiêu trong dạ, mai này qua Mỹ anh nhất định đi làm dành dụm mua ngay cho con cái TiVi màu cho đỡ hận. Nếu đi được thì nhà anh đúng là đại phước, “ qua cơn bĩ cực tới hồi thới lai”. Sang bên ấy, xứ sở tự do, dù sao cũng có công ăn chuyện làm, gia đình anh sẽ được bù đắp bao điều mất mát đã phải gánh chịu sau năm bảy mươi lăm. Vợ anh đỡ phải lam lũ nắng sớm mưa chiều , trắng da dài tóc mấy hồi, lũ con được ăn học tới nơi tới chốn, thằng cu con sẽ có một mình một cái tivi, tha hồ xem phim hoạt họa.
Thấy cu Việt khệ nệ mang một cái túi hơi nằng nặng sau lưng, anh Nam tò mò muốn biết chị Nam sắp xếp những gì trong đó. Này là mấy khung hình ông bà nội ngoại hai bên, này là cái bát nhang bằng sứ vẽ hoa, này là bộ hang đá có mấy bức tượng gia đình Thánh Gia , thiên thần, chăn chiên cho dịp Noel sắp tới, còn thêm một bịch gì mềm mềm, nâu nâu đến cả ký. Anh hỏi vợ :
“ Cái gì thế này?”
Chị lúng túng, trả lời gọn lỏn:
“Đất.”
Anh trợn mắt nhìn vợ:
“Đem cái của nợ này đi làm gì? Tưởng cái gì chứ đất ở đâu chẳng có, khùng vừa vừa thôi bà ơi.”
Vợ anh rươm rướm nước mắt :
“Thì khùng, anh cứ để đó em. Đất này em lấy ở gốc mận sau nhà, ngày xưa má hay ngồi đó, má xúc đất vun cây, đất này là đất của bà nội mấy nhỏ...”
Chỉ nói được bấy nhiêu là chị òa lên khóc. Cu Việt ngơ ngác nhìn mẹ, rồi giựt phắt cái túi trên tay ba nó , đeo lên lưng:
“Con mang được mà, không nặng đâu ba. Mẹ nói cái này quý lắm, không có đưa cho ai coi hết.”
Anh Nam nghẹn ngào, rươm rướm nước mắt, anh hiểu tình cảm chân chất, thật thà của vợ. Cái nhà này của cha mẹ anh để lại, nay giao lại cho người em trai trông nom, nó đã giột nát tứ tung, lớp ngói đã phải đắp điếm mấy lần, anh hy vọng sau này có tiền, gửi về cho người em sửa sang lại vì là nhà hương hỏa. Nhà anh nghèo, vợ anh mang theo qua Mỹ từng cái chén, đôi đũa, từng cây kim cuộn chỉ, chị thực tế bày giải :
“Vẫn biết sang bên kia có người bảo trợ, nhưng không lẽ cái gì cũng làm phiền người ta. Mỗi người được sáu mươi ký hành lý, mình không có gì quí mang theo thì cái gì cần cứ mang.”
Lúc ấy anh chỉ cười thầm cho cái tính cẩn thận của vợ, khi thấy vợ sắp xếp lỉnh kỉnh nào thuốc ho, thuốc cảm, thuốc đau bụng đi cầu, cái khăn tắm, cục xà bông. Chừng sang đến nơi anh mới thấy phục vợ, ngày đầu tiên đến Mỹ, người bảo trợ thảy cho nhà anh thùng mì gói, vài cái tô, muỗng đĩa giấy, hai chai nước ngọt trong tủ lạnh, mấy chiếc nệm cũ để ngủ, chỏng trơ chiếc bàn không có ghế. Ư hừ! Nếu vợ anh không mang theo mấy hộp ruốc, con dao gọt trái cây, cái cắt móng tay, mỗi chút mỗi mua mỗi tiền, tảng thịt heo đông đá giữa mùa đông buốt lạnh làm ai ngó thấy cũng ngao ngán.
Rồi không ai bảo, anh Nam lần mò ra chỗ thùng rác của chung cư, khuân về một cái tủ gỗ long chân, sẵn có búa và gói đinh vợ mang theo, anh sửa chữa qua loa rồi xếp vào đấy mấy cuốn Tự điển mang theo từ bên nhà, còn ngăn trên vợ anh mau mắn bày biện mấy khung hình của ông bà nội ngoại. Con cái ở đâu thì cha mẹ đó, tâm hồn người Việt giản dị nghĩ thế dù ông bà, cha mẹ đã khuất bóng từ lâu, nhưng nếu linh hồn thuộc về thiêng liêng thì cái việc vượt trùng dương để đến với con cái đâu có gì khó.
Hôm lễ Giáng sinh lũ con nom buồn thảm quá. Trời lạnh, đường xá vắng hoe, nhà nhà đóng cửa im ỉm, mùa đông đã lạnh lại thêm mưa giầm, không gian như phủ một bức màn xám xịt. Lũ nhỏ châu đầu vào nghe nhạc giáng sinh ở cái radio cũ người bảo trợ cho, hai đứa lớn ngó mông ra cửa sổ mà mắt đã ươn ướt vì nhớ quê, nhớ bạn. Anh Nam định hôm nào có việc, chuyện đầu tiên là đi mua ngay cái tivi cho thằng nhỏ, để không mang tội nói dóc với con. Thằng anh bày hang đá ở một góc nhà, ra sân bẻ trộm một nhánh thông cho phủ lòa xòa trên cái gia đình Nazareth nghèo nàn ấy. Cũng cảnh màn trời chiếu đất, hai gia đình có vẻ phần nào giống nhau, giữa một trời đông rét mướt nơi xứ lạ, quê người, cu Việt còn tự an ủi rằng mình có đủ áo ấm, trong khi Chúa chỉ có mỗi mảnh chăn đơn.
Ra giêng, trời vào xuân ,bà con hàng xóm cũng quen dần, nhà này thảy cho vài thùng quần áo cũ, nhà kia ít nồi niêu, soong chảo, bát đĩa, ly tách, căn nhà hai phòng ngủ xem chừng đã muốn chật ních lên. Những ngày nắng lên, chị Nam mon men ra trước cửa làm quen với hàng xóm, gặp ai đi ngang cũng muốn chào, có người lạnh lùng mà cũng có người vui vẻ hỏi han, mình là người mới đến bộ điệu cứ ngớ ngẩn như nhà quê ra tỉnh. Anh Nam và đứa con lớn đã có việc làm thêm, kiếm tiền mua xe chứ đâu có ai cho quá giang hoài, ở đây không nhanh chân, lẹ tay , lơ mơ là dễ thành “ mù, què, câm, điếc “. Lâu nay chữ nghĩa trả lại cho thầy, tù tội nhiều biết lắm chỉ khổ thân, giả ngây giả dại sống qua ngày với những kẻ dốt nát đã quen, nay trở lại đời sống văn minh bỗng ngơ ngáo như Mán lạc phố. Người này dạy một tí, người kia bảo một tị, cứ ù ù cạc cạc gật gù mà đầu óc rối tinh cả lên, may có mấy người đồng cảnh qua trước chỉ vẽ tận tình, cho nên cha con cũng hội nhập nhanh, đỡ khổ.
Sau mùa Đông buốt giá, trời đã chuyển mùa Xuân. Trước cửa nhà có khoảng sân rộng độ hai mét, chị Nam nghĩ ngay đến việc trồng cây. Cái túi đất mang từ Việt Nam sang vẫn để trong bị của thằng Việt, hôm đi tụi quan thuế sờ nắn mãi, nghi ngờ có hột xoàn, vàng ngọc gì dấu trong đó, nhưng sờ nắn mãi cũng đến thế mà thôi, đất vẫn chỉ là đất. Bị hạch hỏi, chị Nam phải nói là đất mồ mả ông bà mang theo cho đỡ nhớ, cả lũ nháy nhó nhau cười cho là chị dở hơi. Thôi còn một lần chót này thôi, chúng có cười thì hở mười cái răng, chứ có vơ vét tận đáy tâm hồn chúng nó, tìm đâu cho ra chút tình nồng nàn với quê cha đất tổ.
Chị Nam lấy cái bát nhang, đổ một ít đất vào đấy rồi để trên bàn thờ. Nhúm đất này có lẫn cả mồ hôi của cha, của mẹ, chị tưởng như nó đã bám vào đôi guốc mộc của bà mẹ già, lúc bà chăm chút, vun tưới cho cây mận tốt tươi, sau này có trái cho lũ cháu ăn. Nắm đất này hình như đã có bàn tay bà mẹ già bóp tơi trước khi vun vào từng gốc cây sau hè. Chị Nam nâng niu ấp chiếc bát nhang vào ngực, như người thủy thủ già nhớ biển, mỗi lần áp tai vào con ốc nhỏ lại nghe tiếng sóng rào rạt vỗ vào mạn thuyền, lòng lâng lâng nhớ đến những cánh chim hải âu.
Bát nhang đựng nắm đất quê nhà để trên bàn thờ cha mẹ. Mùa Xuân đầu tiên ở quê người, chỏng trơ một cành đào xin được cắm vào cái bình nước ở góc phòng. Đốt mấy nén nhang trên bàn thờ ông bà sơ xài, những lúc ấy, chị Nam tưởng như mình đang sờ mó, đụng chạm đến một thế giới thiêng liêng của bên kia. Nơi ấy có cha , có mẹ, có quê hương, có bạn bè, có những kỷ niệm thiết tha trong một khoảnh đời của dĩ vãng. . .
Còn một ít đất kha khá chị cẩn thận đổ vào chiếc chậu kiểng mua ở "garasale", bà hàng xóm tử tế đã tặng cho chị một cây hoa mẫu đơn, thứ hoa ở bên Việt Nam hay trồng bên hàng giậu, người ta dùng để cúng Phật . Hoa mẫu đơn có quanh năm, nhiều màu rất đẹp, từng chùm hoa tủa ra những cái nụ xinh xinh, nó được biểu trưng cho lòng mẹ, những anh chàng thi sĩ, nhạc sĩ vẫn tha thiết khi đặt bài ca “ Nhà em có hoa vàng trước ngõ”, có lẽ cũng cảm tác từ hoa mẫu đơn ngoài bờ giậu. Chị Nam mua một bịch đất Mỹ trong bao, trộn chung với mớ đất mang từ Việt Nam sang, hai thứ đất hỗn hợp trong chậu kiểng, cây mẫu đơn cứ thế lớn nhanh như thổi. Đâu cũng là đất, đâu cũng là trời, đâu cũng là hoa, vậy mà khi nhìn cây mẫu đơn bắt đầu đơm hoa, lòng chị cứ rưng rưng như là ở đâu đó, có chút tình quê, tình đất, tình cây cỏ đang nở hoa trong lòng chị.
Mấy đứa con của anh chị Nam rất ngoan, chăm làm, chăm học, chúng nó như những bông hoa mẫu đơn nở trong chiếc chậu kiểng có lẫn nắm đất quê nhà. Dù thế nào đi nữa, dù cơm áo xứ người có đãi ngộ cho chị đỏ da, thắm thịt, cho chồng con chị no đủ, dư thừa thì chị Nam vẫn nhớ, mình chỉ là cây mẫu đơn mọc từ nắm đất của quê xưa.
Để nhớ lại mùa Xuân đầu tiên trên xứ Mỹ.
Nguyên Nhung