Tạp Ghi

thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

"Credit,” Lợi Và Hại

Tác giả: Chu Tất Tiến
Khi mới sang Mỹ, nghe nói ai cũng phải có "credit", nghĩa là phải vay mượn tiền từ các cơ quan tài chánh, mới thực là một công dân Mỹ, người viết từ chối, không tin và nghĩ rằng nhất định sẽ không mượn nợ ai để khỏi nhức đầu. Nghe mấy đứa nhỏ nói "phải cần credit", người viết gạt ngay: "Ôi dào, vẽ chuyện! Nếu cần xài cái chi, cứ mang tiền mặt ra trả hoặc dùng "check" là được rồi!". Nhưng chỉ sau khi định cư ở Mỹ một thời gian, người viết đã hiểu lợi ích cũng như tác hại của sự xử dụng "credit". Sự hiểu biết này lại được tăng cường khi người viết trực tiếp làm việc cho một công ty tài chánh, chuyên bán bảo hiểm và thị trường chứng khoán và giúp cố vấn đầu tư vào các dịch vụ "đầu tư hoạt động" (active investment)(*) như "stock, mutual funds, money market, bonds, và các chương trình hưu trí như Self Imployment Plan (SEP), Roth IRA, và IRA.

Từ đó, người viết mới thấy việc có "credit", nghĩa là có "vay mượn" mới thực sự là quan trọng. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích của "credit", cũng có những sự việc đau lòng xẩy ra cho những ai không thông hiểu việc xử dụng việc "vay mượn" này. Nhiều người mất nhà, mất xe, mất cả tương lai, đôi khi mất cả ... vợ con chỉ vì dùng "credit" nhiều quá mà không suy nghĩ đến việc trả lại.

Bài này được viết với một mục đích nhắc lại những lợi ích và những nguy hiểm của việc xử dụng "credit", để mong mọi độc giả thấy thảnh thơi hơn trong việc vay mượn và chi trả này.

1-Lợi ích:

-Khỏi phải mang tiền mặt trong túi hoặc kè kè cuốn "check book" bên hông mà vẫn mua được hàng. Nếu có một tấm thẻ "credit" là tha hồ xử dụng cho tới mức tối đa của tấm thẻ ($1,000.00, $5,000.00, hoặc $50,000.00...) Thẻ lại gọn nhẹ, nhét trong ví nhỏ xíu, không cồng kềnh, không lo rơi rớt như khi cầm nguyên một lố tiền mặt vài ngàn đô. Nếu trả tiền đúng hẹn, thì không phải trả lãi. Nhiều cơ sở cho vay tiền không tính tiền lệ phí hàng năm (no annual fee), cho nên xài bao nhiêu, trả bấy nhiêu, thoải mái y như móc tiền túi ra vậy.
-Được lòng tin của các cơ sở cho thuê mướn, vay nợ. Khi muốn thuê một chiếc xe đi chơi ở tỉnh lạ, hoặc muốn mướn một chiếc xe pick-up để chở đồ, điều kiện bắt buộc là phải có thẻ "credit", người ta mới cho mướn. Khi muốn mua nhà, mua xe mới, cũng phải có "good credit", nghĩa là có tiền sử mượn tiền mà đã từng trả đủ, trả đúng hẹn, mới được mua nhà hay mua đồ.

-Xin việc làm. Một vài cơ sở công hay tư muốn kiểm tra "credit" của người xin việc. Nếu không có tiền sử có nợ, hoặc có nợ mà không chịu trả, có nợ mà chuyên trả trễ, thì xin miễn xin việc!
-Hãnh diện: Khi đi mua hàng cao cấp, nếu có thẻ "credit" thì người mua cảm thấy hãnh diện hơn là lôi ra một lô tiền mặt. Nhiều trường hợp mua bằng tiền mặt còn gây khó khăn cho người mua nữa, vì người bán có thể nghi ngờ là tiền "rửa" từ những dịch vụ bất chính, và tuy họ vẫn nhận tiền, nhưng vẫn ngầm báo cáo với cảnh sát. Còn "check" thì đôi khi không được nhận, vì chủ hàng sợ "check" dỏm.

2-Bất lợi:

Trả nợ trễ hạn hoặc không trả nợ thì rất nguy hiểm cho tương lai tài chánh của chính mình. Các cơ sở cho mượn nợ không làm chuyện "chùa" cho thiên hạ mãi vì họ phải điều hành cả một công ty khổng lồ với bao nhiêu nhân viên, máy móc, lại phải bỏ tiền ra chi trả giùm cho khách hàng mỗi ngày cả tỷ đô la. Vì thế, nếu mình trả trễ, lập tức tiền lời "nhẩy vọt lên" từ 0% đến 20% hay hơn. Trường hợp trả dần cũng thế, phải trả một số tiền lãi cho số nợ còn lại. Có nhiều người ham "shopping" líu lo, mà không có nhiều tiền, nên bị nợ "đè" tắc thở! Lãi mẹ đẻ lãi con, nếu không lo thanh toán sớm, sẽ có ngày mất nhà, mất xế. Nghe nói trong cộng đồng Việt, có vài vị chủ nhân thương vụ ham đánh bạc, được may mắn trúng vài lần và được Casino tặng cho thẻ "credit" vàng. Thấy dễ dãi, nổi hứng lên đánh bạc túi bụi cho đến khi cả tiệm và nhà đều bay mất. Có ông trở thành homeless, sau khi vợ con cũng cất cánh bay luôn. Cho nên, nếu dùng thẻ "credit", phải biết căn cái túi tiền của mình. Có nhiêu, xài nhiêu, đừng ham vui mà xài quá lố, thì tiêu đời.

3-Điểm "credit"
(Credit Scores)

Điểm Credit là một báo cáo về tiểu sử tài chánh và vay mượn của một người: nợ nhà, nợ xe, trương mục mới, trương mục cũ, tiền thiếu chịu, trả trễ... Điểm của người dùng là ba (3) con số giữa 300 và 850, dựa vào nguyên tắc của một công ty là Fair Isaac, công ty này bán công thức cho ba (3) cơ quan báo cáo về "credit" là Equifax, Experian, và TransUnion. Các cơ quan này cho các cơ quan chuyên cho vay biết về cách tiêu tiền của một người đi vay, từ đó, quyết định có cho vay nợ hay không, và nếu cho vay, thì tiền lãi sẽ như thế nào, có thể thấp nếu người đi vay có "good credit" (nghĩa là có điểm trên 720), có thể lãi xuất rất cao, nếu người đi vay không có "good credit", và không cho vay, nếu người xin vay có "bad credit". Những người có điểm trên 799 thì được khuyến khích vay thật nhiều, và được hưởng nhiều ưu đãi. Kẻ có "bad credit" phải chấp nhận không bao giờ vay được ai, hoặc vay được mà lãi xuất cao hơn bình thường. Thì dụ như khi mua xe mới, người có "good credit", nếu gặp dịp "sale", không phải trả lãi xuất, trong khi người mới có "credit" hoặc "bad credit" phải trả tới 10 hay 12% tiền lãi.

Điều đáng lưu ý là khi nhận được "credit report", phải dò thật kỹ xem có đúng tên, địa chỉ cũ và mới của mình hay không. Đôi khi, với người Việt Nam, việc lộn tên ra họ, lộn họ ra tên, hoặc trùng tên họ là thường. Như thế thì mình bị "oan ơi ông Địa" nếu không biết khiếu nại.

Chu tất Tiến
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Ði với về chẳng giống nghĩa nhau đâu!

Huy Phương
Ông Phùng Hoan thời Ðông Châu Liệt Quốc bên Tàu, có tài nhưng thuở hàn vi cũng nương nhờ ngày ba bữa cơm nơi nhà khách của Mạnh Thường Quân. Khách chia làm ba hạng sang hèn khác nhau, người giỏi được xếp hạng “đại xá”, cơm ăn có chất tươi lại được đi xa mã, hạng làng nhàng là “hạnh xá”, cơm có thịt cá nhưng không có xe đi, hạng chót là “hạ khách”, có cơm ăn là may. Phùng Hoan là lính mới đến chỉ có cơm với xì dầu, tài sản có độc mỗi cái gươm mà không có vỏ, ăn xong thường vỗ kiếm mà hát rằng “trường kiếm quy lai hề, thực vô ngư”. Quân hầu vào báo với chủ, Mạnh Thường Quân đưa Phùng lên hạng hạnh xá, nhưng được ít lâu, Phùng Hoan lại vỗ kiếm mà ca “trường kiếm ơi, về đi thôi, chẳng có xe đi!”

Không rõ Phùng Hoan quê quán ở đâu, có vợ con gì chưa, nhưng lập thân bằng cách đi ăn cơm nhờ nhà người, chưa được trọng đãi, đã vội vỗ kiếm mà đòi “quy lai hề!”

Chuyện nước Nam, tháng 5-1975, có một số người chạy giặc Cộng Sản, qua đến đảo Guam, được đặt chân lên đất tự do rồi mà còn ngây thơ, biểu tình, đốt trại mà đòi về, về đến Việt Nam được chở thẳng vào trại tù, mang ân hận suốt đời.

Năm 1996 khi thuyền nhân trong các trại tạm cư tại Galang bị cưỡng bức hồi hương, nhiều người trích máu viết biểu ngữ phản đối, mổ bụng tự sát để đòi quyền ở lại, không chịu về.

Theo số liệu của Ủy Ban Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc, trong khoảng từ năm 1975-1995 đã có 849,228 người vượt biên bằng đường biển và đường bộ bỏ đất nước Việt Nam ra đi. Không ai biết chính xác có bao nhiêu người đã bỏ mình trên biển hay trong rừng sâu, ước đoán cho rằng từ 100-200 ngàn người chết trên biển Ðông vì muốn ra đi.

Trong số hàng triệu người đã bỏ nước, bằng cách này hay cách khác, lưu trú trên xứ người, tính đến nay đã có bao nhiêu người trở về du lịch, thăm viếng họ hàng trên đất quê hương? Có những người về hằng năm, nhưng con số chưa bao giờ về không phải là ít, và con số về ở lại luôn: -không đến 1%? Hiện nay trong xã hội của thời đại mới, chuyện cư ngụ, đi ở đã thành chuyện thường tình, tiếng “về” luôn luôn dành cho đằng gốc, và đi là chuyện ngọn, cho nên người ta vẫn thường dùng về nhà, về quê, về nguồn... Cuộc đời là tạm bợ, nhất thời, cái chết là muôn đời nên mới có câu “sinh ký tử quy” (sống gởi, thác về).

Tuy vậy, Nguyễn Du cũng đã than:

“Bó thân về với triều đình

Hàng thần lơ láo, phận mình ra chi?”

Ðối với những người về một nơi chốn mà không bao giờ muốn ở lại nơi đó, thì nên gọi là Về Việt Nam hay Ði Việt Nam? Sao gọi được là “về” khi còn “sợ chế độ, sợ công an, sợ Cộng Sản”, mà sao gọi là “đi” khi trở lại xứ người mà cảm thấy nhẹ nhõm, an toàn. Biết bao nhiêu doanh nhân, trí thức chỉ vì “về” mà thân bại, danh liệt, “bỏ của chạy lấy người”:

“Một lần mà tởn tới già,
Ðừng đi nước mặn mà hà ăn chân!”

Chuyện đi, chuyện về là câu chuyện thường ngày không những đối với những người tỵ nạn mà còn đối với những người đang sống với quê hương, phải chăng “đi” là giấc mơ của bao nhiêu người trong một đất nước quá tồi tệ. Chuyện vượt biển bây giờ đã trở thành câu chuyện cũ, tuy vậy vẫn còn nhiều con đường để ra đi, ngày xưa là đổi mạng sống, ngày nay là trinh tiết, tài sản và danh giá: lấy chồng phương xa, đi làm tôi tớ, bán sức lao động xứ người, mong được đi luôn chẳng bao giờ trở về.

Trong khi đó, nhà nước Cộng Sản luôn luôn kêu gọi “núm ruột ngàn dặm” hãy về đóng góp chất xám, tiền bạc, xây dựng quê hương, ít ra cũng bỏ ra vài nghìn đô la cho một chuyến du lịch: “Ai chưa về thì nên về, ai về rồi thì về nữa!” như một lời mời mọc của ông chủ tịch nước kiêm “saleman” Nguyễn Minh Triết. Như chuyện người bẫy chim sẻ trong “Cổ Học Tinh Hoa” loại chim sẻ non, mép vàng là loại dễ bẫy vì chúng không có kinh nghiệm, tham mồi, nhưng so chuyện đời nay, thì sai, vì có kẻ đầu hai thứ tóc vẫn dễ tham mồi, không tiền tài thì cũng danh vọng, cũng chỉ vì chữ “về” mà nhiều kẻ “lưu xú vạn niên”.

Thi sĩ và người viết kịch bản người Nga Josept Brodsky được mệnh danh là người “chết cũng chẳng về” (...doomed not to return home). Ông cũng đã bị kết án tù “cải tạo” 5 năm, chối bỏ chế độ Cộng Sản, tỵ nạn sang Hoa Kỳ năm 1972, được giải Nobel Văn Chương năm 1987 và mất ở New York năm 1996. Văn hào Aleksandr I. Solzhenitsyn, nguyên là một sĩ quan của Hồng Quân, tác giả cuốn sách để đời “Quần đảo Gulag”, giải Văn chương Nobel năm 1970, bỏ chế độ Cộng Sản tỵ nạn năm 1974 và chỉ “trở về” quê hương của ông khi chế độ Cộng Sản đã đội nón “ra đi”. Nhà văn Cao Hành Kiện (Jao Xinjian) của Trung Cộng, trưởng thành trong chế độ Cộng Sản. Trong thời gian có cuộc “cách mạng văn hóa” (66-76), ông bị vợ tố cáo tội “len lút viết văn” phải bị đưa vào trại “lao cải” trong 6 năm. Sau vụ thảm sát Thiên An Môn ông ra khỏi đảng Cộng Sản và khi có cơ hội ra ngoại quốc, ông tỵ nạn tại Pháp năm 1987. Cao Hành Kiện được giải Nobel Văn Chương năm 2000. Ông cho rằng: “Thời dấy động văn chương cách mạng đã qua, bởi vì cuộc cách mạng đã tự cách mạng hóa cho đến chết và chỉ để lại toàn là điều cay đắng và một cảm giác mệt mỏi, chán chường, thậm chí buồn mửa...”

Những người trên đây đều đã được công nhận tài năng qua các giải Nobel Văn Chương, tất cả tác phẩm của họ đều bị chế độ Cộng Sản của nước họ xếp vào hàng “phản động, chống phá tổ quốc”, nhưng họ vẫn được người đời xem là trí thức, kẻ sĩ, đã để lại nhiều bài học cho nhân loại. Chúng ta có biết bao nhiêu trí thức, nghệ sĩ miền Nam đã đi ra khỏi nước, họ không bao giờ về, không bao giờ cậy cục để được xuất bản sách trong nước, kiếm diễn đàn lập công, hay tìm một vài buổi trình diễn. Mai đây khi chết, dù không được gối đầu trên mảnh đất quê hương, họ vẫn xứng đáng được gọi là kẻ sĩ, bia mộ họ vẫn giữ được sạch sẽ, không bị ai ném phân vào.

Tôi không thể đem các nhân vật này ra để so sánh với những kẻ tầm thường trong xã hội chúng ta, nhưng tôi phải liên tưởng đến những kẻ khùng điên, ba mươi lăm năm trước có cơ hội biết đến chữ “đi”, ba mươi lăm năm sau, sau một bữa rượu thịt, hô hoán lên đã “ngộ” được chữ “về” sung sướng như một đứa trẻ thơ được bú tí:

“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ.
Mặt trời chân lý chiếu qua tim.” (Tố Hữu)

Ngày xưa, Phùng Hoan vỗ kiếm mà đòi “quy lai hề”, Mạnh Thường Quân có mắt xanh nên lưu người ở lại. Ngày nay có những kẻ đòi về mà chúng chưa chịu về, về cho đỡ bẩn mắt chúng ta.

Ai nói chuyện “đi”, ai nói chuyện “về” mặc ai, tuy vậy “đi với về chẳng giống nghĩa nhau đâu!”
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Bài học từ người quét rác!...

Chủ tịch hội đồng quản trị Thái Hà Books - Nguyễn Mạnh Hùng từng học đại học và sau đại học tại Nga (Liên Xô cũ). Ông từng đảm nhận vị trí quan trọng của nhiều doanh nghiệp và tổ chức lớn.

Ông Hùng từng học tập, công tác, tham quan, làm việc tại 39 quốc gia trong đó có Nga, Mỹ, Pháp, Australia, Anh, Nhật, Trung Quốc, Ai Cập, Thụy Điển, Italy... Biết 4 ngoại ngữ: Anh, Pháp, Nga, Trung trong đó 3 ngoại ngữ đầu thành thạo cả nghe, nói, đọc, viết. Tổng số thời gian sống ở nước ngoài là trên 16 năm.

Ông bắt đầu giảng về quản trị kinh doanh từ 2003 sau khi từ Sydney, Australia về VN. Nơi giảng là: Tổ chức InWent (Đức), Hội Doanh nhân trẻ Hà Nội, Hiệp hội Nữ Doanh nhân Hà Nội; Các công ty và Trung tâm đào tạo: Đào tạo và Tư vấn ngân hàng BTC, PTI, Vitoria, VCCI, Viện quản lý Châu Á, Công ty chứng khoán Thăng Long, Chứng khoán Đại Dương, Công ty Thành Nam, Công ty Hà An, Ngân hàng Quân đội MB, Ngân hàng nhà Habubank, ngân hàng An Bình, Techcombank, Tổng công ty Phát hành sách Saigon Fahasa, Công ty Vinapay, Kiều Gia… và rất nhiều doanh nghiệp khác.

“Nếu không gặp được Allen - người quét rác 10 năm về trước có lẽ giờ này, tôi đang quay cuồng trong vòng quay vô tận của đồng tiền”, Giám đốc Thái Hà Books - Nguyễn Mạnh Hùng chia sẻ quan điểm sống của mình.

Học là việc của cả đời. Ngày tốt nghiệp đại học tôi mới mới bắt đầu sự nghiệp học hành của chính mình - học từ cuộc sống. Biết bao người thầy sau này đã dạy cho tôi vô vàn kiến thức. Họ là các giáo sư, tiến sĩ, các chủ tịch, tổng giám đốc của nhiều tập đoàn lớn trên thế giới. Tuy nhiên tôi không thể nào quên được một người thầy đặc biệt của mình - thầy Allen.

Hằng ngày từ ký túc xá trên phố Mountain - Sydney (Australia), tôi khoác ba lô đi học hay lên thư viện. Mỗi buổi sáng, tôi đều bắt gặp một anh công nhân vệ sinh thu dọn quanh khu nhà. Anh luôn tươi cười và kèm theo là lời chào rất thân thiện “Hello, how are you” (Chào bạn, bạn khỏe chứ?). Anh làm như vậy ngay khi gặp tôi. Về phần mình tôi luôn lẳng lặng bước đi, khuôn mặt lạnh tanh và khó chịu. Trong đầu tôi lúc đó chỉ hiện lên một ý nghĩ duy nhất “Thằng cha này thấy sang bắt quàng làm họ. Hắn thấy tôi có chức vụ, có tiền bạc, có học thức nên muốn bắt quen đây. Hắn thì có khác gì mấy cô công nhân vệ sinh hay đi dọn rác trước cổng nhà mình ở phố Thái Hà, Hà Nội”.

Ngày tiếp theo, anh công nhân vệ sinh vẫn cười tươi, vẫn chào tôi hết sức niềm nở. Tôi vẫn khó chịu và đút hai tay vào túi quần đi thẳng. Khuôn mặt vênh váo. Ngày thứ ba vẫn vậy, anh quét rác lại chào tôi rất vui vẻ, khuôn mặt và thân hình thể hiện sự thân thiện với tôi. Tuy nhiên, trong lần này, để cho xong chuyện tôi đã trả lời anh ta một cách miễn cưỡng: “I am fine, thank you. And you?” (Tôi khỏe, cám ơn anh. Thế còn anh?) Tôi nói xong và chợt nhận thấy rằng mình đã cười. Tôi đã cười mà không biết, điều này không như trong kế hoạch ban đầu của một người coi thường anh công nhân dọn vệ sinh. Thú vị hơn tôi phát hiện ra khuôn mặt tươi tỉnh của chính mình, rằng hình như mình vui hơn, dễ chịu hơn, hạnh phúc hơn, thư giãn hơn.

Vừa đi tôi vừa nghĩ về mình rồi lẩm bẩm: “Ta thật là ngu dốt”. Quả thật, từ trước đến nay, trong suốt bao nhiêu năm qua tôi đã có một suy nghĩ không đúng, rằng khi cười với ai đó tôi mang lại niềm vui cho họ. Khi bắt tay ai tôi luôn nghĩ mình ban ơn cho họ. Khi gần gũi ai, tôi luôn nghĩ họ được lợi từ tôi. Và, tôi thấy mình thật sai lầm. Bởi, khi tôi cười với anh công nhân quét rác này người được lợi đầu tiên không phải là anh ta mà là chính tôi.

Và tôi chợt nhận ra rằng anh ta đâu có biết tôi là ai. Anh không hề biết tôi có bao nhiêu tiền, làm chức vụ gì, có học thức đến đâu. Trong mắt anh ta tôi từ ký túc xá bước ra tức tôi là sinh viên, là người đi học. Dù có học tiến sĩ, thạc sĩ hay đại học vẫn là người đi học, là sinh viên. Mà thậm chí anh cũng chẳng quan tâm tôi có là sinh viên hay không.

Trên thực tế tôi chỉ là một người châu Á da vàng, mũi tẹt. Nhưng anh ta cũng chẳng để ý đến chuyện ấy. Anh chỉ cười và chào tôi như đã và đang làm việc đó với tất cả những ai từ ký túc xá bước ra. Tất cả mọi người là bình đẳng. Tất cả chúng ta là con người. Tôi thấy xấu hổ và tôi đã nhận ra vấn đề. Tôi đã được học một bài quý giá. Từ đó đi đâu, gặp ai tôi cũng chào và cười. Không chỉ cười mà là cười rất tươi. Cười từ trái tim mình, từ đáy lòng mình.

Một bữa nọ khi từ thư viện về tôi phát hiện ra Allen - người quét rác đang ngồi uống cà phê trong quán. Anh ăn mặc rất lịch sự, vừa nhấm nháp ly café vừa đọc sách. Ngạc nhiên và tò mò, tôi lại gần làm quen, cùng uống café, cùng nghe nhạc với anh. Tôi không ngờ rằng người mặc bộ quần áo bảo hộ, đi lau nhà, quét rác mỗi sáng bây giờ lại biến thành một người lịch lãm, trí tuệ thế này. Anh đọc sách say sưa và đọc khá nhanh. Bài học nữa tôi đã học được: Mỗi lúc chúng ta đang đảm nhận vai diễn nào đó, lúc đóng vai nào phải làm tốt vai đó. Hơn nữa, không nên coi thường người công nhân quét rác. Anh ấy cũng đọc sách, cũng nghe nhạc, cũng thưởng thức café và các món ăn.

Allen đã kể cho tôi nghe vanh vách về Kim Tự Tháp ở Ai Cập, về những gì còn sót lại từ vườn treo Babillon ở Iraq, về vùng đất lạnh và băng giá Siberie của nước Nga. Anh nói về thời kỳ La Mã, về chiến tranh Nam Bắc của nước Mỹ, về cuộc sống của người Eskimo. Đặc biệt anh nói về Việt Nam khi biết tôi là người Việt (Sau này anh kể rằng anh cứ ngỡ tôi là người Thái hay Indonesia).

Hóa ra Alen đam mê đi du lịch. Anh đi du lịch qua sách. Những hiểu biết của anh làm tôi kinh ngạc. Hóa ra anh rất hiểu biết và có trí nhớ và sự tưởng tượng tuyệt vời. Allen hỏi tôi khu vực Hạ Long có bao nhiêu hòn đảo? Khi đó, vì không biết, tôi đã nói đại rằng quãng 1.000 hòn. Allen đã giảng giải về các hòn đảo, về địa lý, khí hậu, thảm thực vật và thủy sản cũng như tính chất vùng biển của 1.960 hòn đảo, (chứ không phải con số 1.000 như tôi nghĩ) trong vùng diện tích 1.553 km2 này. Nhờ Allen mà tôi, có lẽ, đến chết không quên được những con số này.

Allen đề nghị tôi phân tích về nhạc Việt Nam, nhất là vấn đề đặc biệt của loại nhạc 5 nốt này. Tôi ngạc nhiên vì chưa bao giờ biết đến nhạc của đất nước mình lại chỉ có 5 nốt. Tôi luôn nghĩ nhạc gì thì nhạc, đã là nhạc thì phải là 7 nốt chứ. Cuối cùng tôi đã phải há miệng ra nghe Allen nói về chèo, về cải lương, về chầu văn, và về các loại nhạc cụ của Việt Nam, đất nước nơi tôi sinh ra và lớn lên. Allen đã dạy cho tôi bài học quý giá về tính tìm tòi khám phá, rằng tôi phải đọc nhiều hơn, tìm hiểu nhiều hơn, quan sát và ghi nhớ nhiều hơn.

Chính từ bài học quý giá này mà ngay sau khi về Việt Nam tôi đã quyết định lái xe làm một chuyến xuyên Việt. Tôi cũng quyết đi tham quan toàn bộ đất nước mình, không bỏ sót tỉnh nào. Tôi chợt nhận ra rằng mình đã bỏ qua rất nhiều điều quan trọng, rằng tôi đã đi đến tận 39 quốc gia nhưng lại chẳng hiểu được nhiều thứ đang diễn ra ngay tại đất nước mình.

Ngày tôi đến thăm nhà của Allen, tôi lại học thêm được một bài học quý giá nữa. Allen có khoảng gần 1.000 cuốn sách. Là người học nhiều, đi nhiều, thường xuyên mua và đọc sách nhưng tủ sách của tôi cũng chỉ có quãng 3.000 cuốn. Còn Allen, một công nhân vệ sinh đã có một tủ sách quá vĩ đại. Anh đam mê sách và đã bỏ một khoản tiền lớn ra mua, trưng bày sách. Anh nói đã đọc hết những cuốn sách này. Thậm chí có những cuốn đọc đến 2-3 lần. Tôi nhớ khi đó tôi có mong muốn quỳ dưới chân anh xin nhận anh làm thầy.

Cũng tại những lần đến thăm anh, tôi đã được học cách nấu ăn. Làm sao nấu đơn giản, đủ chất, ngon miệng mà không quá cầu kỳ. Một tình bạn thân thiết đã nảy mầm giữa một doanh nhân với một anh quét rác. Chuyện này tôi không thể tưởng tượng được trước đó một vài năm. Từ ngày gặp Allen tôi bỏ hẳn các tính xấu của mình: kiêu ngạo, soi mói, coi thường người khác. Tôi cũng trở nên điềm đạm hơn, nói nhỏ hơn, ít nóng tính hơn. Tôi cũng không còn “bệnh” nhìn hình dáng bên ngoài mà kết luận con người nữa. Tôi luôn niềm nở và giúp đỡ mọi người. Tôi quyết định chọn sứ mệnh “sẻ chia” của mình từ ngày đó.

Cũng nhờ Allen và những người thầy khác sau này tôi đã hiểu và thực hành nguyên tắc “cho mà không đòi hỏi, cho mà không cần nhận”. Tôi cũng đã triển khai mỗi ngày, mỗi giờ cách sống “pay it forward” - đáp đền tiếp nối. Cũng từ ngày đó cuộc đời của tôi luôn hạnh phúc, bình an và chan chứa yêu thương.

Gần chục năm đã trôi qua. Bây giờ nghĩ lại, nếu không gặp được Allen, chắc tôi vẫn đang quay cuồng trong vòng quay vô tận của đồng tiền, không chút nghỉ ngơi, không dành thời gian để hiểu và sống hạnh phúc với những người xung quanh, trong đó có các bạn bè, đồng nghiệp và hàng xóm. Tôi thật biết ơn thầy tôi, bạn tôi - Allen.

Nguyễn Mạnh Hùng
Chủ tịch HĐQT, kiêm Giám đốc Thái Hà Books
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Image

Phở...và...cơmmmm...

Phở và cơm ....làm từ gạo tẻ
Phở ...ăn 'khoẻ'... giá rẻ...hơn cơm
Phở khỏi đơm...tay lùa ....miệng nuốt
Phở..là thuốc...'trau chuốt'....bệnh già
Phở ...chục tô...ăn hoài chẳng ngán
Cơm...nhàm chán...ngao ngán..thở dài...?

Phở ...miệt mài...húp chan...xùm xụp...
Cơm...lạy lục...tiếp tục...mà nhai...
Cơm ...nguội tanh....chỉ hoài...một món
Phở...được chọn...một món...ăn hoài
Cơm...vừa nhai...hai hàng ...lệ chảy
Phở...hết xảy...vừa nhảy...vừa nhai...


Cơm...ăn xong...phải chùi...đĩa,bát
Phở....húp xong...quẹt miệng...đi liền
Cơm...tính tiền ...bằng lương ...cả tháng...
Phở...ăn sáng..cuối tháng...trả tiền...
Cơm...dọn ra...nhâm nha với vợ
Phở...ngoài chợ...ăn với ...bạn bè

Cơm ...muối mè...vừa khô...vừa mặn
Phở...muôn mặt...gân, nạm, tái, vè....


Lý do đàn ông thích "phở"
Nếu xét về "thành phần cấu tạo" thì cơm và phở rất giống nhau, đều được làm chủ yếu từ... gạo tẻ.
Phở có thịt có hành thì cơm có cũng có, đã vậy cơm còn hay hơn vì không bao giờ bị trộn... hàn the. Cơm cũng rẻ hơn và.... no lâu hơn.

Dân gian gọi vợ là cơm, bồ là phở. Nếu xét theo khoa học thì cách gọi đó chẳng xúc phạm ai cả vì hai "món" này đều có giá trị độc lập, chả cái nào cao hơn cái nào.
Nhưng rõ ràng phở luôn luôn tượng trưng cho sự bay bướm Ưu thế của phở so với cơm là quá rõ ràng trong chuyện tình ái, mặc dù nhiều lúc "phở" xấu hoặc già hơn "cơm".

Một số lý do hài hước sau góp phần lý giải việc đàn ông thích phở nhưng vẫn không bỏ được cơm:

Ðàn ông thèm "phở" vì ít được ăn phở. Muốn ăn phở, nhất là phở đặc biệt, thì phải có tiền, có xe, trong khi cơm ngày nào cũng được ăn và phải ăn.

Ðàn ông dùng cơm ở nhà trong không khí quen thuộc, ấm áp đến nhàm chán, còn dùng phở ở xa nhà, trang trí lạ mắt, đôi khi đẹp mắt và có cả âm nhạc.

No thì rất khó ăn thêm cơm. Còn phở, no tới mấy cũng có thể làm thêm một tô.
Ăn phở xong có thể đứng dậy, đi ngang hoặc ngồi, nằm một chút. Còn ăn cơm xong nhiều khả năng phải thu dọn và rửa bát đĩa.

"Phở" không quán nào giống quán nào, thậm chí là không tô nào giống tô nào.
Còn cơm thì có khi bao nhiêu năm vẫn thế, chỉ có nguội hơn.

"Phở" có thể ăn chung với bạn bè. "Cơm" thì rất ít, phần lớn là ăn chung với... bà nấu cơm.

Lúc ăn phở, có thể dễ dàng yêu cầu thêm tý hành, tý bánh hoặc thêm tý ớt cho mặn nồng.
Còn cơm, có gì trên mâm hãy xơi nấy, yêu sách lôi thôi còn bị mắng hoặc bị gắt gỏng "không ăn thì thôi".

Phở tuy cùng một chỗ nhưng có thể ăn tái, chín, nạm, gân.. tùy thực khách quyết định. Cơm thì do mụ nấu cơm quyết định.

Nếu ăn phở nhiều tới mức độ trở thành khách quen, khách có thể ăn... nợ. Còn nếu không đưa tiền lương, "cơm" sẽ dừng ngay

Bỏ tiệm "phở" này, có thể dễ dàng tìm tiệm khác. Còn bỏ "cơm" thì phức tạp vô cùng.

Một lý do nữa là "phở" nhiều Nước, còn "Cơm" thì Khô queo. HaHaHa..!!!
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Cầm Là Ðàn - Ðàn nào là đẹp?

Quỳnh Giao
Khi đọc phân nửa lời tựa này, các độc giả thuộc phải khỏe mà tâm hồn yếu thì sẽ đồng thanh trả lời: “Ðàn bà là đẹp nhất!”

Dạ, biết rồi! Thật ra, câu hỏi này bỗng lâng lâng trở về với chúng ta sau những ngày lễ Tết. Chẳng là một hôm sau Tết Tây, ghé tiệm phở Nguyễn Huệ thì đã bắt đầu được nghe nhạc Xuân, ồn ào huyên náo. Thế rồi bỗng dưng có tiếng Thái Thanh trong bản nhạc xuân bất hủ nhất. “Bến Xuân Xanh” của Dương Thiệu Tước.

Ca khúc này là bản luân vũ về Xuân và nước thuộc loại trách tuyệt của Việt Nam với bốn chuyển đoạn và hai điệp khúc. Ðẹp và vui vô tả... Trong hương vị đậm đà của bát phở, người viết bỗng có câu hỏi rất lạc đề ẩm thực, là nếu hòa tấu bài này thì loại nhạc cụ nào sẽ diễn tả hay nhất?

Tháng trước, trong một đám cưới thanh lịch và đầm ấm tại quận Cam, Quỳnh Giao có để ý đến ban nhạc giúp vui. Ðấy là một dàn tứ tấu đàn dây với sự phụ họa của một bộ trống. Tuyệt vời vì danh mục toàn những bản jazz và pop của thời xưa, khi chúng ta còn thanh xuân. Nhưng điêu luyện vì dàn nhạc chơi rất nhẹ, kể cả bộ trống trong một phòng ăn có kích thước vừa phải. Dàn nhạc Mỹ biết là có nhiệm vụ làm ấm không gian bằng nhạc, chứ không cướp diễn đàn và biểu diễn khả năng gây tiếng động. Cứ nhẹ nhàng mà ngọt ngào như một ly rượu quý...

Khi ấy, người viết nhớ đến mấy cây vĩ cầm và một cây trung hồ cầm...

Bến Xuân Xanh của Dương Thiệu Tước có thể được diễn tả như vậy, dìu dặt, êm ái, khi lâng lâng cũng không quá đáng, lúc thủ thỉ thì vẫn tròn đầy. Một dàn nhạc với mấy chục cây vĩ cầm theo kiểu ban “101 Strings” ngày xưa là đẹp nhất. Khi ấy, nếu ca sĩ là người hiểu được ý tác giả thì sẽ nhờ sóng nhạc dẫn người nghe vào cõi mây nước lâng lâng cùng tiếng hát của mình. Một sự hòa quyện nhịp nhàng tình tứ, chứ không ồn ào như Dòng Sông Xanh của Johann Strauss.

Xin quý độc giả tìm nghe lại Bến Xuân Xanh thì sẽ cảm được điều ấy.

Nói đến vĩ cầm hay violin, người yêu nhạc cổ điển Tây phương và phim ảnh đều nhớ đến phim “le Violon Rouge” của Francois Girard thực hiện mới đó mà cách đây hơn hai chục năm rồi. Nhân vật chính trong phim là một cây đàn. Nguyễn Tuân chưa kịp bắt được truyện này để dệt ra một đoản văn âm u kỳ bí khác về hồn cầm. Mà đây là hồn cầm chính hiệu vì cây đàn xuất hiện từ vùng đất thiêng của các nhạc cụ bằng dây là làng Cremona của Ý. Nó được một nghệ sĩ bậc sư là Nicolo Bussoti làm ra vào cuối thế kỷ 17 và có màu đỏ như máu - do hồn của người vợ nhập vào. Cây đàn nổi trôi trong mấy thể kỷ cùng những thăng trầm của loài người và đó là truyện của phim.

Ở ngoài đời, ngoài Bussoti thì đất Cremona còn nhiều danh sư khác. Và một dòng họ danh sư là gia đình Stradivari. Họ làm ra những cây đàn quý nhất của nhân loại và ngày nay chỉ gọi tên là “Stradivarius” là mọi người đều hiểu. Quý vì giá trị âm thanh của đàn đã thật sự vượt thời gian và đắt hơn vàng với kỷ lục là gần ba triệu đô la một cây. Nhà Stradivari làm đàn vĩ cầm violin, hồ cầm celleo, đàn guitar lục huyền cầm và cả đàn harp mà nhiều người phiên âm ra cái tên rất đẹp là “hạc cầm”. Nhưng nổi tiếng nhất trong các loại danh cầm của họ là vĩ cầm và trung hồ cầm, loại đàn bạc triệu hoặc chỉ thấy trưng bày trong viện bảo tàng, trên tay của những danh thủ cỡ Rostropivitch, Jacqueline Dupré, Yo To Ma, hay Itzhak Perlman.

Ngoài nghệ thuật làm đàn của các nghệ nhân siêu hạng, các cây đàn danh tiếng của họ còn chịu thổ ngơi của đất Cremona. Người ta tin rằng thân gỗ vùng đó cũng có hồn nhạc thấm vào từng thớ để mấy trăm năm sau vẫn còn rung lên những âm thanh tuyệt diệu.

Người yêu nhạc thì biết hết cả giá trị lẫn trị giá của đàn. Có người sẵn sàng bỏ tiền ra mua. Nhiều người khác thì nghiên cứu giá trị bằng khoa học và tìm cách chế tạo những nhạc cụ tương đương. Nói là tương đương thôi vì hình như vẫn còn có sự khác biệt....

Thí dụ là một tay làm đàn của nước Ðức, Peter Greiner. Ông mê đàn từ bé và bắt đầu làm đàn từ năm 14 tuổi. Nay vừa qua tuổi tứ tuần bốn chục, ông chế tạo được 250 cây. Tính nhẩm thì một năm làm được có mười cây! Nhưng đây là một nghề tâm huyết gần với cái nghiệp hơn là kiếm tiền, dù mỗi ông cây bán ra với giá một chiếc xe hơi hạng sang. Gần năm chục ngàn đô la. Greiner cẩn thận cộng tác với một nhà vật lý và nghiên cứu đủ khía cạnh để làm ra những cây vĩ cầm có thể thổn thức như tiếng người! Chẳng biết là đã có ai giới thiệu với ông ta cây đàn đáy của dân Việt chưa...

Ngoài Peter Greiner, nhiều nghệ sĩ làm đàn trên thế giới cũng cố mở ra cuộc đua với các cây đàn cổ, làm ra những cây đàn có thể so sánh với những danh cầm thời trước. Một nơi có nhiều nghệ nhân như vậy dĩ nhiên vẫn là đất Cremona của Ý.

Ðiều đáng yêu là họ vừa tìm tòi nghiên cứu, vừa thực hiện vừa liên lạc trao đổi kinh nghiệm với nhau. Dưới ánh sáng của khoa học, hết còn chuyện bí quyết gia truyền kiểu xưa. Vả lại, mấy trăm năm qua, loài người dần dần cũng hiểu ra những yếu tố đưa tới giá trị của các cây danh cầm. Họ cố gắng học theo và có lẽ cũng chẳng cần giấu nghề hay cạnh tranh vì nếu làm đàn hay thì có khách và thường thì làm không kịp. Cây đàn tân thời đắt giá nhất là do một người Mỹ làm ra có cái giá nhẹ nhàng là 130 ngàn đô la thôi!

Và đã biết nghề làm đàn thì họ cũng phải biết nghề sửa đàn, biết tu bổ những cây đàn cũ rất có giá trị để kiếm tiền chi dụng hàng ngày. Họ không giàu, nhưng không chết đói và đang làm cho đời sống chúng ta đẹp hơn.

Những người có cơ hội nghe thì thấy rằng các cây đàn tân thời này thật ra không kém gì nhiều những danh cầm thời cổ. Khác chăng là danh tiếng của một cây đàn cổ, hay ẩn tượng huyền bí, rằng cây đàn cổ có thần... Số đàn có thần như vậy thì có hạn, đàn tân thời thì vẫn đang được sản xuất. Biết đâu vài trăm năm nữa cũng sẽ có hồn?

Bâng khuâng vậy lại thấy thương Dương Thiệu Tước. Ông sinh ra ở một nước nghèo có chiến tranh, lại chỉ dạy đàn, sửa đàn, mà chưa từng được ôm trong tay một loại danh cầm cổ điển của thế giới bên ngoài. Nếu không, biết đâu chừng Bến Xuân Xanh còn lai láng hồn nhạc hơn nữa...
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

“Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ âm bổ dương”

Image
- Nụ cười có những tác động tích cực đến cơ thể theo nhiều cách khác nhau.
Chẳng thế mà ông bà ta thường có câu: “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ”.
Hãy khám phá những lợi ích mà nụ cười mang lại cho sức khỏe để xem sự thật có đúng như vậy không?
1. Tăng cường hệ thống miễn dịch

Nụ cười làm tăng sự sản xuất các tế bào kháng thể, khiến hệ miễn dịch của cơ thể khỏe mạnh hơn. giúp chúng ta ít nhiễm ho, cảm cúm. Ngoài ra, cười còn giúp hạ thấp ít nhất là 4 loại hóc-môn có liên quan đến stress. Có lẽ vì vậy mà sau một trận cười thoải mái, người ta thường cảm thấy đỡ căng thẳng và lo lắng hơn.

2. Giảm đau

Một nụ cười giòn tan sẽ xua tan được cảm giác đau đớn. Không chỉ vì nụ cười làm “xao nhãng” cảm giác đau đớn chúng ta đang phải chịu đựng về mặt vật lý mà còn do khi cười, não tiết ra hóc môn endorphin nhiều hơn. Loại hóc môn này có tác dụng tương tự như thuốc giảm đau morphine.

3. Bảo vệ tim

Theo kết quả nghiên cứu của các chuyên gia tim mạch thuộc Trường ĐH Maryland, trong các tình huống hài hước, những người mắc bệnh tim mạch thường ít cười hơn khoảng 40% so với những người không mắc bệnh ở cùng độ tuổi. Nụ cười có ích cho quá trình lưu thông máu trong cơ thể, hạn chế nguy cơ về bệnh tim mạch có thể xảy ra. Cuộc nghiên cứu này cũng cho thấy, việc cười 15 phút mỗi ngày cần thiết cho tim như việc tập thể dục 3 lần mỗi tuần, một lần 30 phút.

4. Hạ huyết áp

Những người cười nhiều sẽ có mức huyết áp thấp hơn so với những người bình thường. Khi cười, huyết áp sẽ tăng lên nhưng sau đó lại giảm xuống mức bình thường. Việc hít thở sâu khi cười giúp đưa oxy vào máu nhiều hơn và vận chuyển các chất dinh dưỡng đi khắp cơ thể.

5. Cải thiện chức năng của phổi

Nụ cười giúp phổi đẩy không khí lưu thông mạnh hơn. Kết quả là phổi được làm “sạch” (tương tự như lúc bạn hít thở sâu). Điều này đặc biệt có ích cho những người đang mắc các bệnh về đường hô hấp như hen, suyễn…


Image
Nụ cười có những tác động tích cực đến cơ thể theo nhiều cách khác nhau... (Ảnh minh hoạ)DP
6. Giúp giảm cân

Liệu nụ cười có giúp bạn đốt cháy calo? Chắc chắn được vì chúng làm tăng nhịp tim và tốc độ hoạt động của bộ máy tiêu hóa. Nếu muốn giảm cân, hãy đưa nụ cười vào danh sách tập luyện của bạn. Một bộ phim hoạt hình hài hước đã có thể giúp bạn cười từ 20 phút trở lên.

7. “Tập thể dục” cho cơ

Có thể bạn đã từng hoặc ít nhất là nghe về chuyện đau cơ do cười quá nhiều. Đó là một sự thật bởi khi cười, các cơ hoành ở mặt, cơ bụng và cơ ở vai đều hoạt động. Việc cười 100 lần tương đương với việc chạy bộ trên máy 10 phút hoặc đạp xe trong vòng 15 phút.

8. Tăng hiệu quả làm việc

Mọi người thường thích nói chuyện hay làm việc chung với những người có khiếu hài hước. Nếu có thể làm người khác cười vang, chắc chắn bạn sẽ có rất nhiều bạn bè. Người hài hước cũng có kỹ năng thông tin, làm việc nhóm tốt hơn người bình thường. Do vậy, họ sẽ gặp nhiều thuận lợi hơn trong công việc và đạt hiệu suất làm việc cao hơn.

Thực tế, không hẳn mọi điều khiến chúng ta bật cười đều là những câu chuyện hài hước. Đó có thể đơn giản chỉ là những lời nói vui vẻ, khéo léo trong các cuộc đối thoại thông thường. Càng có nhiều nụ cười trong các mối quan hệ, khiếu hài hước của bạn càng có dịp thể hiện tốt hơn.

9. Giảm bớt sự chán nản

Từ lâu, nụ cười đã được biết đến như là một trong những cách để “chữa trị” cho những người đang mắc phải chứng chán nản và buồn rầu. Nụ cười làm giảm bớt sự căng thẳng, những áp lực, lo lắng, cáu gắt… Đây là những yếu tố chính đưa chúng ta rơi vào tình trạng chán nản, thất vọng.

10. Tự tin trong giao tiếp

Một nụ cười tươi tắn là khởi đầu tốt để bạn tự tin bước đến làm quen với người khác. Đàn ông luôn thích những người phụ nữ luôn có dáng vẻ tươi tắn, rạng rỡ. Thực tế là phụ nữ chúng ta cười nhiều hơn 125% so với các quý ông. Nếu đang sẵn sàng cho một mối quan hệ mới, việc chia sẻ khiếu hài hước là một yếu tố quan trọng để mối quan hệ này phát triển tốt đẹp hơn.
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Chung tình

Huy Phuong
Từ những ngày đầu mới sang định cư tại Mỹ, ở vùng Rancho Cucamonga không có người Việt đông, muốn hớt tóc kiểu Việt Nam tôi phải lần mò về vùng Little Saigon. Tôi nói với cậu em qua Mỹ trước tôi là muốn tìm một chỗ hớt tóc rẻ tiền, thợ hớt tóc là một ông già càng tốt, hớt theo kiểu cổ điển. Tôi rất sợ nhưng cô hay cậu thợ trẻ múa may trên đầu khách, thí nghiệm kiểu cọ, cắt tóc mai xéo hay chấn ót thẳng băng, đến khi đứng dậy soi gương, thì hỡi ơi, cái đầu tóc chẳng đi đôi với khuôn mặt. Hớt tóc theo kiểu mới là hớt tóc ướt, nghĩa là gội đầu trước khi hớt, đối với những người như tôi, mang một cái đầu óc ướt, không được sấy khô trong vòng mấy mươi phút, rất dễ bị cảm. Tôi cũng không thích hớt tóc với phụ nữ (danh từ hồi xưa là thanh nữ!), tôi nghĩ đàn bà nên dùng vào việc khác, để họ xoa đầu, vuốt mặt, hình như nhột nhạt, có điều gì đó không ổn.

Tôi biết anh Tám hớt tóc lần đầu tiên cách đây hai mươi năm, có cảm tưởng là tìm đúng người thợ vừa ý của mình. Anh đưa qua mấy đường cắt bằng máy chạy điện, xong dùng kéo tỉa tóc, cạo mặt chỉ trong vòng mươi phút những gọn ghẽ, tươm tất. Anh không biết bóp vai, chà đầu hay đề nghị làm thêm mấy món có thể thu thêm tiền như gội đầu, nhuộm tóc hay lấy ráy tai. Anh thật thà đến vụng về, tội nghiệp. Tôi biết anh Tám ít học, anh cũng chỉ biết chuyện thời sự qua những tin tức truyền miệng vì anh chẳng xem báo mà cũng chẳng bỏ tiền ra mua nhật báo địa phương mỗi sáng. Tôi nhận xét khuôn mặt anh có vẻ buồn buồn, không mấy phấn khởi vui tươi, điều cần thiết cho những người làm dịch vụ, phải tiếp xúc với mọi người. Anh nói chuyện cầm chừng, không “ba hoa” luôn miệng như những người thợ hớt tóc khác, tưởng như vậy là bặt thiệp làm vui lòng khách, nhưng họ biết đâu đó là một cực hình cho người nghe. Hồi đi dạy học ở một tỉnh lẻ, có lần vào hớt tóc gặp một anh thợ trẻ vui tính, anh kể cho tôi nghe một chuyện phim Ấn Ðộ mới xem tối hôm qua ở rạp, tôi muốn điên người, nhưng “lịch sự như một ông giáo,” tôi đành ngồi im, không có lẽ tôi nói: “Anh im cái mồm đi giùm tôi!” để bị cắt cổ hay cho một đường tông-đơ sát da đầu.

Anh Tám của tôi thật thà đến nỗi, tôi là khách quen, khi vào tiệm, anh cũng chẳng buồn chào hỏi một tiếng. Anh không biết đập đổ hay hét giá, một phần cũng vì tôi là khách lâu năm, bù lại tôi cho anh những đồng típ tương đối hậu hĩ. Tôi quý anh và thích kiểu hớt của anh, đến nỗi, có lần, nghĩ dại, tôi không biết nếu tôi bị bệnh nằm trên giường lâu ngày, tôi có thể nhờ anh đến nhà hớt tóc cho tôi không?

Cuộc đời anh, anh không như người khác, chưa hỏi đã khai, mà chính do máu phóng viên, ngồi trên ghế hớt tóc, buồn buồn, không nghe anh nói gì, tôi phải đặt câu hỏi với anh.

Anh Tám trẻ hơn tuổi độ chục tuổi. Nghe nói anh trở thành thợ hớt tóc cũng chỉ là một sự tình cờ. Anh học nghề, khởi đầu nghề hớt tóc và trưởng thành trong nghề nhờ mấy cái đầu lính Mỹ trong căn cứ Cam Ranh khi anh theo một ông chủ tiệm hớt tóc trong quận lỵ nơi anh ở, ra đấu thầu làm ăn tại căn cứ quân sự này.

Sang Mỹ, anh Tám thoạt đầu chưa nghĩ là mình có thể trở lại nghề hớt tóc, chỉ làm việc tay chân sống qua ngày. Về sau cả hai vợ chồng đi thi, rồi mở một cửa tiệm nhỏ, hai ghế, hai vợ chồng cũng đắp đổi qua ngày, vì chưa ai làm nghề hớt tóc mà trở nên giàu có. Sau đó mấy năm vợ anh Tám bị ung thư, qua đời, anh bỏ tiệm cũ, làm công và thay đổi nhiều chỗ. Tôi đã trung thành với anh, chịu khó theo anh từ tiệm này sang tiệm khác. Cũng như sau gần bốn năm, vì sinh kế phải bỏ Cali ra đi, từ Virginia trở lại quận Cam, tôi lại về hớt tóc với anh Tám. Tôi quên nói là trong bốn năm xa Little Saigon, có hai lần có công việc phải về lại đây, tôi đều đi tìm anh Tám để hớt tóc, cũng may là trong thời gian này anh vẫn ở nguyên chỗ cũ.

Trong tiệm hớt tóc cuối cùng này, có hai ghế hớt tóc nam, anh Tám làm chung với một thanh niên khác tên Năm. Họ thuê chung trong một tiệm uốn tóc, gội đầu phụ nữ. Tôi nhớ đó là một ngày Thứ Hai, vì sáng mai phải đi xa mà tóc đã dài, tôi đi tìm anh Tám, đến nơi mới biết là anh nghỉ hôm nay. Anh Năm, người làm chung tiệm, nói với tôi ngày mai hãy trở lại, nếu không có gì gấp. Ngày mai, tôi phải lên máy bay và cần phải “thanh toán” cái đầu tóc quá dài hôm nay, nên không có cách gì hơn là ngồi vào ghế hớt tóc của anh Năm.

Người hớt tóc tên Năm này còn trẻ, vóc dáng vẻ nho nhã, ăn nói cũng lịch sự và nếu nói về kỹ thuật múa kéo, lược thì đây là một tay điệu nghệ. Sau khi hớt xong, anh Năm có cái lối chải tóc, làm tăng vẻ sáng và trẻ trên khuôn mặt khách. Trong nhiều năm hớt tóc với một người thợ duy nhất là anh Tám, tôi không hề để ý đến lối chải tóc khác biệt hay xấu đẹp như thế. Lần đó tôi để lại số tiền típ trội hơn so với những lần trước cho anh Tám.

Sau lần đi xa ấy, tôi lại trở lại hớt tóc với Tám như thường lệ, nhưng mỗi lần ngồi trên ghế hớt tóc, tôi không khỏi nghĩ chuyện mình đã có lần hớt tóc với Năm, và trong đầu có sự so sánh, cả hai chuyện kỹ thuật và mỹ thuật thì quả Năm là một người thợ giỏi. Bây giờ tôi mới thấy người thợ hớt tóc lâu nay cho tôi quả là vụng về, thậm chí không biết cả đến chuyện chào hỏi, và không biết cầu tiến, trong bao nhiêu năm anh Tám vẫn không học hỏi thêm gì trau dồi cho có tay nghề khá hơn. Tôi có quyền đổi người hớt tóc cho mình như đổi chỗ mua giày vớ nhiều lần trong thành phố này, nhưng không hiểu sao, tôi vẫn thấy có điều gì không phải, khi tôi đã đến cũng tiệm này, hớt tóc với anh Năm trong thời gian anh Tám vắng mặt. Có hôm khi tôi đến tiệm, anh Tám đang bận khách trong khi anh Năm ngồi đọc báo, tôi có ý nghĩ là bước lại ghế hớt tóc của anh Năm chẳng sao, nhưng không hiểu sao tôi lại ngần ngại không muốn hành động theo ý nghĩ của mình.

Nếu hai anh thợ hớt tóc này ở hai chỗ khác nhau, có lẽ tôi đã có sự chọn lựa dễ dàng hơn chăng. Cũng từ đó, mỗi khi vì bận bịu công việc cuối tuần, ngày Thứ Hai, nghĩ đến chuyện cần đi hớt tóc, tôi lại chờ hôm sau, để đợi ngày anh Tám đi làm trở lại.

Bạn có nghĩ rằng, tôi suy nghĩ như vậy là có quá đáng chăng? Tôi đã theo anh Tám hớt tóc trong gần hai mươi năm trời, nếu anh biết tôi bỏ anh để đi hớt với một ông thợ khác, có tay nghề cao hơn, anh có buồn không? Ăn phở, trước năm 1975, hồi làm tại một cơ quan ở cuối đường Hồng Thập Tự, Saigon tôi ăn phở Trần Cao Vân hầu như mỗi ngày, ngồi xuống ghế là người bưng phở biết ngay là “tái-nạm-gầu-hành trần-nước béo.” Ở Little Saigon này, tôi ít khi đồng ý với bạn bè đi ăn thử một tiệm phở mới mở, chỉ vì sợ không ngon. Nhiều bạn sẽ cho rằng nếu đi ăn phở mà chỉ ăn độc mỗi tiệm, thì thà ở nhà ăn cơm còn hơn.Tôi cứ luẩn quẩn nhớ chuyện anh Tám hớt tóc cho tôi. Thế mà tháng qua, người ta loan tin anh Tiger Woods ngoại tình, không phải với một, mà trên mười cô, kể cũng lạ!
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image


Những con đường mang tên "Cha"

Vũ Ngọc Hậu

Lê vẫn thường tự hào khoe: "Mẹ em nấu ăn rất ngon". Tôi chỉ ậm ừ cho qua chuyện và thường tự hỏi tại sao Lê thường nói thế trong những lúc chúng tôi đang nói chuyện về những việc chẳng ăn nhập với điều ấy. Vả lại cũng đâu có gì lạ? Những bà mẹ nội trợ thông thường, đâu thiếu người nấu ăn ngon? Cho đến một ngày tôi mới hiểu, khi Lê khoe những câu khoe thường nhật, chỉ có điều thêm một vế sau: "Mẹ em nấu ăn rất ngon. Vì mẹ em làm nghề nấu cỗ".

Hôm ấy Lê có chuyện buồn, chơi với nhau bao lâu, bấy giờ tôi mới biết hoàn cảnh gia đình Lê: "Bố em bỏ đi Nga hơn chục năm. Hai anh em Lê được đi học từ những bữa nấu cỗ thuê của mẹ...". Câu chuyện kết thúc bằng câu nói tôi đã rất quen: "Mẹ em nấu ăn rất ngon!".

...Và căn phòng chỉ có tiếng động khi tôi lên tiếng: "Còn bố chị thì biết rất nhiều đường, vì bố chị làm nghề xe ôm!".

Hai chúng tôi nhìn nhau rất lâu và cùng im lặng.

Câu chuyện chỉ có thế nhưng tôi không thể quên ngay sau đó. Nó cứ trở đi trở lại trong tôi...

Bố tôi làm xe ôm đến nay đã mười bảy năm. "Tuổi nghề" của ông tính bằng "tuổi đời" của tôi. Vì sao ư? Chỉ khi sinh ra tôi ông mới bắt đầu nghề xe ôm - cái nghề gắn bó với chiếc xe và những con đường...

Năm 1991, năm tôi ra đời! Năm 1991, năm bố tôi bắt đầu đón khách trên sân cảng, năm mẹ tôi ở nhà nuôi bốn con lợn lấy tiền cho chị gái tôi đi học...
Chuyện nếu kể ra sẽ dài thật là dài. Mười bảy năm, đâu phải chuyện một ngày? Suốt mười bảy năm, tôi nghe không biết bao nhiêu lần câu chào mời khách của bố tôi "Bác về đâu đó bác?". Câu trả lời của những người khách đi xe không quen mặt làm sao tôi nhớ hết? Kiến Thụy, Thủy Nguyên, Đồ Sơn, An Hải... hay Cầu Đất, Cát Đài, Lê Lợi, Dư Hàng... Biết bao con đường. Vậy mà tại sao đến bây giờ, khi đã sang tuổi mười bảy, tôi mới nghĩ đến những con đường ấy để biết rằng bố tôi đã biết rất nhiều nơi trên đất Hải Phòng này...

Suốt những ngày đi học, ít khi nào tôi hỏi được bố bài tập của mình. Bố tôi chẳng thuộc một bài thơ, Toán thì lên cấp II ông đã không làm được... Tôi cho rằng ông chẳng biết gì. Đến sau này tôi mới hiểu ông biết rất nhiều. Những con đường ông biết đã nuôi tôi thành một cô gái cao 1m60, nặng 50 cân từ một đứa trẻ nặng 2 cân mốt, dài vài chục phân lúc mới lọt lòng.

Những con đường đào lên, lấp xuống, những con đường qua tháng năm không biết bao nhiêu chiếc xe đã đi qua. Tôi chỉ biết trên những nẻo đường ấy, đã từng in dấu một người xe ôm trong những buổi trưa hè nóng bỏng...
Người thầy dạy Toán biết rất nhiều công thức Toán, cô giáo dạy Văn thuộc rất nhiều bài thơ, người nấu bếp thuê ấy đều nuôi lớn những đứa con của mình bằng những gì học biết. Bố tôi - người xe ôm thì biết rất nhiều những nẻo đường. Ông cũng nuôi chị em tôi lớn lên bằng những gì ông biết. Đôi khi, tôi nghĩ đó là tất cả những gì ông có - một người bố yêu con như biết bao người bố yêu con. Vậy nên nếu tôi có một người bố làm nghề xe ôm thì đâu có nghĩa tôi không được yêu thương để lớn - lên - đúng cách như khi tôi có một người bố làm thầy giáo, kỹ sư hay giám đốc?

"Bố tôi biết rất nhiều con đường. Vì ông làm nghề xe ôm"...

Có những con đường không được đặt tên, có những con ngõ vô danh, nhưng vẫn có thể dẫn người ta trở về mái ấm. Với tôi, ấy là những con đường mang tên "Cha"...



Vũ Ngọc Hậu
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

Hãy bế em ra khỏi cuộc đời anh !
Vào ngày cưới của tôi, tôi đã ôm vợ trên đôi tay của mình. Xe đưa dâu dừng tại trước tổ uyên ương của chúng tôi. Đám bạn thân của tôi nhất quyết bắt tôi phải đưa nàng ra khỏi xe trên đôi tay của mình.

Do vậy, tôi đã bế nàng vào nhà. Lúc đó, nàng là một cô dâu tròn trĩnh và e thẹn, còn tôi là một chú rể rất sung sức và tràn trề hạnh phúc.

Nhưng đó là cảnh của mười năm trước. Những chuỗi ngày sau đó cũng giản dị như một cốc nước tinh khiết: chúng tôi có con, tôi bước vào thương trường và cố gắng kiếm thật nhiều tiền. Khi của cải trong gia đình chúng tôi mỗi lúc một nhiều hơn cũng là lúc tình cảm giữa hai chúng tôi suy giảm dần.

Vợ tôi là một công chức nhà nước. Mỗi sáng chúng tôi cùng ra khỏi nhà với nhau và hầu như về nhà cùng một lúc.. Con chúng tôi thì học tại một trường nội trú. Cuộc sống hôn nhân của chúng tôi nhìn bề ngoài hạnh phúc đến nỗi nhiều người phải ganh tị. Nhưng thật ra cuộc sống yên ấm đó gần như bị xáo trộn bởi những đổi thay không ngờ...

Dew đã bước vào cuộc đời tôi.

Đó là một ngày đầy nắng. Tôi đứng trước một ban công rộng lớn. Dew ôm vòng sau lưng tôi. Con tim tôi, một lần nữa, lại đắm chìm trong dòng suối yêu đương cùng nàng.. Đây là căn hộ tôi mua cho cô ấy.

Dew nói: “Anh là mẫu đàn ông có sức cuốn hút với đàn bà nhiều nhất”. Câu nói của Dew đột nhiên nhắc tôi nhớ đến vợ mình. Hồi chúng tôi mới cưới, nàng nói: " Đàn ông như anh, khi thành đạt sẽ rất quyến rũ với phụ nữ". Nghĩ đến lời nói đó của vợ mình, tôi thoáng do dự. Tôi hiểu mình đang phản bội lại nàng. Nhưng tôi đã không thể cưỡng lại chính mình.

Kéo tay Dew sang một bên, tôi nói: “Em đi mua mấy món đồ nội thất nhé? Anh có vài việc phải làm ở công ty”. Hiển nhiên là nàng thất vọng rồi bởi vì tôi đã hứa sẽ cùng đi với nàng. Ngay lúc ấy, ý nghĩ phải ly hôn xuất hiện trong tâm trí tôi mặc dù trước đây ly hôn là một điều tưởng chừng không thể.

Nhưng tôi nhận ra khó mà mở lời với vợ về chuyện này. Cho dù tôi có đề cập nó một cách nhẹ nhàng đến đâu chăng nữa, cô ấy chắc chắn sẽ bị tổn thương sâu sắc.

Công bằng mà nói, cô ấy là một người vợ tốt. Tối nào, cô ấy cũng bận rộn chuẩn bị bữa ăn tối, trong khi tôi ngồi phía trước màn ảnh TV. Bữa ăn tối thường xong sớm. Sau đó, chúng tôi cùng xem TV. Không thì, tôi lại thơ thẩn bên máy tính, mường tượng thân thể của Dew. Đó là cách tôi thư giãn.

Một ngày nọ, tôi nửa đùa nửa thật nói với vợ tôi, “Giả dụ chúng ta phải ly hôn, em sẽ làm gì?”. Cô ấy nhìn chằm chặp tôi phải đến vài giây mà không nói lời nào. Hiển nhiên cô ấy tin rằng ly hôn là một cái gì rất xa vời với cô ấy. Tôi không hình dung được vợ tôi sẽ phản ứng thế nào một khi biết rằng tôi đang nói nghiêm túc về chuyện đó.

Lúc vợ tôi bước vào phòng làm việc của tôi ở công ty thì Dew cũng vừa bước ra.. Hầu như tất cả nhân viên ở văn phòng tôi đều nhìn vợ tôi với ánh mắt ra chiều thông cảm và cố giấu giếm chút gì đó khi nói chuyện với nàng. Vợ tôi dường như có nghe phong phanh vài lời bóng gió. Cô ấy chỉ mỉm cười dịu dàng với đám nhân viên, nhưng tôi đọc được nỗi đau trong đôi mắt ấy.

Một lần nữa, Dew lại nói với tôi: "Ninh, anh ly dị cô ấy đi? Rồi chúng mình sẽ cùng chung sống với nhau”. Tôi gật đầu. Tôi biết mình không thể chần chừ thêm được nữa.

Khi vợ tôi dọn ra bàn chiếc dĩa cuối cùng, tôi nắm lấy tay cô áy. “Anh có điều này muốn nói với em”, tôi nói... Cô ấy ngồi xuống, lặng lẽ ăn.

Tôi lại nhìn thấy nỗi đau trong đôi mắt nàng. Đột nhiên, tôi không biết phải mở miệng như thế nào. Nhưng tôi phải nói cho cô ấy biết những gì tôi đang suy nghĩ thôi. “Anh muốn ly hôn”. Cuối cùng thì tôi cũng đặt vấn đề hết sức nặng nề này một cách thật nhẹ nhàng.

Cô ấy tỏ ra không khó chịu lắm với lời tôi nói mà chỉ hỏi nhỏ “Tại sao?”. “Anh nói thật đấy”, tôi tránh trả lời câu hỏi của cô ấy. Cái gọi là câu trả lời của tôi đã khiến cô ta giận dữ. Cô ấy ném đôi đũa đi và hét vào mặt tôi “Anh không phải là đàn ông!”.

Đêm đó, chúng tôi không nói chuyện với nhau. Cô ấy khóc lóc. Tôi hiểu cô ấy muốn biết chuyện gì đã xảy ra với cuộc hôn nhân của chúng tôi.. Nhưng tôi khó đưa ra được câu trả lời thỏa đáng bởi vì trái tim tôi đã nghiêng về Dew.

Trong tâm trạng tội lỗi tột cùng, tôi thảo đơn ly hôn ghi rõ cô ấy sẽ sở hữu căn nhà, chiếc xe hơi và 30% cổ phần trong công ty tôi. Nhìn lướt qua tờ đơn, cô ấy xé nó ra từng mảnh.. Tôi cảm thấy tim mình đau nhói. Người phụ nữ chung sống với tôi suốt mười năm nay bỗng trở nên xa lạ chỉ trong một ngày. Nhưng, tôi không thể rút lại những lời đã nói.

Cuối cùng, điều tôi mong đợi đã đến.. Cô ấy òa khóc trước mặt tôi.. Tiếng khóc của cô ấy thực sự là liều thuốc an thần cho tôi. Ý định ly hôn dằn vặt tôi suốt nhiều tuần qua giờ đây dường như càng trở nên rõ rệt và mạnh mẽ.

Trời khuya, tôi về nhà sau tiệc chiêu đãi khách hàng.. Tôi nhìn thấy vợ tôi đang cắm cúi viết tại bàn làm việc. Tôi nhanh chóng chìm vào giấc ngủ. Nửa đêm, tỉnh giấc, tôi thấy cô ấy vẫn ngồi viết. Tôi trở mình và ngủ tiếp.

Vợ tôi đưa ra điều kiện ly hôn: Cô ấy không cần bất cứ thứ gì của tôi, nhưng tôi phải cho cô ấy thời gian một tháng trước khi chính thức ly hôn; và trong thời gian một tháng đó, chúng tôi phải sống với nhau một cuộc sống bình thường. Lý do chỉ đơn giản vì: tháng sau con trai của chúng tôi sẽ kết thúc kỳ nghỉ hè và cô ấy không muốn nó phải chứng kiến cuộc hôn nhân của chúng tôi đổ vỡ.

Cô ấy đưa cho tôi thư thỏa thuận cô ấy soạn sẵn và hỏi: “Anh còn nhớ em đã vào phòng cô dâu trong ngày cưới như thế nào không?”. Câu hỏi này chợt làm sống tại trong tôi tất cả những kỷ niệm tuyệt vời ngày ấy. Tôi gật đầu và nói: “Anh còn nhớ”.

“Lúc đó, anh đã bế em trên đôi tay của anh”, cô ấy tiếp tục, “do vậy, em có một yêu cầu là anh phải bế em ra vào ngày chúng ta ly hôn. Từ giờ đến hết tháng này, anh phải bế em từ giường ngủ đến cửa nhà mình vào mỗi sáng”. Tôi mỉm cười đồng ý. Tôi biết cô ấy đang nhớ lại những chuỗi ngày ngọt ngào hạnh phúc và muốn cuộc hôn nhân của mình kết thúc lãng mạn.

Tôi kể cho Dew nghe về điều kiện ly hôn của vợ mình. Cô ấy cười to và cho rằng đó là một yêu cầu ngu xuẩn. “Cho dù cô ta có đưa ra mánh khóe gì chăng nữa, thì vẫn phải đối mặt với kết cục ly hôn mà thôi”, cô ấy nói một cách khinh bỉ. Lời nói đó của Dew ít nhiều khiến tôi cảm thấy khó chịu.

Vợ tôi và tôi đã không đụng chạm gì về thể xác kể từ khi tôi có ý định ly hôn. Chúng tôi đối xử với nhau như hai người xa lạ. Vì vậy ngày đầu tiên tôi bế cô ấy, cả hai chúng tôi tỏ ra khá lóng ngóng, vụng về. Đứa con trai vỗ tay theo sau chúng tôi: “Cha đang ôm mẹ trên tay”. Lời nói của con trẻ làm tim tôi đau nhói. Từ phòng ngủ đến phòng khách, sau đó mới đến cửa ra vào, tôi đã đi bộ trên mười mét với cô ấy trên tay. Cô ấy nhắm mắt và nói nhẹ nhàng, "Chúng ta sẽ bắt đầu từ hôm nay đừng nói gì cho con hay”. Tôi gật đầu và cảm thấy chút gì đổ vỡ. Tôi đặt cô ấy xuống ở cửa ra vào. Cô ấy đứng đó chờ xe buýt, còn tôi lái xe đến công ty.

Vào ngày thứ hai, chúng tôi “diễn” dễ dàng hơn. Cô ấy dựa vào ngực tôi. Chúng tôi quá gần nhau đến nỗi tôi có thể ngửi được mùi hương từ áo khoác của nàng. Tôi nhận ra rằng đã lâu lắm rồi tôi không nhìn kỹ người phụ nữ thân yêu của mình. Tôi nhận ra vợ tôi không còn trẻ nữa. Đã xuất hiện một vài nếp nhăn trên gương mặt của nàng.

Ngày thứ ba, cô ấy thì thầm vào tai tôi: "Vườn ngoài kia đang bị xói mòn đấy. Anh cẩn thận khi đi qua đó nghe". Ngày thứ tư khi tôi nâng cô ấy lên, tôi có cảm giác chúng tôi vẫn còn là một đôi uyên ương khăng khít và tôi đang ôm người yêu trong vòng tay âu yếm của mình. Những tơ tưởng về Dew trở nên mờ nhạt dần.

Đến ngày thứ năm và thứ sáu, cô ấy tiếp tục dặn dò tôi vài thứ, nào là cô ấy để chiếc áo sơ mi vừa ủi ở đâu, nào là tôi phải cẩn thận hơn trong lúc nấu nướng. Tôi đã gật đầu. Cảm giác thân thiết, gần gũi lại trở nên mạnh mẽ nhiều hơn.

Nhưng tôi không nói với Dew về điều này.. Tôi cảm thấy bế cô ấy dễ dàng hơn. Có lẽ mỗi ngày đều luyện tập như vậy đã làm tôi mạnh mẽ hơn. Tôi nói với cô ấy: “Có vẻ bế em không còn khó nữa”.

Vợ tôi đang chọn váy đi làm. Tôi thì đứng đợi để bế cô ấy. Cô ấy loay hoay một lúc nhưng vẫn không tìm ra chiếc váy nào vừa vặn cả. Rồi, cô ấy thở dài, “Mấy cái váy của em đều bị rộng ra cả rồi”. Tôi mỉm cười. Nhưng đột nhiên tôi hiểu rằng thì ra cô ấy đã ốm đi nên tôi mới bế cô ấy dễ dàng, chứ không phải vì tôi mạnh khỏe hơn trước. Tôi biết vợ mình đã chôn giấu tất cả niềm cay đắng trong tim. Tôi lại cảm thấy đau đớn. Theo phản xạ tự nhiên, tôi đưa tay chạm vào đầu cô ấy.

Đúng lúc đó, thằng con chúng tôi chạy đến "Cha à, đến giờ bế mẹ ra rồi" - nó nói. Đối với nó, hình như nhìn thấy cha bế mẹ ra đã là một phần tất yếu trong cuộc sống của nó rồi. Vợ tôi ra hiệu cho nó lại gần và ôm nó thật chặt. Tôi quay mặt đi vì sợ rằng mình sẽ thay đổi quyết định vào phút chót.

Tôi ôm cô ấy trong vòng tay, bước từ phòng ngủ qua phòng khách, qua hành lang. Tay cô ấy vòng qua cổ tôi một cách nhẹ nhàng và tự nhiên. Tôi ôm cô ấy thật chặt, tưởng tượng như chúng tôi đang trở về ngày tân hôn. Nhưng tôi thật sự buồn vì vợ tôi đã gầy hơn xưa rất nhiều.

Vào ngày cuối cùng, tôi thấy khó có thể cất bước khi ôm cô ấy trong vòng tay. Con trai chúng tôi đã lên trường. Vợ tôi bảo: “Thực ra, em mong anh sẽ ôm em trong tay đến khi nào chúng ta già".. Tôi ôm cô ấy thật chặt và nói: "Cả em và anh đã không nhận ra rằng cuộc sống của chúng mình từ lâu đã thiếu vắng quá nhiều những thân mật, gần gũi".

Tôi phóng ra khỏi xe thật nhanh mà không cần khóa cả cửa xe. Tôi sợ bất cứ sự chậm trễ nào của mình sẽ khiến tôi đổi ý. Tôi bước lên tàu. Dew ra mở cửa. Tôi nói với cô ấy: “Xin lỗi, Dew, anh không thể ly hôn. Anh nói thật đấy”.

Cô ấy kinh ngạc nhìn tôi. Sau đó, Dew sờ trán tôi. “Anh không bị sốt chứ”, cô ấy hỏi. Tôi gỡ tay cô ấy ra. “Dew, anh xin lỗi”, tôi nói. “Anh chỉ có thể xin lỗi em. Anh sẽ không ly dị. Cuộc sống hôn nhân của anh có lẽ tẻ nhạt vì cô ấy và anh không nhận ra giá trị của những điều bé nhỏ trong cuộc sống lứa đôi, chứ không phải bởi vì anh và cô ấy không còn yêu nhau nữa. Bây giờ, anh hiểu rằng bởi anh đưa cô ấy về nhà, bởi cô ấy đã sinh cho anh một đứa con, nên anh phải giữ cô ấy đến suốt đời. Vì vậy anh phải nói xin lỗi với em”.

Dew như choàng tỉnh. Cô ta cho tôi một cái tát như trời giáng rồi đóng sầm cửa lại và khóc nức nở. Tôi xuống cầu thang và lái xe đến thẳng công ty. Khi đi ngang tiệm hoa bên đường, tôi đặt một lẵng hoa mà vợ tôi yêu thích. Cô bán hàng hỏi tôi muốn viết lời chúc gì vào tấm thiệp. Tôi mỉm cười và viết “Anh sẽ bế em ra, vào mỗi sáng cho đến khi chúng ta già”.

Vô Danh
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Trung Quốc đặt tên núi là Avatar

Chính quyền tỉnh miền nam ở Trung Quốc vừa đặt lại tên một mỏm núi theo siêu phẩm Avatar của Mỹ với hy vọng có thể hốt bạc về du lịch.

Image
"Trụ trời phương Nam" ở Trung Quốc. Ảnh: Reuters.
Reuters cho hay, núi "Trụ trời phương Nam" ở Trương Gia Giới, tỉnh Hồ Nam, đã chính thức đổi tên thành "Avatar Hallelujah" trong buổi lễ hôm qua. Chính quyền cho biết một nhiếp ảnh gia Hollywood từng tới đây chụp hình hồi năm 2008 và những dãy núi Hallelujah trong phim lấy cảm hứng từ "Trụ trời phương Nam".

"Rất nhiều tấm hình ông ấy chụp khi đó đã trở thành nguyên mẫu cho các chi tiết khác nhau trong phim Avatar, bao gồm cả những dãy núi Hallelujah", trang web chính thức của chính quyền Trương Gia Giới cho hay.

Siêu phẩm Avatar của đạo diễn James Cameron đã thu được hơn 1,8 tỷ USD tiền vé trên toàn thế giới, khiến nó trở thành siêu phẩm ăn khách nhất mọi thời đại. Các rạp chiếu phim Trung Quốc tuần trước đã bắt đầu dừng chiếu phiên bản 2D của Avatar để chuyển sang phim nội, chuẩn bị cho Tết âm lịch sắp tới. Phiên bản 3D thì vẫn tiếp tục gây sốt.
Image
Những dãy núi bay Hallelujah trong thế giới Pandora của Avatar. Ảnh: insideireland.ie
Avatar đã thu được 80 triệu USD ở Trung Quốc và trở thành bộ phim nổi tiếng nhất ở nước này từ trước đến nay. Trương Gia Giới hy vọng có thể thu lợi từ danh tiếng này.

Một công ty du lịch quốc tế ở Trương Gia Giới thậm chí đã đăng quảng cáo về tour "Chuyến du hành thần bí đến thế giới Avatar-Pandora" hay "Chuyến đi kỳ diệu đến những dãy núi bay của Avatar".

"Pandora thì xa nhưng Trương Gia Giới thì gần. Chào mừng du khách đến Trương Gia Giới để chiêm ngưỡng dãy núi Hallelujah của Avatar và khám phá thế giới thật của Pandora".

Hải Minh
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

Tổng thống Argentina chê Viagra

Tổng thống Argentina Cristina Fernandez đã khuyên người dân dùng thịt lợn thay Viagra,
vì bà đã có một kỳ nghỉ cuối tuần thỏa mãn với chồng sau khi dùng món thịt lợn nướng.

Image
Tổng thống Argentina Cristina Fernandez. Ảnh: Xinhua.
"Tôi đã được mách một điều mà mình chưa từng biết, rằng ăn thịt lợn có thể thúc đẩy cuộc sống tình dục của mình", Cristina Fernandez nói với các nhà lãnh đạo trong ngành công nghiệp sản xuất thịt lợn hôm qua. "Tôi có thể nói rằng ăn một miếng thịt lợn ngon hơn nhiều so với uống Viagra".

Bà cũng tiết lộ đã có một kỳ nghỉ cuối tuần với chồng vô cùng thỏa mãn sau khi ăn thịt lợn, "vì vậy điều này hoàn toàn đúng".

Argentina có số người tiêu dùng thịt bò lớn nhất thế giới, nhưng chính phủ nước này đang tìm cách thúc đẩy ngành chăn nuôi thịt lợn do giá cả thịt bò gia tăng và cũng coi đó là một cách để đa dạng hóa ngành công nghiệp.

"Thử nghiệm không tốn kém một chút nào, mọi người hãy thử đi", Fernandez tuyên bố trong bài phát biểu được phát trên truyền hình cả nước.

Diệu Minh
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

“...Các anh có hãnh diện không?”

Huy Phương
Trong bài “Ðêm Của Những Cánh Bướm Việt Ở Malaysia” tuần trước trên Nhật Báo Người Việt, ký giả Ðông Bàn đã vô tình nhắc lại câu nói của giới taxi Kuala Lumpur, rằng “con gái Việt Nam đẹp lắm.” Khốn nạn thay câu nói này cũng đã phát ra từ cửa miệng một ông chủ tịch nước, Nguyễn Minh Triết trước đây. Thủy, một “cánh bướm đêm” tại Beach Club đã cay đắng hỏi lại những người ký giả cùng quê hương với cô: “Người ta nói vậy, các anh có hãnh diện không?”

Câu hỏi này đáng cho chúng ta chảy nước mắt. Lẽ cố nhiên câu trả lời là trăm nghìn lần không! Nhưng có một bọn người hãnh diện với câu rao mời trên, đó là những cái mặt mo như Nguyễn Minh Triết. Mặt mo vì không biết đến nỗi đau xót của thân phận đàn bà, là chị, là em, là đồng bào ruột thịt của chúng ta, vì vô phúc, phải sống dưới chế độ Cộng Sản Việt Nam, “đem thân cho thiên hạ mua cười” từ xứ sở này đến quốc gia khác. Chúng tôi đánh giá nhân cách của một “con đĩ” hơn các ông chính khách của đảng Cộng Sản nhiều, vì họ còn biết liêm sỉ, còn biết thế nào là tủi nhục cho mình và cho đất nước hơn các ông.

Chuyện khổ đau của phụ nữ Việt Nam và cũng là điều ô nhục của cả dân tộc từ lâu nay đã được các cơ quan truyền thông hải ngoại kể cả trong nước thông tin đầy đủ, tuy vậy nhà cầm quyền Cộng Sản trong nước vẫn ngủ yên ù lì như những con gấu Mùa Ðông, không hề biết đến xót xa, khổ đau của đồng loại. Nói ra thì cũng chuyện thường tình, mà không nói ra, phải nuốt điều uất nghẹn vào lòng cũng là điều không chịu được.

Chỉ trong năm 2000, có khoảng nửa triệu phụ nữ và trẻ em Việt Nam bị bán qua Trung Hoa, Macao, Ðại Hàn, Cao Miên, Thái Lan và nhiều nước khác. Năm 2003 phụ nữ Việt Nam bị đăng bán đấu giá trên Ebay Taiwan Website với giá bắt đầu là $5,400. Riêng trong năm 2005, theo bản tin của cơ quan UNICEF và Bộ Tư Pháp Việt Nam cho biết có 400,000 phụ nữ và trẻ em Việt Nam bị bán ra ngoại quốc (10% của tổng số nạn nhân khắp thế giới). Cũng trong năm này, nhiều thiếu nữ Việt Nam bị đem ra trưng bày như món hàng sale, ngồi trong những tủ kính để khách qua lại lựa chọn ở Trade Fair ở Singapore.

Chỉ tính riêng con số phụ nữ Việt lấy chồng Ðài Loan là bao nhiêu? Theo thống kê chính thức Hà Nội, tính đến cuối năm 2003, có hơn 65,000 phụ nữ Việt Nam được cấp giấp phép (!)nhập cảnh vào Ðài Loan để “làm dâu...”, nhưng theo đại diện của chính phủ Ðài Loan ở Sàigòn trong thời gian đó, thì “Hiện nay có khoảng 77,000 cô dâu Việt Nam tại Ðài Loan. Dự tính trong khoảng hai năm nữa con số cô dâu Việt Nam tại Ðài Loan sẽ lên tới khoảng 100,000 người”. Chỉ riêng tại Cần Thơ mỗi năm có khoảng 2,500 phụ nữ lấy chồng Ðài Loan, đó là con số thống kê từ năm 2000 đến 2004, được chính Hội Phụ Nữ Cần Thơ nêu ra. Con số ấy tính đến năm 2010 là bao nhiêu?

Ðàn ông ngoại quốc có thể bỏ tiền mua phụ nữ Việt Nam đem về nước làm người giúp việc không công kiêm nô lệ tình dục, hay cả hai. Tại các cơ sở môi giới, đàn bà đôi khi cầm bảng số đi trình diễn, hay cởi trần truồng cho người mua chọn lựa. Trên danh nghĩa là đi lấy chồng ngoại nhưng khi cô dâu đã theo chồng ra ngoại quốc, họ đã trở thành nô lệ bị giam giữ, không có quyền đi lại vì không có giấy tờ tùy thân, họ cũng có thể làm vợ cho cả gia đình hay bị mua đi bán lại như một món hàng để tiếp tục sa chân vào những ổ mãi dâm. Ðau đớn hơn là số trẻ em Việt Nam hiện nay đang ở trong các động điếm tại Phnom Penh, Kampuchea trong 15 ngàn gái mãi dâm, 52% là thiếu nữ và trẻ em Việt Nam.

Theo nguồn tin địa phương Prague, Tiệp Khắc được hãng thông tấn Việt Nam thuật lại chỉ trong vòng thời gian 15 tháng, các tổ chức mãi dâm đã đưa khoảng 50 cô gái Việt vào nước này. Các cô gái này phải trả từ $5,000 để được đưa lậu từ việt Nam sang với các hứa hẹn là giúp họ tìm được việc làm tại Ðông Âu. Họ có biết trước là sẽ bị đưa vào hang động của các tổ chức mãi dâm hay không, hay dù biết trước, thì đó cũng là lối thoát tốt đẹp nhất mà họ đã chọn.

Cảnh tượng hàng trăm cô gái xếp hàng cho bọn đàn ông Ðại Hàn, Ðài Loan đến xem mắt, lựa chọn đã là chuyện thường tình ở Saigon, đâu có gì mới lạ, không gây khó chịu hay làm ai động lòng xúc cảm. Cả một hệ thống làm tiền trên thân xác còm cõi của những cô gái đáng thương này, từ ma cô, công an, cảnh sát, nhân viên phường khóm cho đến các tổ chức làm giấy tờ xuất cảnh, khám bệnh, chích ngừa... Ðây là một dịch vụ béo bở lâu nay được thả nổi, không được chính phủ kiểm soát hoặc được địa phương làm ngơ để chia chác, thủ lợi, nên Việt Nam loan báo, lần đầu tiên sẽ thành lập một công ty “tư vấn hôn nhân quốc tế” tại Saigon nhằm “bảo vệ quyền lợi của phụ nữ”, nghĩa là nhà nước sẽ điều hành chính thức việc bán phụ nữ ra nước ngoài ở đợ hay làm đĩ.

Tại Việt Nam, nạn mãi dâm bị coi là bất hợp pháp nhưng trên thực tế, tình trạng gái chơi, gái gọi dưới nhiều hình thức, công khai hay giấu kín đã lan tràn, phổ biến. Từ các thành phố lớn cho đến những vùng nông thôn, rừng núi, bãi biển xa xôi ở đâu cũng có nạn mãi dâm. Cuối năm 2002, chính phủ Việt Nam nói là Việt Nam có 14 ngàn gái mại dâm, nhưng con số do giới truyền thông ước tính lại là 37 ngàn người. Con số này, chính quyền lấy ở đâu, phải chăng là trên những con số do địa phương báo cáo lấy lệ hay con số đã đưa vào trại “phục hồi nhân phẩm”? Trong đất nước Việt Nam từ Nam chí Bắc, đâu là không có đĩ điếm, đâu là không có các dịch vụ “ôm”. Phụ nữ Việt Nam hẳn là món hàng rẻ nhất thế giới? Con gái Việt Nam đẹp lắm! Nhưng con gái Việt Nam cũng rẻ lắm -“Người ta nói vậy, các anh có hãnh diện không?”

Con gái Việt Nam quả tình là đẹp, chẳng đẹp sao dám đem phô bày dưới nhãn hiệu “Duyên Dáng Việt Nam” đi trình diễn khắp nơi, không đẹp sao dám tổ chức hoa hậu toàn cầu, hoa hậu quốc gia, hoa hậu Biển, hoa hậu Núi mà người bỏ cả vài nghìn đô la để mua vé vào xem? Con gái Việt Nam đẹp lắm, không đẹp sao đàn ông tứ xứ đểu đổ xô đến Việt Nam để mua dâm hay đem về làm vợ?

Sao số phận đàn bà con gái Việt Nam lại ra nông nỗi này? Tại sao đến nay lại có hiện tượng cả một phong trào con gái Việt Nam coi rẻ nhân phẩm mình, đổ xô chạy theo đồng tiền, ra đi lấy chồng xứ lạ hay tự nguyện bán thân ngay ở trong nước. Ca sĩ, người mẫu, hoa hậu, sinh viên đại học đều có thể là gái bao, gái gọi. Vì sao trước khi Cộng Sản vào miền Nam con gái lấy Mỹ, lấy Phi, lấy Tây... đều bị xã hội lên án và coi rẻ. Còn bây giờ con gái lấy Ðài Loan, Ðại Hàn đều hãnh diện, tự hào. Người ta nêu ra những nguyên nhân kinh tế: gia đình khó khăn (78.94%), thất nghiệp (65.5%), cần tiền để giải quyết những nhu cầu trước mắt (62.56%), và do tâm lý hãnh diện được lấy chồng ngoại quốc (47.1%).

Tôi mạn phép xin nhắc lại, lời một đứa bé Việt Nam ăn xin ca cẩm, mà tôi đã viết trên trang này: “Ngoại ơi ngoại! Ngoại cho con 5,000 đồng, con cầu nguyện Bà cho con gái ngoại lấy được chồng Ðài Loan! Ngoại ơi ngoại! Ngoại cho con 5,000 đồng, con...”

Chỉ có một xã hội nền đạo đức suy đồi mới xẩy ra những thảm họa như thế.

- “Con gái Việt Nam đẹp lắm! Người ta nói vậy, các anh có hãnh diện không?”

Qua cuộc đời bất hạnh, khốn nạn của những người con gái Việt Nam sinh lầm trong chế độ, phải bán thân đi mười phương, câu hỏi này đáng ném vào mặt bọn lãnh tụ hôm nay. Câu hỏi khiến cho những người còn chút liêm sỉ phải đau lòng, nhưng bọn chúng thì không?

Tôi xin lập lại: “Chúng tôi đánh giá nhân cách của một ‘con đĩ’ hơn các ông chính khách của đảng Cộng Sản nhiều, vì họ còn biết liêm sỉ, còn biết thế nào là tủi nhục cho mình và cho đất nước hơn các ông”.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »


Image

Đến Lúc:

Đến một lúc, chúng ta bỗng thông hiểu tất cả mọi quy luật của đất trời rằng không có gì là trường tồn bất biến, ngược lại chính nhờ sự biến đổi ấy mà chúng ta có những điều mới mẻ tinh khôi.

Đến một lúc, mọi giông tố mịt mùng không che nổi sự bừng sáng của con tim và mọi khổ đau buồn tủi không đánh gục được niềm lạc quan tiềm ẩn trong một tinh thần.

Chúng ta sống quá lâu trong thành kiến và định kiến hẹp hòi cùng với lòng kiêu mạn đứng chen chân trong một ngôi nhà bản ngã; đến một lúc, chúng ta cần phải bước ra khỏi cửa để được ngắm nhìn toàn bộ sự mênh mông và bát ngát của đất trời.

Đến một lúc, chúng ta cảm nhận được niềm vui khi tấm lòng rộng mở và trái tim thắp sáng lên niềm tin yêu cuộc sống.

Đến một lúc, chúng ta nhìn lại và cười nhạo vào những trò hề do chính mình tạo ra và chúng ta trở nên lặng lẽ để thấy rõ sự cần thiết của tĩnh tại tâm hồn.

Chúng ta chợt nhận thấy quy luật sâu xa của cuộc sống hạnh phúc không chỉ là đón nhận mà còn phải là sự cho đi.

Đến một lúc, cảm thấy ngập tràn hạnh phúc không phải vì chúng ta vớt lên được cái gì đó từ dòng nước mà chính là quăng bỏ bớt cho dòng nước cuốn trôi.

Đến một lúc, chúng ta hiểu được sự thật của niềm vui không phải là ở đỉnh vinh quang hay ngọn núi ngập hoa vàng mà chính là từng bước chân thảnh thơi và được ngắm hoa cỏ dại trên đường.

Chúng ta chợt nhận ra rằng hạnh phúc không phải ở đâu xa mà chính là sự mãn nguyện trong từng phút giây hiện tại.

Khi đã trải qua bao nhiêu buồn vui thương ghét, bao hi vọng chán chường, bao thành công thất bại, đến một lúc chúng ta chợt nhận thấy rằng tất cả mọi sự đời đến và đi, có rồi không dường như chỉ là một tuồng ảo hóa.

Chúng ta cảm thấy mọi lý luận, ngôn từ đều thừa thãi, thay vào đó chỉ cần một nụ cười, một ánh mắt hoặc một tình thương nồng ấm dẫu chỉ là của người khách qua đường cũng đủ làm cho ta ấm lòng và tươi vui hơn trong cuộc sống.

Đến một lúc, chúng ta thấy tuổi trẻ của mình chỉ toàn là ước mơ cùng với nỗ lực vào tương lai hun hút, và đến lúc già đi thì luôn hồi ức tiếc thương một dĩ vãng đã xa rồi. Trong một đời người ngắn ngủi chúng ta đã đánh lỡ đi bao sự sống nhiệm mầu trong thực tại giản đơn.

Đến một lúc, chúng ta hiểu ra rằng duy chỉ có tình thương, chứ không phải có bất cứ thứ gì khác giúp con người thiết lập được trật tự mới và hòa bình cho nhân loại.

Mọi dòng sông đều chảy ra biển cả, mọi con đường chân lý đều hướng về nẻo đạo vô biên và mọi yêu thương chung cuộc đều đạt đến chân phúc...

Đến một lúc, chúng ta cần phải dọn đất trồng hoa trên mảnh vườn của mình còn hơn mỏi mòn chờ đợi ai đó mang hương sắc đến dâng cho.

Tất cả mọi hành động của ta chỉ là những đợt sóng lăn tăn trên mặt biển nhưng trong lòng đại dương sâu thẳm vẫn còn đó sự lặng lẽ bình yên.

Đến một lúc, chúng ta cảm thấy những việc làm thường nhật phải là niềm vui cho sự sống hàng ngày chứ không phải là sự bắt buộc hay là một quán tính khô khan, máy móc của đời mình.

Hiểu ra rằng bản ngã ích kỷ thường khiến mình nhìn thấy lỗi lầm, sự xấu xa của người khác hơn là chính bản thân mình. Chúng ta thường che đậy và bảo vệ mình khỏi tổn thương nhưng vô tình điều ấy là tự ôm chất độc và giết chết bản thân mình.

Đến một lúc, chúng ta cảm thấy sự tha thứ, bao dung là món quà tặng vô giá và cần thiết mà con người có thể trao tặng cho nhau không bao giờ cạn.

Khi chúng ta thấy mình tham vọng quá lớn trong khi đời người thật ngắn ngủi, đó là lúc mình hiểu ra hành trang cho lộ trình vạn dặm không phải là những gì có thể nắm bắt bên ngoài mà đó là yếu tố tâm linh bất diệt bên trong..

Đến một lúc, chúng ta hiểu con đường tâm linh thì tuyệt đối đơn độc, không ai có thể đi theo dẫu đó là người thân yêu nhất.

Chúng ta cảm nhận những khoảnh khắc tĩnh lặng nhỏ bé của tâm hồn còn quý giá hơn cả những tài sản được cất chứa chung quanh là lúc chúng ta định lượng được giá trị chân thật của một kiếp người.

Chúng ta hiểu rằng cần phải thánh hóa đời sống hơn là chạy đi tìm thiên đường ở chốn xa xăm. Đến một lúc, chúng ta cảm thấy không sợ hãi địa ngục hoặc một thế lực tối cao, nhưng bằng trí tuệ tuyệt vời, chúng ta thấy rằng vạn pháp vốn là không và số phận tùy thuộc vào khả năng giác ngộ của chính mình.

Chúng ta cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thản trước những mất mát, đau thương vì lòng nước thanh lương có thể cuốn trôi đi bao hệ lụy và có thể đưa chúng ta bến bờ rạng rỡ của ngày mai..

Thich Thong Nha
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Image


Nguyên nhân tục đốt vàng mã
Phàm ở đời, cái gì cũng phải có nguyên nhân mới có kết quả, dưới đây sẽ biện bạch rõ cái nguyên nhân của tục đốt vàng mã.

Đọc kinh Dịch nhà Nho, chúng ta thấy rằng: Tục chôn người chết của nước Tầu về đời thượng cổ, một khi có người chết cứ để thế đem chôn, không quan không ván, lại cũng không khanh phần mộ chi cả. Đến đời vua Hoàng đế (2679 trước Tây lịch) cho rằng:
Con cháu đối với ông bà, cha mẹ trong việc mai táng cẩu thả như thế là thiếu bổn phận, mới sai ông Xích Xương sáng chế ra quan, quách để chôn cất.
Trải qua đời Hoàng đế đến đời Đường Ngu, cái lệ tục chôn cất người chết chỉ có thế thôi.
Nối nhà Ngu là nhà Hạ (2205 trước Tây lịch), người Tầu mới bắt đầu dùng đất sét nặn làm mâm bát, dùng tre gỗ làm nhạc khí, như chuông khánh, đàn sáo .. để đem theo người chết.
Các đồ vật đó được gọi là minh khí, hoặc gọi là quý khí, tức là những đồ vật đem chôn theo cho thần hồn người chết dùng ở âm phủ, lễ nhạc đối với người chết bắt đầu có từ đấy.
Rồi đã chế ra đồ dùng cho người chết, tất phải có người hầu hạ người chết, người ta mới lại chế ra người bù nhìn bằng gỗ đem chôn theo với người chết.
Đến đời nhà Ân (1765 trước Tây lịch), lại không dùng mâm bát đồ đất và nhạc khí bằng tre gỗ để chôn theo người chết nữa. Thay vào cái đồ tế khí, dùng toàn đồ thật chôn theo.

Đời nhà Chu (1122 trước Tây lịch), người Tàu đã bắt đầu văn minh; Cố nhiên lễ nhạc đối với người chết cũng được ăn nhịp mà tiến bộ, giữa người chết với người chết đã được người sống phân ra giai cấp sang, hèn trong việc lễ nghi chôn cất.
Số là từ vua cho đến các quan lớn khi chết đi, sẽ được dùng cả đồ vật giả theo lệ nhà Hạ, đồ vật thật theo lệ nhà Ân để đem theo các vua chúa đã chết, còn từ hạng sĩ phu tới bình dân, khi chết chỉ được chôn theo độc một thứ đồ giả thôi.
Nếu người hèn hạ nào mà dùng nghi lễ ngang với người sang tức khắc phải tội "Tiếm lễ.”
Không những thế mà thôi, dã man nhất, độc ác nhất là người ta còn bịa đặt ra những “Tuẫn Táng,” nghĩa là khi các vua và các quan lớn chết đi, từ vợ con đến bộ hạ của các vua, các quan lớn, đồ yêu quý khi còn sống, sẽ phải đem chôn sống để làm đồ dùng khi đã chết

. Việc này chúng ta được thấy sự thật đã chép ở sách “Tả Truyện” rằng:
"Đời vua Văn Công thứ 6, vua Tần Mục Công tên là Hiếu Nhân chết, ba anh em họ Tứ-xa là Yểm Tục, Trọng Hành và Chàm Hổ đều bị chôn sống theo Mục Công, vì Mục Công khi còn sống, yêu quý nhất ba anh em họ Tứ-xa. Người trong nước tỏ lòng thương tiếc ba anh em họ Tứ-xa là người hiền đức, mới làm ra thơ Hoàng Diệu để tỏ ý than vãn, mỉa mai.
Trong thơ đại ý nói: ‘Ba anh em họ Tứ-xa đều là người hiền đức gấp trăm nghìn người khác, trời đất ơi!

Sao nỡ đem chôn sống để đi theo với người đã tận số là Mục Công. Nếu ba trăm người như chúng tôi này được chết theo Mục Công để thế mệnh cho ba người hiền đức ấy, chúng tôi rất vui lòng mà chết thay.
’ Về sau người ta cũng biết đem người sống chôn theo với người chết là vô nhân đạo, mới chế ra người cỏ ‘Sô-linh,’ sau vì người cỏ không được mỹ thuật, người ta lại dùng đồ gỗ ‘Mộc ngẫu’ như trước
. Sách Trang Tử chép rằng: Vua Mục vương nhà Chu (1001 trước Tây lịch) có người tên là Yến-sư chế ra người cỏ để chôn theo người chết.
Đức Khổng Tử đọc đến chuyện này liền nổi lòng phẫn uất mà thống mạ rằng: ‘Kẻ nào sinh ra tục chôn người gỗ theo với người chết là bất nhân
.’ Thầy Mạnh Tử cũng ác cảm với tục hình nhân thế mệnh mà nguyền một câu độc rằng: ‘Kẻ nào dùng người bù nhìn là tuyệt tự.’ ”

Đến đời nhà Hán, giới tri thức Nho học cảm động với nhời tuyệt cự thống thiết của ngài Khổng, Mạnh trong tục lệ dùng người sống chôn theo với người chết, mới bỏ tục lệ “Tuẫn Táng,” không dùng người sống chôn theo với người chết nữa, nhưng lại làm ra nhà mồ để cho vợ, con, tôi, tớ người đã chết ra để ấp mộ.
Còn các thức đồ ăn, mặc, hành dùng của người chết kia, khi còn sống dùng những thức gì, khi chết cũng đem chôn theo hết. Ngôi nhà mồ kia muốn cho thêm oai vẻ, người ta lại đục phỗng đá, voi, ngựa đá để bài trí chung quanh phần mộ nữa.

Đến đây chúng ta sẽ lại tìm thấy nguyên nhân của tục đốt vàng mã giấy. Đời Hán Hoa đến năm Nguyên Hưng nguyên niên (105), ông Thái Lĩnh bắt đầu lấy vỏ cây dó và rẻ rách, lưới rách đem chế ra giấy,
Vì đã có giấy, ông Vương Dũ liền chế ra vàng bạc, quần áo .. đều bằng đồ giấy để cúng rồi đốt đi để thay thế cho vàng bạc và đồ dùng thật trong khi tang ma, tế lễ. Sách “Thông giám cương mục" có chép:
Vì vua Huyền tôn mê thuật quỷ thần mới dùng ông Vương Dũ làm quan Thái thường bác sỹ để coi việc chế vàng mã dùng trong khi nhà vua có tế lễ. Chúng ta có thể liệt Vương Dũ vào hạng Thuỷ tổ nghề vàng mã được.”

Đức Phật Thích Ca Ngài không hề dạy đốt vàng mã để cúng gia tiên.
Tại sao ngày rằm tháng bảy là ngày lễ trọng thể của Phật giáo mà thấy một số tín đồ nhà Phật đốt rất nhiều vàng mã để kính biếu gia tiên? Chính nghĩa ngày rằm tháng bảy của Phật giáo là thế này:
“Ngài Mục Kiền Liên là bực đại đệ tử của Đức Phật Thích Ca. Ngài đã tu chứng được 6 phép thần thông, mắt trông thấy thân mẫu Ngài là Bà Thanh Đề phải đày đoạ ở địa ngục, mà Ngài không sao cứu được mới cầu cứu đến Đức Phật.
Đức Phật dạy rằng: ‘Dầu ông thần thông đến đâu chăng nữa, cũng không có thể cứu được tội nghiệp của thân mẫu ông, phải nhờ đến công đức tu hành của chư Tăng mới cứu được tội nghiệp cho thân mẫu của ông được.
Ngày rằm tháng bảy sắp tới đây, nó sẽ là ngày của chư Phật hoan hỷ, ngày của chư Tăng hành đạo tự tứ. Ông phải chí thành sắm lễ nghi trai đàn đem dâng cúng dàng chư Tăng. Các Ngài sẽ cầu nguyện cho thân mẫu ông được giải thoát.’ ”
Chính ý nghĩa của ngày rằm tháng bảy chỉ có thế thôi, không hơn không kém.
Chúng ta có ai thấy Phật dạy đốt vàng mã cúng gia tiên về ngày rằm tháng bảy đâu?
Tại sao lại có tục lệ mê tín di đoan ấy? Nguyên nhân đốt vàng mã vào ngày rằm tháng bảy là thế này:
“Triều vua Đạt tôn nhà Đường (762) nhằm lúc Phật giáo cực thịnh ở Tầu, vị sư tên là: Đạo-Tăng muốn cho dân chúng Tầu vì ngày rằm tháng bảy mà bồng bột theo Phật giáo, bèn lợi dụng tục đốt vàng mã của nhân dân Tầu vào tâu với vua Đạt tôn rằng:
Rằm tháng bảy là ngày vua Diêm vương ở âm phủ xét tội phúc thăng trầm, nhà vua nên thông sức cho thiên hạ, trong việc lễ cúng gia tiên vào ngày rằm tháng bảy nên đốt nhiều vàng mã để cúng biếu các vong nhân dùng.

Vua Đạt Tôn đương muốn được lòng dân nên rất hợp ý với lời tâu của Đạo tăng liền hạ chiếu cho thiên hạ, thế là nhân dân nước Tàu lại được dịp thi nhau đốt vàng mã vào ngày 15/7 để kính biếu gia tiên.
Nhưng chẳng bao lâu lại bị chư tăng công kích bài trừ về việc đốt vàng mã vào ngày trọng lễ của Phật giáo làm cho cái lệ ngày 15/7 không còn có chính nghĩa nữa.”

Phần lớn dân chúng Tầu hồi đó, hầu tỉnh ngộ cùng nhau bỏ tục đốt vàng mã làm cho các nhà chuyên sinh sống về nghề nghiệp vàng mã gần như bị thất nghiệp, nhất là người Vương Luân dòng dõi của Vương Dũ là đã bịa đặt chế ra đồ vàng mã.
Vương Luân mới bàn cùng với các bạn đồng nghiệp âm mưu phục hưng lại nghề nghiệp hàng mã trong bọn họ.
Một người giả cách ốm mấy hôm, rồi tin chết được loan ra, còn cái xác giả chết kia lập tức được khâm liệm vào quan tài, đã có lỗ hổng và sẵn sàng thức ăn, nước uống.

Đương khi mọi người họ mạc, xóm làng đến thăm viếng đông đúc, Vương Luân với một lũ người tất tưởi đem trăm nghìn thứ đồ mà đến có cả hình nhân thế mệnh nữa.
Đem đến để làm gì? Bầy đàn cúng các quan thiên phủ, địa phủ và nhân phủ. Chả! Chả! Phép quỷ thần màu nhiệm quá nhỉ! Thiêng liêng quá nhỉ! Khi mọi người đương suýt xoa khấn khứa, bỗng trăm nghìn mắt như một, trông thấy hai năm rõ mười, cỗ quan tài rung động lên.
Bấy giờ, Vương Luân đã đứng sẵn bên quan tài, liền mở nắp quan tài ra. Chàng giả cách chết kia cũng lò dò ngồi dậy, giả vờ lù dù, trông trước, trông sau, mới bước từ ra khỏi quan tài!

Vàng mã ở kinh sách nào? Nếu các ngài tìm thấy, bần tăng này xin cam tâm vào địa ngục để chịu lấy tội vong hữu.
Nếu không tìm thấy tục đốt vàng mã do Phật giáo hay Nho giáo truyền dạy, một lần nữa bần tăng thiết tha yêu cầu các ngài bỏ tục đốt vàng mã đi, lại sẽ khuyến hoá mọi người bỏ tục đốt vàng mã đi, vì tục đốt vàng mã là bọn Vương Dũ và Vương Luân đầu độc dân Tàu làm cho dân Việt Nam chúng ta cũng bị hại lây.
Nay chúng ta cùng nhau bài trừ mê tín tục đốt vàng mã, quyết nhiên giữa dân tộc Việt Nam này để dành cho chúng ta viên thành một công nghiệp kiến quốc vậy.

Trần Văn Giang (Rag Chu)Stầm
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Đến Một Lúc

Đến một lúc, chúng ta bỗng thông hiểu tất cả mọi quy luật của đất trời
rằng không có gì là trường tồn bất biến, ngược lại chính nhờ sự biến
đổi ấy mà chúng ta có những điều mới mẻ tinh khôi.

Đến một lúc, mọi giông tố mịt mùng không che nổi sự bừng sáng của con
tim và mọi khổ đau buồn tủi không đánh gục được niềm lạc quan tiềm ẩn
trong một tinh thần.

Chúng ta sống quá lâu trong thành kiến và định kiến hẹp hòi cùng với
lòng kiêu mạn đứng chen chân trong một ngôi nhà bản ngã; đến một lúc,
chúng ta cần phải bước ra khỏi cửa để được ngắm nhìn toàn bộ sự mênh
mông và bát ngát của đất trời.

Đến một lúc, chúng ta cảm nhận được niềm vui khi tấm lòng rộng mở và
trái tim thắp sáng lên niềm tin yêu cuộc sống.

Đến một lúc, chúng ta nhìn lại và cười nhạo vào những trò hề do chính
mình tạo ra và chúng ta trở nên lặng lẽ để thấy rõ sự cần thiết của
tĩnh tại tâm hồn.

Chúng ta chợt nhận thấy quy luật sâu xa của cuộc sống hạnh phúc không
chỉ là đón nhận mà còn phải là sự cho đi.

Đến một lúc, cảm thấy ngập tràn hạnh phúc không phải vì chúng ta vớt
lên được cái gì đó từ dòng nước mà chính là quăng bỏ bớt cho dòng nước
cuốn trôi.

Đến một lúc, chúng ta hiểu được sự thật của niềm vui không phải là ở
đỉnh vinh quang hay ngọn núi ngập hoa vàng mà chính là từng bước chân
thảnh thơi và được ngắm hoa cỏ dại trên đường.

Chúng ta chợt nhận ra rằng hạnh phúc không phải ở đâu xa mà chính là
sự mãn nguyện trong từng phút giây hiện tại.

Khi đã trải qua bao nhiêu buồn vui thương ghét, bao hi vọng chán
chường, bao thành công thất bại, đến một lúc chúng ta chợt nhận thấy
rằng tất cả mọi sự đời đến và đi, có rồi không dường như chỉ là một
tuồng ảo hóa.

Chúng ta cảm thấy mọi lý luận, ngôn từ đều thừa thãi, thay vào đó chỉ
cần một nụ cười, một ánh mắt hoặc một tình thương nồng ấm dẫu chỉ là
của người khách qua đường cũng đủ làm cho ta ấm lòng và tươi vui hơn
trong cuộc sống.

Đến một lúc, chúng ta thấy tuổi trẻ của mình chỉ toàn là ước mơ cùng
với nỗ lực vào tương lai hun hút, và đến lúc già đi thì luôn hồi ức
tiếc thương một dĩ vãng đã xa rồi. Trong một đời người ngắn ngủi chúng
ta đã đánh lỡ đi bao sự sống nhiệm mầu trong thực tại giản đơn.

Đến một lúc, chúng ta hiểu ra rằng duy chỉ có tình thương, chứ không
phải có bất cứ thứ gì khác giúp con người thiết lập được trật tự mới
và hòa bình cho nhân loại.

Mọi dòng sông đều chảy ra biển cả, mọi con đường chân lý đều hướng về
nẻo đạo vô biên và mọi yêu thương chung cuộc đều đạt đến chân phúc.

Đến một lúc, chúng ta cần phải dọn đất trồng hoa trên mảnh vườn của
mình còn hơn mỏi mòn chờ đợi ai đó mang hương sắc đến dâng cho.

Tất cả mọi hành động của ta chỉ là những đợt sóng lăn tăn trên mặt
biển nhưng trong lòng đại dương sâu thẳm vẫn còn đó sự lặng lẽ bình
yên.

Đến một lúc, chúng ta cảm thấy những việc làm thường nhật phải là niềm
vui cho sự sống hàng ngày chứ không phải là sự bắt buộc hay là một
quán tính khô khan, máy móc của đời mình.

Hiểu ra rằng bản ngã ích kỷ thường khiến mình nhìn thấy lỗi lầm, sự
xấu xa của người khác hơn là chính bản thân mình. Chúng ta thường che
đậy và bảo vệ mình khỏi tổn thương nhưng vô tình điều ấy là tự ôm chất
độc và giết chết bản thân mình.

Đến một lúc, chúng ta cảm thấy sự tha thứ, bao dung là món quà tặng vô
giá và cần thiết mà con người có thể trao tặng cho nhau không bao giờ
cạn.

Khi chúng ta thấy mình tham vọng quá lớn trong khi đời người thật ngắn
ngủi, đó là lúc mình hiểu ra hành trang cho lộ trình vạn dặm không
phải là những gì có thể nắm bắt bên ngoài mà đó là yếu tố tâm linh bất
diệt bên trong.

Đến một lúc, chúng ta hiểu con đường tâm linh thì tuyệt đối đơn độc,
không ai có thể đi theo dẫu đó là người thân yêu nhất.

Chúng ta cảm nhận những khoảnh khắc tĩnh lặng nhỏ bé của tâm hồn còn
quý giá hơn cả những tài sản được cất chứa chung quanh là lúc chúng ta
định lượng được giá trị chân thật của một kiếp người.

Chúng ta hiểu rằng cần phải thánh hóa đời sống hơn là chạy đi tìm
thiên đường ở chốn xa xăm. Đến một lúc, chúng ta cảm thấy không sợ hãi
địa ngục hoặc một thế lực tối cao, nhưng bằng trí tuệ tuyệt vời, chúng
ta thấy rằng vạn pháp vốn là không và số phận tùy thuộc vào khả năng
giác ngộ của chính mình.

Chúng ta cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thản trước những mất mát, đau
thương vì dòng nước thanh lương có thể cuốn trôi đi bao hệ lụy và có
thể đưa chúng ta bến bờ rạng rỡ của ngày mai..
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest