Tin Tức Việt Nam Hàng Ngày

Tin trong và ngoài nước, tin Cộng Đồng ...
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Bị bỏ đói, gây ngập lụt, dân đòi dẹp các dự án thuỷ điện
Wednesday, November 25, 2009

Image
Hồ chứa nước thủy điện A Vương xả lũ. (Hình: VietnamNet)

Image
Tấm hình chụp cảnh lụt ngập của tỉnh Quảng Nam trong trận bão số 9 một phần do nhà máy thủy điện xả lũ. (Hình: AFP/Getty Images).
QUẢNG NAM (TH) - Mới chỉ có 6 đập thủy điện xả lũ, nhiều khu vực rộng lớn của tỉnh Quảng Nam đã ngập chìm trong nước, thiệt hại lớn lao, nay có tới hơn 110 dự án thủy điện lớn nhỏ đang được chuẩn bị ở tỉnh này, thiệt hại sẽ đến đâu?

Chuyện tương lai chưa được quyết định gì ngoài chuyện loan báo cắt bỏ 9 dự án “không hiệu quả”, nhưng những thiệt hại lớn lao cho dân thì đã nhìn thấy. Ngày Thứ Hai vừa qua, báo VietnamNet nói dân chúng địa phương đòi dẹp bỏ các dự án thủy điện ở tỉnh Quảng Nam.

Lý do, gây thiệt hại kinh tế cho địa phương, đẩy dân vào đói nghèo trong khi tàn phá môi trường. Dù vậy mới nghe thấy nhà cầm quyền hứa.

Theo VietnamNet, chỉ tính riêng 6 dự án thủy điện đã làm như A Vương, Sông Tranh, Ðắk Mi, Khe Diên, Sông Kôn, Trà Linh đã “xóa sổ” hơn 6,000ha rừng. Nếu 110 dự án thủy điện cài vào nhau ở thượng nguồn 2 con sông Vu Gia, Thu Bồn chỉ dài 200 km, rừng núi Quảng Nam còn gì?


Hiệu quả nhỏ, thiệt hại quá lớn!

Bản tin của Vietnamnet cho hay, một cuộc họp “giao ban” của Ban Dân Tộc và Ban Kinh Tế-Ngân Sách HÐND tỉnh Quảng Nam với thường trực HÐND các huyện miền núi đã được tổ chức về “tình hình triển khai xây dựng các công trình thủy điện tại địa phương” (từ 19 đến 23 Tháng Mười Một) sau khi có ý kiến chất vấn của cử tri tại các cuộc họp.

Ðể đánh giá thực chất của các dự án thủy điện, Ban Dân Tộc và Kinh Tế Ngân Sách của HÐND tỉnh “muốn nghe ý kiến của chính quyền cơ sở” về ảnh hưởng của các dự án thủy điện đối với tình hình kinh tế-xã hội, môi trường, giải quyết an sinh cho nhân dân trong vùng dự án.

Theo nguồn tin, ông Ðinh Thái Long, chủ tịch huyện Ðông Giang đại diện cho cử tri của huyện khẳng định là, “hiệu quả từ thủy điện mang lại ít nhưng thiệt hại thì quá lớn.”

Ông này cho hay ngay đến bây giờ dù đã có nhà máy thủy điện hoạt động, “những hậu quả mà các dự án thủy điện ở Ðông Giang như A Vương, Za Hung, Sông Kôn... vẫn chưa giải quyết dứt điểm.”

Với thủy điện A Vương, mỗi năm ngân sách thu được khoảng 5 tỷ đồng nhưng hàng ngàn ha rừng bị mất, đời sống của hơn 300 hộ dân vẫn chưa được ổn định được, ông Ðinh Thái Long nói.

Dân tại khu tái định cư Pachepalanh và Cútchơrun đang trong giai đoạn “tái nghèo” vì không đất sản xuất, nhà cửa bị hư hỏng nặng sau hơn 4 năm bàn giao...

Bản tin Vietnamnet thuật lại đa số ý kiến của các địa phương các huyện miền núi Nam Trà My, Bắc Trà My, Ðông Giang, Nam Giang, Phước Sơn đều cho rằng có “quá nhiều công trình thủy điện trên địa bàn miền núi. Nhất là các dự án thủy điện vừa và nhỏ đã làm nảy sinh nhiều vấn đề về kinh tế và an sinh xã hội.”

Ðiều này xác nhận lại nhận xét của ông Nguyễn Viết Thanh, nguyên phân viện phó phân viện Thủy Ðiện, Bộ Ðiện và Than (nay là Bộ Công Thương), chuyên gia nghiên cứu về điều tiết hồ chứa cho các đập thủy điện nói trong cuộc phỏng vấn của báo Tuổi Trẻ ngày 24 Tháng Mười Một, 2009.

Ông Thanh nói rằng các dự án thủy điện được khai sinh chỉ nhắm vào mục tiêu kiếm ăn của kẻ làm thủy điện, không hề nghĩ tới tác hại đối với người dân địa phương, dù thượng nguồn hay hạ lưu.

Cuộc họp “giao ban” được Vietnamnet tường thuật, “Với các dự án đã và đang triển khai, các vấn đề nổi cộm về xây dựng hạ tầng tái định cư, mất rừng, không có đất sản xuất, ô nhiễm môi trường, phá vỡ hệ sinh thái tự nhiên, phá vỡ các giá trị văn hóa truyền thống của nhân dân trong vùng dự án chưa có giải pháp khắc phục hiệu quả, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn và có nguy cơ tái nghèo.”


Dân đòi ngừng làm thủy điện!

Ðứng trước thực trạng như vậy, đại biểu các huyện Bắc Trà My, Hiệp Ðức “rất bức xúc với việc chủ đầu tư các dự án thủy điện thực hiện kiểm kê, bồi thường, tái định cư cho dân trong vùng dự án theo kiểu tùy tiện, không hề có sự tham gia của chính quyền địa phương, thậm chí có huyện còn yêu cầu không cho đóng điện, ngừng triển khai dự án!” VietnamNet viết.

Mới 6 dự án thủy điện “đã đưa vào vận hành và đang khởi công như A Vương, Sông Tranh, Ðắk Mi, Khe Diên, Sông Kôn, Trà Linh” tiếp sức với bão lũ trời làm mà đã “nhấn chìm hàng trăm nghìn hộ dân nơi vùng hạ lưu.”

Theo VietnamNet, Ðinh Văn Thu, phó chủ tịch tỉnh Quảng Nam chỉ hứa suông là “sẽ rà soát và xem xét lại các dự án thủy điện.”

Bản tin VietnamNet ngày 8 Tháng Mười, 2009 thuật lại một buổi họp ở tỉnh Quảng Nam về “bài học xương máu” khi ban quản lý đập thủy điện A Vương xin xả lũ. “Trong cuộc hội ý chớp nhoáng diễn ra ngay buổi trưa đó, tất cả lãnh đạo tỉnh đều thống nhất không đồng ý cho xả lũ, nhưng sau đó ít tiếng đồng hồ, thông tin từ thủy điện A Vương báo về, nếu không cho xả lũ thì nguy cơ vỡ hồ chứa!” VietnamNet viết. “Không còn sự chọn lựa nào khác, Chủ Tịch tỉnh Quảng Nam Lê Minh Ánh và các thành viên đành phải ‘gật’ cho xả lũ. Ông Ðinh Văn Thu, phó chủ tịch tỉnh Quảng Nam khi đó còn bất lực thốt lên: ‘Kiểu ni thì chết!’”

Thế rồi, “ngay sau khi A Vương tiến hành xả lũ, lũ bắt đầu lên vùn vụt, mỗi giờ nước lên hơn 10cm. Ðỉnh lũ lúc 3 giờ sáng ngày 30 Tháng Chín, nghĩa là sau 11 giờ xả lũ của hồ chứa nhà máy thủy điện A Vương, đã vượt xa đỉnh lũ lịch sử của các năm gần 2 mét nước. Vùng hạ lưu ngập chìm trong lũ khi bão chưa tan.” VietnamNet kể.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Cán bộ CSGT lủi xe cán người, bỏ chạy
Saturday, November 28, 2009

Image
Chiếc xe Hyundai Santa Fe của cán bộ Cục Cảnh Sát Giao Thông, gây tai nạn liên hoàn. (Hình: Dân Trí)
HÀ NỘI (DT) - Một cán bộ Cục Cảnh Sát Giao Thông say rượu lái xe giữa Hà Nội lủi cán trúng nhiều người rồi sau đó bỏ chạy, theo tin báo Dân Trí.

Chiếc Hyundai Santa Fe phóng nhanh bất ngờ tông thẳng vào 3 người đi xe máy trên đường hôm 27 Tháng Mười Một trên đường Tôn Ðức Thắng, quận Ðống Ða, khoảng 10 giờ đêm. Không cấp cứu người bị nạn, tài xế lái xe bỏ chạy bất chấp sự truy cản của người dân và lực lượng chức năng.

Ðụng người khiến nạn nhân có ít nhất 1 người bị gẫy chân, 1 bị chấn thương sọ não, tài xế bỏ chạy.

Rất nhiều người dân trông thấy đã gọi công an địa phương và một số cảnh sát giao thông truy bắt chiếc xe, mang biển số 30T-6118.

Sau khoảng 5km chạy vòng vèo, người dân chặn được chiếc xe tại phố Kim Ðồng khi bánh trước bên trái xe đã nổ còn bánh trước bên phải cũng xẹp lép.

Người dân lôi tài xế ra khỏi xe trong tình trạng nồng nặc mùi men rượu. Báo Dân Trí viết: “Trước sự phẫn nộ của người dân, cán bộ chức năng phải rất vất vả để đưa lái xe trên tới trụ sở công an phường Giáp Bát.”

Tại đây, người ta xét giấy tờ và phát giác ra, người lái xe tên Phạm Thế Dũng, 29 tuổi, hiện là cán bộ Cục Cảnh Sát Giao Thông (tức C26).

Một viên chức lãnh đạo Cục C26 xác nhận với Dân Trí, Phạm Thế Dũng là nhân viên vi tính tại phòng tham mưu của cục.
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

“Khách sạn chết”,
chốn cuối đời của những người nhiễm HIV

Sunday, November 29, 2009

Image
Những chiếc giường bệnh nhân trong “khách sạn chết”

Image
Nơi tá túc của các bệnh nhân.
SÀI GÒN - “Khách sạn chết” là tên một bài ký sự của Tháng Mười Một, kể về một cơ sở xã hội ở ấp 4, xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi, Sài Gòn. Cơ sở này nằm giữa cánh đồng hoang biệt lập với thế giới bên ngoài. Ðây là nơi cư trú của hàng trăm người “sống nay chết mai” đa số mắc bệnh HIV. Họ bị gia đình ruồng bỏ, xã hội kỳ thị dìu dắt nhau về đây cư ngụ cho qua ngày tháng cuối đời.

Theo mô tả , “khách sạn” là những chòi lá diện tích bên trong đủ để 20-30 người trú ngụ ấm cúng bằng những chiếc giường nhỏ và ghế bố đặt san sát nhau.

Khi phóng viên vào thăm, một người đàn ông tên Ẩn lên tiếng, “Chúng tôi bị nhiễm HIV/AIDS giai đoạn cuối, ghẻ lở u nhọt... Gia đình sợ hãi xua đuổi nên không muốn gặp ai, trừ những người đồng cảnh ngộ.”

“Nói đoạn, ông cụ vuốt ngực ho sù sụ, giọng ồ ề: “Ngủ dậy thấy tim còn đập là mừng lắm. Có lúc đang tâm sự vui vẻ thì có người co giật, trăng trối đôi câu rồi nhắm mắt xuôi tay. Có ngày chết 2-3 người. Nếu không có gì, xin mời anh lui bước để chúng tôi yên tĩnh.”

Theo người viết, ông Ẩn vốn là một “đại ca” ở quận 4, vì lối sống giang hồ bạt mạng nên mắc căn bệnh thế kỷ, đến đây sống cuối đời. Thấy khách vui vẻ, ông cụ châm trà mời, lần lượt những người khác xúm lại bắt tay. Những người còn bộ xương khô thì nằm im, mắt mơ màng, cố rướn người, quơ tay tỏ vẻ thèm được nói chuyện.”

Phóng viên dẫn lời một chị tên Thảo, chỉ tay về phía họ nói, “Ở trong cùng là chú Kiểm, 68 tuổi, già neo đơn, bị liệt hạ chi, con cái ruồng bỏ, nằm đó cho anh em đút cháo sống qua ngày. Cạnh bên là chị N., gái bán hoa, hôm trước trốn về thắp nhang giỗ má, bị người thân đánh bầm dập, đuổi khỏi nhà. Kế bên là anh Tr. bị ung thư ruột chắc nay mai sẽ ra đi trước...”

Chủ của cơ sở này theo lời ông Ẩn giải thích rằng, “Ðó là người đàn ông không vợ con, suốt ngày tìm và cưu mang những người ‘ghê tởm’ như chúng tôi về chăm sóc. Nhiều người biết tiếng nơi này nên tự lọ mọ đến đây khi bị tắc đường sống.”

Nhìn mọi người nâng đỡ một anh chàng hốc hác bước vào, ông Ẩn cười, “Có bạn mới rồi. Ngày cũng như đêm, hễ ai cần cưu mang là ông chủ sẵn sàng mở cửa đón nhận.”

“Bạn mới” trạc 40 tuổi, tên Thái, nhà ở quận 6, trông bề ngoài gầy còm và tiều tụy thì ai cũng hiểu. Bất hạnh hơn, đôi mắt anh Thái gần như mù lòa. Ông chủ bảo, “Ðây là người đặc biệt, đáng thương, chúng ta phải quan tâm đến anh ấy nhiều hơn.” Anh Thái cười méo mó, “Nghe mọi người bảo đồng hoang này là nơi trú ngụ của những người bất hạnh được chăm lo miễn phí. Nên tôi vừa xin ăn, vừa ngủ bụi ba ngày đường mới đến ngã ba Bình Mỹ và được mọi người dìu dắt về đây.”

Chị Thảo dọn dẹp lại chiếc giường đã đóng bụi, rồi đăm chiêu rơi lệ, “Anh em đến rồi đi, tôi may mắn sống đến hôm nay đã hơn hai năm. Ðây là chiếc giường của bé Tr., quê ở miền Tây, bị cha ghẻ gạt gẫm bán trinh, rồi chán đời, ôm phận gái bán hoa ở cầu Thị Nghè, mới ‘nửa đời hương phấn’ đã tìm đến đây yên nghỉ. Trước lúc vĩnh viễn ra đi, nó không hề có người thân tiễn biệt, chỉ biết khóc thầm trong vòng tay của tụi này...”

Một bệnh nhân khác là anh Kh., khi đi bốc vác vô tình giẫm phải kim tiêm nên bị nhiễm HIV và hiện mạng sống đang đếm từng ngày. Tháng trước đến đây, hành lý anh mang theo là hũ cốt của người mẹ qua đời vì ung thư phổi. Anh gượng cười than vãn, “Hai mẹ con tôi quanh năm ăn bụi ngủ đường, mẹ bán vé số, tôi đi bốc vác. Tính dành dụm ít tiền rồi về quê, ai ngờ cuộc đời thê thảm quá...”

Ông Ẩn vuốt nhẹ mái tóc khô của anh Kh., thở dài, “Lúc đầu ai đến đây cũng được ông chủ chăm sóc. Người nào cảm thấy còn khỏe thì nhào vô phụ ông một tay. Chúng tôi yêu thương nhau để tìm lại chút tình cảm của con người, dẫu có muộn màng nhưng dù sao cũng là niềm an ủi cuối cùng.”

Trước đây, “khách sạn ngàn sao” này chỉ cưu mang những kẻ giang hồ, gái bán hoa... có AIDS giai đoạn cuối, bị gia đình chối bỏ và nhiều người trong xã hội xa lánh. Hiện tại, nơi này cưu mang cả những người khổ khó. Ðó là trường hợp của bà Hai Huế bị con cái ruồng bỏ, anh Dũng “tâm thần” bị cha mẹ nhẫn tâm vứt ra lề đường.

Hay trường hợp của vợ chồng chị Ðền, chồng chị bị lao phổi, chị lại mang bầu nên được mọi người đem về cưu mang, lo sinh nở. Mọi người xem nhau như người thân, san sẻ từng ly nước, bát cháo...

Chuyện sống nay, chết mai của những con người nơi đây, được ông Hào kể , “Vài chục anh em đang ở chung, đôi khi sáng ra thấy mất một, hai người. Nhiều anh em trước khi chết thân thể rất hôi tanh do ghẻ lở. Chúng tôi tắm rửa cho họ thật cẩn thận, thay quần áo đàng hoàng rồi đặt lên chiếc ghế bố nằm đó. Mọi người xúm xít lại, vừa khóc vừa khấn vái. Sau đó mang ra ‘nhà nguyện’ của ‘khách sạn,’ chờ đến 1-2 giờ đêm, khi bà con lối xóm ngoài đường vắng bóng sẽ âm thầm mang họ ra xe đưa đến trại hòm Tiến Ðệ trên đường Quang Trung (Gò Vấp), một nơi luôn mở lòng từ thiện với những cái chết ở đây. Tại đó, mọi người an táng người chết, đưa quan tài về huyện Dĩ An để hỏa táng rồi mang hài cốt trở lại khách sạn ngàn sao.”

Về hoàn cảnh mà “khách sạn” này ra đời, “Năm 2003, ông chủ ‘khách sạn’ gặp một bác sĩ ở quận Gò Vấp. Bác sĩ này mong muốn tìm một nơi nương náu cuối đời cho những người nhiễm HIV/AIDS bị xã hội kỳ thị.

Sau vài lần trò chuyện, người bác sĩ ấy mua một miếng đất hoang ở Bình Mỹ cho ông chủ này tìm kiếm và trông nom những cuộc đời bất hạnh. Ban đầu, ông dựng một chòi lá rộng khoảng 20m2, dần dà đông người ở, ông phá chòi dựng lại lớn hơn. Tất cả tiền bạc nấu nướng, thuốc men... vị bác sĩ nọ lo hết. Sau này một số người hảo tâm cũng tìm đến hỗ trợ.”

Từ đó đến nay, nơi đây đã tiếp nhận săn sóc miễn phí cho hơn 300 lượt người mắc phải HIV/AIDS, ung thư, tai biến... không ai cưu mang. Trong đó có hơn 100 người thật sự mỉm cười trước khi nhắm mắt.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Chơi Casino ở VN: Việt kiều thì được, trong nước thì không
Monday, November 30, 2009

Image
Các casino trên đất Cambodia, gần biên giới VN, luôn mở rộng cửa để đón các con bạc đến từ Việt Nam. (Hình: Getty Images)

HÀ NỘI - Bộ Tài Chính Việt Nam vừa ban hành một dự thảo của nghị định về việc xây dựng và kinh doanh các sòng bài mà theo đó, Việt kiều và người ngoại quốc được chơi thoải mái còn người dân trong nước thì bị cấm.

Báo Pháp Luật Sài Gòn cho biết, nghị định này có tên là “quản lý hoạt động kinh doanh casino và trò chơi điện tử có thưởng.” và theo lời tờ báo thì dự thảo đã bịt đường các con bạc trong nước.

“Theo dự thảo, chỉ người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài có hộ chiếu hoặc giấy thông hành còn giá trị nhập cảnh hợp pháp vào Việt Nam (Việt kiều) được phép chơi tại casino và trò chơi điện tử có thưởng. Họ phải là người có năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam.” Tờ Pháp Luật viết.

Vẫn theo Pháp Luật, “Ngoài người chơi là Việt kiều, người nước ngoài, nhân viên công vụ thực hiện nhiệm vụ tại casino... không ai được ra vào casino, điểm trò chơi điện tử có thưởng với bất kỳ hình thức, lý do nào.”

Báo Pháp Luật cho biết thêm, “Dự thảo cấm tất cả chương trình quảng cáo hoạt động của casino và trò chơi có thưởng dưới mọi hình thức ở trong nước. Tuy nhiên, dự thảo cho phép các doanh nghiệp ký hợp đồng với cá nhân, tổ chức để họ làm người môi giới, hưởng hoa hồng khi giới thiệu được người chơi. Danh sách người môi giới nộp cho ban giám sát do chủ tịch cấp tỉnh lập ra và cơ quan thẩm quyền cấp phép.”

Từ năm 1992, Việt Nam đã cho phép mở các sòng bài casino và trò chơi điện tử có thưởng. Ðến nay tại Việt Nam đã có sáu casino được cấp phép hoạt động và 43 điểm trò chơi điện tử có thưởng ở các tỉnh, thành phố như Hải Phòng, Quảng Ninh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Lào Cai... và mang về tiền thuế hơn 1 ngàn 680 tỷ đồng VN.

Mới đây, Việt Nam vừa cho phép thiết lập thêm một casino tại khu du lịch đảo Phú Quốc, thuộc tỉnh Kiên Giang.

Tuy nhiên, theo báo Pháp Luật, các sòng bài này rất dễ xảy ra gian lận và trốn thuế vì Việt Nam thiếu luật lệ và yếu kém về nghiệp vụ.

Chính vì luật Việt Nam không cho người trong nước vào các sòng bài nên các con bạc thường vượt biên giới qua Cambodia, nơi có các sòng bài luôn mở rộng cửa cho người Việt Nam. Sang hơn, một số con bạc còn sang Macao, Singapore hoặc Malaysia để thỏa cơn ghiền.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Chuyện vỉa hè:
Phét lác như vầy, chơi với ai?

Tuesday, December 01, 2009

Image
Hàng trăm người Việt Nam biểu tình chống Nguyễn Minh Triết, chủ tịch nước CSVN, khi ông ta vào Tòa Bạch Cung ngày 22 Tháng Sáu 2007. (Hình: AFP/Getty Images)
Tư Ngộ

Chắc mọi người vẫn còn nhớ Sáu Triết nổ sảng khi đến Cuba mấy tháng trước? Vừa bước chân xuống phi trường Havana, ông Sáu phét lác rằng Việt Nam và Cuba thay nhau “canh giữ hòa bình thế giới”. Khi Việt Nam gác thì... cu ba ngủ, khi cu... ba gác thì Việt Nam nghỉ, ra cái điều, bây giờ, ta được cho ngồi làm cảnh ở cái ghế hội viên không thường trực của Hội Ðồng Bảo An LHQ là le lói lắm. Nói phét gì cũng được cả.

Ngày 22 Tháng Mười Một 2009, nhân dịp tổ chức hội nghị “đại biểu” dziệt kều ở Hà Nội, ông chủ tịch nước CSVN Nguyễn Minh Triết tiếp tục nổ sảng. Lần này, không những nổ sảng như pháo Bình Ðà, ông còn lộ cho thấy cái đểu cáng, xỏ lá của người Cộng Sản.

Lời nói này của ông được đài truyền hình nhà nước chiếu trực tiếp, còn cho lên trang nhà của VOV trên Internet và một số người chộp được, cho lên youtube để mọi người cười chơi.

Có nhiều người viết phê bình cảm thấy phẫn nộ, người khác cảm thấy nhục vì đất nước lại có loại lãnh tụ như thế.

Trong bài diễn văn ở cái đại hội tuyên truyền bố láo nói trên, sau khi nói phét về những chuyến tới New Zealand, Na Uy, Áo, Hy Lạp, Nguyễn Minh Triết khoe chuyện đến dự đại hội đồng LHQ. Khi đọc diễn văn ở đây, Sáu Triết khoe “phê phán'” Mỹ về việc cấm vận Cuba. Xong rồi, Sáu Triết nói “Tôi có thêm cái ý kiên tôi hoan nghênh ông Obama. Ông tuyên bố là ổng sẽ đóng cửa nhà tù Guantanamo. Nhưng mà tôi nói rằng ông Obama ơi, vấn đề này khó lắm đó. Tôi chúc ông phải nỗ lực để thực hiện cho bằng được cái này. Tôi nói mà tôi nhìn Obama tôi thấy ổng cũng chăm chú lắm á, cũng lắng nghe. Như thế là mình vừa động viên ông Obama nhưng mà mình vừa muốn phân hóa cái nội bộ của ổng.”

Như vậy đó, tôi muốn với các đồng chí, với các quý vị rằng: “Cái vai trò, cái vị thế của mình bây giờ cũng ngang hàng với người ta, cũng nói năng cũng đúng mức đàng hoàng...”

Cái vị thế “của mình” có ngang hàng với người ta được không? Tôi không tin có nhiều người đồng ý ngoài những người sẵn sàng đóng tuồng “mẹ hát con khen hay”.

Cái mà nhiều người nhìn thấy ở trong đoạn trích lời nói của ông Triết, ngoài cái hỗn, còn lộ rõ cái đểu. Bề ngoài “Ðộng viên” người ta mà trong bụng lại nhằm “phân hóa” nước người ta? Còn gì đểu hơn, thâm hiểm hơn.

Nước Mỹ sẽ cảm ơn Sáu Triết về những lời nói “động viên” kiểu đó?

Duyệt lại những lần đám lãnh tụ Hà Nội gồm cả Nguyễn Minh Triết đến Mỹ ngửa nón xin viện trợ, người ta đều thấy các bài viết bản tin của đám báo chí cò mồi của đảng và nhà nước CSVN đều hí hởn “nâng lên tầm cao mới” của mối quan hệ mọi mặt giữa hai nước.

Ba năm liên tiếp, từ 2006 đến 2008, Phan Văn Khải, thủ tướng, Nguyễn Minh Triết, chủ tịch nước, rồi Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng, đều đến Mỹ không ngoài mục đích nài nỉ đầu tư, ngửa nón xin gia tăng viện trợ.

Bản tin báo Nhân Dân (cái loa tuyên truyền chính thức của ÐCSVN) viết ngày 23 Tháng Sáu 2006: “Thủ Tướng Phan Văn Khải cho biết, chuyến thăm này cho thấy quan hệ hai nước đã được chuyển sang một giai đoạn mới. Hoa Kỳ có thể thấy ở Việt Nam một thị trường lớn. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế vì hòa bình, độc lập dân tộc và phát triển.

Thủ tướng đánh giá cao về việc Tổng Thống G. Bush ủng hộ mạnh mẽ việc Việt Nam gia nhập WTO và nhất trí tích cực đàm phán để sớm ký kết hiệp định song phương về vấn đề này. Hai nhà lãnh đạo cũng khẳng định đưa quan hệ song phương lên tầm cao mới thông qua việc phát triển mối quan hệ đối tác xây dựng, hữu nghị, hợp tác nhiều mặt trên cơ sở bình đẳng, cùng tôn trọng lẫn nhau và hai bên cùng có lợi.”

Khi T.T. Mỹ George W. Bush đến Hà Nội Tháng Mười Một 2006 dự hội nghị Diễn Ðàn Hợp Tác Kinh Tế Á Châu Thái Bình Dương (APEC) rồi thăm viếng Việt Nam luôn, hãng thông tấn chính thức CSVN đăng bản thông cáo chung giữa hai nước ngày 17 Tháng Mười Một 2009 tựa đề: “Mối quan hệ Việt-Mỹ nâng lên tầm cao mới” trong đoạn mở đầu viết: “Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Minh Triết hoan nghênh Tổng Thống Hoa Kỳ G.W. Bush đến thăm Việt Nam. Ðiểm lại việc thực hiện bản tuyên bố chung Tháng Sáu năm 2005 giữa Tổng Thống Bush và Thủ Tướng Phan Văn Khải, hai nhà lãnh đạo bày tỏ sự hài lòng về những tiến bộ đạt được trong quan hệ hai nước, nhờ đó tạo dựng được mối quan hệ nhiều mặt, hướng tới tương lai giữa Việt Nam và Hoa Kỳ như hiện nay. Mối quan hệ này bao gồm các quan hệ kinh tế-thương mại quan trọng và đang gia tăng, các bước khởi đầu về quan hệ giữa hai Bộ Quốc Phòng, sự hợp tác tốt đẹp về các vấn đề y tế, văn hóa, giáo dục và phát triển, sự cam kết giải quyết các vấn đề do chiến tranh để lại và lợi ích chung trong việc bảo đảm hòa bình, ổn định và thịnh vượng ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Hai bên cũng trao đổi thẳng thắn và chân thành các vấn đề còn khác biệt. Ngoài ra, hai bên khẳng định quyết tâm bảo đảm cho quan hệ song phương ổn định, xây dựng, có nền tảng rộng lớn và được tiến hành trên cơ sở bình đẳng về chủ quyền và cùng có lợi.”

Ngày 25 Tháng Bảy 2007, báo của Sở Công An Hà Nội (ANTÐ) viết bài: “Tầm cao của quan hệ đối tác Việt-Mỹ” với đoạn mở đầu: “Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết đã kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức Mỹ. Thành công trên tất cả các phương diện của chuyến thăm chính thức Mỹ đầu tiên của người đứng đầu nhà nước Việt Nam thống nhất, độc lập và tự do đã góp phần nâng quan hệ Việt Nam-Mỹ lên một tầm cao mới.”

Ngày 23 Tháng Sáu 2008, nhiều báo lấy lại bản thông báo của Bộ Ngoại Giao CSVN rồi sửa gọt chút ít nói về chuyến thăm Mỹ của Nguyễn Tấn Dũng. Báo Tuổi Trẻ đưa tin “Thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng thăm chính thức Hoa Kỳ, nâng quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ lên tầm cao mới”.

Vậy tất cả những cái “tầm cao mới” chỉ có mục đích che đậy cho những cái đểu cáng, xỏ lá mà tới một lúc nào đó, không cần che đặt nữa thì cho nó phọt ra? Cộng Sản là vậy, nó chỉ lợi dụng rồi trở mặt như chớp? Chính phủ Obama nghĩ gì về cái “tầm cao mới” mà băng đảng Sáu Triết ban cho?
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

VN xôn xao tin đồn ‘phát hành tiền mệnh giá 1 triệu đồng’
Wednesday, December 02, 2009

Image
Việt Nam đã ra lệnh phá giá đồng tiền 5% vào đầu tháng 12, 2009. (Hình: HoanDinhNam/Getty Images)
HÀ NỘI - Thị trường tài chính tại Việt Nam đang chao đảo sau khi ngân hàng nhà nước ban hành lệnh phá giá đồng tiền 5% thì nay có thêm tin đồn ngân hàng nhà nước sẽ phát hành đồng tiền mệnh giá 1 triệu đồng.

Hiện nay, đồng tiền Việt Nam có mệnh giá cao nhất là 500 ngàn đồng và nhỏ nhất là tờ 100 đồng, tuy nhiên sự mất giá của đồng bạc Việt Nam nay rất ít ai xài các loại tiền có mệnh giá dưới 2 ngàn đồng.

Nếu tin đồn này có thật, thì đồng tiền Việt Nam sẽ tiếp tục mất giá so với đồng đô la Mỹ, khi hiện nay 1 đô la Mỹ đổi được tới 20 ngàn đồng Việt Nam trên thị trường chợ đen. Như vậy, nếu có tờ tiền 1 triệu đồng trong thời điểm này thì nó có trị giá ngang với 50 đô la Mỹ.

Tin đồn này ảnh hưởng đến mức, ngân hàng nhà nước Việt Nam phải nhờ đến các phương tiện truyền thông tuyên bố “đây là tin bịa đặt.”

Theo Vnexpress, “ngoài tin sẽ có thêm tiền mệnh giá lớn, giới đầu tư tại Việt Nam còn hoang mang khi nghe tin chính phủ bắt các ngân hàng mua trái phiếu bắt buộc với tỷ lệ lên tới 50% vốn điều lệ, cao gấp 5 lần mức yêu cầu đưa ra hồi khủng hoảng tiền tệ đầu năm 2008; đồng thời tăng tiếp lãi suất cơ bản và nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng tiền đồng.”

“Những thông tin đồn thổi này rộ lên vào đầu giờ sáng nay khiến lãi suất liên ngân hàng tăng vọt, và được xem là một phần nguyên nhân khiến thị trường chứng khoán giảm sàn cho dù đầu phiên vẫn không đến nỗi xấu.” Vnexpress nói.

Theo báo này, đích thân ông Nguyễn Ngọc Bảo, vụ trưởng Vụ Chính Sách Tiền Tệ Ngân Hàng Nhà Nước nhận được những tin nhắn hỏi về tin tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, phát hành tiền mệnh giá 1 triệu vào đầu giờ sáng nay. Phó hiệu trưởng Trường Ðại học Kinh Tế Sài Gòn Trần Hoàng Ngân cũng nhận được tin tương tự và ông đã phải liên lạc với Ngân Hàng Nhà Nước để hỏi cho rõ ràng.

Vẫn theo VNexpress, hôm 1 Tháng Mười Hai, tại Sài Gòn còn xuất hiện tin đồn Việt Nam sẽ đổi tiền. Báo này dẫn lời Phó Thống Ðốc Ngân Hàng Nhà Nước Nguyễn Ðồng Tiến tỏ ra ngạc nhiên. Ông khẳng định, không có chuyện Việt Nam đổi tiền. “Ðó hoàn toàn là tin đồn nhảm của những người có dụng ý xấu.”

Tại Việt Nam sau năm 1975 đã có nhiều lần đổi tiền và thường các tin đồn đều khả tín, đặc biệt là lần đổi tiền vào năm 1986 người dân biết trước từ 2-3 ngày và lần đó đồng tiền Việt Nam mất giá khi đổi 10 đồng chỉ lấy lại được 1 đồng. (KN)
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Ðà Lạt, thành phố hoa không còn mơ mộng
Friday, December 04, 2009

Image
Nhiều ngôi nhà mọc lên đã lấn dần diện tích trồng thông ở Ðà Lạt. (Hình: Phương Thảo/Người Việt)

Image
Khẩu hiệu “Thực hiện văn minh - Không nói thách” ở chợ Ðà Lạt. (Hình: Phương Thảo/Người Việt)

Image
Ðà lạt đô thị hóa khiến người sắc tộc phải xuống chợ để làm ăn mày. (Hình: Phương Thảo/Người Việt)
Phương Thảo/Người Việt

Chúng tôi đến Ðà Lạt sau khi cơn bão số 9 tràn vào Việt Nam. Thành phố tuy không có những ngôi nhà bị tốc mái, không có gia đình nào bị cơn bão quái ác gây ra cảnh màn trời chiếu đất. Nhưng, đâu đó trên đường thuộc khu Hòa Bình vẫn thấp thoáng một vài người sắc tộc thiểu số co ro trong chiếc mền dầy đang ngửa tay chờ mong lòng thương của người qua đường. Trên đường Trần Hưng Ðạo, vài ba cây thông bị đổ như cho thấy sự tàn khốc của bão. Buổi tối, thành phố này thật thanh bình với những quán café ven bờ hồ, đối diện với chợ Ðà Lạt thấp thoáng trên đường vài ba đôi tình nhân khoác vai nhau trong không khí se lạnh.

Ðã từ lâu, sương mù đã trở thành thứ gì đó hơi quý hiếm của Ðà Lạt, người dân ở đây không còn được đón nhận nó thường xuyên như trước đây, họ chỉ nhìn thấy nó vào những lúc nửa đêm về sáng nhưng chỉ vào những ngày trời vào Ðông.

Sự huyền ảo của thành phố trong sương đã nhạt dần trong suy nghĩ của ngay cả những người dân bản địa. Nhà cửa của người dân từ nơi khác đến sau năm 1975 đã chiếm dần những đồi thông, họ chặt thông để làm nhà, xây khách sạn, đất canh tác...

Ngay mới đây thôi, một vài khách sạn còn trang bị cả máy lạnh trong phòng vì nhiệt độ vùng này đã tăng lên quá cao. Tuy thế, thành phố này vẫn còn thu hút được những du khách thập phương vì dẫu sao nơi đây vẫn còn lạnh hơn những nơi khác như Sài Gòn và khu vực Nam Trung Bộ vào những tháng nóng. Bên cạnh đó, hoa quả, danh tiếng của Ðà Lạt vẫn còn thu hút được du khách qua những bài hát, câu thơ mà họ đã được nghe.

Sự xuống cấp của Ðà Lạt đã không còn là sự cảnh báo mà nó đang từng ngày bị hủy hoại. Trước đây, khi nói đến Ðà Lạt người ta lại nghĩ ngay đến thác Camly như là một nơi mà ai đã đến Ðà Lạt cũng cần phái ghé thăm. Nhưng giờ đây, địa danh này đã không còn nằm trong danh mục tham quan của tất cả các công ty kinh doanh lữ hành vì độ ô nhiễm kinh khủng của nó.

Ðạo đức kinh doanh của người dân Ðà Lạt cũng là một đề tài làm cho nhiều du khách ngao ngán. Một món hàng thường được nâng giá cao đến gấp 2-3 lần. Phải chăng vì thế mà trong chợ Ðà Lạt có những tấm biển “Thực hiện văn minh thương mại - Không nói thách” treo đầy khắp ngõ đi vào các gian hành kinh doanh trong chợ Ðà Lạt. Trong những mùa du lịch ở Ðà Lạt, giá phòng cao gấp 2-3 có khi cao đến gấp 4 lần ngày thường. Họ đang cố muốn tận thu triệt để từ những con bò sữa béo tốt là du khách nhưng họ có biết đâu cứ với lối kinh doanh như thế sẽ có một ngày chẳng còn con bò nào để cho họ làm thịt.

Du khách sau khi đã tham quan Ðà Lạt khi trở về đều mang cho những bịch hồng giòn, dâu, mứt, rượu... đó là những thứ đặc sản của Ðà Lạt để về làm quà cho bạn bè, người thân ở quê, nếu không tỉnh táo để cảnh giác thì du khách dễ bị lừa bởi những người bán hàng, họ tráo những hộp dâu hư, hoặc phủ trên hộp dâu là những trái ngon, còn phía dưới thì hỏng cả.

Ðến Ðà Lạt, có một thứ bình dân nhưng lại được khá nhiều du khách muốn thưởng thức đó là đi uống sữa đậu nành ở bờ hồ Xuân Hương, khu chợ Hòa Bình. Cái cảm giác lành lạnh của vùng đất cao nguyên, trên tay cầm ly sữa đậu nành xoa qua xoa lại cho bớt lạnh tạo cho nhiều du khách cảm giác thích thú.

Thế nhưng, ngay cả những người bán sữa cũng đang dần dần thay đổi phương thức kinh doanh hoặc họ dùng việc bán sữa để ngụy trang cho một chiêu thức kinh doanh mới: Tiếp thị gái cho những quý ông ham vui tìm của lạ bằng những câu mời chào rất hấp dẫn từ những người bán sữa hay từ những người chạy xe ôm mà loại này có nhan nhản khắp bờ hồ như: “Chỉ cần ngồi uống café giá mười ngàn là có mấy em sinh viên Ðà Lạt xinh đẹp hay đến Ðà Lạt mà không thưởng thức gái Ðà Lạt thì coi như chưa đến.”

Nhiều du khách bị làm phiền bởi những tên ma cô, cò mồi này. Chúng hoạt động khắp khu Hòa Bình nhưng chủ yếu là xung quanh khu vực hồ Xuân Hương, chúng chạy theo chèo kéo, mời mọc làm cho nhiều du khách muốn cuốc bộ thong thả quanh bờ hồ buổi tối nhưng chẳng dám.

Ðối với những ai yêu Ðà Lạt, đã từng sống ở Ðà Lạt khi quay lại thành phố này chỉ còn biết lắc đầu ngao ngán vì sự thơ mộng, nét đáng yêu, quyến rũ chỉ còn lại trong thi ca mà thôi. Ðà Lạt đang từng giờ, từng ngày chết dần chính bởi sự quản lý yếu kém thiếu trình độ của các quan chức địa phương. Họ chỉ muốn tận dụng, khai thác triệt để nhưng chẳng màng đến việc tôn tạo, tu bổ cho nó. Lối suy nghĩ ăn xổi ở thì không chỉ có ở trong đám quan chức mà còn đến cả những người dân. Nếu một ngày, Ðà Lạt không còn là điểm đến lý tưởng của du khách thập phương nữa thì đó cũng là điều không lạ.
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Mục sư Nguyễn Công Chính bị đấu tố như thời Cải Cách Ruộng Đất
Friday, December 04, 2009

Image
Những hình ảnh về tư thất của Mục Sư Nguyễn Công Chính bị phá hoại trong đêm mồng 2 Tháng Mười Hai, năm 2009.

PLEIKU-GIA LAI - Một bản thông cáo báo chí gởi đi từ Văn Phòng Dân Biểu Tiểu Bang California Trần Thái Văn cho hay, Mục Sư Nguyễn Công Chính, nhân vật đấu tranh cho tự do tôn giáo tại Việt Nam bị công an đàn áp hôm 2 Tháng Mười Hai, 2009.

Bản thông cáo này mô tả, Mục Sư Chính bị đấu tố giống như thời kỳ Cải Cách Ruộng Ðất năm 1954 do CSVN thực hiện.

Bản tin cho biết, “Lúc 6:30 sáng, ngày mồng 2 Tháng Mười Hai, năm 2009, Mục Sư Nguyễn Công Chính thình lình bị công an thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, đột nhập vào nhà cưỡng ép, bắt đi làm việc với công an. Gia đình và cá nhân ông đã bị đọa đầy, đàn áp, ném đá vào nhà liên tục. Mục Sư Nguyễn Công Chính khẩn cầu giúp đỡ qua Mục Sư Trần Thanh Vân. Mục Sư Vân đã nhờ chính quyền và dân cử Hoa Kỳ, Cộng Ðồng Việt Nam lên tiếng can thiệp với nhà cầm quyền Hà Nội, Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ cứu giúp gia đình ông.”

Trong cuộc trả lời phỏng vấn của chương trình phát thanh Vận Hội Mới trên Ðài 1190AM, Mục Sư Chính cho biết, “Tôi liên tục trong 10 năm qua, bị bắt bớ vì niềm tin tôn giáo. Thứ hai, về quyền công dân không có, 20 năm qua không có hộ khẩu và liên tục như vậy. Gia đình tôi cũng bị đàn áp, kể cả giáo hội và những mục sư cộng sự với chúng tôi bị (đàn áp) rất nặng nề trong những buổi cầu nguyện và việc thực hiện mục vụ.”

Mục Sư Chính cho biết, trong 4 tháng qua ông đã không được quyền ra ngoài đi lại, giảng đạo hoặc tiếp xúc trực tiếp với giáo dân. Sáng 2 Tháng Mười Hai, nhiều công an ập vào nhà ông đưa giấy triệu tập yêu cầu ông lên Sở Công An để làm việc. Ông đã từ chối không đi vì thời gian quá cấp bách, không đủ thì giờ sắp xếp nên xin khất lại để ngày hôm sau mới trình diện. Tuy nhiên công an phường đã không đồng ý.

“Ba mươi phút sau, có khoảng hơn 20 người vừa mặc quân phục, vừa thường phục, phá cửa nhà xông vào nhà đòi bắt ông lên Sở Công An. Người con trai ông, mới 7 tuổi đứng gần đó đã bị công an tát 2 cái. Vợ ông xót cho con bị đánh, bà đã lên tiếng phản đối, bà cũng bị hăm họa sẽ bị đánh. Nhân viên công lực bắt buộc Mục Sư Chính phải lên Sở Công An làm việc. Cuối cùng ông phải đồng ý theo công an về sở làm việc.”


* Công an khủng bố và đấu tố


Tại Sở Công An, Mục Sư Chính gặp Ðại Úy Công An Tôn Giáo Nguyễn Văn Mạnh và Trung Úy Mai Văn Năng, ông phải làm việc với họ đến quá trưa vẫn không được thả về. Ðến khoảng 1:30 trưa, ông thấy có 4 người thanh niên trông rất dữ tợn, tay xâm hình đủ kiểu thình lình xuất hiện, Mục Sư Chính đã nhận diện ra 2 trong 4 người đã từng đánh ông vào năm 2006.

Mục Sư Chính biết ông sẽ bị đánh. Bốn người này nói với nhau nếu Mục Sư Chính chống cự họ sẽ “dập” ông liền. Họ yêu cầu ông đứng lên để khám xét, bắt cởi truồng để xem ông có giấu máy ghi âm trong người.

Sau đó, Trung Tá Lê Khắc Ðiềm, phó công an thành phố Pleiku và ông Phúc, chủ tịch phường xuất hiện, yêu cầu Mục Sư đi tham dự “buổi họp.” Mục sư phân trần rằng ông không được biết trước buổi họp. Trung Tá Ðiềm cấm Mục Sư Chính không được nói, ông bị khống chế hoàn toàn.

Hai nhân viên an ninh xách nách mục sư kéo đi như một tội phạm bị đưa lên vòng móng ngựa. Ði qua hội trường, Mục Sư Chính nhìn thấy tại đây có thiết bị đầy đủ máy chụp hình, máy quay phim, máy vi âm và khoảng hơn 300 cán bộ, đảng viên gồm công an phường, công an tỉnh, cựu chiến binh và nhiều thành phần khác.

Ông hỏi nhân viên ninh rằng có phải ông bị đem ra đấu tố thì ông bị bóp cổ không nói được nữa, bị dẫn đứng trước tập thể đó. Ông xin được ngồi, nhân viên an ninh cấm mục sư không được ngồi, không được nói, chỉ được làm theo chỉ thị của họ.

Mục Sư Chính phản đối, cho rằng đây là một việc đấu tố, vi hiến, vô đạo đức và không chấp nhận. Tức thì ông bị bịt miệng và một nhân viên an ninh đá vào hông ông. Hai nhân viên an ninh khác xách nách buộc ông phải đứng lên để nghe đấu tố. Ông Phạm Văn Ðằng, tổ trưởng khối số 10 thuộc khu vực Mục Sư Chính đang cư ngụ, bắt đầu đọc bảng cáo trạng tố cáo mục sư mắng cha, đánh mẹ, phá bàn thờ, quan hệ với “tụi” người Việt lưu vong phản động, vô đạo đức. Ông bị vu cáo đủ mọi điều xấu.

Ðứng lâu quá, bị mỏi chân, ông ngồi, lập tức có kẻ đấm vào bụng ông mấy cái. Ông la lên đau đớn và nghĩ sẽ có người thương xót ông, nhưng cả hội trường cười thỏa mãn.

Theo tường thuật, Mục Sư Chính đã phải đứng trong vòng 3 tiếng đồng hồ để nghe 11 đảng viên cáo buộc đủ thứ tội, ông đã bị sỉ nhục trước tập thể đông đảo và Mục Sư Chính không được nói hoặc có quyền biện hộ.

Ông cũng đã ghi nhớ lời phát biểu đặc biệt của người bí thư phường Hoa Lư, ông Nhượng hăm dọa Mục Sư Chính. Viên bí thư này nói trước đám đông, chỉ cần chích một mũi thuốc, thì mục sư không hiện diện đến ngày hôm nay.

Mục Sư Chính tự hỏi, đã có bao nhiên nạn nhân bị chích những mũi thuốc độc đưa đến tử vong như lời tuyên bố của viên bí thư phường Hoa Lư.

Mục Sư Chính bày tỏ rằng, ông khao khát được tự do truyền đạo, thi hành mục vụ, xây dựng đời sống tâm linh cho giáo dân được mạnh mẽ, giúp cho họ có đời sống tốt đẹp hơn. Mục Sư Chính xác nhận ông không hề có vấn đề chống phá, có hành vi phạm pháp, nhưng Mục Sư Chính bị xem như một kẻ thù, bị đấu tố sỉ nhục chẳng theo một hệ thống pháp lý nào, điều khoản nào của luật pháp Việt Nam được áp dụng.

Sau trận trấn áp, Mục Sư Chính cảm thấy ông đã bị bắt, bị đưa ra đấu tố như thời kỳ cải cách ruộng đất đã xảy ra tại Bắc Việt vào khoảng thời gian 1954-1957.

Mục Sư Chính kể tiếp, việc đấu tố kéo dài đến 5 giờ chiều, ông đòi ra về, nhưng một cán bộ cho biết nếu ra về sẽ bị đánh. Ông nhớ lại trong trong lúc đấu tố, cũng có một dân quân hăm đánh. Sau đó khoảng 10 nhân viên an ninh áp tải Mục Sư Chính về nhà.

Vào lúc 9:30 giờ tối cùng ngày, lực lượng an ninh trở lại nhà Mục Sư Chính, đập phá, ném đá vào nhà Mục Sư Chính, họ hăm dọa giết vợ ông. Họ phá cổng nhà trước nhà.

Mục Sư Chính kể lại, vào Tháng Năm, Sáu vừa qua nhà ông cũng đã bị ném đá, đập phá trong 5 đêm liên tiếp, khiến ông phải tốn kém, tu bổ lại nhà cửa trước mùa mưa.

Trong lúc bị quản thúc tại gia, công an nhà nước cho triệu tập khoảng 600 mục sư gốc thiểu số thuộc nhiều tỉnh vùng Tây Nguyên, bắt họ viết lời cam kết không được tham gia liên lạc hợp tác với Mục sư Chính hoặc giáo hội của ông.

Bản tin viết: “Mục sư đưa ra nhận định rằng Cộng Sản Việt Nam đã vi phạm niềm tin tôn giáo, tìm mọi cách triệt hạ một tổ chức tôn giáo cần thiết cho sắc tộc thiểu số vùng Tây Nguyên. Gia đình Mục Sư Chính và Giáo Hội của ông đã và đang bị phá hoại, triệt hạ. Mục Sư Chính khẩn cầu chính quyền và dân cử Hoa Kỳ lên tiếng can thiệp cứu giúp gia đình Mục Sư Chính.”

Mặc khác, Mục Sư Trần Thanh Vân cho biết nguyên nhân Mục Sư Chính bị đem ra đấu tố, hành hạ vì ông là một trong 2 người tại Việt Nam được trao giải Nhân Quyền 2009 sẽ được diễn ra vào tuần tới tại Hoa Thịnh Ðốn. Mục Sư Chính bị cấm xuất ngoại, ông đã ủy quyền cho Mục Sư Trần Thanh Vân, thuộc Hội Ðồng Liên Tôn tại Quận Cam thay mặt ông để nhận lãnh giải Nhân Quyền này.

Ðây không phải là lần đầu tiên Mục Sư Nguyễn Công Chính bị công an Việt Nam đàn áp hay đấu tố hành hạ. Cuối Tháng Bảy vừa qua, ông cũng bị công an địa phương đánh đập và gây thương tích và bắt giữ.

Theo bản thông cáo Báo Chí của Văn Phòng Dân Biểu Trần Thái Văn, thì ngay lập tức, Dân Biểu Trần Thái Văn đã gửi thư can thiệp đến Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Việt nam, cũng như thư gửi Chủ Tịch Nhà Nước Nguyễn Minh Triết, qua Tòa Ðại Sứ Việt Nam tại Hoa Thịnh Ðốn, đòi hỏi Việt Nam phải trả tự do cho Mục Sư Chính.

Gần một tháng sau, vào ngày 21 Tháng Tám, năm 2009, Ðại Sứ HK Michael Michalak tại Việt Nam đã điện thư cho Dân Biểu Văn cho biết công an đã thả Mục Sư Chính, nhưng trong thư ông đại sứ đã không cho biết Mục Sư Chính đã bị quản thúc tại gia.
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

Làng Mai ở Việt Nam tiếp tục bị đuổi
Sunday, December 06, 2009

Image
Một buổi thiền hành tại tu viện Bát Nhã, tỉnh Lâm Ðồng trước khi 400 tăng thân tu theo pháp môn Làng Mai bị trục xuất. (Hình: langmai.org)
Hà Nội (NV) - Tăng sinh Làng Mai bị trục xuất khỏi Bát Nhã sẽ bị đuổi ra khỏi chùa Phước Huệ, nơi tạm trú, và sẽ không còn cơ hội tu tập sau cuối năm nay, theo một văn thư của Ban Tôn Giáo Chính Phủ Việt Nam.

Theo phóng ảnh của văn thư số 1185/TGCP-PG do ông Nguyễn Thanh Xuân, Phó trưởng ban thường trực của Ban Tôn Giáo Chính Phủ ký ngày 26 Tháng Mười Một, 2009 gửi cho Hội Ðồng Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (thường bị gọi là giáo hội quốc doanh) thì cơ quan vừa nói từ chối cho hai chùa ở Ðồng Nai và Ðà Lạt bảo lãnh cho 192 tăng sinh Làng Mai đang tạm trú ở chùa Phước Huệ.

Hồi cuối Tháng Chín, khoảng 400 tăng sinh tu tập theo pháp môn Làng Mai tại tu viện Bát Nhã, Lâm Ðồng, đã bị trục xuất bằng bạo lực sau nhiều ngày áp lực. Họ đã bị cắt hết điện, nước, bao vây cô lập, sách nhiễu.

Tuy bề ngoài ra vẻ công nhận tăng sinh Làng Mai có “nguyện vọng chính đáng” tu học ổn định, nhưng công văn lại nêu việc “tụ tập đông người” và “không tuân thủ đúng qui định pháp luật” rồi “gây mất đoàn kết” và “tác động xấu” để đòi hỏi tổ chức tôn giáo địa phương “tiếp tục vận động” tăng sinh Làng Mai trở về nhà. Văn thư nói trên đòi hỏi chùa Phước Huệ và nhà cầm quyền tỉnh Lâm Ðồng “tập trung giải quyết xong vào Tháng Mười Hai, 2009.”

Ban Tôn Giáo Chính Phủ là cơ quan cấp Tổng Cục trực thuộc Bộ Nội Vụ Việt Nam đứng ra giải quyết một số vấn đề liên quan đến tôn giáo theo nhu cầu của nhà cầm quyền.

Văn thư này từ trung ương gửi tới có thể coi như một cái lệnh để chấm dứt những điều đình, vận động để các tăng ni bị đuổi ra khỏi tu viện Bát Nhã cơ hội tiếp tục cùng tu học với nhau.

Khi những áp lực đuổi tăng ni pháp môn Làng Mai ra khỏi tu viện Bát Nhã lên cao hồi Tháng Bảy, không những họ bị làm nhục, khủng bố, ngay cả những phái đoàn từ những nơi khác đến đây, kể cả phái đoàn của tỉnh hội Phật Giáo Lâm Ðồng thuộc nhà nước bảo trợ cũng bị ném phân và đe dọa hành hung.

Ngày 9 Tháng Bảy, 2009, báo Giác Ngộ (báo PG được nhà nước bảo trợ) phổ biến cuộc phỏng vấn HT. Thích Thiện Nhơn, phó chủ tịch kiêm tổng thư ký Hội Ðồng Trị Sự Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. Trong cuộc phỏng vấn, HT Thiện Nhơn nói, “Vấn đề tại tu viện Bát Nhã (TX. Bảo Lộc) phải được giải quyết thuận tình hợp lý.”

Dịp này, HT Thiện Nhơn nói, “Về vấn đề cư trú của Tăng Ni đang tu tập tại tu viện Bát Nhã, đối với những Tăng Ni có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Lâm Ðồng thì có thể tiếp tục cư trú tu tập tại tu viện Bát Nhã hoặc chuyển đến các chùa Phước Huệ, Linh Thắng, Linh Phong nếu được các vị trụ trì trú xứ ấy bảo lãnh; đối với những Tăng Ni tỉnh, thành khác đến thì BTS tỉnh, thành hội PG nơi Tăng Ni thường trú hoặc thầy tổ của các vị ấy kêu gọi về lại địa phương để tiếp tục tu tập khóa tu vì GHPGVN tôn trọng pháp môn tu của Tăng Ni, Phật tử. Liên quan đến vấn đề cư trú, giáo hội cũng đề nghị TT. Thích Ðức Nghi chủ động giải quyết.”

Nay văn thư nói trên của Ban Tôn Giáo Chính Phủ cho thấy chế độ Hà Nội nhất quyết dẹp hẳn pháp môn Làng Mai mà Thiền Sư Nhất Hạnh muốn xây dựng ở Việt Nam.

Các sự áp lực trục xuất mạnh diễn ra từ đầu Tháng Bảy, 2009, từ chính người cầm đầu tu viện Bát Nhã, Thượng Tọa Thích Ðức Nghi. Ông là người đã được mời sang Pháp tu tập theo pháp môn Làng Mai, và trở về với những ngân khoản lớn cả triệu đô la xây dựng tu viện Bát Nhã thành một cơ sở qui mô bề thế.

Từ mối quan hệ này, hàng trăm chủng sinh được tu tập theo pháp môn Làng Mai ở Bát Nhã.

Nhưng mối quan hệ giữa Thiền Sư Nhất Hạnh và nhà cầm quyền Việt Nam xấu đi rất nhanh từ khi thiền sư công khai ủng hộ Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, một kẻ thù của nhà cầm quyền Bắc Kinh.

Tháng Tư 2008, Thiền Sư Nhất Hạnh đã trả lời phỏng vấn của truyền hình Ý và đề nghị, “Các nước Tây phương nên can thiệp để đức Ðạt Lai Lạt Ma cũng được về viếng thăm, thuyết pháp, giảng dạy và tổ chức những khóa tu như Thiền Sư Thích Nhất Hạnh đã được về Việt Nam giảng dạy và hoằng pháp.”

Dịp này, Thiền Sư Nhất Hạnh còn nói, “Sẵn sàng theo Ðức Ðạt Lại Lạt Ma cùng đi Tây Tạng để ủng hộ ngài và cũng sẽ cùng ngài dạy Phật pháp cho Phật tử Tây Tạng nếu được phép.”

Một số nhà phân tích thời sự từng tin rằng có yếu tố Trung Quốc trong áp lực giải tán các tăng ni tu tập pháp môn Làng Mai ở tu viện Bát Nhã.

Năm 2005, khi Thiền Sư Nhất Hạnh về Việt Nam lần đầu, ông đã thuyết pháp tại nhiều nơi, kể cả thuyết pháp cho viên chức nhà nước. Dịp này, thiền sư cũng đã để lại một số giáo thụ theo yêu cầu của Thượng Tọa Ðức Nghi và cũng chính vị thượng tọa này góp phần chiêu tập tăng sinh tu theo pháp môn Làng Mai ở Bát Nhã. Sau thì ông cũng chính là người ra lệnh trục xuất tất cả mà ai cũng hiểu, đằng sau quyết định của ông có cái bóng rất to của nhà nước.

Ngay từ năm ngoái, sau những lời tuyên bố của Thiền Sư Nhất Hạnh ủng hộ Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, TT. Ðức Nghi đã từng tuyên bố ngừng bảo lãnh cho gần 400 tăng sinh Làng Mai rồi.

Năm 2007, trong chuyến trở về Việt Nam lần thứ hai, Thiền Sư Nhất Hạnh đã mở trai đàn cầu siêu cho tất cả những ai “từng là nạn nhân của chiến cuộc, không phân biệt Bắc Nam, chủng tộc, tôn giáo, chính kiến, già trẻ hay trai gái.” Chuyến đi cầu siêu được bình luận là muốn thử sự dung thứ tôn giáo của nhà cầm quyền Cộng Sản tại Việt Nam. Không thấy nhà cầm quyền trung ương nói gì nhưng năm ngoái, Ban Tôn Giáo Chính Phủ có công văn đả kích tăng thân Làng Mai là “đề cập sai lệch những vấn đề chính trị của đất nước.”

Sau khi thấy những điều đình, đề nghị cho một giải quyết êm đẹp vụ trục xuất tăng thân Bát Nhã không xong, Thiền Sư Nhất Hạnh, ngày 30 Tahng Chín, 2009, dưới bút danh Nguyễn Lang đã gửi cho Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết một bức thư ngắn.

Bức thư nói nhà chùa từng cưu mang cán bộ cộng sản trong cuộc kháng chiến chống Pháp, mà “Bây giờ đây cảnh sát và công an của chủ tịch đã đánh bật 400 thầy và sư cô ra khỏi chùa (tu viện Bát Nhã ở Bảo Lộc) và các vị ấy đã tìm tới tỵ nạn nơi một chùa khác (chùa Phước Huệ ở Bảo Lộc). Hiện thời cảnh sát và công an của chủ tịch lại đang vây quanh chùa Phước Huệ buộc các vị xuất gia ấy phải ra khỏi chùa trong đêm nay. Các vị cảnh sát và công an này chắc hẳn không phải là con cháu của cách mạng. Tôi xin chủ tịch kịp thời ngăn chận hành động trái chống luân thường đạo lý này.”

Văn thư của Ban Tôn Giáo Chính Phủ trả lời gián tiếp cho thiền sư hơi chậm nhưng cả quyết.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Chè Sài Gòn, quen mà lạ

Image
Một quán chè “độc quyền thương hiệu” ở Sài Gòn. (Hình: Hàm Anh/Người Việt)

Image
Những hàng chè thoạt nhìn đã rất đỗi thân quen. (Hình: Hàm Anh/Người Việt)

Nguyễn Thị Hàm Anh/Người Việt
Chè đây là chè để... ăn, không phải trà mạn, trà ướp hương hay trà tươi để uống như cách gọi của miền Bắc.

Chè có chè khô như chè nếp cẩm, bí đỏ,... chè loãng như chè hạt sen, đậu xanh phổ tai... múc ra chén ăn hoặc cho vào ly đập đá tùy ý.

Miền Bắc thời tiết thay đổi rõ rệt nên chia ra mùa lạnh ăn chè nóng có nhiều gừng: bánh trôi Tàu, chè bà cốt,... mùa nóng thịnh chè đậu đen, đậu xanh,... cho “mát”. Miền Nam có lúc mát mẻ nhưng không bao giờ rét nên chè đá hầu như ăn quanh năm.

Chè là món thông dụng sáng trưa chiều tối đều ăn được nhưng không giống như xôi, bún hay bánh mì có thể no bụng, chè là thức tráng miệng sau món mặn, như bữa lỡ, như món ăn chơi đứng một mình...

Nhiều quán chè được biết đến rộng rãi ở thành phố. Cách đây nhiều năm là quán chè Huế nằm trên đường Trần Bình Trọng, khách ngồi đầy trên vỉa hè - nay chủ đã xuất cảnh. Cũng giống như hàng chè ngoài chợ thường kèm xôi, chè Bùi Thị Xuân bán xôi gà quay; chè Mỹ nằm gần trường học có gỏi đu đủ và cá viên chiên, mới đầu nhiều người tưởng nhập cảng từ Hoa Kỳ, hào hứng tấp vào ăn thử thì té cũng bấy nhiêu thứ chè thông thường, Mỹ chỉ là tên chủ nhà thôi; đồng nghĩa chè Cung Ðình xuất hiện nhiều nơi vẫn đậu xanh, đậu đen... quen thuộc, riêng chè bắp được quảng cáo nấu bằng bắp chuyên chở từ Cồn Hến ngoài Huế vào, không biết Cồn Hến trồng được bao nhiêu bắp cung cấp cho nhiều quán chè Cung Ðình nhưng khi ăn hoàn toàn không khác gì chè bắp ngoài chợ; gánh chè nằm trên lề đường Trần Quý Cáp, sạp chè vỉa hè Cao Bá Nhạ kèm xôi vò, Nguyễn Cư Trinh kèm xôi hoa cau, dưới ánh đèn đường vàng vọt khách vẫn lui tới nườm nượp, người ăn tại chỗ, người xếp hàng xách mang về. Chiều tối không còn chợ búa nữa, hàng chè lan ra lề đường. Bấy nhiêu thứ chè mà khách ăn hoài không chán.

Chè Tàu thường được bán ở xe, một xe chè Tàu khá ngon ở đường Trần Quý Cáp nhưng nổi tiếng nhất là hai quán chè nằm trên đường Châu Văn Liêm và Trần Hưng Ðạo B đối diện cư xá Ðại Quang Minh, nhiều món chè thoang thoảng vị thuốc Bắc như chè đậu đỏ nấu với vỏ quýt chẳng hạn, người Việt không quen khẩu vị không thích lắm. Theo quan niệm Ðông y, đậu xanh mát ăn vào mùa Hè thì tốt, đậu đỏ và đậu đen ấm thích hợp cho người già. Tuy nhiên nếu đang uống thuốc bắc mà ăn chè đậu xanh thì sẽ bị “rã” thuốc ngay.

Nguyễn Tri Phương có mấy hàng chè Thái còn to hơn cả nhà hàng vì chiếm diện tích hai gian nhà liền nhau, bày chiếc thùng tô nô đựng chè đóng bịch sẵn nằm hoành tráng ngoài lề đường để tiện bán cho người ghé mua. Chè Thái có vẻ “mốt” nhưng người lớn tuổi không thích lắm vì quá béo, quá nhiều nước dừa, sầu riêng pha trong đó. Có vẻ chè Thái thịnh phía Chợ Lớn nhiều hơn ngoài Sài Gòn vì đi sâu vào Hải Thượng Lãn Ông, lại một hàng chè Thái tuy bình dân nằm trên vỉa hè ngoài cổng một ngôi trường nhưng buổi tối đông nghẹt, xe đậu ken chật, người ngồi chen chúc sát nhau.

Những hàng chè ngon nhiều người biết đến ăn đông đúc do chè nào có mùi đặc trưng của nguyên liệu ấy, vị béo ngọt và thơm của nước đường và nước cốt dừa thực sự chứ không phải ngọt đường hóa học, vị béo hóa học hay hương liệu hóa học nốt.

Nổi tiếng từ lâu là chè Hiển Khánh nằm trên đường Nguyễn Ðình Chiểu chỉ bán thạch và chè đậu xanh đánh có thêm vài loại bánh cổ truyền như su sê, bánh gai, bánh khảo... Sau này cũng có một vài quán tương tự như quán thạch chè trên đường Nguyễn Trãi bán thêm thạch dừa. Gánh rong sương sa, sương sâm, sương sáo, mủ trôm, mủ gòn... thường bán thêm chè đậu xanh đánh. Ly đậu xanh tán nhiễn đặc quánh nằm ngay ngắn thành dãy trong chiếc tủ kính nhỏ, rất hay là úp ngược mà đậu không hề bị chảy xuống. Gánh tàu hũ có một âu bột lọc con tằm màu trắng và xanh lá dứa ăn riêng hay sớt chung vào tàu hũ đều ngon cả.

Trước kia buổi tối hay có những gánh chè đậu đen bán rao khắp xóm. Bây giờ tối đến nhà nào nhà nấy đóng kín cửa xem TV, xem phim video, không ai mở cửa ngồi trước nhà hóng mát, trò chuyện với hàng xóm ngóng hàng chè đi qua để trời mát ăn một chén chè nóng, trời nóng ăn ly chè lạnh. Hàng bánh mì, cà rem... bán rong đều phải rao hàng qua băng cát sét để tiếng rao xuyên qua lớp cửa đóng lọt vào nhà người ta. Chưa đuổi kịp đến việc rao hàng qua máy thì gánh chè kẽo kẹt đã mất dấu, trong nhà sẵn các món ăn thức uống đóng hộp, đóng chai mới mẻ, chẳng còn ai muốn ăn món chè xem chừng quá cũ kỹ, đơn điệu đó nữa.

Vả gánh chè không còn giữ địa vị độc tôn vì siêu thị bán thạch dừa, bột thạch và mè đen khô chế nước sôi thành chè ăn ngay, sương sa hột lựu đóng bịch, chè khoai tím, đậu xanh, táo xọn... bán ly mua về chất đầy trong tủ lạnh muốn ăn lúc nào cũng có sẵn. Tuy không ngon bằng chè mới nấu nhưng tiện lợi, hỏi sao bà gánh chè không buồn đời bỏ đi đâu mất, chỉ khiến những người hoài cổ đôi khi thấy nhớ vắng...

Từ xưa đến giờ, trước cổng trường học bao giờ cũng đậu xe chè với món chè nghìn năm không thay đổi là đậu xanh, đậu đỏ. Sau này thêm cocktail toàn trái cây vẫn được ghép chữ “chè” đằng trước thành chè cocktail gồm dứa và mít xé sợi, chuối khô xắt hạt lựu, mứt đu đủ sợi dài nhuộm xanh đỏ, thêm xi rô và đá bào thành một thứ chè vừa ăn, vừa uống, nhìn đẹp mắt và ăn ngon miệng. Ai trong đời làm học trò không từng nhiều lần đứng ăn ly chè quen thuộc ở những xe chè quen thuộc này.

Hàng nước trang trí lịch sự nhưng hàng chè thì không. Các quán chè thường nằm gần trường trung học vì học sinh tiểu học không đủ tiền vào đó, sinh viên đại học ngồi quán uống nước chứ không ăn chè nữa. Vì thế nếu không là quán cạnh trường thì chè đều đổ bộ ra ngoài vỉa hè.

Bây giờ phong trào ăn kiêng lên cao nên nhiều hàng chè cho đường vừa phải chứ không ngọt lắm. Dù sao bản chất của chè là rất ngọt, mau ngán nên ăn hương ăn hoa, chẳng ai làm cả tô bao giờ. Chè luôn luôn được múc vào những chiếc chén be bé xinh xinh ba hay bốn ngàn đồng. Giá thấp như vậy nên khó ai đầu tư những tiệm chè đẹp mắt trong khi quán trà sữa trân châu, quán donut với lối trang trí sặc sỡ Tây phương, mọc ra nhan nhản khắp nơi thu hút đông đảo giới học sinh, sinh viên. Ðám teen mặc quần áo kiểu Hàn Quốc, phong thái thời trang vào những quán đó có vẻ... sành điệu hơn, thích hợp hơn quán chè cũ rích, muôn đời không thay đổi.

Ngoài những món chè lưu truyền từ xưa, chè cũng được thay đổi, chế biến mới lạ như chè nha đam, chè sakê, kiwi... Nếu không phải giỗ chạp tết nhất thì người ta thường ăn chè ngoài đường hơn mất công nấu nướng ở nhà.

Một bà cụ theo đúng nếp xưa, cứ mồng một và rằm mua nải chuối để lên bàn thờ cúng. Nải chuối hơn mười quả ăn đâu có hết, bỏ thì phí nên cúng xong, bà lụi cụi nấu chè chuối. Cả một nồi chè to thơm ngon nhưng do nước dừa không để lâu được, bà lại tìm người mang biếu. Thành thử đều đặn mỗi tháng hàng xóm được ăn chè chuối miễn phí hai lần. Sắp đến ngày thi cử, các hàng chè rất đông khách vì lũ sĩ tử đua nhau ăn chè đậu. Ðậu gì cũng được: đậu xanh, đậu trắng, đậu ván... Nhờ chén chè nhỏ bé chứa những hạt đậu tầm thường đó mà niềm tin được đẩy lên cao không tưởng tượng nổi. Lại có năm thiên hạ truyền tai nhau bài sấm nếu ăn món chè nấu bằng năm loại đậu thì sẽ tránh được ngày tận thế. Thế là thiên hạ ào ào mua đậu xanh, đậu đen, đậu đỏ, đậu trắng, đậu phọng... nấu nồi chè ngũ vị. Ăn một chén chè lủng củng hạt nhừ, hạt sượng, hạt bở, hạt trai... mà giữ được mạng sống trên cõi đời này thì cũng đáng!

Thế mới biết chè xem ra cũng... nhiều chuyện!
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Biểu tình chống TQ: Soi sáng những chủ trương bán nước tinh vi
Tuesday, December 08, 2009

Image
Biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội, 9 tháng 12, 2009.

Phùng Thức/Người Việt

Hai cô gái trẻ trong một dịp tình cờ mà chúng tôi gặp ở nhà một người đàn ông cũng trẻ tuổi đời nhưng đã là một nhạc sĩ nổi tiếng. Một cô nói giọng Quảng thản nhiên hỏi tôi, “Bao giờ nước mình thuộc về Trung Quốc hở thầy? Tôi chưa đủ thời gian tìm câu trả lời thì chính người bạn của cô nói, ‘Ðã thuộc về rồi chứ bao giờ gì nữa.’”

Rồi cô gái, vốn kiếm sống tạm qua ngày bằng nghề viết kịch bản phim truyền hình, hướng về tôi nói tiếp, “Em chỉ hy vọng mình được tự trị, chớ biến thành một tỉnh như dân Tân Cương khổ chết luôn.” Cô gái nói giọng Quảng góp lời, “Tụi Trung Quốc muốn lấy đâu thì lấy, chỉ mong chừa Sài Gòn ra, mất Sài Gòn uổng lắm thầy ơi!”

Anh nhạc sĩ quay qua tôi, “Không chỉ hai đứa này nghĩ vậy đâu anh, trong cơ quan của vợ em, hễ nói về chuyện Trung Quốc ai cũng nói chuyện kiểu đó. Còn vì sao họ cứ cho rằng nước mình đương nhiên là thuộc về Trung Quốc thì không hiểu nổi.”

Mẩu chuyện có thật về số phận dân tộc trước hiểm họa Trung Quốc kể ở trên tuy chỉ là những ý kiến nhỏ của một vài cá nhân, nhưng đã phần nào đó cho thấy được tâm trạng bi quan chân thật của những người trẻ tuổi. Nguyên nhân đưa thế hệ trẻ Việt Nam đến tình trạng này cũng không khó tìm. Người ta chỉ cần nhìn lại những người trẻ tuổi bị vùi dập vì yêu nước và có trách nhiệm với vận mệnh quốc gia khi tham gia sự kiện biểu tình chống Trung Quốc (9 Tháng Mười Hai 2007) ở Sài Gòn-Hà Nội là biết. Một khi chính quyền này đã đối xử tệ hại với họ thì điều xấu xa đó chỉ có nghĩa dập tắt lửa nhiệt huyết của thanh niên ôn hòa chống Trung Quốc, đối xử với người yêu nước như tội phạm đã là câu trả lời cho thấy bản chất của thể chế hiện hành.

Ngày 5 Tháng Mười Hai 2009 tờ Tuổi Trẻ, báo có số phát hành lớn ở Việt Nam, có loạt bài: “Thác Bản Giốc-Báu Vật Muôn Ðời.” Tuy loạt bài này mới đăng kỳ một, nhưng khi đọc người ta nhận thức là bài báo này chỉ cung cấp những thông tin rón rén về một nửa sự thật của việc cấm mốc biên giới Việt-Trung.

Ngay khi tờ báo này phát hành, một người bạn trẻ tuổi, dễ cả tin nói qua điện thoại di động, “Anh đọc chưa. Xúc động lắm anh, tôi đoán rằng hiện tại trong đảng có hai phe, phe viết bài báo này chắc là chống Trung Quốc đó anh.”

Chúng tôi vội vã mua báo đọc, và một điều rõ ràng là bài báo này ngoài những tính từ hoa mỹ diễn đạt tình cảm yêu nước mẹ, yêu từng tấc đất biên cương hải đảo, toàn bộ phần nội dung còn lại chỉ cho thấy ý đồ mớm cho mỗi công dân Việt Nam phải chấp nhận một hiệp đinh biên giới được đảng và thể chế này an bài. Việc úp úp-mở mở đảo lộn trắng đen nhằm lừa dân chấp nhận Ải Nam Quan, nửa thác Bản Giốc và hàng ngàn cây số miền biên cương được gầy dựng bằng xương máu tổ tiên thuộc về chủ mới là một chủ trương bán nước tinh vi.

Từ bất hạnh nào của dân tộc mà nay lại sinh ra quân bán nước và bọn bồi bút trí trá đến mức tinh vi quái lạ! Tin tức từ các hãng tin nước ngoài vừa cho biết, Trung Quốc sẽ cho tiền để xây cung hữu nghị Việt-Trung ở Hà Nội và Sài Gòn. Ngay ngày hôm sau, ông chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết nói với cử tri và đồng đội kháng chiến cũ của ông là, “Cho tới giờ một tấc đất của quê hương cũng không nhân nhượng cho ai.” Không thấy báo chí tường thuật là lúc nói câu đó cử tọa có vỗ tay hay không, nhưng một điều chắc là những kẻ cuồng tín của đảng hẳn sẽ yên tâm hơn, vì ông chủ tịch và cả Bộ Chính Trị của họ vẫn giữ đúng nguyên tắc, “vận mệnh của đảng luôn ở trên dân tộc.”

Hai năm sau từ ngày nổ ra biểu tình chống Trung Quốc của thanh niên-sinh viên. Báo chí và cả người phát ngôn Bộ Ngoại Giao chế độ bắt đầu có giọng phản ứng theo kiểu lừa mị trước thói đại ca đỏ và của Trung Quốc. Không ai tin là giọng tuyên truyền của bộ máy nhà nước đổi chiều. Họ không thay đổi gì cả mà chỉ phát ngôn sao cho lừa được người nghe và hơn hết là nói sao cho thường dân đang bị bưng bít thông tin càng lúc càng mù mờ hơn. Trong thế kỷ 21, “nghệ thuật” tuyên truyền của chế độ Cộng Sản Việt Nam biến thái đã tới mức yêu quái.

Tuy cần lừa dân về chuyện hiểm họa Trung Quốc, nhưng không vì thế mà họ cho phép những Việt kiều hùa ở hội nghị Việt kiều vừa qua tham gia vào nội dung này. Không hề có một dòng tường thuật nào về nội dung chủ quyền biên cương hải đảo trong hội nghị được khoa trương là “Hội nghị Diên Hồng nhỏ.” Những cá nhân trí thức Việt kiều ngờ nghệch đến mức đáng thương như Nguyễn Hữu Liêm, Trần Thanh Vân... đã có những lý lẽ ngang hàng với bọn tội phạm bán nước khi dùng nước bọt của mình tô vẽ cho thể chế.

Những người nhân danh trí thức hải ngoại dự phần vào việc “đánh bùn sang ao” vốn không mới mẻ gì. Ai cũng biết không phải họ được đi xe có còi hụ, được hất mặt trên màn ảnh tivi mà thoát khỏi số phận của một thứ giẻ rách chùi tay theo thời vụ của đảng. Nếu họ tình nguyện là một thứ giẻ rách thoang thoảng chút dầu thơm nước ngoài như trường hợp của một gã ở Canada đem tiền và đem thơ về nước toan tính lau chùi bộ mặt bẩn thỉu của mình, những gã như trường hợp này đảng sẽ bố thí được gì. Một tay chiến sĩ văn nghệ của chế độ nói, “Tội lắm anh, đãi đằng chạy chọt khắp nơi, thôi thì hắn đã hèn đến thế thì tiếc gì cái giấy phép in sách, của đáng tội ấy mà.”

Từ nhiều nguồn dư luận ở trong nước khác nhau được tung lên mạng, những người quan tâm biết rằng, tới đây sẽ có những phiên tòa xử những người yêu nước tự do. Những Lê Công Ðịnh, Trần Anh Kim, Nguyễn Tiến Trung... đang sẵn sàng chờ ra tòa để nói lên tiếng nói yêu nước chân chính của một thế hệ mới. Dư luận cũng hé lộ rằng nhà cầm quyền Trung Quốc đang tăng áp lực với tay sai trong nước để có một bản án thật nặng. Người ta tin rằng trong mọi vấn đề, mọi sự kiện ở Việt Nam lúc này đều có yếu tố Trung Quốc. Bàn tay hắc ám trong bóng tối của Trung Quốc thật sự đã phủ trùm lên đời sống và khát vọng tự do-dân chủ của mỗi người Việt Nam.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Trao Giải Nhân Quyền Việt Nam tại Washington D.C.
Thursday, December 10, 2009

Image
Học giả Ðỗ Thông Minh và cháu Ðỗ Thủy Tiên, con gái bà Trần Khải Thanh Thủy. (Hình: Ban Tổ Chức cung cấp)

Image
Hòa Thượng Thích Tâm Thọ nhận bằng vinh danh Mục Sư Nguyễn Công Chính do GS Nguyễn Thanh Trang,
Mạng Lưới Nhân Quyền, trao tặng. (Hình: Ban Tổ Chức cung cấp)

'Dự luật nhân quyền cho VN có thể được Thượng Viện thông qua'
Hà Giang/Người Việt

WASHINGTON DC - Ngày 10 Tháng Mười Hai, tại Washington D.C., Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam tổ chức lễ trao giải thưởng Nhân Quyền cho hai nhân vật, hiện đang sống trong nước, là Mục Sư Nguyễn Công Chính và bà Trần Khải Thanh Thủy.

Lễ trao giải thưởng nhân quyền năm nay trùng với ngày Quốc Tế Nhân Quyền, 10 Tháng Mười Hai.

Tiếp xúc với phóng viên nhật báo Người Việt, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích, trưởng ban tổ chức lễ trao giải thưởng, cho biết là vì tổ chức ngay tại Thủ Ðô, lễ trao giải thưởng năm nay được “rất nhiều dân biểu và Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ quan tâm đến tình hình nhân quyền Việt Nam đến tham dự.”

Giáo Sư Nguyễn Thanh Trang, cựu Trưởng Ban Phối Hợp của Mạng Lưới Nhân Quyền, cho chúng tôi biết, năm nay, ngoài việc trao giải thưởng, Mạng Lưới Nhân Quyền phối hợp với một phái đoàn của người Việt Nam khác, đến thăm Dân Biểu Chris Smith, và các Thượng Nghị Sĩ John Kerry, Johnny Isakson, Kirsten Gillibrand và Barbara Boxer, để vận động cho Dự Luật Nhân Quyền Việt Nam.

Cũng theo Giáo Sư Nguyễn Thanh Trang thì cử tọa hơn 100 người bày tỏ xúc cảm trước bài diễn văn của cô Ðỗ Thủy Tiên, ái nữ nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, hiện là du học sinh ở Pháp, sang Hoa Kỳ thay mặt mẹ nhận giải thưởng.

Cô Ðỗ Thủy Tiên được Dân Biểu Lorretta Sanchez giúp xin Visa vào Mỹ để nhận lãnh giải thưởng thay mẹ.

Học giả Ðỗ Thông Minh, từ Nhật Bản sang, mang theo hai cuốn sách mới xuất bản của nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, và một cuốn Video chiếu cảnh gia đình của bà bị trù dập, như bị ném phân, và cảnh công an đến nhà hành hung vợ chồng bà.

Giải thưởng trao cho Mục Sư Nguyễn Công Chính được Hòa Thượng Thích Tâm Thọ, đến từ Pennsylvania, nhận lãnh thay.

Buổi lễ trao giải thưởng diễn ra trang trọng, với sự có mặt của các Dân Biểu Ed Royce, Loretta Sanchez, và Cao Quang Ánh. Các vị khác, như Tiến Sĩ Sophie Richarson (đại diện Human Rights Watch), ông Scott Flipsee (đại diện Ủy Hội Hoa Kỳ Về Tự do Tôn Giáo Thế Giới), cũng đã đến dự.

Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích cho biết, trong phần thảo luận, Thượng Nghị Sĩ Sam Browback cho biết là các dân biểu và nhiều đồng viện của ông “thất vọng về tình trạng đàn áp nhân quyền hiện nay tại Việt Nam.” Thượng Nghị Sĩ này cũng đưa ra nhiều đề nghị để cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ có thể vận động hữu hiệu hơn, để cải thiện tình trạng nhân quyền tại Việt Nam.

Vẫn theo Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích, Thượng Nghị Sĩ Sam Browback nhận định, “có thể năm nay dự luật nhân quyền cho Việt Nam sẽ được Thượng Viện thông qua,” vì không ai có thể chối cãi được, rằng “tình hình nhân quyền tại Việt Nam ngày càng trở nên tồi tệ.”
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Bộ trưởng quốc phòng Việt Nam thăm Mỹ và Pháp
Thursday, December 10, 2009

Image
Hình bên: Tướng Phùng Quang Thanh (bên phải) trong chuyến thăm Ấn Ðộ, Tháng Ba, năm 2004.
Bộ trưởng quốc phòng Việt Nam sẽ đến Mỹ và Pháp từ ngày 10 đến 20 Tháng Mười Hai, 2009. (Hình: Prakash Singh/AFP/Getty Images)
HÀ NỘI (NV) - Bộ trưởng Quốc Phòng Việt Nam, Tướng Phùng Quang Thanh, đã lên đường thăm viếng không chỉ Mỹ mà còn đến cả Pháp, theo bản tin của Thông Tấn Xã Việt Nam (TTXVN).

Nguồn tin này chỉ nói chuyến đi của ông Phùng Quang Thanh kéo dài từ ngày 10 đến 20 Tháng Mười Hai, 2009 mà không nói rõ sẽ đến đâu trước và sẽ thảo luận những gì.

Tin của TTXVN, viết “Ðoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam, dẫn đầu là bộ trưởng Quốc Phòng, Ðại Tướng Phùng Quang Thanh, bắt đầu chuyến thăm chính thức Mỹ và Pháp từ ngày 10 tới 20 Tháng Mười Hai.” Bản tin cũng nói chuyến thăm này là “đáp lời mời của Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Robert Gates và Bộ Trưởng Quốc Phòng Pháp Herve Morin.”

Tuy nhiên, theo nguồn tin của thông tấn Ðức DPA, ông Phùng Quang Thanh khi đến Mỹ sẽ đề nghị nước này giải tỏa một số giới hạn hiện đang cấm Việt Nam mua một số trang bị quân sự kỹ thuật cao. Ðồng thời, ông còn xin mở rộng huấn luyện sĩ quan cho quân đội Việt Nam tại các quân trường Mỹ.

Việt Nam được Mỹ bãi bỏ cấm vận năm 1994 và hai nước ký bản hiệp định thương mại song phương đầu tiên năm 2000 nhưng các vụ mua bán trang bị quân sự, kỹ thuật cao và quan trọng đều phải do Quốc Hội Hoa Kỳ phê chuẩn.

Từ khoảng 300 triệu đô la mậu dịch khi ký bản Hiệp định Thương mại Song Phương, Việt Nam xuất cảng sang Mỹ năm 2008 số lượng hàng hóa trị giá 10.5 tỉ đô la trong khi nhập cảng ngược lại chưa tới 3 tỉ đô la. Năm nay, xuất cảng sang Mỹ từ Việt Nam chỉ khoảng 9 tỉ đô la. Trong khi đó, tất cả các trang bị quốc phòng quan trọng của Việt Nam đều điều đình mua từ Nga, một nước vốn có quan hệ đồng chí anh em từ thời Nga còn là một nước cộng sản. Hiện nay, hai nước vẫn còn giữ quan hệ chặt chẽ mọi mặt. Phần lớn những người đứng đầu đảng CSVN từng được huấn luyện ở Nga trước đây.

Cuối năm 2006, chính phủ Mỹ dưới thời Tổng Thống Bush đã lặng lẽ bãi bỏ cấm vận quân sự đối với Việt Nam nên tin này đã không được loan tải rộng rãi trên báo chí vì tính cách nhậy cảm của vấn đề. Việt Nam là một nước cộng sản lại nằm bên cạnh một nước “đồng chí anh em” khổng lồ Trung Quốc luôn luôn canh chừng từng động thái nhỏ ở Việt Nam.

Trong quyết định bãi bỏ cấm vận quân sự này, TT Bush viết trong quyết định là “việc cung cấp những trang bị và dịch vụ quốc phòng cho Việt Nam sẽ củng cố nền an ninh của Hoa Kỳ và thúc đẩy hòa bình thế giới.”

Nhưng quyết định này lại cũng loại trừ việc bán võ khí.

Tuy nhiên, biên giới của vấn đề, tức mức độ tinh vi và to lớn của các trang bị quốc phòng mà Hoa Kỳ có thể bán cho Việt Nam đến đâu, tùy mối quan hệ giữa hai nước và vị trí của Việt Nam trong mối tương quan quân sự chính trị tay ba giữa Việt Nam, Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Tuy các lãnh tụ Việt Nam và Trung Quốc khi gặp nhau đều hô hò huynh đệ “16 chữ vàng” và “4 tốt” nhưng người dân Việt Nam không thể nào quên được 1,000 năm bị Tầu đô hộ. Những động thái của Trung Quốc trên biển Ðông những tháng gần đây liên quan đến chủ quyền biển đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho người ta thấy rõ tham vọng bá quyền của Bắc Kinh.

Việt Nam năm nay chuẩn bị mua của Nga 6 tiềm thủy đĩnh hạng Kilo và 12 chiến đấu cơ đa năng SU-MK30 nhưng không thể so sánh gì với khả năng quân sự gấp bội của Trung Quốc.

Ngày 9 Tháng Chín, 2009, Thủ Tướng Việt Nam NguyễnTấn Dũng đến Nga. Người ta tin chuyến đi này liên quan đến việc mua sắm võ khí nói trên. Ðến ngày 28 Tháng Mười, 2009, trang mạng điện tử của chính phủ Nga loan tin “Thủ Tướng Nga V. Putin có cuộc điện đàm với Thủ Tướng Việt Nam Nguyến Tấn Dũng... Thủ tướng Nga Putin và Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng trao đổi ý kiến để mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực như năng lượng, công nghiệp và kỹ thuật quân sự.” Ðài Phát Thanh Hà Nội thuật lại như vậy.

Mới ngày 10 Tháng Mười Hai, 2009, Ðài Tiếng Nói Việt Nam (VOV) loan báo “Nhận lời mời của Thủ Tướng Liên Bang Nga V. Putin, Thủ Tướng Chính Phủ Nguyễn Tấn Dũng sẽ thăm làm việc Liên Bang Nga từ ngày 14-15 Tháng Mười Hai, 2009.”

Bề ngoài, theo bản tin là ông Dũng “Từ ngày 16-18 Tháng Mười Hai, 2009, Thủ Tướng Chính Phủ Nguyễn Tấn Dũng sẽ dẫn đầu đoàn Việt Nam tham dự phiên thảo luận cấp cao của hội nghị lần thứ 15 các bên tham gia Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về Biến Ðổi Khí Hậu (COP15) và Hội nghị lần thứ 5 các bên tham gia Nghị Ðịnh Thư Kyoto (CMP5) gọi chung là Hội Nghị Thế Giới Về Biến Ðổi Khí Hậu tại thành phố Copenhagen, Vương quốc Ðan Mạch.” Sau khi đã gặp Thủ Tướng Nga Putin. Người ta tin chuyến đi của ông Dũng sẽ nhằm hoàn tất chi tiết các hợp đồng mua sắm quốc phòng nói trên.

Bình luận về chuyến thăm Mỹ của Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh, Giáo Sư Carl Thayer, chuyên viên các vấn đề Việt Nam của Học Viện Quốc Phòng Hoàng Gia Úc cho rằng đây là dấu hiệu mối quan hệ quốc phòng giữa hai nước ấm lên dần. Nhưng ông không tin chuyến đi sẽ dẫn đến một sự “đột phá” nào.

“Việt Nam vốn quen dè dặt,” Ông Thayer nói với DPA. “Một số lãnh tụ Việt Nam vẫn e sợ nếu tiến gần hơn tới Hoa Kỳ (sẽ ảnh hưởng đến mối quan hệ với Trung Quốc). Nhưng cũng có những lãnh tụ ở Việt Nam thấy lợi ích của sự phát triển quan hệ mọi mặt (với Hoa Kỳ) kể cả quan hệ quốc phòng.”
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Trung Quốc lại bắt ngư dân Việt ở Hoàng Sa
Saturday, December 12, 2009

Image
Hình bên: Ngư dân Ðà Nẵng ngồi chuẩn bị đồ nghề đi biển. Tin mới cho hay tàu tuần Trung Quốc bắt 3 tàu cá của Việt Nam kéo về đảo Phú Lâm trong quần đảo Hoàng Sa.
Tống hết các ngư dân lên 1 tàu bắt trở về, còn tịch thu 2 tàu kia cộng với tất cả cá và trang bị. (Hình: AFP/Getty Images)
QUẢNG NGÃI 12-12 (TH) - Ba tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam đã bị tàu tuần Trung Quốc kéo về quần đảo Hoàng Sa, dồn hết ngư dân lên một tàu rồi đuổi về nước.

“Chiều 12 tháng 12, 2009 bộ chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh Quảng Ngãi đã gửi báo cáo lên tỉnh ủy, UBND tỉnh Quảng Ngãi về vụ việc phía Trung Quốc bắt giữ ba tàu cá của ngư dân xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) trong lúc đang hành nghề trên vùng biển quần đảo Hoàng Sa.”

Bản tin báo Tuổi Trẻ ngày Thứ Bảy 12 tháng 12 cho hay như vậy chỉ 10 ngày sau khi tin tức loan báo ở Việt Nam về chuyến tuần tra hỗn hợp giữa hải quân Việt Nam và hải quân Trung Quốc rồi 2 tàu Trung Quốc ghé thăm Hải Phòng “chào xã giao”.

Tờ Nhân Dân ngày 2 tháng 12 khi loan tin 2 tàu Trung Quốc “chào xã giao” ở Hải Phòng thì viết vuốt đuôi “Ðây cũng là hoạt động thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị giữa hai nước nói chung, quân đội và hải quân hai nước nói riêng, góp phần duy trì hòa bình, ổn định trên vịnh Bắc bộ, tạo điều kiện thực thi tốt Hiệp định nghề cá và Hiệp định thư bổ sung giữa hai nước.”

Nhưng khi xuống tới phía Nam, đụng chạm tới chủ quyền biển đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì hoàn cảnh khác hẳn.

Theo tin chi tiết của báo Tuổi Trẻ “Trong hai ngày 7 và 8 tháng 12, khi hành nghề tại vùng biển Hoàng Sa, ba tàu cá: QNg 66398-TS (trên tàu có 14 lao động) của ông Dương Lúa, QNg 66119-TS (trên tàu có 15 lao động) của ông Lê Văn Lộc và QNg 96024-TS (trên tàu có 14 lao động) của ông Lê Tân, cùng quê ở xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn, bị phía Trung Quốc bắt giữ, áp giải về đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa.”

Tại đó, “phía Trung Quốc đã thu giữ hai tàu cá của ông Dương Lúa và ông Lê Văn Lộc cùng với hơn 20 tấn cá mà hai tàu đánh bắt được. Toàn bộ 43 ngư dân trên ba tàu bị dồn hết lên tàu của ông Lê Tân và thả về huyện đảo Lý Sơn. Ðến 19 giờ ngày 11 tháng 12, toàn bộ số ngư dân trên đã về đến Lý Sơn an toàn.”

Nguồn tin này còn nói “Theo trình báo của ngư dân, hai tàu cá cùng hơn 20 tấn cá của ngư dân Lý Sơn bị phía Trung Quốc thu giữ ước tổng trị giá hơn 2 tỉ đồng”.

Hai tuần lễ trước, ngày 28 tháng 11, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Nguyễn Phương Nga cho hay “Việc Trung Quốc cử tàu (tàu tuần ngư chính và tàu bệnh viện) đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này.”

Bà Nga cho hay đại diện Bộ Ngoại Giao Việt Nam đã gặp đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội để “phản đối và yêu cầu phía Trung Quốc chấm dứt các hoạt động này, không tiếp tục có các hành động làm phức tạp thêm tình hình tại biển Ðông, góp phần duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác tại khu vực”.

Hồi tháng 6 và tháng 7, hải quân Trung Quốc đã nhiều lần đâm chìm và bắt giữ tàu đánh cá của ngư dân miền Trung Việt Nam ở vùng quần đảo Hoàng Sa rồi đòi tiền chuộc. Cuối tháng 9, khi tàu đánh cá Việt Nam chạy đến trú bão ở đảo Phú Lâm cũng đã lính Trung Quốc bị cướp sạch hết tài sản từ cá đến trang bị đi biển, ngư cụ. Ngư dân còn bị đáp đập dã man.

Ngày 1 tháng 12, theo tờ Tuổi Trẻ “Vùng 2 hải quân và các địa phương Bà Rịa-Vũng Tàu, Sài Gòn, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu đã tổ chức lễ ký kết hiệp đồng bảo vệ chủ quyền vùng biển, hải đảo”.

Theo đó “Vùng 2 hải quân sẽ là lực lượng nòng cốt quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo, thềm lục địa phía Nam của tổ quốc; đảm bảo an toàn trên biển cho nhân dân và đường hàng hải quốc tế qua khu vực biển Ðông. Vùng 2 hải quân còn có nhiệm vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, hỗ trợ ngư dân khi gặp bão hoặc gặp nạn trên biển. Các địa phương có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục ngư dân và các lực lượng dân sự hỗ trợ, phối hợp với lực lượng Vùng 2 hải quân cản phá tàu nước ngoài xâm phạm lãnh hải Việt Nam”.

Vùng 2 trách nhiệm của hải quân Việt Nam bao gồm cả vùng biển Trường Sa. Trước khi bế mạc khóa họp cuối năm hồi tháng 11, Quốc Hội Việt Nam cũng đã thông qua dự luật “Dân quân tự vệ”. Ðạo luật này có hiệu lực từ giữa năm 2010 gồm cả việc có thể võ trang cho ngư dân mà nhiều người bình luận sẽ vô tác dụng khi đối diện tàu hải quân Trung Quốc.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

LM Nguyễn Văn Lý bị trả về tù dù đang liệt

Image
Hình bên: LM Nguyễn Văn Lý bị công an bịt mồm trong phiên tòa ngày 30 tháng 3 năm 2007.
Tấm hình trở thành biểu tượng về đàn áp tự do nhân quyền ở Việt Nam được phổ biến khắp trên thế giới. (Hình: AFP/Getty Images)
HÀ NỘI 12-12 (TH) - Linh Mục Nguyễn Văn Lý đã bị đưa trở lại nhà tù Ba Sao ở Nam Hà chiều ngày 11 tháng 12, 2009 dù ông vẫn còn bị liệt nửa người, hậu quả của tai biến mạch máu.

LM Nguyễn Văn Lý, 62 tuổi, đã được đưa từ nhà tù Ba Sao về bệnh viện Bộ Công An ở Hà Nội để điều trị khi bị tai biến mạch máu lần thư hai ngày 14 tháng 11, 2009 cho đến nay.

LM Lý bị đưa lại nhà tù vào ngày chủ tịch nước được Giáo Hoàng Benedict XVI tiếp kiến.

“LM Lý vẫn còn bị liệt nữa người, và chỉ có thể đi vài bước ngắn với chiếc nạng 4 chân nhưng mệt lả, không thể tiếp tục bước thêm, mặc dù tinh thần ngài vẫn bất khuất; nhưng thể xác và sức khỏe LM Lý thật đáng quan ngại.” Bản tin của Ủy Ban Tự Do Tôn Giáo Cho Việt Nam (CRFV) viết như vậy và cho hay “Sau cơn tai biến mạch máu não lần thứ hai 14 tháng 11, 2009 cho đến nay, ông không thể tự ăn một mình vì cánh tay phải của ông không thể tự điều khiển. Tất cả các bữa ăn đều do các cháu của linh mục giúp cho ông ăn.

Ông cũng không thể tự chống gậy để đến phòng vệ sinh ngay trong phòng bệnh viện của ông. Mọi hoạt động căn bản đều phải tùy thuộc sự giúp đỡ tận tình của các người cháu vì nửa người bên phải của ông gần như hoàn toàn tê liệt”.

Trong tình trạng sức khỏe như vậy nhưng ông vẫn bị đưa trở lại nhà tù, nơi ông bị biệt giam, ông sẽ xoay trở ra sao khi chỉ có một mình?

Khi biết tin này từ bà Nguyễn Thị Hiểu, chị cha Lý, Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế (AI) phổ biến lời kêu gọi chế độ Hà Nội trả tự do tức khác cho ngài.

“Nhà cầm quyền CSVN hãy trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện LM Lý cho gia đình ngài, để họ có thể bảo đảm ông được săn sóc y tế cần thiết kể cả việc điều trị ở bệnh viện”.

Ân Xá Quốc Tế cũng như các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế khác đã rất nhiều lần đòi hỏi trả tự do cho ngài.

Theo bản tin của CRFV “Từ tuần trước, tình trạng sức khỏe của LM Lý trở thành xấu hơn. Ông thỉnh thoảng bị sốt, rồi sau đó đột ngột bị lạnh. Các cháu của ông đắp cho ông 2, 3 lớp mền nhưng ông vẫn run vì lạnh. Ông cố gắng tập luyện thân thể, nhưng những phút luyện tập này càng ngày càng ngắn đi vì những cơn sốt kéo đến thường xuyên hơn. Trí nhớ của ông cũng bị giảm thiểu.

Cũng trong thời gian này, LM Lý từ chối ăn uống và được trị liệu nếu các bác sĩ ghi tên trên toa thuốc là ‘phạm nhân Lý’. Nhưng những kiên quyết này của cha, bác sĩ và y tá thường đến ngỏ lời xin lỗi cha về ‘những lỗi lầm trên’. Ông dự định sẽ tuyệt thực để phản đối tình trạng CSVN chà đạp nhân quyền.”

Vẫn theo nguồn tin này, cha Lý luôn lạc quan vì ngài tin đã thực hiện đúng lý tưởng tranh đấu cho dân chủ, tự do cho đồng bào của mình.

Theo nguồn tin này, chế độ Hà Nội đã từng đặt điều kiện để trả tự do cho ngài nhưng ngài từ chối vì cho đó là những đề nghị “không chân thật”.

CSVN cũng từng đề nghị trả tự do sớm cho LS Lê Thị Công Nhân nếu cô chịu nhận “tội lỗi” nhưng cô đã từ chối. LS Nhân sẽ mãn hạn tù vào đầu Tháng Ba 2010 nhưng sẽ bị quản chế 3 năm.

Theo nguồn tin của bà Ngô Thị Hiền trên CRFV “Ngày 29 tháng 11, 2009, gia đình ông đã viết thư cho cấp lãnh đạo Việt Nam yêu cầu nhà cầm quyền phải trả tự do cho LM Nguyễn Văn Lý theo diện nhân đạo. Nhưng một viên chức của CSVN cho biết họ không chấp nhận đòi hỏi này, vì trong lá thư của gia đình đã không thỏa đáng những điều kiện mà họ đã từng bắt buộc LM Lý phải chấp nhận trước khi họ chấp nhận sẽ đưa LM Lý ra khỏi nhà-tù-nhỏ.”

LM Nguyễn Văn Lý bị kết án tù 8 năm trong một phiên xử ở Huế ngày 30 tháng 3, 2009 không có luật sư, không có thân nhân được tham dự với cáo buộc “tuyên truyền chống nhà nước” CSVN.

LM Nguyễn Văn Lý đã ở tù 3 lần tổng cộng hơn 17 năm từ 1977 cho đến nay vì đấu tranh cho tự do tôn giáo và nhân quyền. Năm 2000, ngài và các giáo dân ở làng Nguyệt Biều, cách Huế 7 cây số, đã căng biểu ngữ “Tự do tôn giáo hay là chết”.

Năm 2001, ngài đã bị bỏ tù với bản án 15 năm nhưng bản án đã phải giảm xuống 3 lần rồi trả tự do cho ngài năm 2005 trước các áp lực của các nước Tây phương.

Năm 2006 ngài và một số người thành lập Khối 8406 (ngày 8 Tháng Tư 2006) kết hợp mọi thành phần xã hội đòi hỏi chế độ Hà Nội trả lại các quyền tự do căn bản lại cho dân và đòi phải tổ chức bầu cử tự do, đòi hủy bỏ điều 4 hiến pháp dành độc quyền cai trị cho đảng Cộng Sản. Trước sự lớn mạnh nhanh chóng của tổ chức này, CSVN đã bắt bỏ tù ngài và những người cầm đầu những tổ chức chính trị liên hệ.

Các chính phủ Hoa Kỳ và Liên Âu, các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế thường xuyên thúc hối chế độ Hà Nội trả tự do cho ngài cũng như các người vận động dân chủ hóa Việt Nam, nhưng không hề có kết quả.

Trong cuộc họp cấp viện cho Việt Nam hồi đầu tháng 12, các nhà tài trợ quốc tế cũng đều đòi hỏi chế độ Hà Nội trả lại dân các quyền tự do căn bản cho nhân dân.

Theo bản tin CRFV “Anh Nguyễn Văn Hải, cháu LM Lý đã đưa ngài từ bệnh viện của Bộ Công An tại Cầu Giây, Hà Nội, về trại tù Ba Sao lúc 5 giờ chiều 11 tháng 12, 2009. Anh Hải không được phép theo LM Lý vào phòng giam và chỉ còn biết khóc để từ biệt cha tại cổng trại khi thấy cha phải chập chững từng bước ngắn với cây nạng 4 chân và sự phụ giúp bắt buộc của cai tù”.

Tháng Bảy vừa qua, 37 nghị sĩ Mỹ đã gửi thư cho Nguyễn Minh Triết kêu gọi trả tự do cho cha Lý, lá thư hiển nhiên cũng không có tác dụng.

Cùng ngày đưa LM Lý về lại nhà tù dù sức khỏe vẫn tồi tệ, nhà cầm quyền CSVN cũng áp lực trụ trì chùa Phước Huệ phải ký giấy chấp nhận đuổi 197 tăng sinh Làng Mai đang tị nạn ở đây, hạn chót là ngày 31 tháng 12, 2009. Dấu vết pháp môn Làng Mai của Thiền Sư Nhất Hạnh sẽ bị xóa từ đây ở Việt Nam.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 6 guests