Bình Luận , Quan Điểm

khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Cuộc Chiến Mới Của TT Obama

Vũ Linh
Sau khi nhậm chức, TT Obama đã thay đổi hoàn toàn chính sách của vị tiền nhiệm. Tân tổng thống không là một cao bồi hung hăng mà là tiếng nói của ôn hòa và khiêm tốn. Ông hứa hẹn tìm cách nói chuyện với các lãnh tụ độc tài đối địch với Mỹ từ bao nhiêu năm qua, từ Iran đến Venezuela, từ Bắc Hàn đến Cuba. Đối với nạn khủng bố Hồi Giáo quá khích, tân tổng thống đi qua Trung Đông hai lần trong vài tháng đầu để công khai ca tụng văn minh Ả Rập, đạo Hồi, và xin lỗi về tất cả những tội lớn nhỏ nước Mỹ đã phạm trong suốt quá trình lịch sử Mỹ. Ông cũng thay đổi chiến lược chống khủng bố trong nước, chuẩn bị rút quân tại Iraq và đang tìm đường chấm dứt chiến tranh tại Afghanistan.
Kết quả rực rỡ là ông được trao tặng giải thưởng Nobel Hòa Bình. Đi vào lịch sử giải Nobel như người đầu tiên lãnh giải mà không cần thành tích cụ thể gì hết. Chỉ cần hứa hẹn và đọc diễn văn cho giỏi. Theo tiêu chuẩn mới của ban giám khảo thì thông điệp quan trọng hơn thành quả. Chẳng khác gì dân Mỹ đã tặng Tòa Bạch Ốc cho ông vì thông điệp “hy vọng” và tài đọc diễn văn chứ chẳng phải vì thành tích hay quá trình gì.
Những người ủng hộ tổng thống cũng như những người “yêu chuộng hòa bình” thấy hả hê và say sưa vì thần tượng của họ được cả thế giới nhìn nhận như biểu tượng của cởi mở và nhân ái. Những người chống đối TT Obama thì cho là ông đã được xác nhận là nhân vật yếu đuối và nhút nhát, gặp đối thủ thì chưa đánh đã chạy. Thật ra cả hai lập luận trên đều sai. Ông chẳng nhân ái hơn ai mà cũng chẳng yếu đuối hơn ai.
TT Obama là một chính khách trẻ xuất thân từ “trường phái” Chicago của tiểu bang Illinois nổi tiếng với hai vị thống đốc đang ngồi tù và một bị truất nhiệm vì tham nhũng và ăn bẩn. Đã vậy, ông lại đánh bại được bà Hillary Clinton và guồng máy của đảng Dân Chủ lúc đó trong tay bà này, rồi sau đó lại hạ luôn cả ông John McCain và guồng máy của đảng Cộng Hòa. Người như vậy thì không thể nào là người “nhân ái” “yếu đuối”, hay tay mơ được.
Chẳng qua, ông nhân nhượng với những đối thủ trên chính trường thế giới có lẽ vì ông nghĩ ông chưa đủ kinh nghiệm hay chưa đến lúc đối phó với những kẻ địch này. Cho nên ông chịu lép, ít ra là tạm thời, để lo đối diện với những vấn đề quốc nội mà ông cho là cấp bách hơn.
Bây giờ ưu tiên của ông là các chương trình cải tổ vĩ đại về tài chánh, y tế, môi sinh, năng lượng. Và muốn thành công với những chương trình này thì phải tập trung nỗ lực. Và quan trọng nhất, phải loại sớm các kẻ địch trong nội bộ đang ra sức chống phá những kế hoạch của ông.
Có hai đối thủ lớn cản đường đi của ông.
Trước hết là đảng Cộng Hòa. Sau khi đại bại trong hai cuộc bầu cử năm 2006 và 2008, đảng này thiếu lãnh đạo sáng giá và mất uy tín do chính sách mất lòng dân của TT Bush, và nhất là tệ nạn thối nát, bê bối của các dân cử, kể cả mấy vị thâm niên đạo cao đức trọng rốt cuộc cũng dính vào lem nhem tiền bạc, tình dục, đủ loại.
Trong quốc hội, đảng Cộng Hòa trở thành thiểu số tuyệt đối, chẳng cản trở được những gì phe Dân Chủ muốn làm. Đã thế, đảng này còn đang do dự giữa hai ngả, một là bảo vệ bản sắc và tư tưởng bảo thủ - kỷ cương xã hội, kỷ luật ngân sách là giảm thuế và giảm chi cho dân dễ thở, và cứng rắn về an ninh - hai là dung hòa quan điểm để thỏa hiệp với thành phần ôn hoà ở giữa hầu còn hy vọng thắng cử. Như nhiều "người Việt quốc gia", khi phân vân như vậy là... phe ta đả nhau tận tình! Cuộc tranh cử ghế dân biểu hạt 23 tại New York vào tuần này là thí dụ: ứng viên ôn hoà phải rút lui ba ngày trước ngày bầu cử vì sức ép quá mạnh của quần chúng bảo thủ trong đảng.
Vì vậy, đảng Cộng Hoà chưa là một mối lo lớn cho ông Obama
Đối thủ thứ hai là truyền thông bảo thủ, với hai đại biểu trên hệ thống truyền thanh và truyền hình: Rush Limbaugh là bình luận gia trên đài phát thanh, và đài truyền hình Fox News. Đây là những phần tử đối lập ồn ào nhất, triệt để chỉ trích tổng thống về mọi vấn đề. Đúng ra, đây không phải lần đầu tiên giới truyền thông mạnh mẽ tấn công một tổng thống.
Trong lịch sử cận đại Mỹ, kể từ ngày TT Roosevelt bị đả kích về các chương trình cứu nguy kinh tế vĩ đại của ông đầu thập niên 30, và TT Truman bị sỉ vả vì cách chức người hùng chiến tranh Triều Tiên, là Tướng Mac Arthur, thì hầu như không tổng thống nào thoát được ngòi bút và miệng lưỡi của các nhà báo. TT Nixon bị báo chí khui vụ Watergate đến độ phải từ chức. TT Clinton bị khui vụ lem nhem tình dục xém chút thì bay chức. Gần đây hơn, TT Bush là nạn nhân của những chửi bới liên tục và không giới hạn, có tính cách nhục mạ kiểu như “thằng đần trong làng” (the village idiot).
Do đó, việc TT Obama bị truyền thông bảo thủ chỉ trích, đánh phá không có gì lạ. Điều lạ lùng đáng nói là phản ứng của TT Obama.
Từ TT Roosevelt cho đến TT Bush, bị truyền thông đả kích đã trở thành loại “rủi ro nghề nghiệp” đi cùng chức vụ. Chỉ có thể làm giảm cường độ bằng cách thỉnh thoảng ve vãn mấy nhà báo, vuốt ve “cái tôi” của họ, hoặc là phe đảng, xì tin bí mật cho các ký giả “đồng minh” trước. Không ai tìm cách bịt miệng các nhà báo, vì tất cả các tổng thống, dù không vui, vẫn phải chấp nhận tiếng nói đối lập của truyền thông như là thực thể cần tôn trọng trong chế độ dân chủ. Và cũng không tổng thống nào xăn tay áo lên đấm đá tay đôi với truyền thông, vì họ đều hiểu rõ vai vế và uy tín của một quốc trưởng không thể bị lôi xuống ngang hàng với mấy anh ký giả cà kê nói láo ăn tiền. Quần chúng có quyền phán xét là nhà báo hay chính quyền ai là kẻ nói láo, chứ chính quyền không được làm chuyện phản pháo.
Cho đến thời TT Obama.
Ai cũng biết TT Obama đã được giới truyền thông cấp tiến công kênh vào Tòa Bạch Ốc. Các báo lớn, đài truyền hình lớn, và các ký giả tranh nhau xem ai tung hô giỏi hơn ai. Giải quán quân là Chris Matthews của đài truyền hình MSNBC. Anh này tuyên bố mỗi lần nghe đến tên “Obama” là anh cảm thấy “rùng mình”, như có một luồng “nội lực chạy rần rần từ chân lên đầu”, và khoe anh là người cực kỳ may mắn, đã sống đúng trong thời Đấng Tiên Tri Obama giáng thế.
Trong cái ban hợp ca đó thì tự nhiên lại có một vài giọng hát… lạc điệu và trật nhịp: đó là tiếng nói của Rush Limbaugh và các bình luận gia của đài truyền hình Fox News. Thật ra thì chỉ là những tiếng la ó nhỏ so với việc tất cả truyền thông cấp tiến “dòng chính” đồng loạt đánh Bush trước đây. Dù vậy, TT Obama, cũng như những vua chúa Tầu ngày xưa, nghe nịnh thần hót quen rồi, tự nhiên lại có một vài tiếng nghịch nhĩ chói tai nổi lên thì làm sao không bực mình? Và ông quyết định ra tay.
Chỉ một tháng sau khi nhậm chức, ông đích danh chỉ trích Rush Limbaugh.
Các quan trong triều nhao nhao hưởng ứng theo. Họ xúm lại đả kích Rush, rồi tìm cách bôi lọ cả Rush lẫn đảng Cộng Hòa, gọi anh này là… chủ tịch đảng Cộng Hòa. Nhưng rồi chiến dịch thất bại. Chỉ làm giàu cho anh Rush, tự nhiên hàng chục triệu người xúm lại nghe các bài bình luận đả kích Obama của anh trên hàng trăm đài phát thanh trên khắp nước Mỹ. Tiền vào ào ào, khiến anh này không biết làm gì cho hết, tính hùn hạp mấy trăm triệu mua luôn đội banh football Mỹ Saint Louis Ram!
Đánh Rush Limbaugh không xong, TT Obama đổi mục tiêu, quay qua đánh Fox News.
Trung tuần tháng Chín, sau khi nghỉ hè về, TT Obama mở chiến dịch quảng bá cho cuộc cải tổ y tế. Trong một ngày ông cho một loạt tất cả các đài truyền hình lớn phỏng vấn ông về kế hoạch cải tổ y tế, ngoại trừ Fox News bị cho đứng ngoài nhìn trời.
Giám Đốc Thông Tin Tòa Bạch Ốc, bà Anita Dunn (người được một tờ báo đổi tên là Anita Đông cho có bà con với Mao Trạch Đông là người được bà tôn là thần tượng) chỉ trích Fox không phải là một cơ quan thông tin (news organization), mà là một cơ quan bình luận (opinion organization). Đại khái theo bà, là một cơ quan lá cải nói nhảm, vì bình luận là nói theo quan điểm, muốn nói gì thì nói, không dựa trên sự thật. Không hiểu khi anh Matthews của MSNBC nói đến chuyện “rùng mình” của anh thì đó là thông tin hay quan điểm, mà không thấy bà Dunn phê bình gì? Bà Dunn cũng tố Fox chỉ là cơ quan ngôn luận của đảng Cộng Hòa. Như vậy không hiểu MSNBC suốt ngày ca tụng TT Obama thì có phải là cơ quan ngôn luận của tổng thống không?
Sau đó đến quân sư David Axelrod và tể tướng Rahm Emanuel, cùng một ngày lên hai đài truyền hình để đả kích Fox. Đúng sách vở chia để trị, họ ca ngợi các đài như CNN, và ước mong các “đài lớn đầy uy tín” này sẽ không bị Fox dụ dỗ theo con đường tà đạo, chống báng Nhà Nước.
Rồi đến Robert Gibbs, phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc. Ông tổ chức họp báo cho một “Sa Hoàng”. Nhưng Fox bị gạt ra ngoài. Các cơ quan truyền thông, mặc dù tung hô TT Obama, vẫn thấy Tòa Bạch Ốc đã đi quá xa. Họ phản đối và không chịu tham gia cuộc họp báo nếu không có hiện diện của Fox. Khiến Tòa Bạch Ốc phải de lui, chấp nhận cho Fox tham gia họp báo.
Điều mỉa mai là theo thăm dò, năm nhân vật truyền hình thu hút được nhiều người coi nhất hiện nay là Glenn Beck, Bill O’Reilly, Sean Hannity, Shepard Smith và Greta Van Susteren. Cả năm đều là bình luận gia của đài… Fox! Số người coi CNN và MSNBC cộng chung lại chưa bằng Fox.
Ly kỳ hơn nữa, càng bị Chính quyền Obama tấn công, đài Fox càng ăn khách khiến ông chủ đầu tư là Rupert Murdoch - người gốc Úc - hoan hỉ nói rằng doanh lợi của Fox có tăng. Ông liền bị tấn công là "tham lam" và "bảo thủ", như một cái tội. Thật ra, chủ đầu tư thường không can thiệp vào nội dung tờ báo hay truyền hình vì đó là công việc của một thành phần chuyên nghiệp về truyền thông.
Và ngoài một hệ thống riêng về tin tức kinh doanh (Fox Business News) rất có giá trị, chương trình 24 tiếng của FoxNews gồm có gần hai chục tiếng tin tức từ mờ sáng đến chiều - và qua đêm. Còn lại, khoảng bốn tiếng là bình luận vào giờ cao điểm với các bình luận gia bảo thủ, nhưng họ cũng mời các nhân vật Dân Chủ hay độc lập lên võ đài trình bày quan điểm. Họ không lẫn lộn hai phần tin tức và bình luận và viết bình luận mà ngụy trang thành tin tức, cho nên mới có nhiều khán giả theo dõi hơn các đài kia.
Dù sao, việc nguyên cả một chính quyền, từ tổng thống đến các viên chức cao cấp nhất, xúm lại đánh hội đồng một đài truyền hình là chuyện xưa nay chưa từng thấy. Một phần vì TT Obama dị ứng đối với các chỉ trích. Phần nữa là vì đài Fox này chửi rất mạnh, nhưng lại không nói nhảm như Toà Bạch Ốc tố cáo.
Trong thời gian qua, đài này đã mạnh mẽ chĩa mũi dùi vào hai vấn đề.
Thứ nhất là các “Sa Hoàng”, cố vấn hay phụ tá đặc biệt. Kết quả là Sa Hoàng Van Jones, chuyên lo về môi sinh, bị buộc phải từ chức vì lý luận thực sự thiên lệch - bảo rằng Chính quyền Bush dựng ra vụ khủng bố năm 2001 và đòi điều tra - thân cộng và nhất là có hành vi mờ ám với chứng cớ rành rành. Phải từ chức là để khỏi bị điều tra thêm và gây lúng túng cho Toà Bạch Ốc.
Thứ hai là ACORN, là tổ chức da đen chuyên đi vận động quần chúng tham gia sinh hoạt chính trị. Chuyện ACORN này mới ky kỳ nên phải nói ra cho rõ.
Một cặp sinh viên trẻ kiêm ký giả tay mơ đã giả danh là... ma cạo và gái mãi dâm. Họ đến trụ sở của ACORN ở vài thành phố lớn như Miami, New York, San Francisco, Washington DC, xin giúp đỡ để... nhập cảng gái vị thành niên vào Mỹ lập ổ chứa. Vừa nhập cảng di dân lậu vừa khai phóng tình dục! Thay vì kêu cảnh sát điều tra một dự tính phi pháp như vậy, thì viên chức ACORN lại tận tình giúp đỡ, góp ý kiến cho cặp này cách mang gái lậu vào, cách mở ổ chứa, cách khai gian thuế… Tất cả đều được hai người này thu video đầy đủ và gửi cho truyền thông!
Các đài truyền hình và báo “dòng chính” tránh không phổ biến những video này, trừ Fox (cách đây ít tuần, kẻ viết bài này đã có dịp tố giác việc truyền thông cấp tiến giấu nhẹm những tin bất lợi cho TT Obama và phe cấp tiến, đây là một bằng chứng nữa).
Kết quả dân Mỹ xúc động mạnh, yêu cầu điều tra. ACORN phải sa thải các nhân viên này, nhưng cũng quá muộn. Một số tiểu bang, đáp ứng sự xúc động của dân địa phương, vội vã cắt tiền yểm trợ cho ACORN. Hạ Viện Liên Bang cũng đành phải biểu quyết cắt mọi trợ cấp của Nhà Nước dù ACORN là bộ máy hốt phiếu cho đảng Dân Chủ.
Hai câu chuyện trên chứng minh Fox không bình luận nhảm mà đã nêu dữ kiện chính xác. Nếu không thì Van Jones đã không phải từ chức và ACORN không mất trợ cấp. Chỉ khiến chính quyền Obama thêm sợ hãi, và ráo riết tấn công Fox hơn nữa.
Chiến dịch tấn công của TT Obama khiến ngay cả một số ký giả cấp tiến thượng hạng phải lên tiếng phàn nàn. Bà Ruth Marcus viết trên Washington Post, chỉ trích “cuộc chiến ngu xuẩn của Obama chống Fox” (Obama’s dumb war with Fox News). Theo bà, cuộc chiến này làm cho Tòa Bạch Ốc trở thành yếu (weak), nhỏ nhen (small), ấu trĩ (childish), và chỉ giúp Fox có thêm khán giả và kiếm thêm tiền.
Nhìn vào chín tháng cầm quyền của TT Obama, người ta thấy rõ một cảnh tượng ngược ngạo. Trong khi TT Obama hết sức hòa hoãn với các địch thủ phía ngoài, từ các nhà độc tài chửi Mỹ không mỏi miệng cho đến khối quá khích Hồi Giáo, thì ông lại mạnh bạo thẳng tay đối phó với các nhà báo Mỹ, lại tích cực truy lùng các nhân viên an ninh CIA đã có công mang tính mạng ra để bảo vệ nước Mỹ chống khủng bố.
Ngày xưa, Tưởng Giới Thạch đã nhận định “giặc Nhật là vết thương ngoài da, giặc Mao Cộng mới là ung thư trong ruột”. Chẳng lẽ TT Obama cũng có ý tương tự? Giặc Al Qaeda, Iran, Bắc Hàn, là vết thương ngoài da, còn Fox News hay CIA mới là ung thư trong ruột cần mạnh tay trừ khử trước? Mong sao kẻ viết này đã nghĩ sai (31-10-09).
Last edited by khieulong on Thu Nov 12, 2009 4:55 am, edited 1 time in total.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Lòng Dân hơn Ý Ðảng

Ngô Nhân Dụng
Cuối tuần vừa qua, Dân Biểu Cao Quang Ánh là người Việt Nam nổi tiếng nhất ở nước Mỹ. Các đài truyền hình liên tục loan tin và phỏng vấn ông. Một người bạn ở xa điện thoại hỏi “Joseph Cao có phải là người Việt hay không?” Khi biết ông đúng là người Mỹ gốc Việt Nam, chị vui mừng gọi điện thoại cho các con để chia sẻ niềm vui với cả gia đình.

Ông Cao Quang Ánh là dân biểu duy nhất thuộc đảng Cộng Hòa đã bỏ phiếu ủng hộ dự luật cải tổ y tế ở Hạ Viện. Hầu hết thư độc giả gửi đến Người Việt đều khen ngợi ông là người can đảm và tỏ ý hãnh diện về một người Việt Nam như ông, mặc dù đa số người Việt ở Mỹ nghiêng về phía Cộng Hòa. Một độc giả đặt câu hỏi: Tại sao Dân Biểu Cao Quang Ánh không đổi sang đảng Dân Chủ cho rồi, khi ông bỏ phiếu ngược lại với tất cả các dân biểu khác cùng đảng? Có lẽ nhiều người Việt ở trong nước cũng đặt câu hỏi như vậy, vì không quen thuộc với nếp sống chính trị ở Mỹ.

Trả lời câu hỏi của các nhà báo, ông Cao Quang Ánh giải thích rằng ông đã bỏ phiếu ủng hộ dự luật cải tổ y tế vì dự luật đó cần thiết cho đại đa số dân chúng trong đơn vị đã bầu ông làm đại diện. Ðây là lý do giản dị nhất, và rất đáng suy nghĩ.

Ở nước Mỹ, các đại biểu dân cử thường thuộc một trong hai đảng, Cộng Hòa và Dân Chủ. Họ chia sẻ với đảng mình những giá trị căn bản, thể hiện qua các chủ trương, đường lối trị quốc. Nhưng khi đắc cử, các dân biểu là đại biểu của người dân trong địa hạt, các nghị sĩ là đại biểu của người dân trong tiểu bang. Họ không là đại biểu của một đảng chính trị.

Ở mỗi viện Quốc Hội mỗi đảng có guồng máy điều hợp công tác thảo luận và bảo đảm việc bỏ phiếu của các đại biểu phù hợp với chủ trương của đảng. Guồng máy đó gồm người trưởng khối đa số hoặc thiểu số, có người phụ tá trưởng khối (nghị trường Mỹ gọi là whip) lo việc điều động, theo dõi, thảo luận, khuyến cáo và nhiều khi phải ép buộc các đại biểu thuộc đảng mình bỏ phiếu theo ý chung của đảng. Trước khi các đại biểu mỗi viện họp khoáng đại, ban lãnh đạo trong mỗi viện thường họp với họ để thông qua quyết định chung; người phó trưởng khối có bổn phận đếm cho đủ số phiếu cần thiết để ủng hộ hoặc bác bỏ một dự luật, theo đường lối chung đó.

Tuy nhiên, điều lệ các đảng chính trị ở Mỹ không bắt buộc các đại biểu phải luôn luôn biểu quyết theo chủ trương của ủy ban lãnh đạo toàn quốc. Các đại biểu khi chọn lựa bỏ phiếu trong nghị trường cũng không nhất thiết phải theo chỉ thị của ban lãnh đạo đảng mình trong mỗi viện.

Những nhà chính trị Mỹ gia nhập một đảng vì nhu cầu đoàn kết với những người cùng quan điểm với mình, nhưng nhiều khi họ chỉ chia sẻ một số lớn các giá trị và quan điểm, chứ không phải tất cả mọi chủ trương, đường lối của nhau. Ðó cũng là đặc tính của các cử tri của Mỹ khi họ ghi danh thuộc một đảng nào trong danh sách cử tri. Thí dụ một người Mỹ quyết định bỏ phiếu cho đảng Cộng Hòa vì ủng hộ chủ trương chống phá thai và chống hôn nhân đồng tính, nhưng có thể vẫn bất đồng ý kiến với đảng đó trong chủ trương về vấn đề di dân lậu vào nước Mỹ hoặc về môi trường sống. Cử tri này coi các giá trị về đạo lý khiến phải chống phá thai là quan trọng, còn ý kiến về vấn đề di dân hoặc sinh môi có thể tạm bỏ qua, cho nên vẫn bỏ phiếu cho đảng Cộng Hòa.

Các đại biểu Quốc Hội cũng vậy. Họ có thể chia sẻ 70%, 80% các đường lối của đảng nào thì gia nhập đảng đó, chứ không nhất thiết phải đồng ý 100%. Cho nên, khi bỏ phiếu họ có thể cân nhắc nhiều khía cạnh khác nhau chứ không nhất thiết chỉ làm theo chỉ thị của ban lãnh đạo đảng. Mặc khác, những người gia nhập một đảng không cần phải đưa tay tuyên thệ trung thành và vâng lệnh cấp trên, như các băng đảng du đãng hoặc mafia! Họ vẫn là những người tự do sống trong một xã hội tự do! Họ quyết định lá phiếu theo phán đoán riêng, theo tiếng gọi của lương tâm, và nhất là theo nguyện vọng cùng quyền lợi của các cử tri bầu cho họ.

Vì vậy, Nghị Sĩ John McCain thuộc đảng Cộng Hòa đã từng bỏ phiếu chống lại dự luật cắt giảm thuế của nguyên Tổng Thống George W. Bush cùng đảng; Nghị Sĩ Hillary Clinton thuộc đảng Dân Chủ thì bỏ phiếu ủng hộ quyết định tấn công Iraq của ông tổng thống thuộc đảng khác mình. Dân Biểu Cao Quang Ánh cũng quyết định giống như vậy khi bỏ phiếu ủng hộ dự luật cải tổ y tế tại Hạ Viện Mỹ. Ông chống phá thai, theo niềm tin của ông vào giá trị con người. Nhưng ông biết dự luật cải tổ y tế có thể đem lại những lợi ích lớn cho dân chúng trong đơn vị đã bầu ông. Vì đa số họ là những người nghèo không được hưởng những lợi ích của các chương trình bảo hiểm tư. Là đại biểu của họ tại Quốc Hội, ông phải làm theo ý nguyện của các cử tri đã ủy nhiệm cho mình, dù khi bỏ phiếu năm 2008 có nhiều người không ủng hộ ông. Khi đa số các đại biểu ở Hạ Viện đã bỏ phiếu thông qua dự luật của Dân Biểu Stupak không cho phép dùng công quỹ để trợ giúp những vụ phá thai, trong chương trình bảo hiểm y tế công cộng cũng như bảo hiểm tư, một vấn đề lương tâm của ông Cao Quang Ánh đã được giải quyết. Và khi đó, ông chỉ còn một lựa chọn, là làm theo nguyện vọng của cử tri.

Hành động của Dân Biểu Cao Quang Ánh cũng tương tự như của 37 dân biểu thuộc đảng Dân Chủ bỏ phiếu chống dự luật cải tổ y tế. Phần lớn những người này đại diện cho các đơn vị bầu cử mà đa số dân chúng rất bảo thủ, trong đó có nhiều đơn vị đã bỏ phiếu ủng hộ Nghị Sĩ John McCain trong cuộc bầu cử năm ngoái. Những người dân này tin tưởng vào nhiều giá trị mà đảng Cộng Hòa vẫn đề cao. Thí dụ, niềm tin vào thị trường tự do và chống các hành động can thiệp của chính phủ vào các quyết định kinh tế của tư nhân khiến họ rất nghi ngại trước ý kiến thiết lập một chương trình y tế công cộng. Thí dụ khác, những người bảo thủ về tài chánh thì chống cảnh ngân sách khiếm hụt, cho nên cũng lo ngại khi thấy chương trình cải tổ bảo hiểm y tế của đảng Dân Chủ quá tốn kém. Trước các mối lo ngại của đa số cư tri như vậy, 37 đại biểu đảng Dân Chủ đã không ngần ngại bỏ phiếu chống lại đảng của họ.

Các đại biểu Quốc Hội ở các nước có tự do bầu cử đều phải làm theo nguyện vọng của dân, chứ không làm theo chỉ thị của đảng. Họ phải dùng quyền lực của một dân biểu để tranh đấu cho những nhu cầu thiết thực của người dân đã tín nhiệm mình, trong bất cứ trường hợp nào. Trước ngày Hạ Viện bỏ phiếu, Tổng Thống Barack Obama đã tới Quốc Hội để vận động các đại biểu thuộc đảng Dân Chủ ủng hộ ông. Ông đã phải gọi điện thoại riêng cho Dân Biểu Cao Quang Ánh để xin phiếu, vì không biết chắc có bao nhiêu người thuộc đảng Dân Chủ sẽ bỏ phiếu thuận. Ðồng thời ông Obama cũng muốn chương trình cải tổ y tế của ông không phải chỉ do một đảng Dân Chủ quyết định mà có sự tham dự của cả đảng Cộng Hòa, dù chỉ có được một người là ông Cao Quang Ánh.

Không phải lúc nào một vị dân biểu ở Mỹ được vị tổng thống gọi điện thoại trực tiếp “xin phiếu.” Nhân cơ hội đó, Dân Biểu Cao Quang Ánh đã buộc ông tổng thống Mỹ phải nhượng bộ ông mấy điều trong các dự án khác có lợi cho dân chúng trong đơn vị của mình. Ông Cao Quang Ánh đã yêu cầu chính phủ liên bang Mỹ phải giúp việc xây dựng lại bệnh viện trong đơn vị của ông, và miễn cho người dân vùng New Orleans khỏi phải hoàn trả các món nợ tái thiết sau cơn bão Katrina. Ðiều này chứng tỏ ông Cao Quang Ánh đã “thuộc bài” chính trị ở nghị trường nước Mỹ, bất cứ cơ hội nào cũng dùng quyền lực lá phiếu của mình để tranh đấu cho quyền lợi của dân. Ông Cao Quang Ánh biết rằng năm ngoái ông may mắn đắc cử vì người đại biểu cũ của đơn vị này bị mang tiếng về tham nhũng, và ngay trong đảng Dân Chủ của ông ta cũng nhiều người tranh cử chống lại nên chia phiếu. Ðó là một đơn vị lâu nay vẫn chỉ bỏ phiếu cho đảng Dân Chủ, ông Cao Quang Ánh là đại biểu Cộng Hòa đầu tiên. Ông Cao Quang Ánh không biết là sang năm 2010 ông còn được tái cử nữa hay không. Nhưng khi đã mang danh đại biểu Quốc Hội của một địa hạt thì ông nhất định làm những điều phải và phục vụ cho các cử tri trong địa hạt của mình. Ðó là điều mọi người Việt Nam có thể hãnh diện về ông.

Ðây là một bài học về đời sống dân chủ tự do mà rất tiếc đồng bào chúng ta ở Việt Nam không được thấy trực tiếp. Các đại biểu Quốc Hội ở Việt Nam thường không bao giờ theo ý kiến của dân mà bỏ phiếu chống lại các quyết định của chính phủ Cộng Sản. Vì chính họ được đảng Cộng Sản đưa ra ứng cử, họ được đắc cử là nhờ đảng. Họ là đại biểu của đảng Cộng Sản chứ không đại diện cho dân. Chế độ độc tài nào cũng như vậy! Chỉ khi chế độ Cộng Sản Việt Nam bị sụp đổ như ở Ðông Âu 20 năm trước đây thì mới có thể thấy những tấm gương can đảm như ông Cao Quang Ánh.
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Bức tường tinh thần tan rã trước

Ngô Nhân Dụng
Trong lịch sử, cảnh sụp đổ của một đế quốc không xảy ra trong một sớm một chiều, mà thường diễn ra qua nhiều năm, có khi kéo dài hàng thế kỷ. Các đế quốc La Mã, Ba Tư, Ottoman đời trước tan rã khi lực lượng quân sự và guồng máy thu thuế bị tản ra quá mỏng, quyền lực ở trung tâm yếu đi, mất dần khả năng kiểm soát các địa phương. Những đế quốc đó thường vỡ ra từng mảnh, từng mảnh một trước tan biến dần dần. Trong thế kỷ trước, đế quốc Xô Viết không giải tán theo lối tiệm tiến và mất từng bộ phận như thế. Tất cả cùng sụp đổ chỉ trong vòng mấy tháng, có thể nói chỉ trong có mấy ngày.

Nguyên nhân trực tiếp gây nên cảnh tan rã “ngoạn mục” của chế độ cộng sản ở Ðông Âu và Liên Xô là do thất bại trong quản lý kinh tế, như đã trình bày trong mục này tuần trước. Tuy nhiên, kinh tế trì trệ chỉ là một mặt trong cảnh bế tắc toàn diện của cả hệ thống cai trị do Lenin và Stalin dựng lên. Ðế quốc Xô Viết đã bắt đầu suy yếu tự trong nền tảng từ lâu rồi. Nói về sự sụp đổ của các chế độ cộng sản, Nhà văn Vũ Thư Hiên không đặt trọng tâm vào tình trạng quản lý kinh tế thất bại. Ông cho là cả hệ thống cai trị kiên cố vĩ đại đó đã tan rã chính vì người dân không còn chịu đựng được cảnh “mất nhân tính đến cùng cực” nữa. Nhà văn đã sống trong một chế độ giống như vậy. Chính mắt ông đã chứng kiến cảnh “mất nhân tính đến cùng cực” ở chung quanh mình, diễn ra trong chính những người đã từng là thân thiết với gia đình ông. Vũ Thư Hiên đã nhìn thấy những điều cơ bản khiến xã hội xô viết tan rã.

Khi dân Ðức lấy búa đập vỡ bức tường Berlin, họ đã châm lửa vào một ngòi nổ, ngọn lửa cháy bén từ từ như một sợi dây thuốc pháo, và lần lượt các thùng thuốc nổ khác liên tiếp theo nhau bùng cháy. Tại sao vụ nổ dây chuyền lại lan ra nhanh chóng như vậy? Lý do lớn nhất, trước hết, là vì cả nền tảng tinh thần của những xã hội cộng sản đó đã nát rữa từ lâu, cả hệ thống dựa trên bạo lực và dối trá chỉ chờ ngày tan ra từng mảnh. Khi bao nhiêu con người đã mất niềm tin vào cuộc sống giả tạo chung quanh mình, mất niềm tin vào những người chung quanh, chính họ thấy cuộc đời không còn có ý nghĩa, không còn giá trị như trong ảo tưởng mà họ vẫn nuôi nấng nữa, thì cả xã hội tự hủy diệt. Vì phải hủy diệt, rồi mới có cơ hội tái sinh.

Một xã hội tồn tại được lâu dài và ổn định là nhờ mọi người cùng chia sẻ những giá trị chung, một cách chính thức hay là mặc nhiên. Có những lý tưởng cao xa mà ai cũng tôn quý đã được cả xã hội biến thành thói quen trong cuộc sống hàng ngày khi đối đãi với nhau, routinization. Mọi người đồng ý với nhau một số ước lệ trong cuộc sống. Những cử chỉ, lời nói hay thái độ mà chúng ta gọi là lễ phép, lịch sự, thanh nhã, vân vân, đã được cả xã hội coi là lối sống tự nhiên, ai cũng ăn ở như vậy. Người ta cứ nói, cứ làm và nghĩ theo các thói quen đó là có thể tin rằng mình sẽ đạt được điều tốt, điều thiện, cuộc đời mình có ý nghĩa và có giá trị.

Nhưng khi phải sống trong một khung cảnh giả dối quá lâu thì khác. Người ta phải nghe những điều dối trá mà bị bắt buộc coi như là sự thật, phải tập thói quen sống giả dối với nhau, lừa lọc lẫn nhau. Khi ra đường phải đóng kịch, về nhà cũng không dám sống thành thật với anh em, vợ con. Mọi người đành chấp nhận đạo lý sa sút mà không ai dám công khai phản đối. Khi đó, mỗi người không còn tin ở người khác và cũng không tin ở chính mình nữa. Họ bắt đầu thấy chán, không còn lý do để tiếp tục sống theo thói quen và tập tục xã hội mà chính họ không còn tha thiết bảo vệ nữa. Nền tảng tinh thần của xã hội đã tan rã. Người ta chán ngán, chỉ muốn cơ hội “đổi đời” để cuộc sống của chính mình có ý nghĩa hơn.

Năm 1989 là lúc những người cầm đầu các đảng Cộng Sản ở Ðông Ðức, ở Tiệp Khắc và Ba Lan cũng chán ngấy không thấy lý do nào để biện minh việc ra lệnh bắn giết đồng bào của họ nữa khi dân chúng kéo nhau đi biểu tình. Hungary mở cửa biên giới, 200,000 người từ Ðông Ðức chạy qua để tìm đường sang Tây Ðức. Ðó toàn là những thanh niên, những người thợ giỏi, những chuyên gia trung niên. Hàng chục ngàn người từ trong nhà thờ ở Leibzig kéo ra đường, một tháng trước ngày bức tường Berlin bị đập, nhưng không một lãnh tụ Ðông Ðức nào ra lệnh đàn áp. Ðàn áp để bảo vệ cái gì khi chính họ cũng thấy cuộc sống của mình đang bế tắc, mà họ phải thấy những đòi hỏi tự do dân chủ của người dân là hợp lý? Ðám mật vụ, công an cầm súng lăm lăm trên tay cũng không thấy lý do nào để xả súng bắn vào đồng bào của họ nữa, mặc dù trước đó Cộng Sản Ðông Ðức đã đe dọa dân biểu tình sẽ bị tắm máu như ở Thiên An Môn.

Ðám công an mật vụ buông súng không phải vì họ sợ những người dân, những người trong tay không tấc sắt. Trước đám đông trông chẳng khác gì cha mẹ, vợ con mình, chính đám công an không còn muốn đóng vai trò một bánh xe quay trong bộ máy chuyên đàn áp, chuyên đi còng tay bắt người, chuyên thủ tiêu, giết người. Vì chính họ đã chán tận cổ lối sống phi đạo lý, phi nhân bản trong một xã hội được duy trì bằng bạo lực và dối trá. Cả xã hội chờ một biến cố châm ngòi để quyết định đổi đời!

Bức tường Berlin đổ vì người ta muốn đập vỡ hệ thống bạo lực và dối trá giam giữ cả xã hội mà trong đó họ phải sống quá lâu. Sau khi các chế độ Cộng Sản Ðông Âu tan, một người dân Ba Lan nói với nhà báo, “Từ nay chúng tôi được sống cuộc đời bình thường.” Ai cũng muốn trở lại làm một con người bình thường sống trong một xã hội bình thường. Loài người không muốn phải sống giả trá, phải nói những lời trái với lương tâm mình, phải gian dối với nhau hàng ngày, mãi không được nghỉ!

Mùa Hè năm 1991 tôi có dịp đi thuyền trên sông Elbe trong vùng Koenigsberg, phía Nam thành phố Dresden. Anh bạn người Ðức sống trong một làng gần đó, thuộc Ðông Ðức cũ, cho hay gần hai năm trước Chủ Tịch Bắc Hàn Kim Nhật Thành cũng ngồi trong chiếc thuyền đó đi du ngoạn trong vùng thiên nhiên mỹ lệ này. Năm 1989 Cộng Sản Ðông Ðức đã mời rất nhiều lãnh tụ cộng sản thế giới đến dự lễ kỷ niệm 40 năm ngày thành lập chế độ. Ðó là một đại lễ nhằm phô trương sự giầu mạnh của Cộng Hòa Dân Chủ Ðức! Tháng Mười năm 1989, tờ Nhân Dân, People Daily ở Bắc Kinh đã tường thuật cuộc lễ hội đánh dấu “40 năm vinh quang” đó, viết rằng: “Nhân dân nước Ðức đang đoàn kết ngày càng mạnh hơn dưới sự lãnh đạo của Ðảng.”

Một nhà lãnh đạo cộng sản khác là Mikhail Gorbachev đã nhìn thấy khác. Trong cuộc phỏng vấn với nhật báo Le Monde ở Pháp đăng ngày 6 Tháng Mười một, năm 2009 vừa qua, ông Gorbachev kể rằng bữa đó ông ngồi trên khán đài chứng kiến cuộc biểu tình vĩ đại mà chính phủ Ðông Ðức tổ chức, dân chúng từ khắp nước được đưa về tham dự. Khi đó Gorbachev đã bắt đầu chủ trương “sửa đổi cơ cấu” (perstroika) ở Nga được mấy năm. Nhiều người Ðức đã đến nói thẳng với ông: Hãy giúp chúng tôi, hãy giúp chúng tôi với! Gorbachev biết đây là một màn trình diễn giả tạo. Ông kể, hai người ngồi ngay hàng ghế phía sau ông trên khán đài là chủ tịch Ba Lan, Tướng Jaruzelski và Thủ Tướng Mieczyslaw Rakovski. Gorbachev nhớ lại: “Rakovski nghiêng người ra phía trước ghé tai tôi nói, 'Mikhail Sergueievich, ông hiểu tiếng Ðức họ nói chứ?' Tôi trả lời, 'Ðủ để hiểu những câu đoàn biểu tình họ đang hô.' Rakovski nói tiếp, 'Ông có thấy rằng đây là màn kết cuộc hay không?' Ðó, tình cảnh nó như vậy.”

Trong khi đó, Gorbachev thuật lại, Chủ Tịch Ðông Ðức Erich Honecker (77 tuổi) vẫn làm như không biết gì cả. “Ông ta vẫn hát, vẫn chia sẻ với chúng tôi vẻ hăng hái giả tạo của ông ta.” Và Honecker nói với người lãnh đạo Liên Xô rằng chế độ của ông ở Ðức đã tái cấu trúc trước cả Liên Xô rồi, cho nên không cần thay đổi gì thêm nữa. Khi Gorbachev gặp toàn thể ban lãnh đạo cộng sản Ðông Ðức, ông nói với họ, “Ai chậm chân quá, sẽ bị cuộc đời trừng phạt.” Nhiều người coi đó là lời tuyên bố kết thúc chế độ cộng sản ở nước Ðức.

Một câu hỏi tuần trước đã nêu lên trong mục này là tại sao những thiên đường mù cộng sản, mặc dù thất bại về kinh tế, suy đồi về đạo lý, mà vẫn kéo dài ở Nga và Ðông Âu được bao nhiêu năm như vậy?

Một nguyên nhân là chiến tranh. Trận Ðại Chiến Thứ Hai đã giúp trì hoãn sự sụp đổ của cả nền kinh tế lẫn chế độ chính trị ở Nga. Chiến tranh và thời kỳ hậu chiến biện minh cho việc kiểm soát và chỉ huy nền kinh tế. Ngay ở các nước tư bản, chính quyền cũng can thiệp vào việc kinh doanh, đưa ra những chỉ tiêu sản xuất, lập sổ tem phiếu để giới hạn việc tiêu thụ. Về mặt chủ tịch, Stalin đã bỏ quên hoàn toàn những khẩu hiệu cộng sản để đề cao lòng ái quốc của dân Nga, kêu gọi người dân hy sinh cho tổ quốc. Chiến tranh còn biện minh cho việc bắt bớ tù đầy những người đối lập, vu cho họ nhãn hiệu “thù địch,” “phản quốc.” Sau chiến thắng, chế độ cộng sản ở Nga có thêm uy tín nhờ lợi dụng sự hy sinh anh hùng của người dân Nga trong cuộc chiến giữ nước. Thời kỳ “chiến tranh lạnh” sau đó cũng chỉ là tình trạng kéo dài của chiến tranh nóng. Không khí chiến tranh giúp các chế độ cộng sản lúc nào cũng đe dọa dân về “các thế lực thù nghịch” bao vây họ, lấy cớ đó kìm kẹp dân chúng và bắt giam mọi người có ý kiến bất đồng. Các chế độ cộng sản còn lại bây giờ cũng cố gắng bảo vệ quyền lợi và địa vị bằng thủ đoạn tương tự. Chính những giai đoạn “detente,” hòa hoãn, sống chung hòa bình, ký các hiệp ước và trao đổi với nhau, đã dần dần tước bỏ các chế độ cộng sản thứ khí cụ tuyên truyền hữu hiệu đó.

Khi những người dân trong khối cộng sản được biết hoặc thấy, qua các đài phát thanh và truyền hình, về đời sống của người dân các nước không cộng sản, dần dần họ tỉnh ngộ và tìm hiểu thêm sự thật. Sự thật, khi được thông tin đầy đủ hơn, giúp người ta nhìn ra chính cuộc sống của họ đắm chìm trong một xã hội dựa trên sự giả trá. Con người không thể “sống giả” mãi như thế được. Ðó là lý do các chế độ cộng sản cuối cùng phải tự hủy diệt. Trong cuộc xoay vần Sinh - Diệt - Diệt - Sinh của một xã hội, hủy diệt sớm thì cơ hội được tái sinh cũng sẽ đến sớm hơn. Người dân Ðức đang dự hội, không phải là để mừng sự sụp đổ của một chế độ, mà là để ăn mừng cơ hội tái sinh của nước họ 20 năm trước đây.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »



Image

Một dân tộc đáng kính trọng

Ngô Nhân Dụng
Sau một chuyến đi gần đây, tôi muốn có dịp bày tỏ lòng kính trọng đối với người Thổ Nhĩ Kỳ. Chỉ ở nước đó có 6 ngày, một ngày ở Izmir và 5 ngày ở Istanbul, tôi đi không có tổ chức nào hướng dẫn, cho nên có nhiều thời giờ tiếp xúc với những người dân bình thường hơn. Phải thú thực, trước đây tôi không biết gì về họ ngoài những điều đọc trong sách vở. Khi nhìn thấy họ sống, gặp gỡ những còn người thật, mới thán phục.

Trước hết là phục tính sạch sẽ, trật tự, kỷ luật ở những nơi công cộng như đường sá, chợ búa, đặc biệt là ở các trạm xe điện. Chúng biểu lộ tinh thần trọng công ích của người dân. Trong mấy ngày ở thành phố Istanbul, tôi cứ ngạc nhiên không thấy ai gian lận khi sử dụng hệ thống xe điện trong khi hệ thống canh giữ rất sơ sài. Phải chăng là tại vì mình vốn có thói gian lận, hoặc sống cạnh những người gian lận quen nên nghĩ như vậy? Thực tình không biết! Một lần tôi cũng ngạc nhiên như vậy khi ngồi đợi xe lửa ở bên Ðức, một người nữa ngồi bên cạnh. Có ai để lại một tờ báo hàng ngày gấp sạch sẽ trên băng ghế. Một lúc, người đàn ông ngồi cạnh tôi bước tới thùng báo bỏ mấy đồng xu vào, rút ra một tờ báo, cũng đúng là tờ báo để bên cạnh chỗ ông ta ngồi. Tại sao ông ta không nhặt tờ báo kia lên đọc mà lại bỏ tiền mua một tờ khác giống hệt? Chỉ có thể giải thích là trong xã hội này người ta có tính như vậy, không ai lấy của người khác dùng làm của mình, dù là một vật người ta đánh rơi hay bỏ quên. Khi nhận thấy mình ngạc nhiên trước hành vi của người ta, tôi cũng tự cảm thấy xấu hổ.

Tôi đã quan sát các trạm xe điện trong suốt mấy ngày ở Istanbul. Xe điện ở đây không có người soát vé, cũng không bán vé; để vào cửa hành khách đến quầy hàng ở chỗ xa mua những “đồng sèng” bằng platic họ gọi là “giơ tông,” viết jeton giống như tiếng Pháp, vào bên trong rồi thì lên tầu. Trạm xe điện chạy dọc theo đường phố rất trống trải, gần như ai có ý gian thì cứ bước vào cũng được, hiếm lắm mới thấy một người mặc đồng phục đứng ở đó. Nơi kiểm soát là ở lối vào trạm xe, có hai ba cột trụ với tay sắt quay cho khách đi qua, sau khi bỏ đồng sèng vào.

Trạm xe điện nằm giữa phố, không có tường hoặc hàng rào kiên cố bao bọc; chỉ có một tấm plastic trong veo cao đến thắt lưng, kéo dài chừng mười lăm mét, ngăn lề đường và bến đợi bên đường rầy xe điện. Người băng qua đường có thể đi lệch mấy bước là vào trong trạm đợi xe rồi. Nhưng không thấy ai làm như vậy cả. Không thấy người nào đi vòng quanh máy thu tiền để bước vào, mặc dù chỉ cần bước lệch một hai bước thôi là đi quanh được. Không thấy cả những học sinh nghịch ngợm nào nhảy qua hàng rào plastic để vào trạm xe, như tôi đã thấy nhiều lần ở nhiều thành phố tại Âu Châu. Có lẽ người dân ở đây, một thành phố 10 triệu dân và rất đông du khách, có lối sống thật thà, lương thiện như vậy từ nhiều đời đã quen rồi!

Ðiều đáng phục nhất là đường sá và các trạm xe điện rất sạch sẽ, trong khi ngoài đường cũng có nhiều người ăn kẹo hoặc hút thuốc. Ở Singapore chính quyền đã cấm nhai “kẹo cao su” cốt để người dân không vứt giấy bao kẹo xuống đất, nhưng ở đây thì họ không cấm. Hàng quà bán trên lề đường rất nhiều, hấp dẫn nhất là món hạt dẻ nướng nóng hổi. Khi mua hạt dẻ, người bán hàng luôn luôn đưa thêm một cái bao cho khách để đựng vỏ hạt sau khi ăn. Trong một trạm xe điện có bữa tôi thấy một thanh niên dáng dấp công nhân đang ăn hạt dẻ mà tay không cầm cái bao đựng vỏ. Anh ta bước mấy bước dưới trời mưa lất phất, đi tìm cái chậu đựng rác bằng kim loại, bỏ những vỏ hạt dẻ vào. Giữa đám đông người đứng chờ xe, nếu anh ta có bỏ mấy mảnh vỏ xuống đất chắc cũng chẳng ai để ý!

Bữa khác, thấy một người đàn ông dưới 30 tuổi hút xong điếu thuốc, đi tìm chậu đựng rác dụi cuống điếu thuốc rồi ném vào. Tôi tới hỏi thăm đường với anh ta để làm quen. Khi lên tầu, tôi tiếp tục nói chuyện và được biết anh là một sinh viên đã học chuyên về Văn Chương Ðức. Nhưng mục đích tôi làm quen chỉ để sau cùng hỏi anh ta một câu: Tại sao anh không vứt cuống điếu thuốc xuống đất, như tôi thấy những người Mỹ, người Pháp vẫn làm ở ngoài đường? Tại sao anh lại mất công, dưới trời mưa, tìm đúng nơi để vứt bỏ một mẫu rác nho nhỏ như thế? Từ trước đến nay tôi chỉ thấy người Ðức, người Nhật có lối sống rất tôn trọng kỷ luật mà thôi! Tại sao những người Thổ Nhĩ Kỳ tôi gặp đều có tinh thần kỷ luật như vậy? Có phải trong trường học người ta vẫn dạy anh từ bé phải sống có kỷ luật hay không? Hay là giáo dục trong gia đình? Anh bạn trẻ chỉ cười, nhún vai, có vẻ không biết trả lời ra sao. Có lẽ anh đã tập những thói quen như vậy từ bé, và thấy ai ở chung quanh cũng làm như vậy, cho nên không bao giờ đặt câu hỏi đó. Một dân tộc văn minh thể hiện trong lối sống tôn trọng những gì là công cộng, nghĩ đến người khác. Ðiều đó biểu lộ ra ngay trong cuộc sống hàng ngày khi họ giữ đường sá sạch sẽ.

Tôi mắc tật xấu hay hút thuốc, cho nên khi đến chỗ lạ thường chú ý đến cử chỉ, hành vi của những người khi hút xong điếu thuốc. Thú thật là bây giờ mỗi lần khi châm xong cối thuốc, tính vứt que diêm tắt xuống đất, tôi bỗng ngượng ngùng, ngừng tay không ném công mà cẩn thận nhét lại que đóm đã tắt vào lại trong bao diêm. Ðó là sau khi được chứng kiến thói quen tốt của những người nước khác. Lần đầu du lịch ở Nhật Bản tôi đã ngạc nhiên khi bước ra khỏi cửa một công ty hay cửa khách sạn, quán ăn, thấy những tấm bảng nhỏ trên tường ghi “Ðây là chỗ hút thuốc.” Tôi ngạc nhiên: Ra ngoài đường rồi thì thường mình được tự do hút, tại sao phải yết bảng lên bảo mình được phép hút làm gì? Khi chú ý nhìn, mới thấy ở dưới các tấm bảng đó bao giờ cũng có một cái khay để gạt tàn thuốc lá, thường để trên một cái thùng khá cao vừa tầm tay. Sau tôi mới để ý thấy dọc trên lề đường những nơi đông đúc ở Tokyo cũng có những cái gạt tàn và tấm biển như vậy. Và nhìn xuống đất thì hầu như không thấy mẫu tàn thuốc lá nào.

Một bữa đứng hút thuốc trước một khách sạn gần chân núi Phú Sĩ, thấy một đám đông người Á Ðông ồn ào ở bên trong, tôi hỏi người Nhật hướng dẫn viên du lịch: Anh có biết những người ồn ào kia từ nước nào tới hay không? Sau khi trả lời, anh ta lắc đầu nói, Họ dơ dáy lắm! (Dirty, là chữ anh dùng). Tôi hỏi: Dơ dáy thế nào? Anh đưa tay lên làm cử chỉ một người hút thuốc, xong làm thêm cử chỉ ném mạnh điếu thuốc xuống đất, rồi lấy bàn chân day day trên mặt đất! Tôi hiểu, anh chê những người đó dơ dáy vì họ hút thuốc xong là vứt xuống đất, không tìm cái gạt tàn thuốc mà bỏ vào! Bấy giờ tôi hiểu rõ hơn lý do tại sao ở ngoài phố người ta cũng để những cái gạt tàn thuốc lá! Tôi thành thật nói với anh: Sato San, người nào biết lấy giầy dập tắt tàn thuốc đi tức là họ còn lịch sự, còn văn minh đấy. Ở nhiều nơi người ta hút thuốc xong cứ thế vứt xuống đất, điếu thuốc tàn vẫn tiếp tục cháy, khói cứ thế bốc lên bắt người khác phải hít vào, anh biết không? Vì tự ái hão, tôi không nói thẳng là ở nước tôi cũng vậy! Anh Sato sẽ có ngày đến Việt Nam hoặc đến Little Sài Gòn, thế nào anh cũng thấy! Nhưng nếu anh qua Thổ Nhĩ Kỳ, anh sẽ cảm thấy dễ chịu như ở Nhật Bản!

Ở Thổ Nhĩ Kỳ, tôi còn cảm phục tính lương thiện của nhiều người mà tôi đã gặp. Thí dụ như hai chú bé chừng 13, 14 tuổi đứng bán thứ bánh mì hình vành khăn rất phổ thông ở đây. Ăn vào lúc còn nóng nó vừa dòn vừa dẻo, ăn không cũng thấy ngon. Khi mua một cái bánh, tôi nhìn bảng giá đoán chừng hơn một đồng lira, rồi móc mấy đồng xèng trong túi ra đếm và đưa cho chú bé. Tới xứ lạ, phân biệt được giá trị mỗi đồng xèng đó cũng khá mất thời giờ và rất dễ lầm. Tôi trả tiền xong quay bước đi, bỗng một chú bé gọi giật lại. Chú đưa lại tôi một đồng lira trả dư. Chú không lấy thêm một đồng của người trông thấy rõ là du khách, mà trong đời chú chỉ gặp có một lần! Một người lương hảo là người tử tế đối với những người mà mình chỉ gặp một lần trong đời. Hai chú bé này rõ ràng là những người lương hảo.

Tôi còn cảm thấy tính lương thiện của người dân ở đây trong một chuyện khác. Chúng tôi đi vào khu chợ Grand Bazar nổi tiếng. Hai phụ nữ Việt Nam vào một tiệm kim hoàn nhỏ, hỏi xem hàng và mặc cả. Ông chủ tiệm làm việc có một mình, ông bày các khay trưng bầy những bông tai, hạt ngọc, vân vân trên quầy cho khách xem. Tôi đang đứng ngoài cửa tiệm thì thấy ông bước ra ngoài, chạy sang hỏi người chủ tiệm bên cạnh để đổi tiền. Nhìn vào trong, hai bà khác vẫn chọn lựa và bàn tán. Tôi ngạc nhiên vì không thấy ông ta cất những khay đựng đồ vàng ngọc trước khi rời tiệm! Ông còn chạy qua chạy lại mấy tiệm bên cạnh để đổi tiền. Bỗng dưng, cả khu buôn bán bị mất điện, đèn tắt hết, tối thui. Ông chủ tiệm vẫn tiếp tục chạy đi đổi tiền, mấy phút sau mới trở lại tiếp tục nói chuyện với khách! Sau đó, đèn lại bật lên, việc mặc cả tiếp tục! Tôi không hiểu nổi tại sao một chủ tiệm vàng có thể tin người khách ngoại quốc mà bỏ ra ngoài, không khóa các cánh cửa tủ, để các khay vàng, ngọc trống trơn như vậy! Chắc hẳn ở đây người ta có thói quen coi ai cũng là người lương thiện, đáng tin cả!

Ở những thành phố đông du khách, người ta rất dễ sinh hư. Mọi người coi đám du khách là con mồi cho họ lợi dụng, lừa gạt, hoặc xin xỏ! Hai chú bé người Thổ Nhĩ Kỳ không hề nhiễm những thói xấu đó. Ông chủ tiệm vàng chắc cũng không. Thổ Nhĩ Kỳ là một nước khá đông, 72 triệu người, GDP khoảng 730 tỷ Mỹ kim, tính mỗi đầu người lợi tức 11,000 đô la. Nhưng hiện nay tỷ lệ thất nghiệp cũng lên tới 11%, và trong dân chúng có 20% còn sống dưới mức nghèo khó. Nhưng phải nói là dân trí họ rất cao, và đáng khâm phục nhất là tinh thần kỷ luật, trật tự, giữ sạch sẽ nơi công cộng. Xin nhắc lại, tôi chỉ thấy cảm phục như vậy khi đến hai nước khác là Ðức và Nhật Bản. Người dân các nước đó sống kỷ luật, sạch sẽ và lương hảo, không phải để cho người nước khác phải kính phục. Họ sống như vậy vì chính họ. Khi mọi người cùng sạch sẽ, trọng công ích, giữ kỷ luật, thì cuộc sống của tất cả mọi người an vui hơn.

Yếu tố nào đã giúp cho những người dân bình thường ở một quốc gia giữ được những đức tính kỷ luật, sạch sẽ, tôn trọng công ích và sống lương hảo một cách tự nhiên như thế? Ðây là một đề tài tôi xin quý vị độc giả cùng suy nghĩ. Làm thế nào để người Việt Nam mình cũng tập được những thói quen tốt như người nước khác? Thật đáng buồn khi thấy đồng bào mình sống trong một chế độ chuyên dùng bạo lực và gian dối đã bỏ hết những thói quen tốt của tổ tiên, chỉ tập được toàn thói xấu. Sau nửa thế kỷ dân ta đã tập được những thói quen gian dối, lừa đảo, ích kỷ, không tôn trọng của công. Muốn tập những thói quen, những đức tính tốt, chúng ta phải bắt đầu ngay, từ mỗi người, từ mỗi gia đình, từ trường học. Cả nước phải thực tập tinh thần công dân, đạo đức con người, người này làm rồi người khác sẽ bắt chước theo, nhất là cho thế hệ con cháu.

Thật đáng tiếc khi có những người trẻ tuổi họp lại để nương nhau tập lối sống an tịnh, thanh cao, sống vì người khác mà không nghĩ tới mình, như các tăng ni trẻ ở Tu viện Bát Nhã trước đây, thì chính những hạt giống Bồ Ðề này bị trù đập, cấm đoán và bây giờ đang bị đuổi mỗi người đi một nơi!

Có cách nào cứu nước hay không?
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Gặp Gỡ Việt Nam đối diện Sự Thật

Ngày 18-11-2009, giờ 00:57 Từ các tường trình bằng hình ảnh, bằng video qua các mạng thông tin trên internet với đầy đủ chi tiết về cuộc biểu tình 2 ngày 15, 16/11/2009, bài viết này xin đưa ra một số nhận xét về hiện tượng gọi là “Meet Vietnam.” "Gặp Gỡ Việt Nam" do cộng sản tổ chức tại Tòa Thị Chánh/City Hall, thành phố San Francisco, Hoa Kỳ, với sự có mặt của phó thủ tướng cộng sản Trương Vĩnh Trọng.


Con số tham dự biểu tình trong ngày đầu tiên, Chủ Nhật 15/11, có thể lên tới 1000 người. Ngoài số cư dân tại San Francisco, đồng hương đến từ các thành phố khác như Nam California, San Jose, Sacramento... So sánh với những cuộc biểu tình trước đây, lần này phải thấy rằng khí thế của người Việt tại tiểu bang có thủ đô tỵ nạn đáng ghi nhận là sôi động, nhất là thành phần thanh niên tại Bắc California, và Thanh Niên Cờ Vàng đến từ Nam California.

Những khẩu hiệu hô vang nhịp nhàng từng hồi, từng hồi...Hai chữ "Việt cộng" được lập lại nhiều lần.
Việt cộng bán nước: Việt cộng dâng đất nhượng biển cho Trung Cộng.
No human rights - No trade: Không nhân quyền thì không giao thương.
No business with terrorists and liars: Không thương mãi với những kẻ khủng bố và nói láo. Đặc biệt hơn có một nhân vật đã từng dùng 4 chữ “khủng bố VC” khi bà còn ở Việt Nam tranh đấu cho dân oan – bà Bùi Kim Thành. Trong bầu không khí tự do, lần này, bà không ngớt hô to: Communist, master of terrorist, đả đảo khủng bố VC, God bless America!
VC, go to hell!: Việt cộng, hãy xuống địa ngục mà ở đi!
Chống Mỹ cứu nước sao qua Mỹ xin xỏ, nhục quá! Và nhiều khẩu hiệu khác.
Image
Một rừng biểu ngữ cầm tay và cờ vàng ba sọc đỏ hòa lẫn các biểu tượng Việt Nam Cộng Hoà trên áo, trên nón, v.v..Tuyệt nhiên người ta không thấy bất cứ một dấu hiệu gì về ngày “Meet Vietnam” hay cờ đỏ sao vàng để bên ngoài.

Việt cộng cùng nhau gục đầu đi vào City Hall, trừ cảnh sát

Có khi ống kính quay phim phải chuyển nhanh sang những góc độ khác khi mà cùng thời gian lại có quá nhiều hiện tượng xảy ra xung quanh City Hall. Toà nhà được bao bọc bởi 4 con đường. Người biểu tình phải chia nhau đóng cứ thành 3 mặt trận. Cửa trước tức mặt tiền chiếm hơn phân nửa số người. Tại cửa chánh này, đa phần có thể nói là những Việt cộng làm việc tại hải ngoại và Việt cộng có chức trong nước, con cháu gia đình Việt cộng tại hải ngoại, du học sinh, Việt gian thương gia, và một ít người ngoại quốc bước vào.
Image
những con cháu của Việt cộng bước xuống từ xe bus đi vào cửa hậu 2
Image
Trần Nhật Phong (mũi tên) của báo Viet Weekly, Nam California, đi vào cửa hậu 2
Cửa bên hông trái, cửa hậu 2, có thể được xem là một mặt trận gay cấn nhất. Những Việt cộng vào cửa này gồm các nghệ sĩ từ Việt Nam qua, những Việt cộng có trách nhiệm tổ chức và họ rất máu mặt, hung hăng, có lẽ từ Tòa Tổng Lãnh Sự; những du học sinh; và những người làm báo hải ngoại như báo V Time, như Trần Nhật Phong và Vũ Hoàng Lân của Viet Weekly tới đó để làm “thông tin.” Nhưng những nhà báo Việt Nam tại Nam và Bắc California dù có mang thẻ vẫn không vào được vì không có "giấy mời." Sau khi phát hiện 2 nhân vật này, người biểu tình có thêm khẩu hiệu: Đả đảo Việt gian tiếp tay Việt cộng bán nước!

Mặt trận nào cũng có những vấn đề xảy ra nóng bỏng. Trong khi 2 mặt trận đang “tiếp cận” với phái đoàn Việt cộng có thể trên 100 người trong khí thế như lửa hừng hực cháy, với những câu nhục mạ từ một vài phụ nữ đã làm cho Việt cộng ai nấy phải gục đầu đi, từ trên xe bus bước xuống không dám ngó ngang ngó dọc thì cửa hậu bên mặt, cửa hậu 3, cảnh sát đã “barricaded” ngăn chặn mọi ngã vào cửa này. Thì ra đây là cửa không có Việt cộng nào vào hôm nay, một nơi kém quan trọng nhất của City Hall để cảnh sát “hộ tống” một phó thủ tướng Việt cộng Trương Vĩnh Trọng bước vào. Cửa hậu thứ 4, tức đối diện với mặt tiền, sát mặt đường và chật hẹp nên không ai chú ý.

Việt cộng bước ra khỏi City Hall cùng nhau gục đầu, một chú bé có lẽ lần đầu tiên bị nghe phản đối

Đó là đại khái những gì xảy ra của ngày đầu cuộc xuống đường phản đối. Qua ngày sau, Thứ Hai 16/11/2009, vì là ngày làm việc nên người đi tham dự ít hơn. Tuy nhiên, không khí vẫn còn hừng hực dù âm thanh của một số người đã không còn thanh thoát, cuống họng đã khàng khàng. Đáng ghi nhận nhất là 2 thanh nữ thuộc nhóm Thanh Niên Cờ Vàng, âm vang chẳng những bớt mà càng lúc càng mạnh mẽ hơn, khí thế hơn.

quang cảnh ngày thứ hai 16/11/2009 trước City Hall lúc 9am và 7pm

Đáng tiếc là người biểu tình phải dời điạ điểm qua bên kia đường trong khu công viên, không như ngày trước đứng sát, mặt đối mặt với Việt cộng. Tuy vậy, lợi điểm của ngày này là người biểu tình được vào trong phòng triển lãm nên họ đã quay phim, chụp hình những gì xảy ra tại hiện trường để tường trình ra ngoài.

Với mục đích kêu gọi du lịch và đầu tư vào Việt Nam nên chương trình của cộng sản chi tiết các đề mục. Có những phát biểu của các lãnh đạo Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư, đại diện Khối Doanh Nghiệp tiểu bang California, đại diện Khối Doanh Nghiệp Mỹ gồm 2 công ty đang hoạt động tại Việt Nam, đại diện Bộ Thông Tin và Truyền Thông nói về “xuất khẩu phần mềm” v.v.. Chuyện đáng buồn cười là ngay lúc đàn em môi hở răng lạnh của Trung cộng đang bàn chuyện mang kỹ thuật và “công nghệ phần mềm” qua Mỹ bán cho thành phần dùng internet thì tổng thống Hoa Kỳ Obama cũng đang phát biểu tại Beijing về việc Trung cộng nên cho dân tự do vào các mạng toàn cầu mà không bị kiểm duyệt. Lời phát biểu của Obama bị chặn (censored) không được phát ra cho dân nghe, ngoại trừ chỉ có một đài (regional channel). Những bản tin về chuyến đi Trung cộng của Obama từ các hãng thông tấn liên tục đưa lên các mạng.

Theo như chương trình thì có phần “Toạ Đàm về Giáo Dục Việt Nam”. Các hiệu trưởng (president) của các đại học UC trao đổi với phó thủ tướng cộng sản Nguyễn Thiện Nhân, nhưng họ lại không đề phòng họp hay địa chỉ buổi họp tại đâu mà lại ghi “trao đổi thêm với TLSQ”. Tới đây chúng ta có thể nghi ngờ rằng vì các hiệu trưởng đã không hưởng ứng nên giờ chót ban tổ chức phải thay đổi người lãnh đạo là Trương Vĩnh Trọng thay vì Nguyễn Thiện Nhân (về giáo dục).

Trong phòng trưng bày có “triển lãm sách Việt Nam”. Hình ảnh được chụp ra cho ta thấy có “Vietnamese Books” và trên bàn có một số sách. Có lẽ đây là những sách bằng tiếng Anh, mục đích để giới trẻ hải ngoại đọc.
Image
nhân viên an ninh luôn túc trực tại phòng triển lãm, chỉ lai rai vài người xem
Đáng ghi nhận nữa là đa số hình ảnh triển lãm treo trên tường là những gương mặt và dáng dóc phụ nữ Việt Nam. Hàng chữ “Meet Vietnam 2009” kế bên hai cô gái “duyên dáng” với chiếc áo dài trắng yểu điệu. Hình này cũng được báo V Time tại Bắc California quảng cáo trên nguyên một trang giấy. Lại là những cô gái Việt Nam được đem ra làm đề tài để chiêu dụ khách ngoại quốc về Việt Nam!

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết qua Nam California vào 6/2007, ông cũng đã kêu gọi khách ngoại quốc hãy về Việt Nam du lịch vì “con gái Việt Nam đẹp lắm.” Lời tuyên bố này đã bị thiên hạ đánh giá trình độ của một chủ tịch nước cộng sản Việt Nam quá là thấp kém về văn hoá. Đến nay 11/2009, “Meet Vietnam” lập lại những gì mà ông Triết đã tuyên bố không hơn không kém. Điều này làm cho chúng ta có thể kết luận rằng Đảng đã có chủ trương làm gì, nói gì, dù chủ tịch nhà nước hay phó thủ tướng cũng phải “nhất trí” thực thi đường lối được đề ra. Cả đảng viên từ trên xuống dưới phải biết lợi dụng phụ nữ Việt Nam một cách triệt để, có vậy thì nền kinh tế mới thêm tiến bộ.

Theo lối quảng cáo này thì có phải khi nói tới Việt Nam thì trước hết người ngoại quốc nghĩ ngay tới các cô gái. Xét cho cùng thì cũng đúng lắm. Những cô gái Việt đói nghèo vì hoàn cảnh xã hội, dưới thế lực của công an, cán bộ từ mọi nơi trong nước, họ đang bị rải ra khắp năm châu dưới nhiều hình thức: bán dâm, bán lao động, lấy chồng, v.v..

Một cái nhìn chung về kết quả của 2 ngày “Meet Vietnam” như thế nào? Khi trưng bày, khi phô trương về Việt Nam để chiêu dụ đầu tư, du lịch, giáo dục, chắc chắn ban tổ chức cần khách đến tham dự và tìm hiểu càng nhiều càng tốt. Sau khi xem qua hết hình ảnh 2 ngày này, chúng ta thấy rất ít người ngoại quốc vào, trong những người này có thể là các nhân vật đại diện các công ty và các ban ngành được ghi ra trong chương trình, còn khách tham dự là đại sứ Michael Michalak chẳng hạn. Vậy những giấy mời được in ra để gửi cho ai? Đa phần ngươì ta thấy những gương mặt Việt cộng và một số Việt gian gồm người làm báo, chủ các cơ sở thương mại, chủ nhà hàng bán phở. Bởi thế nên lời phát biểu của cô Cờ Vàng (từ Washington DC bay sang Nam California) suy ra rất ý vị: Đây không phải “Meet Vietnam” mà là “Meet Vietcong”!

Sự thật về ý nghĩa của “Meet Vietnam” được trình bày qua một nhãn quang tinh tế hơn. Ban tổ chức cuộc biểu tình và các tổ chức trong cộng đồng miền Bắc đã thực hiện một truyền đơn độc đáo. Tờ này được phổ biến cho người đi đường tại khu biểu tình, trong đó gồm hình ảnh linh mục Nguyễn Văn Lý bị công an bịt miệng tại toà, các cô gái khoả thân sắp hàng cho ngoại nhân chọn lựa, trẻ em bươi xới đống rác, v.v.. Tờ truyền đơn có tựa “Meet The Real Vietnam” hay “Gặp Gỡ Những Điều Thật về Việt Nam.” Được biết nguyên trang hình ảnh này được đăng trên San Francisco Examiner, một tờ báo lớn hàng nhì tại thành phố với số ấn hành 200 ngàn.
Người Việt tại California biết dùng quyền làm người, quyền công dân của một quốc gia tự do để phản ảnh và tỏ thái độ đối với tội ác của tập đoàn độc tài cộng sản Việt Nam. Thế giới đã biết, mọi người đều biết, nhưng những bất công vẫn còn đó, Việt cộng vẫn ngang nhiên trơ mặt chà đạp lên sự thật với sự tiếp tay của những kẻ chỉ biết trục lợi cho cá nhân.
Image
No human rights - no trade là khẩu hiệu vang dội nhiều nhất tại buổi xuống đường. Một trong những quyền làm người đó là được tự do phát biểu hay tự do ngôn luận. Quyền này đã bị Đảng Cộng Sản Việt Nam tước đoạt hơn 34 năm qua, nói riêng tại miền Nam. Nếu người dân chưa được tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tôn giáo, tự do kinh doanh thì, ngay từ căn bản, không một ngoại nhân nào có thể giúp dân Việt Nam trở thành khá giả được. Khi dân trí lên cao và tài chánh dồi dào thì nước mới mạnh. Nước Việt Nam cứ nghèo đói mãi nên mới có cái cảnh “Meet Vietnam” cầu cạnh nước ngoài; ngược lại, càng làm chuyện này thì Đảng càng giàu thêm, và đó chính là chính sách của Đảng. Ai hiểu bản chất người cộng sản không thể phủ nhận điều này.

Ý nghĩa của câu nói sau đây từ lâu như là luật của đất nước Hoa Kỳ, cũng như luật là chính phủ không được kiểm duyệt (censor) những chỉ trích từ dân chúng. Hôm nay tại Beijing tổng thống Obama đã tuyên bố:
You see, freedom of speech in America is not given to the people by the president but is something that the people use to supervise their government and president, to protect themselves. Quý vị thấy đó, tự do phát biểu (bao gồm cả bài viết trên internet) trong nước Mỹ không phải do tổng thống ban cho người dân, nhưng đó là những gì mà người dân dùng để kiểm soát chính phủ và tổng thống để bảo vệ họ.

Những “Viet Expo” hay “Meet Vietnam” sẽ không còn tiếp diễn nếu toàn dân trong nước ý thức được quyền làm người, sau đó có cơ hội làm vấn đề thay đổi để thực hiện và áp dụng ý nghĩa của những lời trên.

Bút Sử
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Khi con nợ đi gặp chủ nợ

Ngô Nhân Dụng
Ông Phùng Chính Hổ (Feng Zhenghu) hy vọng sẽ được trở về nước Tầu sau khi Tổng Thống Mỹ Barack Obama chấm dứt 2 ngày thăm viếng. Ông bị kẹt ở phi trường Narita, Tokyo từ ngày 4 Tháng Mười Một, sau khi bay về Thượng Hải mà bị đuổi đi, dù ông mang thông hành của một công dân Trung Quốc. Nhân viên hãng hàng không Nhật Bản ANA giúp cảnh sát Thượng Hải lôi kéo, xô đẩy ông Phùng vào máy bay quay trở lại Tokyo - nếu không thì máy bay này không được phép cất cánh!

Phùng Chính Hổ nhất định không trở vào lãnh thổ Nhật Bản cho nên cứ ở trong phi trường, gần hai tuần lễ rồi, sống bằng bánh kẹo do các hành khách khác tặng cho, và uống nước lã! Ông đang kiện ANA và hai công ty hàng không khác không chịu bán vé cho ông về nước 8 lần trong thời gian qua. Ông nói, việc cưỡng bách trục xuất một người Tầu ra khỏi nước Tầu như vậy là điều nhục nhã cho cả dân tộc Trung Hoa! Ông Phùng Chính Hổ đã bị chính quyền bắt giữ và sách nhiễu nhiều lần từ khi ông đứng ra bênh vực những người dân Trung Hoa bị cướp nhà, cướp đất, và phê bình đảng Cộng Sản về vụ đàn áp ở Thiên An Môn năm 1989.

Phùng Chính Hổ là một trong số bốn nhà dân chủ bị chính quyền Cộng Sản Bắc Kinh bắt, đe dọa và sách nhiễu, trước khi ông Obama sang thăm Trung Quốc hai ngày, trong chuyến đi đầu tiên của ông tới Á Châu. Một nhà dân chủ khác là Tề Chí Dụng (Qi Zhiyong) đã viết đơn xin tổ chức một cuộc biểu tình để đón ông Obama khi sang Tầu, nộp đơn rồi là bị bắt ngay. Ông Tề đã mất một cẳng chân trong cuộc biểu tình năm 1989. Bà Tăng Kim Yến (Zeng Jinyan), vợ của nhà tranh đấu Hồ Giai (Hu Jia) thì được công an đến tận nhà đe dọa bắt bà không được ra đường trong “thời gian nhậy cảm” trước khi ông Obama tới. Hồ Giai đã được giải thưởng về nhân quyền của Nghị Viện Âu Châu năm ngoái, vì tranh đấu cho những người dân Trung Hoa bị cướp nhà đất, cho các bệnh nhân AIDS, bảo vệ môi trường, vân vân. Nhiều người đề nghị tặng ông giải Nobel Hòa Bình trong mấy năm qua.

Ông Triệu Liên Hải (Zhao Lianhai) là người đã đứng lên phản đối các công ty sữa bò và đòi bồi thường cho các nạn nhân của vụ sữa nhiễm độc chất melamine, cho nên bị chính quyền Cộng Sản ghét. Hai ngày trước khi ông Obama tới, Triệu Liên Hải bị cảnh sát Bắc Kinh bắt giữ mặc dù ông phản đối lệnh bắt ông sai luật vì không nêu rõ lý do. Ông Diêu Lập Pháp (Yao Lifa) bị bắt trong khi đang đi dạo với đứa con nhỏ, bà vợ ông phải tới sở cảnh sát đón con về. Hồi đầu năm 2009 ông Diêu đã bị bắt sau khi được Lãnh Sự Quán Mỹ ở Vũ Hán mời dự tiệc mừng ngày Tổng Thống Obama nhậm chức!

Trong khi gặp riêng Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào, ông Obama đã nêu lên vấn đề vi phạm nhân quyền ở nước Tầu, ông nhấn mạnh đến người Tây Tạng và người Hồi Giáo ở Tân Cương. Tuy nhiên, theo lời ông Jeffrey Bader, phụ trách vùng Á Ðông trong Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia, nói với nhật báo Wall Street thì trong các cuộc gặp kín với Hồ Cẩm Ðào ông tổng thống Mỹ có đề cập tới các quyền làm người căn bản của người dân, trong đó có quyền sử dụng Internet, và chưa có ai nói “thẳng thừng” (blunt talk) như vậy bao giờ.

Nhưng khi ra họp báo trước công chúng thì cả hai nhà lãnh đạo Mỹ và Trung Quốc cố ý đề cập đến sự hợp tác của hai nước trong những “vấn đề lớn” của thế giới; họ chỉ nhắc đến những điểm bất đồng một cách tổng quát, nhẹ nhàng.

Obama chỉ nhấn mạnh đến quyền làm người của những dân tộc thiểu số chứ không nhắc đến các nhà tranh đấu dân chủ. Ðiểm mạnh nhất là ông nhắc đến người quyền của người Tây Tạng trước khi khuyến cáo chính phủ Bắc Kinh nên nối lại việc tiếp xúc với Ðức Ðạt Lai Lạt Ma. Ông Obama đã phải hoãn việc tiếp Ðức Ðạt Lai Lạt Ma tới sau khi đi Tầu, nhiều người cho đây là một nhượng bộ quá đáng. Ngày ông tới Bắc Kinh thì Ðức Ðạt Lai Lạt Ma cũng vừa chấm dứt chuyến đi thăm cộng đồng người Tây Tạng ở tiểu bang Arunachal, Ấn Ðộ, một vùng đất mà Bắc Kinh coi như một phần thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Bắc Kinh đã phản đối chính phủ Ấn Ðộ về vụ này, và họ vẫn lên tiếng đòi vùng “Nam Tạng” từ năm 1962 đến nay.

Khi gặp Hồ Cẩm Ðào trong phòng riêng, Obama chỉ trích việc Bắc Kinh dựng “Trường Thành Lửa” ngăn chặn các mạng lưới không cho đề cập tới những đề tài “nhậy cảm,” mà chính Obama là một nạn nhân. Cuộc nói chuyện của ông tổng thống Mỹ với các sinh viên (đã được chọn lọc và “huấn luyện” trước) ở Thượng Hải được trực tiếp truyền hình, nhưng sau đó nhiều đoạn đã bị công an cắt hết không cho lên mạng. Hiện ở Trung Quốc có 350 triệu người dùng Internet và 70 triệu người làm blog, và phần lớn đều muốn được phát biểu tự do hơn.

Khi họp báo, cả hai ông Hồ Cẩm Ðào và Barack Obama đều muốn nhấn mạnh đến những thỏa thuận hợp tác trong một số vấn đề căn bản. Nhật báo Wall Street nhận xét rằng bản Thông Cáo chung giữa hai ông là một “danh sách dài những phạm vi mà hai bên cần hợp tác,” và đây là một trong “những nỗ lực nhiều tham vọng nhất của hai quốc gia” để liệt kê các quyền lợi chung. Trong đó có những vấn đề lớn như phục hồi kinh tế thế giới, giải quyết vấn đề khí hậu toàn cầu đang nóng lên, cho tới những chương trình cụ thể như mở rộng thêm giao dịch hàng không, cùng nghiên cứu về y tế công cộng và tăng số sinh viên Mỹ du học ở Trung Quốc lên gấp năm lần. Tờ nhật báo này, thường đồng ý với các chính sách của đảng Cộng Hòa hơn đảng Dân Chủ, ghi nhận chính phủ Trung Quốc đã minh thị tỏ ý hoan nghênh nước Mỹ có một vai trò ở vùng Á Châu và Thái Bình Dương, một cách xóa bỏ những nghi ngờ trong dư luận Mỹ rằng Bắc Kinh muốn gạt ảnh hưởng Mỹ ra khỏi vùng Á Châu. Tờ báo công nhận bản thông cáo chung này là “một văn kiện đầy đủ nhất trong suốt 20 năm qua” về những điều mà hai quốc gia thỏa thuận cùng giải quyết.

Trên mặt kinh tế, một điểm bất đồng lâu dài nhất, là chính sách của chính phủ Bắc Kinh giữ hối suất với Mỹ kim ở mức cố định, do đó hạ thấp giá đồng nhân dân tệ để dễ xuất cảng hàng hóa sang Mỹ cũng như đi các nước khác. Nhưng trong cuộc họp báo chung, ông Obama chỉ nhắc khéo rằng ông hoan nghênh chính phủ Bắc Kinh khi họ tỏ ý “sẽ” để cho thị trường quyết định hối suất, một điều mà ông Hồ Cẩm Ðào không hề nhắc tới khi ra trước công chúng. Ngược lại, ông Hồ cho biết đã nhắc nhở ông Obama phải chống lại khuynh hướng “bảo hộ mậu dịch” để hàng hóa lưu thông giúp cho kinh tế thế giới hồi phục. Ðây là gián tiếp chỉ trích việc chính phủ Mỹ gần đây đã tăng giá nhập cảng một số hàng Trung Quốc, như bánh xe hơi loại rẻ tiền và các loại ống bằng thép.

Cuối cùng, chuyến đi Trung Quốc của Tổng Thống Obama chỉ có giá trị tượng trưng mà không đem lại một thay đổi quan trọng nào trong bang giao giữa hai nước. Nhiều người mô tả cảnh ông Obama gặp Hồ Cẩm Ðào giống như một con nợ đến gặp chủ ngân hàng. Nghĩa là rất khó nói mạnh miệng. Hiện Trung Quốc đang là chủ nhân 800 tỷ tiền nợ (công trái) của chính phủ Mỹ, chưa kể những khoản nợ cho các ngân hàng tư.

Tuy nhiên, món nợ 800 tỷ đó, cùng với 2000 tỷ đô la mà Trung Quốc đang giữ làm ngoại tệ dự trữ, không làm cho Trung Quốc mạnh hơn mà có thể còn khiến Bắc Kinh bị ràng buộc, trở nên yếu thế hơn. Vì chủ nợ không thể đe dọa con nợ sẽ rút tiền về, mà cũng không thể dọa sẽ không tiếp tục cho vay tiếp.

Trước khi ông Obama đi sang Á Châu, ông Lưu Minh Khang (Liu Mingkang), chủ tịch ủy ban điều hành hệ thống ngân hàng, đứng ngang hàng với thống đốc Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc, đã lên tiếng chỉ trích Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang ở Mỹ về chính sách giữ lãi suất thấp làm hạ giá đồng đô la. Mỗi khi đô la xuống giá, Trung Quốc lại bị thiệt hại vì dự trữ ngoại tệ của họ bị giảm giá trị theo. Nhưng khi Trung Quốc đã chọn gắn đồng tiền của họ vào đô la Mỹ thì họ đành phải chịu. Ông Ngô Hiểu Cầu (Wu Xiaoqiu), giáo sư Ðại Học Nhân Dân ở Bắc Kinh đã nói một cách cay đắng rằng Trung Quốc đang bị đồng đô la Mỹ bắt làm con tin (kidnapped by American currency).

Trung Quốc không thể đem các công trái chính phủ Mỹ đi bán để tấn công tài chánh. Vì khi đem bán nhiều, giá các công trái đó giảm thì chính Bắc Kinh bị mất tiền trước. Trung Quốc cũng không thể ngưng mua công trái Mỹ. Vì họ cần xuất cảng hàng sang Mỹ, và khi bán hàng đi khắp thế giới phần lớn cũng được trả tiền bằng đô la Mỹ. Thay vì dùng số đô la “nhập siêu” thặng dư đó để nhập cảng hàng, khuyến khích dân Trung Hoa tiêu thụ thêm bằng cách cải thiện hệ thống an sinh xã hội, giáo dục, và y tế công cộng, thì chính phủ Bắc Kinh đã chọn tiếp tục cho Mỹ vay, khiến lãi suất ở Mỹ thấp hơn để người Mỹ tiếp tục nhập cảng. Bởi vì chính phủ Bắc Kinh đã coi chủ trương “sản xuất để xuất cảng” như một chính sách bảo đảm an ninh trong xã hội. Nền kinh tế Trung Quốc lệ thuộc xuất cảng, nếu không tiếp tục bán ra ngoài được như cũ thì hàng trăm triệu công nhân có thể thất nghiệp, sẽ là một mối đe dọa trên độc quyền cai trị của đảng Cộng Sản.

Chính sách kinh tế của Bắc Kinh làm thiệt hại cho nước Trung Hoa. Vì người dân Trung Hoa phải cần cù làm việc mà không được tiêu thụ. Mười năm trước đây số tiêu thụ chiếm 50% tổng sản lượng nội địa Trung Quốc, hiện nay chỉ còn 35%, tức là người Trung Hoa làm ra 100 đồng thì chỉ được tiêu 35 đồng. Trong khi đó chính phủ Cộng Sản “trợ cấp” cho người tiêu thụ ở Mỹ bằng cách giúp họ được hưởng lãi suất thấp để có thẻ mua hàng nhập cảng rẻ! Vì thế, Bắc Kinh không chịu nâng giá trị đồng tiền của họ so với Mỹ kim, dù các chính quyền Mỹ từ hàng chục năm nay vẫn thúc giục.

Ngoài miệng thúc giục, nhưng bên trong thì các chính phủ Mỹ từ thời Clinton, Bush cho tới Obama vẫn thản nhiên khi Bắc Kinh chỉ nhích giá đồng “nguyên” một chút mỗi lần dư luận quốc tế đòi hỏi. Vì các chính quyền Mỹ đều biết khi nào Trung Quốc còn dư đô la thì còn phải cho Mỹ vay thêm. Nhất là trong lúc này, khi ngân sách nước Mỹ đang khiếm hụt nặng, cần vay thêm hơn bao giờ hết. Chỉ có những người dân bình thường ở Trung Quốc là chịu thiệt thòi. Họ được tiếng là “tiết kiệm” nhất thế giới. Nhưng họ không thể không tiết kiệm vì ai cũng phải lo xa khi cả nước chưa có một hệ thống an sinh xã hội, đại đa số không có bảo hiểm y tế, số người già ngày càng tăng lên mà không có quỹ hưu bổng xã hội, và gia đình nào cũng phải lo việc học cho con cái, lại lo để dành tiền cho con trai cưới vợ, trước cảnh trai thừa gái thiếu do “chính sách một con” tạo ra!

Mối liên hệ kinh tế giữa Trung Quốc và Mỹ là một tình trạng bất thường, làm cho nền tài chánh quốc tế mất cân bằng. Không phải chỉ vì người Mỹ tiêu thụ nhiều quá, mà còn vì chính quyền Trung Quốc bắt dân phải nhịn tiêu thụ quá lâu. Nhưng hai nước vẫn cần lẫn nhau để giữ thế “mất cân bằng” này trong hàng chục năm nữa. Con nợ và chủ nợ không ai có thể một mình bỏ người kia được!
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Không thể xuyên tạc yêu nước thành
“Diễn biến hòa bình”


Thương Phong

Trung Quốc ngang ngược quyết định thành lập đơn vị hành chính ở quần đảo Hoàng Sa. Phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Việt Nam một lần nữa lại lên tiếng phản đối yếu ớt bằng một lời lẽ hết sức ngoại giao rằng như thế là “vi phạm chủ quyền Việt Nam”.

Phía Việt Nam cho rằng hành động này của Trung Quốc là “không có lợi cho quá trình đàm phán, tìm kiếm biện pháp cơ bản lâu dài cho vấn đề trên biển giứa hai nước”

Việt Nam khẳng định quần đảo Hoàng Sa, nơi mà Trung Quốc đang chiếm giữ và vừa tuyên bố thành lập đơn vị hành chính uỷ ban thôn đảo Vĩnh Hưng và Triệu Thuật là thuộc chủ quyền Việt Nam. Việt Nam mong muốn được giải quyết hoà bình theo luật biển quốc tế.

Quyết định của Trung Quốc ban hành ngay khi tổng thống Mỹ vừa kết thúc chuyến thăm và làm việc tốt đẹp với họ.

Các cá nhân quan chức cao cấp nhất trong lãnh đạo Việt Nam trước sau như một, chưa cá nhân nào bày tỏ rõ chính kiến về chủ quyền ,lãnh thổ đất nước trước những sự xâm phạm của Trung Quốc. Trái lại từ tổng bí thư đến thủ tướng và các uỷ viên Bộ Chính Trị đều bày tỏ quan hệ ngoại giao giữa hai nước là “hoàn toàn tốt đẹp, bền vững muôn đời”.

Bởi vậy hành vi xâm chiếm, bắn giết và chiếm giữ ngang ngược của chính quyền Trung Quốc với lãnh thổ Việt Nam được gọi nhẹ nhàng là “vi phạm chủ quyền’’. Một hành đồng xâm lược ngang nhiên đã bị nhẹ nhàng hoá , đơn giản như việc tranh chấp nhỏ giữa hai địa phương của hai nước.

Sở dĩ nhà cầm quyền Việt Nam không muốn tỏ ra mạnh mẽ trước hành động của Trung Quốc là do nhiều yếu tố đưa đến. Những yếu tố này bị chi phối vì những quyền lợi của chính thể Việt Nam, do đó chúng được diễn giải với nhân dân bằng cụm từ “nhạy cảm, tế nhị’’.

Trong 4000 năm lịch sử của đất nước và dân tộc Việt Nam, đây là lần đầu tiên và duy nhất một chính thể cầm quyền coi việc ngoại bang xâm chiếm chủ quyền đất nước là việc “tế nhị, nhạy cảm’?’. Những quyền lợi ở đây cụ thể là ghế ngồi trong hàng ngũ lãnh đạo cao cấp của Đảng Công Sản Việt Nam, những chiếc ghế này được củng cố bởi sự tác động của Trung Quốc. Đó là điều mà tại sao chưa có uỷ viên Bộ Chính Trị Đảng CSVN nào dám khảng khái lên tiếng. Mà sự việc chỉ đẩy cho phát ngôn viên BNG phát lời như một cuộn băng ghi sẵn, một cái máy nói không hơn.

Một trong những nguyên nhân nữa là tâm lý của người dân Việt Nam, ít nhiều sự tự trọng về chủ quyền đất nước còn rất thiêng liêng và cao cả. Đặc tính này là do lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước đã hình thành và còn tồn tại đến ngày nay.

Nhưng tâm lý cao thượng này của những người Việt Nam yêu nước lại được những nhà cai trị Trung Quốc bóp méo để nhắc nhở, răn đe chính quyền Việt Nam đó là mầm mống của “diễn biến hoà bình’’, có nguy cơ xoá sổ cả chính thể cầm quyền là Đảng Cộng Sản Việt Nam. Trung Quốc còn vạch ra những ý kiến phản đối hành động bạo ngược của Trung Quốc là âm mưu nhằm làm tổn hại quan hệ hai nước, gây chia rẽ và gây cô lập nhằm làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Chính thể cầm quyền tại Việt Nam đã cụ thể hoá lời chỉ bảo của Trung Quốc bằng những hành động trấn áp, bắt bớ những người bày tỏ ý kiến trong vấn đề chủ quyền này bằng những tội danh như “trốn thuế’’ với blogger Điếu Cày, tội “gây rối trật tự công cộng” với những thanh niên, sinh viên tham gia biểu tình phản đối. Tội “tuyên truyền chống phá nhà nước’’ với nhóm 6 người của nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa vừa bị kết án tù mới đây . Tội “xâm hại lợi ích quốc gia’’ của 3 blogger trẻ vừa qua. Trước đó nữa là bản án dành cho luật sư trẻ Lê Chí Quang người đã lên tiếng về hiểm hoạ xâm lược của Trung Quốc từ rất lâu với bài “Hãy cảnh giác với Bắc Triều”. Loại bỏ trang web của nhà văn Đào Hiếu, sa thải blogger, phóng viên Huy Đức……

Phía Trung Quốc đã chơi một ván bài cực kỳ thâm hiểm đẩy những nhà lãnh đạo Việt Nam vào thế khó khăn. Nhượng bộ chủ quyền đất nước hay là phải đối phó với con “ngáo ộp’’ nguy hiểm mà Trung Quốc đã vẽ ra cho lãnh đạo Việt Nam thấy. Con ngáo ộp có tên “diễn biễn hoà bình’’ được Trung Quốc chỉ bảo rằng do thế lực phương Tây đặc biệt là Mỹ đứng đằng sau chủ đạo.

Điều khôi hài là trong khi chính quyền Việt Nam đang nỗ lực đối phó với những ý kiến mạnh mẽ khẳng định chủ quyền đất nước của người dân, trước hành vì xâm chiếm của người hữu hảo láng giềng bị gọi là nguy cơ “diễn biến hoà bình do Mỹ giật dây’’ thì Trung Quốc ngồi sẵn ở nhà đợi Mỹ đến đàm phán, mặc cả về những quyền lực phân chia trên thế giới ở một số khu vực.

Trung Quốc đã từng đẩy Việt Nam lên tuyến đầu của phe CNXH thử lửa với đế quốc Mỹ trong những năm 60, 70 của thập kỷ trước. Để rồi họ âm thầm tiếp ngoại trưởng Mỹ bắt đầu một mối quan hệ có lợi cho họ, để Trung Quốc âm thầm phát triển trong khi Việt Nam chỉ được cái danh hão tìên đồn của CNXH đánh bại đế quốc.

Có lẽ Việt Nam lại lần nữa là tiền đồn trong việc chống và phá tan âm mưu “diễn biến hoà bình của đế quốc Mỹ’’. Và khi nhìn lại, người “anh em” Trung Quốc lúc nào giờ đã thực sự thành một đế quốc tham tàn mang đúng bản chất như cái tên “chủ nghĩa đế quốc mang màu sắc đặc sắc Trung Quốc’’.

Giờ đây người Trung Quốc không phải lo lắng trước sự phản ứng của Việt Nam trước sự xâm chiếm của mình. Người Trung Quốc chỉ ung dung dùng kế sách của Tôn Tử là hàng ngày chỉ cho lãnh đạo Việt Nam thấy những nguy cơ của diễn biến hoà bình đang tiềm ẩn bên trong như đất đai của nông dân, tôn giáo, tài nguyên khai thác, những người bất đồng chính kiến, ý kiến của các nhà trí thức, cựu tướng lĩnh quân đội, sinh viên, thanh niên…..để những nhà lãnh đạo Việt Nam có mối bận tâm khác lớn hơn là chủ quyền lãnh hải.

Bởi thế, với lực lượng nhân lực và tài lực hùng hậu.Chính quyền Việt Nam vẫn tuyên truyền thành công khiến cho nhiều người dân ngộ nhận những việc làm của một số người Việt Nam yêu nước chân chính là “diễn biến hoà bình’’ là chủ ý của các thế lực thù địch. Và vẫn bị phủ dụ nhẹ nhàng hành động xâm lược của Trung Quốc chỉ là “vi phạm chủ quyền’’ ở mức độ nhỏ không ảnh hưởng đến quan hệ tốt đẹp giữa hai nước “anh em”.

Những toan tính quy chụp cho những người dân yêu nước, chỉ vì họ mạnh mẽ đòi hỏi việc xác nhận chủ quyền đất nước của chính quyền Việt Nam là cực kỳ dối trá và trắng trợn, được xây dựng một cách bài bản có hệ thống. Được dựng lên bởi một bộ máy và những lãnh đạo có nghề được đào tạo và rèn luyện kỹ. Khai thác nhiều yếu tố tâm lý của đám đông quần chúng nhân dân từ lâu đã bị chi phối và lệ thuộc vào các phương tiện truyền thông nhà nước.

Đặc biệt những tuyên truyền viên của ban tuyên huấn đi tận cùng các ngõ ngách , chị bộ cơ sở địa phương để thuyết giảng những nội dung được hoạch định kỹ càng với chiêu bài “nói chuyện với cơ sở’’. Cách nói chuyện nửa bí mật, nửa công khai như là chia sẻ với cán bộ cấp cơ sở đạt ít nhiều hiệu quả. Người ta dễ dàng thấy những cán bộ hưu trí đi họp chi bộ về, nét mặt quan trọng, khi hỏi đến đầy vẻ hiểu biết nói về quan hệ Việt- Trung, lãnh thổ bằng những luận điệu như “việc chia đất với Trung Quốc rất phức tạp, vì đó là nước lớn, mình phải khéo léo để giành được cái mình muốn. Xu thế bây giờ là đối thoại chứ không đối đầu. Những hành động nóng vội, kêu gào, đòi hỏi là do bọn xấu muốn lợi dụng để khích động bạo loạn, hoặc là do một số người thiếu hiểu biết, thiếu thông tin dẫn đến như vậy…’’

Rõ ràng một chiến dịch nhằm bôi nhọ và xuyên tạc những tấm lòng yêu nước đang được phát động một cách tinh vi , sâu rộng trong nhân dân dưới nhiều hình thức khác nhau.Nhưng chung quy vẫn là mục đích dập tắt những ý kiến khác chiều, để tập trung tư tưởng của nhân dân một cách tuyệt đối dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, thâu tóm được ý chí và tư tưởng con người là yếu tố hàng đầu để bảo đảm sự tồn vong vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, tính quan trọng sống còn của yếu tố này đã được chính thể Việt Nam nỗ lực hết mình dùng mọi thủ đoạn từ bạo lực đến tuyên truyền.

Tinh thần yêu nước là một tinh thần cao thượng, không có cái “đuôi’’ do sự quy chụp, gán ghép nào có thể làm sai lệch. Những mưu toan vì lợi ích cục bộ, lợi ích phe nhóm để vu khống, áp đặt trước sau cũng bị phơi bày bộ mặt giả dối trước lịch sử và dân tộc.

Cho dẫu bị những khó khăn, những cáo buộc vu khống, cho dẫu những người dân yêu nước chân chính đã phải sa vào nhà tù do chính thể cầm quyền giăng bẫy như Nguyễn Hoàng Hải tức blogger Điếu Cày….Nhưng với tinh thần yêu nước bất diệt tồn tại hàng nghìn năm, dân tộc Việt Nam không thể nào để cho những luận điệu tuyên truyền lừa bịp dập tắt nhuệ khí hào hùng của ông cha để lại, nhuệ khí của Cáo Bình Ngô, nhuệ khí của Đông A, Bạch Đằng, Vạn Kiếp….

Đòi hỏi chủ quyền đất nước là nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi con dân Việt Nam. Tư tưởng ấy là bất diệt, không kẻ nào dù tinh vi, thâm độc và quyền lực đến đâu có thể xuyên tạc sang ý nghĩa khác được. Sự lừa dối như cái kim trong bao, không sớm thì chiều ắt phải lòi ra. Bằng chứng cho thấy càng ngày càng nhiều những tiếng nói đã cất lên để khẳng định chủ quyền đất nước.

Điều ấy nói lên rằng: Không thể nào xuyên tạc tinh thần yêu nước thành những cụm từ xảo trá như “diễn biến hoà bình’ hoặc “âm mưu bạo loạn”...

Việc nhà cầm quyền Việt Nam càng hăng say đàn áp những tấm lòng yêu nước, càng quy chụp và trấn áp những tiếng nói yêu nước thương nòi càng chứng minh rõ hơn điều mà lâu nay người dân đã ngờ ngợ: “Chính quyền Việt Nam coi nhẹ sự mất nước, chỉ sợ lo mất Đảng”. Vì Đảng mới đưa lại lợi ích cho những cá nhân chóp bu này bât chấp vận mệnh của dân tộc, của Tổ Quốc.

Mọi âm mưu đang nỗ lực để lừa bịp quần chúng nhân dân, lừa bịp cả dân tộc đều sẽ thất bại bởi chúng xuất phát từ động cơ quyền lợi cá nhân, quyền lợi phe nhóm. Những động cơ đê hèn như vậy sớm muộn cũng bị đè bẹp bởi chính nghĩa dân tộc, đất nước. Lịch sử đã chứng minh và ngày nay sẽ tiếp tục minh chứng cho quy luật muôn đời này.


Thương Phong
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Mỹ trở lại Á Châu?

Ngô Nhân Dụng
Người lãnh đạo một quốc gia phải nhìn xa, điều đó hiển nhiên. Một vị tổng thống Mỹ đã tuyên bố tương lai lịch sử nước Mỹ sẽ được quyết định bởi vị thế của quốc gia này ở Thái Bình Dương, đối diện với Trung Quốc, chứ không phải địa vị của họ ở Ðại Tây Dương, đối diện với Âu Châu. Ðó là Tổng Thống Theodore Roosevelt, nêu ý kiến này vào năm 1905. Ted Roosevelt đã tiên đoán sớm một nửa thế kỷ vì trong 50 năm đầu thế kỷ trước địa vị nước Mỹ được nâng lên nhờ những cuộc chiến tranh ở Âu Châu. Và ông cũng nhầm một điều, là ở Á Châu trong nửa đầu thế kỷ trước nước Mỹ phải quan tâm đến Nhật Bản đã, chứ chưa phải Trung Quốc.

Nhật Bản đã làm cho Trung Quốc tiến chậm thêm gần một nửa thế kỷ nữa. Cuộc xâm lăng Trung Quốc của quân Nhật làm cho kinh tế tư bản và chế độ dân chủ không có cơ hội phát triển ở nước Tầu, đã giúp cho đảng Cộng Sản chiếm được chính quyền. Mà vì nước Trung Hoa phải sống dưới chế độ cộng sản từ 1949 cho nên họ bị đẩy lùi thêm nửa thế kỷ nữa so với thế giới bên ngoài.

Bây giờ sang thế kỷ 21 thì lời tiên đoán của Theodore Roosevelt thế nào cũng đúng. Nước Mỹ chắc chắn phải hướng về phía Thái Bình Dương. Khối APAC (Á Châu Thái Bình Dương) là một diễn đàn để thực hiện chính sách đó. Ấn Ðộ, một quốc gia lớn khác đang lên ở Á Châu đang tỏ ý muốn tham gia vào diễn đàn này, dù họ không nằm bên bờ Thái Bình Dương.

Nhưng trong mười năm qua, chính phủ Mỹ tỏ ra lơ là đối với Á Châu và Thái Bình Dương. Trong thời gian khủng hoảng tài chánh năm 1997, 98, chính phủ Clinton đã không dự cuộc họp khối ASEAN năm 1997 lấy lý do chống việc Miến Ðiện tham gia. Các quan chức Mỹ chỉ lo lên lớp các nước Á Châu về chủ trương kinh tế tự do mà không hỗ trợ họ một cách cụ thể như Trung Quốc đã làm lúc đó. Chính sách ngoại giao của chính phủ Bush chỉ chú ý đến Iraq và Afghanistan, Ngoại Trưởng Condoleezza Rice đã bỏ không dự 2 trong số 4 cuộc họp khối ASEAN của các nước Ðông Nam Á. Trong thời gian đó Trung Quốc tiếp tục cuộc tấn công bằng “lực mềm” của họ. Kể từ thập niên 1990, Trung Quốc đã bỏ “lực cứng,” không còn hỗ trợ các “phong trào giải phóng” phá hoại các nước khác. Họ tận dụng “lực mềm” (soft power) bằng những liên lạc ngoại giao, đầu tư và viện trợ kinh tế, một hình thức hối lộ trá hình.

Trung Quốc đã cho nhiều nước Ðông Nam Á vay tiền với lãi suất rất thấp, đã giúp nhiều nước này bằng các công trình xây cất hạ tầng cơ sở như đường, cầu, đập nước, mời tham dự các cuộc triển lãm công nghệ, và cấp học bổng cho sinh viên sang học ở Trung Quốc. Họ giúp Lào xây một vận động trường mới hoàn toàn để chuẩn bị vận động hội Ðông Nam Á ở Vientiane, xây tòa nhà họp hội đồng chính phủ cho Camphuchia. Họ huấn luyện các nhân viên chính quyền của các nước Á Phi. Và khác với Mỹ hoặc các nước Âu Châu, Trung Quốc không bao giờ đặt câu hỏi các chính phủ nhận viện trợ khi họ đàn áp dân chúng, vi phạm nhân quyền.

Trung Quốc gia tăng trao đổi hàng hóa với các nước trong vùng Ðông Nam Á. Năm ngoái, số thương vụ giữa Trung Quốc và khối ASEAN đã bắt đầu vượt lên để cao hơn nước Mỹ, tổng số 179 tỷ Mỹ kim, gấp 20 lần số lượng giao thương năm 1993. Trong 15 năm đó, số giao dịch với Trung Quốc từ 2% đã tăng lên 10% tổng số ngoại thương của các nước trong khối ASEAN; còn nước Mỹ đang chiếm 17% đã giảm xuống chỉ còn 12%. Những con số trên sẽ tăng vọt lên trong năm tới, vì Trung Quốc mới ký thỏa ước mậu dịch tự do với 10 nước trong khối này. Mỹ hiện mới ký một thỏa ước tương tự với Singapore.

Sau nhiều năm nước Mỹ “bỏ rơi” vùng Ðông Nam Á, chính phủ Bush trước đây đã bổ nhiệm một đại sứ đặc trách liên lạc với các nước Ðông Nam Á. Chính sách hướng về Châu Á của chính phủ mới được biểu lộ khi Ngoại Trưởng Hillary Clinton sang thăm vùng này trong chuyến công du thứ nhất của bà vào Tháng Hai 2009. Trong cuộc họp ASEAN ở Phuket vào Tháng Bẩy, bà tuyên bố thẳng rằng “nước Mỹ trở lại Á Châu!” và ký một hiệp ước thân hữu, mặc dù chậm hơn Trung Quốc 6 năm. Ông Obama nhắc lại thông điệp đó, ông là vị tổng thống Mỹ đầu tiên đã dự một cuộc họp có đủ 10 nhà lãnh đạo các nước ASEAN, bên cạnh cuộc họp APEC tại Singapore tuần trước. Trước khi rời Tokyo để tới dự cuộc họp này, ông Obama nhấn mạnh rằng, “Trong một thế giới liên hệ chặt chẽ với nhau, quyền lực không phải là một cuộc chơi một còn một mất (zero-sum game), không nước nào phải lo sợ khi nước khác thành công. Xây dựng những vùng cộng tác thay vì những vùng cạnh tranh ảnh hưởng, sẽ giúp các nước trong vùng Á Châu Thái Bình Dương cùng tiến bộ. Hy vọng các nước Ðông Nam Á tin vào thông điệp đó.

Một cách cụ thể, ngoài nước Miến Ðiện mà ông Obama vẫn lên tiếng cảnh cáo về vi phạm nhân quyền và yêu cầu trả tự do cho lãnh tụ đối lập bà Aung San Suu Kyi, chính phủ Mỹ đã tỏ ra hòa hoãn với các nước trong vùng. Họ rút tên Lào và Campuchia ra khỏi sổ đen những nước bị phong tỏa, cho phép Ngân Hàng Xuất Nhập Mỹ bảo đảm những món nợ cho các công ty Mỹ làm ăn ở hai nước này. Chính phủ Mỹ cũng viện trợ quân sự cho Campuchia và sang năm hai nước sẽ cùng dự một cuộc thao diễn quân đội.

Các nước Ðông Nam Á cũng biết rằng nước Mỹ là thế lực quân sự duy nhất tạo được thế cân bằng với sức bành trướng của Trung Quốc. Mỹ vẫn tiếp tục viện trợ quân sự cho Indonesia và Phi Luật Tân từ thời Tổng Thống Gorges W. Bush. Các nước Ðông Nam Á cũng biết rằng việc giao thương với Mỹ, xuất cảng sang Mỹợ sẽ là một cơ hội không thể thiếu được trong việc phát triển kinh tế, không khác gì vai trò của Mỹ đối với nền kinh tế Trung Hoa. Trở ngại chính là từ phía chính phủ và Quốc Hội Mỹ, nếu họ không quyết tâm “trở lại Á Châu” như bà Clinton mới tuyên bố.

Trong mười năm qua, các nước Á Ðông đã đạt được nhiều thỏa ước vùng để gia tăng quan hệ kinh tế trong khi các chính phủ Mỹ đứng bàng quan. Ngoài việc Trung Quốc tìm cách liên kết thương mại với ASEAN và thành công, ba nền kinh tế lớn nhất trong vùng đang thăm dò để tiến tới một thỏa hiệp tự do mậu dịch. Nếu Nhật Bản và Nam Hàn ký được một thỏa ước như vậy với Trung Quốc, thì quyền lợi của giới kinh doanh ở Mỹ sẽ bị đe dọa. Khi đó hàng hóa ở Mỹ sẽ vẫn bị đánh thuế “ưu đãi đặc biệt” 9% khi bán sang Tầu, trong khi hàng của hai nước Á Ðông kia sẽ được miễn thuế. Thị trường nhập cảng của Trung Quốc lên tới 1,000 tỷ Mỹ kim một năm. Năm ngoái, người Trung Hoa ở lục địa mua một số lượng xe hơi (không kể xe tải nhỏ và xe SUV) lớn ngang số xe hơi người Mỹ mua dùng - một phần vì kinh tế Mỹ đang suy thoái khiến dân Mỹ tiêu tiền dè sẻn hơn. Chỉ cần biết rằng vào năm 2006, số xe hơi tương tự bán ở Mỹ cao gấp đôi số bán ở Trung Quốc, chúng ta thấy tiềm năng tiêu thụ của hơn một tỷ người Trung Hoa sẽ còn hấp dẫn đối với tất cả các nước công nghiệp tiên tiến. Dù thuộc đảng nào, các chính phủ Mỹ không thể bỏ qua.

Chính phủ Obama đang tìm cách liên kết chặt chẽ hơn với Indonesia trong nhiều lãnh vực kể cả vấn đề an ninh, và với Nhật Bản và Nam Hàn thì việc phối hợp hành động khi đứng trước Trung Quốc và Bắc Hàn đã được nhấn mạnh. Nhưng trong thế giới hiện nay, mọi liên hệ ngoại giao thường phải được gắn bó bằng những thỏa ước kinh tế trước!

Khi gặp Tổng Thống Ðại Hàn Lee Myung Bak (Lý Minh Bác) hôm đầu tuần này, Tổng Thống Obama đã hứa sẽ thúc đẩy Quốc Hội Mỹ thông qua Thỏa Ước Tự Do Mậu Dịch với Nam Hàn. Thỏa hiệp này đã được ký từ Tháng Tư năm 2007, nhưng cho tới nay Thượng Viện Mỹ vẫn chưa phê chuẩn. Quốc Hội Nam Hàn sẵn sàng thông qua, nhưng họ còn chờ Mỹ đi bước trước, vì không muốn bị mất mặt. Thỏa ước giữa Mỹ với Nam Hàn có phạm vi mở rộng hơn nhiều thỏa ước tự do mậu dịch khác, có thể so sánh với thỏa ước NAFTA đã ký với Canada và Mexico trước đây 15 năm. Số thương vụ giữa hai nước đang ở mức 80 tỷ Mỹ kim một năm có thể tăng thêm từ 10 đến 20 tỷ khi được thi hành. Hai ngành kinh tế ở Mỹ sẽ được lợi nhất là công nghệ thực phẩm và xe hơi. Nhưng chính vấn đề xe hơi đã khiến nhiều nghị sĩ Mỹ muốn Nam Hàn nhượng bộ hơn nữa.

Ðối với Nam Hàn là một đồng minh thân thiết nhất của Mỹ ở Á Châu mà việc ký kết một thỏa hiệp tự do mậu dịch còn gặp nhiều trở ngại như vậy, thì đối với các nước Á Châu khác nước Mỹ sẽ còn dè dặt hơn nhiều.

Cho nên muốn “trở lại Á Châu” như chính phủ Obama tuyên bố, giới chính trị ở Mỹ phải thay đổi. Những thỏa ước thương mại tự do giữa Mỹ và các nước khác thường gặp trở ngại ở Quốc Hội vì các dân biểu và nghị sĩ Mỹ không phải chỉ lo chung việc quốc gia mà còn lo bảo vệ quyền lợi của các cử tri trong đơn vị, trong tiểu bang của mình, và các khối áp lực đã ủng hộ mình, như các công ty, các công đoàn, vân vân. Chính những quyền lợi địa phương và phe nhóm đó khiến chính sách ngoại giao của nước Mỹ hay thay đổi theo thời gian và cũng khiến những quyết định lớn bị trì hoãn.

Nếu các nhà chính trị Mỹ muốn thực hiện lời cảnh báo của Tổng Thống Theodore Roosevelt từ hơn 100 năm trước đây, họ phải thay đổi não trạng. Ðịa vị của nước Mỹ trên thế giới sẽ được quyết định ở Thái Bình Dương, như Ted Roosevelt khẳng định. Chỉ khi nào có một vị tổng thống đủ mạnh để buộc các đại biểu Quốc Hội thuộc đảng mình cũng như phe đối lập đồng ý về những mục tiêu lớn của quốc gia mà bỏ qua những bất đồng tiểu tiết thì nước Mỹ mới có một chính sách mạnh và kịp thời đối với các nước Á Châu. Hiện nay ông Obama còn đang lo ve vãn Quốc Hội để thông qua những chương trình quốc nội, khó lòng làm áp lực với họ. Họa chăng đến giữa năm 2010 ông mới có khả năng hướng về Á Châu thật sự.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Sợ Hãi Tạo Nên Bản Lĩnh của Dân Tộc

Nguyễn Quang
Đối với người dân Việt Nam thời chiến tranh cũng như hoà bình sự sợ hãi tạo nên bản lĩnh của dân tộc này. Chính sự sợ hãi đã làm cho mỗi cá nhân trưởng thành và nhiều trường hợp ngược lại. Không ai biết rõ nó từ đâu đến, sự khắc nghiệt của thiên nhiên, sống bên một nước quá lớn luôn rình rập đe doạ tấn công, lòng tị hiềm ghen ghét như bẩm sinh của con người nằm nơi chính anh em mình. Có rất nhiều loại ám ảnh sợ, mặc dù nạn nhân biết tính chất vô lý và tìm cách khắc phục, nhưng ám ảnh nầy vẫn trở đi trở lại.

Từ bức tường Bá Linh bị sụp đổ đến bức tường sợ hãi đang phủ bóng tối tăm trên dân tộc Việt Nam ngày nay. Từ chợ đến trường và từ trường đến chợ búa, tất cả trong cảnh bát nháo của một dân tộc đang trải qua một thời bi thương nhất không có cây gậy dẫn đường mà nếu có cũng chỉ là một sự vay mượn đâu đó chứ thật sự không phải từ khát vọng và đáp ứng các nguyên vọng của người dân Việt, thậm tệ hơn đó là tạo nên sự khát máu và bơm dầu vào đó nên đã có cờ kia mang tên ‘cờ máu’.

Trên bình diện quốc gia những người lãnh đạo đã không tạo được nhân cách quốc gia vì ngay chính các nhân vật không có tư cách cá nhân, nói đến Việt Nam là nói đến tham nhũng, hối lộ, ăn chơi trác táng, sự mục rữa đến mọi ngóc ngách xã hội… đến ngay cả đám ma ngày nay tại Sài Gòn cũng khác lạ, có cả vũ sexy và không chỉ tới 0 giờ nhưng kéo suốt đêm cho đến khi đưa người chết ra tận huyệt, gọi là cho người quá cố được hưởng trọn vẹn mà thật sự chỉ toàn những ông già ngồi xem trước sự tò mò của con trẻ vì với con trẻ thành Hồ ngày nay nhà nghỉ, khách sạn mini đầy dẫy thậm chí qua các phóng sự có em vào nhưng cái ấy chưa biết gì.

Các Trường đại học trên phạm vi cả nước có thể nói không có một đại học nào đủ tiêu chuẩn, theo thống kê thăm dò đã phổ biến trên các báo tại Việt Nam, vì ngay yếu tố chính yếu đầu tiên là nền giáo dục đó sẽ đưa con em Việt Nam về đâu trong sự hòa nhập chung với cộng đồng nhân loại, thiếu hẳn một triết lý giáo dục, việc nêu cao tư tưởng Hồ này nọ, quả là một sự dị hợm vì ngay cả các em ở bậc Tiểu học cũng biết rằng họ Hồ có nhiều vợ con và giết vợ, không nhận có con để được tôn sùng thành thánh… ôi ở Việt nam bây giờ có nhiều thánh thánh, vậy theo gương ông ấy có nghĩa là sau này cũng sẽ làm nghề gian dối, lừa đảo, lường gạt… học hành cho cao để đi bịp người, trở thành như thế ư? Tác giả có gặp một số em học tại trường có tên ‘lê văn tám’ tại Sài Gòn và tâm sự:

- Đố các cháu tên ‘lê văn tám’ có thật không?
- Không có em nào trả lời là thật…
- Vậy sao các cháu biết thông tin đó?
- Chúng cháu vào net xem…
- Vậy các cháu nghĩ sao về một học sinh của trường mang tên đó…

- Nhiều em cười và một em trả lời… trường này có nhiều ma và đất nước này có nhiều ma chiến tranh lắm… và học trò quậy không thua ma nên không sao bác ơi… điện thoại đứa nào cũng có net hết, bác muốn xem ma không nào, cái này còn hơn ma ‘lê văn tám’… chúng đưa lên màn hình sexy giao cấu rồi bỏ chạy….những em khác cười.

Không chỉ với con trẻ xem sex như một trò đùa nhưng các bậc cha mẹ, cơn nghiện sex như một đại dịch tại Việt Nam ngày nay với người lớn.

Như dưới thời Pháp thuộc, chính quyền bảo hộ đã tạo ra nhiều trò vui chơi để thanh niên quên đi nhiệt huyết và ngày nay phương cách mỵ dân này càng đi xa hơn với đủ loại trụy lạc mà đạo đức phong tục những nền tảng căn bản nhất từ truyền thống dân tộc mang bộ mặt người của nhà nước tự nhiên hầu như bị phá tan đến băng hoại quên cả ngoại xâm đã vào trọn nhà mình.

Từ một thượng tầng kiến trúc băng hoại đến hạ tất loạn, đề tài ‘xua đuổi nhân tài’, chuyện cười ra nước mắt đang là vấn đề tài nóng tại Việt Nam, giới trẻ đã kêu trời trước câu chuyện: bị mất việc vì có trình độ... đại học ở Quảng Bình, một câu chuyện vừa xót vừa đau. Lý do đuổi việc vì đề án tuyển dụng chỉ tuyển chọn người có bằng “cử nhân cao đẳng công nghệ chế biến lương thực, thực phẩm” chứ không phải là người có bằng đại học công nghệ thực phẩm như của nạn nhân! Nghĩa là cơ quan quyết tâm tuyển người có trình độ... thấp, còn người bạn trẻ kia có trình độ cao, có năng lực cống hiến cho quê hương nên hãy đợi đấy!

Đặc biệt nhóm từ ‘cử nhân cao đẳng công nghệ chế biến lương thực, thực phẩm’ không hề có trong danh mục ngành đào tạo của nước CHXHCNVN, nhưng đại diện Sở Nội vụ Quảng Bình vẫn nhất quyết nếu không có chức danh thì không tuyển, nếu tuyển vẫn phải tuyển đúng người có văn bằng với đầy đủ cụm từ trên!

Cũng trong một thứ hoang tưởng buộc người, vào thời chiến tranh những người Cộng sản miền Bắc mắc chứng ảo tưởng bị hại, qua tư tưởng đấu tranh giai cấp luôn nghĩ rằng miền Nam đang bị bách hại, Mỹ xâm lược Việt Nam… Nhưng thật sự người miền Nam đang sống những giây phút thanh bình no ấm nhất suốt trong thời gian dài của lịch sử, mọi sự từ kiến trúc xây dựng đến đường phố đều đổi thay nhanh chóng trên Hòn ngọc Viễn Đông này. Miền Bắc luôn tạo cho chính mình những mối nghi ngờ rồi khẳng định đang có một mối thù dân tộc, kích động lòng yêu nước mà vốn trong quá trình dựng nước và giữ nước đã trở thành thứ di truyền bẩm sinh trong người Việt. Họ tạo ra thứ hình ảnh Hoa Kỳ và Đồng Minh đang mang tất cả những gì xấu xa nhất đến với dân tộc này mà không nghĩ có người tài giỏi nhất của thời đại đang đến nhà mình. Ôi quả là những con người mãi ở nơi xó làng tiến vào địa đạo, xem trời bằng vung hay còn gọi là ‘ếch nằm đáy giếng’ nay được trang bị cho thứ học thuyết gọi là thần dược nên người nào cũng nhảy ra đóng vai cứu người, giống như thầy lang dùng thuốc Nam mà chữa trị bệnh chó dại: hậu quả chờ đúng ba tháng mười ngày nạn nhân sủa tru như chó rồi chết.

Những thứ ám ảnh từ học thuyết không tưởng – chủ nghĩa Cộng sản là học thuyết không tưởng – Utopia, đang còn sót lại một vài nước trên hành tinh có Việt Nam.

Ngày nay nhìn lại sau hai mươi năm bức tường Bá Linh bị dẹp bỏ, đoạn phim vợ chồng nhà lãnh tụ độc tài Romania Ceausescu bị xử tử, bị mang ra bắn ngay sau khi cuộc cách mạng nổi lên trong khoảnh khắc với án tử hình, cả cuộc cách mạng của Công Đoàn Đoàn kết ở Ba Lan…Tất cả không ai ngờ những gì đã xảy ra nhanh chóng như vậy. Lịch sử vẫn luôn với chữ NGỜ và con người sẽ vượt qua chữ ngờ một khi các cá nhân cũng như các dân tộc biết chiến thắng sợ hãi.

Truyền thống của dân tộc này, nhà văn, thi sĩ, trí thức… là những người luôn băn khoăn về các vấn đề của xã hội qua những bài hịch, câu thơ để dẫn đưa dân tộc Việt qua bao ghềnh thác. Họ trở thành trụ cột chống đỡ cùng đồng bào lúc hoạn nạn cũng như lúc bền vững, tất cả kẻ chèo người tát trên con thuyền vận mệnh của đất nước: phải cùng nhau vượt qua sợ hãi để chiến thắng với chính mình và cho cộng đồng hầu mang lại từ hỗn mang đến trật tự - Ab Chaos Ordo.

Nguyễn Quang
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Ðảng chập chờn, chế độ chập chờn

Ngô Nhân Dụng
Ðêm Thứ Ba và sáng Thứ Tư, nhật báo Người Việt loan tin về mạng Facebook bị chặn tại Việt Nam, ngay lập tức có những vị công an văn hóa viết thư chế nhạo tờ báo này loan tin vịt, và báo cho biết rằng Bộ Thông Tin, Văn Hóa trong chính phủ Hà Nội đã xác nhận rằng họ không hề ra lệnh cấm Facebook bao giờ.

Nhưng tới sáng ngày Thứ Sáu, các đài phát thanh quốc tế nói tiếng Việt lại đua nhau loan tin Facebook ở Việt Nam bị chặn, phần lớn các chi tiết trong các bản tin chỉ xác nhận lại những điều đã viết trên Người Việt hôm trước. Vậy thì Facebook có bị chặn hay không? Có, và không. Một người ở Việt Nam được đài ngoại quốc phỏng vấn đã cho biết nó “chập chờn,” có lúc vào được, có lúc không. Hai chữ “chập chờn” rất gợi hình, cũng là câu trả lời của một người từ Hà Nội trả lời nhật báo Người Việt trong số báo in ngày Thứ Tư. Chập chờn, hai tiếng này thường được dùng để tả những bóng ma. Những người yếu bóng vía nghe có thể sợ không dám mó tới Facebook nữa! Chắc nhiều vị độc giả không biết cái tên gọi Facebook này là cái gì. Nó là một thứ nhu liệu được thảo ra để những người dùng có thể liên lạc với nhau qua mạng lưới. Mỗi người mở một “account” trong Facebook rồi đem hình ảnh, tin tức của mình bày lên, dùng cái cửa đó để liên lạc với bạn bè, bà con. Chữ “account” này có thể gọi là gì, xin bàn sau, nhưng có một người trả lời đài phát thanh gọi nó là “tài khoản” giống như trương mục trong ngân hàng thì chắc chắn không ổn, vì chẳng có đồng tiền nào trong đó hết! Ký giả này cũng mới mở một “account” trong Facebook gần đây để tiện việc trao đổi tin tức với con, cháu, họ hàng và bè bạn, nhưng rất ít dùng chỉ vì lười chứ không phải vì bị ai cấm. Không lẽ con cháu đã biết dùng Facebook mà ông nội, ông ngoại lại chịu thua đóng vai một người lạc hậu hay sao? Có hơn một triệu người ở Việt Nam đang sử dụng Facebook, gần một triệu là những người trên 18 tuổi, cho thấy đồng bào mình cũng không chịu lạc hậu.

Trừ khi “đảng lãnh đạo” muốn bà con cứ tiếp tục chập chờn trong lạc hậu, để tiện việc cai trị!

Nhưng bên trong cái đảng lãnh đạo đó, cũng không biết ông nào bà nào ban quyết định chặn không cho đồng bào vô Facebook. Cho nên nó càng chập chờn hơn nữa!Khi một đài ngoại quốc hỏi, thì ông bộ trưởng Thông Tin quả quyết ông không hề ra lệnh chặn Facebook. Chắc ông ta không ra lệnh thật. Có khi ông cũng chẳng hề biết có ai ra lệnh hay không! Nhưng trên bản tin báo Người Việt, được các đài ngoại quốc xác nhận hai ngày sau, thì có lệnh cấm bảo những người làm Internet thật. Và lệnh cấm này được ban ra từ guồng máy công an! Báo Người Việt đã in cả hình trang công văn, mang số đàng hoàng, gửi cho tám công ty cung cấp dịch vụ Internet như VIETTEL, VDC, cho tới VTC, vân vân, ra lệnh họ ngăn chặn “triệt để” Facebook để “bảo đảm yêu cầu công tác an ninh và đấu tranh với hoạt động tuyên truyền chống phá Ðảng và nhà nước ta.” Bản văn đó lại ẩn danh, không đề tên cơ quan ra lệnh. Ðó cũng là một hành tung đặc biệt kiểu công an (hành tung, nói theo thời thượng còn gọi là “động thái,” một từ nghe mơ hồ hơn, tức là cũng chập chờn hơn)! Có nhà cung cấp dịch vụ Internet ở Việt Nam như FPT nói họ không nhận được lệnh nào của công an cả. Nhưng nhiều công ty khác thì xác nhận được công an ra lệnh ngăn chặn Facebook. Bàn dân thiên hạ, tức là đám chúng sinh đang dùng Facebook thì thấy có khi vào được, có khi không. Khi có, khi không, khi ẩn, khi hiện cho nên mới gọi là nó chập chờn. Hai tiếng chập chờn vẫn quen dùng để tả ma gọi quỷ, bây giờ dùng rất tiện để tả cách hành động (nay có khi gọi là động thái) của giới công an ở nước ta, chứng tỏ những loại này có nhiều điểm tương đồng.

Nhưng phải nói, cả chế độ đang cai trị nước Việt Nam nó cũng là một chế độ chập chờn, do một Ðảng Chập Chờn lãnh đạo. Hãy nói đến cái tên của đảng này, đã thay đổi mấy lần tùy theo cơ hội. Ðã có lúc Ðảng tuyên bố tự giải tán nhưng vẫn sống như ma trong bóng tối, đợi cơ hội tới lại hiện hình lên như làm trò phù thủy.

Khi thành lập đảng, Hồ Chí Minh đặt tên là Ðảng Cộng Sản Việt Nam nhưng ngay sau đó Stalin bảo phải đổi tên là Ðảng Cộng Sản Ðông Dương. Hồ Chí Minh bị Stalin nghi có khuynh hướng “quốc gia” chưa thấm mùi “vô sản quốc tế.” Cho nên suốt cuộc đời sau đó Hồ Chí Minh phải luôn luôn tìm cách chứng tỏ mình là “cộng sản đệ tam thứ thiệt” để được Stalin tin dùng nhưng chẳng bao giờ được tin. Khi Hồ theo Mao Trạch Ðông sang Mát Cơ Va yết kiến ông trùm đỏ, đã cắt một bức hình Stalin trên tờ báo tuyên truyền, xin ông Sít ký tên làm kỷ niệm. Ngày hôm sau, theo lời Krutchev kể trong cuốn hồi ký của ông, mật vụ Nga vô đã phòng Hồ Chí Minh lục va li lấy lại bức hình đó. Ðúng là thầy cũng không tin học trò! Các lãnh tụ cộng sản đều biết không thể nào tin nhau được, vì họ đều lấy thuật trí trá làm phương châm sống và hành động.

Theo phương châm sống đó, năm 1946 Hồ Chí Minh tuyên bố giải tán Ðảng Cộng Sản Ðông Dương, để lấy lòng các ông tướng Tầu Quốc Dân Ðảng đang nắm quyền sinh sát ở Hà Nội. Năm 1951 lại tái lập đảng, đổi tên là Lao Ðộng, đưa bản điều lệ cho Mao Trạch Ðông phê duyệt. Cho tới sau khi chiếm được miền Nam Việt Nam, cái đảng đó mới xưng tên thật là Ðảng Cộng Sản! Một cái tên không thôi đã thấy đảng lãnh đạo chập chờn như ma trơi rồi!

Nhưng tính chất chập chờn hiện rõ nhất không phải trong cái tên mà trong hành động. Một đặc điểm của phong cách lãnh đạo của đảng Cộng Sản là trốn tránh trách nhiệm. Lúc nào cũng nhân danh “Ðảng” mà ra lệnh, nhưng hỏi “Ðảng là ai” thì anh nọ chỉ anh khai, không anh nào nhận. Bởi vì không ai dám tin nhau, cho nên ngay cả khi đưa ra những chính sách làm khổ cả nước, các anh cũng tìm cách “giấu tên” để mình khỏi chịu trách nhiệm. Bây giờ những người dùng Internet ở Việt Nam có thắc mắc hỏi “Ai ra lệnh các công ty tin học chặn Facebook?” Thì chắc không thể nào điều tra ra thủ phạm. Hành tung nó cũng chập chờn như bao nhiêu quyết định khác trước đây, như khi hỏi, “Ai bày ra trò cải cách ruộng đất? Ai đấu tố các nhà trí thức Nhân Văn, Giai Phẩm?” Hồ Chí Minh là người thôi thúc cải cách ruộng đất, nhưng đổ tội cho Trường Chinh để trừ bỏ một đàn em có khả năng hơn và nhiều tay chân hơn mình! Tố Hữu đã chịu tiếng là người đứng đầu vụ đấu Nhân Văn Giai Phẩm, nhưng nay mới biết Trường Chinh mới là tướng soái chỉ huy! Ðồng đổ cho Cốt, Cốt lại đổ cho Ðồng, lịch sử đảng Cộng Sản là một cái lịch sử chập chờn như vậy.

Trong hồi ký của Ðoàn Duy Thành, một cựu phó thủ tướng và từng được Lê Duẩn tính “tổ chức” cho lên làm tổng bí thư, ông kể một chuyện về cái “Chỉ thị Z30” cho thấy lề thói quyết định việc nước của đảng Cộng Sản. Năm 1983, Ðoàn Duy Thành còn làm bí thư thành phố Hải Phòng, nhận được Chỉ thị Z30 “rất mật” ra lệnh “tịch thu nhà từ 2 tầng trở lên, bất kể to nhỏ, trị giá bao nhiêu. Chỉ thị Z30 chỉ được phổ biến bằng miệng. Hải Phòng “được 2 đồng chí Bộ Chính Trị nhắc nhở rằng Hà Nội làm trước, Hải Phòng theo Hà Nội mà làm.” Ðoàn Duy Thành nhận được lệnh miệng thì cũng do dự, lên Hà Nội xem người ta tịch thu nhà. Ông viết, “Tôi thấy chẳng khác gì cải cách ruộng đất. Cải cách ruộng đất còn đấu tố rồi mới tịch thu, nhưng Z30 chỉ đọc lệnh là tịch thu, bốc cả gia đình gia chủ lên xe đi ở chỗ khác. Tôi đi 3 lần được xem 3 nhà.” Ông còn kể, “Tôi thấy tận mắt một gia đình bị tịch thu, cả nhà đội khăn tang bị đẩy lên xe, khóc sướt mướt.” Ðoàn Duy Thành đã tới tận văn phòng Trung Ương Ðảng và văn phòng chính phủ “để xin xem chỉ thị Z30. Hóa ra chẳng ai biết cả và tỏ vẻ giữ bí mật, ... sợ sệt, e dè... không bảo làm, cũng không bảo không (làm).” Có như vậy mới là tác phong Ðảng Chập Chờn! Tuy vậy, một bữa Ðỗ Mười về thăm Hải Phòng, được đưa đi tham quan, qua một ngôi nhà hai tầng dựng bên đường, bèn hỏi nhà của ai, và nói sõng, “Nếu tôi là bí thư, chủ tịch thành phố, tôi sẽ tịch thu cái nhà này...!” Ðó là ngôi nhà của một tài xế lái xe trong Ðoàn 12!

Cuối cùng thì cái Chỉ thị Z30 đó nó chập chờn từ đâu mà sinh ra? Trong cuộc họp Trung Ương Ðảng vào Tháng Sáu năm 83, do Phạm Hùng, bộ trưởng Công An điều khiển, Ðoàn Duy Thành nói “một mạch 2 giờ liền” than phiền về những tai hại của Chỉ thị Z30. Anh Ba Lê Duẩn và anh Hai Phạm Hùng tỏ vẻ suy nghĩ nhưng không nói gì về cái chỉ thị đó cả, chỉ hỏi ý kiến mọi người thôi. Lê Duẩn lại lên lớp giảng một bài về “đạo lý của Ðảng ta, nguyện vọng của nhân dân.” Sau đó không còn ai nói tới nữa. Cuối cùng, Ðoàn Duy Thành vẫn tự hỏi trong cuốn hồi ký viết xong năm 2004, “Không hiểu cái Chỉ thị Z30 ấy ở đâu mà ra?” Ông kể trong nhật báo Nhân Dân một ngày vào Tháng Sáu năm 1983 có đăng 6 bài phê bình các địa phương không tịch thu nhà, trong đó có 5 bài phê bình Hải Phòng, một bài phê bình Hà Bắc. Hỏi ông Hồng Hà, tổng biên tập báo đó, ông ấy cũng chối không biết gì, chỉ thấy “tổ ý kiến bạn đọc” đăng thì đăng! Những lời tường thuật của Ðoàn Duy Thành chỉ cốt để chứng tỏ ông ta là người thực tế và khôn ngoan nhất, hơn hẳn cái anh Ðỗ Mười, người đã tìm cách ám hại ông ta để giành lấy chức thủ tướng rồi lên chức tổng bí thư. Nhưng chúng ta nghe chuyện thì biết cách quyết định việc trị dân của các ông cộng sản này như thế nào. Nói giản dị, nó là chập chờn, cho nên vô trách nhiệm.

Nếu cái Chỉ thị Z30 này được thi hành đầy đủ thì cả nước bị họa, nhất là ở miền Nam. Ðoàn Duy Thành sau đó phê bình những quyết định “khi sai sẽ gây ra bao oán thù, nó sẽ tích tụ chồng chất dần lên, thành những hận thù sâu xa đến tận đời con đời cháu...” Năm 1983 miền Bắc nước ta bị nạn đói, tỉnh Thanh Hóa có người chết đói, dân đói kéo ra Hà Nội tìm ăn đầy cả nhà ga và đường phố. Nhưng cái “Ðảng lãnh đạo” đó ban ra một lệnh làm người dân khóc sướt mướt như thế mà cuối cùng không ai đứng ra chịu trách nhiệm, dù chỉ là thú nhận để trong nội bộ biết với nhau thôi!

Từ 1983 đến nay lề lối quyết định việc cai trị nước Việt Nam của đảng Cộng Sản có vẻ vẫn không thay đổi. Chỉ có một tiến bộ, là năm nay lệnh cấm được viết trên giấy, vì dân Việt Nam bây giờ không còn sợ hãi, không còn dại như xưa nữa. Nhưng cung cách lãnh đạo chập chờn của Ðảng Cộng Sản vẫn còn nguyên, vì tờ giấy ra lệnh vẫn không thấy ai ký tên, không có danh hiệu của cơ quan nào cả!

Bà Debbie Frost, giám đốc thông tin quốc tế của công ty Facebook nói vói nhật báo Người Việt rằng “...thật là đáng xấu hổ nếu người dân ở Việt Nam hoặc bất cứ nước nào không có quyền vào trang Facebook...” Ðể bớt xấu hổ, ngày hôm nay, trong lúc đang viết bài này, tôi cũng bỏ thời giờ vào trang Facebook của mình, gửi ngay một thông điệp cho hai con và một đứa cháu ở tận Wien, Áo Quốc.

Nhưng vẫn tự hỏi ai là người quyết định ra lệnh ngăn chặn không cho người Việt trong nước được vào Facebook? Lại phải chờ mười năm nữa họa chăng mới có một người viết hồi ký kể lại những chuyện lạ lùng, ở một “cõi” mà người trần mắt thịt không thể nào thấy được. Ðó là thế giới của ma của quỷ. Cho nên nó mới chập chờn như vậy.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »


Image


Chiếc gậy mục tử của Giám mục
Từ ngàn xưa, cây gậy đóng ba vai trò chính: chổ dựa, diễn hành, tự vệ. Người Do Thái gọi chiếc gậy là « Kanch ». Hình như Do Thái lấy từ chữ Latin « Canna ». Người lính cổ La Mã luôn kết một cành cây vào bộ quân phục. Một biểu tượng của cây gậy. Tuy không có gì làm là hoàng tráng, nhưng vai trò của nó thật rõ ràng : Người lính cổ La Mả di chyển rất nhiều. Từ thế kỷ XI trở đi, những người hành hương luôn có một cái áo choàng và một cây gậy dài làm chổ để dựa.

Cây gậy của Giám mục, với đầu cong lại thành hình hơi tròn, hình như tới từ cây gậy của kẻ chăn chiên. Cây gậy ấy tượng trưng uy quyền và là cây gậy mục tử của Giám mục.
Image

Vài nét về Hồng Y Roger Marie Élie Etchegary
Hồng Y Roger Marie Élie Etchegaraysinh ngày 25/09/1922 tại làng Espelette thuộc Pyrénées-Atlantiques. Ngài là dân Pháp gốc basque. Ngài chịu chức linh mục vào ngày 13/07/1947 và thuộc điạ phận Bayonne. Linh mục Etchegary phải qua ba chìm bảy nỗi sau chiến tranh và cải cách phụng sự dưới triều đại của Giáo Hoàng Phê Rô XII, khủng hoảng linh mục lao công, chiến tranh Algérie, dưới bóng của Tổng Giám mục Léon Terrier, truớc khi điều khiển văn phòng của Giám mục Pháp.

Chuyên gia của Cộng Đồng Vatican II. Ngài được bổ nhiệm làm Giám mục phụ tá cho địa phận Paris ngày 29/03/1969. Sau đó Ngài được nâng làm Tồng Giám mục của Giáo phận Marseille vàongày 22/ 12/1970.Ngoài ra Ngài còn được bổ nhiệm chủ giáo của truyền giáo Pháp vào ngày 25/11/1975. Từ 1975 tới năm 1981 Ngài là chủ tịch của HĐGM Pháp và HĐGM Âu-Châu.
Ngày 08/04/1984 Ngài được bổ nhiệm làm chủ tịch Thánh Bộ Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình và Thánh Bộ Giáo Hoàng Bác Ái. Một năm sau vào ngày 13/04/1985, Ngài từ nhiệm Tổng Giám mục Marseille để gia nhập chính phủ Vatican (Curie romaine). Giáo Hoàng Jean-Paul II nâng Giám mục Etchchegary lên chức Hồng Y linh mục (ở trong thành La Mã) của Thánh đường S. Leon I vào ngày 30/06/1979. Sau đó vào ngày 24/06/1998, ngài được nâng lên chức Hồng Y Giám mục (Giám mục ở xung quanh thành La Mã) của Giáo phận Porto-Santa Rufina.

Suốt hơn 20 năm, Hồng Y Etchegary là một trong các cộng tác viên của Giáo Hoàng Ba Lan. Ngài đuợc Giáo Hoàng Jean-Paul II gửi đi khắp thế giới cho các công tác bí mật nhất và tế nhị nhất. Vừa bí mật vừa công khai, Ngài tới Cuba hặp Fidel Castro, tới Rwanda, Jérusalem, Tàu và gặp Saddam Hussein.
Một điểm rất đặc biệt cần được nêu lên : Ngài và Hồng Y Ratzinger (Giáo Hoàng Benoît XVI hiện nay) suốt cả chiều dài của Triều Đại Giáo Hoàng Jean-Paul II là hai cố vấn thân cận và bạn tri kỷ của Giáo Hoàng Jean-Paul II. Như vậy nên hiểu Ngài là tâm giao hay đồng chí của Giáo Hoàng hiện tại !

Kề từ ngày 30/04/2005, Ngài là phó của Hội Đồng Hồng Y. Hiện nay Ngài là số 4 của chính phủ Vatican sau Giáo Hoàng Benoît XVI, Hồng Y Thủ Tướng Tarcisio Bertone, Hồng Y Sodano.
Nhân vật số 4 của chính phủ Vatican từ La Mã qua Việt Nam và mang gậy mục tử trả lại cho TGM Ngô Quang Kiệt

Với lá thư từ chức, phải nên hiểu rằng là TGM Ngô Quang Kiệt bày tỏ ý định xin trả lại Giáo Hoàng Benoît XVI cậy gậy mục tử tại vị mà Giáo Hoàng Jean-Paul II đã giao cho Ngài vào tháng 06/1999.

Nay số 4 của chính phủ Vatican là Hồng Roger Marie Élie Y Etchegary, phải đội nắng mưa tới Việt Nam và sau lễ vào chiều ngày 22/11/2009 đã dõng dạc tuyên bố : CHIẾC GẬY (gậy mục tử)NÀY LÀ CỦA ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC, TÔI KHÔNG MUỐN MANG VỀ.. ». Lệnh của số 4 phải hiểu là lệnh của Tòa Thánh Vatican và khi số 4 đã phán như vậy, thời xin vâng ! Cây gậy mục tử.
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Dân quân tự vệ biển:
Kế hoạch đỉnh cao trí tuệ loài người hay chiến lược của các bộ óc tốt nghiệp trường tù ?


Phan Đông Quân
Sự kiện línhTrung Cộng có hành vi bạo ngược đối với 200 ngư dân VN ngay trên vùng biển đảo của VN trong trận bão số 9 vừa qua ,cũng như trong suốt mấy năm trước đó, đã khiến cho nhân dân VN ở cả trong và ngoài nước vô cùng căm phẫn, vừa đối với Tầu, vừa đối với thái độ Hà nội làm lơ cho tới khi không thể không lên tiếng.

Để chữa cháy, một số lãnh đạo CSVN đã đưa ra giải pháp trang bị vũ khí cho ngư dân để họ tự vệ khi đánh bắt cá trên biển. Đề nghị này khởi đầu chỉ như là một phản ứng, được đưa ra bởi giới lãnh đạo bộ Nông Nghiệp Phát Triển Nông Thôn và hội Nghề Cá hồi trung tuần thàng 10/2009. Tiềp theo đó, theo đài Á Châu Tự Do ngày 2/11/2009, trung tướng Nguyễn văn Hiến, tư lệnh Quân Chủng Hải quân CSVN khi tiềp xúc với báo giới ở Hà Nội, đã khẳng định:" muốn tiến ra biển ,cả, bảo vệ chủ quyền, phát triển kinh tế,bảo vệ ngư dân yên ổn sinh sống,việc làm trước mắt và tất yếu là phải trang bị cho lực lượng Hải quân VN.", Cũng theo đài Á châu Tự do, hai ngày sau tướng Lê quang Bình, chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng-An ninh Quốc hội đã tuyên bố bên lế kỳ họp quốc hội vừa qua là:"VN nên thành lập các đội dân quân bảo vệ biển", vì "bằng Luật Dân quân tự vệ,VN sẽ phát triển tốt hơn lực lượng dân quân tự vệ biển, làm nòng cốt bảo vệ người dân trên biển, cũnh như giúp họ xác định tốt hơn đâu là vùng biển của VN,đâu là vùng biển của nước ngoài."

Nhìn từ xa, có vẻ như đảng và nhà nước VC đã quan tâm đặc biệt đến vấn đề bảo vệ ngư dân. Nhưng đón nhận của dân thế nào thì phải nghe chính những người dân phát biểu. Phóng viên Trần Văn của đài Á châu Tự do đã có buổi phỏng vấn thuyền trưởng Trương Minh Quang của tầu QNg90078,và phát thanh vào ngày 3/11/2009 :
--Nếu nhà nước giao súng cho Anh để anh tự bảo vệ,anh có cầm không?
--Em không cầm đâu.Nói chung là ở ngoài biển, có súng, nó bắn chết cha. Có súng,nó bắn mình luôn.Nó giết mình ở ngoài đó.


Nghe thoáng qua thì có vẻ như ngư phủ này hơi nhát gan. Nhưng nghĩ thêm một chút thì phải thấy rằng súng nhỏ trang bị cho thuyền đánh cá, cao lắm là trung liên, đại liên, tất không thể nào chống lại võ khí của chiến hạm Trung quốc to hơn mạnh hơn nhiều lần thuyền cá Viêt nam. Bởi vì ngay những cảnh sát biển, và lưc lượng biên phòng CSVN cũng né tránh lưc lượng võ trang Tầu, như người ta có thể thấy qua những lời trao đổi giữa phóng viên Trần Văn của đài Á châu Tự do với thuyền trưởng Nguyển thanh Thu của tầu đánh cá QNg95348. Tưởng cũng nhắc lại ở đây rằng tầu QNg95348 đã bị tầu TC đâm chìm giữa biển vào lúc rạng sáng ngày 19/5/2009. Phóng viên hỏi
- Mình có hải quân ,có cảnh sát biển , có biên phòng, việc tuần tra trên biển như thế nào trong những trường hợp tầu lạ đâm chìm tầu đánh cá, tầu hàng của mình?
- Không có tầu hải quân VN. Không có tầu...
Rồi cảnh sát biển hoạt động thế nào ?
-Tầu cảnh sát biển không có. Chúng tôi gọi ngư dân cùng quê làm ở gần đó đến cứu.


Ngưòi dân nghe cuộc nói chuyện ngắn ngủi này sẽ không thể nào không giận dữ, chửi thề văng tục truớc cái thái độ này của hải quân, của cảnh sát biển ,của biên phòng biển nhà nước. Nếu không giân dữ thì có lẽ cũng không thể nào không ngậm ngùi đổ cho số phận mình sinh ra vào một nước nhỏ, lạc hậu, để mà rồi làm lơ, tiếp tục bươi chải kiếm sống, hòng chồi lên trong cái xã hội nhầy nhụa với những phó sản của sự cẩu hợp cộng sản biến thái và tư bản tiêu thụ.

Những phản ứng này của người dân, nếu chỉ là từ chửi thề văng tục, đến ngậm ngùi rồi bỏ qua, hay là ngay cả không nghĩ gì mà chỉ cam chịu thủ thân như các ngư dân được phỏng vấn, thì có thể khiến người ta nghĩ rằng giới lãnh đạo CS xem ra có vẻ như xứng đáng với lời họ tự xưng tụng là “đỉnh cao trí tuệ loài người”. Thực thế quá trình hình thành dự luật Dân quân tự vệ VN bắt đầu ở một bộ phận liên quan là bộ nông nghiệp và hội Nghề cá, có tác dụng xoa dịu, nó được tạo ấn tượng là đã chuyển thành một quan tâm cấp lớn hơn, là tăng cường lực lượng hài quân, để sau chót khoác cho nó cái vỏ quan trọng bâc nhất là một luật bảo vê đất nước ở quốc hội, nhưng với một nội dung vô dụng, bất khả thi, đẩy mọi sự trở lại tay dân. Nghĩa là không giải quyết gì cả. Tuy nhiên cũng có người cho rằng những con người tính toán chiến lược như vậy chỉ phản ảnh những bộ óc tốt nghiệp trường tù, trèo từ vị trí dân quân tự vệ đi lên, chỉ có trình độ đọc chữ chân phương không viết tháu, hay được hoc hành trong một hế thống giáo dục ngu dân mà trí thức là một cái tội.

Dù là đỉnh cao hay đỉnh thấp thì nếu những lãnh đạo này còn tiếp tục giữ quyền họ sẽ chỉ là những con trùng hoại sinh bám vào cơ thể Việt Nam hút cạn sinh lực dân tộc.

Phan Đông Quân
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Mô hình tư bản kiểu Trung Quốc?

Ngô Nhân Dụng
Trước khi Tổng Thống Mỹ Barack Obama sang Trung Quốc, tuần báo Economist đã viết một bài dài về mối quan hệ giữa hai nước. Họ nêu một nhận xét rằng, “triết lý kinh tế của hai nước đang rất giống nhau, và dẫn lời một học giả nổi tiếng về bang giao quốc tế. Giáo Sư Diêm Học Thông (Yan Xuetong) nói rằng, “chủ nghĩa xã hội với đặc tính Trung Quốc (như nhà cầm quyền Bắc Kinh vẫn mô tả chế độ cộng sản của họ) càng ngày càng trông giống như chủ nghĩa tư bản với đặc tính Mỹ!”

Diêm Học Thông tốt nghiệp Ðại Học Hắc Long Giang năm 1982, mười năm sau được trao bằng Ph.D. tại Ðại Học Berkeley, California, vào lúc 40 tuổi, hiện ông là giám đốc Viện Nghiên Cứu Quốc Tế tại Ðại Học Thanh Hoa, Bắc Kinh và rất được học giới Trung Quốc kính trọng sau 5 cuốn sách ông đã xuất bản về vai trò của Trung Quốc trong thế giới hiện tại.

Nhưng nói như ông Diêm Học Thông thì cũng oan cho nước Mỹ. Nếu kinh tế Trung Hoa hiện nay có giống chế độ tư bản ở Mỹ thì nó chỉ giống với nước Mỹ vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 mà thôi. Chế độ kinh tế đó người ta gọi là “tư bản quả đầu,” tức là một nhóm ít (quả nghĩa là ít) các công ty nắm đầu các sinh hoạt kinh doanh quan trọng. Nhưng, dù so sánh như vậy, vẫn còn một điều khác biệt quan trọng. Chúng ta nên nhớ là kinh tế Mỹ trước sau vẫn nằm trong tay tư nhân, còn ở Trung Quốc hiện nay chính quyền cộng sản vẫn chủ trương dồn tiền bạc, của cải trong nước cho các xí nghiệp quốc doanh sử dụng.

Một người phân tích kỹ lưỡng và đầy đủ hơn về kinh tế Trung Quốc là Giáo Sư Hoàng Á Sinh (Yasheng Huang) thuộc Ðại Học MIT. Trong chương đầu cuốn “Chủ nghĩa tư bản với đặc tính Trung Hoa,” (Capitalism with Chinese Characteristics) mới xuất bản năm ngoái, Giáo Sư Hoàng đã đặt câu hỏi, “Trung Quốc theo tư bản đến mức nào?” (Just how Capitalist is China?) Ngay phần mở đầu chương này, ông đã phá vỡ nhiều hiểu lầm và huyền thoại về hiện tượng các doanh nghiệp Trung Quốc được tiếng là thành công nhất hiện nay. Khi biết rõ, người ta sẽ thấy các nước nghèo khác không thể nào theo “mô hình” Trung Quốc được.

Năm 2002 chẳng hạn, tạp chí Forbes ở Mỹ lập bảng danh sách những công ty quốc tế cỡ nhỏ và trung thành công nhất, trong đó có 4 công ty Trung Hoa. Nhưng ông Hoàng Á Sinh cho biết, cả 4 công ty đó đều đặt trụ sở ở Hồng Kông, mặc dù hầu hết các hoạt động và lợi nhuận của họ đều ở trong lục địa.

Năm 2005, Giáo Sư Donald Sull xuất bản cuốn “Made in China,” với tiểu tựa là “Các nhà quản trị Tây phương có thể học hỏi gì nơi các nhà quản trị Trung Quốc?” Nhưng ông Hoàng Á Sinh, là người sinh trưởng ở Trung Quốc và tốt nghiệp đại học trước khi du học ở Mỹ, đã vạch ra một điều ngộ nhận lớn. Trong số 7 công ty Trung Quốc mà ông Sul nêu tên, Sina, UTStarcom, AsiaInfo, Haier, Galanz, Wahaha, and Ting Hsin, tất cả các công ty này hoặc các chi nhánh quan trọng nhất của họ đều được “đăng ký” như là “công ty ngoại quốc” và do người ngoại quốc làm chủ một phần lớn hay 100%! Haier tuy ghi danh trong nước nhưng các chi nhánh chính, sản xuất máy giặt, máy rửa chén và tủ lạnh đều được đăng ký là “công ty ngoại quốc.” Chính vì được đóng vai công ty ngoại quốc, cho nên họ được đối đãi theo quy chế rộng rãi hơn các công ty tư nhân bản xứ!

Trường hợp được Giáo Sư Hoàng Á Sinh kể cặn kẽ nhất là câu chuyện công ty Lenovo. Chúng ta đều nhớ năm 2004 cái tên Lenovo đã nổi tiếng ở nước Mỹ vì công ty tin học này đã đứng ra mua tất cả phân bộ sản xuất máy vi tính để bàn (PC) của đại công ty IBM. Nhiều người coi đây là cuộc tấn công đầu tiên của doanh nghiệp Trung Hoa vào thành trì của giới kinh doanh Mỹ. Có người ca ngợi Lenovo như là một xí nghiệp sinh trưởng ở Trung Quốc có thể so sánh với các xí nghiệp lớn nhất Ấn Ðộ như Wipro hay Infosys. Nó chứng tỏ thị trường Trung Quốc có khả năng tạo ra những xí nghiệp năng động với khả năng cạnh tranh trên thương trường quốc tế.

Nhưng Lenovo có phải là một công ty do Trung Quốc sinh ra hay không? Hoàng Á Sinh trả lời rõ ràng: Không. Chỉ một người Trung Hoa mới cất công tìm ra những uẩn khúc trong việc ra đời và trưởng thành của công ty này.

Năm 1984, ông Liễu Truyền Chí (Liu Chuanzhi) rủ 10 đồng nghiệp khác trong Viện Khoa Học Trung Quốc (CAS) lập ra một công ty để kinh doanh, lúc đầu lấy tên là Legend. Mười một người góp được 200,000 đồng nguyên (cỡ 30,000 đô la Mỹ) nhưng không dám góp vốn mà chỉ cho công ty vay! Số tiền đó họ cũng đi vay cả. Công ty này được khai sinh ở Hồng Kông, vì thân phụ ông Liễu làm giám đốc một văn phòng của chính phủ Bắc Kinh ở đó, đã quen đường đi nước bước và thân thuộc với các tai to mặt lớn trong chính quyền cũng như giới kinh doanh. Năm 1988, Hồng Kông chưa được trả về Trung Quốc, Lenovo đã nhận được 900,000 Mỹ kim của một công ty Hồng Kông để hợp tác và phát triển. Công ty mới này mở ra các công ty con trong lục địa, để làm công việc nghiên cứu hoặc sản xuất. Giáo Sư Hoàng nhận xét: Các công ty con Lenovo (Beijing) and Lenovo (Shanghai) hoàn toàn được ghi danh như là do ngoại quốc làm chủ 100%, chúng còn mang “tính chất ngoại quốc” hơn cả công ty General Motors ở Thượng Hải, vì GM chỉ góp 50% số vốn với một công ty Trung Quốc 50%.

Giáo Sư Hoàng đặt câu hỏi: Việc ghi danh Lenovo như một công ty ngoại quốc thì có gì quan trọng, nhất là khi Hồng Kông nay cũng thuộc chủ quyền chính phủ Bắc Kinh?

Trả lời câu hỏi này giúp chúng ta hiểu tương quan nhân quả giữa khung cảnh kinh tế, chính trị với sự phát triển kinh doanh. Vì Hồng Kông là một nền kinh tế tự do nhất thế giới, tự do hơn cả kinh tế Mỹ. Lenovo ra đời và lớn lên khi Hồng Kông vẫn thuộc Anh. Ðến nay cựu thuộc địa này vẫn được giữ quy chế riêng sống khác lối Trung Quốc, cho nên họ vẫn bảo vệ được một hệ thống thị trường tài chánh độc lập, pháp luật nghiêm minh và tôn trọng quyền tư hữu. Nếu sinh trưởng ở trong lục địa, Lenovo không được phép bán và sản xuất máy vi tính, vì công việc này phải xin giấy phép, mà giấy phép thường dành cho các xí nghiệp quốc doanh cùng với các công ty ngoại quốc. Cho đến năm 2005, sau khi Lenovo đã mua phân bộ PC của IBM, chính quyền cộng sản Bắc Kinh mới chính thức cho phép các công ty trong nước được tham dự vào các ngành kỹ thuật cao! Các doanh nghiệp nhà nuớc thì dù được cấp giấy phép cũng không có khả năng phát triển như Lenovo!

Làm cách nào một công ty nhỏ như Lenovo có tiền để phát triển? Tiền vốn của Lenovo được thị trường tài chánh Hồng Kông cung cấp. Trước khi Hồng Kông trở về với nước mẹ, lần phát hành cổ phiếu đầu tiên của công ty tại Hồng Kông thu được 12 triệu Mỹ kim, được chuyển vào đầu tư trong nước Tầu. Nếu sinh trưởng ở trong lục địa thì không có số tiền lớn lao đó, so với số nợ 200 ngàn nhân dân tệ. Ðiều ngộ nghĩnh trong câu chuyện này là hiện tượng “vốn đi rồi vốn lại về.” Người Trung Hoa có tiền ở trong nước được phép chuyển sang Hồng Kông, dùng tiền đó góp vốn cho các công ty địa phương, rồi các công ty này lại chuyển tiền vào Trung Quốc đầu tư! Chỉ vì những cơ cấu chính trị, luật pháp và thị trường vốn ở Trung Quốc không có khả năng “phân bố tài nguyên” của chính nước này, nên phải nhờ cơ cấu “tư bản cực hữu” ở Hồng Kông làm công việc đó! Các nhà kinh doanh trong nước đã tìm ra được một kẽ hở trong hệ thống và tận dụng kiếm lời! Hai yếu tố giúp Lenovo thành công là di sản của chính quyền thuộc địa Anh tại Hồng Kông và cơ hội làm ăn mới mở ra tại Trung Quốc.

Một kết luận của Hoàng Á Sinh là “các nước nghèo khác không thể mô phỏng cách làm kinh tế của Trung Quốc,” vì họ không có một Hồng Kông làm cửa sau để chạy ra chạy vào. Nếu chỉ mô phỏng các định chế, luật lệ, thị trường tài chánh của Trung Quốc, các nước khác sẽ gặp bế tắc, giống như Trung Quốc mà không có Hồng Kông vậy! Chắc chắn đây là một bài học mà mọi người Việt Nam phải chú ý. Những nước khác không thể đẻ ra được một Hồng Kông nằm bên cạnh mà sử dụng; cho nên nếu bắt chước “mô hình phát triển” của Trung Quốc thì chỉ hưởng những hậu quả xấu của nó mà mang họa

Ông HoàngÁ Sinh là người Trung Hoa cho nên ông thẳng thắn đặt một câu hỏi khác cho nước ông. Câu hỏi là: Biết sự thật về công ty Lenovo rồi, nhưng biết để làm gì? Ðằng nào Trung Quốc cũng hưởng lợi khi kinh tế phát đạt nhờ có những công ty như Lenovo; vậy thì đâu cần biết nó được sinh ra và nuôi dưỡng ở Hồng Kông hay ở đâu?

Câu trả lời là: Cần phải nhìn rõ trường hộp Lenovo để khỏi ngộ nhận là hệ thống kinh tế tài chánh ở Trung Quốc có khả năng giúp nước này phát triển. Vì những người thành lập Lenovo may mắn. Thân phụ ông Liễu Truyền Trí có đường dây liên hệ lớn ở Hồng Kông. Còn hàng ngàn doanh nhân Trung Hoa khác không được may mắn như vậy thì sao? Khi nào nước Tầu còn chưa thiết lập được khung cảnh chính trị, pháp luật, và thị trường tài chánh theo đúng các quy tắc kinh tế tư bản thì còn hàng vạn trường hợp thất bại so với mỗi trường hợp thành công của Lenovo! Khi nào Bắc Kinh chưa cải tổ toàn diện thì hàng triệu doanh nhân có khả năng không kém gì ông Liễu Truyền Trí vẫn không có cơ hội vươn lên. Còn các doanh nghiệp nhà nuớc thì dù được nâng đỡ đủ điều vẫn không tiến lên được. Cuối cùng, phải thay đổi chính trị thì mới tiến bộ được.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Bao giờ Tàu đuổi kịp Mỹ?

Ngô Nhân Dụng

Bà Susan Schwab, nguyên đại diện thương mại trong chính phủ Mỹ, đã được trao tước hiệu “giáo sư danh dự” của Ðại Học Quốc Gia ở Hà Nội ngày hôm qua. Trước đó bà đã thuyết trình về các vấn đề kinh tế ở đại học này, mà theo báo chí thì ba phần tư thời giờ là nói chuyện Trung Quốc.

Một câu hỏi tự nhiên trong số thính giả tới nghe một người Mỹ nói về kinh tế nước Tàu, tất nhiên là: “Bao giờ Trung Quốc sẽ qua mặt Mỹ?”

Bà Susan Schwab có nghĩ đến nỗi ám ảnh này, và bà nói thẳng rằng đó là một chuyện “được thổi phồng quá đáng!” Hàng hóa Trung Quốc bán sang Mỹ phần lớn là đồ gia dụng và các hàng tiêu thụ rẻ tiền, trong khi Mỹ tập trung bán những thứ hàng thuộc công nghệ cao và có lời nhiều: máy bay, khí cụ truyền thông, vân vân.

Nghe vậy thì biết người Mỹ vẫn yên tâm mua hàng Tàu, giúp dân Trung Hoa có công việc làm và giúp chính phủ Bắc Kinh thu ngoại tệ về để tiếp tục cho chính phủ Mỹ vay “với giá rẻ.” Nhưng bà Schwab không trả lới thẳng câu hỏi “Ðến bao giờ thì kinh tế Trung Hoa qua mặt Mỹ, hay nói khiêm tốn hơn, bao giờ thì họ đuổi kịp Mỹ?”

Cần phải xác định “đuổi kịp” là dựa trên tiêu chuẩn nào. Thử lấy Tổng Sản Lượng Nội Ðịa (GDP) làm thước đo, hiện nay GDP Trung Quốc lớn gần bằng một phần ba của Mỹ. Nếu kinh tế Trung Quốc cứ tiếp tục tăng trưởng liên tục với tốc độ 10%, mà Mỹ chỉ tăng với tốc độ 3%, thì trong khoảng 17 năm, GDP của Trung Quốc sẽ bằng của Mỹ. Giả thiết tỷ lệ tăng trưởng 10% suốt 17 năm có vẻ lạc quan quá đáng, nhưng từ con số trên có thể tiên đoán tổng sản lượng nội địa của nước Trung Hoa sẽ lớn bằng của Mỹ trong khoảng 20 năm.

Nhưng so sánh bằng GDP không đủ, vì hai nước có dân số khác nhau. Khi kinh tế Tàu bằng kinh tế Mỹ mà số dân Trung Hoa vẫn đông gấp ba lần, thì lợi tức theo đầu người của người Trung Hoa chỉ bằng một phần ba của người Mỹ. Cho nên phải so sánh bằng GDP chia đều cho đầu người dân. Dùng con số này, thì hiện nay nếu người Trung Hoa trung bình làm ra một đồng thì người dân Mỹ có 14 đồng, lợi tức gấp 14 lần. Bao giờ thì họ đuổi kịp dân Mỹ? Theo một người sinh trưởng ở Trung Quốc và hiện làm việc tại Mỹ thì cần phải 47 năm nữa lợi tức bình quân của nước ông mới bằng nước Mỹ. Tức là dân Trung Hoa sẽ phải chờ gần nửa thế kỷ nữa.

Vị học giả Trung Hoa trên là ông Bùi Mẫn Hân (Xinmin Pei???), tốt nghiệp Ðại Học Thượng Hải trước khi sang Mỹ học, và hiện làm việc nghiên cứu tại Viện Carnegie về Hòa bình quốc tế, và giám đốc một viện nghiên cứu chiến lược tại Claremont McKenna College. So sánh với toàn thể Á Châu, ông Bùi Mẫn Hân thấy hiện nay lợi tức theo đầu người chỉ có 5,800 đô la một năm, so với 48,000 đô la của dân Mỹ. Còn ngân sách quân sự của cả Á Châu vào năm 2008 chỉ bằng một phần ba ngân sách quốc phòng của Mỹ, mà vì nước Mỹ vẫn chi rất nhiều vào việc chế tạo vũ khí, phải chờ 72 năm nữa Á Châu mới đuổi kịp.

Nhưng ông Bùi Mẫn Hân cho là vai trò “cường quốc” trên thế giới không phải chỉ đạt được nhờ sức mạnh kinh tế và quân sự. Một yếu tố quan trọng hơn, theo ông là “ý kiến, tư tưởng.” Hiện nay cả thế giới đang chịu ảnh hưởng của những ý tưởng mà Mỹ và các nước Tây phương vẫn theo đuổi từ mấy thế kỷ nay: kinh tế thị trường, chế độ tự do dân chủ, và các định chế quốc tế ra đời từ hơn nửa thế kỷ qua, như Liên Hiệp Quốc, tòa án thế giới, WTO, vân vân.

Trung Quốc đang cống hiến được gì trong lãnh vực này? Trung Quốc có đưa ra cho thế giới một mô thức chính trị hay kinh tế nào để người ta bắt chước? Hay là một quy củ mới cho đời sống quốc tế? Chưa có gì cả. Như quý vị đọc mục này đã biết, một người Trung Hoa là giáo sư Diêm Học Thông (Yan Xuetong), thuộc Ðại Học Thanh Hoa, Bắc Kinh, còn chê là “chủ nghĩa xã hội với đặc tính Trung Hoa càng ngày càng trông giống như chủ nghĩa tư bản với đặc tính Mỹ!” Hiện nay Trung Quốc đang “xuất cảng tư tưởng” bằng những Viện Khổng Tử. Ðó là những “trung tâm văn hóa” theo kiểu Viện Goethe mà chính phủ Cộng Hòa Liên Bang Ðức đã lập ở nhiều nước. Ở Hà Nội cũng có một viện Khổng Tử, và chuẩn bị xây dựng một Cung Văn Hóa với mô hình rất “hoành tráng” xây bằng tiền của Bắc Kinh. Trung Quốc đang bán món hàng Khổng Tử, thay vì xuất cảng Mao Trạch Ðông. Ngay ở trong nước Tàu, cuốn Luận Ngữ được một nữ ký giả chú thích, giải nghĩa và bình luận đã bán được dăm chục triệu cuốn, còn Sách Ðỏ của Mao chẳng ai thèm mua.

Nhưng thế giới bây giờ có thể học gì ở Ðức Thánh Khổng? Chính những người lãnh đạo ở Bắc Kinh cũng chưa biết dùng vị vạn thế sư biểu này vào việc gì, ngoài ý định lợi dụng ngài để củng cố chế độ qua các đức tính như trung thành tuyệt đối với bề trên, một ý tưởng chỉ đến đời Tống mới thịnh hành chứ chính Khổng Tử và Mạnh Tử thì không chủ trương như vậy. Cho nên, trên mặt trận tư tưởng, Trung Quốc hiện nay chưa có gì để cống hiến cho loài người; sự bành trướng của họ bây giờ dựa hoàn toàn trên trao đổi kinh tế. Mà phương thuốc kinh tế của họ thì chỉ là mô phỏng kinh tế tư bản trước đây hơn 100 năm.

Như đã trình bày trong mục này tuần trước, sự phát triển của một số công ty lớn nhất ở Trung Quốc không phải là nhờ hệ thống chính trị, luật pháp và kinh tế nước họ, mà chính là nhờ họ được sử dụng hệ thống pháp luật và thị trường tài chánh mà người Anh đã để lại ở Hồng Kông. Những nước đang mở mang khác không có một Hồng Kông ở bên cạnh sẽ không có cách nào theo chân Trung Quốc được. Toa thuốc phát triển của Trung Quốc gồm hai phần, một là chú trọng đến đầu tư và xuất cảng, hy sinh tiêu thụ; hai là dựa vào cánh cửa ngỏ ở Hồng Kông với “hạ tầng cơ sở” về định chế và pháp luật tư bản có sẵn ở đó hàng trăm năm. Các nước khác phải tự thiết lập lấy những cái khung luật pháp, thị trường tài chánh, làm hạ tầng cơ sở chính trị cho việc phát triển của mình. Nếu không thì toa thuốc sẽ thiếu vị chính, bắt chước thì chỉ tự chuốc lấy những cái dở, cái xấu của hệ thống kinh tế Trung Quốc mà không hưởng được cái lợi nào cả. Cho nên khi bà Susan Schwab khuyên các sinh viên Ðại Học Quốc Gia Hà Nội là “Việt Nam phải tìm con đường riêng, khác Trung Quốc,” là bà ấy nói rất chí tình, chứ không phải chỉ nói phỉnh người Việt mà chắc bà ấy biết không ai ưa gì ảnh hưởng Trung Quốc.

Giáo Sư Bùi Mẫn Hân đã xuất bản cuốn China's Trapped Transition: The Limits of Developmental Autocracy (Harvard University Press, 2006). Chủ đề ngay trong tựa sách đã cho biết ông nhận thấy những giới hạn của mô hình phát triển trong chế độ độc tài. Ông nêu lên những chỗ yếu kém tự sinh ra trong cơ cấu kinh tế của Trung Quốc cũng như của các nước độc tài khác. Ðiều ông quan tâm nhất là một chế độ độc tài thì không thể nào bài trừ được nạn tham nhũng, một trở ngại lớn cho việc phát triển kinh tế. Cũng giống như Giáo Sư Hoàng Á Sinh, giới thiệu trong bài trước, ông Bùi Mẫn Hân nhận thấy kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh và có tính chất bền vững nhất vào thời 1980, khi chính trị được nới lỏng. Từ sau vụ Thiên An Môn, Bắc Kinh đã quay ngược, và những vấn đề lớn xuất hiện, như khoảng cách lợi tức giầu nghèo ngày càng rộng, số 200 triệu nông dân đi lang thang đi kiếm việc và bị kỳ thị ở thành phố, những vụ khiếu kiện về đối xử bất công, đất đai nhà cửa, tăng lên hàng trăm ngàn vụ mỗi năm, và hệ thống chính quyền các tỉnh đã trở thành những đảng Mafia.

Không riêng gì Trung Quốc, ông Bùi Mẫn Hân nhận thấy kinh tế ở các nước độc tài thường bột phát khi nào chế độ được nới lỏng, người dân được tự do hơn cả về kinh tế lẫn chính trị. Những nước độc tài nào biết chọn một công thức kinh tế vĩ mô đúng lúc thì kinh tế tiến lên được trong một thời gian, nhưng còn bao nhiêu nước độc tài khác cứ tiếp tục nghèo nàn thì không được ai chú ý tới, cho nên người ta nuôi ảo tưởng là chế độ độc tài tốt cho kinh tế các nước nghèo. Bùi Mẫn Hân còn mạnh bạo viết rằng chế độ độc tài có tính cách tự hủy diệt (self destructive). Nhưng ông cũng viết một sự thật: Những chế độ độc tài rất khéo trong việc che giấu những nhược điểm, còn các nước tự do dân chủ thì rất giỏi trong việc quảng cáo những nhược điểm của họ!

Ðối với người Việt Nam thì câu hỏi bao giờ Tàu đuổi kịp Mỹ không quan trọng bằng câu hỏi “Bao giờ Trung Quốc thống trị Á Châu?”

Trước câu hỏi này, Bùi Mẫn Hân trả lời: Còn lâu!

Theo ông thì giới lãnh đạo ở Bắc Kinh có mối lo lắng nhất là kéo dài chế độ độc tài của họ, việc bành trướng ra hải ngoại chỉ là việc phụ. Và việc bành trướng đó sẽ bị chính các nước chung quanh cản trở, chứ không phải riêng nước Mỹ. Nga, Nhật, Hàn Quốc, Ấn Ðộ, tự nhiên sẽ tạo ra những rào cản đối với Tàu. Các nước Ðông Nam Á càng lo lắng hơn nữa, họ sợ sự bành trướng của Trung Quốc hơn các nước khác. Chính phủ Bắc Kinh đang cố tìm cách giảm bớt mối lo sợ của các nước khác, lớn cũng như nhỏ. Ðây là một điểm mà các chính quyền Việt Nam phải nhớ và khai thác. Nếu Việt Nam tỏ ra cứng rắn hơn đối với Bắc Kinh, thì chính Bắc Kinh sẽ rụt rè khi phải phản ứng. Vì họ không muốn làm cho các nước khác nghi ngờ hơn về mộng bá quyền của họ.

Giáo Sư Bùi Mẫn Hân cũng đưa ra mấy con số. Trong một cuộc nghiên cứu dư luận người ta đã thấy chỉ có 10% người Nhật, 21% người Nam Hàn và 27% người Indonesia nói họ vẫn cảm thấy yên tâm khi Trung Quốc trở thành nước lãnh đạo ở Á Châu. Trong khi đó, hỏi về vai trò của nước Mỹ, có 69% người Trung Hoa, 75% người Indonesia và 76% người Nam Hàn,79% người Nhật cho là ảnh hưởng của Mỹ trong vùng Á Châu đã tăng lên trong thập niên vừa qua. Người Việt Nam không cần biết Mỹ với Tàu ai sẽ hơn ai, nhưng chúng ta biết dù nước nào hơn thì mình cũng phải lo tự bảo vệ quyền tự chủ và bản sắc dân tộc.

Người Việt Nam phải quan tâm đến sự bành trướng của Trung Quốc. Nhưng chắc chắn không cần phải sợ. Trong cuốn Nhìn lại Sử Việt, cuốn đầu kể đến đời Ngô Quyền phá quân Nam Hán, sử gia Lê Mạnh Hùng đã đặt câu hỏi tại sao người Việt vẫn bảo vệ được quyền tự chủ và bản sắc sau 1117 năm Bắc thuộc, trong khi những giống dân khác như Sở, Ngô, Mân Việt, Nam Chiếu, Liêu, Hạ, Hồ Hột (Uighur), Thổ phồn, Mông, Mãn, vân vân, đã bị Hán hóa? Ông Lê Mạnh Hùng nêu ra nhiều lý do. Trong đó có một điều ít sử gia chú ý tới, là sự tiếp cận của Việt Nam với vùng Ðông Nam Á. Vào thế kỷ 21 này yếu tố trên vẫn phải chú ý tới, nhưng phải mở rộng ra ngoài vùng Ðông Nam Á sang khắp cả Á Châu và Thái Bình Dương. Khắp nơi đều có những hàng rào ngăn không cho Trung Quốc bành trướng. Việt Nam phải biết lợi dụng hoàn cảnh đó.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Quan trọng nhất vẫn là chuyện “giốp“

Ngô Nhân Dụng

Một người bạn ở Âu Châu qua đã than rằng mỗi khi đọc báo Người Việt trên mạng anh rất bực mình vì những tiếng Mỹ được “Việt hóa.” Thí dụ như “Job” (bà con ta đọc là giốp) tức là công việc làm; hoặc “care” (ta hay đọc là ke) tức là quan tâm, săn sóc; vân vân. Anh bạn khuyên người viết tiếng Việt nên tránh thói quen đó, vì đa số độc giả không sống ở Mỹ. Chúng tôi hoàn toàn đồng ý.

Hôm nay viết truyện kinh tế ở nước Mỹ, tôi xin phép theo thói quen của nhiều người Việt sống ở đây, hy vọng bà con sống ở nơi khác, nhất là ở Việt Nam, rộng lòng tha lỗi cho. Câu chuyện là: Ông Barack Obama đang cố chứng tỏ ông cũng “ke” đến mối lo về “giốp” của dân! Cho nên ông đã mời hơn 100 người đến “họp thượng đỉnh” ở Tòa Bạch Ốc về chuyện giốp. Và tuần tới ông sẽ trình bày với quốc dân một chương trình tạo thêm giốp mới. Liệu ông có hy vọng thành công hay không?

Kinh tế Mỹ đã suy thoái suốt 24 tháng qua, kể từ Tháng Mười Hai, năm 2007, tháng nào cũng có tin tức nói số công việc làm giảm bớt. Ða số dân chúng coi đây là vấn đề quan trọng bậc nhất, đặc biệt là những người đã mất giốp và gia đình họ. Cho nên họ bất mãn với tất cả giai tầng lãnh đạo, từ những người chỉ huy các ngân hàng, các xí nghiệp cho đến những nhà chính trị đã được họ bầu lên. Nhưng sau cùng mối bất mãn thế nào cũng đổ dồn trên đảng Dân Chủ, là đảng đang nắm quyền cả hành pháp lẫn lập pháp. Nếu những người đang nắm quyền hành trong tay mà không thay đổi được tình trạng kinh tế, đặc biệt là giải quyết vấn đề mất giốp, họ sẽ bị dân trừng phạt bằng thứ vũ khí mạnh nhất, là lá phiếu, trong năm tới.

Chính phủ Obama đang bị người dân giận hoặc ghét, mặc dù họ vẫn than cơn suy thoái do chính quyền trước để lại. Vì trong 9 tháng vừa qua, ông Obama dành ưu tiên cho những vấn đề khác. Ðầu năm, ông đã đưa ra kế hoạch kích thích kinh tế, xong rồi thôi. Ông không tỏ vẻ quan tâm tới hàng chục triệu người mới mất việc trong năm qua. Tổng số người thất nghiệp đã lên gần 15 triệu rưỡi, trong số đó gần 6 triệu người thất nghiệp ít nhất 6 tháng vẫn chưa tìm được việc làm. Thời gian trung bình sống trong tình trạng thất nghiệp lên tới 28 tuần lễ, con số cao nhất kể từ năm 1948 đến nay. Ðiều này cho thấy cơn khủng hoảng công việc lần này quả thật là trầm trọng. Trong khi đó, mỗi lúc coi ti vi hay đọc báo, theo dõi các cuộc tranh luận trong Quốc Hội, người dân thấy hầu như cả guồng máy chính trị đang quay nhìn đi chỗ khác!

Cải tổ y tế, bảo vệ bầu khí quyển trái đất cho khỏi bị ô nhiễm và hâm nóng, đó là những vấn đề quan trọng thật. Nhưng đó là những chuyện đã lưu cữu từ lâu và sẽ phải giải quyết trong thời gian lâu dài. Chuyện “giốp“mới là chuyện nóng hổi! Ông tổng thống đã du hành các nước Âu Châu và Á Châu, các chuyến đi đó chưa giúp gì cho các xí nghiệp tuyển thêm người làm việc! Cuộc chiến Afghanistan quan trọng thật, nhưng nó ở quá xa và phần lớn dân Mỹ không biết nó ảnh hưởng gì đến túi tiền của họ. Khi chính phủ và Quốc Hội tỏ ra chỉ chú ý đến những vấn đề lớn xa xôi và lâu dài đó, trong khi ít có ai nhắc nhở tới số phận hàng chục triệu người không có tiền mua sắm để đón lễ Giáng Sinh sắp tới, thì coi chừng, sang năm dân sẽ trừng phạt!

Khi Tổng Thống Obama bắt đầu chứng tỏ cho mọi người Mỹ thấy là ông “cũng lo lắng” đến người người thất nghiệp thì may mắn lại có một tin vui: Tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ trong Tháng Mười Một giảm chút đỉnh, từ 10.2% xuống 10% (Trước khi kinh tế Mỹ đi vào suy thoái, cuối năm 2007, tỷ lệ thất nghiệp chỉ có 4.7%). Số công việc làm bị mất trong Tháng Mười Một chỉ có 11,000, nhẹ hơn con số 111,000 giốp bị mất trong Tháng Mười. Ðây là những tin vui sau khi kinh tế Mỹ đã bị mất hơn 7 triệu công việc làm trong hai năm qua.

Nhưng niềm vui nhỏ bé này cũng rất mong manh. Cũng vì vậy mà thị trường chứng khoán New York tăng vọt lên sau khi nghe tin thất nghiệp giảm, sau đó lại xuống để chỉ tăng nhè nhẹ. Tỷ lệ thất nghiệp có thể giảm chỉ vì nhiều người đã bỏ cuộc không đi tìm việc nữa, do đó tên họ bị gạt ra khỏi danh sách những người thất nghiệp. Trong 6 tháng vừa qua, đã có hơn một triệu người “ra khỏi thị trường nhân dụng,” không đi tìm việc nữa! Sau khi nghe “tin mừng” về thị trường nhân dụng này, nhiều người đã bỏ cuộc trước đây sẽ “gia nhập thị trường” đi tìm việc trở lại, và có thể làm tỷ lệ tăng lên. Từ nay đến cuối năm, sẽ có nhiều người kiếm được việc làm nhờ dịp Lễ Giáng Sinh. Nhưng các con số hàng bán sau ngày Lễ Tạ Ơn vừa qua cho thấy các cửa hàng bán lẻ không phấn khởi lắm cho nên hy vọng này cũng rất nhỏ.

Sang năm 2010, sau mùa Giáng Sinh, tỷ lệ thất nghiệp có thể lại tăng lên. Muốn có thêm nhiều công việc làm, thì kinh tế phải phục hồi để các xí nghiệp phải hoạt động nhiều hơn. Nhưng ngay khi số hàng bán tăng lên, thường các xí nghiệp cũng không tuyển thêm người mới, vì chưa biết chắc chắn. Họ sẽ yêu cầu các công nhân đang làm việc tăng năng suất hoặc tăng giờ làm phụ trội, và chỉ tuyển thêm người vào làm việc bán thời gian. Ðó là lý do số giờ làm việc mỗi tuần tăng chút đỉnh, từ trung bình 33 giờ một tuần tăng thêm được một phần năm giờ, tức thêm 12 phút nữa. Cũng vì những người lao động đang có việc phải làm thêm giờ phụ trội nhiều hơn cho nên số lương trung bình cũng tăng lên được hơn 4 đô la, thành 622 đô la một tuần.

Nhiều người lao động được lãnh thêm lương sẽ chi tiêu nhiều hơn, hy vọng tạo ra công việc làm cho những người lao động khác! Ðó là một nguồn hy vọng. Một điều thêm hy vọng nữa là trong một chu kỳ kinh tế bình thường, các xí nghiệp sẽ tuyển nhân viên mới thường xuyên sau khi họ bắt đầu tăng số nhân viên bán thời gian được ba đến 6 tháng. Trong 4 tháng vừa qua, tháng nào các xí nghiệp Mỹ đã tăng số nhân viên bán thời gian, trong Tháng Mười Một thêm 52,000 người được tuyển. Nếu đà này tiếp tục được vài ba tháng nữa, con số lao động được tuyển sẽ tăng lên, giảm bớt nạn thất nghiệp. Nhưng sau cùng, chỉ khi nào giới tiêu thụ tin tưởng và chịu chi thêm tiền thì kinh tế mới thực sự hồi phục.

Một yếu tố chính khiến người tiêu thụ ở Mỹ bớt chi tiền là tình trạng các ngân hàng chưa sẵn sàng cho vay. Kinh tế Mỹ do người tiêu thụ làm chủ, họ quyết định gần 70% tổng sản lượng nội địa. Trong cả thập niên qua, số tiêu thụ tăng mạnh nhờ người ta vay nợ được dễ dàng - một ưu điểm mà cũng chứa những nhược điểm nguy hiểm! Nhưng sau hai năm suy thoái kinh tế, người Mỹ đã thay đổi thói quen vay nợ. Từ 6 tháng nay số thẻ tín dụng (credit cards) do các ngân hàng cấp đã giảm một phần tư, bớt 100 triệu thẻ, một hiện tượng chưa từng thấy. Một phần vì các ngân hàng thắt chặt điều kiện cấp thẻ tín dụng, nhưng lý do chính là chính những người dùng thẻ đã hủy bỏ bớt số thẻ cầm trong tay.

Người Mỹ đã bắt đầu tình nguyện tiết kiệm nhiều hơn, vì lo lắng tương lai hơn, sau khi cả nước đã “mất” 12 ngàn tỷ đô la vì giá nhà đất và chứng khoán bị giảm giá. Tuy con số mất đó chỉ xuất hiện trên sổ sách, nếu người ta không bán nhà và không bán cổ phiếu thì chưa mất gì cả, nhưng khi cảm thấy “nghèo hơn” thì mọi người cũng bớt chi tiêu! Tình trạng tiết kiệm gia tăng trong cơn suy thoái này rất đặc biệt. Trong 6 tháng đầu năm 2009, tổng số vay nợ của cả nước Mỹ đã giảm, lần đầu tiên hiện tượng này xẩy ra kể từ năm 1952! Trong thời gian đó, chính phủ đã đi vay thêm rất nhiều, nhưng con số vay thêm đó không lớn bằng số tín dụng giảm trong lãnh vực tư, khi người tiêu thụ và các xí nghiệp hoặc bớt vay hoặc trả bớt nợ cũ! Ðối với toàn thể nền kinh tế thì đây cũng có thể là một điều may, vì khi lãnh vực tư bớt vay nợ thì vấn đề ngân sách khiếm hụt sẽ không nguy hiểm bằng khi kinh tế đang phát triển mà từ quan đến dân ai ai cũng muốn vay nợ!

Khi người tiêu thụ bớt chi tiêu, như ở Trung Quốc muốn kích thích kinh tế thì chính quyền đã thay thế bằng cách đưa tiền cho các xí nghiệp nhà nước đầu tư, mặc dù nhiều dự án đầu tư không mang lại ích lợi lâu dài mà chỉ nuôi thêm tham nhũng. Ở nước Mỹ, chính quyền không thể ép các xí nghiệp đầu tư, mà các xí nghiệp nhỏ và cỡ trung đang gặp khó khăn khi vay nợ cũng không muốn bỏ tiền ra đầu tư trong lúc này. Cho nên, việc kích thích kinh tế ở Mỹ hiện cũng trông đợi vào tiền chi tiêu của chính phủ. Chi tiêu như thế nào để số cầu tăng lên ngay mà vẫn có lợi ích ích lâu dài, đó là vấn đề mà cả nước Mỹ đã bàn cãi từ cả năm nay.

Trong khi khai mạc “họp thượng đỉnh” về “giốp, Tổng Thống Obama nói ông xin nghe mọi ý kiến giúp tạo thêm việc làm, và ông công nhận rằng chỉ lãnh vực tư mới có thể làm công việc đó chứ không phải nhà nước. Tuy nhiên, các đại biểu Quốc Hội thuộc đảng Dân Chủ thì muốn nhà nước phải tiêu thêm! Họ đang nhắm vào số tiền chưa dùng tới trong ngân sách giải cứu các ngân hàng, có từ thời Tổng Thống Bush. Ý định này có thể sẽ bị chống đối mạnh mẽ, mà Tòa Bạch Ốc cũng không ủng hộ.

Kế hoạch mà ông Obama sẽ công bố trong tuần tới sẽ trợ cấp các chính quyền tiểu bang và thành phố để họ ngưng sa thải nhân viên. Chính phủ cũng sẽ trợ cấp cho những chương trình tiết kiệm năng lượng khi sửa sang nhà cửa, để tạo thêm công việc làm và kích thích tiêu thụ, đồng thời giải đáp một vấn đề lâu dài là nước Mỹ tùy thuộc quá nhiều vào dầu, khí nhập cảng. Ông Obama sẽ giảm thuế cho các xí nghiệp nhỏ để khuyến khích họ tuyển thêm người làm việc. Ngoài những món chi tiêu mới đó, còn nhiều chương trình trong đạo luật kích thích kinh tế từ đầu năm nay chưa được chi tiêu, trong năm tới sẽ thi hành đây đủ hy vọng sẽ tạo thêm công việc làm. Nước Mỹ cần tạo thêm 8 triệu công việc để tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống như trước cơn suy thoái, cộng thêm 1.5 triệu công việc mới cho những thanh niên mới bước vào thị trường nhân dụng mỗi năm.

Những kế hoach chi tiêu của nhà nước sẽ tạo ra được tối đa là 2 triệu công việc trong một thời gian. Sẽ không giúp được bao nhiêu nếu dân Mỹ không chi tiêu ngay những đồng tiền họ mới nhận được. Hiện cũng có nhiều điềm tốt, cho phép mọi người hy vọng.

Một, là dân Mỹ không thể nhịn chi tiêu mãi được. Nhiều gia đình muốn thay xe hơi, thay tủ lạnh, mua bộ âm thanh mới, đã trì hoãn trong gần 2 năm qua, thế nào họ cũng phải đi sắm đồ mới. Họ sẽ kích thích sản xuất. Các xí nghiệp trong năm qua đã giảm số hàng chứa trong kho, nhưng đến nay số tồn kho xuống đến mức quá thấp, họ sẽ bắt buộc phải sản xuất hoặc mua hàng tồn kho trong mấy tháng nữa. Yếu tố chính gây nên cuộc suy thoái lần này là thị trường địa ốc khủng hoảng. Trong tuần qua, thị trường nhà cửa có nhưng tin vui hiếm hoi. Số nhà mới xây được bán đã tăng lên, và giá khá ổn định.

Với những điềm lành đó, người ta hy vọng kinh tế sẽ bắt đầu hồi phục trong nửa đầu năm 2010. Khi đó, các xí nghiệp sẽ tuyển người, số thất nghiệp sẽ giảm. Và dân Mỹ lại hăng hái đi vay nợ!
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 12 guests