Bình Luận , Quan Điểm

dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Biết hổ thẹn là đầu mối đạo Nghĩa

Ngô Nhân Dụng
Tại sao chúng ta đều xúc động trước những chuyện người đi tìm mộ chồng, mộ cha ở các trại tù “cải tạo” hay đi tìm những ngôi mộ rải rác ở các hòn đảo đã bao dung người tị nạn? Chắc bởi vì chúng ta đều tìm thấy trong những mẩu chuyện đó cách ăn ở có tình có nghĩa của con người đối với nhau. Bởi vì chúng ta đều mang sẵn trong lòng ước muốn sống có đạo nghĩa. Cho nên khi thấy có người sống đúng đạo nghĩa thì chính mình cảm thấy vững tin hơn.

Khi cô Carina Oanh Hoàng tìm thấy mộ của thân nhân mình rồi, cô đi tìm thêm những ngôi mồ khác để săn sóc, cô còn trở lại chụp hình và ghi chép tên tuổi trên các ngôi mồ bị lãng quên trong rừng rú ở các đảo Le Tung và Kuku. Cô ghi lại những thông tin đó để gửi đi bốn phương trời, như những thủy thủ viết những lá thư bỏ vào chai lọ đóng kín rồi thả theo dòng nước biển. Cô không ngờ có nhà báo Người Việt đã nhặt được một lá thư trong chai thủy tinh cô thả theo thủy triều. Và không ngờ có người đọc tờ báo này đã tìm thấy tên người em vắn số của mình trên hình mộ bia đá, 30 năm sau khi em qua đời trên đảo. Người đọc những chuyện trên không biết nên nói những lời chia vui, hay chia buồn? Dù nói gì chăng nữa, chúng ta chia sẻ với tất mọi người một niềm vui chung khi thấy tình nhân loại có thật, có những con người sống thật theo các quy tắc đạo nghĩa.

Và nhà thơ Lê Giang Trần đã có dịp cảm ơn công khai Alizar Acin, một người cảnh sát Indonesia tốt bụng! Vì họ chỉ quen nhau một thời gian ngắn trên đảo Pinang, mặc dù anh ta tự coi như một người con trong gia đình. Và chỉ sau khi gia đình đã định cư ở Mỹ thân phụ Lê Giang Trần mới viết thư nhờ anh cảnh sát làm giúp cái bia đá thay cho tấm gỗ trên mồ cô con gái. Ba mươi năm nay, gia đình vẫn không biết anh Acin đã giúp làm bia mộ hay chưa, đến địa chỉ của anh cũng đã bị mất! Muốn giúp làm bia mộ, anh Acin phải đi từ đảo Pinang nơi anh đóng tới hòn đảo Le Tung, mất 24 giờ đi thuyền. Tại sao anh lại tốt bụng bỏ bao công sức giúp một người cha làm mộ bia cho con như vậy? Anh có cùng tôn giáo với gia đình này để cảm thấy có nghĩa vụ đó hay không? Không, anh Acin đã hết lòng giúp, vì dù theo tôn giáo nào anh cũng được dạy rằng con người phải đối xử với nhau hết lòng như vậy. Khi được ai tin cậy, nhờ một việc gì, thì chúng ta phải làm hết sức mình giữ trọn lời hứa.

Cô Oanh Hoàng đã cho chúng ta thấy mối từ tâm của cô trước những nấm mồ trên đảo hoang thiếu người săn sóc. Anh Alizir Acin đã cho chúng ta thấy tấm lòng trọng nghĩa khinh tài của một cảnh sát viên người Indonesia. Trong một ngày, trên một tờ báo, mà chúng ta được đọc truyện của hai con người sống có tình, có nghĩa; chúng ta phải cảm ơn Trời Phật!

Một xã hội có đạo nghĩa khi nào người ta sẵn sàng giúp đỡ người khác, dù biết không bao giờ gặp lại. Nghĩa là làm ơn nhưng không đợi sẽ có ngày được đền ơn. Trong một xã hội có đạo nghĩa, mọi người được sống an vui hơn, mà trên mặt kinh tế thì đời sống cũng đỡ tốn kém hơn. Người ta không cần gắn hệ thống báo động khắp nơi, có khi không cần khóa nhà, khóa xe mà vẫn không lo mất. Tháng trước, chúng tôi đã kể chuyện cháu bé Emily mất cái mũ trong sở thú ở Madison, Wisconsin. Ngày hôm sau khi bố cháu gọi đến hỏi, nhân viên sở thú đã hứa sẽ gửi bưu điện về tận nhà cho cháu, ở thành phố New York, bố mẹ cháu không phải trả đồng nào cả. Câu chuyện đó kết thúc với câu hỏi: Tại sao người ta có thể đối xử tử tế với nhau như vậy nhỉ? Bao giờ thì trẻ em ở nước Việt Nam được sống với toàn những người tử tế ở chung quanh như vậy?

Giáo Sư Nguyễn Tư Mô đã kể cho chúng tôi một câu chuyện chứng tỏ người Việt Nam cũng đã sống tử tế với nhau như vậy.

Năm 1955, cụ Nguyễn Tư Mô đã cùng Bác Sĩ Bùi Kiến Tín dẫn một đoàn vài chục sinh viên y khoa, nha khoa và dược khoa đi làm công tác chẩn bệnh và phát thuốc giúp đồng bào tại vùng Châu Ðốc. Buổi trưa khi mới tới, cả đoàn công tác vào chợ Hồng Ngự ăn uống và thăm sinh hoạt của người địa phương. Sau đó, phái đoàn đến một trụ sở bắt đầu công tác y tế. Khoảng một tiếng đồng hồ sau khi họ rời chợ, có một người đàn ông khoảng 30 tuổi tìm tới trụ sở tạm của phái đoàn, để đem trả một cặp kính mát. Anh ta nhặt được cặp kính loại tốt này ở ngoài chợ, và anh nghĩ chỉ có những người Sài Gòn mới dùng thứ “đồ xa xỉ” đó chứ không phải người địa phương mất, cho nên anh đem tới trả.

Cụ Nguyễn Tư Mô, cựu khoa trưởng Ðại Học Nha Khoa Sài Gòn, không bao giờ quên kỷ niệm đó. Khi chúng ta trông thấy tận mắt cảnh những con người sống tử tế với nhau, chúng ta cũng không bao giờ quên được. Chúng ta thấy tin tưởng có thể làm sống lại nền nếp đạo nghĩa của người Việt Nam. Vì chúng ta biết chắc trong truyền thống của dân tộc đã có sẵn những hạt nhân đạo nghĩa, chỉ cần mưa thuận gió hòa thì những hạt giống tốt đó sẽ nẩy mầm rồi lớn lên mãi.

Ðó là điều Mạnh Tử đã dạy từ hơn hai ngàn năm trước. Con người ta ai cũng có lòng thương xót, cho nên ai cũng có đầu mối của đạo Nhân. Ai cũng có tấm lòng biết xấu hổ và ghét cái xấu là đầu mối của đạo Nghĩa.” (Mạnh Tử, Cáo Tử thượng, VI, 7: Trắc ẩn chi tâm, Nhân chi đoan dã. Tu ố chi tâm, Nghĩa chi đoan dã).

Tấm lòng trắc ẩn của người Việt Nam không bao giờ mất, dù trải qua bao nỗi khổ cũng không bị hao mòn. Một trận bão đánh vào miền Trung, bao nhiêu người ở trong và ngoài nước chuẩn bị cứu giúp các nạn nhân.

Nhưng tấm lòng tu ố, biết xấu hổ, thì hiện nay có phần giảm sút. Nhiều người không còn biết hổ thẹn nữa, cho nên họ có thể thản nhiên làm điều xấu mà không phải che mặt, không cần trốn lánh. Quý vị có thể hỏi thăm ông Huỳnh Ngọc Sỹ hiện giờ sống ra sao? Ông có bao giờ che mặt khi bị nhà báo chụp hình hay không? Ông có cảm thấy hổ thẹn khi cả nước Nhật biết ông được hối lộ hàng triệu đô la Mỹ hay không? Ông có lo con cháu ông sau này sẽ xấu hổ khi bị người ta hỏi đến tông tích hay không?

Chúng ta có thể đoán là ông Huỳnh Ngọc Sỹ không có những phản ứng kể trên. Không phải vì ông phi đạo đức, mà vì ông không chia sẻ cùng một nền đạo nghĩa với đa số người Việt Nam hoặc các dân tộc Á Ðông. Ông Huỳnh Ngọc Sỹ được huấn luyện một nền đạo đức khác. Trong cuốn “Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội” ông Hồ Chí Minh đã giảng giải đạo đức cho những người theo ông làm cách mạng như sau:

“Nói tóm tắt thì đạo đức cách mạng là:

Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho đảng, cho cách mạng. Ðó là điều chủ chốt nhất.

Ra sức làm việc cho đảng, giữ vững kỷ luật của đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của đảng.”

Hai điểm đầu tiên trong định nghĩa đạo đức của Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến lòng trung thành với đảng. Nếu ông Huỳnh Ngọc Sỹ đã “thi hành tốt” chính sách của đảng khi đưa tay ra nhận tiền của người Nhật, thì trong lòng ông không cảm thấy hổ thẹn nữa. Vì ông làm đúng theo lời dạy của Hồ Chí Minh. Một đảng viên có thể ăn cắp, giết người, buôn phụ nữ bán cho người nước ngoài, lấy của công làm của riêng, nhưng nếu lúc nào cũng sẵn sàng theo lệnh đảng thì không cần phải hổ thẹn.

Cho nên chúng ta không ngạc nhiên khi một “sử gia” như Trần Huy Liệu đã bịa chuyện anh hùng Lê Văn Tám để dựng lên một thần tượng làm mồi cho bao nhiêu thanh niên Việt Nam khác theo gót, nghĩ mình hy sinh chết cho tổ quốc nhưng cuối cùng chỉ có đảng Cộng Sản được hưởng. Trần Huy Liệu vốn là đảng viên Quốc Dân Ðảng Việt Nam, sau đi theo cộng sản. Vào cuối đời, có lẽ ông đối diện với lương tâm cảm thấy bên trong những quyền lợi của đảng, còn có những giá trị cao quý khác. Do đó, ông đã ủy thác cho sử gia Phan Huy Lê sau này hãy xóa bỏ cái thần tượng giả trá đó đi. Giống như Chế Lan Viên, vào cuối đời cũng để lương tâm sống lại, tự hỏi mình đã viết bao nhiêu câu thơ xúi giục bao thanh niên Việt Nam đi chết ở dãy Trường Sơn! Bây giờ, có thi sĩ đã viết bài “Tạ lỗi với Trường Sơn” thì bao nhiêu mạng người đã chết. Người đã chết không thể sống lại. Như kịch tác gia Lưu Quang Vũ viết: Có những cái sai không thể sửa được.

Ðối với các ông Trần Huy Liệu và Huỳnh Ngọc Sỹ, họ đã nói dối để phục vụ đảng, đã đòi ăn hối lộ theo chính sách của đảng, hệ thống đạo đức của họ cho phép các hành động đó, vì Hồ Chí Minh đã biện minh rất rõ ràng.

Nhưng đối với những người Việt Nam khác thì đây là một tai họa. Vì khi những người nắm quyền cai trị một nước, mỗi lời nói mỗi hành động đều ảnh hưởng tới hàng triệu người khác, mà nói dối trắng trợn quá thì mọi người sẽ lấy đó làm gương. Nhất là các thiếu niên còn bé dại. Khi một đảng lãnh đạo không giữ được tấm lòng “biết hổ thẹn” thì mọi người dân khác cũng dần dần mất đi cái tính biết hổ thẹn. Nghĩa là bỏ mất một nguồn gốc của đạo nghĩa.

Kể từ khi ông Phan Huy Lê công bố lời dặn của Trần Huy Liệu hãy xóa bỏ thần tượng Lê Văn Tám, từ năm 2005 đến nay, cả guồng máy cai trị và tư tưởng, văn hóa của đảng Cộng Sản vẫn không nhấc một ngón tay lên để cải chính với lịch sử. Tất cả những em bé đang được học chuyện Lê Văn Tám trong trường đều biết đó là chuyện dối trá. Những người đi qua công viên Lê Văn Tám đều biết đó là một nhân vật giả. Nếu có cặp tình nhân vào công viên Lê Văn Tám mà thề thốt với nhau thì họ có tin nhau hay không?

Có phải người Việt Nam đã mất cảm ứng, không còn thấy chướng tai khi nghe những lời giả dối nữa hay không?

Nhưng chúng ta biết gần một thế kỷ cộng sản hóa cũng không làm mất được tính thiện của con người Việt Nam. Người Việt Nam vẫn còn biết xấu hổ trước những lời dối trá. Bữa trước một người Việt ở trong nước điện thoại cho biết anh nghe những lời giải thích của “phát ngôn viên chính phủ” về vụ tăng ni ở Bát Nhã thì cảm thấy nghẹn ở cổ họng, tức thở. Vì anh không thể tưởng tượng tại sao người ta có thể nói dối một cách trắng trợn và thản nhiên, chối bỏ những sự thật ai cũng biết như vậy?

Ðiều đó chứng tỏ anh bạn, ngoài 50 tuổi, vẫn còn giữ được “Tu ố chi tâm, Nghĩa chi đoan giã,” biết xấu hổ là nguồn gốc của nghĩa khí. Mai mốt công an cộng sản sẽ bịa ra những câu chuyện, hình ảnh để vu oan, kể tội lỗi của các thiền sinh trẻ này. Hy vọng anh bạn tôi sẽ được chuẩn bị trước, không nghẹn hơi tức thở nữa! Hãy coi đó là một cuốn phim Lê Văn Tám mới!
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

TT MỸ BARACK OBAMA NHẬN GIẢI NOBEL HÒA BÌNH 2009

MƯỜNG GIANG
Mùa thu năm 1980, sau năm năm cúi mặt người Mỹ đã bắt đầu tỉnh ngộ, nên đồng thanh bầu Reagan làm Tổng thống thay thế Jimmy Carter, trong mục đích khôi phục lại danh dự và niềm tin của Hoa Kỳ đã mất từ sau ngày 30-4-1975, khi phản bội đồng minh VNCH, bỏ chạy để cho đồng bào tại ba nước Ðông Dương bị quốc tế cộng sản (QTCS) đô hộ, đọa đày tới hôm nay vẫn chưa tháo bỏ được cùm gông nô lệ đỏ.

Nhìn lại quá khứ ngay từ đầu năm 1920, Nga đã xuất cảng ‘ Cách Mạng Vô Sản ‘ khắp thế giới, qua các tổ chức QTCS và hai trung tâm huấn luyện tình báo tại LiênXô, là Viện Thợ thuyền Ðông Phương và Trường Ðảng Lê Nin. Thế chiến II (1939-1945) chính là cơ hội vàng vòng, giúp cho Nga được công khai xuất hiện tại Tây Âu và Bắc Á, khi Ðức Quốc Xã của Adolf Hitler và Phát xít Nhật, lần lượt làm cỏ các đế quốc Anh, Pháp, Hòa Lan và Trung Hoa,

Thế chiến II kết thúc, Ðức-Ý-Nhật đầu hàng đã làm đảo lộn trật tự thế giới, cũng như sự thay đổi bản đồ lớn lao khắp toàn cầu. Quốc tế Cộng Sản đã lợi dụng cơ hội trên chiếm Ðông Âu, Mãn Châu mở rộng lãnh thổ Liên Xô tận Ðông Á, bành trướng chủ nghĩa cộng sản khắp nơi nhưng mạnh mẽ nhất là tại Trung Hoa, Bắc Cao Ly và Ðông Dương.

Do trên, bắt đầu năm 1947 Hoa Kỳ và Liên Bang Sô Viết đã trở thành hai trung tâm thế lực đối nghịch, trong một cuộc chiến đa diện không ra mặt, nên các sử gia đã gọi thời kỳ này là ‘ Chiến Tranh Lạnh ‘ hay ‘ ChiếnTranh Ý Thức Hệ ‘.Từ đó ranh giới Quốc-Cộng, không những chia phân trên lãnh thổ, mà còn gây thảm tuyệt trong nội bộ của mọi dân tộc của các nước nhược tiểu và các vùng mà Mỹ-Nga chấm làm ‘ Tiền Ðồn ‘ hay ranh giới giữa Thế Giới Tự Do và Xã Hội Chủ Nghĩa.

Chiến cuộc tại Ðông Dương lần II, được coi như một Thế Chiến sau Chiến tranh Cao Ly, vì có nhiều nước của cả hai phía tham dự. Chiến trường chính là Việt Nam từ 1945-1975, làm cho vài triệu người của đôi bên bị thương vong , nhiều trăm tỷ Mỹ kim chiến phí và không biết bao nhiêu công trình xây dựng bao đời bị bom đạn phá hũy. Ðó là chưa nói tới hậu chứng của cuộc chiến sau tháng 4-1975 về tinh thần cũng như vật chất, trong đó dân tộc Việt hoàn toàn bị CSQT đô hộ và đang trên đường diệt vong vì cộng đảng VN đem toàn bộ lảnh thổ và dân tộc Việt dâng hiến một cách công khai cho Tàu đỏ.

Trong bối cảnh của cuộc chiến trạnh lạnh từ 1947-1973, người Mỹ gần như đã thất bại trong khi đối đầu, để ngăn chận ảnh hưởng của Nga Sô Viết, cho dù đã sử dụng rất nhiều chiến lược toàn cầu, từ chủ thuyết Containment sang Domino, hết phản du kích tới trực diện tham chiến . Rốt cục mọi hy sinh, nổ lực, bạc tiền và mạng lính của Mỹ, Ðồng Minh và VNCH thành vô ích, khi Hoa Kỳ tới Paris vào tháng 1-1973, cúi mặt để nhận tờ giấy lộn của cái được gọi là ‘ Hiệp định hòa bình ngưng bắn VN ‘, một cơ hội từ trên trời rớt xuống giúp Kissinger (Mỹ) và Lê Ðức Thọ (CS Bắc Việt) nhận giải ‘ Nobel Hoà Bình ‘ 1973.

Tóm lại Mỹ đã tìm đủ mọi cách hất chân thực dân Pháp để vào Ðông Dương, sau khi VN bị Liên Hiệp Quốc cưởng bức chia thành hai miền thù nghịch. Rồi dùng quyền lợi và tiền bạc mua chuộc một số tướng lãnh Miền Nam hạ sát Tổng Thống VNCH là Ngô Ðình Diệm, qua một cuộc binh biến đội lốt màu mè, được gọi là Cách Mạng 1-11-1963. Năm 1965, Mỹ ào ạt đổ quân vào tham chiến tại VN nhưng giữa lúc chiến thắng gần kề tại đây, thì Mỹ đã vội vã tuyên bố triệt thoái khỏi ‘ Tiền đồn Chống Cộng của Thế Giới Tự Do ‘ vào năm 1971.

Cũng từ đó, nước Mỹ mất dần uy tín và sự trông cậy ở các nước thứ ba. Riêng các đồng minh lâu đời như Nam Hàn, Philiipine, Mã Lai Á, Singapore, Ðài Loan, Thái Lan, Nam Dương.. nước nào cũng lo sợ bị Hoa Kỳ phản bội như Nam VN, nên khắp nơi nổi lên những cơn sóng ngầm khủng hoảng chính trị.

Mỹ phản bội Nam VN là cơ hội tuyên truyền tốt nhất, để các phong trào cách mạng Hồi Giáo tại Trung Ðông và Lực lượng Giải phóng Palestine bùng dậy mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Tại Phi Châu, các nước mới thâu hội độc lập cũng nghiêng ngã qua ý thức hệ cuộc chiến tranh lạnh, cuối cùng ngã dân hay thân với CSQT vì biết rõ bộ mặt thật của Hoa Kỳ, qua lăng kính VN. Ngay tại Châu Mỹ, các phong trào chống Mỹ và giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân, bành trướng mạnh mẽ , qua danh xưng chống ‘ Ðộc tài, quân phiệt ‘, mà tiền đồn của Nga Sô Viết, vẫn là Cu Ba ở sát nách đối mặt với Hoa Kỳ.

Trong lãnh vực kinh tế toàn cầu, giữa lúc đất nước Mỹ điêu đứng vì cuộc chiến VN, ngân sách quốc gia thâm thủng, lạm phát và nạn thất nghiệp lan tràn, sự lộng hành của các thành phần phản chiến trong nước, gây đố kỵ mọi người, làm cho nước Mỹ chia năm xẻ bảy thảm thê chưa tùng có. Do trên, Mỹ đã mất vai trò lãnh tụ Thế giới Tự do, hai trung tâm tài chính toàn cầu tại New York và Los Angeles không còn được tin cậy, nhường chỗ cho Tư bản Nhật, Tây Âu và các nước Trung Ðông Dầu Lửa, bắt đầu khống chế toàn cầu, tự tách dần sự lãnh đạo của Hoa Thịnh Ðốn.

Còn Liên Xô và phe QTCS mỗi ngày một mạnh, các quốc gia Ðông Dương, Miến Ðiện và A Phú Hản .chính thức thành chư hầu, kể cả đảng CS Phi Luật Tân thêm bành trướng. Ấn Ðộ ngã hẳn về Nga tìm chổ dựa, để chống lại Trung Cộng đã hòa hoản với Mỹ, sau chuyến công du của Nixon-Kissinger năm 1972.

Sự bội tín của người Mỹ tại VN, còn là dây chuyền giúp Nga chiếm ảnh hưởng tại Iraq, Libya, Angola, đưa các đảng xã hội lần lượt nắm quyền tại Tây Âu. Ở Trung Mỹ, dưới sự tiếp tay của Nga và Cu Ba, đảng CS Sandinista chiếm Nicaragua, cùng đe dọa các nước quanh vùng, nhất là El Salvador. Ðó là chưa nói tới Dịch Khủng Bố Quốc Tế, lợi dụng sự thất thế uy tín của người Mỹ, gieo rắc máu lửa chết chóc khắp nơi cho nhân loại.

Vì vậy đã không có đại chiến thứ ba, mà chỉ có cuộc chiến khu vực. Cũng vì Bắc Cao và Bắc Việt lúc đó là chư hầu của Ðệ tam Cộng Sản quốc tế, đã xung phong nhận lãnh trách nhiệm làm tên lính tiền phong của đế quốc đỏ trong khu vực. Nên Liên Xô-Trung Cộng, đã chọn Bán đảo Triều Tiên và Ðông Dương, làm hai CHIẾN TRƯỜNG thí điểm, để hai khối thanh toán, đồng thời cũng là nơi mà các cường quốc , dùng để tiêu thụ số bom đạn thặng dư sau thế chiến và thử nghiệm những loại vũ khí mới vừa chế tạo.

Theo Kenneth E.Sharpe trong ‘ The Post Vietnam Formula under Siege ‘ và Political Science Quarterly ‘, thi giai đoạn 1960 tới cuối năm 1971, được coi như là thời kỳ ‘ Giải Kết ‘ của Mỹ. Chính Tiến sĩ Henry Kissinger đã chủ trương, đưa Trung Cộng về lại với Thế Giới Tự Do bằng sự đánh đổi ‘ Bỏ Rơi Tiền Ðồn Chống Cộng tại Á Châu là VNCH ‘.Hành động giải kết trên, tuy có tạo được cho đương sự một tầm vóc quốc tế nhưng kết quả đã đưa đến sự ‘ Bại Trận Nhục Nhã ‘ cho nước Mỹ, bởi vì Kissinger đã lẫn lộn giữa chính trường và khuôn viên trường đại học. Tóm lại chỉ vì ngu muội, Kissinger đã tự mình đưa nước Mỹ vào một thời kỳ suy thoái nhất trong lịch sử Hoa Kỳ (1973-1980) , dưới sự lãnh đạo của đảng Dân Chủ toàn phần qua TT Jimmy Carter.

Tổng thống Reagan của đảng Cộng Hòa bước vào Tòa Bạch Ốc với đống rác và gánh nặng của quá khứ, do chính sách ‘ giải kết và tháo chạy ‘ để lại. Không giống như các đời tổng thống trước ‘ Dao to búa lớn ‘, mà ông chỉ dùng một chiến lược giá rẽ. Ðó là chính sách ‘ Gây ông đập lưng ông ‘ , bắt người Nga phải trả giá về việc xuất cảng chủ nghĩa cộng sản ‘ khắp năm châu, bằng cách đặt Liên Xô vào vị trí của Hoa Kỳ, suốt thời gian từ sau thế chiến. Ngoài ra Mỹ cũng phong tỏa kinh tế các nước chư hầu của Mạc Tư Khoa, bắt Nga phải tăng cường viện trợ kinh tế cho họ. Mặc khác Mỹ cũng gây rối khắp nơi, làm cho Nga phải quân viện hay chính thức tham chiến, để lộ bộ mắt thực dân đỏ. Nhưng trên hết, nhờ ‘ gậy ông đập lưng ông ‘, mà dân chúng trong khối QTCS mới có cơ hội, so sánh giữa hai thế chế ‘ dân chủ tư bản ‘ và ‘ dân chủ cộng sản hay xã hội ‘.Ðây cũng là dịp để chứng minh giá trị của cái ‘ chuyên chính cách mạng vô sản ‘ , qua màn lưới kềm kẹp của công an, chỉ biết làm sụp đổ đất nước, mà không xây dựng được gì cho một trật tứ mới.

Ðầu năm 2009 tới nay, đất nước Hoa Kỳ dưới sự lảnh đạo của Tổng Thống Barack Obama và sự nắm quyền đa số của đảng Dân Chủ tại lưởng viện quốc hội cũng như các tiểu bang trên toàn quốc. Ông Obama chỉ nói nhiều mà không thực hiện được bất kỳ một kế hoạch nào thành công để hồi phục nền kinh tế Mỹ, kể cả ngoại giao với thế giói bên ngoài. Sự nhượng bộ và cúi mình quá đáng của vị tổng thống Mỹ làm cho Hoa Kỳ mất dần vai trò lảnh đạo thế giới, tự mình đưa đất nước vào giai đoạn suy thoại nhất trong lịch sử của Hiệp Chủng Quốc. Thế giới đang trải qua một cuộc khủng hoảng chính trị và lửa máu triền miên vì sự ‘ bỏ ngõ ‘ của Mỹ, mặc cho Nga, Trung Cộng, Ba Tư, Bắc Hàn, Việt Cộng.. một mình một chợ, mà không dám can thiệp hay chỉ ‘ can thiệp ‘ chiếu lệ, làm cho các nước trên càng thêm hung hăng khát máu.

Và cũng nhờ thành tích lẫy lừng trên, mà ngày 9-10-2009 Viện Hàn Lâm Na Uy mới tuyên bố trao giải ‘ Nobel Hoà Bình ‘ 2009 cho TT Hoa Kỳ Barack Obama với lý do ‘ .. ông ta đã tạo ra một không khí mới trong chính trị quốc tế qua đối thoại và thương thuyết, để giải quyết vấn đề nguyên tử, đồng thời dân chủ và nhân quyền cũng được cũng cố.. ’ ’ Tất cả những tuyên bố trên đã được thực tế trả lời qua hành động của Ba Tư, Bắc Hàn, Nga, Trung Cộng và nhất là VN ngày nay về các vấn đề nguyên tử, bá quyền, ngoại giao, nhân quyền và tự do tôn giáo..

Từ năm 1901 các giải Nobel được thành hình và được trao cho những người trúng tuyển hằng năm vào ngày 10 tháng 12 tại Thụy Ðiển và Na Uy, để tưởng nhớ ngày mất của Alfred Nobel vào năm 1896. Cũng từ đó hầu như hằng năm, hai giải thưởng Nobel văn chương và nhất là hòa bình, luôn luôn bị dư luận chỉ trích, phê phán vì giải này được trao trong một thế giới đầy chết chóc, nhiểu nhương do các cuộc chiến đẳm máu gây ra nên chẳng bao giờ có hoà bình. Năm nay cũng vậy, giải Nobel Hoà Bình cũng được trao cho TT Obama trong lúc hoà bình khắp nơi trên thế giới không hề có ..

Xưa nay giải Nobel được đánh giá là một biểu tượng cao quý nhất trong các giải thưởng quốc tế, mà bất cứ khoa học gia, các văn nghệ sĩ, những nhà tranh đấu cho công lý, hòa bình.. đều có khả năng nhận được. Các phần thưởng của giải Nobel còn đuợc gọi là ‘ tặng thưởng của nhân loại ‘, biểu tượng của tim óc sáng tạo và năng khiếu tuyệt vời của con người. Ngoài giải Nobel Hòa Bình được phát tại Na Uy. Các giải Nobel khác được phát tại Toà Ðô Chánh (Stadshuset) ngay thủ đô Stockholm (Thụy Ðiển). Trong ngày phát giải vào tháng 12 hằng năm, đều có mặt hoàng đế, hoàng hậu và đại sứ các nước cùng với những quý khách mời từ muôn phương về, để cùng nhau tôn danh những tài năng xứng đáng của nhân loại.

Nhưng không phải ngẩu nhiên mà thiên hạ luôn mai mĩa về giải Nobel Hoà Bình vì cha đẻ của giài thưởng này là Alfred Nobel, lại là người phát minh ra chất nổ, một lái buôn cái chết, kẻ phá hủy đời sống an bình của nhân loại. Ông sinh tại Thụy Ðiển(1833), lớn lên tại Nga, sống ở Pháp và qua đời tại Ý năm 1896 vì bệnh tim.

Sinh thời ông là vua không ngai của đế quốc chất nổ, với những phát minh chât Dynamyte, ngòi nổ, thuốc súng không khói và nhiều loại vũ khí.. Vì những thành tích kinh khủng trên, nên sinh thời không ai tin thiện chí hòa bình của Alfred kể cả người dân Thụy Ðiển. Tóm lại dù tốt hay xấu, sau này mọi người vẫn đánh giá ông là một thiên tài, một người cô độc bị thất bại trong lãnh vực tình yêu. Một năm trước khi qua đời, ông đã ký di chúc để lại toàn bộ gia sản, dành cho việc thành lập giải thưởng mang tên Nobel.

Theo các tài liệu được công bố, thì hằng năm tiền lời thu được từ tài sản của Alfred Nobel để laiỳ, dành tặng cho bất cứ ai (nam hoặc nữ) có những phát minh cống hiến hữu ích cho nhân loại trong năm qua, thuộc các lãnh vực vật lý, hóa học, y khoa và văn chương. Riêng giải Nobel Hòa Bình dành tặng cho bất cứ ai đã tạo được thành tích mang tới sự an bình, đoàn kết giữa các dân tộc.. Năm 1969 có thêm giải Nobel Kinh Tế.

Phải mât năm năm sau ngày Nobel qua đời, ý nguyện của ông mới được thực hiện vào ngày 10 tháng 12 năm 1901 là niên lịch đầu tiên giải Nobel được trao tặng. Tài sản đầu tiên của Nobel để lại là 8.960.000 Mỹ kim. Ban tổ chức chỉ dùng tiền lời để phân đều cho 6 giải thưởng từ 25.000 Mỹ kim năm 1901 tới nay đã tăng hơn 1 triệu USD. Người đoại giải sẽ được thông báo vào ngày 15 tháng 11 trong năm. Riệng giải Nobel Hoà Bình được đặt dưới sự bảo trợ của Quốc Hội Na Uy. Sỡ dĩ có tình trạng này vì trước đó vào năm 1814, Na Uy bị lệ thuộc vào Thụy Ðiển, tới năm 1905 mới được độc lập.

Giải Nobel Hoà Bình lúc đầu được diễn ra tại Viện Nobel ở Olso (Na Uy) trước năm 1947. Từ năm đó tới năm 1990 phát tại giảng đượng Ðại Học Olso. Sau năm 1990 giải này phát tại Tòa Thị Chính. Giải được Chủ Tịch Ủy Ban Hòa Bình Na Uy trao cho người nhận trước sự hiện diện của Vua, Hoàng Hậu và các đại biểu chính phủ nước này.

Ðây là giải thưởng bị tranh cải và mĩa mai nhiều nhất trong các giải Nobel. Ngoài giải hoà bình đầu tiên năm 1901 được trao cho Jean Henri Dunant (người sáng lập Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế), còn lại đều bị các khuynh hướng khác nhau trên thế giới khen chê dè bĩu không thống nhất. Ðó là các giải thưởng đã trao cho Tổng thống Mỹ Theodore Roosevelt (1904), Tổng thống Liên Xô M.Goobatrov (1990), Thủ tướng Do Thái Menacham Begin (1977), Tổng thống Nam Hàn Kim Dae Jung (2000), Tổng thống My Jimmy Carter và Phó Tổng thống Mỹ Gore.. Nhưng nhục nhã và xấu hổ nhất, chắc chắn không ai hơn cặp Henry Kissiger và Lê Ðức Thọ được thưởng giải Nobel Hòa Bình năm 1973, qua cái gọi là đem lại hòa bình, chấm dứt chiến tranh VN. Cuối cùng Thọ từ chối, còn Kissinger cũng không trực tiếp tới Olso nhận giải vì bị biểu tình phản đối kẻ lừa đảo.

Tóm lại nhân loại đã trãi qua hơn 100 lần phát giải Nobel Hòa Bình nhưng hình bóng của nó thì xa tít tận nơi đâu. Năm nay Tổng thống Mỹ Obama được chọn nhận giải Nobel Hòa Bình trong lúc đất nước Hoa Kỳ lẫn thế giới đang sôi sục trong chiến tranh lửa đạn suy thoái kinh tề và bất ổn. Nhưng như Irwin Abrams một chuyên gia về giải Nobel nhận thức ‘ Hòa Bình không chỉ là mục tiêu, nó còn là một tiến trình, một nổ lực để các thế hệ nối tiếp thực hiện ‘.Ðó cũng là nguyện vọng của vị Tổng Thống Hiệp Chủng Quốc hiện tại đang bước tới và theo đuổi.

Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 10-2009

Mường Giang
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

KHÔNG DÙNG HÀNG HÓA TRUNG CỘNG
LÀ THÁI ĐỘ VÀ HÀNH ĐỘNG CỨU NƯỚC

Cuộc hội đàm giữa ngoại trưởng Mỹ, Hilary Clinton với Phạm Gia Khiêm, ngoại trưởng Việtcộng đã diễn ra tại Hoa Thịnh Đốn ngày 02/10/09. Trong cuộc họp báo sau đó, bà Clinton nói: “Hai bên đã bàn về các chủ đề như thương mại, nhân quyền, an ninh, quốc phòng và việc Việtnam đảm nhận vai trò chủ tịch khối ASEAN 2010”. Trả lời nhà báo, Phạm Gia Khiêm nhấn mạnh: “Hoakỳ là đối tác hàng đầu của Việtnam”. Và rằng: “Đó là mối quan hệ đang phát triển. Đó là mối quan hệ đuợc xây dựng theo cam kết của lãnh đạo hai nước, trên tinh thần hữu nghị nhiều mặt, lâu dài vì lợi ích hai nước”. “Chúng tôi hợp tác không chỉ vì vấn đề chính trị và kinh tế, mà mở rộng ra với việc khác. Về giáo dục đào tạo, khoa học, văn hóa, quốc phòng, an ninh”.

Tại Bắckinh, ngày 01/10/09, trong cuộc gặp với Hoàng Bình Quân, trưởng ban đối ngoại trung ương Việtcộng sang mừng Quốc Khánh Trungcộng, Tập Cận Bình phó chủ tịch Trungcộng nói với Hoàng Bình Quân rằng: “Tiến bộ trong mối quan hệ Trung- Việt, cá biệt là việc nâng cấp thành quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược toàn diện khi chủ tịch Trungquốc, Hồ Cẩm Đào tiếp kiến tổng bí thư Nông Đức Mạnh của đảng Cộngsản Việtnam tại Bắckinh hồi năm ngoái”. Nhân dịp đó, Tập Cận Bình kêu gọi: “Hai nước nhân cơ hội này gia tăng sự tin tưởng lẫn nhau, tăng cường hợp tác và cùng nhau phát triển”. Hoàng Bình Quân nói: “Việtnam sẽ làm hết mình để bồi đắp và phát triển các mối quan hệ cho cả hai nước và thế giới”.

Trước đó ngày 25/09/09, trong cuộc thảo luận về an ninh khu vực và quan hệ quân sự giữ Việtcộng và Trungcộng tại Bắc Kinh. Bộ trưởng quốc phòng Trungcộng, Lương Quang Liệt gặp và nói với phó tổng tham mưu quân đội Việtcộng, Trần Quang Khuê rằng: “Quan hệ hữu nghị giữa hai nước đã phát triển trên nhiều lãnh vực và quân đội hai bên đã thực hiện được nhiều hoạt động trao đổi rất thành công”. “Trungquốc sẽ cùng nỗ lực với Việtnam để đẩy mạnh quan hệ song phương cũng như quân đội hai nước”. Về phần mình, Trần Quang Khuê nói: “Việtnam coi trọng quan hệ với Trungquốc và hy vọng hai bên sẽ mở rộng việc hợp tác và trao đổi trong nhiều lãnh vực, đặc biệt là quân sự”.

Xem vậy, mối quan hệ tay ba giữa Mỹ-Việt-Tầu đang tiến vào thế cân bằng trên mặt nổi, mà gay cấn ở mặt chìm trong cuộc chạy đua ‘Diễn Biến Hoà Bình’ tại Việtnam cũng như trên toàn thế giới. Vì sự sống còn và phát triển của kinh tế Việtnam, Việtcộng phải nhận Hoakỳ là đối tác hàng đầu và hợp tác toàn diện với Mỹ về khắp mặt kể cả an ninh, quốc phòng, giáo dục, khoa học, văn hóa. Cũng vì quyền hành và sự sống còn của đảng cộng sản, Việtcộng phải thần phục Tầucộng, ngoan ngoãn tuân lệnh Bắckinh nhường đất, biển, đảo, tài nguyên, kể cả công việc làm, phải sử dụng máy móc cũ và làm nơi tiêu thụ hàng hóa ế, độc của Trungcộng. Nghĩa là mảnh đất nhỏ bé khốn khổ Việtnam lại trở thành đấu trường toàn diện không khói súng giữa Mỹ và Tầu trong trận thư hùng ‘diễn biến hòa bình’. Diễn biến hòa bình đối với Mỹ đã trở thành “chiến lược toàn cầu” trong giai đoạn hiện nay. Ở Việtnam cũng như khắp nơi trên thế giới, Mỹ sẽ cố tránh không để cho thế chiến xẩy ra, nhưng tăng cường kỹ thuật quốc phòng và khả năng tự vệ của các nước đồng minh, nhằm thực hiện Kinh Tế Thị Trường Toàn Cầu Hóa, Tự Do Hóa Xã Hội, Đa Nguyên Hoá Văn Hóa, Dân Chủ Hóa Chế Độ ở khắp nơi. Diễn biến hòa bình đối với Tầu là Hán Hóa Việtnam và bành trướng thế lực Trungcộng ra khắp vùng Đông Nam Á. Khuynh hướng của Mỹ là “Nhập Nội Việtnam” qua những hiệp ước chính thức ký kết với nhà cầm quyền Hànội, rồi gia tốc đầu tư, dùng sức mạnh kinh tế làm đòn bẩy để thực hiện diễn biến hòa bình. Còn Tầu thì cố nắm đảng, chính quyền, quân đội, an ninh, nhằm trấn áp sức phản kháng của dân để bảo vệ quyền lợi và quyền hành cho tay sai Việtcộng. Trong trận chiến ‘diễn biến hòa bình’ này, thấy rõ, Tầu ở vào thế thủ, Mỹ nắm thế công. Cuối cùng người dân Việt ngả về phía nào, phía đó sẽ thắng.

Từ ngày Tầu cộng ra mặt uy hiếp nhà nước Việtcộng một cách lộ liễu, và bọn đầy tớ Mancộng Hànội tỏ ra khiếp nhược quá đáng, thì giới trí thức, thanh niên, và dân chúng trong, ngoài đảng; trong, ngoài nước đã bừng lên khí thế chống thù trong, giặc ngoài rất mãnh liệt. Dù cộng đảng đã chuẩn bị nắm thật chặt báo chí, truyền thanh, truyền hình, nhằm bưng bít thông tin. Nhưng trong thời đại tin học phổ cập nhanh rộng tới hàng vài chục triệu người Việtnam trong, ngoài nước như hiện nay, thì phong trào chống Tầucộng xâm lăng, chống Việtcộng bán nước không sức nào cản nổi nữa. Nhất là trong khi đó, hàng hóa và công nhân của Tầucộng tràn vào thị trường Việtnam đang đe dọa dìm chết nền sản xuất non trẻ Việtnam, làm cho giới doanh nghiệp, công nhân và tiêu thụ Việtnam phải tự cứu, bằng phong trào tự phát tẩy chay hàng hóa của Tầucộng. Trước tình thế đó. Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Xử lý Viện Tăng Thống kiêm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, ngày 03/10/2009 đã ra LỜI KÊU GỌI KHÔNG DÙNG HÀNG HÓA TRUNG QUỐC.

Ngoài phần trình bày lý do đưa ra lời kêu gọi. Trong đó có đoạn viết: “Hôm nay, nhân danh Hội Đồng Lưỡng Viện, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, tôi xin cất lời kêu gọi đồng bào trong và ngoài nước hãy tỏ thái độ trước hiện trạng Trungquốc xâm lấn và nhà cầm quyền Cộngsản Việtnam bó tay đầu hàng. Người dân Việt không có tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, cũng không có chính quyền hay quân đội để trực tiếp và mạnh mẽ phản chống nạn xâm lăng quân sự, xâm lăng tư tưởng và xâm lăng kinh tế. Vũ khí của người dân bị trị ngày nay là THÁI ĐỘ. Chúng ta cần biểu tỏ qua THÁI ĐỘ để chống hai quốc nạn Nội xâm và Ngoại xâm”.

“Thái độ cần biểu tỏ hôm nay để nhà cầm quyền Bắckinh thấy rõ ý chí kiên cường của người dân Việt là phát động phong trào không dùng hàng Trungquốc. Không dùng hàng Trungquốc không phải là biểu tỏ chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi chống nhân dân Trungquốc, chống công nhân Trungquốc. Vì nhân dân Trungquốc, công nhân Trungquốc cũng là nạn nhân của đảng Cộngsản như nhân dân, công dân và nông dân Việtnam. Tẩy chay hàng Trungquốc là tẩy chay chủ nghĩa bá quyền xâm lược của nhà cầm quyền Cộngsản Bắckinh. Ngoài lý do chính trị này mà tẩy chay, còn lý do hàng xấu và hàng độc Trungquốc đang gây nguy hại cho cơ thể và môi sinh người tiêu dùng Việtnam”.

Hưởng ứng lời kêu gọi “Không Dùng Hàng Hóa Trung Qưốc” trên đây của Hòa Thượng Thích Quảng Độ, đúng là thái độ và hành động góp sức giúp dân, cứu nước của mỗi người trong chúng ta vậy.

LÝ ĐẠI NGUYÊN
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Hoa Kỳ Can Thiệp vào Nội Bộ Việt Nam ?

Khánh An, phóng viên đài RFA
Đáp lại việc Toà đại sứ Mỹ bày tỏ quan ngại về bản án đối với các nhà dân chủ Việt Nam, Bộ Ngoại giao Việt Nam cho rằng những đòi hỏi trên là “can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam”.

Dư luận trong và ngoài nước nghĩ gì về điều này? Mời quý vị theo dõi bài tường trình tiếp theo.

Trả lời về phản ứng của Việt Nam trước thông cáo báo chí ngày 14/10/2009 của Đại sứ quán Hoa Kỳ, bà Nguyễn Phương Nga, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam nói rằng việc xét xử, truy tố các nhà đấu tranh dân chủ là đúng luật pháp Việt Nam.

Những thông tin trong Thông cáo là hoàn toàn sai lệch và những đòi hỏi của phía Hoa Kỳ là can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Có một điệp khúc quen thuộc xuất hiện rất nhiều trong các phát biểu của Bộ Ngoại giao Việt Nam đối với việc các nước nêu các vấn đề liên quan đến dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo ở Việt Nam. Đó là cụm từ “can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam”.

Theo Giáo sư Nguyễn Thanh Trang, cư dân Hoa Kỳ, Trưởng ban Phối hợp Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam, thì không thể gọi Thông cáo báo chí cũng như những đòi hỏi của Đại sứ quán Hoa Kỳ là việc làm can thiệp vào nội bộ của Việt Nam, mà ngược lại, đây là một nghĩa vụ phải làm đối với các quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc theo quy định của Bản phụ đính Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền năm 1998.

Cũng theo Giáo sư Trang, lý do Liên Hiệp Quốc ra phụ đính này là vì trước đây một số quốc gia độc tài luôn bao biện cho những vi phạm nhân quyền của mình bằng cái cớ can thiệp vào nội tình của họ. Giáo sư Trang nói:

“Bộ Ngoại giao Cộng Sản lên tiếng bảo rằng khi Sứ quán Hoa Kỳ đưa ra một Thông cáo báo chí như vậy thì hành động đó là hành động xâm phạm vào vấn đề đối nội của Việt Nam nhưng điều đó không đúng. Bởi vì Công ước quốc tế về nhân quyền cũng như năm 1998, Liên Hiệp Quốc ra bản phụ đính Tuyênngôn Quốc tế về nhân quyền.

Trong bản phụ đính này có 20 điều, trong đó nói rất rõ là mỗi quốc giá đều có trách nhiệm khi mà ký vào Công ước quốc tế rồi là phải tôn trọng nhân quyền.

Không những tôn trọng mà còn phải dạy cho sinh viên, đặc biệt dạy cho công an, cảnh sát hiểu về nhân quyền của người dân để cho họ biết và họ tôn trọng nhân quyền. Ngoài ra, các quốc gia thành viên có trách nhiệm và nhiệm vụ khuyến khích và theo dõi những nước khác. Nếu nước nào vi phạm nhân quyền, họ có quyền chỉ trích, có quyền lên án.”

Mâu thuẫn...
Trong khi đó, anh Hoàng Thanh Tâm, một cư dân Úc châu, người đã có rất nhiều đóng góp trong việc đưa vấn đề dân chủ nhân quyền cho Việt Nam lên chính phủ Úc, lại đặt ra một câu hỏi lớn về những phản ứng mâu thuẫn của chính phủ Việt Nam đối với một số vấn đề ngoại giao hiện nay.

“Chúng tôi nghĩ rằng chúng ta đang sống trong một thế giới toàn cầu hóa. Thành ra mọi sự việc xảy ra tại quốc gia này đều có sự liên hệ đến các quốc gia khác. Đứng trước tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam, các quốc gia Tây Phương hoặc Hoa Kỳ không thể nào làm ngơ mà họ phải lên tiếng. Bởi vì nếu họ làm ngơ trước những tội trạng vi phạm về nhân quyền như vậy thì điều này có nghĩa là họ đồng lõa với tội ác đang xảy ra.

Tôi nghĩ rằng sự lên tiếng vừa rồi của Hoa Kỳ cũng như các quốc gia Tây phương đều hết sức cần thiết. Thêm một điểm nữa là trong khi các quốc gia Tây phương lên tiếng bày tỏ sự quan ngại của họ thì Bộ ngoại giao Việt Nam lại giảy nảy lên, cho đó là một sự vi phạm nhân quyền.

Trong khi đó, quốc gia kế cận là Trung Quốc đưa tàu chiến vào xâm phạm lãnh hải, bắn giết ngư dân thì Bộ ngoại giao Hà Nội lên tiếng yếu ớt, không dám bày tỏ quan điểm của mình một cách mạnh mẽ. Đây là một sự việc hết sức khó hiểu.

Can thiệp vào nội bộ?
Còn Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang ở Hà Nội, lại cho rằng ở đây cần phải đặt ngược lại vấn đề. Ai mới là người can thiệp vào nội bộ của ai? Việc ra thông cáo báo chí thể hiện quan điểm của mình là quyền và trách nhiệm của Hoa Kỳ. Phản ứng của Việt Nam cũng có thể gọi là hành động can thiệp vào nội bộ của Hoa Kỳ. Ông nói:

“Tôi thấy Việt Nam rất hay lên án Hoa Kỳ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam nhưng Việt Nam lại không nghĩ rằng Việt Nam đang can thiệp vào nội bộ của Mỹ một cách thô thiển.

Mỹ người ta có quyền suy nghĩ, người ta có quyền phát biểu ý kiến của người ta và nhất là bây giờ giao hữu với nhau, làm ăn kinh tế với nhau, có đại sứ quán với nhau thì người ta quan tâm đến tình hình đất nước mà người ta giao dịch, người ta quan hệ. Và nhất là nước Mỹ người ta có một lý tưởng về đấu tranh cho dân chủ và dân quyền cho mọi người.

Thấy thế thì người ta phát biểu thế. Thế thì tại sao mình lại can thiệp vào nội bộ của họ, mình lại phê phán họ, nặng lời với họ được. Mà cái bản thông cáo ấy tôi thấy họ nói toàn đúng sự thật.”

Như vậy, có thể thấy điều mà dư luận quan tâm hơn hết vẫn là những hành động tích cực từ phía chính phủ Việt Nam để cải thiện vấn đề dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo, chứ không phải những phản ứng trên mặt báo như hiện nay.

Nói như Đại sứ Hoa Kỳ Raymond Burghardt, trong một lần trả lời phỏng vấn với biên tập viên Nguyễn Khanh của Đài chúng tôi, đã khẳng định Việt Nam có thể xem Hoa Kỳ là bạn. Bạn tốt sẽ không chỉ nói những điều tốt đẹp về nhau mà còn dám nói cả những điều chưa hay, chưa tốt cho nhau
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Mỹ không sợ, Tàu cũng không lo

Ngô Nhân Dụng
Mối lo sợ nói trên là lo đồng đô la Mỹ xuống giá. Vì từ bẩy tháng nay giá trị đô la xuống đã tụt so với các đồng tiền chính trong thị trường thế giới, khiến nhiều người đi mua vàng để khỏi giữ đô la trong nhà, giá vàng đã lên trên 1.000 đô la một troy ounce.

So sánh chung với các đồng tiền quan trọng khác, đô la Mỹ đã giảm giá 15% trong hơn nửa năm qua. Tiêu biểu là giá đồng Euro tăng lên so với Mỹ kim. Tháng Hai vừa qua mỗi đô la Mỹ ăn 80 xu Euro, bây giờ chỉ còn ăn 67 xu. Và có thể còn xuống nữa, như năm ngoái có lúc một đô la chỉ đổi được 62 xu tiền Âu Châu thôi.

Du khách người Mỹ sang Âu Châu hay Nhật Bản là cảm thấy bị “bóc lột” vì đô la xuống giá nên mua cái gì cũng thấy đắt. Còn đa số các nhà kinh doanh và chính phủ Mỹ thì không tỏ ra lo lắng gì cả. Ông Bộ Trưởng Tài Chánh Timothy Geithner có tuyên bố trong cuộc họp G-7 của bẩy nước kinh tế mạnh nhất, rằng chính sách của Mỹ luôn luôn là bảo vệ một đồng đô la mạnh. Ông ta không thể nói khác được. Nói khác thì đô la sẽ xuống nữa và xuống gấp gáp, cả thị trường sẽ điên đảo ngay! Nhưng ai cũng biết khả năng và quyền hành để nâng giá đồng Mỹ kim của ông Geithner không có là bao nhiêu. Nước Mỹ theo kinh tế thị trường, hàng triệu người trong thị trường mua và bán sẽ quyết định hối suất. Không phải như Trung Quốc mà chính phủ cứ ấn định hối suất, kiểm soát ngoại tệ.

Một người có thể ảnh hưởng đến giá trị của đồng đô la là ông Ben Bernanke, chủ tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang, cùng với ủy ban tiền tệ của Ngân Hàng Trung Ương này. Ủy Ban Chính Sách Tiền tệ (tên gọi là ủy ban thị trường mở) tăng lãi suất căn bản, hoặc rút bớt tiền ra khỏi thị trường bằng cách bán thêm trái khoán để vay tiền khiến lãi suất tự động tăng lên, lúc đó giá đô la có thể tăng lên. Vì khi lãi suất tăng thì nhiều người nước ngoài sẽ đầu tư vào Mỹ, bằng cách cho người Mỹ hoặc chính phủ Mỹ vay, họ sẽ đi mua đô la Mỹ để cho vay nên đô la lên giá.

Nhưng vào lúc này ông chủ tịch Ngân Hàng Trung Ương Mỹ có muốn đồng đô la tăng giá hay không? Chắc là không. Khi đô la cứ tiếp tục giữ ở giá thấp thì công việc đối phó với cơn khủng hoảng kinh tế của chính phủ Mỹ sẽ được dễ dàng hơn.

Thứ nhất, một mình nước Mỹ không thể tự thoát khỏi cơn khủng hoảng đã bắt đầu từ 2 năm nay nếu kinh tế các nước khác không vực dậy. Hiện tượng đồng đô la Mỹ xuống giá cho thấy là kinh tế nhiều nước khác đã bắt đầu ra khỏi cơn trì trệ, đó là một tin mừng. Số phận đồng đô la gần đây đi ngược chiều với kinh tế thế giới. Năm 2008 khi cơn khủng hoảng tín dụng đã lan khắp hoàn cầu, lúc đó đồng đô la Mỹ bỗng nhiên lên giá; từ Tháng Mười năm ngoái đến Tháng Ba năm nay đã tăng lên gần một phần tư (24%). Tại sao khi ngân hàng các nước khác gặp khó khăn thì đô la Mỹ lại lên giá? Vì người ta mua đô la để đầu tư vào Mỹ! Khi khắp nơi kinh tế bấp bênh thì các nhà đầu tư nhìn quanh không thấy chỗ nào gửi tiền vô có vẻ chắc chắn bằng cho người Mỹ vay! Năm ngoái có khi mua công trái chính phủ Mỹ được hưởng lãi gần “không phần trăm,” người ta vẫn đem tiền tới cho vay. Giống như họ mua đô la nhờ chính phủ Mỹ giữ hộ, không lấy lời! Vì nhu cầu đầu tư đó, giá đô la đã lên cao nhất vào Tháng Ba 2009, trong lúc chỉ số thị trường chứng khoán New York xuống mức thấp nhất chứng tỏ kinh tế Mỹ còn đang bê bết.

Bây giờ thì ngược lại. Nhiều nhà đầu tư thấy có những dấu hiệu hồi phục ở các nơi, khiến họ tin tưởng hơn năm ngoái. Họ rút bớt tiền từ Mỹ, bán đô la lấy tiền đưa đi nước khác đầu tư, khiến giá trị đô la đi xuống. Nước Mỹ không lo vì khi kinh tế các nước khác phục hồi thì người Mỹ cũng hy vọng sẽ bán được thêm hàng hóa và dịch vụ!

Vì lúc đô la xuống giá là cơ hội tốt nhất cho các nhà xuất cảng ở Mỹ. Một nhà sản xuất ở Mỹ bán hàng cho Brazil. Vào Tháng Ba thì khách hàng Brazil phải chi 24,000 đồng “rê an” xứ họ (real) đổi lấy 10,000 Mỹ kim. Bây giờ khách hàng đó chỉ cần dùng 17,000 real là đổi được 10 ngàn Mỹ kim! Hàng của Mỹ tự nhiên rẻ hơn hẳn hàng Pháp, hàng Ðức hay Nhật Bản! Ðô la xuống là dịp may cho các công ty Mỹ xuất cảng. Mà trong số thu nhập của 500 công ty lớn nhất mà chỉ số S&P vẫn theo dõi, 40% số bán là bán cho nước ngoài. Khi đô la xuống giá, hàng nhập cảng từ nước khác vô Mỹ sẽ tăng giá, do đó các nhà sản xuất chỉ để bán trong nội địa cũng bán hàng dễ hơn.

Cho nên hiện nay Ngân Hàng Trung Ương Mỹ thấy nâng giá đồng đô la lên không có lợi gì cả. Chỉ khi nào họ thấy lạm phát đe dọa tăng lên nhanh cần phải chặn lại, lúc đó họ sẽ tăng lãi suất mà hậu quả là đô la sẽ lên giá. Nước Mỹ hiện nay có rất nhiều lý do để lo lạm phát. Vì vay nợ nhiều quá, ngân sách khiếm hụt nhiều quá và số tiền lưu hành nhiều quá. Có thể nói là trong hơn một năm nay máy in tiền của Mỹ chạy quá tốc độ! Khoảng một ngàn tỉ đô la đã được bơm vô nền kinh tế dưới nhiều chương trình khác nhau. Và có thể còn cần bơm thêm nữa. Trong lúc số sản xuất giảm đi vì kinh tế suy thoái, mà số tiền lưu hành lại tăng lên như vậy, hậu quả tự nhiên là giá cả phải tăng lên. Nếu giá cả tăng nhanh thì sẽ phải tăng lãi suất để đối phó.

Nhưng lòng trời vẫn còn thương, nên cho tới nay mức lạm phát ở Mỹ vẫn còn trong vòng kiểm soát được! Không cần phải tăng lãi suất hoặc giảm bớt số tiền lưu hành bằng những biện pháp khác. Cứ để yên giá đồng đô la thấp như vậy cũng chưa lo chi cả! Khi kinh tế đang xuống như bây giờ, cần giữ lãi suất thấp cho dân tiêu dùng nhiều hơn, đầu tư dễ dàng hơn. Nếu Ngân Hàng Trung Ương Mỹ bắt buộc phải tăng lãi suất để ngăn ngừa lạm phát, thì các chương trình kích thích kinh tế sẽ bớt hiệu quả, cơn suy thoái càng kéo dài hơn nữa. Cho nên trong khi chưa thấy lạm phát đe dọa thì nước Mỹ có thể cứ giữ lãi suất thấp và giá đô la xuống thấp như vậy.

Tất nhiên tình trạng này không thể kéo dài năm này qua năm khác. Vì nếu giá trị đồng đô la cứ xuống đều thì người ngoài sẽ lo ngại không muốn đem tiền đầu tư vào đô la Mỹ nữa. Ðổi lấy đô la, đem cho vay lãi 5% mà trong một năm đồng tiền xuống giá 5% thì coi như huề, không lãi được đồng nào cả! Cả thế giới đang cho vay, giúp chính phủ Mỹ có tiền kích thích kinh tế, cải tổ y tế, vân vân. Khi họ nghi ngại thì chỉ còn cách là phải in tiền.

Trong khi nước Mỹ có vẻ bình chân như vại cho đô la xuống giá như vậy thì các nền kinh tế lớn khác phải than phiền vì hàng xuất cảng của các nước khác sẽ khó cạnh tranh với Mỹ, hàng bán sang Mỹ bị tăng giá chỉ vì đô la xuống. Một chai rượu vang 10 Euro năm ngoái sang Mỹ bán ra giá 11 đô la, năm nay lên 14 đô la, sẽ bị chê là đắt hơn! Tất cả các nước khác đều có lý do để than phiền bị hàng Mỹ cạnh tranh, nhưng chưa hết. Các nguyên liệu bán tính bằng đô la đều lên giá vì đô la xuống! Dầu lửa đã bán rẻ trong năm ngoái vì nhu cầu nhiên liệu giảm bớt khi kinh tế thế giới suy yếu; năm nay giá dầu tăng lên trước hết vì đô la xuống giá, hiện đã ngấp nghé 80 đô la một thùng. Những nước nào mà đồng tiền tăng giá so với đô la Mỹ thì 80 đô la một thùng vẫn chịu được vì khi tính ra tiền nước họ vẫn chưa tăng bao nhiêu. Nhưng các nước mà tiền lại xuống nhanh hơn đồng đô la thì càng khổ hơn nữa.

Nhưng có một nước xuất cảng rất nhiều hàng và mua rất nhiều nguyên liệu, nhiên liệu nhưng không lớn tiếng than phiền, đó là Trung Quốc.

Bởi vì chính quyền Bắc Kinh vẫn chưa “thị trường hóa” hoàn toàn, họ vẫn kiểm soát ngoại tệ và ấn định một hối suất “nhân tạo” không căn cứ vào cung cầu trong thị trường. Họ muốn giữ giá đồng tiền của họ thấp, để khi bán hàng ra nước ngoài tính bằng đô la thì giá rẻ. Ngược lại, hàng của nước khác nhập vào Trung Quốc trả bằng đô la, tính ra tiền nước họ giá sẽ đắt hơn. Trước đây dăm năm, mỗi đô la Mỹ đổi được 8 đồng nhân dân tệ, gọi là “doản,” chữ Hán Việt đọc là nguyên.

Các nước, nhất là nước Mỹ đều than phiền chính sách đó, tố cáo Bắc Kinh làm vậy là để “trợ cấp” cho các nhà xuất cảng của họ; và “đánh thuế” thêm trên hàng nhập cảng. Nghe than phiền mãi, năm 2005 chính phủ Bắc Kinh đã cho phép đồng nguyên được tăng giá “linh động” hơn. Nhưng từ hơn một năm nay, khi số hàng xuất cảng của Trung Quốc bị giảm đi vì kinh tế thế giới suy yếu, Bắc Kinh quay ngược lại, kìm không cho đồng nguyên lên giá.

Vì vậy, dù đô la Mỹ lên hay xuống giá ở đâu cũng mặc, sang Trung Quốc giá vẫn như cũ. Ðầu năm 2009, một đô la Mỹ đổi được 80 xu Euro và 6.82 đồng nguyên. Ðến tháng này một đô la chỉ còn đổi được 67 xu Euro thôi, nhưng sang Tàu vẫn đổi được 6.82 đô la. Nếu thị trường hối đoái ở Trung Quốc được tự do thì mỗi đô la sẽ chỉ đổi được từ 5 nguyên rưỡi tới 6 nguyên thôi. Nhưng nếu đồng nguyên tăng giá như vậy thì Trung Quốc sẽ xuất cảng khó hơn, vì hầu hết các nước khác khi nhập cảng hàng của nhau đều trả bằng đô la Mỹ cả. Ngược lại, nếu tỷ giá không đổi thì khi giá Mỹ kim xuống lại giúp hàng Trung Quốc xuống giá theo!

Chính sách của cả hai nước sẽ không thể kéo dài mãi được. Trung Quốc không thể giữ giá đồng nguyên thấp một cách giả tạo, cũng như chính phủ Mỹ không thể chi tiêu quá trớn khiến ngân sách khiếm hụt. Hai nước đó đã gây nên tình trạng mất thăng bằng trong hệ thống tiền tệ thế giới. Kinh tế thế giới mất cân bằng vì dân Mỹ tiêu xài quá trớn, vay nợ ngập đầu, còn dân Trung Hoa thì thắt lưng buộc bụng, làm việc rất cực để bán rẻ cho Mỹ dùng. Mà khi bán hàng được đem tiền về thì chính phủ giữ làm dự trữ để đem cho chính phủ Mỹ vay! Nhờ thế mà lãi suất bên Mỹ thấp, dân Mỹ lại càng tiêu xài, sắm xe, mua nhà, nhất là xây cất nhà và mua nhà!

Tình trạng mất cân bằng này là một nguyên nhân chính gây ra cuộc khủng hoảng tín dụng khiến hệ thống tài chánh quốc tế lung lay từ năm 2007 đến nay. Tiền Trung Quốc cho vay giúp cho lãi suất ở Mỹ thấp một cách giả tạo. Tiền nhiều quá, ngân hàng đem cho vay ẩu; đi vay dễ quá, dân Mỹ càng tiêu xài quá trớn; cơn sốt địa ốc lên cao, đến khi sập xuống thì cả hệ thống tài chánh, ngân hàng dính hết! Thế giới không thể để cho một tình trạng mất cân bằng như thế tiếp tục, chờ một vụ khủng hoảng khác xẩy ra thêm một lần nữa - trong 10 năm hay 15 năm sắp tới?

Nhưng hiện nay thì cả hai nước đều có lợi. Mỹ cần Trung Quốc tiếp tục mua công khố phiếu của chính phủ Mỹ, để lấy tiền chi tiêu cho việc kích thích kinh tế và trợ giúp các ngân hàng. Trung Quốc xuất cảng thu được thêm tiền thì lại cho chính phủ Mỹ vay, vì xét cho cùng không cho ai vay có vẻ chắc chắn bằng! Ngược lại, Trung Quốc thì vẫn phải sống nhờ xuất cảng, nếu hàng xuất cảng bán không được thì sẽ có thêm hàng trăm triệu công nhân mất việc!

Cho nên trong ngắn hạn dù đô la có xuống thêm 5% đến 10% nữa, cả Mỹ lần Trung Quốc vẫn chưa lo!

Ngô Nhân Dụng
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Cái nôi của Dân Chủ

Ngô Nhân Dụng
Có hơn 50,000 tiếng Hy Lạp đang được sử dụng trong các ngôn ngữ đang được sử dụng trên thế giới! Tôi chưa bao giờ nghe nói điều đó cho tới khi tới Athena (đọc là A Ti Na), đọc một tờ quảng cáo nhắc nhở như vậy. Một người Việt Nam tò mò sẽ tự hỏi không biết trong tiếng nước mình có những chữ nào là gốc Hy Lạp?

Nghĩ mãi thì thấy có. Bây giờ người Việt nói chuyện với nhau có thể nói nhanh, “Tôi sẽ phô tô bài báo này cho mỗi anh một bản,” hoặc, “Em sẽ gọi phôn cho anh ngay” (thường là em hứa rồi không gọi). Chúng ta không để ý rằng những tiếng “phôn” và “phô tô” tìm về gốc tích thì tổ tiên đều là tiếng Hy Lạp ra cả. Những đơn vị đo lường mình bắt chước tiếng Pháp, sinh ra nhưng tiếng Việt như “một ký, hai ký” cũng đều gốc Hy Lạp nữa. Giáo Sư Nguyễn Phước, tác giả “Tiếng Việt gốc ngoại quốc” chắc sẽ cho chúng ta biết thêm nhiều tiếng khác. Một trong những tiếng Việt gốc Hy Lạp được viết trong báo chí rất sớm, từ thời Tự Lực Văn Ðoàn, là chữ “lô gích.” Cụ Phan Khôi, người Quảng Nam, từng bị “chụp mũ” là “ông lô gích!”

Tiếng Việt, tiếng Nhật chịu ảnh hưởng của chữ Hán như thế nào thì các nước Âu Châu chịu ảnh hưởng của chữ Hy Lạp và chữ La tinh như vậy; rồi từ Âu Châu chúng di tản và sang Á Châu, Phi Châu mà truyền giống. Những tiếng chúng ta quen dùng như Nguyên Tử lực, Dân Chủ, Ô lanh píc hoặc Ô lem píc, Biện Chứng, chạy ma ra tông, Cơ Thể Học, vân vân, đều gốc gác từ những tiếng được người Hy Lạp dùng hơn hai ngàn năm trước. Nếu xóa bỏ hết những chữ gốc Hy Lạp trong ngôn ngữ của loài người, bỏ mất cả những khái niệm do những tiếng đó bao hàm, thì nền văn minh của nhân loại sẽ khác hẳn. Có thể sẽ biến mất, không còn văn minh như chúng ta vẫn hiểu nữa. Và những cầu chuyện chúng ta trao đổi với nhau sẽ bị đẩy công một tầng thấp hơn nhiều!

Các tờ quảng cáo du lịch còn giới thiệu thành phố A Ti Na là nơi phát sinh ra thể chế chính trị Dân Chủ (tôi phiên âm tên A Ti Na theo lối nói tên của dân địa phương; chữ “tê-ta” trong tiếng Hy Lạp đọc giữa phụ âm T và S trong tiếng Việt. Người Tây hay viết chữ tê ta thành TH, cho nên tiếng Anh viết là tên thành phố này là Athens, Athenes trong tiếng Pháp). Người Hy Lạp gọi cách tổ chức việc cai trị đó là “chế độ Ðê Mô,” sau biến thành Demokratia, Democracy, Democratie, vân vân, trong tiếng các nước khác Người Việt cũng như người Tầu, người Nhật Bản gọi đó là chế độ này là Dân Chủ, ý nói người dân làm chủ trong việc cai trị. Phải chi khi bắt đầu dịch khái niệm này sang tiếng Việt mà các cụ tổ mình được nghe trực tiếp chứ không học qua sách chữ Hán, thì chắc người mình đã phiên âm Demokratia thành một chữ trong đó có chữ gốc “Ðê Mô,” tiếng Hy Lạp.

A Ti Na đúng là cái nôi của chế độ dân chủ ở Tây phương. Những người Hy Lạp đã sống với các thủ tục dân chủ từ thời Pericles trước đây 2500 năm, nếu họ trở lại sống ngày hôm nay, thì họ sẽ ngạc nhiên. Họ sẽ thấy lề lối xếp đặt xã hội mà chúng ta gọi là tự do dân chủ bây giờ rất xa lạ đối với họ, nếu không nói là “phản động.” Phản động, bởi vì những chế độ tự do dân chủ bây giờ cho phép đủ mọi người góp ý kiến vào việc trị quốc, một điều mà dân A Ti Na không thể chấp nhận được! Ở A Ti Na, đó là quyền của một thiểu số. Và ngay trong nhóm thiểu số đó, ai nói những ý kiến “không chính thống” có thể bị tòa án cho đi tù mút mùa! Chính vì chế độ gọi là “dân chủ” đó không có tự do, không bình đẳng, nên tòa án ở thành phố này đã đã xử tử hình nhà hiền triết Sô Crát, chỉ vì tội “bất đồng ý kiến!” Hoặc gọi là “chống lại chính quyền của nhân dân” cũng được!

Tại A Ti Na từ thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, tất cả mọi người dân thành phố đều được quyền quyết định việc cử người nắm quyền, quyết định những việc quan trọng như thờ cúng các vị thần, tuyên chiến với các thành phố khác, vân vân. Nhưng số người được tự do tham gia phát biểu ở nghị trường phải là đàn ông! Và con số đó chỉ bằng một 15% đến 25% số đàn ông trong thành phố mà thôi. Dân Hy Lạp ở các nơi khác đến đó sống không được dự. Tất nhiên những người ngoại chủng, các nô lệ mua từ đâu đó về hoặc bị bắt về, đều không được dự. Ngày nay mà một quốc gia nào đặt ra thủ tục quyết định việc chung việc nước như vậy chắc chắn sẽ bị coi là “phản động.”

Chỉ vì những chữ Dân Chủ viết trong hầu hết các ngôn ngữ đều dùng hai tiếng Ðê Mô (demos), nghĩa là dân chúng trong tiếng Hy Lạp; cho nên mọi người vẫn coi như dân Hy Lạp ở A Ti Na là những người sáng chế ra cách sống dân chủ. Triết gia Platon đặt tên cuốn sách ông viết về phương pháp cai trị là Cộng Hòa (Repubic) cho nên người ta càng thấy trao “giải thưởng dân chủ sớm nhất thế giới” cho người Hy Lạp là hợp lý. Nhưng các sử gia đã chỉnh lại thành kiến đó, khi khám phá ra là từ thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, trước khi Ðức Phật Thích Ca ra đời, ở lục địa Ấn Ðộ đã có một nơi sống theo các thủ tục dân chủ, là nước Vaishali. Chế độ ở đó, Maha Janapadas, có thể gọi là Cộng Hòa theo lối nói ngày nay, trong đó một nhóm người có quyền quyết định mọi việc chung, không ai chiếm độc quyền cả. Có lẽ dưới ảnh hưởng của lối sống đó mà thời Ðức Phật còn sống, những người theo học ngài đã sống chung với những thủ tục dân chủ, ngày nay còn nhiều tăng đoàn vẫn áp dụng. Thời Ðại Ðế Alexander chinh phục sang vùng các nước Ba Tư, Ấn Ðộ bây giờ, vào thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên, các học giả tháp tùng đoàn quân của ông cho biết họ thấy dân hai nước Sabarcae và Sambastai (bây giờ là vùng đất nằm giữa hai nước Afghanistan và Pakistan), cũng dùng những tập tục cai trị lẫn nhau theo lối dân chủ chứ không theo vương quyền thế tập.

Nhưng Hy Lạp vẫn xứng đáng được coi là nơi phát sinh các thủ tục dân chủ, vì nhiều lý do. Thứ nhất, nhiều người đã nói, đã thảo luận về các thủ tục quyết định tập thể họ sử dụng, nhất là họ biện luận cho các thủ tụ đó với các nguyên tắc căn bản mà ngày nay vẫn còn thấy giá trị. Họ viết ra các quy tắc căn bản đó, truyền đến bây giờ. Ngược lại, chúng ta không còn giữ được bài viết hay cuốn sách nào của những người dân ở Vaishali hoặc Sambastai. Các quy tắc sống chung của tăng đoàn thời Ðức Phật thì được giữ lại nhưng chỉ để áp dụng trong tập thể của những người tu hành đó thôi. Không thấy đệ tử nào của Ðức Phật cổ động cho cả xã hội chung quanh cũng “phải sống theo các quy tắc tự do dân chủ” như trong tăng đoàn. Có thể nhiều người cũng có những tư tưởng cách mạng đó nhưng họ bị chính quyền đương thời bắt giữ hết.

Các tư tưởng “cách mạng” của họ cũng chết theo họ trong những trại “học tập cải tạo” của các vua chúa. Cho nên, người Hy Lạp vẫn xứng đáng được coi là những người đặt nền móng cho lối sống dân chủ.

Chúng ta biết là những thủ tục sống dân chủ đầu tiên ở A Ti Na còn thiếu sót, nhất là thiếu quan niệm về tự do, về bình đẳng cho tất cả mọi con người, không phân biệt nam nữ và không theo chủ nghĩa “lý lịch.” Những quy tắc còn thiếu đó, bây giờ gọi là những quyền làm người, hay nhân quyền. Ngày nay, một quốc gia tự gọi là dân chủ mà thiếu tự do, không bìnhh đẳng, không tôn trọng các quyền làm người thì vẫn bị coi là chưa thật sự dân chủ.

Mặc dù còn thiếu nhiều quy tắc quan trọng đó, các triết gia Hy Lạp đã đặt nền tảng cho chế độ tự do dân chủ đời sau với nhiều nguyên tắc lớn. Thí dụ, người Hy Lạp đã đề cao khái niệm thượng tôn pháp luật, giống như người Á Ðông nói “Pháp bất vị thân,” pháp luật không phân biệt người thân hay người ngoài. Aristotle viết: “Tất cả mọi con người đều có tình cảm, nhưng luật pháp thì không.” Ðây là một quy tắc quan trọng,vì luật pháp là một bảo đảm cho con người được sống tự do.

Người ta cảm thấy tự do vì tất cả mọi người đều ở dưới một pháp luật chung, như nhau. Mỗi người có thể đoán trước khi tính làm một việc nào thì hành động của mình sẽ được luật pháp xét xử một các công bình. Chẳng hạn, ai lái xe vượt đèn đỏ đều có thể bị phạt như nhau, dù xe mang bảng số công an hay không. Ai ăn hối lộ cũng bị xử theo những điều luật giống nhau. Biết như vậy, mọi người cảm thấy cuộc sống an toàn trong pháp luật. Vì ai cũng được luật pháp bảo vệ, không lo ông quan tòa xét xử thiên vị, tùy hứng, hoặc xử theo chỉ thị của vua quan. Chúng ta gọi đó là sự an toàn về pháp lý.

Từ đó chúng ta mới thấy một vai trò lớn của pháp luật, là luật pháp ấn định những giới hạn trên quyền tự do của mọi người, đặc biệt là giới hạn quyền hành của những người cai trị. Khi những người cầm quyền nói họ sẽ cai trị bằng pháp luật, chúng ta biết là quyền hạn của chính họ bắt đầu bị giới hạn. Một căn bản của chế độ tự do dân chủ là giới hạn quyền hành của nhà nước. Ðó là điều bảo đảm tính chất bình đẳng trong cuộc sống. Sử gia Herodotus người Hy Lạp gọi quyền bình đẳng trước pháp luật là “isonomia,” tức là mọi người được đối xử như nhau. Do đó, ai cũng cảm thấy có tự do, không lo bị đàn áp bất công. Trong vòng bảo vệ của pháp luật, mọi người tha hồ mưu cầu hạnh phúc, không bị ai ép buộc mà cũng không ai cấm đoán được.

Từ những nền tảng đó, loài người đã xây dựng nên những quy tắc sống chung khác, mà bây giờ chúng ta gọi là chế độ dân chủ tự do. Cho nên, rút cuộc chúng ta vẫn phải cảm ơn các hiền triết Hy Lạp trước đây hơn 2000 năm đã đặt ra những nền móng từ đó loài người dựng lên các chế độ dân chủ bây giờ!
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Quyền phát biểu tại Agora

Ngô Nhân Dụng
Cầm một tờ báo IHT tiếng Anh khi đặt chân tới A Ti Na (Athens), tình cờ thấy trên trang nhất giới thiệu một bài viết về Việt Nam với câu hỏi: Golf hay Gạo? Bài của Seth Mydans tường trình từ Phan Thiết trên trang hai mở đầu: “Ðó là một công trình có tính chất tư bản nhất trong nước Cộng Sản Việt Nam - do người giầu làm và cho người giầu hưởng. Ðó là những sân cù (golf) mọc lên khiến hàng chục ngàn nông dân phải di tản và nuốt mất hàng triệu mẫu ruộng lúa trong một xứ sở rất cần thóc gạo.”

Viết cho báo ngoại quốc, Seth Mydans có thể đùa với hai chữ Tư Bản và Cộng Sản. Nếu một nhà báo ở Việt Nam mà viết câu đó chắc sẽ bị truy tố về tội tiết lộ bí mật làm nguy hại an ninh quốc gia. Hoặc nặng hơn nữa, tội phát tán tài liệu với âm mưu lật đổ chính quyền của nhân dân!

Việt Nam là thiên đường của những người chơi golf. Seth Mydans đoán Việt Nam sẽ đuổi kịp Nam Hàn về số sân cù nếu những dự án được thực hiện đầy đủ. Ký giả nhắc lại hồi 1975 cả nước chỉ có 2 sân cù, golf (ở Sài Gòn và Ðà Lạt), bốn năm qua đã nhẩy vọt lên 13 sân. Trước khi ông Nguyễn Tấn Dũng ra lệnh ngưng vào giữa năm ngoái, trung bình cứ mỗi tuần lại có một giấy phép làm sân cù được chấp nhận. Trong một nước có 50, 60 triệu nông dân, và chỉ có 5,000 người đánh cù, có 140 dự án lập sân cù đang chờ khởi công - bốn tháng trước 50 dự án được lệnh ngưng mặc dù đã có giấy phép. Mydans biết dân Việt Nam sống bằng cơm gạo và món hàng xuất cảng thâu nhiều ngoại tệ là lúa gạo. Theo tài liệu của Bộ Nông Nghiệp thì có từ 4 triệu mốt đến 4 triệu rưỡi héc ta đất đã biến mất vì được sử dụng cho nhu cầu công nghiệp hóa, và mất thêm để biến thành sân chơi cù.

Ông Lê Anh Tuấn, nhà nghiên cứu về môi trường sống thuộc Ðại Học Cần Thơ, còn nêu lên vấn đề sân cù sử dụng quá nhiều nước cho các nhà tư bản giải trí trong lúc cả nước thiếu nước dùng. Ông cho một thí dụ: một sân cù 18 lỗ cần 5 ngàn mét khối nước để tưới cỏ mỗi ngày, đó là số nước đủ dùng cho 20 ngàn gia đình Việt Nam. Ông Lê Tuấn Kiệt, quản lý sân cù Mũi Né, than phải luôn luôn đấu tranh với thị xã để có đủ nước tưới cỏ. Một sân cù cùng khu giải trí và cư trú Sea Links lập trên vùng đất cát rộng 170 mẫu Tây phải dẫn nước từ cách xa 3 cây số, theo lời ông Trần Quang Trung, một vị giám đốc. Mỗi gốc cây đều có vòi nước tưới nhỉ ra liên tục và cứ 15 phút thì máy tự động lại nước phun khắp sân cỏ. Có hơn 300 ngôi nhà xếp hàng như một đội quân chung quanh sân cù, mà trước khi xây cất song nhiều nhà đã được bán rồi. Một khách sạn 5 sao đang hoàn tất. Khu chung cư có 6 cao ốc với 550 đơn vị gia cư sắp được dựng trên khu đất đỏ, đặt tên là Sea Links City.

Ký giả nhận xét: Khi các người giầu có chơi, các nhà nông và dân làng phải trả tiền. Giá tiêu biểu trả cho một nông dân ở Vĩnh Phúc là 2 đến 3 đô la Mỹ cho một mét vuông, theo thông tấn xã nhà nước thì số tiền đó chỉ bằng giá một bao gạo!

Tại sao 5,000 người chơi golf ở Việt Nam cần đến nhiều sân cù như vậy? Vì lập sân cù chỉ là một mưu mẹo để trốn thuế, bí quyết của các nhà tư bản chân chính! Thuế đánh trên đất làm sân cù thấp hơn thuế đánh trên các dự án xây dựng khác. Làm sân cù chỉ là một cách đánh lận con đen để được bớt thuế.

Theo ông Tôn Gia Huyên, thuộc Hội Khoa Học về Ðất Ðai nói trong một cuộc hội thảo vào Tháng Năm vừa qua thì nơi trồng cỏ để chơi cù chỉ chiếm dưới 2 phần 3 đất đai trong mỗi dự án, phần đất còn lại 35% được dùng để xây cất nhà cửa, khách sạn, khu giải trí. Theo ông Nguyễn Ðức Tuyên, thuộc Viện Nghiên Cứu Xã Hội Học, thì một sân cù lập ra sẽ khiến 3,000 nông dân mất ruộng cày, một sân cù ra đời có thể làm biến mất cả một cộng đồng nông dân. Trong một cuộc hội thảo gần đây, ông nói việc phát triển một sân cù có thể khiến 10,000 người mất kế sinh nhai; mà chỉ có một số rất nhỏ sẽ tìm được việc làm phục vụ cho những người có tiền đến đó giải trí. Thí dụ nêu lên trong báo chí nhà nước cho biết một sân cù ở tỉnh Vĩnh Phúc chiếm ruộng đất của hàng ngàn nông dân và sau đó chỉ cung cấp việc làm cho 30 người.

Những dữ kiện do các nhà nghiên cứu trên đưa ra được công bố trước khi ông Nguyễn Tấn Dũng ký nghị định bắt buộc các công trình khoa học phải trình lên các cơ quan nhà nước trước, có phép rồi mới được cho đồng nghiệp và công chúng biết! Quyết định trên đã bị các nhà khoa học trong nước phản đối nhưng những người cầm quyền từ chối không nghe. Ban lãnh đạo Viện Nghiên Cứu Phát Triển “kiến nghị” mãi không ai nghe đã phải tuyên bố tự giải tán để tỏ thái độ, và họ bị dọa “sẽ có biện pháp đối trị!”

Các nhà nghiên cứu khoa học xã hội, kinh tế và môi trường sống sẽ không có quyền tự do thông báo cho nhau biết hậu quả của phong trào làm sân cù trên đời sống nông dân và trên môi trường sống. Có rất nhiều câu hỏi phải nêu ra:

Trong công cuộc phát triển kinh tế quốc dân, sử dụng làm sân cù có lợi cho ai và gây thiệt hại cho bao nhiêu người? Ðem nước tưới sân cù lợi ích hơn hay là cung cấp nước cho dân dùng ích lợi hơn? Thuế đánh trên việc sử dụng đất đai cần phải thay đổi như thế nào để việc sử dụng đất mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất? Trong một quốc gia mà khoảng cách biệt giầu nghèo càng ngày càng rộng, có nên phô bầy thêm cảnh sống chênh lệch giữa người giầu và người nghèo hay không? Người dân Việt Nam bình thường sẽ không được nghe những câu hỏi đó, cũng khó có dịp được nghe những câu trả lời. Vì nhà nước Cộng Sản muốn bịt mắt, bịt miệng, bịt tai cả nước!

Nghĩ đến những vấn đề đó khi đang đi thăm thành phố A Ti Na, thấy mà tủi thân cho cả dân tộc Việt Nam. Ở thủ đô xứ Hy Lạp này còn di tích những quảng trường thời thượng cổ, gọi là Agora. Mỗi thành thị tự trị của Hy Lạp từ 800 năm trước Công nguyên đều thiết lập những Agora như vậy. Ðó là nơi công dân trong thành phố có quyền tới hội họp và phát biểu ý kiến. Agora tại A Ti Na có lúc chứa được 50,000 người dân đến họp! Như đã trình bày trong bài trước, chế độ dân chủ ở A Ti Na không hoàn hảo. Chỉ những người đàn ông trên 20 tuổi, thuộc những gia đình là “cư dân chính thức” mới có quyền đến họp trong các nghị hội đó. Phụ nữ, người ngoài và các nô lệ không có quyền. Nhưng tại các cuộc tập họp định kỳ này, mọi công dân có quyền và có bổn phận phải nói, phải tham gia ý kiến, và biểu quyết về các đạo luật, các quyết định về thuế khóa, về chiến tranh và hòa bình, vân vân. Người Hy Lạp gọi những cuộc tập họp đó là Assembly, tiếng này được truyền lại trong rất nhiều ngôn ngữ ngày nay. Assembly, Nghị hội, là tiêu biểu của thể chế dân chủ. Tại các Agora, bất cứ công dân nào cũng có quyền phát biểu. Những người cầm quyền bị bắt buộc phải lắng nghe ý kiến của họ. Nếu không, dân có quyền bỏ phiếu truất phế.

Lúc đầu chỉ có những cư dân có tài sản trong thành phố mới được tham dự các nghị hội này, mà tài sản chính yếu thời đó là đất đai. Họ nắm quyền quyết định “việc công” thay thế cho các ông vua. Tất nhiên, trong những thế kỷ đầu, các cư dân giầu có nắm quyền trong tay vì họ có thể mua chuộc những người khác. Nhưng nhờ quy tắc sống dân chủ nên xã hội Hy Lạp thay đổi. A Ti Na là nơi diễn ra cuộc chuyển hóa mạnh nhất trong mấy thế kỷ vì ở đây không khí cởi mở khi giao tiếp với dân từ nơi khác đến đã giúp cho các ý kiến mới được phát triển. Chính tại đây, những cư dân nghèo nhất cũng được phát biểu ý kiến. Họ dần dần ý thức được quyền tự do phát biểu, quyền tự do đầu phiếu là thứ vũ khí có thể dùng để thay đổi xã hội. Cho nên thế lực của người giầu dần dần bị giảm đi. Một nhà cai trị nổi danh là Solon đã chiều theo ý đa số dân thay đổi các luật lệ cho công bằng hơn. Năm 594 trước Công Nguyên đánh dấu sự chuyển mình của A Ti Na, khi các cư dân tầm thường nhất sử dụng quyền bỏ phiếu của họ để thay đổi luật pháp và bầu lên người cai trị họ. Ðó là lần đầu tiên người Hy Lạp đặt ra một từ mới, ghép hai chữ Demos (Dân) và Kratas, luật lệ cai trị, để lại cho loài người chữ DemoKratie mà người Việt gọi là Dân Chủ!

Chế độ Dân Chủ phát triển từ từ và cũng có khi bị lạm dụng, khi có những người giàu có mua phiếu của người nghèo để gia tăng quyền hành cho họ. Một nhà độc tài, Pisistratus nhờ mua phiếu nên được nắm quyền vào năm 560 trước Công Nguyên, nhưng sau đó ông ta trả ơn các cư dân nghèo bằng những đạo luật tái phân tài sản. Năm 508, Cleisthenes làm luật cho những người không có tài sản cũng được tham dự vào một hội đồng 500 người, với quyền bỏ phiếu các đạo luật. Những người trong hội đồng này được chọn bằng cách bốc thăm, thế là hết chuyện mua phiếu, một cuộc cách mạng nhờ sử dụng các quy tắc dân chủ sơ đẳng! Nền Dân Chủ ở A Ti Na lên mức cao nhất và có hiệu quả nhất trong thời đại Pericles nắm quyền, từ 461 đến 429 trước Công Nguyên.

Dưới chế độ Dân Chủ, nền giáo dục cũng được cải thiện, trí thông minh và óc sáng tạo của người dân được khuyến khích phát triển. Thành phố A Ti Na vượt xa các thành thị Hy Lạp khác trong các lãnh vực văn chương, nghệ thuật, âm nhạc, khoa học, triết học, ngày nay các di sản từ thời đó còn truyền lại trong văn minh nhân loại bây giờ. Trong lịch sử đây là một thí dụ hùng hồn nhất của những ích lợi mà chế độ dân chủ mang lại.

Nếu các nhà khoa học trong Viện Nghiên Cứu Phát Triển Việt Nam được sống ở một thành thị Hy Lạp vào 500 năm trước Công Nguyên, chắc họ đã không phải tự giải tán! Ở A Ti Na trước đây 2,500 năm chắc chắn không có cảnh nông dân bị cướp đất để làm sân cù cho các nhà tư bản đỏ có quyền tự do vừa làm giầu vừa ăn chơi thỏa thích! Nếu các đại biểu Quốc Hội Việt Nam cũng được tự do nói như người dân Hy Lạp trong các Agora, chắc họ đã phản đối quyết định 97 của ông Nguyễn Tấn Dũng và biểu quyết sửa luật thuế khóa để không cho giới tư bản đua nhau làm sân cù trục lợi trong khi nông dân mất ruộng!

Nghĩ như vậy, làm sao không cảm thấy tủi thân cho dân tộc Việt Nam được?
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

Không cho phép mình quên
Nhiều người cho rằng chiến tranh đã kết thúc hơn 30 năm rồi, vả lại Việt cộng cũng thay đổi rồi, sao lại chống hoài?

Với tôi, những bài học, những kinh nghiệm thương đau mà thế hệ Cha Anh đã có với Việt Cộng nhắc tôi phải cảnh giác luôn luôn.

- Bài học số 1: Việt Cộng giết người Quốc Gia ngay trong thời kỳ phôi thai kháng Pháp, đánh Nhật, vì Việt Cộng muốn cướp quyền lãnh đạo đất nước, để có thể toàn quyền làm tay sai cho Cộng Sản quốc tế trước kia, và nay cho quan thầy Trung Cộng.

- Bài học số 2: Trong những kỳ cải cách ruộng đất, Việt Cộng đã giết biết bao người dân vô tội, giết ngay cả những người mà có lẽ chẳng bao lâu trước đó đã hào phóng bỏ ra vàng, tiền của đóng góp trong các cuộc quyên góp cho Việt Cộng.

- Bài học số 3: Ký kết ngưng bắn với Việt Cộng chưa ráo mực thì Hồ Chí Minh xua ngay quân giết hàng ngàn đồng bào miền Nam vô tội trong Tết Mậu Thân 1968.

- Bài học số 4: Việt Cộng xé ngay bản hòa đàm Paris mà chúng vừa ký 1973.

- Bài học số 5: Trường tiểu học cộng đồng Cai Lậy (thuộc tỉnh Định Tường) và Trường tiểu học cộng đồng Song Phú (thuộc tình Vĩnh Long), nơi bao trẻ thơ đang ê a bên trang sách, sao lại là mục tiêu pháo kích của Việt Cộng? Sao Việt Cộng lại nhẫn tâm bắn vào hàng ngàn đồng bào vô tội đang trốn chạy "giải phóng quân" trên đại lộ kinh hoàng?

- Bài học số 6: "Nhà nước thông báo để nhân dân đừng tin vào các tin đồn thất thiệt. Nhà nước sẽ không đổi tiền". Và việc đổi tiền, thực chất là một cuộc ăn cướp tài sản của người dân miền Nam, được tiến hành chỉ một ngày sau đó. Đây là một nhóm thổ phỉ cai trị, chứ không phải là một nhà nước pháp trị. 500 đồng tiền Việt Nam Cộng Hòa đổi lấy 1 đồng tiền Hồ! Việt Cộng có cái gì để mà đổi?

- Bài học số 7: "Ngày mai em sẽ chở các con đến đây thăm anh", Mẹ tôi bịn rịn chia tay Ba tôi sau khi chở Ba tôi đến địa điểm tập trung "cải tạo".

- "Em về ráng lo cho Thầy Mẹ và các con. Đêm nay chắc chắn anh sẽ bị đem đi nơi khác. Và em cũng đừng mong anh sẽ về sau 10 ngày", Ba tôi căn dặn.

- "Nhưng...Cách mạng thông báo tập trung 10 ngày mà!", Mẹ tôi trả lời.

Ôi thương thay cho người dân hiền lành, thật thà của đất nước tôi. Và chắc đâu đó ở Hà Nội, đã có một nhóm người ngồi cười khoái trá.

Trên đây là một ít trong số những bài học "cơ bản" mà tôi luôn tự nhắc mình và “không bao giờ cho phép mình quên!”

Có nhiều người cho rằng Việt Cộng đã thay đổi rồi. Với tôi, Việt Cộng chỉ là một loài tắc kè dỏm và hạ cấp. Nó thay đổi màu để tồn tại, để tiếp tục lừa bịp, che đậy cái bản chất bất biến của chúng là tàn ác và đê hèn. Với những người cùng một dòng máu Việt thì chúng chẳng chừa một hành vi bẩn thỉu nào, nhưng với kẻ thù phương Bắc, kẻ thù mà ngàn năm trước cha ông ta đã chỉ mặt đặt tên, thì chúng lại quì gối. Khi đọc bản tin Giang Trạch Dân vào tắm ở Đà Nẵng, rồi vào Saigon gặp mặt hoa kiều Chợ Lớn, sau đó mới bay ra Hà Nội để gặp bọn đàn em ở Ba Đình, lòng tôi sôi sục căm hờn, tủi nhục.

Với cái thằng Tàu phù này, Việt Nam xem chừng chỉ là cái ao làng của nó. Khi đọc bản tin thấy đám du khách Trung Cộng phất cờ, đón đuốc thế vận trên đường phố Saigon trong khi những người dân Việt bị cô lập, bị đẩy ra xa, tôi biết rằng tôi vẫn còn sáng suốt. Tôi vẫn thấy rõ cái tồi tệ, xấu xí của Việt Cộng dù đang được che đậy dưới một cái áo màu mè bên ngoài của một con tắc kè. Việt Cộng đã thay đổi?

Tôi may mắn có một người cha sáng suốt với những phân tích sắc bén, thuyết phục. Ông luôn là người đầu tiên tôi tìm đến để tham khảo và hỏi ý kiến khi nghe hoặc đọc thấy những biến động nào trong xã hội. Là một cựu quân nhân trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, ở tuổi ngoài 70, ông vẫn canh cánh trong lòng chuyện vận mạng đất nước. "Muốn chống Cộng, mình phải hoặc là có tiền hoặc là có quyền", Ba tôi nói. Và trong tình thế không có cả hai, ông vẫn chống Cộng theo cách riêng. Ông hun đúc tinh thần yêu nước cho con cháu trong gia đình qua các câu chuyện kể, qua những nhận định tình hình, nhắc nhở con cháu tỉnh táo trước những mưu chước của Việt Cộng. Ông nhắc con cháu dành chút thời gian thắp một nén nhang, đặt một ít hoa, nơi đài chiến sĩ Việt-Mỹ nhân ngày Chiến Sĩ Trận Vong. Ông cố gắng đến với các cuộc biểu tình nghiêm túc trong cộng đồng. "Mình đến dù không làm được gì nhưng mình phải đến để thể hiện chính kiến của mình, đồng thời động viên anh em", ông thường nói như vậy. Ông đến với các buổi ra mắt sách có liên quan đến lịch sử, đến quân đội và luôn ủng hộ mua sách từ những đồng tiền ít ỏi ông nhận được hàng tháng. Tôi được nghe rất nhiều lần từ những người bạn của ông, từ sơ giao đến thân tình, "Mỗi lần gặp anh, tôi hiểu ra nhiều vấn đề quá!".

Tôi luôn cố gắng theo Ba tôi tham gia các cuộc biểu tình nghiêm túc trong Cộng Đồng. Tôi phụ giúp giảng dạy Việt ngữ cho các em nhỏ với hy vọng góp một bàn tay phá vỡ cái nghị quyết 36 mà Việt cộng đã và đang cố gắng thực hiện tại hải ngoại qua sách báo, qua các chương trình ca nhạc của chúng. Tôi tranh thủ giờ ăn trưa trong công ty, để viết bài và tham gia tranh luận trên các diễn đàn với cố gắng "giành dân, lấn đất" với Việt cộng trên mạng điện toán. Tôi luôn mua băng gốc các chương trình ca nhạc, các tài liệu lịch sử để ủng hộ các trung tâm, các cơ sở có đường hướng chống Cộng rõ ràng. Tôi cố gắng giải thích cho các con tôi khi chúng thắc mắc về lá cờ máu chúng thấy trong sách báo.

Bạn bè tôi, có người cho tôi chống Cộng cực đoan. Là người Việt nên tôi vẫn nhớ Ông Bà ngày xưa có dạy "một câu nhịn, chín câu lành". Tôi cũng cho mình là một người Công giáo kiên định và vâng phục. Chúa tôi có dạy rằng "Nếu có kẻ tát con má bên phải, con hãy đưa má bên trái cho kẻ đó tát".

Kính thưa Ông Bà,

Việt cộng ngày xưa đày Ba con nơi rừng sâu, chỉ thả về khi Ba con khập khễng trên đôi nạng gỗ với một bệnh án sống thêm được vài tháng là hết. Mấy chị em con bị xếp vào hàng cuối cùng trong xã hội vì "trúng" đủ mọi "tiêu chuẩn" của Việt Cộng, dân Bắc di cư - đạo Công giáo - con Ngụy quân Ngụy quyền. Ngày xưa Việt Cộng gọi chúng con là đĩ điếm bám chân "đế quốc" thì nay là "khúc ruột ngàn dặm", một khúc ruột mà hàng năm có thể gửi về trong nước gần 10 tỉ "tiền đế quốc". Bao nhiêu đồng bào nghèo lê lết sống bên Cambodia hay còn kẹt lại ở Philippines, bao nhiêu công nhân làm "tôi mọi" khắp nơi, bao nhiêu cô gái bán thân khắp vùng Đông Nam Á, thì sao không là "khúc ruột"?

Trước, Việt cộng giết dân miền Bắc trong "cải cách ruộng đất", chôn sống dân miền Trung trong Tết Mậu Thân, đày đọa, thủ tiêu quân cán chính miền Nam sau ngày "giải phóng", nay Việt cộng lại tiếp tục cướp đất của bao người dân thấp cổ, bé miệng, tiếp tục tàn phá quê hương, phá bỏ đạo đức làm người. Người dân đã chẳng những "một nhịn", mà trăm ngàn "nhịn", mà "lành" vẫn không thấy.

Ông Bà kính, làm sao có "lành" với quỷ?

Lạy Chúa, Việt Cộng đánh đồng bào con thê thảm trong "cải cách ruộng đất". Việt Cộng chôn sống đồng bào con trong Tết Mậu Thân. Việt Cộng đánh gia đình con và biết bao gia đình miền Nam tan nát sau "ngày giải phóng". Việt Cộng đày đọa áp bức đến nổi dân chúng miền Nam phải rời bỏ quê hương vượt biển Đông. Hàng ngàn người đã bỏ mình, đã ô nhục, nhơ nhớp dưới tay hải tặc. Nay Việt Cộng tiếp tục đánh phá các Cộng Đồng người Việt hải ngoại, nơi chúng con đang xây dựng lại cuộc sống mới cho thế hệ mai sau. Lạy Chúa, chẳng những cả hai má chúng con đã để cho Việt Cộng tát, mà toàn thân, lục phủ ngũ tạng cũng tang thương. Thì nay xin Chúa cho con theo câu "có lúc con phải hiền như con trừu, có khi con phải khôn ngoan như con rắn". Tôi có cực đoan không khi tôi chống Cộng hay Việt Cộng đã thay đổi chăng?

Tôi sẽ còn chống Cộng ngay cả khi Việt Cộng không còn trên quê hương tôi. Ngày quê hương thanh bình, tôi sẽ về lại vùng quê Mỹ Tho (tỉnh Định Tường) hiền hòa, mở một ngôi trường dạy học cho các em nhỏ. Và lồng trong những bài học Việt văn, toán học, tôi chắc chắn sẽ kể cho các em nghe những tội ác của Việt Cộng, nhắc cho các em những kinh nghiệm thương đau của cha ông, với một hy vọng các em sẽ không bao giờ để cái chủ nghĩa quái thai này xuất hiện một lần nữa trên đất nước thân yêu dưới bất cứ hình thức nào.

Tôi viết bài này trong niềm tưởng nhớ người Chú, người Cậu, những sĩ quan anh dũng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa hy sinh trong cuộc chiến, những đứa em và bà con xa gần chết trên biển Đông, vì lý tưởng tự do.

Nguyễn Khánh Vũ
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Không chống cũng không sợ

Ngô Nhân Dụng

Một độc giả viết thư bênh vực đảng Cộng Sản Việt Nam trong cách họ đối xử với Trung Quốc, chỉ trích những ai khích động người Việt chống Trung Quốc dù biết là sức nước mình không chống nổi. “Tôi tin ở Ðảng,” vị độc giả viết, “Ðảng lúc nào cũng bảo vệ chủ quyền của đất nước. Hiện nay đến Mỹ cũng sợ Trung Quốc, Việt Nam đánh Trung Quốc chẳng khác nào lấy trứng chọi với đá!”

Trước hết, phải xác định một điều: Không có người nào cổ động Việt Nam đánh nhau với Trung Quốc. Không ai có ý định lấy trứng chọi với đá! Không nên vu oan cho người Việt để bênh vực đảng của quý vị.

Hai năm trước, những thanh niên biểu tình phản đối việc chính phủ Trung Quốc lập huyện Tam Sa để chính thức hóa chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; phản đối việc Trung Quốc quảng cáo Thế Vận Hội vẽ cái bản đồ thè lưỡi liếm tất cả hải phận nước ta. Các “bạn trẻ” này (trong đó có nhạc sĩ Tô Hải đã ngoài 80 tuổi), có tính xách súng ra biển tử chiến đòi lại Hoàng Sa ngay không? Chắc là không. Năm nay, học giả Nguyễn Huệ Chi và các nhà trí thức đang yêu cầu ngưng không cho khai thác Bauxite, họ có muốn gây chiến để buộc Trung Quốc rút các công ty khai mỏ của họ về nước hay không? Cũng không. Ông Ðiếu Cày, cô Mẹ Nấm, có ai hô hào tuyên chiến với Trung Quốc hay không? Không nốt.

Không người Việt Nam nào hiếu chiến và dại dột như vậy, đời xưa cũng như bây giờ. Lê Lợi, Nguyễn Huệ, có ông nào chủ trương chống Trung Quốc hay không? Cũng không. Họ dấy quân trừ bạo chỉ vì không chịu được nhục nhã, vì bị áp bức mà phải ngẩng đầu lên, phải đứng dậy. Mỗi lần đánh đuổi được quân xâm lăng rồi, các cụ nhà mình lại lập tức “dâng biểu cầu hòa” và hứa cống tiến.

Cho nên, không nên vu oan giá họa cho những người Việt yêu nước. Gán cho những thanh niên Việt Nam mặc áo in những chữ “Hoàng Sa của Việt Nam” là muốn gây chiến với Trung Quốc là cả vú lấp miệng em. Những thanh niên đó chỉ muốn chứng tỏ cho cả thế giới biết là người Việt không ngu. Và không hèn. Họ đòi những người cầm quyền ở Việt Nam phải xác nhận chủ quyền của nước mình trên những phần đất do tổ tiên để lại, một cách cương quyết hơn. Phải dùng mọi biện pháp ngoại giao và dùng các định chế công lý quốc tế để đòi lại chủ quyền. Phải công bố các cuộc tranh luận giữa hai bên từ đầu tới giờ, đưa ra các bằng cứ cho cả thế giới thấy ai phải, ai trái! Phải bảo vệ các ngư dân vẫn bị hải quân Trung Quốc bắt cóc, đánh đập, cướp bóc. Người ta lên tiếng vì không thể im lặng chịu nhục mãi.

Người Việt Nam muốn chính quyền Cộng Sản phải công khai, minh bạch trong việc ngoại giao. Phải ra đứng giữa chợ kêu gọi cả loài người phân xử giúp các cuộc tranh chấp. Không thể tiếp tục bàn những chuyện đất đai, biên giới, lãnh hải một cách lén lút bí mật! Ðất nước là của toàn dân, không thể bàn như chuyện riêng giữa hai đảng Cộng Sản. Mấy chục người trong Bộ Chính Trị các đảng Cộng Sản Việt Nam và Trung Quốc không được hai dân tộc này ủy quyền mà lén lút chia nhau những tài nguyên cây rừng, quặng mỏ, hải đảo do tổ tiên từ ngàn năm để lại. Ðó là nguyện vọng của những người đang bị vu cáo là “chống Trung Quốc.”

Họ khôn chứ không dại. Khi có tranh chấp với một nước láng giềng mạnh, mình phải làm lớn chuyện lên cho cả thế giới biết thì mới hy vọng được cộng đồng quốc tế hỗ trợ. Trung Quốc mạnh hơn nước mình, nhưng trên thế giới còn nhiều nước mạnh hơn cũng muốn kềm chân không cho Trung Quốc bành trướng phi pháp! Nếu mình cứ tiếp tục họp bàn bí mật, thì thọt, rấm rúi, thì vừa không hiệu quả lại vừa mang nỗi nhục ngàn đời.

Tóm lại, không người Việt Nam trưởng thành nào lại nuôi ý tưởng “chống Trung Quốc.” Không chống, nhưng cũng không sợ Trung Quốc. Ðó là thái độ thẳng thắn cần thiết cho tất cả mọi người Việt Nam. Lối ngoại giao thì thọt, rấm rúi, miệng nói “môi hở răng lạnh,” và “trước là đồng chí sau là anh em,” chỉ chứng tỏ là mình nhát, mình sợ để cho người ta khinh. Không cứ người Trung Quốc, người nước nào họ cũng khinh cho. Ðó chính là “thiên cổ vô cùng chi sỉ” như Nguyễn Trãi đã viết.

Không thể chấp nhận lý luận “Mỹ cũng sợ Trung Quốc” để bênh vực lập trường “Việt Nam cũng nên sợ Trung Quốc!”

Trên thế giới bây giờ không nước nào sợ sức mạnh quân sự của nước nào cả. Trước đây một trăm năm các cường quốc có thể ỷ mạnh đe dọa xâm lăng khiến nước khác phải sợ. Bây giờ không nước nào có thể nuôi tham vọng đó, dù là nước Mỹ. Nhất là khi khả năng vũ lực của Trung Quốc còn lâu mới đuổi kịp Mỹ. Trong Ðại Chiến Thứ Nhất (1914-18) nước nào sản xuất nhiều thiết giáp, nhiều máy bay làm chủ không phận thì chiếm được ưu thế trong chiến tranh. Trong Ðại Chiến Thứ Hai (1939-45) ở vùng Thái Bình Dương nước nào làm chủ được mặt biển, sản xuất nhiều hàng không mẫu hạm thì có lợi thế. Nhưng sức mạnh chiến lược trong các cuộc chiến tranh tương lai là làm chủ không gian, với những vệ tinh nhân tạo và hỏa tiễn liên lục địa. Trung Quốc cho tới giờ vẫn còn đang cố chế tạo tầu ngầm và một hàng không mẫu hạm đầu tiên, giống như Nhật Bản hồi trước năm 1940! Cho nên đừng hù họa dân Việt Nam mà nói rằng các cường quốc khác cũng sợ Trung Quốc!

Nhưng không phải vì thế mà suy nghĩ một cách giản dị là Việt Nam nên “theo Mỹ để chống Trung Quốc.” Hồi 1950 lối suy nghĩ đó có thể còn đúng. Vì lúc đó Mỹ chỉ lo ngăn chặn không cho các nước Cộng Sản bành trướng trên thế giới. Họ giúp Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ ở Âu Châu. Khi Bắc Hàn tấn công Nam Hàn, lúc đó Washington mới quyết định giúp Quốc Dân Ðảng củng cố quân sự để bảo vệ Ðài Loan - trước đó họ coi như đã quyết định bỏ rơi ông Tưởng Giới Thạch. Mỹ dính tới Việt Nam cũng do thế chiến lược cần ngăn chặn Cộng Sản Trung Quốc thời đó. Còn bây giờ, ý thức hệ Cộng Sản đã tan rã, Nga, Trung Quốc đang tư bản hóa, gia nhập cuộc đấu mới theo các quy luật kinh tế. Trong thế giới ngày nay, không cường quốc nào chiếm được ưu thế thao túng các nước chung quanh mình. Các chính quyền khôn ngoan phải giao hảo với tất cả các cường quốc, dựa trên quyền lợi kinh tế của họ mà điều khiển chính sách ngoại giao của mình. Chính phủ Ðài Loan vẫn gia tăng giao thương với Trung Quốc nhưng vẫn mua thêm vũ khí mới của Mỹ để tự vệ. Và dân chúng nước họ vẫn tự do biểu tình chống Bắc Kinh, làm hậu thuẫn cho chính phủ trong những cuộc mặc cả.

Người Việt Nam bây giờ phải dứt bỏ những ảo tưởng thời 1950, theo nước này chống nước kia! Ðối với nước Mỹ, thị trường Trung Quốc lớn hơn Việt Nam gấp bội. Nhưng mặt khác, nước Mỹ cũng không muốn cho bất cứ cường quốc nào đóng vai lũng đoạn vùng Á Ðông. Mọi chính quyền Việt Nam phải giao thiệp hòa hoãn với cả hai nước Mỹ và Trung Quốc. Nhưng phải làm sao cho cả hai nước đó đều kính trọng mình. Các nước trong vùng Ðông Nam Á đều theo chính sách khôn ngoan đó.

Một trăm năm trước, Phan Châu Trinh đã khuyên nhủ đồng bào: “Bạo động là dại; ỷ lại là ngu; chỉ có học!” Tới bây giờ lời khuyên đó còn có giá trị và cần áp dụng! Thời Phan Tây Hồ, cả nước cần học. Ngày nay, chúng ta vẫn cần học, đồng thời cần sử dụng chất sám của toàn dân vào việc phát triển kinh tế. Giới trí thức và thanh niên Việt Nam chỉ đòi hỏi được tự do học hỏi, được tự do nghiên cứu để giúp nước.

Cho nên, đừng ai vu cáo những nhà trí thức và thanh niên đang bầy tỏ thái độ cương quyết đối với Trung Quốc là họ có ý theo nước này chống nước khác. Những người Việt yêu nước đó chỉ muốn chính quyền Cộng Sản phải bảo vệ danh dự của nước Việt Nam. Nước Việt Nam phải tỏ ra không sợ hãi, không ỷ lại, không lệ thuộc vào một quốc gia nào, dù là một cường quốc đang lên bên cạnh nước mình. Không nước nào có thể coi nước mình như một chư hầu, muốn làm gì thì làm! Không nhượng quyền khai thác quặng mỏ một cách dễ dàng, bất chấp những lời phản đối của giới chuyên gia và trí thức. Không quân đội nước nào được quyền bắt bớ, đánh đập, cướp bóc các ngư dân Việt Nam, coi người mình như súc vật. Những người cầm quyền ở Việt Nam phải tranh đấu cho các nguyện vọng chính đáng đó. Ðừng vu cáo người dân yêu nước, đừng dọa nạt, bắt bớ những nhà trí thức can đảm lên tiếng bảo vệ chủ quyền dân tộc!

Trung Quốc đã cướp Hoàng Sa của nước ta từ năm 1974, vì lợi dụng được cơ hội người Việt Nam đang giết lẫn nhau. Ðảng Cộng Sản do tham vọng Cộng Sản hóa cả nước nên đã dựa vào Cộng Sản Trung Quốc, nhắm mắt cho họ chiếm những hòn đảo của tổ tiên. Ai còn tin tưởng ở đảng Cộng Sản trong việc bảo vệ chủ quyền đất nước nữa?

Nhưng không người Việt nào có ảo tưởng mình sẽ đem quân chiếm lại những hòn đảo đã mất trong lúc này. Trong một, hai thế hệ nữa người Việt sẽ còn tiếp tục chịu nhục. Cũng như chúng ta vẫn đành chịu mất những vùng đất 5 động mà vua quan nhà Mạc đã dâng cho vua Tàu. Nhưng chính vì thế mà người Việt không được quên nỗi nhục nhã, không để cho con cháu quên những nỗi nhục đó.

Sai lầm của đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay là vẫn coi các cuộc tranh chấp với Trung Quốc là việc riêng của hai đảng Cộng Sản, không cho dân Việt Nam được lên tiếng, được bầy tỏ thái độ. Cấm dân chúng bầy tỏ nỗi phẫn uất vì các hòn đảo bị cướp, vì các ngư dân bị bắt cóc và hành hạ thì chỉ chứng tỏ mình sợ hãi và hèn nhát trước các hành động phi pháp của chính quyền Bắc Kinh. Phải chấm dứt thái độ hèn nhát đó.

Khi nào thì các nước lớn kính trọng chủ quyền của các nước nhỏ? Khi họ thấy chính quyền các nước nhỏ được dân ủng hộ để sẵn sàng can đảm bảo vệ danh dự và quyền lợi quốc gia. Khi họ thấy trong nội bộ các nước nhỏ toàn dân đoàn kết một lòng trong mục đích đó. Muốn đạt được hai điều kiện này thì người cầm quyền phải do toàn dân tự do bầu lên chứ không phải là một nhóm tiếm quyền quyết định. Chỉ khi nào dân chúng được tự do phát biểu, được tự do chọn người cầm quyền theo các thủ tục dân chủ, thì chính quyền mới có thế mạnh về ngoại giao. Chỉ khi nào thể hiện ý chí của toàn dân thì một chính quyền mới được các nước khác kính trọng.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Quốc Sỉ

Ngô Nhân Dụng

Ngày 3 Tháng Mười vừa qua, Thủ Tướng Ấn Ðộ Manmohan Singh tới tiểu bang Arunachal Pradesh nằm dưới chân Hy Mã Lạp Sơn, để hỗ trợ đảng Quốc Ðại của ông trong một cuộc tranh cử địa phương. Ðối với người lãnh đạo một đảng nắm quyền trong một quốc gia dân chủ tự do, công việc đó là bình thường.

Nhưng chính phủ Trung Quốc đã lên tiếng đả kích ông Singh kịch liệt. Tại sao? Vì từ hơn nửa thế kỷ nay Trung Quốc vẫn đòi Ấn Ðộ phải trả lại một vùng đất trong tiểu bang này mà họ coi là thuộc về Tây Tạng, tức là thuộc chủ quyền của Bắc Kinh.

Khi chính phủ Trung Quốc công kích ông Singh với những lời nặng nề, họ có tính gây chiến với Ấn Ðộ hay không? Ai cũng biết là không. Họ phải nói những lời lẽ hung hăng đó chỉ vì mỗi khi có cơ hội là phải nhắc lại một lập trường cố hữu từ hơn nửa thế kỷ nay. Trung Quốc vẫn coi một vùng 90,000 cây số vuông mà họ gọi là “Nam Tạng” thuộc chủ quyền nước họ. Bộ Ngoại Giao của Bắc Kinh không ngần ngại công kích ông thủ tướng Ấn Ðộ để làm công việc nhắc nhở đó, mặc dù hai nước vẫn giao hảo, khối lượng trao đổi thương mại và đầu tư giữa hai nước vẫn gia tăng, ông Manmohan Singh với các ông Ôn Gia Bảo, Hồ Cẩm Ðào vẫn gặp gỡ và bắt tay nhau trong mấy năm qua.

Chúng ta là người ngoại cuộc, không biết trong cuộc tranh chấp này ai phải ai trái. Nhắc đến chuyện này chỉ để thấy chính phủ một nước khác họ hành động như thế nào khi gặp hoàn cảnh giống như Việt Nam. Trung Quốc đã chiếm quần đảo Hoàng Sa của nước ta từ năm 1974 đến nay và càng ngày càng lấn ép thêm. Trên thế giới hiện vẫn có hàng trăm nước đang tranh chấp nhau về lãnh thổ và hải phận giống như vậy. Không mấy ai có ý định dùng vũ lực giải quyết các bất đồng ý kiến đó. Nhưng mỗi khi có cơ hội thì nước nào cũng tìm cách nhắc lại chủ quyền của mình trên những vùng tranh chấp, cho cả thế giới phải biết. Trừ chính quyền Cộng Sản Việt Nam.

Khi Bắc Kinh đặt ra huyện Tam Sa để chính thức hóa việc chiếm đóng Hoàng Sa và Trường Sa, các thanh niên Việt Nam từ Bắc vào Nam đã biểu tình phản đối, họ đã bị bắt và nhiều người vẫn tiếp tục bị công an đe dọa, sách nhiễu từ gần 2 năm qua. Gần đây nhất, chính quyền tỉnh Quảng Tây lập ra đài phát thanh nói tiếng Việt, đặt tên là Tiếng Nói Vịnh Bắc Bộ thì chính quyền Cộng Sản Việt Nam cũng không phản đối. Ðài phát thanh Nam Ninh nói tiếng Việt nhắm vào Vịnh Bắc Bộ có mục đích gì? Ông Vương Canh Niên, tổng giám đốc mạng lưới phát thanh quốc tế của Trung Quốc nói hành động này nhằm tuyên truyền đối ngoại “phục vụ đại cục ngoại giao” của nước ông. Trong việc tuyên truyền cho “đại cục ngoại giao” đó tất nhiên có việc củng cố chủ quyền của họ trên các đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa! Họ sẽ nói đi nói lại rằng các đảo trên thuộc về nước họ, nói cho tới bao giờ người Việt nghe quen tai và thấy đó là một chuyện tự nhiên! Ðây là màn mở đầu cho một cuộc “xâm lăng văn hóa” có thể so sánh với công việc Mã Viện đã làm ở Giao Chỉ trước đây gần 2000 năm. Sau khi thắng quân Hai Bà Trương, Phục Ba Tướng Quân đã mở một cuộc “xâm lăng văn hóa và chính trị.” Ông lập ra một hệ thống hành chánh mới, đặt quan Tầu trực tiếp cai trị, bắt dân nước Văn Lang thay đổi phong tục, đặt nền móng cho những chính sách đồng hóa của những Tích Quang, Sĩ Nhiếp sau đó.

Những người cầm đầu Trung Quốc họ cũng không quên chuyện Mã Viện. Khi các cố vấn Trung Quốc đầu tiên sang Việt Nam vào năm theo lời khẩn thiết yêu cầu của Hồ Chí Minh, Mao Trạch Ðông và Lưu Thiếu Kỳ đã nhắc nhở những Bí Thư La Quý Ba và Tướng Vi Quốc Thanh về chuyện Mã Viện. Họ đều dặn dò các ông này là phải nhớ người Việt Nam vẫn còn thù ghét Trung Quốc, phải đối xử với người Việt một cách khôn ngoan khéo léo đừng chạm tự ái của họ. Mao Trạch Ðông không muốn theo gót chân Mã Viện, vì ông ta có những phương pháp xâm lăng mới. Và có những tham vọng lớn hơn.

Vua quan nhà Hán chỉ nghĩ đến chuyện mở rộng cương vực, và củng cố đế quốc qua việc “khai hóa” các dân man di ở chung quanh để đồng hóa họ. Mao Trạch Ðông, người vẫn tự hào là sự nghiệp của mình sẽ lớn hơn cả Tần Thủy Hoàng và Hán Vũ Ðế. Ông có tham vọng dùng chủ nghĩa Cộng Sản thay đổi cả thế giới, theo đúng khẩu hiệu “Bốn Biển Một Nhà” chứ không phải theo lối cũ chỉ tính việc bành trướng một đế quốc. Cho nên Mao Trạch Ðông biết là không cần dùng chính sách Mã Viện, không cần tiến quân chiếm đất, không cần đặt quan Tầu cai trị. Chỉ cần một chính quyền Việt Nam biết học theo và thi hành đúng những chủ trương, những tư tưởng chỉ đạo của Mao Trạch Ðông, là đủ. Từ đó, đảng Cộng Sản Việt Nam đã được Trung Quốc giúp đỡ cả về vũ khí, xe cộ, quân phục, cho tới kim chỉ, cơm gạo, để xây dựng thế giới đại đồng theo trí tưởng tượng của Mao.

Nhưng đối với Cộng Sản Trung Quốc thì mảnh đất Việt Nam chỉ là một bộ phận trong chiến lược toàn cầu của họ. Mao vẫn đề cao chiến lược “lấy nông thôn bao vây thành thị,” như trong cuộc nội chiến ở Trung Hoa. Trên toàn thế giới thì “nông thôn” chính là các nước Á Phi, còn “thành thị” là các nước Tây Phương. Khi nào các nước nghèo ở Á Châu và Phi châu đã được cộng sản hóa, vòng vây kinh tế sẽ thiết chặt, phong trào cách mạng vô sản ở các nước tư bản sẽ bùng nổ.

Ðó là tham vọng của Mao. Ông ủng hộ các đảng Cộng Sản Á Phi trong chiến lược toàn cầu đó. Từ năm 1950 họ vẫn dùng đảng Cộng Sản Việt Nam như một khí cụ để huy động dân Việt đứng ra làm rào cản ngăn ngừa ảnh hưởng của Mỹ và các nước tư bản. Mao không thiết tha đến một nước Việt Nam thống nhất và độc lập. Miễn sao ngăn chặn được ảnh hưởng “Ðế quốc Mỹ” để Mao có thể thực hiện kế hoạch cộng sản hóa vùng Ðông Nam Á rồi dần dần đưa chủ nghĩa Cộng Sản ra toàn thế giới là được rồi.

Ngày nay các người lãnh đạo Trung Quốc chấp nhận đường lối tư bản hóa, không còn tham vọng làm cách mạng vô sản toàn thế giới nữa. Nhưng chính sách bành trướng của Mao vẫn được tiếp tục, với mục đích quốc gia thay thế cho mục tiêu cách mạng quốc tế vô sản.

Nhưng đối với người dân Việt Nam thì mối đe dọa vẫn như cũ. Là một dân tộc nhỏ bé bên cạnh một nước láng giềng khổng lồ, mối lo lớn nhất của dân Việt là bảo vệ bản sắc, giữ gìn văn hóa, xác định chủ quyền trên từng mảnh đất mà tổ tiên để lại. Cho nên, trước việc Bắc Kinh làm thêm một đài phát thanh nói tiếng Việt nhắm vào Vịnh Bắc Bộ, người Việt nào cũng phải báo động với nhau: Họ âm mưu toan tính gì đây?

Trước biến cố đó, đáng lẽ chính quyền Việt Nam nào cũng phải lên tiếng cảnh cáo và phản đối âm mưu tuyên truyền của Bắc Kinh. Ðây là một cơ hội để minh xác chủ quyền nước mình, một dịp đưa ra thêm bằng cớ về chủ quyền của mình cho cả thế giới nhớ; không khác gì khi Bắc Kinh nắm lấy cơ hội ông thủ tướng Ấn Ðộ đến thăm tiểu bang Arunachal Pradesh! Nhưng đảng Cộng Sản Việt Nam đã không làm như thế. Trái lại, ông Nguyễn Anh Dũng, lãnh sự Việt Nam ở Nam Ninh lại lên tiếng hoan nghênh và chúc mừng, mở miệng ca ngợi “quan hệ hữu nghị đời đời xanh tươi” giữa hai đảng Cộng Sản! Phục Ba Tướng Quân Mã Viện nghe lời ca ngợi đó chắc cũng phải mỉm cười nơi chín suối! Ông lãnh sự này đáng được thưởng huy chương Mã Viện! Ðợi đến khi nào họ chính thức đặt tên đài phát thanh đó thành “Tiếng Nói Giao Chỉ” thì mới thấy nhột hay sao?

Thử tưởng tượng nếu bây giờ Việt Nam lập một đài phát thanh ở Châu Ðốc nói tiếng Khờ Me đặt tên là “Diễn Ðàn Thủy Chân Lạp” hay “Tiếng nói Tông Lê Sáp” thì chính phủ Hun Sen có bịt tai, nhắm mắt để yên hay không? Hay một đài phát thanh nói tiếng Lào đặt ở Thanh Hóa, lấy tên là “Tiếng Nói Cánh Ðồng Chum” thì chính phủ Lào có lên tiếng chúc mừng “quan hệ hữu nghị đời đời xanh tươi” hay không? Tưởng tượng xa hơn nữa, Việt Nam có thể lập một đài nói tiếng Quảng Ðông lấy tên là “Tiếng Nói Nam Việt” thì thái độ của chính phủ Bắc Kinh sẽ như thế nào? Ðừng quên rằng Triệu Ðà đã xưng là hoàng đế nước Nam Việt, bao gồm cả nước ta và vùng Lưỡng Quảng. Vào thế kỷ 11, Lý Thường Kiệt đã tấn công chiếm lại một phần đất Nam Việt cũ, trước khi rút về để bảo vệ mạng sống của quân mình! Chủ trương “toàn quân” đó, Lê Lợi sau này vẫn theo đuổi và nhắc lại nhiều lần, ngay trong Bình Ngô Ðại Cáo.

Thái độ “hồ hởi” chúc mừng của đảng Cộng Sản Việt Nam trước hành động “xâm lăng văn hóa” của Bắc Kinh cho thấy họ không xứng đáng đại diện cho dân tộc. Với tất cả những gì các chính quyền Trung Quốc đã đối xử với nước Việt Nam từ 2000 năm nay mà một nhà ngoại giao Việt Nam vẫn nói đến “quan hệ hữu nghị đời đời xanh tươi” thì thật là quốc sỉ.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Trí thức bất khuất trước bạo quyền

Ngô Nhân Dụng
Ðời nay nói đến Hy Lạp người ta có thể không biết đến Vua Dionysius, nhưng phần lớn người có học đều biết các triết gia Socrate, Platon, Pericles, biết các nhà khoa học Euclide hay Archimede! Vua Dionysius I ngự trị ở thành Syracuse (ở phía Nam đảo Sicily bây giờ) vào thế kỷ thứ tư trước Công nguyên. Ngày nay người ta còn nhắc đến ông không phải vì những cuộc chinh phạt, những chiến công, mà vì ông đã thất bại khi muốn đàn áp giới trí thức đương thời.

Sử chép về Vua Dionysus I có những chuyện liên can đến giới trí thức và văn nghệ. Những người nghiên cứu khoa học, triết lý hoặc viết văn, làm báo thời nay nếu phải sống dưới các chế độ độc tài thường vẫn chịu sức ép phải uốn cong ngòi bút theo lệnh các “lãnh tụ anh minh.” Rất nhiều người can đảm chống lại, nhưng đa số thì chịu thua, vì miếng cơm manh áo; vả lại họ không biết chọn nghề nào khác kiếm ăn. Vua Dionysius I cũng là một người sính làm thơ, không khác gì các ông Mao Trạch Ðông, Hồ Chí Minh thời họ nắm quyền sinh sát. Một hôm Dionysius đưa cho thi sĩ Philoxenus coi một tác phẩm mới của ông để chia sẻ.

Philoxenus lại mang tánh hay nói thật; ông nói thẳng, chê là thơ của nhà vua chẳng ra ngô ra khoai gì cả. Nhà thơ thành thật khuyên nhà vua đừng bao giờ làm thơ nữa. Giận quá, Dionysius ra lệnh bắt giam Philoxenus, cho đi lao động cải tạo ở một công trường khai thác đá. Chắc ở đó toàn những đá thì nhà thơ có dịp dùi mài khả năng phê bình thơ vua.

Ngày hôm sau, Dionysius lại mời Philoxenus vào hoàng cung dự tiệc để coi nhà thơ đã được cải tạo tư tưởng hay chưa. Tiệc chiêu đãi văn nghệ sĩ tất nhiên là vui lắm, đại khái quý vị có thể tưởng tượng được, đủ các thứ sơn hào hải vị, có văn công giúp vui, vũ nữ ra múa may, chắc cũng tổ chức cả thi hoa hậu nữa! Sau khi đã uống rượu khá nhiều, thi hứng của nhà vua lại nổi lên, không cách nào cản được. Ông đứng dậy ngâm một bài thơ mới sáng tác. Ðọc thơ xong, vua Dionysius quay lại nhìn thi sĩ Philoxenus, hỏi: “Sao, ông thấy bài thơ mới thế nào?” Philoxenus đứng dậy nghiêng mình, cúi chào ông vua để tỏ vẻ kính trọng. Rồi ông lững thững đi ra bảo tên lính đeo gươm hầu phụ trách an ninh: “Chú làm ơn đưa tôi trở về hầm đá!”

Tại Việt Nam ngày nay, hôm 14 Tháng Chín năm 2009, Viện Nghiên Cứu Phát Triển (IDS), một viện nghiên cứu độc lập gồm các trí thức hàng đầu Việt Nam, đã tự động giải thể để phản đối Quyết Ðịnh 97 của chính phủ Nguyễn Tấn Dũng. Hành động đó cũng giống như việc Philoxenus từ bỏ bữa tiệc của vua Dionysus để trở về làm công tác đập đá!

Những người trí thức tự trọng không thể chấp nhận việc kiểm soát tư tưởng. Nhất là người làm công việc nghiên cứu khoa học. Mục đích của khoa học là đi tìm sự thật, những sự thật khách quan, độc lập đối với tín ngưỡng và chính trị. Quyết Ðịnh 97 buộc các bài phản biện của giới khoa học phải trình cho các cơ quan nhà nước trước khi công bố. Ðây là một hành động phản khoa học, phản dân chủ, vì chính quyền cộng sản không cho phép người trí thức được phép nghiên cứu độc lập. Cấm việc nghiên cứu độc lập và khách quan là phản tiến bộ, đặc biệt trong các đề tài liên can đến phát triển kinh tế và xã hội rất cần thiết cho đất nước bây giờ.

Người trí thức muốn nói thật thì rất khó sống dưới ách độc tài, dù là chế độ quân chủ chuyên chế ngày xưa hay là chế độc đảng chuyên chính vô sản và vô học thời nay.

Một tháng sau, ngày 14 Tháng Mười, chính phủ Nguyễn Tấn Dũng lại ra một thông báo kết luận rằng việc ban hành Quyết Ðịnh 97 “là cần thiết, phù hợp với Hiến Pháp, pháp luật Việt Nam.” Không những thế, bản thông báo đe dọa giao Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội “xử lý những phát biểu thiếu tinh thần xây dựng của một số cá nhân thuộc Viện Nghiên Cứu Phát Triển.” Coi như các nhà trí thức danh tiếng nhất Việt Nam bị dọa có thể được “điều đi” làm công tác nghiên cứu ở hầm đá!

Tiến Sĩ Nguyễn Quang A, nguyên viện trưởng IDS nói, “Thông báo của văn phòng chính phủ có những lời lẽ đe dọa chúng tôi” và ông vẫn tiếp tục phê phán “Quyết Ðịnh 97 vi phạm nghiêm trọng luật pháp Việt Nam!” Tuyên bố như vậy cũng không khác gì nhà thơ Philoxenus ngày xưa đã bị trừng phạt rồi vẫn tiếp tục chê thơ của ông vua không ngửi được!

Giới trí thức thời xưa và thời nay đều là kẻ thù của các chế độ độc tài. Vì nhu cầu tự nhiên nhất của họ là được tự do suy nghĩ, tự do phát biểu.

Trong Tháng Mười, chính quyền Nguyễn Tấn Dũng lại đưa nhiều nhà trí thức Việt Nam “đi hầm đá” nữa. Tổng cộng có chín người bị bắt từ năm ngoái, nay bị đưa ra tòa tại Hải Phòng với cùng một tội danh: “lưu trữ, phát tán những tài liệu vu khống chế độ, sau đó chụp hình và phát tán lên mạng Internet.” Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, 60 tuổi, bị án nặng nhất đến 6 năm tù giam và 4 năm quản chế tại gia vì “vai trò lãnh đạo.”

Cũng trong Tháng Mười tại Hà Nội, ông Phạm Văn Trội, 37 tuổi, xử 4 năm tù giam và 4 năm quản chế tại gia. Nhà văn Vũ Hùng cũng bị 3 năm tù giam và 3 năm quản chế vì vi phạm Ðiều 88. Nhà thơ Trần Ðức Hạnh, 57 tuổi, hội viên Hội Nhà Văn Nghệ An bị xử án tù giam 3 năm và 3 năm quản chế.

Những nhà trí thức ở Hy Lạp thời xưa cũng như ở Việt Nam ngày nay có thể “đứng vững không khỵu chân” để bảo vệ lương tâm và sự thật vì họ biết rằng sau cùng lịch sử sẽ ghi nhớ đến họ. Và ngay trong cuộc đời của họ, họ sống thanh thản vì được mọi người kính trọng và yêu thương. Còn những anh đóng vai độc tài chuyên chế, sau cùng lịch sử sẽ ghi tên trong sổ đen. Mà ngay khi còn sống họ cũng không được ai thành thật yêu thương hay kính trọng, trừ những kẻ nịnh thần!

Ngay xưa, Vua Dionysius bỏ tù Phintias, một triết gia phái Pythagore, sau cùng xử ông bị tử hình vì những tội “phản biện” làm hại uy tín “chính quyền của nhân dân.” Trước khi chết, Phintias xin phép được về thăm gia đình. Nhưng làm thế nào để bảo đảm là triết gia không đi trốn và sẽ trở lại thọ hình? Triết gia vốn nghèo khó, lấy vàng bạc, của cải đâu để làm vật thế chân? Một người bạn của Phintias là Damon đã tự mình xin làm “bail bond,” vào ngồi tù thế mạng, nếu Phintias trốn thì Damon sẽ chết thay. Sau khi thăm nhà rồi, Phintias lại trở vào nhà tù cho bạn mình được thả. Hành động của hai nhà trí thức làm cho ông vua Dionysius kinh ngạc ngạc. Sống giữa đám nịnh thần và chỉ quen lừa gạt, dối trá ông không thể hiểu tại sao có những người bạn hết lòng với nhau như thế! Dionysius trả tự do cho Phintias xin được kết bạn với cả hai nhà hiền triết. Không biết làm bạn được bao lâu?

Nền văn minh Hy Lạp để lại rất nhiều di sản. Ngoài những tư tưởng triết lý, khoa học, các pho tượng dựng trong các hý trường rộng lớn, còn có cả một định chế xã hội gọi là chế độ Dân Chủ. Chế độ Dân Chủ ở Hy Lạp không được tiến bộ như hình thức mà nhân loại hiện đang thi hành; nhưng phải ghi công người Hy Lạp đã đặt nên một số nền tảng chính. Dân Hy Lạp đã quên những ông vua Dionysius mà còn nhớ Pericles. Người Việt Nam cũng sẽ có ngày quên đi cái chế độ độc tài đảng trị tham nhũng thối nát, mà chỉ nhớ đến những nhà trí thức đang tranh đấu cho đồng bào được hưởng cuộc sống dân chủ tự do. Ngày nay chúng ta vẫn ghi nhớ những Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh, Khái Hưng, PhanVăn Hùm, đó là một truyền thống của giới trí thức trong dân tộc Việt Nam. Dù thời bình hay thời chiến, “nhưng hào kiệt đời nào cũng có”.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Già nhân ngãi, non vợ chồng

Image
Xe hơi hiệu Geely do Trung Quốc sản xuất được bày bán tại một cửa hiệu ở Bắc Kinh,
ngày 30 Tháng Mười, 2009. (Hình: Getty Images)

Trần Bình Nam

“...Tuy kinh tế phát triển nhưng tình hình trong nước khá căng thẳng về các mặt xã hội, văn hóa, dân số và tôn giáo. Ðiều này giải thích tại sao chính quyền Bắc Kinh hay nói tới tinh thần dân tộc...”

Ðó là cách miêu tả của người Anh về quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trước chuyến công du Bắc Kinh của Tổng Thống Obama tháng tới (11/2009). Cách miêu tả này được trình bày trong bài báo “The Odd couple” của tuần báo The Economist số ngày 24-30/10/2009.

Bài báo viết:

Các chính trị gia Tây phương khi đọc diễn văn trước một cử tọa người Trung Quốc thường muốn tìm dẫn chứng từ nguồn văn học của Trung Quốc để tô điểm cho bản văn. Tổng Thống Obama đọc diễn văn trước người Trung Quốc và một số những nhà lãnh đạo khác Tháng Bảy vừa qua [1] đã dẫn một thành ngữ của Mạnh Tử [2] và sau này đã được Yao Minh một tay chơi bóng rổ người Trung Quốc nổi tiếng thế giới dùng, “Dù anh là thành phần mới hay cũ trong một tập thể anh cũng cần có thời gian để thích ứng với các thành phần khác.” Trong ý nghĩa đó Tổng Thống Obama muốn nói, dù Hoa Kỳ và Trung Quốc tái thiết lập bang giao với nhau đã 30 năm hai nước vẫn có nhu cầu thích ứng và tìm hiểu nhau.

Vấn đề chính là Hoa Kỳ và Trung Quốc đều không biết chắc quan hệ của hai nước sẽ dẫn tới đâu, mặc dù hai nước có rất nhiều điểm chung. Trong 10 năm qua kinh tế hai nước gắn chặt hữu cơ với nhau. Hoa Kỳ là nước vay nợ nhiều nhất và Trung Quốc là nước chủ nợ lớn nhất. Hoa Kỳ và Trung Quốc cũng là hai quốc gia đang hợp tác nhau để giải quyết hai vấn nạn lớn thế giới đang đối diện là (1) sự nóng dần của khí quyển, và (2) khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

Hoa Kỳ và Trung Quốc đều có một mối lo chung là quan hệ hiện nay có thể sẽ dẫn tới một cuộc chiến tranh lạnh dai dẳng hay một cuộc đụng độ vũ trang.

Trung Quốc đang có chương trình xây dựng lực lượng quân sự để một mai có thể cạnh tranh với Hoa Kỳ tại Á Châu và bảo vệ Ðài Loan. Trung Quốc đang âm thầm đóng hàng không mẫu hạm và các tướng lãnh Trung Quốc không hề hé răng với bất cứ ai về vấn đề này.

Sau lưng nỗ lực bành trướng này là sức mạnh kinh tế của Trung Quốc. Các công ty của Trung Quốc đã “mua đứt” nhiều nước tại Phi Châu và Nam Mỹ, và kết bạn với các quốc gia mà các nước Tây phương tránh xa [3]. Với nguồn ngoại tệ phong phú và khả năng trời cho trong nghề làm ăn buôn bán, số tiền đầu tư của Trung Quốc tại các nước Tây phương càng ngày càng lớn. Và trên hết Hoa Kỳ nợ Trung Quốc 800 tỉ Mỹ kim là một lưỡi gươm treo lủng lẳng trên đầu nền kinh tế Hoa Kỳ.

Các quan sát viên trên thế giới cho rằng quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc sẽ căng thẳng hơn trong những năm tới vì hai nguyên nhân: Thứ nhất, năm 2012 có hai cuộc bầu cử quan trọng tại Hoa Kỳ và Ðài Loan, và đại hội 18 của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Thứ hai, hai nước có nhu cầu điều chỉnh chính sách trước tương quan lực lượng mới. Thế giới đang nói tới khối G2 gồm Hoa Kỳ và Trung Quốc, cho rằng nền kinh tế hai nước xem như ngang ngửa nhau và Hoa Kỳ và Trung Quốc phải hợp tác nhau mới giải quyết được các vấn nạn chính của thế giới [4].

Nền kinh tế Trung Quốc hiện chỉ bằng 1/3 Hoa Kỳ và GDP tính theo đầu người chỉ bằng 1/14 của Hoa Kỳ, và khả năng sáng tạo của Trung Quốc còn thua xa Hoa Kỳ. Ngân sách quốc phòng của Hoa Kỳ hiện lớn gấp 6 lần ngân sách quốc phòng Trung Quốc. Vũ khí duy nhất của Trung Quốc là chủ nợ của Hoa Kỳ, nhưng Trung Quốc cũng không dễ dàng gì để khai thác [5] vì khai thác thì đồng Mỹ kim mất giá, kinh tế của Trung Quốc cũng bị ảnh hưởng lây. Khi dân chúng Mỹ giảm tiêu thụ, trong khi Trung Quốc tung tiền đẩy mạnh sự tiêu thụ trong nước, cán cân thương mãi đang bất lợi cho Hoa Kỳ sẽ được giảm thiểu. Trong khi đó, nếu Trung Quốc đẩy mạnh sức ép kinh tế của mình ra các nước khác, thế giới sẽ có khuynh hướng co cụm, nhất là tại Hoa Kỳ chỉ số thất nghiệp đang lên cao làm cho khuynh hướng bảo hộ công nghiệp trong nước (protectionism) càng mạnh.

Về phương diện địa chính trị (geopolitics) Trung Quốc chưa có sức cũng như chưa có ý định đối đầu với Hoa Kỳ. Trên mặt quốc tế Trung Quốc có nhiều ưu thế và tự tin, nhưng trong nước họ phải đối đầu với sự bất mãn triền miên của dân chúng với hàng chục ngàn vụ biểu tình phản đối hằng năm. Tuy kinh tế phát triển nhưng tình hình trong nước khá căng thẳng về các mặt xã hội, văn hóa, dân số và tôn giáo. Ðiều này giải thích tại sao chính quyền Bắc Kinh hay nói tới tinh thần dân tộc. Trong bối cảnh đó Hoa Kỳ không nhất thiết cần áp dụng một đối sách cứng rắn với Trung Quốc vì cho rằng mình đang bị Trung Quốc đe dọa.

Sẽ là một sai lầm nếu Hoa Kỳ do lo sợ sự lớn mạnh của Trung Quốc mà gắt gao với Trung Quốc về mặt kinh tế, đặc biệt là mậu dịch, mà lơ là về mặt nhân quyền. Việc Tổng Thống Obama mới đây tăng thuế đối với vỏ bánh xe do Trung Quốc chế tạo chẳng có lợi gì nếu không muốn nói chỉ khuyến khích tinh thần bảo hộ công nghiệp tại Hoa Kỳ. Ðứng trước chỉ số thất nghiệp xấp xỉ 10%, Quốc Hội Hoa Kỳ sẽ có khuynh hướng chỉ trích chính sách xuất cảng ồ ạt của Trung Quốc và giá trị quá thấp của đồng yuan [6] và có thể tạo ra một trận chiến tranh mậu dịch giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Trong trường hợp này cả hai nước đều bị tổn thương.

Trong chuyến công du Bắc Kinh sắp tới, chắc chắn rằng Tổng Thống Obama không từ bỏ cái giá trị thứ nhất của Hoa Kỳ là tự do mậu dịch thì Tổng Thống Obama cũng không nên từ bỏ cái giá trị thứ hai là quyền tự do của con người (personal freedom). Hoa Kỳ không thể quan niệm rằng vì Trung Quốc đang lớn mạnh nên Trung Quốc có quyền độc tài, và Hoa Kỳ chỉ dùng đến vũ khí nhân quyền để áp lực Trung Quốc khi có lợi cho mình. Tổng Thống Obama cần Trung Quốc hợp tác để giải quyết sự khủng hoảng kinh tế thế giới và điều tiết khí hậu địa cầu không có nghĩa ông Obama phải im lặng không dám chỉ trích chế độ chính trị của Trung Quốc. Thí dụ như mới đây Tổng Thống Obama ngần ngại không tiếp đức Ðạt Lai Lạt Ma của Tây Tạng để lấy lòng Trung Quốc chuẩn bị cho chuyến đi tới của ông qua Tàu là một sự tránh né không cần thiết. Ðảng Cộng Sản Trung Quốc có nhu cầu tạo uy tín đối với nhân dân Trung Quốc nên cũng mong muốn chuyến thăm viếng này là một thành công như Tổng Thống Obama muốn [7].

Tổng Thống Obama cần chứng tỏ cho Trung Quốc và thế giới thấy rằng chế độ dân chủ vẫn là một chế độ tốt hơn. Lúc này thế giới có vẻ khen Trung Quốc về cung cách Trung Quốc hợp tác giải quyết cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, sự nóng dần của khí quyển và nỗ lực chống sự lan tràn của dịch cúm heo, nhưng đừng quên rằng Trung Quốc vẫn giải quyết các vấn đề trên theo cung cách một nước độc tài. Lấy thí dụ về chính sách trồng cây xanh (greenery) để chống sự nóng dần của khí quyển. Do chế độ tập quyền không cần thảo luận dân chủ với dân và với các nước khác trên thế giới, Trung Quốc thực hiện kế hoạch trồng cây xanh một cách ồ ạt và nhanh chóng, trong khi đáng lẽ cần giáo dục cho dân chúng biết sự quan trọng của kế hoạch [8] và sắp xếp để trao đổi kỹ thuật trồng cây xanh với các nước khác trên thế giới thế nào để các nước có kỹ thuật tân tiến này không ngại sự hiểu biết của mình sẽ bị đánh cắp.

Dưới bề mặt hoành tráng của cuộc diễn binh kỷ niệm 60 năm ngày thành lập chế độ Cộng Sản tại Trung Quốc hôm 1 Tháng Mười vừa qua tại Bắc Kinh là dấu hiệu của sự yếu đuối của chế độ. Ðảng Cộng Sản Trung Quốc đã không cho dân chúng tự do đến xem diễn binh vì ngại các cuộc biểu tình phản đối của dân trước bàng quang thiên hạ.

Trung Quốc càng giàu mạnh, sự bất ổn trong nước càng lớn. Ðảng Cộng Sản Trung Quốc đã bắt giam các nhà đấu tranh dân chủ, nhưng chính sách này sẽ không hữu hiệu về lâu về dài và sẽ thất bại. Trong chuyến thăm viếng Bắc Kinh sắp tới Tổng Thống Obama nên gặp vài nhà đấu tranh dân chủ thì sẽ thấy. Nếu Bắc Kinh có giận dữ thì nên để họ giận dữ cho quen [9].

Trần Bình Nam
25 Tháng Mười, 2009

[1] Hội nghị G-8 tại Ý.

[2] Một triết gia Trung Quốc, kế thừa triết lý của đức Khổng Phu Tử, sống vào thế kỷ thứ 3 và thứ 4 trước Công nguyên.

[3] Vì độc tài hoặc vi phạm nhân quyền trắng trợn chẳng hạn.[ 4] The Economist cho rằng quan niệm này không sát thực tế nếu không muốn nói là nguy hiểm.

[5] Chẳng hạn như bán đổ công khố phiếu của Hoa Kỳ ra thị trường.

[6] Ðồng yuan thấp, phẩm vật và hàng hóa Hoa Kỳ nhập cảng vào Trung Quốc với giá bằng đồng yuan cao nên khó bán.

[7] The Economist lấy tâm lý của Mao Trạch Ðông đối với cuộc thăm viếng Bắc Kinh của Tổng Thống Nixon năm 1972 để áp dụng vào cuộc thăm viếng này. Nhưng vị thế hai nước đã rất khác xa nhau trong hai trường hợp. Tuy Hoa Kỳ vẫn còn ưu thế đối với Trung Quốc nhưng lần này Tổng Thống Obama lên đường trong một tư thế tương đối yếu hơn lúc Tổng Thống Nixon đi Trung Quốc nhiều.

[8] Ðối với tương lai của sự sống trên địa cầu để dân chúng hợp tác bảo vệ kế hoạch.

[9] Nói dễ hơn làm. Tháng Mười Một, năm 2007 khi Tổng Thống Bush đến Hà Nội tham dự hội nghị APEC ông Bush đã không dám gặp các nhà đấu tranh dân chủ Việt Nam đang bị canh gác và chận cửa ngày đêm thì cũng khó mà Tổng Thống Obama gặp các nhà đấu tranh Trung Quốc đang bị chính quyền Trung Quốc giam giữ.


(Bài này được trích đăng từ thongluan.org)
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

Khôi Nguyên Nhân Quyền Việt Nam 2009

Image
Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy.

Image
Mục sư Nguyễn Công Chính với gương mặt bị công an Việt Nam hành hung.

WESTMINSTER (NV) Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam (MLNQVN) công bố danh tánh hai người được Mạng Lưới chọn trao giải Khôi Nguyên Nhân Quyền Việt Nam 2009. Ðó là Mục Sư Nguyễn Công Chính và nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, được bầu chọn từ danh sách 12 ứng viên do 12 tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước đề cử.

Theo thông cáo báo chí của MLNQVN, Mục Sư Nguyễn Công Chính, 43 tuổi, sinh quán tại Thừa Thiên-Huế, hiện thường trú tại Pleiku-Gia Lai, là phó hội trưởng Giáo hội Tin Lành Mennonite Việt Nam, chủ tịch Hiệp Hội Thông Công Tin Lành Các Dân Tộc Việt Nam, quản nhiệm cộng đồng Tin Lành Mennonite Tây Nguyên Việt Nam. Ông là thành viên Khối 8406, là hội viên Hội Ái Hữu Tù Nhân Tôn Giáo và Chính Trị. Ông tham gia đấu tranh cho nhân quyền và tự do tôn giáo từ năm 2001 tới nay.

Thông cáo cho biết, Mục Sư Nguyễn Công Chính sống gần gũi với cộng đồng các sắc tộc từ khi 14 tuổi cho đến nay, mối quan hệ của ông vối cộng đồng các sắc tộc gắn bó mật thiết như trong một gia đình, nên khi anh em đồng bào tôn giáo các sắc tộc bị đàn áp bách hại thì Mục Sư Chính là người luôn đứng ra bênh vực giúp đỡ, bất kể bản thân và gia đình luôn bị công an trù dập trả thù bằng mọi cách.

Mục Sư Nguyễn Công Chính đã trải qua 298 lần bị công an cưỡng ép thẩm vấn, 19 lần bị công an tra tấn đánh đập dã man, 86 lần bị trục xuất ra khỏi chỗ ở, 2 lần bị chính quyền cưỡng chế ủi sập nhà nguyện và tịch thu tài sản, 4 lần bị mưu sát, 6 lần bị bắt giam. Hiện nay gia đình ông bị nhà cầm quyền CSVN cô lập, mất tất cả các quyền tự do của công dân, và đã bị công an đóng chốt canh gác cô lập kiểm tra liên tục sách nhiễu trong nhiều năm.


Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, năm nay 49 tuổi, từng làm nghề giáo (1983-1992), phóng viên, nhà văn với 15 tác phẩm đã xuất bản trong nước và 6 tác phẩm in ở hải ngoại. Bà đã can đảm phản kháng chế độ, tranh đấu cho nhân quyền của dân oan, viết rất nhiều ký sự tố giác tội ác của nhà cầm quyền CSVN. Bà đã liên tục bị nhà nước sách nhiễu đe dọa trong nhiều năm.

Ngày 21 Tháng Tư, 2007, bà bị công an bắt khẩn cấp ở Hà Nội vì tội “tuyên truyền chống nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.” Bà bị giam cho đến khi đưa ra tòa án Nhân Dân Hà Nội xét xử kín, không có cả thân nhân tham dự, với bản án 9 tháng 10 ngày tù trong lúc bà đang bị bệnh tiểu đường, lao và thấp khớp... Bà được phóng thích ngày 31 Tháng Giêng, 2008, nhưng vẫn bị công an và dân phòng đóng chốt canh chừng, quấy nhiễu, và đe dọa bằng nhiều hình thức bẩn thỉu khác nhau, đặc biệt sau khi bà xuất bản hai tác phẩm tại hải ngoại và viết bài về dân oan Thái Hà, Hưng Yên. Mới đây, ngày 8 Tháng Mười, 2009 công an chìm đã hành hung bà và chồng tại nhà bà, nhưng sau đó lại bắt hai vợ chồng bà, vu khống và khởi tố về hành vi “cố ý gây thương tích” cho người khác.

Bà từng được tổ chức Human Rights Watch tặng Giải Hellmann/Hammett và được mời làm hội viên Hội Văn Bút Quốc Tế 2007.

Giải Nhân Quyền Việt Nam do MLNQVN thành lập từ năm 2002 nhằm tuyên dương thành tích tranh đấu bất bạo động của những người đã chấp nhận hy sinh, kể cả mạng sống của chính mình, cho lý tưởng nhân quyền và dân quyền của nhân dân Việt Nam. Ngoài ra, Giải Nhân Quyền Việt Nam còn nhằm bày tỏ sự liên đới, hậu thuẫn và quyết tâm của người Việt khắp nơi trong nỗ lực đấu tranh giành lại quyền làm người.

Từ ngày thành lập đến nay, MLNQVN đã tuyên dương và trao tặng Giải Nhân Quyền Việt Nam cho những nhà đấu tranh hàng đầu cho nhân quyền tại Việt Nam sau đây: Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ, Linh Mục Nguyễn Văn Lý (2002); Ký giả Nguyễn Vũ Bình, Luật Sư Lê Chí Quang, Bác Sĩ Phạm Hồng Sơn, Ký giả Nguyễn Khắc Toàn (2003); Cựu Ðại Tá Phạm Quế Dương, Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế (2004); cụ Lê Quang Liêm, Linh Mục Phan Văn Lợi, Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ (2005); Kỹ Sư Ðỗ Nam Hải, Giáo Sư Nguyễn Chính Kết (2006); Giáo Sư Hoàng Minh Chính, Luật Sư Nguyễn Văn Ðài và Luật Sư Lê Thị Công Nhân (2007); Thượng Tọa Thích Thiện Minh, nhà báo tự do Nguyễn Văn Hải (bút hiệu là Hoàng Hải và Ðiếu Cày), và Bán Nguyệt San Tự Do Ngôn Luận (2008).

Giải Nhân Quyền Việt Nam gồm một bản tuyên dương cho mỗi khôi nguyên và tổng số hiện kim $6,000 chia đều cho các vị trúng giải. Lễ trao Giải Nhân Quyền Việt Nam năm nay sẽ được tổ chức tại Washington Court Hotel, 525 New Jersey Ave. NW, Washington, DC 2001 vào lúc 2 giờ chiều ngày 10 Tháng Mười Hai, 2009.
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Sinh vì kinh tế, diệt cũng vì kinh tế

Ngô Nhân Dụng
Chủ nghĩa Cộng Sản ra đời từ những phân tích về kinh tế tư bản của Karl Marx. Sự sụp đổ của các chế độ cộng sản ở Âu Châu xóa tan giấc mộng hão huyền do Marx gợi ra và được Lenin cùng Stalin xây dựng, cũng bắt nguồn từ lý do kinh tế. Khi các người theo chủ nghĩa cộng sản chỉ tìm cách thủ tiêu lẫn nhau thì chủ nghĩa đó vẫn còn sinh khí. Khi các đồng chí quay ra hối lộ, mua chuộc nhau bằng tiền mặt, thì tòa lâu đài trên cát đã sụp ngay từ nền tảng.

Cuộc chạy đua giữa hai khối tư bản và cộng sản chấm dứt vào năm 1989 không phải vì các tư tưởng tự do đã chinh phục được mọi người và thắng ý thức hệ Mác xít. Cũng không phải vì hệ thống chính trị dân chủ đã đánh bại hệ thống độc tài đảng trị. Thế thắng bại sau cùng được quyết định trong cuộc chạy đua giữa hai lối tổ chức kinh tế khác nhau.

Cuối cùng thì mô hình tổ chức xã hội từ trên xuống dưới kiểm soát toàn dân đủ mọi mặt, với nền kinh tế hoạch định tập trung, đã chịu thua cách tổ chức xã hội theo lối tự do dân chủ với quyền lực phân phối tản mạn, cân bằng và kiểm soát lẫn nhau, và nền kinh tế thị trường năng động.

Ðặc tính quan trọng nhất là trong thế giới gọi là tự do, hoặc gọi là tư bản, quyền quyết định sau cùng là từ dưới lên trên. Hàng triệu người tiêu thụ, hàng triệu các cử tri vô danh có khả năng ảnh hưởng trên những người nắm quyền cao nhất trong các xí nghiệp và các guồng máy nhà nước. Họ được bảo đảm có khả năng và cơ hội sự dụng quyền gây ảnh hưởng này, trong việc mua bán và hành động bỏ phiếu. Có người gọi mô thức đó là “xã hội mở” (open society). Có người gọi đó là một hệ thống bảo đảm sự “tham dự đồng đều” (equal access). Chính nhờ tính chất cởi mở và mọi người tương đối có cơ hội bằng nhau đó cho nên kinh tế ở các nước tư bản đã phát triển, trong khi các nước cộng sản thì trì trệ.

Nếu hệ thống kinh tế chỉ huy và tập quyền có khả năng phát triển lâu dài thì chắc chế độ độc tài đảng trị vẫn còn tồn tại rất lâu. Nikita Kruschev tin vào khả năng đó khi ông đe dọa năm 1961 rằng, “Chúng tôi sẽ chôn vùi các anh!” Khi Liên Xô đưa tiền nuôi các đảng cộng sản đang thành hình, vũ trang các phong trào giải phóng khắp thế giới, viện trợ cho các nước chư hầu, và khi họ phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên, tất cả đều là cảnh phô trương sức mạnh kinh tế của hệ thống cộng sản. Nhưng cuối cùng, niềm tin đó bị sự thật kinh tế phủ nhận.

Bởi vì, trái với hình ảnh “như Marx nói hàng hóa phải nhiều như nước chảy ra,” kinh tế các nước cộng sản ngày càng suy yếu vì sau khi các nhà máy và đồng ruộng được tập thể hóa, những người lao động, người nông dân không còn động cơ tự nhiên để tìm cách sử dụng tài nguyên theo lối có hiệu quả cao nhất nữa. Bây giờ, nhiều người cộng sản ở nước ta giải thích rằng hệ thống chỉ huy tập trung của họ “trái với các quy luật kinh tế.” Thực ra, chỉ nhìn qua cũng thấy là nó trái với bản tính của con người.

Trong phần kết luận cuốn hồi ký của Ðoàn Duy Thành, ông vẫn bám lấy niềm tin tưởng vào chủ nghĩa, vẫn hy vọng có một phép lạ nào đó giúp cho giấc mộng cộng sản có ngày thành sự thật. Ông viết, “Bác Hồ dạy muốn có chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa.” Ông khen cái khẩu hiệu đó là “chí lý” đồng thời lại nhìn ra, “nhưng khó lắm.” Ông chỉ không có can đảm thú nhận rằng tất cả chủ nghĩa đó chỉ là những ảo tưởng vì con người, loài người không thể sống như vậy. Một nền kinh tế tập thể hóa có thể đạt được những thành công trong bước đầu vì cưỡng bách tích lũy tài nguyên để sử dụng. Nhưng tình trạng đó không thể kéo dài vì năng suất của cả hệ thống ngày càng giảm, một quy luật kinh tế mà chính Karl Marx đã nhìn thấy trong kinh tế tư bản. Cán bộ ở trung ương có thể hoạch định bằng các con số nhưng không thể bảo các công nhân làm việc để cải thiện sản phẩm. Họ cũng không thể đoán trước sẽ phải sản xuất cái gì phù hợp với nhu cầu của hàng triệu con người, không biết làm cách nào để nâng cao phẩm chất và sản xuất với chi phí ít tốn kém nhất. Chỉ có hệ thống thị trường tự do và phân tản mới có cơ hội thí nghiệm các sản phẩm mới, các phương pháp chế tạo mới, và dò dẫm tìm ra sở thích của hàng triệu người tiêu thụ để làm thỏa mãn họ. Chỉ trong hệ thống thị trường tự do mới có các doanh nhân chấp nhận rủi ro làm các cuộc thí nghiệm như vậy. Hệ thống kinh tế chỉ huy không chấp nhận rủi ro, mà cũng không quan tâm đến sở thích của mọi người. Có thể hàng hóa làm ra “như nước chảy” nhưng không ai muốn mua, không muốn sử dụng.

Yegor Gaidar, một nhà kinh tế đã giữ các chức vụ bộ trưởng và thủ tướng ở Nga sau khi chế độ xô viết sụp đổ đã giải thích sự sụp đổ của chế độ với hai nguyên nhân chính: Lúa và Dầu lửa. Ông viết cuốn sách với nhan đề “Sự sụp đổ của một đế quốc” sau khi tìm trong văn khố những tài liệu cho thấy sự tan rã của đế quốc Liên Xô là do bế tắc kinh tế. Giới lãnh đạo Liên Xô phải bỏ mặc cho các nước Ðông Âu tự giải thoát và những người làm đảo chính Tháng Tám năm 1991 sau cùng đành chịu quy hàng, tất cả đều vì kinh tế không lối thoát.

Trước hết là vấn đề thực phẩm. Trước cuộc Ðại Chiến Thứ Nhất, Nga là nước xuất cảng lúa mì. Chính sách tập thể hóa lúc đầu nâng cao sản xuất nhưng sau đó đã giảm dần so với dân số các thành phố tăng lên. Từ năm 1963 Kruschev đã phải ngưng bán rẻ thóc lúa cho các nước chư hầu, vì chính Liên Xô hàng năm phải nhập cảng thực phẩm. Nhu cầu nhập cảng ngày càng tăng lên mà ngoại tệ mạnh không có vì hàng chế hóa phẩm chất thấp quá không thể xuất cảng được, trừ khi đem trao đổi với các nước chư hầu. Một điều may mắn cho chế độ là nước Nga có một tài nguyên quý giá là dầu lửa. Từ giữa thập niên 1970 giá dầu lửa trên thế giới tăng bốn lần, trở thành nguồn ngoại tệ mạnh giúp Nga mua thực phẩm. Cũng giống như ở các nước chỉ sống nhờ xuất cảng nguyên liệu, giới lãnh đạo Nga ỷ lại vào nguồn tài nguyên đó và không cần nghĩ đến việc cải thiện hệ thống sản xuất ngày càng trì trệ. Nhưng dầu lửa là một món hàng giá cả thất thường, tăng lên tới 140 đô la một thùng rồi lại xuống có khi chỉ còn 20 đô la. Năm 1985, khi Á Rập Sau Ði quyết định bơm dầu lên không hạn chế, giá dầu tụt xuống khiến mỗi năm Nga thiệt mất 20 tỷ Mỹ kim, ngoại tệ sở hữu dần dần đi tới khánh kiệt, phải vay các ngân hàng Tây phương càng ngày càng nhiều. Ðồng thời, Nga bắt đầu bắt các nước chư hầu ở Ðông Âu khi mua dầu phải trả theo giá thị trường quốc tế. Mối liên hệ kinh tế quan trọng nhất trong đế quốc Liên Xô bị cắt đứt.

Năm 1989, Mikhail Gorbachev được ngân hàng Deutsche Bank báo cho biết không thể cho vay nữa vì kinh tế Nga hầu như tê liệt. Chỉ còn một cách là hỏi trực tiếp các chính phủ Tây phương để họ giúp bảo đảm các món nợ của ngân hàng nước họ. Nếu không vay được 100 tỷ Mỹ kim thì nước Nga, nhất là ở các thành phố sẽ có nạn đói.

Biết tình trạng suy yếu kinh tế ở Nga cho nên giới lãnh đạo cộng sản ở Ba Lan, rồi đến Ðông Ðức và Tiệp Khắc đã thay đổi, không còn cương quyết đàn áp dân chúng như cũ nữa. Họ biết rằng Hồng Quân Nga không thể đến cứu họ được khi dân nổi dậy như ở Hungary năm 1956, ở Tiệp năm 1968. Liên Xô không thể đem thiết giáp qua “dẹp loạn” ở các nước chư hầu, vì sợ một hành động như vậy sẽ chấm dứt luôn hy vọng vay được 100 tỷ Mỹ kim để nhập cảng lúa gạo.

Trong tình thế đó, Phong Trào Công Ðoàn Ðoàn Kết ở Ba Lan đã vùng lên, giới trí thức ở Tiệp Khắc công khai đòi dân chủ tự do, người Ðông Ðức chạy tị nạn sang phía Tây ào ạt. Và trong Tháng Mười 1989, khi hàng trăm ngàn dân chúng thành phố Leibzig từ nhà thờ Thánh Nikolai kéo ra xuống đường, chính đám công an xung phong đã buông súng, không bắn vào người dân nữa. Khi Chủ Tịch Gorbachev gặp Tổng Thống Bush ở Malta Tháng Năm, năm 1989, một đề tài chính là vay nợ. Sáu tháng sau, không còn một chế độ cộng sản nào ở Ðông Âu nữa.

Có thể nói, việc các ngân hàng như Deutsche Bank từ chối không cho chính phủ Liên Xô vay đã góp phần giải phóng các dân tộc ở Ðông Âu khỏi ách cộng sản.

Khi tiên đoán một xã hội mới sẽ ra đời sau khi giới vô sản chiếm chính quyền, Karl Marx dùng một thước đo để quả quyết tính chất ưu việt của chế độ mới, là “năng suất lao động” sẽ lên cao nhờ các công nhân làm chủ tập thể các phương tiện sản xuất. Cộng sản sẽ chôn vùi Tư bản chính vì phép mầu“năng suất lao động.” Nhưng Marx chỉ quan tâm đến quyền sở hữu mà nói gì về phương pháp quản trị các phương tiện sản xuất. Ông sống trong một thế giới kinh tế trừu tượng. Trong cả cuộc đời, ông không bén mảng đến các nhà máy, càng không biết gì về phương pháp quản trị sản xuất. Môn quản trị học đến thế kỷ sau mới ra đời, sau những thí nghiệm của Henry Ford. Cho nên Marx không quan tâm nghiên cứu xem làm như thế nào để tăng “năng suất lao động.” Các lãnh tụ cộng sản từ Lenin đến Fidel Castro cũng đều như vậy. Họ nghĩ rằng cứ bãi bỏ quyền sở hữu tư nhân, thay thế bằng sở hữu công cộng là xong hết.

Những con người lơ mơ không tưởng đó chỉ gỏi nghề cướp chính quyền và kiểm soát chặt chẽ người dân bằng bạo lực và dối trá. Cuối cùng, cả hệ thống cộng sản đã sụp đổ vì lối làm kinh tế đó không chạy.
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

Những thiên đường mù tan rã

Ngô Nhân Dụng
Trước đây 20 năm, năm 1989, những chế độ cộng sản do Lênin và Stalin dựng lên đã nhanh chóng sụp đổ khắp Âu Châu, như những lâu đài do trẻ em đắp lên bằng cát trên bãi biển bị sóng trào xóa mất. Nhưng hai mươi năm sau khi bức tường Berlin bị đập vỡ, khi nhìn lại, điều làm chúng ta ngạc nhiên không phải là tại sao chủ nghĩa Cộng Sản đã bị xóa bỏ nhanh đến thế. Ðáng ngạc nhiên hơn nữa là tại sao các chế độ Cộng Sản lại sống được lâu như vậy, hơn 70 năm ở Nga và 40 năm ở các nước Ðông Âu? Và sau khi loài người biết rõ sự thật, chúng ta còn thắc mắc tại sao những ý nghĩ không tưởng đến mức điên rồ như vậy lại thu hút được hàng trăm triệu người tin theo trong hơn một thế kỷ để gây tội tình khổ ải cho hàng tỷ người khác, trong đó có hàng trăm triệu người bị chết oan chỉ vì những chính sách kinh tế không tưởng? Ðó là những câu hỏi đáng suy nghĩ trong tuần lễ đầu tháng Mười Một này. Ðặc biệt là cho những người nạn nhân của chủ nghĩa và chế độ cộng sản. Chúng ta sẽ bắt đầu bàn về câu hỏi thứ hai.

Năm 1975 khi cộng sản chiếm miền Nam Việt Nam, các cán bộ quản giáo lên mặt giảng về “chủ nghĩa Mác Lê nin vĩ đại.” Những người miền Nam phải bó tay, buông súng vì hết đạn năm đó, không ai có thể ngờ rằng chưa đầy 15 năm sau chính họ mới là kẻ cuối cùng lại chiến thắng trên mặt trận tư tưởng; còn những kẻ huênh hoang về những “dòng thác cách mạng” mới thất bại ê chề! Cái chủ nghĩa “bách chiến bách thắng” của họ hiện nguyên hình chỉ là những ảo tưởng do các lãnh tụ độc tài vẽ vời, lợi dụng để nô lệ hóa các đảng viên và dân chúng. Một nửa loài bị bịt mắt, buộc phải sống trong “những thiên đường mù,” như một ẩn dụ của Dương Thu Hương, cho tới khi những thiên đường đó tự tan ra thành mây khói.

Một bạn trẻ người Long Xuyên năm 1978 sắp đến tuổi phải đi bộ đội để được đẩy sang chết ở chiến trường Campuchia, đã được cha mẹ cho đi vượt biên. Vượt biển bất thành, anh bị một cán bộ trong tỉnh, tuổi vào hàng cha chú mắng một trận. Ông cán bộ dọa: “Anh đừng tưởng anh chạy sang Thái Lan, sang Mỹ là thoát nhé! Bánh xe Cách mạng sẽ tiến tới Thái Lan, sẽ giải phóng nước Mỹ, lúc đó anh chạy đi đâu?

Hai chục năm sau, cậu thanh niên đó đã vượt biên lại có dịp trở về nước. Ông chú cấp ủy cũ nay đã quên hết cái bánh xe lịch sử cũ vì rõ ràng nó đang quay ngược chiều, ông chỉ tìm cách tranh thủ vơ vét để tự mình tư bản hóa!

Những người thực sự theo chủ nghĩa Mác xít, vì đọc và nghiên cứu các sách vở của Karl Marx, là những nhà nhà trí thức mơ mộng và những thanh niên trẻ người non dạ. Những người như Tạ Thu Thâu, Trương Tửu, Trần Ðức Thảo ở nước ta thành thật tin vào hệ thống tư tưởng do Karl Marx dựng lên, mà họ biết qua sách vở. Sự thật là chỉ vì họ yêu giấc mơ lớn của Marx, giải phóng giai cấp vô sản và cả loài người, cho nên tin tưởng dễ dàng vào các lý luận của ông ta. Tạ Thu Thâu đã bị bọn cộng sản đệ tam đồ đệ của Stalin hạ sát ngay năm 1946. Còn Trương Tửu và Trần Ðức Thảo mỗi người ngậm một nỗi đau khổ suốt đời, chứng kiến “bọn tiếm vị” nhân danh chủ nghĩa Marx nhưng trong hành động thì phản bội ông thầy.

Các lãnh tụ cộng sản thắng thế chỉ nhờ vào các thủ đoạn gian hùng do Stalin huấn luyện. Chính bọn họ không hề nghiên cứu Karl Marx bao giờ. Ông Hồ Chí Minh đã nói rằng ông không có một tư tưởng nào ngoài tư tưởng Mác Lênin. Nhưng ông cũng chỉ tiếp nhận được những cặn bã của chủ nghĩa Mác Lênin, qua những sách tóm tắt giáo khoa dậy cán bộ ký tên Stalin, mà ông Hồ đã cặm cụi dịch sang tiếng Việt khi trốn trong hang Pắc Bó. Phần lớn những người khác theo cộng sản chỉ vì mê say những khẩu hiệu tuyên truyền của Lênin và Stalin và choáng váng trước sự thành công của họ trong việc cướp chính quyền và củng cố chế độ độc tài đảng trị.

Nếu nghiên cứu và đọc kỹ Karl Marx, thì người hơi tinh ý một chút cũng phải nhận ra ngay là chính “Cuộc cách mạng Tháng Mười” đã chứng tỏ những điều Marx tiên đoán đều sai hết. Và cuộc toàn thắng của Mao Trạch Ðông ở nước Trung Hoa kinh tế lạc hậu lại càng cho thấy tư tưởng của Marx vừa lầm lẫn vừa vô vị trong việc giải thích lịch sử.

Karl Marx đoán rằng sau khi giới tư bản “làm xong nhiệm vụ lịch sử” công nghiêp hóa đời sống kinh tế rồi, những mâu thuẫn nội tại sẽ làm cho nó sụp đổ. Giai cấp vô sản trưởng thành sẽ đứng lên làm cách mạng để tiến tới Chủ nghĩa Xã Hội. Trong thực tế, các chế độ mang danh “Mác xít” đã được thành lập ở những nước hoàn toàn ngoài dự đoán của Marx. Nước Nga năm 1917 và Trung Quốc năm 1949 vẫn là những xã hội nông nghiệp chưa được kỹ nghệ hóa đến mức, giai cấp tư bản chưa thực sự thành hình và tại cả hai nước không hề có những giai cấp vô sản giác ngộ như Marx mô tả.

Tại Việt Nam đã có người nhìn thấy thực trạng xã hội như vậy. Từ năm 1940 Phan Bội Châu đã từng nhấn mạnh rằng ở nước ta lúc đó không hề có giới tư bản, cũng không có giai cấp vô sản. Vì thế cụ Phan khuyên người mình không nên theo chủ nghĩa cộng sản. Cụ Phan chỉ tìm hiểu chủ nghĩa “Mã Khắc Tư” qua các sách chữ Hán, nhưng cụ có đủ óc tỉnh táo và lòng mẫn cảm để nhìn thấy cái chủ nghĩa cộng sản đó không phù hợp với nhu cầu cách mạng của dân tộc Việt Nam.

Chỉ những người mù lòa vì mơ mộng, vì không tưởng, mới chạy theo chủ nghĩa đó. Những người cộng sản đầu tiên ở nước ta đã được khích lệ thêm khi họ nhìn thấy cuộc đảo chính Bôn Sơ Vích ở Nga thành công. Họ không biết rằng chính việc xây dựng chế độ cộng sản ở nước Nga đã là một biến cố phủ nhận tư tưởng Karl Marx rồi. Nhưng bài học quan trọng nhất đối với họ ở Mát Cơ Va là được Stalin nuôi, dạy, huấn luyện các kỹ thuật tuyên truyền, kỹ thuật cướp chính quyền và củng cố quyền lực bằng một hệ thống kiểm soát các đảng viên bằng chủ nghĩa lý lịch, kiểm soát mọi người dân một cách chặt chẽ qua chế độ tem phiếu, hộ khẩu. Năm 1945 ở nước ta những người cộng sản “quốc tế” đã thắng thế các người theo chủ nghĩa dân tộc “quốc gia,” chỉ vì họ nắm vững các thủ đoạn đó. Và năm 1975 cũng giống như vậy.

Phần lớn những cán bộ cộng sản Việt Nam về, kể cả những người đã leo lên hàng lãnh đạo, đều học chủ nghĩa cộng sản theo lối đọc truyền đơn, chủ yếu là học những khẩu hiệu của Stalin do Hồ Chí Minh đem về. Họ học Mác Xít theo lối các nhà Nho thời xưa học thuộc các khẩu hiệu “tu, tề, trị, bình,” hoặc “tam cương, ngũ thường,” vân vân. Rồi cứ như thế, cứ học thuộc lòng là đủ, ai thuộc nhiều khẩu hiệu là giỏi.

Trong hồi ký của Ðoàn Duy Thành, ông kể một cuộc tranh luận giữa giới lãnh đạo cao nhất trong đảng, Ðỗ Mười bị mọi người vặn cho đuối lý, không biết nói gì hơn, chỉ khẳng định: “Có như thế mới là Bôn Sơ Vích!” Mọi người không ai hiểu ông ta nói gì cả, nhưng nghe khẩu hiệu đó rồi thì đều im lặng cả!

Các lãnh tụ và đảng viên đều nhắm mắt hô khẩu hiệu. Họ tập thói quen nhắc lại các khẩu hiệu để phát biểu; lâu ngày quen, dùng việc hô khẩu hiệu thay thế cho hành động suy nghĩ; từ đó nhắm mắt tin vào đảng, vào lãnh tụ là những người gần như chiếm độc quyền đặt khẩu hiệu mới. Hồ Chí Minh chỉ cần nói, “Ðồng chí Stalin nói như thế! không bao giờ nhầm cả,” là tất cả hết thắc mắc! Giống hệt các hủ nho đời xưa hô “Ðức Khổng Tử đã nói” để bịt miệng thiên hạ. Với khí cụ đó, thằng ngồi trên bắt nạt kẻ nằm dưới, chỉ dùng các khẩu hiệu. Lên lớp nhau, chỉ cần múa mép khoe mấy thuật ngữ, mấy danh từ là đủ chứng tỏ mình thông thái, đáng làm thầy và sai khiến thiên hạ. Lối ăn nói ba hoa đó ngay cả khi thay đổi tư bản hóa cũng vẫn còn!

Ông Ðoàn Duy Thành từng làm bí thư Hải Phòng, đã leo lên đến chức phó thủ tướng và được Lê Duẩn để ý chuẩn bị sẽ lên làm tổng bí thư, chẳng may bị Ðỗ Mười phá đám đành chịu thua. Khi đã vỡ mộng làm lớn rồi, ông Thành vẫn còn trung thành với đảng mặc dù chính ông đã nhận ra sự trống rỗng của cả chủ nghĩa lẫn chế độ cộng sản.

Cũng như hầu hết các đảng viên cộng sản khác, ông Thành không biết “chủ nghĩa xã hội” nó là thế nào bởi vì chỉ biết qua các khẩu hiệu mà thôi. Ông thú nhận sự hiểu biết của mình về Mác xít, tóm tắt trong một câu: “Chỉ biết là phải làm cho mọi người sung sướng!” Muốn cụ thể hơn, ông giải thích: “...hoặc như Marx nói hàng hóa phải nhiều như nước chảy ra, mới tiến lên cộng sản được.” Tin tưởng vào một chủ nghĩa như vậy thì chẳng khác gì một tín đồ của một tôn giáo tin vào cõi thiên đường, cực lạc. Không thể gọi là một lý thuyết, một chủ nghĩa được, nhất là lại tự xưng là một chủ nghĩa khoa học!

Bởi vì chỉ cần nhắm mắt tin mà không được thắc mắc, không đảng viên nào dám hỏi: “Làm cách nào để hàng hóa phải nhiều như nước chảy?” Marx không nói vì Marx không nghĩ đến vấn đề đó. Mà cả tập đoàn lãnh đạo cộng sản trong gần một trăm năm cũng không biết làm cách nào! Khi kinh tế các nước cộng sản sụp đổ vì trì trệ quá lâu, các lãnh tụ chỉ còn các tìm đường xoay trở lấy, được đâu hay đó.

Vì không thể dùng các khẩu hiệu của Stalin mà làm ra cơm gạo được nữa! Ông Ðoàn Duy Thành lấy làm hãnh diện khoe ông là một người đầu tiên áp dụng phương pháp “khoán sản trong nông nghiệp” ở nước ta, khi Ðặng Tiểu Bình cũng thay đổi bên Trung Quốc. Nhưng dù muốn áp dụng phương pháp đó ở địa phương mình, ông Thành cũng không dám làm, vì biết Trường Chinh là người “chống khoán sản” mạnh nhất, sau cuộc thí nghiệm ở Vĩnh Phú khiến một bí thư tỉnh bị trù dập.

Trong những năm đầu thập niên 1980 miền Bắc bị nạn đói, nhiều nông dân ở Thanh Hóa đã chết đói. Nhưng lập trường của Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản vẫn kiên cố giữ vững khẩu hiệu “tập thể hóa,” ai nói khác là mất hết địa vị, quyền lợi bao năm mới giành được. Ðảng không chấp nhận cho nông dân được tự do canh tác và hưởng các thành quả do sức lao động của mình tạo ra. Ðoàn Duy Thành rất đau đớn khi viết: “Ðói thì đói, nhưng chỉ sợ mất lập trường, mất chủ nghĩa xã hội...” Ông thú nhận tiếp: “mà chủ nghĩa xã hội thì có ai mà hình dung ra được cụ thể như thế nào?”

Ðó là nỗi đau lòng của một cán bộ cộng sản sống trong thiên đường mù, hết lòng tin vào chủ nghĩa dù không biết nó đưa mình đi đâu! Dù muốn giữ lòng tin của một tín đồ, nhưng Ðoàn Duy Thành vẫn phải nhìn ra sự thật, cảnh đau lòng mà đảng Cộng Sản đã gây ra cho nước ta: “Một nước nông nghiệp lại thiếu lương thực, đành chịu chết đói, chỉ vì sợ mất chủ nghĩa xã hội, (sợ) phá vỡ hợp tác xã!”

Tấn thảm kịch của một nửa nhân loại, trong đó có đồng bào Việt Nam chúng ta, là do những kẻ đi xây thiên đường mù gây ra. Năm 1989 những thành trì của chủ nghĩa cộng sản ở Âu Châu đã sụp đổ khi mọi người sống trong đó đều tỉnh mộng, tự mở mắt ra và tự giải thoát lấy mình. Chưa bao giờ một hệ thống tư tưởng và tổ chức chính trị bị vỡ tan tành mà không một ai thương tiếc, không một ai thắp cho một nén hương như vậy.

Chỉ tội nghiệp cho Karl Marx! Ví thử như chủ nghĩa của ông không bao giờ được đem ra sử dụng làm lợi khí tuyên truyền và củng cố chế độ cộng sản thì tới giờ này chắc ông vẫn được lịch sử coi là một nhà tư tưởng lớn không may mắn. Năm 1989 lịch sử nhân loại thay đổi, những điều ông suy nghĩ, ấp ủ suốt một đời cuối cùng hiện nguyên hình chỉ là những giấc mơ hão huyền vẽ ra bằng ngụy biện. Ông mơ mộng chỉ vì mang thiện chí của một người trí thức ước mong trở thành một “thánh tiên tri” mới. Tiếc là đến giờ này ông vẫn chưa được nhắm mắt, vì còn những nhóm lãnh tụ độc tài ở Trung Hoa, Bắc Hàn, Cuba và Việt Nam, vẫn lợi dụng tên của ông để củng cố quyền hành và lợi lộc của họ chủ nghĩa đó chỉ còn là những khẩu hiệu trống rỗng để tiếp tục thống trị và bóc lột những người khác.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 8 guests