Chân Dung Người Lính VNCH

Quân sử, những bài viết, ký sự, ...
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Trung Sĩ VŨ TIẾN QUANG
Cái Bóng Của
HOÀI VĂN VƯƠNG TRẦN QUỐC TOẢN


Truyện Người Lính Nhỏ Mà Chính Khí Lớn
VŨ TIẾN QUANG


(Trích trong bộ Lịch Sử Thiếu Sinh Quân Việt Nam)

Vũ Tiến Quang sinh ngày 10 tháng 9 năm 1956 tại Kiên Hưng, tỉnh Chương Thiện. Thân phụ là hạ sĩ địa phương quân Vũ Tiến Đức. Ngày 20 tháng 3 năm 1961, trong một cuộc hành quân an ninh của quận, Hạ Sĩ Đức bị trúng đạn tử thương khi tuổi mới 25. Ông để lại bà vợ trẻ với hai con. Con trai lớn, Vũ Tiến Quang 5 tuổi. Con gái tên Vũ thị Quỳnh Chi mới tròn một năm. Vì có học, lại là quả phụ tử sĩ, bà Đức được thu dụng làm việc tại Chương Thiện, với nhiệm vụ khiêm tốn là thư ký tòa hành chánh. Nhờ đồng lương thư ký, thêm vào tiền tử tuất cô nhi, quả phụ, nên đời sống của bà với hai con không đến nỗi thiếu thốn.

Quang học tại trường tiểu học trong tỉnh. Tuy rất thông minh, nhưng Quang chỉ thích đá banh, thể thao hơn là học. Thành ra Quang là một học sinh trung bình trong lớp. Cuối năm 1967, Quang đỗ tiểu học. Nhân đọc báo Chiến Sĩ Cộng Hoà có đăng bài: “Ngôi sao sa trường: Thượng-sĩ-sữa Trần Minh, Thiên Thần U Minh Hạ”, bài báo thuật lại: Minh xuất thân từ trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam. Sau khi ra trường, Minh về phục vụ tại tiểu đoàn Ngạc Thần (tức tiểu đoàn 2 trung đoàn 31, sư đoàn 21 Bộ Binh) mà tiểu đoàn đang đồn trú tại Chương Thiện. Quang nảy ra ý đi tìm người hùng bằng xương bằng thịt. Chú bé lóc cóc 12 tuổi, được Trần Minh ôm hôn, dẫn đi ăn phở, bánh cuốn, rồi thuật cho nghe về cuộc sống vui vẻ tại trường Thiếu Sinh Quân. Quang suýt xoa, ước mơ được vào học trường này. Qua cuộc giao tiếp ban đầu, Minh là một mẫu người anh hùng, trong ước mơ của Quang. Quang nghĩ: “Mình phải như anh Minh”.

Chiều hôm đó Quang thuật cho mẹ nghe cuộc gặp gỡ Trần Minh, rồi xin mẹ nộp đơn cho mình nhập học trường Thiếu Sinh Quân. Bà mẹ Quang không mấy vui vẻ, vì Quang là con một, mà nhập học Thiếu Sinh Quân, rồi sau này trở thành anh hùng như Trần Minh thì…nguy lắm. Bà không đồng ý. Hôm sau bà gặp riêng Trần Minh, khóc thảm thiết xin Minh nói dối Quang rằng, muốn nhập học trường Thiếu Sinh Quân thì cha phải thuộc chủ lực quân, còn cha Quang là địa phương quân thì không được. Minh từ chối:

- Em không muốn nói dối cháu. Cháu là Quốc Gia Nghĩa Tử thì ưu tiên nhập học. Em nghĩ chị nên cho cháu vào trường Thiếu Sinh Quân, thì tương lai của cháu sẽ tốt đẹp hơn ở với gia đình, trong khuôn khổ nhỏ hẹp.

Chiều hôm ấy Quang tìm đến Minh để nghe nói về đời sống trong trường Thiếu Sinh Quân. Đã không giúp bà Đức thì chớ, Minh còn đi cùng Quang tới nhà bà, hướng dẫn bà thủ tục xin cho Quang nhập trường. Thế rồi bà Đức đành phải chiều con. Bà đến phòng 3, tiểu khu Chương Thiện làm thủ tục cho con. Bà gặp may. Trong phòng 3 Tiểu Khu, có Trung Sĩ Nhất Cao Năng Hải, cũng là cựu Thiếu Sinh Quân. Hải lo làm tất cả mọi thủ tục giúp bà. Sợ bà đổi ý, thì mình sẽ mất thằng em dễ thương. Hải lên gặp Thiếu-tá Lê Minh Đảo, Tiểu Khu trưởng trình bầy trường hợp của Quang. Thiếu Tá Đảo soạn một văn thư, đính kèm đơn của bà Đức, xin bộ Tổng Tham Mưu dành ưu tiên cho Quang.

Tháng 8 năm 1968, Quang được giấy gọi nhập học trường Thiếu Sinh Quân, mà không phải thi. Bà Đức thân dẫn con đi Vũng Tàu trình diện. Ngày 2 tháng 9 năm 1969, Quang trở thành một Thiếu Sinh Quân Việt Nam.

Quả thực trường Thiếu Sinh Quân là thiên đường của Quang. Quang có nhiều bạn cùng lứa tuổi, dư thừa chân khí, chạy nhảy vui đùa suốt ngày. Quang thích nhất những giờ huấn luyện tinh thần, những giờ học quân sự. Còn học văn hóa thì Quang lười, học sao đủ trả nợ thầy, không bị phạt là tốt rồi. Quang thích đá banh, và học Anh văn. Trong lớp, môn Anh văn, Quang luôn đứng đầu. Chỉ mới học hết đệ lục, mà Quang đã có thể đọc sách báo bằng tiếng Anh, nói truyện lưu loát với cố vấn Mỹ.

Giáo-sư Việt văn của Quang là thầy Phạm Văn Viết, người mà Quang mượn bóng dáng để thay thế người cha. Có lần thầy Viết giảng đến câu :

“Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh”
(Người ta sinh ra, ai mà không chết.
Cần phải lưu chút lòng son vào thanh sử).

Quang thích hai câu này lắm, luôn miệng ngâm nga, rồi lại viết vào cuốn sổ tay.

Trong giờ học sử, cũng như giờ huấn luyện tinh thần, Quang được giảng chi tiết về các anh hùng : Hoài Văn Vương Trần Quốc Toản, thánh tổ của Thiếu Sinh Quân, giết tươi Toa Đô trong trận Hàm Tử. Quang cực kỳ sùng kính Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng, từ chối công danh, chịu chết cho toàn chính khí. Quang cũng khâm phục Nguyễn Biểu, khi đối diện với quân thù, không sợ hãi, lại còn tỏ ra khinh thường chúng. Ba nhân vật này ảnh hưởng vào Quang rất sâu, rất đậm.

Suốt các niên học từ 1969-1974, mỗi kỳ hè, được phép 2 tháng rưỡi về thăm nhà, cậu bé Thiếu Sinh Quân Vũ Tiến Quang tìm đến các đàn anh trấn đóng tại Chương Thiện để trình diện. Quang được các cựu Thiếu Sinh Quân dẫn đi chơi, cho ăn quà, kể truyện chiến trường cho nghe. Một số ông uống thuốc liều, cho Quang theo ra trận. Quang chiến đấu như một con sư tử. Không ngờ mấy ông anh cưng cậu em út quá, mà gây ra một truyện động trời, đến nỗi bộ Tổng Tham Mưu Việt Nam, bộ Tư-lệnh MACV cũng phải rởn da gà! Sau trở thành huyền thoại. Câu chuyện như thế này:


Hè 1972, mà quân sử Việt Nam gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa, giữa lúc chiến trường toàn quốc sôi động. Bấy giờ Quang đã đỗ chứng chỉ 1 Bộ Binh. Được phép về thăm nhà, được các đàn anh cho ăn, và giảng những kinh nghiệm chiến trường, kinh nghiệm đời. Quang xin các anh cho theo ra trận. Mấy ông cựu Thiếu Sinh Quân, trăm ông như một, ông nào gan cũng to, mật cũng lớn, lại coi trời bằng vung. Yêu cậu em ngoan ngoãn, các ông chiều…cho Quang ra trận. Cuộc hành quân nào mấy ông cũng dẫn Quang theo.

Trong môt cuộc hành quân cấp sư đoàn, đánh vào vùng Hộ Phòng, thuộc Cà Mau. Đơn vị mà Quang theo là trung đội trinh sát của trung đoàn 31. Trung đội trưởng là một thiếu úy cựu Thiếu Sinh Quân. Hôm ấy, thông dịch viên cho cố vấn bị bệnh, Quang lại giỏi tiếng Anh, nên thiếu úy trung đội trưởng biệt phái Quang làm thông dịch viên cho cố vấn là thiếu úy Hummer. Trực thăng vừa đổ quân xuống thì hiệu thính viên của Hummer trúng đạn chết ngay. Lập tức Quang thay thế anh ta. Nghĩa là mọi liên lạc vô tuyến, Hummer ra lệnh cho Quang, rồi Quang nói lại trong máy.

Trung đội tiến vào trong làng thì lọt trận điạ phục kích của trung đoàn chủ lực miền, tên trung đoàn U Minh. Trung đội bị một tiểu đoàn địch bao vây. Vừa giao tranh được mười phút thì Hummer bị thương. Là người can đảm, Hummer bảo Quang đừng báo cáo về Trung-tâm hành quân. Trận chiến kéo dài sang giờ thứ hai thì Hummer lại bị trúng đạn nữa, anh tử trận, thành ra không có ai liên lạc chỉ huy trực thăng võ trang yểm trợ. Kệ, Quang thay Hummer chỉ huy trực thăng võ trang. Vì được học địa hình, đọc bản đồ rất giỏi, Quang cứ tiếp tục ra lệnh cho trực thăng võ trang nã vào phòng tuyến địch, coi như Hummer còn sống. Bấy giờ quân hai bên gần như lẫn vào nhau, chỉ còn khoảng cách 20-30 thước.

Thông thường, tại các quân trường Hoa-kỳ cũng như Việt Nam, dạy rằng khi gọi pháo binh, không quân yểm trợ, thì chỉ xin bắn vào trận địa địch với khoảng cách quân mình 70 đến 100 thước. Nhưng thời điểm 1965-1975, các cựu Thiếu Sinh Quân trong khu 42 chiến thuật khi họp nhau để ăn uống, siết chặt tình thân hữu, đã đưa ra phương pháp táo bạo là xin bắn vào phòng tuyến địch, dù cách mình 20 thước. Quang đã được học phương pháp đó. Quang chỉ huy trực thăng võ trang nã vào trận địch, nhiều rocket (hoả tiễn nhỏ), đạn 155 ly nổ sát quân mình, làm những binh sĩ non gan kinh hoảng. Nhờ vậy, mà trận địch bị tê liệt.

Sau khi được giải vây, mọi người khám phá ra Quang lĩnh tới bẩy viên đạn mà không chết: trên mũ sắt có bốn vết đạn bắn hõm vào; hai viên khác trúng ngực, may nhờ có áo giáp, bằng không thì Quang đã ô-hô ai-tai rồi. Viên thứ bẩy trúng…chim. Viên đạn chỉ xớt qua, bằng không thì Quang thành thái giám.

Trung-tá J.F. Corter, cố vấn trưởng trung đoàn được trung đội trưởng trinh sát báo cáo Hummer tử trận lúc 11 giờ 15. Ông ngạc nhiên hỏi:

- Hummer chết lúc 11.15 giờ, mà tại sao tôi vẫn thấy y chỉ huy trực thăng, báo cáo cho đến lúc 17 giờ?

Vì được học kỹ về tinh thần trách nhiệm, Quang nói rằng mình là người lạm quyền, giả lệnh Hummer, thay Hummer chỉ huy. Quang xin lỗi Corter. Trung-tá J.F. Corter tưởng Quang là lính người lớn, đề nghị gắn huy chương Hoa Kỳ cho Quang. Bấy giờ mới lòi đuôi chuột ra rằng các ông cựu Thiếu Sinh Quân đã uống thuốc liều, cho thằng em sữa ra trận.

Đúng ra theo quân luật, mấy ông anh bị phạt nặng, Quang bị đưa ra tòa vì “Không có tư cách mà lại chỉ huy”. Nhưng các vị sĩ quan trong sư đoàn 21, trung đoàn 31 cũng như cố vấn đều là những người của chiến trường, tính tình phóng khoáng, nên câu truyện bỏ qua. Quang không được gắn huy chương, mà mấy ông anh cũng không bị phạt. Hết hè, Quang trở về trường mang theo kỷ niệm chiến đấu cực đẹp trong đời cậu bé, mà cũng là kỷ niệm đẹp vô cùng của Thiếu Sinh Quân Việt Nam. Câu truyện này trở thành huyền thoại. Huyền thoại này lan truyền mau lẹ khắp năm tỉnh của khu 42 chiến thuật : Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Chương Thiện. Quang trở thành người hùng lý tưởng của những thiếu nữ tuổi 15-17 !

Năm 1974, sau khi đỗ chứng chỉ 2 Bộ Binh, Quang ra trường, mang cấp bậc trung sĩ. Quang nộp đơn xin về sư đoàn 21 Bộ Binh. Quang được toại nguyện. Sư đoàn phân phối Quang về tiểu đoàn Ngạc Thần tức tiểu đoàn 2 trung đoàn 31, tiểu đoàn của Trần Minh sáu năm trước. Thế là giấc mơ 6 năm trước của Quang đã thành sự thực.

Trung đoàn 31 Bộ Binh đóng tại Chương Thiện. Bấy giờ tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Chương Thiện là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, tham mưu trưởng tiểu khu là Thiếu Tá Nguyễn Văn Thời. Cả hai đều là cựu Thiếu Sinh Quân. Đại-tá Cẩn là cựu Thiếu Sinh Quân cao niên nhất vùng Chương Thiện bấy giờ (36 tuổi). Các cựu Thiếu Sinh Quân trong tiểu đoàn 2-31 dẫn Quang đến trình diện anh hai Cẩn. Sau khi anh em gặp nhau, Cẩn đuổi tất các tùy tùng ra ngoài, để anh em tự do xả xú báp.

Cẩn bẹo tai Quang một cái, Quang đau quá nhăn mặt. Cẩn hỏi:

- Ê ! Quang, nghe nói mày lĩnh bẩy viên đạn mà không chết, thì mày thuộc loại mình đồng da sắt. Thế sao tao bẹo tai mày, mà mày cũng đau à?

- Dạ, đạn Việt-cộng thì không đau. Nhưng vuốt anh cấu thì đau.

- Móng tay tao, đâu phải vuốt?

- Dạ, người ta nói anh là cọp U Minh Thượng…Thì vuốt của anh phải sắc lắm.

- Hồi đó suýt chết, thế bây giờ ra trận mày có sợ không?

- Nếu khi ra trận anh sợ thì em mới sợ. Cái lò Thiếu Sinh Quân có bao giờ nặn ra một thằng nhát gan đâu ?

- Thằng này được. Thế mày đã trình diện anh Thời chưa?

- Dạ anh Thời-thẹo không có nhà.

Thiếu Tá Nguyễn Văn Thời, tham mưu trưởng Tiểu-khu, uy quyền biết mấy, thế mà một trung sĩ 18 tuổi dám gọi cái tên húy thời thơ ấu ra, thì quả là một sự phạm thượng ghê gớm. Nhưng cả Thời lẫn Quang cùng là cựu Thiếu Sinh Quân thì lại là một sự thân mật. Sau đó anh em kéo nhau đi ăn trưa. Lớn, bé cười nói ồn ào, như không biết tới những người xung quanh.

Bấy giờ tin Trần Minh đã đền nợ nước tại giới tuyến miền Trung. Sự ra đi của người đàn anh, của người hùng lý tưởng làm Quang buồn không ít. Nhưng huyền thoại về Trần Minh lưu truyền, càng làm chính khí trong người Quang bừng bừng bốc lên.

Tại sư đoàn 21 Bộ Binh, tất cả các hạ sĩ quan cũng như các Thiếu Sinh Quân mới ra trường, thường chỉ được theo hành quân như một khinh binh. Đợi một vài tháng đã quen với chiến trường, rồi mới được chỉ định làm tiểu đội trưởng. Nhưng vừa trình diện, Quang được cử làm trung đội phó ngay, dù hầu hết các tiểu đội trưởng đều ở cấp trung sĩ, trung sĩ nhất, mà những người này đều vui lòng. Họ tuân lệnh Quang răm rắp!

Sáu tháng sau, đầu năm 1975 nhờ chiến công, Quang được thăng trung sĩ nhất, nhưng chưa đủ một năm thâm niên, nên chưa được gửi đi học sĩ quan. Quang trở thành nổi tiếng trong trận đánh ngày 1-2-1975, tại Thới Lai, Cờ Đỏ. Trong ngày hôm ấy, đơn vị của Quang chạm phải tiểu đoàn Tây Đô. Đây là một tiểu đoàn được thành lập từ năm 1945, do các sĩ quan Nhật Bản không muốn về nước, trốn lại Việt Nam…huấn luyện. Quang đã được Đại Ttá Hồ Ngọc Cẩn giảng về kinh nghiệm chiến trường:

“Tây Đô là tiểu đoàn cơ động của tỉnh Cần Thơ. Tiểu đoàn có truyền thống lâu đời, rất thiện chiến. Khi tác chiến cấp đại đội, tiểu đoàn chúng không hơn các đơn vị khác làm bao. Nhưng tác chiến cấp trung đội, chúng rất giỏi. Chiến thuật thông thường, chúng dàn ba tiểu đội ra, chỉ tiểu đội ở giữa là nổ súng. Nếu thắng thế, thì chúng bắn xối xả để uy hiếp tinh thần ta, rồi hai tiểu đội hai bên xung phong. Nếu yếu thế, thì chúng lui. Ta không biết, đuổi theo, thì sẽ dẫm phải mìn, rồi bị hai tiểu đội hai bên đánh ép. Vì vậy khi đối trận với chúng, phải im lặng không bắn trả, để chúng tưởng ta tê liệt. Khi chúng bắt đầu xung phong, thì dùng vũ khí cộng đồng nã vào giữa, cũng như hai bên. Thấy chúng chạy, thì tấn công hai bên, chứ đừng đuổi theo. Còn như chúng tiếp tục xung phong ta phải đợi chúng tới gần rồi mớí phản công”.

Bây giờ Quang có dịp áp dụng. Sau khi trực thăng vận đổ quân xuống. Cả đại đội của Quang bị địch pháo chụp lên đầu, đại liên bắn xối xả. Không một ai ngóc đầu dậy được. Nhờ pháo binh, trực thăng can thiệp, sau 15 phút đại đội đã tấn công vào trong làng. Vừa tới bìa làng, thiếu úy trung đội trưởng của Quang bị trúng đạn lật ngược. Quang thay thế chỉ huy trung đội. Trung đội dàn ra thành một tuyến dài đến gần trăm mét. Đến đây, thì phi pháo không can thiệp được nữa, vì quân hai bên chỉ cách nhau có 100 mét, gần như lẫn vào nhau. Nhớ lại lời giảng của Cẩn, Quang ra lệnh im lặng, chỉ nổ súng khi thấy địch. Ngược lại ngay trước mặt Quang, khoảng 200 thước là một cái hầm lớn, ngay trước hầm hai khẩu đại liên không ngừng nhả đạn. Quang ghi nhận vị trí hai khẩu đại liên với hai khẩu B40 ra lệnh:

” Lát nữa khi chúng xung phong thì dùng M79 diệt hai khẩu đại liên, B40, rồi hãy bắn trả “.

Sau gần 20 phút, thình lình địch xả súng bắn xối xả như mưa, như gió, rồi tiếng hô xung phong phát ra. Chỉ chờ có thế, M79 của Quang khai pháo. Đại liên, B40 bị bắn tung lên, trong khi địch đang xung phong. Bấy giờ trung đội của Quang mới bắn trả. Chỉ một loạt đạn, toàn bộ phòng tuyến địch bị cắt. Quang ra lệnh xung phong. Tới căn hầm, binh sĩ không dám lại gần, vì bị lựu đạn từ trong ném ra. Quang ra lệnh cho hai khẩu đại liên bắn yểm trợ, rồi cho một khinh binh bò lại gần, tung vào trong một quả lựu đạn cay. Trong khi Quang hô :

- Ra khỏi hầm, dơ tay lên đầu ! Bằng không lựu đạn sẽ ném vào trong.

Cánh cửa hầm mở ra, mười tám người, nam có, nữ có, tay dơ lên đầu, ra khỏi hầm, lựu đạn cay làm nước mắt dàn dụa.

Đến đây trận chiến chấm dứt.

Thì ra 18 người đó là đảng bộ và ủy ban nhân dân của huyện châu thành Cần Thơ. Trong đó có viên huyện ủy và viên chủ tịch ủy ban nhân dân huyện.

Sau trận này Quang được tuyên dương công trạng trước quân đội, được gắn huy chương Anh Dũng Bội Tinh với nhành dương liễu. Trong lễ chiến thắng giản dị, Quang được một nữ sinh trường Đoàn Thị Điểm quàng vòng hoa. Nữ sinh đó tên Nguyễn Hoàng Châu, 15 tuổi, học lớp đệ ngũ. Cho hay, anh hùng với giai nhân xưa nay thường dễ cảm nhau. Quang, Châu yêu nhau từ đấy. Họ viết thư cho nhau hàng ngày. Khi có dịp theo quân qua Cần Thơ, thế nào Quang cũng gặp Châu. Đôi khi Châu táo bạo, xuống Chương Thiện thăm Quang. Mẹ Quang biết truyện, bà lên Cần Thơ gặp cha mẹ Châu. Hai gia đình đính ước với nhau. Họ cùng đồng ý : Đợi năm tới, Quang xin học khóa sĩ quan đặc biệt, Châu 17 tuổi, thì cho cưới nhau.

Nhưng mối tình đó đã đi vào lịch sử…

Tình hình toàn quốc trong tháng 3, tháng 4 năm 1975 biến chuyển mau lẹ. Ban Mê Thuột bị mất, Quân Đoàn 2 rút lui khỏi Cao Nguyên, rồi Quân Đoàn 1 bỏ mất lãnh thổ. Rồi các sĩ quan bộ Tổng Tham Mưu được Hoa Kỳ bốc đi. Ngày 29-4, trung đội của Quang chỉ còn mười người. Tiểu đoàn trưởng, đại đội trưởng bỏ ngũ về lo di tản gia đình. Quang vào bộ chỉ huy tiểu khu Chương Thiện trình diện Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. Cẩn an ủi :

- Em đem mấy người thuộc quyền vào đây ở với anh.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, viên tướng mặt bánh đúc, đần độn Dương Văn Minh phát thanh bản văn ra lệnh cho quân đội Việt Nam Cộng-hòa buông súng đầu hàng. Tất cả các đơn vị quân đội miền Nam tuân lệnh, cởi bỏ chiến bào, về sống với gia đình. Một vài đơn vị lẻ lẻ còn cầm cự. Tiếng súng kháng cự của các đơn vị Dù tại Sài-gòn ngừng lúc 9 giờ 7 phút.

Đúng lúc đó tại Chương Thiện, tỉnh trưởng kiêm Tiểu Khu trưởng là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. Ông đang chỉ huy các đơn vị thuộc quyền chống lại cuộc tấn công của Cộng quân. Phần thắng đã nằm trong tay ông. Lệnh của Dương Văn Minh truyền đến. Các quận trưởng chán nản ra lệnh buông súng. Chỉ còn tỉnh lỵ là vẫn chiến đấu. Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn ra lệnh:

“Dương Văn Minh lên làm Tổng-thống trái với hiến pháp. Ông ta không có tư cách của vị Tổng Tư Lệnh. Hãy tiếp tục chiến đấu”.

Nhưng đến 12 giờ trưa, các đơn vị dần dần bị tràn ngập, vì quân ít, vì hết đạn vì mất tinh thần. Chỉ còn lại bộ chỉ huy tiểu khu. Trong bộ chỉ huy tiểu khu, có một đại đội địa phương quân cùng nhân viên bộ ham mưu. Đến 13 giờ, lựu đạn, đạn M79 hết. Tới 14 giờ 45, thì đạn hết, làn sóng Cộng quân tràn vào trong bộ chỉ huy. Cuối cùng chỉ còn một ổ kháng cự từ trong một hầm chiến đấu, nơi đó có khẩu đại liên. Một quả lựu đạn cay ném vào trong hầm, tiếng súng im bặt. Quân Cộng Sản vào hầm lôi ra hai người. Một là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, tỉnh trưởng, kiêm tiểu khu trưởng và một trung sĩ mớí 19 tuổi. Trung sĩ đó tên là Vũ Tiến Quang.

Bấy giờ đúng 15 giờ.

Kẻ chiến thắng trói người chiến bại lại. Viên đại tá chính ủy của đơn vị có nhiệm vụ đánh tỉnh Chương Thiện hỏi:

- Đ.M. Tại sao có lệnh đầu hàng, mà chúng mày không chịu tuân lệnh?

Đại Tá Cẩn trả lời bằng nụ cười nhạt.

Trung sĩ Quang chỉ Đại Tá Cẩn:

- Thưa đại tá, tôi không biết có lệnh đầu hàng. Ví dù tôi biết, tôi cũng vẫn chiến đấu. Vì anh ấy là cấp chỉ huy trực tiếp của tôi. Anh ra lệnh chiến đấu, thì tôi không thể cãi lệnh.

Cộng quân thu nhặt xác chết trong, ngoài bộ chỉ huy tiểu khu. Viên chính ủy chỉ những xác chết nói với Đại Tá Cẩn:

- Chúng mày là hai tên ngụy ác ôn nhất. Đ.M. Chúng mày sẽ phải đền tội.

Đại Tá Cẩn vẫn không trả lời, vẫn cười nhạt. Trung sĩ Quang ngang tàng:

- Đại tá có lý tưởng của đại tá, tôi có lý tưởng của tôi. Đại tá theo Karl Marx, theo Lénine; còn tôi, tôi theo vua Hùng, vua Trưng. Tôi tuy bại trận, nhưng tôi vẫn giữ lý tưởng của tôi. Tôi không gọi đại tá là tên Việt Cộng. Tại sao đại tá lại mày tao, văng tục với chúng tôi như bọn ăn cắp gà, phường trộm trâu vậy? Phải chăng đó ngôn ngữ của đảng Cộng-sản ?

Viên đại tá rút súng kề vào đầu Quang:

- Đ.M. Tao hỏi mày, bây giờ thì mày có chính nghĩa hay tao có chính nghĩa?

- Xưa nay súng đạn trong tay ai thì người đó có lý. Nhưng đối với tôi, tôi học trường Thiếu Sinh Quân, súng đạn là đồ chơi của tôi từ bé. Tôi không sợ súng đâu. Đại tá đừng dọa tôi vô ích. Tôi vẫn thấy tôi có chính nghĩa, còn đại tá không có chính nghĩa. Tôi là con cháu Hoài Văn Vương Trần Quốc Toản mà.

- Đ.M. Mày có chịu nhận mày là tên ngụy không?

- Tôi có chính nghĩa thì tôi không thể là ngụy. Còn Cộng quân dùng súng giết dân mới là ngụy, là giặc cướp. Tôi nhất quyết giữ chính khí của tôi như Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng, như Nguyễn Biểu.

Quang cười ngạo nghễ:

- Nếu đại tá có chính nghĩa tại sao đại tá lại dùng lời nói thô tục vớí tôi? Ừ! Muốn mày tao thì mày tao. Đ.M. tên Cộng Sản ác ôn! Nếu tao thắng, tao dí súng vào thái dương mày rồi hỏi: Đ.M.Mày có nhận mày là tên Việt Cộng không? Thì mày trả lời sao?

Một tiếng nổ nhỏ, Quang ngã bật ngửa, óc phọt ra khỏi đầu, nhưng trên môi người thiếu niên còn nở nụ cười. Tôi không có mặt tại chỗ, thành ra không mường tượng ý nghĩa nụ cười đó là nụ cười gì? Độc giả của tôi vốn thông minh, thử đoán xem nụ cưòi đó mang ý nghĩa nào? Nụ cười hối hận ? Nụ cười ngạo nghễ? Nụ cười khinh bỉ? Hay nụ cười thỏa mãn?

Ghi Chú :

Nhân chứng quan trọng nhất, chứng kiến tận mắt cái chết của Vũ Tiến Quang thuật cho tác giả nghe là cô Vũ Thị Quỳnh Chi. Cô là em ruột của Quang, nhỏ hơn Quang 4 tuổi. Lúc anh cô bị giết, cô mới 15 tuổi (cô sinh năm 1960). Hiện (1999) cô là phu nhân của bác sĩ Jean Marc Bodoret, học trò của tôi, cư trú tại Marseille.

Cái lúc mà Quang ngã xuống, thì trong đám đông dân chúng tò mò đứng xem có tiếng một thiếu nữ thét lên như xé không gian, rồi cô rẽ những người xung quanh tiến ra ôm lấy xác Quang. Thiếu nữ đó là Nguyễn Hoàng Châu. Em gái Quang là Vũ thị Quỳnh Chi đã thuê được chiếc xe ba bánh. Cô cùng Nguyễn Hoàng Châu ôm xác Quang bỏ lên xe, rồi bọc xác Quang bằng cái Poncho, đem chôn.

Chôn Quang xong, Châu từ biệt Quỳnh Chi, trở về Cần Thơ. Nhưng ba ngày sau, vào một buổi sáng sớm Quỳnh-Chi đem vàng hương, thực phẩm ra cúng mộ anh, thì thấy Châu trong bộ y phục trắng của nữ sinh, chết gục bên cạnh. Mặt Châu vẫn tươi, vẫn đẹp như lúc sống. Đích thân Quỳnh Chi dùng mai, đào hố chôn Châu cạnh mộ Quang.

Năm 1998, tôi có dịp công tác y khoa trong đoàn Liên Hiệp các viện bào chế Châu Âu (CEP= Coopérative Européenne Pharmaceutique) , tôi đem J.M Bodoret cùng đi, Quỳnh Chi xin được tháp tùng chồng. Lợi dụng thời gian nghỉ công tác 4 ngày, từ Sài-gòn, chúng tôi thuê xe đi Chương Thiện, tìm lại ngôi mộ Quang-Châu. Ngôi mộ thuộc loại vùi nông một nấm dãi dầu nắng mưa, cỏ hoa trải 22 năm, rất khó mà biết đó là ngôi mộ. Nhưng Quỳnh-Chi có trí nhớ tốt. Cô đã tìm ra. Cô khóc như mưa, như gió, khóc đến sưng mắt. Quỳnh-Chi xin phép cải táng, nhưng bị từ chối. Tuy nhiên, cuối cùng có tiền thì mua tiên cũng được. Giấy phép có. Quỳnh-Chi cải táng mộ Quang-Châu đem về Kiên Hưng, chôn cạnh mộ của ông Vũ Tiến Đức. Quỳnh-Chi muốn bỏ hài cốt Quang, Châu vào hai cái tiểu khác nhau. Tôi là người lãng mạn. Tôi đề nghị xếp hai bộ xương chung với nhau vào trong một cái hòm. Bodoret hoan hô ý kiến của sư phụ.

Ngôi mộ của ông Đức, của Quang-Châu xây xong. Tôi cho khắc trên miếng đồng hàng chữ:

“Nơi đây AET Vũ Tiến Quang, 19 tuổi,
An giấc ngàn thu cùng
Vợ là Nguyễn Hoàng Châu
Nở nụ cười thỏa mãn vì thực hiện được giấc mộng”


Giấc mộng của Quang mà tôi muốn nói, là: được nhập học trường Thiếu Sinh Quân, rồi trở thành anh hùng. Giấc mộng của Châu là được chết, được chôn chung với người yêu. Nhưng người ta có thể hiểu rằng: Quang thỏa mãn nở nụ cười vì mối tình trọn vẹn.

Paris ngày 13 tháng 4 năm 1999.
Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image
Nhân Ngày Giỗ Cố Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu 29-9



Nước Việt Nam Cộng Hòa chỉ tồn tại được hai mươi năm, trải qua hai nền Cộng Hòa, dưới sự lãnh đạo của bốn đời tổng thống: Ngô Ðình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Hương và Dương Văn Minh. Một đất nước nhỏ bé chỉ có mười tám triệu dân đã anh dũng chiến đấu chống lại một đại khối cộng sản mười ba nước với số dân hơn một tỉ người, với đạo quân tiền kích hiếu chiến hiếu sát của chúng là quân đội cộng sản Bắc Việt. Dẫu Bắc Việt đã nhận được sự viện trợ gần như vô giới hạn của khối cộng, đặc biệt Liên Sô và Trung Cộng từ sau ngày Hiệp Ðịnh Ba Lê 27.1.1973 , dẫu Việt Nam Cộng Hòa đã bị cái gọi là “đồng minh, bạn” bỏ rơi một cách tàn nhẫn, quân đội Bắc Việt vẫn phải rất khó khăn khi tiến vào ngưỡng cửa Sài Gòn ngày 30.4.1975, và sẽ không hy vọng thắng bằng quân sự, nếu Ðại Tướng Dương Văn Minh quyết định đánh tới cùng. Hai chiến thắng ở Thủ Thừa, Long An, của Sư Ðoàn 7 Bộ Binh với người hào kiệt Ðại Tá Ðặng Phương Thành, Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 12 Bộ Binh và người dũng tướng Lê Minh Ðảo, Tư Lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh ở Xuân Lộc, đã khẳng định rằng, khi mặt đối mặt trên chiến trường, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chắc chắn chiến thắng.

Quân dân Việt Nam Cộng Hòa trong thế tứ bề thọ địch, phía trước là quân giặc hung hãng, bên cạnh là một người bạn phản trắc, từng nhiều lần giở trò đâm sau lưng, đâm ngang hông và thậm chí ngổ ngáo đâm ngay trước mặt, vẫn ngẩng cao đầu hiên ngang chiến đấu đến giờ thứ hai mươi lăm, thậm chí sang đến những ngày kế tiếp khi cuộc chiến đã tàn. Sau hơn ba mươi năm, sự thật lịch sử được phơi bày qua những hồ sơ đã được giải mật của từ mọi phía tham chiến, bức màn che giấu cái chết bi thảm của QLVNCH và Việt Nam Cộng Hòa đã được vén lên. Cộng sản Hà Nội sẽ hoàn toàn không thắng được quân dân Việt Nam Cộng Hòa, nếu không có sự trực tiếp hỗ trợ vô hạn của khối cộng, sự khiếp nhược và tiếp tay tích cực của điều gọi là “đồng minh”, và sự hèn nhát, thờ ơ và lãnh đạm của cái gọi là “thế giới tự do”. Ðiều gì chờ đón các binh đoàn cộng sản, một khi hàng trăm ngàn tay súng dũng cảm nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn giữ vững từng vị trí và thề tử sinh với giặc.

Ba mươi năm dài đã trôi qua mà niềm uất nhục của từng Người Lính Việt Nam Cộng Hòa vẫn như những vết thương hãy còn sưng tấy và nưng mủ, khi mỗi lần nhớ lại khoảnh khắc quá khứ người ta buộc các anh phải buông súng. Cộng sản Hà Nội nên nhớ rõ rằng, Người Lính QLVNCH chỉ buông súng theo lệnh của hàng tướng Minh, chứ không phải chiến bại trên chiến trường. Lịch sử đã ghi nhận rõ ràng điều đó, các thế hệ sau cũng sẽ rõ được uẩn khúc đó. Ngày nay, Trung Cộng đã công khai công bố bản văn bán nước của cộng sản Hà Nội thông qua việc Hồ Chí Minh lệnh cho Phạm Văn Ðồng gởi công hàm ngày 14.9.1958 công nhận lãnh thổ lãnh hải của Trung Cộng, trong đó bao gồm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bản công bố này chắc chắn sẽ được bộ máy tuyên truyền của Trung Cộng phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam và toàn thế giới, để người dân biết được bộ mặt bán nước của cộng sản Hà Nội, và để hợp thức hóa chủ quyền và quyền khai thác tài nguyên trên những quần đảo này của Trung Cộng. Thế giới sẽ đương nhiên được an toàn khi ký kết những công trình khai thác dầu và khí ở đó. Nhân dân Việt Nam sẽ quăng vào mặt cộng sản Hà Nội kèm theo những bãi nước bọt bản văn bán nước nhục nhã này, chúng còn gì để rêu rao và để bào chữa nữa.

Ðất nước và nhân dân Việt Nam bất hạnh, Miền Nam dũng cảm kiêu hùng cũng bất hạnh. Bất hạnh không phải vì không đánh đuổi được giặc cộng, mà là vì chiến đấu trong nỗi cơ đơn cay đắng và cơ cực. Những người lãnh đạo của hai nền Cộng Hòa đã gồng gánh trên vai sức nặng của cuộc chiến đối đầu với quân địch đã đành, mà còn còng lưng dưới sức nặng phi lý và không cần thiết của những sự thiếu hiểu biết, kiêu ngạo với đồng minh nhưng khiếp nhược trước kẻ thù của người Mỹ. Chính những tướng lãnh và sử gia Hoa Kỳ đã khẳng định sự thật đó. Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị giết chết, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bị buộc phải từ chức, đều phản ảnh nỗi bất hạnh của quân dân Việt Nam Cộng Hòa.

Trong lần tưởng niệm Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, nhân ngày Giỗ Thứ Bảy của ông, chúng ta cùng ngậm ngùi lật lại vài trang sử cũ có liên quan đến đời binh nghiệp và những năm lãnh đạo đất nước của ông. Một người lãnh đạo trong tư thế đối đầu với mọi thế lực bạn lẫn thù, một cá nhân nhỏ bé mà phải đương cự với hầu hết những tay lãnh đạo sừng sỏ nhất của thế giới, một con phượng hoàng ở giữa bầy hổ lang: Mao Trạch Ðông, Chu Ân Lai, Hồ Chí Minh, Lê Ðức Thọ, Breznev, Kossygyn, Nixon, Kissinger. Và còn nhiều nữa, chưa kể đến nội thù mang đủ mọi màu áo tôn giáo và chính kiến. Thế mà ông đứng vững được đến tám năm, mà có lúc đã đem đến cho Miền Nam một nền kinh tế thịnh vượng trong bối cảnh tàn phá của chiến tranh. Tưởng công nghiệp ấy không phải người lãnh đạo nào cũng có thể làm được. Trong thời gian qua, chúng tôi may mắn tìm thấy được một vài tài liệu về Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, đặc biệt phần lược sử chính thức về ông do Bộ Thông Tin Việt Nam Cộng Hòa biên soạn và phát hành năm 1971. Chúng tôi xin lược dịch toàn bộ văn bản này. Ðồng thời chúng tôi cố gắng sắp xếp và bổ sung thêm một ít hình ảnh theo thứ tự những năm chấp chánh của Tổng Thống Thiệu, cùng chia sẻ với độc giả, huynh trưởng quân đội và chiến hữu, để gọi là thay thế cho những nén hương hoài niệm về những cống hiến của ông cho dân tộc và tổ quốc.

“Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu là vị Tổng Thống thứ hai của Việt Nam Cộng Hòa và cũng là vị Tổng Thống thứ nhứt của của nền Ðệ Nhị Cộng Hòa sau Hiến Pháp ngày 1.4.1967.

Ông Nguyễn Văn Thiệu sinh ngày 5.4.1923 tại làng Trị Thủy, tỉnh Ninh Thuận, thuộc phía Nam miền Trung. Ông Thiệu xuất thân từ một gia đình nông dân có một cuộc sống trung lưu nhờ vào sự cần mẫn trong công việc đồng áng. Ông bà thân sinh của ông Thiệu luôn chăm chỉ làm lụng để nuôi dưỡng đàn con năm người, ba trai và hai gái. Nhưng người anh chị em này cũng đã luôn giúp đỡ lẫn nhau trong sự sinh sống. Những năm niên thiếu, ngoài việc cắp sách đến trường cho đến khi vào trung học, ông Thiệu đã giúp hai người chị gái trong công việc buôn bán.

Trong những năm cuối của Ðệ Nhị Thế Chiến, từ 1945-1946, như hầu hết những người trai trẻ trong thời chiến, chàng thanh niên Nguyễn Văn Thiệu tạm xếp bút nghiên theo tiếng gọi đất nước, tham gia vào những nhóm thanh niên yêu nước trong phong trào có danh xưng là Tái Kiến Thiết Quốc Gia (National Reconstruction), một tổ chức trá hình của Việt Minh. Tuy nhiên, chàng thanh niên Thiệu đã sớm nhận ra rằng trong thời hỗn mang ấy, cộng sản đã lợi dụng lòng yêu nước của những người Quốc Gia để áp đặt lên nhân dân Việt Nam một chủ nghĩa xa lạ, ngoại lai. Ông Thiệu quyết định từ bỏ hàng ngũ Việt Minh để theo đuổi lý tưởng của riêng ông. Ðó là lý tưởng Quốc gia chân chính.

Năm 1948, Trường Võ Bị Quốc Gia được thành lập. Khóa học thứ nhứt của Trường Võ Bị được khai giảng tại Huế để đào tạo sĩ quan chỉ huy cho Quân Ðội Quốc Gia. Trước khi vào Trường Võ Bị, ông Thiệu cũng đã tốt nghiệp Trường Hàng Hải Thương Thuyền, nhưng ông đã nhận thức rằng chỉ là ở Quân Ðội ông mới có cơ hội thực sự chiến đấu chống giặc cộng sản. Năm 1949, chàng sĩ quan trẻ Nguyễn Văn Thiệu tốt nghiệp Khóa I Võ Bị Quốc Gia với cấp bậc Thiếu Úy.

Suốt cuộc chiến tranh 1949-1954, từ chức vụ Trung Ðội Trưởng lên đến Trung Tá Trung Ðoàn Trưởng, rồi Tiểu Khu Trưởng, bước chân của ông Thiệu đã từng đặt lên mọi miền đất nước từ Nam, Trung và Bắc. Từ đồng bằng Miền Tây đến Hưng Yên, Phủ Lý ở Miền Bắc, trở vào Miền Trung trong chiến dịch năm 1954. Trong khoảng thời gian chỉ huy trên nhiều mặt trận đó, là một người lính chiến đúng nghĩa nhất, ông Thiệu đã góp vào những trang chiến sử những chiến thắng lừng lẫy. Ông được chiến sĩ và quân đội biết đến như là một người lính dũng cảm và chân chính, với tài lãnh đạo đơn vị và chỉ huy trên chiến trường. Ông còn chứng tỏ tài năng trong lãnh vực tham mưu quân đội.

Trung Tá Nguyễn Văn Thiệu được đề cử đi tham dự nhiều khóa học ở ngoại quốc, như ở Trường Bộ Binh tại Coetquidan, Pháp quốc năm 1949. Tám năm sau, ông được củ đi học khóa Chỉ Huy Và Tham Mưu cao cấp ở Hoa Kỳ tại Trường Leavenworth, rồi năm 1960 tại trường Forth Bliss. Ngoài ra, Trung Tá Thiệu đã tham dự một khóa học ở Okinawa năm 1959.
Với những kinh nghiệm già dặn ở cả hai lãnh vực quân sự và lãnh đạo chỉ huy trong chức vụ Tư Lệnh Phó Quân Khu II và Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh, Trung Tá Thiệu được cất nhắc làm Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị Ðà Lạt năm 1956. Trung Tá Thiệu đã góp công đào tạo hàng ngàn cấp chỉ huy hiện dịch ưu tú cho Quân Ðội trong bốn năm trách nhiệm. Với những thành quả to tát đó, ông xứng đáng được Tổng Thống Ngô Ðình Diệm vinh thăng lên Ðại Tá, rồi được bổ nhiệm làm Tham Mưu Phó Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa, Tham Mưu Trưởng Bộ Tư Lệnh Liên Quân trong năm 1960. Sang năm 1961, Ðại Tá Thiệu được đề cử trông coi Sư Ðoàn 1 Bộ Binh kiêm Tư Lệnh Khu 11 Chiến Thuật, chịu trách nhiệm giữ yên bình cho toàn khu vực gọi là Khu Phi Quân Sự (Demilitarized Zone) bao gồm luôn phần lãnh thổ hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên. Tháng 12.1962. Ðại Tá Thiệu từ giã Sư Ðoàn 1 Bộ Binh trở về Miền Nam trông coi Sư Ðoàn 5 Bộ Binh kiêm Tư Lệnh Khu 32 Chiến Thuật bao gồm phần lãnh thổ của 9 tỉnh thuộc khu vực Miền Ðông.

Sau cuộc đảo chánh 1.11.1963, Ðại Tá Nguyễn Văn Thiệu được Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng tín nhiệm trong chức vụ Tham Mưu Trưởng Lục Quân, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng, kiêm Tổng Thư Ký Hội Ðồng Quân Lực (The Armed Forces Council). Cuộc đời binh nghiệp của Thiếu Tướng Thiệu vẫn xoay chuyển không ngừng, với chiều hướng đi lên, khi ông được đề bạt lên làm Tư Lệnh Vùng IV Chiến Thuật. Khi từ giã Miền Tây, ông lại được đề cử làm Phó Thủ Tướng kiêm Bộ Trưởng Quốc Phòng.

Tháng 6.1965, khi chính phủ dân sự của Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu chuyển giao quyền lãnh đạo đất nước cho Quân Ðội, Hội Ðồng Quân Lực với 10 ủy viên đã bỏ phiếu kín bầu Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu trong cương vị Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia, một chức vụ hành xử như Quốc Trưởng của Việt Nam Cộng Hòa. Tiếp nối truyền thống dân chủ của nền Ðệ Nhứt Cộng Hòa, Trung Tướng Thiệu đã đắc cử Tổng Thống trong lần bầu cử ngày 3.9.1967, với Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Phó Tổng Thống. Tổng Thống Thiệu tuyên thệ nhậm chức, tuyên thệ trung thành với dân tộc và tổ quốc ngày 31.10.1967, mở đầu cho một trang sử mới và là bước đầu tiên của nền Ðệ Nhị Cộng Hòa.

Là một vị tướng chiến trường xuất sắc, Trung Tướng Thiệu đã được trao gắn rất nhiều huy chương Quân Ðội như sau:

- Ðệ Nhị Ðẳng Bảo Quốc Huân Chương
- Ðệ Nhất Ðẳng Lục Quân Huân Chương
- Ðệ Nhất Ðẳng Không Quân Huân Chương
- Ðệ Nhất Ðẳng Hải Quân Huân Chương
- 11 huy chương các loại
- Lãnh Ðạo Bội Tinh, v.v..

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cùng bà Ðệ Nhứt phu nhân Nguyễn Thị Mai Anh, người sinh quán ở Mỹ Tho, tỉnh Ðịnh Tường, có hai người con (ở thời điểm 1971) là Nguyễn Thị Tuấn Anh, 17 tuổi và Nguyễn Quang Lộc, 10 tuổi. Bà Thiệu là đương kim Chủ Tịch Hội Bảo Trợ Gia Ðình Binh Sĩ QLVNCH (National Association for the Protection of Military Dependents). Bà còn là Chủ Tịch Hội Phụ Nữ Phụng Sự Xã Hội Việt Nam (Vietnamese Women-In Service to the Society Association), đã khởi công xây dựng Bệnh Viện Vì Dân, là bệnh viện tân tiến nhất của Việt Nam”.

Từ năm 1971-1975, Tổng Thống Thiệu tiếp tục cương vị Tổng Thống nhiệm kỳ 2 với cụ Trần Văn Hương làm Phó Tổng Thống. Sau chiến thắng ngoại biên Kampuchea của cả ba Quân Ðoàn II, III và IV từ tháng 4.1970, quân cộng chạy trối chết ẩn náu sâu trong nội địa đất Miên, Tổng Thống Thiệu và nội các chánh phủ đã có được chút thời gian để phát triển kinh tế quốc gia. Khu Kỹ Nghệ Biên Hòa được hồi sinh, doanh gia bắt đầu mạnh dạn bỏ vốn đầu tư, nền kinh tế sáng sủa và có nhiều thành quả lớn. Hãng Citreon Pháp thiết lập lập cơ xưởng ráp xe ở Sài Gòn, Quân Ðội xúc tiến việc thiết kế sản xuất xe “Jeep Citreon” thay thế cho lại xe Jeep chính cống của Mỹ. Những cơ xưởng kỹ nghệ điện tử, truyền thanh truyền hình phát triển mạnh. Nền tài chánh Việt Nam gặt hái nhiều tiến bộ đáng kể với việc thành lập nhiều ngân hàng tư thu hút tiền vốn từ quần chúng. Nhưng đặc biệt và nhiều ý nghĩa hơn hết phải là việc ban hành Luật Người Cày Có Ruộng (Land for Tillers) được Tổng Thống Thiệu long trọng ban hành ngày 26.3.1970 tại Cần Thơ, thủ phủ Miền Tây, trong đó mỗi nông dân chưa có ruộng riêng được cấp phát 3 mẫu ruộng (mỗi mẫu rộng 10.000 thước vuông, 100mx100m) miễn phí. Thuế viên trạch hàng năm chỉ đóng vài trăm đồng Việt Nam tượng trưng, tất cả số huê lợi từ ruộng rẫy, nông dân hoàn toàn sử dụng, không phải giao nộp chánh phủ một hột lúa hay một củ khoai nào. Các cửa hàng doanh thương mua bán nhỏ, thí dụ như những tiệm chạp phô, tiệm may, quán ăn, v.v... cũng chỉ đóng thuế môn bài vài trăm đồng cho một năm. Chúng ta cũng nhớ lại rằng, lương tháng một công chức hay một giáo sư trung học lúc đó trong khoảng 20 đến 25 ngàn đồng, hoặc lương một anh binh nhì khoảng 18.000 đồng, thiếu úy chừng 21.000 đồng, thì thuế nông nghiệp và doanh nghiệp hằng niên chỉ có khoảng 200 ố 300 đồng, là một con số thật nhỏ bé.

Với sự giúp đỡ tích cực của đoàn chuyên gia nông nghiệp Ðài Loan, Viện Lúa Gạo IRRI ở Phi Luật Tân phổ biến các loại lúa mới Thần Nông 5, Thần Nông 8, sản lượng lúa của VNCH tăng vùn vụt. Các kinh tế gia thế giới và Việt Nam đã nhìn thấy triển vọng gần, rằng Việt Nam không còn nhập cảng gạo nữa, chẳng những thế mà trong tương lai còn có thể xuất cảng ra nước ngoài để lấy ngoại tệ về. Tổng Thống Thiệu và nội các của ông đã đưa đất nước lên mức phồn thịnh trong vòng hai năm 1970 và 1971, các chuyên gia đã thiết kế những kế hoạch ngũ niên phát triển nông, công, thương, khai hoang. Giáo sư Vũ Quốc Thúc được mời cầm đầu một nhóm chuyên gia nghiên cứu kế hoạch tái thiết và phát triển quốc gia.

Có thể nói rằng, hình ảnh những vị nguyên thủ quốc gia Ngô Ðình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu bận rộn đi khắp mọi miền đất nước thường rất được thường xuyên nhìn thấy trên báo chí, truyền hình và phim thời sự. Hai vị Tổng Thống siêng năng đi thăm viếng những nơi chốn hẻo lánh nhất. Có khi là một chiếc cầu nhỏ của một toán tiền đồn Nghĩa Quân, một cái đồn lẻ loi giữa ruộng đồng của các anh Ðịa Phương Quân. Có lúc Tổng Thống Thiệu đến ăn Tết cùng các chiến sĩ ở trên một vùng cao nguyên đèo heo hút gió, hay ra tận miền hỏa tuyến để chia sẻ nắng bụi mưa bùn với những người lính ngày đêm trực diện với quân thù ở biên thùy, hoặc về những vùng sình lầy Cà Mau, Chương Thiện trao gắn huy chương cho những chiến sĩ lập kỳ công. Tổng Thống Thiệu còn là một người lính can đảm phi thường. Mặt trận Kontum tháng 6.1972 hãy còn nghi ngút khói than chưa tàn lụi mấy, mà ông đã cùng Trung Tướng Toàn đáp trực thăng xuống vinh thăng cấp bậc cho những chiến sĩ Kontum Kiêu Hùng, trong lúc pháo địch còn nổ ùng oàng chỉ cách mấy trăm thước.

Cũng trong tình trạng cực kỳ nguy hiểm đó, khó ai có thể tiên đoán được điều gì sẽ xảy ra, khi ngày 7.7.1972, chiếc trực thăng của Tổng Thống Thiệu bất ngờ đáp xuống giữa lòng thành phố An Lộc đổ nát, trong lúc pháo địch nhểu xuống cách ông có 400 thước. Ông còn gọi điện về bảo bà Thiệu: “Bà ăn cơm trước đi, đừng chờ tôi. Tôi ở đây với chiến sĩ An Lộc”. Những người lính Sư Ðoàn 5 Bộ Binh, mà ký ức về vị Tư Lệnh thân mến của các anh còn chưa phai mờ mấy, đã hân hoan công kênh Trung Tướng Thiệu lên trong những tiếng reo hò chiến thắng vang dội. Tổng Thống Thiệu đã vinh danh tất cả những người lính, bất kể quân binh chủng nào đã đóng góp vào cuộc vinh quang, là Những Người Lính Của Bình Long Anh Dũng.

Ngày 28.6.1972, đại quân Việt Nam Cộng Hòa, với Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Ðộng Quân, Kỵ Binh, Pháo Binh, Công Binh, Không Quân, Hải Quân, cùng tất cả các binh chủng yểm trợ tiếp vận xuất phát từ chiến tuyến Mỹ Chánh, dưới quyền tổng chỉ huy của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Ðoàn I & Quân Khu I ngồi trên một chiếc thiết vận xa M113 đốc thúc và quan sát, hùng hậu xuất phát. Mấy ngày sau, Tổng Thống Thiệu cùng nhiều yếu nhân quân đội, chánh quyền, quốc hội, ngoại giao đoàn đã ra đến tận bờ sông Mỹ Chánh khích lệ tinh thần binh sĩ. Là một vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao, Trung Tướng Thiệu không cần thiết và không nên lặn lội ra đến chỗ đầu sóng ngọn gió, nơi lửa đạn hiểm nghèo. Nhưng là một người lính từng dầm sương trải gió ngoài chiến trường, và cái cá tính can đảm, năng động, Trung Tướng Thiệu biết rằng sự hiện diện của ông bên chiến hào, ở tận tiền tuyến, là một việc phải làm, thế nào cũng phải làm. Nó nói lên được rất nhiều điều rất ý nghĩa hơn muôn vạn lần những lời động viên suông ở hậu phương. Ông cũng không quên đến Huế lần thứ nhì thăm đồng bào và xem người ta tái thiết chợ Ðông Ba như thế nào sau cơn hỏa hoạn đầu tháng 5.1972 (Chợ Ðông Ba cháy là do Việt cộng mặc quân phục VNCH phóng hỏa, rồi chúng la làng lên, rằng người lính của chúng ta làm chuyện ấy. Ðó là sự vu cáo bỉ ổi của bầy âm binh ngạ quỷ, với những tội ác kinh thiên mà chỉ có những loài quỷ cộng mới có thể làm được. Trong tác phẩm Biến Ðộng Miền Trung của ông Liên Thành, nguyên Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên, kể lại lời khai của tên Trung Tá Việt cộng Hoàng Kim Loan khi ông thẩm vấn nó. Hoàng Kim Loan xác nhận hỏa hoạn tại chợ Ðông Ba là do Việt cộng nằm vùng ở Huế đốt, rồi vu cáo người lính VNCH). Ðồng thời, người Tư Lệnh ngày xưa cũng dành thì giờ đến thăm Sư Ðoàn 1 Bộ Binh, mà giờ đây ông rất yên tâm phú thác sư đoàn cho vị dũng tướng Phạm Văn Phú.

Sau Hiệp Ðịnh Ba Lê ngày 27.1.1973, đồng minh Hoa Kỳ đã có kế hoạch rút bỏ khỏi Miền Nam, điều khoản quy định về việc tiếp tục yểm trợ chiến cụ cho QLVNCH đã dần dần bị quên lãng. Việc Một Ðổi Một những vũ khí và dụng cụ chiến đấu hư cũ hay mất mát không còn được thực hiện, đi dần đến cắt giảm hoàn toàn. Hai trăm ngàn binh đội miền Bắc được văn kiện Hiệp Ðịnh hầu như hợp thức hóa sự hiện diện ở Miền Nam, cộng thêm người và chiến cụ bổ sung rùng tuôn vào Nam theo con đường Hồ Chí Minh, giờ đã được rộng mở thênh thang mà không bị một sự trừng phạt nào từ phía Hoa Kỳ, thể theo quy định của Hiệp Ðịnh Ba Lê. Sự thất thủ Phước Long tháng 1.1975, rồi đến Ban Mê Thuột tháng 3.1975, cuộc trắc nghiệm thái độ của Hoa Kỳ đã được xác định: người Mỹ đã thực sự bỏ rơi đồng minh. Cộng sản Hà Nội khởi động cuộc tổng tấn công quyết định chiếm toàn bộ Miền Nam, đưa đến quyết định rút bỏ các Quân Khu II và Quân Khu I trong tháng 3.1975 của Tổng Thống Thiệu. Hai Quân Ðoàn II và I bị thiệt hại nặng, quân số sụt giảm nghiêm trọng, nhiều sư đoàn và đơn vị chiến đấu bị tan rã một cách bi thảm. Những yếu tố đó buộc người ta phải nghĩ đến giải pháp thay thế Tổng Thống Thiệu, bởi ngại ông vẫn cứ lệnh cho QLVNCH tiếp tục chiến đấu. Ông Thiệu phải ra đi để nhường sân khấu chính trị lại cho một nhân vật nào đó mà phía cộng sản có thể “chấp nhận” nói chuyện được. Cái ảo tưởng đó đến ngày 30.4.1975, Hà Nội sẽ chứng minh nó hoàn toàn là điên rồ, vì chúng chỉ muốn chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa đầu hàng vô điều kiện.

Ngày 21.4.1975, Tổng Thống Thiệu lên đài truyền hình quốc gia đọc diễn văn từ giã dân chúng và Quân Ðội. Ông cay đắng nói nhiều lời trách cứ Hoa Kỳ tàn nhẫn bỏ rơi đồng minh. Chức vụ Tổng Thống được trao lại cho Phó Tổng Thống Trần Văn Hương. Tổng Thống Hương làm việc chỉ được một tuần lễ, ông là một chiến sĩ quốc gia có tinh thần chống cộng cứng rắn. Người ta lại phải áp lực cụ trao quyền Tổng Thống cho một nhân vật mềm dẻo và biết điều hơn. Trước mọi sức ép, Tổng Thống Hương đành bàn giao Dinh Ðộc Lập cho Ðại Tướng Dương Văn Minh ngày 28.4.1975. Ba ngày sau, vị Tổng Thống thứ tư của Việt Nam Cộng Hòa đọc lời đầu hàng trên hệ thống truyền thanh quốc gia buộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa buông súng ngừng chiến đấu. Lúc đó là 10 giờ sáng ngày 30.4.1975.

Sống đời lưu vong ở xứ người, thoạt tiên Tổng Thống Thiệu tạm cư ở Ðài Loan, thời gian sau ông sang cư trú ở Anh quốc, rồi cuối cùng sang định cư hẳn ở Hoa Kỳ, thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts. Mang mển trong lòng nhiều uẩn khúc và bí mật quốc gia, ông Thiệu lặng thinh cam chịu sự trách cứ của đồng bào và chiến hữu, về những thất bại và hậu quả ông đã gây ra cho đất nước. Thời gian dần trôi, ba mươi năm hơn, nhiều bí mật đã được phơi bày cho thấy còn rất nhiều yếu tố đóng góp vào sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa. Ðiều mà chúng ta có thể thấy được là, trong cương vị Tổng Thống của một nước nhược tiểu, Tổng Thống Thiệu đã làm tất cả những gì có thể để cứu vãn đại cuộc. Ông đã từng từ chối thẳng vào mặt Kissinger không chịu ký Hiệp Ðịnh Ba Lê ngày 31.10.1972, bất chấp sự bực tức điên người của ông Nixon, lúc đó đã sắp vào ngày bầu cử tổng thống Mỹ nhiệm kỳ hai của ông. Tổng Thống Thiệu còn quyết tâm không ký Hiệp Ðịnh Ba Lê ngày 27.1.1973, tỏ rõ chủ quyền quốc gia. Nixon buộc phải gởi một bức thư với lời lẽ rất cứng rắn và hằn học: “Nếu chánh phủ ngài không chịu ký vào văn bản ngừng bắn, thì chúng tôi buộc phải tiến hành ký đơn phương. Ngoài ra, chúng tôi sẽ thông báo với thế giới rằng chánh phủ của ngài ngăn trở hòa bình. Vì lý do đó, chúng tôi buộc phải cắt đứt viện trợ quân sự và kinh tế cho Miền Nam Việt Nam ngay tức khắc”.

Bức thư của Tổng Thống Nixon đã có thể trả lời cho những trách cứ đổ lên sự câm nín của Tổng Thống Thiệu. Dù ông Nixon có cắt hay không viện trợ, thì số phận của Việt Nam Cộng Hòa đã được quốc hội Hoa Kỳ với đảng Dân Chủ chiếm đa số quyết định trong những tháng cuối cùng: “Không một xu nào nữa cho chánh phủ ông Thiệu”. Ngày nay, cũng đảng Dân Chủ đang rục rịch muốn bỏ chạy ra khỏi vũng lầy Iraq và có thể cả Afghnistan, nếu họ thắng được cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 11.2008 tới đây. Lịch sử như một chiếc bánh xe luôn lăn tiến về trước, nhưng có lúc nó cũng trở về khởi điểm ban đầu. Một cường quốc giàu có như thế, một quân đội hùng mạnh nhất thế giới như thế, chỉ đáng tiếc không có được những vị tổng tư lệnh đúng nghĩa, có tài thao lược bình định thiên hạ, có hùng tâm tráng chí đạt đến vinh quang, mà chỉ luôn nghĩ đến việc bỏ chạy trước địch quân. Một lần bỏ chạy ra khỏi Việt Nam là đã đủ. Nếu chạy nữa, không khéo thiên hạ sẽ đặt cho quân đội ấy, tổng tư lệnh ấy cái biệt danh “tướng chạy và quân đội chạy bậc nhất thế giới”.

Tổng Thống Thiệu mang những nỗi niềm u ẩn và nhiều bí mật ấy vào thế giới bên kia ngày 29.9.2001. Nhưng hẳn rằng, thời gian càng trôi qua thêm, thì các sử gia nghiên cứu về cuộc chiến tranh Việt Nam, cũng như cuộc đời của Tổng Thống Thiệu sẽ còn khám phá ra được nhiều điều còn chưa sáng tỏ nữa.

Phạm Phong Dinh
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Vinh Danh Chuẩn Tướng Trương Quang Ân

... Để biết được đầy đủ hơn về cuộc đời kiệt liệt của một người lính cực lớn, chúng ta phải bắt đầu lại chuyện kể từ thời điểm sớm nhất, ngày TSQ Trương Quang Ân tốt nghiệp thiếu úy khóa 7 Sĩ Quan Hiện Dịch Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt với vị thứ thủ khoa, tháng 12, năm 1952.

Thiếu úy Trương Quang Ân có đủ tất cả điều kiện thuận lợi để được thuyên chuyển đến một văn phòng bình yên tránh nơi lửa đạn, hoặc một đơn vị tham mưu, chuyên môn (mới thật sự đúng với khả năng tham mưu sắc sảo của ông sẽ được chứng thực ở thời gian sau). Nhưng không, ông đã chọn binh chủng Nhảy Dù, đơn vị tổng trừ bị cho những chiến trận lớn nổ rộng suốt miền châu thổ Bắc Việt Nam, nơi những đỉnh núi cao lẫn trong mây vùng bắc Trường sơn dọc biên giới Lào Việt.

Trận Bản Hiu Siu cuối năm 1953 bùng nổ trên vùng Cánh Đồng Chum nơi cao nguyên Trấn Ninh, vị trí xung trí xung yếu của miền Trung Lào, đầu nguồn sông Nậm Ngung, do tướng Cogny, tư lệnh quân đội Pháp miền bắc Đông Dương chỉ huy có mục đích bẻ gãy mũi tiến công của cộng sản có ý tiến về thủ đô Vạn Tượng của Lào (nhưng sau nầy hồ sơ trận liệt giải thích, và giải thích đúng, đấy là ý niệm điều quân của phía bộ đội cộng sản cố đánh lạc hướng, hoặc là cách nhử quân đội Pháp chiếm đóng Điện Biên Phủ)

Bộ phận địa phương giữ Bản Hiu Siu xin quân tăng viện, Tiểu đoàn 3 Nhảy Dù, đơn vị đầu đời của Thiếu úy Trương Quang Ân nhảy xuống với 2 đại đội của Tiểu đoàn 7 Dù tăng pháị (Lưu ý, tất cả các tiểu đoàn Dù vào giai đoạn nầy mang phiên hiệu BEP hoặc BPC - Battaillon Parachustiste Colonial, thuộc Liên đoàn Không vận số 3 (GAP/3è- Groupe Aeroporté) của quân đội Liên hiệp Pháp; chỉ mỗi Tiểu đoàn 5 Dù nơi miền Nam mới có danh hiệu Tiểu đoàn Nhảy Dù Việt Nam (BPVN) Trận đánh không cân sức diễn ra ngay từ phút đầu tiên vì bộ đội Việt Minh sẵn có ưu thế quân số, chuẩn bị, chọn lựa và chiếm giữ trận địa. Nhưng dần dần thắng lợi nghiêng về phía quân Nhảy Dù bởi sức chiến đấu quá đổi kiên cường. Phản công, giữ vững, kiểm soát được những vị trí xung yếu của vùng Cánh Đồng Chum, đẩy quân đội cộng sản trở về hướng Bặc Thành. Quả chiến trận không phải là điều bất ngờ, bởi Tiểu đoàn 3 Dù là một đơn vị ngoại hạng của 17 tiểu đoàn tổng trừ bị mặt trận phía bắc Việt Nam, như trường hợp một đơn vị bạn khác, Tiểu đoàn 6 Dù (6è BEP) đã từng chận đứng một sư đoàn cộng sản (SĐ/320) để những đồn bót thuộc tả ngạn sông Đà có thời gian triệt thoái trong chiến dịch rút bỏ Na Sản, Nghĩa Lộ (cùng năm 1953) Kết quả trận đánh đồng thời đã chứng minh cho thành phần lãnh đạo Pháp Việt thấy rõ một yếu tố mới: những sĩ quan trẻ, những hạ sĩ quan, binh sĩ người Việt (tình nguyện) trong đơn vị chính là nhân tố kết nên thắng lợi.

Quân đội chỉ mới khai sinh trong vài năm qua (1951) nay đã dần trở nên là đạo quân chính qui của một quốc gia đang trong giai đoạn lịch sử quyết định về bản lãnh và giá trị của mình. Chiến sử dài theo những năm sau đã chứng thật đánh giá buổi ban đầu nầy: Tiểu đoàn 3 Nhảy Dù Việt Nam là một trong những đơn vị đầu tiên của quân đội Cộng Hòa được tuyên dương Bảo quốc huân chương, kỳ hiệu đơn vị mang dây biểu chương Tam hợp vàng xanh đỏ do công trận chỉ huy bởi những những thiếu úy, trung úy của năm 1953 nầy, những sĩ quan có tên Trương Quang Ân, Phan Trọng Chinh...

Bộ tư lệnh quân đoàn viễn chinh Pháp với lớp cán bộ nhà nghề cũng đã nhận ra khả năng lãnh đạo tiềm ẩn nơi viên thiếu úy trẻ tuổi mà họa hằm lắm mới biểu lộ ra đối với những sĩ quan trẻ tuổi cực kỳ xuất sắc, như những Thiếu úy de Gaulle, de Lattre của học viện quân sự Saint Cyr, những người đã từng nắm giữ vận mệnh quốc gia và quân đội Pháp, nên họ mau chóng đưa Trung úy Ân vào trường tham mưu quân sự tại Pháp vào năm sau, 1954 khi ông vừa được đặc cách vinh thăng trung úy tại mặt trận.

Những sĩ quan chỉ huy Trường Sĩ Quan Đà Lạt và ở bộ tham mưu Liên đoàn Không vận số 3 quả thật đã không lầm khi đánh giá như trên. Hơn thế nữa, họ còn có dự định chọn viên trung úy ngoại hạng nầy vào chức vụ chỉ huy Đại đội xung kích Lê Dương Sen Đầm cho chiến trường Algérie đang bắt đầu có dấu hiệu sôi động. Khóa sĩ quan tham mưu tại Pháp cốt để làm đầu cầu cho dự định nầy. Thêm một lần nữa, ông lại đỗ thủ khoa khóa học, trên cao hơn toàn thể những học viên có 75 quốc tịch của khối Liên hiệp Pháp, đa số là người Tây Âu.

Trung úy Trương Quang Ân đậu hạng thủ khoa mà không hề có tị hiềm từ những học viên, bởi qua bản tự đánh giá, khóa học đồng ý hầu như toàn thể về người sĩ quan Việt Nam tài năng xuất sắc nầy.

Sau thất bại Điện Biên Phủ, tháng 5, 1954, bộ tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp cố gắng tập trung những tiểu đoàn Nhảy Dù còn lại ở miền Bắc đưa gấp vào Đà Nẵng, Nha Trang, để từ đây có kế hoạch tái trang bị, bổ sung sang chiến trường Bắc Phi. Tiểu đoàn 3 Nhảy Dù trở nên đơn vị trụ cột đầu tiên của Liên đoàn Nhảy Dù Việt Nam, thành lập ngày 29 tháng 9, 1954, và Trung úy Trương Quang Ân ở lại với quân đội Việt Nam dưới phiên hiệu đơn vị mới như một điều tất nhiên, nhưng cũng do lời kêu gọi từ một Thiếu sinh quân khác, người anh cả của toàn quân, Thiếu tướng Lê văn Tỵ, vị Tổng tham mưu trưởng đầu tiên của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, mở đầu kỳ độc lập, tự chủ nơi miền Nam, 29 tháng 11, năm 1954.

Ngày 1 tháng 1, 1955 bắt đầu năm mới với những biến động chính trị nghiêm trọng xẩy ra tại thủ đô Sài Gòn từ những mầm mống va chạm sẳn có giữa các lực lượng giáo phái, tổ chức vũ trang với chính phủ Thủ tướng Ngô Đình Diệm vừa được thành lập ngày 20 tháng 7, 1954. Chính phủ mới mang đủ tất cả gánh nặng của quá khứ gần 100 năm lệ thuộc người Pháp, tình thế quân sự suy sụp hỗn loạn sau thất trận Điện Biên Phủ của quân đội Pháp và công cuộc định cư hơn triệu người di cư từ miền Bắc vào Nam. Các lực lượng chống đối kết hợp thành Mặt trận thống nhất toàn lực quốc gia yêu cầu Thủ tướng Ngô Đình Diệm giải tán nội các, cải tổ chính phủ và chấp thuận để họ duy trì tình trạng cát cứ của những tổ chức quân sự tại những địa phương riêng biệt. Chính phủ Sài Gòn giữ nguyên lập trường: thống nhất quân đội trước khi bàn đến những cải tổ chính trị.

Thành phần mặt trận gồm 3 khuynh hướng: Phe ôn hòa muốn trở về hợp tác với chính phủ; phe trung lập không có ý kiến và thành phần quá khích nhất quyết tổ chức nổi loạn quân sự. Lực lượng Bình Xuyên dưới quyền chỉ huy của Thiếu tướng Lê văn Viễn (quân hàm do chính phủ Pháp trao gắn theo nguyên tắc đồng hóa) thuộc nhóm thứ ba.

Ngày 1 tháng 1, 1955 Thủ tướng Ngô Đình Diệm đóng cửa các cơ sở kinh tài quan trọng của Bình Xuyên, sòng bạc Đại Thế Giới, Kim Chung và nhà chứa Bình Khang; ngày 26 tháng 4, cách chức tổng giám đốc Cảnh sát và Công an của Lại văn Sang, một người thân tín đắc lực của Thiếu tướng Viễn. Cuối cùng việc phải đến, ngày 28 tháng 4, lực lượng Bình Xuyên nổ súng tấn công quân chính phủ, nhưng Liên đoàn Nhảy Dù với 4 Tiểu đoàn 1, 3, 5, 6 đã hình thành những trụ cột chống đỡ nền móng quốc gia. Chỉ một ngày sau, quân Nhảy Dù đã làm chủ tình hình toàn bộ đô thành Sài Gòn, Chợ Lớn. Ngày 30 tháng 4 Nhảy Dù và Bình Xuyên dàn trận đối diện dọc kinh Đôi bên kia cầu chữ Y. Dù đã được người Pháp ngấm ngầm hỗ trợ nhưng Bình Xuyên không thể nào là địch thủ của những tiểu đoàn Nhảy Dù thiện chiến nên mặt trận Sài Gòn mau chóng kết thúc vào ngày 5 tháng 5, tàn binh Bình Xuyên rút về Rừng Sát, vùng sình lầy dọc theo sông Sài Gòn và Đồng Nai lập thế chống cự. Tháng 9, lực lượng chính phủ mở cuộc hành quân Hoàng Diệu truy quét đám phản loạn, cũng với lực lượng Nhảy Dù làm thành phần xung kích. Ngày 24 tháng 10 kết thúc chiến dịch, nơi khuôn viên Dinh Dộc Lập lần đầu tiên diễn ra khung cảnh đại hội ân thưởng toàn quân kể từ ngày mở nước về phương Nam. Cũng là lần đầu tiên, quân, quốc kỳ cùng bay rạng rỡ trên kỳ đài tòa dinh thự báo hiệu thống nhất quân đội, chủ quyền quốc gia qui về một mối.

Trung úy Trương Quang Ân đứng hàng đầu giữa những chiến binh của quân đội Cộng Hòa được tuyên công. Ông được trao gắn một lần hai Anh dũng bội tinh với nhành dương liễu, hiện tượng độc nhất đã xẩy ra trong các quá trình nghi lễ trao gắn huy chương. Cho dù về sau nầy khi chiến trường trở nên nặng độ và có những chiến công lớn lao với những nhân vật xuất chúng khác như Lưu Trọng Kiệt, Hồ Ngọc Cẩn... cũng không hề được lập lại thêm lần thứ hai.

Năm 1957, Đại tá Nguyễn Chánh Thi thay thế Đại tá Đỗ Cao Trí giữ chức tư lệnh Liên đoàn Nhảy Dù. Đại úy Trương Quang Ân cùng với viên tiểu đoàn trưởng, Thiếu tá Phan Trọng Chinh, rời Tiểu đoàn 3 Dù về bộ tư lệnh với chức vụ mới, trưởng phòng 3, và tham mưu trưởng Liên đoàn. Bộ tư lệnh Liên đoàn Nhảy Dù với thành phần sĩ quan chỉ huy, tham mưu tài năng mới mẻ nầy đã nhanh chóng canh tân, trở nên một đại đơn vị mẫu mực đối với toàn quân, có phẩm, lượng cao về khả năng hành quân tác chiến lẫn tổ chức tham mưu.

Một sự kiện quan trọng xẩy ra trong đời sống cá nhân Đại úy Trương Quang Ân, đồng thời cũng là một biểu tượng đặc thù của binh chủng nếu không nói của toàn quân độị Ông làm lễ thành hôn với Chuẩn úy Dương thị Thanh, một trong những nữ quân nhân đầu tiên của binh chủng Nhảy Dù. Cuộc kết ước được chính vị tư lệnh làm chủ hôn, và hôn lễ được thực hiện theo nghi thức thuần túy quân đội: Đại úy Trương Quang Ân trao nhẫn đính hôn cho nữ Chuẩn úy Dương thị Thanh từ nơi cửa máy bay, xong hai người cùng nắm tay điều khiển dù nhảy xuống đất nơi bãi đáp Ấp Đồn, Hóc Môn.

Cảnh tượng cảm xúc trên chắc hẳn không phải là màn trình diễn của đôi vợ chồng trẻ muốn làm nên sự kiện độc đáo ngoạn mục, nhưng đấy là hành vi biểu hiện lòng sắc son của hai người lính muốn kết hợp lời nguyền hiến dâng đời sống bản thân, gia đình cho Quân Đội và Tổ Quốc. Chúng ta không nói điều ước đoán theo cảm tính, bởi cuộc sống đầy chiến đấu của hai người suốt quãng đời tiếp theo đã hiện thực nghi lễ cao thượng của buổi thanh xuân nầy trong bầu trời và trên mặt đất quê hương.

Năm 1959, Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù được thành lập, Đại úy Trương Quang Ân nhận lãnh chức vụ tiểu đoàn trưởng đầu tiên của đơn vị. Lần xuất quân của Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù cũng là dịp phá vỡ huyền thoại về mật khu Bời Lời (vùng tây bắc ven đô nằm dọc sông Sài Gòn), căn cứ địa đã được lực lượng quân sự cộng sản thành hình từ chiến tranh 1945-1954, nay đang được củng cố cho cuộc chiến mới với nhiệm vụ chiến thuật quan trọng, từ đây làm khu vực bản lề tiếp vận của 3 tỉnh Gia Định, Bình Dương, Hậu Nghĩa, hình thành đầu cầu để tiến chiếm Sài Gòn (chiến dịch Mậu Thân 1968 chứng thực cho quan điểm chiến thuật nầy) Tiểu đoàn 8 Dù đã truy kích địch dài theo con sông, phá vỡ toàn thể những địa đạo vừa được xây dựng, đánh bật tất cả các cụm, tổ du kích, đuổi sạch đám cán bộ vừa trở lại từ miền Bắc, nay được gài chặt với cơ sở địa phương để hình thành lớp cán bộ hạ tầng của Mặt trận giải phóng miền Nam. Công trận nầy cùng lần với những đơn vị quân đội khác đã kiến tạo nên một thời hưng thịnh bình yên từ 1954 đến 1960 ở miền Nam. Dân chúng từ Sài Gòn có thể ra đi bất cứ nơi nào trong đêm và trở lại thủ đô vào giờ rạng sáng để làm việc. Có mấy ai trong thuở ấy và sau nầy nhớ lại buổi bình an kia để nhắc nhở đến gian khổ của mỗi người lính, những người không ai biết đến tính danh. Người hiến dâng đời sống mình cho quê hương, đồng bào nhưng không hề nói lên lời, dù là lời đơn giản, khiêm nhượng.

Biến cố 11 tháng 11, 1960 lần đầu tiên đẩy quân đội trực tiếp tham dự vào diễn trường chính trị, Liên đoàn Nhảy Dù lại là thành phần nòng cốt quyết định để thực hiện việc dứt điểm chế độ và người lãnh đạo. Nhưng Đại úy Trương Quang Ân đã vô cùng tinh tế để nhận rõ nguyên do lẫn hậu quả của lần bạo loạn tranh chấp, ông từ nhiệm cáo bịnh lánh mặt khỏi cảnh huống khốc liệt, vị tiểu đoàn phó được chỉ định tạm thời thay thế ông trong tình thế khẩn cấp. Cuộc đảo chính 11 tháng 11 thất bại, những giới chức cao cấp của Liên đoàn Dù phải chịu cảnh chạy trốn, lưu vong ra khỏi nước, hoặc bị bắt giữ; các đơn vị phải tái biên chế, xáo trộn, thay đổi cấp chỉ huy. Chỉ riêng Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù vẫn giữ nguyên phong độ và khả năng chiến đấu truyền thống bởi Thiếu tá Trương Quang Ân lại trở về, giữ vững đơn vị tồn tại, phát triển sau cơn hỗn loạn.

Năm 1962, ông di chuyển từ trại Trần Quí Mại của Tiểu đoàn 8, nơi khuôn viên căn cứ Hoàng Hoa Thám của Lữ đoàn Nhảy Dù trong phi cảng Tân Sơn Nhất về trại Quang Trung, Tam Hiệp, Biên Hòa, bản doanh Tiểu đoàn 5 Dù, cũng là của Chiến đoàn 2 Dù, đơn vị chỉ huy chiến thuật vừa được thành lập gồm các Tiểu đoàn 5, 6, 7.

Doanh trại xây trên một ngọn đồi hùng vĩ bên cạnh sông Đồng Nai, và người chỉ huy đầu tiên của đơn vị tân lập đã thực hiện những nền tảng vô cùng kiến hiệu để các tiểu đoàn thuộc quyền có điều kiện thuận lợi khai triển tối đa năng lực chiến đấu với tầm vóc mới. Thiếu tá Trương Quang Ân đã chứng thực một khả năng lãnh đạo lớn trong cương vị mới, với kích thước của người chỉ huy tài năng, đạo đức tưởng chừng chỉ có trong những huyền thoại về những con người của lịch sử phương Đông xưa cũ.

Vào một buổi họp của toàn thể sĩ quan thuộc các tiểu đoàn trực thuộc và bộ tham mưu chiến đoàn, mọi người đã vào ghế ngồi để đợi vị chỉ huy trưởng. Cây kim chỉ phút của chiếc đồng hồ ở phòng hội sắp sửa chập vào số 12 để chỉ đúng 12 giờ, giờ bắt đầu buổi họp, nhiều người sửa soạn đứng lên để chào đón chiến đoàn trưởng, họ nhìn ra cửa, hướng về phía văn phòng của Thiếu tá Ân cách hội trường một khoảng đồi khá xa, trống trải nằm phơi dưới nắng hạ chí miền Nam. Bỗng một bóng người xuất hiện từ khung cửa căn phòng, gỡ chiếc nón đỏ cầm tay và chạy về phía hội trường với tốc độ cực nhanh, Thiếu tá chiến đoàn trưởng Trương Quang Ân bước vào hội trường. Sau khi đội lại chiếc mũ, chào tay trả lại lệnh chào kính của toàn thể sĩ quan. Ông nói gấp:

- Xin lỗi quí vị sĩ quan, tôi bị trễ gần một phút vì phải trả lời điện thoại với Đại tá tư lệnh, nên anh em phải ngồi đợi!

Thiếu tá Ân nhìn lên kim đồng hồ vừa nhếch quá chữ số 12. Tính chính xác, hành vi nghiêm chỉnh, sự kính trọng đối với tất cả các cấp quân đội là cách xử thế thường hằng mà người chỉ huy Trương Quang Ân luôn thực hiện, tổng hợp tấm lòng của kẻ sĩ khiêm cung, nhân ái và tính nguyên tắc, tinh thần trách nhiệm cao của người lính.

Hàng tháng, nếu không phải bận hành quân, ông soạn lịch trình đến thăm viếng, kiểm soát những tiểu đoàn thuộc quyền. Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù của Thiếu tá Nguyễn văn Minh, người bạn cũ cùng Trường Thiếu Sinh Quân là đơn vị ông lưu tâm nhất vì ở nơi xa xôi (Vũng Tầu) so với 2 tiểu đoàn 5, 7 cùng trong vùng Biên Hòa của chiến đoàn.

Mỗi lần thăm viếng đều được ông chuẩn bị nghiêm chỉnh như một cuộc thanh tra đơn vị, mà bản thân ông là người trước tiên phải hội đủ khả năng, tư cách, phẩm chất của một giới chức chỉ huy, thanh tra. Trước ngày đi, ông nói cùng Đại úy Nguyễn Thái Hợp, nay đã kiêm nhiệm chức vụ tham mưu trưởng chiến đoàn:

- Đại úy nhớ nhắc nhở, kiểm soát anh em mình phải mang đủ bi đông nước, lương khô để khỏi làm phiền dưới Tiểu đoàn 6 nghe!

- Nhưng Thiếu tá Minh đã báo cho tôi bằng 106 (máy truyền tin siêu tần số dùng bạch thoại để chuyển những nội dung không cần phải mã hóa) là dưới đó đã chuẩn bị bữa ăn cho chiến đoàn mình rồi Thiếu tá!

- Đại úy Hợp vội vã trả lời.

- Cơm thân mật trong tiểu đoàn hay tiệm ngoài phố?

- Thiếu tá Ân hỏi gấp.

- Vâng, ở một tiệm nơi Bãi Sau!

- Vậy đại úy phải nói liền với Thiếu tá Minh là tôi không nhận. Mình đi thanh tra tiểu đoàn chứ đâu phải đi Vũng Tàu tắm biển, ăn tiệc!

Cuối cùng, ông lên xe với nón sắt hai lớp, súng Colt nơi thắt lưng có bi đông nước đầy, gói lương khô, và ngồi thẳng trong suốt chặng đường đi từ Tam Hiệp, Biên Hòa về đến Tiểu đoàn 6 ở Vũng Tàu.

- Đường đi xa hơn trăm cây số, Thiếu tá dựa lưng một chút cho đỡ mỏi! - Người tài xế ái ngại nhắc nhở.

- Không được đâu, mình tới thăm viếng, thanh tra mà lưng áo bị nhăn như thế trông thấy có vẻ thiếu kính trọng đơn vị và anh em! Thiếu tá Ân giải thích với người tài xế, không quên hỏi thêm:

- Mà anh có đem đủ bi đông nước dùng cho cả ngày và nhớ bỏ thuốc lọc nước vào chưa?

Cũng liên quan đến người tài xế, chiếc xe, một hôm ông gọi bà vào văn phòng với vẻ nghiêm trọng, và sau đó có những lời:

- Mình là sĩ quan nữ quân nhân, mình biết cũng rõ quân kỷ như tôi; thế nên, chiếc Jeep là của chiến đoàn cấp cho chiến đoàn trưởng, chứ không phải cho riêng cá nhân tôi. Vậy khi nào mình đi thăm gia đình binh sĩ với tư cách chủ tịch gia đình binh sĩ Chiến đoàn 2 thì mình sử dụng và ngồi vào ghế trưởng xa. Nhưng ngoài giờ làm việc, nếu cần chú tài xế đưa đi đâu thì mình phải ngồi băng sau, vì xe đó là của quân đội chứ đâu phải của riêng gia đình mình. Tôi đã dặn chú ấy, khi nào không có mặt tôi thì lưng ghế trưởng xa phải gập xuống, vậy mình đừng bảo chú ấy làm trái lời tôi!

Bà im lặng nghe, và tuân theo lời ông không một phản ứng nhỏ tị hiềm, khó chịu, dẫu bà chỉ thua ông một cấp bậc.

Đầu năm 1965 để chuẩn bị đưa ông vào những chức vụ cao hơn, Bộ Tổng tham mưu tuyển chọn Trung tá Ân theo học Trường Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ. Vào thời điểm nầy, tiếng Anh vẫn còn là một ngôn ngữ xa lạ đối với những sĩ quan xuất thân từ quân đội Liên hiệp Pháp, nhưng ông đã vượt qua khỏi trở ngại kia bằng biện pháp: luôn luôn trên tay, trước mặt, trong tầm với, có những sách tự học Anh ngữ. Ông vào Trường Sinh Ngữ Quân Đội với thái độ chuyên cần của một sinh viên chuyên khoa, và sử dụng toàn bộ thời giờ vào công việc đọc, viết, học tài liệu khóa học và tài liệu nghiên cứu. Và cũng như hai mươi năm trước, Trung tá Trương Quang Ân lại tốt nghiệp khóa học với vị thứ thủ khoa kèm lời khen ngợi nồng nhiệt kính phục từ ban giám đốc trường. Đây là học viên tốt nghiệp với số điểm cao nhất từ trước đến naỵ Ông đứng đầu trên 45 sĩ quan cao cấp của quân đội toàn thế giới, kể cả những tướng lãnh, cấp tá thuộc quân lực Mỹ.

Năm 1966, trong buổi tiệc tiễn ông đi làm tỉnh trưởng Gia Định, binh sĩ, hạ sĩ quan của bộ chỉ huy chiến đoàn và sĩ quan của những tiểu đoàn trực thuộc trong vùng Biên Hòa đều được mời tham dự. Mỗi người có một hộp giấy gồm 2 pâté chaud, 2 bánh ngọt và 1 sandwich; thức uống gồm một chai bia và nước ngọt Quân tiếp vụ. Trung sĩ Đâu, Ban 2 chiến đoàn vốn là tay ưa ăn nhậu, cất tiếng rổn rảng:

- Trung tá đi làm tỉnh trưởng cái tỉnh to nhất nước mà không cho tụi em uống một bữa cho đã!

Trung tá Ân nghiêm sắc mặt, nhưng từ tốn nói với Đâu:

- Trung sĩ Đâu nói như vậy là phụ lòng tôi, bữa tiệc nầy là do tiền lương tôi xin lãnh trước để đãi anh em. Chứ còn như trong Chợ Lớn đã có mấy tiệm ăn, tửu lầu gì đó, nghe tin tôi về làm tỉnh trưởng, họ đã đưa đề nghị đãi hết người của chiến đoàn mình. Nhưng đó là của họ, mình ăn làm chi anh Đâu!

Căn phòng im lặng, lắng xuống, Đâu cười cười:

- Em nói giỡn cho vui thôi, tụi em biết ông thầy nghèo mà, ông thầy cho uống chi tụi em cũng chịu hết. Vì được ở với ông thầy là vui rồi, nay ông thầy đi tụi em buồn lắm!

Vô tình, Đâu đã nói lời tiễn biệt chính xác, hàm xúc nhất với tấm lòng đơn giản trung hậu của người lính đối với một cấp chỉ huy hằng sống với đơn vị mà âm hưởng luôn bền chặt tồn tại.

Nhưng nếu có một lần người chỉ huy Trương Quang Ân phải chịu nhận phần tiêu cực thất bại trong toàn bộ sự nghiệp của mình lại là chính với chức vụ không tiếng súng, tại văn phòng bình yên nơi tòa tỉnh trưởng Gia Định.

Vào một ngày của năm 1967, Đại tá tỉnh trưởng Gia Định nhận danh thiếp thiếu tá chánh văn phòng của vị phu nhân một viên tướng cao cấp nhất của quân lực. Viên thiếu tá đặt lên bàn giấy ông tỉnh trưởng tập hồ sơ thổ trạch đứng tên bà tướng với lời yêu cầu ông phê chuẩn sự hợp thức hóa tình trạng sỡ hữu phần đất của bà. Sau khi xem xét kỹ hồ sơ và những qui định hành chánh về thủ tục hợp thức hóa đất đai thuộc phạm vi tỉnh, Đại tá tỉnh trưởng Trương Quang Ân có lời quyết định:

- Thiếu tá có thể trở về trình với bà tướng như thế nầy: Tôi đã xem xét kỹ càng về thủ tục hợp thức hóa thổ cư, điền thổ theo như các qui định hành chánh cho phép, nhưng lô đất nầy dẫu thuộc về tỉnh Gia Định, cũng là công thổ quốc gia nên tôi không thể hợp thức hóa quyền sỡ hữu của bà đối với phần đất đó được!

Khoảng một thời gian ngắn sau, viên thiếu tá trở lại với lá thư viết tay của bà tướng cũng với yêu cầu như đã kể với lời lẽ quyết liệt dứt khoát hơn, kèm theo ý nghĩa đe dọa, chức vụ ông có thể bị ảnh hưởng xấu nếu tiếp tục đường lối cũ. Và Đại tá tỉnh trưởng Gia Định cũng trả lời dứt khoát với nội dung minh bạch như đã nói một lần:

- Công thổ, công điền không thể bị chiếm đoạt, sang nhượng cho bất cứ ai.

Kết quả Đại tá tỉnh trưởng Gia Định bàn giao chức vụ lại cho một viên đại tá sau nầy phải ra tòa vì tội buôn lậu và tham nhũng. Đại tá Trương Quang Ân rời tỉnh Gia Định với luyến tiếc của mọi tầng lớp thân hào, nhân sĩ cùng binh sĩ, đồng bào các quận ven đô. Hãy nghe anh Heo, trung đội trưởng Nghĩa quân ấp Vĩnh Lộc, xã Tân Sơn Nhì, quận Tân Bình nói với chúng tôi (Tiểu đoàn 9 Dù đang giữ an ninh vòng đai Biệt khu Thủ đô vào thời điểm 1966-1967):

- Từ khi có ông tỉnh với mấy anh về đây, ban đêm tui ngủ ở nhà và đi nhậu như ở Sài Gòn!

Nếu Đại tá tỉnh trưởng Trương Quang Ân còn ở Gia Định vị tất các đơn vị Việt cộng có thể ngang nhiên tập trung nơi những chỗ ém quân ở Nhị Bình, Thạnh Lộc (Gò Vấp), hoặc Bà Điểm, Bà Hom (Hóc Môn), hay Phú Lâm, An Lạc (Bình Chánh)... để tấn công vào Sài Gòn trong những ngày đầu năm 1968. Và nếu điều nầy không xẩy ra thì chắc rằng mặt trận Sài Gòn Chợ Lớn Gia Định ắt sẽ có những hình thái khác. Đau thương của dân chúng, sinh mạng người lính hẳn sẽ bớt phần khốc liệt oan khiên hơn. Nhưng bởi người lính đã ra đi. Vị tỉnh trưởng thanh liêm phải rời bỏ nhiệm sở.

***

Phi trường Phụng Dực Ban Mê Thuột hôm ấy có một sinh hoạt khác hơn ngày thường với giàn quân nhạc của Sư đoàn 23 Bộ Binh đứng xếp hàng nhiêm chỉnh. Phòng khách phi trường được quét dọn sạch sẽ, có mặt gần như đầy đủ thành phần sĩ quan cao cấp của đơn vị và tiểu khu Darlac, đơn vị hành chính cùng có chung một địa bàn hoạt động với Sư đoàn, lực lượng diện địa quan yếu của Khu 23 Chiến thuật. Chiếc máy bay C-47 hàng không quân sự đáp xuống, lố nhố những hành khách quân nhân và gia đình ào ra từ cửa máy bay. Giàn quân nhạc chuẩn bị nhạc cụ, sửa soạn trình tấu khúc Thượng Cấp Võ; đám sĩ quan vội vã xếp đội hình, tất cả chờ đợi viên tân tư lệnh xuất hiện. Họ chờ một tướng lãnh mặt trận có uy danh với những chiến công nơi trận địa mà ông đã thu đạt từ binh chủng Nhảy Dù qua những chức vụ sĩ quan chỉ huy những đơn vị tác chiến. Nhưng vị tướng với vóc dáng, y phục, cách thế như chờ đợi ấy đã không xuất hiện. Người ta chỉ thấy một người lính với nón sắt hai lớp, lưới ngụy trang, quân phục tác chiến xanh của bộ binh, vai mang ba lô, tay xách sac marin đi lẫn vào cùng đám quân nhân hành khách.

- Hay là ông chưa tới? Có thể ông đi máy bay Air Việt Nam để được sạch sẽ, lịch sự hơn chăng?!

Đám sĩ quan nghi lễ bàn tán.

Bỗng một người nhác thấy người lính đi hàng cuối mang bảng tên màu trắng kẻ chữ "Ân" đen trên nắp túi áo và ngôi sao huy hiệu cấp tướng màu đen may tiệp vào cổ áo tác chiến. Không một chiếc huy chương ở phần ngực áo. Người nầy vội vã, hốt hoảng:

- Vào hàng! Vào hàng! Phắc!

Hành khách quân nhân cuối cùng kia vội đi nhanh đến chỗ viên sĩ quan trưởng toán chào kính, và nói nhanh, dẫu tiếng nhỏ nhưng dứt khoát:

- Trung tá cho anh em nghỉ, tôi không thể nhận! Và khi đứng hẳn trước đoàn người, tướng Trương Quang Ân khiêm tốn giải thích:

- Cám ơn anh em đã đón tôi với đủ lễ nghi quân cách, nhưng tôi không được phép nhận vì chưa bàn giao đơn vị. Vậy chỉ cho tôi một xe Jeep cũng như những sĩ quan vừa đáo nhậm đơn vị mới và chờ cho tôi bàn giao với vị chỉ huy trưởng xong, các anh em hẳn dành cho tôi quân lễ đối với một tân tư lệnh!

Ông lên một chiếc Jeep trần trụi, sửa lại thế ngồi, bi đông nước, khẩu súng Colt, chiếc nón sắt hai lớp đội thẳng, sát xuống mí mắt đúng quân phong, quân kỷ ấn định.

Đoàn xe ra khỏi phi trường, hướng khu dân cư nơi đặt những cơ sở quân sự của khu chiến thuật và tòa tỉnh trưởng. Sau chiếc Jeep cũ kỷ chở vị tân tư lệnh, một chiếc khác bóng loáng mới tinh khôi cắm cờ hiệu cấp tướng không người ngồi, chạy theo giữa bụi mù.

Ngay sau khi nhậm chức, Tướng quân được dịp chứng nghiệm khả năng chỉ huy vào dịp Tết Mậu Thân, 1968 khi quân cộng sản tổng tấn công miền Nam mà thị xã Ban Mê Thuột với bộ tư lệnh Sư đoàn 23 là mục tiêu đầu tiên bị Trung đoàn 33 Cộng sản Bắc Việt tập trung dứt điểm. Liền sau giờ giao thừa, lúc 1 giờ 35 đêm 29 rạng 30 tháng 1, 1968, 4 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 33 tăng cường 2 Tiểu đoàn 401 và 301 Cơ động tỉnh và 4 đại đội địa phương cùng du kích đồng loạt tấn công những mục tiêu của thị xã.

Sở Hành chánh tài chánh, tòa hành chánh, dinh tỉnh trưởng, bộ chỉ huy tiểu khu, Đại đội 514 Vận tải, trại gia binh Đại đội Trinh sát, cư xá sĩ quan và bản doanh bộ tư lệnh sư đoàn là những vị trí phải được chiếm cứ trước hết. Bởi phía chỉ huy quân sự đối phương hiểu rõ rằng, nếu đập vỡ được cơ quan chỉ huy, khống chế được thành phần nhân sự hoặc thân nhân, gia đình của lực lượng trừ bị tiếp ứng (Đại đội Trinh sát, thành phần sĩ quan chỉ huy, tham mưu sư đoàn) thì cuộc tấn công ắt chiếm giữ phần ưu thắng.

Nhưng tất cả mũi tấn công đồng bị chận đứng trước cổng các doanh trại và âm mưu lùa dân vào thị xã biểu tình thực hiện bước tổng nổi dậy tiếp theo hoàn toàn bị thất bại. Bởi từ bộ tư lệnh Sư đoàn 23, Tướng quân đã điều động ngay trong đêm cuộc phản công với Thiết đoàn 8 Kỵ binh, các Tiểu đoàn 2, và 3 thuộc Trung đoàn 45 Bộ Binh và Đại đội 45 Trinh sát đang hành quân bên ngoài thị xã. Lực lượng tấn công cộng sản hóa thành bị bao vây, chia cắt bởi đoàn quân tiếp ứng. Sáng ngày 30 (mồng một Tết âm lịch) lực lượng thiết kỵ và bộ binh của sư đoàn đã hoàn toàn giữ vững những vị trí, cơ quan quân sự, hành chánh trọng yếu của tỉnh và thị xã.

Về mặt chiến thuật, chúng ta có thể nói rằng âm mưu tiến chiếm Ban Mê Thuột bị dập tắt từ giờ phút đầu tiên, chỉ trừ những cơ sở như ty ngân khố, Sở Hành chánh tài chánh số 3 còn bị những tiểu tổ du kích chiếm đóng mà vì cốt tránh thiệt hại về nhân mạng cũng như tài sản chung nên phía tiểu khu, bộ tư lệnh sư đoàn chưa cho lệnh phản kích lấy lại.

Tính đến ngày mồng 6 Tết, mặt trận Ban Mê Thuột hoàn toàn được giải tỏa, Trung đoàn 33 và các đơn vị địa phương, du kích bị đánh bật ra khỏi vành đai thị xã để lại 924 xác trên hiện trường và 143 bị bắt sống.

Nhưng mỉa mai thay, có một "lạnh nhạt cố ý" rất đáng chê trách: suốt chiến dịch ca ngợi thắng lợi kiên trì giữ vững miền Nam sau biến cố lớn lao nầy, công trận thủ thắng ở mặt trận Ban Mê Thuột "hình như" được cố ý loại bỏ. Điều nầy càng thấy được cụ thể qua tập quân sử tổng kết "Cuộc Tổng Công Kích - Tổng Khởi Nghĩa của Việt Cộng Tết Mậu Thân 1968", danh tính vị Tướng quân tư lệnh Sư đoàn 23, Chuẩn tướng Trương Quang Ân hoàn toàn không được nhắc tới một lần, cho dù có hình ảnh của người cùng viên tư lệnh Quân khu đi xem xét chiến lợi phẩm sau khi mặt trận im tiếng súng và quân địch đã toàn phần bị đánh bại.

Khi những người cầm quyền quốc gia, lãnh đạo quân đội xem nhẹ kẻ sĩ, bạc đãi chiến sĩ, danh tướng thì chỉ dấu suy thoái của quốc gia, quân đội đó ắt đã phát hiện. Nếu những người lính mang tên Trương Quang Ân, Nguyễn Viết Thanh, Ngô Quang Trưởng, Nguyễn Khoa Nam, Trần văn Hai, Lê văn Hưng nắm quyền thống lĩnh quân đội, trọng trách vận mệnh quốc gia từ thập niên 60, đầu những năm 70, thì đâu có ngày đau thương oan nghiệt 30 tháng 4, 1975. Chúng ta phải kêu lên tiếng uất hận vỡ trời cùng anh linh Chiến Sĩ - Tướng Quân.

Một ngày hè giữa năm 1970 sau buổi thuyết trình buổi sáng tại trung tâm hành quân, Chuẩn tướng tư lệnh cùng cố vấn sư đoàn, vị sĩ quan Phòng 3 ra bãi đáp trực thăng cạnh bộ tư lệnh để đi thanh tra, kiểm soát những đơn vị thuộc quyền đang hành quân trong phạm vi quận Đức Lập.

Theo thường lệ, Tướng quân đi cùng những giới chức trên bằng trực thăng UH-1D của hệ thống cố vấn Mỹ, nhưng bởi sáng nay có bà tháp tùng theo cùng để đến thăm gia đình binh sĩ của đơn vị có hậu cứ tại quận lỵ, nên hai người quyết định sử dụng trực thăng H-34 của Không quân Việt Nam, cũng cốt để chở được nhiều nhu yếu phẩm, quà tặng cho binh sĩ và gia đình của họ.

Hai vợ chồng Người Lính lớn nhất của đơn vị đi thăm hỏi mỗi gia đình binh sĩ, bà ngồi xuống giữa những người vợ lính, những em bé xao xác do thiếu dinh dưỡng, trú ngụ nơi những lều trại dã chiến mà người lính tạm dựng lên tại tiền trạm vùng hành quân. Bà bối rối, băn khoăn về nỗi khổ của từng người, bà ôm không hết những em nhỏ với nước mắt rưng rưng thương cảm. Ông yên lặng đi đến tại mỗi vị trí phòng thủ, xem xét những khẩu pháo, hỏi kỹ về nhu cầu của đơn vị và luôn nhắc nhở cán bộ sĩ quan:

- Phải luôn cố gắng chăm sóc đời sống anh em, họ đã quá thiếu thốn, quá gian khổ, bổn phận của cấp chỉ huy là phải tận tụy hết lòng với mỗi người lính của mình. Ai cũng có thể có khuyết điểm nhưng cần nhất là biết phục thiện, sửa chữa.

Buổi thăm viếng đã quá lâu, cố vấn Mỹ, toán sĩ quan tham mưu, cũng như cá nhân tướng tư lệnh phải trở về Ban Mê Thuột; những người vợ binh sĩ vây quanh bà, bà bước đi ngập ngừng. "Về mình ạ, mình còn trở lại nhiều lần nữa, mình nói với các chị, các cháu như thế!"

Ông bắt tay từng sĩ quan, ân cần đáp lại ánh mắt lưu luyến của binh sĩ. Cánh quạt chiếc H-34 bắt đầu quay, Tướng quân đỡ phu nhân, chiến hữu sắc son của Người suốt đời dài binh đao, bước lên cửa máy bay vì sức gió mạnh xô đẩy. Hai Người Lính nhìn lại những bóng người dưới đất bắt đầu mờ dần do nước mắt của bà đã thấm nhòa cảm xúc.

Người dưới đất đưa tay ngoắc từ biệt. Bỗng như tia chớp cực mạnh lóe sáng, con tàu bùng vỡ thành khối lửa hung hản ác độc và lao nhanh xuống như một mũi tên. Khu trại gia binh đồng la lớn kinh hoàng:

- Chết rồi! Chết rồi trời ơi!

- Ông bà tướng chết rồi trời ơi! Trời ơi là trời ơi!!

Những người vợ lính bật khóc cùng với những đứa con gào ngất trong tay bởi ánh lửa đỏ rực sáng loáng khoảng trời.

(Suốt trong đời binh nghiệp, Chuẩn Tướng Trương Quang Ân lúc nào cũng nêu gương sáng về kỷ luật, chỉ biết sống cho Quân Ðội, chết cho Quân Ðội. Chuẩn Tướng cũng là một sĩ quan dũng cảm có tài chỉ huy, thương yêu thuộc cấp và đặc biệt là một trong những chiến sĩ Dù giỏi nhất về môn nhảy tự động chính xác.)




Tướng quân Trương Quang Ân cùng phu nhân Dương thị Thanh trở về cùng mặt đất quê hương như trong tuổi thanh xuân hai Người Lính đã kết hợp giữa bầu trời Tổ Quốc.

Trong buổi phát tang nhị liệt vị, sĩ quan nghi lễ kê khai phần tài sản để lại gồm: 53,000 đồng, tiền lương tháng cuối cùng của Tướng quân, và 8 chiếc áo dài nội hóa của phu nhân.

Chúng ta hôm nay cùng sông núi kính cẩn nghiêng mình trước Anh Linh Người Lính Thanh Cao, Trung Liệt đã vô vàn tận hiến với nước Việt Miền Nam: Thiếu Sinh Quân - Người Lính Cộng Hòa Trương Quang Ân.

Phan Nhật Nam
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »


Image

Lễ Tưởng Niệm TT Nguyễn Văn Thiệu

Bài và hình:
Trung Đỗ/Việt Herald
Phạm Hòa


Image
Bà Nguyễn Thị Mai Anh, phu nhân cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, thân ái chào các nữ quân nhân liên quân.
LITTLE SAIGON: Lễ tưởng niệm cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, húy nhật năm thứ 8, đã diễn ra vào Thứ Bảy, 3 tháng 9 vừa qua, tại Little Saigon, với sự tham dự của hàng trăm quân dân cán chính VNCH và đồng bào Nam California. Lần đầu tiên, Đệ Nhất Phu Nhân Việt Nam Cộng Hòa có mặt tại một sự kiện cộng đồng tại Little Saigon.

Lúc 9 giờ sáng, ông Phan Tấn Ngưu và ông Nguyễn Phục Hưng thuộc Liên Hội Cựu Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa Nam California điều hợp nghi thức đặt vòng hoa tưởng niệm tại tượng đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ, Westminster.

Ông Hoàng Đức Nhã, cựu bí thư tổng thống và cựu tổng ủy trưởng Tổng Ủy Dân Vận và Chiêu Hồi VNCH, cũng có mặt, cùng giáo sư Nguyễn Thanh Liêm, cựu thứ trưởng Bộ Văn Hóa, Giáo Dục và Thanh Niên VNCH, và các vị trong ban tổ chức dâng vòng hoa tưởng nhớ cố nguyên thủ quốc gia nền Đệ Nhị Cộng Hòa.
Image

Đệ Nhất Phu Nhân cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (ngay sau di ảnh tổng thống),
bên cạnh là bà Nguyễn Thị Hai (đeo kính), phó chủ tịch Hạ Viện Việt Nam Cộng Hòa, trong nghi thức tưởng niệm.
Nhớ lại thời điểm 30 tháng 4, năm 1975, ông Nhã nói với nhật báo Việt Herald rằng cho đến giờ phút này, người ta ít biết đầy đủ chuyện hậu trường vận mệnh đất nước thời 1973-1975.

“Tôi mong được giải mật một số tư liệu của Hoa Kỳ để viết hồi ký cho con cháu hiểu về một giai đoạn quan trọng trong lịch sử nước nhà,” ông nói.

Nhớ lại thời vàng son, với vai trò cố vấn cho tổng thống, ông Nhã nhận định rằng thời điểm ông và Tổng Thống Thiệu làm việc chung với nhau thành công nhất là lúc ký Hiệp Định Paris. “Chỉ trong một thời gian rất ngắn, cả hai chúng tôi đã làm việc ăn khớp và nhanh gọn để dứt điểm hiệp định, trong bối cảnh Cộng Sản Bắc Việt vừa đánh vừa đàm,” ông tiết lộ. Theo cựu cố vấn của tổng thống, giai đoạn tệ hại nhất trong cuộc đời chính trị của ông và tổng thống là khi biết Mỹ quyết định ra đi đột ngột mà vẫn không có đủ thời gian chỉnh đốn.

“Nhiều phen trong hậu trường, hai thầy trò phải nuốt nước mắt vào trong, không ai bên ngoài có thể hiểu được,” ông Hoàng Đức Nhã kể riêng với nhật báo Việt Herald.

Vào 11 giờ trưa cùng ngày, hàng trăm quân dân cán chính và đồng hương tại Nam California đã tề tựu chật nhà hàng Regent West, Santa Ana, để đợi đúng 12 giờ thì cùng gia đình cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cử hành nghi lễ tưởng niệm cố lãnh đạo miền Nam Việt Nam, cũng là lễ giỗ lần thứ 8 của ông.

Đệ Nhất Phu Nhân Đệ Nhị Cộng Hòa, bà Nguyễn Thị Mai Anh, xuất hiện đúng giờ, vẫy tay chào các nữ quân nhân xếp hàng trong sân đậu xe và tiến vào nhà hàng, trong lúc hàng chục người vây quanh chào thăm bà.

Sau khi giới thiệu quan khách và nghi thức khai mạc, di ảnh cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và lệnh kỳ tổng thống được rước vào vị trí lễ đài.

Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm, trưởng ban tổ chức, đọc diễn văn nói lên ý nghĩa lễ tưởng niệm, trước khi ông Trần Thanh Điền tuyên đọc tiểu sử cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.

Trước phần đọc văn tế do ông Nguyễn Thanh Huy tuyên đọc, phần hành tế đại lễ trong nghi thức tế lễ diễn ra thật trang trọng.


Sau đó, gia đình, thân nhân và lãnh đạo tinh thần các tôn giáo niệm hương trước bàn thờ, hương án và di ảnh Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.

Dù tươi cười chào thăm nhiều nhân vật từng làm việc trong thời Đệ Nhị Cộng Hòa, người đầu tiên phu nhân tổng thống ôm hôn tại buổi lễ là bà Nguyễn Thị Hai, phó chủ tịch Hạ Viện Việt Nam Cộng Hòa. Sau đó hai vị đã ngồi cạnh nhau suốt buổi tưởng niệm.

Ngoài bà Nguyễn Thị Hạnh Nhơn, chủ tịch Hội HO Cứu Trợ TPB/QP VNCH, và nhiều đại diện các tổ chức của người Việt tại Hoa Kỳ, các vị dân cử địa phương cũng đã có mặt, như Dân Biểu Trần Thái Văn, Ủy Viên Giáo Dục Orange County Phạm Kim Long, Phó Thị Trưởng Westminster Tạ Đức Trí, Nghị Viên Garden Grove Andrew Đỗ, Nghị Viên Westminster, Tyler Diệp, Phó Chủ Tịch Học Khu Garden Grove Nguyễn Quốc Lân, luật sư Lê Công Tâm (phụ tá đặc biệt của GSV Janet Nguyễn).

Trước khi bế mạc, mọi người dùng cơm thân mật và hàn huyên.
Image

Tóm tắt tiểu sử cố Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu
Theo tài liệu ban tổ chức, cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu sanh ngày 11 tháng 12 năm 1924 (năm Giáp Tý) tại làng Tri Thủy, xã Tân Hải, quận Thanh Hải, tỉnh Ninh Thuận.

Sau khi tốt nghiệp khóa 1 Võ Bị Quốc Gia Huế, năm 1949, ông lập gia đình với bà Nguyễn Thị Mai Anh vào năm 1951.

Sau khi đảm nhiệm các vị trí trung đội trưởng và đại đội trưởng từ năm 1950 đến năm 1951, ông về làm huấn luyện viên trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt.

Sau khi được thăng cấp đại úy và làm sĩ quan tham mưu Phân Khu Hưng Yên, Đệ Tam Quân Khu Bắc Việt, đến tháng 8 năm 1953, ông Nguyễn Văn Thiệu về Đệ Nhị Quân Khu và phục vụ trong Bộ Tham Mưu tại Huế cho đến tháng 4 năm 1954.

Sau đó, thiếu tá Nguyễn Văn Thiệu làm tiểu khu trưởng Tiểu Khu Ninh Thuận, và trung đoàn trưởng tại Tuy Hòa.

Từ năm 1954 đến 1955, ông là tư lệnh phó Đệ Nhị Quân Khu tại Huế.

Sau đó, ông giữ chức vụ chỉ huy trưởng Võ Bị Quốc Gia Việt Nam tại Đà Lạt đến tháng 7 năm 1957.

Ông Nguyễn Văn Thiệu thụ huấn khóa Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp ở Fort Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ, từ tháng 7 năm 1957 đến tháng 6 năm 1958.

Trở về nước, ông đảm nhận lại chức vụ chỉ huy trưởng Võ Bị Quốc Gia Việt Nam lần thứ 2, đến tháng 2 năm 1960.

Sau khi được vinh thăng đại tá, và làm tham mưu phó Bộ Tư Lệnh Hành Quân tại Sài Gòn thì đến năm 1962, ông đi Okinawa, Nhật, thụ huấn tại trường Chỉ Huy Tham Mưu Thái Bình Dương.

Về nước, ông Nguyễn Văn Thiệu được bổ nhiệm tư lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh tại Huế đến tháng 7 năm 1963, sau đó ông đổi qua Sư Đoàn 5 Bộ Binh tại Biên Hòa đến tháng 2 năm 1964, và kế đó được vinh thăng thiếu tướng.

Trong năm 1964, ông giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng Liên Quân/Bộ Tổng Tham Mưu, kiêm Tổng Thư Ký Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng.

Qua năm 1965, ông là tư lệnh Quân Đoàn IV kiêm Vùng 4 Chiến Thuật tại Cần Thơ. Trong năm này, ông cũng được vinh thăng trung tướng, và bắt đầu bước vào chính trường khi đảm nhận chức vụ phó thủ tướng kiêm tổng trưởng quốc phòng trong chính phủ Phan Huy Quát.

Bấy giờ ông cũng kiêm nhiệm luôn chức vụ Chủ Tịch Hội Đồng Quân Lực.

Ngày 19 tháng 6 năm 1965, khi quân đội nhận quyền lãnh đạo đất nước, ông được tín nhiệm trong chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia.

Ông đắc cử tổng thống Đệ Nhị Cộng Hòa trong 2 nhiệm kỳ, kể từ tháng 9 năm 1967.

Tháng 4 năm 1975, ông quyết định từ chức Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, và rời quê hương.

Sau một thời gian sống tại London, Anh, ông Nguyễn Văn Thiệu cùng gia đình định cư tại Mỹ vào năm 1985, tại các thành phố tiểu bang Massachusetts.

10 giờ tối 29 tháng 9 năm 2001, cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tạ thế tại bệnh viện Beth Irael Deacones, Boston, Massachusetts, hưởng thọ 78 tuổi, để lại phu nhân, bốn con, con rể, con dâu, hai cháu ngoại và hai cháu nội. (T.Đ.)
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Mũ Đỏ+Cờ Vàng Trên Khải Hoàn Môn Paris


Mũ Đỏ VNCH với Cờ Vàng tham dự diễn hành trên đại lộ Champs-Elysées
và đặt vòng hoa tại mộ bia chiến sĩ vô danh dưới chân Khải Hoàn Môn tại Paris hôm 03/10/2009
do hội Union Nationale des Parachutistes tổ chức để mừng ngày lễ St-Michel (29/09)..

Image

Image

Image

Image

Image
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »


Image


TRUNG TÁ NGUYỄN ĐỨC XÍCH:
NGƯỜI TÙ BẤT KHUẤT

Sau khi vô tù ngày 2 tháng 5 năm 1975 ở tỉnh Cà Mau, qua cái lịnh đầu hàng vô điều kiện một cách bất ngờ, nhưng có chủ mưu, thông đồng, theo yêu cầu với giặc Cộng do đại tướng Dương Văn Minh và lịnh "bàn giao trong vòng trật tự" của chuẩn tướng nội phản "ăn cơm quốc gia, thờ ma Cộng Sản "Nguyễn Hữu Hạnh; tôi bị giải đi nhiều trại như: khám lớn Cà Mau, Trại tù Cái Rắn (Tân Ánh), Kiến Vàng, khám lớn Bạc Liêu, Trại lao động Gành Hào và mùa hè năm 1976 bị đưa lên trại tù cấp quân khu, trực thuộc quân khu 9; được Việt Cộng chiếu cố khá tận tình, nên trong tất cả các lần chuyển trại nào cũng có tên tôi và được "cách mạng" nâng cấp tù từ tỉnh lẻ lên cấp quân khu, dù cấp bậc trong nhà binh từ đầu mới ra trường đến sau 2 năm ra đơn vị vẫn như cũ do bị ký củ.

Đến trại tù gọi là Liên Trại 3, trước đây là trung tấm huấn luyện Quốc Gia Chi Lăng, ở vùng Thất Sơn, thuộc tỉnh Châu Đốc; trại nầy có 3 liên độ mang số 3, 5 và 5, chứa hàng chục ngàn tù binh từ cấp úy trở lên, là số tù còn tồn đọng, được coi là nặng ký từ các tỉnh giải về sau những đợt "bắc tiến" của những người mới hôm qua từng làm cho kẻ chiến thắng "thất điên bát đảo" qua những trận đánh lừng danh từ Quảng Trị đến Mũi Cà Mau, nay trở thành người tù binh bất đắc dĩ. Được biết, ngoài trại Chi Lăng, còn có một số tù cấp đại úy, còn tồn đọng, tập trung trong trại cải tạo ở tỉnh Mộc Hóa (Kiến Tường), đó là đoàn 675. Tôi được đưa vào liên đội 3, một nơi tạp nhạp tù từ cấp úy đến đại tá, nên có cơ hội ở chung với những người mà trước đây là thượng cấp của mình. Chi Lăng với cát, khí hậu khô, nhất là vào mùa hè, làm tăng sức nóng như bài thơ của Nguyễn Khuyến:

"Ai xui con quốc gọi mùa hè.
Cái nắng nung người, nóng, nóng ghê".

Vừa vào trại lúc 10 giờ sáng, sau khi ổn định chỗ ngủ, thì chạy ra sau hè để múc chút nước xài, tắm cho mát sau chuyến đi khá mệt trong chiếc xe G.M.C đầy ấp người và đầy căng thẳng. Những dải nhà dài trong trại nầy vốn là nơi dành cho các tân binh quân dịch hay các đơn vị gởi về huấn luyện; nóc lợp thiếc, nền nhà xi măng, trước đây thẳng tấp những chiếc giường bằng sắt, dành cho tân binh ngủ. Nay trống trơn, chỉ còn trơ lại nền nhà, đủ thấy là " cách mạng" rất tài tình, giải phóng nhanh, mạnh đến mức nào? Nếu tháo được thiếc, cạy được xi măng, thì những dải nhà nầy chắc chắn chỉ còn lại cái sườn và nền cát trơ trọi. Giữa hai dải nhà là cái giếng nước, mua hè mực nước lên rất chậm mà số người đứng chờ mút nước thì đông, tức là số cung quá ít so với số cầu. Tôi cùng nằm trong số những người chờ đợi ấy, bỗng có giọng nói Huế thanh thót vang lên:

- Các anh múc nước, xin đừng quên nước hỷ!.

Tôi nhìn lại, một người đàn ông trung niên, gương mặt dễ coi, mái tóc đen vợn, mặc bộ đồ lính đang đứng nhìn mọi người chờ nước lên và lắc đầu. Tôi hỏi vài người đứng chung, ở trại nầy trước, họ cho biết đó là trung tá NGUYỄN ĐỨC XÍCH, nguyên tỉnh trưởng Gia Định, thời tổng thống Ngô Đình Diệm. Nghe nói tên, tôi giựt mình, vì trước đó từng nghe qua anh qua, từ thời còn là cậu học trò tiểu học, không ngờ gặp lại ở đây. Sau đó, tôi làm quen với anh Trịnh Tiến Bình, đại uý ở tiểu khu kiến Hòa, là người Bắc di cư 1954, có nhà ở Hố Nai; anh Bình là người Công Giáo, chống Cộng kiên cường, anh biết tôi qua vài lần tiếp xúc, nên đưa đến gặp anh Nguyễn Đức Xích.

Từ đó tôi trở thành người của nhóm sinh hoạt trong trại tù. Đây là sự kết hợp giữa những người Công Giáo và Phật Giáo Hòa Hảo, trong hoàng cảnh khó khăn, nguy hiểm, nằm trong tay giặc. Nhóm nầy ngoài anh Xích, có trung tá Nguyễn Thanh Liêm (Hòa Hảo, là thầy trong binh chủng Quân Cảnh, nghe nói ông đi Mỹ), đại úy Đỗ Thành Luôn (thiết giáp), thiếu tá Phùng Đức Vinh, thuộc Pháo Binh Dù, tức là Vinh Mổ Bụng; vì anh bị thương, bụng chưa lành mà bị Việt Cộng đuổi ta khỏi bịnh viện, nên khi vào tù vẫn còn các băng lớn ở bụng, khi mở ra thấy cả thịt đỏ tươi ở bên trong (nhìn anh Vinh mà biết cách mạng nhân đạo đến độ kinh tởm)...

Anh Nguyễn Đức Xích là đàn anh trong quân đội, người thầy khả kính, bạn tù vong niên của tôi, dù sau khi anh bị giặc sát hại, nhưng lòng tôi vẫn thường nghĩ đến anh trong niềm kính phục, nhất là mỗi độ tháng TƯ ĐEN về hàng năm. Nhờ anh Xích mà tôi cũng như nhiều người tù khác coi cách sống, tư cách của anh như một biểu hiện tinh thần bất khuất, tấm gương cho người tù trong hoàn cảnh xấu nhất sau ngày giặc Cộng "nối vòng tay LỚN đầy lông lá" mà toàn dân miền Nam không bao giờ quên "lũ giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay nhuốm máu đồng bào".

Anh tốt nghiệp khóa 2, sĩ quan trừ bị Thủ Đức, có bằng cử nhân, là người thân cận với tổng thống Ngô Đình Diệm. Năm 28 tuổi, là thiếu tá, sau lên trung tá trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, làm tỉnh trưởng Gia Định; thời mà các sĩ quan từ đại úy trở lên, trước khi được thăng cấp, được gọi lên trình diện tổng thống để nhìn tướng; lúc đó miền Nam chia thành 5 quân khu, đại tá Trần Thiện Khiêm là tư lịnh quân khu 5, đặt bộ tư lịnh ở tỉnh Cần Thơ; theo anh kể thì sau ngày đảo chánh, anh bị những người mới lên cầm quyền trù dập, giải ngũ và sau cùng làm bên Giám Sát Viện cho đến ngày mất miền Nam.

Anh Xích không muốn nhắc đến cái ngày rủi ro là bị bắt trên đường vượt biển tìm tự do do sau 1975; nhưng có vài người bạn kể lại là: anh bị bắt trong một chuyến vượt biên ở Rạch Giá, Việt Cộng xét hành lý để kiếm vàng, tình cờ, trong mớ hình mang theo để kỷ niệm, chúng thấy tấm hình của anh chụp chung với tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Việt Cộng nói là: "Anh chụp hình chung với thằng Thiệu thì không phải là tay vừa", nên chúng bắt và canh giữ đặc biệt, sau đó đưa lên trại tù quân khu (đó là chủ mưu giết anh sau nầy).

Sau đó Việt Cộng biết anh Xích là người thân cận, liên hệ mất thiết đến tổng thống Ngô Đình Diệm, kẻ thù số một của Việt cộng; một người từng làm tan rã cả mạng lưới nằm vùng của Hồ Chí Minh cài lại sau năm 1954, quốc sách ấp chiến lược thành công và kể từ khi luật số 10/59 ra đời, đặt Việt Cộng ra ngoài vòng pháp luật, là những tên khủng bố, bị luật pháp qui vào tội hình sự; khiến tên Việt gian bán nước Hồ Chí Minh hốt hoảng, đưa thêm những người miền Nam tập kết trở về hoạt động để bù vào sự tổn thất quá lớn ấy.

Những kẻ đón gió: tướng tá Tôn Thất Đính, Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân, Đỗ Mậu, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Văn Thiệu ... vì lo sợ tổng thống Diệm có kế hoạch trẻ trung hóa hàng tướng lãnh để cải tổ quân đội, sẽ có một số tướng về vườn, hay không còn giữ những chức vụ quan trọng nên làm phản; thêm vào đó sự bất đồng ý kiến vời Hoa Kỳ về mặt chiến lược chống Cộng ... được những tên ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng Sản khai thác, nên trung tướng Dương Văn Minh, kẻ đại diện cho khuynh hướng thân Cộng của nhóm Phật Giáo Ấn Quang do thượng tọa Thích Trí Quang lãnh đạo, lợi dụng, kết hợp và tổ chức cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963, giết chết tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu, làm hỏng cả kế hoạch "diệt Cộng tận gốc" của chánh thể đệ nhất Cộng Hòa.

Những kẻ thời cơ, thiếu viễn kiến, lại tranh chấp quyền hành liên miên từ 1963, tạo cơ hội cho Việt Cộng hồi sinh và sau cùng đưa đến thảm cảnh 30-4-1975. Nếu không có đảo chánh, thì Việt Cộng không bao giờ có cơ hội huênh hoang cái gọi là: "đại thắng mùa xuân 1975". Sự thất bại miền Nam 1975, xuất phát từ nguyên nhân sâu xa là cuộc đảo chánh ấy, nên những người có trách nhiệm muốn chạy tội mà đổ thừa cho Mỹ gây ra. Thật ra thì nếu Mỹ có muốn thay thế Ngô Đình Diệm, nhưng các tướng tá vẫn một lòng phục vụ đất nước, không nghe ai, thì liệu người Mỹ có đảo chánh được không?. Chẳng lẽ họ mang lính từ bên kia bờ đại dương để đảo chánh?

Anh Xích kết nạp tôi vào tổ chức bí mật, không tên, gọi là "nhất đầu chế", anh dạy tôi nhiều điều hữu ích, trao dồi kiến thức, nhất là anh khuyến khích tôi đọc sách Việt Cộng để tìm hiểu, tìm ra những sai lầm để bẻ gảy bằng lý luận chủ thuyết Cộng Sản, tôi không quên câu nói của anh: "Muốn chống Cộng, anh phải hiểu chủ nghĩa Marx Lenin hơn cả chính ủy", nên từ đó tôi hay mượn sách tuyên truyền của Việt Cộng trong thư viện nhỏ ở Liên trại để đọc kỹ, nghiên cứu và thảo luận với anh nếu thấy không hiểu.

Có lần anh đem cuốn sách của Lenin viết, được dịch ra tiếng Việt, do nhà xuất bản SỰ THẬT Hà Nội, sách có tựa là: "Thế Nào Là Thi Đua", anh mở trang gần chót và đọc cho tôi nghe câu nói của Lenin dạy và chỉ thị cho cán bộ: "Đối với bọn trí thức như bác sĩ, cho chúng nó lau nhà xí, nếu cần đem bắn vài tên để làm gương ..." và anh nói là: người trí thức là kẻ thù số một của đảng Cộng Sản, ai trí thức đi theo, bị lợi dụng một thời gian, rồi bị vắt chanh bỏ vỏ; có khi bị thủ tiêu, giết hại. Chúng tôi thường tập trung ở giữa sân banh volley, gần nhà bếp, được cho là nơi an toàn, vì không có dính với các dãy nhà nào, phòng ngừa bọn ăng ten, anh Xích gọi là "chó săn" xâm nhập, nghe lén, báo cáo ... Trong trại nầy, hễ người tù nào lăm le muốn tiến bộ là biết ngay, nên những bộ mặt xạo bị lộ, như cây kim để trong bọc vải bị lòi ra. Chúng tôi không ưa và luôn cảnh giác thành phần nầy, là những kẻ nội thù thật nguy hiểm.

Trong trại, nhất là ở liên đội 3, có một nhân vật nổi tiếng là anh chàng nhạc sĩ VŨ ĐỨC SAO BIỂN, người được cán bộ liên đội 3 phong chức "Trưởng Ban Văn Nghệ Liên Đội" và kiêm luôn "nhà trưởng nhà 4", anh nhạc sĩ nầy được anh em trong nhóm đặt là "Vũ Đức Sao Chổi" và cũng được ghép thêm một chữ nữa là "Vũ Đức Sao Chổi CHÀ". Tôi không còn lạ gì anh, gặp và biết từ lúc mới về trại tù Bạc Liêu, đi lao động ở Gành Hào và đến Chi Lăng. Tên cúng cơm là VÕ HỢI, một số anh em có óc khôi hài giải nghĩa chữ Háng theo nghĩa Đùi bằng chiết tự như sau: Vỏ hay Võ là DA, Hợi là Heo ... tức là DA HEO; cái tên nầy trở thành nick name, được anh hoan hỷ chấp nhận khi có anh em gọi để thay tên Võ Hợi; trong sáng tác, anh lấy nhạc danh "Vũ Đức Sao Biển". Sinh quán ở Quảng Ngãi, xuất thân là nhà giáo, tốt nghiệp đại học sư phạm, dạy môn triết học ở trường trung học đệ nhị cấp Tương Lai (tỉnh Bạc Liêu), lập gia đình với một cô gái địa phương; dù vậy anh cũng động viên, học ở Thủ Đức, ra trường nhưng không có ra chiến trận một ngày nào, được biệt phái sang ngành giáo chức, và cấp bậc lên automatic từ chuẩn úy đến trung úy ... thế là anh bị tù cải tạo sau 30-4-1975.

Trong thời gian ở trại tù Bạc Liêu, tôi thấy anh là người "luôn phấn đấu để tiến bộ" theo tiêu chuẩn của Việt Cộng đề ra; mà người ta ví von bảo là "bảo hoàng hơn vua" và có khi: "Người tù yêu Bác và đảng còn hơn tổng bí thư". Anh bảo thân nhân mang đàn guitar, sáo ... và chơi nhạc cách mạng thật nhuyễn, là mũi nhọn "xung kích" cho các chương trình văn nghệ do các trại tù phát động hàng năm vào dịp tết, ngày sinh Hồ Chí Minh, quốc khánh 2 tháng 9 ... anh thường động não ca những bài như: Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây, xuống đường, tình đất đỏ miền đông .... anh có giọng ca rất hay, nhạc lý vững, nên khi ca bài: "Đi mô rồi cũng về Hà Tỉnh" hay "chào em cô gái Lam Hồng" nghe y như ca sĩ miền Bắc, khiến cán bộ quản giáo vỗ tay khen ngợi; nhưng đa số anh em trong trại tù thì cảm thấy cái lỗ tai bị hiếp dâm nhiều lần trong mỗi ngày: từ cái loa tiếp vận từ đài phát thanh nhà nước đặt trong nóc trại, đến ở trong buồng giam cũng còn nghe tiếng hát Võ Hợi "tiếng hát át tiếng ... đói".. Anh sáng tác bài ca Đảng, Bác, tôi còn nhớ vài câu trong bài "Trồng Cây nhớ Bác" có câu:

"Trồng cây ta lại nhớ Người.
Cây bao nhiêu lá, thương Người bấy nhiêu"

Bài ca tiếp:

"Nhớ Bác Hồ trồng cây năm xưa.
Bác tuy già, nhưng còn mạnh khỏe".

Tôi không quên một sáng tác mà anh "động não" ở trại tù Chi Lăng, có tựa đề là: "Hôm qua anh đi lạc đường" hay là "Anh làm rẫy" (bài hát theo thể Minor):

"Hôm qua anh đi lạc đường.
Anh cầm súng Mỹ đánh phá quê hương.
Hôm nay đây, chính tay anh đã trồng thành giồng sanh tươi.
Bạn thân ơi!, Đảng cho ta tìm lại cuộc đời".

Chính sự tiến bộ "vượt chỉ tiêu" của anh, mà nhiều người tù phải lánh xa, anh về sau 5 cuốn lịch "học tập tốt, lao động tốt", khi nhận được giấy ra trại, có người bạn cùng nhà hỏi anh làm gì? Thì anh đáp ngay: "Sẽ nộp đơn vào ban Ca Múa Trung Ương", nghe đâu anh vẫn còn ở Việt Nam, tiếp tục sáng tác và trở thành văn công cho Bác và đảng và thỉnh thoảng tôi thấy vài quyền sách phê bình kiếm hiệp Kim Dung do anh viết, được nhà xuất bản trong nước ấn hành, gởi ra vài thư viện ở nước Úc; có lần tôi mang một quyển sách của anh, gặp quản thủ thư viện người Úc ở Belmont để cảnh báo cho họ biết là: chớ nên nhận bất cứ sách nào từ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam gởi ra ngoài, toàn là tài liệu tuyên truyền và họ cũng hoan hỷ tháo lá cờ máu chung với lá cờ các nước trên một Board "đa văn hóa" sau khi tôi giải thích, sau đó tôi mang lá cờ vàng ba sọc đỏ thay thế. Tôi cố hỏi ai đã cung cấp những sách vở từ trong nước, thì hỏi từ chối, cho đây là chuyện nội bộ điều hành thư viện, thôi cũng đành chịu. Cho nên tại các nơi có người Việt tỵ nạn, bọn Việt Cộng len lỏi, tìm đủ mọi cách mang tác sách vở tặng cho các thư viện, họ rất hoan hỷ nhận những sách vở miễn phí, để vào các kệ sách, không hề biết đó là sách tuyên truyền.

Nhóm chúng tôi sinh hoạt đều đặn, vào những buổi chiều, sau giờ cơm, lợi dụng sân banh có ánh đèn sáng, mang chiếu trải ở giữa sân, tha hồ mà nói những chuyện quan trọng về tình hình đất nước, nên khi có bóng dáng của những người tù tiến bộ là chúng tôi biết ngay. Anh Xích có nhiều điều tâm tình, nói về thời kỳ anh còn làm tỉnh trưởng dưới thời tổng tống Ngô Đình Diệm. Anh dành sự kính trọng qua những câu chuyện có quan hệ tới đệ nhất Cộng Hòa, tôi chú ý câu chuyện về đời sống riêng tư, càng kính phục khi nghe anh Xích nói về chí sĩ Ngô Đình Diệm, ông hút thuốc hiệu bình dân là BASTOS ĐỎ (giới lao động, xe lôi, xích lô ...) hay hút; khác với cái gọi là "chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại", hắn hút á phiện ro ro, hút loại thuốc mắc tiền của hãng Philip Morris (thuốc hút của Mao Trạch Đông gởi hàng tháng đều bị Hồ chê và cho những người phục vụ trong dinh) và ăn uống cầu kỳ như vua chúa.

Tổng thống Diệm suốt đời không vợ con, đời sống thánh thiện; trong khi đó kẻ tự xưng là "cha già dân tộc" Hồ Chí Minh: "suốt đời vì dân vì nước, Bác không bao giờ nghĩ đến vợ con", nhưng tên Việt gia nầy có đời sống tình dục trác táng, tàn bạo, giết cả những người từng cùng hắn chăn gối như Đỗ Thị Lạc, Nông Thị Xuân ... tư cách, lối sống của tên Việt gian Hồ Chí Minh không đáng xách dép cho Tổng thống Diệm. Tổng Thống thường hay gọi anh Xích lên, trao cho số tiền lương tổng thống hàng tháng và nói: "Cơm nước có người lo, tôi không cần tiền tiêu, anh mang về xem dân nghèo thì cho họ". Anh cũng cho biết là người thân với đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận (lúc đó là tổng giám mục), anh tỏ ý lo ngại cho số phận của vị tu sĩ danh tiếng nầy trước sự trù dập của chế độ Cộng Sản.

Về trường hợp của cố vấn Ngô Đình Nhu, em ruột của tổng thống, nhiều người biết ông Nhu là người có kiến thức, khả năng, nhiệt tình với đất nước; được coi là cánh tay đắc lực cho tổng thống trong công cuộc "diệt Cộng cứu nước" và các chính sách kinh bang tế thế. Vai trò ông Nhu rất quan trọng, nên Việt Cộng nằm vùng muốn loại ông Nhu ra khỏi chính quyền trung ương; Thượng Tọa Thích Trí Quang, lợi dụng tập quán "Trọng Phật kính tăng" một cách máy móc của Phật Tử, trở thành lãnh đạo của một thế lực tôn giáo lớn ở miền Nam; như tờ báo Times cho là: "Người làm rung chuyển cả nước Mỹ", Thích Trí Quang vận động chính giới Mỹ, nên có lần đại sứ Mỹ gặp tổng thống Diệm đề nghị: "không cho ông Nhu làm cố vấn".

Theo lời anh Xích cho biết: "tổng thống bảo là: em tôi làm việc không ăn lương, tình nguyện, không có thiệt hại gì cho ngân sách quốc gia, chẳng lẽ cấm không cho làm việc cho dân và nước tôi hay sao?". Giới chức Mỹ đành chịu thua, sau đó tìm cách móc nối với các "phản tướng, phản tá" làm cuộc đảo chánh. Sau 1-11-1963, sau cuộc chỉnh lý dẹp Dương Văn Minh, quốc trưởng là trung tướng Nguyễn Khánh chịu áp lực của khối Phật Giáo Ấn Quang qua thượng tọa Thích Trí Quang, nên giết người em út của tổng thống là Ngô Đình Cẩn. Một hành vi không thể chấp nhận đối với kẻ tu hành, đạo mạo như tập đoàn Thích Trí Quang.

Tu theo Phật Giáo cấm sát sanh, nhưng giết người là trọng tội với Phật, như vậy tư cách của Thích Trí Quang và đám tăng sĩ theo Việt Cộng còn thua cả CON CHÓ; tiếc thay là có một số phật Tử mù mắt, như Tam Tạng, quỳ lạy ma quái giả dạng mà tưởng là Phật; nên các tên tu sĩ quốc doanh, Việt Cộng giả dạng như Thích Nhất Hạnh, Trí Quang, Minh Châu .... linh mục Phan Khắc Từ, Huỳnh Công Minh, Trương Bá Cần ... vẫn có số tín đồ và con chiên ủng hộ. Thế là họ vẫn tồn tại và tiếp tục "mượn đạo tạo đảng" gây thêm tội lỗi, làm hại đạo, hại nước.

Nếu những tu sĩ nầy không có tín đồ, con chiên ủng hộ thì họ cũng phải bị đào thải như "Chùa Bà Đanh" thôi, và đảng Cộng Sản vô thần nhìn thấy họ không có ai ủng hộ nữa, thì cũng áp dụng chính sách "vắt chanh bỏ vỏ". Tóm lại, cũng chính sự mù quáng của tín đồ, con chiên mà bọn tu sĩ quốc doanh mới có đất dụng võ. Nếu ở hải ngoại, không ai cho các tu sĩ từ trong nước ra xin tiền một XU, thì đảng Cộng Sản cũng chẳng "hồ hởi phấn khởi" gởi tu sĩ của họ ra hải ngoại để vừa móc túi và vừa làm công tác tôn giáo vận. không ai nuôi, ủng hộ thì Việt Cộng cũng phải chết thôi.

Tôi nào quên vụ trốn trại bất thành của nhóm do trung úy HUỲNH THANH SOUL thực hiện, ở liên đội 4 là nổi tiếng khắt khe do tên liên đội trưởng gốc Nghệ An là thượng úy Sáu Ân, nên hệ thống ăn ten khá nguy hiểm. Nhóm của anh Soul bị bể, nhiều người bị đánh te tua, nhốt nhà đá .... để dằn mặt tù, tên thiếu tá chánh ủy Hai Thâu tổ chức lên lớp học tập tại hội trường lớn ở liên đội 5, gom hết 3 liên đội lại; sau những hù dọa, dằn mặt và đưa ra vài người tù trong nhóm trốn trại nhưng nhờ "giác ngộ" mà được hưởng chính sách khoan hồng, hai người được đưa lên nói chuyện và tâm tình, ca tụng "cách mạng" là trung úy LÂM CHÁNH TÀO và trung úy hải quân NGUYỄN VĂN BA tức là BA RÂU.

Hai người nấy nói chuyện thì phải bịt tai, sau đó cán bộ gọi anh Nguyễn Đức Xích lên phát biểu; anh bình tỉnh dùng cái gọi là "quan hệ cũ-mới" để lên án sự tàn ác của chế độ Cộng Sản; anh gọi đó là do sự tuyên truyền của ngành Tâm Lý Chiến để lấy cớ vạch mặt Cộng Sản ngay trước mặt chúng; sau cùng thì anh dành rất ít ngôn từ để nói về cái MỚI là "cách mạng"; đây là chiến thuật" chén úp đầu voi "khiến bọn cán bộ tức lắm, nhưng không làm gì được.

Mùa xuân năm 1977, liên trại 3 tổ chức văn nghệ và chỉ thị các nhà làm báo tường thi đua, rồi chọn tờ nào hay nhất, thi đua với các liên đội, nếu thắng giải, được "tờ biểu dương". Anh Xích bị chính liên đội trưởng là thượng úy Chính Sanh chỉ định cho làm tờ báo của nhà 2. Đó là lối thăm dò tư tưởng, anh biết, nhưng không còn cách nào từ chối. Anh lợi dụng tờ báo để nhắn nhủ với các bạn tù, hãy giữ vững tinh thần, qua bài viết "MÙA XUÂN CẮM HOA", được nhiều người tù hiểu, nhưng bọn chó săn cũng biết và báo cáo cho quản giáo. Tôi thích bài nầy lắm, được treo ở vách tường trong cái CANTEEN của Liên Đội 3, nên đọc thuộc lòng, vẫn còn nhớ, ghi lại như sau:

"Vào một ngày đầm ấm mùa xuân, trong lúc tôi đang đi dạo trong khu vườn nhỏ, mục đích là đi tìm vài thứ hoa để cắm trên bàn thờ ông bà. Bất chợt có người bạn thân đến thăm, tôi mời vào nhà, chúng tôi uống chun trà ấm và sau đó tôi đưa bạn ra vườn, nói rõ mục đích tìm hoa. Hai chúng tôi sánh vai nhau đi dạo trong khu vườn, sau khi lướt qua những bụi Cúc, Đào, Mai ... cuối cùng tôi đành lựa bông Hồng, cắt vài cành, mang vào nhà. Chúng tôi lại trò chuyện, bạn tôi hỏi: "Sao anh chọn hoa Hồng?". Tôi mỉm cười trả lời: "Hoa Hồng lâu tàn, mang vào là thích hợp, ĐƯỢC CẮM TRÊN SỎI ĐÁ. NHƯNG HOA VẪN NỞ"...

Trong đó cũng có một bài nói về câu chuyện của anh tù, trung úy Đoàn Ca, người làm cây nạn dàn thung, bắn chim Én để cải hoạt; bài viết tự đề: "Đoàn Ca bắn chim én", anh có ngụ ý lên án vụ bộ đội, vệ binh trong trại đã bắn chết bác sĩ Tài và làm bị thương một số anh em khác ở Liên đội 4, lúc đi cầu tiêu vào buổi sáng, nghe nói là Việt Cộng "giận cá chém thớt" vì chúng bị thiệt hại nặng khi đụng độ với lực lượng kháng chiến Hòa Hảo ở núi Dài. Trong những câu nói của anh Xích, tôi không quên anh lập lại nhiều lần là:

- "Chủ nghĩa Marx với chiêu bài phân bố quyền lợi đồng đều trên toàn thế giới, nhưng người Cộng Sản phi nhân"

- "Mình ở tù cũng do Mỹ, được thả cũng do Mỹ và sau nầy Việt Cộng thua cũng do Mỹ tất cả đều do Mỹ thôi"

Tình hình biên giới căng thẳng, hàng đêm chúng tôi nằm ở sân banh, nghe tiếng súng đại bác nổ xa xa mà mừng thầm. Nhưng sau đó, trại tù dời về Vườn Đào, thuộc xã Mỹ Phước Tây, huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho chỗ nầy là khu của Việt Cộng trước 1975. Đời sống khó khăn vì nhà đất, cách lá. Dù vậy, chúng tôi vẫn thường gặp nhau, nhưng rất cẩn thận vì bọn chó săn luôn rình rập. Chắc chắn là do sự xếp đặt của cán bộ trại, nên hai người tù bị lưu ý, là mục tiêu thanh toán: đại úy Quách Dược Thanh, trung tá Nguyễn Đức Xích, được ở chung một tổ, tổ trưởng là trung úy Nguyễn Chí Thành (tức là Thành Sốt Rét, hay Thành Xe Lôi), anh nầy là phân chi khu trưởng Tân Xuyên ở Cà Mau, ngủ giữa hai anh Xích và Thanh; hiện anh Thành định cư ở San Jose (Bắc Cali).

Mùa nước lụt khủng khiếp 1978, nhưng trại tù vẫn "tử thủ" và sau khi nước vừa rút ló mặt đường, thì tên Trung úy Trần Khen (tự là Tư Khen) dẫn 2 vệ binh tới nhà trong, còng tay và dẫn anh đi về bộ chỉ huy, trước sự lo lắng của nhiều người, nhất là những người có quan hệ với anh một người bạn là anh trung úy Dương Văn Th... (hiện định cư ở Mỹ) tình cờ làm lao động ở gần bộ chỉ huy liên trại, nghe bên trong có tiếng đánh đập và giọng anh Xích vang lên: "Các anh không được đánh tôi, muốn gì hãy nói chuyện tử tế với nhau". Anh bị nhốt trong Cornex gần bịnh xá. Tết năm 1979, một số anh em nhận thăm nuôi, qua sự dàn xếp bí mật của bác sĩ Trương Văn Thành (sư đoàn 7), lén gởi thuốc, đồ ăn cho anh Xích, không biết ai báo cáo, việc đổ bể và nhiều người bị bắt, nhốt gần nửa tháng ở Cornex, trong đó tôi có biết anh Lữ Phùng Quang (trung úy ban 2 ở Châu Đốc), thiếu tá Nguyễn Văn Thà (quận trưởng) thời gian sau ngày anh bị bắt thật căng thẳng, Hai Thâu, Ba Minh, cán bộ lên lớp hù dọa đủ thứ để tìm ra tổ chức anh Xich, nhưng không ai bị lọt bẫy và anh Xích không hé môi dù bị đánh đập, hành hạ.

Vào một buổi tối, lúc 10 giờ, thình lình nghe tiếng súng nổ dòn ở phía hàng rào liên đội 5, và tiếp theo đó là bộ đội mang súng chạy rần rật ngoài đường lộ đất trong trại, y như có đánh trận vậy. Tù ở trong nhà, không ai dám ra sân, đi cầu ... hồi họp chờ đợi. Đến sáng hôm sau, tên thượng úy Chính Sanh đến nhà ngoài ra lịnh 5 người khỏe mạnh làm công tác đặc biệt. Tôi có người bạn thân là trung úy Người Nhái Trần Văn Xòn đi trong toán công tác; anh Xòn cho biết anh Xích bị bắn chết, nằm ngoài vòng rào liên đội 5, anh cho biết sương đêm bám vào mái tóc vợn sóng bồng bền và trên môi vẫn còn nở nụ cười ngạo nghễ tin anh Xích bị giết làm chấn động mọi người, nhất là người bạn tù thân thiết, từng sinh hoạt bí mật trong nhóm từ Chi Lăng đến Vườn Đào.

Sau khi giết chết Nguyễn Đức Xích, cán bộ trại tung tin là: Anh Xích vượt trại nên bị bắn, ai cũng biết đây là tin vịt, vì anh bị nhốt trong cornex kiên cố, có khóa cẩn thận, thì làm sao thoát được. Theo một nguồn tin về cái chết của trung tá Nguyễn Đức Xích, dù là tin chưa kiểm chứng nhưng cũng xin ghi lại để có thêm suy nghĩ: số là trong lúc anh Xích bị nhốt trong cornex, có một bộ đội canh coi được anh Xích giác ngộ, nên quí mến anh cho nên cán bộ cấp trên biết được.. Đêm đó, người cán binh nầy muốn thả anh, nên lén dẫn ra tới hàng rào, lấy cớ là đi cầu đám cán bộ biết được nên bắn chết anh Xích và giết luôn người bộ đội. Tuy nhiên, ai cũng biết đây là chủ trương của đảng Cộng Sản Việt Nam, chúng giết hết những người nào bị cho là nguy hiểm.

Trong trại tù Vườn Đào, có đại tá Phạm Chí Kim, tỉnh trưởng tại chức Kiến Hòa, được giữ lại miền Nam và nghe nói được hưởng chính sách "khoan hồng" về với gia đình; có thể nói trường hợp đại tá Kim là hiếm hoi cấp cao như vậy mà còn ở lại miền Nam. Ngoài ra còn có nhiều người đồng cấp tá với anh Xích, nhưng về sớm như: trung tá Hoàng Đức Thành (tức là Thành Nhà Đèn, sĩ quan tiếp vận), trung tá An (thiết giáp), trung tá Huỳnh Hữu Chỉ (tiếp liệu), thiếu tá Thái Sĩ (người Huế, Công Binh, về rất sớm và được biên chế làm Công nhân Viên cho trại tù), trung tá Nguyễn Thời Rê (nguyên là tỉnh trưởng Châu Đốc)

Sau cái chết của trung tá Nguyễn Đức Xích và đại úy Quách Dược Thanh, để chạy tội, cán bộ trại tù Vườn Đào tung ra nhiều hỏa mù, nhằm hạ kẻ thù, dù đã bị sát hại; đó là một thủ đoạn vô cùng thâm độc, nên sau nầy có nhiều nguồn tin như: gia đình anh Xích không chung vàng, nên hai Thâu giết, hay là đại úy Quách Dược Thanh báo cáo vụ tham nhũng bột ngọt của thượng úy Chín Sanh với Ba Minh, nên bị Chính Sanh giết trả thù. Có thể một số anh em tù thiếu nhận xét mà nghe tin nầy từ đám ăn ten đồn trong trại từ miệng của bọn cán bộ quản giáo, sau nầy mang ra hải ngoại để tiếp tục hạ uy tín những người tù bất khuất. Sau khi ở nước ngoài, tôi tìm được gia đình anh Nguyễn Đức Xích, liên lạc với linh mục Nguyễn Đức Sách và anh Nguyễn Đức Đơn (anh qua đời đột ngột năm 2005). Theo tin tức của anh Đơn cho biết thì gia đình đã lấy cốt anh Xích, tro được giữ ở Việt Nam một phần và phần khác đem ở tiểu bang Queensland (Australia), thế cũng tạm yên cho những người bạn tù như tôi. Lúc còn ở trong trại tù, anh Xích rất quí mến anh Quách Dược Thanh, có lần nói: "Thanh ơi! Tại sao tao gặp mầy quá muộn màng trong hoàn cảnh nầy?".

Những người tù thân thiết với hai anh, nào quên những lời nói, kỷ niệm, nhất là kính phục tinh thần bất khuất của những người tù sau 1975, mà hai anh là một trong rất nhiều người tiêu biểu. Anh Quách Dược Thanh cũng có câu nói thật ý nghĩa với các bạn tù, đàn em thân tình, cùng vững lập trường: "Muốn sống để trả thù, dù phải ăn cỏ...".

Nhân đây, người viết xin có ý kiến: hầu hết các tù nhân đều có tờ giấy RA TRẠI do bộ Nội Vụ Việt Cộng cấp. Trong phần kết án, có ghi tội danh như: can tôi thiếu úy, thiếu tá .... đó là những thứ tội mà thế giới nhận rõ là "vi phạm nhân quyền" và hoàn toàn phi lý, phi pháp. Việt Cộng đem vụ chất da cam thưa các hãng Hoa Kỳ, thì những quân nhân cán chính cũng nên vận động, quyên góp tiền để đưa bạo quyền Cộng Sản ra các tòa án ở hải ngoại và đòi bồi thường những năm ở tù phi lý, cũng như đòi bồi thường nhân mạng cho những người bị giết với nhiều cách: bắn, tra tấn lao động, bỏ đói, bịnh tật không thuốc men chăm sóc.

Nếu có được những người biết luật, các luật gia giúp đỡ, phát động bởi những người tù có uy tính như các tướng lãnh, vận động chính giới các nước như Mỹ, Úc (nhất là các hội cựu chiến binh từng tham chiến tại Việt Nam) thì tù nhân sẽ dịch các tờ giấy ra trại bằng tiếng Anh, có thị thực, gởi đến, càng nhiều người càng tốt nếu việc nầy thực hiện, thì mỗi người H.O hay tù, dân, chỉ cần đóng 1 đồng, cũng dư tiền để lo thủ tục pháp lý. Một điều nữa là cái vụ kiện nầy cũng là bằng chứng để tố cáo tình trạng vi phạm nhân quyền thô bạo của đảng và nhà nước Việt Cộng trước công luận thế giới; nếu không thành công nhưng cũng làm cho bạo quyền Việt Cộng mất mặt đối với Liên Hiệp Quốc, các nước Âu-Mỹ. Mỗi người một tay, mỗi cách đánh, thì dù cho núi cũng phải bị san bằng, huống chi cái chế độ bạo ngược Cộng Sản nầy đang trong thời kỳ dẫy chết..
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Ngày Vinh Danh Chiến Sĩ Việt Mỹ tại Houston:
Hùng tráng và cảm động

Wednesday, October 14, 2009

Image
Toàn cảnh buổi lễ vinh danh trước Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt-Mỹ tại Houston.
(Hình: Hiền Vy)

Image
Các cựu quân nhân Mỹ-Việt trong buổi lễ vinh danh. (Hình: Hiền Vy)

Nguyễn Phục Hưng

(Gởi cho Người Việt từ Houston, Texas)
Vào chiều Chủ Nhật, ngày 11 Tháng Mười, năm 2009, mặc dù trời lất phất mưa và gió lạnh đầu Thu vừa tràn đến, nhưng hàng ngàn cư dân Houston cũng đứng hai bên đại lộ Bellaire khu Tây Nam Houston để đón chào đoàn xe hoa và cuộc diễn hành của các cựu quân nhân Mỹ-Việt đã từng sát cánh trong cuộc chiến Việt Nam.

Ngày Vinh Danh Chiến Sĩ Tự Do tại Houston do 3 nhóm trẻ người Việt là “Nhóm chuyên gia trẻ Việt Mỹ tri ân cựu chiến sĩ Tự Do” (Young Vietnamese American Professionals Salute Veterans of Freedom), nhóm thiện nguyện Góp Một Bàn Tay (Lend A Hand) và nhóm Gia Ðình Việt Mỹ (Amerisian) phối hợp cùng hội Cựu Chiến Binh Việt Mỹ và một số trường học tại Houston tổ chức rất quy mô.

Khi được hỏi về chủ đích của ngày lễ vinh danh này, Tiến Sĩ Michael Hòa, một thành viên ban tổ chức đã cho biết, “Ngày lễ nhằm tuyên dương sự hy sinh của các chiến sĩ Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu bảo vệ tự do dân chủ cho Việt Nam trong hơn 21 năm.”

“Mục đích duy nhất là tri ân tất cả những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa và những chiến sĩ Hoa Kỳ đã tham chiến từ năm 1960 đến năm 1975.”

Ngày vinh danh bắt đầu bằng một cuộc diễn hành trên đại lộ Bellaire, là khu thương mại lớn nhất của người Việt tại Houston với sự góp mặt của hàng trăm cựu chiến binh Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa đủ các binh chủng với sự hỗ trợ của các ban nhạc diễn hành và xe hoa. Trong khi đoàn cựu chiến binh diễn hành trên đại lộ Bellaire thì trên không, máy bay trực thăng của Quân Lực Hoa Kỳ cũng có màn biểu diễn. Tiếp theo là lễ tưởng niệm các chiến sĩ Việt Mỹ và đồng bào đã hy sinh để bảo vệ tự do và lễ xướng danh cùng trao tặng hoa cho các cựu chiến binh trước Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ.

Anh Nhân Trần, trong nhóm “Gia đình Việt Mỹ”, đến từ Chicago nói rằng buổi lễ vinh danh này còn là dịp cho giới trẻ mang hai giòng máu Việt Mỹ cảm ơn thế hệ cha anh đã hy sinh để họ có một cuộc sống tự do, thành đạt và bình đẳng tại Hoa Kỳ.

“Ðây là một niềm vinh hạnh lớn lao. Ðã hơn 30 năm chúng em chưa có cơ hội ra mắt cộng đồng cũng như ra mắt với những bậc chú cha là những người đã hy sinh, cống hiến thân xác cho tự do và dân chủ. Sự hy sinh và cống hiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Quân Lực Hoa Kỳ được công nhận và đánh giá là một việc làm oai hùng cho cùng một lý tưởng là tự do và dân chủ. Sự giúp đỡ của Quân Lực Hoa Kỳ có mục đích chính là đấu tranh giành độc lập cho đồng bào Việt Nam của chúng ta cho nên chúng em rất hân hạnh có những người cha, người chú như vậy.”

Một cựu chiến binh Hoa Kỳ, ông Jack Field, đã cho rằng buổi lễ vinh danh hôm nay thật tuyệt vời. Theo ông, những chiến sĩ Hoa Kỳ không thất trận ngoài chiến trường mà họ thua vì mặt trận tuyên truyền phản chiến ngay tại Hoa Kỳ và họ đã bị đối xử bất công lúc trở về. Do đó ngày vinh danh là một dịp phục hồi danh dự cho các chiến sĩ Tự Do đã bị quên lãng và cộng đồng Việt tại Houston đã làm được những điều rất có ý nghĩa và các cựu chiến binh Hoa Kỳ vô cùng cảm kích

Ðại Tá Bob Mokart thuộc Vệ Binh Quốc Gia Texas đã nói là ngày vinh danh có ý nghĩa cao cả và ông rất cảm động về tinh thần cao đẹp của người Mỹ gốc Việt và ông hân hạnh đón chào họ cùng xây dựng nước Mỹ.

Một cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa, ông Châu Nguyễn, nói ông rất vui mừng khi thấy đồng hương vẫy tay chào mừng đoàn diễn hành vì điều đó chứng tỏ đồng hương vẫn còn nhớ những chiến sĩ Cộng Hòa:

“Trong lúc diễn hành tôi thấy đồng bào đón dọc đường, họ cho những tràng pháo tay và cái đó có nghĩa là họ chào đón các anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, họ chưa quên chiến sĩ VNCH.”

Cô Laura Lê, một nữ đại úy Hải Quân trừ bị người Mỹ gốc Việt trong Quân Lực Hoa Kỳ nói rằng, “Sinh ra và lớn lên trong cộng đồng Người Việt tại Houston, cô chưa từng thấy một buổi lễ nào hùng tráng và cảm động như ngày lễ vinh danh các cựu chiến binh Việt Mỹ hôm nay.”

Ông Ngô Quang Chiến, một cựu chiến binh thuộc Sư Ðoàn 23 Bộ Binh, cho rằng ngày vinh danh rất có ý nghĩa và nghẹn ngào tỏ ý tiếc là với bao nhiêu sự hy sinh mà đất nước ta ngày nay vẫn chưa có tự do:

“Ðất nước hiện giờ thì thực sự tự do, dân chủ không có. Chúng tôi là những người đã chiến đấu cho tự do trước năm 1975. Bây giờ thực ra vẫn còn những niềm đau và uất nghẹn trong tâm tư của người lính đã từng cống hiến cho đất nước...”

Sau phần xướng danh và tặng hoa cho các cựu chiến binh Việt Mỹ, những chiếc máy bay trực thăng bay một vòng giã từ mọi người và cuộc văn nghệ liên hoan ngoài trời bắt đầu. Ngày lễ vinh danh đã kết thúc với pháo bông rực rỡ và một buổi tiệc liên hoan trong nhà hàng do ban tổ chức và các mạnh thường quân trong cộng đồng Việt Nam tại Houston khoản đãi.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Những Cánh Dù Lướt Gió Về Đây,
Thung Lũng Hoa Vàng




Cuối tháng Chín trời bắt đầu vào thu, không khí buổi chiều bên ngoài hơi se se cạnh hơi ấm nóng còn sót lại của trưa ngày. Đó là điểm đặc biệt của thời tiết đầu mùa thu và cũng là điểm đặc biệt bên trong của buổi tiệc họp mặt Đại Hội Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam kỳ thứ 29 được tổ chức vào lúc 6 giờ chiều ngày thứ bẩy 26/09/2009 tại hội trường Mondrian Banquet Hall tọa lạc trên đường số 10 South - San Jose.

Khi ánh nắng tàn chưa kịp tắt hẳn thì nơi đây đã rộn rịp bóng dáng của các “thiên thần mũ đỏ”, rộn ràng màu áo hoa rừng của những người lính Nhẩy Dù, tay bắt mặt mừng đang khoác vai nhau chuyện trò cười nói râm ran từ cổng ngoài vào tới tận bên trong hội trường. Hình ảnh đó nói lên bao điều hạnh phúc đối với họ và cũng thật cảm động trước mắt những người khách tới tham dự như chúng tôi.
“những người lính Nhẩy Dù
không ngờ gặp lại nhau
ở cuối vòng trái đất
ở tuổi gần thiên thu...”
n.t.
Họ đi lại, nói cười vui vẻ, tiếng “mày - tao” bật lên sự thân thương trìu mến từ trong giọng nói, tiếng cười. Và những tiếng gọi “ê, ê...” ồn ào nhưng chứa đựng bao nỗi vui mừng xúc động. Hảy nhìn gương mặt của những người lính ấy mà xem, những người lính hôm nay sung sướng được khoác lại bộ quần áo nhà binh, màu áo hoa trận ngày nào, dù giờ đây họ không còn là những người lính trẻ như năm xưa, mà nay tóc đã bạc theo thời gian vận nước, khuôn mặt đã già đi rất nhiều, gần bốn mươi năm rời xa các trận địa xưa rồi còn gì. Lớp người trẻ tuổi nhất ngày trước thì bây giờ cũng gần xấp xỉ sáu mươi. Màu tinh anh trong mắt họ đã mờ đi nhiều nhưng lạ chưa, nỗi vui được gặp lại bạn đồng đội cũ, từng vào sinh ra tử bên nhau một thuở nào, đã làm sáng lại màu mắt họ, rừng rực với bao kỷ niệm tràn về khi cùng nhau nhắc nhớ lại những ngày sống chết trong lòng tổ quốc trước đây.

“những bàn tay nắm chắc
những khuôn mặt hết hồng
nhưng tình trong con mắt
vẫn còn nguyên: sáng trưng!”
n.t.

Tôi thật sự cảm động khi nhìn thấy ý nghĩa của buổi họp mặt này. Họ từ khắp nơi về đây không phải là điều đơn giản. Có người chắt chiu từng chiếc vé máy bay, người cố gắng thu xếp công việc để có thời gian bay về, có người sức khỏe lúc này cũng yếu nhưng... có thế nào cũng phái cố gắng mà tới với Đại Hội Gia Đình Mũ Đỏ của mình chứ, anh em bè bạn ai cũng cao tuổi cả rồi, gặp lần này biết có còn gặp nữa không? Thế là bằng tất cả tấm lòng gắn bó cùng tình đồng đội cũ, nghĩa chiến trường xua, họ bay từ muôn hướng về đây họp mặt. Như Trần Công Hạnh, Tiểu đoàn trưởng TĐ2 Dù cùng hiền thê về từ Minnesota, như vị Cố vấn Hoa Kỳ Duffy cũng là người sống sót trở về từ máu lửa Charlie năm xưa, như Đại tá Gene McCutchan nay đã già yếu ngồi xe lăn cũng cố gắng về từ North Carolina.v.v. ..

Có người lính đứng bên tôi đang sửa lại chiếc cầu vai cho bạn, có người nhìn vào tên trên túi áo để chọc đùa bạn với cái biệt danh truyền tin ngày xa lắc xa lơ mà “tao nhớ, tao hỏi thăm tụi nó về mày, phải kèm thêm cái tên này mới tìm ra...”.

“họ về từ tứ xứ
họ đến từ muôn phương
người châu Âu, châu Úc
người châu Mỹ, xa xăm...

họ cài tên trên ngực
và huy chương... trong tim
họ nói mà như khóc
họ mừng còn anh em!”
n.t.

Lòng tôi cũng chợt nhói đau khi nghe họ nhắc về những người bạn đã ra đi, đã nằm sâu trong lòng đất Mẹ từ lâu: “Mày nhớ Hùng móm ở đại đội 112 của Tiểu Đoàn Dù không?”, “ Nhớ chứ, nó khóa 22A Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt mà. Tao nhớ Hùng Móm chết hồi Mùa Hè Đỏ Lửa 72, thiệt là uổng và tội cho nó quá. Mẹ... đánh bao nhiêu trận ngầu không chết, xông vào Quảng Trị lại chết, chưa kịp mừng chiến thắng ngày tái chiếm...”. “Ừ, khoảng tháng 5 năm 72, tao và nó có mặt bên nhau từ tuyến xuất phát đầu tiên ở Phiong Điền rồi cứ dọc theo Quốc Lộ 1 hướng Tây Bắc mà đánh giặc tới.

"Đại Đội tao là 111 (rồi kèm theo tiếng cười khoái trá, tiếng cười đặc chất nhà binh, ngạo nghễ khi hăng say đánh giặc) bởi vậy tao mới có thêm biệt danh là Ba Búa, thấy giặc Cộng đâu là búa liền vì tội của chúng tàn ác quá. Còn Hùng móm là Đại Đội trưởng ĐĐ 112. Nó đánh giặc cũng chì lắm. Cứ nghĩ tới bọn giặc cố tình xâm lấn mền Nam, làm hại đến đời sống người dân lành là mình không còn sợ chết nữa, nên kỳ đó riêng đại đội tụi mình diệt được chín cái xe tăng T54 của bọn nó, không kể khi đánh xong đồi Trần Văn Lý ở Hòa Mỹ có thêm Tiểu đoàn 1 Pháo binh Nhẩy Dù đã tổng kết tiêu diệt được 26 chiếc T54 của địch quân ào ạt tiến vào đầu tuyến.

"Đại đội hai thằng đánh dài dài sát Quốc Lộ 1 từ chân núi Trường Sơn, vượt qua sông Mỹ Chánh rồi vào Quảng Trị. Sau đó Đại Đội của tao và Đại Úy Hùng được trực thăng chuyển vận thả xuống La Vang, đánh từ lòng địch đánh ra còn Tiểu đoàn 11 Nhẩy Dù mà ông Trung Tá Lê Văn Mễ vừa lên thay Tiểu đoàn Trưởng Nguyễn Đình Bảo vửa chết ở trận Charlie hồi tháng Tư 72, điều động đánh phủ từ bên ngoài đánh vào. Lúc đó thế quân mình cũng mạnh lắm vì lòng ai cũng đau xót trước sự tấn công của CSBV làm dân tình bị chết chóc lây và khốn khổ quá. Tới khi đánh chiếm lại nhà ga Quảng Trị thì...’.

Tôi như nín thở sau câu nói ngập ngừng của người lính chống cây nạng gỗ đang kể chuyện với người bạn ông đứng cạnh bàn tôi.
Sau câu thúc dục của người bạn và sau một tiếng thở dài của người lính ấy, câu chuyện kể được tiếp tục bên tai tôi đang cố lắng nghe:

“Hùng Móm chết khi đang cùng Đại đội của tao đánh chiếm nhà ga Quảng Trị. Là một Đại úy trẻ, nhưng nó có nhiều kinh nghiệm chiến trường và rất gan dạ. Trước đó hơn một tháng ở đồi Charlie, tao và nó cùng có mặt, Đại Đội của nó đánh giặc hăng, chống trả dũng mảnh lắm. Trận đó, có nhiều đứa hy sinh, Trung Tá Tiểu Đoàn trưởng Nguyễn Đình Bảo cũng nằm xuống ở đó, còn tao và Hùng móm đều bị VC bắt nhưng hai đứa đều trốn thoát về được, lại tiếp tục lao ra chiến trường như tên bắn, tham dự trận phản công tái chiếm Cổ thành Quảng Trị như tao vừa kể với mầy.

"Chiếm được nhà ga Quảng Trị rồi thì đêm hôm sau lại nhận lệnh tăng phái cho Tiểu Đoàn 5 Nhẩy Dù, Trung Tá Nguyễn Chí Hiếu nói tao liên lạc với Thiếu tá Tiểu đoàn phó Bùi Quyền, là người đang chỉ huy cánh quân đầu để chiếm lại Cổ thành, Thiếu tá Bùi Quyền cắt đại đội 111 ở nhà thờ Tri Bưu với lệnh đánh chiếm nghĩa địa Tri Bưu và con đường Duy Tân mà VC đang bám trụ ở đó. Nhớ lại mà càng buồn, khi đó Việt cộng tấn công chiếm giữ thành phố này thì dân chúng sợ hãi bỏ chạy hết, nhìn phố phường hoang vắng, đây nhà sập kia nhà cháy ngổn ngang, vườn tược tan hoang, đồng bào mình chạy dồn trên quốc lộ còn bị chúng xả súng, ném bom vào họ, không chùn tay thương xót gây nên sự chết rùng rợn trên đại lộ Kinh Hoàng, thì quả tình lính như tụi mình lúc đó không còn biết sợ chết, sợ súng đạn bom mìn là gì, phải tái chiếm lại Cổ Thành Quảng Trị, đem lại sự sống yên lành cho người dân nơi đây mới được.

Thế đấy, cánh quân đầu tiên phong do Tiểu đoàn 5 và Thiếu tá Bùi Quyền đã cố gắng hết sức mình trong trận phản công kịch liệt, đã đánh chiếm được một số nơi, kéo dài hơn một tháng cho đến ngày chuyển giao lại cho Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến... Nhiều đứa bạn mình đã anh dũng đền xong nợ nước ở trận tái chiếm cổ thành Quảng Trị trong mùa hè khói lửa 1972, trong đó có Đại úy Dù Nguyễn Văn Hùng tự Hùng móm, còn tao, hơn một năm sau thì để lại một chân nơi trận địa Đại Lộc, thành người thương binh từ ấy đến nay...!’.

Giọng nói nghẹn ngào nhắc nhớ lại chiến trường xưa, nơi những người bạn thân đã nằm xuống mỗi lúc một buồn thêm. Đó là người lính Đại Đội trưởng ĐĐ 111 ở Quảng Trị thuộc Tiểu Đoàn 5 Dù ngày nào, Đại úy Đinh Viết Trinh xuất thân khóa 26 Thủ Đức mà hiện nay đang cư ngụ tại San Jose, xúc động nắm chặt bàn tay người bạn phương xa đã mấy mươi năm mới gặp lại nhau trong ngày Đại Hội Gia Đình Mũ Đỏ kỳ thứ 29 này, trong ánh mắt rưng rưng của cả hai, à không, cả của tôi và người nghe chuyện nữa chứ, trong tiếng cười như khóc lẫn với buồn-vui, chuyện người còn kẻ mất sau cuộc chiến 1975.

“họ như xưa không khác
có khác chăng quê nhà...

họ ở tù trăm trại
họ tự do... muôn trùng
họ không quên biên ải
họ không quên Núi Sông

họ gặp nhau mà khóc
họ gặp nhau mà cười
khóc - cười trong hạnh phúc
hạnh phúc trong đầy vơi!”
n.t.
Câu chuyện ấy còn ấm nóng như sự xúc động của tôi chưa dịu xuống thì chương trình buổi họp mặt Đại Hội Gia Đình Mũ Đỏ bắt đầu với phần nghi thức chào cờ Mỹ - Việt và rước Quốc Quân Kỳ rất long trọng do mũ đỏ Bùi Định điều hợp. Khúc quân ca hùng tráng lại được trỗi lên, vang động cả hội trường rộng lớn với sức chưa gần một ngàn người hiện diện hôm đó. Lòng ai ai cũng thấy bừng dậy một niềm tin yêu mến về đất nước khi được nghe, được hát lại bài Quốc Ca Việt Nam. Lòng thêm rộn ràng sôi nổi với ca khúc Đáp Lời Sông Núi của nhạc sĩ Trúc Hồ vang vang:

“Anh em ta đáp lời Sông Núi
Tổ Quốc lâm nguy
xương máu này ta nguyện hiến dâng...
đây muôn triệu con tim
đây muôn triệu khối óc
cùng giòng máu Việt Nam...
anh em ta Đáp Lời Sông Núi”

Hội trường mới huyên náo tiếng nói cười rộn rã đã lắng xuống lặng yên khi mũ đỏ Bùi Định giới thiệu phần nghi thức. Mọi người chăm chú theo dõi các trận đánh hào hùng của Sư Đoàn Nhẩy Dù, như trận Mậu Thân năm 1968, trận Charlie 1972 .v.v... được chiếu trên màn ảnh Live show, làm nhiều người rơi lệ trước sự xả thân cao cả của những người chiến sĩ và nhất là tình nhân đạo của người lính Việt Nam Cộng Hòa đối với tù binh Cộng sản, dù họ đã gây ra tội ác tày trời là giết và chôn sống, vùi nông tập thể hàng ngàn người dân vô tội xứ Huế trong ngày Tết thiêng liêng..

Và từ phía sau hội trường, một người Lính trong bộ quân phục mũ đỏ áo hoa dù xuất hiện, cất tiếng hát mở đầu chương trình bằng giọng truyền cảm xúc động “Người Ở Lại Charlie” của cố nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Đó là Thiếu tá Đoàn Phương Hải, anh hát thay cho những người chiến hữu của anh, để tưởng nhớ người anh hùng mũ đỏ Nguyễn Đình Bảo cùng bao đồng đội chiến hữu đã hy sinh nơi chiến địa Charlie, vĩnh viễn nằm lại trên ngọn đồi gió cát ấy gần bốn mươi năm qua:

“Anh! Anh! hỡi anh ở lại Charlie. Anh! hỡi anh giã từ vũ khí. Vâng! chính anh là ngôi sao mới, một lần này chợt sáng trưng, là cánh dù đan bằng tiếc thương vô cùng... Tounorong, Dakto, Krek, Snoul, Ôi Dambe, Đức Cơ. Trưa Khe Sanh gió mùa, đêm Hạ Lào thức sâu... Anh, cũng anh vừa ở lại một mình, Charlie tên vẫn chưa quen người dân thị thành... Xin một lần thôi, một lần thôi, vẫy tay tạ từ Charlie. Xin một lần nữa, một lần nữa, vẫy tay chào buồn anh đi...”.

Người hát ca khúc “Người Ở Lại Charlie” cho những người nằm xuống cũng là người về từ cõi chết, về từ Charlie nơi đã vùì chôn bao đồng đội anh em. Vì thế mà người lính Đoàn Phương Hải đã viết về người anh cả Tiểu Đoàn Trưởng của mình đã hy sinh trong Máu Lửa Charlie, trong tập truyện Góc Biển Chân Trời với nỗi đau khôn xiết trong lòng, sự thương tiếc khôn cùng và tưởng nhớ - kính trọng biết bao.

Đặc biệt trong phần trao quà lưu niệm cho các cố vấn Nhẩy Dù Hoa Kỳ, người nhận và người trao cùng nước mắt rưng rưng, giọng nói đều nghẹn ngào, đó là hình ảnh cảm động khi mũ đỏ Đoàn Phương Hải tặng quà cho Đại Tá Jonh Duffy, một người lính đồng minh chí tình, tình nguyện ở lại đến phút cuối cùng trên đồi Charlie, kiên cường chiến đấu cùng với tất cả anh em Tiểu đoàn 11 Nhẩy Dù vừa cố gắng giữ lại ngọn đồi Charlie, vừa đánh chống trả sự tấn công của hai trung đoàn Việt cộng và cả rừng pháo, phòng không của địch.

Sau hơn một tháng cầm cự những người còn sống sót sau trận đánh không cân xứng và hãi hùng ấy chỉ còn lại ba muơi sáu người, nếu không có viên sĩ quan Cố vấn Mỹ Liên Lạc Duffy gọi được trực thăng Mỹ tới bốc và ở lại cho tới chuyến cuối cùng như Thiếu Tá Tiểu Đoàn phó TĐ 11 Đoàn Phương Hải kể lại: “Trong mấy chuyến trực thăng di tản vừa qua, phi công Mỹ muốn Duffy được bốc đầu tiên nhưng Duffy đã nói: Tôi không bỏ các anh, những chiến hữu đúng nghĩa nhất mà tôi chưa hề gặp trong cả đời chinh chiến, Tôi biết rõ, nếu tôi đi đợt đầu thì chắc khó hy vọng có máy bay trở lại bốc nốt các anh”.

Đó là nghĩa cử chí tình của người bạn đồng minh mà hôm nay còn đọng lại giữa cái bắt tay thân ái và giọt nước mắt thân thương của những người từng chiến đấu và sống chết bên nhau cho miền Nam Việt Nam trong giai đoạn khốc liệt nhất. Và hôm nay, tất cả chúng tôi được chứng kiến và nghe nhắc nhớ lại hình ảnh đẹp đẽ này! Rât cảm động và cao quý!

MC Bùì Định giới thiệu tiếp theo là mũ đỏ Lê Hữu Dư, Thiếu Úy của ĐĐ 4 thuộc Tiểu đoàn 5 Nhậy Dù, từng tham dự trận đánh mãnh liệt vào những ngày cuối cùng của trang Sử miền Nam tháng 3 năm 1975 tại chân đèo Khánh Dương, để chận lại bước tiến xâm lăng hung hãn của hai Trung đoàn CSBV từ Ban Mê Thuột tràn về Nha Trang. Ông cũng là một trong số 28 người tù Suối Máu, rất dũng cảm và kiên cường đứng lên châm mồi ngọn lửa Tổng Nổi Dậy vào đúng đêm Giáng Sinh của năm ngàn anh em chiến hữu bị giam ở trại tù Cộng sản năm 1979.

Mũ đỏ Lê Hữu Dư thay mặt ban tổ chức Đại Hội Gia Đình Mũ Đỏ lên chào mừng quan khách. Bằng giọng nói rõ ràng và mạnh mẽ, ông ngỏ lời:

“Đây là lần thứ 5 sau 14 năm GĐMĐVN San Jose lại được vinh hạnh đứng ra nhận lãnh trách nhiệm này. Đặc biệt hơn nữa, hôm nay cũng là ngày kỷ niệm 55 năm thành lập binh chủng Nhẩy Dù Việt Nam.
Trong bốn ngày qua, những cánh Dù lần lượt lướt gió bay về tham dự, với áo hoa nón đỏ nở rộ trong ba ngày Đại Hội, đã làm tăng thêm vẻ đẹp của Thung Lũng Hoa Vàng. Mặc dù tình hình kinh tế có khó khăn như hiện nay nhưng quý niên trưởng và quý anh chị em Mũ Đỏ đã quy tụ về tham dự Đại Hội đông đảo.
Với tổng số đại diện như hôm nay gồm có 24 chi hội tại Hoa Kỳ, kể cả Canada và 3 chi hội Úc Châu. Quý Mũ Đỏ này đã vượt đại dương với đoạn đường dài 16 giờ bay qua tham dự Đại Hội.
Đặc biệt hơn nữa, đêm nay có sự hiện diện của 6 vị Cố Vấn Team 162 Nhẩy Dù Hoa Kỳ cùng phu nhân tham dự. Họ là những Mũ Đỏ đồng minh, đã sát cánh cùng những chiến sĩ Nhẩy Dù Việt nam chiến đấu để bảo vệ quê hương chúng ta, cho đến hôm nay vẫn cùng anh em Nhẩy Dù trên mặt trận đấu tranh chống Cộng”.

Dứt lời, mũ đỏ Lê Hữu Dư vẫn trong dáng dấp rắn rỏi của người lính chiến từng xông pha trận địa cùng giọng nói mạnh mẽ hô to khẩu hiệu của binh chủng hào hùng:
- Nhẩy Dù - Cố Gắng

Hàng lọat cánh tay đã đưa cao lên cùng tiếng hô to, vang vang khắp hội trường, bừng lên khí thế mạnh mẽ từ lòng nhiệt thành và vô cùng thân mến. Bất giác tôi cũng giơ cao cánh tay như mọi người và cùng lập lại câu: “Cố gắng’. Vâng, tôi sẽ cố gắng trong tinh thần, trách nhiệm cùng khả năng nhỏ bé của mình, một người Việt Nam cùng muôn triệu người Việt Nam trong nước và ngoài hải ngoại, chung sức góp thêm triệu triệu cánh tay để đòi Tự Do Nhân Quyền cho đất nước, xây dựng quê hương mình thêm sức sống đẹp tươi, giàu mạnh.

“những người lính Quốc Gia
bất ngờ tôi chứng kiến
trong ngày họ gặp nhau
trong câu kinh cầu nguyện:

Tổ quốc Việt mai này
không còn đau khổ nữa
đời dù chia Đông Tây
lòng vẫn Lòng Muôn Thuở

một Tổ quốc Việt Nam
một Tình Yêu không đổi
Lính chu toàn phận Dân
Dân ghi công người Lính.

những người lính Nhẩy Dù
không gian bừng nắng mới
từng tấm lòng phơi phới
Cố Gắng cùng Xung Phong!”
n.t.

Đó là những câu thơ mà tôi muốn được gởi tặng đến tất cả những người chiến sĩ của các quân binh chủng Việt Nam Cộng Hòa, những người lính Nhẩy Dù hôm nay và những người đã Sống - Chết cho Tổ quốc Việt Nam thân yêu!


Ngọc Thủy
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

TƯỞNG NHỚ TRUNG TÁ CẢNH SÁT QUỐC GIA NGUYỄN VĂN LONG:
ANH HÙNG VỊ QUỐC VONG THÂN

Image
CỘNG-SẢN chiếm được Miền Nam đã mười năm rồi mà tôi vẫn còn tiếp-tục bị chúng kêu lên, kêu xuống hỏi cung. Tuy thế, nhờ những thời-gian đợi đi "làm việc" như thế tại các trại giam như Thanh-Liệt ở Hà-Nội; Kho-Ðạn, Hội-An, và Hòa-Sơn ở Quảng-Nam; mà tôi có dịp gặp nhiều cán-bộ Việt-Cộng cấp cao bị bắt về tội "kinh-tế" hoặc "tham-ô" và cả "bạo-loạn" nữa, cũng như đồng-bào nhiều giới phạm tội "phản-động hiện-hành", vượt biên, vượt biển, đưa hối-lộ, xâm-phạm hoặc phá-hoại tài-sản xã-hội chủ-nghĩa, vân vân, nên tôi biết nhiều và biết sớm những biến-cố xảy ra bên ngoài thế-giới "cải-tạo" hơn đa-số anh+chị+em khác trong tù.
Tôi đã nghe tin trung-tá Nguyễn Văn Long tự-tử từ lâu. Nhưng vì có những trường-hợp sự thật khác với tin đồn; vả lại, biết đâu đó không là một người khác mà lại trùng tên với người mà tôi thân+thương; hơn nữa, anh Nguyễn Văn Long của tôi là một tín-đồ Ky-Tô-Giáo, lẽ nào lại tự hủy mình; do đó, tôi vừa âm-thầm đau-khổ về hoàn-cảnh chung, vừa bán-tín bán-nghi về phần anh Long. Ðến khi tôi được nghe thêm hai viên "thủ-trưởng" -- một thuộc Cục Xuất-Nhập-Khẩu 2 tại "thành phố Hồ Chí Minh", một thuộc Ban Hậu-Cần Quân-Khu 5 -- khẳng-định là họ có nghe đề-cập trong nội-bộ cơ-quan rằng, ngoài một số tướng-lĩnh Miền Nam đã tự-sát chứ không chịu đầu-hàng hay trốn chạy ra nước ngoài, có một trung-tá Cảnh-Sát tên Nguyễn Văn Long, từ Ðà-Nẵng di-tản vào, đã tự-tử chết phía trước trụ-sở Quốc-Hội Việt-Nam Cộng-Hòa, tôi mới tin chắc đó chính là anh Nguyễn Văn Long.

Anh Long vĩnh-biệt cõi đời giữa cảnh lửa-bỏng dầu-sôi, bạn-bè nói riêng và đồng-bào nói chung thì còn bận lo tự cứu lấy mình, trong khi kẻ thù thì càng thù hận anh thêm, lấy đâu có những vòng hoa và những nén nhang cùng những dòng lệ thương tiếc tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng.

Năm 1982, tại Trại bí-mật Thanh-Liệt, thuộc Huyện Thanh-Trì, Hà-Nội, là nơi giam-cứu các phần-tử quan-trọng nhất, mà đa-số là cán-bộ Ðảng, Nhà-Nước và Bộ-Ðội ở cấp Trung-Ương, do Bộ Nội-Vụ trực-tiếp quản-lý, tôi mới được một "bạn tù" cho biết thêm một chi-tiết quý-báu về cái chết hùng-vinh của trung-tá Nguyễn Văn Long. Ðó là Phạm Trung Linh, một trung-tá bộ-đội Bắc-Việt, nguyên Trưởng Tiểu Ban Thanh Tra & Xét Khiếu Tố thuộc Trung Ương Cục Miền Nam -- tổng-thư-ký của một tổ-chức đảo-chính quân-sự dự-định hành-động vào đêm 24 rạng ngày Nô-En năm 1979 nhưng bất-thành nên bị bắt cùng với một số tướng+tá và cán-bộ cao-cấp khác -- xác-nhận rằng gã đã có trông thấy bức ảnh chụp cảnh trung-tá Nguyễn Văn Long mặc cảnh-phục chỉnh-tề nằm chết trước một tượng-đài Chiến-Sĩ Quốc-Gia phía trước trụ-sở Quốc-Hội Việt-Nam Cộng-Hòa, in trên bìa trước của một tạp-chí Hoa-Kỳ, trong kho sách+báo ngoại-quốc mà Việt-Cộng ở một số cấp cao đã sưu-tầm để nghiên-cứu những gì có liên-quan đến Việt-Nam.

Thế là từ đó không những tôi nguôi tủi sầu mà trái lại còn cảm thấy lòng mình vui thỏa cho anh Long. Báo Mỹ mà đã đăng lên thì khắp thế-giới đều biết.. Anh, cùng với những vị anh-hùng tuẫn-quốc khác trong biến-cố lịch-sử 30-4-1975, đã nói lên được hùng-hồn và cụ-thể tinh-thần bất-khuất của dân-tộc Việt-Nam yêu chuộng Tự-Do trước quyền-lực của cộng-sản bạo-tàn.

*

Thuở ấy, vào khoảng 1950, ở Miền Trung có hai hệ-thống an-ninh: một bên là Pháp với cơ-quan Su^reté fédérale (Liêm-Phóng Liên-Bang) và Police franc,aise (Cảnh-Sát Pháp), một bên là Việt-Nam với cơ-quan Công-An & Cảnh-Sát Quốc-Gia.. Anh Nguyễn Văn Long tùng-sự bên Su^reté Fédérale (chính-trị) của Pháp, trong số vài người phụ-trách nội-ô Thần-Kinh; còn tôi thì bên Cảnh-Sát (hình-sự) của Việt-Nam. Tôi kiêm cả việc sáng-tác, ra báo, và dựng kịch cho sở-làm, và cho riêng mình.

Chúng tôi thường uống cà-phê ở quán Lạc-Sơn, nhà hàng lộ-thiên trên lề đại-lộ Trần Hưng-Ðạo, quay lưng vào chợ Ðông-Ba. Nhân-viên hai bên không ưa gì nhau, nhưng gặp mặt mãi cũng thành quen nhau.

Dạo ấy, tôi viết cuốn truyện "Trai Thời Loạn" chống Pháp xâm-lược và Bảo-Ðại bù-nhìn, nên bị bắt giam; sau nhờ phái-đoàn của các nhân-sĩ Cao Văn Tường, Cao Văn Chiểu, cùng với nhà-báo Phạm Bá Nguyên và cả Giám-Ðốc Thông-Tin Lê Tảo can-thiệp với Thủ-Hiến Phan Văn Giáo, tôi mới được trả tự-do. Ra tù, tự-nhiên tôi được thiện-cảm của nhiều người hơn.

Một hôm, anh Long tâm-sự với tôi: "Tôi chống Việt-Minh nên lỡ vào làm với Tây; nay tôi đã quyết sẽ thôi để qua làm với người mình".

Anh ít nói, không văn-hoa, lại lớn tuổi hơn tôi nhiều, mà đã nói thẳng với tôi như thế thì tôi hiểu rằng anh đã đau-lòng khổ-trí đến ngần nào trước thời-cuộc bấp-bênh của nước nhà. Trong thời-gian chờ-đợi, anh Long đã nghe theo lời thuyết-phục của tôi, bỏ qua cho nhiều bạn thơ của tôi, thí-dụ Nhất-Hiên, Vân-Sơn PMT, Như-Trị, v.v... mà Su^reté Fédérale đã định bắt giam. Liêm-Phóng Liên-Bang của Pháp mà đã bắt ai thì người ấy khó về được vẹn toàn.

Sau đó, anh đã chuyển qua Công-An Việt-Nam; và Vân-Sơn Phan Mỹ Trúc cũng như Như-Trị Bùi Chánh Thời thì vào Sài-Gòn; kẻ thành ký-giả tên tuổi, người nên luật-sư tài-danh.

Sau khi gia-nhập vào đúng hàng-ngũ thích-hợp để phụng thờ Chính-Nghĩa Quốc-Gia, trải qua mấy chục năm trời gắn bó với Lực-Lượng Cảnh-Sát & Công-An Việt-Nam Cộng-Hòa, anh Nguyễn Văn Long tận-tụy phục-vụ, và đã nổi tiếng là một trong số những cấp chỉ-huy tích-cực, cương-trực và liêm-khiết nhất trong Ngành.

*

TÔI về lại Miền Trung đảm-trách Giám-Ðốc Ngành Ðặc-Cảnh tại Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Lực Vùng I vào ngày 26 tháng 9 năm 1973. Tìm gặp lại các bạn cũ, thuộc lứa tuổi trên tứ-tuần, đã từng giữ các chức-vụ Trưởng Ty Công-An, Cảnh-Sát-Trưởng, Trưởng Ty CSQG trở lên, từ thời Bảo-Ðại qua thời Ðệ-Nhất Cộng-Hòa đến nay, mà hiện còn lại tại Vùng này, tôi thấy chỉ có 6 người, trong đó có anh Nguyễn Văn Long.

Một số chưa có chức-vụ tương-xứng thì tôi nâng lên hoặc hợp-thức-hóa cho làm Phó Giám-Ðốc, Chánh-Sở. Anh Long thì đã là một Chánh-Sở nắm Sở Tư-Pháp rồi, nên tôi không giúp gì về chức-vụ mà chỉ giúp về công-vụ mà thôi; những tin-tức về hình-sự mà tôi có được, thay vì xếp bỏ thì tôi chuyển qua cho anh. Tuy nhiên, đáp lại, chính anh giúp tôi nhiều hơn, rất nhiều, cả trong công-tác cụ-thể hằng ngày lẫn về phương-diện tinh-thần.

Anh Long tự-nguyện làm thêm nhiệm-vụ chính-trị -- diệt-Cộng -- ngoài phần-vụ chính của anh là truy lùng kẻ phạm-pháp về mặt hình. Là một tay cừ trong giới tình-báo cũ, anh đã nhân làm công-tác sưu-tầm về hình-phạm mà thu-thập thêm tin-tức về quốc-phạm, và đã cung-cấp cho Ngành Ðặc-Cảnh của tôi nhiều manh-mối về cộng-sản nằm vùng. Theo anh quan-niệm, đã là Cảnh-Sát Quốc-Gia, với chức-năng an-ninh trật-tự, thì phải góp phần trực-tiếp hoặc gián-tiếp vào lãnh-vực tình-báo, để phát-hiện và loại-trừ cộng-sản -- mà trong giai-đoạn hiện-tại thì đối-tượng Việt-Cộng phải là ưu-tiên hàng đầu -- để bảo-vệ và duy-trì an-ninh & trật-tự chung. Anh không thể chỉ tự bằng lòng với phận-sự tiễu-trừ tội-phạm xã-hội, mà phải tham-gia phần nào, trong khả-năng mình, vào trách-nhiệm thanh-trừng giặc loạn để giữ nước và cứu dân.

Qua thái-độ và hành-động chính-đáng của mình, trung-tá Nguyễn Văn Long đã mặc-nhiên gửi một thông-điệp, một lời nhắn-nhe tâm-huyết, đến những anh+chị+em đồng-nghiệp nào mà vì lý-do nào đó đã tự cho mình là Cảnh-Sát Sắc-Phục thì không dính-dấp gì về tình-báo, nhất là Cộng-Tặc Miền Nam và Cộng-Sản Bắc-Việt Xâm-Lăng.

Trung-Tâm Huấn-Luyện Tình-Báo của tôi nằm trên bãi biển Sơn-Chà, tuốt bên kia bờ Hàn-Giang. Lần nào khai-giảng hoặc bế-giảng Khóa nào Nhà-Trường cũng đều có mời các cấp chỉ-huy cả Ðặc-Cảnh lẫn Sắc-Phục đến dự. Về sau, tôi bỏ bớt tiệc mãn-khóa, chấm dứt tình-trạng bắt các học-viên góp tiền. Không còn tiệc-tùng, thì phần lớn quan-khách ngớt vãng-lai, viện cớ bận việc và đường quá xa; nhưng anh Long vẫn tiếp-tục đến dự -- anh nói -- để yểm-trợ tinh-thần chung.

Về mặt tư-pháp, trung-tá Nguyễn Văn Long đã thực-hiện đúng khẩu-hiệu "pháp bất vị thân". Ngay đối với chính đồng-nghiệp, bất-cứ nhân-viên Cảnh-Sát nào mà phạm tội hình-sự là anh truy-tố ra Tòa thẳng tay -- anh nói -- để lành-mạnh-hóa nội-bộ, và nêu gương thượng-tôn luật-pháp cho người dân. Bởi thế, anh bị nhiều người gọi bằng cái tên "Long Lý", ý nói anh chỉ biết chiếu-lý chứ không vị-tình.

Sau Hiệp-Ðịnh Paris 1973, tình-hình xã-hội Miền Nam thật là rối-ren. Bên ngoài thì Cộng-Sản Bắc-Việt công-khai ồ-ạt đổ thêm quân và chiến-cụ, vũ-khí vào tấn-công ta; bên trong thì các tổ-chức xưng-danh đối-lập và lợi-dụng tự-do quá-khích, tiếp tay với các phần-tử nằm vùng, ngày càng gia-tăng mức-độ và cường-độ gây hỗn-loạn trật-tự và làm suy-thoái tinh-thần các lực-lượng Quốc-Gia. Về mặt chính-trị, CSQG vừa phải đối-phó với các bộ-phận Ðảng, Mặt-Trận, Nhà-Nước và Nhân-Dân của CSXL và "Việt-Cộng", vừa phải chống-đỡ các phần-tử, phe nhóm chủ-bại và nội-ứng cho kẻ thù.

Về mặt tệ-đoan xã-hội, ung nhọt tràn lan khắp nơi. Riêng về nạn dịch nhũng-nhiễu tham-lam, công-tác đương-đầu đã gặp quá nhiều khó-khăn. Hầu như kẻ nào làm bậy cũng đều nấp dưới danh-nghĩa của một chính-đảng, tìm sự che-chở của một đoàn-thể hay một số cấp lãnh-đạo nào đó trong Chính-Quyền. Ðụng vào họ, dù họ là kẻ phạm-pháp, có thể là tự rước lấy tai-họa vào mình. Thế mà anh Long đã dám xúc-tiến điều-tra, lập hồ-sơ truy-tố nhiều nhân-vật đáng sợ. Nhiều vụ lắm. Và vụ mà tôi thích nhất là vụ "tiền trợ-cấp dân Quảng-Trị tị-nạn". Ðại-khái như sau:

Ðầu năm 1975, đồng-bào từ Tỉnh Quảng-Trị bắt đầu di-tản. Chính-Quyền Trung-Ương tổ-chức đón tiếp và cứu-trợ họ tại Trại Tạm-Cư Ðà-Nẵng. Trên thực-tế, có người đã vào, có người vẫn còn ở lại ngoài kia. Do đó, có một tổ-chức quy-mô đứng ra lập hồ-sơ ma để lãnh các món cứu-trợ di-tản nhiều hơn bội-phần: tiền mặt, thực-phẩm, thuốc-men, áo+quần, giường+mùng chăn+chiếu, xi-măng, tôn, v.v...., cấp cho cả đồng-bào ở Trại lẫn đồng-bào vẫn còn ở Tỉnh cũ mà được chứng-nhận là đã nhập Trại Tạm-Cư, do ngân-sách của Bộ Xã-Hội đài-thọ. Thậm chí, họ còn lập thêm hồ-sơ theo diện tị-nạn, dành cho đồng-bào dời-cư từ các xã bất-an và "xôi-đậu" đến định-cư tại các xã an-ninh, để lãnh thêm loại trợ-cấp này vốn áp-dụng chung cho bất-cứ vùng quê nào. Chưa thỏa, họ còn chứng-nhận cho cũng những đồng-bào ấy là nguyên cơ-sở của Việt-Cộng ở vùng địch kiểm-soát, nay bỏ kẻ thù về với Quốc-Gia, để hưởng các khoản trợ-cấp loại này do Bộ Chiêu-Hồi cung-cấp định-kỳ, v.v... Ngoài ra, người dân di-tản cũng bị lôi-cuốn vào tình-trạng hỗn-tạp chung bên ngoài Trại, lẫn-lộn giữa hợp-pháp và bất-hợp-pháp. Một số trở thành nhân-viên Chương-Trình Áo Xanh, do một tổ-chức xã-hội Hoa-Kỳ tài-trợ, cung-cấp việc làm cho người lao-động thất-nghiệp. Một số cũng là hội-viên Hội Cựu-Chiến-Binh và Dân-Phế, quy-tụ lính cũ đâu từ thời Pháp-thuộc, thời Nhật chiếm, thời kháng-Pháp, thời Bảo-Ðại, và nạn-nhân các vụ tai-nạn lưu-thông, ẩu-đả, hủy-hoại thân-thể, tàn-tật bẩm-sinh, vân vân, nhưng cũng được lập hồ-sơ và lãnh đều đều từ một tổ-chức nhân-đạo Hoa-Kỳ những món viện-trợ tiền mặt, thực-phẩm, thuốc-men, đồ dùng, v.v... Hơn nữa, một số giả-danh là Thương-Phế-Binh, cưỡng-thu "hụi chết" tại các hàng quán, bến xe. Phanh-phui vụ này lòi ra vụ kia. Tóm lại, một người lãnh nhiều trợ-cấp với nhiều tư-cách trong nhiều hoàn-cảnh khác nhau; nhưng chỉ lãnh được một ít, còn thì nạp vào túi riêng của bọn gian+tham.

Vụ án đã làm chấn-động dư-luận, vì dính đến nhiều cấp+chức thuộc nhiều giới, ngành, từ cấp Tổ, Toán, Khóm, Thôn, Xã, Phường, lên đến Quận, Tỉnh, vào thấu Sài-Gòn, là những phần-tử chứng-nhận láo, chấp-thuận bừa, do đó, đã phí-phạm công-quỹ và phá-hoại chính-sách của Trung-Ương.

TRONG việc móc-nối đầu mối, nuôi-dưỡng đường dây, lắm lúc nhân-viên Ðặc-Cảnh phải giao-tiếp với những kẻ bất-lương... Bởi thế, đã có một số Trưởng Mối bị trừng-phạt oan, vì phía Hình-Cảnh nghi là đồng-lõa hay đỡ đầu. Sau khi có thêm bộ-phận An-Ninh Cảnh-Lực, Ðặc-Cảnh càng gặp nhiều khó-khăn hơn, đến nỗi Tư-Lệnh Ðặc-Cảnh Trung-Ương hồi đó là đại-tá Nguyễn Mâu đã phải lên tiếng phản-đối công-khai trước một đại-hội toàn-quốc, do Tổng Giám-Ðốc chủ-tọa, nhưng chưa ngã-ngũ ra sao.

Với tôi, anh Long đã chịu nhượng-bộ: nếu gặp nhân-viên Ðặc-Cảnh liên-can đến các vụ hình, anh để tùy tôi xét trước, để tránh oan-ức, trở-ngại cho công-tác chìm. Ấy là nhờ anh hiểu rõ phương-thức tình-báo và đặt nhu-cầu chống Cộng lên hàng ưu-tiên. Ðó là quyết-định linh-động duy-nhất trong cương-vị Chánh Sở Pháp-Cảnh của anh Long.

*

KỶ-NIỆM đậm nét nhất trong đời tôi về anh Long là vụ rút lui ra khỏi Ðà-Nẵng, thành-lũy cuối cùng của Quân-Khu I Việt-Nam Cộng-Hòa.

Lúc ấy vào khoảng 10 giờ tối ngày 28-3-1975.

Trên máy vô-tuyến truyền-tin thuộc hệ Cảnh-Sát Sắc-Phục nội-thành Ðà-Nẵng, tôi nghe một đài gọi đài trung-ương, nhưng không có ai trả lời. Lát sau, có một đài khác cất tiếng: "Ðừng gọi vô-ích, bọn chúng chạy hết cả rồi!" Tôi bèn hỏi đài hồi nãy, thì được báo-cáo là có nhiều người ăn mặc lộn-xộn, vũ-khí cầm tay, đang nép hai bên lề đường từ hướng Hòa-Cường tiến vào.

Tôi dùng làn sóng của hệ Ðặc-Cảnh ra lệnh cho Sở Tác-Vụ Vùng và Sở Ðặc-Cảnh sở-tại đối-phó, đồng-thời gọi máy điện-thoại cho đại-tá Nguyễn Xuân Lộc, Tư-Lệnh Cảnh-Lực Vùng I, lúc ấy đang cùng có mặt với các Chánh-Sở Vùng và một số Chỉ-Huy Cảnh-Lực Tỉnh tập-trung tại đây.

Lát sau, anh Long đến ngồi tại phòng truyền-tin của Ngành Ðặc-Cảnh Vùng -- nơi đây có máy âm-thoại của cả 2 hệ nổi+chìm địa-phương lẫn hệ toàn-quốc, và máy điện-thoại bưu-điện, điện-thoại quân-sự -- cách dăm mười phút lại gọi hỏi tôi tình-hình thế nào.

Vì máy quá bận, tôi khuyên anh vào phòng-giấy của đại-tá Lộc để cùng theo-dõi diễn-biến tình-hình chung.

Khoảng sau 11 giờ đêm, từ đài Ðặc-Cảnh Vùng I trung-tá Long gọi tôi.. Lần nầy tôi nghe giọng anh run lên, lời-lẽ trịnh-trọng khác thường: "Tôi xin mời ông Phụ-Tá đến ngay để tổ-chức phòng-tuyến và chỉ-huy đội-ngũ tử-thủ cùng với anh+em chúng tôi!" (Tử-thủ là lời cam-kết của trung-tướng Ngô Quang Trưởng đọc trên Ðài Phát-Thanh Ðà-Nẵng suốt chiều hôm nay).

Tôi hỏi về đại-tá Lộc thì anh đáp gọn với giọng bực-tức và chán-chường: "Các ngài đào-ngũ hết rồi!"

Anh Long kể lại với tôi là anh được lệnh, cùng với mọi người có mặt tại trụ-sở Vùng -- Chánh-Sở các Sở, Chỉ-Huy của một số Tỉnh, có cả mấy viên đại-tá quân-đội -- theo đại-tá Lộc xuống bến Giang-Cảnh, lên tàu Giang-Cảnh, rời bến hướng ra biển Ðông.

Anh hỏi đi đâu thì đại-tá Lộc trả lời: "Chúng ta di-tản vào Nam!" Anh thấy máu uất xông lên đỉnh đầu, la lên: "Giặc chưa tấn-công, thuộc-viên vẫn còn ở lại, mà cấp chỉ-huy đã lén-lút bỏ đi như thế này là hèn!" Lộc cố giải-thích: "Bộ Tư-Lệnh Quân-Ðoàn đã rút đi rồi. Trong tình-huống này chúng ta đành phải phụ lòng anh+em mà thôi!" Long bèn rút súng, nhìn thẳng vào mặt từng người với vẻ khinh thường, và bảo tàu ghé vào bờ cho anh trở lui.

Và anh đã về trụ-sở, để cùng chiến-đấu, sống chết có nhau với anh+em.

TÔI tin-tưởng và kính-phục anh Long vô cùng; nhưng tôi thấy rõ là nếu đến sở thì sẽ dính kẹt ở đó, khó lòng điều-động hoạt-động bên ngoài, nên nói là tôi bận họp. Anh xin mượn tôi một máy vô-tuyến cầm tay, và đòi đến họp với tôi.

Tôi kéo thiếu-tá Ngô Phi Ðạm, Chánh Sở Tác-Vụ, ra xe. Ðến bến Bạch-Ðằng quả thấy xe Jeep xanh+trắng và ô-liu bỏ đậu nghênh-ngang; gọi máy vô-tuyến trên hệ Sắc-Phục đến đại-tá Lộc ở sở, ở nhà, không ai trả lời; tôi bèn chỉ-thị Trung-Tâm Hành-Quân Ðặc-Cảnh báo-cáo sự-việc lên Trung-Ương.

Anh Long đã đến nhà tôi, hỏi tôi ở đâu, tôi đáp là đến Ðặc-Khu, nhưng tôi đến Bộ Tư-Lệnh Quân-Ðoàn; nơi đây vắng hoe. Anh hỏi, tôi đáp là vào phi-trường, nhưng tôi đến Sở An-Ninh Quân-Ðội; nơi đây cũng chẳng còn ai. Anh không gặp tôi, lại hỏi; và tôi lại dối, tránh anh. Cứ thế mà tôi đến khắp các nơi vốn là chỗ dựa cho niềm tin của dân-nhân.

Ðến sau nửa đêm thì cả thành-phố đổ dồn qua cầu Trịnh Minh Thế để qua bến cảng, bãi biển Quận III, để mong chạy vào Sài-Gòn. Tôi cùng Tác-Vụ, Thám-Sát Ðặc-Biệt, quan-sát xong tình-hình bên đó, len lách trở về thì thoáng dưới ánh đèn pha thấy rõ hình-dáng của anh, mặc cảnh-chiến-phục, gác khẩu M-16 ngang đùi, mặt-mày đỏ gay, tức uất nhưng đầy cương-nghị, lái xe vụt qua.

ÐÓ là hình-ảnh cuối cùng của trung-tá Nguyễn Văn Long, mãi mãi hằn sâu trong ký-ức tôi.

*

GẦN sáng, ngày 29-3-1975, Việt-Cộng pháo-kích hải-cảng, phi-trường. Mờ sáng, đặc-công từ hướng Núi Non-Nước bắt đầu tấn-công vào. Ðến trưa, tôi gọi máy về cho đại-úy Nguyễn Văn Tuyên, Chánh Sở Nghiên+Kế, lúc đó còn ngồi tại chỗ, ra lệnh giải-tán Trung-Tâm Hành-Quân của Ðặc-Cảnh Vùng I, là bộ-phận sau rốt của Chính- Quyền VNCH còn hoạt-động đến phút cuối cùng, và cho phép thuộc-viên tự tìm phương-tiện thoát thân. Xế chiều, tôi mới kiếm được chiếc thúng, rời bờ, liều-lĩnh trước các làn đạn pháo-kích của địch và trực-xạ của chính bạn mình.

Và tôi không còn gặp lại anh Long.

*

* *

CÁI chết của trung-tá Cảnh-Sát Nguyễn Văn Long làm tôi suy-nghĩ rất nhiều.

Anh đã phục-vụ dưới nhiều chế-độ khác nhau, đảm-trách công-tác ở nhiều lĩnh-vực khác nhau, nhưng vẫn giữ mình trung-chính khiết-liêm. Anh tuy lớn tuổi nhưng vẫn trẻ-trung trong lối sống và trong công việc, không bị lứa trẻ sau này vượt qua.

Trong lúc nước nhà đang bị cộng-sản xâm-lăng, anh ý-thức được chúng là kẻ thù số một của toàn-dân, sự-nghiệp chống Cộng phải là ưu-tiên số một của mọi người yêu quý Tự-Do, nên anh phải góp phần vàọ Thành-quả chống Cộng của CSQG nói chung, là đã có lúc hạ được nhiều tên cộng-tặc hơn cả con số chúng bị thiệt-hại trên chiến-trường, do đó, anh tự nhận lãnh vào bản-thân mình một phần trách-nhiệm đối với đối-phương về những tổn-thất mà chúng hứng chịu nặng-nề; nhưng trên tất cả là sự sụp đổ thảm-khốc của Việt-Nam Cộng-Hòa, mà đối với Tổ-Quốc, Dân-Tộc, Lịch-Sử, và Thế-Giới, thì cái trách-nhiệm vô cùng lớn-lao ấy nhất-định là của mọi người, trong đó có anh; nên anh tự xử -- cũng như các anh-hùng Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai, Hồ Ngọc Cẩn, vân vân -- để tạ tội với Tiền- Nhân và Quốc-Dân, và để nói lên tinh-thần bất-khuất của người chiến-sĩ Tự-Do, không chịu hạ mình đầu-hàng kẻ thù.

CÁI chết của anh Long làm tôi hãnh-diện vô cùng. Tuy người chết không mong được đời nhắc đến, nhưng bổn-phận của người sống là phải phát-huy những tấm gương trí-dũng ngời sáng ấy, để nhờ đó mà mình tin-tưởng và phấn-khởi tiếp-tục lo toan sự-nghiệp chung.

Bây giờ, đối với toàn-dân, Nguyễn Văn Long không còn là một trung-tá, là một Chánh-Sở Tư-Pháp, là một viên-chức An-Ninh, là những gì gì khác nữa ... mà anh đã là và vẫn còn là đại-diện cho bất-cứ chiến-hữu ưu-tú nào, không phân-biệt cấp/bậc, chức-vụ, ngành/nghề, hình-sự hay phản-gián, phái mạnh hay phái đẹp; mà anh đã vinh-quang đi vào Lịch-Sử với tư-cách một anh-hùng của Dân-Tộc Việt-Nam nói chung và Lực-Lượng Cảnh-Sát Quốc-Gia nói riêng.

LÊ XUÂN NHUẬN

Máu Trung Tá Long đã thấm xuống lòng đất mẹ

Duyên Anh
Tôi không hiểu, trong Dinh Độc Lập, Dương văn Minh và bọn hàng thần lơ láo đến mức độ nào trước ống kính xấc xược của bọn phóng viên cộng sản và trước những câu hạch hỏi hỗn láo của bộ đội giải phóng cấp tá. Họ có nghe những tiếng súng danh dự, trách nhiệm, tổ quốc của lính văn nghệ diệt T-54 ở cầu Thị Nghè, của lính nhẩy dù cách cổng Dinh Độc Lập chẳng bao xa? Chúng tôi vào trung tâm thành phố. Dân chúng đang bu kín công viên dựng hai người chiến sĩ thủy quân lục chiến Việt Nam họng súng nhắm thằng vào Hạ Viện. Những chiếc loa gắn trên cây cao đã oang oang giọng nói mới chào mừng giải phóng miền Nam. Bài hát Tiến vào Sài gòn ta quét sạch giặc thù muốn rung chuyển thành phố. Nhưng trời vẫn thiếu nắng. Cộng sản đã tiếp thu Đài phát thanh, Bưu điện... Giọng nói cầy cáo của Lý Quý Chung và ca khúc Nối vòng tay lớn không còn nữa.

Chúng tôi lách đám đông. Dưới chân tượng đài của thủy quân lục chiến, xác một người cảnh sát nằm đó. Máu ở đầu ông ta chẩy ra tươi rói. Người sĩ quan cảnh sát đeo lon Trung tá. ông ta mặc đồng phục màu xanh. Nắp túi ngực in chữ Long. Trung tá cảnh sát Long đã tự sát ở đây Cộng sản để mặc ông ta nằm gối đầu trên vũng máu. Phóng viên truyền hình Pháp quay rất lâu cảnh này. Lúc tôi đến là 14 giờ 30. Dân chúng đứng mặc niệm trung tá Long, nước mắt đầm đìa. Những người không khóc thì mắt đỏ hoe, chớp nhanh. Tất cả im lặng, thây kệ những bài ca cách mạng, những lởi hoan hô bộ đội giải phóng.

Trung tá Long đã chọn đúng chỗ để tuẫn tiết. Tướng giữ thành Sài gòn là Tổng trấn Sài gòn đã đào ngũ. Tướng giữ thành Sài gòn là Đô trưởng Sài gòn đã đào ngũ. Tướng giữ thành Sài gòn là Tổng giám đốc Cảnh sát quốc gia đã đào ngũ. Không có Hoàng Diệu, ở những trạng lịch sử chó đẻ của thời đại chúng ta. Và trên những tiểu thuyết đấu tranh, những hồi ký chiến đấu của những con người tự nhởn sống hùng mọi hoàn cảnh, người ta không thấy một dòng nào viết về cái chết tuyệt vời của trung tá Cảnh sát tên Long. Cộng sản đã chẳng ngu dại phong anh hùng, liệt sĩ cho quốc gia. Họ độc quyền anh hùng, liệt sĩ. Ở những cuộc đấu thầu anh hùng, liệt sĩ quốc gia tại hải ngoại, chưa thấy một nén tâm hương tưởng mộ trung tá Long. Có lẽ, liệt sĩ đích thật không lãi lớn bằng liệt sĩ giả vờ thế thì thời đại chúng ta đang sống là cái thời đại gì nhỉ? Nó không chịu, không thích vinh tôn cái thật, đã đành, nó còn nhởn chìm cái thật và vấy bẩn lên cái thật một cách thô bạo, ẩn ý và lạnh lùng. Khi cái thật bị nhận chìm, bị vấy bẩn, cái giả nổi bật, sáng giá và chói lọi, thơm tho. Như vậy, mọi giá trị về tinh thần, về đạo nghĩa bị nhởn chìm theo. Rốt cuộc, bọn giả hình sống với cái giả của chúng, huyễn hoặc mọi người bằng cái giả với bạo lực của quyền uy hợp pháp và cả quyền uy ảo tưởng hậu thuẫn. Và người công chính thụ động, buông xuôi. Cuối cùng, con cháu chúng ta sẽ chỉ biết liệt sĩ đất sét, anh hùng gian dối, vĩ nhân phường tuồng.

Tôi muốn biểu dương trung tá Long như Hoàng Diệu hôm nay, Hoàng Diệu của Sài gòn. ông ta đang nằm kia, dưới chân tượng đài thủy quân lục chiến Việt Nam anh dũng. Máu trung tá Long đã thấm xuống lòng đất mẹ. Cái chết của trung tá Long nếu chưa thức tỉnh được sự u mê của thế giới tự do thân cộng, của bọn phản chiến làm dáng thì, ít ra, nó cũng biểu lộ cái khí phách của một sĩ quan Việt Nam không biết hàng giặc. Tôi không mấy hy vọng cái chết của trung tá Long lay động nổi cái bóng tối vô liêm sỉ trùm đặc tâm hồn những ông tướng đào ngũ. Chúng ta hãnh diện làm người Việt Nam lưu vong vì chúng ta còn trung tá Long không đào ngũ, không đầu hàng giặc và biết chết cho danh dự miền Nam, danh dự của tổ quốc.

- Tôi chứng kiến tự phút đầu.

- Ông nói sao?

- Tôi nhìn rõ ông ta rút súng bắn vào thái dương mình.

- Thật chứ?

- Đáng lẽ tôi phải nói dối.

- Tại sao?

- Vì nói thật lúc này không có lợi.

Tôi nghe hai người Sài gòn nói chuyện. Và tôi được nghe "Huyền sử một người mang tên Long" do một trong hai người kể. Truyện như vầy: 10 giờ 30, Dương văn Minh đọc lệnh đầu hàng, quân đội và cảnh sát tuân lệnh Tổng thống, lột quần áo, giầy vớ, nón mũ, vất súng đạn bỏ chạy về nhà mình hay nhà thân nhân của mình. Một mình trung tá Long không lột chiến bào, không phi tang tích huân chương, không liệng súng đạn. Trung tá Long từ nơi nào đến, chẳng ai rõ. ông xuất hiện ở công viên trước Hạ Viện hồi 12 giờ. Ngồi trên ghế đá, ông ta trầm ngâm hút thuốc. Rồi ông ta nhìn trước, nhìn sau, ngó ngang, ngó dọc. Rồi ông ta đưa tay ôm lấy đầu, cúi thấp. Khi ấy, Sài gòn đã ồn ào tiếng hoan hô cộng sản giải phóng. Bất chợt, ông ta đứng dậy, chậm rãi bước gần chân tượng đài. Trung tá Long đứng thẳng. ông ta ngẩng mặt. Thản nhiên, ông ta rút khẩu Colt, kê họng súng vào thái dương mình bóp cò. Tiếng đạn nổ trùm lấp tiếng hoan hô cộng sản. Trung tá Long đổ rạp.

- Đó, diễn tiến cái chết của Trung Tá Long.

- Ông có mặt ở đây trước lúc trung tá Long xuất hiện?

- Phải. Tôi tuyệt vọng, không thiết về nhà nữa.

- Rồi sao?

- Dân chúng bu quanh xác trung tá Long. Cộng sản chưa có thì giờ kéo xác ông ta đi. Phóng viên truyền hình Pháp thu cảnh này kỹ lắm. Chỉ tiếc họ đã không thu được cái oai phong lẫm liệt của trung tá Long. Họ đến quá chậm và họ chỉ quay phim một xác chết. ông hãy nhìn cho kỹ. Trung Tá Long tuẫn tiết cùng chiến bào, cùng cấp bậc, cùng tên mình.

Tôi đã nhìn kỹ. Lịch sử của chúng ta đã có những vị anh hùng chỉ có tên mà không có họ. Như Đô đốc Tuyết, Đô đốc Long... Hôm nay, chúng ta có thêm trung tá Long. Những ai sẽ viết lịch sử? Và liệu sử gia đời sau có soi tỏ niềm u ẩn của Trung tá Long chảy máu mắt nhìn quê hương lạc vào tay quân thù mà bất lực cứu quê hương, mà chỉ còn biết đem cái chết tạ tội quê hương, dân tộc. Đã hàng tỉ tỉ chữ viết về những chuyện khốn nạn, viết về những tên khốn kiếp, viết về những sự việc khốn cùng. Dòng chữ nào đã viết về Trung tá Long? Người ta đã viết cả pho sách dày cộm để nguyền rủa xác chết. Người ta cũng đã viết cả pho sách dầy cộm để suy tôn xác sống. Người ta ồn ào. Người ta vo ve. Dòng chữ nào đã viết về Trung tá Long? Ai đã làm công việc sưu tầm lý lịch đầy đủ của vị liệt sĩ đích thực này? Than ôi, lịch sử đã hóa thành huyền sử. Cho nên người ta nhìn quốc kỳ mà không cảm giác linh hồn tổ quốc phấp phới bay. Chúng ta đang bị sống trong cái thời đại của những ông tướng đào ngũ, của những ông tổng trưởng đào nhiệm không hề biết xấu hổ. Thời đại của chúng ta còn đòi đoạn ở chỗ, kẻ sĩ và kẻ vô lại đồng hóa trong "lý tưởng" nguyền rủa xác chết và suy tôn xác sống.

Xưa, Hàm Nghi 8 tuổi, hỏi cận thần:

- Tay bẩn lấy gì rửa? Cận thần đáp:

- Nước.

Hàm Nghi hỏi thêm:

- Nước bẩn lấy gì rửa?

Cận thần ngơ ngác:

- Tâu bệ hạ, thần không hiểu.

Hàm Nghi nói:

- Nước bẩn lấy máu mà rửa!

Trung tá Long đã lấy máu rửa một vết ô nhục 30-4. Lính nhẩy dù đã lấy máu rửa một vết ô nhục 30-4. Lính văn nghệ đã lấy máu rửa một vết ô nhục 30-4. Những kẻ tạo ra ô nhục 30-4 lấy gì nhỉ? Họ đang cầm ca, cầm đĩa xếp hàng ngửa tay lấy cơm, lấy nước ở đảo Guam. Biết đâu chẳng xẩy ra tranh cơm như tranh quyền bính. Và biết đâu chẳng bị ông quân cảnh Mỹ đen tặng một vài cái tát xiếc! Những kẻ này vẫn thừa thãi vô liêm sỉ để họp bàn, hiến kết cứu nước. Lịch sử lại thêm vài phụ trang chó đẻ.

Giải phóng quân đã đổ đầy trước thềm Hạ Viện. Cỏ đuôi chó hoan hô tưng bừng. Dân chúng chiêm ngưỡng Trung Tá Long tản mạn. Trung Tá Long nằm nguyên chỗ ông ngã rạp cho máu rửa nhục Sài gòn. Giã từ liệt sĩ! Vĩnh quyết liệt sĩ. Xin hãy phù hộ tôi kéo dài cuộc sống hèn để có ngày được viết vài dòng về Trung Tá.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

MẶT TRẬN BAN MÊ THUỘT

Phạm Huấn

Image
Thiếu Tướng Phạm Văn Phú
Ngày 9 tháng 3, 1975.
Đó là một ngày Chúa Nhật. Sau bốn ngày tại mặt trận Bình Định, mãi tối mịt hôm trước chúng tôi mới về tới Nha Trang. Và chúng tôi vừa chết hụt khi chiếc trực thăng hầu như mất thăng bằng trong những cơn lốc xoáy, lúc bay ngang qua Vũng Rô gần Tuy Hòa.

Khi chuông điện thoại reo lên, nhìn đồng hồ mới 8 giờ sáng, mắt tôi cay xè và thật khó chịu. Giọng nói quen thuộc của Tân, một Sĩ quan Tùy viên khác ở Nha Trang, và cũng là em vợ Tướng Phú vang lên từ đầu giây bên kia:
- Ông Tướng mời anh vào bay gấp!
Ngừng lại một giây, Tân nói tiếp:
- Nhưng ông ấy mới chuẩn bị ăn sáng. Chừng 15 phút nữa anh ra thẳng phi trường, tôi lái xe về cho. Ông Tướng bay C-47, tầu bay đậu ở khu VIP bên dân sự!



Và Tân cúp máy.

Tôi linh cảm thấy một chuyện gì quan trọng sắp sửa xảy ra. Tình hình quân sự tại chiến trương Cao nguyên sau khi Phước Long mất thật nghiêm trọng. Các quốc lộ huyết mạch 19, 21 nối liền Cao nguyên và Duyên hải đã bị cắt nhiều đoạn. Tỉnh Quảng Đức đang bị đe dọa nặng. Tại mặt trận Bình Định, các đơn vị của Sư đoàn 22 Bộ binh gần như quần thảo hàng ngày với Sư đoàn 3 Sao Vàng của Công Sản Bắc Việt. Mặt trận Nam Pleiku, Bộ Tư lệnh Hành quân của Sư đoàn 23 Bộ binh bị pháo liên miên.

Nghe tiếng sóng biển, nhìn qua cửa sổ của chiếc trailer, tôi thấy chân trời xa tít, và nắng lên thật đẹp. Tôi bước ra ngoài. Trước khi lái xe ra phi trường, tôi đã để ra giây phút nhìn cái trailer nằm sát biển Nha Trang, vì tự nhiên linh cảm rằng sẽ chẳng bao giờ trở lại đây nữa. Cái trailer, hay đúng hơn là nơi nghỉ mát của một viên cố vấn Mỹ trước kia, ông Tướng Tư lệnh phó đặc trách bình định phát triển, ông Tỉnh trưởng Khánh Hòa đều muốn nhận làm của riêng mình. Nhưng Tướng Phú đã cho tôi "mượn" dùng làm nơi tạm trú mỗi lần ghé Nha Trang.

8 giờ 40 sáng, chiếc C-47 từ bãi đậu VIP phía dân sự phi trường Nha Trang tiến ra phi đạo. Đây là chiếc máy bay chỉ huy của Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng Hoài. Mỗi năm cứ mùa mưa đến, ông cho biệt phái chiếc Dakota 2 động cơ này lên cho Tư lệnh Quân đoàn II sử dụng. Bởi vì chiến trương Quân khu II gồm 2 mặt trận cao nguyên và duyên hải; thời tiết luôn xấu và sương mù. Những khi khẩn cấp nếu sử dụng trực thăng hoặc phi cơ nhỏ trên những chặng đường dài Pleiku, Phan Thiết, Bình Định phải bay rất lâu và nguy hiểm.

Lúc phi cơ sắp sửa cất cánh, Tướng Phú nói với tôi:
- Hôm nay mình lên Ban Mê Thuột. Quận Đức Lập, Quảng Đức hiện đang bị pháo rất nặng, có thể bị mất ...

Và ông hỏi Hóa, Sĩ quan Tùy viên, về cái lệnh mời Chuẩn tướng Lê Trung Tường, Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh, hiện là Tư lệnh mặt trận nam Pleiku, và Đại tá Nghìn, Tỉnh trưởng Quảng Đức và Ban Mê Thuột họp sáng nay.

Nhìn vẻ mặt đăm chiêu, nghiêm trọng của Tướng Phú, tôi biết rằng Ban Mê Thuột sẽ vô cùng nguy ngập, nếu Đức Lập và Quảng Đức mất.

Tháng trước trong một buổi họp với Tư lệnh mặt trận nam Pleiku, sau khi xếp đặt ưu tiên cho từng mặt trận, Tướng Phú đã ra lệnh cho Đại tá Vũ Thế Quang, Tư lệnh phó Sư đoàn 23 Bộ binh về Ban Mê Thuột chỉ huy, và tăng cường thêm cho Ban Mê Thuột một đơn vị pháo binh 155 ly.

9 giờ 45 phút Tướng Phú tới phi trường Phụng Dực.

Sau những cái bắt tay vội vã, ông cùng với Chuẩn tướng Lê Trung Tường và Đại tá Nguyễn Công Luật, Tỉnh trưởng Ban Mê Thuột về Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh.

Khi đoàn xe đi ngang qua dinh Tỉnh trưởng, thấy một số sĩ quan mặc đồ trắng đánh tennis, Tướng Phú tỏ vẻ khó chịu, và ngay lập tức ra lệnh cấm trại 100%. Tới Bộ Tư lệnh Sư đoàn, ông hối hả bước vào Trung tâm Hành quân.

Tình hình Đức Lập vô cùng nguy ngập. Các đồn phụ đã bị "bứt". Chi khu bị pháo từ 6 giờ sáng, và quân chính qui Cộng sản Bắc Việt đánh "trận địa chiến", và đánh ban ngày. Tiểu đoàn Địa phương quân đóng tại Núi Lửa cách Đức Lập 9 cây số bị địch tràn ngập sau một trận đánh đẫm máu. Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng và một số cấp chỉ huy khác bị Việt cộng sát hại.

Tương Phú bốc máy liên hợp và liên lạc thẳng với Trung tá Nguyễn Cao Vực, Quận trưởng quận Đức Lập. Ông được báo cáo Trung tá Quận trưởng đã bị thương, hiện ở ngoài chỉ huy và điều khiển nhưng khẩu đại bác 105 ly bắn trực xạ vào Cộng quân.

Đúng 10 giờ 30 phút sáng, quận Đức Lập biến thành biển lửa. Từ 12 giờ trưa đến 5 giờ chiều ngày 9 tháng 3, 1975, Tướng Phú họp với Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh, các Tiểu khu trưởng Ban Mê Thuột và Quảng Đức để duyệt xét tình hình các mặt trận.

Sau khi chấp nhận những đề nghị của các giới chức liên hệ và cho những chỉ thị cần thiết, ông ra lệnh cho Đại tá Nghìn, Tỉnh trưởng Quảng Đức bay về trước. Tại Ban Mê Thuột, để cho có sự thống nhất chỉ huy, Tương Phú bổ nhiệm Đại tá Quang, Tư lệnh phó Sư đoàn 23 làm Tư lệnh chiến trường Ban Mê Thuột.


Các Tư lệnh mặt trận phải ra lệnh đôn đốc các đơn vị chuẩn bị và sẵn sàng chiến đấu trong 2, 3 tháng liên tiếp; tổ chức những cuộc hành quân xa ngoài thị xã và vị trí phòng thủ.

Kho xăng, kho đạn phải được phân tán, đề phòng đặc công Cộng sản Bắc Việt đánh phá. Lệnh thiết quân luật mỗi nơi được ủy nhiệm cho các Tư lệnh mặt trận toàn quyền định đoạt.

Hai quyết định quan trọng khác của Tướng Phú:
1. Tư lệnh mặt trận Ban Mê Thuột tùy theo tình hình, nếu cần cho phá hủy cầu 14 trên đường Quảng Dưc-Ban Mê Thuọt để làm chậm sức tiến của chiến xa địch.
2. Tư lệnh mặt trân Kontum tăng phái một Liên đoàn Biệt động quân cho mặt trận Ban Mê Thuột. Và Liên đoàn Biệt động quân này phải được đổ xuống Buôn Hô ngay chiều nay.

Sự có mặt của Tướng Phú tại Ban Mê Thuột ngày hôm nay, 9 tháng 3, 1975 với những quyết định có tính cách quan trọng và cấp bách ông vừa ban hành là cái "bén nhậy" của một tướng mặt trận, một vị Tư lệnh có kinh nghiệm chiến trường.

Ông làm việc liên miên ngay từ khi tới Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh. Khi quyết định tăng phái cho Ban Mê Thuột một Liên đoàn Biệt đông quân, vừa cầm dĩa cơm trên tay, vừa gọi máy ra lệnh cho Tư lệnh mặt trận Kontum cho các Tiểu đoàn Chiến đấu của Liên đoàn Biệt động quân được tăng phái, chuẩn bị di chuyển trong 2 giờ sắp tới.

Sau đó, ông cũng đích thân liên lạc với Tướng Sang, Tư lệnh Sư đoàn 6 Không quân ở Pleiku, để vận dụng tất cả trực thăng cho cuộc đổ quân được hoàn tất thật nhanh. Vì thế, đợt đổ quân đầu tiên của Liên đoàn 2 Biệt động quân xuống Buôn Hô đã được thực hiện ngay chiều ngày 9 tháng 3, 1975.

6 giờ chiều ngày 9 tháng 3, 1975 rời Ban Mê Thuột, Tương Phú ra lệnh bay thẳng lên Pleiku, thay vì trở lại Nha Trang nghỉ dưỡng sức. Và ngay buổi tối, ông vào làm việc, ở luông trong chiếc "bunker", chiếc hầm nổi chống pháo kích của Tư lệnh Quân đoàn còn đang làm dở dang, sát với Trung tâm Hành quân. Lệnh cấm trại 100% được ban hành.

Từ lúc trở lại Pleiku, Tướng Phú có vẻ bồn chồn lo nghĩ. Ông hút thuốc lá liên miên. 9 giờ tối, khi được báo cáo Liên đoàn 21 Biệt động quân tăng cường cho mặt trận Ban Mê Thuột đã được trực thăng bốc từ bắc Kontum thả xuống Buôn Hô, Tướng Phú thở phào nhẹ nhõm, và nói một mình:
- May ra thì ... còn kịp!
Rồi quay sang phía tôi:
- Này, "ông nhà báo", mình làm một tẩy mạt chược, khánh thành chiếc "bunker" mới!
Tiếp đó, ông ra lệnh cho Thiếu tá Hóa, Sĩ quan Tùy viên:
- Hóa! Chú mày điện thoại mời Đại tá Tham mưu trưởng và gọi Vinh. Bảo tụi nhỏ kiếm cái bàn vuông, bàn "dã chiến" cũng được.
Hóa có vẻ ngần ngại:
- Hôm nay Thiếu tướng bay từ sáng sớm, và giờ khuya rồi, tôi sợ Thiếu tướng mệt.
- Ồ! ăn thua gì, hôm nay tôi muốn thức khuya, chú mày đừng làm ta xui xẻo!

Hóa không nói thêm nữa, lẳng lặng gọi điện thoại mời Đại tá Lý và Thiếu tá Vinh, Chánh Văn phòng Tư lệnh Quân đoàn. Hóa là Sĩ quan Tùy viên của Tướng Phú từ hồi còn ở Sư đoàn 1; người miền Trung, ít nói, tính lầm lì và rất chịu khó làm việc.

Tướng Phú là người sống bình dị, khắc khổ, không uống rượu, ăn chơi. Cái thú duy nhất của ông là hút thuốc lá và thỉnh thoảnh đưỢc xoa vài tẩy mạt chược, "ăn thua" tượng trưng. Đây là môn "thể thao" vừa giải trí, vừa đấu trí! Canh mạt chược đêm 9 tháng 3, 1975 kéo dài khoảng hai giờ đồng hồ.

Và đó cũng là lần cuối cùng Tướng Phú được hưởng cái thú tiêu khiển này. Ông bị thua, thua cả ... 3 người!

Gần 1 giờ sáng, Tướng Phú gọi ra lệnh cho Đại tá Phạm Duy Tất, Tư lệnh mặt trận bắc Kontum:
- Anh nhớ theo dõi "thằng con" anh mới rời Kontum anh chiều nay. Bắt nó phải "bung" ra hoạt động ngay. Ngày mai tôi sẽ ra lệnh Đại tá Quang, Tư lệnh phó Sư đoàn 23 mang bộ chỉ huy hành quân lên đó ...
- ...
- Tôi nghe nói "thằng cha Dậu" là con gà chết. Nếu anh thấy hắn ta chỉ huy không được thì nên thay thế ngay. Đừng che chở, kẻo hỏng việc hết!
- Tôi xin tuân lệnh Thiếu tướng!

Đại tá Phạm Duy Tất, Tư lệnh mặt trận bắc Kontum và cũng là chỉ huy trưởng Lực lương Biệt động quân, Quân khu II. Trung tá Dậu, Liên đoàn trưởng Liên đoàn 21 Biệt động quân vừa được thả xuống Buôn Hô, đông bắc Ban Mê Thuột, và mới nắm quyền chỉ huy Liên đoàn Biệt động quân hơn 1 tháng nay!


30 ngày trước khi Cộng quân tấn công Ban Mê Thuột, khi chưa bị rối loạn, chưa ban hành quyết định rút Cao nguyên, bỏ Huế; Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã đi khắp 4 Vùng Chiến thuật để ăn tất niên ngoài tiền tuyến với binh sĩ. Tại mặt trận bắc Kontum, vùng biên giới Lào-Việt, Tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Chiến trường Cao nguyên, hướng dẫn Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa tới thăm một đơn vị Biệt động quân trên tuyến đầu.


"Người Lính Kèn" của Trường Võ Bị Đà Lạt


10 giờ 30 phút sáng ngày 9 tháng 3, 1975, quận Đức Lập tỉnh Quảng Đức biến thành biển lửa. Trước đó, hai viên đại bác 82 ly không giật của Bắc quân bắn trúng đài chỉ huy chi khu.

Đài chỉ huy sập. Người Sĩ quan An ninh tử trận tại chỗ. Trung tá Nguyễn Cao Vực, Quận trưởng bị thương, nhúng đầu vào lu nước, thoát ra ngoài. Ông Quận trưởng đích thân chỉ huy và điều khiển hai khẩu đại bác 105 ly, bắn trực xạ, ngăn chận những đợt xung phong biển người của quân Cộng sản Bắc Việt.

Bốn ngày trước, 5 tháng 3, 1975 một cuộc phục kích tại phía đông Buôn Dak Gang cách bắc Đức Lập 10 cây số. Lực lượng chi khu đã bắt được một tù binh thuộc Sư đoàn F10 Cộng sản Bắc Việt, và tài liệu tiết lộ Bắc quân sẽ đại tấn công Quảng Đức và Ban Mê Thuột, mở đầu chiến dịch Tây Nguyên 1975. Nhưng nguồn tin này, cũng như nguồn tin tình báo tương tự của tiểu khu Ban Mê Thuột, khi khai thác một sĩ quan tù binh Cộng sản Bắc Việt trong toán tiền thám của Sư đoàn 320 Điện Biên Phủ tại Bắc Ban Mê Thuột (tù binh Bắc Việt bị bắt ngày 7 tháng 3, 1975), đã không được Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh và Quân đoàn II "xếp hạng" là những nguồn tin quan trọng.

Hôm nay Sư đoàn F10 Cộng sản Bắc Việt nhất định san bằng quận Đức Lập để tiến quân về Ban Mê Thuột. Các công sự phòng thủ trên mặt đất sập hết, nhưng Quận trưởng Nguyễn Cao Vực và các chiến hữu của mình vẫn cầm cự chiến đấu dai dẳng ở các giao thông hào.

Nguyễn Cao Vực, người "pháo thủ" của các chiến trưỜng Chiến khu D 1960, Bu Prang 1968, Kontum 1972, cũng lính là "anh lính kèn người Thượng" với cái tên "Cai Son" của sinh viên sĩ quan khóa 13 trường Võ Bị Đà Lạt. Hạ sĩ Son, anh lính kèn là người đã mang đến cho các sinh viên sĩ quan những giây phút vui buồn đáng nhớ mỗi ngày. Từ điệu kèn báo thức, tập hợp đi ăn, cũng như mặc đồ trận, đeo ba lô buổi tối trình diện dã chiến khi bị phạt ... Nguyễn Cao Vực là người có sắc diện như một cái cột nhà cháy, nên được bạn bè đặt cho cái tên là "Cai Son". Và anh rất thích cái tên đó.

Tôi có khá nhiều kỷ niệm với Vực, vì cùng một trung đội trong hai năm học tại trường. Đầu năm 1960, khi tôi hướng dẫn Dickey Chapel - người nữ Phóng viên kỳ tài của thế giới, đã từng nhảy dù theo một lực lượng Mỹ xuống Okinawa trong trận Thế chiến II - đi hành quân tại chiến khu D, với một đơn vị nổi danh của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa thời đó là Trung đoàn 8 thuộc Sư đoàn 5 Bộ binh, thì Vực là Pháo đội trưởng Pháo đội 105 ly, tăng cường cho đơn vị này.

Thiếu tá Nguyễn Văn Tư, Trung đoàn trưởng đã giới thiệu với chúng tôi hai quân nhân thiện chiến và "chì" nhất của Trung đoàn. Đó là Trung úy Bác sĩ Lê Đình Kỳ và Pháo đội trưởng Nguyễn Cao Vực. Bác sĩ Kỳ là ngươi không thích hành nghề chuyên môn mà chỉ thích truyện trận mạc. Còn Vực được mệnh danh là một Pháo đội trưởng lì lợm, thiện xạ, bắn đâu trúng đó.

Một tuần lễ đi hành quân với Trung đoàn 8 Bộ binh trong Chiên khu D, Dickey Chapel và tôi thương ăn và ngủ chung với Bộ Chỉ huy của Trung đoàn, gồm Thiếu tá Tư, Bác sĩ Kỳ, Trung úy Vực, và Hiền. Hiền là Sĩ quan Hành quân của Trung đoàn và cũng tốt nghiệp khóa 13 Võ bị Đà Lạt.

Trong sáu người chúng tôi, lần lượt Đại úy Hiền, Đại tá Tư đều tử trận. Họ đã hy sinh tại vùng đất và đơn vị mà họ đã chiến đấu, phục vụ nhiều năm. Dickey Chapel, người mà tôi kính trọng như một người chị trong nghề phóng viên chiến tranh, cũng vĩnh viễn ở lại Việt Nam trên "dãy phố buồn thiu" ngoài chiến trương miền Trung.

Hôm nay đến lượt Nguyễn Cao Vực. Anh là một Quận trưởng bất đắc dĩ. Anh đã bị thả xuống Đức Lập, và trở thành Quận trưởng dù muốn hay không, giữa năm Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.

Và có thể đây là trận chót trong đời binh nghiệp người pháo thủ tài ba của Sư đoàn 5 Bộ binh, của chiến trường Cao nguyên, đã lại có dịp thi thố cái khả năng chuyên môn của mình. Hai khẩu đại bác 105 ly bắn trực xạ vào các đơn vị tiền phong Sư đoàn F10 Cộng sản Bắc Việt chắc chắn đã có một sự đánh đổi cân xứng trước khi và các chiến hữu của mình vùi ngập trong biển lửa.

Tôi tự hỏi, nếu Vực không thoát được trong trận này, còn lại Bác sĩ Lê Đình Kỳ và tôi, ai sẽ là người sống sót sau cùng, sau 20 năm chiến tranh dài của một đời người?



Các "Dũng Sĩ" Trung đoàn 53 Bộ binh tại mặt trận phi trương Phụng Dực

Ngày 10 tháng 3, 1975
Những trận mưa pháo vào Ban Mê Thuột từ 2 giờ đến 4 giờ sáng rạng ngày 10 tháng 3, 1975 đã gây kinh hoàng cho mấy chục ngàn quân cũng như dân, hiện đang có mặt tại thị xã này.

Sau đó là những chiến xa đủ loại, băng rừng, nghiền nát các ngả đường, để các lực lượng của những Sư đoàn 320, 316 Cộng sản Bắc Việt ào ạt tiến vào.

Nhưng, những người kinh hoàng và đau đớn nhất là hai cấp chỉ huy có trách nhiệm phòng thủ Ban Mê Thuột: Đại tá Vũ Thế Quang và Đại tá Vũ Công Luật!

Đại tá Luật, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Ban Mê Thuột là một Sĩ quan Thiết giáp kỳ cựu của Quân lực Viêtn Nam Công Hòa. Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn I Thiết kỵ trong cuộc hành quân sang Lào 1971, người mà báo chí Việt Nam và ngoại quốc gọi là "Patton Việt Nam". Patton là danh tướng Thiết giáp của Mỹ trong Thế Chiến II. Đại tá Luật đã từng chỉ huy một Lực lượng Thiết giáp quan trọng và tối tân nhất của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, với những Thiết đoàn M48, M41 chiến xa trong cuộc tiến quân này.

Đêm nay Bắc quân đánh trận địa chiến vơi chiến xa nặng, với chiến thuật biển người, thì trong tay ông vỏn vẹn có được hai Chi đội Thiết vận xa M113 và những xe bọc sắt tuần tiễu của Địa phương quân. Một thứ "đồ chơi con nít" nếu so sánh với loại Thiết giáp tối tân T54 của Nga Sô mà Cộng sản Bắc Việt hiện đang sử dụng!

Đại tá Vũ Thế Quang, Tư lệnh phó Sư đoàn 23 Bộ binh và Tư lệnh mặt trận Ban Mê Thuột khi nghe những tiếng đạn bay xé không gian, nổ tại phi trường L19, trước tiểu khu, bộ Tư lệnh Sư đoàn, đã thấy ngay cái giá mà lực lương phòng thủ phải trả. Bởi vì những khẩu đại bác 122 ly, 130 ly của Bắc quân đã kéo sát tới thị xã!

Những tiếng đại pháo của địch nổ tại Ban Mê Thuột cũng đã làm cho các tướng lãnh nắm vận mạng Đất Nước bừng tỉnh. Họ tạm quên đi những hận thù, những tranh giành quyền hạn, phe phái. Tất cả đều hướng về mặt trận này!

Lệnh của Đại tướng Cao Văn Viên từ Bộ Tổng Tham Mưu Quân lực Viêt Nam Cộng Hòa được truyền đi lúc 7 giờ sáng. Của Tướng Trần Thiện Khiêm, Thủ tướng Chính phủ gọi từ Đà Lạt lúc 8 giờ 40 phút. Của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu gọi từ Dinh Độc Lập lúc 10 giờ 10 phút, và 19 giờ tối.

Trận đánh quyết định giữa hai miền Nam-Bắc đã xảy ra. Nhưng lực lượng giữa hai bên quá ư chênh lệch, như trứng chọi với đá nếu so sánh cả về quân số, vũ khí, chiến cụ. Địch đã ở thế thượng phong ngay từ lúc đầu!

Tuy nhiên, trong ngày đầu tinh thần chiến đấu của các dũng sĩ Trung đoàn 53 Bộ binh, sự gan dạ của những phi công anh hùng A37, của những chiến sĩ Địa phương quân tiểu khu Darlac, đã làm cho Bắc quân kinh ngạc, nể vì. Những tin tức phấn khởi bay đi khắp nước ngay khi "những cánh đại bàng" xuất hiện trên vùng trời Ban Mê Thuột.

Phi tuần phản lực A37 đầu tiên đã bắn cháy hai chiến xa, và hai cỗ đại bác phòng không của Cộng sản Bắc Việt ngay trong thị xã lúc 11 giờ 30 phút. Hai chiến xa khác cũng do không quân đánh bom trúng tại 2 cây số tây bắc Ban Mê Thuột. Lực lương Địa phương quân Darlac đã tạo một bất ngờ lúc 11 giờ trưa khi bắn cháy một T54 trước bộ Chỉ huy Tiểu khu ngay trên đường Thống Nhất!

Trận "thử sức" của các trung đoàn tiền phong quân chính quy thuộc Sư đoàn 320 Điện Biên Phủ và những "dũng sĩ" Trung đoàn 53 Bộ binh trên phòng tuyến quanh phi trường Phụng Dực xảy ra lúc 14 giờ.

Mở đầu là những trận mưa pháo, cầy nát sân bay. Từng đoàn chiến xa của Bắc quân gầm thét, di chuyển theo đội hình từ khắp ngả tiến vào.

Nhưng tinh thần các chiến sĩ ta không hề nao núng. Đây cũng không phải là "trận thư hùng" đầu tiên của các đơn vị tinh nhuệ của ta và địch.

Bởi vì trước khi rút về phòng thủ phi trường Phung Dực, Trung đoàn 53 tăng phái cho mặt trận Quảng Đức đã đụng độ với các trung đoàn chủ lực của Sư đoàn F10 rất nhiều lần trong những tháng trước, và mấy ngày mới đây với Sư đoàn 320 của Cộng sản Bắc Việt tại Đông Bắc Ban Mê Thuột.

Sau gần 2 giờ quần thảo, Trung đoàn 53 Bộ binh đã đẩy lui 3 đợt xung phong biển người của địch. 15 giờ 30, Bắc quân chém vè, để lại trên 200 xác và 50 vũ khí đủ loại, 4 chiến xa Cộng sản Bắc Việt bị bắn cháy.

Báo cáo chiến thắng về Trung tâm Hành quân Quân đoàn II bằng hệ thống điện thoại viễn liên từ phi trường Phụng Dực, "người lính số 1" của Trung đoàn 53 Bộ binh, một trong những anh hùng của mặt trận Ban Mê Thuột, Trung tá Võ Ân, Trung đoàn trưởng nói với Tướng Phú:
- Trình "Mặt Trời", những "đứa con" của tôi sứt mẻ chút ít, nhưng tinh thần rất cao.Trận đánh vừa kết thúc. Hơn 200 xác Việt cộng còn để nguyên ngoài chiến trường. Vũ khí tịch thu tôi đã cho kéo về phòng danh dự của phi cảng để "triển lảm"! Trong đó có cả 3 đại bác phòng không và 4 hỏa tiễn SA7 còn mới nguyên.

Tướng Phú vui mưng lộ trên nét mặt. Ông khen ngợi và ra lệnh cho Ân bằng một giọng hết sức thân mật:
- "Chú mày" giỏi lắm! Chuyển lời khen của tôi đến anh em. Ráng lên! Sau trận này mỗi người lên một cấp. Nhưng không được khinh thường địch quân! Phải chuẩn bị và đề phòng tối đa ngay! Rõ chưa?
- Trình "Mặt Trời", tôi nhận rõ!

Tướng Phú cúp máy. Trung tá Võ Ân trở ra chiến hào phòng thủ cùng với các chiến hữu của mình.

Tuy nhiên chiến thắng trên đây chỉ là một may mắn đặc biệt, một chiến thắng sau cùng của Trung đoàn 5e Bộ binh trong trận đánh quyết định giữa hai miên Nam-Bắc năm 1975.

Ngày 10 tháng 3, 1975 là một ngày cực kỳ sôi động trên chiến trương Cao nguyên. Trong lịch sử 30 năm chiến tranh Việt Nam kể từ hồi còn quân đội Pháp, chưa bao giờ có những trận đánh đồng loạt, dồn dập như vậy.

Ngoài mặt trận chính Ban Mê Thuột, Cộng quân tấn công khắp nơi. Các trận bắc Kontum, nam Pleiku, bắc Bình Định, Quảng Đức và trên 2 quốc lộ 19, 21 đều bị áp lực nặng nề.

Tiểu khu Ban Mê Thuột bị mất liên lạc lúc 12 giờ trưa. Những đoàn xe chở quân của Bắc Việt vẫn tiếp tục tiến về Ban Mê Thuột. Lệnh phá cầu 14 trên quốc lộ nối liền Quảng Dức-Ban Mê Thuột được ban hành. Những trận pháo kích, đụng độ nặng nề quanh Căn cứ 93 phía nam Pleiku kéo dài suốt ngày.

15 giờ 15 phú, phi trường Cù Hanh, Pleiku bị pháo. Một trực thăng và một dãy nhà bị cháy, một Dakota bị hư hại.

18 giờ 20 phút, Cộng quân pháo trúng Bộ Tư lệnh Quân đoàn, khu câu lạc bộ sĩ quan và Bộ Chỉ huy Không trợ II. Thị xã Pleiku thiết quân luật 9 giờ tối.

Tại mặt trận Bình Định, Trung đoàn 42 và 47 giao tranh suốt ngày với các đơn vị Cộng sản Bắc Việt và hạ 200 tên tại thung lũng Vĩnh Thạnh. Sư đoàn 22 Bộ binh hiện đã trực diện với Sư đoàn 3 Sao Vàng, các trung đoàn biệt lập của Bắc Việt tại Quân khu 5.

Một tin chấn động khác, 17 chiến xa Cộng sản Bắc Việt xuất hiện gần Phù Cát, Bình Định lúc 5 giờ 30 chiều.

Tổng kết tại mặt trận Ban Mê Thuột trong ngày đầu cùng với chiến thắng của Trung đoàn 53 Bộ binh, thêm 100 Cộng quân khác bị hạ trước tiểu khu, trước khi tiểu khu Darlac bị mất liên lạc, và trước dinh Tỉnh trưởng, gần sát với Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh. 12 chiến xa Cộng sản Bắc Việt bị bắn cháy, trong số đó có 11 cái do Không quân đánh bom trúng.

Những lệnh cuối cùng trong ngày Tướng Phú chỉ thị cho Tướng Lê Trung Tường, Tư lệnh mặt trận nam Pleiku và Tỉnh trưởng không được lùi khỏi Căn cứ 93 trên tuyến phòng thủ Bộ Tư lệnh Quân đoàn và thị xã này. Liên Đoàn 21 Biệt động quân đã từ Buôn Hô di chuyển về gần tới Ban Mê Thuột bằng mọi giá phải tái chiếm bộ chỉ huy tiểu khu và kho đạn Ban Mê Thuột.

19 giờ tối, Tổng Thống Thiệu từ Saigon gọi lên chỉ thị cho Tư lệnh Quân đoàn II giải quyết chiến trường Ban Mê Thuột mau lẹ (?)

Giây Phút Cuối Cùng của Tư Lệnh Mặt Trận Ban Mê Thuột


Ngày 11 tháng 3, 1975.
Trận đánh đẫm máu thư 2 giữa Trung đoàn 53 Bộ binh và một lực lương quân chính qui Cộng sản Bắc Việt đã được tăng cường đông hơn gấp 10 lần, xảy ra lúc 5 giờ sáng. Đó cũng là lần xuất trận đầu tiên của Sư đoàn 316, sư đoàn tổng trừ bị của Bắc Việt tại mặt trận phi trường Phụng Dực trên chiến trường Cao nguyên.

Sư đoàn 316 tổng trừ bị Cộng sản Bắc Việt vừa di chuyển từ miền Bắc vào, và mới tới trận địa hồi đêm. Những báo cáo tiên khởi trong 2 giờ đầu cho biết Trung đoàn 53 Bộ binh bị thiệt hại quá nặng.

7 giờ 45 phút sáng, đích thân Tư lệng mặt trận Ban Mê Thuọt, Đại tá Vũ Thế Quang gọi lên Trung tâm Hành quân Quân đoàn II cho biết tình hình vô cùng nguy ngập. 10 chiến xa Cộng sản Bắc Việt đang bắn trực xạ vào Bộ Tư lệnh Sư đoàn.

Người sử dụng máy siêu tần số lúc đó là Trung tá Không quân Nguyễn Văn Giang, Giám đốc Không trợ II. Bằng những ngụy thoại, ông cho biết đoàn phản lực cơ cất cánh từ Nha Trang đang trên đường, và sắp tới vùng trời Ban Mê Thuột.

7 giờ 55 phút, hai chiếc phản lực cơ A37 lao xuống mục tiêu, những chiến xa Cộng sản Bắc Việt, và đánh vô cùng chính xác. Nhưng chỉ mấy phút sau, bỗng nghe Đại tá Quang hét lên trong máy truyền tin:
- Ơ!... "nó" đánh trúng tôi!!!

8 giờ. Đó là giờ phút của "định mệnh". Hai trái bom đã thả trúng hầm Chỉ huy và Truyền tin của Tư lệnh mặt trận Ban Mê Thuột. Và Trung tâm Hành quân Quân đoàn II mất liên lạc với Ban Mê Thuột từ lúc đó.
Nghe câu nói sau cùng của Quang, tự nhiên tôi thấy đau lòng và đưa mắt nhìn Giang. Quang, Giang và tôi đều là bạn.

Quang với biệt danh "Quang dù", là người lính của chiến trường và thành phố trong 2 thập niên 1955-1975. Trước năm 1960 khi chiến tranh còn ở cấp tiểu đoàn, một số sĩ quan trong các binh chủng Không quân, Nhảy Dù rất nổi tiếng trong cả hai lãnh vực: ăn chơi và đánh giặc. Tên tuổi họ trở thành những nhân vật trong tiểu thuyết, các phóng sự với những biệt danh riêng. Chẳng hạn như: Cương "khểnh", Hợi "voi", Quang "dù", Hùng "sùi", Giang "nám" ...

Thơi gian ở Nhảy Dù, Quang là một Tiểu đoàn trưởng trung bình, nhưng là người có một "nghệ thuật sống" siêu đẳng. Anh luôn luôn tự chế và thích nghi với mọi hoàn cảnh. Cuối năm 1963, Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù đang được tái huấn luyện tại Trung tâm Vạn Kiếp, mới được tạm thơi giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng, anh đã liều lĩnh mang tiểu đoàn về Saigon tham gia đảo chánh. Nhưng công trạng của anh chỉ được biết đến khi Tướng Nguyễn Cao Kỳ được bổ nhiệm làm Tư lệnh Không quân.

Rồi sau đó, khi trở thành Thủ tướng, ông Kỳ đã đề cử Quang chỉ huy Liên đoàn An ninh Danh dự. Đường hoạn lộ chim bay từ đó!

Nhưng phải nói anh là người đàng hoàng, trung trực. Khi ông Kỳ bị ông Thiệu hất cẳng, cho "ngồi chơi sơi nước", một bất ngờ, anh được ông Thiệu cho đi làm Thị trưởng Cam Ranh. Anh vào Tân Sơn Nhất hỏi ý kiến ông Kỳ. Không may cho anh, trong một canh mạt chược dở dang, ông Kỳ rất thờ ơ lạnh lùng. Vì vậy, anh thất vọng bỏ đi. Từ đó, anh trở lại cương vị của một người quân nhân "nhà nghề". Tuy nhiên, bạn bè vẫn nghi ngờ và chế diễu anh là một "petit ... Lên Nguyên Khang" (!) Mỗi khi có chiến thắng Việt Cộng, tay phải cầm khẩu AK47 tặng Trung tướng Thiệu, tay trái trao khẩu CKC cho Thiếu tướng Kỳ. Cũng như Trung tướng Khang, luôn luôn đu giây giữa "cánh phải và cánh trái" dinh Độc Lập với câu nói đầu môi: "ông Kỳ là bạn, ông Thiệu là thày, tôi chỉ biết phục vụ cho quyền lợi của Tổ quốc và Quân đội"!!!

Sau khi rời chức vụ Thị trưởng Cam Ranh vơi thâm niên cấp bậc, Quang được bổ nhiệm làm Tư lệnh Phó Sư đoàn 23 Bộ binh.

Chiều ngày 9 tháng 3, 1975 , Tướng Phú rất khó khăn và cân nhắc mãi mới chọn lựa anh làm Tư lệnh chiến trường Ban Mê Thuột, vì Đại tá Luật, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Darlac chức vụ nhỏ hơn, nhưng trận mạc và cấp bậc thâm niên hơn.

Tôi nhớ khi rời phi trường Phụng Dực, Tương Phú bắt tay Quang và nói:
- Cố gắng và ráng cẩn thận nghe Quang! Đừng để lỡ dịp lên tướng kỳ này. Mình ... Nhảy Dù mà !
Quang đứng nghiêm chào Tướng Phú:
- Thiếu Tướng yên tâm, tôi sẽ làm tất cả những gì có thể làm được. Và tôi sẽ chết tại đây trước khi Ban Mê Thuột mất!

Sau khi Trung tâm Hành quân, hầm Chỉ huy và Truyền tin của Tư lệnh Chiến trường bị sập, mọi người đều lo lắng cho số phận Ban Mê Thuọt.

Đại tá Tham mưu trưởng Quân đoàn được lệnh thành lập bộ Chỉ huy Hành quân trên không để chỉ huy mặt trận Ban Mê Thuột. Cả hai chiếc C47 và U17 của Tư lệnh Quân đoàn đều được sử dụng. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Hành quân nhẹ cũng được thành lập gấp rút ở Buôn Hô.

11 giờ 50 phút, sau gần 4 giờ chờ đợi, Trung tâm Hành quân Quân đoàn II ghi nhận mất liên lạc hoàn toàn với Tư lệnh chiến trường Ban Mê Thuột và Đại tá Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng tiểu khu Darlac.

15 giơ 30, Đại tướng Cao Văn Viên gọi cho Tướng Phú gay gắt ra lệnh "bốc" Chuẩn tướng Lê Trung Tường, Tư lệnh Sư đoàn 23 từ mặt trận nam Pleiku thả xuống Ban Mê Thuột chỉ huy.

17 giờ và 23 giờ đêm, những lệnh của Tổng Thống Thiệu và Thủ tướng Chính phủ Trần Thiện Khiêm:
- Linh động trong mọi trường hợp. Cẩn thận không nên dồn hết quân trong mặt trận này.
- Tư lệnh Quân đoàn toàn quyền quyết định, có thể bỏ Ban Mê Thuột. Tránh sa lầy, vì có thể còn hai, ba mặt trận lớn nữa tại Quân khu II.
- Tường trình chính xác các sư đoàn Cộng sản Bắc Việt hiện tham chiến trên trận địa Ban Mê Thuột.
- Tỉnh trưởng Ban Mê Thuột coi như đã mất tích. Chấp thuận thả một Tỉnh trưởng khác xuống chỉ huy nơi có dân và quân tập trung nhiều. Lập tòa Hành chánh và bộ Chỉ huy tiểu khu Ban Mê Thuột lưu động.

Giây phút cuối cùng của Tư lệnh chiến trường Ban Mê Thuột sau này được ghi nhận với những dữ kiện đặc biệt. Buổi sáng khi 2 trái bom 500 cân Anh của Không quân đánh sập một đầu hầm Trung tâm Hành quân của Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh, một số sĩ quan trong bộ tham mưu đã thoát lên được. Trên một thiết vận xa M113, Đại tá Vũ Thế Quang sử dụng máy truyền tin liên lạc với chiếc máy bay chỉ huy, cho lệnh các phản lực cơ trút bom xuống bộ Tư lệnh Sư đoàn hiện đang bị địch quân tràn ngập. Và cho biết sẽ rút về phía Trung đoàn 53 Bộ binh tại phi trường Phụng Dực để tiếp tục chỉ huy.

Đại tá Nguyễn Công Luật cùng với Phó Tỉnh trương Hành chánh Nguyễn Ngọc Vỵ đi theo một hướng khác. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau, chiếc thiết vận xa chỉ huy bị bắn cháy, Đại tá Quanh thoát chết trong gang tấc. Cộng quân lúc này đầy khắp các ngả đường trong thành phố cùng với những đoàn xe tăng của chúng.

Cũng thời gian này, trên Quốc lộ 14, khoảng đường tư Đức Lập về Ban Mê Thuột, bộ Chỉ huy Hành quân nhẹ của Trung đoàn 53 Bộ binh cùng với một tiểu đoàn, được lệnh rút từ vùng hành quân phía đông bắc quận Đức Lập về tiếp cứu Ban Mê Thuột, cũng bị Việt cộng phục kích chận đánh. Trung tá Trung đoàn Phó Trung đoàn 53 và hầu hết các sĩ quan đều bị tử trận hoặc bị địch bắt. Cánh quân này coi như bị tan rã trước khi tới được trận địa Ban Mê Thuột.

Đến xế trưa ngày 11 tháng 3, bên cạnh Đại tá Quang chỉ còn có người Thiếu úy, Sĩ quan Tùy viên và một người lính. Không thể đi tới được phi trường Phụng Dực và cũng không còn phương tiện truyền tin để liên lạc, ba người đã ẩn tránh trong một vườn cà phê mấy tiếng đồng hồ, đợi đêm tối nhắm hướng nam đi về phía Quảng Đức.

2 giờ sáng ngày 12 tháng 3, đi được khoảng 6 cây số đưỜng rừng ngay khi vưa tới sát một làng Thương, thì bị Việt cộng nổ súng, xông ra vây bắt. Thấy Đại tá Quang vẫn còn mang cấp bậc trên cổ áo và xưng danh là Tư lệnh Phó Sư đoàn 23 Bộ binh, chúng đã trói lại, lột giầy và liệng xuống hố. Chừng một giờ sau, chúng được lệnh dẫn Đại tá Quang đi suốt đêm. Tới chiều hôm sau, ngày 13 tháng 3, được cởi trói, cho đi giầy vào và chở đi bằng xe Molotova sang Cam Bốt để khai thác. Vùng rừng núi này, chắc chắn là nơi đặt bản doanh bộ Tư lệnh chiến trường Tây nguyên 1975 của 2 Tướng Cộng sản Bắc Việt Văn Tiến Dũng và Hoàng Minh Thảo.

Trong suốt thời gian bị điều tra, Đại tá Quang bị Việt cộng khủng bố tinh thần, cùm giữ hai chân trong hai thân cây lớn được khoét lỗ sẵn. Đó có thể cũng là kết quả đưa đến những lời cung khai của Tư lệnh Phó Sư đoàn 23 Bộ binh, như Văn Tiến Dũng đã viết trong cuốn Đại Thắng Mùa Xuân.

Nhưng với cuộc tấn chiếm Ban Mê Thuột bằng một lực lượng chính qui Cộng sản Bắc Việt đông hơn gấp 10 lần, có chiến xa, pháo binh yểm trợ, do chính Văn Tiến Dũng, Tổng Tư lệnh quân đội Bắc Việt trực tiếp chỉ huy, việc giữ được Ban Mê Thuột 48 giờ đã là một sự kiện hết sức đặc biệt. Vì Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh không có hệ thống phòng thủ để chiến đấu. Lực lượng chính yếu là Trung đoàn 53 Bộ binh thì trấn đóng tại phi trường Phụng Dực, cách Ban Mê Thuột 5 cây số. Trong thị xã, ngoài các đơn vị Địa phương quân, chỉ có những thành phần quân nhân lo về tiếp liệu, phòng giữ hậu cứ của các Trung đoàn Bộ binh, hậu cứ các đơn vị Thiết giáp, Pháo binh, Truyền tin, Quân cụ, Công binh.

Một Huyền Thoại trong Chiến Tranh Việt Nam


4 giờ sáng ngày 10 tháng 3, 1975.
Sau những trận mưa pháo suốt 2 tiếng đồng hồ, Cộng quân với chiến xa và biển người, tấn chiếm Ban Mê Thuột. Và với một lực lượng đông gấp 10 lần, địch đã làm chủ tình hình ngay từ phút đầu.

Sự chống trả mảnh liệt của những đơn vị phòng vệ thị xã cùng với sự yểm trợ hữu hiệu gan dạ của các phi công anh hùng, đã chặn bớt được sức tiến của quân thù.

Nhưng ngày hôm sau, khi Cộng sản Bắc Việt tung thêm Sư đoàn tổng trừ bị 316 mới ở miền Bắc vào, thì lực lương hai bên giữa ta và địch quá ư chênh lệch, cả về quân số, chiến xa lẫn vũ khí nặng!

12 giờ trưa ngày 10 tháng 3, 1975 tiểu khu Ban Mê Thuột mất!

8 giờ sáng hôm sau 11 tháng 3, 1975, 10 chiến xa T54 của Cộng sản Bắc Việt bắn trực xạ vào bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh. Vị Tư lệnh chiến trường chấp nhận rủi ro, nguy hiểm, yêu cầu Không quân đánh bom thẳng vào những xe tăng địch. Những phản lực cơ A37 lao xuống. Ba chiếc T54 bốc cháy, nhưng rồi 2 trái bom khác rơi trúng sập một đầu hầm của Trung tâm Hành quân Sư đoàn 23 Bộ binh. Hệ thống truyền tin giữa Ban Mê Thuột-Pleiku bị hư hại hoàn toàn, mất liên lạc với Tư lệnh Chiến trương và Tỉnh trưởng Ban Mê Thuột từ đó.

8 giờ sáng ngày 11 tháng 3, 1975, giờ phút của định mệnh, và cũng là khởi đầu ngày thứ hai trong trận đánh quyết định giữa hai miền Nam-Bắc 1975. Chiến trường Ban Mê Thuột coi như kết thúc với sự tràn ngập của Bắc quân.

Nhưng tại phi trường Phụng Dực, cách Ban Mê Thuột khoảng 8 cây số về phía đông, một trung đoàn (-) của Sư đoàn 23, với 2 Tiểu đoàn của Trung đoàn 53 Bộ binh, một Chi đoàn Thiết vận xa M113, một Pháo đội đại bác 105 ly vẫn tiếp tục chiến đấu thêm một tuần lễ nữa. Chiến đấu dũng mãnh, dai dẳng, phi thường cho đến những người lính cuối cùng và những viên đạn cuối cùng được bắn đi!

Đó là một huyền thoại trong một cuộc chiến đấu chống Cộng thần thánh nhất của quân dân miền Nam Việt Nam. Đó cũng là biểu tượng tinh thần gang thép, sắt đá của người chiến sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

Trận thử sức dò dẫm của 2 trung đoàn Cộng sản Bắc Việt và các lực lượng phòng thủ mặt trận phi trường Phụng Dực đầu tiên xảy ra lúc 14 giờ trưa ngày 10 tháng 3, 1975, với kết quả địch bỏ lại chiến trường trên 200 xác chết!

Nhưng chưa đầy một ngày sau, 5 giờ sáng 11 tháng 3, 1975 khi những chiến xa T54 Bắc Việt nghiền nát những đường phố Ban Mê Thuột, tiến thẳng vào bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh, cũng là lúc địch quân rửa hận cho đồng bọn chúng tại mặt trận phi trường Phụng Dực.

Sư đoàn 316 tổng trừ bị của Cộng sản Bắc Việt lần đầu tiên được sử dụng trên Chiến trường Cao nguyên và miền Nam Việt Nam. Từ xa lộ đất Hồ Chí Minh, sư đoàn này bất chấp mọi thiệt hại, di chuyển ngày đêm để tới trận địa đêm 10 tháng 3, 1975. Và ngay sáng hôm sau, dốc toàn lực lượng tấn công Trung đoàn 53 Bộ binh.

45 phút khởi đầu là những cơn mưa đạn đại bác khiến chiến sĩ ta chìm ngập trong giao thông hào. Sau đó, Bắc quân với những tên lính trẻ xuất trận lần đầu, hung hăng, hò hét ... xung phong. Từng lớp, từng lớp gục xuống, nhưng chúng vẫn hô, vẫn tiến.

Trận thư hùng thứ hai ngày 11 tháng 3, 1975 này kéo dài 2 giờ 40 phút. Gần 200 người anh hùng của chiến trường miền núi vĩnh viễn buông súng, ở lại Cao nguyên Việt Nam!

Nhưng những người còn lại vẫn tiếp tục chiến đấu. Chiến đấu không yểm trợ, không tiếp tế, không tản thương, không tăm gội, 24 giờ trên 24 giờ ngoài chiến hào phòng thủ!

Quá nửa lực lượng bị thiệt hại từ khi ở mặt trận Quảng Đức rút về. Trung đoàn 53 Bộ binh hiện còn hơn một tiểu đoàn với khoảng 500 tay súng. Và họ đã chiến đấu đơn độc sang ngày thứ ba 12 tháng 3, ngày thứ tư 13 tháng 3, ngày thứ năm 14 tháng 3, ngày thứ sáu 15 tháng 3, ngày thứ bảy 16 tháng 3. Và hôm nay, ngày thứ tám 17 thang 3, 1975!

Thật anh hùng! Thật vĩ đại! Thật phi thường! Không còn từ ngữ nào khác hơn để ca ngợi, vinh danh họ. Và đó cũng là một huyền thoại độc đáo nhất của chiến tranh Viêt Nam trong trận đánh sau cùng trên Chiến trường Cao nguyên!

Bay trên đầu những người anh hùng của mặt trận phi trường Phụng Dực trưa ngày 12 tháng 3, 1975, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Chiến trường Cao nguyên đã nói chuyện với 2 người quân nhân lớn nhất và nhỏ nhất của Trung đoàn 53 Bộ binh.

"Người anh hùng Võ Ân", Trung tá Trung đoàn trưởng:
- Trình Mặt Trời, lực lượng địch quá mạnh. (Mặt Trời là danh hiệu ngày hôm nay của Tướng Phú, Tư lệnh Quân đoàn II).
- Chú mày chịu nổi không? Tinh thần anh em ra sao?
- Bị sứt mẻ kha khá ngày hôm qua, nhưng chưa sao. Mặt Trời yên tâm!
- Chú mày muốn gì đặc biệt không?
- Dạ không! Nhưng sao Mặt Trời không bay trực thăng hôm nay?
- Tại qua muốn ở chơi với chú mày và những anh em khác lâu lâu một chút. Mà tại sao chú mày hỏi như vậy?
- Tại vì tôi muốn Mặt Trời đáp xuống coi kho vũ khí Việt cộng ở phòng danh dự phi cảng cho anh em lên tinh thần.

Tướng Phú cười:
- Ý kiến hay đấy! Thôi ... để lần sau vậy!
- ...

"Người anh hùng Nguyễn Văn Bảy", Binh nhì xạ thủ súng cối 81 ly:
- Em tên gì? Bao nhiêu tuổi?
- Dạ ... Binh nhì Nguyễn Văn Bảy, 18 tuổi!
- Em thấy Việt cộng chết nhiều không?
- Nhiều, nhiều lắm ... Thiếu tướng!
- Em muốn xin Thiếu tướng gì nào?
- xin thuốc hút và ... lựu đạn.
- Gì nữa?
- Thôi!
- Thiếu tướng thăng cấp cho em lên Binh nhất! Chịu không?
- ...

Một giọng cười khúc khích trong máy:
- Ông Thầy! Ông Tướng tặng tôi cái "cánh gà" chiên bơ!
- Không được ... tao phản đối!
- ...

Cái "cánh gà", chữ V, là hình dáng của chiếc lon Binh Nhất. Ông Thầy là tiếng gọi thân mật vị Trung tá Trung đoàn trưởng mà người "Binh Nhất vừa được tân thăng" Nguyễn Văn Bảy thường hay sử dụng.

Mẫu đối thoại trên cho thấy tình chiến hữu, anh em của những người lính Trung đoàn 53 Bộ binh. Đó cũng là một cách để chứng minh, tại sao trong những ngày cuối cùng họ vẫn sống chết bên nhau? Họ đã chia nhau từng viên đạn, từng dúm gạo sấy, từng hớp nước, từng hơi thuốc ...

Theo thời gian, 7 ngày đêm chiến đấu dài hơn 7 năm tại mặt trận phi trường Phụng Dực. Đã ba ngày rồi, từ khi lệnh triệt thoái cao nguyên được ban hành, Trung đoàn 53 không còn nhận được bất cứ một tiếp tế, liên lạc nào với Quân đoàn. Họ đã phải sử dụng cả súng đạn tịch thu được của quân thù trong trận đánh đầu tiên, để bắn lại chúng!

Nhưng hôm nay, ngày 17 tháng 3, 1975 là ngày dài nhất trong cuộc đời lính chiến của họ!

7 giờ 40 phút sáng, khi rừng núi cao nguyên vẫn còn ngủ yên với những lớp sương mù phủ kín, hàng trăm hàng ngàn viện đại bác Bắc quân nã vào những chiến hào của Trung đoàn 53 Bộ binh. Cỏ cây rạp xuống. Những cột đất đỏ từng cụm, từng khóm tung cao!

Trận địa pháo kéo dài một tiếng đồng hồ. Tiếp theo sau là tiếng loa kêu gọi đầu hàng. Tiếng hò reo "sóng vỡ" của biển người. Và rồi tiếng gầm thét của hàng đoàn chiến xa T54 trên khắp ngả tiến vào, cầy nát phi đạo phi trường Phụng Dực Ban Mê Thuột!

Hôm nay là ngày đầu của cuộc rút quân của Quân đoàn II. Sư đoàn 316 Cộng sản Bắc Việt quyết khai tử Trung đoàn 53 Bộ binh, quyết nhổ đi "cái gai" cuối cùng của mặt trận Ban Mê Thuột, của Chiến trường Cao nguyên để tiến về duyên hải.

8 giờ 30 sáng, Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, vị Tướng lớn nhất của Quân đội gọi yêu cầu được tường trình đặc biệt về mặt trận phi trường Phụng Dực và các chiến sĩ Trung đoàn 53 Bộ binh.

Đây cũng là một vinh dự, một hãnh diện cuối cùng dành cho những dũng sĩ tại mặt trận này! Nhưng Đại tướng Viên chỉ được báo cáo qua nguồn tin không chính xác (!) của bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 hành quân ở Phước An: Trung đoàn 53 Bộ binh đang bị đánh rất nặng, Bắc quân đã tràn ngập vị trí phòng thủ!

Đạn hết, lương thực hết, không còn cấp chỉ huy, không còn được yểm trợ, không còn máy móc liên lạc để ... kêu cứu. Những chiến sĩ Trung đoàn 53 Bộ binh gục ngã từng người, từng tổ, từng ... tiểu đội ... trong những chiến hào ...

11 giờ 30 sáng, tiếng súng im bặt. Bắc quân cắm ngọn cờ đỏ trên đài kiểm soát của phi trường Phụng Dực, và thu dọn chiến trường.

Không có tù binh, không có cả những người lính bị thương. Những dũng sĩ Trung đoàn 53 Bộ binh không còn chiến đấu nữa. Họ đã tan ra, đã nát ra ... từng mảnh vụn, và lẫn trong đất đỏ của miền cao nguyên hùng vĩ!

Ngày 17 tháng 3, 1975 Trung đoàn 53 Bộ binh bị Bắc quân xóa tên. Đó cũng là một ngày đau buồn! Lần đầu tiên trong 21 năm chiến đấu chống cộng, giữ nước, bộ Tư lệnh Quân đoàn II triệt thoái khỏi cao nguyên!

Nhưng không, đó vẫn chưa phải là những dòng chữ cuối cùng viết về các dũng sĩ Trung đoàn 53 Bộ binh! Bởi vì ... vẫn còn những anh hùng của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa mang phù hiệu của Trung đoàn 53 ... trên vai áo.

Hai ngày sau, khi Bắc quân tràn ngập phi trường Phụng Dực, Ban Mê Thuột, một nhóm 16 quân nhân của đơn vị này đã về được Phước An và tiếp tục chiến đấu tại mặt trận Quốc lộ 21.

Một tuần lễ sau nữa, ngày 24 tháng 3, 1975 ba người anh hùng khác, sau 7 ngày 7 đêm, đi trên mấy chục cây số đường rừng núi, sống với cỏ cây thiên nhiên, từ Ban Mê Thuột đã lên tới buôn Thượng Dam Rong, Đà Lạt!

Họ là những quân nhân bất tử của Trung đoàn 53 Bộ binh! Họ thật vĩ đại, thật phi thường! Và đó cũng là một huyền thoại của chiến tranh Việt Nam trong trận chiến Nam-Bắc sau cùng 1975.

Liên tỉnh lộ 7 Pleiku-Phú Bổn-Phú Yên

Ngày thứ nhất 17 tháng 3, 1975.
Ngày đầu tiên của cuộc rút quân. Trời mây mù, ảm đạm. Trong 21 năm chiến đấu chống Cộng giữ nước của quân dân miền Nam, kể từ sau Hiệp định Genève, đây là một ngày đau buồn nhất xảy ra trên Chiến trường Cao nguyên Việt Nam.

Thành phố Pleime nằm trên một ngọn đồi cao, nơi đặt bản doanh của bộ Tư lệnh Quân đoàn II hôm nay không còn vẻ uy nghiêm, hùng vĩ nữa. Cây cột cờ mà mấy ngày trước địch pháo gần trúng, đứng trơ trọi như một thân cây trụi lá. Không còn lá cờ vàng ba sọc đỏ thân yêu, không còn lá cờ tướng với những ngôi sao trắng được kéo lên, như mỗi ngày trước đây!

Con đường từ bộ Tư lệnh Quân đoàn về Pleiku kéo dài mấy cây số, và từ những ngả đường khác đổ xô về, người và xe cộ nối đuôi, dồn, lấn, kẹt cứng.

Tin Quân đoàn "di tản" đã không còn là một tin "tối mật" như các giới chức quân sự mong muốn. Từ hai ngày nay, mọi người dân Pleiku, mọi gia đình quân nhân, và chắc chắn cả ... địch nữa, đều biết. Hỗn loan, cướp bóc, bắn phá xảy ra nhiều nơi, trong và ngoài thị xã.

8 giờ 40 phút, cắt đứt mọi liên lạc bằng điện thoại với bộ Tư lệnh Quân đoàn II ở Pleiku. Đoàn xe di chuyển, khoảng 4000 quân xa đủ loại và những xe dân sự.

9 giờ 15 phút, Tướng Lê Văn Thân, Phụ tá Quân khu II và Trưởng phòng 3 Quân đoàn bay trên C47, bộ Chỉ huy Hành quân trên không, để quan sát đoàn xe. Thêm một máy bay bay quan sát được lệnh liên lạc thường trực với Tướng Phạm Duy Tất, chỉ huy cuộc rút quân.

Danh hiệu của các cấp chỉ huy trong cuộc triệt thoái Quân đoàn II ngày 17 tháng 3, 1975:
Tư lệnh Quân đoàn - Hiệp Tình
Tướng Phạm Duy Tất - Trường An
Tướng Trần Văn Cẩm - Phi Bảo
Đại tá Lê Khắc Lý, Tham mưu trưởng Quân đoàn - Công Danh
Đoàn xe - Công Bình
Trực thăng - Nam Hiền

9 giờ 30, Tướng Trần Đình Thọ, Trưởng phòng 3 bộ Tổng tham mưu gọi ra ghi nhận một lần nữa những rối loạn và tình hình xảy ra thật sự tại Pleiku ngày 16 tháng 3, 1975 để trình thượng cấp.

Theo báo cáo của Đại tá Lý gọi thẳng về Saigon, tình hình Pleiku ngày 16 tháng 3, 1975 cực kỳ hỗn loạn. Phi trường Cù Hanh, dân chúng, binh sĩ và gia đình tràn vào. Lực lượng an ninh không giữ được trật tự. Cướp của, hãm hiếp đã xảy ra.

Một báo cáo khác của Đại tá Hoàng Thọ Nhu, Tỉnh trưởng Pleiku gọi về Nha Trang trình với Tướng Phú thì, tình hình có rối loạn nhưng không ở mức độ trầm trọng. Bởi vì nếu "cực kỳ hỗn loạn" thì Tướng Tất và bộ Tư lệnh Quân đoàn đã không sắp xếp và tổ chức được đội hình của đoàn xe, hơn 4000 cái di chuyển ngày hôm nay. "Tiếng nói" của Đại tá Nhu coi như là tiếng nói chính thức, đại diện cho Tướng Tất, người thay Tướng Phú chỉ huy cuộc rút quân!

Tướng Phú giận lắm, nhưng chỉ trình bày với Tướng Thọ, vì Đại tá Lý mất bình tĩnh nên báo cáo không đúng sự thật!!!

Đại tá Lê Khắc Lý, Tham mưu trưởng Quân đoàn II là một sĩ quan rất giỏi về tham mưu và tổ chức. Nhưng vụ Tướng Phú gắn sao cho Đại tá Tất làm ông bất mãn và chán nản. Với sự thông minh và khôn ngoan, ông nhìn thấy trước sự thất bại của Quân đoàn kỳ này trong cuộc rút quân. Do đó, viếc Tướng Phú hứa hẹn cho ông lên Tướng chỉ là một lời hứa viển vông, không bao giờ thành sự thật.

Cũng vì vậy, ngay khi Tướng Phú rời Pleiku, ông đã bất chấp mọi lệnh của Tướng Trần Văn Cẩm, Phụ tá Hành quân Tư lệnh Quân đoàn, và Tướng Phạm Duy Tất, chỉ huy cuộc rút quân.

Tướng Phú được thông báo về sự việc này, nên khi nghe Đại tá Lý báo cáo thẳng về Saigon những rối loạn, cướp bóc, hãm hiếp xảy ra tại Pleiku đêm 16 tháng 3, 1975 lại cho rằng Đại tá Lý bất mãn, nên phá hoại. Sự thật những điêu Đại tá Lý trình cho Tướng Thọ đều đúng! Ghi nhận sự kiện này ra đây để nói lên sự đổ vỡ tồi tệ của hệ thống chỉ huy Quân đoàn II. Vì sự đố kỵ, bất mãn, bất lực và vô kỷ luật của cả những sĩ quan cao cấp và có trách nhiệm nhất, đưa đến sự thảm bại nặng nề trong cuộc rút quân khỏi cao nguyên.

10 giờ phi trường Cù Hanh chính thức đóng cửa.

10 giờ 15 phút, liên lạc lần cuối cùng giữa Tư lệnh Quân đoàn II và Tướng Cẩm tại Pleiku bằng STS-106. Xác nhận về việc ra lệnh cho Tỉnh trưởng Pleiku phòng thủ tỉnh này. Nghi ngờ hệ thống truyền tin bị địch phá.

10 giờ 45 phút, Đại tá Trần Cửu Thiên bay đi Phú Bổn cùng với các chuyên viên truyền tin, thiết lập hệ thống liên lạc để tường trình tình hình đoàn xe từng giơ về Nha Trang, Saigon.

10 giờ 50 phút, Tổng Thống Thiệu gọi ra lệnh giải tỏa gấp rút mặt trận Khánh Dương và Quốc lộ 21 bằng mọi giá. Chấp thuận cho Đại tá Nguyễn Văn Đức làm Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh.

Chặng đầu của cuộc rút quân Pleiku-Phú Bổn sáng ngày 17 tháng 3,1975 diễn ra tốt đẹp. Hệ thống liên lạc siêu tần số từ Nha Trang và đoàn quân triệt thoái bị gián đoạn trong 2 giờ đầu. Nhưng sau đó, từ 12 giờ 20 phút, mọi liên lạc và báo cáo đều rõ ràng.

13 giờ, đoàn xe về gần tới Phú Bổn. Một số xe bị ứ đọng. Nhừng lệnh cần thiết được ban hành. Các Tướng Cẩm và Tất đích thân chỉ huy, điều động. Các đơn vị vào vị trí phòng thủ.

Liên đoàn 6 Công binh Chiến đấu và những đơn vị Biệt động quân tiếp tục mở và dọn đường cho chặng kế tiếp. Lữ đoàn II Thiết giáp và các Liên đoàn Biệt động quân khác đi sau cùng bảo vệ đoàn quân và chiến cụ, đề phòng bị địch đánh tập hậu.

13 giờ 40 phút, Tướng Thọ, Trưởng phòng 3 Tổng Tham mưu gọi ra từ Saigon cho biết, Tổng Thống, Hội đồng Nội các, và các Tướng lãnh khen ngợi Tư lệnh và bộ Tư lệnh Quân đoàn II về cuộc rút quân.

Nhưng đấy chỉ là chặng đầu trên Liên tỉnh lộ 7. Con đường chôn vùi hàng nhiều ngàn xác đồng bào và trẻ thơ vô tội. Chôn vùi tên tuổi tất cả các Tướng lãnh đạo Đất Nước trong những năm sau cùng. Và cũng chính là con đương đưa đến sự sụp đổ mau chóng của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, để rồi miền Nam Việt Nam mất vào tay Cộng sản sau đó.

18 giờ 15 phút, Đại tá Tham Mưu trưởng báo cáo về tình hình Phú Bổn. Đã tổ chức, phân loại xe quân đội và dân sự. Ra lệnh các đơn vị không được tự ý tách rời đoàn xe đi riêng.

Một sự việc xảy ra vào buổi tối. Lính Thương nổi loạn, đốt nhà, ăn cướp, nhưng chỉ là một nhóm nhỏ. Tỉnh trưởng Phú Bổn đã giải quyết và chận đứng.

Mặt trận Phước An


Bộ Tư lệnh Quân đoàn II, các Lực lương Thiết giáp, Không quân, Pháo binh và Chủ lực quân đã rút khỏi Kontum, Pleiku. Trong 2 ngày nữa, nếu đoàn xe không về tới Phú Bổn như dự định, thì mặt trận Phước An sẽ vô cùng nguy ngập. Bởi vì địch chỉ cần sử dụng một phần lực lượng tại trận địa Ban Mê Thuột hiện nay, với chiến xa và trọng pháo yểm trợ, sẽ dứt Phước An dễ dàng. Và sau đó là Khánh Dương.

Kiểm điểm lại quân số của sư đoàn và những đơn vị tăng cường hiện đang ở mặt trận Phước An, Đại tá Đức, tân Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh vô cùng lo ngại.

Lực lương chính yếu của sư đoàn là Trung đoàn 45 Bộ binh. Đơn vị với tinh thần cao độ, đã tình nguyện nhảy xuống Phước An trong đoàn quân tăng viện ngày 12 và 13 tháng 3, thì hôm nay đã tan hàng, trở thành dân sự già nửa quân số.

Buổi sáng, trong đợt di dân mới từ Ban Mê Thuột, khoảng 5000 người đã băng rừng đi về phía Phước An và nam Khánh Dương. Một số lớn là vợ con anh em binh sĩ Trung đoàn 45. Do đó, họ tự động bỏ súng, "chạy loạn" với gia đình.

Trung đoàn 45 còn lại đúng 200. Trung đoàn 44 với một Tiểu đoàn Chiến đấu và một Đại đội Trinh sát chưa sứt mẻ, khoảng 300.

Liên đoàn 21 Biệt động quân, 110 người. Bộ Tư lệnh Sư đoàn tại Chu Cúc, 42. Hậu trạm tại Khánh Dương, 6.

Khoảng 700 tay súng, không chiến xa và có 4 khẩu đại bác 105 ly. Đó là thực lực của mặt trận lớn nhất hiện nay tại Quân khu II. Một trận đánh lớn nếu xảy ra, chắc chắn lực lượng này phải đương đầu với Sư đoàn F10 Cộng sản Bắc Việt từ Ban Mê Thuột kéo về, với quân số 7, 8 ngàn và có chiến xa, đại pháo yểm trợ !

"Người lính già" của chiến trường với 25 năm quân ngũ, Tư lệnh phó Biệt khu 44 của Tướng Phú năm 1969, chờ đợi giây phút này từ lâu. Và hôm nay ... đã đến. Tổng Thống Thiệu, Đại tướng Viên cùng chấp thuận việc bổ nhiệm ông là Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh!

Đại tá Đức khẽ mỉm cười, và tiến lại phía các chiến hữu của mình đang phòng thủ để quan sát.

17 giờ, phi cơ quan sát phát hiện khoảng 10 chiến xa địch gần Chu Cúc, xin đánh bom tối đa.

5 phi tuần khu trục từ Phan Rang lên. Điều động trễ 15 phút. Phi tuần 1 lên tới vùng mục tiêu lúc 17 giờ 40 phút. Trời mù, không nhìn rõ, các khu trục cơ phải quay về. Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh vẫn tiếp tục xin Không quân đánh tiếp.

Thêm 2 xe tăng Cộng sản Bắc Việt di chuyển ở phía bắc cây số 62, mặt trận Khánh Dương. Và tin tình báo mới nhất thâu thập được qua một tù binh Bắc Việt bắt được ngày 16 tháng 3, 1975, hai Trung đoàn 64 và 48 Cộng sản Bắc Việt đã di chuyển tới tây bắc Khánh Dương khoảng 20 cây số. Lực lương Sư đoàn 23 Bộ binh sẽ cùng phối hợp với 2 Tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 22 Bộ binh tăng cường tổ chức tuyến phòng thủ, chận đứng cuộc tiến quân xuống Khánh Dương, Dục Mỹ của địch.

Nhưng cũng chỉ là trứng chọi đá! Quả thật trong trận này, lực lượng Việt cộng và quân ta quá chênh lệch!

Một sự việc cuối cùng và đặc biệt xảy ra hôm nay mà tôi ghi nhận, đó là yêu cầu của 2 Tỉnh trưởng Kontum và Pleiku xin máy bay chở bạc về Tổng Ngân Khố, Saigon.

Bộ Tư lệnh Quân đoàn lúc đầu chấp thuận, nhưng sau lại hủy bỏ. Vì phi trường Cù Hanh, Pleiku đã đóng cửa từ lúc 10 giờ sáng. Và, số bạc khổng lồ của 2 tỉnh liền được ... đốt đi!

Đây cũng là một sự việc cực kỳ khó hiểu. Tại sao các Tỉnh trưởng Kontum, Pleiku được "ủy quyền" ở lại phòng thủ 2 thị xã này, lại xin máy bay chở bạc, và sau đó "đốt" đi hàng trăm triệu bạc, ngay cùng ngày Quân đoàn vừa di tản khỏi Pleiku?

Tôi quá mệt mỏi nên đã không tìm hiểu "lệnh đốt bạc" từ đâu tới. Từ Saigon hay từ bộ Tư lệnh Quân đoàn II?
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »


Image

CÁI CHẾT CỦA NHỮNG NGƯỜI LÍNH
Huy Phương
Tỳ kheo Visuddhacàra, tác giả tập sách “Yêu và Chết” (Loving and Dying) trước khi thành tu sĩ là một ký giả. Trong thời gian hành nghề, ông không hề xúc động bởi cái chết cũng không hề suy nghĩ sâu xa về cái chết. Ông chẳng thương hại hay xót xa gì về những cái chết xẩy ra trước mắt ông, miễn là những chuyện đó đưa đến đề tài cho bài viết tường thuật của ông, và ông thấy lòng phấn khởi khi bài được chọn đăng trên trang nhất của tờ báo. Ðối với một bài báo mô tả đến cái chết của một nạn nhân duy nhất, chắc sẽ không hấp dẫn bằng một bản tin có nhiều người chết, và đối với một ký giả bình thường, đó chỉ là những con số “vô cảm” phải ghi lại không hơn không kém. Nhưng lòng ông hoàn toàn thay đổi khi ông trở thành một tu sĩ, từ đó ông cảm nhận được sự xúc động và thương cảm đối với những cái chết.

Người phát ngôn viên của tư lệnh một đơn vị (Public Affair Officer), hay người phát ngôn viên cho một chính phủ hay quân đội cũng vậy, họ tường thuật về những cái chết với tấm lòng dửng dưng dù đó là bên ta hay bên địch: “bên ta thiệt hại không đáng kể”, “phía địch để lại 54 xác chết”. Ðối với một trận đánh, hai ba cái chết thật có phải là không đáng cho chúng ta phải quan tâm, dù đó cũng là máu và nước mắt. Họ không cần biết tên, cấp bậc, tuổi tác của người lính, gia cảnh, chết như thế nào, trong trường hợp ra sao. Có tướng lãnh nào nhớ lấy tên một người lính mới nằm xuống trong hàng trăm người chết trong trận chiến để cho ông được đeo thêm sao. Trong một trận chiến dùng biển người, tướng điều binh đã coi con người như gỗ đá vô tri, miễn sao ngăn chặn hay tràn ngập được một trận tuyến, chỉ cần kết quả, còn mọi phương tiện đều tốt. Chuyện xưa nay: “Nhất tướng công thành vạn cốt khô”. Cũng có khi người chỉ huy ngoài chiến trường không tiên liệu được sự nguy hiểm đến với binh sĩ của mình, đành chiến đấu là phải hy sinh, nhưng có nhiều cái chết không cần thiết. Tôi biết trong một trận chiến, một bán tiểu đội đã được trao nhiệm vụ cắm cờ trong khi mục tiêu chưa được thanh toán, kết quả là những người lính ở trong tầm đạn địch và bị hy sinh rất oan uổng.

Trong trận Khe Sanh 1968, áp dụng chiến thuật biển người Ðiện Biên Phủ, Võ Nguyên Giáp đưa ba sư đoàn vây Khe Sanh, chết vì bom đạn Mỹ hai, chỉ còn đem về một sư đoàn (trừ).

Trong trận chiến cố chiếm cổ thành Quảng Trị, Bắc Việt đã lùa qua sông Thạch Hãn hằng trăm tiểu đoàn.

Tướng Giáp kể “Cứ 5 giờ 30 phút chiều, một đại đội ta lặng lẽ bơi sang sông Thạch Hãn để đánh vỗ mặt Cổ Thành... 8 giờ 30 phút bơi trở về, chỉ còn 5, 7 người. Như vậy trung bình mỗi ngày ta tiêu hao một đại đội chủ lực (135 người) và 60 ngày đêm tấn công thành cổ, ta mất gần một vạn người (một sư đoàn (!),chỉ riêng cho việc bơi qua sông đánh vỗ mặt Cổ Thành!) (TKTT)

“Tết năm 1968, ngay sau khi trung đoàn được thành lập ở miền Bắc, một tháng sau trung đoàn này có mặt tại Quảng Trị. Từ đấy cho đến năm 1972, Quảng Trị đã trở thành chiến trường của trung đoàn 27, và ở đây, họ mang một cái tên mới: trung đoàn Triệu Hải... Phải đến bây giờ, chúng ta mới được nghe cả một trung đoàn vào giữ Thành Cổ, lúc rút ra còn chưa đến một tiểu đội. (Tuổi Trẻ 16 Tháng Bảy 1998)

Từ thời chiến tranh chống Pháp, Cộng Sản Việt Nam ta vẫn theo chiến thuật biển người của Trung Quốc vĩ đại “Hễ ta chết mười mà địch chết một là coi như ta chiến thắng”. Qua chiến tranh chống Mỹ, Việt Cộng vẫn theo chỉ tiêu đó. “Cứ một tên Mỹ hay ngụy bị tiêu diệt mà ta mất mười chiến sĩ là được biểu dương”.

Lê Duẩn khoe đã từng nói thẳng với Trung Cộng: “Chúng tôi đã hy sinh 10 triệu người rồi, nếu Trung Quốc chi viện cho chúng tôi thì chúng tôi thắng Mỹ với những hy sinh thấp hơn, còn như Trung Quốc không chi viện, chúng tôi dù phải hi sinh vài triệu người nữa, chúng tôi vẫn thắng Mỹ”. Như thế, trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, Cộng Sản đã đẩy trên mười triệu người dân ngây thơ, vô tội (ngây thơ, vô tội vì đinh ninh mình mang nhiệm vụ đi giải phóng miền Nam). Có người nói rằng muốn biết con số đó khủng khiếp đến bực nào thì thử đem con số 10 triệu xác “lính cụ Hồ” chia đều cho chiều dài của đường mòn Hồ Chí Minh, mỗi cây số sẽ có bao nhiêu xác bộ đội nhân dân anh hùng: mười nghìn (10,000) xác bộ đội trên một cây số đường mòn Hồ Chí Minh, tính ra mỗi thước đường có mười xác chết.

Hà Nội chưa bao giờ công bố số quân Bắc Việt tử vong tại Huế Tết Mậu Thân, tuy nhiên một bài thơ của Chế Lan Viên đã viết:

“Hai ngàn quân tràn xuống đồng bằng
Chỉ ba mươi người trở lại...”

Trần Văn Trà tự thú nhận: “Có những đơn vị tham chiến mà không ai sống sót trở về.” (bài viết năm 1993)

Sau mỗi xác chết của một người lính bên này hay bên kia là cha mẹ, là vợ con, là anh em, là họ hàng, là những vành khăn tang, nhưng khổ đau, tiếc nuối và thương nhớ. Ở miền Nam mỗi lần có người tử trận, cảnh tượng khi quan tài đưa về thành phố hay trong trại gia binh, tuy được tiếng là “nghĩa tử, nghĩa tận” nhưng đã gây xáo trộn và tổn thất tâm lý trong quần chúng. Trái lại trong cuộc chiến “xẻ dọc Trường Sơn” bộ đội Việt Cộng chết đâu bỏ đó, thương binh còn cho nằm chết tại chỗ, lấy đâu phương tiện mà đưa xác binh lính về. Trên những bàn thờ nhà người dân miền Bắc, bên cạnh ảnh bác Hồ là bằng liệt sĩ treo đỏ trên vách.

10 triệu cũng chỉ là một con số.

160,000 người lính VNCH, 56,000 người lính Mỹ chết cho miền Nam. 4,351 người lính Mỹ chết ở Iraq. 883 chết ở chiến trường Afghanistan (1). Bây giờ cần thêm 40,000 quân tăng viện cho chiến trường Afghanistan. Cũng chỉ là con số.

Có những người chết có tên tuổi, nhưng cũng có những người lính vùi thây, tan nát không tên không tuổi. Ðó là những cái chết vô danh, anh hùng vô danh, chiến sĩ vô danh và chúng ta có biết bao nhiêu nấm mồ vô danh.

Những người lính chết cho ai?

Chiến tranh được định nghĩa như một cuộc tranh giành hơn thua, xung đột vũ trang vì quyền lực, chiếm đoạt lãnh thổ, áp đặt chủ nghĩa hay để trả thù, rửa hận. Nhiều nhóm người và dân tộc đã nhân danh nhiều thứ như tự do, độc lập, giải phóng... để mở cuộc chiến tranh. Dù với nhân danh nào, mục đích nào, giải phóng, áp đặt hay tự vệ hay bảo toàn lãnh thổ thì chiến tranh cũng đem lại chết chóc, tang tóc cho cả hai bên. Chúng ta đã thấy hàng trăm nghìn bia mộ, những vành khăn tang của cô nhi quả phụ, những nạng chống, những chiếc xe lăn của người thương tật, cùng với xóm làng điêu tàn, và những hậu quả để lại cho đời sống cả chục năm sau trên mặt địa cầu cũng như những dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn con người.

Người lính tận tụy, thi hành lệnh của cấp chỉ huy. Người lính không biết gì xẩy ra trong phòng hành quân, người lính không biết những chuyện gì được bàn luận trong phòng họp kín, người lính không biết gì về những âm mưu, những thế lực chính trị trong bóng tối. Người lính chỉ biết lao về phía trước, và để lại sau lưng vợ góa, con mồ côi.

Những tượng đài được dựng lên, những vần thơ ca ngợi, những bài hát viết về người lính chỉ nói đến anh hùng, can đảm, hy sinh, nhưng phần thiệt thòi khổ đau, ai tạc tượng. Chế Lan Viên cuối đời cũng cảm thấy xấu hổ:

“Người lính cần một câu thơ giải đáp về đời -Tôi ú ớ.
Người ấy nhắc những câu thơ tôi làm người ấy xung phong -Mà tôi xấu hổ”.
Vì: “Nếu tôi chết, tốt hơn đừng chết
Ai sẽ phục sinh em trong những tối không chồng” (Hoàng Nhuận Cầm)

(1) Ðây không phải là một tài liệu nghiên cứu, nên những con số này chỉ là phỏng định dựa theo tin tức báo chí...


LNĐ: Thời chiến, trong loạn lạc, hy sinh là việc thường tình nhưng ngay cả đến thời bình sau khi đảng csVN chiếm được miền Nam, con số người chết và hy sinh vẫn không thấp. Đáng thương, đó lại là những quân nhân và dân chúng miền Nam VN bị cộng sản bức tử trong lao tù hay bị đẩy ra biển Đông để trốn thoát một chế độ tàn ác, coi mạng người như cỏ rác, không có nhân tính .
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »


Image

Lịch Sử Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hoà
Giao Chỉ - San Jose


Nghĩa tử là nghĩa tận. Nghĩa nào là Nghĩa Trang.
Từ muôn trùng xa cách. Nhắn ai về cố hương.
Ðốt nén nhang viễn xứ. Gửi người dưới mộ sâu.
Bao nhiêu năm quên lãng. Chợt xót thương một lần ...


Thăm Nghĩa Trang xưa

Năm nay mới bước vào mùa Lễ Tạ Ơn Hoa Kỳ, vé máy bay về Việt Nam ăn Tết đã bán hết.
Kinh tế lên, người ta có tiền, vui vẻ về quê ăn Tết. Kinh tế xuống, thất nghiệp, buồn tình cũng về quê ăn Tết !

Thôi bạn đã về, xin nhắn bạn về thăm một chỗ,
Các cháu đã về, xin nhắn cháu về thăm một nơi : Nghĩa Trang Biên Hoà

Image
Ngày xưa, lúc mới chạy đi, ông Kỳ viết cuốn sách tựa đề là "20 Năm, 20 Ngày". Ý ông nói là miền Nam chiến đấu trong 20 năm, nhưng mất trong 20 ngày.

Ông hô hào chiến đấu, nhưng ông lại bỏ đi. Hụt hẫng cả đạo quân. Hai mươi năm sau, ông lại ra sách, tự xưng là con của Phật. Rồi ông trở về, cũng thăm lại Nghĩa Trang. Ngông nghênh, áo xanh, quần xọoc. Ông làm nhục anh em. Ông làm buồn lòng người sống, và ông làm tủi vong linh người chết. Sau khi đóng vai hàng thần lơ láo, ông làm hoen ố hình ảnh Nghĩa Trang xưa đã hoang phế lại còn thêm ảm đạm.

Không,

Tôi không muốn các bạn về thăm như ông HT (ghi chú của người lên lưới : xin đọc là Hèn Tướng) Nguyễn Cao Kỳ.

Ngày xưa, ông Trung Tướng Thiệu có tuyên bố một câu khá ngậm ngùi :

“Mất nước, là mất tất cả”.

Thật đúng như thế. Chúng tôi và các bạn sĩ quan cao niên, chẳng những mất nước, mất cả binh đoàn, đành mất cả thể diện. Ðám chạy đi mang mối tủi nhục lưu vong, người ở lại gánh nỗi buồn ‘cải tạo’. Nhưng Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu đã qua đời, ông không biết rằng cho đến ngày nay, ba mươi ba năm sau cuộc chiến, chúng ta chưa mất hết. Chúng ta vẫn còn lại Nghĩa Trang Biên Hoà.
Image
Khi cuộc chiến miền Nam đứt phim vào tháng tư phiền muộn, Bắc quân vào tiếp quản miền Nam. Bộ đội ăn cướp theo binh đoàn. Cơ sở ăn cướp theo nhà cầm quyền. Nhà, nhà bị chiếm. Ngành, ngành tiếp quản. Trại lính, nhà thương, phòng sở và doanh trại. Tất cả đều bị chiếm đóng. “Giặc từ miền Bắc vô Nam, bàn tay dính máu đồng bào”. Bài ca tiên tri của cục chính huấn như còn vang vọng nơi đây. Nhưng thực ra, có một nơi, giặc chỉ phá phách mà không chiếm đóng. Ðó là Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà. Nơi chúng ta đã bỏ lại 16 ngàn tử sĩ dưới mộ sâu, trong lòng đất nơi quê mẹ. Nơi có đại diện quân dân chính. Có đầy đủ quân binh chủng. Nơi thể hiện thực sự tình huynh đệ chi binh.

Với tư cách là người biết về Nghĩa Trang này trước năm 1975 và đã có dịp nghiên cứu suốt 15 năm qua sau cuộc chiến, tôi xin gởi đến các chiến hữu bản tường trình đầu đuôi và các đề nghị cần thiết để cứu lấy Nghĩa Trang Biên Hoà.
Nghĩa Trang ngày gẫy súng
Khi miền Nam gẫy súng ngày 30/04/1975, Nghĩa Trang Biên Hoà là phòng tuyến rộng 125 mẫu đang trải qua những giây phút sau cùng. 16 ngàn tử sĩ Việt Nam Cộng Hoà nằm dưới mộ sâu, chung quanh ‘Nghĩa Dũng Đài’ chiếm ngụ hơn 50 mẫu. Từ trung tâm chia ra làm 8 lô theo hình nan quạt. Các cấp chỉ huy nằm trong vòng chính giữa, rồi đến vòng cung mai táng các sĩ quan. Mộ chôn từ năm 68 Mậu thân đến mùa hè Ðỏ lửa 72 đã có bệ ciment. Mộ chiến sĩ tử trận sau này còn đắp đất nằm vòng ngoài. Sáng ngày 1 tháng 5 năm 1975, những người còn lại quanh Nghĩa Trang đã chôn cất lần chót tất cả di hài quân dân lẫn lộn vào những mộ tập thể. Từ đó đến nay không có ai được chôn cất thêm tại khu Nghĩa Trang lịch sử nữa. Sau 1975 Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà chỉ có những ngôi mộ cải táng đem đi, không có chôn cất mới.

Bức tượng ‘Thương Tiếc’ ngoài đầu xa lộ bị địch phá bỏ, kéo đi. Nhà máy nước Bình An chiếm đóng giữa con đường từ Ðền Tử Sĩ đến Nghĩa Dũng Ðài. Chung quanh khu Nghĩa Trang, bộ đội, dân chúng và nhà cầm quyền chiếm dụng làm doanh trại và nhà cửa.

Vì lý do muốn xâm lấn thêm đất vòng ngoài, có lần nhà cầm quyền Cộng Sản ra lệnh một số ngôi mộ phải cải táng. Ai có thân nhân nằm tại vùng bị giải toả phải dọn đi, nếu không, thì nhà cầm quyền sẽ giải quyết. Cho đến nay, không ai biết rõ Cộng Sản đã giải quyết ra sao, nhưng cụ thể là phía Nam và phía Bắc của vòng tròn chôn cất chung quanh Nghĩa Dũng Đài đã bị xâm chiếm. Rồi nhà cầm quyền cho xây một bức tường theo con đường vòng phía Nam Nghĩa Trang, chỉ dành lối vào bên hông. Ðường vào cổng chính đã bị nhà máy nước Bình An chắn ngang. Doanh trại bộ đội xây cất thêm phía Bắc. Trồng cây xanh khắp nơi trong Nghĩa Trang để huấn luyện tân binh. Toàn thể khu vực trở thành vùng quân sự cấm quay phim, chụp hình. Lúc dễ, lúc khó, thân nhân vẫn được vào thăm mộ nhưng phải đi theo bức tường phía Nam và đi ngả sau. Ðó là tình trạng đã xảy ra cho đến tháng 04/1993
Tảo mộ chui

Từ khi biết được Nghĩa Trang Quân Đội tại Biên Hoà vẫn còn đó, chúng tôi bắt đầu liên lạc với các gia đình có mộ tử sĩ. Xin hình ảnh tảo mộ, xin copy của cuốn phim quay việc cải táng. Bắt đầu gởi người về thăm viếng từ 1993 đến 1996. Từ năm 1997, tổ chức các toán thương phế binh Sài Gòn, Gia định đi công tác. Nhiều toán nhận nhiệm vụ vừa tảo mộ vừa vẽ bản đồ. Chúng tôi cần tài liệu để làm mô hình Nghĩa Trang cho Viện Bảo Tàng. Các anh em thương phế binh thăm mộ ngày Tết, thanh minh tháng ba, tháng năm xá tội vong linh, ngày Quân lực tháng sáu, lễ Giáng sinh, rồi tiếp đó lại chào mừng năm mới. Thực sự cũng chẳng tốn kém nhiều. Một chút tiền gởi thêm là đủ cho các chiến binh quê nhà vận động bà con công tác. Hình chụp được rất nhiều. “Before and After”. Cùng một chỗ. Trước là cỏ mọc um tùm, sau là mộ phần quang đãng. Trước là đám đất xác xơ, sau đã vun lên thành ngôi mả mới. Rồi bia được gắn lại với tên kẻ sơn rõ ràng. Người thương binh còn sống vui mừng, anh tử sĩ đã chết cũng ngậm cười nơi chín suối. Công việc diễn tiến đến nay, trước sau đã 15 năm. Những năm sau này có các đoàn thể và gia đình trong nước hay hải ngoại về tảo mộ. Có gia đình sửa sang phần mộ. Có gia đình cải táng. Bà con hai xã Bình An và Bình Thắng có thêm dịch vụ. Hiện có cả danh thiếp phát ra ghi tên bà Hai, ông Ba chuyên nghề trông nom mộ phần lâu dài, hay chỉ dọn dẹp một lần cho tươm tất.

Cho đến nay, việc tảo mộ tại Nghĩa Trang Biên Hoà không còn là một công tác tưởng như là điệp vụ khó khăn. Cũng không phải là độc quyền của một cơ quan từ thiện, hay một cá nhân, đoàn thể. Hơn 10 ngàn mộ còn đó, ai cũng có thể tình nguyện vào dọn dẹp. Những người chiến sĩ của chúng ta vẫn mãi mãi nằm chờ dưới đất lạnh nơi quê hương, Anh là bà con thân thuộc của chính chúng ta. Mồ mả đắp xong, cỏ dọn sạch, nén hương viễn xứ đốt lên cho không khí đượm mùi nhang khói. Ðặc biệt mở bao thuốc lá Hoa Kỳ, châm cho mỗi anh một điếu. Một bao là hai mươi điếu. Ðốt cháy đỏ rồi cắm xuống cạnh hai mươi tấm bia ciment đã tàn tạ. Nếu nghe được tiếng động dưới mộ sâu, cũng không phải là chuyện lạ.

Các bạn lên Nghĩa Trang buổi sáng, cùng người dân quê, ta dọn dẹp chừng vài chục mộ phần. Tìm khu nào um tùm, hoang vắng nhất mà công tác. Buổi trưa làm một lễ nhỏ đạm bạc. Chọn một chiến sĩ nằm chính giữa làm bà con, chung quanh mộ của anh là xóm giềng. Làm đến đâu quay phim chụp hình đến đó. Buổi chiều, là giây phút thắp hương và hút chung điếu thuốc giã từ. Mặt trời đã lặn sau Nghĩa dũng Ðài. Cảnh Nghĩa Trang Quân Đội tuy hoang vắng thê lương nhưng vẫn có vẻ đẹp trang nghiêm và huyền bí. Mỗi người nằm dưới đất đều có một câu chuyện và chính người viếng mộ cũng có một câu chuyện. Câu chuyện tử sinh đôi ngả. Chuyện chinh chiến, tù đầy, vượt biên và cuộc sống còn lại.

Trong suốt 15 năm tổ chức tảo mộ, chúng tôi có 10 đoạn phim quay từ năm 1997 đến năm 2008, và chúng tôi có hàng ngàn tấm hình. Hình các bia mộ, hình cảnh Nghĩa Trang trước và sau 1975, và hình các công trình kiến tạo.

Một trong các trưởng toán công tác danh tiếng của chúng tôi là ông Trần Văn Tảo, người đã tổ chức lễ tưởng niệm các chiến sĩ VNCH nhiều lần, có làm lễ truy điệu và có quay phim. Một hôm ông gọi điện cho chúng tôi, báo cáo tấm mộ bia chiến sĩ vô danh trước đây vẫn còn, sau biến mất, nay mới tìm thấy lại. Nếu không cất đi, sẽ bị phá hoại hay đánh cắp. Ông Tảo nói thời gian gần đây, ông bị đau nặng, không biết sẽ ra đi lúc nào. Vậy xin niên trưởng bên Mỹ lo cho cháu nó ra đi. Cháu đây là tấm mộ bia. Ðó là anh chiến sĩ vô danh, không có tên, nhưng có ghi ngày mai táng.

Chúng tôi cho tin về để bác Tảo cất dấu. Sau đó anh em chúng tôi tìm đường cho bia đá vượt biên. Ðây là mộ bia chiến sĩ vô danh duy nhất và nguyên thủy của Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà từ trước năm 1975. Cháu qua Hoa Kỳ vào đầu năm 2004. Ðến tháng 04/2004, trưởng toán công tác Trần Văn Tảo qua đời. Công việc giao cho người khác tiếp tục. Tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà ngày nay có một tấm bia chiến sĩ vô danh mới làm lại. Ðây chỉ là phó bản. Bản chính đã đặt tại Viện Bảo Tàng ở San Jose.
Ngày Quân Lực 1975
Nếu năm 1975 không phải là năm Cộng Sản tổng tấn công. Nếu không có trận dò dẫm mở đường đánh Phước long. Nếu không có trận dứt điểm Ban Mê Thuột. Không có cuộc triệt thoái 2 quân đoàn từ hoả tuyến cho đến cao nguyên. Chúng ta đã tổ chức ngày Quân lực tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà vào 19 tháng 6 năm 1975.

Ngày đó toàn thể quân đội vẫn còn căng ra khắp bốn vùng đất nước để dành dân giữ đất nên không thể tập trung về Sài Gòn tổ chức diễn hành. Phủ Tổng Thống và Bộ Tổng tham mưu QLVNCH dồn nỗ lực cho ngày quân lực vinh danh các chiến sĩ đã hy sinh. Tất cả các tiểu khu đều tổ chức lễ chiến sĩ trận vong tại Nghĩa Trang Quân Đội riêng của mỗi tỉnh. Trung ương có Bộ Tổng tham mưu phối hợp công tác giữa ba Tổng cục : Tiếp vận, Quân huấn, và Chính trị. 16 ngàn ngôi mộ được hoàn chỉnh với 100 % các tấm ciment phải đúc xong, Nghĩa Dũng Đài với vành khăn tang hoàn tất.

Một ngàn sáu trăm sinh viên sĩ quan từ các quân trường Hải,Lục, Không quân về tham dự.

Ngay từ buổi chiều hôm trước, các sinh viên đã chia vùng và lên phiên. Mỗi người phụ trách 10 ngôi mộ. Khi hoàng hôn phủ xuống là hương nến thắp lên. Lễ truy điệu lúc 10 giờ đêm, cũng được gọi là Đêm Canh Thức.

Từ trên Nghĩa Dũng Đài nhìn xuống hay từ Ðền Tử Sĩ ngó lên, 16 ngàn ngôi mộ thắp nến một lượt, 1600 sinh viên sĩ quan cầm đuốc đi lại giữa hàng mộ chí. Ðoàn trực thăng của Phái Đoàn Chính Phủ, Quốc Hội, Tổng Thống và các tướng lãnh Tổng tham mưu chiếu đèn đáp xuống. Ðội quân nhạc của Hải, Lục, Không Quân cùng rền rĩ tiếng kèn chiêu hồn tử sĩ. Từ phía sau doanh trại của Liên đội chung sự, tiếng nổ vang trời do Công Binh đốt mìn và tiếp theo là ngọn lửa bốc cao với các thung dầu thô lấy từ giếng dầu Bạch Hổ ngoài khơi Biển Ðông. Trên nền trời xám, khói đen bay lên cuồn cuộn như ngọn nấm của bom nguyên tử.

Ðó là biểu hiện giấc mơ của Tổng Thống Thiệu muốn lấy kho dầu Biển Ðông thay cho viện trợ Mỹ mà chống giữ miền Nam. Cầu nguyện cho linh hồn 16 ngàn tử sĩ nằm tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà phù hộ cho miền Nam đang rã rời vì Mỹ bỏ rơi. Nhưng đây chỉ là giấc mơ không bao giờ thành sự thực. Những tháng đầu của năm 1975 là ngày giờ của thảm hoạ kinh hoàng nối tiếp. Chúng ta không bao giờ có ngày tưởng niệm 19/06/1975 tại Nghĩa Trang Biên Hoà. Ngay sau 30/04/1975, tại Nghĩa Trang với 16 ngàn ngôi mộ, không một ngôi mộ nào được toàn vẹn, không một tử sĩ nào còn được viếng thăm nhang khói. Hàng trăm ngàn quân, dân, chính Việt Nam Cộng Hoà xếp hàng vào trại ‘cải tạo’.
Dân sự hoá
Tháng 07/2007, nhà cầm quyền Cộng Sản Hà Nội ra lệnh dân sự hoá Nghĩa Trang Biên Hoà. Từ 16 ngàn ngôi mộ đã cải táng, đến nay còn hơn 10 ngàn ngôi mộ. Từ 125 mẫu năm 1975 nay bị chiếm hết đất trống nên chỉ còn 52 mẫu. Bức tường phía Nam được xây vào thời kỳ 1980. Nay bàn giao xong, bộ đội rút đi. Bức tường phía Bắc xây thêm để ngăn Nghĩa Trang với khu giao cho Trung tâm giáo dục. Khu phần mộ được gọi là Nghĩa Trang nhân dân xã Bình An. Bảng cấm chụp quay phim đã được gỡ bỏ. Việc quản trị chưa có lệnh chi tiết. Cho phép cải táng đem đi nhưng không được phép chôn cất mới, dù rằng tại đây vẫn còn chỗ cho gần 5000 ngôi mộ bỏ trống.

Cộng Sản vào chiếm nhà của dân Sài Gòn vượt biên. Cộng Sản vào chiếm ngụ nhà của HO ra đi. Những ngôi mộ tử sĩ miền Nam cải táng về quê. Không có chiến binh Cộng Sản qua đời vào nằm thay thế.

Ngay sau khi lệnh dân sự hoá ban hành, chúng tôi có dịp đặt vấn đề với ông Thủ Tướng Việt Nam, qua hình thức đặt câu hỏi trực tuyến bằng Internet. Qua đài BBC chuyển tiếp. Câu hỏi được ghi nhận nhưng không có câu trả lời.

Tiếp theo, gởi hồ sơ đặt vấn đề đến văn phòng Thủ Tướng tại Hà Nội, gởi qua Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, qua đại sứ Mỹ tại Việt Nam, qua các dân biểu. Kết quả cho biết tài liệu đã nhận được nhưng cũng chưa có câu trả lời.
Hỏi thăm Thủ Tướng
Với tư cách là một công dân Hoa Kỳ, có chiến hữu nằm tại Nghĩa Trang, chúng tôi đã xin Thủ Tướng nhà cầm quyền Việt Nam các điều chính sau đây :

1) Ban hành quyết định dành Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà là khu di sản lịch sử của quốc gia, cần bảo vệ và duy trì nguyên trạng. Tuyệt đối không được lấn chiếm, phá hoại hay làm hư hỏng các công trình kiến trúc lịch sử và các phần mộ.

2) Cho điều tra và quy định trách nhiệm cho giới chức nào đã phá hoại 10 thước chiều cao của Nghĩa Dũng Đài vào năm 2004. Ðây là một công trình có giá trị lịch sử rất quan trọng. Nếu không được bảo vệ sẽ mở đường cho việc phá hoại toàn diện về sau.

Lời yêu cầu kể trên dựa trên nền tảng văn hoá truyền thống Việt Nam, phản ảnh tính văn minh của nhân loại, được bảo vệ bởi các công ước quốc tế về việc tôn trọng di hài tử sĩ, mồ mả chiến binh. Nhà cầm quyền Việt Nam đã ký kết từ Geneve 1954 đến Paris 1973 cũng như các luật lệ theo công pháp quốc tế mà Việt Nam phải tuân thủ với tư cách là thành viên của Liên Hiệp Quốc.
Nghĩa Trang vẫn còn đó, tại sao ?
Sau 33 năm cuộc chiến, ngày nay Nghĩa Trang Biên Hoà vẫn còn đó . Lý do chính là vì có sự tới lui thăm viếng của gia đình tử sĩ. Mặc dù bị phá hoại và quên lãng nhưng thực sự vẫn có thể coi như tồn tại. Tuy nhiên không có gì bảo đảm tất cả sẽ bền vững muôn đời. Thời gian, thiên nhiên và chính con người sẽ làm các di tích lịch sử tàn lụi hay được bảo vệ. Vì vậy nhờ sự chia xẻ thông tin, thường xuyên thăm viếng, chúng ta sẽ có nhiều nỗ lực và sáng kiến thích hợp. Nghĩa Trang Quốc Gia Hoa Kỳ tại Arlington là một thí dụ cụ thể. Xin hãy ghi lại những năm lịch sử của một đất nước trẻ trung và hùng cường nhất thế giới. Chiến Tranh Dành Độc Lập 1775-1783, tử sĩ chôn khắp mọi nơi. Năm 1864, tử sĩ đầu tiên của cuộc nội chiến Nam Bắc chôn tại Arlington. Khi chiến tranh chấm dứt, miền Bắc chôn tổng cộng 16 ngàn tử sĩ của Liên Bang tại Nghĩa Trang Quốc Gia. Ðồng thời có khu mộ tập thể chôn cất chung binh sĩ của cả 2 miền. Trên toàn lãnh thổ của các tiểu bang miền Nam đã có hàng trăm Nghĩa Trang lớn nhỏ mai táng chiến binh của phe bại trận nhưng đã được xây dựng và bảo toàn bởi luật lệ của Liên Bang từ phe chiến thắng. Nhưng thực sự phải chờ đến 40 năm sau, mới đến ngày Hoà Giải Dân Tộc. Gần 500 ngôi mộ tử sĩ miền Nam được cải táng đem vào chôn tại Arlington, chung quanh Tượng Đài với hình ảnh bà mẹ chiến sĩ dân quân của phe Liên Hiệp thua trận. Tiếp theo, nhiều mộ phần của các chiến sĩ anh hùng hy sinh từ cuộc chiến tranh cách mạng chống Anh Quốc cũng được cải táng đưa vào Arlington. Ðó là phương cách của người Mỹ đối xử với phe thù nghịch sau chiến tranh, dựa trên nền văn hoá trẻ trung của hơn 200 năm lập quốc. Dân tộc Việt Nam chúng ta, với 4000 năm văn hiến, tiền nhân đã dậy rằng, nghĩa tử là nghĩa tận. Ðến bao giờ Nghĩa Trang Biên Hoà mới có thể trở thành di sản lịch sử của Quốc Gia. Ðến bao giờ những di hài các chiến binh miền Nam chết trên chiến trường, trong các trại tù mới được tìm kiếm và đem về cải táng tại Biên Hoà. Lúc đó Nghĩa Trang Biên Hoà có còn không ?
Cứu lấy Nghĩa Trang
Trên đây là toàn bộ bản tường trình về Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà. Chúng tôi cũng có một bản tóm lược về lịch sử Nghĩa Trang đính kèm. Ðể có thể cứu lấy Nghĩa Trang Biên Hoà một cách cụ thể, xin đề nghị các điểm sau đây :

Thứ nhất : Không khuyến khích quý vị về thăm quê hương, nhưng hàng triệu người đã về. Chúng tôi xin các bạn, có về Việt Nam, xin một lần đến thăm Nghĩa Trang Biên Hoà.

Thứ hai : Viết thơ cho dân biểu địa phương để xin quí vị quan tâm đến vấn đề này. Không cần đặt ra những đề nghị phù phiếm, không tưởng. Không đòi hỏi phải xây cất, trùng tu qui mô lớn lao. Không cần phải tổ chức lễ hội giải oan hay hoà hợp. Chỉ cần xin bảo vệ cho toàn thể 52 mẫu còn lại không bị xâm phạm. Các kiến trúc hiện hữu sẽ không bị hư hỏng thêm. Nhiên hậu những bước kế tiếp sẽ được thời gian giải quyết.
Cho tôi xin một mộ phần
Cá nhân chúng tôi có một câu chuyện. Năm 1968, chiến tranh khốc liệt, khói lửa lan đến cả Sài Gòn, Chợ lớn. Một lần, tôi và Ðại Tá Ðỗ Tùng lên thăm Nghĩa Trang, gặp Ðại Tá Nguyễn Tử Ðoá, Cục Trưởng Quân Nhu. Nửa đùa nửa thiệt, bác Ðỗ Tùng và tôi, xin đặt mỗi người một lô. Bây giờ ông Ðoá qua đời, chôn ở miền Trung Mỹ. Ông Ðỗ Tùng đi trước, chôn ở Nghĩa Trang Hollywood.

Trong số 3 anh Bắc Kỳ ngày xưa lẩm cẩm dành đất Nghĩa Trang Biên Hoà, chỉ còn một người, có ngày sẽ về nằm lại ở nơi hẹn ước. Nếu có sớm nằm chơi dưới cội hoa trên miền đất tạm dung thì thế hệ tương lai sẽ thi hành di chúc. Ðứa cháu ba đời đem hũ tro tàn leo 65 bậc thang sắt đặt trên đỉnh ngọn Tháp của Nghĩa Dũng Ðài. Ngọn gió đông bắc tháng tư sẽ thổi di hài cát bụi của người giao chỉ bay khắp cánh đồng mộ chí. Sống đã chẳng trọn tình chiến hữu, đành tìm con đường chung sự lãng mạn để trả nợ binh đoàn.

16 ngàn ngôi mộ bỏ lại năm 1975, trên 5000 tử sĩ đã cải táng về quê khắp 4 vùng chiến thuật. Ðể lại 8 khu Nghĩa Trang, khu nào cũng còn đất trống. Nếu Nghĩa Trang được bảo vệ, quý vị thử nghĩ coi, đâu có anh cán bộ Cộng Sản nào dám vào nằm cạnh nhẩy dù hay thủy quân lục chiến ! Dân chúng cũng không muốn vào đấy nằm. Có chăng là các cựu chiến sĩ VNCH, các thương binh liệt sĩ còn tại Việt Nam. Hay là những người lính tha hương muốn về gởi nắm xương tàn nơi quê hương. Nếu là cựu chiến sĩ, thì vào đó chứ còn đi đâu ? Lịch sử Nghĩa Trang Quốc Gia Hoa Kỳ cho thấy cả trăm năm sau mà người ta vẫn còn cải táng đem di hài tử sĩ vào Arlington.
Ðó là lý do tại sao chúng ta phải cứu lấy Nghĩa Trang Biên Hoà ...

Khi tôi chết, đừng đem tôi ra biển,
Hãy đem về chôn tại Nghĩa Trang xưa

Giao Chỉ, San Jose.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Lễ đặt vòng hoa tại nghĩa trang Arlington,
tưởng niệm các chiến sĩ Mũ đỏ Việt Nam và
cố vấn nhảy dù Hoa Kỳ hy sinh tại Việt Nam


Ðại-Cồ-Việt, GÐMÐ/D.C.
Năm nay Mùa Thu Washington dường như ấm hơn mọi năm. Rừng lá thu vàng vẫn còn những cây đỏ thắm vàng rực sót lại cuối mùa, khoe màu trong một ngày nắng nhẹ. Sáng nay, mùng 10 tháng 11, nghĩa trang quốc gia Arlington lại càng nhiều những cành lá vàng thắm rực rỡ trang điểm những cây to đứng lác đác lẻ loi giữa những hàng bia trắng xinh xắn chạy đều tăm tắp trên thảm cỏ xanh tươi mơn mởn dài vô tận, không bao giờ héo úa.

Ðoàn xe đưa các cựu chiến binh Mũ đỏ từ những tiểu bang xa gần về Washington D.C. chạy thật chậm vào địa điểm hành lễ, một nơi cao đẹp có tảng bia đá vinh danh và cây tưởng niệm được gieo trồng từ năm 2000, dành cho sư đoàn Nhảy dù Việt Nam Cộng Hòa và các quân nhân Hoa Kỳ thuộc toán 162, cố vấn của binh chủng Nhảy dù Việt Nam.

Ðoàn người trong quân phục Sư đoàn Nhảy Dù Việt Nam Cộng Hòa ngồi lặng lẽ trang nghiêm trên từng xe, khác hẳn không khí tươi vui lúc vừa gặp nhau nơi điểm chờ đợi bên cạnh tượng đài kỷ niệm của Sư đoàn Nhảy dù 101 Hoa Kỳ. Cựu Trung tướng James V.Vaught, nguyên chỉ huy trưởng đoàn cố vấn 162 của Sư đoàn Nhảy dù Việt Nam, đã đến với anh em mũ đỏ Việt Nam để cùng vào điểm hành lễ. Ông bắt tay và ôm lấy từng người chiến binh mũ đỏ trong hai hàng quân 40 người dàn chào ông cùng với cựu đại tá Nguyễn Văn Tường, chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Gia Ðình Mũ đỏ Việt Nam hải ngoại.

Cựu đại tá Paul DeVries, người bạn thân thiết nhất của GÐMÐVN, luôn luôn là người giới thiệu của mọi buổi lễ thường niên, sau khi ông và các cố vấn khác dự một lễ tưởng niệm dành cho Sư đoàn 82 Nhảy dù Hoa Kỳ cũng tại nghĩa trang quốc gia Arlington và cùng ngày mùng 10 tháng 11 hằng năm. Ông cũng là người khai quân lễ, ban khẩu lệnh cho hai toán quốc quân kỳ của Sư đoàn 82 Nhảy dù Hoa Kỳ và Sư đoàn Nhảy dù Việt Nam Cộng Hòa tiến vào vị trí.

Trước các cựu chiến binh mũ đỏ Hoa Kỳ thuộc Sư đoàn 82 Nhảy dù Hoa Kỳ và thân nhân từ nhiều nơi về dự lễ ngày hôm nay tại nghĩa trang này, Ðại tá DeVries giới thiệu Sư đoàn Nhảy dù Việt Nam là một đơn vị thiện chiến của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, từng chiến thắng trong nhiều trận thư hùng một mất một còn với các đơn vị cộng quân Bắc Việt trên khắp bốn vùng chiến thuật Việt Nam Cộng Hòa. Ông cũng nói về lòng cảm phục của tất cả các cố vấn Nhảy dù đối với đoàn quân mũ đỏ Việt Nam, và mối thân tình không hề phai giữa tập thể cựu chiến sĩ mũ đỏ hai quốc gia Việt Mỹ.

Cựu đại tá Nguyễn Văn Tường được mời lên diễn đàn trước tảng đá và cây tưởng niệm các chiến sĩ Nhảy dù Việt Mỹ. Vị đại tá nói với các cựu quân nhân Nhảy dù Hoa Kỳ và Việt Nam:

Anh em Mũ đỏ Việt Nam chúng tôi có mặt nơi đây ngày hôm nay để tổ chức lễ đặt vòng hoa tưởng niệm các vị anh hùng Việt Mỹ đã hy sinh vì tự do. Chiến sĩ mũ đỏ cùng đất nước Việt Nam luôn luôn tưởng nhớ đến những tấm gương hy sinh đó với lòng biết ơn và niềm tôn kính.

Cuộc chiến đã chấm dứt từ 34 năm trước. Nhưng lý tưởng tự do dân chủ vẫn hoàn toàn vắng bóng trên một đất nước đã hứng chịu biết bao điều bất hạnh.

Hãy nguyện cầu đấng Tối cao cùng anh linh những anh hùng mũ đỏ Việt Mỹ cho chúng ta sức mạnh để tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ thực hiện lý tưởng tự do dân chủ cho Việt Nam mà chúng ta từng chiến đấu bảo vệ cách nay đã mấy mươi năm.

Trung tướng James Vaught, nguyên cố vấn trưởng sư đoàn Nhảy dù Việt Nam, từng tuyên bố tại nơi này, hồi năm 2000, rằng:

“Tôi còn nhớ rất nhiều lần có mặt trong những đội hình chiến đấu của quân Dù Việt Nam để quan sát và sẵn sàng giúp đỡ, nhưng rốt cuộc chỉ ở đó chứng kiến đội quân mũ đỏ vừa chiến đấu vừa cứu trợ, tản thương đồng đội, với tất cả sự dũng cảm vĩ đại và trình độ chuyên nghiệp cao siêu. Tôi cảm thấy phải cám ơn các bạn Nhảy dù Việt Nam về nhiều mặt. Tôi thực sự vui mừng biết bao cho những Mũ đỏ thoát được nạn Cộng sản, đến được xứ sở tự do này, thì lại đau buồn bấy nhiêu cho những bạn Nhảy dù phải ở lại Việt Nam chịu đựng những đau thương do Cộng sản gây ra để cố tình hạ nhục quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

“Những người anh em Việt Nam, các cố vấn Hoa Kỳ, cùng tất cả những người đã và đang hy sinh tại Việt Nam. Người Hoa Kỳ chúng ta hy vọng, cầu nguyện, trông chờ một điều có thể không kịp xảy đến trong quãng đời của tôi, là một ngày tự do trở lại trên đất nước Việt Nam, và những người Mỹ-Việt có mặt nơi đây sẽ góp sức góp công cho ngày tự do vĩ đại ấy.”

Những người chiến sĩ Việt Nam từng trông cậy Hoa Kỳ giúp chống lại Cộng sản. Hoa Kỳ đã đứng bên họ, nhưng trong một cách thế thật đáng chê trách. Tôi và các cố vấn Mỹ từ đó tới nay vẫn không ngớt đau buồn vì mang mặc cảm đã bỏ rơi những đồng minh can trường, khi họ đã có lòng cậy trông vào nước Hoa Kỳ hùng mạnh.

Hôm nay vị tướng lãnh từng phục vụ trong Sư đoàn 173 Nhảy dù Hoa Kỳ nhắc lại một số điều ông đã phát biểu trước gần 300 sĩ quan Hoa Kỳ và cựu chiến binh Nhảy dù Việt Nam vào hôm 18 tháng 6 năm 2000, ngày lễ trồng cây và đặt bia đá tưởng niệm các anh hùng Mũ đỏ. Ông nói:

Các bạn Nhảy dù Việt Nam từng đổ máu chung với các cố vấn Nhảy dù của chúng ta trên chiến trường Việt Nam. Thật vinh dự được cùng phục vụ với các bạn. Thực ra chúng tôi chẳng phải cố vấn gì cho các bạn, mà chỉ giúp các bạn làm công việc của chiến tranh được dễ dàng. Chúng tôi cũng chẳng cần phải chỉ vẽ gì về chiến đấu. Các bạn thiện chiến còn hơn cả chúng tôi nữa. Chúng tôi chỉ giúp các bạn phương tiện hoàn thành nhiệm vụ mà thôi. Và tôi có thể nói một điều này, là các bạn đã có thể trông cậy vào những người anh em ruột thịt như chúng tôi, và chúng ta đã cùng nhau thắng nhiều trận đánh huy hoàng.

Trung tướng James Vaught nói với các cựu chiến binh sư đoàn 82 Nhảy dù về một giai đoạn trong chiến cuộc Triều Tiên, khi quân Mỹ phản công đẩy lùi quân Trung cộng đến tận sông Áp Lục. Và ông kết luận:

Trước sự hiểm nguy trên mặt trận, người quân nhân không còn phân biệt cấp bực. Từ tướng lãnh đến binh nhì đều sinh tử như nhau trong chiến trận. Nên còn lại chỉ là tấm tình huynh đệ chi binh bền vững mãi. Hôm nay chúng ta lại có dịp ghi nhớ rằng trong quân đội chúng ta: Mọi chiến sĩ đều góp công, và có những anh hùng đã hy sinh tất cả.

Ðại tá DeVries mời hai vị chỉ huy đặt vòng hòa tưởng niệm nơi tấm bia đá vinh danh đơn vị Nhảy dù Việt Nam và đoàn cố vấn 162 Hoa Kỳ, dưới gốc cây tưởng niệm các anh hùng mũ đỏ hai nước đã hy sinh vì nền tự do của xứ sở Việt Nam. Và phút truy điệu bắt đầu.

Từ khoảng xa trỗi lên khúc kèn truy điệu, như tâm tưởng mọi người đang hướng về các anh linh hằng ngàn chiến sĩ Nhảy dù Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh vì tổ quốc, cùng hằng chục cố vấn Mỹ từng sát cánh chen vai với đạo quân mũ đỏ, đã bỏ mình vì nền tự do của đất nước Việt Nam.

Ðại-Cồ-Việt - GÐMÐ/ D.C.11 tháng 11 năm 2009
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »


Image

Đêm Giáng Sinh Đóng Quân Ở Xóm Đạo Tha La_

Nguyễn Trọng Hoàn



1 / Tôi không biết có phải qua bài thơ dài tới 93 câu của Vũ Anh Khanh mà từ một vùng đất..." đèo heo hút gió" của xã An Hòa, quận Trảng Bàng, đã khiến nơi này biến thành một địa danh rất trữ tình của thi ca và âm nhạc...
Nhưng, với Tôi hay nói xa hơn một chút nữa, với Tiểu đoàn 2/46/25, nơi ấy, vâng, chính nơi phía “ lắm Công giáo, nhiều Ma Việt cộng” ấy ( theo một con đường trải nhựa, đến Quốc lộ 1, rẽ phải đi về Quận lỵ Trảng Bàng, rồi rẽ trái theo con lộ đá đỏ chậy miết đến một nhánh sông Sài Gòn...
Có một căn cứ là nơi đóng Bộ Chỉ Huy của Trung đoàn " Ông Cường"...Ông Cường là Đại tá Lều Thọ Cường, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 46 )..Đã để lại cho Tôi những kỷ niệm khó phai…

2/ Tiểu đoàn 2/46 được trực thăng vận xuống vùng Lưỡi Câu rồi xuất phát, ngược xuống các mục tiêu ở phía Tây Nam và các mục tiêu chót nằm dọc theo con sông Vàm Cỏ Đông, xanh ngắt bóng dừa nước. Nơi ấy, bên kia, phần đất Việt Nam là một đơn vị Thủy quân lục chiến đang làm tuyến án ngữ..

3/ Ngày 23 tháng 12...
Những cơn gió se lạnh hắt lên hơi nước ngầy ngậy mùi phèn, có văng vẳng từ thinh không xa tít tiếng chuông nhà thờ...
- Mẹ kiếp...Còn 2 ngày nữa là Noel rồi, mà vẫn phải " chân lấm tay bùn" như thế này..Thiếu tá, ông...
" Thằng" Tiểu đoàn phó Dương Kim Mãng, có gốc đạo Cao Đài này, có con bồ ngay quận Hiếu Thiện này, thế mà " thiêng" ra phết, hiệu thính viên vội mang combiné đến cho tôi:
- Thưa Thiếu tá...Có 173 gặp...
( Thời kỳ ấy, mã số truyền tin đã cấm không cho dùng những đại danh như Đại Bàng, Sao Lớn, Mặt Trời...Kể cả những Đích Thân, Thẩm quyền rồi..)
173 là ám danh của " Ông Cường ăn nói nhỏ nhẹ nhưng cương quyết"..
- 173...169 tôi nghe đây..
- 169 cho ngay cả gia đình anh , " zu lu" đến tọa độ XT...
Nghe số XT69...Tôi sướng run lên...Bên kia sông là Tha La Xóm Đạo..
- Trình 173...Rồi có vượt sông không?
- Sẽ có một đơn vị " Cải cách bắc bình" ( Công Binh ) đón...
Mãng tung cây gậy lên trời…

4/ Bộ Chỉ Huy của tôi sang sông vào những chuyến hobo áp chót...Đại tá Cường cùng Ban tham mưu với những chiếc jeep có ang-ten tua tủa đứng chờ…
- Mệt không…nào…." toa" được đặc ân của Sư đoàn đấy nhé...Ông Tướng cho " toa" dưỡng quân ít ngày, rồi... ( ...rồi, mấy "bố" này chẳng tốt lành gì, sau này tôi mới biết, đơn vị tôi là TĐ tăng phái đầu tiên cho mặt trận An Lộc...) Nhưng, đây là một xóm Đạo...Đừng cho " chúng nó" quậy phá..và lệnh cấm phép chỉ "xả ra" sau tết Dương lịch đấy nhá...
- Nhưng, thưa Đại tá...Tôi có nghe đài BBC, thấy mình với Việt cộng có hưu chiến mà...
Tự nhiên tôi thấy gương mặt vốn xám ngoét của Đại tá Cường ửng đỏ:
- Cậu không nhớ đêm Giáng sinh hưu chiến ở Trảng Lớn năm ngoái à...Mà mình cũng mong năm nay, chúng nó tôn trọng, nhưng phải cẩn thận.. Cậu nên vào thăm Cha Nghị.

5/ Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn tôi đóng quân ở nhà ông Ba Tít, Tôi không biết tại sao dân ở đây gọi tên ông như vậy…và Tôi cũng không nhớ Tôi quen với gia đình ông lúc nào, nhưng cứ mỗi khi đơn vị đi ngang…Tôi đều ghé vào thăm ông ít phút… Xởi lởi, sống độc thân với 2 cô con gái đang học ở Sài Gòn, chỉ Chủ nhật mới về thăm cha….
…Từ ngày vợ ông chết thảm, khi VC chiếm ấp An Hội 1, nơi có cái lò gạch, mà từ ngày Tết Mậu Thân não nùng năm ấy, đã cướp đi người vợ tấm mẳn của ông... những cột ống khói của hầm nung gạch ngun ngút mùi đất nung ngày nào, không còn nhẩy múa, đùa bỡn với tiếng chuông chiều, với những đợt gió quyện theo hơi nước của con sông Vàm này nữa…
Từ đó, cứ mỗi buổi chiều, Ba Tít thường phễnh bụng trên bộ chõng tre, dưới bóng cây mít già ( ấy, già thế, trông cằn cỗi là thế mà hoa trái quanh năm đấy, lại do ông nhạc của goa trồng đấy, ôi, Bà ơi bà nó ơi ! ), với cút rượu Gò Đen, với những câu nguyền rủa: “ Bọn vô thần vô thánh chúng bay…Goa mà bắt ( ? ) được một đứa, thì goa giết một đứa, bắt được 2 đứa..Goa giết 2 đứa”...
Cho đến khi ông “ bắt được” đứa thứ 100, 101 rồi ông lăn quay ra ngủ…

6/ Chiều 24...
Tôi đang đứng ngắm hàng cây cam quýt thẳng tắp mới được vun gốc, …thì có tiếng xe lam đậu trước cổng, có thấp thoáng bóng áo dài tím…A..
- Chào cô Dược sĩ…Cô mà là VC thì tụi tôi chết cả nút..
- Thiếu tá cứ giỡn em hoài, ấy là vì em mới đến thăm chị Ánh Hoa…Gặp ông Tướng mới biết anh Đáng về đây đã mấy hôm rồi, em chậy vội lên…Đại đội anh Đáng đóng gần đây không Thiếu tá..?
( Đáng là một Trung đội trưởng Trinh sát 46…Khi tôi qua TĐ 2 này…Tôi có xin Đáng về theo, Anh đang làm Đại đội trưởng Đại đội 3…
Trong một lần Ủy lạo..Một “em gái Hậu phương” có cái tên ngồ ngộ, lãng mạn, bay bổng thi ca… Ngô Thị Chiều Tím đã phải lòng ngay anh chàng ăn nói bạt mạng, gan lì, hay lôi cả dòng họ Đỗ Đình ra…” khoe”…
Tình yêu của họ tưởng vỡ tan khi Chiều Tím lỡ lời khoe với bà chị họ, lại là nhân tình của Chuẩn tướng Tư Lệnh…
Đáng được gọi thẳng lên gặp Đại tá Tích, Trưởng phòng Tổng quản trị Sư đoàn…
Ra khỏi cửa phòng “ ông Tích”…Đáng văng tục liên hồi rồi phóng xe về thẳng Tiệm Thuốc Tây ở Ngã tư Trung Chánh nơi có Bố của Cô Chiều Tím làm chủ…
Trong lúc Đáng bước lên xe jeep trở về Chà Rầy là lúc Chiều Tím bị ông bố đay nghiến:
- Cái thứ lính tráng mất dậy này…Con “ nhặt “ nó ở đâu ra vậy? Từ này bố cấm con…Quen với thằng xích lô xe kéo cũng được…Trừ thứ mục hạ vô nhân này….
- Không đâu bố ạ…Anh ấy có dòng Đỗ Đình... Có..
- Không có với không gì hết…từ nay cấm…
Chẳng biết ông cấm thế nào mà từ đó Đáng ít nói hơn…Họ lại càng khắng khít hơn…)

7/ Mãng xòe lòng bàn tay …Nói với 3 Đại đội trưởng:
- Trong này có 3 cái thăm….Ông nào bắt được số 2 thì trở về ấp 2 ( An hòa 2 ), ông nào bắt được số 3 thì đóng quân ở đây…làm thành phần trừ bị..Còn không may, ông nào bắt trúng số 1 thì ở lại gặp Tiểu đoàn trưởng..
Đáng bắt số 1…Tôi chỉ vào khu vực mênh mông những nước ở phía Nam của cầu Quan…: Khu từ cầu đến sát bờ sông này là khu vực hoạt động của Cậu…Những mục tiêu có số lẻ là chỗ Việt Cộng thường đặt súng cối pháo kích vào đây, vào Quận lỵ…Tôi vừa gặp Cha Chánh Xứ… 2 Khẩu đại liên ở trên gác chuông sẽ yểm trợ trực tiếp cho Cậu ( Hồi ấy chưa có gác chuông giống lồng chim như sau này )…Cuộc hành quân này sẽ chấm dứt vào 1 giờ đêm …Sau đó, cậu sẽ về đóng quân tại XT..
Rồi như có vật gì chặn cứng cổ họng…
- Nhưng, …
Tôi cố làm vẻ tự nhiên..
- Còn…” Ngàn Thu Áo Tím” của cậu thì sao…Hay để thằng Bắc dẫn đại đội đi vậy?
Đáng đứng bật dậy, gấp tấm bản đồ bỏ vào túi áo :
- Cô ấy sẽ ở đây, sẽ vào Nhà thờ lễ…Rồi sau lễ nửa đêm, rồi 1 giờ đêm, bên hang đá, tôi sẽ trao cho cổ cái nhẫn đính hôn này ( đáng vỗ vỗ vào cái túi nhỏ bên cánh tay..)

8/ "Máu nhuộm sân…Nhà thờ”:
Tôi nói vơi Dương Kim Mãng:
- Ông ở Bộ chỉ huy coi “ nhà”, tôi vào trong nhà thờ làm…Đạo…vòng..
Bộ Chỉ huy nhẹ của Tôi vừa đi ra khỏi cổng lò gạch, thì nghe một tiếng súng cối..kế tiếp một tiếng nữa.. “ Vào ngay nhà thờ rồi ”…Một sĩ quan la lớn…Tiếp đến là những tràng đạn đại liên từ gác chuông…Tôi quay lại lò gạch…rồi vỗ vào vai Sĩ quan Tiền sát pháo binh:
- Ông cho thằng Chà Rầy, Trảng Bàng…Cả thằng Củ Chi nữa…TOT vào những mục tiêu tiên liệu đi…
Tiếng phản pháo rung mặt đất nhưng không át được tiếng tiếng Mãng:
- Thằng 3 đụng địch…Rồi…Có chiếu sáng cho mày rồi đấy…Rồi, rồi…Bảo nhà thờ ngừng bắn…Thế hả?...Mấy đứa…
Một hiệu thính viên của một trung đội đóng trong nhà thờ báo cáo thẳng cho Bộ chỉ huy...Tôi nghe xong, buông máy rồi kéo Bộ chỉ huy nhẹ "chất" lên chiếc jeep chậy thẳng vào Nhà thờ…
Quái lạ…Không có một giáo dân nào chậy từ nhà thờ ra cả… vẫn tiếng hát vang vang: “ Mẹ ơi đoái thương cho nước Việt Nam…Trời u ám chiến tranh điêu tàn…
...2 quả pháo súng cối đang ghì kéo âm vang thánh ca cao vút kia, xuống cùng với làn khói đạn mịt mù, đang vây quay hang đá…Có nhiều xác người nằm la liệt….Có cả một vạt áo dài mầu tím hất lên che khuất một gương mặt…
Mắt tôi cay cay (... tôi sẽ trao cho cổ cái nhẫn đính hôn này ..)
Có tiếng Cha chánh xứ:
- Nhanh lên các Con, chuyển hết về Bệnh viện Trảng Bàng.
Tiếng chuông nhà thờ lại đổ dồn…tiếng hát…tiếng cầu kinh…
Tôi đến bên chiếc jeep , ở đấy mấy chiếc máy truyền tin PRC-25 đang ồn ào truyền, nhận lệnh…Có tiếng Mãng đang như càng lúc càng gay gắt, bên kia là tiếng của Đáng…
- Họ gom hết đưa ra bệnh viện Trảng Bàng rồi…sống chết làm sao, tôi chưa biết…Khoan khoan…Không được làm bậy….
Tôi chộp lấy combiné:
- 176 gọi Đống Đa..
Tiếng Đáng sắc như gươm:
- Tôi sẽ lên 176 nhận tội…Tôi, chính tôi đã “ xử” thằng Việt Cộng trưởng toán này rồi...Còn 2 thằng tôi đang tính cho nó về chầu Diêm vương.... vâng vâng, tôi sẽ giải chúng về...

9/ Sáng 25…Trên chiếc chõng tre , mấy chú “ tà loọc" đã cho hâm lại phần “ tiệc” Lễ nửa đêm do cha Chánh xứ gửi biếu…
Tôi kết thúc buổi họp… nhìn về phía Đáng:
- Tôi nghiêm khắc cảnh cáo Đại úy Đại đội trưởng Đại đội 3…Vì lý do gì, chắc Đại úy đã hiểu…Cũng may, lúc này không còn “ bọn” cố vấn Mỹ, chứ không, hành động giặc cỏ kiểu Lương Sơn Bạc của Đại úy sẽ gây ra rắc rối to cho đơn vị…Đại úy nghe rõ chưa?
Có tiếng giầy máp, có tiếng nghẹn ngào của Đáng:
- Nghe rõ !
Tôi ra hiệu cho mọi người “ nhập tiệc” , rồi bảo Thượng sĩ Hùng Ban 1:
- Ông viết cho Đại úy Đáng một sự vụ lệnh về Bệnh viện Cộng hòa thăm thương bệnh binh…Sau đó, Đáng được nghỉ 48 giờ để…
- Tôi chỉ vào cái gói Đáng cứ kẹp mãi trong nách:
- Cậu đưa ngay cái gói…chiến lợi phẩm kia cho tôi..
Đáng nói như khóc :
- Xin Thiếu tá cho Tôi cái này…Tôi sẽ đốt trước linh cửu..
Tôi nói to như cố cho các Sĩ quan có mặt nghe được:
- Cái gì linh cữu? Sáng nay, Cha Nghị đã từ bệnh viện Trảng Bàng về qua đây báo tôi một tin vui…Trong 13 người mang đến bệnh viện ngày hôm qua…Chỉ có một nạn nhân còn phải nằm lại…Tất cả đã xuất viện…Kể cả cô nàng “ Ngàn Thu Áo Tím" của ông đấy….Còn cái áo “ Đẫm máu cháu bác Hồ” này…Biếu cho Chú Ba làm mồi…Nghe nói hôm nay…chú đốt lại cái Lò gạch…
Đáng nhẩy lên nhẩy xuống như một đứa trẻ con.
Tiếng Chuông nhà thờ ngất ngây, thánh thót..

( Bài viết này cũng để tặng :
- Hương hồn Cố Thiếu tá Dương Kim Mãng, Tiểu đoàn Phó TĐ 2/46 /25 BB..
- NT Bùi Văn Ngô ( K 16 ) Quận trưởng & Chi khu trưởng Trảng Bàng )

Nguyễn Trọng Hoàn.
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

NGƯỜI LÍNH ĐEO CÀNG TRỰC THĂNG

Nguyễn Phúc Sông Hương
(Nguyễn Phúc Sông Hương là bút hiệu của Thiếu Tá Nguyễn Phúc, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1/48 SĐ18BB trong trận chiến Xuân Lộc, tháng Tư 1975. Anh và gia đình hiện cư ngụ tại Sacramento, California)


Khoảng ba giờ sáng đêm 20 rạng ngày 21 tháng 4, từ trên căn cứ pháo binh Núi Thị hướng nam thị trấn Xuân Lộc 5 cây số, Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế, Tiểu đoàn trưởng TĐ 2/43 thấy đèn pha xe sáng rực trên những ngã đường trong thành phố. Chế cảm thấy đây là một sự việc khác thường bởi vì đã mười một giờ đêm, từ khi chiến trận bùng nổ, Xuân Lộc luôn ngập chìm trong bóng tối, thỉnh thoảng loé sáng bởi đạn pháo địch rót xuống mà thôi. Chế vội gọi máy liên lạc với bộ chỉ huy Lữ đoàn 1 Dù đơn vị mà TĐ thuộc quyền tăng phái thì được biết đó là những đoàn xe của quân CS đang vào thị xã.

Như vậy thì Xuân Lộc đã bị quân Cộng sản chiếm rồi. Nhưng sao chẳng nghe những tiếng súng giao tranh. Không lẽ toàn thể quân trú phòng Xuân Lộc đã đầu hàng, Tư Lệnh Lê Minh Đảo đã đầu hàng?

Chế lo âu, giọng run khi cầm máy gọi BCH Lữ Đoàn 1 Dù.
Rạch Giá Lê Lai và trở về với người anh cả của anh. Nghe lệnh BCH Lữ Đoàn Dù, Nguyễn Hữu Chế rất tức giận. Nếu mình không gọi, chắc đã bị bỏ quên, và rồi sẽ bị quân CS tiêu diệt. Chế muốn hét lớn phẫn nộ, nhưng anh kềm lại được khi nghĩ đến Tiểu đội Trinh sát nằm tiền đồn bên ngọn Núi Ma. Phải gọi thằng em về càng nhanh càng tốt. Toàn thể TĐ phải rút khỏi Núi Thị trước khi bị quân CS bao vây. Chế cho lệnh phá hủy mấy khẩu pháo 155 ly trong khi chờ mấy đứa em tiền đồn trở về. Đây là những khẩu pháo đã gây nhiều thiệt hại cho quân CS trong mấy ngày chiến trận.


*

Khoảng hơn 4 giờ sáng Tiểu đội Trinh sát đóng ở Núi Ma và các toán tiền đồn mới trở về căn cứ Núi Thị đầy đủ. Toàn thể Tiểu đoàn 2/43 bắt đầu xuống núi, chia làm hai cánh quân, một do Tiểu Đoàn Trưởng Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế và một do Tiểu đoàn phó Đại uý Chi chỉ huy. Hơn 300 chiến sĩ TĐ 2/43 đã chiến đấu oanh liệt đột phá vòng vây khi xuống núi. Phá được vòng vây quanh núi Thị, TĐ nhắm hướng Bà Rịa mà tiến nhưng hầu như đâu đâu trong rừng cao su cũng đều có quân CS. Vì vậy dù cố tránh giao tranh, và lợi dụng bóng đêm để di chuyển, nhưng thật khó mà thoát khỏi vòng vây bủa lưới của quân CS.

ĐM, bắt và diệt cho hết tụi ngụy 18 ác ôn còn lại. Tiếng la hét, liên lạc gọi nhau của binh lính CS vang thật rõ trong rừng cao su. Những ánh đèn pin chớp loé tìm kiếm từ lùm bụi này đến lùm bụi khác. Người lính trong thế lui quân bị săn đuổi nép mình sau gốc cây cao su, thấy rõ những bóng ma trước mặt mà không thể nổ súng đốn ngã. Những thương binh đau đớn cắn răng mà chịu. Người lính Sư đoàn 18 chưa bao giờ phải nhịn nhục như thế này. Mới hôm qua đây, ta còn xáp chiến đẩy lui địch ra khỏi thị trấn mà hôm nay lại phải ngậm tăm mà đi. Qua một đêm gần như thiếu định hướng trong rừng, sáng hôm sau Chế bắt được liên lạc vô tuyến với Đại Tá Ngô Kỳ Dũng, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 52. Từ trực thăng bay trên cao, Đại Tá Dũng hướng dẫn cho TĐ tiến về hướng Long Thành. Quân CS chắc chắn đã bắt được tần số liên lạc của ĐT Dũng và Chế nên đã điều quân đuổi theo và chận đánh.

Rút lui là thế sau cùng. Người lính tác chiến ít khi nghĩ đến việc rút lui bởi vì rút lui là đưa lưng cho địch bắn. Trong cuộc rút lui này, không những đưa lưng mà còn phải ngẩng đầu để hứng đạn ngay từ trước mặt, tứ bề. Vài lần, Chế đã lệnh cho toàn thể binh sĩ dưới quyền trụ lại, dùng cây cao su che thân, dùng nón sắt và mười ngón tay cào đất để làm nơi chống trả. Những lúc đó, Chế và anh em như những con cọp dữ. Bắn và hò reo, la hét. Để tăng thêm khí thế đánh lui quân địch, và cũng để cho quên đi những đớn đau từ những vết thương ứa máu, để xua tan những ngậm ngùi khi nhìn bạn ngã xuống bên mình.

Không trụ lại lâu được vì địch quá đông, đạn dược không còn đủ. Hai cánh quân của TĐ bắt buộc vừa đánh vừa rút. Địch lại rượt đuổi, đổ quân chận đầu, bao vây quyết tiêu diệt đơn vị QLVNCH còn lại sau cùng này để tàn sát trả thù cho trận quyết đấu mà họ bị thảm bại vừa qua.

Qua nhiều trận giao tranh với địch ngày và đêm trong rừng cao su gãy đổ vì đạn bom, chiến sĩ TĐ 2/43 đã lần lượt ngã xuống đền nợ nước. Chế cũng cạn khô nước mắt. Mồ hôi hầu như không còn để chảy vì đói và khát.

Phân tán mỏng từng tiểu đội, bán tiểu đội mà rút. TĐT Nguyễn Hữu Chế sau cùng phải quyết định như vậy. Phân tán mỏng thì lực chống sẽ yếu, nhưng dễ dàng luồn lách thoát khỏi vòng vây. Ba trăm chiến sĩ từng hàng chục lần đánh bật kẻ thù, trụ cứng đĩnh Núi Thị từ khi chiến trận bùng nổ, thế mà giờ đây người hy sinh, kẻ thất lạc, bên Nguyễn Hữu Chế chỉ còn lại 27 người. Tất cả đang đâu lưng chiến đấu tìm đường sống. Với Chế, đây là lần đầu tiên trái tim anh quá nhiều đau đớn trong suốt bao năm chỉ huy Tiểu đoàn. Anh chưa bao giờ để cho một đứa em bị thất lạc, không được băng bó vết thương hay bỏ xác tại trận. Lòng thương mến binh sĩ và danh dự của người chỉ huy như hai ngọn đèn luôn cháy rực trong tâm trí anh.


*

Hai mươi tám người còn lại mà hầu hết là những tay súng ngắn thuộc BCH Tiểu đoàn và các chiến sĩ pháo binh, công binh. Đối với B40, AK thì súng ngắn chỉ là súng đuổi ruồi.

Bảo Định, các anh đã bị bao vây, đã cùng đường, hãy ra hàng để được toàn tánh mạng. Bảo Định, tụi mày đã bị bao vây, cùng đường rồi, chịu chết đi.

Khi thì anh, khi thì mày. Khi thì dụ, khi thì đe. Hàng trăm lần, tiếng loa gọi đích danh Bảo Định, danh hiệu của Nguyễn Hữu Chế ra hàng.

Đối với người lính trận ở chiến trường, tiếng loa dụ hàng của địch quá thông thường, nhưng trong tình thế này đã phần nào làm giao động 28 tám người.

Có lúc Chế nghĩ rằng để anh em ra hàng còn mình anh chạy trốn. Hai mươi bảy người còn lại phải sống. Anh không thể tiếp tục nhìn họ lần lượt ngã xuống nữa. Riêng Chế, chỉ có chạy thoát hay là chết mà thôi. Nếu thoát không được thì cho một viên đạn súng colt vào đầu chứ không thể để bị bắt. Làm sao CS có thể tha Bảo Định Nguyễn Hữu Chế là một trong những Tiểu Đoàn Trưởng xuất sắc của Sư Đoàn 18 mà CS liệt vào hàng nợ máu ác ôn.

- Chúng ta đang ở trong tình trạng tuyệt vọng, anh em nên ra hàng vì vợ con gia đình của mình. Tôi chỉ yêu cầu anh một việc là đợi khi tôi đã đi khỏi nơi này thì ra hàng. Những gương mặt đầy lo âu bỗng đanh lại khi nghe Chế nói. Một hạ sĩ quan công binh nhìn Chế:

- Thiếu tá ơi, chúng tôi tuy là công binh chiến đấu, khả năng không bằng người lính bộ binh nhưng nhất định không làm hổ thẹn hai chữ chiến đấu mà chúng tôi đã tự mang vào mình.

- Bao giờ Thiếu Tá ngã xuống thì tụi em mới ra hàng. Người lính truyền tin nói.

- Thiếu Tá ngã thì em ngã theo. Người lính trinh sát cuối cùng của tiểu đội trinh sát nói một cách cuơng quyết.

Ba đêm, bốn ngày, hai mươi tám người sống chết bên nhau. Người còn sức dìu người sức yếu. Tay súng tay bạn, cương quyết không bỏ lại một người nào.. Họ lần mò trong đêm, dò dẫm trong ngày. Có khi vấp phải xác thú bị đạn chết trong rừng nhưng chẳng ai xẻ thịt thú mà ăn dù rất đói và khát.

Tháng tư, sương đêm không đủ để làm ướt lá cây cao su thì làm sao có vũng ướt heo rừng nằm cho người lính cúi xuống đưa lưỡi tìm chút nước.

Có lúc trong ngày, một vài lần Chế nghe tiếng trực thăng bay cao trên trời. Lòng mọi người vui lên vì biết mình sắp ra khỏi vùng địch chiếm đóng. Chế ứa nước mắt khi nghe tiếng gọi Bảo Định, Bảo Định, anh nghe tôi không trả lời của Đại tá Lê Xuân Hiếu Trung Đoàn Trưởng 43 gọi tìm đứa em thất lạc, nhưng Chế không dám lên tiếng vì sợ VC theo dõi bắt được tần số, phát hiện. Chế tin sự suy nghĩ và lo sợ của mình là đúng vì chính Chế đã nghe những lời trao đổi của VC lạc vào trong tần số máy PRC25 của Tiểu đoàn. Ngày thứ 4, nhiều anh em dường như không bước được nữa. Chính Chế cũng cảm thấy một cơn sốt đang kéo đến. Anh khô đắng cả họng, bụng thì đau nhói, chân run như sắp khuỵ xuống. Bây giờ thì không thể im lặng được nữa. Anh hai ơi Bảo Định đây. Chế cầm ống liên hợp và cất tiếng gọi lớn.

- Bảo Định! Bảo Định! nghe anh trên 5, nghe tôi không trả lời! Tiếng vị Trung Đoàn Trưởng vui mừng vang lên trong máy PRC25. Dưới sự hướng dẫn của Đại Tá Hiếu, và yểm trợ bằng hỏa tiễn của trực thăng, Chế và anh em tìm ra được khu trãng trống. Ba chiếc trực thăng UH-1B từ hướng Nam bay đến, rà thật sát trên ngọn cây rồi đáp xuống khu rừng chồi. Người còn sức cõng người kiệt sức chạy nhanh ra. Vấp ngã. Đứng dậy. Chạy tiếp. Nhanh lên, nhanh lên. Chế hét, tay quơ cây gậy thúc dục hai người lính đang vấp ngã trước mặt mình. Chế xốc tay một người và kéo chạy. Cánh quạt phi cơ tạo gió như cơn bão khiến cả hai thân thể yếu đuối quay một vòng rồi ngã xuống. Chế cố đứng dậy, kéo rồi đẩy người lính nhào vào cửa trực thăng. Pháo 82 và đạn B40 nổ ầm ầm. Khói lửa tung lên mù mịt ngay bên cạnh. Chiếc trực thăng bốc lên. Tự nhiên Chế cảm thấy có một sức mạnh mà anh chưa từng có trong thân thể mình, anh nhảy lên, vươn hai tay chụp vội và nắm chặt càng trực thăng vừa lúc chiếc trực thăng bay là là về phía trước. Đạn VC bắn xối xả theo nghe veo veo. Chiếc nón sắt trên đầu Chế rơi xuống. Cả chiếc kính cận trên mắt cũng rơi theo Chế nhắm mắt. Đôi bốt dưới chân quệt mạnh cành lá khiến thân thể anh lại càng chao đảo. Chế nghiến chặt hàm răng, dồn hết sức lực vào đôi bàn tay đã xây xước bao ngày qua, bám cứng vào càng trực thăng. Chế cảm nhận có vị mặn trên môi mình từ khi chiếc kính rơi xuống. Không biết là máu, mồ hôi hay nước mắt. Đeo lơ lững dưới càng trực thăng như vậy cho đến khi trực thăng ra khỏi tầm đạn địch, bốn bàn tay đồng đội trên trực thăng mới kéo được Chế lên lòng phi cơ.

- Thiếu tá ơi! Bảy tiếng kêu của bảy người lính cùng bật ra một lúc. Người xạ thủ trực thăng thì khép nhẹ đôi mắt lại như cố khắc ghi hình ảnh hào hùng đầy xúc động trước mặt mình.

- Chúc mừng Thiếu tá và anh em. Anh ta nói, giọng sung sướng. Hai sĩ quan phi công ngồi phía trước cũng đưa tay ra dấu chào mừng.

Chế nhấc cánh tay mỏi mệt bắt tay người xạ thủ trực thăng. Cũng nhờ sự can đảm và tận tình của các anh. Chế muốn nói như vậy, nhưng âm thanh không thể thoát ra khỏi cổ họng đang khô đắng của anh.

Khi Chế vừa bước vào phòng hội của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn tại căn cứ Long Bình vào buổi chiều ngày 24 tháng 4 thì Thiếu Tướng Lê Minh Đảo ôm chầm lấy Chế. Qua phút xúc động mừng vui, Tư Lệnh bước đến mượn hai hoa mai trắng trên cổ áo một vị Trung Tá rồi gắn vào cổ áo Chế.

- Anh xứng đáng được vinh thăng Trung Tá. Chế đứng nghiêm, đưa tay chào và nói: Thưa Thiếu Tướng, tôi không xứng đáng nhận sự ân thưởng này. Giọng Chế cương quyết. Vị Tư Lệnh mở tròn đôi mắt nhìn người thuộc cấp Tiểu Đoàn Trưởng của mình. Qua phút ngạc nhiên, ông chợt hiểu. Ông gật đầu nhìn Chế. Chế thấy đôi mắt sáng đó cũng đang mờ dần đi như đôi mắt ứa lệ của mình.

- Anh em binh sĩ Tiểu đoàn 2/43 bỏ tôi mà đi hết rồi thưa Thiếu Tướng, tôi còn vui vẻ nào mà...

- Thôi, được rồi, tôi sẽ trình lại với Trung Tướng Đồng Văn Khuyên sau.

Vị Tư Lệnh nói và đưa mắt nhìn người thuộc cấp đang đặt tấm thân mỏi mệt xuống chiếc ghế trong phòng hội. Chế ngồi bất động, hai tay ôm đầu. Anh cảm thấy hối hận vì câu nói nóng nảy oán trách Chỉ Huy trưởng Lữ Đoàn 1 Dù khi vừa bước chân vào phòng hội. Cấp chỉ huy tối cao của Quân Lực còn bỏ ra đi, quay mặt với thuộc cấp trong khi đang ở ngay tại Sài Gòn, trong bộ Tổng Tham Mưu an toàn thì việc Chỉ Huy Trưởng Lữ Đoàn 1 Dù chậm ra lệnh cho TĐ 2/43 rút quân cũng không đến nỗi phải bị oán trách. Toàn thể Lữ đoàn 1 Dù đến chín, mười giờ đêm mới ra đến lộ sau khi đã đụng độ ác liệt với quân CS và bị thiệt hại khá nặng. Họ còn phải bảo vệ dân chúng đang kéo theo. Lữ Đoàn Trưởng có hàng trăm việc phải giải quyết, đối phó. Đêm đầu tiên nghỉ tại BTL Sư Đoàn, lòng Chế không yên. Ý nghĩ về vợ con gia đình chợt đến nhưng chỉ thoáng qua. Đầu óc anh đầy hình ảnh của đồng đội; người đã ngã xuống và người thất lạc. Trái tim anh từng hồi vang lên tiếng gọi của anh em. Gần như suốt đêm, Chế đứng nhìn hỏa châu trên vùng trời Long Thành, mong trời mau sáng với hy vọng sẽ có anh em binh sĩ thất lạc trở về. Quả nhiên, đúng như dự đoán và tin tưởng của Chế, những ngày kế tiếp, hơn một trăm anh em chiến sĩ Tiểu đoàn đã lần lược trở về với vũ khí đầy đủ. Họ là những người thất lạc hoặc tự phân tán thành từng toán nhỏ để dễ dàng thoát khỏi vòng vây của quân CS. Tiểu Đoàn Trưởng Nguyễn Hữu Chế hết sức vui mừng. Con gà mẹ tuy còn đau buồn trông ngóng, nhưng lại cất tiếng kêu tục tục, quy tụ đàn con chung quanh mình. TĐ 2/43 lại tiếp tục tham dự những ngày sau cùng của cuộc chiến. Họ, người sống cũng như kẻ đã hy sinh, những hiệp sĩ đoạn hậu cho một cuộc lui quân đã đi vào chiến sử QLVNCH. Và Nguyễn Hữu Chế, người TĐT đã quên mất bản thân khi cố hết sức đẩy người thương binh thuộc cấp của mình lên phi cơ. Nhiều ngày, Chế không thể tin mình là người lính rút lui sau cùng khỏi Xuân Lộc dưới càng trực thăng giữa lằn đạn địch. Chế không tin vì không thể nghĩ là mình còn sống, đủ sức mà xoè đôi bàn tay yếu đuối rã rời để bám vào càng trực thăng khi chiếc phi cơ bốc lên.

Chế không tin, nhưng những người lính TĐ 2/43 thì biết đó chính là sức mạnh từ trái tim và trí óc của vị TĐT của họ. Hình ảnh này thật quá bi hùng mà suốt đời, họ không thể nào quên.

Nguyễn Phúc Sông Hương
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 4 guests