Bình Luận , Quan Điểm

thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Tại sao công nhân giết giám đốc?
Friday, August 07, 2009

Ngô Nhân Dụng

Tuần trước có một tin từ Trung Quốc đáng kinh ngạc: Hàng ngàn công nhân đã biểu tình chiếm một xí nghiệp rồi giết chết viên giám đốc. Trên thế giới xưa nay đã xẩy ra những vụ công nhân bạo động và chiếm cơ xưởng, và gần đây vẫn có. Nhưng tại sao phải giết người?

Ðây là một vấn đề đáng quan tâm. Vì Việt Nam và Trung Quốc giống nhau. Cả hai chế độ cùng theo chủ nghĩa Marx và tổ chức theo lối Lenin. Cả hai cùng cải tổ kinh tế theo lối tư bản nhưng không chịu từ bỏ quyền cai trị độc đoán.

Vào ngày 24 Tháng Bẩy, 2009, hàng ngàn công nhân công ty Sắt Thép Tonghua (Thông Hóa Cương Thiết Tập Ðoàn) tại thành phố Cát Lâm (Jilin), phía Ðông Bắc Trung Quốc đã biểu tình phản đối việc tư nhân hóa toàn thể công ty này. Theo Trung Quốc Nhật Báo, một tờ báo của đảng Cộng Sản, thì có 3,000 công nhân tham dự; cho nên chúng ta có thể đoán là con số thực phải lên tới hàng chục ngàn người, vì công ty này có tới 30,000 công nhân.

Lý do các công nhân biểu tình là vì chương trình của đảng Cộng Sản muốn tiếp tục tư nhân hóa công ty. Năm 2005, nhà nước Cộng Sản đã bán 36% cổ phần công ty Thông Hóa cho một tập đoàn tư nhân Jianlong, Kiến Long Cương Thiết Công Ty. Sau vài năm, Kiến Long đã rút ra khi thấy giá sắt, thép xuống thấp. Nay chính quyền Bắc Kinh dự trù sẽ bán hết công ty Thông Hóa và mời Kiến Long trở lại. Ðại diện của Kiến Long là Chen Guojun, Trần Quốc Quân đã tới làm giám đốc công ty Thông Hóa trong thời gian thu xếp việc tư hữu hóa 100%.

Theo các công nhân nói thì Trần Quốc Quân đã báo trước là khi công ty trở thành tư hữu hoàn toàn, trong ba ngày ông ta sẽ sa thải 25,000 người, chỉ còn giữ lại 5,000 công nhân mà thôi!

Ðó là nguyên nhân gây nên bạo động. Và bạo động đến cùng cực, khi hàng đám công nhân đánh hội đồng ông Trần Quốc Quân, và họ còn ngăn cản không cho xe cứu thương vào, không cho cảnh sát tới can thiệp. Ông Quân, ngoài 40 tuổi, đã bị giết chết trong cơn hỗn loạn. Ngay sau đó, chính quyền tỉnh Cát Lâm ra lệnh ngưng ngay việc tư nhân hóa.

Việc công nhân biểu tình chiếm cơ xưởng không phải là chuyện mới, đã xẩy ra khắp thế giới. Nhưng hành hung những người đại diện chủ nhân, và bạo động tới độ giết người, thì là một hành động cực đoan.

Ngay trong nước Mỹ, cuối năm 2008 đã xẩy ra một vụ 250 công nhân làm cho hãng Republic Windows chiếm đóng xí nghiệp ở thành phố Chicago. Chủ nhân công ty làm khung cửa sổ này đóng cửa vì làm ăn thua lỗ, nhưng khi công nhân đòi trả tiền lương cho những ngày nghỉ Hè chưa nghỉ và tiền đền bù thôi việc thì chủ nhân không trả. Republic lấy cớ ngân hàng Bank of America đã phong tỏa ngân khoản cho nên không có tiền trả lương. Ðại diện nghiệp đoàn đặt câu hỏi: Nhà ngân hàng mới được chính phủ giúp 25 tỷ đô la, còn các công nhân này có ai giúp họ hay không? Vì thế công nhân đã chiếm đóng cơ xưởng trong hai ngày. Nhưng họ hành động trong hòa bình và trật tự. Trong hai ngày đó, các công nhân vẫn làm những công việc quét dọn tuyết và giữ gìn vệ sinh trong văn phòng và cơ xưởng. Dư luận cả vùng Chicago và nhiều nơi trong nước Mỹ ủng hộ các công nhân.

Ở Châu Mỹ La Tinh hiện tượng công nhân tranh đấu bạo động còn diễn ra nhiều hơn, vì người ta không tin tưởng vào hệ thống thi hành luật lệ. Họ không tin vào cảnh sát, không tin vào các quan tòa, và cũng không tin vào sự công bằng của những đạo luật lao động. Ðúng ngày công nhân Republic Windows chiếm xưởng, các công nhân một nhà in ở Buenos Aires, Argentina cũng chiếm đóng nhà in. Trong năm 2008 còn rất nhiều vụ tương tự xẩy ra ở tại Argentina: một công ty làm bánh, một xưởng dệt may, một công ty đóng thịt hộp, vân vân.

Nổi tiếng nhất là vụ công nhân một hãng chocolat chiếm xưởng vào đầu năm 2009, vì hãng Charley này đã từng được đưa lên phim ảnh. Khi gia đình chủ nhân quyết định đóng cửa cơ xưởng sau khi ngưng trả lương cho công nhân nhiều tháng trời, 66 công nhân còn lại đã chiếm luôn nhà máy. Sau 30 ngày tự họ mở cửa ra làm việc dưới hình thức một hợp tác xã, sau khi vay được 5,000 đô la của một tổ chức tài chánh từ thiện. Trong một hoàn cảnh khó khăn vì không thể vay nợ ngân hàng và nhà máy điện cúp đường dây vì hãng chưa trả tiền điện, hợp tác xã các công nhân vẫn sản xuất được chocolat đem bán; nhờ thế trả được nợ và phát cho mỗi công nhân tiền lương trị giá một ngàn đô la.

Có lẽ người Việt biết nhiều về những vụ tranh đấu của lao động ở Pháp nhiều hơn là ở Argentina hay Trung Quốc. Ðầu năm 2009, công nhân các hãng Sony (Nhật), Carterpillar và 3M (Mỹ) ở Pháp khi nghe tin bị sa thải đã bắt cóc các giám đốc để đòi trả lương thôi việc. Vào Tháng Tư, một công ty Pháp loan tin sẽ đóng cửa nhà máy ở Bellgarde-sur-Valserine, 60 công nhân đã bắt cóc đại diện trong ban giám đốc đến báo tin.

Trong thời gian trên, các cuộc nghiên cứu dư luận cho thấy hơn một nửa dân chúng Pháp ủng hộ những hành động không theo đúng pháp luật của các công nhân. Vụ chiếm nhà máy được cả thế giới theo dõi là vụ 50 công nhân cơ xưởng hãng Michelin ở Montceau-les-Mines đã khóa cửa giữ 4 đại diện chủ nhân trong văn phòng, kể cả ông giám đốc.

Lý do vì công nhân phản đối hãng là một việc nhỏ: chủ nhân đã trừng phạt một công nhân trẻ vì lý do anh ta dùng một cái máy mà anh chưa hề được huấn luyện sử dụng. Sau một ngày công nhân trả tự do cho họ sau khi có thỏa hiệp. Công nhân Michelin đã nổi giận vì hãng đã sa thải 1,000 người vì kinh tế suy thoái, cho nên tại Montceau-les-Mines đã có cảnh đập phá, nhưng không đánh đập ai. Trong cùng thời gian đó, công nhân các hãng sản xuất đồ chế tạo xe hơi ở Pháp cũng dọa làm nổ một nhà máy nếu các công ty xe hơi Renault SA và PSA Peugeot-Citroen không bồi thường cho họ vì cắt bớt công việc.

Có thể nói là các phong trào công nhân tranh đấu, dù tranh đấu trong vòng pháp luật tại các nước tự do dân chủ, cũng thường đi đôi với bạo động. Trong những năm 1936-37, công nhân General Motors và các hãng xe hơi ở Mỹ hay dùng thủ đoạn chiếm đóng cơ xưởng, nhờ thế họ gây nên áp lực thành lập nghiệp đoàn công nhân xe hơi. Nhưng sau đó, người lao động Mỹ ít khi phải dùng đến lối tranh đấu này, vì hầu hết các tranh chấp có thể được đưa ra trước tòa án giải quyết.

Nhưng việc giết người xẩy ra ở tỉnh Cát Lâm, trong công ty Sắt Thép Thông Hóa là một biến cố đặc biệt khiến chúng ta phải tự hỏi tại sao xẩy ra tình trạng đó. Không thể nói là việc sát nhân xẩy ra vì người Trung Hoa khác với người Argentina hay người Pháp. Có thể nói ngược lại, người Á Châu thường tranh đấu hòa hoãn hơn dân La Tinh hay công nhân Mỹ.

Khi nhìn rõ vào vụ công nhân Thông Hóa giết người thì chúng ta thấy lý do chính là nạn tham nhũng đầy rẫy trong chương trình tư nhân hóa của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Khi bán tài sản quốc gia cho cho tư nhân, các cán bộ trung ương và địa phương đã chọn bán giá rẻ cho những người đã hối lộ cho họ. Thay vì công bố cho công chúng biết và tổ chức đấu giá khi bán, mọi việc thương lượng giá bán thường diễn ra trong phòng kín, giữa những quan chức ăn hối lộ và các chủ nhân mới. Các công nhân được chia phần trong việc tư nhân hóa cũng không có tiếng nói nào trong tất cả quá trình mua bán.

Ở Việt Nam thì sao? Thầy trò chắc cũng không khác nhau bao nhiêu.

Năm nay giá sắt thép đang lên, cho nên việc Kiến Long mua được Thông Hóa đúng lúc này hứa hẹn sẽ sinh lợi rất nhiều. Chưa hết, chính phủ Bắc Kinh đã thiết lập một chương trình kích thích kinh tế tốn 586 tỷ đô la Mỹ, mà một lãnh vực sẽ được phát rất nhiều tiền là xây dựng cơ sở hạ tầng. Với những món tiền khổng lồ cho việc xây dựng như thế, các công ty sắt thép chắc chắn sẽ kiếm lời to! Nhiều công ty quốc doanh nhận được tiền “kích thích” đã chẳng dùng vào việc nào mà lại đem mua nhà hoặc mua cổ phần trong thị trường chứng khoán! Việc phân phối những món tiền kích thích nằm trong tay chính quyền địa phương cả!

Công nhân Thông Hóa cũng nổi giận vì bất công xã hội. Giám Ðốc Trần Quốc Quân được trả lương 3 triệu “nguyên” (yuan) trong năm ngoái (tương đương với 450,000 đô la) trong lúc các công nhân sắt thép chỉ được trả 200 nguyên một tháng. Coi các quan chức tư lãnh nhiều lương như vậy thì đoán được công ty sẽ chia bao nhiêu cho các quan chức đảng và nhà nước Cộng Sản.

Nhưng nỗi giận dữ của giới lao động cũng không đến nỗi sinh ra bạo động và sát nhân nếu người dân có những cơ hội lên tiếng một cách công khai và hợp pháp. Không có báo chí tự do, không được phép hội họp tự do, tất cả mọi tiếng nói khác ý kiến với đảng Cộng Sản đều bị bịt lại. Ðặc biệt là giới lao động không được quyền lập nghiệp đoàn, chỉ có một tổng công đoàn của đảng Cộng Sản chiếm độc quyền. Ở Trung Quốc và ở Việt Nam, công nhân không có những cơ hội lên tiếng, mà toàn thể dân chúng cũng chịu cùng hoàn cảnh. Mỗi năm ở Trung Quốc có hàng trăm ngàn cuộc biểu tình phản đối nhà nước. Nếu có báo chí tự do thì đã không xẩy ra như vậy. Vì khi người dân được lên tiếng thì guồng máy chính quyền sẽ phải đáp ứng trước khi những bất mãn tích tụ biến thành cơn phẫn nộ.

Các đảng Cộng Sản vẫn tự xưng họ là đạo quân tiền phong của giới lao động. Từ khi Lenin cướp được chính quyền ở Nga, chính quyền nước Nga vẫn dùng chiêu bài “vô sản quốc tế” để huấn luyện các cán bộ tung ra khắp thế giới, phục vụ công việc bành trướng của Ðệ Tam Quốc Tế. Ðể thực hiện chính sách đó, Cộng Sản Ðệ Tam không những chủ trương tiêu diệt các đồng chí nào không hoàn toàn thần phục họ, mà còn phá các phong trào thành lập công đoàn. Ở Việt Nam, những chiến sĩ của giới lao động và chống Pháp như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm đã bị cán bộ Ðệ Tam giết vì họ đã hoạt động thành công hơn trong giới công nhân và thu hút được các nghiệp đoàn nhiều hơn nhóm Ðệ Tam.

Ngày nay chính giới công nhân là lực lượng sẽ bắt buộc các đảng Cộng Sản phải thay đổi. Cộng Sản không thể biến hình thành những nhà tư bản đỏ để bóc lột công nhân còn tàn nhẫn hơn những tay tư bản Âu Mỹ trong thế kỷ trước. Công nhân xe hơi ở Mỹ đã dành được quyền lập công đoàn từ 1930 nhưng công nhân ở Việt Nam hay Trung Quốc đến giờ vẫn không có quyền đó! Ai sẽ tranh đấu cho họ? Nếu không có cách nào khác thì sẽ sinh bạo động
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Từ vụ phóng viên Mỹ ở Bắc Hàn nghĩ về ngư dân Việt!
Vệ Ngu Quốc
Ngạc nhiên và thán phục

Cách đây vài ngày, ông Bill Clinton, cựu Tổng thống Mỹ đã đi thăm Bắc Hàn trong một chuyến đi bất ngờ, được giữ bí mật cho đến giờ chót. Chuyến đi này đã làm nhiều người ngạc nhiên lẫn thán phục!
Giới quan sát ngạc nhiên vì đùng một cái, Kim lãnh tụ kính yêu của người dân Bắc Hàn thay đổi quan điểm 180 độ!
Cách đây không lâu, chính quyền Bắc Hàn đã không ngần ngại cáo buộc hai nữ phóng viên người Mỹ (một người gốc Hoa và một người gốc Hàn) là xâm phạm lãnh thổ trái phép và có ý đồ do thám chống lại Đảng và Chính phủ Bắc Hàn! Tòa án của chính quyền Bắc Hàn đã xử hai nữ phóng viên này với mức án 12 năm tù lao động khổ sai. Nhưng bây giờ, Kim lãnh tụ kính yêu của người dân Bắc Hàn đã ra lệnh ân xá cho hai nữ phóng viên người Mỹ!
Giới quan sát ngạc nhiên vì không biết những thỏa thuận nào có thể làm cho Kim lãnh tụ đáng yêu thay đổi lập trường nhanh như thế? Người đoán già Kim lãnh tụ muốn chú Sam bố thí cho chút ít để cứu vãn cái khó khăn trong thời buổi “gạo châu củi quế” này! Vì chính phủ Bắc Hàn vừa đốt cả mấy trăm triệu đô la trong vụ thử tên lửa vô bổ trong tháng trước, do đó nền kinh tế Bắc Hàn rất đang là khó khăn! Kẻ thì đoán non rằng lãnh đạo Bắc Hàn muốn có thêm dịp tự quảng bá hình ảnh của mình để chuẩn bị chuyển giao quyền lực cho người con thứ ba và muốn thoát dần khỏi vòng tay của ông anh Trung Quốc. Thôi thì thiên hạ cứ tha hồ đoán mò và bình luận!
Bên cạnh những ngạc nhiên là sự thán phục!
Image
Hình 1: Kim lãnh tụ và ông Bill Clinton
Người ta thán phục ông Bill Clinton là dù ông đã mãn nhiệm nhưng ông vẫn quan tâm và có trách nhiệm đối với đất nước, đối với người dân của mình.

Trông người lại nghĩ đến ta!

Khi đọc bản tin ông Clinton đi Bắc Hàn để đem tự do cho hai nữ nhà báo, tôi thật là buồn! Tôi buồn vì chính quyền Việt Nam của chúng ta hiện nay không có lấy một người có tâm và có tầm được như ông!
Hai nữ phóng viên của Mỹ bị bắt trong vùng biên giới và như vậy họ có bị bỏ tù cũng là điều dể hiểu! Nhất là ở những xứ sở mà bất cứ điều gì cũng có thể trở thành “bí mật quốc gia”!
Trong khi đó ngư dân của chúng ta bị Trung Quốc bắt giữ trên lãnh hải của ta và đòi tiền chuộc – một hành động không khác gì bọn hải tặc Somali! Những ngư dân bị Trung Quốc bắt đến nay vẫn không có chút tin tức! Và gần đây, Trung Quốc lại bắt thêm một tàu cá Việt Nam đang chạy đi núp bão với 13 ngư dân trên tàu, trong khi theo công ước quốc tế và tính nhân đạo thì người ta sẵn sàng cho phép phi cơ bay vào không phận hay hạ cánh khẩn cấp, tàu thủy đi vào lãnh hải trong trường hợp khẩn cấp có thể gây nguy hiểm đến tính mạng con người.
Image
Hình 2: Ông Bill Clinton và Kim lãnh tụ
Nhưng lãnh đạo cao cấp của ta đã không dám lên tiếng chỉ trích chính quyền Trung Quốc về những hành vi vô lương tâm này. Các vị lãnh đạo cao cấp của ta (cũng như những vị về hưu) cũng không dám làm “thuyết khách” để cứu ngư dân ta về. Đáng buồn hơn là các lãnh đạo của ta còn mở miệng “hảo hảo” với chính quyền Trung Quốc!
Khi chính quyền Trung Quốc ra lệnh cấm đánh bắt cá ở biển Đông thì ông Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh hân hoan đón tiếp Lý Nguyên Triều, một nhân vật cao cấp của Đảng CS Trung Quốc! Không những chỉ tiếp đón hân hoan với nụ cười toe tét, ông Tổng Bí thư còn tuyên bố “tầm cao mới” trong quan hệ anh em hảo hữu Việt-Trung!
Khi chính quyền Trung Quốc bắt tàu cá ngư dân Quảng Ngãi và giam giữ 12 người để đòi tiền chuộc thì ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm cung nghinh đại giá của Tỉnh trưởng Hải Nam! Nơi có đại bản doanh cũng như ngân hàng của bọn hải tặc!
Bên cạnh đó, chính quyền chúng ta còn dâng lên cho người bạn láng giềng những củ “cà rốt” không hề nhỏ! Hàng hóa kém chất lượng của TQ được đẩy qua Việt Nam! Bauxite Tây Nguyên được dành cho họ đào xới! Công ăn việc làm của người Việt được dành cho người lao động phổ thông Trung Quốc sang bằng con đường visa du lịch! Công nhân Trung Quốc làm loạn thì Bộ 4T chỉ đạo các báo lề phải không nên đưa tin vì sợ ảnh hưởng đến tình “hảo hảo” hai nước!

VNQ
HO Mạng Bauxite Việt Nam biên tập
http://bauxitevietn am.info/c/ 5578.html
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Đất Nước Trọn Niềm Đau

Bài viết này dâng cho thánh lễ của Cha Augustino Phạm Sơn Hà OSB tổ chức để cầu nguyện cho tu sĩ, giáo dân giáo xứ Tam Tòa. Thánh lễ bắt đầu vào 9 giờ tối giờ Việt Nam ,ngày thứ bảy 15-8-2009 trên diễn đàn Paltak có tên ‘’ tiếng nói tự do của người dân Việt Nam’’

Năm 1954, hàng triệu người dân miền Bắc di cư vào Nam để chọn một mảnh đất sống mới. Thi Sĩ Trần Dần trong lúc đứng ở hàng ngũ những người cộng sản, ông không hiểu nổi vì sao những người miền Bắc, bỗng dưng thấy cách mạng về mà họ lại lũ lượt bỏ đi như vậy. Nào họ có biết cách mạng tốt đẹp hay xấu xí gì đâu? Toàn những lời hứa hẹn tốt đẹp mà họ vội vã không chịu tìm hiểu kỹ về cách mạng đã vội vã bỏ đi như tránh dịch khi cách mạng về tiếp quản thành phố.

Dẫu trách họ thật nhiều cho đúng tinh thần cách mạng là những người đi thiếu quả tim, khối óc. Nhưng dù sao với cái tâm của một con người, không cản được Trần Dần cũng mong họ đi trong sự an bình. Có lẽ đó là khiếm khuyết chứng tỏ ông không có lập trường vững vàng cách mạng khi thương những người đi.

Tôi cúi xuống – quỳ xin mưa bão
Chớ đổ thêm lên đầu họ
Khổ nhiều rồi

Người ta nói cuộc ra đi cay đắng ấy có nhiều lý do như vì tôn giáo, vì bị lôi kéo. Ít ai nói đến những người ra đi ấy gồm nhiều tri thức, nghệ sĩ. Họ nghĩ gì khi vội vã ra đi không để cách mạng có cơ hội ngỏ lời thanh minh. Bởi có lẽ là người nhạy cảm và tinh tế, họ đã thấy đâu đó dậy mùi của bạo quyền, của sự hung hăng thấp thoáng trong thơ văn của người cách mạng, như bài Tiến Quân Ca.

Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước,
Súng ngoài xa chen khúc quân hành ca.
Đường vinh quang xây xác quân thù

Một ngọn cờ quốc gia đáng lẽ phải mang dáng dấp của hòa bình, đoàn kết, thịnh vượng… đằng này trong quốc ca người ta gọi rõ nó là cờ máu, con đường vinh quang của quốc gia đó được xác định tiêu biểu là xây bằng xác của quân thù. Có lẽ chưa có đất nước nào mà quốc ca lại sặc mùi chiến tranh, giết chóc như quốc ca mà người cách mạng đã chọn.

Trong bài “Diệt Phát Xít” của Nguyễn Đình Thi sự thù hận đến mù quáng đã lên đến đỉnh điểm khi không những đòi giết phát xít mà còn giết cả những người liên quan đến phát xít.

Đã đến ngày trả mối thù chung
Diệt phát xít, giết bầy chó đê hèn của chúng.

Bầy chó đê hèn ở đây mà Nguyễn Đình Thi kêu gọi cách mạng giết là ai ?
Cho dù có là những người cam tâm làm cho Nhật, hay những người liên đới làm cho Nhật, hay phải làm vì lý do nào đó thì họ vẫn là người Việt Nam. Có nên khẳng định cần phải giết họ như giết những con chó, nên chăng khi chiến thắng xong rồi cần làm thế. Không có sự tha thứ, nhân ái nào của người cách mạng đang hăng say trong cơn men chiến thắng, chỉ thấy khao khát đòi hỏi được chém giết để thỏa cơn thèm máu… trong những ca từ.

Vốn dĩ hay chuyển tải những ý nghĩa nhân văn, cao thượng hướng con người tới những điều tốt đẹp như bác ái, yêu thương và trân trọng. Lắp đạn vào trong súng chưa đủ, những nhà thơ văn cách mạng còn mang giắt cả dao thù vào văn chương.

Đến người cầm bút còn say máu thế, nói gì là người cầm súng.

Những ca từ đến giờ nghe vẫn còn thấy rùng mình vì sợ hãi.

Đó cũng là một trong lý do hàng triệu người đã ra đi vào Nam.

Năm 1975 Bắc Việt đánh tan chính phủ miền Nam Việt Nam. Trong khí thế hừng hực hân hoan chiến thắng ấy. Một bài ca náo nức , phấn chấn ra đời có tên Đất Nước Trọn Niềm Vui. Niềm vui này có lẽ chỉ trọn vẹn cho những người chiến thắng, còn đất nước có trọn niềm vui hay không thì chúng ta cần nhìn vài hình ảnh, hàng triệu người vội vã bỏ đi trên những con thuyền mong manh. Từ khi lời ca ấy được lần đầu cất lên cho đến mười mấy năm sau nữa, nhưng con thuyền chở người Việt Nam mong manh lao ra biển cả, một ăn chín thua đánh cược sinh mạng để mong sao nhanh chóng rời khỏi một đất nước đang “trọn niềm vui”.

Hàng trăm, hàng chục ngàn trại tù nhân là lính VNCH cải tạo trong những trại tù hà khắc nhất thế giới bị đày đọa thể xác và tinh thần. Cũng chẳng may mắn hơn họ, những người lính chiến thắng lại đi vào cuộc chiến sa lầy ở Cam Pu Chia, ở biên giới phía Bắc cũng hàng trăm, hàng chục nghìn người lính ấy phải hy sinh hay lãnh thương tật.

Ngày hôm nay khi nóc nhà Việt Nam trên Tây Nguyên đang bị hàng nghìn người Trung Quốc ngự trị , đào bới những tài nguyên mà họ mua với giá rẻ mạt. Khi mà biển Đông trù phú hải sản đang bị hải quân Trung Quốc tuần tiễu với họng súng sẵn sàng nhả đạn và đã nhả đạn vào ngư dân Việt Nam. Khi mà bao danh lam, thắng cảnh rơi vào tay người Trung Quốc một cách êm ru.

Người Việt Nam hừng hực khí thế. Khí thế gì vậy ?

Khí thế ở Tam Tòa- Đồng Hới, người Việt Nam đang hừng hực lửa hận thù vác gậy gộc đi săn tìm nhau để đánh đập, để trút lòng căm hận được dấy lên từ những lời ca như thưở ban đầu cách mạng. Đó là những “quần chúng nhân dân tự phát do bức xúc” đang say trong cơn bạo lực đi truy sát những người Việt Nam khác. Khí thế sẵn sàng chiến đấu, dùi cui, bình hơi cay, đạn dược của những người lính để đối phó với kẻ thù là người dân Việt. Khí thế là những bài báo ngút ngàn lửa hận của truyền thông nhà nước đang nhất quyết đòi khơi dậy một cuộc tương tàn. Khí thế là bắt bớ, dọa dẫm, hành hạ những người dân đang cố gắng phản đối bạo quyền bằng những lời tâm huyết…

Tôi chỉ là một người dân thường Quảng Bình, nơi khởi đầu bước chân của nàng Công Chúa Huyền Trân mang tấm thân kiều diễm vào miền cát nắng, mong ước mang lại hòa bình cho đất nước như lời ca
Đi cho trăm họ được hòa bình ấm no, đèo núi cao đi tới kinh đô…

Xin hãy để những lời ca nhân ái vang lên ở quê hương tôi.

Xin đừng mang hận thù, gậy gộc, binh lính và súng đạn để dấy lên một cuộc tương tàn giữa những người dân Việt. Khi mà non sông gấm vóc, rừng vàng biển bạc đang bị kẻ thù truyền kiếp xâm lược, khi mà chúng đang bắn giết người Việt ngang nhiên ngoài khơi kia, đứng ở mảnh đất Tam Tòa này hướng ra phía biển là thấy rõ.

Đất nước này đang hứng trọn mọi niềm đau.

Đồng Hới những ngày đầy bạo lực
Người Đồng Mỹ
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

RƯỢU TA BÌNH TÂY
Nguyễn Hồng Dũng

Nhìn lại lịch sử Việt Nam suốt chiều dài mấy ngàn năm, chúng ta không khỏi tự hào đến các chiến tích lẫy lừng của các triều đại chống ngoại xâm, đặc biệt là Trần triều với ba lần chiến thắng Nguyên Mông. Để giải thích sự chiến thắng oanh liệt này, ngoài tài lãnh đạo mưu trí và anh minh của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và sự hợp nhất của toàn thể nhân dân quyết giành lấy sự tự chủ, độc lập, thì vấn đề văn hoá “dân tộc tính” vẫn được xem là điểm đặc thù quan trọng góp phần hình thành chiến thắng vang dội này.

Dân tộc tính đã bất biến khi quân Pháp vào Việt Nam gần thế kỷ, quân Tàu gần một kỷ nguyên hòng biến Việt Nam thành tiểu quốc thuộc địa; rốt cuộc họ đã thất bại trong kế hoạch xâm lược.

Ngược lại, Việt Nam có khả năng rút tỉa những tinh hoa văn hóa, văn học, nghệ thuật và cả nền kỹ nghệ công nghiệp, chữ viết cũng như văn phong thành một thứ gia tài riêng cho dân tộc Việt Nam. Chữ Nôm và chữ Quốc Ngữ là một điển hình cụ thể. Các học thuyết, chủ thuyết, triết học, tôn giáo nói chung trên toàn thế giới đã có dịp truyền thừa hay xâm nhập vào đất nước Việt Nam tưởng chừng như biến dạng để phù hợp với phong linh địa thủy. Văn hoá Việt nam đã từng lấy những tinh tuý của Phật, Lão và Khổng giáo để hình thành một chất liệu chung cho phẩm chất đạo hạnh của cả một dân tộc qua nhiều thế kỷ để phát triển và hướng thiện.

Quốc nạn một chín bảy lăm, người Việt bỏ nước ra đi với đôi bàn tay trắng để rồi hình thành những cộng đồng Việt rãi rác khắp quả địa cầu, đặc trưng văn hóa Việt trong những con người ly hương lại có cơ hội trỗi dậy mãnh liệt để cân bằng cuộc sống tâm linh chen lấn với những nền văn hóa đa quốc gia vây quanh khiến chúng ta có khuynh hướng tập trung xiển dương những tinh tuý hầu “mang chuông đi đánh xứ người” phải cho vang vọng đó đây. Văn hóa là chất keo nối kết nhiều thế hệ trong gia đình, tưởng chừng như không có nó, đời sống sao vô vị và nghèo nàn làm sao!.

Văn hóa thể hiện trong cung cách ăn mặc nghiêm trang, lời nói và cử chỉ lễ độ, đối xử và ứng phó có tôn ti, trật tự. Lễ hội gia đình có giao tình thắm thiết, tộc họ được nề nếp lưu phong, quan hôn tang tế được trân trọng đúng phép…tất cả là một kho tàng của cuộc sống cần đựơc khai thác, vì chính nó đã giúp nhiều tầng lớp thanh niên Việt Nam tại các xứ sở tiên tiến thành công trong mọi lãnh vực nhân văn, khoa học, chính trị, kinh tế kể cả tôn giáo.

Trong nghị trường dòng chính của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, tuổi trẻ Việt Nam đã chiếm nhiều địa vị quan trọng từ cấp bậc như cố vấn nguyên thủ quốc gia, Thứ trưởng, Giám đốc Nha, Cục Liên bang đến các dân cử Tiểu bang, địa phương hay các nhà khoa học, giáo sư đại học, công trình sư đến các doanh nhân Việt Nam, phần lớn đạt được địa vị quan trọng đó là nhờ kiến thức căn bản về học thuật nhưng đáng kể nhất bắt nguồn từ yếu tố cá nhân đã được hấp thụ và thừa hưởng nền văn hóa dân tộc trong tư cách, phong thái, ngôn từ và tự trọng. Những lớp người này đã vận dụng nét tinh hoa của văn hóa “hiệp chủng” phối hợp hài hòa với tinh tuý văn hóa dân tộc Việt Nam nên trong vườn thượng uyển, bông hoa Việt vẫn có chổ xứng đáng để tỏa hương sắc dịu dàng đầy quyến rũ.

Nhìn lại quê nhà, Cộng sản Việt Nam đã thất bại trong công cuộc xây dựng đất nước, phần lớn sự đổ vỡ và phá sản nội tại do từ những đập phá và tiêu diệt nền văn hóa ngàn đời của tổ tiên dân tộc. Đơn cử tại Quảng Ngãi, nơi có đình Văn Thánh và nhiều Văn Chỉ, Văn Từ để thờ phụng những bậc Tiên Hiền, những vị anh hùng có công đầu trong việc khai mở vùng đất mới khi thành lập tỉnh Quảng Ngãi đến ngày hôm nay, làm tấm gương cho thế hệ hậu duệ noi theo…vậy mà đành đoạn phá bỏ để biến thành "nghĩa trang liệt sĩ" xã ấp. Chúng ta nghiêng mình trước sự hy sinh tính mạng của tất cả những chiến sĩ, nhưng không vì thế mà bôi xóa một nơi thờ tự có tính cách giáo dục và truyền thừa văn hoá như các Văn Miếu, Văn Chỉ địa phương.

Xây dựng đất nước Việt Nam trên căn bản vật chất như đường sá, cầu cống, gia cư, phố thị là việc làm cơ giới hóa chớp nhoáng trong khoảng thời gian giới hạn hữu định và không khó lắm; tuy nhiên xây dựng con người có văn hóa trong giai đoạn hiện nay tại quê nhà, cho lớp trẻ có tấm lòng bao dung, độ lượng, lễ phép, thành thật, trung hiếu và biết sống cho tương lai của người khác là một việc thiên nan vạn giải. Không cần thiết đổ lỗi cho ai, bàn tay chúng ta quá ngắn không vươn tới tận sông Trà núi Ấn, chưa có dịp lượm một viên gạch kê lại cho ngay ngắn Văn Chỉ tôn miếu chư Tiên Hiền, Tổ Phụ; thì nơi đây, đất khách quê người, chúng ta có đủ đôi tay để lôi kéo lớp thanh niên đi đúng con đường mà quí bậc trưởng thượng đã đi, con đường có nghĩa tình sông nước quê hương, cuộc sống cuộn trong nền văn hoá dân tộc để rồi một ngày mai không xa, lớp trẻ đó có cơ hội phục hoạt những gì mà hoài bảo còn đang ươm mầm.

Văn hóa luôn là cái đẹp của cuộc sống thường nhật tiến dần đến văn minh cho cá nhân, xã hội và nhân loại, đem đến sự hòa ái, bình an và thịnh vượng. Dĩ nhiên nó không ngừng phát triển như cây tre, nhành trúc luôn hấp thụ đất nước, mặt trời, không khí để lưu thông và thăng hoa. Cốt lõi của văn hóa là tính nhân bản, là tính chất thiêng liêng chỉ có ở con người, vì vậy dù là sống bất cứ nơi đâu, một khi trong cốt lõi vẫn un đúc tính khí văn hóa Lạc Hồng thì thời gian và không gian chẳng tách khỏi lịch sử, và sự truyền thừa văn hóa là chất liệu luân lưu trong mạch sống của từng bụi tre, khóm trúc. Do đó, ý thức về nền văn hóa để thể nhập trong cuộc sống không chỉ là cái đẹp mà còn là nhu cầu thiết yếu căn bản trong cuộc đời hoàn thiện. Bảo tồn và phát huy văn hóa Việt tại Hải ngoại là nhiệm vụ cấp thiết của các bậc trưởng thượng và là một thử thách lớn đối với thế hệ chuyển tiếp, nhưng khi biết vận dụng văn hoá dân tộc trong cuộc sống đầy thách thức này thì chính là gấm thêm hoa, biến ước mơ tâm linh thành hành hoạt cụ thể dẫn đến sự thành công trong lãnh vực ý thức và nghiệp thức hiện thời.

Nguyễn Hồng Dũng
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

HỌ LÀ AI (?)

Sơn Tùng
Họ là những người đã ra khỏi Việt Nam, bằng cách này hay bằng cách khác, trước hay sau ngày 30.04.1975. Họ đang sống ở hải ngoại, hầu hết với danh nghĩa tỵ nạn cộng sản. Hầu hết, nếu không tất cả, là những người đã có đời sống tự do trên mảnh đất miền Nam trước khi Miền Bắc thắng cuộc phân tranh quốc cộng khiến họ phải bỏ lại tất cả để ra đi.

Tại sao phải ra đi ? Câu trả lời rất đơn giản. Họ đã tự trả lời khi bước chân xuống tàu ra khơi, chấp nhận mọi gian nguy, và sau khi sống sót đặt chân lên bờ đất tự do, nơi các trại tị nạn: họ không thể sống dưới chế độ cộng sản.

Với lý do ấy, họ được một quốc gia trong thế giới không cộng sản, hay “Thế giới Tự do”, nhận cho tái định cư, làm lại cuộc đời. Họ trở thành một phần tử trong cộng đồng người Việt tị nạn ở hải ngoại, dù họ đã nhập quốc tịch Mỹ, Pháp, Canada, hay một nước nào khác, trừ khi họ tự hội nhập hoàn toàn vào quê hương mới và cắt đứt mọi liên hệ với quê hương cũ.

Thế rồi bỗng dưng, vào một lúc nào đó, kẻ trước người sau, họ lên tiếng chỉ trích, khích bác cộng đồng, tách ra khỏi cộng đồng, đả kích những người còn giữ lập trường chống cộng, họ kết thân với những người đang phục vụ chế độ cộng sản ở trong nước.

Hiển nhiên, đây là một hành động nghịch lý mà những bộ óc lành mạnh không thể hiểu. Nhưng, dù sao họ cũng đang sống trong một xã hội tự do, họ có quyền chọn lựa, dù sự chọn lựa có nghịch lý đến đâu. Và sẽ không ai nói đến họ, vì họ chỉ là một số rất nhỏ bé trong các cộng đồng người Việt ở hải ngoại, nếu họ không tự nhận là những người sáng suốt, thức thời, tiến bộ, thậm chí còn nhân danh “đa số thầm lặng”, nhân danh chân lý để làm một đầu cầu cho cán bộ cộng sản xâm nhập, phá hoại cộng đồng.

Vì vậy, họ đã gặp phản ứng chính đáng từ những người không thay đổi lập trường chống cộng trong các cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Và họ đã lên tiếng kêu ca bị “mất tự do”! Nhưng, kêu ca với ai? Kêu ca với cán bộ cộng sản từ trong nước ra!

Có lẽ đây là chuyện khôi hài làm cho người nghiêm nghị nhất cũng khó nín cười, hay người trầm lặng nhất cũng không thể không lên tiếng.

Vì vậy, vừa mới đây, ông Công Tử Hà Đông (bút hiệu viết phiếm của Nhà văn Hoàng Hải Thủy), đã phải lên tiếng để nói về những người này.

Những người này đã thường “giao lưu một chiều” với cán bộ cộng sản ở trong nước nhưng không ai quan tâm vì đó là chuyện riêng của họ, nếu những lời nói quái gở của họ không được cán bộ cộng sản dùng để xuyên tạc sinh hoạt trong các cộng đồng người Việt hải ngoại – như bài viết của ông Tô Nhuận Vỹ phổ biến trên Net sau một chuyến Mỹ du được Công Tử Hà Đông trích đoạn như sau:

“Với nhiều văn nghệ sĩ hải ngoại thì cái mũ ‘cộng sản’ của cộng đồng luôn luôn chực chờ để chụp xuống đầu họ. Báo chí không ít lần đã phải kêu lên về cái thực trạng ‘mũ cối ở đây nhiều hơn ở cả Hà Nội’. Cho nên, các nhà văn luôn phải ‘biểu diễn lập trường’ (chữ của Nguyễn Mộng Giác). Trong nhiều dịp chuyện trò tâm sự, không ít anh em đồng nghiệp ở Mỹ trong khi cho rằng trong nước hoàn toàn chưa có tự do sáng tác với khá nhiều ví dụ thì đồng thời cũng khẳng định lúc này, tại đây, (Hoa Kỳ), cũng chưa có tự do sáng tác như mình ao ước, nên có lúc phải sống hai mặt. Hoàng Khởi Phong viết: Ở ngoại quốc này chúng ta làm chính trị dễ, yêu nước cũng dễ, làm văn chương cũng dễ, lấy nhau cũng dễ, bỏ nhau cũng dễ, làm thương mại cũng dễ, khai phá sản cũng dễ. Nói tóm lại, ở đây cái gì cũng dễ, chỉ trừ có một tấm lòng chân thật là hơi khó chút xíu.”

Và dưới đây là đoạn ông Tô Nhuận Vỹ thuật lại những cuộc tiếp xúc với các ông Nguyễn Bá Chung, Trương Vũ, Nguyễn Gia Kiểng, Lê Xuân Khoa:

Về Nguyễn Bá Chung: - “Chỉ vì mời hai học giả từ Hà Nội là Hoàng Ngọc Hiến và Nguyễn Huệ Chi qua tham gia nghiên cứu về văn học và văn hóa cộng đồng người Việt sau chiến tranh và do khởi phát từ một chi tiết trong phần đặt vấn đề của chương trình nghiên cứu của Nguyễn Bá Chung, trong đó có kể chuyện một cháu nhỏ khoe với ông nội lá cờ Việt Nam cháu tìm thấy trong sách nhà trường – cờ đỏ sao vàng thay vì cờ vàng ba sọc đỏ, chỉ bắt đầu từ như thế (một đoạn văn không do Nguyễn Bá Chung viết), mà một cuộc chống lại ồ ạt, ghê gớm bằng từ hàng trăm bài viết không thiếu lời lẽ nhục mạ, đe dọa, các cuộc mít tinh hội họp phản đối, các kiến nghị gay gắt, kiện cả ra tòa án mà khi tòa án bác bỏ thì vu luôn cho thẩm phán, luật sư thiên vị..., mà đánh tới tấp suốt hơn năm năm trời, với phạm vi trên toàn cõi có người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài rằng Trung tâm William Joiner, Kevin Bowen là tiếp tay cho cộng sản, rằng Nguyễn Bá Chung là cộng sản nằm vùng và phải trừng trị anh này. Ở một đất nước tự do mà hành sử như vậy thì hãi quá.”

Về Trương Vũ: - “Nhưng, trong không khí chống cộng cực đoan như thế, không phải không có những người dù không tán thành thể chế trong nước vẫn có cái nhìn trầm tĩnh như Trương Vũ, anh nói: ‘Vào lúc này mà nói chuyện chống cộng với ngôn ngữ, phương thức của ba mươi năm cũ chẳng khác gì chống những hồn ma trong một không gian hồi tưởng. Chẳng khác gì đi đi lại lại trên một lối mòn của tâm thức. Chống những hồn ma không được thì chống nhau. Ai không giống mình thì người đó là cộng sản, phản bội.’”

Về Nguyễn Gia Kiểng: - “Nguyễn Gia Kiểng cho rằng loại thái độ đó chỉ là để biểu lộ và trút bớt sự căm thù đang sôi sục trong lòng chứ không phải để giành thắng lợi. Cuộc đấu tranh vì vậy không khác gì một cuộc lên đồng, những người được ủng hộ nhất là những người tỏ ra táo bạo nhất, lên đồng hay nhất, gây được ấn tượng mạnh nhất.”

Về Lê Xuân Khoa: - “Ông cũng cho biết mình sắp có chuyến về Việt Nam trong những ngày tới. Ông nói: ‘Số cực đoan trong cộng đồng lẫn số bảo thủ quyết liệt trong nước chỉ là số ít mà thôi. Đa số, cho dù tạm thời thầm lặng, vẫn là những con người mong muốn thực sự hòa hợp, hòa giải để xây dựng đất nước dân chủ và giàu mạnh, dù đề xuất giải pháp còn khác nhau.’”

Công Tử Hà Đông đã trả lời những người này với một bài khá dài, và ông nói rằng những người này chưa được làm cộng sản, mà chỉ là một thứ tay sai của cộng sản.

Lê-nin, người thầy vĩ đại của dư đảng Cộng sản tại Việt Nam, có một định nghĩa thực tế về những người này: “Những tên ngốc hữu dụng.”

Ký giả Tú Rua Lê Triết gọi loại người này là những người “hơi hơi chống cộng” để so sánh với chuyện không hề có trong thế gian: “đàn bà hơi hơi mang bầu”.

Vậy thì thực sự, họ là ai?

Có lẽ nhiều người coi họ, và họ cũng tự cho, là những người trí thức, vì họ có bằng cấp đại học, có viết sách, viết báo, để không những nói lên quan điểm của mình, tự đề cao mình, mà còn lên giọng miệt thị người khác.

Nhưng, dường như từ lâu đã có sự lạm dụng danh nghĩa “trí thức” trong xã hội Việt Nam. Có bằng cấp cao chưa đủ để là người trí thức. Có sự hiểu biết chuyên môn về một ngành nghề nào đó không phải là trí thức. Có một số sinh hoạt liên quan đến trí óc cũng chưa phải là trí thức. Trí thức là người, ngoài sự Minh triết, cần có thêm Tâm, Trí, và Dũng.

Khi các chế độ cộng sản tại Liên bang Sô-viết và các nước Đông Âu đứng trước sự chống đối ngày một gia tăng từ bên trong, cũng đã có một số người tự nhận là tiến bộ, là thức thời, là ôn hòa, là thay mặt cho đa số thầm lặng, cho rằng các chế độ độc tài tàn bạo ấy có thể sửa đổi để mang một bộ mặt nhân bản và tồn tại, mà không cần xóa bỏ và cũng không thể xóa bỏ. Nhà văn Alexandr Solzhenitsyn đã dõng dạc nói: “Chủ nghĩa cộng sản không thể cải thiện, chỉ có chết.”

Những gì xảy ra sau đó tại Đông Âu và Liên Sô đã chứng minh nhận định của Solzhenitsyn. Nhà văn Nga ấy là một trí thức chính danh.

Dưới chế độ cộng sản tại Việt Nam ngày nay cũng đang có những trí thức chính danh như Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Khắc Toàn, Nguyễn Đan Quế, Đỗ Nam Hải, Lê Thị Công Nhân, Trần Khải Thanh Thủy, và nhiều người khác nữa.

Những người trí thức ấy có Tâm, có Trí, có Dũng và sẽ đẩy bánh xe lịch sử tiến tới, tới nơi mà các dân tộc Đông Âu đã tới từ hai mươi năm trước.

Những người cộng sản đang nắm quyền tại Việt Nam ngày nay cũng không khác những người cộng sản đã nắm quyền ba, bốn mươi năm trước, là những kẻ phản động trước trào lưu dân chủ trên thế giới. Những kẻ ấy, dù ngoan cố tới đâu, cũng không thể cứu được cái chế độ cổ quái đã đi đến chỗ tận cùng của mục nát.

Một nhóm nhỏ người Việt ở hải ngoại giao du với một người tên Tô Nhuận Vỹ nào đó để được nói đến tên và được khen là thức thời, là tiến bộ, là ôn hòa ... là loại người mà thời nhiễu nhương nào cũng có.

Đó chỉ là vài con rối lăng xăng trên cái sân khấu không có vai trò nào dành cho họ.

Họ không là gì cả.

Sơn Tùng[/b
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Xin Hảy Giữ Vững Niềm Tin

Xuân Khê
Cuộc chiến đấu của của chúng ta chống lại bạo quyền CSVN còn tồn tại bên quê nhà đã trải qua biết bao nhiêu gian nan và khó khăn phức tạp.

Trở lực chính trong mục tiêu chống Cộng để đưa tổ quốc thân yêu VN thoát khỏi bàn tay thống trị của tập đoàn CS; và sau này là họa mất nước từ móng vuốt của bè lũ CS Bắc kinh thì có những thế lực tay sai phò tá cho nguỵ quyền CS Ba đình.

Những thế lực phản bội này họ vì quyền lợi kinh tế cá nhân và gia đình nhắm mắt đi theo lời kêu gọi của đảng CSVN, bắt tay nắm chân hòng được đảng ban phát cho những ân huệ đặc biệt.

Tại hải ngoại những thế lực phản bội này nguy hiểm hơn bao giờ hết bởi vì chúng ở trong ngay hàng ngũ chúng ta, nắm được một số cộng đồng và biết rõ lai lịch thân thế từng cá nhân từng cộng đồng chống Cộng.

Tệ hại hơn nữa chúng sẵn sàng hiến kế dâng mưu sẵn sàng có những thủ đoạn "triệt tiêu" chúng ta cho kỳ được. Những thành phần tệ bạc này còn nguy hiểm hơn nữa vì chúng không những "đi hàng hai" mà trong thực tế chúng đang "ở hàng hai" có nghĩa là chúng có hai quốc tịch nên từ đó chúng có quyền lợi về tư pháp cũng như chính trị tại quốc gia chúng đang cư ngụ.

Thế lực nguỵ Hán Hà nội sẵn sàng thừa mứa tiền bạc cùng mọi phương tiện khác để cung cấp cho thành phần phản bội này hành động.

Quê hương VN càng ngày càng lún sâu vào "bãi lầy" của họa mất nước. Đồng bào VN chúng ta càng lúc càng bị vùi dập trong "cơn đói" của quốc nạn mất dân chủ tự do dưới bàn tay sắt của bẻ lũ bán nước CSVN. Đau lòng thay, càng ngày càng có nhiều thành phần từng mang danh nghĩa chống Cộng đã hèn nhác quỳ gối trước sức cám dổ của tiền tài danh lợi Đỏ. Chúng đi đi về vế VN làm lợi và củng cố cho chế độ phản dân hại nước. Chúng đã quỳ gối và chịu cúi đầu nhục nhả dưới ngọn cờ máu CSVN.

Trong lòng những hạng người phản bội này không còn là niềm đau quê hương, tự ái dân tộc. Họ sẵn sàng xưng tụng CS, nâng ly chúc mừng Đảng ngoảnh mặt làm lơ với bao triệu lời kêu gào thống thiết của đồng bào VN, nạn nhân của chế độ hà khắc CSVN hiện tại.

Nói sao hết những phẩn nộ của chúng ta đối với những con người phản bội.

Nhưng chúng đã lầm, vì những quyền lợi vật chất tầm thường đang làm mờ lý trí của chúng nên chúng không có khả năng nhận biết thời thế đang xoay vần. Sự chuyển biến lịch sử của VN tự khắc nó phải đến khi sức chịu đựng của toàn dân VN đã đến giới hạn cuối cùng. Cộng hưởng với đà chuyển biến quốc tế đang có chiều hướng đẩy lùi bước chân bành trướng Tàu cộng để chận đứng mưu đồ bành trướng quốc tế của Bắc kinh.

Hiện tại và sắp tới Hoa kỳ sẽ không thể để Tàu cộng múa gậy vườn hoang được. Khối EU cũng đang có những kế sách chung chận đà xâm lăng kinh tế của Tàu cộng. Nga và Ấn độ sẽ dần dà chận đứng sự bành trưóng của Tàu về hướng Tây. ASEAN –Hoa kỳ phải trở lại để chận đường tiến của Tàu cộng về hướng đông nam Á và cứu Biển Đông . Úc Châu cũng sẽ tham gia vào chiến lược chận đường tiến của Tàu cộng về hướng nam bán cầu.

Dã tâm của Tàu cộng là nuôi dưỡng, hậu thuẫn những tên độc tài, quân phiệt như Bắc hàn và Miến điện quá lộ liễu và trắng trợn cùng sự ngang ngược của Tàu ỷ mạnh hiếp yếu trên trường quốc tế như vụ Hoàng sa Trường sa, khống chế biển Đông cùng những sự kiện áp chế VN và giết người, bắt người đòi tiền chuộc, cùng các hành vi khủng bố khác trên Biển Đông làm thế giới hết sức bất bình.

Thế giới đã nhìn ra chiến lược “xâm lăng kinh tế” trên bình diện quốc tế và thế giới đang bước vào chuyện phòng thủ Bắc kinh. Nưóc Mỹ cũng đã thấm đòn về sự “lấn sân“ kinh tế của Tàu cộng vào thị trưòng nưóc Mỹ làm khốn đốn và mất quân bình cho họ; và nước Mỹ đã và đang hành động cùng những thay đổi chiến lược vừa kinh tế vừa quân sự vì đó là điều bắt buộc cho Mỹ đó là tại sao Mỹ phải lên tiếng mạnh tại WTO. Đặc biệt nhất Mỹ đang xúc tiến chiến lược lấy lại thế thượng phong tại Thái bình dưong cùng Đông nam Á. Và phải chăng hiện nay nươc cờ “Kissinger” non 40 năm trước đã “đáo hạn” và thế giới bưóc qua giai đoạn khác?

Nhưng VN sẽ nhờ vào chuyển biến mới mẻ sắp tới này trong đó có nội dung thế giới tự do không thể để khối ASEAN rơi vào tay Tàu Cộng. Bắc hàn cũng đang có dấu hiệu “trở cờ” với Bắc kinh vì không chịu sự áp chế của Hán triều mà hành động thả 2 ký giả Mỹ vừa qua làm Bắc kinh khó chịu. Hà nội phải năn nỉ với ông chủ Hán triều xin vơt vát chút nào uy tín vơi dân “đòi hỏi Bắc kinh phải trả vô điều kiện” ! Bắc kinh đợt này vừa thả 25 ngư phủ VN vì chúng biết "già néo đứt dây" với CSVN.

Nội tình CSVN đang có dấu hiệu rạn nứt lớn nhất là sau vụ Bauxit và tiếp đến là vụ án “tổng cục 2” lúc này. Phe Võ nguyên Giáp một thời theo đường lối của Mao nhờ thế nên biết rõ dã tâm của Tàu qua vụ Bauxit và “vụ án tổng cục 2“ là định nghĩa nôm na là một tập đoàn thối nát trong cung đình Hà nội, nó có tính mafia của cơ quan mật vụ CSVN, chúng đấu đá giết nhau thôi chứ không liên hệ đến lợi ích dân tộc VN chúng ta.

Bắc kinh mỗi khi "co vòi" thì đảng CSVN sẽ hết chỗ dựa. Chúng sẽ bị triệt tiêu bởi sự đối kháng toàn dân tộc Việt đang âm ỉ cháy mọi nẻo đường đất nước, tổng hợp với phong trào dân chủ và dân trí mở rộng qua quá trình mở rộng giao tiếp với thế giới bên ngoài nhất là sự thông tin mà người dân VN đã nhận được.

Sức mạnh Công an tay sai CSVN nó đàn áp dân Viêt chúng ta mỗi khi sau lưng chúng sẵn có một tập đoàn thối nát CSVN dùng tiền bạc lương bỗng yểm trơ. Tuy vậy chúng tự biết chúng phi nghĩa và thối nát. Sự mục ruỗng của chế độ nó đang đứng trên lớp sơn giả tạo bên ngoài nó sẽ sup bất cứ lúc nào. Bơi thế tuy đàn áp dân nhưng bọn Công an mật vụ này mắt chúng ngó láo liên, nếu chủ chúng chạy là chúng săn sàng vứt dùi cui roi điện chạy ngay.

Quân đội “nhân dân“ VN, tập thể này tự biết hai chữ “nhân dân“ không còn ý nghĩa nữa khi quê hương đất nước VN đang bị bức ép ký nhượng bởi Đảng Cộng. Dân VN bị Tàu cộng giết hại họ cũng bị khóa họng im re và nhất là họ biết họ đang cầm súng không phãi giữ nước an dân mà đê bảo vệ cho ngai vàng điện ngọc, gia tài của cải cho tập đoàn tham quan bạo chúa CSVN đứng đầu là 15 tên đầu đảng tại Chinh trị bộ Cung Ba đình, mấy chục tên trong uỷ viên trung ươg Đảng, mấy chục tên đầu tỉnh cùng hàng vạn tên cá bộ gộc đỏ hiên nay. Như thế, khi “công an nhân dân, quân đội nhân dân” tự trong lòng chúng biết là phi nghĩa rồi thì làm sao khi có đột biến chúng lại sẵn sàng hi sinh bảo vệ cho đảng chúng được ?

Mấy triệu đảng viên CSVN họ thừa biết cái thẻ đảng 'để giữ nồi cơm" gia đình họ thôi. Họ dư sưc hiểu tội lỗi và cái vỏ giả dối của đảng CSVN đang chờ ngày phán xét của dân tộc Việt.

Để giải nguy, vào tháng 11/09 tới CSVN sẽ triệu tập một “hội nghị Diên Hồng Đỏ” hòng tưởng thưởng và chiêu dụ thêm nữa những thành phần phản bội hải ngoại như vưà nói ở trên. Những con “thò lò” sẽ xuất đầu lộ diện trong cái thế “giương giuơng tự đắc“ rằng bọn chúng đang “thắng”. Những “trí giả yêu nước” hải ngoại cũng trong cơ hội này cũng xuất hiện “rầm rộ” chờ đảng CSVN ban “ơn mưa móc”. Chúng đâu biết rằng CSVN đang trên đà nguy khốn vì sự rệu rã ngay từ trong bộ máy cai trị cùng sự óan ghét căm hờn của dân tộc VN. Đây là cơ hội quý báu cho toàn dân VN nhận ra chân tướng của bè lũ độc hại ăn theo và tự nguyện làm tay sai cho CSVN.

Chúng ta hãy giữ vững niềm tin, trong tương lai mới VN dĩ nhiên không có chỗ đứng của lớp người phản bội mỗi khi mặt nạ của họ đã rơi rồi. Hồn thiêng sông núi Việt nam, chí hùng bất khuất VN sẽ sống lại trong khúc quanh lịch sử sắp tới đây. Tia sáng phục hưng đang ló dạng cuối đường hầm, nhưng dưới tình hình mới và vận hội mới bọn giá aó túi cơm, bè đảng phản bội không thể nào có chỗ đứng nào trong lòng dân Việt được.

Xuân Khê (15/8/09)
Print Comment Email
N.Q: Tam Tòa, Công Lý và Hòa
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Tôn giáo không tự do vì xã hội không tự do

Ngô Nhân Dụng
Tôn giáo chỉ tự do khi nào cả xã hội được sống tự do. Ðây là một sự thật mà người ta hay quên khi nói đến vấn đề tôn giáo trong các nước độc tài. Ở các nước còn sống dưới những đảng độc quyền, độc đoán, có những vụ xúc phạm tới quyền sinh hoạt tín ngưỡng của người dân; mà không nhất thiết vì những lãnh tụ độc tài muốn cấm cản một tôn giáo nào đó. Họ chỉ không cho phép người dân được hưởng những quyền tự do căn bản để sống xứng đáng làm người. Vì thế có những sinh hoạt tín ngưỡng bị cấm cản.

Khi chính quyền Miến Ðiện tấn công các ngôi chùa, bắt giữ chư tăng, các chính phủ Tây Phương lên tiếng phản đối đã nhấn mạnh đến tội xúc phạm quyền tự do tôn giáo. Nhưng sự thật là các tăng sĩ và Phật tử Miến Ðiện đã bị đàn áp vì họ tham gia vào một phong trào phản đối tăng thuế, đặc biệt là tăng thuế nhiên liệu. Ðó là một phong trào bộc phát trong dân chúng Miến Ðiện, dù có các nhà tu hành tham dự hay không. Các tăng sĩ và chùa chiền đã trở thành giới lãnh đạo và trung tâm hoạt động của phong trào này, vì dân Miến Ðiện tin tưởng nơi các tu sĩ và chùa chiền là nơi có thể tụ họp và trốn tránh. Khi chính quyền Miến Ðiện đã bắt giữ các tu sĩ lãnh đạo rồi, họ lại cho phép các nhà sư còn lại tiếp tục ở trong chùa, các Phật tử được tự do đi lễ. Những người Tây phương không thể kết tội nhóm quân phiệt Miến là xâm phạm tự do tôn giáo nữa. Nhưng tất cả mọi người dân Miến Ðiện vẫn sống trong chế độ độc tài tăm tối như cũ.

Một thí dụ hiển nhiên khác là chính sách cấm đoán và đàn áp của Ðảng Cộng Sản Việt Nam đối với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Họ giam lỏng Hoà Thượng Thích Quảng Ðộ trong Thanh Minh Thiền Viện cũng như nhiều vị lãnh đạo khác trong giáo hội, họ không được tới một tự viện nào khác để giảng Phật pháp. Họ không cho phép vị trụ trì nào được đề tên Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trên tên chùa, cấm các sinh hoạt từ thiện, giáo dục, văn hoá nhân danh giáo hội Thống Nhất.

Tương tự như trường hợp Giáo Hội Thống Nhất là Phật Giáo Hoà Hảo. Từ khi cộng sản chiếm được miền Nam Việt Nam, họ đã cấm không cho các tín đồ Hoà Hảo được sinh hoạt tập thể ngoài phạm vi mà nhà nước cho phép, các cơ sở truyền thống của giáo hội Phật Giáo Hoà Hảo đã bị chiếm cứ, các tổ chức bị quốc doanh hoá, và các nhà lãnh đạo bị bắt giam hoặc bị tàn sát.

Tất cả những hành động đàn áp và cấm đoán trên vi phạm các quyền tự do đi lại, tự do cư trú, tự do hội họp và lập hội. Khi chính phủ Georges W. Bush bỏ chính quyền cộng sản Việt Nam ra khỏi danh sách những nước phải chú ý đặc biệt vì xâm phạm tự do tín ngưỡng, họ quên rằng con người không thể có tín ngưỡng tự do nếu không được tự do đi lại, tự do cư trú, tự do hội họp và lập hội.

Một điều trong đạo luật về tôn giáo ở Việt Nam cấm không cho sinh hoạt tôn giáo tại tư gia đã xâm phạm quyền tự do hội họp, và đó là một điều luật cấm tôn giáo hoạt động một cách trắng trợn không chối cãi được. Vì một một vị tăng hay ni đến nhà cầu siêu cho một đám tang có thể bị coi là sinh hoạt tôn giáo trong tư gia. Một cố vấn gia đình mục vụ tiếp những cặp vợ chồng sắp cưới để cùng cầu nguyện với nhau cũng có thể bị ghép vào tội đó. Không có luật nào cấm các đảng viên cộng sản họp chi bộ ở nhà riêng, nhưng nếu một vị mục sư đến nhà nào giảng Kinh Thánh thì có thể bị cấm nếu công an khu vực không được hối lộ.

Những hành động xâm phạm tự do tôn giáo ở Việt Nam gần đây phần lớn đều bắt nguồn từ những điều cấm đoán ngoài phạm vi tôn giáo. Sở dĩ các giáo dân Vinh bị công an tấn công là vì họ muốn sử dụng khu đất của giáo phận mà bị cấm cản. Lần đầu tiên Linh Mục Nguyễn Văn Lý vị chính quyền tấn công cũng vì cộng sản muốn chiếm đất của địa phận giáo xứ. Khi Linh Mục Lý phản đối, công an bắt đầu cấm đoán và ngăn cản các giáo dân không được tới nhà thờ. Những người lên tiếng bênh vực giáo dân cũng bị ghép vào tội chống nhà nước cộng sản.

Chính vì thấy tôn giáo không thể có tự do nếu xã hội không được tự do, cho nên Linh Mục Nguyễn Văn Lý và các nhà trí thức dân chủ đã cùng nhau lập Khối 8406 để tranh đấu cho tất cả mọi người dân Việt Nam được hưởng những quyền tự do tối thiểu, không phân biệt người theo đạo nào hoặc có tín ngưỡng hay không. Tôn giáo sống trong xã hội loài người. Khi con người không được sống tự do thì mọi tôn giáo đều có thể bị xúc phạm bất cứ lúc nào; giống như có những dây thòng lọng buộc sẵn quanh cổ.

Ðiển hình nhất là vụ gần 400 tăng ni đang bị đàn áp tại tu viện Bát Nhã, tỉnh Lâm Ðồng. Theo tin AFP đăng trên báo Người Việt ngày hôm qua, phát ngôn viên chính quyền cộng sản mới xác định rằng ngày 2 Tháng Chín này các tu sĩ trẻ tuổi này sẽ bị trục xuất khỏi tu viện. Lý do ông ta nêu ra là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam tỉnh Lâm Ðồng đuổi họ vì những buổi giảng Phật pháp của họ không được giáo hội đó cho phép; do đó bị coi là bất hợp pháp. Như vậy có phải là chính quyền cộng sản đã vi phạm tự do tín ngưỡng hay không? Hiển nhiên là họ đã trà đạp trên quyền tự do sinh hoạt tôn giáo, vì họ đang sử dụng những điều cấm đoán khác mà luật pháp các nước cộng sản luôn luôn áp dụng.

Từ khi có những tăng ni tu tập theo Pháp môn Làng Mai, mỗi tháng họ đã thu hút hàng ngàn Phật tử từ khắp các tỉnh về tu học những cuối tuần, sống trong chánh niệm, hành trì giới luật. Ðó là truyền thống Thọ Bát Quan Trai trong Phật Giáo, Nam tông cũng như Bắc tông đều theo. Bây giờ, chính quyền Cộng Sản Việt Nam tuyên bố đó là những hoạt động bất hợp pháp, chẳng khác nào họ nói giáo lý của Ðức Phật là bất hợp pháp! Mai mốt các vị tăng ni trở về quê quán tiếp tục hành trì phép tu theo Phật của mình thì có bị coi là bất hợp pháp nữa hay không?

Trong lịch sử nước ta, truyền thống Phật Giáo vẫn công nhận có hàng muôn ngàn phương pháp tu tập - 84,000 pháp môn là một con số làm thí dụ. Ngay dưới triều nhà Nguyễn, khi sắc phong chức tăng thống thì vị tăng thống cũng chỉ là một người được coi là đạo cao đức trọng để làm gương cho cả nước chứ không phải là người cai quản và quyết định mọi hoạt động Phật giáo trong nước. Mọi người đều có quyền cạo đầu đi tu, chọn nơi dựng thảo am hành trị đạo Phật, nhận các đệ tử xuất gia hoặc tại gia.

Từ hai thế kỷ trước, tại Việt Nam đã nổi lên những nhà tu độc lập nổi tiếng như Ðức Phật Thầy Tây An. Một người đạo hạnh được nhân dân suy tôn vừa là Thầy, vừa là Phật, mà không cần có giấy phép của một chính quyền nào hay một giáo hội nào. Chính trong truyền thống đó chúng ta có những ông sư Vãi Bán Khoai, và sang thế kỷ 20 có Ðức Thầy Huỳnh Giáo Chủ. Trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam đã có những vị tu sĩ độc lập như vậy, cho nên chúng ta có ông Ðạo Dừa được bao nhiêu người ngưỡng mộ và giúp cho bao nhiêu người hướng về điều thiện. Ông Ðạo Dừa phản đối chiến tranh, kêu gọi hoà bình, nhưng không một chính phủ nào ở miền Nam khép ông vào tội chủ hòa làm ngã lòng binh sĩ để gây phiền phức cho ông; mỗi ngày vẫn có những người đến chiêm bái ông trên chiếc thuyền đậu ở Cồn Phụng mà khong ai bị công an theo dõi.

Truyền thống tự do đó đã bị dập tắt dưới chế độ Cộng Sản. Ðảng Cộng Sản không cần làm một điều luật nào cấm tôn giáo. Họ chỉ cần thi hành những điều cấm đoán đối với các quyền tự do căn bản của con người là đủ xúc phạm tất cả các tôn giáo, bất cứ luc nào họ muốn. Trước đây các vị tu sĩ trẻ này được yên tâm tu học, nay chỉ vì ông thầy họ chống Trung Cộng chiếm đóng Tây Tạng nên họ bị đuổi!

Hành động trục xuất các tăng ni trẻ ra khỏi Tu Viện Bát Nhã sẽ khiến tất cả mọi người Việt Nam khác ý thức được rằng khi một người dân bị tước bỏ những quyền tự do đi lại, tự do cư trú, tự do hội họp và lập hội thì mọi người đều có thể bị đàn áp bất cứ lúc nào. Bốn trăm vị tăng ni trẻ tuổi này đã chứng tỏ đạo hạnh nghiêm trang trong suốt thời gian qua, họ được mọi người dân trong vùng kính trọng, kể cả nhiều tăng ni trong giới lãnh đạo hội Phật Giáo được nhà nước kiểm soát. Chính các vị tăng ni này sẽ nhìn ra rằng khi cái thòng lọng xiết lại trên cổ 400 tu sĩ trẻ tuổi ở Bát Nhã thì chính họ, những người vẫn tuân phục đảng và nhà nước Cộng Sản, chính họ cũng đang bị buộc những thòng lọng giống như vậy. Ngày xưa thân phụ cố văn sĩ Phùng Gia Lộc hỏi con: Bọn nhà văn chúng mày là giống gì mà lúc người ta cởi trói, lúc người ta trói lại vậy? Bây giờ sẽ có người hỏi các vị tăng ni trong giáo hội nhà nước như vậy!

Nhìn tấm gương Bát Nhã, tất cả mọi người dân Việt Nam, nhất là giới trí thức trẻ, cũng phải thấy họ đang bị những sợ dây thòng lọng tròng vào cổ. Ðó là một nỗi nhục mà người dân Việt phải chịu đựng từ bao nhiêu năm nay. Bây giờ, các tu sĩ ở Bát Nhã sẽ là minh chứng cho ai cũng ý thức được mối nhục đó. Mọi người Việt Nam sẽ hiểu ra rằng vấn đề ở tu viện Bát Nhã không phải là vấn đề tôn giáo mà là vấn đề tự do. Mà đó là những quyền tự do tối thiểu của công dân những nước độc lập. Tại sao các tu sĩ ở tu viện Bát Nhã bị đuổi đi vì không có hộ khẩu, còn những công nhân Trung Quốc đang sang Việt Nam làm việc, những thương gia Trung Quốc đang xâm nhập qua biên giới, không ai bị xét hộ khẩu bao giờ cả? Khi nào toàn thể mọi người Việt Nam ý thức được những nỗi nhục này, đó là do vụ đàn áp ở tu viện Bát Nhã.

Nếu khôn ngoan, đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ không đàn áp quá đáng nữa. Vì 400 vị tăng ni này khi bị đuổi về quê quán là 400 vị sứ giả của lối sống Phật Giáo có thể giúp bao nhiêu người bớt khổ đau, nhưng họ cũng là những nạn nhân biểu tựơng của một chế độ khống chế mọi quyền tự do căn bản mà mọi công dân Việt Nam có quyền nhưng không được hưởng! Khi mọi người dân đã nhìn thấy như vậy thì đất nước sẽ thay đổi!
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Giới thiệu sách “ Giving “ của Bill Clinton

Image
Bìa “Giving” của Cựu Tổng Thống Bill Clinton.

Ðoàn Thanh Liêm
Từ đầu năm 2001, sau khi bàn giao chức vụ tổng thống với người kế nhiệm là George W Bush, Tổng Thống Bill Clinton đã về nghỉ hưu. Nhưng lúc đó thì ông mới có 55 tuổi, còn quá trẻ để mà “rửa tay gác kiếm, vui thú điền viên”. Và quả đúng như vậy, Bill Clinton đã theo gương bậc đàn anh của mình là Jimmy Carter vốn nổi danh là vị cựu tổng thống được cả thế giới mến phục vì những hoạt động xây dựng hòa bình, hòa giải tranh chấp tại nhiều nơi, cũng như là công tác nhân đạo từ thiện. Bill đã được mời đi diễn thuyết khắp nơi, đã hoàn thành được hai cuốn sách đều được xếp vào loại bestsellers, và nhất là đã thiết lập được một cơ sở từ thiện nhân đạo lấy tên là “Clinton Foundation” chuyên chú vào việc cứu giúp hàng triệu người bị bệnh HIV/AIDS ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở Phi Châu. Ðó là chưa kể việc ông tích cực tham gia vào công trình cứu trợ và tái thiết tại các vùng bị tàn phá bởi nạn sóng thần tsunami ở Á Châu cuối năm 2004 và nạn bão lụt Katrina ở Louisiana năm 2005.

Bài viết này là nhằm giới thiệu cuốn sách mới nhất của Bill Clinton, được xuất bản năm 2007. Cũng như cuốn hồi ký xuất bản năm 2004, cuốn sách mới này có nhan đề chỉ có một chữ “Giving” (tạm dịch là “Cho Ði”) hiện bán rất chạy, mà đặc biệt lại có ấn bản in bằng chữ lớn (large print) và cả băng ghi âm cassettes nữa. Bản chữ lớn này gồm 400 trang được dùng như tài liệu tham khảo cho bài giới thiệu này. Nhan đề chi tiết cuốn sách như sau

Giving

How Each of Us Can Change The World

(Làm sao mỗi người chúng ta đều có thể thay đổi thế giới)

Nhà Xuất Bản : Random House (2007)

Với giọng văn sáng sủa khúc chiết quen thuộc, tác giả Bill Clinton đã cung cấp cho người đọc cơ man là thông tin về các hoạt động nhân đạo từ thiện mà loại độc giả bình thường như chúng ta khó mà biết cho thấu đáo cặn kẽ được. Sách được chia thành 13 chương, kèm theo phần ghi chú về địa chỉ websites các tổ chức được ghi trong các chương của sách và tài liệu tham khảo cùng với một bản chỉ dẫn (index). Có thể nói đây là cuốn sách được cập nhật hóa nhất về các hoạt động nhân đạo từ thiện trên thế giới vào đầu thế kỷ XXI. Tác giả lại khôn khéo trình bày gọn gàng, xếp loại các chi tiết minh họa cụ thể theo từng chương một, giúp cho người đọc tìm thấy sự hứng thú bổ ích, mà lại có sức thuyết phục hấp dẫn rất cao.

Trước khi giới thiệu chi tiết về mấy chương đáng chú ý hơn cả, người viết xin tóm lược cuốn sách theo mấy ý chính như sau :

1/ Cuốn sách này chính là một lời kêu gọi tham gia vào hành động từ thiện nhân đạo cụ thể và thiết thực để góp phần vào công cuộc thay đổi thế giới.

2/ Tác giả trình bày những cố gắng sáng tạo phi thường của các công ty và tổ chức và của các cá nhân, nhằm giải quyết vấn đề và cứu mạng sống con người ngay tại địa phương cơ sở hay trên thế giới.

3/ Tiếp theo tác giả thúc giục chúng ta mỗi người phải tìm cách giúp đỡ, cung cấp cơ hội cho người khác thực hiện được niềm mơ ước của mình, mà “bất kể bạn có bao nhiêu lợi tức, bao nhiêu thời gian rảnh rỗi, bất kể tuổi tác hay kỹ năng chuyên môn riêng của mình.”

4/ Bill Clinton chia sẻ kinh nghiệm của bản thân mình, cũng như của một số người hảo tâm khác. Ðó là cả một trào lưu khắp thế giới về hoạt động bất vụ lợi và nằm ngoài lãnh vực của nhà nước.

5/ Tác giả kết luận với niềm xác tín rằng, “Mọi người chúng ta đều có khả năng làm được các việc lớn. Câu chuyện về các nhân vật và việc làm của họ như được ghi lại trong cuốn sách này sẽ nâng cao tinh thần, đánh động con tim và chứng minh rõ ràng sự hoạt động năng nổ phục vụ của người công dân có thể là một tác nhân mãnh liệt để làm thay đổi thế giới.”

Những chuyện điển hình về hoạt động nhân đạo được nêu ra đều chứng tỏ rằng sự đóng góp về thời gian, về kỹ năng, vật dụng và về sáng kiến cũng đều quan trọng và có hiệu quả như là sự đóng góp về tiền bạc. Từ Bill và Melinda Gates (với ngân quỹ khổng lồ hàng mấy chục tỷ Mỹ kim) tới em bé 6 tuổi ở California có tên là Mckenzie Steiner (với sáng kiến tổ chức những buổi dọn sạch rác rưởi ngoài bãi biển), tác giả đã giới thiệu cho ta những anh hùng nổi danh cũng như vô danh trong các hành động hiến tặng cho xã hội. Ðiển hình như các nhân vật sau đây:

*Bác sĩ Paul Farmer là người lớn lên trong một gia đình sinh sống trên một xe bus tọa lạc trong khu đậu xe trailer, thì đã nguyện dành hết cuộc đời vào việc tạo ra dịch vụ y tế cao cấp riêng cho người nghèo và đã xây dựng được một số phòng khám y khoa công cộng đầu tiên tại Haiti, rồi đến Rwanda.

*Bà Oseola McCarty làm việc suốt 75 năm đi giặt ủi thuê, đã hiến tặng cho đại học miền Nam Mississippi toàn bộ số tiền dành dụm được là 150,000 Mỹ kim để làm quỹ học bổng cho các sinh viên người Mỹ gốc Phi Châu.

*Nhà vô địch quần vợt Andre Agassi đã thiết lập một trường dạy riêng cho các sinh viên ở khu phố có trẻ em bụi đời (at-risk kids) đông nhất tại Las Vegas, giúp các em có thể thi đậu vào đại học được. Agassi nói, “Tennis là cơ hội tiến thân cho tôi. Việc làm để thay đổi cuộc đời của một đứa nhỏ, đó là điều tôi vẫn mong muốn mình có thể thực hiện được.”

*Một cặp vợ chồng ở New York đi du lịch ở Phi Châu, thì khám phá ra là các trường học ở Zimbabwe không có sách học và dụng cụ học sinh. Nên đã đứng ra tổ chức việc quyên góp và gửi tặng dụng cụ, sách học cho 35 trường học ở đấy. Kết quả là sau 3 năm, số học sinh lớp 7 mà qua được cuộc khảo sát về khả năng đọc chữ đã tăng từ 5% lên đến 60%.

Ðến đây, người viết xin giới thiệu với bạn đọc vài chương điển hình trong cuốn sách:


Chương 1- Sự bùng nổ của phong trào Tư Nhân Làm Việc Công Ích

(The Explosion of Private Citizens Doing Public Good)


Kể từ năm 2002, Clinton Foundation đã khởi sự chương trình cứu giúp nạn nhân bệnh liệt kháng được gọi là CHAI (Clinton HIV/AIDS Initiatice). Ðến nay chương trình đã hoạt động trong 25 quốc gia và có đến 44 nước khác được mua thuốc chữa trị với giá hạ. Vào giữa năm 2007, thì có đến 750,000 người được chữa trị qua sụ sắp xếp với CHAI.

*Năm 2005, tạp chí Time đã bầu chọn Bill và Melinda Gates cùng với ca sĩ Bono là “Nhân vật trong Năm” (Persons of the Year). Cả ba người này đều không phải là viên chức nhà nước, nhưng họ đã tham gia rất đắc lực vào việc công ích. Ca sĩ Bono được cả thế giới mến mộ vì đã không ngừng tranh đấu cho việc “Xóa nợ của các nước nghèo”.

*Vào năm 2006, giải thưởng Nobel Hòa Bình được trao tặng cho Giáo Sư Muhammad Yunus ở Bangladesh là người đã sáng lập ra Grameen Bank nhằm cung cấp tín dụng nhỏ cho người nghèo, trong đó 97% người thụ hưởng là phụ nữ.

*Trước đó, thì giải Nobel 2004 lại được trao cho bà Wangari Maathai ở Kenya vì đã có công phát động việc trồng cây giữ đất suốt 30 năm tại xứ này.

*Về con số các tổ chức phi chánh phủ (NGO =Non-Governmental Organisations), tác giả ghi rõ, “Vào năm 1993, lúc tôi còn làm tổng thống, thì tại nước Nga hầu như không có một NGO nào. Thế mà hiện nay, mặc dầu bị Tổng Thống Putin hạn chế, thì đã có đến 400,000 NGO tại nước Nga. Ở Trung Quốc, thì có đến 280,000 NGO. Ở Ấn Ðộ, hiện có đến trên 500,000 NGO. Và ở Mỹ, thì có đến trên 1000,000 NGO. Các NGO tại Mỹ hiện sử dụng trên 10 triệu nhân viên, tức là vào khoảng 7% lực lượng lao động toàn quốc.

*Về các websites, thì năm 1993 chỉ có chừng 50. Mà nay thì đã có đến hàng mấy trăm triệu websites trên cùng khắp thế giới.

*Ðặc biệt vào Tháng Chín năm 2005, nhằm hưởng ứng lời kêu gọi của Liên Hiệp Quốc, Bill Clinton có sáng kiến tổ chức một cuộc “Gặp Gỡ Toàn Cầu” lần đầu tiên lấy tên là “Clinton Global Initiative”, quy tụ được hàng mấy trăm các nhà lãnh đạo chánh quyền, nhà từ thiện, lãnh đạo doanh nghiệp và các nhà hoạt động NGO từ khắp thế giới, để cùng thảo luận về 4 đề tài có tầm vóc toàn cầu sau đây:

a/ Chống lại sự hâm nóng khí hậu.

b/ Giảm nạn nghèo đói cùng cực.

c/ Cải thiện công quyền tại các nước nghèo.

d/ Tăng cường sự hòa giải về tôn giáo, chủng tộc. Kết cục là năm đó đã có đến 2.5 tỷ được cam kết cho các dự án cụ thể. Và sau đấy, trong dịp gặp gỡ năm 2006, thì số tiền cam kết này đã lên tới trên 7 tỷ Mỹ kim.


Chương 12 - Thế thì chánh quyền làm sao?

(What About Government?)


Là người đã từng làm thống đốc tiểu bang Arkansas, rồi làm đến tổng thống của một siêu cường như nước Mỹ, nên Bill Clinton hiểu biết hơn ai hết về vai trò của chánh quyền. Ngày nay, trở về cương vị của một người công dân mà hoạt động tích cực trong khu vực xã hội dân sự, ông có lập trường rất quân bình, phải chăng (balanced position) về mối quan hệ giữa chánh quyền với các tổ chức bất vụ lợi, phi chánh phủ. Tác giả tỏ ra lạc quan về khả năng người dân có thể đòi hỏi nhà nước phải có những chương trình chánh sách thích hợp với nguyện vọng chính đáng của đa số quần chúng nhân dân. Vì các định chế chính trị xã hội tại Mỹ đã ăn rễ lâu đời trong lề lối điều hành của quốc gia, mà điển hình là cơ quan Lập Pháp, giới truyền thông báo chí, giới lãnh đạo nghiệp đoàn, giới hàn lâm đại học, cũng như giới lãnh đạo tôn giáo, tất cả đều hợp tác chặt chẽ với nhau trong sứ mệnh phục vụ quần chúng tại nhiều cấp địa phương và nhiều tầng lớp xã hội khác nhau.

Cụ thể, ông đưa ra quan điểm như sau: Nước Mỹ hiện phải đối phó với 5 sự thử thách lớn, khiến đòi hỏi chánh quyền phải đáp ứng mạnh dạn, kịp thời, đó là:

1/ Làm sao hợp tác với các nước khác để đối phó hữu hiệu với nạn khủng bố, nạn phổ biến loại vũ khí giết người hàng loạt.

2/ Làm sao lấy lại vị thế lãnh đạo trong công cuộc hạn chế tai họa “hâm nóng toàn cầu.”

3/ Làm sao tăng gia cơ hội về kinh tế và giảm bớt sự chênh lệch về lợi tức ngay tại quốc nội.

4/ Làm sao cải tổ bảo hiểm y tế để mọi người dân đều được hưởng thụ dịch vụ y tế căn bản này.

5/ Làm sao tạo được nguồn “năng lượng sạch” và độc lập khiến cho bảo đảm được an ninh quốc gia.

Tiếp theo, tác giả còn kê ra rất nhiều hành động có tầm vóc quan trọng lớn lao, mà xã hội dân sự đã và đang thúc đẩy nhà nước phải thực hiện trên bình diện quốc gia cũng như trên toàn cầu, nhất là trong sự hợp tác với các chương trình của Liên Hiệp Quốc. Các dẫn chứng đều dựa trên tài liệu rất khả tín, mà chỉ với cương vị của một nhân vật tầm cỡ lớn như Bill Clinton thì mới có thể nắm bắt đầy đủ và chính xác được.

Ngoài ra, tại các chương khác, tác giả cũng đã trình bày rất mạch lạc về nhiều khía cạnh của hoạt động nhân đạo từ thiện tại Mỹ cũng như trên khắp thế giới. Nói chung, thì các số liệu thống kê, cũng như câu chuyện được tường thuật để minh họa cho quan điểm của tác giả trong mỗi chương này đều ăn khớp với thực tế, mà người đọc nào cũng có thể kiểm chứng được.

Bài viết này đến đây đã khá dài rồi, mà lại được chuẩn bị đúng vào lúc Bill Clinton đang là một ngôi sao sáng trên công luận, trên các phương tiện truyền thông và thời sự thế giới sau việc thương lượng thành công với Bắc Triều Tiên để giải thoát cho hai nhà báo Mỹ bị bắt giữ tại Bình Nhưỡng từ đầu năm 2009. Nhưng người viết chỉ xin giới hạn việc giới thiệu cuốn sách rất có giá trị này của một vị cựu tổng thống đang dấn thân vào công tác nhân đạo thiện nguyện có ảnh hưởng toàn cầu, và được sự tiếp tay yểm trợ của số đông nhân vật có tên tuổi khắp thế giới, cả trong giới lãnh đạo chính trị, kinh tế tài chánh, cũng như giới trí thức hàn lâm và lãnh đạo tôn giáo, và đặc biệt là cả giới trẻ.

Như đã nói ở trên, cuốn sách “Giving” của Bill Clinton đã cung cấp cho người đọc những thông tin thật chính xác, bổ ích và có tác dụng thôi thúc mọi người, nhất là giới trẻ ở khắp nơi cùng nhau góp phần vào công cuộc xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn, an hòa hơn, nhân ái hơn. Ðiều này mỗi người chúng ta đều có thể làm được trong khả năng riêng biệt của mỗi cá nhân mình. Cuốn sách quả có tác dụng thuyết phục sâu sắc và rõ rệt là có tính cách “nâng cao tâm hồn” (uplifting) chúng ta vậy. Người viết xin một lần nữa trân trọng giới thiệu cuốn sách rất hấp dẫn này với bạn đọc người Việt ở trong cũng như ở ngoài nước. Ðọc xong cuốn sách này, tôi có thêm được niềm lạc quan về tương lai của nhân loại, bởi vì vẫn còn rất nhiều con người giàu lòng trắc ẩn trước những khổ đau của đồng loại, và tìm mọi cách để làm giảm bớt những nỗi bất hạnh cơ cực đó. Và tôi rất tâm đắc với lời ca của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng trong bài hát nổi danh: “Có tin vui giữa giờ tuyệt vọng” xin được ghi lại như sau:

“Siết tay nhau, cúi đầu gạt lệ

Tạ ơn Trên: Người vẫn thương người”

Từ mấy năm gần đây, riêng tại nước Mỹ đã có Tổng Thống Jimmy Carter, rồi đến Phó Tổng Thống Al Gore đều đã được trao tặng giải thưởng Nobel Hòa Bình. Nay, với sự nghiệp hy sinh phục vụ nhân quần lừng lẫy như vậy, thiết nghĩ Bill Clinton cũng sẽ rất có khả năng được trao tặng giải thưởng cao quý đó nữa. Ðây không phải chỉ là vinh dự cho cá nhân vị cựu tổng thống Mỹ, mà còn là vinh dự cho tập thể cả hằng bao nhiêu triệu các thiện nguyên viên ở khắp bốn phương trời mà đang ngày đêm hy sinh tận tụy với công việc từ thiện nhân đạo, nhằm góp phần “làm thay đổi thế giới” của chúng ta ngày nay vậy.
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Đảng trị sinh bất công

Ngô Nhân Dụng
Chỉ số thị trường chứng khoán Thượng Hải đã tăng thêm 90% trong hơn bẩy tháng kể từ đầu năm 2009. Một số người Trung Hoa bỗng nhiên thấy tài sản mình tăng lên gần gấp đôi, trong khi cả nền kinh tế chỉ đăng 8% một năm. Tại sao có những người làm giầu nhanh hơn người khác?

Ở những nước tự do dân chủ với kinh tế thị trường đích thực thì nhiều người làm giàu nhờ có kỹ năng giỏi hơn, hoặc khi làm ăn dám chấp nhận rủi ro lớn hơn thiên hạ. Những người Trung Quốc làm giầu nhanh chóng có phải vì họ tài giỏi hơn, hoặc họ dám chấp nhận may rủi nhiều hơn người khác hay không? Không nhất thiết như vậy. Họ khá giả được phần lớn nhờ chính sách của nhà nước.

Trong quý thứ hai năm 2009 chính phủ Bắc Kinh bắt đầu bơm tiền “kích thích kinh tế” cho các ngân hàng của nhà nước. Các ngân hàng đem cho các xí nghiệp của nhà nước vay. Những xí nghiệp này đem một phần đầu tư vào máy móc, thiết bị, nhưng không dùng hết. Theo lối họ quen “du di” tùy tiện, ban giám đốc các xí nghiệp đem tiền dư đi đầu tư vào địa ốc và mua cổ phiếu. Tự nhiên giá nhà cửa và giá cổ phiếu tăng vụt lên. Tháng trước, đảng Cộng Sản Trung Quốc bắt đầu lo sẽ làm hai trái bong bóng địa ốc và cổ phần cùng phồng lên rồi sẽ vỡ, ra lệnh tốp bớt lại. Họ bảo các ngân hàng nhà nước giảm tốc độ cho vay. Vì thế trong một tháng qua chỉ số chứng khoán ở Thượng Hải đã tụt mất 16%.

Khác với các nước dân chủ tự do, nhà nước Cộng Sản nắm trong tay nhiều “khí cụ” có thể giúp cho một số người giầu nhanh lên, hoặc bắt họ đi chậm lại. Ở các nước Âu Mỹ chính phủ có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế; nhưng giữ tiêu chuẩn công bằng: Mỗi quyết định thường gây ảnh hưởng đồng đều trên tất cả mọi người. Khi nào chính phủ muốn giúp đỡ hoặc kích thích cho riêng một lãnh vực nào đó, thì cả nước được bàn bạc, thảo luận xem các hành động đó có ích lợi chung cho cả quốc gia hay không. Thí dụ, khi chính phủ George W. Bush quyết định dùng 700 tỷ cứu nguy các ngân hàng, hoặc khi chính phủ Obama muốn đem gần 800 tỷ kích thích nền kinh tế đang suy thoái, hoặc khi quyết định cứu nguy các công ty sản xuất xe hơi, cả ba lần đó Quốc Hội đã tranh luận gắt gao, trên báo chí có các chuyên gia bàn tán các mặt tốt và xấu. Sau khi thiên hạ bàn tán rồi, Quốc Hội biểu quyết và chịu trách nhiệm về quyết định đó với các cử tri, trong mùa bầu cử năm tới.

Ở các nước Cộng Sản thì khác. Ðảng Cộng Sản có quyền chọn một nhóm người nào đó trong xã hội để nâng lên hay hạ xuống mà không cần dân góp ý kiến. Những người được chọn hưởng lợi ích qua các quyết định của đảng thường là những đảng viên cao hoặc trung cấp và các tay làm ăn chung với họ. Ðiều này thể hiện rõ rệt nhất trong các chính sách đầu tư, thuế khóa, và định hướng nền kinh tế quốc gia.

Thí dụ, ai cũng biết rằng “tỷ lệ tiết kiệm” của dân Trung Hoa cao hơn nhiều quốc gia khác, chắc chắn là cao hơn dân Mỹ. Nhưng dân Mỹ được tự do quyết định mình tiêu xài bao nhiêu, tiết kiệm bao nhiêu - và họ thường chi tiêu rất nhiều, có lúc nhiều hơn cả số tiền kiếm được. Chính phủ Mỹ có cách ảnh hưởng trên tỷ lệ tiết kiệm của dân. Một thí dụ là tăng thuế tiêu thụ, tức là bắt dân tiêu thụ bớt đi và đưa tiền cho chính phủ trả nợ, đó là một cách “cưỡng bức tiết kiệm.” Tăng lãi suất cũng là buộc mọi người phải tiết kiệm vì đi vay tiền chi tiêu phải chịu lãi cao quá. Gần đây, tỷ lệ tiết kiệm của dân Mỹ đã tăng lên tới 5%, sau những năm tỷ lệ này chỉ suýt soát số không, zero!

Còn tất cả hơn một tỷ người dân Trung Quốc nói chung đã tăng tỷ lệ tiết kiệm từ 21% vào năm 1998 lên tới 24% vào năm 2008. Cứ tạo ra được 100 đồng thì tiết kiệm 24 đồng. Có phải dân Trung Hoa không thích mua quạt máy, tủ lạnh và sắm quần áo mới hay không? Lý do chính là do “định hướng xã hội chủ nghĩa” của đảng Cộng Sản.

Một nguyên nhân khiến dân Trung Hoa phải để dành tiền nhiều hơn là vì chính sách kinh tế của nhà nước Cộng Sản đã xóa bỏ hệ thống an sinh xã hội, gồm cả dịch vụ y tế lẫn giáo dục và tiền hưu bổng. Trước kia các công nhân đi làm cho doanh nghiệp nhà nước hoặc nông dân trong công xã được xí nghiệp hoặc công xã chu cấp những khoản đó. Từ khi đảng Cộng Sản đổi mới, công nhân các xí nghiệp được cải tổ, giải tư, hoặc đóng cửa, nông dân các làng đều mất những quyền lợi này mà đảng không tạo ra những mạng lưới an toàn khác để thay thế. Kết quả là hàng trăm triệu gia đình phải tự lo trả tiền lấy khi chữa bệnh, đóng tiền cho con cái đi học và tự lo lấy thân khi về hưu. Vì vậy, họ phải tiết kiệm để phòng khi ốm đau, già lão. Không tiết kiệm nhiều không được!

Nhưng mối lo lắng cho tương lại chỉ là một nguyên nhân khiến con số tỷ lệ tiết kiệm ở Trung Quốc cao hơn các nước khác. Nguyên nhân quan trọng không kém là do tình trạng lợi tức quốc dân phân bố không đồng đều, do chính sách của đảng Cộng Sản gây nên. Một cuộc nghiên cứu của Louis Kuijs (Ngân Hàng Thế Giới ) và Tao Wang (Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế) từ năm 2005 đã cho thấy chính sách phát triển của đảng Cộng Sản Trung Quốc là một nguyên nhân gây nên khoảng cách giầu nghèo mỗi ngày một rộng. Chính quyền Trung Quốc chú trọng đến bành trướng các xí nghiệp nhà nước trong những ngành công nghiệp nặng, qua việc đầu tư ào ạt vào máy móc tối tân (capital intensive) thay vì giúp phát triển các ngành dịch vụ dùng lao động nhiều hơn máy móc (labor intensive). Chủ trương đó đã khiến cho sản năng của lãnh vực nông thôn không tiến được như một vài lãnh vực công nghiệp ở đô thị, và khi sản năng tiến chậm thì lợi tức và lương bổng cũng phải thấp hơn, đào xâu thêm cái hố phân biệt giầu nghèo giữa nông thôn và thành thị.

Tại sao giầu nghèo chênh lệch lại ảnh hưởng khiến tỷ lệ tiết kiệm trong nước tăng lên? Những người nghèo chiếm đa số họ phải chi tiêu nhiều hơn khi lối sống thay đổi, cả xã hội đua nhau hướng về tiêu thụ, do đó họ có thể giảm tỷ lệ tiết kiệm hoặc tăng rất ít; còn những người giầu, dư tiền nên để dành cho tương lai thuộc thiểu số nhưng tiết kiệm gấp bội làm lệch cán cân cả nước. Thí dụ, đại đa số 90% dân Trung Hoa với lợi tức thấp vẫn giữ tỷ lệ tiết kiệm ở mức 21% như cũ, nhưng 10% còn lại giầu có đã nâng tỷ lệ tiết kiệm từ 21% lên thành 51%, thì khi làm tính cộng số trung bình ta sẽ thấy tỷ lệ tiết kiệm của các gia đình tăng từ 21% lên 24% trong mười năm.

Nhưng chính sách phát triển thiên về thành thị của đảng Cộng Sản Trung Quốc chỉ giải thích được một phần lý do tại sao lợi tức chênh lệch. Một nguyên nhân trực tiếp là trong cái bánh “Tổng Sản Lượng Nội Ðịa” (GDP) đem chia cho toàn dân, phần bánh các gia đình được hưởng đã giảm đi, khi so sánh tương đối với phần chia cho các xí nghiệp. Nghĩa là đảng Cộng Sản đã chia phần nhiều hơn cho các “ông chủ” dù đó là tư nhân hay quốc doanh.

Các xí nghiệp ở Trung Quốc được ưu đãi khi đi vay các ngân hàng của nhà nước, với lãi suất thấp. Trong khi đó, các ngân hàng này trả tiền lãi cho các người dân để dành tiền với một lãi suất rất thấp; nhưng đại đa số không có lựa chọn nào khác nên vẫn phải gửi. Chính sách của đảng Cộng Sản là lấy tiền tiết kiệm của dân với giá rẻ, đưa cho ngân hàng để cho các doanh nghiệp nhà nước vay bằng tiền lời thấp. Các xí nghiệp đó sinh ra lời sẽ dồn vào túi các ông lớn, còn số tiền đem trả lại cho công quỹ (giống như tiền lời chia cho chủ nhân các xí nghiệp) gần như bằng số không.

Tại sao các doanh nghiệp nhà nước lại được ưu đãi như vậy? Vì đó là nơi đảng Cộng Sản chia chác các chức vụ cho đồng đảng, trung ương có các xí nghiệp trung ương, mỗi tỉnh, huyện, vân vân, có doanh nghiệp của họ. Cả hệ thống ngân hàng lập ra để “bồi dưỡng” các loại cán bộ kinh tế đó.

Trên đây chỉ là một khía cạnh trong chính sách kinh tế của đảng Cộng Sản Trung Quốc cố ý gây nên cảnh chênh lệch giầu nghèo. Một mặt khác của chủ trương Cộng Sản là lấy hoạt động đầu tư vào cơ xưởng, nhà cửa, thiết bị làm động cơ phát triển chứ không lấy tiêu thụ làm đầu máy. Nhìn con số tỷ lệ phát triển của Trung Quốc 10% hay 8% trong mấy năm qua, trong số đó phần lớn do tiền nhà nước đưa cho các xí nghiệp đầu tư qua hệ thống ngân hàng. Hiện nay trong Tổng Sản Lượng Nội Ðịa của Trung Quốc cứ 100 đồng có 40 đồng là do đầu tư. Tỷ lệ tiêu thụ của tư nhân đã giảm đi, từ 49% GDP vào năm 1990 đã giảm xuống chỉ còn 35% vào năm 2008. Nghĩa là trong chiếc bánh kinh tế quốc dân, người dân bình thường trước kia được ăn gần một nửa, nay chỉ được ăn hơn một phần ba.

Chính sách bắt dân giảm tiêu thụ để dồn tiền cho các xí nghiệp đầu tư cũng là chính sách ưu đãi một tầng lớp cán bộ kinh tế và những người làm ăn, chia chác với họ. Vì mỗi công trình xây cất, mỗi dịp mua máy móc, thiết bị là những cơ hội ăn hối lộ. Trong vài năm nữa, tổng số tiền đầu tư của cả nước Trung Hoa sẽ cao bằng tổng số đầu tư trong kinh tế nước Mỹ. Nhưng tổng số tiêu thụ của 1.3 tỷ người Trung Hoa chỉ lớn bằng một phần sáu của 300 triệu dân chúng Mỹ. Tại Mỹ, phần bánh chia cho người tiêu thụ là 70% của Tổng Sản Lượng Toàn Quốc, tại các nước Á Châu khác cũng lên tới từ 50% đến 60%; trong khi người dân Trung Quốc chỉ được hưởng 35% cái bánh mà sức lao động của họ tạo nên.

Tình trạng bất công đó có thể thay đổi được nếu người dân Trung Hoa có quyền thảo luận chính sách kinh tế của nhà nước, và khi họ có quyền bỏ phiếu để thay đổi những người nắm quyền. Ở Trung Quốc thì còn lâu, vì đảng Cộng Sản nhất định bảo vệ độc quyền chính trị để duy trì tình trạng phân chia không đồng đều này. Chính chế độ độc tài đảng trị đã sinh ra cảnh xã hội bất công
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Dương Đông Kích Tây (?)

Trần Khải
Điểm nóng của vùng Châu Á như dường phải là Bắc Hàn, nơi đang thu hút nhiều năng lực thuyết phục và áp lực từ nhiều nước Châu Á khác và lân cận - như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nam Hàn, Uc Châu -- vì nỗi lo vũ khí nguyên tử và cơn điên lãnh tụ độc đảng vương quyền của họ Kim. Nhưng có đúng là Bắc Hàn nằm ngoài ván cờ thế giới do Trung Quốc sắp xếp hay không? Hay các trò múa may của Chí Phèo họ Kim chỉ là một màn Dương Đông Kích Tây của thiên triều Bắc Kinh?

Bởi vì hư hư thực thực vẫn là nghề của Bắc Kinh. Điều đáng ngại mà chính phủ Hà Nội cần quan tâm là, vì sao Bắc Kinh lại dung dưỡng để cho Bắc Hàn làm nhiều nước vùng Thái Bình Dương mệt mỏi, mất năng lực và thời gian nhiều như thế. Thực tế, Trung Quốc ở một vị trí có thể đưa ra nhiều áp lực trên Bắc Hàn hơn bất kỳ nước nào khác. Chính Trung Quốc là phao cứu sinh kinh tế cho Bắc Hàn. Xuất cảng của Trung Quốc đưa vào cung cấp cho Bắc Hàn tới 70% lượng dầu sử dụng, tới 40% lương thực, và tới 80% tổng lượng hàng tiêu thụ.

Chính ngay ở trong năm ngoái, năm 2008, năm mà Bắc Hàn quậy nhất với các màn bắn phi đạn làm pháo bông, thì giao thương hai nước Trung Quốc và Bắc Hàn tăng 40% để tới 2.78 tỉ đô la. Tại sao Trung Quốc lại tặng thưởng thằng em Chí Phèo hậu hỉ như thế? Có phải vì Bắc Hàn đã chơi trò Chí Phèo một cách tuyệt hảo, để làm mệt mỏi và bận tay các cường quốc như Mỹ, Nhật, Nam Hàn, Uc Châu, và vân vân?

Như thế, nếu Bắc Hàn được Trung Quốc hà hơi tiếp sức để đóng vai Chí Phèo, có phải là kiểu như Trung Quốc thời xưa hà hơi tiếp sức Bắc Việt để dồn hết lực lượng tiến chiếm Nam Việt hay không? Nếu thực sự, không có âm mưu giúp Bắc Hàn tiến chiếm Nam Hàn, có phải đây là một trò Dương Đông Kích Tây để Trung Quốc sẽ chiếm dễ dàng hơn vùng Biển Đông của Việt Nam, nơi trên bản đồ gọi là South China Sea và là nơi Bắc Kinh đang đưa đoàn thủy binh "tàu lạ, tàu ma" quậy phá ngư dân Việt Nam?

Nếu thực sự có ván cờ Dương Đông Kích Tây như thế, Việt Nam cần đối phó ra sao? Nên tiếp tục nín thở qua sông như trước giờ? Hay thỉnh thoảng lại để ông Lê Dũng, người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Hà Nội, đưa ra các yêu cầu xin trả tự do cho ngư dân, hay đưa ra yêu cầu xin các nước khu vực xác minh giùm tàu lạ? Hay là Hà Nội nên chọc giận Bắc Kinh bằng cách mời Đức Đạt Lai Lạt Ma sang thăm Hà Nội trong dịp lễ mừng 1,000 năm Thăng Long vào năm tới? Tất nhiên, chiến tranh là điều không nên, càng tránh được càng tốt, nhưng chắc chắn rằng thái độ mềm yếu lâu nay đã không thành công, không ngăn cản được đàn anh Phương Bắc.

Đó là thế cờ rất khó xử, nếu không có thế lực toàn dân, kể cả thế lực Việt Kiều, Hà Nội sẽ không chắc cản được bước xâm lấn từ phía Bắc, mà tự bản thân chính phủ Hà Nội cũng sẽ gặp cơ nguy vỡ đôi. Không chỉ đơn giản là chuyện rạn nứt giữa phe thân Mỹ, với phe thân Tàu. Cũng không chỉ đơn giản là chuyện rạn nứt giữa phe pro-bauxite, và phe anti-bauxite Tây Nguyên. Hay là giữa độc đảng toàn trị, với đa nguyên đa đảng. Hoặc giữa giới tư bản đảng quyền, với giới trí thức trung lưu. Hay tương tự. Điều chung nhất, xuyên suốt, và quyết liệt nhất giữa những nỗi đau đớn mất đất, mất đảo rồi sẽ dẫn tới cơ hội đột khởi của những người muốn bảo vệ tổ quốc, những người không muốn mất thêm một chút đất, chút biển nào nữa. Khi đó, chế độ CSVN sẽ sụp đổ.

Thấy rõ như ban ngày rằng, Trung Quốc hỗ trợ cho đủ thứ chuyện ở Bắc Hàn, Miến Điện, Darfur, vân vân… chỉ là để cho Liên Hiệp Quốc và các cường quốc bận tay, bận miệng. Trong khi đó, Bắc Kinh chơi trò cường bạo với các nhà hoạt động nhân quyền trong nước, với Tây Tạng, với Tân Cương… và với Biển Đông của Việt Nam.

Tại sao Bắc Hàn đói gần chết, mà vẫn bắn đủ thứ phi đạn - mới nhất là bắn 4 phi đạn vào ngày 2-7-2009 và loạt 7 phi đạn loại Scud và Rodong vào ngày 4-7-2009, bất chấp nghị quyết LHQ? Và tại sao Trung Quốc trong Hội Đồng Bảo An LHQ vẫn lặng lẽ dung dưỡng đàn em Chí Phèo. Tại sao Bắc Hàn dám chơi bạo như thế, trong khi hàng chục ngàn quân Mỹ và hỏa lực Mỹ dày đặt đồn trú ở hai đảo Guam và Okinawa, không xa gì Bắc Hàn?

Thực ra, đó là thế trận Dương Đông Kích Tây của Bắc Kinh. Và lần này, là nhắm vào Biển Đông của Việt Nam. Nhìn lại thời điểm Bắc Hàn bắn hai loạt phi đạn vào hai ngày đầu tháng 7-2009, thì trước đó hơn một tuần lễ, một sĩ quan cấp Tướng của Trung Quốc, Tướng Zhang Li, khuyến cáo chính phủ Bắc Kinh hãy xây dựng "một phi trường và một hải cảng trên đảo Mischief Reef" trên quần đảo Trường Sa. Đảo Mischief Reef tên tiếng TQ là Meiji Jiao, tên tiếng Việt là đảo Vành Khăn - nơi này, Việt Nam và Phi Luật Tân cũng đang tranh chủ quyền.

Báo Pacific Daily News (www.guampdn.com), phát hành ở đảo Guam của Mỹ, khi kể về chi tiết này đã chú thích rằng Tướng Zhang Li là một thành viên của Uy Ban Thường Trực Hội Đồng Tham Vấn Chính Trị Nhân Dân Trung Quốc, nguyên là cựu Phó Tham Mưu Trưởng Quân Đội TQ.

Đối với nhiều nhà phân tích Hoa Kỳ, phi đạn Bắc Hàn chỉ là chuyện nhỏ, nhưng lời tuyên bố của ông Tướng Li khuyến cáo xây phi trường và hải cảng trên đảo Vành Khăn thì vang dội nhiều lần hơn.

Viện nghiên cứu Jamestown Foundation, có bản doanh tại Washington, trong phần phúc trình nhan đề "PLA General Advises Building Bases in the South China Sea" (Vị Tướng CSTQ Khuyến Cáo Xây Các Căn Cứ Giữa Biển Đông) đăng ở bản tin nội bộ về TQ ngày 24-6-2009 gọi đó là dấu hiệu TQ muốn dùng vũ lực giải quyết các tranh chấp lãnh hải.

Chuyện thấy rõ là không êm rồi. Thấy rõ, "tàu lạ" đụng chìm ghe ngư dân Việt chỉ là thêm một nước cờ khều nhẹ, trên toàn cuộc ván cờ Dương Đông Kích Tây do Trung Quốc dàn dựng ra.

Vấn đề của chính phủ Hà Nội hiện nay phải là lấy thế toàn dân đoàn kết để giữ gìn lãnh thổ, lãnh hải. Và nếu Hà Nội muốn nói chuyện với Việt Kiều, đặc biệt là với những người đang vận động cho dự luật nhân quyền thông qua trên quốc hội Mỹ, mà không chịu trả tự do cho các nhà dân chủ quốc nội và tìm các bước đi cởi mở hơn về nhân quyền và pháp trị thì chỉ là vô ích.

Dương Đông Kích Tây. Đó là thế cờ thấy rõ đã hiện ra ở Biển Đông.
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Tôn giáo chính trị hóa: Vì chính trị muốn kiểm soát tôn giáo


Ngô Nhân Dụng

Ở một nước bình thường khi người dân bị cướp đất thì họ phải làm gì? Họ đưa đơn kiện ra trước tòa cho pháp luật khu xử. Bình thường, những người bị cướp đất không họp nhau lại để ngồi thiền hay dâng lễ và cầu nguyện.

Ở Việt Nam, dân giáo xứ Thái Hà đã thắp nến cầu nguyện khi muốn đòi lại đất đai của Nhà Chung bị chính quyền chiếm giao cho người khác khai thác. Tín hữu Công Giáo khắp nơi đã cầu nguyện để đòi cho giáo dân Tam Tòa được quyền dựng Thánh Giá lại trên khu đất nhà thờ cũ. Bởi vì ở Việt Nam người dân không được phép sống bình thường. Các tăng ni trẻ ở tu viện Bát Nhã ngồi xuống niệm Phật và thiền định khi bị đuổi ra khỏi những ngôi nhà mà chính vì có mặt họ nên đồng bào Phật tử khắp thế giới mới góp công góp của tạo mãi đất rồi xây dựng lên các tu viện, thiền đường. Cũng bởi vì ở Việt Nam người dân không được phép sống bình thường. Mươi ngày nữa, gần 400 tăng ni này sẽ bị công an đến bắt từng người rời khỏi các thiền đường trở về quê quán, mà sau đó họ có thể bị cấm không được đi tu chung một chỗ nữa. Họ sẽ tiếp tục thiền định và cầu nguyện cho một ngày dân Việt Nam được sống cuộc đời bình thường. Và sẽ đến lúc mọi người Việt Nam tỉnh ra, thấy mình đang sống thiếu tự do.

Người ta phản ứng trước những hành động đàn áp, bất công bằng cách cầu nguyện thay vì đi thưa kiện; vì ở nước Việt Nam người dân thường không tin nơi tòa án và luật lệ. Không thể đi kiện vì biết trước thế nào tòa án cũng đứng về phe kẻ mạnh, những kẻ có tiền và có quyền. Nhất là khi những kẻ chiếm đoạt đất đai và cấm đoán tu hành ở nơi mình cư trú chính là nhà nước Cộng Sản với bộ máy cán bộ tôn giáo của họ. Vì thế, các tín hữu Công Giáo và các tăng ni Phật Giáo chỉ còn một cách phản ứng là dùng niềm tin thiêng liêng của họ để đối phó với bạo lực. Sinh hoạt tôn giáo đã biến thành hành động chính trị. Chính vì guồng máy cai trị đã can thiệp vào đời sống tôn giáo.

Các đảng Cộng Sản xưa nay đều can thiệp vào tôn giáo, vì từ đầu thế kỷ 20 chủ nghĩa Cộng Sản đã được Lenin, Stalin biến thành một thứ tín ngưỡng thế tục với tham vọng thay thế các tôn giáo. Trong cuốn lịch sử triết học Tây phương của ông, Bertrand Russell (một người không có thiện cảm với các tôn giáo) đã mô tả Ðệ Tam Quốc Tế như một tổ chức giáo hội, với tòa thánh (Ðiện Kremlin), với giáo điều (chủ nghĩa Marx-Lenin), các vị thánh để thờ (Marx, Engels, sau này thêm những Kim Nhật Thành, Lê Văn Tám,...), một giáo chủ (Stalin) và hàng giáo sĩ thừa sai (cán bộ cộng sản), họ cũng hứa hẹn một thiên đường (tiến tới chủ nghĩa xã hội), và đe dọa tín đồ bằng những ác quỷ và địa ngục (thế giới tư bản). Niềm tin thế tục cộng sản đã sụp đổ trước bức tường Berlin, vì lý do, như Ernest Gellner mô tả, “Khi các đồng chí cốt cán (nomenklaura) không đem nhau ra xử bắn nữa mà bắt đầu đút tiền mua chuộc nhau, thì niềm tin biến mất.”

Khi tín ngưỡng cộng sản sụp đổ hàng loạt ở Nga và Ðông Âu, không một “tín đồ” nào thấy tiếc rẻ, trừ ở những xứ mà họ còn cố đấm ăn xôi được, như ở Việt Nam, Trung Quốc, Cuba, Bắc Hàn. Nhưng dù còn bám được quyền lực, họ không những đã mất niềm tin mà còn mang trong lòng một mối hận vì mặc cảm đối thua kém mọi tôn giáo khác. Vì vậy, họ tiếp tục duy trì những xiềng xích đã trói buộc các tôn giáo khác, những định chế, luật lệ do ông Stalin dựng lên vẫn còn được giữ lại. Ðồng bào Công Giáo ở Thái Hà, ở Tam Tòa, các tăng ni ở tu viện Bát Nhã là nạn nhân của guồng máy cai quản đó.

Ông Trương Hải Cường trong Trung Tâm Nghiên Cứu Tôn Giáo thuộc Ðại Học Hà Nội mới giải thích những xung đột giữa nhà nước cộng sản và giáo dân Thái Hà, Tam Tòa bằng hai nguyên nhân. Ông gọi tên là những “di sản của lịch sử và hệ lụy tâm lý, mặc cảm.” Nguyên nhân lịch sử nào? Ðó chính là sự kiện đảng Cộng Sản cướp được chính quyền ở nước ta. Và hệ lụy tâm lý nào? Ðó chính là do tham vọng của đảng Cộng Sản muốn thay thế các tôn giáo bằng một niềm tin thế tục của họ, nhưng hoàn toàn thất bại.

Một di sản của lịch sử là cơ quan nhà nước mang tên “Ban Tôn Giáo Chính phủ.” Khi Hòa Thượng Nhất Hạnh gặp ông Nguyễn Minh Triết năm trước, đưa đề nghị giải tán Ban Tôn Giáo Chính Phủ, nhà sư đã giải thích rằng trên thế giới không có chính phủ nào can thiệp vào các sinh hoạt tôn giáo như vậy. Tại sao nhà nước phải có một bộ phận quản lý các tôn giáo, nếu không phải vì đảng cầm quyền muốn kiểm soát tất cả mọi sinh hoạt trong xã hội công dân?

Mà gần đây họ can thiệp một cách lộ liễu, qua một văn thư ra lệnh cho Giáo Hội Phật giáo Việt Nam phải đuổi gần 400 vị tăng ni ra khỏi tu viện Bát Nhã. Giáo hội này do đảng Cộng Sản lập ra để kiểm soát từ trên xuống dưới. Gần đây họ đã ra lệnh cách chức Thầy Lê Mạnh Thát không cho làm viện trưởng Viện Nghiên Cứu Phật Học Vạn Hạnh. Ông Lê Mạnh Thát đã phải cởi áo nhà tu dù ông vẫn tiếp tục giữ thanh quy, giới luật của một tỳ kheo, chỉ mong được yên ổn làm công việc nghiên cứu lịch sử Phật Giáo và lịch sử dân tộc Việt Nam. Nhưng ông vẫn không được đảng Cộng Sản cho ngồi yên làm việc.

Ðến việc ra lệnh cho giáo hội Phật Giáo giải tán tăng đoàn ở Bát Nhã thì sự can thiệp của Ban Tôn Giáo Chính Phủ là một hành động sỉ nhục cho cả ban lãnh đạo của giáo hội đó. Hành động này sẽ để lại một vết nhơ trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam.

Tại sao một cơ quan thuộc chính phủ lại có quyền ra lệnh cho một tổ chức giáo hội làm những việc trong phạm vi thuần túy sinh hoạt tôn gió của họ? Ðó chính là một thứ “di sản lịch sử” mà ông Trương Hải Cường không thể không biết: Ðảng Cộng Sản Việt Nam vẫn giữ di sản của chế độ Stalin, coi đảng có quyền kiểm soát tất cả mọi sinh hoạt động của người dân bị trị. Ðối với một đảng Cộng Sản, việc chiếm đất nhà thờ, đất nhà chùa không đủ chứng tỏ uy quyền của họ. Họ còn muốn kiểm soát việc tuyển sinh của các nhà dòng, các tu viện, kiểm soát việc cho các linh mục nào được thụ phong, và kiểm soát cả những pháp môn mà người theo đạo Phật được tu học.

Văn thư của Ban Tôn Giáo Chính Phủ gửi giáo hội Phật Giáo Việt Nam không những là một mệnh lệnh bảo những người lãnh đạo giáo hội này phải giải tán các tăng ni ở Bát Nhã, ấn định ngày giờ rõ rệt, mà còn lên mặt dạy dỗ giáo hội này rằng pháp môn tu tập của tăng ni Bát Nhã là “bất hợp pháp” nữa!

Trong đạo Phật, hay trong bất cứ tôn giáo nào, thế nào là một pháp môn bất hợp pháp? Chỉ có những người lãnh đạo các tôn giáo đó có quyền phán xét một đường lối tu trì là có phù hợp với giáo lý của mình hay không. Mà trong đạo Phật, với “tám vạn bốn ngàn” pháp môn, và mỗi thời đại đều mở ra những cánh cửa mới phù hợp với căn cơ của chúng sinh đang sống. Một dòng tu Công Giáo, Tin Lành, hay một pháp môn Phật Giáo chỉ có thể gọi là “bất hợp pháp” nếu theo pháp môn đó sẽ làm những hành động vi phạm luật pháp thế tục đang thi hành. Các tăng ni Bát Nhã có bị “đuổi nhà” vì luật hộ khẩu lỗi thời tước đoạt quyền công dân và quyền làm người, nhưng cũng không ai có quyền lên án họ đang theo một pháp môn “bất hợp pháp” được! Nhất là lời phê phán đó lại phát xuất từ một cái ban lập ra để cai quản các tôn giáo mà không biết, không hiểu gì về tôn giáo cả!

Ban Tôn Giáo Chính Phủ Hà Nội có quyền bắt buộc Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam phải giải tán một dòng tu hay không? Nếu có những nữ tu Công Giáo chỉ sống khổ hạnh, lo việc cầu kinh và làm việc từ thiện, mà bị chính quyền ghét, thì họ có quyền phán là dòng tu đó “bất hợp pháp” rồi ra lệnh giải tán hay không? Liệu Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam có im lặng và răm rắp tuân lệnh hay không?

Ðây là một thử thách của những vị lãnh đạo giáo hội Phật Giáo Việt Nam, xem họ có răm rắp tuân lệnh của chính quyền hay không. Những người lãnh đạo giáo hội này, ở trung ương và ở tỉnh Lâm Ðồng, sẽ chịu trách nhiệm trước lịch sử dân tộc và lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam chưa bao giờ có một chính quyền nào lại ra lệnh cho các chùa phải theo một pháp môn nào hoặc phải bác bỏ một pháp môn khác. Nếu chuyện này xảy ra trong thế kỷ 21 thì những người lãnh đạo các tự viện và các tổ chức Phật Giáo ở Việt Nam phải lên tiếng phản đối. Nếu không, họ có lỗi với các Phật tử và có lỗi với tất cả đồng bào có tín ngưỡng, vì đã đồng lõa với một chế độ muốn chính trị hóa cả các sinh hoạt tín ngưỡng để bảo vệ quyền hành độc tài tham nhũng.
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

NGU DỐT CỦA QUỶ MA
Đỗ Thái Nhiên
(http://www.vietvusa .com)
Ngụy là giả, là sai sự thực. Ngụy biện là kiểu lý luận dùng điều giả để khuất lấp sự thực, lấy điều gian dối để đánh lạc hướng nhân định của công luận. Ngu biện là gì? Thông thường ngu có nghĩa là dốt, là ngây ngô khờ dại, là không hiểu gì cả. Người ngu biện là người viện dẫn sự ngu dốt của chính mình để biện hộ cho những hành động gây thiệt hại cho người khác. Nói rõ hơn: Người ngu biện là người cho rằng sự ngu dốt của một người hiển nhiên là lý lẽ giúp người đó giải trừ được mọi trách nhiệm đối với tội ác do đương sự tạo ra. Sau đây là một trường hợp ngu biện điển hình:

Ông Dương Danh Dy là nhà ngoại giao có nhiều thập niên làm việc cho sứ quán CSVN tại Trung Quốc. Có thể nói được rằng Dương Danh Dy là người đứng hàng đầu trong số những người hiểu biết thấu đáo về quan hệ ngoại giao giữa CSVN và Trung Quốc trong hơn nửa thế kỷ qua. Ngày 02 tháng 07 năm 2009 , nhân một cuộc phỏng vấn của ông Mạc Lâm, phóng viên đài Á Châu Tự Do, ông Dương Danh Dy cho biết: Trong chiến tranh chống Pháp, Trung quốc giúp CSVN bằng cách chuyển tải vũ khí từ nội địa Trung Quốc xâm nhập Việt Bắc. Muốn vậy, Trung Quốc phải xây dựng những tuyến đường chạy quanh co vượt núi băng đồi trên lãnh thổ Việt Nam. Sau này khi xảy ra những tranh chấp về biên giới Việt Hoa, đại diện của Bắc Kinh nói chắc như đinh đóng cột rằng: “Đường của tôi ở đâu thì đất của tôi ở đấy.”

Ông Dương Danh Dy nhận xét: “Tôi xin nói thật, tôi đã từng đi điều tra biên giới trên bộ nhiều lần và tôi thấy đúng là sự ngây ngô khờ dại.”
Ông Dương Danh Dy kết luận: “Thế là mình mất toi mấy chục hecta trở lên. Làm thế nào được! Đấy, lúc đó là trong hoàn cảnh thời chiến. Người ta giúp mình, mình chẳng bao giờ nghĩ tới chuyện đó, có thể là không nghĩ ra, có thể là dốt, vân vân.Bây giờ muốn trách cứ thế nào thì cũng phải chịu thôi!”

Câu chuyện của ông Dương Danh Dy gồm hai trọng điểm: Một là Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam dựa vào lý luận công trình xây dựng của Trung Quốc tới đâu, lãnh thổ của Trung Quốc mở rộng tới đó. Hai là ông Dương Danh Dy chỉ đề cập tới một hồ sơ mất đất. Trên thực tế, có rất nhiều hồ sơ mất đất. Trên thực tế, dọc theo biên giới Việt Hoa, CSVN đã để rơi vào tay Trung Quốc vô số đất đai của Tổ Tiên.

Sau những mất đất dọc theo biên giới, liệu chừng CSVN có hay không từ bỏ nảo trạng ngu dốt nhằm giúp cho Việt Nam tránh khỏi tai họa“Đường của tôi ở đâu thì đất của tôi ở đấy” ? Thưa rằng mãi cho tới ngày nay, CSVN chẳng những không xa rời sự ngu dốt mà còn làm cho sự ngu dốt kia nhân rộng gấp nhiều lần. Thật vậy, ngày 04/02/2009, tại Hà Nội, thủ tướng CSVN khẳng định: “ Việc khai thác bauxite tại Tây Nguyên là chủ trương lớn của đảng và nhà nước”. Chủ trương lớn ở đây là lớn cái ngu, lớn cái “ngây ngô khờ dại”. Bằng vào “chủ trương lớn” vừa kể, CSVN đã cho phép Trung Quốc mang vô số công nhân lao động chân tay vào Việt Nam để khai thác bauxite. Song song với việc khai thác kia là sự kiện Trung Quốc được quyền mở những tuyến đường chuyển tải tài nguyên từ Việt Nam về Trung Quốc.

Ngày 7/7/09 tin từ Việt nam cho biết: Công ty Kaidi của Trung quốc đã trúng thầu xây dựng nhà máy diện Mạo Khê, tỉnh Quãng Ninh, Bắc phần Việt Nam. Chi phí xây dựng lên tới 500 triệu Mỹ Kim. Khác với Mỹ, Nhật, Đại Hàn v.v, Trung Quốc là quốc gia được miễn trừ thuế kinh doanh khi vào Việt Nam đầu tư. Vì vậy trong mỗi trường hợp dự thầu, Trung Quốc bao giờ cũng rao giá nhận thầu thấp nhất. Và cũng vì vậy Trung Quốc hiển nhiên là quốc gia “độc quyền” trúng thầu tại Việt Nam. Cứ mỗi vụ trúng thầu như vậy là nhiều ngàn dân lao động chân tay từ Trung Quốc lục tục kéo vào Việt Nam với mớ máy móc sản xuất thực sự lỗi thời.

Trước kia, theo Dương Danh Dy, Trung Quốc chỉ cần hô hoán lên rằng “Đường của tôi ở đâu, đất của tôi ở đấy” là đủ lý lẽ để CSVN cúi đầu nhường đất cho Bắc Kinh. Ngày nay, quái tượng bauxite Tây Nguyên cộng với hàng loạt “trúng thầu xây dựng” do Hà nội cống hiến cho Bắc Triều đã tạo cơ hội để Trung Quốc ăn nói hung hản hơn: “Đường của tôi ở đâu, công trình xây dựng của tôi ở đâu, dân của tôi ở đâu, đất của tôi ở đấy!”. Không còn nghi ngờ gì nữa, tầm vóc ngu dốt của CSVN càng tăng trưởng, ngôn ngữ cướp đất của Trung quốc càng ngang ngược và trịch thượng.

Bây giờ hãy trở lại với câu chuyện giữa Dương Danh Dy và Mặc Lâm, phóng viên đài Á Châu Tự Do. Dĩ nhiên những gì Dương Danh Dy phát biểu đều được Hà Nội cho phép. Nói rõ hơn, Hà Nội muốn dùng lời lẽ của Dương Danh Dy để biện hộ cho CSVN về tội bán nước. Thực vậy, trả lời câu hỏi của Mặc Lâm về thái độ quá mềm yếu của CSVN khi đàm phán vấn đề biên giới với Trung Quốc Dương Danh Dy cho rằng: “ Bây giờ cũng không thể kết tội ai được, bởi vì nó là chuyện lịch sử rồi. Chúng ta có một số điều hứa. Tôi biết rất rõ những điều hứa này của ta. Ta có những điều hứa trong vấn đề biển Đông. Cái hứa của ta lúc đó thì có những nguyên nhân là do chúng ta bênh Trung Quốc, có những nguyên nhân do chúng ta dốt, chúng ta không hiểu gì cả”

Mặt khác, ngu dốt xuất phát từ chế độ Hà Nội và do Dương Danh Dy minh thị xác nhận không là hồ sơ ngu dốt duy nhất của CSVN. Dư luận còn nhớ: Ngày 08/05/09, tại thành phố Geneva, Thụy Sĩ, Hội Đồng Nhân quyền của LHQ đã nhóm họp với mục đích kiểm điểm vấn đề nhân quyền tại Việt Nam. Vào dịp này, ông Phạm Bình Minh, thứ trưởng ngoại giao của CSVN đã khai trình rằng chính sự ngu dốt là nguyên nhân khiến chế độ Hà Nội chà đạp nhân quyền tại Việt Nam. Nguyên văn lời khai trình kia như sau: “Trình độ nhận thức của bộ phận nhà nước, kể cả trung ương và địa phương về quyền con người còn nhiều hạn chế: không chỉ không nắm được các qui định của luật pháp quốc tế, nghĩa vụ của Việt Nam với tư cách là quốc gia thành viên của công ước quốc tế về quyền con người mà đôi khi còn nắm không chắc các qui dịnh của luật pháp và chủ trương chính sách của nhà nước, do vậy có nơi, có lúc còn để xảy ra các vụ vi phạm, làm hạn chế và ảnh hưởng đến việc thụ hưởng quyền của người dân.”

Khi bị thẩm vấn về một tội phạm với đầy đủ bằng cớ hiển nhiên, bi can thường tự biện hộ bằng cách viện dẫn rằng đương sự là người bị bệnh tâm thần hoặc rằng đương sự đã hành động dưới tác động của tình huống bất khả kháng. Không ai được phép nhân danh sự ngu dốt để phạm pháp. Đó là nguyên tắc pháp căn hàng đầu của toàn bộ hệ thống luật pháp trong thế giới văn minh. Nó giúp cho luật pháp có hiệu lực cưởng hành. Chế độ Hà nội: nhà cầm quyền tự nhận là đã độc chiếm đỉnh cao trí tuệ của loài người từ rất lâu, nay lại nêu bật tính ngu dốt của chính họ để biện minh cho tội ác bán nước, tội ác chà đạp nhân quyền. Đây là một sự kiện vừa kỳ quái, vừa thiếu tự trọng , vượt ra ngoài khả năng tưởng tượng của mọi người. Tuy nhiên, không phải ở đâu và bất kỳ lúc nào CS Hà Nội cũng khiêm cung trong vị trí ngu dốt. Lịch sử của đảng CSVN đã cho thấy đảng này có biệt tài nhảy múa giữa hai thái cực: bên này địa vị của kẻ cực quyền hách dịch, bên kia là vai trò mù mờ của một nô bộc ngu dốt.

Những khi dọc ngang trong hành động đàn áp đối lập, mua quan bán tước, cướp phá tài nguyên quốc gia, bóc lột tài sản của đồng bào, CSVN công khai tự nhận họ là cha mẹ của nhân dân.
Những khi phải đối mặt với núi tội ác quả tang, tội ác vô phương biện hộ: tội bán nước, tội chà đạp nhân quyền, CSVN lí nhí tự thú họ là kẻ nô bộc ngu dốt.
Không còn nghi ngờ gì nữa: ngu dốt của CSVN là ngu dốt của loài quỷ ma./.

Đỗ Thái Nhiên (http://www.vietvusa .com)
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Những Mẫu Chuyện Nghe Được ở "Cổng Thiên Đường"

Tô Hải
Chẳng biết khi bà Thiệu "sáng tác" ra cái bệnh viện "Vì dân" có thật để phục vụ nhân dân không chứ từ ngày "giải phóng miền Nam" bệnh viện này được đổi tên là Thống Nhất, chuyên phục vụ các quan mà hầu hết đều là các quan... "sắp chết" . Vì ít nhất đã qua tuổi 60 mới đạt được mức lương chuyên viên để được đủ tiêu chuẩn chữa trị trong bệnh viện này. Năm 59 tuổi, tức là cách đây 23 năm, khi tớ về hưu cũng là lúc tớ cầm được cái thẻ bảo hiểm y tế của bệnh viện này. Một số văn nghệ sỹ ăn lương nhà nước cũng hân hạnh được chữa bệnh và chết ở đây. Một số chưa được mức lương mà bệnh viện yêu cầu thì cười khểnh và đặt cho cái bệnh viện đó là bệnh viện "vì quan", là "cổng thiên đàng". Và sau này, khi các bác sỹ tài danh đều vượt biên, về hưu, bỏ ra làm bệnh viện tư thì nó xuống cấp đến nỗi nó mang cái tên: "Cửa địa ngục" đến nơi nhận một bịch thuốc nội gần giống nhau rồi... về... ! Của đáng tội. Tớ bảo đảm rằng nơi này là một nơi có "y đức" cao nhất nước . Hầu hết các "cháu bác sỹ" khó có thể hư được với mấy ông cán bộ già vì:

1) Mấy anh về hưu già hầu hết đều chẳng bao giờ chịu xì ra một cái phong bì nào

2) Cán bộ lương cao, bằng hoặc hơn gấp ba, bốn lần lương bọn tớ bây giờ... quá nhiều và tòan trẻ măng. Giám đốc giám điếc, giáo sư, giáo siết, tiến sỹ, tiến siết đều lúc nha lúc nhúc vào cái nơi tưởng rằng "ưu tiên này". Còn cái số thực sự được ưu tiên bây giờ... đều chữa bệnh ở Thái Lan, Xanh Ga Po, Thụy Sỹ... hoặc ít nhất cũng là bệnh viên Việt Pháp.

3) Số lượng người đến khám bệnh ngày càng nhiều. Trung bình mỗi "cháu bác sỹ" nếu khám tử tế như ở một bệnh viện tư thì chắc chắn không thể nào đủ thời gian dù chỉ dành cho mỗi cụ bệnh nhân 10 phút

Năm vừa qua là năm tồi tệ nhất của tớ vì phải bước chân tới cửa thiên đàng tới năm bảy lần trong đó có hai lần qua hẳn cửa nằm ở các khoa... chờ chết. Ấy vậy mà, cho tới hôm nay (21/7/2009). tớ lại vừa rút lui khỏi "cổng thiên đàng"... một lần nữa nhưng trong lòng thấy lóe lên chút niềm vui. Số là:

Mỗi lần nhập viện, dù hôn mê phải thở oxy, phải tiếp nước hoặc lấy thuốc về nhà đều có dịp trực tiếp với những quan điểm của những người chẳng còn khát vọng, hòai bão gì nên hầu hết đều nói thẳng, nói thật. Té ra SỰ THẬT viết hoa ở nơi bệnh viện Thống nhất này ngày càng đựoc tô thêm rõ nét.

Ngày 17 vừa qua, huyết áp tớ lên 153, đầu đau như búa bổ, không ăn uống được bất cứ thứ gì. Sau mấy lần cự tuyệt đi bệnh viện, bị áp lực của vợ con, bạn bè tớ đành chịu cưỡng chế lên taxi đến cổng thiên đàng Thống Nhất.....

Mới có 8h mà các cụ bệnh nhân đã đông như một góc bán tôm, cá chợ Bến Thành. Sau khi lấy được số ở phòng chờ thứ nhất. Gọi số xong, trình thẻ bảo hiểm y tế và sổ y bạ, khai bệnh xong thì được hướng dẫn đến phòng chờ số 2. Xếp sổ y bạ xong thì chờ bác sỹ gọi vào khám . Trở ra phòng chờ để lấy kết luận của bác sỹ sẽ phải đi mấy phòng chờ nữa nếu cần (thử máu, siêu âm, đo điện tâm đồ, chiếu X quang,... nghĩa là 7,8 phòng chờ). Sau hai phút sờ sờ nắn nắn của bác sỹ và kết thúc ở phòng chờ phát thuốc thì tổng số thời gian chờ có người nói rằng gấp 100 lần thời gian khám bệnh.

Cái sự chờ này đối với mấy ông già tuy có mệt thật nhưng chính lại là nơi mà dù chẳng quen nhau cũng có dịp để thổ lộ nỗi lòng, phát huy "tự do tư tưởng", thậm chí chửi đổng vài câu cho đỡ bức xúc cái... tâm hồn. Lần này cũng vậy, kiếm mãi mới ra một chỗ ngồi bên cạnh một cặp vợ chồng già mà tớ chẳng hề quen biết... Hai ông bà chia nhau một tờ báo, ngồi đọc để giết thì giờ, đang có vẻ chăm chú nghiên cứu tình hình đất nước. Bỗng ông chồng buông thõng một câu :

- Thế là lại chìm xuồng!

Bà vợ: - Chìm cái xuồng nào?

- Cái xuồng PMU18 chứ gì nữa. Đây này! Cái thằng "Dũng con" chết mẹ nó trong nhà giam rồi. Lấy ai mà xử tội bây giờ ? khi thằng "Dũng bố" đã được phục hồi Đảng tịch, ra khỏi tù và "phản công " lại tất cả những ai ghép tội hắn. Đưa đến cả một ông tướng công an và 2 nhà báo ra tòa thay hắn ta.

- Lại có chuyện diệt khẩu đây rồi !

Tớ ngứa miệng bèn đế vào một câu vu vơ:

- Cứ ai thấy nhà thằng này có tang lễ, đưa ma đàng hoàng thì tôi mới tin là báo nói thiệt, Trắng, đen, sống, chết, công, tội thời này tôi chả tin những gì ở báo nhà nước cả.

Ông già vừa buông hai tiếng "Đúng thế" thì... lạnh lùng tiếng loa phát ra "134 đến cửa 2" Thế là như vừa trúng số, ông vội vã gấp báo, lập cập đứng lên: "Có tôi" .... Và câu chuyện thời cuộc bị cắt ngang khi bà dìu ông đến cửa số 2 trình diện! Tớ đang tiếc ngẩn tiếc ngơ vì ít khi gặp được các loại "xưa nay hiếm" này thì.... hai ông cụ khác đã tiếp thu ngay hai chiếc ghế trống, tướng tá có vẻ "nhà binh về vườn", mỗi ông cũng cầm theo một tờ báo. Hình như hai cụ đang gay gắt tranh luận sẵn từ trước nên vừa ngồi xuống là đã tiếp tục nhập đề.

Cụ A: Lần này chú Lê Dũng đã lên tiếng kiên quyết ra phết rồi còn gì nữa. Định liều mạng đánh nhau với NÓ chắc?

Cụ B: Phải kiện chúng nó ra tòa án quốc tế chứ! Biển trời của mình mà nó bắt người của mình lại còn đòi nộp tiền phạt mới nhục chứ

Cụ A: Trước sau rồi cũng phải nộp, chỉ có điều dân nộp hay nhà nước nộp mà thôi!

Cụ B: Cống nộp đã bao đời rồi nhưng chưa bao giờ thấy khốn nạn như ngày nay

Giữa lúc đó một cụ được gọi tên vào khám bệnh. Cụ đứng dậy, miệng lẩm bẩm: "ĐM nó! Lúc này mà ông còn ở quân đội, ông chẳng chịu đâu!"

Tớ nhân thể "kích cầu" thêm một câu: "Thế hai bác cũng ở quân đội về cả hả.?" Được dịp cụ còn lại vội vàng giải bầy tâm sự: "Lão ta và tôi đều cùng sư đòan 325,đi B, đánh Đông dẹp Bắc, huân chương đỏ ngực, vậy mà nay, trước cảnh tổ quốc bị bọn bành trướng nó gặm nhấm dần mà chẳng làm gì được. Gặp nhau trước "cổng thiên đường," chạm tới các vấn đề thời sự chỉ thấy buồn thúi ruột. Khí thế "bộ đội cụ Hồ" ngày xưa giờ còn đâu nữa!"

Tớ vội tranh thủ "hâm" lại khí thế cho các cụ bằng một câu "kích cầu" nữa: "Ít nhất thì các cụ cũng còn biết tức giận và buồn bực trước hiện trạng cay đắng của đất nước hôm nay, tôi cũng như các cụ, là dân lính cụ Hồ xưa, đều thấy uất hận mà đành chịu. Chẳng hiểu mấy trăm ông tướng và hàng vạn quân họ nghĩ gì nhỉ ?"... Chưa kịp nói tiếp thì cụ cựu sư trưởng phát ra một câu mà nghe xong tớ thật bất ngờ: "Nghĩ với chẳng ngợi gì, lính tráng thời nay,! Chiến tranh không nổ ra với bất cứ ai là yên chí với con đường tiến thân vùn vụt rồi !. Lính 18 tháng trở về, quan cứ 3 năm lên một bậc. Tướng nhiều như lợn con. Họ chỉ mong đường lối ngoại giao càng "mềm dẻo" là càng bảo tòan được tính mạng thôi! Với họ, tất cả đã có người nghĩ hộ rồi. Họ đâu có phải nhiều băn khoăn thắc mắc như lớp "cựu chiến binh" chúng mình!.."

Giữa lúc ấy, bà xã tớ nhận được giấy đưa tớ đi xét nghiệm máu,.Vừa tới nơi chờ gọi tên thì chạm trán ngay một cuộc đối đầu khá gay cấn giữa một cặp vợ chồng, bà vợ thì cứ chạy theo van lơn: "Thôi mà! Ông cố chờ thêm dăm bảy phút nữa. Cứ sùng sục lên như thế thì có lợi gì". Ông chồng :" Khám bệnh khám biếc cái con mẹ gì mà chờ cả tiếng chẳng đến lượt, thôi !thôi !...đi về". Tớ định thần nhìn lại thì té ra vợ chồng một nhà văn tuy không nổi tiếng lắm nhưng cũng có dăm bảy bài báo, vài ba truyện ngắn được đăng trên các báo của nhà nước. mà khi tớ còn làm việc "trong biên chế", có quen sơ sơ. Thấy vợ chồng tớ, 2 ông bà bỗng dịu hẳn xuống và cả bốn đều ngồi xuống một chiếc ghế đá. ....rồi "bộc lộ tư tưởng" cùng nhau để... giết thời giờ,.

Ông chồng: -"Lên mạng dạo này thấy ông viết lách mạnh quá đấy. Lại nghe có hồi kí hồi kiếc gì nữa, có còn bản nào cho tôi xin một bản".Tớ hơi...sợ tí chút vì thấy ông ta cứ bô lô ba la như chỗ không người vội giải thích " Đâu có!đâu có ! Tôi nào nhìn thấy mặt mũi nó như thế nào đâu.Vả lại có gửi cho tôi,tôi cũng chẳng dám nhận .Cái tội "làm ra,tàng trữ,phát tán tài liệu chống phá nhà nước " đang sắp sửa chụp lên đầu tôi rồi đấy!Ông nói nhỏ cho tí chút! Nào ngờ ông ta lại lên giọng,to hơn:-"Sợ cái đéch gì cơ chứ! Ai thèm bỏ tù cái thằng già 83 vừa chống gậy vừa vịn vai vợ mới bước nổi đến cái "cổng địa ngục "này ! Bà vợ: "Khổ thân ông ấy, về hưu 2 năm nay , bỏ chức tổng giám đốc trở thành "tổng nhàn rỗi" nên ông ấy chỉ suốt ngày cắm cúi với cái computer tưởng sẽ giải trí được lúc cuối đời. Ai ngờ càng mê lên mạng thì lắm lúc ông ấy suýt mất mạng. Có lần, ông ấy đọc xong một tin gì đó thì bỗng dưng nổi khùng lên rồi tăng xông lên vùn vụt. Thần kinh đang ngày càng "có vấn đề"...chẳng biết cãi nhau với ai,nổi khùng với ai ,ông ấy chỉ biết cãi nhau với.....cái Tivi. Có lần vừa nghe một cái tin nào đó không vừa ý ,ông tắt máy cái phụt rồi bỏ đi ,kèm theo những câu chửi rủa mà chẳng ai phải nghe.. ngòai tôi cả!".

- Sống cứ như bà mà cũng đòi viết văn, viết báo!

- Biết lắm chỉ khổ, tôi chẳng cần biết ai là chủ tịch nước, ai là thủ tướng. Thằng nào cũng giống thằng nào thôi! Biết chỉ thêm đau đầu, không làm được, không viết được như ông Nguyễn Khải, chẳng cần phải đi tìm cái tôi nó mất hay nó còn ra sao? bao giờ,? ở đâu.? Ấy vậy mà, tôi vẫn cứ viết những chuyện chẳng dính gì đến chính trị, chính chọe gì. Chuyện bà bán xôi bắp nuôi con thành thạc sỹ, chuyện em bé mồ côi Cầu ông Lãnh.... chuyện ung thư, sida vẫn vui sống đến cuối đời. Chẳng cần ai chỉ đạo chỉ điếc gì... chẳng va chạm ai... Gửi đâu đăng đấy.

- Đấy ông Tô Hải xem, nhà văn, nhà báo mà ăn nói như thế đấy! "Đi tìm cái tôi đã mất" của Nguyễn Khải hay như thế mà bà ấy lại nói rằng viết để làm gì trong khi sống thì chẳng dám viết. ?Nói như bà thì đúng là không còn tư cách gì để cầm bút nữa. Thôi tôi đếch khám bệnh khám biếc gì nữa

Và cứ thế ông vùng vằng đi về chẳng cần thèm chào hỏi gì hai vợ chồng tớ nữa

Bà xã tớ gợi ý cho nữ nhà văn (xin phép cho tớ được giấu tên). -" Chạy theo ông ấy đi, giữ ông ấy lại.! Nhưng muộn quá mất rồi, ông thì hầm hầm ra đi không quay đầu trở lại, bà thì :"mặc kệ ông ấy,! cho ông ấy đi xe ôm về. "Lần sau, tôi chả dại gì mà đưa ông ấy đi khám bệnh nữa",

Thế đấy, chỉ ở cái cổng thiên đường này mà tớ đã thấy được cái "quan trí " của dân tộc ta nó bi-đát- đờ- xút đến chừng nào. Tuy nhiên, tớ cũng thấy được le lói những niềm vui vì chính ở cái nơi mà hầu hết những con người đã không còn nhiều hòai bão, nhiều toan tính, mưu ma chước quỷ, kiếm chác, tranh giành... những con người đã qua nhiều phen đấu tranh giữa cái sống và cái chết, và khi "cổng thiên đường" đã sẵn sàng chào đón các cụ U70,U80,U90 ra đi trong trật tự khỏi kẹt xe, ket lô cốt bằng những con số điểm danh,bằng những phòng chờ khá tươm tất thì chính là lúc những lời ăn, tiếng nói thiệt thà nhất, thậm chí bất cần đời được phát ngôn thỏai mái chẳng sợ ai ghép vào các tội "mất lập trường", "bị bọn xấu kích động"hoặc "âm mưu lật đổ chính phủ" nữa

Ai không tin cứ đến bệnh viện Vì dân (tức Thống Nhất- tức Cổng thiên đường), giả vờ là bệnh nhân ngồi ở mấy phòng chờ thì khắc biết.

Tớ không hề phịa.

Tô Hải
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Những Tỷ Phú Hào Phóng Nhất Thế Giới

Trong số 793 tỷ phú đôla của thế giới, tạp chí Forbes chỉ tìm thấy 11 người sẵn sàng cho đi hơn 1 tỷ USD để giúp đỡ người khác. Trong số đó, không thể không nhắc tới Bill Gates hay Warren Buffet.

Ngoài 11 tỷ phú trên, còn có 3 người tuy tài sản chỉ đáng giá trăm triệu USD, nhưng vẫn chi nhiều hơn 1 tỷ USD để hỗ trợ cộng đồng và giúp đỡ những người kém may mắn. Do đó, họ cũng được liệt kê vào danh sách tỷ phú từ thiện của thế giới.

Hầu như tất cả 14 tỷ phú này đều làm giàu bằng chính đôi bàn tay của mình, chỉ trừ một người có tài sản nhờ thừa kế. Trong đó, Thị trưởng New York Michael Bloomberg và người giàu nhất Hong Kong Li Ka-shing từng bỏ học từ năm 15 tuổi. Năm trong số 14 người tạo lập thành công trong lĩnh vực công nghệ.

Ngay cả những người hào phóng nhất cũng phải bớt hào phóng hơn trong suy thoái. Điều này chứng minh một sự thật rằng phần lớn số tiền từ thiện trích ra từ thị trường chứng khoán, vốn mất khá nhiều giá trị khi kinh tế lao đao.

Một thống kê của Mỹ cho thấy tổng số tiền làm công tác nhân đạo đã giảm 2% trong suy thoái. Ngay cả tỷ phú nổi tiếng nhân từ Warren Buffet, người mỗi năm một lần trích cổ phiếu làm từ thiện, cũng chỉ đóng góp 1,25 tỷ USD hồi tháng 7 vừa rồi, ít hơn năm ngoái 500 triệu USD và giảm 350 triệu USD so với 2006.

Một điểm đáng chú ý nữa trong danh sách là số lượng người Mỹ chiếm áp đảo với 10 trên tổng số 14 nhân vật. Tỷ lệ này cao hơn nhiều so với con số 45% tỷ phú thế giới hiện sống ở Mỹ. Nhiều người Mỹ khác cũng từng nổi tiếng với lòng nhân từ như Andrew Carnegie và David Rockefeller.

"Một trong những lợi thế của nước Mỹ là lòng bác ái. Những nơi khác như Mỹ Latinh không hề có các tổ chức chuyên đi làm công tác nhân đạo", Peter Fuchs, người đứng đầu quỹ Viva Trust nói.

Trong khi đó, tỷ phú Li Ka-shing, đại diện duy nhất của châu Á, từng phát biểu: "Giá trị truyền thống của châu Á khuyến khích, thậm chí đòi hỏi người giàu phải giúp đỡ những người kém may mắn hơn. Ngay cả khi các chính phủ không có chủ ý xây dựng nền văn hóa cho tặng, chúng tôi vẫn luôn tâm niệm trong tim về trách nhiệm đóng góp cho xã hội và chăm sóc trẻ em".

Để lập danh sách và tính toán các con số, Forbes phải liên hệ nhiều quỹ phi lợi nhuận, chuyên gia, tổ chức, các nhà kinh tế và hỏi chính nhà hảo tâm. Chỉ có tiền đã được chi một cách công khai mới được tính.

Tỷ phú William Barron Hilton từng cam kết sẽ dành 1 tỷ USD làm từ thiện. Nhưng ông không được liệt kê vì số tiền này sẽ chỉ được hiến tặng sau khi ông chết. Tỷ phú Mexico Carlos Slim Helú thành lập Quỹ Carlos Slim và đóng góp tới 4,5 tỷ USD vào đó. Tuy nhiên, ông cũng không được đưa vào danh sách do quỹ này nhất quyết không tiết lộ thông tin.
1. Bill Gates

Image

Bill Gates, tổng số tiền từ thiện: 28 tỷ USD.
Ảnh: propertyinvesting. net


Tiền quyên góp của Bill Gates rải đều khắp các lĩnh vực, từ hệ thống máy tính của Đại học Harvard đến xây dựng thư viện, trường học và quyên góp cho các quỹ địa phương. Việc quyên tiền của ông được chính thức quy về một mối từ năm 1999 khi thành lập quỹ Bill & Melinda Gates Foundation, với số tiền ban đầu 15 tỷ USD lấy từ cổ phiếu Microsoft. Quỹ này nhận được sự ủng hộ lớn của người bạn thân lâu năm Warren Buffet. Kể từ đó đến nay, hàng năm quỹ của vợ chồng nhà Gates chi trung bình 3 tỷ USD mỗi năm, tập trung vào chăn sóc sức khỏe, đặc biệt cho 3 căn bệnh AIDS, sốt rét và lao phổi.
2. George Soros


Image
George Soros, tổng số tiền từ thiện: 7,2 tỷ USD.
Ảnh: Forbes


Soros ủng hộ cho nhiều lĩnh vực như làm sạch bệnh viện tại California, đóng góp cho nhiều nghiên cứu khoa học tại Nga. Quỹ mà ông đóng góp nhiều nhất, Viện Open Society, chi 540 triệu USD riêng trong năm ngoái, chủ yếu vào việc nâng cao tính dân chủ. Một trong những lĩnh vực Soros chú trọng những năm gần đây là giúp đỡ cộng đồng thiểu số chống lại sự phân biệt chủng tộc, bao gồm những người Roma tại Đông Âu và người Hồi giáo tại Tây Âu.
3. Gordon Moore


Image
Gordon Moore , tổng số tiền từ thiện: 6,8 tỷ USD.
Ảnh: Forbes


Người sáng lập ra hãng Intel nổi tiếng với giọng nói và phong thái nhỏ nhẹ. Năm 2000, ông cùng vợ dành 6 tỷ USD lập ra quỹ Gordon and Betty Moore Foundation. Quỹ tập trung vào nghiên cứu khoa học, các vấn đề môi trường và đào tạo y tá. Ý tưởng thành lập quỹ thai nghén sau một lần vợ của Moore là Betty bị một y tá tiêm nhầm thuốc.
4. Warren Buffett


Image
Warren Buffett , tổng số tiền đóng góp: 6,7 tỷ USD.
Ảnh: Forbes
Hồi 2006, Warren Buffett từng đưa ra cam kết sẽ đóng góp cho Quỹ của vợ chồng Bill Gates 30 tỷ USD trong vòng 20 năm. Cũng như sự khôn ngoan khi ông luôn đầu tư đúng chỗ, Buffett khẳng định tiền quyên góp của ông sẽ trở nên có ích hơn nếu đưa cho nhà Gates. Bill Gates từng phát biểu trong chương trình Charlie Rose: "Nếu bạn nhỡ tay sử dụng sai mục đích tiền của chính mình, cảm giác sẽ đỡ tồi tệ hơn so với việc phung phí tiền của người khác".
5. Eli Broad


Image
Eli Broad, tổng số tiền đóng góp: 2 tỷ USD.
Ảnh: Forbes


Khởi nghiệp là một công nhân xây dựng, Broad làm giàu nhờ tham gia vào lĩnh vực bảo hiểm. Tiền từ thiện của ông tập trung vào giáo dục, bao gồm đóng góp cho các trường học. Ông cũng ủng hộ cho bảo tàng nghệ thuật đương đại tại quê nhà Los Angeles. Lần gần đây nhất, Eli Broad cùng vợ đã trao 600 triệu USD cho các viện mới thành lập tại Harvard và M.I.T. Hai vợ chồng ông còn dự định sau này sẽ cho đi tất cả gia sản của họ, hiện ước tính đạt 5 tỷ USD.
6. James Stowers


Image
James Stowers, tổng tiền quyên góp: 1,9 tỷ USD.
Ảnh: Forbes


Stowers không còn có mặt trong danh sách 400 người giàu nhất thế giới từ năm 2000. Tuy nhiên, khác với những người bị loại vì chết hoặc mất tiền, ông trùm quỹ tương hỗ xuống hạng vì đã đóng góp 1,2 tỷ USD cho các khoa viện và công tác nghiên cứu khoa học. Mới đây, ông cùng vợ tiếp tục quyên 700 triệu USD cho việc nghiên cứu bệnh ung thư, bệnh tim và tiểu đường.
7. Vợ chồng Herbert và Marion Sandler

Image

Vợ chồng Herbert và MSandler, tổng số tiền quyên góp: 1,5 tỷ arion USD. Ảnh: Forbes


Nhà Sandlers từng bán Ngân hàng Golden West do họ sáng lập cho Ngân hàng Wachovia lấy 25 tỷ USD hồi 2006. Kể từ đó, họ bắt đầu công tác từ thiện bằng cách bỏ ra 1,3 tỷ USD thành lập quỹ của riêng mình. Nhà Sandlers cũng tài trợ cho nhiều tổ chức khác và các nghiên cứu khoa học, đặc biệt là nghiên cứu tìm ra cách chữa bệnh hen.
8. Michael Bloomberg

Image
Michael Bloomberg, Ttng số tiền quyên góp: 1,5 tỷ USD.
Ảnh: Forbes


Tỷ phú Bloomberg luôn âm thầm đi làm từ thiện ngay cả khi ông đang tranh cử nhiệm kỳ thứ ba chức Thị trưởng New York. Hồi 2007, ông chuyển 900 triệu USD vào quỹ từ thiện của gia đình. Ngoài ra ông còn tham gia đóng góp cho quỹ của vợ chồng nhà Gates nhằm chống lại việc hút thuốc. Ngoài ra, ông còn góp 200 triệu USD cho trường cũ Johns Hopkins University nơi ông ngồi trong ban điều hành, 50 triệu USD cho liên hợp Princeton Carnegie và hơn 200 triệu USD cho hơn 850 tổ chức xã hội khác. Bloomberg từng tuyên bố sau khi nghỉ hưu và xa rời chính trị, ông sẽ dành toàn bộ thời gian để phân phát khối tài sản trị giá 16 tỷ USD.
9. Li Ka-shing

Image

Li Ka-shing, tổng số tiền đóng góp: 1,7 tỷ USD.
Ảnh: Forbes


Nhà hảo tâm của châu Á từng có tuổi thơ không mấy êm đềm khi phải bỏ học từ năm 15 tuổi để đi làm phụ giúp gia đình. Sau những thành công trên thương trường, ông thành lập quỹ từ thiện vào năm 1980, tập trung vào giáo dục và phổ biến văn hóa. Một trong những nơi được tỷ phú Li đóng góp nhiều nhất là Đại học Shantou, nơi nhận 420 triệu USD suốt nhiều năm liền. Vào tháng 1/2005, ông bán cổ phần tại ngân hàng Canada Imperial Bank of Commerce và trích ra 1 tỷ USD vào quỹ của mình. Hồi 2006, Li từng tuyên bố sẽ dành một phần ba trong khối tài sản 16,2 tỷ USD vào quỹ từ thiện mà ông thường âu yếm gọi là "đứa con trai thứ ba".
10. Dietmar Hopp


Image
Dietmar Hopp, tổng số tiền quyên góp: 1,25 tỷ USD.
Ảnh: Forbes


Đồng sáng lập của hãng phần mềm Đức SAP quyên góp tới 70% cổ phần do ông sở hữu hồi 1995 vào quỹ từ thiện mang tên ông. Quỹ Dietmar Hopp tập trung nghiên cứu chữa ung thư, các bệnh của trẻ em, và nâng cao tinh thần thể dục thể thao cho thanh thiếu niên. Tuy nhiên, việc quản lý tài chính của quỹ này không thành công dẫn đến việc năm 2003, Hopp lại thành lập ProJustitia, một tổ chức phi lợi nhuận làm các nghiên cứu khoa học về hệ thống luật pháp của Đức. Nếu không làm từ thiện, chắc chắn Hopp đã không bị rơi ra khỏi danh sách 793 tỷ phú thế giới trong năm nay và khối tài sản có thể đạt 2 tỷ USD.
11. Michael Dell

Image

Michael Dell, tổng số tiền từ thiện: 1,2 tỷ USD.
Ảnh: Forbes
Hồi 1999, Michael cùng vợ mình là Susan Dell thành lập quỹ mang tên họ với mục đích nâng cao điều kiện sống cho trẻ em nghèo tại vùng đô thị. Tiền được dành làm học bổng cho những em nhỏ có thành tích học tập tốt, và để quyên góp cho các trường học. Gần đây, Dell còn mở rộng hoạt động sang ngăn chặn bệnh béo phì ở trẻ em.
12. Klaus Tschira

Image

Klaus Tschira, tổng số tiền quyên góp: 1,1 tỷ USD.
Ảnh: Forbes


Cùng với Dietmar Hopp, người đồng sáng lập hãng phần mềm SAP đồng thời là nhà vật lý Klaus Tschira cũng từng góp 7 triệu USD từ cổ phiếu để thành lập tổ chức phi lợi nhuận Klaus Tschira Stiftung. Tổ chức này hỗ trợ nghiên cứu toán, khoa học công nghệ và khoa học tự nhiên. Là một nhà thiên văn nghiệp dư, tên ông được đặt cho một ngôi sao nhỏ. Ông đã rời bỏ SAP để dành trọn thời gian cho tổ chức từ thiện, hiện có trụ sở tại ngôi nhà cũ của người từng đoạt giải Nobel hóa học, Carl Bosch. Vài trong số những chương trình được Tschira tài trợ là hội trại máy tính và giao tiếp cho những người khiếm thị, các giải thưởng phần mềm dành cho những sinh viên ngành máy tính.
13. Stephan Schmidheiny

Image

Stephan Schmidheiny, tổng số tiền từ thiện: 1 tỷ USD.
Ảnh: Forbes


Là thế hệ thừa kế thứ tư của một hãng công nghiệp Thụy Sĩ - Đức, Stephan Schmidheiny, quyết định nghỉ hưu vào năm 2003 để dành toàn bộ thời gian cho công tác nhân đạo. Năm vừa rồi ông thành lập quỹ Viva Trust, đầu tư tiền vào công ty ống nước và trồng rừng Grupo Nueva. Lợi nhuận của công ty này được dùng cho các hoạt động phát triển xã hội tại Mỹ Latinh.
14. Ted Turner

Image

Ted Turner, tổng số tiền làm từ thiện: 1 tỷ USD.
Ảnh: Forbes


Có vẻ như Ted Turner là ngôi sao ngành giải trí đầu tiên chi tiền tỷ đề làm từ thiện. Trùm truyền thông của Mỹ từng nhiều lần chỉ trích các tỷ phú khác vì tội keo kiệt và không chịu phân phát đồng nào. Năm 1998, ông cam kết sẽ dành 1 tỷ USD cho các tổ chức nhân đạo thuộc Liên Hợp Quốc. Kể từ đó đến nay, hàng năm ông đều đặn chi tiền để thực hiện lời hứa, kể cả khi tài sản bốc hơi đáng kể sau vụ sáp nhập của hai hãng AOL và Time Warner.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »


Image


Đọc hồi ký của Nhạc sĩ Tô Hải

Vào cái đêm bước vào tuổi 80 được 8 tháng 26 ngày, nhạc sĩ Tô Hải đã viết những dòng sau đây cho đoạn kết cuốn hồi ký của mình: “Hãy cho tôi được chết như các anh Trần Độ, Lê Liêm…, khi đăng ‘cáo phó’ không có cái mục ‘đảng viên Đảng CSVN’, dù so với các anh, tôi chỉ là con tôm, con tép! Các anh đã ‘được khai trừ’. Các anh đã dám ‘công khai chống Đảng Cộng sản’, dám công khai nhận ‘bản án đầy vinh quang’! Không hề sợ hãi, cúi đầu. Không hèn lâu như tôi.” (trang 469)

Cầu nguyện như vậy, nhưng ông cũng đã vùng lên thét lớn: “Phải sống! Tôi phải sống. Vì có sống tôi mới có thể làm nhân chứng cho cái thời đại… đểu cáng nhất trong lịch sử nước tôi, chẳng tư bản, chẳng cộng sản, chẳng ra ngô ra khoai, chẳng phải, chẳng trái, chẳng luân, chẳng lý, chẳng luật, chẳng pháp, thậm chí chẳng cha mẹ, anh em, họ hàng, làng xóm gì hết!” (trang 375)

Người viết những dòng đó chính là người đã từng “vừa làm lính trong ‘tổ chức’ (Tô Hải vào Đảng Cộng sản từ năm 1949), vừa sáng tác, vừa biểu diễn với cả tâm hồn và trái tim, rất tự nguyện, rất hiến dâng, không mảy may mặc cảm, suy tính, tôi đã sẵn sàng ra chiến trường chết như một chiến sĩ với câu hát ‘Đấu tranh này là trận cuối cùng…’ trên môi” (trang 439), là người đã có công lớn trong sự nghiệp “dùng âm nhạc phục vụ động viên lính cụ Hồ”. (trang 439

Bởi thế cho nên ông đã sám hối một cách vật vã: “Gần hết cuộc đời, tôi vẫn chỉ là ‘con đại bàng… cánh cụt’, chạy lè tè trên mặt đất mà vẫn vấp ngã đến gãy mỏ, trụi lông… Nhưng, ‘vừa là tội đồ vừa là tòng phạm’, làm sao những con đại bàng cánh cụt kia có thể bay cao, bay xa? Thôi thì xin làm con sói của Alfred de Vigny, con bói cá của Musset tru lên tiếng rú cuối cùng, phanh ngực, xé lòng, hiến cho lịch sử một mẩu trái tim, một mẩu trí óc, một chút hơi tàn của thân xác.” (trang 54)

Tâm trạng ông giống như tâm trạng của Nguyễn Đình Thi sám hối lúc sắp từ giã cuộc sống:

“Tất cả người tôi còn nhiều bùn tanh
Mặt tôi nhuốm xanh, nhuốm đỏ
Tay tôi vương nhiều đồ bỏ
Nhiều dây nhợ tự buộc mình
Thôi! Xin tha cho mọi lỗi lầm
Quên cho những dối lừa khoác lác
Tôi biết tôi đã nhiều lần tàn ác
Và ngu dại còn nhiều lần hơn…”

Tô Hải đã từng van xin: “Hi vọng rằng sau khi đọc hồi ký này người đọc sẽ thương cảm cho tôi, cho các bạn tôi, những người ngây thơ, tội nghiệp, cả cuộc đời bị lừa dối và đi dối lừa người khác một cách vô ý thức” (trang 53). Ông nghĩ mình vừa là tội đồ, vừa là tòng phạm bởi vì: “Chúng ta mới dại dột làm sao! Chúng ta đã đánh đổi lương tâm trong sáng ấy lấy một thứ lương tâm đen tối không phải của mình. Lương tâm thời buổi đánh nhau của tao, của chúng mày, ơi các bạn của tôi, đều là lương tâm của… người khác! Lương tâm của ông Diệm, ông Thiệu chống cộng sản, lương tâm của ông Mác, ông Lê, ông Mao, ông Hồ không khoan nhượng với kẻ thù giai cấp!” (trang 92). Cho nên: “Ôi! Cái đầu biết nghĩ, trái tim biết xúc động làm khổ những con người có học như tao, như chúng mày đấy, các bạn của tao ơi! Thằng giàu có bên xứ người cũng như thằng trắng tay trong lòng tổ quốc đều có nỗi đau tự đánh mất hết tuổi trẻ của mình. Chúng mày cảm thấy lạc lõng giữa trời Âu, Mỹ. Còn tao, đau hơn, thấy mình lạc lõng trên chính đất nước mình, ngay giữa lòng con, cháu mình. Một cuộc tha hương trên đất mẹ.” (trang 91)

Sao lại cảm thấy “lạc lõng trên chính đất nước mình”? Vì, trong khi từ chốn thị thành ồn ào đến nơi thâm sơn cùng cốc, trẻ phải học, già phải tụng niệm rằng cuộc chiến Nam-Bắc vừa qua là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thì Tô Hải cho rằng “Với tôi cũng như với nhiều người được đọc, được nghe và có được tí chút độc lập suy nghĩ thì cuộc chiến chống Mỹ chẳng có gì là bất ngờ. Cuộc ‘mà cả’ về Việt Nam đâu có ở Việt Nam. Nó diễn ra từ khi Nixon sang Tàu, Brezhnev sang Mỹ, ở các cuộc bắt tay, khi nóng, khi lạnh giữa các ông trùm chính trị ở các cuộc hội đàm công khai, bí mật và kết cuộc là sự ‘nắn gân’, đọ sức, mặc cả nhau bằng cuộc chiến leo thang ở Việt Nam. Đâu phải nó nổ ra từ vụ hải quân tí hon Bắc Kỳ dám ‘đánh cú liều’ vào tầu Maddox ở vịnh Bắc Bộ! Quần áo, mũ, giày, thắt lưng, bao đạn, lương khô… tất cả là… Tàu! Kalachnikoff, T54, Sam I, Sam II, Mig 17 hay Mig 21… tất cả đều đến từ Matxcơva… Còn dân Việt Nam chỉ có… người, mà con người Việt Nam thì chỉ cần đứng trước hai chữ ‘xâm lược’ là sẵn sàng, kẻ thù nào cũng… ‘oánh’!” (trang 266)

Trong tâm khảm ông, cuộc chiến tương tàn ấy thật là hãi hùng: “Tất cả những người từng nhìn tận mắt cảnh ‘tay phải chém tay trái’, từng khóc lặng trước cái chết của cả một tiểu đoàn, một đoàn xe, một đơn vị thanh niên xung phong, từng ngửi mùi xác chết ở các ngọn ‘đồi thịt băm’ trong chiến dịch Lam Sơn 719, liệu còn lòng dạ nào viết lên những khẩu hiệu như ‘Tiêu diệt đến tên ngụy cuối cùng’? Trong cuộc chiến đã được Việt Nam hóa, bên ăn cơm quốc gia cũng như bên uống nước lã cộng sản đã đẩy ra mặt trận cả trăm ngàn trai trẻ Việt để họ lăn xả vào chém giết nhau! Những ‘đồi thịt băm’ mới này còn kinh hoàng hơn nhiều so với ‘đồi thịt băm’ Khe Sanh, vì ở đó người Mỹ có đủ phương tiện dọn sạch những gì còn lại của một xác lính Mỹ. Trái lại, trong chiến dịch Lam Sơn 719, hàng trăm thây người chỉ là những đống thịt thối rữa phơi mưa, phơi nắng làm mồi cho hàng đàn quạ đen và chó hoang! Chẳng bên nào kịp lo chôn cất hoặc thắp bó hương cầu cho linh hồn họ được siêu thoát! Tôi có thêm dịp để tự đặt cho mình những câu hỏi: ‘Thằng Mỹ ăn cái giải gì trong cuộc chiến hao tài tốn của này?’ Hay: ‘Chỉ vì các anh là cộng sản nên tôi phải diệt?’ Hoặc: ‘Vì sao nhiều người sợ, nhiều người căm cộng sản đến thế?’ v.v…” (trang 288)

Không phải chỉ riêng Tô Hải, hồi ức chiến trường xưa càng rùng rợn bao nhiêu thì mặc cảm tội lỗi của các văn nghệ sĩ càng ghê gớm bấy nhiêu. Hãy nghe Chế Lan Viên:

“Mậu Thân, 2000 người xuống đồng bằng
Chỉ một đêm, còn sống có 30!
Ai chịu trách nhiệm về cái chết của 2000 người đó?
Tôi, tôi người viết những câu thơ cổ võ
Ca tụng người không tiếc mạng mình
trong mọi cuộc xung phong…”

Tô Hải không chỉ nguyền rủa cuộc chiến tranh Nam-Bắc tương tàn mà còn xét lại cả cuộc kháng chiến chống Pháp: “Sau này, loại thanh niên ‘yêu nước hồn nhiên’ bọn tôi đâu có dám lên tiếng khi nghe người ta tự tâng bốc kể công với lịch sử rằng: ‘Đảng đã lãnh đạo toàn dân nổi dậy đánh Pháp, đuổi Nhật giành tự do, độc lập cho đất nước!’ Và các nhà viết sử nhà nước cộng sản cũng lờ tịt luôn cái chuyện Việt Minh cướp chính quyền từ chính phủ quân chủ lập hiến Trần Trọng Kim — Không khác vụ lật đổ chính phủ Kerensky ở nước Nga trong lúc nội tình nước này đang bối rối. Thực tế lúc ấy là Việt Minh đã xuất hiện như tổ chức duy nhất, chỗ dựa duy nhất, lá cờ duy nhất, để lũ thanh niên ‘yêu nước ngơ ngác’ chúng tôi đi theo. Chúng tôi có biết gì đến cái đảng cộng sản cộng xiếc, nhất là ông Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh sau đó còn công khai tuyên bố giải tán Đảng của ông ta trước thế giới và đồng bào cả nước! Trong chính phủ có đầy đủ các vị Huỳnh Thúc Kháng, Phan Kế Toại, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh… và cả ‘cố vấn’ Bảo Đại nữa. ‘Quả lừa lịch sử’ bắt đầu chính là từ đây! Vận nước khốn nạn nhất cũng bắt đầu từ đây! Tại sao Việt Nam không độc lập như Mã Lai, Nam Dương, Ấn Độ, Thái Lan, Phi Luật Tân… mà phải qua 30 năm chém giết kẻ thù thì ít… mà chém giết nhau thì nhiều?” (trang 125)

“Không có ông Hồ, không có cái đảng này thì đâu đến nỗi cả dân tộc tôi bị chiến tranh tàn phá, anh em, họ hàng đâu đến nỗi chia lìa, chém giết lẫn nhau, đâu đến nỗi thua xa những nước cũng thuộc địa như nước tôi đến cả thế kỷ về mọi mặt.” (trang 388)

“Tại sao các dân tộc khác, xung quanh ta thôi, họ đều là thuộc địa của Anh, Pháp, Hà Lan, Mỹ lại được độc lập, tự do, mở mang đất nước, kinh tế phát triển? Còn Việt Nam? Cái gì đã để cho họ ghét tới mức thay nhau diệt sạch dân mình thế nhỉ? Hỏi tức là trả lời! Tôi đã một lần nữa khẳng định được lý do của cuộc chiến tranh này: Đây là cuộc chiến của loài người chống nạn cộng sản vô luân, vô đạo lý! Đây là sự hy sinh cực kỳ vô duyên cho cái chủ nghĩa không tưởng, cho sự tiếm quyền của một lớp người âm mưu làm vua của cái nước Việt Nam khốn khổ này bằng chiêu bài Độc Lập, Tự Do mà ở các nước, người ta đã có từ nửa thế kỷ nay rồi vì may mắn thay, họ không có Đảng Cộng sản cầm quyền!” (trang 272)

Ông như vừa trải qua một “giấc Nam Kha khéo bất bình” để rồi tỉnh dậy bàng hoàng thấy “Trước mắt ngày nay chẳng có cái gì hết, không lý thuyết cách mạng vô sản, không đảng cộng sản, không ‘Bác Hồ’ anh minh lãnh đạo mà chỉ là một cuộc vơ vét cuối cùng của đoàn thủy thủ chuẩn bị nhảy khỏi con tầu sắp đắm với hành khách là nhân dân Viêt Nam bất hạnh! Đoàn thuỷ thủ ấy gồm những tên lưu manh vô học, những tên giám-đốc-không-vốn, những tay cầm đầu hải quan mà buôn lậu, những tay phụ trách tư pháp, toà án, thanh tra chuyên nghề kết án người vô tội, những tên quản lý nhà đất mà cướp nhà, cướp đất để chia nhau vô tội vạ, những kẻ buôn lậu ma tuý nằm ngay trong những trung tâm đầu não chống ma túy. Và ở bậc cao nhất của cung đình là những tên đại lưu manh trơ tráo, chẳng Mác chẳng Xít gì, đang trấn áp, đe dọa người dân bằng nhà tù, súng đạn, để ăn cướp bất cứ thứ gì có thể cướp, vơ vét của cải đất nước làm của riêng, lấy tiền bỏ vào các tài khoản khổng lồ ở nước ngoài do con, cháu, bồ bịch, tay chân chúng làm chủ!” (trang 79)

Ông không tin vào thực tài của những người lãnh đạo khi nhân ra: “Hàng lô hàng lốc những ông giám đốc, tỉnh uỷ, trung ương uỷ viên, đại biểu Quốc hội đều có bằng tiến sĩ, thạc sĩ, cử nhân… mà chẳng hề có tên trong hồ sơ sinh viên, nghiên cứu sinh ở bất cứ trường đại học nào! Hầu hết đều là tiến sĩ, thạc sĩ… Mác-Lênin, tốt nghiệp ở cái trường Đảng do ông giáo sư tiến sĩ tên Nguyễn Đức Bình, uỷ viên ‘bộ chính troẹ’ làm… giám đốc!” (trang 395)

Với những người lãnh đạo như thế thì lời cảnh báo sau đây của Tô Hải không phải hoàn toàn không đáng lưu tâm: “Cái đểu cáng nhất của bọn cầm quyền hiện nay là chúng dám làm bất kỳ điều gì có thể làm miễn ních đầy túi tham. Chúng sẵn sàng bán nước cho bất kể kẻ nào muốn mua, dù là Tầu, Mỹ, hay Nga. Một ngày nào đó chúng sẽ tuyên bố giải tán Đảng chưa biết chừng. Đó là lúc chúng đã ‘hạ cánh an toàn’ với đống của cải chiếm được. Cũng chưa biết chừng có những tên còn tự đứng ra, hoặc cho con cháu đứng ra lập Đảng này, Đảng nọ, rồi lớn tiếng chửi cái Đảng hiện tại hơn ai hết… để lại chiếm những ghế ngon lành trong một chính quyền mới của những tên tư bản đích thực mà chính chúng sẽ là đại diện!?” (trang 404)

Lời cảnh báo của Tô Hải càng làm ta sửng sốt, lo ngại khi thấy người ta ầm ầm đưa Trung Quốc vào Tây Nguyên, thiết lập xa lộ thênh thang nhất, hiện đại nhất dẫn thẳng từ Trung Quốc đến Hà Nội, lập đường dây nóng giữa các nhà lãnh đạo Việt Nam hiện nay với các nhà lãnh đạo Trung Quốc. Càng kỳ lạ hơn là người ta không chỉ đàn áp các đám biểu tình ở trong nước mà cả đồng bào Việt Nam ở các nước khác biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lấn lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam!

Đối với Cụ Hồ, nhiều tư liệu có thể tin là xác thực đã chỉ rõ rằng Cụ từng cưới một bà y tá người Trung Quốc tên là Tăng Tuyết Minh làm vợ (đám cưới này có cả vợ ông Chu Ân Lai dự), Cụ cũng từng có một con trai với bà Nông Thị Xuân (người con trai này tên là Nguyễn Tất Trung, hiện đang ở Hà Nội). Về chuyện này, nhạc sĩ Tô Hải đã có cái nhìn thể tất: “Ông ta cũng là con người, cũng có quyền lấy vợ đẻ con, thậm chí ba bốn vợ như ông Lê Duẩn, cũng có quyền bồ bịch như ông Mitterand, ông Clinton chứ! Cái tội của ông là do bọn gọi là cộng sản An Nam phong kiến cố tình dựng ông ta lên thành ‘thánh sống’ (và ‘thánh chết’) để lừa bịp cái dân tộc đa số là nông dân thất học, đầu óc còn mê muội về thánh về thần. Ông ta chỉ là một nhà cách mạng chính hiệu cuồng tín với chủ nghĩa Mác-Lê mà thôi.” (trang 388)

Người viết bài này thì cho rằng, cả những người tô vẽ Cụ Hồ thành ông thánh, là vị cứu tinh; cả những ai thóa mạ Cụ là tên dâm tặc, là tội đồ dân tộc đều không đúng. Thực tế, Cụ cũng chỉ là một con người, một con người tài trí, tài trí đến mức có thể làm được những việc rất phi thường theo ý Cụ. (Đánh giá những việc làm ấy là công to hay tội lớn? Lịch sử sẽ còn bàn thảo công phu và sẽ được phán xét công minh.)

Đã là người thì có hỷ, nộ, ái, ố, dục, có xấu tốt, có đúng sai. Người ta thường cho rằng cái sai lớn nhất của Cụ Hồ là đã đưa chủ nghĩa Marx-Lenin vào Việt Nam.

Nếu chỉ lợi dụng chủ nghĩa Marx-Lenin để huy động được nông dân và lực lượng vô sản vào cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc thì chẳng nói làm gì. Đàng này, đúng như nhà văn Nguyễn Khải đã nói trong hồi ký “Đi tìm cái Tôi đã mất”: “Quả thật dân tộc Việt Nam đã thắng lớn trong phong trào đấu tranh giải phóng nhưng lại thua đậm trong công cuộc xây dựng một xã hội tự do, công bằng và dân chủ. Thoát ách nô lệ của thực dân lại tự nguyện tròng vào cổ cái ách của một học thuyết đã mất hết sức sống. Dân mình sao lại phải chịu một số phận nghiệt ngã đến thế!”

Như tự kiểm cuối đời, như lời di huấn viết lúc đã ngọai bát tuần, học giả Nguyễn Khắc Viện cũng thổ lộ: “Đời tôi là đời một thằng ngây thơ. Trong hai chữ ‘thơ’ và chữ ‘ngây’, tôi xin giữ lại cho mình chữ ‘thơ’ vì đã đi theo kháng chiến, còn cái chữ ‘ngây’ để chỉ cái sự đi theo chủ nghĩa xã hội thì xin… vứt nó đi!”

Tô Hải thì quyết liệt hơn. Ông rền rĩ thống thiết: “Tinh hoa đất nước giờ đâu tá? Ai cũng hèn như tôi sao?… Ai sẽ đưa con thuyền Việt Nam khỏi con đường vô định này, nếu những người hèn vẫn không dám nhận là mình hèn, không kiên quyết giã từ cái ngu dại, không lên án những gì mà mình lầm tưởng là ‘vinh quang rực sáng’ lại chính là ‘tội lỗi ngút trời’, không biết khuyên nhủ con cái chớ có giẫm vào vết chân đầy máu và nước mắt mà mình đã đi qua… Phải kiên quyết giã từ cái quá khứ đầy vinh quang vô ích của mình. Chỉ có sự giác ngộ chính trị cuối cùng này mới giải toả được mọi nỗi đau. Sự ‘trở cờ’, ‘phản bội’ để ‘đi tìm một sự trung thành mới’ như Jean Paul Sartre nói không ai dám làm ư? Vì còn… sĩ diện! Vì còn bị quá khứ níu kéo? Bỏ một thứ tà đạo, một niềm tin mù quáng, vứt vào sọt rác cái chiêu bài hoen rỉ, mốc meo, chẳng khác gì ly dị một con vợ độc ác, chẳng yêu gì mình khó lắm sao? Sao rất ít ‘thức giả’ dám tuyên bố công khai: Tôi từ bỏ chủ nghĩa cộng sản?” (trang 411)

Và: “tôi đã nhận ra cái nhục của một thằng suốt đời ăn theo, nói leo, nói dối, đã nhìn thấy bộ mặt thật của cái chủ nghĩa bất lương mà tôi đi theo một cách vô tình và bất đắc dĩ, nhưng không dám rời bỏ nó”. (trang 301)

Nỗi đau khổ đến quằn quại của những người có lương tri như ông còn bị nhân lên là do: cứ tưởng được người ta dắt dẫn mình rồi mình cũng như tình nguyện cùng họ dụ dỗ bao nhiêu đồng bào đổ cả núi xương, sông máu, cả biển đầy nước mắt mồ hôi để xây dựng nên một mô hình xã hội “triệu lần hơn… ” thế nào kia; hóa ra, quanh quéo sao lại trở về với kinh tế thị trường. Cho nên ông không thể lòng không nhủ lòng: “Phải nói lên cho mọi người biết rằng cái giá mà cả dân tộc phải trả bằng hàng chục triệu mạng sống để đổi lấy cái… ‘thị trường tự do’ là cái sẵn có ở các nước cựu thuộc địa nghèo nàn lạc hậu như hoặc hơn Việt Nam trước đây, chẳng cần đến đảng cộng sản, chẳng cần đến các lãnh tụ vô cùng sáng suốt và duy nhất đúng đắn, chẳng cần đến chiến tranh, chẳng cần đến cái gọi là ‘chủ nghĩa anh hùng cách mạng’.” trang 282)

Trớ trêu và cay đắng sao: “những người cộng sản bỗng bừng tỉnh, thấy mình trót bỏ phí cuộc đời để theo một lý tưởng ba lăng nhăng. Vậy thì tội gì mà không tương kế tựu kế, cứ phất cái ngọn cờ rách cộng sản lên mà lập thành một đảng mới, một đảng mafia, làm giầu cho mình và cho con cháu! Cuộc vơ vét bằng hết của cải, tài nguyên đất nước vào tài khoản của mấy thằng cộng sản to đầu nhất bắt nguồn từ những ngày chiếm được ‘viên ngọc Sài Gòn’. Cái trò đánh lận con đen, thay chủ nghĩa cộng sản đạo đức giả bằng chủ nghĩa tư bản đỏ đích thực bắt đầu từ đây.” (trang 360)

Ngộ nghĩnh mà oái oăm sao, mới hôm qua người ta coi giầu có là kẻ thù và tôn cái nghèo lên hàng lãnh tụ, người ta coi “mo cơm, quả cà với tấm lòng cộng sản” là lý tưởng… thì hôm nay, người ta hô toáng lên: “Đảng viên phải biết làm giầu”. Báo Nhân Dân ra ngày 15 tháng 6 năm 1994 còn nêu quy định giầu có là một trong 5 tiêu chuẩn để được bầu vào cấp ủy Đảng.

Cho nên Tô Hải ngao ngán vì quá đỗi thất vọng: “Không cách nào cứu vãn được tâm hồn, đạo đức của một dân tộc khi cả dân tộc đó chạy theo một cuộc thi kỳ quái được công khai khuyến khích: Làm giàu! Đáng sợ hơn là người ta thi nhau làm giàu trên cơ sở… hai bàn tay trắng và cái đầu… rỗng tuếch, cái mồm sẵn sàng nuốt tất cả sắt, thép, nhà, cửa, gỗ, quặng, xi măng… Tiền, vàng, đất đai là của ‘trời ơi’, ‘của chùa’, giờ đây nằm gọn trong tay kẻ có chức, có quyền! Cái chủ nghĩa ‘tư bản rừng rú’, cái thị trường tự do định hướng xã hội chủ nghĩa có một không hai trong lịch sử loài người đã đẻ ra những quái thai ‘tư bản đỏ’, không tài, không vốn và hầu hết không đầu!” (trang 92)

Thật vậy, người ta cứ cố duy trì cho được cái thứ mặt người “kinh tế thị trường”, chân tay quỷ “định hướng xã hội chủ nghĩa” là để tạo ra tình trạng “đất đai là của ‘trời ơi’, ‘của chùa’”. Có thế người ta mới có thể biến hóa để những thứ đó: “giờ đây nằm gọn trong tay kẻ có chức, có quyền”!

Cho nên ngày nay “ở Việt Nam không có cá nhân ăn cắp, ăn cướp mà chỉ có ăn cắp, ăn cướp tập thể, ăn cắp ăn cướp theo băng đảng qua cách phân phối của cải chiếm được. Có tài thánh cũng chẳng truy ra nổi nguồn gốc tài sản mà bốn đời làm việc, với lương bộ trưởng, một người cũng chẳng xây nổi căn nhà đáng giá hàng nhiều ngàn lần tháng lương của anh ta! Nghĩa là có chính sách cho sự ăn cắp và ăn cướp công khai và… có tổ chức.” (trang 389)

Gần kết thúc Hồi ký, Tô Hải lại hơn một lần rền rĩ: “cuộc đời không cho phép tôi… chết sớm như các bạn Xiêm, Ích, Tước, Niệm, Hòa… mà bắt tôi phải sống, sống để trở thành một thằng hèn, hèn cho đến những ngày ‘vừa viết vừa run’ tập hồi ký này.” (trang 440)

Nhưng…

*

Trước sự kiện Khổng Tử đem con gái gả cho Công Dã Tràng, Luận ngữ đã bình rằng:

Công Dã Tràng là học trò của Khổng Tử, đã từng bị ngồi tù. Khổng tử vẫn bằng lòng đem con gái mình gả cho Công Dã Tràng. Vì sao? Theo Khổng Tử, phạm tội mà vi phạm điều nhân là kẻ vô đạo thất đức, phạm tội mà không vi phạm điều nhân là người đáng thương. Công Dã Tràng tuy có tội, nhưng không vi phạm điều nhân. Cho nên vẫn là con người có nhân, kiên trì phấn đấu sẽ đắc đạo (về sau được tôn lên làm bậc tiên hiền), Khổng Tử quyết gả cho Công Dã Tràng để thể hiện lòng tin của mình vào học trò.

Tô Hải dù đã tự nguyện chui vào rọ cộng sản (tức ngồi tù) nhưng không vi phạm điều nhân (chẳng những thế còn làm điều nhân thật đáng trân trọng là đã trên dưới tám mươi, lại đau yếu mà vẫn cậm cạch ngồi viết cuốn hồi ký đầy tâm huyết, rất giá trị này). Cho nên, rồi đây khi đi gặp Khổng Tử, chắc ông nhạc sĩ này sẽ được Khổng Tử gả cho con gái đẹp như “Nụ cười sơn cước” (1).

Chỉ đáng trách là có những bọn người không hề bị “ngồi tù” (hoàn toàn khác chúng tôi, họ không hề bị Mác – Lê mê hoặc, không hề tin vào chủ nghĩa cộng sản mặc dù họ đang cầm thẻ đỏ), nhưng nhờ cả một thế hệ “yêu nước hồn nhiên”, “yêu nước ngơ ngác”, “yêu nước dại khờ”… đổ hết máu xương, mồ hôi nước mắt ra xây ngai vàng hôm nay cho họ được chễm chệ ngồi; để rồi, có ai đó than thân trách phận, ai đó thức tỉnh đem trải nghiệm bản thân ra khuyên nhủ họ thì liền bị họ xua sai nha lục soát, tra vấn, tống tù hay lệnh cho bọn bồi bút vô liêm sỉ trổ tài khuyển mã xuyên tạc, bôi bẩn, lăng nhục. Bất kể đấy là những người đáng bậc cha, bậc anh, bậc thầy của họ.

Gấp Hồi ký lại, tôi ngâm thầm câu hát ngày xưa: “Hỡi gió chiều có nhớ chăng? Mãi mối tình còn vấn vương” (2). Và, tôi thương, tôi yêu Tô Hải.

Hà Nội ngày 24 tháng 8 năm 2009
© 2009 Nguyễn Thanh Giang

nguồn http://www.talawas.org/?p=9395

Chú thích :
(1) Tên một bài hát của Tô Hải
(2) Lời trong bài hát "Nụ cười sơn cước" của Tô Hải
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 8 guests