Bình Luận , Quan Điểm

dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Có thể cứu California được không?

Ngô Nhân Dụng
California vẫn là một tiểu bang bất trị (ungovernable). Ngày 1 Tháng Bẩy, chính quyền hết tiền xài, phải gửi giấy xin nợ, từ các giáo chức đến những người lãnh tiền xã hội hoặc bồi hoàn tiền thuế đóng dư.

Ngân khố hết tiền vì các đại biểu Quốc Hội không thể đồng ý với nhau về ngân sách, khi tài khóa hết hạn. Cố gắng sau cùng là một ngân sách mới của các nghị sĩ đảng Dân Chủ, trong đó họ chịu cắt bớt nhiều tỷ đô la trong các khoản trợ cấp xã hội và giáo dục. Nhưng các đại biểu Cộng Hòa bất đồng ý kiến nên không thành. Vì theo luật tiểu bang thì các biểu quyết về ngân sách phải được 2 phần ba phiếu thuận mới thông qua. Thống Ðốc Arnold Schwarzenegger và các đại biểu Cộng Hòa muốn nhân cơn khủng hoảng ngân sách này phải chấn chỉnh lại toàn thể hệ thống chi tiêu của tiểu bang. Vì trong vài chục năm qua tiểu bang này “sống trong mơ,” khi dư giả thì chi tiêu thong thả vượt trên mức thu nhập, khi kinh tế xuống thì hết tiền xài.

Từ năm 1992 đến nay, số thuế mà California thâu được tăng 167%, nhưng số chi tiêu đã tăng 189%. Tự nhiên, năm này hụt, năm sau lại hụt thêm. Nếu không thay đổi lối sống đó thì không bao giờ chấm dứt cảnh lâu lâu lại khủng hoảng ngân sách. Nhưng thay đổi như thế nào? Ðảng Dân Chủ không muốn cắt giảm các trợ cấp y tế và xã hội cho người nghèo, và bảo hiểm y tế cho một triệu trẻ em, coi đó là bổn phận mà nước này không thể bỏ qua được. Họ cũng không muốn cắt lương bổng công chức và giáo chức vì những nghiệp đoàn này vẫn ủng hộ đảng Dân Chủ. Ðảng Cộng Hòa theo triết lý không tăng thuế, và luôn nhấn mạnh rằng dân California phải chịu suất thuế cao nhất nước Mỹ. Ðảng Dân Chủ thường chiếm đa số ở hai viện Quốc Hội tiểu bang, nhưng không đủ 2 phần 3, nên khi hai đảng không thể thỏa hiệp với nhau thì không ngân sách nào được thông qua.

California quả thật chi tiêu rất rộng rãi. Tiểu bang trả lương cho nhân viên ngành giáo dục nhiều hơn lương của các tiểu bang khác, trung bình cao hơn 35%. California chi tiêu các khoản về xã hội cũng rộng rãi hơn, tính theo đầu người mỗi người dân California chi 70% nhiều hơn số trung bình của dân Mỹ ở nơi khác. Riêng khoản trợ cấp xã hội các tiểu bang khác mỗi người dân chỉ góp công quỹ bằng một phần ba dân California. Số công chức làm việc cho tiểu bang 235,000 người có thể về hưu sau 30 năm công vụ ở tuổi 55 và lãnh hưu bổng cao hơn một nửa tiền lương. Những nhân viên công lực như cảnh sát có thể về hưu lúc 50 tuổi và lãnh lương hưu bằng 90% lương làm việc. Tiểu bang chi tiêu rộng rãi, nhưng California cũng là nơi mức sinh hoạt đắt đỏ hơn mức trung bình toàn quốc. Ðó là một lý do để biện minh đối với những người không muốn thay đổi.

Các đại biểu Quốc Hội tiểu bang cũng được thù lao rộng rãi hơn nhiều so với các tiểu bang khác. Ngoài số lương trên một trăm ngàn, họ còn được công quỹ chi cho về xe hơi, tiền xăng, tiền bảo trì xe; và lương bổng cho nhân viên văn phòng của họ. Cho nên chính các đại biểu Quốc Hội đã đề nghị tự giảm các chi tiêu cho chính mình. Có một đề nghị là mỗi nhân viên văn phòng của các vị đại biểu sẽ chỉ được mua một đôi kính mỗi năm, thay vì hai đôi kính như trước đây (người không đeo kính thì có thể mua kính mát)!

California cũng là một tiểu bang chi tiêu rất nhiều cho các di dân mới tới, trong đó có những người tị nạn. Trung bình số chi cho di dân làm tốn thêm 1,000 đô la thuế cho mỗi người dân sở tại, vì các di dân mới thường lợi tức thấp, không đóng nhiều thuế.

Số thuế lợi tức mà chính phủ tiểu bang thu được nhắm phần lớn vào những người lợi tức cao, nhất là những người kiếm 100,000 đô la một năm trở lên. Còn những người lợi tức bậc trung và thấp thì đóng thuế tương đối thấp hơn nhiều tiểu bang khác. Thuế lợi tức chiếm 53% tổng số thu của tiểu bang, trong đó khoản thuế thu trên lợi tức đầu tư chiếm phần rất lớn. Khi kinh tế suy yếu, những nhà đầu tư không có lời nên không đóng thuế, những giới chỉ huy lãnh lương cao ở các xí nghiệp lớn cũng mất việc hay giảm lương; số tiền thu thuế của tiểu bang bị ảnh hưởng nặng nề. Các vụ khủng hoảng ngân sách ở California thường trùng hợp với các kỳ kinh tế Mỹ suy thoái.

Thuế xăng ở California cao bậc nhất trong toàn nước Mỹ, thuế bảng số xe cao nhất, thuế tiêu thụ cao; và thuế đánh trên lợi nhuận của các doanh nghiệp cao nhất trong số các tiểu bang miền Tây nước Mỹ. Chỉ có thuế nhà đất ở California là thấp hơn nhiều tiểu bang khác. Và đó là do Ðề án số 13 (Proposition 13) được chấp thuận trong một cuộc bỏ phiếu trực tiếp của tất cả các cử tri, cách đây trên 30 năm.

Ðề án 13 được thông qua khi dân chúng California nổi lên phong trào chống tăng thuế, đã hạn chế không cho chính phủ đánh thuế thổ trạch quá 2% trị giá căn nhà và đất. Nhưng đề án này cũng để lại những hậu quả khác là nguyên nhân gây nên cảnh bế tắc ngân sách trong Quốc Hội tiểu bang. Thí dụ muốn đánh thêm thuế, phải có 2 phần ba các đại biểu ở mỗi viện mới được thông qua, tức là cần 2 phần 3 số 40 nghị sĩ rồi lại cần 2 phần 3 số 80 dân biểu ủng hộ. Một di sản khác của Ðề án 13 là cảnh đánh thuế bất công. Những chủ nhà đã mua nhà từ vài chục năm sẽ đóng thuế dựa trên giá căn nhà lúc mua, dù đã được điều chỉnh vẫn thấp hơn giá trị các căn nhà mua gần đây. Vì thế hai ngôi nhà cạnh nhau, giống hệt nhau, nhưng số thuế thổ trạch cao thấp khác nhau rất xa. Ngoài ra, thuế thổ trạch ở California được đóng thẳng cho tiểu bang chứ không đóng cho các thị xã hoặc thành phố như các nơi khác. Vì thế ngân sách các trường học không do các thị xã cung cấp mà lãnh từ tiểu bang. Khi tiểu bang hết tiền thì tất cả các trường đều phải giảm chi tiêu. Từ nay đến sang năm riêng vùng Los Angeles sẽ có đến 2,500 giáo chức bị sa thải.

Chính phủ tiểu bang đang ký giấy nợ vì không có tiền trả lương cho công chức, giáo chức. Người lãnh trợ cấp xã hội cũng sẽ nhận được những giấy nợ (IOU, trong tiếng Anh) hứa đến Tháng Mười sẽ thanh toán. Các người cung cấp dịch vụ hay hàng hóa cho chính phủ cũng chỉ nhận được giấy nợ thay vì tiền mặt. Mọi người có thể đem các giấy nợ này đến cầm thế cho ngân hàng để lấy tiền chi tiêu, nhưng các ngân hàng sẽ chỉ nhận giấy nợ đó trong một vài tuần nữa thôi. Thực ra đối với các ngân hàng thì nhận các giấy nợ đó rồi đến Tháng Mười đi đòi chính phủ trả, với lãi suất 3.75% một năm cũng tốt, nhưng họ sợ lúc đó chính phủ lại khất nợ thêm lần nữa vì chưa có tiền!

Các ngân hàng không lo lắng bằng các người được trợ cấp y tế xã hội hay các bác sĩ chữa cho bệnh nhân trong chương trình Y tế Medi-Cal của tiểu bang. Theo hiến pháp thì nếu tiểu bang có tiền nhưng chưa đủ, họ không được ưu tiên. Ưu tiên hàng đầu là dùng tiền mặt trả lương cho ngành giáo dục và trả nợ các ngân hàng. Tiếp theo đến lượt trả lương công chức và những người lãnh hưu bổng trước thuộc ngành công chức (CalPERS) và giáo chức (CalSTRS). Sau cùng nếu còn tiền mới tới lượt trả cho những nhân viên săn sóc các cụ già hoặc người tàn tật tại gia; và các người làm dịch vụ y tế cho chương trình Medi-Cal.

Cơn khủng hoảng này là một cơ hội để dân chúng California thay đổi hệ thống cai trị khiến tiểu bang này mang tiếng “bất trị,” (ungovernable).

Nhiều người đề nghị phải có một hội nghị tu chính hiến pháp, nhưng sẽ khó tiến hành được. Một đề nghị nhẹ hơn là tu chính một số điều luật do Ðề án 13 tạo nên. Chẳng hạn, tiểu bang có thể trưng cầu ý kiến cử tri với một đề án mới nhằm bãi bỏ điều bắt buộc phải có đa số 2 phần 3 khi chấp nhận ngân sách. Có thể thay đổi cách tính thuế nhà đất, riêng cho những khu thương mại, kinh doanh sẽ được đánh thuế theo trị giá thị trường thay vì theo giá lúc mua.

Một đề nghị thay đổi thể thức bầu cử cũng có thể giúp cả hệ thống cai trị California thay đổi. Ðó là các cuộc bỏ phiếu sơ bộ tại tiểu bang được mở rộng để cho tất cả mọi công dân tham dự, thay vì dành riêng cho cử tri ghi danh trong mỗi đảng. Hiện nay, lối bỏ phiếu trong vòng mỗi đảng gây ra tình trạng những người có khuynh hướng cực tả khuynh loát trong nội bộ đảng Dân Chủ, trong số đó có thành viên tích cực nhất của các nghiệp đoàn; còn những người cực hữu đóng vai chủ động trong cuộc tuyển chọn của đảng Cộng Hòa. Các chính trị gia phải chiều ý các lớp cử tri đó mới hy vọng được chọn làm ứng cử viên của mỗi đảng. Khi vào Quốc Hội họ vẫn phải bảo vệ lập trường cực tả hay cực hữu của những người đã chọn mình. Nếu các cuộc bỏ phiếu sơ bộ được mở rộng thì hy vọng thành phần các chính trị gia ôn hòa của cả hai đảng sẽ tham gia trong Quốc Hội nhiều hơn. Như vậy thì hy vọng thỏa hiệp sẽ cao hơn, và tiểu bang có thể tránh được nhiều vụ khủng hoảng ngân sách như hiện nay.

California là một tiểu bang có hệ thống đại học tốt nhất trong số các đại học công lập ở nước Mỹ. Tiểu bang cũng có một hệ thống xa lộ và dẫn nước tốt bậc nhất. Nhưng California cũng là một tiểu bang chi tiêu quá rộng rãi so với số thu, đặc biệt là số thuế thu được lại tùy thuộc nguồn lợi tức thăng trầm quá lớn. Hệ thống an sinh xã hội của tiểu bang rất rộng rãi và dễ bị lợi dụng có thể được cải tổ để tiết kiệm hàng chục tỷ đô la mà vẫn giúp được những người lợi tức yếu và thiếu thốn. Như ông Thống Ðốc Arnold Schwarzenegger mới nói trong ngày chính quyền bắt đầu ký giấy khất nợ: “Trong mấy chục năm qua, chúng ta đã hứa hẹn nhiều quá.” Bây giờ toàn thể các cử tri phải có một ý chí chính trị chung, là thay đổi toàn diện cung cách cai trị của các nhà chính trị trong chính quyền và Quốc Hội.
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

VĂN HÓA BÁN NƯỚC

Đỗ Thái Nhiên
Văn hóa là quá trình đưa đời người, xã hội loài người tiến lên văn minh. Trên con đường tìm tới văn minh, có rất nhiều cá nhân hoặc tập thể đã lạc bước đi vào thế giới phản văn minh. Tuy nhiên, do thói quen thông thường của ngôn ngữ dân gian: nhiều hiện tượng phản văn hóa vẫn được gọi là văn hóa. Văn hóa Marx Lenine, văn hóa trọng nam, khinh nữ là các loại phản văn hóa điển hình. Trong lãnh vực bang giao quốc tế, khi một nhà cầm quyền vì tham vọng vinh thân phì gia đã bán đứng quốc gia mình, đồng bào mình cho ngoại bang, nhà cầm quyền kia đã thực sự bộc lộ văn hóa phản văn hóa, gọi tắt là văn hóa bán nước. Thế nào là sự khác biệt về tâm lý chính trị giữa văn hóa ái quốc và văn hóa bán nước? Câu trả lời nằm ở bản tin sau đây:

Ngày 23/06/2009 thư viện Nixon tại nam California công bố một đoạn băng trong số 150 giờ thu âm và 30 nghìn trang tài liệu có liên quan đến Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, tổng Thống Nixon và ông Henri A. Kissinger. Tài liệu vừa nêu cho biết: ông Nixon đã yêu cầu ông Kissinger nói cho tổng thống VNCH biết là quốc hội Mỹ sẽ cắt viện trợ nếu Saigon chống hòa đàm Ba Lê. Tại một đoạn băng khác, Nixon không ngần ngại xác nhận: Để buộc tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ký vào hòa đàm Ba Lê, Nixon sẳn sàng “Cắt đầu ông Thiệu, nếu cần thiết” (cut off his head, if necessary). Lời lẽ thô tục của Nixon cho thấy tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã cố gắng hết sức mình trong việc bảo vệ quyền lợi của Miền Nam Việt Nam nói riêng và Việt Nam nói chung.

Mặt khác, ngày nay các nguồn sử liệu khác nhau đã chứng minh: tổng thống Ngô Đình Diệm nhiều lần bác bỏ ý muốn của chánh phủ Mỹ trong kế hoạch mang binh lính Hoa Kỳ vào lãnh thổ Việt Nam để trực tiếp chiến đấu chống CS . Trong quan điểm của tổng thống Diệm: Chỉ có người Việt Nam mới có khả năng và thẩm quyền giải quyết vấn đề Việt Nam. Thái độ yêu nước kiên cường của Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã bị chính quyền Hoa Kỳ hồi bấy giờ trả đủa bằng vụ thảm sát Tổng Thống Diệm cùng bào đệ của ông là ông Ngô đình Nhu ngày 02/11/1963.

Quan hệ không mấy tốt đẹp, nếu không muốn nói là tệ hại, giữa hai vị tổng thống của Miền Nam Việt Nam với Hoa kỳ đã nêu bật sự thật rằng: mỗi người có một hoàn cảnh lịch sử khác nhau, thế nhưng, cả hai đều nhiệt tình yêu nước. Bên cạnh hai vị tổng thống yêu nước, Miền Nam Việt Nam trước 1975 còn có cả một quân đội yêu nước, một xã hội yêu nước. Tại sao lòng yêu nước lai là một tình cảm phổ biến như thế kia? Thưa rằng đường vận động tình cảm chẳng khác nào một vòng trôn ốc trong không gian. Nó biểu thị: tình cảm của mỗi người xuất phát từ buổi ấu thời rồi phát triển dần ra cả về phẩm lẩn lượng. Tuổi ấu thơ yêu cha mẹ, yêu anh chị em, tuổi thiếu nhi yêu hàng xóm láng giềng, yêu bạn bè, yêu trường yêu lớp. Tuổi thành niên yêu quê hương, yêu quốc gia, dân tộc. Tại Miền Nam Việt Nam trước 1975, giáo dục học đường cũng như giáo dục xã hội đã dưỡng dục tình cảm con người theo đúng biểu đồ hình trôn ốc vừa nói. Nhờ vậy, mặc dầu bị chiến tranh quấy phá, xã hội Miền Nam Việt Nam trước đây vẫn là một xã hội đằm thắm tình người. Tình đối với Mẹ Cha chính là tình tạc dạ ghi ơn:

“Bây giờ cá lý hóa long
Đền ơn Cha Mẹ ẳm bồng ngày xưa.”

Tình đối với nước non thể hiện qua cung cách dân gian vẽ lại bức tranh quê hương:

“Hải Vân bát ngát ngàn trùng
Hòn Hồng ở đấy là trong vịnh Hàn
Xưa nay qua đấy còn truyền
Lối đi lô giản thẳng miền ra khơi.”

Những diễn tả vừa trình bày tuy khái quát nhưng đủ để thể hiện rằng sinh hoạt tình cảm của con người rất được xã hội Miền Nam Việt Nam trân trọng nuôi dưỡng và phát triển. Cao điểm của tình cảm kia là lòng yêu nước. Nói chung, tình cảm là linh hồn của văn hóa. Vì vậy văn hóa của Miền Nam Việt Nam chính là văn hóa ái quốc.

Bây giờ hãy khảo sát giáo dục tình cảm dưới chế độ CSVN. Ngay từ những ngày còn nằm trong nôi, trẻ con đã được giáo dục theo kiểu:

“Yêu biết mấy nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng, con gọi Stalin”
Tố Hữu

Và sau đây, hãy nhìn vào trong tim của người CS để hiểu được thế nào là tình vợ chồng, tình con cái đối với cha mẹ và lòng tự trọng của giới cầm bút dưới quyền thống trị của CS:

“Ông Stalin ơi! Ông Stalin ơi!
Hởi ơi,ông mất! Đất trời có không?
Thương cha, thương mẹ, thưong chồng
Thương mình thương một, thương ông thương mười!
Tố Hữu

Song song với giáo dục thần thánh hóa lãnh tụ, nhà cầm quyền Hà Nội còn thường xuyên nhồi nhet vào đầu óc của người dân phương châm “Trung với đảng, hiếu với dân”. Trung với đảng thì rõ ràng và cụ thể: ai không trung với đảng tức là chọn con đường đối mặt với công an. Đặc biệt ý nghĩa của nhóm chữ “hiếu với dân” đã được CSVN giải thích bằng hình ảnh đảng cướp đất, cướp nhà của người dân, đảng bỏ mặc cho dân bị đè bẹp dưới họa Tây Nguyên, đảng quay lưng lại với cảnh cùng cực của ngư dân khi ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc cấm đánh cá ngay trên biển của Việt Nam.

Từ “Tiếng đầu lòng, con goi Stalin” cho đến con đường “Trung với đảng, hiếu với dân” là cả một quá trình “trồng người” của CS. Người do CS giáo dục và đào tạo là những người chỉ biết nhắm mắt bảo vệ quyền lợi của đảng và hoàn toàn vô cảm trước những khổ đau của người dân, trước những suy tàn của tổ quốc. Đó là cội nguồn tâm lý chính trị giải thích sự ra đời của văn hóa bán nước. Sau đây là tin tức bán nước điển hình:

Ngày 16/06/2009, trên đài BBC, LS Lê Quốc Quân cho biết: LS Lê Công Định và LS Lê Quốc Quân đang chuẩn bị tiến hành thủ tục khởi kiện Trung Quốc trước tòa án quốc tếvề việc Bắc Kinh ra quyết định cấm ngư dân Việt Nam đánh cá trên biển Việt Nam. Lo sợ các LS Việt Nam sẽ làm phiền lòng Trung Quốc, ngày 13/06/2009 CSVN vội vàng tống giam LS Lê Công Định bằng lệnh bắt khẩn cấp. Đặc biệt hơn nữa, ngày CSVN tống giam LS Định cũng chính là ngày Hà Nội linh đình đón rước đoàn đại biểu đảng CS Trung Quốc. Nhân dịp này Nông Đức Mạnh kính cẩn trình lên triều đình Bắc Kinh rằng: “Đảng, nhà nước, và nhân dân Việt Nam trước sau như nột, luôn coi trọng và sẽ làm hết sức mình để giữ gìn và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác truyền thống giữa hai đảng, hai nước và nhân dân hai nước.” (Hết lời dẫn).

Đối nội CSVN thẳng tay đàn áp người dân yêu nước để vừa tạo thuận lợi cho Trung Quốc tự do xâm lấn Việt Nam, vừa củng cố quyền hành của triều đình Hà Nội. Đối ngoại CSVN tiếp tục vòng tay cúi đầu trước Trung Quốc để ôm ảo vọng là Trung Quốc sẽ tận tình bảo vệ CSVN ở ngôi vị thống trị Việt Nam miên viễn.
Càng ngày càng có nhiều sự kiện cho thấy một cách hiển nhiên là CSVN đã và đang bán nước cho Trung Quốc. Hành động bán nước kia xuất phát từ tâm lý của những người sinh ra, lớn lên và hấp thụ trọn vẹn văn hóa bán nước. Đối với CSVN, bán nước là bản chất hằng cửu chứ không là hiện tượng nhất thời. Đó là lý do giải thích tại sao từ rất lâu quần chúng Việt Nam đã nêu bật ý kiến CSVN chỉ có thể bị thay thế chứ không thể sửa sai.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Công An làm chủ

Ngô Nhân Dụng

Một người bạn tôi trên 70 tuổi mới đi Việt Nam trở về California tỏ ra rất phấn khởi. Anh chỉ về nước thăm gia đình, sống ba tuần lễ cùng các bà chị và các cháu rất thân thiết. Anh vui mừng kể người cháu trai con Chị Ba làm nhà lớn cho mẹ ở, mời cậu lúc nào muốn cứ về nước sống, cháu dành sẵn cho cậu một phòng rộng rãi có đủ tiện nghi không khác gì bên Mỹ. Anh cháu này lớn lên sau năm 1975, khi kinh tế đổi mới anh chuyên làm nền, móng cho những ngôi cao ốc mà người ta đã xây trong mươi năm qua, đi thầu lại của các nhà thầu lớn, chỉ nhờ thế mà gây nên sự nghiệp.

Ðiều này chứng tỏ trong thời kỳ “đổi mới” này những người biết làm ăn là có cơ hội kiếm ra tiền, ra rất nhiều tiền. Ðây là một điểm đáng mừng. Người bạn tôi vốn tính rất chất phác, thành thật, dễ tin người, hay bị lừa, tôi đã biết từ gần nửa thế kỷ nay. Anh đã vượt biên từ năm 1978, sau khi thấy sống không nổi dưới chế độ Cộng Sản, dù anh là một người lao động thật sự; khi sang Mỹ vẫn sống bằng mấy nghề tay chân, có lúc theo tầu đi đánh cá. Không thể nói là anh có ý nói tốt cho chế độ Cộng Sản. Tôi thành thật chia sẻ niềm vui vì anh bạn tôi có người cháu giỏi giang và may mắn.

Sau khi mô tả cảnh sống sung túc của gia đình người cháu mà anh chứng kiến, ông bạn tôi kể thêm rằng anh chỉ rời nhà bà chị đi chơi một chuyến mấy ngày, nhờ anh cháu lái xe đưa đi. “Nó biểu cậu muốn đi đâu cũng được, mà nó đưa tôi đi khắp, vui quá! Tới chỗ nào có lính, cảnh sát, hay bảo vệ, công an đứng gác nó chỉ huơ tay một cái họ vẫy cho đi qua luôn. Ði chỗ nào cũng được, không ai cần xét hỏi giấy tờ chi hết, sướng thế đấy!”

Anh bạn tôi giải thích thêm: “Vì cái xe nó mượn là xe công an, nó mượn thằng bạn công an vẫn mần ăn với nó. Thẳng chả để một cái mũ công an của nó nằm chình ình dưới kiếng xe ngay đằng trước tay lái, thế là đi đâu cũng lọt!”

Nhìn anh bạn hãnh diện, hả hê, tôi không hỏi anh mấy câu này: Tại sao người cháu anh được phép lái xe của công an mặc dù anh ta chỉ là một nhà thầu chứ không phải là công an? Tại sao một anh công an lại có quyền cho mượn xe công dùng vào việc tư, chỉ để lái đi chơi? Tại sao một cái mũ của anh công an nào đó, không rõ cấp bậc cao tới đâu, mà lại có phép lạ khiến cho các tay cảnh sát, bảo vệ, công an khác phải kính trọng và quơ tay cho đi tự do như vậy?

Chắc hẳn người cháu anh bạn tôi phải là tay giỏi giang và may mắn, như hầu hết những người thành công trên thế giới này. Nhưng trong sự thành công của anh ta, bao nhiêu phần nhờ tài giỏi giang và may mắn, còn bao nhiêu phần là nhờ “thân thiết” với giới công an? Hay là sự thành công của anh hoàn toàn nhờ giỏi giang và may mắn, nhưng sau khi thành công anh bắt buộc phải thân thiết với các vị công an? Nếu không thân thì làm sao có thể mượn oai hùm như vậy?

Câu chuyện nhỏ trên đây là một vài nét nhỏ nằm trong toàn cảnh bức bích họa mô tả xã hội Việt Nam bây giờ. Từ chuyện nhỏ tới chuyện lớn, có thể nói nước Việt Nam bây giờ là do “Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý,” và... “Công An làm chủ.”

Mà khi nói “Công An làm chủ” thì công an làm chủ nhân thật sự chứ không phải chỉ đứng tên suông, giống như “Nhân Dân làm chủ” mà vẫn cúi đầu để cho Ðảng và Nhà nước muốn làm gì thì làm!

Cho nên không ở quốc gia nào có cảnh một người lái xe bị công an thổi còi, dừng xe lại chậm mấy phút là có thể bị anh công an bạt tai. Có cảnh một nông dân ở Kontum đi về tới đầu làng bị công an hỏi, cãi lại, thế là bị công an đánh vỡ đầu. Ðó là những chuyện nhỏ.

Còn chuyện lớn như ma túy, ma túy tràn ngập khắp các phố phường, gần một nửa số thanh thiếu niên bị mắc vào ma túy. Mà công an thì nhan nhản, ở đâu cũng có mặt, ai động chân động tay đều biết hết. Nhưng ma túy vẫn lộng hành. Nếu không phải chính công an nuôi và bảo đảm thì làm sao bọn buôn ma túy sống được?

Một vụ đàn áp đang làm giới Phật tử ở trong nước kinh ngạc đã xẩy ra ở tỉnh Lâm Ðồng gần một năm nay, mà thành phần chủ động trong việc đàn áp cũng là công an. Gần 400 tăng ni và cư sĩ đang tu tập tại Tu Viện Bát Nhã thuộc xã Damb ri, tỉnh Lâm Ðồng đã bị đuổi khỏi tu viện. Họ mới xuất gia từ năm sau 2003 và theo pháp môn Thiền định, lúc đầu đã được chấp nhận. Nhưng từ năm 2008 tình hình bắt đầu thay đổi... Người đứng tên chủ nhân tu viện này, Thích Ðồng Hạnh, tục danh là Võ Thành Nguyên, đã báo tin cho các tăng ni trẻ tuổi này rằng ông không bảo lãnh cho các tăng ni tạm trú tại chùa theo quy chế hộ khẩu như trước nữa. Tức là gần 400 vị tu sĩ không được phép cư ngụ, phải giải tán. Ông cũng cho biết quyết định này không thuộc thẩm quyền của ông, cũng không thuộc quyền của các chức sắc trong Giáo Hội Phật Giáo tỉnh Lâm Ðồng.

Vậy thuộc thẩm quyền nào? Ðảng? Nhà nước? Hay là ai khác? Chỉ biết rằng trong tháng trước, mấy vị tu sĩ chức sắc của giáo hội tỉnh đến thăm các tăng ni trên cũng bị hành hung! Công an vẫn theo thói thuê côn đồ đến những căn nhà của các tăng ni trẻ trong tu viện để đàn áp không khác gì phương pháp họ đã dùng đối với cụ Hoàng Minh Chính lúc sinh thời, hay đối với nhà văn Trần Khải Thanh Thủy gần đây. Họ dọa đốt nhà, dọa phong tỏa không cho tiếp tế thực phẩm, và đã cắt điện, cắt nước, và hăm dọa các nhà tu hành trong lứa tuổi đôi mươi.

Những tăng ni này mới xuất gia vì muốn theo phương pháp tu học của Hòa Thượng Thích Nhất Hạnh tại Làng Mai. Lúc đầu họ được phép cư ngụ tại đó, khi chính quyền Cộng Sản còn cần mời Hòa Thượng Thích Nhất Hạnh về nước để mượn tiếng tô điểm cho chế độ. Và chính Làng Mai đã giúp khoảng 15 tỷ đồng, khoảng một triệu Mỹ kim để xây dựng thêm và mua thêm đất cho tu viện.

Tại sao có những chuyện rắc rối xẩy ra với các tăng ni ở Bát Nhã? Một nguồn tin phát xuất từ các vị tăng sĩ trong tỉnh Lâm Ðồng cho biết đó là do lệnh của Thiếu Tướng Trần Tư, thuộc Tổng Cục An Ninh. Công an muốn giải tán đám môn đệ của Làng Mai. Mà mệnh lệnh có thể phát ra từ Trung Quốc.

Năm 2008, khi Hòa Thượng Nhất Hạnh về dự lễ Vesak thì chính phủ Trung Quốc đã yêu cầu chính quyền Hà Nội trục xuất ông. Nguyên do vì trước đó ông đã tuyên bố tại La Mã (Roma) những lời ủng hộ cuộc tranh đấu của nhân dân Tây Tạng, khi được báo chí phỏng vấn. Ông cũng đề nghị ban tổ chức lễ Vesak của Liên Hiệp Quốc nên mời Ðức Ðạt Lai Lạt Ma tới Việt Nam tham dự lễ này. Những ý kiến đó khiến chính phủ Bắc Kinh nổi giận.

Từ đó, những tai họa bắt đầu đổ lên đầu đám tăng ni trẻ tuổi. Hơn mười tăng ni từ Làng Mai về nước đã lần lượt bị chấm dứt chiếu khán không được phép ở lại Việt Nam. Bây giờ chỉ còn những tăng ni mới tu học, gia đình họ bị công an làm áp lực phải kêu gọi con em trở về nhà. Trong khi đó thì công an áp dụng chính sách hộ khẩu đòi đuổi họ ra khỏi chùa! Ðiều khiến dư luận trong nước ai cũng bầy tỏ niềm kính trọng là các vị tăng ni dù còn trẻ nhưng vẫn kiên trì bất bạo động. Khi bị đám du côn đe dọa và khiêu khích thì các nhà tu mới xuất gia được dăm bẩy năm này chỉ ngồi xuống, thiền định, niệm danh hiệu Quán Thế Âm. Họ đã đủ sức tự bảo vệ lẫn nhau và chứng tỏ cho đám công an biết sức mạnh tâm linh không hề lay chuyển trước bạo lực. Nhà thơ Hoàng Hưng ở tận Hà Nội cũng phải động lòng trước cảnh các tăng ni bị đàn áp ở Tu Viện Bát Nhã, trên đài RFI ông đã yêu cầu đảng Cộng Sản và Nhà nước phải can thiệp chấm dứt cuộc đàn áp tàn bạo và vô lý này.

Nhưng nhà thơ đã mất công nói chuyện với cái đầu gối! Vì trong vụ Bát Nhã, không ai biết đảng Cộng Sản và Nhà nước của họ chủ trương thế nào cả. Họ hoàn toàn im lặng, giao phó mọi việc cho công an. Chỉ biết là có những đám côn đồ kéo đến một trăm, hai trăm người, hành hung và hăm dọa giết các tu sĩ, kéo dài trong mấy tuần lễ. Chuyện tầy đình như thế, cả nước chỉ biết tin qua các mạng lưới còn báo chí của đảng Cộng Sản thì theo lệnh cứ hoàn toàn im lặng. Cả bộ máy nhà nước Cộng Sản không hề làm một việc gì hay nói một câu nào để chứng tỏ là họ biết và quan tâm đến những tội ác đang diễn ra ở Tu Viện Bát Nhã.

Như vậy thì chỉ có thể kết luận là cả Ðảng và Nhà nước Cộng Sản hiện nay không có mặt trong nước Việt Nam! Mọi việc đều do công an làm chủ!

Có thể trong vụ này Ðảng và Nhà nước Cộng Sản đã chịu thua thật sự. Vì họ đã tính lợi dụng ông Hòa Thượng Nhất Hạnh khi mời ông về nước, cốt chứng tỏ họ tôn trọng Phật Giáo. Ông đã về Việt Nam hai lần, nhưng bây giờ đảng Cộng Sản phải trả giá và cái giá có vẻ quá cao đối với họ. Chỉ trong mấy năm trời Làng Mai đã gieo được những hạt giống mới, đã nẩy mầm, đã trở thành những cây xanh tốt. Nhóm tăng ni trẻ tuổi đã chứng tỏ họ có tu tập Phật pháp vững vàng. Họ bắt đầu được các Phật tử địa phương kính trọng, rồi đến những Phật tử mỗi tuần từ miền Nam và miền Trung bắt đầu kéo về tu viện để học cách thực hành Phật Giáo theo phương pháp mới.

Ðảng Cộng Sản không thể chấp nhận những ảnh hưởng trên quần chúng ngoài tầm kiểm soát của họ, dù chỉ là những cái mầm mới nhú ở một tu viện trên cao nguyên Lâm Ðồng. Nhưng điều nan giải nhất với đảng Cộng Sản Việt Nam là họ cũng không thể kiểm soát được Hòa Thượng Nhất Hạnh khi ông bầy tỏ quan điểm đối với Trung Quốc. Không những đã ủng hộ việc dân Tây Tạng đòi quyền tự chủ, ông còn khuyên họ hãy kiên nhẫn, lấy dân tộc Việt Nam làm gương. Người Việt Nam đã bị Hán tộc cai trị cả ngàn năm, sau cùng vẫn dành được độc lập, người Tây Tạng nên biết điều đó.

Có lẽ đó là giọt nước làm tràn ly. Ðảng Cộng Sản Trung Quốc không thể nào chấp nhận được những ý kiến như vậy. Từ đó, công an Cộng Sản Việt Nam phải đàn áp! Ở một nước mà công an làm chủ thì chỉ cần nắm được công an là nắm được tất cả. Hàng lậu chuyển đi cũng lọt khi được công an bảo lãnh. Ma túy chuyển vào cũng được, làm tiêu hao sức lực thanh niên. Và khi cần đàn áp trả thù ai thì công an cũng sẵn sàng!
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Công An chứng tỏ vẫn làm chủ
Friday, July 10, 2009

Ngô Nhân Dụng

Sau khi bắt Luật Sư Lê Công Ðịnh, nhà kinh doanh Trần Huỳnh Duy Thức, công an Cộng Sản đã bắt Kỹ Sư Nguyễn Tiến Trung, cả ba cùng bị ghép tội “chống nhà nước.” Tội danh này căn cứ vào những điều luật rất mơ hồ cho phép chế độ Cộng Sản có thể áp dụng tùy tiện, theo lối giải thích của công an. Những vụ bắt bớ liên tiếp đó khiến dân Việt Nam đặt câu hỏi: Tại sao họ làm dữ liên tiếp như vậy?

Có người cho là Ðảng Cộng Sản Việt Nam đang lo chính các đảng viên cũng đang căm phẫn trước các chính sách nhu nhược của chính quyền trước các đồng chí Bắc Kinh. Các cuộc biểu tình chống vụ Hoàng Sa, Trường Sa năm trước đã lôi cuốn rất nhiều đảng viên lão thành. Nay lại thêm các mỏ Bô Xít, những vụ Trung Quốc bắt giam ngư phủ Việt Nam. Mầm nổi loạn càng có vẻ lớn hơn khi hàng ngày người ta nghe tin nhân dân Iran đang đòi dân chủ. Nay lại thêm cảnh dân Uyghur bị tàn sát ở Tân Cương khiến người Việt ai cũng phải nghĩ tới số phận mình, nếu có lúc mình trở thành dân thiểu số ngay trong nước Việt Nam!

Có giả thuyết khác cho là các đồng chí Bắc Kinh đang thúc giục Cộng Sản Việt Nam phải dẹp tan các cuộc chống đối nhắm vào Trung Quốc, từ vụ Bô Xít tới những vụ bắt cóc ngư dân Việt Nam ngoài biển Ðông. Muốn chứng tỏ Ðảng mạnh, dám dùng bàn tay sắt cho nên Ðảng hãy bắt ngay hai người tranh đấu cho dân chủ trước. Những người khác phải coi đó mà sợ, từ các đảng viên cho tới những nhà trí thức ngoài đảng đang muốn đẩy mạnh cuộc tranh đấu chống Trung Quốc lên cao phải coi đó mà biết sợ. Ðảng Cộng Sản Việt Nam nhất quyết “không khoan nhượng” đối với những kẻ thù của các đồng chí Trung Quốc!

Ngày hôm qua, công an Cộng Sản Việt Nam lại chứng tỏ thêm một lần nữa là họ cương quyết bảo vệ chế độ của họ như thế nào. Công an cửa khẩu Tân Sơn Nhất đã ra lệnh “tạm hoãn xuất cảnh đối với ông Mai Thái Lĩnh,” trong lúc ông đã có hộ chiếu passport, có chiếu khán visa nhập cảnh do chính phủ Mỹ cấp, đã cầm thẻ lên tầu, đang chuẩn bị bước vào cửa máy bay thì bị chặn! Công an đưa một cẳng chân ra cản, cả cuộc vận hành đưa Mai Thái Lĩnh đi du lịch ngưng chạy! Ðây là một vụ biểu dương sức mạnh của công an, nên phân tích cho rõ.

Từ khi xin được hộ chiếu và visa, mua vé máy bay của hãng Eva, du khách Mai Thái Lĩnh đi ra phi trường trình vé và lấy thẻ lên tàu, cân hành lý, gửi hành lý, chứng kiến cả bộ máy phức tạp vô hình vận chuyển chạy từng bước một để đưa mình lên đường từ Việt Nam sang Mỹ. Bộ máy vô hình này bao gồm hệ thống hành chánh và luật lệ xuất nhập cảnh của hai quốc gia, guồng máy thương mại của các công ty máy bay và cơ quan hàng không quốc tế nối liền Saigon với Taipei và Los Angeles qua Thái Bình Dương. Tất cả những ai từng đi du lịch nước ngoài đều đã trải qua kinh nghiệm đó, và ai cũng thấy là bộ máy liên quốc và quốc tế này chạy rất nhuần nhuyễn, như có một “bàn tay vô hình” điều khiển. Bao nhiêu giao dịch rắc rối, phức tạp biến thành những hoạt động chuyển hồ sơ qua máy điện toán của công ty hàng không, của các ngân hàng, của các cơ quan ngoại giao dùng luật lệ mỗi nước và quốc tế, chỉ để giúp một du khách bay một chuyến đi xa, từ Mỹ qua Nga, từ Pháp sang Tầu, hay từ Việt Nam sang Mỹ, đi một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng và không vấp váp.

Nhưng đối với du khách Mai Thái Lĩnh ngày hôm qua, cả guồng máy đó ngưng chạy. Chỉ do một lệnh của công an. Công an nói ngưng là ngưng! Chúng ta có thêm một bằng cớ nữa về tình trạng “công an làm chủ” trong nước Việt Nam. Lý do được nêu lên là “bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.” Vì Mai Thái Lĩnh là một người trong nhóm các nhà trí thức tranh đấu đòi tự do dân chủ ở thành phố Ðà Lạt. Họ từng nhiều lần chỉ trích chế độ, như ngày hôm qua trên nhật báo Người Việt ông Hà Sĩ Phu trong nhóm này đã tố cáo tình trạng dân tính, dân tộc Việt Nam bị đe dọa vì sự bành trướng của người Trung Quốc, với sự tiếp tay đồng lõa của Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Như Hà Sĩ Phu nói, mất nước chưa đau bằng mất dân tộc, mất dân tính. Mai Thái Lĩnh là bạn của Hà Sĩ Phu, mà tính cũng nói thẳng không khác nhau. Bị cấm đi, cũng giống như vẫn bị cấm nói.

Cũng giống như việc bắt giam Lê Công Ðịnh và Nguyễn Tiến Trung, lần nào công an cũng nêu lý do “an ninh.” Bất cứ lúc nào họ cũng có thể kiếm cớ buộc tội những người không cúi đầu vâng lệnh công an là “âm mưu lật đổ chính quyền xã hội chủ nghĩa.” khi an ninh được đề cao là mục tiêu ưu tiên số một, thì công an phải làm chủ! Mà họ đang làm chủ thật. Chỉ cần gán tội “âm mưu lật đổ chế độ” là tha hồ bắt.

Khi được phỏng vấn về vụ bắt giữ Nguyễn Tiến Trung, Giáo Sư Carl Thayer tại Úc Châu đã nêu thắc mắc về lối kết tội các nhà tranh đấu tự do dân chủ bất bạo động, “Làm sao họ có thể lật đổ chính quyền bởi lời nói và những hành động độc lập và ôn hòa?”

Ông Thayer cũng hỏi, tại sao Ðảng Cộng Sản “họ không bắt giam cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt” vì khi còn sống ông ta cũng “có những ý kiến chỉ trích chính phủ?” Và tại sao “họ không coi Tướng Võ Nguyên Giáp là người tuyên truyền chống nhà nước” khi ông ta cũng viết thư chống vụ Bô Xít mấy lần?

Khi đặt những câu hỏi đó, Giáo Sư Carl Thayer, một nhà chuyên nghiên cứu Cộng Sản Việt Nam từ bao năm qua, giả thiết rằng có một Ðảng Cộng Sản, và Ðảng đó có những chủ trương, chính sách rõ ràng, và ông vạch ra rằng họ đã tự mâu thuẫn khi thi hành các chính sách đó. Nhưng Giáo Sư Carl Thayer cũng thừa biết là không có “Một Ðảng Cộng Sản.” Vì trong nước Việt Nam bây giờ “Ðảng lãnh đạo, nhà nước quản lý” như “công an làm chủ!”

Cũng biết như vậy cho nên chính Giáo sư Thayer đưa ra giả thuyết rằng việc bắt giữ ông Nguyễn Tiến Trung là một hành động của “một nhóm” trong đảng Cộng Sản Việt Nam.

Trong cuộc phỏng vấn trên, ông Thayer giải thích, “...hiện giờ Việt Nam đang ở trong giai đoạn tiến tới đại hội Ðảng... Vậy nên có hai khả năng là Bộ Công An muốn chứng tỏ sức mạnh của một nhóm có ảnh hưởng lớn hoặc đây là một nỗ lực tạo khuôn khổ hoạt động cho tương lai.”

Ông Thayer đã nói thẳng nhưng còn dè dặt. Chúng ta có thể nói rõ hơn. Bên trong đảng Cộng Sản hiện nay từ trên xuống dưới đang “bắt đầu tổ chức lại.” Trong cái hoạt động gọi là “cơ cấu người” vào dự đại hội sang năm, và vào Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng, vào Bộ Chính Trị sau đại hội đó, các cuộc chạy đua phe phái đã bắt đầu. Cánh công an ra tay trước. Ra lệnh dùng bàn tay sắt đánh đấm bên ngoài, bắt giam Lê Công Ðịnh và Nguyễn Tiến Trung, chặn chân Mai Thái Lĩnh ngay cửa máy bay cho biết tay. Nhưng bàn tay sắt đó khi đưa lên đánh đấm thì cũng đe dọa luôn cả các “đồng chí” ở bên trong Ðảng. Các quốc gia chí biết thân thì hãy để cho công an nhiều quyền “cơ cấu” người của họ. Theo đúng đường lối “công an làm chủ.”

Khi “công an làm chủ” thì cách xếp đặt tốt nhất là họ phải làm chủ ngay từ trong đại hội Ðảng tất cả cùng theo một nghị trình của công an. Muốn làm chủ được đại hội Ðảng thì cần phải làm chủ ngay từ lúc đang chuẩn bị đại hội, trong việc tuyển chọn người đi họp đại hội. Cứ như vậy mới thực hiện được nguyên tắc công an làm chủ.

Nhưng chúng ta đang chứng kiến những dấu hiệu cho thấy sức đề kháng của dân tộc Việt Nam đang chuyển mình để biểu hiện công khai chống lại chính quyền Cộng Sản, dù do công an điều khiển hay không. Qua những vụ bắt giam Lê Công Ðịnh, Trần Huỳnh Duy Thức, và Nguyễn Tiến Trung, ta thấy những người bị cáo buộc chống nhà nước này ở lớp tuổi còn trẻ, chỉ có cựu Trung Tá Trần Anh Kim là người đã lớn tuổi, đã từng đi lính trong chế độ Cộng Sản.

Ðặc biệt là Nguyễn Tiến Trung, 26 tuổi, anh thuộc lớp người được chế độ Cộng Sản nuôi dưỡng. Nhưng khi được đi học ở nước ngoài, anh đã khám phá ra những lối sống trong tự do dân chủ, khác hẳn ở Việt Nam. Khi thấy nhân dân những nước khác sống tự do, thịnh vượng, hạnh phúc anh mong muốn đồng bào mình cũng được như vậy. Anh lập phong trào Thanh Niên Dân Chủ tập hợp những người cùng thế hệ được may mắn học thành tài, cùng nhau tranh đấu cho đồng bào có ngày được sống tự do. Anh và các bạn trong phong trào này đã nhất định sẽ trở về trong nước tranh đấu ngay trong lòng chế độ, với mục đích thay đổi một cách ôn hòa.

Những thanh niên ước mong đất nước dân chủ hóa đều phải chọn một trong hai đường: Hoặc đấu tranh từ bên hệ thống để thay đổi trong vòng pháp luật của họ; hoặc đấu tranh thẳng trên hệ thống, đòi thay đổi tất cả cơ cấu chính trị và pháp luật hiện hành. Nguyễn Tiến Trung và các Thanh niên Dân Chủ đã chọn con đường thứ nhất. Hà Sĩ Phu và các bạn chọn con đường thứ hai. Nguyễn Tiến Trung đã tuân lệnh nhập ngũ, nhưng sau cùng lại bị giải ngũ, vì vẫn đòi sống tự do theo pháp luật, không chịu tuyên thệ trung thành với Ðảng Cộng Sản. Anh bị bắt vì bị gán tội chống chế độ Cộng Sản, tức là tội đấu tranh trên chế độ. Trần Anh Kim bị kết tội muốn công khai hóa Ðảng Dân Chủ Việt Nam, nếu đúng thì anh đã chấp nhận đấu tranh trên chế độ chứ không thể mỏi miệng kêu gào bên trong khuôn khổ chế độ ngặt nghèo này.

Nhiều thanh niên và trí thức khác ở Việt Nam, những người đã đi biểu tình chống vụ xâm lăng Hoàng Sa, những người ký kiến nghị phản đối vụ khai mỏ Bô Xít, họ cũng đang phân vân giữa hai con đường: đấu tranh từ bên trong hệ thống; hay đánh thẳng ngay lên hệ thống đang cai trị nước ta. Những đảng viên Cộng Sản cũng đặt câu hỏi tương tự: Thay đổi từ bên trong đảng, hay đứng ta ngoài cùng nhân dân đòi Ðảng Cộng Sản phải thay đổi? Họ sẽ phải tự hỏi: Trong một hệ thống chính trị do “công an làm chủ” thì cả cái Ðảng Cộng Sản mà họ nằm trong đó còn ý nghĩa gì không?

Khi công an Cộng Sản đàn áp bắt bớ một loạt những người vì những tội chống nhà nước, âm mưu lật đổ nhà nước, các thanh niên và trí thức sẽ thấy họ không có lựa chọn nào khác. Vì thấy tranh đấu theo lối cũ không hy vọng thay đổi được số phận đồng bào, họ sẽ phải đứng dậy thay đổi tất cả hệ thống chính trị và pháp luật ở Việt Nam. Nếu không, người Việt sống trên đất Việt vẫn có thể bị đối xử không khác gì người Uyghur sống ở Tân Cương!
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Trông người Uyghur nghĩ đến mình
Thursday, July 09, 2009

Ngô Nhân Dụng
Ðọc những bản tin về xung đột chủng tộc ở Urumqi, thủ phủ khu tự trị Tân Cương trong mấy ngày qua, người Việt Nam, nhất là người dân Hà Nội phải tưởng nhớ và biết ơn tổ tiên mình. Phải tới Ðền Ngọc Sơn thắp hương tạ ơn Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn, nhân đó cũng tạ ơn những Trưng Nữ Vương, Triệu Thị Trinh, cho tới Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Dương Diên Nghệ, Ngô Quyền. Nếu không có những vị anh hùng liệt nữ đó, chắc số phận dân Việt mình cũng không khác gì người Uyghur đang sống trong quê hương của họ.

Người Uyghur, báo chí tiếng Anh cũng viết là Uighur, người Trung Hoa phiên âm mà người Việt đọc là “Duy Ngô Nhĩ,” thuộc giống dân Thổ (Turk) đã sống chung với nhiều sắc dân Trung Á trong vùng này. Cùng thời gian đó người Việt sống ở châu thổ sông Hồng, sông Mã. Khi quân Hán sang chiếm nước Nam Việt ở Quảng Ðông hơn một trăm năm trước Công Nguyên và chiếm cả đất nước của Hùng Vương ta thì một cánh quân Hán khác cũng đánh bại đế quốc Hung Nô và tiến chiếm vùng đất sống của người Uyghur. Nhà Hán lập An Thành Ðô Hộ Phủ cai trị vùng này, còn người Việt thì được nhập vào đế quốc nhà Hán, đặt thành châu, quận, suýt nữa đã bị Hán hóa.

Vào đời Ðường, từ đầu thế kỷ thứ bảy, vùng Tân Cương, Thanh Hải được đổi tên là An Tây Ðô Hộ Phủ cũng giống như An Nam Ðô Hộ Phủ cai trị người Việt lúc đó. Vào giữa thế kỷ thứ tám, khi người Tây Tạng tấn công đến tận kinh đô Tràng An năm 763 thì “nhân lúc bên Tầu có loạn” người Uyghur cũng nổi lên lập quyền tự trị. Tiếp theo đó nhiều thế kỷ các đại hãn gốc Uyghur, Mông Cổ rồi Khiết Ðan (từ Mãn Châu) thay phiên nhau cai trị. Trong cùng thời gian đó ở nước ta, mỗi lần “nhân lúc bên Tầu có loạn” dân Việt Nam lại cùng các thủ lãnh địa phương, và đôi khi cùng quan cai trị người gốc Hán, cũng nổi lên tự lập. Những vị anh hùng từ Phùng Hưng đến Dương Diên Nghệ đã “tiếp lửa” giữ nóng tinh thần độc lập của dân tộc, nhờ thế những thế hệ sau Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, cùng toàn dân bảo vệ được giang sơn.

Khi Trần Thái Tông, Nhân Tông, và Trần Quốc Tuấn lãnh đạo dân Việt chống cự cuộc xâm lăng của quân Mông Cổ (1284-1288) thì người Uyghur bắt đầu bị đế quốc Mông Cổ cai trị từ năm 1218. Sau khi nhà Nguyên đổ, vùng này đặt dưới quyền những đại hãn thuộc các nhóm người Trung Á theo Hồi Giáo, cho tới thế kỷ 18 bị nhà Thanh chiếm, dần dần họ chính thức sáp nhập thành tỉnh Tân Cương (Cương giới mới, theo quan điểm người Hán). Giữa thế kỷ 19 khi nhà Thanh bị các nước Tây phương bắt nạt thì người Uyghur và người Hồi trong tỉnh Tân Cương đã nổi lên giành độc lập nhưng không được lâu. Năm 1933 dân Uyghur lại nổi lên thành lập Cộng Hòa Ðông Thổ “East Turkestan” hoặc “Uyghuristan.” Quốc gia này chết đi sống lại, cho đến năm 1949 thì bị Hồng quân Trung Hoa chiếm lãnh hoàn toàn.

Người Việt may mắn hơn dân Uyghur, đã giữ được độc lập suốt từ thế kỷ 13, nhờ toàn dân theo những vị anh hùng như Lê Lợi, Nguyễn Huệ cùng kháng cự tham vọng bành trướng của người Hán. Nếu không, thì bây giờ dân Việt có thể chỉ là một sắc dân thiểu số ngay trên đất nước mình, có thể đã biến thành một tỉnh thuộc nước Trung Hoa!

Tại Tây Tạng và Tân Cương, hai “khu tự trị” lớn rộng bằng một phần tư Trung Quốc, các sắc dân cố thổ ở đó giờ đây đã trở thành những sắc tộc nhỏ trong một nước hơn một tỷ người. Ở Tây Tạng, kể từ khi Cộng Sản cai trị họ đã đem người Hán di dân tới từ năm 1950, sau hơn nửa thế kỷ bây giờ số dân Tây Tạng ít hơn người Hán. Tại Tân Cương, người Uyghur còn chiếm đa số, 45% trong số 20 triệu dân trong tỉnh, và người Hán di dân chỉ chiếm dưới 40% (năm 1949 chỉ có 6% dân là người Hán). Nhưng dân Uyghur đã bị áp lực đồng hóa và đối xử phân biệt từ nửa thế kỷ nay. Tuy gọi là các “khu tự trị” nhưng các vùng của người thiểu số này bị chính quyền trung ương ở Bắc Kinh cai trị trực tiếp một cách khắt khe hơn những tỉnh khác trong nước Trung Hoa. Những cuộc biểu tình của nông dân Trung Hoa tại các tỉnh khác không bị đàn áp đẫm máu như tại Tây Tạng hoặc Tân Cương. Vị “tỉnh trưởng” Tân Cương là người Uyghur nhưng người mạnh nhất đảng Cộng Sản ở đây là Vương Lạc Tuyền (Wang Lequan), cũng là một thành viên Bộ Chính Trị, và Bí Thư Lật Trí (Li Zhi) đều là người Hán và họ mới nắm quyền hành tối hậu.

Cuộc nổi dậy và bạo loạn tại thủ phủ Urumqi trong mấy ngày vừa qua là biểu hiện những uất ức của người Uyghur chồng chất từ khi bị Cộng Sản Trung Quốc chiếm đóng. Có một hố sâu phân cách giữa mức sống của người Hán di dân và người Uyghur cũng như các sắc tộc bản thổ khác. Từ hai chục năm qua, tức là sau khi Cộng Sản Trung Quốc bắt đầu đổi mới kinh tế, thì họ cũng bắt đầu mở những đợt di dân ào ạt vào Tân Cương, hiện nay người Hán chiếm hơn 75% dân số trong thủ phủ Urumqi. Người Hán giữ guồng máy hành chánh, chỉ huy quân đội, họ làm chủ các cơ sở thương mại, làm công nhân những công trường xây cất và hầm mỏ, trong khi người Uyghur vẫn theo các nghề nghiệp cổ truyền.

Chính sách đồng hóa của chính quyền Trung Cộng được đội lốt dưới ý thức hệ Cộng Sản. Họ ép người dân Uyghur bỏ các phong tục Hồi Giáo cổ truyền để theo “nếp sống văn minh” của chủ nghĩa Cộng Sản, đặc biệt là Cộng Sản Trung Hoa. Có lúc các phụ nữ người Uyghur bị cấm không được che tóc và mặt theo tín ngưỡng Hồi Giáo. Trẻ em không được học tiếng Uyghur mà phải học tiếng Phổ thông của người Hán. Cộng Sản Trung Quốc đã phổ biến những bài ca như Ðông Phương Hồng, những điệu nhảy “nông tác vũ,” bên ngoài là ca ngợi chế độ Cộng Sản, bên trong là âm mưu đồng hóa một sắc dân. Có nhà thờ Hồi Giáo bị biến thành trụ sở công cộng, cũng giống như các chùa và nhà thờ ở Việt Nam đã bị sung công trong thời Cộng Sản Việt Nam tập thể hóa nông nghiệp theo mẫu của Mao Trạch Ðông. Ở Tân Cương, đây là một thứ “diễn biến hòa bình” triệt để, dùng chủ nghĩa Cộng Sản để tiêu diệt bản sắc của các giống dân thiểu số chung quanh nước Trung Hoa.

Cuộc nổi dậy vừa qua bắt đầu với một cuộc biểu tình ôn hòa của người Uyghur trong thủ phủ Urumqi. Họ chỉ yêu cầu chính quyền địa phương, mà người đứng đầu Nur Bekri (Bạch Khắc Lực theo chữ Hán) là một người Uyghur, phải ra giải thích cho dân hiểu về vụ hai công nhân người Uyghur đã bị đánh chết trong một cuộc đụng độ với người Hán ở Quảng Ðông, vào ngày 25 Tháng Sáu trước. Họ chỉ yêu cầu mở cuộc điều tra chứ không đòi hỏi gì hơn. Có thể nói, cuộc biểu tình này tự nó cũng chỉ có mấy trăm người, rất ôn hòa, cũng giống như những đoàn “dân oan” người Việt đã kéo lên Hà Nội. Tại các tỉnh khác ở Trung Quốc đã có những cuộc biểu tình hàng chục ngàn nông dân chống chính quyền. Tại Urumqi, người Uyghur là thiểu số, họ sống trong những khu nghèo nhất phía Nam thành phố, trước đây các vụ nổi dậy thường xảy ra ở những thành phố khác. Nhưng lần này chính quyền Cộng Sản đã không đáp ứng. Hiện chưa ai biết tại sao cuộc biểu tình đó đã biến thành bạo động, nhưng có nhiều phần vì cảnh sát, công an đã đàn áp tàn bạo quá khiến người dân phẫn uất. Họ đi đập phá các cửa hàng của người Hán và đánh người Hán. Theo tin của chính phủ Bắc Kinh có 156 người chết trong ngày Chủ Nhật vừa qua, nhưng họ không biết bao nhiều người là người Hán, bao nhiêu là người Uyghur. Có thể phần lớn là người Uyghur bị công an bắn chết.

Hai ngày sau, đến lượt người Hán trong thành phố biểu tình bạo động trả đũa người Uyghur, và đám cảnh sát, công an của chế độ chờ rất lâu mới can thiệp. Không biết có bao nhiêu người chết. Hồ Cẩm Ðào đang ở Ý để dự Hội nghị kinh tế G-20 phải bỏ về nước. Ðiều này cho thấy tình hình rất trầm trọng, vì xưa nay các lãnh tụ Trung Cộng không bao giờ để mất thể diện dễ dàng và công khai như vậy. Hồ Cẩm Ðào là người đã đứng đầu khu Tự Trị Tây Tạng và ra lệnh đàn áp cuộc nổi dậy năm 1989.

Chính quyền Bắc Kinh đã trút hết tội lên một người Uyghur lưu vong là bà Rebiya Kadeer. Bà vốn là một doanh gia người Uyghur có ảnh hưởng lớn ở Tân Cương, cho tới khi bà bị bắt bỏ tù 5 năm vì có tư tưởng chống chính sách bành trướng và đồng hóa của người Hán. Vì cả thế giới can thiệp nên Bắc Kinh trả tự do cho bà, sau đó bà di cư sang Mỹ năm 2005. Bà đã từng được Tổng Thống George W. Bush tiếp kiến, để bà giải thích những cuộc nổi dậy của người Uyghur không liên quan gì tới phong trào khủng bố al Qaeda như chính quyền Bắc Kinh gán ghép. Có 22 người Uyghur bị bắt ở Afghanistan và bị giam ở trại Guantanamo. Một số người được phóng thích bị chính phủ Bắc Kinh đòi trục xuất về Trung Quốc, nhưng chính phủ Mỹ đã đưa họ tới những nước khác chịu tiếp nhận họ.

Ngày hôm qua Bộ Chính Trị Ðảng Cộng Sản Trung Quốc đã ra lệnh tái lập trật tự ở Tân Cương bằng mọi giá. Tân Cương là một vùng có giá trị chiến lược, nằm sát biên thùy những nước Nga, Iran, Afghanistan, nhất là các nước Trung Á cùng theo Hồi Giáo và ngôn ngữ và chủng tộc liên hệ với người Uyghur. Ðây là một điểm chính trên con Ðường Tơ Lụa nối Trung Quốc sang vùng Trung Ðông và Ðịa Trung Hải. Tỉnh này cũng có nhiều mỏ dầu, khí, và sẽ là con đường vận chuyển chính của những ống dẫn dầu, khí từ các nước Trung Á sang Trung Quốc, và có thể kéo dài qua Nhật Bản. Cho nên chính quyền Cộng Sản Trung Quốc phải dẹp yên những vụ rối loạn.

Ðiều tội nghiệp cho người dân Uyghur là họ chỉ đòi hỏi những điều rất giản dị trong cuộc biểu tình vừa qua: Xin điều tra vụ 2 đồng bào của họ bị giết ở Quảng Ðông. Bây giờ có hàng trăm người đã chết, hàng ngàn người bị bắt. Và mối hận thù giữa người Hán và người Uyghur sẽ còn kéo dài, không biết đến bao giờ. Những thường dân vô tội đó, thuộc cả hai bên, đều là những nạn nhân của một chế độ độc tài quen thói đàn áp, bắt nạt dân. Nếu người dân Trung Quốc, cả người Hán lẫn người Uyghur, được chính quyền tôn trọng hơn, thì sẽ khác. Trong các xã hội tự do dân chủ có rất nhiều con đường để giải quyết những xung đột quyền lợi và giải tỏa những khác biệt về văn hóa. Nếu báo chí được tự do thì những xung khắc đều có thể được phơi bầy, thảo luận, giải thích. Nếu dân được tự do bỏ phiếu thì họ sẽ chọn người cầm quyền có uy tín để hóa giải các xung khắc. Trong một chế độ độc tài thì những xung đột nhỏ cũng có thể biến thành bạo động lớn.

Cuối cùng, lại phải nói người Việt mình may mắn. Nếu không giữ được quyền tự chủ từ hai ngàn năm qua thì bây giờ nước mình cũng chỉ là một “khu tự trị” của nước Ðại Hán. Và không biết trong khu tự trị đó thì người gốc Việt sẽ bị đối xử ra sao! Hiện nay cũng có một phong trào di dân của các công nhân Trung Quốc sang Việt Nam; họ cũng tập họp thành những làng riêng biệt, họ làm công nhân ở các hầm mỏ và các công trường xây dựng giống như ở Tân Cương. Trong nửa thế kỷ, số dân Hán ở Tân Cương đã tăng từ 6% lên 40%, chưa kể các quân nhân đồn trú và gia đình họ. Năm chục năm nữa thì ở Việt Nam sẽ có bao nhiêu người Trung Quốc? Trung Quốc hiện nay có trên 20 triệu thanh niên không thể kiếm được vợ vì thiếu phụ nữ. Bao nhiêu người trong số được đang tình nguyện sang làm việc ở Việt Nam?

Trong người lại nghĩ đến ta, sau 2000 năm kinh nghiệm người Việt vẫn cứ phải “cẩn trọng!”
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Hệ thống y tế cũ kỹ

Ngô Nhân Dụng
Hệ thống bảo hiểm y tế hiện nay ở Mỹ dựa trên nơi làm việc, rất khó thay đổi. Nhân viên các công ty, tổ chức, hay cơ quan đóng bảo hiểm theo chương trình của sở làm và được sở làm góp thêm để trợ giúp. Những người về hưu và những người nghèo được chính phủ lo trong các chương trình xã hội. Từ nay đến cuối năm, dù dự luật nào sẽ được Quốc Hội thông qua thì chắc cũng bảo đảm là những người đang có bảo hiểm y tế do nơi làm việc cung cấp sẽ có quyền giữ nguyên tình trạng bảo hiểm của mình, không cần thay đổi nếu không muốn. Ðây là điều mà chính ông Barack Obama đã cam kết từ khi ông tranh cử, để giảm bớt những ý kiến chống đối.

Tại một số quốc gia khác thì chính phủ phụ trách việc bảo hiểm y tế cho tất cả mọi người, như tại Anh Quốc, Canada, Thụy Ðiển. Một số quốc gia theo một hệ thống hỗn hợp, cả công và tư, như Thụy Sĩ, Hòa Lan. Cuộc thảo luận về cải tổ hệ thống bảo hiểm y tế ở Mỹ sẽ tiến tới một hệ thống hỗn hợp mà hiện nay đang thành hình trong các ủy ban tại Quốc Hội. Ða số người Mỹ thấy cần thay đổi hệ thống hiện tại, nhưng cũng muốn ngân sách đừng bị khiếm hụt quá!

Chính hệ thống bảo hiểm y tế dựa trên sở làm hiện nay đã thành hình do hoàn cảnh tạo nên chứ không phải do một chính quyền hay Quốc Hội nào hoạch định cả. Nguồn gốc của hệ thống này là hoàn cảnh đặc biệt thời Ðại Chiến Thứ Hai. Khi đó, các xí nghiệp ở Mỹ đều thiếu công nhân vì thanh niên đi động viên. Các xí nghiệp lại không thể cạnh tranh với nhau bằng cách tăng lương, vì chính phủ đang cấm tăng lương cũng như tăng giá, để giữ kinh tế ổn định trong thời chiến. Một số xí nghiệp lớn đã nghĩ ra cách thu hút nhân lực là giúp các công nhân một phần tiền đóng bảo hiểm y tế. Sau khi chiến tranh đã chấm dứt, những xí nghiệp đã đóng bảo hiểm y tế cho nhân viên và công nhân của mình rồi cũng không thể bãi bỏ được, ngược lại, các xí nghiệp khác cũng phải làm theo, nếu không thì mất hết những người có khả năng cao nhất. Một hệ thống bảo hiểm dựa trên sở làm thành hình, không cần ai đề xướng hoặc thảo luận.

Nhưng sau khi đã thành hình, có những quyền lợi nẩy sinh ra đối với nhiều người sống trong hệ thống này. Và họ vận động các đại biểu Quốc Hội để bảo vệ các quyền lợi đó bằng luật lệ về thuế khóa. Thứ nhất là các chủ nhân. Số tiền mà họ đóng góp cho quỹ bảo hiểm của nhân viên phải được coi như một loại chi phí về nhân lực, giống như tiền trả lương. Do đó, được trừ vào số tiền thu nhập để giảm bớt tiền thuế.

Ngược lại, đối với công nhân và nhân viên đi làm thì họ được hưởng một số tiền đóng bảo hiểm y tế do công ty góp giúp cho mình, một thứ lợi ích thêm cũng giống như tăng lương, nhưng họ lại không phải đóng thuế lương bổng.

Các đại biểu Quốc Hội đồng ý làm luật bảo vệ quyền lợi của các chủ nhân (được trừ thuế) và của nhân viên, công nhân các xí nghiệp (không phải đóng thuế lợi tức) một cách tự nhiên. Nhưng họ đã tạo ra những tình trạng bất bình đảng, bất công trong xã hội. Bất bình đẳng, vì các xí nghiệp mua bảo hiểm y tế cho nhân viên thì tiền chi ra được trừ thuế, còn những người khác tự mua bảo hiểm y tế cho chính họ lại không được trừ. Một người mất việc phải tự mình mua bảo hiểm sẽ không được trừ một đồng thuế nào, so với người đang có việc làm. Cũng vậy, nhân viên các xí nghiệp không phải đóng thuế trên những số tiền mà chủ nhân trả thay cho mình trong quỹ bảo hiểm y tế, nhưng một người tự làm chủ, làm thợ cho chính mình thì kiếm được bao nhiêu phải đóng thuế trước, còn lại mới lấy tiền đóng bảo hiểm.

Nhiều người đồng ý đây là một tình trạng thiếu công bằng. Một số đại biểu Quốc Hội đã có ý kiến nên coi những số tiền trợ cấp của các xí nghiệp về bảo hiểm y tế cho nhân viên giống như các thứ lương bổng, lợi tức khác, do đó buộc người thụ hưởng phải đóng thuế. Nhưng ý kiến này khó lòng được Quốc Hội thông qua, vì số người bị đóng thứ thuế mới này sẽ rất đông. Số tiền thu được, nếu bắt họ đóng thuế sẽ rất cao, lên tới vài trăm tỷ Mỹ kim một năm, chính phủ nào cũng muốn thu nhưng không dám vì sẽ bị chống đối rất mạnh!

Chỉ những người thất nghiệp là sẽ không chống, vì họ sẽ phải bỏ tiền túi ra đóng bảo hiểm và không được trừ thuế. Nhật báo Wall Street mới kể trường hợp một kỹ sư tin học làm việc cho một phân bộ của công ty General Motors, ông bị mất việc khi công ty phá sản. Hồi mới vào làm cho công ty này, thập niên 1990, ông phải thay thận, chi phí thay thận do chính phủ trả, nhưng tất cả các chi phí khác do hệ thống bảo hiểm y tế của công ty lo. Chương trình bảo hiểm của công ty tốt quá, ông từ chối không nhận chính phủ lo phần hậu giải phẫu để cho bảo hiểm tư lo được hưởng nhiều tiện ích hơn.

Tháng Tám năm ngoái ông mất việc, nhưng vẫn muốn được bảo hiểm như cũ, ông phải đóng 1,400 đô la mỗi tháng - gấp đôi số trả tiền nhà. Bây giờ lại thêm một cái thận nữa bị hư. Ông phải bỏ tiền túi mấy chục ngàn đô la để chẩn bệnh trước khi được chính phủ trợ cấp giải phẫu thay thận lần nữa. Trong vòng 18 tháng, ông cho biết đã chi tiêu hết tiền tiết kiệm của mình. Ðang đi làm lãnh lương hơn trăm ngàn một năm, bây giờ ông phải thắt lưng buộc bụng. Bà vợ ông cũng mất việc làm trong một nhà thương, nay bà mới kiếm được việc làm trong bếp tại một cửa hàng McDonald. Nhưng khi làm việc 30 giờ một tuần, lãnh lương về thì lại bị trừ mất 150 đồng trợ cấp phiếu thực phẩm (food stamps).

Hệ thống bảo hiểm y tế dựa trên sở làm đã ra đời hơn 40 năm nay, mà tình trạng kinh tế, xã hội tại nước Mỹ đã thay đổi rất nhiều. Hồi giữa thế kỷ trước, khi một công nhân Mỹ đi làm thì có thể làm rất lâu, có khi suốt đời ở một công ty. Ngày nay người ta đổi việc luôn, nhiều người đổi cả nghề vì có những công việc cũ không còn ai làm ở Mỹ nữa. Hiện giờ, ở lứa tuổi 42, một người Mỹ trung bình thay đổi sở làm 11 lần! Khi đổi sở thì cũng thường thay đổi hãng bảo hiểm y tế.

Một điều thay đổi khác nữa là các công ty Mỹ hiện nay cạnh tranh với các địch thủ trên toàn thế giới, chứ không còn như trước. Tất cả các nước giầu đều có hệ thống bảo hiểm y tế công cộng cho toàn dân, chỉ trừ nước Mỹ. Một công ty Mỹ phải cạnh tranh với một công ty Canada, Ðức, Thụy Ðiển, thì bị thiệt thòi vì ở những nước kia các xí nghiệp không phải chi tiêu về bảo hiểm y tế cho nhân viên. Ðối với những công ty chế tạo ở Mỹ, trung bình mỗi giờ phải trả thêm 2.38 đô la chi phí về y tế cho nhân viên và công nhân; còn ở các nước buôn bán nhiều với Mỹ trung bình các xí nghiệp chỉ chi thêm dưới một đô la về y tế. Trong vụ các công ty xe hơi ở Mỹ bị phá sản gần đây, ban giám đốc các công ty GM, Ford hay hay Chrysler ở Windsor, Canada dễ xoay trở hơn so với trụ sở chính ở Detroit, vì họ không phải đóng bảo hiểm y tế cho nhân viên và công nhân.

Ðể giảm bớt chi phí trong lúc kinh tế khó khăn, nhiều công ty Mỹ đã cắt bớt hoặc bãi bỏ luôn các chương trình bảo hiểm y tế. Từ năm 2000 đến nay, số công ty bỏ bảo hiểm chiếm khoảng 10%. Nhân viên và công nhân của họ sẽ phải tự lo lấy, không khác gì những người mất việc.

Vì vậy, một nguyên nhân lớn khiến nhiều người phải khai phá sản là do không đủ tiền trả chi phí về y tế. Một cuộc nghiên cứu đăng trong Tạp chí Y Tế Mỹ (American Journal of Medecine) cho biết trong sáu năm qua hai phần ba các vụ khai phá sản cá nhân liên quan đến chi phí về y tế. Một điều đáng kinh ngạc là trong số những người khai phá sản vì không trả được tiền bệnh viện hoặc bác sĩ lại có 3/4 là những người đang có bảo hiểm y tế đàng hoàng. Lý do vì không phải chương trình bảo hiểm nào cũng đầy đủ, có khi người bệnh phải tự lấy tiền túi trả một số chi phí cho bệnh viện hoặc y sĩ vì bảo hiểm không trả!

Hiện tượng này cho chúng ta thấy một điều đáng nghi ngờ, là hệ thống bảo hiểm y tế hiện tại cho phép “người tiêu thụ” có quyền tự do lựa chọn. Ðó là một huyền thoại. Ða số người Mỹ đi làm thì phải chọn trong số những chương trình bảo hiểm y tế mà xí nghiệp chủ nhân chọn cho họ, không có cách nào khác. Hơn một nửa các xí nghiệp ở Mỹ chỉ cung cấp một kế hoạch bảo hiểm y tế duy nhất, vì họ không kham nổi nhiều lựa chọn khác nhau, khi chi phí quá tốn kém.

Một trong những lý do khiến chi phí y tế ở Mỹ tính trên đầu người cao gấp đôi các nước tiên tiến khác là sự lãng phí, khi đồng tiền được trả cho những công việc không thật sự là dịch vụ y tế, như các chi phí hành chánh. Hệ thống bảo hiểm dựa trên sở làm khiến mỗi công ty, xí nghiệp tự tìm lấy nhà bảo hiểm riêng, và các hãng bảo hiểm và những người môi giới bảo hiểm tự tìm cách thu hút khách hàng, những công việc đó đều tốn tiền. Theo Viện McKinsey Global Institute thì tổng số chi phí riêng về khoản này đã tăng thêm 75 tỷ đô la trong chi phí bảo hiểm y tế ở nước Mỹ. Ai trả số tiền đó? Tất nhiên, đó là những người mua bảo hiểm.

Tuy biết rằng hệ thống y tế hiện tại cần thay đổi lớn, nhưng thay đổi như thế nào là điều sẽ còn tranh cãi vì có nhiều nhóm có quyền lợi riêng không muốn bị mất. Trong mục này chúng tôi sẽ trình bày thêm những vấn đề khác trong cuộc thảo luận về cải tổ y tế hiện nay.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

LITTLE SÀIGÒN

Phòng locker cũng là phòng break, phòng này rộng, những chiếc ghế dài kê giữa hai dãy locker toàn là người Việt Nam . Chỉ nghỉ có 15 phút mà sôi động đủ thứ chuyện vặt, về chồng con, hàng xóm và nói xấu lẫn nhau.

Tôi đang ngồi say sưa hóng hớt chuyện nói xấu kẻ khác, thỉnh thoảng không quên đóng góp thêm mắm thêm muối vào vài câu cho thêm phần hấp dẫn thì có người khều vai:

- Ê , nhờ chút coi!

Chị Lộc xà đến, mặt nhăn nhó:

- Đau mình đau mẩy quá, cạo gió giùm tao để còn lấy sức vô làm tiếp.

Dù đang “bận” tham gia vào câu chuyện đang đến lúc dầu sôi lửa bỏng, tôi vẫn xăng xái:

- Có ngay, để em lấy đồ nghề.

Locker của tôi ngay cạnh đó, bên trong luôn có sẵn một giỏ đựng đủ thứ đồ nghề “cấp cứu”: mấy viên thuốc nhức đầu, thuốc giảm đau, và chai dầu gió. Dần dần bà con coi tôi như “bác sĩ gia đình” hồi nào không hay, ai có đau nhức gì đều hỏi xin thuốc hay nhờ cạo gió.

Công việc trong hãng khá vất vả nên đau tay, mỏi vai là chuyện mỗi ngày, tụi Mỹ đen, Mỹ trắng vào làm và nghỉ làm thường xuyên như đi chợ, vì chán, không chịu nổi, nhưng hầu như chẳng người Việt Nam nào có ý định bỏ việc cả, mà ngược lại, càng ngày càng đông, họ cần cù, chịu khó, biết người biết ta, để kiếm tiền, để cuộc sống ổn định. Cho nên cứ thấy hãng xưởng nào đông người Việt Nam thì biết ngay công việc nơi đó hoặc vất vả hoặc đồng lương rẻ mạt, họ đỡ phải cạnh tranh với dân bản xứ. Ai chán thì cứ đi, Việt Nam ta vẫn ở lại, tiếng Anh tiếng u nửa nạc nửa mỡ, tài cán gì mà bon chen cho mệt.

Chị Lộc đã tốc áo lên, phơi cả tấm lưng ra, sẵn sàng cho tôi cạo gió.Tôi bôi dầu một cách điệu nghệ và cạo tới đâu “gió” nổi lên tới đó, mấy bà ngồi bên xuýt xoa:

- Bà Lộc trúng gió rồi!

- Ráng chịu đau một chút là khoẻ liền.

Tôi đang “hành nghề” thì một cô Mỹ đi tới, nó ngồi tuốt đằng xa, chắc thấy bọn tôi chụm lại ồn ào nên tò mò đến xem và ngạc nhiên hỏi một tràng..Tôi đoán chừng và trả lời ngay bằng tiếng Anh ESL ba chớp ba nhoáng của mình:

- She is sick, me “cạo gió”, she no more sick.

Và tôi chỉ vào tấm lưng đỏ ửng của Lộc diễn giải thêm:

- This is “cạo gió”.

Thấy vẻ mặt cô Mỹ vẫn còn ngơ ngác, một chị tên Linh nói khá tiếng Anh bèn trình bày là Lộc bị cảm và tôi đang cạo gió, sẽ làm cho Lộc thấy tốt hơn, thì cô Mỹ mới bỏ đi.Thì ra cô Mỹ tưởng tôi đang làm đau Lộc. Chắc cô Mỹ này mới vô làm, chứ những người Mỹ làm ở đây lâu, họ cũng rành chuyện người Việt Nam cạo gió cho nhau rồi.

Chị Linh quay ra nói với tôi:

- Tôi nghĩ rằng chúng ta nên cạo gió trong hãng kín đáo hơn một chút, tuy là thói quen của người Việt Nam, nhưng người Mỹ nhìn vào bằng cách khác, có vẻ như không tốt cho chúng ta.

Tôi lẩm bẩm với vẻ bực mình:

- Quyền tự do dân chủ của mỗi người, tôi chỉ giúp đỡ người khác chứ có hại ai đâu.

Chị Linh bỏ đi, tôi tức điên cả ruột mà không làm gì được. Hôm nay là ngày gì mà xui thế? Lúc nãy ăn lunch xong, tôi đang rửa bát trong bồn rửa…tay, đã bị một bà Việt Nam phê bình rồi, bà ta bảo:

- Đây đâu phải chỗ nhà bếp của chị mà rửa bát với đũa?

Nói xong bà ta ngoe nguẩy bỏ đi, không thèm đứng lại cho tôi cãi cố lấy một câu.

Sao lại có người lắm chuyện đến thế? Tôi rửa bát trong hãng là để tiết kiệm thời gian, lát về nhà khỏi phải rửa, và nhân thể tiết kiệm nước. Thật sung sướng khi nước nóng, nước lạnh mở thoải mái để rửa bát, tráng bát năm lần bẩy lượt mà không lo đến cái bill nước như ở nhà mình, nhưng tôi xài nước trong hãng, hao tốn nước trong hãng chứ có hao tốn nước của nhà bà ấy đâu mà bà xót ruột, xía vào? Ai bảo “sĩ diện” không chịu bắt chước bọn tôi, rồi ghen tức lên? Mà nhiều người Việt Nam khác cũng làm thế, chứ có một mình tôi đâu? Các bà rửa bát, đũa, thìa, xong còn lấy một đống giấy napkin của hãng, lau khô từng món một trước khi cất vào giỏ.

Thỉnh thỏang có bà sơ xuất để sót lại vài hột cơm trong sink, là “ đám rửa bát” chúng tôi lại bị những người Việt Nam khác nhìn bằng ánh mắt nửa lên án, nửa trách móc, có người còn nói xa nói gần là làm mất thẩm mỹ nơi công cộng, làm họ xấu hổ lây vì cùng là người Việt Nam. Tôi không thèm chấp với những người nhỏ nhặt, ích kỷ đó, cứ để ý từng cử chỉ, hành động của đồng hương mà phê bình, lên mặt dạy đời.

Sang Mỹ được 3 năm, nơi nào có người Việt Nam đông là nơi ấy tôi thấy thoải mái quá chừng, thí dụ như đi chợ Việt Nam, bãi đậu xe hay trước cửa chợ lúc nào chả có rác và những mảnh báo cũ bay phất phơ trong gió đến là vui mắt, nên tôi cũng cho quyền mình được thoải mái xả rác theo, chứ không như những nơi công cộng của Mỹ, cái miếng giấy nhỏ xíu bọc miếng gum, tôi cũng phải ráng giữ trong tay cho đến khi tìm được thùng rác. Đi bác sĩ Mỹ cũng vậy, phải đúng hẹn, bác sĩ Việt Nam thì có hẹn cũng như không, ai đến ghi tên trước thì được gọi vào trước, vậy mà cũng bày đặt bắt người ta phải lấy hẹn. Hẹn một đằng làm một nẻo, hình như người Việt Nam mình quen với những chuyện bất bình thường từ đời kiếp nào rồi, nên chẳng ai buồn thắc mắc. Rút kinh nghiệm, tôi luôn đi sớm hơn giờ đã hẹn và qua mặt luôn mấy ông già bà cả đến đúng hẹn đang lù khù ngồi chờ đợi dài cả cổ. Mấy ông bà gìa đó có thẻ bảo hiểm miễn phí, nên chỉ hơi thấy mình mẩy đau nhức, hay sổ mũi nhức đầu là thoải mái lấy hẹn đi bác sĩ cho khỏi uổng phí cái thẻ mà xã hội ban cho, thuốc uống không hết thì để dành cho con cháu dùng ké hay gom lại gởi về Việt Nam làm qùa vô cùng qúy hóa.Tuy đợi, nhưng họ không để hoang phí thì gìơ, họ bắt chuyện để nói với nhau rổn rảng trong phòng đợi, ông ngồi ở một góc đầu phòng nói vọng tới bà đang ngồi tận cuối phòng, nên cả phòng đợi coi như đang hội họp, đề tài thường là than thở ốm đau, bệnh tật, về con cháu, về những kỷ niệm quê nhà ngày xưa. Dù bất cứ đề tài nào, bất kể tuổi tác, bất kể trình độ, tôi cũng hăng hái xía vào câu chuyện cho đến khi được gọi vào khám bệnh trước họ.

**** ******

Tôi lấy Vacation đi Calif.chơi một tuần theo lời mời của người chị họ.Vừa bước xuống phi trường John Wayne, tôi đã cảm nhận ngay bầu không khí trong lành, mát mẻ, những cây cọ, cây dừa dọc theo đường phố đã tạo nên một vẻ đẹp riêng của thành phố có biển.

Cuối tháng Mười, chanh, cam chín đầy cành, lấp ló sau những bức tường thấp hay qua hàng rào thưa làm cho tôi thích thú, và càng thích thú hơn khi được chị tôi dẫn đến khu “Little Sài Gòn” vào buổi sáng thứ Bảy.

Chúng tôi vào một cửa hàng food to go để mua chè và bánh trái, để tôi biết mùi quà Calif. như những tin đồn. Hàng chè đông nghẹt người, đang bu quanh quầy chè và chỉ chỏ những món cần mua, ai cũng muốn mua trước, ai cũng muốn mua nhanh, chẳng xếp hàng thứ tự gì cả, cứ chen lấn mạnh được yếu thua , kẻ bán, người mua ồn ào như ong vỡ tổ, làm như sau một đêm ngủ dậy điều quan trọng nhất trong cuộc đời họ là…ra chợ mua chè, hay như họ phải ăn vì chiều nay tận thế.

Chị tôi ngao ngán lắc đầu định đi ra, nhưng tôi hăng hái giữ chị lại:

- Để em. Hồi ở Việt Nam , em từng chen lấn, giành giựt mua vé xe đò, xe lửa nên quen cảnh này rồi.

Nói là làm ngay, tôi xông vào đám đông, cũng xô, cũng đẩy, cũng hò hét và chẳng mấy chốc đã xách ra được một túi những hộp chè và bánh , làm chị tôi, dân Calif. chánh gốc bấy lâu cũng phải ngẩn ngơ:

- Đi ăn mấy nhà hàng nổi tiếng vào ngày cuối tuần cũng đông như thế, nhưng còn xếp hàng thứ tự, còn cửa hàng này họ chen lấn ghê quá, thường thì chị đợi thưa người mới vào mua. Chẳng hiểu sao đi mua chè mua bánh mà họ cũng tranh giành, chẳng biết văn minh, lịch sự là gì cả. Nếu em để ý sẽ thấy mấy nhân viên của tiệm phải đứng cả vòng ngoài để canh chừng kẻ xấu thừa lúc đám đông ra tay ăn cắp vặt những món bánh trái bày la liệt trên quầy đấy. Những người này, có thể họ cũng biết xếp hàng chờ đợi ở chợ Mỹ, lịch sự lắm, nhưng đến chợ Việt Nam, lại …hiện nguyên hình người Việt Nam khi xưa còn ở quê nhà.

- Gặp đồng hương với nhau nên tha hồ thoải mái mà chị. Em cũng thế.

Buổi chiều hai chị em vào một chợ Việt Nam to lớn khang trang, mua đầy một xe chợ, nhãn tươi ở đây rẻ quá, chỉ có $1.99 một pound, vừa đẩy xe ra bãi đậu, tôi vừa ăn nhãn và thoải mái vứt vỏ và hột xuống đất, làm chị tôi dẫy nẩy lên:

- Kìa em, sao em lại xả rác ra đường thế?

Tôi ngạc nhiên:

- Chị xem, trước cửa chợ và bãi đậu xe của họ cũng toàn là rác, thì cần gì phải giữ gìn? Đã thế rác ở đây còn nhiều hơn chợ Việt Nam chỗ em, chắc tại càng đông người thì càng lắm rác, hay Việt Nam mình có truyền thống ở dơ hả chị?

Chị tôi có vẻ không hài lòng:

- Ai bảo em là người Việt Nam mình ở dơ? Vô trách nhiệm thì có. Của mình thì giữ gìn, của công thì mặc xác. Em thử để ý đến những ngôi nhà của người Việt Nam xem, họ chăm sóc sân vườn trước sau, sạch sẽ, đẹp đẽ, lịch sự biết bao, họ khoe đẹp, khoe sang của chính họ, vậy mà đến nơi công cộng thì chẳng thèm ý tứ gì cả.

- Nhưng mà thêm một tí rác của em vừa xả ra cũng chẳng làm trầm trọng thêm, đằng nào cũng dơ sẵn rồi. Tôi cố bào chữa cho mình nhẹ tội..

- Ai cũng nghĩ như em thì đường phố sẽ biến thành núi rác mất.

Chị tôi qua Mỹ đã lâu, chắc sống theo kiểu Mỹ quen rồi. Khi vừa lái xe tới một ngã tư, trong lúc đợi đèn xanh, tôi ngó quanh bốn phía chỉ toàn thấy “ đầu đen” Việt Nam ta, hiếm khi thấy người Mỹ trắng .Quả đúng như lời đồn, từ ngày người Việt Nam về đây mua nhà, mua đất, lập ra khu “Little Sài Gòn”, dần dần Mỹ trắng thấy bơ vơ, lạc lỏng, nên bán xới nhà cửa đi nơi khác hết.

Vào khu “Little Sài Gòn” đúng như tên gọi của nó, là một Sài Gòn thu nhỏ lại, sự sinh hoạt, mua bán, ăn chơi cứ như bên quê nhà thuở nào, khối bà, khối cô còn mặc đồ bộ đi chợ hay ra quán ngồi vắt vẻo ăn tô mì, tô phở, vừa ăn vừa sụt sùi vì nước lèo nóng và ớt cay.

Chị tôi chỉ một bà đội nón lá đang đứng chờ xe bus ở phía xa:

- Khỏi cần đến gần chị cũng biết đó là một bà Việt Nam chính gốc, chắc bà mới đi Việt Nam chơi, mang về Mỹ cái nón lá. Cũng may là bây giờ không còn mấy bà gìa nhai trầu bỏm bẻm, thỉnh thỏang lại nhổ toẹt một bãi đỏ lòm xuống đất, làm tụi Mỹ hết hồn.

Được dịp gặp cô em mới qua Mỹ chưa bao lâu, nên chị tôi kể thêm vài kinh nghiệm sống trên xứ Mỹ cho tôi học hỏi:

- Nhiều người Việt Nam vô trách nhiệm từ chuyện nhỏ tới chuyện lớn, chị có một bà bạn cũng sống ở Calif. gia đình khá giả, nhưng lòng tham con người vẫn vô đáy, bà ấy chẳng bệnh tật gì cả, nhưng “hợp tác”với một bác sĩ vô lương tâm, giải phẫu nhỏ ở nách, để được chia 5,000 đồng, bác sĩ ăn bao nhiêu của hãng bảo hiểm không biết, nhưng chắc chắn không phải là ít. Sau đó hãng bảo hiểm sức khoẻ tại hãng của bà ta phải tăng giá đồng loạt mọi công nhân, chỉ vì bà đã làm tổn thất cho họ. Bà bạn chị đã ân hận, kể cho chị nghe như một lời thú tội cho nhẹ lòng. Dĩ nhiên dân tộc nào cũng có kẻ tốt người xấu, nhưng người Mỹ thường thì vẫn thẳng thắn và trung thực, không biết những mánh lới, láu cá vặt như một số nhỏ người mình.

Tôi nhớ đến chuyện thằng con trai 8 tuổi của mình, một hôm nó mang về nhà tờ giấy của trường gởi cho cha mẹ học sinh, đọc xong và ký vào. Nhìn lá thư tiếng Anh tôi hoa cả mắt, chẳng hiểu gì, bèn làm bộ quát con:

- Mẹ bận lắm, con đọc rồi ký giùm mẹ luôn đi.

Cu Tí từ chối:

- Cô giáo nói cha mẹ đọc thư và ký vào, chứ không phải con.

- Mẹ đâu có thì giờ mà đọc cái lá thư tiếng Anh đấy? Con cứ ký vào, có gì mẹ chịu trách nhiệm.

Cu Tí vẫn cương quyết:

- Nếu bây giờ mẹ bận thì lát nữa mẹ đọc và ký vào. Mà nếu mẹ không hiểu được tiếng Anh thì con sẽ nói cho mẹ hiểu.

Thằng con sao mà đoán đúng tim đen của mẹ nó đến thế. Tôi đành chịu thua con mình, nó được giáo dục sự trung thực, không biết nói dối, dù sự nói dối vô hại.

Và có lần vợ chồng tôi và Cu Tí đi chợ, lúc về qua một bệnh viện, chồng tôi tiện thể ghé vào thăm một người bạn cùng hãng đang nằm trong đó. Mẹ con tôi ngồi ngoài xe đợi, thì Cu Tí buồn đi tiểu, nằng nặc đòi về nhà. Tôi có thể dẫn con vào bệnh viện tìm một cái restroom không khó khăn gì, nhưng lười biếng ra lệnh cho nó:

- Chỗ này vắng, con ra gốc cây kia tiểu đi. Mẹ …canh chừng cho.

Cu Tí kinh hãi nhìn tôi:

- Không, Con không thể làm điều đó

Con tôi đâu hiểu rằng chuyện này thường tình ở Việt Nam . Nếu một ngày nào đó tôi dẫn Cu Tí về Việt Nam chơi, đi trên những đường phố Sài Gòn, giữa ban ngày ban mặt, người ta đi tiểu vào bờ tường, vào gốc cây. Không biết nó sẽ kinh hãi đến cỡ nào??. Cũng may, chồng tôi ra tới và thằng Cu Tí được về nhà đi tiểu cho đúng nơi, đúng chốn..

Chị tôi lại kể tiếp:

- Hôm nọ chợ Wal-mart on sale giấy vệ sinh, mỗi người được mua 2 bịch, chị thấy nhiều người Việt Nam hớn hở cả nhà cùng đi chợ để thay phiên nhau vào mua giấy, thậm chí họ còn quay vào đợt hai nữa chứ. Trong khi người Mỹ, họ chỉ thản nhiên lấy đúng 2 bịch, và nếu không có nhu cầu người ta cũng chẳng cần mua dù đang giá rẻ.

Câu chuyện này làm tôi nhột thật sự. Không lẽ người Việt Nam có nhiều điểm giống nhau đến thế? Tôi đã từng mua đồ on sale kiểu đó, mỗi lần chợ Mỹ bán hạ giá đường 99 cents một bịch 4 pounds là tôi có mặt ngay, đường để lâu chẳng hư, chẳng cũ, giá rẻ tội gì không mua để dành? Họ hạn chế mặc kệ họ, chẳng ảnh hưởng gì đến tôi, vì tôi đã có cách, đi ra đi vào chợ mấy lượt để mua đường, dĩ nhiên mỗi lần ra tính tiền ở một quầy khác nhau.Vậy mà hấp ta hấp tấp, tôi đã vô lộn quầy lúc nãy, thằng tính tiền nhận ra tôi và không chịu bán, thế là tôi đành ấm ức bỏ lại bịch đường và lườm nguýt nó mấy cái trước khi rời khỏi chợ với lời thề không bao giờ thèm đến chỗ nó tính tiền cho bõ ghét.

Một tuần lễ sống ở Calif. với gia đình người chị, tôi đã thấy nhiều cảnh đẹp, cảnh xấu, nhiều món ngon và không ngon. Người Việt Nam ở Calif và đất Calif. không phải là thần thánh, là thiên đường mà đôi khi ở những tiểu bang khác người ta bắt gặp trong những lời quảng cáo đầy tự hào và khoe khoang như: “ Tại đây có bán chè Cali, gìo lụa Cali, và đầu bếp từ Cali mới về..v..v..”

Ở bất cứ nơi đâu, tiểu bang nào, thành phố nào cũng có người Việt Nam giỏi, món ăn Việt Nam ngon, cứ gì phải ở Calif. ?

Và tôi đã học được ở chị tôi một điều quan trọng hơn, đó là cách sống và xử thế, dù với người bản xứ hay với chính đồng hương của mình. Cũng giống như bà bạn thân của chị tôi đã hối hận kể cho chị nghe vụ gian lận tiền bảo hiểm sức khoẻ, tôi cũng huỵch toẹt luôn những chuyện đời tôi, chuyện thi nhau rửa bát trong hãng, chuyện tụ tập trong phòng nghỉ đè nhau ra cạo gió như cơm bữa, chuyện tranh dành vào khám bác sĩ sớm hơn người khác và chuyện xả rác nơi chợ búa….Chị tôi vừa buồn cười vừa trách:

- Em mới qua Mỹ mấy năm nên chưa quen hết cách sống ở Mỹ, từ giờ trở đi đừng làm thế nữa, mình hãy tôn trọng mình trước, đừng để kẻ khác bất chợt nhìn vào mà coi thường mình và cộng đồng Việt Nam của mình.

Tôi tạm biệt Calif. và chị tôi, trong lòng còn mang theo cả một khu “Little Sài Gòn”của người Việt Nam ở California .

Và dù ở nơi đâu trên đất Mỹ này, có cộng đồng người Việt Nam đều có một “Little Sài Gòn” như thế , có những khu thương mại, chợ búa, luộm thuộm, dơ bẩn hơn của Mỹ, có một số người Việt Nam láu cá, tham lam vặt vãnh, và sống thiếu văn minh lịch sự ngay tại một nước văn minh hàng đầu thế giới.

Trở về hãng làm việc lại, tôi vẫn làm “bác sĩ gia đình” cho các bà các cô khi cần viên thuốc, lúc cần cạo gío, nhưng tôi không tụ tập nói xấu kẻ khác hay thi đua rửa bát chén nơi bồn rửa tay làm ngứa mắt những đồng hương nghiêm chỉnh của tôi và của người bản xứ.

Có vài bà cùng phe với tôi trước kia lắc đầu và bĩu môi bĩu mỏ, chắc là cho tôi dở hơi sau một chuyến đi chơi xa về. Nhưng tôi chẳng cần để ý, khi nghĩ rằng rồi đây trong số những người Việt Nam sống thiều văn minh, thiếu lịch sự sẽ bớt đi một người, và những cửa chợ hay bãi đậu xe sẽ bớt đi một tí rác…nhờ tôi, là đủ vui rồi.

Nguyễn thị Thanh Dương

(March-2007)
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Đế quốc Trung Hoa vẫn bành trướng

Ngô Nhân Dụng
Hàng trăm người Uighur chết ở Tân Cương và mấy chục ngư phủ Việt Nam chết ở biển Ðông sau khi bị đánh chím tầu, họ đều là nạn nhân của một hiện tượng lịch sử diễn tiến trong hai ngàn năm nay. Ðó là sự bành trướng của một đế quốc đã thành hình trên Hoa lục từ hơn 200 năm trước Công Nguyên. Người Uighur hay người Tây Tạng đã bị nuốt vào nằm trong đế quốc đó, còn người Việt vẫn đang chịu áp lực của sự cọ xát do hiện tượng bành trướng đó gây ra, giống như các nước biên ngoại khác.

Người Trung Hoa đến nay vẫn tự gọi họ là người Hán, dùng tên của đế quốc đầu tiên kéo dài 4 thế kỷ này, mà vào năm 43 họ đã chính thức chiếm đóng vùng sông Hồng, sông Mã của dân tộc Việt để thi hành một chính sách trực trị và đồng hóa. Họ đã thành công trong công việc đồng hóa các sắc dân từ vùng Thượng Hải, Phúc Kiến, cho đến Quảng Ðông, Vân Nam. Nhưng một nhóm người Việt là tổ tiên chúng ta đã thoát khỏi vòng kềm tỏa của đế quốc đó sau một ngàn năm không ngừng tranh đấu. Người Uighur và các dân tộc theo Hồi Giáo ở Tân Cương không may mắn như người Việt. Cũng bị sáp nhập vào nước Trung Hoa trong hơn một ngàn năm, đến nay họ vẫn phải sống làm dân nước đó như một nhóm thiểu số bị khinh thường. Khi những người dân “thiểu số” này nổi dậy phản kháng vì bị đối xử bất công, họ bèn bị gán cho tiếng “phản loạn.”

Kể từ thời nhà Hán, mỗi khi Trung Quốc thống nhất trong một thời gian dài thì những vị hoàng đế Trung Hoa lại bành trướng lãnh thổ. Các triều đại Ðường, Tống, Nguyên, Minh, và Thanh đều mở rộng vùng đất họ kiểm soát. Các dân tộc chung quanh thường được bình an những khi “bên Tàu có loạn” chia năm xẻ bảy. Ðể cho công bằng, chúng ta không nên nghĩ là cả dân tộc Trung Hoa có tham vọng đế quốc. Thực ra chính các vị hoàng đế, dù họ đóng kinh đô ở Trường An, Lạc Dương, Nam Kinh hay Bắc Kinh; dù họ là người gốc Hán hay gốc Mông Cổ, gốc Mãn Châu; chính họ mới chịu trách nhiệm về những cuộc xâm lăng chiếm đất, cướp của, giết người, tạo nên một nước gọi là Trung Quốc bây giờ. Ðế quốc này bành trướng mạnh nhất vào đời nhà Thanh (1644 - 1912), mở rộng ra gấp hai lần vùng kiểm soát của nhà Minh trước đó. Mà triều đại dài gần 400 năm này lại do một sắc dân thiểu số người Mãn Châu đứng đầu.

Cho nên có thể nói Trung Quốc không phải là một quốc gia theo nghĩa thông thường, với một dân tộc và một tổ chức nhà nước cai trị (nation-state). Cũng giống như Liên Bang Xô Viết trước đây, chưa bao giờ là một quốc gia cả, khi guồng máy ở trung tâm nới lỏng ra thì cả đế quốc cũng tan rã. Nói về nước Trung Hoa theo lối có thiện cảm như một Martin Jacques, người Anh, tác giả cuốn “When China Rules the World” mới xuất bản, thì đó là một “civilisation-state,” một tổ chức cai trị để phát triển và bành trướng một nền văn minh riêng. Văn minh Trung Hoa được những người sống ở vùng Hoàng Hà dùng để “khai hóa” các dân man di chung quanh từ thời Tần Hán đến thế kỷ 20. Chế độ Cộng Sản đã dùng một thứ “văn minh” khác: chủ nghĩa Mác-Lê nin-Mao, với tinh thần đoàn kết vô sản thế giới, xóa bỏ phân biệt chủng tộc cũng như biên giới quốc gia.

Theo đúng chương trình của Mao Trạch Ðông, khi chế độ Cộng Sản được thực hiện khắp Á Châu thì những sắc dân ở Hàn Quốc, Việt Nam, Miến Ðiện, cho tới Mã Lai Á, Indonesia đều sẽ “trước là đồng chí sau là anh em,” được hưởng quy chế cùng một nhà với người Hán. Khi hải quân Trung Quốc tấn công hải quân Việt Nam Cộng Hòa để chiếm Hoàng Sa năm 1974, chính phủ Cộng Sản ở Hà Nội không lên tiếng phản đối. Vì họ theo đúng tinh thần đoàn kết vô sản của Mao Trạch Ðông, mà Hồ Chí Minh vẫn tôn thờ và ca ngợi.

Các chính phủ Trung Quốc thường nói họ là một quốc gia đa chủng tộc, nhưng thực chất là một đế quốc. Nhà Thanh công nhận năm sắc dân: Hán, Mãn, Mông, Hồi, Tạng, vì họ thuộc giống Mãn, cần hợp thức hóa chế độ cai trị của họ trên đa số dân Hán. Thời dân quốc, từ năm 1912, cũng theo nếp đó. Ðến thời Cộng Sản, họ nói Trung Quốc có 55 sắc dân thiểu số, hiện nay có 104 triệu, chiếm 9% trong số 1.3 tỷ người, và sắc dân chính là người Hán, 91% dân số.

Nhưng ngay đám dân gọi là “người Hán” này cũng khó coi là một dân tộc vì họ không thuần nhất chút nào. Gọi tất cả là người Hán cũng giống như chúng ta gọi các đồng bào Mường, Thái, người gốc Cham, gốc Khơ Me đều là người “Kinh” vậy. Có 8 nhóm ngôn ngữ chính ở Trung Quốc, như tiếng Ngô, tiếng Việt (Quảng Ðông), tiếng Tương, Mân Bắc, Mân Nam (Phúc Kiến), vân vân. Trong mỗi nhóm tiếng chính lại chia ra nhiều ngôn ngữ phụ. Ngôn ngữ chính thức (phổ thông) học trong trường và dùng trong chính phủ (quan thoại), nhưng người dân vẫn dùng tiếng của vùng mình trong đời sống hàng ngày. Giữa người nói ngôn ngữ chính và tiếng Quảng Ðông cũng khó hiểu được nhau như giữa người Ðức và người Anh; hoặc giữa người Pháp và người Tây Ban Nha vậy. Trung Quốc cứ hợp rồi tan, tan rồi lại hợp, vì đời Tần cưỡng chế mọi người dùng một thứ chữ viết và các vị hoàng đế đời sau tiếp tục chính sách đồng hóa đó. Nhưng hiện nay nhiều sắc dân đang muốn xác định lại bản sắc của họ. Người Hẹ (Khách Gia) và người Quảng (Việt) đều muốn tìm hiểu lại di sản văn hóa cổ truyền. Tại Quảng Ðông đang có một phong trào phục hồi những di tích của văn minh Nam Việt. Những người di dân từ miền Nam Trung Quốc ra nước ngoài thường tự gọi họ là người Ðường chứ không gọi là người Hán. Ở các khu phố Tàu người ta đặt tên Ðường Nhân Hành, và tay võ sĩ từ bên Tàu qua được gọi là “Ðường Sơn đại huynh.”

Các vị hoàng đế đời trước và Hoàng đế Ðỏ bây giờ tìm cách xóa mờ sự khác biệt giữa các nhóm dân đó, đề cao một dân tộc Hán thuần nhất, là để bảo vệ đế quốc, tức là bảo vệ ngai vàng của họ. Cho nên sau vụ tàn sát người Uighur ở Tân Cương vừa qua, chính quyền Cộng Sản đã cho chiếu tin tức trên màn ảnh truyền hình khắp nước để cổ võ tình yêu “tổ quốc” gượng ép này. Nhưng ngay bây giờ trong nước Trung Hoa vẫn có những lực ly tâm hoạt động, vì tình trạng phát triển kinh tế không đồng đều giữa các vùng, các tỉnh. Tình trạng bất công xã hội khiến mỗi năm có đến trăm ngàn “biến cố quần chúng” khắp nơi, tức là những vụ biểu tình từ một trăm người trở lên. Một đế quốc chỉ có thể bành trướng khi thật sự tập trung quyền hành, nhất là khi chính quyền trung ương có khuynh hướng độc tài. Còn khi guồng máy cai trị bên trong đế quốc đó được dân chủ hóa, các ý kiến khác biệt được thảo luận bình đẳng, thì nhu cầu bành trướng ra bên ngoài cũng nhẹ đi vì chính quyền không cần cho dân uống thứ ma túy gọi là “ái quốc” nữa. Vì vậy, đối với những quốc gia ở bên cạnh Trung Quốc như nước ta, khi nào nước Trung Hoa dân chủ hóa thực sự thì khi đó nước Việt Nam có thể nói chuyện bình đẳng với Trung Quốc. Nhóm các nhà trí thức ký Hiến Chương 08 đã đề nghị Trung Quốc theo thể chế liên bang, vì họ hiểu khát vọng tự trị của những đám dân khác ngôn ngữ và khác nhau về trình độ phát triển kinh tế.

Ðề nghị liên bang hóa Trung Quốc nhắm vào những đám dân thiểu số lớn, như người Tây Tạng, người Uighur và các sắc dân khác ở Thanh Hải, Cam Túc, Tân Cương. Chính phủ Bắc Kinh rất lo ngại tình trạng căng thẳng sẽ đưa tới nhiều biến loạn và những cuộc tàn sát khác, như đã xẩy ra ở Tây Tạng năm ngoái và Tân Cương năm nay. Khi binh lính người Hán bắn vào những người Hồi Giáo ở Tân Cương, chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ đã cực lực lên án. Ðầu thế kỷ 20, Tây Tạng là một nước độc lập, dân Uighur cũng đứng lên thành lập một nước Ðông Thổ (East Turkistan) giống như nước Turkistan mới tách khỏi Liên Bang Xô Viết gần đây. Bộ trưởng thương mại Thổ Nhĩ Kỳ đã đe dọa sẽ kêu gọi dân chúng tẩy chay hàng hóa Trung Quốc. Những nước Trung Á khác cùng chung một tôn giáo với dân Uighur và tiếng nói cùng gốc Thổ cũng sẽ tỏ tình đoàn kết với người Uighur. Mà đây là một vùng chính quyền Bắc Kinh đang tìm cách kết thân, qua tổ chức Hội Nghị Thượng Hải (thêm Cộng Hòa Nga và sẽ thêm Iran) để bảo đảm nguồn tiếp tế dầu lửa và khí đốt từ vùng Hắc Hải, diển Caspian, sang tới Trung Á.

Những dân tộc gốc Thổ vùng Trung Á cũng chia sẻ mối lo sợ như các nước vùng Ðông Nam Á. Họ sợ sức bành trướng tự nhiên của Ðế quốc Trung Hoa. Ngay nước Nga bây giờ cũng còn sợ đế quốc Trung Hoa xâm thực dần dần vào miền Siberia, thì người Hồi Giáo Trung Á cũng lo ngại những Ban Siêu, Phục Ba mới. Ðời Ðường đã lập An Tây Ðô Hộ Phủ để xâm lăng và thống trị vùng Tân Cương, Thanh Hải, mở đường qua phía Bắc Hy Mã Lạp Sơn. Cùng thời gian đó, An Nam Ðô Hộ Phủ thống trị dân Việt và đã tiến xuống tới tận Chiêm Thành.

Ðế quốc Trung Hoa bị ngăn lại ở biên giới Việt Nam, nếu không chắc họ đã bành trướng tới Indonesia (họ gọi là Nam Dương, Biển phía Nam), Mã Lai Á, Thái Lan, vân vân, từ trước khi các đế quốc Âu Châu sang đến vùng này. Nếu không có sức đề kháng của dân Việt, biết đâu người Thái, người Khơ Me bây giờ cũng có số phận như người Uighur mà thôi! Các nước Ðông Nam Á cũng biết rằng Việt Nam là hàng rào bảo vệ họ trước sự bành trướng của đế quốc Trung Hoa. Cho nên những người lãnh đạo Việt Nam biết bảo vệ chủ quyền dân tộc cần phải đoàn kết hơn với các nước Ðông Nam Á trong việc đối phó với Trung Quốc. Những cuộc thương thuyết về chủ quyền và lãnh hải nên đưa ra với tính cách tập thể, nhiều quốc gia tham dự. Tuyệt đối không nên kéo dài những cuộc họp song phương, nhất là những cuộc hội đàm bí mật đến nỗi người dân nước mình cũng không biết hai đảng Cộng Sản đã bàn những chuyện gì với nhau.

Từ khi dành được độc lập, các vua chúa Việt Nam luôn luôn chỉ dám tự xưng mình là “vương” khi giao thiệp với “hoàng đế” Trung Quốc. Thái độ khiêm tốn, nhún nhường đó là thủ đoạn ngoại giao để tránh chiến tranh cho dân đỡ khổ. Nhưng suốt lịch sử, người Việt Nam không bao giờ chịu nhục trước sự đe dọa của các hoàng đế Trung Hoa, ngay cả trước đám quân Mông Cổ bách chiến bách thắng. Và ngay trong thời bình, các chính quyền Việt Nam vẫn luôn luôn cảnh giác coi chừng sự xâm nhập, bành trướng của người Trung Quốc. Thái độ đó trở thành lỏng lẻo khi đảng Cộng Sản Việt Nam chấp nhận lệ thuộc vào sự chi viện của Cộng Sản Trung Hoa từ kinh tế, chính trị, quân sự cho đến tư tưởng, văn hóa.

Nhưng người Việt Nam chắc ai cũng ý thức về sức bành trướng của đế quốc phương Bắc. Phản ứng của mọi giới đồng bào, kể cả người Việt ở nước ngoài, trước việc cho người Trung Hoa khai thác Bô xít ở Tây nguyên, và trước những vụ tầu Trung Quốc đâm vào tầu đánh cá Việt Nam, cho thấy mối lo sợ của người Việt có lý do chính đáng. Chúng ta không cần phải thù ghét người dân Trung Quốc, dù họ gọi là người Hán hay Ðường nhân. Các nước lớn đều có tham vọng bành trướng tự nhiên như vậy, các nước nhỏ phải biết tự giữ lấy thân mình! Mối lo chính là những vị Hoàng đế Ðỏ của đế quốc này vẫn dùng chiêu bài “quốc tổ” dụ dỗ, mê hoặc dân Trung Hoa để bảo vệ quyền hành của chính họ. Mà một cách kích thích lòng “ái quốc” là bành trướng ảnh hưởng của họ, trên trên các nước khác. Mối lo gần gũi nhất là sợ rằng các Hoàng đế Ðỏ ở Bắc Kinh lại mua chuộc được các ông vua chúa ở nước ta bằng “tình đồng chí giữa những người Cộng Sản cuối cùng trên trái đất!”

Khi nào hai nước Việt Nam và Trung Quốc dân chủ hóa thật thì mới có thể nói chuyện bình đẳng được.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Bảo Vệ Biển Đông
Trần Khải

Trong khi nhà nước Hà Nội chơi trò xã hội đen với các nhà hoạt động dân chủ như Nguyễn Thanh Giang, Trần Khải Thanh Thủy, Lê Trần Luật… thì các tàu lạ (có lẽ của Trung Quốc, chứ khó thể nào là tàu của Iran, hay Cuba) đang vào các vùng biển Việt Nam để chơi trò xã hội đen với ngư dân Việt. Và CSVN đang ra vẻ bó tay.

Bắt cóc ngư dân Việt đưa về đảo Hải Nam rồi đòi tiền phạt mới thả, đó là hành vi hải tặc. Tàu lạ đụng chìm tàu ngư dân Việt rồi bỏ chạy, đó cũng là hành vi hải tặc vì đã cướp đi phương tiện mưu sinh và cướp mất sự bình an trên biển. Tại sao nhà nước Hà Nội chưa đưa các hành vi hải tặc này ra trước Liên Hiệp Quốc khiếu kiện? Thêm nữa, tại sao Hà Nội chưa kêu gọi Khối ASEAN thành lập một đơn vị hải quân đặc nhiệm chống hải tặc? Và rộng hơn, tại sao Hà Nội chưa mời cả Mỹ và các nước Đông Á như Nhật, Nam Hàn đặt vấn đề chống hải tặc trên toàn vùng Thái Bình Dương?

Trên nguyên tắc, bạn đồng minh của Hà Nội tại Biển Đông vẫn nhiều hơn là bạn đồng minh của Bắc Kinh tại đây. Vậy thì tại sao lại sợ tên côn đồ này? Hay thực sự, tình hình nhịn nhục, chín bỏ làm mười, bỏ mặc ngư dân Việt cho hải tặc quốc doanh Trung Quốc là có chủ trương lớn của Đảng và nhà nước CSVN? Thử nhìn quanh xem: Indonesia, Nam Hàn, Nhật, Phi Luật Tân, Mã Lai, Brunei, Singapore, Thái Lan, Cam Bốt… đều muốn đứng bên VN để kình TQ, vì thấy rõ là cũng sẽ cùng một số phận như VN thôi.

Mặt khác, lời gợi ý từ phía Mỹ có lẽ đã khá minh bạch. Rằng Mỹ muốn góp sức ổn định Biển Đông, nơi có tên kiểu Trung Quốc là South China Sea (Biển Nam Trung Quốc). Trong buổi điều trần hôm Thứ Tư 15-7-2009, Thượng Nghị Sĩ liên bang Hoa Kỳ Jim Webb (Đảng Dân Chủ, Virginia) đã nói rằng TQ không chỉ mở rộng ảnh hưởng kinh tế và chính trị, mà cũng mở rộng lãnh thổ nữa, và TQ hiện đại hóa quân sự còn nhằm tiếp trợ chiến dịch này. TNS Webb dịp này cũng kêu gọi Mỹ phải tăng sức mạnh hải quân Mỹ để ổn định Biển Đông, tuy rằng Mỹ trung lập trong việc tranh chấp ở các đảo Thái Bình Dương.

Câu hỏi nơi đây là, luật pháp nào có thể sử dụng để giải quyết tranh chấp Biển Đông, nếu có?

Phụ Tá Thứ Trưởng Quốc Phòng, Robert Scher, cũng trình bày trong buổi điều trần này, lập lại rằng Mỹ hoạt động theo luật của Liên Hiệp Quốc, "Hoạt động quân sự của chúng ta trong vùng này là diễn ra đều đặn và phù hợp với luật quốc tế. Chúng ta sẽ tiếp tục thực hiện các chiến dịch ở Biển Nam Trung Quốc, và hoạt động của Mỹ sẽ dựa vào quyền lợi chúng ta trong khu vực và mong muốn của chúng ta là giữ gìn an ninh và ổn định khắp phía Tây Thái Bình Dương."

Hãy nhớ rằng, Mỹ còn là một quốc gia Châu Á, vì có tiểu bang Hawaii ở nơi này. Đó cũng là lý do để Thượng Nghị Sĩ Jim Webb, cựu Bộ Trưởng Hải Quân Mỹ, nói rằng Hải Quân TQ đang thu hẹp nhanh chóng sức mạnh khoảng cách với sức mạnh Hải Quân Mỹ, và, "Nếu Mỹ vẫn là một quốc gia Châu Á và là một quốc gia có hải lực, các lãnh đạo Mỹ phải lưạ chọn. Mỹ nên duy trì sức mạnh và phẩm chất hải lực — nếu không phải là tăng cường."

Chưa hết, Richard Cronin, giám đốc Chương Trình Đông Nam Á tại viện nghiên cứu Stimson Center, nói trong buổi điều trần ở Thượng Viện hôm Thứ Tư rằng TT Barack Obama nên ngưng thái độ thụ động về vấn đề chủ quyền, "Chính phủ Obama nên bày tỏ ủng hộ các nước Đông Nam Á hiện đang bị hù dọa, và phải quyết tâm khẳng định quyền hạn chúng ta về việc giữ lưu thông hàng hải tự do bất kể khiêu khích từ Trung Quốc." Trong buổi điều trần này, Scot Marciel, nhà ngoại giao Mỹ đặc trách vùng Đông Nam Á, nói rằng TQ đã hù dọa các hãng dầu Mỹ và quốc tế là phải ngưng hợp tác khai thác dầu với VN ở Biển Đông, nếu không sẽ bị TQ trả thù về các hợp đồng khác ở TQ. Như thế, về nhiều phương diện, chúng ta thấy rằng quyền lợi Hoa Kỳ là sẽ không để cho TQ thao túng Biển Đông.

Vậy rồi Mỹ cố vấn cho các nước đang bị TQ bắt nạt ra sao? Scot Marciel nói rằng TQ muốn thương lượng riêng với từng nước trong khối ASEAN, "nhưng tôi nghĩ rằng ASEAN nên thương lượng với tư cách chung một khối."

Đó là lời gợi ý rất cụ thể, rằng Việt Nam đừng nên nghĩ rằng có thể thì thầm bên tai Bắc Kinh là xong chuyện.

Chúng ta vẫn còn nhớ rằng, mới tuần trước, Ông Lê Dũng, người phát ngôn Bộ Ngoại giao CS Việt Nam, trong cuộc họp báo thường kỳ vào ngày thứ Năm ngày 9/7/2009, đã lên tiếng yêu cầu Trung Quốc ’trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện’ cho 12 ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc bắt giữ và đòi họ trả tiền phạt.

Chuyện lúc đó là, những ngư dân này nằm trong số 37 ngư dân bị các tàu tuần tra của Trung Quốc bắt giữ hồi tháng trước vì đã vi phạm lệnh cấm đánh bắt cá mà Trung Quốc áp đặt ở gần khu vực đảo Hoàng Sa đang có tranh chấp.

Trung Quốc đã quyết định phạt những ngư dân này 31,000 đô la và đã thả 25 người trong số họ. Giới hữu trách Trung Quốc hiện vẫn tiếp tục giam giữ 12 ngư dân cho tới khi họ trả đủ tiền phạt.

Giới hữu trách Việt Nam từ chối trả khoản tiền phạt này và đã yêu cầu phía Trung Quốc trả tự do ngay lập tức cho các ngư dân còn bị giam giữ. Ông Lê Dũng nói rằng những ngư dân này bị bắt trong khi đang đánh bắt cá tại vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Thế là Trung Quốc trả lời ông Lê Dũng bằng một cú độc chiêu xã hội đen: một tàu lạ vào biển Quảng Ngãi hôm 15/7/2009, đụng chìm tàu ngư dân Việt.

Theo tin các báo Thanh Niên, Tiền Phong, thông tấn xã nhà nước TTXVN, vào khoảng 1 giờ 30 phút ngày 15/7, tại tọa độ 13 độ 45 phút độ vĩ bắc, 110 độ 32 phút độ kinh đông (vùng biển tỉnh Quảng Ngãi), tàu QNg 2203 có 9 ngư dân bị một tàu lạ đâm phải và chìm tại địa điểm trên. Cả 9 ngư dân đều bị thương, trong đó có 2 người bị thương rất nặng.

Bản tin báo Tiền Phong, TTXVN dẫn lời ông Đinh Văn Chác, Trưởng phòng Phối hợp tìm kiếm cứu nạn, Trung tâm phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải Khu vực II (đóng tại Đà Nẵng) cho biết, thông tin trên được ông Huỳnh Thọ, chủ tàu QNg 2416, báo về lúc 9 giờ 41 phút ngày 15/7. Các ngư dân trên tàu QNg 2416 đã nỗ lực ứng cứu và đưa hết 9 ngư dân gặp nạn lên tàu.

Tại sao Bắc Kinh trả lời Hà Nội một cách vang dội như thế? Tại sao Hà Nội không kiện Bắc Kinh ra trước tòa quốc tế về các hành vi hải tặc? Tại sao không biến vùng Biển Đông thành vùng cần bảo vệ chống hải tặc, như hiện nay các tàu chiến quốc tế đang đi tuần ở vùng biển ngoài khơi Somalia? Hay là sợ đưa ra quốc tế, mà cứ ấp úng không dám chỉ đích danh Trung Quốc về tội xã hội đen Biển Đông?

Có nhiều cách đơn giản để nhà nước Hà Nội có thể dễ dàng đoàn kết toàn dân để tìm mưu kế gìn giữ Biển Đông. Trước tiên, và tận cùng, là phải xem chuyện bất đồng chính kiến là điều bình thường. Tuy là còn chế độ độc đảng, nhưng phải chấp nhận các ý kiến đối lập.

Hãy trả tự do luật sư Lê Công Định, và hỗ trợ luật sư Định thiết lập một hồ sơ kiện Trung Quốc về các hành vi xã hội đen Biển Đông, nhân danh quyền lợi các công ty dầu VN và quốc tế trước giờ bị hù dọa, và nhân danh ngư dân Việt cụ thể.

Thứ nhì, nhà nước hãy nhờ nhóm Bauxite Tây Nguyên (đại diện là giáo sư Nguyễn Huệ Chi và một số trí thức) gửi thư mời Thượng Nghị Sĩ Jim Webb (và phu nhân, một luật sư Mỹ gốc Việt) tới thăm Hà Nội, tới thăm Tướng Võ Nguyên Giáp… để cảm ơn về cuộc điều trần tuyệt diệu trên Thượng Viện Mỹ hôm Thứ Tư, qua đó sẽ cho thấy nhà nước CSVN cũng một lòng với nhóm Bauxite Tây Nguyên, chứ không muốn đứng theo phe xã hội đen Biển Đông làm hại dân mình.

Và rồi, chọn một ngày làm ngày lễ để ghi nhớ cái nhục mất đảo Trường Sa, Hoàng Sa - có thể đặt tên ngày lễ này là Ngày Biển Đông - để trả tự do cho tất cả các nhà hoạt động dân chủ khác, từ Điếu Cày tới Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, vân vân… Làm được như thế, là đã dựng lên được vô số cọc sắt Bạch Đằng trong lòng dân mình rồi. Có đâu mà để chịu nhục như ngày nay, mà tương lai sợ rồi sẽ cũng thành một Tây Tạng, Tân Cương.

Trần Khải
Nguồn: http://vietbao.com/?ppid=45&pid=2&nid=147142
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Dấu Ấn Tội Lỗi

NGUYỄN QUANG

Từ việc bắt giam, ngăn cản những người biểu tình chống Trung Quốc xâm lược các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa… khống chế công nhân đình công như tại công ty Hoa Hạ, Bắc Giang, bọn chủ nhân Trung Quốc đã lao vào tát tai, đánh đá và dùng cả ống tuýp bằng thép dài hơn cả mét tấn công các công nhân Việt Nam, nay đến lượt công an đàn áp có đổ máu giáo dân Tam Toà và nhiều người bị giam giữ.

Bạo động thật sự đã xảy ra trong các vụ đình công từ Nam ra Bắc, đồng loạt tại Sài Gòn, Đồng Nai-Biên Hoà, Đà Nẳng, Huế, Hà Nội, Hải Phòng… Công an với tư cách bảo vệ trật tự song sự việc vừa mới xảy ra ở Bắc Giang, họ đã đứng hẳn về phía Trung Quốc đàn áp công nhân. Đến cả các chuyên gia Trung Quốc cũng nhào ra đánh đập công nhân và nhiều dân làng khác. Sự phẫn nộ lên tột cùng thế rồi công nhân với người thân trong làng là các nông dân đã kéo nhau cùng tấn công các chủ nhân thực dân kiểu mới Trung Quốc trước sự phớt lờ không phản ứng gì của công an.

Tất cả trong các loại vũ khí thô sơ nhưng thô bạo đã khiến cả hai bên đều có người bị thương tích, Phía Việt nam sau đó có hàng trăm người bị công an bắt đi. Tại Bắc Giang và nhiều nơi khác cũng xẩy ra tương tự vì đã dám đứng lên đòi quyền sống của người công nhân với mức lương quá thấp chưa đến bốn mươi đô la Mỹ mỗi tháng.. Họ đã bị nhà cầm quyền kết tội nổi loạn.

Mỗi chiều vào giờ tan ca, công nhân đổ ra những con đường quanh các khu công nghiệp mua rau củ từ những người bán hàng rong theo bên lề những con đường đầy bụi bặm, họ đang đứng trước chuyện vật giá leo thang và mong chờ sự phát triển của đất nước sẽ nâng đời sống khá hơn, song trước cái đà lạm phát ngày càng phi mã, đồng lương so với thực tế chỉ còn trên danh nghĩa. Chúng ta có thể nghe được lời tâm sự trực tiếp: “chúng em phải làm việc thường xuyên mỗi ngày mười ba tiếng đồng hồ, nghỉ ốm, nhỉ phép, nghỉ tết… không có lương, ngay cả việc chẳng may người thân qua đời cũng không được nghỉ”.

Tại công ty bao bì Hoa Hạ, nhiều người làm việc trong nhiều năm nhưng vẫn không có hợp đồng lao động cũng như bảo hiểm xã hội gì hết. Quả là chuyện không hiểu nổi một nhà cầm quyền khi con dân nước mình phải lao động cật lực mỗi ngày chỉ với năm trăm đến bảy trăm ngàn đồng tháng, đó là chưa kể bị phạt do ngủ gà, ngủ gật… Họ vẫn im lặng một cách bỉ ổi!

Người dân không còn đất canh tác

Một khi các xí nghiệp mọc lên, đất đai từ người dân bị mua rẻ với lời hứa hẹn sẽ đưa con cái họ vào làm trong các nhà máy… Người nông dân nay không còn đất canh tác, cũng không có chỗ làm và nếu được nhận làm việc cũng chỉ là thân phận nô lệ không hơn. Sự đổi đời hoàn toàn của họ từ nông nghiệp sang công nghiệp chỉ đưa đến vong thân trong kiếp người nhiều hơn. Và giờ đây mọi thứ đồ ăn, thức uống cái gì cũng đắt đỏ, cuộc sống của người công nhân chân chất chỉ càng thêm cơ cực. Họ cần phải đình công để có cuộc sống tốt hơn.

Các vụ đình công đã xảy ra liên tục ở Đồng Nai, Bình Dương… thế nhưng Việt Nam hiện nay vẫn chưa có công đoàn độc lập và suốt năm mươi năm nắm quyền của cộng sản, nếu ai nghiên cứu về các tổ chức công đoàn trên đất nước này sẽ thấy rằng từ trường học, nhà máy, xí nghiệp… những người có văn hoá thuộc các bộ phận sở tại đều không chịu đảm trách công tác công đoàn. Nên thường phó mặc cho các đảng viên Việt cộng thiếu trình độ, do đó luật pháp không thông, kiến thức cùng kinh nghiệm đầy cảm tính một chiều từ tuyên truyền khiến họ tự bênh vực chính mình còn không nổi, quí hồ lo cho đồng nghiệp, bạn hữu.

Điều đáng buồn tại Việt Nam là sau đình công thường phải bỏ việc, chuyện giống như trong một giai đoạn lịch sử với những Hoa kiều nào làm đơn xin hồi hương sau đó đều bị đuổi việc khỏi các cơ quan nhà nước, nếu không buộc thôi việc, nhất là những người cầm đầu các vụ đình công họ cũng sẽ bị vu oan này khác và rồi bị trù dập. Không có tiếng nói của công đoàn ở đây vì đã có sự thoả hiệp của công đoàn nhà nước với các tập đoàn tư bản, nghĩa là mọi thứ giờ đấy đã “cả vú lấp miệng em”.

Quả là ngây thơ khi cố vấn: hãy đình công theo pháp luật trong chế độ cộng sản hay chế độ độc tài nào đó. Chúng cấu kết với nhau từ cán bộ địa phương, cán bộ công đoàn, các bí thư đảng chủ và bọn tư bản… Do đó hãy đừng mong có được những cuộc đình công gọi là hợp pháp, sẽ không bao giờ có cái hợp pháp trong cái bất hợp pháp, chỉ có cái hợp lý, hợp tình từ khát vọng của người dân trong các chế độ không phải do dân bầu nhưng là quân phiệt tiếm quyền.

Thật sự không có gì khó hiểu khi các công ty nước ngoài “quịt” cả tiền bảo hiểm xã hội của công nhân và thực chất cái tổ chức gọi là Công đoàn, Tổng liên đoàn lao động trong các chế độ cộng sản, nó chỉ là công cụ: một khi chưa nắm quyền thì kích động trong dân, lúc nắm được quyền lực thời quay lưng lại đàn áp nông dân, công nhân. Công đoàn rõ ràng chỉ là một thứ hình thức chỉ để bẩm thưa theo lệnh của của cấp trên, của đảng. Cho nên, tất cả những thứ gọi là luật pháp, pháp lệnh, sắc luật… chỉ là là những trò đùa quyền lực của kẻ độc tài, chúng cứ thổi ra như bong bóng và không cần biết thực hiện đến đâu và như thế nào. Nó chỉ là thứ bình phong hư chiêu trong món võ vô vi. Cho nên nếu chúng ta không ở trong ruột cộng sản, cứ lấy cái có mà đánh cái không sẽ bị vô vi biến hoá đến vô vọng.

Những thông báo của nhà nước hầu như không có mấy tác dụng để làm giảm các vụ phản kháng của người lao động, trong suốt một thời gian dài hầu như nhà nước đã bỏ ngỏ không ai biết có bộ lao động hay không trên đất nước này, chỉ gần đây nhất các viên chức có thẩm quyền tại các địa phương đều tuyên bố “ưu tiên trải thảm cho các nhà đầu tư nước ngoài” và thật sự trước sự bóng lộn qua hào quang tư sản họ đã quên đi nguồn vốn nhân lực quí giá của dân mình. Sự ngả chiều đến dần quay hẳn 1800 thành những người bảo vệ tư bản đàn áp dân mình.

Từ mười ngàn, hai chục ngàn và nhiều hơn nữa, công nhân khắp cả nước như ở Long An đã đình công đòi tăng lương nhằm đối phó với giá leo thang đến chóng mặt. Mức lạm phát tại Việt Nam hiện nay trên danh nghĩa là 21 – 25% nhưng thực tế là 40 – 50%! Người dân chỉ mong sao có được lương tháng chừng 100 đô so với 30 – 40 đô hiện tại thời không biết làm sao đắp đổi qua ngày. Họ muốn nói lên: chỉ vì khổ quá mới đình công, bỏ việc… con người ai cũng muốn có gia đình bình yên, hạnh phúc.

Tại công ty Canon, 100% vốn của Nhật, và khu công nghiệp Đông Anh, Hà Nội, công nhân đã bị trói chân vào bàn làm việc bởi chính người Việt. Tên trưởng dây chuyền sản xuất đã trói chân các công nhân lại… Vậy công đoàn nằm ở đâu? Họ đang là những nghị gật trong sự thoả hiệp với tư bản để kiếm lợi mà sớm hoá thân thành tư bản đỏ.

Những trang sử hãy còn chưa sang trang, từ những chiến dịch đánh bắt, tịch thu tài sản các doanh nghiệp sau khi Việt cộng chiếm miền Nam và nay trải thảm để tư sản nước ngoài vào đầu tư cho dân mình làm thuê mướn. Thật chính nghĩa thay!

Người viết bài này xin gởi riêng đến các bạn trẻ đang là du học sinh thuộc con cái của các cán bộ cộng sản hay là các tư bản đỏ Việt Nam tại Hoa Kỳ cũng như trên khắp toàn cầu.

Xin khẳng định: nơi nào có bước chân của các bạn chính nơi đó có dấu ấn của tội lỗi. Các bạn biết rõ nguồn tiền các bạn đang sử dụng là từ đâu! Lương tối thiểu của một cán bộ nhà nước hiện nay như thế nào kể cả con của thủ tướng, vậy lấy tiền đâu mà nhà lầu, xe hơi, đưa con cái ra nước ngoài và đi về thường xuyên như cơm bữa, trong khi lương người công nhân chỉ bốn mươi đô tiền Mỹ mỗi tháng!

Nói vậy không có nghĩa kêu gọi các bạn hãy về nước, người viết còn mong nhiều hơn trong số các bạn được ra nước ngoài, cho con cái ăn học vẫn hơn mang tiền của quốc gia đi đánh bạc, nếu có thể như Mao Trạch Đông đề nghị với Nixon và Kissinger: đưa hơn mười triệu phụ nữ Trung Quốc sang Mỹ… Nhưng trên sự nhơ bẩn này cho đến khi nào lương tri chúng ta cùng thức tỉnh, khi chúng ta nhận ra trên sự xấu xa này, hãy cùng nhau biết khởi đầu, biết nói lên sự ngay thẳng với chính mình, khi con người nói được sự thực với chính mình, lòng can đảm sẽ mạnh mẽ mãnh liệt trong mỗi nhân cách, khi đó chúng ta sẽ không còn sự sợ hãi từ bên ngoài, dù đó là cám dỗ hay những thế lực mạnh nhất thời đại.

Ngày trước Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên một Trưởng phái đoàn hoà hội Paris, có nói nơi nào có bom Mỹ thả đó là lãnh thổ của Việt cộng và ngày nay với hậu duệ của Bà: nơi nào có du sinh con cái cán bộ Việt cộng chính là nơi đó có dấu ấn của tội lỗi vì những trái bom tham ô nhũng lạm của dân mà có được cảnh giàu sang phú quý còn người dân lành, chân chất thời đang quá khổ!

Chúc các bạn sẽ khởi đầu với một tương lai trong sáng trên những gì quá ư là xấu xa, mờ ám từ cha, anh, chú, bác các bạn!

Nguyễn Quang
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Thế cân bằng Mỹ – Trung Quốc
Tuesday, July 28, 2009

Ngô Nhân Dụng

Ngoại Trưởng Hillary Clinton và Bộ Trưởng Tài Chánh Tim Geithner đang họp Ðối thoại chiến lược và kinh tế với các ông Vương Kỳ Sanh, phó thủ tướng và Ðới Bính Quốc, ủy viên Quốc Vụ Viện Trung Quốc. Ngoại trưởng Mỹ nói nước Mỹ và Trung Quốc sẽ tiến đến gần nhau hơn. Ông Ðới Bính Quốc mô tả hai nước như cùng đi trên một con thuyền lớn đang bị sóng to gió lớn, và quyền lợi hai bên liên hệ chằng chịt với nhau.

Người Việt nghe câu đó có người giật mình, nghĩ ngay đến những con “tầu lạ” đâm vào các thuyền của ngư phủ Việt Nam ra khơi đánh cá trong mấy tháng qua!

Cuộc gặp mặt hàng năm của hai chính phủ Trung Hoa và Mỹ tiếp nối một chính sách đã bắt đầu từ cuộc gặp gỡ lịch sử năm 1972 giữa Richard Nixon cùng với Mao Trạch Ðông và Chu Ân Lai. Chuyến Hoa du của Nixon thúc đẩy Mao và Chu vào vị thế liên kết với Mỹ để cùng chống Nga, nhưng cũng cho Trung Quốc thấy Mỹ sẵn sàng rút khỏi Việt Nam vì có những quan tâm chiến lược lớn hơn khắp thế giới. Sau đó là chuyến công du lịch sử của Ðặng Tiểu Bình tới Washington năm 1979. Thăm viếng nước Mỹ rồi, Ðặng Tiểu Bình xua quân sang “dậy cho Việt Nam một bài học,” bài học dậy bằng những xác chết người Việt và người Trung Hoa vô tội.

Hôm Thứ Hai, Tổng Thống Barack Obama tuyên bố bang giao Hoa-Mỹ sẽ có ảnh hưởng quyết định trên thế giới trong thế kỷ 21 - “shape the 21st century,” trong nguyên văn. Nói điều này ra cũng chỉ là nói một sự thật. Các chính phủ Mỹ từ thời Nixon đến nay vẫn tiếp tục chính sách giao thương giúp kinh tế Trung Hoa thoát khỏi cảnh trì trệ và lạc hậu do chế độ Cộng Sản gây ra. Họ chấp nhận sẽ có một cường quốc đối thoại ngang hàng với Mỹ bên kia bờ Thái Bình Dương, và viễn tượng đó đã thành hình qua các thời tổng thống thuộc cả hai đảng.

Người Việt Nam lại tự hỏi: Khi Mỹ và Trung Quốc đặt quan hệ ngoại giao của họ lên hàng chiến lược như vậy thì số phận Việt Nam có bị họ quyết định hay không và quyết định ra sao?

Chúng ta không nên quá lo lắng chuyện hai nước Mỹ, Hoa sẽ chia nhau ảnh hưởng trên các quốc gia ở Thái Bình Dương, trong đó các nước nhỏ như Việt Nam sẽ bị dùng làm một vật trao đổi. Kinh nghiệm lịch sử sẽ khiến các chính phủ Mỹ không dám theo con đường phiêu lưu đó. Và các hoạt động ngoại giao hiện đang diễn ra cũng cho thấy nước Mỹ chắc chắn sẽ không để cho Trung Quốc tự do bành trướng, hy sinh quyền lợi của các nước nhỏ chung quanh.

Trong thế kỷ trước, Mỹ đã trải qua một kinh nghiệm đau đớn khi một cường quốc Á Châu bành trướng, đó là Nhật Bản. Nước Nhật đã vươn lên từ khi đánh bại hải quân Nga năm 1905, và bắt đầu mở rộng vùng ảnh hưởng trên miền Ðông Bắc Châu Á. Khi Nhật Bản chiếm bán đảo Cao Ly, tới Mãn Châu, rồi gây chiến với Trung Quốc sau “biến cố” Lư Cầu Kiều năm 1937, Mỹ tuy bênh vực Trung Quốc nhưng vẫn đứng ngoài, nhìn các con cọp giao đấu. Những biện pháp phong tỏa kinh tế của Mỹ chỉ làm cho Nhật Bản càng thấy nhu cầu phải bành trướng mạnh hơn để chiếm lấy những miền đất nhiều tài nguyên thiên nhiên. Chỉ đến khi quân Nhật tấn công Pearl Harbor cuối năm 1941 thì Mỹ mới chính thức bước vào vòng chiến. Bài học của cuộc chiến tranh đó là chính phủ Mỹ không thể để yên cho một cường quốc Á Châu xâm chiếm, ép buộc các nước Á Châu khác trong kế hoạch bành trướng ảnh hưởng của họ, mà tưởng là nước Mỹ sẽ được yên thân.

Với kinh nghiệm đó, chắc chắn các chính phủ Mỹ trong thế kỷ 21 này sẽ phải ngăn ngừa trước mọi kế hoạch bành trướng của bất cứ quốc gia nào trong vùng Châu Á; trước khi quá trễ. Rõ ràng là quốc gia duy nhất hiện nay có thể nuôi tham vọng bành trướng này là Trung Quốc, một nước với những vị hoàng đế tự xưng là Thiên Tử (Con Trời), mà qua hai ngàn năm vẫn tự coi họ là trung tâm của Thiên Hạ, tất cả mọi thứ dưới bầu trời.

Cho nên ngay trong lúc tiến hành chính sách giao thương và khuyến khích Trung Quốc thay đổi theo đường lối tư bản để cải thiện kinh tế, các chính phủ Mỹ vẫn không quên củng cố những hàng rào chung quanh cường quốc đang lên này. Nước Mỹ không có lý do nào để tiếp tục giữ quân đội đóng ở Nhật Bản và Nam Hàn, nếu không phải là đề phòng Trung Quốc. Mỹ vẫn tiếp tục những hiệp ước bảo vệ Ðài Loan, vẫn bán vũ khí chiến lược cho Trung Hoa Dân Quốc, và gần đây nhất bắt đầu hợp tác với Ấn Ðộ về quân sự, năng lượng nguyên tử, và sản xuất vũ khí. Các nước Ðông Nam Á đều nhìn thấy mối đe dọa từ Trung Quốc và thiết tha hợp tác với Mỹ. Úc là một đồng minh tự nhiên của Mỹ vì cả hai đều theo thể chế tự do dân chủ, mà Úc cũng là một quốc gia của di dân như nước Mỹ.

Tuần trước, bà Hillary Clinton mới tới Thái Lan họp và ngày 22 Tháng Bẩy 2009 đã ký vào bản Hiệp Ước Thân Hữu và Cộng Tác với khối Ðông Nam Á ASEAN. Lâu lắm chính phủ Mỹ mới cử một người cấp ngoại trưởng đến dự cuộc họp của khối này, trong thời Tổng Thống George W. Bush chỉ có những viên chức cấp thấp đến dự. Năm 2005, Ngoại Trưởng Condoleezza Rice đã bỏ không dự một cuộc họp Diễn Ðàn Vùng ASEAN (ARF) của các nước Ðông Nam Á mà từ năm 1982 lúc nào các vị ngoại trưởng Mỹ cũng dự, khiến năm đó nhiều người lo ngại chính phủ Mỹ quyết định bỏ rơi không chú ý đến khu vực này nữa. Năm nay tình thế thay đổi, có thể chính vì chính sách gia tăng sức mạnh quân sự của Trung Quốc trong vùng này. Bà Clinton tuyên bố, “Hoa Kỳ đã trở lại Ðông Nam Á.” Bà không ngại nói thẳng đến mối lo ngại của các nước láng giềng của Trung Quốc, và nói, “cho nên chúng tôi muốn tăng cường mối bang giao với các nước ở phía Ðông và Ðông Nam Châu Á. Tuy nhiên chúng tôi hy vọng là mọi nước có thể làm việc với nhau và Trung Quốc sẽ tập trung mọi nỗ lực của họ vào việc nâng cao đời sống kinh tế của dân chúng họ để cạnh tranh trên thị trường (thế giới).”

Sau khi trở về Washington, Hillary Clinton đã dự cuộc họp Ðối thoại chiến lược và kinh tế cùng với ông Tim Geithner, mà năm ngoái chỉ do ông Bộ Trưởng Tài Chánh Henry Paulson trong chính phủ Bush dẫn đầu. Các cuộc họp đối thoại trước đây chỉ nhắm vào các vấn đề kinh tế giữa hai nước. Từ năm ngoái ông Paulson đã mở rộng đề tài bàn cả về vấn đề bom nguyên tử của Bắc Hàn. Giữa Mỹ và Trung Quốc còn nhiều vấn đề chung cần bàn cũng liên can đến kinh tế nữa, cho nên năm nay có mặt của bà Clinton. Trong cơ cấu chính quyền ở Washington, một bộ trưởng ngoại giao có địa vị cao hơn bộ trưởng tài chánh.

Ông Geithner vẫn tiếp tục lời kêu gọi thường lệ của chính phủ Mỹ là Bắc Kinh hãy bớt chú trọng đến xuất cảng hàng hóa mà nên hướng cho người dân Trung Hoa được tiêu thụ nhiều hơn. Nhưng ông Obama đến khai mạc cuộc họp đã không quên nhắc nhở chính phủ Trung Quốc phải tôn trọng quyền làm người bên trong lãnh thổ của họ. Một cách cụ thể, ông nhấn mạnh, “tôn giáo và văn hóa của mọi dân tộc phải được tôn trọng và được bảo vệ.” Ai cũng hiểu rằng ông Obama ám chỉ tới văn hóa và tôn giáo của người Uighur ở Tân Cương và người Tây Tạng. Hiện nay chính phủ Mỹ chưa quyết định ông Obama nên gặp Ðức Ðạt Lai Lạt Ma trước hay đợi sau chuyến công du của ông sang Trung Quốc rồi mới gặp.

Nếu Mỹ với Trung Quốc không quyết định cho cả thế giới thì mối bang giao giữa hai nước chắc chắn sẽ quyết định tình hình Ðông Nam Á trong thế kỷ 21 này. Ðó là hai cường quốc trong vùng, mặc dù nước Mỹ ở bên kia bờ Thái Bình Dương.

Nước Mỹ đã giúp cho Trung Quốc tiến đến địa vị ngày hôm nay, kể từ khi Tổng Thống Nixon bắt tay Mao Trạch Ðông và Tổng Thống Carter đón tiếp Ðặng Tiểu Bình. Khách tiêu thụ ở Mỹ giúp các xí nghiệp ở Trung Quốc phát triển, những đầu tư của người Mỹ và người Hoa ở Mỹ giúp nâng cao công nghiệp và kỹ thuật ở Ðài Loan rồi từ đó lan sang lục địa. Chính nước Mỹ góp phần nâng địa vị của Trung Quốc trong vùng Ðông Nam Á lên cao hơn.

Trong tình thế đó, đường lối ngoại giao của nước Việt Nam không thể nghiêng về một nước, dù là Trung Quốc hay Mỹ. Nhưng trong lúc bị sức nặng của Trung Quốc đè lên một bên vai, thì cần tái lập thế cân bằng mới, qua những liên hệ mật thiết hơn với Mỹ. Cần phải tái lập thế cân bằng giữa hai cường quốc Thái Bình Dương, nếu không Việt Nam sẽ bị lép vế đối với Trung Quốc mãi mãi.

Nhưng sau cùng, đường lối tốt nhất vẫn là gây dựng cơ bản cho các quan hệ song phương với tất cả các nước Á Ðông, đặc biệt là vùng Ðông Nam Á. Khi khối Ðông Nam Á đoàn kết và phồn thịnh hơn thì không còn sợ Trung Quốc bành trướng, cũng không sợ Mỹ bỏ rơi nữa. Một khối gần 600 triệu dân Ðông Nam Á sẽ đủ sức bảo vệ lẫn nhau.

Cho nên chính quyền Cộng Sản ở Việt Nam cần phải tự tách dần ra khỏi vòng kềm tỏa của Cộng Sản Trung Quốc, để phát triển các quan hệ kinh tế, chính trị và cả quân sự với các nước Ðông Nam Á. Phải dùng diễn đàn ASEAN nhiều hơn nữa để đưa ra những vấn đề tranh chấp về chủ quyền trên biển và trên đất liền với Trung Quốc. Nếu cứ nhắm mắt cúi đầu xin trong mối quan hệ song phương với Trung Quốc thì Việt Nam sẽ còn chịu thiệt thòi rất lâu, có khi sẽ trở thành hoàn toàn lệ thuộc. Mà nhiều người Việt lo tình trạng lệ thuộc đó đã diễn ra rồi!
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Cải tổ y tế đi về đâu?

Ngô Nhân Dụng

Trong Tháng Bẩy năm 2009 kinh tế Mỹ có nhiều dấu hiệu tốt, nhưng lại là tháng xấu nhất đối với ông Barack Obama, kể từ khi ông nhậm chức tổng thống. Không phải vụ phát ngôn bừa bãi về một câu chuyện nhỏ không đáng xía vô, cuối cùng phải bầy cuộc uống bia trong vườn Tòa Bạch Ốc để công chúng quên đi. Tai họa trong tháng vừa qua là dự án cải tổ y tế bị sa lầy, chương trình quan trọng nhất của chính quyền Obama có thể bị dân chúng bỏ rơi.

Tình trạng sa lầy hiện rõ khi một nhóm 52 dân biểu Dân Chủ trong Hạ Viện từ chối không ủng hộ những dự luật mà bà chủ tịch viện muốn đưa ra biểu quyết. Bà mới sửa đổi một số điều cho vừa lòng nhóm “Dân Chủ bảo thủ” này, thì lại bị những dân biểu “cấp tiến” trong đảng phản đối. Tại Thượng Viện, một ủy ban đã đề nghị một dự luật, nhưng Ủy Ban Tài Chánh quan trọng nhất lại trì hoãn không kết thúc cuộc thảo luận của họ, vì muốn thương thảo với một số nghị sĩ đảng Cộng Hòa để thêm người ủng hộ. Mà vì muốn thỏa hiệp, cho nên dự luật đó sẽ bỏ luôn ý định thành lập một quỹ bảo hiểm y tế do chính phủ phụ trách. Mà đó lại là ý kiến thâm thiết nhất của ông Obama cũng như các đại biểu Dân Chủ cấp tiến.

Tất cả khiến cho dự luật cải tổ y tế khó được đưa ra sàn Quốc Hội trước khi các đại biểu đi nghỉ Hè vào cuối tuần sau - trái với lời thúc giục của ông Obama trước đây. Ông tổng thống Mỹ đang đích thân đi rất nhiều tiểu bang để vận động dân Mỹ ủng hộ chương trình cải tổ y tế. Ông cố hâm nóng một đề tài đang lo bị nguội, vì có dấu hiệu nó đang nguội thật. Nhật báo Wall Street Journal cho biết trong Tháng Sáu có 32% dân Mỹ nghĩ là chương trình cải tổ y tế của Tổng Thống Obama là một ý kiến không hay (bad idea); sang Tháng Bẩy tỷ số đó tăng lên 42%. Trong khi đó những người coi chương trình của ông Obama là tốt chỉ tăng từ 33% lên 36%. Nghĩa là tỷ số người không ủng hộ (42%) cao hơn số người ủng hộ (36%). Cũng trong cuộc nghiên cứu của tờ báo này, số người khen (approve) ông tổng thống đã giảm từ 60% trong tháng Hai năm 2009 xuống còn 53% trong tuần chót của Tháng Bẩy. Ngược lại, số người chê (disapprove) ông tăng từ 26% lên 40% trong gần 6 tháng đó.

Tuy vẫn được đa số ủng hộ, nhưng Tổng Thống Barack Obama đã đánh mất rất nhiều “vốn chính trị” mà ông đạt được sau cuộc bầu cử Tháng Mười Một năm ngoái. Và lỗi là do chính ông gây ra. Từ thời kỳ “trăng mật” sau lễ nhậm chức đến đầu Tháng Bẩy, ông Obama đã ôm đồm quá nhiều chương trình, nhiều ý kiến muốn thực hiện, và ông gần như lảng tránh không đứng ra cổ động trực tiếp với dân chúng Mỹ cho chương trình cải tổ quan trọng nhất của ông.

Trong mấy tháng đầu, ông Obama đã nhắm cuộc vận động vào những nhóm có quyền lợi liên hệ tới hệ thống bảo hiểm y tế: Ông họp với hiệp hội bác sĩ, các bệnh viện, những nhà sản xuất thuốc, và các công ty bảo hiểm. Nói chung, tất cả mọi người đồng ý là phải thay đổi hệ thống y tế hiện giờ. Lý do vì ai cũng biết không thể kéo dài nguyên trạng được. Nhiều nhóm bệnh viện và hãng thuốc đã tự nguyện hứa sẽ đóng góp bằng các cắt giảm tiền chi phí chung. Ðó là thời ký “trăng mật” của ông Obama với các nhà cung cấp dịch vụ y tế.

Nhưng dù ai cũng có thiện chí tham gia việc thay đổi, không ai muốn mình phải chịu những thiệt thòi do việc thay đổi gây ra. Hệ thống bảo hiểm y tế ở Mỹ rất phức tạp. Mà quyền lợi của các nhóm liên can đến y tế cũng phức tạp, trồng tréo với nhau. Muốn cải tổ, không có một giải pháp nào làm vừa ý tất cả mọi người được. Ai cũng muốn mình phải hy sinh ít nhất. Ai cũng biết việc cải tổ phải tốn tiền, mà các đại biểu Quốc Hội thì không đồng ý được với nhau cách làm sao để tìm ra tiền chi cho sự thay đổi.

Trong hoàn cảnh như thế, ông Obama lại tránh mặt. Tòa Bạch Ốc không đề nghị một dự án cải tổ cụ thể nào, gần như khoán trắng cho các đại biểu Quốc Hội hỏi ý kiến nhau mà đề ra các dự luật. Trong hai chục năm qua việc cải tổ y tế ở Mỹ đã là một đề tài được bàn luận khắp nơi, cho nên không thiếu gì ý kiến. Ðiều khó nhất là thâu tóm, tổng hợp lại thành những chương trình cụ thể. Lại phải làm sao các chương trình đó vừa ý được nhiều đại biểu, không những các người thuộc đảng Dân Chủ mà còn muốn có các đại biểu Cộng Hòa tham gia.

Trong thời gian đó, ông tổng thống không bầy tỏ ý kiến đới với các dự luật ở Quốc Hội, cũng không đi vận động cho một điều khoản đặc biệt trong một dự luật nào. Cả hệ thống bảo hiểm y tế đã quá phức tạp, ngay việc hiểu nó chạy như thế nào đã khó giải thích. Việc cải tổ nó càng phức tạp hơn. Các cuộc tranh luận ở Quốc Hội và trong báo chí không soi sáng thêm cho công chúng bao nhiêu; cho nên trong hoàn cảnh băn khoăn bối rối như vậy người ta chỉ cảm thấy lo lắng hơn lên.

Công việc giải thích trước công chúng của những người muốn cải tổ y tế rất khó vì tính chất phức tạp đó, lại càng khó vì họ không đồng ý với nhau nên cải tổ nhiều hay ít, cải tổ chỗ nào nhiều hơn chỗ nào. Và nhất là không đồng ý ai sẽ phải đóng thuế để thực hiện việc thay đổi. Còn công việc của những người chống cải tổ thì dễ hơn nhiều. Họ chỉ cần dẫn ra một thí dụ về một thay đổi nào đó, thế nào cũng có nhiều người không thích vì sợ mình sẽ bị thiệt thòi. Số người nghi ngờ và lo lắng về chương trình cải tổ ngày càng tăng lên.

Cuối cùng, dự án chính trị lớn nhất của chính quyền Obama đang bị sa lầy tại Quốc Hội trong lúc đảng Dân Chủ của ông chiếm đa số ở cả hai viện. Bản thân ông Obama bắt đầu mang hình ảnh một vị tổng thống bất lực.

Cuộc tranh luận trong các ủy ban ở mỗi viện Quốc Hội còn tiếp tục và những điểm bất đồng ý kiến chính vẫn còn đó phải tìm đường thỏa hiệp. Có một kế hoạch bảo hiểm y tế công cộng do chính phủ phụ trách hay không? Nhiều đại biểu Dân Chủ nhất quyết phải có. Nhiều đại biểu Cộng Hòa nhất định không. Một số nghị sĩ hai đảng muốn thay thế nó bằng một hình thức hợp tác xã. Có bắt buộc các chủ nhân xí nghiệp phải cung cấp bảo hiểm cho nhân viên hay không, và những xí nghiệp nhỏ cỡ nào thì được miễn? Có đánh thuế những món tiền mà xí nghiệp giúp nhân viên mua bảo hiểm, coi đó là một thứ lợi tức phải đóng thuế hay không? Năm ngoái Nghị Sĩ John McCain đã đề nghị giải pháp đó, nếu thi hành có thể thu vào cho công quỹ mỗi năm 250 tỷ, dư sức để chi cho cuộc cải tổ tốn 1,000 tỷ trong 10 năm. Nhưng năm ngoái ứng cử viên Obama đã chống lại ý kiến này, và nay không dám đổi ý kiến! Mà 160 triệu người Mỹ đang được hưởng những trợ giúp đó chắc chắn họ cũng phản đối, khó có đại biểu Quốc Hội nào dám cưỡng lại họ! Giới lãnh đạo các công đoàn cũng chống, vì đoàn viên của họ đang được hưởng những phúc lợi về y tế, từ hơn nửa thế kỷ rồi, không ai muốn đóng thuế cả. Hiện có một đề nghị thỏa hiệp là không đánh thuế các phúc lợi y tế mà các xí nghiệp được hưởng nhưng vẫn đánh thuế vào những món tiền trợ cấp y tế cho nhân viên rất lớn, những thứ gọi là “bảo hiểm y tế xa xỉ” dành cho các người lương bổng cao nhất trong công ty. Trung bình một người Mỹ đi làm được xí nghiệp trợ cấp 12,000 về bảo hiểm y tế mỗi năm. Chưa ai biết sau cùng mức giới hạn để bắt đầu bị coi là xa xỉ và bị đánh thuế sẽ là bao nhiêu, 20,000 hay 24,000?

Với bao nhiêu bất đồng ý kiến như vậy, liệu các đại biểu Quốc Hội có thể thỏa hiệp với nhau được không? Hay mỗi nhóm cứ bảo thủ ý mình, để cho kế hoạch bảo hiểm y tế sa lầy luôn?

Trong một bài trên báo Wall Street ngày hôm qua, nhà bỉnh bút Gerald F. Seib đã phân tích tình thế đi tới kết luận là sau cùng sẽ phải thỏa hiệp. Ðối với các đại biểu cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ, bỏ phiếu thông qua luật cải tổ y tế có nhiều rủi ro, nhưng không thông qua được một đạo luật bảo hiểm y tế trong năm nay cũng đầy rủi ro. Rồi thế nào họ cũng tìm cách thỏa hiệp với nhau. Wall Street Journal là một tờ báo bảo thủ có ảnh hưởng lớn trên các đại biểu Cộng Hòa.

Ðối với đảng Dân Chủ, dù nhiều đại biểu gọi là cấp tiến không đồng ý những nhượng bộ, giảm bớt hoặc pha loãng những điều họ muốn thay đổi, cuối cùng họ sẽ phải chấp nhận “có còn hơn không.” Vả lại, ký giả Seib viết, họ phải thấy là dự luật cải tổ tối thiểu, nhẹ nhàng nhất, cũng chứa đủ nhiều điều mà đảng Dân Chủ vẫn hô hào từ bao nhiêu năm nay mà chưa đạt được: “Cung cấp bảo hiểm y tế cho gần như tất cả mọi người dân Mỹ; có một tổ chức để mọi người, mọi xí nghiệp có thể tìm đến mà lựa chọn mua bảo hiểm giá rẻ nhất dù là của chính phủ hay không; ngăn cấm các công ty bảo hiểm để họ không được từ chối những người có bệnh sẵn; đặt giới hạn (mức trần nhà) trên chi phí bảo hiểm cho mọi gia đình; và hy vọng sẽ giảm chi phí y tế chung bằng việc cải tổ cách trả thù lao cho các bệnh viện.” Những “thắng lợi” đó không dễ gì mà các đại biểu Dân Chủ cấp tiến có thể đạt được trong tương lai, nếu họ cố tình phá không cho thỏa hiệp với các đại biểu bảo thủ.

Trở ngại lớn nhất cho kế hoạch cải tổ ở Hạ Viện là nhóm dân biểu bảo thủ trong đảng Dân Chủ mang danh hiệu là “blue dogs.” Cuối cùng chắc họ cũng phải thấy rằng họ ngồi trong cùng một thuyền với Tổng Thống Obama và các đại biểu Dân Chủ khác! Nếu đảng Dân Chủ thất bại trong kế hoạch bảo hiểm y tế năm nay, sang năm cả con thuyền Dân Chủ sẽ bị ngập nước, nhóm Blue Dogs trong đó!

Ký giả Seib cũng thấy đảng Cộng Hòa có nhiều lý do để thỏa hiệp. Nếu sau cùng dự luật được thông qua không đặt ra một hệ thống công bảo hiểm do chính phủ phụ trách thì đảng Cộng Hòa có thể tuyên bố là họ đã thắng lợi rồi. Ngoài ra, các đại biểu Cộng Hòa cũng vẫn phải tránh đừng để sang năm các đối thủ sẽ ra trước các cử tri chỉ trích họ là một đảng chỉ biết nói “không” để phá đám!

Cho nên trong Tháng Chín khi Quốc Hội tái nhóm chúng ta hy vọng một đạo luật cải tổ hệ thống bảo hiểm y tế sẽ thành hình. Không một cuộc cải tổ nào có thể được toàn thể mọi người chấp nhận. Một điều ông Seib nêu lên cho mọi người chú ý, là dù năm nay nước Mỹ cải tổ y tế thế nào chăng nữa, thì đó cũng chỉ là một bước đầu mà thôi. Ông dẫn lời Paul Starr, một giáo sư Ðại Học Princeton chuyên nghiên cứu về hệ thống bảo hiểm y tế, “Thế nào trong vài ba năm các đại biểu Quốc Hội cũng sẽ cải tổ thêm nữa!”

Hệ thống chính trị tự do dân chủ có một đặc tính là nó quyết định chậm chạp. Ðó là một nhược điểm? Hay là một ưu điểm?

Những người đã có ý kiến chắc chắn không muốn nhượng bộ ai thì than nó chậm chạp rụt rè quá. Nhưng người dân trung bình sẽ thấy là có nhiều vấn đề phức tạp không nên quyết định quá gấp. Nếu chúng ta thấy cuộc thảo luận về cải tổ y tế ở nước Mỹ cứ tiến rồi lại lùi, mỗi viện Quốc Hội có đầy những ý kiến mâu thuẫn, khi hai viện họp lại còn phải giải quyết những mâu thuẫn khác, thì nên nhớ rằng chính những người soạn thảo bản hiến pháp Mỹ từ đầu đã muốn cả hệ thống cai trị nước này nó phải như vậy. Nó ngăn cấm mọi quyết định độc tài, độc đoán.
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Bát Nhã và Tam Toà

Ngô Nhân Dụng

Hai biến cố liên can đến tôn giáo gần đây, vụ Tu viện Bát Nhã và vụ Nhà thờ Tam Tòa, có những điểm giống nhau và khác nhau, nhưng cả hai cùng do một nguyên nhân, là chế độ độc tài toàn trị của đảng Cộng Sản Việt Nam. Ðảng này đã tước đoạt những quyền tự do căn bản của người dân bình thường, và họ có thái độc thù ghét các tôn giáo, cho nên họ đàn áp từ tăng ni Phật tử đến các tín hữu Công Giáo.

Bát Nhã và Tam Tòa cho thấy cảnh những người dân thực hành tín ngưỡng của họ và bị ngăn cản và đàn áp. Trong cả hai vụ, đảng Cộng Sản đều trốn trách nhiệm không dám chính thức ra mặt mà thả cho đám tay sai cấp dưới làm bậy. Trong cả hai trường hợp, công an Cộng Sản đều thuê tay sai đóng vai thường dân làm những hành động côn đồ. Cả hai vụ đang gây tiếng vang trong dư luận quốc tế và đồng bào trong nước đang chú ý theo dõi, cuối cùng đảng Cộng Sản không thể trốn trách nhiệm được nữa. Nhưng cả hai biến cố này cho thấy sức mạnh của tín ngưỡng tâm linh được biểu hiện, khiến mọi người Việt Nam phải xúc động. Họ sẽ nhìn thấy một chế độ trống rỗng trong tư tưởng và lúng túng trong việc làm, đang tiến gần đến ngày tàn tạ.

Những sự kiện xẩy ra ở Bát Nhã và Tam Tòa có những điểm khác nhau. Bát Nhã là một vụ lật lọng, lường đảo của chế độ Cộng Sản theo lệnh của ngoại bang; còn Tam Tòa là một vụ cướp đoạt quyền sở hữu nhằm mục đích cản trở sinh hoạt tôn giáo.

Tu viện Bát Nhã trước sau vẫn thuộc quyền sở hữu của Thượng Tọa Ðức Nghi, một người trong Giáo Hội Phật Giáo được nhà nước Cộng Sản kiểm soát. Ngay cả những khu đất mới mua và các cơ sở mới xây cất tại đó, do các Phật tử Làng Mai ở khắp thế giới cúng trị giá một triệu Mỹ kim, cũng vẫn thuộc quyền sở hữu của vị trụ trì cũ chùa này. Ông sư Ðức Nghi đã sang Làng Mai bên Pháp xin theo học pháp môn mới nhiều lần, và xin hiến cúng Bát Nhã, một trong nhiều ngôi chùa của ông, nhưng Hòa Thượng Thích Nhất Hạnh đã không nhận mà chỉ hứa gửi các tăng ni về giúp hướng dẫn việc tu tập theo quy củ Làng Mai giúp cho tu viện thêm sinh khí mới.

Sau khi các tăng, ni Làng Mai về Bát Nhã được bốn năm, họ đã quy tụ được gần 400 tăng ni trẻ mới; ngoài ra còn thu hút hàng ngàn Phật tử từ nhiều nơi trong nước về tu tập những cuối tuần. Phương pháp tu học mới thu hút giới trẻ ở Việt Nam và khắp thế giới vì cho họ thấy có cách thực hành đạo Phật vào cuộc sống của chính họ trong thời đại này. Sự có mặt của các giáo thọ Làng Mai giúp các tăng ni mới xuất gia và Phật tử thấy lối sống theo thanh quy trong tự viện và cách thực hành đạo Phật trong đời sống tại gia đem lại an lạc thực sự. Trong Tháng Bẩy 3009, tại chùa Hoằng Pháp ở Hóc Môn, hơn 6,000 Phật tử trẻ tuổi đã tụ họp tĩnh tu, một hoạt động theo phương pháp của Làng Mai, vì hiện nay người ta không được phép đến Bát Nhã tu tập nữa. Hòa Thượng Nhất Hạnh đã thuyết giảng ở chùa này trong hai lần về nước. Pháp môn mới từ Tu Viện Bát Nhã lan ra có thể gây ảnh hưởng rộng lớn, là một lý do khiến chính quyền Cộng Sản lo sợ họ mất khả năng kiểm soát. Nhưng áp lực của Cộng Sản Trung Quốc là nguyên nhân trực tiếp. Cộng Sản Trung Quốc đã bất bình khi Hòa Thượng Nhất Hạnh ủng hộ nhân dân Tây Tạng và còn đề nghị Cộng Sản Việt Nam mời Ðức Ðạt Lai Lạt Ma tới Việt Nam dự lễ Phật Ðản năm ngoái trong một chương trình được Liên Hiệp Quốc bảo trợ. Cộng Sản Trung Quốc đã yêu cầu Hà Nội cấm Hòa Thượng Nhất Hạnh về nước dự lễ, nhưng chính quyền Hà Nội không làm theo vì uy tín quốc tế của nhà sư 82 tuổi này quá lớn.

Sau Lễ Vesak năm ngoái, các tăng ni giáo thọ của Làng Mai bắt đầu bị quấy nhiễu, ngăn cản, và sau cùng tất cả đã phải ra khỏi Việt Nam. Ðối với 379 tu sĩ còn lại, Cộng Sản ra lệnh cho Thượng Tọa Ðức Nghi đuổi họ ra khỏi chùa Bát Nhã, dùng luật lệ về hộ khẩu để cấm những tu sĩ trẻ này tiếp tục đường tu học. Ðiều đảng Cộng Sản Việt Nam không ngờ được là hạt giống đạo được gieo vào tâm thức của 400 tăng ni mới ở Bát Nhã đã biến họ thành những con người không sợ hãi và không phản ứng bạo động trước những hành động tàn ác. Nhiều người bị cha mẹ gọi về vì áp lực của công an cũng đã quay trở lại Bát Nhã để sống chết với đồng đạo. Những người trẻ tuổi này, từng sống dưới chế độ Cộng Sản từ bé đến lớn, sau mấy năm tu tập theo đạo Phật đã tự chuyển hóa để tạo được tâm an nhiên tự tại trước mọi khiêu khích, lăng mạ, đe dọa, và đánh đập. Ðảng Cộng Sản Việt Nam không thể trục xuất những tăng ni trẻ này ra khỏi Việt Nam, mà cũng thể đánh đập mãi những người xuất gia ngồi lặng lẽ niệm Phật trong khi bị cắt điện, cắt nước, bị phong toả cả thức ăn. Ðồng bào trong vùng, cả các tín hữu Công Giáo láng giềng, đã bầy tỏ tình đoàn kết với các tăng ni bị quấy phá và đàn áp, hậu quả của vụ Bát Nhã có thể lan ra rộng mặc dù báo chí trong nước bị cấm loan tin. Người dân Việt Nam sẽ tự hỏi một chế độ, một đảng chính trị và một chính quyền như thế nào mà lại có những hành động kém văn minh đối với những người chỉ chú tâm hành đạo như vậy? Ðó cũng là câu hỏi đặt ra khi chúng ta chứng kiến vụ Tam Tòa.

Ngôi nhà thờ ở Tam Tòa đã dựng lên từ năm 1887, là nhà thờ chính của cả Giáo Phận Vinh. Từ khi ngôi nhà thờ cổ bị máy bay Mỹ phá năm 1968, giáo phận vẫn chưa có một giáo đường chính, mặc dù hiện nay lên tới nửa triệu tín đồ. Lịch sử giáo phận này đã bắt đầu từ năm 1631 khi những giáo dân đầu tiên đã tụ thành một xóm đạo. Từ khi chiến tranh chấm dứt, các giáo dân đã đòi được xây dựng nhà thờ chính tòa tại địa điểm cũ nhưng bị chính quyền Cộng Sản từ chối, lấy cớ muốn giữ ngôi tháp chuông bị phá làm “chứng tích tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ.” Không thấy chính quyền Cộng Sản trưng ra một bằng cớ nào là khu đất nhà thờ đã bị trưng dụng làm của công. Lối cai trị của đảng Cộng Sản vẫn như vậy, lời nói và mệnh lệnh của cán bộ có thể thay cho pháp luật. Cho nên suốt 40 năm qua các giáo dân Vinh đã không có một nhà thờ xứng đáng với lịch sử sự phát triển của cộng đồng tín hữu. Suốt 34 năm qua kể từ khi hòa bình, giáo dân Vinh đã phải nhịn nhục, vì “trước kia lơ mơ là bị dẹp liền,” đúng như lời của Linh Mục Huỳnh Công Minh, một người đã từng được gọi là “linh mục quốc doanh” ở Sài Gòn. Con sâu xéo lắm cũng quằn, giữa Tháng Bẩy người dân Công Giáo ở Vinh đã tự động kéo đến nền đất nhà thờ cũ dựng lên một ngôi nhà tạm dùng làm nơi thờ phượng. Khu đất đó vẫn thuộc chủ quyền của Giáo Phận Vinh, mới được tái lập từ năm 2006. Các giáo dân dựng ngôi nhà trên khu đất chung của họ. Nhưng chính quyền Cộng Sản đã ra tay đàn áp để cấm cản. Khi quân Trung Quốc cướp chiếm những hoàn đảo thuộc hải phận nước Việt Nam thì Cộng Sản không dám dám phản đối bằng hành động mà lúc nào cũng một mực nhún nhường xin bàn thảo, dù biết cứ nói hão như thế thì chẳng bao giờ đi đến đâu. Nhưng khi người dân dựng lại nhà trên khu đất thuộc quyền sở hữu của giáo phận thì cũng chính quyền Cộng Sản đó lại thẳng tay đánh đập để ngăn cản! Và tại nhà thờ Tam Tòa họ cũng dùng một thủ đoạn giống như ở tu viện Bát Nhã: kéo một đám côn đồ tới chửi bới và hành hung những tín đồ một tôn giáo đang làm bổn phận với tín ngưỡng của họ! Thủ đoạn ném đá giấu tay đó còn được công an Cộng Sản bồi thêm bằng việc bắt giữ giáo dân, đánh các linh mục rồi ném người qua cửa sổ nhà thương. Ðối với những người có tín ngưỡng tâm linh thâm sâu bền chặt, các thủ đoạn đó càng tạo phản ứng ngược lại, người dân càng vững tin hơn. Chỉ nhìn vào cách đảng Cộng Sản sử dụng những phương pháp đê hèn và vô hiệu đó cũng thấy họ đang lâm vào tình trạng bối rối và bế tắc. Ðây là nhóm người lãnh đạo một đảng đang trống rỗng về tư tưởng, các đảng viên mất niềm tin chỉ chờ ngày tan rã, mạnh ai nấy chỉ mong vơ vét cho đầy túi tham.Một dấu hiệu của sự trống rỗng trong đầu óc đảng Cộng Sản là những lời phê bình của một cán bộ đứng đầu Viện Nghiên Cứu Tôn Giáo của đảng. Ông này lý luận rằng các giáo dân gốc ở Tam Tòa đã di cư vào Nam hết cả, khu đất nhà thờ không thuộc quyền sử dụng của những giáo dân mới, cho nên họ không được dùng nữa. Nói như vậy là không hiểu một giáo hội, một giáo phận là một thực thể pháp lý riêng, không tùy thuộc vào các cá nhân trong đó còn sống hay đã chết, còn ở tại chỗ hoặc đã đi xa. Một cán bộ cao cấp về tôn giáo mà trình độ hiểu biết ấu trĩ như vậy, thật đáng xấu hổ. Ông này còn nói giáo dân Tam Tòa đã “từ bé xé ra to” khi chuyển một “vấn đề dân sự thành vấn đề tôn giáo.” Chính nhận xét này vô tình cho thấy tất cả tội lỗi là do chủ trương, đường lối của đảng Cộng Sản gây ra. Vì phải đặt câu hỏi: Nguyên nhân vì sao mà “một vấn đề dân sự biến thành vấn đề tôn giáo?”

Chính chủ nghĩa Cộng Sản và đảng Cộng Sản đã tạo ra tình trạng đó. Ðảng Cộng Sản, từ thời Lê nin, sau khi cướp chính quyền phải thi hành chính sách toàn trị, tức là kiểm soát tất cả đời sống của dân bị họ cai trị, từ miếng cơm manh áo tới đời sống tinh thần. Trong đó có cả cuộc sống tâm linh. Do đó, họ coi các tôn giáo là thù nghịch, các tu sĩ, giáo hội là những mục tiêu phải trừ khử. Ðảng Cộng Sản không thể chấp nhận cho người dân được hướng về bất cứ một đạo lý, một đức tin nào khác, ngoài chủ nghĩa Cộng Sản; không được tôn kính ai ngoài các lãnh tụ đảng. Chính chủ trương độc tài toàn trị đó đã biến bao nhiêu vấn đề không có tính cách tôn giáo trở thành vấn đề tôn giáo. Ðã chính trị hóa các hoạt động tôn giáo bị ngăn cấm.

Trong vụ Bát Nhã, vấn đề chính là đảng Cộng Sản muốn chiếm độc quyền kiểm soát các Phật tử trong một giáo hội Phật Giáo nhà nước chỉ định. Trên căn bản, đây là vấn đề xâm phạm quyền tự do lập hội. Các tu sĩ bị đuổi lấy cớ thiếu hộ khẩu vì họ không có quyền tự do cư trú. Trong vụ Tam Tòa, căn bản là việc sử dụng đất đai bị nhà nước chiếm độc quyền, thích ai thì cho, không thì cấm. Ðảng Cộng Sản Việt Nam không đối xử tàn nhẫn riêng với các tăng ni Bát Nhã hoặc giáo dân Tam Tòa. Tất cả mọi người Việt Nam đều bị mất những quyền tự do như vậy. Tất cả mọi người dân Việt Nam đều là nạn nhân của chủ trương độc quyền chính trị của đảng Cộng Sản. Nhưng khi tín đồ các tôn giáo bị mất tự do thì vấn đề trở thành quyền tự do tín ngưỡng bị xúc phạm. Vì tín đồ các tôn giáo chỉ được tự do hành đạo khi nào tất cả mọi người dân Việt Nam được tự do lập hội, tự do cư trú và tự do sử dụng đất đai hợp pháp do tổ tiên mình để lại. Cho nên không phải các tăng ni ở tu viện Bát Nhã hay các giáo dân Tam Tòa đã chính trị hóa những vụ đàn áp của chính quyền Cộng Sản. Ðảng Cộng Sản đã chính trị hóa tất cả đời sống của người dân Việt vì chủ trương độc tài toàn trị của họ. Ở Bát Nhã, người dân đi tu đã bị đàn áp vì không có quyền tự do hội họp và tự do cư trú. Ở Tam Tòa, các giáo dân bị đàn áp vì không được quyền sử dụng đất đai thuộc quyền của giáo phận.

Các tăng ni Bát Nhã và đồng bào Công Giáo Tam Tòa đang đòi được hưởng những quyền tự do căn bản. Họ có thể mở đầu một phong trào đòi tự do dân chủ cho mọi người Việt Nam.

Hai vụ Bát Nhã và Tam Tòa xẩy ra trong lúc bao nhiêu người Việt khác đang phẫn nộ vì những vụ Hoàng Sa, Bô xít, và tầu đánh cá Việt Nam bị đâm chìm ở biển Ðông. Mọi người dân Việt Nam sẽ hiểu rằng đây không phải là những vấn đề thuần túy tôn giáo, Bát Nhã và Tam Tòa là dấu hiệu của cảnh lúng túng bất lực của một chế độ sắp tan rã. Bà con sẽ thấy rõ người dân sống trong nước ta đã bị tước đoạt những quyền tự do dân chủ căn bản để được sống xứng đáng làm người. Khi mọi người hiểu như vậy, thì chế độ Cộng Sản sẽ phải cáo chung.
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Trông người mà ngẫm đến thân phận dân ta.


Ngày 4/8/2009 cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton đã bất ngờ đến thăm bắc Triều tiên trong một chuyến đi ngắn ngủi hai ngày mà lịch trình được bí mật tới phút cuối.Tin tức chỉ được được công bố vài giờ trước khi ông Bill Clinton có mặt ở thủ đô của Bắc Triều Tiên.
Chuyến thăm này được thực hiện sau nhiều tháng có những lời đồn đoán rằng Washington sẽ cử một đặc sứ để xin trả tự do cho hai nữ ký giả Mỹ bị giam giữ, nhiều người cho rằng chuyến thăm này là một dấu hiệu tích cực và có tầm quan trọng không chỉ đối với số phận của hai tù nhân này, Laura Ling và Euna Lee.

Hai nữ ký giả này làm việc cho kênh truyền hình Current TV bị các binh sĩ Bắc Triều Tiên bắt ở khu vực biên giới với Trung Quốc hồi cuối tháng 3 khi đang thực hiện một chương trình cho đài gần biên giới giữa Bắc Triều Tiên và Trung Quốc. Bắc Triều Tiên đã kết án họ 12 năm lao động khổ sai vì đã xâm nhập trái phép vào đất nước họ và thực hiện điều mà Bình Nhưỡng mô tả là "những hành động thù nghịch nghiêm trọng” chống lại nước nhà nước Bắc Triều tiên.

Và kết quả của chuyến đi của ông Bill Clinton thành công tốt đẹp như người ta đã dự đoán, người ta thấy cùng trở về với ngài cựu tổng thống Hoa kỳ trên chuyến bay còn hai ký giả Laura Ling và Euna Lee. Kết quả này được nhiều người cho rằng chuyến thăm này là một dấu hiệu tích cực và có tầm quan trọng không chỉ đối với số phận của hai tù nhân này.
Image
Image


Trong bài viết này tôi không đề cập tới các vấn đề liên quan khác liên quan đến vấn đề quan hệ ngoại giao giữa Hoa kỳ và Bắc Triều tiên, mà chỉ muốn nhắc đến sự kiện nữ hai ký giả sau vài tháng bị giam cầm với bản án 12 năm lao động khổ sai đã được sự bảo lãnh của cựu tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton với tư cách cá nhân của ông ta.

Cũng cần nhắc lại một chút về hai nữ ký giả vừa được trả tự do này họ là những người Mỹ gốc Triều tiên Laura Ling và Euna Lee làm việc cho kênh truyền hình Current TV của cựu phó tổng thống Mỹ Al Gore, có trụ sở tại California. Họ bị bắt vào tháng 3 vừa qua khi đang tác nghiệp tại biên giới CHDCND Triều Tiên - Trung Quốc.

Ông cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton và hai ký giả Laura Ling và Euna Lee cùng là công dân Mỹ nhưng họ không có chung một dòng máu, ngay cả màu da họ cũng khác nhau người da trắng, kẻ da vàng. Ông Bill Clinton là người Mỹ gốc châu Âu còn hai nữ ký giả trên là người Mỹ gốc Triều tiên đại loại cũng mũi tẹt da vàng như người Việt Nam ta vậy.

Vậy lý do, nguyên nhân và động cơ gì khiến ông Bill Clinton đã làm những việc ngoài chức phận của ông ta , tuy ai cũng biết rằng bà Hallary Clinton Bộ trưởng Bộ Ngoại giao trong chính quyền Obama nhưng theo tôi đó là trách nhiệm của một người có tên tuổi và uy tín như ông Bill Clinton đã không cho phép ông thờ ơ với sinh mệnh với số phận của người đồng bào ông.

Cái đó ta gọi là tình người.

Nghĩ chuyện này tôi lại chạnh nghĩ tới số phận 12 bà con ngư dân Quảng Ngãi vẫn bị nhà cầm quyền Trung Quốc bắt giữ đòi tiền chuộc từ ngày 16/6,khi hải quân Trung Quốc đã bắt giữ 37 ngư dân huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi, đưa về đảo Hoàng Sa, sau đó đã thả 25 ngư dân.

Cùng một sự việc là công dân của quốc gia mình bị nước khác bắt giữ của Việt Nam và Mỹ, nhưng tính chất sự việc đặc biệt quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia lại hoàn toàn khác nhau một trời một vực, nếu khi nói đến và so sánh quan hệ Mỹ-Bắc Triều tiên và Việt Nam-Trung Quốc.

Quan hệ giữa Mỹ và Bắc Triều tiên thì ai cũng biết đó là mối quan hệ mang tính thù nghịch, đối kháng một mất một còn. Ngược lại quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc là một mối quan hệ hữu nghị đặc biệt đồng chí tốt láng giềng tốt được đảng cộng sản và chính quyền hai nước khẳng định bằng 16 chữ vàng và 4 điều tốt.

Vậy mà đến hôm nay sau gần hai tháng bị bắt giữ, số phận của 12 bà con ngư dân Quảng ngãi vẫn còn mờ mịt. Sau động thái phản đối, giao thiệp và gần đây nhất là Bộ Giao thiệp đã buộc phải gửi công hàm phản đối chính quyền Trung Quốc.

Chúng ta không dám đòi hỏi người lãnh đạo đương nhiệm hay những vị tiền nhiệm trước đó của nhà nước Việt Nam có đủ trình độ và uy tín lớn lao như ông cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton mặc đù các ông ấy vẫn nói rằng họ là "đỉnh cao trí tuệ", nhưng vẫn phải tự đặt một câu hỏi cho những người lãnh đạo đất nước về trách nhiệm của họ đối với đồng bào của mình khi lâm nạn như 12 ngư dân Quảng ngãi đang bị chính quyền Trung Quốc cầm giữ.
Image

Image
Đảng CSVN và nhà nước Việt Nam vẫn thường quảng cáo họ là chính quyền của dân, do dân và vì dân và xã hội XHCN của họ đang theo đuổi tốt đẹp bằng vạn lần cái CNTB thối nát của đế quốc Mỹ, sao họ không nhân lúc này làm cái việc mà ông cựu tổng thống Bill Clinton đã làm vừa qua đối với chính quyền Bắc Triều tiên để buộc họ phải trả tự do cho những người đồng bào không cùng dòng máu với ông ta. Hãy cho một người lãnh đạo cao cấp của Đảng và nhà nước Việt Nam có đủ uy tín và trình độ sang Bắc kinh để can thiệp với người có trách nhiệm của chính quyền Trung Quốc buộc họ phải thả ngay, thả hết vô điều kiện 12 ngư dân Quảng ngãi đã bị hải quân Trung Quốc bắt giữ trái phép.

Ở đây chúng ta muốn đánh thức tình người và trách nhiệm của họ với tư cách người lãnh đạo quốc gia đối với số phận của các công dân quốc gia mình đang bị nước ngoài bắt giữ.Đồng thời nhắc họ đừng bỏ quên những người cùng chung dòng máu với mình đang lâm nạn.

Việc làm này là thước đo trình độ, khả năng và uy tín của những người lãnh đạo đảng và nhà nước Việt Nam và một điều đặc biệt là thử thách mối quan hệ đặc biệt 16 chữ vàng của hai đảng và chính quyền Việt Nam và Trung Quốc có thực sự là đồng chí tốt, láng giềng tốt như họ vần thường nói hay không?

Trông lãnh đạo nước người mà nghĩ đến lãnh đạo đảng và nhà nước ta về thái độ của họ đối với con dân của mình mà băn khoăn nhiều lắm.

Không biết họ có suy nghĩ gì về việc làm đầy tình người của cựu tổng thống Mỹ trong chuyến viếng thăm Bắc Triều Tiên hay không?

Hay mẩu tin này họ không được biết?

Hay họ biết mà họ không làm?

Hay họ muốn làm mà không được?

Tôi rất muốn có từ họ một câu trả lời và tốt nhất là một hành động cụ thể!

http://www.x-cafevn.org/node/2046
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

THƯ GỬI BỌN CHÓ ÐẺ

Image
Gửi bọn chó đẻ (*) ở Hà Nội
Tao không thể dùng bất cứ một từ ngữ nào khác hơn để gọi chúng mày. Bởi vì chúng mày chính là một bọn chó đẻ.

Càng ngày những việc chúng mày làm và những việc chúng mày không dám làm đều cho thấy chúng mày là một bọn chó đẻ không hơn không kém.

Vừa có tin nói là chúng mày đang áp lực chính phủ Indonesia dẹp bỏ những di tích ở Galang, những chứng tích ghi lại thảm cảnh của mấy trăm ngàn người Việt, những người phải bỏ đất nước ra biển liều chết đi tìm sự sống. Những người tị nạn khốn khổ ấy trong khi bị chúng mày đối xử tàn tệ đến nỗi phải bỏ trốn đi thì lại được những người dân Indonesia giúp đỡ, bảo bọc trên đường lánh nạn. Thực là đau đớn và chua xót cho người dân Việt cùng da vàng máu đỏ, cùng tổ quốc, giống nòi với chúng mày thì bị chúng mày ngược đãi đối xử như quân thù quân hằn trong khi ở Indonesia, những người xa lạ không cùng giòng máu Việt lại dành cho họ những đối xử tử tế, nhân đạo vào những lúc khốn cùng nhất.

Mấy tấm bia ghi lại những đối xử tốt đẹp ấy đã bị chúng mày tìm mọi cách để đục phá cho bằng được, để xóa hết những dấu tích xấu xa của chúng mày, nhưng lại là những ghi dấu lòng tử tế nhân đạo của người dân Indonesia không cùng huyết thống.

Chúng mày tuy phá được những tấm bia trên mấy hòn đảo năm 2005 nhưng những điều xấu xa của chúng mày thì vẫn còn nguyên. Chúng mày tưởng làm như thế là những chuyện xấu xa của chúng mày tan biến đi hết hay sao? Người dân ở các đảo nơi có những tấm bia bị phá đó sẽ còn nhớ mãi vì sao lại có những tấm bia đó, họ sẽ luôn luôn nhớ những con thuyền mỏng manh cập vào những đảo ấy, chở theo những thân tàn ma dại vì chúng mày mà phải bỏ nước ra đi.

Chúng mày phá được những tấm bia đó thì vẫn còn cả triệu người Việt ở hải ngoại ghi nhớ vì sao họ phải bỏ nhà, bỏ cửa, bỏ quê hương, bỏ mồ mả tổ tiên đi tha hương tìm sống. Người Việt ở trong nước cũng sẽ còn nhớ mãi những điều đó. Chúng mày sẽ không thể xóa được những điều xấu xa đó. Không bao giờ.

Chúng mày làm đủ mọi cách để dẹp những tấm bia trên những hòn đảo xa lạ cách xa đất nước ngàn dặm, trong khi có rất nhiều điều chúng mày phải làm, nhưng lại không làm, và chắc là không dám làm ở ngay trong nước cũng như ở những nơi nằm sát cạnh Việt Nam.

Như khi những người dân Việt sinh sống bằng nghề đánh cá ở miền Trung mới đây bị một bọn vô lại khốn nạn ngang ngược cấm đánh cá ở ngay vùng biển của nước Việt Nam thì chúng mày tránh, né không dám lên tiếng. Chúng mày khiếp nhược, run sợ không dám nói tới quốc tịch của những chiếc tầu gây phiền nhiễu, tạo thiệt hại vật chất, sinh mạng cho người đánh cá Việt Nam trong khi ai cũng biết đó là những chiếc tầu của hải quân Trung Cộng, treo cờ Trung Cộng, thủy binh mặc đồng phục hải quân Trung Cộng, và chuyện đó chính báo chí Trung Cộng cũng công nhận, không thèm che giấu.

Nhưng chúng mày thì không dám hé miệng can thiệp, bênh vực cho nhũng người đánh cá Việt Nam khốn khổ đó.

Bọn tứ ngược, như chữ của Nguyễn Trãi dùng trong Bình Ngô Ðại Cáo, ngang nhiên đem quân chiếm lấy những đảo của Việt Nam thì chúng mày không dám hé môi nói được lấy một nửa tiếng để phản đối. Những hy sinh của các chiến sĩ hải quân Việt Nam Cộng Hòa can đảm đánh lại bọn bá quyền Trung quốc trong vụ quần đảo Hoàng Sa thì bị chúng mày lờ đi không dám nhắc đến. Hạm trưởng Ngụy Văn Thà, người sĩ quan hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã làm cho chữ "Ngụy" trở thành đẹp đẽ biết là bao. Ngụy như thế thì chúng tao là Ngụy hết. Chúng tao là Ngụy, là những người cùng lý tưởng, cùng dòng máu anh hùng của hạm trưởng hộ tống hạm Nhựt Tảo HQ 10.

Chúng mày lờ sự hy sinh cao quí của thiếu tá Ngụy Văn Thà đi để che dấu cái thái độ hèn nhát bán nước của chúng mày và cái công hàm mà tên thủ tướng mặt chó Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai để tặng không Trường Sa và Hoàng Sa cho Tầu đỏ. Gọi đó la bán nước thì cũng không đúng, vì đổi lại, chúng mày cũng không được bọn Tầu khốn nạn trả cho một cắc.

Ngày nay, ở Sài Gòn, chỉ cần mặc cái áo có hình quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng bị bắt vì phạm húy. Những ai lên tiếng về đất nước, về sự vẹn toàn của tổ quốc là bị đàn áp thẳng tay như đã thấy.

Sự im lặng của chúng mày, cách hành động của chúng mày trong vụ Bản Giốc, trong những tranh chấp ở biển Ðông chỉ là để che giấu những việc làm đê hèn của chúng mày.

Nay chúng mày đòi Indonesia dẹp chứng tích cuối cùng về giai đoạn bi thảm của Việt Nam trên đảo Galang cũng là vì chúng mày sợ sự thật, chúng mày sợ những dấu tích đó sẽ tiếp tục làm cho hình ảnh của chúng mày xấu đi.

Nhưng chúng mày có bao giờ tử tế và tốt đẹp đâu.

Chúng mày nhắm mắt để cho bọn chó má đem phụ nữ trẻ em Việt Nam bán cho các ổ điếm ở Campuchea, đưa đi làm tôi tớ ở các nước ngoài, tổ chức những vụ bán nô lệ như thời mọi rợ cho những thằng đàn ông Cao Ly, Ðài Loan, Malaysia … đến xem và mua về làm nô lệ tình dục, để mặc cho phụ nữ Việt bị nhốt trong những lồng kính ở Singapore cho khách mua dâm tới xem mà lựa chọn... Chúng mày táng tận lương tâm để cho bọn cai phu ngoại quốc đánh đập công nhân Việt Nam ngay ở trong nước, rồi còn để cho những thằng công nhân Tầu khốn nạn ngang nhiên kéo đến đánh đập những người dân Việt sống ở gần công trường xây cất ngay trên quê hương của mình.

Chúng mày im thin thít.

Nhưng chúng mày lại rất hăng hái, dùng đủ mọi thủ đoạn đê hèn nhất để tìm cách che giấu những việc làm chó má của chúng mày, nói là những di tích ấy bầy ra những hình ảnh không đẹp của chúng mày.

Ðể tao chỉ cho chúng mày một chỗ thực sự lăng mạ chúng mày coi chúng mày có dám làm gì không. Mới đây, tại cuộc lễ dâng đất cho bọn Tầu Cộng mà chúng mày gọi là cắm cột mốc biên giới, bọn Tầu khốn nạn dựng ngay gần nơi diễn ra cuộc lễ một bức tường với những hình ảnh của cuộc nổ súng ở biên giới miền bắc giữa hai bọn chó dại. Ðứng từ xa nhìn cũng thấy đó là những hình chụp bọn lính Tầu tiến đánh một số vị trí trong lãnh thổ Việt Nam. Trong trận này, bọn Tầu còn gây thiệt hại nặng cho cái hang chồn Păc Bó, cái mả tổ Cộng Sản của chúng mày. Ðó, có giỏi thì đòi Trung Cộng dẹp những bức hình đó coi có dám làm không.

Tao mong sao chúng mày chết đi sớm chừng nào may chừng ấy cho dân tộc Việt Nam. Chừng đó, tao bảo đảm mồ mả chúng mày sẽ không bao giờ được để cho nguyên vẹn, kể cả cái xác thối của thằng đại lưu manh chó đẻ ở Ba Ðình đang làm bẩn cái tên lịch sử Cần Vương quá đẹp của Ðinh Công Tráng và Phan Ðình Phùng này.

Lịch sử chắc chắn sẽ không nhẹ tay với bọn chó đẻ là chúng mày.


Ký tên:

Một người Việt Nam không Cộng Sản

--------

(*) Với những đứa từng gọi "thằng Diệm" và "thằng Thiệu" thì cách gọi này dành cho chúng mày vẫn còn là nhẹ. Nếu có phải nói thêm điều gì về cách xưng hô này thì chắc phải là đôi ba lời xin lỗi mấy con chó vì cách gọi đó đã cho chúng mày được làm con những con chó ấy.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 8 guests