Chân Dung Người Lính VNCH

Quân sử, những bài viết, ký sự, ...
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Image

BÀI TƯỞNG NIỆM
44 NĂM
QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA ANH HÙNG

(19.6.1965 – 19.6.2009)



Hôm nay,
Trước bàn thờ Tổ Quốc uy danh
Những người lính già cùng thế hệ tuổi xanh
Hợp lòng chung khấn nguyện:
Bao Anh Hùng trong cõi vĩnh hằng linh hiển
Xin về đây chứng kiến Tâm Thành.
Chúng tôi,
Giữa trời lưu vong năm châu bốn biển
Dâng nén hương lòng,
trọn Nghĩa Tình đồng đội chi binh.
Chúng tôi,
Dù phai màu áo trận
Nhưng Tổ Quốc luôn hiện hữu bên mình
Và thời gian vẫn vuông tròn Trách Nhiệm.
Đứng bên này bờ đại dương,
chúng tôi hướng lòng tưởng niệm
Về Đất Tổ Quê Cha.
BỐN MƯƠI BỐN NĂM QUÂN LỰC CỘNG HÒA
NGÀY KỶ NIỆM LỪNG DANH QUÂN SỬ.
Chúng tôi,
Mang tuổi lính, và tuổi đời lênh đênh viễn xứ
Cùng vận Nước gian nan.
Từ bốn phương trời thế giới thênh thang
Vẫn còn vang bước quân hành
trên Bốn Vùng Chiến Thuật.
Theo dấu chân những Người đã khuất
Nguyện lòng son cùng với Núi Sông.
Trong ngậm ngùi chưa thỏa mộng tang bồng
Cúi xin hương linh các Anh Hùng Tử Sĩ
Phù hộ chúng tôi giữ tròn Tâm Chí
Sát cánh cùng nhau, tiếp bước kiên cường.
Từ Địa Phương Quân đến các Binh Chủng
hùng trấn biên cương,
Từ Hải Quân vượt sóng trùng dương
Đến Không Quân cánh đại bàng tung lướt gió,
Đã có bao người ngày đêm gian khổ
Vẫn bền gan, dù phải hy sinh.
Giữ yên Đất Mẹ, quên cả thân mình
Đem xương máu bảo toàn danh Tổ Quốc.
Xác thân gửi vào lòng Dân Tộc
Hồn còn sống mãi đến thiên thu.
Từ Thiên Thần Mũ Đỏ tung cánh hoa dù
Đến Cọp Rằn Mũ Nâu,
cùng bước chân âm thầm Biệt Kích.
Từ Cọp Biển Mũ Xanh,
cùng nhau tạo nên chiến tích
Lẫy lừng, Tổ Quốc Tri Ân.
Dù nổi trôi theo vận nước trong khổ nạn Toàn Dân
Chúng tôi vẫn thẳng đứng, ngay hàng, hiện diện.
Quân Lực hùng anh, lừng vang bách chiến
Thỏa chí bình sinh cho vẹn ước nguyền.
Quyết xông pha trên khắp mọi miền
Thân Lính Chiến Vì Dân luôn tiến bước.
Từ Bến Hải đến Cà Mau xuôi ngược,
Cờ Vàng bay trên Quảng Trị Cổ Thành.
Hoa Dù nghiêng đồng ruộng,
Chao bóng giữa rừng xanh.
Trên chiến địa vang dậy bước quân hành
Hay âm thầm từng đêm xuyên lòng đất địch.
“An Lộc địa, sử ghi chiến tích
Biệt Kích Dù vị Quốc vong thân!”
Trọn một đời hãnh diện áo Quân Nhân
Chung góp máu, dựng Cờ Thiêng đất Mẹ.
Chúng tôi nguyện hiến dâng đời trai trẻ
Cho Tổ Quốc tồn vinh.
Đã bao người trong khói lửa hy sinh
Không lùi bước, chắn ngang biển địch.
Thành Đinh Công Tráng vang lời truyền hịch
Đem máu xương vào chiến tích nghìn thu.
Qua Miên Lào vượt đèo núi thâm u
Reo chiến thắng, trời nung Hè Đỏ Lửa!
Tết Mậu Thân, giữ nguyên từng điểm tựa
Ngạo nghễ Cờ Vàng trên Phú Văn Lâu.
Bình Giả, Đầm Dơi, Hạ Lào,
vượt qua rừng thẳm sông sâu
Ghi tên vào Quân Sử.
Truy địch Trường Sơn, Pleime, A Lưới,
thành địa danh bất tử
Hiển hách đến muôn đời.
Hôm nay,
Chúng tôi về đây xin khấn nguyện một lời
Chung tiếp sức, không bao giờ bỏ cuộc.
Cùng thế hệ cháu con giữ nguyên cờ Tổ Quốc,
Song hành đòi lại quê hương.
Chúng tôi nguyện noi gương
Từ Chiến Sĩ Vô Danh đến Anh Hùng Tướng Lãnh
Giờ phút cuối trên miền Nam bất hạnh
Đã hiên ngang tuẫn tiết, chẳng quy hàng.
Chúng tôi nguyện làm viên gạch lót đàng
Cho Hậu Duệ ngày mai về dựng Nước.
Sát cánh, kề vai, cùng nhau tiếp bước
Cho vẹn toàn Nghĩa Khí Quân Dân.
Vì Trách Nhiệm, cuối đời mang hoài bảo góp phần
Chung truyền thống, dựng cao Cờ Chính Nghĩa.
Chúng tôi nguyện một lòng tái xây tuyến địa
Cùng Toàn Dân, Sử mới viết nghìn trang.
Một ngày mai trong ánh sáng vinh quang
Trên Đất Mẹ uy linh Cờ Tổ Quốc.
Dưới biểu tượng Tự Do giữa mùa Xuân Dân Tộc
Chúng tôi đây, luôn thẳng lối nghiêm hàng.
Cúi xin hương linh Anh Hùng một thuở dọc ngang
Về đây chứng giám.
Bao thế hệ khắc sâu vào tâm khảm
Một lời chung huyết thệ giữ lòng son.
Xin giúp chúng tôi trong Đạo Nghĩa vuông tròn
Vì Tổ Quốc thiêng liêng,
Vì hào quang Danh Dự,
Vì chu toàn Trách Nhiệm
Xin trọn đời Tâm nguyện hiến dâng!


Võ Đại Tôn
Úc Châu, 6/2009
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »


Image

Ngày Quân Lực 19/6 sống mãi trong lòng người Việt tha hương

* Đặng thiên Sơn
Trong thời kỳ chiến tranh Quốc - Cộng giữa hai miền Nam - Bắc Việt Nam, vai trò quân đội của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu nổi bật trên sân khấu chính trị miền Nam khi các tướng lãnh đứng ra làm cuộc đảo chánh lật đổ Tổng thống Ngô đình Diệm ngày 1 tháng 11 năm 1963.

Vào sáng ngày 2 tháng 11 năm 1963, khi dân chúng Sàigòn hay tin TT. Ngô Đình Diệm và bào đệ của ông là Cố vấn Ngô Đình Nhu bị giết chết, thi thể hai người được đưa về trình diện Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng tại Bộ TTM. Thì tại Cục “R”, Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, đứa con đẻ của Cộng Sản Bắc Việt mừng rỡ thốt lên: “Người Mỹ đã làm giùm chúng tôi điều mà 9 năm chúng tôi không làm được”. Và Nguyễn Hữu Thọ đã ví cuộc đảo chính và cái chết của TT. Diệm : “Chẳng khác nào quà tặng từ trên trời rơi xuống”.(Theo Richard M. Nixon, No More Vietnams, Arbor House NY, 1985, tr. 72).

Sau cuộc đảo chánh, Đại tướng Dương Văn Minh tạm thời lên nắm quyền. Nhưng chỉ hai tháng sau, tức ngày 30 tháng 1 năm 1964, tướng Nguyễn Khánh đã làm cuộc “chỉnh lý” hạ bệ Dương Văn Minh.

Do không hiểu biết sâu rộng về chính trị và không nắm vững khuynh hướng can thiệp vào Việt Nam của chính phủ Hoa Kỳ. Các tướng, tá thời đó cứ thay phiên nhau làm đảo chánh để tranh giành quyền lực. Nên đến ngày 20 tháng 2 năm 1965, các ông Lâm Văn Phát, Phạm Ngọc Thảo, Hùynh Văn Tồn lại đảo chánh để lật đổ Đại tướng Nguyễn Khánh. Nhưng, cuộc đảo chánh này đã bị tướng Nguyễn Chánh Thi -Tư Lệnh Quân Đoàn Giải Phóng Thủ Đô và tướng Nguyễn Cao Kỳ -Tư Lệnh Không Quân dẹp tan. Sau cuộc đảo chánh, tướng Nguyễn Khánh bị áp lực phải lưu vong sang Pháp. Tình hình chính trị miền Nam càng ngày càng tồi tệ.

Lợi dụng tình trạng chia rẽ trong Nam, Cộng Sản Hà Nội gia tăng các hoạt động quân sự. Bọn chúng giết người bất chấp thủ đoạn. Chúng pháo kích bừa bãi vào các khu dân cư, trường học, chợ búa, nhà thương, gây cảnh chết choc, nhà tan cửa nát cho người dân vô tội. Mặt khác CSHN lại liên tiếp mở những trận đánh cấp Tiểu đoàn, Trung Đoàn, Sư Đoàn tại khắp chiến trường miền Nam.

Đến tháng 5 năm 1965, trước tình hình chiến sự do CSBV chủ động ngày càng gia tăng được sự yểm trợ tối đa của CS Nga, CS Tàu. Quốc Trưởng Phan khắc Sữu và Thủ tướng Phan Huy Quát đành phải bàn giao chính quyền lại cho quân đội để chấm dứt vai trò lãnh đạo quốc gia trong thời chinh chiến của giới dân sự.

Lúc ấy, tướng Nguyễn Văn Thiệu đang là Tổng trưởng Quốc phòng kiêm Tổng thư ký Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng được đề cử vào chức vụ Chủ tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia. Trong khi đó tướng Nguyễn Cao Kỳ được đề cử làm Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương.

Ngày 19 tháng 6 năm 1965, Nội Các Chiến Tranh của Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ ra đời. Và ngày 19/6 đặc biệt này còn được chọn là Ngày Quân Lực để đánh dấu sự trưởng thành của quân đội VNCH với những quân, binh chủng thuộc Hải- Lục- Không quân. Và những đơn vị Tổng trừ bị như Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến và Biệt Động Quân trong nhiệm vụ Bảo Quốc – An Dân trên khắp 4 vùng chiến thuật.

Từ ngày thành lập, QLVNCH với những chiến thắng lẫy lừng như: Quảng Trị, Bình Long, Đức cơ, Đồng Xoài, Bình Giả, Kontum, Pleime, Darkto Tân Cảnh, Charlie, Gio Linh, Hạ Lào, Snoul, Komponcham, Damber, Kratier v.v… Quân Lực VNCH đã làm bạt vía quân thù CSBV, đã khiếu dư luận quốc tế nễ trọng.

Những chiến tích lẫy lừng vừa kể đã nói lên kỷ thuật tác chiến, tinh thần chiến đấu cao và kỷ luật nghiêm minh của một quân lực tinh nhuệ. Nhưng đau đớn thay vào lúc 10 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, quân lực hào hùng này đã bị bức tử qua lệnh đầu hành của đại tướng Dương Văn Minh. Vị tướng mà vào ngày 1/11/1963, đã dưa QLVNCH vào vai trò lịch sử.

Hơn 30 năm qua, kể từ ngày miền Nam VN lọt vào tay bạo quyền Việt Cộng. Tại hải ngoại, Việt Cộng đã tìm đủ mọi cách bép méo sự thật về cuộc chiến đấu đầy chính nghĩa của quân, dân miền Nam Việt Nam trong vài trò tiền đồn thế giới, nhưng trò bỉ ổi của chúng đã bị thất bại hoàn toàn.

Bọn Việt Cộng càng xuyên tạc về sự hy sinh của người chiến sĩ VNCH trong cuộc chiến Quốc- Cộng thì cờ vàng ba sọc đỏ, quân kỳ của các đơn vị trong QLVNCH lại càng được giương cao khắp thế giới, chính nghĩa quốc gia của người tỵ nạn càng sáng ngời.

Ba mươi bốn năm qua, mặc dù phải đương đầu với cuộc sống hàng ngày. Nhưng, hàng năm ở đâu có người chiến sĩ VNCH, có người Việt tỵ nạn CS, là nơi đó Ngày Quân Lực 19/6 được tổ chức trọng thể. Hiện tượng hàng năm Ngày Quân Lực 19/6, quốc kỳ VNCH, quân kỳ của quân binh chủng QLVNCH tung bay trong gió giữa lòng các thành phố hải ngoại, là một sự kiện đã làm CSVN nhức nhối, điên đầu

Năm nay, tại thành phố San Jose, thủ đô chính trị của người Việt tỵ nạn cộng sản. Lễ kỷ niệm Ngày Quân Lực 19/6 được Ban Đại Diện CĐVN/ BCL , Tập Thể Chiến Sĩ VNCH vùng Tây Bắc Hoa Kỳ, Hội CTNCT, Liên Hội Cựu Sĩ Quan Trừ Bị QLVNCH và nhiều hội đoàn quân đội, đoàn thể cùng nhau tổ chức trọng thể tại tiền đình quận hạt Santa Clara số 500 W.Hedding vào lúc 11 giờ sáng ngày 21 tháng 6 năm 2009. Với sự phối hợp và chuẩn bị chu đáo, chắc chắn Ngày Quân Lực 19/6/09, sẽ đem lại ý nghĩa đặc biệt trước hành động Cộng Sản VN cắt đất, dâng biển và đang “ngậm miệng” để cho Tàu Cộng thực hiện âm mưu thôn tính Việt Nam qua vụ khai thác Bauxite tại Tây Nguyên.

Trong không khí người Việt quốc gia tỵ nạn CS tại hải ngoại hân hoan chào mừng Ngày Quân Lực 19/6/2009. Mọi người đều ý thức ngày này không phải chỉ để vinh danh, tưởng nhớ đến sự hy sinh của những chiến sĩ đã nằm xuống, mà còn là ngày người Việt quốc gia tại hải ngoại đoàn kết để góp sức vào sự nghiệp đấu tranh của toàn dân trong nước là : Tiêu diệt bọn Việt Cộng bán nước, hại dân tại quê nhà.

Đặng thiên Sơn
19/6/09 (ĐĐ1/Trinh Sát/ Nhảy Dù QLVNCH)
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Ngày Quân Lực,
Vinh danh Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà


Vann Phan
Lời Tác Giả: Bài viết sau đây có mục đích làm sáng tỏ chính nghĩa của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong suốt giai đoạn lịch sử bi tráng vừa qua của cuộc Chiến Tranh Việt Nam, khẳng định rằng chế độ quân nhân tại Việt Nam Cộng Hòa là nhu cầu tất yếu của lịch sử, là lẽ sống còn của một đất nước đang đấu tranh cho sự sống còn của mình và chỉ là một hiện tượng tạm thời chứ không mang tính lâu dài. Và dĩ nhiên là chế độ quân nhân cai trị tại miền Nam Việt Nam không hề là chế độ quân trị (military rule) hay chế độ quân phiệt (militarism).

Có thể nói rằng, so sánh với các quân đội khác trên toàn thế giới thời cận đại, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, trong gần hết thời gian có cuộc Chiến Tranh Việt Nam (1960-1975), là lực lượng quân sự duy nhất mang trên vai hai trọng trách cùng một lúc: bảo vệ an ninh quốc gia và quản trị hành chánh đất nước.

Việc thực hiện cùng một lúc hai nhiệm vụ nặng nề này, tức là việc các thành viên thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vừa đánh giặc vừa trị nước, có vẻ như đã đặt chế độ quân nhân (military regime) tại miền Nam Việt Nam vào vị thế của những chế độ quân phiệt (militarism, militaristic regime) cùng thời hay sau này trên khắp thế giới, đặc biệt là tại những quốc gia kém mở mang ở Nam Mỹ (Argentina [Á Căn Ðình], Brazil [Ba Tây], Chile [Chí Lợi], El Salvadore, Haiti, Nicaragua, Panama, Peru...), Á Châu (Bangladesh [Ðông Hồi cũ], Indonesia [Nam Dương], Iraq, Myanmar [Miến Ðiện cũ], Nam Hàn, Pakistan [Hồi Quốc, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ...) hay Phi Châu (Algeria, Cộng Hòa Trung Phi, Congo- Brazaville và Congo-Kinshasa, Ai Cập, Ethiopia, , Ghana, Libya, Niger, Nigeria, Somalia, Sudan, Uganda...) và ngay cả tại những quốc gia không Cộng Sản và tân tiến ở Âu Châu như Hy Lạp (1967-1974), Bồ Ðào Nha (1926-1974) và Tây Ban Nha (1923-1975).

Nhưng sự thật thì không phải như vậy. Dù miền Nam Việt Nam luôn nằm trong tình trạng chiến tranh -đất nước đã được Bộ Trưởng Quốc Phòng Nguyễn Ðình Thuần thời Ðệ Nhất Cộng Hòa tuyên bố nằm trong “tình trang lâm nguy” từ năm 1963- chế độ quân nhân dưới quyền các sĩ quan cao cấp trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn đem lại nhiều tự do, dân chủ hơn so với các quốc gia cùng thời nằm dưới các chế độ quân phiệt trên toàn thế giới và vẫn được đại đa số dân chúng kính trọng và thương yêu, đi đâu theo đó, từ trong nước ra tới hải ngoại. Còn nếu có một số thành phần dân chúng tại Việt Nam Cộng Hòa lên tiếng chỉ trích quân đội này trong nhiệm vụ vừa chiến đấu vừa tham gia quản trị đất nước thì đó cũng chỉ là chuyện bình thường trong một quốc gia thực sự có tự do, dân chủ. Riêng trong hoàn cảnh đặc biệt của miền Nam Việt Nam, những lời chỉ trích nào nhắm vào tập thể chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mà không nằm trong xu hướng tự do, dân chủ tự nhiên kia của dân chúng thì đều phát xuất từ luận điệu tuyên truyền của phe Cộng Sản -mà vào lúc đó đang là kẻ thù nỗ lực thôn tính miền Nam tự do-hay từ những lời chỉ trích đầy ác ý và mang tính đạo đức giả của phe tả trên toàn thế giới chỉ mong sao Cộng Sản sớm chiến thắng tại Việt Nam rồi hậu quả ra sao thì cũng mặc kệ, bởi vì chính dân chúng miền Nam Việt Nam, chứ không phải họ, là kẻ phải hứng chịu tai họa-như thực tế đã chứng minh từ hơn ba thập niên qua- trong khi họ thì bất quá chỉ việc chịu khó lên báo, lên đài đặng biểu tỏ lòng ăn, năn hối hận qua quýt cho việc làm xuẩn động của mình trước kia là xong (như Joan Baez -và cả Jane Fonda nữa- đã làm, chứ John F. Kerry thì chưa).

* Vai trò vừa quân sự vừa hành chánh của Quân Lực Việt Nam có tự bao giờ?

Những người miền Nam Việt Nam trong nước cũng như ở hải ngoại, trước và sau năm 1975 vẫn coi ngày 19 Tháng Sáu năm 1965, ngày Quân Lực của miền Nam Việt Nam, là ngày tập thể chiến sĩ thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chính thức đảm nhiệm vai trò lịch sử điều khiển đất nước và chỉ huy nỗ lực chiến đấu tự vệ của miền Nam tự do chống lại cuộc chiến tranh thôn tính của Cộng Sản Bắc Việt, có Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tại miền Nam Việt Nam hỗ trợ. Sự thực thì thời điểm kể trên không phải là ngày quân đội bắt đầu đảm đương cùng một lúc cả nhiệm vụ quân sự lẫn vai trò hành chánh tại miền Nam Việt Nam mà chỉ là ngày mà tập thể chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa chính thức lên nắm giữ vai trò đó qua buổi lễ ra mắt trước quốc dân và quốc tế Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia (do Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu làm chủ tịch) và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (do Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ làm chủ tịch) tại thủ đô Sài Gòn. (Trước đó, vào ngày 11 Tháng Sáu năm 1965, Quốc Trưởng Việt Nam Cộng Hòa Phan Khắc Sửu và Thủ Tướng Phan Huy Quát đã ra tuyên cáo “long trọng trao trả lại cho Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa trách nhiệm và quyền hành lãnh đạo quốc gia đã được Hội Ðồng Quân Lực ủy thác” cho chính quyền dân sự dưới quyền lãnh đạo của hai vị chiếu theo quyết định ngày 5 Tháng Năm năm 1965, tức là cách đó hơn một tháng)

Cái ngày mà giới quân nhân trong quân đội bắt đầu đảm đương cả nhiệm vụ quân sự lẫn vai trò hành chánh tại miền Nam Việt Nam thật ra đã xảy ra từ sáu, bảy năm trước đó, dưới thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, sau khi Cộng Sản Bắc Việt chính thức cho ra đời Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, 20 Tháng Mười Hai năm 1960, để làm bình phong che đậy việc họ xua quân quyết đánh chiếm miền Nam Việt Nam để đặt miền đất tự do này dưới quyền cai trị độc tài của đảng Cộng Sản Việt Nam. Trước tình hình Việt Cộng (Mặt Trận Giải Phóng) ngày càng gia tăng các vụ ám sát viên chức xã, ấp rồi đánh chiếm các làng mạc và cả các quận lỵ tại miền Nam Việt Nam, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, trong vai trò tổng tư lệnh quân đội chiếu theo hiến pháp Ðệ Nhất Cộng Hòa, đã phải thay thế các chức vụ quận trưởng và tỉnh trưởng tại những vùng chiến sự đang sôi động do các viên chức dân sự (ngạch phó đốc sự hành chánh trở lên) đảm nhận sang cho các sĩ quan quân đội, với các sĩ quan cấp Ðại úy đảm nhiệm chức vụ quận trưởng và sĩ quan cấp Ðại Tá làm tỉnh trưởng (Vị Ðại Uùy Quận Trưởng danh tiếng nhất thời đó là Ðại Uý Bùi Thụ, Quận Trưởng Quế Sơn tại Quảng Nam, đã tử trận sau khi ông tình nguyện ở lại tử thủ với vị đại úy quận trưởng kế nhiệm trong đêm Việt Cộng tấn công tràn ngập quận lỵ Quế Sơn vào đầu năm 1962, chỉ mấy tháng trước khi chính vị tổng tư lệnh quân đội bị quân đảo chánh hạ sát). Phải biết rằng Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và bào đệ là Cố Vấn Ngô Ðình Nhu rất cảnh giác trong chuyện trao cho giới quân nhân quyền hành lớn trong một đất nước mà hai nhà lãnh đạo này đang muốn chuyển đổi từ một quốc gia bất an về chính trị sau năm 1954 để trở thành một nền dân chủ trẻ trung tại Ðông Nam Á. Nhưng chuyện chính quyền Ngô Ðình Diệm đã phải chấp nhận giao quyền hành chính và quân sự cho giới quân nhân cho thấy vai trò của quân đội từ những năm đầu thập niên 1960 đã trở nên vô cùng thiết yếu cho sự sống còn của miền Nam tự do giữa lúc các lực lượng Cộng Sản từ miền Bắc đang gia tăng nỗ lực thôn tính Miền Nam. (1)

Cuộc đảo chánh chống chính quyền của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và bào đệ là Cố Vấn Ngô Ðình Nhu vào ngày 1 Tháng Mười Một năm 1963 do Trung Tướng Dương Văn (Big) Minh -người “anh hùng Rừng Sát” năm 1955- và các tướng lãnh trong Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng thực hiện -có sự yểm trợ của Chính Quyền Kennedy từ Hoa Kỳ thông qua Tòa Ðại Sứ Mỹ tại Việt Nam- và những năm tháng sau đó có thể được coi là thời điểm duy nhất mà Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa đã tóm thâu mọi quyền hành chánh và quân sự vào trong tay họ và đặt Miền Nam Việt Nam dưới một chế độ quân trị (milirary rule) mang tính cách quân phiệt (militarist) trong ý nghĩa đầy đủ nhất. Tình thế hỗn quân, hỗn quan lúc bấy giờ tại Miền Nam Việt Nam (đảo chánh và chỉnh lý liên tiếp ngay bên trong hàng ngũ các tướng lãnh đã lật đổ Tổng Thống Diệm, với quyền lãnh đạo phe quân nhân cầm quyền từ tay Trung Tướng Dương Văn Minh chuyển sang Trung Tướng Nguyễn Khánh rồi sau cùng là Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu) cộng với các cuộc tấn công dồn dập về mặt chính trị (Cộng Sản xúi giục dân chúng biểu tình gây rối loạn trên đường phố, tại các học đường và trong các chùa chiền...) và quân sự (với những vụ ám sát các viên chức xã, ấp cùng những cuộc tấn công tràn ngập các tiền đồn hẻo lánh, xã ấp riêng rẽ và cả những quận lỵ và tỉnh lỵ phòng thủ yếu kém...) là động cơ chính yếu buộc Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa phải nắm quyền cả về mặt quân sự lẫn mặt hành chánh.

Nhưng sau thời gian xáo trộn và náo loạn ngoài ý muốn của tất cả các thành phần quân sự cũng như dân sự tại miền Nam Việt Nam, Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa, ít nhất cũng đã một lần, chứng tỏ thiện chí muốn trao trả quyền hành lại cho phe dân sự để dành thì giờ chiến đấu chống cuộc xâm chiếm miền Nam Việt Nam của Cộng Sản Bắc Việt từ Hà Nội (mà vào lúc đó đã trở thành công khai với việc Cộng Sản Bắc Việt thiết lập Ðường Mòn Hồ Chí Minh chạy dọc theo sườn phía Tây của dãy Trường Sơn đặng đưa người và vũ khí xâm nhập vào Nam, yểm trợ tối đa cho các lực lượng du kích của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam mở những cuộc tấn công quy mô vào các làng mạc và thành thị tại Miền Nam Việt Nam). Ðó là vào ngày 5 Tháng Năm năm 1965 khi Hội Ðồng Quân Lực (trước đó là Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng) dưới quyền các tướng lãnh trong Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa đã trao quyền cai trị đất nước về cho các chính trị gia thuộc phe dân sự tại Miền Nam Việt Nam với một chính phủ dân sự dưới quyền Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ Tướng Phan Huy Quát. Ðiều không may là, phe dân sự tại Miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ, dù gồm nhiều chính trị gia nổi tiếng, nhiều chuyên gia lỗi lạc và nhiều nhà khoa bảng từ ngoại quốc trở về, đã không thể nào vừa điều hành đất nước một cách hữu hiệu vừa bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ, bởi vì tình trạng “thù trong, giặc ngoài” chẳng những đã không giảm bớt mà ngày một gia tăng, với tình hình quân sự lúc đó được mô tả là hết sức nguy ngập khi cường độ tấn công, phá hoại của Cộng quân tại các địa phương đã gia tăng vượt ra ngoài tầm kiểm soát của chính quyền và các lực lượng an ninh tại chỗ. Việc gì phải đến, đã đến. Sau mới ba tháng đứng ra “lèo lái con thuyền quốc gia” mà không xong, vào ngày 11 Tháng Sáu năm 1965, phe dân sự, dưới quyền của Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ Tướng Phan Huy Quát, đành phải ra tuyên cáo trao trả lại quyền cai trị đất nức lại cho Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa. (2)


* Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong vai trò lãnh đạo đất nước chiến đấu chống Cộng Sản Bắc Việt xâm lược

Sau khi được trao quyền, vào ngày 12 Tháng Sáu năm 1963, trong một cuộc họp quy tụ tất cả những tướng lãnh đang nắm các trọng trách trong quân đội từ cấp Tổng Tham Mưu Trưởng, tư lệnh các Vùng Chiến Thuật cho đến các tư lệnh quân, binh chủng, Hội Ðồng Quân Lực đã đề cử Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu đảm nhiệm chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia (tương đương tổng thống), và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ giữ chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (tương đương thủ tướng).

Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia, trong vai trò mới được giao, đã tiến hành thiết lập thể chế và các cơ cấu quốc gia cùng lập nên một Nội Các Chiến Tranh để thực hiện việc tiếp tục cuộc chiến đấu chống Cộng Sản xâm lược và phát triển đất nước.

Ngày 19 Tháng Sáu năm 1965, trong một buổi lễ ra mắt được long trọng tổ chức tại thủ đô Sài Gòn, các thành phần trong Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương đã tuyên thệ trung thành với tổ quốc, nhận trách nhiệm làm thành phần tiền phương của quân, dân Miền Nam Việt Nam trong vai trò chỉ huy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ đất nước và điều khiển chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội, văn hóa và giáo dục để xây dựng Miền Nam Việt Nam thành một quốc gia phú cường có thể sánh vai cùng các quốc gia khác trong cộng đồng thế giới.

Trong vai trò mới, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ở hậu phương thì lo xây dựng nền độc lập, tự do và dân chủ, diệt trừ những mầm mống nằm vùng bạo loạn và phát triển kinh tế, ngoài tiền tuyến thì chỉ huy quân đội ngăn chống những đợt sóng xâm lăng của Cộng Sản ngày càng mãnh liệt từ Miền Bắc tràn vào. Như vậy, ngày 19 Tháng Sáu năm 1965 là ngày đánh dấu sự kiện Quân Lực Việt Nam Cộn Hòa đứng lên gánh vác trách nhiệm lớn là bảo vệ nền tự do và độc lập của Miền Nam Việt Nam đồng thời làm tiền đồn ngăn chặn làn sóng Cộng Sản tại Ðông Nam Á.

Nhưng giới lãnh đạo quân sự tại Miền Nam Việt Nam, tức Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, vì ý thức cao độ rằng cuộc chiến đấu tự vệ chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của Cộng Sản từ ngoài Bắc vào không phải là một cuộc chiến đơn thuần về quân sự mà là một trận chiến phối hợp giữa các mặt trận quân sự và chính trị cũng như kinh tế, đồng thời còn cảnh giác cao độ về vai trò sinh tử của một chế độ tự do, dân chủ tại Miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến tranh một mất, một còn với phe Cộng Sản quốc tế, đã phải tìm cách chuyển đổi chế độ hội đồng quân nhân cầm quyền (military junta) hiện có sang một thể chế dân chủ hợp hiến và hợp pháp mới mong nâng cao uy tín của Việt Nam Cộng Hòa trên trường quốc tế.

Từ 1966 tới 1967, mặc dù chiến sự vẫn tiếp tục diễn ra vô cùng ác liệt trên kắp các mặt trận tại Miền Nam Việt Nam -với sự can dự trực tiếp của quân đội Hoa Kỳ và các lực lương Ðồng Minh như Ðại Hàn, Úc Ðại Lợi, Tân Tây Lan, và Thái Lan- chính quyền Miền Nam Việt Nam dưới quyền của các Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ, với sự hỗ trợ của chính phủ, dân chúng và quân đội Ðồng Minh Hoa Kỳ, quyết tâm tổ chức các cuộc tuyển cử tự do để thành lập nền Ðệ Nhị Cộng Hòa thay thế cho nền Ðệ Nhất Cộng Hòa của cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đã cáo chung sau cuộc đảo chánh đẫm máu năm 1963.

Với các chủ trương và đường lối đúng đắn đó, lần lượt các cuộc bầu cử tổng thống, Quốc Hội và hội đồng tỉnh, thành được mở ra trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa để bầu ra, trước hết, một Quốc Hội, rồi sau đó là một vị tổng thống dân cử đầu tiên của nền Ðệ Nhị Cộng Hòa. Trong nền Ðệ Nhị Cộng Hòa của Miền Nam Việt Nam, mặc dù các chức vụ quan trọng như tổng thống, bộ trưởng quốc phòng, tư lệnh cảnh sát, đại biểu chính phủ tại các vùng chiến thuật, tỉnh trưởng và quận trưởng... đều do giới quân nhân nắm giữ, nhưng nhờ có bộ mặt dân sự hợp pháp và hợp hiến, nước Việt Nam Cộng Hòa mới thời hậu Tổng Thống Diệm đã lần lượt có được sự thừa nhận của nhiều quốc gia thân hữu trên trường quốc tế, trong đó phải kể tới một số nước Ả Rập mà tiêu biểu là Vương Quốc Ả Rập Saudi kiên quyết chống Cộng ở Trung Ðông.

Tháng Mười Một năm 1967, sau khi đắc cử vào chức vụ tổng thống đầu tiên của Ðệ Nhị Cộng Hòa, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, trong vai trò tổng thống kiêm tổng tư lệnh quân đội, tiếp tục cho tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm hàng năm Ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu với những cuộc diễn binh của tất cả các đơn vị và quân, binh chủng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa để biểu dương sức mạnh và ý chí quyết thắng của dân chúng Miền Nam Việt Nam chống lại cuộc xâm lược kéo dài của Cộng Sản Bắc Việt từ miền Bắc vào. Trong khi đó, tiến trình dân chủ hóa Miền Nam Việt Nam vẫn đều đặn diễn ra, với những cuộc bầu cử từ tổng thống cùng phó tổng thống và các đại biểu lưỡng viện Quốc Hội cho tới các nghị viên hội đồng thành phố và tỉnh trên toàn cõi Miền Nam Việt Nam. Cho dù Miền Nam Việt Nam vẫn đang đắm chìm trong khói lửa chiến chinh -với những trận chiến ác liệt như chiến dịch bắc phạt của Không Lực Việt Nam Cộng Hòa (1966-1967), cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân của Cộng Sản (1968), cuộc hành quân đánh sang Căm Bốt của Quân Ðoàn 3 (1970), cuộc hành quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đánh sang Hạ Lào (1971), cuộc tổng tấn công của Cộng Sản vào Mùa Hè Ðỏ Lửa (1972), cuộc không tập và phong tỏa Bắc Việt của Hoa Kỳ vào Giáng Sinh 1972... và với những biến cố chính trị lớn lao như cuộc Hòa Ðàm Ba Lê (1968-1972), việc ký kết Hiệp Ðịnh Ba Lê 1973, cuộc trao trả tù binh các bên lâm chiến (1973), những vụ Cộng Sản lấn đất, giành dân, vi phạm hiệp Ðịnh Ba Lê mà cao điểm là cuộc tấn công đánh chiếm Phước Long (1974)... tiến trình dân chủ hóa Miền Nam Việt Nam đã diễn ra khá tốt đẹp dưới quyền lãnh đạo của một chính quyền mà đa số các giới chức cao cấp đều là sĩ quan hiện dịch trong quân đội hoặc có gốc nhà binh.

Mấy ai có thể tưởng nghĩ được rằng, vào năm tồn tại cuối cùng của mình là 1975, guồng máy chính quyền Miền Nam Việt Nam, tuy do các “chính trị gia” gốc quân nhân lãnh đạo, lại có thể bao gồm một quốc hội với sự hiện diện của không ít các nghị sĩ và dân biểu đối lập (như Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu, Trần Văn Ðôn, Lý Quý Chung...) và vô số các đảng phái cũng như chính trị gia đối lập (cỡ Linh Mục Trần Hữu Thanh và nhà báo Ngô Công Ðức) ngày đêm chỉ trích và “mắng mỏ” từ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cho tới Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm và Phụ Tá An Ninh Tổng Thống là Trung Tướng Ðặng Văn Quang?


* Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vừa đánh giặc vừa tham chính


Vào ngày 26 Tháng Mười năm 1956, chính phủ Ngô Ðình Diệm khởi sự tái tổ chức các lực lượng thuộc Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam được thành lập từ lúc Quốc Gia Việt Nam (Eùtat du Vietnam) ra đời ngày 8 Tháng Ba năm 1949 theo Thỏa Hiệp Eùlysée giữa Pháp và Việt Nam, và quân đội này mang danh xưng mới là Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa. Các lực lượng chiến đấu trên không và trên biển được gọi là Không Quân Việt Nam và Hải Quân Việt Nam. Trong những năm tháng đầu của cuộc Chiến Tranh Việt Nam, đối tượng giao tranh của quân đội này là các lực lượng du kích thuộc Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam, một tổ chức bung xung được Cộng Sản Bắc Việt dựng lên vào Tháng Mười Hai năm 1960 và được dùng làm công cụ xúc tiến việc lật đổ chính quyền Ngô Ðình Diệm và đánh chiếm Miền Nam tự do bằng vũ lực cho ra cái điều là chính dân chúng tại Miền Nam Việt Nam đã tự mình nổi dậy chống lại chính phủ của Tổng Thống Diệm -mà Cộng Sản vẫn coi là bù nhìn của Mỹ-chứ không phải là do quân Cộng Sản từ ngoài Bắc tiến vào tấn công, vì làm như vậy là vi phạm nặng nề Hiệp Ðịnh Genève 1954 về “chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Ðông Dương” mà chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Cộng Sản Bắc Việt) của ông Hồ Chí Minh đã ký kết.

Dưới thời Tổng Thống Mỹ John F. Kennedy, nhiều cố vấn quân sự và một số đáng kể kinh viện và quân viện của Hoa Kỳ đã được đổ vào Miền Nam Việt Nam để yểm trợ cho chính phủ và Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa trong nỗ lực tiễu trừ du kích quân Cộng Sản, thường được gọi là Việt Cộng, cùng với quân chính quy Bắc Việt từ Miền Bắc xâm nhập vào đánh phá Miền Nam. Có thể nói rằng vai trò vừa đánh giặc -tức là chiến đấu chống quân Cộng Sản Bắc Việt xâm lược-và vừa tham chính -tức là tham gia công cuộc quản trị guồng máy hành chánh đất nước- của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã khởi đầu kể từ cuộc đảo chánh của quân đội, vào ngày 1 Tháng Mười Một năm 1963, lật đổ nền Ðệ Nhất Cộng Hòa của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, rồi lên cao điểm vào ngày 19 Tháng Sáu -là Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa-khi chính quyền dân sự trao trách nhiệm lãnh đạo đất nước cho quân đội, và còn tiếp tục dưới hình thức quân đội tham chính trong các chính phủ dân sự thời Ðệ Nhị Cộng Hòa.

Những xáo trộn chính trị xảy ra tại Miền Nam Việt Nam sau cuộc đảo chánh và lật đổ Tổng Thống Diệm đã làm lung lay gần như tận gốc rễ cấu trúc xã hội tại Miền Nam Việt Nam sau chín năm dài miền đất này được sống trong ổn định về kinh tế và tương đối an ninh vì chính quyền cũng như quân đội còn đang kiểm soát được đất nước. Giờ đây, nương vào những xáo trộn này, Cộng Sản Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam liền gia tăng các cuộc tấn công, phá hoại tại Miền Nam Việt Nam, khởi đầu là những vụ tấn công vào các đồn bót và tiền đồn hẻo lánh tại các vùng quê, kèm theo là những vụ ám sát các viên chức xã, ấp, sau lan dần tới việc Cộng quân dùng những đơn vị lớn đánh úp hoặc chiếm đóng các quận lỵ (chi khu) và tỉnh lỵ (tiểu khu) trên bốn vùng chiến thuật của Miền Nam Việt Nam. Các cuộc đảo chánh và phản đảo chánh -mà Tướng Nguyễn Khánh gọi là “chỉnh lý”- cùng những cuộc biểu tình “hoan hô, đả đảo” do các giáo phái và các phe nhóm chính trị khác nhau -hầu hết đều có sự giật dây của Cộng Sản để thủ lợi-liên tục xảy ra khiến tình hình quân sự tại Miền Nam Việt Nam ngày càng suy đồi, kéo theo nạn kinh tế khủng hoảng, vật giá gia tăng không kềm chế nổi, giáo dục học đường chểnh mảng, thế đạo ngã nghiêng, nhân tâm ly tán... Vào cuối năm 1964, tức là chỉ một năm sau cuộc đảo chánh, Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa, đang nắm quyền điều khiển guồng máy hành chánh và quân sự trong nước, cũng đã thật sự phải đối diện với nguy cơ sụp đổ trước các cuộc tấn công gia tăng ác liệt của Cộng quân. Các bản tin chiến sự lúc bấy giờ cho hay Cộng quân, lợi dụng tình trạng hỗn quan, hỗn quân tại Miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ, đã gia tăng các cuộc tấn công lấn chiếm trên toàn quốc, khiến cho lãnh thổ quốc gia tại Miền Nam Việt Nam ngày càng bị thu hẹp, với nhịp độ thất thủ có lúc lên đến chóng mặt là mỗi tuần mất đi một quân lỵ và mỗi tháng mất đi một tỉnh lỵ.

Tháng Ba năm 1965, trước nguy cơ chẳng sớm thì muộn Miền Nam Việt Nam có thể mất vào tay Cộng Sản, chính quyền của Tổng Thống Lyndon Johnson, nhân vật kế nhiệm Tổng Thống Kennedy bị ám sát hồi Tháng Mười Một năm 1963, đã phải quyết định “Mỹ hóa” cuộc chiến tranh tại Việt Nam bằng cách đổ hằng trăm nghìn quân Mỹ vào Miền Nam Việt Nam, thiết lập các căn cứ quân sự, đồn bót, phi trường và hải cảng trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa và mở những cuộc hành quân lớn “lùng và diệt” các lực lượng du kích địa phương và chính quy xâm nhập từ Miền Bắc vào Miền Nam. Các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến, Không Vận, Bộ Binh, Không Quân và Hải Quân Mỹ cùng quân đội các nước đồng minh khác như Ðại Hàn Dân Quốc, Úc Ðại Lợi, Tân Tây Lan... tham gia chiến đấu chống lại Cộng quân. Vào lúc cao điểm của cuộc chiến, tổng số quân nhân Mỹ phục vụ trên các chiến trường tại Việt Nam lên tới 500,000 người. Với hằng trăm cuộc hành quân tiễu trừ Cộng sản lớn, nhỏ từ cao nguyên xuống đồng bằng và từ Khu Phi Quân Sự (DMZ) giáp Sông Bến Hải ở phía Bắc cho đến vùng kênh rạch ở Cà Mau, Bộ Tư Lệnh Quân Ðội Hoa Kỳ tại Việt Nam, trên thực tế, hoàn toàn nắm quyền kiểm soát cuộc chiến tranh chống Cộng, và vai trò của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trở nên thứ yếu.

Kể từ cuối năm 1965 trở đi, nhờ sự kiện Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có được chính danh sau khi được chính phủ dân sự của Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ Tướng Phan Huy Quát chính thức trao quyền cai trị đất nước và điều khiển quân đội (ngay trước Ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu), mọi xáo trộn chính trị trong nước lần lượt qua đi và quân đội Miền Nam Việt Nam khởi sự phục hồi lại phần lớn năng lực đã mất để có thể nới rộng vai trò chống du kích sang vai trò căn bản là bảo vệ lãnh thổ trước các cuộc tấn công quấy rối và lấn đất, giành dân của Cộng quân. Dần đà, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã có đủ khả năng mở các cuộc hành quân tảo thanh Việt Cộng trên bốn vùng chiến thuật song song với các lực lượng Hoa Kỳ và Ðồng Minh đang có mặt trên khắp các chiến trường.

Nhưng vai trò của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chỉ nổi bật trở lại sau biến cố Tết Mậu Thân 1968 khi hằng chục sư đoàn Cộng quân gồm bộ đội chính quy Cộng Sản Bắc Việt và quân du kích của mật Trận Giải Phóng Miền Nam đồng loạt mở cuộc “tổng tấn công, tổng nổi dậy” bất ngờ trong thời gian hưu chiến nhân dịp Tết, đánh vào nhiều tỉnh lỵ và thành phố tại Miền Nam Việt Nam, kể cả thủ đô Sài Gòn và cố đô Huế. Nhưng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã đứng vững và lần lượt tái chiếm hết những phần đất bị Cộng quân tạm chiếm, kể cả cố đô Huế, và xóa tên nhiều đại đơn vị của Cộng quân. Cũng kể từ năm 1968, Miền Nam Việt Nam khởi sư tổng động viên nhân lực tham gia quân đội, khiến cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đạt tới mức có sẵn 1 triệu binh sĩ chiến đấu dưới cờ vào năm 1972.

Quân đội này lại còn hùng mạnh hơn lên khi đồng minh Hoa Kỳ quyết định tăng cường võ trang các chiến cụ tối tân cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa để họ có thể tự mình chiến đấu bảo vệ Miền Nam Việt Nam đặng quân Mỹ có thể yên lòng và có thêm chính danh mà rút về nước trong một chiến lược mới được gọi là kế hoạch “Việt Nam Hóa” chiến tranh (Vietnamization of the war) do Tổng Thống Richard Nixon và Cố Vấn An Ninh Quốc Gia lúc bấy giờ là Tiến Sĩ Henry Kissinger đề xướng. (3) Chính nhờ công cuộc “Việt Nam Hóa” chiến tranh này mà Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ngày càng có đủ khả năng chiến đấu hữu hiệu chống các lực lượng thuộc Quân Ðội Nhân Dân của Cộng Sản Bắc Việt xâm nhập vào Miền Nam cũng như các lực lượng địa phương của mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Trên thực tế, vào thời điểm này, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã thực hiện nhiều gấp ba lần các cuộc hành quân so với thời gian quân đội Hoa Kỳ và Ðồng Minh đảm nhiệm vai trò chính trong các chiến dịch tấn công Cộng quân trước đây, đáng kể nhất là cuộc “Hành Quân Toàn Thắng 43” năm 1970 vượt biên tấn công các căn cứ hậu cần của Cộng Sản Bắc Việt tại Căm Bốt và cuộc “Hành Quân Lam Sơn 719” năm 1971 tấn công vào hệ thống Ðường Mòn Hồ Chí Minh tại Nam Lào, ngay dưới Khu Phi Quân Sự (DMZ), mặc dù các cuộc hành quân do Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn phải trông cậy nhiều vào hỏa lực yểm trợ của phi pháo từ các phản lực chiến đấu cơ và từ những trực thăng võ trang Hoa Kỳ. (4)

Năm 1972, Tướng Võ Nguyên Giáp của Cộng Sản Bắc Việt mở cuộc tấn công lớn trong “Mùa Hè Ðỏ Lửa” -mà người Mỹ gọi là “Cuộc Tấn Công Mùa Lễ Phục Sinh” (Easter Offensive)-cuộc tấn công toàn diện đầu tiên do tất cả các đại đơn vị thiện chiến của Cộng Sản Bắc Việt và các lực lượng du kích địa phương phối hợp thực hiện đánh vào các quận lỵ và tỉnh lỵ có tầm vóc quan trọng về mặt chiến lược tại Miền Nam Việt Nam. Trong giai đoạn đầu, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, vì yếu tố bất ngờ, đã phải chịu tổn thất khá nặng nề, nhưng vẫn giữ vững được hầu hết các phòng tuyến trên toàn lãnh thổ. Cộng Quân chiếm được phần lớn tỉnh địa đầu giới tuyến Quảng Trị và một số khu vực dọc theo vùng biên giới với Lào và Căm Bốt.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, ngay sau đó, đã khởi sự những cuộc phản công quyết liệt và hữu hiệu trên khắp các mặt trận chính yếu. Nhờ sức chiến đấu kiên cường và anh dũng của các đơn vị tinh nhuệ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cùng sự yểm trợ bằng phi pháo và hải pháo hùng hậu của Hoa Kỳ tại các mặt trận từ An Lộc (ở Vùng 3 Chiến Thuật) cho tới Quảng Trị (thuộc Vùng 1 Chiến Thuật) và Kon Tum (tại Vùng 2 Chiến Thuật), cuộc tổng công kích Mùa Hè 1972 của Cộng quân đã bị bẻ gãy. Các cuộc phản công của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt là tại các mặt trận An Lộc gần thủ đô Sài Gòn và tại Cổ Thành Quảng Trị gần Khu Phi Quân Sự, đã đánh bật được các lực lượng Cộng Sản ra khỏi những vị trí mà họ đã vây hãm hoặc cố thủ.

Cho tới đầu năm 1974, Hoa Kỳ hầu như đã rút hết các lực lượng chiến đấu của họ ra khỏi Miền Nam Việt Nam, và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ nay đã phải đơn độc chiến đấu cho sự sống còn của Miền Nam Việt Nam trong khi các lực lượng Cộng Sản vẫn tiếp tục nhận được những khoản viện trợ dồi dào về vũ khí, đạn dược và tiếp liệu từ các nước đàn anh Trung Quốc và Liên Xô để kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam Cộng Hòa mặc dù họ đã hạ bút ký tên vào bản Hiệp Ðịnh Ba Lê, chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình tại Miền Nam Việt Nam.

Mùa Thu năm 1974, Tổng Thống Richard Nixon đã phải từ chức vì vụ tai tiếng chính trị Watergate, và Tổng Thống Gerald Ford lên thay. Nóng lòng muốn rút chân ra khỏi Việt Nam, Quốc Hội Hoa Kỳ do đảng Dân Chủ kiểm soát khởi sự cắt bớt các khoản viện trợ quân sự và kinh tế dành cho Việt Nam Cộng Hòa, từ 1 tỷ đô-la mỗi năm xuống còn 700 triệu đô-la. Lịch sử coi sự sụp đổ của Sài Gòn vào ngày 30 Tháng Tư năm 1975 là hậu quả của việc Hoa Kỳ giảm thiểu rồi cắt đứt quân viện và kinh viện cho Việt Nam Cộng Hòa. Không có viện trợ của Hoa Kỳ, Miền Nam Việt Nam cảm thấy, về mặt tiếp vận và tài chánh, không thể nào tiếp tục cuộc chiến tranh để đánh bại quân Cộng Sản xâm lược được. Không còn nghi ngờ gì nữa, việc cắt giảm rồi chấn dứt viện trợ của Hoa Kỳ dành cho Việt Nam Cộng Hòa, chủ yếu là vũ khí và đạn dược cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tiếp tục chiến đấu, đã khuyến khích các nhà lãnh đạo Cộng Sản tại Hà Nội tiến hành cuộc tổng tấn công sau cùng để đánh chiếm toàn bộ Miền Nam Việt Nam. (5)

Ðầu năm 1975, sau khi Hoa Kỳ đã hầu như hoàn toàn kết thúc việc can thiệp vào và giúp đỡ cho chính phủ và các lực lượng quân sự Việt Nam Cộng Hòa, Cộng Sản Bắc Việt đã quyết định mở cuộc tổng tấn công sau cùng để thanh toán một mục tiêu mà họ đã tiên liệu là thế nào cũng rơi vào tay họ trước tình trạng nước đồng minh chính yếu của Miền Nam Việt Nam, sau hơn một thập niên can dự vào cuộc Chiến Tranh Việt Nam, mất đi 58,000 chiến binh và hao tổn đến hằng trăm tỷ Mỹ kim, đã tiêu tan hết mọi ý chí chiến đấu để chiến thắng trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam.

Các lực lượng Cộng Sản đã lần lượt đánh chiếm Ban Mê Thuột ở Vùng 2, tràn xuống Khánh Hòa-Nha Trang ở vùng duyên hải, rồi ngược lên phía Bắc đánh chiếm Huế và Ðà Nẵng tại Vùng 1 Chiến Thuật. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, mất tinh thần vì rõ ràng là đã bị Ðồng Minh bỏ rơi nửa chừng, cứ tiếp tục lui binh mãi về hướng thủ đô Sài Gòn ở phía Nam, thuộc Vùng 3 Chiến Thuật, và chỉ kháng cự bằng một trận đánh quan trọng tại Xuân Lộc, nơi đây Sư Ðoàn 18 Bộ Binh dưới quyền Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo, cùng với các lực lượng Nhảy Dù và Biệt Ðộng Quân, đã bẻ gãy tất cả các mũi dùi tấn công của Cộng quân và gây thiệt hại rất nặng nề về nhân mạng cho quân tấn công. Các cấp chỉ huy quân sự Cộng Sản đành phải lặng lẽ rời bỏ mặt trận này, đi vòng về phía Tây qua vùng giáp ranh giữa Quân Khu 2 và Quân Khu 3 mà tiến xuống phía Nam đặng thực hiện kế hoạch bao vây thủ đô Sài Gòn.

Trận chiến dứt điểm thủ đô của Miền Nam tự do không kéo dài như các quan sát viên quân sự từng dự đoán, bởi vì các nhà lãnh đạo Cộng Sản từ Hà Nội kéo vào đã khéo léo phối hợp các nỗ lực quân sự với những đòn chính trị có tính cách vừa dụ dỗ những thành phần nhẹ dạ và thân Cộng vừa ly gián các lực lượng của người Quốc Gia chân chính vẫn muốn chiến đấu tới cùng trong một trận sống mái với Cộng Sản rồi ra sao thì ra, trong đó phải kể tới những đơn vị lớn thuộc các quân, binh chủng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt là Sư Ðoàn Nhảy Dù tinh nhuệ và được coi là bách chiến, bách thắng của Miền Nam Việt Nam. Vào sáng ngày 30 Tháng Tư năm 1975, Tổng Thống Dương Văn Minh -lên kế nhiệm Tổng Thống Trần Văn Hương, nhà lãnh đạo luống tuổi từng thay thế Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức và bỏ nước đi lưu vong vào chiều ngày 21 Tháng Tư, 1975-đã phải công bố lệnh đầu hàng không điều kiện trước các lực lượng Cộng Sản và Sài Gòn chính thức rơi vào tay Cộng quân. Ðiều cần ghi nhận là, sau khi chính quyền trung ương của Việt Nam Cộng Hòa tại thủ đô hoàn toàn tan rã, hầu như toàn thể Vùng 4 Chiến Thuật dưới quyền của vị Tư Lệnh Quân Khu 4, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, vẫn còn nguyên vẹn, vì Cộng quân không có đủ lực lượng để tiến vào nơi đây. Các danh tướng và cấp chỉ huy ưu tú của Quân Lực Việt Nam Việt Nam Cộng Hòa như Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, và Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn... đều tự vẫn hoặc chiến đấu cho đến chết để chứng tỏ khí phách anh hùng của giới sĩ quan cao cấp trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chủ trương “thành mất thì chết theo thành,” một truyền thống mà trong lịch sử cận đại của Việt Nam, Kinh Lược Sứ Phan Thanh Giản và Tổng Ðốc Hoàng Diệu đã nêu gương sáng sau khi sáu tỉnh Nam Kỳ và Thành Hà Nội rơi vào tay quân xâm lược Pháp hồi cuối thế kỷ 19. (6)

Sau hơn hai thập niên chiến đấu kiên cường -trong đó có gần một thập niên nằm dưới quyền điều khiển của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa- Việt Nam Cộng Hòa và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, vì bị Hoa Kỳ bỏ rơi nửa chừng, đành phải bại trận một cách tức tưởi vào ngày 30 Tháng Tư năm 1975 trước những nhà chinh phục Cộng Sản từ miền Bắc tiến vào. Cái chết của Miền Nam Việt Nam và cái chết của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là hậu quả tất yếu của một cuộc chiến tranh trong đó cả hai bên lâm chiến đều không ai có đủ điều kiện -quân sự, kinh tế và chính trị- một mình đứng ra đảm đương cuộc chiến mà phải nhờ đến các thế lực bên ngoài. Rồi khi một trong hai bên nào đó thình lình bị đồng minh bỏ rơi -như trường hợp của Việt Nam Cộng Hòa- thì kẻ bị bỏ rơi đương nhiên phải thua trận.


* Chế độ quân nhân tại Việt Nam Cộng Hòa không phải là chế độ quân phiệt, Ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu phải được tôn vinh


Như đã tình bày ở trên, chế độ quân nhân tại Miền Nam Việt Nam, thoạt tiên tuy do các thành phần sĩ quan cao cấp của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa giữ vai trò lãnh đạo, đã khác biệt gần như hoàn toàn với các chế độ quân phiệt đương thời trên toàn thế giới. Các lý do sau đây làm sáng tỏ nhận định này:

- Chế độ quân phiệt tồn tại mà không cần lý do chính đáng, phần lớn là do các lãnh tụ quân phiệt tự tạo nên lý do tồn tại, như viện cớ phải bành trướng thế lực trên trường quốc tế (trường hợp quân phiệt Nhật Bản trước và trong Ðệ Nhị Thế Chiến), chống xu hướng Cộng Sản (trường hợp Hy Lạp, Thái Lan và Indonesia thời Suharto), chống phiến quân tả phái (trường hợp Chile, El Salvador, Nicaragua...) hoặc chống tất cả các khuynh hướng đối lập (trường hợp Pakistan, Ai Cập, Libya, Myanmar...)

Chế độ quân nhân tại Việt Nam Cộng Hòa không tự phát sinh mà ra đời do những hoàn cảnh đặc biệt của đất nước. Ngay như cuộc đảo chánh Tổng Thống Ngô Ðình Diệm hồi năm 1963 để đưa Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng lên cầm quyền, dù vẫn bị coi là tai hại cho nền độc lập của đất nước (vì do Mỹ giật dây) và làm suy yếu nỗ lực chiến đấu chống Cộng, vẫn được biện minh vì chế độ của ông Diệm có khuynh hướng kỳ thị Phật Giáo và không chịu triệt để đi theo đường lối của Hoa Kỳ là nước đang cung cấp kinh viện và quân viện cho Miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ.

- Chế độ quân phiệt thường tự mình gây ra chiến tranh chống một nước khác hoặc chống lại chính nhân dân của đất nước mình. Ðó là trường hợp của quân phiệt Nhật Bản trước và trong Ðệ Nhị Thế Chiến (dưới thời Thủ Tướng Hideki Tojo [Ðông Ðiều]) và các chế độ quân phiệt tại Chile hay Myanmar khi chính quyền do các hội đồng quân nhân tại các nước đó gây chiến tranh chống lại các dân tộc khác hay chống lại chính dân chúng của mình mà họ gọi là loạn quân hay quân nổi dậy. Một số tài liệu lịch sử mới được tiết lộ cho thấy rằng, vào Tháng Hai năm 1947, quân đội Trung Hoa Quốc Gia của Thống Chế Tưởng Giới Thạch đã phạm tội tàn sát hằng chục nghìn thường dân vô tội trên Ðảo Ðài Loan khi các lực lượng Quốc Dân Ðảng Trung Hoa được phái sang hải đảo này để chống lại cuộc nổi dậy của dân chúng địa phương.

Trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam, Việt Nam Cộng Hòa là nạn nhân của cuôc xâm lấn của Cộng Sản từ miền Bắc, và chế độ quân nhân tại đây chẳng những không đánh lại chính nhân dân mình mà, trái lại, còn hy sinh xương máu để bảo vệ cuộc sống tự do và thanh bình của dân chúng, cho nên người lính Cộng Hòa luôn được đa số dân chúng -những thành phần không bị Cộng Sản mê hoặc-ủng hộ và đi theo (trong các cuộc di tản hoặc chạy loạn) cho đến khi bị địch pháo kích chết thì thôi.

- Chế độ quân phiệt tồn tại mãi cho tới khi nào bị dân chúng trong nước hoặc các thế lực goại bang dẹp bỏ mới thôi. Ðiều này đúng cho hầu hết các chế độ quân nhân tại Nam Mỹ, Ðông Nam Á và Phi Châu. Chế độ quân nhân tại Việt Nam Cộng Hòa, được khai sinh từ ngày lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm hồi năm 1963 và tái lập vào ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu năm 1965, đã tự ý trao quyền cho một thể chế dân sự hoặc xuyên qua các tuyên cáo và quyết định (như Quyết Ðịnh Số 4 ngày 16 Tháng Hai năm 1965 của hội Ðồng Quân Lực trao quyền quản trị hành chánh quốc gia lại cho phe dân sự tại Miền Nam Việt Nam) hoặc qua các cuộc bầu cử tổng thống, Quốc Hội và các hội đồng tỉnh, thành tại Miền Nam Việt Nam thời Ðệ Nhị Cộng Hòa.

- Các thành phần lãnh đạo của những chế độ quân phiệt thường lạm quyền, tham nhũng và gây nhiều tội ác chống lại dân chúng cho nên sau khi các chế độ này sụp đổ thì các lãnh tụ của chế độ thường bị các chế độ kế tiếp hay chính dân chúng tại các quốc gia đó xử tội. Ðó là trường hợp của nhà độc tài Suharto bên Indonesia và Pinochet ở Chile. Riêng chế độ quân nhân tại Miền Nam Việt Nam, vì xuất thân từ dân chúng mà ra, đã không hề gây tội ác nào với dân chúng, nếu không nói được là họ đã xả thân chăm lo bảo vệ hạnh phúc của dân chúng. Nền Ðệ Nhị Cộng Hòa tại Miền Nam Việt Nam tuy cũng mang tiếng là có những thành phần tham nhũng, nhưng mức độ tham nhũng đó chẳng có gì đáng kể một khi đem so với các chế độ quân phiệt hay độc tài đương thời tại những nơi khác, từ Á Châu cho tới Mỹ Châu La-tinh và Phi Châu, đừng nói gì đến chuyện đem so sánh với mức đô tham nhũng hiện nay của các viên chức chế độ Cộng Sản tại Việt Nam bây giờ.

Ðiều độc đáo và quan trọng nhất là chế độ quân nhân tại Việt Nam Cộng Hòa có lý do hết sức chính đáng để tồn tại, dù chỉ trong ngắn hạn, trong khi các chế độ quân nhân và quân phiệt cũng như các chế độ độc tài, độc đảng tại những nơi khác thì không. Ngoại trừ Nam Hàn là nước đang gặp hiểm họa bị xâm lấn một lần nữa từ phía Cộng Sản Bắc Hàn -chứ không thực sự bị xâm lấn kể từ sau khi cuộc Chiến Tranh Triều Tiên chấm dứt vào năm 1953 và sau khi quân đội Mỹ đã lập nên tuyến thép ngăn chặn Cộng Sản Bắc Hàn ngay tại phía Nam vĩ tuyến 38- không có một chế độ quân nhân hay quân phiệt nào tại các nơi khác trên thế giới phải đối phó với một cuộc chiến tranh xâm lược cấp bách mang tính quy mô và được nửa kia của thế giới hết lòng cổ xúy và yểm trợ. Các chế độ quân phiệt tại Thái Lan, Indonesia, Chile, El Salvadore, Nicaragua... bất quá chỉ bị phiến quân và quân nổi dậy đe dọa mà thôi -mà lý do chính yếu của các cuộc nổi dậy tại những nơi đó đôi khi lại nảy sinh từ chính sự hiện hữu của các chế độ độc tài, áp bức đó, vì thế, khi các chế độ đó thôi không hiện hữu thì những cuộc bạo loạn tại các nơi đó cũng tự dưng mất đi. Ðó là chưa kể những chế độ độc tài (dictatorship) tại những nơi như Phi Luật Tân -thời Ferdinand Marcos-là nơi mà chính quyền chỉ cần viện cớ là đất nước đang bị bị phiến quân Cộng Sản (Huks) đe dọa thôi cũng đủ cho chính quyền ra lệnh thiết quân luật, ngưng thi hành mọi quyền tự do, dân chủ trong nước, và cai trị dài dài bằng sắc lệnh.


* Lời cuối


Nghĩ cho cùng, chế độ quân nhân tại Miền Nam Việt Nam trong thời điểm có cuộc chiến tranh thôn tính Miền Nam của Ðảng Cộng Sản Việt Nam từ miền Bắc là chế độ nếu không hoàn toàn chính đáng trên danh nghĩa thì cũng là một sự cần thiết của lịch sử. Phải biết rằng, xuyên suốt lịch sử Việt Nam, hầu như tất cả các chế độ cai trị ban đầu của các triều đại có trước các nền Ðệ Nhất và Ðệ Nhị Cộng Hòa tại Miền Nam Việt Nam -từ thời các Vua Hùng dựng nước (với các Lạc hầu, Lạc tướng), thời Trưng Nữ Vương, các triều đại của Ngô Vương Quyền, Ðinh Tiên Hoàng, Lê Ðại Hành, Lý Thái Tổ, Trần Thái Tông, Lê Lợi, Nguyễn Quang Trung, và Nguyễn Gia Long- đều là những chế độ quân nhân, ít nhất cũng dưới thời các vị vua khai sáng triều đại để dựng nước hoặc để giành lại độc lập cho Việt Nam khỏi tay kẻ thù phương Bắc là Trung Hoa. Và dĩ nhiên là các đấng tiên vương của Việt Nam đều không hề là những thành phần quân phiệt mà chính là những vị anh hùng hết sức xứng đáng được toàn dân muôn đời ngưỡng mộ và tôn thờ.

Vì các lẽ ấy, nếu cuộc chiến tranh bảo vệ nền tự do, dân chủ tại Miền Nam Việt Nam trước đây được coi là chính đáng thì không có lý do gì mà người Việt Quốc Gia từ trong nước lẫn ở hải ngoại lại quên đi Ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu hằng năm. Ngày mai đây, khi Việt Nam trở thành một đất nước thật sự có tự do dân chủ, khi lịch sử cận đại và hiện đại của Việt Nam được viết lại một cách nghiêm chỉnh và khi cuộc chiến tranh Quốc-Cộng được đánh giá đúng mức, Ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu phải được coi là một trong những ngày kỷ niệm huy hoàng cả trong quân sử lẫn trong lịch sử dân tộc Việt Nam, không ai hoặc không một thế lực nào có thể làm khác đi được. (V.P.)


Ghi chú:

(1) Ngay từ dưới thời Ðệ Nhất Cộng Hòa của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, bên cạnh các Tòa Ðại Biểu Chính Phủ tại Trung Nguyên Trung Phần, Cao Nguyên Trung Phần và Nam Phần Việt Nam do các nhân vật dân sự cầm đầu, vị tổng tư lệnh Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa (kiêm Bộ Trưởng Quốc Phòng) cũng đã phải chỉ định các tướng lãnh quân đội làm tư lệnh các quân khu liên hệ tại các vùng để trực tiếp điều hành công cuộc bảo vệ trị an trước nguy cơ Cộng Sản Bắc Việt quyết tâm thôn tính Miền Nam tự do sau khi cuộc tổng tuyển cử để thống nhất hai miền đất nước được dự trù mở ra tại Bắc và Nam Việt Nam vào năm 1956 đã không được thực hiện. Trên thực tế, Tổng Thống Diệm đã giao toàn quyền quyết định về quân sự cho các vị tư lệnh quân khu liên hệ vì ông biết rõ các nhân vật dân sự trong chính phủ không đủ khả năng thi hành sứ mạng này.

(2) Bản Tuyên Cáo của Quốc Trưởng, Chủ Tịch Hội Ðồng Quốc Gia Lập Pháp và Thủ Tướng Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa, được công bố ngày 11 Tháng Sáu năm 1965, có đoạn viết:

“Sau khi duyệt lại tình trạng ngày một khẩn trương của đất nước, sau khi đã xét lại và xác nhận rằng: những vơ cấu và thể chế Quốc Gia hiện tại không còn phù hợp với tình thế... Quốc Trưởng Việt Nam Cộng Hòa, Hội Ðồng Quốc Gia Lập Pháp, Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa đồng thanh quyết định long trọng trao trả lại cho Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa trách nhiệm và quyền lãnh đạo quốc gia đã được Hội Ðồng Quân Lực ủy thác cho chúng tôi... Yêu cầu toàn thể đồng bào các giới không phân biệt giai tầng, địa phương, đảng phái và tôn giáo, ủng hộ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong việc lãnh đạo toàn Quân và toàn Dân đúng theo tinh thần của Cách Mạng 1.11.1963.”

(3) Theo các số liệu chính thức, sau khi công cuộc “Việt Nam Hóa Chiến Tranh” hoàn tất vào cuối năm 1973, Hoa Kỳ đã cung cấp cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 640,000 khẩu súng trường M-16, 34,000 súng phóng lựu M-79, 40,000 máy truyền tin, 20,000 xe vận tải và 56 chiến xa hạng trung M-48. Không Lực Việt Nam Cộng Hòa nhận được 200 khu trục và oanh tạc chiến đấu cơ, bao gồm khu trục cơ A-1 Skyraider, oanh tạc cơ A-37 và phản lực chiến đấu cơ F-5 cùng với 30 phi cơ võ trang AC-47 và 6,000 vận tải cơ -trong số đó mộ số được biến cải thành phi cơ “Hỏa Long” như AC-119 và AC-123- cộng với 500 trực thăng các loại cùng một số phi cơ thám thính gồm loại OV-10 Bronco và các “máy bay bà già“L-19 (Vào lúc cao điểm của cuộc Chiến Tranh Việt Nam, khi có khoảng 500,000 binh sĩ Mỹ tham chiến tại Miền Nam Việt Nam, các lực lượng Hoa Kỳ đã sử dụng tới 3,000 trực thăng đủ loại). Mặc dù số lượng vũ khí nhận được có vẻ lớn lao như thế, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, về mặt trang bị, vẫn còn kém thua quân đội Hoa Kỳ nhiều lắm, và nhất là quân số bị thiếu hụt so với quân số của Cộng Sản Bắc Việt là đạo quân đông đảo đứng vào hàng thứ 5 trên thế giới lúc bấy giờ -chưa kể số quân du kích của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam vẫn cùng họ tham gia tấn công tại Miền Nam Việt Nam (Wikipedia, June 8, 2007).

(4) Tháng Năm năm 1970, các lực lượng thuộc Quân Ðoàn 3 của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chiến thắng lớn trong cuộc hành quân “Toàn Thắng 43,” vượt biên tấn công vào Căm Bốt, phá hủy nhiều kho vũ khí, đạn dược và lương thực cùng thuốc men của các lực lượng Cộng Sản từ Miền Bắc đưa vào cất giấu tại vùng biên giới Việt-Miên nhằm tiếp trợ cho nỗ lực chiến tranh đánh chiếm Miền Nam Việt Nam của họ. Một cuộc hành quân quy mô khác của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vào Tháng Giêng năm 1971, mệnh danh Lam Sơn 719, tấn công thẳng vào hệ thống Ðường Mòn Hồ Chí Minh ngay dưới Khu Phi Quân Sự và trên Ðường Số 9 tại Nam Lào, tuy phải chịu nhiều tổn thất nhân mạng do gặp địch kháng cự mạnh, vẫn hoàn thành mục tiêu phá vỡ hệ thống hậu cần tiếp tế cho các lực lượng Cộng Sản đang mở các cuộc tấn công phá hoại tại Miền Nam Việt Nam. Ðiều hiển nhiên là các thành tựu này của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã khiến cho các lực lượng Cộng quân đang tham chiến bắt đầu nao núng, và họ thấy cần phải có thêm thời gian để tái bổ sung quân số cũng như tiếp liệu cho các lực lượng đang dần dần bị kiệt quệ của họ. Hệ quả chính trị trông thấy của các chiến thắng quân sự mới do Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tạo nên là giới lãnh đạo Cộng Sản tại Hà Nội đã phải khởi sự đàm phán nghiêm chỉnh hơn trong cuộc Hòa Ðàm Ba Lê lúc gió đang diễn tiến tại thủ đô của Pháp nhằm tìm kiếm một giải pháp hòa bình cho cuộc Chiến Tranh Việt Nam.

(5) Tháng Mười Hai năm 1974, sau khi Hoa Kỳ đã hoàn tất việc rút lui về mặt quân sự ra khỏi Miền Nam Việt Nam, Tổng Bí Thư Lê Duẩn của Ðảng Cộng Sản Việt Nam tuyên bố: “Bọn Mỹ đã rút đi... đây là biến chuyển đánh dấu thời cơ của chúng ta.”

(6) Theo Wikipedia, truy cập ngày 14 Tháng Sáu năm 2008, trong cuộc chiến đấu để bảo vệ tự do, dân chủ cho Miền Nam Việt Nam, các chiến sĩ thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã cống hiến cho đất nước những hy sinh vô cùng to lớn và cao cả mà cho tới nay vẫn chưa có gì đền đáp nổi. Theo các con số phỏng định, vào lúc kết thúc cuộc Chiến Tranh Việt Nam (1959-1975), Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có 250,000 chiến sĩ bỏ mình và Quân Ðội Hoa Kỳ có 58,000 quân nhân hy sinh. Không có con số chính thức cho biết có bao nhiêu chiến binh Cộng Sản đã tử trận trong cuộc chiến, mặc dù con số này ít nhất cũng phải cao hơn gấp ba lần con số tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa, bởi vì họ thường phải hứng chịu hỏa lực ghê gớm của các lực lượng Ðồng Minh và Việt Nam Cộng Hòa, trong đó phải kể tới những cuộc giội bom trải thảm của các pháo đài bay chiến lược B-52, và cũng vì các cấp chỉ huy của họ, kể cả danh Tướng Võ Nguyên Giáp, vẫn ưa dùng chiến thuật biển người có tính cách thí quân trong những cuộc tấn cô
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Ngày Quân Lực 19 Tháng 6 tại Miền Nam California

Image
Hàng trăm cựu quân nhân QLVNCH đã rủ nhau về tham dự “Ðêm Hát Cho Lính” nhân Ngày Quân Lực.
(Hình: Nguyên Huy/Người Việt)

Image
Cựu Liên Quân QLVNCH trong buổi lễ Vinh Danh Chiến Sĩ VNCH nhân Ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu.
(Hình: Nguyên Huy/Người Việt)

Image
Lễ Phủ Quân Kỳ tưởng niệm đến các chiến sĩ VNCH đã Vị Quốc Vong Thân.
(Hình: Nguyên Huy/Người Việt)

Nguyên Huy/Người Việt
WESTMINSTER (NV) - Ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu là ngày kỷ niệm của người dân miền Nam nhớ đến công ơn tập thể những người lính Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) được trao cho nhiệm vụ lãnh đạo đất nước vào năm 1965. Thế nên năm nào những người cựu chiến binh VNCH ở khắp nơi tại hải ngoại cũng tổ chức những buổi lễ trang trọng để cùng nhau tưởng nhớ đến những đồng đội đã hy sinh trong công cuộc bảo vệ đất nước.

Năm nay tại miền Nam California, Ngày Quân Lực đã diễn ra trong ba buổi, một không chính thức vào tối hôm Thứ Sáu 19 Tháng Sáu tại nhà hàng Royal trong thị xã Garden Grove và hai buổi lễ chính thức vào chiều tối Thứ Bảy 20 Tháng Sáu tại Vườn Hồng thị xã Westminster và sáng Chủ Nhật 21 Tháng Sáu tại Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ.


Buổi lễ không chính thức diễn ra tại nhà hàng Royal trong thị xã Westminster thực ra chỉ là một cuộc họp mặt nhân Ngày Quân Lực của một số anh chị em cựu quân nhân QLVNCH do các chiến hữu Phạm Ngọc Ðăng, Vũ Hưng, cựu Thiếu Úy Ngôn xướng xuất. Nào ngờ, do những liên lạc cá nhân mà số chiến hữu các quân binh chủng QLVNCH đã đến quá đông ngoài dự trù của anh em tổ chức. Chiến hữu Phạm Ngọc Ðăng cho biết, “Tưởng chỉ là một tối anh em ngồi lại với nhau ca hát để có ‘Một Ðêm Tình Ca cho Lính’ nào ngờ anh chị em và đồng hương biết được đã đến tham gia đông quá”.

Cựu Thiếu Úy Ngôn thay mặt ban tổ chức cũng cho biết, “Anh xem có quân đội nào trên thế giới sau hơn 34 năm tan hàng mà vẫn còn được lòng thương yêu của người dân như QLVNCH không. Mình không chủ quan mà nói thế mà căn cứ trên bất cứ một sinh hoạt nào của anh em cựu chiến sĩ, hay do anh em tổ chức đều được sự tham gia đông đảo của bà con. Rõ nhất là ba lần Ðại Nhạc Hội Cám Ơn Anh để trợ giúp cho Thương Phế Binh VNCH ở quê nhà, lần nào cũng đạt được kết quả khả quan về mọi phương diện mà không một tổ chức nào đạt được. Ðó, lòng thương yêu là ở đó đó”.

Vì thế nên những người lính cũ của VNCH lại càng thương yêu nhau hơn. Trong buổi họp mặt này gần như hầu hết cựu chiến binh các quân binh chủng của QLVNCH đều mặc lại những bộ quân phục cũ với cấp bậc huy chương ngày nào. Ai nấy đều tỏ lộ sự trân trọng cuộc đời lính đã qua và rất kiêu hãnh đã từng là người lính của QLVNCH. Họ chan hòa với nhau bằng tay bắt mặt mừng, rôm rả chuyện trò nhắc từng đơn vị cũ, từng chiến trường xưa, từng đồng ngũ đã hy sinh hay trở thành thương binh còn kẹt lại ở quê nhà. Cuộc vui hàn huyên trong Ngày Quân Lực kéo dài mãi đến gần 1 giờ sáng mới chấm dứt.

Ngày hôm sau Thứ Bảy 20 Tháng Sáu, những người cựu chiến binh QLVNCH đã cùng khoảng ba trăm đồng hương đến Vườn Hồng của thị xã Westminster để cùng nhau làm Lễ Truy Ðiệu các Chiến Sĩ VNCH đã vị quốc vong thân.

Ðây là một sinh hoạt đã trở thành truyền thống của Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH nam Cali và Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Tây Nam Hoa Kỳ.

Lễ Truy điệu năm nay được đặt dưới sự chủ tọa của Cựu Ðại Tá Thủy Quân Lục Chiến Cổ Tấn Tinh Châu.

Nhắc nhở trong dịp này, ban tổ chức Lễ Truy Ðiệu cũng đề cập đến tình thương yêu của người dân VNCH, cho dù 34 năm đã qua, cho dù quân đội ấy đã phải bó tay trước thời cuộc quốc tế mà đành phải để mất miền Nam vào tay Cộng Sản.

Một lễ Quân Kỳ Rũ đã diễn ra thật cảm động với những nghi thức được vị chủ tọa buổi lễ và các cựu Quốc Gia Nghĩa Tử thực hiện trang trọng trong tiếng điếu văn kể những chiến công và sự hy sinh của những chiến sĩ VNCH đã nằm xuống trong cuộc chiến bảo vệ đất nước. Những lời cầu nguyện của các vị đại diện trong Hội Ðồng Liên Tôn bầy tỏ lòng thương cảm, tri ân sâu sắc đến anh linh các chiến sĩ đã Vị Quốc Vong Thân.

Hầu hết đồng hương đến tham dự đều tới dâng hương trước bàn thờ Tổ Quốc Ghi Công để tưởng nhớ đến sự hy sinh của các chiến sĩ QLVNCH kể cả người đã khuất lẫn những người còn đang chiến đấu dưới nhiều hình thức khác.

Vào sáng hôm sau, Lễ Vinh Danh Chiến Sĩ VNCH được Liên Hội Cựu Chiến Sĩ, Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Tây Nam Hoa Kỳ, Tổng Hội Cảnh sát Quốc Gia và nhiều hội ái hữu cựu quân nhân đã làm lễ trước Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ, có nhiều quan khách Việt Mỹ tham dự.

Trong dịp này, vị chủ tọa cựu Ðại Tá Cổ Tấn Tinh Châu đã nhắc nhở rằng, “Chúng ta kỷ niệm Ngày Quân Lực hôm nay để nhớ đến đất nước thân yêu đã rơi vào tay Cộng Sản 34 năm nay. Trong dịp này chúng ta cũng nhớ đến một đời chiến đấu để cống hiến cho Quốc Gia Dân tộc.

“Cuộc chiến mà chúng ta tham gia để bảo vệ Tự Do đã bị bức tử một cách trắng trợn, nhưng đã làm cho chính nghĩa của chúng ta ngời sáng khi thế giới nhìn lại đất nước Việt Nam bị lọt trong tay Cộng Sản. Chúng ta đã chiến đấu và cuộc chiến đấu của chúng ta đã làm nhiều nhà báo ngoại quốc phải thốt lên, ‘Ôi, một quân lực đã chiến đấu vô cùng anh dũng! Tôi vô cùng kính phục' như nhà báo Pháp Pierre La Court đã viết khi làm phóng sự về trận chiến tại Xuân Lộc vào cuối cuộc chiến.

“Nếu chúng ta mà không có chính nghĩa thì chúng ta đã không có những cái chết anh dũng của những người lính VNCH. Ðến nay cuộc chiến ấy vẫn còn có lý do để tiếp diễn vì tình hình của VN hiện tại. Chúng ta phải có nhiệm vụ mau chóng kết thúc cuộc chiến dành tự do độc lập cho tổ quốc VN. Lý tưởng chiến đấu của chúng ta là Dân Tộc, không phải vì thù oán.”
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Mùa Hè Đỏ Lửa - Người ở Lại Charlie
Vĩnh Hiếu
Phi Đoàn 215 Thần Tượng
Lời người viết:

Vùng cao nguyên bỗng dưng sôi động, những cánh chim sắt của phi đoàn Thần Tượng bất chợt bị cuốn lốc trong cơn bão của trận chiến bất ngờ. Những ngày hành quân liên tục trên những địa danh xa lạ chưa từng biết đến của vùng rừng núi địa đầu giới tuyến đã gây nhiều ấn tượng sâu đậm trong lòng một người trai thời loạn. Tôi xin ghi lại đây một vài hình ảnh, kỷ niệm của những tháng ngày dài rong ruổi trên chiến trường đẫm máu, cũng như những phi vụ kinh hoàng mà những người chiến sĩ Không Quân đã âm thầm lặng lẽ ra đi không ai nhắc nhở.
Một chút gì để nhớ đến những cánh chim Thần Tượng gãy cánh trên vòm trời Tây Nguyên: Tr/u Phạm Thành Rinh, Th/u Võ Diện, Trung úy Nguyễn Tường Vân, Tr/u Trần văn Long cùng các mê vô xạ thủ Linh, Thông, Lan, Phiệt…
***

Ngày 12 tháng 4 năm 72
Này anh! Anh! Hỡi anh ở lại Charlie
Anh! Vâng, chính anh là loài chim quý
Ôi, cánh chim trùng khơi vạn lý
Một lần dậy cánh bay
Người để cho người nước mắt trên tay…
Một buổi chiều miền Tây nguyên, một buổi chiều sau một ngày sôi động chiến tranh của “Mùa hè đỏ lửa”. Bầu không khí bắt đầu quyện đục sương đêm hòa lẫn khói rừng âm ỉ cháy, phảng phất khen khét đâu đây mùi thuốc súng… Ánh nắng vàng nhạt còn vương vấn trải dài trên những triền núi xa xa…
Hai chiếc trực thăng võ trang của Phi đoàn Thần Tượng trên đường về căn cứ Cù Hanh sau một ngày nhào lộn trên chiến trường nóng bỏng. Trong cockpit Th/u Nguyễn Thanh Hùng im lặng cầm cần lái, đôi mắt đăm chiêu trên khuôn mặt thể hiện một nét mệt mỏi. Ngồi bên cạnh, tôi uể oải dựa ngửa đầu vào lưng ghế bay nhìn xuống Quốc lộ 14 chạy lùi dưới chân. Đây là con đường huyết mạch nối liền Kontum và thị trấn Pleiku chạy giữa vùng núi rừng xanh thẳm. Dọc theo hai bên đường được khai quang trống trải để đề phòng những cuộc phục kích của Việt Cộng, những người Thượng lưng đeo chiếc gù đầy củi đang lầm lủi bước nhanh cố tranh thủ với bóng đêm đang chầm chập tới. Một vài người ngững đầu lên đưa tay vẫy chào hai con tàu đang lướt qua trên đầu. Phía bên trái ngọn núi Chu Pao đứng sừng sững nhìn xuống QL 14 như một vọng canh chiến lược thiên nhiên, nơi đây sẽ khởi chiến những trận đánh đẫm máu của ta và địch trong những ngày sắp tới để dành chủ quyền kiểm soát con đường huyết mạch này. Xa xa một đoàn xe “công voa” nhà binh mở đèn pha chạy nối đuôi nhau chạy ngược về hướng Kontum. Con đường xa lạ này giờ đây nó đã trở thành một hình ảnh vô cùng quen thuộc với những con chim sắt ngày ngày tung cánh lao đi vào vùng lửa đạn.
Sau phi vụ tiếp tế đẫm máu mở màn tại Tiền đồn Sáu, kế cận phi trường Phượng Hoàng, Tân Cảnh, phi đoàn 215 Thần Tượng đã được lệnh tăng phái lên Pleiku để yểm trợ cho mặt trận vùng cao nguyên. Nguyên phi đội được chỉ định ở trong một trong những barracks của Mỹ để lại trong phi trường cạnh một sân cỏ rộng, ở đó đậu tạm những chiếc trực thăng của biệt đội trong giai đoạn hành quân. Trong linh cảm, tất cả nhân viên phi hành đều biết rằng sẽ phải đối đầu với một trận chiến khốc liệt và có thể kéo dài. Phi trường Cù Hanh càng ngày càng bận rộn theo mức leo thang của chiến cuộc, sự sinh hoạt tại căn cứ mang một màu sắc nghiêm trọng khẩn trương hơn. Đứng trên tầng hai của biệt đội nằm trên một vùng đất khá cao, tôi có thể quan sát mọi sự hoạt động của phi trường vào mổi buổi sáng sớm. Trên những con đường những chiếc xe pick-up màu xanh chạy vội vã chở đầy phi công; những người lính Không quân hối hả trên những chiếc xe gắn máy phóng đến phần sở cho kịp giờ; những hàng gánh rong bán thức ăn sáng rộn rịp ở những góc đường. Ngoài phi đạo máy bay sắp hàng để chuẩn bị cất cánh lên vùng, những chiếc khu trục thô kệch nặng nề, đeo đầy bom tiếng máy rú lên như con thú dữ, những chiếc máy bay quan sát mảnh mai như con hạc trắng nhẹ nhàng cất cánh lên không trung, mấy chiếc vận tải C-123, C-130 to lớn đậu trên “Tarmac” kế những “hangar” khổng lồ, cửa cargo sau đuôi tàu mở rộng, những kiện hàng nằm ngổn ngang. Tại mấy ụ đậu trực thăng, tiếng quay máy o..o…o… của những động cơ bán phản lực cùng tiếng chém gió “phần phật” của những chiếc tàu đang lơ lững trên “taxiway” càng làm cho không khí thêm sôi động.
Vào những giờ ăn tại câu lạc bộ của Không Đoàn đầy người đủ mọi thành phần của các binh chủng. Hoa tiêu trong những bộ đồ bay tác chiến đủ kiểu, từ bộ đồ nomex hai mảnh của những hoa tiêu trực thăng, đội nón rằng ri như lính Lôi hổ, đến những phi công khu trục với bộ đồ bay cam, xám hay kaki, cùng những người không phi hành ngồi tụm năm tụm ba trên bàn, trên khuôn mặt mọi người thể hiện lên nét khẩn trương phản ảnh một cuộc chiến đang đi vào giai đoạn quyết liệt.
Từ đầu năm 72 đến trung tuần tháng 3, địch đã đủ thời giờ dàn trận và bố trí ở những mặt trận mà chúng đã chọn, và đến bây giờ là giai đoạn tổng công kích. Quân đội VNCH bị ở trong thế cờ thụ động, dò dẩm nghe ngóng hoạt động của địch. Không lực của Đồng Minh cũng như Việt Nam liên tục ngày đêm oanh tạc những điểm tập trung của địch để tiêu hủy tiềm năng của Cộng Quân trước khi chúng thực sự tổng tấn công. Riêng về hoạt động của các phi đoàn trực thăng đa số là tiếp tế cũng như đổ toán Lôi Hổ để thám sát, dò tìm tin tức sau phòng tuyến của địch. Những phi vụ bay gần vùng biên giới thường đem lại cho phi hành đoàn những cảm giác căng thẳng nếu không nói là lo ngại vì sự hiểm nghèo của nó.
Những phi vụ trong thời gian biệt phái tôi đã trải qua những kinh nghiệm vui buồn khó quên trong cuộc đời bay bổng. Nhớ lại một phi vụ thi hành khi sương mù đang còn lãng đãng trên đầu ngọn cây, hai chiếc gunship trong đội hình tác chiến, hướng về vùng biên giới, bay trên mặt rừng cây trùng điệp, tinh thần tập trung né tránh những bãi cỏ trống hay rừng thưa, bỗng dưng trước mặt một tàng cây đại thụ nổi bật nhô cao lên xuất hiện trước mũi con tàu, loáng thoáng dưới tàng cây rậm năm bảy bóng đen di động làm lung lay cành lá, giật mình tôi kéo ngược bật cần lái né tránh, con tàu bay vút lên cao… Tim đập thình thịch tôi la:
- “Trời đất…., Việt cộng…, tụi mày thấy không…mẹ… làm tao giật cả mình…”. Người hoa tiêu phụ quay nhìn tôi khuôn mặt lộ vẽ rất ngạc nhiên, buộc miệng:
- “Việt Cộng ở đâu ông, khỉ đó, một đàn khỉ đu trên cây tôi thấy rõ ràng”. Tôi cắt lời:
- “Bạn nói cái gì? Tao thấy năm bảy đứa bận đồ đen đang rình mà bạn nói là khỉ”. Không đồng ý với người hoa tiêu phụ tôi quay ra phía sau hỏi hai anh mê vô xạ thủ:
- “Tụi mày thấy gì? Tao thấy rỏ ràng lố nhố mấy thằng bận áo đen đang đeo trên cành cao. Bố chúng nó! Làm tao hết hồn…” Mấy anh xạ thủ sau nhe miệng cười:
- “Ông giật cần lái làm tụi tui hết hồn thì đúng hơn, một bầy khỉ đó ông à, tụi này thấy rõ ràng mà”.
Vì địa thế mặt rừng dày đặc vùng cao nguyên địch thường cho những khinh binh leo lên cây cao hay làm những chòi nhỏ trên đọt cây để quan sát sự di chuyển cũng như những hoạt động của máy bay và đôi lúc chúng cũng dùng súng trường để bắn sẻ vào những chiếc trực thăng bay ở độ thấp. Đến đây thì tôi mới biết rằng mình lầm, hồn vía trở lại.
Trong một chuyến bay thả toán khác, sau khi thi hành xong phi vụ yểm trợ để thả một toán Lôi Hổ kế cạnh con đường mòn Hồ Chí Minh, trên đường trở về, trên mặt vùng rừng già dày đặc thình lình trước mặt mũi con tàu một bãi cỏ xanh rộng hiện ra, ngay góc rừng một khẩu phòng không được ngụy trang bằng những cành lá dây leo, nấp sát bìa cây cao, nòng súng đen ngòm to chỉa thẳng lên trời. Mặc dù đã xông pha trận mạc qua nhiều năm tôi vẫn không làm sao tránh được cái cảm giác bị giật mình làm tim đập mạnh khi gặp một yếu tố bất ngờ. Đây là lần đầu tiên tôi được chứng kiến một khẩu súng cao xạ cở lớn trong khoảng cách quá gần. Phản ứng đầu tiên tức thì tôi quẹo gắt phía bên phải để né bãi cỏ trống. Địch và chúng tôi đều bất ngờ đụng độ, hai bên không có thì giờ để phản ứng. Đó cũng là một đều may mắn cho phi hành đoàn. Tôi cho con tàu bay hướng về phía Nam . Hình ảnh khẩu phòng không nằm ở góc rừng như đang ngạo nghễ thách đố… Trước đây không lâu anh Phạm Thành Rinh, một người bạn chí thân của tôi cùng chung phi đội võ trang 215, và hoa tiêu phó Võ Diện đã bị bắn nổ tung trên bầu trời mịt mờ khói lửa của Võ Định, Tân cảnh. Rinh đã cùng phi hành đoàn thảng thốt ra đi, không kịp nói một lời trên tần số. Tôi đã mất một người bạn, một nghệ sĩ với cây đàn… Giọng hát ngọt ngào trầm ấm anh thường trình diễn trong những buổi dạ vũ của PĐ còn văng vẵng bên tai:
Em đến bên tôi một chiều khi nắng qua rồi… Nắng ngừng bên chiếc cầu biên giới…
Xa xa tiếng đàn trầm vô tư… Đâu đây dáng huyền bền duyên mơ…
Bên cầu biên giới… Tôi lặng nghe dòng đời từ từ trôi…

Anh Rinh đã vĩnh viễn ra đi, thân xác anh đã trở thành cát bụi trên vùng trời biên giới, anh không còn hiện hửu để “lặng nghe dòng đời từ từ trôi…”. Anh và tôi chỉ có hai người được chọn về với phi đoàn 215 trong tất cả các bạn cùng khóa. Anh ra đi vì khẩu phòng không oan nghiệt. Hình ảnh đau thương trở lại trong tâm trí, máu huyết trong người tôi sôi sục, tôi muốn quay trở lại ngay để trút lên đầu địch những hận thù chất chứa. Nhìn lại khả năng và vũ khí giới hạn trong tay, trực diện đối đầu với khẩu phòng không này quả là một sự điên rồ. Những sách vở kiến thức học ở trường bay chưa bao giờ dạy chúng tôi những chiến thuật, chiến lược để đối phó với hoàn cảnh này. Trực thăng vận quá mới mẽ đối với chiến tranh Việt Nam . Những hoa tiêu trực thăng của VN chỉ được dạy kỹ thuật bay bỗng, ngoài ra họ phải tự học hỏi lấy qua những kinh nghiệm bản thân để đối phó với mặt trận càng ngày càng leo thang.
Khẩu cao xạ phòng không vẩn đang chờ đợi. Tôi chợt nhớ trong sách lược của Khổng Minh đã có nhiều mưu kế để hạ kẻ thù và một phương thức tôi chợt nghĩ đến là chiến thuật “Dương Đông kích Tây”. Nếu tôi cho chiếc gun số hai bay vòng vòng sát đầu ngọn cây phía Bắc của địch, tiếng động cơ ồn ào cùng tiếng chém gió “phành phạch” của chiếc trực thăng sẽ gây sự chú ý của tên xạ thủ phòng không và sẽ quay hướng nòng súng phía Bắc chờ đợi. Bay nhanh sát trên đầu ngọn cây từ hướng Nam lên, tôi sẽ bất ngờ đột kích. Khẩu cao xạ nặng nề sẽ không kịp quay họng súng về hướng Nam để kịp tác xạ. Nếu sự suy luận của tôi đúng, tôi chỉ cần vài ba giây ngắn ngủi đó để hoàn tất sứ mạng,
Tôi liều lĩnh thực hành ý định. Hai chiếc gunships chúng tôi chia tay nhau, chiếc số hai thi hành nhiệm vụ “dương Bắc”, tôi ở lại chờ đợi sứ mạng “kích Nam”. Không đầy một hai phút sau chiếc gun số hai báo cho biết đã đến vùng. Thời cơ đã điểm, không một giây chậm trể, tôi lao con tàu về hướng khẩu phòng không. Chiếc tàu cắm đầu chúi mũi lướt vùn vụt trên đầu mặt rừng già gợn sóng nhấp nhô như mặt biển xanh. Chỉ còn cách bãi cỏ một khoảng ngắn, tôi kéo ngược cần lái, con tàu tức khắc ngóc đầu lên cao như con rắn hổ phùng mang trợn má trước khi mổ vào đầu địch. Xoẹt… Xoẹt… Xoẹt… Mười bốn trái rockets vội vã thi nhau rời con tàu lao thẳng tới dàn phòng không ẩn hiện trong đám cây góc rừng. Những tiếng nổ ầm vang dội núi đồi, bụi mù xen lẫn cành lá bay tung tóe khắp nơi. Tai nghe loáng thoáng tiếng cóc cóc đâu đó cũa những khẩu AK-47, tôi không còn thì giờ để nhìn thành quả, một tay đè mạnh cần cao độ, tay kia bẻ ngoặc cần lái, chiếc trực thăng tức thời nghiêng mình lài xuống về phía bờ cây cao. Trước sự ngở ngàng của địch quân con tàu chỉ xuất hiện năm ba giây rồi vụt biến mất dạng trên mặt rừng mênh mông, theo sau chiếc Hổ hai sát nhập lại nối đuôi nhau như hai con rắn độc hạ thủ xong lủi vào bụi cây rậm… Trên đường trở về căn cứ, tôi hình dung một nụ cười mãn nguyện đang nở trên môi của Rinh nơi chín suối…
- Mãnh Hổ, Charlie… Hai bạn ở đang ở đâu, cho biết vị trí. Tiếng nói của Th/T Phạm Bính, phi đoàn trưởng của phi đoàn 215 đột ngột vang trong tần số VHF.
Ngạc nhiên khi nghe vị phi đoàn trưởng gọi tôi trong giờ phút này, tôi trả lời:
- Charlie đây Hổ… còn chừng mười phút nữa đáp Pleiku…
- Tôi vừa nhận được tin tức mới nhất, Căn cứ hỏa lực Charlie đang bị tấn công nguy kịch, tình trạng rất nguy ngập, quân bạn đang cần sự yểm trợ của tất cả những phi cơ nào đang có mặt trên vùng. Hai Hổ quay lại vùng Võ Định, hiện tôi đang có mặt tại đây với bộ chỉ huy Dù, hai bạn lúc nào đến cho tôi biết, sẽ có chỉ thị.
Vừa nghe Charlie dứt lời trên tần số Th/u Hùng quay sang nhìn tôi xong buột miệng:
- Trời đất.., trể quá rồi tới đó là quá tối thấy đường đâu mà đánh. Trước thái độ của Hùng, tôi biết anh đã quá mệt mỏi sau một ngày dài, nhưng không có một sự lựa chọn, tôi trả lời C@C:
- Hổ nghe năm…, quay lại Võ Định. Nói xong tôi ra dấu tay cho Hùng quay đầu con tầu trở lại hướng Bắc, sau lưng chiếc Hổ Hai bám sát. Quay nhìn bên ngoài, bầu trời mập mờ không còn bao lâu nữa thì tối hẳn. Lòng dấy lên một niềm e ngại, chưa bao giờ tôi thực sự tham dự một trận đánh đêm trong vùng rừng núi cao nguyên này cả. Tuy nhiên theo chỉ thị của cấp trên, tôi phải tuân lệnh. Tôi vỗ về người hoa tiêu bạn:
- Ráng tí đi Hùng, có lẽ mình sẽ đánh vài “pass” rồi về thôi.
Trong phi đoàn anh hoa tiêu phụ của tôi có biệt danh là “Hùng kiềng”, chân anh hơi cong cong, anh có tướng đi khệnh khạng như “cao bồi” cởi ngựa. Anh tánh bộc trực có gì nói nấy, lại có tội hơi lè phè. Tôi còn nhớ một buổi sáng đang mơ màng nằm ngủ trong phòng bỗng nghe vẳng vẳng tiếng đồng hồ báo thức của ai reo dai dẳng, liên tục. Tôi ngồi dậy bước ra khỏi gường, ngang phòng Hùng thuê cách tôi một căn, tiếng reo vang rền, tôi đẩy nhẹ vào cửa không khóa… Hùng đang nằm ngữa mình trần trùng trục mồ hôi đổ nhễ nhại, hả miệng gáy o…o… Hoa tiêu phụ có bổn phận phải có mặt trước để check tàu, trưởng phi cơ sẽ ra sau. Chiếc đồng hồ điện báo thức réo rắt từ sáu giờ sáng đến quá chín giờ mà anh vẩn còn chìm đắm trong giấc ngũ say.
Hùng là một hoa tiêu phụ bay với tôi rất nhiều phi vụ và đã chia sẽ với tôi nhiều giây phút đáng nhớ. Một lần trên đường bay ra Phù cát, giao tay lái cho Hùng xong tôi ngồi dựa ngữa vào lưng ghế, mắt nhắm lại nghỉ mệt. Trong tiếng máy nổ đều đặn, con tàu rung nhẹ dần đưa tôi vào “chốn lãng du”… Đang phiêu diêu nơi “chốn tang bồng” con tàu chợt rung động mạnh, tôi hé mở mắt ra nhìn: tất cả xung quanh con tàu bao phủ một màu mây trắng xóa, không biết đâu là trời đất… Mơ mơ màng màng, tôi tự hỏi, “Tàu bị lọt vô mây…, ai đang cầm lái đây?… Vertigo? “. Những tư tưởng mơ hồ loáng thoáng trong đầu như tia điện làm tôi tỉnh hẳn người. Hốt hoảng tôi ngồi phắt dậy, tay chụp vội cần lái la to, “Ê…, ê…, chết…, chết… chết….” vừa chưa nói hết câu, đột nhiên bầu trời trở lại trong sáng, dưới chân mặt biển xanh ngát một màu. Con tàu vừa bay xuyên qua một đám mây nhỏ. Sượng sùng tôi trả cần lái lại cho Hùng… Cũng nên biết trực thăng thường bay VFR (Visual Flight Rules), chun vô mây là điều bất khả kháng.
Cuộc đời hoa tiêu trực thăng gian khổ, năm tháng đương đầu với những giờ bay dài đăng đẳng. Một ngày ngồi trên chiếc ghế bay bảy tám tiếng là chuyện thường khi hợp đoàn phải di chuyển cả tiểu đoàn bạn vào vùng hành quân. Ngồi trên ghế chai cả mông, mồ hôi đổ ướt đít đến mọc mụn.
Một lần khác trên thung lũng “Buôn Mì Gà” vào buổi trưa hè nắng gắt, hai chiếc guns bay vòng trên trời chờ hợp đoàn trở về bốc thêm quân, Hùng cầm cần lái tôi ngửa đầu vào lưng ghế nghỉ rồi ngủ thiếp đi. Bay vòng chờ trên cao, mỗi khi con tàu hướng về phía mặt trời, ánh nắng dọi thẳng vào mặt nóng như thiêu đốt, bỗng dưng đưa tôi vào một cơn ác mộng, mơ thấy con tàu đang bị bốc cháy dữ dội, lửa ngọn lan tràn đến cockpit hốt hoảng tôi ngồi nhổm dậy la làng: “Cháy… cháy…. cháy…”. Mở mắt ra, tim đập thình thịch tôi ngơ ngác nhìn khoang tàu, mọi sự vẫn bình thường, bên ghế trái “Hùng kiềng” đang im lặng miệng phì phèo điếu thuốc lá trố mắt nhìn tôi ngạc nhiên, rồi bật cười lớn… Biết là hố, tôi lấy tay áo quẹt lau mồ hôi đổ hột trên mặt, sửa lại thế ngồi, xong lui cui móc điếu thuốc lá châm hút, nhìn ra ngoài trời xanh, mây trắng không nói một lời…
- Sao ông thầy, mình cần load thêm đạn không? Tiếng nói của Hội xạ thủ hỏi tôi.
- À… thôi có lẽ còn chừng đó xài đủ rồi, để coi tình trạng như thế nào đã. Chắc không lâu đâu, đánh vài vòng rồi về, tối rồi.
Phía sau tàu Hội xạ thủ đang ngồi bệt trên sàn lúi húi sửa khẩu súng bị kẹt, chiếc áo bay phập phồng gió lộng trong khoang tàu mở cửa. Anh Song mê vô ngồi trên thùng đạn đang ưu tư nhìn vào khoảng không. Một niềm cảm xúc dấy lên trong lòng thương cho những người bạn đồng hành gần gủi qua bao nhiêu năm chung chia tất cã những vui buồn khổ cực. Trong những giây phút mạng sống như chỉ mành treo chuông trên mặt trận họ cũng hứng chịu không khác gì hoa tiêu, nhưng họ đã không được đề cao hay tưởng thưởng tương xứng với những gì họ đã đóng góp. Phi đội trực thăng võ trang trong phi đoàn chỉ là một nhóm nhỏ, rất thân tình gần gủi với nhau, anh em biết tánh tình từng người một. Tr/s Song xạ thủ theo đạo Phật, theo tôi biết anh kỵ sát sanh, một con kiến anh cũng không muốn giết vậy mà tôi không hiểu tại sao anh lại xin vào phi đội trực thăng võ trang. Trong một phi vụ phía Bắc Gia Nghĩa, đang bay quan sát bãi đáp ở độ cao vài trăm bộ, bất chợt một tên VC từ bụi cây giữa bãi cỏ trống phóng như cắt hướng về bìa rừng. Tôi hét lớn:
- “Song, Song… bắn… bắn….” Hàng ngàn viên đạn tuông ra từ nòng súng cày lên mặt đất tung tóe xung quanh tên VC. Đạn vẫn tuôn ra như mưa Bấc, tên VC vẫn chạy mãi đến gần bìa rừng. Tay kềm con tàu, theo dỏi diễn tiến qua khung cửa, tôi điên “tiết vịt” lên lắc mạnh cần lái, con tàu chao đảo. Tôi hét:
- “Hội…, Hội… Hội… qua bên này bắn đi… nhanh lên…, coi chừng nó chạy mất… bắn như con c…”. Nhưng đã quá muộn tên VC đã biến mất dạng dưới những tàng cây rừng rậm rạp…Tôi lầm bầm một mình trong intercom:
- “Mẹ… sợ sát sanh mà đòi đi bay guns…”
- Hổ tới đâu rồi, báo cáo… Giọng nói của Th/T Bính nghe trên tần số.
- Chừng vài phút sẽ đến Võ Định, OK, tôi thấy Charlie rồi….
Cao trên thung lũng đậm màu đêm xuống bên con sông Pokor uốn khúc phía Tây QL 14, chiếc trực thăng C@C như một chấm đen trong bầu trời sẩm tối . Phía Đông là căn cứ chỉ huy Võ Định của Lữ Đoàn 2 Dù nằm sát con lộ, phía Tây là rặng núi Ridge cao mờ mờ ẩn hiện.
- Hổ “hold” chờ phía Đông đồi Charlie, bạn sẽ cùng bốn chiếc gunships của phi đoàn 235 và 229 vào yểm trợ, chừng vài phút nữa họ sẽ có mặt….

Tôi cho con tàu bay vòng về phía Đông dãy núi trọc nhìn xuống cụm đồi phòng thủ của đồn Charlie hình yên ngựa. Từ cao tôi có thể thấy những trái đại pháo liên tục rớt trên mặt đất của đồn, nổ tóe lửa trong ánh hoàng hôn mờ ảo, trông lập lòe chớp lóe như pháo bông. Căn cứ hỏa lực này giờ hầu như đã thành bình địa, những công sự phòng thủ bị pháo nát, hòa lẫn với đất cát không nhận ra hình hài.
Tại căn cứ này, địch đã dùng chiến thuật công đồn đả viện, tiền pháo hậu xung. Chúng tiêu hao tất cả những tiềm lực chiến đấu của quân bạn bằng những trái đạn đại pháo, những trái đạn nổ chậm chui xuống đất rồi nổ tung phá nát hầm sâu. Một mặt chúng ngăn chặn nguồn tiếp tế duy nhất là trực thăng bằng những khẩu phòng không bố trí xung quanh đỉnh núi hay những trái pháo đã được điều chỉnh sẵn nhắm vào bãi đáp.
Trong bóng chiều tà, từ đỉnh đồi Charlie nhìn thẳng xuống tới chân núi phía Đông tôi vẫn còn nhận rỏ một khoảng đất cỏ cháy xém, ngay chính giữa là một khối sắt co dúm đen đủi, kế bên là một khúc đuôi trực thăng còn nguyên nằm lật ngược. Tất cả đó là những gì còn sót lại của một con chim sắt thuộc phi đoàn Thần Tượng đã gãy cánh cách đây mấy ngày. Hình ảnh còn mới mẽ của phi hành đoàn thân yêu đã ra đi trong bất ngờ, trong thảng thốt như một cuốn phim kinh hoàng bừng sống lại trước mắt tôi…
Mười giờ sáng hôm đó, năm phi hành đoàn Thần Tượng đáp tại bộ chỉ huy Dù ở căn cứ Vỏ Định, sát phía Đông QL 14. Chiếc Charlie do Th/t Khưu Văn Phát, phi đoàn phó, cầm lái. Vì Lữ đoàn Dù chỉ đóng quân tại những căn cứ cố định trên những tiền đồn cao điểm nên những phi vụ thường là tản thương hoặc tiếp tế. Năm chiếc tầu đã tắt máy, tôi bước xuống đi lững thững vào bộ chỉ huy dọc theo hàng rào kẻm gai con đường đất đỏ quanh co. Những chiếc lều dã chiến màu xanh cứt ngựa thật lớn, trên nóc đầy những cột “ăn ten” chĩa thẳng lên trời, không xa đó đặt vài khẩu trọng pháo thỉnh thoảng nổ đì đùng… Vòng vo một khoảng nửa thì tôi đến căn trại của bộ chỉ huy Lữ Đoàn II Dù. Tôi bước vào lều, Th/T Phát đã có mặt với một vài vị sĩ quan bạn ngồi kế bên một cái bàn dài trải những tấm bản đồ xanh lơ. Kế đó Trung Tá Đặng Duy Lạc, một hoa tiêu A-37, Không đoàn Trưởng KD62/CT tại Nha Trang, đang nói chuyện với một sĩ quan cấp tá Dù. Sự hiện diện của Tr/T Lạc làm cho tôi rất ngạc nhiên. Tôi vừa đưa tay chào theo cung cách nhà binh vừa bước đến gần bên Th/T Phát kéo chiếc ghế trống ra ngồi, xong tôi ghé sát vào tai Th/T Phát hỏi nhỏ:
- “Ông Tr/T Lạc làm gì ở đây vậy?”.
- “À, ổng chỉ lên thăm và ủng hộ tinh thần anh em thôi, chiều ông về lại Nha Trang rồi”. Th/t Phát trả lời xong nói tiếp:
- “Ngồi tí rồi mình đi, sáng hôm nay chỉ có hai phi vụ tiếp tế cho Charlie. Bạn còn nhớ vụ tôi bị bắn ở Tiền đồn Sáu không? Phòng không đây nặng hơn nhiều, Hổ cẩn thận”.
- “Thầy quá may đó, nhìn chiếc tàu bị bắn, tôi không hiểu sao Thầy về kịp đáp Phượng Hoàng an toàn được”. Tôi đáp lời.
Nhớ hình ảnh chiếc trực thăng khi đem về căn cứ, viên đạn 12 ly 7 xuyên qua sàn tầu, đâm lủng bình xăng đi thẳng lên làm một lổ lớn trên trần tàu rồi bay thẳng lên trời, may viên đạn trúng tàu không phải là đạn lửa không thì con tàu sẽ nổ tan xác pháo. Tôi cảm thấy cuộc đời bay bổng của hoa tiêu trực thăng thật mong manh, mạng sống như chỉ mành treo chuông, trong những trận chiến sôi động này, tương lai chỉ đếm từng ngày một.
Ngồi nói chuyện đôi ba câu xong, tôi đứng dậy bước khỏi lều hút thuốc lá. Trong ánh nắng chói chan, tôi để tầm mắt về hướng Tây, dãy núi Rocket Ridge đứng sừng sững bất động dưới bầu trời xanh. Đã mấy ngày nay tin tức cho biết Cộng Quân đang áp đảo căn cứ trên đỉnh núi, cố tình muốn dứt nọc trước khi tổng tấn công vào vùng Tân Cảnh, dưới trách nhiệm của Sư Đoàn 22 bộ binh. Những viên đạn đại pháo 130 ly, những trái hỏa tiễn 122 ly cùng với những súng cối 82 ly ngày đêm không ngưng nghỉ rót vào những căn cứ hỏa lực.
- “Lẹ đi, tao đá cái chết mẹ bây giờ!”. Đang đứng dựa gốc cột dưới căn lều dã chiến bộ chỉ huy, tôi quay lại thấy một anh Tr/s Dù, đầu đội nón “bê-rê” đỏ đi kế bên một thằng bé cở mười sáu tuổi mười bảy tuổi, bận bộ đồ màu xanh cứt ngựa của lính chính quy Cộng Sản, tóc tai bơ phờ, mặt mày ngơ ngáo. Thấy tôi anh ngừng lại chào, tôi hỏi:
- “Anh đem nó đi đâu vậy?”.
- “Dạ, tôi đưa nó đi cầu”, xong anh nói tiếp:
- “Nó vừa mới bị bắt sống tối hôm qua đó, nó thuộc Sư Đoàn Thép, bộ chỉ huy cho chở về đây lấy tin tức. Tụi nó hết người rồi phải lấy toàn con nít hỉ mủi chưa sạch. Sư đoàn Thép bây giờ toàn thứ này nhiều lắm”.
Nhìn khuông mặt non choẹt tái mét vì đã chui rúc trong rừng sâu nước độc, mỏng manh trong bộ quân phục xốc xếch, chân mang đôi dép quai râu, tôi thấy tội nghiệp cho những đứa trẻ “sinh Bắc tử Nam”. Anh lính Dù đứng một lát xong dục:
- “Đi mày”.
Gật đầu chào rồi bước ra chổ bãi đậu, tôi lửng thửng đi ngang qua hai chiếc trực thăng chở tiếp tế, mấy phi hành đoàn đang tập tụ trong khoang tàu binh xập xám chờ phi vụ.
- “Ê…, bao lâu nữa thì đi?” Tr/u Vân bay chiếc số một đang ngồi trong khoang tàu hỏi vọng ra.
- “Sắp sửa rồi, chuẩn bị đi”. Tôi vừa bước gần Vân thấy có Th/u Long đứng kế bên, tôi hỏi một câu nửa chơi nửa thiệt:
- “Sao Long, giải được bùa chưa?” Anh không trả lời chỉ nhếch mép cười. Nghe mấy người bạn kể lại vì tội dụ dỗ một cô gái Thượng ở Ba Mê Thuột, anh đã bị thư một cái dằm vào chân, mỗi đêm đều bị nhức nhối. Tôi nghe anh em nói tưởng họ đùa, nhưng khi gặp anh Long hỏi thì anh xác nhận chuyện đó có thật. Mỗi lần trong phi đoàn có phi vụ nào đi Ba Mê Thuột anh đều xin theo để gặp thầy pháp giải bùa chửa bệnh.
Từ ngày mặt trận bùng nổ, tôi bắt đầu cảm nhận rằng trong không khí chiến tranh càng leo thang, tâm tư anh em phi hành đoàn bắt đầu mang một nổi e dè, lo lắng. Tối hôm qua, ở tại biệt đội, trong khi anh em tụ tập bàn tán xôn xao về tin của một chiếc tàu của phi đoàn bạn bị bắn nổ trên không trung. Tr/u Vân vừa mới lên từ Nha Trang, ngồi trong phòng tại biệt đội, anh tâm sự với một người bạn thân rằng vợ anh mới sanh, tiền bạc chẳng có nhiều, mặt trận càng ngày càng sôi động làm anh rất quan tâm… Trước khi đi ngủ anh móc tất cả trong túi lấy ra được mấy ngàn đồng, cùng với cái đồng hồ rồi bỏ tất cả trong hộc tủ, nhờ người bạn nếu anh có mệnh hệ gì thì giao lại cho vợ anh. Nghe câu chuyện tôi linh cảm như là một điềm xấu có thể xảy ra cho Tr/u Vân.
Từ căn lều bộ chỉ huy, Trung tá Lạc bận bộ đồ bay màu xám, chiếc nón lưỡi trai đen trên đầu với hai nhành dương liễu trắng trông rất phong độ đi song đôi với Th/T Phát, phía sau Tr/T Nhảy Dù đầu đội nón sắt tay cầm bản đồ và mấy người tùy tùng, tất cả đang tiến ra bải đậu. Âm thanh o…o… quay máy của Charlie khởi đầu cho phi vụ tiếp tế. Hai chiếc trực thăng vừa quay máy, vừa nhận hàng của một chiếc xe cam nhông đậu kế bên hông. Những thùng bằng gổ thông chứa đạn dược, C-Ration (khẩu phần ăn của nhà binh) cùng với những ống sắt đựng đại bác dùng để chứa nước được chất đầy trên bong tàu. Đợi tất cả cất cánh trước cho rộng chổ, tôi từ từ nương con tàu nặng nề súng đạn rời khỏi bải, vượt qua hàng rào kẽm gai và những cây “ăn ten” cao nghệu. Nhìn xuống, những căn lều lúp xúp của trung tâm hành quân Dù Võ Định vây quanh bởi hàng chục vòng kẽm gai nhỏ dần dưới ánh nắng mai gay gắt…
Bay chừng năm bảy phút, tất cả hợp đoàn đã đến vùng, rặng núi Rocket Ridge nằm im lìm dưới bầu trời trong xanh. Chiếc C@C bay vòng trên cao độ nhìn xuống, căn cứ Charlie gồm ba cứ điểm phòng ngự từ Nam lên Bắc, điểm thấp nhất đồi 960 cũng là bãi đậu trực thăng làm nơi tiếp tế, rồi tới đồi 1020, cao nhất phía Bắc là đỉnh Charlie, 1050. Tất cả tạo thành một địa thế từ xa nhìn giống như hình yên ngựa. Tại cụm phòng ngự này đã bị Cộng quân mở hàng loạt trận địa pháo 130 ly, 122 ly và hỏa tiễn đủ loại, chúng cố dứt điểm căn cứ này với mọi giá. Tại cao điểm này chúng có thể kiểm soát tất cả những di chuyển cũng như hoạt động dưới thung lủng sông Pokor cũng như QL 14 chạy dài tới thị xã Tân Cảnh, mục tiêu trọng yếu đầu tiên trước khi tiến chiếm Komtum. Trước đó mấy ngày căn cứ hỏa lực Yankee phía Bắc Charlie đã bị thất thủ.
Vòng vây địch siết chặt, áp dụng chiến thuật tiền pháo hậu xung, sau những trận mưa pháo dữ dội, địch quân xung phong ào ạt vào căn cứ, sau bao lần đều bị đẩy lui bởi sức kháng cự mãnh liệt của những chiến sĩ Dù và sự yểm trợ của phi pháo. Sự kiên nhẫn của địch quân có giới hạn, chúng trở thành như điên cuồng lao đầu vào trước những mủi súng của quân ta, xác của những tên Cộng quân nằm la liệt ngoài những hàng rào phòng thủ, tan nát cháy đen vì đạn pháo binh cũng như bom napal của những chiếc máy bay khu trục. Tình trạng đạn dược lương thực nước uống cạn dần đến mức tối thiểu, nếu không được tiếp tế trong ngày hôm nay, Tiểu Đoàn 11 của Tr/T Nguyển Đình Bảo sẽ không còn phương tiện để chống trã sức tấn công liên tục của địch.
Từ ngày Cộng Sản khởi động cuộc chiến tại miền Nam , chiến thuật trực thăng vận đã được đem ra áp dụng lần đầu tiên trong lịch sữ chiến tranh thế giới. Trực thăng vận đã hoạt động rất hửu hiệu trong chiến trường du kích chiến. Nhưng chiến tranh càng ngày càng leo thang, địch quân được tăng cường và trang bị thêm nhiều vũ khí tối tân hạng nặng, đặc biệt nhất là vũ khí phòng không. Trực thăng với tốc độ chậm dể bị phương hại và đã trở thành những mục tiêu dễ dàng cho những loại súng cở lớn từ 12 ly 7, 37 ly và đặt biệt là những hỏa tiễn cầm tay như SA-7. Sự tổn thất chiến trường của ngành trực thăng càng ngày càng lên cao. Mấy ngày hôm nay những phi vụ tiếp tế đã gặp nhiều khó khăn trở ngại vì rừng phòng không và những trái đạn pháo kích chính xác địch đã điều chỉnh sẵn nhắm vào bãi đáp trực thăng, tôi cảm thấy bất lực trước hỏa lực cũng như khả năng của chiếc trực thăng võ trang này để bảo vệ hửu hiệu cho những người bạn đồng hành.
Chiếc tàu tiếp tế số một của Tr/u Vân bắt đầu vào “final”. Triền núi trơ trụi vì đạn pháo bao ngày qua từ màu xanh cỏ ủa đã trở thành màu đất đỏ lồi lõm những hố đạn pháo. Ba điểm phòng thủ đồi Charlie đã xơ xác hoang tàn gần như thành bình địa. Trong cái im lặng của sự chờ đợi nghe ngóng của địch, tôi cảm tưởng như tất cả những trái đại pháo đang chờ con tàu mong manh nay đi vào ổ phục kích. Tôi cho chiếc guns Hổ một bọc sau đuôi cánh trái, chiếc Hổ hai bên cánh phải. Từ sau lưng trên cao nhìn xuống tôi theo dỏi chiếc trực thăng của Tr/u Vân chậm chạp hạ cao độ rồi từ từ đáp xuống trên vòng tròn nhỏ của bãi trực thăng, bụi đỏ bốc lên dưới sức gió của cánh quạt. Từ vị thế trên cao phía sau tôi nhìn xuyên qua cánh quạt trực thăng những người lính trên tàu đạp vội vã những thùng đồ xuống bãi… Bỗng trên bãi đáp không xa hai ba trái pháo nổ bung khói đen cùng bụi đỏ bốc lên đồng thời những tiếng súng nổ vang rền lên từ triền núi kế cận. Con tàu chậm chạp từ từ quay đầu lại chuẩn bị cất cánh, đồng thời trên tần số tôi nghe tiếng của Tr/u Vân đứt đoạn:
- “Charlie…, Charl…lie, ground…fi..ire…, ground..fi..ire…tầu…trúng đạn…”. Từ những mỏm núi trọc mênh mông, những viên đạn pháo không biết nơi xuất phát, những viên đạn phòng không từ nhưng hang hóc của những ngọn đồi kế cận bắn tới tấp hướng tàu của Tr/u Vân. Phản ứng tự nhiên, tôi cắm đầu con tàu phóng những trái rockets rải rác trên triền núi. Những trái hỏa tiễn nổ lốm đốm trên sườn núi, tung lên những đám bụi đỏ, yếu ớt vô hiệu quả trước kẻ thù đang ẩn nấp sâu trong hang hố đâu đó.
Sau khi tác xạ xong tôi quay vòng lại nhìn tàu của Tr/u Vân vừa lên cao. Trên tần số tiếng la hốt hoảng của Th/tá Phát đang bay chiếc C@C:
- “Lead, lead… tàu bạn đang bốc khói nghe không trả lời ?”. Tôi nhìn theo chiếc lead đang lấy cao độ khỏi triền núi, làn khói đen bốc lên từ buồng máy. Phi hành đoàn vẫn im lặng. Không khí căng thẳng đến tột độ.
- “Lead, lead… tàu bạn bị cháy… đáp ngay… đáp ngay… dưới chân bạn có bãi đáp trống trên triền đồi dưới thấp.” Giọng nói của Th/tá Phát đồn dập. Từ xa, cùng cao độ tôi thấy con tàu của Tr/u Vân lửa bắt đầu ngún lên thành ngọn bao trùm buồng máy. Lửa lan dần đến giửa thân tàu, hai người xạ thủ đang chồm về phía trước phòng lái… Tôi phụ họa:
- “Đáp… đáp… tàu cháy.., tàu cháy…. đáp dưới chân đồi.., nghe không Vân”. Cố đem chiếc gunship đến gần cặp sát con tàu đang bốc lửa mỗi lúc mỗi cao, khoang tàu mịt mù khói đen thấp thoáng hai anh mê vô xạ thủ chồm về phía cockpit để tránh sức nóng.
- “Đáp… đáp ngay… đáp xuống triền núi có Hổ cover đây…. nghe rỏ trả lời”. Nhưng con tàu không còn liên lạc được với thế giới bên ngoài, nó đang trở thành một khối lửa cuồn cuộn rơi như hòn đá cuội, chạm triền núi vỡ bùng lên…. Tất cả chỉ còn là một đống sắt cháy ngùn ngụt… Trong cơn hốt hoảng phi hành đoàn chỉ muốn bay xa khỏi tầm sát hại của địch mà không ước lượng được tình trạng thiệt hại của con tàu đến khi quá trể. Tôi cho con tàu lượn thấp xuống nhìn trong tuyệt vọng. Hai chiếc guns bay vòng tròn trên chiếc tàu bị nạn và sau đó được lệnh rời vùng, tôi ngoái đầu nhìn đám cháy vẩn mịt mù một lần cuối rồi chuyển hướng bay, nước mắt lưng tròng.
- Mãnh Hổ, đây Charlie… Bốn chiếc guns của hai phi đoàn bạn đã đến vùng, bạn dẩn năm chiếc vào mục tiêu.
Tôi ngước đầu nhìn, từ xa bốn chấm đen từng cặp một đang bay đến trên nền trời sẫm tối.
- Charlie, đây Hổ. Cho biết vị trí tác xạ chính xác. Tôi hỏi.
- Hổ đây Charlie. Hiện tại địch đã tràn ngập khắp mọi nơi, hai cao điểm thấp đã bị địch chiếm, chỉ còn đỉnh đồi Charlie đang còn giao tranh cận chiến. Bạn tự do oanh kích ngay trên căn cứ Charlie, nghe rỏ trả lời… Tiếng Th/tá Bính vừa dứt trên tần số, tôi bàng hoàng không tin những gì mình vừa nghe được:
- Charlie đây Hổ, Th/tá muốn tôi đánh ngay vào đỉnh đồi?…
- Đúng năm…
Tiếng nói rõ ràng và khẳng định của C@C không còn làm tôi nghi ngờ gì nửa. Lần đầu tiên chứng kiến sự thất thủ của quân bạn ngay trước mắt. Căn cứ được đóng và bảo vệ bởi một lực lượng tinh hoa và kinh nghiệm nhất của QLVN/CH, đã từng chiến thắng bao nhiêu mặt trận, đã làm cho địch nhiều phen kinh hoàng khiếp đảm, giờ đây đang bó tay trước những đợt tấn công thí mạng của đối phương. Với sự hiểu biết hạn chế của một hoa tiêu trực thăng võ trang, tôi thường tự hỏi về chiến thuật của bộ chỉ huy khi để một đơn vị tác chiến như Nhảy dù sở trường trong việc tấn công và chủ động trong chiến trường phải đóng trụ tại một cao điểm. Thụ động chờ đợi địch là sở đoản của binh chủng Nhảy Dù, họ được huấn luyện để tấn công, không phải để giữ đồn. Trong giờ phút này không thấy bóng dáng của một chiếc khu trục trên bầu trời, chắc không cần thiết nữa. Quân bạn có lẽ đã dùng hết tất cả mọi khả năng yểm trợ, sáu chiếc trực thăng võ trang bây giờ chỉ còn là những vớt vát cuối cùng cố gây cho sự tổn thức tối đa cho địch trước khi chúng hoàn thành mục đích của chúng.
Lấy tần số của Charlie, tôi liên lạc được với bốn chiếc guns của phi đoàn bạn và tất cả sáu chiếc guns theo nhau đi vào vùng. Bầu trời đã tối lắm rồi, triền núi của ngọn Rocket Ridge mờ ẩn hiện sau nền trời đen xám. Từ trên cao độ tôi tiến gần vào mục tiêu, chổ trủng thấp yên ngựa bãi đáp trực thăng cao điểm 960 là một trong ba cao điểm quen thuộc của cụm đồi Charlie, nơi mà Tr/U Vân và phi hành đoàn đã bị bắn, và lên theo triền dốc và phía Bắc và trăm bộ là cao điểm thứ hai 1020 đã bị địch chiếm, chỉ còn lại cứ điểm cao nhất 1050 Charlie do Tr/T Nguyễn Đình Bảo chỉ huy là đang còn giao tranh. Bay đến gần đỉnh núi cao vô tri giác đó tôi như đã cảm nhận được những trái lựu đạn đang chuyền tay nhau nổ tung trên những giao thông hào bể nát, những viên đạn súng trường bắn thật gần, những người lính Dù đang vật lộn với kẻ thù đông đảo, cố chiến đấu đến hơi thở cuối cùng…
Bây giờ sự chính xác của những trái rockets của sáu chiếc gunships không còn cần thiết nữa, tại bãi chiến trường này mảnh đất nhỏ hẹp nào cũng là mục tiêu. Sau khi thông báo cho những chiếc guns đang theo sau, tôi cho con tàu cở ngàn bộ trên đỉnh cao điểm cắm đầu xuống mục tiêu, những trái hỏa tiễn cháy bùng nối đuôi lao xuống đỉnh núi, theo sau những vệt lửa dài chạm đất nổ tung tóe lửa, khẩu minigun quay vù tuông nhưng viên đạn lửa nối đuôi nhau tạo một đường đỏ dài uốn éo trong ánh sáng mờ ảo. Theo sau những chiếc guns tuần tự phóng những trái rockets xuống đỉnh núi, những đốm lửa tóe lên bởi những trái rockets trong bóng đêm chập choạng như đánh thức rừng phòng không của địch. Chung quanh đỉnh đồi bỗng lấp lánh chấp chóa ánh sáng rực rỡ như cây Noel trong đêm Giáng Sinh, một rừng tên lửa đỏ lao về hướng những chiếc trực thăng đang cắm đầu xạ kích. Tôi la lớn trong tần số:
- “Phòng không… phòng không… Break… Break… Break….” Nói xong tôi kéo ngược con tàu lên cao, những viên đạng lửa bay vút hướng lên bầu trời đen như những vì sao xẹt. Không cần thiết phải có sự chính xác nửa, tôi thông báo cho tất cả hợp đoàn guns xử dụng tất những đạn dược, rockets còn lại một lần cuối trước khi rời vùng. Từ khoảng cách khá an toàn xa tầm bắn của những khẩu phòng không, tôi kéo con tàu nhổng đầu lên phóng những trái rockets bắn vòng cầu như đạn pháo binh, những trái hỏa tiển biến mất vào khoảng không gian mù mịt rồi rơi rớt rải rác trên đỉnh đồi tóe lửa. Những mũi súng cao xạ của địch tức thì phản ứng, từ triền núi lấp lánh ánh lửa phòng không, những viên đạn đỏ như mưa rào bay ngược về hướng những con tàu ẩn hiện trong bóng tối.
Tất cả đều vô nghĩa. Trận đánh đã ngã ngũ. Những con chim sắt đang cố gắng thi hành phi vụ cuối cùng trong vô vọng. Ngọn đồi mang tên Charlie không còn nữa, chỉ còn lại là dư âm của những trận đánh kinh hoàng trong ngày tháng qua. Những người lính dù đã anh dũng chiến đấu tới giây phút cuối cùng với vị chỉ huy anh hùng của họ, Tr/tá Nguyễn đình Bảo.
- Hổ đây Charlie, các bạn có thể trở về căn cứ. Thông báo cho tất cả biết trong vòng mười lăm phút nữa sẽ có phi vụ B-52 đến trải thảm bom. Các bạn hảy mau rời vùng.
Tiếng nói của Th/tá Phạm Bính lạnh lùng trên tần số.
Tôi quay đầu con tàu quay rời vùng giao tranh, những đốm lửa lập lòe trên ngọn đồi Charlie đang chìm dần vào bóng tối. Tr/u Nguyễn Tường Vân, Th/u Trần Văn Long và phi hành đoàn cùng tất cả những chiến sĩ Dù đã ở lại Charlie, mải mải… Xa xa, thành phố Pleiku đã lên đèn, một vùng ánh sáng lấp lánh, nhạt nhòa ẩn hiện, không biết vì đêm đen hay vì dòng lệ đã trào dâng lên khóe mắt?
Anh nằm xuống sau một lần đã đến đây
Đã vui chơi trong cuộc đời nầy
Đă bay cao trong vòm trời đầy
Rồi nằm xuống, không bạn bè, không có ai
Không có ai, từng ngày, không có ai đời đời
Ru anh ngủ vùi, mùa mưa tới trong nghĩa trang này có loài chim thôi!
Văng vẳng đâu đây âm thanh ì ầm rung chuyển bầu khí quyển của từ thảm bom của những chiếc pháo đài bay B-52 vang vọng…
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

Image

Tưởng niệm

Khóa 69A có gần 200 người, từ ngày ra trường phục vụ trên 4 vùng chiến thuật. Họ đã cùng bao thanh niên thời chiến góp phần xương máu cho quê hương...

40 Năm đã đi qua theo vận nước thăng trầm, những người SVSQ/Khóa 69A còn sống, một phần bị lưu đày ngay trên Quê Hương, một phần lưu đày biệt xứ. 40 năm tất cả đều phai mờ, theo định luật của thời gian. Những người Khóa 69A ngày xưa, nay tóc cũng đã nhuốm bụi, phai màu. Nhưng với quê hương Việt Nam, với những người chiến hữu đã nằm xuống, chuyện như mới ngày hôm qua, đêm đêm trong tâm tư vẫn còn nghe tiếng loa vang nơi quân trường, nhớ những trận chiến long trời, lở đất, bạn bè từng lớp lớp rụng rơi. Bốn mươi năm, ai còn ai mất, ai hạnh phúc, ai khổ đau.

Từ khắp nơi trên xứ Hoa Kỳ, Canada, Úc Châu và Việt Nam tề tựu về dưới chân Tượng Ðài Việt Mỹ (Orange County).

Cùng nhau làm lễ tưởng niệm đến những người con yêu của dân tộc Việt đã hy sinh vì đại nghĩa.

Trong một buổi lễ tưởng niệm cho tất cả quân, dân, cán chính và đồng minh đã ngã xuống cho sự bình an của đất nước, cho tự do của VNCH yêu thương.

Ðúng 10 giờ 30 nghi lễ bắt đầu.

Cựu 69A- Vũ Ðức Lương - hùng dũng và uy nghi tiến đến bàn thờ Tổ Quốc và đọc lời tưởng niệm các chiến sĩ VNCH và đồng minh đã hy sinh:


Họ là những anh hùng không tên tuổi, không được ghi trong sử sách, tuy bảng gỗ bia đá chẳng đề tên.

Nhưng máu họ đã thắm vào lòng đất.

Những người chiến sĩ vô danh khi hy sinh thân xác,

Không thân nhân,

Không bạn bè tiễn đưa,

Nguyện cầu hồn thiêng sông núi xin hãy bảo bọc và an ủi họ.


Sau đó Khóa 69A và gia đình khoảng trên 100 người tiến vào địa điểm hành lễ.

Các anh mặc quân phục Ðại Lễ và phi hành đứng hai bên dàn chào cho các quan khách.

Sự hiện diện của các sĩ quan cao trong Quân Chủng Không Quân như Ðại Tá Huỳnh Văn Hiến, Nguyên KÐT/KÐ 53 CT/SÐ 5 KQ, Trung Tá Trương Văn Vinh Cựu PÐT-213 (1970-1971) Cựu Không Ðoàn Phó KÐ 51/CT (1972-1973) Nguyên Trưởng Khối ÐTTT/BTLKQ (Ðặc trách Trực Thăng/Bộ Tư Lệnh Không Quân), Các chiến hữu Phi Ðoàn 821- Tinh Long, KQ Nguyễn Thanh Tòng, Ðại Diện Phi Ðoàn 524 Thiên Lôi, KQ Ðinh Văn Tơ, Ðại Diện Phi Ðoàn 249 Mãnh Long, KQ Phạm Hữu Lộc Ðại Diện Cựu SVSQ/KQ Khóa 69B, KQ Phú, Ðại Diện Cựu SVSQ/KQ Khóa 4/69 SVSQKQ và Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù cùng các cựu học sinh trung học Tân An, các chiến hữu, Thân hữu và các phu nhân của Khóa 69A.

Nghi Lễ Chào Quốc Quân Kỳ và Quân Kỳ Rũ được đặt dưới sự chủ tọa bởi Ðại Tá Nguyễn Hồng Tuyền, cựu Chỉ Huy Trưởng Liên Ðoàn Khóa Sinh/TTHLKQ, Cựu Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn Yểm Cứ, Không Ðoàn 84 Chiến Thuật, Nguyên là Căn Cứ Trưởng Căn Cứ 60 Chiến Thuật - Phù Cát.

Theo đúng truyền thống của Quân Chủng Không Quân “Không bỏ anh em, không bỏ bạn bè” một danh sách 36 Không Quân thuộc khóa 69A đã được viết làm hai cột trên bảng Tưởng Niệm Vị Quốc Vong Thân đặt giữa hai cây nến lung linh, với hoa quả và một lư hương.


Khói hương nghi ngút.

Lúc bấy giờ:

Trên dãy Trường Sơn núi non trùng điệp

Trong lòng rừng thẳm vắng lặng âm u

Bên bờ kinh lạch đìu hiu lau sậy

Giữa cánh đồng xanh gió lộng tứ bề

Phút chốc:

Những đứa con yêu Tổ Quốc

Những chiến binh một đời kiêu dũng

Những phi công trẻ của Khóa 69 A

Ðã trở nên người thiên cổ

Gánh sơn hà hai vai mang nặng

Sao nửa đường gãy cánh từ đây

Mộng làm trai Nam Bắc Ðông Tây

Chưa thỏa chí đã ngàn thu ôm hận

Lòng đất mẹ ngủ vùi thân bách chiến

Núi sông cha thắm đượm máu kiêu hùng

Ðã đành:

Trai thời loạn sá gì thân huyết nhục

Nguyện một lòng đi trả nợ núi sông

Nhưng lúc:

Bầy quỷ dữ vẫn còn chưa quét sạch

Cõi san hà còn động cuộc đao binh

Thì:

Chốn tuyền đài làm sao yên nghỉ được

Cõi dương gian đồng đội thương nhớ quay cuồng

lại còn:

Người thân kẻ thuộc

Ơn cù lao dưỡng dục

Tình huynh đệ nghĩa vợ chồng

Bao tình cảm sao nỡ dứt cho đành.

Hôm nay

giữa đất khách, quê người lưu lạc

Những tâm hồn bạt gió muôn phương

Ðã tụ về đây

Trước:

Quốc kỳ tỏa rợn hồn thiêng sông núi

Quân kỳ thắm đẫm máu xương đồng đội

Với:

Ngọn lửa thiêng xanh ngời niềm chính khí

Hỡi anh hồn liệt vị

Hỡi khí hùng Khóa 69 A

Ðã từng tung cánh đại bàng rợp bóng trời Nam

Giương vuốt mãnh hổ xông pha đất Bắc

Ðã vào Bình Long

Ðã đến An Lộc

Cổ thành cờ bay kiêu dũng

Thành nội trăm họ reo vui

Khắp nẻo chiến trường từ Nam Quan đến mũi Cà Mau

Hãy linh thiêng hiển hiện về đây chứng giám

Cho:

Tâm thành của chiến binh nước Việt

Tâm thành của toàn Khóa 69A

Vọng nén hương lòng tưởng niệm

Chiến sĩ trận vong

Anh hùng nước Việt, vị quốc vong thân


Sau phần Tưởng Niệm Khóa 69A và các đơn vị lần lượt đặt tràng hoa thương tiếc.

Kế đến KQ Trần Văn Phong, Trưởng Khóa 69A đã đọc:

“Cuộc chiến đã qua đi hơn 34 năm nhưng những câu chuyện về các anh hùng tử sĩ của QLVNCH vẫn bất diệt trong tâm khảm của hàng chục triệu người dân VN.

Ðể Tưởng Niệm anh hùng Tử Sĩ đã hy sinh vì lý tưởng tự do. Chúng tôi Cựu SVSQ KQ Khóa 69A mượn nơi đây để truy điệu các anh linh của các anh hùng tử sĩ đã ngã xuống tại chiến trường cho sự bình an của đất nước cho tự do của VNCH yêu thương.

Những người con yêu của dân tộc Việt đã hy sinh vì đại nghĩa trong cuộc chiến VN.

Ðã dành trọn tuổi trẻ và dũng khí của người trai trong thời binh lửa cho công cuộc bảo vệ tổ quốc với tất cả danh dự và trách nhiệm.

Và tại nơi an nghĩ ngàn thu đã có những anh hùng tử sĩ đã từng tham dự những cuộc hành quân đã đi vào chiến sử. Những chiến công của người lính VNCH mãi mãi sáng ngời trong sử sách, rạng rỡ đến ngàn thu, những trang chiến sử được viết bằng dũng cảm và bằng máu thịt của những người chiến binh anh hùng.

Những phi công can trường và dũng cảm trận mạc. Những người con thân yêu của Tổ Quốc với một lòng Bảo Quốc Trấn Không đã xứng đáng là những Phượng Hoàng của Không trung, những đường bay sấm sét, những lằn đạn chính xác, những quả bom kinh hoàng nổ tung vào đầu địch đã làm cho bao người sinh Bắc phải tử Nam.

Các chiến sĩ KQ hào hùng đã xem cái chết nhẹ tựa lông hồng. Ngăn chận làn sóng đỏ. Quyết tâm không nhường một tất đất, tất sông.

Trong suốt cuộc chiến đầy cam go và máu lửa. Cuộc chiến đã qua đi nhưng những câu chuyện về anh hùng những vì sao khói lửa vẫn rạng ngời trong chiến sự VNCH.

Xin kính cẩn nghiêng mình trước anh linh của các chiến sĩ oai hùng của Quân Lực VNCH đã đổ bao xương máu bảo vệ ngọn cờ Vàng chính nghĩa.

Xin dâng lên bó hương để tưởng nhớ những tất cả các anh đã vĩnh viễn ở lại với chiến trường đã hy sinh dũng liệt cho tự do dân tộc, cho sự an bình của đồng bào và cho Danh Dự của Quân Lực VNCH.

Xin dâng lên nén hương lòng tưởng niệm đến với các bạn 69A. Hình ảnh vĩnh hằng của các bạn sẽ mãi mãi và mãi mãi trong trái tim của tất cả anh em SVSQ KQ Khóa 69A.”

Lần lượt là diễn văn của các hội đoàn tham dự.

Ðã tham dự nhiều buổi họp mặt, nhưng tôi chưa thấy lần nào mà được tổ chức quy mô như vậy.

Sáng Thứ Bảy ở Tượng Ðài Chiến Sĩ lúc Rước Quốc quân kỳ, tiếng hô của Sĩ Quan Nghi lễ vang vang làm ai cũng nhớ những buổi chào cờ, hay cơ bản thao diễn ở TTHL Nha Trang ngày trước. Buổi lễ rất long trọng, có cả đài truyền hình đến quay phim và một toán LLÐB áo quần ngụy trang với xe jeep quân sự tham gia.

Nếu so sánh với Ngày Quân Lực 21/6/09 quả là một hy sinh rất cảm động của các Không Quân khóa 69A. Số Không Quân mặc quân phục phi hành và đại lễ mầu trắng cũng rất đông và nhiều hơn cả những Không Quân trong ngày Quân Lực.

Buổi Lễ Tưởng Niệm chấm dứt lúc 12 giờ trưa và anh em hẹn gặp nhau trong buổi tiệc họp mặt tại nhà hàng Emerald Bay. Ðúng 7 giờ tối hơn 350 Không Quân và thân hữu từ nhiều tiểu bang xa Vancouver, Toronto (Canada); Florida, Texas, Virginia v.v... Úc Châu, và Việt Nam cùng với Không Quân địa phương đã có một ngày vui với buổi tiệc và văn nghệ cây nhà lá vườn thật đặc sắc mang chủ đề Tìm Về Bên Nhau.

Lính Già KQ
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Những Người Trai Oai Hùng Đã Tàn Nhưng Không Phế

“Sau ngày 30 tháng 4, 1975 gia đình tôi sống khổ sở vì không có công ăn việc làm. Chúng tôi trở nên những kẻ nghèo đói trong xã hội mới. Chúng tôi đành phải sống tạm trong khu nghĩa địa, hằng ngày tôi lê đi bán vé số nuôi mấy đứa con dại. Sống giữa đám mồ mã ẩm thấp, hai vợ chồng bị mắc bịnh lao. Con nhỏ đau ốm èo uột.

Vừa rồi đứa con nhỏ 6 tuổi do suy dinh dưỡng bị lao màng bụng, viêm bàng quang với thận rỉ máu phải đi điều trị ở bịnh viện nhi đồng. Thế là bao nhiêu vật dụng trong gia đình phải đem đi bán để lo cho nó. Nhưng vì không đủ tiền cho nên vợ tôi phải ôm con trốn về. Chưa được bao lâu bệnh tình của nó trở nên nguy kịch cho nên lại phải đưa vào bệnh viện cấp cứu ở trung tâm lao Phạm Ngọc Thạch. Nhưng không còn kịp nữa.

Cháu đã qua đời. Nửa đêm đem xác con về nhưng chúng tôi kiệt quệ không có tiền mua đất mướn người để chôn cho cháu. Người hàng xóm thương tình cho ván đóng hòm rồi lén lút chôn cháu ở ven hông vườn nhà. Bây giờ tôi không còn đủ sức để đi bán dạo nữa. Đành phó mặc số phận cho vợ con. Vợ tôi cũng mang bịnh như tôi nhưng bà cũng phải dắt con đi bán vé số để kiếm sống cho gia đình. Bây giờ chỉ biết cầm cự được ngày nào hay ngày đó”.
Image
Đó là tình hình bi đát của gia đình thương phế binh Nguyễn Văn Hổ, hiện cư ngụ tại huyện Châu Thành, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Trước 75, anh phục vụ trong binh chủng Biệt Động Quân. Trong một cuộc hành quân nhằm giải vây cho một đơn vị bạn đang bị bao vây ở mật khu Tống Lê Chân anh bị thương, bị trúng đạn vào đầu. Tuy may mắn không chết nhưng anh bị liệt nửa thân người. Ngày 30/1/75 anh được giải ngũ vĩnh viễn với mức độ tàn phế 90% nhưng chưa kịp được hưởng trợ cấp thương binh của chính phủ Sài Gòn thì nước mất và nhà anh tan.

Một trường hợp khác là TPB Đào Ngọc Khanh trước thuộc tiểu đoàn 8 TQLC. Anh bị thương ngày 31/3/73 tại tiền đồn Quảng Trị. Anh bị bắt làm tù binh và bị đưa đi tù ở miền Bắc. Được trả về sau ngày 30/3/75 với một chân trái còn lại, trôi nổi theo cuộc sống với những nghề thấp hèn nhất của xã hội là bán nhang và bán vé số.

Trong số những hoàn cảnh đau xót nhất xảy ra sau ngày 30 tháng Tư 1975 tại Sài Gòn là các TPB của quân lực VNCH bị đuổi ra khỏi bệnh viện Cộng Hòa dù cho những vết thương chiến tranh của họ vẫn đang còn rỉ máu. Từng đoàn thương binh, nối gót dắt dìu ra cổng. Người sáng mắt dẫn đường kẻ mù loà, người bị thương nhẹ cõng người bị thương nặng. Khắp lối ra vào, máu me vương vãi, nước mắt quanh tròng những nạn nhân bị bỏ rơi, không thượng cấp, không đồng đội và cũng không còn hậu phương. Một số sau đó chết vì vết thương quá nặng, số khác sống trong cảnh tàn phế vĩnh viễn, vì vết thương không được tiếp tục điều trị.

Trong đoàn người bất hạnh đó có TPB Nguyễn Đơn. Anh trước là thiếu uý Trung Đội trưởng Địa Phương Quân, bị thương ngày 2/4/1975 tại chi khu Tam Bình. Anh bị cụt 2 chân trên đầu gối và mức độ tàn phế là 100%. Anh may mắn được sống còn nhưng hiện đang sống thiếu thốn, sống khốn khổ và sống trong một hoàn cảnh khắc nghiệt cùng cha mẹ già đã hơn 80 tuổi và đứa em gái 45 tuổi bị bịnh câm điếc bẩm sinh.

Đó là ba trường hợp thương tâm trong hàng trăm ngàn "mảnh đời rách nát" còn lại ở VN mà tôi biết được qua hội Tình Thương Foundation. Thương Phế Binh QLVNCH, các anh là ai? Trường hợp thứ nhất, TPB Nguyễn Văn Hổ sanh năm 1955. Trường hợp thứ hai, TPB Đào Ngọc Khanh sanh năm 1953 và trường hợp thứ ba TPB Nguyễn Đơn sanh năm 1954. Có nghĩa là lúc các anh bị thương và lúc nước mất nhà tan các anh chỉ đang ở độ tuổi đôi mươi. Các anh là những thanh niên lớn lên trong giai đoạn lịch sử nghiệt ngã, oan khiêng đang bị họa Cộng Sản xâm lược âm mưu thôn tính toàn vẹn lãnh thổ nên các anh đã phải lên đường thi hành bổn phận người trai thời chiến. Các anh chiến đấu vì lý tưởng, các anh chiến đấu để gìn giữ từng tấc đất của thôn xóm, của quê hương.

Các anh là những người thanh niên tuổi trẻ tạm gác bút nghiêng, rời sân trường để bước vào quân trường cho tới khi các anh thề một lòng Vị Quốc Vong Thân. Khoác lên mình bộ đồ trận, mang lên lưng mình ba lô hành quân nặng nề nặng tình quê hương và đội lên đầu mình chiếc nón sắc xanh tròn, xanh như tuổi xanh của các anh và căng tròn như tấm lòng sắc son của các anh đối với dân tộc. Các anh đã trở thành người lính thực thụ. Các anh trưởng thành cùng với vận nước. Các anh bước đi tay bồng súng và chân mang giày trận làm kinh kha đi chống giặc giữ quê hương. Các anh đã đi qua và dẫm nát những địa danh như Kontum, Pleime, Ashau, Ia-Drang, ... Anh đã dự những trận chiến oai hùng từ Đồng Xoài, Ấp Bắc, Bình Giã đến Tống Lê Chân, Bình Long, An Lộc để giữ cho chính nghĩa quốc gia tự do được tồn tại, để giữ cho người dân được sống no ấm ở hậu phương.

Nhưng lịch sử đã sang trang tháng 4 năm 75. Hình tượng người lính VNCH bị giật đỗ rơi xuống vỡ tan trên đường phố, nhưng từ đó các anh anh thực sự đứng lên oai hùng trong trái tim người dân miền Nam. Từ ngày Sàigòn bị cưỡng chiếm và từ khi những bộ đội CS chập chững, ngỡ ngàng và ngốc nghếch bước chân vào thành phố người dân mới thật sự hiểu được giá trị của người lính quốc gia. Hai mươi năm chiến tranh với hàng trăm ngàn sinh mạng người lính cùng vài trăm ngàn thương binh đã để lại những phần thân thể của họ trên những chiến trường khốc liệt của miền Nam.

Những giờ phút cuối cùng, dầu biết nước sắp mất, chết chỉ uổng mạng nhưng họ vẫn hiên ngang chiến đấu ở những cứ điểm cuối cùng của miền Nam từ Khánh Dương, Phan Rang, Phan Thiết, Xuân Lộc, Long An, Tây Ninh, Củ Chi , Biên Hòa đến Sài Gòn. Tất cả là những chiến tích để đời và lưu danh thiên cổ trong dòng sử Việt. Ba mươi bốn năm qua rồi, chúng ta đã làm gì để tri ân người lính VNCH? Chúng ta, những người tỵ nạn tầm gửi, đã từng sống nhờ trên máu xương của người lính miền Nam.

Ba mươi bốn năm qua rồi, đã đến lúc chúng ta phải vinh danh người lính VNCH. Những ai còn sống sót tới ngày hôm nay, phải nhỏ một giọt nước mắt, dù muộn màng để cảm ơn họ. Chúng ta hãnh diện vì có được những anh hùng làm rạng danh nước Việt. Họ đáng được ca tụng và kính phục. Họ đã nằm xuống vì quê hương dân tộc. Họ đã để lại một phần thân thể hay cả thân xác trên quê hương vì chính nghĩa quốc gia tự do. Ngày nay, vẫn còn nhiều thương phế binh lê lết phần thân thể còn lại của mình trên khắp các nẻo đường đất nước. Nhìn thấy những hình hài không nguyên vẹn ấy, có phút giây nào chúng ta nghĩ tới và tự hỏi “Họ là ai” hay không?

Họ là những người lính tàn phế sau cuộc chiến nay phải sống những cuộc đời cơ cực, lang thang bên lề cuộc đời, rách nát và bơ vơ như một người xa lạ. Họ là những người lính oai hùng trong thời chiến và nay là người tù, người tàn phế trong thời bình. Họ “tàn nhưng không phế”. Những TPB bị bỏ lại sau cuộc chiến chẳng những bị bỏ rơi trong bệnh tật và nghèo đói cùng cực, không được giúp đỡ, mà trái lại họ còn bị bạo quyền CS hất hủi, trù dập, chà đạp lên danh dự và xua đuổi ra khỏi những sinh hoạt xã hội bình thường. Họ bị lưu đày trên chính quê hương họ.

Người CS đẩy họ xuống đáy trầm luân. Có ai trong chúng ta, có người chưa từng đóng góp gì cho chính nghĩa quốc gia, cảm thấy thẹn với mình khi đã đôi lần tỏ ra hãnh diện vì mình nói tiếng Anh lưu loát hơn họ, nhà to cửa rông, xe đẹp và con cái thành tài hơn họ? Có ai trong chúng ta sẵn sàng hy sinh một bữa tiệc đắt tiền ở một nhà hàng danh tiếng, hy sinh một hai tấm vé vào cửa của một đại nhạc hội tưng bừng, hy sinh một buổi tiệc vui chơi cùng bè bạn, một buổi tiệc dạ vũ để bỏ tiền ra đóng góp một cách thiết thực hầu xoa dịu phần nào nỗi đau khổ và nhọc nhằn của người TPB bất hạnh?

Chúng ta người Việt hải ngoại là những người được may mắn hơn họ, được sống trong tự do và sung túc. Chúng ta đã mất nước, chúng ta đã mất cả nơi chốn dung thân để phải tha hương lưu lạc khắp mọi phương trời. Chúng ta đã mất mát nhiều thứ, gần như tất cả, nhưng những người thương binh như các anh còn mất mát nhiều hơn nữa, các anh đã mất một phần thân thể, mất tuổi trẻ, mất tình yêu và cả tình người. Trong cuộc đời này không có điều gì cao thượng hơn là hy sinh cuộc đời mình để cho người khác được sống. Vậy mà các anh đã hy sinh. Sự hy sinh của các anh là sự hy sinh chính đáng, cao quý và đáng kính trọng.

Chúng ta nên có ý thức trách nhiệm giúp đỡ những người TPB và gia đình của họ, bởi chính họ đã một thời vì lý tưởng Tự Do, vì chính nghĩa Quốc Gia và vì sự an bình của quê hương mà chiến đấu và hy sinh. Chúng ta không những không nên làm ngơ mà trái lại phải biết tri ân và đặt họ ở một địa vị xứng đáng mà đáng lẽ họ phải được hưởng từ lâu. Chúng ta hãy đem lại cho những người Thương Phế Binh VNCH ở quê nhà một niềm tin, để họ biết rằng bên kia bờ đại dương, những bạn đồng ngũ, đồng bào và cả thế hệ sinh sau, đẻ muộn, vẫn luôn luôn nghĩ đến thân phận cùng sự hy sinh cao cả của họ. Chúng ta có bổn phận đóng góp một cách thiết thực hầu xoa dịu phần nào nỗi đau khổ và nhọc nhằn của người Thương Phế Binh VNCH bất hạnh.

Trần Việt Trình
10 tháng 8 năm
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Góc chiến trường xưa: Những người vợ lính thời lửa binh


LTS: Trang CCB/NV nhận được bài viết này gửi đến nhưng tác giả lại không ghi tên nên rất mong tác giả khi đọc trang CCB kỳ này hãy liên lạc với email nghuy9@yahoo.com để bổ khuyết trong số báo tới.


Trong cuộc chiến tranh bảo quốc chống ngăn cơn sóng đỏ của Cộng Sản quốc tế với đạo quân tay sai tiền kích của chúng là binh đội Cộng Sản Bắc Việt và Việt Cộng miền Nam, khuôn mặt của những người vợ lính dường như đã rất mờ nhạt đằng sau chất muối trắng đẫm đầy trên lưng áo của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng chiến tranh càng nặng độ thì hình ảnh những người chị vô danh ấy đã dần hiện rõ trong một ánh sáng diệu kỳ, mà chúng ta chỉ có thể cúi người thật sâu xuống để tôn vinh và ngợi ca. Ðó là những người lính không có vũ khí, không số quân, không tiền lương, không cả lương thực hành quân, nhưng là những người lính tỏa hào quang chói sáng nhất trong những hoàn cảnh nghiệt ngã thắt ngặt nhất, mà đã góp phần đem chiến thắng quyết định trên chiến trường. Ðó là ‘Những người vợ lính’, những người chị cao cả mà đã cùng chồng dấn mình trong cơn bão lửa của chiến tranh, cùng chia sẻ cái chết, có khi các chị hy sinh trước cả các anh. Những cái chết anh dũng trong âm thầm đó nào ai biết được. Không có Lá Quốc Kỳ Vàng Ba Sọc Ðỏ phủ trên chiếc quan tài được ghép thành từ những mảnh ván đơn sơ, không có chiếc huy chương Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu, không cả tiếng kèn truy điệu ai oán.

Những người lính đóng đồn cùng vợ con của các anh cùng sống chui rúc trong những cái hầm tối tăm ngột ngạt, dưới những những cái hố nhỏ ngập đầy nước. Những người lính nghèo nàn, rách rưới và tội nghiệp co ro ôm súng gác giặc và đánh giặc trong cái lạnh xé thịt của đêm. Ăn uống thì đạm bạc đến không có gì đạm bạc hơn được nữa. Một cái nồi cơm méo mó, với vài con cá nhỏ kho trong chất nước mắm hạng bét mặn chát những muối, một dĩa rau muống ruộng hay rau đắng xơ xác, mà có thể tìm thấy mọc đầy khắp những vũng nước đọng trên những cánh đồng lầy. Cả gia đình người lính Ðịa Phương Quân hay Nghĩa Quân quây quần chung quanh mâm cơm đơn sơ đó chấp nhận sự thua thiệt của mình. Không than thở, không ta thán và vui lòng với niềm hạnh phúc mong manh của mình. Một năm 365 ngày, mười năm, hai mươi năm, cho đến ngày cuối cùng của cuộc chiến, hơn bảy ngàn đêm những người chị ấy chưa từng bao giờ biết ngủ yên giấc là gì. Chị thao thức đến nửa khuya, lắng nghe tiếng đại bác vọng ì ầm về thành phố từ phía mặt trận có anh ở đó, chị thổn thức nguyện cầu cho anh được bình yên, để anh có một ngày được về với chị và con, dù chỉ là những khoảnh khắc về phép thật quá hiếm hoi. Hay nếu chị cùng chồng trấn thủ lưu đồn, anh chiến đấu cơ cực như thế nào, anh ăn ngủ chập chờn ra sao, thì chị cũng cơ cực và chập chờn ngần ấy.


Chị Phạm Thị Thàng, nữ anh thư đất Gò Công


Người vợ lính ở tiền đồn cáng đáng cùng một lúc hai công việc, mà công việc nào cũng biểu hiện hình ảnh và đức tính cao quí của người phụ nữ Việt Nam. Thứ nhất, đức tính đảm đang tận tụy của người vợ, người đàn bà Việt Nam quán xuyến chuyện gia đình, trông nom dạy dỗ con cái và nấu nướng những bữa ăn.

Thứ hai, khi quân giặc đã thấy dẫy đầy ngoài những vòng rào kẽm gai, thì những người nữ chiến sĩ chưa từng một ngày được huấn luyện ở quân trường ấy đã chiến đấu như bất cứ người lính chuyên nghiệp nào. Chị cũng biết dùng máy truyền tin gọi Pháo Binh, chị biết sử dụng thành thạo mọi loại súng trong đồn có, chị ném lựu đạn ác liệt và chính xác, tấm thân nhỏ bé của chị oằn nặng dưới những thùng đạn tiếp tế. Và chị cũng sẵn sàng nằm gói thân thiên thu trong chiếc poncho, để tên chị vĩnh viễn đi vào lịch sử. Chúng ta có nhiều người chị như vậy lắm. Ở ngay tại đồng Giồng Ðình này thì ít nhất cũng có những chị Phạm Thị Thàng và Trần Thị Tâm.

Ðêm 2 Tháng Mười 1965, với âm mưu làm xáo trộn hệ thống tiếp viện của những đơn vị diện địa trong khu vực Tiền Giang để dễ dàng thanh toán mục tiêu chính nào đó, chỉ trong một đêm Việt Cộng đã tổ chức tấn công 11 vị trí của quân ta với quân số thật lớn. Ðồn Giồng Ðình thuộc tỉnh Gò Công cũng bị áp lực rất nặng của quân địch khi hứng chịu cuộc cường kích của 300 lính Cộng. Ðây là một lực lượng chính qui Việt Cộng với hỏa lực rất mạnh, chúng quyết tâm hủy diệt đồn Giồng Ðình nhỏ bé, mà chỉ có vỏn vẹn một Trung Ðội Nghĩa Quân 24 tay súng trấn giữ. Là những con ác quỷ hung tợn và thâm độc, lực lượng Cộng quân đã bố trí ở hướng có nhiều nhà dân chúng, vừa làm bia đỡ đạn cho chúng, vừa ngoác miệng tuyên truyền gây căm thù nếu quân ta bắn trả. Người dân, nhất là những ông bà lão già, đàn bà và trẻ con luôn luôn là những cái bia sống đỡ đạn cho bọn giặc hèn nhát gọi là những người “giải phóng”. Với quân số ấy, vũ khí hùng hậu ấy mà chúng cũng ngán ngại 24 chiến sĩ Nghĩa Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đến nỗi phải cậy nhờ đến máu thịt của đồng bào để có cơ may thủ thắng, thì còn từ ngữ nào, hình dung từ tồi tệ nhất nào để diễn tả bộ mặt cùng hung cực ác rất đốn mạt của Cộng Sản nữa không.

Ðúng 2 giờ đêm, quân cộng dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Thượng Úy Sáu Bích, đã mở cuộc tấn công từ hai mặt đánh vào Giồng Ðình, với sự tin tưởng điên rồ, rằng chúng sẽ thanh toán cái tiền đồn nhỏ xíu này trong một thời gian ngắn. Chiến thắng dường như là chắc chắn, vì với quân số mười lần hơn, mười đè một, dẫu chúng có thí chín tên thì cũng có thể hạ gục được một chiến sĩ Nghĩa Quân Giồng Ðình. Trên lý thuyết, thì giả thiết đó dường như đúng. Nhưng trên trận địa, người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa luôn luôn thể hiện những chuyện phi thường, mà rất hằng hiện hữu trên bất kỳ chiến trường nào, quả thật Cộng quân đã chọn lầm mục tiêu. Sau ba đợt tấn công hung bạo, tưởng gạch đá cũng phải nát thành tro, đã chiếm được 2 trong số 3 lô cốt trong đồn, Cộng quân vẫn phải rút trở ra. Cuộc tấn công lần thứ tư được hối hả tổ chức và thực hiện, với quyết tâm san bằng Giồng Ðình. Nhưng liệu 24 chiến sĩ Nghĩa Quân có cho phép điều đó không. Câu trả lời là không, không chỉ đến từ ý chí hừng hực tử thủ của các anh, mà còn là từ đôi bàn tay yếu mềm của những người vợ lính đang sống cùng với chồng con của các chị trong đồn. Phải, cuộc chiến thắng cuối cùng của Nghĩa Quân đồn Giồng Ðình sẽ không thể thực hiện được, nếu không có sự góp sức chiến đấu của những người chị này. Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Không phải chỉ những người chị dũng cảm ấy không thôi, mà cả trẻ con cũng đánh.

Ðồn Giồng Ðình nằm ở một vùng thôn ấp hẻo lánh trong tỉnh Gò Công, do một Trung Ðội Nghĩa Quân trấn giữ, với thành phần chỉ huy gồm có anh Nguyễn Văn Thi, Ðồn Trưởng, anh Lê Văn Hùng, Ðồn Phó và anh Lê Văn Mẫn, âm thoại viên. Trấn thủ một vị trí hung hiểm như vậy, không chỉ có 24 tay súng mà đã đủ, nên tất cả những người vợ lính trong đồn đều đã được chồng huấn luyện sử dụng thành thạo những loại máy móc truyền tin và vũ khí. Như vậy số tay súng đã được nhân lên gấp đôi. Trong nhiều trường hợp, đến những giây phút tử sinh tuyệt vọng nhất, những em bé cũng tham chiến, khi các em gan dạ bò dưới lưới đạn của giặc để đem tiếp tế đến cho cha và mẹ. Không ai buộc những người vợ lính, con lính cầm súng đánh địch. Nhưng chính những người vợ lính, con lính ấy làm sao có thể ẩn náu tìm cái sống trong khi chồng và cha của họ sắp ngã gục ngoài chiến hào.

Khi chấm dứt đợt tấn công thứ ba, địch tạm rút để tái tổ chức tấn công, thì tình trạng bên trong đồn Giồng Ðình đã khá là bi đát. Ðã có đến 16 chiến sĩ Nghĩa Quân bị thương, chỉ còn 8 Nghĩa Quân còn chiến đấu được. Âm thoại viên Lê Văn Mẫn bị thương ở đầu trong lúc anh đang cố gắng gọi máy về Tiểu Khu.

Anh Mẫn gục xuống buông chiếc ống liên hợp. Chị Trần Thị Tâm, vợ anh Mẫn vội đặt con bên cạnh anh và chộp lấy ống liên hợp. Liên lạc được tiếp nối, chị Tâm nghiễm nhiên trở thành một âm thoại viên, và là cứu tinh của đồn Giồng Ðình. Ở một góc đồn, anh Lê Văn Hùng và chị Phạm Thị Thàng, vợ anh, và hai đứa con nhỏ đang phải đối đầu với một lực lượng quá đông của địch. Nhìn ra ngoài hàng rào kẽm gai, giặc đã đã tràn vào đen ngòm như những con quái vật hung hãn. Anh Hùng chỉ còn trong tay cây tiểu liên Thompson và 16 trái lựu đạn, chị Thàng có một khẩu Carbine. Thật tội nghiệp cho hai đứa nhỏ, sức ép của bộc phá và súng SKZ của Việt Cộng bắn vào quá gần, các em không còn khóc được nữa mà đã nằm bất động dưới chân hai vợ chồng anh Hùng. Chị Thàng thì thào:

- Chúng đang phá lô cốt chánh, để em bắn yểm trợ anh bò về giữ. Lô cốt mất là đồn mình mất, em nằm tại đây giữ mấy đứa nhỏ, nếu chúng tràn vào thì... thì... em ném lựu đạn ra, có thể cầm cự đến sáng được.

Anh Hùng ngần ngừ, anh rưng rưng nhìn vợ con, rồi nhìn về phía lô cốt. Tiếng súng từ lô cốt cuối cùng đã yếu ớt lắm, có lẽ mấy Nghĩa Quân cố thủ ở đó đã kiệt quệ quá rồi. Số phận của anh Thi Ðồn Trưởng thế nào. Anh Hùng lắc đầu không dám nghĩ đến chuyện xấu nhất đã xảy ra cho đồng đội. Nhưng nếu Việt Cộng chiếm được lô cốt ấy, thì coi như đánh dấu chấm hết cuộc kháng cự. Anh Hùng phải quyết định, dù quyết định đó quá đau xót, là bỏ lại vợ con, mà trong lúc quân giặc đã hò hét ngay sát bên rồi:

- Anh chạy theo giao thông hào, em bắn yểm trợ cho anh.

Anh Hùng nhìn chị Thàng và hai đứa nhỏ lần cuối cùng. Trong lòng anh quặn lên một nỗi bi thương. Trời ơi, vợ con mình. Hai đứa nhỏ chẳng biết còn sống hay đã chết. Anh phóng mình xuống hào chạy băng băng về hướng lô cốt. Cây Carbine trên tay chị Thàng run lên, những tràng đạn rải vào những cái bóng đen đã quá gần. Anh Hùng đã bò vào được lô cốt, giữa những tiếng đạn nổ rền trời. May quá, anh Thi trưởng đồn vẫn nguyên vẹn. Súng SKZ của địch thụt ầm ầm, nhưng anh Hùng vẫn có thể nghe được từng tiếng lựu đạn nổ từ phía công sự của chị Thàng. Nước mắt anh rơi lã chã trên nền đất. Anh đã đếm được đến con số 15, mà tiếng súng của địch vẫn nổ giòn giã ngay sát tuyến phòng thủ của chị Thàng. Anh biết giây phút định mệnh thảm thiết nhất cũng đã điểm. Chị Thàng sẽ làm gì với quả lựu đạn thứ 16. Anh Hùng đau đớn rên lên trong lòng: “Chỉ còn một trái lựu đạn nữa thôi, làm sao em cầm cự được đến sáng”. Chính anh cũng không có được một giây để nghĩ tiếp cái gì sẽ xảy đến cho vợ con mình, vì dưới chân lô cốt anh tử thủ đã đông nghẹt quân giặc. Ðủ mọi thứ loại súng nổ chát chúa khắp đồn, anh Hùng không biết chắc là mình đã nghe được tiếng nổ của trái lựu đạn thứ 16 chưa.

Cuộc chiến đấu đã kéo dài được một tiếng đồng hồ, quân địch đã phá được lớp kẽm gai cuối cùng và sắp tràn ngập đồn Giồng Ðình. Lúc đó là 3 giờ sáng rạng ngày 2 Tháng Mười 1965. Tình hình đã quá nguy ngập. Anh Nguyễn Văn Thi, Ðồn Trưởng, quyết định thà hy sinh còn hơn là để đồn lọt vào tay địch. Anh giật lấy ống liên hợp từ tay chị Tâm và thét lớn:

- Hãy bắn lên đầu chúng tôi! Bắn vào giữa đồn... Hai lô cốt thứ nhứt và thứ hai đã thất thủ. Tụi tui ở lô cốt thứ ba. Hãy bắn lên trên đầu chúng tôi, Việt Cộng đông lắm. Bắn đi... bắn...

Sau tiếng gọi thống thiết của người Ðồn Trưởng, Pháo Binh Tiểu Khu Gò Công lập tức bắn vào đồn với loại đầu nổ cao. Loại đạn đặc biệt này nổ khi cách mặt đất chừng 4, 5 thước, rất hữu hiệu tiêu diệt biển người địch, quân ta núp trong lô cốt vẫn có hy vọng sống sót. Những cái bóng đen nhập nhoạng dưới ánh sáng hỏa châu văng tung tóe, tiếng kêu giẫy chết của chúng như tiếng rú của quỷ. Hàng tràng đạn nổ cao vẫn dội ùng oàng xuống đồn. Chiếc lô cốt cuối cùng vẫn đứng vững, anh Thi cùng anh Hùng từ trong những lỗ châu mai bắn tỉa từng tên địch. Giữa tiếng súng nổ giòn, dường như người ta nghe âm thanh rì rì của máy bay. Không Quân Việt Nam đã tới. Những chiếc A1 khu trục cơ đã xuất kích. Ðến đây thì Thượng Úy Sáu Bích, tên chỉ huy trận đánh đã có thể nhận thấy rằng, cuộc tấn công đồn Giồng Ðình đã đánh dấu chấm hết, với phần thắng nghiêng về phía Nghĩa Quân Việt Nam Cộng Hòa. Lúc 4 giờ 30 sáng, chiến địa hoàn toàn im tiếng súng. Quân địch đã kéo những xác chết và những tên bị thương chạy trốn vào phía bóng tối.

Khi ánh hừng đông của một ngày mới đã lên, hai Ðại Ðội Ðịa Phương Quân do chính Trung Tá Tiểu Khu Trưởng Gò Công chỉ huy đã đến và tổ chức bung quân ra lục soát. Quân Cộng đã để lại trận địa 23 xác chết, ở giữa đồn có 6 xác khác nằm bên cạnh lô cốt thứ ba, nơi mà anh Ðồn Trưởng Thi, Ðồn Phó Hùng và chị Tâm giữ máy truyền tin đã kháng cự mãnh liệt, thà chết không hàng. Những tên Việt Cộng này mang trên mình rất nhiều lựu đạn và bộc phá, chắc là chúng quyết thí mạng để phá cho bằng được ổ kháng cự cuối cùng này. Anh Thi và anh Hùng đã bắn địch theo lối xâu chéo, nghĩa là bắn chéo góc với nhau tạo thành một xạ trường quét gọn tất cả những tên Cộng nào nằm trong đó. Ngày hôm sau, một người thường dân bị Việt Cộng bắt đi tải thương lén trốn về được đã cho biết số bị thương của chúng chở đầy sáu chiếc ghe tam bản. Một lính Cộng may mắn bị thương tên Dương Văn Thiều, 18 tuổi, sống sót và bị bắt làm tù binh. Tại sao may mắn? Vì nếu anh ta bị kéo đi theo vào bưng biền, nếu không bị chết vì nhiễm trùng, bị những quân y sĩ Việt Cộng cưa cắt bằng những loại cưa và đục của thợ mộc, thì cũng bị cấp chỉ huy ra lệnh mang anh đi thủ tiêu. Ðó là lý do giải thích tại sao sau ngày 30 Tháng Tư 1975, người dân Miền Nam hiếm thấy người thương phế binh Cộng Sản trên đường phố.

Nhưng đối với anh Hùng, thì tất cả những gì mà Việt Cộng đã trả giá cho cuộc tấn công không làm anh quan tâm. Ngay khi tiếng súng vừa chấm dứt, quân Cộng đã rút đi, thì anh đã như một người điên lao mình ra chỗ chiến hào mà chị Thàng đã một mình một súng trấn giữ ở đó, với một niềm hy vọng mỏng manh, rằng đừng bao giờ trái lựu đạn thứ 16 được rút chốt. Anh Hùng bò vào khúc hào mà anh đã nuốt nước mắt chạy đi. Chị Thàng cùng hai đứa con của anh nằm chết bên cạnh ba xác Việt Cộng. Anh Hùng gục xuống như thân cây chuối bị một nhát dao bén chém ngọt làm đôi. Anh biết, nếu trái lựu đạn thứ 16 nổ thì chị Thàng cũng đi vào cõi chết, vì chị Thàng sẽ không bao giờ cho phép giặc bắt chị hoặc đạn của chúng bắn vào người chị. Chị Thàng đã chọn một cái chết thật dũng cảm và cao cả. Ôm hai đứa con vào lòng, chị Thàng bình tĩnh chờ cho những tên Việt Cộng nhào vào, chị rút chốt. Tiếng nổ kinh thiên cùng với xác thịt và máu của người nữ chiến sĩ đó đã được đánh đổi với ba mạng giặc. Anh Hùng ôm xác vợ con vào lòng và gần như ngất xỉu. Nhưng khi nhìn ra ngoài, những xác giặc thù nằm ngổn ngang khắp nơi, trong nỗi đau khổ tột cùng của mình, anh Hùng thấy trong lòng dậy lên một niềm tự hào đến nghẹn ngào. Sự hy sinh của chị Thàng đã cứu sống được tất cả những thương binh Nghĩa Quân cùng vợ con các anh, nhưng trên hết cứu sống chính sinh mạng của người chồng mà chị yêu mến. Những viên đạn Carbine và 15 trái lựu đạn của chị đã đóng góp vào sự tồn tại kỳ diệu của đồn Giồng Ðình. Một người lính chuyên nghiệp và thiện chiến nhất cũng chỉ làm được đến ngần ấy. Nếu cái lô cốt thứ ba không đứng vững, thì chắc chắn tất cả sinh mạng mấy mươi người Nghĩa Quân và vợ con của đồng Giồng Ðình đều sẽ chết hết.

Anh Hùng ẵm chị Thàng ra ngoài, để trông thấy những người còn sống, những người vợ lính khác đã gục đầu khóc tiếc thương chị Thàng. Những nấm mộ đất được đắp vội với ba tấm bia tang tóc. Một của chị Phạm Thị Thàng, và hai kia của cháu Lê Văn Dũng và Lê Tấn Sỹ. Ôi, những người vợ của lính trong thời lửa binh. Chị Phạm Thị Thàng, chị Trần Thị Tâm, và nhiều người chị khác trên khắp nẻo chiến trường, chị Thạch Thị Ðịnh, chị Bùi Thị Xiếu, chị Am Reng. Người lính của chúng ta, những công dân xếp hạng chót nhất trong bậc thang xã hội, nhưng là những người hứng chịu oan nghiệt trước nhất, là bức tường chắn cho sự an toàn của hậu phương phồn thịnh và hạnh phúc. Trong đời của các anh không có được một thứ ưu tiên vật chất nào cả, ngoài cái ưu tiên phải hy sinh và chết. Có những người lính từ miền Tây ra tận miền hỏa tuyến hay trên vùng cao nguyên sương mù miền Trung, nhiều năm liền không có lấy được một ngày phép về thăm gia đình. Nếu anh may mắn, thật đau xót, quân thù bắn anh bị thương, thì anh mới có cái diễm phúc được nắm trong tay tờ giấy phép. Còn nếu sự gọi là may mắn đó đi xa hơn một bước, anh chết, thì anh được phép dài hạn trở về và vĩnh viễn được an nghỉ ở nơi đã sinh ra anh. Ðầu năm 1972, trong một trận đánh của Sư Ðoàn 3 Bộ Binh tại khu vực Cồn Tiên nằm sát phía Nam khu phi quân sự bên này bờ sông Bến Hải, một tiểu đoàn sau nhiều ngày cố gắng đã không thể chiếm được một cao điểm. Vị Tiểu Ðoàn Trưởng gọi bốn người lính gốc miền Tây lên hứa sẽ cấp mỗi anh mười ngày phép nếu các anh chiếm được ngọn đồi ấy. Bốn người tráng sĩ Kinh Kha đã nai nịt tề chỉnh, mang thật nhiều lựu đạn bò lên, mỗi người cầm một cây gậy ngắn dò đường. Ðêm tối như mực. Hễ chọt trúng cái lỗ nào là thảy lựu đạn vô cái lỗ đó, vì ở đó chính là cái miệng hầm chốt của địch. Ðến sáng, bốn người dũng tướng vô danh đó đã reo hò trương Cờ Vàng Việt Nam trên đỉnh cao điểm. Ôi, những ngày phép đã trở thành một ân huệ chứ không phải là một quyền lợi đương nhiên của những người lính trận.

Người vợ lính cùng chia sẻ với chồng những nỗi đắng cay thiệt thòi đó, bằng tất cả sự câm nín nhẫn nhục và vui lòng với những gì mình có. Một góc hầm tối tăm, một chiếc ghế bố cũ, vài cái nồi, chảo nhem nhuốc, những cái chén sành và những đôi đũa tre, cùng tiếng cười của lũ trẻ thơ cũng đủ làm nên thành niềm hạnh phúc vĩ đại của những người vợ lính. Chị Thàng đã chết đi, anh linh của chị cùng hai cháu bé đã thăng thiên lên cõi vĩnh hằng, nhưng những người còn sống cùng thời với chị, cho mãi đến tận bây giờ và ngàn đời sau, dân tộc Việt Nam sẽ không bao giờ quên tên chị. “Người chị cao cả Phạm Thị Thàng”. Vì tên chị đã được trân trọng ghi chép vào những trang bi tráng nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam chống Cộng Sản quốc tế và Hà Nội, một lũ hung đồ diệt chủng, diệt dân tộc gớm ghiếc nhất của thế kỷ thứ 20 và của lịch sử hình thành nhân con người
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

TẠ TỘI


Rừng lại gọi ta về trong tủi nhục
Núi thâm u trơ đá , lạnh sương mai
Xưa chinh y, nay cơm tù , áo ngục
Đoạn trường mang cay đắng nối u hoài .

Nắm cơm hẫm mỗi ngày hoà với muối
Nuốt nghẹn ngào trái khổ , nén buồn rơi
Rừng độ lượng , cho ta mầm dinh dưỡng :
Lá tàu bay , đọt dương xỉ , cầm hơi .

Đau như thể lửa thiêu trong lồng ngực
Nhói từng cơn như máu rỉ buồng tim
Vì tài hèn , sức mọn phải lặng im
Cho định mệnh trói tay vào lịch sử .

Thân cải tạo , trên đầu treo án tử
Đời tàn binh, cuộc sống đếm từng ngày
Sá gì vắt, muỗi mòng , hay thú dữ
Chỉ thẹn lòng không " da ngựa bọc thây " .

Mỗi nhát cuốc khai đất hoang mở lối
Là tiếng lòng dội mãi những đau thương
Tổ Quốc ơi , xin cúi đầu tạ tội
Vì sa cơ nên để mất quê hương .

( Tặng DƯƠNG HỒNG PHONG
TRẦN THIỆN VIỆT
HOÀNG CÔNG LỰC
để nhớ Nhà 2, Trại 4, HT /TA 14 )


Huy Văn
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Hội H.O. cứu trợ thương phế binh và quả phụ VNCH bỏ phiếu:
Bà Hạnh Nhơn tiếp tục trọng trách hội trưởng

Sunday, August 16, 2009

Image

Bà Hạnh Nhơn xúc động cảm tạ mọi người đã tín nhiệm và hứa “Sức còn đến đâu quyết làm đến đó cùng anh chị em.” (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)

Nguyên huy/Người Việt
WESTMINSTER - Trong một cuộc bầu cử bằng phiếu kín của 16 anh chị em trong hội H.O. cứu trợ thương phế binh và quả phụ VNCH, bà Hạnh Nhơn tiếp tục được Hội Ðồng Quản Trị của hội tái tín nhiệm chức vị hội trưởng của hội.

Cuộc bỏ phiếu được tổ chức vào sáng Chủ Nhật, 16 Tháng Tám, 2009, tại trụ sở của Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH Nam California.

Với ba ứng cử viên được đề cử là bà Thanh Thủy, ông Nguyễn Phán và bà Hạnh Nhơn, bà Hạnh Nhơn được tín nhiệm với 14/16 phiếu của Hội Ðồng Quản Trị Hội H.O. cứu trợ TPB và quả phụ VNCH.

Sau cuộc bầu cử, hội H.O. đã lại mời tất cả thân hữu đến tham dự trở lại với hội để lắng nghe ý kiến đóng góp xây dựng cho hội. Thân hữu là các hội trưởng các hội cựu quân nhân, đại diện của Tập Thể Chiến Sĩ VNCH hải ngoại, tất cả bày tỏ lòng chân thành cảm ơn bà Hạnh Nhơn mà anh chị em cựu quân nhân đều đã coi như người chị cả trong tập thể những người lính cũ. Trong bao năm qua, theo lời những người tham dự, “Chị Hạnh Nhơn đã không nề hà công sức và tiền bạc của mình lăn vào công việc giúp cho thương phế binh và quả phụ VNCH ở bên nhà dù chị năm nay đã 83 tuổi.”

Chủ tịch Liên Hội Cựu chiến sĩ Nam California, Phan Tấn Ngưu phát biểu trong dịp này, rằng, “Trước khi có cuộc bầu cử này, chúng tôi có nhận được tin rằng chị Hạnh Nhơn xin anh em trong hội cử cho người khác thay thế vì chị đã lớn tuổi và quá mệt mỏi với công việc này nhiều năm qua. Chúng tôi thật lấy làm lo lắng vì sự rút lui của chị có thể làm đổ vỡ đến công việc cứu trợ TPB và quả phụ VNCH đang tiến triển được tốt đẹp. Chúng tôi, liên hội với hội H.O. cứu trợ TPB và quả phụ như anh em trong nhà từ bao lâu nay, nên công việc của hội H.O. cứu trợ cũng là công việc của Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH Nam Cali như từ trước đến nay.”

Cựu Không Quân Nguyễn Văn Ức, chủ tịch Hội Ðồng Giám Sát của Tập thể Chiến Sĩ VNCH hải ngoại cũng cho biết, “Tập thể đã nhiều lần tổ chức những buổi gây quĩ trong nội bộ cho anh em thương phế binh VNCH và đã từng sát cánh với chị Hạnh Nhơn và hội H.O. cứu trợ. Hình ảnh của chị Hạnh Nhơn là một hình ảnh làm cho ai cũng vui lòng và không nề hà đóng góp công sức cùng chị dù chị chưa yêu cầu. Chúng tôi sẽ tường trình kết quả tốt đẹp này với Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh và tập thể chiến sĩ VNCH hải ngoại.”

Nói với Người Việt, chị Hạnh Nhơn không giấu được xúc động, rằng “Muốn nghỉ quá, nhưng trước những tha thiết của anh chị em trong tập thể quân đội mình, tôi không thể phụ lòng mọi người. Thôi thì sức còn đến đâu thì cố gắng đến đó. Mong chúng ta cùng góp tay nhau xoa dịu được phần nào nỗi đau, mất mát của những người đồng ngũ của chúng ta.”

Số hồ sơ mà hội nhận được cho đến nay hơn 16 ngàn, hầu hết đã được giải quyết, chỉ còn độ vài ba ngàn ở những vùng xa xôi hẻo lánh là chưa liên lạc kịp.

Luật Sư Nguyễn Tôn Nguyên, cố vấn pháp luật của hội cho Người Việt biết, “Văn phòng kế toán trong văn phòng luật sư của chúng tôi lo giúp cho hội việc chi tiêu của hội. Mọi chi tiết đều rất minh bạch, quí vị có thể đến văn phòng chúng tôi nếu có điều gì cần tìm hiểu.” (N.H.)
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Người Lính Già Vừa Chết Đêm Qua

Người lính già Việt Nam
Vừa mới chết đêm qua
Trên đường phố San Jose bụi bặm
Anh đã đi bao nhiêu nghìn dặm
Ðến nơi đây chỉ để chết âm thầm
Không một phát súng chào
Không cả một người thân
Không ai nói với anh một lời tiễn biệt.
Người lính già Việt Nam
Như con thú hoang lạc loài
Trên freeway nhộn nhịp
Một tiếng rên thảng thốt chảy trong mưa
Một chiếc lá cuốn đi theo cơn gió cuối mùa
Một tiếng nấc rã rời trong đêm vắng.

Vợ anh đâu?
Sao không về đây vuốt mắt
Con anh đâu?
Sao không đến vấn khăn tang
Anh ra đi như anh đến
Rất vội vàng
Chẳng còn ai trên đời để khóc.

Nhân loại văn minh có nhiều cách sống
Nhưng đồng bào tôi có những kiểu chết rất lạ đời
Người vợ mang thai
Ôm lấy chồng cùng nhảy xuống biển khơi
Ðể khỏi phải rơi vào tay giặc Thái
Cho sóng biển Ðông nghìn năm còn ru mãi
Một bài ca chung thủy vọng về Nam
Ðể mỗi sớm chiều khi thủy triều dâng
Tổ quốc sẽ được bồi thêm
Bằng máu anh thịt chị.

Có những bà mẹ nửa đêm thức dậy
Ði bán máu mình mua gạo nuôi con
Ðường về chưa tới đầu thôn
Bà gục chết không kịp nhìn mặt con lần cuối
Ðứa con út cũng chết dần trong cơn đói
Miệng còn thì thào hai tiếng “Mẹ ơi !”
Những giọt máu tươi đã giết chết hai người
Sẽ đọng lại trong nghìn trang lịch sử
Cho nước sông Hồng bao giờ cũng đỏ
Như màu máu Mẹ Việt Nam.

Ðêm qua thêm một đứa con
Vừa mới chết trên đường phố San Jose nhộn nhịp
Anh không chết ở Hạ Lào, Bình Long, Cửa Việt
Anh không chết ở Hàm Tân, Suối Máu, Hoàng Liên Sơn
Chết ở đây đất lạ sẽ thêm buồn
Trên mộ bia anh thêm một dòng chữ Mỹ

Một người Việt Nam sinh nhầm thế kỷ
Và chết cũng nhầm nơi
Ðêm nay bên kia bờ trái đất xa xôi
Quê hương anh vẫn còn chìm trong lửa đỏ.

Tôi gởi anh đôi dòng thơ
Từ trái tim của một thằng em nhỏ
Cũng lạc loài lưu lạc như anh
Chúng ta, hai chiếc lá chung cành
Bay phơ phất trước từng cơn bão tố
Ngủ đi anh bình yên nơi chín suối
Ðau thương nầy em sẽ viết thay anh.

Trần Trung Ðạo
TRA-MAI
Posts: 20
Joined: Sun Jun 03, 2007 7:27 pm
Location: San Diego
Contact:

Post by TRA-MAI »

khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

NÓ VÀ TÔI

NGUYỄN KHẮP NƠI

Image

Viết cho Cố Thiếu Tá Trần Đình Tự, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 38 Biệt Động Quân,
Và tất cả các Chiến Sĩ Vô Danh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Nó đây là Cố Thiếu Tá Trần Đình Tự, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 38 Biệt Động Quân, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Thiếu Tá Tự là một trong những Sĩ Quan kiêu hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã không chịu nhục đầu hàng mà chọn con đường chiến đấu tới viên đạn cuối cùng. Tới khi hết đạn, lưỡi dao oan nghiệt của anh đã kết liễu cuộc đời chiến đấu vì chính nghĩa Tự Do của Dân Tộc.

Thiếu Tá Trần Đình Tự đã hy sinh vì Tổ Quốc, tại chiến trường, vào ngày 30 tháng Tư năm 1975.

Còn tôi, Nguyễn Hữu An, một người bạn thân của Tự từ thủa thiếu thời, hiện đang ngụ tại Tiểu Bang Victoria, Úc Đại Lợi.

Tôi quen Tự từ ngày di cư vào Nam, tháng Bẩy năm 1954.

“Tôi, Nó sinh ra nhằm chinh chiến,

Mới quen nhau mà thương mến,

Nó quê ngoài kia, từ lâu lắm chưa lần về”.

Tôi không nhớ ngày nào của Tháng Bẩy tôi đã đến bến bờ Tự Do, chỉ còn nhớ là từ phi trường Tân Sân Nhất, gia đình tôi đã được đưa về Trường Nữ Trung Học Gia Long. Lúc đó, đang là thời gian đi học, nhưng các học sinh đều được tạm nghỉ để trường học biến thành những trung tâm tạm trú cho dân di cư. Gia đình tôi được phân phối một khoảng trống ở gầm một cái cầu thang nào đó của trường.

Image
Di cư vào Nam bằng “Tầu Há Mồm”
Chúng tôi ở đó khoảng vài tuần thì Phủ tổng Ủy Di Cư cho biết, chúng tôi có thể định cự ở những vùng sau đây: Thị Nghè, Phụ Thọ, Gò Vấp, Hố Nai. Cha Mẹ tôi vừa chân ướt chân ráo vào Nam, làm sao mà biết chỗ nào tốt chỗ nào xấu? Chỗ nào cũng là bến bờ Tự Do cả mà! Rút cục, cha mẹ tôi bàn với nhau: Đã đi quá nhiều rồi, bây giờ chọn nơi nào gần thành phố là được rồi. Chỗ gần trường Gia Long nhất và cũng gần Sài Gòn nhất là vùng Thị Nghè, nên gia đình chúng tôi lại khăn gói quả mướp leo lên xe đi tới vùng được gọi là Quê Hương Mới. Tại đây, một lần nữa, chúng tôi lại được đưa vào tạm trú tại Trường Tiểu Học Thạnh Mỹ Tây. Trường này chỉ có một dẫy nhà trệt mà thôi, gia đình chúng tôi được chia một góc của lớp học.

Mỗi ngày, cha mẹ chúng tôi được phân phối thực phẩm và gạo nước để tự nấu ăn lấy. Mỗi tuần cũng được phát thêm một ít tiền tiêu vặt. Trường học có hàng rào bao chung quanh, đám con nít chúng tôi vui vẻ chơi đùa một cách riêng biệt trong khuôn viên của ngôi trường Tiểu Học này, chưa hề biết gì về dân bản xứ miền Nam cả.

Ở được vài tuần lễ thì trung tâm tỵ nạn đóng cửa, mỗi gia đình được cấp một số tiền nhỏ để tự tìm nơi ăn chốn ở lấy. Số còn dư thì làm vốn sinh nhai. Những ai là công chức và giáo chức đều được tái tuyển dụng. Trong đám dân di cư ở Thị Nghè, lại có một số lớn làm giáo chức, nên chính phủ chấp thuận cho mở một trường mới, dậy ngay tại khuôn viên của trường Tiểu Học hiện tại Thạnh Mỹ Tây, đặt tên là “Trường Tiểu Học Di Chuyển Thạnh Mỹ Tây II”. Trường chính thì học hai buổi: Buổi sáng, từ 7 giờ sáng tới 11 giờ sáng, buổi chiều từ 2 giờ 30 trưa tới 6 giờ 30 chiều. Đám học sinh “di chuyển” chen vào giữa hai buổi học này, để học từ 11 giờ 30 sáng tới 2 giờ trưa.
Bố tôi là một trong những Giáo Viên được tuyển dụng dậy ở trường này, nên gia đình chúng tôi đã mướn một căn nhà ở vùng “Sở Bông” tức là nơi trồng bông cung cấp cho Sở Thú ở sát bên (Vì Sở Bông sát cạnh sông Thị Nghè, nên sau này, Tiểu Đoàn II “Trâu Điên” đã lập doanh trại ở đây, lấy tên là Trại Nguyễn Văn Nho).

Tôi và Tự cùng được xếp vào học Lớp Nhì (Bây giờ gọi là lớp 4, tiếng Úc gọi là Grade 4). Cô Giáo đầu tiên của chúng tôi là Cô Giáo Đoan. Đám học trò gồm cả trai lẫn gái với mọi lứa tuổi khác nhau: Lớn nhất là cô Én, 16 tuổi, và nhỏ nhất là tôi, 8 tuổi (cô Én học xong lớp Nhì thì bỏ học để lấy chồng). Lớp có hai dẫy bàn, đám con gái được ưu tiên ngồi ở phía trong, đám con trai ngồi dẫy phía ngoài, gần cửa lớp. Tôi nhỏ con nên được ngồi bàn trên, Tự lớn con, ngồi gần cuối lớp.

Giờ bắt đầu học và tan học được báo hiệu bằng một hồi trống dài. Lớp Nhì Và Lớp Nhất được giao nhiệm vụ đánh trồng báo hiệu.

Tôi và Tự quen nhau là nhờ nhiệm vụ đánh trống này. Mỗi lần đánh trống, phải có hai học sinh: Một đứa đánh trống, đứa kia làm phụ tá, vừa đứng trông chừng đừng cho ai lại gần, lỡ bị trúng dùi trống, vừa để thay thế nếu đứa đánh trống chính bị đau tay không đánh trống được, hoặc bị ốm không đi học được. Ngày thứ hai của buổi học, lớp Nhì được giao nhiệm vụ đánh trống. Cô Đoan chọn tôi và Tự.

Nhiệm vụ đánh trống vào thời gian đó, được coi là rất quan trọng, học sinh nào . . . có thớ lắm mới được giao nhiệm vụ này, cả trường cùng nhìn vào cái trống và người đánh trống. Tự cầm dùi trống tiến tới, nhìn quanh, thấy ai cũng đang ngừng chơi nhìn vào mình, thì . . . hơi rét, thay vì đánh ngay một hồi trống, thì nó lại rụt rè, đưa dùi trống lại cho tôi mà nói:
“Mày . . . đánh trống đi, tao . . . giữ cái trống cho nó khỏi quay!”

Tôi còn nhát gan hơn nữa, vội vàng dấu hai tay ra đằng sau, từ chối kịch liệt:

“Tao sức vóc thế này, đánh trống làm sao mà kêu to được! Mày . . . cứ đánh đi, tao . . . phụ cho”

Vì không thể nhì nhằng kéo dài, làm chậm trễ buổi học của cả trường được, nên hai đứa đồng ý cùng hợp lực với nhau mà đánh. Hồi trống của lớp Nhì vang lên không giống ai, vì được đánh bởi hai cánh tay, một dài một ngắn. Từ đó, chúng tôi quen nhau.

Sau buổi học, hai đứa ở lại lân la làm quen với đám con nít Nam Kỳ để học những trò chơi lạ mắt của họ. Trò chơi hấp dẫn nhất vào thời đó là chơi “Tạt Lon” mà cả hai đứa không thể nào phát âm theo đúng giọng của đám con nít người Nam được: “Tạc loong”.

Trò chơi này tối thiểu cần có ba đứa, và càng đông con nít càng vui. Con trai con gái đều chơi chung với nhau được hết: Khởi đầu, đứa chủ chốt sẽ vẽ một vòng tròn ở giữa khoảng đất được chọn làm sân chơi. Những đứa khác sẽ chạy ra hai đầu vẽ hai lằn mức cách xa vòng tròn khoảng từ 3m tới 4m. Cả bọn sẽ tụm lại lựa đứa đầu tiên “Bị” làm nhiệm vụ giữ lon, bằng cách chơi ra dấu bằng bàn tay: Dùi, Búa, Bao, Kéo. Luật chơi sẽ như sau: Đám con nít còn lại sẽ chia ra làm hai phe, đứng ở phía sau lằn mức đã vẽ, có nhiệm vụ phải chạy đổi chỗ cho nhau từ đầu này qua đầu kia. Đứa giữ lon sẽ đứng kế bên vòng tròn để giữ lon và bắt bất cứ đứa nào chạy ngang qua cái lon. Khi nó bỏ cái lon xuống đất, sẽ bắt đầu đếm từ 1 tới 3, hai đám con nít đứng ở hai đầu sẽ phải chạy đổi chỗ cho nhau. Để khỏi bị đứa giữ lon bắt và giao lại vai trò giữ lon, cả hai đám con nít sẽ phải dùng một “Cục Tràm” làm bằng một miếng ngói bể, nhắm ngay cái lon mà tạt cho nó văng ra khỏi vòng tròn. Đứa giữ lon sẽ phải đi lượm cái lon, đặt trở lại trong vòng tròn thì mới có thể bắt những đứa chạy ngang được. Bắt rất khó, vì cả chục đứa tạt tràm vào lon, không đứa này thì cũng có đứa khác tạt trúng cái lon văng ra xa. Vừa mới lượm được cái lon đặt vào vị trí cũ thì lại có đứa khác tạt cái lon văng ra nữa. Đứa nào nhanh thì vẫn có thể bắt đứa khác chạy ngang được. Đứa nào chân tay vụng về, bị bắt lượm lon đổ mồ hôi hột.

Hai đứa tôi đứng quan sát hết một buổi trưa mới thông thuộc cách thức chơi. Sáng hôm sau, hai thằng hẹn nhau đi học sớm, thực sự là để đi vòng vòng kiếm cho ra mấy miếng ngói bể, gõ gõ mài mài cho nó trở thành một cục tràm ngon lành, thử đi thử lại cho thật vừa tay rồi mới cất vào cặp đi tới trường. Tan học, hai đứa đi vòng vòng xem đám nào ít người chơi thì nhào vô chơi ké:

“Tụi bay . . . cho tao chơi chung với!”

Cả bọn đang chơi chợi dừng tay lại, nhìn chúng tôi như hai con quái vật, nhưng chưa đứa nào có quyết định gì hết. Chợt có một đứa con gái trong bọn la lớn lên:

“Đừng có chơi dzới mấy thằng Bắc Kỳ, bay!”

Thế là cả bọn nhao nhao lên:

“Đừng có chơi dzới Bắc Kỳ”!

“Hổng cho tụi bay chơi đâu!”

Đứa con gái mạnh miệng nhất, chọc quê tụi tôi:

“Bắc Kỳ cong, bỏ dzô long, kiu chít chít,

Bỏ dzô đích hớt kiu!”

Một đứa khác, tử tế hơn, nói nhẹ nhàng:

“Tụi bay biếc cái gì mà đòi chơi?”

Tôi và Tự đỏ mặt quê một cục, đứng nhìn tụi nó chơi một lúc rồi bỏ cục tràm vào cặp, đi chỗ khác.

Hôm sau, tôi và Tự tìm ra chân lý: Trong trò chơi tạt lon này, đứa nào có cái lon sẽ là chủ cuộc chơi. Dĩ nhiên rồi! Không có cái lon, lấy gì mà tạt? Đang vui chơi, đứa chủ lon buồn tình xách lon đi chỗ khác, là cả đám nghỉ chơi.

Thế là hai đứa hùng hục dắt nhau đi lùng lon sữa bò ở những quán bán cà phê hủ tíu của mấy chú Hoa Kiều. Rình cả buổi trời mới lượm được một cái lon sữa bò mới tinh, ông chủ Tầu bụng phệ mới vứt ra đường. Hai thằng vội vàng chớp lấy đem về nhà lau rửa sạch bóng, thủ vào cặp sẵn sàng cho cuộc chơi ngày mai. Hôm sau, tan buổi học, hai đứa ôm cặp đi vòng vòng tìm dịp may. Dịp may đây rồi: Một đám con nít đang hăng say chơi tạt lon, bất ngờ có đứa tạt mạnh quá, cái lon văng tuốt ra tới giữa đường bị xe vận tải cái dẹp lép. Cả bọn xìu như cái bong bóng bể, mặt đứa nào đứa nấy xẹp còn hơn cái lon bị cán. Tôi vội vàng mở cặp lấy cái lon sữa bò đưa cao lên:

“Tụi tao có cái lon mới, cho tụi bay mượn đó!”

Tôi không dám đặt điều kiện phải cho tụi tôi chơi mới cho mượn lon, vì sợ tụi nó từ chối nữa thì quê mặt.

Tụi nhóc Nam Kỳ đưa một mắt nhìn nhau dọ ý, còn con mắt kia thì nhìn vào cái lon sữa bò mới tinh đang sáng chói dưới ánh mặt trời một cách thèm muốn.

Cuối cùng, một đứa trong bọn hỏi tụi tôi:

“Mà tụi bay . . . biếc chơi hông?”

Tự và tôi hăm hở gật đầu. Một đứa có vẻ đầu sỏ, nhìn những đứa khác như hỏi ý, rồi ngập ngừng nói:

“Dzậy thì . . . tụi bay bỏ cái long xuống . . . chơi chung!”

Thế là Nam Bắc đã chung một nhịp cầu rồi đấy!

Tự lại chơi đẹp, chịu . . . “Bị” để cho đứa đang làm nghề giữ lon được chạy ra tạt lon. Kể từ đó, bọn con nít Nam Kỳ mới cho chúng tôi nhập bọn chơi chung và không gọi chúng tôi là “Bắc Kỳ Dzốn” nữa. Tụi nó dậy tụi tôi bí quyết mài cục tràm sao cho đi nhanh và trúng đích. Còn tụi tôi thì lo đi kiếm lon sữa bò. Có lần ham tìm lon quá mà tôi dành lon với một đứa khác. Tên này thấy tôi mặt lạ và đi có một mình, thì lên mặt ăn hiếp:

“Cái lon đó của tao, đưa trả cho tao, lẹ lên! Không trả, tao . . . úynh thấy . . . mẹ mầy đó!”

Tôi nắm chặt cái lon, cung tay thủ thế:

“Tao lượm được trước, mày tới sau mà đòi sao được!”

Tụi nó ỷ đông, tính nhào tới làm thịt tôi. Tự đang kiếm lon trong tiệm ăn, nghe léo xéo bên ngoài, vội vàng chạy ra, thấy tụi nó đang vây tôi, hắn liền sô bắn một thằng ra đằng sau, rồi mặt hầm hầm, xuống tấn, nạt lớn:

“Cái lon đó tụi tao lượm được trước. Đứa nào muốn dành, tao . . . chơi liền!”

Đám con nít thấy tụi tôi bây giờ có tới hai đứa, đứa nào cũng gan lì, Tự lại bự con nữa, nên không dám làm tới, tìm cách rút dù, nhưng cũng cố chọc quê:

“Cái đầu thằng này niểng niểng, coi ngộ quá ta!”

Tự đỏ mặt, vì cái cổ nó bị tật, làm cái đầu bị nghiêng qua một bên thật. Nó quát lớn:

“Kệ tao!”

Tụi con nít Nam Kỳ vừa rút lui, vừa chọc quê:

“Niểng . . . Niểng”

Từ đó, tụi con nít nể mặt tụi tôi. Và cũng từ đó, Tự có cái biệt danh: “Thằng Niểng”

Qua năm lớp Nhất, chúng tôi học với thầy Phạm Văn Cảng. Bố Mẹ tôi cũng đã thuê được một căn nhà khác rộng rãi hơn, ở đường Nguyễn Văn Nhàn, còn gia đình của Tự vẫn ở Sở Bông. Chúng tôi không mê tạt lon nữa, mà đổi qua mê Xi Nê (Movie). Có một lần, rạp Văn Cầm chiếu phim “Hiệp Sĩ Zoro Bịt Mặt”. Tôi ngày nào đi học cũng lội bộ qua rạp hát, nhìn thấy cái bảng quảng cáo to tướng, đề hai chữ Zoro là đã mê rồi, vào lớp kể cho Tự nghe. Tan học, hai đứa dắt nhau ra rạp hát, ngắm chàng hiệp sĩ Zoro mặc quần áo đen, đội mũ đen, khăn bịt mặt cũng mầu đen, một tay cầm cương ngựa, một tay múa kiếm thật là oai hùng. Nhìn hình đã mê rồi, nói chi tới xem phim! Hai đứa nhìn nhau: Làm sao có tiền mà xem phim? Hai đứa chưa từng bao giờ xem xi nê, và cũng chẳng bao giờ có tiền mà đi xem cả! Không riêng gì hai đứa chúng tôi không, cả đám con nít ở vùng Thị Nghè cũng bu đầy rạp hát, ngước cổ lên mà ngắm chàng Zoro.

Buổi chiều Chủ Nhật, rạp mở xuất đầu tiên: Người lớn, con nít đứng chật rạp, lớp chen nhau mua vé, lớp đẩy nhau trình vé vào cửa. Bán vé thì chỉ có môt người, xoát vé tới hai người mà cũng không làm sao kịp với lớp người đông nghẹt rạp. Tự xúi tôi:

“Mày nhỏ con, cúi thấp xuống, luồn qua người xoát vé mà chui vào. Xem được, về nhà . . . kể cho tao nghe.”

Rồi Tự làm bộ xô đẩy những người chung quanh, tìm dịp che cho tôi chui vào rạp. Bất ngờ, tôi gặp gia đình một thằng bạn cùng lớp. Cha mẹ nó cầm một đống vé đang chen chúc cùng với lũ con vào cửa. Tôi mừng quá, kề tai nó nói nhỏ:

“Cường, cho tụi tao . . . vào chung nhe!”

Cường mỉm cười thông cảm, nắm tay tôi giới thiệu với bố mẹ nó:

“Bố ơi, thằng này là thằng An, con ông giáo, học cùng lớp với con đó”

Thế là tụi tôi dính chùm lại với nhau, chen chúc vào cửa. Ông bố của Cường đưa một nắm vé ra, người xoát vé chưa kịp đếm vé và đầu người thì tụi tôi đã chui tuốt vào trong rạp mất tiêu rồi!

Tôi và Tự ngồi xem đã đời rồi mới đi về. Tới đầu ngõ, tôi dặn Tự:
“Mày đi về cùng với tao, gập bố tao trước. Bố tao sẽ hỏi tao đi đâu mà lâu thế? Mày sẽ phải nói là tao đến nhà mày chơi, nhớ nghe chưa?”

Tự khoái chí:

“Mày cũng phải nói với bố tao là tao đến nhà mày chơi, nhớ chửa?”

Từ đó, chúng tôi cứ theo cái mánh đó mà đi xem phim cọp. Được vài lần, ông xoát vé biết mánh của tụi tôi: Ông không tin rằng, mỗi tuần tụi tôi lại có một người cha khác nhau để đi theo vào xem hát. Có lần, ông đã nắm cứng tôi lại mà hỏi người đi kế bên tôi, có phải tôi là con của ông ta hay không? Thế là tụi tôi bể mánh, đành đứng ngoài nhìn hình thôi.

Image
Trưởng Hồ Ngọc Cẩn 1965

Trường Trung-Học Hồ-Ngọc-Cẩn tọa lạc tại đầu đường Lê-Quang-Ðịnh, Gia-Ðịnh, là trường Nam Trung-Học Công Lập lớn nhất tỉnh .Trường Hồ Ngọc Cẩn được sáng lập từ tỉnh Bùi Chu, Bắc Phần. Cụ Hồ Ngọc Cẩn là vị Giám Mục thứ nhì của Thiên Chúa Giáo Việt Nam. Cụ cũng là Giám mục tiên khởi của giáo phận Bùi Chu. Do biến cố lịch sử, trường di cư vào miền Nam sau hiệp định Geneve năm 1954.

Trong thời gian đầu, trường tá túc tại Tiểu Chủng Viện Công Giáo tại đường Bùi Thị Xuân, cạnh nhà thờ Huyện Sĩ. Lúc bấy giờ trường chỉ gồm hai dẫy nhà lầu bằng gỗ, lợp ngói xi măng đơn giản. một phần ba thành phần học sinh là chủng sinh, chuẩn bị để trở thành linh mục.
Ðầu thập niên 60 trường đổi đến địa điểm hiện tại là một phần của trường Nam Tỉnh Lỵ Gia-Ðịnh. Sau năm 1975 trường trở thành trường tiểu học với tên mới là Nguyễn Ðình Chiểu.(Tài liệu của Hội Ái Hữu Cựu Học sinh Trương Hồ Ngọc Cẩn)


Hết lớp Nhất, chúng tôi thi vào lớp Đệ Thất trường công. Hồi đó, trường công ít lắm, vỏn vẹn có vài trường: Từ ngoài Bắc di chuyển vào, cho con trai thì có trường Hồ Ngọc Cẩn, Trần Lục, Chu Văn An. Con gái thì có độc nhất một trường Trưng Vương mà thôi. Trường của phe người Nam đã có từ lâu là Võ Trường Toản, Petrus Ký và Gia Long. Tự và đa số đám học sinh Bắc Kỳ ở quanh vùng Thị Nghè, Hàng Xanh, Bà Chiểu, Tân Định, thi và trường Hồ Ngọc Cẩn. Gia đình tôi, từ bố tôi tới anh tôi đều học ở trường Bưởi (sau này đổi tên là Chu Văn An), nên mặc dù tôi ở Thị Nghè mà cũng lóc cóc nộp đơn thi ở cái trường Chu Văn An tuốt tận Chợ Lớn.

Image
Một lớp học Trường Hồ Ngọc Cẩn 1966


Mặc dù học khác trường, chúng tôi vẫn gập nhau đều đều, ngày nghỉ vẫn đôi khi đi xem xi nê, ăn cà rem chung với nhau.

Cuối năm Đệ Tứ (Lớp 9), cả hai chúng tôi đều thi đậu bằng “Trung Học Đệ Nhất Cấp”. Tự gặp tôi, tâm sự:

“Bố tao nghỉ làm rồi, cả nhà chỉ còn Mẹ tao buôn bán, không được bao nhiêu nhưng cả gia đình trông vào đó. Tao phải nghĩ cách học cho mau để đi làm phụ mẹ.”

Image
Một lớp học Trường Hồ Ngọc Cẩn (Cô GS Phượng đang dạy lớp Đệ Tứ)


Thế là nó vừa học Đệ Tam (Lớp 10) ở Hồ Ngọc Cẩn, rồi học thêm Đệ Nhị (Lớp 11) ở trường tư. Cuối năm, nó cứ đi thi Tú Tài Một thử thời vận:

Ai dè nó thi đậu!

Tự đến gặp tôi, rủ đi xi nê ở rạp Cao Đồng Hưng (Bà Chiểu). Nhưng khi gặp bố tôi, là thầy học cũ của Tự (thầy Cảng dậy chúng tôi được nửa năm thì mất. Bố tôi dậy thế), nó ngập ngừng một lúc rồi chào tạm biệt bố tôi để đi lính. Thời đó, chiến truờng chưa khốc liệt cho lắm, việc đi lính cũng còn xa vời, nên bố tôi hơi ngạc nhiên vì quyết định của Tự, nhưng cũng chúc nó an toàn và thành công trong cuộc đời binh nghiệp. Đi xe bus đến rạp hát, thay vì vào xem xi nê, chúng tôi ngồi ngoài quán uống nước mía. Tự lại tâm sự:

“Tao đã nói với mày rồi, nhà tao còn có một mình mẹ tao buôn bán nuôi cả gia đình, cực quá. Tao ráng đậu cái Tú Tài để xin đi làm. Tao đi làm được hơn một tháng rồi. Tao đã có thể góp chút ít phụ với mẹ tao, nhưng thực sự thấy không hợp với cuộc sống đó. Tao không thích hợp với nghề Thư Ký quèn, nên đã làm đơn xin đi học khóa 14 Thủ Đức rồi, vài ngày nữa sẽ nhập trường. Đi lính sướng hơn, vừa ngang dọc đời trai, đánh VC bảo vệ miền Nam, vừa có tiền giúp cha mẹ. Mình đã bỏ miền Bắc mà đi rồi, không bảo vệ miền Nam, lấy đất đâu mà sống!”

Nói xong, nó móc túi rút ra một bao thuốc lá Bastos xanh, lấy một điếu hút rồi đưa bao ra mời tôi hút. Tôi ngạc nhiên, không biết nó học hút thuốc lá từ lúc nào? Riêng tôi thì chưa (Tự lớn hơn tôi 3 tuổi, nó 18, còn tôi mới có 15 tuổi thôi), nên tôi lắc đầu từ chối.

“Ngày tôi gặp nó, nét đăm chiêu đêm nhập ngũ

Thấy thương nhau nhiều quá!”

Ra trường, Tự đến thăm tôi vào một chiều nhạt nắng. Nó mặc bộ quân phục mới tinh, mặt mày đen xạm, rắn chắc nhưng vui tươi thoải mái. Hai thằng lại dắt nhau đi lang thang suốt buổi tối. Chúng tôi không uống nước mía nữa, mà uống cà phê đen và hút thuốc Quân Tiếp Vụ. Khi về, Tự bắt tay tôi, nắm chặt một lúc, rồi nói:

“Đời lính nay đây mai đó, chẳng biết trước được! Khi nào nghỉ phép, tao sẽ tìm cách về thăm mày, nhưng chắc cũng còn lâu lắm. Thôi, tao về. Cho tao gửi lời thăm thầy.”

“Hôm chia tay, hai đứa cùng bùi ngùi,

Ngày mai Nó, Tôi trên ngưỡng cửa cuộc đời,

Dặn nhau gắng vui, dù cho vành môi xe khô mấy cũng mỉm cười”.

Thật vậy, kể từ đó, tôi chưa gặp lại Tự lần nào.

Cuộc chiến cũng lần lần leo thang, đời lính dễ gì có ngày nghỉ, mà nếu có, Tự cũng còn thiếu gì chuyện để làm. Phần tôi, tôi cũng phải lo tiếp tục học hành, hết Tú Tài 1 lại đến Tú Tài II. Hết Đại Tá Nguyễn Chánh Thi đảo chánh, lại đến Tướng Dương Văn Minh, rồi Tổng Thống Diệm bị giết . . . Cuộc đời học sinh của tôi cũng theo đó mà lung tung cả lên. Tôi quên mất cả Tự! Có nhớ thì cũng không biết nó ở đâu mà tìm?

Vào khoảng năm 1968 - 1969, VC tổng tấn công. Cả nước lâm chiến. Tôi đang học cũng phải xếp bút nghiên đi quân sự học đưởng một tháng ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Học xong, được giao cho khẩu súng Carabin, làm nhiệm vụ “Sinh Viên bảo vệ thành phố”.

Trong một chuyến đi thăm chiến sĩ tiền tuyến, đám sinh viên chúng tôi đi thăm một tiểu đoàn lính vừa đi hành quân về. Đó là Tiểu Đoàn 33 Biệt Động Quân.
Image
“Biệt Động Quân vì dân quyết chiến.”


Ông Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng có một biệt danh rất dễ sợ là . . . “Thiếu Tá Tử Thần” và bộ chỉ huy Tiểu Đoàn đón tiếp phái đoàn chúng tôi ở cổng trại và dắt chúng tôi đi thăm anh em binh sĩ đang gác ở cám trạm gác, ở tiền đồn. Khi trở về doanh trại, chúng tôi đang nghe thuyết trình thì bất ngờ có một giọng nói thật là quen thuộc vang lên. Tôi ngạc nhiên, quay ngay đầu lại: Trước mặt tôi, một sĩ quan BĐQ rất trẻ, mang lon Đại Úy, cái đầu hơi nghẹo qua một bên. Tôi mừng quá, hét lên:

“Tự! Phải mày đó không, Tự?”

Tự cũng mừng rỡ, đưa hai tay ra:

“An! Mày là An đó hả?”

Thế là hai đứa nắm tay nhau nói chuyện rối rít. Tôi nhìn Tự:

“Mày . . . đi Biệt Động cơ à! Dám . . . dỡn mặt với Tử Thần đó hả?

Oai quá nhỉ!

Đã . . . Đại Úy rồi! Lên lon mau thật! Vợ con gì chưa?”

Tự chỉ Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng, vừa cười vừa nói:

“Tử thần đứng ngay trước mặt tao nè . . . Tao dỡn mặt với ổng hàng ngày!

Thầy ra sao rồi? Còn đi dậy học không?

(Thầy tức là bố của tôi, thầy giáo của Tự)

Mày học tới đâu rồi? Sao học hoài vậy? Đi lính đi, vào Biệt Động với tao!”

Đang ba điều bẩy chuyện thì Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng nắm vai Tự kéo ra một góc, nói vài câu gì đó, Tự đanh mặt lại, quay trở lại nói với tôi:

“Có chuyện rồi, tao lại phải dẫn quân đi liền. Hẹn gặp mày kỳ tới,

Cho tao gởi lời hỏi thăm thầy, nhe!”

Ngày qua ngày, tôi bận rộn với việc dậy học kiếm tiền, với thi cử, bầu cử, ứng cử . . . ở trường Luật. Còn Tự thì chắc chắn là lại rày đây mai đó với những cuộc hành quân liên miên của người lính Biệt Động. Mỗi đứa mỗi phương trời.
Image
“Tử thần trước mặt tao nè!”
Tôi học xong Đại Học năm 1971, còn sót lại một ít thòi gian hoãn dịch, cả đám sinh viên lo chạy tứ tán kiếm đường binh: Đứa thì đi ứng cử vào Hội Đồng Xã, đứa thì xin vào chương trình “Người Cầy Có Ruộng”, Xây Dựng Nông Thôn . . . để mong được hoãn dịch. Đứa khác thì nộp đơn thi vào Hải Quân, Không Quân. Tôi trình diện nhập ngũ và được xếp vào khóa 1/72 Thủ Đức.

Suốt khóa học, tôi học tàn tàn, với hy vọng là, sẽ được biệt phái về làm ở Nha Quân Pháp hoặc Tòa Án Quân Sự. Nhưng hy vọng của tôi càng ngày càng tiêu tan dần với tình hình chiến trận càng ngày càng sôi động hơn lên. Kết quả là đến cuối khóa, không có ban nghành nào tuyển thêm người nữa, tất cả các Tân Sĩ Quan đều được dành cho tiền tuyến. Những Sinh Viên Sĩ Quan lựa chọn đơn vị của mình theo thứ tự đậu cao thấp. Ai thích về gần nhà thì chọn Địa Phương Quân, Sư Đoàn . . . Ai muốn sống hùng sống mạnh thì chọn các binh chủng nổi tiếng như Nhẩy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Cách, Biệt Động Quân . . . Phần tôi, từ hồi nhìn thấy các anh hùng Mũ Nâu đánh đuổi bọn Việt cộng ở Hàng Xanh, tôi đã khoái binh chủng Biệt Động Quân rồi, nay được dịp, tôi hăng hái cầm bút viết ngay tên mình vào bảng danh sách các Tân Sĩ Quan Biệt Động Quân, chợt nhớ ra là đã có lần Tự rủ tôi vào Binh Chủng Cọp Đen này.

Mãn khóa 50 Rừng Núi Sình Lầy, tôi được đưa đi thực tập với Tiểu Đoàn 42 Cọp Ba Đầu Rằn đang hành quân ở Takeo, Campuchia, rồi Tiểu Đoàn 44 Cọp Đen hành quân ở Kiến Phong (1). Sau khi trui luyện kỹ càng, tôi mới được khăn gói lên vùng Pleiku gió núi mưa mùa để bổ xung vào Tiểu Đoàn 90 Biệt Động Quân Biên Phòng (2).

Vừa đúng lúc Trung đội Thám Sát đang thiếu Sĩ Quan chỉ huy (Sĩ Quan cũ vừa tử trận), tôi đã đuợc Đại Úy Giác, Tiểu đoàn trưởng, chỉ định làm Trung Đội Trưởng Thám Sát.

Từ đó, tôi trở đã trở thành một người lính “Cọp Đen” chính hiệu:
Image

“Mũ Nâu, mầu áo hoa rừng,
Anh đi Biệt Động lẫy lừng bốn phương”
Đời Biệt Động của tôi, cũng như những anh em trong binh chủng, là những chuỗi ngày hành quân liên miên trong vùng II chiến thuật gió núi mưa mùa, với những trận đánh thật đinh tai nhức óc của đại bác 105, đại bác 130, Sky Raider và A37 . . . cùng với những trận đánh xáp lá cà im lặng tới rợn người, chỉ nghe tiếng lưỡi lê và dao rừng vung lên mà thôi (3). Chỉ ở vùng II này, mới có những tiểu đoàn BĐQ phải trở về Dục Mỹ bổ xung quân số và tái huấn luyện. Bên VC, có những Trung Đoàn, Sư Đoàn bị tan nát, xóa sổ.

Tôi sống sót tại Quân Y Viện Ngọc Minh, với tờ giấy phân loại II và giải ngũ vào cuối năm 1974.

Trở về cuộc sống dân sự, tôi lang thang khắp Sài gòn Chợ Lớn xin việc. Các văn phòng Luật Sư, các ngân hàng đều đủ người hết rồi.

Tôi nhớ lại đời sống quân ngũ, nhớ cái mũ nâu với mầu áo hoa rừng, muốn trở lại với Biệt Động Quân. Ngồi suy tư bên khói thuốc và ly cà phê đen, tôi nhớ lại các đồng đội, nhớ lại Trần Đình Tự, người bạn thủa xưa đã cùng ngồi chung với nhau trong quán nước này. Không biết bây giờ, nó còn:

Image
“Poncho buồn phủ kín đời anh.”

“Đang xông pha đèo cao núi thẳm?”

Hay . . .

“Đã về bên kia khung trời biền biệt trên cao?”

Cuối cùng, tôi đã được Luật Sư Đào Văn Sáu nhận cho tập sự tại văn phòng của ông ở Biên Hòa (Luật Sư Sáu hiện đang định cự tại Tiểu Bang Victoria với tôi. Tôi đã gặp và chào ông). Sau đó, tôi đổi về Saigòn, tập sự với Luật Sư Nguyễn Duy Nguyên, ở đường Gia Long. Ngày ngày, tôi xách cặp đi bộ từ văn phòng qua Tòa Thượng Thẩm Saigòn mà biện hộ cho thân chủ.

Tháng Tư năm 1975, toàn bộ Miền Nam tan hàng mà không hô “Cố Gắng” (4). Thành phố Saigòn tràn ngập dép râu nón cối và nón tai bèo:

“Đôi dép râu dẫm nát đời trai trẻ,

Chiếc nón tai bèo che phủ kín tương lai!”

Bọn Việt cộng cai trị dân Nam bằng những trận dịch đau mắt và ghẻ lở phát không và chiến dịch “Đánh Tư Sản Mại Bản” với kết quả là biết bao nhiêu người dân phải đi vùng “Kinh Tế Mới” và hàng đoàn xe Zin và Molotova bít bùng chở chiến lợi phẩm từ Nam ra Bắc. Đám sinh viên nằm vùng trốn ra bưng ngày xưa, như Nguyễn Đăng Trừng, Trịnh Đình Ban, Huỳnh Tấn Mẫm, Nguyễn Văn Nuôi . . . xuất đầu lộ diện với những chức vụ lạnh lùng: Giám đốc Sở Công An Thành Phố, Chủ Tịch Hội Trí Thức Yêu Nước . . .

Đám Sĩ Quan Miền Nam tan hàng thê thảm. Người có phương tiện thì nhanh chân bay qua đảo Guam. Đám không chấp nhận đầu hàng, nhất định đánh VC tới hơi thở cuối cùng để rồi chết thê thảm nơi trận tiền không ai chôn cất. Đám khác lẳng lặng buông súng nhập vào cuộc sống bình thường, giả dạng dân cầy, ngư phủ . . . để tìm đường vượt biên tìm Tự Do.

Số còn lại chấp nhận ra trình diện bọn VC để đi “Học Tập Cải Tạo”, nhưng thực sự là bị đi tù, từ ba ngày, thành ba năm, mười năm, mười bẩy năm. Có người bị xử tử, có người chết vì bệnh hoạn, phơi thây nơi rừng thiêng nước độc, không thân nhân không bạn bè, không manh chiếu đắp.

Năm 1981, tôi may mắn vượt biên thành công, tìm Tự Do nới xứ Úc. Cũng như mọi người, tôi nhẩy vào factory cầy túi bụi, kiếm tiền gửi về cho gia đình, cho vợ con tìm đường vượt biên tiếp.

Đến khi đoàn tụ vợ chồng, tôi mới trở lại trường học mà ráng sức học hành. Tôi không theo nghề cũ mà chuyển sang học Kế Toán.

Khi cuộc sống đã tạm ổn, tôi mới mon men ra sinh hoạt với anh em cựu quân nhân trong tiểu bang Victoria. Tôi nhận thấy mọi quân binh chủng đều có hội đoàn riêng, chỉ có Biệt Động Quân là vắng bóng. Không phải vì anh em Mũ Nâu bị cọp liếm hết (5), mà vì anh em đã quá mệt mỏi rồi, không muốn hội hè gì nữa cả.

Tôi ra sức quy tụ anh em cùng chí hướng và cuối cùng đã thành lập được

“Hội Biệt Động Quân QLVNCH, tiểu bang Victoria”.

Lễ ra mắt đã được cử hành long trọng vào ngày 19 02 2001 tại Trung Tâm Sinh Hoạt Cựu Quân Nhân, Footscray. Mục đích là tụ hội anh em mũ Nâu cũ, hàn huyên chuyện xưa và giúp đỡ nhau trong cuộc sống hàng ngày tại Úc. Từ hội Biệt Động Quân này, chúng tôi đã bắt liên lạc được với những Biệt Động Quân khác trên thế giới và gia nhập “Tổng Hội Biệt Động Quân” lúc đó do anh Trần Tiễn San làm Tổng Hội Trưởng.

Tôi nhớ lại người bạn thủa xa xưa, nhắn tin tìm Trần Đình Tự trên tập san Mũ Nâu của Tổng Hội.

Từ bên Mỹ, anh Trần Tiễn San báo cho tôi biết:



“Đã có tin của Trần Đình Tự, cấp bậc và chức vụ cuối cùng là Thiếu Tá, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 38 Biệt Động Quân.

Nhưng Tự đã không còn nữa.

Thiếu Tá Trần Đình Tự đã tử trận.

Thiếu Tá Trần Đình Tự đã hy sinh vì Tổ Quốc, vào giờ thứ 25 của cuộc chiến”.

“Hai năm sau mới có thư về,
Người quen cho biết tin,
Image
"Bạn tôi thân mến đã liệt oanh ngã xuống, khắp đơn vị tiếc thương”.
Tôi bàng hoàng đọc đi đọc lại tin tử trận của Tự trong bài viết “Sự trả thù đê hèn và dã man” của tác giả Thiên Lôi, trong tập san Mũ Nâu số 2 và xin trích ra đây một đoạn cho tất cả cùng đọc:

“Lúc đó là 11giờ sáng ngày 30 tháng Tư năm 1975, tại trung tâm hành quân của Liên Đoàn 32 BĐQ, Trung Tá Liên Đoàn Trưởng Lê Bảo Toàn nhận được lệnh từ cấp chỉ huy Quân Đoàn:

“Hãy ngưng bắn ngay lập tức, ở yên tại chỗ để đợi phía bên kia đến bàn giao khu vực.”

“Trung Tá Toàn chết sững, buông cái ống liên hợp máy truyền tin rớt xuống đầu người lính truyền tin đang ngồi dưới chân. Ông đổ vật xuống chiếc ghế như cây chuối bị đốn ngang. Hai mươi năm phục vụ quân ngũ, 19 năm rong ruổi vào ra vùng đạn bom, năm lần bị thương, lần nào cũng thập tử nhất sinh, nhưng chưa bao giờ ông thấy đau như lúc này. Ông nghẹt thở, buốt trong óc tưởng chừng như ai đang đóng ngập cái đinh muời phân vào đầu, có lẽ cắt ruột cũng chỉ đau đến thế. Ông lịm đi.

Image
“Tất cả nghe lệnh tôi.
(Hình Đại Tá Sơn Thương)”
Người sĩ quan hành quân phải gọi khẽ:

“Trung Tá!”

Ông gượng dậy để lấy lại bản lãnh. Sau cú “Sốc”, Trung Tá Lê Bảo Toàn đã điềm tĩnh trở lại, ông cầm máy gọi lần lượt từng Tiểu Đoàn Trưởng:

Tiểu Đoàn 30 Thiếu Tá Nguyễn Ngọc Khoan,

Tiểu Đoàn 33 Thiếu Tá Đinh Trọng Cường,

Tiểu Đoàn 38 Thiếu Tá Trần Đình Tự.

Cả ba đáp nhận. Trung Tá Toàn chậm rãi, ông cố giữ cho tiếng nói của mình,với âm hưởng đều đặn như mọi ngày:

“Các anh ra lệnh cho con cái buông súng. Tổng Thống Dương Văn Minh đầu hàng rồi! Sẽ có đại diện của “Phe họ” đến để nhận bàn giao.

Cám ơn các anh, các vị Tiểu Đoàn Trưởng, các Sĩ Quan trong Liên Đoàn.

Tôi cũng đặc biệt cám ơn các anh em Hạ Sĩ Quan, Binh Sĩ.

Chúng ta đã bấy lâu cộng tác, sống chết với nhau.

Nay, nhiệm vụ của tôi kể như đã chấm dứt, tôi không còn trách nhiệm với Liên Đoàn nữa. Thân chào tất cả anh em trong Liên Đoàn.

Lời cuối cùng của tôi trong cương vị Liên Đoàn Trưởng là yêu cầu các anh bình tĩnh và chúc tất cả may mắn!”

Lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng trong đời Trần Đình Tự đã cưỡng lệnh cấp chỉ huy. Sau khi nhận lệnh buông súng và lời chào của Trung Tá Liên Đoàn Trưởng, anh quay qua Đại Úy Xường, Tiểu Đoàn Phó:

“Anh Xường, tôi vừa nhận lệnh mình phải buông súng đầu hàng.

Đây là lần chót, tôi yêu cầu và cũng là lệnh:

Anh nói cho các Đại Đội Trưởng và thay tôi dẫn đơn vị ra điểm tập trung.

Tôi sẽ ở lại, đánh nữa, tôi không đầu hàng, anh hiểu cho!

Tôi không khi nào để lọt vào tay tụi nó lần nữa (6).

Image
“Ai ở lại chiến đấu thì đi theo tôi!”
Tiếp đó, anh cho tập trung Bộ Chỉ Huy, trung đội Thám Báo, nói vói họ đã có lệnh quy hàng, các anh em sẽ theo lệnh của Đại Úy Tiểu Đoàn Phó, còn ai muốn ở lại chiến dầu với anh đến giờ chót thì đứng riêng một bên.

Lần lượt số người tách khỏi hàng được gần 40 chiến sĩ.

Trần Đình Tự đưa tay chào Đại Úy Xường và các quân nhân dưới quyền, rồi dẫn những người quyết tử tiến vào khu vực vười khoai mì để tiếp tục “Ăn thua đủ” với địch.

Kết cục, cuộc chiến đấu cuối cùng cũng phải chấm dứt. Tự và anh em hết đạn, địch tràn ngập, bắt trói tất cả những người còn sống (9 người) giải về sân trường Tiểu Học gần đó.

Tên chỉ huy của giặc Cộng tiến về phía Tự, lớn tiếng lăng nhục QLVNCH và chỉ ngay mặt Tự thóa mạ thậm tệ, rồi bắt anh cởi áo quần (Lon Thiếu Tá may dính trên cổ áo).
Image
“AI ĐẦU HÀNG, NHƯNG TAO THÌ KHÔNG!”
Tự đứng yên nhất định không chịu, tên VC rít lên:

“Đến lúc này mà mày còn bướng hả? Lũ uống máu! Bọn tay sai! Những thằng ác ôn! Mày có làm theo lệnh của ông không thì bảo?

Nhân danh Cách Mạng, ông ra lệnh cho mày cởi áo quần Ngụy và nằm xuống! Chúng mày đã đầu hàng, nghe rõ chưa?”

Tự trả lời:

“Ai đầu hàng, nhưng tao thì không!

Mày nghe đây: Chúng mày mới là lũ ác ôn.

Chúng mày mới đích thực là lũ tay sai, lũ vong thân chó má.

Bọn mày chính là những tên tội phạm của Dân Tộc Việt Nam.

Hiểu không? Một lũ đê tiện!”

Tên chỉ huy VC mắt nổi gân máu, tiến đến sát Tự, tay giật mạnh bung hai hàng nút từ cổ xuống đến bụng. Tên giặc Cộng rút luôn con dao găm Tự đeo bên hông, nó đâm mạnh vào bụng Trần Đình Tự, rọc mạnh xuống phía dưới. Ruột Tự lòi tuột ra ngoài. Chưa hả, nó còn ngoáy mạnh mũi dao vào tận trong bụng Tự.

Tự hét lên bi ai và nghẹn uất, đổ sụm xuống oằn mình giật từng cơn trong vũng máu.

Đồng thời với hành động dã thú ấy, tên giặc nghiêng đầu nhìn Tự rồi nói gọn:

“Đem những thằng này bắn hết đi! Toàn là ác ôn cả đấy!”

Tám quân nhân còn lại bị dẫn ra phía sau trường đễ được bắn xối xả mấy loạt AK 47. Xác họ bị quăng xuống cái đìa gần đó. Bọn VC dẫn nhau đi”.

Sự đền nợ nước của Trần Đình Tự tôi kể lại hôm nay là do lời thuật lại của Đại Úy Xường, Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 38 BĐQ. Anh cũng đã hy sinh trong trại tù CS Nghệ Tĩnh, năm 1979. Tôi gặp Xường lúc ở trại 8 Yên Bái năm 1997. Anh bị VC bóp cổ chết trong ngục thất vì sau nhiều lần trốn trại anh đều bị bắt.

Xường xuất thân khóa 22A Võ Bị QGVN.

Người thứ hai thuật lại những giờ phút sau cùng của Cố Thiếu Tá Trần Đình Tự là người lính Mũ Nâu mang máy truyền tin cho Tự - cũng bị tàn sát chiều ngày 30 04 75 một lượt với Tự và các anh em khác. May mắn, Đức Trọc - tên anh ta - bị thương giả chết chờ cho VC đi xa rồi ráng bò vào nhà dân, được dấu diếm, băng bó, rồi thuê xe Lam chở về Saigòn.

Đức đã ráng sống, ráng tìm cách vượt biên sang Mỹ, để sau đó, kể lại cái chết đau buồn của Thiếu Tá Tự cho mọi người nghe.

Tôi đọc đi đọc lại bài báo, nước mắt nhiểu đầy trang giấy.

Anh em sau bao năm không đuợc tin tức, lần đầu tiên đuợc tin nhau thì lại là tin cuối!

Ôi! Buồn làm sao!

“Hai đứa đôi nơi, ngày đầu tiên biết tin nhau là tin cuối.

Chát cay đầu môi chiều khu chiến mưa sụt sùi”

Anh em sống với nhau từ nhỏ, tôi biết rõ Tự oai hùng. Tôi biết Tự dám chiến đấu tới cùng. Tôi đau thương, xót xa cho cái chết quá thảm khốc của Trần Đình Tự - Một Thiếu Tá Biệt Động Quân – cầm quân đánh trận, bị bắt ngay tại mặt trận mà lại không được bảo vệ bởi Luật Quốc Tế về Tù Binh, mà lại bị xỉ vả, chửi bới thậm tệ và cuối cùng bị hành hình một cách dã man như vậy hay sao?

Trần Đình Tự, một Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Biệt Động Quân, lại bị giết chết một cách bi thương, bị giết chết một cách dã man như vậy sao?

Cả Thế Giới nghoảng mặt làm ngơ!

Những phóng viên truyền hình của Mỹ, của Úc, đâu hết cả rồi? Ông phóng viên nào chụp hình Tướng Nguyễn Ngọc Loan đâu rồi? Ông Eddie Adams và đài truyền hình AP đâu? Sao không ra quay phim, phỏng vấn, làm rùm beng lên đi!

Phóng viên chiến trường Neil Davids của Úc đâu? Sao không viết tin này lên cho cả thế giới đọc?

Hồi Tết Mậu Thân, một tên phiến loạn không mặc sắc phục (dù là sắc phục của bọn GPMN) cầm súng bắn lại các chiến sĩ VNCH. Khi bị bắt, đương nhiên y bị coi là phiến loạn phá rối trị an. Bắt buộc là phải xử bắn tại chỗ theo đúng Hiến Pháp của VNCH. Tướng Loan xử bắn nó là đúng. Tại sao bọn nhà báo ngoại quốc lại làm rùm beng lên? Đễ đến nỗi tới chết, ông vẫn bị hàm oan!

Những tên nhà báo này chỉ giỏi bắt nạn VNCH mà thôi, còn thì sợ bọn VC bằng chết. Cả lũ im thin thít, để một người lính VNCH bị hành hình mà không dám có một tấm hình, một đoạn phim, một lời nói bênh vực?

Công bằng ở đâu? Lẽ phải ở đâu?

Sau khi Tướng Minh đầu hàng, đám ký giả ngoại quốc còn lại ở Miền Nam nhiều lắm chứ! Chắc chắn họ biết chuyện này. Có đều cả đám im lặng mà phụ họa với bọn VC mà thôi.



Có lẽ tại tôi thương cho bạn quá mà nói càn hay chăng?

Thôi thì, cuối cùng, Trần Đình Tự cũng đã chết rồi.

Một cái chết oan nghiệt, nhưng đó là cái chết oai hùng của một chiến binh không đầu hàng giặc.

Cái chết danh dự của người lính ngay giữa trận tiền.

Cái chết không có da ngựa bọc thây, nhưng gương sáng của Tự sẽ còn lưu lại cho đến ngàn sau:

“Muôn lớp trai đi, nghìn sau theo dấu chân ghi vào Thiên Lý,

Biết bao người xong nợ xương máu không trở về.”



Trần Đình Tự, Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 38 Biệt Động Quân, bạn thân của tôi từ thủa nhỏ, và biết bao nhiêu chiến sĩ vô danh khác, đã chiến đấu cho Tổ Quốc Việt Nam Cộng Hòa tới hơi thở cuối cùng.
Image
“Biết bao người xong nợ xương máu không trở về!”
Ai đó vừa quăng cái lon sữa bò vào thùng rác.

Tôi nhớ tới Tự, tới trò chơi tạt lon ngày xưa, muốn chạy ra lượm cái lon để dành chơi.

Nhưng Tự đã chết rồi, đâu còn ai để chơi trò chơi này nữa!
Image
Mới đây, rạp xi nê Rivoli cũng đã chiếu lại phim Zoro. Tôi cũng tới rạp đứng xem hình quảng cáo, cứ tưởng tượng đâu đây, Tự đang đẩy vai tôi chui vào rạp hát coi cọp.


Nhưng Tự đã chết rồi, đâu có đẩy vai tôi được nữa!

Tự ơi,

Mày chết ở đâu? Tao cũng không biết. Tới khi biết tin mày chết, tao cũng không thắp được cho mày một nén nhang.

Tao cũng ráng tìm thân nhân, bạn bè của mày, để, nếu được, nhờ họ thắp một nén nhang cho mày, nhưng mãi đến bây giờ cũng chẳng tìm được ai.

Tao có hai thằng bạn Biệt Động nữa, là thẳng Châu và thằng Đạm. Người quen cũng cho biết tin về hai đứa đó. Thằng Đạm còn sống, đang mở nhà hàng ở ngay Orange County, bên Mỹ, nhưng thằng Châu thì cũng đã chết rồi. Có điều tao may mắn đã liên lạc với vợ con của nó, để nhờ thắp cho nó một nén nhang.

Mới đây, có anh Sơn, cũng là người ở cùng xóm với mày hồi xưa, cũng đang ở bên Mỹ, có cho tao biết một ít tin tức về mày:

“Năm 2008, Sơn có trở về lại xóm củ vào dịp TẾT , thì gia đình anh Tự đã không còn ai ở đó hết. Hàng xóm có kể cho sơn nghe, là anh Tự đã bị Việt cộng giết tại chỗ vì anh không chịu đầu hàng , gần cận chiến 30-04 đúng như anh đã viết trong Việt Luận và take2tango. Ba má anh Tự đã mất hết chỉ còn người em trai tên Lộc và cô em gái út tên Tâm đã dọn về Thủ Đức.

Đó là phần về anh Tự, còn chị Mỹ vợ và con anh Tự thì sơn không biêt đã đi về đâu?”

Image
“Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Việt Úc” ở Dandenong, Victoria, Australia
Đài tưởng niệm chiến tranh duy nhất trên thế giới có Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ tung bay suốt ngày đêm củng với 6 lá cờ của những quốc gia đã trực tiếp gởi quân tham chiến giúp Việt Nam Cộng Hòa, và chiếc trực thăng đã từng tham chiến ở Việt Nam, bao quanh tượng đồng hai chiến sĩ Úc, Việt trong thế tác chiến.

Anh em cựu quân nhân Úc tham chiến ở Viêt Nam cũng với anh em lính chiến nhà mình, thuộc Tiểu bang Victoria, nơi tao ở, cũng đã gom công góp sức xây được một Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Úc để tưởng nhớ những “Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân” trong đó có mày.

Vào ngày khánh thành bức tượng, 30 tháng Tư năm 2005, tao và các bạn đã thắp cho mày và những chiến sĩ vô danh khác một nén nhang. Ấm lòng rồi nhé!

Các bạn lính chiến của tôi ơi,

Các bạn bè ở hậu phương của tôi ơi,

Hãy đến tượng đài Chiến Sĩ Úc Việt ở Dandenong, Victoria Australia, hoặc đến bất cứ Tượng Đài Chiến Sĩ ở bất cứ nơi nào trên thế giới, vào ngày 30 tháng Tư, thắp cho Trần Đình Tự và những chiến sĩ vô danh khác của QLVNCH một nén nhang tưởng niệm, bạn nhé!

“NGƯỜI ĐI VÀO TỐI VẪN LƯU DANH CHO ĐỜI MÃI,
NÓ ANH HÙNG NGÀY MAI”.


Người Việt của tôi, là thế đấy!
NGUYỄN KHĂP NƠI.
Người lính già xa Quê Hương.
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Nhớ về người Tư Lệnh cũ
Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu
(29/9/2001 – 29/9/2009)


Trong các đơn vị thuộc vùng 3 Chiến thuật, Sư đoàn 5 Bộ binh là đại đơn vị trấn nhậm một trọng điểm có tầm sinh tử đối với thủ đô Sài Gòn nhất. Do đó, các cuộc binh biến không thể thiếu sự đóng góp của Sư đoàn 5 BB. Đại tá Nguyễn Văn Thiệu nhờ vào chức vụ Tư lệnh SĐ5BB mà đã được mời tham gia vào cuộc đảo chánh lật đổ cố Tổng thống Ngô Đình Diệm vào ngày 1 tháng 11 năm 1963.

Từ các căn cứ ở Bình Dương, chỉ cách Sài Gòn không đầy 30 ki lô mét, các đơn vị mang số 5 đỏ giữa ngôi sao trắng đã được nhanh chóng điều động về thủ đô chiB Am cứ các cơ quan trọng yếu của chế độ. Trong tấm ảnh chụp chung của các Tướng lãnh tham gia đảo chính, Đại Tá Thiệu lúc đó còn ngồi một cách khiêm tốn ở hàng sau giữa những ông tướng có vẻ hùng hổ, tự đắc. Khuôn mặt ông Thiệu ngày đó còn gầy guộc, nhưng đã thấy trong đôi mắt nét sắc sảo, hứa hẹn một bước tiến chính trị rộng mở trong tương lai.

Là một sĩ quan cấp úy nhỏ nhoi trong đội quân cả triệu người, thì hiểu biết được bao nhiêu mà dám viết về một Tổng thống, một Tổng Tư Lệnh Quân đội! Nhất là về cố Tổng thống Thiệu, người đã được công chúng và nhiều sử gia nhận xét thiếu công minh cho 1ến khi các tài liệu dần dần được giải mật và công bố để trả lại cho ông phần nào sự công bằng.

Lần đầu tiên tôi được gần ông nhất là ngày lễ mãn khoá của Khoá 1 Sĩ quan hiện dịch Chiến Tranh Chính Trị vào đầu tháng 5 năm 1969. Sau đại lễ huy hoàng tại vũ đình trường, các tân thiếu úy được đưa vào hội trường mới xây phía sau lưng toà nhà Bộ Chỉ Huy. Nơi đây, chúng tôi sắp hàng một để lần lược bước đến nhận quà do Tổng thống trao tận tay. Đó là một cây bút bi hiệu Parker, trên đó có in huy hiệu của Tổng Thống bằng kim nhũ và một cửa sổ nhỏ để mỗi lần bấm thì hiện ra theo thứ tự các dòng ch biểu hiện ba mục tiêu mà chính phủ của ông đã đề ra: xây dựng dân chủ, giải quyết chiến tranh, và cải tạo xã hội.

Nhận xét đầu tiên khi đối mặt vị Tổng thống là ông có khuôn mặt nhỏ nhưng rất thông minh, đôi mắt sáng sắc sảo, và nụ cười rất thân tình, cởi mở. Nhờ đó, những tân thiếu úy đã không cảm thấy khoảng cách quá xa đối với người lãnh đạo cao nhất của quốc gia và quân đội. Ông đã dùng cơm với chúng tôi sau khi ban một huấn thị ngắn và đầy ý nghĩa của một người anh đối với các em vừa chuẩn bị bước vào cuộc chiến gian nguy.

Vì=2 0đường công danh chính trị của ông phát xuất từ Sư Đoàn 5 Bộ binh, nên mối quan tâm của ông đối với sư đoàn này cũng có phần đặc biệt ưu đãi. Các tư lịnh sư đoàn thường là những vị thân tín của Tổng thống Thiệu và rất có tương lai trong binh nghiệp. Sau khi ra trường tôi may mắn phục vụ sư đoàn này, và đã từng hãnh diện khi nhìn thấy tấm hình của vị cựu Tư lịnh Nguyễn Văn Thiệu treo trong các phòng họp cấp Sư đoàn và Trung đoàn. Ngoài cái biệt danh “Sư Đoàn Nùng” (vì là hậu thân của một đơn vị toàn người Nùng từ miền Thượng Du Bắc Việt chuyển vào sau hiệp định Geneve), người ta còn gọi chúng tôi là “lính ông Thiệu”.

Thuyên chuyển qua Không Quân cuối năm 1971, tôi không được vinh dự tham chiến trận An Lộc vào Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972, nên không được có mặt công kênh Tổng thống khi ông đến chiến trường ủy lạo binh sĩ giữa lúc tiếng súng còn chưa dứt ở các đồn diền cao su quanh thị trấn An Lộc đổ nát. Chúng tôi quý ông ở điểm này. Là một nguyên thủ quốc gia, ông có quyền hưởng những ngày tết an toàn ở thủ đô trong không khí hạnh phúc của gia đình. Nhưng không có Tết nào mà ông không tìm đến với các đơn vị tiền đồn hẻo lánh. Trong bộ ka ki bốn túi bình dị, chiếc nón jockey đen có phù hiệu hai con rồng, Tổng thống Thiệu đã mang lại cho những người lính chiến chúng tôi niềm an ủi sâu xa thể hiện một mối quan tâm mà hiếm khi thấy được những vị lãnh đạo khác.

Tính bình dị của ông, lần nữa tôi được thấy khi ông đến thăm Căn Cứ 20 Chiến Thuật Không Quân ở Phan Rang. Hồi đó là gần cuối năm 1972, sau khi chúng tôi hoàn tất việc tiếp nhận căn cứ từ Không Lực Hoa Kỳ. Một đại đơn vị tân lập của Không Quân Việt Nam đang thành hình, đi vào ổn định để tích cực tham gia chiến đấu ở Vùng 2 Chiến thuật.

Tổng thống đã đến với chúng tôi, ăn tối với các sĩ quan tại Câu Lạc Bộ trên ngọn đồi nhìn ra hướng bờ biển Ninh Chữ. Không một chút quan cách, lễ nghi, ông đã tươi cười trò chuyện cùng chúng tôi trong h n hai tiếng đồng hồ. Ông đã trao cho Căn cứ một món tiền nhỏ và dí dỏm: “Thường là cấp nhỏ hối lộ cấp trên! Bây giờ thì tôi hối lộ các anh.” Số là Tổng thống còn bà mẹ già đang ở trong căn nhà gần bờ biển. Hàng ngày, các phản lực cơ của Không đoàn 92 Chiến Thuật cất cánh thường bay qua phía làng của Tổng Thống. Tiếng gầm rú của động cơ quấy nhiễu không khí yên bình của bà cụ, làm bà sợ hãi. Ông Tổng Tư Lệnh phải hối lộ cho thuộc cấp để yêu cầu bay chệch một chút, né cái làng Ninh Chữ kia ra.

Miền Nam mất.
Người ta đổ lỗi cho nhau. Người ch u nhiều tai tiếng là Tổng thống Thiệu.
Dĩ nhiên, ông không thể tránh phần trách nhiệm nặng nề đã làm mất miền Nam, đưa đẩy mười lăm triệu đồng bào vào hỏa ngục Cộng Sản, gần ba trăm ngàn đồng đội vào các trại tù khắc nghiệt mà hậu quả có hàng chục ngàn đã chết cách này hay cách khác, cùng với cả triệu người liều thân vượt biển mà con số bỏ thây làm mồi cho cá lên đến hơn một nửa.
Ông cũng bị tai tiếng về tài sản miền Nam, điển hình là 16 tấn vàng mà thực tế là đã do tên phản bội Nguyễn Văn Hảo trao lại cho bọn Việt Cộng. Lưu vong ra nước ngoài, ông đã số ng ẩn dật, không ồn ào phô trương mà âm thầm chịu đựng búa rìu dư luận. Có thể ông có tài sản lên đến bạc triệu đô la. Nhưng nó đáng kể vào đâu nếu so sánh với con số hàng tỷ đô là mà bọn Việt Cộng thủ đắc hiện nay ?

Tôi cầu xin vong linh cố Tổng Thống tha thứ vì chính tôi cũng đã có lần viết thiếu công bằng về ông khi nhìn sự thất bại của miền Nam theo cách nhìn hạn hẹp của mình. Làm lãnh tụ một nước nhỏ, hoàn toàn lệ thuộc về kinh viện và quân viện của ngoại bang, thì việc quyết định không thể nào tự chủ được. Tổng thống Diệm cũng vì yêu nước, kiên cường trước áp lực Mỹ mà bị thảm sát. Tổng thống Thiệu đã vẫy vù ng mà không thoát được. Ông cũng đã từng chứng tỏ sự can đảm, cứng rắn đến độ căng thẳng với Mỹ trong thời gian chuẩn bị Hoà Đàm Paris. Ông cũng từng đối đầu với tên cáo già Henry Kissinger và đã bị tên Do Thái này gán cho những từ ngữ không đẹp. Tựu trung, ông đã chứng minh bản lãnh, lòng yêu nước, trí thông minh đáng để chúng ta khâm phục hơn là trách cứ. Sự thành bại của miền Nam hoàn toàn nằm ngoài tầm tay của chúng ta.

Duy chỉ có một điều chúng tôi trách ông. Đó là việc dùng người của ông thiên về cảm tình, sự trung thành hơn là dựa trên khả năng. Tôi từng tiếc cho những anh tài không được trọng dụng, mà thay vào đó là những tướng lãnh thiếu kinh nghi7m chiến đấu nhưng đầy lòng tham. Hậu quả là nạn tham nhũng đã làm băng hoại tinh thần chiến đấu của quân dân miền Nam. Quân Lực VNCH có hơn trăm vị tướng mà con số vị trong sạch tài đức chỉ đếm trên đầu ngón tay. Mà ngay họ cũng chẳng ngồi lâu hay được trọng dụng đúng với khả năng. Khi thành lập đảng Dân Chủ, Tổng Thống Thiệu đã vì an toàn chính trị của mình mà làm tan vỡ khối đại đoàn kết quốc gia giữa các đảng phái chính trị và tôn giáo. Những năm đấu thập niên 1970, khi tình hình quân sự rất khả quan, phải chi ông chú tâm vào cuộc chiến bài trừ tham nhũng, nâng đỡ đối lập, phát huy thêm tự do để tăng cường sức mạnh quần chúng thì có hy vọng cải thiện phần nào cách nhìn của người Mỹ và cuộc chiến đã khC3ng kết thúc theo chiều hướng bi đát như đã xảy ra năm 1975.

Nói gì đi nữa thì công và tôi của một vị Tổng thống phải chờ thêm thời gian để phán đoán. Những cuốn sách do các chính khách, báo giới cả Mỹ lẫn Việt viết ra sau này, những tài liệu được giải mật đã đem lại phần nào sự xét đoán công minh về vị Tổng thống thứ hai của chế độ Cộng Hoà Việt Nam.

Tôi vẫn quý ông về lòng ái quốc và những đức tính hiếm hoi trong vai trò người lãnh đạo quốc gia và nhất là người Tổng Tư Lệnh Tối Cao của Quân Lực VNCH.
Chúng ta sẽ nhớ=2 0mãi câu nói của ông :”Sống mà không có Tự do, thì coi như đã chết” (To live without freedom is to have already died.)

Austin, tháng 9, 2009
Kỷ niệm ngày giỗ lần thứ 8 của Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (29/9/2001 – 29/9/2009)

Đỗ Văn Phúc
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: Bing [Bot] and 2 guests