Bình Luận , Quan Điểm

vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Ðảng Bô Xít Việt Nam

Ngô Nhân Dụng
Hàng ngàn người Việt Nam, ở trong nước và bên ngoài, đã ký tên vào bản kiến nghị yêu cầu đảng Cộng Sản Việt Nam ngưng vụ khai thác các mỏ bô xít (bauxite) ở cao nguyên Trung phần. Việc khai mỏ này đe dọa môi trường sống và tài nguyên kinh tế ở các vùng từ Tây nguyên xuống bờ biển miền Trung nước ta. Mỗi ngày càng nhiều người hưởng ứng cuộc tranh đấu của những nhà trí thức đại diện cho lương tâm dân tộc Việt. Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản vẫn cương quyết khai thác bô xít và chưa chịu lùi bước. Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Tấn Dũng đều tuyên bố đó là một “đường lối lớn” của đảng, cho nên từ bây giờ có thể gọi tên nhóm người này là đảng Bô Xít.

Trước phong trào phản đối ngày càng lan rộng, ông Thủ Tướng Bô xít Nguyễn Tấn Dũng đã bay qua đảo Hải Nam để xin ý kiến của các đồng chí từ Bắc Kinh bay xuống. Nếu người Việt Nam ở Úc Ðại Lợi (Australia) có thể mô phỏng dư luận nước này mà phong cho ông Nguyễn Tấn Dũng làm phó đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội. Giống như ông Thủ Tướng Úc Kevin Rudd đang được các đại biểu đối lập trong Quốc Hội phong cho tước hiệu Ðại sứ Lưu động của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc. Thủ Tướng Rudd đang tính chấp thuận cho công ty Nhôm Trung Quốc (China Aluminium Corporation, viết tắt là Chinalco) mua và khai thác các quặng mỏ ở Úc, trong đó cũng có cả quặng bô xít. Tháng Sáu này hội đồng chính phủ phụ trách việc cho phép các công ty ngoại quốc đầu tư vào Úc mới quyết định về việc cho phép Chinalco mua 18% cổ phần của công ty Rio Tinto, để trở thành cổ đông với phần hùn lớn nhất hay không. Nhưng hiện nay phong trào phản đối trong dân chúng Úc đang lên cao, chắc chắn là gây ồn ào náo nhiệt hơn ở Việt Nam vì dân Úc được tự do viết báo, lên đài bầy tỏ ý kiến.

Trung Quốc có chiến lược tìm tài nguyên khắp thế giới. Từ hàng chục năm qua, Bắc Kinh cho người đi mua quyền khai thác quặng mỏ kim loại và dầu lửa ở Châu Phi, Châu Á và Nam Mỹ. Tuần báo Economist đã viết một bài nhan đề “Thực Dân Mới” với hình bìa là một đoàn người Trung Quốc cưỡi ngựa và lạc đã đi trên sa mạc ở Phi Châu, người dẫn đầu trương cao ngọn cờ ngũ tinh mầu đỏ của Trung Quốc. Trong thời đại kinh tế toàn cầu hóa này các nhà thực dân mới không cần dùng súng đạn đi xâm chiếm đất nước khác như đám thực dân vào thế kỷ 18, 19 - trừ khi họ đã dùng súng chiếm từ trước, như Trung Quốc đã chiếm Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974, và chiếm thêm Trường Sa năm 1988. Nhưng họ không thể sử dụng đường lối đó với các quốc gia độc lập khác. Bây giờ họ phải dùng thị trường thay cho bãi chiến trường, lấy tiền bạc (tốt nhất là dùng đô la Mỹ) làm khí giới, qua các thị trường chứng khoán họ mua cổ phần của các công ty về quặng mỏ và dầu lửa. Hoặc điều đình trực tiếp mua luôn quyền làm chủ tất cả một công ty, để được hưởng những tài nguyên mà công ty đó được quyền khai thác. Giống như năm 2005 công ty CNOOC của Trung Quốc đã toan mua Unocal của Mỹ để mua lấy quyền khai thác dầu khí của Unocal ở Trung Á, Miến Ðiện và Úc. Hồi đó các đại biểu Quốc Hội đã buộc chính phủ Mỹ phải tìm cách ngăn cản, cho nên Cnooc đành bỏ cuộc khi thấy gặp khó khăn.

Năm ngoái, tổng số tiền mà Trung Quốc đã chi vào việc đầu tư ở nước ngoài là 52 tỷ Mỹ kim, bằng hai phần ba tổng sản lượng nội địa của Việt Nam; trong đó hai phần ba là để nắm quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên. Trong ba tháng đầu năm 2009 họ đã bỏ ra 23 tỷ Mỹ kim trong 65 vụ thương thuyết đầu tư kiểu này. Dùng cơ cấu thị trường đi mua tài nguyên nước khác là phương pháp làm ăn lương thiện, tôn trọng luật chơi kinh tế. Nhưng chính phủ một nước mạnh như Trung Quốc vẫn có thể dùng biện pháp khác, gây ảnh hưởng trực tiếp trên chính quyền các nước khác để được ưu đãi trực tiếp khai thác lâm sản, đá quý (Miến Ðiện và Lào) hoặc quặng mỏ (như ở Việt Nam, Congo). Trong trường hợp đó họ chỉ dùng “diễn biến hòa bình” chứ không dùng vũ lực, mà lại không tốn tiền như khi phải mua cổ phần trên các thị trường.

Vụ Chinalco mua Rio Tinto trở thành một đề tài chính trị ở Úc vì báo chí và các đại biểu Quốc Hội Úc tìm ra rằng chưa đầy một tuần sau khi ông chủ tịch Chinalco ký giấy thuận trả gần 20 tỷ Mỹ kim để mua 18% cổ phần của Rio Tinto, thì ông ta được thăng lên cấp phụ tá bộ trưởng trong chính phủ Bắc Kinh, với trách nhiệm đi mua thêm tài nguyên các nước khác. Một điều ai cũng biết nhưng ở Úc từ trước không ai nêu ra, là Chinalco không phải là một công ty kinh doanh thuần túy. Như tất cả các xí nghiệp lớn ở Trung Quốc, họ là những cánh tay nối dài của đảng Cộng Sản và nhà nước có nhiệm vụ thực hiện các mục tiêu chính trị. Cộng Sản Trung Quốc dùng các xí nghiệp quốc doanh như những đạo quân đi chiếm tài nguyên của thế giới qua thị trường kinh tế tư bản. Ông chủ tịch công ty Chinalco đóng vai trò một nhà kinh doanh khi ra nước ngoài mua bán, nhưng trong đảng Cộng Sản thì ông là một cán bộ do Bộ Chính Trị điều động.

Ông Tiêu Á Khánh (Xiao Yaqing) 49 tuổi tốt nghiệp kỹ sư vào lúc Ðặng Tiểu Bình bắt đầu tư bản hóa kinh tế nước Trung Hoa. Ông leo lên dần dần trong guồng máy, được Giang Trạch Dân và Chu Dong Cơ chiếu cố cất nhắc, năm 2004 được lên làm bí thư đảng ủy công ty Chinalco. Năm đó ông đã tranh mua với 10 công ty quốc tế khác, thắng cuộc đấu thầu mua một quặng mỏ bô xít ở Úc với giá 3 tỷ đô la Mỹ. Ðó cũng là thời gian Trung Quốc bắt đầu chú ý tới mỏ bô xít ở Việt Nam. Mỏ bô xít này nằm bên vùng khai thác mỏ của Rio Tinto, công ty khai thác khoáng sản lớn thứ ba trên thế giới. Năm 2007, Chinalco cộng tác với một công ty Á Rập Sau đi mua mỏ đồng ở Peru từ một công ty Canada. Họ tranh thắng dễ dàng vì họ không quản ngại trả giá cao để đạt mục đích chính trị.

Cuối năm 2007, công ty khai thác mỏ lớn nhất thế giới BHP Billiton của Anh đề nghị mua các cổ phần để chiếm đa số kiểm soát công ty Rio Tinto. Lúc đó ai cũng biết Rio Tinto đang mang những món nợ lớn tới 38 tỷ đô la Mỹ, sau khi vay để mua công ty nhôm Alcan của Canada, món nợ này khiến nhiều cổ đông lo sợ muốn bán cổ phần của họ. Nếu thành công, BHP sẽ làm chủ những mỏ sắt lớn nhất thế giới. Rio Tinto không muốn bị BHP “nuốt” cho nên đi tìm các công ty khai mỏ khác điều đình bán cổ phần cho họ, hy vọng rằng làm như vậy BHP sẽ không thể chiếm được đa số cổ phần với khả năng áp đảo. Nghe tin đó, Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Trung Quốc đã họp khẩn cấp các công ty khai mỏ, nằm trong guồng máy dưới sự điều hợp của Cơ Quan Phát Triển và Ðổi Mới (NDRC) của Bắc Kinh. Chinalco được trao nhiệm vụ đóng vai “phò cứu” cho Rio Tinto bằng cách mua cổ phần của hãng này.

Ðể thực hiện “diễn biến hòa bình” trên, Chinalco được hai ngân hàng nhà nước Trung Quốc tài trợ, một ngân hàng do con ông Chu Dong Cơ đứng đầu, ngân hàng kia có con một người phụ tá của ông Ðặng Tiểu Bình điều khiển. Tiếu Á Khánh đã mời công ty nhôm Alcoa của Mỹ hợp tác, góp một phần nhỏ trong cuộc đầu tư này để khỏi lộ liễu.

Ðêm 31 Tháng Giêng năm 2008, sau khi thị trường New York và London đều đóng cửa, đích thân ông Tiếu Á Khánh cùng với các chuyên viên thị trường của công ty cố vấn đầu tư Mỹ Lehman Brothers thức suốt đêm đặt mua các cổ phần của Rio Tinto trên các thị trường quốc tế. Cứ như vậy, họ thu mua được 9% số cổ phần của Rio Tinto với số tiền 14 tỷ Mỹ kim, ngày hôm sau Chinalco trở thành cổ đông có số cổ phần lớn nhất của công ty khai mỏ Anh-Úc này. Sau đó, BHP bỏ ý định mua Rio Tinto. Nhưng cũng từ đó giá cổ phần các công ty mỏ và kim loại tụt xuống vì kinh tế thoái trào khắp nơi khiến nhu cầu kim loại đột ngột giảm bớt. Có lúc giá cổ phần xuống thấp đến mức số tiền đầu tư của Chinalco đã mua cổ phần Rio Tinto chỉ còn trị giá 4 tỷ Mỹ kim, lỗ khoảng 10 tỷ.

Nhưng địa vị của ông Tiếu Á Khánh không bị lung lay. Trái lại, ông còn nghe lời khuyên của công ty cố vấn Mỹ J.P. Morgan đề nghị tăng gấp đôi số cổ phần Chinalco làm chủ. Dịp may vừa tới, công ty Rio Tinto đang mang những món nợ lớn và tới Tháng Mười năm 2009 sẽ phải trả gần 9 tỷ đô la tiền nợ. Tháng Mười Hai năm 2008, ông Douglas Rithcie, giám đốc chiến lược của Rio Tinto đã nói chuyện với đại diện của Chianlco ở Úc, để nhờ giới thiệu với các ngân hàng Trung Quốc ngõ hầu có thể vay nợ mới trả nợ cũ.

Chinalco lúc nào cũng sẵn tiền, đã đề nghị cho Rio Tinto vay hơn 7 tỷ Mỹ kim dưới hình thức trái khoán “khả hoán” (convertible bonds), mà các trái khoán nay có thể đổi thành cổ phần của công ty Úc. Ngoài ra, Chinalco sẽ bỏ ra thêm hơn 12 tỷ đô la mua một số mỏ quặng của Rio Tinto. Ban giám đốc của công ty Úc đã chấp thuận đề nghị này, thay vì bán thêm cổ phiếu trên thị trường để gây vốn lấy tiền trả món nợ đáo hạn Tháng Mười năm nay.

Nhưng khi báo chí loan tin Chinalco sắp bỏ thêm 19.5 tỷ đô la để làm chủ 18% số cổ phần của Rio Tinto, dư luận Úc và cả thế giới phải chú ý. Người ta thấy đây không phải là một cuộc mua bán hoàn toàn vì lý do kinh tế mà đằng sau còn những ẩn ý chính trị. Nhất là khi nghe tin ông Tiếu Á Khánh được thăng quan tiến chức, thì mối nghi ngờ trên càng lớn, khiến các đại biểu Quốc Hội Úc phải chất vấn ông thủ tướng, một người nói thông thạo tiếng phổ thông Trung Quốc và đã từng làm nhà ngoại giao của Úc ở Trung Quốc trước đây. Vì vậy ông Kevin Rudd được dân Úc phong làm Ðại sứ Lưu động của chính phủ Trung Quốc!

Tại Úc Nghị Sĩ Barnaby Joyce lên ti vi đặt câu hỏi: “Chính phủ Trung Quốc không bao giờ cho phép chính phủ Úc mua một mỏ kim loại ở Trung Quốc! Tại sao chúng ta lại để cho người Trung Quốc mua và kiểm soát một tài sản chiến lược của nước ta?” Ở Việt Nam nhiều người cũng muốn đặt câu hỏi giống như vậy, nhưng họ không bao giờ được nói công khai trên báo, trên đài. Vì đảng Bô Xít Việt Nam kiểm soát tất cả các phương tiện truyền thông, bịt miệng tất cả những ý kiến chống Bô xít.

Ðến Tháng Sáu này chúng ta mới biết sau cùng tham vọng làm chủ một phần năm tài sản Rio Tinto của đảng Cộng Sản Trung Quốc có thành công hay không. Trong kinh tế thị trường theo lối tư bản, hiện tượng một công ty nước này làm sở hữu chủ các xí nghiệp của nước khác không làm ai ngạc nhiên. Vì đồng tiền có được tự do tìm chỗ đầu tư sinh lời cao nhất thì kinh tế thế giới mới phát triển mạnh. Nhưng trong trường hợp các công ty Trung Quốc đầu tư thì khác. Vì ai cũng biết các công ty này chỉ là dụng cụ của chính phủ Bắc Kinh để thực hiện tham vọng gây ảnh hưởng chính trị của họ.

Trong vụ khai thác Bô xít ở Việt Nam, họ có tham vọng gì, chắc chỉ có Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Trung Quốc ở Bắc Kinh biết với nhau thôi, mà Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam ở Hà Nội chưa chắc đã biết. Nhưng khi hàng ngàn nhà trí thức ở trong nước và hải ngoại đã lên tiếng yêu cầu ngưng ngay việc này, nếu đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn nhất định bịt tai không nghe thì phải đổi tên họ thành đảng Bô xít thật.

Giáo Sư Tôn Thất Thiện đang cư ngụ ở Canada đã đề nghị người Việt hải ngoại nêu vấn đề môi trường sống ở Tây nguyên bị tàn phá nếu khai thác bô xít để yêu cầu các tổ chức bảo vệ môi trường quốc tế điều tra, can thiệp và can ngăn các lãnh tụ đảng Bô xít Việt Nam. Ðó là một phương pháp đấu tranh mới mà chúng ta cần vận dụng.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Image

NHỮNG NGƯỜI LÍNH NĂM NÀO, VẪN CÒN ĐÓ

thụyvi
Ngay bây giờ, trong chúng ta hình như có nhiều người vẽ ra trong trí hình ảnh những người lính VNCH năm nào giờ chỉ là những ông già lẫm cẫm, cứ ngồi đó nghiến răng thù hằn trong bóng tối, hay là những ông già cứ ngậm hoài cọng dây thun tiếc nuối mà không chịu nhổ ra như ông văn sĩ nào đó đã châm biếm ví von!

Hôm nay tôi sẽ kể cho quý vị nghe một chút nghĩa cử thật cảm động của những người lính mà thời tuổi trẻ của họ đã cống hiến trọn vẹn cho Tổ Quốc. Tuy bây giờ họ có già nua. Tuy bây giờ họ mang nhiều tật bệnh đau yếu do những năm tháng nhọc nhằn, hay do những năm dài triền miên bị hành hạ tù đày trong những trại tập trung cải tạo. Mặc dầu vậy, họ vẫn hết lòng tiếp tục tranh đấu. Họ tranh đấu không phải vì những hận thù mất mát năm xưa, mà tranh đấu cho một VN không CS độc tài. Một VN có nhân quyền tự do bình đẵng thật sự.

Trước tiên, tôi sẽ viết về những người lính năm nào trong hội Cựu Quân Cán Chính tại Detroit, là một trong những nơi CĐ Việt Nam hảnh diện có lá cờ Vàng ba sọc đỏ ngạo nghễ phất phới. Tuy Detroit là một thành phố vào mùa Đông trời thật lạnh, cái lạnh nhiều lúc như đông cứng cả bầu trời, khi những cơn bảo tuyết thổi qua, mọi vật gần như bẹp dí, ngột ngạt trong cõi mịt mờ buốt giá. Trong thời tiết muôn vàn khắc nghiệt như vậy, nếu không vì sinh kế thì không ai muốn ra đường.

Nhưng, bất chấp mọi khó khăn, hội CQCC tại thành phố Detroit và những vùng phụ cận được thành lập và hoạt động liên tục thật sinh động, đem lại không khí đầm ấm vui tươi gắn bó thân thương cho đồng hương. Ngoài ra hội CQCC còn qui tụ rất nhiều Sĩ quan, binh lính Quân nhân, Cảnh sát, Công chức, Cán bộ Xây dựng nông thôn..v..v. Vì thế mà hội có được rất nhiều các bậc tài hoa vừa khéo tay vừa có óc tổ chức. Niềm tự hào hơn nữa là con chim đầu đàn của hội chính là vị anh hùng đánh trận cuối cùng 12 ngày đêm trên chiến trường Xuân Lộc của tiểu đoàn 2/ 43 sư đoàn 18 lẫy lừng năm nào - Cựu Thiếu Tá Tiểu đoàn trưởng, ông Nguyễn Hữu Chế. Ông còn được nhiều người mến mộ qua những bài viết với tên Bảo Định.

Năm 2008, hội CQCC với tâm tình biết ơn những anh TPB- VNCH. Nhờ sự thương mến và ủng hộ của mọi người, hội CQCC tổ chức đêm văn nghệ Tình Thương đã quyên góp được hơn 20,000 USD.
Image
Những người lính già đó cũng không hề nệ gì mưa to gió lớn, bảo tuyết dậy trời, họ dấn thân không mệt mõi có mặt khắp nơi, yểm trợ cho những sinh hoạt khác như chương trình Văn Hoá tại New York, tham gia những cuộc biểu tình ở Washington DC, Califonia, New York…Ngày 29- 4- 2009 tới đây họ cũng sẽ có mặt tại Ohio trong buổi lễ Vinh Danh Cờ Vàng do Thống Đốc của tiểu bang này long trọng tổ chức.

Tờ báo BÚT THÉP của hội ra đời, những hội viên của hội còn là những cây viết nỗi tiếng trên Văn đàn báo chí như: nhà thơ Nhật Hồng, thi sĩ Thu Lan, nhà văn kiêm thi sĩ Trầm Thu Ca, nhà viết bút ký Phạm Thắng Vũ, thi sĩ Ngô Sỹ Hân…

Nhìn những kết quả thiết thực của hội CQCC, khiến thế hệ thứ hai hết lòng ngưỡng mộ và tình nguyện …nhập cuộc! Trong một bài đọc của người Hậu duệ, những người này đã nói lên những suy nghĩ chân thật của mình:

“.. Chúng cháu không thể nào đứng ngoài điềm nhiên thinh lặng một cách ích kỷ…Chúng cháu phải cùng thế hệ Cha, Anh…”
Image
Có lẽ bạn và tôi bây giờ có thể thấy được những giọt nước mắt nóng hổi cảm động và an tâm lặng lẽ chảy trên những khuôn mặt của những người lính hào hùng thưở nào, phải không? Và, nếu bạn có dịp đến Detroit, xin mời bạn ghé lại hội CQCC, bạn sẽ thấy trong tổ chức đó đã có 3 thế hệ cùng với nhau cười rạng rỡ dưới lá cờ Vàng mãi mãi thân thương.

thụyvi
(Hầm Nắng, 25-4-2009)
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Thời Sự Kinh Tế: Tin vui giữa mùa Cúm Lợn
Thursday, April 30, 2009

Ngô Nhân Dụng
Xin tạm dùng tên bệnh Cúm Lợn, theo lối gọi của Tổ Chức Y Tế Thế Giới WHO, trong khi chờ tên gọi mới chính xác hơn. Ở nước Mỹ, hiệp hội các nhà nuôi lợn, các công ty bán thịt lợn đang phản đối việc dùng danh xưng này, gây thiệt hại cho công việc kinh doanh của họ. Chính phủ Israel cũng không bằng lòng; họ nói đối với người theo Do Thái Giáo và cả người Hồi Giáo, nhắc đến tên con vật đó là một sự xúc phạm nặng nề. Có thể ông Ðỗ Mười, cựu tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam cũng đồng ý với chính phủ Israel và các nước Hồi giáo. Tuy nhiên, cứ xin tạm dùng cái tên mà WHO đang sử dụng, gọi là Cúm Heo hay Cúm Lợn, cho nó “chính danh.”

Dịch Cúm Heo đến đúng lúc Tổng Thống Barack Obama đánh dấu 100 ngày cầm quyền của ông. Nhưng có lẽ cái số hên của ông tổng thống vẫn còn. Ðúng vào dịp này, có nhiều tin vui đến cho Tòa Bạch Ốc. Quốc Hội Mỹ đã thông qua bản nghị quyết chấp nhận phần lớn các nguyên tắc trong bản ngân sách gần 3,500 tỷ đô la của ông tổng thống. Trước đó, một nghị sĩ đảng Cộng Hòa đã tuyên bố bước sang đảng Dân Chủ, tăng số người cùng đảng với ông trong Thượng Viện. Ðồng thời, tin tức kinh tế cho thấy mặc dù trong ba tháng đầu tiên năm 2009 kinh tế Mỹ tụt giảm nặng, có nhiều dấu hiệu cho phép mọi người hy vọng phục hồi sớm hơn. Tuy tổng sản lượng nội địa chưa thể nào tăng được nhưng tốc độ sụt giảm đang được hãm bớt lại!

Có thể nói chuyện chính trị trước, vì nó không quan trọng lắm. Nghị Sĩ Arlen Specter, sau 28 năm làm đại biểu Cộng Hòa từ tiểu bang Pennsylvania, đã trở thành một đảng viên Dân Chủ, vì muốn tiếp tục làm nghị sĩ thêm một nhiệm kỳ 6 năm nữa nữa. Ông Specter đã thấy rằng nếu còn ở trong đảng Cộng Hòa thì sẽ mất cái ghế nghị sĩ. Vì sang năm trong mùa bỏ phiếu sơ bộ ở tiểu bang ông sẽ không thể đánh bại được Pat Toomey, một đối thủ lợi hại cùng đảng. Ðang bị Toomey dẫn trước 21% trong dư luận đảng viên Cộng Hòa, ông Specter thấy hết hy vọng sẽ được đảng đưa ra ứng cử vào năm tới. Năm 2004 ông Specter được cựu Tổng Thống Bush đến tận nơi ủng hộ, nếu không đã bị đảng của ông loại rồi. Vì các đảng viên Cộng Hòa ở tiểu bang đó càng ngày càng bảo thủ hơn, trong khi ông Specter thì rất ôn hòa và độc lập. Ông là một trong ba nghị sĩ Cộng Hòa đã bỏ phiếu thuận ngân sách kích thích kinh tế 787 tỷ của Tổng Thống Obama trong lúc cả đảng chống.

Ông Specter đem một tin vui cho ông Obama, vì đảng Dân Chủ sẽ có 59 ghế trong Thượng Viện, kể cả hai nghị sĩ độc lập vẫn đi với họ. Nếu Tối Cao Pháp Viện không xóa kết quả cuộc bỏ phiếu năm ngoái ở tiểu bang Minnesota thì đảng Dân Chủ sẽ có 60 ghế, có khả năng thông qua bất cứ dự luật nào mà không sợ phe đối lập ngăn cản bằng thủ tục filibuster nữa - với điều kiện các nghị sĩ Dân Chủ bỏ phiếu như nhau.

Nhưng điều kiện đó không gì chắc chắn sẽ đạt được. Có 4 nghị sĩ Dân Chủ đã bỏ phiếu chống dự án ngân sách 3.5 ngàn tỷ của Tòa Bạch Ốc, trong đó có ông Specter. Vì những nghị sĩ này vẫn lo ngân sách đó chi nhiều quá, chính phủ liên bang sẽ khiếm hụt nặng nề quá sức! Theo ước tính của phe Dân Chủ thì số khiếm hụt ngân sách 1200 tỷ đô la vào sang năm sẽ giảm xuống chỉ còn một nửa trong 5 năm. Phía Cộng Hòa cho đó là một giấc mơ không tưởng, mà hậu quả là trong tương lai dân Mỹ sẽ phải è cổ ra đóng thuế để giảm bớt khiếm hụt. Nhưng ý kiến của các đại biểu Cộng Hòa không đủ trọng lượng vì trong 8 năm thời Tổng Thống Bush chính họ đã chi tiêu “vô tư,” tăng số khiếm hụt ngân sách quá xá rồi, bây giờ họ muốn đóng vai tiết kiệm cũng khó thuyết phục được dân.

Ðiều an ủi cho ông tổng thống là bản nghị quyết ngân sách 3400 tỷ đô la của quốc hội đã chấp thuận những mục tiêu lớn mà Tòa Bạch Ốc coi là ưu tiên. Những ưu tiên đó không những sẽ thay đổi các món chi tiên của nhà nước Mỹ mà còn định hướng lại các mục tiêu quốc gia nữa. Ngân sách này sẽ lập quỹ đặc biệt chi dùng trong ba phạm vi: Cải tổ y tế, gia tăng số năng lượng mới để nước Mỹ bớt bị lệ thuộc vào dầu lửa nhập cảng, và tăng cường giáo dục.

Nhưng trong tin vui vẫn có tin buồn: Các đại biểu Dân Chủ đã gạt bỏ một số điều quan trọng mà ông Obama đưa vào bản dự thảo ngân sách. Họ không giữ khoản bớt thuế cho giới trung lưu và đánh thuế các người lợi tức trên 250,000 đô la một năm nặng hơn, để có tiền chi cho kế hoạch y tế. Họ bỏ qua không thèm bàn tới món thuế đánh trên khí thải làm ô nhiễm môi trường, một nhượng bộ cho phong trào bảo vệ sinh thái, và cũng để chi cho việc cải tổ y tế. Tòa Bạch Ốc có vẻ nhẫn nhục chấp nhận vụ bác bỏ này. Nhưng bản dự thảo mà quốc hội Mỹ mới thông qua chỉ có tính cách một quyết nghị, chưa phải là bản ngân sách với các con số rõ ràng, tức là đủ để cho ông Obama tuyên bố hài lòng vì đã thắng một trận, nhưng sẽ còn phải tranh đấu cam go với quốc hội trong năm nay. Có 17 dân biểu và 4 nghị sĩ đảng Dân Chủ bỏ phiếu chống cùng với các đồng viện Cộng Hòa của họ. Ðiều này cho thấy ông tổng thống Dân Chủ không thể kiểm soát được quốc hội dù đảng ông chiếm đa số mạnh.

Bây giờ đến bản tin quan trọng nhất: kinh tế nước Mỹ. Mới nhìn thì thấy đây là một tin buồn: Trong ba tháng đầu năm 2009 (ông Obama nhậm chức ngày 20 Tháng Giêng), sản lượng quốc gia đã giảm bớt với tốc độ 6.1% một năm. Con số đó cao hơn các ước tính, nhưng lại thấp hơn tỷ lệ giảm 6.3% trong ba tháng cuối năm 2008. Ðây là lần đầu tiên kể từ cơn suy thoái năm 1975 mà kinh tế Mỹ đi xuống trong ba quý liên tiếp; và chắc sẽ còn đi xuống nữa. Cho tới giờ ông Obama vẫn có thể cơn suy thoái kinh tế là một “di sản” do chính phủ Bush để lại. Nhưng ông sẽ không thể nói như thế mãi được.

Một điều an ủi cho ông Obama là trong khi sản lượng giảm xuống như vậy, nếu nhìn kỹ các chi tiết sẽ thấy những điềm tốt, đủ để cho các nhà đầu tư nuôi hy vọng. Các chỉ số thị trường chứng khoán ở Mỹ và Tokyo đều tăng lên sau khi coi bản tin kinh tế xuống 6.1%, chứng tỏ bên trong tin xấu có những dấu hiệu có thể mừng!

Một dấu hiệu tốt là tình trạng sản lượng đi xuống bắt nguồn từ việc các xí nghiệp bớt đầu tư và cắt sản xuất để đem hàng tồn kho bán ra, trong khi đó giới tiêu thụ ở Mỹ lại chi tiêu thêm và có vẻ lạc quan về tương lai.

Trong quý thứ nhất năm 2009 các công ty sản xuất ở Mỹ đã giảm 52% số tiền đầu tư vào các máy móc, thiết bị. Riêng việc tiết giảm đó đã khiến cho tổng sản lượng nội địa bớt đi gần 9% nếu không có những bộ phận khác tăng lên để bù lại. Một lãnh vực được gia tăng giúp giảm bớt ảnh hưởng xấu trên là do người tiêu thụ đóng góp. Số tiêu thụ của dân Mỹ đã tăng thêm với tỷ lệ 2.2% một năm. Tỷ số nhỏ nhưng quan trọng, vì tiền tiêu thụ vẫn chiếm một bộ phận cao nhất trong kinh tế Mỹ, trước đây lên tới 70% của tổng sản lượng nội địa, bây giờ dù dân chúng tiết kiệm hơn nhưng vẫn chiếm trên 2 phần 3. Việc cứu nguy kinh tế Mỹ vẫn là các công dân Nguyễn Thị Tiêu Thụ - Jane The Consumer! Trong quý chót năm 2008 quý vị “người tiêu thụ” đã thắt lưng buộc bụng, cắt bớt chi tiêu 4.3%, một cú đá mạnh vào cả nền kinh tế! Ba tháng đầu năm nay nhờ giới tiêu thụ đi mua “sale” nên tiêu nhiều hơn 2.2%. Họ đã giúp GDP tăng thêm được 1.5%, nếu không thì tỷ lệ suy sụp toàn thể sẽ không nhỏ như con số 6.1% đã báo cáo. Trong số hàng tiêu thụ thuộc quý đầu năm 2009, một điểm sáng nổi bật là những món hàng lâu bền có thể dùng trên 3 năm đã lên cao, tăng vọt với tỷ lệ 9%. Ðây là một tín hiệu rất đáng mừng.

Trong quý đầu năm nay, số hàng tồn kho của các công ty Mỹ đã giảm bớt 108 tỷ đô la, so với con số giảm 26 tỷ vào ba tháng cuối năm 2008. Ðiều này giải thích được một phần tại sao các công ty giảm bớt sản xuất và giảm số công nhân khiến tỷ lệ thất nghiệp tăng lên 8.5%. Các xí nghiệp lấy hàng trong kho ra bán trong khi chờ đợi coi tương lai ra sao trước khi tính chuyện sản xuất lại và đầu tư thêm. Nhưng các con số này cũng báo trước một dấu hiệu tốt: Sau khi hàng tồn kho giảm suốt 6 tháng qua rồi thì chắc chắn sắp đến ngày các xí nghiệp ở Mỹ sẽ phải sản xuất trở lại để có hàng bán. Và khi nào thấy kinh tế có vẻ phục hồi thì họ sẽ phải đầu tư và sản xuất nhiều hơn để khỏi bị các xí nghiệp đối thủ cạnh tranh chiếm mất thị trường. Nếu không kể số hàng lấy từ kho ra bán khiến hoạt động sản xuất đã giảm, thì tổng số cầu trong quý đầu năm 2009 chỉ giảm có 4.3%, rất thấp so với tỷ số tụt giảm 6.2% trong quý chót năm 2008. Ðây cũng là một tín hiệu chứng tỏ kinh tế có triển vọng tiếp tục hãm bớt tốc độ trên con đường đi xuống.

Chính phủ liên bang đã đóng vai trò tiêu tiền nhiều hơn trong lúc các xí nghiệp và người dân tiết giảm. Trong ba tháng đầu năm 2009, nhà nước đã tăng số chi tiêu với tốc độ 4%, thấp hơn tỷ lệ 7% vào cuối năm ngoái. Nhưng chúng ta lại biết rằng hiện nay những món chi thuộc chương trình kích thích kinh tế của chính phủ Obama vẫn chưa bắt đầu tuôn mạnh vào nền kinh tế. Trong số gần 800 tỷ đô la kích thích kinh tế mới có 69 tỷ được phát ra, và mới chỉ có 14 tỷ đô la được thực sự chi tiêu. Như vậy thì trong mùa Hè và mùa Thu năm nay các món công chi còn tăng nhanh hơn nữa, giúp cho GDP được nâng lên.

Còn một dấu hiệu tốt nữa là tâm lý người tiêu thụ ở Mỹ đã tỏ ra lạc quan hơn, chỉ số tin tưởng tăng lên với tỷ lệ cao nhất trong ba năm qua, theo cuộc nghiên cứu dư luận vào Tháng Tư. Giá nhà bán vẫn xuống, nhưng tỷ lệ xuống lại thấp hơn tỷ lệ trong tháng Giêng. Ðây là điềm lành cho cả nền kinh tế vì tất cả cuộc khủng hoảng hiện nay bắt đầu từ lãnh vực địa ốc và hy vọng sẽ chấm dứt khi giá nhà ổn định.

Có lẽ cảm thấy yên tâm hơn cho nên trong phiên họp của ủy ban tiền tệ tuần này, Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang (Fed) đã giữ nguyên chính sách cũ không thay đổi. Ðặc biệt là họ vẫn chưa đi mua các công trái của chính phủ trên thị trường, một cách bơm thêm tiền vào nền kinh tế. Tin này khiến nhiều nhà đầu tư chứng khoán buồn nhưng lại giữ được không cho lãi suất giảm quá, một cách phòng ngừa trước nạn lạm phát trong tương lai. Và tình trạng bất động này cũng tạo cho các người lãnh đạo Fed giữ trong tay một khí cụ kích thích kinh tế chưa dùng để khi cần mới đem ra xài.

Còn vài tin chi tiết có vẻ khích lệ nữa trong bản báo cáo về kinh tế Mỹ trong ba tháng đầu năm 2009. Số hàng xuất nhập cảng đều giảm, nhưng hàng xuất giảm chỉ có 30% trong khi hàng nhập giảm 39%. Ði đúng hướng để giảm bớt cảnh thâm thủng trong cán cân thương mại nước Mỹ.

Sau 100 ngày làm tổng thống Mỹ, ông Obama có thể lạc quan hy vọng kinh tế sẽ phục hồi trong năm tới. Ðó là tin vui nhất cho ông, trong lúc cả thế giới đang lo bệnh Cúm Heo. Tuy nhiên, 100 ngày đó một thất bại lớn nhất của ông là đã không tạo được cảnh hai đảng chính trị cộng tác để cứu nguy kinh tế Mỹ, như ông đã hô hào khi tranh cử. Không ai thấy hình ảnh một người lãnh đạo Tòa Bạch Ốc ôn hòa và thỏa hiệp, như ông Obama muốn tạo cho chính mình. Trong các cuộc bỏ phiếu ở Quốc Hội, hầu như toàn thể đảng Cộng Hòa chống lại ông. Ngoài xã hội thì dư luận đảng Cộng Hòa càng ngày càng đi về phía hữu, một thứ “hiệu ứng Obama.” Trước đây cựu Tổng Thống Gorges W. Bush đã được mô tả là một người gây cảnh “phân cực” chính trị nước Mỹ. Ông Obama có thể sẽ tái diễn tình trạng đó, dù đi theo chiều ngược lại. Một bài học cho ông Obama, là phải biết thỏa hiệp nhiều hơn, không nên nuôi tham vọng thay đổi xã hội Mỹ quá trớn. Ngay trong đảng Dân Chủ thành phần ôn hòa cũng đã chứng tỏ họ rất độc lập với ông tổng thống cùng đảng với họ. Ngay cả người mới đổi đảng như Nghị Sĩ Specter, cũng không thể biết chắc lúc nào ông ấy bỏ phiếu ra sao!
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

MỖI NGƯỜI CÓ MỘT NGÀY “30 THÁNG TƯ” !


Thưa bác,. Nhiều năm qua bác nhắc đi nhắc lại về chuyện Ba Mươi tháng Tư. Bác nói rằng mỗi người đều có một ngày Ba Mươi tháng Tư cho riêng mình. Bác vẫn hỏi một câu. Lúc ấy quý vị đang ở đâu? Thưa bác, ngày Ba Mươi tháng Tư năm 75 cháu đi nhận xác chồng ở Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa. Xin kể đầu đuôi như sau: Người yêu của cháu, chồng sắp cưới của cháu là Nguyễn Ðông Thành, Trung Úy Biệt Ðộng Quân Ðơn vị đóng tại Chân Thành vào thời kỳ 1975. Từ lúc ra trường Thủ Ðức, anh làm Trung Ðội Trưởng Tác Chiến cho đến khi lên đến Trung Úy Ðại Ðội Trưởng đã bị thương 4 lần. Một lần bị thương nặng phải nằm nhà thương hai tháng. Còn các lần khác chỉ bị thương nhẹ.

Cháu gặp anh trong một lần nữ sinh đi ủy lạo chiến sĩ tại Tổng Y Viện Cộng Hòa rồi quen nhau. Sau đó chúng cháu đôi khi lại còn cầu cho bị thương nhẹ để có dịp gặp nhau ở Sài Gòn. Một lần anh chỉ bị trẹo chân vì nhảy trực thăng mà được nghỉ đến gần một tháng.

Ðó là lần bị thương hạnh phúc nhất của chúng cháu. Gia đình hai bên đã có dịp gặp nhau sau khi chúng cháu về thưa với cha mẹ. Ðầu năm 75 đã làm đám hỏi. Chờ đến đầu tháng 5-1975 là làm đám cưới. Cháu có ông cậu làm Trung Tá ở Sài Gòn quen biết nhiều nên hy vọng sẽ giúp cho anh Ðông Thành đổi về đơn vị hậu cứ hay về Bộ Quốc Phòng.

Tết 75, hai đứa chúng cháu đến mừng tuổi cậu và xin cậu chạy giúp Chạy đây là nói hộ chứ không phải tiền bạc gì hết. Cậu cháu coi tướng anh Thành và rất hài lòng để mừng cho cháu gái. Cậu khen vị hôn phu của cháu tuy còn trẻ nhưng rất đẹp trai và tướng mạo đàng hoàng. Anh mới có 22 tuổi, còn cháu 19 tuổi vào năm 1975. Cháu cũng khá cao mà anh Thành còn cao hơn cháu cả đầu người. Anh chơi thể thao cả xà ngang và xà dọc nên người rất tài tử. Bạn học trường Gia Long đứa nào cũng thích Trung Úy Ðông Thành của cháu.

Tuy nhiên, khi hỏi chuyện về đơn vị của Thành thì ông cậu của cháu hơi ngần ngại. Cậu nói rằng năm trước có xin cho con một anh bạn đóng đồn được đổi về tỉnh. Chỉ một tuần sau anh Thiếu Úy lên thay thế bị hy sinh. Bà mẹ anh này đi thưa Giám Sát Viện về tội ăn tiền đổi người để đưa con bà vào chỗ chết. Vì vậy cậu cháu nói để chờ một thời gian, đơn vị rút từ Chân Thành về hậu cứ rồi sẽ xin đổi sau.

Người yêu của cháu cũng rất tự ái nên không hề nói gì thêm, cứ bấm tay cháu gạt đi không muốn đề cập đến việc xin thuyên chuyển nữa. Từ biệt ông cậu xong, hai đứa ra về. Cháu giận anh ấy hết sức, nhiều lúc chỉ muốn cho ra trận chết đi cho rồi.

Ðàn ông mới hơn hai mươi tuổi mà đã muốn làm anh hùng. Gia đình anh ấy con một, xin hoãn dịch cũng còn được chứ ai lại đi Biệt Ðộng Quân. Quanh năm hành quân, đôi khi ở đơn vị còn có lệnh phải cạo trọc đầu cho thêm dữ dội. Nhưng nói gì thì nói, anh Ðông Thành dù để tóc dài hay tóc ngắn thì trông vẫn đẹp như tài tử Pháp Alain Delon. Cháu rất hãnh diện đi với anh ở đường Nguyễn Huệ. Nhưng hai đứa đâu có được dịp đi chơi với nhau nhiều lần. Qua tháng 3-1975, có tin địch uy hiếp Chân Thành, gia đình hai bên và riêng cháu lo lắng ngày đêm. Rồi tin từ Bộ Chỉ Huy là đơn vị Biệt Ðộng Quân ở Chân Thành có lệnh rút. Quân đội cho lệnh bỏ Chân Thành.

Chưa bao giờ cháu lại vui mừng khi được tin quân ta rút như vậy. Là một học sinh chưa được 20 tuổi, cháu chỉ mong người yêu sớm trở về bình yên. Quân đội muốn bỏ đâu thì bỏ. Muốn rút đâu thì rút. Nhưng đau khổ chưa, đúng như cháu đã lo ngày lo đêm. Ðơn vị cho người đưa tin về nhà để đi nhận xác Ðông Thành vào ngày 25 tháng 4-1975. Người lính ở đơn vị nói rằng anh ấy đã chiến đấu anh dũng ra sao, hy sinh như thế nào, chẳng còn lòng dạ nào mà nghe chuyện. Sao bao nhiêu người còn sống ở Sài Gòn không ra mà anh dũng hy sinh.

Trời đất công bình ở chỗ nào. Ði lính có ba năm mà bị thương đến 4 lần, rồi mới chết. Ðông Thành của cháu hiền lành như thế, có làm hại ai đâu mà phải chết oan uổng như vậy. Sau khi được tin cháu cứ như điên dại rồi đi theo gia đình lên Nghĩa Trang Quân Ðội nhận xác người yêu. Dù chưa cưới nhưng cháu đã khai là chồng. Mấy ông đòi hôn thú vì tưởng cháu muốn xin tiền chồng chết. Xin tiền tử tuất với 12 tháng lương. Cháu quyết liệt nhận xác chồng dù chẳng có hôn thú.

Ðất nước có còn đâu mà lãnh tiền. Anh Ðông Thành nằm như ngủ. Ðạn vào ngực, vào tim, vào bụng nhưng mặt anh vẫn nguyên lành. Anh nằm đó vẫn đẹp như thiên thần. Anh về bằng trực thăng trên băng ca đúng như trong bài ca, đúng như trong tiểu thuyết. Bên cạnh xác anh có nhiều đồng bạn cũng chết nhưng vì để lâu nên bốc mùi hôi thối.

Nhiều gia đình cũng đến nhận xác. Ðàn bà trẻ con khóc la ầm ỹ. Cháu cũng hòa theo tiếng khóc nức nở. Gia đình chôn xác anh ngày 27 tháng 4-1975, buổi chiều thì ra về nhưng cháu ở lại. Cháu trốn vào khu Nghĩa Dũng Ðài nhưng người nhà lại tưởng bạn cháu chở về Sài Gòn. Suốt những ngày cuối tháng 4 đau khổ cháu tha hồ khóc. Trên Nghĩa Trang Biên Hòa toàn là gia đình tử sĩ nên cũng không ai chú ý. Có gia đình đem theo Radio nên mở ra nghe tin tức chiến sự. Rồi dân di tản ở bốn phương trời kéo nhau về tạm trú. Họ dựng lều ngay bên cạnh các phần mộ.

Khu lính chết đã lâu thì có mộ bia và tấm Ciment bên trên. Khu mới chết thì chỉ đắp đất. Có cả trăm cả ngàn ngôi mộ. Những ngày đầu thì có nhiều xác chở về bằng trực thăng. Về sau xác chở về toàn bằng xe nhà binh. Sau cùng thì đủ các thứ xe chở xác về Ðơn Vị Chung Sự.
Nơi để xác có máy lạnh nhưng không có điện nên trở mùi hôi thối. Nhiều xác chở đến để ngay dưới đất, trời nắng bốc mùi làm cho các gia đình ở gần phải dở lều di chuyển đi nơi khác. Ông sĩ quan trách nhiệm chôn cất nóng nẩy gắt gỏng và anh em chôn cất làm việc rất vất vả. Ai cũng có mùi rượu và dầu Nhị Thiên Ðường đầy người.

Ðến ngày 30 tháng 4, khi có lệnh đầu hàng thì không còn ai trách nhiệm. Lúc đó đã xuất hiện người của cộng sản ra gom dân gom lính chạy loạn bắt phải đào hố chôn tập thể. Một anh Công Binh của ta lấy xe đào các hố thật lớn, rồi đưa tất cả các xác lính Việt Nam Cộng Hòa chôn tập thể. Có gia đình cố dành lại xác người thân tự đào lỗ chôn riêng. Cháu thấy một gia đình chỉ có người vợ trẻ với mấy đứa con tám chín tuổi ạch đụi bới đất chôn chồng.

Cháu tìm cuốc đến giúp một tay và thấy mình đã bớt điên. Thấy cảnh hai đứa nhỏ cùng mẹ móc đất chôn bố, cháu thấy cuộc chiến tranh vô nghĩa biết chừng nào. Và sự đau khổ của mình cũng chẳng phải là duy nhất. Ðứa con gái chừng 10 tuổi và đứa em trai 6 tuổi vừa khóc vừa móc đất giúp mẹ. Cháu sẽ không bao giờ quên được hình ảnh này.

Sau đó qua ngày 2 tháng 5-1975, cháu quá giang xe của người ta về lại Sài Gòn. Năm 1980, cháu lập gia đình với một anh Thủ Ðức còn trẻ có 2 năm cải tạo. Chúng cháu vượt biên rồi vào Mỹ. Chồng cháu rất hiểu biết nên tôn trọng mối tình đầu của cháu với Ðông Thành.

Từ mùa Xuân 1993, chúng cháu cứ vài năm lại về Sài Gòn và lần nào cũng lên Nghĩa Trang Biên Hòa Cháu có theo dõi chương trình tảo mộ chui của các bác. Lần nào cũng khấn vái cho anh Ðông Thành phù hộ công việc của hội. Cháu có thuê người làm cho anh Thành tấm Ciment đúng kích thước như các ngôi mộ khác chứ không muốn xây cho thật lớn. Anh Thành đã muốn được chết như các chiến hữu thì phải để anh nằm giống như các bạn của anh.

Cháu vừa thương mà vừa giận anh biết chừng nào. Người yêu của cháu là mối tình đầu, anh chính là hình ảnh của chiến tranh Việt Nam. Cháu vừa ghét lại vừa thương. Ðã 30 năm qua rồi mà tình cảm vẫn không thay đổi. Bác đã hỏi rằng, ngày Ba Mươi tháng Tư cháu ở đâu? Vâng, 30 tháng 4-1975, cháu đi chôn chồng ở Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa. Vậy thì phần bác, Ba Mươi tháng Tư, bác ở đâu?

Tiểu Quyên
Viết tặng các con của mẹ.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Thời Sự Kinh Tế: Các hãng xe hơi phải thay đổi

Ngô Nhân Dụng

Từ trước thập niên 1960 nghệ thuật quản trị của các công ty xe hơi Mỹ là những kiểu mẫu cho thế giới học hỏi và bắt chước. Những phương pháp gọi là “quản trị khoa học,” làm việc theo lối dây chuyền, nghiên cứu từng động tác của công nhân rồi xếp đặt chỗ làm việc tốt nhất để tiết kiệm thời giờ, vân vân, các công ty xe hơi Mỹ đã đi những bước đầu trước cuộc đại chiến thứ hai. Mười năm sau thế chiến, riêng việc nghiên cứu sơ đồ của General Motors cũng cho chúng ta những bài học về cách điều hành một tổ chức kinh doanh lớn. Xe Mustang là một bài học tiêu biểu về tiếp thị thành công, xe Edsell là một bài học phải tránh cho khỏi thất bại. Ông chủ tịch GM hãnh diện nói rằng “Cái gì tốt cho GM là tốt cho cả nước Mỹ.”

Bây giờ dân chúng cả nước Mỹ phải bỏ tiền ra cứu GM và Chrysler, để tránh cảnh sụp đổ của hai trong số 3 công ty xe hơi lớn tiêu biểu cho công nghiệp nước Mỹ từ hàng thế kỷ (công ty thứ ba là Ford). Hai ngày trước, công ty Chrysler chính thức tuyên bố phá sản để được bảo vệ theo Chương 11 của luật phá sản tại Mỹ. Nhờ thủ tục pháp lý này Chrysler sẽ có cơ hội “đổi mới” để chờ ngày sống mạnh trở lại. Trong một tháng nữa đến lượt số phận General Motors được quyết định. Nếu các phe nhóm quyền lợi trong công ty GM không tìm được cách thỏa hiệp thì công ty sẽ phải theo gót Chrysler. Thế giới đã thay đổi. Ðời sống lúc nào cũng thay đổi. Sinh vật nào không thích ứng được với môi trường mới thì sẽ chết, hoặc phải lột da để sống lại.

Nhưng các công ty sản xuất xe có phải là những sinh vật hay không? Chúng ta phải nhìn lại lịch sử ngành quản trị.

Những nhà quản lý và những người nghiên cứu về nghệ thuật quản trị vào đầu thế kỷ 20 đã nhìn các xí nghiệp như tập hợp của những bộ máy. Cả loài người thán phục sức làm việc và hiệu năng của máy móc, cho nên sinh ra khuynh hướng bắt chước máy. Các công nhân được dùng để giúp cho máy chạy, họ cũng trở thành những bộ phận trong nhà máy. Ban giám đốc điều khiển nhân viên giống như điều khiển máy, bơm tiền cho công nhân vừa đủ giống như bơm dầu nhớt cho máy chạy.

Quan niệm máy móc đó đã bị gạt bỏ trước đại chiến thứ hai; vì người ta khám phá ra yếu tố tâm lý và tác động xã hội trên hiệu năng sản xuất của công nhân. Sau đại chiến, một cuộc cách mạng diễn ra trong ngành nghiên cứu khoa học xã hội, khi cách nhìn “hệ thống” ra đời. Một bộ máy xe hơi phức tạp hơn một bộ máy đồng hồ, một vi khuẩn đơn bào là một hệ thống phức tạp hơn cái xe hơi; nhưng trình độ phức tạp của một xí nghiệp còn cao hơn gấp bội. Mỗi xí nghiệp phải nhìn như một “hệ thống mở” sống động, giống như một sinh vật luôn luôn tiếp xúc và trao đổi với môi trường. Xí nghiệp luôn luôn thay đổi, vì môi trường luôn luôn thay đổi. Nếu không thay đổi thì nó sẽ suy yếu, và sẽ chết yểu.

Có thể nói là các công ty xe hơi lớn ở Mỹ đã không thay đổi theo nhu cầu của xã hội, hoặc thay đổi quá chậm.

Ba công ty xe hơi lớn ở Mỹ đã mất tỷ lệ phần chiếm trong thị trường (thị phần) từ đầu thập niên 1970 khi cuộc khủng hoảng dầu lửa lớn đầu tiên diễn ra. Những loại xe nhỏ, dùng xăng với hiệu suất cao, xâm lăng thị trường Bắc Mỹ. Các hãng xe Mỹ có tìm cách thích ứng trong việc chế tạo xe nhỏ, ít hao xăng và bền. Ðứng trên mặt kỹ thuật, các hãng xe Mỹ có khả năng chế tạo những xe có phẩm chất không khác gì xe Nhật. Nhưng cái “quán tính” tự nhiên trong xã hội loài người là một trở ngại khiến họ không thể thay đổi nhanh như nhu cầu cần thiết. Một trong những quán tính nặng nề là thói quen nhắm vào lợi nhuận ngắn hạn. Trong hàng chục năm qua các hãng xe Mỹ kiếm nhiều tiền nhất khi bán các loại xe vận tải nhẹ, SUV, và xe sang trọng. Một chiếc xe trong loại này kiếm lời gấp chục lần những chiếc xe nhẹ và rẻ, cho nên ban giám đốc thấy tốt nhất là làm thật nhiều, quảng cáo thật mạnh để bán những chiếc xe hao xăng này. Trong khi đó các hãng xe Nhật chăm chú cải thiện những loại xe ít tốn xăng của họ, và thí nghiệm những máy xe “hybrid” dùng xăng và điện. Khi giá dầu lửa tăng lên 140 đô la một thùng, xăng ở Mỹ lên tới 4 đô la một ga lông, cả thị trường xe hơi đảo lộn.

Năm 2000, các hãng xe Mỹ chiếm hai phần ba (66%) thị trường Mỹ và Canada. Năm 2008, họ chỉ còn chiếm dưới một nửa (47%), và thị phần còn tiếp tục xuống nữa. Cơn khủng hoảng tài chánh tạo cú sốc nặng nề, số xe bán mỗi năm tụt từ 16 triệu chiếc xuống chỉ còn 10 triệu. Các công ty xe hơi đều lỗ lã, riêng Chrysler lỗ 8 tỷ Mỹ kim trong năm 2008. Chrysler đã được chính phủ Mỹ cứu với số tiền cho vay 4 tỷ đô la; GM được trợ giúp gấp đôi. Ford còn đứng vững được không cần vay chính phủ vì may mắn còn tiền sau khi đã bán được các tài sản khác chứ không phải nhờ bán nhiều xe. Tình trạng tài chánh các công ty xe hơi sẽ tiếp tục đi xuống nếu không có biện pháp chấm dứt cảnh “chảy máu” liên tục.

Khủng hoảng kinh tế thay đổi tác phong của người tiêu thụ. Người ta không những muốn mua các loại xe nhẹ và ít hao xăng mà còn muốn mua xe chạy bền, để khi bán lại vẫn được giá. Một chiếc xe Toyota tiêu biểu, sau 4 năm dùng có thể bán được nửa giá; còn một chiếc Chrysler chỉ bán được với giá bằng 18% giá mua lúc đầu. Trong hai chục năm qua các công ty xe hơi của Mỹ đã bỏ phí thời giờ không cải thiện phẩm chất để tính kế lâu dài mà vẫn nhắm vào những mục tiêu kiếm lời và lợi nhuận cho từng cổ phần (EPS) trong ngắn hạn. Nói chung, hội đồng quản trị các công ty tưởng lệ ban quản đốc dự trên những mục tiêu ngắn hạn như vậy, cho nên tạo ra tác phong đó.

Một lực quán tính thứ hai gây nạn cho các công ty xe Mỹ là những “di sản” của quá khứ.

Một di sản là những hợp đồng lao động với Nghiệp Ðoàn Công Nhân Xe Hơi (UAW) từ ba chục năm trước, trong đó ngoài lương bổng và điều kiện làm việc thỏa mãn các công nhân, các hãng xe còn chịu trách nhiệm trả hưu bổng và đóng bảo hiểm ý tế cho các công nhân về hưu. Khi thương thảo những hợp đồng này, người ta không ngờ là chi phí y tế ở nước Mỹ tăng nhanh và lên cao như hiện nay. Và mọi người cũng không biết trước là tuổi thọ ngày càng dài, những người nghỉ hưu trở thành một gánh nặng cho các công nhân mới vào làm việc và cho nhà sản xuất. Trung bình một giờ lao động của công nhân làm việc cho Chrysler tốn hơn Toyota gần 20 đô la. Tự nhiên giá thành của mỗi chiếc xe cũng cao hơn.

Các công ty xe hơi Mỹ ý thức nhu cầu “đổi mới.” Khi thấy các hãng xe Nhật theo chính sách “giảm chi phí sản xuất” tới cùng (lean production), thí dụ bằng cách giảm số giờ cần thiết để ráp một chiếc xe,hoặc chỉ đặt hàng mua phụ tùng đúng nhu cầu lắp ráp chứ không nhiều hơn (on time delivery), thì công ty xe hơi Mỹ nào cũng có thể làm theo được. Công ty General Motors rút kinh nghiệm cộng tác với Toyota ở nhà máy ráp xe tại Fremont, California, đã lập ra một phân bộ quản trị theo lối mới, chế tạo xe Saturn để thí nghiệm phương pháp lean production. Nhưng sau nhiều năm hoạt động, thay vì GM sẽ thay đổi theo lối Saturn, thì người ta lại thấy chính Saturn thay đổi, trở về với lối quản trị của GM!

Việc mô phỏng phương pháp quản trị đã đưa tới những hệ quả bất ngờ. Ðể giảm bớt sự dề kháng của các công nhân và công đoàn đại diện họ khi thay đổi phương pháp sản xuất, trong thập niên 1980 các hãng xe hơi Mỹ đã thỏa hiệp với công đoàn lập ra những “ngân hàng công việc” (job bank). Theo chế độ này, các công nhân phải nghỉ việc vì phương pháp mới không cần dùng nhiều lao động, thì công ty chủ nhân vẫn trả lương cho họ ngồi ở nhà, chỉ khi nào cần mới gọi tới. Phải công nhận là các nghiệp đoàn công nhân xe hơi đã phục vụ người lao động của họ rất có hiệu quả.

Nhưng chính vì những “ngân hàng công việc” đó mà các công ty sinh ra một tật quán tính khác. Khi thấy có dấu hiệu nhu cầu mua xe sẽ xuống, họ ngần ngại không muốn đóng cửa bớt cơ xưởng hoặc không giảm số sản xuất ngay. Vì đằng nào vẫn phải trả lương người thợ không làm việc. Họ chấp nhận tiếp tục sản xuất, tức là không những vẫn trả lương công nhân như cũ mà còn phải trả các chi phí sản xuất khác!

Bởi vậy, trước cảnh các xuống ty xe hơi suy sụp, chính phủ Mỹ đã ép cả các nghiệp đoàn lẫn các chủ nợ và chủ nhân của các hãng xe hơi phải cùng chia sẻ sự hy sinh trong việc thay đổi, như là những điều kiện để được chính phủ giúp đỡ qua cơn khốn đốn.

Trong vụ Chrysler, công đoàn UAW ở Mỹ và CAW ở Canada đã đồng ý hy sinh, một số ngân hàng lớn chủ nợ cũng chịu cắt bớt số nợ phải trả; nhưng tới ngày hẹn 30 Tháng Tư vẫn có 20 chủ nợ nhỏ không đồng ý với kế hoạch cải tổ. Cuối cùng chỉ còn một giải pháp là cho Chrysler khai phá sản để tòa án sẽ quyết định các chủ nợ, công nhân và chính phủ sẽ được chia phần lời lỗ như thế nào. Việc kết tội các chủ nợ nhỏ, như Tổng Thống Barack Obama đã làm, là không công bằng. Vì các chủ nợ sẽ bị thiệt khi không đòi được đủ số tiền cho vay, nhưng giảm bao nhiêu có thể đưa ra tòa án phá sản tín toán, thay vì để cho nhà nước quyết định. Hơn nữa, các chủ nợ lớn đã đồng ý với kế hoạch giải cứu của chính phủ phần lớn cũng là những ngân hàng đang được chính phủ giúp đỡ hàng tỷ Mỹ kim, họ không thể làm khác được.

Sau khi được cải tổ, các “chủ nhân” của Chrysler chắc sẽ mất hết, trong đó hai chủ nhân lớn là Daimler, công ty sản xuất Mercedes làm chủ 20% và công ty đầu tư Cerberus mới bỏ ra hơn 7 tỷ đô la để mua 80% cổ phần từ Daimler cách đây 2 năm. Công đoàn UAW và CAW sẽ trở thành chủ nhân của 55% số cổ phần của Chryeler, để lấy tiền lời trả hưu bổng cho công nhân. Chính phủ Mỹ và Canda sẽ làm chủ 8% và 2% các cổ phần. Tuy nhiên khi nào công ty khá hơn thì các chính phủ sẽ bán phần của họ, và chắc sẽ có lời; còn các công đoàn thì cũng sẽ bán lấy tiền đầu tư nhiều nơi khác, vì họ cũng không tội gì để tiền hưu bổng của đoàn viên vào trong một thứ cổ phần.

Với sự tham gia của Fiat, công ty xe hơi tiêu biểu cho nước Ý hy vọng Chrysler sẽ biến thái, vì Fiat chuyên sản xuất loại xe nhỏ, ít hao xăng, và có sẵn thị trường trên khắp thế giới. Với những thay đổi về kỹ thuật sản xuất và về tiếp thị, các hãng xe ở Mỹ sẽ còn tồn tại được.

Nhưng thế giới sẽ còn thay đổi, và các hãng xe sẽ còn thay đổi thêm nữa thì mới sống lâu dài được. Hiện nay 25% số xe của các công ty xe hơi ở Mỹ và Canada đang đặt làm ở ngoại quốc. Họ đã lập nhà máy chế tạo và ráp xe ở khắp thế giới. Chi nhánh của GM ở Âu Châu và ở Trung Quốc làm ăn khá hơn công ty mẹ. Sẽ tới ngày chính các công ty Mỹ sẽ đặt cơ xưởng ở các nước Ấn Ðộ, Brazil, Trung Quốc, và cả Việt Nam để sử dụng công nhân lương thấp, và các nhà máy đó sẽ sản xuất số xe hơi nhiều hơn làm ở Mỹ!
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Bản chất những chế độ Cộng Sản
Tác giả: Chu chi Nam




Nhìn vào tất cả những chế độ cộng sản, từ chế độ đầu tiên do Lénine thành lập năm 1917, qua những chế độ Đông Âu tới những chế độ còn rơi rớt lại như Trung cộng, cộng sản Việt nam, người ta đều thấy có những tính chất chung. Đó là : 1) Đều do ngoại quốc dựng lên ; 2) Độc đoán, độc tài, đi ngược lại trào lưu tiến bộ của văn minh nhân loại, đó là tôn trọng tự do, dân chủ, nhân quyền ; 3) Đi ngược lại truyền thống tốt đẹp của quốc gia dân tộc ; 4) Đó là một chế độ bất bình thường, chủ trương bạo động lịch sử, giết chết giai tầng trí thức và trung lưu, xương sống của một xã hội. Đó là một chế độ diệt chủng.

I ) Chế độ do ngoại quốc dựng lên

Người ta có thể nói tất cả những chế độ cộng sản, ngay cả chế độ đầu tiên ở Liên sô, cũng là đều do ngoại quốc dựng lên; và đều được dựng lên vào thời chiến tranh. Chính vì vậy mà Đức Đạt Lai Lạt ma đã nói: “ Cộng sản là loài cỏ dại mọc trên hoang tàn của chiến tranh, là loài trùng độc sinh xôi nẩy nở trong rác rưởi của cuộc đời.”

Thật vậy, ở đây tôi không đi sâu vào chi tiết lịch sử, ngoài những chế độ cộng sản Đông Âu là được dựng lên dưới gót giày quân đội chiếm đóng Liên sô, 3 chế độ cộng sản tiêu biểu còn lại là Liên Sô, Trung cộng và Việt Nam cũng là do ngoại quốc dựng lên, và là đều dựng lên vào cuối thời kỳ 2 cuộc thế chiến.

Thế Chiến thứ Nhất ( 1914-1918) gồm 2 phe: 1) Phe Pháp đứng đằng sau là Anh, Nga, thời Nga hoàng Nicolas I I, sau là chính quyền của đảng Dân chủ, xã hội, thợ thuyền do Kérenski cầm đầu, sau đó có Hoa Kỳ nhảy vào vòng chiến; 2) Phe Đức đứng đằng sau là đế quốc Áo Hung và đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ. Vào gần cuối thế chiến, Đức nhận thấy không thể nào đối đầu với 2 mặt trận lớn cùng một lúc, mặt trận đông bắc với Nga và mặt trận phía tây nam với Pháp, muốn dồn lực vào mặt trận chính tây nam. Lénine đang sống ở Thụy Sỹ, đã đưa ra khẩu hiệu: “ Hòa bình bằng bất cứ giá nào. Ngay dù phải nhượng đất để có quyền .” Chính vì vậy mà Bộ Tham mưu Đức đã liên lạc với Lénine, đưa Lénine từ Thụy sỹ về Nga, trong một toa xe lửa bọc sắt, giúp đỡ tiền bạc và phương tiện để cướp chính quyền. Người ta có thể nói chính quyền Lénine là do ngoại quốc, Bộ Tham Mưu Đức lập nên (1).

Chính quyền Trung Cộng của Mao trạch Đông cũng không khác.

Đảng cộng sản Tàu được thành lập năm 1921, đứng đầu là Trần độc Tú, Lý khả Siêu, nhưng đức đằng sau là người của Đệ Tam Quốc tế Cộng sản. Tôn dật Tiên và Lénine ký Hiệp ước thân thiện năm 1923, trong đó có điều khoản là để được giúp, thì người của đảng Cộng sản cũng có thể đồng thời là người của Trung hoa quốc dân đảng. Lénine chết năm 1924, một năm sau đó thì Tôn chết. Tưởng giới Thạch lên thay. Ý thức được sự nguy hiểm của chế độ cộng sản, Tưởng quyết định tiêu diệt cộng sản. Chính vì vậy có cuộc Vạn lý trường chinh; và trong cuộc trường chinh này, Mao đã được đưa lên làm Tổng bí thư vào tháng 1/1935. Trong cuộc trường chinh, đảng Cộng sản Tàu mất liên lạc với Đệ Tam Quốc tế Cộng sản, sau đó, khi đã đặt được căn cứ ở Diên an, thì liên lạc được thiết lập lại. Vào tháng 7/1935, Đại hội 7 của Đệ Tam Quốc tế Cộng sản họp ở Moscou, thay đổi chiến lược, thay vì chống đối giai cấp, thì là “ hợp tác “ giai cấp để chống Phát xít. Nên nhớ lúc này là phát xít Ý Mussolini đã lên nắm quyền từ cuối năm 1922, Phát xít Hitler đã lên nắm quyền ở Đức năm 1933.

Cũng chính từ chiến lược của Đại hội VI I Đệ Tam Quốc tế Cộng sản mà liên hệ giữa lien sô và đảng Cộng sản Tàu được tăng cường. Đảng Cộng sản Tàu nhận được một ngân phiếu 300 000$ thời đó, tương đương với 4 triệu $ thời nay, nhận ký bởi Mao, đề ngày 28/4/1938, do một người Nga tên Mikhailov, đưa ( Theo quyển sách Mao – trang phụ lục hình 30, của Jung Chang và Jon Halliday – nhà xuất bản Pháp ngữ Gallimard – 2006).

Thế rồi Chiến tranh Trung - Nhật bùng nổ 1933, tiếp liền sau đó là Thế Chiến ( 1939-1945). Ngày 15/8/1945, Nhật đâu hàng Đồng Minh, Liên sô ngầm giúp đảng Cộng sản Tàu, chiếm Mãn Châu, giúp đỡ Tàu rất nhiều về súng đạn, tiền bạc và uy thế, một hành động tiêu biểu là chính quyền cầm đầu bởi ông vua Phục Hi, do Nhật lập lên ở Mãn châu, bị bắt bởi Liên sô, sau không được trao trả cho chính quyền chính thức cuả Tưởng giớI Thạch mà bề ngoài Staline tỏ ra rất thân thiện, nhưng bề trong tìm cách lật đổ, bằng cách giúp đảng Cộng sản Tàu. Ông vua này đã được trao cho đảng cộng sản Tàu. Được sự giúp đỡ của Liên sô, chiếm được Mãn Châu, đảng Cộng sản Tàu được uy thế và sức mạnh, đây là một trong những nguyên do chính, giúp Mao cướp được chính quyền năm 1949.

Chính quyền cộng sản Việt Nam cũng được thiết lập lên do do bàn tay ngoại quốc Trung Cộng và Liên Sô. Hồ chí Minh được thâu nạp vào Đệ Tam quốc tế Cộng sản, học ở trường cộng sản Đông phương, chờ thời cơ cướp chính quyền. Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập vào năm 1930, mỗi năm vào thời đó nhận được sự giúp đở 1 500 phật lăng Pháp tương đương với cả trăm lương của một người tri huyện vào khoảng từ 15 đến 20 phật lăng. Lương của Hồ chí Minh vào thời đó mà đã là 100$. Trong khi đó tất cả những đảng quốc gia thì không có một sự giúp đỡ nào ngoài việc bị Pháp trù dập.

Cũng từ quyết định của Đại hội VI I Đệ Tam Quốc tế Cộng sản, đảng Cộng sản Việt Nam cũng được chỉ thị sửa soạn cướp chính quyền.Tháng 7/1936, Lê hồng Phong chủ tọa buổi họp Trung Ương đảng ở Thượng hải. ( Theo Chủ tịch Hồ chí Minh, tiểu sử và sự nghiệp – Nhà xuất bản Sự thật- Hà nội -1980 – trang 85). Hồ chí Minh cũng tìm cách về nước qua đường Trung Cộng, ở Diên An, căn cứ của Mao vào cuối năm 1938; “ Từ tháng 2 đến tháng 7/ 1939, chủ tịch Hồ chí Minh đã viết 9 bài báo đề là Thư từ Trung quốc, gửi về nước và đăng trên báo Notre Voix ( Tiếng nói của chúng ta), tuần báo công khai của Đảng ta xuất bản tại Hà nội “ ( Sách đã dẫn- cùng trang 85).

Đảng cộng sản Việt Nam với sự giúp đỡ, chỉ bảo của ngoại quốc, tất nhiên phải nghe lời ngoại quốc, chính vì vậy mà mới ngay sau khi thành lập, Quốc tế cộng sản cho rằng cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1930 đang đưa tư bản vào chỗ “ dãy chết” đã ra lệnh cho các đảng cộng sản đàn em phải nổi dậy, trong đó có đảng Cộng sản Việt Nam, trong vụ Nghệ An, Hà tĩnh năm 1930, đã đi đến thất bại. Sau này, khi Thế Chiến Thứ Hai vừa bùng nổ, Lỉên Sô cũng nghĩ tư bản sẽ cắn xé nhau, đưa nhau đến chỗ dãy chết, cũng ra lệnh cho các đảng đàn em nổi lên. Chính vì vậy có vụ nổi lên ở Hóc môn, Bà điểm. Chủ toạ buổi họp Trung ương đảng vào tháng 11/1939, để lấy quyết định này chính là Lê Duẫn. ( TheoLịch sử Việt Nam- tập I I- Nhà xuất bản Kgoa học xả hội- Hà nội – 1985 – trang hình, không đề số ). Ở điểm này, có một số ngưòi cho rằng Lê Duẫn, trước khi ra ngoài Hà nội làm Bí thư thứ nhất năm 1956, rồi Tổng bí thư năm 1960, chỉ là một anh cộng sản trung cấp, tầm thường. Họ đã sai. Lê Duẫn đã là nhân vật thứ ba của đảng vào thời đó, chỉ sau có Nguyễn văn Cừ, tổng bí thư và Lê hồng Phong, nhân vật thứ nhì. Lần nổi dậy thứ hai này củng thất bại, Nguyễn văn Cừ, Nguyễn thị Minh Khai, Lê Duẫn đều bị bắt, sau chỉ còn Lê Duẫn sống xót.

Lợi dụng những người thân Liên sô bị bắt, Hồ chí Minh, với sự trợ giúp của đảng Cộng sản Tàu, trực tiếp qua Chu ân Lai, đã triệu tập Hội nghị Trung ương đảng lần thứ VI I I, từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941, đưa Trường Chinh lên Tổng Bí thư. Chúng ta cũng nên nhớ là chính Chu ân Lai, trên con đường Vạn lý trường chinh, cũng triệu tập Trung Ương đảng Cộng sản Tàu, đưa Mao lên Tổng bí thư, vào tháng 1/1935. Nay bổn cũ xao lại với việt Nam.

Ngày 6 và 8/9/1945, hai trái bom nguyên tử bỏ xuống Nhật. Ngày 15/8, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Quân Nhật ở Việt Nam như rắn mất đầu. Ngày 7/8, chính phủ Trần trọng Kim từ chức. Lợi dụng khoảng trống chính trị, và đoàn công chức biểu tình đòi tăng lương ở Hà nội, đảng cộng sản Việt Nam đã trà trộn người vào đoàn biểu tình, lúc đầu chiếm một vài công sở, sau đó cướp chính quyền. Ngày 2/9/1945, Hồ chí Minh đọc “ Bản Tuyên Ngôn Độc lập “; nhưng thực tế họ Hồ đã đặt đất nước chúng ta vào trong gông cùm cộng sản, biến dân Việt thành nạn nhân, nước Việt thành bãi chiến trường.

Nhìn lại lịch sử tất cả những chế độ cộng sản từ trước tới nay, đều là do sự giúp đỡ của ngoại bang, dưới hình thức này hay hình thức khác, đều là do cướp chính quyền mà ra, chứ không có một chế độ nào do dân bầu mà có. Về sau có những cuộc bầu cử, nhưng đều là những cuộc bầu cử giả dối, kiểu “Đảng cử, dân bầu “.

Hơn thế nữa, tất cả những chế độ cộng sản đều tìm cách tiêu diệt những thành quả dân chủ đã có từ trước, do những phong trào, tổ chức, đảng phái quốc gia đã lập nên.

I I ) Chế độ đi ngược lại trào lưu tiến bộ của văn minh nhân loạu là tôn trọng tự do, dân chủ, nhân quyền.

Thật vậy, tất cả những chế độ cộng sản đều là chế độ độc tài, bắt đầu bằng chế độ của Lénine. Sau khi được Bộ Tham Mưu Đức đưa về cướp chính quyền, Lénine có tổ chức một cuộc bầu cử quốc hội lập hiến, hy vọng rằng sẽ thắng; nhưng thực tế hoàn toàn ngược lại, đảng của Lénine bị rơi vào thiểu số. Quốc hội này chỉ họp có một ngày, rồi bị Lénine giải tán ngày 18/1/1918.

Theo dõi sát những hành động của Lénine, bà Rosa Luxembourg, bạn của Lénine, cùng hoạt động trong Đệ Nhị Quốc Tế Cộng sản, người mà đảng Dân chủ Xã hội Đức hiện nay coi như là ân nhân và nhà sáng lập, đã không ngần ngại viết thư cho ông ta trước khi bà chết vào năm 1919, trong Nhật Ký của bà :

“ Cái đảng và nhà nước độc tài mà anh thành lập ra, anh bảo nó phục vụ thợ thuyền và nhân dân. Nhưng thực tế nó chẳng phục vụ một ai cả; vì nó đã đi ngược lại những nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa xã hội. Đó là tôn trọng tự do và dân chủ.”

Đây cũng là một trong những lý do đưa đến sự sụp đổ của những chế độ cộng sản sau này, vì nó đi ngược lại trào lưu tiến bộ của văn minh nhân loại. Đó là tôn trọng tự do, dân chủ và nhân quyền.

I I I ) Chế độ đi ngược lại truyền thống tốt đẹp của quốc gia dân tộc

Không những chế độ cộng sản đi ngược lại trào lưu tiến bộ của văn minh nhân loại, mà nó còn đi ngược lại truyền thống tốt đẹp của các dân tộc.

Thật vậy, áp dụng lý thuyết của Marx, chủ trương đoạn tuyệt tận gốc rễ với truyền thống dân tộc, những chế độ cộng sản tìm cách tiêu hủy tôn giáo, phá nhà thờ, phá chùa, đốt sách. Marx viết:

“ Cách mạng cộng sản là sự đoạn tuyết tận gốc rễ với chế độ tư hữu cổ truyền; không có gì ngạc nhiên, nếu trong sự phát triển của nó, cách mạng cộng sản đoạn tuyệt tuyệt đối với những ý tưởng cổ truyền.” ( Le manifested u Parti communiste - trang 44 – Union générale d’Editions-Paris-1962).

I V ) Đó là một chế độ bất bình thường, chủ trương bạo động lịch sử, giết chết giai tầng trí thức và trung lưu, xương sống cũa một xã hội. Một chế độ diệt chủng !

Có thể nói, hai người hiểu rõ sự tàn độc của chủ nghĩa và chế độ cộng sản ở Á châu là cụ Phan bội Châu và tướng Tưởng giới Thạch.

Cũng vào những năm đầu của thập niên 20, trong khi Hồ chí Minh ở bên Pháp lao đầu đi theo cộng sản, mà chưa rõ Đệ Nhị và Đệ Tam là gì, thì cụ Phan bội Châu, cũng được người của tổ chức này chiêu dụ ở bên Tàu, đưa nội qui của tổ chức cho cụ đọc, cụ ý thức rất rõ là nếu theo thì phải từ bỏ chủ quyền quốc gia, truyền thống dân tộc. Cụ còn nói thêm: “ Tôi chẳng duy vật, tôi chẳng duy tâm, tôi chỉ duy dân.”

Người thứ hai, đó là tướng Tưởng. Ông được Tôn dật Tiên, sau hiệp ước thân thiện Trung Sô vào năm 1923, gửi sang Liên sô để học. Theo nguyên tắc, ông phải ở bên đó lâu. Nhưng ông về ngay sau mấy tháng. Người ta hỏi: “ Tại sao tướng quân không ở bên đó lâu để học ? “, thì ông trả lời:

“ Tôi không có gì để học ở bên đó ". Sau ông nói tiếp :

“ Một con người không có xương sống, thì suốt đời chỉ nằm và bò, không bao giờ đứng dậy được. Xương sống của một xã hội là giai tầng trí thức và trung lưu. Cộng sản chủ trương tiêu diệt trí thức và trung lưu. Nên xã hội cộng sản không bao giờ đứng dậy được "

Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan có tuyên bố:

“ Lịch sử nhân loại có nhiều trang đẫm máu và tang thương. Nhưng chưa có những trang nào đẫm máu và đau thương như những trang sử cộng sản. Nga sô và các dân tộc Đông Âu đã can đảm đứng lên lật qua những trang sử đẫm máu và tang thương của mình, để viết những trang sử mới tốt đẹp hơn. Những dân tộc còn lại hãy bắt noi gương các dân tộc Nga và Đông Âu, can đảm đứng lên để lật qua trang sử cộng sản, để viết trang sử mới, cũa tự do, dân chủ, của ấm no, hạnh phúc "

Thật vậy, dân tộc Việt Nam hãy can đảm đứng lên để lật qua những trang sử cộng sản đẫm máu và đau thương. Đã quá trễ rồi.

Ngày nào còn cộng sản, thì còn chết chóc, tù đày, tự do, nhân quyền còn bị chà đạp.

Paris ngy 2/5/2009

Chu chi Nam
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »


Image

Tuổi Trẻ Việt Nam

Lê Nguyễn Huy Trần
Nhiều người cứ trách rằng thế hệ trẻ Việt Nam thời nay có lối sống buông thả về đạo đức, tư cách, và nhân phẩm. Tôi không phủ định cách nhận xét ấy vì chính bản thân tôi cũng thấy buồn khi những phong tục tập quán và giá trị con Rồng cháu Tiên được xem là niềm tự hào dân tộc ngày càng bị mai một dần, thay vào đó là một nền văn hóa thực dụng.

Tuy nhiên, tôi cũng muốn đưa ra một số nguyên nhân và luận điểm dẫn đến vấn nạn thiếu ý thức của thanh thiếu niên Việt Nam trong nước qua cái nhìn hạn hẹp của chính tôi. Tâm nguyện của tôi qua bài viết này không phải để bào chữa cho cái nhìn lãnh đạm của tuổi trẻ về hiện tình đất nước mà là mong tìm thấy sự đồng cảm từ các bậc cha ông lão thành, đồng thời có thể giúp các bản trẻ thấu hiểu được sự việc để biết mình cần phải làm gì cho đất nước ngày hôm nay.

Quan hệ nhà nước – xã hội – gia đình đóng một vai trò quan trọng đến cách suy nghĩ và nhận thức của giới trẻ. Một đất nước văn minh sẽ khai thông được tư tuởng và sức sáng tạo trong con người. Nhưng ngược lại, nếu các bạn trẻ được giáo dục và đào tạo dưới một bộ máy “độc quyền, độc Đảng” như Việt Nam hiện nay thì quả thực rất khó có thể tự giác học hỏi những điều mới lạ và hữu hiệu để góp phần xây dựng Tổ quốc.

Một chính quyền bạo lực với các ban lãnh đạo thi nhau tham nhũng, đàn áp người dân vô tội, không cho họ lấy một cơ hội “hé răng” than trách nửa lời. Một nhà nước thối nát tận gốc rễ: tự do ngôn luận không có, tự do báo chí không tồn tại, phi dân chủ, vô tôn giáo, và mất nhân quyền. Một xã hội bất công bao gồm các tầng lớp được phân hóa rõ rệt khi có người thì “giàu nứt vách đổ tưởng”, còn người nghèo tận cùng thì chỉ biết nằm chờ chết. Vậy làm sao gọi là nước “Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa” và rồi đặt hết trách nhiệm lên vai của thanh thiếu niên Việt Nam cho một đất nước phát triển trong khi lớp trẻ này sinh ra sau ngày nhà nước bại hoại ấy được thành lập.

Bây giờ con người đang sống trong thế kỷ hai mươi mốt – thời đại mà nền kinh tế của một nước là yếu tố chính quyết định sức mạnh và sự phồn vinh của nước ấy đối với những nước khác trên thế giới. Cho nên nhu cầu của con người cũng vì thế mà tăng lên. Ai ai cũng muốn có một cuộc sống đầy đủ về mọi mặt: vật chất lẫn tinh thần, và luôn mang trong người những tham vọng đạt chức danh ông này hay bà nọ để đời. Thế hệ trẻ Việt Nam đang sống trong thị trường thời mở cửa thì càng bị lôi cuốn với ý nghĩ: một người thật sự thành công chỉ khi nào có địa vị vững vàng trong xã hội. Họ chỉ nhìn vào hình ảnh những người đi trước đã bất chấp mọi thủ đoạn hèn hạ để tiến thân mà không hề hay biết rằng chính họ đang biến bản thân mình trở thành những con người thiếu đạo nghĩa khi nối gót theo các vị tiền bối ấy. Về mối liên hệ với gia đình, giới trẻ cũng không tìm được tiếng nói đồng thuận từ người thân vì khoảng cách giữa cha mẹ và con cái ngày càng bị nới rộng. Hầu hết các bậc phụ huynh cứ mãi lăn lộn kiếm tiền ngoài xã hội mà quên mất nhiệm vụ cao cả của một người cha, người mẹ. Điều tôi muốn nói ở đây là họ vẫn dành tình thương cho con cái, luôn mong muốn con mình trở thành một người có ích cho xã hội; thế nhưng, do cuộc sống bận rộn hay vì những ngăn cách khác, họ lại thiếu quan tâm đến ý thích, ước mơ cũng như thiếu chia sẻ về thắc mắc của con cái. Đó là một thiếu sót lớn ở cái xã hội mất luân lý này.

Chỉ có cha mẹ mới là tác nhân đắc lực trực tiếp giúp trẻ hoàn thiện tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức. Nếu như thế hệ 8X, 9X chỉ biết đến trường để bị đầu độc tư tưởng “Bác Hồ là vị cha già dân tộc” hay “Hồ Chí Minh - Người sáng lập và rèn luyện Đảng” ngay từ thuở nhỏ thì làm sao dễ dàng xóa bỏ được những vết mực dơ đã gieo vào nhiều đầu óc non nớt như trang giấy trắng tinh kia. Có ai chỉ cho họ dám lên tiếng chống đối Đảng khi thấy đường lối của Đảng là sai? Có ai nói cho họ nghe những sự thật trong quá khứ mà Đảng và nhà nước đã cố tình giấu nhẹm hơn ba thập niên qua? Có ai dạy cho họ phải biết bảo vệ những người dân lành đang bị áp bức bởi công an là kẻ đại diện cho pháp luật? Có ai khuyên nhủ họ cần nhận biết và cảnh tỉnh vận mệnh đất nước đang “ngàn cân treo sợi tóc”? Các bạn trẻ không thể tự tìm hiểu những điều cần phải biết trong khi thông tin truyền thông đại chúng bị gò bó trong khuôn khổ Đảng nói dân nghe. Dù có một số ít hiểu rõ hiện trạng đất nước thì họ cũng không dám để lộ ra tư tưởng mà theo Đảng gọi là “phản động” cho người khác thấy bởi họ sợ liên luỵ đến gia đình và người thân. Họ không can đảm trao đổi cách nghĩ của mình về các vấn đề xã hội “nhạy cảm” với bạn bè đồng trang lứa vì nó như một đề tài xa lạ trong cuộc sống hằng ngày của sinh viên.

Hôm trước, tôi có dịp trò chuyện với một vài người bạn trong nước để hiểu xem các bạn ấy có nhận định gì về tình hình xã hội hiện nay trên đất nước Việt Nam. Có người cho rằng dân Việt Nam nhìn chung là “thụ động và sống lệ thuộc”. Ai cũng chỉ biết “vâng lời” theo nề nếp Đảng Cộng Sản đặt ra để được yên thân. Vì thế nếu có kẻ tìm cách bức ra khỏi lối sống ấy thì được xem là “sâu” tuy “sâu chưa chắc đã hại”. Tôi thấy nếu đã gọi là sâu bọ thì cần phải được loại bỏ nhưng có đáng không khi những người đó không muốn tương lai bị lệ thuộc theo cách sắp xếp của nhà cầm quyền Cộng Sản. Người khác thì nghĩ “ai cũng làm việc vì bản thân” và khó thay đổi được thực trạng này thì làm sao ý thức đoàn kết dân tộc được đề cao. Vài người còn lại không mấy quan tâm đến hiện tình đau thương của đất nước, con người Việt Nam mà chỉ chú ý “nền kinh tế vừa lạm phát, vừa đình trệ” có ảnh hưởng thế nào đến công ăn việc làm. Qua mấy cuộc nói chuyện ngắn ngủi ấy, tôi cảm thấy rằng xã hội Việt Nam đang nuôi dưỡng thanh thiếu niên trở thành những người công dân chấp nhận sống dưới bóng đen Cộng Sản bởi họ tuyệt đối tin vào luồng thông tin phi thực tế của bộ chính trị đảng hay tiếp nhận các phim ảnh thiếu tính giáo dục được đưa từ ngoài vào.

Khi đất nước Việt Nam mở cửa và hội nhập với những nước khác thì cũng chính là lúc tệ nạn xã hội gia tăng. Ngoài học hỏi những điểm tốt từ các nước bạn, giới trẻ cũng không tránh khỏi ảnh hưởng xấu như bạo lực trong học đường, bất mãn và phản kháng thầy cô, quan hệ bạn bè cởi mở đến mức khó chấp nhận, v.v… Bên cạnh đó, cách mạng công nghệ kỹ thuật cũng được áp dụng rộng rãi nhưng thiếu kiểm soát làm nhiều bạn trẻ bỏ quá nhiều thời gian vào việc truy cập bậy bạ trên internet hay mê muội game online đến nỗi vô tình quên đi cuộc sống thực tại, quên đi việc học hành, quên đi nghĩa vụ một người chủ tương lai của đất nước. Mấy năm trước nhà nước cho thi hành chính sách xoá nạn mù chữ và tôi không thất vọng khi thấy số lượng sinh viên Đại học tăng lên đáng kể trong những năm gần đây. Theo Tổng cục Thống kê, chỉ khoảng hai trăm ngàn sinh viên học Đại học vào năm 1990, nhưng đến năm 2005 thì con số đã chiếm đến hơn một triệu tư. Thế nhưng nhà nước lại không tích cực giải quyết nạn thất nghiệp lan tràn trên khắp mọi miền nên nhiều sinh viên ra trường không kiếm được việc làm phù hợp với bằng cấp của mình.

Nếu tuổi trẻ Việt Nam đang bước vào giai đoạn tự lập như một người lớn thực thụ mà không kiếm nổi một bữa “cơm lành, canh ngọt” thì thử hỏi sức lực đâu mà nghĩ đến vận nguy nước nhà. Họ sẽ chán nản và phó mặc cho số phận đưa đẩy. Cuộc đời lại lắm trớ trêu khi nhiều kẻ vô học được gắn mác “con ông cháu cha” lại phè phởn với những cuộc ăn chơi trác táng, lại ngạo nghễ trên nỗi đau nhân loại. Đấy là những thành phần làm ô uế một tập thể chung khiến mọi người có cái nhìn thiếu thiện cảm về tuổi trẻ Việt Nam. Nhiều người cho rằng tôi đang bênh vực cho thế hệ thanh thiếu niên theo luận điệu cố hữu mà ai cũng biết. Vậy có ai thực sự thông cảm với những gì thế hệ “mắt không thấy, tai không nghe” này phải gánh chịu từ bao biến cố ngày xưa? Tôi hi vọng người lớn hãy yêu thương và dìu dắt chúng tôi, vạch ra những sai sót và thiếu bản chất sự thật chứ đừng vội trách chúng tôi không xứng đáng là lực lượng thay đổi tương lai đất nước. Nếu giới trẻ được sự hướng dẫn tận tình của những bậc trưởng bối thì tôi tin rằng các bạn ấy sẽ tích cực tiếp thu những lời dạy bổ ích đó.

Tôi đã từng nằm trong hoàn cảnh tù túng dưới bộ máy chính quyền ĐCSVN nên tôi cảm nhận được nỗi bức xúc và sự nặng nề của nhiều người phải cam chịu sống im lặng từng ngày. Thật lòng tôi rất muốn gởi tâm tình của một người con yêu nước đến các bạn trẻ Việt Nam, những người chưa thấy rõ bộ mặt đê hèn và trơ tráo của Đảng ta. Tôi biết nhiều bạn trẻ cũng đang cố gắng chèo lái con thuyền của mình trên đại dương đầy sóng gió cạnh tranh, đầy khó khăn cản trở để hướng đến một chân trời mới. Ai cũng có khát vọng và ấp ủ những hoài bão riêng. Lúc còn ngồi trên chiếc ghế nhà trường, nếu các bạn chỉ biết quyết tâm học thật giỏi mà không màng đến thế sự thì cũng giống như tôi trước kia vậy. Đến khi bước chân vào đời, các bạn bắt đầu nhận ra sự chèn ép bất công trong lòng xã hội. Có khi nào các bạn tự hỏi những điều oái oăm ấy là do đâu? Các bạn sẽ không tìm được câu trả lời thích đáng nếu các bạn chưa bao giờ biết đến hàng ngàn nỗi đau chua xót xảy ra với đồng bào Việt Nam trong thời gian gần đây. Tôi ghê tởm cái cách nhồi sọ tinh vi thuyết Chủ Nghĩa Cộng Sản và cách che giấu ma mãnh của Đảng đã làm các bạn không thể hiểu rõ thực trạng màn trời chiếu đất của nước nhà trong lúc này. Các bạn không học về biến cố thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế (1968) được xem là nỗi kinh hoàng truyền kiếp bởi vụ giết người hàng loạt, chôn sống tập thể của quân đội Bắc Việt còn tàn độc hơn thời Hít-le.

Các bạn không được nghe kể về sự xâm lăng của Trung Cộng khi đánh chiếm đảo Hoàng Sa năm 1974 hay chiến tranh biên giới Việt – Trung vào năm 1979 đã hi sinh biết bao nhiêu chiến sĩ hải quân. Các bạn không được biết chuyện nhà cầm quyền Hà Nội toan phá bỏ những mộ bia của các thuyền nhân năm xưa đi vượt biên tỵ nạn trên đảo Pulau Galang, Nam Dương hay ở một số nơi khác chỉ vì họ muốn che đậy tội lỗi đối với những linh hồn không được siêu thoát sau cuộc chiến. Các bạn không thấy được chính quyền Cộng Sản thẳng tay đàn áp và bỏ tù những nhà đấu tranh dân chủ như LM Nguyễn Văn Lý, LS Nguyễn Văn Đài, LS Lê Thị Công Nhân, v.v… chỉ vì họ dám đứng lên tranh đấu đòi nhân quyền. Các bạn không ngờ đến việc ĐCSVN đang chứa chấp bọn bá quyền xâm lược Tàu dưới chiêu bài hợp tác khai thác quặng nhôm với Trung Quốc trên vùng Tây Nguyên. Đã có rất nhiều bài viết phân tích về mối nguy hại nghiêm trọng cho môi trường nếu kế hoạch bauxite này được đưa vào hoạt động. Nó không đơn giản chỉ tác hại về kinh tế mà còn cả phương diện xã hội, đời sống, và chính trị khi sự diệt vong của một đất nước đang ở mức báo động. Nhiều dư luận đã lên tiếng phản đối dự án ngu ngốc này của ĐCS nhưng thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn phớt lờ tất cả để tiếp tục nối giáo cho giặc. Thật ra, các nhà lãnh đạo nước CHXHCNVN chỉ là bọn bù nhìn đang bị quản thúc dưới tay đàn anh Trung Cộng. Các bạn là những người sáng suốt phải nhìn thấu được điều này và cần biết nên làm gì để hoàn thành sứ mệnh bảo vệ Tổ quốc.

Đảng cầm quyền Việt Nam đang bóp chết mọi hi vọng và ước mơ của thế hệ chúng ta khi dập tắt những cuộc HSSV biểu tình chống sự xâm lấn của giặc Tàu. Thành phần buôn dân bán nước này cần phải được triệt hạ trước khi chúng dâng hiến toàn bộ giang sơn Việt Nam cho bọn bành trướng Trung Cộng. Tình thế nguy ngập của nước nhà không cho phép tuổi trẻ Việt Nam ngồi yên chịu đựng cái nhục quốc thể. Bây giờ là thời điểm để mỗi người chúng ta góp một bàn tay đấu tranh cho quê hương thoát khỏi ách nô lệ ngoại bang. Bọn xâm lược Tàu Cộng đã không cho chúng ta quyền tự trị trên mảnh đất Việt Nam thân yêu. Vì thế chúng ta không thể dễ dàng khuất phục cho bọn chúng cai trị dân tộc Việt Nam ta – một dân tộc ngàn đời hiển danh quật cường. Các bạn đừng phí phạm thời gian cho các cuộc tụ tập vui chơi vô bổ mà hãy dành giây phút vàng bạc đó để tìm hiểu sự thật về tất cả tội ác của chế độ Cộng Sản đã gây ra, về những uẩn khúc lịch sử đang chờ các bạn làm sáng tỏ.

Hãy mạnh dạn nói lên những suy nghĩ và ước nguyện của các bạn cho một tương lai nước Việt giàu mạnh. Hãy chia sẽ những tâm tư và trăn trở của các bạn với những bạn trẻ khác để ý thức dân tộc được nâng cao. Hãy chấm dứt sự si mê ngu muội mà Đảng CSVN đang cố tình nhồi nhét vào não bộ các bạn. Chúng ta biết tìm tòi và học hỏi để hướng đến chân – thiện – mỹ chứ không nên chịu sự sai khiến của đám lãnh đạo nhà nước ngu si và bảo thủ. Các bạn không thể tự chủ trên một đất nước không có dân chủ. Các bạn không thể tồn tại trong một xã hội không có công bằng. Đất nước Việt Nam đang cần các bạn. Một mình tôi không thể làm gì, một nhóm người lẻ tẻ cũng không đủ khả năng giải cứu non sông, nhưng cùng với toàn dân Việt Nam trên khắp năm châu bốn bể, chúng ta sẽ xây dựng lại một quê hương tự do, ấm no và thanh bình.

Hỡi tuổi trẻ Việt Nam, chúng ta hãy cùng nhau đứng dậy!

Lê Nguyễn Huy Trần
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »


Image

Obama và hơn thế nữa…

Tác giả: Đào Hiếu

Sân khấu chính trị Mỹ đang quay cuồng trong điệu rock man rợ, chợt im tiếng. Có một người da đen mảnh khảnh bước lên bục diễn với cây kèn trompette. Và điệu Blue trầm lắng vang lên. Đó là Obama. Nhưng chàng không chỉ đến với điệu Blue, chàng mang cả một thế giới mới lạ được phối màu trầm của contrebasse, kèn gỗ và chất giọng khàn đục của Louis Armstrong xập xình lắc lư…Chàng mang lại sự hòa dịu, êm ái. Điệu Blue của chàng đã làm nhiều người khóc, có cả những người da trắng.

Obama là một người hùng biện, dễ mến và có chiến lược tranh cử hợp lý. Ông là sự chọn lựa của nhân dân Hoa Kỳ nhưng trước hết ông là sự chọn lựa của các thế lực tài phiệt Mỹ. Sự đắc cử của Obama đồng nghĩa với sự thay đổi chiến lược toàn cầu của các tập đoàn kinh tế ấy.
Bọn họ đã lắp Obama trên cánh cung và bắn đi. Obama là chiếc nỏ thần của Thục An Dương Vương. Cái mũi tên màu sô-cô-la hiền hòa ấy một lúc đã bắn trúng nhiều con chim: sự hiếu chiến, sự phân biệt chủng tộc, chiến tranh Iraq, Hồi giáo, lá chắn tên lửa…

Obama là điều kỳ diệu nhất trong lịch sử nước Mỹ. Là chọn lựa đẹp nhất, khôn ngoan nhất của giới tài phiệt Hoa Kỳ.
Obama sẽ làm được những gì, điều đó thời gian sẽ trả lời, nhưng trước hết Obama đã thay đổi được hình ảnh nước Mỹ trong con mắt của thế giới. Đó là điều trước đây chưa ai làm được.


Sự có mặt của Obama tại Nhà Trắng còn có ý nghĩa rất lớn rằng: kể cả kẻ ngạo mạn nhất, hung hăng nhất, giàu mạnh nhất như Mỹ rốt cuộc cũng phải xét lại mình, phải tìm cách thay đổi. Cái đó Marx gọi là “biện chứng”. Nhưng tiếc thay những người tự nhận là marxiste như đảng cộng sản Việt Nam, như đám cầm quyền “ăn vạ” ở Bắc Triều Tiên hiện nay, như các nhà lãnh đạo còm cõi quá đát ở Cu Ba… lại không hiểu cái phép biện chứng ấy. Đúng ra là họ rất sợ sức mạnh của quy luật biện chứng và tìm mọi cách để ngăn cản sự phát triển của quy luật ấy. Thực chất, nói theo ngôn ngữ Mác-xít, họ là những kẻ phản động.

Họ ít học, lại hẹp hòi, tiểu nhân, độc ác. Miệng họ nói “hòa giải, hòa hợp dân tộc” nhưng tay họ cầm súng dí vào lưng, cầm còng số 8 khóa vào tay, cầm dây thòng lọng tròng vào cổ những người Việt Nam đã bại trận, đã bị tước vũ khí, đã bị lột sạch, trần trụi…

Họ không có kiến thức và lòng nhân ái để hiểu rằng tháng 4 năm 1994 khi Nelson Mandela, người bị giam giữ hơn hai thập niên trong nhà tù, lên làm tổng thống Nam Phi đã không tìm cách trả thù những kẻ đã đàn áp nòi giống mình suốt 300 năm. Ở Nam Phi lúc ấy chẳng những đã không có “học tập cải tạo”, không có dí súng vào lưng, treo cổ hay đày đoạ đối phương trong lao dịch như ở Việt Nam mà chính quyền của Mandela gần như giữ nguyên trạng bộ máy hành chính và cả bộ máy cảnh sát. Các đảng phái chính trị vẫn hoạt động tự do bình thường. Tất nhiên vẫn có những phiên tòa xử các tội phạm phân biệt chủng tộc trong chế độ Apartheid nhưng không kể đến màu da, đảng phái, cũ mới. Các chánh án và luật sư phần lớn là người da trắng từng hành nghề trong chế độ cũ vì họ có kiến thức và hiểu biết luật pháp.

“Khi ông Mandela rút khỏi chính trường, nhiều người lo ngại sẽ có phân biệt chủng tộc ngược của người da mầu. Nhưng Thabo Mbeky, người kế tục sự nghiêp của Mandela vẫn tiếp tục chính sách hòa giải dân tộc, và về nhiều mặt, nhất là kinh tế, còn rộng mở hơn ngừời tiền nhiệm.” (trích bài ‘Nhìn Nam Phi ngẫm đến Việt Nam’ của Oldmovie 13)

Mùa đông năm 1997, tôi có dịp sang Đức, ngụ tại Potsdam. Buổi sáng tôi gặp một ông già người Đức ngồi ăn phở tại quán của người bạn tôi. Với vốn liếng tiếng Anh không lấy gì làm lưu loát lắm ông khoe ông là đại tá phi công của chính quyền Đông Đức cũ. Tôi hỏi:
-Thế khi nước Đức thống nhất bác có phải đi học tập cải tạo không?
Ông già tỏ vẻ ngạc nhiên và nói rằng chẳng những không có “cải tạo” mà ông còn được chính quyền mới trả lương hưu nữa.

Nhưng ngoạn mục nhất là sự xuất hiện của nữ thủ tướng Angela Merkel. Bà sinh ở Đông Đức, từng là sinh viên của trường đại học Leipzig, đậu tiến sĩ vật lý năm 1986, từng là đại biểu quốc hội của chính quyền cộng sản Đông Đức. Thế mà khi nước Đức thống nhất bà lại được thủ tướng Helmut Kohl bổ nhiệm làm bộ trưởng phụ trách về phụ nữ và thanh thiếu niên.
Ngày 23/11/2005 bà đắc cử chức Thủ tướng Chính phủ Đức. Sự đắc cử của bà Angela Merkel cũng ngoạn mục không kém gì thắng lợi của Obama.
Rõ ràng là những người cầm quyền ở Âu Mỹ (và cả Nam Phi) dù bị mang tiếng là thực dân, đế quốc… nhưng khi cần cao thượng họ là những người cao thượng, khi cần nhân ái họ là những người nhân ái, khi cần lẽ phải họ là những người rất tôn trọng lẽ phải. Còn Việt Nam chúng ta, suốt trong chiều dài lịch sử từ Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn, Tây Sơn… chỉ thấy trả thù, trả thù, trả thù, chỉ thấy những trò hèn hạ như tứ mã phanh thây, đào mồ cuốc mả cho lính đái vào đầu lâu, tru di tam tộc, cửu tộc, chém ngang lưng, chôn sống tập thể, đấu tố, thủ tiêu, ám sát…

Đó là lỗi của ai vậy? Có phải tại cái “gen” của nói giống Lạc Hồng? Xin thưa, không phải đâu. Bởi vì Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Pôl Pôt, Hitler, Staline…đều thế cả. Đó là lỗi của bọn cầm quyền. Nếu chúng dã man hoặc theo những học thuyết dã man, chúng sẽ đẩy cả dân tộc vào sự man rợ.
Nhân dân không có lỗi gì cả.

Sự xuất hiện của Angela Merkel, Barack Obama, Nelson Mandela, Thabo Mbeky… là thành quả của sự hối lỗi, sự điều chỉnh, sự xét lại của Quyền Lực tại các nước ấy.
Hãy vứt những cái đầu tủn mủn vào đống phế liệu của lịch sử. Việt Nam cũng đang cần một sự hối lỗi, một sự điều chỉnh, một sự thức tỉnh như thế.

ĐÀO HIẾU
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Việt Nam, Hàn Quốc và Trung Quốc

Ngô Nhân Dụng
Vào thế kỷ thứ 7, cả Việt Nam và Hàn Quốc đều được nhà Ðường bên Trung Quốc chiếu cố bằng chính sách bành trướng. Vua Cao Tông nhà Ðường sai Tiết Nhân Quý (Xue Renguy) chinh phục xứ Cao Ly, lúc đó họ đang chia làm ba nước, rồi nhà Ðường lập An Ðông Ðô Hộ Phủ vào năm 668 để cai trị Triều Tiên. Rút kinh nghiệm đó Cao Tông cũng sai lập An Nam Ðô Hộ Phủ vào năm 679 để cai trị 12 châu của xứ Giao Châu cũ.

Dân Cao Ly chống ngoại xâm giỏi hơn dân Việt. Năm 676 một đạo quân của nước Silla từng liên kết với quân Ðường đã quay ngược lại, đánh thắng được quân Ðường. Họ phải đợi tới năm 761 mới chấm dứt chế độ Ðô Hộ Phủ, giành độc lập và dần dần thống nhất quốc gia. Một phần họ cũng nhờ quân Ðường phải rút về vì quân Tây Tạng đang tiến đánh đe dọa cả kinh đô Trường An. Còn dân Việt Nam ta phải đợi lâu hơn một thế kỷ nữa, tới năm 906, khi nhà Ðường suy sụp mới có ông Khúc Thừa Dụ tự lập lên làm Tiết Ðộ Sứ. Tuy nhiên ông vẫn xin vua nhà Ðường phong nhậm; mãi đến đời Ngô Quyền vào năm 939 nước ta mới thật sự độc lập.

Trong hơn một ngàn năm sau đó, các nước Triều Tiên và Việt Nam vẫn giữ phận nước nhỏ, mặc dù độc lập nhưng vẫn thần phục và triều cống các hoàng đế Trung Hoa.

Ngày nay, Hàn Quốc cũng chia đôi, không khác gì thời “Tam Quốc” trước đây 14 thế kỷ. Nhưng họ may mắn còn một nửa đất nước vẫn độc lập và đang trở thành một quốc gia hùng cường ở Á Ðông. Người dân Nam Hàn không chịu cảnh một ngàn năm bị đô hộ như dân Việt, và cũng không lo bị quân Trung Cộng đánh như hồi 1950; nhưng dân Nam Hàn vẫn đang quan tâm lo ngại về kế hoạch bành trướng của Trung Quốc về mặt kinh tế khiến họ phải lấn áp các nước chung quanh. Giữa Tháng Tư năm 2009 bộ Tài chánh ở Seoul đã công bố một tài liệu nêu lên mối đe dọa vì chính phủ Bắc Kinh đi tìm tài nguyên quặng mỏ bằng cách liên kết thương mại hoặc mua chuộc các chính quyền tham nhũng ở các nước chưa mở mang. Bản báo cáo nói rằng chương trình đó của Bắc Kinh có thể làm cho “các nỗ lực của Hàn Quốc trong việc nhập cảng tài nguyên thiên nhiên sẽ bị lâm nguy.” Bản báo cáo kết luận kêu gọi chính phủ Seoul phải tìm các biện pháp đối phó với kế hoạch bành trướng của Trung Quốc. Những ý kiến công khai này đã gây ra một cơn sốt ngoại giao mà sau đó chính phủ hai nước phải tìm cách làm cho nguội bớt.

Gần đây, Triều Tiên Nhật báo (Chosun Ilbo) ở Seoul đã viết một bài xã luận về mối đe dọa của Trung Quốc. Trong bài báo đó họ nêu lên một thí dụ về thái độ trịch thượng của chính quyền Trung Quốc là việc chính phủ Pháp phải “kéo cờ trắng” trước áp lực của Bắc Kinh. Bên lề cuộc họp Khối G 20 ở London, Tổng Thống Nicolas Sarkozy phải công khai tuyên bố xác nhận nước Pháp không bao giờ ủng hộ Tây Tạng độc lập. Nhưng điều “nhục nhã” mà báo này nêu lên, là vị tổng thống nước Pháp phải đích thân đến phòng ông Hồ Cẩm Ðào để “triều kiến” ông trùm đảng Trung Quốc, người chủ tịch đảng Cộng Sản đang ngồi trên ngai vàng của Ðường Cao Tông ngày xưa.

Chính phủ Nam Hàn và báo chí ở Seoul có “thù nghịch” với Trung Quốc hay không? Không thù nghịch mà còn giao hảo. Nhưng không phải vì thế mà họ không công bố những ý kiến bất đồng. Và chính phủ Hàn Quốc cũng không cấm báo chí không được nói xấu về Trung Quốc. Không có tờ báo “Du lịch” nào ở Seoul bị đóng cửa vì chỉ trích nước láng giềng vĩ đại.

Hàn Quốc không thể coi Bắc Kinh là kẻ thù; mà ngược lại phải coi đó là “đồng minh khách quan,” vì chỉ có cộng sản Trung Quốc mới có thể tạo sức ép trên chính quyền cộng sản ở Bắc Hàn, và chia sẻ ảnh hưởng của Nhật Bản trong vùng Ðông Á. Trung Quốc là nước đứng hàng đầu trong hoạt động ngoại thương của Nam Hàn, mỗi năm có gần 6 triệu người đi lại giữa hai quốc gia. Các công ty Nam Hàn từ Sam Sung tới Kia đang đầu tư 40 tỷ Mỹ kim trong lục địa Trung Hoa. Về mặt kinh tế thì hai quốc gia liên kết với nhau theo thế “môi hở răng lạnh!” Một câu ngạn ngữ ở Hàn Quốc là “Gà gáy ở Sơn Ðông thì bên Cao Ly cũng nghe thấy.”

Nói đến gà gáy lại nhớ tới bài hát “Việt Nam, Trung Hoa núi liên núi, sông liền sông” của Ðỗ Nhuận viết dưới thời Hồ Chí Minh trị vì, trong đó có câu cực tả (cường điệu) nói dân hai nước (ở Quảng Tây và ở Lạng Sơn, dân Vân Nam cùng dân Lào Cay) cùng nghe thấy tiếng gà gáy sáng với nhau: “Sớm sớm chung nghe tiếng gà gáy cùng!”

Ở nước ta bây giờ, nhiều người dân Quảng Tây của Trung Quốc cũng đang nghe được tiếng gà gáy ở Việt Nam, nhưng không phải chỉ tiếng gáy ở Lạng Sơn mà là tiếng gà ở tận Quảng Nam lận! Hôm qua Nhật báo Người Việt đã thuật lại những chi tiết do tờ báo Sài Gòn Tiếp Thị tường thuật là có cả một làng công nhân Trung Quốc đã lập nên ở tỉnh Quảng Nam từ mấy năm nay. Báo chí trong nước cho biết có hàng chục ngàn công nhân Trung Quốc đã sang Việt Nam làm việc từ nhiều năm qua ở Hải Phòng, Quảng Ninh, Cà Mau, và bây giờ vào tận Ðắc Nông! Công nhân đi tới đâu mang theo cả các đầu bếp đi theo nấu nướng cho hợp khẩu vị! Họ được chính quyền cộng sản Việt Nam hoan nghênh để thể hiện hình ảnh “Sớm sớm chung nghe tiếng gà gáy cùng!”

Ở thôn Cà Dầu gần nhà máy thủy điện Za Hưng 1 đang xây cất, thôn trưởng nói mỗi khi công nhân Trung Quốc đến thăm nhà người Việt Nam, họ đều mang quà tới; như chăn màn, thuốc lá, và cả cơm nguội ăn dư để nuôi heo! Cứ theo cái đà tiến triển của tình hữu hảo này thì các công nhân Quảng Tây và người dân Quảng Nam sẽ có ngày không những cùng nghe tiếng gà gáy sớm mà sẽ dần dần tiến đến cảnh “tam cùng,” cùng hút thuốc, cùng ăn thịt heo và cùng chung chăn, chung màn nữa.

Nhưng tại sao phải nhập cảng công nhân Trung Quốc sang làm cả những công việc lặt vặt gọi là việc “phổ thông” như đẩy xe, múc nước, làm “cửu vạn” khuân vác? Bài báo hôm qua dẫn lời giải thích của ông Nguyễn Văn Ðảm, tổng giám đốc công ty Za Hưng thuộc Bộ Quốc Phòng Hà Nội: Công nhân Trung Quốc làm việc có hiệu quả hơn, vì ba yếu tố, sức khỏe tốt hơn, chuyên nghiệp hơn, và giữ kỷ luật và tôn trọng của công cao hơn các công nhân người Việt. Ðây chắc hẳn là một chính sách của Bộ Quốc Phòng trong chính phủ Hà Nội, chính sách nâng cao hiệu quả công việc.

Nhưng tại sao các công nhân Việt Nam lại yếu sức hơn, tay nghề thì kém mà tinh thần kỷ luật lại yếu hơn các đồng chí Trung Quốc? Có phải bản chất dân Việt Nam vốn thấp kém như thế, hay là nhờ được đảng Cộng Sản lãnh đạo cho nên mới gây ra như thế? Tại sao công nhân nước mình kém cỏi như thế mà hàng trăm ngàn thanh niên nam nữ vẫn được “xuất khẩu lao động?” Nếu công nhân nước mình yếu đuối như vậy thì có nên tìm cách cho họ ăn uống no đủ hơn để nâng cao sức khỏe? Có nên mở trường huấn luyện nghề nghiệp cho công nhân hay là cứ phải đi nhập cảng lao động? Có thể nào nâng cao kỷ luật của công nhân bằng cách các cấp chỉ huy làm gương hay không? Nếu các quan lớn, từ Bộ Chính Trị cho đến chính phủ cũng tôn trọng kỷ luật quốc gia, không tham nhũng, giữ đạo công bằng không kết bè kết phái, không nâng đỡ con ông cháu cha và các đảng viên để chèn ép những người khác, tôn trong của công, thì liệu dân Việt Nam có học được thêm tinh thần kỷ luật hay không?

Nếu theo tiêu chuẩn hễ thấy người ngoại quốc nào làm việc với sức khỏe tốt hơn, hiệu năng cao hơn, thì nên đem họ vào Việt Nam làm việc thay cho các công nhân người Việt, thì có lẽ nên thay thế tất cả Bộ Chính trị, cả chính phủ, nhập cảng các đồng chí Trung Quốc vào làm việc thế chỗ họ. Vì bên Trung Quốc thiếu gì người có học vấn và kinh nghiệm hơn các ông bà trong Trung ương Ðảng Cộng Sản Việt Nam!

Và chắc chắn các đồng chí Trung Quốc thông hiểu chủ nghĩa Mao Trạch Ðông hơn các cán bộ lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam.

Bên Trung Quốc người ta đang tái lập đạo thờ Mao, và ca tụng Mao như một nhà ái quốc. Mới có một cuộc thi chọn những bài hát ái quốc nào hay và được ưa chuộng nhất, do một trang nhà (Website) của chính phủ tổ chức. Bài hát đứng đầu bảng là bài “Ðông Phương Hồng” mà các cán bộ lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam tuổi từ 60 trở lên chắc đều phải thuộc lòng (Ðông phương hồng mặt trời lên, Trung Quốc có ông Mao Trạch Ðông!) Bài hát đứng hạng nhì là “Mặt trời đỏ nhất, Mao chủ tịch yêu quý nhất.” Ðây là những bài hát rất phổ thông trong thời “Cách Mạng Văn Hóa” nhưng bây giờ lại được đề cao. Vì lý do nào vậy?

Vì giới lãnh đạo cộng sản Trung Quốc đang mở một chiến dịch cổ động tinh thần ái quốc, và lấy ông Mao làm biểu tượng. Ngày 1 Tháng Mười năm nay họ sẽ kỷ niệm 60 năm thành lập chính thể cộng sản. Sẽ có những cuộc diễn binh vĩ đại. Ðêm sẽ có những màn trình diễn ngoạn mục do Trương Nghệ Mưu đạo diễn không kém gì cảnh diễn xuất ở Thế Vận Hội năm ngoái. Cho nên ngay tự bây giờ Bộ Chính trị đảng Cộng Sản đã nấu sẵn món canh “ái quốc” cho dân tộc Trung Hoa ăn, và mô tả ông Mao Trạch Ðông là người có tư tưởng ái quốc vĩ đại! Họ muốn mọi người dân Trung Hoa hãnh diện về nước Trung Hoa, tự hào về nhà ái quốc Mao Trạch Ðông!

Nhưng khi mô tả Mao Trạch Ðông như một nhà ái quốc thì họ có tự mâu thuẫn hay không, khi cũng vẫn ca ngợi ông như là một nhà lãnh đạo vĩ đại của vô sản thế giới trong suốt mấy chục năm? Không sao cả, đối với người Trung Hoa thì ông ta là người theo chủ nghĩa dân tộc vĩ đại, còn đối với thế giới sẽ đeo cho ông ta bộ mặt khác!

Ðối với người Trung Hoa ở lục địa, Mao Trạch Ðông là người theo chủ nghĩa ái quốc. Ai đi thăm Vạn Lý Trường Thành đều thấy chữ viết của Mao Trạch Ðông trên bia đá; một cảnh tượng khiến ông Lý Quang Diệu phải thấy dòng máu Hán tộc trong con người ông sôi lên. Mao viết: “Bất kiến Trường thành phi hảo Hán” (Chưa thấy Trường Thành thì không phải là người Hán giỏi). Cũng trong thắng cảnh đó, có thủ bút của Ðặng Tiểu Bình: “Ái ngã Trung Quốc, tu ngã Trường thành” (Yêu Trung Quốc của ta, tu bổ Trường thành của ta). Cái gì cũng của ta, của ta. Họ rất tự hào, và họ có lý do chính đáng!

Nhưng khi một tỷ người Trung Hoa được bộ máy tuyên truyền của đảng Cộng Sản Trung Quốc đêm ngày tôi luyện tinh thần ái quốc và tự hào chủng tộc, thì tất cả các dân tộc ở những nước nhỏ chung quanh đều phải lo lắng. Có người sẽ thấy sợ đến dựng tóc gáy!

Trừ quý vị lãnh tụ đảng Cộng Sản Việt Nam là cứ thản nhiên.

Khi các nhà trí thức trong nước tỏ ý kiến chống việc cho đạo quân công nhân Trung Quốc vào khai thác quặng bô xít ở cao nguyên Trung phần, ngoài các lý do kinh tế và môi trường sống người ta còn nêu lên vấn đề chiến lược. Cao nguyên Trường Sơn ở nước ta là mái nhà của cả vùng. Làm xa lộ Bắc Nam trên Trường Sơn, mở rộng các xa lộ nối nước Lào với bờ biển miền Trung, rồi lại cho hàng vạn người Trung Quốc tới làm việc ở đó không theo quy chế nào cả, thì quả là một điều đáng lo ngại.

Nhưng trong tháng trước, ông Nguyễn Tấn Dũng đã làm một cuộc hành hương kéo dài một tuần lễ ở Trung Quốc. Nhà bình luận David Pilling trên Nhật báo Financial Times đã mô tả chuyến công du đó như là một cuộc triều kiến, và nêu rõ món quà ông Nguyễn Tấn Dũng đã tiến cống thiên triều là những quặng mỏ bauxite, mà ký giả này ghi nhận đó là nguồn quặng bauxite lớn thứ ba trên thế giới. Món quà triều cống này, theo ông, là để giảm bớt một phần lỗ hổng mậu dịch giữa Trung Quốc và Việt Nam, năm ngoái lên tới 11 tỷ đô la. Ông Pilling cũng nhắc lại là Việt Nam từng bị Trung Quốc đô hộ một ngàn năm.

Nhưng ai cũng biết dù bị cai trị hà khắc suốt một ngàn năm, dân Việt Nam vẫn không bị đồng hóa mà còn giành lại được độc lập, cũng như dân Cao Ly. An Nam Ðô hộ phủ đã sụp đổ cũng như An Ðông Ðô hộ phủ đã tan rã.

Hai dân tộc Việt Nam và Hàn Quốc cùng anh dũng như nhau. Họ không bao giờ chịu khuất phục. Hiện nay chỉ có một điểm khác biệt giữa hai nước, Việt Nam và Hàn Quốc, là bên xứ Nam Hàn có một chế độ dân chủ tự do và đã theo kinh tế thị trường từ hơn nửa thế kỷ nay; ngược lại bên Việt Nam thì đã bị chủ nghĩa cộng sản theo lối Mao Trạch Ðông chiếm cứ hơn nửa thế kỷ và đến giờ vẫn một đảng cộng sản nắm độc quyền.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Triệu Tử Dương: Tiếng vọng từ đáy mộ
Friday, May 15, 2009

Ngô Nhân Dụng
Tựa đề này phỏng theo lời thơ Nguyễn Chí Thiện, và rất thích hợp. Nhân vật đang nằm trong đáy mộ là Triệu Tử Dương (Zhao Ziyang). Và tiếng vọng đang vang lên là những lời nói trong năm sau cùng của đời ông được ghi âm sau 16 năm bị quản thúc tại gia, nay xuất bản thành sách. Ðiều đáng buồn cho mọi người Trung Hoa là bản dịch bằng tiếng Anh (Prisoner of State, Tù Nhân của Nhà Nước) được xuất bản trước, trong khi nguyên bản bằng Trung văn vẫn chưa in ra. Riêng điều này cũng chứng tỏ đời sống tinh thần của quốc gia với hơn một tỷ dân và hơn bốn ngàn năm văn hiến nay vẫn còn u ám vì thiếu tự do xuất bản.

Hai mươi cuốn băng thu lời tự sự của Triệu Tử Dương đã được các đồng chí của ông lén đưa ra ngoài để phiên tả, đến nay in thành sách. Người từng là cánh tay mặt của Triệu Tử Dương, ông Bao Ðồng (Bao Tong) nhận xét rằng việc in bản tiếng Anh cuốn sách ngay bây giờ là để dư luận thế giới chú ý, khiến cho đảng Cộng Sản Trung Quốc không thể phủ nhận sự có mặt của cuốn tự sự này, và không thể cấm đoán và xóa bỏ nó mãi được. Ông Bao Ðồng là người tìm cách đưa cuốn sách này ra ánh sáng. Ngoài ra, chúng ta cũng biết việc xuất bản cuốn tự sự trong thời gian này cũng là để đi một bước trước ngày 4 Tháng Sáu, đúng 20 năm sau cuộc tàn sát ở Thiên An Môn mà ông Triệu Tử Dương đã phản đối, mà vì thế ông mất chức tổng bí thư đảng Cộng Sản. Những tiếng vọng từ đáy mộ được cất lên chỉ trong 3 tuần lễ trước ngày “Lục Tứ” này chính là để nêu lại vấn đề lịch sử về vụ án Thiên An Môn, mà nhiều gia đình của các sinh viên đã chết vẫn kêu gọi đảng Cộng Sản Trung Quốc xét lại.

Trong các lời tự sự, Triệu Tử Dương lên án quyết định đưa quân đội tới Thiên An Môn bắn giết các sinh viên là một hành động bất hợp pháp. Ðáng lẽ quyết định này phải được Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản thảo luận và biểu quyết, nhưng Ðặng Tiểu Bình đã chuyên quyền ra lệnh điều quân với tư cách chủ tịch Quân ủy Trung ương, với sự đồng lõa của Thủ Tướng Lý Bằng. Theo Triệu Tử Dương chính Lý Bằng là người đứng hẳn về phía chủ trương tàn bạo và thúc đẩy Ðặng Tiểu Bình đi tới quyết định giết người đó.

Triệu Tử Dương kể rằng ông phải yêu cầu được gặp Ðặng Tiểu Bình, và khi được đưa tới dinh cơ của ông này thì thấy các lãnh tụ khác trong Ban Thường Vụ Bộ Chính Trị đã có mặt ở đó để ủng hộ quyết định đàn áp. Nhưng Triệu Tử Dương nhấn mạnh rằng không hề có một cuộc biểu quyết nào trong Bộ Chính Trị cho phép ban hành tình trạng thiết quân luật, và hành động đó hoàn toàn không hợp pháp, theo chính pháp luật của Trung Quốc trong thời gian đó.

Trong suốt thời gian Tháng Năm năm 1989 khi các sinh viên đang biểu tình, Triệu Tử Dương luôn luôn chủ trương phải nói chuyện với đại diện của các sinh viên để đáp ứng với nguyện vọng của người người biểu tình, gồm các sinh viên, công nhân và giới trí thức trẻ ở Bắc Kinh, đã được thanh niên toàn quốc ủng hộ. Theo ông, các lãnh tụ sinh viên không mấy người tỏ ý chống lại sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản mà họ chỉ yêu cầu đảng chống tham nhũng, đặc biệt là những đặc quyền đặc lợi của đám “con ông cháu cha” thuộc giới thống trị trong đảng.

Nhưng đối với những người không quá quan tâm đến biến cố lịch sử Thiên An Môn mà chỉ muốn tìm hiểu về công việc cải tổ kinh tế và chính trị ở Trung Quốc, thì cuốn sách của Triệu Tử Dương cũng cho chúng ta biết nhiều điều mới.

Một điều Triệu Tử Dương đã vạch ra là ý kiến thay đổi hệ thống kinh tế độc quyền của đảng Cộng Sản không phải do Ðặng Tiểu Bình xướng xuất mà do chính những kinh nghiệm thực tế mà Triệu Tử Dương đã thành công khi thi hành những cải cách ở các tỉnh. Ðọc lại tiểu sử của ông, chúng ta thấy có thể tin ở lời quả quyết này, và thấy Ðặng Tiểu Bình vẫn theo thói của các lãnh tụ Cộng Sản độc tài, là cướp công của những người thuộc cấp.

Triệu Tử Dương sinh năm 1919 ở Hà Nam, cũng là con một địa chủ như Ðặng Tiểu Bình. Gia nhập đảng Cộng Sản từ năm 19 tuổi, ông làm cán bộ huyện ủy thi hành cải cách ruộng đất ở các tỉnh miền Trung Trung Quốc trong thời gian kháng Nhật và nội chiến với Quốc Dân Ðảng. Sau khi Cộng Sản chiếm được chính quyền năm 1949, Triệu Tử Dương tiếp tục những hoạt động về nông thôn ở các tỉnh miền Nam Trung Quốc, năm 1955 được bầu vào ban lãnh đạo tỉnh Quảng Ðông, một tỉnh rộng lớn và sản sinh nhiều người có tinh thần cách mạng trong nước Trung Hoa. Năm 1965, ông làm bí thư thứ nhất của tỉnh Quảng Ðông, cho tới khi bị phế truất trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa; nhưng tới năm 1972 ông lại trở về tỉnh này rồi hai năm sau được lên làm tổng bí thư trở lại. Trong thời gian đầu lãnh đạo tỉnh Quảng Ðông, Triệu Tử Dương đã thí nghiệm những cải tổ về kinh tế đầu tiên ở nước Trung Hoa, cho phép chợ búa ở thôn quê được hoạt động và cho nông dân được cầy cấy những thửa ruộng tư của họ. Trong thời gian Cách Mạng Văn Hóa, Triệu Tử Dương đã bị đưa đi làm ở các nhà máy để “cải tạo bằng lao động” cũng giống như Ðặng Tiểu Bình.

Năm 1976, Triệu Tử Dương được đưa về làm bí thư thứ nhất của tỉnh Tứ Xuyên, tỉnh đông dân nhất Trung Quốc lúc đó, với 100 triệu dân, và cũng là quê hương của Ðặng Tiểu Bình. Chính tại tỉnh này, Triệu Tử Dương đã cho thử hệ thống “khoán sản” cho nông dân chịu trách nhiệm về mảnh đất mà họ trồng trọt, thay vì chỉ theo chỉ tiêu của công xã nhân dân. Cuộc cải tổ táo bạo này đã nâng sản năng nông phẩm của toàn tỉnh. Chính thành tích này đã khiến Ðặng Tiểu Bình chú ý tới và nâng Triệu Tử Dương lên làm ủy viên dự khuyết Bộ Chính Trị vào năm 1977, và hai năm sau thành ủy viên chính thức, một cuộc thăng quan tiến chức rất nhanh. Sang năm 1978 Ðặng Tiểu Bình bắt đầu cho áp dụng một số chính sách thay đổi nền kinh tế “xã hội chủ nghĩa.” Năm 1980 Triệu Tử Dương được phong làm phó thủ tướng, rồi mấy tháng sau lên làm thủ tướng Trung Quốc. Năm 1984 ông đi thăm nhiều quốc gia, trong đó có nước Mỹ. Năm 1987 Triệu Tử Dương được làm tổng bí thư đảng Cộng Sản Trung Quốc thay Hồ Diệu Bang, nhưng hai năm sau thì ông mất chức vì muốn đi xa hơn trong việc cải tổ chính trị.

Về cuộc tàn sát Thiên An Môn, Triệu Tử Dương nói, “Tôi tự nhủ, dù bất cứ cái gì xẩy ra, tôi không thể nào là người tổng bí thư ra lệnh cho quân đội đàn áp sinh viên... Ðêm mùng Ba Tháng Sáu, tôi ngồi trong sân sau với gia đình, nghe thấy tiếng súng nổ. Một thảm kịch làm cả thế giới bị sốc đã không tránh được, giờ này đang diễn ra.”

Ðặng Tiểu Bình vẫn được coi là người xướng xuất cuộc “cải tổ” xóa bỏ kinh tế Cộng Sản ở Trung Quốc. Nhưng nay Triệu Tử Dương nói thẳng chính ông là người đi tiên phong trong cuộc cách mạng đó. Không những ông đã xóa bỏ các công xã nhân dân của Mao Trạch Ðông trước tiên, ông cũng là người khuyên Ðặng Tiểu Bình thành lập những khu kinh tế đặc biệt chuyên sản xuất để xuất cảng, một mô thức đã được áp dụng ở Ðài Loan trước đó. Trong lời giới thiệu cuốn Tù Nhân của Nhà Nước, Roderick MacFarquhar nhận xét rằng: “Ðọc những lời tự sự chân thật và không chút khoe khoang của ông, chúng ta thấy chính ông chứ không phải Ðặng là kiến trúc sư của cuộc cải tổ. Ðặng không đưa ra những tư tưởng mới, chính Triệu là người đưa ra.” Trên mặt chính trị, cuốn sách cho thấy Triệu Tử Dương đã thay đổi tư tưởng từ những ngày ông làm tổng bí thư đảng cho tới ngày ông qua đời năm 2005.

Khi còn lãnh đạo đảng Cộng Sản Trung Quốc, Triệu Tử Dương vẫn chủ trương nước ông không thể theo chế độ đa đảng. Nhưng khi suy nghĩ trong thời gian bị quản thúc, ông đã nhận ra rằng công cuộc cải tổ kinh tế chỉ thành công nếu những người cai trị phải có chức trách (accountability), người dân phải được tự do tổ chức hội họp, và hệ thống tư pháp phải độc lập với đảng cầm quyền. Ông nói là, “Chính hệ thống dân chủ đại nghị đã chứng tỏ có sức sống mạnh nhất. Nếu chúng ta không tiến tới trên mục tiêu này thì không thể nào giải quyết được những hiện tượng bất bình thường trong nền kinh tế thị trường ở Trung Quốc.”

Trái với Ðặng Tiểu Bình là người mà ông mô tả là hoàn toàn tin tưởng vào chế độ độc tài của đảng Cộng Sản, Triệu Tử Dương chủ trương ngược lại là phải giảm bớt sự tập trung quyền hành trong tay một đảng. Ông viết: “Nếu một đảng chính trị mà quyền lực không bị ai giám sát, thế nào nó cũng sinh ra các quan chức tham nhũng.” Những lời nói phải rất giản dị đó đã bị giới lãnh đạo ở Trung Nam Hải bỏ qua! Cuốn sách gồm 30 giờ nói chuyện của Triệu Tử Dương sẽ ghi danh ông trong lịch sử Trung Quốc. Một người đã chết vẫn cất được tiếng nói từ đáy mộ, nhờ các đồng chí như Bao Ðồng tận tâm tận lực bảo vệ tiếng thơm của ông.

Hiện nay đảng Cộng Sản Việt Nam đang theo chủ nghĩa Ðặng Tiểu Bình, người mà trong những năm 1979 - 80 bộ máy tuyên truyền ở nước ta vẫn gọi tên là Ðặng Lưu Manh.

Theo Lưu Manh có lợi cho riêng mình và gia đình mình. Nhưng nếu biết thuận theo lẽ phải thì sẽ tránh được tiếng xấu ngàn năm.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Những diễn tiến trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc ?


Như tôi nói làm một con đường đi qua lãnh thổ của Trung Quốc thì là phải qua đèo cao, thế thì đi vòng chân đồi mở rộng sang chỗ đường bằng phẳng đi vòng trên đất nước Việt Nam thì đường ô-tô dễ đi. Lúc không có chuyện thì không sao, nhưng bây giờ anh nói đường của tôi ở đâu thì đất của tôi ở đấy. ....Đấy, lúc đó là trong hoàn cảnh thời chiến. Người ta giúp mình, mình chẳng bao giờ nghĩ tới chuyện đó, có thể là không nghĩ ra, có thể là dốt, vân vân. Bây giờ muốn trách cứ thế nào thì cũng phải chịu thôi.

Những diễn tiến trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc ?

Mới đây, Trung Quốc đã mạnh mẽ chống lại việc Hà Nội đệ trình bản đăng ký thềm lục địa mở rộng tại Liên Hiệp Quốc vào ngày 7 tháng 5 vừa qua và động thái này ngay sau đó đã bị Việt Nam phản bác.
Hà Nội cũng vừa công khai đặt mua một số tàu ngầm tối tân của Nga với số tiền bằng phân nửa ngân sách quốc phòng hàng năm của Việt Nam . Điều gì đang xảy ra giữa bang giao Trung -Việt khi chỉ cách đây ít lâu Việt Nam vẫn còn rất dè dặt khi nói đến vấn đề nhạy cảm này ?
Mặc Lâm phỏng vấn ông Dương Danh Dy một nhà ngoại giao kỳ cựu có nhiều chục năm làm việc tại sứ quán Việt Nam ở Trung Quốc để biết thêm những kinh nghiệm mà nhà ngoại giao này có được.

Tranh chấp thềm lục địa

Mặc Lâm: Thưa ông vào ngày 7 tháng 5 vừa qua Việt Nam đã đăng ký thềm lục địa mở rộng dù biết rằng Trung Quốc sẽ chống đối. Xin ông cho biết việc làm này có ý nghĩa như thế nào trong hoàn cảnh hiện nay ?

Ông Dương Danh Dy : Ta báo trước cho Trung Quốc biết đấy. Tôi nói cho các anh biết là tôi sẽ đăng ký cái này dù các anh có phản đối. Tức là tôi qua đó để nói với anh rằng thái độ của chúng ta, những nhà lãnh đạo của chúng ta bây giờ cũng là cương quyết rồi. Chúng ta có thể nói là những vấn đề lớn, những vấn đề nguyên tắc là chúng ta không lùi.

Mặc Lâm : Với kinh nghiệm nhiều năm làm việc trong lĩnh vực ngoại giao ông đã tiếp cận khá nhiều với Trung Quốc, ông có nhận xét gì về cách mà nước này đối phó với Việt Nam trong những năm qua ?

Ông Dương Danh Dy : Theo tôi, vấn đề của ta với Trung Quốc, ngoài những vấn đề bauxite ở trên lục địa thì bây giờ vấn đề Biển Đông nó nổi lên thành một vấn đề có thể nói là nhạy cảm, gay gắt và nó thể hiện rõ cái quan hệ hai nước ấm lạnh như thế nào là cũng qua đây nó thể hiện đấy.
Nhưng trong vấn đề này thì tôi nghĩ rằng Việt Nam chúng ta bây giờ không thể, nhưng mà muốn giải quyết vấn đề này (thì) không có cách gì khác là phải dựa trên sức mạnh dân tộc. Sức mạnh dân tộc đây tôi nói là cả trong và ngoài nước chứ không phải là chỉ có trong nước đâu. Ngoài nước cũng là sức mạnh rất đáng kể mà trước đây tôi đã rất chú ý vấn đề này nhưng mà gần đây thì người trong nước mới chú ý đến họ.
Thế thì đấy là sức mạnh dân tộc và sức mạnh của thời đại. Sức mạnh của thời đại đây tức là cái công khai hoá, cái quốc tế hoá, cái đa phương hoá để tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của những người đồng tình với chúng ta.

Mặc Lâm : Dư luận cho rằng trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, Trung Quốc đã viện trợ cho miền Bắc rất nhiều và có lẽ sự trợ giúp quân sự này đã khiến cho Hà Nội tỏ ra quá mềm yếu trong khi đàm phán về biên giới giữa hai nước, phải không ạ?

Ông Dương Danh Dy : Bây giờ cũng không thể kết tội ai được bởi vì nó là chuyện lịch sử rồi. Chúng ta có một số điều hứa. Tôi biết rất rõ những điều hứa này của ta. Ta có những điều hứa trong vấn đề Biển Đông. Cái hứa của chúng ta lúc đó thì có những nguyên nhân là do chúng ta bênh Trung Quốc, có những nguyên nhân do chúng ta dốt, chúng ta không hiểu gì cả.
Tôi xin nói thật, tôi đã từng đi điều tra biên giới trên bộ nhiều lần và tôi thấy có những cái đúng là sự ngây ngô khờ dại, có những cái do lúc bấy giờ người ta giúp mình nhưng mà mục đích là đưa hàng hoá sang nhanh chẳng hạn.
Như tôi nói làm một con đường đi qua lãnh thổ của Trung Quốc thì là phải qua đèo cao, thế thì đi vòng chân đồi mở rộng sang chỗ đường bằng phẳng đi vòng trên đất nước Việt Nam thì đường ô-tô dễ đi. Lúc không có chuyện thì không sao, nhưng bây giờ anh nói đường của tôi ở đâu thì đất của tôi ở đấy.
Thế là mình mất toi mấy chục hecta trở lên. Làm thế nào được! Đấy, lúc đó là trong hoàn cảnh thời chiến. Người ta giúp mình, mình chẳng bao giờ nghĩ tới chuyện đó, có thể là không nghĩ ra, có thể là dốt, vân vân. Bây giờ muốn trách cứ thế nào thì cũng phải chịu thôi.

Ứng phó với Bắc Kinh ?

Mặc Lâm : Mới đây thì Việt Nam đã chính thức đặt hàng mua một số tiềm thủy đỉnh tối tân của Nga. Ông nhận định việc này ra sao?

Ông Dương Danh Dy : Phông phải bây giờ mới là lần đầu. Ta có tên lửa, ta có máy bay tầm xa, ta có tàu ngầm bỏ túi, trước những cái này rồi. Tôi nói thật báo chí Trung Quốc họ công khai rồi, các anh không có đọc nên không biết đó thôi.
Báo chí Trung Quốc đánh giá lực lượng mình, cho điểm rất kỹ : máy báy SU-30, SU-37 của Nga thế nào, tàu ngầm bỏ túi của Triều Tiên như thế nào, họ biết cả đấy. Tên lửa tầm gần, tầm trung của ta như thế nào, họ biết cả đấy chứ không phải không đâu. Thế thì bây giờ cái chuyện chúng ta mua 6 tàu ngầm của Nga, như vậy đó là nằm trong kế hoạch.
Chúng ta thì không chạy đua vũ trang nhưng mà chúng phải có cái bảo vệ mình. Anh không còn lùi được nữa. Trên bộ xong rồi thì bây giờ trên biển đấy. Trên bộ thì họ còn cái bauxite, họ cắm cái dao găm vào đấy. Nhưng mà cái đó các anh bên ngoài theo dõi cũng thấy.
Nhân dân mình cảnh giác, người già cảnh giác, trẻ cảnh giác, cũng là một mặt nhưng mà không đáng ngại, nhưng còn cái biển thì bây giờ cái vấn đề nó nóng bỏng rồi, không lui được nữa rồi, chỉ có cách bây giờ mình giải quyết như thế nào?
Theo tinh thần của cha ông mình, khôn ngoan khéo léo dựa vào sức mạnh của ta, sức mạnh trong nước, sức mạnh ngoài nước, sức mạnh của thế giới, sức mạnh của dư luận tiến bộ, vân vân.

Mặc Lâm : Ông có nghĩ rằng động thái mua võ khí tối tân của Việt Nam có làm cho Trung Quốc đi đến những quyết định quân sự mà từ lâu họ vẫn âm thầm chờ đợi hay không?

Ông Dương Danh Dy : Tôi nghĩ rằng trong lúc này phía Trung Quốc họ chưa làm được cái gì lớn đâu. Cho đến tháng 10 sang năm Trung Quốc tổ chức triển lãm quốc tế ở Thượng Hải, cho nên trong giai đoạn này thì Trung Quốc chưa dám làm điều gì lớn ở Biển Đông đâu.
Nhưng mà sau thời điểm 2010 trở đi thì chưa biết họ làm cái gì đâu. Họ kinh khủng lắm chứ. Không phải là đùa với người láng giềng này được đâu.

Mặc Lâm : Trong khi làm việc với Trung Quốc, ông có nhận xét gì về những chiến lược của họ đối với vấn đề biên giới hai nước ? Đặc biệt là biên giới trên bộ ?

Ông Dương Danh Dy : Trong cái chuyện Biển Đông bây giờ thì nó lại còn gay gắt hơn trên bộ bởi vì rõ ràng là trong cái chuyện này thì đây là một cuộc đối đầu không cân sức. Trung Quốc mạnh hơn ta rất nhiều. Thế thì mình bây giờ phải có biện pháp khôn ngoan làm thế nào để mình giữ vững được. Chúng ta cũng phải xem lại, xem mình như trước đây chủ trương công khai như vậy đã đúng chưa ?
Theo tôi nghĩ bây giờ đương giai đoạn nung nấu. Vấn đề này hiện nay đã trở thành vấn đề thời sự trong nước. Bây giờ ở trong nước tôi biết là ta tìm được quả ấn chứng tỏ rằng ngày xưa đất của chúng ta ở gần Bằng Tường, cách biên giới bây giờ khoảng hai chục cây số, tức là các cụ nhà mình cũng mất đất cho Trung Quốc, cho nên những người bên ngoài cứ bảo rằng chúng tôi là hèn, chúng tôi bán nước, chúng tôi không có cái chuyện đó đâu.
Chúng tôi đấu với họ (Trung Quốc) cũng căng lắm chứ, nhưng mà trong cái tương quan lực lượng, nhất là biên giới trên bộ, anh nào yếu hơn, anh nào khôn hơn, lọc lõi hơn, mình thì yếu hơn lại có những lúc dại khờ, có những lúc cả tin, tất nhiên cái chuyện thua thiệt là cái điều khó tránh khỏi. Khó chứ không phải dễ tránh nổi lịch sử đâu !

Mặc Lâm : Và cuối cùng xin ông một kết luận về những điều mà ông cho là quan trọng nhất để người Việt chúng ta dè chừng và đối phó với họ?

Ông Dương Danh Dy : Tôi làm việc với Trung Quốc suốt từ năm 1962 đến năm nay về hưu rồi nhưng mà vẫn cứ tiếp xúc với những người làm với Trung Quốc là cái anh láng giềng nó to, nó khoẻ, nó lại tham, nó lại xấu tính. Mệt lắm. Lúc hữu nghị mình tưởng nó hữu nghị nó giúp mình hết sức, nhưng mà nó cũng luôn luôn tìm cách nó thọc gậy.
Tất nhiên là những cái giúp đỡ của họ với mình thì mình không bao giờ quên. Nó to lớn lắm! Nhưng mà ngay trong những lúc họ giúp đỡ mình to lớn nhất họ vẫn có ý đồ. Có, mà lúc đầu mình không để ý. Cho nên trong cái buổi phát biểu gần đây tôi có nói như thế này: “Mắt tôi đã từng thấy thế hệ cha anh bị Trung Quốc mang lòng tin ra để đánh lừa, thế hệ tôi cũng có lúc bị Trung Quốc mang cái lòng tin ra để đánh lừa. Tôi hy vọng và mong rằng thế hệ sau tôi không mắc những cái nhược điểm đó”.

Mặc Lâm : Thưa, một lần nữa xin cám ơn ông đã cho phép chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn rất đặc biệt này.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image
ĐÓA HỒNG CHO MỘT NHÀ SƯ

Tháng 5 vùi đầu trong mùa thi
khi ve kêu phượng nở.
Tháng 5 nhớ thương Sài Gòn
với bàng hoàng-trăn trở
Tháng 5 mùa hoa sen nở . Hoa vô ưu về.
Tháng 5 này đáng ghi cần nhớ.
Vâng ! đúng vậy. Khác với mọi năm. Tháng 5 của năm này. Giòng lịch sử của Việt Tộc ghi nhận thêm một sự kiện đấu tranh đòi công lý, dưới hình thức khá mới mẽ được phát truyền đi từ một vị Cao Tăng ái quốc. Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ.

- Biểu Tình Tại Gia - Bất Tuân Dân Sự

Hình thức đấu tranh này. Đối với người Việt Nam nghe sao mà là lạ ... và cũng quen quen ! Vì cảm nhận bất đồng nhất, nên đã không nhận ra hết sự vi diệu của hình thức đấu tranh này. Do đó. Ngoài việc hàng trăm hội đoàn và cá nhân yêu nước đã lên tiếng hưởng ứng lời kêu gọi, thì cũng có một số cá nhân thông qua Báo chí – Truyền thông đã đặt câu hỏi là:

- Liệu hình thức đấu tranh này có khả thi không ?

Thật khó có một câu trả lời mang tính nhất quán cho câu hỏi nói trên.

Bởi lẽ ! Phán xét và thẩm định về một quan điểm chính trị hay một khuynh hướng đấu tranh của một cá nhân, một tổ chức, xa hơn là của một chế độ. Có khi phải dựa vào yếu tố khách quan và chủ quan của lịch sử – văn hóa và dân tộc. Nhưng để có câu trả lời về sự khả thi, thì xin nhìn lại chặng đường 34 năm tranh đấu đã qua. Tất cả đều đồng niệm với ước mơ là đấu tranh giải thể chế độ cộng sản đem lại tự do dân chủ cho quê hương. Ước mơ đó quá lớn lao, nhưng tỷ lệ đạt được khả thi trong tranh đấu thật quá khiêm nhường, thật quá bé nhỏ đối với cộng đồng Việt Nam tranh đấu tại hải ngoại cũng như hàng trăm cá nhân bất đồng chính kiến tại quốc nội. Từ đó. Trong công cuộc bảo vệ tổ quốc khỏi bị lâm nguy vào vòng Hán Hóa nói chung, hay lòng ái quốc của mỗi con dân nước Việt nói riêng. Xin chớ nên hạn hẹp hỏi rằng có khả thi hay kết quả không ! Nhất là đối với một vị chân tu không vướng bụi hồng trần, nhưng vẫn khí khái can đảm tỏ lòng ái quốc để cứu nước cứu dân. Đấu tranh chống ngoại xâm bảo tồn dân tộc. Công việc này lớn lao lắm, ý nghĩa thiêng liêng lắm, không dễ dàng có được như mấy lát Bánh Mì hôm trước thích ăn, thì sáng hôm sau thức dậy đã có trên bàn.

Rất có thể ! Đã có sự lạm bàn xuất phát từ một góc cạnh tiêu cực hay phiếm diện nào đó ! Nhưng để có một cái nhìn khách quan và công tâm thì việc phân tích về khuynh hướng đấu tranh do Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ đưa ra chẳng có gì là khó. Đôi khi sau sự phân tích, bình luận , người ta có thể tìm ra những giải pháp tốt hơn, thực tế hơn để phù hợp với tình hình chính trị hiện nay của Việt Nam. Tuy nhiên , có thể khẳng định rằng. Dưới chế độ an ninh hà khắc của Cộng Sản Việt Nam thì khuynh hướng đấu tranh của vị Cao Tăng này đưa ra vẫn là một Tiền đề cho các cuộc đấu tranh kế tiếp. Dù là những cuộc đấu tranh sau này được đặt dưới sự lãnh đạo của một Cá nhân – Tổ Chức - Đảng phái hay Tôn giáo nào ! Bởi phương cách đấu tranh vẫn không thoát ra ngoài khuynh hướng: Bất Bạo Động .

BIỂU TÌNH TẠI GIA
Mới nghe qua hình thức đấu tranh này không khỏi khiến người ta ngạc nhiên và tự hỏi: Đấu tranh sao dễ dàng thế này ? Nghĩa là ở nhà không đi đâu hết. Nếu không muốn nói là Bạn cứ ngồi chơi xơi nước trong nhà. Giả định. Khi bạn có lòng ái quốc chống ngoại xâm, chống sự sai trái vô trách nhiệm của người lãnh đạo quốc gia. Bạn giải thích và nhắc nhở thành viên trong gia đình nên tham gia đấu tranh. Từ gia đình tới Xóm-Làng- Xã Quận đến Tỉnh Thành. Ai ai cũng thực hiện như Bạn trong một Tuần. Thì bên ngoài Xã hội sẽ ra sao ? Nếu tình trạng này xảy ra trong một Tháng thì Chế độ sẽ thế nào ? Về đâu ?. Xin bạn hãy hình dung và đừng hỏi. Liệu tất cả mọi người đều chịu thực hiện như thế hay không ? Câu trả lời không của riêng ai. Vì Việt Nam không của riêng ai. Ngay cả lời kêu gọi đấu tranh nói trên cũng chỉ xuất phát từ một con dân nước Việt muốn bảo vệ quê hương, giống nòi. Đừng nên ngôn ngữ hóa hay nhãn quan hóa quá mức từ lòng nghi ngờ hay phán đoán lòng ái quốc của một người, mà hãy nhẹ nhàng tự bảo mình: - Ông Sư này yêu nước. Mình cũng nên yêu nước. Như vậy. Bạn đã dành được sự kính trọng rồi.

BẤT TUÂN DÂN SỰ
Biểu tình tại gia hiểu một cách ngắn gọn là. Chỉ ở nhà không ra ngoài, thì tự nó là bất tuân dân sự rồi. Tại Việt Nam. Xét theo tình hình biến động hiện nay qua các cuộc đình công ở Hà Nội- Sài Gòn-Đồng Nai của anh chị em công nhân nhằm chống lại sự bất công, việc tự động tổ chức nghỉ việc để đấu tranh thì cũng là Bất Tuân Dân Sự rồi. Hay xét theo lịch sử đấu tranh của một số quốc gia Châu Á như An Độ – Phi Luật Tân. Thì hình thức đấu tranh này cũng không gì mới mẽ. Nếu không muốn nói là vẫn nằm trong khuôn khổ mà Mohandas Karamchand Gandy của An Độ. Là Cha đẻ của kế hoạch Đấu Tranh Bất Bạo Động từng thực hiện và thành công ngay trên quê hương của ông. Do đó một trong các nguyên tắc của đấu tranh bất bạo động thì có hình thức Bất Tuân Dân Sự. Nghĩa là người tham gia đấu tranh có thể từ chối thực hiện những việc mà họ vẫn thường làm hoặc trông đợi sẽ làm, hoặc bắt buộc phải làm theo yêu cầu của pháp luật.

Vì vậy, cần phải công tâm và thấu hiểu hết ý nghĩa sâu xa khi nhận xét về lời kêu gọi đấu tranh của Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ. Trong nhãn quan bình thường khi nhận xét về kế hoạch đấu tranh của Ngài đưa ra. Tất cả cho thấy tiến trình đấu tranh nằm dưới dạng của sự: TỊNH. Một sự Tịnh Tâm Tịnh Lòng của một vị Chân Tu. Nhưng không ! Nếu có sự đồng tâm đồng sức thì kết quả của sự TỊNH kia sẽ biến thành một sự: ĐỘNG. Một cơn chấn động có thể phá sập một Chế độ độc tài. Điều căn bản và cũng là một câu hỏi là: Người Việt Nam Có Chịu Yêu Nước Không. Hay Chấp Nhận Lệ Thuộc Phương Bắc Một Lần Nữa ?

Xét trên quan điểm chính trị và khuynh hướng đấu tranh trải dài trong 34 năm qua mà nhiều Cá nhân bất đồng chính kiến hay các tổ chức chống cộng đã cố gắng, nhằm đem lại tự do dân chủ và nhân quyền cho quê hương. Thì hình ảnh của Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ đáng được tôn kính, đáng được ngợi ca. Vì Ngài đã bất chấp sự quản thúc nghiêm ngặt, để ra lời kêu gọi đấu tranh như một tuyên chiến với chính quyền cộng sản việt nam. Lòng quả cảm và ái quốc của Ngài sẽ là tấm gương sáng cho các nhà đấu tranh dân chủ và các vị lãnh đạo tinh thần của các tôn giáo đáng noi theo. Để cùng nhau hiệp thông mở ra một con đường tươi sáng cho quê hương. Để cho quốc gia Việt Nam độc lập trường tồn trong tinh thần tự quyết của dân tộc.

Chắn chắn hoa tự do sẽ nở rộ trên con đường dân chủ Việt Nam. Nhân Mùa Phật Đản. Nhân tháng đấu tranh như lời kêu gọi. Xin trân trọng kính gởi cầu nguyện đến Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ. Kính chúc Ngài trường thọ và vững chí đấu tranh. Kính chúc GHPGVNTH. Quý Chư Tăng Phật Tử luôn an mạnh để hỗ trợ cùng Ngài trong công cuộc giải trừ Pháp nạn và Quốc nạn trên Quê hương.

Trân trọng Kính Chào liệt vị,

NGUYỄN DUY THÀNH
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

Trung Cộng Là Bạn hay Là Kẻ Thù ?
Một khối hang động phức tạp mở toang ra miền bờ biển toàn núi đá của tỉnh đảo Hải Nam phía nam Trung Quốc là nơi trú ngụ của một trong những thứ vũ khí giết người mới nhất và tiềm tàng nhất trong kho vũ khí của Bắc Kinh: một chiếc tàu ngầm sản xuất trong nước được thiết kế để phóng các hỏa tiển mang đầu đạn hạt nhân.

Vì thế, khi chiếc USNS Impeccable, một tàu khảo sát của Hoa Kỳ, đang điều tra vùng biển này vào tháng trước, Trung Quốc liền đặt một cái bẫy.

Năm chiếc tàu của Trung Quốc đã vây bọc quanh chiếc tàu Hoa Kỳ. Các thành viên trong thủy thủ đoàn [Trung Quốc] đã ném những mảnh gỗ vào lối đi của tàu Impeccable và sử dụng những câu liêm dài để kéo các thiết bị âm thanh của tàu. Khi các thủy thủ Hoa Kỳ dùng vòi cứu hỏa xịt nước vào những kẻ tấn công họ, đám thủy thủ có khuôn mặt vô cảm người Trung Quốc ở trên boong của một trong những con tàu đó đã cởi hết quần áo, chỉ mặt đồ lót rồi tiến tới gần trong phạm vi 8 mét, Ngũ Giác Đài cho biết.

Cuộc chạm trán tại vùng Biển Nam Trung Hoa [Biển Đông], kéo dài khoảng 3 tiếng rưỡi, có khuynh hướng gửi đi một thông điệp rõ ràng. Phía Trung Quốc cho rằng chiếc Impeccable đang vị phạm luật pháp quốc tế qua việc điều khiển các hoạt động giám sát trong vùng đặc quyền kinh tế của TQ. (Trái lại) Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác coi hành động đó là hợp pháp.

Khi những chiếc tàu khảo sát của Hoa Kỳ thăm viếng khu vực này trong tương lai, thì ông Su Hao, giám đốc Trung Quốc Quản lý Chiến lược và Xung đột thuộc trường Đại học Quan hệ Quốc tế của Trung Quốc, nói “Họ sẽ phải thận trọng hơn.”

Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ xem Trung Quốc như là một quốc gia, mà tại thời điểm nào đó, chắc chắn sẽ đạt được khả năng để thách thức quân đội Hoa Kỳ trên quy mô toàn cầu.

Hoa Kỳ trong những năm gần đây đã thay đổi để gia tăng các lực lượng quân sự của mình tại Thái Bình Dương và đã khuyến khích người đồng minh Nhật Bản làm hành động tương tự.

Washington và Tokyo đang làm việc cùng nhau để đẩy mạnh hệ thống phòng thủ chống tên lửa, nhằm chống lại những mối đe doạ từ cả Bắc Triều Tiên lẫn Trung Quốc. Và một số nhân vật trong Bộ Quốc phòng đã đề cao “mối đe doạ Trung Quốc” để thanh minh cho mức chi tiêu lớn hơn cho những hệ thống vũ khí mới.

Vào tuần này, Đô đốc Wu Shengli, viên sĩ quan cao cấp nhất của hải quân Trung Quốc — được biết chính thức như là Hải quân Quân đội Giải phóng Nhân dân — đã cho biết rằng binh chủng nầy sẽ hành động nhanh hơn để hiện đại hóa kho chứa vũ khí của mình và xây dựng những chiến hạm lớn hơn và có nhiều khả năng hơn “để gia tăng khả năng chiến đấu cho các cuộc thủy chiến trong khu vực” bằng cách sử dụng các loại vũ khí công nghệ cao.

Trong một cuộc phỏng vấn với hãng tin Tân Hoa Xã của nhà nước Trung Quốc vào trước lễ kỷ niệm ngày thành lập hải quân vào tuần tới, ông cũng nói rằng hải quân sẽ cải thiện khả năng hành quân của mình trên các đại dương.

Các quan chức khác trong những tháng gần đây đã nói về công việc xây dựng chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên của Trung Quốc, tăng thêm các mối quan ngại của Hoa Kỳ rằng Trung Quốc muốn tạo một hình ảnh gây ấn tượng cho sức mạnh của họ.

Tuy nhiên, nhiều nhà quan sát, thuộc cả hai phía Trung Quốc và Hoa Kỳ, đã nói rằng nối lo sợ về Trung Quốc bị phóng đại. Các lực lượng vũ trang của Trung Quốc hiện vẫn không phải là đối thủ đối với hỏa lực của Hoa Kỳ trên biển, trên đất liền hay trên không trung. Nhiều nhà phân tích - bao gồm các cựu sĩ quan cao cấp trong quân đội - đã không tin rằng Trung Quốc có ý định làm cho Hoa Kỳ hoảng hốt, như là Liên Xô cũ đã từng làm. Vì hiện nay, quân đội Trung Quốc vẫn còn lệ thuộc vào một sự hòa trộn giữa các loại vũ khí công nghệ cao, ví như những chiếc tàu ngầm mang hoả tiễn hạt nhân thế hệ Jin, với những món đồ đánh cắp có công nghệ thấp và các món đồ thủ công nhằm dọa dẫm kẻ khác.

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc nói rằng sự thăng tiến của nền kinh tế nước họ mang tính chất hòa bình. Tuy nhiên, có nhiều lần nó được đi kèm theo bởi một thứ chủ nghĩa dân tộc rất ồn ào - một ước muốn khao khát phục hồi những gì mà nhiều người ở nước nầy coi như là vị thế đúng đắn của TQ trên toàn cầu, vị thế nầy đã bị chiếm đoạt bởi những đế quốc phương Tây trong thế kỷ 19 và quân phiệt Nhật trong thế kỷ 20.

Sự gây hấn của Trung Quốc hướng tới Đài Loan và bí mật quân sự của họ làm cho các thế lực diều hâu (hiếu chiến) từ Washington cho tới New Delhi dễ dàng vẽ nên một= bức tranh về một Trung Quốc đầy hận thù đang mưu tính cho con đường quay trở lại của họ.

Cú phóng bị thất bại của một phi đạn giống như tên lửa đạn đạo của Bắc Triều Tiên vào ngày 5 tháng Tư đã làm phức tạp thêm tình hình nầy. Việc nầy chắc chắn thúc đẩy Nhật Bản tăng cường sức mạnh quân sự của mình và đầu tư nhiều hơn vào những nỗ lực phòng thủ tên lửa, mà giờ đây Nhật đang được hợp tác với Hoa Kỳ. Điều đó có thể làm tăng thêm mối căng thẳng với Trung Quốc, nước nầy vốn đã coi liên minh Hoa Kỳ-Nhật Bản như là một mối quan hệ đối tác được thiết lập để chế ngự sức mạnh của Trung Quốc.

Trung Quốc khao khát cho sự ổn định trên bán đảo Triều Tiên, lo ngại rằng nếu như Bắc Tiều Tiên sụp đổ, thì một làn sóng tị nạn sẽ tràn qua các vùng biên giới của mình, và sẽ kết thúc bằng tình tr ng mặt đối mặt với quân đội Hoa Kỳ đang được trú đóng tại miền Nam.

Theo chính phủ Trung Quốc, ngân sách quốc phòng của nước này cho năm 2008 là 60 tỉ đô la Mỹ, tăng gần 18% so với một năm trước. Ngũ Giác Đài tin là các số liệu chính thức của Trung Quốc thực chất không đúng với chi tiêu quốc phòng trên thực tế. Họ ước đoán rằng năm ngoái Trung Quốc đã chi từ 105 đến 150 tỉ đô la cho những phí tổn liên quan tới quân sự, vì quân đội của TQ tự chuyển đổi từ một đội quân đông đảo có công nghệ thấp kém được dành để đánh nhau trong một cuộc chiến làm tiêu hao sinh lực chống lại những kẻ xâm lăng sang một lực lượng tinh vi, nhanh nhạy hơn có khả năng phóng hỏa lực vượt quá biên giới Trung Quốc.

Việc tập trung chính yếu của Trung Quốc vào hiện đại hóa quân đội của mình trong vài thập kỷ qua đã và đang ngăn chặn Đài Loan khỏi việc thiết lập một nền độc lập chính thức và chặn đứng mọi nỗ lực của Hoa Kỳ đến trợ giúp hòn đảo này trong một cuộc khủng hoảng.

Hiện nay, một số sĩ quan hải quân Trung Quốc đang nói về cái ngày tuần tiểu ra xa tới Ấn Độ Dương, để nhớ lại những hình ảnh từ đế chế Trung Hoa cách đây 600 năm trước, khi một hạm đội gồm những con tàu chất cao ngất châu báu được chỉ huy bởi Đô đốc hoạn quan Hồi giáo Zheng He, hay còn gọi là Trịnh Hòa, của Trung Quốc dong buồm qua những vùng biển này trên đường tới đông Phi.

Bất chấp những phản đối rằng lực lượng hải quân có năng lực hơn của mình sẽ không gây nên hồi chuông cảnh báo trong số các quốc gia láng giềng hay với Washington, các tàu chiến và tàu ngầm của Trung Quốc đã và đang tiến ra xa khơi hơn nữa. Trong ít nhất là vài trường hợp họ đã kiểm tra khả năng phòng thủ của các quốc gia khác và gửi tín hiệu về những ý định của hải quân Trung Quốc sẽ là một tay chơi trên các đại dương.

Một số nhà phân tích quân sự Hoa Kỳ giờ đây nhìn thấy mối đe doạ rộng lớn hơn đối với ưu thế của Mỹ trên biển, đã liên kết sự mở rộng ảnh hưởng thương mại và kinh tế của Trung Quốc trên khắp toàn cầu. Nếu như Trung Quốc có thể thách thức một con tàu giám sát của Hoa Kỳ ngoài xa bờ biển của họ, thì họ đang hỏi rằng, liệu siêu cường kinh tế Á châu đang lớn dậy này trong tương lai có xông pha tuần tiễu trên những tuyến hải hành thương mại của mình tại Eo biển Malacca (qua những nơi mà hầu hết nguồn cung cấp dầu lửa thiết yếu của Trung Quốc phải đi qua), hay thậm chí cả Vịnh Ba Tư hay không? Quan niệm bi quan nầy đề cập nhiều về những mối lo lắng của siêu cường duy nhất trên thế giới (ý nói Mỹ) cũng ngang bằng như khi họ nói về những khả năng của Trung Quốc.

Về phương diện lịch sử, phương Tây đã thể hiện cả những niềm hy vọng to lớn lẫn nhưng mối lo ngại u ám về Trung Quốc. Sự thay đổi tình cảm giữa hai thái cực này từ lâu đã gây bối rối cho các mối quan hệ của phương Tây với gã khổng lồ châu Á này. Một động lực có tính mâu thuẫn giờ đây đang tác động lên các mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, đây là một mối quan hệ quan trọng nhất của thế k 21. Trong khi những động lực kinh tế đang kéo hai nước lại gần nhau hơn (Trung Quốc đã trở thành chủ nợ lớn nhất của Mỹ), thì các mối quan hệ quân sự lại ngưng trệ.

Các tướng lĩnh và đô đốc tại Ngũ Giác Đài đã phản đối sự thách thức của Trung Quốc trên các vùng biển quốc tế, nơi mà Hải quân của họ đã hoạt động hơn nửa thế kỷ qua - thậm chí cả khi những vùng biển này nằm ngay trước ngưỡng cửa của Trung Quốc. Trong bản thuyết minh của ông ta trước uỷ ban quân lực của Thượng viện, Đô đốc Timothy Keating, vị sĩ quan đảm trách lực lượng vũ trang Mỹ tại Á châu, đã cho biết rằng hành động ngăn chận tàu Impeccable ngoài biển Đảo Hải Nam cho thấy rằng người Trung Quốc “không sẵn sàng chấp thuận những tiêu chuẩn ứng xử có thể chấp nhận được.”

Ông Su thuộc trường đại học China Foreign Affairs University cho rằng thế giới đã hiểu sai về cơ bản những ý định của Trung Quốc. Trung Quốc là một cường quốc lục địa, ông nói, quan tâm về việc giữ gìn những vùng biên giới của mình và dùng ước muốn của mình dành cho an ninh quốc nội và đoàn kết trong nước. Đối với những ai coi mối đe doạ trong việc bành trướng ra biển của Trung Quốc, ông đưa ra lời khuyên này: “Hãy nghĩ ngơi.”

Bản báo cáo thường niên mới đây nhất của Ngũ Giác Đài về quân đội Trung Quốc, được công bố vào cuối tháng trước, đã bị chỉ trích rộng rãi ở Trung Quốc như là biểu hiện thành kiến và gieo hoang mang. Bản báo cáo nói rằng “khả năng của Trung Quốc duy trì sức mạnh quân sự ở các nơi cách xa TQ thì vẫn còn hạn chế,” song bản báo cáo nầy ghi nhận rằng: lực lượng vũ trang của TQ tiếp tục “phát triển và đưa ra những công nghệ quân sự mang tính đột phá” đang làm “thay đổi thế cân bằng quân sự trong miền này và có những ý định vượt quá vùng châu Á-Thái Bình Dương.” Báo cáo này cũng đánh giá: “Nhiều điều không rõ ràng bao quanh diễn tiến tương lai của Trung Quốc.”

Ông Yuan Peng, giám đốc Viện Nghiên cứu Mỹ thuộc Viện các Quan hệ Quốc tế Đương đại của Trung Quốc ở Bắc Kinh Bản nói rằng: bản báo cáo của Hoa Kỳ “phóng đại sức mạnh quân sự của Trung Quốc” bằng cách đánh giá quá cao khả năng của đất nước này đối với việc hướng sức mạnh đi xa khỏi vùng lãnh thổ của nó. “Sức mạnh quân sự của Trung Quốc vẫn ở cấp độ của một quốc gia đang phát triển. Nó thua xa so với Hoa Kỳ, Nga và thậm chí Nhật Bản và Ấn Độ trong một số ý nghĩa nào đó.”

Theo quan điểm của ông Yuan, mối lo của Mỹ - sau các cú đòn đánh vào tâm lý quốc gia nầy từ những vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng Chín 2001 và tình trạng suy sụp tài chính hiện đang diễn ra - đã vượt quá xa về sự tiến bộ quân sự của Trung Quốc. “Những gì làm cho dân chúng phải lo sợ là không phải với thực chất về lực lượng quân sự của chúng tôi, song sự trổi dậy về kinh tế của Trung Quốc và kiểu mẫu chính trị của người Trung Quốc,” Ông nói. “Trung Quốc đang lớn dậy rất nhanh chóng, dân số quá đông và hệ thống xã hội quá khác biệt” điều đó làm cho nó kích động tâm lý không yên.

Tuy nhiên, tầm cỡ quá lớn của Trung Quốc - kích cỡ lục địa của nó và dân số quá đông - đã phủ bóng lên châu Á, và việc hiện đại hóa quân đội của nước này đe doạ một cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực.

Nhật Bản, nước phụ thuộc nặng nề vào dầu thô và nguyên liệu từ Trung Đông và Úc, đang lo ngại rằng một ngày nào đó họ có thể sẽ đụng phải một lực lượng hải quân Trung Quốc trên cùng những tuyến đường biển, tuyến đường nầy nuôi dưỡng mức tăng trưởng nhanh chóng cho Trung Quốc.

Mối vài chiến lược gia Ấn Độ lo rằng Trung Quốc đang giành được một khả năng phá vỡ hoạt động thương mại trên biển của nước này (Ấn Độ Dương), và đang bao vây Ấn Độ qua những mối liên kết ngoại giao và quân sự với các quốc gia láng giềng từ Myanmar cho tới Pakistan.

Trong số những mối lo lớn nhất đối với Hoa Kỳ là đội tàu ngầm được cải thiện của Trung Quốc, đội tàu nầy có thể gây trì hoãn hoặc cản trở những nhóm hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ trong việc đáp ứng tới một cuộc khủng hoảng bên trong và quanh Đài Loan, quốc đảo mà Bắc Kinh đã thề là sẽ bắt phục tùng sự cai quản của mình, bằng vũ lực nếu thấy cần thiết.

Trung Quốc đang chĩa hơn 1.000 hỏa tiển về phía Đài Loan nhằm làm nhụt chí bất cứ nỗ lực nào từ các nhà lãnh đạo đảo này muốn thiết lật quyền độc lập chính thức. Trung Quốc cũng đã kiếm được tám chiếc tàu ngầm chạy bằng động cơ dầu cặn (diesel) của Nga, là thứ rất khó bị phát hiện khi lặn xuống đáy biển, và TQ đang đóng những chiếc tàu ngầm tấn công của riêng họ.

Một số trong những tàu chiến và tàu ngầm mới hơn trong đội tàu của Trung Quốc được trang bị những tên lửa đối-hạm tầm thấp do Nga sản xuất có thể bay với vận tốc siêu âm. Những tên lửa Sizzler này, và một tên lửa đạn đạo đối-hạm đang được phát triển, có vẻ như để nhắm vào việc giúp cho Trung Quốc có khả năng tấn công các hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ, theo các sĩ quan hải quân Mỹ đánh giá. Các hàng không mẫu hạm đã và đang là trụ cột chính của sức mạnh hải quân của Hoa Kỳ trong nhiều thập kỷ..

Trong lúc Trung Quốc chưa có riêng chiếc hàng không mẫu hạm nào, các quan chức nước này đã bắt đầu nhắc đi nhắc lại công khai về việc họ sẽ bổ sung thêm một chiếc vào đội tàu của riêng mình. Các xưởng đóng tàu của Trung Quốc có vẻ ít có khó khăn trong việc xây dựng một loại tàu sân bay cỡ trung bình mà hầu hết các chuyên gia nghĩ rằng Trung Quốc sẽ cho hạ thủy. Song việc nắm vững các hoạt động của một đơn vị đặc biệt bảo vệ tàu sân bay và những chiếc phi cơ của tàu nầy sẽ cần đến rất nhiều năm, các chuyên gia đánh giá.

Các sĩ quan hải quân Trung Quốc tin rằng lực lượng của họ phải có khả năng mở rộng ra ngoài giới hạn của một chuỗi các hòn đảo quan trọng nhất - chạy từ Nhật Bản ở phía nam và vòng quanh sang phía đông của Đài Loan – Các chuổi đảo nầy nằm giữa Trung Quốc và một dải rộng của Thái Bình Dương. Để có thể di chuyển những chiến hạm và tàu ngầm vào trong Thái Bình Dương sẽ là mang ý nghĩa quan trọng đối với những nỗ lực của Trung Quốc nhằm ngăn chặn hoặc làm chậm lại sự tiếp cận của các tàu chiến Hoa Kỳ tới Đài Loan hay đại lục.

Các đội tàu của Trung Quốc đã và đang mở rộng hoạt động ra xa hơn bờ biển của mình. Vào tháng 10 năm ngoái, một đội tàu nhỏ thuộc bốn chiến hạm hải quân Trung Quốc, bao gồm một chiếc khu trục hạm mang tên lửa có điều khiển và hai khu trục hạm loại nhỏ tân tiến nhất của nước này, đã băng ngang qua Eo biển Tsugaru chật hẹp giữa những quần đảo chính của Nhật Bản là Honshu và Hokkaido và tiến vào vùng biển Thái Bình Dương. Người Nhật coi vụ này như là một cuộc biểu dương sức mạnh đang lớn dần của Trung Quốc.

Các tàu ngầm của Trung Quốc cũng đã bị phát hiện một số lần đang sục sạo quanh các vùng biển của Nhật Bản. Năm 2004, một tàu ngầm Trung Quốc lặn ngang qua một eo biển hẹp khác trong một vụ mà người Nhật coi là một sự vi phạm vào luật biển quốc tế. Các quan chức quốc phòng Hoa Kỳ và Nhật Bản diễn dịch hành động này như là một nỗ lực có lẻ nhằm vẽ bản đồ và thu thập tình báo về những tuyến giao thông từ Biển Đông Trung Quốc cho tới Thái Bình Dương.

Căn cứ hải quân mới ở [đảo] Hải Nam, nơi xem ra đủ lớn để cung cấp nơi trú đóng cho các chiến hạm cũng như các tàu ngầm tấn công và mang tên lửa đạn đạo, đem đến cho hải quân Trung Quốc cửa ngõ xâm nhập trực tiếp vào các tuyến đường biển quốc tế có ý nghĩa sống còn. Nó có thể cho phép các tàu ngầm lén lút triển khai vào những vùng biển nước sâu của Biển Đông [Biển Nam Trung Hoa], Ngũ Giác Đài đánh giá.

Các nhà phân tích từ Liên đoàn các Nhà khoa học Mỹ, những người đã nghiên cứu các bức ảnh vệ tinh chụp căn cứ Hải Nam cho biết căn cứ này dường như cũng có một tòa nhà theo kiểu đã được Hải quân Hoa Kỳ sử dụng để khử từ tính của các tàu ngầm mang hỏa tiển hạt nhân trước khi chúng được triển khai, nhằm làm cho chúng khó bị phát hiện hơn. Nếu như điều đó là đúng, thì cho thấy mục đích của Trung Quốc sử dụng những tàu ngầm mang hỏa tiển đạn đạo của mình như là một phần trong hệ thống vũ khí nguyên tử của mình. Cơ quan liên bang cho rằng không có bằng chứng nào cho thấy tàu ngầm mang tên lửa hạt nhân từng tiến hành một cuộc tuần tra đơn phương mang tính ngăn chặn.

Bộ Quốc phòng đã từ chối bình luận. Cuốn bạch thư về phòng thủ gần đây nhất nói rằng một trong những nhiệm vụ của hải quân là “khả năng phản công bằng vũ khí hạt nhân.”

Bất chấp cuộc chạy đua hiện đại hóa của Trung Quốc, nhiều điểm yếu kém vẫn còn tồn tại trong kho vũ khí của nước này. Những đánh giá riêng của các sĩ quan quân đội Trung Quốc về các khả năng của họ, chứa đựng trong các nhật ký và trên phương tiện truyền thông quân đội, cho thấy rằng họ đã không đạt được các mục tiêu của mình trong việc có thể chiến đấu và chiến thắng một cuộc chiến tranh cục bộ bằng công nghệ cao.

Những hạn chế này đã được thể hiện một cách đau đớn trong suốt thời gian diễn ra trận động đất vào tháng Năm năm ngoái - một hoạt động diễn ra trong thời bình trên lãnh thổ riêng của Trung Quốc. Trung Quốc đã huy động hơn 114.000 binh lính để tham gia vào những nỗ lực trợ giúp sau thảm họa.

Thế nhưng căn cứ vào tình trạng thiếu khả năng lập cầu không vận của quân đội, chỉ có một lực lượng nhỏ là có thể tới được khu vực bị động đất tàn phá bằng phi cơ trong ngày đầu tiên hoặc thậm chí sau khi động đất đã nổ ra. Một đơn vị thủy quân lục chiến đã trải qua nhiều ngày lái xe từ căn cứ của họ ở tỉnh Quãng Đông thuộc miền nam. Công việc cứu tế cũng cho thấy sự thiếu phi cơ trực thăng rất nghiêm trọng.

Dai Xu, một đại tá trong lực lượng không quân Trung Quốc, đã nói rằng các cuộc hành quân của quân đội trong trận động đất cho thấy rằng lòng yêu nước và tinh thần can đảm không thể “che đậy được những yếu kém trong khả năng trang bị và công nghệ của quân đội.” Đại tá Dai, viết trong một tập san về quan hệ đối ngoại của Trung Quốc, cho rằng “một quân đội mà không có khả năng cơ giới hóa đường không thì không thể đủ tiêu chuẩn đề nói về tin học hóa,” một cách ám chỉ tới cuộc chiến tranh công nghệ cao.

Theo những ước tính của riêng Ngũ Giác Đài, khả năng hạn chế của Trung Quốc trong việc di chuyển và duy trì các binh lính ra xa ngoài lãnh thổ của mình đã không được cải thiện đáng kể từ năm 2000. Ngũ Giác Đài cũng ước tính rằng bất chấp việc mua sắm thoải mái các trang thiết bị mới, chỉ có 20% hệ thống vũ khí mà không lực Trung Quốc sử dụng là “hiện đại”, cùng với 40% tàu ngầm của hải quân và chừng 30% các loại tàu nổi khác.

Vấn đề nghiêm trọng là Trung Quốc không có kinh nghiệm trong việc giao tranh trong một cuộc chiến hiện đại. Cuộc xung đột quan trọng gần đây của nước này là một cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 với Việt Nam. Mặt khác, quân đội Hoa Kỳ, đã gần như phải dính líu triền miên vào những cuộc xung đột kể từ khi bắt đầu cuộc Chiến tranh vùng Vịnh Ba Tư năm 1990.

Để bù trừ cho những khiếm khuyết của mình, quân đội Trung Quốc đã đi theo một chiến lược dành làm đáng ngạc nhiên và bí mật để làm cho các lực lượng Mỹ không đề phòng. Họ gọi chiến lược này là “chiếc gậy của thích khách,” một ám chỉ tới cây kiếm hoặc chiếc dùi cui được che giấu. Trong phương cách này, giới quân sự tin là, lực lượng quân sự có năng lực thấp về kỹ thuận có thể giành được lợi thế trước một đối phương có trình độ công nghệ cao.

Những hành động lén lút của Trung Quốc càng làm tăng thêm những mối nghi ngờ của Hoa Kỳ. Vụ ngăn chặn chiếc tàu Impeccable đã gợi lại một màn tương tự trong khu vực vào năm 2001 khi một chiếc chiến đấu cơ của Trung Quốc va chạm với một phi cơ do thám EP-3 của Hoa Kỳ. Viên phi công Hoa Kỳ đã cố bảo toàn cho chiếc phi cơ bị hư hỏng của mình để thực hiện một cú hạ cánh xuống [đảo] Hải Nam, nơi phi hành đoàn 24 người của anh ta đã bị giam giữ trong 11 ngày. Chiếc phi cơ của Trung Quốc đã đâm xuống đất làm viên phi công tử nạn. Năm 2007, Trung Quốc đã gây sốc cho toàn thế giới qua việc cho nổ tung một trong những vệ tinh theo dõi thời tiết quá cũ của họ bằng một hỏa tiển đạn đạo, trút các mảnh vỡ vào trong không gian.

Không lực và Hải quân Hoa Kỳ gần đây đã làm dấy lên nỗi ám ảnh về một nước Trung Quốc tham chiến qua những đề nghị có thêm những chiếc chiến đấu cơ F-22 và các phi cơ ném bom tầm xa, cũng như việc kín đáo sản xuất một thế hệ khu trục hạm mới mang tên lửa có điều khiển, được biết tới với cái tên Zumwalt. Tuy nhiên, vào tháng này, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert Gates cho biết ông đã lên kế hoạch dừng các cuộc mua sắm thêm phi cơ F-22 này và chấm dứt chương trình Zumwalt như là một phần của một sự xem xét lại toàn bộ những ưu tiên về vũ khí để định hướng lại quân đội Hoa Kỳ hướng tới việc chiến thắng những cuộc xung đột không theo qui ước như cuộc chiến ở Afghanistan tốt hơn là giao tranh với Trung Quốc, Nga hoặc các cường quốc lớn khác.

Tại Trung Quốc, một lực lượng có tiếng nói trọng lượng trong công chúng đang gây sức ép đòi có một lực lượng quân sự quả quyết hơn. Bai Jieming, người điều hành một cửa hàng ở thành phố cảng miền nam Shenzhen chuyên bán các kiểu mẫu tàu chiến Trung Quốc, nói rằng những bản sao của một trong những khu trục hạm đã được gửi đi từ tháng 12 để tuần tra chống cướp biển trên Vịnh Aden, loại “168″, đã được bán hết. Ông ta nói rằng người dân Trung Quốc ước ao có một khu trục hạm. “Tôi thậm chí còn muốn quyên cúng tiền để giúp đóng chiến hạm,” ông Bai nói.

Vụ tàu Impeccable đã làm bùng lên những nỗi lo sợ về những rủi ro từ việc tính toán sai lầm. Năm 2007, một chiếc tàu ngầm Trung Quốc đã nổi lên khỏi mặt nước trong phạm vi tầm bắn của chiếc hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ Kitty Hawk trong thời gian cuộc diễn tập đang diễn ra gần Philippines. Viên chỉ huy vào thời điểm đó trên Thái Bình Dương, Đô đốc William Fallon, cho biết biến cố nầy có thể “leo thang trở thành một điều gì đó không thể tiên đoán trước.”

Thêm vào những mối nguy hiểm, theo như lời một viên chức Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, là những đường dây liên lạc không rõ ràng giữa quân đội Trung Quốc và các bộ phận khác của chính phủ. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã tỏ ra “ngạc nhiên, sốc và bối rối” trước những phản đối kịch liệt từ Hoa Kỳ và các quốc gia khác, như Nga, sau khi quân đội của TQ bắn hạ chiếc vệ tinh thời tiết, ông nói. Điều này có thể tránh được nếu như họ nhận được lời khuyên tốt hơn từ các nguồn phi quân sự.”Có một quá trình học hỏi để trở thành một cường quốc,” ông nói.

Trung Quốc đã gửi đi những tín hiệu mâu thuẫn về tham vọng của mình đối với quyền lực và ảnh hưởng trên thế giới. TQ là nền kinh tế lớn thứ ba thế giới, và thúc bách để có tiếng nói có trọng lượng hơn tại các cơ quan tài chính quốc tế để phù hợp với tình trạng của mình, song họ lại liên tục làm cho người ta nhớ lại rằng về mặt thu nhập bình quân đầu người, TQ vẫn là một quốc gia đang phát triển và tương đối nghèo.

Phần lớn trong chi tiêu quân sự của Trung Quốc, bao gồm những chi phí cho nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, đã không xuất hiện trong các số liệu chính thức của chi tiêu quốc phòng.

Những định giá vừa qua đã không coi Trung Quốc như là một siêu cường điện tử. Trung Quốc có thể đem khả năng thành thạo về điện tử của mình phát triển những chiếc máy tính chạy nhanh chưa từng thấy và những trang thiết bị liên lạc tốc độ cao cho nh ng người tiêu dùng Mỹ thành những loại vũ khí trên không gian ảo. Thậm chí vì vậy, sẽ vẫn còn một thời gian dài trước khi Trung Quốc trở thành một lực lượng quân sự ghê gớm có thể có ý nghĩa nào đó mà một số người ở Hoa Kỳ có thể chứng kiến.

The Wall Street Journal
ANDREW BROWNE và GORDON FAIRCLOUGH
Hiệu đính: Trần Hoàng
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

California bất trị

Ngô Nhân Dụng
Ngày hôm qua trong lúc dân chúng California (rất ít) bắt đầu đi bỏ phiếu về 6 đề án liên quan đến ngân sách tiểu bang thì Thống Ðốc Arnold Schwarzenegger đã bay đi Washington. Ông cùng với cả phái đoàn tiểu bang được Tổng Thống Barack Obama ca ngợi vì California đi bước đầu cả nước trong việc đặt tiêu chuẩn hiệu năng cao cho máy xe hơi nhằm giảm bớt số xăng dùng và bớt khí thải làm hại môi trường. Trước khi trở về nhà để bỏ phiếu rồi nghe kết quả thì chắc ông thống đốc cũng đoán được là dân chúng sẽ bác bỏ đề án cho phép chính phủ ở Sacrramento tiếp tục tăng thuế thêm 2 năm nữa để tìm ra 16 tỷ đô la lấp một phần lỗ hổng ngân sách tiểu bang mà ông thống đốc tiên đoán sang năm sẽ thiếu hụt hơn 41 tỷ.

Cứ bẩy năm cho tới chín năm tiểu bang được gọi là Bờ Biển Vàng lại lâm vào một cuộc khủng hoảng ngân sách. Nếu quý vị thắc mắc tại sao ngân sách lại theo một chu kỳ khủng hoảng không khác gì chu kỳ kinh tế trồi sụt, thì câu trả lời là đúng như vậy, mỗi khi kinh tế thoái trào là ngân sách tiểu bang này lại lâm nạn. Ngân sách tiểu bang California tùy thuộc quá nhiều vào thuế lợi tức cá nhân (53% hoặc nhiều hơn) cho nên khi kinh tế xuống thì số thuế thu được giảm đi không có cái gì thay thế được. Ðó là lý do chính cho tình trạng thâm thủng ngân sách biến thành khủng hoảng theo chu kỳ kinh tế.

Năm 1990 Thống Ðốc Pete Wilson đắc cử khi ngân sách tiểu bang đang bị khiếm hụt, sẽ lên tới hơn 4 tỷ đô la. Ðó cũng là một năm kinh tế thoái trào. Khi ông Wilson rời nhiệm sở, số khiếm hụt ngân sách lên tới hơn 14 tỷ (lúc đó toàn thể ngân sách chưa bằng một nửa ngày nay). Ông Gray Davis lên thay vừa lúc kinh tế California bùng lên nhờ cuộc cách mạng tin học. Ông đã cắt giảm hơn 5 tỷ đô la tiền thuế trong đó có 3 tỷ rưỡi thuế tiêu thụ, và giảm lệ phí mua bảng số xe. Ngân sách California đạt mức thặng dư kỷ lục. Cho tới khi kinh tế xuống và giá cổ phiếu các công ty tin học tụt dốc quá nhanh. Ông Davis đã bị dân mời về vườn khi ngân sách khiếm hụt 35 tỷ, mở đường cho tài tử chiếu bóng Schwarzenegger lên thay, cho tới bây giờ.

Thống Ðốc Schwarzenegger sẽ mãn nhiệm năm 2011. Ngay từ lúc tranh cử lần đầu ông đã nói sẽ cương quyết cải tổ chính quyền tiểu bang California để tránh tình trạng tài chánh mà ông đã thừa hưởng. Ông là người rất cương quyết, nói là làm và làm được, điều đó đã chứng tỏ ngay từ lúc còn thơ ấu, khi bị bố cấm không cho đi tập thể dục nhiều quá thì ông lập lấy phòng tập ở ngay trong nhà!

Nhưng nói đến California là nhiều người đã phải dùng đến chữ “bất trị” theo nghĩa xấu, ungovernable, không thể nào cai trị được. Lực sĩ Schwarzenegger và những vị thống đốc trước, thuộc cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa, không ai trị nổi những khó khăn ở tiểu bang này. Vì California có những căn bệnh thâm căn không thể nào chữa được nếu giới chính trị trong tiểu bang, thuộc cả hai đảng, đồng tâm thay đổi tận gốc. Các nhà chính trị tiểu bang khi bàn đến những khó khăn, bế tắc, thường tìm cách để tội cho đảng đối thủ của mình, Cộng Hòa chê Dân Chủ, Dân Chủ trách Cộng Hòa. Nhưng có những nguyên nhân gây nên khó khăn, bế tắc nằm trong cả hệ thống cai trị cả hai đảng đã tạo nên. Mà hiện nay thì tất cả đang chỉ lo “làm chính trị” giành phe với nhau chứ không lo việc “trị quốc,” tức là thay đổi cách cai trị “quốc gia.”

Nếu coi như một nước riêng tách khỏi kinh tế nước Mỹ thì California với 40 triệu dân là nền kinh tế đứng hàng thứ sáu hoặc thứ bẩy trên thế giới. Nếu tính bằng đô la, tổng sản lượng của California cao hơn Trung Quốc, Mexico hoặc Ấn Ðộ. Riêng kinh tế Quận Los Angeles, với 10 triệu 400 ngàn dân, lớn ngang ngửa kinh tế nước Nga.

Nhưng cả guồng máy cai trị của tiểu bang gồm những mảnh chắp vá không theo một bản kế hoạch, một hệ thống nào cả; giống như một căn nhà được dựng lên mỗi tuần xây thêm một chút không có họa đồ. Có gần 60 “quận” (counties) trong đó có quận Los Angeles kể trên và có quận Alpine mà cuộc kiểm tra dân số năm 2000 cho biết chỉ có 1,208 người. Công việc giáo dục được chia cho gần một ngàn học khu (school districts) trong đó có học khu chỉ có một trường học duy nhất và học khu Los Angeles đông tới 700 ngàn học sinh.

Một định chế độc đáo của California là nền “dân chủ trực tiếp” với việc tu chính hiến pháp năm 1911, đặt ra ba định chế chính trị mới: Các cử tri có quyền “bãi miễn” (recall) các quan chức đã được bầu. Tiểu bang có thể tổ chức trưng cầu dân ý. Và đặc biệt là những “đề án” (initiative hoặc proposition) đưa ra cho dân chúng bỏ phiếu để trở thành luật, chứ không phải chỉ do Quốc Hội và chính phủ đưa ra. Ðây là những sáng kiến rất đẹp nhưng khi phát triển thì đưa tới tình trạng bị các “khối quyền lợi riêng” (special interests) lạm dụng, một lý do khiến tiểu bang này trở thành bất trị.

Lúc đầu người ta nghĩ rằng đặt ra thủ tục “đề án” là để dân trực tiếp quyết định, thay vì để cho các đại biểu Quốc Hội làm việc nước, lo rằng họ dễ bị ảnh hưởng của các nhóm quyền lợi riêng “lóp bi.” Từ năm 1912 đến năm 1978 chỉ có 46 đề án được dân California thông qua. Trong cả thập niên 1960 chỉ có 9 đề án được thông qua. Nhưng sau đó thì trăm hoa đua nở: Từ 1980 đến năm 2000 trong toàn tiểu bang đã có 626 đề án được đưa ra, 123 đủ điều kiện để cho bỏ phiếu và 52 đề án chiếm được đa số phiếu. Thành quả trong 20 năm này cao hơn toàn thể 7 thập niên trước đó. Trong năm 2000 riêng quận Los Angeles có 40 đề án được đề nghị cho dân biểu quyết. Việc tìm hiểu các đề án và những hậu quả của chúng là một điều quá sức người, khiến các cử tri thấy việc đi bầu không còn ý nghĩa nữa. California là một tiểu bang có tỷ lệ đi bầu thấp nhất nước Mỹ.

Các định chế dân chủ trực tiếp muốn giảm bớt ảnh hưởng của những người “lóp bi” phục vụ cho những nhóm quyền lợi riêng. Nhưng các nhóm quyền lợi đã lợi dụng phương pháp cai trị trực tiếp này để đạt những mục tiêu của chính họ. Muốn có một đề án được đưa ra biểu quyết, người ta có thể bỏ tiền ra cổ động trong dư luận, rồi thuê người đi nói cho bùi tai lấy cho đủ chữ ký, và chi nhiều tiền quảng cáo, tất cả chi phí chỉ khoảng 15 triệu đô la.

Một hậu quả của tình trạng dân chủ trực tiếp này là hạn chế số thuế thu vào; và rất nhiều khoản trong ngân sách không thể thay đổi được, dù số thuế thu vào có xuống thấp. Năm 1988 dân chúng California thông qua một đề án buộc chính phủ phải dành 40% ngân sách tổng quát (khoảng 30% toàn thể ngân sách) cho việc giáo dục tiểu và trung học, và mỗi năm ngân sách đó phải tăng lên với nền kinh tế và với số học sinh. Ðề án 42, năm 2002, buộc phải dùng thuế tiêu thụ xăng riêng cho khoản chi về vận tải. Khi cộng kết quả của tất cả các đề án như vậy lại, thì quốc hội và ông thống đốc chỉ có quyền quyết định trên một phần tư đến một phần ba ngân sách tiểu bang mà thôi, số còn lại họ chịu bó tay!

Một đề án đã được thông qua năm 1978 khiến California nổi tiếng trên thế giới như nơi khởi đầu cuộc cách mạng chống thuế, là đề án số 13 (Propositon 13) cắt bớt thuế gia cư một nửa. Nhưng đề án này cũng đặt mức hạn chế suất thuế gia cư dựa trên giá lúc người chủ mới mua nhà, và sau đó mỗi năm không được tăng thêm quá 2%. Cho nên hai ngôi nhà giống nhau ở cùng một góc phố có thể được đánh thuế khác hẳn nhau. Một người mua nhà năm 1975 đóng thuế trên căn bản giá mua lúc đó là 70 ngàn, người hàng xóm mua nhà năm 2005 có thể phải trả dựa trên giá nhà 700 ngàn đô la. Cho nên ông tỷ phú Warren Buffett đã kể, ngôi nhà của ông ở Laguna Beach, California trị giá mấy triệu nhưng đóng thuế rất thấp, so với ngôi nhà ông đang ở Nebraska đóng thuế quá cao dù giá thị trường chỉ có mấy trăm ngàn. Như khi ông Buffett làm cố vấn cho Thống Ðốc Schwarzenegger đề nghị hãy thay đổi những tiêu chuẩn đánh thuế gia cư, thì ông thống đốc đã cấm không được nói tới nữa.

Vì hầu như không một nhà chính trị nào dám đụng tới con bò thần Propositon 13. Ở các tiểu bang khác, ngân sách giáo dục địa phương thường do thuế gia cư trong vùng đóng góp, cho nên dân chúng địa phương có thể quan tâm và kiểm soát; nhưng tại California thì thuế thổ trạch được đóng cho tiểu bang, còn ngân sách trường học lấy từ quỹ chung của tiểu bang. Vì thế, hệ thống cai trị đã làm hại cho một cơ bản của xã hội dân chủ tự do, là người ta quên hẳn vấn đề “chức trách” (accountability): Người nào quyết định ngân sách thì phải có quyền kiểm soát và chịu trách nhiệm về việc chi tiêu. Nếu người dân một thành phố than phiền về tình trạng trường học, thì quý vị ở học khu có thể trút hết tội lên đầu chính quyền tiểu bang, vì họ quyết định ngân sách. Dân đóng thuế nhà cửa trong một thị xã không còn được quan tâm đến nền giáo dục của thị xã mình nữa vì đã có guồng máy tiểu bang lo. Hậu quả là các nghiệp đoàn giáo chức nắm quyền quyết định nền giáo dục chứ không phải dân chúng; vì họ có khả năng lóp bi và tạo áp lực trên các vị dân cử.

Trong khi đó dân chúng “mệt mỏi chính trị” vì mỗi lần bỏ phiếu có biết bao nhiêu đề án và các chức vụ phải bầu (California có trên 15,000 chức vụ dân cử, từ các thị xã, các học khu, lên quận cho tới cấp tiểu bang). Các đề án hạn chế thời gian tại chức của các đại biểu Quốc Hội tiểu bang đã khiến các đại biểu thay đổi luôn luôn. Dân Biểu Trần Thái Văn sắp hết hạn kỳ 6 năm ở Hạ Viện California vì luật chỉ cho 80 vị dân biểu làm 6 năm, 80 nghị sĩ tiểu bang mỗi người chỉ được phục vụ 8 năm tối đa. Nhưng tại thủ phủ Sacramento thì có một đạo quân thường trực không có hạn chế nhiệm kỳ, là các nhà lóp bi của các khối quyền lợi.

Một điều trong hiến pháp California khiến cho các cuộc khủng hoảng ngân sách cứ diễn ra hàng năm là phải có 2 phần 3 đại biểu mới thông qua được ngân sách tiểu bang. Một đảng hay nhóm nào có 27 dân biểu trong Nghị viện (Assembly) là có thể phủ quyết bản ngân sách.

Tại sao các nhà chính trị không giải quyết ngay những rắc rối trong cơ chế để California dễ cai trị hơn? Vì các đại biểu Quốc Hội thuộc hai đảng đều lo bảo vệ cái “ghế an toàn” của đảng mình nên không còn thời giờ lo những vấn đề lớn và khó khăn hơn. Việc chia ranh giới các đơn vị bầu cử do chính các đại biểu quyết định; tới thời Thống Ðốc Arnold Schwarzenegger mới thay đổi được một phần nhờ có đề án được dân chấp thuận. Cho nên trong tiểu bang có 120 đại biểu thì tới mỗi kỳ bầu cử chỉ có khoảng 5 hay 7 đơn vị tranh cử sát nút, số còn lại ai cũng đoán trước được đảng nào sẽ thắng. Ðây cũng là một lý do khiến nhiều người dân chán không đi bỏ phiếu.

Nhưng các nhà chính trị, những nhóm quyền lợi lớn và các chuyên viên lóp bi thì vẫn không ngừng hoạt động. Ngày hôm qua tuy số người đi bỏ phiếu ít nhưng phần lớn tỏ ý phẫn nộ vì các nhà chính trị không làm gì ngoài chuyện xin dân đóng thêm thuế! Dân chúng tiếp tục chịu đựng được vì tiểu bang này vẫn giầu quá, sinh lực mạnh mẽ quá, và khí hậu dễ chịu quá!

Có lẽ California sẽ tiếp tục đóng vai một tiểu bang bất trị ở nước Mỹ vì dân chúng đã thấy các cuộc khủng hoảng ngân sách tới rồi lại đi qua không để lại dấu vết nào, coi mãi cũng chán. Cũng giống như những trận động đất cứ xẩy ra đều đều nhưng chưa làm cho một làng nào rớt xuống biển cả.
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Từ Phản Chiến Đến Hòa Hợp Hòa Giải
Cuộc đời có nhiều chuyện kể ra rõ là nghịch lý mà cái lạ lùng là ở chỗ vẫn có người nghe, vẫn có người ngây thơ tin được.

Hơn hai mươi năm cuộc chiến, bao nhiêu người lính, người dân VNCH đã nằm xuống vì hai chữ tự do. Hơn hai mươi năm cuộc chiến để bảo vệ miền Nam thân yêu, trong quyết tâm chống lại mưu đồ nhuộm đỏ quê hương của CS Bắc Việt. Bao nhiêu mất mát của tuổi thanh xuân, của hạnh phúc gia đình nho nhỏ. Bao nhiêu giọt máu đào đã đổ xuống nơi chiến trường. Nhưng những giọt máu rơi vì đạn thù chiến trận có lẽ không xót xa bằng những... vết dao đằng phía sau lưng. Nhát dao của những kẻ mạo danh hòa bình! Những ngây thơ đến mù quáng của một thiểu số tự coi mình là phản chiến, là yêu chuộng hòa bình.

Họ có thể mù quáng đến độ không thấy được ai là kẻ mang chiến tranh, tang tóc đến với quê hương? Họ có thể mù quáng đến độ không thấy được người lính VNCH chỉ hành xử quyền tự vệ trong cuộc chiến. Và họ ở đâu, phong trào phản chiến đã làm gì trước cuộc xâm lăng của CS Bắc Việt hay trước guồng máy chiến tranh của Nga Sô, của Trung Cộng, đám quan thầy CS ngày đó? Một số thành phần ngoại quốc thiên tả ngu xuẩn đã đành; lại thêm một đám “Ăn cơm Quốc Gia, thờ ma Cộng Sản” ca tụng lẫn nhau, văn với chương, thơ với nhạc, phản chiến với hòa bình! Phản chiến trong một cuộc chiến tự vệ, một cuộc chiến vì hai chữ tự do, vì tổ quốc thiêng liêng, vì dân tộc thân yêu, là một hành vi phản quốc!

Giờ đây trong cuộc sống lưu đày thỉnh thoảng vẫn tìm thấy một vài con ruồi nhặng nẩy sinh từ những cặn bã dân tộc, từ những tư tưởng ngu muội như thành phần phản chiến ngày xưa. Giờ thì họ ngụy biện nhân danh tuổi trẻ, nhân danh quyền tự do ngôn luận. Không biết họ nhân danh tuổi trẻ nào? Niềm thiếu xót lớn nhất đời của tuổi trẻ này là chưa được một lần bồng súng bảo vệ quê hương! Và tuổi trẻ này cũng không biết dùng quyền tự do nào để bào chữa cho những hành vi phản quốc ngày trước và hôm nay?

Vẫn cũng những cặn bã dân tộc ấy lại bị ru ngủ một lần nữa, bằng những mảnh bánh vẽ của hòa hợp hòa giải, của quên đi quá khứ. Người Việt xa xứ nếu còn luyến nhớ mảnh đất quê cha, nếu còn nặng lòng tình tự dân tộc thì sao đành quên đi quá khứ, sao đành tiếp tay với bọn bán nước, buôn dân. Người Việt với người Việt, tha hương hay ở tại quê nhà, vẫn còn đó nghĩa đồng bào, vẫn giúp đỡ lẫn nhau khi đói khi no, không hiềm khích thì đâu cần hòa hợp hòa giải. Còn chuyện hòa hợp hòa giải với cái đảng cướp tư bản đỏ thì để mang lại gì? Để tiến mau, tiến mạnh hơn trên con đường áp đặt tín ngưỡng, áp bức và bóc lột dân lành? Để tiếp tay với cái Đảng và đám Đảng Viên đang tâm bán đứng cả quê hương?

Ngày xưa phản chiến, ngày nay hòa hợp hòa giải, phản quốc vẫn là phản quốc !

VNQHNN
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 8 guests