Thời Sự, Bình Luân

khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Trong cảnh tang tóc

Ngô Nhân Dụng
Khi biết thủ phạm giết chết 13 người rồi tự sát ở thành phố Binghamton, New York ngày 3 tháng Tư vừa qua, các bản tin báo và đài ở Mỹ đa số nhắc đến sự kiện người đàn ông 41 tuổi này là một công dân Mỹ gốc Việt Nam. Người Việt Nam ở khắp nơi phản ứng ngay: “Không phải. Anh này họ Wong, người Việt không có họ đó.” Nhưng cũng có khi báo Mỹ viết họ anh là Voong, chắc là chữ Vương viết trật ra. Nhiều người Việt gốc Hoa khi nhập quốc tịch Mỹ đã đổi họ cho dễ đọc trong tiếng Anh, Vương đổi thành Wong, Ngô đổi thành Wu, vân vân. Các báo đều nói anh Jiverly Wong sinh ở Việt Nam. Khi anh còn “tử thủ” trong ngôi nhà, cảnh sát địa phương muốn nói chuyện với anh qua điện thoại, anh nói tiếng Việt và cảnh sát đã nhờ một giáo sư tên Nguyễn Tường thông dịch.

Như vậy nên gọi anh Jiverly Wong là người Mỹ gốc Việt, người Mỹ gốc Hoa, hay người Mỹ gốc Hoa sinh ở Việt Nam?

Tuy nhiên, chúng ta có cần phải đặt câu hỏi đó khi nghe tin buồn này hay không?

Trước biến cố tang tóc này có lẽ trước hết chúng ta phải thấy thương xót những người đã chết, trong đó có hung thủ Jiverly Wong. Bức thư anh viết hơn hai tuần trước khi tự sát, được gửi cho một đài truyền hình ở Syracuse, New York vào ngày anh đi giết người, cho thấy anh là một người tâm thần không bình thường. Anh viết rằng cảnh sát ở California và New York đã phá anh từ 18 năm nay, đã lấy tiền của anh, phao tin xấu về anh, thậm chí định gây tai nạn cho anh 32 lần, đột nhập nhà anh ban đêm 13 lần, ngồi trong phòng, và đã ba lần sờ vào người anh.

Anh Jiverly Wong đã gặp nhiều thất bại trong đời. Anh giận đời vì vợ con từ bỏ khiến anh phải đổi chỗ ở từ California trở về New York sống gần gia đình. Gia đình anh được lối xóm mô tả là “dễ thương và kín đáo.” Một người Việt ở đó nói thân phụ anh trước kia làm cho một tổ chức xã hội thiện nguyện, vẫn giúp đỡ những người di dân mới tới khi cần đi bác sĩ hoặc làm giấy xin các trợ cấp xã hội. Gần đây anh bị mất việc làm ở xưởng ráp máy hút bụi. Trong thư anh cho biết đang được lãnh trợ cấp thất nghiệp (200 đô la một tuần) nhưng trách Sở Lao Động địa phương đã “ăn gian” (cheat) tiền thất nghiệp của anh 4 tuần lễ trong tháng Mười Hai. Tuy tài chánh thiếu thốn như vậy nhưng, cảnh sát cho biết, Jiverly Wong vẫn đến trường bắn tập bắn mỗi tuần một lần, có khi tới nhiều hơn, anh vẫn có tiền chi cho trò tiêu khiển bắn súng.

Jiverly Wong có súng và mang giấy phép mua súng trong mình, khi đi giết người anh mang nhiều đạn và mặc áo giáp phòng đạn, cho thấy anh chuẩn bị bắn nhau với cảnh sát. Gần đây hung thủ một vụ giết người ở Pittsburg cũng sống trong hoàn cảnh giống Jiverly Wong. Anh này cũng mới thất nghiệp, cũng mặc áo giáp, và bắn chết 3 cảnh sát khi họ đến can thiệp.

Một nỗi ám ảnh của Jiverly Wong là sau vài chục năm sống ở Mỹ anh vẫn chưa nói tiếng Anh thông thạo. Người chị hoặc em gái của anh không tin anh là tác giả bức thư viết bằng tiếng Anh sai văn phạm gửi cho đài truyền hình, vì không tin anh biết nhiều tiếng Anh như vậy. Ngay trong lá thư này, anh lễ phép xin lỗi mình viết tiếng Anh không trúng. Nhiều di dân đã sống ở Mỹ mấy chục năm cũng không nói tiếng NAh đúng tiêu chuẩn, vì không có năng khiếu về ngôn ngữ. Cần phải biết và tự chấp nhận như vậy để không mang mặc cảm suốt đời. Không ai khuyên và tuyết phục được anh Jiverly Wong điều đó thật tội nghiệp.

Nhưng tội nghiệp nhất là những nạn nhan của Jiverly Wong. Một giáo sư tiến sĩ Toán học từ Brazil sang tu nghiệp, đang học thêm tiếng Anh, và dự định tháng Bẩy này sẽ về nước với vợ con. Giáo sư này 43 tuổi, được bạn bè kể là tính tình vui vẻ, lúc nào cũng cười. Một bà người Mỹ gốc Ukraina 60 tuổi, làm việc ở trung tâm giúp các di dân này. Bà biết nhiều thứ tiếng và vẫn dậy trẻ em gốc Ukraina ngôn ngữ, văn hóa nước tổ; đáng lẽ ngày Thứ Sáu trước bà được nghỉ nhưng tới làm việc vì có người bạn nhờ, cho nên gặp nạn. Bà Roberta King, giáo sư dậy tiếng Anh, 72 tuổi, có 10 con, 5 con tốt nghiệp Đại học Cornell, vẫn đi làm vì yêu thích công việc. Một bà người Phi Luật Tân 53 tuổi mới sang Mỹ được một năm, đi học tiếng Anh để chuẩn bị đi làm. Một bà người Iraq, 57 tuổi, đã thoát chết trong chiến tranh, có con học ở Đại học Sorbonne. Một cô 26 tuổi người Pakistan, đến Mỹ làm đủ thứ việc lao động, mới nhập tịch, đang học tiếng Anh để chuẩn bị xin vào đại học. Hai vợ chồng người Haiti, 44 và 46 tuổi, chết đi để lại hai con nhỏ. Mỗi người đó chết đi mang theo những hoài bão làm lại cuộc đời trong xứ sở tự do và đầy cơ hội này.

Trong số nạn nhân có một người Việt Nam, cô Hồ thị Mỹ Lan, 39 tuổi, mới cùng chồng và con qua Mỹ được hai năm để kiến tạo một cuộc đời mới. Cả hai đi học tiếng Anh, cô chết còn người chồng bị thương trong vụ thảm sát. Hai nạn nhân gốc Trung Quốc, cô Hong Xiu Mao 35 tuổi, quê ở Quảng Tây, mới theo chồng sang Mỹ năm ngoái. Cô Li Guo, giáo sư Đại học Thẩm Quyến 47 tuổi, sang làm việc ở thành phố Binghamton và dự trù dầu tháng Bẩy sẽ trở về xứ. Tin cô chết được đăng trên Thẩm Quyến Nhật Báo, trường đại học cử một phó viện trưởng phụ trách tang lễ. Ông từ chối không cho báo chí phỏng vấn, nói rằng làm như vậy không lịch sự. Ông bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc gọi điện thoại cho bà Ngoại trưởng Mỹ để tỏ ý quan tâm trước sự kiện một công dân nước ông được mời sang Mỹ nghiên cứu mà bị giết như vậy.

Bản tin Tân Hoa Xã ở Bắc Kinh khi tường thuật vụ này, họ viết anh Jiverly Wong là người Mỹ gốc Việt Nam.

Nhiều người Việt Nam không đồng ý cách gọi đó. Có người nhấn mạnh anh chính là người Trung Hoa, đọc họ Wong của anh thì biết vì không người Việt nào mang họ đó.

Nhưng khi một người đã chết rồi, dù là một người phạm tội, không biết chúng ta có cần phải phân biệt rõ chủng tộc như vậy hay không?

Chúng ta có thể thông cảm về mối quan tâm phân biệt này. Tâm phân biệt phát sinh vì sau một vụ thảm sát như vậy, dư luận có thể sinh ác cảm với những người cùng chủng tộc của hung thủ. Nhiều người Mỹ có thể ghét tất cả những người Á châu sau khi họ ghét một người Á châu!

Vào tháng Tư năm 2007, một sinh viên Đại học Virginia Tech đã dùng súng tàn sát hơn 30 người trong trường. Người gốc Hàn quốc ở Mỹ công nhận anh Seung Hui Co là người đồng chủng. Anh Cho 22 tuổi, đến Mỹ từ năm lên 7, có thể coi là một thanh niên lớn lên ở Mỹ. Không thể nói gia đình cậu sinh viên này, và chủng tộc của cậu là những yếu tố quyết định hành động điên rồ của cậu. Hành động giết người vì điên loạn của anh Jiverly Wong cũng có thể xẩy ra với mọi người cùng hoàn cảnh, không can dự nào đến gia đình anh, và chủng tộc của anh, dù gọi họ là người Hoa hay người Việt.

Tình trạng bất bình thường của Cho và Wong cũng không khác gì bệnh tâm thần của Timothy McVeigh, hung thủ đã giết hàng trăm người ở Oklahoma năm 1994, hoặc những học sinh đã giết người ở trường Trung Học Columbine một năm sau đó.

Nhưng trước đây 2 năm hầu hết những người Mỹ gốc Hàn đều lo sợ sẽ có một phong trào chống người Cao Ly. Nhiều cha mẹ người Hàn cho con nghỉ học ít ngày để tránh. Các tổ chức người Mỹ gốc Hàn quốc đã lên tiếng xin lỗi chính thức đối với gia đình các nạn nhân và với công chúng Mỹ. Sau đó ở nước Mỹ không thấy một phong trào bài người Hàn quốc nào xẩy ra. Không một xã hội nào hoàn hảo, không chủng tộc nào toàn người thiện hay toàn người ác. Nhưng người ta vẫn sợ óc kỳ thị chủng tộc ở khắp mọi nơi, trong nước Mỹ cũng như khắp thế giới.

Nỗi lo sợ có lý do. Một bạn đồng học kể lại Seung Hui Co có lúc cũng bị bạn bè chế nhạo, cũng vì nói tiếng Anh kém quá, điều mà Jiverly Wong cũng than phiền. Trong một lớp Anh văn, thầy giáo yêu cầu các học sinh đọc chung một cuốn sách lớn tiếng. Đến lượt Cho phải đọc thì cậu im lặng, thầy giáo dọa đánh trượt cậu mới cầm sách lên đọc. Khi cậu vừa cất tiếng đọc thì cả lớp cười ồ lên vì giọng tiếng Anh của cậu nặng quá. Một học sinh còn chỉ tay vào Cho la lên: Thôi, mày trở về Tàu đi mày! Go back to China! Chúng ta có thể lo các trẻ em người Việt mới sang Mỹ cũng có khi gặp hoàn cảnh như vậy. Các em có thể trở thành nạn nhân của những trò nghịch tàn ác và vô tình của các trẻ em khác. Chúng ta phải săn sóc con em mình nhiều hơn để đề phòng những phản ứng nguy hiểm, như trường hợp của Cho và Wong.

Cho nên, chúng ta cũng thông cảm về phản ứng của những người Việt Nam khi muốn nhấn mạnh rằng anh Jiverly Wong không phải người Việt thuần túy, mà là người gốc Hoa. Tuy thông cảm được với phản ứng này, nhưng chúng ta cũng không nên giữ trong lòng, và không nên bầy tỏ thái độ đó. Một người gốc Hoa hay gốc Khmer sinh ở Việt Nam, chuyên nói tiếng Việt, giao dịch với cộng đồng Việt Nam nhiều hơn các nhóm sắc tộc khác, thì cũng là người Việt. Trong lịch sử chúng ta vẫn coi Lý Nam Đế là người lãnh đạo đầu tiên của nước ta đã xưng hoàng đế và đặt quốc hiệu. Khi đọc văn chương Việt Nam, chúng ta không bao giờ gọi các nhà văn Hồ Dếnh, Vương Hồng Sển, hay Liêu Quốc Nhĩ là những nhà văn “người Việt gốc Hoa” cả.

Trước cái chết của 13 di dân ở Mỹ, và hung thủ là một người đã sinh ra ở Việt Nam, có lẽ điều chúng ta nên làm là cùng cầu nguyện cho những người đã chết. Như cộng đồng người Hàn quốc ở Mỹ đã làm sau vụ Đại học Virgimia Tech. Không những thế, mặc dù gia đình cậu Cho đã qua Mỹ được 14 năm rồi, lúc đó ở Nam Hàn Tổng thống Lư Vũ Huyền cũng họp báo bầy tỏ lời xin lỗi đối với các nạn nhân và gửi thư chia buồn với gia đình họ, qua Tổng thống George W. Bush. Ông đại sứ Hàn quốc ở Washington đã đề nghị các người Mỹ gốc Hàn hãy ăn chay 32 ngày, để tưởng niệm 32 nạn nhân vụ thảm sát. Đó là một cơ hôi để mọi người Hàn quốc ở Mỹ đoàn kết với nhau, đoàn kết trong cảnh tang tóc.

Người Á Đông theo nhiều phong tục giống nhau. Chúng ta quan tâm đến thể diện của tập thể nhiều hơn cá nhân. Trong truyền thống Á Đông, người ta không chú trọng tới trách nhiệm cá nhân mà thường nhìn một người, kẻ phạm tội cũng như một danh nhân, qua cộng đồng đã sản sinh ra con người đó. Nếu đó là một tên sát nhân thì cộng đồng của anh ta cũng muốn chối bỏ, còn nếu đó là một “anh hùng” thì người ta muốn nhận vào. Khi công dân Canada Carol Huỳnh đoạt huy chương vàng Thế Vận Hội năm ngoái, các báo Việt ngữ đều giới thiệu cô là người gốc Việt Nam, mặc dù gia đình cô gốc Hoa.

Trong vụ anh Jiverly Wong này, một cách để chứng tỏ cho nước Mỹ thấy tinh thần nhân bản trong văn hóa người Việt là chúng ta hãy tổ chức những lễ cầu nguyện cho hương hồn các nạn nhân và cả hung thủ cùng được siêu thoát. Mà không cần phải nhấn mạnh đến nguồn gốc chủng tộc của Jiverly Wong nữa.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Nhận Định về Ngày 30 Tháng 4 Năm 1975

Bùi Tín

(Nhân ngày 30-4, trả lời phỏng vấn một số báo trong và ngoài nước, nhà báo tự do Bùi Tín hiện sống ở Pháp, 33 năm trước từng có mặt tại dinh Độc lập Sàigòn, phát biểu như sau):

* Không, không có giải phóng, thống nhất
* Cuộc ăn cắp khổng lồ
* Những ngộ nhận vô duyên
* Chung vui cùng Lịch sử và Thời đại


33 năm đã qua, theo tôi, với khoảng cách thời gian dài để có thể suy ngẫm sâu sắc và nhận ra sự thật lịch sử, mọi người Việt nam, kể cả những người Cộng sản, cần đính chính một nhận thức sai lầm nguy hiểm đã bị những người lãnh đạo cộng sản áp đặt theo kiểu cưỡng hiếp mọi người dân phải thừa nhận. Họ buộc mọi người công nhận rằng việc họ chủ trương đưa quân từ miền Bắc vào miền Nam chiến đấu từ 1960 đến 1975 là chính nghĩa nhằm giải phóng và thống nhất đất nước, và ngày 30-4 là ngày Toàn thắng Vĩ đại.

Hôm nay tôi sẵn sàng nói to cho mọi người nghe rõ: đất nước Việt nam ta sau ngày 30-4-1975 không hề được giải phóng, cũng không hề được thống nhất. Ngày 30-4, đảng cộng sản thắng, toàn dân vẫn thua, vẫn bị thống trị bới độc quyền đảng trị.

Đảng cộng sản đã thực hiện chính sách chiếm đóng và thống trị miền Nam, bỏ tù và quản thúc hàng triệu người dân, tước đoạt của cải của dân qua đổi tiền và cải tạo, thải loại ngay Mặt trận dân tộc giải phóng, gây thảm cảnh hàng triệu thuyền nhân. Như thế mà là giải phóng, là thống nhất ư ?

Sau 30-4-1975, chỉ riêng đảng cộng sản cầm quyền, không cho ai lập hội, không cho một tư nhân nào ra báo, không có tự do ứng cử và bầu cử, thế mà gọi là giải phóng dân tộc ư ? là tự do ư ?

Còn nay thì đảng giàu, giàu sụ, dân nghèo, nghèo rớt. Thống nhất kiểu gì vậy? phát triển kiểu gì vậy?

Một nước ''độc lập'' mà buộc phải ký những hiệp ước bất bình đẳng, để bị mất đất, mất biển hàng trăm, hàng nghìn kilômét vuông, mất đảo, mất vô vàn tài nguyên hải sản; rồi người nước ngoài muốn đuốc của họ đến nước ta, vào lúc nào, ở đâu là do họ quyết định; bộ trưởng ngoại giao của họ lại còn sang thủ đô ta để giao nhiệm vụ cho bộ trưởng ngoại giao, cho thủ tướng và cho chủ tịch quốc hội phải bảo vệ đuốc của họ cho triệt để, và còn cho an ninh vũ trang của họ vào tham gia đàn áp nhân dân nếu có biểu tình ôn hòa......thì thử hỏi nước ấy độc lập ở chỗ nào? có chủ quyền ở chỗ nào ? những người lãnh đạo của ta có còn chút thực quyền, có còn chút tự hào dân tộc gì nữa đâu ! Người Việt chân chính tự trọng không xử sự như thế.

Đây là điều mỗi người Việt ta ở trong hay ngoài nước hãy suy nghĩ cho kỹ nhân ngày 30-4 năm nay.

Tôi mong tuổi trẻ trong nước trau dồi tư duy độc lập, tập suy nghĩ bằng cái đầu tỉnh táo của chính mình, và đọc bài luận văn ngắn của nhà triết học Pháp trứ danh Jean - François REVEL: ''Hồ Chí Minh: sự tước đoạt lòng yêu nước ''. Bài luận văn sắc sảo chỉ thẳng ra sự thật phũ phàng, là ông Hồ và đảng CS đã lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân Việt nam để phục vụ cho mưu đồ phe đảng của ông ta, để thỏa mãn mục tiêu thống trí thế giới của Quốc tế Cộng Sản III. Chữ ''détournement' ' theo tiếng Pháp có ý nghĩa khá rộng là ''tước đoạt'', ''lấy trộm, lấy cắp '', '' của người khác xoáy làm của mình'','' chuyển thành, biến thành của mình ''.

Đọc xong, tôi ngấm sâu ý nghĩa của từ ''tước đoạt'', và cảm thấy mình như bị mất cắp, mà mất cắp cái gì quý lắm, vô giá. Cả tuổi trẻ đầy lý tưởng và nghị lực, cả mấy chục năm bị đánh lừa, bị móc túi, bị gạ gẫm, để đến gần cuối đời mới tỉnh ra, mà thương hại, mà tiếc thay cho bao nhiêu người vẫn chưa tỉnh! Giả thử trong cuộc đời thường, một người bị mất cắp chiếc xe máy, chiếc đồng hồ đắt tiền, chiếc nhẫn vàng kỷ niệm ngày cưới ... hẳn là tiếc, tiếc nuối vô cùng, xót xa hàng tháng. Thế mà biết bao người bị lừa cả cuộc đời, có khi mất cả mạng sống, và hàng triệu triệu anh chị em, dòng họ, đồng bào mình cùng bị lừa hàng nửa thế kỷ ! một cuộc ăn cắp, lường gạt khổng lồ. Hãy chỉ cho nhau kịp thấy đi, để mà tiếc, mà xót xa, mà đòi lại quyền sống tự do cho mỗi người, mở ra cuộc đấu tranh mới dành lại độc lập thật sự và thống nhất thật sự cho Tổ quốc.

30-4- năm nay, tôi vui vẻ nhẹ nhàng lắm. Tôi có thêm biết bao bạn quý, từ khi là nhà báo tự do 18 năm nay. Bạn trong nước, ngoài nước, bạn già, bạn trẻ, bạn rất trẻ. Tôi viết không theo lệnh ai, không phải đưa ai duyệt, chỉ có theo lương tâm và trí tuệ, không sùng bái ai, chỉ sùng bái sự thật. Tuổi già tự do thế này thật đáng sống. Khó khăn vật chất mà sướng vô kể.

Tôi bỏ hết danh vọng hão, chức tước phù du, huân chương mai mỉa, tự hổ thẹn từng cao ngạo vô duyên về chuyện vào dinh Độc lập sớm, xế trưa 30-4, vớ vẩn, lạc điệu cả, cá nhân lầm lạc, ngộ nhận hết.

Để làm gì cơ chứ ? để đất nước ra nông nỗi này ư? độc lập, không ! tự do, không ! chủ quyền, không ! về mặt nào cũng đứng dưới 100 nước khác!

30 tháng 4 năm nay, tự thâm tâm, tôi chỉ có một lời kêu gọi với các bè bạn và đông chí cũ của tôi: hãy quý trọng lòng yêu nước thương dân của chính mình, nếu bạn thấy lòng yêu nước ấy đã bị ai đó '' xoáy'' mất để dùng vào mục đích đáng nghi ngờ và đen tối, thi hãy lên tiếng tố cáo và tự tách mình khỏi trò lừa bịp và đánh cắp trắng trợn ấy !

Bạn hãy tự phục hồi lòng yêu nước thương dân trọn vẹn của mình để cùng mọi người Việt nam tỉnh táo và tử tế đấu tranh cho một Tổ quốc Việt nam thật sự độc lập, thật sự tự do, dựa vững vào Lịch sử Dân tộc và Thời Đại.

Bùi Tín
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Cấm vận, phong toả?
Tác giả: Trần Khải


Có nên cấm vận các nước như Việt Nam, Miến Điện, Bắc Hàn, Cuba nữa hay không? Có nên kêu gọi ngăn sông cấm chợ tạị các nước hung thần nhân quyền này hay không? Hay là nên kêu gọi du khách quốc tế đổ bộ vào các nước này đông thêm để sẽ diễn biến hòa bình?

Đó là các câu hỏi đã được suy xét đối với Mỹ từ nhiều thập niên rồi. Thực tế, không dễ trả lời. Như trường hợp Hoa Kỳ đã giao thương và đầu tư tại Trung Quốc và Việt Nam, nhưng các bước tiến nhân quyền vẫn chưa thực sự ở các tốc độ như ý. Nhưng nếu cấm vận trở lại, cũng chưa hẳn có lợi, và cũng không có cớ nào đủ mạnh.

Một trường hợp “gân gà” của Mỹ là Miến Điện. Báo Washington Post hôm 13-4-2009 viết rằng Hoa Kỳ đang duyệt xét lại chính sách cấm vận Miến Điện. Báo này nhắc rằng Ngoại Trưởng Mỹ Hillary Clinton khi thăm Châu Á hồi tháng 2-2009 có nói như thế, vì “cấm vận không ảnh hưởng gì tới chính phủ quân phiệt Miến Điện. Nhưng chìa tay ra để lôi kéo họ làm việc cũng không được”.

Báo này nói, trong 12 năm qua, Mỹ đã cấm vận nghiêm ngặt Miến Điện, ngăn chận nhập cảng, đầu tư, mọi quan hệ tài chánh... trong khi Khối ASEAN linh động hơn, mời gọi Miến gia nhập ASEAN từ năm 1997 để lèo lái Miến cởi mở. Hai cách đều hỏng. Lãnh tụ dân chủ Aung San Suu Kyi vẫn bị quản thúc tại gia.

Chỉ được chút điểm sáng: Sean Turnell, chuyên gia Úc Châu về Miến Điện, nói gỡ cấm vận thực ra có lợi cho xã hội Miến hơn, ít nhất là chính phủ Miến đã chịu thả 2,100 tù nhân chính trị sau khi có áp lực ASEAN.

Thant Myint-U, tác giả cuốn sách về lịch sử Miến Điện nhan đề The River of Lost Footsteps, ông cũng là cháu của cựu Tổng Thư Ký LHQ U Thant, nói rằng cấm vận hiện nay chỉ làm hại người dân Miến Điện bình thường thôi, không làm hại ông tướng Miến Điện nào.

Còn một thực tế nữa, báo Washington Post nói rằng tình hình Mỹ cấm vận đã đẩy Miến Điện lệ thuộc nhiều vào giao thương với Trung Quốc hơn, và về lâu dài sẽ thiệt hại cho quyền lợi Hoa Kỳ và Tây Phương ở Châu Á.

Thực tế, điều đó cũng đã thấy rõ ở Việt Nam. Và bây giờ không thấy ai kêu gọi Mỹ cấm vận Việt Nam nữa.

Đó cũng là lý do Tổng Thống Barack Obama hôm Thứ Hai 13-4-2009 chỉ thị cho các gia đình Mỹ gốc Cuba được tự do viếng thăm, không giới hạn và gửi tiền về cho gia đình họ ở Cuba, Và “sẽ có thêm các bước nới lỏng các hạn chế của Mỹ đối với Cuba”, theo lời phát ngôn nhân Bạch Ốc Robert Gibbs.

Nếu chúng ta nhớ rằng, khi cựu Tổng Thống George Bush tái tranh cử Tổng thống năm 2004, viếng thăm Miami, nơi có đông dân gốc Cuba, tuyên bố rằng chế độ Fidel Castro sẽ sụp đổ trước khi ông Bush hết nhiệm kỳ. Nhưng TT Bush xuống rồi, anh em Castro vẫn còn đó, và chế độ độc tài này vẫn vững vàng. Thế nên, TT Obama phải đổi nứớc cờ. Tình hình này thực ra cũng vì suy nghĩ của dân Mỹ gốc Cuba đã đổi chiều. Không phải là họ ủng hộ chế độ Castro, hay họ lưng chừng xôi đậu. Mà vì phong trào dân chủ Cuba cần giao lưu mạnh với hải ngoại. Tất cả mọi sự cô lập, giai đoạn này đều sẽ bất lợi cho dân Cuba và chỉ làm lợi cho anh em Castro.

Hiện thời có 1.5 triệu dân Mỹ có thân nhân tại Cuba. Bản tin AP nói rằng Obama hy vọng sự cởi mở, gỡ cấm vận, gửi tiền về ào ạt và cho dân Mỹ gốc Cuba đổ bộ về Cuba sẽ “tạo thêm không gian mới cho dân tộc Cuba trong nỗ lực đòi tự do chính trị và một chính phủ dân chủ, một phần bằng cách làm cho họ bớt lệ thuộc vào chế độ Castro”.

Bản tin AP cũng nói là Obama cho phép gửi quà về Cuba, và cấp giấy phép cho các công ty muốn kinh doanh truyền thông tại Cuba.

Chuyện này không có gì bất ngờ. Obama đã nói từ tháng 5-2008 khi vận động tranh cử tại Miami, “Không có các đại sứ nào cho tự do xuất sắc hơn dân Mỹ gốc Cuba. Đã tới lúc để dân Mỹ gốc Cuba về thăm mẹ cha của họ, thăm anh chị em của họ. Đã tới lúc hãy để người Mỹ gốc Cuba gửi tiền về cho gia đình của họ bớt lệ thuộc vào chế độ Castro”.

Lúc đó, Obama đã chỉ trích TT Bush, khi Obama hứa sẽ rời bỏ chính sách phong tỏa Cuba. Obama năm ngoáí nói, “Họ đi tới Miami, họ nói giọng cứng rắn, họ lại trở về Washington, và không có gì thay đổi tại Cuba”.

Obama cũng hứa sẽ ngoạị giao trực tiếp với Cuba, “không điều kiện tiên quyết,” nhưng là với “sự sửa soạn cẩn trọng” và “một nghị trình minh bạch”.

Lúc đó, Obama nói, “Chưa bao giờ, trong trọn đời tôi tới giờ, dân Cuba biết tới tự do. Chưa bao giờ, trong hai thế hệ dân Cuab tới giờ, dân Cuba biết tới tự do. Tình trạng ngưng đọng bi thảm này chúng ta đã thấy nưả thế kỷ rồi -- về những cuộc bầu cử không có tự do chút nào ở Cuba; về các nhà bất đồng chính kiến bị giam trong ngục tối chỉ vì nói lên sự thật. Tôi không đứng với bất công, quý vị không đứng với bất công; và cùng nhau, chúng ta sẽ đứng lên bênh vực cho tự do tại Cuba”.

Cấm vận, phong tỏa, ngăn sông cấm chợ, thấy rõ là chỉ làm cho anh em Castro và Kim Jong-Il mạnh hơn, tàn bạo hơn, và làm người dân đói nghèo hơn. Nhưng nếu gỡ cấm vận, thế nào là sự “sửa soạn cẩn trọng” và “một nghị trình minh bạch” để sớm có dân chủ tự do cho người dân các nứớc bất hạnh này?

Đó không phải là câu hỏi riêng cho người Cuba và người Mỹ gốc Cuba, mà cả cho người Việt Nam và người Mỹ gốc Việt Nam.

Trần Khải
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

CSVN: Đừng rước voi về dày mả tổ!

Lâm Thế Nguyên
Sau mấy mươi năm chiến tranh và đối kháng, cuối cùng thì người Việt đã bắt đầu có được sự đồng thuận lớn qua vấn đề Hoàng sa - Trường Sa và Bô-xít. Sự đe doạ nghiêm trọng về chủ quyền quốc gia ở biển Đông và dự án khai thác bô-xít ở vùng Tây Nguyên đã đưa mọi thành phần dân tộc đến gần với nhau. Vấn đề đang được đặt ra là nhà nước Việt Nam (NNVN), qua sự lãnh đạo của đảng CSVN, sẽ đặt quyền lợi đất nước lên trên sự khác biệt chính kiến hay không?

Sự tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa không phải là vấn đề riêng của các đoàn thể đối lập với NNVN. Vô số người trí thức, đảng viên đảng CSVN và người dân ở trong nước đã mạnh dạn lên tiếng cảnh báo NNVN về tình trạng chủ quyền bị xâm phạm. Vấn đề này không còn là một nguy cơ, mà đang hiện thực hoá từng phần một cách chính thức bởi nhà cầm quyền Trung Cộng. Trong vị trí cầm quyền, đảng CSVN có quyền chọn thái độ và đối sách thích hợp cho vấn đề này, nhưng thái độ và đối sách đó không thể đi ngược lại ý kiến và nguyện vọng chung của nhân dân.

NNVN có quyền chọn chính sách đối ngoại mềm dẻo với Trung Cộng qua con đường thương thảo, nhưng mềm dẻo không có nghĩa là chấp nhận tình trạng chủ quyền đất nước bị xâm phạm. Là một nuớc nhỏ đứng cạnh Trung Hoa, tổ tiên chúng ta đã luôn khiêm nhường trong việc đối ngoại, chấp nhận cả việc triều cống ngay sau khi đánh thắng một cuộc xâm lăng. Nhưng khi đụng đến lãnh thổ nước nhà, ông cha ta đã quyết tâm bảo vệ bằng mọi giá, ngay cả tuyên chiến đối đầu với đế quốc phong kiến. Dân tộc ta thẳng thắn lên án các triều đại phong kiến đã xâm lăng nước Việt nhưng người Việt ta không giữ lòng thù hằn với người Trung Hoa. Người Việt chúng ta luôn hiếu hoà và trọng tình hữu nghị, nhưng tinh thần đó cần phải đi song song với ý thức bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Chúng ta đủ khôn ngoan để không tự đặt nước Việt trở thành kẻ thù của Trung Hoa, nhưng vì danh dự dân tộc và tiền đồ Tổ Quốc, chúng ta nhất định không chấp nhận thái độ của nhà cầm quyền Trung Cộng là coi thường nước Việt và người Việt. Chúng ta muốn duy trì tình hữu nghị với nhân dân Trung Hoa nhưng chúng ta phải giữ gìn lãnh thổ, lãnh hãi và chủ quyền quốc gia bằng mọi giá khi cần thiết – ngay cả phải chứng tỏ bằng thái độ mạnh nhất.

Trong tinh thần đó, chúng ta muốn NNVN phải thể hiện ý chí bảo toàn chủ quyền đất nước một cách rõ ràng, mạnh mẽ và dứt khoát. Chúng ta hoan nghênh sự lên tiếng của NNVN mỗi khi chủ quyền quốc gia có vấn đề đe doạ, nhưng chỉ lên tiếng suông rồi âm thầm chấp nhận quyền lợi đất nước bị thua thiệt là một thái độ không thể chấp nhận được. Nếu đảng CSVN không thể có thái độ cứng rắn về chủ quyền đất nước, giải pháp tốt nhất là tạo điều kiện để nhân dân ở trong nước và cộng đồng kiều bào ở ngoài nước đồng thanh phản ứng. Thái độ chung của người Việt sẽ giúp cho những người lãnh đạo nhà nước Việt Nam có sức mạnh để có phản ứng kịp thời và hợp lý, nếu như họ nhận thức được nguy cơ vong quốc.

Đối với kế hoạch khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, vấn đề không phải là tiến hành như thế nào, mà là phải huỷ bỏ ngay toàn bộ kế hoạch đang có. Cho đến nay, bên cạnh sự nghiên cứu và ý kiến của tập thể người Việt ở ngoài nước, giới trí thức có uy tín trong nước đã có những sự báo động rõ ràng. Sự lên tiếng của một số chuyên gia trong bộ máy nhà nước Việt Nam và nhiều cán bộ, sĩ quan cao cấp tương ứng với tiếng nói của giới trí thức ở trong và ngoài nước càng cho thấy tính chất đe doạ xác thực của vấn đề.
Nói chung, kế hoạch khai thác bô-xít ở Tây Nguyên không thể tiếp tục dù là có được điều chỉnh khoa học hay được bổ sung bởi các kế hoạch bảo vệ môi trường hay cải thiện dân sinh cho người dân địa phương. Nhu cầu bảo vệ an ninh quốc phòng và bảo đảm an toàn môi trường sinh thái cho các tỉnh liên hệ cần được đặt ưu tiên hơn bất cứ lý do gì khác.

Chấp nhận cho Trung Cộng khai thác bô-xít ở Tây Nguyên là một quyết định sai lầm chiến lược trong việc phòng thủ quốc gia và bảo vệ môi sinh. Nhà nước Việt Nam cần lắng nghe ý kiến của những người trí thức ở trong và ngoài nước để không đặt quốc gia vào cảnh lâm nguy rất khó để tháo gỡ. Nhà nước Việt Nam hãy mở một cuộc hội thảo sâu rộng, dân chủ và tự do về ảnh hưởng của việc khai thác bô-xít để lượng định lại vấn đề trước khi quá muộn. Nhà nước Việt Nam cũng cần tổ chức trưng cầu dân ý để thấy được ý kiến cụ thể của nhân dân toàn quốc, và của cộng đồng người Việt ở nước ngoài.

Trước sự đe doạ về chủ quyền và an ninh quốc gia, Nhà nước Việt Nam, nói đúng hơn là Bộ Chính Trị đảng CSVN, đang đứng trước một sự chọn lựa lớn là vì quyền lợi riêng tư của đảng, hay vì dân, vì nước. Sai lầm trong các quyết định chiến lược này, đảng CSVN sẽ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử cho hành động mang tính “rước voi về dày mả tổ”.
Đảng CSVN hãy lắng nghe tiếng báo động và nguyện vọng của nhân dân trước khi quá muộn./.

Lâm Thế Nguyên (ĐVDVN)
(Trích Tập san Hoa-Mai #36 -- Phát hành tháng 04/2009)
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Chụp mũ “Cộng Sản” bậy bạ,
năm người Việt Nam bị tòa phạt hơn $300,000

Sunday, April 19, 2009

Image
Một cuộc biểu tình của cộng đồng Việt Nam tại Nam California. (Hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt)
OLYMPIA, Washington - Một bài học cho những người chuyên chụp mũ bậy bạ người khác vừa xảy ra tại Tòa Thượng Thẩm Washington, Thurston County, hôm Thứ Năm vừa qua, sau khi bồi thẩm đoàn đồng ý phạt và bắt năm cá nhân trong Ủy Ban Chống Cờ Việt Cộng phải liênđới bồi thường $225,000 cho ông Tân Thục Ðức, cựu trung úy QLVNCH, vì đã chụp mũ ông là “Cộng Sản,” một bản tin của nhật báo The Olympian cho biết như vậy.

Ngoài ông Tân Thục Ðức, năm cá nhân thuộc ủy ban nêu trên còn phải bồi thường cho Cộng Ðồng Việt Nam tại Thurston County, Washington, nơi ông Ðức sinh hoạt, $85,000.

“Tôi rất mừng khi vụ kiện chấm dứt. Tôi hy vọng đây là bài học cho mọi người, trước khi muốn chụp mũ người khác là Cộng Sản phải suy nghĩ cẩn thận,” ông Tân Thục Ðức, 65 tuổi, phát biểu bên ngoài phòng xử.

Ông Hứa Minh Ðức, chủ tịch Cộng Ðồng Việt Nam tại Thurston County (VCTC), nói sau phiên tòa rằng: “Ðây là cơ hội để đoàn kết cộng đồng. Sau vụ này, hy vọng chúng ta sẽ có một cộng đồng vững mạnh ở tiểu bang Washington cũng như các tiểu bang khác tại Hoa Kỳ.”

Trước giờ xử án, Luật Sư Nigel Malden, đại diện cho các bị cáo, nói rằng quyền tự do ngôn luận sẽ bị vi phạm nếu bồi thẩm đoàn xử cho nguyên cáo thắng.

Luật sư này nói: “Như vậy chẳng khác gì bịt miệng những người tự do phát biểu. Người của công chúng (public figure) phải có khả năng chấp nhận bị chỉ trích.”

Ðể thắng vụ kiện này, Luật Sư Greg Rhodes, đại diện cho nguyên cáo, đã chứng minh “bị cáo chụp mũ nguyên cáo một cách vô tội vạ, không cần kiểm chứng sự thật.”

Nguồn gốc vụ kiện

Theo hồ sơ vụ kiện, Ủy Ban Chống Cờ Việt Cộng bắt đầu gởi email chụp mũ ông Ðức và VCTC là “Cộng Sản” trên báo chí địa phương và trên hệ thống Internet năm 2003 vì “tại hội chợ Lakefair tổ chức hồi Tháng Bảy, 2003, một đầu bếp trong gian hàng của VCTC mặc tạp dề có hình ông già Noel đội nón đỏ có ngôi sao vàng, mặc dù sau đó người đầu bếp này đã quay tạp dề vào bên trong. Ngoài ra, tạp dề này còn có hai ngôi sao vàng khác nằm trên nền đỏ. Ðây là một biểu hiện cho thấy sự hiện diện của chính quyền Hà Nội trong cộng đồng.”

Luật Sư Rhodes cho rằng đây là một sự phỉ báng khi các bị cáo nghĩ rằng cái tạp dề của đầu bếp là sự hiện diện của Cộng Sản tại hội chợ. Luật sư này cho rằng các bị cáo đáng lẽ phải liên lạc với ông Tân Thục Ðức và VCTC để giải thích tại sao đầu bếp lại mặc cái tạp dề đó.

Ủy Ban Chống Cờ Việt Cộng còn tố cáo rằng trong một buổi văn nghệ vinh danh một nhà thơ Việt Nam tổ chức tại Olympia năm 1997, một người trong ban nhạc do ông Tân Thục Ðức mời đến đã đánh vài nốt nhạc trong bài quốc ca của Việt Nam Cộng Sản.

Luật Sư Rhodes nói tại tòa rằng người chơi đàn guitar cho biết ông vô tình đánh những nốt nhạc này vì ông mới từ Việt Nam trở về Mỹ, và sau đó VCTC đã có một cuộc họp báo để giải thích và xin lỗi sự việc đáng tiếc này.

Ông Ðức cũng bị tố cáo đã không treo cờ quốc gia Việt Nam tại nơi ông dạy học là trường Việt Ngữ Hùng Vương.

Luật sư đại diện cho nguyên cáo cho rằng: “Ðây là một sự bịa đặt và những bị cáo biết rõ điều này.”

Ông Rhodes nói ông Ðức có treo cờ này và một số bị cáo đã có mặt tại một buổi họp mà ông Ðức xác nhận ông có treo cờ.

“Ðiều mà các bị cáo nói hoàn toàn ngược với sự thật cho thấy họ tố cáo một cách vô tội vạ,” Luật Sư Greg Rhodes cho biết thêm.

Lúc đó, “các ông Norman Lê, Phiệt Nguyễn, Ðạt Hồ và Nhân Trần và bà Nga Phạm đã gởi email đến khắp các cộng đồng và cơ quan truyền thông Việt Nam trên thế giới kêu gọi tẩy chay và trục xuất ông Ðức và các thành viên hội đồng quản trị VCTC ra khỏi cộng đồng vì họ đang làm việc cho CSVN.”

Bản thông cáo gởi qua email kết luận rằng: “Xin quý vị hãy tẩy chay và trục xuất những kẻ nêu trên ra khỏi các tổ chức của cộng đồng tị nạn Việt Nam như VCTC và trường Việt Ngữ Hùng Vương để họ không thể hoạt động cho những người Cộng Sản xấu xa, làm hại đồng hương yêu nước và đầu độc thế hệ trẻ.”

Cũng theo đơn kiện, Ủy Ban Chống Cờ Việt Cộng còn tố cáo ông Ðức treo “cờ máu” tại một lớp học ở trường St. Michael, nơi ông dạy tiếng Việt cho trường Việt Ngữ Hùng Vương hồi thập niên 1980 và sau này làm hiệu trưởng từ năm 1999 đến năm 2007.

Kể từ khi vụ việc xảy ra, Hội Ðồng Quản Trị VCTC chỉ còn bốn người sau khi 11 người khác rút lui vì sợ bị chụp mũ nếu họ còn tham gia. Riêng ông Tân Thục Ðức còn bị đe dọa giết.

Tại phiên tòa, hai nhân chứng khai rằng lý do họ rút khỏi VCTC vì sợ bị “chụp mũ Cộng Sản.”

Năm 1978, ông Tân Thục Ðức cùng gia đình vượt biên bằng đường biển. Chiếc tàu bị lật, tám người chết đuối. Ông Ðức vừa bơi vừa kéo vợ và một con gái. Sau đó, họ được một tàu đánh cá vớt và đưa vào Malaysia. Một năm sau, gia đình ông định cư tại Hoa Kỳ.

Tình trạng chụp mũ trong cộng đồng Việt Nam

Một trong những người con của ông Tân Thục Ðức nói rằng vụ chụp mũ làm ông rất buồn vì ông rất ghét Cộng Sản.

Và như muốn làm bằng chứng, cô con gái của ông đã đưa cho các phóng viên coi một tấm hình chụp cha cô từng tham gia biểu tình tại thủ phủ Olympia hồi cuối thập niên 1970 để chống chế độ Cộng Sản.

Cô Thanh Tân cho rằng đồng hương tị nạn Việt Nam chụp mũ nhau “Cộng Sản” là điều đáng buồn nhất trong ba tuần xử án.

Cô nói: “Tất cả những người liên quan trong vụ kiện đều là nạn nhân Cộng Sản. Tôi cảm thấy rất đau lòng khi biết những đồng hương tị nạn Việt Nam chụp mũ cha tôi là ‘Cộng Sản’ trong khi rõ ràng ông là một người chống Cộng.”

Cô còn cho biết cô đã chứng kiến cha cô đau khổ như thế nào sau khi bị chụp mũ.

“Ông bị mất ăn mất ngủ một thời gian,” cô Thanh Tân nói thêm.

Vụ kiện kéo dài ba tuần lễ là bài học liên quan đến văn hóa người Mỹ gốc Việt và cho thấy họ nhìn vấn đề như thế nào sau khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc hơn 30 năm.

“Chụp mũ người nào 'Cộng Sản' là cách dễ nhất để làm người đó mất uy tín trong cộng đồng,” giáo sư Linda Võ, trưởng phân khoa Asian American Studies tại đại học UC Irvine, nói với nhật báo The Olympian.

Nữ giáo sư này còn nói rằng tại miền Nam California, nơi có cộng đồng Việt Nam lớn nhất hải ngoại, nhiều chính trị gia, nghệ sĩ và cơ quan truyền thông từng bị “chụp mũ Cộng Sản” nhiều lần.

“Những sự chụp mũ này thường là vô căn cứ, và người bị có thể mất việc, bị tẩy chay, nếu có cơ sở thương mại, và có khi bị đe dọa đến tính mạng,” giáo sư gốc Việt này nói tiếp. “Ðây là một cách hữu hiệu để làm mất uy tín của đồng hương bởi vì nhiều người Việt lớn tuổi tại hải ngoại ít nhiều từng bị Cộng Sản cầm tù và tra tấn. Họ sẽ không bao giờ quên và tha thứ cho những người Cộng Sản.”

Hôm Tháng Hai vừa qua, Giáo Sư Nguyễn Lâm Kim Oanh, Ủy Viên Giáo Dục Học Khu Garden Grove, đã kiện ông Cao Sinh Cường, một nhà hoạt động cộng đồng của đảng Cộng Hòa Orange County, tội phỉ báng sau khi ông chụp mũ bà là “Cộng Sản.”

Bà cho rằng vì bị chụp mũ mà bà mất chức Tổng Quản Trị Học Khu Westminster hồi năm 2006. Vụ việc hiện đang do Tòa Kháng Án California thụ lý.

Hồi năm 2003, ba cha con ông Hồ Ngộ tại tiểu bang Colorado đã thắng một vụ kiện trong đó họ bị chụp mũ “Cộng Sản,” và tòa án Denver đã phán quyết bị cáo bồi thường gần $4.8 triệu.

Tại Saint Paul, Minnesota, ông Tuấn Phạm, một cựu quân nhân QLVNCH và là chủ chợ Capital Market, cũng bị một số người Việt Nam chụp mũ tương tự.

Cuối cùng, tòa phán quyết bị cáo bồi thường cho ông Tuấn $693,000. (Ð.D.)
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Thời sự đất nước: Nước Cờ Chiếu Tướng !



Kiến nghị do 3 trí thức trong nước Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Thế Hùng, Phạm Toàn đề xướng ngày 12-4 đã có 165 anh chị em trí thức tiêu biểu trong và ngoài nước hưởng ứng sau chưa đầy 1 tuần lễ. Anh Vũ thư Hiên báo tin vui cho tôi ngay ngày 14-4. Lần này, tôi mừng, có linh cảm nó sẽ gần như Tuyên ngôn 77 của Tiệp. Nguyễn Huệ Chi, những trí thức gốc Việt ở Paris đều biết anh là trí thức "nòi", với những Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Từ Chi...tôi quen, am hiểu văn hóa Tây, Nga, Tàu, lại rất dân tộc;

nhớ lại cảnh đưa tiễn anh Hoàng Minh Chính đầu năm 2008 trên vidéo, Nguyễn Huệ Chi cùng "Trung tâm Minh Triết Việt" khăn đóng áo dài (với Hoàng Hưng, Nguyễn Khắc Mai và Lê Phú Khải) cung kính lễ từ biệt anh Chính theo nghi lễ dân tộc, xuống gối, lên gối, cúi mình rạp chiếu. Đẹp quá !

Anh Phạm Toàn, còn có biệt danh Châu Diên, tôi quen từ hồi 1985, một nhà văn, dịch giả Pháp văn, cũng là một nhà giáo một lòng cùng nhà giáo dục Hồ Ngọc Đại chủ trương mở trường thí nghiệm cải cách giáo dục theo phương thức công nghiệp, "học mà chơi, chơi mà học", "đến trường là hạnh phúc"... tôi rất mê, giới thiệu một vệt dài trên Nhân dân Chủ nhật, nhưng đến nay vẫn bị bộ giáo dục lắc đầu. Anh Phạm Toàn từng tranh luận với tôi trên Talawas, bảo rằng Bùi Tín vội quá, hãy biết chờ, dân chủ rồi sẽ đến. Với kiến nghị cứu nước khỏi đại nguy cơ bôxít, đại nguy cơ mất nước, anh Toàn đã nhận ra thời cơ dấn thân của kẻ sỹ; tôi mừng cho anh, càng mừng cho đại cuộc cứu nước.

Thế là mọi tấm lòng yêu nước thương dân thật lòng đã gặp nhau, vẫy gọi nhau, liên kết với nhau, xiết chặt tay nhau trước đại họa dân tộc đang thành hiển nhiên.
Các linh mục Công giáo, các mục sư Tin lành hoan nghênh, hưởng ứng lời kêu gọi
"bất tuân dân sự" của Hoà thượng Quảng Độ;
Các tướng lĩnh, binh sỹ, cựu chiến binh quân đội hưởng ứng mạnh mẽ lời phát biểu đòi chấm dứt ngay việc khai thác quặng bôxít chứa đựng nhiều nguy cơ to lớn khôn lường, của tướng Võ Nguyên Giáp và tướng Nguyễn Trọng Vĩnh;

Hàng ngũ các nhà báo, nhà văn, nhà thơ hưởng ứng lá thư tâm huyết của nhà văn-nhà báo Phạm Đình Trọng, thiết thực tưởng nhớ hơn 40 ngàn vong linh tử sỹ hy sinh 30 năm trước để bảo vệ biên cương phía Bắc Tổ quốc ta.
Tháng 4 và 5 lịch sử này, bộ chính trị, 15 người nắm độc quyền cai trị đất nước, phải trả lời rõ ràng, rành rọt cho toàn dân ta rõ rằng họ còn tinh thần yêu nước hay không? rằng họ có quan tâm đến cuộc sống an lành của các dân tộc Việt nam ta hay không ? rằng họ có thật sự bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải và hải đảo của nước Việt nam ta hay không ? rằng họ có bảo vệ người lao động nước ta đang thiếu công ăn việc làm, hay họ vẫn mời gọi và mở toang cửa biên giới cho lao động Trung quốc tràn vào nước ta qua các nhà thầu Trung quốc, như công ty Chalco, với những công cụ kỹ thuật cổ lỗ, cũ kỹ lại bị ép tính theo giá quá cao ?
Họ lấp liếm rằng mới chỉ đang làm thử (!), thí điểm (!), nhưng sao đã lên kế hoạch và ký với nước ngoài những hợp đồng khổng lồ, với thời gian từ năm 2007 đến năm 2025, trên một diện tích rộng đến trên 2 ngàn KM vuông ?

Bộ chính trị đảng CS Việtnam đang bị cô lập và chiếu tướng vô cùng hiểm hóc. Họ bị lâm vào thế pháo lồng, 2 xe địch đã vượt sông, tốt đang dú dí vào cung.
Chính họ đưa ra luật lệ là nhà cầm quyền phải trả lời những khiếu nại, chất vấn, kiến nghị của nhân dân, của cử tri. Không thể giả câm, giả điếc mãi được.

Trí thức đông đảo và quần chúng nông dân, công nhân, binh sỹ yêu cầu những người lãnh đạo cao nhất đang cầm quyền phải trả lời rõ ràng minh bạch một loạt câu hỏi trên đây, ngay trong cuộc họp Quốc hội tháng 5 - 2009 này, tuy quốc hội này không do nhân dân tuyển lựa và bàu ra, mà do đảng CS lựa chọn qua tổ chức mặt trận Tổ quốc cũng do đảng CS tạo ra.

Các cử tri hãy yêu cầu đại biểu quốc hội đặt vấn đề thảo luận ráo riết tại cuộc họp này việc "nên hay không nên" khai thác bôxít ở nước ta, lợi và hại ra sao, có kết luận và kiến nghị với chính quyền được biểu quyết hẳn hoi.

Trước đó, cần yêu cầu Tổng bí thư đảng CS trình bày trước quốc hội vì sao ông đã cam kết trong Tuyên bố chung Việt - Trung năm 2008 rằng hợp tác trong dự án bôxít Đak Nông là đầu vị của hợp tác giữa 2 nước ?, yêu cầu Chủ tịch Nước trình bày việc khai thác bôxít như đang triển khai mạnh mẽ có tác động đến an ninh quốc phòng ra sao, đã được cân nhắc kỹ chưa ? và yêu cầu Thủ tướng báo cáo đầy đủ về kế hoạch đã được ông duyệt về khai thác bôxít từ 2007 đến 2025 cho quốc hội nghe, được truyền hình rộng, để các đại biểu nắm thật chắc mọi mặt của vấn đề thảo luận.
Một cuộc họp quốc hội như thế sẽ được toàn dân theo dõi chặt chẽ, là một cuộc tập dượt dân chủ, theo đúng ước vọng của người dân hiện nay, cũng theo phương châm đảng CS nêu ra từ lâu mà không làm: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, cũng như khẩu hiệu : chính quyền của dân, vì dân, do dân vậy.

Chưa bao giờ xã hội dân sự Việt nam tự khẳng định sự tồn tại của mình rõ rệt như hiện nay. Giới trí thức thức tỉnh, vẫy gọi nhau dấn thân khi thời cơ xuất hiện, xứng đáng là lực lượng tuệ giác, của đuốc sáng - trí tuệ xã hội; bà con nông dân sinh ra từ ruộng đất, gắn bó máu thịt với ruộng đất, quyết không để ruộng đất rơi vào tay bọn cường hào đầu cơ mới, đang vươn dậy khắp nơi đòi quyền sở hữu ruộng đất thiêng liêng; anh chị em công nhân lao động từng mở ra hàng ngàn cuộc bãi công đòi quyền sống; tuổi trẻ cả nước dẫn đầu bởi những sinh viên, học sinh yêu nước, yêu tự do, không chịu cảnh "chim lồng, cá chậu ", đang tỏ ra "hậu sinh khả uý" trong đứng dậy bảo vệ chủ quyền quốc gia và lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Chiến lược đấu tranh tổng hợp của mọi giới, mọi vùng, mọi nơi, mọi sáng kiến đang góp gió thành bão táp, đang "đông người vỗ tay nên bộp" - như lời kêu gọi tha thiết của nhà Chí sỹ Tây Hồ - Phan Chu Trinh, tạo nên một cục diện hoàn toàn mới mẻ, có lợi cho dân tộc, dân chủ và dân sinh.
Xin mọi lực yêu nước thương dân thực lòng hãy quý trọng cục diện mới, mỗi người đã dấn thân hãy dấn thân mạnh hơn, sâu hơn, hãy kiếm thêm, tuyển thêm, mời gọi thêm một bạn cùng dấn thân nữa, để hàng ngũ ngày một đông hơn, bền bỉ hơn, quả đoán hơn, để không một ai giữa đường bỏ cuộc, đưa cuộc đấu tranh ôn hoà, không bạo động, nhưng vô cùng khó khăn, gay go, quyết liệt cho đến thắng lợi.

Thắng lợi của cuộc đấu tranh này nhằm xóa bỏ đại nạn bôxít, cứu vãn màu xanh của sức sống Tây nguyên, với suối rừng bạt ngàn, vườn chè, càphê, hạt tiêu, đào lộn hột tươi xanh, đồng thời đẩy lùi quốc nạn "Bắc thuộc mới", như nhận định của nguyên bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, sẽ mở ra chân trời mới cho dân tộc Việt nam ta, chân trời quang đãng đầy hoa thơm cỏ lạ, chân trời tự do, dân chủ, ấm no, hoà thuận và hạnh phúc của nhân dân Việt nam xiết bao yêu quý.

BÙI TÍN Paris 22-4-2009.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

TRÁCH NHIỆM VỀ AI?
Những tin tức dồn dập từ quê nhà gởi sang, từ khắp nơi trên thế giới gởi đến, chung qui cũng chỉ xác nhận một điều: Việt Nam hiện đang bị Trung Cộng xích hóa với nhịp độ nhanh chóng, nhờ Bộ Chính Trị Việt Cộng ra sức khuyển mã giúp rập. Do đó, Việt Nam đang đứng trước bờ vực diệt vong!



Kể từ khi Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Cộng Sản vào Việt Nam thì nước Việt yêu mến của chúng ta chịu không biết bao nhiêu tai họa. Ký hiệp ước rước Pháp vào Bắc Kỳ để tạo thêm cuộc chiến chống Pháp chín năm, bần cùng hoá dân Việt qua hình thức “tiêu thổ kháng chiến”, liên hiệp để tiêu diệt các tổ chức quốc gia, Cải Cách Ruộng Đất để bóc lột dân chúng, mở chiến dịch “chống Mỹ, giải phóng miền Nam” để nhuộm đỏ cả nước v.v… nhưng chưa có cái họa nào đẩy dân tộc đến bên bờ vực thẳm diệt vong như cái họa Cộng Sản làm đấy tờ Trung Cộng, mở cửa, mở ngõ cho Trung Cộng tiến vào toàn cõi Việt Nam mà không tốn một viên đạn!



Sau Đệ Nhị Thế Chiến, hầu hết các nước bị trị, bị đô hộ đều được trao trả độc lập mà không phải nạn chiến tranh, Riêng Việt Nam vì đảng Cộng Sản của Hồ Chí Minh âm mưu rước Tây vào Bắc Việt để rồi cũng chính đảng Cộng Sản hô hào “toàn dân đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp” và nạn binh đao bắt đầu. Chuyện khó tin, nhưng đó là sự thật. Sự thật này đưa đất nước đến cuộc chiến tranh 9 năm để cuối cùng đất nước bị chia đôi! Ai không tin xin nhớ lại câu nói của Hồ Chí Minh: “thà ăn cứt Tây chứ không thà làm bạn với Tàu”. Nghĩa là thà rước Tây vào chứ không thể làm bạn với Tàu. Đến bây giờ thì đảng Cộng Sản Việt Nam đã vừa ăn cứt Tây, lại vừa làm nô lệ cho Tàu Cộng. Hành động nô lệ cụ thể nhất là văn kiện mà Hồ Chí Minh, Chủ tịch Nước kiêm Tổng Bí Thư Đảng hồi đó, ra lệnh cho Phạm Văn Đồng ký ngày 14.9.1958, chấp nhận bản công bố của Chu Ân Lai, Thủ tướng Trung Cộng hồi đó, xác định lại bờ biển giữa Việt Nam và Trung Cộng một cách bất công, lấn ép một lãnh hải rộng lớn của ta, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa đang được quân đội VNCH bảo vệ. Đổi lại, Việt Nam được hưởng lợi lộc gì? Đảng Cộng Sản Việt Nam được Trung Cộng viện trợ quân sự để tấn công miền Nam trong khi chính quyền miền Nam đang ra sức củng cố đời sống mọi mặt cho dân chúng! Câu nói của Hồ Chí Minh đã xác nhận chính Hồ Chí Minh đã rước Tây vào Hà Nội. Cái gian dối của Hồ gây cho mấy triệu dân Việt Nam bị chết, bị thương tật, bao nhiêu tài sản bị hủy hoại.



Với chính sách “tiêu thổ kháng chiến”, Hồ Chí Minh ra lệnh đốt phá quê hương, phá hủy tài sản đồng bào với chiêu bài “để cho Tây không có đồ dùng, không có lương thực, không có chỗ ở, và rồi chúng sẽ chết đói và thế là chúng ta… thắng lợi. Nhưng Tây không ăn cơm Việt Nam , chỉ ăn bánh mì, không ở nhà dân mà ở trong đồn bót. Tiêu thổ kháng chiến chỉ làm cho dân kiệt quệ, đói nghèo phải chạy theo Cộng Sản mà thôi. Cái gian dối của Hồ Chí Minh là ở chỗ đó, dân Việt phải trả một giá rất đắt vì chuyện “ăn cứt Tây, và nô lệ Tàu” của Hồ Chí Minh. Nếu còn nghi ngờ, quý vị cứ dở “Hồ Chí Minh Toàn Tập, trang 29, khi “chiến thắng Ðiện Biên Phủ nhờ Tàu chỉ huy, Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Nhận chỉ thị của Ðệ Tam Quốc Tế Cộng Sản, về vấn đề giải phóng Việt Nam , tôi đã hoàn thành sứ mạng”. Nói cách khác, xương máu của Việt Nam đổ ra theo lời xách động của Hồ Chí Minh, không phải để đánh đuổi thực dân Pháp cho dân hưởng độc lập, tự do hạnh phúc, nhưng là để “dịch chủ tái nô”, phục vụ cho Ðệ Tam Quốc Tế, vải mỗi năm 4 thước, gạo mỗi người 13 ký (lý thuyết), của mình mà phải ăn vụng, vì cán bộ nhi đồng do VC huấn luyện, theo sát mỗi gia đình!



Hồ Chí Minh kêu gọi các đảng phái Quốc Gia chống Pháp hợp tác trong Chính Phủ Liên Hiệp, nhưng kể từ đó, các đảng phái Quốc Gia lần lượt bị Việt Minh thủ tiêu bắt cóc, tiêu diệt! Ðó là “Ðoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết” của Hồ Chí Minh.



Cái đau nhất cho dân tộc là tiếng súng chưa kịp ngưng, Hồ Chí Minh đã tuân lệnh Mao Trạch Ðông mở chiến dịch Cải Cách Ruộng Ðất. Hầu hết những người mà Việt Cộng gọi là “địa chủ” chỉ có một vài mẫu ruộng, tự canh tác lấy, tức là thuộc hạng trung nông, nhưng vì phải giết cho đủ chỉ tiêu, Hồ Chí Minh cho lệnh “đôn” lên thành địa chủ. Có xã không có người, phải đưa những kẻ có 5, 3 sào ruộng lên làm địa chủ để chúng giết cho đủ số. Hậu quả là có hơn 200 ngàn người bị giết vì tội địa chủ và chỉ vì Hồ Chí Minh sợ Mao Trạch Ðông “quở” mà thôi!



Hồ Chí Minh và bè lũ Việt Cộng đã nướng bao nhiêu sư đoàn để “giải phóng” miền Nam ? Tính cả 2 miền Nam Bắc vừa chết vừa bị thương hơn mười triệu, khói lửa triền miên 2 mươi năm! Việt Cộng huênh hoang khoác lác rằng đã đánh tan 3 đế quốc, thực sự, nếu Quân Lực VNCH được trang bị đầy đủ, Việt Cộng chắc chắn phải thảm bại.



Và bây giờ, Việt Nam mất Bản Giốc, Suối Phi Khanh v.v… và nhiều nữa, nhiều cho đến nỗi Việt Cộng không dám phổ biến bản đồ biên giới cho dân chúng biết, cho quốc hội, dù là quốc hội bù nhìn biết. Trên biển thì coi như VC dâng hầu hết lãnh hải cho Trung Cộng. Ngặt nghèo nhất là Nguyễn Tấn Dũng đã để cho Trung Cộng khai thác 2 mỏ bâu xít ở Cao Nguyên Trung Phần, đưa hàng vạn dân công qua làm việc và cả một đạo quân Trung Cộng sẽ theo chân “bâu xít”, cắt đôi Việt Nam. Ngoài ra, còn có cả 130 ngàn công nhân Trung Cộng đang tự do làm việc trên đất nước Việt Nam . Ðó không phải là công nhân bình thường, nhưng là quân nhân trá hình! Khi cần đánh Việt Nam , Tàu đã có quân khắp 3 miền Việt Nam . Ngày xưa, một Cù Thị làm nội gián đã đưa nước nhà đến bờ vực thẳm, may nhờ có anh hùng Lữ Gia “nổi lên làm cách mạng”. Hôm nay, trước tình thế nguy ngập này, Trung Cộng chiếm Việt Nam dễ dàng như vậy, ai là người đứng lên lập lại kỷ cương cho đất nước? Ai có trách nhiệm lịch sử giai đoạn này?



Dĩ nhiên, trách nhiệm cứu nước là trách nhiệm chung, già trẻ lớn bé trai gái đều có trách nhiệm trước sự mất còn của đất nước! Người Việt tị nạn Cộng Sản ở nước ngoài, thành phần trí thức, tu sĩ, thanh niên, sinh viên nam nữ v.v… tất cả đều có bổn phận đứng lên lật đổ chế độ nô lệ Tàu Cộng, đem lại độc lập cho nước nhà, sau đó mới thanh toán bọn xâm lược Tàu Cộng. Ngày xưa nghe Hồ Chí Minh hô hào chống Pháp, toàn dân đã đứng lên, những người “trai mùa thu 1945” nay còn sống, có kẻ giải ngũ, có kẻ tại ngũ, tất cả thành phần cầm súng lăn vào lửa đạn để ngày nay, bị Việt Cộng gạt gẫm, chiến công của tầng lớp thanh niên ngày xưa là một vật hy sinh để Hồ Chí Minh dâng chiến thắng cho Ðệ Tam Quốc Tế, mà gần gũi nhất là Tàu Cộng.



Ngày nay, đứng trước cơ nguy tổ quốc bị xóa tên trên bản đồ thế giới, ai là người Việt Nam hãy gắng sức mình đứng lên lật đổ chế độ VC. Rất nhiều tướng lãnh Việt Cộng đã ý thức trách nhiệm lịch sử của mình, ngay cả Võ Nguyên Giáp cũng phải mở miệng phản đối, nhưng Nguyễn Tấn Dũng coi Võ Nguyên Giáp là kẻ sắp chết, chẳng thèm lưu tâm, trái lại Dũng cho việc để Tàu khai thác bâu xít là “một việc lớn của Ðảng ta”. Các tướng lãnh, các sĩ quan Việt Cộng hôm nay phải đứng lên, đứng về phía nhân dân lật đổ Chính Trị Bộ, Trung Ương Ðảng, lấy lại quyền tự quyết của dân tộc. Ðây chẳng những là vấn đề sinh tử của nòi giống, mà còn là vấn đề sinh tử của CHÍNH quân đội VC, nhất là cấp lãnh đạo chỉ huy, thành phần ưu tiên một phải thanh toán khi Trung Cộng ra mặt chiếm được nước ta.

Qua các cuộc hội thảo, qua những tờ báo “không còn chịu đựng nổi sự bưng bít” đã la lên cho toàn thể đồng bào sự nguy ngập mà Việt Nam đang và sẽ gánh chịu. Và hầu hết dân chúng đã nghe, đã biết. Giờ lịch sử đã điểm, mọi người đều phải ý thức trách nhiệm mình, có trách nhiệm, có tội trước dân tộc nếu Trung Cộng xâm lăng Việt Nam và biến Việt Nam thành một tỉnh của chúng. Và cũng cần ý thức câu nói “Còn tổ quốc là còn tất cả, mất tổ quốc là mất tất cả”. Ðã đến lúc mọi người mọi giới phải đứng lên, nhất là quân đội Việt Cộng, một khi có cuộc binh biến, chính biến lập tức toàn dân sẽ đứng lên, một triệu ba gia đình dân oan, 8 triều tín đồ Công Giáo, nhiều triệu tín đồ Phật Giáo, Tin Lành, Cao Ðài, Hòa Hảo, tất cả cùng đứng lên một lượt, chắc chắn sẽ đạt thắng lợi, đem lại độc lập tự do cho toàn dân. Chỉ có con đường đó, toàn dân mới có tự do dân chủ, đất nước mới giữ được nguyên vẹn lãnh thổ. Hãy đứng lên lãnh trách nhiệm trước lịch sử.



Lê Văn Ấn
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Liên Minh Quân Sự Việt Cộng-Hoa Kỳ

Nguyễn Ðạt Thịnh
Chuyện nghị sĩ John McCain đòi mở rộng bang giao Việt Cộng-Hoa Kỳ, không phải là chuyện mới, mặc dù ông mới tuyên bố Hoa Kỳ “muốn tăng cường liên hệ quân sự” với Việt Cộng trong cuộc họp báo tại Hà Nội hôm thứ Ba mùng 7 tháng Tư. Ông còn nói việc tăng cường này sẽ đưa đến việc các sĩ quan quân đội Việt Cộng được huấn luyện tại Hoa Kỳ.

McCain là thành viên uỷ ban Quốc Phòng thượng viện, nên chuyến thăm viếng Á Châu của ông trong giai đoạn Á Châu đang là sân khấu cho hai biến chuyển mang tính chất quân sự, cũng chuyên chở nhiều ý nghĩa đặc biệt. Hai biến chuyển đó là vụ chiếc tiểu hạm Impeccable bị 5 tiểu hạm của Trung Cộng khiêu khích trên Biển Ðông, và vụ Bắc Hạn phóng không thành công một vệ tinh không gian.

Trước cuộc họp báo này, McCain còn nói với các sinh viên viện Cao Ðẳng Ngoại Giao Hà Nội là ông nhìn thấy nhu cầu cộng tác quân sự với Việt Cộng sau thái độ tranh dành của Trung Cộng tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Chuyến đi của ông đã hoàn thành, nhưng ông có thành công chút nào không?

Cùng đi với McCain còn có 2 nghị sĩ nữa là Lindsey Graham và Amy Klobuchar; bà Klobuchar là nghị sĩ Dân Chủ, trong lúc cả hai nghị sĩ Graham và McCain đều thuộc đảng Cộng Hòa.

Truớc khi đến Việt Nam, họ đã ghé thăm Nhật, và sau Việt Nam họ sang Trung Cộng; trên bình diện quân sự Nhật là đồng minh của Hoa Kỳ, Trung Cộng và Việt Cộng không hẳn đồng minh với nhau, nhưng cả hai cùng có thái độ bênh vực Bắc Hàn. Thái độ chính trị của Việt Cộng có điểm tế nhị là họ chống Trung Cộng với mức độ “vừa phải” trong những vấn đề tranh chấp hai hải đảo Hoàng Sa và Truờng Sa, nhưng vẫn thần phục Trung Cộng trên những địa hạt khác.

Trong lúc thế giới đang thảo luận biện pháp trừng phạt Bắc Hàn về việc phóng hỏa tiễn, thì Việt Cộng cùng với Nga và Trung Cộng lên tiếng kêu gọi một biện pháp nhẹ nhàng và một thái độ tự chế của thế giới tự do. Ðối với cuộc vận động cộng tác quân sự của ông McCain, Hà Nội không có một thái độ chính thức nào cả.

Cũng trong buổi họp báo tại Hà Nội, nghị sĩ Graham kêu gọi Việt Cộng nên có một phản ứng lên án Bắc Hàn như một nguy cơ quân sự cho vùng Ðông Á; Graham là một cựu đại tá không quân và cựu thẩm phán.

Ngoài ra Hà Nội còn không thích lời McCain kêu gọi cởi mở chính trị hơn, trả tự do cho những người bị giam giữ chi vì bất đồng chính kiến với nhà nuớc, và cho phép người Việt Nam có nhiều tự do hơn, nhất là tự do ngôn luận.

Ông nói, “đồng hành với tiến bộ kinh tế phải là cởi mở chính trị và tôn trọng nhân quyền”, nhiều hãng thông tấn và truyền thông quốc tế tuờng thuật câu tuyên bố này của McCain, nhưng truyền thông trong nuớc không đề cập đến.

Báo Hà Nội Mới viết, “TNS Giôn Mắc-kên bày tỏ ấn tượng mạnh mẽ về sự phát triển của Việt Nam cũng như tiến trình phát triển trong quan hệ song phương giữa hai nước, nhất là trên lĩnh vực kinh tế và giáo dục - đào tạo, đồng thời cho rằng, hai bên cần tăng cường hợp tác hơn nữa trên những lĩnh vực có thế mạnh của hai nước.”

Ngoài việc tuờng thuật McCain nói với Nguyễn Tấn Dũng những “ấn tuợng mạnh mẽ về sự phát triển của Việt Nam”, Hà Nội Mới còn kể lại việc ông McCain đến thăm “chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng”, và được ông Trọng cho biết ông mong rằng, với vốn hiểu biết về Việt Nam, với cương vị và uy tín của mình, TNS Giôn Mắc-kên sẽ tiếp tục có những đóng góp thiết thực vào việc thúc đẩy quan hệ hai nước, hai QH, đồng thời tác động để chính quyền Hoa Kỳ sớm công nhận nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường, sớm để Việt Nam được hưởng quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP), thúc đẩy các doanh nghiệp Hoa Kỳ đầu tư vào Việt Nam, cũng như tăng cường giao lưu thương mại giữa hai nước.”

Báo Sài Gòn Giải Phóng tường thuật lại một câu phỏng vấn McCain về liên hệ quốc phòng Mỹ-Việt Cộng:

HỎI: “Ông có muốn thấy sự gia tăng về quan hệ quốc phòng giữa hai nước, theo ông tầm mức và phương pháp nào mà hai nước sẽ áp dụng trong thời gian tới?”

ÐÁP: “Có những chuyến thăm của tàu hải quân Mỹ tới Việt Nam. Ngoài các hoạt động khác, tôi muốn các sĩ quan Việt Nam tham gia các trường quân sự tại Mỹ. Một số trường quân sự Mỹ mà sĩ quan Việt Nam nên tham khảo và chúng tôi khuyến khích họ theo học.

“Tôi tin rằng Mỹ nên hợp tác với quân đội Việt Nam, có thể làm tốt công tác trao đổi thông tin về các mối đe dọa của các tổ chức khủng bố. Các công việc này phải được thực hiện tốt hơn.”

Thái độ của một tờ báo tại Hà Nội, không dám đề cập đến cuộc vận động liên minh quân sự của McCain, và một tờ khác tại Sài Gòn, chỉ nói mơ hồ về cuộc vận động này, cho thấy là McCain đã thất bại, và Hoa Kỳ chỉ là nguồn nước còn rất xa, trong lúc Trung Cộng vẫn là ngọn lửa gần của đám cháy sát nách đang đốt sôi nước Biển Ðông, tàn phá núi rừng Dak Nông và gây vỡ, mẻ biên giới cực Bắc.

Nguyễn Ðạt Thịnh
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Trung Tá Lê Bá Hùng Nhậm Chức Hạm Trưởng Uss Lassen

Tuyết Mai &Trịnh Quốc Thiên

Image
Hai hàng thủy thủ đón tân Hạm Trưởng Lê Bá Hùng. (U.S. Navy photo by Mass Communication Specialist Seaman Charles Oki.)

Còn một tuần nữa nguời Việt tỵ nạn CS khắp năm Châu cử hành lễ tuởng niệm Quốc Hận 30 Tháng Tu, ngày đau buồn hằng triệu dân Miền Nam VN phải bỏ xứ ra đi để tìm tự do ở một chân trời mới. Cuộc hành trình vuợt biển Thái Bình Duong vô cùng nguy hiễm. Hon ba muoi năm sau, nguời tỵ nạn đa đấu tranh và thế hệ con cháu đa vuon lên làm rạng danh dân tộc Việt anh hùng. Vào lúc 10 giờ sáng ngày Thứ Năm 23 Tháng 4, 2009 (giờ địa phương), tại Căn cứ Hải Quân Hoa Kỳ Yokosuka, Nhật Bản có cử hành lễ bàn giao chức vụ Hạm Truởng Khu Trục Hạm USS LASSEN (DDG 82) cho HQ HK Trung Tá Lê Bá Hùng (Nguời Mỹ gốc Việt). Buổi lễ đuợc cử hành vô cùng trang trọng, duới sự hiện diện của Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Nhiệm 70/75, Admiral Kevin Donegan cùng nhiều quan khách Hoa Kỳ và Nhật Bản.

Hiền thê của HQ Trung Tá Lê bá Hùng là Bà Lê Lyn cho biết, buổi lễ bàn giao đuợc tiến hành rất tốt đẹp, có nhiều phóng viên ngoại quốc đến phỏng vấn HQ Trung Tá Hùng. Một nhân viên Thủy Xuởng nguời Việt Nam đa đến gặp Trung Tá Hùng , ông ta nói chuyện bằng tiếng Việt và ca ngợi Trung Tá Hùng đa làm cho nguời Việt Nam rất hãnh diện.

Sau đây là trích một phần trong bài phỏng vấn HQ Trung Tá Hùng trước khi nhậm chức Hạm truởng, do Mass Communication Specialist Seaman Charles Oki, Navy Affaris Support Element West Det. Japan thực hiện.
Vào ngày 23 Tháng Tư, một nguời Mỹ gốc Việt đ ã nhậm chức “Hạm Truởng” Khu Trục Hạm Lassen (DDG82) loại Arleigh Burke, trang bị hỏa tiển điều khiển tầm xa, một tuần truớc Tháng Di Sản Văn Hóa Á Châu Thái Bình Duong. Một phần trong buổi lễ này, Hải Quân vinh danh những thành viên gốc nguời Á Châu Thái Bình Duong trong Quân chủng.

Trong bài phỏng vấn, Trung Tá Hùng cho biết, theo ông sự khác biệt về nguồn gốc của các Thủy Thủ trong Hải Quân được ảnh hưởng trực tiếp bởi sự khác nhau về chủng tộc tìm thấy ở Hoa Kỳ. Ông rất hãnh diện phục vụ trong Hải Quân và ông nghĩ sự đa chủng tộc làm cho Hải Quân hùng mạnh hơn. Ông rất vui đã có cơ hội làm việc bên cạnh những chuyên viên trong Hải Quân, bất chấp họ từ đâu đến, nguồn gốc chủng tộc hay niềm tin tôn giáo. Theo Trung Tá Hùng, sự đa chủng tộc đã giúp cho Quân chủng Hải Quân tìm đuợc những chuyên viên giõi, tận tụy, đã giúp cho Hải Quân trở thành một tổ chức lớn. Để cho Hải Quân đuợc hùng mạnh, Hải Quân cần phải tuyễn chọn những người giỏi nhất ở HK, bất chấp chủng tộc.

Trong bài phỏng vấn, Trung Tá Hùng có nhắc đến thân phụ của ông (Cựu HQ Trung Tá Lê bá Thông) là cấp chỉ huy trong Quân Lực VNCH truớc đây. Điều này đã ảnh huởng rất nhiều đến quyết định của ông theo đuổi binh nghiệp Hải Quân trên quê hương mới này.

Trung Tá Hùng đề cao thân phụ là “người hùng” của mình, là một Trung Tá HQVNCH và cuộc đời binh nghiệp của thân phụ ông đã bị cắt ngắn bởi chiến tranh. Vì vậy Trung Tá Hùng muốn theo buớc chân của cha - là một sĩ quan Hải Quân. Trung Tá Hùng nhấn mạnh: ”Lòng yêu nước của tôi đối với quốc gia đã niềm nở tiếp đón tôi và gia đình tôi, cũng đã ảnh hưởng đến quyết định gia nhập vào Hải Quân của tôi”. Ông muốn đền trả và phục vụ cho xứ sở này. "Chúng tôi mang ơn, một món nợ ơn nghĩa lớn đối với HK” .

Ông cũng cảm thấy sự thành công của ông, đặc biệt bước tiến dài trong cuộc đời binh nghiệp này của ông là nhờ gia đình và những Thủy thủ, những người đã dẫn dắt ông đi suốt con đường. Ông cảm ơn gia đình ông, đã cho tinh thương và sự hỗ trợ . Ông cũng cảm ơn tất cả những người lãnh đạo và Thủy Thủ mà ông đã làm việc suốt 17 năm qua, không có họ ông sẽ không có được ngày hôm nay.

Theo tài liệu, Khu Trục Hạm USS Lassen (DDG 82) đang hoạt động ở biển Đông Hải, có tên là Clyde Everett Lassen. Đó là tên của một HQ Đại Úy đuợc ân thuởng Medal of Honor do cuộc cứu cấp dung cảm hai phi công HK bị bắn roi trên lãnh thổ Bắc Việt.

Khu trục hạm này do hãng Ingalls Shipbuilding chế tạo, hoàn tất ngày 16 Tháng 10, 1999, hoạt động ngày 21 Tháng Tu, 2001, thuộc căn cứ HQ HK Yokosuka, Nhật Bản. Đây là loại Khu trục hạm đuợc trang bị dàn phóng hỏa tiển điều khiển từ xa. Loại Arleigh Burke là loại khu trục hạm đuợc trang bị với hệ thống radar đa chức năng, có khả năng tìm nhiều mục tiêu khác nhau cùng một lúc và là loại duy nhất mà Hải Quân Mỹ dùng hiện nay. Đó là một trong những loại lớn nhất và trang bị hoả lực mạnh nhất. Khu trục hạm này đuợc chế tạo hoàn toàn bằng thép, thay vì nhôm để làm giảm trọng tải . Khu Trục hạm này trị giá $800 triệu mỹ kim, có trọng tải 9,145 tấn, chiều dài 509 ft 6 in (155.3m), chiều rộng 66 ft (20m), chiều sâu 31 ft (9.4m). Máy chính 4x General Electric LM 2500-30 gas turbines, 2 chân vịt, 100,000 mã lực. Tốc độ 30+ gút (55+km/h).

Có 23 si quan và 300 thủy thủ . Hỏa lực: Hỏa tiển hải - hải, hải không: Tomahawk or RUM -139 VL-Asroc. Ngoài ra còn có Trọng pháo, dàn phóng ngu lôi 2xMk32(1) và 2 phi co trực thăng SH-60 Sea Hawk.

Đuợc biết Trung Tá Hùng là con trai của Cựu HQ Trung Tá VNCH Lê bá Thông, định cu ở Virgìna, HK từ năm 1975. Trung Tá Hùng đuợc sinh ra ở Huế và lớn lên tại Virginia. Ông theo học ở The US Naval Academy ở Annapolis, Maryland và tốt nghiệp uu hạng năm 1992 với bằng Cử Nhân Kinh Tế...

Nhiệm sở biển đầu tiên của Trung Tá Hùng là phục vụ trên Tuần Duong Hạm USS TICONDEROGA (CG47) ở Norfolk, VA với chức vụ Auxiliaries Officer and First Lieutenant . Sau đó Trung Tá Hùng giữ chức Fire Control Officer trên USS WASP(LHD1) ở Norfolk, VA, và ông phục vụ trên Tuần Duong Hạm USS Huế City (CG66) ở Mayport FL với chức vụ Combat System Officer. Ông cũng đuợc bổ nhiệm giữ chức vụ Hạm Phó Khu Trục Hạm USS CURTIS WILBUR(DDG 54) tại Yokosuka, Nhật Bản.

Về nhiệm sở bờ, Trung Tá Hùng đã phục vụ tại The Requirements, Policy and Experimentation Director thuộc Bộ Tu Lệnh Đệ Nhị Hạm Đội và phục vụ tại Bộ Chỉ Huy Liên Quân, (The US Joint Forces Command, J-7 Training Directorate tại Sulffolk, Virginia). Ông đã tốt nghiệp Joint Force s Staff College trong tháng 6, 2007.

Trung Tá Hùng đa tốt nghiệp uu hạng Truờng Naval Postgraduate School với bằng Cao Học Khoa Học về Operations Research; tốt nghiệp Summa Cum Laude from Touro University International với bằng Cao Học Master Of Business Administration Degree in Military Management. Trung Tá Hùng cung hoàn tất The Naval War College nonresident seminar program.

Ông đuợc tuởng thuởng các huy chuong: The Defense Meritorious Service Medal, the Meritorious Service Medal, the Navy/Marine Corps Commendation Medale (4 awards) and the Navy/Marine Corp Achievement Medal (2 awards).
“Hổ phụ sinh hổ tử”, Cựu Trung Tá Lê bá Thông và phu nhân đa góp phần
lớn lao trong việc dạy dỗ, huớng dẫn con cái thành danh, thành tài, có đời sống xứng đáng, đã làm rạng danh dòng giống dân tộc Việt.
Nguyên văn bản tiếng Anh bài phỏng vấn Trung Tá Hùng giữ trong link:
http://minhthong.net/uss_lassen_change_of_command.html

TUYẾT MAI &TRỊNH QUỐC THIÊN
Last edited by vuphong on Mon Apr 27, 2009 1:31 am, edited 1 time in total.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Mối nhục của một quốc gia

Ngô Nhân Dụng
Một cuốn tiểu thuyết đang bán rất chạy ở Trung Quốc, đã được dịch sang tiếng Anh, kể chuyện loài sói và loài người sống chung trên cánh đồng cỏ ở Nội Mông. Cuốn Wolf Totem của Jiang Rong là một bản anh hùng ca về những cánh đồng cỏ mênh mông. Trong không gian bát ngát đó sói và người vừa đấu trí và đấu sức giành sự sống, vừa cộng tác để gìn giữ cho những thảo nguyên khỏi biến thành sa mạc, suốt mấy ngàn năm từ thời trăm ngàn năm trước cho tới bây giờ. Ðọc đến trang 319 trong bản dịch do Penguin Press xuất bản, thấy một đoạn tả cảnh một con sói xông vào đàn cừu, bắt một con ăn thịt ngay tại chỗ.

Chuyện Wolf Totem, tức Lang Tú Ðằng (Tú Ðằng đọc là Tu Ðen, phiên âm chữ Totem) là câu chuyện một sinh viên đại học Bắc Kinh bị đày lên Mông Cổ đi chăn cừu để “học tập lao động” trong thời “Cách mạng Văn hóa,” giống như cuộc đời tác giả Jiang Rong (Khương Nhung) đã trải qua. Một bữa anh sinh viên này được bạn rủ đi lên trên đồi quan sát những hang ổ chuột chũi và học kế bắt chúng, bỗng anh phải quay lại khi thấy một con sói tấn công đàn cừu.

Anh chứng kiến cảnh con chó sói cắn cổ vật ngã một con cừu, rồi nó xé da xả thịt ăn. Ðó là một con sói đói quá phải mạo hiểm một mình đi bắt cừu giữa ban ngày, thay vì chờ cả bầy tấn công ban đêm theo trận thế. Anh sinh viên vẫn cho rằng đạo quân của Thành Cát Tư Hãn đã học phép bầy binh bố trận của loài sói cho nên mới chinh phục được bao nhiêu mảnh đất từ Âu Châu sang Á Châu. Anh đứng quan sát con sói ăn mồi, theo kế của người bạn Mông Cổ kiên nhẫn chờ con sói ăn no nặng bụng rồi mới động thủ thì sẽ hạ được nó dễ dàng.

Ðàn cừu bị sói tấn công lúc đầu hoảng sợ chạy tán loạn. Nhưng khi thấy con sói bắt đầu ngồi xuống bàn tiệc ăn thịt một đồng loại rồi thì cả đàn cừu yên tâm, vì một con sói thường ăn không hết một con cừu đã no, và khi no rồi thì con sói không màng đến những món ăn trước mắt. Lũ cừu dần dần lại bình thản đứng gặm cỏ như cũ. Nhiều con cừu còn tò mò tiến đến gần ngó xem con sói nó ăn thịt “đồng bào” mình như thế nào, giống như người ta đi xem thiên hạ đánh nhau. Tác giả mô tả bộ mặt của mấy chú cừu kia có vẻ như muốn nói với con cừu đang bị ăn thịt: “May quá! Con sói nó ăn thịt mày! Thành ra nó không ăn thịt tao!” Nhiều con cừu bạo dạn tiến tới sát bên cạnh, cả đám chen chúc nhau để được nhìn rõ xem con sói đang ăn tiệc một mình như thế nào.

Nhân vật của Jiang Rong là một sinh viên ham đọc sách. Nhìn cảnh đó, anh nhớ lại một đoạn văn của Lỗ Tấn. Nhà văn tả cảnh thời trước Ðại Chiến Thứ Hai khi quân Nhật chiếm Trung Quốc, một đám đông người Trung Hoa cũng đứng quan chiêm cảnh một quân nhân Nhật Bản chuẩn bị chém đầu một người Trung Hoa. Anh sinh viên tự nhủ, “Chẳng trách được, những người du mục Mông Cổ họ coi người Hán cũng giống như đàn cừu.”

Các nước Á Ðông đã từng bị quân Nhật chiếm đóng ôm một nỗi hận rất lớn đối với đám quân đội của Thiên Hoàng. Người Việt Nam không chia sẻ cảm tưởng đó vì nước ta chỉ bị quân đội Nhật chính thức chiếm đóng trong một thời gian ngắn, từ cuộc đảo chính vào Tháng Ba tới ngày nước Nhật đầu hàng vào Tháng Tám. Ngược lại, người Việt thường có cảm tình với người Nhật, vì các nhà ái quốc trong phong trào Ðông Du đã sang Nhật tìm học; một phần khác vì quân Nhật đã lật đổ chế độ đô hộ của thực dân Pháp ở nước ta.

Các nước khác ở Á Ðông như Trung Quốc, Hàn Quốc, Ðài Loan thì không may đã phải sống dưới ách cai trị rất tàn bạo của đoàn quân Nhật Bản, cho nên trong ký ức của họ còn chứa nhiều niềm phẫn uất. Lỗ Tấn từng đánh thức đồng bào của ông bằng cách nhắc nhở đến những mối nhục của người Trung Hoa trong thời đại ông sống. Ông bắt đầu bằng việc mô tả những hình ảnh lạc hậu, chậm tiến, những hủ tục trong xã hội Trung Hoa; với những cảnh người mạnh ức hiếp người yếu, người giàu sống phè phỡn bên cạnh người nghèo đang đói lả chờ chết. Ðồng bào ông sống trong cảnh đó nhưng nhiều người không hề ý thức được rằng sống như vậy đã là một nỗi nhục.

Tuy nhiên chàng sinh viên trong truyện Wolf Totem, và tác giả Khương Nhung, có dịp nhớ lại Lỗ Tấn thì chỉ nhớ tới cảnh nhục nhã khi những người Trung Hoa dửng dưng đứng coi một người Nhật chém cổ đồng bào của họ mà không làm gì để phản kháng. Chắc hình ảnh đó đã làm cho các nhà văn, từ Lỗ Tấn đến Khương Nhung, ghi khắc một nỗi xấu hổ rất lớn trong lòng, có dịp thì phải nhớ lại. Có lẽ loài người không chú ý đến những nỗi nhục nhã chính mình gây cho mình. Trái lại, ai cũng dễ ghi nhớ nỗi nhục khi phải so sánh mình với người khác; so sánh gia đình mình với gia đình khác, dân tộc mình với dân tộc khác. Một người đàn ông đối xử tàn tệ với vợ con mình thường không cảm thấy nhục khi người khác chứng kiến. Nhưng thấy con mình bị người hàng xóm mắng một câu thì, không biết phải trái ra sao, đã rất dễ nổi lòng căm phẫn!

Ngày xưa Phan Bội Châu sang đến Nhật Bản, ngay trong những ngày đầu, đã ba lần cụ cảm thấy xấu hổ khi thấy lối sống của những người dân bình thường ở Nhật Bản và chợt nhớ đến đồng bào mình ở nước “An Nam” và cảm thấy nhục nhã. Ðó là những cảnh mấy người cảnh sát Nhật ở nhà ga xe lửa tận tâm đi tìm hành lý của cụ bị thất lạc, rồi đem tới tận nơi, cúi đầu và nghiêng mình xin lỗi xin trả lại cụ. Ở nước Nam ta, cụ không thấy người Việt ăn ở với nhau như vậy. Một cảnh khác là cụ Phan và cụ Tăng Bạt Hổ kêu một anh kéo xe chở mình đi tìm một người du học sinh Trung Hoa được các nhà cách mạng Trung Hoa khác giới thiệu. Anh phu xe đưa hai cụ đến địa chỉ không tìm thấy, anh hỏi thăm rồi lại đưa đi nữa, quanh quẩn suốt cả buổi mới tìm ra. Nhưng anh chỉ lấy đúng số tiền của chuyến xe đi từ nhà ga tới địa chỉ đó, cụ Phan muốn trả thêm tiền công đi tìm nhưng anh nhất định không nhận. Lại một lần nữa, cụ Phan nhớ tới đồng bào mình và cảm thấy hổ thẹn.

Nỗi hổ thẹn của Phan Bội Châu xuất phát từ nền giáo dục Nho Giáo. Khi cụ trông thấy những người Nhật Bản có nghĩa khí, sống trung trực, giữ danh dự, đúng như hình ảnh mẫu người “quân tử” mà chính cụ đã học từ cha mẹ, thầy giáo của mình; cụ cảm thấy hổ thẹn vì Việt Nam và Nhật Bản cùng chịu ảnh hưởng của Khổng Giáo mà sao nước người ta có những người bình dân ăn ở quân tử như vậy, còn nước mình thì rất ít? Mạnh Tử nói biết hổ thẹn là mầm mống của đức Dũng, Phan Bội Châu chứng tỏ điều đó.

Ông Nông Ðức Mạnh mới qua thăm Nhật Bản, nhưng chắc ông không được trải qua những kinh nghiệm như Phan Bội Châu. Tuy nhiên, thế nào cũng có lúc ông phải cảm thấy đỏ mặt, nếu như làn da mặt của ông cũng bén nhạy như phần lớn loài người. Ðó là khi các quan chức Nhật Bản nhắc nhở các quan chức Việt Nam nên tích cực hơn trong việc chống tham nhũng. Trong việc bang giao, người ta không thể nói rõ hơn.

Tại sao chính phủ Nhật Bản phải lên tiếng nhắc nhở như vậy? Không phải vì người ta cố ý nhắc nhở tới vụ các cán bộ cao cấp của đảng cộng sản đã bắt các nhà thầu Nhật phải hối lộ hàng triệu Mỹ kim, hay những cán bộ ăn cắp tiền Nhật viện trợ làm cầu làm đường để đi đánh cá bóng đá, để làm nhục các vị khách người Việt đang sang thăm nước Nhật. Nhưng chính phủ Nhật Bản phải cảm thấy họ có bổn phận nêu lên vấn đề đó chỉ vì họ chịu áp lực của dư luận dân chúng. Cả nước Nhật biết tiền đóng thuế của họ đem cho Việt Nam đã bị các cán bộ cộng sản ăn cắp như thế nào. Nếu chính phủ Nhật không nói gì đến, thế nào họ cũng bị báo chí và phe đối lập chỉ trích.

Nhưng nếu làn da mặt của ông Nông Ðức Mạnh cũng bén nhạy như những người Việt Nam khác, chắc hẳn không cần chờ đến lúc được nhắc nhở về việc bài trừ tham nhũng thì mới thấy chút hổ thẹn trong lòng. Chỉ cần khi được đưa đi du ngoạn qua những vườn hoa anh đào ở Tokyo thì một người Việt Nam bình thường, tự đáy lòng cũng phải cảm thấy hổ thẹn rồi. Vì ai cũng nhớ lại cảnh hoa anh đào Nhật Bản đem sang Hà Nội đã bị người ta tranh nhau bẻ, hái công khai như thế nào trong ngày Hội Anh Ðào năm ngoái. Chính phủ Hà Nội có thể cảm thấy hãnh diện vì đã giữ được trật tự trong lễ hội năm nay. Nhưng ở một nước mà phải huy động được tới 500 cảnh sát công an tới bảo vệ 6 cây hoa anh đào, thì người dân nghe tới cũng phải cảm thấy không đáng hãnh diện chút nào cả.

Nếu như Phan Bội Châu sống vào thời nay thì chỉ cần nhìn thấy dân Nhật Bản đi coi hoa anh đào mà không có một viên cảnh sát nào phải đứng canh gác hoa, cụ Phan cũng phải thấy xấu hổ rồi. Như rất nhiều người Việt Nam đang sống ở Nhật Bản đang chia sẻ nỗi hổ thẹn đó.

Một nỗi nhục do hành động của một cá nhân gây ra thì chỉ một cá nhân đó ăn năn và xấu hổ. Nhưng khi những đồng bào vô danh của mình tham dự vào những hành động nhục nhã, thì cả dân tộc cũng chia sẻ nỗi nhục đó. Cái nhục càng được chia cho nhiều người thì lại càng lớn hơn.

Tại sao dân tộc Việt Nam mình lại lâm vào cảnh nhục nhã như vậy? Chắc hẳn đồng bào ta cũng biết lý do vì đâu rồi.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Ủy Ban Xây Dựng Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ
tổ chức tưởng niệm Tháng Tư Đen


Image
Quang cảnh lễ tưởng niệm Tháng Tư Ðen tại Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ, Westminster, hôm Chủ Nhật vừa qua.

Image
Cựu trung úy Phạm Văn Long, hội trưởng Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Chiến Tranh Chính Trị Ðà Lạt,
thượng cờ trong lúc chào cờ VNCH tại lễ tưởng niệm Tháng Tư Ðen.
Bài và hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV)- Mặc dù trời nắng gắt, gió lạnh, hơn 500 đồng hương và hàng chục vị dân cử đã có mặt tại Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ để dự lễ tưởng niệm Tháng Tư Ðen.

Nhân dịp này, Ủy Ban Xây Dựng Tượng Ðài Việt Mỹ cũng kỷ niệm sáu năm ngày dựng tượng đài này.

Trước giờ cử hành lễ, hàng trăm đồng hương đã ngồi kín ba cái lều lớn. Xung quanh khuôn viên tượng đài là hàng chục lá cờ Việt-Mỹ được đặt xen kẽ nhau bay phất phơ trong gió trông thật đẹp và lộng lẫy.

Trong khi đó, hàng chục cựu quân nhân thuộc các binh chủng QLVNCH trong sắc phục binh chủng của mình chuẩn bị cho những thao tác cử hành lễ.

Trước lư hương lớn của tượng đài là một bàn thờ có trái cây, hoa và hương khói nghi ngút, đặt trước di ảnh của năm vị tướng Trần Văn Hai, Lê Văn Hưng, Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú và Lê Nguyên Vỹ, những người đã anh dũng hy sinh trong những ngày cuối của cuộc chiến Việt Nam.

Ở một góc xa, nhóm Tù Ca Xuân Ðiềm và nhóm Thiên Ân, hậu duệ của Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Chiến Tranh Chính Trị Ðà Lạt, tập dợt những tiết mục văn nghệ cho buổi lễ.

Tại một góc khác là những vòng hoa tươi của các hội đoàn và các vị dân cử được sắp xếp cẩn thận chờ giờ khai mạc.

Bắt đầu chương trình là phần chào cờ Việt-Mỹ và phút mặc niệm. Sau đó là phần rước quốc quân kỳ và cầu nguyện.

Kế đến, là 14 vòng hoa của những hội đoàn và dân cử được các đại diện trang nghiêm mang lên lễ đài và sắp hai bên bàn thờ.

Trong phần phát biểu khai mạc, ông Hồ Ngọc Minh Ðức, thành viên Ủy Ban Xây Dựng Tượng Ðài Việt Mỹ và là trưởng ban tổ chức lễ tưởng niệm năm nay, nói: “Không ai trong cộng đồng tị nạn quên ngày miền Nam Việt Nam bị Cộng Sản cưỡng chiếm. Trong ngày này, hàng ngàn người đã tuẫn tiết, thà chết còn hơn sống dưới ách hung tàn. Nhiều người phải ra đi, bỏ lại quê hương. Xin cảm ơn Thượng Ðế ban phước cho chúng ta và cảm ơn Hoa Kỳ mở rộng vòng tay nên nhiều người đã an cư.”

“Hôm nay, tại đây, chúng ta tưởng niệm hàng ngàn anh linh đã hy sinh để bảo vệ tự do dân chủ cho miền Nam Việt Nam. Ngày nay, sau 34 năm, người Việt trong nước vẫn chưa có quyền làm người. Chúng ta phải thay họ để gào lên và đấu tranh không ngừng để Việt Nam có tự do, nhân quyền. Cầu mong Thượng Ðế ban ơn cho chúng ta sớm đạt chiến thắng sau cùng,” ông Ðức nói tiếp trong tiếng vỗ tay của cử tọa.

Nhân dịp này, bốn thành viên trong Hội Ðồng Thành Phố Westminster như Thị Trưởng Margie Rice, Phó Thị Trưởng Tạ Ðức Trí và hai nghị viên Frank Fry và Andy Quách cũng có mặt.

Bà Margie Rice thay mặt mọi người cảm ơn mọi người đến tham dự và nhắc lại công việc xây dựng tượng đài.

Bà nói: “Tôi rất vinh dự có mặt hôm nay và nhớ lại chính Nghị Viên Frank Fry, hiện là chủ tịch Ủy Ban Xây Dựng Tượng Ðài Việt Mỹ, là người có công đưa ra nghị quyết xây dựng tượng đài này sau khi bị thất bại lần đầu. Tôi còn nhớ, lúc đó cuộc bỏ phiếu là 3-2, trong đó tôi có dịp cùng bỏ phiếu với ông Fry và cố nghị viên Russell Paris. Thật là tuyệt vời có tượng đài này tại Westminster.”

“Hôm nay chúng ta phải nhớ rằng có nhiều người đã chết trong cuộc chiến Việt Nam. Họ thuộc đảng phái nào tôi không cần biết. Tôi chỉ biết là họ chết cho tự do, cho chúng ta,” Nghị Viên Frank Fry chia sẻ.

Ban tổ chức sau đó mời bình luận gia Lý Ðại Nguyên lên phát biểu về sự phát triển và thành công của cộng đồng Việt Nam sau 34 năm tị nạn và ý nghĩa lá cờ vàng VNCH.

Nghị Sĩ Lou Correa cũng có mặt và cùng với Dân Biểu Trần Thái Văn trao cho Ủy Ban Xây Dựng Tượng Ðài Việt Mỹ một bản sao của Nghị Quyết SCR 29 mà hai ông là đồng tác giả và vừa được Thượng Viện California thông qua hôm 20 Tháng Tư vừa qua, quy định Tuần Tưởng Niệm Tháng Tư Ðen năm nay kéo dài từ 23 đến 30 Tháng Tư.

Phó Chủ Tịch Hội Ðồng Giám Sát Orange County Janet Nguyễn, Nghị Viên Garden Grove Andrew Ðỗ và Nghị Viên Fountain Valley Steve Nagel cũng có mặt và phát biểu tại buổi lễ tưởng niệm.

Giám Sát Viên Janet Nguyễn nói: “Tôi xin đại diện cho Hội Ðồng Giám Sát Orange County cảm ơn đồng hương đã cho thế hệ trẻ chúng tôi biết lịch sử của cộng đồng tị nạn Việt Nam nhân dịp lễ tưởng niệm này.”

Nghị Viên Andrew Ðỗ phát biểu: “Tôi xin thay mặt Thị Trưởng Bill Dalton và Hội Ðồng Thành Phố Garden Grove đến đây hôm nay để cùng đồng hương tưởng niệm những người đã hy sinh cho tự do và dân chủ.”

“Thay mặt Hội Ðồng Thành Phố Fountain Valley, tôi cảm thấy rất vinh dự có mặt hôm nay để tưởng niệm những người đã ngã xuống vì lý tưởng tự do,” Nghị Viên Steve Nagel phát biểu.

Sau đó là phần phát biểu của cựu đại tá Lê Khắc Lý, cựu tham mưu trưởng Quân Ðoàn II, QLVNCH. Ông đã cảm ơn Hội Ðồng Thành Phố Westminster giúp xây dựng tượng đài. Ông cũng nói về ý nghĩa của tưởng niệm Tháng Tư Ðen...

Kết thúc buổi lễ là chương trình văn nghệ do nhóm Tù Ca Xuân Ðiềm và nhóm Thiên Ân phụ trách qua phần điều khiển của MC Ðỗ Tân Khoa và nhà thơ Nhất Phương.

Cũng nhân dịp này, Ủy Ban Xây Dựng Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ và một số thành viên ban tổ chức lễ tưởng niệm Tháng Tư Ðen đã được các vị dân cử trao nhiều bằng tưởng lệ tại chỗ. (Ð.D.)
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Ai bôi xấu nước Việt Nam?

Ngô Nhân Dụng

Trong tuần trước tôi đang ở Montréal, Canada, thì báo Người Việt đăng lá thư của bạn đọc ký tên là Cường, trong đó có câu: “Tôi tôn trọng cái gọi là Việt Nam Cộng Hòa của các bạn, nhưng tôi không đồng ý với cái cách các bạn đang làm đó là bôi xấu Việt Nam, nơi cha sinh mẹ đẻ của các bạn, nơi mà những người thân, đồng bào của các bạn đã phải chịu đựng nhiều mất mát, nỗi đau và cả xương máu để giành lấy nền độc lập tự do cho thế hệ ngày nay. Tại sao các bạn không tự hỏi nhân dân Việt Nam muốn một nhà nước hoàn toàn độc lập do chính người dân mình xây dựng nên hay họ muốn nhà nước có một nước khác đứng ở phía sau họ chỉ đạo?”

Người viết thư này có vẻ thuộc “diện” các anh chị em làm “công tác tư tưởng, văn hóa” của đảng Cộng Sản ở trong nước, mà lâu lâu vẫn viết email cho các tờ báo ở nước ngoài. Tòa soạn Người Việt cho biết đã nhận được nhiều thư của các độc giả khác để trả lời anh bạn tên Cường - có hai bức thư đăng trong cùng số báo này.

Nhận xét thứ nhất là những người có ý kiến chỉ trích đảng Cộng Sản Việt Nam không phải đều là những người của chế độ Việt Nam Cộng Hòa cũ, hoặc muốn phục hồi một nước Việt Nam Cộng Hòa dưới vĩ tuyến 17 như trước năm 1975! Gán ghép như vậy là các bạn vẫn bám víu lấy quá khứ! Trong tòa báo này có những bạn trẻ còn chưa mười tuổi khi chế độ Việt Nam Cộng Hòa chấm dứt năm 1975. Những người lớn tuổi hơn cũng không hề có ý muốn lập lại một chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cũ ở Sài Gòn.

Nhưng tỏ ý tôn trọng chế độ Việt Nam Cộng Hòa là một thiện chí đáng khen. Việt Nam Cộng Hòa là một chế độ mà vào năm 1975 có 15, 17 triệu người dân miền Nam đã sống. Nếu ai muốn tỏ ý tôn trọng thì nên nói với những người dân còn đang sống đó, và con cháu họ. Vì chính họ đang gánh chịu hậu quả của sự thay đổi chính trị. Nếu “tôn trọng chế độ Việt Nam Cộng Hòa” thì trước hết hãy tranh đấu làm sao cho chế độ “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa” bây giờ cũng được tự do đôi chút, ít nhất dễ thở bằng như thời trước 1975! Giảm bớt tham nhũng khoảng 90% cho ngang bằng thời Việt Nam Cộng Hòa thì dân sẽ mừng vô cùng, cả dân miền Nam lẫn dân miền Bắc. Làm sao cho học sinh trung, tiểu học vào trường công không phải đóng học phí, người bệnh đến nhà thương không phải mang theo bịch ni lông, không phải mua bông gòn, không cần hối lộ y tá, bác sĩ; đó là một cách tỏ lòng tôn trọng lối sống thời Việt Nam Cộng Hòa đấy. Tăng mức sống cho các giáo viên lên bằng được thời Việt Nam Cộng Hòa thì rất nhiều vấn đề giáo dục, đạo đức học đường sẽ được cải thiện. Hãy bảo vệ các quần đảo ngoài khơi như các chiến sĩ hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã bảo vệ.

Chính những người dân trong nước đã sống qua trước 1975 bây giờ đang nuối tiếc chế độ Việt Nam Cộng Hòa; hơn là những người Việt sống ở nước ngoài. Cứ cho họ được nói tự do, tự do cho bằng thời trước 1975 thôi chưa cần nhiều hơn, thì họ sẽ nói hết cho mà nghe. Ngược lại, những người Việt ở nước ngoài, bây giờ nếu nhớ lại chế độ Việt Nam Cộng Hòa họ sẽ thấy chế độ đó còn đầy những khuyết điểm. Họ tự bảo nhau đáng lẽ mình phải sửa đổi chế độ cho tốt hơn ngay từ thời đó mới phải.

Có thể quả quyết với các bạn: Ở nước ngoài không ai nuối tiếc để muốn xây dựng một chế độ Việt Nam Cộng Hòa y như cũ. Trái lại, nếu được sống dưới chế độ đó lần nữa, người ta biết cách làm sao cải thiện chế độ cho tốt hơn, vì bây giờ đã học được nhiều kinh nghiệm mới. Nhưng chỉ trong một chế độ tự do dân chủ thì người dân mới có cơ hội thay đổi. Còn trong chế độ đảng trị, độc quyền, chuyên chế thì khó lắm!

Ðiều cần “đả thông” thứ nhì là những người Việt sống ở nước ngoài, trong đó những người viết trên tờ báo này, không ai nỡ lòng nào “bôi xấu Việt Nam, nơi cha sinh mẹ đẻ” của họ cả. Các bạn có thấy người ta vẫn làm lễ giỗ Tổ Hùng Vương, diễn hành ngày kỷ niệm Hai Bà Trưng tuẫn tiết hay không? Có biết mỗi năm ngày Trung Cộng chiếm Hoàng Sa người Việt ở California, ở Florida vẫn tưởng niệm các chiến sĩ bỏ mình khi bảo vệ tổ quốc hay không? Biết bao nhiêu độc giả thổn thức khi đọc những bài viết về quê hương Bến Tre trên báo Người Việt; hay bài tường thuật cảnh hội Bắc Ninh nghe tiếng Quan Họ ở ngay Tiểu Sài Gòn; các bạn biết hay không? Khi đọc một bài phóng sự ở Việt Nam, có biết bao nhiêu độc giả Người Việt viết thư hỏi địa chỉ Bà Chín để giúp bà tiếp tục việc nuôi dưỡng các cụ già, các bạn biết hay không? Trời đất ơi, có người Việt Nam nào lại nỡ lòng bôi xấu nước Việt Nam?

Ðảng Cộng Sản Việt Nam có lối vu vạ là ai không đồng ý với chế độ Cộng Sản tức là “chống lại nước Việt Nam!” Ai chỉ trích các chính sách của đảng Cộng Sản là gán cho họ tội “bôi xấu nước Việt Nam!” Lối vu oan giá họa đó do hàm ý là nước Việt Nam là sở hữu của đảng Cộng Sản. Ai chống họ là chống cả nước Việt Nam! Trong chế độ quân chủ chuyên chế người ta đề cao “trung quân,” lòng trung thành với vua là tuyệt đối. Hồ Chí Minh đề ra khẩu hiệu “Trung với Ðảng.” Nghiễm nhiên, đảng thay thế cho vua, hễ ai viết đến “đảng” là phải viết hoa.

Ở các nước quân chủ lập hiến như Thái Lan, Nhật Bản bây giờ, người dân phải tôn kính nhà vua, vì họ là biểu tượng của quốc gia. Nhưng người dân vẫn có quyền chỉ trích, đả phá các người làm thủ tướng, làm quan chức từ lớn đến nhỏ. Ở Việt Nam có nhà báo nào dám đả kích mấy ông Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng hay không? Người nào viết chỉ trích Huỳnh Ngọc Sĩ hay Bùi Tiến Dũng, Nguyễn Việt Tiến tức là bôi xấu đảng, cũng gán cho người ta tội nói xấu nước Việt Nam hay chăng? Khi nhà văn Dương Thu Hương viết chuyện tả cảnh “lãnh tụ vĩ đại” có cô đào nhí bị đàn em cướp mất rồi đem giết, như thế là bà bôi xấu nước Việt Nam hay sao? Khi bà Trần Khải Thanh Thủy “chửi” bọn cường quyền đã cho bọn côn đồ tới đổ “Tư tưởng Hồ Chí Minh” đầy trước cửa nhà bà, như vậy là bà chống lại nước Việt Nam, bôi xấu nước Việt Nam, hay là chỉ chửi bọn du côn mà cái chế độ bọ xít thuê mướn cho quấy nhiễu bà? Có bao nhiêu chế độ quân chủ tàn ngược tới như vậy? Bây giờ các bạn còn muốn khuyên bảo người Việt sống ngoài vòng kiểm tỏa cũng không được nói lên những lời nói ngược với lỗ tai của đảng hay sao?

Lá thư của anh Cường nhắc tới những “thân nhân,”những “đồng bào... đã phải chịu đựng nhiều mất mát, nỗi đau và cả xương máu để giành lấy nền độc lập tự do cho thế hệ ngày nay.” Hãy hỏi những nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, Dương Thu Hương, các nhà báo Nguyễn Vũ Bình, Ðiếu Cầy, nhạc sĩ Tô Hải, giáo sư Hà Sĩ Phu, hãy hỏi xem thế hệ của họ và các con em của họ được hưởng thứ “độc lập, tự do” như thế nào? Các vị trên không ai liên can gì tới chế độ Việt Nam Cộng Hòa cả. Một nước mà các sinh viên không được phép bầy tỏ nỗi uất ức khi đất đai của tổ tiên bị chiếm đoạt, giới trí thức không được phép trình bày trước quốc dân mối lo khi tài nguyên bị đem bán, môi trường bị đe dọa; như vậy có độc lập và có tự do hay không? Hay là chỉ có những người thuộc giai cấp thống trị như Bà Hai Tâm mới có tự do, vì tất cả nước Việt Nam bây giờ thuộc về họ, họ tha hồ khai thác?

Cuối cùng, các vị trong ban tư tưởng, văn hóa đặt một câu hỏi nữa khi viết thư cho báo Người Việt:

“Tại sao các bạn không tự hỏi nhân dân Việt Nam muốn một nhà nước hoàn toàn độc lập do chính người dân mình xây dựng nên hay họ muốn nhà nước có một nước khác đứng ở phía sau họ chỉ đạo?” Câu hỏi này rất hay, xin mang phổ biến cho tất cả đồng bào trong nước cùng đọc. Và nên tổ chức những cuộc hội thảo khắp nước để bàn về vấn đề này.

Ðề tài thảo luận là: Chúng ta muốn có một nhà nước độc lập, bảo vệ chủ quyền đối với nước ngoài hay không?

Những người làm báo Người Việt lúc nào cũng chủ trương nước Việt Nam phải độc lập, guồng máy nhà nước là của mọi người dân Việt chứ không do một nhóm độc quyền nào cả, do đó nhà nước phải do chính người dân Việt xây dựng để phục vụ người Việt. Vậy làm thế nào để mọi người dân Việt Nam có cơ hội xây dựng một nhà nước Việt Nam của chính họ?

Theo kinh nghiệm lịch sử loài người, dân chúng phải được tự do ứng cử, tự do bầu cử. Chỉ khi nào người dân được tự do chọn những người nắm quyền, thì lúc đó đất nước mới là của họ, họ là chủ nhân. Còn như cứ giữ chế độ độc tài theo lối Xít Ta Lin, Mao Trạch Ðông, Hồ Chí Minh, thì sao? Thì nhà nước chỉ là dụng cụ của đảng Cộng Sản, của những người như chị em bà Hai Tâm, cho họ sử dụng guồng mày nhà nước như của riêng họ. Xin lỗi, chúng tôi không có ý “bôi xấu” chị em bà Hai Tâm. Ông bà Hai Tâm mà tôi không quen biết có thể là những người hiền lành, lương thiện, với lòng yêu nước thương nòi. Nhưng khi đảng Cộng Sản cho họ cơ hội mua đất với giá rẻ do nhà nước bán, họ không mua là họ dại! Cái nhà nước này do đảng của họ nắm trong tay, như một người có con bò thì tha hồ vắt sữa. Có tới 40 đứa nó đang chia nhau ăn, mua đất công với giá rẻ mạt, tại sao mình lại phải nhịn không ăn?

Tới lúc được bán lại cho nhà nước những mảnh đất cũ, với giá đắt gấp 10 lần, 20 lần, mà ông bà Hai Tâm vẫn không chịu bán; chắc là vì họ nghĩ có anh em làm lớn còn giúp họ vắt ra được nhiều sữa hơn, tội gì không chờ ngày ăn nhiều hơn nữa? Trong một xã hội mà nhìn chung quanh thấy toàn những thằng ăn cướp trắng trợn làm giầu, toàn những cháu ngoan Bác Hồ chia chác nhau của công, họ đâu biết có một nền luân lý nào khác để mà theo?

Bây giờ lại tới lời nhắc nhở nói rằng người dân Việt Nam chỉ “muốn nhà nước có một nước khác đứng ở phía sau họ chỉ đạo.” Xin hỏi các bạn rằng có bao giờ các bạn thấy trong những tờ báo, trên các đài phát thanh của người Việt Nam sống ở hải ngoại có thấy ai muốn Việt Nam “có một nước khác đứng ở phía sau họ chỉ đạo” hay không? Báo Dân Chủ và Phát Triển ở Ðức mong nhà nước Việt Nam mời cố vấn Ðức chỉ đạo hay không? Nhóm Thông Luận ở Pháp, nhóm Dân Việt ở Úc, Thời Báo ở Canada; có ai muốn cố vấn các nước tới đó chỉ đạo cho một nhà nước Việt Nam trong tương lai hay không?

Như vậy thì những người nào muốn nhà nước Việt Nam “có một nước khác đứng ở phía sau họ chỉ đạo?” Ðiều này nên hỏi thẳng các ông Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Minh Triết và Nguyễn Tấn Dũng.

Nếu họ ấm ớ không nói được thì xin hỏi các ông Ðiếu Cầy, bà Trần Khải Thanh Thủy, vì đó là những người dám nói thẳng!

Chớ nên vu cáo người Việt khác là không yêu nước Việt Nam bằng mình và bôi xấu nước Việt Nam. Chính những người dựng lên một chế độ độc quyền tham nhũng, độc quyền thối nát, dùng chính sách tàn bạo khiến cho hàng triệu người Việt phải liều chết bỏ nước ra đi; chính đó là bọn người đã bôi xấu nước Việt Nam. Chính bọn người dựng lên một nhà nước toàn những thằng ăn cắp, ăn cắp cả tiền viện trợ cho dân Việt khiến các chính phủ cho tiền phải đưa công dân nước họ ra tòa làm gương; chính đám người đó là những kẻ đang làm xấu mặt dân tộc Việt Nam trên khắp thế giới!
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »

Người Việt Nam ở Đức... Tưởng như huyền thoại

Image

Dr. Rupert Neudeck, ân nhân của người tị nạn Việt Nam
Hầu như bất kỳ chuyện gì người trong chính giới và xã hội Đức cũng đều có thể hình dung ra được, duy chỉ có điều này thì không: Vào năm 2009 tại Đức không cần phải bàn cãi gì nữa, nhóm người gốc ngoại quốc có thành quả hội nhập tốt đẹp nhất chính là những người Việt Nam. Tập thể người Việt, khoảng 80.000, rất thành công, không những trong việc học tiếng Đức, mà còn qua những đợt lấy bằng tú tài, kỳ thi cử đỗ đạt giỏi nhất.
Người Việt Nam đã trở thành những người con đáng yêu của tổ quốc, bởi vì họ đã thành công vượt trội hơn tất cả các nhóm người ngoại quốc khác (ít nhất là cho tới lúc này).

Nhóm chúng tôi, những người mà trong năm 1979 đã phải đương đầu với những chống đối mãnh liệt của chính sách nhà nước, đâu có ai đoán trước được cái thành quả ấy? Hồi ấy chúng tôi trong đầu chỉ có mỗi cái thôi thúc mang tính chất chủng tộc, mà chính cái đức tin Thiên chúa giáo cũng đòi hỏi chúng tôi là phải cố gắng cứu những người trước mắt đang gặp hiểm họa chết chóc và bị giết.

Sự kiện đó thật rõ ràng, nhưng trong giới cầm quyền thì lại chẳng mấy ai hiểu cả. Họ cứ mải lo tìm kiếm những kẻ có thẩm quyền và phó mặc cho chuyên gia để cuối cùng biết đâu lại có thêm một mớ các bản giám định chồng chất nữa, nhưng rồi chẳng cứu được một thuyền nhân tỵ nạn nào cả.
Riêng chúng tôi thì chỉ muốn thực hiện ngay một cái gì đó, mà cũng không ưa chuyện đề cử một chuyên gia về luật hàng hải, kẻ đó chỉ gây thêm phiền toái và trở ngại cho công việc của chúng tôi mà thôi. Chiến dịch này đã được sự tiếp tay của hàng triệu công dân Đức, nam cũng như nữ, hồi ấy họ đã yểm trợ con tàu, mà không hề biết đến cái tổ chức đó. Chiến dịch ấy đã trở thành sự khởi xướng lớn nhất của quần chúng và thành công nhất ở nước Đức kể từ năm 1949. Với con tàu đầu tiên, phát xuất vào ngày 09 tháng tám 1979, chúng tôi đã vớt được tổng cộng 9.507 người Việt. Rồi với con tàu thứ hai (từ tháng ba tới tháng sáu 1986) chúng tôi lại cứu được 888 thuyền nhân tỵ nạn. Tàu thứ ba, mà chúng tôi thực hiện chung với ông Bernard Kouchner, bây giờ là ngoại trưởng Pháp, và tổ chức "Y khoa cho thế giới" của ông, lại thêm được 905 người Việt được vớt lên từ những chiếc ghe chạy sông chở khẳm mà trang bị lại quá sức sơ sài. Hầu hết số người đó đã đến định cư tại Cộng Hòa Liên Bang Đức.

Hàng triệu đồng hương người Đức của tôi, rất nhiều người đã đích thân góp phần đáng kể: Ở đây tôi chỉ xin kể ra năm người:
Heinrich Böll, không có ông ta thì tổ chức đã không hình thành được.
Dieter Hildebrannt gửi cho chúng tôi 1.000 Đức Mã đầu tiên và viết trong thư: "Cái ý tưởng đó thật là điên rồ, nhưng tôi lại chịu những người có những ý tưởng điên rồ như vậy !" Rồi Thống đốc tiểu bang Niedersachsen Ernst Albrecht, người bạn sốt sắng nhất trong các chiến dịch này, sau đến Johannes Rau, thời đó là Thống đốc tiểu bang Nordrhein Westphalen. Sau cùng là Franz Alt, hồi đó là người đã dùng tiếng nói của mình, ra rả vận động trong công chúng không biết mệt mỏi và đặc biệt luôn luôn ủng hộ mọi công việc của chúng tôi hết mình.

Những thuyền nhân đầu tiên đã tới Đức ngày 03 tháng 12 1978, thuộc nhóm một ngàn người đã được Thống đốc Albrecht đón nhận một cách can đảm và quảng đại, bởi vì ông hiểu rằng, với tư cách là Thống đốc, ông không thể nào xoa dịu được tất cả những khổ đau của thế giới này, cũng như không thể giải quyết được tất cả các vấn đề, nhưng ở đây ông có thể can đảm hứa nhận đón người. Và ông cũng đã làm điều ấy !
Tàu Cap Anamur đầu tiên hoạt động đến năm thứ ba thì chúng tôi bị dập một cú trước mũi tàu. Chính quyền các tiểu bang Tây Đức lo sợ điều mà người ta hồi đó rêu rao, là không chừng chúng tôi "dám vớt sạch cả biển Đông lắm". Và phải chận điều đó lại mới được. Hành động có tính chất tượng trưng, rồi tới cả mấy ngàn, nhưng làm việc thiện gì thì cũng có giới hạn thôi!

Có câu chuyện rất thú vị mà chúng tôi được nghe kể từ cuộc họp nội các tiểu bang Nieder-sachsen: Chúng tôi, những kẻ chuyên tạo rắc rối cho nhà Chung và xã hội, lại có đầy người tỵ nạn trên chiếc tàu Cap nhỏ bé của mình. Tôi gọi điện cho ông Albrecht và hỏi xem ông ta có thể nhận thêm trăm người tỵ nạn quá số lượng đã phân chia được không, ông chấp thuận ngay. Tôi phải gửi bằng fax cho ông một bức thư ngắn - hồi đó tôi đã học được điều này.

Image
Cap Anamur, hải đảo của người tị nạn Việt Nam

Tới kỳ họp nội các ở Hannover, ông Albrecht báo tin ấy: Chúng ta lại nhận thêm trăm người do tàu Cap Anamur cứu. Bộ trưởng Nội vụ thời ấy là Möcklinghoff đã viết vào mảnh giấy: "Nhưng mình không còn chỗ nữa. Möcklinghoff !" Rồi đẩy mảnh giấy ấy đến chỗ ngài Thống đốc. Ông viết vào phía dưới mảnh giấy đó: "Thế thì ông hãy tạo ra chỗ mới đi! Albrecht". Khi ấy là giờ hoàng đạo của xã hội Đức - Không chỉ riêng cho phía nhà Chung, hồi ấy thái độ của họ có vẻ còn lưỡng lự lắm. Nhưng trong tất cả các giáo xứ Đức thì người ta tích cực vô cùng , để thêm chỗ trống đón nhận những "damnes de la mer" ("những kẻ khốn cùng ngoài biển").

Giờ thì chẳng có nhầm lẫn gì nữa và cũng không ai nghi ngờ gì cả: Tập thể người Việt Nam ở đây tạo thịnh vượng thêm cho xã hội Đức, họ làm người Đức chúng ta được hãnh diện. Ngay cả nếu như Việt Nam thay đổi chế độ và đa số người Việt trở về quê hương thì họ cũng sẽ để lại trong chúng ta một kỷ niệm rất ư là nồng nàn, sống động.
Trong xã hội Đức hiếm khi thấy tổ chức NRO, một hình thức tổ chức phi chính phủ hoàn toàn do dân chúng gánh vác như hồi những năm 1979 – 1986. Về phía các quốc gia thì chỉ có một lần được sự trợ giúp của Cộng đồng Âu châu. Vào năm 1983 quốc hội Âu châu đã bỏ phiếu cho một nghị quyết do dân biểu Horst Langes đề ra. Chúng tôi được mời tới Strassburg để chứng kiến quốc hội, thời đó có những nhân vật nổi tiếng như Willy Brandt, Heinz Oskar Vetter, Enrico Berlinguer, thuộc ban chấp hành đảng cộng sản Ý, đồng bỏ phiếu thuận cho nghị quyết và chúng tôi đã nhận được 60.000 Đức Mã.
Người Đức chúng ta, giờ đây bao gồm cả 80.000 người Đức gốc Việt, hãy nhận như một lời nguyện suốt đời. Bất kỳ nơi đâu, trên mặt đất, dưới nước hay trên trời, nếu có người bị tra tấn, hành hạ, bị theo dõi, xua đuổi, bị đánh đập, ép buộc lao động, bị giam giữ dưới các chế độ xâm chiếm, chúng ta phải can thiệp cho họ.
Công tác cứu vớt trên biển Đông dù thành công, vẫn đòi hỏi chúng ta bây giờ, năm 2009 này, phải tiếp tục. Dầu là A Phú Hãn, Ruanda, dầu là Zimbabwe hay Kaschmir, Palestin hay Mauretanien, nó vẫn mãi là cái qui tắc muôn đời của người Samariter trong câu chuyện ngụ ý trong sách Phúc âm: Ai trong bọn họ là người đã có tình đồng loại, cứu giúp những người Việt Nam bị hiểm nguy chết đuối trên biển Đông?
Chính là những người Đức đồng hương của tôi!!
Họ luôn sẵn sàng và có thể tiếp tục đảm nhận những việc thiện cao quý khác.


Dr. Rupert Neudeck
Nhân buổi Lễ Kỷ niệm 02.05.2009 tại München vào dịp 30 năm CAP ANAMUR và việc CỨU VỚT NGƯỜI


Image
Thuyền trưởng Rupert Neudeck

Die Vietnamesen in Deutschland

... fast ein Mythos!

Zu der Gedenkfeier in München am 2. Mai 2009 aus Anlaß von 30 Jahren CAP ANAMUR und MENSCHENRETTUNG

Fast alles hätte die deutsche Politik und die deutsche Gesellschaft annehmen können, nur das nicht: Dass es 2009 in Deutschland keine Debatte und keinen Streit darüber gibt, dass die bestintegrierte Gruppe ausländischer Herkunft die Vietnamesen sind. Etwa 80.000 Vietnamesen, das sind diejenigen, die es geschafft haben, die deutsche Sprache nicht nur zu lernen, sondern auch die besten Abiture, die besten Examina zu machen.
Die Vietnamesen sind geradezu die Lieblinge der Nation geworden, weil es mit ihnen so gut geht wie bisher mit keiner ausländischen Gruppe (bisher jedenfalls!) .
Wer von uns, die wir uns 1979ff großen und heftigen Widerständen der Politik gegenübersahen, hätte das für möglich gehalten? Wir hatten ja damals nur den ethnischen Imperativ im Kopf, den uns auch unser christlicher Glaube verpflichtend machte: Menschen, die vor unseren Augen in Gefahr sind, zu sterben und getötet zu werden, muss man versuchen zu retten.
Das ist sehr klar, nicht so klar ist es in der verwalteten Welt. Dort sucht man nach den Zuständigen und den Experten und hat am Ende vielleicht mehrere Gutachten aufeinandergestapel t, aber nicht einen einzigen dieser Bootsflüchtlinge gerettet.
Wir aber wollten nur etwas tun, wir wollten nicht einmal einen Seerechtsreferenten anstellen, der uns ganz sicher bei dem Unternehmen nur Hindernisse in den Weg gelegt hätte.
Die Aktion wurde getragen von Millionen deutscher Bürgerinnen und Bürgern, die damals für das Schiff gespendet haben, ohne die Organisation zu kennen. Es war dieses die größte und erfolgreichste Bürgerinitiative in deutschen Landen seit 1949. Mit dem ersten Schiff, das wir am 9. August 1979 in Dienst stellten, haben wir insgesamt 9507 Vietnamesen aus dem Wassergezogen. Mit dem zweiten Schiff (März bis Juni 1986) haben wir erneut 888 Bootsflüchtlinge retten können. Mit dritten Schiff, das wir mit dem jetzigen französischen Außenminister Bernard Kouchner und seiner Organisation „Medecins du Monde“ zusammen organisiert haben, konnten wieder 905 Vietnamesen in völlig unzureichend ausgerüsteten und überfüllten Flussboote dem Wasser entrissen werden.
Fast alle kamen in die Bundesrepublik Deutschland.
Es waren Millionen meiner Mitbürgerinnen und Mitbürger, es waren auch viele Einzelpersonen, die daran entscheidenden Anteil hatten: Ich nenne hier jetzt nur fünf:
Heinrich Böll, ohne den der Verein gar nicht hätte aus der Taufe gehoben werden können. Dieter Hildebrandt, der uns die ersten 1000 DM schickte und dazu schrieb: „Das ist zwar eine verrückte Idee, aber ich liebe Menschen mit verrückten Ideen!“
Dann war es der Ministerpräsident von Niedersachsen Ernst Albrecht, der der bereitwilligste Freund dieser Aktionen war, es war auch Johannes Rau, der damals Ministerpräsidenten von Nordrhein Westfalen war. Und last but not least – Franz Alt, der mit seiner Stimme damals eine unerbittliche Nervensäge in der Öffentlichkeit war und besonders unsere Aktion immer unterstützt hat.

Die ersten kamen schon am 3. Dezember 1978, sie waren die tausend, die beherzt und großzügig der Ministerpräsident Albrecht aufgenommen hatte, weil er sich klar war: Er kann als MP nicht alle große Elend dieser Welt lindern und alle Probleme lösen, aber hier kann er beherzt etwas zusagen. Und er TAT das auch.
Wir haben dann im 3. Jahr der ersten CAP ANAMUR einen Schuß vor den Bug bekommen. Die Regierungen der westdeutschen Bundesländer hatten Angst, wie man damals sagte, dass wir „das ganze chinesische Meer leer retten“ würden. Und das musste verhindert werden. Symbolische Aktionen, auch ein paar tausend, aber es muss sich das Gutes Tun doch in Grenzen halten.
Wunderbar die Szene, die uns vom niedersächsischen Kabinettstisch berichtet wurde:
Wir hatten als kirchlich und gesellschaftlich geprüfte Quälgeister wieder den Kahn Cap Anamur voll mit Flüchtlingen. Ich rief den Albrecht an und fragte ihn, ob er über seinen Proporz gleich mal hundert wieder aufnehmen würde, sagte er sofort zu. Ich musste ihm – das lernte ich damals – ihm einen kurzen Brief mit dem Telefax zusenden.
Albrecht gab am Kabinettstisch in Hannover bekannt: Wir nehmen erneut hundert Leute, die von der Cap Anamur gerettet wurden, auf. Da schrieb der damalige niedersächsische Innenminister Möcklinghoff auf einen Zettel: „Wir haben aber keine Plätze. Möcklinghoff!“
Und schon den Zettel auf dem Kabinettstisch zum Ministerpräsidenten. Darauf schrieb Ministerpräsident Albrecht darunter:
„Dann machen Sie welche! Albrecht“ das war damals eine Sternstunde der Deutschen Gesellschaft-
Nicht allein der Kirchen, die haben sich eher politisch verhalten. Aber in allen Gemeinden Deutschlands gab es ein Stühlerücken, um diese „damnes de la mer“, (dt. die „Verdammten der Meere“) aufzunehmen.

Es ist heute unbeirrbar klar und wird von niemandem mehr bezweifelt: Diese Vietnamesen tun der deutschen Gesellschaft gut, sie tun uns als Deutschen gut. Selbst wenn sie bei einem Regimewechsel in Vietnam einfach in der Mehrheit wieder zurückgehen würden, sie würden eine lebhafte große Erinnerung zurücklassen.
Die Selten ist in der deutschen Gesellschaft eine NRO, eine Nicht Regierungs-Organisa tion so allein von den Bürgern getragen worden wie in den Jahren 1979 bis 1986. Es gab von Seiten der Staaten nur einmal eine Zuwendung von Seiten der europäischen Gemeinschaft. Das Europa Parlament stimmte 1983 eine Resolution ab, die der Abgeordnete Horst Langes eingebracht hatte. Wir wurden dafür eingeladen nach Strassburg, Und wir haben zugeschaut, dass das Parlament, dem damals so illustre Leute wie Willy Brandt, Heinz Oskar Vetter, Enrico Berlinguer, der Chef der italienischen Kommunisten angehörte, alle einstimmig diese Resolution unterstützen und wir 60.000 DM bekamen.

Wir Deutschen, jetzt mit Einschluß der 80.000 vietnamesischen Deutschen, sollten das als ein Versprechen in unserer Lebenszeit nehmen. Immer da, ob zu lande zu wasser oder in der Luft, Menschen gefoltert, gequält, verfolgt, gejagt, geschlagen, zur Zwangsarbeit gezwungen, unter Besatzungsregime gehalten werden, da müssen wir uns für sie einsetzen.
Die erfolgreiche Rettungsaktion auf dem südchinesischen Meer fordert von uns Fortsetzungen auch in unseren Tagen, auch in den Jahren 2009ff. Ob das Afghanistan, Ruanda, ob das Zimbabwe oder Kaschmir, ob das Palästina oder Mauretanien ist, es geht immer um das Urgesetz des Samariters aus dem Gleichnis im Evangelium: Wer war denen der Nächste, der den vom Tod durch Ertrinken bedrohten Vietnamesen auf dem Südchina Meer geholfen hat? Es waren meine deutschen Landsleute!!
Sie sind zu weiteren humanitären Großtaten bereit und in der Lage.

Dr. Rupert Neudeck
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »


Image

Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam

Ðỗ Thái Nhiên
Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam, vừa mới được khánh thành, nằm bên trong khuôn viên nghĩa trang Westminster ở Quận Orange, Nam California.

Ðứng bên trong khuôn viên vừa kể, quay lưng lại với đường Bolsa, khách viếng tượng đài sẽ thấy một bãi cỏ xanh và rộng. Kế đến là lư hương đồng đen. Ðàng sau lư hương là kiến trúc trọng tâm của tượng đài. Kiến trúc này bao gồm một hồ nước hình quả trám, lớn bằng chiếc thuyền vượt biên. Chung quanh hồ nước là những tảng đá màu trắng ngà, mặt mài bằng, diện tích non một thước vuông. Trên mỗi tảng đá, danh vị của thuyền nhân tử nạn được ghi bằng mực đen, nét khắc sâu và sắc. Tại một tảng đá bên hông tượng đài, gần trung tâm mặt đá, tình cờ tôi bắt gặp phương danh “Tô Lai Chánh”. Anh này là bạn rất thân của tôi tại trường Luật Saigon từ 1963. Hồi bấy giờ, Tô Lai Chánh là chủ tịch Ban Ðại Diện Sinh Viên Luật Khoa Saigon. Khi nhập ngũ, Tô Lai Chánh trở thành chánh án công tố của Tòa Án Quân Sự Nha Trang. Giữa năm 1985, Tô Lai Chánh từ trại tù “cải tạo” về. Tôi từ khám Chí Hòa ra. Hai chúng tôi gặp nhau tại một quán cóc bên đường Trần Quang Khải, gần Cầu Bông. Sau đó tôi mất liên lạc với Chánh. Tôi có hơn hai thập niên đi tìm tông tích người ban họ Tô nhưng tuyệt vô âm tín. Mãi cho tới sáng 25/04/09 tôi mới gặp lai Tô Lai Chánh trên phiến đá này, bên hông Tượng Ðài Thuyền Nhân. Ðây là tin tức ngắn nhất, bất ngờ nhất, chính xác nhất, bàng hoàng và xoáy tim óc nhất. Nhìn không chớp mắt vào danh vị Tô Lai Chánh, tôi thấp thoáng thấy đôi mắt to và đen của anh chủ tịch Sinh Viên Luật Khoa Saigon vài thập niên về trước...

Bây giờ hãy trở lại với cấu trúc của Tượng Ðài Thuyền Nhân. Ở giữa hồ nước mang hình dáng chiếc thuyền như đã nói ở trên là một tảng đá lớn, biểu tượng cho đảo tị nạn. Bên trên tảng đá kia là hình tượng một gia đình gồm năm người: bà cụ già, cặp vợ chồng trẻ và một cháu bé khoảng dưới một tuổi. Người phụ nữ gần ngã sấp nhưng vẫn cố vươn mình lên cao, tay trái ôm cháu bé mắt nhắm nghiền, tay phải đưa ra phía trước như một cầu cứu... Cạnh đó là chiếc nón lá của phụ nữ Việt Nam và chai sữa dành cho trẻ em nằm lăn lóc trên mặt đất. Tiếp sau là hình tượng người thanh niên, tóc tai rũ rượi đang dìu bà lão đi tới... Toàn cảnh tượng đài là bức tranh ghi nhận: ba thế hệ Việt Nam chịu chung một tai họa. Thế hệ thứ nhất là bà cụ mà người chồng có thể đang bị khổ sai ở trại tù cải tạo nào đó. Thế hệ thứ hai là cặp vợ chồng trẻ. Thế hệ thứ ba là cháu bé với đôi mắt nghiền trước một tương lai mịt mù mây xám... Trong ngôn ngữ của biểu tượng: ba thế hệ là nhiều thế hệ, là toàn bộ dòng sống của dân tộc. Bảo là một tai họa nhưng đây là loại tai họa có chọn lựa. Trên bước đường vượt biên có một ngàn lẽ một tai họa khác nhau, tai họa nào cũng khủng khiếp, cũng vượt ra ngoài trí tưởng tượng của loài người. Trong phạm vi của một bài bình luận ngắn, bài viết này xin trình bày một tai họa điển hình. Hồ sơ của tai họa này được tìm thấy trong văn khố của cơ quan Cao Ủy Tị Nạn của Liên Hiệp Quốc năm 1979. Diễn tiến của sự việc được trình bày như sau:

“Anh Huỳnh Văn Trân, 34 tuổi, ngồi trên 1 băng ghế gỗ ở trại tị nạn Songkhla ở một bờ biển cực nam của Thái Lan, thuật lại câu chuyện của mình lần thứ ba. Anh ra đi trên một chiếc tàu gồm 62 người: đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Họ may mắn gặp thời tiết và gió thuận lợi, không bị rắc rối gì với máy tàu. Vào ngày thứ 5 trên biển, một chiếc tàu mã lực lớn dài 15 mét đến cặp sát mạn tàu anh. Có 12 người đàn ông trên thuyền, tất cả đều trang bị vũ khí đầy đủ. Trước hết, chúng ra lệnh cho hai người trong số phụ nữ sang tàu chúng. Một trong hai người này là vợ anh Huỳnh Văn Trân. Cô này bị ghì chặt xuống, súng trường kê sát thái dương, và bị ra lệnh không được kêu la. Cô bị bọn chúng cưỡng hiếp.

Bọn hải tặc sau đó nhảy qua tàu tị nạn, cướp đi mọi thứ có giá trị, bắn một người đàn ông còn do dự khi chúng cướp. Sau đó chúng tăng tốc độ phóng đi với các món của cải chiếm được, nhưng thình lình quay ngoắt lại. Vẫn giữ nguyên tốc độ tối đa, chúng nhắm thẳng vào tàu tị nạn và đâm mạnh. Chiếc tàu hải tặc đã lập đi lập lại hành động này trong khi nhóm người tị nạn đang hốt hoảng ngoi ngóp giữa biển khơi. Bọn cướp biển cố ý lái tàu cán qua vô số chiếc đầu đang nhấp nhô, có lẽ vì không muốn để sót lại nhân chứng nào. Khi vợ anh Trân còn đang chới với trên mặt nước, với đứa con trai mới lên 3 đang níu chặt cổ mẹ, cả hai đã bị tàu cán qua và chết đuối, 10 người trong số họ sống sót, sau đó được vớt lên và đưa tới Songkhla, Thái Lan.”

(Hết lời dẫn)

Tai họa kể trên cùng hàng vạn tai họa khác cho thấy thuyền nhân bị giết chết trong những tình huống vô cùng tàn ác nhưng cũng vô cùng bi tráng. Bi tráng bởi lẽ: không phải những người chuẩn bị vượt biên không biết tất cả những hung hiểm trên sông, trên biển. Thế nhưng thuyền nhân vẫn quyết tâm vượt biên, quyết tâm bước vào con đường chỉ có thể chọn lấy một trong hai giải pháp: “Tự do hay là chết”. Con người có nhiều phương cách để diễn đạt tư tưởng. Con người có thể nói bằng ngôn ngữ bình thường, có thể nói bằng quả đấm, bằng tiếng thở dài, bằng cái nhíu mày, cau mặt... Trong tất cả những kiểu nói và cách nói kia, tiếng nói của im lặng là tiếng nói của tận cùng lạnh lùng và quyết liệt. Im lặng chôn dầu vượt biển, im lặng đút hối lộ cho công an, im lặng qua mặt các toán tuần duyên CSVN, im lặng đối mặt với hải tặc, im lặng viết tên của chính mình trên phiến đá ở Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam. Tất cả các im lặng vừa diễn tả chỉ dễ nói lên một điều: Chúng tôi là con người Việt Nam, Chúng tôi không thể sống không có tự do. Chúng tôi sẵn sàng mang sinh mạng của mình để đổi lấy tự do. Ðiều kỳ lạ là thuyền nhân Việt Nam đi vào cõi chết nhưng vẫn nheo mắt nhìn đời với miệng cười ngạo nghễ. Thông thường mỗi thuyền nhân trước giờ vượt biên đều thấy trước ba con đường: nếu vượt biên thoát thì đương sự sẽ làm việc kiếm tiền trợ giúp gia đình. Nếu bị bắt thì gia đình phải đi thăm nuôi. Nếu gặp tai họa giữa biển cả thì an giấc ngàn thu dưới đáy biển. Chúng ta hãy nghe một thuyền- nhân- trẻ từ giã mẹ già trước giờ vượt biên. Từ giã rằng:

“Một là con nuôi Má,

Hai là Má nuôi con,

Ba là con nuôi cá.”

Rõ ràng lời giã từ rất đắng cay nhưng vẫn không thiếu phần hài hước. Chính tính hài hước trong hỏa ngục mới diễn tả trọn vẹn niềm thống hận của thuyền nhân. Trong niềm thống hận kia thuyền nhân gói ghém hai ước mơ:

Ước mơ một: Vượt biên vừa để phản kháng CSVN độc tài, phản nhân tính vừa để tìm lại cho gia đình, cho bản thân một đời sống đầy đủ tự do và dân chủ. Ðồng thời, giúp cho các thế hệ tương lai được giáo dục và đào tạo thành con người.

Ước mơ hai: từ giã đất tạm dung, quay trở về quê cũ, quyết tâm xây dựng lại một Việt Nam tự do dân chủ. Triệt để loại bỏ mọi bùa phép dân chủ ngụy trá của CSVN.

Thật là đau đớn, mỗi người hai ước mơ, hàng triệu ước mơ đã bị vùi sâu dưới đáy biển. Với thời gian, ước mơ của thuyền nhân từ lòng biển đã vang vọng về với dương thế làm xao xuyến hàng triệu triệu quả tim Việt Nam. Cuối con đường xao xuyến là Ðài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam. Tưởng niệm không chỉ là hương khói với hoa tươi. Tưởng niệm phải biểu hiện bằng quyết tâm biến ước mơ của thuyền nhân thành hành động cụ thể. Hành động cụ thể đó chính là đào thải chế độ Hà Nội ra khỏi vị trí cầm quyền, buộc chế độ này phải trả lời trước công lý về vô số tội ác tham ô, độc tài và bán nước

Ðỗ Thái Nhiên

(www.vietvusa.com)
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest