Tạp Ghi

thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

30-4-1975 và những tiếng khóc hờn ai oán.

Phạm Thắng Vũ

Tôi đang đứng trên một bờ ruộng cạnh quốc lộ 1 hướng về Tây Ninh. Phía sau tôi là cây cầu cũng mang tên là cầu Bông trùng tên với cây cầu trong khu Đa Kao của thành phố Sài gòn. Cây cầu này là mốc địa giới giữa quận Hốc Môn của tỉnh Gia Định và quận Củ Chi của tỉnh Hậu Nghĩa. Trên các thửa ruộng sau hàng cây Trâm bầu thấp thoáng những chiếc xe tank M 113, M 48 mà binh sĩ Sư đoàn 25 Bộ binh đã bỏ lại sau khi tan hàng tập thể trong hơn tháng trước. Trí óc của một thanh niên mới vừa 18 tuổi tôi và Trí người em con cậu háo hức rảo bước vào các chiếc xe này. Trèo vào các chiếc xe tăng mà nghĩ về hình ảnh những người lính đã từng ngồi tại đây trong các chiến trận. Súng đạn vẫn còn nguyên trong xe và trên các bờ ruộng.

Là dân sống ở Sài gòn tôi theo mẹ về dưới vùng Hốc Môn này để tìm mua ruộng đất làm ăn trong buổi giao thời thay vì chờ nhà nước CS đưa đi vùng kinh tế mới. Có tiếng lên đạn. Tôi nhìn chung quanh và thấy vài thanh niên khác cũng chạc tuổi tôi đang cầm một cây M 16 trên tay. Một thanh niên đang chỉ dẫn cho bạn mình cách sử dụng cây súng rồi tiếng bấm cò, tiếng kim hoả mổ vào chỗ trống. Súng không có gắn đạn. Lập lại các động tác đó vài lần rồi họ vất cây súng đó trên bờ ruộng, kéo nhau đi.

Trí nói với tôi: Mình ráng kiếm xem coi có cây Côn nào không. Trí óc thanh niên ai cũng thích sở hữu một súng lục trong tay nhưng chúng tôi lục tìm trong các chiếc xe nhà binh này mà không tìm được cây súng Côn nào cả. Chúng tôi đi trở ra ngoài đường lộ. Một phụ nữ mặc áo trắng đang lui cui nhặt tìm một cái gì đó gần lề đường. Tiến lại gần người phụ nữ này. Bà đang xem từng tấm thẻ Căn cước quân nhân, Thẻ bài kim khí, Thẻ giấy lãnh lương của lính...nằm vương vãi trên đường và các cạnh bờ ruộng. Mắt người phụ nữ này đỏ hoe. Tôi hỏi :
- Dì kiếm gì vậy hả dì?

Nhìn chúng tôi, người phụ nữ trả lời: Chị xem coi có giấy tờ của anh ấy không? Chiến tranh chấm dứt rồi mà không thấy ảnh về. Thì ra chồng người phụ nữ này là một chiến binh Biệt động quân tăng phái chiến đấu trong khu vực Hốc Môn-Thành Ông Năm này trong những này cuối của chiến. Rồi nhìn chúng tôi, người phụ nữ kể :

- Ảnh tên Tia, Nguyễn văn Tia... Các em có thấy tấm thẻ bài hoặc giấy tờ nào tên Nguyễn văn Tia thì đưa cho chị nha. Rồi lầm bẩm: Anh Tia ơi! Anh ở đâu sao không về. Một mình em với các con biết làm cái gì bây giờ đây hả anh? Chúng tôi đi dọc theo các bờ ruông này. Dưới ngay một trụ điện ven đường, một hố cá nhân đã được ai đó lấp vội nhưng vẩn còn thấy các mảnh thân xác của một tử sĩ nằm bên dưới. Chúng tôi vội lùi xa khi luồng gió đồng từ đâu thổi đến làm bốc lên mùi tử thi bị rữa. Nằm không xa, một nấm đất mà ngay phía trên đầu là một cây súng M 16 cắm ngập xuống đất với chiếc mũ sắt lính chụp trên báng súng. Hình ảnh nấm mồ với cây súng này y chang trong một cảnh phim chiến tranh lúc tàn cuộc. Có tiếng người phụ nữ khi nãy gọi chúng tôi. Chúng tôi quay lại. Tôi nhìn khuôn mặt bà. Một phụ nữ miền Nam tuổi khoảng 40. Vẻ nhẫn nại chịu đựng với chút thoáng buồn của người vợ lính làm tôi tự dưng có cảm tình với bà. Bà hỏi chúng tôi :
- Các em có biết lính còn đóng quân ở đâu nữa không? Các em có nghe có thấy nơi nào trong vùng này lính quốc gia vẫn còn chiến đấu chưa ra hàng không? Chỉ cho chị biết đi.

Trí trả lời: Lính hay đóng trong khu rừng Điều lắm... Mà khi đó chứ bây giờ chắc không còn ai nữa đâu dì ơi.

Mắt người phụ nữ sáng lên, nhìn Trí, miệng lắp bắp hỏi dồn: Rừng Điều! Lính đóng ở đó hả? Cách đây bao xa? Làm sao đi vào đó được? Hay là em vào đó tìm anh Tia giúp chị đi. Chị gửi tiền cho em ngay bây giờ. Đi ngay đi em, giúp chị đi mà. Tội nghiệp chị.

Rồi người phụ nữ khóc nhìn chúng tôi. Tôi nhìn thằng Trí dò hỏi. Nó im lặng chốc lát rồi lắc đầu nói:
- Không còn ai trong đó nữa đâu dì ơi ! Cháu biết rõ như vậy với lại muốn đi vào đó phải có xuồng chứ lội bộ sình lầy không được.

Người phụ nữ mắt đỏ hoe vẫn cứ nài nỉ thằng Trí giúp rồi thấy không được bà quay qua nắm tay tôi van nài:
- Giúp chị nha em. Tôi nghiệp chị mà. Chị đâu có biết đường đi vào đó đâu.

Tự nhiên nước mắt bắt đầu rỉ ra từ mắt tôi. Tôi nói với bà:
- Dì ơi! cháu ở Sài gòn mới về đây có ít ngày hà. Cháu cũng không biết chỗ đó đâu. Nếu biết thì... nhưng chưa nói hết câu thì thằng Trí đã kéo tôi đi chỗ khác. Đi một quãng khá xa nó nói:
- Anh đừng nhận lời giúp bả. Làm sao mà đi vào đó được. Gần hai tháng "giải phóng" rồi, không còn lính nào sống ở trong đó hết. Em biết rõ như vậy.

Tôi quay đầu nhìn lại, người phụ nữ tay vẫn vẫy chúng tôi trong tiếng khóc.

Tiếp tục đi dọc theo trên đường. Đằng trước mặt có một chiến xa M 113 nằm sát bên rặng cây Bình bát ngay gần vệ đường. Tôi và Trí tiến lại. Nhìn qua cửa mở toang phía sau, chiến xa này có nguyên cả một cây súng Cối khá lớn còn nằm trong lòng xe. Tôi định trèo vào xe thì mũi ngửi một mùi xác chết. Nhìn kỹ một thi hài lính chiến nằm ngay trên sàn xe sát cạnh chân đế của cây súng Cối. Tiếng ruồi vo ve gần bên. Không có dấu vết đạn nào trên thân xe tăng. Như vậy, người chiến binh miền Nam VNCH này chắc chắn đã tự sát chết.

Bỏ chiếc xe tăng, chúng tôi trèo lên cây cầu nhỏ tiến vào một con rạch thông thương với con kênh chính sát gần mặt đường. Dọc theo con rạch này, những bụi hoa Sim dại tím sẫm đung đưa theo gió chiều. Có cái gì nổi lùm xùm trong các bụi Năng. Chúng tôi tiến lại xem. Một xác người đang trong giai đoạn rữa nát. Kinh quá! Chúng tôi đi tiếp để thấy thêm vài xác chết nổi dập dềnh đây đó. Những người này là thường dân. Chắc chắn như vậy vì họ mặc thường phục. Hầu hết là đàn ông nhưng cũng có xác của phụ nữ nữa. Trí kéo tay tôi chỉ về một cái xác nổi gần bờ hai tay bị trói chặt. Bước chồm sát tới để xem cái xác, chân thằng Trí đạp vào vài viên đất trên bờ làm chúng lăn tòm xuống nước. Nghe động, một đàn cá Rô bơi ra từ dưới bụng của xác người này . Trên lưng áo trắng bỏ vào quần vẫn còn dấu những vết đạn, máu loang lổ. Họ là ai và bị ai giết?

Rồi tôi thấy ở khá xa tuốt trong phía sâu có bóng hai người đang lui cui làm cái gì khuất sau các hàng cây Dứa dại cạnh bờ rạch. Tôi và Trí tiến lại. Một người phụ nữ và một cô gái tuổi thiếu niên đang cúi đầu đọc kinh lâm râm. Một tờ báo trải ngay trên mặt đất với ít bánh ngọt trên đó. Vài cây nhang đang cháy khói nghi ngút cắm gần một dép nhựa loại có dây quai gót phía chân trái. Tôi nhìn xuống con rạch. Xác một người đàn ông áo sọc ca rô nổi phình trên các bụi cây Năn-Lác mà chân phải vẫn còn mang dép. Tôi và Trí đứng yên lặng trong chốc lát rồi quay ra. Gió đồng mang mùi xác chết đến mũi chúng tôi. Một cái mùi đặc biệt không lẫn vào đâu được. Sau lưng tôi bây giờ là tiếng khóc than của hai mẹ con người này. Tôi nhìn cảnh vật chung quanh. Đồng quê buổi chiều thật êm ả. Vài cánh cò trắng bay chập chờn xa xa như trong các câu chuyện, hình ảnh về các cảnh đồng quê yên bình. Nhìn ra phía đường lộ, vài chiếc xe hai bánh, xe đò vẫn bình thản chạy qua. Không ai biết trên đường, người đi tìm tung tích chồng mình và trong con rạch này, người đang khóc than cho số phận của thân nhân mình. Hết chiến tranh mà sao vẫn mầu thê lương tại đây?

Trời đã chiều trên cánh đồng tàn cuộc chiến. Tiếng gió bây giờ thổi mạnh, rít từng cơn qua các cành cây kẽ lá như lời đang than van của các quả phụ miền Nam VNCH bại trận.

Tiếng ai oán hờn căm trong gió
Một tấc quê hương, một tấc người.

Phạm Thắng VũViết để tưởng nhớ ngày 30-4-1975.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Khi Yêu Trái Ấu Cũng Tròn
Ignacy Paderewski là một chính trị gia kiêm nhạc sĩ dương cầm
nổi tiếng của Balan. Ông đã từng là chủ tịch Hội Ðồng Nhà
Nước năm 1919.

Một hôm, ông đến thăm một người bạn. Do sự yêu cầu của
gia đình người bạn, ông đã ngồi vào đàn dương cầm để
biểu diễn một vài bản nhạc do chính ông sáng tác. Tiếng đàn
vang lên trong cả khu phố.

Từ phòng bên cạnh, một người đàn bà đang chăm chú dọn dẹp
và sắp đặt lại trật tự trong nhà. Tiếng đàn du dương của
nhà nhạc sĩ đại tài, thay vì làm vui tai bà, lại làm cho bà khó
chịu. Người đàn bà đã nhắc điện thoại lên yêu cầu người
bạn cho nhạc sĩ Paderewski ngưng chơi đàn, vì bà không chịu nổi
tiếng ồn ào.

Nhưng người bạn của nhà nhạc sĩ mới giải thích: "Thưa
bà, người đang chơi đàn chính là nhạc sĩ Paderewski đại tài
của chúng ta đó".

Vừa nghe nhắc đến tên của nhạc sĩ, người đàn bà láng
giềng khó tính bỗng đổi giọng tức khắc. Những âm thanh
trước kia bà nghe như tiếng ồn ào, nay được bà đón nhận như
những âm thanh tuyệt mỹ. Người đàn bà bèn gọi điện thoại
mời bà con và bạn bè đến thưởng thức những tấu khúc của
Paderewski.



Cũng một âm thanh, nhưng có lúc người đàn bà nghe như những
tiếng ồn ào khó chịu, có lúc lại được bà đón nhận như
khúc nhạc tuyệt mỹ. Ðó cũng là phản ứng thường tình của
chúng ta. Khi chúng ta mang sẵn thành kiến đối với người nào
đó, thì dường như tất cả những gì người đó nói hay làm
đều được chúng ta đón nhận một cách tiêu cực.

Yêu nhau thì trái ấu cùng tròn, mà ghét nhau thì cau bảy cũng bổ
ra làm mười. Thái độ của chúng ta đối với người khác tùy
thuộc ở cái nhìn của chúng ta về người đó. Nếu chúng ta chỉ
nhìn người đó bằng lăng kính của thành kiến có sẵn, thì dĩ
nhiên, chúng ta không thể yêu thích được bất cứ điều gì
người đó nói hay làm.

Thạch Râu Siu Tầm
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »


Image

TÂM TÌNH VỚI NHỮNG NGƯỜI
CHỊ... KHÚC MINH THƠ


Thụy Vi
Người Việt Nam của mình lạ lắm, yêu ai, thương quý ai, cứ để trong lòng, dấu thật kín. Nhận ơn ai, cảm động- có thể rơi nước mắt, nhưng bày tỏ lòng biết ơn thì họ rất ngại ngùng.

Thưa những người chị Khúc Minh Thơ, tôi là một trong những người vợ lính, những người may mắn nhờ các chị tháp cho đôi cánh để vợ chồng con cái chúng tôi đến được xứ xở tự do tràn đầy sửa và mật. Chúng tôi lúc nào cũng canh cánh thầm lặng mang ơn đất nước hết lòng cưu mang tạo cho chúng tôi những cơ hội để mỗi người trong gia đình chúng tôi sống một đời sống tự do, dạy cho chúng tôi hành xử một cách văn minh và ươm vào những trái tim lì mòn của chúng tôi chút lửa thương yêu để chúng tôi biết sống bao dung hơn, biết thêm thế nào là lòng chia sẽ, tánh hy sinh, và, biết mạnh dạn nói lên những lời mình muốn nói. Lời nói muộn màng của một người vợ lính trễ tràng gần hai mươi năm:

"Cảm ơn vô cùng, những người chị Khúc Minh Thơ”

Vâng, giống như lời chị Khúc Minh Thơ đã viết trong một lá thư rất cảm động gần đây. Những người đàn bà Việt Nam chúng ta thường chỉ biết khóc- nước mắt người vợ thương chồng cứ chảy lặng thinh không thôi. Chảy trong lúc người chồng bị lao tù đày ải. Chảy trong lúc người chồng được thả về với gia đình, họ cay đắng bất đắc chí, ngồi nghiến răng một mình trong bóng tối - có lẽ, nếu họ không vì quá thương vợ thương con thì những người lính đã không sống qua được những ngày tháng nặng nề tủi nhục đó, vì có nỗi ê chề tủi nhục nào bằng nỗi ê chề tủi nhục mất nước, vì có nỗi cay đắng nào bằng nỗi cay đắng phải buông súng qui hàng, chị hả? Và những giòng nước mắt cứ tiếp tục chảy trong nỗi âm thầm đau đớn cả khi được đến bến bờ tự do, bởi vì, nhìn lại người chồng sau bao năm bị CS hành hạ thể xác, khủng bố tinh thần, giờ, già yếu, suy kiệt, lẩn thẩn… Ấy thế, người chồng chưa dám hưởng một ngày nhàn nhả, một phần vì tự trọng, một phần vì cái nợ đùm đeo vợ cái con cột mà họ lao đi kiếm sống. Nước mắt người vợ lại tiếp tục rơi khi nhìn thấy người chồng mỏi mòn bươn chảy bơ phờ cố gắng lội trong giòng nước ngược đang cuốn xiết từng giờ.

Thưa những người chị Khúc Minh Thơ. Tôi mơ ước vô cùng, một ngày nào đó nếu có khả năng, tôi sẽ ghi lại những suy tư cảm xúc của người lính bại trận giờ già nua mà lúc nào trong tâm tư của họ cũng đau đáu làm một điều gì đó có ích cho quê hương đang hứng chịu lầm than…có phải vì chưa thực hiện được những ước mơ, mà người chồng thương kính một đời của tôi- tâm tình ông cứ trăn trở không thôi, quẩn quanh như những con kiến bò trên miệng chảo sắp bị đốt nóng, đối với tôi, đôi lúc- chuyện không đâu, sợi tóc ông có thể chẻ ba chẻ tư… cũng vì thương chồng, thông cảm nỗi khổ “ Lực bất tòng tâm” tôi biết làm gì hơn là để mặc những giòng nước mắt rơi trong lặng lẽ.

Mong các chị chân cứng đá mềm cũng như tôi tự thầm mong cho chính mình vậy. Kính qúy.

Thụy Vi
Ngày 1 tháng 10 năm 2008
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Tình bạn giúp chúng ta sống lâu hơn
Với mong muốn có được cuộc sống khỏe mạnh, nhiều người không ngần ngại đến gặp bác sĩ, đọc sách bí kíp sống lâu hay chi tiền cho những món dược thảo quý hiếm. Nhưng họ lại xem thường một thứ vũ khí lợi hại có thể giúp họ chiến đấu với bệnh tật và suy nhược, phục hồi nhanh chóng sau đau ốm, làm chậm quá trình lão hóa và kéo dài tuổi thọ: Những người bạn của chính họ!

Hiện tại các nhà nghiên cứu mới chỉ bắt đầu quan tâm tới tầm quan trọng của tình bạn cũng như các mối quan hệ xã hội đối với sức khỏe nói chung. Một nghiên cứu được tiến hành trong 10 năm tại Australia đã chỉ ra rằng những người già có nhiều bạn bè xung quanh sẽ giảm được 22% nguy cơ tử vong so với những người ít bạn. Một nghiên cứu lớn năm 2007 cho thấy những người có nhiều bạn bè tăng cân sẽ có nguy cơ bị béo phì cao hơn 60% so với thông thường. Và năm ngoái, nhóm nghiên cứu của trường Đại học Havard đã báo cáo rằng quan hệ xã hội tích cực sẽ tăng cường sức khỏe trí não khi chúng ta đương đầu với tuổi già.

“Nhìn chung, vai trò của tình bạn trong đời sống chưa thực sự được đánh giá cao,” Rebecca G. Adams, giảng viên ngành xã hội học tại Đại học Greensboro, Bắc Corolina, cho biết. “Người ta quan tâm rất nhiều tới gia đình và hôn nhân, nhưng chẳng mấy quan tâm nghiên cứu về tình bạn. Điều này khiến tôi khó hiểu. Thực tế, tình bạn có tác dụng tới sức khỏe tinh thần nhiều hơn các mối quan hệ gia đình.”

Trong cuốn sách mới có tiêu đề “Những cô gái đến từ Ames: Câu chuyện về những người phụ nữ và tình bạn 40 năm” (nhà xuất bản Gotham), Jeffrey Zaslow kể chuyện về 11 người bạn thời niên thiếu cùng sống ở Iowa và sau này chuyển tới 8 bang khác nhau. Nhưng bất kể xa cách, tình bạn của họ vẫn bền chặt qua thời đại học, qua hôn nhân, ly dị và nhiều khủng hoảng khác, kể cả cái chết ở tuổi 20 của một người trong nhóm.

Với việc sử dụng những cuốn vở rời, những album ảnh và hồi ức của chính các thành viên, Zaslow đã ghi lại tình bạn bền chặt làm nên cuộc sống của họ như thế nào và tiếp tục duy trì cuộc sống ấy ra sao. Vai trò của tình bạn đối với sức khỏe và thể trạng của họ đã được chứng minh qua từng chương sách.

Hai trong số những người bạn vừa phát hiện ra họ bị ung thư vú. Kelly Zwagerman, hiện là một giáo viên trung học ở Northfield, Minn., kể rằng khi bà nhận được chẩn đoán tháng 9 năm 2007, bác sĩ đã khuyên bà nên vui vầy cùng những người thân yêu. Và bà đã tìm đến những người bạn từ thời niên thiếu, dẫu họ sống cách xa bà.

“Người đầu tiên tôi kể cho nghe là những người bạn cùng đến từ Ames xưa kia,” bà nói trong một lần phỏng vấn. “Tôi gửi email cho họ. Và ngay lập tức, tôi nhận được những email, cuộc gọi và tin nhắn động viên. Ngay tức khắc, tôi đã nhận được những tình cảm dạt dào từ mỗi người trong nhóm.”

Khi bà than thở rằng việc điều trị làm họng bị đau, một người bạn xứ Ames gửi cho bà một chiếc máy làm bánh cùng sách hướng dẫn cách làm. Một người khác, dù con gái đã mất vì bệnh bạch cầu, gửi cho bà một chiếc mũ đan tay vì biết rằng đầu bà sẽ rất lạnh khi không có tóc che phủ; và thêm một người nữa gửi tới một bộ pajama làm từ chất liệu đặc biệt chống mồ hôi đêm.

Zwagerman nói bà thường cảm thấy thoải mái tâm sự về bệnh tình của mình với những người bạn hơn là với bác sĩ. “Chúng tôi nói chuyện lan man tới bất kì chủ đề nào trên thế giới này,” bà nói.

Zwagerman cho rằng những người bạn từ Ames là một yếu tố vô cùng quan trọng trong quá trình điều trị và phục hồi của bà, các nghiên cứu đã chứng minh rằng lời bà đúng. Năm 2006, một nghiên cứu được tiến hành trên gần 3000 y tá điều trị ung thư vú đã chỉ ra rằng những phụ nữ ko có bạn bè thân thiết có nguy cơ tử vong cao gấp 4 lần so với những phụ nữ có từ 10 người bạn trở lên. Và đáng chú ý là, việc những người bạn có mặt bên cạnh hay số lần liên lạc không liên quan tới việc kéo dài tuổi thọ. Bệnh nhân chỉ cần có bạn, đơn giản là vậy.

Bella DePaulo, một giảng viên tâm lý tại trường California, Santa Barbara, người chuyên nghiên cứu về những người độc thân với tình bạn, chỉ ra rằng trong rất nhiều trường hợp, tình bạn thậm chí có ảnh hưởng tốt tới sức khỏe hơn cả một người chồng/ vợ hay các thành viên trong gia đình. Trong nghiên cứu về ung thư vú với sự tham gia của các y tá nói trên, việc có một người chồng/ vợ không ảnh hưởng gì tới khả năng sống sót.

Rất nhiền nghiên cứu về tình bạn tập trung vào mối quan hệ sâu sắc giữa những người bạn gái, trong khi đó, một vài nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nam giới cũng có lợi từ những tình bạn. Trong một nghiên cứu kéo dài 6 năm tiến hành trên 736 người đàn ông Thụy Sĩ tuổi trung niên, việc có một người bạn đời không làm thay đổi nguy cơ đau tim và động mạch vành, nhưng việc có những người bạn chắc chắn lại có ảnh hưởng. Hút thuốc lá và thiếu các mối quan hệ xã hội là 2 yếu tố nguy hiểm hàng đầu.

Thực sự vẫn chưa có câu trả lời rõ ràng để giải thích tại sao tinh bạn lại có những ảnh hưởng to lớn đến vậy. Tất nhiên những người bạn có thể làm các việc lặt vặt và mua thuốc giúp người ốm, nhưng ý nghĩa của những người bạn vượt xa ra khỏi sự trợ giúp vật chất; trên thực tế, việc có mặt bên người ốm không thực sự là một yếu tố hỗ trợ.

Cũng có lẽ những người có nhiều mối quan hệ bạn bè sẽ tiếp cận tốt hơn với việc chăm sóc và các dịch vụ sức khỏe. Nhưng hơn thế, tình bạn rõ ràng còn có ý nghĩa to lớn về mặt tâm lý. Người có tình bạn đẹp sẽ ít có nguy cơ bị cảm lạnh, có lẽ vì họ ít bị stress hơn.

Năm ngoái, người ta đã tiến hành một thí nghiệm với 34 sinh viên của trường Đại học Virginia bằng cách đưa họ tới chân một quả đồi dốc và đeo trên lưng họ những ba lô nặng. Họ được yêu cầu ước lượng độ dốc của quả đồi. Một vài sinh viên đứng cạnh bạn mình trong suốt thí nghiệm, những người khác được bố trí đứng một mình.

Những sinh viên đứng cùng bạn đã đưa ra mức dự đoán thấp hơn về độ dốc của quả đồi. Và những người bạn bên cạnh càng thân thiết bao nhiêu, thì người sinh viên càng ước chừng quả đồi ít dốc bấy nhiêu.

“Những người có bạn bè cảm thấy họ có ai đó để hướng tới và trông cậy”, Karen A. Roberto, giám đốc một trung tâm lão khoa tại Virginia phát biểu. “Tình bạn là một tài nguyên bị đánh giá thấp. Và thông điệp mạnh mẽ của tất cả những nghiên cứu này là: những người bạn giúp cuộc sống của bạn tốt đẹp hơn."

G2V Star (Theo The New York Times)
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Đọc sử để nhìn nhận hôm nay


" Tuần vừa rồi có dịp mượn lại "Bên Dòng Lịch Sử" từ người bạn lớn tuổi để tra cứu một số chi tiết cần cho công việc nghiên cứu cá nhân, tôi xem lại tập sử liệu một cách say mê, bởi lẽ lần đọc này mang đến cho tôi tâm trạng khác trước, gần như là khám phá mới lạ. Quả thật Linh mục Cao Văn Luận có nhiều cơ hội tiếp xúc và đối thoại với các nhân vật lịch sử khác nhau của Việt Nam ở hai bên chiến tuyến trong giai đoạn từ 1940 đến 1965, nhờ vậy thiên hồi ký của ông đã dẫn dắt người đọc đi qua các biến cố lịch sử trọng đại của đất nước một cách sinh động và lôi cuốn."

Từ khi bắt đầu vào đại học lúc 17 tuổi đến nay, tôi vẫn giữ thói quen đều đặn hàng năm dành khoảng hơn một tháng đọc sách vở và tài liệu viết về đề tài Việt Nam, quá khứ cũng như hiện tại, chủ yếu nhằm giúp trao dồi vốn kiến thức hạn hẹp của tôi về lịch sử nước nhà.


Tây Nguyên là vùng đất quan trọng chiến lược của Việt Nam

Tôi thường chọn thời gian làm công việc nhẹ nhàng, nhưng đầy hào hứng này vào độ trung tuần tháng 3 đến cuối tháng 4 mỗi năm. Đó cũng là khoảng thời gian của một năm thường gợi nhớ trong tôi nhiều biến cố vui buồn lẫn lộn, vừa hào hùng nhưng cũng vừa bi thương, của dân tộc.

'Vai trò Tây Nguyên'

Năm nay, trong số những sách vở và tài liệu tôi đọc có một quyển sách đặc biệt mà năm 18 tuổi tôi đã có dịp xem qua, đó là tập hồi ký "Bên dòng Lịch Sử, 1940-1965" của Linh mục Cao Văn Luận, nguyên Viện trưởng Đại học Huế và Giáo sư Đại học Văn khoa Sài Gòn. Hơn 20 năm trước tôi đọc quyển sách mang tính chất sử liệu này chủ yếu với ý định tìm hiểu các diễn biến lịch sử, mà vì nhiều lý do khác nhau thầy cô "dạy sử" của tôi ở trường trung học và cả những nhà "nghiên cứu" sử học sau 1975 tránh đề cập đến hoặc cố tình diễn giải sai lệch.

Tuần vừa rồi có dịp mượn lại "Bên Dòng Lịch Sử" từ người bạn lớn tuổi để tra cứu một số chi tiết cần cho công việc nghiên cứu cá nhân, tôi xem lại tập sử liệu một cách say mê, bởi lẽ lần đọc này mang đến cho tôi tâm trạng khác trước, gần như là khám phá mới lạ. Quả thật Linh mục Cao Văn Luận có nhiều cơ hội tiếp xúc và đối thoại với các nhân vật lịch sử khác nhau của Việt Nam ở hai bên chiến tuyến trong giai đoạn từ 1940 đến 1965, nhờ vậy thiên hồi ký của ông đã dẫn dắt người đọc đi qua các biến cố lịch sử trọng đại của đất nước một cách sinh động và lôi cuốn.

Trong phần kể về cuộc gặp gỡ và trò chuyện lần đầu tiên với cố Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm vào nửa đầu năm 1948 tại Đà Lạt, mà Linh mục Cao Văn Luận gọi là "câu chuyện bên lò sưởi năm 1948" (xem từ trang 165 đến 171 của bản in năm 1972), ông có nhắc đến một chi tiết lý thú trong nội dung câu chuyện mà tôi nghĩ ít nhiều liên quan đến một sự việc nghiêm trọng gần đây ở nước ta.

Khi được Linh mục Cao Văn Luận hỏi về chính sách của mình đối với Pháp trong cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất (1946-1954), ông Ngô Đình Diệm lúc ấy là nhà cách mạng khả kính tại Việt Nam, đã đề cập đến vấn đề Tây Nguyên như sau: "... ít người để ý là người Pháp lập ra Hoàng Triều Cương Thổ, để biến tất cả vùng cao nguyên Trung và Nam Phần thành đất thuộc địa trực tiếp của Pháp." Linh mục Cao Văn Luận không khỏi ngạc nhiên vì Cụ Ngô Đình Diệm dường như xem Tây nguyên là chuyện hệ trọng đối với chủ quyền quốc gia, mà khi ấy dù chưa cầm quyền ông vẫn trăn trở về vận mệnh đất nước trước ý đồ của thực dân Pháp.

Linh mục Cao Văn Luận tường thuật tiếp:

"Ông Diệm trầm ngâm một lúc. Tôi vẫn im lặng. Những lời ông nói ra nửa như suy tư, nửa như phân trần với tôi:

- Vùng Cao Nguyên này có một tầm quan trọng lớn về chiến lược và kinh tế. Về chiến lược, nó nằm ở giữa ba quốc gia Việt Miên Lào. Ai chiếm giữ được Cao Nguyên này có thể gây áp lực được đối với cả ba quốc gia đó. Người Pháp gọi vùng Cao Nguyên là Hoàng Triều Cương Thổ chỉ là một lối trá hình trên thực tế, chủ tâm của họ là biến vùng này thành thuộc địa Pháp. Về mặt kinh tế, thì vùng Cao Nguyên hết sức quan trọng đối với Việt Nam trong tương lai. Ở đó chắc chắn có nhiều tài nguyên thiên nhiên, nhiều khoáng sản chưa được khám phá và khai thác, nhưng chúng ta cần phải bảo vệ cho Việt Nam. Rồi còn vấn đề thể diện quốc gia, chủ quyền quốc gia nữa. Không thể bỗng dưng nhường cho Pháp một vùng đất quan trọng như thế, nằm ngay giữa lãnh thổ quốc gia, người Việt Nam nào muốn lên lại phải xin thông hành!

Ở đó chắc chắn có nhiều tài nguyên thiên nhiên, nhiều khoáng sản chưa được khám phá và khai thác, nhưng chúng ta cần phải bảo vệ cho Việt Nam.

Ngô Đình Diệm, theo lời kể của LM Cao Văn Luận

Tôi (tức là Linh mục Cao Văn Luận) chợt nhớ đến một cuốn sách khảo luận về địa dư Đông Pháp (tức là Đông Dương thuộc Pháp), không nhớ rõ tác giả, và tôi đem những ý kiến được nêu lên trong tập sách này trình bày lại với cụ Diệm:

- Cụ nói đúng. Tôi có đọc một cuốn sách viết đại ý rằng Pháp muốn ngăn chặn sức bành trướng của dân tộc Việt Nam về phía tây, muốn để dân tộc Việt Nam dừng lại ở các miền duyên hải, còn Pháp thì phải giữ vững vùng Cao Nguyên Trường Sơn, vừa để ngăn chặn sức bành trướng của dân tộc Việt Nam, vừa canh phòng phía Lào. Như vậy khi lập Hoàng Triều Cương Thổ, đặt trực thuộc Pháp, thì Pháp đã bắt đầu thi hành đúng cái chính sách đó rồi."

Tiếp theo, tại trang 194 và 195, Linh mục Cao Văn Luận kể rằng vào năm 1953 khi ông gặp cụ Ngô Đình Diệm lần thứ hai ở Paris, cụ Diệm một lần nữa nhắc lại vấn đề Hoàng Triều Cương Thổ với nhiều ưu tư và lo lắng hơn, khiến mọi người có mặt lúc ấy đều tỏ ý trách cứ cựu hoàng Bảo Đại mải mê ăn chơi mà không lưu tâm đến bảo vệ chủ quyền quốc gia, đã vậy còn trao hết cho người Pháp toàn quyền khai thác Tây nguyên.

Sử học trung thực

Đọc sử giúp người đời nay có được cơ hội "ôn cố tri tân", học hỏi điều hay lẽ phải của đời trước để làm điều hữu ích cho dân tộc.

Lê Công Định

Đọc xong những đoạn đối thoại quan trọng này trong "Bên Dòng Lịch Sử", tôi hạ quyển sách xuống với tâm trạng bàng hoàng. Chuyện của hơn 60 năm trước đây thật chẳng khác lắm so với vấn nạn của ngày hôm nay. Có điều những nhân vật lịch sử ngày ấy, như cụ Ngô Đình Diệm chẳng hạn, xem chừng rất quan tâm đến lợi ích, chủ quyền và thể diện của quốc gia. Họ trăn trở về điều này và xem Tây Nguyên thực sự là vấn đề ưu tiên trong chính sách của các chính quyền miền Nam thời bấy giờ, nhất là giữa bối cảnh có nhiều kẻ mang dã tâm xâm lược Việt Nam dù công khai hay ẩn ý.

Thật đáng trân trọng biết bao cách viết sử trung thực, tất nhiên theo nhãn quan và hiểu biết tối đa của tác giả, trong đó lối diễn đạt và sử dụng ngôn ngữ chừng mực, thể hiện sự tôn trọng dành cho mọi nhân vật của một thời đã qua, đặc biệt với cả những người không cùng chính kiến với mình. Chính vì vậy, đọc các công trình khảo cứu của giới học giả ở miền Nam trước đây, nhất là trong lĩnh vực sử học mà tôi yêu thích, kẻ hậu sinh ở lứa tuổi tôi thường cảm thấy an tâm và có thể đặt phần lớn niềm tin vào những thông tin và kiến thức mà mình tiếp nhận. Bởi lẽ ít ra các tác giả đó không có gì phải lo sợ khi muốn viết sự thật và trình bày nhận định thật của mình.

Cái hay của sử học trung thực là giúp người đời sau hiểu được các diễn biến lịch sử trong quá khứ, bác bỏ lối đánh giá sai lệch với dụng ý bôi nhọ những nhân vật lịch sử ở bên kia chiến tuyến. Song điều quan trọng hơn cả, đọc sử giúp người đời nay có được cơ hội "ôn cố tri tân", học hỏi điều hay lẽ phải của đời trước để làm điều hữu ích cho dân tộc hầu lưu tiếng thơm muôn đời.

Tất nhiên, không chỉ có gương tốt, lịch sử còn đặc biệt răn dạy người đời sau bằng cả gương xấu. Trong lần đọc lại sử sách nước nhà năm nay, không hiểu vì sao tôi lại quan tâm nhiều đến các nhân vật "thân bại danh liệt" như Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống và Hoàng Cao Khải, rồi tự hỏi không biết 30 năm nữa, nếu còn sống, tôi sẽ biết thêm những cái tên nào tương tự như vậy trong lịch sử hiện đại của dân tộc. Bất giác tôi cầu mong điều đó đừng xảy ra...

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2 ... dinh.shtml
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Nhật kí cuộc chiến giành độc lập lần thứ 3
Tác giả: Đoàn Hưng Quốc




Chuỗi sự kiện dưới đây chỉ là giả tưởng; nhưng dựa trên các biến cố lịch sử thời hiện đại thôi cũng có thể nhận ra có khi điều tưởng như không thật mà đã hiện thực! Hồng Quân xâm lấn A-Phú-Hãn vào năm 1979 để dựng nên một nhà nước thân Nga Xô; không ngờ quân đội bị sa lầy dẫn đến sự sụp đổ của toàn khối Xô Viết 22 năm sau đó.

Tương quan giữa hai đảng cộng sản Việt-Hoa là môi hở răng lạnh (cho dù răng có cắn môi đau!). Bắc Kinh phải bảo vệ nhà cầm quyền Hà Nội vì quyền lợi và sự sống còn của chính mình. Chỉ một bước tính sai lầm tại Việt Nam có thể dẫn đến hậu quả không lường cho đảng cộng sản Trung Quốc

Ngày N-5: những cuộc biểu tình bùng nổ tại Huế, Sài Gòn, Hà Nội và ngày càng được đông đảo thanh niên sinh viên và đồng bào tham dự để phản đối việc Trung Quốc đem dân công sang định cư và khai thác mỏ bô xít vùng Tây Nguyên, và thái độ hèn nhát của nhà cầm quyền Hà Nội không dám phản đối khi Bắc Kinh cho tàu chiến và tàu đánh cá tiến vào lãnh hải xung quanh hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Ngày N-2: công an nổ súng vào đoàn người biểu tình, đe doạ và ngăn chận không cho phong trào chống đối lan tràn ra các tỉnh thành. Hàng trăm sinh viên học sinh thiệt mạng, hàng ngàn người bị bắt mang vào các trại tập trung.

Ngày N: Quân Đội Nhân Dân bất ngờ thực hiện một cuộc đảo chánh lật độ nhà cầm quyền Hà Nội; ban hành lệnh thiết quân luật, thành hình một chính quyền quân sự lâm thời với mục tiêu tổ chức một cuộc tổng tuyển cử tự do, đa đảng trong vòng 6 tháng.

Ngày N+3: đảng cộng sản Trung Quốc hốt hoảng vì sợ làn sóng chống chính quyền lan tràn từ vùng biên giới phía Nam. Bộ Ngoại Giao Bắc Kinh lên tiếng cảnh cáo và đòi hỏi “tái lập trật tự tại Việt Nam”, và kêu gọi quốc tế chỉ công nhận “chính quyền dân cử và hợp pháp” (vừa bị lật đổ)

Ngày N+7: Bắc Kinh bất ngờ tung quân đội vào Việt Nam với mục tiêu “giúp chính quyền Việt Nam tái lập trật tự”. Hơn 500 ngàn quân tràn qua biên giới phương Bắc; hạm đội Nam Hải và thuỷ quân lục chiến tấn công chiếm đóng các cảng Vủng Tàu, Cam Ranh và Hải Phòng; 5 ngàn dân công các mỏ bô xít lập lô cốt ngăn chận lưu thông trên Quốc Lộ 1.

Ngày N+15: Hà Nội thất thủ; lính Trung Quốc tiến đến vòng đai của hai thành phố Nha Trang và Sài Gòn.

Ngày N+16: bộ ba Mạnh-Triết-Dũng lên đài truyên hình tuyên bố lực lượng cách mạng phản động đã bị dẹp tan. Nhà cầm quyền xã hội chủ nghĩa được tái lập và hứa hẹn sẽ tiếp tục chính sách ngoại giao thắm thiết với Bắc Kinh. Trong khi đó, hơn 2 triệu quân Trung Quốc đổ tràn từ Bắc xuống Nam.

Ngày N+17: chính phủ kháng chiến được thành hình từ rặng Trường Sơn kêu gọi toàn dân khởi nghĩa chống Trung Quốc lần thứ 3; kêu gọi các nước yêu chuộng tự do dân chủ yểm trợ cuộc đấu tranh của dân tộc. Hoa Kỳ, Nhật Bản, Âu Châu, Ấn Độ và cac nước Đông-Nam-Á (ngoại trừ Miến Điện) tuyên bố công nhận chính quyền lưu vong và sẵn sàng tiếp trợ cho cuộc chiến đấu chính nghĩa của dân tộc Việt Nam.

Ngày N+1218: Trung Quốc bị cô lập về chính trị; quân đội hao mòn vì không tiêu diệt được nghĩa quân; kinh tế suy sụp vì các chi phí quốc phòng chông chất. Bắc Kinh quyết định rút quân; bộ ba Mạnh-Triết-Dũng và gia đình được chở sang Thượng Hải sống lưu vong.

…

Ngày N+1219: sau hơn 3 năm kháng chiến và 4 trăm ngàn dân quân thiệt mạng, nước Việt giành lại độc lập tự do. Chính phủ kháng chiến tiến về Hà Nội, tuyên bố thành hình nhà nước Đại Đoàn Kết kết hợp toàn dân trong và ngoài nước, sẳng sàng hợp tác với mọi quốc gia (kể cả Trung Quốc) trên căn bản phát triễn hoà bình, thịnh vượng và tôn trọng các quyền lợi lẫn nhau.

Ngày N+X: cuộc cách mạng nhung xảy ra tại Trung Quốc là hậu quả của nhà cầm quyền cộng sản suy yếu từ khi rút quân khỏi Việt Nam, và dẫn đến sự thành hình của một thể chế dân chủ và đa đảng.

Đoàn Hưng Quốc
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Tháng Tư, nghĩ đến những người đã chết (Huy Phương)

Huy Phương

Ta nợ những người chết sông chết biển
Nợ những người ở lại để ta đi.

Sau ngày 30 Tháng Tư 1975, cả miền Nam vấn khăn tang. Trên bàn thờ của mỗi gia đình, ngoài ông bà, cha mẹ chết vì tuổi già, đã có những khuôn mặt trẻ, những người mặc quân phục chết trận hay bà con mất tích trong những ngày di tản hỗn loạn, trên tất cả bờ biển của miền Trung, không những trên tỉnh lộ 7B từ Phú Bổn về đến Ninh Hòa mà còn trên tất cả mọi nẻo đường của đất nước. Tất cả người chết đều là những người miền Nam đang cầm súng chống lại Cộng Sản hay tháo chạy hỗn loạn vì nghe tin Cộng Sản sắp đến. Phần lớn những người chết đều bị chết vùi dập với cỏ cây, đất đá, trong bom đạn không ai còn lo được cho ai.

Không những chúng ta chỉ có những vị tướng đã tự sát để giữ tròn khí tiết, mà còn có hàng nghìn chiến sĩ vô danh chết trong giờ phút tàn cuộc vì không chịu nỗi nhục đầu hàng với lựu đạn nổ trong tay hay viên đạn bắn vào đầu, trong bước đường cùng. Chúng ta có biết hay còn nhớ đến những người như thế không?

Bây giờ đã 34 năm rồi, chúng ta còn phải đọc những bản tin tìm người thân mất tích trong những ngày cuối Tháng Tư năm đó. Họ nằm lại trên bãi biển, bên cánh rừng, trên một con đường đất đỏ, thân thể như vươn chuồi về phía trước, bỏ lại nỗi ghê sợ đuổi sát đến sau lưng, nỗi ghê sợ cái ác, cái tàn bạo mà chỉ mới nghe đến người ta đã rùng mình bỏ chạy. Cái ác đó là những chuyện đấu tố ở nông thôn, những vụ chôn tập thể của Mậu Thân, của những lối bắn giết tàn bạo trong những vùng tranh tối tranh sáng mang tên Việt Cộng. Cái ác đó là nỗi ám ảnh từ những năm của 45-50, với những tiếng chó sủa trong đêm, để buổi sáng thấy xác người trôi sông hay những người bị giết đêm qua, đang được đắp tạm một mảnh chiếu trên đường làng, giữa chợ huyện, mang tên Việt Minh.

Cái ác đó là chủ trương bất di dịch, người ta dùng để khủng bố và tạo ra cường quyền, để trấn áp những người bất đồng chính kiến. Cái ác đó kéo dài cho đến thời kỳ gọi là văn minh, hiện đại. Khi miền Nam sụp đổ và Saigon đầu hàng, không như chủ trương kêu gọi hòa hợp hòa giải qua thông báo của cái gọi là Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam và sau đó là của các Ủy Ban Quân Quản địa phương, binh lính và sĩ quan “ngụy” được về quê làm ăn, Cộng Sản bắt đầu một chiến dịch trả thù tàn độc. Tránh né một chiến dịch “tắm máu” to lớn, Cộng Sản tìm cách trả thù bằng cách giết lẻ.

Tại Ðại An, Biên Hòa, ba toán thám sát của Biệt Kích Dù 81, sau khi buông súng đầu hàng ngày 5 Tháng Năm 1975 tại địa phương, mười tám anh em bị Việt Cộng bắt giam, bỏ đói, sau đó bị bắn chết rồi thả trôi sông. Những xác của anh em sau đó bị sình thối nên Việt Cộng bắt dân vớt lên chôn dọc theo bờ sông Ðồng Nai, còn 8 xác anh em khác đã bị chôn tập thể trong một cái giếng bỏ hoang. Hai thám sát khác cũng đã bị đánh chết sau khi đã vào nhà tù. Người dân địa phương đã chứng kiến nhưng không dám nói ra, và không ai dám xây mộ hay đặt bia kỷ niệm, chỉ còn một điều: chế độ Cộng Sản sụp đổ trước khi các nhân chứng qua đời. Tại Quảng Ngãi, nhiều đảng viên một đảng chính trị đã bị bắt, thay vì đưa đi “tập trung cải tạo” như chiêu bài, họ bị đưa về phía biển và bị chôn sống. Nhiều thân nhân theo dõi, đã đánh dấu vùng chôn người này, nhưng nếu họ tiết lộ, vùng đất này sẽ bị san bằng và con cháu những nạn nhân sẽ không bao giờ tìm được nắm xương của những người đã khuất, nên đành nín lặng. Nhiều nhân viên cảnh sát đặc biệt hay viên chức địa phương, người nhà biết ngày giờ đi trình diện “học tập”, nhưng không bao giờ có tin tức để thăm nuôi, và cố nhiên là không bao giờ có ngày về. Ðó là chủ trương “đánh người chạy đi, nhưng phải giết người chạy lại”.

Ðối với những người chống đối sau ngày 30 Tháng Tư 1975, Cộng Sản thẳng tay đàn áp dùng án tử hình để đè bẹp ý chí của những người tranh đấu. Hội Tù Nhân Chính Trị & Tôn Giáo Việt Nam đang có danh sách 300 tù nhân miền Nam bị án tử hình, trong đó những tên tuổi chúng ta không thể quên như các L.M. Nguyễn Hữu Nghị, Trần Học Hiệu hay như hai phụ nữ là chị Trương Ánh Loan chiến sĩ Phục Quốc bị xử tử tại hãng thuốc Bastos Khánh Hội Tháng Năm 1975, chị Trần Thị Lan bị xử tử hình trong lúc có thai tháng đúng vào ngày Vu Lan! Cựu Thiếu Tá Nhảy Dù Nguyễn Văn Viên, đã anh dũng bước tới pháp trường, người anh là L.M. Nguyễn Văn Vàng bị kết án chung thân và chết trong xà lim của trại tù “thung lũng tử thần” Xuân Phước. Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Trung Tá Võ Vàng, Thiếu Tá Nguyễn Ðức Xích, Ðại Úy Quách Dược Thanh... đều là nạn nhân của chính sách trả thù man rợ của Cộng Sản. Chúng ta không thể kể hết những tên tuổi quá lớn này.

Chúng ta có biết bao người yêu nước đã chết trong những trại tập trung mang danh “cải tạo” của Cộng Sản dựng lên cả ở hai miền Nam Bắc vì đói rét, bệnh tật, kiệt sức, mà hiện nay nhiều anh em, nắm xương tàn còn lưu lạc trong những vùng rừng núi xa xôi, chưa về được với gia đình.

Vì không thể sống với chế độ Cộng Sản, hàng trăm nghìn người đã tìm cách vượt biển, vượt biên giới để ra đi, nhưng hai phần ba đã không bao giờ đến được bến bờ tự do. Trong mỗi gia đình chúng ta, gia đình nào lại không có bà con ruột thịt xa gần bị vùi thây trên biển cả hay giữa núi rừng. Nhiều gia đình đã chết trọn cha mẹ, con cái, anh em trên một chiếc thuyền mỏng manh giữa biển khơi. Có gia đình mất hết con. Người mất anh, kẻ mất chị. Có tìm hiểu chuyện trò dần dần chúng ta mới thấy những mất mát, những niềm đau bị giấu kín, ít khi muốn phơi bày. Cuộc sống xô đẩy mọi gia đình cuốn trôi theo dòng đời, tang tóc thường được giấu kín sau những nụ cười từ hơn ba mươi năm nay, từ ngày miền Nam được gọi là “giải phóng”: chỉ có “đế quốc Mỹ là thua, còn chúng ta không kể Nam hay Bắc đều là anh em, những người thắng trận” như giọng nói nhân nghĩa của kẻ thống trị. Cái ác đã thắng và điều thiện đã thua, nhưng đời đời lịch sử sẽ không ngưng nguyền rủa.

Quả thật, sau khi Cộng Sản tiến chiếm miền Nam không có việc “tắm máu”, những quả thật người miền Nam đã chết dần chết mòn trong sự trả thù tinh vi từ trại tập trung đến việc xô đẩy hằng trăm nghìn người ra biển khơi. Chúng ta chưa hề có được một con số thống kê về những người đã chết vì chế độ Cộng Sản. Tượng đài kỷ niệm nạn nhân Cộng Sản có thể đã được dựng lên ở một nơi nào đó trên trái đất, nhưng trong mỗi gia đình người Việt đều đã có một tượng đài. Chẳng qua rồi con người chóng quên, để những hình ảnh này phai nhạt cùng năm tháng, như những chiếc khung ảnh người quá cố phủ bụi thời gian trên bàn thờ của mỗi gia đình.

Ba mươi bốn năm đã trôi qua, những người già lưu lạc đã chết đi mang niềm tuyệt vọng chưa có một ngày về cố hương, những đứa trẻ lớn lên gần như không biết gì đến dĩ vãng. Những người đã chết sẽ không chết uổng, khi những người còn sống có cuộc đời đáng sống. Chúng ta không những nợ những người đã chết mà còn nợ những người đang sống, đó là những thương binh miền Nam thương tật ở quê nhà, những gia đình mất cha, mất chồng, mất anh em trong cuộc chiến để cho chúng ta có được ngày hôm nay.

Mong anh em, bạn bè, sống khôn thác thiêng, phù hộ độ trì cho đất nước qua cơn đại nạn.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »


Image

Tâm Thư Của Heo Gởi Cho Người

Nguyễn Thượng Chánh
La Gloria, Swine flu’s ground zero Mexico ngày 6 tháng 5 năm 2009.

Kính thưa quý vị,

Thế thì quý vị đã quyết định rút bỏ chữ Heo, chữ Swine, chữ Porcine ra khỏi tên bệnh cúm heo của chúng tôi.

Bệnh cúm đã làm xáo trộn cả thế giới loài người từ mấy tuần vừa qua. Quý vị không còn gọi cúm heo, grippe porcine, swine flu nữa mà nay chỉ còn vỏn vẹn có một mã số 2009 H1N1 flu.

Lý do mà quý vị đưa ra là trong biến cố nầy các nhà khoa học chỉ tìm thấy virus H1N1 ở người chớ chưa phân lập ra được virus từ heo. Theo bọn heo ngu xuẩn như chúng tôi thì thật sự ra đây là một quyết định có tánh cách chánh trị và kinh tế nặc mùi $$$.

http://www.fda.gov/oc/opacom/hottopics/H1N1Flu/

By Rita Rubin, USA TODAY

It's not exactly like making a silk purse out of a pig's ear, but U.S. public health officials have dropped the term "swine flu" in favor of "2009 H1N1 flu."

In comments Wednesday, President Obama and U.S. health officials referred to the new strain as "H1N1 flu." Concerned that the term "swine flu" is hurting pork sales, U.S. Agricultural Secretary Tom Vilsack and trade officials have also switched to "H1N1

Cám ơn quý vị đã có lòng nghĩ đến bọn heo chúng tôi và không muốn một con virus vô danh tiểu tốt làm hoen ố thêm thanh danh họ nhà heo chúng tôi nữa.

Chúng tôi xin hỏi quý vị, vậy từ hồi nào quý vị mới thật tình bắt đầu quan tâm đến thanh danh của loài heo?

Loài người của quý vị thường xuyên chà đạp danh dự, khinh rẻ, coi thường loài heo chúng tôi từ hồi nào tới giờ mà có ai phản đối gì đâu. Nào ăn ở dơ bẩn thúi tha như heo, mập ú như heo, đàn ông lớn tuổi mà ham thích gái đẹp thì bị mấy bà ghen tức rủa là đồ vieux cochon, còn đàn bà lăng loàn một tí, hơi chịu chơi, hơi ngựa thì cũng bị thiên hạ chửi là đồ cochonne. Đối với người hơi cứng đầu thì Tây cũng phán là tête de cochon. Mấy bà sau khi đẻ đái nhiều lần lỡ thân hình có xồ xề ra một chút mất bớt phần thẩm mỹ thị bị gọi là nái xề.

Bọn heo chúng tôi bị quý vị nhốt trong chuồng, tối ngày chỉ có ăn, rồi ỉa, rồi nằm, rồi ngủ, rồi ăn nhưng cũng không thể được yên thân. Quý vị dùng chữ heo như một thứ vũ khí để hạ người khác và quyền rủa họ là làm biếng như heo. Còn cái vụ có người ham vui xem phim heo xxx cho nóng máy, sau đó thì múa lân cũng không yên với đời. Lỡ bị bắt gặp tại trận thì bị người ta cười và chế ngạo mình là làm chuyện con heo tồi phong bại tục. Tại sao vậy? Có ai mà không làm đâu? Không làm chuyện con heo thì làm sao dân số thế giới có được đến 7 tỉ người như ngày hôm nay?

Tóm lại heo chúng tôi là đồ dơ bẩn, hôi hám thúi tha, ăn hại, làm biếng, cứng đầu, dâm dật, mập ú v,v... toàn là thứ dữ không hà, khó mà có cơ hội ngoi mặt lên được với đời mặc dù bản tánh chúng tôi rất ôn hòa hiền hậu.

Còn con người thì sao? Có hơn loài heo chúng tôi hay không? Quý vị có nghi kỵ, bôi bác nhau, chém giết lẫn nhau hay không? Nên gọi quý vị là gì đây?

Cọp, beo, sư tử, gấu, chó sói phanh thây xé xác quý vị mà có bao giờ quý vị dám khinh mạn chúng đâu.

Nhưng thưa quý vị, ngày nay con người đã lợi dụng chúng tôi, triệt để khai thác họ nhà heo cô đơn yếu thế để lấy thịt. Mỗi năm thế giớ sản xuất ra một tỉ heo để ăn thịt. Riêng Hoa kỳ cũng có hơn 105 triệu heo/năm.

Chúng tôi là một loại máy sản xuất ra thịt. Heo ngày nay được nuôi dưỡng trong điều kiện chăn nuôi công nghiệp, thâm canh khắc nghiệt và phản thiên nhiên. Heo nái thì bị giam hãm trong những lồng sắt chật hẹp, chỉ có thể đứng lên và nằm xuống mà thôi. Con cái chúng tôi thì bị tách rời khỏi mẹ chúng để nuôi riêng để vỗ béo. Thật đau lòng. Mỗi trại heo thường tập trung trên một diện tích nhỏ hẹp chật chội nhưng lại chứa hằng chục ngàn con thì làm sao chúng tôi có đủ sức chống kháng bệnh tật được.

Chính chúng tôi đã cung cấp thịt để nuôi sống 2/3 nhân loại. Cũng may là người Hồi Giáo và Do Thái Giáo không ăn thịt heo nếu không thì bọn nhà tôi phải chết nhiều hơn nữa.

Chúng tôi còn giúp loài người trong việc ghép dị chủng xenotransplantation. Khoa học đang nghiên cứu dùng chúng tôi, thay đổi gene để tạo ra những heo đặc biệt hầu lấy bộ phận, như gan, thận, tim dùng để ghép cho những người bệnh. Chúng tôi phải chết để cho quý vị được sống.

Biến cố bệnh cúm hiện nay là của chúng tôi tạo ra để trả thù nhân loại đó.

Từ trước tới giờ khoa học đều gọi là cúm heo, grippe porcine hay swine flu do virus Influenza A/ H1N1 đột biến gây ra. Các nhà khoa học trên thế giới đều khẳng định là virus H1N1 chứa 6 phần di thể của heo và 2 phần di thể còn lại thuộc về gia cầm và người. Bây nhiêu đó thôi cũng đủ chứng minh và xác nhận sự hiện diện của bọn heo chúng tôi trong bệnh dịch nầy.

Quý vị run, quý vị sợ bệnh cúm heo vì cái chữ heo quái ác đã làm dân chúng ngại ăn thịt heo và rất nhiều nước phải hủy bỏ việc nhập cảng heo sống và thịt heo do Mexico, Hoa Kỳ và Canada sản xuất. Họ cũng không dám đi du lịch đến ba xứ vừa kể.

Cũng dễ hiểu thôi vì bệnh cúm bộc phát tại những khu vực nầy và đã có người chết.

Thị trường thịt heo tuột dốc thảm thương. Kỹ nghệ chăn nuôi heo là một ngành rất quan trọng tại Hoa Kỳ. Thiệt hại kinh tế quá to lớn. Quý vị đau còn hơn bị bò đá. Chung quy cũng tại có cái chữ Heo khốn nạn dính vào tên bệnh. Cũng vì có chữ heo mà chánh phủ Ai Cập quá hốt hoảng cho giết bừa hằng chục ngàn heo một cách không cần thiết để ngừa việc lây lan bệnh. Nhưng cũng không sao, vì loài heo chúng tôi vắng số lắm. Chết trước hay chết sau cũng vậy thôi vì đa số bọn chúng tôi khi được 5-6 tháng tuổi thì cũng bị họ đem đi thọt huyết hết ráo. Heo nái và heo nọc thì được sống lâu hơn để make love và để đẻ, nhưng cao tay lắm thì 5-6 năm cũng bị gởi vô lò sát sinh mà thôi.

Có kẻ xấu mồm còn tung tin vịt nói rằng virus cúm heo H1N1 kỳ nầy là do con người man made tạo ra trong phòng thí nghiệm nào đó bên Hoa Kỳ và tung ra nhằm một mục đích gì đó...có trời mới biết. Láo khoét hết. Có giỏi thì trưng bằng chứng ra cho thiên hạ biết với. Lúc rày bệnh tâm thần hơi nhiều. Thầy hù thầy nổ không phải ít.

Chính loài heo chúng tôi mới thật sự là kẻ gây ra đại dịch cúm H1N1 năm nay.

Để cho được phân minh, loài heo chúng tôi xin mời quý vị đọc những hàng dưới đây thì sẽ rõ hơn.

So although the U.S. government and now the World Health Organization are taking the swine out of "swine flu," the experts who track the genetic heritage of the virus say this: If it is genetically mostly porcine and its parents are pig viruses, it is swine flu to them.

Six of the eight genetic segments of this virus strain are purely swine flu, and the other two segments are bird and human, but have lived in swine for the past decade, says Dr. Raul Rabadan, a professor of computational biology at Columbia University.

A preliminary analysis shows that the closest genetic parents are swine flu strains from North America and Eurasia, Rabadan wrote in a scientific posting in a European surveillance network.

"Scientifically, this is a swine virus," said top virologist Dr. Richard Webby, a researcher at St. Jude Children's Research Hospital in Memphis. Webby is director of the WHO Collaborating Center for Studies on the Ecology of Influenza Viruses in Lower Animals and Birds. He documented the spread a decade ago of one of the parent viruses of this strain in scientific papers.

"It's clearly swine," said Henry Niman, president of Recombinomics, a Pittsburgh company that tracks how viruses evolve. "It's a flu virus from a swine, there's no other name to call it."

Dr. Edwin D. Kilbourne, the father of the 1976 swine flu vaccine and a retired professor at New York Medical College in Valhalla, called the idea of changing the name an "absurd position."

Chỉ bấy nhiêu bằng chứng khoa học cũng đủ xác nhận lý lịch của heo chúng tôi trong biến cố nầy. Từ đầu tháng tư khi biến cố cúm heo đang leo thang, hình như sự lây nhiễm chỉ xảy ra giữa người với nhau mà thôi. Các nhà bác học chưa phân lập ra được virus H1N1 trên heo.

Nhưng vào tuần lễ đầu tháng năm có tin cho biết một sự kiện mới lạ đã xảy ra tại một trại heo ở tỉnh bang Alberta Canada. Chủ trại đi chơi Mexico và bị lây nhiễm bên đó và khi trở về Canada thì anh ta làm lây bệnh cho trại heo của mình. Đây là ca người lây cho heo lần đầu tiên được ghi nhận trong dịch cúm H1N1 năm 2009. Thật đáng ngại, vì virus H1N1 mỗi lần lây nhiễm qua heo là virus có thêm nguy cơ đột biến. Tính gây bệnh cũng nhân đó mà thay đổi. Virus có thể sẽ mạnh hơn, độc hơn, sẽ hiền hơn, yếu hơn hay cũng y như cũ. Chỉ có thời gian mới trả lời được mà thôi. Các nhà khoa học đang chờ xem...

Chúng tôi cho quý vị rõ là tất cả tai họa hiện nay đều do lỗi lầm và cái giá phải trả cho các tiến bộ khoa họ mà loài người đang thụ hưởng.

Phương pháp chăn nuôi công nghiệp, rất thâm canh với quá nhiều súc vật trên những diện tích nhỏ hẹp, và sự sống chung đụng quá gần gủi với thú vật tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh dễ phát ra.

Sự khai phá rừng một cách quy mô và bừa bãi đã làm cho thú vật mất môi trường sống, bắt buộc chúng phải lân la về những nơi đông dân cư để tìm thức ăn và đồng thời cũng truyền lây bệnh cho con người.

Ngoài ra, ngày nay sự phát triển và bành trướng quá nhanh của ngành giao thông vận tải đã giúp việc chuyển vận người và vật được dễ dàng hơn và nhờ đó mà mầm bệnh có thể theo du khách và hàng hóa đi chu du khắp thế giới một cách nhanh chóng và dễ dàng…

Gần đây hơn một số bệnh từ thú lây cho người hay zoonoses rất nguy hiểm cũng đã trở thành đề tài thời sự của báo chí, chẳng hạn như các bệnh Bò điên BSE, các bệnh sốt xuất huyết Ebola và Marburg virus, truyền lây từ việc ăn thịt khỉ bên Phi châu và bệnh liệt kháng (AIDS, Sida) từ hơn 20 năm nay đã giết hại hằng triệu người trên thế giới. Có giả thuyết nói rằng mầm bệnh liệt kháng có nguồn gốc cũng từ một loài khỉ Phi Châu đột biến và vượt hàng rào chủng loại để lây nhiễm cho người?

Năm 1994, Hendra virus đã xuất hiện bên Úc châu. Virus này từ dơi lây nhiễm cho ngựa rồi từ đó gây bệnh cho người. Triệu chứng như bệnh cảm cúm và đã có vài ca tử vong bên Úc.

Đến năm 1999, một loại virus mới, đó là Nipah virus cũng xuất phát từ một loài dơi, lây cho heo và từ đây truyền sang cho người. Bệnh do Nipah virus cũng bắt đầu bằng triệu chứng cảm cúm như đau nhức mình mẩy, sốt cao và nặng hơn thì gây biến chứng viêm não. Bệnh đã làm thiệt mạng 105 người tại Malaysia năm 1999.

Cũng có những bệnh mà trước kia chỉ có ở các xứ nóng, nay thì bắt đầu thấy xuất hiện ở Bắc Mỹ, như bệnh West Nile virus lần đầu tiên được phát hiện tại New York vào năm 1999. Đây là bệnh của một số loài chim, đặc biệt là loài quạ và được muỗi làm trung gian lây truyền cho người. Bệnh thường xuất hiện mỗi năm vào khoảng từ tháng 5 đến tháng 9 là thời gian có nhiều muỗi tại Bắc Mỹ. Bệnh West Nile virus có triệu chứng như cảm cúm, ít khi gây thiệt hại về nhân mạng nhưng nó cũng làm bận rộn không ít giới y tế công cộng Hoa Kỳ và Canada. Bệnh có thể gây biến chứng nguy hiểm ở các người già cả lớn tuổi. Vùng New York, New England ở miền đông bắc Hoa Kỳ cũng như một số vùng Ontario và Quebec Canada thường được cảnh báo về sự xuất hiện của bệnh West Nile virus vào mỗi năm.

Tháng 3/2003, bệnh viêm phổi cấp tính và trầm trọng (SARS) xuất phát từ lục địa Trung Quốc đã làm thiệt mạng gần 800 người trên thế giới, nặng nhất là Trung Quốc có khoảng 350 nạn nhân, kế đến là Hồng Kông, Đài Loan và một số quốc gia vùng Đông nam Á trong đó có Việt Nam. Riêng tại Toronto, Canada tính đến tháng 7 năm 2003 cũng đã có 44 tử vong vì bệnh SARS. Tác nhân của bệnh SARS là một loại Corona virus ngẩu biến đặc biệt. Các nhà khoa học đã đưa ra giả thuyết, có lẽ bệnh có nguồn gốc từ một loại thú rừng nào đó, hình như là từ con cầy hương (civet cat) mà người Trung Quốc rất hẩu xực? Dịch bệnh này đã làm cả thế giới rất lo ngại và nó cũng đã gây thiệt hại một cách đáng kể cho kỹ nghệ du lịch của rất nhiều quốc gia.

Vào đầu năm 2004, bệnh dịch cúm gia cầm do virus Influenza H5N1 đã bộc phát ra một cách nhanh chóng tại Á Châu và đến nay vẫn còn nhen nhúm tại Việt Nam, Indonesia và Ai Cập.

Loài heo chúng tôi cực lực phản đối chánh phủ các cường quốc, đặc biệt là Hoa Kỳ đã làm áp lực với Tổ Chức Y Tế Thế Giới WHO ép buộc họ rút bỏ tên Heo, Swine, Porcine ra khỏi tên bệnh cúm. Chánh trị không có quyền chen vào khoa học. Cũng có rất nhiều danh xưng đã được đề nghị ra, như Mexican Flu, Novel Flu, North America virus vv...nhưng gây đụng chạm nhiều quá sanh mích lòng người anh em. Thôi thì đành chấp nhận một mã số khô khan, không ám chỉ đến loài heo hoặc một quốc gia nào cả.

Lần nầy chúng tôi chỉ muốn cảnh cáo sơ sơ mà thôi.

Virus A(H1N1) của chúng tôi mới tạo ra nên loài người chưa quen nên chưa có đủ sức miễn dịch để chống đỡ. Tuy sức gây bệnh virulence thấp nhưng virus nầy cũng đủ sức lây nhiễm cho 1490 người trong 21 xứ. Mexico nặng nhất với 822 ca và 29 tử vong kế đến là Hoa Kỳ có 403 người bị nhiễm với 2 người chết. Virus thường tấn công người trẻ tuổi vì họ thường hay đi du lịch đó đây nhiều hơn lớp người già.(WHO 05-05-2009). Nay thì dần dần bệnh sẽ giảm cường độ như một bệnh cúm thường niên.

Thật ra số tử vong trên không nhầm nhò gì hết so với số tử vong của bệnh cúm thường lệ seasonal flu và biến chứng của nó cũng thường giết hại hằng năm lối 36 000 người tại Hoa Kỳ, và từ 2000 đến 8000 người tại Canada.

http://www.cdc.gov/flu/keyfacts.htm

Trong khi đa số người thì lo rầu thúi ruột nhưng chắc chắn là kỹ nghệ dược phẩm và thuốc chủng cũng như và kỹ nghệ sản xuất khẩu trang đã mở cờ trong bụng vì biến cố ngàn năm một thuở nầy.

Merci,Thank you, Arigato, Tố chè mon cochon ột ột.

Kỳ tới mới thật sự là đòn chí tử giáng xuống cho loài người. Quý vị hãy mở mắt ra mà chờ xem.

Hởi tất cả súc vật! Hởi các bạn Gà, Vịt, Trâu, Bò, Dê Cừu trên thế giới! Hãy đoàn kết lại, hãy mạnh dạng đứng lên cùng bọn Heo chúng tôi để lật bản mặt dối trá của loài người để trả thù sự bất công và sự tàn ác của nhân loại đối với chúng ta.

Hãy cương quyết hành động cho mau trước khi họ bỏ mình vô nồi vô chảo hết để thành bacon, jambon và saucisse, lạp xưởng, thịt quay.

Ký tên,

Thủ lãnh Heo tại La Gloria, Mexico
Nọc Yorkshire
Montreal, May 07, 2009
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Sao khiêu dâm tranh cử làm nghị sĩ Mỹ

Cuộc đua vào thượng viện ở bang Lousiana, Mỹ, ngày càng thêm hưng phấn sau khi một sao phim khiêu dâm đình đám
ra mặt cạnh tranh với đương kim Thượng nghị sĩ từng dính bê bối mại dâm.

Image
Stormy Daniels. Ảnh: Blogspot.


Cô Stormy Daniels hôm qua cho biết nảy ra ý tưởng này sau khi cộng đồng mạng kêu gọi cô tham gia chính trường, giải thích rằng việc đó làm họ phấn khích hơn cả những bộ phim nóng bỏng của cô. Quyết định tranh cử của Daniels khiến bê bối liên quan tới gái mại dâm của đương kim Thượng nghị sĩ Cộng hòa bang Louisiana David Vitter bị đưa ra bàn tán một lần nữa.

"Ông ta chạy đua vào Thượng viện, hô hào các giá trị gia đình. Thế rồi, ông ta bị lộ có dan díu với gái mại dâm. Thật là đạo đức giả. Các anh có thể gọi tôi là gì cũng được những không thể nói tôi đạo đức giả".

Vitter từng bị một phen xấu hổ năm 2007 khi tên tuổi của ông nằm trong danh sách khách hàng của mạng lưới gái gọi hạng sang tại Washington D.C.

Daniels, một trong những sao khiêu dâm thành công nhất Mỹ, đã lên tiếng kêu gọi một cuộc đấu khẩu với Vitter. "Tôi không nghĩ ông ta dám đối mặt với tôi", cô nói.

Một số người cho rằng Daniels có thể hạ gục Vitter vào năm tới. Việc cô ứng cử khiến đảng Cộng hòa phải xem xét lại nguyên nhân tại sao họ mất uy tín đối với các cử tri Mỹ. Đảng này đang bị lép vế ở cả Thượng và Hạ viện Mỹ trước đảng Dân chủ.

Hải Ninh (theo Times)
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »



Image

Tai... và Họa của Van Gogh

Quỳnh Giao
Ðã có lần mình bàn về cái mũi của Cleopatra. Vì sao lần này không ghi thêm về... cái tai của Van Gogh? Số là tuần qua, cái tai của bậc danh họa này đã lại làm nên thời sự.

Van Gogh là họa sĩ người Hòa Lan mà có lẽ ai ai cũng biết, với những tác phẩm được đời nay vô cùng quý trọng, trị giá tới mấy chục triệu đô la. Vậy mà sinh thời, ông chỉ bán được có một bức! Trong các tác phẩm nổi tiếng nhất của ông có một bức chân dung tự họa, với cái tai được băng với vải trắng, miệng phì phèo tẩu thuốc, mắt sáng đến ngây dại...

Cho đến tuần qua, lời giải thích chính thức là họa sĩ kỳ tài này lên cơn khủng hoảng tâm thần mà tự cắt mất tai, gói lại để tặng một ả giang hồ tên là Rachel. Bảy tháng sau, ông tự tử bằng cách ra đồng tự bắn vào ngực... rồi lết về nằm chết ở nhà.

Tuần qua, hai nhà khảo cứu người Ðức về lịch sử nghệ thuật công bố kết quả điều tra mất mười năm của họ. Ðó là cuốn sách tiếng Ðức “Cái tai của Van Gogh: Paul Gauguin và lời Nguyện kín tiếng”. Hai học giả của vùng Hamburg phản bác lời giải thích chính thức, và đưa ra luận giải khác. Chính là nhà danh họa Paul Gauguin của Pháp đã đi một đường gươm để xẻo mất cái tai của Van Gogh trước khi bỏ đi.

Hai người là bạn chí thiết, từng chung sống tại thành phố Arles ở miền Nam nước Pháp. Van Gogh yếu đuối, bị khủng hoảng tinh thần và chỉ sợ bạn mình bỏ đi nên có những lúc chèo kéo cãi cọ. Một lần đó, Gauguin chịu không nổi những vật vã của bạn, và... vốn dĩ là một tay đấu gươm cự phách, ông hươi một nhát gươm. Từ đấy, hai người hết gặp nhau nữa. Nhưng, trước khi chia tay, đôi bạn tự nguyện là sẽ trình bày sự thể hơi khác một chút, trở thành lời giải thích chính thức cho hậu thế.

Dĩ nhiên là lý giải của Hans Kaufmann và Rita Wildegans không thỏa mãn nhiều người, dù hai vị học giả đã sao lục lại kết quả điều tra của cảnh sát Pháp, tham khảo lời chứng của những người có mặt và nhiều thư từ của chính Van Gogh và người em trai...

Với chúng ta, chuyện nào mới là sự thật có lẽ không mấy quan trọng. Ấn tượng còn lại, nếu có, là hình ảnh của Van Gogh với nét diễn xuất của Kirk Douglas. Còn Anthony Quin là Paul Gauguin... trong một phim rất nổi tiếng mà hình như ai cũng đã xem lại.

Chuyện chính là thiên tài Vincent Van Gogh thật ra là người không có hạnh phúc. Ông xác nhận như vậy trước khi tạ thế vào Tháng Bảy năm 1890, bằng một câu tiếng Pháp: “la tristesse durera toujours”. Một nỗi buồn bất tận.

Vincent Willem Van Gogh sinh năm 1853 tại Hòa Lan, bước vào hội họa khá chậm sau một tuổi thanh xuân do ông kể lại là u ám, lạnh lẽo và bế tắc. Ông đã làm đủ nghề, kể cả bán tranh hay đi giảng đạo, tại nhiều nơi ở Âu Châu. Ban đầu, ông chỉ nguệch ngoạc vẽ mà chơi, cho tới gần ba chục tuổi mới nghe lời em trai mà đi học về hội họa dù không mấy thiết tha. Người em trai này là Theo Van Gogh, sinh sau bốn năm, nhưng một đời tận tụy chăm lo cho người anh bất đắc chí. Khối lượng thư từ giữa hai anh em là một kho dữ kiện cho phép đời sau xác định được chính xác từng giai đoạn của cuộc đời Van Gogh, trừ mấy năm ở cùng nhau tại Paris nên không còn viết thư cho nhau.

Mãi tới năm 1882, ở tuổi tam thập, Van Gogh mới thực sự cầm cọ vẽ tranh và bước đầu cũng chẳng mấy thành công. Phải chăng vì ông đã đi những bước quá xa so với mỹ quan đương thời? Nhưng kỳ diệu thay, nghệ thuật hội họa của ông cứ chuyển hóa dần, với màu sắc rất tươi, bố cục rất lạ, tỏa ánh sáng tới độ chát chúa. Ông ngả dần từ khuynh hướng Ấn tượng qua các thể loại khác, và đặt nền móng cho nhiều trường phái tân kỳ của thế kỷ 20...

Van Gogh đã sống ở nhiều nơi tại Âu Châu, từ Hòa Lan qua Bỉ qua Pháp, vừa vẽ vừa kết bạn, vừa học hỏi. Nhưng thủy chung vẫn là một người cô đơn, bệnh hoạn. Xuất hiện khá trễ, Van Gogh đã đi những bước rất xa so với nghệ sĩ cùng thời. Người ta chỉ biết rằng khi sống, Van Gogh bán được có một bức tranh. Người em Theo của ông lo phần còn lại cho một cuộc sống thật ra lầm than, ảm đạm.

Sau Van Gogh, người ta không còn vẽ tranh như trước nữa và nhiều bậc danh dọa đã thực sự chịu ảnh hưởng của ông. Người ta làm phim, dựng truyện và soạn nhạc về Van Gogh. Như một loài hoa nở muộn, Van Gogh trở thành rạng rỡ và lẫy lừng khi hoa đã héo, đã tàn. Sau khi ông mất, ở tuổi 37, thế giới mới biết rằng mình vừa mất một thiên tài.

Ðối chiếu các tác phẩm với từng giai đoạn cuộc đời, người sau mới hiểu dần những nỗ lực học hỏi và khám phá của Van Gogh. Tiêu biểu là bộ tranh về những người ăn khoai, hoặc những bức danh họa lẫy lừng nhất của ông tại thị trấn Arles trong gần hai năm cuối đời.

Cách đây ít năm, người viết có được xem một cuộc triển lãm tranh Van Gogh tại West Wing của viện Smithsonian. Nhờ người anh ruột Bửu Dương là một học giả, nên khi ấy mình hiểu dần những bí ẩn của tiến trình sáng tạo, mối quan hệ giữa bệnh tật và nghệ thuật. Không hiểu sao, cảm nghĩ nặng trĩu trong lòng là nghệ sĩ khó có được hạnh phúc và thưởng thức tranh Van Gogh có thể cũng là cảm thông với những khổ đau triền miên của ông.

Nếu có dịp, ta nên đi thăm lại thành phố Arles, bước vào quán cà phê nổi danh với bức tranh “Terrace du Café le Soir” của ông, hoặc tìm tới “Ngôi Nhà Màu Vàng” ông trọ tại quảng trường Lamartine, hay đi ra cánh đồng vắng là nơi ông đã đặt giá vẽ... Có khi mình cảm nhận được nỗi cô đơn dữ dội và nhất là sự khiếp hãi cô đơn của Van Gogh. Khi ấy, ta có thể nhấp một ly rượu hồi (absinthe) pha nước lạnh như Van Gogh. Nhưng đừng uống quá đậm và quá nhiều. Hình như một trong những nguyên nhân của bệnh tật hay ảo giác của Van Gogh xuất phát từ loại rượu ấy.

Rượu mạnh không thể an ủi được ông, nhưng tranh Van Gogh, như chính ông viết lại cho người em, phải có cái gì đó an ủi như âm nhạc. Ông để lại sự an ủi cho chúng ta. Khi xem tranh, mình cố cảm ra được lời nhắn gửi ấy.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

“Phú quý sinh lễ nghĩa”:
Dân khá giả ở VN xài bao cao su sang trọng


Image
Nguyễn Hoàng Long, chủ tiệm, giới thiệu các loại “áo mưa” (condom) nhập cảng với khách hàng tại cửa tiệm ở Sài Gòn. (Hình AFP/Getty Images).
SÀI GÒN 15-5 (NV) - Người giầu có thì xài đồ sang, kẻ nghèo hèn thì xài đồ rẻ tiền. Qui luật bình thường này ở đâu cũng vậy, thời nào cũng vậy, kể cả cái thời nước Việt Nam đang có nền kinh tế thị trường theo định hướng “XHCN”.

Một trong những biểu hiện rõ rệt nhất về cái khoảng cách sang hèn này trong xã hội, người ít tiền mà muốn tránh thai, mua bao cao su (condom) loại rẻ tiền bán ở các hàng quán dọc lề đường, trong chợ hay tại tiệm thuốc. Nhưng cũng có những tiệm bán các loại bao cao su đắt tiền được nhập cảng từ ngoại quốc.

Cho tới nay, triển lãm tranh vẽ hay hình ảnh khoả thân còn là điều kỵ húy. Giáo dục giới tính cũng rất được đắn đo. Nhưng việc bán các loại bao cao su tránh thai có vẻ như được khuyến khích. Người ta có thể thấy chúng ở bất cứ đâu.

“Mở tiệm bán cái thứ này thì tốt cho công chúng và xã hội”. Nguyễn Khánh Phong, 28 tuổi, chủ một cửa tiệm bán các loại bao cao su nhập cảng, nói với phóng viên AFP: “Chúng tôi xin phép nhà cầm quyền mở tiệm thì được cấp phép dễ dàng”. Ông và người em 21 tuổi tên Long trông coi cửa hàng cho hay chỉ mới mở hai tháng nhưng hàng bán rất chạy.

Cửa tiệm được đặt tên là “Volcano” (Núi lửa) và họ không dấu diếm là bán thứ gì. Các hộp đựng bao cao su bầy ra tận phía ngoài của cái tiệm nhỏ bé. Vách quán sơn màu hồng và từng chồng bao cao su đủ màu đủ hiệu từ các nước Á châu khác sản xuất.

“Chúng tôi tốn rất nhiều tiền.” Phong nói. “Cửa tiệm trông rất thân thiện”

Loại bao cao su hiệu Fuji Shock sản xuất ở Nhật hiện đang là loại bán chạy nhất tại cửa tiệm Volcano dù giá bán đắt gấp 5 lần so với những loại bao cao su rẻ tiền (khoảng 5,000 đồng -29 xu Mỹ- một hộp 3 cái) do hãng địa phương VIP sản xuất.

“Khi họ mở cái này ra, nó trông giống như cái kẹo chocolate”, Phong vừa nói vừa cầm giới thiệu cái bao láng cóong.

Một loại bao cao su khác do Nhật sản xuất bầy bán ở đây có ánh sáng chiếu lên khi người đàn ông xuất tinh.

“Khách hàng của chúng tôi rất thích kiểu bao cao su của Nhật”. Long nói.

Các loại bao cao su sản xuất với kỹ thuật cao của Nhật bản không bán tại quán bán bao cao su có tên “Tái Sanh”, khu vực có nhiều người Hoa ở phía nam thành phố Sài Gòn.

Tay cầm điếu thuốc lá, Sanh, 60 tuổi, ngồi trên một cái ghế đẩu mầu đỏ phía sau quầy kính xếp các hộp bao cao su hiệu VIP. Khách hàng nào nhiều tiền có thể bỏ ra 10,000 đồng để mua một cái hiệu X-Men. Bao cao su này có nhiều gai tròn nhỏ. Ông Sanh nói rằng quán báo bao cao su doc lề đường giúp cho người ta ghé vào mua dễ dàng hơn nhiều. Đặc biệt là ở thành phố này, phần lớn người ta chạy xe máy nên chỉ ghé sát vào là có ngay, sự mua bán diễn ra trong nháy mắt.

“Chúng tôi bán nhiều lắm”. Ông nói vậy và cho hay thêm rằng ông tránh rắc rối với cảnh sát mà một số người khác vướng phải như bán DVD phim ảnh khiêu dâm, dụng cụ làm tình trụy lạc hay các loại thuốc kích dục giả mạo.

Hồi tháng trước, nhà cầm quyền ở thành phố Hà Nội đã tịch thu nhiều túi đựng các loại thuốc kích dục và đồ kích dâm giấu ở một cái cây dọc theo một đường phố thường diễn ra các dịch vụ buôn bán hàng lậu, theo báo Thanh Niên.

Sản xuất, phân phối phim ảnh đồi trụy và các sản phẩm phản văn hoá khác có thể bị phạt tới 15 năm tù ở Việt Nam. Coi vậy, người ta có thể tìm thấy chúng rất dễ dàng ở bất cứ đâu. Tại một cửa hàng bán thuốc bắc ở Sài Gòn, một người bán hàng đã vào phía sau mang ra giới thiệu với khách hàng một cái dương vật to tướng chạy pin mầu tím và đỏ có thể chiếu sáng.

Long và Phong thì cũng nói chỉ bán bao cao su vì cho rằng loại hàng này cũng là một thị trường rất lớn ở Việt Nam, nơi mà quan niệm về tình dục trong giới trẻ cũng thay đổi nhiều.

“Người Việt Nam rất cởi mở”. Long nói.

Anh em Long cho hay ý muốn cung cấp cho khách hàng nhiều nhãn hiệu bao cao su nhất để họ lựa chọn. Họ cũng có bán các các nhãn hiệu nội địa nhưng nói chúng “không có những nét đặc biệt”. Anh em này nói khách hàng sẵn sàng trả nhiều tiền cho các sản phẩm có giá trị cao. Khách hàng thường xuyên được bớt giá. Đối với những người hay mắc cở muốn kín đáo, họ giao hàng tận nhà.

“Chúng tôi bỏ ra hơn 10 triệu đồng để mở tiệm, nhưng chỉ ngay tuần lễ đầu đã bán được khoảng 1.5 triệu đồng và nay thì bán được hơn 10 triệu đồng một tuần”, Long nói.

Theo lời Long, họ dự tính mở thêm tiệm ở chỗ khác trong thành phố Sài Gòn và cả ở Tây Ninh, cố đô Huế.

Dân số Việt Nam mỗi năm gia tăng từ 1.2 triệu tới 1.5 triệu người. Ngang bằng với các con số này là những vụ phá thai.

Để chận đà gia tăng dân số, nhà cầm quyền CSVN khuyến khích dân chúng sử dụng các phương pháp ngừa thai và ra luật cấm công chức cán bộ sanh con thứ ba.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Lời hay, Ý đẹp


Có người hỏi Đức Dalai Lama:
"Điều gì làm Ngài ngạc nhiên nhất ở nhân loại ?"

Ngài trả lời:
"Con người...
bởi vì con người phung phí sức khỏe để tích tiền của,
rồi lại bỏ tiền ra để tìm mua lại sức khỏe.
Và vì quá lo nghĩ cho tương lai,
con người quên mất hiện tại,
đến nỗi không sống với hiện tại lẫn tương lai.

Con người sống như thể sẽ không bao giờ chết...
Nhưng rồi sẽ chết như chưa từng sống bao giờ "
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

BÀ VỢ BIẾT VÂNG LỜI

Ông kia làm việc như điên,
Suốt đời dành dụm món tiền khá to.
Tiền kiếm được chỉ lo keo kiệt,
Chẳng dám xài cất riết trong rương.
Đến khi liệt chiếu liệt giường,
Biết gần từ giã cõi dương gian nầy.
Lời trăn trối tỏ bày với vợ:
“Tôi chết rồi bà nhớ điều nầy,
“Tiền dành dụm bấy lâu nay,
“Bà cho vào cả quan tài đựng tôi.
“Bà hãy thề giữ lời tôi dặn,
“Về dưới kia tôi hẳn cần tiền.
“Có tiền trong bụng mới yên,
“Nếu cần hối lộ, móc liền ra chi”.



Buổi tang có lễ nghi đầy dủ,
Bà vợ ngồi ủ rủ bần thần.
Kế bên người bạn rất thân,
Cầm tay thủ thỉ ân cần hỏi han.
Cầu kinh rồi áo quan sắp đậy,
Bà vợ nhanh đứng dậy rảo chân.
Tay bưng chiếc hộp đến gần,
Nhẹ nhàng đặt xuống bên thân của chồng.



Khi tang lễ đã xong tất cả,
Bà bạn thân vội vã hỏi liền.
Hỏi rằng chiếc hộp đựng tiền?
Đem chôn dưới đất có điên không nào?
Bà vợ nghe gật đầu rồi bảo:
“Tôi là người Công giáo chân thành,
“Nói ra phải giữ lời mình,
“Nếu mà không giữ tội tình khó dung.
“Tôi hứa làm lời chồng trăn trối.
“Nếu không làm có lỗi sao yên.
“Nhưng không tôi chẳng phải điên,
“Có ngu mới lại đem tiền chôn đi.
“Sáng nay chẳng nghĩ suy lâu,
“Đem tiền đi gởi ngân hàng.
“Rồi mua chiếc hộp đàng hoàng,
“Cho vào quyển ‘séc’ rõ ràng không sai.
“Chồng tôi muốn tiêu muốn xài dưới đó.
“Ghi ‘séc’ thì tiền có thiếu chi.
“Thế thì thỏa đáng còn gì,
“Lời thề vẫn giữ, ngu thì không ngu.”



Chuyện nầy gởi càc cô khôn lỏi,
Cùng những chàng tưởng giỏi mà đần.
Ở đời khôn dại đem cân,
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Buồn cười !
Đất nước và dân tộc Việt Nam có lịch sử hơn 4000 năm. Trải bao thăng trầm của thời cuộc, dân tộc Việt Nam vẫn còn, đất nước Việt Nam vẫn còn. Bởi thế, - yêu nước có nghĩa là tôi yêu thiết tha cái mảnh đất mà tổ tiên tôi đã sống, lao động và chiến đấu để giữ cho tôi ;
- yêu nước là góp một ý kiến cho đất nước, dù ý kiến đó chỉ có một từ. Hội nghị Diên Hồng thời Trần nhắc nhở chúng ta điều đó. Ngô Sĩ Liên, trong Đại Việt sử kí toàn thư có chép :

Thượng hoàng (tức Trần Thánh Tông – chú thích của người viết) triệu phụ lão trong nước họp ở thềm điện Diên Hồng, ban yến và hỏi kế đánh giặc. Các phụ lão điều nói “đánh”, muôn người cùng hô một tiếng, như bật ra từ một cửa miệng”.
Vâng, yêu nước là thế đó. Bởi vậy mới thấy thật ấu trĩ khi có thời người ta “đánh đồng” đất nước, dân tộc với một ý thức hệ chính trị : “yêu chủ nghĩa xã hội là yêu nước”. Rồi tại các nơi “cao sang” của cửa nhà quan, người ta không tiếc lời tung hô : “Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, muôn năm”. Như thế có khác gì câu chúc tụng : “Hoàng thượng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế” của triều đình phong kiến thuở xưa ? Tôi buồn và tôi cười cho những cái khẩu hiệu như vậy ! Buồn, vì đất nước và dân tộc ở đâu mà lại tung hô mỗi mình Đảng Cộng sản ? Đảng Cộng sản trên đất nước này vỏn vẹn chỉ trên 3 triệu người, còn dân tộc Việt Nam xấp xỉ trên dưới 90 triệu người ở khắp năm châu. Buồn cho cái vinh quang mà dân tộc, đất nước đáng phải có lại bị “một bộ phận quần chúng nhân dân” là Đảng viên tước mất ! (Đảng ta thích dùng cụm từ “một bộ phận quần chúng nhân dân” lắm, tôi mượn tạm ở đây nhé, cám ơn Đảng nhiều nhiều !) Tôi cười vì người ta chỉ có thể vẽ những câu chúc tụng, gào những lời tung hô nhưng không xây dựng được một đất nước Việt Nam hùng cường thật sự. Đáng buồn và cũng đáng cười. Tuổi teen (tuổi mới lớn) bây giờ chúng nó gọi chung lại là : “buồn cười” đó quý độc giả ạ !

Trên đây là cảm xúc thật sự của tôi trong những ngày này, những ngày mà tiếng nói xây dựng đất nước không được chân thành lắng nghe.

Làm quan chỉ để hết nhiệm kì rồi về vườn “biệt thự”, thì xin van nài các cụ, đừng làm, cho dân nước nó đỡ khổ !

Làm quan nhưng không có trình độ để đưa ra những quyết sách đúng dắn nhằm phát triển đất nước, thì xin van nài các cụ, đừng làm, cho dân nước nó đỡ tụt hậu !

Làm quan mà chỉ biết đặt bút kí, bất chấp các cảnh báo về những hậu quả lâu dài của sự việc, thì xin van nài các cụ, đừng làm, cho con cháu của dân nước chúng tôi còn sống với.

Van nài như thế đã đủ chưa nhỉ ? Chắc là không ? Bởi quan vẫn cứ là quan và muốn làm gì thì làm ! Lịch sử sẽ phán xét những vị quan hôm nay. Nhưng không biết các vị ấy có đủ “tầm” để “nhìn” tới không, hay vẫn cứ ngang như cua “lúc đó ta chết quách nó rồi, còn đâu mà bình phẩm với nhận xét” ! Mong rằng đất nước Việt Nam ta không có những “ông quan” có “bộ não đậu bắp” như thế ! Và tôi chợt nhớ thành ngữ của tuổi teen : “Hên xui, ai biết được !”.

Vài lời với quý độc giả và ban biên tập trang web :

- Thưa quý độc giả, sau bài viết này, tôi gửi đến quý vị một số đường link về nhân vật Nguyễn Trường Tộ. Không phải vì ông là người Công giáo mà giới Công giáo chúng tôi “xông hương, đánh bóng” nhưng vì ông là một người Việt Nam, đã sống trên đất nước Việt Nam này, và đã lên tiếng một cách không mệt mỏi với mong muốn đất nước có những cải cách triệt để. Nhắc tới ông trong thời điểm này, như một sự đồng tình và ủng hộ sâu sắc mà tôi gửi tới các trí thức đã gửi bản kiến nghị trong vụ bauxite. Mong sao bi kịch ngày trước của Nguyễn Trường Tộ sẽ không lặp lại lần nữa. Xin kính chào và chúc sức khoẻ quý độc giả, cách đặt biệt quý trí thức “Made in Vietnam” (tôi dùng cụm từ này hoàn toàn với ý kính trọng và tự hào).

- Thưa Ban biên tập, trước thực trạng người Việt Nam ngày càng không biết gì về lịch sử Việt Nam, nên chăng, thi thoảng, ban biên tập cũng tìm vài gương danh nhân trong lịch sử nước Việt để giới thiệu cùng bạn đọc, với tinh thần “ôn cố tri tân”. Vì như có lần quý web đưa tin, con em chúng ta ngày nay được “nhồi sọ” từ bé về “tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong khi chẳng thấy dạy bao nhiêu về các bậc tiền nhân đã dày công xây dựng và gìn giữ nước non này. Lịch sử hơn 4000 năm của dân tộc đâu có thiếu anh hùng, hào kiệt, danh nhân văn hoá, sao lại quá đề cao dẫn tới việc bắt ép con trẻ học có mỗi gương một con người “hành tung mập mờ” như vậy ? Kính mong quý web tìm ra một phương cách hữu hiệu nhằm giúp “dân ta được biết sử ta”, để nhờ đó, bạn đọc gần xa, nhất là các bạn trẻ, có một cái nhìn toàn diện và đúng đắn về lịch sử Việt Nam, cũng như hiểu cho đúng nghĩa : “Thế nào yêu nước ?”. Xin kính chào và xin chân thành cám ơn.

Phi Anhttp://www.dcctvn.net/news.php?id=3683
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Hoạn quan - những số phận nghiệt ngã


Image
Hoạn quan là sản phẩm của chế độ phong kiến Trung Hoa. Trong gần 3.000 năm, những hoạn quan dù tồn tại trong biết bao dâu bể của lịch sử nhưng luôn bị người đời coi như một thứ sản phẩm dị hình dị tướng. Hoạn quan thường có nguồn gốc khác nhau. Ngoài những người cam chịu tự cung (thiến) vào làm hoạn quan trong triều đình để nhận những khoản bổng lộc cho gia đình, còn có những hoạn quan là tội phạm cam chịu gia hình nhằm giảm tội.

Nguồn gốc của thái giám vốn từ quan điểm của những người cầm quyền tin rằng hoạn quan khi không có những người kế tục sẽ không ham hố danh vọng, hết lòng phục vụ mình. Tuy nhiên, quan điểm đó có vẻ không chính xác vì nhiều vị hoạn quan vẫn muốn có quyền lực, thậm chí còn ham hố quyền lực hơn người thường.

Những người chuyên biến người thường thành hoạn quan là người phải có tay nghề đặc biệt gọi là "đao tử tượng". Những "đao tử tượng" có phương pháp "phẫu thuật" bí truyền nên chỉ nhận con cái, họ hàng thân thích làm đệ tử.

Thời xưa, cung hình (bị hoạn) là một trong những hình phạt thảm khốc dành cho tội nhân. Sử gia vĩ đại nhất trong lịch sử Trung Quốc Tư Mã Thiên (khoảng 145-90 TCN), do bênh vực tướng quân thua trận Lý Lăng, bị vua Hán nổi giận phạt "cung hình". Nhờ kiến văn quảng bác ông được giữ lại làm quan tại Sử quán. Sau đó với nỗi uất ức, ông đã trước tác nên bộ sử đồ sộ Sử ký Tư Mã Thiên danh tiếng.

Một trong những hoạn quan nổi tiếng nhất trong lịch sử là Triệu Cao. Sau khi Tần Thủy Hoàng qua đời, một tay Triệu Cao đã viết nên cả một giai đoạn lịch sử đầy biến động của Trung Hoa. Triệu Cao đã thuyết phục tể tướng Lý Tư sửa chiếu thư của Thuỷ Hoàng, phế bỏ thái tử Phù Tô, đôn Tần Nhị Thế lên làm vua. Sau đó, cũng một tay Triệu Cao ép Phù Tô, Nhị Thế và Lý Tư uống thuốc độc tự tử và chút nữa thì Triệu Cao đã bước lên ngai vàng. Tuy nhiên, sau đó viên hoạn quan đầy tham vọng này đã bị ngũ mã phanh thây.

Không hiếm trường hợp sau khi bị hoạn, những hoạn quan vẫn có đầy đủ khả năng đàn ông. Trường hợp như Lao Ái là hoạn quan nhà Tần thông dâm với mẹ của Tần Thuỷ Hoàng và có hai con riêng với bà mẫu hậu này. Đến triều Thanh có trường hợp hoạn quan An Thế Hải, sau khi bị hoạn vẫn thông dâm với cung tần mỹ nữ.

Hoạn quan đôi khi tạo thành những thế lực lớn trong triều đình. Họ là những người hàng ngày sống gần gũi hoàng gia nên rất dễ được sự tin cậy của hoàng đế. Khi đã có được sự tin cậy, quyền lực rơi vào tay họ cũng là điều dễ hiểu. Điều đó khiến nhiều quan chức lo ngại và ganh ghét. Triều Càn Long (1736-1796) có chuyện quan lại tâu với Hoàng đế chuyện những hoạn quan tuy đã bị hoạn nhưng lâu ngày có thể trở lại như bình thường và xin Càn Long cho kiểm tra nhằm "thanh sạch hoá" cung cấm. Nhà vua chuẩn y và viên quan kia nhân đó giết hại nhiều hoạn quan.

Trong sử sách Trung Hoa xuất hiện một hoạn quan, một kiến trúc sư tài danh có nguồn gốc Việt Nam, đó là Nguyễn An (1381-1453). Triều Hồ đưa ông sang Trung Hoa như một cống vật và trở thành hoạn quan của nhà Minh. Nhận thấy phẩm chất của một công trình sư bậc nhất, triều Minh đã cho ông đảm nhận một công việc cực kỳ quan trọng, đó là xây thành Bắc Kinh. Nguyễn An đã chỉ huy một lượng nhân công hàng triệu người và tốn 17 năm để tạo thành một kiệt tác ghi tên vào danh sách Di sản Văn hóa thế giới ngày nay.

Bởi cuộc sống cô độc không người nối dõi nên nhiều vị thái giám tìm đến với đạo Phật. Ngôi Pháp Hải Thiền Tự ở núi Thuý Vy, phía tây thành Bắc Kinh là ngôi chùa do thái giám Lý Đồng xây dựng và là nơi những thái giám đến sống những ngày cuối đời. Hoạn quan được xếp vào hàng quan chức nhưng ở dạng tôi đòi phục vụ cho vua chúa và cung tần mỹ nữ. Họ là quan nhưng dường như chẳng mấy người muốn làm và cũng chẳng được mấy người coi trọng.

Những hoạn quan sau khi bị gia hình sẽ giữ gìn cẩn thận "phần đã mất". Họ ngâm với hương liệu quý giữ trong chiếc hộp nhỏ treo cẩn thận trên xà nhà. Mỗi năm họ treo chiếc hộp đó cao hơn một chút nhằm hàm ý thăng tiến trong triều đình. Khi được xét thưởng hay trong mỗi dịp triều đình điều tra, họ phải chứng minh mình vẫn là hoạn quan bằng cách trưng ra chiếc hộp đó. Cho đến khi qua đời, chiếc hộp sẽ được chôn theo với mong mỏi kiếp sau sẽ như người bình thường.

Một phần hoạn quan có những hành động bất thường có lẽ là vì yếu tố tâm sinh lý. Cuộc sống tình dục thiếu hụt nghiêm trọng, bị hoàng gia coi như vật trang trí, giữ mãi phận tôi đòi và ấn tượng khi bị "cung hình" luôn ám ảnh khiến họ trở thành những người đáng thương. Sử gia Tư Mã Thiên khi nghĩ lại giây phút bị cung hình đã cay đắng viết: "Mỗi khi nghĩ đến nỗi nhục đó thì mồ hôi ướt đầm áo, nghĩ mình chỉ đáng canh cửa cho đàn bà hay tốt hơn là nên ẩn thân vào nơi sơn cùng thuỷ tận".

Năm 1996, cụ Sun YaoTing, hoạn quan cuối cùng của chế độ phong kiến đã qua đời, đặt dấu chấm hết cho sự tồn tại của hoạn quan.

(Quốc Tế )
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 3 guests