Góc Phố Cà Phê

Tin trong và ngoài nước, tin Cộng Đồng ...
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Nhớ mãi hát ru
Tiếng ru là tiếng lòng, là chiều sâu trong tâm tưởng, thể hiện tâm tư tình cảm của người hát. Có nhà thơ đã viết:

Dẫu tôi đi trọn cuộc đời
Vẫn chưa đi hết những lời mẹ ru.

Hát ru là một nét đẹp đặc sắc thuộc về văn hóa tinh thần của người Việt Nam xưa. Lời ru mộc mạc, đơn sơ nhưng sâu kín, dạt dào tình cảm, ẩn chứa bao điều hay lẽ phải hấp thụ dần vào người nghe –từ thuở ấu thơ. Hát ru gồm nhiều dạng: mẹ ru con, bà ru cháu, chị ru em... Dù thuộc dạng nào đi nữa hát ru vẫn thể hiện tâm hồn con người là bản sắc văn hóa. Ngày xưa, khi các thiết bị âm thanh chưa ra đời hoặc chưa phổ biến thì lời ru là một động lực, là phương tiện vỗ về những đứa trẻ lúc còn nằm nôi. Có thể nói lời ru đã hình thành nên tính cách cơ bản của trẻ, giúp trẻ cảm nhận được tình mẫu tử bao la vô bờ bến, yêu mến thiên nhiên, cảnh vật... Lời ru làm cho tâm hồn người thêm trong sáng, cao thượng. Lời ru giản dị, gần gũi mang nét dân dã giúp con người thêm yêu ngôn ngữ, tiếng nói dân tộc, tình yêu thương nhân loại, yêu quê hương xứ sở. Chiếc võng đong đưa, chiếc nôi kẽo kẹt, với bàn tay âu yếm của ông, của bà, của chị... với dòng sữa ngọt ngào tươi mát tràn đầy sức sống của mẹ sẽ thấm dần qua tiềm thức con người ngay thời thơ ấu, cộng thêm lời ru êm ả dẫn dắt người ta vào cõi thần tiên, nơi bình lặng, êm đềm, con người cảm nhận được hình ảnh quen thuộc đó từ thuở mới lọt lòng và cũng giúp con người lớn hơn lên từ đó. Có nhà văn đã nói rằng: thật bất hạnh cho những ai từ lúc sinh ra và lớn lên mà không được nghe tiếng ru ngọt ngào của mẹ, của bà... Tâm hồn của người đó sẽ sớm cằn cỗi và thiếu đi tình cảm thiêng liêng từ buổi đầu.

Lời ru thường không có tựa, không có bài bản cố định, được các bà, các chị... hát bắt quàng, hết câu nọ sang câu kia như.

Ví dầu nhà dột cột xiêu
Muốn đi cưới vợ sợ nhiều miệng ăn

Miệng vừa hát, tay đưa nhẹ chiếc võng, cháu oe oe khóc, các bà, các chị lại hát:

Má ơi con vịt chết chìm
Con thò tay xuống vớt con cá lìm kìm nó cắn tay con
Cắn con chảy máu re re
Cây me có trái, chị hai có chồng.

Chiếc võng đưa nhanh hơn, các bà, các chị bắt đầu hơi cao giọng, luồng gió mát từ chiếc võng đong đưa cộng với câu hát êm tai của bà, của chị, đứa trẻ dường như cảm nhận được tình cảm thiêng liêng của bà, của chị đang cố gắng đưa nó vào giấc ngủ, nên nó bớt khóc, chân mày hơi nhíu lại, các bà, các chị tiếp:

Khoang khoang buông áo em ra
Để em đi bán kẻo hoa em tàn.

Đến đây thì thật sự đứa bé đã lim dim, không còn khóc nữa, nhịp võng vẫn không ngừng, nhưng có lẽ giấc ngủ nó chưa sâu, nên các bà, các chị lại hát, phải ru cho nó ngủ thật sự ngon lành:

Má ơi đừng đánh con đau
Để con bắt ốc, hái rau má nhờ...

Nội dung của câu hát ru thường mang tâm sự của người phụ nữ đối với người thương, đối với cha mẹ, đối với chồng chứ ít khi bày tỏ tình cảm trực tiếp với đứa trẻ đang ôm trong lòng.

Thương con thì nhớ đến chồng hoặc than thân trách phận bởi người chồng phụ bạc, hay giải bày nỗi niềm chua xót bởi tình duyên lận đận, lao đao do lễ giáo phong kiến áp đặt. Đây là lời người phụ nữ với người chồng phụ bạc:

Gió đưa bụi chuối sau hè, anh mê vợ bé bỏ bè con thơ
Con thơ tay ẵm tay bồng, tay nào xách nước ơ tay nào vo cơm.

Hoặc:

Gà lạc mẹ gà kêu chít, phụng lìa loan phụng chẳng muốn bay
Từ ngày anh xa bạn đến nay, châu cầm lụy hạ biết ngày nào cho dạ anh nguôi.

Lời lẽ hát ru còn để tự sự về lòng chung thủy, về tình nghèo, về lòng hiếu thảo đối với cha mẹ, cách dạy con...
Trong cảnh thanh vắng lúc hoàng hôn, bên nhịp võng đong đưa cô gái mượn câu hát ru con thay lời nhắn gởi về cha mẹ già ở quê xa:

Chiều chiều chim vịt kêu chiều,
Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau.
Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.

Hay:

Ngó lên nuột lạt trên nhà,
Đếm bao nhiêu nuột thương mẹ già bấy nhiêu.

Cũng có khi câu hát ru nói về tình bạn, tình đời hoặc người hát ru tự nhắc nhở mình:

Cây xanh thì trái cũng xanh,
Cha mẹ hiền lành để đức cho con...

Phương tiện hỗ trợ cho hát ru là chiếc võng, cái nôi, cánh tay và lồng ngực. Tiếng ru là tín hiệu truyền thông giữa hai đối tượng tiếp xúc với nhau: người hát ru và trẻ đang cần tiếng ru vỗ về để đi vào giấc ngủ vô tư, hồn nhiên, đầy mộng đẹp. Chỉ khi nào đứa trẻ nhõng nhẽo, khóc nhè đòi ngủ và được đặt lên võng đong đưa hoặc bế lên tay thì tự nhiên chùm hát ru được phát lên qua giọng trầm ấm, đều đều của ông, của bà, của mẹ, của chị... như vỗ về, ôm ấp đưa trẻ vào giấc ngủ say.

Nhịp điệu của câu hát đưa em không gãy gọn và khúc chiết như bài lý mà được diễn đạt tự do, thoải mái, trầm bổng, nhặt khoan tùy thuộc vào trạng thái tình cảm giữa người hát và đứa trẻ. Trường hợp người hát ru đã hát hàng chục câu mà đứa trẻ chưa chịu ngủ hoặc đang ngủ mà giật mình khóc thét lên thì người hát ru không thể hát theo nhịp đều đều nữa mà phải chuyển giọng lên cao hơn hoặc xuống thấp hơn, đồng thời tiết tấu cũng phải thay đổi từ chậm đến nhanh, dồn dập hơn trước.

Hát ru là một trong những yếu tố tạo được mối quan hệ truyền cảm giữa ông bà và cháu, giữa mẹ và con, giữa chị và em. Ngay từ thuở bé, trẻ đã được nghe âm thanh ầu ơ dịu ngọt qua lời ru. Lớn lên, trẻ cảm nhận và hiểu được dần nội dung của từng câu hát ru và không biết tự bao giờ tiếng ru đã trở thành một trong những yếu tố giúp trẻ hình thành nhân cách. Đối với người hát cũng vậy, không phải họ hát chỉ để ru trẻ ngủ mà còn hát cho chính mình và những người xung quanh cùng nghe. Câu hát ru còn đưa họ về với cuộc đời đầy ắp những kỷ niệm vui buồn trong xã hội phong kiến ngày xưa.

Nay, dường như tiếng hát ru trở nên hiếm, còn chăng chỉ một ít vùng, một vài nơi ở nông thôn. Gần như máy hiện đại đã thay thế hát ru, chỉ cần lắp băng, ấn nút, người ta có thể ru em bé bằng mọi giọng hát, mọi thứ nhạc xa lạ kể cả giọng hát của người nước ngoài. Thậm chí có người còn mở nhạc Pop, Rock át đi tiếng khóc của trẻ. Như vậy, các em trưởng thành từ những điều xa lạ, không cảm nhận được hơi ấm của người thân, tình làng nghĩa xóm, hình ảnh quê hương, bao điều thân thuộc sẽ dần dần phai mờ trong ký ức tuổi thơ. Các em sẽ thiếu đi lời giáo huấn ân cần chất chứa trong những lời ru.
Trải qua bao cuộc bể dâu dù bao thay đổi của cuộc đời, tiếng ru vẫn mãi muôn đời còn giữ nguyên giá trị của nó. Cần phải có sự quan tâm giữ gìn và phát huy hát ru- một nét son trong kho tàng văn hóa dân tộc.

TRẦN KIỀU QUANG
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Tin Sức Khỏe

Chạy bộ giúp cho bộ xương vững chắc
NEW YORK (Reuters) - Những người đàn ông muốn có bộ xương vững chắc cần nên tập thể dục thường xuyên bằng cách chạy bộ, theo một cuộc nghiên cứu mới.

Trong một cuộc khảo sát một nhóm đàn ông từ 19 tới 45 tuổi thường xuyên tập thể dục, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng môn chạy bộ có vẻ đem lại phúc lợi cho xương nhiều hơn các môn thể dục khác.

Tuy rằng cả những người chạy bộ lẫn những người cử tạ đều có mật độ xương (bone density) cao hơn nơi xương sống, khi so sánh họ với những người thường đi xe đạp đường dài, nhưng phần lớn phúc lợi cho xương của những người cử tạ có vẻ phát xuất từ sự kiện bắp thịt của họ gia tăng khối lượng. Trong khi đó, môn chạy bộ tỏ ra có hiệu ứng giúp cho xương vững chắc, bất kể khối lượng bắp thịt của những người chạy.

“Những kết quả từ cuộc khảo sát này xác định rằng cả môn tập tạ lẫn những môn thể dục có tác động cao (high-impact exercise) đều giúp tăng cường mật độ xương,” người cầm đầu cuộc nghiên cứu, Giáo Sư Pamela S. Hinton, thuộc trường đại học University of Missouri ở Columbia, nói trong một bản tin của trường này và thêm: “Tuy nhiên, những môn thể dục và thể thao có tác động cao, như chạy bộ, tỏ ra có nhiều phúc lợi hơn.”

Giáo Sư Hinton và các đồng nghiệp đã đăng phúc trình nghiên cứu trên đặc san Journal of Strength and Conditioning Research (Ðặc San Nghiên Cứu Sức Mạnh và Luyện Tập) số Tháng Hai năm 2009.

Bộ xương của chúng ta gồm có những mô sinh động và phản ứng đối với thể dục bằng cách trở thành vững chắc hơn.

Những môn thể dục nào khiến cho thân thể cần phải kháng cự trọng lực - như chạy bộ, nhẩy cao và cử tạ - có nhiều hiệu ứng cho xương nhất. Trái lại, những môn thể dục có tác động thấp (low-impact), như bơi lội hoặc cưỡi xe đạp, tương đối ít ảnh hưởng tới xương hơn.

Giáo Sư Hinton khuyên những người thường tập thể dục hoặc chơi những môn thể thao có tác động thấp - như bơi lội, cưỡi xe đạp hoặc chèo thuyền - hãy nên tập tạ hoặc chạy bộ để giúp cho xương vững chắc hơn. Bà nói thêm rằng khi tập thể dục chúng ta hãy nhắm vào tất cả những bắp thịt khắp thân thể để tạo ảnh hưởng tới xương.

Bà nói: “Những chương trình thể dục để gia tăng sức mạnh của bộ xương cần nên được thiết kế để tạo ảnh hưởng cho khắp bộ xương. Chỉ những nơi nào trên bộ xương chịu ảnh hưởng từ những động tác thì mới trở thành vững chắc hơn.” (n.m.)
Thiếu ngủ có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường
HealthDay News - Giấc ngủ đầy đủ có thể giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 2, theo một cuộc nghiên cứu mới ở Hoa Kỳ.

Những người ngủ trung bình dưới 6 tiếng đồng hồ mỗi đêm trong thời gian lâu dài tỏ ra có nguy cơ phát sinh bệnh tiểu đường loại 2 cao hơn gần 5 lần, khi so sánh với những người ngủ trung bình từ 6 tới 8 tiếng đồng hồ mỗi đêm, theo một cuộc nghiên cứu đã được tường trình tại một cuộc hội thảo của Hội Tim Mỹ (AHA - American Heart Association) ở Palm Harbor, Florida, hôm 11 Tháng Ba.

“Cuộc nghiên cứu này đem lại thêm những bằng chứng về sự liên quan giữa tình trạng thiếu ngủ và những vấn đề xấu cho sức khỏe. Giấc ngủ cần nên được coi như thuộc vào nỗ lực săn sóc sức khỏe trong suốt đời,” người cầm đầu cuộc nghiên cứu, Giáo Sư Lisa Rafalson, thuộc trường đại học University at Buffalo, New York, nói trong một bản tin của Hội Tim Mỹ.

Cuộc nghiên cứu - bao gồm 1,455 người đã báo về những thói quen liên quan tới giấc ngủ của họ - so sánh mức đường glucose trong máu của những người này trong thời gian 6 năm. Những kết quả căn cứ vào những điều chỉnh về tuổi tác, chỉ số khối lượng thân thể (body mass index), mức đường glucose và kích thích tố insulin trong máu, nhịp tim đập, áp huyết cao, tiểu sử gia đình về bệnh tiểu đường, và những triệu chứng trầm cảm.

Các nhà nghiên cứu không thấy có sự khác biệt gì đáng kể trong mức đường glucose hoặc nguy cơ phát sinh bệnh tiểu đường loại 2 giữa những người ngủ trung bình từ 6 tới 8 tiếng đồng hồ mỗi đêm và những người ngủ trung bình trên 8 tiếng đồng hồ mỗi đêm.

Giáo Sư Rafalson nói: “Chúng tôi hy vọng những kết quả tìm thấy này sẽ thúc đẩy thêm những cuộc nghiên cứu về sự liên quan rất phức tạp giữa giấc ngủ và những chứng bệnh.” (n.m.)

Giới thiếu niên cần có đủ sinh tố D để giảm nguy cơ mắc bệnh tim và bệnh tiểu đường
CHICAGO (AFP) - Những thiếu niên ở tuổi “teen” có mức sinh tố D thấp trong máu thì có nguy cơ mắc bệnh tim và bệnh tiểu đường cao hơn.

Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy rằng, xét một cách tổng quát, những thiếu niên thuộc sắc dân da trắng có mức sinh tố D cao hơn gần hai lần so với những thiếu niên Mỹ gốc Phi Châu, và cao hơn 30% so với những thiếu niên Mỹ gốc Mexican.

“Những số liệu về mức sinh tố D trong máu của những người trẻ tuổi dẫn tới một số lo ngại về sự chọn lựa thức ăn của họ và cả tới thời gian mà họ tiếp xúc với ánh nắng,” lời Bác Sĩ Robert Eckel, một cựu chủ tịch của Hội Tim Mỹ (American Heart Association).

Cơ thể của chúng ta sản xuất sinh tố D khi phản ứng với ánh nắng, và sinh tố này hiện hữu trong một số thực phẩm, như cá, sữa và trứng.

Sinh tố D giúp duy trì sự vững chắc của xương bằng cách yểm trợ cho xương hấp thụ chất calcium, đồng thời nó cũng giúp duy trì mức bình thường của chất phosphorus chất calcium trong máu.

Sinh tố D hòa tan trong chất béo và những người quá nặng cân hoặc phì mập thường có mức sinh tố này thấp trong máu.

Sau khi đã điều chỉnh những yếu tố như chỉ số khối lượng thân thể (body mass index), mức độ hoạt động thể chất, tuổi tác, sắc tộc, và địa vị kinh tế xã hội, các nhà nghiên cứu vẫn thấy có những liên quan đáng kể giữa mức sinh tố D thấp và tình trạng kém sức khỏe trong số các thiếu niên ở tuổi “teen” (lứa tuổi từ 13 tới 19).

Những thiếu niên nào có mức sinh tố D thấp nhất thì có nguy cơ cao gấp 4 lần bị mắc hội chứng biến dưỡng (metabolic syndrome) và một loạt những yếu tố liên quan tới quan tới bệnh tim và bệnh tiểu đường, như có vòng bụng lớn, áp huyết cao, mức đường cao trong máu.

Cuộc nghiên cứu này - đã được tường trình tại cuộc hội thảo thường niên của Hội Tim Mỹ - đã phân tích 3,577 thiếu niên tham gia cuộc khảo sát National Health and Nutrition Examination Survey (Khảo Sát Sức Khỏe và Dinh Dưỡng Toàn Quốc).

Người cầm đầu cuộc nghiên cứu, Tiến Sĩ Jared P. Reis, thuộc trường y tế công cộng Johns Hopkins Bloomberg School of Public Health ở Baltimore, nói: “Tuy cuộc nghiên cứu này là quan trọng, nhưng chúng tôi tin rằng cần nên thi hành thêm những cuộc thí nghiệm lâm sàng để xác định những hiệu ứng của sinh tố D bổ sung đối với nguy cơ mắc bệnh tim trong giới thiếu niên, trước khi xét tới những đề nghị dùng sinh tố D bổ sung để ngăn ngừa bệnh tim mạch.” (n.m.)
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Nhà báo Trường Kỳ qua đời, thọ 63 tuổi


Image
Nhà báo Trường Kỳ. (Hình: Ðặng Mỹ Hạnh)
TORONTO, Canada - “Vua nhạc trẻ” Việt Nam, nhà báo Trường Kỳ , 63 tuổi, đã ra đi vào trưa Chủ Nhật 22 Tháng Ba 2009 tại thành phố Toronto, nơi ông đã đến để dự đêm ra mắt CD “ Ơn Nghĩa Sinh Thành” của em Tường Vi, được tổ chức tại Capitol Banquet Hall.

Trường Kỳ tên thật là Vũ Trường Kỳ, sinh ngày 29 Tháng Ba 1946 tại Hà Nội, con của ông Vũ Ngọc Trân và Phạm Thị Trọng Yêm, và đến năm 1954 thì cùng gia đình di cư vào miền Nam, và nhập học trường tiểu học Aurore, theo chương trình Pháp, gần ngã tư Cao Thắng và Phan Ðình Phùng, Sài Gòn.

Sau đó Trường Kỳ vào học bậc trung học tại trường Taberd, và đậu tú tài toàn phần vào năm 1966, trước khi ghi danh vào trường Ðại Học Luật Khoa Sài Gòn.

Trường Kỳ lúc còn đi học có nhiều thứ đam mê, như sưu tầm tem thư, sưu tập truyện bằng hình... cũng như mê cả âm nhạc, nên thường mở radio, theo dõi say mê các chương trình tuyển lựa ca sĩ của đài phát thanh Sài Gòn, không hề bỏ sót chương trình đại nhạc hội nào, và bắt đầu đi học đàn Accordeon từ nhạc sĩ Vũ Lung, rồi làm quen với các tác phẩm của Phạm Duy, Văn Phụng, La Hối, Nguyễn Hiền, Canh Thân... hay với các giọng ca của Thái Thanh, Thái Hằng, Châu Hà, Kim Tước... các ca khúc bất hủ như Bambino, La Cumparsita, La Paloma, Come Back to Sorrento, Blue Danube...

Tuy nhiên để đạt được những biệt danh “Vua Nhạc Trẻ”, “Lãnh tụ Hippy”... Trường Kỳ đã phải liên tục hoạt động trong làng văn nghệ trẻ Sài Gòn vào các năm của thập niên 1960, qua các bộ môn âm nhạc, thơ, truyện, và cả làng báo văn nghệ nữa, qua các tạp chí như Kịch Ảnh, Màn Ảnh... báo Sống, Tinh Hoa, Tiền Tuyến...

Có thể nói Trường Kỳ là một trong những người đi đầu trong phong trào phát triển nhạc trẻ Việt Nam vào đầu thập niên 1960, khi cùng với các nghệ sĩ trẻ thời đó, như Nam Lộc, Jo Marcel, Tùng Giang... đứng ra tổ chức thành công nhiều cuộc trình diễn nhạc trẻ qui mô tại Sài Gòn, từ Trường Taberd, cho đến sân Hoa Lư, Thảo Cầm Viên... được hoan nghênh nhiệt liệt, mà cho đến nay còn được nhiều người nhớ đến...

Trường Kỳ cũng đã chuyển dịch nhiều bài hát ngoại quốc sang lời Việt, giúp đóng góp thêm cho sự phong phú của làng nhạc trẻ Việt Nam vào thời đó.

Tháng Tư 1975, Trường Kỳ bị kẹt lại Việt Nam, và mãi đến năm 1979, mới tìm cách vượt biên cùng với 47 người khác trên một chiếc tầu dài chừng 12 mét và sau 12 ngày lênh đênh trên biển, qua ba trận bão lớn, mới được một tầu Scotland vớt và đưa đến Nhật Bản.

Tháng Mười Một, 1980, Trường Kỳ mới được nhận đến định cư tại Montreal, Canada, và năm 1983, thì bảo lãnh được vợ, con qua.

Sau khi ổn định cuộc sống, Trường Kỳ bắt đầu viết báo trở lại, cộng tác với nhiều báo Việt ngữ tại nhiều quốc gia trên thế giới, như ở Canada, Hoa Kỳ, Úc Ðại Lợi (Tivi Tuần San)... cũng như các đài phát thanh VOA, SBS, VOVN...

Từ Canada, Trường Kỳ đã xuất bản tác phẩm “Một Thời Nhạc Trẻ”, dày 384 trang, cũng như các Tuyển tập Nghệ Sĩ 1,2,3,4, trong đó có sưu tập, phỏng vấn, giới thiệu khá đầy đủ các ca, nhạc sĩ Việt Nam...

Trường Kỳ qua đời, để lại một vợ và con gái (Vũ Ngọc Tú Uyên) cùng con rể và hai cháu ngoại.
Theo cáo phó mang chữ ký của bà Ðinh Thị Thu Huyền,
góa phụ của nhà báo Trường Kỳ, thì thi hài của Trường Kỳ, đã được chuyển từ Toronto về Montreal,
và linh cữu hiện được quàn tại Magnus Poirier Inc., 6825 Rue Sherbrooke East, Montreal, Quebec, H1N 1C7.

Ngày giờ thăm viếng: từ 2 giờ chiều đến 10 giờ tối, các ngày 27, 28 và 29 Tháng Ba 2009.

Lễ an táng: 10 giờ sáng Thứ Hai 30 Tháng Ba 2009 tại nhà thờ Saint Jude. 10120 D' Auteuil, Montreal-Quebec H3L 2K. (L.T.)
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Chuyện trùng phùng của nữ tù tử tội với con trai vị ân sư

Phim tập Đại Hàn thường dễ gây cảm xúc cho người xem, nhất là người Việt Nam… hơn là phim Nhật. Lý do là phim Đại Hàn thường có những tình tiết khá ướt át, lãng mạn đưa người xem vào một thế giới không thật…

Tuy nhiên buổi gặp gỡ của một cựu điệp viên Bắc Hàn vào ngày 11 tháng 3 tại Seoul, cô gái từng đã đặt bom trên chiếc phi cơ Đại Hàn vào năm 1987 khiến 115 người thiệt mạng, với gia đình của một người Nhật, lại là một câu chuyện thực. Chính vì thế mà nó làm cho người ta có cái cảm giác như đang ở trong phim.

Kim Hiền Cơ, cựu điệp viên Bắc Hàn, cựu tử tù Nam Hàn; nhận một công tác trực tiếp từ Kim chính Nhật: Gài bom khủng bố chiếc phi cơ hành khách của hãng hàng không Đại Hàn để cản trở quốc gia này tổ chức Thế vận hội 1988. Chuyến bay 858 khởi hành từ Bagdah–Iraq ngày 27/11/1987, chuyển tiếp sân bay Dubai của Tiểu vương quốc Á rập, dự trù ghé Bangkok trước khi đến trạm cuối là Hán Thành. Tuy nhiên chiếc máy bay đã phát nổ trên không phận giữa Miến Điện và Thái Lan làm tất cả 115 hành khách người Nam Hàn đều thiệt mạng. Cả thế giới rúng động vì biết đây không phải là tai nạn bình thường. Hai nhân vật khả nghi một nam, một nữ mang thông hành Nhật Bản chuyển tiếp ở sân bay Dubai được đặt vào ống nhắm của cảnh sát Đại Hàn, Nhật Bản… với sự phối hợp của Quốc gia Bahrain; nơi hai nhân vật dự tính leo lên một chuyến bay đi Roma.

Khi cảnh sát phát hiện cả hai thông hành đều là giả. Lập tức, người đàn ông cắn mẩu thuốc lá đang gắn trên môi, chất độc cực mạnh khiến hắn ta quị ngã và tắt thở ngay sau đó.

Cô gái dường như đang cố gắng làm hành động tương tự với một viên thuốc gắn trong răng, nhưng không kịp… vì người ta đã chận được miệng cô…

Câu chuyện trên từng được người viết gởi đến độc giả trên đất Nhật khá tường tận cách đây hơn 20 năm, không ngờ có ngày lại được nhắc lại trong một bối cảnh hoàn toàn khác.

Sau một vài cuộc họp báo vào những năm 1988, 1992... cựu tử tù Kim Hiền Cơ rút lui vào bóng tối, sống dưới sự che chở cẩn mật của cảnh sát Nam Hàn. Cô kết hôn cùng người vệ sĩ và có 2 đứa con. Trong các cuộc họp báo đó, cô thường nhắc tới người thày dạy tiếng Nhật cho cô trong suốt hai năm. Đó là một phụ nữ Nhật bị Bắc Hàn bị bắt cóc vào năm 77 và qua các cuộc điều tra không khó, Nhật Bản đã xác định vị ân sứ đó là cô Taguchi Yaeko.

Cô Taguchi bị mất tích vào năm 22 tuổi, để lại con nhỏ mà đứa thứ hai chưa đầy 1 tuổi. Hai đứa bé này được người bác ruột, anh của cô, đưa về nuôi và 20 năm sau, ông bác mới cho 2 đứa cháu biết rõ thân thế của chúng.

Mặc dù chính phủ Nhật Bản và các gia đình có người thân bị bắt cóc, rất muốn tiếp xúc với Kim hiền Cơ để hỏi cho cặn kẽ về số phận những người như cô Taguchi; tuy nhiên hai đời tổng thống Nam Hàn là ông Kim Đại Trọng và Roh MooHuyn đều áp dụng chính sách hoà hoãn“Vầng Thái Dương”, vì không muốn làm mất lòng Bắc Hàn; nên hạn chế tất cả các vụ tiếp xúc với Kim Hiền Cơ từ phía Nhật Bản, và còn chủ ý tạo ra những nghi vấn khác như vụ nổ máy bay trên không năm 1987 là do chính phủ trước dàn dựng và Kim Hiền Cơ cũng là một điệp viên giả. Vì thế phải đợi tới 12 năm ước nguyện của phía Nhật mới được thực hiện khi đương kim tổng thống Đại Hàn đắc cử với chủ trương cứng rắn với Bắc Hàn..

Ngày 11 tháng 3 vừa qua, đứa con trai của cô Taguchi, nay đã 32 tuổi… cùng người bác, cũng là bố nuôi đã bay sang Hán Thành gặp cô… nay đã là bà Kim Hiền Cơ, 47 tuổi.
Trong bộ đồ đen giản dị, Kim hiền Cơ rơm rớm nước mắt cúi chào 2 người khách Nhật. Khi bắt tay với cậu con trai Taguchi, cô bật miệng bằng tiếng Nhật rất lưu loát… “tôi muốn ôm cháu một chút được chứ?”
Image
Kim Hiền Cơ và cậu con trai bà Taguchi.
Tuy chỉ là một câu nói bình thường, nhưng nó chứa đựng tất cả những gì người nữ tử tù này muốn biểu hiện thay cho người mẹ của cậu con trai, tức ân sư của bà.

Có cuộc sống tương đối tự do và hai đứa con, có lẽ Kim Hiền Cơ đã cảm được cái nỗi đau xé lòng của cô giáo Taguchi khi đột nhiên bị mất con, bị mất tự do, bị đưa vào một thế giới hoàn toàn xa lạ với những nỗi hiểm nguy rình rập… Kim hiền Cơ muốn làm một cái gì đó cho người thầy tiếng Nhật của mình, cũng như cho gia đình của Taguchi. Và điều làm được là một cuộc gặp gỡ, cái ôm thay cho người mẹ cậu con trai và những xác nhận về tông tích mà Kim Hiền Cơ dư biết là có thể đem đến tai ương cho gia đình mình.
Tôi nghĩ Mẹ cháu còn sống, hãy cố gắng để có ngày gặp được bà…

Những chi tiết về bà Taguchi được Kim Hiền Cơ tiết lộ, cho thấy những gì Bắc Hàn tuyên bố về số phận những người bị bắt cóc hoàn toàn dối trá.

Gia đình Taguchi và Kim Hiền Cơ đã nói chuyện với nhau hơn 90 phút mà không cần thông dịch viên. Về phía Nhật, dù là những nguồn tin cũ đã hơn 20 năm; tuy nhiên đối với họ vẫn có giá trị để duy trì niềm hy vọng là những người bị bắt cóc vẫn còn sống sót. Trên căn bản này, khi hai phía Nhật-Triều mở lại các cuộc đối thoại, sẽ là một luận cứ để buộc Bắc Hàn phải thành thật hơn khi thương thuyết.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image

Nhỏ ăn đậu nành, lớn tránh ung thư

Một công trình nghiên cứu của Mỹ cho thấy những phụ nữ ăn nhiều đậu nành khi còn nhỏ thì giảm đáng kể nguy cơ ung thư vú vào tuổi trung niên.

Các nghiên cứu trước kia từng gợi ý về mối liên quan giữa đậu nành với nguy cơ ung thư vú.

Phát hiện mới đây cũng cho thấy ăn nhiều đậu nành có hiệu quả bảo vệ ở bất cứ giai đoạn nào trong cuộc đời, và tiếp tục khẳng định rằng hiệu quả bảo vệ mạnh mẽ nhất là ở những người từng ăn đậu nành khi còn bé.

Nghiên cứu được thực hiện trên gần 1.600 phụ nữ Mỹ gốc Á, 600 người trong số họ bị ung thư vú và số còn lại khỏe mạnh.

Những người ăn nhiều đậu nành khi còn nhỏ - khoảng một lần mỗi tuần hoặc hơn - thì giảm 58% nguy mắc bệnh này so với những người tiêu thụ ở lượng ít hơn.

Còn những người ăn nhiều đậu nành nhưng ở tuổi trưởng thành, thì giảm 25% nguy cơ ung thư vú.

Mặc dù vậy, các nhà nghiên cứu vẫn cảnh báo rằng công trình này là chưa đủ để khuyến cáo gia tăng lượng đậu nành trong thực đơn của trẻ. Họ kêu gọi có thêm các nghiên cứu khác.

"Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên đánh giá việc ăn đậu nành ở tuổi thơ ấu và nguy cơ mắc ung thư vú về sau, và kết quả này chưa đủ để đưa ra khuyến cáo với cộng đồng", chuyên gia cao cấp Regina G. Ziegler, từ Viện Ung thư Quốc gia Mỹ, cho biết.

T. An (theo Tân Hoa Xã)
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Cho và ghép bộ phận cơ thể

Bác Sĩ Nguyễn Ý Ðức

Ghép bộ phận cơ thể được thực hiện lần đầu tiên tại Hoa Kỳ vào ngày 23 Tháng Mười Hai năm 1954 khi trái thận của người anh, Ronald Herrick, tặng cho người em song sinh Richard Herrick. Phẫu thuật do Bác Sĩ Joseph E. Murray thực hiện thành công mỹ mãn tại bệnh viện Peter Bent Brigham, thành phố Boston.

Người nhận sống thêm được 8 năm với mọi sinh hoạt bình thường cho tới khi vĩnh biệt cõi trần vì một căn bệnh không liên quan tới thận. Và người tặng tiếp tục cuộc sống khỏe mạnh với nghề dạy học cho tới khi đủ tuổi nghỉ hưu.

Diễn tiến phẫu thuật đã được họa sĩ Joel Babb ghi lại một cách hết sức linh động, chính xác và hiện nay vẫn còn được trưng bầy tại thư viện của Ðại Học Harvard ở Boston.

Năm 1990, Bác Sĩ Murray và Bác Sĩ E. Donnall Thomas được trao tặng giải Nobel Y Học vì đã tiên phong đóng góp cho y học một sáng kiến độc đáo và vô cùng nhân đạo là dùng chuyển-ghép bộ phận- mô bào cơ thể để trị bệnh của con người. Bác Sĩ Murray chuyển ghép thận còn Bác Sĩ Thomas có công trong việc đặt nền móng cho việc ghép chuyển tế bào tủy xương để chữa trị ung thư máu.

Từ đó, phẫu thuật ghép cơ quan, mô bào phát triển mạnh mẽ với các kỹ thuật tân tiến, tinh vi, mang lại sự sống cho nhiều người bệnh và nhiều niềm vui chia sẻ cho người hiến tặng.

Xin cùng tìm hiểu về việc làm có tính cách nhân đạo này.

Khái niệm về việc chuyển-ghép bộ phận đã manh nha từ thuở xa xưa, nhưng trở ngại chính là sự khước từ (reject) tế bào lạ của người nhận và sự chống lại của mảnh ghép với ký-chủ (graft-versus-host).

Các khoa học gia đã chứng minh được rằng, có một “sức mạnh sinh học” (biological force) nào đó trong cơ thể gây cản trở cho sự ghép này. Ðó là phản ứng miễn dịch. Hệ miễn dịch có khả năng phân biệt vật lạ xâm nhập cơ thể như vi khuẩn, virus, mô bào rồi tiêu diệt chúng để tự bảo vệ. Cơ quan bộ phận ghép là vật lạ đối với người nhận.

Sau nhiều năm nghiên cứu, khoa học đã tìm ra cách để vượt qua trở ngại đó bằng các chất ức chế hệ miễn dịch khi chuyển ghép. Nhiều dược phẩm, hóa chất được tìm ra. Khởi đầu là với steroid cortisone, rồi mercaptopurine, phóng xạ, antilymphotic serum (ALS), thuốc chống ung thư bạch cầu (leukemia) Azathioprine rồi đến kháng sinh Cyclosporine được dùng từ năm 1983.

Với sự phổ biến của cho-ghép thì một nan giải khác lại xuất hiện. Ðó là sự thiếu các bộ phận để ghép. Hàng năm, có nhiều chục ngàn người ở khắp nơi cần cơ quan mà không có, và nhiều bệnh nhân lâm chung trong khi chờ đợi “Món Quà Tặng Ðời Sống” -Gift of Life- đó.

Tại Hoa Kỳ, có gần 80,000 bệnh nhân trong danh sách chờ đợi ghép bộ phận và mỗi tháng có khoảng 3,000 người mới được thêm vào.

Trong năm 2001, có 2,025 bệnh nhân thận, 13,47 bệnh gan, 458 bệnh tim và 361 bệnh phổi thiệt mạng vì mỏi mòn tuyệt vọng chờ đợi được ghép.

Ðể giải quyết phần nào sự thiếu hụt này, giới chức y tế và nhiều tổ chức thiện nguyện tại các quốc gia đã kêu gọi lòng nhân đạo của công chúng trong việc hiến tặng những sợi mô bào huyết mạch của mình để cứu sống người khác.

“Ghép” (transplant) là phẫu thuật đặt một cơ quan hoặc mô bào lấy từ cơ thể người cho chuyển sang một người bệnh có nhu cầu.

Bộ phận ghép có thể từ người còn sống hoặc từ thi thể người hứa tặng vừa mới vĩnh viễn ra đi.

Các bộ phận từ người còn sống là:

- Thận

Ðây là cơ quan được hiến nhiều hơn cả. Sau khi hiến tặng một trái thận, người cho vẫn sống đời sống bình thường vì trái thận còn lại có đủ khả năng chu toàn nhiệm vụ cho hai thận.

- Gan

Mỗi người có thể tặng một miếng gan và miếng gan này có thể tăng sinh và hoạt động bình thường ở người nhận.

- Phổi

Mặc dù các thùy phổi không tái sinh, nhưng mỗi người có thể tặng một thùy phổi.

- Tụy tạng

Cũng như phổi, tụy tạng không tái sinh nhưng mỗi người có thể tặng một phần tụy tạng mà vẫn không bị hậu quả xấu nào.

Các bộ phận cho không để dành lâu ngày được mà phải dùng trong một thời gian nhất định. Chẳng hạn thận có thể được cất giữ trong 72 giờ, gan 18 giờ, tim 5 giờ, tụy tạng 20 giờ, giác mạc 10 ngày, da, xương và van tim giữ được từ 5 năm trở lên, kể từ khi lấy ra.

Do đó ruột, giác mạc, da, xương, tủy xương, tĩnh mạch, gân, dây chằng, van tim, tai trong, sụn, máu ở cuống rốn, tế bào mầm trong máu ngoại vi được thu nhận cất giữ trong ngân hàng bộ phận để dùng khi cần.

Với cơ thể một người quá cố thì hầu hết các bộ phận, mô bào đều được thu nhận, sử dụng. Theo ước lượng, mỗi người hứa tặng thì tế bào của họ có thể ghép cho 50 người bệnh có nhu cầu.

Khi não bộ ngưng hoạt động hoàn toàn và vĩnh viễn, người cho sẽ được duy trì tình trạng “sống” với tim phổi còn hoạt động trong một khoảng thời gian ngắn để sửa soạn giải phẫu lấy cơ quan.

Thường thường, mô bào như da, xương, van tim được lấy sau khi tim ngưng đập 24 giờ, giác mạc được lấy 12 giờ.

Chỉ một số nhỏ tử vong không hiến cơ quan được, như là nhiễm HIV dương tính, ung thư đang phát triển mạnh, một số bệnh truyền nhiễm trầm trọng. Còn đa số các bệnh kinh niên khác đều có thể hiến thân xác của mình.

Trước khi lấy bộ phận, bác sĩ chuyên khoa sẽ kiểm soát rất kỹ coi xem bộ phận hiến tặng có hội đủ những tiêu chuẩn căn bản.

Từ trẻ sơ sinh tới lão nhân 65 tuổi trở lên đều có thể cống hiến bộ phận và mô bào.

Người dưới 18 tuổi, cần sự đồng ý của cha mẹ hoặc người đỡ đầu hợp pháp.

Ở Hoa Kỳ, mỗi năm có từ 10,000-14,000 người mãn phần hội đủ tiêu chuẩn để hiến bộ phận nhưng chỉ có nửa số người này thực sự cho các bộ phận.

Thủ tục hiến cơ quan rất đơn giản và gồm có:

a. Tại đa số các tiểu bang Hoa Kỳ đều có một văn phòng ghi danh người hiến tặng.

b. Mỗi người có thể ghi ý định tặng hiến trên bằng lái xe khi thi hoặc gia hạn bằng.

c. Ký tên đồng ý trên tấm thiệp tặng bộ phận (donnor card), cất trong ví cho tới khi có cơ hội ghi trên bằng lái xe.

d. Cần cho thân nhân hay ý định của mình để tránh sự phản đối sau khi mình qua đời. Theo ước lượng, có tới 35% người có ý định hiến tặng mà không bao giờ cho được, vì gia đình không chịu ký giấy đồng ý. Do đó, thân nhân đôi khi cũng được yêu cầu ký một giấy tán trợ ý định của người hiến tặng.

Năm 1984, Quốc Hội Hoa Kỳ ban hành đạo luật về Ghép Bộ Phận. Việc mua bán bộ phận bị nghiêm cấm để tránh người lắm tiền nhiều của lạm dụng.

Các bộ phận cho sẽ được đối chiếu với người nhận bằng hệ thống ghi danh do cơ quan United Network for Organ Sharing (UNOS), trụ sở tại thành phố Richmond, bang Virginia, điều khiển. Cơ quan chịu trách nhiệm việc phân phối một cách công bằng các bộ phận tặng hiến cho những người trong danh sách chờ đợi.

Ở Hoa Kỳ, các bệnh viện phải thông báo các trường hợp tử vong cho Tổ Chức Cung Cấp Bộ Phận (Organ Procurement Organisation). Nếu tổ chức thấy cơ quan hoặc mô bào của tử thi thích hợp, họ sẽ cử người tới thương lượng với gia đình người quá cố để xin bộ phận.

Các bệnh sau đây có thể được ghép cơ quan: bệnh động mạch tim, viêm và xơ cứng gan; COPD; tiểu đường với biến chứng thận và mắt; cao huyết áp với suy tim; bệnh đa nang thận; hội chứng ruột ngắn.

Ghép thận phổ biến nhất vì suy thận là chuyện dễ xảy ra khi bị cao huyết áp, tiểu đường, nhiễm trùng tiết niệu. Người cho cũng có sẵn vì con người chỉ cần một trái thận để sống bình thường. Kỹ thuật thay thận cũng giản dị. Thận suy có thể để nguyên tại chỗ và thận mới được ghép phía dưới thận bẩm sinh.

Chuyển-Ghép bộ phận là việc làm có tính cách nhân đạo dựa trên sự vị tha và niềm tin chung của con người. Hầu hết các tôn giáo đều chấp nhận sự hiến tặng bộ phận hoặc mô bào cơ thể như một lý tưởng nhân đạo, một hành động hoàn toàn bác ái, biểu hiệu của tình yêu thương và tặng hiến...

Bác sĩ đang điều trị sẽ giới thiệu, giúp đưa tên người có nhu cầu vào danh sách chờ đợi.

Người có nhu cầu phải đích thân tới một trong những bệnh viện chuyên về ghép cơ quan để làm thủ tục cần thiết. Các bệnh viện này đều là hội viên của UNOS và tại Hoa Kỳ có hơn 200 trung tâm.

Bác sĩ của bệnh viện sẽ khám nghiệm để coi xem mình có hội đủ các điều kiện nhận không. Ta có thể ghi danh ở nhiều bệnh viện khác nhau và mỗi bệnh viện có tiêu chuẩn hơi khác nhau. Tên của mình sẽ đưa vào một danh sách chung của cả nước.

Khi có bộ phận hiến, tất cả bệnh nhân đợi đều được mang ra để so sánh với bộ phận cho này.

Các tiêu chuẩn chọn lựa gồm có loại máu, loại cơ quan, kích thước, nhu cầu cấp bách của bệnh nhân, thời gian chờ đợi và không gian cách biệt giữa người cho và người nhận. Bộ phận cho sẽ dành cho người bệnh nào thích hợp nhất với cơ quan hiến tặng.

Trung bình, thời gian đợi để được ghép tim là 230 ngày, phổi 1,068 ngày, gan 796 ngày, thận 1,121 ngày và tụy tạng 501 ngày.

Theo thống kê, tại Hoa Kỳ mỗi năm có khoảng 750,000 mô bào được chuyển ghép.

Tới Tháng Giêng năm 2008, có trên 97,900 người đợi để được ghép bộ phận mà mỗi tháng chỉ có khoảng 80 người nhận được tin vui có bộ phận và 20 người thiệt mạng vì mỏi mòn chờ đợi, không có tin vui.

Theo cơ quan phối hợp hiến ghép cơ quan Hoa Kỳ thì vào năm 2004, 50% ghép thận là từ người tặng còn sống, và đã có hơn 320 trường hợp tặng một phần gan và 12 ca cho một thùy phổi.

Năm 2004, khoảng 2,500 tủy sống, 7,000 giác mạc được ghép tại Hoa Kỳ.

Tới Tháng Tư năm 2008, số người ghi danh hứa hiến tặng thân xác tại Hoa Kỳ đã lên tới 70 triệu với khoảng 35% người ghi ý muốn tặng cơ quan trên bằng lái xe của mình.

Vì sự khan hiếm bộ phận cơ thể, một số vấn đề có tính cách luân lý và đạo đức được nêu ra:

- Liệu có nên dành ưu tiên ghép cho bệnh nhân có nhiều hy vọng sống sót?

- Liệu cha mẹ trẻ em được ưu tiên ghép để chăm sóc con cái?

- Liệu có nên tưởng thưởng để khuyến khích nhiều người hiến tặng? Hoặc thân nhân người quá cố đồng ý việc hiến được tặng một số hiện kim?

- Liệu nại cớ đi du lịch tới các quốc gia đang mở mang rồi mua ghép cơ quan bị coi là lạm dụng, khai thác người nghèo?

- Liệu tử tù chờ đợi hành hình có thể hiến tặng cơ quan để giúp thân nhân được hưởng một phần lợi nhuận?

Chủng tộc có vai trò quan trọng trong việc ghép cơ quan. Tại Hoa kỳ, một vài sắc dân thiểu số thường mắc các bệnh cần thay cơ quan, như người Mỹ gốc Châu Phi bị bệnh thận nhiều hơn người da trắng. Sự ghép thành công hơn nếu bộ phận thay thế đến từ người cùng chủng tộc. Do đó nếu người thiểu số không chịu hiến cho thì danh sách người đợi sẽ dài hơn.

Nhiều người e ngại rằng, khi biết mình đã hứa tặng bộ phận, bác sĩ sẽ không tận tâm cứu chữa. Xin đừng e ngại, vì lương tâm chức nghiệp không cho phép họ làm như vậy. Vả lại, các nhà chuyên môn khác thực hiện việc thu-ghép bộ phận chứ không phải bác sĩ gia đình. Họ chỉ lấy cơ quan sau khi bác sĩ điều trị đã cố gắng tìm đủ mọi cách để cứu sống bệnh nhân mà vẫn thất bại.

Nhiều người thắc mắc là liệu khi tặng cơ quan, thân hình có bị biến dạng vì những vết cắt mổ?

Một lần nữa xin cứ an tâm, vì lấy cơ quan cũng là những phẫu thuật tế nhị, thực hiện cẩn thận để cơ quan lành lặn dùng được. Do đó, các vết cắt mổ gọn gàng, được khâu lại đàng hoàng, chu đáo.

Chi phí cho việc chuyển-ghép là vấn đề cần lưu ý.

Theo luật lệ cũng như mục đích tối hậu của sự hiến tặng, người cho không được nhận một lợi nhuận nào.

Với việc nhận ghép, phí tổn cũng khá cao. Theo organdonor.gov, vào năm 2005, ghép một trái thận tốn khoảng 210,000 Mỹ kim còn ghép nhiều bộ phận như gan-tụy tang-ruột chi phí lên tới 800,000 đô la.

Ðây là món tiền quá lớn nhưng bảo hiểm cá nhân, các chương trình của chính phủ như Medicare, Medicaid, một số các tổ chức từ thiện có thể giúp đỡ trang trải.

Kết luận

Trong dịp đầu năm, cùng với đón Tết, mừng Xuân, những lời chúc tụng, những cánh thiệp nhiều màu xinh xinh được luân lưu. Ðể chúc nhau khang an, thịnh vượng, “muôn người Hạnh Phúc chan hòa”.

Hạnh phúc đến từ những việc rất nhỏ: một nụ cười của bé thơ; một cánh thư từ người bạn cố tri, tiếng chim hót líu lo trên cành cây, một chén cơm cho người đói khát...

Ðức Phật Thích Ca có giảng: “Cả trăm ngọn nến có thể đốt lên từ một ngọn nến nhỏ nhoi mà ngọn nến này không sớm tắt. Hạnh phúc chẳng bao giờ giảm bớt khi ta chia sẻ”.

Chia sẻ một mô bào, một chút máu, một bộ phận cho người bệnh có nhu cầu được cứu sống.

Bài này được trích đăng từ Ðặc San Giáo Sĩ Việt Nam, số 88

Bác Sĩ Nguyễn Ý-Ðức

Texas-Hoa Kỳ
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Image

Bổ Dưỡng Như Trái Táo Đỏ
Táo đỏ được người Trung Quốc gọi là loại quả đến từ thiên đường. Táo đỏ có nhiều công dụng đối với sức khỏe con người, cả về giá trị dinh dưỡng lẫn công dụng phòng, trị bệnh. Trong Đông Y thường dùng táo đỏ để trị các chứng “hư”.

Đông Y quy táo đỏ vào loại thuốc bổ khí, vì táo đỏ có tính hoà, vị ngọt, có tác dụng ngăn ngừa ho, bổ ngũ tạng, lợi tim phổi, trị các chứng “hư”. Khi chức năng nhu động dạ dày đường ruột yếu và chức năng tiêu hoá hấp thụ kém, có thể thường xuyên ăn táo đỏ để cải thiện chức năng không tốt của dạ dày đường ruột và tăng cường thể lực. Người hay có chứng đầy bụng có thể thêm một ít gừng tươi vào nấu lên cùng uống, bụng lập tức sẽ hết “trướng khí”.

Táo đỏ và táo đen có thành phần và công hiệu giống nhau nhưng táo đen có thêm chức năng bổ máu. Theo nghiên cứu của dược lý hiện đại, táo đỏ có tác dụng tăng cường thể chất, làm khoẻ cơ lực. Táo đỏ có chứa hàm lượng đường cao có thể sản sinh ra nhiệt lượng lớn, ngoài ra cũng chứa phong phú protein, chất béo và nhiều loại vitamin, đặc biệt là hàm lượng lớn vitamin C trong táo đỏ có thể được gọi là “quán quân” trong các loại hoa quả.

Điều đặc biệt nhất là táo đỏ có chứa lượng quercetin (một chất tự nhiên có trong hoa quả) cao, flavonoid và phytocbemicals trong táo còn giúp đẩy nhanh quá trình chống oxy hóa, và ngăn chặn hoạt động của các gốc tự do. Chất quercetin có thể khuếch trương động mạch vành, tăng cường lực thu co cho cơ tim. Ngoài ra, chất phytocbemicals giúp chống lại các chất gây ung thư, ngăn chặn nguy cơ ung thư ngay từ khi chưa hình thành. Điều đó có nghĩa là việc ăn táo mỗi ngày sẽ phòng trừ nguy cơ bị ung thư tuyến tiền liệt, ung thư phổi hay các bệnh ung thư khác.

Khi tinh thần hoảng loạn, tim loạn nhịp, ngủ không yên giấc hoặc đang trong giai đoạn tiền mãn kinh thì trong các loại thuốc sắc của Đông y luôn có vị táo đỏ. Đó là do táo đỏ có tác dụng an thần. Vì vậy, nếu cảm thấy mệt mỏi và áp lực với công việc thì nên cho ít táo đỏ vào trong thức ăn hàng ngày.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »



Image

Chelsea Clinton: từ Công chúa đến Thường dân

Oanh Thơ
Trong khoảng thời gian 8 năm làm “công chúa” ở Tòa Nhà Trắng, Chelsea Clinton đã được cha mẹ của cô tuyệt đối bảo vệ để có được cuộc sống bình thường của một cô gái vị thành niên.

Ngay cá nhân của Chelsea, từ khi bước chân vào đại học và sau đó ra đời tự lập, cô cũng tự giữ được cho chính mình một cuộc sống tương đối bình lặng, không gây tai tiếng vì nhậu nhẹt trác táng như hai cô con gái của Tổng Thống Bush, trong thời gian cha mình là nguyên thủ quốc gia.

Chelsea Victoria Clinton sinh ngày 27 tháng 2 năm 1980, tại Little Rock, Arkansas. Cô là con gái duy nhất của cựu Tổng Thống Bill Clinton và Bộ Trưởng Ngoại Giao Hillary Clinton. Tên của Chelsea được đặt theo một bài hát nổi tiếng của Judy Collins “Chelsea Morning” do nữ ca sĩ Joni Mitchell trình bày.

Từ nhỏ, Chelsea được mô tả là một đứa trẻ thông minh và dùng ngữ vựng rất chính xác. Khi ở bậc tiểu học, cô học nhảy từ lớp hai lên lớp tư.

Ông bà Clinton luôn hỗ trợ và khuyến khích Chelsea trong vấn đề học vấn và dĩ nhiên, cô đã không hề phụ lòng cha mẹ khi luôn là học sinh danh dự từ bậc tiểu học lên đến trung học.

Ðược các trường đại học nổi tiếng như Havard, Yale và Princeton... nhận nhưng Chelsea chọn học tại Stanford University ở California và tốt nghiệp cử nhân ngành sử học tại đây năm 2001. Ðề tài luận án tốt nghiệp của cô là về Hòa Ước Belfast năm 1998 ở Bắc Ái Nhĩ Lan. Tiếp đó, Chelsea theo học bậc cao học tại University College, Oxford và tốt nghiệp thạc sĩ (Master) về môn International Realtions.

Hiện Chelsea Clinton đang học ngành “Health Policy and Management” ở trường Columbia University's Mailman School of Public Health.

Bên cạnh việc cắp sách đến trường để học chữ, Chelsea thích chơi volleyball, pingpong và coi xi nê. Cô cũng học múa ballet từ năm 4 tuổi và đã tham dự những buổi trình diễn ballet của ban vũ Washington Ballet.

Từ năm 11 tuổi cho đến nay, Chelsea hoàn toàn ăn chay.

Năm 1998, sau khi ông Bill Clinton thú nhận có quan hệ tình ái với cô sinh viên thực tập Monica Lewinsky, Chelse đã là sợi dây bền vững giữa cha mẹ của cô và đã hết lòng hỗ trợ tinh thần cho cả hai người trước cơn sóng gió và tai biến có thể mất chức vị tổng thống đó của cha.

Trong những ngày tháng cuối cùng của triều đại Clinton ở White House, Chelsea được giao cho trách nhiệm thay mặt bà Hillary tiếp đãi khách thăm viếng, vì lúc ấy bà Clinton đang bận rộn chú tâm vào việc ra ứng cử chức vụ nghị sĩ của tiểu bang New York.

Từ khi không còn là “công chúa” của Tòa Nhà Trắng nữa, Chelsea bắt đầu cuộc sống của người dân thường khi tìm được việc làm ở công ty McKinsey and Company và sau đó là công ty Avenue Capital Group. Cô là nhân viên trẻ tuổi nhất được thâu nhận tại hai công ty này.

Bên cạnh công việc thường ngày này, Chelsea giữ chức đồng chủ tịch của tổ chức từ thiện “Clinton Foundation”.

Về mặt tình cảm, Chelsea Clinton từng thân thiết với tài tử Jake Gyllenhaal và ký giả kiêm nhà văn Ian Klaus. Nhưng hiện nay thì cô đang là người yêu của Marc Mezvinsky, con trai của cựu nghị sĩ Edward Mezvinsky ở Iowa và bà nghị sĩ Marjorie ở Pennsylvania. Marc cũng từng tốt nghiệp từ trường Stanford University.

Mặc dù trước đó, Chelsea không bao giờ phát biểu ý kiến về những hoạt động và khuynh hướng chính trị của ông bà Clinton, nhưng kể từ khi bà Hillary Clinton ra ứng cử tổng thống vào năm 2006, Chelsea đã ra mặt vận động tranh cử cho mẹ mình bằng cách riêng của cô là nhắm vào lá phiếu của giới sinh viên. Cho đến tháng 4 năm 2008, Chelsea Clinton đã nói chuyện tại 100 trường đại học trên toàn quốc.

Mặc dù được ông bà Clinton bảo vệ tối đa trong việc tránh xa sự xoi mói của giới truyền thông, nhưng suốt thời gian gia đình Clinton cư ngụ tại Tòa Nhà Trắng, Chelsea đã nhiều lần bị một số thông tín viên truyền hình và truyền thanh đem ra làm đề tài nhạo báng và chê bai một cách có ác ý của vì họ cho rằng cô thiếu nhan sắc.

Bây giờ trưởng thành hơn và xinh đẹp hơn trước, Chelsea đang sống cuộc đời của một người dân thường, nhưng cô cũng tự giới hạn mình trong sự liên hệ với giới truyền thông. Cô chỉ xuất hiện trước ống kính truyền hình khi giới thiệu bà Hillary Clinton tại Ðại Hội đảng Dân Chủ vào tháng 8 năm ngoái mà thôi.

Bây giờ, Chelsea chỉ mới có 29 tuổi và có một con đường dài trước mặt để đi tới. Một ngày nào đó trong tương lai, biết đâu, cô sẽ theo bước chân của mẹ mình để ra tranh cử chức vụ tổng thống. Và lúc đó, người dân Hoa Kỳ sẽ có thể chấp nhận việc một phụ nữ làm tổng thống của đất nước mình và bầu cho cô.

Chuyện tương lai, không thể biết trước được.

(Viết theo tin tức của Biography.com)
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Uống rượu điều độ có thể giúp cho xương vững mạnh
Monday, March 30, 2009


NEW YORK (Reuters) - Những người thường uống một hoặc hai ly rượu vang hoặc bia mỗi ngày thì có thể giúp cho xương của họ vững chắc, theo một cuộc nghiên cứu mới đã đăng trên đặc san American Journal of Clinical Nutrition (Ðặc San Mỹ về Dinh Dưỡng Lâm Sàng).

Tuy nhiên, nếu uống nhiều hơn - và uống rượu mạnh (như whisky, cognac, vodka) thay vì uống rượu vang và bia - thì có thể khiến cho xương trở thành yếu hơn, theo lời Bác Sĩ Katherine Tucker, thuộc trường đại học Tufts University ở Boston, và các đồng nghiệp.

Trong một cuộc phỏng vấn của thông tấn Reuters, Bác Sĩ Tucker nói rằng ở thời buổi này người ta khó có thể phân biệt một cách đích xác về những phúc lợi hoặc nguy cơ của rượu đối với sức khỏe. Bà nói: “Ðây là vấn đề có thể làm rối trí nhiều người, vì rượu có những hiệu ứng khác nhau đối với những điều khác nhau. Thí dụ như rượu có thể giúp ngăn ngừa bệnh tim mạch, nhưng có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú.”

Dù sao, Bác Sĩ Tucker nói thêm rằng hiệu ứng của rượu đối với mật độ khoáng chất của xương (bone mineral density, viết tắt là BMD) mà bà và các đồng nghiệp đã nhận thấy là “cao hơn những gì mà chúng tôi đã thấy khi so sánh với bất cứ chất bổ dưỡng nào khác, ngay cả chất calcium. Ðây không phải điều mơ hồ. Nó rất rõ rệt.”

Trong cuộc nghiên cứu hiện thời, Bác Sĩ Tucker và các đồng nghiệp đã khảo sát xem những loại rượu khác nhau ảnh hưởng tới mật độ của xương như thế nào đối với 1,182 người đàn ông và 1,289 phụ nữ đã mãn kinh, và 248 phụ nữ chưa mãn kinh, đã tham gia cuộc nghiên cứu tên là “Framingham Offspring Study.” Những người này ở tuổi từ 29 tới 86.

Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng những người đàn ông uống một hoặc hai ly rượu vang, hoặc bia, mỗi ngày thì có mật độ xương dầy đặc hơn những người không uống rượu; nhưng những người đàn ông uống từ hai ly rượu mạnh trở lên mỗi ngày thì có mật độ xương thấp hơn đáng kể so với những người chỉ uống mỗi ngày từ hai ly rượu mạnh trở xuống.

Những phụ nữ uống hơn hai ly rượu vang mỗi ngày thì có mật độ BMD cao hơn những bà uống ít hơn mức đó. Dù sao, Bác Sĩ Tucker nói rằng không nên coi rằng những kết quả tìm thấy này có nghĩa là phụ nữ càng uống nhiều rượu thì càng tốt cho xương; trong cuộc nghiên cứu nói trên, chỉ có một số ít phụ nữ uống nhiều hơn hai ly rượu mỗi ngày.

Bia là nguồn cung cấp thượng thặng của chất silicon, một khoáng chất cần thiết để giúp cho xương lành mạnh, nhưng nó càng ngày càng hiện hữu ít hơn trong những chế độ dinh dưỡng hiện đại, theo nhận xét của các nhà nghiên cứu. Chất silicon trong bia cung cấp một số hiệu ứng làm vững xương cho những người đàn ông thường uống loại rượu này, Bác Sĩ Tucker nói. Vì chỉ có rất ít phụ nữ thường uống bia hàng ngày, cho nên cuộc nghiên cứu này không thể kết luận về hiệu ứng của bia đối với mật độ xương của nữ giới.

Bác Sĩ Tucker cho rằng bia và rượu vang tốt cho xương hơn rượu mạnh có lẽ vì chúng chứa những chất bổ dưỡng từ thảo mộc, như chất resveratrol, trong khi các loại rượu mạnh đã loại bỏ những hợp chất thiên nhiên khi chúng được chế bằng phương pháp chưng cất.

Bà nói rằng rượu có thể giúp cho xương vững chắc bằng cách làm tăng mức kích thích tố estrogen ố điều này cũng có thể khiến cho những phụ nữ uống rượu tăng nguy cơ ung thư vú, dù chỉ uống một cách điều độ.

“Thông điệp chính yếu ở đây là nếu bạn uống một hoặc hai ly rượu vang hoặc bia mỗi ngày thì tốt cho xương và bạn không cần phải ngừng uống,” Bác Sĩ Tucker nói. “Ðây là sự lựa chọn của mỗi cá nhân.” (n.m.)
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image

Nghiên cứu ở Canada: Sinh tố C giúp ngăn ngừa bệnh thống phong
(CTV News) - Những người bị bệnh thống phong (gout) hãy nên tiêu thụ nhiều trái cây giầu sinh tố C, như trái cam, để ngăn chặn sự phát tác của bệnh này, theo một cuộc nghiên cứu mới ở Canada.

Các nhà nghiên cứu thuộc trường đại học University of British Columbia ở Vancouver nhận thấy rằng những người đàn ông uống sinh tố C bổ sung hoặc ăn những thực phẩm chứa đựng nhiều chất bổ dưỡng này thì giảm thiểu nguy cơ phát tác bệnh thống phong.

Thống phong là một loại bệnh viêm khớp (arthritis) khiến cho các khớp xương viêm sưng, khi chất uric acid tích tụ nhiều ở những nơi đó. Chất acid này có thể tạo thành những mảnh tinh thể nhỏ ở trong và xung quanh các khớp xương, gây ra đau nhức và viêm sưng.

Bệnh thống phong thường xẩy ra cho những người đàn ông từ 40 tuổi trở lên, nhưng đôi khi phụ nữ cũng phát tác. Những nguyên nhân thông thường là uống nhiều rượu, ăn nhiều thực phẩm dễ tạo ra chất uric acid trong máu, như thịt, cá, đồ biển, cheese.

Các nhà nghiên cứu nói rằng cuộc khảo sát của họ cho thấy sinh tố C làm giảm mức uric acid trong máu, do đó có thể dùng để ngăn ngừa chứng bệnh gây đau nhức này.

Bác Sĩ Hyon Choi đã cầm đầu một toán chuyên gia để khảo sát những số liệu về 46,994 người đàn ông tham gia cuộc nghiên cứu ở Canada tên là “Health Professionals Follow-up Study,” từ năm 1986 tới 2006.

Mỗi thời kỳ 4 năm, những người đàn ông này đã trả lời một bản câu hỏi, trong đó có kê khai số lượng sinh tố C mà họ tiêu thụ qua thực phẩm hoặc uống những viên sinh tố bổ sung. Cách hai năm một lần, những người đàn ông đó báo cáo họ có phát tác những triệu chứng của bệnh thống phong hay không.

Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng khi so sánh với những người đàn ông tiêu thụ dưới 250 miligram sinh tố C mỗi ngày, thì nguy cơ phát tác bệnh thống phong có những tỉ lệ khác nhau sau đây:

17% thấp hơn cho những người tiêu thụ từ 500 tới 999 mg mỗi ngày.

34% thấp hơn cho những người tiêu thụ từ 1,000 tới 1,499 mg mỗi ngày.

45% thấp hơn cho những người tiêu thụ từ 1,500 mg trở lên mỗi ngày.

Hầu hết những người tiêu thụ trên 500 mg sinh tố C mỗi ngày đã uống sinh tố C bổ sung. Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng cứ mỗi 500 mg sinh tố C được tiêu thụ thì giảm bớt được 15% nguy cơ phát tác bệnh thống phong.

Các nhà nghiên cứu nói rằng sinh tố C tỏ ra có công dụng làm giảm mức uric acid trong máu, có lẽ bằng cách giúp cho thận dễ tái hấp thụ chất acid này để bài tiết qua nước tiểu, thay vì tích tụ trong các khớp xương và gây ra viêm sưng.

Bác Sĩ Choi vạch ra rằng bệnh thống phong là loại bệnh viêm khớp thông thường nhất đối với đàn ông, và những cuộc khảo sát gần đây cho thấy tỉ lệ những người mắc bệnh này đang gia tăng.

Các nhà nghiên cứu nói rằng trong khi mức an toàn để tiêu thụ sinh tố C là không quá 2,000 mg mỗi ngày, sinh tố này là phương tiện hữu hiệu để ngăn ngừa bệnh thống phong.

Những kết quả nghiên cứu trên đây đã đăng trong đặc san y khoa Archives of Internal Medicine. (n.m.)
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Ronaldo là người tình tuyệt vời'

Siêu mẫu Letizia Filippi đã thốt lên như vậy khi nói về sự hấp dẫn Cầu thủ hay nhất thế giới 2008.

Cristiano Ronaldo tài năng ra sao trên sân cỏ, ai cũng biết; đào hoa cỡ nào, tất cả cũng đều hay.
Nhưng chi tiết về chuyện phòng the của anh thì hiếm khi được đề cập, cho tới khi Letizia lên truyền hình Italy
công khai những gì riêng tư nhất trong cuộc tình ngắn ngủi cuối hè 2008 giữa cô với siêu sao đội MU.

Image
Letizia tự hào vì cuộc tình ngắn ngủi với Ronaldo.


"Chúng tôi gặp nhau lần đầu tại một nhà hàng bên biển Capri. Hôm đó, tôi diện chiếc quần short trắng, áo font rộng cổ và đi giày cao gót. Lúc ấy, tôi rất quyến rũ với nước da rám nắng. Ronaldo lại gần. Cậu ấy làm tôi lâng lâng bằng những cử chỉ và lời khen ngọt ngào", người đẹp 30 tuổi kể lại.

Letizia khẳng định cô và Ronaldo cảm thấy kết nhau ngay từ cái nhìn đầu tiên: "Tôi không hề biết cậu ấy, nhưng ấn tượng trước sự hào hoa và thể hình mạnh khỏe của Ronaldo. Không lâu sau đó, chúng tôi đã quan hệ với nhau. Và tôi phải thừa nhận rằng, Ronaldo là một người tình tuyệt vời".

Nhưng với bản tính trăng hoa của "Don Juan" người Bồ Đào Nha và việc anh phải tập trung thi đấu triền miên cho MU, tình cảm giữa họ dần phai nhạt. "Chúng tôi không gặp nhau nhiều, nhưng thỉnh thoảng có gọi điện cho nhau. Tôi vẫn luôn tin rằng rồi sẽ có ngày chúng tôi lại ở bên nhau", Letizia thổ lộ.

Image
Ronaldo là thợ tán gái siêu hạng. Ảnh: DM.
Letizia, Á hậu hai của Italy năm 1994 tiết lộ thêm rằng trong thời gian còn mặn nồng, cô từng làm Ronaldo phải rú lên phấn khích khi thông báo qua điện thoại về ý định cả hai cùng "phiêu lưu" trên máy bay. Đó cũng là thời gian đẹp nhất khi họ dành hàng giờ liền bên nhau nấu nướng, tập bơi và xem phim kinh dị tại nhà của Ronaldo.

Phương Minh (theo SM)
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

Vũ Hữu Định, tình ca lỡ vận

Đặng Tiến
Văn thơ miền Nam 1954-1975 được gọi là nền văn học bất hạnh. Vì nó đã bị xuyên tạc, tuyên án, thiêu hủy và bôi xóa ; các tác giả đã bị tù đày, đọa đày và lưu đày. Trong số đó, có nhà thơ Vũ Hữu Định (1942-1981), từ 1972 đã xem mình như một người lỡ vận :

Ta đã hát khúc hát đời lỡ vận
Hát âm u trong đêm tối một mình (tr. 65)


Vũ Hữu Định tên thật là Lê Quang Trung, sinh tại Thừa Thiên, sống nhiều nơi ở Tây Nguyên, lập gia đình tại Đà Nẵng và định cư tại đây. Làm thơ từ thập niên 1960, đăng báo rải rác. Năm 1975, đi học tập cải tạo một thời gian ngắn vì là cán bộ Xây dựng Nông thôn, rồi làm công nhân Nhà Đèn. Đầu năm 1981, tại làng An Hải, Đà Nẵng, anh qua đời vì say rượu té từ lầu một, cái chết còn gây nghi vấn. Sinh thời, anh không có tác phẩm xuất bản. Đến 1996 bạn bè mới đóng góp để nhà xuất bản Trẻ ấn hành thi tập Còn một chút gì để nhớ gồm 45 bài, lấy tên từ một bài thơ được Phạm Duy phổ nhạc và thịnh hành một thời :

Phố núi cao phố núi đầy sương,
Phố núi cây xanh trời thấp thật buồn (tr. 5)


Hiện nay, sau khi tái bản thơ Nguyễn Bắc Sơn, Linh Phương, truyện ngắn Y Uyên, nhóm Thư Ấn Quán của Trần Hoài Thư, Phạm Văn Nhàn đã sưu tầm và in lại thơ Vũ Hữu Định để tặng biếu, không bán, trong tinh thần bảo lưu và truyền bá di sản văn học miền Nam. Chúng tôi đã có lần đề cao thiện chí này ; nay một lần nữa, xin công nhiên ca ngợi một việc làm tâm huyết.

Thơ Vũ Hữu Định lần này gồm 80 bài – chắc là còn thiếu – là một tập thơ hay, tài hoa, trong sáng, đáp ứng được sở thích đông đảo người đọc ; một tác phẩm có giá trị cao về mặt tư tưởng, tình cảm, nghệ thuật, lưu lại tấm lòng của nhà thơ quá cố, ghi tạc niềm thủy chung của bằng hữu, trong một hoàn cảnh lịch sử, xã hội nghiệt ngã và bạc bẽo.

*

Thơ Vũ Hữu Định quay chung quanh các chủ đề : quê nhà, tình bạn, tình yêu trong khát vọng một không gian rộng rãi. Trước khi đi vào các đề tài này, chúng ta nên biết qua thân thế tác giả, qua những bài thơ tâm sự, chủ yếu là „Bài thơ năm bốn mươi“, làm dịp tết Tân Dậu, 1981, trước khi qua đời, thơ „kiểm điểm“ vô hình trung thành thơ tuyệt mệnh, như bài „Di chúc“ của Nguyễn Khuyến :

Bốn mươi tuổi rồi đây
vợ năm con không no không đói
…
bốn mươi tuổi rồi
hai lăm năm uống đắng
(giỏi nghề rượu từ thuở mười lăm)
học hành thì lăng nhăng
thân tự lập thân từ năm bảy tuổi
không nhớ hết nghề đã trải
bán báo, đánh giày, ở đợ
đánh trống phòng trà, dạy học, làm thơ
phó giám đốc nuôi trẻ bơ vơ
còn cả chục nghề thôi không kể
ham đọc sách chẳng phải vì ham học
thần thánh trăm ông chẳng phục ông nào
ông nào cũng tốt
ông nào cũng tào lao
có lắm thánh nhân thì đời chỉ rối mù
nhiều triết học thêm tối mù đa sự
…
bốn mươi năm khoảng dăm lần tù… (tr. 86)


Trong bài „Ngựa hí đầu non“, ta còn biết thêm :

Sinh nhằm tuổi Ngọ, đêm vừa hết…
Mới hai tháng đã biết mùi bom đạn


1942, thời chiến tranh Nhật-Đồng minh. Lên bảy tuổi :

Đã theo mẹ đêm đêm qua xóm
xách đèn rao khoai sắn cầm hơi (tr. 67)


Trong bài „Cảm ơn người vợ“, 1972, ta được biết anh cưới vợ khoảng 1965 :

Bảy năm tình chồng vợ
bảy năm em hẩm hiu
lần nào em sinh nở
ta cũng phải vắng nhà
đứa đầu lòng tù tội
đứa thứ hai, đi xa (tr. 129)


Chúng ta không biết rõ anh tù tội vì việc gì, làm gì đến nỗi dăm lần tù. Theo chứng từ của bạn bè, Vũ Hữu Định là người cởi mở, vui chuyện, ưa rượu, ưa bạn, đàn giỏi hát hay, nhẹ trách nhiệm gia đình, vợ con đương nhiên là phải khó khăn. Và anh cũng thừa nhận điều đó :

Năm đứa con như năm hạt ngọc
Nếu không có em sao khỏi cát lầm
Còn anh thì cứ lông bông… (tr. 88)


Tháng 3/1973, nhà thơ Tường Linh có bài „Gặp lại Vũ Hữu Định“, ghi nhận hoàn cảnh của anh :

Thì ra ngươi chửa hết gian nan
Thôi hãy cầm như lửa thử vàng…


Chúng ta đã chấm phá được đôi nét chân dung Vũ Hữu Định. Chân dung ấy sẽ rõ nét hơn khi quần tụ bạn bè, trên chiếu rượu :

Nợ nần chưa thoát nổi
càng nợ, càng hăng vay
thiếu cái danh, nhưng không thiếu bạn bè
đi đâu cũng có phần rượu tặng. (tr. 85)


Trong mọi tình cảm, có lẽ tình bạn là mang nhiều âm sắc thời đại nhất. Đã xa rồi những „cố nhân“ trong thơ Đường, thơ Tống. Xa rồi giọng u hoài, trầm mặc của Nguyễn Trãi :

Bạn bè đất Việt ai thăm hỏi
nhờ nhắn : đời ta vẫn cỏ bồng


Hay giọng băn khoăn, xa xăm của Nguyễn Khuyến thăm hỏi bác Châu Cầu, lụt lội năm nay bác ở đâu, giọng nhẹ nhàng, thơ mộng của Huy Cận thương bạn chiều hôm sầu gối tay. Cũng đã xa rồi những „Tống biệt hành“, „Vọng nhân hành“ của Thâm Tâm. Tao loạn, thì đất nước đã trăm lần tao loạn. Nhưng chiến cuộc 1960-1975 mang một sắc thái đặc biệt, và tình bạn sinh tử thời này ngân vọng một âm hao riêng, trong chất bi phẫn nặng phần phi lý :

Trên non may có tình bằng hữu
tuổi trẻ đau chung một khúc ca
ôm nhau thức với vầng trăng lạnh
vượt lá tìm sao định hướng nhà.

Có những ngày đi trong núi thẳm
tuổi trẻ nhìn nhau, nhớ xóm thương làng
thở chung một tiếng nghe sầu cháy
tâm sự chuyền nhau điếu thuốc quan san

Cám ơn điêu đứng rừng sinh tử
cạm bẫy người giăng để giết người
tuổi trẻ gần nhau trong gió lửa
giữ dùm nhau những tiếng chim cười (tr. 45)


Bài „Chuyện người tuổi trẻ“ này, Vũ Hữu Định làm tặng nhà thơ Trần Dzạ Lữ, cùng một bài khác, mang rõ nét thời sự :

Ngày Huế giải phóng
mày lang thang trong Nam
…
xa nhau càng nghĩ càng thương
thằng bạn thơ cuộc đời bầm dập
trốn lính, đi lính, rồi thì học tập
thương ơi câu nói „ở răng cho vừa đời“
…
nghe nói mày về quê đi bán bánh mì
vợ giặt mướn cho nhà thương đẻ
rồi nghe nói mày đi Nam trở lại
quê không dụng nổi đôi vợ chồng thơ
năm năm rồi mày sống xa quê
ôi cái làng quê Nam Phổ Hạ
thời chiến tranh mày quay quắt mong về (tr. 42)


Hòa bình, thống nhất mà lại làm nhiều người xa quê – và xa nhau – hơn là chiến tranh, chia cắt. Bài thơ này làm khoảng 1980, bắt đầu bằng câu ca dao quen thuộc :

Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay


Ai hiểu sao thì hiểu.

Tình bạn, bao giờ cũng mang tính cách thời đại, xã hội. Tình yêu có không gian rộng rãi hơn : tiếng sét ái tình có thể giáng xuống bất cứ lúc nào và nơi nào. Tình bạn có thuở, có thì, có nơi, có chốn. Yêu nhau rồi mới ngồi vào chiếu ; ngồi vào chiếu rồi mới ra tình bạn. Bá Nha, Tử Kỳ cùng chiếu nhạc buổi Xuân Thu. Quản Trọng, Bảo Thúc cùng miếng đỉnh chung thời Chiến Quốc. Montaigne và La Boétie cùng phất áo giữa tòa án Bordeaux. Nguyễn Khuyến, Dương Khuê áo mão đồng khoa… Vũ Hữu Định, Trần Dzạ Lữ, Trần Hoài Thư, cùng nhiều bạn khác cùng gối đầu trên báng súng, tai nghe trực thăng, đại bác… Cơn binh lửa tạo ra và củng cố tình bạn. Cái quý là tình bạn còn lại sau cơn binh tàn, lửa tắt. Và quý hơn nữa, trong tình bạn ấy, sau khi chắt lọc tiếng trực thăng đại bác nhiễu nhương, còn lại tiếng đập cùng nhịp của những trái tim. Ấy là tình người. Tình yêu là định mệnh cá nhân ; tình bạn là cơ duyên thời đại. Cao quý thay lòng chung thủy giữa những tâm hồn tự nguyện, trong tình yêu cũng như tình bạn.

Vũ Hữu Định, người đã ra đi, tình còn ở lại.


Nói đến thời đại là nói đến quê hương. Vũ Hữu Định tha thiết với quê hương, dù anh sinh một nơi, sống một nơi và giữa hai nơi là những bước chân lang bạt kỳ hồ. Anh khẳng định :

Mùa lúa năm nay đòng đòng đã trổ
anh yêu mùa yêu đất yêu quê (tr. 29)


Nhưng quê anh nơi nào ?

Những con lạch anh chèo ghe thăm lúa
thả lưới giăng câu, mười mấy năm ròng
…
Cau với bưởi bây giờ thơm hương trái
em bên vườn da thịt có thơm không ? (tr. 28)


Vũ Hữu Định là „kẻ chợ“, dân thành phố ; ở đây anh thác lời „kẻ quê“, một nông dân mười mấy năm cày sâu cuốc bẫm, nhà mới thay tranh mong đón em về… Lời không thật nhưng tình thì thật.

Tình quê nơi Vũ Hữu Định, quyện với tình bạn và tình yêu là một khát vọng hạnh phúc trong nguồn cội. Quê hương của Vũ Hữu Định không chính xác như trong những „bức tranh quê“ mà ta đã gặp, những đồng chiêm trũng miền Vụ Bản, Nam Định của Nguyễn Bính, hoặc thôn làng sơn cước Hà Tĩnh trong thơ Huy Cận, hay làng Trung Phước dưới chân núi Quảng Nam trong thơ Bùi Giáng, Tạ Ký, Tường Linh. Nơi Vũ Hữu Định, quê hương làm tâm cảnh tượng trưng cho một giấc mơ. Giấc mơ Trở Về của đứa con biết mình lạc hướng, vì cơn lốc của lịch sử đã đành, nhưng cũng có phần cố tình lạc hướng. Phải hiểu như thế mới giải quyết được nhiều mâu thuẫn trong thơ anh.

Và hiểu rằng nỗi nhớ nhà thường xuyên ám ảnh anh, không giống với nỗi nhớ bất ngờ, bất chợt trong thơ Nguyễn Bắc Sơn đồng lứa :

Qua cầu Sông Lũy nhìn quanh quất
Nước đỏ cầu đen chợt nhớ nhà

Tình quê, đề tài cho nhiều bài thơ, có thể là nền thơ Vũ Hữu Định :

Mây còn bay nên đời còn mộng
tuổi trẻ ra đi sao lại nhớ nhà
ơi người tuổi trẻ sầu trong mắt
đêm trên rừng mộng gởi quê xa.

quê xa ta có em và mẹ,
nhớ ao bèo xanh bông tím thiết tha
nhớ người con gái bên hàng xóm
chiều thả thuyền vớt mộng nở hoa… (tr. 44)


Cảnh mơ hồ nhưng tình tha thiết. Quê xa đây là mộng tưởng. Vũ Hữu Định không được hạnh phúc có một làng chính xác để ca ngợi như Huy Cận, Bùi Giáng. Nhưng anh chẳng quan tâm đến điều đó :

Nghĩ ra thì ở đâu cũng vậy
ta vẫn là ta khinh bạc đắng cay.
có lẽ ta là thằng bất sá
cớ sao ở đâu rồi cũng bằng lòng
thả trôi cái sống cho đời dạt
mẹ buồn ta tóc trắng lưng cong (tr. 76)


Quê hương, nơi Vũ Hữu Định là niềm u hoài khôn nguôi, hướng về cõi hạnh phúc đã mất hay chưa đến, trong nghĩa „quê hương và lưu đày“ trong Kinh Thánh, hay Albert Camus.

U hoài bốc men cho những vần bay bướm :

Hoa dại ven đường gửi lại các em
Tiếng giã gạo gửi cho người mất ngủ
Trăng mười bốn gởi tâm hồn thiếu nữ
Trăng mười lăm gởi những kẻ yêu nhau


*

Tình sôi nổi, thiết tha nhất trong đời người có lẽ là tình yêu. Thơ tình yêu là lối thơ dễ làm và khó hay nhất. Một là vì đề tài lâu đời trở thành khuôn sáo, hai là người làm thơ tình khi thành thật thì chủ quan, đắc ý, tự nghĩ thơ mình là hay, hóa ra dễ dãi, trong khi người đọc bên ngoài, cho rằng lẩm cẩm. Thơ tình ngày nay, muốn thành công, phải giàu lượng trí tuệ và chất nghệ thuật ; nhưng thơ hoa mỹ lại mất nét thành thực đơn sơ. Mà tình yêu chính là cảm xúc đơn sơ.

Thơ tình Vũ Hữu Định gây cảm xúc vì chỗ tha thiết mà tự nhiên ấy :

Anh đang sống thiếu một phần thân thể
sống thiếu em nên anh thở không đều
thèm ngực trần, môi ngọt với tay yêu
đã trói chặt hồn trăm năm lãng tử
…
đã quen đau nên thấy được mặn mà
của tội lỗi mà anh kêu hạnh phúc
ôi vết chém đã qua thời đau nhức
đâm da non để thành sẹo muôn đời
anh thở đều để sống em ơi (tr. 31)


Hơi thở rạo rực đã phả vào bài „Tiếng dội của sương chiều“, 5 chữ nhẹ nhàng nhưng da diết, trong sáng mà hàm súc - một bài lý tưởng để phổ nhạc (câu này viết nhắn gửi Phạm Duy) :

Anh nằm đâu, ngồi đây
ngó nước nguồn reo vỡ
nước nguồn chảy bao năm
đá núi mòn dấu nhớ
anh nằm đây, ngồi đây
một mình anh vẫn thở
mười năm trong trắc trở
anh thở khác ngày xưa
nghe dội tiếng rừng mưa
nghe vang lời suối nhớ
…
anh nằm nghe lay động
đau của những nhánh cành
anh ngồi trong lá xanh
trên những hồn lá chết
tay anh nắm tha thiết
những chiếc lá còn tươi
thả xuống suối mà chơi
trôi đi còn tiếng dội… (tr. 33)


Nguồn thơ róc rách tuôn tuôn tự nhiên, u uẩn trong veo, thắm tươi đau đáu, trầm lặng ngân vang. Một bài thơ tình hiện đại, rõ nét nếu ta so sánh với „Tình quê“ đồng dạng của Hàn Mạc Tử, nửa thế kỷ trước. Đâu đó, trong Thân phận làm Người, André Malraux đã định nghĩa tình yêu là „cái phần mình thay đổi ở người kia“, nghe sâu sắc, nhưng trừu tượng. Vũ Hữu Định nói anh thở khác ngày xưa có cường điệu nhưng cụ thể, và xúc động. Thể ngũ ngôn ngắn hơi, ít để lại tác phẩm hay. Bài „Tiếng dội của sương chiều“ là một tác phẩm toàn bích.

Cùng một hơi thở - hơi thơ ấy còn có bài „Rừng hương mật“ đắm đuối. Cảm hứng tuôn tràn một mạch,ào ạt, sung mãn mà âm trầm, tao nhã. Thao thao tình cảm, thao thiết ưu tư :

Anh đang sống - đang thở đều rất lạ
Thở yêu em yêu đau đớn của đời
Anh cảm được phút của mùa đang đổi
Giây của sông dừng lại đợi chiều trôi
Ở đâu đó rừng của Thu ảm đạm
Uống chút hương hoa của suối mà say
Mây của nghìn năm mây vẫn là mây
Nhưng một buổi lạ như vừa mới có
…
Một ngày nào mặt trời kia rét lạnh
Máu đỏ trùng dương một lần chết cuối cùng
Giấc lạnh vang lời gió nhắn với rừng
Anh hối hả trở về mau cho kịp (tr. 82)


Nhịp thơ dập dồn, hình ảnh điệp điệp, ý tứ trùng trùng, tuôn tuôn từ một hồn ứ chứa bao nhiêu tình rừng thẳm. Do đó mà thơ tình Vũ Hữu Định ngày nay còn gây hào hứng.

Thơ tình, chứ không huê tình kiểu „áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc“. Thơ tình xưa nay thường khệ nệ đèo thêm phần thuyết lý, dạy đời : thơ Pháp từ Ronsard đến Aragon, thơ Việt từ Nguyễn Trãi „đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng“ đến Xuân Diệu „vội vàng lên với chứ“. Thơ Vũ Hữu Định mang sắc phơi phới, hồn nhiên, đớn đau mà vẫn tin đời - có lẽ do niềm tin ở trời đất, mà anh diễn đạt rất mãnh liệt trong bài tứ tuyệt :

Sướng quá, nâng ly, khà một tiếng
Mừng rằng sắc núi vẫn màu xanh
Đám mây bay thấp ngang nhà cỏ
Hương rượu nồng hơn mọi thứ tình (tr. 6)


Tâm giới hào sảng trước sắc giới ưu ái như trong đoạn thơ trên, được định hình trong một thi giới bao la, biển rộng trời cao. Thơ Vũ Hữu Định ít có giới hạn chật hẹp, nếu Pleiku phố xá không xa thì cũng được nấn rộng bằng sương mù, cây xanh, núi cao - và nhất là có em !

Nơi Vũ Hữu Định tình yêu, tình bạn, tình quê, quyện vào niềm nhớ đất thương trời mêng mang mênh mang mênh mang.

*

Hình ảnh tạo tính nhất quán cho tập thơ, xuyên suốt, tiếp dẫn các bài thơ, tự rừng núi đến thôn quê, ao bèo, thửa ruộng, lũy tre, mái nhà, là con chim.

Một mặt chim là tri âm, chia sẻ tâm sự và ước mơ :

Có lẽ con chim rừng bữa nọ
Hát với anh là chia sẻ ngọn nguồn (tr. 74
)

Chim là một ẩn dụ đa hiệu. Hình ảnh thị giác, nó là không gian gần mà xa, cảm nhận thính giác, tiếng chim là thời gian dội vào tim, có khi hẹn hò hoan lạc thủy chung :

Con chim bỏ đi có bận quay về
Cất tiếng hát chào niềm vui của gió (tr. 108)


Có khi nhắc thân phận hiện thực chơ vơ :

Con chim lạ lùng năm nọ của tôi ơi
Hóa mấy kiếp mà sao tôi vẫn vậy (tr. 110)


*

Thơ Vũ Hữu Định là điển hình cho thơ trữ tình hiện đại. Nó không gai góc, thách thức ; ngược lại, nó kết thân, đằm thắm, quen thuộc. Lay động người đọc bằng tình cảm trong sáng và thiết tha, bằng nét tài hoa vô tội.

Đây là đoạn cuối trong bài thơ „Kiểm điểm“, Vũ Hữu Định làm 1981, trước khi vĩnh biệt trần gian :

Ta đang nhớ thuở sông dài núi rộng
đường thênh thang của một gã giang hồ
ta đang thèm đi để học làm thơ
chờ ta đến xin nhớ phần rượu tặng (tr. 89)


Câu thơ tuyệt mệnh thu gọn không gian, cuộc đời, tâm tình, hoài bão văn chương và những khát vọng chưa nguôi của Vũ Hữu Định.

Trên chiếu rượu vui ít buồn nhiều hôm nay, bạn bè, trong và ngoài nước, luôn luôn giữ phần rượu tặng, cho Định.

Định ơi,

Orléans, ngày 25/2/2006
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Nhặt được 357.000 USD, trả lại người mất

Image
Ảnh minh họa: greenwichmeantime.com.
Cô Talon Curtis ở thành phố Los Angeles, Mỹ,
choáng váng sau khi nhặt được tấm séc có trị giá tới hơn 357.000 USD trên đường.


Curtis đang trên đường từ bưu điện về thì nhìn thấy tấm séc, trên đó các số được in đậm. Cô nghĩ rằng đây là một trò đùa của người nào đó. Tuy nhiên, ngay sau khi định vứt tờ séc đi, cô nhận thấy có chữ ký thật trên đó.

"Tôi không thể tin nổi. Tôi suýt ngất", Curtis cho biết hôm qua. "Tôi chưa từng nhìn thấy tấm séc nào có giá trị lớn như thế".

Curtis cho biết ngay lúc đó cô tìm cách tìm người chủ của số tiền này. Tuy nhiên, tất cả các ngân hàng đều đóng cửa vào chiều thứ 7 nên cô phải chờ tới thứ hai. Với sự giúp đỡ của một phóng viên, cô đã nói chuyện qua điện thoại với người sở hữu tấm séc trên để gặp gỡ. Tuy nhiên, ngân hàng Pacific Mercantile, nơi phát hành tấm séc, yêu cầu cô gửi tới chỗ họ.

Curtis chưa từng nghĩ tới chuyện giữ tấm séc lại và từ chối lời đề nghị tặng phần thưởng từ người thụ hưởng tờ séc. Tuy vậy, cô vẫn thất vọng. "Tôi chỉ muốn nhìn thấy mặt cô ấy", Curtis vừa cười vừa nói. "Tôi chỉ muốn cho cô ấy biết rằng vẫn còn người thật thà trên đời".

Mai Trang (theo AP)
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Bệnh loãng xương

Bác Sĩ Nguyễn Ý-Ðức
Ở tuổi “17, bẻ gẫy sừng trâu”, nếu chẳng may có té ngã thì cũng chỉ bị trầy da, xước thịt hoặc nặng lắm thì bong gân, trật khớp.

Nhưng tới tuổi 55-60, khi mà kinh nguyệt quý bà đã từ giã ra đi, thì té ngã có thể đưa tới gẫy chiếc xương hông, xương đùi, xương chậu. Lý do là ở tuổi này, kích thích tố nữ giảm, kéo theo sự mất calcium trong xương, xương trở nên mảnh mai, giòn và dễ gẫy. Xương đã bị loãng hoặc xốp. Ðó là bệnh Loãng xương hoặc Xốp xương.

Sau e ngại bị Sa Sút Trí Tuệ (Alzheimer), té ngã vì loãng xương rồi nằm liệt giường liệt chiếu là mối e ngại kế tiếp của tuổi về già.

Ðại cương

Tại sao xương đang đặc, chắc mà đột nhiên lại trở nên rỗng toác, mảnh mai như cái xơ mướp vậy. Thưa là tại vì lớp “xi măng” calci trong cốt sắt “đạm chất protein” bị “rút ruột”.

Về phương diện cấu trúc, xương là một cái khung do chất đạm tạo thành. Trên chiếc sườn đó calci bám kín vào. Calci càng nhiều thì xương càng đặc, chắc.

Khoảng 99% calci trong cơ thể được dùng để tạo xương và răng. Phần còn lại lưu hành trong máu và có vai trò trong sự đông máu, co giãn cơ thịt, chức năng enzym. Khi lượng calci cho các nhu cầu thứ hai này thiếu thì sinh tố D sẽ lấy calci từ xương để đáp ứng.

Trong suốt đời người, calci liên tục được đưa tới và lấy đi ở xương.

Vào thời kỳ thiếu niên, calci tới xương nhiều hơn là rời khỏi xương. Tới tuổi trung niên thì số lượng đến và đi bằng nhau. Nhưng khi lên tới tuổi già thì calci rời xương ra đi nhiều hơn là đến với xương. Có hai nguyên nhân:

- Ở tuổi cao, sự hấp thụ calci trong thực phẩm của ruột non giảm xuống, do đó không có nhiều calci để đóng vào xương.

- Estrogen do noãn sào tiết ra ít đi, mà estrogen giúp calci bám vào xương. Do đó, nữ giới thường hay bị mỏng, loãng xương hơn nam giới và tỷ lệ gẫy xương cũng cao hơn.

Thoái hóa xương là một biến đổi bình thường, khởi sự ngay từ tuổi trung niên và tiếp tục cho tới khi về già. Trong thay đổi này, thành phần cấu tạo xương không thay đổi, nhưng khối lượng và độ đặc (bone mass & bone density) của xương thay đổi.

Bệnh loãng xương xảy ra khi xương thoái hóa nhiều đến mức mà xương không chịu đựng được các sức ép bình thường, trở nên dễ gẫy.

Bệnh thường thấy ở xương cổ tay, xương cột sống, xương hông.

Loãng xương là một bệnh khá trầm trọng, nhưng lại âm thầm diễn tiến với rất ít dấu hiệu báo trước, khiến cho nhiều người không để ý, tới khi một xương nào đó gẫy sau một té ngã.

Loãng xương có thể là tiền phát hoặc thứ phát.

a. Tiền phát là do hậu quả những thay đổi bình thường của tuổi cao và sự suy giảm chức năng của tuyến sinh dục. Có khoảng 95% các trường hợp loãng xương ở trong nhóm này.

b. Thứ phát, khoảng 5%, gây ra do sự không vận động cơ thể, bệnh kinh niên, thiếu dinh dưỡng, tác dụng phụ của một số dược phẩm.

Các nguy cơ đưa tới loãng xương

1. Tuổi tác

Loãng xương tăng với tuổi cao, dù là nam hay nữ giới. Lý do là ở tuổi này, sự hấp thụ của calci ở ruột giảm và lượng estrogen cần cho calci bám vào xương cũng ít hơn.

Các nhà chuyên môn cho hay, 90% trường hợp gẫy xương ở người trên 60 tuổi là do loãng xương.

2. Giới tính

Nữ giới bị loãng xương nhiều hơn nam giới gấp bốn lần. Lý do của sự khác biệt này là vì nữ giới có khối lượng xương nhỏ hơn nam giới; họ cũng thường ăn thực phẩm có ít calci hơn và ít vận dụng sức lực.

Ngoài ra, tới tuổi mãn kinh, estrogen nữ giảm do đó calci ít được hấp thụ và chuyển vào xương.

3. Mầu da

Người da trắng và da vàng thường hay bị loãng xương hơn người da đen, vì những người này có khối xương đặc hơn với nhiều khoáng calci.

4. Y sử gia đình

Nếu cha mẹ, anh chị em đã bị gẫy xương thì thân nhân tăng nguy cơ loãng xương lên gấp hai lần.

5. Thiếu estrogen

Estrogen giúp hấp thụ calci từ thực phẩm và chuyển vào xương. Estrogen giảm trong các trường hợp mãn kinh, cắt bỏ buồng trứng hoặc giảm chức năng tuyến sinh dục nam nữ.

Phụ nữ không có kinh kỳ trong một thời gian lâu vì bất cứ lý do nào cũng đưa đến hư hao xương.

Những nữ thể thao gia vận động nhiều nên kinh nguyệt thường bị gián đoạn. Hậu quả là sự giảm tế bào mỡ, giảm estrogen, giảm calci và độ đặc của xương giảm đi khá nhiều.

6. Cho con bú

Khi còn trong bụng mẹ cũng như khi mới sinh ra, thai nhi cần rất nhiều calci để tạo xương và tăng trưởng. Do đó, khi nuôi con bằng sữa mẹ quá sáu tháng thì sự hao xương ngắn hạn có thể xẩy ra. Người mẹ cần dùng thêm cho đủ số calci và sinh tố D để phòng bệnh xương.

Sau khi ngưng cho con bú, tình trạng calci ở người mẹ trở lại bình thường.

7. Dược phẩm

Dùng steroid quá 6 tháng để chữa một bệnh nào đó, như hen suyễn, viêm xương khớp đều là rủi ro bị loãng xương.

Steroid giảm sự hấp thụ calci ở ruột, giảm sự tái hấp thụ calci ở thận, tăng sự rút calci từ xương và làm cho xương trở nên xốp.

Một số dược phẩm khác như Dilantin, Phenobarbital, Lithium, Phenothiazine, Tetracycline, Cyclosporin, kích thích tố tuyến cận giáp (parathyroid gland)... cũng làm tiêu hao calci từ xương hoặc ngăn cản sự hấp thụ calci ở ruột.

8. Không vận động cơ thể

Cơ thể ít vận động đưa tới hao xương, giảm khối xương.

Lý do sự cử động bắp thịt tạo sức ép lên xương và làm cho xương bền chắc hơn. Người bệnh nằm liệt giường lâu ngày thì xương rất yếu và dễ gẫy.

Các phi hành gia trong không gian trong thời gian lâu cũng có rủi ro hư hao xương, vì cơ thể chỉ bay bổng mà không vận động.

9. Tâm trạng buồn

Người thường xuyên buồn rầu, sợ hãi cũng có rủi ro bị loãng xương hơn người “tâm thân an lạc” tới 6%. Lý do là trong tình trạng stress, lượng cortisol tăng, gây trở ngại cho sự hấp thụ calci.

10. Hút nhiều thuốc lá

So với người không hút thuốc lá, người hút có tỷ lệ loãng xương nhiều hơn tới từ 6-10%. Hậu quả là gẫy cột sống tăng gấp đôi và xương hông tăng 50%.

Tại Hoa Kỳ, cứ 8 trường hợp gẫy xương ở phụ nữ thì một trường hợp do hút thuốc lá lâu năm.

Nguyên lý của tác động này chưa được biết rõ. Thường thường, người hút nhiều thuốc lá có thân hình mảnh mai, ít vận động. Riêng đối với nữ giới, thuốc lá có thể đưa tới sớm tắt kinh và ảnh hưởng tới sự sản xuất estrogen.

11. Nghiện rượu

Rượu tăng hormon của tuyến cận giáp parathyroid đưa tới giảm calci dự trữ; giảm sự sản xuất sinh tố D cần thiết cho hấp thụ calci; giảm kích thích tố testosterone và estrogen đưa tới kém hấp thụ calci.

Người say rượu cũng tăng rủi ro té ngã, gẫy xương.

12. Thiếu sinh tố D

Quan sát những người sử dụng cùng lượng calcium như nhau, người sống ở vùng ít có ánh nắng thường bị loãng xương nhiều hơn người sống ở nơi có nhiều ánh nắng mặt trời. Ðó là vì nắng chiếu trên da tạo ra sinh tố D và sinh tố này góp phần tích cực trong việc hấp thụ calci và bảo vệ xương.

13. Nhiều chất xơ

Thực phẩm thực vật nhiều chất xơ ngăn cản sự hấp thụ calci.

14. Chất đạm

Tiêu thụ quá nhiều chất đạm động vật làm tăng bài tiết calci trong nước tiểu, trong khi chất đạm thực vật không có tác dụng này.

15. Cà phê

Uống nhiều cà phê cũng làm hao xương ở người cao tuổi, nhất là khi không uống thêm sữa có bổ sung calci.

Phòng tránh loãng xương


Mặc dù được coi như một bệnh khó tránh và có hậu quả nghiêm trọng của tuổi già, nhưng các nghiên cứu mới đây cho thấy bệnh có thể một phần nào tránh và chữa được.

Xương cứng mạnh hay yếu giòn tùy thuộc vào sự dinh dưỡng, sự vận động cơ thể và lượng kích thích tố estrogen.

Cho nên để phòng bệnh, ta cần lưu ý duy trì tốt ba yếu tố này.

1. Tiêu thụ đủ số lượng calci mà cơ thể cần qua thực phẩm

Dinh dưỡng lành mạnh là điều rất quan trọng để có bộ xương vững chắc. Dinh dưỡng này dựa trên sự khéo léo chọn lựa các loại thực phẩm căn bản có nhiều calci. Thực phẩm có nhiều calci là sữa, sữa chua, pho mát cứng, cá sardine, cá salmon, sò, rau có lá màu lục, cam, đậu nành.

Ðậu nành có loại phytoestrogen, tương tự như estrogen của cơ thể, nên cũng có tác dụng tốt trong việc hấp thụ calci.

Tuổi thiếu niên cần 1200mg calci mỗi ngày, tuổi trưởng thành cần 1500mg/ngày.

Nếu vì lý do nào đó mà không đủ calci qua thực phẩm, có thể dùng calci phụ. Nên uống khi ăn no để calci dễ dàng hấp thụ và không quá 600mg mỗi lần.

Nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi dùng thêm calci, vì tiêu thụ quá nhiều, calci có thể đưa tới vài rối loạn như nhịp tim bất thường, tổn thưng mạch máu, suy yếu cơ, nhức đầu, sỏi thận.

2. Cần dùng thêm sinh tố D

Khoảng 400 IU-800UI/ngày để giúp sự hấp thụ calci được hữu hiệu.

3. Vận động cơ thể

Xương là những mô bào sống, cần được sự vận động của cơ bắp để vững chắc. Do đó, nếu quá tĩnh tại, khối lượng xương sẽ giảm rất nhiều.

Ngoài sự làm xương vững chắc, vận động còn giảm thiểu nguy cơ té ngã bằng cách tăng cường sức mạnh bắp thịt, cải thiện sự thăng bằng và phối hợp các động tác của cơ thể.

Vận động cũng giúp trái tim khỏe mạnh, tăng sức lực cơ thể.

Ði bộ, chạy, đánh tennis, khiêu vũ, cử tạ đều rất tốt.

Chỉ cần 30 phút đi bộ mỗi ngày là xương cốt chắc bền hơn rồi.

Ngoài ra:

- Nếu thiếu estrogen, nên thảo luận với bác sĩ coi có thể dùng estrogen thay thế.

- Ngưng uống rượu, hút thuốc lá.

- Thay thế dược phẩm đang dùng gây ra hao xương.


Khám phá loãng xương trước khi xương gẫy


Ở tuổi cao hoặc có rủi ro bị loãng xương, nên làm một số thử nghiệm để sớm khám phá coi có bị hao xương trước khi xương gẫy.

Ðo tỷ trọng xương (densitrometry) giúp tìm ra bệnh loãng xương trước khi có triệu chứng bệnh như gẫy xương, giảm chiều cao, lệch xương sống.

Ðây là một kỹ thuật khá chính xác để ước lượng nguy cơ gẫy xương và để theo dõi việc điều trị bệnh này.

Những người nên làm xét nghiệm tỷ trọng xương là:

- Phụ nữ dưới 65 tuổi ở trong thời kỳ mãn kinh mà có một hay nhiều nguy cơ bị loãng xương.

- Tất cả phụ nữ trên 65 tuổi.

- Phụ nữ đã hết kinh mà bị gẫy xương.

- Phụ nữ đang được điều trị với kích thích tố thay thế, với thuốc cortisone lâu ngày và phụ nữ thiếu estrogen.

- Người đang được điều trị bệnh loãng xương.

Ðiều trị

Nếu được điều trị sớm, loãng xương có thể chữa được.

Dược phẩm thuộc nhóm Biphosphonates etidronate (Didronel), pamidronate (Aredia), alendronate (Fosamax), risedronate (Actonel), zoledronate (Zometa or Reclast), ibandronate (Boniva), đứng đầu trong các loại thuốc để điều trị loãng xương.

Bằng cách vừa ngăn chặn sự tiêu hao và tăng cường độ đặc của xương, thuốc giảm rủi ro gẫy xương hông và cột sống rất nhiều.

Thuốc được coi như an toàn, nhưng cũng có một số tác dụng phụ như ợ chua, đau bụng, nhức đầu, đau bắp thịt, táo bón, tiêu chẩy, đầy hơi...

Ðể thuốc công hiệu và tránh kích thích thực quản, nên:

- Uống vào buổi sáng với một ly đầy nước, khoảng 30 phút trước khi ăn hoặc dùng loại thuốc nào khác.

- Ngồi nghỉ khoảng nửa giờ để tránh ợ chua.

- Ðừng uống vào buổi chiều nếu quên không uống sáng nay.

Không dùng thuốc kể trên nếu có thai, đang có bệnh thận trầm trọng, bị ợ chua với viêm thực quản.

Ngoài ra, các dược phẩm như Raloxifene, calcitonin, estrogen, kích thích tố tuyến cận giáp cũng được dùng để trị loãng xương.


Kết luận

Phòng tránh loãng xương đã quan hệ, nhưng phòng tránh té ngã ở người cao tuổi cũng không kém phần quan trọng.

Vì mất thăng bằng cơ thể, kém thị giác, bắp thịt suy yếu, mất phương hướng, dùng nhiều dược phẩm có thể khiến cho người tuổi cao dễ bị té ngã. Và gẫy xương sẽ xảy ra.

(Bài này được trích đăng từ Ðặc San Giáo Sĩ Việt Nam, Số 84)

Bác Sĩ Nguyễn Ý-Ðức, Texas-Hoa Kỳ
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »


Image

Ðôi Mắt Phượng

Nguyễn Đạt Thịnh
Tôi là một quân y sĩ ra trường năm 1974; đơn vị đầu tiên, cũng là đơn vị cuối cùng của tôi, là một tiểu đoàn Nhẩy Dù. (Xin bạn đọc cho phép tôi được bất chấp văn phạm, viết hoa hai chữ “Nhẩy Dù”, vì đó là những chữ tôi thương yêu nhất.)

Tôi lập gia đình nằm 22 tuổi, ngày còn là một sinh viên quân y. Mẹ tôi bảo “chờ ra trường, có việc làm, có lương nuôi vợ, rồi hẵng cưới vợ.” Tôi biết mẹ tôi có lý, nhưng tình yêu cũng không vô lý. Tình yêu thúc dục tôi cưới Phượng ngay. Nàng quá đẹp; thằng Quỳnh, thằng Khương, thằng Ðịnh, những đứa bạn cùng lớp bảo tôi, “Phượng đẹp ngây ngất.”

Phượng là nữ sinh đệ nhất Trưng Vương; nàng cũng yêu tôi nhưng xin một năm đính hôn để học hết trung học. Tôi chờ; một năm dài được chia thành 52 tuần lễ ngắn hơn, đánh dấu bằng 52 ngày chủ nhật chúng tôi gặp nhau.

Không phải là một nhà văn, tôi không mô tả được nét đẹp của Phượng; tôi chỉ biết là Phượng rất đẹp, và nhất là có một sức hút dễ sợ; chỉ cần gặp Phượng một lần là không người đàn ông nào quên được nàng.

Xin đừng hiểu lầm Phượng là “típ” người nở nang, ăn mặc khêu gợi; sức hút của Phượng là sức hút ngầm do duyên dáng, do tình ý, chuyển đi từ đôi mắt. Ðôi mắt thật là tình. Mẹ tôi phán là đôi mắt lẳng lơ; tôi không thích hai chữ này vì nó làm mất đẹp cặp mắt trữ tình của Phượng.

Trước hôn nhân tôi mê mệt với đôi mắt ấy; sau hôn nhân tôi khổ sở, bực bội cũng vì đôi mắt ấy. Không một người đàn ông nào, dù chỉ gặp Phượng lần đầu, không có cảm tưởng đã yêu nàng và tình yêu của họ không bị nàng hất hủi. Ít nhất Phượng cũng không xua đuổi, không vô tình với họ. Tôi mất một số bè bạn cũng vì Phượng. Chỉ một vài lần gặp Phượng, chạm mắt với Phượng cũng đủ để họ thầm nghĩ là tôi đã mọc sừng.

Dĩ nhiên vợ tôi không thể có tình ý với tất cả mọi người, nhưng cái khổ là đôi mắt đắm đuối của Phượng không nhìn mọi người một cách thản nhiên như người ta nhìn những vật vô tri quanh mình.

Giờ này, vợ tôi không còn trên cõi đời trần tục nữa tôi mới thấm thiá hiểu được một việc rất giản dị, rất tầm thường là không tạo ra đôi mắt của chính mình, Phượng không có trách nhiệm gì về những đổ vỡ đôi mắt gây ra. Chỉ có tác giả đôi mắt đó _ông Thợ Tạo_ mới đúng là người tôi phải oán trách.

Ði đôi với cặp mắt tình tứ là một đồng tiền rưỡi (một ở bên má trái, và một nửa ở cạnh môi dưới) trên khuôn mặt tươi như hoa, trắng mỏng manh. Cái đồng tiền rưỡi ấy _dù chỉ có đồng rưỡi_ có ma lực giết người. Xin hiểu hai chữ “giết người” theo nghĩa trắng của nó. Chỉ riêng tôi biết cũng đã có 2 người chết đuối trong cái vũng thịt sâu không đầy nửa ly này.

Một trong 2 người xấu số là bạn thân của tôi. Nó tự bắn vỡ toang đầu ngay trên bậc cửa nhà tôi. Lá thơ tuyệt mạng trong túi nó chỉ có mấy chữ “hình dung em đang nằm trong tay một người đàn ông khác, anh không còn can đảm sống nữa.” Tôi cũng không bao giờ đủ can đảm để tìm hiểu xem vợ tôi có nằm trong vòng tay nó không. Hai giòng chữ nó viết không cho phép tôi hiểu khác được.

Tôi chạy trốn trước mọi ngờ vực; tôi quan niệm đã không tránh được bão cát thì thà vùi đầu xuống cát để không còn biết tới giông bão bên ngoài nữa. Tôi hèn nhát? Có thể; nhưng tôi làm gì hơn được? Không chỉ yêu thương vợ, tôi vẫn còn say mê vợ tôi sau 3 năm chăn gối.

Mẹ tôi, chị tôi đề quyết vợ tôi đã cho tôi ăn bùa mê, thuốc lú. Tôi hiểu quan điểm những người thân của tôi; tôi hiểu cả định mệnh của tôi, của vợ tôi, và của cả những người say mê vợ tôi nữa.

Tôi vừa nói tôi hiểu định mệnh của vợ tôi. Ðiều đó cần được giải thích rõ hơn; đôi khi tôi nghĩ Phượng cũng đáng trách, nhưng trong đa số những đổ vỡ quanh nàng, Phượng chỉ thụ động, đáng thương. Phượng sợ và tránh né tất cả mọi gặp gỡ. Những buổi liên hoan của đơn vị tôi, những cuộc họp khóa, họp bạn của tôi, luôn luôn Phượng cáo bệnh hay tìm cớ bận con để không tham dự.

Cũng như tôi, Phượng sợ hậu quả của những cuộc giao tiếp, sợ cái bản chất đa cảm, đa tình của chính mình. Không phải là một người đàn bà trắc nết, vợ tôi thật sự chỉ là nạn nhân của bản ngã.

Sở dĩ tôi phải dài lời nói về vợ tôi như vậy, lả để người đọc hình dung được cái ray rứt, khổ sở của tôi trong 14 tháng tù khổ sai được cộng sản đánh bóng bằng hai chữ “cải tạo.”

Cũng như mọi sĩ quan cấp úy khác, tôi bị cộng sản lừa bằng cách chơi chữ. Trên đài phát thanh, chúng kêu gọi binh sĩ trình diện và đem theo 3 ngày ăn. Sau 3 ngày học tập, thành phần binh sĩ được ra về yên ổn. Tiếp theo đó, chúng kêu gọi các sĩ quan cấp úy trình diện với 10 ngày tiền ăn. Chúng tôi tin tưởng, hoặc ít ra chúng tôi cũng mong mỏi là thời gian cải tạo chỉ kéo dài 10 ngày. Ðó là cái lầm của tôi, cái ảo tưởng đưa đến chỗ tự diệt của mọi cán bộ chỉ huy.

Cộng sản hiểu rằng mặc dù nhất thời thất trận, lực lượng quân sự của miền Nam vẫn còn là một đe dọa nghiêm trọng đối với nền thống trị mà lúc ấy chúng mới rắp tâm đem đặt lên lưng người dân Nam Việt. Một triệu quân nhân bị đặt vào hoàn cảnh thất thế vì những lừa đảo, phản phúc chính trị, những dốt nát chiến lược đã bị những mũi dùi tấn công của 15 sư đoàn Bắc Việt xé thành từng mảng nhỏ. Muốn ngăn ngừa sự kết hợp lại của những mảng quân lực, cộng sản chủ trương đánh vỡ đầu rắn: chúng phải tiêu diệt bằng mọi giá hệ thống cán bộ chỉ huy của QLVNCH. Trong 3 ngày học tập, chúng đối xử hết sức nhã nhặn lễ độ với anh em hạ sĩ quan, binh sĩ. Không một hình thức hành hạ giam cầm, không một lời nói nặng, một đe dọa.

Sau 3 ngày học tập binh sĩ đem loan truyền với chúng tôi cái tin tưởng học tập qua loa, ra về đúng kỳ hạn. Ðiều đó làm đa số sĩ quan cấp úy chúng tôi yên lòng khăn gói lên đường với 10 ngày tiền ăn. Nhiều anh lười, không đem theo cả mùng mền, tính ngủ nhờ với bạn bè cũng đủ qua khoảng thời gian 10 ngày ngắn ngủi.

Dĩ nhiên là chúng tôi đã lầm; chỉ ngay sau khi cái bẫy xập xuống đầu chúng tôi, cộng sản trắng trợn vứt bỏ mặt nạ “đại đoàn kết dân tộc, xóa bỏ hận thù.”

Bài học đầu tiên chúng tôi được nghe qua giọng nói hằn học căm hờn của một anh cán bộ quản giáo Bắc Việt. Anh ta oang oang bảo chúng tôi, “Các anh quên hết địa vị xã hội của các anh đi. Kể từ ngày hôm nay, vợ con các anh sẽ ngửa tay xin nhân dân từng hột cơm; và vài tháng sau vợ các anh chỉ còn nước đi làm đĩ để sống.”

Chúng tôi thắc mắc về thời gian 10 ngày, hắn cười khẩy, vẻ mặt câng câng, đểu cáng, “Các anh chỉ có 10 ngày ăn thôi ư? Ðừng lo, cứ ăn hết 10 ngày đó đi đã; sau đó ăn bám vào sức sản xuất của nhân dân.”

Trước mỗi cửa phòng giam, cộng sản cắc cớ bắt chúng tôi phải dán lên khẩu hiệu “không có gì quý bằng độc lập, tự do.” Cán bộ Việt Cộng còn phụ giải “người đi trên sa mạc thấy không có gì quý bằng nước uống. Các anh sẽ thấy đối với các anh thì không có gì quý bằng tự do.”

Ðề cao cái giá của tự do trong nhà giam quả là việc làm vừa châm biếm, vừa độc ác. Nhưng không phải chỉ trong nhà giam tôi mới thấm thía hiểu tự do là quý. Sau này ra khỏi trại cải tạo, sống trong cái nhà giam lớn hơn là nguyên cả Miền Nam Việt Nam tôi càng thấy rõ không phải chỉ một mình tôi, mà cả 20 triệu người dân Nam Việt đều đang khắc khoải giữa sa mạc thống trị, thèm khát ngụm nước tự do.

Xin trở lại với trại cải tạo và với vợ tôi; tôi bị giam 2 tháng hơn thì một buổi chiều nghe loa gọi lên văn phòng. Tôi tái người, nghĩ ngay đến những vụ thủ tiêu, biệt giam, thường xẩy ra đối với những thành phần cộng sản gọi là ngoan cố.

Bản chất hiền lành, tôi không ra mặt chống đối bọn giảng viên, quản ngục. Cái tội của tôi chỉ là không nuốt trôi được mớ lý thuyết rẻ tiền, lẩm cẩm của cộng sản. Nhưng đối với chúng, đó không phải là một khinh tội. Tôi lo lắng chờ đợi một hình thức trừng phạt vì trọng tội trí thức.

Lên đến văn phòng, tôi được một anh binh ba Bắc Việt, mặt non choẹt, đưa vào phòng chính ủy. Và tôi đã chết đứng khi thấy Phượng trong đó.

Giọng đầy cải lương, nhân vật số một của trại giam bảo tôi, “Xét thành tích học tập tốt của anh, nhân dân đặc biệt cho anh được nhận sự chăm nuôi của gia đình.”

Tôi học tập tốt? Thật là mai mỉa; những âm thanh giảng huấn chan chát của bọn cán bộ cộng sản đối với tôi không một mảy may khác những tiếng cuốc đất trong giờ lao động sản xuất. Tôi đoán hiểu cái lý do đã khiến “nhân dân đặc biệt cho phép” tôi được nhận sự thăm nuôi của gia đình.

Cặp mắt nẩy lửa vì giận, tôi nhìn Phượng. Vợ tôi đã đến cái nước đi làm đĩ như bọn cộng sản tiên đoán rồi ư? Phượng cũng nhìn tôi, đôi mắt vẫn tình tứ, nhưng buồn thăm thẳm và ướt đẫm. Những giọt lệ lăn dài trên đôi má nhung mịn màng làm lòng tôi se thắt. Tôi thèm bước tới, ôm Phượng vào vòng tay, và hôn dài trên đôi mắt đắm đuối ấy. Nhưng dĩ nhiên ngoại cảnh không cho phép tôi làm việc tôi thường làm đó.

Vợ tôi nghẹn ngào, “Bé Mai nhớ anh lắm.”

Bé Mai! Ðứa con gái 2 tuổi của tôi, báu vật của vợ chồng tôi! Tôi đứng khựng như trời trồng trước cái hình ảnh nhỏ bé, thương yêu mà vợ tôi vừa gợi ra.

Suốt 10 phút gặp gỡ, tôi không nói được một lời nào với Phượng cả. Cổ họng tôi nghẹn cứng; rồi bên tai tôi văng vẳng thật xa có tiếng nói của tên chính ủy: “Thôi, xách đồ ăn về phòng đi, Tuần sau lại được thăm nuôi nữa.”

Ðêm đó tôi không chợp mắt. Tôi hình dung những chuyện đã xẩy ra giữa vợ tôi và tên chính ủy cộng sản trước khi tôi được dẫn vào và sau khi tôi bị đưa ra khỏi văn phòng hắn. Tôi không tin đã có gì quá đáng trong phòng làm việc. Nhưng sau đó hắn có thể đến nhà tôi hay bảo vợ tôi đến một chỗ nào đó.

Tuần sau và những tuần kế tiếp, Phượng đều đều đến thăm tôi, mỗi lần đem theo một món ăn mà trước kia tôi ưa thích. Tôi nuốt những món khoái khẩu mà có cảm tưởng như mình đang ăn rơm khô, không mùi, không vị. Mỗi lần thăm viếng chúng tôi được nói chuyện với nhau 10 phút. Toàn những chuyện bâng quơ. Cả hai đứa chúng tôi đều không dám đả động tới điểm ngờ vực đau xót của tôi.

Có lần Phượng nói với tôi bằng cái giọng thiết tha nhưng nghiêm trọng, “Em chỉ xin mình tuyệt đối tin tưởng là em yêu mình. Suốt đời em, em chỉ yêu có một mình mình. Mặc dù những gì đã xẩy ra hay sẽ xẩy ra thì tình em yêu mình vẫn mãi mãi là sự thật duy nhất.”

Qua tâm linh, tôi biết Phượng nói thật. Tôi muốn quên những việc đáng buồn đã xẩy ra; quên không được, tôi cố gắng bào chữa cho Phượng. Nhưng ghen tương, ích kỷ, cũng không phải là những cảm nghĩ nhỏ trong lòng người chồng.

Những cuộc thăm viếng kéo dài được 4 tháng thì một hôm Phượng bảo tôi, “Tuần sau em về Long Xuyên với má; sống ở thành phố không có sinh kế gì hết.”

Tôi hăng hái khuyến khích vợ tôi xa lìa Saigon. Ít nhất về ruộng sống với mẹ Phượng cũng đỡ phải lo 2 bữa ăn hàng ngày, cái lo to lớn của người thị dân sau ngày bị giải phóng.

“Mỗi tuần được gặp em là niềm an ủi lớn cho anh,” tôi bảo vợ. “Nhưng cái nhìn ngờ vực, khó chịu của 2,000 anh em đồng đội, đồng cảnh trước việc anh được uu đãi làm anh khổ sở. Anh muốn chịu chung những đầy ải với họ.”

Tuần sau Phượng không đến thăm tôi nữa. Cuộc sống khổ sai không hạn định trở thành dài hơn vì thiếu sự chia cắt của những tiêu mốc ngắn hạn. Tôi trở lại vị trí của cái máy người, vô tri giác, không phản ứng, bảo đi thì đi, bảo học thì học, bảo lao động thì lao động. Những bạn nào đã sống trong trại cải tạo của Việt Cộng hẳn đồng ý với tôi là cộng sản đã thành công trong việc làm chúng tôi mất hết tri giác. Không vui, không buồn, không hy vọng, thất vọng, không mong chờ bất cứ một điều gì nữa. Cuộc sống hàng ngày như một bộ máy được điều động bằng những tiếng còi, những khẩu lệnh. Phần ăn quá đói làm tất cả chúng tôi tìm được cái khôn ngoan của loài vật: không làm một cử động thừa, không nói một câu thừa để không phí phạm bất cứ một phấn thật nhỏ nào cái sinh lực le lói còn trong xác người.

Chính trong trạng thái vật vờ của một xác chết chưa chôn ấy, tôi nhận được giấy phóng thích. Cầm tờ giấy chấm dứt cuộc sống tù ngục của mình trong tay, tôi dửng dưng như cầm một tờ truyền đơn học tập. Nói dửng dưng cũng vẫn chưa đúng; tôi không ý thức được những thay đổi tờ giấy mang lại cho tôi. Nhẩn nha nhơi từng hột bắp của bữa ăn trưa đói khổ tôi nghe cơ thể khoan khoái với chút bồi dưỡng ít oi. Trái bắp có trong tay vẫn quý hơn hai chữ “tự do” mới viết trên giấy.

Một cán bộ bảo tôi, “Chiều nay anh khỏi lao động; về sửa soạn nóp, chén trả lại nhà kho.”

Khỏi lao động, một tin mừng khác. Tôi trở về căn phòng giam hôi hám nhưng mát rượi như một thiên đàng so sánh với cái hỏa ngục lao động sản xuất mà các bạn tôi đang chịu đựng ngoài trời.

Bốn giờ chiều Phượng đón tôi ngoài cổng trại giam. Người vợ đài các của một bác sĩ mặc cái áo bà ba vải bông và cái quần đen, đứng vịn một chiếc xe đạp đàn ông cũ kỹ. Có thể tôi sẽ ít ngỡ ngàng hơn nếu từ trong thế giới tù ngục bước ra được gặp lại thế giới cũ của mình với xe honda, với áo dài. Tôi đang bước vào một thế giới hoàn toàn khác lạ sau chưa đầy 2 năm mất nước.

Thế giới bên ngoài nhà tù không phải ít khe khắt, ít đọa đầy; suốt một năm trời tôi phải sống trong chế độ “quản chế của nhân dân”; tôi xin giải thích những chữ văn hoa này. Chế độ “quản chế của nhân dân” có nghĩa là tôi phải làm mọi không công, phải sợ sệt tất cả mọi người. Bất cứ ai trong phường cũng có quyền phán xét là tôi chưa giác ngộ, cần học tập thêm, là tôi lại đi tù nữa.

Tôi cúi mặt trước tất cả mọi người, dù đó chỉ là một đứa con nít. Tôi vâng dạ, tôi tuân lệnh, không cần biết lệnh đến từ đâu. Một bà hàng xòm gọi tôi đến coi chứng bệnh cho thằng con tám tuổi. Sau khi quan sát kỹ mọi triệu chứng, tôi bảo bà là con bà bị thương hàn và không có cách nào hay hơn là đưa nó đi bệnh viện. Bà quắc mắt, “Anh đi học tập ra mà con như vậy đó hả? Nhân dân có quá nhiều nhu cầu để bệnh viện thừa chỗ trống cho một đứa con nít nóng lạnh. Anh không biết cách nào khác nữa sao?”

Tôi đề nghị bà đừng cho con ăn gì hết để ruột không hư. Bà ta cáu kỉnh nạt, “Lang băm tư bản.”

Sau khi tôi về không hiểu bà có nghe lời tôi khuyến cáo không, nhưng rất may là đứa trẻ lành bệnh. Suốt nửa tháng trời tôi hồi hộp lo sợ: cái chết của đứa trẻ vì thiếu thuốc, thiếu chăm sóc có thể đưa tôi trở lại trại cải tạo như không.

Nguồn an ủi của tôi là số người thiếu ý thức như bà hàng xóm mà tôi vừa kể tương đối rất ít; đa số dân Saigon sống trong một tình đoàn kết ngấm ngầm nhưng khắng khít. Một bà cụ dúi cho tôi gói gạo nhỏ qua câu nói chí tình, “Bác sĩ phải ăn thêm mới sống nổi, tôi già rồi, thiếu thốn chút đỉnh cũng không đến nỗi nào.” Bà vợ của một công chức còn đang tù tội cho tôi đôi giầy. Ông hàng xóm sát vách cho cái áo.

Nhưng mọi nguồn vui của tôi đến từ Phượng thì nàng cũng là nguyên nhân của mọi buồn khổ. Phượng làm đĩ ra mặt, không còn e dè gì tôi nữa cả. Vợ tôi không chỉ tống tình cán bộ cộng sản để thăm nuôi tôi nữa, mà xuống đến tận chân thang của xã hội: mỗi ngày vài lần những anh phu xích lô đến gọi Phượng đi khách. Những lần đầu tiên Phượng còn ngượng với tôi, nhưng sau quen dần, nàng chỉ bảo tôi, “lát em về.”

Phần tôi, tôi vẫn phải tình nguyện xung phong trong mọi công tác nặng nhọc của phường như hốt rác, quét đường, trồng cây, thông cống, ... . Tôi xung phong để được chấm điểm, xung phong để khỏi trở lại lao tù cải tạo. Ðôi khi nghĩ quẩn tôi cho rằng đi tù mà còn tự do hơn chế độ nhân dân quản chế.

Thêm một lần nữa, tôi tuyên dương sự thành công của cộng sản. Chúng đã hoàn toàn đập tan uy thế của giới chỉ huy, giới trí thức miền Nam. Suốt một năm ra khỏi tù, tôi không được phép làm bất cứ một việc gì cả. Nói một cách khác, tôi phải ăn bám vào đồng tiền vợ tôi ngày ngày bán thân tạo ra. Sau 31 năm, nghĩ lại tôi vẫn rùng mình khiếp sợ.

Tôi xin độc giả ngưng đọc một phút để hình dung cái nhục nhã của tôi, của tất cả giới trí thức miền Nam. Tôi không đủ can đảm để nói bất cứ câu gì với vợ tôi về việc làm của nàng; cả hai chúng tôi cúi đầu chịu phép trước guồng máy xã hội mới.

Nếu một ngày tù dài bằng một ngàn năm sống tự do thì 365 ngày bị trói tay, thất nghiệp, sống đói khổ dưới quyền quản chế của nhân dân, và nhìn vợ đi làm đĩ chắc phải dài hơn sự hiện hữu của cả hệ thống vũ trụ.

Giữa hai vợ chồng tôi nẩy sinh ra một tình trạng ngượng ngập khó tả, Ít khi tôi dám nhìn thẳng vào mắt Phượng, và gần như không bao giờ tôi dám nói với nàng chuyện gì khác hơn là những câu đối thoại tầm thường quanh sinh hoạt nho nhỏ trong nhà.

Thỉnh thoảng bà mẹ vợ tôi lén lút đem được ít gạo, ít thịt lên cho chúng tôi. Qua những cuộc tiếp tế lậu này, tôi khám phá thêm được một bí mật: vợ tôi không hề về Long Xuyên với mẹ như nàng đã nói với tôi. Phượng đã làm gì, ở đâu, trong 7 tháng trời tôi nghĩ nàng về quê sống với mẹ? Cả đến câu hỏi này cũng chưa lần nào tôi dám hỏi Phượng. Tôi trốn chạy một sự thật phũ phàng nào nữa đó sẽ đến, nếu Phượng phải trả lời tôi.

Tối 30 tháng Chín 1978, sau khi theo một anh xích lô “đi khách” về, Phượng kéo tôi vào phòng trong cùng với bé Mai. Trên bộ ván thay cho cái giường nệm đã đi vào chợ trời từ hai năm trước, Phương mở gói thịt quay ra rồi bảo tôi, “Mình ăn với em.”

Từ sau ngày mất nước đây là lần đầu tiên tôi lại được nhìn thấy miếng thịt quay; Phượng lăng xăng bới cơm, và vợ chồng con cái chúng tôi ăn uống ngon lành như chưa bao giờ được ăn ngon đến như thế.

Những đó không phải là điều ngạc nhiên duy nhất của tôi; ăn uống xong, vợ tôi kéo từ trên đầu tủ xuống một gói giấy: bên trong là một bộ đồng phục thanh niên xung phong. Tay chân run rẩy, Phượng trải bộ quần áo lên mặt bộ ván, rồi giọng nói cũng run rẩy nàng bảo tôi, “8 giờ sáng mai, mình mặc đồng phục này đứng đón tàu ở bến Bạch Ðằng.”

“Ðón tầu? Ðể đi đâu?”

Không trả lời câu hỏi của tôi, vợ tôi chỉ lập cập nói, “Em đã đóng đủ 10 cây cho họ rồi.”

Mười cây vàng! Tôi choáng váng với con số lớn khiếp đảm đó.

“Vàng đâu mà em có đến 10 cây?” Câu hỏi buột miệng không nuốt trở vào được nữa, tôi chỉ còn biết nhìn vợ tôi, câu xin lỗi ngầm chứa trong ánh mắt. Phượng cũng nhìn tôi, đôi mắt thăm thẳm tình tứ trên khuôn mặt vẫn còn đẹp dù đã gầy đi và dạn dầy phong trần.

Sau một phút im lặng, nàng nghẹn ngào, “Em không biết mình có tin hay không, nhưng sự thật lúc nào em cũng yêu mình.”

Tôi ôm Phượng vào lòng; giữa một xã hội thù hận, cái bóng mát yêu thương nhỏ bé thật là vô giá. Mặc dù Phượng chưa nói, nhưng tôi cũng đoán hiểu mục đích vượt thoát của chuyến đi ngày mai, và hiểu 10 lượng vàng, giá của chuyến đi là kết quả của những canh dài Phương đem thể xác ra cho thiên hạ dầy vò để góp nhặt từng đồng hầu mua tự do cho tôi.

Cổ nghẹn lại, tôi không nói được một tiếng nào cả; tôi vừa sung sướng trước những bằng chứng hiển nhiên của một mối tình to lớn, bền chắc, vừa xấu hổ nhận những hy sinh nhục nhã của vợ.

Phượng bảo tôi, “Em chỉ đủ tiền đóng cho mình; nhưng em với con vẫn đi theo mình.” Nàng giải thích cho tôi hiểu chuyến tầu vượt thoát là tầu thầu việc chuyên chở thanh niên xung phong đi làm rừng ở cửa Cần Giờ. Sáng mai, tôi sẽ cùng với 30 người nữa đội lốt thanh niên xung phong xuống tầu tại bến Bạch Ðằng. Ðàn bà, trẻ con đi đường bộ xuống ngã ba Ðồng Chanh, chờ tại đó và sẽ đổ lên tầu. Họ là những người đi lậu, không đóng vàng.

“Người ta đi lậu nhiều lắm,” Phượng bảo tôi. “Em cũng trà trộn vào đám người đó; không lẽ người ta xô mình xuống sông. Sợ gì?”

Tôi sợ. Rùng mình tôi nghĩ đến cảnh “người ta xô vợ con tôi xuống sông”, nhưng có sợ tôi cũng không giải quyết được cái khó không tiền và đành theo mọi xếp đặt của Phượng.

Ðêm đó tôi trằn trọc không ngủ, Phượng cũng không ngủ. Vào khoảng gần sáng nàng hỏi tôi, “Mình đã đủ tin vào tình em yêu mình để tha thứ hết mọi việc cho em chưa?”

“Anh tin. Anh yêu mình.”

“Em còn một tội nữa, chưa thú nhận được với mình.”

Trong bóng đêm, tôi lặng thinh lo lắng. Ngần đó bất hạnh chồng chất vào một cuộc sống ngắn ngủi, cay cực, còn chưa đủ nữa hay sao.

Vợ tôi thở dài, “Lúc đó em còn khờ quá nên chuyện mới xẩy ra. Em phải nói dối mình là em về Long Xuyên với má. Thật ra em không muốn mình buồn.”

Dù vợ tôi chưa nói ra, nhưng tôi cũng đoán hiểu.

“Em có con?” tôi hỏi.

Rúc đầu vào ngực tôi, vợ tôi thút thít khóc, “Mình tha cho em.”

Ðứa con chỉ là hậu quả đương nhiên của những việc làm mà tôi đã nhìn vợ tôi hàng ngày đi theo những bác phu xích lô để làm. Bây giờ tôi lại hiểu mục đích cao cả của việc làm đê tiện đó. Tôi thương Phượng hơn là trách nàng.

“Ngày mai em muốn cho con cùng đi?”

“Nếu mình đồng ý.”

Dĩ nhiên tôi đồng ý; đồng ý đưa những người thân nhất đời mình vào chuyến đi địa ngục, vào vòng tay tử thần.

Trước 5 giờ sáng hôm sau, trong bộ đồng phục thanh niên xung phong, tôi chở Phượng và bé Mai trên chiếc xe đạp mà mấy tháng trước Phượng đã dùng để đón tôi ra khỏi trại tù cải tạo. Mặc dù giờ hẹn là 8 giờ, nhưng tôi vẫn đi sớm để hàng xóm đừng để ý đến bộ đồng phục của tôi. Hơn nữa, Phượng còn ghé Phú Nhuận, nơi nàng gởi nuôi thằng Vình, đứa trẻ ra đời trong thời gian tôi ở tù.

Mọi việc xuôi lọt, và tương đối dễ dàng: 7 giờ sáng tôi đến điểm hẹn; nhiều người cũng mặc đồng phục như tôi đã có mặt; nhìn thái độ ngỡ ngàng, dè dặt của họ, tôi hiểu họ cũng như tôi, ngoài bộ áo thanh niên xung phong, chúng tôi không xung phong làm gì hết.

Phượng bảo tôi, “Mình chờ ở đây, em qua Tân Thuận đón đò máy.”

Nhìn vợ lưng đai một đứa con, chở đứa thứ nhì trên thanh ngang xe, ra sức đạp chiếc xe cót két, tôi nghe đứt ruột. Nửa tiếng đồng hồ sau tôi xuống tàu, chọn chỗ ngồi ngay bên hông, hy vọng giúp đỡ Phượng đưa con lên. Khoảng 8 giờ 45, tàu đến ngã ba sông Ðồng Chanh; bốn chiếc đuôi tôm xáp lại, đàn bà trẻ con ồn ào dành nhau leo lên. Tôi đỡ bé Mai trên tay Phượng, rồi kéo Phượng, tay còn bồng thằng Vinh lên theo. Cuộc đổ bộ của khoảng 70 đàn bà, trẻ con lên tàu không những đã công khai mà còn ồn ào, hỗn độn, tranh dành, la lối, đính chánh hùng hồn cái huyền thoại gán cho cộng sản một hệ thống an ninh bao trùm và hữu hiệu. Hàng chục khách thương hồ và ít nhất là 4 người tài công đuôi tôm đã chứng kiến và chắc chắn cũng đã biết mục đích của chuyến đi, nhưng cộng sản vẫn không bắt buộc được họ khai báo, phản phúc đồng bào ruột thịt.

Mười rưỡi, tàu ra đến cửa biển Cần Giờ, và trưa hôm đó quê hương thương yêu chỉ còn là một vệt dài dậm hơn mầu biển. Ðến lúc này các “giới chức” trên tàu mới hò hét chửi mắng những người vượt thoát lậu. Họ bảo chỉ dự trù lương thực và nước uống cho những người có ghi tên và có góp vàng. Những người khác sẽ không có khẩu phần.

Phần ăn và nhất là phần nước uống ít oi của tôi được chia làm 4; bao tử trống nhưng tâm tư vợ chồng chúng tôi tràn đầy hạnh phúc. Vợ tôi ngồi sát bên tôi, tay ẵm thằng Vinh, bé Mai nằm gọn trong lòng tôi; đầu vợ chồng tôi đội chung một cái áo, vừa làm nón cho người lớn, vừa làm mái nhà cho trẻ con.

Ngồi bó rọ trong cái cảnh mà nếu được nhìn thấy, chắc mọi người phải gọi là địa ngục trần gian, vợ chồng tôi bàn chuyện thiên đàng mộng tưởng. Cái thiên đàng của chúng tôi rất giản dị: bất cứ nơi nào cho tôi được đem sức đàn ông ra đi làm, làm bất cứ việc gì để nuôi vợ, nuôi con.

Tôi bảo Phượng, “Anh sẽ làm việc, làm ngày, làm đêm, để không bao giờ em và con còn phải thiếu thốn khốn khổ nữa.”

“Em thương mình,” Phượng thủ thỉ bên tai tôi. “Không bao giờ em còn làm mình buồn nữa.”

Tất cả những cam kết, hứa hẹn, dự tính đẹp như mộng ấy, chúng tôi đem ra làm thức ăn để đánh lừa cơn đói. Khẩu phần của tôi mỗi bữa khoảng 2 chén cơm chỉ vừa đủ cho 2 đưa nhỏ. Phượng và tôi nhắp một đầu đũa để cầm hơi.

Qua đến ngày thứ 3, vì đói quá, khi đi lãnh cơm tôi thò tay vào nồi, vừa bốc thêm một nắm cơm vừa nói, “Cho tôi xin thêm chút cơm.”

Một quả đấm bay vào mặt tôi; yếu đuối sau 14 tháng bị giam cầm đói khổ, yếu đuối sau 3 ngày thiếu cơm, thiếu nước, tôi té ngửa dưới sức mạnh của quả đấm trời giáng.

“ÐM quân ăn cướp. Ðã đi lậu mà còn đòi ăn nữa hả.”

Quả đấm tuy đau, nhưng tôi vẫn mừng vì cà mèn cơm chưa đổ. Bưng cà mèn đầy cơm hơn nhờ bốc thêm được một nắm về mái lều to bằng manh áo, tôi sung sướng nhìn Phượng được ăn thêm miếng cơm thứ nhì. Tôi an ủi vợ, “Mình đi được 3 ngày rồi, nhiều lắm 2 ngày nữa cũng phải đến Thái Lan hay Mã Lai.”

Héo hắt cười, Phượng nhìn tôi. Tôi muốn thuyết phục cho vợ yên lòng, nhưng chính giọng nói của tôi cũng không vững.

Mũi tàu vẫn hướng về phía Nam, điều làm tôi thắc mắc. Mặc dù không có cả đến một tấm địa đồ nhỏ trong tay, nhưng tôi vẫn mường tượng được vị trí của Thái Lan và Mã Lai so với Việt Nam. Tôi góp ý với những người điều khiển tàu là nên cho mũi tàu chếch thêm về hướng Tây Nam. Tôi chưa nói dứt lời, một ông vạm vỡ nạt ngang, “Anh biết gì mà nói.”

Ðến ngày thứ 5 của chuyến hải hành, vợ tôi lả đi vì đói, vì mệt và say sóng. Phượng dựa vào thành tàu, mắt nhắm nghiền, đầu gục xuống. Tôi van xin ông ngồi cạnh nửa thước khoảng trống để vợ tôi có thể ngả lưng trong thế nằm co quắp. Hai đứa bé không còn khóc được nữa; tiếng khóc của chúng trở thành những tiếng rên nho nhỏ.

Tôi mò xuống bếp tán tỉnh xin phụ việc. Khoản thù lao tôi mong mỏi chỉ là mỗi bữa một chén nước cơm cho trẻ con uống. Chúng không còn sức để nhai và nuốt vật cứng nữa. Một ông “giới chức” hất hàm hỏi tôi, “Trước kia anh làm nghề gì?”

Dĩ nhiên việc đi cải tạo không phải là một nghề, mà cũng không phải là việc đem ra khoe được, tôi đành khai, “Thưa ông, tôi làm bác sĩ.”

“Biết chích không?”

“Dạ biết.”

Thế là tôi biến thành thầy Hai chích dạo. Bà vợ ông giới chức bị bệnh đái đường; ông đem theo một xách thuốc cần thiết cho bà, nhưng thiếu thầy Hai chích. Ðường lên, bà nằm mê man từ 2 ngày nay. Tôi được đưa vào khoang để chích insuline cho bà. Bữa đó không những có được chén nước cơm, mà trong cà mèn còn thêm được một miếng thịt.

Ðược dinh dưỡng, vợ tôi và 2 đứa trẻ cũng tỉnh táo hơn. Chiều hôm đó tôi lại có thêm một thân chủ: gia đình một người Trung Hoa nhờ tôi chăm sóc cho đứa con bị cảm nắng. Họ tạ thầy một hộp Sumaco, khiến bữa ăn chiều của chúng tôi có thể nói là thịnh soạn.

Cà mên cơm đầy ăn với cá hộp giúp Phượng đủ sức ngồi dậy săn sóc con. Hai đứa trẻ vẫn đuối, nhưng nhờ được uống nước cơm nên không đến nỗi bị lả đi như hôm trước nữa.

Sáng hôm sau tôi trở lại chích thuốc cho bà giới chức; nhờ insuline làm tan đường, bà đã ngồi dậy được, tỉnh táo hơn. Uy tín lang băm của tôi gia tăng nhanh chóng, số thân chủ cũng gia tăng vì sau 5 ngày ngồi bó rọ phơi nắng, gần như tất cả mọi người đều cảm thấy mệt đuối, đau nhức, nhiều người sốt, cảm, và ho.

Nỗi khổ tâm của tôi là trị bệnh không dược liệu; đem kinh nghiệm 14 tháng giúp bạn tù trị bệnh bằng phương pháp kháng bệnh, tôi chỉ dẫn mọi người cách hô hấp, cánh tập trung tư tưởng để tự kỷ ám thị.

Nhờ hành nghề bác sĩ, khẩu phần của gia đình tôi trở nên sung túc hơn rất nhiều. Mỗi gia đình vượt biển đều có thủ theo một vài thứ thực phẩm khô, họ chia cho tôi một ít để thù lao bác sĩ.

Ðến ngày thứ 7, nhờ được ăn no hơn vợ tôi đã bình phục và hai đứa trẻ cũng tỉnh táo. Trưa hôm ấy chúng tôi gặp hoạn nạn: chiếc áo mái nhà của tôi bị gió biển cuốn đi, vợ tôi lục giỏ tìm cái áo khác ra căng lều. Lần này tôi có ý cột kỹ tay áo vào thành tầu.

Tối hôm đó, đang gục đầu trong thế ngủ ngồi tôi nghe như một biến chuyển lớn đang xẩy ra. Giật mình tôi thức dậy trong tiếng reo hò của mọi người.

“Tới rồi. Thấy đất rồi.”

“Cảm ơn trời phật. Chuyến đi quá dài nhưng rồi cũng đến.”

Giọng quát của một giới chức, “Ngồi cả xuống; chạy tới, chạy lui, mất thăng bằng lật tàu chết cả đám bây giờ.”

Mọi người ngoan ngoãn ngồi trở xuống, nhưng tiếng ồn ào vẫn không ngớt. Người ta bàn tán, “Chắc là Mã Lai.”

“Có lẽ như vậy, vì nó là hòn đảo, chứ Thái Lan thì đã thấy lục địa.

“Không chừng Nam Dương.”

“Rất có thể là Úc.”

Vợ tôi nắm tay tôi bóp mạnh. Tôi nghe như những mừng vui của Phượng đang được chuyền sang tâm hôn tôi mà không cần một lời nói. Mọi người mừng vì chuyến hải hành 8 ngày đã đến đích. Cuộc hành trình của riêng tôi và Phượng đã kéo dài gần 4 năm, mà mỗi ngày là một cơn ác mộng bất tận cho cả 2 chúng tôi cũng đang chấm dứt với chuyến đi này. Nỗi mừng của chúng tôi, vì vậy mà to lớn hơn tất cả. Chúng tôi mừng đến không nói được nên lời, không hò reo được như mọi người. Tôi ngồi yên, không buồn chồm lên nhìn hòn đảo mà tàu đang tiến vào nữa. Niềm vui của tôi đã quá đầy từ ngày bước chân xuống tàu rời bỏ quê hương địa ngục, trên những bằng chứng xác nhận tình yêu tuyệt vời của Phượng đối với tôi. Không một người bạn đồng thuyền nào thỏa mãn bằng tôi.

Ông bạn ngồi cạnh gợi chuyện, “Hình như hòn đảo nhỏ quá.”

“Vâng,” tôi lơ đãng đáp.

“Không chắc đã có người trên đảo.”

“Vâng.”

Mũi tàu vẫn hướng vào hòn đảo cô đơn trong khi niềm lạc quan trên tàu lắng xuống. Khoảng cách thu ngắn dần làm mọi người thấy rõ kích thước nhỏ bé của hải đảo. Nhưng giữa khoảng ngàn trùng của đại dương nhấp nhô hòn đảo kia vẫn là đất, vẫn bảo đảm vững vàng. Hơn nữa, nó cũng lớn tối thiểu bằng 20 lần con tàu dài 15 thước, rộng 3 thước với 140 người trong lòng tàu.

Ða số góp ý kiến nên ngừng lại đảo.

“Biết đâu bờ bên kia lại không có một làng chài lưới.”

“Ghé nghỉ ngơi một ngày, đi lại cho dãn gân; ngồi bó gối mãi, mỏi quá.”

“Có thể tìm nước ngọt, đánh cá tăng thêm thực phẩm trước khi tiếp tục đi nữa.”

Cuối cùng, những giới chức trên tầu quyết định cho tầu chạy một vòng quanh đảo để quan sát trước. Và đó là quyết định cuối cùng của họ với tư cách chỉ huy chiếc tiểu hạm tử thần: mới chạy được nửa vòng đảo, tàu chạm đá ngầm, vỡ đáy, lật nghiêng qua 30 độ.

Phượng văng từ thành tàu bên này sang thành tàu bên kia, thằng Vinh tuột tay mẹ, rơi thẳng xuống biển. Trên đà nghiêng của con tàu, tôi phóng nhanh đến bên Phượng, trao vội bé Mai cho nàng và nhẩy xuống biển để chỉ vừa kịp nắm tay đứa bé chưa đầy năm, theo nó ngụp vào một đợt sóng lớn. Sóng đưa tôi và thằng Vinh vào gần bờ, và do đó tôi trở thành người đầu tiên đặt chân lên hòn đảo san hô thê lương, sau này biến thành nơi gởi xác của nhiều người trong chúng tôi.

Việc làm đầu tiên của tôi là bồng thằng Vinh đưa lên cao để vợ tôi nhìn thấy mà yên lòng. Cách bờ khoảng 15 thước, mọi người nhốn nháo; tiếng kêu khóc thật là thê thảm, nhiều người nhẩy xuống nước chạy vào bờ.

Sau khi bị vỡ đáy, con tàu mắc cạn đang từ từ trở lại thế thăng bằng, mặc dù vẫn còn hơi nghiêng, nhưng người trên tàu không đến nỗi phải bám cứng vào thành tàu để khỏi rơi xuống biển nữa.

Nhờ người coi chừng thằng Vinh, tôi lội xuống nước trở ra mạn tàu bồng bé Mai, và xách gói hành lý khiêm tốn của chúng tôi, rồi dắt Phượng lên đảo. Nhiều người khác cũng làm như chúng tôi; họ lìa bỏ con tàu mà không cần biết là đi đâu, nhắm mắt đưa chân, như 8 ngày trước rời bỏ quê hương Việt Nam.

Ðó là sai lầm của chúng tôi. Hòn đảo san hô khô cằn, lởm chởm, không dung nạp chúng tôi. Tìm được một chỗ bằng phẳng để ngồi xuống cũng đã khó chứ chưa nói đến việc ngả lưng.

Sau gần một tiếng đồng hồ loay hoay tìm kiếm, tôi chọn được một hốc đá tương đối rộng rãi để định cư. Cái áo làm mái nhà đổi vai trò trở thành tấm chiếu cho trẻ con ngồi.

“Ðau đít quá ba ơi,” bé Mai nhăn nhó nói.

Tôi ẵm con lên, đặt nó ngồi trên bọc quần áo, rồi bảo Phượng, “Em coi chừng con, anh đi quanh tìm xem có con ốc, con sò nào không.”

Tôi ngỡ mình là người nhanh chân trong việc đi kiếm ăn, nhưng hơn chục người khác cũng đã lom khom trong các hốc đá tìm kiếm như tôi. Cái may của tôi là trong một kẹt đá nhỏ, tôi chụp được hai vợ chồng một chú tôm hùm khá to, mỗi con khoảng hai kí.

Phượng reo mừng, “đồ biển sẵn thế này là không phải lo đói nữa.”

Phượng lầm, mà tôi cũng lầm. Ðồ biển không sẵn như chúng tôi tưởng, hoặc ít ra thì đó cũng không phải là nguồn thực phẩm đủ cung cấp cho 140 người đói khát.

Tôi đi nhặt rác và rong biển về làm củi nướng tôm; tôi cũng tìm được một mảnh ván nhỏ cho Phượng ngồi. Bữa ăn đầu tiên trên hoang đảo, cách tìm thực phẩm, nướng và ăn bốc theo kiểu thượng cổ, vừa ngon lại vừa vui. Vợ chồng, con cái chỉ ăn hết một con tôm, con thứ nhì để dành.

“Em chưa thấy con tôm hùm nào lớn đến như vậy,” Phượng vừa chôn vỏ tôm xuống cát vừa bảo tôi.

Mới 6 giờ chiều, mặt trời còn cao mà gió biển nghe đã lạnh; tôi lo lắng bảo Phượng, “Có bao nhiêu quần áo em lấy mặc hết cho con. Cả em nữa.”

Gói hành lý được mở ra, tắp hết lên người. Mỗi đứa trẻ mặc 4 áo, 3 quần. Phượng được 3 áo, 2 quần. Tôi mặc thêm cái sơ mi nửa ra ngoài bộ đồng phục chưa thay từ ngày đi.

Gia đình ông hàng xóm sát hốc đá nhà tôi định xuống tầu tránh lạnh nhưng bị đuổi trở lên. Một số thanh niên tổ chức chiếm độc quyền cư ngụ trên tầu. Họ cũng ngưng, không phát thực phẩm như trước nữa.

Ðêm hôm đó một người đàn bà chết, có lẽ vì quá lạnh. Chúng tôi xuống tầu mượn được một cây xà beng và một cái búa để đục đá chôn người xấu số. Ðó là người đầu tiên và người cuối cùng được chôn. Lý do thứ nhất khiến chúng tôi không chôn người chết nữa là vì đục đá làm mồ là một công trình quá khó mà lại không hiệu quả. Lớp đá vụn lấp xác chết không chặt được như đất nên chỉ một ngày sau mùi thối đã xông lên nồng nặc. Lý do thứ nhì chua chát hơn: người ta không muốn vùi đi mấy chục kí thịt của người chết trong lúc tất cả đều đói.

Xác chết đầu tiên tôi thấy bị xẻ thịt là xác một thiếu nữ trắng trẻo, xinh xắn. Tôi đang đi nhặt ốc thì nhìn thấy xác cô, khuy áo bị cổi banh ra, chỗ đôi nhũ hoa chỉ còn thịt lầy nhầy và mấy rẻo xương lồng ngực. Một tiếng đồng hồ sau, tôi trở lại, cô đã bị lột truồng, bắp vế, bắp chuối bị xẻo mất.

Tôi rùng mình. Suốt 2 năm chinh chiến tôi cũng đã chứng kiến nhiều cái chết ghê rợn do súng đạn gây nên, nhưng quả thật chưa một xác chết nào làm tôi khiếp đảm hơn.

Thượng Ðế ơi, người đã sinh ra con người như sinh vật khôn linh hơn mọi sinh vật khác, sao người lại còn bày ra những thử thách trớ trêu đó để làm gì? Ðể chứng minh là con người cũng không hơn gì loài cầm, loài thú ư?

Tôi trở về hốc đá với khuôn mặt chắc phải vô cùng sầu thảm; nhìn tôi, Phượng bảo, “Mình đuối lắm rồi, để em đi kiếm thực phẩm thay mình.”

“Em không đi đâu hết,” tôi gạt phăng.

Vợ tôi nhìn tôi lo sợ; có thể Phượng thấy phản ứng của tôi không bình thường, chưa bao giờ tôi gắt gỏng với nàng, ngay cả những lần nàng theo bác phu xích lô đi khách. Quanh chúng tôi, người ta phát điên, người ta đánh nhau chỉ vì những chuyện không đâu. Tình trạng tuyệt vọng, kinh hoàng làm chúng tôi thành hốt hoảng. Có thể Phượng nghĩ tôi cũng đang có những triệu chứng bắt đầu. Tôi an ủi vợ, “Anh không muốn em đi đâu hết. Quanh chúng ta đang có trên 100 người mất tự chủ. Em phải ở cạnh anh.”

Thật ra tôi chỉ muốn tránh cho Phượng khỏi nhìn thấy xác người thiếu nữ không vú, không đùi. Kéo đầu Phượng gục vào vai, tôi vỗ về, “Rồi mọi chuyện sẽ khá hơn; thế nào chẳng có một thương thuyền đi qua đây.”

Tôi nói để mà nói, nhưng tôi nghĩ Phượng không mấy tin, không mấy quan tâm đến những điều tôi nói.

Chúng tôi đã đói khát gần 1 tuần lễ; quanh bờ biển không còn một cái vỏ hào nào nguyên vẹn. Người đầu tiên vừa đập vỡ con hào để lấy ruột, thì chỉ vài phút sau đã có người đến đập lần thứ nhì, hy vọng vớt vát một chút gì còn xót lại.

Ðến tuần thứ nhì không ai còn dấu diếm chuyện ăn thịt người nữa. Gần như tất cả mọi người đều đã ăn thịt đồng loại. Tệ hơn là họ không chờ nạn nhân chết hẳn mới xẻ thịt. Ðể thịt và ruột gan không lạnh tanh, họ xẻ thịt những người đang thoi thóp, ngắc ngoải. Xương và đầu người chết bị ném xuống biển, cám dỗ hàng bầy cá mập.

Nhìn những con cá hung hãn chồm vào đến tận bờ để chia phần thịt người, tôi bàn với ông hàng xóm phương pháp bẫy cá mập. Chúng tôi đào một vũng cạn, rồi lấy đá be bờ khá cao. Sườn vũng nước nghiêng vào bờ, bên trong sâu hơn bên ngoài bờ biển.

Mượn cái đầu của một bà lão vừa bị xẻ thịt, chúng tôi thả mồi chờ cá mập; thời gian chờ đợi không lâu hơn 20 phút: theo đà sóng một con cá mập nhỏ, khoảng trên dưới 40 kí, trườn vào bẫy.

Sóng rút ra, cá mập mắc cạn và chết ngay sau vài chục nhát búa và xà beng của chúng tôi. Chúng tôi lôi cá lên cạn xẻ thịt; khoảng vài chục người đến hôi món thịt cá mập. Việc xẻ thịt chưa xong, con cá mập thứ nhì đã lại trườn vào bẫy trước tiếng reo hò mừng vui của hơn 100 con người đói khổ.

Thịt cá mập béo ngậy và tanh rình, nhưng vẫn giúp chúng tôi tránh được ăn thịt người, và cái bẫy cá mập của tôi trở thành nguồn cung cấp thực phẩm khá dồi dào cho những nạn nhân mắc cạn.

Cái khổ của chúng tôi là trên đảo san hô không còn một thứ gì có thể sử dụng thay củi nữa cả; một vài người liều lĩnh xách búa ra định bửa tầu lấy gỗ, nhưng chỉ cần một phát súng bắn chỉ thiên của nhóm thanh niên khỏe mạnh, ăn uống đầy đủ, lại có võ khí, đang chiếm giữ con tàu, cũng đủ làm những người liều nhất trở thành khôn ngoan, lui nhanh vào bờ.

Cầm miếng cá sống, vừa xệu xạo cắn, Phượng vừa hỏi tôi, “Mình có còn tin được câu người ta thường nói ‘trời xanh có mắt’ nữa không?”

Tôi thở dài. Nếu quả trời có mắt thì cặp mắt đó đã nhắm lại từ 4 năm nay rồi. Bé Mai chỉ còn là một cái xác nhỏ xíu, gầy ốm, thoi thóp níu vào cuộc sống. Thằng Vinh khá hơn đôi chút, nhưng cũng nằm lả, đôi mắt gần như không bao giờ hé mở.

Tôi nhai miếng cá trong miệng đến thành nước rồi cúi xuống mớm cho con. Phượng thút thít khóc. Cũng như tôi, vợ tôi hiểu mạng sống của đứa con gái chúng tôi thương yêu, nâng niu, đang tàn lụi dần và sẽ tắt hẳn, khi gió biển, nắng cháy, và thiếu dinh dưỡng, cướp đi những sinh lực cuối cùng.

Bé Mai bỏ đi tối hôm đó. Ôm con trong tay tôi nghe hơi thở nó yếu dần, yếu dần trước khi tắt hẳn. Cơ thể của đứa con yêu thương vẫn mềm mại nhờ chút hơi ấm của tình phụ tử ủ ấp.

Tôi lặng đi ngồi ôm xác con trong gió biển cắt da; khoảng một tiếng đồng hồ sau Phượng hỏi tôi, “Con có khá hơn không mình?”

Tôi hiểu nghĩa câu hỏi này: Phượng muốn biết bé Mai đã chết chưa, nhưng chữ “chết” ghê rợn không phát ra được trên đôi môi người mẹ. Tôi lặng thinh để vợ tôi ngỡ là tôi đã thiếp đi trong mòn mỏi. Nhưng rồi tôi thiếp đi thật; sức chống đỡ của cơ thể chỉ có giới hạn. Giữa những hoàn cảnh phi lý nhất, thể chất vẫn giữ nguyên những đòi hỏi bình thường của nó. Ôm xác con trong tay, ngồi giữa một cô đảo Thái Bình Dương, tôi ngủ ngon lành.

Tôi bị mặt trời nhiệt đới đánh thức; mở mắt dạy trong ánh nắng chói lòa, tôi hốt hoảng nhận ra là bé Mai không còn nằm trong tay tôi nữa. Phượng cũng không thấy đâu cả. Tôi cất tiếng gọi vợ, tiếng sau lớn hơn tiếng trước, những tiếng cuối cùng trở thành tiếng gào kinh hoảng.

Những người chung quanh nhìn tôi; cặp mắt họ không thiện cảm, nhưng cũng không ác cảm, mà chỉ là những cập mắt vô can mất hết khả năng xúc động. Cái khổ đau, bất hạnh của tôi, tôi cứ tự gánh lấy. Phần riêng của họ cũng đã quá lớn, họ không thể chia xẻ thêm với ai chút gì nữa cả.

Tay ẵm thằng Vinh, tôi phóng nhanh xuống bờ biển vừa chạy quanh đảo, vừa gọi Phượng. Vợ tôi ngồi xẹp trên một phiến đá, vẻ mặt sầu khổ. Ôm chầm lấy vợ, tôi hỏi, “Em đi tìm con?”

Vợ tôi không nói được một tiếng nào cả.

“Họ đã xẻ thịt bé Mai?” Phượng gật đầu rồi gục vào vai tôi thút thít khóc; tôi lặng đi, tê tái.

Nguyên ngày hôm đó vợ chồng chúng tôi không nói thêm với nhau một câu nào nữa. Trước những đổ vỡ thương đau toàn diện, chúng tôi không còn khả năng khóc, than.

Sáng hôm sau, sau một vòng đi tìm thực phẩm thất bại như từ nhiều ngày nay, tôi trở về hốc đá và tình cờ khám phá ra nguyên nhân giúp bé Vinh còn tương đối mạnh khỏe: Phượng đang cho con bú. Tôi ngạc nhiên vì từ trước đến giờ Phượng không hề làm việc đó. Cả bé Mai cũng bú sữa bò từ khi mới lọt lòng.

Phượng bối rối nhìn tôi, trong lúc tôi nhìn bé Vinh: môi đứa bé đỏ lòm. Tôi kéo vú Phượng ra để thấy một vết cắt còn mới trên đầu vú. Tôi tìm thấy nhiều vết cắt khác ở đầu ngón tay, ở cổ tay người mẹ khốn khổ. Thở dài, tôi cúi đầu. Phượng đang trút tàn lực sang để nuôi một mầm sống. Việc làm vô cùng đáng kính phục đó chắc chắn sẽ làm tôi trở thành góa bụa sớm hơn.

Dĩ nhiên tôi không ngăn cản, cũng không phiền trách gì Phượng. Ðiều độc nhất tôi có thể làm là cố gắng hơn nữa trong việc tìm kiếm thực phẩm để nuôi Phượng và bé Vinh, nhưng số người đói khát thì đông mà số thực phẩm lại giới hạn nên gần như chúng tôi không còn tìm ra bất cứ một thứ gì, dù chỉ là cỏ, là cây, để nhai trong miệng.

Bốn ngày sau ngày bắt gặp Phượng cho con bú bằng máu, tôi tìm được một con của khá lớn. Phượng ăn gượng gạo rồi lại nằm ngay. Vợ tôi đuối đến mức tôi phải xé từng miếng thịt cua, đút vào miệng cho nàng.

Suốt tuần sau, tôi chỉ tìm được vài con ốc. Nhìn những triệu chứng sắp chết của vợ, tôi nghe đứt ruột. Tôi không dám đi kiếm thực phẩm xa nữa, sợ người ta đến ăn thịt Phượng.

Hai ngày sau, đang nửa mơ, nửa tỉnh, tôi chợt nghe nhiều tiếng súng; tiếp theo là tiếng reo hò. Bàng hoàng choàng dậy, tôi nhìn theo hướng nhìn của mọi người và thấy một chiếc tàu đang từ từ tiến lại.

Tim tôi ngừng đập; cuối cùng trời vẫn còn có mắt, chúng tôi sắp được cứu sống, và tôi vẫn còn Phượng, còn người vợ mà trong hoạn nạn tôi thấy tình yêu trở thành to lớn hơn, bền chặt hơn. Tôi sẽ lại được mê mệt, được khổ sở với cặp mắt đa tình của Phượng.

Trong tiếng reo hò của những người đồng cảnh ngộ, tôi cúi xuống thủ thỉ bảo vợ, “Hôm trước em hỏi anh có còn tin là ‘trời xanh có mắt nữa không’; bây giờ anh trả lời em là anh tin. Anh tin cuối cùng rồi ông trời vẫn có mắt.”

Nhưng tôi đã lầm. Ðối với những kẻ bất hạnh, vô phước như tôi, ông trời (nếu có ổng) đã vĩnh viễn nhắm mắt, quay mặt đi.

Con tầu tôi đang nhìn theo là một ngư thuyền của Ðài Loan. Họ neo xa bờ chừng 2 cây số, rồi cho ghe nhỏ vào chở người đại diện của chúng tôi ra thương lượng. Cuộc thương lượng, nói trắng ra chỉ là một cuộc trả giá.

Người đại diện trở về cho chúng tôi biết tầu Trung Hoa đòi một số vàng lớn mới chịu cứu chúng tôi. Số người có vàng đề nghị chia số người Trung Hoa đòi hỏi trên đầu người; những kẻ trắng tay như tôi ngồi lặng thinh, dự thính.

Chiều hôm ấy người đại diện của chúng tôi trở ra ngư thuyền Trung Hoa với một phản đề nghị. Cuộc trả giá kéo dài cho đến tối, và ông ta ngủ lại trên tầu đánh cá. Sáng hôm sau ông trở lại với 3 người Tầu, và bắt đầu cuộc ghi danh, góp vàng.

Những người có vàng để góp lần lượt được xuống ghe máy để ra tàu trước cặp mắt thèm thuồng của chúng tôi. Khoảng xế chiều việc đưa những người góp vàng ra tàu hoàn thành. Người Trung Hoa chở vào cho chúng tôi một thùng cá và bảo, “Các anh ăn uống tạm tối nay. Sáng mai chúng tôi sẽ vào chở tất cả ra tàu.”

Thì ra họ chỉ muốn làm khó dễ để lột một số vàng của những người có tài sản. Sáng hôm sau toàn bộ chúng tôi được chở ra tàu; một thủy thủ Trung Hoa giúp tôi bồng bé Vinh, trong lúc tôi bồng Phượng xuống ghe.

Yếu đuối, tôi ngã mấy lần, Phượng mở mắt nhìn tôi, cặp mắt tình tứ, đắm đuối ngày xưa, giờ này đã mất thần.

Xuống tầu, tôi xin một ly sữa, đút cho Phượng, nhưng vợ tôi không còn nuốt được nữa. Tôi biết cơ thể nàng đã mất hết hydrate; giải pháp độc nhất còn lại là nuôi bằng nước biển, nhưng làm gì có thứ đó trên một ngư thuyền.

Phượng lịm dần và hơi thở thật sự tắt hẳn vào đêm hôm đó. Xác nàng bị chuồi xuống biển theo hình thức thủy táng.

TÔI DỨT CÂU CHUYỆN vào lúc 11 giờ sáng ngày 30 tháng Tư năm 2004, rồi bảo thằng Vinh, “Ba hứa ngày con học xong, ba sẽ kể lại câu chuyện về mẹ con cho con nghe; ba đã thực hiện lời ba hứa.”

Nó bước đến trước ghế tôi ngồi, quỳ xuống, gục đầu lên đùi tôi, “Ba đau khổ nhiều quá,” lời nó nghẹn lại. “Con thương ba.”

Tôi vuốt tóc nó, “ba thương con.”

“Con muốn vinh danh mẹ,” thằng Vinh bảo tôi. Năm đó nó 26, vừa ra trường thuốc Austin, và đang tập sự tại nhà thương Memorial Hertman, Houston, nơi tôi làm việc.

“Bằng cách nào?” tôi hỏi nó.

“Con muốn về Việt Nam để cùng bác sĩ Nguyễn Ðan Quế tranh đấu giải thể chế độ cộng sản dã man đã giết mẹ con, giết chị Mai, và làm ba buồn khổ suốt cuộc đời.”

“Môi trường tranh đấu tại hải ngoại thuận lợi hơn môi trường quốc nội,” tôi bảo Vinh. “ Tiếng nói của con sẽ lớn hơn, vì có một đối tượng rộng hơn, quyền hạn hơn.”

Nó nghe lời tôi, và giờ này bác sĩ Trần Phượng Vinh, con của bác sĩ Trần Quang trở lại trường đại học; môn học mới của nó là điện ảnh.

Họa sĩ Thương Thương, hôn thê của nó đã vẽ xong từ năm ngoái bức tranh quảng cáo cuồn phim đầu tay ÐÔI MẮT PHƯỢNG của tài tử kiêm đạo diễn Phượng Vinh.

Nó đóng vai trung úy quân y của Sư Ðoàn Nhẩy Dù, trung úy Trần Quang.

Nguyễn Đạt Thịnh
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest