Bình Luận , Quan Điểm

thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

HOA KỲ CỦA THẾ KỶ 21
Nguyễn Xuân Nghĩa
Động như Thủy, Tĩnh như Sơn...
Đệ nhất siêu cường cổ kim và bài toán của thế giới.

Mãi hai tuần sau khi nhậm chức, Tổng thống Barack Obama mới bắt đầu cho thế giới biết quan điểm lập trường về đối ngoại của Chính quyền mới của Hoa Kỳ.

Tại Thượng đỉnh Kinh tế World Economic Forum vào cuối tháng Giêng năm 2009 ở thị trấn du lịch Davos của Thụy Sỹ, Hoa Kỳ không gửi tới một nhân vật có trọng lượng, vì đang bận chuyện kinh tế ở nhà với cuộc tranh luận về kế hoạch kích thích tại Quốc hội. Thứ Sáu mùng sáu tháng Hai, khi Tổng thống Obama giới thiệu dàn cố vấn kinh tế trước báo chí ở thủ đô thì một phái đoàn Mỹ xuất hiện tại Munich của Đức nhân hội luận về an ninh Munich Security Conference.

Đấy là lúc Hoa Kỳ có cơ hội thông báo đối sách mới của Chính quyền Barack Obama.

Do sáng kiến của nhà xuất bản Đức, Ewald-Heinrich von Kleist-Schmenzin, Hội luận Munich được tổ chức lần đầu vào năm 1962. Năm nay là kỳ thứ 45 và quy tụ hơn 300 nhân vật trong yếu về an ninh, quân sự và ngoại giao của các nước, cùng thảo luận với các học giả và truyền thông về các vấn đề lớn của địa cầu. Tham dự ba ngày Hội nghị kỳ này có Tổng thống Pháp, Thủ tướng Đức, Thủ tướng Ba Lan, Tổng thống A Phú Hãn, Phó Thủ tướng Nga, Tổng thư ký Minh ước NATO, Ủy viên Ngoại giao của Hội đồng Âu Châu và hơn 50 tổng bộ trưởng...

Nhưng mọi người đều chờ đợi phái đoàn của Hoa Kỳ, do Phó Tổng thống Joe Biden cầm đầu.
Sự kiện Hoa Kỳ đưa Phó Tổng thống vào hội nghị được các nước đánh giá là Chính quyền mới rất quan tâm đến các vấn đề quốc tế và được dư luận Mỹ kết luận là vai trò thế giá của Phó Tổng thống Biden trong nội các, không kém gì Phó Tổng thống Dick Cheney của Chính quyền Bush vừa mãn nhiệm.

Nhưng người ta cũng chú ý đến sự kiện phái đoàn Mỹ không có Ngoại trưởng Hillary Clinton và Tổng trưởng Quốc phòng Robert Gates. Tháp tùng Phó Tổng thống Biden lại có Cố vấn An ninh Quốc gia là Tướng James Jones và Đặc sứ của Tổng thống về A Phú Hãn và Pakistan là Đại sứ Richard Holbrooks. Mọi người đều chờ đợi một cuộc gặp gỡ song phương - chưa thể có - giữa Ngoại trưởng Iran và Phái đoàn Mỹ. Chưa thể có vì chính Tehran tuyên bố như trên theo kiểu nói thách.

Ngược lại, hội đàm giữa Phó Tổng thống Joe Biden với Phó Thủ tướng Nga Sergei Ivanov mới là có ý nghĩa vì Ivanov là người thân tín của lãnh tụ thực tế, Thủ tướng Vladinir Putin, của Nga, và vì đề tài của hội luận năm nay là "NATO, Liên bang Nga, Khí đốt và Trung Đông: Tương lai của An ninh Âu Châu".

Các hội nghị quốc tế khác về an ninh thường có tầm quan trọng giới hạn. Hội nghị của NATO chỉ quy tụ hai nước hội viên Bắc Mỹ và các hội viên Âu Châu mà không có Liên bang Nga, Trung Quốc hay Nhật Bản. Diễn đàn An ninh ARF của ASEAN là nơi các nước Á châu Thái bình dương nói chuyện về an ninh quốc tế mà không có sự tham dự của Âu Châu. Các hội nghị của Liên ninh Á Rập thì không quy tụ đủ ngần ấy quốc gia của khối Á Rập hay Hồi giáo, và tất nhiên cũng chẳng có các nước Tây phương hay Âu Châu.
Vì vậy, hội luận Munich mới là cơ hội gặp gỡ của nhiều quốc gia "trong cuộc" và là diễn đàn xuất hiện của Chính quyền Obama mà nhiều người chờ đợi.

Nhưng thật ra, chuyện ấy cũng... không quan trọng!
Một tuần nữa, hết còn ai nói tới Munich sau khi hội nghị kết thúc ngày mùng tám tháng Hai....

Trên đại thể, ban tham mưu về đối ngoại của Chính quyền Obama có nhiều khuôn mặt tiêu biểu cho chánh sách ngoại giao của đảng Dân Chủ: giới trí thức khoa bảng có nhiều quan hệ với Âu Châu do quá trình đào tạo và phục vụ. Họ đã từng cộng tác với các "lò trí tuệ" think tanks gần đảng Dân Chủ hoặc viết sách và giảng dạy trong các đại học ưu tú như Harvard, Princeton và Stanford.

Đó là Daniel Benjamin, Carlos Pascual hay Philip Gordon của Viện Brookings, Giáo sư Joseph Nye hay Samantha Powers của Harvard, Anne-Marie Slaughter của Princeton, Micheal McFaul của Standford. Họ có thể sinh trưởng tại Âu Châu như Ivo Daalder hoặc Samantha Powers, đã tốt nghiệp Oxford của Anh với học bổng Rhodes scholar như Suzan Rice hay Micheal McFaul, họ thông thạo Pháp ngữ như Philip Gordon hoặc Anne-Marie Slaughter (mẹ người Bỉ), kể cả Tướng James Jones là người đã học trung học tại Pháp...

Với hệ thống nhân sự và tư tưởng đó, Hoa Kỳ đang nối lại nếp cũ của các Chính quyền Dân Chủ là tăng cường mối quan hệ chiến lược với Âu Châu, chủ trương can thiệp kết hợp cả cương lẫn nhu theo kiểu thực tế, nhưng vẫn là can thiệp để giải quyết các bất công hay ách tắc trong thiên hạ sự. Hoa Kỳ sẽ triệt để theo đuổi ba mục tiêu đối ngoại là quốc phòng - cương - là ngoại giao - nhu - và phát triển kinh tế, nhưng sẽ lặng lẽ cho rơi một chủ điểm của phe "tân bảo thu" dưới thời Bush là phát huy dân chủ toàn cầu. Ngần ấy chuyện đều sẽ được giới bình luận nhắc tới. Qua lời phát biểu của Biden tại Munich, Hoa Kỳ của Barack Obama sẽ mở rộng đối thoại và hợp tác với các nước khác - chứ không đơn phương quyết định và bất chấp thiên hạ như thời Bush-Cheney. Tinh thần chính yếu là sự linh động, "động như thủy", chảy xuôi nhẹ nhàng như nước.

Đó là giai điệu êm tai cho Âu Châu, nhưng vẫn chỉ là khẩu hiệu ngoại giao...
"Tĩnh như sơn" mới là thực tế vững bền trường cửu của Hoa Kỳ, đệ nhất siêu cường của lịch sử cổ kim.

Trước hết, chạy đâu hay chảy đâu, và nói gì, thì nước Mỹ của thời Obama vẫn phải ứng phó với di sản của Clinton và Bush 43.
Khi Tổng thống Obama lên truyền hình Á Rập nói chuyện theo lối phân bua và... nhận lỗi là nước Mỹ đã có thái độ thiếu hữu nghị với khối Hồi giáo, ông tự chứng tỏ là người không hiểu lịch sử... Mỹ. Từ 10 năm nay, ngần ấy lần Mỹ ra quân đều là để bảo vệ các sắc dân Hồi giáo, từ chuyện Bosnia hay Kosovo trong vùng Balkan thời Clinton đến A Phú Hãn hay Iraq thời Bush. Không những bảo vệ dân Hồi giáo da màu, Mỹ còn tấn công vào các lực lượng da trắng như Croatia, hay chư hầu của Nga như Serbia. Đó là một chuyện mà dư luận đã quên.

Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc với sự tan rã của Liên bang Xô viết cuối năm 1991, Hoa Kỳ từ thời Clinton đến Bush đều đẩy lá chắn an ninh của Minh ước NATO về hướng Đông, ngày càng sát với thành lũy của Liên bang Nga. Thậm chí mũi xung kích của Mỹ còn lăn tới Trung Á và bao vây nước Nga ở cả ba mặt: hướng Bắc tại vùng biển Baltic, hướng Đông tại khu vực Balkan của Liên bang Nam Tư cũ, vào tới tận Georgia và Ukraine, và hướng Nam là các nước Cộng hoà Trung Á quanh A Phú Hãn. Chính quyền Bush còn bắt cá hai tay, vừa kéo Cộng hoà Hồi quốc Pakistan vào cuộc chiến chống khủng bố tại A Phú Hãn vừa xây dựng quan hệ chiến lược với tử thù của Pakistan là Ấn Độ, đồng minh truyền thống của Liên bang Xô viết - Liên bang Nga thời nay.

Đáng ngại nhất cho nước Nga của Vladimir Putin là Minh ước NATO - nghĩa là Hoa Kỳ - còn dự tính thiết lập hệ thống phòng thủ chiến lược (balllistic missile defense BMD) tại tâm điểm của Đông Âu là Cộng hoà Tiệp và Ba Lan. Hãy nhớ tới Ba Lan của liên minh quân sự Warsaw thời Liên Xô thì ta hiểu nỗi lo của Putin. Một hệ thống tự vệ có khả năng phòng vệ tuyệt đối thì cũng là hệ thống quân sự có sự uy hiếp tuyệt đối: Hoa Kỳ và các nước Đông Âu hết sợ Liên bang Nga nữa và muốn làm gì thì làm thì Putin phải rét. Nếu nước Mỹ lại đòi dân chủ hoá như đã góp phần thực hiện tại Georgia, Ukraine hay Serbia, hoặc đòi quyền độc lập cho một địa phương theo Hồi giáo như tại Kosovo - thành tích tập thể của Clinton và Bush - thì còn gì là khả năng liên bang của Đế quốc Nga với rất nhiều xứ Hồi giáo bên trong lãnh thổ?

Trái núi Hoa Kỳ đã lừng lững xê dịch như vậy và đây là hiện tượng "địa cầu chuyển trục".
Vì vậy, đương khi Hoa Kỳ mắc bận tại Iraq và nhờ dầu thô lên giá, Liên bang Nga của Putin đã mở cuộc phản công, và chuyển lại cái trục an ninh trên đại lục địa Âu-Á.

Chuyện Georgia bị tấn công và Ukraine bị Nga uy hiếp là điều tất yếu. Kế tiếp, Putin sẽ bẻ đũa từng chiếc để phá vỡ thế liên kết của Liên hiệp Âu Châu, bằng cách vừa hăm dọa các nước Âu Châu mới là Đông Âu xưa kia nằm trong quỹ đạo Xô viết, vừa dụ dỗ các nước Âu Châu cũ là Tây Âu. Khí đốt là một võ khí vừa công vừa thủ, vừa dọa vừa dụ.

Trong hiện tại, Liên bang Nga đang mấp mé khủng hoảng vì dầu thô sụt giá, dự trữ ngoại tệ hơn 750 tỷ nay chỉ còn chừng 400. Nhưng Putin vẫn còn chừng một năm giữ trớn và có thế mạnh nhất là nhờ sự nóng lòng sốt ruột của Obama về chiến trường A Phú Hãn.

Từ khi tranh cử cho đến khi nhậm chức, Barack Obama đã đưa hồ sơ A Phú Hãn lên hàng ưu tiên chiến lược. Nay ông đang gặp bài toán là làm sao tiếp vận cho chiến trường này mà không phải lệ thuộc vào Pakistan. Nếu không muốn đưa chiến cụ và xăng dầu từ hải cảng Karachi của Pakistan vào lãnh thổ A Phú Hãn, liên quân Hoa Kỳ và NATO chỉ còn hai ngả khả dụng là các nước Cộng hoà Trung Á phía Bắc A Phú Hãn hay một chế độ hung đồ phía Tây A Phú Hãn là Iran.

Bước qua Trung Á là phải trả giá với Liên bang Nga, vào bằng cửa Tây thì phải hòa giải với Iran, với khả năng xúi bẩy và đẩy cây của Putin!
Hoa Kỳ của Obama không thể giải quyết nổi cuộc chiến được coi là "sạch" và "có chính nghĩa quốc tế" là A Phú Hãn nếu không tranh thủ được sự hợp tác của Liên bang Nga. Và Putin biết rõ là mình còn chừng một năm nắm dao đằng chuôi trước khi xứ sở bị suy yếu vì khủng hoảng kinh tế xã hội, nên sẽ biết nói thách. Đòi giá thật cao....

Phó Thủ tướng Sergei Ivanov sẽ đòi gì với Phó Tổng thống Joe Biden? Chấm dứt kế hoạch phòng thủ BMD để buông trôi Ba Lan và Cộng hoà Tiệp? Lăn ngược lá chắn NATO về hướng Tây, hoặc ít ra cam kết không bành trướng NATO vào vùng phiên trấn của Nga? Hứa hẹn rút quân sau này khỏi Trung Á, vùng Caucasus, Hắc hải? Sẽ không triệt để bảo vệ ba nước Cộng hoà Baltic ở phía Bắc? Viết lại hiệp định tải giảm binh bị START sẽ mãn hạn năm nay và hợp đồng với Nga để quyết định lại về số phận hay tương lai Âu Châu, từ Đông về Tây?

Hay là... tháo chạy khỏi A Phú Hãn?
Tổng thống Bush bị cả thế giới lên án về vụ Iraq, nhưng vũng lầy Iraq đã chớm nở hoa dân chủ. Tổng thống Obama được cả thế giới ngợi khen về tinh thần hoà dịu, nhưng ông tồn tại được bao lâu nếu không thể giải quyết nổi chiến trường A Phú Hãn lý tưởng về ngoại giao mà vô vọng về quân sự và chính trị? Muốn đạt một giải pháp dù tạm bợ cho A Phú Hãn theo kiểu dồn quân đánh tới mà Bush đã từng áp dụng tại Iraq trước sự đả kích của Obama và đảng Dân Chủ (Nghị sĩ Trưởng khối Dân Chủ Harry Reid gọi đó là một vụ thất trận mà ông đã quên rồi!) Obama sẽ phải thỏa hiệp với Putin.

Ai, các quốc gia nào, sẽ trả giá cho sự thỏa hiệp ấy? Nhiều phần sẽ là Âu Châu!
Đôi khi "động như thủy" cũng dẫn tới hiện tượng lạ là vây một dòng sông vào một ao tù. Âu Châu sẽ nghĩ sao khi được biết về sự ngã giá ấy? Và tình nghĩa Mỹ-Âu khắng khít của ban tham mưu đối ngoại của Obama sẽ tìm đâu ra phép lạ? Trong hoàn cảnh đó, Phó Tổng thống Joe Biden phải ăn nói ra sao tại Munich?

Nhiều phần thì ông sẽ gây thất vọng vì không nói được gì thiết thực ngoài lời hùng biện ngoại giao vô bổ. Những gì thiết thực nhất thì lại không được công khai nói ra.

Nhưng nhìn về dài, mà chuyện an ninh là chuyện trường kỳ, Hoa Kỳ vẫn có thế mạnh để là siêu cường độc bá cả trăm năm. Đủ mạnh để vượt qua mọi kết quả tranh cử vài năm lại có một lần. Khi người ta nhìn từ Âu Châu, đấy mới là điều đáng sợ - và đáng ghét nhất - của nước Mỹ, kể cả dưới thời Obama...

Vào các kỳ tới, cột báo này sẽ giải thích vì sao trong một loạt bài về "Hoa Kỳ của Thế kỷ 21".


NGUYỄN XUÂN NGHĨA
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Bắn Cho Trúng , Đánh Cho Đúng
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh


Nếu có người thợ săn trên ba chục năm liền không mang về được một con thú hay một võ sĩ lên đài thi đấu 34 năm không đoạt được trận thắng nào thì chúng ta, người bàng quan, nghĩ sao? Theo đời thường thì hai kẻ đó thực đã chọn lầm nghề. Nhưng trong “nghĩa vụ cứu nước”, con đường đi phải tiếp tục, không thể nản chí, thoái lui.

Cứu nước quả là công trình gian khổ, lênh đênh, ngắn dài theo vận nước. Nhưng khi đối phương cũng đã thật nhiều phen lên thác xuống ghềnh, thất điên bát đảo và phía ta trầy trật, loay hoay chẳng có khả năng lật ngược thế cờ thì trong cuộc đấu, suy cho thấu, ta chẳng thể nhận là cao cường, kẻ đấu tranh chính trị chẳng thể tự cho là cao thủ. Có nhiều điều phải xem xét và tính toán lại. Tình trạng kéo dài đã quá lâu bắt tìm một lối thoát, đòi hỏi một cách giải quyết.

CHUYỆN XƯA VÀ CHUYỆN NAY

Truyện xưa kể rằng khi Đức Trần Hưng Đạo bệnh nặng, nhà vua trẻ Trần Anh Tôn đến thăm rồi hỏi Ngài về phương lược giữ nước. Sau ba lần quân Nguyên xâm lăng, vua và dân đời Trần luôn luôn bị ám ảnh về hiểm họa từ phương Bắc. Hưng Đạo Vương trình bày một số trường hợp dụng binh rồi ngỏ lời khuyên nhủ : “Ta nhiều lần bị vây bốn mặt nhưng chúng ta, vua tôi đồng tâm, một nhà hòa thuận, cả nước hợp lực, ta đã thắng. Kẻ địch cậy có trường trận, ta có đoản binh, ta đều cả thắng. Quân địch đến ầm ầm như lửa, như bão, thế ấy dễ trị. Nếu như nó thủng thẳng như tằm ăn lá, không cần thắng mau, không hà hiếp dân thì ta khó chống hơn. Cần binh hùng, cần lương tướng và biết quyền biến như đánh cờ vậy. Cốt binh và tướng như con với cha, nên phải biết “nới lỏng sức dân” và thực hành kế sách “rễ sâu, gốc vững”. “Nới lỏng sức dân “là nuôi dân, dưỡng dân, thu phục nhân tâm. Thực hiện được thì có “rễ sâu, gốc vững”. Đó là lý do triều Trần trị vì được 188 năm trong khi nhà Hồ chỉ đứng có 7 năm, Trần Thủ Độ và Hồ Quí Ly đều làm chuyện thoán nghịch và đã giết hại hàng trăm nội ngoại tôn thất triều trước. Các vua Trần đều là bậc đạo hạnh, tu học cao thâm trong khi Hồ Quí Ly tuy có tài cải cách nhưng làm nhiều điều tàn ác, thất nhân tâm.

Nhìn vào thời nay, các tổ chức quân chính như Hezbollah, Hamas nhỏ bé, yếu ớt mà đứng vững được trước sức mạnh của Do Thái đều là nhờ vào thế dân, sức dân, núp trong dân mà sống, ẩn trong dân mà chống giữ.

Chúng ta có nhận định thứ nhất : “VẤN ĐỀ NỀN TẢNG LÀ LÒNG NGƯỜI. PHẢI BIẾT GÂY THẾ DÂN VÀ DÙNG SỨC DÂN ”.

TRỞ LẠI CHUYỆN NƯỚC MÌNH

Phương Đông chúng ta có lời dạy cho các quân vương : “ý dân là ý trời”. Trong các vận động xã hội quan trọng như chiến tranh và cách mạng, động lực chính yếu là “ý dân” mà ta còn gọi là “lòng người”. Hiểu rõ, nắm vững, vận dụng được ý dân là yếu tố tạo ra sức mạnh.

Có bí kíp đó, Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) đã đè bẹp các đảng phái quốc gia, đánh thắng đoàn quân Viễn Chinh Pháp, chiếm được nửa nước năm 1954 để rồi sau này đẩy lui lực lượng Hoa Kỳ và Đồng Minh. Đà thắng lợi của CSVN lên tới cao điểm vào 30 – 4 – 1975, làm chủ cả nước. Đó là đỉnh cao chót vót !

Thế rồi, không tránh được biến thiên là một qui luật của vạn vật, đảng CSVN với lòng kiêu ngạo toàn thắng lấn át lý trí, đánh mất khôn ngoan, xa rời quần chúng. Chính nghĩa dân tộc mà Đảng huênh hoang đại diện đã vượt biển đi theo dân Tị Nạn và các Thuyền Nhân (từ cả Nam rồi đến Bắc). Những khuyết tật của tổ chức, những lầm lẫn về chính sách cộng với sự hư hỏng của cán bộ phối hợp với ảnh hưởng của Quốc tế CS sụp đổ đã khiến cho con đường xuống giốc của Đảng thành một định mệnh không thể cưỡng lại.

Nếu 30 tháng tư 1975 là một ngày bi thảm cho Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) thì đó cũng là một thời điểm chuyển hướng của “mong đợi ngày mai không cộng sản trên Quê Hương ”. Thực hiện “chủ nghĩa xã hội” đưa “cả nước xuống hố” với khoai, sắn, bo bo và biết bao hành động thất nhân tâm, tàn độc khác khiến “lòng người” chuyển đổi, đi tìm hướng “quốc gia” và “dân chủ”.

Nhưng nếu nói là lòng người đã chuyển hướng không có nghĩa là hoàn cảnh sẵn sàng để tự nhiên đưa tới một sự thay đổi trật tự đất nước. Tình trạng có thể ví như sự mong mỏi tạo được một vài nguồn năng lượng thay thế cho dầu lửa. Nguyên liệu cơ bản thì đầy rẫy trong thiên nhiên, nhưng sự sản xuất năng lượng mới đòi hỏi nhiều điều kiện về hiểu biết và trình độ kỹ thuật chưa sẵn sàng. “Lòng người VN ngày nay” đã có biến đổi thuận lợi nhưng chưa có nghĩa là toàn khối nhân dân đã sẵn sàng cho thay đổi và vẫn còn cần nhiều nỗ lực tôi luyện để có thể thật sự thành khả dụng.

Chúng ta có nhận định thứ nhì : “NGƯỜI VIỆT NAM NGÀY NAY, NÓI CHUNG, NGÓNG TRÔNG VỀ HƯỚNG “TỰ DO – DÂN CHỦ”, NHƯNG THỰC TẾ CÒN ĐÒI HỎI NHIỀU SỬA SOẠN, ĐÀO LUYỆN, TỔ CHỨC VÀ LỰC ĐÂY ĐỂ CÓ THỂ GÂY THÀNH SỨC MẠNH ĐƯA ĐẾN ĐỔI THAY.”

CÓ ĐÀN ÁP THÌ CÓ ĐẤU TRANH

Trong vật lý học có một qui luật là “đối lại mỗi áp lực đều có một phản lực”. Áp dụng vào đời sống xã hội thì luật ấy đổi thành luật đấu tranh : “ở đâu có đàn áp thì có đấu tranh”.

Một nhà nước CS độc tài, toàn trị, khống chế mọi mặt đời sống nhân dân trên sáu chục năm nay đã gây ra biết bao điều tàn ác, xấu xa. Nó không còn là chính đáng để trị dân, nó phản dân chủ, áp bức, bất công và đã phản lại quyền lợi quốc gia. Nó ung thối, bịp bợm. Luật pháp của chúng là để bảo vệ chế độ, che trở tập đoàn cán bộ lạm quyền, hư hỏng, làm giầu trên đầu, trên cổ người dân. Tình trạng đã tạo ra một xã hội băng hoại về cả vật chất và tinh thần, đầy rẫy nghèo khổ, đàn áp, bất công.

Ở đâu có áp bức thì có chống đối. Sự chống trọi cường quyền nảy mầm và diễn ra thật tự nhiên. Dân mất đất thì dân phản kháng, tự động,vô thức. Chống đối không có kết quả lại bị bắt bớ, đàn áp trở thành quyết liệt, có ý thức, từ sợ hãi, ngần ngại tiến đến liều lĩnh, hết sợ. Phản kháng lẻ loi biến thành tập hợp lớn hơn, từ địa phương đến thành từng tỉnh, từng miền.

Dân khiếu kiện, chống đối gồm mọi thành phần : dân thành phố mất nhà, nông dân mất đất, mất ruộng, thợ thuyền không đủ sống, đồng bào tôn giáo bị cấm cản, hành hung, sắc tộc bị đàn áp. Bất mãn âm ỉ trong lòng dân nghèo thành phố, dân quê túng đói, ý tưởng cách mạng tự nảy sinh và phát triển, tất cả diễn biến tự nhiên như là theo một qui luật xã hội.

Ít năm gần đây, ta thấy sự tham gia đấu tranh của nhiều luật sư, bác sĩ, giáo sư, văn sĩ, ký giả dủ hạng tuổi, nam và nữ và cả cựu tướng lãnh, cựu sĩ quan cùng nhiều bậc tu hành cao trọng. Người thức giả thường cẩn trọng, tính toán nay như đã cảm được niềm đau của đồng bào, xã hội và của chính mình, đã can đảm dấn thân. Tới giai đoạn này thì sóng ngầm cách mạng có cơ khai triển nhiều hơn vì người chiến sĩ ở tầng lớp hiểu biết cao hơn mang đến cho đấu tranh một số lợi khí mà quần chúng không có : óc tổ chức, sự lãnh đạo, tư tưởng hướng dẫn, phương lược tiến hành và nhất là cán bộ. Nhưng đồng thời, chính quyền CS phản động gia tăng đàn áp, bắt bớ, giam cầm, bưng bít.

Từ khoảng Giáng sinh 2007, đồng bào Giáo dân VN đã bất ngờ gia nhập đấu tranh chống ngụy quyền CS bằng các cuộc “xuống đường cầu nguyện” đòi nhà và đất, khởi đầu từ Tổng Giáo phận Hà Nội rồi lan rộng tới nhiều nơi khác trong toàn quốc. Cầu nguyện đấu tranh nhiều lúc đã thật căng thẳng. Nhưng một năm sau, sự quỉ quyệt của CSVN đã khiến cho tình hình Giáo dân có vẻ tạm êm đi. Các tôn giáo khác và đồng bào các giới không cùng đồng loạt đứng lên hưởng ứng. Cuộc tranh đấu chung chưa tiến lên cao hơn nữa. CSVN có vẻ đã tạm thời lập lại được ổn định bằng mưu mô và đàn áp và sự sợ hãi mà chúng đã gây ra nhờ bàn tay mạnh của công an, cảnh sát, tòa án cùng với sự bưng bít thông tin.

Chúng ta có nhận xét thứ ba : “PHONG TRÀO NHÂN DÂN ĐẤU TRANH CHƯA TIẾN LÊN CAO ĐỘ ĐƯỢC VÌ HAI YẾU TỐ : SỰ HIỆN DIỆN CỦA MỘT BẬC THỀM SỢ HÃI VÀ SỰ THIẾU VẮNG HỢP ĐỒNG ĐẤU TRANH ”.

PHẢI TÌM CÁCH BỨT PHÁ

Nhận xét thứ ba vừa nêu ra dựa trên một nguyên tắc : “Thi hành nhiệm vụ dân chủ hóa đất nước, đóng vai trò chính là người trong nước, người haỉ ngoại chỉ có thể yểm trợ”. Các tổ chức đấu tranh nơi quốc nội chắc hẳn tự biết tìm cách thỏa mãn cho đòi hỏi nhu cầu của mình. Người viết không có tham vọng đi vào phạm vi đó và chỉ mong trình bày một đề nghị về một phương thế yểm trợ có hi vọng giúp cho phong trào có thể đi lên ở quốc nội.

Trước hết, ta cần xác định mục tiêu : phải làm gì ? Nói theo binh gia thì là tấn công mục tiêu nào, bằng cách gì, nặng nhẹ ra sao ? Hãy nghe vài lời nhắn nhủ của người xưa :

____Trước hết, Carl Von Clausewitz, một chiến lược gia người Đức khuyên rằng muốn chiến thắng mau lẹ và chắc chắn, phải đập tan trọng tâm sức mạnh của địch. Nó có thể là hữu hình như quân lực, hay thủ đô, hay lãnh thổ quan trọng của đối phương. Nó có thể là vô hình như ý chí, như dân tâm địch. ( Xin nhớ lại trận Mậu Thân 1968 ở VN, CSVN thua và thiệt hại đậm ở trận địa VN nhưng đã làm nản lòng dân chúng Hoa Kỳ, một thu hoạch quá lớn, ngoài lề mà chính những kẻ làm kế hoạch Tổng công kích – Tổng khởi nghĩa ấy cũng đã không dự liệu. )

_____Tiếp đến, Liddell Hart, một tư tưởng gia quân sự Anh, đã cổ động chiến lược gián tiếp. Đánh trực tiếp, chính diện thường là khó khăn, cần lực lượng lớn và nhiều thiệt hại mà kết quả không mấy bảo đảm. Đánh gián tiếp là đánh vào sườn, vào phía sau, vào chỗ ít ngờ tới, địch thường lơ là. Gián tiếp cũng có nghĩa là dùng các phương tiện khác với đường lối quân sự.

_____Trước đây trên cả hai thiên kỷ, chính Tôn Tử cũng đã đề cập đến chiến lược gián tiếp khi nhà quân sư bậc thày của phương Đông này dạy rằng thắng lợi đẹp đẽ nhất là thắng mà không phải đánh. Không dụng lực thì chắc là ít thiệt hại rồi, đó là khuyến dụ dùng mưu lược, dùng ngoại giao, dùng tâm lý chiến vậy.

Phối hợp ba lời khuyên trên đây, chúng ta chọn mục tiêu “trọng tâm sức mạnh của địch”. Trọng tâm này có vẻ như khá phức tạp. Trước hết nó phải là quân đội CSVN, nó cũng có thể là chính đảng CSVN, hai đích này dường như khó cho ta đụng tới một cách trực tiếp, nhưng nó có thể là lòng người Việt Nam là điều mà bài này đã đề cập tới thật nhiều và hướng đánh đó là thuận, hợp với khả năng của Hải Ngoại.

Đánh vào nhân tâm VN là trận đánh tâm lý chiến. CSVN sẽ khó bịt miệng Hải Ngoại. Chúng ta nhằm chuyển đổi tâm trạng và ý thức toàn bộ nhân dân VN kể cả những thành phần chưa cùng hướng với ta và cả các đảng viên CS với thân nhân của họ. Phổ biến hiểu biết về Dân Chủ, đưa từ ý thức tới hành động, tới quyết tâm vượt qua bậc thềm sợ hãi. Người Việt phải tự lo lấy số phận mình, không thể nhờ người, không thể chờ người. Đó là mục đích của TRẬN ĐÁNH TRUYỀN THÔNG TÂM LÝ CHIẾN.

Có người sẽ bảo là Chống Cộng kiểu này, ta vẫn làm rồi. Đúng ! Ta có làm và làm cả 34 năm nay rồi, nhưng có lẽ cố gắng vẫn là rời rạc, nỗ lực còn tan loãng, chưa tập trung, dầu có ý thức nhưng kết quả là đánh chưa tới và đi chưa thấu.

Cách đánh theo đề nghị này có khác : ---- thứ nhất, nó đặt mục tiêu ở tầm quan trọng cao nhất, nó có ưu tiên trên hết và phải được chú ý một cách đặc biệt, kiên trì, liên tục với cường độ không sút giảm, dồn dập, không ngưng nghỉ cho tới đạt mục đích; ---- thứ nhì, nó tập trung mọi phương thức hoạt động, mọi lãnh vực và khả năng truyền thông; trong giai đoạn đầu, nó có thể chú trọng nhiều vào xử dụng mạng lưới vì nhiều điều thuận tiện; ---- thứ ba, nó phải được tham mưu nghiên cứu và kế hoạch cho kỹ càng; ---- thứ tư, nó cần có tổ chức để phối hợp hoạt động các mặt trong và ngoài, nhất là các đợt và loại tấn công; ngoài ban nghiên cứu nên có thêm ban biên tập (thí dụ : nên soạn sẵn một số tài liệu truyền bá về Dân Chủ ….), ban thông tin (phụ trách các thông tin về sinh hoạt và đấu tranh dân chủ trên thế giới kể cả nhiệm vụ vạch mặt chế độ CSVN,…) và các toán chuyên viên truyền thông (đây là các toán biệt kích của trận đánh này); ---- thứ năm, nó có triển vọng đi xa hơn nhu cầu cho mục tiêu quốc nội vì mong sau này nó sẽ được sự hưởng ứng, tham gia của thêm nhiều nhân vật có khả năng đa diện và trước tác uyên thâm nữa (sẽ cần cả sự tẩy độc quốc tế).

Đây là trận đánh ở tầm chiến lược, ý định của ta, kẻ thù rồi sẽ biết dễ dàng, điều đó không quan trọng lắm đâu vì trong cuộc chơi này, ta là chủ động và chúng sẽ bất lực khi ta đánh vào các khuyết tật, các khe hở, yếu kém mà chúng sẽ không làm sao che giấu hay sửa chữa được nữa. Mọi sự kêu gọi, tham dự, thiết kế kể cả sinh hoạt của ta đều có thể thi hành trên mạng lưới, không gây tốn kém. Người tham dự chỉ cần xử dụng (đóng góp) một cách có ích lợi thì giờ dư rảnh của mình, tại nhà mình như vẫn thường chơi internet. Sự tốn kém của ban chủ xướng sẽ chẳng là bao. Tổ chức lớn ra có thể lấy tên là một hội thiện nguyện dân sự (NGO, non-governmental organization) phổ biến và phát triển Dân Chủ và có khả năng đi tìm trợ cấp từ các nguồn hảo tâm.


THAY CHO LỜI KẾT

Người viết, trong tâm lý của một binh gia có ý nghĩ rằng chúng ta như một người đi tìm săn một con thú dữ và từ nhiều chục năm nay, chúng ta toàn bắn chệch, chưa bao giờ trúng vào tâm, vào não của con thú để hạ gục nó. Thấm thoắt đã 34 năm rồi và giờ đây rõ ràng hiểm họa đã kề bên. Xin trưng một điều chứng rất tầm thường : CSVN là những kẻ rất khôn ngoan, tâm lý và lo tính xa thật xa, chúng không ngu dại gì khi chọn lựa làm một điều cấm kỵ : nhượng đất và biển cho Tầu. Chúng đã cam tâm, nhắm mắt bán nước để giữ đảng. Con đường này sẽ biến Việt Nam thành một tỉnh nhỏ của kẻ thù phương Bắc trong vài thế hệ nữa một cách thật êm đềm. Không hạ mau con thú dữ kia, chúng ta sẽ mất nước !

Vì lý do đó, người viết đã mạnh bạo đề nghị giải pháp trình trên, mong thỉnh giáo Quí Hữu già và trẻ, bốn phương góp thêm xây dựng. Những ai cảm thấy khả năng mình có thể kêu gọi và lập được một đoàn truyền thông mạng lưới thì xin tập hợp các bạn hữu xa gần khởi sự tạo lấy một đội ngũ. Đừng ngần ngại ! Cộng đồng VN có một đại vấn nạn : không ngồi lại được với nhau ! Tôi tha thiết đề nghị những ai có khả năng họp bạn, xin cứ tự động lập thành các đoàn truyền thông xung kích riêng rẽ, không sao, càng nhiều, càng đông càng tốt. Miễn là chúng ta cùng nhắm một đích mà đi tới, cùng tổng tấn công, cùng giúp quốc nội vượt tường lửa. Tất cả sẽ như nhiều đoàn quân cùng hợp đồng tấn công một mục tiêu. Sau này ta sẽ có cơ hội hợp đoàn.

Cộng Sản Việt Nam đã ngự trị quá lâu và ngày nay chúng đã hiện nguyên hình là một đảng cướp cầm quyền. Tội phản quốc của chúng đã quá rõ ràng và lòng người đã chán ghét, nguyền rủa chúng. Tình thế thích hợp cho một sự chuyển hướng và thay đổi. Tạo được nhân tâm thuận lợi thì các tổ chức chính trị, các đoàn thể đấu tranh sẽ có cơ hội đi lên dễ dàng. Đó là phần mà ai còn để tâm tới QUÊ HƯƠNG VIỆT NAM nên đóng góp. Chúng ta mong chờ một ngày mai TOÀN DÂN VIỆT VÙNG DẬY !

Tết KỶ SỬU , cuối 1 - 2009
Nguyễn Duy Hinh
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Nếu dân Việt chọn một đảng chính trị

Ngô Nhân Dụng

Ngày hôm qua mục này bàn về sự lựa chọn một trong hai đảng chính trị ở Mỹ. Người dân Mỹ chọn bầu cho một ứng cử viên, hoặc một đảng, vì đồng ý với những chủ trương lớn của đảng đó. Thí dụ đảng Cộng Hòa thường chủ trương guồng máy chính quyền phải càng nhỏ càng tốt, cho nên phải giảm thuế; những ai đồng ý với họ thì bỏ phiếu. Ðó là một triết lý chính trị và kinh tế, có tính cách căn bản. Nhưng dân có thể bầu cho một đảng không phải vì những vấn đề lớn mà có khi chỉ vì đồng ý trong một vấn đề nhỏ cũng đủ. Thí dụ dân Mỹ biết đảng Cộng Hòa vẫn bênh vực quyền làm chủ súng và mang súng; còn đảng Dân Chủ thường quan tâm đến việc kiểm soát súng ống trong tay tư nhân. Trước vấn đề này ai tha thiết đến quyền mang súng hay không, thích đường lối nào chọn đảng đó.

Cho nên, mỗi đảng chính trị ở Mỹ, và ở hầu hết các nước dân chủ tự do, vẫn tìm cách trình bày những tư tưởng và chính sách lớn của họ để tự phân biệt với đảng khác; nhưng đồng thời vẫn cổ động cho từng chủ trương lẻ tẻ trên các vấn đề được nhiều cử tri quan tâm, để thu hút lá phiếu của các nhóm cử tri này. Ðó là đời sống chính trị tự do dân chủ. Có người dân quan tâm đến tư tưởng chính trị lớn, nhiều người khác chỉ cần chú ý đến những gì thiết thực đối với mình. Người dân thường quan tâm đến những vấn đề thiết thực, mỗi kỳ bầu cử đảng nào nêu lên được những chuyện thiết thực nhất thường thắng lợi.

Những ai đã quen nếp sống đó rồi, khi nghe những lời lẽ cổ động cho “một đảng của toàn dân” sẽ cảm thấy đó là một tham vọng có tính chất không tưởng; và hơn thế nữa, ý định đó có thể trở thành nguy hiểm. Nhiều người có thiện chí xây dựng dân chủ ở Việt Nam không hiểu điều đó.

Như thi sĩ Bùi Minh Quốc, hiện đang sống ở Ðà Lạt, Việt Nam. Trong một bài viết gần đây đã được nêu lên trong mục này, ông Bùi Minh Quốc tố cáo âm mưu lũng đoạn chính trị nước Việt Nam của đảng Cộng Sản Trung Quốc. Từ năm 1950 họ đã tính gây ảnh hưởng trên nước ta bằng cách thao túng đảng Cộng Sản Việt Nam. Khi một đảng chiếm độc quyền cai trị một quốc gia trên khắp mọi mặt, thì nếu “chiếm” được đảng đó tức là nắm được vận mạng của cả quốc gia. Bùi Minh Quốc đưa ra các bằng chứng cho thấy Trung Quốc đã nuôi âm mưu này và đã thành công nhiều lần. Ông yêu cầu “...cơ quan lãnh đạo đảng phải tiến hành ngay việc xem xét lại một cách căn bản mối quan hệ giữa đảng ta và đảng Cộng Sản Trung Quốc.”

Theo Bùi Minh Quốc, thực tế lịch sử đã cho thấy đó là trong mối quan hệ đó Trung Quốc “giúp một” nhưng làm “hại mười” lần nặng hơn. Ðồng thời Bùi Minh Quốc kêu gọi phải giáo dục trẻ em Việt Nam mối nguy hiểm bị lệ thuộc vào Trung Quốc, phải dậy các em về chủ quyền của nước ta trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như lịch sử những cuộc xâm lăng của nước lớn từ phương Bắc.

Nhưng cũng trong bài viết trên, Bùi Minh Quốc cũng đưa ra nhiều đề nghị khác với đảng Cộng Sản Việt Nam. Trong số đó, trong đề nghị thứ tư, ông viết: “Vận động toàn đảng toàn dân yêu cầu cơ quan lãnh đạo đảng tiến hành xác định lại tính chất của đảng...” Ðây là chỗ Bùi Minh Quốc bắt đầu lầm lẫn về tính chất của một đảng chính trị. Một đảng chính trị là của những đảng viên họ đồng ý với nhau về mục tiêu giành lấy quyền hành để cai trị theo chủ trương của họ. Nếu cần xác định hoặc thay đổi “tính chất của đảng,” đó là công việc các đảng viên phải vận động, yêu cầu các cơ quan lãnh đạo của đảng. Ðó không phải là việc của toàn dân. Ðảng Cộng Sản Việt Nam là cái đảng thế nào, các đảng viên trong đảng đó quyết định, còn “toàn dân” không cần và không nên dính vào. Bởi vì trong “toàn dân” có nhiều người không đồng ý với đảng đó trên nguyên tắc. Cũng có những người không quan tâm đến chính trị, đảng nào muốn mang tính chất nào, điều đó dân không cần biết. Nếu dân có quyền sống tự do dân chủ thì đến kỳ bầu cử các đảng chính trị hãy nói ra chương trình của mình, lúc đó dân sẽ lựa chọn.

Ðiều sung sướng của người dân sống trong các nước tự do dân chủ là họ chỉ phải lo việc chính trị hai năm hoặc bốn năm năm một lần. Những lúc khác họ còn lo những chuyện quan trọng đối với bản thân họ hơn. Cho nên khi Bùi Minh Quốc đề nghị “toàn dân” cũng yêu cầu đảng Cộng Sản bàn lại về bản chất của họ, nhà thơ này đã không hiểu gì về đời sống chính trị trong các xã hội dân chủ.

Về tính chất của đảng Cộng Sản mà ông muốn họ xác định lại, Bùi Minh Quốc đề nghị đảng này hãy “chuyển từ đảng của giai cấp thành đảng của dân tộc.” Muốn văn hoa, ông mô tả thêm: “Ðảng là tập hợp tinh hoa trí tuệ và đạo đức từ mọi giai cấp và tầng lớp của dân tộc...”

Ðây chính là điều cho thấy thi sĩ Bùi Minh Quốc không có kinh nghiệm và không đủ hiểu biết về đời sống chính trị bình thường của một nước dân chủ tự do.

Trong mọi quốc gia, mọi xã hội, bá nhân bá tính không ai giống ai cả. Người này lập hội để cùng chơi đá bóng hay nuôi hoa lan; hoặc người khác lập hội nuôi nấng trẻ cô nhi hay là khuyến khích trẻ em chăm học, có rất nhiều hội vì họ có những nhu cầu và khát vọng khác nhau. Cũng vậy, người ta họp thành đảng chính trị vì khi bàn đến việc xếp đặt việc nước, họ có nhiều ý kiến giống nhau. Nhưng vì đối với đề tài đó, dân trong một nước có nhiều ý kiến dị biệt lắm. Cho nên những ai giống ý nhau thì lập thành một đảng, nhiều đảng sẽ cùng nhau ganh đua để được dân tín nhiệm, xin dân trao việc nước cho mình trông nom. Ðó là lối sống chính trị dân chủ.

Cho nên trong một xã hội dân chủ người dân có quyền lập đảng chính trị để cùng theo đuổi những chủ trương xếp đặt việc chung. Và khi có nhiều đảng thì dân chúng mới có cơ hội so sánh rồi lựa chọn khi đi bỏ phiếu. Một quốc gia chỉ thực sự tự do dân chủ khi nào người dân có quyền lựa chọn như vậy.

Khi các đảng phái ganh đua để được dân tín nhiệm, mọi người phải theo luật giao đấu dân chủ, chứ không ai được phép đàn áp, tiêu diệt những người khác ý kiến với mình. Ðảng nào được đa số dân tin thì được nắm quyền; không đảng nào có hy vọng được 100% dân chúng bỏ phiếu tín nhiệm. Một đảng có thể được đa số tín nhiệm năm nay, bốn năm sau lại thua, đó là điều bình thường. Mỗi lần dân thay đổi đảng cầm quyền, đó là người dân muốn thử xem một chủ trương, một chương trình mới, với những con người mới, có tốt hơn hay không. Trong xã hội dân chủ tự do người ta rất khiêm tốn, không ai hy vọng sẽ có nhóm người nào tìm được những chủ trương tốt nhất, hay với những người lãnh đạo chính trị hoàn hảo không ai bằng được! Cho nên, dân phải được phép thay đổi, thí nghiệm, không bị ràng buộc vào một đảng nhất định nào cả.

Việc cai trị một nước được trao cho một đảng không có nghĩa là đảng đó muốn làm gì thì làm, theo quyền lợi, sở thích, hay ý kiến của những người ủng hộ họ. Làm sao để tránh không cho tệ hại đó xẩy ra? Phải có sự phân quyền trong guồng máy cai trị quốc gia; không thể nào chấp nhận một đảng cầm tất cả ba ngành hành pháp, lập pháp và tư pháp. Nhất là không thể nào để cho một đảng nắm luôn cả “quyền thứ tư” là báo chí, truyền thông. Muốn bảo đảm cho những người thuộc đa số lấn át những người thiểu số, hiến pháp phải ghi rõ những quyền làm người, nhân quyền, mà không một chính quyền nào được phép xâm phạm. Ðó là phương pháp để sống chung trong một quốc gia theo lối tự do dân chủ, nhiều nước đã thử và đã thành công mấy thế kỷ nay.

Cho nên tất cả những người tự nhận mình là một “đảng của toàn dân” đều là những người nói xạo. Thi sĩ Bùi Minh Quốc đã bị đảng Cộng Sản khai trừ, nhưng ông vẫn chưa vượt được ra ngoài khuôn khổ, lề lối suy nghĩ cũ. Ông vẫn coi tình trạng một đảng duy nhất nắm quyền, là một điều tự nhiên. Các đảng viên Cộng Sản khác, một số ít người đã tỉnh giấc mơ đó. Những người tranh đấu cho dân chủ ở nước ta càng cần phải tỉnh.

Chúng ta không thể nào chấp nhận tình trạng một đảng độc quyền cai trị, độc quyền quyết định tất cả mọi chính sách quốc gia. Ðó là một tình trạng lạc hậu, loài người đã tiến vượt lên trên từ lâu rồi! Cần phải đốt cháy ngay cái tư tưởng một đảng chính trị duy nhất quy tụ toàn thể dân một nước. Ðó là một ảo tưởng, và một ảo tưởng nguy hiểm!
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Xin gởi đến những ai còn chút tình với quê hương và đất nước

Hương Trà


Đã là con người thì ai cũng phải trải qua thời niên thiếu, cái thời của những ngày là học sinh cấp I, II và III chỉ biết tiếp thu những bài học một chiều từ những lời giảng dạy của thầy cô.

Chúng tôi cũng tin chắc rằng tất cả các bạn trẻ sinh viên và những nhà trí thức tha thiết với quê hương cũng có cái nhìn không đẹp với đường lối cai trị độc tài, độc đoán do ĐCSVN lãnh đạo hiện nay đối với đất nước. Những hành động dứt khoát và những tiếng nói chân thành của các bác, các chú lão thành đã từng là đảng viên ưu tú của đảng, từng giữ những chức vụ quan trọng trong guồng máy của đảng, cùng với sự dấng thân tranh đấu ôn hòa của các nhà trí thức dân chủ yêu nước chấp nhận mọi gian nguy trước sự đàn áp thô bạo của cường quyền trong thời gian qua và vẫn còn tiếp tục, là cái phúc rất lớn cho dân tộc VN. Chính nhờ những chứng nhân thực tế của các bác, các chú trong hàng ngũ của đảng đã thức thời kể lại trên hệ thống Internet toàn cầu, cùng các tài liệu bí mật đã được các nhà nghiên cứu lịch sử tìm thấy, khiến cho chúng tôi tự cảm thấy đang bị lừa trong một nền giáo dục chỉ biết tuyên truyền theo hướng có lợi cho ĐCSVN, mà ngay chính chủ nghĩa xã hội của nó đã bị cộng đồng thế giới phế bỏ từ lâu.

Sở dĩ chúng tôi dám khẳng định như thế là bởi vì trong thực tế CNXH chỉ còn tồn tại ở một vài nước trên thế giới trong đó có VN, nhưng nó chỉ tồn tại về mặt độc quyền chính trị, còn về mặt kinh tế thì đang nhờ vào sự giúp đỡ của các nước phát triển dân chủ đa nguyên. Đường lối giáo dục của VN do đảng lãnh đạo đã đưa môn triết học Marx-Lênin vào chương trình học, bắt buộc chúng tôi cũng như toàn thể sinh viên, học sinh trong nước phải tin tưởng vào những điều không tưởng xa rời thực tế, phải học những điều vô bổ để đối phó tình thế, mà ngay chính thầy cô dạy chúng tôi cũng đều công nhận như thế. Đây là một điều tai hại cho thế hệ tuổi trẻ VN và tương lai của đất nước. Chúng tôi xin dẫn chứng ra đây một vài sự thật, hy vọng sẽ thức tỉnh được phần nào lương tâm của những người có thiên kiến hẹp hòi chỉ biết đặt quyền lợi riêng cá nhân và của đảng lên trên quyền lợi của quốc gia, dân tộc.

Cũng vì mục đích độc tôn quyền hành chính trị cho nên ĐCSVN mới tạo ra cuộc cải cách ruộng đất ở miền bắc và thanh trừng các nhà trí thức trong nhân văn giai phẩm vào những năm 1954-1957 để đảng khẳng định rằng: tư tưởng văn hóa của VN phải tuyệt đối theo hệ thống XHCN và chỉ có CNXH mà thôi. Hai bài thơ nổi tiếng "đời đời nhớ ông" để tôn vinh Lênin và bài thơ cổ súy cho cải cách ruộng đất của ông Tố Hữu đã nói lên điều đó mà bất cứ ai có dịp đọc qua cũng cảm thấy rùng mình.

Những bài học sặc mùi hận thù Mỹ dành cho học sinh mầm non và tiểu học thời bao cấp, cho đến những nhân vật anh hùng kiểu Lê văn Tám và vô vàn những câu chuyện gương mẫu về cuộc đời thần thánh của bác Hồ mà Đảng đã nặn ra để bắt buộc học sinh phải thấm nhuần trong đầu óc. Môn học GDCD lớp 7 do nhà xuất bản giáo dục năm 1997 có bài đọc thêm "tinh hoa dân tộc VN góp phần vào tinh hoa của thế giới" khẳng định tổ chức Unesco của LHQ đã ra quyết định công nhận chủ tịch HCM là danh nhân thế giới nhân dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh chủ tịch HCM (năm 1990). Nhưng sau khi đối chiếu các thông tin có được trên internet thì mới biết được sự thật phủ phàng:

- Anh hùng Lê Văn Tám không có thật mà được đảng tự đặt ra để phục vụ cho mưu đồ chính trị (điều này đã được sử gia Trần huy Liệu xác nhận trước khi chết).

- Cuộc đời thần thánh của chủ tịch HCM như Đảng tuyên truyền cũng không có thật, vì bác Hồ đã có vợ chính thức bên Trung quốc vào năm 1926 là bà Tăng tuyết Minh. Còn tại VN thì bác đã có con với cô Nguyễn thị Xuân vào năm 1957 và đặt tên là Nguyễn tất Trung, hiện nay vẫn còn sống và trở thành tư bản đỏ tại thủ đô Hà Nội. Cái chết mờ ám của Nguyễn thị Xuân là kết quả của một sự đòi hỏi muốn làm một người vợ chính thức với bác (theo tiết lộ của nhà văn Vũ Thư Hiên trong cuốn hồi ký "Đêm giữa ban ngày", và của ông Nguyễn Minh Cần nguyên Phó chủ tịch Ủy Ban Hành chánh Hà Nội lúc bấy giờ và hiện nay đang sống bên Nga). Đối với một nhà lãnh đạo cho dù tài ba xuất chúng đến đâu đi nữa, thì chuyện có gia đình, có vợ con là chuyện bình thường. Việc đảng thêu dệt và thần thánh hóa cuộc đời của bác Hồ để phục vụ cho mưu đồ chính trị là không thể chấp nhận bởi vì, nó đã đi ngược lịch sử, đi ngược sự thật. Tác giả Trần Dân Tiên và T-Lan trong các cuốn sách ca ngợi bác cũng do chính bác viết và tự đặt tên. Bác cũng chưa từng được tổ chức Unesco của LHQ công nhận là danh nhân của thế giới, vì buổi lễ tuyên dương bác Hồ là danh nhân thế giới tại Pháp năm 1990 là do tòa đại sứ VN tự tổ chức, tự chi trả không có sự yểm trợ và tham dự của đại diện Unesco LHQ.

Bác Hồ thường nói "các vua Hùng có công dựng nước, bác cháu ta phải phải cùng nhau giữ nước" nhưng đây là câu nói không thật bởi vì chính bác đã đồng ý cho thủ tướng Phạm văn Đồng ký công hàm ngày 14/9/1958 công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hiện nay tuy bề ngoài chính quyền VN vẫn tuyên bố về chủ quyền của HS và TS, nhưng công an lại đàn áp bắt giam những ai dám nói lên tiếng nói và biểu tình chống TQ xâm lăng, trong khi cho phép những du khách Trung Quốc biểu tình xác định Hoàng Sa và Trường Sa là của bọn chúng ngay trên đất nước mình?. Tại sao chính quyền lại dập tắt cuộc biểu tình của sinh viên ngày 14/9/2008 là ngày mà tòa đại sứ TQ họp báo tại thủ đô Hà nội để công bố bức công hàm của ông Phạm văn Đồng? Tại sao chính quyền lại không dám đưa việc xâm lăng HS, TS của TQ ra trước HĐBA Liên hiệp quốc và tòa án quốc tế xét xử? Tại sao đất nước là sở hữu tối thượng của toàn dân mà chính quyền không dám công khai cho nhân dân biết các hiệp ước về lãnh thổ, lãnh hải ký kết với TQ năm 1999 và 2000? Với những điều xảy ra như vậy, chúng tôi có quyền nghi ngờ lòng yêu nước của các nhà lãnh đạo ĐCSVN.

Sau hơn 60 năm kể từ ngày Đảng lãnh đạo miền Bắc và hơn 30 năm giải phóng miền Nam. Đất nước VN đã thua xa những nước khác trong khu vực mà trước 1975 nền kinh tế của miền Nam VN vẫn được công nhận là con rồng của Đông Nam Châu Á. Nhìn qua các nước chung quanh chúng tôi hiểu rằng nếu không có ĐCSVN thì đất nước vẫn giành được độc lập từ tay người Pháp vì đây là xu hướng chung bắt buộc Pháp phải trao trả độc lập cho VN cũng như các nước thuộc địa của Pháp trên thế giới. Nếu không có ĐCSVN thì chắc chắn nền độc lập của VN sẽ là nền độc lập dân chủ đa nguyên, ngày hôm nay đất nước VN sẽ không phải là một trong những nước nghèo của thế giới, nhân dân VN sẽ không hổ thẹn khi phải hy sinh những đứa con thân yêu đi làm tôi mọi cho các nước tư bản qua hình thức hợp tác lao động và lấy chồng nước ngoài. Tổ quốc VN cũng không phải mất đi hàng triệu đứa con thân yêu qua các cuộc chiến phi lý, cũng sẽ không có chuyện hàng triệu con người phải bỏ nước ra đi. Đặc biệt Hoàng sa và Trường sa sẽ không bao giờ rơi vào tay của bọn bành trướng TQ. Nếu không có ĐCSVN thì hàng ngày sẽ không bao giờ có cảnh từng đoàn người dân oan đi khiếu kiện vì đất đai đã bị các cán bộ, đảng viên có quyền thế ngang nhiên chiếm dụng. Nhân tài VN sẽ không đứng ngoài để nhìn những con người kém trí tuệ của đảng tự do tham nhũng nhưng vẫn hô hào là chống tham nhũng, tự do đứng trên luật pháp nhưng vẫn chủ trương sống và làm việc theo pháp luật, tự do ăn chơi và tự do làm giàu bằng tiền đóng thuế của dân và tiền vay mượn của các ngân hàng nước ngoài để trở thành những tư bản đỏ của thời đại. Sẽ không có chuyện nhân tài VN bắt buộc phải đem chất xám của mình để phục vụ và làm giàu cho các công ty nước ngoài, sẽ không có những khối lượng chất độc khổng lồ của các công ty, xí nghiệp tự do thải xuống những dòng sông mạch sống của nhân dân trước sự vô cảm của các quan chức chính quyền (điển hình là Cty Vedan trên dòng sông Thị Vải).

Chúng tôi đã đọc bản tuyên ngôn độc lập mà chủ tịch Hồ chí Minh đã tuyên thệ trước toàn dân miền Bắc ngày 2/9/1945, cũng như bản tuyên ngôn quốc tế nhân quyền của LHQ và các công ước quốc tế mà VN đã ký kết. Chúng tôi cũng nghiên cứu rất kỹ bản hiến pháp của VN hiện hành trong đó điều 69HP có ghi: công dân có mọi quyền tự do về ngôn luận, tín ngưỡng, cư trú, thông tin, báo chí, biểu tình và lập hội". Rồi lời tuyên bố của chủ tịch nước Nguyễn minh Triết tại Mỹ: "Bất đồng chính kiến là chuyện bình thường", và của thủ tướng Nguyễn tấn Dũng: "Yêu nhất, thích nhất là trung thực, ghét nhất, giận nhất là giả dối". Nhưng trên thực tế đây là những câu nói giả dối mỵ dân. Việc đàn áp bắt bớ những thành phần bất đồng chính kiến tranh đấu cho một nền dân chủ phù hợp với hiến pháp và ý nguyện của toàn dân, trù dập những người yêu nước chống sự bành trướng của TQ là không thể chấp nhận được.

Chúng tôi đã từng đọc toàn văn các luận cứ của luật sư Lê Công Định trong vụ án chính trị bào chữa cho anh thư LS Lê thị Công-Nhân và LS Nguyễn văn Đài; Luận cứ của LS Lê Trần Luật bào chữa cho nhà dân chủ Trần Minh Đức, Phạm Bá Hải và dân oan cũng là thành viên khối 8406 Lương Văn Sinh. Riêng vụ xử anh Nguyễn Hoàng Hải (blogger Điếu Cầy) tội trốn thuế (một tội danh không có thật) được chính quyền bịa đặt dựng lên nhằm mục đích bỏ tù anh, để anh không còn cơ hội thực hiện lòng yêu nước của mình trước sự xâm lăng của Trung quốc. Chúng tôi cũng biết đầy đủ về việc công an đã dùng luật rừng để bắt chị Phạm Thanh Nghiên, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, nhà giáo Vũ Hùng, SV Tiến Nam, SV Ngô Quỳnh, nhà thơ Trần Đức Thạch, chị Lê thị Kim Thu và một số nhà dân chủ khác. Thật đúng như lời bà Ngô bá Thành (cựu chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật Quốc hội) nói "VN có cả một rừng luật, nhưng toàn là luật … rừng".

Việc chính quyền Hà nội đơn phương giải tỏa 2 khu đất tòa Khâm sứ cũ và Linh địa Thái Hà vào ban đêm trong khi sự việc đang trong vòng tranh cải, cũng như cố tình cắt xén bài phát biểu của TGM Ngô Quang Kiệt để tìm cách vu khống bài phát biểu đầy tinh thần dân tộc của ngài. Việc nhà nước huy động tất cả hệ thống truyền thanh-truyền hình và báo chí để bôi xấu TGM Kiệt và các giáo dân cầu nguyện ôn hòa, là hành động bỉ ổi. Việc làm này chứng tỏ tầm hiểu biết của các nhà lãnh đạo ĐCSVN là dưới mức trung bình. Còn nhớ vào tháng 9/2007 khi HT Thích Quảng Độ cứu trợ và phát biểu trước hàng ngàn dân oan khiếu kiện tại VP2QH tại Sài gòn, lúc đó cả hệ thống truyền thanh-truyền hình và báo chí độc diễn hạ nhục HT Quảng Độ cũng giống như TGM Kiệt bây giờ. Hình như tội vu khống trong bộ luật hình sự chỉ dành cho người dân, còn những con người có chức quyền thì cứ tự do vu khống. Chính quyền Hà Nội lại còn gởi bản đề nghị cho Hội Đồng Giám Mục Việt Nam kỷ luật và thuyên chuyển TGM Kiệt. Khi HĐGMVN từ chối vì TGM Kiệt không sai phạm giáo luật thì ngày 15/10/2008 ông Nguyễn thế Thảo Chủ tịch Ủy ban Nhân dân TP. Hà Nội công khai phát biểu trước đại diện ngoại giao các nước tại Hà Nội rằng sẽ đề nghị thuyên chuyển cho bằng được TGM Kiệt ra khỏi Hà Nội. Thật tình, tuổi trẻ chúng tôi không biết phải nghĩ sao cho phù hợp với chính quyền này?, phải chi chính quyền CSVN biết được cái nhục mất đất, mất hải đảo và mất biển qua công hàm của ông Phạm văn Đồng, qua các hiệp định biên giới và vùng biển năm 1999 và 2000 mà VN đã nhường cho TQ thì hay biết mấy. Bây giờ bằng tất cả chân tình chúng tôi xin bày tỏ:

1/- Xin đồng bào VN hải ngoại, xin quý vị xuất gia tu hành trong các tôn giáo có tư tưởng về nguồn ở hải ngoại (nhất là Phật giáo). Kính mong quý vị nên suy nghĩ kỹ hành động của mình để khỏi bị lừa bởi các chính sách mà chính quyền VN đang nhắm vào quý vị một cách rất tinh vi, họ đã dùng những cụm từ: "Việt kiều yêu nước", "khúc ruột ngàn dậm" không thể tách rời, hoặc các đặc tình tôn giáo là để mê hoặc quý vị nhằm cũng cố cho địa vị độc tôn của họ và moi tiền của quý vị mà thôi, cũng như họ thường xuyên dùng các hiệp ước, hiệp định thương mại và kinh tế để moi tiền cộng đồng quốc tế. Nhân dân VN rất cám ơn các vị nghị sĩ và dân biểu Quốc hội Hoa kỳ cũng như các Ủy ban nhân quyền trên thế giới đã nhìn hiện tình của VN một cách đúng đắn và có những hành động kịp thời bênh vực cho lẽ phải. Chúng tôi cũng rất bất bình trước sự hiểu biết không đúng sự thật của Quốc hội Bộ Ngoại Giao Hoa kỳ và các viên chức cấp cao BNG trong chính quyền của tổng thống Bush khi công nhận VN có tiến bộ về chính trị và tôn giáo để đưa VN ra khỏi danh sách "Các nuớc cần quan tâm" (CPC). Nước Mỹ sở dĩ được như ngày hôm nay là cũng nhờ có sự cống hiến của các cộng đồng sắc tộc khác nhau, trong đó có cộng đồng người VN tỵ nạn cộng sãn mà điển hình có khoa học gia Dương Nguyệt Ánh, nữ anh hùng phi công Elizabeth Phạm…v.v…. Nhưng chắc có lẽ cũng vì quyền lợi kinh tế riêng do chính quyền CSVN dành cho Hoa Kỳ, khiến cho TT Bush đã không thực hiện đúng như những gì ông đã nói: "Hoa Kỳ luôn luôn đứng bên cạnh những người dám đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền trên thế giới". Chúng tôi cũng rất mong sự lên tiếng của các nhân tài VN làm việc trong đất nước Hoa Kỳ và các nước khác, giúp họ có cái nhìn khách quan và chính xác hơn cho hiện tình đất nước VN. Chúng tôi cũng xin các đoàn thể đấu tranh hải ngoại hãy dẹp bỏ những thiên kiến tỵ hiềm để cùng nhau hướng về đại cuộc, nhất là đừng nghi ngờ quá đáng đối với các nhà đấu tranh dân chủ trong nước mà trước đây các bác, các chú này là những đảng viên, những cán bộ cao cấp của ĐCSVN, vì chính những người này mới là những chứng nhân thực tế không thể thiếu trên con đường tranh đấu cho lẽ phải mà toàn dân đang mong đợi, cũng như cho sự phán xét của lịch sử sau này. Tục ngữ VN có câu: "Một cây làm chẳng nên non, ba cây dụm lại nên hòn núi cao".

2/- Chúng tôi xin có đôi lời gởi tới các anh các chú trong lực lượng công an và quân đội, đồng lương của quý vị là tiền thuế của nhân dân, nhiệm vụ của quý vị là bảo vệ đất nước và cuộc sống yên lành cho người dân, bổn phận của quý vị là TRUNG VỚI NƯỚC, HIẾU VỚI DÂN (đây là lời nói của chủ tịch Hồ chí Minh khi còn sống). Nhưng nếu bây giờ mà quý vị chỉ phục vụ duy nhất cho đường lối của đảng là quý vị đã không làm tròn trách nhiệm và bổn phận của mình đối với tổ quốc và nhân dân. Trong vai trò làm ruộng người nông dân có toàn quyền tự do chọn lựa phương cách canh tác riêng, sau thu hoạch nếu anh nông dân nào có kỹ thuật canh tác tốt để có thu hoạch cao thì sẽ được mọi người học hỏi và tuyên dương, anh nông dân đó không cần phải dùng quyền lực bắt buộc người khác phải theo mình. Trong một xã hội và đất nước cũng thế, ĐCSVN không thể bắt mọi người dân phải tuân phục theo mọi đường lối cai trị của đảng, kể cả việc dâng 2 quần đảo HS và TS và những nhượng bộ đất đai, bờ biển cho TQ qua hiệp định biên giới năm 1999 và hải phận năm 2000. Những lời phát biểu của ông Lê Dũng (phát ngôn viên BNG VN) về chủ quyền HS và TS cũng như ông Lê công Phụng (đại sứ VN tại Mỹ) về ranh giới đó chỉ là những lời nói suông nhằm để xoa dịu sự công phẩn của nhân dân mà thôi. ĐCSVN cũng không thể tự mình đứng trên luật pháp khi tự do dùng các cơ quan truyền thông và báo chí để hạ nhục, vu cáo và chửi bới người dân không cùng quan điểm với đảng khi chưa có phán quyết cùa tòa án. Nếu thực sự ĐCSVN được nhân dân đồng tình ủng hộ thì tại sao không chấp nhận thành phần đối lập. Nếu ĐCSVN tự nhận mình là một chính quyền tôn trọng luật pháp thì tại sao không thực thi đúng điều 69HP do đảng đề ra: nghĩa là người dân có quyền tự do ngôn luận, có quyền lập hội, có quyền ra báo chí tư nhân, có quyền tự do biểu tình theo luật định, có quyền tự do ứng cử không qua sự lựa chọn của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc đảng, có quyền tự do bầu bất cứ người nào mà dân thích chớ không phải chỉ bầu trong danh sách đã được đảng chọn lựa như hiện nay. Còn biết bao nhiêu những vấn đề tồi tệ khác do đảng gây ra cho đất nước và nhân dân. Trong quá khứ và hiện tại Đảng lãnh đạo đất nước đã đi từ sai lầm này đến sai lầm khác, chẳng lẽ lực lượng quân đội và công an các anh, các chú lại trung thành với sự sai lầm triền miên của đảng hoài hay sao?. Một sự thật hiển nhiên là hầu hết những nước tiến bộ phồn vinh trên thế giới không lấy CNXH làm cứu cánh duy nhất như VN.

Là thành phần trẻ tha thiết với với quê hương đất nước và qua thời gian tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy các phong trào và các nhà đấu tranh dân chủ không bao giờ chủ trương loại bỏ ĐCSVN, họ chỉ muốn đảng lãnh đạo đất nước phải thay đổi tư duy theo trào lưu tiến bộ của thế giới, như những gì mà đảng thường tuyên bố và cam kết với LHQ và cộng đồng quốc tế cũng như với nhân dân. Trong nền dân chủ đa nguyên, nếu ĐCSVN là chính nghĩa thì vẫn được nhân dân ủng hộ qua cuộc bầu cử tự do và công bằng chớ không cần thiết phải dùng lực lượng công an khống chế, đàn áp như hiện nay. Chúng tôi mạnh dạng viết lên những dòng chữ này vì sự hiểu biết về luật pháp mà chúng tôi đã học và lịch sử mà chúng tôi đã nghiên cứu. Chúng tôi cũng tin rằng vì cuộc sống và địa vị cá nhân, vì miếng cơm manh áo cho nên các anh, các chú công an phải tuân hành theo mệnh lệnh của đảng để thẳng tay đàn áp các thành phần bất đồng chánh kiến với đảng dù biết rằng những việc làm đó là không đúng, nhất là thầy Nguyễn Tử Quảng, một tác nhân nguy hiểm cho các nhà bất đồng chính kiến trong nước. Nhưng nếu cứ tiếp tục như thế thì tương lai của đất nước sẽ ra sao?. Sự thật bao giờ cũng là sự thật, lịch sử sau này sẽ không tha thứ cho sự vô trách nhiệm của chúng ta. Hãy nhìn ra các nước cùng khu vực để suy nghĩ cho chính đất nước của mình: Singapore độc lập năm 1963 ngày nay kinh tế và chỉ số GDP hơn VN 197 lần. Nhật bản không còn gì sau đệ nhị thế chiến ngày nay là cường quốc kinh tế của thế giới. Đảo quốc nhỏ Đài Loan vượt xa anh khổng lồ hung hăng TQ, sự phồn vinh của Nam Hàn trước sự nghèo đói của Bắc Hàn, và Đông đức cuối cùng rồi cũng phải thống nhất với Tây đức. Ngay cả sự bất ổn chính trị của Thái lan bên cạnh chúng ta trong thời gian qua, quân đội chỉ phục vụ đất nước chớ không bảo vệ một cá nhân hoặc đảng phái nào dù đang cầm quyền đã đứng ngoài cuộc và cuối cùng phần thắng vẫn nghiêng về nhân dân. Kinh tế và cuộc sống của người dân Thái lan vẫn hơn VN hàng chục lần.

Đại hội ĐCS Nhật năm 2005 (có sự tham dự của ông Phan Diễn, đại diện ĐCSVN) đã tuyên bố từ bỏ chủ nghĩa Marx-Lenin. Cựu TBT Gorbachev Liên sô trong lần phát biều tại trường đại học Columbia: "Tôi đã bỏ hơn nữa đời người để chiến đấu cho lý tưởng CS. Nhưng hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng CS chỉ biết tuyên truyền và nói láo". Cựu thủ tướng Võ văn Kiệt VN khi về hưu có nói rằng: "Trước kia tôi nghĩ yêu nước là yêu CNXH, nhưng nay nghĩ lại tôi thấy rằng yêu nước cũng còn có nhiều đường". Thiết tưởng đây là những bằng chứng cho những ai còn có tư tưởng coi CNCS là con đường phát triển duy nhất cho VN, cần phải suy nghĩ lại. Đất nước VN không bao giờ thiếu người tài đức, một cộng đồng dân tộc đa nguyên trong một khối đoàn kết quyết tâm xây dựng quê hương giàu đẹp. Chúng tôi tin tưởng đó không phải là hy vọng riêng của chúng tôi mà còn là niềm hy vọng chung cho tất cả toàn dân Việt Nam. Chúng tôi rất tâm đắc khi trong kỳ họp QH vừa qua đã có những đại biểu mạnh dạn nói lên những hiện tình tồi tệ và đau thương của đất nước và cuộc sống của nhân dân trước các nhà lãnh đạo của các bộ ngành trong chính quyền. Mặc dù sự lên tiếng này chưa mạnh mẽ lắm, nhưng đây cũng là một tín hiệu đáng mừng. Chúng tôi rất đau buồn khi vì sự độc tài, độc đoán mà các nhà lãnh đạo VN đã gây ra quốc nạn tham nhũng vô phương cứu chữa khiến cho Nhật bản (quốc gia viện trợ ODA lớn nhất) phải tuyên bố ngưng viện trợ cho VN. Chúng tôi cũng rất đau buồn khi hầu hết các nước viện trợ cho VN đều than phiền về hiệu quả chống tham nhũng của chính quyền trước cộng đồng quốc tế. Món nợ mà chính quyền VN hiện nay đang vay mượn của các ngân hàng trên thế giới, nhân dân phải trả đến bao giờ mới hết.

Là người VN chúng ta có đau buồn không khi Hoàng sa cùng các hòn đảo chiến lược của Trường sa, Ải nam quan, thác Bản giốc và hàng chục ngàn km2 đường biển, những phần đất thiêng liêng của đất nước đang bị TQ chiếm giữ trước sự đồng tình của một chính quyền luôn tự hào là vì dân vì nước?, và chúng ta sẽ nghĩ sao khi tất cả những người lên tiếng chống lại sự xâm lăng của TQ đều bị chính quyền thẳng tay đàn áp hoặc bỏ tù? Chúng ta có cảm thấy xấu hổ không khi TQ đã ngang nhiên không cho các công ty khai thác dầu hỏa của Anh và Exxon Mobil của Mỹ hoạt động trên vùng biển của ta theo hợp đồng mà VN đã ký kết. Trong khi đó các nhà lãnh đạo VN chẳng những không phản đối mà ngược lại còn đồng ý cho TQ khai thác dầu hỏa trên biển Đông trong vùng biển của ta, và luôn miệng nói lúc nào cũng trung thành với "16 chữ vàng" và 4 tốt đối với TQ.

Ngày 8/12/2008 vừa qua chính quyền đã dựng lên phiên tòa để xử 8 giáo dân Thái Hà về tội hủy hoại tài sản nhà nước và gây rối trật tự công cộng. Các giáo dân này đã "can tội" dẹp bỏ một bức tường do công ty may Chiến Thắng xây trái phép trên phần đất của nhà thờ giáo xứ Thái Hà. Phiên tòa tuy được thông báo là xử công khai nhưng chỉ những người có giấy mời mới được vào và phòng xử là ở lầu 4, trong khi bên ngoài thì có hàng trăm cảnh sát cơ động và công an được trang bị súng ống đầy đủ phong tỏa các ngã đường. Với luận cứ bào chữa sắc bén của LS Lê Trần Luật, cuối cùng công lý đã chiến thắng với bản án tù treo cao nhất là 17 tháng.

Còn nhiều và còn nhiều lắm,... không thể dùng giấy mực viết hết ra đây được. Chỉ mong rằng tuổi trẻ và những ai còn chút tình với quê hương và đất nước phải làm sao để khỏi hổ thẹn với truyền thống hào hùng của dân tộc.

Viết vào những ngày đầu năm Kỷ Sửu 2009
Hương Trà cùng nhóm bạn trẻ (Email: huongtra13@gmail. com)
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »


Image

BÀI HỌC NẶNG KÝ TỪ VIỆT NAM


Tác giả là một trí thức Việt kiều Mỹ từng mang bạc triệu về Việt Nam đầu tư và... chào thua. Xin trân trọng giới thieu những "bài học nặng ký" của ông: "Hai vị anh hùng thời còn đi học của tôi có rất nhiều bí mật xấu xa. Hồ Chí Minh không nhìn nhận cha mẹ cũng như không ngó ngàng gì đến ít nhứt là 12 đứa con . Võ Nguyên Giáp thì có ông con rể Trương Quang Bình là người giàu nhất nước... Tất cả mọi con người, mọi con số đều là giả dối."

Saigon những ngày cận Tết mát lạnh và mang chút không khí của những ngày Giáng Sinh nơi Âu Mỹ. Mọi người chuẩn bị mua sắm cho nhà cửa và quà cáp cho người quen. Đường Nguyễn Huệ và quanh khu du lịch của trung tâm thành phố, hoa đang rộn rịp trang điểm cho mùa xuân, luôn luôn là biểu tượng của niềm hy vọng mới và vào một thay đổi nào đó tốt đẹp hơn, tươi sáng hơn cho năm tới. Nhung nếu du khách rẽ vào ngõ hẻm từ một con đường lớn, những con chuột to bằng con mèo, những con dán biết bay cùng ruồi muỗi, những ổ rác lộ thiên, những vũng nước ao tù… cho thấy một bộ mặt khác của Saigon. Bộ mặt của nghèo khó, bất hạnh và tù túng đã không hề thay đổi suốt 70 năm qua, mặc cho bao nhiêu mùa xuân của hy vọng trong quá khứ.

* CÁI TÔI ĐÁNG GHÉT

Một chút ít về cái "tôi" để người đọc cảm thông thêm về chủ quan của lá thư này. Tôi đến Mỹ năm 1975 cùng làn sóng người tỵ nạn Cộng Sản sau khi miền Nam sụp đổ. Cha tôi là một đại úy của quân đội miền Nam (ở đây, nay gọi là Mỹ Ngụy), và tôi chỉ mới 5 tuổi, chưa hiểu biết chút gì về lịch sử hay chính trị. Cha mẹ tôi làm đủ mọi nghề, vất vả ngược xuôi, từ lao động chân tay đến mua bán tiểu thương, để nuôi gia đình. Sau 30 năm, ông bà đã lo xong cho con cái, đã về hưu với căn nhà nhỏ và cuộc sống ổn định. Tôi lớn lên như một trẻ Mỹ, đi học, chơi đùa và coi xứ Mỹ như một quê hương chính thức, dù vẫn biết nói tiếng Việt theo thói quen của cha mẹ. Tốt nghiệp Thạc Sĩ về điện tử, tôi có công việc tốt, lấy vợ và sống đời trung lưu như trăm ngàn người khác. Cha tôi và các bạn ông thường tụ họp và bàn luận nhiều về tình hình Việt Nam, về những thù ghét của họ với nhà cầm quyền Cộng Sản, nhưng tất cả đều rất xa lạ với tôi. Khi học lịch sử ở trung học, tôi chỉ thấy có chút hãnh diện về Việt Nam, một quốc gia nhỏ bé đã đánh bại được hai cường quốc là Pháp và Mỹ. Hai ông Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp là hai anh hùng trong ký ức của tôi.

Cuộc sống bình lặng đó thay đổi hoàn toàn khi vợ tôi qua đời vì tai nạn xe cộ ba năm về trước. Không có con, thừa hưởng một số tiền bảo hiểm hơn 1 triệu đô la, cộng với giá nhà đang tăng cao vụt và một khoản tiền tiết kiệm lớn, tôi không còn thấy nhu cầu phải kéo cầy 11 tiếng mỗi ngày trước máy vi tính. Tôi quyết định trở về lại Việt Nam để làm ăn và tạo dựng một sự nghiệp mới. Tất cả những gì tôi đọc cho thấy một Việt Nam đổi mới với những con số an tượng về đầu tư của nước ngoài, về xuất khẩu, về cơ hội đầy tiềm năng của một "con rồng mới". Cha tôi không phản đối, ông chỉ cho một lời khuyên," Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, mà coi những gì Cộng Sản làm."

* HƯNG PHẤN VÀ THẤT VỌNG

Tôi dọn về lại Saigon vào tháng Mười năm 2007. Chỉ số VNI của chứng khoán Việt khoảng 1,000 và đề tài thời thượng khắp nơi là cơn sốt địa ốc và số thu nhập của các đại gia. Số tiền 2.5 triệu đô la của tôi thật nhỏ bé khiêm tốn khi bàn chuyện đầu tư. Dường như ai cũng đầy tiền mặt và dự án, nhiều gấp mười lần khả năng của tôi. Dù vậy, tôi cũng rất hưng phấn cảm nhận niềm lạc quan vô bờ bến về sự thịnh vượng của nền kinh tế quốc gia.

Trong khi đó, dựa theo truyền thống khoa học từ đại học Mỹ, tôi nghiên cứu kỹ hơn các con số từ các doanh nhân cũng như từ chánh phủ. Có rất nhiều điều sai trái và nghịch lý từ các con số, cũng như sự kiện thực tế về kết quả hoạt động. Sự nghi ngờ của tôi được xác nhận khi so sánh và định chuẩn theo mức sống thực sự của người dân, giàu cũng như nghèo. Chung đụng với mọi thành phần xã hội giúp tôi nhìn rõ hơn về thực trạng của quê hương. Những lời nói hoa mỹ, cũng như những biểu ngữ dăng kín thành phố, là một lớp son phấn rẻ tiền, che dấu một bộ mặt điêu tàn và thê thảm.

Tôi nhận ra rằng cái cơ chế "kinh tế thị trường" mà nhà cầm quyền hứa hẹn khi ký văn bản gia nhập WTO chỉ là hình thức. Tất cả những miếng moi béo bở đều nằm trong tay quan chức và cán bộ Đảng Cộng Sản, cũng như bà con thân thuộc trong gia đình. Bộ Chánh Trị trung ương thì nắm chặt các công ty quốc doanh va bán quốc doanh, quan chức địa phương thì có những đặc lợi về ruộng đất, giấy phép, dịch vụ nhu yếu. Lãnh vực tư nhân chỉ được phép làm trong địa bàn nhỏ, nhiều rủi ro và những ai có lời đều phải chia xẻ lại cho các quan chức bằng nhiều phong bì lớn nhỏ. Tầng lớp quan chức và gia đình họ, qua hệ thống tham nhũng tinh vi, đã thâu tóm phần lớn lợi tức quốc gia và có quyền hành không kém các quan lại của triều đại phong kiến.

Tôi nhận ra rằng cuộc chiến tranh dành độc lập với bao nhiêu xương máu của người dân chỉ là một cái cớ để Đảng Cộng Sản cướp chánh quyền. Những quốc gia láng giềng như Singapore, Mã Lai, Indonesia, đã dành độc lập không cần hy sinh và giờ đây, dân họ (nhờ một nền dân chủ minh bạch) đã trở nên giàu co Họ đang cấu kết với nhà nước Việt để trở thành những chủ nhân lớn của nhiều đơn vị kinh tế bằng cách dùng đồng tiền để mua lao động rẻ và tài nguyên định giá qua gầm bàn.

Tôi nhận ra rằng chế độ to mồm này thực sự sống nhờ phần lớn vào những khoản viện trợ nhân đạo của các nước tư bản (mà họ từng lên án và đánh duổi); vào khoản tiền kiều hối của các cựu thuyền nhân (mà họ đã từng giam giữ tù đày khi kết tội phản quốc); vào mồ hôi nước mắt của những nô lệ mới qua danh từ xuất khẩu lao động hay qua các cuộc hôn nhân mua bán áp đặt; vào những khoản lệ phí va sưu thuế đầy phi nghĩa, cũng như một con số khổng lồ về hối lộ, đối với những người dân còn kẹt lại trong nước.

Tôi nhận ra rằng hai vị anh hùng thời còn đi học của tôi có rất nhiều bí mật xấu xa mà chế độ đã dùng mọi thủ đoạn để biến họ thành thần thánh, giúp cho chúng giữ vững địa vị và quyền hành. Đọc kỹ tiểu sử của ông Hồ Chí Minh sẽ tìm thấy một chính trị gia quỷ quyệt, nhiều mờ ám, hoàn toàn không có một chút chân thật gì, dù nhìn ở bất cứ góc cạnh nào. Con người của ông có rất nhiều tên gọi; ông tự viết cả tiểu sử để ca tụng mình (Trần Dân Tiên); ông không nhìn nhận cha mẹ cũng như không ngó ngàng gì đến ít nhứt là 12 đứa con sinh rơi rớt từ các cuộc tình khắp thế giới; ông viết đơn cầu xin thực dân Pháp với những lời tâng bốc trơ trẽn (lá thư gởi Quan Toàn Quyền Pháp năm 1912); ông làm mật vụ cho Nga khi Pháp không đáp ứng lời khẩn cầu (chuyện của cựu Giám Đốc KGB Nga Vladimir Kryuchkov ); ông bỏ Nga theo Tàu khi có lợi (hồi ký của Li Zhi Sui); ông khoe là trọn đời độc thân để phục vụ tổ quốc trong khi có ít nhứt ba người vợ và bao nhiêu người tình, kể cả một tình nhân là vợ của một thuộc cấp (bà Nguyễn Thị Minh Khai, vợ ông Lê Hồng Phong). Gần đây, nhiều tài liệu lịch sử kết tội ông ra lệnh giết bà Nông thị Xuân và cô em, vì hai người này muốn tạo xì căng đan về mối tình khi chung sống với ông (cuốn sách 'Ho Chi Minh: A Life' bởi William Duiker và cuốn 'Đỉnh Cao Chói Lọi' cua Ba Dương Thu Hương). Chuyện ông thủ tiêu không biết bao nhiêu là đối thủ chánh trị có thể hiểu được vì ông làm chánh trị kiểu Cộng Sản, chỉ biết theo gương bậc thầy như Mao hay Stalin. Nhưng tôi thật khó chịu khi phải đi khắp Việt Nam và nhìn những biểu ngữ ca tụng "tấm gương đạo đức của Bác Hồ".

Còn đại tướng Võ Nguyên Giáp thì tôi không biết nghĩ sao khi đọc cuốn sách 'China and the Vietnam wars' của Qiang Zhai. Ông cho biết là một tướng Tàu, Wei Gouqing, nguyên cố vấn quân sự của tướng Giáp, khẳng định là chiến thắng Điện Biên thực sự là do ông cố vấn đặt chiến lược và điều khiển; ông Giáp và ông Hồ đã định đánh Pháp tại khu vực sông Hồng. Tướng Wei cũng tiết lộ là năm 1953, H Chí Minh muốn thỏa hiệp với Pháp để đình chiến, nhưng Mao Trạch Đông ra lệnh cho Hồ là phải đánh đến cùng. Cuối cùng, Giáp và Hồ được nhận lãnh công lao ve chuyện xảy ra trên đất Việt, tướng Tàu không thể công khai xuất hiện. Một câu hỏi khác gây bàn tán là tài sản của con rể ông Giáp (Trương Quang Bình, người giàu nhứt nước) có bao phần là của ông tướng?

Sau 1 năm ở Việt Nam, tôi hiểu được một sự thât căn bản của xã hội: tất cả mọi con người, mọi con số đều là giả dối. Quan chức nói dối để giữ quyền hành bổng lộc; doanh nhân nói dối vì quan chức đòi hỏi; người dân nói dối vì nói sự thực sẽ làm mình đau khổ rồi còn bị công an bắt. Nói dối trở thành một hiện tượng tự nhiên, như ăn uống; và không ai suy nghĩ thêm về khía cạnh đạo đức của hiện tượng này.

Trong môi trường đó, tôi đã không làm ăn gì được như dự tính. Suot 14 tháng chạy theo các dự án đầu tư, các cơ hội dài và ngắn hạn, tôi đành chịu thua. Thêm vào đó, những thủ tục hành chánh rươm rà, bất cập và luôn thay đổi, tạo cơ hội cho tham nhũng, đã làm tôi nản lòng. Cũng may, tôi chỉ mất hơn 200 ngàn đô la; một giá quá rẻ cho bài học nặng ký. Tôi không tiếc than gì cho cá nhân; chỉ thấy chua xót và thương hại cho những người kẹt lại.

ANDERSON THAI QUANG
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Image

Những Lý Do Để... Ghét Việt Nam
Tất nhiên là không phải tớ, tớ chả có lý do gì để ghét quê hương của tớ cả. Bài viết này tớ vô tình đọc được ở bài "My Vietnam, our Vietnam" trên Tin nhanh Blog. Đây là một bài viết của một du khách nước ngoài từng đến thăm Việt Nam và ... ghét nước mình.

Tất nhiên là bị ai đó ghét là cảm giác không hề dễ chịu, nhưng tớ thấy mình chẳng nên làm ngơ. Và tớ tin, không chỉ có một người như vậy nói ra nhiều bức xúc như thế.

Mình có thể thay đổi được những cái xấu mà họ nêu ở đây không nhỉ? Đáng tiếc, tớ lại thấy những gì họ bực mình lại là sự thật. Không biết mọi người thấy sao nhỉ?

Tớ dịch lại từ bài viết này và mọi người hãy cũng đọc nhé.

Nguồn: http://travelvice.com/archive/2007/10/r ... ietnam.php

Những lý do để ghét Việt Nam
Ôi, Việt Nam, sao tôi ghét đất nước này như thế... Để tôi liệt kê vậy...

1. Tôi ghét sự gian dối ở Việt Nam

Tôi thật mệt mỏi bởi bị lừa lọc. Nó giống như trở thành một thói quen lừa lọc của người dân xứ này.

Tôi bị lừa khi tôi hướng dẫn cho người lái xe bus đưa chúng tôi từ sân bay tới một khách sạn cụ thể (nơi mà người ta phải giật mình bởi tòa nhà tôi muốn tới tại địa chỉ đó, lại được khẳng định là đã hết chỗ, nhưng họ sẽ đưa chúng tôi đến một nơi khác ở một cái góc loanh quanh nào đó). Tôi bị lừa khi nhận lại một chiếc ba lô thừa bị bỏ quên ở khách sạn Hà Nội, cùng với việc một nhân viên cứ cố moi ở tôi 30$ cho việc giữ đồ trong vài ngày đó. Chúng tôi bỏ đi và không chi trả gì hết.

Tôi thường bị lừa như một kẻ ngốc, thật đơn giản bởi những ngón nghề vớ vẩn tầm thường. Như là lúc tôi mua mấy tấm thiệp hay hay ở một cửa tiệm nhỏ ngoài khu dành cho du lịch. Tatiana có hỏi cách làm những tấm thiệp đó, và người phụ nữ bán hàng đã ra hiệu rằng do chị ta tự làm bằng một con dao. Hoàn toàn bịa đặt, bởi tôi thấy được hầu như cả những vạch in còn lại từ máy laser khi thiệp được sản xuất với số lượng tương đối. Có vẻ cô ta cũng làm những mã vạch đằng sau tấm thiệp khá đấy chứ?

Lừa đảo. Thật quá nhiều người lừa đảo.

2. Tôi ghét kiểu nói thách giá ở Việt Nam

Mặc dù ở nhiều nước khác cũng phổ biến, nhưng giá cả dành cho người nước ngoài thay đổi xoành xoạch thể hiện rõ nhất ở Việt Nam. Cùng một chuyến đi, khách du lịch phải trả 100 ngàn đồng, hãy hỏi một người Việt Nam ngồi cạnh thì họ trả có 80 ngàn đồng. Tôi có mặc cả khi mua hoa quả, nhưng cái giá cuối cùng tôi trả vẫn cứ cao gấp đôi so với gánh hàng bán bên cạnh, bởi người bán đã thổi phồng giá gốc lên 400%

Hầu hết người nước ngoài được coi là mục tiêu cho họ cơ hội. Theo lời ông Nguyễn Hữu Việt, trưởng phòng bộ phận du lịch Hà Nội, bán thách giá cho du khách nước ngoài không hẳn là một kiểu lừa lọc, nhưng nó là một phần "văn hóa".

Đây là một trích dẫn về bài báo "Giá cả không hề ổn định"
"Khách du lịch người Mỹ và người Nga rất hào phóng, nhưng hào phóng nhất vẫn là khách hành từ Nhật Bản, họ hầu như không mặc cả gì hết" Thu Hương người làm việc trong một sạp lưu niệm nhỏ ở phố cổ nói. "Thậm chí với cái giá tăng gấp 10 lần, khách hàng người Nhật vẫn coi vậy là rẻ. Nhưng người Ý hay Đức họ chỉ xem và cười."

Vô tư hơn nữa với khách du lịch được coi là "gà béo", đây là một từ lóng dành cho những người mua phải cái giá 100$ cho một chiếc đồng hồ nhái Rolex của Trung Quốc trị giá chỉ 10$ hoặc 40$ cho một chuỗi hạt ngọc trai nhân tạo chỉ với giá 15$.

"Thành thật mà nói tôi không quan tâm lắm tới những tiệm lưu niệm hay là hoa quả khi họ cố lấy thêm chút tiền từ khách nước ngoài, việc mặc cả hàng hóa giống như một phần của trò chơi vậy" - Daniel Lewenstein luật sư người Mỹ thường qua lại và sống ở Việt Nam suốt 10 năm qua đã nói vậy. "Nhưng thực sự là rất phiền khi giá cả đã được ấn định, và người ta cứ cố tìm cách thay đổi nó, như lần trước tối tới sân bay Nội Bài, người lái taxi cứ cố đòi ở tôi 280 ngàn VND cho chuyến đi vào thành phố trong khi giá đề rõ trên biển là 150 ngàn đồng".

3. Tôi ghét sự ồn ào ở Việt Nam...

Có vẻ như đất nước này phát huy hay gia tăng hết sức mọi kiểu cách để hủy hoại môi trường bằng tiếng ồn. Cấp độ âm thanh đạt đến đỉnh điểm trên đường phố, nơi tôi phải bịt lỗ tai lại chỉ vì tai tôi ong ong những tiếng "eeeeeeeeeeeeing" trong suốt quãng thời gian tôi trở về khách sạn.

Hàng trăm hàng ngàn thứ âm thanh xe cộ ầm ầm như tiếng súng trên mọi con đường. Còi xe máy thì kêu liên tục, trung bình cứ 5 đến 7 giây như vậy. Họ bấm còi khi vượt qua người khác, bấm còi khi quay xe, bấm còi khi say, bấm còi khi vui vẻ, bấm còi khi người ta không kịp đi nhanh, họ bấm còi ngay cả lúc họ đi ngược chiều, họ bấm còi chỉ để khoe cái còi của họ, và họ bấm còi chỉ vì người ta cũng bấm còi. Tôi nhìn và lắng nghe khi họ giảm tiếng còi là khi họ rẽ vào đại lộ. Ở Hà Nội, lúc nào trong ngày bạn cũng nghe thấy tiếng còi xe, không cần biết là ở đâu hay ngay trong phòng khách sạn.

Ở Hà Nội loa phường được đặt khắp mọi nơi, cứ nhồi vào tai người du lịch và dân cư cho tới khi cái tai phải chảy máu. Những bản phát thanh cả giờ đồng hồ về tin tức, thời tiết và thông tin quảng cáo thật sự quá lớn, nó át cả tiếng còi xe. Thật là ồn lắm.

Điều cuối cùng bạn thực lòng muốn có ở đất nước này chính là một căn phòng khách sạn ở mặt đường, đặc biệt là khi bạn có một chiếc microphone chĩa thẳng vào tòa nhà, làm bạn tỉnh giấc vì chói tai vào 7 giờ sáng với một thứ âm thanh ồn ào bởi một thứ ngôn ngữ khó chịu (Lời người dịch: Dịch đến đây thì tớ bắt đầu tức rồi đó. Thói quen, nếp sống nhà người ta mắc mớ gì mà phải ghét, 7 giờ sáng dậy được rồi. Đến đất nước người ta mà còn ghét ngôn ngữ của người ta. Thiệt tình... chả lẽ hông biết đến câu ở bầu thì tròn, ở ống thì dài... hừ hừ!)

Giữa sự ồn ào của xe cộ, công trình xây dựng liên miên, ngôn ngữ và những quán Karaoker, tôi cảm thấy thật ghen tỵ với những người khiếm thính.

4. Tôi ghét tiếng Việt

Đoạn này em xin phép bỏ qua. Ngôn ngữ của một dân tộc không thích thì thôi, cũng không thể vì bản thân không thích mà bôi nhọ nó. Đoạn này em cảm thấy người viết bài này rất ngu ngốc và hổng biết điều. Bản thân em cảm thấy như bị xúc phạm. Có nhiều thứ tiếng cá nhân em thấy nó cũng ngộ ngộ, nhưng mà chưa bao giờ em nghĩ có một ngôn ngữ mà cần phải dùng những lời tệ hại như thế để diễn tả về nó. Bài này em dịch với mục đích tích cực, là cái gì ta thấy sai ta sửa, ta khắc phục. Chứ còn nói một câu "Tôi ghét tiếng Việt" kiểu vô lý như thế thì... kệ nó, nó hông cần phải học tiếng Việt làm gì, nó thiệt!

5. Tôi ghét giao thông ở Việt Nam và sự khốn khổ khi đi bộ

Hơn một triệu rưỡi xe mô tô ở Hà Nội và hơn bốn trăm ngàn xe ở các vùng phụ cận – là chỉ số tăng trưởng 14% hàng năm. Số lượng xe cộ đông đúc như thế như một minh chứng cho tình trạng nguy hiểm của người đi bộ.

Những lối đi cho người đi bộ bị nêm cứng bởi những người bán lẻ và các hộ gia đình ở đây khi họ cố cơi nới diện tích sử dụng ở tầng trệt với mục đích kinh doanh. Điều đó đồng nghĩa với việc người đi bộ phải đi trong lòng đường. Lúc nào họ cũng có thể cảm nhận được gió tạt ngang khi bị những chiếc xe gắn máy hoặc ô tô vượt qua.

Ở đây thực sự có rất ít lối băng qua đường dành cho người đi bộ. Kể cả khi có, nó cũng chẳng giúp giảm thiểu nguy cơ tai nạn cho người đi bộ gây ra bởi phương tiện giao thông, và ngay cả khi tín hiệu qua đường cho người đi bộ bật xanh, họ vẫn phải lưu ý những phương tiện giao thông rẽ vào hoặc từ hướng trái, hoặc từ hướng phải.

Việc băng sang đường, dù có hoặc không có kiểm tra giao thông, cũng có thể ví von như cảm giác phó thác hoàn toàn vào Đức tin của anh chàng Indiana John khi nhảy xuống vực từ miệng hang Đầu Sư Tử . Nếu ví luồng phương tiện giao thông như một dòng sông chảy xiết, thì khi đó bạn chỉ như một hòn đá chuyển động chậm chạp, luồng phương tiện giao thông sẽ tẽ ra khi bạn di chuyển.

Việc này đã gây ra mối bất an cho Tatiana, khi em lo sợ cho sự an toàn của đứa trẻ đang nằm trong bụng mỗi khi em phải liều lĩnh ra khỏi khách sạn. Đối với Tatiana, việc đi lại ở đây là một thử thách lớn. Em cảm thấy hoang mang khi phải nghĩ đến việc bị đâm bởi một xe máy chạy ẩu và những hậu quả xảy đến sau đó cho đứa con trai chưa sinh của mình.

Tôi lúc nào cũng phải giữ chặt tay em, đứng giữa em và luồng xe đang chạy đến, giống như kỹ thuật che chắn bằng hình nộm người. Tôi không thể trách cứ em, khi em lúc nào cũng có thói quen như muốn chặn phương tiện đó lại vì Tatiana có cảm giác như nó sắp đâm em, làm kiểu gì cũng sai. Chúng luôn làm ta cảm thấy hoàn toàn choáng váng. Không được dừng lại. Không được chạy. Điều đó đãthành luật. Bạn phải thoát khỏi nỗi sợ hãi như thể bạn sắp phải nhảy ra khỏi máy bay và tin rằng mọi thứ vẫn tốt đẹp.

Tôi ghét cái giá đắt đỏ để được đặt chân đến đây và về phương diện kinh tế, nó như những cái nhọt ở mông vậy.
Image
7. Tôi ghét những tòa nhà lêu nghêu ở Việt Nam

Phải trèo không biết bao nhiêu tầng cầu thang vì người Việt Nam thích xây khách sạn mà bề ngang chỉ vừa cho một phòng đơn làm tôi đẫm mồ hôi. Tôi phải bỏ một căn phòng tiện nghi bởi nó ở tận tầng thứ 8 và người vợ mang thai gần 7 tháng Tatiana của tôi không thể nào leo qua đến tầng thứ 3 mà không tránh khỏi hụt hơi.

8. Tôi ghét kiểu người Việt Nam gây trở ngại mặt phố

Thói quen cố hữu bởi việc đậu xe máy đúng là một kiểu bị kín từng centimet vuông vào khoảng trống trước một nhà hàng tôi muốn vào. Việc thiếu hiểu biết và lịch sự đối với người khác được thể hiện một cách hiển nhiên trên đường phố theo phương thức mà họ đậu xe. Xô đẩy và luồn lách theo cách riêng của bạn vào bất kì chỗ trống nào và vậy là đủ.

Tôi nhận ra, không còn chỗ cho bất kỳ ai hay bất kỳ cái gì tại cái nơi kinh khủng với đủ sự khốn khổ về giao thông như vậy, trừ phi là những Ninja nặng 43 ký dáng như que củi mới có thể lách qua những thứ như vậy - chỉ cần nhìn cái bụng thai nghén nặng nề của Tatiana mà hiểu rằng làm sao tôi phải cản không để em đi lại nhiều ở đây.

9. Tôi ghét những con tôm hùm bị biến đổi gen ở Việt Nam

Tôi chẳng ngốc đến nỗi đi tin là mình thực sự được thưởng thức một thứ gì giống như cái loại tôm hùm chỉ có 3$ kia, nhưng chúng tôi đã từng ở vinh Tokin, và đồ biển ở đó quá phổ biến trên thực đơn. "Chính ra mình có thể tung ra con át chủ lắm", tôi nghĩ bụng.

Thực ra đây không phải tôm hùm mà là tôm tích và ăn với giá 3USD là bị... chém.

Những thứ được quẳng lên trên đĩa là một trong những loại động vật gây ác cảm nhất mà tôi từng thấy tận mắt. Vị ngọt và chua phủ đầy lên mấy thứ đồ biển kỳ dị trông cứ như lũ tôm quỷ quái ấy. Tôi chẳng dám nhìn khi Tatiana moi có chút xíu thịt dính bên trong thứ giáp xác ấy.

(Lời người dịch: Tên này đúng là kẻ quê mùa, hông thích thì đừng ăn. Đòi ăn cho được rồi lại ghét. Có ai nhét vào miệng nó ép nó ăn đâu. Nhìn tôm nhà người ta khác khác chút hắn kiu là đồ biến đổi gen. Vớ vẩn. Nhưng mà tớ cũng xin ghi chú một điều, nước ngoài họ giờ sợ chết lắm, sợ ung thư, cấy ghép phát triển cho lắm vào rùi giờ sợ đồ bị biến đổi gen. Ngoài ra có một số người đặc biệt sợ ăn tôm, vì họ thấy nó giống như con sâu biển. Phải nói vậy để các bác hiểu cái sự ghét ngớ ngẩn thế này của kẻ nhà quê ấy.)
caubennoc
Posts: 553
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:43 pm
Contact:

Post by caubennoc »

Thế Giới Rung Chuyển Ra Sao
Khi Rồng Trung Hoa Tỉnh Giấc?


Huỳnh Công Luận

Hơn hai trăm năm trước, Hoàng Đế Napoleon Đệ Tam đã từng cảnh báo: "Con 'Rồng' bệnh hoạn Trung Hoa (TH) đang ngủ say.
Hãy để cho nàng ngủ; khi tỉnh giấc, nàng sẽ rung chuyển thế giới." (China is sicky, sleeping giant.
Let China sleeping; when it wakes, she will shake the world.)

Image
Napoleon was crossing the Alps.
Năm 1965, vì quyền lợi sinh tử của mình, Hoa Kỳ (HK) phải đưa quân tham chiến ở Việt Nam (VN) để làm lá chắn che chở cho Đông Nam Á khỏi bị Rồng đỏ TH nuốt gọn. Cuộc chiến này đã làm suy yếu nền kinh tế của HK vừa trỗi dậy sau Đệ Nhị Thế Chiến và cuộc chiến Triều Tiên. Trong khi chiến tranh đang xảy ra ác liệt; năm 1966, HK mời Bộ Trưởng Quốc Phòng Moshe Dayan của Do Thái đến thị sát địa hình VN và tham vấn. Tuy chưa được chính thức giải mật, nhưng ai đã từng nếm vị đắng của chén thuốc từ tay Ngài Lương Y độc nhãn này đều biết những xầm xì đàng sau lời khuyên của nhà quân sự lừng danh thời đó như sau: "Hoa kỳ không thể thắng cuộc chiến tranh du kích bằng sức mạnh của một cuộc chiến qui ước. Muốn chiến thắng, hãy để họ thắng trước." Không biết hư thực ra sao, nhưng trong cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân, QLVNCH đã tịch thu nhiều tiền giấy của MTGPMN từ anh em bộ đội miền Bắc, và theo lời khai của các anh em đó, họ được lệnh vào Nam lần này là để tiếp thu và ở luôn.

Thực tế, cuộc tiếp thu này không thành công, nhưng đủ tạo điều kiện cho đoàn ngoại giao bóng bàn Hoa Kỳ và Ngài Bộ Trưởng Ngoại Giao Kissinger (gốc Do Thái) lần lượt đến Bắc Kinh để chuẩn bị cuộc hôn nhân Mỹ-Trung. Rồi năm 1972, TT Richard Nixon trao sính lễ "Kinh Tế Thị Trường"; và nhận của hồi môn "Mèo Đen Mèo Trắng" với chiếc đuôi XHCN, bắt đầu tuần trăng mật với Rồng hơn bốn thập niên qua. Trong bài này, chúng ta sẽ tìm hiểu xem Rồng TH đã rung chuyển thế giới ra sao từ khi Tổng Thống Nixon đánh thức nàng.

Chắc chúng ta, ai cũng biết rằng người Mỹ là bậc thầy trong nghề thuần hóa dã thú để hái ra tiền. Từ voi, cọp, hùm beo, sư tử, cá voi, hải mã; cho đến cá sấu, tắc kè, kỳ nhông đều răm rắp làm theo họ không sai một động tác nào, để họ thu tiền từ tay du khách, dù có phải đứng xếp hàng cả cây số để mua vé. Rồng TH cũng không vượt ra khỏi qui luật đó. Tuy nhiên, vì là Rồng, có tầm vóc khổng lồ (giant), lại ngủ quá lâu; vừa bệnh vừa đói nên cần được tẩm bổ bằng Kinh Tế Thị Trường. Rồng lại quen sống trong ao mặn Cộng Sản Chủ Nghĩa; nếu bỏ nàng vô ngay ao nước ngọt Tự Do Dân Chủ, rồng sẽ bị sốc. Vì vậy mà "Anh Hai" đã phải mất hơn bốn thập niên tăng ngọt bớt mặn cho ao Rồng bằng KTTT-XHCN; đồng thời cho Rồng ăn thật no bằng ngân khoản thặng dư mậu dịch (surplus) nhờ đổ rác vào Mỹ (được miễn hoặc giảm thuế quan) cho khách thập phương đến mua. Nhờ vậy mà Rồng không còn hiếu chiến như xưa. Thật vậy, trong 1 lớp học về tài chánh quốc tế, vị Giáo Sư đã hỏi chúng tôi như sau: "Các bạn có biết tại sao người ta đem rác đổ vô nhà mình, mà mình phải chịu và chấp nhận mang nợ?" Câu trả lời sau cùng là: "Dù sao thì món nợ đó vẫn nhẹ hơn chi phí chiến tranh rất nhiều."

Image
Mao Trạch Đông "bắt tay" với tổng thống Nixon.
Tuy rác được bán rẻ như cho, Anh Hai cũng được hưởng lợi qua 2 lần thuế: thuế tiêu thụ từ người mua và thuế lợi tức từ tiền lời của các nhà bán lẻ lẫn bán sỉ. Anh Hai mở toang cửa mời du khách lấy vé máy bay rẻ nhất toàn cầu, ở khách sạn đúng chuẩn quốc tế mà vẫn rẻ hơn ở Việt Nam, thưởng ngoạn đủ trò giải trí cho mọi lứa tuổi, rồi mua hàng thoải mái mang về; nhờ vậy, tuy là chúa chổm mang nợ, anh hai vẫn có tiền dư để dành khi hữu sự mang ra xài thoải mái. Còn Rồng thì phục hồi sinh lực, phát tướng phát tài, vừa đủ sức làm trò chào mừng Thiên Niên Kỷ thứ 21 ở sân Thế Vận Hội hình tổ Rồng mà thế gian lại tưởng lầm là tổ chim đại bàng. Lỡ bộ; Rồng tự phát họa nền văn minh chim bồ câu; rằng văn minh thế giới sẽ chuyển dịch từ Tây sang Đông với chim bồ câu là biểu tượng; mà Rồng chính là bụng của chim, ẩn chứa Chủ Nghĩa Chủng Tộc Hán cộng thêm chút hương liệu "Hài Hòa", chuẩn bị lên ngôi bá chủ.

Thông minh nhứt nam tử như Anh Hai, lại cùng chăn gối với Rồng ít ra cũng được nửa thế kỷ, lẽ nào không hiểu được lòng nàng. Còn nàng thì cứ sum soe, càng no cơm ấm cật càng trửng mỡ; hết lượn xuống biển Đông lại vòng qua biển Tây. Hết vờn Đông Nam Á, lại bởn với Châu Phi, rồi hò hẹn với xóm giềng ngay sân sau nhà anh chồng hào phóng, chuẩn bị một thời đại chuyển dịch văn minh bằng đường lối "Hài Hòa". Thực chất của chiến lược "Hài Hòa" là một tổng hợp từ học thuyết "Bình Thiên Hạ (nghĩa là gồm thâu thiên hạ)" của Khổng Sư, "Bốn Hiện Đại" của Đại Hán Đặng Tiểu Bình, và "Bồ Câu Trắng" chân đỏ của Hồ Cẩm Đào.

Thế là lời tiên tri của Nã Phá Luân Đại Đế đã ứng nghiệm rõ ràng, không ai còn nghi ngờ gì nữa. Bài diễn văn của TT Obama đã làm cho truyền thông của Rồng ù tai, hoa mắt nên bỏ sót nhiều đoạn không ghi, làm Anh Hai cục hứng. Ngoại Trưởng Hilary Clinton tung thêm vài quả bóng xanh "Hợp Tác Hai Chiều và Có Trách Nhiệm" để thăm dò tiếp; Rồng nguây nguẫy đòi bóng đỏ "Hợp Tác Quốc Phòng" hai bên cùng hưởng lợi.

Trong khi Anh Hai làm ngơ truớc sự kiện Rồng đổi màu từ trắng qua đỏ, thì từ cổng phía Nam của tổ Rồng, ngài Đại Sứ Michael Michalak đã nhờ chiếc loa BBC truyền rao khắp thế giới cho bàng dân thiên hạ biết: "Quan hệ giữa HK và TQ là quan hệ hết sức phức tạp. Chúng tôi có nhiều mối quan hệ về kinh tế và chính trị với TQ. Tôi được biết rằng, một số cố vấn của ông Barrack Obama cho rằng, trong những ngày đầu tiên ông nhậm chức, chính sách đối ngoại của Tân Tổng Thống sẽ là Trung Quốc, Trung Quốc và Trung Quốc."

Từ đó, Rồng cảm nhận được "cơm chẳng lành canh chẳng ngọt" nên gấp rút cử Đặc Sứ Wang Jiarui qua cửa Đông Bắc lên dây cót cho Đồng Chí Kim, hát tiếp bài "con cá chết vì nước"; quyết trừng phạt người anh em phía Nam bằng quân đội nhân dân ưu việt; xé bỏ các hiệp ước chưa ráo mực, vừa ký với người anh em để chuẩn bị cho tiến trình thống nhứt đất nước trong hòa bình. Rồi, nào là tiếp tục chương trình hạt nhân, nào là chuẩn bị phóng thử hỏa tiển tầm xa để dằn mặt "Anh Hai". Không biết Ngài Đặc Sứ họ Wang của Rồng hứa cho bao nhiêu súng đạn phế thải sau thời kỳ "Bốn Hiện Đại", lương khô lẫn dép râu đang lên mốc; chứ đề nghị giữ dùm mấy hòn đảo đang tranh chấp là chắc mẽm. Có thế thì mới bảo đảm được số nợ sau này chứ. Nếu không tin, Kim Chủ Tịch cứ qua hỏi Ngài Tổng Bí Thư của Việt Nam thì rõ.

Dù sao thì âm vang của họ Kim sau 6 tháng vắng bóng để chuẩn bị đổi màu, cũng đã lan toả ra những nơi có cơ duyên in đậm dấu chưn Rồng. Iran đòi HK xin lỗi về cáo buộc hạt nhân; bày hàng mới bằng việc phóng hỏa tiển và vệ tinh thám hiểm không gian, rồi rao to: "Đây là hàng thật, tự chế trong thời gian bị cấm vận", như một thách thức mới với "Anh Hai". Lại nữa, từ đảo quốc Cuba, vị "Cha Già Dân Tộc" mới khen xã giao TT Obama trong ngày nhậm chức, tuần lễ sau lên tiếng đòi lại Guatanamo. Chưa hết đâu, từ núi rừng trùng điệp của Hy Mã Lạp Sơn, bộ hạ của Rồng đang vung tay mở cuộc đàn áp mới nhắm vào phong trào đòi tự trị Tây Tạng, khiến Đức Đạt Lai Lạt Ma phải một lần nữa khua chuông cầu cứu khắp năm châu. Đặc biệt hơn cả, Rồng đang gậm nhấm bằng đường lối hài hòa một mãng lớn Đông Nam Á bằng 16 chữ vàng: "Ổn định lâu dài, láng giềng hữu nghị, tin tưởng lẫn nhau, hợp tác toàn diện", bao gồm Việt Nam, Lào, Miên, và Miến Điện; tạo bất ổn ở Thái Lan và Tích Lan.

Trong lúc chiến dịch chào hàng của Rồng đang nở rộ; từ Sudan, các công tố viên của tòa án quốc tế đang buộc tội TT Bashir, là đã dàn dựng một chiến dịch cưỡng hiếp, sát nhân và trục xuất người dân Darfur, gây nạn chết đói mà thế giới phải bàng hoàng, và yêu cầu các quan tòa ra trát bắt ông Bashir về tội diệt chủng. Chủ Tịch họ Đào đành phải ra mặt cam kết ủng hộ đàn em để trả ơn cho việc cung cấp phần lớn số dầu của Sudan, cho Rồng có đủ số dự trữ ba năm.

Cùng với tín hiệu đỏ đang nhấp nháy trên lưng Rồng, Thủ Tướng họ Ôn đang bận rộn ở Luân Đôn chào hàng "Hài Hòa", ngoài xanh trong đỏ, bị sinh viên Anh lật tẩy sự dối trá bằng cú ném giày "ô nhục". Thủ Tướng Brown đành ký bản ghi nhớ để an ủi họ Ôn; nào ngờ trong giây phút ngắn ngủi ấy, phóng viên BBC trình làng cờ Anh treo ngược, một mật mã cho mọi người biết là quân địch đang có mặt trong phố Downing. Thâm chưa?

Tại Hoa Thịnh Đốn, TT Obama đang thử vài chiêu phục hoạt kinh tế, có phảng phất chút mùi bảo hộ. Chiêu giáo đầu "Buy American" (mua hàng Mỹ) vừa tung được vài hôm, phải thu lại vì chạm mạnh vào anh bạn Đồng Minh Chiến Lược Gia Nả Đại trong tổ chức NAFTA; rồi khẩu hiệu "Không Bảo Hộ (protectionism)" của vị Tổng Thống tiền nhiệm George W. Bush; và quan trọng hơn cả, luật cạnh tranh của WTO. Dù sao cũng nhờ "team work" và tự do dân chủ, Thượng Nghị Viện đã điều chỉnh kịp thời. Chúng ta còn chờ xem hiệu quả của chiêu kế tiếp về bảo hộ lao động, tăng quyền hạn cho công đoàn và hạn chế lương của quản trị viên hàng đầu ngành ngân hàng không quá $500.000 một năm, trộn lẫn trong gói kích thích kinh tế hơn tám trăm tỷ Mỹ Kim từ quỹ dự trữ Liên Bang.

Chiến dịch ngoại giao hạ nhiệt của TT Obama cũng đang được tung ra nhanh chóng; đậm nét hơn cả là chuyến đi Nam Hàn của Bà Ngoại Trưởng Clinton vào trung tuần tháng hai này, như dấu hiệu lên giây cót cho đồng minh, đáp trả sự hà hơi tiếp sức của Đặc Sứ Wang. Đây cũng là lời cảnh báo cho Rồng biết thế nào là "smart power" và thế nào là ngoại giao "hai chiều".

Việt Nam chúng ta, vì ở ngay trước mũi của Rồng, nên thuộc làu chiêu thức của nàng. Khi bình ổn thì Rồng ẩn dưới vực sâu, đủ sự tỉnh mịch để nghĩ ra mưu ma chước quỷ, gồm thâu thiên hạ. Nay Rồng đang vừa bị bội thực vì uống dầu dự trữ ba năm với giá trên trời, đang ngậm đắng nuốt cay chịu lỗ. Gia đình "Anh Hai" thì quá mệt vì rác của Rồng, vừa thâm thủng mậu dịch vừa phải thu dọn, ép thành kiện, bán ve chai cho tắc kè, kỳ nhông mua về tái chế. Dân Mỹ thì sợ kinh tế suy trầm lâu, nên hạ quyết tâm từ bỏ thú vui mua sắm.

Mới không bán được rác có nửa năm mà nước đá trong thùng "surplus" của Rồng đã lưng bộn rồi còn gì. Không khéo, chưa hết năm con cọp, hai ngàn tỷ Mỹ Kim gởi trong tủ sắt của "Anh Hai" sẽ bốc hơi thành mây khói. Con cái của Rồng đang mất nhà, mất việc; mới có nửa năm đã lên tới vài ba chục triệu. Bài toán môi trường đang đè nặng vai Rồng, bước tới thì run, bước lui thì đói. Ăn quen nhịn không quen, nên chị Rồng phải chơi nước đôi: vừa ra lệnh cho đàn em khua thùng thiết bể hù dọa Anh hai, vừa dòm bị bửu bối sau lưng Obama, tùy mức độ phục hoạt kinh tế, tài chánh của chàng ra sao, mà nàng sẽ đổi màu cho phù hợp. Anh Hai rồi ra, chắc sẽ định giá các lô hàng đang bày bán ồn ào của Rồng để bù lỗ đôi chút, gọi là "có đi có lại mới toại lòng nhau". Về phía Rồng, phải từ bỏ nước mặn và phải làm trò đúng bài bản để đổi lại ân sủng của Anh Hai nghen!

Toàn dân Việt Nam, trong và ngoài nước, hãy thật tỉnh táo nhìn cho rõ màu Rồng, để tìm ra ẩn số cho quê hương chúng ta. Và đừng quên rằng: "Họa vô đơn chí, Phúc bất trùng lai." Hay dễ hiểu hơn: "Họa đi có cặp, Phước không đến hai lần."

Florida, ngày 9 tháng 2 năm 2009
Huỳnh Công Luận
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Chiếc Giày Xin Giữ Lại

Tuấn Khanh
Thật là hi hữu khi thế giới chứng kiến những chiếc giày “ thái độ” được ném về phía trước, nhằm vào hai chính khách của hai cường quốc lớn nhất thế giới.

Cảm giác thật lạ lùng khi giày lại trở thành một phương tiện biểu cảm sau hàng thế kỷ văn minh của loài người.

Mặc dù đích đến của những chiếc giày đó khác nhau nhưng rõ ràng, cách phản ứng của những người “nhận giày” cũng khác nhau.

Ông Bush, tổng thống Hoa Kỳ đã cười còn ông Ôn Gia Bảo, thủ tướng Trung Hoa thì lại giận dữ ra mặt.

Điều này cũng nhanh chóng cho thấy thái độ chấp nhận điều mình đã làm ra trên một tinh thần dân chủ và tính cách thượng tôn mang tính cách triều đình, không chấp nhận nổi những sự khác biệt.

Chiếc giày được ném đi

Việt Nam là quốc gia đã từng có những cuộc chiến với nước Mỹ và Trung Quốc. Những kỷ niệm về các cuộc chiến đó còn khốc liệt và bi thảm hơn bất kỳ ai trong quốc gia của những người từng ném giày.

Tôi tự hỏi sẽ có bao nhiêu người trong đất nước tôi sẽ chọn ném giày vào chính phủ Mỹ hay chọn ném giày vào chính quyền Trung Quốc ?

Tháng 11 năm 2000, khi ông Clinton cùng vợ và con gái đến thăm Việt Nam đã được hàng hàng người dân, kể cả những cựu binh quân đội chào đón và chờ được bắt tay.

Ông Clinton có lẽ cũng là lãnh tụ duy nhất của một quốc gia từng có ân oán với Việt Nam không lo sợ chuyện mình sẽ bị ném giày. Trong khi đó, dù được ca ngợi với tình hữu nghị lâu bền, nhưng chưa có một lãnh tụ nào của Trung Quốc được người Việt Nam chào đón như vậy.

Ở một phía khác được bộc lộ rất rõ trong các vụ biểu tình chống Bắc Kinh xâm lược đảo và đất Việt Nam vào tháng 12 năm 2007, đến mức Nhà nước Việt Nam phải huy động các lực lượng trấn áp hùng hậu để làm yên lòng chính quyền Trung Quốc.

Người Việt Nam không có thói quen ném giày, nên người ta phản ứng bằng cách ném các khẩu hiệu về phía các Tòa Tổng lãnh sự và Đại sứ Trung Quốc ở Việt Nam và mọi nơi trên thế giới với những hàng chữ bằng cả tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Hoa, đại loại như “đồ xâm lược”.

Ném giày vào ai ?

Trong một bài viết của tác giả Quách Tường Uy, người Trung Quốc đang du học tại London, có viết rằng thế hệ của cô được người lớn dạy rằng Việt Nam là bọn xấu và hết sức vô ơn, tàn nhẫn.

Trong ký ức của tôi thì người Việt Nam lại luôn thấy những người Hoa là những người chân chất và hiền lành, dễ làm bạn.

Trong lời dạy của người lớn mà trẻ con miền Nam học được, những người Hoa này là những người yêu nước lưu lạc và mong chờ một ngày đất nước có thể phản Thanh phục Minh thành công mà quay về cố hương.

Từ tinh thần yêu nước cảm động này khiến tôi có rất nhiều bạn người Hoa ở tuổi học trò.

Với tôi và nhiều người khác, kể cả những người đã từng xuống đường vào ngày 9 tháng 12 năm 2007 để phản đối Trung Quốc xâm lược đảo và đất Việt Nam, không có người Trung Hoa xấu, mà chỉ có chính xác chính quyền Cộng sản Trung Quốc là rất xấu.

Không chỉ xấu với đất nước Việt Nam của chúng tôi, mà xấu với cả thế giới bằng cả chiều dài lịch sử hành động và ngụy biện của họ.

Thật là khó giải thích vì sao máu của những người dân Trung Hoa và thanh niên Việt Nam phải đổ xuống dọc đường biên giới hai nước trong cuộc chiến năm 1979. Điều làm rất nhiều người bạn Việt và Hoa tại Chợ Lớn, Saigon, chỉ mới buổi sáng uống ly cafe và tán gẫu vui vẻ với nhau, buổi chiều đã nhìn nhau ngại ngần im lặng.

Tác giả Quách Tường Uy có viết rằng thế hệ trẻ của cả hai nước đã dần quên đi cuộc chiến 1979 và không mang nặng mặc cảm về nó. Nhưng đó có lẽ là cảm giác riêng của thanh niên Trung Quốc.

Chiếc giày xin được giữ lại

Lý do của ý thức chống chính quyền Trung Quốc, là bởi người Việt Nam không bao giờ có thể an tâm với sự kiêu ngạo và tính bá quyền của những lãnh tụ như Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình... vẫn được nối dài đến thời kỳ của Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo... và có thể sẽ còn nối dài nữa trong tinh thần Đại Trung Hoa.

Nhắc lại chuyện chiếc giày, khi còn nhỏ, tôi được đưa đi xem triển lãm tội ác của “Bọn bành trướng Bắc Kinh” từ cuộc chiến 1979.

Một trong những ký ức đau đớn nhất mà tôi còn nhớ, đó là một chiếc giày lính bằng vải dính máu của một chiến binh Việt Nam nào đó đã chết. Có thể đó là một công nhân ở Hải Phòng hay một người nông dân nào đó ở Cần Thơ.

Khi Việt Nam tái lập tình hữu nghị với Nhà nước Trung Quốc, một phần lịch sử trên đã biến mất để không làm “tổn thương tình hữu nghị của hai quốc gia”.

Tôi cũng không còn thấy chiếc giày đó nữa, cũng như không được biết rõ đất nước tôi đã mất hay giữ được bao nhiêu đất đai của tổ tiên sau cuộc chiến đó.

Nếu tôi được hỏi là sẽ chọn ném giày vào ai trong mối quan hệ Việt - Mỹ - Trung Quốc này, có lẽ tôi sẽ chọn xin và giữ lại chiếc giày đó - chính chiếc giày đẫm máu của tuổi thanh niên Việt Nam và đặt vào một không gian trân trọng nhất của Tổ quốc tôi hôm nay.

Thế hệ chúng tôi cũng như những người Hoa mà chúng tôi đã được biết, đã sống chung trên đất nước tôi không muốn thù hận nhưng thật lòng không bao giờ có thể lãng quên.

Đây là ý kiến riêng của tác giả, nhạc sỹ Tuấn Khanh.

Đánh dấu một chiến thuật mới trong cuộc tranh đấu của người Công Giáo kể từ khi hàng ngàn giáo dân khởi sự thực hiện các buổi cầu nguyện tập thể cuối năm 2007 để đòi lại những tài sản bị nhà nước tịch thâu.

Tuấn Khanh (Theo BBC)
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Cải thiện hệ thống tài chánh và ngân hàng
Friday, February 20, 2009

Ngô Nhân Dụng

Ngày hôm qua, phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc bị hỏi hai lần rằng chính phủ Obama có ý quốc hữu hóa mấy ngân hàng đang nguy nan hay không. Ông Robert Gibbs nói, “Chính phủ này tin tưởng mạnh mẽ vào hệ thống ngân hàng tư,” nhưng có phóng viên còn hỏi lại, muốn ông nói chắc chắn chính phủ không quốc hữu hóa ngân hàng nào cả.

Người ta đặt câu hỏi đó vì có tin đồn khiến cổ phần của hai ngân hàng lớn hạng nhất là Citigroup và Bank of America đang xuống liên tiếp mặc dù đã được chính phủ trợ cấp. Năm ngoái, hai công ty tài chánh lớn, Fannie và Freddie, đóng vai giống như ngân hàng chuyên tài trợ địa ốc (nhưng không được cho công chúng mở trương mục), đã được chính phủ George W. Bush cứu giúp và chính quyền quản lý để tiếp tục hoạt động, cũng gần như được quốc hữu hóa. Nhưng cho đến nay, chỉ có một số ngân hàng nhỏ bị phá sản phải đặt dưới sự quản trị của chính phủ để bảo vệ những người gửi tiền mà thôi.

Ai cũng biết cơn khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay bắt đầu từ cơn sa sút của hệ thống tài chánh và ngân hàng ở Mỹ. Các công ty đầu tư và các ngân hàng đã cho vay mua nhà mà không cứu xét kỹ khả năng trả nợ của người vay. Họ đã phát hành các trái khoán (tức là giấy vay nợ) dùng các món nợ mua nhà làm bảo đảm, gọi là “chứng khoán hóa” các món nợ. Những trái khoán này được đem bán cho các nhà đầu tư khắp thế giới, trong đó có những ngân hàng khác. Công việc này sinh lợi rất dễ dàng cho nên bao nhiêu ngân hàng nhẩy vào, nhất là khi nước Mỹ thừa tiền do người ngoại quốc, nhất là các chính phủ Nhật Bản, Trung Quốc, dư tiền đem vào cho vay.

Nhưng khi một số người vay nợ mua nhà không trả được nợ vì lãi suất tăng hoặc vì lợi tức xuống, các trái khoán dựa trên nợ địa ốc bị sụt giá, rồi không ai mua nữa. Giá nhà xuống khiến càng nhiều chủ nhà bị kẹt. Vì thị trường không biết số phận trái khoán nào sẽ bị ảnh hưởng do tình trạng nhiều người vay sắp bị phá sản, cho nên hầu hết các ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư ở Mỹ bị kẹt với hàng chục, hàng trăm tỷ đô la trái khoán không bán được. Họ thiếu tiền, ngưng cho vay, kéo nhau vào một cơn khủng hoảng tín dụng. Các xí nghiệp và người tiêu thụ bị lôi cuốn theo, biến thành một cơn suy thoái kinh tế nặng nề. Có những ngân hàng dè dặt ngay từ đầu, không dính tới những thứ nợ địa ốc khả nghi, cho nên không lâm nạn, nhưng đó là số nhỏ.

Ngày Thứ Năm vừa qua, Tổng Thống Barack Obama đã sang thăm chính thức nước Canada; cuộc công du đầu tiên của một vị tổng thống Mỹ thường là sang nước láng giềng phía Bắc này, trừ Tổng Thống Bush khi ông chọn Mexico. Trước khi qua Canada, được đài CBC nước này phỏng vấn, ông Obama đã khen ngợi hệ thống ngân hàng nước này, vì các ngân hàng Canada không ai phải nhờ chính phủ cứu trợ, mà vẫn sinh lời. Trong năm 2008 năm ngân hàng lớn nhất nước Canada đã kiếm được 8.2 tỷ Mỹ kim tiền lời, trong khi năm ngân hàng lớn nhất nước Mỹ bị lỗ chung nhau 8.3 tỷ đô la. Trong cơn suy thoái của thị trường chứng khoán thế giới, giá cổ phần các ngân hàng Canada cũng bị giảm từ 35% đến 46%, nhưng không tụt mạnh như Citigroup bị mất 90% giá trị. Trong năm qua các ngân hàng Canada đã trả cổ tức, là tiền lời chia cho các cổ đông, tới tỷ lệ 7% giá cổ phần, cứ lời 100 đồng thì họ chia 76 đồng cho các chủ nhân.

Năm ngoái tổ chức World Economic Forum đã phỏng vấn các nhà kinh doanh quốc tế, họ xếp hệ thống ngân hàng Canada vào bậc cao nhất trong số 134 quốc gia, trước các nước Thụy Ðiển, Luxembourg, Úc Châu, và Ðan Mạch. Hệ thống ngân hàng Mỹ đứng vào hạng 40, sau Ðức Quốc. Algeria đứng hạng 134.

Khi kinh tế Mỹ xuống, kinh tế Canada thế nào cũng xuống, vì 70% ngoại thương của nước này là trao đổi với Mỹ. Nhưng hiện nay tình trạng tài chánh của Canada vẫn vững hơn Mỹ, vì trong các năm trước ngân hàng không cho vay mua nhà một cách liều lĩnh, cho nên không rơi vào tai họa như các ngân hàng bên Mỹ. Số nhà bị sai áp hiện không tăng nhanh như ở Mỹ; số nợ của người tiêu thụ ở một tỷ lệ thấp hơn so với lợi tức; chưa có một ngân hàng hay công ty đầu tư lớn nào sụp như CountryWide hay Washington Mutual hoặc Lehman.

Yếu tố nào đã giúp cho nước láng giềng phía Bắc có một hệ thống ngân hàng vững chãi như vậy?

Ðầu tiên là giới kinh doanh và tài chánh bên đó bảo thủ hơn bên Mỹ. Bảo thủ, cho nên họ rất dè dặt, không mấy ai có thể vay nợ mua nhà tới mức trên 75% giá trị cái nhà, dù ngân hàng đã cứu xét kỹ khả năng trả nợ của người vay. Tinh thần bảo thủ đó bắt nguồn từ nền văn hóa bảo thủ, khiến cho người ta tránh rủi ro. Luật lệ ở Canada buộc các ngân hàng phải giữ 7% tài sản làm dự trữ, nhưng các ngân hàng ở đó rất bảo thủ, thường giữ tới 10%, cao hơn các ngân hàng bên Mỹ. Hậu quả xấu của lối làm ăn bảo thủ này là giảm bớt sáng kiến, phát minh, khiến cho kinh tế phát triển chậm hơn. Các xí nghiệp và ngân hàng không thể phát triển nhanh, như kiểu Enron hay Countrywide. Ngược lại, tính dè dặt giúp cho các xí nghiệp và ngân hàng đỡ bị suy sụp vì liều lĩnh quá đáng, như hai công ty Mỹ kể trên.

Nhưng một hệ thống ngân hàng và sinh hoạt kinh doanh không thể chỉ trông cậy vào tính dè dặt của những người tham dự trong đó để tránh những tai họa vì gặp rủi ro. Một hệ thống tài chánh hoạt động tùy theo khung cảnh luật lệ chi phối nó, chứ không thể hoàn toàn dựa trên tính hạnh của những người tham dự. Không quốc gia nào có thể đặt vận mạng cả nền kinh tế, hoặc cả hệ thống ngân hàng trên những lời kêu gọi lương tâm, đạo đức và trách nhiệm của các nhà quản trị. Những người bước vào kinh doanh đều nhắm mục đích kiếm lợi, hành động và phương pháp quản lý của họ bị chi phối bởi các luật lệ và thủ tục, do Quốc Hội và chính phủ quy định.

Luật lệ ngân hàng ở Canada khác ở Mỹ. Gần đây, tuần báo Time đã nêu tên 25 người chịu trách nhiệm về cơn khủng hoảng kinh tế hiện nay. Ðứng hàng thứ hai là cựu Nghị Sĩ Phil Gramm, tiểu bang Texas, đứng hàng thứ 13 là Tổng Thống Bill Clinton. Nghị Sĩ Phil Gramm đã cổ động cho việc giảm bớt các luật lệ về ngân hàng và tài chánh, ông là một trong những người đã đề xướng việc bãi bỏ các ràng buộc của đạo luật Glass-Steagall tách các ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư; và cởi trói cho nhiều loại đề ri va ti không bị kiểm soát, trong đó có các hợp đồng bảo hiểm trái khoán, thứ chứng khoán đã đưa công ty bảo hiểm AIG lớn nhất thế giới rơi vào cảnh khánh kiệt. Và Tổng Thống Clinton đã ký các đạo luật đó. Ngày hôm qua ông Gramm đã viết một bài tự bào chữa trên nhật báo Wall Street.

Nhưng ở Canada, các ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư vẫn nằm chung trong cùng một cơ sở, mà hệ thống tài chánh không gặp nạn như ở Mỹ. Tại Canada, cả hai loại hoạt động này đều được kiểm soát bởi cùng một thứ luật lệ, trong khi các hoạt động của những ngân hàng đầu tư ở Mỹ không cần được ngân hàng trung ương kiểm soát. Năm ngân hàng đầu tư lớn nhất ở Mỹ năm ngoái đã biến mất sau khi xin sáp nhập hoặc tự biến thành các ngân hàng thương mại. Tại Canada, luật lệ liên bang về ngân hàng được thay đổi mỗi 8 năm hoặc 12 năm, và các ngân hàng đều có quy chế toàn quốc. Trong khi đó, các ngân hàng ở Mỹ do các tiểu bang kiểm soát và việc làm luật cũng được tản quyền cho các tiểu bang.

Một trong những điều gây tai nạn cho hệ thống tài chánh Mỹ là những sáng kiến như chứng khoán hóa các món nợ ngân hàng, và những đê ri va ti, tức là những hợp đồng dựa trên các chứng khoán khác. Những “khí cụ tài chánh” mới này rất hữu ích. Chúng giúp cho tiền tệ được lưu hành rộng rãi, dễ dàng hơn; và giúp phân tản rủi ro của các vụ đầu tư cho nhiều người cùng chịu. Do đó mối rủi ro của mỗi người sẽ thấp hơn, khuyến khích mọi người đầu tư thêm để kinh tế phát triển. Ðó là những sáng kiến, phát minh rất có giá trị. Thí dụ, khi một người đi vay để mua nhà mà lo trong tương lai sẽ có lúc không có tiền trả nợ, thì có người sẵn sàng bán bảo hiểm. Cứ đóng tiền hàng tháng cho hãng bảo hiểm, nếu mình gặp rủi ro mất việc và hết tiền, họ sẽ lo trả nợ thay mình. Nhiều thứ đề ri va ti có vai trò tương tự như thế, đã sinh sôi nẩy nở rất nhanh trong vài thập niên qua.

Tuy nhiên, một điều mà hệ thống luật lệ ở Mỹ đã thiếu sót trong những năm qua là không đặt các phát minh mới đó vào trong vòng kỷ luật. Vì người ta tin tưởng là các người đầu tư bao giờ cũng biết tự kềm chế để tránh rủi ro cho chính họ. Gần đây chính ông Alan Greenspan, cựu chủ tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang đã thú nhận rằng trước đây ông cứ tưởng các nhà quản trị ngân hàng thế nào cũng lo giữ tiền cho ngân hàng của họ! Vì tin như vậy cho nên không thấy cần làm thêm luật lệ để kiểm soát.

Nhưng chúng ta phải biết rằng ngay việc thành lập các ngân hàng thương mại, lập ra các công ty cổ phần, cũng là những sáng kiến đã được phát minh từ nhiều thế kỷ trước. Nhờ các phát minh đó mà tài nguyên được tích lũy và được sử dụng hữu hiệu hơn. Nhưng ai cũng biết rằng các ngân hàng thương mại và việc mua bán, phát hành các cổ phần đã được kiểm soát rất chặt chẽ để bảo vệ công chúng. Vì công chúng gồm đa số những người thiếu tin tức và ít hiểu biết so với các chủ ngân hàng và các người môi giới chứng khoán, cho nên phải bảo vệ họ. Ðặt ra luật lệ là bảo vệ cho người dân thường không bị đánh lừa.

Các loại đê ri va ti cũng như các quỹ đầu tư đối trọng (hedge fund) gần đây ra đời không bị kiểm soát, cũng vì các nhà chính trị nghĩ rằng những người tham dự trong đó đều là những người nhiều tiền nhất, khôn ngoan nhất, chứ không phải những người dân bình thường. Chính họ sẽ chịu trách nhiệm về hành động của họ, được thì ăn, thua thì chịu, mặc họ tự lo lấy, nhà nước không cần dính vô.

Nhưng đến nay thì ai cũng thấy giả thiết đó là nhầm. Vì khi những nhà đầu tư, những vị quản đốc ngân hàng quyết định sai, không những họ mất tiền mà cả nước bị họa lây. Không những thế, chính phủ phải lấy tiền do dân đóng thuế để cứu các nhà tư bản này.

Cho nên ai cũng đồng ý là nước Mỹ cần sét lại cả hệ thống luật lệ chi phối những hoạt động tài chánh. Ông Lloyd Blanfein, tổng quản đốc ngân hàng đầu tư Goldman Sachs gần đây đã nêu 7 điều mà dân Mỹ cần nghiên cứu để thay đổi trong hệ thống tài chánh. Ðiều thứ 6 trong đó nói rằng người Mỹ đã sáng tạo ra những khí cụ tài chánh mới khiến hệ thống càng ngày càng phức tạp hơn, mà khả năng quản trị và kiểm soát hệ thống không theo kịp. Hệ thống không được trang bị đầy đủ để đối phó với tính chất phức tạp lên cao đó, cho nên mối rủi ro tăng lên rất mạnh. Ông không ngần ngại đề nghị phải tăng thêm luật lệ và uy quyền của những cơ quan kiểm soát trong công việc cải thiện hệ thống tài chánh của nước Mỹ.

Nước Mỹ đang đứng ở một khúc quanh trong việc tổ chức và quản trị hệ thống tài chánh. Ông Paul Volcker, cựu chủ tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang dưới thời các tổng thống Carter và Reagan, hiện là cố vấn của Tổng Thống Obama về việc cải tổ hệ thống tài chánh và ngân hàng. Tuần trước ông nói với nhật báo Financial Times rằng “Những điều tôi đề nghị coi có vẻ rất giống hệ thống bên Canada.” Dù sao, người Mỹ cũng không có tính bảo thủ, dè dặt như người Canada. Nhưng cái tính người không quan trọng. Ðiều quan trọng là người ta hoạt động trong khung cảnh pháp lý như thế nào.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Tuổi trẻ Việt Nam
Học Lịch Sử để làm Lịch Sử


Trần Trung Đạo
Tôi còn nhớ rất rõ hình ảnh Sài Gòn những ngày cuối tháng Giêng ba mươi ba năm trước. Sau những trận hải chiến dữ dội chung quanh quần đảo Hoàng Sa để chống lại các lực lượng hải quân Trung Quốc đông hơn và mạnh hơn gấp nhiều lần, chiều 20 tháng 1 năm 1974, các đơn vị hải quân Việt Nam Cộng hoà đã buộc phải triệt thoái khỏi quần đảo Hoàng Sa, nơi tổ tiên chúng ta đã bao đời gìn giữ. Trong vùng biển mẹ thân yêu, từ đó đã nhuộm thêm máu của những người con ruột thịt. Các anh Ngụy Văn Thà, Nguyễn Thành Trí, Vũ Văn Bang, Ngô Chí Thành và nhiều thanh niên Việt Nam khác đã theo dấu chân của bao nhiêu anh hùng dân tộc mà đền nợ nước. Hoàng Sa rơi vào tay Trung Quốc.

Sài Gòn ngày tháng đó buồn như một đám ma. Những cụm mai vàng chào đón xuân sang không làm phai đi màu đen tang chế đang phủ trùm lên cả miền Nam. Những cuộc biểu tình rầm rộ từ Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ không làm vơi đi nỗi buồn nhược tiểu trong lòng những người đang ưu tư cho vận nước. Những bản hùng ca xen lẫn với những tiếng kèn truy điệu của các chương trình phát thanh quân đội đã làm người dân rơi nước mắt xót thương cho số phận hẩm hiu của tổ quốc mình. Hạm đội thứ bảy hùng hậu của Mỹ khóa súng an toàn nhìn hải quân Trung Quốc đổ bộ Hoàng Sa, hai phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam từ chối lời kêu gọi của phái đoàn Việt Nam Cộng hoà tố cáo Trung Quốc xâm lăng. Đồng minh dửng dưng, đồng bào ngoảnh mặt. Có nỗi xót xa nào lớn hơn nỗi xót xa của số phận một tiền đồn và có vết thương tâm linh nào sâu hơn, đau hơn vết thương của một người mẹ bị bỏ rơi bởi chính những đứa con yêu quý của mình.

Chiều năm đó ngồi trong thư viện tôi có làm một bài thơ và viết một đoản văn. Tôi không còn nhớ bài thơ nhưng đoản văn tôi còn nhớ rất rõ, và sau này khi làm website xuQuang tôi có ghi lại trong phần tưởng niệm Hoàng Sa: “Mỗi người Việt Nam phải ghi khắc trong tim mình: Hoàng Sa là đảo Việt Nam, là biển Việt Nam, là đất Việt Nam. Ðất nước Việt Nam có khi thịnh khi suy, lịch sử Việt Nam có khi hưng khi phế, thế hệ hôm nay không giữ được Hoàng Sa nhưng không phải vì thế mà Hoàng Sa trở thành đất của Trung cộng bá quyền hay của bất cứ một quốc gia nào khác. Dân tộc Việt Nam, các thế hệ Việt Nam mai sau phải nhớ rằng: Bất cứ khi nào các điều kiện kinh tế, chính trị và quân sự cho phép, một trong những việc đầu tiên là phải lấy lại Hoàng Sa.”

Ba mươi ba năm sau. Cũng những ngày cuối năm, ngồi xem hình ảnh các cuộc biểu tình ở Hà Nội, đọc bản tin được viết vội vàng trên đường phố Sài Gòn, đọc danh sách của những người ký tên, trong đó đa số là tuổi trẻ, để phản đối Trung Quốc vi phạm lãnh thổ Việt Nam trên Internet, tôi vui mừng và cảm động. Trung Quốc không phải vì các cuộc biểu tình của các em mà trao trả lại Hoàng Sa, Trường Sa cho Việt Nam, nhưng chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách bá quyền của họ trên biển Đông. Để duy trì mức phát triển kinh tế hiện nay và chạy đua với các cường quốc kinh tế, Trung Quốc đang cần sự ổn định chính trị và kinh tế hơn bất cứ quốc gia nào khác trong vùng.

Nhìn các em tôi lại nhớ đến chính mình. Đường phố Sài Gòn, nơi các em đang đứng hôm nay cũng là nơi tôi đã đứng đọc từng tên của những người đã ở lại trong lòng biển cả. Khẩu hiệu “Hoàng Sa là của Việt Nam” cũng là khẩu hiệu mà sinh viên chúng tôi đã hô ba mươi ba năm trước. Chúng ta có thể còn vài điểm khác nhau nhưng có chung một tổ quốc. Đó là điều hệ trọng. Lòng yêu nước đã thúc giục các em vượt qua bức tường sợ hãi, bất chấp sự ngăn cản của Đảng, của nhà nước, của ban lãnh đạo trường để cùng xuống đường nói tiếng của một người Việt Nam khi tổ quốc lâm nguy. Lịch sử bao giờ cũng mang tính thời đại, và trang sử Việt Nam hôm nay đang được viết bởi các em, những người Việt Nam đang đứng trước toà đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội, trước lãnh sự quán Trung Quốc ở Sài Gòn. Và cũng qua những biến cố lịch sử này, các em sẽ có cơ hội thấy những sự thật đắng cay, những bài học bẽ bàng mà từ trước đến nay đã bị che lấp bởi hệ thống tuyên truyền lừa dối của Đảng. Các em đang học lịch sử và đang làm lịch sử.

Trong các cuộc xung đột về lãnh thổ, bằng chứng và di tích lịch sử thì bên nào cũng có thể có nhưng văn kiện pháp lý được cả hai bên xung đột công nhận thì thường rất hiếm hoi. Tôi nhớ có đọc đâu đó một câu chuyện bên lề các cuộc đàm phán giữa Trung Quốc và Liên Xô về chủ quyền của các đảo Trân Bảo, Ẩn Long và Hắc Hạt Tử trong khu vực sông Ussuri. Theo câu chuyện này, mỗi lần có một cuộc họp giữa hai nước, phái đoàn Trung Quốc thường chở theo cả một toa xe lửa chứa đầy tài liệu và đồ vật để chứng minh chủ quyền Trung Quốc trên các đảo này. Trung Quốc là một nước đông dân, diện tích rộng, có nền văn minh phát triển rất sớm, có chiều dài lịch sử mấy ngàn năm, do đó, việc tổ tiên họ đã từng đến, từng đi đánh cá, từng đặt chân, từng mô tả trong văn chương thơ phú về các hòn đảo đó thì cũng không có gì là đáng ngạc nhiên. Những tài liệu phía Trung Quốc đưa ra hay vật dụng họ góp nhặt được dù bao nhiêu cũng không thuyết phục được Liên Xô về chủ quyền của Trung Quốc trên lãnh thổ đang bị tranh chấp. Sau hơn 20 năm đánh rồi đàm, một hiệp ước biên giới Nga - Hoa đã được ký kết lần đầu vào tháng 10 năm 1995 và lần nữa vào tháng 10 năm 2004. Theo nội dung hiệp ước, phần thắng nghiêng về phía Trung Quốc nhiều hơn. Trung Quốc được kiểm soát cả hai đảo Trân Bảo, Ẩn Long và một nửa Hắc Hạt Tử. Giả thiết hiệp ước này được ký kết vào năm 1969, với nội dung tương tự, có lẽ nhân dân Trung Quốc đã được nghỉ một tuần lễ để ăn mừng chiến thắng và ngày ký đã trở thành ngày lễ lớn của quốc gia. Nhưng hiệp ước ký kết vào tháng 10 năm 2004 trôi qua gần như trong âm thầm. Cả Trung Quốc và Nga đều biết, ngay từ trong căn bản, lý do chính của xung đột không phải là lãnh thổ mà là sự tranh chấp quyền lực, uy thế của hai nước cộng sản đàn anh trong phong trào cộng sản quốc tế. Về phía Nga, sau khi Liên Xô sụp đổ, họ cần sự ổn định để phục hồi nền kinh tế gần như bị phá sản, và do đó sự xung đột chủ quyền trên các đảo vốn không chứng tỏ một tiềm năng kinh tế nào đã không còn lý do để kéo dài thêm.

Việc xung đột lãnh thổ với Việt Nam thì khác. Để chứng minh chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa và Trường Sa, chính quyền Trung Quốc không cần phải chở một toa xe lửa tài liệu hay bằng chứng nào cả. Những lời tuyên bố của phát ngôn viên chính phủ Trung Quốc dù nói vòng vo từ chuyện đời xưa đến đời nay cho có lệ, cuối cùng cũng chỉ rút trong túi ra một văn kiện khá mới mẻ, rất hợp pháp, dài vỏn vẹn 121 chữ tính cả phần chào hỏi nhưng lại đầy thuyết phục, đó là công hàm của Thủ tướng chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Phạm Văn Đồng. Nội dung chính của công hàm: “Thưa đồng chí Tổng lý. Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt bể. Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.

Khi đọc bản tuyên bố này lần đầu cách đây khá lâu thú thật tôi không tin đó là văn bản thật mà là tài liệu giả mạo do Trung Quốc viết hay chỉ là sản phẩm tuyên truyền của một tổ chức chống cộng nào đó dựng lên để bêu xấu Đảng. Hai tiếng Hoàng Sa và Trường Sa thân thương quen thuộc từ bao đời là một phần của ngôn ngữ Việt Nam như hai quần đảo vẫn được xem là phần da thịt, máu xương bất khả phân ly của thân thể Việt Nam.

Các chính phủ Trung Quốc, Philippines, Malaysia có quyền không công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam hay hoàn toàn của Việt Nam. Nhân dân Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Đài Loan, Brunei cũng có thể cho rằng Trường Sa là đất của họ. Tình cảm đất nước là một tình cảm thiêng liêng nhưng cũng ít nhiều bảo thủ mà dân tộc nào cũng có. Tình cảm đó cũng cần được xem xét và tôn trọng. Các quốc gia tranh chấp phải giới thiệu các bằng chứng lịch sử, các văn kiện pháp lý trong một hội nghị quốc tế đa phương để thương thảo và tìm một giải pháp phù hợp với công pháp quốc tế cũng như quyền lợi của các nước trong vùng tranh chấp. Những hòn đảo không người ở, những triền đá nhọn nhô lên giữa đại dương mênh mông từ mấy ngàn năm, trong thời đại dầu hoả bỗng trở thành quan trọng, việc xung đột vì thế là điều khó tránh, tuy nhiên, sự kiện một ông thủ tướng Việt Nam nhân danh nước Việt Nam để công nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc mà không cần phải đưa ra trước quốc hội để biểu quyết, không cần tranh luận, hội họp, không cần phải bắn nhau một viên đạn nào, quả là một việc không thể nào tin được và đương nhiên cũng không thể nào chấp nhận được.

Văn bản do ông Phạm Văn Đồng ký là một vết nhơ trong lịch sử dân tộc và tên tuổi ông Phạm Văn Đồng cũng sẽ dơ như chữ ký của ông. Tuy nhiên, thật bất công nếu chỉ đổ tội lên một mình ông Phạm Văn Đồng. Trong cương vị Thủ tướng, ông phải là người ký công hàm gởi cho Chu Ân Lai, Thủ tướng Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, nhưng ông Phạm Văn Đồng không phải là người tự quyết định mà chỉ thừa hành quyết định chung của Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Vào thời điểm tháng 9 năm 1958, những người sau đây phải chịu trách nhiệm cho việc triều cống hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc, và danh sách của họ được sắp xếp theo thứ tự trong Bộ Chính trị Đại hội lần II năm 1951 cũng như được bổ túc trong những năm sau đó: Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị, Hoàng Văn Hoan.

Tại sao họ đã làm như thế? Họ bị áp lực của Trung Quốc? Không. Không có một tối hậu thư nào của nhà cầm quyền Trung Quốc buộc Việt Nam phải thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc, nếu không họ sẽ dùng võ lực để tiến chiếm hai quần đảo, vượt biên giới Lạng Sơn hay đổ bộ lên Hải Phòng. Cho dù có tối hậu thư đi nữa thì cũng không phải lần đầu Việt Nam nhận tối hậu thư của quân xâm lược. Trước đây, các vua Lý, vua Trần đã nhận và mới đây Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương đã nhận, và các anh hùng dân tộc đã chọn chiến đấu tới cùng và đã chết trên nắm đất của tổ tiên thay vì dâng thành cho giặc.

Trên thế giới chưa có một cuộc phân định biên giới nào giữa hai quốc gia mà không phải trải qua những hội nghị, những cuộc thảo luận, đo đạc cần thiết về các giới hạn trên biển cả cũng như lằn ranh trên đất liền. Trong các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đất là quan trọng nhất. Câu “tấc đất tấc vàng” không chỉ đúng cho trường hợp một nước đất hẹp người đông như Việt Nam mà đúng cho bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Hãy lấy trường hợp Bắc Hàn làm ví dụ. Nếu theo dõi các hội nghị về biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Hàn chúng ta có thể nghĩ rằng Trung Quốc muốn gì chắc là được nấy, muốn vẽ biên giới đâu thì vẽ. Không. Bắc Hàn tự cô lập khỏi thế giới giới văn minh, trong nhiều năm đã lệ thuộc vào Trung Quốc không những chính trị, ngoại giao mà cả từng chén cơm manh áo, nhưng họ nhất định không nhượng cho Trung Quốc một tấc đất nào qua các hội nghị về đường biên giới dài 1416 kilomét giữa hai nước. Mặc dù cai trị đất nước bằng một lý thuyết ngu dân hoang tưởng, bằng một chính sách độc tài sắt máu bị phần lớn nhân loại rẻ khinh, xa lánh, cha con Kim Nhật Thành ít ra có một điểm đáng khen mà giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam không có, đó là quyết tâm giữ đất của tổ tiên họ để lại.

Nhiệt tình cao độ của giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam chắc đã làm không chỉ Mao mà cả Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc phải ngạc nhiên hết sức. Tôi tin bộ chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc hẳn đã tốn rất nhiều thời gian, tổ chức nhiều phiên họp tìm hiểu, phân tích, đánh giá nội dung công hàm của ông Phạm Văn Đồng để xem phía Việt Nam có ẩn ý gì trong 121 chữ đó không, chẳng lẽ Việt Nam tự nguyện dâng hai quần đảo một cách dễ dàng như thế. Không, không có ẩn ý, âm mưu nào cả ngoài việc chứng tỏ lòng trung thành tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam với Mao Trạch Đông và Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Cấp lãnh đạo Trung ương Đảng thời đó còn lo ngại đàn anh Trung Quốc không tin vào lòng dạ chí thành của mình nên đã cho đăng toàn bộ nội dung công hàm trên báo Nhân dân ngày 22 tháng 9 năm 1958 để toàn Đảng, toàn dân và toàn thế giới biết hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ nay không còn là của Việt Nam nữa. Không giống như hiệp ước biên giới Việt Trung vào các năm 1999 và năm 2000 được ký kết lén lút đến mức ngay cả những ông bà đại biểu quốc hội khi đưa tay phê chuẩn cũng không biết nội dung hiệp ước nói gì, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, qua công hàm 1958, chẳng những “ghi nhận”, “tán thành” mà còn chỉ thị cho các cấp “triệt để tôn trọng” hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của lục địa Trung Hoa, có đính kèm luôn bản đồ về đường ranh giới lãnh hải, bao gồm cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa.

Tại sao họ đã làm như thế? Họ không rành lịch sử Việt Nam? Chẳng lẽ họ chưa thấm thía câu “Đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt” và không cảm thông cho sự chịu đựng vô bờ bến của tổ tiên suốt một ngàn năm qua bốn lần Bắc thuộc, phải xuống biển tìm ngọc trai, lên non tìm sừng tê, ngà voi, bạc vàng châu báu hay sao? Tôi không nghĩ vậy, vì ít nhất trong số 11 ủy viên Bộ Chính trị thời đó cũng có một người đã từng dạy sử. Họ làm thế chỉ vì niềm tin tuyệt đối vào chủ nghĩa cộng sản. Niềm tin mù quáng vào một xã hội đại đồng đã làm giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam nghĩ rằng Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai và những người cộng sản Trung Quốc mà họ đang thần phục là những bậc thánh hiền chứ không phải là giống dân đã hàng ngàn năm đày đoạ tổ tiên Việt Nam. Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm đã thú nhận sự lệ thuộc vào Trung Quốc hay đúng hơn là quan hệ chủ tớ này trong một cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 2 tháng 12 năm 1992 và được Thông tấn xã Việt Nam loan ngày 3 tháng 12 năm 1992: “Tình hữu nghị Việt - Trung đang thắm thiết và hai nước hoàn toàn tin cậy lẫn nhau. Việt Nam xem Trung Quốc là một nguồn hỗ trợ to lớn và giá trị. Trong tinh thần đấy thì do tình thế cấp bách, quan điểm của lãnh đạo ta (tức ủng hộ Trung Quốc công bố chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) là cần thiết vì nó phục vụ cho cuộc chiến bảo vệ tổ quốc.” Cuộc chiến bảo vệ tổ quốc mà ông Nguyễn Mạnh Cầm nhắc trong buổi họp báo nêu trên, tương tự như khi ông Phạm Văn Đồng trả lời báo Far Eastern Economic Review tháng 3, 1979 hay hầu hết các lãnh đạo Đảng khác đã nhiều lần viện dẫn là “cuộc chiến chống Mỹ cứu nước”, thế nhưng, năm 1958, ngoại trừ một số ít nhân viên thuộc Nhóm Cố vấn Quân sự (Military Assistance Advisory Group), làm gì có quân Mỹ để mà chống?

Tại sao họ đã làm như thế? Khi đem hai quần đảo vô cùng quan trọng của đất nước về chiến lược quân sự cũng như về tiềm năng kinh tế dâng hiến cho Trung Quốc để gọi là “ bảo vệ tổ quốc” thì tổ quốc mà các giới lãnh đạo Đảng cần phải bảo vệ là tổ quốc nào? Như giải thích trong hầu hết tài liệu học tập, giáo trình trung, đại học tại Việt Nam, người cộng sản không có tổ quốc theo nghĩa thông thường mà chúng ta thường hiểu. Khái niệm tổ quốc đối với giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ đơn thuần là dải giang sơn từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau mà bao nhiêu thế hệ tiền nhân đã dày công gìn giữ, không phải chỉ gồm 40 triệu người ngày đó hay 80 triệu người ngày nay có cùng huyết thống, cùng một ngôn ngữ, cùng một lịch sử, mà phải là tổ quốc xã hội chủ nghĩa, một đất nước bị thống trị trong bàn tay sắt của Đảng Cộng sản. Mụch đích của Đảng như đã đề ra trong Đại hội Đảng lần thứ II tại Tuyên Quang bao gồm giai đoạn từ 1951 đến 1960: “Giải phóng hoàn toàn miền Bắc, tạo tiền đề vững chắc để tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.” Năm 1958, một nửa nước chưa trở thành chủ nghĩa xã hội và do đó mục đích của Đảng chưa hoàn thành. Để thôn tính miền Nam và hoàn thành mục đích cộng sản hóa cả nước, họ cần súng đạn của Liên Xô và Trung Quốc. Hoàng Sa và Trường Sa là giá mà giới lãnh đạo Đảng phải ứng trước để đổi lấy nhiều vạn trái mìn, mấy trăm ngàn khẩu AK, mấy ngàn chiếc tăng đủ loại để đem về cày xéo lên các thành phố miền Nam, đốt cháy thôn làng miền Nam và tàn sát nhiều triệu dân miền Nam vô tội.

Tuổi trẻ phải làm gì?
Đứng trước sự phân hóa, chia rẻ do hậu quả của mấy trăm năm phong kiến, đế quốc thực dân và cộng sản, chọn lựa duy nhất của thế hệ trẻ Việt Nam ngày nay là đoàn kết và vượt qua mọi thử thách để đoàn kết thành một khối đúng như khẩu hiệu “Ta là một” mà các em đang phát động trong nước. Lịch sử như một dòng sông. Dòng sông Việt Nam vẫn chảy dù phải băng qua bao nhiêu ghềnh đá cheo leo. Tương tự, các thế hệ Việt Nam lớn lên và vẫn phải tiếp tục nhận lãnh trách nhiệm lịch sử của thế hệ mình. Tuổi trẻ Việt Nam ngày nay không cần một ngọn hải đăng của bất cứ cường quốc nào để rọi sáng đêm tối trời dân tộc, nhưng ngay từ trong lòng họ đã bùng cháy lên ngọn đèn tự chủ được thắp sáng bằng tâm thức Việt Nam. Tuổi trẻ Việt Nam ngày nay không cần chờ đợi một minh quân ra đời hay một lãnh tụ xuất hiện để dẫn dắt họ trên đường cứu nước bởi vì chính họ sẽ là những minh quân của thời đại và con đường dẫn đến điểm hẹn lịch sử được soi sáng bằng trí tuệ Việt Nam. Tuổi trẻ Việt Nam ngày nay không cần vay mượn một chủ nghĩa, một ý thức hệ, một lý thuyết ngoại lai nào làm kim chỉ nam để giải phóng dân tộc, bởi vì chính họ đã được trang bị bằng các đặc tính dân tộc, nhân bản và khai phóng kết tinh và kế thừa từ hơn bốn ngàn năm lịch sử.

Lãnh đạo Đảng đã, đang và chắc sẽ làm tất cả những gì họ có thể làm để ngăn cản các cuộc biểu tình dù ôn hoà và bất bạo động của tuổi trẻ Việt Nam. Tuần trước họ ra chỉ thị cấm biểu tình, tuần này họ chụp mũ các em chống phá trật tự xã hội, tuần sau họ sẽ đem xe chữa lửa đến đàn áp và tuần sau nữa có thể trục xuất khỏi trường, bắt giam, kết án, tù đày. Tuy nhiên, lịch sử đã nhiều lần chứng minh, khi một chế độ chỉ còn trông cậy vào các phương tiện bạo lực trấn áp để tồn tại, chỉ còn biết sử dụng bộ máy công an kềm kệp để duy trì quyền cai trị, ngày tàn của chế độ đó chỉ là vấn đề thời gian. Hành động tuyệt vọng của Nicolae Ceausescu khi ra lệnh công an bắn vào cuộc biểu tình của nhân dân Rumania sáng ngày 17 tháng 12 năm 1989 chỉ để dẫn đến bản án tử hình dành cho vợ chồng ông ta một tuần sau đó. Lãnh tụ cộng sản Slobodan Milosevic một thời là tổng thống Serbia đầy quyền lực nắm trọn quyền sinh sát trong tay, cuối cùng cũng phải chết trong tù. Erich Honecker hung thần Đông Đức, Idi Amin đao thủ phủ của Congo hay Mobuto bạo chúa của Uganda đều đã gởi tấm thân tàn trên đất khách, để lại tiếng xấu muôn đời. Nếu giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam còn nghĩ đến tương lai của chính họ và còn biết lo cho tương lai của đất nước, họ phải chọn đứng về phía dân tộc.

Con đường duy nhất để đạt đến một tương lai tự do, dân chủ, nhân bản và thịnh vượng là con đường dân tộc và cũng chỉ có một Việt Nam tự do, dân chủ, nhân bản và thịnh vượng thì các thế hệ Việt Nam mai sau mới có cơ may giành lại được Hoàng Sa và Trường Sa.

Trần Trung Đạo
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Thử thách của Tổng thống Obama

Ngô Nhân Dụng

Ngân sách mới của Tổng Thống Barack Obama cho thấy ông thực hiện khẩu hiệu tranh cử: Thay đổi nước Mỹ. Người ủng hộ ông hài lòng. Người đối lập lo ngại. Trong đảng Dân Chủ cũng có những người chống, trong đảng Cộng Hòa cũng có những người chấp nhận. Cuộc bàn cãi, tranh luận sẽ kéo dài trong nhiều tháng sắp tới. Nhưng ai cũng đồng ý, ông Obama muốn thay đổi thật. Câu hỏi là ông sẽ thay đổi như thế nào, và có ích lợi lâu dài cho nước Mỹ hay không.

Ngân sách thường chỉ nêu ra những mục chi tiêu và những con số. Nhưng bản ngân sách dài 134 trang của Tòa Bạch Ốc còn đưa ra những chương trình lớn sẽ thay đổi nhiều khía cạnh trong đời sống dân Mỹ đến mức nền tảng: Cải tổ y tế, khuyến khích nghiên cứu năng lượng thay dầu lửa, giảm bớt trợ cấp cho các đại nông gia, giảm bớt những khoản bớt thuế cho 2% những người giầu nhất nước, vân vân.

Tất cả mọi thay đổi nền tảng trong một nước đều có thể làm cho một số người được lợi và gây thiệt hại cho một số người khác. Họ sẽ tranh đấu với nhau, mỗi nhóm quyền lợi sẽ vận động các đại biểu của họ trong quốc hội. Hai đảng chính trị sẽ tranh luận với nhau. Trong mỗi đảng sẽ có những ý kiến bất đồng, người đảng Dân Chủ vẫn có quyền bỏ phiếu theo đảng Cộng Hòa và ngược lại. Và các đại biểu quốc hội sẽ tranh đấu với Tòa Bạch Ốc. Tranh cãi, lôi kéo thêm người khác ủng hộ mình, tranh cãi tiếp, rồi trao đổi, mặc cả với nhau, làm sao tiến tới một quyết định chung. Sau đó những người được lợi sẽ vui, những người bị thiệt sẽ làu bàu gắt gỏng, đợi cho tới kỳ bầu cử sau sẽ vận động các cử tri theo mình.

Ðó là diễn trình dân chủ luôn luôn diễn ra ở nước Mỹ không lúc nào ngừng. Nhưng chẳng mấy khi nó diễn ra trong khung cảnh sôi nổi như chúng ta sắp chứng kiến trong những tuần lễ, những tháng, và năm sắp tới đây. Chúng ta theo dõi cuộc tranh luận này sẽ thấy và sẽ hiểu rõ hơn diễn trình chính trị ở một nước tự do dân chủ. Chúng ta càng giữ được thái độ khách quan, công bằng, và tìm hiểu mọi vấn đề một cách cặn kẽ, thì càng rút ra được nhiều bài học cho nước Việt Nam.

Câu hỏi chính là: Làm sao 300 triệu người quyết định về những vấn đề sống còn của họ, trong khi mỗi nhóm người, mỗi đảng chính trị có những quyền lợi và ý kiến khác nhau, nhiều khi xung khắc, đối nghịch lẫn nhau? Ðể tiến tới những quyết định trọng đại đó, người ta dùng những thể thức dân chủ tự do, được bản hiến pháp ra đời trước đây hơn 200 năm quy định những nét căn bản.

Một vấn đề lớn đằng sau những cuộc tranh luận về thuế khóa, về bảo hiểm y tế, nghiên cứu năng lượng, vân vân, là quan điểm của người Mỹ về vai trò của chính phủ. Chính phủ nên lớn hay nên nhỏ, nên can thiệp tới mức nào vào đời sống của người dân, như trong hoạt động kinh tế, trong việc giáo dục thanh thiếu niên, trong việc chọn một hợp đồng bảo hiểm y tế, vân vân.

Trong bài diễn văn nhậm chức Tổng Thống Barack Obama đã nói rằng bây giờ vấn đề không còn là chính phủ lớn hay chính phủ nhỏ nữa, mà là câu hỏi chính phủ làm việc có hiệu năng hay không. Nhưng tối Thứ Ba vừa qua ông Obama đã phải xác nhận trước quốc hội rằng ông không chủ trương bành trướng vai trò của chính phủ. Nói như vậy, vì ông biết những ý kiến công kích ông sẽ nhắm vào điểm đó.

Tuy nhiên trong thực tế hầu hết những cuộc tranh luận mà chúng ta sắp nghe ở quốc hội cũng như trên báo chí nước Mỹ sẽ cho thấy đều đặt trên câu hỏi căn bản đó: Chính phủ nên lớn, nên can thiệp vào xã hội đến mức nào?

Vì trong thực tế, hiện nay chính phủ Mỹ đang bành trướng ra rất lớn. Ðây không phải là vấn đề tăng ngân sách hay tăng số người làm việc trong guồng máy nhà nước, vì ngay trong lúc Tổng Thống George W. Bush cầm quyền ông đã bành trướng cả hai lãnh vực đó rồi. Hiện nay, hiện tượng phải chú ý là chính phủ Mỹ đã phải can thiệp vào rất nhiều hoạt động, bao trùm từ lãnh vực tài chánh, ngân hàng, thị trường gia cư, cho tới những công ty bảo hiểm như AIG, những công ty sản xuất xe hơi đang kêu cứu, và chính phủ đang muốn đóng một vai trò lớn hơn trong lãnh vực giáo dục và chăm sóc sức khỏe của người dân.

Tình trạng bành trướng vai trò của chính phủ là do nhu cầu, vì cuộc khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng tín dụng đòi hỏi. Thí dụ, giá cổ phần trên thị trường chứng khoán New York tụt xuống mạnh trong một ngày đầu tuần vì tin chính phủ có thể phải quốc hữu hóa nhiều ngân hàng lớn, để cứu các ngân hàng chứ không phải cứu các vị quản đốc và chủ nhân ngân hàng. Chính phủ Obama đã phủ nhận những tin đồn đó. Nhưng ai cũng biết chính phủ Mỹ đang điều khiển những ngân hàng đã phá sản như IndyMac, quản trị hai cơ sở cho vay hầu hết các món nợ mua nhà là Fannie và Freddie, và có ngày sẽ phải làm chủ 40% các cổ phiếu của ngân hàng Citigroup. Với các chương trình giải cứu hệ thống tài chánh (700 tỷ và sẽ còn lên nữa), kích thích kinh tế (787 tỷ), hiện nay chính phủ Mỹ chi tiêu gần một phần tư số tiền cả nước làm ra trong một năm, gọi là Tổng Sản Lượng Nội Ðịa, GDP.

Với nhu cầu thực tế bắt buộc phải hành động cấp bách, các khái niệm chính trị như phe tả, phe hữu, cấp tiến hoặc bảo thủ, không còn ý nghĩa như trước nữa. Mọi chính trị gia sẽ quyết định theo nhu cầu của cử tri của họ, dù họ thuộc đảng Cộng Hòa hay Dân Chủ, vốn là cấp tiến hay bảo thủ.

Trong số các vị thống đốc Cộng Hòa họp nhau tuần rồi, nhiều vị phản đối kế hoạch kích thích kinh tế của chính phủ Obama như tất cả các đại biểu quốc hội Cộng Hòa đã chống (trừ ba nghị sĩ). Họ từ chối một số khoản trợ cấp mà kế hoạch đó đưa cho tiểu bang mình - nhưng cũng nhiều vị đòi thêm cho các khoản khác. Nhưng thống đốc các tiểu bang như California, Florida, dù thuộc đảng Cộng Hòa vẫn hoan nghênh việc chính phủ liên bang đưa tiền cho mình giúp qua cơn nguy khốn tài chánh. Thái độ của họ là do nhu cầu thực tế của các tiểu bang đòi hỏi, họ hy sinh bỏ qua những bất đồng ý kiến quan trọng khác.

Bên ngoài giới làm chính trị chuyên nghiệp, các nhóm áp lực cũng chọn thái độ tùy theo nhu cầu thực tế hơn là dựa trên những triết lý kinh tế. Hai hội từ xưa nay vẫn ủng hộ chủ trương “chính phủ nhỏ” của đảng Cộng Hòa là Phòng Thương Mại toàn quốc US Chamber of Commerce, và Hội Các Nhà Sản Xuất, Association of Manufacturers lại đứng ra ủng hộ kế hoạch 787 tỷ để kích thích kinh tế. Chủ Tịch Phòng Thương Mại Mỹ Thomas Donohue nói thẳng: Bây giờ chỉ còn có chính phủ có sức để làm cho guồng máy kinh tế chạy lại! Không ai trong đảng Cộng Hòa phản đối ý kiến đó.

Nhưng trong đảng Dân Chủ cũng có nhiều người chống lại kế hoạch 787 tỷ của Tổng Thống Obama. Ðó là những dân biểu thuộc nhóm gọi là “Blue Dog” bảo vệ quy tắc ngân sách cân bằng, và họ không thể chấp nhận được những món chi tiêu mà các dân biểu, nghị sĩ đảng Dân Chủ ghép thêm vào trong kế hoạch để làm vui lòng cử tri trong tiểu bang và đơn vị của mình, nhiều món có thể coi là vô bổ trong việc kích thích kinh tế. Cả một dự luật dày 1,100 trang gọi là kế hoạch kinh tế, khó lòng một đại biểu quốc hội nào có đủ thời giờ đọc hết để mà suy nghĩ, so sánh hơn thiệt. Tổng Thống Obama gần như giao khoán cho các lãnh tụ quốc hội thuộc đảng Dân Chủ soạn thảo, và ông ký ngay không phản đối.

Ông Obama có thể viện lý do là tình hình kinh tế xuống đòi hỏi hành động nhanh chóng. Nhưng những vấn đề quan trọng ông mới nêu ra trong bản ngân sách chuyển qua quốc hội gồm nhiều vấn đề có tính cách lâu dài. Ngưng không giảm thuế cho 2% những người giầu nhất nước, để lấy tiền trang trải cho việc cải tổ y tế, là một vấn đề vừa lớn vừa lâu dài. Nghị sĩ trưởng khối đa số ở Thượng Viện, ông Harry Reid đã nói sẽ bàn về vấn đề này trong tháng Tám, để có thể đưa ra ý kiến trước cuối năm. Như vậy thì không còn tính chất khẩn cấp như kế hoạch kích thích kinh tế nữa.

Một vấn đề trọng yếu trong chương trình của chính phủ Obama là cải tổ hệ thống tài chánh và ngân hàng. Ai cũng đồng ý là hệ thống mà nước Mỹ đã theo từ hai chục năm nay có quá nhiều lỗ hổng giúp cho lòng tham của một số người làm hại chính họ và lây lan tác hại cho cả nước. Phải tìm ra các lỗ hổng đó và tìm cách bịt lại bằng những quy tắc mới ràng buộc những người điều khiển các xí nghiệp, ngân hàng, các công ty môi giới, các hãng bảo hiểm, vân vân. Nhưng làm sao để cho những ràng buộc mới đó không làm ngăn trở sáng kiến tư nhân, không đốt cháy “máu làm ăn,” khích lệ thái độ chấp nhận rủi ro, là động cơ giúp cho kinh tế Mỹ phát triển cao trong vài chục năm qua? Các đại biểu quốc hội Mỹ và các chuyên viên Tòa Bạch Ốc không đủ sức trả lời cho những câu hỏi lớn như vậy, nhưng họ sẽ là những người quyết định. Họ sẽ phải tham khảo rất nhiều người, từ các ngân hàng, các xí nghiệp cho đến giới nghiên cứu ở đại học.

Ðể tiến tới những quyết định chung của các đại biểu quốc hội, tức là của cả nước Mỹ, về những vấn đề quan trọng như thế, bây giờ là lúc ông Obama phải làm đúng những lời kêu gọi của ông trong mùa tranh cử, là vận dụng sự thỏa hiệp lưỡng đảng. Có như vậy thì các quyết định này mới ích lợi cho đa số dân Mỹ và có giá trị lâu dài.

Tổng Thống Obama có thể làm được việc này, nếu ông giữ đúng lời hứa của ông là nhìn xa về tương lai nước Mỹ, chứ không phải chạy theo cách nhìn thiển cận dựa trên quyền lợi đảng phái. Trong vụ biểu quyết kế hoạch kích thích kinh tế, ông Obama đã thất bại trong việc lôi kéo sự hợp tác lưỡng đảng. Mọi người đang chờ đợi ông sẽ làm gì để chữa lại tình trạng đó khi bước vào những cuộc thảo luận lớn như cải tổ y tế, cải tổ ngân hàng.

Nếu ông Obama thành công, ông sẽ thực hiện được một điều tương đương với việc mà cố Tổng Thống Reagan đã làm được. Ông Ronald Reagan đã chuyển trọng tâm chính trị của nước Mỹ sang phía hữu, và ảnh hưởng tới các vị tổng thống kế nhiệm từ Clinton tới Bush 43. Hiện giờ ông Obama có cơ hội để chuyển ngược lại, đưa trọng tâm chính trị sang phía tả. Những kế hoạch ông vạch ra đều mang tính chất đó. Ông đang có cơ hội, vì hai cuộc khủng hoảng tài chánh và kinh tế đang đe dọa lôi nước Mỹ xuống rất sâu, và tác động lẫn nhau để xuống sâu hơn. Nước Mỹ đang trông chờ một trung tâm quyền lực mạnh để trước hết thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn này.

Người dân mất tin tưởng vào hệ thống kinh tế tài chánh cũ, người dân khát khao công bằng xã hội, và trên hết ai cũng muốn kinh tế được tự do phát triển trở lại. Phát triển và công bằng, hai mục tiêu đó cần phải đạt được cả hai, cho nên phải thảo luận để tìm được vị trí trung dung. Muốn đóng vai lãnh đạo thật sự chứ không phải chỉ lợi dụng cơ hội để thực hiện các chủ trương chính trị của riêng đảng mình, ông Obama sẽ phải làm sao thỏa mãn được những khát vọng căn bản trong triết lý chính trị của cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ, tức là phải tìm cách cho hai đảng có cơ hội và khả năng hợp tác. Nước Mỹ sẽ không thể nào quá tả hay cực hữu. Hai khuynh hướng bảo thủ hay cấp tiến đều có những ưu điểm không thể nào bỏ qua. Các chính trị gia thường chỉ nhìn vào các ưu điểm của phe cánh mình mà cố ý lấp liếm những ưu điểm của đối phương. Nhưng người lãnh đạo không thể làm như vậy.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »


Image

Tiếng Cú Phương Nam

Tác giả: Tưởng Năng Tiến


Trong tiếng Việt “con ốc” với “con vít ” là một, nếu chúng đều nằm trong thùng đồ nghề sửa xe. Còn trên bàn ăn thì hai con tuyệt nhiên không có liên hệ gì ráo với nhau.

Sở dĩ có chuyện hơi rắc rối như vậy bởi con ốc có nguồn gốc từ phương Tây. Khi nó mới đến Việt Nam, có người thấy mặt (liền) đặt tên là “con ốc” vì trông cũng hơi giông giống.

Nhưng ốc có nhiều loại (ốc biển, ốc núi, ốc khe, ốc ao, ốc suối, ốc vườn, ốc ruộng…) với hình dạng và tên gọi khác nhau: ốc dừa, ốc gạo, ốc hương, ốc lác, ốc leng, ốc ma, ốc nhồi, ốc vòi voi, ốc sên, ốc móng tay, ốc bươu vàng, ốc mỡ, ốc đỏ, ốc ngựa, ốc vú nàng, ốc bàn tay, ốc mặt trăng, ốc đụn, ốc tù, ốc trám, ốc bùn, ốc mượn hồn… Ngó bộ cũng lộn xộn dữ nên có kẻ (bèn) gọi nó là con vít – gần như cách phát âm chữ “vis” trong tiếng Pháp.

Tưởng như vậy là êm chuyện nhưng dân Việt Nam, ở vùng biển, không chịu vậy. Mấy chả nghe nói tới con vít là nghĩ ngay đến một loại rùa biển, mang khìa nước dừa để nhậu chơi, chớ không phải là … con ốc.

Do đó – có lúc, và tuỳ nơi – con ốc còn được gọi là con đanh vít, hay đinh vít. Cũng có khi, cho nó chắc ăn, người ta dùng danh từ kép: con ốc - vít.

Việt Báo.VN – số ra ngày 7 tháng 10 năm 2005 – có đăng một một bản tin rất ngắn (và hơi buồn) về ốc:


“Chúng Ta Chưa Tự Làm Ðược Cái Ðinh Vít”


“Mỗi năm kinh phí cho hoạt động NC&PT lên tới 200 triệu USD. Chúng ta cũng đã có trên 1,4 vạn tiến sĩ và 1,6 vạn thạc sĩ. Đây là niềm tự hào bởi con số này cao gấp gần năm lần so với Thái Lan và gần 6 lần so với Malaysia. Nhưng nhìn lại trên góc độ hiệu quả thì thật đáng buồn … dù có hàng chục luận án tiến sĩ về tôi thép và cơ khí nhưng trong nước vẫn chưa tự làm được con ốc cho xe máy, ô tô đạt tiêu chuẩn quốc tế (cứ vặn là trờn ren).”

Ôi, nếu “nhìn lại trên góc độ hiệu quả thì” ở “nước ta” chuyện gì mà chả … đáng buồn! Bản tin vừa dẫn nếu sửa lại vài chữ, có thể dùng để nói về một chuyện còn … đáng buồn hơn nữa:

“Xã Hội Chúng Ta Chưa Có An Ninh Và Trật Tự”

“Mỗi năm kinh phí cho hoạt động của ngành công an lên tới hàng tỉ USD. Chúng ta cũng có mấy trăm ngàn chiến sĩ công an. Đây là niềm tự hào bởi con số này cao gấp gần năm lần so với Thái Lan và gần 6 lần so với Malaysia. Nhưng nhìn lại trên góc độ hiệu quả thì thật đáng buồn … dù có hàng chục loại công khác nhau – kể cả công an văn hoá – nhưng trong nước vẫn còn vô số những phần tử phản động, không thiếu kẻ đạt tiêu chuẩn quốc tế (cứ vặn là trờn ren).”

Ủa, nói vậy không lẽ con người cũng bị trờn ren luôn sao? Vặn hoài, và vặn quá tay thì con gì chả trờn ren – chớ có riêng chi con ốc – mấy cha! Sau đây là câu chuyện về một “người bị trờn ren,” ở Việt Nam.

Nhân vật này vừa cho phổ biến một bức thư như sau:

“Thông báo về tình hình hiện nay của tôi (Đỗ Nam Hải)”

“Chiều hôm qua, ngày 5/2/2009, viên đại úy công an khu vực tên Huệ, thuộc công an phường 9 – Q. Phú Nhuận – Tp. Sài Gòn lại một lần nữa đến nhà gặp tôi và đưa tờ Giấy Mời do viên thượng tá Trần Thanh Tá, Phó trưởng công an Q. Phú Nhuận ký, đóng dấu với nội dung yêu cầu tôi: " Đúng 8.30 sáng nay, ngày 6/2/2009 có mặt tại Trụ sở công an Q.Phú Nhuận, số 181 Hoàng Văn Thụ - phường 8 – Q. Phú Nhuận gặp ông Long để: Làm việc về một số vấn đề có liên quan đến ông". Tôi đọc xong và ghi luôn vào tờ Giấy mời để viên đại úy công an kia đem về báo cáo cấp trên của ông ta như sau: "Sài Gòn ngày 5/2/2009, Tôi phản đối Giấy mời phi pháp này và cương quyết không đi làm việc!". (tôi được giữ lại 1 bản và gửi kèm bản tin này.)”

“Mấy ngày tết Kỷ Sửu 2009 vừa qua, công an Tp. Sài Gòn thuộc Phòng PA21 (Phòng trinh sát ngoại tuyến) cũng vẫn không hề lơ là đến tôi suốt ngày đêm (24 giờ/ngày, 7 ngày/tuần và 365 ngày/năm, tính từ ngày 8/4/2006 đến nay). Thậm chí họ còn tăng thêm người, thêm xe: ngày thường thì 3 người đi 2 xe máy, còn ngày tết thì 4 người đi 3 xe. Tôi đi đâu thì họ bám sát theo đó. Họ luôn có Camera đem theo sẵn để quay phim bất cứ ai lạ gặp tôi. Hồi tháng 1/2009 vừa qua, anh Hà Sỹ Phu từ Đà Lạt xuống đã tận mắt chứng kiến chuyện này, khi tôi và anh Phu cùng ngồi uống café trong khuôn viên phía sau Dinh Độc Lập – Q.1 – Sài Gòn. Vậy xin thông báo để quý vị và các bạn được rõ về tình hình hiện nay của tôi.”


Đây không phải là lần đầu tiên ông Đỗ Nam Hải “thông báo để qúi vị và các bạn được rõ về tình hình” lôi thôi, và tồi tệ như thế của mình. Ai cũng biết, chuyện cơm không lành canh không ngọt giữa ông Đỗ Nam Hải và Nhà Nước CXHCNVN đã xẩy ra từ nhiều năm nay, và ai cũng hay – tự khởi thủy – đây không phải là chuyện lớn. Sự việc có thể được tóm tắt, một cách gọn gàng và chính xác, trong vài trăm chữ như sau:

Ông Đỗ Nam Hải là một người “sinh trưởng trong lòng cách mạng.” Một cuộc cách mạng vẫn được mô tả là đã mang lại “độc lập, tự do, hạnh phúc” cho tất cả mọi người.

Sau một thời gian xuất ngoại, sống “ngoài lòng cách mạng,” Đỗ Nam Hải (bỗng) có một số “nhận thức lại” về tình trạng xã hội ở Việt Nam.Bằng bút hiệu Phương Nam, ông đã trình bầy những vấn đề này qua nhiều bài viếtdưới hình thức một tập tiểu luận (*) với ý chính được nhấn mạnh – như sau:

“ Tôi đề nghị hãy nghiên cứu, xem xét ý kiến đề nghị của tôi về 1 cuộc Trưng cầu dân ý ở Việt Nam. Trong đó, câu hỏi duy nhất cần nhân dân Việt Nam trả lời là: Việt Nam nên hay không nên theo chế độ đa đảng? Nếu ai đồng ý thì ghi Có. Ai không đồng ý thì ghi Không.”

Đề nghị giản dị này (tiếc thay) hoàn toàn không được Quốc Hội, và Chính Phủ lưu tâm. Còn Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam thì chuyển đạt nguyện vọng của công dân Đỗ Nam hải cho Bộ Công An … xử lý.

Cách xử lý của họ, xem chừng, hơi bị nặng tay: gây áp lực nơi sở làm khiến Phương Nam mất việc, đe doạ và sách nhiễu cá nhân cũng như thân nhân của đương sự, canh chừng và theo dõi để cô lập, lục soát nhà cửa và tịch biên tài sản một cách hoàn toàn phi pháp, bôi bẩn bằng tất cả những phương tiện truyền thông của Nhà Nước …Chưa hết, chỉ trong vòng vài năm, ông đã nhận được hàng trăm giấy triệu tập và và cả chục lệnh xử phạt hành chính từ chính quyền địa phương.

Cách phản ứng của Phương Nam, xem ra, cũng dữ dội và nặng nề … không kém – sau khi đã bị dồn đến chân tường:

- Các anh là đồ ăn cướp…

- Các anh hèn lắm…

Đỗ Nam Hải cũng từ chối đóng tiền “xử phạt hành chánh,” và trả lại những giấy “mời đi làm việc” của công an – với lời chú thích giản dị là “Đây là thứ cơm nếp nát của cả dân tộc Việt Nam trong suốt sáu mươi ba năm qua.”

Như vậy là kể như rồi. Cái thời “dù gian nan cách mấy cũng lên phường,” coi như, đã chấm hết. Bây giờ, người dân Việt không còn tuân phục cường quyền nữa. Họ đã bầy tỏ một thái độ khác: chúng tao đ… đi thì đã sao nào!

Nói cách khác, và nói tóm lại là Phương Nam đã bị …trờn ren. Không cách nào vặn vẹo gì được nữa.

Đương sự cũng không phải là người đầu tiên hay duy nhất có thái độ bất tuân như thế. Cứ đọc biên bản ghi những cuộc đối thoại giữa công an và những nhân vật đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam, hay những biểu ngữ của đám dân oan biểu tình (đòi đất) ở khắp nơi là người ta có thể biết rằng tình trạng “trờn ren” đã đến mức … đại trà! Đây là những “tiếng cú” (báo chuyện chẳng lành) cho chế độ hiện hành.

Cách đây chưa lâu, một nhân vật lãnh đạo hàng đầu ở xứ sở này – thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng – đã ra chỉ thị cho toàn dân … bước ra biển lớn! Thuyền ra cửa biển (có lẽ) chưa xa. Nếu quay về, may ra, còn kịp.

Khi một chế độ không làm nổi một cái đinh vít, không dám hó hé khi lãnh thổ bị xâm chiếm, và cũng không còn đủ uy quyền để trị an thì điều cần phải làm ngay là … bỏ Đảng (và bỏ của) chạy lấy người – chớ đâu phải là lúc … bước ra biển lớn, cha nội! Thiệt nghe mà phát … mệt!

Tưởng Năng Tiến
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »


Image

Tiếng Cú Phương Nam

Tác giả: Tưởng Năng Tiến


Trong tiếng Việt “con ốc” với “con vít ” là một, nếu chúng đều nằm trong thùng đồ nghề sửa xe. Còn trên bàn ăn thì hai con tuyệt nhiên không có liên hệ gì ráo với nhau.

Sở dĩ có chuyện hơi rắc rối như vậy bởi con ốc có nguồn gốc từ phương Tây. Khi nó mới đến Việt Nam, có người thấy mặt (liền) đặt tên là “con ốc” vì trông cũng hơi giông giống.

Nhưng ốc có nhiều loại (ốc biển, ốc núi, ốc khe, ốc ao, ốc suối, ốc vườn, ốc ruộng…) với hình dạng và tên gọi khác nhau: ốc dừa, ốc gạo, ốc hương, ốc lác, ốc leng, ốc ma, ốc nhồi, ốc vòi voi, ốc sên, ốc móng tay, ốc bươu vàng, ốc mỡ, ốc đỏ, ốc ngựa, ốc vú nàng, ốc bàn tay, ốc mặt trăng, ốc đụn, ốc tù, ốc trám, ốc bùn, ốc mượn hồn… Ngó bộ cũng lộn xộn dữ nên có kẻ (bèn) gọi nó là con vít – gần như cách phát âm chữ “vis” trong tiếng Pháp.

Tưởng như vậy là êm chuyện nhưng dân Việt Nam, ở vùng biển, không chịu vậy. Mấy chả nghe nói tới con vít là nghĩ ngay đến một loại rùa biển, mang khìa nước dừa để nhậu chơi, chớ không phải là … con ốc.

Do đó – có lúc, và tuỳ nơi – con ốc còn được gọi là con đanh vít, hay đinh vít. Cũng có khi, cho nó chắc ăn, người ta dùng danh từ kép: con ốc - vít.

Việt Báo.VN – số ra ngày 7 tháng 10 năm 2005 – có đăng một một bản tin rất ngắn (và hơi buồn) về ốc:


“Chúng Ta Chưa Tự Làm Ðược Cái Ðinh Vít”


“Mỗi năm kinh phí cho hoạt động NC&PT lên tới 200 triệu USD. Chúng ta cũng đã có trên 1,4 vạn tiến sĩ và 1,6 vạn thạc sĩ. Đây là niềm tự hào bởi con số này cao gấp gần năm lần so với Thái Lan và gần 6 lần so với Malaysia. Nhưng nhìn lại trên góc độ hiệu quả thì thật đáng buồn … dù có hàng chục luận án tiến sĩ về tôi thép và cơ khí nhưng trong nước vẫn chưa tự làm được con ốc cho xe máy, ô tô đạt tiêu chuẩn quốc tế (cứ vặn là trờn ren).”

Ôi, nếu “nhìn lại trên góc độ hiệu quả thì” ở “nước ta” chuyện gì mà chả … đáng buồn! Bản tin vừa dẫn nếu sửa lại vài chữ, có thể dùng để nói về một chuyện còn … đáng buồn hơn nữa:

“Xã Hội Chúng Ta Chưa Có An Ninh Và Trật Tự”

“Mỗi năm kinh phí cho hoạt động của ngành công an lên tới hàng tỉ USD. Chúng ta cũng có mấy trăm ngàn chiến sĩ công an. Đây là niềm tự hào bởi con số này cao gấp gần năm lần so với Thái Lan và gần 6 lần so với Malaysia. Nhưng nhìn lại trên góc độ hiệu quả thì thật đáng buồn … dù có hàng chục loại công khác nhau – kể cả công an văn hoá – nhưng trong nước vẫn còn vô số những phần tử phản động, không thiếu kẻ đạt tiêu chuẩn quốc tế (cứ vặn là trờn ren).”

Ủa, nói vậy không lẽ con người cũng bị trờn ren luôn sao? Vặn hoài, và vặn quá tay thì con gì chả trờn ren – chớ có riêng chi con ốc – mấy cha! Sau đây là câu chuyện về một “người bị trờn ren,” ở Việt Nam.

Nhân vật này vừa cho phổ biến một bức thư như sau:

“Thông báo về tình hình hiện nay của tôi (Đỗ Nam Hải)”

“Chiều hôm qua, ngày 5/2/2009, viên đại úy công an khu vực tên Huệ, thuộc công an phường 9 – Q. Phú Nhuận – Tp. Sài Gòn lại một lần nữa đến nhà gặp tôi và đưa tờ Giấy Mời do viên thượng tá Trần Thanh Tá, Phó trưởng công an Q. Phú Nhuận ký, đóng dấu với nội dung yêu cầu tôi: " Đúng 8.30 sáng nay, ngày 6/2/2009 có mặt tại Trụ sở công an Q.Phú Nhuận, số 181 Hoàng Văn Thụ - phường 8 – Q. Phú Nhuận gặp ông Long để: Làm việc về một số vấn đề có liên quan đến ông". Tôi đọc xong và ghi luôn vào tờ Giấy mời để viên đại úy công an kia đem về báo cáo cấp trên của ông ta như sau: "Sài Gòn ngày 5/2/2009, Tôi phản đối Giấy mời phi pháp này và cương quyết không đi làm việc!". (tôi được giữ lại 1 bản và gửi kèm bản tin này.)”

“Mấy ngày tết Kỷ Sửu 2009 vừa qua, công an Tp. Sài Gòn thuộc Phòng PA21 (Phòng trinh sát ngoại tuyến) cũng vẫn không hề lơ là đến tôi suốt ngày đêm (24 giờ/ngày, 7 ngày/tuần và 365 ngày/năm, tính từ ngày 8/4/2006 đến nay). Thậm chí họ còn tăng thêm người, thêm xe: ngày thường thì 3 người đi 2 xe máy, còn ngày tết thì 4 người đi 3 xe. Tôi đi đâu thì họ bám sát theo đó. Họ luôn có Camera đem theo sẵn để quay phim bất cứ ai lạ gặp tôi. Hồi tháng 1/2009 vừa qua, anh Hà Sỹ Phu từ Đà Lạt xuống đã tận mắt chứng kiến chuyện này, khi tôi và anh Phu cùng ngồi uống café trong khuôn viên phía sau Dinh Độc Lập – Q.1 – Sài Gòn. Vậy xin thông báo để quý vị và các bạn được rõ về tình hình hiện nay của tôi.”


Đây không phải là lần đầu tiên ông Đỗ Nam Hải “thông báo để qúi vị và các bạn được rõ về tình hình” lôi thôi, và tồi tệ như thế của mình. Ai cũng biết, chuyện cơm không lành canh không ngọt giữa ông Đỗ Nam Hải và Nhà Nước CXHCNVN đã xẩy ra từ nhiều năm nay, và ai cũng hay – tự khởi thủy – đây không phải là chuyện lớn. Sự việc có thể được tóm tắt, một cách gọn gàng và chính xác, trong vài trăm chữ như sau:

Ông Đỗ Nam Hải là một người “sinh trưởng trong lòng cách mạng.” Một cuộc cách mạng vẫn được mô tả là đã mang lại “độc lập, tự do, hạnh phúc” cho tất cả mọi người.

Sau một thời gian xuất ngoại, sống “ngoài lòng cách mạng,” Đỗ Nam Hải (bỗng) có một số “nhận thức lại” về tình trạng xã hội ở Việt Nam.Bằng bút hiệu Phương Nam, ông đã trình bầy những vấn đề này qua nhiều bài viếtdưới hình thức một tập tiểu luận (*) với ý chính được nhấn mạnh – như sau:

“ Tôi đề nghị hãy nghiên cứu, xem xét ý kiến đề nghị của tôi về 1 cuộc Trưng cầu dân ý ở Việt Nam. Trong đó, câu hỏi duy nhất cần nhân dân Việt Nam trả lời là: Việt Nam nên hay không nên theo chế độ đa đảng? Nếu ai đồng ý thì ghi Có. Ai không đồng ý thì ghi Không.”

Đề nghị giản dị này (tiếc thay) hoàn toàn không được Quốc Hội, và Chính Phủ lưu tâm. Còn Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam thì chuyển đạt nguyện vọng của công dân Đỗ Nam hải cho Bộ Công An … xử lý.

Cách xử lý của họ, xem chừng, hơi bị nặng tay: gây áp lực nơi sở làm khiến Phương Nam mất việc, đe doạ và sách nhiễu cá nhân cũng như thân nhân của đương sự, canh chừng và theo dõi để cô lập, lục soát nhà cửa và tịch biên tài sản một cách hoàn toàn phi pháp, bôi bẩn bằng tất cả những phương tiện truyền thông của Nhà Nước …Chưa hết, chỉ trong vòng vài năm, ông đã nhận được hàng trăm giấy triệu tập và và cả chục lệnh xử phạt hành chính từ chính quyền địa phương.

Cách phản ứng của Phương Nam, xem ra, cũng dữ dội và nặng nề … không kém – sau khi đã bị dồn đến chân tường:

- Các anh là đồ ăn cướp…

- Các anh hèn lắm…

Đỗ Nam Hải cũng từ chối đóng tiền “xử phạt hành chánh,” và trả lại những giấy “mời đi làm việc” của công an – với lời chú thích giản dị là “Đây là thứ cơm nếp nát của cả dân tộc Việt Nam trong suốt sáu mươi ba năm qua.”

Như vậy là kể như rồi. Cái thời “dù gian nan cách mấy cũng lên phường,” coi như, đã chấm hết. Bây giờ, người dân Việt không còn tuân phục cường quyền nữa. Họ đã bầy tỏ một thái độ khác: chúng tao đ… đi thì đã sao nào!

Nói cách khác, và nói tóm lại là Phương Nam đã bị …trờn ren. Không cách nào vặn vẹo gì được nữa.

Đương sự cũng không phải là người đầu tiên hay duy nhất có thái độ bất tuân như thế. Cứ đọc biên bản ghi những cuộc đối thoại giữa công an và những nhân vật đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam, hay những biểu ngữ của đám dân oan biểu tình (đòi đất) ở khắp nơi là người ta có thể biết rằng tình trạng “trờn ren” đã đến mức … đại trà! Đây là những “tiếng cú” (báo chuyện chẳng lành) cho chế độ hiện hành.

Cách đây chưa lâu, một nhân vật lãnh đạo hàng đầu ở xứ sở này – thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng – đã ra chỉ thị cho toàn dân … bước ra biển lớn! Thuyền ra cửa biển (có lẽ) chưa xa. Nếu quay về, may ra, còn kịp.

Khi một chế độ không làm nổi một cái đinh vít, không dám hó hé khi lãnh thổ bị xâm chiếm, và cũng không còn đủ uy quyền để trị an thì điều cần phải làm ngay là … bỏ Đảng (và bỏ của) chạy lấy người – chớ đâu phải là lúc … bước ra biển lớn, cha nội! Thiệt nghe mà phát … mệt!

Tưởng Năng Tiến
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

“Ma Chiến Hữu” - một bằng chứng khác về việc CSVN muốn bán tất cả cho Trung Quốc
Friday, February 27, 2009

Image
Bìa trước của tiểu thuyết “Ma Chiến Hữu” được xuất bản và phát hành rộng rãi tại Việt Nam.

Image
Bìa sau với những dòng, ý ca tụng ngoại xâm đã xuống tay phá sạch xứ sở, thảm sát đồng bào của mình.




Phan Việt Ðăng


“Ma Chiến Hữu” - một tiểu thuyết của Mạc Ngôn (nhà văn Trung Quốc) viết về những người lính Trung Quốc xâm lược Việt Nam năm 1979, đã được nhà xuất bản Văn Học và công ty Văn hóa Phương Nam liên kết xuất bản, phát hành rộng rãi tại Việt Nam. Tuy nhiên điểm khiến cuốn tiểu thuyết dày 190 trang này khiến công chúng Việt Nam căm phẫn nhất là những cơ quan liên kết để xuất bản - phát hành cho rằng “Ma Chiến Hữu” là “một cách ca tụng riêng về chủ nghĩa anh hùng”.

“Ma Chiến Hữu” được công ty Văn hóa Phương Nam mua bản quyền, tổ chức dịch rồi liên kết với nhà xuất bản Văn Học xuất bản - phát hành.

Nhân vật chính trong “Ma Chiến Hữu” là một người lính Trung Quốc tên Tiền Anh Hào, lên đường giết “bọn man di” và “hi sinh” trong cuộc chiến xâm lược Việt Nam năm 1979.

“Ma Chiến Hữu” không định danh “bọn man di” là ai nhưng cuộc chiến xâm lược Việt Nam do Trung Quốc thực hiện năm 1979, giúp người ta hiểu “bọn man di” được đề cập trong tiểu thuyết này là những sĩ quan, binh sĩ quân đội CSVN từng cầm súng chống Trung Quốc và những thường dân Việt Nam đã bị cưỡng hiếp, chặt đầu, mổ bụng, thậm chí chôn sống ở Lạng Sơn, Cao Bằng...

Việc xuất bản “Ma Chiến Hữu”, ca ngợi lính xâm lược Trung Quốc như những anh hùng khi họ thực hiện phương châm “phá sạch, giết sạch”, lúc tràn sang Việt Nam, ngay tại Việt Nam, đã gây ra sự căm phẫn sâu sắc trong nhiều giới. Nhà xuất bản Văn học ở Hà Nội liên tục nhận hàng loạt điện thoại, thư phản đối. Ðiều đó khiến nhà xuất bản này đổ hết trách nhiệm cho công ty Văn hóa Phương Nam, nơi mua bản quyền và tổ chức dịch rồi liên kết xuất bản để phát hành cuốn sách này. Những người có liên quan như dịch giả Trần Trung Hỷ, biên tập viên Triệu Xuân cũng bị chỉ trích nặng nề. Một người quen của nhà văn Triệu Xuân kể rằng, nhiều cuộc điện thoại gọi cho nhà văn này đã nguyền rủa ông ta như một kẻ “tham gia bán nước, bán đứng dân tộc cho Trung Quốc”.

Ðáng ngạc nhiên là Ban Văn Hóa Tư Tưởng Trung Ương của đảng CSVN, các cơ quan hữu trách thuộc Bộ Thông Tin Truyền Thông CSVN, hoàn toàn im lặng trước sự kiện đang gây xôn xao và khiến dư luận phẫn uất như vậy.

Vào Tháng Mười Hai năm ngoái, chính những cơ quan này từng ra lệnh thu hồi tập truyện ngắn Rồng Ðá, chỉ vì có một truyện ngắn “đụng chạm” tới cuộc chiến ở biên giới phía Bắc giữa Việt Nam với Trung Quốc năm 1979, của nhà văn Vũ Ngọc Tiến. Vì “sai phạm” này, nhà xuất bản Ðà Nẵng đã bị đình chỉ hoạt động trong ba tháng để “tái cơ cấu nhân sự”.

Các sự kiện: “Ma Chiến Hữu”, “Rồng Ðá”, kèm với việc tờ Hà Nội Mới, cơ quan ngôn luận của thành ủy Hà Nội ca ngợi Hứa Thế Hữu - viên tướng chỉ huy việc chiếm đoạt Hoàng Sa, đồng thời là kẻ xua quân tấn công Việt Nam năm 1979 - như một danh tướng đáng noi gương. Hoặc sự kiện “Ðảng ủy, Hội Ðồng Nhân Dân, Ủy Ban Nhân Dân, Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc xã Ðề Thám, thị xã Cao Bằng” (nơi từng bị quân xâm lược Trung Quốc “phá sạch, giết sạch”), sang nghĩa trang liệt sĩ Long Châu (Quảng Tây, Trung Quốc), đặt vòng hoa viếng với dòng chữ “Ðời đời nhớ ơn các liệt sĩ Trung Quốc”... khiến nhiều người tin rằng, Ðảng và chính quyền CSVN thực sự muốn thay đổi lịch sử để làm “chư hầu” của Trung Quốc.

Một nhạc sĩ tên Tuấn Khanh vừa gửi một thư ngỏ đến dịch giả Trần Trung Hỷ, các ông Triệu Xuân, Mạc Nguyên, biên tập viên và những người liên quan tới việc xuất bản, phát hành “Ma Chiến Hữu”. Thư viết:

“Nội dung của lá thư ngỏ này liên quan đến cuốn sách mang tên Ma Chiến Hữu của nhà văn Mạc Ngôn (Trung Quốc) được các ngài thực hiện và hoàn chỉnh ấn hành cho người đọc Việt Nam, qua hệ thống phát hành của nhà sách Phương Nam.

Với tư cách của một người dân, luôn ý thức rằng các hệ thống cầm quyền từ ngàn xưa cho đến hiện nay ở phương Bắc luôn coi Việt Nam như một đất nước phải thu hồi, và lớp lớp các thế hệ người Việt đều ý thức được đâu là kẻ thù xâm lược.

Tôi thật sự ngạc nhiên khi biết quyển sách của các ngài thực hiện, lại là một tác phẩm ngợi ca các binh lính xâm lược Trung Quốc năm 1979 đã tiến đánh Việt Nam, mà nơi đó được họ mô tả như một vùng đất hoang sơ và man rợ. Với tư cách là một công dân, gìn giữ trong mình huyết thống trải ngàn đời của hàng triệu anh linh đã hy sinh dưới tay lính Trung Quốc xâm lược, tôi tin mình có đủ tư cách là chứng nhân của phần lịch sử đẫm máu đó của dân tộc để lên tiếng với các ngài, và tôi cũng muốn nhắc rằng chính phần lịch sử bi hùng đó cũng đã bảo đảm sự an bình cho chính dòng tộc gia đình và cá nhân của các ngài.

Tôi thật sự căm phẫn khi đọc dòng quảng cáo ‘một cách ca tụng riêng về chủ nghĩa anh hùng’ trên bìa sách. Một bìa sách được trau chuốt công phu và số phận được nâng đỡ đầy may mắn, so với những tác phẩm trong nước như tập thơ Trần Dần hay Rồng Ðá của Vũ Ngọc Tiến.

Mạc Ngôn có quyền ca ngợi dân tộc mình, có quyền phủ nhận chủ quyền của các quốc gia khác. Ðó là sứ mệnh của một nhà văn quốc tịch Trung Quốc, ông ta xứng đáng được kính trọng với tài năng và chủ kiến của mình. Tiến Anh Hào, nhân vật trong quyền tiểu thuyết cũng có thể là một siêu anh hùng khi giết người Việt Nam, tàn phá đất nước Việt Nam để xứng đáng với thế giới sống và suy nghĩ của một nước Trung Quốc Cộng Sản.

Nhưng chắc chắn, một người Việt Nam phải có chủ kiến của mình và biết phân định lẽ phải theo lịch sử và lòng kiêu hãnh của dân tộc mình. Phân định điều đó có thể không cần bằng học thức, mà chỉ cần bắt đầu bằng chút lương tri của người ít học ở ngoài hè phố...

Tôi tin là các ngài đã nhận được ít nhiều những phản ứng từ cộng đồng đọc. Và tôi cũng hy vọng các ngài sẽ dành chút thời gian suy nghĩ về những điều mình đã làm.

Một vài người bạn kể với tôi rằng, để trả lời với bên ngoài, ai đó trong số các ngài đã biện minh rằng quả có chút sai sót, và thật lòng chỉ sai sót trên tinh thần của những người làm công việc chạy theo đồng tiền trong ngành buôn bán sách vở.

Thật lòng, tôi cảm thấy tuyệt vọng cho một lớp trí thức của Việt Nam mỗi ngày càng cơ hội - con buôn và đang phát rồ vì lợi nhuận, một lớp tự vẽ mặt trí thức để vượt qua mọi ngưỡng tự trọng và lương tri.

Ðâu đó, có những kẻ bệnh hoạn học đòi tính nguyên tắc yêu nước theo chỉ đạo, hùa nhau dồn đuổi việc dựng tượng nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản ở Bến Tre, phỉ nhổ vào tổ tiên của mình, còn ở nơi khác thì rước những thần tượng xâm lược Trung Quốc vào để bái lạy qua văn chương, chữ nghĩa.

Những lời phỉ nhổ vào Phan Thanh Giản hay ca ngợi Tiến Anh Hào, rốt cuộc cũng chỉ là chuyện buôn bán: buôn bán anh linh hy sinh ngàn đời của tổ tiên mình phải chăng là con đường nhanh nhất để đến được địa vị hoặc được dự phần thái thú trong hệ thống thuộc địa kiểu mới mang nhãn hàng Made in China.

Các ngài đang là kẻ chỉ đường cho bọn xâm lược dồn đuổi dân tộc mình đến chỗ khốn cùng. Vì tôi, các ngài và cùng sống chung trên một mảnh đất thấm máu cha ông. Tôi muốn nói thẳng rằng: Các ngài, kể cả những ai còn giấu mặt nhưng có tham vọng bịt mắt dân tộc này, tất cả các ngài, nếu có thể, thì cứ tự do bán đi tất cả thuộc về các ngài nhưng hãy giữ lại lương tri và những gì tổ tiên đã để lại, để cứu chuộc cho chính bản thân mình”. (Tuấn Khanh - Nhạc sĩ)
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Một căn bệnh hiểm nghèo

Ngô Nhân Dụng

Nhiều mạng lưới (blogs) ở Việt Nam đang ồn ào về cuốn tiểu thuyết Ma Chiến Hữu, của Mặc Ngôn dịch từ tiếng Hoa sang tiếng Việt. Nhiều người đã đặt câu hỏi tại sao một nhà văn Trung Quốc như Mặc Ngôn dám viết truyện đặt lại vấn đề cuộc chiến Việt-Trung năm 1979 còn khi các nhà văn Việt Nam nhắc đến vụ đó, thí dụ trong tập truyện Rồng Ðá của Vũ Ngọc Tiến và Lê Mai, thì sách bị tịch thâu và nhà xuất bản bị đóng cửa?

Chỉ đọc những lời bình trên các blogs thì hiểu lý do chính gây nỗi bất bình là những lời đối thoại của những hồn ma lính chiến trong tiểu thuyết của Mặc Ngôn. Họ ca tụng việc quân Trung Quốc đi đánh một nước ở phía Nam, mà tác giả tế nhị không gọi thẳng tên là Việt Nam. Như khi độc giả người Việt nghe lời của vị chính ủy sư đoàn nói trong sách nói, “chúng ta hy sinh vinh quang, quá khứ của chúng ta là vinh quang, lúc này cũng vinh quang, tương lai cũng vinh quang. Bất kỳ sự hoài nghi nào về vinh quang của chúng ta đều là sai lầm, những sai lầm cực kỳ nghiêm trọng!”

Trong tiểu thuyết có những lời quân Trung Quốc chúc nhau giết được nhiều địch để rạng danh quân đội anh hùng. Tất nhiên người Việt nào đọc cũng phải động lòng. Nhất là tờ báo Hà Nội Mới đã viết một bài ca ngợi Hứa Thế Hữu, viên tướng chỉ huy các trận đánh vào Cao Bằng là Lạng Sơn năm 1979. Ông tướng này cũng được giới thiệu là người chỉ huy trận chiến chiếm Hoàng Sa năm 1974, trong khi Hải quân Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ tổ quốc.

Nhà xuất bản Văn Học viết lời giới thiệu cuốn truyện ngay trang bìa càng làm người đọc sôi giận. Họ ca ngợi sách này là “Một cách nghĩ khác về chiến tranh; và một cách ca tụng riêng về chủ nghĩa anh hùng.” Nếu có một “chủ nghĩa anh hùng” trong đó thì tất nhiên là anh hùng đối với người Trung Quốc, còn với người Việt thì không.

Nhưng cũng nhiều người không đồng ý với thái độ phẫn nộ về những lời lẽ trong cuốn truyện của Mặc Ngôn. Vì tiểu thuyết là tiểu thuyết. Thực ra nhà văn này có một dụng ý khác hẳn. Nhiều người thấy chủ ý của Mặc Ngôn là chống chiến tranh, nói riêng chống ngay cuộc xâm lăng năm 1979. Ông mô tả những “chiến hữu trùng phùng” gồm những nông dân thất học bị bắt lính đẩy ra mặt trận rồi chết uổng, trong một cuộc chiến tranh vô nghĩa. Mặc Ngôn kể chuyện này, để “phê phán thói dối trá trong xã hội Trung Quốc nói chung và quân đội nói riêng,” như nhận xét của một độc giả. Nhân vật Tiền Anh Hào chưa giết được quân địch nào đã chết, chỉ vì anh tiểu đội trưởng có cái mông to quá, nằm xuống chỗ ẩn mà mông vẫn nhô lên để bên địch phát giác ra và bắn. Mặc Ngôn vẫn có lối văn hài hước và bi thương đến rớt nước mắt như vậy.

Nhưng phần lớn các người góp ý trên các blogs không nhằm phê phán Mặc Ngôn. Ý kiến mạnh nhất, nhiều người nói lên nhất, là phê phán đảng Cộng Sản Việt Nam đã cho xuất bản cuốn tiểu thuyết này, trong khi cấm các nhà văn trong nước không được viết gì về cuộc chiến tranh Việt-Trung năm 1979. Tức là, “Người Trung Hoa được nói, người Việt chỉ được nghe thôi.”

Cũng có người bênh vực chính quyền Cộng Sản trong việc xuất bản sách này. Có người ví việc cho xuất bản cuốn sách này ở Việt Nam cũng tương tự như bên Mỹ cho in bản dịch cuốn “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh, trong đó ông kể chuyện những cảnh thương tâm khốn khổ của người lính miền Bắc trong cuộc nội chiến Việt Nam trước năm 1975.

Nhưng lời bênh vực này lập tức bị phản đối. Vì Mỹ là xứ tự do, người Mỹ tự do in cuốn truyện của Bảo Ninh, nhưng chính phủ Mỹ không bao giờ cấm các cuốn sách trong nước họ mổ xẻ về cuộc chiến đó. Ngay trong thời còn chiến tranh đã có biết bao nhiêu sách ở Mỹ mang tính chất phản chiến. Ở Việt Nam khác hẳn. Truyện ngắn mang tên “Chú Mìn Phủ và tôi “ của Vũ Ngọc Tiến trong tập truyện “ Rồng Ðá” do nhà xuất bản Ðà Nẵng in đã bị đảng Cộng Sản lên án nặng nề.

Trong truyện này tác giả kể chuyện chiến tranh giống khung cảnh cuộc chiến Việt-Trung năm 1979; ông cũng nêu lên những ý nghĩ phản chiến. “Sự thắng bại của cuộc chiến nằm trong dăm ba cái đầu lạnh, còn dân chúng hai bên mãi mãi là kẻ chiến bại, mãi chỉ là công cụ giết người mà thôi.” Có lúc lính hai bên chửi nhau, họ cũng chỉ dùng “toàn những lời lẽ của mấy ông cán bộ tuyên huấn hai bên, chứ họ có hiểu gì đâu chứ!” Ðối chiếu với cảnh con người đối với con người dã man trong thời chiến là cảnh những năm sau này, khi hai nước Cộng Sản Việt Nam và Trung Quốc thân thiện, hợp tác. Tay “lão bản” Trung Quốc nuôi đám đàn em là viên chức người Việt, bị bắt trong ổ mãi dâm. Vũ Ngọc Tiến viết “...biết đâu mai kia hai thằng viên chức mạt hạng này có tiền mua chức sẽ vênh vang cái mặt thớt răn dậy quần chúng, hay sang bên kia cửa khẩu ký kết văn bản ‘hợp tác toàn diện...’”


Có lẽ bốn chữ “hợp tác toàn diện” này là phạm húy nặng nhất. Ðó là những chữ đã được Nông Ðức Mạnh dùng khi sang Bắc Kinh ký kết, ông huênh hoang ca ngợi “hợp tác chiến lược và toàn diện” giữa hai đảng Cộng Sản. Bộ máy kiểm duyệt của đảng Cộng Sản Việt Nam không để cho những chữ “sỏ lá” đó lọt qua! Ðó chắc là một lý do khiến cuốn Rồng Ðá bị cấm, ngoài lý do tác giả dám khơi lại chuyện cuộc chiến tranh tàn khốc giữa hai nước “đồng chí anh em.”

Khi đối chiếu hành động của đảng Cộng Sản Việt Nam cấm cuốn truyện Rồng Ðá, với việc in bản dịch cuốn Ma Chiến Hữu, giới trẻ ở trong nước phải phẫn nộ. Nhiều người lên án đảng Cộng Sản đã theo một chủ trương “văn hóa nô dịch” khi cho in truyện của Mặc Ngôn mà lại cấm sách của Vũ Ngọc Tiến và Lê Mai; không những thế còn làm tội đóng cửa nhà xuất bản Ðà Nẵng. Có người lên án “đây là diễn biến hòa bình,” theo lối nói của nhà thơ Bùi Minh Quốc, trong đó Cộng Sản Trung Quốc nhắm điều khiển cả nước Việt Nam bằng cách nắm cả văn hóa tư tưởng của đảng Cộng Sản Việt Nam.

Cũng có người bênh vực đảng Cộng Sản Việt Nam, cho là quyết định in cuốn truyện của Mặc Ngôn là một quyết định riêng của nhà xuất bản Văn Học, mà cấp trên trong đảng Cộng Sản không biết. Nhưng lý luận này đã bị bắt bẻ, nêu lên rằng chế độ kiểm soát của đảng Cộng Sản rất chặt chẽ: “Ðể xuất bản một cuốn sách cần phải qua khá nhiều khâu chuẩn bị, trong đó việc quản lý từ phía đảng và nhà nước. Việc cuốn sách này được ra đời cho thấy rõ có khi đây là chủ trương của ai đó!”

Ai đó? Chỉ có Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam chịu trách nhiệm. Cho nên có người không ngần ngại lên án đảng Cộng Sản có chủ trương cấm người Việt nói, chỉ được nghe người Trung Quốc nói thôi. Nhà văn Trung Quốc Mặc Ngôn có quyền viết về “Nỗi buồn chiến tranh” còn trong những hồn ma lính Trung Quốc, nhà văn Vũ Ngọc Tiến không được phép kể chuyện những người lính Việt, dù hai bên cùng dự một cuộc chiến tranh vô nghĩa.

Cuộc thảo luận về bản dịch cuốn tiểu thuyết Ma Chiến Hữu của Mặc Ngôn cuối cùng đi tới một kết luận không tránh được. Ðó là lên án chế độ độc tài đảng trị. Ngay cả một người bên vực chế độ Hà Nội, coi việc xuất bản tiểu thuyết Ma Chiến Hữu chỉ là một hành động đơn lẻ của một nhà xuất bản, cũng phải công nhận là việc in cuốn sách này trong lúc cả nước Việt Nam không ai được phép nhắc đến cuộc chiến tranh Trung-Việt năm 1979, là vô ý thức, do chế độ độc tài mà ra. Một người viết, “Ðây là một triệu chứng của một căn bệnh hiểm nghèo xuất phát từ chứng độc tài.” Lời kết tội đảng Cộng Sản rất rõ, nguyên văn: “Họ đòi quản hết, nhưng thực tế là không quản được bất cứ cái gì, tất cả đều loạn cào cào châu chấu lên hết!”

Ðối với người Việt Nam sống ở trong nước thì cái tội “đòi quản hết, nhưng thực tế là không quản được bất cứ cái gì” không chỉ nằm ở trong lãnh vực báo chí, xuất bản mà thôi. Ðảng Cộng Sản tự bản chất theo chủ trương độc tài toàn trị. Họ muốn nắm đầu người dân nên cấm không ai được tự do phát biểu. Nhưng trong khi thi hành chính sách toàn trị đó đảng Cộng Sản còn làm những việc khác tàn dân, hại nước không thể nào tha thứ được. Họ có “quản” được đám tham quan ô lại mà đảng đã sinh ra và nuôi dưỡng hay không? Cuộc thảo luận về tiểu thuyết Ma Chiến Hữu sẽ giúp cho đồng bào trong nước, nhất là giới thanh niên thấy rõ hơn bản chất độc tài toàn trị này. Người dân đã công nhận, không cần bàn cãi nữa: “độc tài là một căn bệnh hiểm nghèo!”

Thế bao giờ mới lo chữa bệnh?
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 9 guests