Chân Dung Người Lính VNCH

Quân sử, những bài viết, ký sự, ...
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »


Image

Tấm lòng của cô nữ sinh lớp 12A-1

Bùi Văn Phú

Năm Lớp 10 tôi học trường Nguyễn Bá Tòng, Sài Gòn. Niên học sau đó, 1971-1972, trường này chỉ dành cho nữ sinh nên tôi chuyển qua trường mới bên Gia Định, học lớp 11B-4 và trở thành học sinh bậc anh cả của trường vì năm đó trường Nguyễn Bá Tòng, Gia Định chưa mở lớp 12.

Niên học đó cũng là năm của Mùa hè Đỏ lửa, khi bộ đội miền Bắc tràn qua sông Bến Hải tấn công nhiều tỉnh phiá Bắc Việt Nam Cộng hoà.

Năm đó có lệnh đôn quân nên một số bạn, sinh năm 1954 hay trước đó, dù đậu Tú tài I cũng vẫn phải nhập ngũ tòng quân. Rớt thì vào Trường Hạ sĩ quan ở Đồng Đế, Nha Trang, đậu thì đi sĩ quan Thủ Đức. Thời đó câu chuyện thi cử đậu rớt đối với học sinh con trai là một một mốc thời gian của những định mệnh, như trong lời thơ của Nguyễn Tất Nhiên đã được Phạm Duy phổ nhạc: “Ta hỏng tú tài / Ta hụt tình yêu / Thi hỏng mất rồi / Ta đợi ngày đi / Đau lòng ta muốn khóc…”

Chiến tranh gia tăng. Tin chiến sự gửi về thành phố kèm theo những hình ảnh anh hùng. Có “người anh hùng Mũ đỏ tên Đương” hi sinh bảo vệ căn cứ. Có cánh thép Không quân Trần Thế Vinh với thành tích diệt tăng T-54 và đã hi sinh sau nhiều chuyến phi hành vào vùng lửa đạn.

Đại úy Trần Thế Vinh là một đàn anh, một cựu học sinh Nguyễn Bá Tòng, Sài Gòn.

Chiến trường sôi động. Nơi sân trường bọn học trò chúng tôi được lệnh theo học quân sự học đường. Thực ra chẳng thấy súng ống gì. Học sinh được đoàn ngũ hoá, chia thành đoàn, đội và được đặt tên. Vài tuần tập dượt xếp hàng cho ngay thẳng, đi những bước như theo nhịp quân hành. Chỉ có thế. Như là những buổi tập thể dục hơn là huấn luyện quân sự.
*

Sau mùa hè 1972 chúng tôi trở lại trường, vẫn với đồng phục áo trắng đóng thùng trong quần xanh. Lên lớp 12 tôi đổi từ ban B qua ban A như nhiều bạn khác. Học gạo môn vạn vật gỡ điểm dễ hơn chứng minh giải tích, rút đạo hàm hay lấy nguyên hàm.

Bạn bè đa số trở lại trường, nhưng cũng có đứa phải lên đường theo nghiệp đao binh. Trong số bạn thân nhất với nhau là Phạm Văn Thiêm, Trịnh Hoàng Long, Nguyễn Văn Lý và Lê Minh Châu thì Châu trong lứa tuổi đôn quân nên đã phải xếp bút nghiên lên đường vào trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức. Trong thời gian huấn nhục ở Quang Trung, cuối tuần chúng tôi rủ nhau lên thăm Châu để bạn khỏi buồn vì làm “con bà phước”, tức là tân binh mà không có gia đình lên thăm.

Niên học 1972-73 lớp 12A-1 học chung với con gái và cũng là lần đầu tiên trong đời tôi học chung với nữ sinh. Cả lớp xôn xao vì những bông hoa biết nói cười.

Nữ sinh trong tà áo dài tung tăng sân trường trông thật dễ thương. Nhưng trong lớp nghịch phá, có hôm chúng tôi cột tà áo của ba cô ngồi gần nhau để tan lớp các cô lúng túng không biết làm sao gỡ ra, rồi được nghe Ngọc Truyền mắng giọng miền nam “Đồ quỷ” đã cho chúng tôi những trận cười thích thú.

Hơn mười năm đi học, từ tiểu học, trung học đệ nhất cấp rồi đến giờ tôi thường là đứa học sinh ngồi ở bàn đầu, nay tự nhiên cùng các bạn lùi xuống phiá sau, nhường những bàn trước lớp cho các cô, không biết vì bọn con trai mang tính ga lăng, hay xuống ngồi phiá sau để dễ phá phách, chọc ghẹo.

Năm đó có mấy nữ sinh được bọn chúng tôi chú ý: Nguyễn Thị Ngọc Truyền, Nguyễn Thị Ngọc Di, Ngô Thị Hằng, Minh Châu và Thuỷ Tiên. Minh Châu trông hiền nhất, dễ thương. Còn Truyền mang cặp kính gọng đen, hay phát biểu trong lớp là con người chất phác như giọng miền nam của cô. Hằng có dáng cao lớn, trông như Tây lai, nghe nói có bà con gì đó với Tướng Ngô Dzu và nhà cô là một ngôi biệt thự trên đường Chi Lăng, gần trường, đi học có người đưa đón bằng xe hơi. Thuỷ Tiên cũng hay thích cười vui, trò chuyện với bọn học trò con trai chúng tôi. Môn triết chúng tôi học với thày Phan Nguyên và thày Lê Phổ. Thày Phổ dạy tâm lí học và thường nhắc đến cụm từ “Nguyên tắc đầu tiên và chân lí”. Mỗi lần như thế chúng tôi nhìn nhau tủm tỉm cười vì tên của hai bạn Tiên và Lý được ghép chung.

Đẹp nhất lớp là Ngọc Di, có đôi mắt to đen như cặp mắt bồ câu và làn môi mỏng. Nghe các bạn nói Ngọc Di người Nha Trang vào Sài Gòn trọ học. Ngọc Di ít nói. Tôi nghĩ thế. Hay tại mình thấy người đẹp nên nhát không dám mở miệng nói chuyện thì không biết.

Ngọc Di có người chú là thày Thành, dạy Pháp văn tại trường. Dù thày không dạy chúng tôi nhưng thấy vẻ mặt của thày lúc nào cũng rất nghiêm nên ít ai dám lần mò tìm cách tán tỉnh cô cháu. Có lần tôi đứng nói chuyện với Ngọc Di trong giờ ra chơi, thày trông thấy và tìm cách tách rời. Sau có muốn nói gì thì viết thư, tặng hoa sứ nhặt ở sân trường hay gửi đi những cánh thiệp.

Một hôm chúng tôi nhận được tin không vui. Người yêu của Ngọc Di là một sĩ quan không quân mới trở về sau thời gian huấn luyện bên Mỹ và thường ghé đón Ngọc Di sau buổi tan trường. Thế là mơ mộng của tuổi học trò tan bay.

Lúc đó trong lớp chúng tôi mới biết có một bạn nữa rất say mê vẻ đẹp của Ngọc Di là Nguyễn Duy Nam, tức ca sĩ Duy Nam, là học trò và có giọng ca giống như Duy Khánh. Nam có được một tấm hình nhỏ cỡ 4x6 của Ngọc Di và đem khoe với chúng tôi, nhưng không biết từ đâu. Đến ngày mãn niên học, trường phát hành kỉ yếu thì trong số ảnh của học sinh lớp 12A-1 không có hình Nguyễn Thị Ngọc Di. Không biết làm sao Nam đã có được hình đó từ ban thực hiện kỉ yếu.

Năm đó tôi được nhà trường chọn là học sinh đứng nhất về hạnh kiểm. Nhưng vui nhất là tôi thi đậu Tú Tài II cùng với các bạn thân khác.
Lên đại học được ít lâu chúng tôi hay tin Ngọc Di lấy chồng là anh sĩ quan không quân hay ghé trường ngày trước. Rồi lại có tin những bạn bè ra đi không bao giờ trở lại. Duy Nam chết ngoài chiến trường. Lê Minh Châu mất tích sau khi đồn của anh ở Cai Lậy bị tấn công.
Chiều ngày 29.4 tôi nhảy xuống tàu ở bến kho 5.

*
Sau ba tháng trôi dạt qua các trại tị nạn, tôi định cư ở thành phố Berkeley, California.
Những tháng năm đầu nơi miền đất lạ người Việt tị nạn thường tìm kiếm nhau qua các mục nhắn tin trên báo. Tôi liên lạc được với Ngọc Di, đang ở Florida, là bạn học duy nhất từ trường Nguyễn Bá Tòng đã có thể rời Việt Nam trong cơn biến loạn 30.4. Hỏi thăm gia đình thì Ngọc Di chỉ viết gọn “never, never” như là sẽ không bao giờ còn được gặp lại chồng nữa mà tôi cũng không hiểu tại sao và rồi sau đó mất liên lạc với nhau cho đến giờ.
Tháng trước hay tin Ngọc Di về Việt Nam để lo đem tro than của chồng là cố Trung úy Không quân Nguyễn Văn Lộc qua Mỹ. Tôi điện thoại hỏi thăm và đầu giây bên kia từ máy có giọng của Gina Nguyễn. Tên có khác nhưng dù đã hơn ba mươi năm tôi vẫn nhận ra giọng nói của cô nữ sinh lớp 12A-1 ngày nào.

Đọc những thông tin về chồng của Ngọc Di, tôi xúc động và cảm phục. Lo cho vợ ra đi vào những ngày cuối tháng 4.1975, còn anh ở lại chiến đấu đến giờ phút cuối cùng của Việt Nam Cộng hoà. Khi đất nước không còn giữ được anh cũng như bao nhiêu người lính khác phải đi học tập cải tạo. Trong lao tù anh tìm cách vượt ngục, bị bắt lại và bị bắn chết cùng với một đồng đội khác vào ngày 26.3.1976. Thân xác anh được bạn tù cuốn chiếu, chôn vội nơi ven rừng Long Khánh.

Cảm phục hơn nữa là Ngọc Di vẫn giữ một tấm lòng với người chồng đầu tiên, quyết đi tìm xác chồng từ những chuyến đi Việt Nam đầu tiên trong phái đoàn Hoa Kỳ tìm kiếm người Mỹ mất tích vào giữa thập niên 1980.
Sau bao năm bền bỉ tìm kiếm, hôm 8.11 tro than của cố Trung úy Nguyễn Văn Lộc, cùng với đồng đội là Sĩ quan Không quân Lê Văn Bé, đã được an vị tại Hoa Kỳ trong một buổi lễ truy niệm do gia đình và chiến hữu của các anh tổ chức.

All give some. Some give all. Trong chiến tranh, chúng ta mỗi người đều hi sinh một phần, nhưng có người đã hi sinh tất cả. Đó là những chiến sĩ như anh Nguyễn Văn Lộc. Anh đã sống cho lí tưởng và chết cho quê hương. Xin được nghiêng mình kính phục sự hi sinh đó.

Berkeley, ngày Cựu Chiến binh 11.11.2008

BÙI VĂN PHÚ
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

ĐỐT BÌNH HƯƠNG CŨ

Lê Văn Nghị



Kính tặng cựu Tướng Lê Văn Thân
nguyên Tỉnh trưởng Thừa Thiên Huế
và Dân Quân Cán Chính Quận Phong Điền
.


Tưởng niệm ngày giỗ của cố Chuẩn Tướng Lê Văn Thân (26- 09 – 2005 ) .
Tiếng kèn ,tiếng trống vang lên inh ỏi, pha lẫn tiếng cười nói của rừng người trên đại lộ Harbor .Hôm nay là ngày cựu chiến sĩ (Veteran ‘Day ).Thị xã San Diego tổ chức rất rầm rộ hơn mọi năm .Đủ mọi sắc binh chủng qua các trận chiến: Đệ nhất, Đệ nhị Thế chiến, chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam …Anh em cựu quân nhân Việt nam Cộng hòa ,cũng được hội chiến sĩ mời tham dự .Buổi lễ tổ chức rất trang nghiêm, rầm rộ và náo nhiệt .

Ông Hoàng bị xô đẩy giữa rừng cờ các nước .Chen lẫn các vị cựu quân nhân Hoa Kỳ ,với hàng hàng huy chương đeo trước ngực. Bỗng một bàn tay lạ đặt lên vai làm ông giật mình quay lại .Trước mặt ông, một ông già Mỹ với hàm râu quai nón xuất hiện .

- Thieu Tá Hoàng ,ông còn nhớ tôi không ? Tôi là Thiếu Tá Wright cố vấn trưởng quận Phong Điền ngày xưa đây …

Tiếng nói bất chợt làm ông bàng hoàng súc động .Sau vài giây định thần ,ông Hoàng mới thốt lên lời :

- Ố đã lâu quá! Đến hôm nay mới gặp lại Thiếu Tá Wright ,sau 40 năm xa cách?

Khúc phin dĩ vãng lần lượt hiện ra trong tâm trí ông …Sau biến cố Mậu Thân,cùng ngày mãn khóa Quân Chánh, ông Hoàng được bộ Nội vụ bổ nhậm về Quận Phong Điền .Phong Điền, một quận cực bắc của tỉnh Thừa Thiên .Đúng với tên đặt cho nó :phong là gió ,điền là cát .Một nơi đầy phong ba cát bụi …Vị trí quận được đặt trên các đụn cát nóng cháy ! Cũng lấy từ chữ phong ,nên quận có các xã : Phong Bình ,Phong Lộc ,Phong Hiền ,Phong Sơn ,Phong Nguyên .Gíáp gianh có Phá Tam Giang thuộc quận Hương Điền .’Sợ chuông nhà Hồ ,sợ Phá Tam Giang “ Phá Tam Giang đã đi vào lịch sử qua các thời đại .Hơn nữa Phá Tam Giang đã được nhắc tới trong văn thơ Việt Nam .Bài thơ Chiều Trên Phá Tam Giang nổi tiếng của thi sĩ Tô Thùy Yên .được nhạc sĩ Trần Thiện Thanh phổ nhạc rất hay .Thuộc phạm vi quận còn có dẫy phố Buồn Thiu (La rue sans gloire ) ,nằm vắt ngang xã Phong Bình chạy dài đến Phong Lộc .Nơi đây đã ghi lại các trận đánh ác liệt đẫm máu ,giữa quân đội viễn chinh Pháp và các đơn vị chủ lực việt cộng .Trên lộ còn để lại các xác chiến xa đã hoen rỉ …

Chiếc phi cơ dân sự (Air VN) loạI DC06 ,đáp xuống phi trường Phú Bài vào một buổi trưa hè oi bức .Ông Hoàng còn đang lóng ngóng ở giữa phi đạo .Bỗng một chú lính chạy tới chào và nói :

- Thưa có phảiThiếu Tá Hoàng không ? Tôi nhận lệnh đem xe ra đón Thiếu Tá .

Đúng như y hẹn .Ở Sai gòn trước khi lên phi cơ .Ông Hoàng đã cẩn thận phôn ra tòa tỉnh Thừa Thiên ,xin xe ra phi trường đón.Sau biến cố Tết Mậu Thân ,quang cảnh phi trường Phú Bài rất náo nhiệt .Trên phi đạo thấy đủ loại máy bay của không lực Mỹ .Từ vận tải cơ C123 ,C130 đến các loạI trực thăng …Các máy bay đang lên xuống thường xuyên tiếp tế đạn dược ,nhu yếu phẩm cho chiến trường Trị Thiên .Những tiếng động cơ nổ vang trời chen lẫn tiếng cười nói của anh em quân nhân ,ồn ào và náo nhiệt .Tình hình có vẻ cấp bách .Tất cả cho chiến trường đang sôi động .

Trên đường từ phi trường Phú Bài về khách sạn Sông Hương .Nhiều ý nghĩ ngược về dĩ vãng hiện ra trong đầu ông Hoàng .Hơn 10 năm về trước ,ngày đó ông còn độc thân .Sau ngày mãn khóa Sĩ quan Thủ Đức ,ông đã tình nguyện đi bất cứ đâu từ Bến Hải

đến Cà Mâu . Vì thế vùng Trị Thiên không còn xa lạ gì với ông .Đây là lần thứ nhì ông đến vùng sông Hương núi Ngự .Ngày mới ra trường với dáng ngườI bạch diện thư sinh ,ông Hoàng đã để lại bao kỷ niệm vui buồn nơi chốn đất Thần Kinh . Thời đệ nhất cộng hòa .Cố đô Huế dướI quyền cậu Cẩn .Đức hạnh con ngưới được bảo vệ triệt để .Vì thế có lời đồn đãi : nếu chính quyền địa phương bắt được sĩ quan đi (ngủ đò ) …Cậu Cẩn bắt phảI làm đám cưới với cô gái đó !Thời đó các sĩ quan rất e sợ vụ này .Nếu có đi chơi cũng phảI e dé vụng trộm .Thật đúng với hai câu thơ :

‘ Núi Ngự không cây ,chim ngủ đất.
Sông Hương vắng khách ,đ…kêu trời !”

Trước khi ra nhận quận Phong điền .Ông Hoàng đến tòa hành chánh tỉnh Thừa Thiên (thị xã Huế ) trình diện đại tá Tỉnh trưởng. Thời gian này cựu đại tá Lê Văn Thân giữ chức Tỉnh kiêm Tiểu khu trưởng Thừa Thiên .Mấy năm sau ông nắm chức Tư lệnh Sư đoàn 1/BB và thăng Chuẩn Tướng .Sau tháng tư Đen ,ông bị bắt đi tù ở Hoàng liên Sơn .Ông đã phải ngồi đếm trên 17 cuốn lịch oan khiên ! Sau thời gian ra tù ,ông sang định cư tại miền nam Cali .Ông đã qua đời vào năm 2005 .Sự ra đi của ông đã để lại bao luyến thương cho toàn thể dân quân cán chính tỉnh Thửa Thiên ! Ông có dáng người gầy và cao .Đôi mắt to đen ,nhanh nhẹn ,tháo vát .Chứng tỏ con người đầy nghị lực .Ông đã quyết tâm làm một việc gì ,theo đuổi đến cùng ,không bao giờ bỏ cuộc .Ở ông ,ông Hoàng đã học được nhiều điều hay trong công vụ và xử thế ở đời …Với cựu tướng Thân ,ông Hoàng không xa lạ .Vì ông cùng binh chủng pháo binh với ông .Ngày còn ở bên pháo binh .Ông đã nổi tiếng một sĩ quan thanh liêm .Làm việc rất khuôn mẫu (rếch lô ) .Vì thế trong binh chủng pháo binh thường lan truyền gương bốn sĩ quan sạch :”Nhất Thắng ,nhì Thân ,tam Giang ,tứ Sử “ .

Ngoài đức tính thanh liêm ,việc làm khuôn mẫu .Ở cựu tướng Thân còn có bộ óc kỹ thuật tuyệt vời .Ông Hoàng nhớ một kỷ niệm ông đã để lạI ,trong thời gian ông Hoàng giữ quận Phong Điền .Chúng ta đã thường nghe nói miền trung đất cầy lên sỏi đá .Khác với miền nam ,có vựa lúa của đồng bằng sông Cửu Long .Nông dân ở đây làm chơi ăn thiệt .Vì thế chính phủ dưới thời nào cũng quan tâm đến lúa gạo miền trung .Hàng năm tỉnh Thừa Thiên phải nhận chi viện của nước ngoài một số gạo rất lón .Gạo hạt dài,hạt tròn của Thái Lan thường đổ vào xứ dân gầy rất nhiều .Để khuyến khích người dân tự túc về lương thực .Mỗi xã thường được trung ương cung cấp hai máy cầy Kubota của Nhật .Ngoài máy cầy ,hạt giống ,phân bón ,thuốc trừ sâu …MỗI xã còn có một sĩ quan kỹ thuật ,để giúp và cố vấn dân chúng về nông nghiệp .Trong một buổi thăm viếng xã Phong Sơn của cựu Đại Tá Thân .Sau khi phái đoàn nghe ông xã trưởng K…thuyết trình về tình hình nông nghiệp xã .Sĩ quan kỹ thuật trình ,tại xã có một máy cày Kubota bị hư đang đợi tỉnh thay thế .Ông liền hỏi sĩ quan kỹ thuật ,hướng dẫn ông đến kho để máy xem sao ? Khi tới kho ,ông liền sắn tay áo ,lấy đồ nghề tháo tung đầu máy ra …Mày mò đến hơn nửa giờ ,khi lắp máy vào ,ông giật dây thấy máy tự động nổ …Sĩ quan kỹ thuật học chưa tới chữ ,được một phen xanh mặt với ông !

Ông Hoàng nhận bàn giao quận Phong Điền không có quận trưởng .Hơn 04 tuần trước ,cố Tr/Tá Lê Phú ,sĩ quan tiền nhiệm quận trưởng đã bị việt cộng phục kích sát hại tại khúc quẹo đồi thông hai mộ (cách cầu An Lộ 15 cây số ) .Cua quẹo này đã gây tai nạn cho đôi trai gái chở nhau bằng xe Honda .Dân địa phương đã đặt tên là cua đồi thông hai mộ ,để ghi lại mốI tình oan nghiệt này ! ThờI gian này chi khu Phong Điền do Thiếu Tá Đ…tham mưu phó xử lý thường vụ .

Cách quận gần cây số về phía đông nam .Có căn cứ Hoàn Mỹ (Camp Evans ) do lữ đoàn 176 nhầy dù ,thuộc Sư đoàn 101 không kỵ Hoa Kỳ trấn đóng (101 Division Airborn ) . Ông Hoàng còn nhớ ,ngày đó toán cố vấn chi khu gồn 04 người : Thiếu Tá Wright cố vấn trưởng ,ĐạI úy Smith cố vấn phó kiêm sĩ quan Phụng Hoàng ,thượng sĩ Joe y tá và trung sĩ Robert phụ trách truyền tin .

Tình hình quận Phong Điền sau biền cố Mậu Thân tạm lắng dịu .Các đơn vị chủ lực việt cộng tạm chém vè ,chạy ẩn náu trên rừng già trường sơn .Bước sanh đầu năm 1969 .Hạ tầng cơ sở việt cộng bắt đầu hoạt động trở lạI .Từ rừng trường sơn ,chúng thực hiện sẵn những lồng bằng tre rừng .Khi có cơ hội chúng đem xuống đồng bằng ,chôn xâu dưới các đụn cát …Mục đích làm nơi ẩn núp cho các toán giao liên hay các cơ sở nằm vùng .

Nắm vững ý đồ của chúng .Để triệt hạ các cơ sở nằm vùng tái lập lại .Sau ngày đáo nhậm quận Phong Điền ,ông Hoàng liền thảo luận vớI Thiếu Tá Wright ,thành lập toán biệt kích Chi Khu .Toán này quân số khoảng tiểu đội Đa số lấy trong thành phần hồi chánh viên và số anh em nghĩa quân gan dạ .Trường toán biệt kích là hồi chánh viên tên Chắt .Qúa trình ông Chắt là xã đội trưởng du kích xã Phong Bình .Ngoài ra ông Hoàng còn ra tăng thâu lượm tin tức tình báo …Khi có tin tức chính xác về sự xâm nhập của việt cộng từ rừng núi xuống đồng bằng .Chi khu liền tổ chức các cuộc hành quân Diều hâu (Eagle fly ) để tiêu diệt địch .Mỗi lần tổ chức hành quân .Chi khu thường được lữ đoàn 176 nhẩy dù Mỹ kế cận cung cấp 02 trực thăng HU1B đổ quân và kểm trở hỏa lực khi cần .Một kỷ niệm sâu đậm và ghi ơn suốt đời ,trong thời gian ông Hoàng giữ quận Phong Điền .Trưởng toán biệt kích quận ,hồi chánh viên Chắt đã cứu mạng sống của ông và Thiếu Tá Wright trong gang tấc !


Vào một buổi chiều mùa đông ,mưa phùn giá lạnh .Cái lạnh tê buốt của cái rét miền trung bão lụt .Mọi sinh hoạt đều ngừng trệ . Nhưng bọn việt cộng lợi dụng thờI tiết xấu .Một toán khoảng 05 tên .Từ núi rừng trường sơn ,len lỏi băng qua quốc lộ một xuống xã Phong Bình .Tin tức tình báo cho hay ,chúng đem theo một số lồng đan bằng tre rừng .Mục đích thực hiện một số hầm bí mật ,gây dưng lãi cơ sở đã bị ta triệt hạ trong chiến dịch Tết Mậu Thân .

Trong căn hầm được thiết kế xâu dưới lòng đất .Nơi đây đặt làm Trung tâm hành quân của chi khu Phong Điền .Ông Hoàng cùng Thiếu Tá cố vần trưởng ,hướng về tấm bản đồ xã Phong Bình .Ông bàn soạn kế hoạch đổ quân với hai toán phi công trực thăng được tăng phái …Trên bầu trời xám sịt ,mưa mỗi lúc càng thêm nặng hạt .Hai chiếc trực thăng HU1B tù từ bốc lên cao .Để đánh lạc hướng việt cộng ,trực thăng bay dọc quốc lộ một hướng về cầu Mỹ Chánh ,qua xã Ưu Điềm (Phong Hiền ) ,hướng về cầu Vân Trình .Đến đây phi cơ giảm tốc độ ,bay dọc theo dẫy phố Buồn Thiu .Điểm đổ quân về phía nam mục tiêu .Toán biệt kích chia ra làm hai mũi nhọn .Bung ra lục soát các điểm khả nghi trên vùng mục tiêu .Sau hơn một giờ lùng sục, tìm kiếm những điểm khả nghi có hầm bí mật .Mọi người tưởng như vô vọng !Ông Hoàng nghĩ có lẽ tin tức tính báo do ban hai phối kiểm sai ?Hoặc giả tụi việt cộng có phép thần thông biến hóa khôn lường? Nhưng thiên bất dung kẻ gian .Lưới trời lộng lọng .Những kẻ gây tội ác cho nhân dân đã đến giờ đền tội .Toán của ông Hoàng và Thiếu Tá Wright,có hồi chanh viên Chắt đi theo . Khi mọi người lục soát tới cạnh bờ suối có hàng sim lúp súp …Bất chợt bàn tay hồi chánh viên Chắt xô mạnh vào người ông Hoàng và Thiếu Tá cố vấn ,làm hai người ngã rạt sang một bên …Liền đó ,những tràng AK từ căn hầm bắn lên xối xả …Tức thì trong tích tắc ,anh em biệt kích đáp lễ lại bằng những tràng M16 và lựu đạn …Kèm theo tiếng hô đánh thép của hồi chánh viên Chắt :” Hàng sống ,chống chết !”Sau khi khui hầm .Kết quả 03 tên việt cộng chết ,02 tên bị ta bắt sống .Chiến lợi phẩm thu được 03 AK47 ,một thùng đại liên 50 toàn giấy bạc 500 (VNCH) mới tinh .Bên chi khu có ba nghĩa quân bị thương nhẹ .Vào thời điểm này ,bọn việt cộng trên vùng rừng núi trường sơn phía tây bắc quân Phong Điền ,thường len lỏi xuống đồng bằng .Chúng đem tiền xuống thu mua âu dược và lương thực ,tiếp tế cho các đơn vị chủ lực miền …Một buổi lễ ăn mừng đã được chi khu tổ chức rất trọng thể .Anh em trong toán biệt kích ,nhất là hồi chánh viên Chắt được ban thưởng huy chương và vật chất xứng đáng .

Sau thời gian hàn huyên ,bao kỷ niệm được nhắc lại giữa hai người …Vợ Thiếu Tá Wright ,một ngưởi đàn bà Mỹ tính tình đôn hậu ,giầu lòng bác ái .Thông cảm khí hậu mùa đông giá lạnh của miền trung Việt Nam .Bà đã từ tiểu bang xa xôi Florida ,gửi những chiếc áo ấm đan bằng len cho các con ông Hoàng .Ông Wright còn nhắc lại ,sau trận lụt lớn ngày 23 tháng 10 năm Canh Tuất (1970) .Ông Hoàng được thuyên chuyển về một quận thuộc miền đồng bằng sông Cửu Long .Còn ông được thuyên chuyển qua phục vụ tại chiến trường nam Triều Tiên ,rồi qua Tây Đức .Sau cùng ông đến tuồi về hưu ,giải ngũ với cấp bậc Đại Tá .Thượng sĩ Joe (Y Tá ) ,sau thời gian giải ngũ .Hiện ông lảm chủ tầu đánh cá ở Houston . Trung sĩ Robert (truyền tin ) ,sau mấy năm được thuyên chuyển qua chiến trường Triều Tiên .Ông giải ngũ ,hiện cùng vợ mở một quán rượu tại New York .Còn ĐạI Uý Smith (Phụng Hoàng ) .Khi nhắc đến tên ông ,ông Hoàng còn vương lại bao nỗi buồn khôn nguôi !Cố Đại úy Smith đã nằm xuống trên mảnh đất xa xôi miền trung nước Việt :Chi khu Phong Điền thuộc Tiểu Khu Thừa Thiên ! Khoang tháng tư năm 1970 .Thời gian này ông Hoàng đang tu nghiệp tại rừng Chí Linh (Vũng Tầu ) Một buổi sáng ,đại úy Smith trong chuyến công tác hai xã Phong Bình ,Phong Lộc .Xe ông đã cán phải mìn việt cộng !Bọn cộng phỉ gian manh ,chúng đã đặt mìn trong chiếc tĩnh nước mắm bằng mủ .Dù toán an ninh chi khu đã dò mìn trước cũng vô hiệu .Xác của ông được đưa về nguyên quán ,tiểu bang Texas Hoa kỳ .Tên của ông được vinh danh ,khắc trên bức tường đá cẳm thạch mầu đen .Cùng tên với trên 85 ngàn quân nhân Hoa Kỳ đã hy sinh trong cuộc chiến Việt Nam !Hiện đặt tạI thủ đô Washington DC .

Ông Hoàng bùi ngùi xúc động khi nhớ đến những người đã khuất !Trải qua trên 40 năm dâu bể .Dân quân cán chính quân Phong Điền kẻ mất người còn !Nhất là sau biến cố 30/04/1975 ! Không biết những chiến hữu cùa ông ,nếu còn hiện lưu lạc nơi nao ? Bất giác làm ông nhớ đến hai câu thơ của cố thi sĩ Vũ đình Liên :

“Những người muôn năm cũ ,
Hồn ở đâu bây giờ !? “

San Diego, Tưởng niệm ngày Veteran’s Day 2008.

Lê Văn Nghị .
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »


Image

NỔI TRỐNG LÊN
ÐỂ CÙNG NHAU ÐỨNG DẬY



nổi trống lên để cùng nhau đứng dậy
đồng bào ơi ! phải cứu lấy sơn hà
đó là nhà, là mộ của ông cha
mà Tiên Tổ đã đổi bằng xương máu

Còn Ðất Việt, ta mới còn cơm áo
còn chùa đình thờ Phật với tiền nhân
còn Thiên Chúa ngự lãm giữa cung trần
còn giòng giống Tiên Rồng nơi cỏi thế

đã tới lúc bẻ cùm gông nô lệ
mấy chục năm hận nhục cũng đủ rồi
chôn ngay đi xác Hồ tặc ma trôi
vứt chủ nghĩa Mác-Mao vào đáy huyệt

ai quên được những oan khiên thảm tuyệt ?
kể từ ngày Hồ rước giặc Tàu-Nga
vào nước Việt dày xéo nát sơn hà
gây chinh chiến xương người cao hơn núi

ai quên được cảnh lầm than đen đủi ?
nổi thê lương tám chục triệu đồng bào
sống lê lết trong địa ngục thương đau
ngày hai buổi lấy lệ sầu lau mặt

ai quên được phần non sông đã mất ?
hết Nam Quan, Bản Giốc tới biển Ðông
hận Hoàng Sa luôn canh cánh bên lòng
nay thêm nhục Trường Sa đang vây bủa

đã dám chết vì Phật, Trời, Thiên Chúa
tại sao không vì nước Việt hy sinh ?
cứu non sông là cứu lấy phận mình
để dân tộc ngàn đời còn tồn tại

nổi trống lên để không còn sợ hải
đừng e dè vì ‘ châu chấu đá xe ‘
hồn lịch sử làm ánh đuốc lập lòe
cờ chính nghĩa kết đoàn tình dân tộc

ai đã buộc triệu người phải bỏ nước ?
ai làm cho xã hội nát hơn tương ?
ai gieo rắc thù hận phá cương thường ?
chính Hồ tặc và Việt gian, Việt Cộng

đã tới lúc ta phải dành quyền sống
để làm người ngẩn mặt với non sông
để hiên ngang nối bước cháu con Rồng
như tiên tổ từng ‘ bình Ngô sát Thát ‘

cỏi Mê Linh, tiếng hai Bà còn hát
sông Bạch Ðằng vằng vặt bóng quân reo
ải Chí Lăng xác giặc khắp núi đèo
gò Ðống Ða khắc lời thề cứu quốc

nay không phải lúc gục đầu than khóc
vì giặc Tàu đã cướp chiếm biên quan
vì Việt Cộng đã gục mặt đầu hàng
mặc rợ đỏ giết dân ta cướp của

nay non nước lại chịu thêm lần nữa
cảnh lầm than bắc thuộc hận hờn đau
tiền nhân xưa đã quyết chiến với Tàu
nay con cháu lẻ nào hàng giặc cướp ?


Vào Ðông tháng 11-2008

Mường Giang
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Image

Lễ Phủ Kỳ KQ Khưu Văn Phát

Bài: Tuyết Mai
Hình: Nguyễn Văn Đang



Image
Virginia. - Không quân Khưu văn Phát, Cựu Tổng Hội Trưởng Tổng Hội Không Lực VNCH Hải Ngoại (2000-2007) đã thất lộc lúc 8:47 sáng ngày 26 Tháng 11, 2008 tại Virginia Hospital Center, Arlington, VA. Hưởng thọ 66 tuổi. Ông được vinh danh, quan tài được phủ lên lá Quốc kỳ VNCH. Lễ phủ kỳ do Hội Không Quân Đông Bắc HK phối hợp với Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH vùng HTĐ và Phụ cận tổ chức, vô cùng trang trọng vào lúc 11 giờ sáng ngày 29 Tháng 11, 2008 tại Fairfax Memorial Funeral Home, Fairfax, VA.

Có khoảng vài trăm chiến hữu và thân hữu tham dự, trong đó có rất nhiều cựu quân nhân mặc quân phục Không quân và quân phục các quân binh chủng bạn như TQLC, Nhảy Dù, Sinh Viên Trừ Bị Thủ Đức… đặc biệt có sự tham dự và phát biểu của Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh, Cựu Tư Lệnh Không Quân VNCH, Chủ Tịch Hội Đồng Đại Diện Tập Thể Chiến Sĩ VNCH, đến từ San Jose, Cali.

Phía trước và hai bên quan tài có hai cựu quân nhân như Không quân, TQLC, SV Trừ Bị Thủ Đức… đứng nghiêm chào. Đứng giữa, sau quan tài, là một cựu quân nhân Không Quân cầm Quân kỳ Không Quân. Bên Phải là cờ HK và VNCH. Căn phòng tràn đầy những tràng hoa tươi thật đẹp của các hội đoàn phúng điếu.

Chương trình lễ phủ kỳ được điều hợp bởi Không Quân Đào Hiếu Thảo. Ông giới thiệu, Không quân Khưu Văn Phát là một chiến sĩ Không quân can trường, chim đầu đàn của Phi đoàn Trực Thăng 215 Thần Tượng, thuộc Sư Đoàn 2 KQ, là đơn vị tác chiến từng lập nhiều chiến công hào hùng trong sứ mạng “Bảo Quốc Trấn Không”.
Image
KQ Khưu văn Phát cùng gia đình đến định cư tại HK, ông luôn tích cực đóng góp trong các công tác kết hợp các chiến sĩ QLVNCH tiếp tục hoàn thành sứ mạng của một quân nhân QLVNCH, xây dựng, phát triển Hội Không Quân ĐBHK và Tổng Hội Không Lực VNCH Hải Ngoại. Ông cũng là một đồng sáng lập viên Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại. Có một thời gian KQ Khưu Văn Phát là Phát Ngôn Nhân của Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH vùng HTĐ và Phụ cận. Đặc biệt là trong suốt hai nhiệm kỳ giữ trọng trách là Tổng Hội Trưởng Tổng Hội Không Lực VNCH ông đã qua Thái Lan nhiều lần để hỗ trợ tinh thần và vận động trả tự do cho chiến sĩ KQ Lý Tống. Ngoài ra ông cũng thường xuyên tham gia các Hội Đoàn bạn trong công cuộc đấu tranh cho Dân Chủ, Nhân Quyền tại VN. KQ Đào Hiếu Thảo nói tiếp, vì vậy KQ Khưu văn Phát xứng đáng được vinh danh, được hưởng nghi lễ phủ kỳ VNCH hôm nay.

Niên trưởng Đặng Văn Hậu, Cựu Phi Đoàn Trưởng Phi Đoàn Trực Thăng 215, Sư đoàn 2 KQVN tuyên đọc tiểu sử của KQ Khưu Văn Phát như sau. KQ Khưu Văn Phát sinh ngày 30 Tháng 4, 1942 tại Bình Chánh, Gia Định. Ông được tuyển chọn vào Không Quân Khóa 63D/SVSQKQ và hoàn tất chương trình huấn luyện hoa tiêu Trực Thăng năm 1964 với cấp bực Thiếu Úy và được bổ sung vào Phi Đoàn 211 tại Saigon.
Image
Năm 1965 Ông được thuyên chuyển về làm việc tại Phi Đoàn Thần Tượng 215 tại Đà Nẳng, sau dời về Nha Trang. Trong suốt thời gian phục vụ ở đây ông được thăng chức và giữ nhiều trách vụ khách nhau. Năm 1973, ông được thăng chức Trung Tá, Phi đoàn trưởng. Ông có hơn 8000 giờ bay và nổi tiếng qua những phi vụ hành quân từ Đức Cơ đến Mùa Hè Đỏ Lửa, Bồng Sơn, Tam Quan, Ben Het, Căn Cứ Hỏa Lực 5, 6, Mặt trận Kontum, Pleiku, Cambodia…Ông không những được biết đến qua tài bay mà còn được quý trọng vì đã sống gắn bó với anh em, chia sẻ những gian nguy lúc thi hành nhiệm vụ, những khó khăn trong đơn vị. Ông là người rất điềm đạm, bình dị, luôn hài hòa vui vẻ với mọi người, kính trên nhường dưới và sẳn sàng giúp đỡ khi cần đến ông. Đối với gia đình ông là một ngươi cha tốt, đã tận tụy làm việc nhiều giờ để lo cho con cái nên người.

Mặc dầu rất bề bộn với việc mưu sinh, ông đã tham dự rất nhiều sinh hoạt Cộng Đồng, đặc biệt trong những sinh hoạt của tập thể Không Quân tại địa phương và hải ngoại. Ông giữ chức vụ Hội Trưởng Không Quân Miền Đông Bắc HK trong suốt ba nhiệm kỳ và Tổng Hội Trưởng Tổng Hội Không Lực Hải Ngoại hai nhiệm kỳ.

Nghi lễ phủ kỳ bắt đầu, mọi người hiện diện đứng dậy nghiêm chào, toán phủ kỳ, dưới sự điều khiển của Nhảy Dù Nguyễn Văn Mùi, gồm một cựu quân nhân Không quân trong quân phục cầm quốc kỳ VNCH đi trước, bên cạnh có hai cựu quân nhân KQ và theo sau là nhiều cựu quân nhân mặc quân phục của nhiều binh chủng khác nhau, đến trước quan tài.
Image
Trong không khí lặng yên, vô cùng trang trọng, lá quốc kỳ VNCH được các quân nhân trong toán phũ kỳ trải dài rồi trải rộng ra, cờ được căn thẳng, nâng cao lên rồi từ từ hạ xuống phủ lên quan tài của KQ Khưu văn Phát. Ngày sau đó, từ máy thu thanh phát ra tiếng hát của Ca sĩ Khánh Ly “Cho Một Người Nằm Xuống”, tạo một không khí vô cùng cảm động, mọi người đứng yên trong niềm thương tiếc vô vàn một chiến sĩ hào hùng của Không Lực VNCH vừa từ giả gia đình, bạn bè để bay về Không Gian Miên Viễn, an giấc nghìn thu…



Sau khi nghi lễ phủ kỳ hoàn tất, Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh, Cựu Tư Lệnh Không Quân QLVNVNCH, hiện là Chủ Tịch Hội Đồng Đại Diện Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại được mời lên phát biểu. Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh nói, thật là một đau buồn cho tất cả chúng ta đến tham dự buổi lễ truy điệu một chiến sĩ và là một sĩ quan cao cấp Không Quân, đã rời chúng ta để vĩnh viễn ra đi, trong khi gia đình và tổ quốc vẫn còn mong đợi anh tiếp tục lý tưởng cuộc đời của một người trai, đất nước hằng mong cho người Việt được vươn lên cho bằng người, cho non sông được tươi sáng trong một thể chế dân chủ, quyền người dân được tôn trọng.

Giào sư Vinh nói tiếp, Cựu Trung Tá Khưu Văn Phát là một mẫu người trai Việt vẹn toàn, là một phi công tài ba, một vị chỉ huy lỗi lạc và công tâm, luôn một lòng với đất nước, đã được quân và dân mọi cấp thương mến và quý trọng. Sau khi rời quê hương ông làm việc chuyên môn trên đất mới nhưng vẫn một lòng hướng về đất nước, luôn tham gia hoạt động cộng đồng và tiếp tục làm nhiệm vụ của người chiến sĩ Quân Lực VNCH.

Sau hơn ba mươi năm trời phải lìa xa quê hương, hiện nay người chiến sĩ QLVNVNCH ở mọi quân binh chủng vẫn còn hiên ngang đứng với nhau trong bộ quân phục đủ màu sắc và dưới cờ vàng ba sọc đỏ, tượng trưng cho nền Dân Chủ Quốc Gia, một phần không nhỏ là nhờ có sự đóng góp của Không Quân Khưu văn Phát, một trong những người đã sáng lập nên Tập Thể CSVNCH Hải Ngoại.

Ông Đoàn Hữu Định, Chủ Tịch Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH vùng HTĐ và Phụ Cận, Trung Tâm Trưởng Trung Tâm Điều Hợp Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại Đông Bắc HK, được mời lên phát biểu. Ông Định nói, KQ Khưu Văn Phát nằm xuống hôm nay là một mất mát lớn lao không những cho gia đình của anh mà còn cho những chiến sĩ VNCH còn đang đấu tranh và cũng là một mất mát lớn lao luôn cho các cộng đồng người Việt tỵ nạn trên thế giới. Ngoài việc đảm nhận trách vụ Hội Trưởng Hội Không Quân miền ĐBHK trong ba nhiệm kỳ liên tiếp, KQ Khưu văn Phát có một thời gian làm phát ngôn nhân của Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH/HTĐ và Phụ Cận, sau đó ông gánh vác chức vụ Tổng Hội Trưởng Tổng Hội Không Lực VNCH, ở vị thế ấy KQ Khưu văn Phát đã cùng Tổng Hội Hải Quân, Hàng Hải VNCH, thúc đẩy việc tổ chức Đại Hội Toàn Quân năm 2003, mà kết quả là sự thành lập Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại, người Việt ở khắp nơi đều biết đến.
Image
Ông Định nêu những điều trên ra là để ghi nhận công lao của chiến sĩ KQ Khưu văn Phát. Liên Hội Cựu Chiến sĩ VNCH rất đau buồn phải xa lìa ông từ nay.

Trong chương trình, Ông Lý Văn Phước, Chủ Tịch Cộng Đồng Washhington, D.C., MD và VA , Hải Quân Trần Trọng An Sơn, Cựu Tổng Hội Trưởng Tổng Hội Hải Quân VNCH, KQ Hoàng Song Liêm, KQ Trần Văn Rét, đại diện Phi đoàn 215 Thần Tượng Sư Đoàn 2 Không; Ông Đặng Quốc Trung đại diện Hội Cựu Học sinh Trung Học Trần Quốc Toản Hải Ngoại Quân VN…được mời lên phát biểu, mọi người đều bày tỏ lòng mến phục và thương tiếc KQ Khưu văn Phát đã ra đi.



Cuối cùng là lời cảm tạ của Khưu Tuấn Vũ thay mặt con cháu của KQ Khưu Văn Phát cảm ơn quan khách. Nghi lễ phủ kỳ cho Cựu Trung Tá Không Quân Khưu Văn Phát được chấm dứt lúc 12 giờ trưa, theo sau là phần thăm viếng của các chiến hữu, lần lược theo từng nhóm Không Quân, Hải Quân, TQLC, Dù, SV Trừ Bị Thủ Đức…và thân hữu .
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Image

Thường Đức quê tôi

Kính tặng các chiến sỉ QLVNCH trong mặt trận Thường Đức

Giặc qua sông Côn về Thường Đức
Trong cơn gió lạnh cuối Trường Sơn
Quân ngược dòng sông đêm thao thức
Di binh chuyễn pháo tấn công đồn

Anh Biệt Động Quân đêm phòng thủ
Nhìn qua ánh sáng lổ châu mai
Thêm một đêm dài không giấc ngủ
Khói thuốc cay mờ trong mắt ai

Anh lính địa phương trong lô cốt
Tay cầm ống phóng bảy mươi hai
Bên xóm nhà xa đèn ai đốt
Lập lòe ánh lửa bóng liêu trai

Anh lính Pháo Binh ghi tọa độ
Sẵn sàng yểm trợ pháo tầm xa
Chùi súng ,thông nòng lo tu bổ
Tay sờ thép lạnh ướt sương pha

Anh Thiết Kỵ về đường liên tỉnh
Băng ngang Đại Lộc đến Hà Nha
Vó câu dong ruổi như đời lính
Từ độ lửa binh chẳng về nhà

Anh lính Không Quân từ Đà Nẵng
Phi pháo từng đêm chận giặc về
Có lẻ đêm nay anh thức trắng
Đợi chờ phi vụ đắng cà phê

Anh Nhảy Dù về từ Quảng Trị
Ba lô ,súng đạn tới Cầu Chìm
Nhận đồ tiếp tế trên chiến lủy
Nghe hờn sông núi dậy trong tim

Đại pháo từng đêm trên chiến trận
Xe tăng , bộc phá mở hàng rào
Anh vẫn hiên ngang làm bổn phận
Quê mẹ vì ai tẩm máu đào

Hơn ba mươi năm ngày lịch sữ
Thường Đức quê tôi những ngày buồn
Cũng bóng tre xanh người Thượng nữ
Vu Gia sông cũ nước xuôi nguồn

Tôi nhớ ơn anh người lính chiến
Tháng ngày bảo vệ xóm làng tôi
Những kẻ hy sinh trên trận tuyến
Ngàn sau còn nhớ mải không thôi .


SVSQ Lê Chiến khóa 8/72 SQTB
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Ngôi Thánh Đường Bị Bỏ Quên

HỒ ĐINH
Viết nhớ bạn bè Tiểu Đoàn 1/Trung Đoàn 43/SD18BB - Kba 4424.
Chúng tôi đang chuẩn bị nhận thêm tiếp tế, thì có lệnh rút gấp về Xuân Lộc, để tăng cường cho chiến trường Bắc Ruộng, thuộc quận Tánh Linh, tỉnh Bình Tuy đang bị Việt Cộng cưởng chiếm. Hôm đó là ngày 20 tháng 12 năm 1965.

Sáu giờ chiều, Tiểu đoàn đã rút ra Liên Tỉnh lộ 4 (Củ Mi-Tân Phong), đợi xe tới rước. Ngồi bệt bên vệ đường, phía bên trong là rừng cao su ngút ngàn, như muốn nuốt trửng con lộ đất đỏ ngoằn nghèo buồn hiu muôn thuở, Hôm nay sao nó hiền lành quá. Nhưng sự đời dâu biển biết đâu mà mò, nên ai biết trong chốc lát, khi đoàn xe chở lính lăn bánh, bao nhiêu bất trắc lại sẽ dồn dập đến, vì du kích ba tỉnh Bình Tuy-Long Khánh-Phước Tuy, rất là thiện nghệ trong việc gài mìn bẩy, đặt hầm chông, bắn sẽ, quăng lựu đạn và ám sát dân lành. Lính đâu có sợ bị phục kích nhưng mười người như một , rất sợ trúng mìn bị thương, phải cưa chân tay hay trở thành phế nhân què, đui, dung nhan hủy hoại. Lúc đó đời trai coi như đã dứt, vì em sẽ giã từ gác trọ, để lên xe hoa với kẻ khác. Hai tháng qua, ngày đêm lặn lội trong rừng sâu trên mưa nắng, dưới đĩa vắt, rắn mìn chông được gài giắng khắp vùng Xuyên Mộc, Đất Đỏ, Đức Thành. Đôi giày bố và bộ đồ trận, được đổi mới đợt trước trong căn cứ Phú Mỹ, doanh trại của Chiến Đoàn 43BB, cũng đã rách nát bạc màu, thì nay lại có lệnh lội tiếp không có ngày N.

Đoi lính VNCH trước năm 1975 tàn nhẫn và bi thảm thế đó, nên đôi lúc thoáng nghĩ bâng quơ và nay nhìn lại, thì thật là bất công, thiệt thòi và bị đời hiếp đáp quá đáng. Rồi càng thấy tức cười hơn, khi nhìn lại những thành phần bệnh hoạn no cơm ấm cật, vô ý thức và chỉ vì muốn phô trương tài năng của mình, mà tận tuyệt chà đạp trên sự khổ đau của lính, những người đã bán mạng mình, để bảo vệ sự sống ký sinh cho họ.
Ôi còn mùi gì khiến ta phải nôn mửa hơn, khi khắp nơi trên quê hương máu lửa ngập trời , bao nhiêu nam nữ thanh niên, lần lượt nối tiếp, bỏ trường , bỏ lớp, quên tình yêu và gia đình thi hành bổn phận, tiến ra sa trường hứng đạn lãnh mìn. Trong lúc đó, lại có một bọn tìm đủ mọi cách để trốn quân dịch ở ngoại quốc hay ngay trong lòng đô thị, không bao giờ biết tới chiến trường, nên không phải đối đầu với sự chết chóc và đui mù hay giả bộ không biết sự tàn bạo dã man, có một không hai của Việt Cộng, tay sai cuả Cọng Sản đệ tam quốc tế.

Trong khi bộ đội Bắc Việt hàng hàng lớp lớp tấn công quân dân Miền Nam, thì đám phản chiến,mà hầu hết đều tự xưng là trí thức, khoa bảng, nhưng mặt thật chúng chỉ là đệ tử của Che Guevara,The Beatles, Bertrand Russell, Jean Paul Sartre, Herbert Marcuse., liên tục biểu tình đòi hòa hợp hòa giải với giặc.. Nhưng hề hơn hết có lẽ là những thây ma không tim không óc, chẳng khác nào hình nộm, luôn đấm ngực đòi hòa bình hay nằm dài chờ bồ câu trắng hiện ra trong máu lệ. Đã vậy còn la ó , xiên xỏ, gào khóc liên hồi đâm sau lưng người lính :

“ Hãy ngồi xuống đây
như loài thú hoang
yêu nhau ngoài đồng
dưới nắng ban mai phô thân trần truồng
kiếp sống hoang sơ..”
( Lê Uyên Phương )

Ăn chơi trác táng rồi la ó rên rỉ nhưng nào đã hết đâu, mà còn nữa, còn rất nhiều những đau đớn xót xa, những âm thừa nhứt nhối, cứ thản nhiên rói mãi vào tâm can người lính, khiến nhiều lúc cũng muốn như họ, trốn quân dịch hay mang mặt nạ để nhân danh lãnh tụ, tôn giáo., bịp chúng lánh đời. Sau đó tìm hang ổ rất bình yên ở hậu tuyến để phá hoại chính quyền.

“ Giã từ em, anh đi trung sĩ
em ở nhà lấy Mỹ nuôi con
bao giờ hết việc nước non
về nhà đã có Mỹ con anh bồng..”
- “ Tôi có người yêu chết trận Pleime
Tôi có người yêu chết trận Ashau
Tôi có người yêu nằm chết cong queo
Chết vùi lòng đèo, chết cạnh gầm cầu
Chết nghẹn ngào mình không manh áo.
Mẹ mong con mau bước về nhà
Mẹ mong con lũ con đường xa
Một ngục tù trên quê hương
Người Việt Nam quên nòi giống. “
(Trịnh Công Sơn)

- “ Con về thăm mẹ
tay cầm lưỡi lê
mẹ nhìn ngơ ngác
ngủ đi con, ngủ đi con
rồi ngày mai khôn lớn
giết bạn bè, anh em
bán nước mà làm quan ..”
( Miên Đức Thắng )

Mỗi lời hát là một trái phá, từng ca khúc như một hầm xăng, đốt phá cháy đỏ lòng người yêu nước dữ dội. Rồi sau ngày 30-4-1975 tàn mùa chính chién, lũ Việt gian phản chiến hết thời bị vắt chanh bỏ vỏ, lăn lóc nổi trôi trong biển đời đen bạc, hối hận cũng đã muộn màng :

“ Gọi quê hương mà nhớ
Quê hương ? còn có quê hương sao ?
Khi đất nước không còn chiến tranh
Rợ Hồ từ núi về thành
Bạn bè trăm đứa, vừa xanh nấm mồ ..”

Vẩn vơ nghĩ bậy, nên xe đã tới Trại Lý Công Uẩn, Tân Phong trên quốc lộ 1, lúc nào không biết. Trời cuối tháng trăng mọc muộn, thêm vào đó lại có mưa phùn gió bấc, nên bốn hướng tối đen mù mịt. Trong khoảnh khắc chết cóng của không gian , chỉ còn có tiếng côn trùng rã rích, một vài con cú tìm mồi , cất giọng kêu than não nuột. Mặc kệ, lính tráng vẫn im lặng ngủ ngồi trên xe chờ sáng. Xa xa tù cõi mịt mờ, bổng vang vang tiếng chuông nhà thờ, từng hồi văng vẳng, như muốn chiêu hồn những người lính của Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 43.. sắp bước vào cõi mộ địa. Nỗi buồn bất chợt làm hồn hoang xao xuyến, ta đã bỏ trường xưa, lớp cũ, bạn bè và thầy cô thân thương từ bao giờ nhỉ ? Gần quá mà cũng thật xa, không muốn nghĩ mà lòng cứ thổn thức vô vàn. Nhưng tất cả cũng chỉ là định mệnh, giống như những đào kép đang diễn các vở tuồng tự do dân chủ, bảo vệ đạo pháp hay gì gì đó, trên sân khấu đời. Tất cả thật xa hoa thừa thải, nhất là lúc này lính đang sắp tới một chiến trường khốc liệt, khi trời hừng sáng.
Tiểu đoàn lên đường ngay, sau khi đã nhận đủ tiếp tế và đạn dược. Điểm hẹn là Tánh Linh . Cuộc đổ quân coi như an toàn và hoàn tất lúc một giờ trưa ngày 21-12. Hoài Đức và Tánh Linh là hai quận miền núi, nằm về phía tây của tỉnh Bình Tuy, nguyên là phần đất phía nam thuộc phủ Hàm Thuận, tỉnh Bình Thuận, được Tổng Thống Ngô Đình Diệm, cắt để thành lập tỉnh mới vào năm 1957. Vùng này nằm sâu trong thung lũng sông La Ngà, phát nguyên từ cao nguyên Di Linh, chảy suốt vùng, một nhánh đổ vào Biển Lạc dưới chân núi Bảo Đại, nhánh còn lại chảy tới Trị An và nhập vào sông Đồng Nai, ra biển Đông ở Vũng Tàu. Quận Hoài Đức hay Nam Sông có các xã Võ Đắc (Huyện lỵ), Chánh Đức, Võ Xu, Duy Cần và Trà Tân tương đối an ninh. Quận Tánh Linh hay Bắc Sông, gồm các xã Sùng Nhơn, Mê Pu, Nghị Đức, Bắc Ruộng, Huy Khiêm, Tà Pao và Lạc Tánh (Quận lỵ) có nhiều xã xôi đậu, dân chúng gồm người Kinh, Chàm, Thương ăn ở lẫn lộn nhưng đa số thân hay theo VC.

Ở đây rừng núi chập chùng, đầy rẩy thú dử, dân quân du kích, cùng với sự hiện diện của Công trường 7 Chính qui Bắc Việt, luôn luôn gây áp lực mạnh, cho các lực lượng quân sự ở đây dù các Trung Đoàn 43,48 và 52 của SD18BB, luân phiên hiện diện trấn giữ và bảo vệ dân chúng trong vùng. Tuy vậy tình hình vẫn không khả quan mấy, vì một số lớn di dân Nam Ngãi, được TT Diệm , giúp từ miền Trung đói nghèo tới đây khai khẩn sinh sống trong cac khu trù mật, sau khi phát tài và đủ lông cánh, đã phản bội Quốc Gia, thân hay theo VC chống lại chính quyền.

Cũng do sự tác tệ này, nên mới có cái gọi là Đồng khởi năm 1959 tại Xã Bắc Ruộng, quận Tánh Linh, tỉnh Bình Tuy. Do quyết tâm cưỡng chiếm cho dược Miền Nam VN bằng võ lực, Hà Nội đã lập cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, cho đám khoa bảng trí thức no cơm ấm cật Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Thị Bình, Hồ Thu.. làm lãnh tụ bù nhìn. Tại Bình Thuận, ngày 2-9-1959 Sáu Tú nhân danh đảng, tuyên bố thành lập Đơn Vị 2-9 do Phạm Hoài Chương (hiện còn sống mang quân hàm thiếu tướng cọng sản), làm Chỉ huy trưởng kiêm chính trị viên. Ngoài ra còn có Nguyễn Hội, nằm vùng trong trường trung học Phan Bội Châu Phan Thiết, từ 1955-1958, là bí thư chi bộ kiêm y tá, làm chỉ huy phó, bí thư chi đoàn, phụ trách hậu cần ( Nguyễn Hội đã bị DPQ/BT bắn chết tại Đồn Trinh Tường , Phan Thiết ngày mùng 2 Tết Mậu Thân 1968). Đơn vị 2-9 lúc đó có 3 tiểu đội, trong số này có một tiểu đội người Thương. Riêng số du kích người Việt, đa số ở Nhơn Thiện trong Mật khu Lê Hồng Phong. Chính đơn vị này đã tham dự trận đánh xã Bắc Ruộng năm 1959, trong chiến dịch Đồng Khởi, trong đó có Mõ Cày (Bến Tre) và Trà Bồng (Quảng Ngãi).

Quận Tánh Linh nghèo nàn xơ xác, từ đầu cổng tới cuối làng, đếm được vài trăm nếp nhà, nằm hai bên con đường đất đỏ, từ Ga Suối Kiết vào. Huyện đường xây gạch lợp ngói nhưng lâu ngày hứng chịu nhiều đợt tấn công của quân thù, cộng thêm mưa rừng gió núi, nên tường mái đã loang lổ nhiều vết đạn và đất đỏ. Bên trong có hai dãy nhà lụp sụp, xây cất bằng ván lợp tôle, là nơi cơ quan hành chánh làm việc. Tất cả cũng xiêu vẹo tồi tàn , như chính thân phận nghèo nàn, bất hạnh của dân và lính trong cơn binh lửa. Phố chợ Lạc Tánh nằm kế bên Huyện đường, càng bi đát hơn. Nhiều nhà cửa của dân địa phương bỏ đi lánh nạn cọng sản, đã trở nên hoang phế, tang thương, cỏ lau mọc xum xê, hàng cột cháy đen loang lổ đứng im lìm. Quê hương Việt Nam là thế đó, nơi nào cũng tang tóc hắt hiu, thảm cảnh chiến tranh nồi da xáo thịt, vắt máu đồng bào đem bán cho Nga, Tàu, Mỹ, Nhật, càng nghĩ càng thêm thống hận.

Bốn giờ chiều, Tiểu đoàn xuất quân, xe chở lính tới xã Huy Khiêm, rồi từ đó lội rừng, tấn công chiếm lại Bắc Ruộng. Hai Tiểu đoàn 2 và 3/43 cũng đã được điều động , từ hai hường Võ Xu, Nghi Đức về án ngữ hai mặt tây, bắc. Riêng Đại Đội Trinh Sát 43, thì được trực thăng vận, nhảy vào lòng địch . Cuộc hành quân giải tỏa thật qui mô nhưng kết quả rất bấp bênh, vì tánh mạng của đồng bào vô tội, đang bị giặc bắt làm con tin trong xã.
Bắc Ruộng đã hiện ra trong tầm mắt, sau con dốc đất đỏ thoai thoải, cây trái mái tranh chìm ngập trong màn lửa khói mịt mù. Đại đội đi đầu đã bắt đầu chạm địch, từ trong Ấp bắn ra. Tiếng súng của hai phía nổ rền trời đất, nào đại liên, M79, súng lớn, súng nhỏ lẫn tiếng bom rơi từ máy bay oanh tạc. Việt Cộng ngụy trang lá cây, chạy có đàn trong các giao thông hào kiên cố. Bên ngoài đồng ruộng bao quanh, lúa đã bắt đầu trổ bông sửa, mùi thơm đưa đẩy trong gió, khiến cho cảnh vật thật là trớ trêu bi thảm, làm cho ai cũng muốn kêu trời, hỏi sao lại gây dựng nên nỗi này?

“ kẻ thù của ta, đâu phải là ngươi
giết người đi thì ta ở với ai?
kẻ thù ta tên nó là gian ác
tên nó là vô lương
tên nó là hờn căm
tên nó là hận thù
mang cái rổ danh từ
chia rẽ chúng ta..”
( Phạm Duy)

Lũ gian ác, chia rẻ, vô lương tìm hoài không thấy, chỉ biết giờ này chúng tôi theo lệnh, là phải làm sao cứu cho được đông bào , đang bị kẹt giữa hai lằn đạn, cho nên cuối cùng là phải thanh toán gấp mục tiêu và chấp nhận thương vong, vì hỏa lực của giặc rất mạnh. Tuy vậy, tới tám giờ tối, quân ta vẫn không tiến được vào Ấp, dù vòng vây xiết thêm đôi chút. Các đại đội đều lấy bờ đất của vòng đai bên ngoài Ấp chiến lược và bờ ruộng làm phòng tuyến tránh đạn nằm chờ, vì đêm tối không phân biệt được phương hướng, địch bạn. Ruông đang trong mùa mưa nên ngập nước, từng đàn đỉa đói đánh hơi người, kéo nhau tới xin chút huyết của lính. Trên trời thì muỗi rừng bay dày đặc, vo ve khắp mặt mũi tay chân. Mặc kệ, tất cả đều im lặng rình rập, để dành cái sống đang nằm trong đường tơ kẻ tóc, của đạn súng vô tình. Giao tranh vẫn tiếp diễn ác liệt, hỏa châu soi sáng cả bầu trời, súng nổ, đạn réo, người vật, cỏ cây đang sống đọng, bổng phút chốc trở nên vô tri , dưới sự tàn phá của chiến tranh.

Có làm lính mới thông cảm nổi khó khăn của người lính VNCH, bởi vì ta và giặc Hồ, cùng đều là người Việt Nam, nên dù thế nào chăng nữa, vẫn còn một chút tình nòi giống, cho nên nhiều đơn vị đã phải khựng điếng trước nghịch cảnh nồi da xáo thịt. Rốt cục chỉ vì thương hại mà lãnh chịu nhiều thương vong, vì VC là cầm thú không tim óc, nên chúng không bao giờ biết tình cảm, chỉ nghĩ tới làm sao để đạt chiến thắng, bất chấp thủ đoạn, kể cả việc sát hại hay giữ đồng bào làm con tin. Giờ mới hiểu là tại sao VC và người dân trong vùng bị chiếm, chỉ sợ có các lực lượng Đồng Minh, nhất là quân Đại Hàn . Vì những người này không bao giờ cần phân biệt ai là dân, du kích, chính quy VC, hễ bắn giết họ, thì lập tức bị trả đũa ngay, không một chút nhân nhương, thương hai. Bi kịch tại Mỹ Lai, quận Sơn Tịnh, Quảng Ngải, là một chứng minh. Riêng hai tỉnh Phú Yên và Bình Định khét tiếng của Quân Đoàn 2 vì có nhiều VC, nhưng khi Sư Đoàn Thanh Long và Mãnh Hổ tới trấn đóng tại vùng này, thì VC nhất là du kích, hầu như là rút đi chỗ khác, vì vỏ quít dầy đã có móng tay nhọn, tàn bạo gặp dã man, cuối cùng giặc phải tháo chạy. Thế là vùng đó được bình an.

Ngược lại người lính VNCH, ngoài vấn đề bị khinh ghét ngộ nhận vì VC tuyên truyền, chúng ta là lính đánh thuê cho Mỹ, nên dân chúng đả tỏ thái độ thù nghịch rõ rệt, dù thực chất ta tới đây để bảo vệ tài sản và sinh mạng của họ. Cũng đâu có trách được, vì người dân lúc đó đâu có khác gì con sâu cái kiến, nằm giữa dao thớt, nên chỉ biết nghe lời những kẻ có súng đạn trong tay, để giữ lấy mạng. Hành quân đến làng ấp nào cũng vậy, chỉ thấy đàn bà con gái bụng to vì mang thai. Lính tò mò hỏi chồng đâu, thì trả lời là đã đi làm ăn xa. Điều này cho thấy sự hiện hữu thường xuyên của giặc khắp mọi nơi, nhưng vì chế độ của miền Nam qua nhân từ, nên rốt cục thành bất lực không kiểm soát được.

Sáng hôm sau, khi mặt trời vừa thoát được dãy núi Ông trước mặt, chim chóc bắt đầu rời tổ tìm mồi, thì các cánh quân của Tiểu đoàn 1/43, dưới quyền Tiểu Đoàn Trưởng, Đại Uý Tôn Thất Trung (Khóa 16 SQ/VBDL, vừa thay thế Cố Thiếu Tá Ngô Văn Diệp, TDT bị phục kích chết tại Trảng Bàng tháng1-1965. Riêng Đại Uý Trung cũng bị trọng thương, gãy hai chân , trong trận TD 1/43 bị Công Trường 7 Chính quy VC tràn ngập vào tháng 7/1966 tại Võ Su, Bình Tuy), cũng tiến được vào Ấp. Lính từng người một cẩn thận, vì chông bẩy, mìn lựu đạn còn gài khắp nơi. Quân tiến theo con đường đá lỏm chởm chạy ngang Xã Bắc Ruộng, thấy VC đào rất nhiều hầm hố giao thông hào. Khắp nơi súng vẫn còn nổ và khói lửa thì mịt trời. Đó đây giặc bỏ lại nhiều xác bộ đội cháy đen, nằm co quắp lẫn lộn với túi gạo, thắt lưng đạn cùng quần áo bừa bãi. Tất cả hiện ra thật là bi đát, khiến cho ai được chứng kiến cũng phải đau xót, phiền muộn. Chiến tranh là vậy đó, chỉ có những người VN thấp cổ bé họng là hứng chịu tang thương, còn xếp chúa hay các lãnh tụ, thì muôn đời rung đùi, đâu có biết tới.

Theo lệnh, Tiểu đoàn 1/43 có trách nhiệm lục soát Thôn 1 và 2, về hướng nam của xã. Trong ánh nắng ban mai rực rỡ, có thể nói Bắc Ruộng đã tan vỡ hoàn toàn. Dưới những mái nhà bị sụp đổ hoàn toàn vì bom dạn, mùi tử khí bốc lên nồng nặc. Trọn một gia đình, mẹ và ba con nhỏ, nằm chết đen queo thê thảm bốn ngày qua. Nói chung khắp nơi, moi tranh hay tôle lên là tìm thấy xác người.. Ruồi nhặng, sâu bọ gặp thời cơ, tha hồ rỉa rói xương thịt vô tri bất động . Mưa lại lâm râm rơi nhẹ khắp nơi, tăng thêm mùi hôi thối , làm cho lính đã mệt mỏi lại càng căng thẳng thần kinh , trước nỗi đau cùng tận của đồng bào. Một tốp con nít, đàn bà xanh mét, hốc hac, từ những căn nhà hai bên đường, túa ra chạy theo lính. Thôn xóm vẫn im lìm trong cảnh tiêu điều, hầm hồ cá nhân đầy mắt đất. Thảm cảnh không cầm nổi nuớc mắt, khi lính phát hiện đuợc đôi vợ chồng già nua, ẩn trú dưới hầm kín mấy này qua, dù cụ bà bị thương nặng ở đầu nhưng không dám kêu cứu, vì sợ VC bắt dẫn theo vào rừng.

Buổi trưa, Tiểu đoàn mới vào Ấp giữa.Đây là khu vực của Trường Sơ Cấp và Nhà thờ Thiên Chúa Giáo Bắc Ruộng. Nhưng tất cả cũng đả sụp đổ hết rồi, chỉ còn trơ lại mấy bức tường cháy và xác người chết nằm la liệt. Giặc Cộng khôn ranh, biết Chính phủ cũng như QLVNCH, không bao giờ dám làm tổn hại tới những cơ sở tôn giáo trang nghiêm như Đình làng, Chùa Miễu và Nhà thờ. Bởi vậy, giặc Hồ đã chiếm nhà thờ Bắc Ruộng, để đặt Bộ Chỉ Huy quân sự, cũng như các giàn hỏa tiễn phòng không bắn máy bay. Kết quả cả chúng và các cơ sở đều đã tan nát dưới sự tàn phá của bom đạn vô tình.

Thánh đường giờ mơí im vắng thật sự . Bàn ghế gãy đổ, mái nhà cũng bay mất. Tượng Đức Chúa Jésus ngả nghiêng xiêu vẹo. Đôi cánh thiên thần như chập lại để vượt khỏi tầng mây. Kinh sách, các lọ nước thánh tung toé lăn lóc trên sàn nhà. Nhưng thảm nhất, là phía sau chiếc bệ thờ bằng gỗ, có sáu xác chết đả sình thối. Trong số này có Ngài Cha Xứ Bắc Ruộng, nằm bất động, tay hình như đang còn lần từng hạt chuỗi, để cầu nguyện cho nhân thế, được ơn lành, phước lớn, hòa bình và hoan lạc. Nhìn Ngài nằm chết thê thảm, người lính chiến có tâm hôn chai đá, cũng đã phải gào thét thật to, để hỏi Thượng Đế Chí Tôn, đang ngự trên ngôi cao tận chín tầng mây diễm tuyệt, rằng bao giờ dân tộc Việt Nam, mới được tắm trong bể ánh sáng mà Thiên Chúa hằng rao giảng ? Bao giờ trần gian mới được hoan lạc và hòa bình ? Bao giờ các nạn nhân chiến cuộc , mới có được những đoá hoa hồng, hoa súng, những điệu nhạc thanh thoát, để thế nhân vượt qua bể khổ trầm luân của biển đời :

“ Maria, tâm hồn tôi ớn lạnh
run như run thần tử thấy long nhan
run như run hơi thở chạm tơ vàng
nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến..”
(Hàn Mặc Tử )

Thượng Đế đã thật sự đi rồi, nên không còn ai can ngăn nổi loài người, đâm chém bắn giết lẫn nhau. Chán nản quá, chúng tôi rời nhà thờ , sau khi đem khiêng các xác chết về địa điểm tập trung, trước trường học, để tiếp tục lục soát cho hết khu vực trách nhiệm. Nắng vẫn le lói sáng rực nhưng không khí khắp nơi vẫn ớn lạnh, tiêu điều. Đây là khu nhà hậu của giáo đường, aó quần, cối xây, lúa gạo vẫn còn vương vãi trong ngoài, nhưng người ở đây thì đã chết hết rồi. Kìa là hình ảnh của ba cô giáo làng, khi giặc về không chạy thoát được, nên đã chụm đầu vào chết chung ở nơi này vì các mảnh bom đạn của cả hai phía. Sự chết của ba nàng, quả là tàn nhẫn dữ dội. Aó tím áo xanh trinh nguyên rạng rỡ, chưa được bao nhiêu tuổi đời, đã thành áo quan, ôm ấp hình hài các em nơi núi rừng miên trường thảm tuyệt.
Đúng, phải và rất hay như gã nhạc sỷ họ Trịnh đã hát :

“ Tôi có người yêu làm giáo làng
vừa chết tại trận Bắc Ruộng
không hận thù, nằm chết như mơ
từ nay tôi quên tiếng người..”
(Trịnh Công Sơn)

Tới chiều, cuộc lục soát coi như hoàn tất. Tát cả các xác chết của ta, địch và dân chúng đều được gom lại trước sân cỏ Thanh đường. Những người bị thương nặng, được trực thăng chở về Bệnh viện Võ Đắc và Xuân Lộc điều trị, cứu chửa. Các Tiểu đoàn của Trung Đoàn 43 chia khu vực, để dọn dẹp và giúp dân trong xã dựng tạm lại nhà cửa, khói lửa, hầm hố khắp nơi được dập tắt và lấp kín. Ban Quân Y/Trung Đoàn 43 và Tỉnh Đoàn Bình Định Xây Dựng Nông Thôn Bình Tuy, cũng được điều động khẩn cấp tới Bắc Ruộng, để phát thuốc, chẩn bệnh và cứu trị các nạn nhân chiến cuộc
Sáng ngày 24-12, công tác coi như phần nào hoàn tất, Trung Đoàn 43 BB được lệnh về Long Khánh, sau khi bàn giao Xã Bắc Ruông lại cho một Tiểu Đoàn Địa Phương Quân, từ Hàm Tân di chuyển tới. Nhưng người trong Ấp lại ùa theo lính rất đông để xin vào các trại tị nạn. Chắc họ không còn dám tin ai nửa, kể cả các du kích địa phương, đang lẩn quẩn ẩn trốn ở bìa rừng, chờ Lính Trung Đoàn 43 rút, là mò về tiếp tục khuấy phá người dân khốn khổ. Tại Tánh Linh, trong khi ngồi chờ xe tới rước , nhìn cảnh tượng dân chúng trốn ra được, trước khi Bắc Ruộng bị giặc Cộng cưởng chiếm, hỏi han tìm kiếm thân nhân lẫn lộn trong đoàn quân, muốn rơi nước mắt. Con ơi, má ơi, em ơi. Tiếng cưòi khóc của đồng bào vang dội như muốn phá vỡ , cái không khí trầm mặc muôn thu của phố núi Lạc Tánh..

Quân đến rồi đi, đêm nay tiểu đoàn được tạm thời nghĩ xã hơi nơi phương phố Xuân Lộc. Tỉnh lẻ của miền đất đỏ, đang làm dáng với hoa đèn lộng lẫy. Các xóm đạo Bảo Hòa, Bảo Đinh, Bảo Toàn và Khu vực Nhà thò Chính Tòa trước chợ, đầy ấp tín đồ con chiên, mừng vui ngày Chúa Giáng Sinh. Họ đâu có biết, ở một nơi nào đó, cũng tại một thánh đường , có Ngài Cha Xứ và ba cô giáo làng, vừa mới rời khỏi trần gian , để giúp cho thế nhân, sớm tìm laại được hòa bình và hoan lạc.

Thế rồi đời lính cứ lặng lờ xuôi ngược. Chuyện của ngôi thánh đường Bắc Ruộng, có ngài cha xứ và ba cô giáo làng nằm chết,như theo khói lửa chiến tranh và thời gian trôi vào quên lãng. Bởi vì cuộc chiến càng lúc càng ác liệt và hằng ngày đã có không biết bao nhiêu chùa, nhà thờ, các vị chân tu bị giặc Hồ tàn phá và giết chết, trên khắp mọi nẻo đường đất nước.
Năm 1978 sau mưới hai năm xa cách, tôi lại về thăm Bắc Ruộng, nơi mà một thời người lính chiến của Trung Đoàn 43 Bộ Binh, từng giẫm nát. Nhưng lần này chúng tôi về với thân phân của một tù binh cọng sản, để lao tác, chặt rừng, xẻ núi, đào kinh, vét mương và lấp kín các hố bom, hầm đạn của thời nào. Bắc Ruộng vẫn như buổi nào, con đường tỉnh lộ nối xã với Lạc Tánh và Sùng Nhơn vẫn lầy lội và lởm chởm đá. Nhà cửa dân chúng đã xây dựng lại, cây trồng có phần xum xuê hơn trước, vì chiến tranh đã dứt. Người cũ cảnh mới trùng phùng trong ngấn lệ. Nhưng có một điều là dân chúng đã không xây lại ngôi thánh đường củ, đã bị tàn phá năm 1965. Nền nhà xưa cỏ lau mọc cao hơn đầu, những hàng cột vôi và các bức tường gạch cháy, vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. Dãy nhà hậu cũng biến mất, chỉ còn trơ lại cái sân đất trống rỗng đầy cỏ dại, nằm im vắng thẫn thờ trong gió lạnh, nhìn cuôc bể dâu thêm ngao ngán đoạn trường :

“ Trấn bắc hành cung cỏ dãi dầu
khách đi qua đó chạnh niềm đau
mấy tòa sen rớt, mùi hương ngự
năm thức mây phong, nếp áo chầu
người xưa cảnh cũ nào đâu tá ?
( Bà Huyện Thanh Quan )

Qua màn lệ mắt của kẻ tù, tôi hình như đã thấy những tà áo tím, áo xanh của các em giáo trẻ năm xưa và màu áo chùng đen của ngài cha xứ. Tất cả như đang lồng lộng trong gió và trên chín tầng mây cao. Người đang đưa tay vẩy gọi và thầm bảo rằng “ các con hãy giữ niềm tin và phấn đấu “
Nhưng chao ơi, đợi tới bao giờ?

Xóm Cồn Hạ Uy Di
Mùa Giáng Sinh 2008
HỒ ĐINH
TD1/TrD43/SD18BB
Kbc 4424
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

NHỮNG PHI VỤ BẮC PHẠT CỦA KHÔNG QUÂN VIỆT NAM


Hồi ký của KQ Trần Đình Giao De Couteau
Với sự cộng tác của KQ Hoàng Bá Mỹ, KQ Nguyễn Kim Chung, KQ Phạm Quốc Tiến và KQ Nguyễn Văn Phước

* Thân tặng:- Những anh em Kiểm Báo đã làm việc với tôi tại TRUNG TÂM KIỂM BÁO 41 PANAMA CONTROL trong những năm 1964-1965 và 1969 tại Đà Nẵng.

* Đồng kính tặng:- Đại Tá Dương Thiệu Hùng, cựu Tư Lệnh KĐ 41, người đã hướng dẫn 6 phi tuần khu trục A1H oanh kích những vị trí quân cộng sản Bắc việt tại Đồng Hới ngày 28-2-1965, bị phòng không địch bắn trúng nhưng đã can đảm lái tầu về tới ngoài khơi vịnh Đà Nẵng, nhảy dù an toàn và được cứu cấp đưa về căn cứ.

- Tưởng niệm anh hùng phi công, cố Trung Tá Phạm Phú Quốc, Tư Lệnh KĐ 23CT, đã anh dũng đền nợ nước trong phi vụ oanh tạc căn cứ quân cộng sản Bắc việt tại Hà Tĩnh ngày 19-4-1965.

Image

VÀI HÀNG VỀ TRUNG TÂM KIỂM BÁO PANAMA:

TTKB Panama tọa lạc trên đỉnh núi Sơn Chà cao hơn 2,500 bộ trên bán đảo Tiên Sa trong vịnh Đà Nẵng. Phía Bắc là đèo Hải Vân, phía Tây là thành phố Đà Nẵng ngăn cách bởi con sông Hàn với một trục lộ giao thông duy nhất là cây cầu Trịnh Minh Thế, phía Đông là căn cứ Hải quân Tiên Sa và biển Nam Hải, phía Nam là làng Mỹ Khê với hai địa danh nổi tiếng là Ngũ hành sơn và bãi biển Mỹ Khê đã từng được Hollywood dùng làm bối cảnh cho một "show TV" rất nổi tiếng ăn khách trong cuộc chiến VN là "CHINA BEACH". Núi Sơn Chà còn có tên là "Núi khỉ" người Mỹ gọi là "Monkey mountain" vì có cả ngàn con khỉ sống trong khu rừng bao quanh núi, đặc biệt có loài khỉ được gọi là con "Giáo Hoàng" vì những chú khỉ này có bộ lông ngũ sắc trông giống như mầu áo đức Giáo Hoàng thường mặc khi hành lễ. Ngoài khỉ, còn có nhiều thú rừng khác như heo rừng, thỏ và loài nai nhỏ tý gọi là con "cheo" chỉ cao lối 25 đến 30 phân, thịt ăn rất thơm ngon.
Từ chân núi lên tới đỉnh là một đường đèo vòng vèo dài hơn 7 cây số, có khúc dốc cao tới 25%, xe chạy lên núi chỉ có thể chạy số một hoặc số hai mới leo nổi. Đỉnh núi Sơn Chà luôn luôn có mây mù bao phủ và lạnh, anh em kiểm báo gọi là "đỉnh ngàn năm mây bay".

Đài Panama do Không Quân Mỹ thiết lập năm 1961, được trang bị hai máy radar tối tân là FPS 20 (search radar)có tầm dò tìm phi cơ ở xa tới 500 miles và máy FPS100 (height finder)có thể khám phá thấy phi cơ bay cao trên 100 ngàn bộ.

PANAMA YỂM TRỢ HÀNH QUÂN VÀ NHỮNG PHI VỤ BẮC PHẠT:

Tôi được bổ nhiệm làm Trưởng Phòng Hành quân Trung Tâm Kiểm Báo Đà Nẵng tháng 6 năm 1964. Chỉ huy trưởng đài lúc đó là Đại úy Đặng Văn Tiếp (1). Tôi ở trong cư xá sĩ quan độc thân bên Không đoàn 41. Không Đoàn trưởng là Thiếu Tá Nguyễn Kim Khánh, Không Đoàn Phó là Thiếu Tá Vũ Văn Ước. Tôi được cấp một xe Dodge 4 x 4 làm phương tiện đi làm. Hàng ngày tôi phải lái xe 20 cây số từ căn cứ Đà Nẵng sang Sơn Chà rồi leo đèo hơn nửa tiếng lên đài trên đỉnh núi làm việc cho tới 4 giờ 30 chiều mới xuống núi trở về cư xá bên Không đoàn. Phòng hành quân TTKB của tôi có 3 toán hành quân làm việc luân phiên 24/24 do 3 sĩ quan Weapons Controller trách nhiệm là các Thiếu úy Nguyễn Văn Phước, Nguyễn Văn Mai và Hoàng Bá Mỹ(2), Sĩ quan Phụ tá HQ của tôi là Thiếu-úy Nguyễn Anh, sĩ quan kỹ thuật là Thiếu úy Khiếu Thiện Kế (3). Công việc hàng ngày của Panama là phối hợp với Trung Tâm Hành Quân Không trợ I (ASOC 1) và Không Đoàn 41 theo dõi, yểm trợ những phi vụ hành quân oanh kích quân Việt cộng, tải thương, tiếp tế quân bạn, cấp cứu v.v... Ngoài ra, chúng tôi còn có nhiệm vụ kiểm soát vùng không phận trách nhiệm (air surveillance), theo dõi những phi vụ oanh tạc Bắc Việt của Không Quân và Hải Quân Hoa Kỳ và hoạt động của những phi cơ Mig của Trung Cộng trên đảo Hải Nam (cách Đà nẵng gần 500 dậm).

Cuối năm 64, Thiếu Tá Khánh du học, Thiếu Tá Ước thuyên chuyển về Bộ Chỉ huy Không chiến (AOC: Air operation center) ở Sài Gòn, Thiếu Tá Dương Thiệu Hùng được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Không Đoàn 41. Thiếu Tá Hùng là Giám Đốc Huấn luyện TTHLKQ Nha Trang những năm 60, 61 khi tôi là sĩ quan Phụ tá Trường Quân sự. Gặp lại tôi, anh rất vui mừng, bắt tôi đưa lên thăm cơ sở radar trên đỉnh núi và rất quan tâm đến nhiệm vụ của đài kiểm báo.

Đầu năm 1965, tình hình quân sự trở nên sôi động. Cộng sản Bắc việt đưa nhiều sư đoàn chính qui xâm nhập Quân Khu 2 và Quân Khu 1. Ngày 1- 2- 65, chúng tấn công căn cứ Pleiku phá hủy một số trực thăng của Hoa Kỳ, và đặt chất nổ phá hoại CLB hạ sĩ quan Mỹ ở Qui Nhơn, đồng thời pháo kích doanh trại quân đội Hoa Kỳ và VNCH ở Phước Tường gần căn cứ KQ Đà Nẵng.
Để trả đũa và cảnh cáo CS Bắc Việt, Hoa Kỳ cho nới rộng mục tiêu oanh tạc miền Bắc từ vĩ tuyến 17 cho đến vĩ tuyến 19. Từng đoàn khu trục F 100 và F 105 liên tục oanh tạc những vị trí địch từ Vĩnh Linh tới Đồng Hới, Hà Tĩnh. Không Quân VNCH cũng khởi sự tham gia những phi vụ Bắc phạt từ tháng 2-65.

PHI VỤ BẮC PHẠT ĐẦU TIÊN

Ngày 5-2-65, dưới sự chỉ huy dẫn đầu bởi Chuẩn-Tướng Tư Lệnh KQ Nguyễn Cao Kỳ diễn tiến như sau:

Trở về đài, Đ/úy Tiếp triệu tập một cuộc họp ở phòng hành quân chỉ thị cho Thiếu Úy Kế phòng Kỹ Thuật phải check tất cả các máy radar dò phương hướng (search radar), đo cao độ (height finder), máy truyền tin, và radar scope trong tình trạng khả dụng 100%. Riêng phòng Hành quân, các sĩ quan Chỉ đạo trưởng và sĩ quan chỉ đạo phải đích thân điều khiển những HSQ radar operator giầu kinh nghiệm làm "flight following" phi vụ đặc biệt quan trọng này vì là phi vụ Bắc phạt đầu tiên của KQVN và do ông TLKQ hướng dẫn.
Sáng hôm sau, tôi sang đài sớm từ 6 giờ sáng cùng Thiếu úy Mỹ check accuracy của từng radar scope và cắt đặt những operator expert ngồi làm việc trong dark room ở các vị trí plotter, AST, ASS v.v..

Mỹ cũng nhờ counterpart là Tr/úy Peoples lo giúp về Rescue khi cần và thường xuyên liên lạc với các đài của Hoa kỳ là đài YANKEE (airborne radar) ở ngoài khơi vịnh Bắc Việt và đài PRETTY GIRL ở Đông Hà để nhờ họ cùng làm Flight following. Riêng tôi lo liên lạc với TACC/North Sector(USAF) để xin yểm trợ khi có phi cơ địch lên nghênh cản. Đúng giờ G, khoảng 1 giờ trưa , Panama nghe danh hiệu "Tiger Crystal 1" gọi trên tần số UHF, phi vụ Bắc phạt bắt đầu khởi sự. Thiếu úy Mỹ , sĩ quan chỉ đạo trưởng toán C và Th/úy Bàn, sĩ quan phụ tá ngồi trước một radar scope dưới sự quan sát của Đ/úy Tiếp và tôi. Sau khi Tiger Crystal liên lạc với Panama, tất cả đều im lặng vô tuyến... Chúng tôi bắt đầu hồi hộp theo dõi trên màn ảnh radar và tần số trực HQ. Theo ước tính thì thời gian từ giờ G cho đến TOT (time over target) vào khoảng 45 phút. Chỉ 45 phút thôi mà sao thấy dài thế. Tôi đứng cạnh máy radar Trung sĩ I Thành trưởng toán chăm chú quan sát. Tôi coi đồng hồ rồi bảo Mỹ: "còn 5 phút nữa, khi họ lấy cao độ vào mục tiêu mình sẽ có radar contact". Tôi tiếp tục nhìn giờ và "count down" ngầm trong bụng... rồi ở những giây cuối cùng trên tần số... chúng tôi nghe rõ giọng (Đ/úy Tường mực): "2, 3, 4, 5, 6, 7, 8... 1 gọi: tất cả lấy cao độ, chuẩn bị vào mục tiêu". Tiếp theo là những tiếng micophone bấm "Bụp bụp", mấy phút sau trên màn ảnh radar bắt đầu thấy xuất hiện các chấm lân tinh di chuyển theo hướng mục tiêu đã kẻ sẵn. Rồi thình lình nghe trên tần số tiếng la " Một in... rồi Hai in... Ba in...cho đến Tám in...Các operator chăm chú theo dõi đếm đủ 8 chấm biểu hiệu 8 phi tuần trên scope đang di chuyển theo hướng ngược ra khơi lấy hướng Nam trở về căn cứ. 10 phút sau nghe Tiger Crystal 1 một gọi: "Panama, Tiger Crystal 1 gọi, over". Th/úy Mỹ trả lời: "Tiger Crystal1, Panama nghe bạn 5/5". Tiger Crystal1 báo cáo: "phi vụ hoàn tất, mọi người vô sự, chúng tôi trở về căn cứ, over". "Roger Tiger Crystal 1, congratulation , over". "Thank you Panama". Trên đường về, Tiger Crystal báo cáo có súng phòng không địch bắn lên lẻ tẻ nhưng chả ăn thua gì cả! Sau đó, Panama chuyển giao Tiger Crystal sang tần số đài GCA hướng dẫn về đáp phi trường Đà Nẵng. Đ/úy Tiếp và tôi cùng toàn thể anh em toán hành quân C thở phào nhẹ nhõm và vui mừng khi thấy phi vụ hành quân Bắc phạt thành công mỹ mãn không tổn thất. Chúng tôi nghe anh em bên Không Đoàn kể lại: sau khi đáp, bước xuống parking, Tướng Kỳ đã được Thiếu Tướng Thi, Tư Lệnh Quân Đoàn 1 đích thân tới dưới cánh phi cơ đón và hai ông tướng đã "hug" nhau trong khi mọi người vỗ tay chào mừng dưới ống kính quay phim của đài truyền hình và máy ảnh của các phóng viên. Thiếu Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn 1 tuyên bố đặc biệt ân thưởng mỗi hoa tiêu tham dự phi vụ hành quân Bắc phạt Anh Dũng Bội tinh với nhành Dương liễu, các sĩ quan yểm trợ hành quân được tưởng thưởng ADBT với ngôi sao bạc, những quân nhân bảo trì phi cơ và vũ khí được tưởng thưởng ADBT với ngôi sao đồng. Thiếu Tướng TLQĐ còn ra lệnh cho trưng dụng nhà hàng Bạch Đằng ngoài bờ sông Hàn đêm nay hoàn toàn dành cho Không Quân mở tiệc liên hoan.
Các phi vụ Bắc phạt của KQVN cứ tiếp diễn song song với những cuộc oanh kích hàng ngày của Không lực, TQLC và hải quân Mỹ theo nhịp độ mỗi tuần một lần cho đến khi các mục tiêu oanh tạc được nới ra tới vĩ tuyến 19.

PHI VỤ BẮC PHẠT ngày 28-2-65

Lúc 2PM, Thiếu-Tá Dương Thiệu Hùng, TLKĐ 41 đích thân chỉ huy 6 phi tuần khu trục bay ra oanh kích những mục tiêu địch ngoài tỉnh Đồng Hới cách Đà nẵng khoảng 1 tiếng 15 phút bay. Đặc biệt phi vụ này có sự tham gia của phi cơ khu trục Không Đoàn 62 trên Pleiku do Trung Tá Tư Lệnh KĐ Trần Văn Minh (4) hưỡng dẫn ra Đà Nẵng tham dự cuộc hành quân Bắc phạt. Trước giờ khởi sự, tôi lái xe đưa Tr/Tá Minh lên đỉnh núi vào phòng hành quân quan sát các sĩ quan điều không theo dõi phi cơ bay hành quân. Lúc các phi tuần khu trục cất cánh, tôi mời Tr/Tá Minh ra ngoài sân đài, ngồi trên một tảng đá cao nhìn xuống vịnh Đà Nẵng đếm từng chiếc A1 rời căn cứ hướng về mục tiêu phía bắc. Tôi chỉ chiếc A1 bay giữa trong phi đội dẫn đầu là Th/Tá Hùng, TLKĐ 41, danh hiệu là Flying Tiger 1 (Phi Hổ 1). Vì giới hạn mục tiêu oanh tạc đã được Mỹ công bố trước (từ vĩ tuyến 17 đến vĩ tuyến 19) nên cộng sản Bắc Việt đã có đủ thời giờ di tản các đơn vị tiếp liệu, hậu cần, các kho dự trữ về những vùng ngoài vĩ tuyến 20, và chỉ để lại những đơn vị phòng không được bố trí và che dấu khéo léo nên đã gây thiệt hại cho phi cơ của Không quân Mỹ và KQVN không ít. Trong một phi vụ oanh tạc Vĩnh Linh, chiếc A1 do Thiếu úy Nguyễn Đình Quý (khóa 61) bị bắn rơi đã crashed ngay trên DMZ(5)bên bờ sông Bến Hải. Thiếu úy Nguyễn Quốc Đạt (khóa 63A) bị trúng đạn nhảy dù ra bị địch bắt sống làm tù binh. Phi vụ lần này gồm 3 phi tuần A1H của KĐ 62 Pleiku và 3 phi tuần A1H của Phi đoàn 516 (Phi Hổ) do Tr/ úy Ôn Văn Tài hướng dẫn, tổng cộng là 18 phi cơ, mục tiêu oanh tạc là Đồng Hới. Trên đường bay đi, máy bay của ta đã phát hiện nhiều PT boat của cộng sản ngoài duyên hải từ DMZ (5)trở ra và khi tới mục tiêu, các phi cơ của KQ ta đã gặp phải hỏa lực phòng không dầy đặc của địch, đủ loại đại liên, cao xạ 37 ly. Ngay đợt oanh tạc của phi tuần thứ nhất, Phi Hổ 1 đã bị trúng đạn đại liên 50 và động cơ bị chảy dầu. Sau khi thả hết bom, Flying Tiger1 hướng ra biển cố gắng lấy cao độ để có thể bay về đến bên này vĩ tuyến 17 để được cấp cứu. Wing man Flying Tiger2 là Th/úy Vũ Khắc Huề báo cáo Panama là Flying Tiger1 bị trúng đạn phòng không và xin rescue. Tôi và Tr/ Tá Minh đến bên scope của Th/úy Phước quan sát cuộc điều động cứu cấp. Tr/ Tá Minh hỏi tôi:"radar có bắt được tín hiệu của phi cơ Th/Tá Hùng lái không?". Tôi nói:"được, nếu phi cơ bay ở cao độ trên 3 ngàn bộ và "squawk emergency". Tôi bảo Th/úy Phước báo cho ASOC 1 và Phòng Hành Quân Chiến cuộc KĐ 41 biết tin Flying Tiger1 bị bắn và xin xe cứu hỏa, xe cứu thương túc trực chờ ngoài phi đạo, đồng thời xin 2 trực thăng H 34 của Phi đoàn 213 airborne sẵn sàng cấp cứu trong trường hợp Th/Tá Hùng phải bỏ phi cơ nhảy dù cho an toàn. Thiếu úy Phước cũng nhờ counterpart Mỹ (USAF) xin trợ giúp trong việc rescue Flying Tiger1 đang trên đường bay về căn cứ. Khoảng gần 4 PM, Panama có radar contact với Flying Tiger1 ở cao độ 5000 bộ phía nam của DMZ lối 30 miles. Capt Knight(USAF) cho biết có 1 trực thăng CH 54 của US NAVY đang bay theo Flying Tiger và sẵn sàng rescue. 20 phút sau, Flying Tiger1 kêu "May Day" báo cáo động cơ bốc khói dữ dội sắp phát hỏa và phi cơ bắt đầu mất cao độ ! Lúc 4 giờ 45, Thiếu Tá Hùng gọi:"Panama control, Phi Hổ 1 gọi, over". "Phi Hổ 1, Panama nghe bạn 5/5". "Panama, tôi còn cách Đà Nẵng khoảng 20 miles, cao độ 3500 bộ, tôi sẽ phải bỏ phi cơ nhảy dù vì động cơ đã bắt đầu cháy!" 10 phút sau, Đ/úy Knight cho tôi biết VNAF Flying Tiger1 crashed ở 25 miles off shore, pilot nhảy dù xuống biển đã được CH 54 của US Navy rescue và đang trên đường bay về Quân y viện Duy Tân Đà Nẵng. Trung Tá Minh yêu cầu tôi đưa ông trở về Không Đoàn 41 để đón các phi hành đoàn và thăm Thiếu Tá Hùng ở quân y viện. Hai H34 rescue được gọi về đáp.

Sau phi vụ này, Thiếu Tá Hùng được nghỉ 15 ngày dưỡng sức rồi trở lại tiếp tục chỉ huy Không Đoàn 41 và điều hành những phi vụ Bắc phạt cho đến tháng 5-65. Trong khoảng thời gian này, anh còn có thêm nhiệm vụ yểm trợ các lực lượng Cảnh sát trung ương do Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan ra mở chiến dịch dẹp các tổ chức Phật giáo biểu tình, đem bàn thờ Phật xuống đường gây xáo trộn chính trị.

PHI VỤ BẮC PHẠT 19-4-65, oanh tạc Hà Tĩnh.

Phi vụ này được chỉ huy và hướng dẫn bởi Trung Tá Phạm Phú Quốc, Tư Lệnh Không Đoàn 23 CT Biên Hòa với 6 phi tuần A1H và A1G. Mục tiêu : kho đạn và kho tiếp liệu của quân Bắc Việt ở tỉnh Hà Tĩnh.

Sĩ quan chỉ đạo trưởng đài Panama là Thiếu úy Hoàng Bá Mỹ, SQPT là Thiếu úy Phạm Quốc Tiến, toán C.
Sĩ quan trực ASOC 1 là Trung úy Hoạt. Hai trực thăng H 34 (rescue team) trực ở Đông Hà danh hiệu là "butterfly 1 và Butterfly 2".

Như thường lệ, trong nhiệm vụ "flight following" và rescue, hai toán radar hành quân Việt Mỹ (VNAF & USAF) đã làm việc side by side rất chặt chẽ. Các máy radar scope, truyền tin trong tình trạng toàn hảo. Hệ thống air surveillance và rescue giữa Panama control và các đài YANKEE (C 121 airborne radar) và PRETTY GIRL ở Đông Hà gần DMZ được phối hợp chặt chẽ thường trực. Th/úy Mỹ ngồi một scope đích thân theo dõi, scope kế bên là Tr/úy Peoples (USAF) để dễ bề phối hợp giúp đỡ nhau. Hôm ấy tôi thấy trên Plotting board vẽ đầy những tracks về hướng Bắc VN. Đó là những phi cơ F 100, F 105, A 18 của USAF và US NAVY đang oanh tạc Bắc Việt. Các phi tuần của KQVN (18 phi cơ) cất cánh lúc 1 PM, danh hiệu là "Tiger Red". Danh hiệu của Trung Tá Quốc là "Tiger Red 1". Panama đã hướng dẫn Tiger Red tới mục tiêu oanh tạc và trở về gần như an toàn mặc dù gặp phải hỏa lực phòng không địch bắn lên dữ dội. Khi các phi tuần bay trở về đến gần đảo HÒN CỌP (Tiger island), một hòn đảo nhỏ ở ngoài khơi phía bắc DMZ lối 5 miles, thì bỗng thấy Tiger Red1 báo cáo thấy có súng dưới đất bắn lên. Một lát sau, Panama nghe Tiger Red 2 báo cáo : "Tiger Red 1 bị bắn rớt rồi và đã crashed xuống đất gần bãi biển !"Tiger Red2 cho biết tiếp:"Red1 bị bắn, quay lại định thanh toán ổ phòng không thì bị hạ !"Tôi và Th/úy Mỹ cùng giật bắn người lên, Mỹ báo tin Tiger Red1 crashed cho Tr/úy Hoạt ASOC 1 biết. Tr/úy Hoạt cũng bấn lên và yêu cầu Panama nhờ Hoa Kỳ lo giúp rescue Tr/Tá Quốc. Cả phòng hành quân đầy nghẹt những gương mặt lo âu. Hai chiếc H 34 trực cấp cứu ở Đông Hà được lệnh cất cánh. Một lát sau Butterfly báo cáo là mưa gió kéo đến, trần mây rất thấp, không thể bay xa được nữa và xin quay lại Đông Hà. Th/úy Mỹ quay sang Tr/úy Peoples nói :"Có 1 chiếc A1H của VNAF bị hạ ở tọa độ... gần Tiger island, các anh có chiếc rescue nào gần đó không ?"Peoples nói:"chờ một chút, tụi tôi cũng có 1 F 100D bị bắn rơi đang làm rescue!"

Khoảng 3 PM, Tr/úy Hoạt ASOC 1 gọi Panama cho biết:"lệnh của Ch/Tướng Tư Lệnh KQ là bằng mọi cách phải rescue Tr/Tá Quốc cho bằng được!" Thấy tình hình nghiêm trọng, tôi vội chạy lên 3rd floor gặp Colonel Champlin (TACC/North Sector) nhờ liên lạc Hạm Đội 7 (US Navy 7th Fleet) xin yểm trợ cấp cứu. Một lát sau, Ch/Tướng Kỳ đích thân điện thoại nói chuyện với Đ/úy Tiếp để tìm hiểu việc rescue Tr/Tá Quốc. Th/úy Mỹ giao scope cho Th/úy Tiến làm flight following rồi chạy sang scope của Tr/úy Peoples theo dõi việc rescue và báo cáo diễn tiến về ASOC 1 và BTLKQ. Peoples nói :"chúng tôi còn một CH 54, tôi đang dẫn vào vùng phi cơ crashed dưới sự air cover của 2 chiếc F 4C, anh xác định lại tọa độ đi ". Mỹ kêu Th/úy Tiến đo lại tọa độ rồi đưa cho Lt Peoples. Một lát sau, Lt Peoples cho biết 2 chiếc F 4C đã nhận ra tọa độ chiếc A1 của Tr/Tá Quốc nhưng thấy dưới đất có rất đông người (có lẽ là dân làng) đang chạy tới chỗ phi cơ lâm nạn.." Tiếp theo, chiếc CH 54 cũng báo cáo là trời mưa to gió lớn, lại thêm có mấy chiếc canoe (có thể là PT boat của VC) từ trong bờ chạy ra và có súng ở dưới bắn lên nên không thể bay vào rescue được! Các phi cơ rescue quần thảo trên vùng phi cơ rớt một lát nữa rồi bay về...Tôi, Th/úy Mỹ, Th/úy Tiến và Lt Peoples nhìn nhau lắc đầu thất vọng ! Col Champlin vỗ vai tôi nói : sorry vì cuộc rescue đã thất bại ! Lt Peoples cho biết trước đó hơn một tiếng USAF cũng có 2 chiếc F 100 bị bắn rơi nên việc giúp rescue Tr/Tá Quốc bị chậm... Tôi bảo Th/úy Tiến báo cáo ASOC 1 là cuộc rescue Tr/Tá Quốc đã không thực hiện được. Lúc đó là đúng 5 giờ chiều ngày 19 tháng 4 năm 1965. Đại-úyTiếp, tôi và Thiếu-úy Mỹ ngậm ngùi lên xe jeep lái xuống núi, lòng buồn rười rượi trước sự anh dũng đền nợ nước của một chiến hữu, một vị chỉ huy cao cấp của KQ lâm nạn mà không cấp cứu lấy được xác về...

Tổng kết những phi vụ Bắc Phạt của Không Quân Việt Nam Cộng Hòa, chúng ta đã tổn thất:
7 phi cơ A1H và A1G bị bắn hạ và 7 anh hùng phi công đã anh dũng đền nợ nước:

Trung Tá Phạm Phú Quốc.
Trung Úy Vũ Khắc Huề
Trung Úy Nguyễn Tấn Sĩ
Trung Úy Nguyễn Hữu Chẩn
Thiếu Úy Nguyễn Đình Quý
Thiếu Úy Nguyễn Thế Tế
Thiếu Úy Nguyễn Quốc Đạt (bị bắt làm tù binh sau khi nhảy dù)



Tổ Quốc ghi ơn các anh.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Image

Đôi Dòng Cảm Tưởng Về Người Lính Quân Lực VNCH

Tác giả: Sông Lô
Là một cựu quân nhân tôi xin trình bày cảm tưởng của mình về người lính Quân Lực VNCH nhân ngày 19 tháng 6 năm 2008.

Trong một chừng mực nào đó, người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà cầm súng trước hết là để bảo vệ quê hương thanh bình của mình đang có, trong đó có cuộc sống thanh bình của chính mình, của gia đình mình và của người dân miền Nam VN thân yêu của mình. Nó không một mảy may tham vọng phá hoại bất cứ cuộc sống thanh bình của đất nước nào, gây hấn xâm lấn đất nước của bất cứ ai hay lừa mị người dân của mình đi làm „cách mạng“ hòng phục vụ cho bất cứ chủ thuyết ngoại lai phi nhân bản nào. Nhưng tiếc thay „cây muốn lặng mà gió chẳng đặng đừng“ người CSVN Miền Bắc luôn nuôi mộng cưỡng chiếm MiềnNam, phần đất thanh bình còn lại của VN mà người lính Quân Lực VNCH hằn quyết tâm bảo vệ.

Bằng mọi thủ đọan CS VN Miền Bắc đã không từ khước bất cứ phương tiện nào kể cả phương tiện chiến tranh, họ rắp tâm tiếp tay cho CS quốc tế, lấy đất nước VN làm bàn đạp để bành trướng chủ nghĩa CS quốc tế.

Trước thế chẳng đặng đừng, người lính Quân Lực VNCH đã anh dũng chặt tay súng chiến đấu chống trả quyết liệt với quyết tâm bẻ gãy mọi mưu đồ đen tối của CSVN Miền Bắc.

Ngoài phương châm „Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm“ còn có phương châm „Cư An Tư Nguy“ tức là đang sống yên bình phải nghĩ đến lúc nguy khốn. Đây là những phương châm của Quân LựcViệt Nam Cộng Hoà, trong đó người lính Quân Lực VNCH đặt quyền lợi của đất nước lên trên hết. Người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà bảo vệ đất nước và hy sinh vì đất nước cho bất cứ chính quyền hợp hiến, hợp pháp của dân, do dân và vì dân nào.

Trách nhiệm của người lính Quân Lực VNCH không chỉ là trách nhiệm đối với dân tộc, với danh dự của tổ quốc, mà còn là một trách nhiệm cụ thể đối với người dân, với đồng bào.

Người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà có trách nhiệm chẳng những bảo vệ những thành quả về chính trị kinh tế, giáo dục mà đất nước của mình đã đạt được mà còn bảo vệ cả những giá trị của nhân loại mà đất nước của mình đã thu nhận được. đó là tự do, dân chủ và nhân quyền. Nói một cách khác người lính Quân LựcVNCH luôn tôn trọng và chấp nhận những quy luật phát triển của xã hội, không kìm hãm hay có tham vọng làm ngược lại. Người lính Quân Lực VNCH không nuôi dưỡng lòng hận thù với bất cứ ai thậm chí còn đối xử nhân đạo ngay cả với người lính của kẻ gây chiến mà điển hình là người lính miền Bắc khi họ đã không còn cầm súng. Cuối cùng là người lính Quân Lực VNCH cầm súng chiến đấu là để bảo vệ quê hương và chấp nhận mọi hy sinh, kể cả hy sinh mạng sống của mình.

Hôm nay người viết nhắc lại hình ảnh của người lính Quân Lực VNCH như nhắc lại một thân phận ở quá khứ. Thân phận ở quá khứ của người lính Quân Lực VNCH đã là một thân phận và một quá khứ đầy nghịch lý, vừa kiêu hùng vừa bi thương, nó càng kiêu hùng bao nhiêu thì càng chuốc lấy bi thương bấy nhiêu, sự đối nghịch nghiệt ngã ở cái mốc thời gian trước và sau ngày định mệnh lịch sử 30 tháng 4 của 33 năm về trước, không cần giải thích chi tiết nhưng chắc tất cả chúng ta ai cũng biết.

Tuy nhiên trong hiện tại ngoài những người CS hại dân hại nước còn có những người dù không phải là đảng viên đảng độc tài CSVN hoặc đã cố ý hoặc đã ngộ nhận đưa ra những ý kiến cho rằng, sở dĩ người lính Việt Nam Cộng Hoà thường nhắc về quá khứ hoặc vì mặc cảm mang nỗi nhục thất trận hoặc vì muốn nuôi dưỡng lòng hận thù hoặc muốn làm sống lại chế dộ VNCH đã bị khai tử .v.v...nghĩa là có bao nhiêu cái nhược điểm khi nhắc về quá khứ của một sự kiện đều được những người này khai thác triệt để.

Để sáng tỏ vấn đề, xin nhắc lại câu nói trong bức tâm thư của cựu chuẩn tướng Lý Tòng Bá gởi các cựu chiến sĩ QLVNCH với nội dung như sau: „Chúng ta chiến đấu không phải để đi tìm lại cái gì đã mất, không phải để khôi phục lại chế độ VNCH mà để tái sinh lại một nền cộng hòa tự do dân chủ đích thực cho VN“

Bởi thế với những ai hoặc cố ý hoặc ngộ nhận về vấn đề này người viết mong rằng, nếu các bạn chấp nhận chia sẻ, chấp nhận đối thoại trên tinh thần ôn hòa, thẳng thắn, tôn trọng sự thật có dẫn chứng tin cậy, có lý luận thuyết phục thì những người cựu chiến sĩ Quân Lưc VNCH chúng tôi sẳn sàng chia sẻ, bằng ngược lại thì không nên, vì chính những lời mạ lỵ xuyên tạc để thỏa mãn cảm tính nhất thời hay những bằng chứng vu vơ không thuyết phục sẽ chỉ dẫn đến kết quả vô bổ không cần thiết.

Có một điều hiển nhiên tôi cũng muốn cho các bạn này rõ là ngay từ khi còn là học sinh ở sân trường những người lính Việt Nam Cộng Hoà chúng tôi đã được giáo dục trong một môi trường hiền hòa lành mạnh và không biết hận thù. Nên khi vì bắt buộc phải đi vào cuộc chiến để bảo vệ phần đất VN thanh bình còn lại của mình Người Lính Việt Nam Cộng Hoà không một mảy may mang theo thù hận. Người lính Việt Nam Cộng Hoà chỉ muốn hòa bình và bảo vệ hòa bình.

Xin trả lại đây, bỏ lại đây
Thép gai giăng với lũy hào sâu
Lổ châu mai với những địa lôi
Ðã bao phen máu anh tuôn, cho còn lại đến mãi bây giờ

Trả súng đạn này, ôi sạch nợ sông núi rồi
Anh trở về quê, trở về quê tìm tuổi thơ mất năm nao
Vui cùng ruộng nương, cùng đàn trâu
Với cây đa khóm trúc hàng cau
Với con đê có chiếc cầu tre
Ðã bao năm vắng chân anh
Nên trở thành hoang phế rong rêu

Rồi anh sẽ dựng căn nhà xưa
Rồi anh sẽ đón cha mẹ về
Rồi anh sẽ sang thăm nhà em
Với miếng cau, với miếng trầu, ta làm lại từ đầu

Rồi anh sẽ dìu em tìm thăm
Mộ bia kín trong nghĩa địa buồn
Bạn anh đó đang say ngủ yên
Xin cám ơn ! Xin cám ơn ! Người nằm xuống

Ðể có một ngày, có một ngày cho chúng mình
Ta lại gặp ta, còn vòng tay
Mở rộng thương mến bao la.
Chuông chùa làng xa, chiều lại vang
Bếp ai lên khói ấm tình thương
Bát cơm rau thắm mối tình quê
Có con trâu, có nương dâu
Thiên đường này mơ ước bao lâu


http://teen9x.net/diendan/showthread.php?t=53106
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Image

Cựu Tướng Vĩnh Lộc Từ Trần, Hưởng Thọ 86 Tuổi


Cựu Trung Tướng Vĩnh Lộc, nguyên Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã từ trần tại Houston, Texas, thọ 86 tuổi, theo bản Cáo Phó từ gia đình cựu tướng phổ biến.

Bản văn cho biết rằng ông Nguyễn Phước Vĩnh Lộc, pháp danh Minh Tâm, Nguyên Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Nguyên Chỉ Huy Trưởng Trường Cao Đẳng Quốc Phòng, Nguyên Tư Lệnh Quân Đoàn II, Quân Khu 2, vừa mệnh chung lúc 4 giờ 30 sáng ngày 8 tháng 01 năm 2009,”

Bản văn cho biết linh cửu hiện được quàn tại Forest Park Funeral Home - 12800 Westheimer Rd., Houston, TX .


Chương trình Tang Lễ:

Thứ Sáu 9-1-2009 - 3:00 PM Lễ Phát Tang
Thứ Bảy 10-1-2009 - 2:00 PM đến 6:00 PM
- Lễ Phủ kỳ VNCH - Lễ Cầu Siêu và Thăm viếng
Chủ Nhật 11-1-2009 - 2:00 PM đến 4:00 PM
- Thăm Viếng - Lễ Cầu Siêu và Lễ Di Quan.


Theo nhà quân sử Vương Hồng Anh, lược sử cuộc đời của cựu tướng Vĩnh Lộc như sau.

Tiểu sử của cựu trung tướng Vĩnh Lộc

Cựu trung tướng Vĩnh Lộc sinh năm 1926 tại Huế, tốt nghiệp khóa đào tạo sĩ quan Quân đội Quốc gia Việt Nam tại Huế năm 1949, tốt nghiệp trường Thiết giáo Saint Saumur (Pháp) năm 1950.

Từ 1950 đến năm 1952, sĩ quan tùy viên của Quốc trưởng Bảo Đại.

Từ năm 1952 đến năm 1954: cấp bậc đại úy, liên đội trưởng Thiết giáp thuộc lực lượng đặc nhiệm .

Từ năm 1954 đến năm 1955, cấp bậc thiếu tá, giữ chức trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 Thiết giáp, sau đó, , theo học khóa Chỉ huy Tham mưu tại Hoa Kỳ.

Từ năm 1956 đến 1960, giảng viên trường Đại học Quân sự .

Từ năm 1960-1963, trung tá, chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Vạn Kiếp. Thăng cấp đại tá ngày 1/11/1963, và giữ chức vụ tham mưu phó Hành quân Bộ Tổng tham mưu.

Từ tháng 3/1964 đến tháng 5/1965: Tư lệnh Sư đoàn 9 Bộ Binh (thăng chuẩn tướng vào tháng 8/1964) .

Từ tháng 5 đến tháng 6/1965: Tư lệnh Biệt khu Thủ Đô.

Từ tháng 6/1965 đến tháng 3/ 1968: Tư lệnh Quân đoàn 2/Vùng 2 chiến thuật (thăng Thiếu tướng vào tháng 10 năm 1965. trung tướng tháng 10 năm 1966).

Từ tháng 3/1968 đến năm 1974: lần lượt giữ chức vụ Phụ tá Quân huấn Tổng tham mưu trưởng, kiêm Tổng cục trưởng Quân huấn, Chỉ huy trưởng trường Cao đẳng quốc phòng.

Ngày 29/4/1975: Tổng tham mưu trưởng Quân lực VNCH.
hoanghoa
Posts: 2296
Joined: Wed Jun 06, 2007 11:50 pm
Contact:

Post by hoanghoa »

GIỖ TRẬN HOÀNG SA


Image

Sơ đồ diễn biến trận hải chiến


Ba mươi lăm năm đã trôi qua, nhưng trận hải chiến oanh liệt kéo dài từ ngày 17 đến ngày 19/01/1974 giữa Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa và quân xâm lăng Trung Cộng để bảo vệ quần đảo Hoàng Sa của Tổ Quốc vẫn khắc ghi trong tâm khảm người dân Việt Nam. Những hình ảnh hào hùng của các chiến hạm quân ta nã pháo vào tầu xâm lăng Trung Cộng khác nào các trận đánh của tướng sĩ Nhà Trần hay của vua Quang Trung Nguyễn Huệ phá tan thủy quân xâm lăng Nguyên Mông và Xiêm La năm nào. Tinh thần chiến đấu anh dũng của các sĩ quan và thủy thủ ta để giữ vững bờ cõi, dù là tận nơi hải đảo xa xôi, thật đáng là tấm gương sáng cho hậu thế noi theo. Gần 60 chiến sĩ hải quân của 4 chiến hạm và lực lượng Người Nhái đã ngã xuống, đem máu xương ngăn quân xâm lược. Hộ tống hạm Nhựt Tảo HQ10 cùng hạm trưởng và 45 thủy thủ đã ở lại với tầu, mãi mãi nằm dưới làn nước bạc trong vùng biển Hoàng Sa.

Image

Hộ tống hạm HQ-10 Nhựt Tảo


Nay là ngày giỗ lần thứ 34 các anh hùng liệt sĩ đã bỏ mình vì bảo vệ hải đảo thân yêu của Tổ Quốc Việt Nam. Tuy không giữ được quần đảo Hoàng Sa, nhưng sự hy sinh anh dũng của các anh không bao giờ uổng phí và hằng nhắc nhở các thế hệ Việt Nam sau này phải nhớ mối hận mất đất đất, mất đảo, mất vùng lãnh hải. Hận quân xâm lăng Trung Cộng tiếp nối chủ trương bành trướng, bá quyền đối với nước ta từ 4 ngàn năm nay. Hận tập đoàn CSVN cam tâm chấp nhận mất đất, mất biển để đổi lấy viện trợ quân sự của kẻ thù truyền kiếp. Sau khi Trung Cộng xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa, trong khi chính quyền Việt Nam Cộng Hòa phản đối và lên án trên trường quốc tế thì tên lãnh đạo tối cao của đảng CSVN lúc đó là Lê Duẩn đã có lời cảm ơn Mao Trạch Đông "đã giúp giải phóng Hoàng Sa". Sự kiện hiện nay Trung Cộng tuyên bố các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của họ, sự kiện Hà Nội dâng đất, dâng biển cho Tàu trong những cuộc hội nghị bán nước hồi đầu thế kỷ này càng chứng tỏ có sự xuyên suốt trong lập trường từ thời Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn và những kẻ kế vị cho đến ngày hôm nay sẵn sàng phản quốc để lấy lòng quan thầy Trung Cộng

Image

Tuần dương hạm HQ-16 Lý Thường Kiệt

Từ khi chiếm được Miền Nam, CSVN cố ý che dấu những gì đã xảy ra trong những ngày 17 đến 19/01/1974 tại quần đảo Hoàng Sa. Chúng che dấu không phải vì không muốn đề cập đến Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Chúng che dấu vì không muốn nhân dân ta khám phá hành động bán nước bỉ ổi của chúng. Từ đó đến nay, thỉnh thoảng CSVN cũng đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và tuyên bố thuộc Việt Nam cũng như phản đối yếu ớt mỗi khi Trung Cộng có những hoạt động trong vùng. Những vụ Trung Cộng cho tầu chiến bắn giết ngư dân Việt Nam xẩy ra thường xuyên cũng chỉ khiến cộng sản Hà Nội phản đối bằng mồm. Điều nhục nhã nhất là báo chí CSVN loan tin "tầu công an biên phòng" của Trung Quốc tấn công ngư thuyền Việt Nam. Nếu vậy thì CSVN đã chấp nhận biên giới của Tàu cộng là sát bờ biển Việt Nam. Thử hỏi CSVN đang quản lý bộ máy Nhà Nước bao gồm quân đội với hải lục không quân. Tại sao lúc tầu bọc thép của Trung Cộng xâm phạm lãnh hải Việt Nam, bắn giết ngư dân Việt Nam không thấy bóng giáng một chiếc tầu hải quân hay lực lượng bảo vệ duyên hải ra nghênh chiến ? Phải chăng CSVN biết trước là với những gì "lãnh đạo tối cao" đôi bên thỏa thuận, tức là biên giới Trung Quốc nằm sát bờ biển Việt Nam, ngư dân ra khơi đánh cá là vi phạm lãnh hải của Trung Cộng và sẽ bị bắn giết ? Vì thế các lực lượng hải quân của CSVN không bao giờ dám xuất hiện mỗi khi có chiến hạm của Trung Cộng hiện diện.

Image

Khu trục hạm HQ-4 Trần Khánh Dư

Ở thời đại tân tiến ngày hôm nay, CSVN không thể nào bưng bít thông tin để lừa bịp dân chúng được. Vì thế , ngay sau khi Trung Cộng tuyên bố thành lập huyện Tam Sa trong đó họ sát nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của ta vào của họ, toàn dân ta, đặc biệt là giới sinh viên, thanh niên đã rất căm phẫn. Lòng yêu nước và ý chí bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải của Tổ Quốc dâng trào. Họ đã tự động xuống đường tới ngay trước đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội và lãnh sự quán của họ tại Sài Gòn để phản đối thẳng vào mặt bọn xâm lược, chứ không đứng trong một văn phòng đọc một bản phản đối yếu hèn như chính quyền vẫn thường làm. Nhưng, CSVN vì đã cúi đầu thần phục các quan thày Trung Cộng, nên đã ra lệnh cấm cản.

Image

Soái hạm HQ-5 Trần Bình Trọng

Ngày kỷ niệm trận hải chiến oanh liệt Hoàng Sa 19/01/1974 cũng là ngày tưởng niệm 58 chiến sĩ Hải Quân VNCH đã anh dũng hy sinh để bảo vệ hải đảo. Đúng là ngày Giỗ Trận Hải Chiến Hoàng Sa và cũng là ngày Giỗ các anh hùng liệt sĩ trong trận này. Xin mọi người cùng thắp nén hương lòng và kính cẩn nghiêng mình trước gương hy sinh anh dũng của các chiến sĩ hải quân. Nguyện thề cùng anh linh các chiến sĩ sẽ giành lại đất đai, hải đảo mà các anh đã đổ máu và bỏ cả mạng sống của mình để gìn giữ.

Trần Đức Tường

Image
nuoclanh
Posts: 163
Joined: Wed May 30, 2007 12:09 pm
Contact:

Post by nuoclanh »

Tưởng niệm 35 năm trận đánh Hoàng Sa


[flash width=425 height=344][/flash]
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Những nén hương cho tử sĩ Hoàng Sa...

Hằng năm, cứ mỗi độ Ðông tàn Xuân đến là chúng ta ngậm ngùi tưởng-niệm những chiến-sĩ HQ/VNCH đã hy-sinh trong trận hải-chiến Hoàng Sa ngày 19/1/1974.

Họ đã đi vào lòng biển mẹ theo chiến-hạm hay kiệt sức trên những chiếc bè đào thoát. Hình ảnh những người thủy-thủ can trường,cương-quyết chiến đấu đến cùng trước một kẻ thù Trung-Cộng đông và mạnh gấp nhiều lần để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh-hải cho dù chỉ là một quần-đảo xa xôi,nhỏ bé... đã nói lên được tinh thần bất khuất, truyền thống của dân tộc Việt-Nam.

Trong khi những chiến-sĩ Hải Quân đại diện cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa quyết liều chết chống ngoại xâm thì bọn cầm quyền cộng-sản Bắc-Việt đã im hơi lặng tiếng một cách thật nhục nhã, để lộ nguyên hình bộ mặt đê hèn, phản dân hại nước của chúng.

Ngày nay, tuy gần 35 năm nỗi căm hờn vì mất đất, mất biển vẫn không suy-giảm trong lòng mỗi người dân Việt thì Việt-cộng lại ký thêm những hiệp ước cắt đất nhượng biền mà tổ-tiên chúng ta đã dày công gây dựng và bồi đắp.

Chính-nghĩa bảo-vệ tổ-quốc của Quân-Lực VNCH càng rõ nét hơn qua cuộc hải-chiến Hoàng-Sa 19 tháng I năm 1974.

Chắc chắn bọn xâm lược Trung-cộng đến bây giờ vẫn chưa hết kinh ngạc bàng-hoàng và ngầm bái-phục tinh-thần yêu nước của quân-dân miền Nam Việt-Nam khi nghĩ đến cuộc thư hùng kỳ lạ giữa hai lực lượng quá chênh-lệch.

Một bên là lực lượng hùng-hậu của Trung-cộng với hạm-đội tối-tân trang bị những vũ-khí hiện đại nhất gồm 2 hộ tống hạm, 2 trục lôi hạm, 4 phi tiễn đỉnh trang bị hỏa tiễn STYX, 6 hải vận hạm và một lực lượng trừ bị gồm 2 tuần dương hạm, 4 pháo hạm, 4 khu trục hạm trang bị hỏa tiễn KIANJIANG và 2 phi đội MIG 19 cộng với 2 phi đội MIG 21...

Về phía Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ 4 có vẻ còn mới và trang-bị khá nhất, còn lại tuần dương hạm Trần Bình Trọng HQ 5, tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ 16 và Hộ tống hạm Nhựt Tảo HQ 10 đều cũ kỹ của đệ nhất và đệ nhị thế chiến của Hải Quân Hoa Kỳ tân trang, sửa chữa để viện trợ cho HQ/VNCH.

Riêng HQ 10 chỉ còn sử-dụng được một máy để vận-chuyển chưa được đua về hải-quân công-xưởng Saigòn sửa chữa thì phải lâm chiến...

Rõ ràng Trung-cộng đem lực lượng hùng-hậu nêu trên là để chiếm đóng luôn quần đảo Hoàng-Sa thân-thương của Việt-Nam chúng ta trong ngày đó.

Hiệp-định Paris đã bức tử Quân-Lực VNCH từ năm 1973. Chắc chắn Trung Cộng đã được thỏa thuận nào đó của Hoa Kỳ như chúng ta đã thấy qua sự im-lặng và làm ngơ khó hiểu của đồng-minh Hoa Kỳ trước sự cầu cứu của Hải Quân VNCH lúc lâm-nguy (vớt người rơi xuống biển): hoàn-toàn trái luật hàng-hải quốc tế!

Tương quan lực lượng của đôi bên quá chênh lệch nhưng thiệt hại của Hải Quân VNCH về nhân mạng và quân dụng lại có phần ít hơn sự tổn thất của Hải Quân Trung cộng thì quả thật gương anh-dũng quyết chiến đấu của chiến-sĩ VNCH trong trận hải-chiến Hoàng-Sa 19/1/1974 đã tô điểm thêm nét hào-hùng cho trang-sử Việt.

Chúng ta hãy thắp những nén hương, chân thành tưởng-niệm những người con yêu của đại-dương, của tổ-quốc đã hy-sinh để bảo-vệ giang-san gấm vóc Việt-Nam trong trận hải-chiến Hoàng-Sa 1974.

Tình Ðại-Dương đã viết để tưởng-niệm Hải Quân Thiếu-Tá Nguyễn Thành Trí, một người bạn đồng khóa 17/SQ/HQ/NT:

...“ cũng may cho bạn... (nếu có thể còn gọi được là may) thân xác bạn được thuỷ táng theo truyền thống hải-quân. Nếu thân xác bạn được đem về an-táng tại nghĩa trang quân-đội thì chắc rằng kẻ nội thù đã đào xới và gán cho linh hồn Bạn danh-từ Hải Quân Ngụy.

Thật là mỉa mai và chua xót! Người xả thân bảo vệ tồ quốc thì bị gọi là Ngụy còn những kẻ bán đứng quê hương thì được tôn xưng là (anh-hùng)!

Những nấm mồ của các chiến-hữu VNCH trong nghĩa trang quân-đội đã bị họ san bằng.

Nếu nơi an-nghĩ của bạn cũng ở đó thì chắc chắn cùng chung một số phận nghiệt ngã!...”

California tháng 1/2009

Trần Trọng An Sơn
Trung Tâm Tây-Nam/Tập Thể Chiến-Sĩ VNCH/HN

(Xin đính kèm danh-sách 74 anh-hùng liệt-sĩ Hoàng-Sa, và xin gởi lời cám ơn đến Hải-sử, đặc san Lướt Sóng và Tình Ðại Dương)

Danh sách tử-sĩ Hoàng-Sa

- Hộ tống hạm Nhựt Tảo HQ 10:

1/ HQ trung tá Ngụy Văn Thà, HT/ HQ 10

2/ HQ thiếu-tá Nguyễn Thành Trí, HP/ HQ 10

3/ HQ đại-úy Vũ Văn Bang

4/ HQ đại-úy HH/TT Huỳnh Duy Thạch

5/ HQ trung-úy CK Vũ Ðình Huân

6/ HQ tr/úy Phạm Văn Ðồng

7/ HQ tr/úy Ngô Chí Thành

8/ Th/sĩ nhất TP Châu quản nội trưởng

9/ Th/sĩ nhất CK Phan Tấn Liêng

10/ Th/sĩ nhất ÐK Võ Thế Kiệt

11/ Th/sĩ vận-chuyển Hoàng Ngọc Lễ (nhiều tuổi nhất)

12/ Tr/sĩ nhất VT Phan Tiến Chung

13/ Tr/sĩ QK Nguyễn Văn Tuân

14/ Tr/sĩ GL Vương Thương

15/ Tr/sĩ TP Nam

16/ Tr/sĩ TP Ðức

17/ Tr/sĩ TP Huỳnh Kim Sang

18/ Tr/sĩ TX Lê Anh Dũng

19/ Tr/sĩ ÐK Lai Viết Luận

20/ Tr/sĩ Vận chuyển Ngô Tấn Sơn

21/ Tr/sĩ GL Nguyễn Văn On

22/ Tr/sĩ TP Nguyễn Thành Trọng

23/ Tr/sĩ TP Nguyễn Vĩnh Xuân

24/ Tr/sĩ CK Phạm Văn Quý

25/ Tr/sĩ CK Nguyễn Tấn Sĩ

26/ Tr/sĩ CK Trần Văn Ba

27/ Tr/sĩ ÐT Nguyễn Quang Xuân

28/ Tr/sĩ BT Trần Văn Ðàm

29/ HS1/Vận-chuyển Lê Văn Tây

30/ HS1/vận-chuyển Lương Thanh Thu

31/ HS1/TP Nguyễn Quang Mến

32/ HS1/vận chuyển Ngô Sáu

33/ HS1/CK Ðinh Hoàng Mai

34/ HS1/CK Trần Văn Mộng

35/ HS1/DV Trần Văn Ðịnh

36/ HS vận-chuyển Trương Hồng Ðào

37/ HS vận-chuyển Huỳnh Công Trứ

38/ HS/GL Nguyễn Xuân Cường

39/ HS/GL Nguyễn Văn Hoàng (nhỏ tuổi nhất)

40/ HS/TP Phan Văn Hùng

41/ HS/TP Nguyễn Văn Thân

42/ TT/DT THANH

43/ TT/TP Thi Văn Sinh

44/ Th/sĩ DT Thọ

45/ HS/TP Nguyễn Văn Lợi

46/ HS/CK Trần Văn Bảy


- Khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ 4:


47/ HQ trung-úy Nguyễn Phúc Xá

48/ HS1 vận chuyển Nguyễn Thành Danh

49/ Biệt hài Nguyễn Văn Vượng


- Tuần dương hạm Trần Bình Trọng HQ 5:

50/ HQ trung-úy Nguyễn Văn Ðồng

51/ Th/sĩ ÐT Nguyễn Phú Hào

52/ TS1/TP Nguyễn Ðình Quang


- Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ 16:

53/ TS/ÐK Xuân

54/ HS/QK Nguyễn Văn Duyên


- Lực Lượng Người Nhái:

55/Trung-úy NN Lê Văn Ðơn

56/HS/NN Ðỗ Văn Long

57/TS/NN Ðinh Hữu Từ

58/TT/NN Nguyễn Văn Tiến


- Hộ tống hạm Nhựt Tảo HQ 10 (bổ-túc):

59/ HS/CK Nguyễn Văn Ðông

60/ HS/PT Trần Văn Thêm

61/ HS/CK Phạm Văn Ba

62/ HS/ÐK Nguyễn Ngọc Hòa

63/ HS/ÐK Trần Văn Cường

64/ HS/PT Nguyễn Văn Phương

65/ HS/PT Phan Văn Thép

66/ TT1/TP Nguyễn Văn Nghĩa

67/ TT1/TP Nguyễn Văn Ðức

68/ TT1/TP Lý Phùng Quy

69/ TT1/VT Phạm Văn Thu

70/ TT1/PT Nguyễn Hữu Phương

71/ TT1/TX Phạm Văn Lèo

72/ TT1/CK Dương Văn Lợi

73/ TT1/CK Châu Túy Tuấn

74/ TT1/DT Ðinh Văn Thục
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Viếng Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa:
Những anh linh Việt Nam tuyệt đối


Image
Một người đàn ông lặng lẽ cầu nguyện cho thân nhân của mình.

Image
Hai bình hoa giả bên một bát nhang nguội lạnh trong lòng Ðài Tử Sĩ.

Image
Còn khá nhiều mộ chưa được xây hoặc không có bia mộ.

Image
Thắp nhang trên mồ một anh hùng bị xem như “vô danh”.

Image
Một trong số những ngôi mộ đã được thân nhân xây lại.

Image
Thân nhân bày nhang đèn, trái cây, cúng cho một tử sĩ.

Image
Một cựu quân nhân của Sư Ðoàn 18 Bộ Binh, nay trở thành một trong những người chăm sóc phần mộ cho các chiến hữu của mình.


Image
Ðường lên Ðài Tử Sĩ của Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, tuy hoang tàn nhưng không vắng lặng.
Bài và hình: Trần Tiến Dũng


Trong ngày đưa ông Táo về Trời, chúng tôi tách khỏi dòng người Sài Gòn bận rộn chuẩn bị đón Tết Kỷ Sửu để đi thăm Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa.

Từ ngoài nhìn vào, dù nghĩa trang này không còn thuộc quyền quản lý của bộ đội nhưng vẫn còn nguyên các xí nghiệp, các cơ sở kinh doanh lớn nằm choán mặt tiền nghĩa trang. Sau hơn 30 năm mới chấm dứt thời kỳ được người dân gọi là: quân quản nghĩa trang, có lẽ điều này phần nào giúp bà con, thân nhân của gần hai mươi ngàn người lính VNCH nằm lại nơi đây và dư luận bớt đi nỗi u uất.

Chúng tôi tấp vào một cái quán xập xệ, gần chỗ đặt bức tượng “Thương tiếc” trước kia để mua ít đồ cúng. Sau nhiều năm, thời tiết buổi sáng ở Sài Gòn lại trở lạnh.

Ði qua chân ngọn đồi nơi đặt đài tử sĩ, chúng tôi không còn thấy những tấm biển đỏ cấm chụp hình, cấm tham quan... cái cảm giác bị đe dọa cũng vì thế mà vơi đi. Chúng tôi quẹo trái, đi về phía khu chôn cất tập trung những người lính VNCH hy sinh trước đây. Xưa kia, từ ngoài xa lộ nhìn vào, vẫn thấy những hàng mộ nằm uy nghi trên đồi, còn hôm nay, đến tận nơi thì hình ảnh đầu tiên mà người ta bắt gặp là bức tường xây bằng gạch lốc màu xanh, mốc meo, bên trên có thêm rào kẽm gai vây kín toàn bộ khu mộ.

Ðể đến được với từng phần mộ, người ta phải đi qua một cái cổng. Phía trước văn phòng ban quản lý nghĩa trang, chúng tôi thấy có những tấm bảng, ghi những qui định dành cho người thăm viếng nghĩa trang và trên mỗi tấm bảng như vậy đều có hàng chữ trắng đề là: Nghĩa Trang - Nhân Dân Bình An. Ðây là tên gọi mới của Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa.





Câu chuyện bên mồ tử sĩ Phan L. Giang


Vào khu vực nghĩa trang, trước mắt chúng tôi là đài tưởng niệm uy nghi và hoang phế. Theo cách nhìn thông thường, những cảnh giống như phế tích này có thể làm nhiều người đau lòng nhưng có lẽ chính sự đau lòng xuyên năm tháng đó, cũng là điều mà hàng chục ngàn vong linh nơi này muốn nhắc nhở những người Việt đang sống và con cháu họ rằng, dù phiêu giạt nơi nào, sự bình an mà họ được hưởng cũng là nỗi đứt đoạn của những hy vọng từ chính mỗi mạch đất của nghĩa trang này.

Chúng tôi đi theo con đường trải nhựa nhỏ, có đoạn cỏ dại phủ kín nhưng vẫn còn nguyên lớp nhựa đường xưa kia. Chu vi của những con đường này ôm hết cả ngọn đồi và phân chia nghĩa trang thành từng khu mộ thẳng hàng, ở mỗi khu mộ, tuy năm chôn cất có khác nhau nhưng những phần mộ vẫn cứ như một đoàn quân có quân kỷ, uy nghiêm giữa một không gian lẻ loi, đơn độc.

Trong lúc xúc cảm, D. - người bạn đi cùng tôi nói: “Mình tìm ngôi mộ nào cúng đi”. Cả hai chúng tôi đều không có thân nhân nằm lại nơi này. Trước mắt chúng tôi là những hàng mộ có cái vừa được sửa sang, quét vôi, xây mới, làm cỏ... có cái vẫn là những núm xi măng đen thẫm, tróc lở, có cái chỉ còn là nấm đất, trơ trơ màu cỏ héo... Chúng tôi thật không biết chọn ngôi mộ nào để cúng vì đất ở đây, sỏi đá ở đây, tất cả chừng như đang nén chặt lại trong hơi lạnh hiu quạnh.

Một ít tia sáng yếu ớt của buổi sớm Tháng Chạp giống như những bàn tay dịu dàng và mở rộng lòng chăm sóc cho từng gò đất và những mảng xi măng của những ngôi mộ bị bỏ quên ở đây.

Một phần các ngôi mộ chỗ chúng tôi đứng đều được quét mới cùng một màu vôi trắng. Màu vôi mới nổi bật dưới những tán cây bàng, những tán cây bàng như những tấm bạt quân trang của người lính đã khuất đang tỏa bóng mát cho đất, cho cỏ và cho cả những côn trùng bé nhỏ đang theo mùa về sống cận kề bên những ngôi mộ.

D. cầm đồ cúng đi theo tôi, chúng tôi đi về phía một người đàn ông trung niên đang cúng mộ anh trai của mình. Người lính có tên trên mộ bia là hạ sĩ Phan L. Giang, tiểu đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến, hy sinh năm 1969. Người đàn ông này cho biết ông là con trai duy nhất còn lại trong gia đình. Vài năm nay ông thay cha mẹ đến cúng mộ người anh. Ông nói: “Nếu còn sống, năm nay anh tôi cũng đứng tuổi rồi. Tôi còn một người anh, lính sư đoàn 5, chết trận, mất xác 1965”. Ông không nói gì thêm, chỉ lấy chai nước uống tưới đều quanh phần mộ người anh. D. - người bạn đi cùng tôi nói với ông: “Tôi cũng có người anh chết trận, mất xác ở Long Khánh năm 1972. Anh tôi chết khi mới hai mươi tuổi. Anh còn được một nấm mồ mà cúng mỗi năm cũng an ủi hơn tôi rồi”. Người đàn ông quay lại nói: “...Thì biết vậy nhưng mỗi lần đến đây nặng nề, u uất lắm ông ơi”.

D. quay sang chỉ cho tôi thấy ngôi mộ sát chỗ tôi đứng, trên mộ bia có ghi dòng chữ vô danh. Không chần chừ, D. lặng lẽ mở gói đồ cúng ra. Khi mùi nhang trầm bốc lên, tôi có cảm giác thật lạ trong người. Có rất nhiều ngôi mộ vô danh. Vì sao những ngôi mộ ở đây lại trở nên vô danh? Khó tin là những người lính chôn cất ở đây lại không có danh tánh! Sự ác liệt của chiến tranh là nguyên nhân, thời gian làm phai mờ bia mộ, hay vì có người muốn xóa đi? Có khi chính sự sợ hãi của cả hai phe thắng và thua đã tạo ra sự vong ân với những người lính đã hiến dâng sự sống làm minh chứng cho tình yêu và nghĩa vụ đối với quốc gia và dân tộc, một bổn phận cao cả của mọi công dân dưới mọi chế độ xã hội...





Một người giữ mộ


Lúc cúi xuống thắp nhang cho nấm mồ vô danh, chúng tôi thấy bên góc bia mộ có một chữ Út. Chữ Út ghi bằng sơn đỏ này cũng thấy ở các ngôi mộ khác quanh đó đã khiến chúng tôi thoáng có thắc mắc.

Trước khi rời đi, tôi nghe D. nói với ngôi mộ vô danh: “Tôi cũng có một người anh đi lính chết không tìm được xác, nay có dịp ghé thăm anh, coi như anh là anh tôi. Mong anh phù hộ cho tôi nghen!” Chúng tôi đi khỏi hàng mộ chôn những người lính hy sinh năm 1968 và 1969 mà đa phần là lính Thủy Quân Lục Chiến và Biệt Ðộng Quân. Chúng tôi dự định đi một vòng cho biết hết nghĩa trang. Khi đi về phía một gia đình khoảng gần mười người đang quây quần sum họp bên mộ thân nhân thì chúng tôi nghe tiếng gọi từ phía xa... Một người đàn ông đội nón vải đi nhanh về phía chúng tôi, gặp chúng tôi, ông ta hỏi ngay là chúng tôi tìm mộ thân nhân tên gì, chết năm nào. Chúng tôi trả lời ông là chúng tôi tìm thấy thân nhân mình rồi và cám ơn ông. Ông chưa chịu đi, còn chúng tôi thì nghĩ chắc ông là người trong ban quản lý nên không muốn để chúng tôi quanh quẩn lâu trong nghĩa trang này.

Người đàn ông nói: “Tôi thấy mấy anh đi lòng vòng, tôi tưởng các anh tìm không được mộ. Tôi tên là Út, người giữ mộ ở khu này”. Trong một thoáng tôi nhớ đến chữ Út trên những bia mộ, tôi hỏi phải ông là người ghi tên Út trên bia mộ không. Ông gật đầu. Chúng tôi bỗng nhiên cũng gật đầu với ông. Khi chúng tôi hỏi thăm, ông kể ông tên là Nguyễn Ngọc Ẩn, còn gọi là Út Ẩn. Trước đây ông là lính sư đoàn 18, tiểu đoàn 234, bị thương nặng rồi giải ngũ năm 1971. Sau năm 1977 ông xin vào giữ mộ ở nghĩa trang này. Ông nói với giọng xúc động: “Tới giờ tôi vẫn còn giữ gần hai ngàn ngôi mộ. Có mộ có thân nhân đến viếng mỗi năm, có mộ thì đôi ba năm nhưng tội nhất là có mộ ba mươi mấy năm nay chưa từng có ai đến. Thời cuộc ly tán kinh khủng quá mấy chú ơi. Với tụi tôi, dù có tự hứa, mộ nào cũng chăm sóc như nhau nhưng mà tránh sao được chuyện người ngoài nhìn vào, có mộ thì tươm tất, có mộ thì bỏ bê. Tụi tôi chỉ cố sao mỗi năm dọn dẹp cỏ rác sạch sẽ là yên lòng rồi. Nếu mộ có thân nhân cho ít tiền công thì coi như lấy đó bù qua công làm mả cho những mộ không thân nhân khác”.

Ông thành thật cho biết, mỗi năm, vào dịp Tết, ông cũng kiếm được bốn, năm triệu đồng. Chúng tôi không lạ gì chuyện những người kiếm thêm thu nhập bằng việc giữ mộ ở các nghĩa trang Việt Nam nhưng ở nghĩa trang đặc biệt này, trường họp ông Út Ẩn, một cựu quân nhân VNCH tình nguyện giữ mộ cũng có ý nghĩa nào đó. Dù sao cũng cảm phục cái nghĩa tình của một cựu quân nhân như ông, dành trọn phần đời còn lại để chăm sóc mộ phần đồng đội.

Lúc chia tay ông, nhìn cái dáng rắn rỏi nhưng đã già của ông, có gì đó hối thúc khiến tôi phải nói: “Ông tin không, chính người lính vô danh mà chúng tôi cúng mả lúc nãy đã khiến cho gặp ông, chứ giữa cái nghĩa trang mênh mông này, biết ông là ai mà kiếm. Cầu cho ông khỏe để chăm sóc cho mấy ông ấy”. Ông gật đầu nói: “Cỡ tuổi này còn đi đâu được, hơn nữa đã có lời hứa với mấy ổng rồi. Mấy ổng linh lắm mấy chú còn trẻ không hiểu hết được đâu...”





Chuyện từ quán bên nghĩa trang


Trời gần về trưa, chúng tôi tìm vào một cái quán bên đường, đối diện với tường nghĩa trang. Dù có vẻ mới mở nhưng quán vẫn là kiểu quán thôn quê. Toàn bộ khu vực quanh nghĩa trang này có nhiều cơ sở sản xuất và kinh doanh nhưng những hàng quán ở đây đều chỉ đắt hàng vào dịp tảo mộ và thanh minh. Ðây là câu chuyện mà ông chủ quán có tên là Bùi Văn Tư, sinh năm 1956, tên thường gọi là Tư xe xúc.

Ông Tư kể: “Nhà tôi là cố cựu ở ấp Trung Thắng này. Tôi làm nghề lái xe, thường vắng nhà, vợ tôi cũng là người giữ mộ trong nghĩa trang, bả giữ hơn sáu trăm ngôi mộ. Cách đây chừng hai mươi năm, đúng vào dịp tảo mộ, vợ tôi bị bệnh, nằm nhà thương, tôi xin nghỉ chạy xe, vừa chăm sóc vợ, vừa thay vợ giẫy mả mấy ổng. Vợ tôi dặn đừng lo cho bả mà bỏ mấy ổng tội lắm. Lúc giẫy mả tôi có vái, 'Mấy ông linh thiêng thì phù hộ cho tôi mạnh khỏe làm đủ ăn, mỗi năm cứ Tháng Chạp, dù ở xa tôi cũng về giẫy mả các ông'. Tôi vái như vậy mà đâu ngờ là mấy chục năm nay mấy ổng khiến y như vậy. Nói mấy chú không tin, chứ mỗi năm cứ tới cuối Tháng Mười Một, đầu Tháng Chạp là xe tôi bị hư. Chủ xe nghi tôi phá. Tôi nói với chủ xe, ‘Cái cục sắt của ông cũng là cái nồi cơm của tôi, tôi có muốn phá cũng không được’. Rồi tôi kể cho chủ xe nghe chuyện tôi hứa với mấy ổng. Không ngờ chủ xe tin, có năm, chưa tới Tháng Chạp chủ xe biểu tôi nghỉ sớm để về giẫy mả. Có khi còn gởi tôi tiền cúng mấy ổng. Tôi cũng có chuyện này, kể thêm cho mấy chú nghe để biết mấy ổng linh dễ sợ. Hồi thanh niên, bị truy bắt nghĩa vụ quân sự, có đợt công an lùng rát quá, ban ngày đi làm chui, tối về trốn vào nghĩa địa cầu liền miệng xin mấy ổng phù hộ che chở, tôi sợ đi Miên chết hơn sợ ma. Nhờ vậy mà được yên thân tới giờ”.

Hiện tại ông Tư không còn làm nghề lái xe nữa, ngoài khoản tiền kiếm được từ quán cà phê mới mở, mỗi năm, vào dịp tảo mộ, gia đình cũng có một khoản thu nhập nhất định.


***


Chúng tôi rời khỏi khu nghĩa trang và đi đến đài tử sĩ. Ngọn đồi này dù không còn treo bảng là khu vực quân sự nhưng vẻ hoang tàn ở đây lạnh rợn người. Ðâu ai biết chắc là bao lâu nữa, nơi đây có bị những người đang phát cuồng vì chạy theo lợi nhuận làm ô nhiễm tất cả.

Chúng tôi ghi lại vài tấm hình và tin rằng dù đài tử sĩ này không có khói hương, không tiếng kinh, không câu kệ, tứ bề tràn ngập xác lá vàng, cỏ dại và tiếng rền của gió, dù ngày qua và hôm nay, đời có vô tâm đến mấy đi nữa thì nơi đây vẫn ngự vẹn nguyên ánh sáng. Ánh sáng từ những anh linh uy nghiêm.

Sự chia rẽ của dân tộc từ cuộc chiến khốc liệt hơn ba mươi năm trước vẫn không thể khỏa lấp. Nhưng trên hết và cũng là sau cùng, những người lính chôn cất ở đây cũng như tất cả những người lính tử trận khác. Họ mãi mãi vẫn là những anh linh Việt Nam tuyệt đối.

Trên đường về, gần tới cầu Sài Gòn, tôi thấy một cô bé ngồi sau một chiếc xe hai bánh gắn máy do một người đàn bà cầm lái, hai tay cô bé giữ một bịch nylon, trong đó có một con cá chép lớn. Cô cố sức giữ cho nước đứng sóng sánh trong khi miệng bịch mở để con cá chép có một khoảng không gian nhỏ mà thở. Tôi đoán họ là hai mẹ con đang trên đường đến sông Sài Gòn để thả cá chép trong ngày đưa ông Táo về Trời...

Ðó là một con cá may mắn trong những ngày cuối năm này, đó cũng là con cá mà khi về lại với tự do, chắc chắn nó sẽ mang theo những ước nguyện về một cuộc sống no đủ và bình an cho người thả nó, một ước muốn đơn giản mà con người luôn lặp đi, lặp lại khi Tết đến, Xuân về. Dù những ước nguyện ấy luôn lập đi, lập lại nhưng không có nghĩa là ai cũng đạt được. Trong bối cảnh suy thoái của xã hội hiện nay, số phận của mỗi công dân đều bấp bênh như nhau. Tôi dừng xe cùng hai mẹ con cô bé trên cầu Sài Gòn và nghe người mẹ vừa thả cá chép, vừa nói. “Ði đi ông. Ði đi ông!” Khi con cá rơi từ trên cầu xuống nước, bà lập lại: “Ði đi ông”... Sau hình ảnh con cá từ lúc chới với trong khoảng không, rồi chạm mặt nước, đến lúc con cá con cá cựa quẫy rồi bơi đi, tôi nghe bà la lớn với giọng vui khôn tả: “Ði đi ông, ông đi rồi, ông đi được rồi...” Lời bà gởi theo con cá chép lặp đi lặp lại như một câu kinh. Câu kinh không còn mang ý nghĩa xin điều gì đó cho riêng bà và gia đình bà. Nó mang một mong muốn mãnh liệt, bên dưới dòng sông Sài Gòn ô nhiễm và đầy rác kia: Con cá sẽ về với bến bờ tự do.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

PHƯỚC LONG: Niềm đau chưa dứt !!!
Bài trích đăng từ Đặc San GĐ81/BCND số 3 ngày 1 tháng 7 /2001)
"Chiến trường Phước Long có quá nhiều nguy hiểm so với chiến trường Bình Long, An Lộc năm 1972. Nhiệm vụ của chúng ta vào Phước Long là để giữ vững tỉnh lỵ này khỏi rơi vào tay Cộng quân. Chúng ta tới đó là để tử thủ và chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Chúng ta phải thi hành sứ mệnh này để không hổ danh người hùng 81 An Lộc với hai câu thơ đã đi vào lịch sử:"An Lộc địa sử ghi chiến tích, Biệt Cách Dù Vị Quốc Vong Thân."Đó là lời nhắn nhủ cuối cùng của Đại Tá Huấn trước khi xuất quân.Cuộc chiến đã qua hơn 26 năm, một phần tư thế kỷ. Giờ đây hồi tưởng lại, tất cả những chiến sĩ QLVNCH vẫn không quên được một niềm đau chưa dứt!

Những ngày cuối năm 1974, Liên Đoàn 81/Biệt Cách Nhảy Dù có mặt tại chiến trường Núi Bà Đen, Tây Ninh, hành quân để giải toả áp lực của cộng quân trong vùng, vì trên đỉnh núi có đài tiếp vận truyền tin của nhiều đơn vị. Những toán Thám sát BCD xâm nhập vào những hang động trên sườn núi để thăm dò và đẩy lui địch ra khỏi những công sự chiến đấu kiên cố mà không quân và pháo binh đã không tiêu diệt nổi.Nhiệm vụ thám sát và tiêu diệt địch đang tiến triển tốt đẹp. Đêm 01/01/75, ở Bộ Chỉ Huy/Hành Quân tại căn cứ Trảng Lớn, Tây Ninh, trong khi mọi người đang làm việc, hoặc nghỉ ngơi dưỡng sức, bỗng có điện thoại khẩn cấp cho Đại tá Huấn, nhìn sắc mặt khẩn trương của vị Chỉ Huy Trưởng, chúng tôi đoán ngay là có chuyện gì rất quan trọng. Sau khi buông điện thoại, Đại tá tiến lại nơi các sĩ quan đang tề tựu và chậm rãi ra lệnh cho sĩ quan ban 3 : " ngày mai, bằng mọi giá phảỉ rút tất cả các toán đang ở trên núi về vùng an toàn, chúng ta sẽ tham dự một chiến trường mới". Mọi người đều tá hỏa vì việc phối trí gài sâu các toán Thám sát vào những hang động hiểm trở nằm sâu trong núi đã là một việc cực kỳ khó khăn, mà bây giờ lại phải khẩn cấp đem các toán về an toàn, tránh không đụng độ với địch quân lại càng khó hơn. Nhưng rốt cuộc, lệnh của Đại tá Chỉ Huy Trưởng cũng đã được hoàn bị một cách tốt đẹp, và cũng may đã không bị một tổn thất nào.


Chiều 02/01/1975, tất cả các toán Thám Sát BCD và Bộ Chỉ Huy được trực thăng vận bằng Chinook từ Tây Ninh về căn cứ Hành Quân Suối Máu tại Biên Hòa. (chỉ để lại một Biệt Đội để giúp trấn thủ Tây Ninh). Sau khi được nghỉ ngơi khoảng một giờ, mọi người phải ra sân tập họp để làm lễ xuất quân đầu tiên của Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật : Trung Tá Vũ Xuân Thông được bổ nhiệm chức Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật, Chỉ Huy Phó là Thiếu Tá Nguyễn Sơn, riêng tôi là Trưởng Ban Quân Y Hành Quân. Sau khi Đại tá CHT Liên Đoàn 81 duyệt qua hàng quân và bắt tay từng người, chúng tôi vào phòng HQ để được ban 2 & 3 thuyết trình về tình hình tại chiến trường. Bản đồ Phước Long hiện ra, đây là chiến trường mới, thử thách mới của người chiến sĩ Biệt Cách Nhẩy Dù . Thiếu tá Thọ (ban 3) thuyết trình về tình hình tại Phước Long, trên bản đồ chúng tôi thấy những dấu chấm màu đỏ của địch quân nhiều hơn những dấu chấm màu xanh của các đơn vị bạn. Phước Long đang bị bao vây! Núi Bà Rá mất hẳn, Phước Long từng phút hấp hối đang trông chờ những người lính Biệt Cách Dù nhẩy vào vòng chiến để tiếp cứu.

Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật gồm : một Biệt đội đặc huấn với khẩu 90 ly không giật, Biệt đội 1 và Biệt đội 4 (tất cả khoảng 300 chiến sĩ tinh nhuệ BCD). Nếu tình hình đòi hỏi thì sau 10 ngày, toàn bộ Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù sẽ vào Phước Long để thực hiện một trận đánh ngoạn mục như tại An Lộc năm 1972.Trở về Ban Quân Y, sau khi phân phối thuốc men cho các y tá trưởng Biệt Đội, tôi cảm thấy thật bình thản vì mọi việc đã sẵn sàng để sáng mai lên đường. Số tiền thưởng 10,000 cho ban quân y tôi giao lại cho anh em ra Biên Hòa thoải mái, riêng tôi tìm về thăm người anh, tại đây tôi thấy tờ Điện Tín phát hành cách đó vài ngày với tựa đề lớn nơi trang nhất : "cộng quân đang bao vây tỉnh Phước Long, cách tỉnh 700 m (?).

Tình hình Phước Long quá nguy ngập."5 giờ sáng ngày 3/01/75, từng hàng xe GMC chở chúng tôi ra phi trường Long Bình. Cả BCH/HQ Biên Hòa tiễn đưa chúng tôi với hai ngón tay hình chữ V giơ cao chúc mừng chiến thắng. Nhưng phải đợi mãi tới 2 giờ chiều trực thăng mới cất cánh trực chỉ Phước Long. Khoảng hơn một giờ sau, chúng tôi đã có mặt trên vùng trời Phước Long. Từ thân tàu, tôi nhìn thấy nhiều cụm khói trắng lỗ chỗ dưới đất, cộng quân đang đổ mưa pháo vào Phước Long. Rồi bỗng nhiên không hiểu vì lý do gì, tất cả trực thăng đều quay đầu trở về, tôi đoán có lẽ vì phòng không của địch quá mạnh, nên không thể đổ quân được! Chúng tôi được đưa trở lại phi trường Long Bình để chờ đợi.

Đêm đó, anh em 81 chúng tôi cố tìm sự thanh thản bên những ly cà phê và suy tưởng đến cuộc chiến tàn khốc trước mặt.Sáng sớm hôm sau, ngày 4/01/75, từng đoàn trực thăng đáp xuống đậu tại phi trường, nhưng chờ hoài chẳng thấy lệnh lạc gì để bốc chúng tôi vào Phước Long. Mãi cho đến gần trưa, chúng tôi thấy một số sĩ quan cấp tướng, cấp tá đến nói chuyện cùng các phi công trực thăng, họ cố gắng thuyết phục phi hành đoàn thi hành lệnh đổ quân, mặc dù hỏa lực phòng không của địch tại vùng đổ quân rất mạnh.Khoảng 11 giờ trưa, trực thăng cất cánh. Các chiến sĩ 81 BCND lên đường tiến vào tử địa Phước Long. Cuộc đổ quân được chia làm hai đợt : Đợt 1 do Tr/tá Thông chỉ huy gồm BCH và Biệt đội 4. Đợt 2 do Th/tá Nguyễn Sơn chỉ huy cùng với Biệt đội 1.Cuộc đổ quân đợt đầu an toàn, chúng tôi được trực thăng vận về hướng Đông cầu Đak-Lung, bố trí đội hình và tiến vào tỉnh, Tr/tá Thông được BCH tỉnh đưa xe jeep ra đón, còn chúng tôi thận trọng tiến bước. Khi dừng chân tại đồn Cảnh Sát Dã Chiến, anh em Cảnh Sát rất vui mừng vì họ đã trông đợi đơn vị của "Người tình không chân dung" đã mấy hôm nay.

Sự có mặt của anh em BCD khiến tinh thần của họ lên rất cao. Tiếng trực thăng từ xa vọng tới, cuộc đổ quân đợt hai đang tiếp diễn, nhưng đã không được may mắn như đợt đầu. Th/tá Nguyễn Sơn và Biệt đội 1 bị lãnh no pháo, ch/úy Lâm Ngọc Bảo bị thương nặng (Lâm Ngọc Bảo hiện sống ở Pháp). Máy truyền tin liên tục gọi Quân Y đến. Pháo không ngừng nghỉ! Rồi bỗng nhiên ngưng bặt, rồi tiếng xích sắt ken két vang lên, tôi hỏi viên Tr/úy cảnh sát dã chiến là có phải xe tăng không? Anh ta nói : "từ lúc cuộc chiến mở màn, chưa có xe tăng nào vào tỉnh". Tiếng xích sắt nghiến trên đường nghe càng lúc càng gần, anh em 81 BCD tại đồn CSDC la lớn "Xe tăng tới". Súng M72 chống tăng đều giương lên để tác xạ, và 4 chiếc xe tăng T54 lù lù xuất hiện. M72 thi nhau nổ, nhưng xe tăng chỉ khựng lại, không bốc cháy và rồi lại từ từ tiến tới (Cộng quân đã học được bài học ở An Lộc, nên chúng đã biến cải xe tăng với những bửng sắt chắn đạn M72 dầy hơn), nòng đại bác xe tăng hướng về phía chúng tôi khạc đạn dữ dội. Mọi người phân tán, chạy xuống cầu Đak-Lung, dân chúng cũng ùn ùn chạy theo!!!! Đạn 57 ly trực xạ của địch từ trên núi Bà Rá bắn xuống trên đầu chúng tôi, trên trời những chiếc phi cơ F5 thả bom loạn xạ vào núi, rồi phòng không Vietcong bắn lên, nổ đầy trời tạo nên những cụm bông trắng dị kỳ.Cộng quân đã tung xe tăng vào chiến trường Phước Long đúng vào thời điểm mà LĐ 81/BCND tiến vào trận địa chắc không phải là một điều ngẫu nhiên. Sau đợt xe tăng lên công phá, địch lại pháo hàng loạt không ngừng nghỉ vào tỉnh lỵ nhỏ bé này, mọi phương tiện đều bị tê liệt như phi trường, pháo binh, và thiết vận xa. Tất cả đều nằm bất động dưới cơn mưa pháo của cộng quân.Sau khi rút về hướng cầu Đak-Lung, chúng tôi bắt liên lạc lại được với bộ chỉ huy chiến thuật, và bắt đầu tiến trở lại dinh tỉnh trưởng. Đoạn đường thật ngắn mà đầy rẫy những hiểm nguy! Chúng tôi phải chạy đua với đạn pháo của địch! Cuối cùng gặp lại được Tr/tá Thông và Đ/úy Thứ. Ban Quân Y được chỉ định cho một căn hầm chìm nằm kế dinh Tỉnh Trưởng để làm phòng Quân Y dã chiến. Anh em BCD bị thương khá nhiều ở đợt đổ quân thứ hai, và nhất là sau lần quần thảo với xe tăng T54 . Thương binh được chuyển tới hầm Quân Y liên tục khiến chúng tôi làm việc không xuể.Chiến trận mỗi lúc càng khốc liệt, chiều ngày hôm đó (4/01/75), 4 chiếc T54 và đặc công Cộng Sản lại mở cuộc tấn công vào dinh Tỉnh Trưởng.

Anh em BCD quần thảo với địch thật anh dũng, một số đặc công CS từ xe tăng nhẩy xuống giao thông hào đã bị Tr/tá Thông thảy cho vài trái lựu đạn diệt gọn, một chiếc T54 bị bắn gẫy gọng, được 3 chiếc kia kéo đi khi rút lui. Trong trận này, anh em Đặc Huấn BCD bị thương nhiều! Hầm quân Y chật cả thương binh, chỉ khâu vết thương được xử dụng tối đa, dự trù được dùng cho 10 ngày, nhưng giờ phút này không còn lấy một sợi! Trong tình hình khẩn cấp, tôi ra lệnh cho Th/sĩ Dân, y tá trưởng, dùng dây nhỏ của điện thoại để thay thế chỉ khâu, miễn sao là cầm máu được vết thương, và sau đó dùng Penicilline để tránh nhiễm trùng.Vừa có mặt tại Phước Long chưa được trọn ngày mà anh em BCD đã phải quần thảo với xe tăng và đặc công của địch tới hai lần. M72 bắn đã gần hết, thuốc men của Quân Y chẳng còn là bao so với nhu cầu! Xin tiếp viện, nhưng phải chờ lệnh !!Màn đêm vừa buông xuống, Đ/úy Thứ xuống hầm Quân Y nói nhỏ với tôi: "Tr/tá Thông ra lệnh sửa soạn rút quân, ban Quân Y và Biệt Đội Đặc Huấn rút theo một hướng, còn Biệt Đội 1 và 4 rút theo hướng khác". Tôi liền tập họp y tá và các thương binh, ai đi được thì ráng đi, còn ai bị thương nặng thì sẽ được cáng theo. Dân chúng ở trong hầm thấy tôi tập họp anh em 81, họ nghi là chúng tôi sẽ bỏ rơi họ, nên khóc lóc, năn nỉ để cho họ được cùng đi!! Tôi phải cố trấn an mọi người, rồi cũng êm. Mọi người hồi hộp chờ động tĩnh, và lệnh triệt thoái, nhưng rồi đêm cũng chậm chạp trôi qua một cách yên tĩnh đáng ngờ vực. 5 giờ sáng ngày 5/01/75, mặt trời chưa kịp ló dạng thì đã ầm ầm, từng loạt pháo rót vào khu tòa Tỉnh Trưởng, pháo liên tục làm không ai ngóc đầu lên nổi, cơn mưa pháo không ngừng nghỉ suốt ngày cho tới tối, nhưng không thấy tăng và bộ binh của địch tấn công. Rồi màn đêm lại buông xuống một cách nặng nề, hầm Quân Y được tổ chức canh phòng cẩn mật để đề phòng sự đột kích của đặc công địch, chỉ cần vài trái lựu đạn thảy vào là chết cả đám!

Tôi thường xuyên liên lạc với BCH/CT để theo dõi tình hình và lệnh rút quân, nhưng Đ/úy Thứ cho biết là vẫn chưa có gì thay đổi. Thêm một đêm thức trắng canh phòng, căn hầm nhỏ hẹp sực nức mùi tử khí, xác những chiến binh BCD đã hy sinh nằm bất động lạnh lùng. (đa số chết vì bị thương trong trận chiến với xe tăng của địch, bị mất quá nhiều máu).Phước Long hấp hối, đang chờ tăng viện!!Ngày 6/01/75, tờ mờ sáng, cộng quân đã nã hằng loạt pháo vào khu tỉnh lỵ, tôi nghe rõ tiếng départ của đạn pháo, nên chắc là cộng quân đã đến rất gần. Mưa pháo rơi liên tục khoảng vài tiếng đồng hồ, rồi tự nhiên ngưng bặt, rồi tiếng ken két của xích sắt xe tăng tiến lên. Mọi người ghìm chặt tay súng ở vị thế chiến đấu, chợt Đ/úy Thứ chạy vào hầm Quân Y thông báo là có lệnh rút quân.

Một cảnh hỗn loạn diễn ra tại hầm Quân Y, vì dân chúng gào khóc, níu kéo đòi đi theo chúng tôi, thêm vào đó, một số anh em ở các đơn vị khác không có cấp chỉ huy chạy loạn xạ làm mồi cho đạn pháo đang nổ liên hồi chung quanh tòa Tỉnh, lớp chết, lớp bị thương trước cửa hầm Quân Y, thật là bi đát!!Sau khi rút ra khỏi dinh Tỉnh Trưởng, Tr/tá Thông cố gắng tập họp anh em 81 lại, mong chờ tiếp viện để mở trận phản công chiếm lại tòa Tỉnh Trưởng, nhưng thất bại! Trên trời, F5 vần vũ dội bom, chung quanh dinh Tỉnh Trưởng đã thấy xuất hiện quá nhiều bóng dáng cộng quân. Thế là hết! Phước Long sau bao ngày hấp hối chờ đợi viện binh, đã lịm chết lúc 9 giờ sáng ngày 6/01/75.Phước Long thất thủ!!Rời khỏi dinh Tỉnh Trưởng, Tr/tá Thông hướng dẫn anh em 81 rút lui theo khe thông thủy tiến đến bờ sông. Nhiều anh em của các đơn vị bạn cũng chạy theo với hy vọng rút lui được an toàn. Máu nhuộm đỏ cả khúc sông! Bên này quân ta cố phá vòng vây, bên kia cộng quân xả súng để ngăn chặn đường rút lui. Hạ sĩ Đình, y tá, nhiều lần muốn giúp tôi qua sông nhưng không được. Tôi không thể rời bỏ các thương binh nặng, tôi vẫn nhớ lời Đình nói với tôi: " Thôi ông thầy ở lại tìm đường khác mà rút, còn em phải ráng qua sông để theo kịp Trung tá. Nếu thoát được, em sẽ về báo tin với gia đình của ông thầy"Màn đêm buông xuống thật nhanh, nhìn lại phía sau, Phước Long là một biển lửa, không quân đã dội bom hủy diệt tỉnh lỵ (dinh Tỉnh Trưởng, khu vực hành chánh tỉnh) bị tấn chiếm tràn ngập bởi cộng quân.

Đêm đó, 6/01/75, tôi và một số anh em 81 bị bắt! Cuộc đời tù binh bắt đầu!Sau nhiều ngày di chuyển bằng đường bộ, cộng quân đưa đoàn tù binh tới trại giam tại Lộc Ninh (tỉnh lỵ đã bị cộng sản chiếm năm 1972). Trại tù là nơi giam giữ các sĩ quan thuộc đủ mọi quân binh chủng, từ phó tỉnh trưởng, chánh văn phòng, tham mưu trưởng của tiểu khu Phước Long, đến chi khu trưởng Đồng Xoài, Bố Đức. Ngoài ra còn có sĩ quan BCH tiểu đoàn 1/7 (SĐ5BB), Trinh sát 18 (SĐ18BB), Trinh sát 25 (SĐ25BB). Riêng LĐ81BCD gồm có tôi, Ch/úy Cấp (truyền tin), Tr/úy Đức (ban 3), Th/úy Lịch, Th/úy Long, Ch/úy Bảo (BĐ1), Ch/úy Linh (BĐ4).

Đối với tù binh bị bắt tại Phước Long, cộng quân đã khai thác anh em BCD tối đa. Riêng tôi, qua các lần bị thẩm vấn, tôi không khai gì cả vì không muốn làm thiệt hại đến đơn vị. Tôi chỉ nhất mực nói là một sĩ quan Quân Y, được cục Quân Y tăng phái cho LĐ 81, tôi không biết gì về đặc lệnh truyền tin, cơ cấu và sơ đồ tổ chức của đơn vị Biệt Cách Dù. Có lẽ vì biết là không khai thác được gì, nên ngày 18/3/75 cộng sản đã chuyển tôi, Ch/úy Bảo (bị thương nặng), Ch/úy Linh ra Bắc giam giữ. Còn Ch/úy Cấp, Th/úy Lịch, Tr/úy Đức, Th/úy Long bị giữ lại ở miền Nam để tiếp tục bị khai thác.Đoạn đường dài áp tải tù binh Phước Long từ Nam ra Bắc qua ngõ đường mòn HCM thật đầy gian nan khổ cực! Ban ngày tạm dừng chân trong rừng sâu, ban đêm được chở bằng xe Molotova xuyên qua các trục lộ đường mòn. Vì sợ chúng tôi bỏ trốn, nên cộng quân đã xiềng nơi cổ chân mỗi người bằng một dây xích lớn, và cứ 4 người lại bị khóa dính chùm bằng một ổ khóa.

Đường mòn HCM xuyên qua Kampuchea và Lào, con đường mòn nhỏ hẹp giữa rừng già trùng trùng, điệp điệp phủ ngập bụi mù, từng đoàn quân Cộng sản Bắc Việt lũ lượt tiến vào Nam cùng với cơ giới nặng, xe tăng, trọng pháo và hỏa tiễn SAM. Đoàn tù binh bị giải qua địa phận Khe Sanh, rẽ vào thị xã Đông Hà (Quảng Trị), nơi mà cộng quân đã chiếm giữ từ năm 1972. Mùa Xuân nơi vùng địa đầu giới tuyến trời giá rét mưa phùn. Trong thời gian chờ qua cầu Hiền Lương (sông Bến Hải), các bà mẹ già Quảng Trị mời chúng tôi mua bánh!! Tôi thầm nghĩ, Quảng Trị đã rơi vào tay giặc từ 3 năm nay rồi, mà sao mẹ già Việt Nam vẫn còn nghèo khổ cơ cực, run rẩy trong chiếc áo tơi đi bán dạo từng miếng bánh như vậy ?? Mẹ hãy thông cảm cho chúng con, thân tù làm sao có tiền mua bánh giúp mẹ! Mẹ hãy nhìn kỹ dưới chân chúng con để thấy những xiềng xích của một đời tù binh tủi nhục.Xe bắt đầu tiến qua cầu Hiền lương, nhìn bức ảnh lớn của Hồ Chí Minh được treo trên cầu đang đưa tay vẫy chào với hàng chữ lớn "Không gì quí hơn độc lập Tự Do".

Thế là hết! Tự Do đã mất! Người chiến binh QLVNCH sa cơ thất thế đang bước vào chốn ngục tù đắng cay của một chuỗi ngày dài tăm tối!Qua khỏi vĩ tuyến 17 là địa phận Vĩnh Linh (Đồng Hới), ổ khoá lớn xiềng chung 4 người được Cộng sản tháo ra để bắt chúng tôi phải đi bộ. Với xiềng xích nơi chân mỗi tù binh, chúng tôi bị giong đi dưới làn mưa gạch đá của dân chúng và trẻ nít miền Bắc đứng dọc bên đường, vừa chửi rủa vừa ném tới tấp!! Đây là một đòn phủ đầu thâm độc đã được dàn cảnh cốt để làm nhục người chiến sĩ quốc gia. Con đường dài tủi nhục dẫn đến Vinh (Nghệ An), chúng tôi được xe lửa chở đến ga Hàng Cỏ (Hà Nội). Trong khi chờ đợi di chuyển tới nơi lưu đầy rừng thiêng nước độc Yên Bái, chúng tôi lại phải lãnh chịu thêm một màn sỉ nhục của người dân miền Bắc bằng gậy gộc đòn gánh phang túi bụi và những màn đấm đá hận thù!!!! Ăn no đòn hội đồng, chúng tôi ngất ngư gần chết.Chiều tối ngày 8/4/75, chúng tôi đến nơi lưu đầy, một trại giam ở sâu trong rừng cách thị xã Yên Bái khoảng 20km. Xiềng xích dính liền nơi chân trong suốt đoạn đường từ Nam ra Bắc dài hơn 3 tuần lễ được Cộng sản tháo ra.

Tù binh bị bắt tại Phước Long được nhốt chung với các anh em chiến sĩ bị bắt ở Hạ Lào trong cuộc hành quân 719. Tại đây tôi gặp Đ/tá Thọ (Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 3 Nhẩy Dù) và nhiều anh em khác.Ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền Nam thất thủ, Quân Lực VNCH bị bức tử một cách tức tưởi! Nhân dân miền Nam Việt Nam nằm trong sự thống trị bạo tàn của cộng sản, riêng các chiến sĩ oai hùng ngày xưa phải gánh chịu nhiều năm dài tăm tối ngục tù !! Rồi những năm tháng dài tăm tối qua đi, những người tù "cải tạo" còn sống sót được lần lượt thả về, và đưa đi định cư tại Hoa Kỳ hoặc đến các nước Tự Do để xây dựng lại cuộc sống.

Hôm nay, hít thở không khí tự do nơi đất nước tạm dung, hồi tưởng lại quá khứ, chiến trường Phước Long, kiếp lưu đầy tù tội nơi lam sơn chướng khí Việt Bắc, những ngày đói khát không được ăn cho đủ no để chống với cái lạnh cắt da, cô đơn không người thăm hỏi, và biết bao muôn vàn những cay đắng tủi hờn trút đổ thù hận trên người chiến sĩ Quốc Gia sa cơ thất thế. 26 năm đã trôi qua từ ngày Phước Long, tỉnh lỵ đầu tiên của miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng Sản trong một chuỗi ngày khắc nghiệt của tháng Tư năm 1975 khi người chiến sĩ QLVNCH đã phải đơn độc chiến đấu trong một hoàn cảnh khó khăn khi phải đương đầu với một guồng máy chiến tranh của thế giới cộng Sản, và khi các bạn Đồng Minh đã quay lưng bỏ rơi vì áp lực phản chiến khắp nơi! Ngày 6/01/75, Phước Long thất thủ khởi đầu một trang sử đau thương cho những người yêu chuộng Tự Do, cho nhân dân Việt Nam!Phước Long mãi mãi vẫn là một niềm đau chưa dứt trong tim tôi nói riêng, và trong lòng những chiến binh kiêu hùng của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhẩy Dù.January 2001.

Đàm hữu Phước
Sĩ quan Quân Y
BCH/CT, LĐ81BCND
caolynh
Posts: 317
Joined: Wed Dec 17, 2008 7:21 pm
Contact:

Post by caolynh »


Image

Tấn Thảm Kịch 1975

TRỌNG ĐẠT
-

Melvin R.Laird, cựu bộ trưởng Quốc phòng Mỹ dưới thời Nixon, sau mấy chục năm im lặng mới lên tiếng gần đây. Ông nói rằng chiến tranh Việt Nam không thể kết luận là một sự sai lầm, theo ông Hoa Kỳ đã chuốc lấy thất bại và bỏ lỡ nhiều cơ hội chiến thắng. Mục tiêu cuộc chiến tranh Việt Nam hồi ấy là để ngăn chặn sự bành trướng của Cộng Sản tại Á Châu. Cựu bộ trưởng Laird chỉ trích Hoa Kỳ năm 1975 đã bỏ rơi đồng minh Việt Nam, ông nói rằng điều xấu hổ không phải là Hoa kỳ có mặt từ lúc đầu mà là sự phản bội vào giờ phút chót, Quốc hội Hoa kỳ đã ngoảnh mặt làm ngơ trước những lời cam kết với Việt Nam của chính phủ Nixon trước đó. Cựu bộ trưởng nói rằng Tổng thống Ford, bộ trưởng ngoại giao Kissingger, bộ trưởng quốc phòng Schlesinger phải chia xẻ nỗi nhục này, cũng theo ông Quốc Hội là thủ phạm chính trong sự bỏ rơi Đồng minh qua một số quyết định như :

1- Chấm dứt can thiệp quân sự (8/1973).
2- Cấm can thiệp trở lại Việt Nam.
3- Cấm trả đũa nếu Hiệp định Paris bị vi phạm.
4- Giảm quân viện từ 1 tỉ 4 xuống còn 700 triệu vào năm 1974.
5- Từ chối yêu cầu của Tổng thống Ford xin viện trợ khẩn cấp cho Việt Nam đầu tháng 4/75. .

Cũng theo Laird, Tổng thống Ford đã bác bỏ thuyết Domino đã có từ 7/4/1954 dưới thời Tổng thống Eisenhower cho rằng hễ mất một nước sẽ mất luôn nhiều quốc gia khác mà người mình thường nói nôm na môi hở thì răng lạnh.

Vào ngày 10/3/2006 vừa qua hằng trăm chuyên viên, chính trị gia nghiên cứu về sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam đã tề tựu tham gia cuộc hội thảo tại thư viện Kennedy thành phố Boston, họ thảo luận đề tài "Chiến tranh Việt nam và các tổng thống Hoa kỳ". Các chuyên viên cho rằng đó là một cuộc chiến đầy những tai họa. Bà giám đốc thư viện nói các vị Tổng thống Hoa kỳ đã dìm nước Mỹ ngày càng lún sâu vào cuộc chiến tranh Việt Nam, họ tin rằng điều mình đang làm là phải nhưng đó chỉ là một sự liều lĩnh, theo bà một sử gia nói nó chỉ là một sự tính toán sai lầm về chính sách trong lịch sử đối ngoại của Hoa Kỳ. Một diễn giả sử gia trong buổi hội thảo nói có một vài cuộc chiến tranh là chính đáng, theo ông cuộc chiến tranh Việt Nam không chính đáng.

Trên đây là hai ý kiến trái ngược nhau, một bên đại diện là cựu bộ trưởng Laird cho rằng cuộc chiến tranh Việt Nam không thể coi là một sự sai lầm và ngược lại những người tham dự buổi hội thảo tại Boston cho rằng cuộc chiến tranh Việt Nam là sai lầm. Cuộc chiến tranh ấy đã khiến Hoa kỳ phải chi tới mấy trăm tỉ đô la, 58,000 quân nhân thiệt mạng, đất nước bị xáo trộn về chính trị cũng như kinh tế. . chưa kể đất nước phải mang tiếng nhục bại trận. Theo chúng tôi biết thì tâm lý chung con người thường ích kỷ, họ chỉ nghĩ đến những cái "mất" và không để ý tới những cái "được". Tất cả những sự mất mát đó chỉ là cái giá mà họ phải trả để được bắt tay Mao xếnh xáng ngày 21/2/1972, muốn bắt tay xếnh xáng đâu có phải chuyện dễ. Điều mà chính phủ Hoa Kỳ mong ước bao lâu nay đã thành sự thật, họ đã chiêu hồi được Trung Quốc, đảng cướp hung tợn này không còn là mối đe dọa tài sản tính mạng của Hoa Kỳ nữa, nhưng sự chiêu hồi ấy phải trả một giá hơi cao.

Theo chúng tôi nghĩ các ngài chuyên viên, chính trị gia ấy chắc cũng phải thừa biết như vậy và sự giả vờ ngây thơ của họ cho thấy họ không thẳng thắn nhìn nhận sự thật. Chúng tôi nghĩ các vị Tổng thống Hoa Kỳ chắc hẳn không sai lầm chút nào khi dính líu vào cuộc chiến tranh Việt Nam vì các ngài là những nhà chính trị gia lỗi lạc, những bậc thầy chính trị của thế giới chẳng lẽ lại sai lầm như vậy sao? Người ta kêu ca những sự thiệt hại cuộc chiến tranh ấy đã gây ra cho đất nước họ, thế còn đất nước nạn nhân đã là bãi chiến trường của bom đạn, binh đao khói lửa thì sao? Người Mỹ nói rằng số bom ném tại Việt Nam gấp 3 lần số bom ném tại Âu châu trong suốt thời Đệ nhị thế chiến, họ chỉ chú ý tới số tiền chi phí khổng lồ về số lượng bom đã ném xuống nhưng lại không để ý tới những nhân mạng, tài sản do những trái bom ấy gây nên.

Từ Thế chiến thứ hai đến nay ai cũng biết chỉ có thân phận mấy anh nhược tiểu là chịu thiệt thòi, làm món hàng cho các cường quốc mua qua bán lại, còn các siêu cường thì mấy khi chịu thiệt. Nay nhiều người cho rằng cuộc chiến Iraq là một sự sai lầm, nhưng nếu nhìn vào con số thống kê thì thấy Iraq là nước cung cấp dầu cho Hoa Kỳ nhiều nhất (29%), thứ nhì là Ecuator ( 19%). . các nước khác ít lắm chỉ năm, bẩy phần trăm thôi. Nhìn vào cái "sự thật phũ phàng" ấy thì không thể kết luận là chiến tranh Iraq sai lầm!

Sự thật không phải Mỹ can thiệp vào Đông Dương từ những năm 1964, 65 mà thật ra từ tháng 10/1950 khi Trung Cộng chuyển vũ khí ồ ạt giúp Việt Minh, người Mỹ đã vội viện trợ quân sự cho Pháp 300 triệu đô la, hàng không mẫu hạm Mỹ đã chở tới Sài Gòn 40 máy bay Hellcat cho Pháp. Chính phủ và Quân đội Quốc Gia Việt Nam được thành lập từ đó và đã được người Mỹ trả lương. Năm 1950 Viện trợ quân sự của Mỹ cho Pháp mới chỉ là 17% nhưng mấy năm sau tăng lên tới 74%. Năm 1949 Mỹ đã tàn nhẫn bỏ rơi Quốc Dân Đảng Trung Hoa, Mao thừa cơ nuốt trọn nước Tầu và thành lập Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hoà Quốc khiến cho cán cân lực lượng trên thế giới lệch hẳn đi.

Ngay khi vừa chiếm xong toàn cõi lục địa, Mao vội giúp đỡ và xúi dục Bắc Triều Tiên xâm lăng miền Nam năm 1950 khiến cho Mỹ phải hốt hoảng lấy danh nghĩa Liên Hiệp Quốc để nhẩy vào ngăn chặn và đã phải dùng biển lửa để chống lại chiến thuật biển người của Lâm Bưu. Mỹ bắt đầu ghê sợ Trung Cộng từ đấy, một khối 500 triệu người hung hãn, đói khát, hiếu chiến…. lại căm thù Hoa Kỳ và Tây phương ra mặt. Chiếm được toàn cõi Trung Hoa, Mao thừa nhận Hồ, rồi Hồ thừa nhận Mao và được viện trợ vũ khí đạn dược ồ ạt từ đất Tầu chuyển sang, ấy cũng là lúc Hoa Kỳ thấy nguy cơ Cộng Sản đang lan tràn xuống Đông Nam Á theo kiểu tầm ăn dâu và cương quyết ngăn chận đến cùng.

Năm 1954 Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ phải ký hiệp Định Genève chia đôi đất nước Việt Nam. Năm 1955 Mỹ hất cẳng Pháp ra khỏi miền Nam để biến nơi đây thành tiến đồn chống Cộng của Thế Giới Tự do. Mỹ viện trợ quân sự cho miền Nam, huấn luyện cho binh lính miền Nam kỹ thuật tác chiến để ngăn ngừa hiểm hoạ Cộng Sản từ phương Bắc có thể tràn xuống bất cứ lúc nào. Đầu thập niên 60 Trung Cộng cho nổ trái bom nguyên tử đầu tiên, lật đổ được Kruschev khiến cho vai trò của Trung Cộng ngày càng quan trọng, nó đã làm thành cái thế chân vạc trên thế giới hồi ấy. Một thời gian ngắn sau, với đà tiến bộ khá nhanh, Trung Cộng chế tạo được bom kinh khí, rồi chế được hoả tiễn khi ấy Hoa Kỳ lại càng hoảng sợ hơn bao giờ hết, đối với họ, Trung Công còn nguy hiểm và đáng sợ hơn Nga sô rất nhiều vì nó là một khối người đông như kiến, đói rách, tàn ác, hiếu chiến. . chỉ tính chuyện xua quân đi ăn cướp mà tâm lý anh nhà giầu lại hay sợ kẻ cướp.

Mặc dù Trung Cộng ngày càng chống đối Nga Sô nhưng vẫn coi Mỹ là kẻ thù số một và thề quyết tâm đánh Mỹ. Năm 1965 Trung Cộng giật dây đảo chánh bất thành tại Nam Dương khiến cho Hoa Kỳ lại càng lo sợ hơn. Tầu đỏ nay đã trở thành cơn ác mộng đối với Hoa Kỳ. Sau khi hất cẳng Pháp tại miền Nam Việt Nam 1955, người Mỹ dựng lên chính phủ Ngô đình Diệm và yểm trợ hết mình, tình hữu nghị hai bên vô cùng khít nhưng chỉ được chừng bốn năm. Khoảng 1960 trở đi hai bên bắt đầu chia rẽ trầm trọng, Cộng Sản ngày càng gia tăng áp lực tại miền Nam, chúng đã đánh tới cấp trung đoàn, Mỹ sợ miền Nam sắp mất tới nơi bèn đề nghị đưa quân vào bình định nhưng ông Diệm một mực bác bỏ vì muốn giữ chủ quyền. Mỹ thấy chính phủ miền Nam ngày càng ương bướng khó bảo nên đã tính chuyện lật đổ để thay thế bằng một chính phủ khác dễ bảo hơn. Sau mấy lần cho đảo chính, ám sát hụt mãi đến đầu tháng 11/1963 mới thành công.
Mỹ tăng viện trợ quân sự cho miền Nam từ 1964 trở đi, năm 1965 chính thức đổ quân vào Miền Nam khoảng 180,000 người, năm 1966 lên 380,000 người, năm 1967 lên 480,000 người, năm 1968 lên tới 536,000 người đó là đỉnh cao nhất. Các cuộc biểu tình chống chiến tranh lúc ấy đã lan rộng trên đất Mỹ khi số lính Mỹ ủm củ tỉ tại Việt Nam lên tới 31,000 người. Tháng 3/1968 Tổng thống Johnson hăm dọa Bắc Việt để họ phải vào bàn hội nghị, Bắc Việt chấp nhận ngồi họp.

Từ 1965 đến 1968 cuộc chiến tranh cù cưa không dứt khoát, người ta đồn tư bản Mỹ buộc chính phủ của họ kéo dài chiến tranh để bán vũ khí, nhưng cũng có thể họ trì hoãn để mặc cả đi đêm với khối Cộng nhất là Trung Quốc. Tháng 4/1969 tướng Wesmoreland công bố bản phúc trình về Việt Nam cho biết nếu Mỹ không vào Việt Nam 1965 thì đã mất trong 6 tháng, ông chỉ trích chính sách hạn chế chiến tranh của Johnson không cho đánh qua Mên, Lào nên đã bỏ lỡ cơ hội chiến thắng.

Phong trào phản chiến ngày càng lên cao, Nixon nhậm chức Tổng thống đầu 1969 tuyên bố sẽ rút quân trong vòng mấy năm, thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh, hòa bình trong danh dự. Từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1970 Quân đội Việt Nam Cộng Hoà được Mỹ giúp đỡ và khuyến khích hành quân sang Mên đánh Cộng Sản đã thành công vẻ vang, nhưng đầu năm sau hành quân Lam Sơn 719 sang Hạ Lào không thành công, ta bị thiệt hại về nhân mạng và vũ khí. Phong trào phản chiến tại Mỹ càng lên cao dữ dội vì chính phủ mới vẫn tiếp tục leo thang chiến tranh. Tháng 5 /1970 trong một cuộc biểu tình tại trường đại học Kent, Ohio quân đội đã bắn chết 4 sinh viên, làm bị thương 10 người khác khiến cho phong trào chống chiến tranh lên cao gấp bội lần những năm trước.

Nixon bắt đầu cho rút quân từ giữa 1969 cho tới hết năm 1970 rút khoảng 300,000 quân . . đến 1972 chỉ con trên 70,000 người. Chính phủ Mỹ đồng thời thực hiện Việt Nam hóa chiến tranh, nâng tổng số quân đội miền Nam từ 600,000 và 700,000 trong những năm 1965, 1966 lên tới 940,000 giữa năm 1969. Hoa kỳ rút quân thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh là đã nghĩ tới chuyện bỏ Việt Nam, họ chỉ chờ cơ hội bắt tay được với Trung Quốc là thực hiện kế hoạch "vắt chanh bỏ vỏ" nhưng người dân miền Nam ngây thơ thật thà không ai ngờ tới. Trong khi giúp miền Nam đánh Cộng Sản họ đã ngấm ngầm tìm cách thương lượng với Trung Hoa đỏ.


Năm 1969 chúng tôi có được nghe một anh bộ đội người cùng làng ra hồi chánh , anh ta nói " Mỹ nó muốn chiêu hồi Trung Quốc đấy chứ cái anh Bắc Việt thì nghĩa lý gì". Lời anh ta nói thật là linh ứng, tháng 2/1972 tại Bắc kinh Tổng thống Đế quốc bắt tay được Mao Chủ tịt. Họ mua bán với nhau trên xương máu của nhân dân và binh lính cả hai miền Nam Bắc, Nixon tươi cười mãn nguyện, cơn ác mộng con hổ đói Trung quốc không còn ám ảnh Hoa kỳ nữa. Hồi ấy người dân miền Nam ai nấy vui mừng hớn hở tưởng như "hoà bình sắp tới nơi rồi" nhưng thực ra "sắp chết tới nơi" mà không ai hay biết ngay cả Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà Nguyễn Văn Thiệu, tháng 10 năm 1973 ông đã cho sửa Hiến Pháp để ra ứng cử thêm một lần nửa! thật là một truyện diễu.

Cuối tháng 3/1972 Bắc Việt đưa 5 sư đoàn với 200 xe tăng, 3 trung đoàn pháo ồ ạt tấn công vùng giới tuyến chia làm hai mũi: 3 sư đoàn vượt sông Bến Hải đánh vào Quảng Trị, 2 sư đoàn từ phía tây tiến về Huế. Mấy ngày sau ba sư đoàn Cộng Sản 5, 7, 9 cùng 200 chiến xa tiến đánh Bình Long, ngoài ra sư đoàn 320 tiến đánh Kontum và sư đoàn 3 đánh Bình Định. Tổng cộng 10 sư đoàn Bắc Việt đánh lớn trong mùa hè đỏ lửa 1972 để thêm sức mạnh tại bàn hội nghị. Tại quân khu 3 các cuộc tấn công vào thị xã An lộc của Bắc Việt từ 10/5 cho tới cuối tháng 5 bị đẩy lui, hằng trăm xe tăng bị bắn cháy, đến ngày 12/6 An Lộc coi như hoàn toàn được giải toả. Tại vùng giới tuyến tháng 5 tướng Ngô quang Trưởng thay thế Hoàng Xuân Lãm và bắt phản công tái chiếm Quảng Trị từ 28/6. Khoảng một tháng sau đại quân ta cắm cờ trên cổ thành Quảng Trị, giữa tháng 8 dứt điểm cổ thành, ngày 16/9 cuộc chiến đẫm máu coi như chấm dứt, 3 sư đoàn Việt Nam Cộng Hoà đã đẩy lui được 6 sư đoàn Bắc Việt. Trong chiến dịch này Cộng quân thiệt hại khoảng 100,000 người (cũng có tài liệu nói 70,000 người), gấp đôi tổn thất của quân đội miền Nam. Cho đến cuối 1972 có vào khoảng một triệu cán binh Cộng Sản bị tử thương trong khi Bắc Việt vẫn ngoan cố theo đuổi chính sách "cố đấm ăn xôi" đẩy thanh niên vào chỗ chết, chúng hy vọng nhiều vào phong trào phản chiến, chúng cũng chỉ mong có thế.

Người Mỹ cho rằng chiến thắng trong trận mùa hè đỏ lửa một phần do sự yểm trợ hùng hậu của không lực Mỹ, chính ông Cao văn Viên, Tổng tham mưu trưởng cũng đã xác nhận "Cuộc công kích của địch quân năm 1972 đã cho thấy nhược điểm của tiến trình Việt Nam hoá chiến tranh. Nếu không được yểm trợ của Mỹ về Không lực và di động tính, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà khó có thể giữ được An Lộc , bảo vệ được Kontum và chiếm lại được Quảng Trị . Các phần đất này sẽ bị mất vĩnh viễn bởi vì chúng tôi không có đủ khả năng chiếm lại. Tuy nhiên, lúc nào còn Không lực Mỹ thì cán cân lực lượng vẫn có thể duy trì và Việt Nam Cộng Hoà vẫn còn một cơ hội tốt để sống còn"

Như thế năm 1972 lực lượng Việt Nam Cộng Hoà không được cân bằng so với Bắc Việt, nó chỉ cân bằng khi có sự yểm trợ của Không quân Mỹ, tại miền Nam tháng 5, tháng 6/1972 có 18,000 phi vụ do 700 phi cơ và 2,700 phi vụ do 170 B-52 thực hiện. Năm 1968 và 1972 chính phủ Việt Nam đã đề nghị chính phủ Mỹ cho thành lập thêm 2 sư đoàn tổng trừ bị để đối phó với lực lượng địch đã có ưu thế về xe tăng pháo binh, nhưng người Mỹ từ chối lấy lý do tốn kém. Kỳ thực họ không muốn cho quân đội miền Nam mạnh quá vì sợ có thể liều lĩnh đánh ra Bắc hoặc ương bướng khó bảo, họ luôn luôn nắm đằng chuôi. Như thế ta có thể kết luận về chủ lực quân, miền Nam không bằng miền Bắc cũng như năm 1953 chủ lực quân Việt Minh vẫn mạnh hơn Pháp.

Sau ngày ký hiệp định Paris, năm 1973 tình hình tiếp vận của miền Nam vô cùng thiếu hụt , một số lớn săng dầu đạn dược đã được dốc vào mùa hè đỏ lửa năm 1972, quân viện bị cắt giảm dần dần từ 2 tỉ 1 năm 1973 còn 1 tỉ 4 năm 1974 và 700 triệu năm 1975. Theo tiết lộ sau này của Bộ Tổng tham mưu hậu quả của giảm quân viện là không quân đã phải cho hơn 200 phi cơ ngưng bay, giảm số giờ bay yểm trợ huấn luyện 50%, phi vụ trực thăng giảm 70%. Các hoạt động hải quân cũng cắt giảm 50%, 600 tầu chiến các loạinằm ụ. Đạn dược chỉ đủ dùng cho đến tháng 6/1975.
So sánh với tình hình năm 1972 chúng ta sẽ thấy: Trong trận mùa hè đỏ lửa, Bắc Việt đã đưa vào trận đánh tổng cộng 10 sư đoàn, ta có đủ đạn dược săng dầu để chiến đấu lại được không quân Mỹ giúp đỡ về vận chuyển và oanh tạc. Sang năm 1975, săng dầu đạn dược thiếu thốn, không được B52 yểm trợ. Lực lượng địch lúc bắt đầu trận đánh khoảng 17 sư đoàn, chưa kể 3 sư đoàn tổng trừ bị thuộc quân đoàn 1 ở phía trên Bến Hải, khi ta mất vùng 1 và 2 , Bắc việt đưa nốt 3 sư đoàn vào Nam nâng tổng số lên 20 sư đoàn . Vũ khí đạn dược của địch năm 1975 gấp 3 lần 1972 theo tiết lộ của báo Nhân Dân năm 1976 nhân ngày kỷ niệm chiến thắng 30/4.

Chúng ta hãy lập bảng so sánh như sau.
Năm 1972:

- Bắc Việt đưa vào trận địa 10 sư đoàn
- Miền Nam có đầy đủ tiếp liệu đạn dược.
- Có yểm trợ của không lực Mỹ.
Năm 1975:-

Lực lượng Bắc Việt lên tới 20 sư đoàn, gấp đôi năm 1972.
- Vũ khí đạn dược của Bắc Việt gấp 3 lần năm 1972.
- Miền Nam thiếu thốn đạn dược nhiên liệu.
- Không được phi cơ Mỹ yểm trợ oanh tạc và vận chuyển.

Nhìn sơ ta cũng đủ thấy tình hình miền Nam lúc ấy bi đát như thế nào rồi.
Trong khi địch có khá đầy đủ tin tức tình báo về miền Nam, chúng ta lại không có tin tức chính xác về lực lượng địch. Theo Văn Tiến Dũng (trong Đại thắng Mùa Xuân) vào ngày 9 và 10 tháng 12/1974 vài ngày trước khi Bắc Việt đánh Phước Long, trong một phiên họp các tư lệnh quân khu tại dinh Độc Lập, tướng Thiệu cho rằng năm 1975 Bắc Việt có thể đánh lớn hơn năm 1974 nhưng không như năm 1968 và không bằng 1972, chưa có khả năng đánh vào các thị xã lớn mà chỉ đủ đánh các tỉnh nhỏ như Phước Long, Gia Nghĩa, rằng Bắc Việt sẽ đánh quân khu 3 chủ yếu là Tây Ninh. Theo Văn Tiến Dũng do nhận định sai nên tướng Thiệu đã bố trí chiến lược mạnh ở hai đầu (quân khu 1 và 3), chưa tăng cường lực lượng cho quân khu 2 trong đó có Tây Nguyên.

Sư bố trí lực lượng của miền Nam theo Văn tiến Dũng như sau.
Quân khu 1 để 5 sư đoàn (sư đoàn 1, 2, 3, Dù và Thủy quân lục chiến), 4 liên đoàn Biệt động quân, 418 khẩu pháo, 449 xe tăng, 96 máy bay chiến đấu.

Quân khu 2 để 2 sư đoàn (sư đoàn 22 và 23), 7 liên đoàn biệt động quân, 382 khẩu pháo, 477 xe tăng thiết giáp, 138 máy bay chiến đấu.
Quân khu 3 để 3 sư đoàn (sư đoàn 5, 18, 25), 7 liên đoàn biệt động quân, 376 khẩu pháo, 655 xe tăng thiết giáp, 250 máy bay chiến đấu.
Quân khu Bốn để 3 sư đoàn (sư đoàn 7, 9, 21), 380 khẩu pháo, 490 xe tăng, 72 máy bay chiến đấu, 580 tầu xuồng các loại.
Đã suy yếu vì thiếu tiếp liệu, ta lại đánh giá sai lực lượng địch nên đã bố trí các quân khu sai như trên. Cho tới 1975 ta vẫn không thay đổi sự bố trí lực lượng đã có từ trước cho phù hợp với tình hình mới. Lực lượng địch như đã nói ở trên tổng cộng là 20 sư đoàn, với số xe tăng thiết giáp ước lượng không chính xác khoảng 700 chiếc và700 khẩu pháo. Một nhà báo tây phương nói hai bên xem như ngang nhau vào lúc đầu của tấn thảm kịch. Năm 1975 Việt Nam Cộng Hoà có trên một triệu quân, 40% là chủ lực chính qui, 50% là địa phương quân, còn lại hải quân, không quân, cảnh sát. Lính nhà nghề chỉ có 13 sư đoàn và 15 liên đoàn biệt động quân , mỗi liên đoàn khoảng trên 2,000 người. Về mặt số lượng xe tăng và pháo của địch không bằng ta nhưng về mặt phẩm thì có phần hơn, thiết giáp miền Nam gồm M-48, M-41, M-113, trong đó chỉ có M-48 là tương đương với T-54 của Bắc Việt, pháo binh địch loại 130 ly có tầm viễn xạ tối đa là 30 cây số trong khi đại bác 105 ly, 155 ly của ta chỉ được 11 và 15 cây số, sau này được viện trợ thêm 175 ly có tầm bắn xa 25 cây số. Sự thực lực lượng hai bên không cân bằng vì miền Nam lâm vào tình trạng hết đạn.
Quân khu 2 gồm 13 tỉnh mà chỉ có 2 sư đoàn trấn giữ, lực lượng bị phân tán mỏng lại là nơi địch chủ trương tấn công toàn diện, Bắc Việt tung vào trận địa này 5 sư đoàn tổng cộng gần 80,000 người. Bắc Việt bất ngờ đưa ba sư đoàn tấn công Ban mê thuột ngày 11/3, năm ngày sau 16/3/1975, Quốc hội Mỹ cắt viện trợ 300 triệu đô la quân viện bổ túc cho Việt Nam như thế ta chỉ còn đạn đủ đánh trong vòng vài tháng, hôm sau 17/3 Ban Mê Thuột hoàn toàn mất. Từ ngày 11/3 tại dinh Độc Lập tướng Thiệu triệu tập phiên họp gồm các tướng Viên, Khiêm, Quang cho biết phải rút quân bỏ vùng 1 vùng 2 về bảo vệ vùng 3 và vùng 4. Kontum, Pleiku bị áp lực nặng, tướng Phú tư lệnh quân khu 2 bay về Cam ranh họp với các tướng Thiệu, Khiêm, Viên, Quang để bàn kế hoạch rút lui Pleiku theo đường số 7 về Tuy Hoà.

Cuộc triệt thoái bắt đầu từ 16/3 đến 19/3, ngày đầu nhờ yếu tố bất ngờ nên đoàn lữ hành ra đi êm xuôi, hôm sau dân chúng ùa theo, Bắc việt chớp thời cơ chận đánh, pháo kích tơi bời, khoảng 5,000 quân vượt đường máu tới Tuy Hoà, cuộc triệt thoái không có kế hoạch đầy đủ, cấp trên nhiều người bỏ đơn vị chạy trước, kỷ luật hỗn tạp, kẻ xấu lợi dụng bắn phá giết chóc. . Cuộc triệt thoái trên đường số 7 đã đi vào vết xe đổ của trận Cao Bắc Lạng năm 1950 khi quân Pháp triệt thoái khỏi vùng biên giới Việt Hoa đã bị Việt Minh chận đánh tan tành, được coi như một thảm bại lớn nhất trong cuộc chiến tranh tại miền Nam nước Việt từ trước đến nay.
Tướng Cao Văn Viên cho rằng ít nhất 75% các lực lượng chiến đấu của quân đoàn 2 đã bị tiêu diệt, 60,000 chủ lực quân khi về đến Tuy hoà chỉ còn lại khoảng 20,000, năm liên đoàn biệt động quân 7,000 người chỉ còn 900 người, 100 xe tăng các loại chỉ còn 13 cái M-113, trong số 400,000 dân cao nguyên chạy loạn chỉ có 100,000 người tới được Tuy Hoà. Tổng số vũ khí đạn dược trị giá 250 triệu đô la lọt vào tay Cộng quân. Ít ra cũng có tới 50,000 người thiệt mạng, cuộc triệt thoái mang lại hậu quả hết sức tai hại, nó đã kéo theo sự sụp đổ của toàn bộ miền Nam.

Miền Nam đã đang ở trong tình trạng ngặt nghèo vì thiếu đạn, săng dầu. . tướng Thiệu lại đưa ra những quyết định sai lầm vô cùng tai hại khiến cho đất nước trong chớp nhoáng đã kề bên bờ vực thẳm, ngày 13/3 ông cho lệnh rút sư đoàn dù từ Quảng trị về vùng 3, tướng Trưởng điều động liên đoàn biệt động quân 14 thay thế vào, biệt động quân nghe tiếng xe tăng địch vội rút về phía nam sông Mỹ chánh, Quảng trị coi như bỏ ngỏ đã lọt vào tay Bắc Việt hôm 19/3. Ngày hôm sau tướng Trưởng nhận được lệnh bỏ Huế rút về Đà nẵng, ngày 25/3 Quảng Tín và Quảng Ngãi lọt vào tay Cộng quân, ngày 25/3 Trưởng nhận lệnh đưa sư đoàn Thủy quân lục chiến về Sài Gòn. Cuộc tháo lui của Thuỷ quân lục chiến tại cửa Thuận An vô cùng thê thảm, biết bao người bỏ mạng khi lội ra tầu dưới hoả lực địch. Các cuộc di tản tại vùng 1 đã diễn ra một cách hỗn loạn được coi như tồi tệ hơn tại vùng 2, cấp trên nhiều người bỏ quân sĩ lại để chạy tháo thân, ngày 27/3 Đà nẵng bắt đầu nghiêm trọng, Cộng quân pháo vào thành phố dữ dội, dân quân chết như rạ, tướng Trưởng ra lệnh bỏ Đà Nẵng.
Vùng 1 và 2 bị mất trong chớp mắt khiến cho tinh thần binh sĩ suy sụp nhanh chóng, điều đáng nói là trong khi tinh thần chiến đấu của binh sĩ còn khá cao, thay vì tăng viện thêm tướng Thiệu lại cho lệnh rút bỏ cả hai quân khu khiến cho dân quân vô cùng hoang mang, cuộc di tản diễn ra trong cảnh hỗn loạn, đạp lên đầu nhau mà chạy, bắn giết nhau tìm đường chạy coi như đã dọn cỗ sẵn cho Việt Cộng xơi. Tất cả vũ khí đạn dược, quân trang, xe tăng đại bác . . tại hai vùng hầu như mất hết, một phần lớn đã lọt vào tay Cộng quân, đúng là giáo vào tay giặc. Năm 1976, Cộng Sản tiết lộ trên báo chí chúng đã lấy được rất nhiều chiến lợi phẩm tại vùng 1 và 2 nào xe cộ, đại bác, thiết giáp. . để trang bị thêm, đạo quân của địch bỗng nhiên tăng lên gấp bội. Như đã nói ở trên riêng cuộc lui binh tại quân khu 2 cũng đã có khoảng 50,000 người thiệt mạng, cuộc rút lui hỗn loạn tại quân khu 1 dưới những trận mưa pháo của địch nhất là tại Đà Nẵng còn thiệt hại nhiều hơn nữa, trong toàn bộ cuộc di tản vùng 1 và 2 có tới hằng trăm nghìn người bị chết oan.

Thực hiện xong kế hoạch rút quân tại vùng 1 và 2 coi như tướng Thiệu đã dọn cỗ sẵn cho Việt Cộng xơi. Sau khi vùng 1 và 2 lọt vào tay Cộng quân, phần còn lại của miền Nam coi như sẽ mất trong giây lát, đạn dược đã thiếu nay lại càng thiếu hơn vì các kho đạn miền Trung mất hết. Tại Sài Gòn các ông to bà lớn đã chuẩn bị kế hoạch "tẩu vi thượng sách" y như năm 1949 tại Nam Kinh, Trung Hoa các ông bộ trưởng, tướng tá đã lên máy bay ra đảo Đài Loan.

Sài Gòn sắp chết tới nơi mà chính phủ Thiệu còn khẩn khoản xin Mỹ viện trợ khẩn cấp 300 triệu, theo ông Nguyễn tiến Hưng, vào giờ thứ hai mươi năm tướng Thiệu còn tính việc lấy ngoại tệ trong ngân hàng để đi mua đạn, thật là diễu hết chỗ nói. Ngày 21/4 ông Thiệu từ chức tổng thống, tuyên bố Hoa kỳ bỏ rơi đồng minh, từ đó đến nay nhiều người Việt đổ lỗi cho Mỹ đã bỏ rơi đồng minh năm 1975. Người Mỹ, điển hình là đương kim Tổng thống và bộ trưởng quốc phòng lại chỉ trích quân đội Việt Nam Cộng Hoà trước đây đã không chịu đánh. Nhiều chính khách Hoa kỳ lại đổ lỗi cho miền Nam Việt Nam. Theo ông Nguyễn đức Phương, nhà nghiên cứu quân sự thì nguyên nhân thất bại đã đến từ cả hai phía Việt Nam và Mỹ.
Như chúng tôi đã trình bầy ở trên, Quốc hội Mỹ cắt giảm viện trợ quân sự khiến cho quân đội miền Nam lâm vào tình trạng ngặt nghèo kiệt quệ, một ông tướng Pháp nói đó là bức tử Việt nam. Chính người dân Mỹ, nhóm biểu tình phản chiến đã lên kế hoạch "vắt chanh bỏ vỏ", mặc dù không nói ra nhưng họ cho rằng đã "huề" với Trung Hoa đỏ rồi thì không còn lý do gì để giữ miền Nam. Người dân đã vận động với Quốc hội để bức tử miền Nam như trên, Quốc Hội phải theo ý dân vì sống nhờ vào lá phiếu của họ. Công bằng mà nói hành pháp Hoa Kỳ đã cố gắng cứu giúp sự sống còn của miền Nam nhưng họ đã bị Quốc hội trói tay đành phải chịu. Sau ngày 30/4/1975, một nhóm đông đảo sinh viên thanh niên phản chiến hớn hở tham dự buổi mít tinh để mừng chiến tranh chấm dứt "The war is over".
Cho tới nay ít ra đã có người biết xấu hổ vì cái trò vắt chanh bỏ vỏ.
Bộ trưởng tư pháp Mỹ R Kennedy nói Việt nam phạm vào rất nhiều sai lầm, trước mắt như chúng ta đã thấy ở trên, trong khi đạn dược thiếu hụt, tướng Thiệu lại sai lầm rút bỏ quân khu 1 và 2 đưa miền Trung vào chỗ thảm bại mất hết vũ khí đạn dược, chết bao nhiêu dân, quân, binh lính khiến cho tinh thần suy sụp ghê gớm đưa miền Nam xuống vực thẳm. Những người chạy lọan từ miền Trung vào Nam, một số sĩ quan viết lại hồi ký, họ nói rằng cấp lớn nhiều người thiếu tư cách, bỏ lính tráng lại chạy tháo thân.

Thật vậy, nhiều ông tỉnh trưởng vét tiền trong ngân khố chạy trước, điều đáng tiếc là trong khi tinh thần binh sĩ còn cao, cấp lớn hèn nhát ích kỷ đã giúp cho sự sụp đổ của miền Nam nhanh hơn dự kiến. Trong khi ba quân tướng sĩ còn đang chiến đấu anh dũng bảo vệ vùng 3, nhiều ông to bà lớn đã thu xếp quí kim chuồn ra ngoại quốc. Gần đây có một ông trước là quân nhân công chức mới định cư tại hải ngoại, ông ta nói "nhiều anh trước làm quan lớn bỏ chạy bây giờ còn lên tiếng huênh hoang, mấy anh hèn nên im lặng là hơn."

Ông Nguyễn Đức Phương cho rằng người dân thờ ơ không chịu giúp đỡ chính phủ, nhưng theo chúng tôi nghĩ vì chế độ Thiệu đã thối nát quá xá rồi, hẳn là ai cũng đều biết cả, nên người dân quá chán ngán không còn thiết tha gì đến, họ cũng chỉ lo chạy tháo thân mặc cho nó sụp đổ tan tành. Những người có cảm tình với ông Thiệu cho rằng nguyên do tấn thảm kịch tại tình thế ngặt nghèo như thiếu đạn dược, xăng dầu, nhưng một ông Tổng thống phải là người thao lược, mưu trí cao để có thể chuyển bại thành thắng, còn nếu không thì ai cũng có thể làm Tổng thống được.

Sau 30/4/1975 người ta ước lượng Cộng quân đã chiếm được 1,100 phi cơ các loại, hằng trăm tầu các loại của Hải quân, 300 xe tăng M-41, 250 xe M-48; 1,000 đại bác 105 mm, 300 đại bác 155mm và 175mm; 800,000 súng cá nhân M-16, 15,000 đại liên; 500 trực thăng; 130,000 tấn đạn dược. . tất cả trị giá hằng tỉ Mỹ kim.

Hậu quả của tấn thảm kịch như ta thấy đã khiến cho hằng trăm nghìn người chết oan, hằng trăm nghìn người bị tù đầy giam giữ lâu dài, vài năm sau có tới mấy trăm nghìn người bỏ xác giữa biển khơi trên đường tị nạn. Cuộc chiến tranh 1975 đã chấm dứt từ mấy chục năm qua nhưng nó vẫn in sâu trong tâm khảm người Việt nhất là đám tị nạn lưu vong. Bây giờ không phải lúc chúng ta ngồi oán trách đồng minh bỏ rơi miền Nam, ta phải tự trách mình đã không bảo được nhau, đã biến thành những quân tốt cho người ta xử dụng, đã để cho họ mua bán với nhau trên xương máu của hằng triệu binh lính cả hai miền Nam Bắc, đã biến đất nước thành bãi chiến trường và nơi thử vũ khí của khoa học quốc phòng.
Cuối cùng, những kẻ đã gây lên cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn sẽ đời đời đắc tội trước non sông và lịch sử.

Trọng Đạt

TÀI LIỆU THAM KHẢO.

Cao Thế Dung : Việt Nam Ba Mươi Năm Máu Lửa (1945-1963).
Nguyễn Đức Phương: Những Trận Đánh Lịch Sử Trong Chiến Tranh Việt Nam, 1963-1975.
Nguyễn Đức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, 1963-1975.
Đoàn Thêm: 1965, Việc Từng Ngày.
Đoàn Thêm: 1966, Việc Từng Ngày.
Đoàn Thêm: 1969, Việc Từng Ngày.
Hoàng Lạc, Hà Mai Việt: Nam Việt Nam 1954-1975, Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới.
Văn Tiến Dũng : Đại Thắng Mùa Xuân.
Đinh Văn Thiên: Một Số Trận Đánh Trước Cửa Ngõ Sài Gòn.
Dương Đình Lập: Cuộc Tổng Tiến Công Và Nổi Dậy Mùa Xuân 1975.
The World Almanac Of The Viet Nam War, John S.Bowman, General Editor.
Stanley Karnov: Viet Nam, a History.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest