Tạp Ghi

khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Cà phê… "nằm"

Nhìn bên ngoài, các quán này cũng giống như các quán cà phê bình thường khác.
Nhưng khi khách vừa bước qua cánh cửa sắt khép hờ, mấy nhân viên nữ trong trang phục "mát mẻ" sấn tới sẵn sàng chiều theo yêu cầu của các thượng đế.
Đó là thực trạng đang diễn ra tại một số quán cà phê trên hương lộ 2, đoạn từ ngã tư Bốn Xã đến ngã ba hương lộ 2 –
Tân Hòa Đông (phường Bình Trưng Đông, quận Bình Tân).

Nằm… uống cà phê

Vượt qua đoạn đường đầy ổ gà, ổ voi, sau khi "tham quan" bên ngoài một vòng, xe chúng tôi ghé quán X.Q.
Vừa rút chiếc chìa khóa xe, chúng tôi đã được nghe những lời ngọt ngào từ hai em phục vụ mời vào quán.

Image
Mặt tiền của các quán được bày trí đơn giản nhưng luôn có người "trực chiến" như thế này. Ảnh: Q. QUÝ


Bước vào, không gian của quán không được mấy sáng sủa. Toàn bộ đèn trong quán đều tắt hết. Chỉ có ánh sáng mờ mờ hắt vào từ các khe cửa. Mấy bộ bàn ghế được đặt trong diện tích khoảng 20m2. Trong ánh sáng mờ mờ tỏ tỏ đó, nhiều khách đang ngồi uống cà phê nhưng không ai thấy rõ mặt ai.

Chúng tôi vừa mới ngồi xuống thì hai em váy ngắn cụt cỡn ngồi sáp lại như muốn nhảy vào lòng chúng tôi. Ngồi với tôi là N., một nhân viên còn khá trẻ nhưng ăn nói mạnh bạo. Chỉ một lúc, N. gợi ý: "Trong quán có chỗ rất vui, anh muốn thì theo em".

Tôi đồng ý, N. dẫn tôi lên gác của quán. Trên căn gác lụp xụp, những "gian phòng" rộng hơn 2m2 được ngăn bằng mấy tấm vải mỏng dính. Liếc mắt nhìn qua những tấm vải mỏng, có mấy đôi đang… nằm uống cà phê trong tình trạng "rất mát mẻ". Tỏ vẻ rất tiếc nuối vì có việc phải đi đột xuất, chúng tôi rút khỏi quán. Trong lúc chờ trả tiền nước, hai người đàn ông nước ngoài da đen bước vào, và mỗi người một em dắt nhau lên gác.

Dạo thêm một vòng, chúng tôi ghé một quán nữa tên T.X. So với quán cũ thì quán này có vẻ vắng khách hơn. Bước vào quán, chỉ có tiếng nhạc xập xình còn ánh sáng thì trong tình trạng "mất điện". Những cảnh "uống cà phê nằm" cũng diễn ra như quán cũ.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Image

Có Ông Già Noel hay không?

Tạp ghi Huy Phương

Ông Già Noel, Santa Claus hay Saint Nicholas là một ông già to béo, phương phi, râu tóc bạc phơ, sống vào thế kỷ thứ ba sau Công Nguyên, đêm Giáng Sinh, thường hay đi trên một chiếc xe do con tuần lộc kéo, bay trên không gian trời tuyết, đến từng mỗi gia đình tụt xuống nhà những đứa trẻ qua ống khói lò sưởi và đặt những món quà trong những chiếc vớ dài treo dưới chân giường đứa trẻ. Từ bao nhiêu thế kỷ nay, đến mùa Giáng Sinh, hàng tỷ đứa trẻ trên thế giới này đều mơ tưởng đến Ông Già Noel và hy vọng trong đêm Giáng Sinh khi tỉnh dậy buổi sáng mai, sẽ có một món quà do Ông Già Santa Claus đem đến trong đêm.

Trẻ em nghĩ đến Giáng Sinh là nghĩ đến những món quà sẽ nhận được và luôn luôn nôn nóng chờ đến ngày lễ lớn này. Trong tâm hồn trong sáng của trẻ em, Ông Già Noel vẫn là nhân vật có thật trên thế gian, nên mỗi năm có đến 8 triệu trẻ em viết thư cho Santa Claus để cho biết trong năm qua, các em đã làm tốt và muốn ông già cho quà các em như xe đạp, video games, một bộ ráp đồ chơi Lego và nhiều khi gởi theo cả một danh sách dài kê các món quà.

Các bé gái thường viết thư dài, lễ phép, ca tụng công việc và mang ơn Ông Già Noel hơn các em trai. Nhiều cơ sở bưu điện đã nhận chuyển thư gởi Ông Già Noel cho các em và nhân viên bưu điện đã phải thay phiên nhau trả lời các bức thư này. Từ năm 1982, tại Canada đã có hơn 13,000 nhân viên bưu diện tình nguyện “thay Ông Già Noel” để trả lời những bức thư này. Họ còn phổ biến địa chỉ của Saint Claus để các em gởi thư:

“Santa Claus, North Pole,

Canada, HO HO HO!”

Chúng ta cũng biết chữ O này là những con số Zero đi kèm các chữ trong Zip Code của bưu điện Canada và chúng ta có thể đọc là HOH OHO. Nhiều cơ quan từ thiện nhân dịp này đã tìm những bức thư của những em bé có hoàn cảnh đáng thương nhất để giúp cho các em những món quà mà chúng mơ ước.

Ở Anh Quốc, trẻ em thường đốt những bức thư gởi cho Santa Claus hy vọng những đám khói từ bức thư thoát ra ống khói lò sưởi và sẽ bay về Bắc Cực. Phần Lan được coi là nơi Ông Già Noel ở, nên mỗi năm có tám triệu bức thư của các em từ 150 quốc gia trên thế giới gởi về đây, nhiều nhất là từ Anh Quốc, Ba Lan và Nhật Bản. Ðịa chỉ ông già Noel ở Phần Lan là:

“Santa Claus, Santa Claus Village,

FIN-96930 Arctic Circle, Finland.”

Như vậy, có hay không, Ông Già Noel? Câu trả lời có thể là: “Ông Già Noel có thật cho những người ước muốn sự có mặt của ông. Nếu chúng ta tin ở ông thì ông có thật. Nếu chúng ta không tin ông thì ông không có. Ông già Noel sẽ có thật khi chúng ta còn tin là có ông.” Tôi xin nói thêm rằng: “Không tin có Ông Già Noel trên cõi đời này, chúng ta có được thêm gì không, tin rằng có ông, chúng ta có thiệt hại gì hơn không?” Những người lớn tuổi thực tế và khắt khe cho rằng Ông Già Noel là sản phẩm tưởng tượng, không hề có trên đời này, nhưng nếu không có Ông Già Noel, trẻ em trên Trái Ðất này sẽ buồn biết bao!

Khi con cháu chúng ta hỏi “Ông già Noel có thật hay không?” thì chúng ta sẽ trả lời các em ra sao đây? Không phải đến bây giờ mà vào mùa Giáng Sinh năm 1897, tại Virginia, một bé gái đã viết thư cho tờ The Sun như sau:



Thưa ông chủ bút!

Em là một bé gái tám tuổi.

Vài người bạn của em cho rằng không có Ông Già Noel.

Ba nói với em rằng: ‘Nếu con đọc thấy điều đó trên tờ The Sun thì nó đúng là như vậy.’

Vậy làm ơn cho em biết sự thật: Có Ông Già Noel không?

Virginia O'Hanlon Douglas.



Nếu bạn là chủ bút tờ báo này, bạn sẽ trả lời ra sao? Câu trả lời không thể đơn giản là có hay không. Trả lời thư cho bé Virginia là một bài báo viết vội ngay vào lúc tờ báo chuẩn bị lên khuôn cho số đặc biệt Giáng Sinh 1897, dưới tựa đề:

“Có chứ, Virginia. Có Ông Già Noel” (Yes, Virginia, there is a Santa Claus).

Bài báo viết:


Virginia, những bạn bè nhỏ của em đã nói sai. Các bạn ấy đã bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa hoài nghi của một năm hoài nghi. Các bạn không tin trừ khi đã thấy. Các bạn nghĩ rằng không gì có thể bởi đầu óc nhỏ bé của các bạn không thấu lĩnh được. Tất cả mọi đầu óc, Virginia, dù là người lớn hay trẻ em, đều nhỏ bé. Trong vũ trụ rộng lớn này, trí óc con người chỉ là một côn trùng, một con kiến so với thế giới vô cùng bên ngoài nó, nhỏ bé như khả năng trí tuệ của con người trong nắm bắt toàn bộ sự thật và kiến thức.

Có chứ, Virginia, có Ông Già Noel. Ông hiện diện cũng chắc chắn như tình yêu, sự rộng lượng và lòng thành tâm đang tồn tại, và em biết rằng chúng đầy rẫy, sẽ mang cho đời sống của em cái đẹp và niềm vui cao quý nhất. Chao ôi, thế giới này sẽ ảm đạm biết bao nếu không có Ông Già Noel. Và thế giới cũng buồn như thế nếu không có những bé Virginia. Lúc đó sẽ không có niềm tin trẻ thơ, thi ca và sự lãng mạn làm cho sự tồn tại này có thể chịu đựng được.

Không ai thấy Ông Già Noel ra sao. Nhưng không có bằng chứng nào cho thấy không có Ông Già Noel cả. Những điều thật nhất trên thế giới này chính là những điều mà cả người lớn và trẻ em đều không thể thấy. Có bao giờ em thấy những bà Tiên nhảy múa trên thảm cỏ xanh chưa? Dĩ nhiên, chưa, nhưng đó không phải là bằng chứng rằng họ không có mặt nơi đó. Không ai có thể nhận thức hoặc tưởng tượng ra được tất cả những điều kỳ diệu không thể thấy được trong thế giới này.

Em phá tung cái lúc lắc trẻ thơ để tìm ra cái gì làm nên tiếng động bên trong nó, nhưng có một tấm mạng che thế giới chúng ta không thấy được mà không một người mạnh nhất hoặc thậm chí một sức mạnh liên kết của một nhóm những người mạnh nhất từng sống có thể xé tan nó được. Chỉ có lòng tin, trí tưởng tượng, thi ca, tình yêu, sự lãng mạn có thể đặt qua một bên bức màn đó để chiêm ngưỡng và vẽ nên cái đẹp và sự huy hoàng bên ngoài nó. Liệu nó có thật hay không? Ôi, Virginia, trong cả thế giới này không có gì khác sự thật và vĩnh cửu. Không có Ông Già Noel. Nhưng, nhờ trời, ông sống, và sống mãi. Hàng nghìn năm tới nữa, không, Virginia, hàng chục lần của hàng nghìn năm sau nữa, ông vẫn sẽ tiếp tục là niềm vui của những trái tim trẻ thơ.*


Tác giả của lá thư trả lời này là Francis Pharcellus Church, ký giả bình luận của tờ The Sun, tên ông chỉ được công bố khi ông qua đời năm 1906 khi ông 57 tuổi. Cô bé Virginia O'Hanlon Douglas cũng đã mất năm 1971 ở tuổi 81, sau một cuộc đời cống hiến giúp đỡ cho những trẻ tật nguyền. Bà đã mang theo lá thư phúc đáp của Church trong suốt cuộc đời của bà.

Theo Bảo Tàng Viện Báo Chí ở Arlington, Virginia, bài viết này được in lại nhiều nhất trong lịch sử báo chí Hoa Kỳ, một lần nữa, hôm nay lại được in lại trên trang báo này. Các bạn nghĩ sao?

* Bản dịch của phatgiaodaichung.com
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Tuổi Già
Tràm Cà Mau
Bạn tôi, có ông tự xưng là Hai Hô. Bởi rằng ông hô. Ông rất thích thú với danh xưng này. Ông thường nói rằng, ngày xưa còn trẻ, hăng tiết vịt, ai nói gì, đúng hay sai, cũng tìm lời cãi lại. Bây giờ già rồi, nghe ai nói gì cũng thấy xuôi tai, đúng hết. Bởi già rồi, có nhiều kinh nghiệm, thấy được đúng, sai, có nhiều mặt khác nhau.Bà mẹ ông đã 92 tuổi, mà thường hay nói câu: "Mai mốt tôi già rồi thì…" Mỗi lần nghe câu đó, ông vội cắt ngang lời mẹ, và hỏi lại: "Hơn chín mươi tuổi rồi mà chưa già hở mẹ? Thế thì bao nhiêu tuổi mới là già?" Bà cụ chỉ cười, không đáp lại. Vợ ông thường nháy mắt, nhìn ông che dấu nụ cười bí mật. Người em ông nói: "Theo tôi, thì không có ai già, và cũng chẳng có ai trẻ. Già hay trẻ, là một khái niệm rất tương đối. Hồi tôi mười bốn, mười lăm tuổi, thấy các chị hàng xóm mười bảy hay mười tám tuổi là đã già khú đế. Già như sắp mua hòm được rồi. Thế mà khi tôi sáu mươi tuổi, tôi thấy các bà năm mươi là trẻ, và các bà bốn chục tuổi là bọn con nít. Thế thì già hay trẻ, không phải tùy theo số tuổi của họ".

Ông Hai nói, có một lúc nào đó, con người trở nên già. Này nhé, mỗi khi đi ra đường, nếu chỉ thấy các bà già nhìn mình, mà các cô gái trẻ không dòm mình nữa, thì phải hiểu là mình đã già rồi. Lại nữa, mỗi sáng đứng trước gương, thấy trán mình cao hơn, tóc rụng nhiều, đừng tưởng mình trở nên thông thái, mà phải biết đó là dấu hiệu già. Nếu mình thấy mọi người dường như trẻ lại, thì chính mình đã già đi, vì mình so sánh thiên hạ với cái bóng của mình trong gương soi mỗi ngày.

Ông nói, tuổi già báo hiệu khi sinh lý bắt đầu yếu. Nhịp độ "gần gũi" của vợ chồng thưa dần. Và đôi khi cố gắng làm vừa lòng bà vợ theo định kỳ, mà không có hứng khởi. Những khi đó, nếu bà vợ gạt ra, không cho gần gũi, thì trong lòng lại mừng húm, vì có cái cớ để không làm tròn "bổn phận" mà không áy náy. Ông nói, bực nhất là những lúc mình đang hăng, đang nóng máu, sắp xáp chiến, mà bà vợ cứ cằn nhằn về những chuyện không đâu, như cái hàng rào bị gió vật nghiêng, cây hoa hồng lá bị bạc mốc, con chó bị rận bọ chét. Thế là cả cái thân già nó xìu xuống như cọng bún thiu. Chẳng làm ăn gì được nữa cả. Đành bỏ cuộc vui nửa chừng. Khi còn trẻ, vào những lúc sắp gay cấn như thế này, thì dù cho sét nổ trên đầu, cũng không nghe, không biết.

Có người hỏi ông sao không dùng viên thuốc thần kỳ, làm cho vợ chồng vui như thuở ba mươi. Ông nói, đừng tin mà chết sớm, đau tim mà dùng thuốc này, thì lăn đùng ra mau lắm! Hồi trước đây, ông cũng xin ông bác sĩ cho toa thuốc này, bác sĩ ấy không chịu. Ông cũng hơi giận, nhưng bây giờ thì cám ơn, vì biết được cái nguy hại của nó. Vui chốc lát, mà bỏ mạng, lãng nhách!

Theo ông, thì vợ chồng già, ghiền cái hơi của nhau hơn là chuyện vật nhau, đâm đui, xáp lá cà, lăn lộn rên la… trên giường. Chỉ cần luồn tay vào áo bà vợ già, mà tìm trái mướp, cũng đủ làm cho bà ấy "cười nhoẽn mà mắt cứ dại, người cứ khờ, là "đạt", dzui dzồi !

Đề cập cái tai điếc, ông nói: "Có một lúc nào đó, mình nghe nhạc, cứ tưởng là các anh chị ca sĩ dạo nầy không còn hát hay như ngày xưa. Kỳ thực không phải vậy đâu! Thời nào cũng có ca sĩ giọng hay. Nghe không hay….là vì cái tai mình đã nặng, lãng. Rồi cứ tưởng nhạc dở. Đó là dấu hiệu già. Nhất là khi nghe truyền thanh, truyền hình, thì con cái, hàng xóm, cứ than phiền mở âm thanh quá lớn. Theo mình, âm thanh như vậy chỉ vừa đủ nghe, mà họ trách oan cho mình là mở âm thanh quá lớn".

Ông Hai nói với một bạn già rằng: khi già, lãng tai, điếc tai, cũng có cái lợi lớn. Là khi nào vợ nói lời êm ái, dịu dàng, yêu thương, thì nghe cho sướng tai. Khi nào bà trở chứng…trách móc, chê bai, than vãn, nói nặng lời, thì cứ nhè-nhẹ gỡ cái "máy trợ thính (hearing aid)" ra, chỉ thấy bà nhóp nhép cái miệng, trông tếu…buồn cười lắm ! Không nghe, thì không bực mình, không giận hờn, mà còn cười…đôi khi nụ cười rất rạng rỡ, cười rất dễ thương nữa. Bà vợ nói, mình cứ coi như gió vào phòng trống. Bà thấy ông chồng không giận, mà còn cười vui, thì bà sẽ đành im miệng cho đỡ tốn hơi. Và đôi khi bà còn thương thêm, vì tưởng ông chồng khéo nhịn nhục.

Nhưng một ông bạn khác, nói rằng: khi bà vợ trách móc và thở than, thì để bà ấy nói, nói cho đã, xả sú-báp cho hết, nhẹ bớt bực tức trong lòng. Bởi vậy, mỗi khi vợ ông than vãn, trách móc, thì ông mừng…và lắng nghe. Nếu bà ngưng nói, thì ông hỏi rằng "em có gì cần nói thêm, than vãn thêm không, hãy nói cho hết đi, anh nghe đây". Thế là bà dịu xuống, và bà cảm thấy hơi quê quê, nên thôi.

Ông Hai nói, khi già, mắt yếu, cầm cuốn sách lên, là móc túi tìm cái kiếng. Không có kiếng thì đành chịu thua. Khi đó, mình ít muốn đọc sách hơn ngày xưa. Rất nhiều bạn của ông than phiền rằng: dạo nầy, sách vở, báo chí họ in chữ nhỏ hơn, khó đọc !

- Không phải vậy đâu ! Tại mắt mình mờ, kèm nhèm rồi, chứ không phải chữ in nhỏ lại. Mấy cu cậu trẻ hỏi ông có bực vì mắt kém không, thì ông Hai đáp rằng: có gì đâu mà bực! Phải mừng chứ, đừng bực. Mừng và cám ơn khoa học tiến bộ đã giúp cho mình còn thấy rõ hơn, nghe rõ hơn, mà nếu mình sống mấy trăm năm trước, thì đã mù loà, và điếc đặc rồi. Dù cho nghe ít, thấy không rõ hoàn toàn, nhưng có thấy…, có nghe…, đã là quá quý rồi. Tuổi đã cao, mà còn thấy được người thương yêu, con cháu, bạn bè. Còn xem truyền hình, phim truyện, thỉnh thoảng coi "lợn nái đấu UFC với heo nọc", thì đã nhận được rất nhiều ân phước của trời ban cho rồi ! Phải biết cảm nhận sự ấy và cám ơn trời chứ lỵ !

Bây giờ đi đâu xa, ông cũng ngại. Đi du lịch, điều nghĩ đến trước tiên của nhiều người già như ông, không phải cảnh đẹp, điều hay, cái lạ, mà nghĩ đến cái cầu tiểu. Không biết nơi đó có hay không (?) Cứ vào quán xá, hội trường, thì có thói quen, trước tiên là xem cầu tiểu ở đâu. Quán nào mà không có cầu tiểu, thì đừng hòng có nhiều ông bà già bước vào. Ông rất sợ mai đây xui xẻo, người ta tôn ông lên làm lãnh tụ…thì có mà chết ! Vì ông thấy mấy ngài lãnh tụ đứng đọc diễn văn, họp báo, duyệt binh, diễn hành, đứng hàng giờ, phải "nín tè" rùng mình, gồng gân…, mặt mũi lơ láo, mệt và khổ sở lắm !

Ông cũng rất ngại ngủ nhà lạ, cứ nửa đêm, nhiều lần phải mò mẫm trong bóng tối, dậy đi tiểu. Xối nước ào ào làm người khác mất ngủ. Chưa kể lạ nhà, đêm tối, lạc lối… mở nhầm cửa phòng vợ, con người ta, thì cũng bẽ bàng!

Một lần, bà vợ đè đầu ông xuống mà nhuộm tóc cho ông. Mấy hôm sau, lên xe buýt công cộng, ông ngồi vào ghế dành cho người cao niên. Liền sau đó, ông bắt nhãn một "lão trượng" đứng nhìn ông chằm chằm, như ngầm than và hỏi "sao không nhường ghế ngồi cho người già cả !".
Ông đoán chắc, chín mươi phần là "lão trượng" kia còn nhỏ tuổi hơn ông, nên ông cứ ngồi lì, làm lơ. Nhưng khi thấy hành khách chung quanh nhìn, như thúc giục, như nhắn nhủ bằng ánh mắt khó chịu, thì ông nhột quá, bèn đứng dậy nhường ghế cho lão trượng kia. Ông nghĩ, không lẽ ông phải thét lên là "tôi còn già hơn lão trượng ấy!" và không lẽ ông phải móc căn cước ra mà chứng minh ? -Thôi thì đứng dậy, cho bớt nhột và ngượng ngùng. Rồi tự an ủi rằng "đứng cũng là một cách tập thể dục tốt!"

Khi có ai hỏi tuổi, ông Hai Hô cũng tự cộng thêm gần chục năm. Thế là thiên hạ rối rít khen "trẻ", xít xoa hỏi ông làm sao mà giữ được trẻ trung như thế. Ông cười, nói đùa rằng: cứ theo đúng lời dạy vàng ngọc của người xưa để lại, là "đêm bảy, ngày ba" cho khí huyết lưu thông, điều hoà, thì cơ thể trẻ trung mãi. Ông nói rằng: nếu có khai sụt đi năm ba tuổi, cũng chẳng có lợi ích gì, vì mình đâu có toan tính chinh phục, tán tỉnh ai. Khai sụt tuổi, đôi khi người ta còn chê, là mình trông già trước tuổi. Lại nữa, phong tục của mình, là kính trọng người lớn tuổi. Nhưng các bà, các cô, thì lúc nào cũng dấu tuổi, hễ 18 tuổi thì khai là 16, hễ "hăm" (20) khai là 18, và lúc 23 khai là 20. Cứ khai sụt vài ba tuổi, và cảm thấy khoái khi được người khác tin.

Khi phải đoán tuổi, ông thường rộng rãi hạ xuống cho các bà, các cô, từ 5 đến 7 tuổi, để họ sướng, mà ông không mất chi cả - cũng là làm một điều thiện nho nhỏ trong ngày, làm cho người khác vui, yêu đời hơn.

Dạo sau này, khi ông ăn uống, thường thức ăn bị đổ vung vãi. Nhiều lần ông tự nhủ "mình phải gắng cẩn thận". Nhưng hình như cái tay nó không hoàn toàn theo mệnh lệnh của cái đầu nữa. Đưa cơm vào miệng không gọn gàng, cứ rớt ra vài chút. Đôi khi tay run, mà ông không biết. Ông cho đó là dấu hiệu của tuổi già. Nhiều lần bà vợ ông nhăn nhó, quát nạt, vì ông làm đổ thức ăn.

Một lần ông nhớ lại câu chuyện đứa bé đẽo cái chén gỗ. Cha mẹ hỏi đẽo làm gì, nó nói là để sau này cho cha mẹ ăn, như cha mẹ đã cho ông nội ăn chén gỗ vậy. Ông nhỏ nhẹ nói với vợ rằng: nhờ bà đẽo cho ông một cái chén gỗ, rồi mỗi bữa dọn cho ông ăn sau vỉa hè, bên thềm. Nghe thế, bà vợ nhìn ông một lúc lâu, rồi rưng rưng nước mắt…

Từ đó, bà hết cằn nhằn khi ông làm đổ thức ăn. Ông lại "hay quên". Đôi khi đi xuống nhà kho, mà ngẩn ngơ không biết định xuống để làm gì (?). Quên trước, quên sau…! Một bạn già của ông nói; nếu cái "của nợ" đó mà ông trời không bắt dính chặt vào người, thì có khối ông già có thể để quên trên xe buýt, trên tàu điện, ngoài công viên, và khi cần đi tiểu, thì chạy quanh…quýnh lên, mà tìm không ra !

Còn triệu chứng khác nữa, là làm biếng tắm. Đôi khi hai ba ngày ông chưa tắm. Cứ nghĩ là có làm chi dơ bẩn mà phải tắm. Nhưng rồi nhận ra, thì tuổi già sợ lạnh, nhạy cảm với cái lạnh, nên ngại tắm. Vì thế mà có nhiều cụ già có mùi, có khi mùi xú như "cóc chết" mà họ đâu biết. Do đó, ông phải ráng, gồng "da mồi" mà tập…để thành thói quen, nóng lạnh chi cũng ráng tắm mỗi ngày một lần, ngoại trừ trường hợp đặc biệt.

Bà mẹ ông 92 tuổi, đi ăn tiệm, cắn càng cua-rang-muối nghe rau ráu. Thực khách trong tiệm xoe tròn mắt mà trố nhìn. Còn ông, thì ngay cả bánh mì mềm của Mỹ, ông cũng không dám cắn, phải dùng tay xé nhỏ ra rồi bỏ vào miệng. Bà mẹ ông, ăn uống thoải mái, không kiêng cữ gì cả. Thịt heo quay, vịt quay, cá chiên, gà chiên, trứng rán, phở nước béo, nghêu sò ốc hến, bà ăn tuốt luốt. Thế mà bà không cao mỡ, không cao máu, dù thân thể của bà tròn vo như hột mít. Cái đó cũng nhờ trời cho. Nhiều bác sĩ cũng khuyên bà, cứ ăn uống thả dàn, cho sướng cái miệng, đừng kiêng cữ làm chi nữa khi đã ở vào cái tuổi hoàng hôn này.

Nhiều ông bạn ông, kiêng khem kỹ lắm, kiêng đủ thứ. Họ xem ba thứ sau đây ngang hàng với thuốc độc: Ngọt, mặn và béo. Họ ăn lạt, không dám ăn đường, ăn béo. Hễ thấy đồ chiên là họ đã tái mặt. Họ ăn riết quen miệng, và thấy các thứ thức ăn không mùi, không vị kia cũng ngon. Bởi khi đói, thì cơm thiu, cơm cháy cũng thành ngon. Có kẻ bảo, uổng quá, phí thức ngon của trời cho. Nhưng những người kiêng cữ này nói rằng, không tội chi đưa chất độc vào người, rồi bệnh hoạn, hối không kịp.

Một ông bạn cho ông Tư biết rằng, theo nghiên cứu của đại học Rockefeller, thì có ba điều kiện để cho người già khỏe mạnh và ít bệnh là: 1) ăn bằng một nửa của bữa ăn bây giờ, 2) thể dục thường xuyên, và 3) làm tình đều đều. Ông không tin, và cho rằng, cái đó chỉ đúng cho người Mỹ mà thôi. Mỗi bữa, họ ăn miếng thịt to bằng bàn tay, một bữa ăn của họ, mình có thể ăn ba bốn ngày mà chưa hết. Nếu mình chỉ ăn bằng một nửa của bây giờ, thì sẽ suy dinh dưỡng, sớm đau ốm mà chết. Còn chuyện thể dục thường xuyên, thì đúng trăm phần trăm. Phần làm tình đều đều, có lẽ không ai chắc, vấn đề là còn làm được hay không (?) mà đòi đều đều.
Mình cứ ăn bình thường, đừng ăn quá no, cũng đừng ăn đói. Cứ theo cái đạo trung dung của người xưa đã bày ra từ mấy trăm năm nay. Rượu chè, nếu uống vừa phải, điều đô, thì cũng tốt cho sức khoẻ. Đừng say sưa là được. Lâu lâu cũng ráng vui vợ, vui chồng cho khỏi lạt lẽo.

Ông Hai đã chữa bệnh biếng ăn cho nhiều bạn bè rất công hiệu. Đó là đừng ăn vặt, và chờ cho khi thật đói mới ăn, chưa đói rã thì chưa ăn. Như vậy thì ăn gì cũng thấy ngon.

Ông có quan niệm phóng khoáng hơn về sự sống và cái chết. Ông cho rằng, chết là một tiến trình của đời sống, hợp với luật thiên nhiên của tạo hóa. Sợ chết là vô lý. Không ai tránh khỏi cái chết, không sớm thì muộn. Ai cũng sẽ chết cả. Ngay cả Phật, Chúa, Thần Thánh cũng phải chết, huống chi mình là người trần mắt thịt. Chúa Giê-Su chết lúc mới 33 tuổi. Phật cũng chết, thọ không bằng các ông, các bà cụ bây giờ.

Cứ thử nghĩ, nếu già mà không chết, thì bây giờ trên thế giới có đến hơn chín mươi phần trăm cụ già, cụ nào cũng mấy trăm tuổi, mấy ngàn tuổi, ho hen, run rẩy, chậm chạp. Lấy ai làm lao động mà nuôi các cụ ? Nhân loại sẽ đói cho vêu mỏ ra. Già thì phải chết để cho thế giới dược trẻ trung hoá. Khi nào anh chị nghe tin một người già chết, mà lòng không buồn, không thương tiếc, thì anh chị đã giác ngộ rồi đó. Có chi mà buồn ? Nếu người chết không để lại một gánh nặng gia đình, một đàn con dại cần nuôi dưỡng, dạy dỗ, một bà vợ chân yếu tay mềm, thì mừng cho người ta thoát được cái hệ lụy của trần gian. Khỏi lo công ăn việc làm, khỏi lo nhà cửa, khỏi lo thương ghét, ghen tuông, giận hờn, khỏi lo khai thuế cho đúng hạn kỳ. Khoẻ ru hà rù !

Nếu người chết đã cao tuổi, trong nhiều năm nằm một chỗ, không nói năng, bại liệt, ăn bằng cách bơm qua ống nối với bao tử, nghe họ chết mà mình khóc lóc, tiếc thương, bi ai, thì hoá ra là mình không biết điều. Chẳng lẽ muốn người ta bị kéo dài thêm cái cực hình đó lâu hơn nữa, rồi mới được chết sao? Nhiều khi, con cháu mừng cho thân nhân họ được chết, mà mình thì sụt sùi thương tiếc… thì tào lao vô duyên quá!

Ông thường nói, trong tuổi già, sức khoẻ là quý nhất. Nhưng nếu ai đó, có sức khoẻ tốt, không hề đau ốm, thì cũng là một sự nhàm chán. Họ đâu biết họ đang có cái quý báu nhất trong đời. Lâu lâu, phải đau vài trận, để nhắc nhở, và nhớ rằng, không ốm đau là sung sướng, là hạnh phúc lắm lắm. Làm sao bọn trẻ, và những người khoẻ mạnh biết được cái hạnh phúc, cái sung sướng của người già, khi buổi sáng ngủ dậy, mà thân thể không đau rêm, nhức nhối ? Cũng như nếu người ta chưa sống dưới chế độ kềm kẹp, hà khắc, thì làm sao biết được nỗi sung sướng khi được đặt chân lên miền đất tự do? Nên quan niệm rằng, với sức khoẻ nào cũng tốt cả, đừng so sánh với trường hợp tốt hơn. Cứ vui với cái sức khỏe mà mình đang có.
Được khoẻ nhiều thì sướng nhiều, khoẻ ít, cũng sướng hơn, vì chưa đến nỗi tệ hại lắm. Nhớ đi khám bác sĩ đều đều, để khám phá ra bệnh, kịp thời chạy chữa. Một người bạn ông cho biết, không dám đi khám bệnh thường niên, vì sợ "bói ra ma, quét nhà ra rác". Thế nào bác sĩ cũng tìm ra bệnh nầy, bệnh nọ trong cơ thể và thêm lo. Cứ để thế, rồi khi bệnh nặng thì chết. Bà vợ ông nầy khổ sở lắm, nhưng không thuyết phục ông được. Ông còn nói, bác sĩ thường cho uống thuốc chữa bệnh nầy, thì sinh ra thêm bệnh khác nữa. Hoặc bác sĩ chẩn đoán sai bệnh là thường. Có người đọc báo cáo y khoa, cho biết trên nước Mỹ, mỗi năm có đến hai trăm ngàn người chết, hoặc thương tật vì bác sĩ kém hiểu biết, hoặc sơ suất gây ra.
Theo ông Hai Hô thì đừng sợ. Vì bác sĩ giỏi nhiều hơn bác sĩ dở, và bác sĩ có lương tâm nhiều hơn bác sĩ thiếu lương tâm. Đừng vì một số trường hợp xấu, mà sợ đi khám bệnh. Khám bệnh, để biết trước mà đề phòng, để chữa trị hi bệnh mới chớm, còn kịp, chữa trị dễ dàng hơn. Để ung thư ăn tràn lan ra rồi, thì chỉ có phép lạ, mới cứu được. Người ta, có thể mạnh khỏe cho đến khi chết. Đó là trường hợp hiếm hoi. Nhưng đau yếu trong tuổi già là thường, không đau yếu là bất thường. Có một người than rằng, cứ đi vào, đi ra trong nhà hoài, chán quá !

Ông Hai bảo rằng, được đi vào đi ra như thế là sướng lắm rồi, sao mà chán, vì có nhiều người khác mong được đứng dậy đi vài bước, mà không làm được, vì bệnh. Nhưng theo ông, thì cái người nằm liệt trên giường, cũng tìm được cái thú vui riêng, khi nghe nhạc, nằm mơ mộng, nghĩ đến các kỷ niệm thời còn vàng son, nhớ đến những tội lỗi nho nhỏ mà họ đã phạm một cách cố ý và thích thú.

Ông Hai Hô tập thể dục đều đặn. Ông nói không ai chối bỏ được ích lợi của thể dục, dù già dù trẻ. Không bao giờ trễ để bắt đầu tập thể dục. Không thể dục, thì tấm thân nhão nhẹt ra, rất dễ làm mồi cho bệnh hoạn. Đi bộ trong tuổi già là tốt nhất. Còn khoẻ, thì đi nhanh, yếu thì đi chậm hơn, yếu hơn nữa, thì chống gậy mà đi. Có vận động là tốt. Đi bộ, xương đỡ rỗng, đỡ gãy tay chân khi vấp té. Đi bộ cũng làm cho mặt mày trẻ ra, lưng đỡ còng, thân thể đỡ đau đớn, mệt mỏi. Đi bộ cũng vui, nhất là đi với vợ, với chồng, nói đủ thứ chuyện vui buồn. Nhưng khi bà vợ bắt đầu cằn nhằn vì những chuyện không đâu, thì phải giả vờ chạy, để bà lại phiá sau, cho bà nói với cột đèn, cằn nhằn với cây cỏ. Không có vợ đi cùng, thì đi với bà cụ hàng xóm, cũng vui. Bà sẽ không bao giờ dám cằn nhằn ông, vì những chuyện không đâu. Bà sẽ lịch sự hơn. Đi với bà hàng xóm, ông bảo, đừng sợ thiên hạ hiểu nhầm, cũng đừng sợ chính bà ấy hiều nhầm. Không hiểu nhầm thì tốt. Hiểu nhầm thì càng tốt hơn, vì làm cho bà ấy vui, nghĩ mình còn sáng giá, hấp dẫn, còn có người ngưỡng mộ đến cái nhan sắc mùa thu của bà. Bà sẽ yêu đời hơn, sẽ ăn ngon, ngủ được - thế là ông cũng đã làm được một điều thiện nho nhỏ.

Ông nói, ông được nghe chuyện một bà cụ 88 tuổi. Bà nói rằng, phải đi bộ, phải tập thể dục để chống lại bệnh hoạn. Mỗi ngày bà đi bộ hơn một giờ. Bà nói rằng: "Mình phải biết tự thương mình. Con cái có thương mình, chúng có thể cho tiền bạc, quà cáp, chứ không cho mình sức khỏe được. Nên mình phải tự lo lấy, để mà sống cho vui, sống cho có chất lượng".
Ông nói rằng, thể dục làm tăng tuổi thọ, chứ không làm giảm. Ngoại trừ ham tập, tập quá sức, thì lăn kềnh ra mà chết, mau lắm. Bơi lội là tốt nhất, vận động đủ các thứ bắp thịt. Nhưng tuổi già, thường sợ nước, sợ lạnh. Mà cái gì cảm nhận sợ thì không nên làm, sẽ hại cho sức khoẻ, hại cả thần kinh.

Mỗi lần nghe có người than là mất ngủ, ông thưòng nói say sưa về cái bệnh này. Theo ông, thì những người này đã ngủ đủ, ngủ thừa, nên không ngủ thêm được, mà cứ tưởng là mình mất ngủ. Vì ban ngày, họ cứ thấy mệt, mắt ríu lại, là ngủ những giấc ngắn. Nên biết, ngủ một giấc chừng 15 phút lúc ban ngày, có thể tương đương với một giấc ngủ 1 hay 2 giờ ban đêm. Mỗi đêm, người bình thường, chỉ cần ngủ ngon chừng 3 hay 4 giờ là đủ mạnh như gấu bắc cực. Nếu không ngủ ngày, thì đêm về ngủ dễ lắm. Không phải tuổi già là mất ngủ, bằng chứng cho thấy chó mèo già ngủ li bì, ngủ ngày, ngủ đêm, ngủ liên miên. Người già dư thì giờ, ban ngày ngủ rồi, thì ban đêm khó ngủ là chuyện thường.

Ông thường nói rằng, đừng sợ mất ngủ. Khi không ngủ được, thì dậy đọc sách, viết thư, làm thơ, xem truyền hình, gõ máy vi tính, đọc thư bạn bè, hãy tận hưởng cái thời gian quý báu đang có. Rồi chờ cho thật buồn ngủ, không thức nổi nữa, thì vào giường nằm, sẽ ngủ được ngay, và ngủ một giấc ngon lành cho đến sáng. Đừng ép giấc ngủ, ép giấc ngủ sẽ khó ngủ hơn. Cũng đừng uống thuốc ngủ. Đại kỵ. Uống thuốc ngủ nhiều, làm hư hại hệ thống thần kinh. Đừng nằm nhắm mắt mà đếm cừu… nếu phải đếm, thì đếm những người tình cũ, sẽ mau ngủ hơn. Nếu đời chỉ có lưa thưa một hai người tình, thì đừng đếm một hai, một hai… không có lợi. Hoặc nằm mà hát trong trí những bài ca du dương, đẹp, gợi nhiều kỷ niệm êm ái, thân thương.

Bà chị ông, cứ than phiền là mất ngủ, nhưng khi đi chơi, cứ leo lên xe thì quẹo đầu, ngáy khò khò, ngủ suốt buổi, suốt ngày, ngủ mà quên xem phong cảnh. Ngủ như thế thì no rồi, dư rồi, nên khi đến khách sạn, thì làm sao mà ngủ thêm được nữa. Bà chị nói, đi chơi xa sợ mất ngủ. Bà ấy thực sự ngủ nhiều hơn ai cả, mà bà cứ tưởng là mất ngủ.

Một chị khác than là mất ngủ kinh niên, ghé nhà ông chơi. Ông nói là sẽ chữa bênh mất ngủ cho chị. Ông dẫn chị kia đi chơi, suốt ngày lội bộ, chị vừa đi vừa ngủ gật, ông không cho ngủ. Ông nhờ hết việc nầy qua việc nọ, không để chị có thời giờ mà ngủ gật. Đêm không cho chị đi ngủ sớm. Mới mười giờ đêm, mệt quá, chị năn nỉ xin đi nằm, và đánh một giấc ngon lành dài đến sáng hôm sau. Trong mấy hôm liên tiếp đêm nào chị cũng ngủ li bì, ngủ ngon, không cần thuốc thang chi cả.

Ông truyền bí quyết, là không ngủ ngày, mệt mấy cũng không ngủ, ban đêm đừng đi ngủ sớm, phải chờ cho mắt ríu lại, mở không ra, mới đi ngủ… thì ngủ ngon.

Nhiều người già tự đặt cho họ một kỷ luật để sống. Theo ông, thì có kỷ luật cũng tốt, mà không kỷ luật lại càng khỏe hơn. Nhiều người tính tình nghiêm khắc, mọi sự đều phải răm rắp đúng như quy định, mới chịu. Tội chi vậy, nếu không răm rắp, mà không chết ai, hại ai, thì răm rắp làm chi cho khổ ta, khổ người ? Nên dễ dãi với mọi sự, dễ dãi với chính bản thân mình, kẻo tội nghiệp nó. Khắc kỷ cũng là điều hay, nhưng tội gì mà tự khắt khe với chính mình, trong khi người khác không khắt khe mình thì thôi. Nên cứ xem mọi sự như trò chơi. Chơi vui nhiều thì tốt, vui ít cũng tốt luôn. Ông không mong cái tuyệt đối, hoàn hảo.

Trong một cuộc chơi, ông không hy vọng được tất cả mọi người tham gia, có ít vui ít, có nhiều vui nhiều. Hai ba chục người cũng vui, mà năm bảy bạn bè cũng vui luôn. Nếu hụt một cuộc chơi, một cuộc gặp gỡ, ông cũng không cho đó là được thêm một dịp nghỉ ngơi, yên tĩnh.
Có lần trể máy bay, ông bình tĩnh xin đi chuyến sau mà không được. Ông cũng cười, không bực mình. Ông quay về nhà, pha một bình trà, đem một tập thơ ra mà ngâm vịnh, nằm ngửa mà thưởng thức cuộc tranh tài thể thao. Ông nói, đôi khi nhờ trễ một chuyến máy bay mà sống sót, nếu máy bay rớt….!

Chiều ra ngoài quán uống cá phê xem sinh hoạt phố phường. Nói chuyện tào lao… vui với chủ quán. Ông không bao giờ tranh luận gay gắt với ai. Ông nói, tranh luận làm chi cho mệt, rồi giận nhau. Trong tuổi già, khi có cuộc tranh luận, thì tránh là tốt nhất. Nếu không tránh được, thì chịu thua đi, thắng làm chi - để cho đời ngắn lại?

Thắng tranh luận, làm thiên hạ ghét, làm mất lòng bạn bè, làm người bị thua tức giận, và nóng mặt, không ưa mình. Không ai ghét người thua trong cuộc tranh luận. Người thắng cuộc, dễ bị ghét hơn. Thử đánh một ván cờ xem, nhường cho đối phương thắng, làm họ vui hơn, không chừng mình đưọc đãi đằng hậu hỉ hơn.

Đến nhà người ta, mà cãi nhau, tranh thắng, làm họ mất mặt với vợ con, với bạn bè, thì đừng mong chi được tiếp đãi thắm thiết. Khi thua, mình chẳng thiệt thòi, mất mát gì cả, mà lại được thương, thì tại sao mình không chọn tình thương, mà chọn cái bị ghét.

Thắng tranh luận, cũng chưa chắc mình đã giỏi hơn người, mà giỏi hơn để làm chi? Và cũng chưa chắc ngưòi ta đã chịu cái lý của mình là đúng. Trong tình vợ chồng cũng vậy, nhiều ông nhiều bà cứ tranh hơn thua từng ly, từng tí, cãi vả nhau tưng bừng, liên tục, về những chuyện vớ vẩn đâu đâu, những điều không ích lợi gì cho ai cả. Rồi giận nhau, nói nặng nhau, làm cho nhau đau đớn vì lời nói thiếu tử tế, thiếu lịch sự. Thực xét có ích lợi gì đâu. Tranh nhau thắng thua, làm sứt mẻ tình cảm và có khi đi đến đổ vỡ hạnh phúc gia đình, làm phí mất thời giờ quý báu bên nhau, làm không khí gia đình nặng nề.

Đừng bao giờ nói là "phải làm cho ra lẽ", nếu không thì hoá họ "lừng". Hãy cứ để cho chồng mình, vợ mình "lừng" đi, cho họ sướng lúc đó đi, rồi họ sẽ ân hận…, ray rứt khổ não với lương tâm về sau.
Tại sao đi ra ngoài, không dám "lừng" với thiên hạ, mà về nhà lại "lừng" với nhau làm chi cho mất vui. Hóa ra là mình "khôn nhà dại chợ" sao (?)
Ông thường nói, cứ chịu thua đi là khoẻ nhất. Ông đã thua, thì không còn gì để ai đó cứ phải gây hấn thêm. Đúng hay sai, ông tự biết… không cần tranh luận nhiều - có tranh luận, thì cũng chưa chắc đã thuyết phục được đối phương mà không gây mất mát. Mỗi lần phải tranh luận với ai, thì ông nhớ lại chuyện ông Pol Pot. Ông nầy đã giết chết hơn hai triệu dân vô tội, tức khoảng một phần ba dân số Kampuchia của ông thời đó. Thế mà cuối đời, khi sắp chết, ông Pol Pot nói với một phóng viên Tây phương rằng, những điều ông đã làm, là lợi ích cho dân tộc của ông. Nhớ chuyện đó, làm ông đỡ ngứa miệng xen vào những cuộc tranh luận.

Khi có ai chê bai ông, ông chẳng bực mình, không giận hờn, mà cứ tĩnh bơ, cười, xem như không, thầm nghĩ là họ thua kém mình, bị tự ti mặc cảm, sinh lòng đố kỵ, ganh ghét, vậy thôi. Tuy nhiên có lúc ông cũng tự nhủ, biết đâu mình cũng đáng chê, đáng trách, vì "phàm người đời, nhân vô thập toàn". Có khi ông nghĩ rằng, nhờ thiên hạ chê, mà được sửa mình, biết mình còn có cái chưa hay, sai sót. Nghĩ thế… không phải ông là kẻ mặt dày, không biết xấu hổ, nhưng thiên hạ chê, mà không phản ứng, thì coi như gió qua truông.

Có một ông khác, bị vợ chê bai hoài, chê đủ thứ. Ông này chỉ cười, mà nói với bà vợ rằng "Anh không ngờ em xui xẻo đến thế, lấy phải lão chồng tệ hại như vậy, tội nghiệp cho bà quá !" Bà vợ nghe mà chột dạ, và biết nhận bà đã ăn nói quá trớn!

Khi nghe ai khoe khoang, ông cũng không bắt bẻ, không lật mặt thật của họ ra, ngại làm cho họ xấu hổ, bẽ bàng. Ông cứ giả vờ tin, để mà đãi họ vài phút vui sướng, cũng là làm một việc thiện nho nhỏ. Ông chẳng mất gì, và chẳng thiệt hại cho ai, mà làm cho cuộc đời nầy thêm vui, thêm tử tế. Bởi nghĩ như vậy mà ông cố "khiêm tốn" để chìu ..tâm lý hoàn cảnh.
Ông Hai Hô quan niệm rằng, trong tuổi già, có hoài bảo thì cũng tốt, mà không có hoài bảo gì cả, thì tốt hơn, và khôn ngoan hơn. Lúc trẻ, nhiều thời giờ, nhiều năng lực, mà chưa có hoài bảo nào làm xong, thì khi già rồi, mong chi đạt được. Tội chi đeo vào thân cái hoài bảo cho khổ! Già rồi, đừng coi cái gì là quan trọng cả. Từ danh vọng, tiền tài, tình yêu, ngay cả cái mạng sống của mình, cũng đừng coi là quá trọng. Có lần, ông đến thăm một nhà văn đang nằm thoi thóp, miệng ngậm một cái que gỗ có thấm nước cho đỡ khát, sắp chết vì ung thư. Ông nhà văn còn thao thức vì một tác phẩm để đời chưa khởi đầu được, nên có chết vẫn chưa an lòng.
Ông nói: "Thôi bác ơi, chuyện gì mình chưa làm được, thì thế nào con cháu mình sau này cũng làm. Yên tâm mà dưỡng bệnh… bác ơi !"

Ông Hai Hô cho rằng, cứ năm ba ông bà bạn già gặp nhau, uống vài ly trà, cà phê mà nói chuyện nhảm, ba hoa "vô hại" mà vui mến nhau, cũng là một thứ hạnh phúc trong đời. Ông nói, dù đến để nghe thằng bạn già nó chửi mình, cũng cứ vui, được người ta chửi, tức là còn có người để ý đến mình, còn hơn là không ai khen, không ai chửi cả.

Những dịp ra mắt thơ, ra mắt sách, ông thường tham gia cho cuộc họp thêm xôm tụ. Cho tác giả sướng. Ông khoái các buổi ca nhạc cây nhà lá vườn, kiểu văn nghệ tài tử - nó cũng có những cái hay của nó.
Những buổi họp mặt anh em bạn cũ, ông không bao giờ tránh vắng. Ông nói, không tham dự thì uổng lắm. Ông cho rằng, tuổi già mà còn gặp nhìn lại được bạn xưa, thì không còn gì quý báu hơn. Nằm nhà xem sách, xem truyền hình, thể thao…, đâu có vui bằng đến gặp bạn cũ. Gặp dịp vui, thì cứ vui, kẻo uổng, biết mình còn sống được bao lâu nữa mà mãi phí ngày giờ chạy theo lợi lộc.

Mỗi khi có ai mời đi đám cưới, tiệc tùng, ông đến đúng giờ, mà thiên hạ thì tà tà đến trể, ông cũng không bực mình. Bởi người ta quen kiểu "giờ cao su" rồi. Họ có cả trăm ngàn lý do để biện minh. Ông có đến sớm, thì cũng có cái lợi khác, được nói chuyện, gặp gỡ, tâm sự bí bô với những bạn bè mà từ lâu ít có dịp gặp nhau. Cũng vui và quý. Dễ chi có cơ hội thuận tiện để gặp nhau. Đến khi dọn thức ăn ra, không còn cơ hội để nói chuyện nữa, vì a nấy, lo gắp, lo nhai, còn rảnh đâu mà nói chuyện. Khi ăn xong, thì bạn bè vội vã ra về, vì đường xa, vì đêm khuya, vì mệt nhọc. Bởi vậy, ông cứ vui với cái bê bối của thiên hạ và bằng lòng với câu nói "Không ăn đậu. không phải Mễ - không đi trễ, không phải Việt Nam".

Nên ông Tư Hô (Mr. Hen-rô) thường nói, tuổi già, cứ phiên phiến với mọi sự, cho khoẻ, cho sướng cái thân già của mình ./.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Nỗi niềm vợ trẻ chồng già
Tác giả: Đinh Đoàn


"Tưởng lấy anh ấy lớn tuổi, mình sẽ được chiều. Hoá ra bây giờ em phải chiều anh ấy như chiều bố mình". "Em muốn đi xem phim, anh ấy lại thích ngồi nhà ngắm chim, tưới cây cảnh hay rủ mấy ông bạn sang ngồi chơi tổ tôm"...

Đó là những nỗi niềm của một số bà vợ còn xuân sắc, có chồng chênh lệch tuổi quá nhiều, gọi đến Trung tâm tư vấn tâm lý Linh Tâm (Hà Nội) xin được giúp đỡ.

Ai muốn lấy chồng già?

Trước hết, phải kể đến các cô gái ngoan ngoãn, hiền lành, hồi trẻ ít giao du, tiếp xúc với bạn trai, đến tuổi trưởng thành, họ rất khó có bạn trai cùng trang lứa. Tuổi xuân ngày một trôi mau, các cô muốn lấy chồng nhưng chờ mãi không có ai tìm đến. Những cô gái này rất cô đơn và dễ dàng chấp nhận những anh chồng dù đã ngoại lục tuần.

Nhóm thứ hai là những cô gái được cha mẹ nuông chiều, kém học, lười lao động, chỉ thạo son phấn, ăn diện. Chính vì vậy, những chàng trai cùng trang lứa hay hơn các cô vài ba tuổi sẽ cảm thấy khó gần, khó phù hợp. Ngược lại, “mùi” son phấn, điểm trang của các cô chỉ thu hút khứu giác của những người đàn ông lớn tuổi, thường là những người thành đạt, giàu có, đã một đôi lần ly dị vợ, hoặc có lối sống lập dị.

Còn một nhóm các cô gái muốn lấy chồng già nữa là những cô gái sống thiếu cha từ nhỏ. Tuy các cô được những người mẹ chăm lo đầy đủ, song vẫn thấy thiếu tình phụ tử. Đến lúc trưởng thành, các cô đi tìm tình yêu và mong muốn nhìn thấy ở người yêu một chỗ dựa tinh thần của người cha mà các cô thiếu hụt từ nhỏ.

Các cô thường cảm động vì sự nhiệt tình, chu đáo, tốt bụng của những người đàn ông chững chạc, từng trải. Còn ngược lại, bên cạnh những cô gái non nớt như vậy, người đàn ông lấy lại sự tự tin của mình, cảm thấy mình là người đàn ông thực thụ.

Tất nhiên, cũng có những đôi gái trẻ, trai già đến với nhau vì tình yêu. Họ khâm phục tài năng, đức độ của nhau. Song kinh nghiệm làm tư vấn tâm lý lâu năm, tôi thấy những trường hợp như vậy không nhiều.

“Kiễng chân” mãi cũng mỏi

Thời gian đầu mới chung sống, hai bên cố gắng để có sự hoà hợp. Song sự chênh lệch bắt người ta luôn luôn ở cái thế “kiễng chân”, do đó chóng mệt mỏi và thất vọng. Xét về khía cạnh khoa học, khi vợ chồng chênh lệch nhau một giáp trở lên, nghĩa là đã hơn nhau “một thế hệ”, nếu đôi bên không khéo léo điều chỉnh thì khó mà có sự hoà hợp cả về mặt tâm lý lẫn sinh lý.

Một người đàn ông thành đạt, tuy có tuổi nhưng vẫn được các cô gái trẻ mến mộ bởi sự chu đáo, sáng suốt, tinh thần quyết đoán khi ở cơ quan, nhưng khi trở về với gia đình anh ta hiện nguyên hình là những ông chồng mệt mỏi, thích yên tĩnh, ăn uống bắt đầu phải kiêng khem.

Khả năng làm chồng của các ông có thể trở nên mạnh mẽ trong một thời gian nhất định bởi cảm hứng mới mẻ, trẻ trung do người vợ mang lại. Song không chóng thì chầy, khả năng ấy cũng giảm dần theo năm tháng. Đó là quy luật của muôn đời.

Tuy nhiên, sự khập khiễng về đời sống tâm lý, tinh thần của họ mới là điều đáng nói hơn.

Một phụ nữ tên Tâm, gọi điện tâm sự: “Nhìn những đôi trai gái trẻ lấy nhau rồi lại đổ vỡ, em thấy sợ. Nghĩ rằng lấy anh ấy già hơn, anh ấy sẽ biết điều, cuộc sống sẽ khá hơn. Ai ngờ lấy anh ấy, em lại phải chiều anh ấy. Anh ấy thì không thể thay đổi, tức là không thể trẻ lại, buộc lòng em phải ép mình già đi, cho xứng với anh ấy”.

Có cô gái, sau một thời gian sống hào nhoáng với vẻ bên ngoài của người chồng hơn mình 25 tuổi, bây giờ nghiệm ra, thấy sao nhiều thứ khác nhau quá.

Cô nói: “Em sống với anh ấy chẳng khác gì với bố mình. Mấy năm gần đây anh ấy suy sụp nhanh quá, sắp về hưu mà. Anh ấy ít quan tâm đến công việc và vợ con, hay luẩn quẩn ở nhà, được ngày nghỉ lại về quê tìm gặp bạn cũ, ôn lại thời trẻ. Em mở nhạc anh ấy kêu nhức đầu. Em muốn đi siêu thị thì anh ấy lại thích đi xem cây cảnh, vào trà hoa viên ngắm non bộ. Thành ra mỗi người một thế giới”.

Tâm trạng chung của các cô là cảm thấy mình còn “nửa chừng xuân” còn các ông ấy đã lên đến đỉnh cao của đời người, đang đi xuống dốc mà không có bạn đồng hành.

Hãy suy nghĩ kỹ trước khi quyết định

Công bằng mà nói, không phải không có những cặp chồng già vợ trẻ vẫn sống với nhau hạnh phúc. Họ đến với nhau vì trai tài gái sắc, mến đức, mến người chứ không vì một lý do nào khác. Còn những cô gái say mê danh vọng, tiền tài, sự lịch lãm và từng trải của người đàn ông đứng tuổi thì cái kết thúc không mấy khi vui.

Khi người đàn ông đã không còn hấp dẫn, đã đi hết quãng đường công danh, sự nghiệp, lại trở về đúng cái chất của một người già thì làm sao có thể tâm đầu ý hợp với một người vợ còn đang xuân sắc, không có được sự từng trải và hiểu biết của một người phụ nữ biết làm vợ? Cũng có những đôi chồng già vợ trẻ chấp nhận chung sống với nhau lâu dài, bền vững. Song sự chấp nhận khác với sự thoải mái, hài lòng, hạnh phúc.

Tuổi tác cũng góp một phần không nhỏ dẫn các gia đình đến với bi kịch tan vỡ khi họ đến với nhau vì vụ lợi vật chất, vì ảo vọng “lấy chồng già sẽ được chiều”!

Đinh Đoàn
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Chuyện 4 bà vợ

Một anh giàu có... có 4 bà vợ. Ông yêu người vợ thứ tư nhất, luôn mua sắm cho bà ta những bộ đồ sang trọng đắt tiền. Ông nâng niu chiều chuộng, coi người vợ thứ tư như một món đồ trang sức quý. Ông cũng rất yêu người vợ thứ ba. Ông tự hào về người vợ này và luôn muốn “khoe” vợ với bạn bè. Tuy nhiên, trong ông luôn thường trực nỗi lo sợ bà bỏ đi với người đàn ông khác.

Ông cũng yêu người vợ thứ hai. Ông coi bà như người bạn tâm tình, người giúp ông vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Bất cứ khi nào gặp khúc mắc, ông đều tìm đến bà. Người vợ thứ nhất lại là người rất chân thành, chung thủy, luôn kề vai sát cánh bên ông lo toan chu đáo chuyện gia đình. Tuy nhiên, ông lại không yêu bà vợ thứ nhất. Mặc dù bà rất yêu ông, ông hầu như chẳng bao giờ chú ý đến bà. Một ngày, ông ngã bệnh. Ông tự biết rằng mình sắp từ giã cõi trần. Ông nghĩ về cuộc sống giàu sang xa hoa và tự nhủ: “Hiện mình có 4 bà vợ. Nhưng khi mình chết, lại chỉ có một mình. Thật cô đơn làm sao!”

Ông ta hỏi bà vợ thứ tư: “Tôi yêu mình nhất, luôn dành cho mình sự quan tâm đặc biệt và những điều tốt đẹp nhất. Tôi chẳng còn sống được bao lâu nữa, liệu khi tôi chết, mình có nguyện đi theo tôi không?”

“Không đâu” - Bà vợ thứ tư đáp lại và bước đi.

Câu trả lời như một nhát dao cứa vào. Ông hỏi người vợ thứ ba: “Tôi yêu bà nhiều lắm, tôi sắp chết rồi, bà có nguyện theo tôi không?”

“Không, cuộc sống vẫn đang đẹp mà. Sau khi ông chết, tôi sẽ tái hôn”. Trái tim ông run lên đau đớn. Sau đó, ông hỏi người vợ thứ hai: “Bất cứ khi nào gặp vấn đề khó khăn rắc rối gì tôi cũng đều tìm đến bà. Bây giờ tôi xin bà hãy kề vai sát cánh cùng tôi lần cuối cùng. Khi tôi chết, bà có nguyện đi theo tôi không?”

Bà vợ thứ hai trả lời: “Xin lỗi, lúc này tôi không thể giúp ông được. Nếu có, tôi chỉ đưa linh cữu ông ra mộ thôi”. Ông nghe câu trả lời mà như sét đánh ngang tai. Ông thực sự quá đau đớn vì người mà ông nghĩ có thể tin tưởng nhất cũng bỏ rơi ông.

Bỗng có một giọng nói cất lên: “Tôi sẽ đi cùng ông, đi đến bất cứ nơi nào ông tới”. Ông dáo dác tìm kiếm chủ nhân của giọng nói và nhận ra đó chính là người vợ thứ nhất, người mà chẳng mấy khi ông để ý tới. Trông bà gầy và xanh xao quá. Rưng rưng xúc động, ông nói: “Ðáng lẽ ra trước đây tôi phải chăm sóc bà nhiều hơn nữa”.

Mỗi chúng ta ai cũng có 4 bà vợ. Bà vợ thứ tư chính là thân thể của chúng ta. Cho dù ta có chăm chút, trau chuốt đến mấy, rồi nó cũng rời bỏ ta khi ta chết. Còn bà vợ thứ ba? Ðó chính là của cải, địa vị... Khi chúng ta chết, chúng sẵn sàng đi theo người khác. Bà vợ thứ hai chính là gia đình và bạn bè. Cho dù có thân thiết đến mức độ nào, khi ta chết, họ cũng chỉ khóc đưa ta ra mộ mà thôi.

Bà vợ thứ nhất chính là tâm hồn ta, thường bị lãng quên khi ta chạy theo tiền tài, địa vị, danh vọng, của cải, nhưng nó sẽ theo ta suốt cuộc đời. Tốt hơn hết là nuôi dưỡng tâm hồn ngay từ bây giờ, vì đó là “người” thân tín nhất bên ta. Ðừng để phải hối hận vì đã lãng quên nó.

Ngọc Bích
Theo Indianchild
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Nhổ tóc bạc - thú thư giãn mới cho người Sài Gòn
Khách nằm trên ghế, nhân viên dùng đèn rọi vào mái tóc rồi lấy nhíp nhổ từng sợi bạc, tóc sâu. 60.000 đồng một giờ cho dịch vụ "nằm khểnh, nhịp chân, cho người mân mê đầu".

Sau hơn một năm có mặt tại Hà Nội, mới đây dịch vụ nhổ tóc bạc đã chính thức có mặt tại Sgn

Đặng Tuấn Dương, người Hà Nội, chủ cửa hiệu 150 Nhật Tảo "nhổ tóc bạc" cho biết, ý tưởng mở dịch vụ xuất phát từ lần anh ghé thăm một cửa hiệu nhổ tóc bạc ở Hà Nội. Sau đó anh quyết định Nam tiến để thử kinh doanh nghề này.

"Lúc đầu khi nghe tôi nói ý tưởng, vợ tôi đã phá lên cười vì tính chất quái lạ của dịch vụ, thế nhưng sau khi bàn bạc thật kỹ và thấy được tính tiềm năng của nghề này tại Sài Gòn, vợ chồng đã mạnh dạn thuê mặt bằng mở cửa hiệu, mướn nhân viên", anh Dương nói.
Image
Cửa hiệu 150 Nhật Tảo, phường 8, quận 10. Ảnh: Thiên Chương.

Chị Hạnh, vợ của anh Dương kiêm nhân viên cho biết, thời gian đầu quán còn vắng khách do ít người biết đến. Song chị vẫn tin tưởng dịch vụ chăm sóc sắc đẹp - thư giãn lành mạnh này sẽ tồn tại được tại Sài Gòn.

Nhiều khách hàng Sài Gòn thấy lạ với dịch vụ này, mấy ngày qua đồn "ở đây nhổ tóc bằng... răng". Như để thanh minh, chị vợ phân bua: "Dụng cụ nhổ bằng nhíp, trong không gian rất lành mạnh chứ không phải nhổ tóc bằng răng như lời đồn đại đâu nhé".

Cũng theo chị Hạnh, cửa hiệu chỉ phục vụ khách tại chỗ chứ không đến nhà nhổ tóc theo yêu cầu. Giá nhổ tóc sẽ giảm 20% từ giờ thứ hai.

Sau ba ngày khai trương, cửa hiệu chuyên nhổ tóc bạc ở quận 10 đã có hơn 50 khách tìm đến để được nhổ tóc. Đây cũng là điểm đầu tiên tại TP kinh doanh dịch vụ này.

Chị Minh Hạnh, 49 tuổi, nhà ở quận 5, khách hàng đầu tiên của cửa hiệu cho biết, tình cờ đi ngang qua nhìn thấy bảng hiệu chị đã lập tức ghé vào. "Tóc tôi có nhiều sợi bạc, ở nhà lại không ai có thời gian nhổ giúp, một mình loay hoay bên chiếc gương cả giờ đồng hồ mà chỉ nhổ được vài sợi nên khi nhìn thấy dịch vụ là chịu ngay", chị Hạnh nói.

Còn anh Ngọc Thanh, 29 tuổi, nhà ở quận 1 thì đến với cửa hiệu vì không muốn mái tóc lấm tấm bạc của mình phải được nhuộm đen tóc bằng thuốc. "Tôi đã vài lần nhuộm thử bằng hóa chất, lần nào tóc cũng bị rụng do dị ứng", anh Thanh nói. Anh bảo có dịch vụ nhổ tóc bạc, tóc sâu càng tiện.

Một số khách lại thích cảm giác thư giãn, vừa sạch tóc bạc vừa được mân mê da đầu. Anh Khánh, nhân viên bảo hiểm tại quận 10 thì cho biết, một lần công tác tại Hà Nội, anh được bạn bè mời đến cửa hiệu Chấy nhổ tóc bạc. Ban đầu anh hơi ngại vì tưởng dịch vụ không lành mạnh, tuy nhiên khi trở về Nam anh lại thấy nhớ nhớ dịch vụ này. Chính vì thế, khi nghe đồng nghiệp giới thiệu tại Sài Gòn có dịch vụ này, anh đã đến ngay.

"Được nằm khểnh, nhịp chân cho người mân mê đầu nhổ tóc đã ngứa, thích lắm", anh Khánh khoan khoái ngả người trên ghế cho chủ tiệm "soi tóc", nói.

Thiên Chương
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Thượng bất chính, hạ tất loạn
Tác giả: Lm Vĩnh Sang



Chiều qua, tôi có việc đi ra Sài-gòn, ngồi trên taxi, trao đổi vài câu chuyện với người tài xế. Rồi vì chuyến xe của tôi ra đường Nguyễn Huệ, nên chúng tôi bị hút ngay vào chuyện “phố hoa” Nguyễn Huệ.

Người ta đã bắt đầu làm giàn, đã phân lô và đang làm những con trâu bằng rơm bằng rạ, chắc mọi người phải miệt mài và vất vả lắm vì ngày Tết đã gần kề. Người nghệ sĩ phải sáng tác, người nghệ nhân phải chăm bón từ rất lâu, có khi nhiều năm trước để có những “thế hoa”, người xây dựng đổ công đổ sức để hình thành, cả một khối người lao động và sáng tạo.

Anh tài xế taxi bảo tôi: “Tệ quá đi ! Hà Nội... quê quá chừng, thua Sài-gòn mình rồi !” Sài-gòn có kinh nghiệm làm phố hoa nhiều năm, thế nhưng, cũng chẳng hơn gì Hà Nội đâu, năm “con heo vàng” hồi đó bị đánh cướp hoa và heo ngay giữa ban ngày đấy thôi!

Tôi dùng chữ “đánh cướp” không biết có chỉnh theo ngôn từ không? Nhưng tôi cứ dùng, vì tôi thiển nghĩ: “Ăn trộm” là lấy của người ta khi người ta vắng mặt, người ta không biết; còn “ăn cướp” là lấy giữa thanh thiên bạch nhật, lấy ngang nhiên trước mặt người ta và sẽ phản ứng thô bạo khi người ta cố gắng bảo vệ tài sản của mình, không để bị lấy mất. Kẻ cướp lại còn tán tận lương tâm đến mức có thể hạ thủ làm hại luôn nạn nhân nếu cần.

Theo như chúng ta được thông tin, thì chuyện xảy ra tại phố hoa Hà Nội rõ ràng phải xếp vào loại “ăn cướp”, vì lấy giữa ngay ban ngày, lấy trước mặt mọi người, trước mặt chủ nhân, đã vậy lại còn phản ứng thô bạo khi người có trách nhiệm bảo vệ lên tiếng. Không thể dùng từ “khiếm nhã” vì từ ngữ này chỉ có nghĩa là thiếu lịch sự trong giao tế mà thôi.

Vậy mà, báo chí Việt Nam đã xếp thông tin này vào chuyện “thứ yếu” khi cho đăng trong các đề mục nhỏ và đặt ở những trang bên trong mà thôi. Một vài tờ báo “tích cực” hơn, đã tiếp tục bàn bạc về một số ý kiến của các nhà giáo dục hoặc xã hội. Ngược lại, trên các trang mạng thì sôi nổi hơn, những lời bình luận có phần gay gắt và phản ứng chung là không chấp nhận chuyện “ăn cướp” giữa thủ đô như thế này.

Người ta đi tìm nguyên nhân và đưa ra những đề nghị xử lý, phần đông bảo là do “người dân thiếu ý thức”, chính quyền phải cương quyết và mạnh tay để tái lập trật tự kỷ cương. Nói chuyện hoa lại nhớ chuyện giao thông, cũng vẫn những lý luận y như vậy, người ta đổ hết nguyên nhân gây ra tai nạn là do người sử dụng các phương tiện giao thông thiếu ý thức.

Thử nhìn vấn đề theo một góc cạnh khác. Nếu hệ thống giao thông hợp lý – không chỉ là hợp lý theo kỹ thuật mà còn là hợp lý theo nhân văn nữa – thử một lần ghé ngang qua khu vực có đường xe lửa đi qua, chúng ta thấy cái gì? Ông Đường Sắt nhà ta lắp đặt hai cái hàng rào song song, cắt thành phố làm hai, hai bên không ai được phép băng qua cả, cư dân bên này không được phép phá hàng rào để liên lạc qua bên kia, thế là thế nào?

Đề cập đến việc di dời ga Hòa Hưng ra ngoài thành phố, “các ông” đưa ra đủ thứ ý kiến để trì hoãn việc di dời, trong khi đó đất trong khu vực ga Hòa Hưng thì được phân lô xây cất rất nhanh, tiền chia chác đầy túi cán bộ. Nhân dân vùng này chờ đến khi nào các “đầy tớ” của mình chia nhau hết đất thì sẽ được giải quyết việc di dời, riêng hai cái hàng rào “Ô Thước” đó cứ việc để đấy!

Nếu hệ thống giao thông đúng kỹ thuật thì có thể xảy ra tai nạn được không ? Nếu hệ thống dạy và thi nghề lái xe không cấp bằng giả, bằng lậu thì có thể xảy ra tai nạn nhiều như bây giờ chăng? Nếu không có những “chốt” mãi lộ dọc đường thì xe có tìm cách tăng khách, tăng hàng, tăng tốc độ chạy bù mà gây ra tai nạn không ? Tại sao không có những câu hỏi như vậy nhỉ ? Nếu đặt được những câu hỏi như thế thì đã có ngay câu trả lời rồi, sao lại cứ đổ tiệt hết cho người dân thiếu ý thức? Thế cán bộ ăn lương từ tiền thuế của dân để làm gì?

Trách người dân không ý thức, trách người dân không tuân thủ luật lệ, vậy những người có trách nhiệm đã làm hết trách nhiệm mình chưa? Đất nước đã ngừng chiến tranh hơn ba mươi mấy năm rồi, bán đảo Đông Dương đang mừng kỷ niệm ba mươi năm thay đổi chính thể ở Campuchia, tiếng súng đã im hơn ba mươi năm ở miền Tây Nam tổ quốc, ba mươi năm xây dựng trong hòa bình thì nhân dân được gì?

Trời ạ, hệ thống giáo dục rệu rã, lương tâm xã hội suy thoái biến chất, con người Tràng An thanh lịch nay cướp hoa giữa ban ngày, con người văn minh Sài-gòn nay bon chen ngột ngạt, “hòn ngọc Viễn Đông” chỉ còn là vang bóng một thời đấy thôi.

Tôi cho rằng chính những người có trách nhiệm với đất nước phải chịu trách nhiệm về các vụ việc bê bối này, nếu phải phê phán thì phê phán những người đang cầm cân nảy mực, vì chính họ là tấm gương nhòe nhoẹt rạn vỡ để xã hội đua nhau hành xử theo.

Những suy nghĩ về “Lung linh hai tiếng gia đình” trong bài viết lần trước trên Ephata 401, tôi nhận được nhiều phản hồi từ người đọc, những dòng suy tư đã gợi nhớ về những gương mặt cha mẹ thân yêu của chúng ta, những tấm gương sáng ngời về nhân đức và về lối sống.

Cha mẹ tôi xuất thân từ nông dân, kiếp nghèo bám chặt cuộc đời của ông bà, đến đời con đời cháu cái gốc nghèo vẫn chưa “nhả” hết. Thế nhưng lòng kính sợ Thiên Chúa thì đã ăn vào tận thâm căn cố đế cuộc đời. Chúng tôi lớn lên, qua bao nhiêu sóng gió thăng trầm, lời răn dạy và gương sống của mẹ cha vẫn chính là lòng kính sợ Thiên Chúa.

Có những lúc chênh vênh bên bờ vực, nhớ cha nhớ mẹ, bỗng như mình chợt tỉnh, dừng lại kịp, kẻo lại “làm mất lòng Chúa”. Có những lúc cám dỗ dồn dập xô tới, bỗng nhớ mẹ nhớ cha với lời răn dạy “đói cho sạch rách cho thơm”, lòng tự trọng Kitô Giáo được đánh thức, được sống lại, giữ cho mình khỏi “sa chước cám dỗ”.

Cứ thế, tuổi càng về chiều, hình như lời răn dạy và gương sáng ấy càng sống động trong tôi, dìu bước chân mình trên đường vạn lý được vững chắc hơn, được tin tưởng hơn.

Cha mẹ tôi nghèo, lại ít học, nên ông bà chẳng có gì cao siêu để dạy dỗ con cái, chỉ là những bài học hết sức đơn sơ, rất cụ thể và chân chất bình dân làm “di sản phi vật thể” cho con cho cháu. Những bài học bình dân ấy ngô nghê nhưng đọng lại trong tôi lòng kính trọng, bởi vì chính trong những điều hết sức dung dị đó, tôi được sinh ra và lớn lên, được chọn làm Linh Mục, làm Linh Mục của người nghèo.

Đã từng là một người con, bây giờ là Linh Mục, tôi thấy tuổi trẻ và thiếu niên cần lắm những tấm gương trong cuộc sống Đức Tin của người làm cha làm mẹ, tiền bạc sẽ trôi đi, kiến thức cũng có thể mai một, chẳng cái gì có thể theo ta cả đời ngoài tấm lòng biết kính sợ Thiên Chúa. Phải chăng thời điểm này, thời điểm Hội Thánh Việt Nam lên tiếng về việc xây dựng một nền giáo dục Kitô ngay trong mỗi gia đình, đó là lúc mỗi gia đình ý thức vai trò giáo dục của mình, cha mẹ trở nên tấm gương sáng cho con cái...

Vâng, thượng liêm chính, hạ tất an!

Lm Vĩnh Sang
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

TÌNH YÊU TRƯỚC VÀ SAU

Gã Siêu
Nếu so sánh giữa con người với con vật, gã nghiệm ra rằng : Trong khi con vật luôn dẫm chân tại chỗ, trước sau như một, ngày xưa và hôm nay vẫn cứ y như thế, thì con người biến đổi không ngừng.

Gã xin đưa ra một vài thí dụ điển hình :

Con chim ngày xưa làm tổ thế nào, thì hôm nay nó vẫn làm tổ như vậy, cho dù chiếc tổ ấy được đan bằng những cọng cỏ khô thật tỉ mỉ và khéo léo.

Con ong ngày xưa kéo mật thế nào, thì hôm nay nó vẫn kéo mật như vậy, cho dù mật ong có hương vị thơm ngon tuyệt vời.

Dầu vậy, thỉnh thoảng gã cũng thấy con vật này hay con vật kia có những hành động khác thường, chẳng hạn : con sáo biết nói, con gấu biết đi xe đạp, con khỉ biết nhảy dây…Sở dĩ chúng làm được như vậy là do dày công tập luyện, để rồi hành động theo phản xạ, chứ không phải hành động theo bản năng.

Trong khi đó, con người không ngừng biến đổi và tạo nên những tiến bộ trong mọi lãnh vực.

Chẳng hạn trong lãnh vực ăn. Ngày xưa người ta ăn tươi nuốt sống, còn hôm nay chúng ta đã biết nấu chín và chế biến thành những món đặc sản, cao lương mỹ vị.

Chẳng hạn trong lãnh vực mặc. Ngày xưa người ta lấy lá cây hay da thú mà che thân, còn hôm nay chúng ta đã biết dệt nên bao nhiêu loại vải, đã biết may thành bao nhiêu mẫu mã áo quần.

Trong lãnh vực ở. Ngày xưa người ta ở hang, ở lỗ, còn ngày nay chúng ta đã biết xây dựng những tòa nhà nhiều tầng, thậm chí còn có cả những tòa nhà chọc trời.

Trong lãnh vực đi, ngày xưa người ta đi bộ, đi voi, đi ngựa, còn ngày nay chúng ta đã có được biết bao nhiêu phương tiện di chuyển như xe đạp, xe máy, xe hơi, tàu thủy, tàu hỏa, tàu bay, thậm chí còn có cả những phi thuyền, hỏa tiễn để chinh phục không gian.

Hôm nay gã xin “tán hươu tán vượn” với bàn dân thiên hạ về những biến đổi trong tình yêu. Đặc biệt là những biến đổi nơi anh đờn ông con giai trong quãng đời…làm chồng của mình.

Về tình yêu của anh chồng dành cho chị vợ, có người đã chia ra thành ba thời kỳ hay ba giai đoạn, nhưng cũng có người chỉ chia ra làm hai thời kỳ hay hai giai đoạn mà thôi.

Dựa vào những suy nghĩ cá nhân cũng như dựa vào những kinh nghiệm xương máu của các chiến hữu trên khắp các vùng chiến thuật, gã sẽ bàn tới những thời kỳ hay những giai đoạn này.

Trước hết về ba thời kỳ, hay ba giai đoạn của tình yêu.

Theo tác giả Kim Vốn trên báo “Phụ Nữ Chủ Nhật” thì đối với nhiều chuyên gia tâm lý, tình yêu có thể được chia thành ba giai đoạn, đó là sáu tuần, sáu tháng và sáu năm với “các thái độ ứng xử được thích nghi cho phù hợp”, đi từ chiều chuộng, sang chăm sóc một cách miễn cưỡng, để rồi cuối cùng…người vợ chẳng còn một ký lô gà ram nào sốt!

Sự phân chia này được trình bày bằng lời nói cũng như bằng giọng nói của anh chồng như sau :

Tình yêu theo thời gian

6 tuần

6 tháng

6 năm

Anh yêu em!
Thì anh yêu em mà!
Nếu không yêu cô thì tôi đã bỏ quách đi từ lâu rồi!

Em yêu, mẹ gọi điệu thoại cho em nè!
Điện thoại của em đó!
Điện hoài điện hủy!

Anh nghĩ rằng em rất thích có chiếc nhẫn ấy.
Ít ra chiếc lọ cũng có ích vì nó dùng để cắm hoa.
Ừ thì cứ mua thứ gì mà cô muốn!

Ồ, không việc gì đâu
Cẩn thận, coi chừng vỡ
Trời ơi, người đâu và vụng về đến thế!

Em mà nấu thì sẽ có một bữa ăn ngon lành.
Tối nay chúng ta sẽ ăn gì đây ?
Ngày nào cũng trứng luộc thì chịu làm sao được ?

Với chiếc áo đầm này, em mới đẹp làm sao ?
Lại một chiếc áo đầm nữa à ?
Bao nhiêu chiếc áo đầm mới đủ cho cô đây ?

Anh đã cắt cỏ vườn, em khỏi phải quan tan nữa
Chiếc máy cắt cỏ hết mẹ nó xăng!
Hôm nay cô đi mà cắt cỏ vườn

Anh đã mướn cho em một cuốn phim thật hay
Có thật là em muốn xem cuốn phim đó không ?
Tối nay có bóng đá, cô để TV đó cho tôi.




Gã cũng đã sưu tầm được một số hình ảnh khác rất cụ thể về ba giai đoạn của tình yêu, nhưng mang tính cách trung lập hơn, khách quan hơn và vô tư hơn, không ngả bên này cũng không nghiêng bên nọ, không bênh chị vợ mà hạ thấp anh chồng, hay ngược lại hạ thấp chị vợ mà bênh anh chồng.

Gã tạm gọi ba giai đoạn này là : Trước, liền sau và lâu sau.

Với những người thích màu sắc, thì trước khi cưới là một màu hồng rực rỡ, liền sau khi cưới là một màu trắng nhạt, còn lâu sau khi cưới là một màu xám ảm đạm.

Với những người thích nghiên cứu về thời tiết, thì trước khi cưới là những ngày mùa xuân nắng ấm, liền sau khi cưới là những ngày hè thu oi bức hay mưa dông, còn lâu sau khi cưới là những ngày dài mùa đông lạnh giá.

Với những người thích âm thanh, trước khi cưới anh nói thì em nghe và em nói thì anh nghe, liền sau khi cưới, anh nói thì anh nghe và em nói thì em nghe, còn lâu sau khi cưới, thì cả hai cùng nói, nhưng hàng xóm phải nghe.

Với những người có tinh thần ăn uống, trước khi cưới thì nhìn nhau mà no, liền sau khi cưới thì nhìn nhau mà ngáp, còn lâu sau khi cưới thì nồi niêu xoong chảo thỉnh thoảng lại bay ra ngoài sân.

Với những người vốn mang dòng máu ga lăng, trước khi cưới thì chiếc dù lệch hẳn về phía nàng và chàng sẵn sàng chịu ướt, liền sau khi cưới thì chiếc dù nằm ở chính giữa và mỗi người chịu ướt một nửa, còn lâu sau khi cưới thì chiếc dù lệch hẳn về phía chàng và nàng đành cam chịu ướt.

Từ đó, người ta đi tới một kết luận không mấy sáng sủa :

- Yêu nhau trong ba ngày, ghét nhau trong ba tháng và chịu đựng nhau suốt ba mươi ba năm.

Có kẻ còn bi quan hơn khi phát biểu :

- Trong cuộc đời anh đàn ông có hai ngày vui lớn. Ngày vui thứ nhất đó là ngày lấy vợ, còn ngày vui thứ hai đó là ngày vợ chết.

Tiếp đến về hai thời kỳ, hay hai giai đoạn của tình yêu.



Nhiều chuyên viên tâm lý khác thích đơn giản và sáng sủa hơn, nên đã chia tình yêu và nhất là tình yêu của anh chồng thành hai thời kỳ hay hai giai đoạn.

Các chuyên gia này đã chọn ngày cưới mà cắm mốc thời gian cho sự phân chia ấy. Vì thế, hai thời kỳ hay hai giai đoạn này được gọi là tình yêu trước khi cưới và tình yêu sau khi cưới.

Báo “Phụ Nữ Chủ Nhật”, số ra ngày 15.01.2006 có đăng một bài ngăn ngắn với những ghi nhận như sau :

Trước khi cưới :

Sau khi cưới :

- Anh yêu! Ghê quá, con chuột chết kìa.
- Để đó cho anh.

- Anh ơi! Có con mèo chết trên mái nhà mình.
- Thì lấy cây mà hất nó xuống, có con mèo chết mà cũng phải kêu chồng.


- Em bệnh hả : Em yêu! Có đau lắm không em ?
- Khỏe chưa ? Dậy nấu cơm ăn, bộ tính cho cả nhà xơi mì gói hả ?

- Không sao, dù bận nhưng nếu em cần là anh đến ngay.
- Anh còn lu bu nhiều việc lắm, chưa về ngay được đâu!

- Chúc em một sinh nhật thật vui vẻ và hạnh phúc.
- Ôi dào, còn đầu óc đâu mà lãng với mạn nữa hả em.

- Sao anh ăn cái gì em nấu cũng thấy ngon!
- Em chiên kiểu gì mày cháy đen như vậy ?

- Trông em thật dễ thương mỗi khi em khóc.
- Hết than thở rồi lại khóc lóc, vợ con gì thấy mà phát chán.

- Em là người phụ nữ đẹp nhất mà anh từng gặp!
- Thằng bạn anh mới cưới được một cô bé vừa xinh lại vừa đẹp. Nó lấy vợ trễ, thế mà khôn.

- TV có gì hay không em ?
- Dọn cơm chưa ? Tối ngày ngồi đó mà xem phim Hàn Quốc.

Trên báo “Gia đình”, một chị vợ cũng đã ghi lại tâm sự buồn của mình, trước khi chia tay ca bản “anh đi đường anh, tôi đi đường tôi và tình nghĩa đôi ta chỉ có thế mà thôi” :

Anh chiều chuộng em như một nàng công chúa nhỏ : khi ăn, anh chủ động gắp cho em; khi đi xe bus đông người, anh giành chỗ tốt cho em, dù mặt đỏ tía tai; khi đi qua đường, anh luôn dắt tay em và đi trước mở lối cho em.
Khi ăn, anh chẳng thèm nhìn em lấy một lần; khi lên xe bus, anh để mặc em đứng bám vào tay vịn; khi đi qua đường, anh cũng chẳng thèm nắm lấy tay em.

Kết luận:

Là phụ nữ, ai cũng muốn được yêu thương, được chiều chuộng, được bảo vệ. Anh có hiểu hay không ?

Mọi áo quần, trong cũng như ngoài, đều do anh mua. Mẫu mã nào mới anh cũng đều sắm cho em.
Anh chưa một lần đưa em đi mua đồ, mỗi lần tới siêu thị, đến trước gian hàng của phụ nữ, em kéo anh vào để cùng chọn với em, anh lại nói một cách khó chịu : - Em thấy bên trong có bóng dáng một thằng đờn ông nào không ?

Kết luận:

Anh không hiểu tâm tình người phụ nữ là như vậy, bảo sao em không bị tổn thương ?

Anh thường kéo em ra ngoài luyện tập thể dục và nói cho em hiểu rằng sức khỏe là vốn liếng quí giá nhất của con người.
Bản thân anh không tập thể dục nữa, lại còn bắt em phải ở nhà cả ngày, quanh quẩn với những công việc lặt vặt. Ngay cả khi em muốn tới câu lạc bộ tập thẩm mỹ, anh cũng không cho.

Kết luận:

Anh có biết rằng phụ nữ khi đã đến tuổi trung niên, nếu không chú trọng rèn luyện và bảo dưỡng, thì tốc độ lão hóa sẽ rất nhanh.

Anh thường đem lại cho em rất nhiều những niềm vui bất ngờ. Chẳng hạn như anh đặt trên bàn của em chiếc vé xem văn nghệ, làm em vui suốt cả tuần.
Anh bỏ em qua một bên, chẳng thèm nói một lời. Có khi em nấu nướng thật ngon và đợi anh về cùng ăn, nhưng anh lại gọi điện thoại và nói với em rằng :
- Tối nay anh có tiệc chiêu đãi, không về ăn cơm đâu…

Kết luận:

Anh có hiểu rằng một khi cơm canh đã nguội ngắt, em còn lòng dạ nào để hâm nóng lại đây.

Dù đi công tác xa thế nào, thì hàng đêm anh đều gọi điện thoại về cho em.
Khi đi công tác xa, thỉnh thoảng anh mới gọi điện thoại về cho em, nhưng cũng chỉ hỏi bài tập của con đã làm xong chưa. Ngay cả một câu quan tâm đến em, anh cũng không có.

Kết luận:

Anh có biết rằng khi vắng anh, em nhớ anh nhiều lắm hay không ? Sao anh quá tiết kiệm lời nói với em như thế.
Dù chia tình yêu thành ba hay thành hai thời kỳ và giai đoạn, nhưng những biến đổi trên xem ra cũng thật bất lợi, vì thế có kẻ đã băn khoăn tự hỏi :
- Phải chăng hôn nhân chính là nấm mồ chôn vùi tình yêu ?
Nghĩ như vậy xem ra có phần hơi bi quan, bởi vì trên thế gian vẫn có những cặp yêu thương nhau cho đến lúc đầu bạc răng long, đúng như lời mừng chúc : trăm năm hạnh phúc. Tuy nhiên cũng giúp cho chúng ta nhận ra cái khó khăn trong tình yêu.
Thực vậy, tình yêu trước hôn nhân hay còn được gọi là tình yêu của cái thuở ban đầu lưu luyến ấy, thường dễ dàng bởi vì lúc bấy giờ người ta đang “mê mẩn cả tâm thần”, sẵn sàng kê cho bằng một trăm chỗ lệch, cũng như sẵn sàng chín bỏ làm…mười một, mười hai.
Cái khó khăn nhất chính là tình yêu sau hôn nhân. Làm sao duy trì cho nó được bền vững và liên tục phát triển, bởi vì lúc bấy giờ người ta mới tìm thấy những con rận trong chăn, cũng như mới khám phá ra những khuyết điểm của nhau và những lao đao vất vả trong cuộc sống lứa đôi.
Thế nhưng, dù khó khăn tới đâu chăng nữa thì cũng vẫn phải tìm lấy phương thức riêng để giải quyết và vượt qua, nếu muốn làm cho tình yêu của mình được hâm nóng, và bản thân mình, dù là những cặp “uyên ương…già”, cũng vẫn không kém phần say đắm.
Những vun trồng và chăm sóc của chúng ta sẽ làm cho khóm gừng càng già càng cay.
Những hy sinh cho nhau và vì nhau của chúng ta sẽ làm cho tình yêu ngày càng thêm nồng thắm.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Vinh Quang của Người Sợ Vợ

Đào Hiếu
Ý niệm “vinh quang” thường sánh đôi với những mỹ từ như “dũng cảm”, “hào hùng” “kiên cường” “bất khuất” v.v… và hầu như không bao giờ chịu cặp kè với từ “SỢ”. Cho nên khi đặt nhan đề cho bài viết là “VINH QUANG CỦA NGƯỜI SỢ VỢ” tôi cảm thấy hồi hộp, ngại ngùng, không biết rủi như bà xã tôi mà đọc được thì nàng có hiểu thấu cho lòng ngưỡng mộ sâu sắc của tôi khi nghĩ đến nàng, viết về nàng không, hay nàng lại tưởng tôi có ý chơi chữ để chế diễu nàng.

Sợ, cho dù là sợ ai thì cũng là “sợ”. Mà sợ thì chẳng những không có gì vinh quang mà còn hèn lắm các bố ạ. Khi tưởng tượng đến một người đang sợ, trong trí ta hiện lên hình ảnh một kẻ đang co ro, khép nép, mặt mũi xanh lè, tay chân run lẩy bẩy, giọng nói ấp a ấp úng… Nói chung hình ảnh một người đàn ông như vậy không có gì là vinh quang cả.

Người đàn ông vinh quang là người làm chủ bà vợ của mình. Thậm chí không cần ra lệnh mà chỉ trừng mắt một cái là bà vợ đã phải ngoan ngoãn vâng lời hoặc dẹp ngay ý định phản đối. Ngồi vào bàn ăn mà không có chai bia hả? Ném đũa xuống bàn rồi đứng dậy là bà vợ khiếp vía. Một anh chồng thường khoe: Tiền bạc tớ quản lý. Mọi việc trong nhà tớ quyết định. Muốn đi đâu, mua sắm gì, phải xin phép tớ. Tớ bảo gì, nghe nấy. Người xưa gọi cái đạo lý ấy là “phu xướng phụ tùy.”

Bậc vua chúa còn danh giá hơn vạn lần. Các ngài có rất nhiều vợ. Chẳng cần yêu đương, tán tỉnh, cũng đếch thèm viết thư tình, cứ phát hiện ra chỗ nào có gái đẹp là a-lê “tiến cung”, ba mươi giây là thảy lên giường. Nhưng cũng có khi đến ba mươi năm chưa chắc đã được hưởng ơn mưa móc.

Thời Tần Thủy Hoàng mỗi tối các bà vợ được tắm rửa, điểm phấn tô son, khử mùi lông nách… rồi cứ để trần truồng như thế, bọc trong cái chăn lớn. Hai tên quân hầu khỏe mạnh vác cả người lẫn chăn đem đến tận long sàng dâng vua, giống như đầu bếp dâng khoanh giò lụa. Vua hé chăn ra coi, thích thì “ngự” không thích thì bảo đổi người khác. Hai tên quân hầu lại vác một khoanh giò lụa khác. Cứ thế, chạy rầng rậc cả đêm. Về sau này các ông con Trời ở bên Tàu đổi mốt khác. Buổi tối các ngài ngự trên chiếc xe dê, tà tà đi dọc các hành lang của tam cung lục viện. Ơn mưa móc của các ngài tưới vào đâu tùy thuộc vào sự ngẫu hứng của chú dê kéo xe. Rõ ràng là các bậc đế vương coi chuyện chăn gối với những bà vợ mình như một trò chơi ru-lét: Trái banh dừng ở chỗ nào là trúng thưởng ở chỗ đó.

Tóm lại, ngày xưa cũng như ngày nay, trong dân gian hay trong cung cấm cánh đàn ông thường tự hào về quyền lực của mình đối với đàn bà và coi khinh những người sợ vợ.

Nhưng làm một đấng nam nhi đứng trong trời đất mà không biết sợ vợ thì uổng cả một đời trai!

Bạn tưởng tôi nói đùa? Bạn không hiểu? Thế bạn thích có một chiếc Dream mới tinh hay một chiếc xe mô-bi-lét cà rịch cà tàng? Lái một chiếc Dream bạn phải nâng niu, cẩn trọng, sợ bị va quẹt, bị trầy xướt… nói chung là bạn phải làm nô lệ cho nó nhưng phải công nhận là nó chạy êm ru. Sướng lắm! Còn đi chiếc mô-bi-lét muốn vứt đâu thì vứt, không sợ trầy xước không ngại va quẹt, không sợ bị kẻ gian cuỗm mất… nhưng thường hay nghẹt cái bu-gi lắm các bố ạ!

Như vậy bạn đã hiểu tại sao người ta sợ vợ rồi chứ? Một người đàn ông hay bắt nạt vợ bằng la hét hay trừng mắt, tưởng là ngon, thực ra đó là người chồng bất hạnh nhất trên đời. Bởi vì hắn đã coi vợ mình như một chiếc mô-bi-lét cà tàng, chẳng có gì thú vị, chẳng cần phải nâng niu trân trọng.
*Một người sợ vợ trước hết vì vợ anh ta đẹp. Đắc Kỷ vợ Trụ Vương, Bao Tự vợ U Vương … là những tuyệt sắc giai nhân mà hai ông vua đầy uy quyền của lịch sử Trung Quốc kia phải sợ hãi vâng lời răm rắp. Trụ là một người có tài về quân sự, có sức mạnh hơn người, ông đánh thắng bộ tộc Di, nhưng thua cái vòng số một nõn nà của Đắc Kỷ. Ông là kẻ bạo ngược, mọi người đều sợ ông nhưng ông thì sợ Đắc Kỷ.

Nhan sắc của Bao Tự cũng lừng danh trong thiên hạ, nàng đã khéo dùng cái “vốn tự có” của mình để làm mê mẩn U Vương và quay ông ta như quay dế. Bữa nọ nàng làm bộ buồn và bảo: Ta bị stress. U Vương bèn cho massage thư giãn, cũng vẫn buồn, gọi các danh hài vô quậy, cũng chẳng vui được chút nào. Hỏi làm sao hết buồn thì đáp: Thiếp chỉ thích nghe tiếng xé lụa. Bao Tự vốn xuất thân là cô bé quê mùa do nhặt được trên nương rẫy đem về, nhưng kiểu giải trí này thì quả nhiên quá cầu kỳ và tốn kém. Bởi vì lụa Tô Châu, Hàng Châu ngày nay mua một mét cũng mất 50 đô la Mỹ, thời đó chắc cũng không rẻ gì, thế mà cứ đem cả ngàn mét lụa ra xé để mua lấy một cái nhếch môi cười. Chiều vợ mà như U Vương quả trên đời chỉ có một. Cho nên người Trung Quốc đã hoảng hốt mà thốt lên rằng: “Sắc bất ba đào dị nịch nhân.” Có nghĩa là Vẻ đẹp của người nữ tuy không có sóng gió bão bùng nhưng rất dễ làm chìm đắm con người.

Vào khoảng đầu thế kỷ 20 ở Paris có chàng văn sĩ tài ba gốc người Áo tên là Rilke, tuy cách xa Trung Quốc ngàn dặm nhưng chắc vì cũng có kinh nghiệm mê gái đầy mình và có lẽ cũng đã từng bị các nương tử tóc vàng đì cho sói trán nên bèn nắm mấy cái sừng trên đầu mình mà khóc rằng: “Đẹp là một cái gì đáng sợ.”
*
Người sợ vợ, dĩ nhiên rất yêu vợ, cưng và quý như một báu vật trên đời. Người vợ muốn được chồng cưng và quý như thế phải là một người như thế nào chứ! Ngoài nhan sắc, tính tình phải dịu dàng, phải có tri thức, phải có đời sống tình dục và đời sống tinh thần hòa hợp với chồng. Nói chung là một người không thể thiếu trong đời sống của anh chồng. Có như thế anh chồng mới sợ mất, sợ sứt mẻ tình cảm, sợ không làm vợ mình hài lòng, sợ nàng buồn bã, nhan sắc sẽ tàn phai.

Tôi biết có anh chồng cưng vợ đến nỗi có lần ghen mà không dám nói nặng, tất nhiên cũng không dám đánh, nhưng vì tức quá nên anh ta rút một cây nhang trên bàn thờ đập vào vai nàng một cái. Sách thánh hiền thường dạy: Chớ bao giờ đánh người đẹp dù là đánh bằng một đóa hoa. Anh bạn của chúng ta chắc cũng hiểu cái đạo lý ấy nên mới dùng một cọng nhang. Bởi vì đó là thứ dùng để thờ lạy, để tỏ lòng tôn kính. Đánh vợ mà đánh bằng một cọng nhang thì có khác gì quỳ trước mặt nàng mà hành lễ?

Nghĩ cho cùng, sợ vợ mà kiểu như U Vương, Trụ Vương thì chỉ đem lại tai họa. Nhưng sợ vợ mà biết nâng niu chiều chuộng nàng thì đúng là cái phước lớn của thiên hạ. Và nói theo triết học Thiền tông thì: Biết sợ vợ là đã NGỘ rồi vậy.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Image

CƠM VÀ PHỞ

Trong một số báo gần đây, gã đã phân tích lời các cụ ta ngày xưa đã bảo :
- Ông ăn chả, bà ăn nem. Ðại khái có nghĩa là :
- Nếu ông có bồ nhí, thì bà cũng phải có kép nhỏ. Nói như vậy, thì hơi bị oan cho quí bà quí cô một tí, bởi vì người phụ nữ thường sống bằng cả trái tim của mình và tình yêu đối với họ bao giờ cũng chiếm địa vị số một. Do đó, họ thường chung thủy và ít khi đi hoang trong tình yêu. Còn đờn ông con giai thì khác. Tục ngữ cũng đã bảo :

Ðờn ông những tám lá gan.
Lá ở cùng vợ, lá toan cùng người.


Vì thế, chuyện ăn nem của các ông chồng xem chừng có vẻ chẳng đặng đừng, ai mà muốn thế, chẳng qua là bị ép uổng Giời bắt thế. Thực vậy, khung cửa đầu tiên để cho tình yêu đi vào người đờn ông thường là con mắt. Người đờn ông dễ bị hớp hồn bởi vẻ đẹp bên ngoài. Chẳng thế mà "ranh ngôn thời nay" đã bảo : - Lập gia đình giống như đi ăn nhà hàng với bạn bè. Bạn gọi món bạn muốn, nhưng khi nhìn thấy những gì người khác gọi, bạn lại ước chi mình đã gọi giống như vậy. Câu ranh ngôn này thực đúng với kinh nghiệm, với qui luật của muôn đời: - Vợ người thì đẹp, văn mình thì hay. Trong những năm gần đây, báo chí tại Việt Nam không còn dùng cái phạm trù "chả và nem" nữa, bởi vì nó đã xưa rồi Diễm ơi, nhưng lại thích dùng cái phạm trù "cơm và phở". Cơm ám chỉ bà xã, còn phở ám chỉ bồ nhí. Gã xin ghi lại nơi đây những lời phát biểu thật hăng tiết vịt trong cuộc đấu láo vung vít tại một câu lạc bộ "bồ nhí". Mấy ông to gan lại bạo phổi, muốn thiết lập phòng nhì, đã vuốt chòm râu dê của mình mà xuất khẩu thành thơ. Ông thì ngâm nga :

Vợ là địch,
Bồ bịch mới là ta.
Khi chiến sự xảy ra,
Ta buộc về với địch,
Nằm trong lòng địch,
Rục rịch ta nhớ ta.


Có ông lại cười khà khà mà ví ví von von :

Sáng đèo cơm đi ăn phở.
Trưa hăm hở rước phở đi ăn cơm.
Chiều cơm về nhà cơm, phở về nhà phở.
Tối nằm với cơm, nghe thơm thơm mùi phở.


Nói thế thì nói, nhưng vẫn phải luôn luôn đề cao cảnh giác:

Vợ là…"cơm nguội" của ta,
Nhưng là…"phở tái" của cha láng giềng!!!


Hôm nay, gã xin dựa vào một tài liệu bất ngờ chộp được ở đâu đó để phân tích về những cái lợi và những cái hại của cơm và của phở. 1/ Nhận định thứ nhất, đó là cơm thường được ăn khi đói, còn phở thường được ăn khi…thích. Thực vậy, thiên hạ thường bảo: - Con người ăn để mà sống, chứ không sống để mà ăn. Như một chiếc máy, muốn chạy tốt thì cần phải nạp đủ nhiên liệu, con người cũng vậy, chính khi ta ăn là lúc ta nạp nhiên liệu vào cho cơ thể, nhờ đó cơ thể mới có thể lao động. Như thế, ăn trở thành một sinh hoạt chính yếu nơi con người. Ta phải vất vả, bới đất nhặt cỏ, đổ mồ hôi sôi nước mắt mới tìm được chén cơm manh áo cho bản thân và gia đình. Tuy nhiên, nếu nghĩ rằng: sống để mà ăn, thì chuyện đời lại mang một ý nghĩa khác. Lúc bấy giờ, người ta sẽ ăn cho khoái khẩu. Thánh Phaolô cũng đã than rằng:
- Họ lấy cái bụng của mình làm chúa. Bình thường, nếu đói thì phải ăn, bẵng không, tay chân sẽ bủn rủn, thậm chí con ruồi đậu vào mép cũng chẳng buồn xua. Lúc ấy, bỗng cảm thấy mình là "người Việt mắt hoa" chính hiệu con nai vàng ngơ ngác, hay lại cảm thấy như có cả một sư đoàn kiến đang lổm ngổm bò trong bụng. Ðối với người Việt Nam, thực phẩm được nhồi nhét vào cái bao tử rỗng tuếch lúc bấy giờ thường là cơm. Chín hột gạo mới được một hột cơm:

- Ai ơi bưng bát cơm đầy,
Dẻo thơm một hột, đắng cay muôn phần.


(híc, Chính xác. Lỡ dại nếm có 1 miếng dẻo thơm, bây giờ cay đắng khôn nguôi) Tóm lại, cơm thường được ăn khi đói, còn phở thường được ăn khi…thích. Cũng vậy, khi hứng tình nổi lên, nhất là trong túi lại rủng rỉnh có một nắm tiền, anh chồng chán cơm bèn đi tìm…phở ở khách sạn, quán bia ôm hay cà phê đèn mờ để xơi cho đã thèm. 2/ Nhận định thứ hai, cơm - đơn giản, phở - đa dạng. Thực vậy, chỉ việc vo gạo và cho vào nồi, rồi đổ nước và đun lên, thế là xong ngay một nồi cơm. Ðơn giản chỉ có vậy.

Hơn thế nữa, ngày nào ta cũng xơi cơm, ít là hai lần, thành thử cơm trở thành một thứ thực phẩm quá quen thuộc. Thậm chí, đôi lúc vì quá quen thuộc mà hóa ra nhàm chán. Trong lúc nhàm chán, "ngấy đến tận cần cổ", thấy cơm mà nuốt chẳng vô, đi qua một tiệm phở, chỉ cần ngửi thấy cái hương vị thơm tho bốc lên từ thùng nước lèo, là nước miếng đã đầy tràn cả miệng. Phở thật tuyệt vời và đa dạng. Trước hết, phở đa dạng về chủng loại.

Ở miền Nam gã thấy có phở gà, phở bò. Riêng về phở bò, thì có phở tái và phở chín. Nhưng ở miền Bắc, có lần đi chơi vịnh Hạ Long, bất ngờ ghé vô một quán bên đường để ăn sáng, gã còn thấy có cả phở vịt và phở ngan nữa. Có lẽ vì sợ bị lây nhiễm bệnh cúm gà, mà thiên hạ đã chế biến thành những thứ phở "tương cận" chăng ? Trước năm 1975, tại Saigon có những tiệm phở thật nổi tiếng, đã từng…chui vào văn học sử, vì được ngòi bút của mấy ông văn thi sĩ đá động tới. Thậm chí báo Văn Học còn phát hành cả một số đặc biệt, để chỉ nói về phở mà thôi. Ðiểm qua những tiệm nổi tiếng, gã thấy người ta ca tụng phở gà ở đường Hiền Vương, phở Tàu Bay ở đường Lý Thái Tổ, phở Quyền và phở 94 hình như ở đường Võ Tánh, Phú Nhuận…Tại những tiệm nổi tiếng này, người ta phải xếp hàng và chờ đợi tới phiên của mình, mới có được một tô phở nóng. Tiếp đến, phở còn đa dạng về khẩu vị.

Bước vào một tiệm phở, ta có thể gọi tái hay chín. Mà tái thì còn có thể là tái nạm gầu gân, rồi cộng thêm với nước béo. Trước một tô phở nóng hổi như đang bốc khói, tùy sở thích ta có thể nêm tương đậu và tương ớt, vắt thêm một vài miếng chanh, rồi lại còn ngắt mấy cọng rau thơm mà bỏ vô. Ực. Quả thực là đậm đà khó quên. Chẳng thế mà phở đã trở thành một món ăn đặc sắc của người Việt Nam ở trong nước cũng như ở ngòai nước. Ngay cả ông Clinton, tổng thống nước Mỹ, khi sang thăm Việt Nam, đã đi bát phố và cũng đã xơi tái một tô phở còn gì. Hơn thế nữa phở lúc nào cũng Hot- nóng hổi. Hồi đó tới giờ, chỉ nghe nói có cơm nguội, chứ chưa nghe phở nguội bao giờ. Chính vì những lý do trên, phở thường thơm tho và hấp dẫn hơn cơm, ấy là gã chưa nói tới những trường hợp gặp sự cố, nồi cơm bị trên sống, dưới khê, tứ bề nhão nhoét…thật là chán mớ đời.

Cũng thế, bà xã suốt ngày ở với ta, sáng tối đụng đầu nhau theo kiểu: Ði ra chỉ mình với ta,
Ði vào thì cũng chỉ ta mới mình. Miết rồi hóa nhàm hóa chán. Ấy là gã chưa nói tới trường hợp có những bà vợ, một khi đã "đưa chàng về dinh" thì không còn lo lắng tới ngoại hình của mình nữa. Trước kia chải chuốt bao nhiêu, thì bây giờ lại lôi thôi lếch thếch bấy nhiêu. Mặt mũi thì lem luốc chẳng còn hình tượng người ta. Áo quần thì xốc xếch ống cao ống thấp.

Suốt ngày ta tắm ao ta,
Tắm hòai tắm mãi hóa ra đen sì.
Hỏi ra mới biết là vì
Ba năm nước vẫn kiên trì không thay.


Trong khi đó, bồ nhí thì lại đa dạng về cách thức ăn mặc và chiều chuộng, thành thử "cuốn hút" hơn, khiến ông chồng cứ chết mê chết mệt, chứ chẳng phải bùa mê thuốc lú nào cả. 3/ Nhận định thứ ba, cơm ăn ở nhà, phở la cà ngòai quán, Quán thường thì vui hơn ở nhà. Bầu không khí ở nhà thường tẻ nhạt, nhất là khi bà vợ mắc phải chứng bệnh…than. Ông chồng suốt ngày vất vả làm việc để kiếm tí tiền còm, như cánh chim tha mồi về tổ. Về tới tổ, chỉ muốn được nghỉ ngơi, được chiều chuộng cho bõ công lao động vất vã. Vừa thò đầu vào nhà là đã ướt đẫm những điệp khúc mùa mưa. Nào là thời buổi gạo châu củi quế, vật giá leo thang. Nào là con cái ngang bướng ngỗ nghịch. Nào là bệnh tật đau yếu…Thôi thì trăm thứ bà giằng. Tẻ nhạt đã đành, mà nhiều khi còn trở nên căng thẳng và ngột ngạt. Chẳng hạn như khi bất đồng ý kiến với nhau về chuyện mua sắm hay về chuyện dạy bảo con cái. Như khi bà xã bị bể hụi, vay mượn tùm lum nên nợ nần cứ giáng xuống trên đôi vai gầy guộc.

Ở quán người ta được tự do ăn to nói lớn, tự do cười đùa thỏa thích, nhất là khi gặp được mấy tên bạn chí cốt nữa, tha hồ mà "xả sú bắp", cộng thêm vào đó mấy cô chiêu đãi viên cứ lượn qua lượn lại trong bộ áo quần quá hòan cảnh thì cứ như là lạc chốn thiên thai. Từ gắp mồi để bỏ vào miệng ta, nâng hộ cốc để đổ bia vào mồm ta, cho vay bờ vai tựa đầu, cho mượn đùi nguyên cặp để gếch chân, rồi lại còn khăn nóng khăn lạnh… các cô cứ sẳn sàng chìu chuộng tất tã. Thảo nào mấy ông cứ vắt óc ra một ngàn lẻ một lý do để dối gạt các bà, nào hội nào họp, nào chiêu đãi, nào tiếp khách đón sếp…tha hồ mà ghé quán. Cho tới lúc này thì phở đang chiếm phần ưu thế, dầu vậy cuộc đời bao giờ cũng có những chữ "nhưng" chết tiệt của nó. Chính vì những chữ Nhưng "chết tiệt" này mà cơm dần dần lấy lại được vị trí canh tranh số một của mình. 4/ Nhận định thứ tư, cơm thường được bảo quản kỹ và không phụ gia bảo quản nên nguy cơ gây ngộ độc thấp, còn phở thường không được bảo quản kỹ và đầy các chất phụ gia nên nguy cơ bị ngộ độc cao. Thực vậy, cơm được nấu chín và để trên bếp, tới khi ăn mới bắc xuống, nên bữa ăn trong gia đình bao giờ cơm cũng nóng và canh cũng sốt, cho nên rất an toàn và bảo đảm cho sức khỏe.

Trong khi đó phở thì... Cách đây không lâu, báo chí tại Việt Nam đã phanh phui hầu hết những cơ sở làm bánh phở, tại Hà Nội và Saigon, vì muốn cho bánh phở được dẻo, dai và dòn, người ta đã dùng hàn the và thậm chí còn dùng cả "phoọc môn" ướp xác chít, mà cho vào bột gạo. Í ẹ. Tất cả đều là những chất độc hại cho cơ thể. Thêm vào đó, thịt dư từ ngày hôm qua, bây giờ được tái phối trí bằng cách nấu lại cho thực khách xơi. Hay thịt được thái ra, để khơi khơi giữa trời và đất, mặc cho bụi bậm từ xe cộ và những người qua lại trên đường cuốn theo chiều gió mà bám vào. Rồi ngay trong tiệm phở, ngổn ngang trên sàn những giấy lau bát, chùi miệng, những cọng rau không còn lá và cả những đờm rãi người ta khạc nhổ mà tương xuống. Ặc Ặc. Có lần gã quan sát thấy vì đông khách, nên ông đầu bếp mồ hôi mồ kê nhễ nhại vô tư rót vào thùng nước lèo cùng đống thịt thái sẵn. Sống trong gia đình với bà xã, ta không sợ bị lây nhiễm bệnh tật, mà hơn thế nữa, còn được o bế về sức khỏe một cách tận tình và chu đáo:

Dù không sinh đẻ ra ta,
Nhưng công nuôi dưỡng thật là lớn lao.
Khi ta đau ốm xanh xao,
Vợ lo chăm sóc hồng hào khỏe ngay.


Chẳng thế mà để chống lại với những chứng bệnh do tệ đoan xã hội gây nên, người ta đang hô hào trở về nếp sống chung thủy, một vợ một chồng. Chứ còn lang bang hết cô này tới cô kia, không sớm thì muộn cũng sẽ rơi vào tình trạng liệt kháng nặng nề và trầm trọng. Ngày xưa người ta thường nói đến những chứng bệnh nguy hiểm như phong tình, hoa liễu, giang mai…Vi trùng "gồ nô" được phe chị em ta trao ban cho ta, để ta lại đem về tặng cho bà xã ta, gây nên hệ lụy đớn đau cho con cháu mai hậu. Tuy nhiên, những chứng bệnh đã từng vang bóng một thời, đã từng làm mưa làm gió ấy, dường như đã chìm vào dĩ vãng, bởi vì hiện nay người ta đang ngán ngẩm trước cơn bệnh thế kỷ, cơn bệnh Sida vốn chưa có thuốc chữa.

Nhận định thứ năm, ăn cơm ăn bao nhiêu cũng được và lại đỡ tốn tiền. Còn khi ăn phở, ta chỉ được ăn theo một chế độ nào đó và luôn phải…xùy tiền ra. Ðúng thế, cuối tháng lĩnh lương, ta chỉ việc hân hoan đem về giao nộp cho bà xã, còn mọi sự lỉnh kỉnh khác như tính toán cộng trừ nhân chia…bà xã sẽ phải lo tất tật. Lúc bấy giờ ta có thể vểnh chòm râu cá chốt lên mà phán: Thế sự thăng trầm quân mặc vấn. (Chuyện đời lên xuống anh hỏi làm giề)

Hay rít một điếu thuốc lào rồi "quắc mắt khinh đời cái bộ anh". Ðến bữa, ta chỉ việc xơi, xơi bao nhiêu cũng được. Thậm chí xơi cho đến độ căng rốn cũng chẳng ai bảo sao. Có khi còn được khuyến mãi thêm vài chén. Trong khi đó, lỡ đèo bòng bồ nhí ta phải lo toan mọi sự từ A tới Z, từ nơi ăn chốn ở, những nhu cầu chính yếu của kiếp người cho tới cả những phụ tùng lỉnh kỉnh của đờn bà con gái. Tất cả đều lệ thuộc vào cái vấn đề "đầu tiên".

Nếu không có những thủ tục đầu tiên này, thì e rằng ta sẽ bị bồ nhí đá văng cái rụp. Và nếu ví ta yếu, thì đường ai người ấy đi, bởi vì tình nghĩa đôi ta chỉ có thế mà thôi. Nói cách khác, phở tốn tiền hơn cơm, nên ta chỉ có thể ăn phở khi ví ta đã căng phồng mà thôi. Tóm lại, khi không có tiền ta vẫn có thể về nhà ăn cơm, chứ đừng dại dột vác cái bản mặt tới tiệm phở. Ăn phở thiếu? Làm gì có. Phở làm cho ta tốn tiền hao bạc đã đành, mà nhiều lúc phở còn làm cho ta thân bại danh liệt.

Không thiếu gì những ông tai to mặt lớn, chỉ vì nghe theo những lời đường mật của bồ nhí, hay chỉ vì không đủ khả năng cung phụng cho những nhu cầu của bồ nhí, nên đã can đảm ăn hối lộ, anh dũng biển thủ công quĩ, để rồi bây giờ âm thầm nằm trong nhà đá bóc lịch, "vắt chân lên trán" mà ngẫm nghĩ chuyện đời. 6/ Và sau cùng, nhận định thứ sáu đó là cơm thì ta phải ăn thường xuyên, còn phở thì không nhất thiết phải là như thế. Như trên gã đã xác quyết: Cơm chính là thức ăn thường xuyên, mỗi ngày ta đều phải dùng tới hai ba lần ở nhà. Còn phở thì khác, xuân thu nhị kỳ ta mới đến tiệm. Thậm chí có người cả đời vẫn chưa biết mùi phở là như thế nào mà vẫn sống to sống khỏe. Chứ nếu thử ăn phở dăm bữa liền, thế nào ta cũng cảm thấy xót ruột và nóng cả người, nóng âm ỉ từ trong lục phủ ngũ tạng, để rồi tìm về với cơm là món ăn truyền thống. Chính vì thế, ta có thể kết luận một cách mạnh mẽ như sau :

Dù phở hấp dẫn hơn cơm, nhưng chỉ có thể ăn cơm trừ phở, chứ chẳng thể nào sực phở thay cơm. Sau những bước chân hoang, cặp kè với bồ nhí, thế nào cũng có lúc bản năng cơm thức giấc. Ấy là chưa nói tới tình huống ta bất đắc dĩ phải ở ngoài vòng phở phủ sóng vì hết tiền, vì ốm đau hay vì thân bại danh liệt…Không sớm thì muộn, những ông chồng bạc bẽo ấy cũng sẽ ca bản "Tung cánh chim tìm về tổ ấm...".

Chả biết lúc bấy giờ bà xã có còn đủ khoan dung mà tha thứ cho hay không mà thôi. Ý thức được những tình huống não nùng và bi đát do phở gây nên, không chi bằng bây giờ, hỡi những ông chồng "yêu vấu", ta hãy quyết tâm trở thành những ông xã….ngoan:

Chồng em không thích ăn quà,
Ði đâu cũng thích về nhà ăn cơm.
Con bò trọn kiếp nhai rơm,
Chồng em trọn kiếp "nhai" cơm…ở nhà.


Tới đây gã xin mượn mấy dòng thơ… thẩn của một tác giả tên là Linh Cơ, như một kết luận :

Hạnh phúc thay đời ta có "cơm",
Những người chồng tốt được danh thơm,
Ðều nhờ "cơm" cả, yêu "cơm" lắm,
Ði đâu xa rồi cũng nhớ "cơm".

Mấy ông hư chẳng thiết gì "cơm",
Ăn bánh trả tiền", "phở" ngọt thơm,
Ðã "quen mui thấy mùi ăn mãi",
Ðầy bụng về nhà chán bỏ "cơm".

Mong ai cũng một dạ cùng "cơm",
Ăn mãi ngon lành, mãi ngọt thơm,
"Cơm" tẻ no, "phở" cho chả thiết,
Ði đâu xa cũng nhớ về "cơm".
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »


Image

Người Việt: Những Đức Tính Tốt và Xấu


Một dân tộc tự nhận mình có tòan những đức tính tốt, không có đức tính xấu - là một dân tộc sống trong ảo tưởng. Mà một dân tộc sống trong ảo tưởng thì sớm muộn gì cũng suy thóai hoặc bại vong. Có thể nói không có một dân tộc nào trên trái đất này gồm tòan những đức tính tốt. Chẳng hạn người Nhật. Họ có thể có rất nhiều đức tính tốt, nhưng một đức tính xấu không thể phủ nhận đó là người Nhật khó chơi, khó có thể hòa hợp với các chủng tộc khác. Họ sống khép kín chứ không cởi mở như người Việt Nam . Người Do Thái vì quá thông minh cho nên ” ăn người “, không chịu nhả ra. Chính vì thế mà bị người ta ghét. Ăn thì phải nhả ra, tức phải chia xẻ với người khác thì mới lâu bền. Người Pháp có thể cái gì cũng tốt cả nhưng quá kiểu cách, nặng tự ái cho nên tụt hậu so với Đức, Mỹ, Nhật là những nước trước đây thua kém Pháp. Người Mỹ có thể cái gì cũng tốt cả - nhưng quá phóng túng và không dạy luân lý, đạo đức trong học đường. Có thể đây là nguyên do khiến xã hội Hoa Kỳ từ từ băng họai và suy sụp. Còn Trung Hoa? Tại sao một đất nước đã sản sinh ra những nhà tư tưởng vĩ đại như Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, Lão Tử, Trang Tử, Bách Gia Chư Tử ..lại có qúa nhiều bạo chúa, đàn bà hung ác, dâm lọan làm suy sụp đất nước và làm khổ con người? Phải chăng người Tàu có một “căn bệnh trầm kha” gì đó mà chúng ta chưa biết?

Còn Việt Nam mình thì sao? Liệu người mình cái gì cũng tốt cả? Vì tự ái dân tộc chúng ta có thể đồng ý như vậy. Nhưng người ngòai sẽ hỏi: Các ông nói cái gì cũng tốt cả tại sao có Thập Nhị Xứ Quân? Tại sao có Sông Gianh cắt đôi đất nước 100 năm? Đất nước nhỏ xíu – không bằng Tiểu Bang California hay Texas của Hoa Kỳ mà chia rẽ Trung -Nam- Bắc? Tại sao xứ sở ông nghèo đói gần nhất thế giới? Người ta đã đại cơ giới, cơ khí hóa nông nghiệp tại sao các ông vẫn cái cầy và con trâu? Đàn bà của các ông vẫn gồng gánh quằn vai. Đàn ông, thanh niên các ông vẫn đem hết sức lực ra đạp xích-lô, xe bò, xe cải tiến? Đàn bà con gái các ông bị bán đi khắp thế giới làm lao nô và nô lệ tình dục? Tại sao tới giờ này các ông vẫn phải ngửa tay xin viện trợ từ Pháp, Đức, Úc, Nhật, Hoa Kỳ v.v.. Những câu hỏi này sẽ làm chúng ta vô cùng khó chịu. Trong chiều hướng để dân tộc và đất nước cùng tiến lên, tôi thử phân tích xem người Việt chúng ta có những đức gì TỐT và những đức tính gì XÂU. Trong bài hát “Việt Nam! Việt Nam!” ông nhạc sĩ Phạm Duy có giấc mơ vĩ đại là một ngày nào đó dân tộc Việt Nam sẽ đem “ Lửa thiêng soi tòan thế giới” Tôi cũng mong dân tộc mình có ngày như vậy. Nhưng ngày đó chưa đến. Muốn nó đến thì chúng ta- dân tộc Việt Nam phải nhìn lại mình xem cái tốt thì giữ gìn, phát huy. Cái gì xấu thì bỏ đi. Người có trí tuệ là người thấy mình có lỗi và sửa chữa. Một dân tộc hay một cá nhân sẽ mãi sống trong ảo tưởng và u tối - khi tự ru ngủ mình bằng những giá trị mà mình hoặc dân tộc mình không có. Sau đây là 10 đức tính Xấu và Tốt của người Việt Nam .



Mười Đức Tính Tốt :

1) Thông minh

2) Cần cù, nhẫn nại

3) Chịu đựng trong mọi hòan cảnh khó khăn

4) Bắt chước giỏi, nhanh, dung hợp được cái hay của người

5) Gia đình đùm bọc, che chở, bảo vệ lẫn nhau

6) Thích làm chủ

7) Không cực đoan hoặc bảo thủ, tính tình dung dị, dễ thích nghi với xã hội mới

8 ) Hiếu học, biết quý trọng giáo dục, người trí thức

9) Yêu nước nồng nàn. Khi có ngọai xâm sẵn sàng hy sinh tính mạng để bảo vệ đất nước. Tôn thờ và quý trọng người hy sinh vì đất nước

10) Biết giữ gìn bản sắc dân tộc, không bao giờ bị đồng hóa.



Mười Đức Tính Xấu:

1) Đi trễ, không tôn trọng giờ giấc

2) Hay nói dối, hoặc nói dối quanh

3) Hay biện minh (tại, bị) thiếu tinh thần trách nhiệm, tự xử như người Nhật

4) Thích nói xấu người khác, chen vào chuyện người khác (ngồi lê đôi mách), ghen tị.

5) Không tôn trọng của công

6) Thù dai

7) Thích ai thì bốc lên tận mây xanh, ghét ai thì dùng mọi lời lẽ để lăng nhục, xỉ vả, chửi bới người ta. Thiếu thận trọng về ngôn ngữ. Thiếu tinh thần vô tư

8 ) Khó lòng hùn hạp, khó làm ăn chung vì ai cũng muốn thủ lợi riêng.

9) Vô kỷ luật

10) Vì chỉ biết có gia đình mình, dòng họ mình cho nên lơ là việc chung. (Cha chung không ai khóc)

Chính vì thế mà đất nước cứ chậm tiến, nghèo đói hòai.

Trên đây chỉ là những lời phân tích có tính phỏng đóan. Quý vị nào có sự phân tích đúng hơn, hay hơn xin cùng đóng góp để dân tộc, đất nước ta cùng học hỏi, sửa chữa, để mỗi ngày mỗi tiến lên. Nếu vậy đất nước ta sẽ hùng cường, chúng ta, con cháu chúng ta sẽ đem “Lửa Thiêng Soi Tòan Thế Giới”. Trân trọng.



Đào Văn Bình
(San Jose ngày Mùng 4 Tết Kỷ Sửu 2009)
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »


Image

33 Điều Suy Nghĩ về... Đàn Ông !

Kim Chi sưu tầm
1. - Người đời thường nói đàn ông là chủ gia đình, nhưng thực ra họ là tên nô lệ của gia đình. [Alphonse Kaar]

2. - Người đàn ông lương thiện có thể yêu như một người điên, nhưng không thể yêu như một người ngu. [La Rochefoucauld]

3. -Người đàn ông mỗi khi đã bị tình yêu xâm chiếm thì không khác gì ngọn đèn lồng chỉ còn sáng mỗi một bên. [Louis De Robert]

4. - Người đàn ông thành thật yêu người đàn bà không phải đòi hỏi người đàn bà yêu mình, mà chỉ muốn làm sao cho mình yêu được người đàn bà ấy thôi. [André Roussin]

5. - Mỗi người đàn ông là một cuốn sách nếu ta biết đọc nó. [William Ellery Channing]

6. -Kể cũng lạ cho đàn ông, họ rất rộng lượng với người đàn bà làm họ tiêu tan tài sản, nhưng lại rất khó tính đối với những đàn bà mang tiền bạc đến cho họ [Maurice Donnay]

7. - Đối với người đàn ông, tha thứ điều gì cũng được, nhưng lãng quên thì chẳng bao giờ. [E Augier]

8. - Đàn ông thích biểu dương trước người đàn bà đẹp, và chấp nhận thua thiệt trong bóng tối. [Auguste De Pavie]

9. -Tình yêu của các chàng trai không nằm ở trái tim, mà ở đôi mắt. [Shakespeare]

10. -Miệng lưỡi của tình yêu nằm trong mắt chàng. [Ph. Flecher]

11. - Đứa con trai nào lúc còn bé thương mẹ nhiều nhất, khi lớn lên sẽ thương vợ nhiều nhất. [Vincent De Paul]

12. - Người đàn ông đẹp thì dễ coi, mà người thông minh thì dễ sống. [X...]

13. - Lúc mới gặp nhau, người đàn ông nào nói chuyện thật ngọt ngào, thì trong tương lai khi chung sống, người đàn ông ấy là người khó nhất. [Bà De Stael]

14. - Người đàn ông nào ngoài xã hội hung hăng nhất, lại là kẻ nhút nhát trong gia đình với vợ. [Jean Paul Sartre]

15. -Cái nhược điểm duy nhất của người đàn ông là thích nói ngọt và sợ nước mắt. [Vacherot]

16. - Đàn ông hung dữ với ai cũng được trừ ra vợ. [Alfred De Musset]

17. - Muốn chinh phục một hung tướng, bạn chỉ cần lấy được lòng bà vợ ông ta. [Mark Twain]

18. -Trong phòng kín, người đàn ông nào cũng dễ cả. [Milton]

19. -Trong tình yêu, câu nói mà người đàn ông thích nhất là "Em Yêu Anh", nhưng cũng chính câu nói ấy người đàn bà giết người đàn ông hữu hiệu nhất. [Publius Mimus]

20. - Người đàn ông nào yêu nhiều nhất là người đàn ông chết sớm nhất. [Thomas Ingelend]

21. - Đừng ca ngợi đàn ông vì họ đẹp, mà cũng đừng khinh họ vì họ xấu trai. [Thánh Kinh]

22. - Trong tình yêu, chiến thắng của đàn ông là chạy trốn. [Napoleon]

23. - Sự lầm lẫn to nhất của bọn đàn ông chúng ta không phải ở chỗ tưởng rằng đàn bà họ yêu chúng ta, mà ở chỗ ta tưởng rằng ta yêu họ. [Sacha Guitry]

24. - Ta có thể hoài nghi tình yêu của một người đàn ông nào nói với ta "Tôi yêu em", nhưng ta có thể tin được tình yêu của người đàn ông làm đủ mọi cách để giấu với ta là họ yêu tạ. [Georges Feydeau]

25. - Tôi thích một người đàn ông không tiền, hơn là có tiền mà không có đàn ông. [Themistocle]

26. - Những sự yếu hèn của người đàn ông đã làm nên sức mạnh cho người đàn bà. [Voltaire]

27. - Đàn ông yêu ai thì y như gặp tai nạn, chẳng hạn như vấp ngã trên cầu thang. [Robert Southey]

28. - Người đàn ông có hai sở thích: thú phiêu lưu và sự nguy hiểm. Bởi vậy đàn ông rất thích tình yêu, vì tình yêu là một trò chơi hết sức nguy hiểm. [Công tước De Richelieu]

29. - Nhà ngoại giao là người đàn ông luôn luôn nhớ ngày sinh nhật của phụ nữ, nhưng chẳng bao giờ nhớ tuổi của nàng. [Robert Frost]

30. - Có thể đánh lừa đàn ông vào đam mê, nhưng phải có đủ lý lẽ mới có thể đưa họ đến với sự thật. [John Dryden]

31. - Điều làm cho người đàn ông bị bỏ rơi đau khổ là họ luôn tưởng gặp lại được ngoài đường phố người đàn bà đã xa họ, vì lẽ họ luôn nhìn thấy một hình bóng, một dáng đi hay một gương mặt rất giống người mà họ yêu. [Marcel Achard]

32. - Người đàn ông ít xấu hổ về những tội ác của họ bằng những sự yếu đuối và cái hư vinh của họ. [Jean De La Bruyere]

33. -Người đàn ông khởi sự bằng tình yêu, kết thúc bằng tham vọng, và thường chỉ cảm thấy thật bình thản khi họ chết. [Jean De La Bruyere]
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Quốc thể

Huy Phương
Hôm Thứ Tư, 5 Tháng Mười Một, 2008, William J. Kole, một người Mỹ hiện là văn phòng trưởng hãng thông tấn AP tại thành phố Vienne, Áo, nhận được một cái hôn trên xe bus của một thiếu nữ không quen biết, khi người này nhận ra ông là người Mỹ. Ðó là ngày, tại Hoa Kỳ, ông Barack Obama, một người Mỹ gốc Phi Châu vừa đắc cử tổng thống. Hình ảnh của nước Mỹ đã làm xúc động thế giới và người Mỹ được thương yêu tôn trọng và thời điểm ấy. Một vài đồng nghiệp của ông Kole ở Ai Cập và Jordan cũng được chào đón như thế vì Hoa Kỳ trong giây phút ấy là một quốc gia dân chủ, không có kỳ thị chủng tộc, và ai là người Mỹ cũng được thơm lây.

Sau những phút huy hoàng ấy, ông William J. Kole cũng không dấu giếm kể lại, vì ông là người Mỹ, có những ngày ông bị chất vấn, khinh bỉ, xa lánh như thế nào khi thế giới biết về vụ Mỹ hành hạ tù nhân ở Guantanamo, khi Mỹ công nhận độc lập của Kosovo làm bất bình những người Serbia hay về những chính sách của nước Mỹ làm phật lòng quốc gia này hay dân tộc khác trên thế giới. Ông Kole đã dạy con đừng nói tiếng Anh quá lớn khi xuống tàu điện, đừng đội mũ lưỡi trai, mặc quần jean hay đi giày tennis, nhất là tránh chuyện đi một mình vì có thể gặp một nhóm người bài Mỹ nào đó trên một con đường vắng. Không như quan niệm rằng người Mỹ lúc nào cũng ngon lành được đón tiếp vì đồng đô la, ông Kole tiết lộ ở Serbia ông nhận ông là người Ðức, ở Thổ Nhĩ Kợ ông nói ông là người Pháp và ở Áo, ai hỏi thì ông nói ông là người Hòa Lan, “khi dơi, khi chuột,” vì ông nói được ba ngoại ngữ trôi chảy. Như vậy, người Mỹ cũng đôi khi cảm thấy xấu hổ vì hình ảnh của nước Mỹ, nếu không, ông đã nói: “Ok! Tôi là người Mỹ đây, có sao không?”

Vào Tháng Tư, 2008, tại Hà Nội, hàng nghìn người đổ về khu triển lãm Giảng Võ trong ngày lễ hội hoa anh đào Nhật. Nước Nhật đã chở sang ba cây hoa anh đào lớn và trình diễn các tiết mục văn hóa truyền thống của Nhật, nhưng người Hà Nội đã đáp lễ với phong cách “văn hóa Việt Nam” bằng cách chen lấn nhau vặt lá, ngắt hoa, bẻ cành, tàn sát ba cây hoa anh đào không thương tiếc khiến người Nhật ngẩn ngơ mà người Việt có lương tri cũng phải xấu hổ. Nếu “người Hà Nội” biết rằng người Mỹ đã cư xử như thế nào với 3,750 cây hoa anh đào đã hiện diện trên bờ hồ Tidal Basin, Washington D.C., gần 100 năm nay hẳn phải hổ thẹn về hai chữ “văn hóa” mà họ thường nói ở đầu môi.

Sau vụ này, nếu là người Việt Nam, bây giờ nếu bạn đang ở Nhật, nơi người Nhật đã tỏ sự khinh bỉ các giới chức trong chính phủ Việt Nam ăn hối lộ ngay trên công trình Nhật đang giúp, hay hết thẩy nhân viên Vietnam Airlines bay đến Nhật đều buôn lậu, bạn sẽ nói mình là người Thái lan? Nếu ở Nam Phi, nơi có nhân viên Tòa Ðại Sứ Việt Nam buôn lậu sừng tê giác, bạn sẽ nhận mình là người Hoa. Nếu bạn đang ở Indonesia, nơi có các cô gái đứng trong chậu cá, bạn sẽ nhận mình là người Miên. Hy vọng là bạn sẽ thành thạo vài thứ tiếng Ðông Nam Á để “tránh miểng” trong những trường hợp như thế, mà không phải ú ớ khi có người hỏi dồn bạn một vài câu bằng tiếng Thái, Hoa hoặc Indonesia.

Ðức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt của Tổng Giáo Phận Hà Nội, trong bài phát biểu ngày 20 Tháng Chín, 2008, đã nói rằng: “Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét...” Ðây là lời tố cáo sắc bén nhắm vào chế độ Cộng Sản. Người nước ngoài đã nhìn ông như thế nào để ông cảm thấy “nhột nhạt” khi người ta biết ông là người Việt Nam. Lời nói này đã bị chính quyền Cộng Sản lên án, nhưng phải chăng lúc nào chúng ta cũng phải hãnh diện về đất nước của mình. Dân Biểu Joseph Cao Quang Ánh, dù là một người Việt Nam, vẫn có quyền lên án những điều xấu xa đang xảy ra trên quê hương của ông. Thật là lố bịch và kém hiểu biết khi Ðại Sứ Việt Cộng tại Hoa Kỳ, ông Lê Công Phụng, đã chỉ trích dân biểu này, qua đài BBC, bằng lối nói ví von: “Ðến ông Obama làm đến tổng thống thì ông ấy vẫn là người gốc Kenya.” Nghĩa là vì là người Việt ông dân biểu họ Cao không có quyền nói đụng chạm đến Việt Nam, cũng như Tổng Thống Barack Obama, đã là gốc Kenya thì cái gì thuộc về Kenya đều tốt đẹp cả.

Thật ra bạn không có trách nhiệm gì về đường lối ngoại giao của một quốc gia hay cái xấu của nhà cầm quyền, thậm chí là những điều sai trái đáng lên án của một số người cùng chung một quốc gia với bạn, nhưng thán phục hay khinh bỉ, kỳ thị một đất nước nào, đó là quyền của tất cả mọi người. Ðiều này chỉ cần thể hiện qua ánh mắt hay cử chỉ của người đối diện, cũng đủ làm đau lòng chúng ta. Cái nhìn của quan thuế Nhật vào thời điểm này cũng dành cho người Việt đến Nhật như thế.

Người Cộng Sản thường hay nhầm lẫn hay cố ý “đánh lận con đen” khi cứ một mực lên án những người phê bình chính thể Cộng Sản tại Việt Nam là “chống lại tổ quốc, chống lại đồng bào.” Họ đã gian lận khi bán món hàng kèm Cộng Sản theo với chuyện giành độc lập, nay lại nhập nhằng chế độ Cộng Sản đồng nghĩa với tổ quốc Việt Nam.

Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, Dân Biểu Joseph Cao Quang Ánh hay cả với chúng ta đều có thể phê phán đất nước của mình, đó không phải là “chống lại tổ quốc” mà vì mối nhục quốc thể. Và nếu ai cũng vì quốc thể, ai cũng muốn làm điều tốt để không ai có thể phê phán hay làm nhục đất nước mình, hay đánh giá đất nước sau lưng mình thì đất nước ấy hẳn phải tốt đẹp nghìn lần.

Không có quốc sỉ thì làm sao giữ được quốc thể!

Phần tôi, là người Việt tị nạn trên đất Mỹ, tôi phải làm sao đây khi có bao nhiêu người bản xứ và người ngoại quốc nhìn vào, từ trên đường phố, trong tiệm ăn, lối lái xe trên đường, cách ăn nói, cư xử, y phục, vì thật tình tôi không bao giờ muốn nhận vơ tôi là người Triều Tiên, Thái, hay Miên.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Đầu Năm Trâu Nói Chuyện Cá
Tác giả: Tưởng Năng Tiến


“Thuyền nhân, cái danh từ có một âm tượng mà mỗi khi chính quyền Hà Nội nghe đến nó thì họ nghĩ ngay đến từ đồng ‘đô la’. Thế nhưng cho đến bao giờ người ta mới biết hết được những bất hạnh xẩy ra cho danh từ đó.” Michelle Tauriac (Viet Nam Le Dossier Noir Du Communism).

Trước hết, để tránh mọi ngộ nhận, xin nói ngay rằng đây là chuyện của cá hồi, và chỉ riêng có cá hồi mà thôi. Nói theo tiếng Mỹ là cá hồi only. Chớ còn cá chim, cá chuồn, cá chép, cá lóc, cá lạt, cá lìm kìm, cá mập, cá mú, cá măng, cá cơm, cá cam, cá cờ, cá trê, cá trích, cá trẻm, cá heo, cá hương, cá hố, cá lù đù, cá ìm kìm, cá lia thia, cá đổng, cá đối, cá đèn cầy, cá bè, cá bẹ, cá bống – bất kể là bống kèo hay bống đá – hoặc bất cứ một loại cá thổ tả nào khác đều hoàn toàn (và tuyệt đối) không có dính dáng gì tới vụ này.

Cá hồi sinh ở sông nhưng sống phần lớn thời gian sống ở biển. Ðặc điểm của loài cá này là dù có rong chơi phiêu du ở chân trời góc biển nào chăng nữa, thế nào cũng tìm về nơi chôn nhau cắt rốn để sinh nở. Cá hồi Thái Bình Dương (Pacific salmon), sau khi từ giã nếp sống hải hồ, sẽ không bao giờ trở lại biển cả nữa.

Lý do giản dị chỉ vì chúng sẽ chết sau khi đẻ và cho thụ tinh lứa trứng đầu tiên.

Cá hồi Dại Tây Dương (Atlantic salmon) thì khác. Chúng có thể đi đi về về từ sông ra biển và ngược lại nhiều lần mà không hề do dự hay nao núng, dù khoảng cách phải vượt qua có thể dài đến hàng ngàn dặm, với vô số khó khăn và chướng ngại.

Bản năng về nguồn của cá hồi, tất nhiên, đã được loài người ghi nhận và khai thác từ lâu. Riêng người Nhật, dân tộc đứng thứ nhì về kỹ nghệ cá hồi, vẫn đều đặn sản xuất ra thị trường mỗi năm cỡ một trăm ba mươi ngàn tấn.

Xét về số lượng, mức sản xuất của người Nhật không hơn người Nga bao nhiêu và thua xa người Mỹ. Tuy nhiên, cách thức mà dân Nhật bắt cá hồi mới là điều cần cần phải được lưu tâm và học hỏi.

Họ thiết lập nhà máy đóng hộp cá hồi ngay ở ven sông. Cũng chính nơi đây cá được nuôi nấng, đẻ trứng, thụ tinh để mỗi cặp sẽ cho từ hai đến mười ngàn chú cá hồi con ra đời. Sau đó, chúng sẽ được cho phiêu lưu vào đại dương, để bắt đầu cuộc đời “tha phương cầu thực.”

Tùy theo từng loại, cá hồi sẽ sống ở biển từ sáu tháng đến năm năm. Nhờ vào khả năng “cảm” đuợc từ trường của lòng đất và sự chuyển động của hải lưu, nó sẽ tìm được về chốn cũ. Khi vào gần đến bờ, giác quan đặc biệt của loài cá này giúp chúng nhớ được đúng hương vị quê nhà – tức sông xưa bến cũ – và cứ theo đó mà lần về nguồn cội, đến tận nơi sinh nở.

Người ta đặt sẵn nhiều dụng cụ từ cửa sông để giúp cho cá hồi dễ dàng và mau chóng vào đến nhà máy. Tại đây, họ sẽ tạo ra một loại chướng ngại vật giả khiến chúng phải phóng lên cao và khi rơi xuống thì rớt ngay vào một mạng lưới di động. Màng luới này chuyển động không ngừng, qua nhiều khâu chế biến, để đưa cá từ sông vào…hộp !

Nói tóm lại là người Nhật thả cá hồi con ra biển, theo kiểu “đem con bỏ chợ,” để biển cả nuôi nấng. Rồi khi chúng theo bản năng trở về, họ dụ cho cá vào nhà máy để đóng hộp, và mang bán.

Cách họ kiếm tiền ngó bộ dễ và (chắc) là nhiều. Bởi vậy, có kẻ bắt chiếc. Chính phủ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (tên kêu gọn thường dùng là Việt Cộng) cũng học theo cách làm ăn không vốn gần như vậy. Chỉ khác có chút xíu xiu là họ dùng người để kinh doanh, thay cá.

Từ năm 1978 cho đế năm 1990, bằng hình thức này hay hình thức khác, Việt Cộng đã “thả” ít nhất là hai triệu người dân ra biển. Người ta ước tính rằng trên bước
đường lưu lạc cứ ba con cá hồi rời bến sông ra đi thì ít nhất cũng có một con bỏ mạng. Nó trở thành mồi săn cho loài người, cho loài chim, hoặc những loài cá khác. Tương tự, trong số hai triệu người Việt phiêu lưu vào biển cả – tối thiểu – cũng phải một phần ba đã vong mạng.

Họ chết vì bão tố, vì hải tặc, hay vì bị xô đuổi một cách lạnh lùng tàn nhẫn tại bến bờ của những quốc gia lân cận. Nơi đây thuyền bè của họ thường bị lôi kéo trở ngược ra khơi. Họ sẽ lênh đênh giữa trời nước bao la cho đến chết vì không còn tìm được nơi để đến, và cũng không còn đủ lương thực (cũng như nhiên liệu) để tiếp tục đi.

Những kẻ may mắn thoát nạn đều sẽ biến thành cá hồi (theo tinh thần của Nghị Quyết 36) của nhà đương cuộc Hà Nội. Đám dân “trôi sông lạc chợ” này sẽ bị tận tình khai thác, và khai thác dài dài, cho đến khi tắt thở , bằng nhiều cách.

Nếu cá hồi Thái Bình Dương chỉ hồi hương một lần rồi chết thì những thuyền nhân rời khỏi Việt Nam sau ngày 19 tháng 6 năm 1988 – đã có thời gian dài sống tạm trú ở những quốc gia Ðông Nam Á – cũng mang số phận y như vậy. Họ bị cưỡng bách hồi hương và không bao giờ còn có dịp ra đi nữa. Riêng với những thuyền nhân ở Hồng Kông – khi phần đất này còn thuộc Anh – Anh Quốc đã thoả thuận trả sáu trăm hai chục Mỹ Kim mỗi đầu nguời để Hà Nội chịu nhận họ trở về, cùng với lời hứa hẹn là họ sẽ không bị hành hạ hay ngược đãi !

Số người Việt may mắn hơn, hiện đang phiêu bạt tứ tán khắp bốn phương trời, có thể được coi như là cá hồi Ðại Tây Dương – giống cá có khả năng đi đi về về nhiều lần từ sông ra biển và ngược lại. Những kẻ này vẫn tiếp tục kiếp sống tha phương cầu thực, chăm chỉ cặm cụi kiếm và để dành tiền, rồi hàng năm làm đơn “xin phép” được hồi hương. Mỗi Việt Kiều về thăm quê nhà chắc chắn đều chi trải

một số tiền không phải chỉ là sáu trăm Mỹ Kim mà có thể là đến sáu ngàn Ðô La, hay nhiều hơn nữa.

“Ngân hàng Nhà nước VN dự báo lượng kiều hối từ nước ngoài gửi về

nước năm nay có thể lên tới 8 tỷ đôla, tăng 2,5 tỷ so với 2007” – theo như nguồn tin của BBC, nghe được vào ngày 3 tháng 12 năm 2008.

Hà Nội có lý do để hãnh diện về thành quả này – thành quả kinh tế duy nhất (thực sự) vượt chỉ tiêu – về kỹ nghệ xuất và nhập cảng người, sau hơn nửa thế

kỷ mà họ đã nắm được quyền bính ở Việt Nam. Họ đẩy ra khỏi nuớc những con nguời cùng quẫn và sôi xục bất mãn, rồi “thu về” những Việt kiều yêu nuớc và giàu

sang.

Thiệt khoẻ !

Tưởng Năng Tiến
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Hey Brian Đoàn

Huy Phương

“Tôi không chống hoặc ủng hộ Cộng Sản. Tôi chỉ là một nghệ sĩ.”

(Brian Ðoàn)

Tôi gặp Brian Ðoàn cách đây mấy năm khi Ðoàn mở cuộc triển lãm “The Unforgotten Ones” gồm 30 bức ảnh về Làng Việt Nam tại Palawan, Phi Luật Tân ở phòng hội Lê Ðình Ðiểu mà tôi gọi là “Ngôi Làng Buồn Thảm” khi đặt bút viết về những cảm xúc của mình khi xem cuộc triển lãm này. Sự thành công của Ðoàn, dù chỉ vỏn vẹn trong ba mươi bức ảnh, đã làm cho người ta cảm nhận được những gì Ðoàn muốn chuyển đạt đến người xem, khi niềm tuyệt vọng, u uẩn thể hiện lên từng bức ảnh. Ðể có được bộ ảnh này, Brian Ðoàn đã phải đi Palawan hai lần, lần thứ nhất có nhà tài trợ, lần thứ hai phải nợ tiền thẻ tín dụng. Ðoàn cũng biết chuyến đi này không nhắm chuyện thương mãi, những bức ảnh trong cuộc triển lãm không thể bán được cho ai: “Ai lại treo hình một người điên đang trần truồng tắm trong nhà?”

Ðối với tôi, Brian Ðoàn cách đây mấy năm là một người trẻ tuổi, có học, có chuyên môn, biết dấn thân, có tâm huyết với đất nước, khởi đầu là dự án “Người Việt Lưu Vong” mà Ðoàn đã thực hiện trong mấy năm qua do Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt-Mỹ bảo trợ. Mặc dù kinh phí rất hạn chế nhưng Ðoàn đã cố gắng đi thật nhiều, gặp gỡ đồng bào ở khắp mọi nơi trên thế giới, Châu Mỹ, Châu Âu, Ðông Âu... để chụp hình và lấy tư liệu.” Brian Ðoàn cũng đã cho rằng “lịch sử của một dân tộc không chỉ là những trận đánh oanh liệt, những chiến tích oai hùng. Trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam vẫn còn một mảng tối mà chúng ta cần soi sáng để con cháu chúng ta hãnh diện hơn về dân tộc mình. Mảng tối đó là máu xương của hơn nửa triệu người bỏ xác nơi biển Ðông hoặc nơi rừng thiêng nước độc, một mảng tối đầy nước mắt của những người đang sống một đời sống đầy cơ cực và tủi nhục”. Brian Ðoàn muốn thể hiện bằng hình ảnh một cuộc “thập tự chinh đầy máu và nước mắt” của dân tộc mình mà trong đó anh đã mất hai người anh ruột thịt. (NV 2-25-05).

Dù cuộc gặp gỡ rất ngắn ngủi bên trong và ngoài phòng triển lãm “The Unforgotten One”, tôi cũng đã ghi nhận ở Ðoàn là một người trẻ muốn phụng sự, không hề vụ lợi khi Ðoàn ngỏ ý muốn hợp tác với tôi trong loạt bài “Chân Dung Một H.O.” về phần hình ảnh. Lúc đó cũng như bây giờ tôi thấy hình ảnh chân dung của những người cựu tù nhân không cần đến phần nghệ thuật nhiều, các anh em lại ở rải rác nhiều tiểu bang, một phần cuốn sách không có kinh phí, nên không dám làm phiền đến thiện chí của Ðoàn.

Trong vòng ba năm ngắn ngủi, tôi thất vọng khi thấy Brian Ðoàn đã phản bội lại chính anh và phản bội lại những người đã yêu mến anh. Thật tình, lâu lắm, đây là lần tôi nghe lại tên Brian Ðoàn trong cuộc triển lãm mang tên “F.O.B.II: Nghệ Thuật Lên Tiếng” đã diễn ra tại trụ sở VAALA từ ngày 9 Tháng Giêng 2009 của hơn 40 nghệ sĩ mới và cũ, mà Ðoàn đã dẫn đầu bằng một mũi xung kích hay được gọi là người mang một trái bộc phá nổ tung giữa cộng đồng người Việt tỵ nạn. Những tác phẩm hội họa của Nguyên Khai, Ann Phong, Nguyễn Trọng Khôi mà chúng ta đã được thưởng ngoạn nhiều lần, lần này tôi có cảm tưởng như cái vỏ bọc cho những gì mà ban tổ chức hay người chọn tác phẩm Trâm Lê hay Y Sa muốn mở ra cho người khác thấy qua những tác phẩm mệnh danh là “Nghệ Thuật Lên Tiếng”.

Cuộc triển lãm được dự trù trước và ban tổ chức đã mời nhiều nghệ sĩ cùng triển lãm dưới một chủ đề chung hay đây chỉ là một cuộc triển lãm “tạp lục” quơ góp nhiều tác phẩm lại trong một thời gian nào đó để gây ra những điều sóng gió tệ hại như thế.

Cũng nên nói qua “tác phẩm” Vô Ðề (Untitle) của Steven Toly với lối giải thích ngu ngơ rằng đó là tượng trưng cho dân tộc đang bị giam hãm và trấn áp (vì sao lại dùng hình ảnh cờ vàng VNCH với ba sợi dây kẽm gai màu đỏ?) hay bức “Super Fab Beauty Queen” của Long T. Bui chỉ là đơn giản một bích chương cổ động (hay đả kích) tầm thường với dụng ý ghép ba hình ảnh cờ vàng, hoa hậu và chai thuốc viagara, dù giải thích thế nào thì đó là một ác ý không thể tha thứ. Ðiều này nói lên điều gì: văn hóa hải ngoại đọa lạc, ghê tởm? Một đứa trẻ cũng biết rằng cộng đồng hải ngoại, trên phương diện đạo đức, tốt đẹp hơn nền văn hóa hóa XHCH hằng nghìn lần.

Hai bức tranh trên và cả “Thủ Ðức, Việt Nam” của Brian Ðoàn không thể gọi là “tác phẩm nghệ thuật”. Tôi không thấy hay chưa hiểu nổi những gì gọi là nghệ thuật hay sự sáng tạo nào trong này, tất cả đều được sắp đặt cố ý với những hình ảnh mà tác gỉa muốn trình bày, đó là chiếc áo cờ đỏ sao vàng và bức tượng bán thân của Hồ Chí Minh trên một chiếc bàn nhỏ có chưng một bình hoa. Ðành rằng một nhà nhiếp ảnh có thể dàn dựng hay sắp đặt để chọn một hình ảnh được ghi nhận vào cái phút bắt chụp ưng ý nhất. Nguyễn Ngọc Hạnh luôn luôn dàn dựng trong những tác phẩm của ông, nhưng bức ảnh luôn luôn cho ta thấy “thật” và gây xúc động. Brian Ðoàn đã dàn dựng, nhưng những vật thể mà Ðoàn muốn đưa ra không có gì là trừu tượng, khó hiểu mà trái lại rất lộ liễu, thiếu chất mỹ thuật có thể đem lại cho người xem một cảm xúc nào, nếu không nói là rất khô cứng với một lá cờ đỏ và một bức tượng bán thân của Hồ Chí Minh, chỉ với một chủ đích nào đó.

Lan Dương trong ban tuyển chọn tác phẩm nói rằng: “bức ảnh có lá cờ Cộng Sản nhưng đó không phải là để xiển dương chế độ Cộng Sản mà như một kiểu thời trang của giới trẻ Việt Nam ngày nay”. Qua những cuộc tiếp xúc với báo chí, Brian Ðoàn cũng đã khẳng định đây không phải là một bức ảnh nói tốt cho chế độ Cộng Sản vì “lá cờ dùng để treo chứ không phải dùng để may áo mặc, tượng Hồ Chí Minh phải để chỗ trang trọng chứ không phải trên bàn ăn”, là để nói ngày nay ở Việt Nam không ai coi trọng những thứ này nữa. Lời ngụy biện này nghe chừng không ổn. “Một bức ảnh không nói tốt cho chế độ Cộng Sản”! Nếu lá cờ đỏ sao vàng này được in lên một manh áo rách của một em bé đang lê la trong những đống rác vĩ đại để kiếm ăn ở Việt Nam, hay hiện diện trên thân mình một em bé bảy, tám tuổi đang phải phục vụ khách làng chơi bằng khẩu dâm ở Kampuchea thì may ra lập luận của Brian Ðoàn còn nghe được.

Brian Ðoàn cũng đã khẳng định là “không” khi được hỏi anh có muốn gởi một thông điệp gì đến cho đồng hương qua bức ảnh này không? Vậy vấn đề còn lại là gì, một bức ảnh không mang tính chất nghệ thuật, không gói ghém một thông điệp gì gởi cho người thưởng ngoạn thì nó chỉ là một vật thể hay hình ảnh được cấu tạo một cách vô hồn.

Chắc chắn ban tổ chức cuộc triển lãm và tác giả đã đoán biết được những gì sẽ xẩy ra khi phòng triển lãm mở cửa với một bức ảnh như thế. Mười năm về trước, VAALA và Brian Ðoàn cũng không quá nhỏ để biết đến vụ Trần Trường với cũng một lá cờ và bức ảnh Hồ Chí Minh được trưng bày trong một cửa tiệm tư nhân, ở đây bây giờ nó lại được lập lại dưới một hình thức khác trong một cuộc triển lãm mở cửa mời công chúng vào xem. Cái giá đó không rẻ, để ban tổ chức có thể đánh đổi được một điều gì có lợi trong đó. Rõ ràng đây là một cuộc khiêu khích đầy dụng ý, thô bỉ, bất công và hàm hồ, như cố tình tạo nên một thời điểm bất ổn trong một cộng đồng ly hương đang chuẩn bị để đón Tết Nguyên Ðán năm nay. Ai là kẻ thủ lợi trong “biến cố” này, tôi tưởng đây là một điều dễ hiểu...

“Chúng tôi làm nghệ thuật và đây là chỗ nghệ thuật lên tiếng”, đã nhiều lần ban tổ chức khẳng định như vậy, xem như đám đông này đầu óc ngu muội, bị ám ảnh về chính trị và không đủ trình độ để thưởng thức nghệ thuật, nhưng liệu những tác phẩm như bức ảnh của Brian Ðoàn qua thời gian sống được bao nhiêu ngày, nói được điều gì để trở thành một bức ảnh đủ tiêu chuẩn nghệ thuật.

Chỉ còn lại là tuổi trẻ háo thắng, sử dụng cái quyền tự do phát biểu để đập thẳng vào mặt người khác mà không kiêng dè gì đến vết thương của cộng đồng mà họ lớn lên và thành người trong đó. Vấn đề còn lại là lương tâm của những người nhân danh tuổi trẻ, nhân danh nghệ thuật, nhân danh tự do ở xứ được tự do che chở này, bằng không đây là một cuộc khiêu khích có sắp đặt và có chủ đích nhắm đến cộng đồng tỵ nạn hải ngoại, làm lại một cuộc trắc nghiệm lấn chiếm khác, của những thế lực chính trị đang muốn phá nát sự đoàn kết và ý chí chống Cộng của người Việt lưu vong hải ngoại.

Bảy vị dân cử địa phương đã ra thông báo xin VAALA ngưng cuộc triển lãm này, Hàm Nguyễn, Ðông Xuyến trong ban tổ chức đã lên tiếng, cuộc biểu tình của đồng hương tỵ nạn Cộng Sản đang diễn ra vào sáng ngày 17 Tháng Giêng 2009, thân phụ của Brian Ðoàn, một người cựu tù “cải tạo” hơn 10 năm trong nhà tù Cộng Sản, đã xuất hiện trước công chúng, tỏ ý buồn phiền và ngỏ ý muốn Brian Ðoàn rút lại “tác phẩm” của anh. Ly nước tràn thêm với chuyện rắc rối về giấy phép của thành phố Santa Ana, VAALA đã tuyên bố đóng cửa phòng triển lãm.

Hai tuần sau phòng triển lãm “FOB II: Art Speaks” đóng cửa tại Santa Ana, báo The Orange County Register ngày 2 Tháng Hai 2009 loan tin nhiếp ảnh gia Brian Ðoàn lại tiếp tục triển lãm bức ảnh “cờ đỏ, tượng Hồ” này trong một cuộc triển lãm khác tại trường đại học cộng đồng Cypress College. Brian Ðoàn hoàn toàn phản bác lại tất cả ý kiến chống lại tác phẩm của anh. Ðiều tệ hại nhất là Brian Ðoàn đã nói với báo The Orange County Register rằng: “Tôi không chống hoặc ủng hộ Cộng Sản. Tôi chỉ là một nghệ sĩ.”

Tôi chưa nghe Brian Ðoàn định nghĩa thế nào là nghệ sĩ. Nghệ sĩ không phải là một người có đôi chân đi hỏng mặt đất, đứng ngoài lề xã hội, đứng trên nỗi đau đớn hay hạnh phúc của người khác. Người nghệ sĩ chọn những con đường khác nhau nhưng vẫn có tư cách, cương vị của một người công dân của một xã hội, con dân của một đất nước, phải có cái tâm và biết chống lại cái ác. Tôi tiếc là Brian Ðoàn đã phủ nhận chính con người của anh của những ngày “The Unforgotten Ones”. Válav Hazel chính là người nghệ sĩ lớn của nhân loại khi biết đau cùng cái đau của dân tộc, không sợ cường quyền, đã tình nguyện ở lại cùng với ngục tù của đất nước để làm cuộc “Cách Mạng Nhung”, đem Tiệp Khắc ra khỏi nạn Cộng Sản, có ai chê ông không phải là người nghệ sĩ? Trần Dần, Phùng Quán, Phùng Cung đã bị đày đọa suốt 30 năm, nhưng ai tước đoạt được danh xưng nghệ sĩ của họ. Ngày trước dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa, nhiều người mang danh nghệ sĩ đã cho mình là người trung lập, đứng ngoài cuộc chiến, chống chiến tranh, nhưng khi Cộng Sản vào miền Nam mới thấy cái nhục nhã, quỵ lụy của chúng. Chỉ trong chế độ tự do, được bảo vệ tự do và nhân phẩm, và nhân danh tự do, những người này mới được la hét, phá quậy, biểu diễn lập trường, nhưng trong chế độ độc tài, áp bức, họ chỉ là những con chiên ngoan ngoãn, thúc thủ, hèn nhát đi theo con đường đã được vạch sẵn.

Phạm Duy đổi màu “tắc kè”, Trịnh Công Sơn yếu đuối phản bội, đành rằng họ là nghệ sĩ, nhưng những người như Trầm Tử Thiêng nói đến nỗi đau của dân tộc, ghét Cộng Sản đến xương tủy, có ai nói Trầm Tử Thiêng không phải là nghệ sĩ?

Có thể nhiều nghệ sĩ cho rằng mình không làm chính trị, nhưng đã là con người phải có thái độ chính trị. Ðó là sự ghét bỏ điều ác, biết đi cùng nỗi khổ của con người và biết tranh đấu cho sự toàn thiện. Nếu không, đây chỉ là những người lửng lơ, thủ lợi như cô ca sĩ có thể kiếm tiền bằng cách lê giọng hát ở cả hai nơi, với hai chữ quê hương ngọt ngào như giọng cáo của La Fontaine.

Ðiều cuối cùng, phải nói là rất xót xa khi phải nói ra đây. Brian còn nợ những nỗi nhọc nhằn của thân phụ anh với mười năm tù để đưa anh sang đây, với mẹ anh trong những ngày gồng gánh thăm chồng, nuôi con, vất vả nuôi anh nên người, để rồi muốn làm một người nghệ sĩ “vẻ vang”, phản bội quá khứ, “không chống Cộng mà cũng không theo Cộng”, như con bọ hung dưới đất chui lên. Cái háo thắng của tuổi trẻ, cái bất cần khinh bỉ ý kiến đám đông, trong đó có cả các bậc sinh thành, cái hào quang của người nghệ sĩ chẳng có nghĩa gì khi con người không có cái tâm lành, mà có cái độc ác cào xới lên vết thương còn đau đớn của người khác, mắng mỏ vào cái cộng đồng từ đó mình đã lớn lên.

Ở đây là xứ tự do, Brian Ðoàn có quyền làm những gì anh muốn, được cổ võ bao bọc bởi một đám nhỏ đồng dạng, hãnh tiến mình là người nghệ sĩ lớn của nước Mỹ tự do, Brian Ðoàn bắt đầu say mê quyền lực, quyền lực phát biểu. Nhưng trước mắt tôi, hey! Brian Ðoàn, đối với gia đình, anh chỉ là một thằng con bất hiếu, đối với cộng đồng anh là một kẻ bất nghĩa.

Con diều bị bứt sợi dây mà từ đó nó mới có thể bay lên, sẽ không bay cao được đâu?

(3 Tháng Hai 2009)
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 4 guests