Bình Luận , Quan Điểm

vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Hoa Kỳ xoay trở ra sao?
Mới và cũ trong chuyện đối ngoại của Mỹ


Nguyễn Xuân Nghĩa

Từ nhiều năm trước, khi mở ra mục này (“Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài”) người viết có chủ đích - và giao hẹn trước với ban biên tập - là sẽ thiên về chuyện quốc tế: các nước nhìn Hoa Kỳ ra sao, đối phó thế nào, có gì đúng có gì sai... Lý do chính là vì người Mỹ - và truyền thông Hoa Kỳ - có cảm tưởng là biết hết về thiên hạ sự mà lại hiểu rất ít về nguyên nhân của nhiều chuyển động quốc tế nên cứ ngạc nhiên vì thế giới lại có ác cảm với thiện chí của mình. Cột báo này không có mục đích bênh vực ông Bush hay đảng Cộng Hòa, độc giả mà đọc kỹ thì tất thấy!

Bây giờ, khi nước Mỹ có lãnh đạo mới, ta sẽ làm một ngoại lệ, khá dài, là “nhìn từ bên trong ra ngoài”, xem Hoa Kỳ sẽ xoay trở ra sao với thiên hạ sự?


Mặt trời mọc cùng tiếng gà gáy


Tự cổ kim, mọi lãnh đạo chính trị đều nghĩ là ta mà cầm quyền là sẽ mở ra vận hội mới, theo kiểu con gà - nhờ mình gáy mà mặt trời mọc. Thực tế thì trong lãnh vực đối ngoại, lãnh đạo mới tại Mỹ vẫn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố mà họ không chi phối được. Gáy thì gáy chứ mặt trời lặn thì gà cũng lên chuồng. Hay vào nồi.

Yếu tố thứ nhất, khi tranh cử, họ nói sẽ áp dụng đường lối này chủ trương nọ, chứ khi đắc cử họ vẫn gặp yếu tố bất ngờ, thí dụ là vụ khủng hoảng tài chánh, hay số phiếu của cử tri.

Khi tranh cử năm 2000, Thống Ðốc Bush muốn tập trung vào nội trị và có chủ trương đối ngoại khiêm cung: không áp đặt giá trị của Mỹ trên xứ khác, không đem quân đi “xây dựng quốc gia” cho xứ khác. Ông còn đả kích chính quyền tiền nhiệm là đã can thiệp vào Kosovo. Khi đắc cử, Bush gặp vụ khủng bố 9-11 và đảo ngược chủ trương hòa hoãn khi tranh cử, tập trung vào cuộc chiến chống khủng bố Hồi giáo - mà giờ này ông vẫn chưa biết đặt tên ra sao là đúng - và đề cao việc phát huy dân chủ để giải thích ngược chuyện Iraq. Hứa hẹn “phát huy dân chủ” cho Việt Nam là một nhắc nhở... chua chát! Tổng Trưởng Quốc Phòng Dick Cheney thì can ông Bush cha không lật đổ Sadam Hussein năm 1991, chứ Phó Tổng Thống Cheney bị coi là con diều hâu hắc ám của vụ tấn công Iraq!

Yếu tố chi phối thứ nhì là cục diện toàn cầu sau khi đắc cử, trong đó có di sản do chính quyền cũ gây ra hay để lại. Yếu tố thứ ba là chủ trương tạm gọi là cố hữu của hai đảng đối với các vấn đề quốc tế. Ðó là đề mục chính của bài này.


Bàn cờ bốn góc

Cục diện toàn cầu hiện có ít ra bốn múi, như một bàn cờ bốn góc.

Tổng thống mới chưa thoát ra khỏi thế cờ do khủng bố al-Qaeda đặt ra và cách ông Bush ứng phó. Bốn hậu quả của bài toán khủng bố là 1) làm sao ổn định Iraq để rút quân tăng cường cho chiến trường Afghanistan; 2) đồng thời đấu trí với Iran để bảo đảm an ninh cho Iraq và khu vực Trung Ðông; mà 3) không bị Iran bắt bí và chế tạo võ khí nguyên tử; và 4) trấn an các xứ Hồi giáo khác, nhất là Pakistan, đừng theo con đường khủng bố. Mà phải xử lý ngần ấy chuyện trong khi vẫn phòng ngừa sự xuất hiện của các lực lượng al-Qaeda nội hóa, khủng bố tự phát, từ Maroc tới Nam Dương - vụ Mumbai của Ấn bị tấn công đêm 26 là một nhắc nhở, với hung thủ có thể xâm nhập từ Pakistan - và tránh xung đột giữa hai cường quốc nguyên tử là Ấn Ðộ và Pakistan. Trong khi đó, Hoa Kỳ bị cạn tiền, bội chi ngân sách nặng ở giữa thời chiến.

Góc thứ hai, vì bảy năm tập trung vào hồ sơ Hồi Giáo, Hoa Kỳ đã thả nổi cho Liên bang Nga tái xuất hiện như một đại cường đang đòi lại ảnh hưởng bị mất sau khi Liên Xô sụp đổ. Vì vậy, Nga tấn công Georgia và uy hiếp các nước trong khối Xô viết cũ. Làm sao ngăn chặn sự tái phát của Chiến Tranh Lạnh khi Âu Châu bị rạn nứt giữa hai khối mới và cũ? “Âu Châu cũ” là Tây Âu thì cầu hòa và vẫn cứ đòi dạy dỗ Hoa Kỳ nhưng sợ bị Nga bắt bí về năng lượng. “Âu Châu mới” là Ðông Âu thì đứng trước mũi dùi của Nga nên chỉ trông cậy vào tấm giáp rất mỏng của NATO. Mà làm sao chặn Nga tại Ðông Âu nhưng không để Nga phá thối tại Trung Ðông, bằng cách yểm trợ Iran chẳng hạn?

Góc thứ ba, Nga không chỉ muốn thọc tay vào Ðông Âu hay Cận Ðông mà đã vào Nam Mỹ. Tại vùng Cận Ðông, Mỹ làm sao củng cố quan hệ chiến lược với Turkey để đóng chốt tại Hắc Hải mà không gây xáo trộn cho Iraq vì sắc dân Kurd có mặt tại cả Iraq và Turkey? Làm sao vận dụng Israel canh chừng Iran mà không gây họa vì Israel có thể đánh phủ đầu Iran trước khi Tehran có võ khí nguyên tử? Làm sao bảo vệ được vùng ảnh hưởng tại Nam Mỹ khi Venezuela đang muốn làm đầu cầu của Nga và hậu cứ cho nội chiến tại Colombia và Bolivia? Và làm gì khi láng giềng Mexico có thể tan rã vì khủng hoảng kinh tế trong khi các tổ chức ma túy đã bành trướng hoạt động vào tận lãnh thổ Mỹ?

Trong khi ấy, và đây là góc thứ tư, Trung Quốc là xứ có lợi nhất nhờ bảy năm bận rộn của Mỹ, mà cũng là quốc gia bất ổn nhất trong nội bộ với khủng hoảng có thể bùng nổ nếu kinh tế toàn cầu sa sút quá lâu. Trung Quốc là bài toán về an ninh và kinh tế của Mỹ mà cũng là vấn đề cho các đồng minh thuộc loại bán đảo hay hải đảo của Mỹ tại Ðông Á, như Nhật Bản, Nam Hàn, Ðài Loan, Singapore và nhất là Úc Ðại Lợi. Cái nhân khủng hoảng tại Trung Quốc đã có, cái duyên của khủng hoảng có thể là vụ suy thoái toàn cầu. Tổng thống mới của Mỹ không thể thả nổi Ðông Á, nơi mà cục diện dễ gây bất ngờ, nhất là khi Trung Quốc có loạn. Và gieo họa cho Việt Nam.

Bất cứ ai lên lãnh đạo Hoa Kỳ đều phải giải quyết các bài toán ấy để bảo vệ quyền lợi quốc gia. Cách giải quyết đôi khi có khác vì hai hướng khác biệt: chúng ta trở lại quan điểm truyền thống rồi sự chuyển hóa dần về đối ngoại của hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ.


Cộng Hòa và thuật Vương Bá

Trước khi có Ronald Reagan, thần tượng của nhiều đảng viên Cộng Hòa, kể cả Nghị Sĩ John McCain, là Tổng Thống Teddy Roosevelt, một ông tổng thống bán văn bán võ đã đưa Mỹ lên vị trí đại cường vào đầu thế kỷ XX với chủ trương có ảnh hưởng tới lý luận Cộng Hòa. Chủ trương này hàm ý Mỹ là siêu cường hải dương, sẽ bảo vệ tới cùng quyền lợi chiến lược của mình mà không muốn bị ràng buộc vào các định chế quốc tế vì có khi bị cột tay hoặc bị lôi vào việc bảo vệ xứ khác mà không liên hệ gì tới quyền lợi của Mỹ.

Nôm na là ích kỷ và cương cường - như một đế quốc bá quyền.

Ðấy là đặc tính đầu tiên của Cộng Hòa xuất hiện từ đầu thế kỷ 20. Và hai Thế chiến còn khiến phe Cộng Hòa càng nghi ngờ sự phiêu lưu, phân hóa hay bạc nhược của Âu Châu.

Cũng từ chủ trương thực tiễn đầy hoài nghi ấy, trong đảng Cộng Hòa còn nảy ra xu hướng “tự cô lập”: tránh khỏi dính vào thiên hạ sự để vì đó mà phải chữa cháy cho thiên hạ. Khi trận Trân Châu cảng bùng nổ cuối năm 1941 khiến Mỹ phải tham chiến, trào lưu cô lập ấy mất ảnh hưởng, nhưng vẫn chi phối một số thành phần cực hữu trong đảng.

Trong cuộc tranh cử vừa qua, Dân Biểu Ron Paul tại California thuộc xu hướng đó, với lý luận chủ hòa vì không muốn Mỹ dính vào thiên hạ sự nên lại gần với lập trường phản chiến của phe cực tả bên đảng Dân Chủ! Năm xưa, ứng cử viên gốc Cộng Hòa là Ross Perot cũng thuộc phe tự cô lập đó, chia mất phiếu của ông Bush cha nên ông Clinton thắng cử năm 1992. Chủ trương tự cô lập từ phe cực hữu còn có một biến thái kinh tế là tinh thần “bảo hộ mậu dịch”, rần gần với phe cực tả bên đảng Dân Chủ. Vì vậy, xếp loại “tả hữu” để phân biệt lập trường là quá đơn giản!

Nhưng tự cô lập là phe thiểu số, biên tế, ngoài rìa, của đảng Cộng Hòa, là nhờ... Eisenhower.

Sau Thế Chiến, trong đảng nảy ra hai hướng, tự cô lập là ông Robert Taft và can thiệp quốc tế là Tướng Eisenhower, anh hùng chiến cuộc Âu Châu. Eisenhower thắng cử và kéo đảng qua hướng can thiệp. Nhưng trong hoàn cảnh chiến tranh lạnh thời đó, phải can thiệp dưới lá cờ vương đạo, giữa Thiện và Ác. Thiện là thế giới tự do và Ác là khối cộng sản.

Từ đó, trong đảng vẫn có hai trào lưu song hành, thứ nhất là cực kỳ thực tiễn bá đạo, tới độ sẵn sàng hợp tác với một chế độ cộng sản để tấn công một chế độ cộng sản khác, là mưu lược của Nixon và Kissinger (những ai tin rằng Cộng Hòa là đảng “chống Cộng” đã quên chuyện này rồi). Trào lưu thứ hai, trọng luân lý, là chủ trương “vương đạo” của Reagan và phần nào - mà phần nào thôi - của ông Bush 43: Hoa Kỳ là đế quốc có từ tâm và đạo đức. Sau khi Liên Xô sụp đổ, vai trò luân lý ấy mất nội dung trong cả chục năm và chỉ hồi sinh với cuộc chiến chống khủng bố Hồi giáo ngày nay.

Cho nên, nếu thắng cử, đảng Cộng Hòa chưa rõ sẽ ngả theo hướng thực tiễn kiểu Nixon hay đạo đức kiểu Reagan. Nhiều phần sẽ khai triển tiếp chiến lược dồn quân của Bush tại Iraq là... đàm phán với kẻ thù Taliban tại Afghanistan để diệt al-Qaeda và rút lui, như Bush đã hòa giải với phe Sunni đã từng bị trấn áp trong bốn năm liền, để mua hòa bình tại Iraq. Nhưng do ảnh hưởng luân lý cố hữu, đảng này cũng có thể thành lập liên minh các nước dân chủ để bảo vệ hòa bình thế giới theo kiểu Reagan. Ngoài ra, đảng Cộng Hòa còn có một đặc tính địa dư chiến lược khác, xuất phát từ thời Teddy Roosevelt, là ngó về Á Châu hơn chỉ chú ý tới Âu Châu như thói quen của Dân Chủ.

Bây giờ, sau khi thất cử, đảng Cộng Hòa phải xây dựng lại cơ sở và lý luận. Hãy để họ tự kiểm thảo và vẽ lại bản đồ, mà nhìn qua bên kia: đảng Dân Chủ.


Dân Chủ trước ngã ba Chiến, Hòa và Chạy

Về truyền thống, ta không quên là ba trận đại chiến trong thế kỷ 20 đều xảy ra dưới thời các tổng thống Dân Chủ: Woodrow Wilson với Thế Chiến I, Franklin Roosevelt với Thế Chiến II và Harry Truman với Chiến Tranh Cao Ly. Phải kể trận thứ tư là chiến tranh Việt Nam, khởi đầu từ Kennedy và Johnson. Ðảng Dân Chủ không chủ chiến mà cứ lâm chiến vì lý tưởng truyền thống ấy! Từ kinh nghiệm đó ta có thể nhìn ra ba đặc tính về đối ngoại của đảng này.

Ðặc tính thứ nhất là trì hoãn việc tham chiến tới cùng nên thường lâm chiến vì phản ứng chứ không chủ động. Ðặc tính thứ hai, nếu lỡ có phải lâm chiến thì lập liên minh chứ không đơn phương can thiệp, để đồng minh lãnh tổn thất hơn Mỹ. Thứ ba, sau chiến tranh thì ưu tiên của Mỹ là liên kết với Âu Châu để xây dựng các cơ chế quốc tế có chức năng bảo vệ hòa bình, mà thực tế chẳng bảo vệ được gì, như Hội quốc liên thời Wilson, Liên Hiệp Quốc hay Minh Ước NATO thời Roosevelt và Truman.

Từ thất bại đó, đảng Dân Chủ bị xé làm ba xu hướng nên thường phân vân giữa ngã ba đường.

Thứ nhất là phản chiến do ảnh hưởng của trí thức thiên tả nhuốm mùi thân cộng từ Âu Châu. Xu hướng cực tả này kết án Mỹ về mọi sự trên thế giới và trong nước Mỹ, và thù ghét quân đội tới xương tủy. Họ có ảnh hưởng mạnh trong truyền thông và giới nghệ sĩ. Barack Obama xuất thân từ đó ra, dù là càng có hy vọng nắm quyền thì càng nhích về cánh hữu của ông, về phía trung tả.

Xu hướng thứ hai là các chính khách thời cơ. Họ theo ngả thực tế về quyền lợi nên không ngại lâm chiến, nhưng khi có khó khăn thì đảo lập trường thành chủ hòa. Ðiển hình là từ anh em Robert và Edward Kennedy thời xưa cho tới đa số dân cử ngày nay trong đảng, kể cả phó tổng thống tân cử Joe Biden, vốn đồng ý tấn công Iraq y như Hillary Clinton, rồi lại đổi ý và biện bác linh tinh.

Xu hướng thứ ba là những người nhìn vào đại thế mà định nghĩa lại cuộc chơi cho văn minh hơn, như xây dựng thế liên kết quốc tế - ưu tiên là Âu với Mỹ - qua đàm phán hơn là quân sự để duy trì hòa bình. Dụng lễ hơn dụng binh! Ðó là trường phái thực tiễn và quốc tế của thành phần ưu tú, học giả. Ða số đã tham gia chính quyền Clinton và sẽ trở lại nội các Hillary nếu bà ta không thất cử.

Sự phân hóa về lý luận của đảng khiến từ 10 năm qua phe Dân Chủ chỉ thắng cử ba trong 10 lần tranh cử và hai chính quyền Carter và Clinton cũng gieo mầm cho nhiều xung đột về sau. Cách mạng Hồi Giáo tại Iran và al-Qaeda đã phôi thai tại Afghanistan từ thời Carter, rồi bành trướng vào thời Clinton. Sự thể ấy cũng khiến Hillary bị loại ở vòng sơ bộ vì có quan điểm thực tế về Iraq nên mất phiếu cử tri phản chiến và cực tả. Obama phải tựa vào phe phản chiến để vượt qua Hillary với số phiếu đại biểu cực nhỏ và có khẩu hiệu tranh cử mờ ảo để thỏa mãn cả ba xu hướng này: cắt giảm quân phí, triệt thoái khỏi Iraq, đàm phán vô điều kiện với Iran và vận dụng giải pháp quốc tế để duy trì hòa bình thế giới.

Ngày nay, còn ai nhớ đến các khẩu hiệu ấy không?

Obama giữa ba dòng thác

Qua cách tuyển chọn ban tham mưu đối ngoại, Obama cho thấy ông sẽ tiến hành chủ trương trung tả như Hillary, thậm chí trung hữu của... McCain. Ông được phe Cộng Hòa vỗ tay, dù bắt đầu bị cánh cực tả đả kích.

Obama mời Hillary làm ngoại trưởng, lưu ông Robert Gates ở trách vụ Tổng Trưởng Quốc Phòng để sẽ cùng Tướng David Petreaus tái diễn thành thích Iraq tại Afghanistan, do dự trong đối sách về trại tù Guantanamo. Ông còn cho biết là đã gặp Brent Scowcroft, nhân vật dày kinh nghiệm đối ngoại đã từng là Cố Vấn An Ninh của ông Bush cha. Nếu thành công, Obama có thể bất chấp xu hướng phản chiến vì có một đa số cao hơn, gồm cả thành phần đã từng bỏ phiếu cho Bush hay McCain.

Nếu không, ông sẽ là Bush 43!

Tổng Thống Obama sẽ xoay trở giữa ba xu hướng ấy của đảng Dân Chủ trong Quốc Hội - vốn ưu lo cho cái ghế hơn là phục vụ tổng thống. Khi tổng thống hết được quần chúng hậu thuẫn, họ là thành phần đầu tiên sẽ chống, từ trong đảng: Lyndon Johnson hiểu như vậy - Bush cũng thế, bên phía Cộng Hòa!

Bơi giữa ba dòng thác, Obama phải đối phó với nhiều thách đố không thể thoái thác, ngoài vụ khủng hoảng tài chánh. Thí dụ nóng nhất: trận thử lửa với Liên Bang Nga sẽ là vấn đề nếu ông không chọn nổi ưu tiên là đối phó với khủng bố Hồi Giáo hay Vadimir Putin tại đại lục Âu-Á.

Obama có thể ngả theo xu hướng chủ hòa cổ điển của Dân Chủ là nhường quyền quyết định cho các trung tâm bất lực quốc tế là Liên Hiệp Âu Châu và Liên Hiệp Quốc. Lùi mãi không xong, khi cả Georgia và Ukraine đều trôi vào quỹ đạo Nga và Ðông Âu bị uy hiếp, thì Hoa Kỳ và NATO phải lâm chiến vì phản ứng. Lúc ấy mới thấy NATO thiếu ruột vì sức mạnh quân sự bị tiêu hao vào Aghanistan và tùy thuộc quá nhiều vào Mỹ. Mà ngân sách quốc phòng Mỹ có thể phải giảm như Obama tuyên bố nhiều lần. Nếu khủng hoảng bùng nổ, quan hệ giữa Mỹ và Âu Châu sẽ suy sụp và Âu Châu phân hóa sẽ gây ra nguy cơ đại chiến trong mươi năm tới.

Nổ còn rền hơn quân khủng bố (081126).

Nguyễn Xuân Nghĩa
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »


Image

NGHỀ ĂN XIN
Đinh Lâm Thanh
'Ăn xin' thường bị xếp vào vị trí thấp kém nhất trong xã hội vì nghề nầy chỉ dành cho những kẻ đáng thương như trẻ nhỏ, người già cô đơn, nghèo khó hay tật nguyền không đủ khả năng làm việc. Tuy nhiên, thời gian và không gian đã thay đổi khá nhiều về chuyện 'chẳng đặng đừng' nầy, có nơi hoàn toàn đảo ngược vị thế trong xã hội và xem 'bị gậy' là một nghề cao quý chỉ dành riêng cho một tập đoàn hay vài giới chức nào đó. Chuyện như thần thoại, nói ra chẳng một ai tin, nhưng nghề nầy đang phát triển mạnh dưới thiên đường cọng sản Việt Nam hiện nay !

Trừ một vài quốc gia ở Bắc Âu, tôi không thấy hành khất ăn xin ngoài đường, còn lại không nhiều thì ít xứ nào cũng có, mỗi nơi mang một hình thức, một sắc thái khác nhau. Để mở đầu bài viết, xin đề cập đến hai nơi có hình thức ăn xin hơi khác thường :

Ở Pháp, trước kia thành phần đi xin đa số là các ông các bà làm biếng, lúc nào người cũng nồng nặc mùi rượu, suốt ngày lang thang trong các trạm xe điện ngầm. Thỉnh thoảng người ta cũng bắt gặp vài ông già dẫn chó đi xin, ngồi nơi công cộng với chiếc mũ, cái thau nhựa và miếng giấy cứng ghi hàng chữ : Một euros cho chó và một euros cho …tôi ! Không ai ngạc nhiên khi cái thau trước mặt con chó được nhiều tiền của khách qua đường trong lúc chiếc mũ của ông già chẳng có một cắc bạc nào ! Kể từ ngày cọng sản Đông Âu sụp đổ thì một số dân nghèo ở đây chọn nghề cái bang tìm cách tiến về hướng Tây và nước Pháp, là nơi hành nghề hữu hiệu và thích hợp nhất. Từ đó Paris trở thành trung tâm của hai bang 'hát dạo' và 'thông điệp' hành nghề trên các chuyến xe điện ngầm. 'Cái bang văn hóa' thì có vẻ lịch sự (lên métro vừa đàn vừa hát những bài khá quen thuộc, đúng giọng, đúng điệu…ai cho tiền thì cám ơn mà không cho cũng cám ơn !) hơn 'cái bang thông điệp', gồm đa số người trẻ, vào các toa xe điện ngầm với một xấp 'thông điệp'trong tay. Họ đến trước măt mỗi người, chẳng nói chẳng rằng, lẳng lặng để trước mặt một tờ giấy. Sau khi đi hết vòng rồi quay trở lại thu hồi thông điệp và chuyển qua toa xe khác. Vì không nói được tiếng Pháp nên để thông điệp trong đó ghi vỏn vẹn mấy chữ : Vui lòng cho xin ít Euros...để ăn !

Không biết Paris có phải vùng đất béo bở hay không mà còn quyến rũ thêm nhiều đạo quân ăn xin đến từ các xứ 'rệp' Bắc Phi. Đặc biệt đạo quân ăn xin nầy toàn đàn bà và con nít, họ tụ tập ở những nơi công cọng, trước các tiệm ăn và dưới hầm xe điện ngầm. Mỗi bà đều bày hàng vài ba đứa trẻ làm cảnh, ăn mặc bẩn thỉu hôi hám để khơi động từ tâm của khách qua đường. Ngoài ra cũng còn những trường hợp ăn xin lạ lùng ở thủ đô nước Pháp, người đi ăn xin che kín mặt mình bằng cách nằm sấp út mặt sát đất, dùng hai tay ôm lấy đầu và bất động suốt ngày, phía trước là chiếc mũ với hai chữ 'Tôi đói'! Dù có ai để tiền vào mũ cũng ít khi nghe được một tiếng cám ơn ! Cách đây vài năm, tôi gặp trường hợp ăn xin của một đồng bào mình ngay trước cửa chợ Tăng Frère, anh còn trẻ, chận tôi lại với một giọng nói rất chân tình : Thưa bác, bác giúp con một ít tiền để mua vé máy bay trở về Mỹ. Không đợi phản ứng của tôi, người bạn trẻ tiếp : Con là dân Mỹ, đi du lịch bị móc túi mất hết tiền bạc, bây giờ không biết làm sao…Tôi bấm bụng giúp anh một ít với lời hướng dẫn, anh nên đến ban xã hội tòa thị chính nơi tạm trú, trình bày hoàn cảnh với họ, tôi tin rằng nơi đây sẽ lo cho anh phương tiện trở lại Mỹ ( Những trường hợp đặc biệt như thế nầy chắc chắn phòng xã hội của bất cứ thành phố nào cũng giúp phương tiện sống và vé may bay cho nạn nhân). Tưởng câu chuyện đã được giải quyết tốt đẹp, không ngờ khoảng gần một năm sau, tôi gặp lại người thanh niên nầy với bài bản y như ngày trước !!!

Ở Rio De Janeiro và São Paulo (Brésil), số trẻ em ăn xin đông gấp mười lần người lớn, họ được các tay trùm tập trung và huấn luyện thành những đạo quân chuyên nghiệp, chia vùng, phân công tác và tổ chức như quân đội : Có lính, có quan và có tướng ! Lính, hành nghề suốt ngày đêm kiếm cho đủ tiền đem nộp để được…ăn và được đi xin một cách yên ổn ! Quan, trực tiếp chỉ huy, đứng trung gian hưởng lợi và tướng thì sống nhà lầu, đi xe hơi !!!

Trở lại với Việt Nam, trước năm 1975 thành phần ăn xin ở miền Nam thật ra cũng ít, người ta chỉ bắt gặp tại nhà gare, bến xe đò hay trong các khu vực ăn uống của thủ đô Sàigòn cũng như tại các thành phố lớn. Phần nhiều là trẻ nhỏ, các ông bà làm biếng và những người tật nguyền. Cũng có những trường hợp lưu manh trong nghề như giả vờ bệnh tật, đi khập khểnh, chống gậy, cột vào tay chân những miếng thịt có mùi thúi ….Nghề ăn xin thời đó có thể nói là khá giả, nhưng từ ngày 'được giải phóng', cách mạng đã ưu ái tập trung và đẩy toàn bộ đi lao động ở các vùng kinh tế mới. Nhưng đừng lầm và đừng vội mừng cho rằng nhờ cách mạng mà miền Nam hết người ăn xin ! Các bạn trẻ sinh sau năm 1975 chắc không biết chuyện nầy. Thời đó không còn cá nhân hay băng nhóm ăn xin nữa mà có cả chục triệu người phải chấp nhận cái nghề 'chẳng đặng đừng' để sống lây lất qua ngày ! Cách mạng là bọn đói rách kinh niên, suốt đời rau khoai, gia tài chỉ có cái nón cối và đôi dép râu đang hăm hở vào 'ăn xin của nhân dân' thì chúng đâu chịu để cho cả triệu người của miền Nam hành nghề cạnh tranh! Thế là chính sách đẩy toàn thể 'cái bang thật', 'cái bang chẳng đặng đừng' lên núi hay xuống biển để cách mạng độc quyền hành nghề. Và khi đã là vua uy quyền một cõi thì các đạo quân cái bang mặc áo vàng, áo màu xanh cứt ngựa, đầu đội nón cối…vứt ngay 'bị gậy'vào thùng rác, mặt vênh váo, vai mang AK và biến 'nghề ăn xin' thành 'nghề ăn cướp'. Để khỏi mất công mất thời giờ, chúng vào nhà ai không cần phải van xin mà tự nhiên như người Hà Nội, thấy cái gì thì cứ việc vác về cho tiện sổ sách, xem như quà chiến thắng !

Viết đến đây tôi nhớ lại chuyện cũ trước năm 1975, cái loa Hà Nội tuyên truyền rằng, dân miền Nam nghèo đói đến nỗi con trai không có tiền cắt tóc, con gái không đủ vải che thân, trên người chỉ mặc một chiếc váy nhỏ xíu đưa ngay cái 'bẹn' ra ngoài, rồi chúng kêu gọi người dân dù có đói rách đến đâu cũng phải cắn hạt gạo ra làm hai gởi vào nuôi miền Nam ruột thịt ! Thế rồi khi Việt Nam Cọng Hòa vừa rơi vào tay cọng sản, thật đáng thương và tội nghiệp cho các cụ già lặn lội từ miền Bắc vào tìm kiếm thân nhân, tay ôm tay xách gồm gói muối vừng, vài củ khoai và mấy ký đậu phộng để cứu đói người thân. Nhưng rồi các cụ lại ngoan ngoãn trở thành người ăn xin lương thiện, nghĩa là ai cho cái gì cũng hoan hỷ nhận…rồi bế, xách, lê lết cỏng đem về Bắc làm quà cho bà con cháu chắt. Tiếp sau đó từng đạo 'quân ăn xin không lương thiện', đi dép râu đội nón cối mang AK hùng hổ xuôi Nam, vừa thấy cái gì là vơ ngay cái đó. Chúng vào nhà dân, để súng lên bàn giở trò hăm dọa, khổ chủ đành phải bấm bụng bố thí xem như cúng cô hồn để xin hai chữ bình an. Những ai lớn tuổi chắc vẫn còn nhớ, trong những năm đầu mất nước, người ta thấy từ chiếc bàn, cái ghế, cái đài (radio), cái đổng (đồng hồ), cái TV, cái máy chém (quạt máy), cái tủ lạnh cho đến những thứ lỉnh kỉnh như nồi niêu soong chảo, chén bát…được đạo quân 'ăn xin có môn bài' tay ôm, tay xách, đội lên đầu, đeo vào cổ, chen lấn nhau trong các ngỏ hẻm, trên đường phố rồi giành giật nhau từng cái vé xe đò cũng như tàu hỏa để chở chiến lợi phẩm ra Bắc.

Trên đây tôi chỉ trình bày sơ qua chuyện ăn xin của người ít lương thiện và đạo quân có môn bài dưới thiên đường xã hội chủ nghĩa. Tuy những chuyện nầy có viết ra cả ngàn trang giấy cũng không bao giờ hết, nhưng cũng cần ghi ra đây để đưa vào lịch sử : Một đám ăn mày đói rách từ rừng chui ra và lập một kỷ nguyên mới được người đời xem là khuôn vàng thước ngọc của xã hội chủ nghĩa, 'cướp giật là vinh quang ! '. Trước tiên chúng biến hàng chục triệu người miền Nam từ triệu phú ra bị gậy và đuổi đi nơi khác chơi : Lên vùng kinh tế ăn xin với cọp beo hay vác bị gậy ra biển ăn mày với cá mập. Từ đó Việt Nam chỉ còn một băng đảng bị gậy duy nhất và vĩ đại nhất của địa cầu để ăn xin với quốc tế và móc túi 'khúc ruột ngàn dặm'.

Mỗi khi thiên tai lụt lội đổ xuống đầu người dân vô tội thì chính là cơ hội ngàn vàng của bọn cái bang nhà nước. Chẳng thấy tên nào ló mặt ra giúp chén cơm, cái mền, viên thuốc hay vài đồng bạc cho dân mà tranh nhau hăm hở kêu gọi quốc tế giúp đở, van xin khúc ruột ngàn dặn mở hồ bao. Tập đoàn cọng sản ăn xin nầy đã nhân danh thiên tại lụt lội để hành động đúng theo đường lối tốt đẹp của xã hội chủ nghĩa và đỉnh cao trí tuệ loài người. Nếu có ông sư, ông cha nào quyên được tiền từ nước ngoài hay các tổ chức nhân đạo quốc tế trích quỹ cứu trợ để cấp cứu thì chúng yêu cầu đừng trao phẩm vật tiền bạc cho nạn nhân, cứ đưa cho chúng nó là xong chuyện !

Nhờ thiên tai hàng năm các tập đoàn ăn xin đều làm ăn phát đạt. Biết rằng người nước ngoài cũng như các tổ chức quốc tế sẵn sàng giúp đở nạn nhân Việt Nam, do đó từ trung ương đến địa phương chúng tranh nhau dựng thêm những hội từ thiện, nhà may mắn, làng tình thương…một mặt làm mẫu trình diễn với quốc tế, chụp hình quảng cáo đồng thời đào tạo một số cán bộ từ trong nước ra đến hải ngoại với mục đích móc túi người Việt Tự Do và phá rối cộng đồng. Chúng giở trò láu cá bằng cách lợi dụng lòng nhân đạo, tình đồng hương để xin tiền mà còn tạo cơ hội quấy rối cộng đồng nước ngoài và cờ Quốc Gia Vàng Ba Sọc Đỏ. Mới đây không lâu, một số cố đạo áo đen, sư thích đỏ ruột được phép ra nước ngoài moi tiền con chiên Phật tử, nhưng cái trò ma giáo vẫn không quên là yêu cầu những nơi chúng đến không được treo cờ Quốc Gia… Thế thì đi ăn xin mà lại chưởi cha người ta nữa thì chỉ có loài thú vô học mới đem cái ngu ngốc của chúng ra áp dụng tại các quốc gia tự do ở Âu Mỹ. Nhưng trò khốn nạn nầy vẫn được vài nhóm cò mồi sống bám đáy quần cọng sản dụ được một số người nhẹ dạ ở hải ngoại. Thế mới lạ !

Tiến thêm một bước nữa là chính bọn cầm quyền đích thân ra nước ngoài ăn xin, các chuyến đi đều do những tên số một số hai trong cái gọi là nhà cầm quyền dẫn đầu. Thay thế bị gậy bằng áo veste, cà vạt, cặp da…ngồi chật cả chuyến bay rồi tiền hô hậu ủng ra ngoại quốc không ngoài mục đích van lạy quốc tế vào Việt Nam đầu tư cứu đói. Đặc biệt tên cầm đầu còn xử đụng một chiêu bài có một không hai trong lịch sữ quảng cáo của nhân loại. Vì lo sợ không ai thèm đem tiền của đến cho bọn chơi trò bài ba lá, tên trưởng đoàn cũng là vua hiện giờ của Việt Nam, đóng vai ma cô đem gái ra dụ những tên già hảo ngọt thích của lạ. Nó mời gọi mọi người nên đến Việt Nam đầu tư vì tại đây có nhiều gái đẹp, tha hồ mà…! Mấy trường đại học chuyên về quảng cáo, kinh tế, tài chánh và đầu tư trên thế giới nên cấp ngay cho tên ma cô nầy bằng 'tiến sĩ cò mồi' để thay cái bằng 'tiến sĩ cầu muối' mà nó đã chôm chĩa được.

Vừa bước vào thế kỷ 21 mà những bộ óc của 'đỉnh cao trí tuệ loài người' cọng sản Việt Nam đã phát minh ra được nguyên tắc câu khách thần sầu quỷ khóc nầy thì trong vài năm nữa không biết chúng còn bao nhiêu chiêu để đem ra phô trương ở nước ngoài nữa đây !

Màn 'vua' đem gái ra kêu gọi mọi người đến Việt Nam thưởng thức xem chừng như các đại thần trong ổ chính trị không vừa ý nên chúng lại cho thi hành một trò mới : Dùng gái đẹp (lại cũng gái nữa !) đi xin thay cho bọn chúng : Cô Tim tóc vàng da trắng, sau một thời gian huấn luyện được các bang chủ đỏ cho ra ngoài với chiếc áo dài và vài giọt nước mắt. Thế là cả đám cò mồi bu vào tổ chức ăn có. Đồng bào hải ngoại nghe nói đến một cô gái ngoại quốc da trắng tóc vàng, hy sinh cuộc đời cá nhân để dấn thân cho các trẻ em nghèo khó tật nguyền tại Việt Nam thì ai cũng động lòng trắc ẩn. Có người cho rằng cô Tim chỉ cần nhỏ vai giọt nước mắt và ngậm miệng là đủ ăn tiền, ít ra cũng kiếm được vài triệu để đưa về cho quan thầy. Tại sao lại ngu ngơ tuyên bố hách xì xằng làm gì, đòi hạ cờ Quốc Gia xuống khi có mặt cô ta để bị cộng đồng xem như hủi và đuổi như đuổi tà ! Theo tôi cô Tim đâu ngu, có tuyên bố như vậy thì ít ra cũng hưởng mười phần trăm tiền thưởng của bang chủ. Nếu cô sinh viên balô ngày nào trở lại Thụy sĩ thì cuộc đời của cô cũng vắt giò lên đầu chạy ăn kiếm từng bữa súp bữa bánh mì, chứ đâu được như bây giờ, có tiền đầy túi, lên xe xuống ngựa ra nước ngoài du lịch như đi chợ !

Thành thật mà nói thì cọng sản đã thành công về trò ma giáo, bịp được một số người nước ngoài nhịn thuốc lá, nhịn ăn phở và vui vẻ trút hồ bao góp tiền cho bọn cái bang đỏ qua Pháp trên bốn chuyến bay để tổ chức một đêm dạ vũ, khoe khoang bằng cách đãi tiệc trên hai ngàn người tại Palais des Congrès (Porte Maillot- Paris 17) trong tháng vừa qua với phí tổn gần 20 triệu dollars ! Đồng bào hải ngoại hãy mở mắt ra mà xem, tiền mồ hôi của mỗi đồng hương đóng góp chưa mua được một điếu xìgà cho chúng !

Qua những sự việc trên, bây giờ thì cả thế giới mới ngã ngửa ra nghề ăn xin của cái xứ gọi là 'đỉnh cao trí tuệ loài người' và 'chiếc nôi của nhân loại' đúng thật là siêu việt !

Đinh Lâm Thanh
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image

Joseph Cao và một cộng đồng chuyển hóa

Ngô Nhân Dụng

Một sức mạnh của dân tộc Việt Nam là tổ chức làng xã, các nhà xã hội học như Paul Mus đã xác nhận. Người Việt mở cuộc Nam tiến, đi tới đâu lập làng tới đó, bám lấy đất, mọc rễ, sinh sôi và bành trướng. Họ là những người dân khai phá. Cả vùng đồng bằng sông Cửu Long là kết quả của nhiều thế kỷ khai phá như vậy, mặc dù người Khmer đã đến trước và mở mang rất nhiều.

Năm 1975 có những nhóm người Việt di tản sang Mỹ mang theo cả “làng xã.” Như ở làng Versailles, thành phố New Orleans, tiểu bang Louisiana, nơi đã gửi cho nước Mỹ vị giám mục người Việt đầu tiên, và một dân biểu Hạ viện đầu tiên. Ðức Giám mục Mai Thanh Lương, hiện ở Quận Cam, và Dân biểu Joseph Cao Quang Ánh, mới đắc cử, đều xuất thân từ làng này. Ðó là hai “người Việt đầu tiên” lãnh những trách nhiệm cao cấp về tôn giáo và chính trị trong xã hội Mỹ. Chủ Nhật vừa qua, Joseph Cao được nhiều người Mỹ đón ông xin ký tên trên tờ báo loan tin ông đắc cử, vì muốn sưu tầm một “dấu tích lịch sử!” Người Việt ở khắp nơi chia sẻ niềm vui này, điện thư bay tới tấp báo tin cho nhau.

Nhiều người Việt đến nước Mỹ mang theo va li, những người dân Versailles đã tới Mỹ với tinh thần khai phá. Nhiều người đã di cư từ Bắc vào Nam năm 1975, họ đã khai phá một lần; khi tới Louisiana họ bắt đầu những cuộc khai phá mới. Vì lúc đó Versailles là một vùng đất gần như bỏ hoang, mang cái tên của khu chúng cư Versailles Arms do chính phủ bảo trợ ở phía Ðông New Orleans. Những người Việt tới đó đã “chọn nơi này làm quê hương,” bắt đầu phá rừng, chặt cây, lấp đầm lầy, vỡ đất, làm nhà, họp chợ, và ngày Chủ Nhật thì đi lễ. Những người chủ đất cho họ được tự do, để sau đó mới xây nhà bán dần dần cho những người dân kiếm ra tiền trên đất mới. Cứ như thế, một vùng “rừng núi sình lầy” đã biến thành một làng trù phú. Và tinh thần làng xã, đã được mang từ Bắc vào Nam, rồi từ Nam sang Mỹ, vẫn được người dân ở đó bảo tồn.

Người dân Mỹ chung quanh biết đến đám người Việt “hai lần tị nạn cộng sản” này như những con người cần cù, chịu khó, ngoan đạo, lễ độ, tiết kiệm, và nhà nào cũng lo cho con cái học lên tới bậc đại học. Ðó là một cộng đồng chặt chẽ, có trật tự, và biết dạy bảo lẫn nhau. Các ông cha xứ, những ông trùm áo dài trắng, những cụ bà răng đen, chiết khăn mỏ quạ, vẫn dậy bảo con cháu giữ luân thường đạo lý. Cảnh sát của thành phố hay của tiểu bang không mấy khi được gọi tới làng để phân xử những vụ tranh tụng; thậm chí không thấy xe cảnh sát vào làng ghi giấy phạt xe đậu chỗ cấm.

Nhưng dân Mỹ ở New Orleans và Louisiana chỉ chú ý đến người dân Versailles (và dân Việt tị nạn khắp nước Mỹ nói chung) nhiều nhất là sau một trận thiên tai lịch sử. Tháng Tám năm 2005 bão Katrina tàn phá tiểu bang Louisiana và các vùng lân cận. Những người sống ở vùng đất thấp đều được lệnh di tản, nhiều người đi rồi không trở lại nữa. Nhưng dân Việt ở Versailles là những người bám lấy đất. Sống thoát sau cơn hoạn nạn, người ta lại càng bám lấy đất. Sáu tuần lễ sau cơn bão, dân Việt tị nạn đã trở về nhà, quét dọn bùn lầy, sửa chữa và xây dựng lại. Bốn tháng sau, một nửa dân làng Versailles đã trở về, trong khi phần lớn thành phố New Orleans vẫn còn bị bỏ trống. Cha xứ ở Nguyễn Viên nhà thờ Queen Mary nói, “Trước trận bão Katrina, nói đến quê hương là chúng tôi nghĩ đến Việt Nam. Sau Katrina, chỗ này là quê hương.” Người Việt tị nạn ở nhiều nơi khác cũng kéo nhau đến Versailles để tham gia việc tái thiết.

Cơn bão Katrina khiến cho thành phố New Orleans mất một phần ba số dân nửa triệu người, vì nhiều người không trở lại. Nhưng trong số 25,000 người dân Việt ở đây, 90 phần trăm đã trở lại trong chưa đầy 2 năm. Khi bà Oprah Winfrey làm buổi ti vi kỷ niệm hai năm bão Katrina, bà nhờ người tìm một gia đình Việt Nam nào đang xây lại nhà cửa để mời lên show. Người ta không tìm được ai cả. Người Việt nào cũng đã tái thiết xong nơi mình ở rồi.

Trận bão Katrina làm dân Lousiana ngạc nhiên trước sức mạnh tập thể của người Việt Nam. Khu người Việt ở là những nơi người dân tự động tái thiết trước hết, không ai chờ những chương trình cứu trợ của nhà nước. Và mọi người giúp nhau không nề hà, ông cha xứ cũng cầm cuốc, cầm xẻng, cưa gỗ, quét sơn. Người Việt trở về nhà, hàng năm sau mới nhận được ngân phiếu cứu nạn của chính phủ Mỹ.

Và dân Louisiana còn kinh ngạc thêm trước những cuộc tranh đấu của người dân Việt, khi họ đòi chính quyền ngưng sử dụng vùng đất Chef Menteur cách làng ba cây số làm nơi đổ rác, những đống rác vĩ đại tổng cộng 22 triệu tấn khi dọn dẹp cả thành phố sau khi nước rút.

Cuộc tranh đấu bảo vệ môi trường sống này đã chuyển hóa người dân Versailles và các đồng bào Việt Nam trong thành phố. Từ những cộng đồng khép kín, người Việt đã tham dự, đã hội nhập vào xã hội Mỹ trên những mặt chính trị, xã hội, và đóng vai trò lãnh đạo. Người dân Việt ở Orleans đã sử dụng mọi phương tiện hợp pháp để tranh đấu: Kiến nghị đòi hỏi quyền lợi chính đáng. Họp báo để tạo dư luận tốt. Mời mọi nhóm sắc tộc tham dự. Biểu tình trước tòa thị chính. Ông thị trưởng không đồng ý thì thưa lên tới Sở Bảo Vệ Môi Trường. Kiện các cơ quan công quyền ra trước pháp luật. Khi hội đồng thành phố họp, nhiều cụ già Việt Nam đến nghe, đeo trên tai máy nghe tiếng người thông dịch đồng thời. Tuy các cụ không nghe thủng hết tiếng Mỹ nhưng các cụ hiểu ở nước Mỹ người dân có những quyền nào và trách nhiệm ra sao.

Tháng Tám năm 2006, cuộc tranh đấu thành công. Chef Menteur không còn là khu đổ rác nữa. Và một cộng đồng Việt Nam đã lớn lên, đã chuyển hóa. Căn bản của sự chuyển hóa này là sự tham dự của những người tị nạn vào cuộc sống chính trị nước Mỹ, sử dụng những phương tiện, những luật lệ, những phương pháp đấu tranh cho công ích. Có thể nói, sau 30 năm tị nạn đến xứ này, một cộng đồng đầy tính chất Việt Nam, một làng xã Việt Nam chứ không phải chỉ những cá nhân, đã “Mỹ hóa!” Cộng đồng đã Mỹ hóa theo ý nghĩa đẹp nhất của từ này, Mỹ hóa trên mặt chính trị, họ cầm trong tay những khí cụ mà thể chế tự do dân chủ cung cấp cho mọi người dân để bảo vệ những quyền chính đáng của họ. Trong khu phía Ðông thành phố New Orleans nhiều bảng nhỏ viết tên “Việt Village” được treo lên. Người Việt ở đây nuôi tham vọng cạnh tranh với khu Pháp (French Quater) lịch sử.

Trong khung cảnh cuộc chuyển hóa đó, Joseph Cao Quang Ánh đã đắc cử dân biểu Hạ Viện, đánh bại một dân biểu đương nhiệm đang bị truy tố 16 tội về tham nhũng. Joseph Cao đã tham dự vào những cuộc vận động của dân Việt trong vùng, cũng như đã làm những công tác thiện nguyện ở trại tị nạn của người Việt ở Hồng Kông, hay sang Mexico giúp người nghèo khó. Anh cũng thuộc Boat People SOS, một tổ chức hiện đang tranh đấu giúp cả những người công nhân Việt Nam đi bán sức lao động ở Mã Lai Á và bị chủ nhân bóc lột.

Nhiều yếu tố tình cờ giúp Joseph Cao thắng, mặc dầu Dân Biểu Jefferson gốc Phi Châu, đảng Dân Chủ, mà 60% dân trong đơn vị cùng mầu da với ông. Trong cuộc bỏ phiếu nội bộ đảng Dân Chủ ngày 4 Tháng Mười Một, có 164 ngàn người đi bầu, có 25% chọn Jefferson trong số 6 người muốn đại diện đảng Dân Chủ. Nhưng cũng trong ngày đó, Tổng Thống Tân Cử Barack Obama đã chiếm được 75% số phiếu tại đơn vị này. Nhưng trong cuộc bỏ phiếu bầu thật ngày Thứ Bẩy vừa qua, được ít người chú ý, chỉ có gần 67 ngàn người đi bầu. Joseph Cao thắng đối thủ với mức chênh lệch dưới 2000 phiếu. Jefferson đã chi hơn 2 triệu đô la trong cả cuộc vận động. Joseph Cao chỉ gây quỹ được trên 200 ngàn đô la, và được đảng Cộng Hòa ở trung ương giúp thêm 42 ngàn nữa. Ðể bù lại, Joseph Cao đã được cả những chính trị gia đảng Dân Chủ ủng hộ.

Trong thời gian qua, thành phố New Orleans và tiểu bang Louisiana cũng thay đổi. Họ đã bầu ông Bobby Jindal, một người gốc Ấn Ðộ, làm thống đốc. Trong cuộc bầu cử vừa rồi, có người đã đề nghị Nghị Sĩ John McCain chọn ông Jindal đứng chung vai phó tổng thống! Trong khu thương mại của người Việt đã có nhiều gia đình gốc Mexican đến cư ngụ, quán taco mở ra bên quán phở, dược sĩ người Việt phải cầm cuốn tự điển Enghish-Espanol để tiếp khách hàng. Joseph Cao có hy vọng tái cử trong 2 năm tới nếu chứng tỏ được ông không phải chỉ đại diện cho người Việt Nam. Ông sẽ phải bảo vệ những lá phiếu của người da trắng, thu hút người Mỹ gốc Latino và cả người da đen.

Nam 1975 khi Joseph Cao lên tám, được mẹ gửi bà con lên máy bay sang Mỹ. Năm sau cậu nhận được thư của bố, viết từ trong nhà tù “cải tạo” ra, khuyên con hãy cố gắng học hành và trở nên người hữu dụng cho xã hội. Bây giờ cậu con trai sẽ chứng tỏ cậu là một người hữu dụng, để đền đáp công ơn cha mẹ. Như Linh Mục Nguyễn Hùng Dũng ở New Orleans nhận xét, việc đắc cử của Joseph Cao cũng là để đền đáp cho những hy sinh, nhẫn nhục và công xây dựng của nhiều thế hệ di dân người Việt.

Joseph Cao nói thành thật, anh chưa bao giờ mơ đến chuyện trở thành một dân biểu liên bang! Một người Việt, mới 41 tuổi, mang thắng lợi về cho đảng Cộng Hòa tại một đơn vị đã bầu cho đảng Dân Chủ từ mấy chục năm nay. Giống như một phép lạ! Phép lạ này chỉ trong một chế độ tự do dân chủ mới xảy ra. Sau khi Joseph Cao thành công, các bạn trẻ người Việt Nam ở trong nước và ngoài nước có thể thấy nhiều hy vọng ở tương lai.
Last edited by khieulong on Thu Dec 11, 2008 5:14 am, edited 1 time in total.
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Giang sơn trội tính nghĩa hùng,
nhàn quỳnh thu, túc nghiên thạch !

Giang sơn Tổ quốc nối liền , có ai không nhớ !
Non nước là chữ thuần Việt cũng gắn liền Tổ quốc, nước non, đất nước !
Những con người yêu nước Việt đã và đang sống như chết cho đất nước phải được vinh danh !

Câu nói làm tiêu đề bài viết mong được giãi bày cùng quý vị !

Từ bao ngàn năm nay, đất nước ta chưa bao giờ chịu nhục. Từ ngàn năm bắc thuộc hay cả trăm năm thuộc địa chưa bao giờ nhân dân ta ngừng nghỉ đấu tranh. Đất nước toàn vẹn là mục tiêu thôi thúc cả dân tộc hy sinh tất cả để giữ gìn và giành lại những gì đã mất. "Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau , nhưng hào kiệt đời nào cũng có", hay trước đó " Nam quốc sơn hà , Nam đế cư" là những tuyên ngôn bất hủ cho độc lập , tự chủ, tự cường của dân tộc ta . Éo le thay, những năm giữa thế kỷ 20 đến đầu thế kỷ 21 nhân dân ta đã từng được ngấm mùi "tổ chim sẻ". Biên cương từ Ải Nam quan, Thác bản Dốc rồi vịnh Bắc bộ, Hoàng sa, Trường sa đang xa dần máu thịt Âu Cơ, đang bị ngoại bang lóc thịt, xẻ da, cắt gân cho xa rời dòng giống Lạc Hồng.

Ở một đất nước mà tính chính nghĩa, tính anh hùng được đề cao (tính trội) thì ngàn năm văn vật vẫn còn. Ở đất nước mà tính lừa dối được nâng lên dù tự phát hay bị ép buộc cũng đưa dân tộc đến diệt vong. Hàng trăm ngàn liền bà con gái đi làm công nhật, cô dâu, gái ...cho Đài loan, Hàn quốc, Mã lai...hay hàng trăm ngàn đàn ông đi làm xuất khẩu lao động cực nhọc nơi xứ lạ đủ để suy nhược giống nòi. Tổ quốc mà tính ân nghĩa, tính hào hùng được trọng dụng thì an nhàn muôn thuở. Lòng hướng về cái nhàn, ngàn mối lo tan hết, như hoa Quỳnh khoe hương sắc mùa thu, năm nào cũng vậy. Tổ quốc mà nghĩa hiệp, hùng cường thì ngàn thu vững như bàn thạch, mỗi bước đi (túc) lên tương lai như dời sơn đảo hải, giống như nghiên, bút vẫn coi là tri thức, quốc đạo được Văn Miếu ghi tên ngàn năm vậy.

Thế giới nói chung, các tổng thống như ông Bush...đều có nói rằng những người đấu tranh cho dân chủ hôm nay sẽ là những lãnh đạo tương lai của đất nước họ, của dân tộc họ. Và cũng vô tình, nhưng cái tên của họ đã làm nên một câu thành ngữ cho tương lai : Giang sơn trội tính nghĩa hùng, nhàn quỳnh thu, túc nghiên thạch !. Đó là :
Nguyễn Thanh GIANG
Nguyễn Mạnh SƠN
Phạm Văn TRỘI
Nguyễn Văn TÍNH
Nguyễn Xuân NGHĨA
Vũ Văn HÙNG
Nguyễn Kim NHÀN
Ngô QUỲNH
Lê Thị Kim THU
Nguyễn Văn TÚC
Phạm Thanh NGHIÊN
Trần Đức THẠCH

Câu thành ngữ này được hàng chục tờ báo của đảng đọc đi đọc lại hàng chục ngày qua, họ còn trưng cả ảnh của các chiến sỹ đấu tranh cho dân chủ nhân quyền lên trang nhất hòng dẫn chứng cho những lời văn của lũ người đang bị nô dịch hoá, thuộc địa hoá của tư tưởng Mác - Lê nin.
Báo Tổ quốc hay báo Giang sơn cũng là một. Một tiếng nói đối lập nhỏ nhoi minh chứng cho sự sắp đội sổ trong làng tự do báo chí thế giới của chế độ cầm quyền, vậy mà họ nỡ gạt bỏ, coi là báo lậu để rồi ngày mai đây nền tự do báo chí độc tài cộng sản Việt nam sẽ là số một từ dưới lên của phân cấp báo chí thế giới tự do dân chủ .
Những người đấu tranh dân chủ hãy tự hào vì có một lãnh đạo như ông Nguyễn Thanh Giang, với 73 tuổi ông vẫn kiên cường đấu tranh vì đất nước tự do dân chủ, ông vẫn không ngại nhận những công việc nhạy cảm về mình để giúp đỡ đa số anh em trong phong trào. Ông xứng đáng được nhiều người, rất nhiều người biết ơn vì những đóng góp, công lao như vậy. Tập san Tổ quốc là một trong vài ba tờ báo hiếm hoi đang phát hành công khai, thách thức sự đàn áp của độc tài cộng sản. Sự hy sinh về quyền lợi vật chất, quyền lợi chính trị, quyền được làm "người quan sát"...của chủ nhiệm báo phải được tôn vinh đúng mức, nhất là trong giới đấu tranh dân chủ, nhân quyền. Báo giấy của đảng cũng không ngờ khi quy kết ông là tay sai của đảng phản động thì vô hình chung làm công chúng nhận biết đảng phản động đó lại có những con người ưu việt như vậy trong tổ chức.

Báo chí một chiều những ngày qua không ngừng quy kết, chụp mũ những chiến sĩ dân chủ là thèm đôla, làm tay sai...Nhưng sự thật có đâu như vậy. Một nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, hội văn học nghệ thuật Hải Phòng với hàng trăm bài viết trong tập " Hai nửa vỡ" ...nói lên sự đau khổ khốn cùng của hàng ngàn người dân từ khi giải phóng đến khi được đi bán sức lao động hay sức "tự có" nơi xứ người lại có thể yêu "đồng đô la bẩn thỉu" đến vậy sao. Đến hôm nay, hội văn học đảng tính đó đã khai trừ anh ra khỏi hội. Ông Phùng Mai người phổ biến lá thư được coi như của anh Nghĩa ra trước công luận mạng internet và quốc tế về việc xin giúp đỡ thì chính anh Nghĩa trước khi bị bắt đã từ chối nhận sự giúp đỡ đó, ông Phùng Mai có điện thoại cho chị Nga- vợ anh Nghĩa, nhiều lần nhưng chị nhất quyết không nhận sự giúp đỡ với những lời lẽ không lấy gì làm lịch sự trong bức thư kêu gọi của ông. Trước đó ông có gửi về cho anh Nghĩa và cô Nghiên một vài vỉ thuốc ốm đau nhưng qua ai đó làm sao mà đến nay vẫn chưa nhận được. Ông cũng nói nếu số tiền anh Nghĩa không nhận mà đưa cho đối tượng bảo lãnh của ông thì người đó sẽ nhận ngay để hòng làm le với chị Nga vợ anh Nghĩa để chị vui lòng nhận số tiền đó. Hiện nay số tiền 1000 đô la mà bên ông Phùng Mai quyên góp theo lá thư đó vẫn nằm nguyên trong túi của ông. Nhưng việc này đã bung bét ra và an ninh nhất quyết quy chụp anh Nghĩa làm biểu ngữ cho phong trào vì số tiền ảo đó. Hiện nay anh Nghĩa bị bệnh trĩ, đau dạ dày... trong tù dưới sự quản thúc gắt gao của bộ công an vậy mà gần như lãnh đạo khối 8406 đều không hỏi thăm gia đình, có lãnh đạo còn kiên quyết nói " nếu anh ấy không bị bắt thì chúng tôi cũng loại ra khỏi khối 8406 vì làm việc gì cũng không xin ý kiến lãnh đạo và đi xin tiền". Liệu có ai hiểu cho anh Nghĩa, cho gia đình anh ấy. Làm sao dưới sự kiềm toả ngặt nghèo này của an ninh mà anh ấy lại giữ được bí mật để xin ý kiến lãnh đạo của ông Đỗ Nam Hải ?- một người mà ai cũng biết đã viết cam đoan gì, xin nhận gì, xin thôi gì trong năm 2006 ngay khi bị an ninh đến nhà chuẩn bị bắt đi vào nhà tù nhỏ. Làm sao việc xin tài trợ lại chỉ độc quyềnh lãnh đạo 8406 mới được làm ?. Nếu các bậc lãnh đạo 8406 biết việc anh Nghĩa phải khó khăn gian khổ như thế nào để tham gia biểu tình, băng role, biểu ngữ...thì họ mới biết để so sánh với việc đấu tranh "võ mồm" hay "salon" . Những khi anh bỏ xe máy , vượt rào sang nhà hàng xóm của bạn, lội bộ qua cánh đồng...để đi chỉ đạo biểu tình, rồi bị đánh đập...thì anh có nghĩ rằng mình đấu tranh vì những đồng tiền nhỏ nhoi đó. Anh Nghĩa là một con người sống chết với phong trào dân chủ và anh cũng sẵn sàng chết vì niềm tin , lý tưởng đó của mình.
Thầy giáo Vũ Hùng cũng như vậy. Có ai tin rằng thầy nhận 400 đô la tiền công để rải truyền đơn như báo công an đã đưa tin . Đúng là thầy có nhận, hay bị ép phải nhận vì tình cảm của đồng bào Hải ngoại. Khi đó thầy vừa bị đuổi việc dạy học, đánh trống vì đấu tranh dân chủ. Ông Sỹ Hoàng đã vận động diễn đàn giúp thầy 400 đôla để thày kiếm kế sinh nhai , làm một quán rửa xe máy, bán chè chén...ngay trước cổng nhà, gần đường đi. Thầy cũng đã khai báo với an ninh sự giúp đỡ này, và chính vì vậy lũ bồi bút đểu giả đã dựng chuyện thầy nhận tiền rải truyền đơn. Thầy Vũ Hũng chỉ duy nhất thực hiện việc treo biểu ngữ ở cầu vượt Nam Thăng Long . Nội dung biểu ngữ đến nay vẫn được bà con nhân dân bàn tán và họ thực sự ngưỡng mộ con người đã nói thay, làm thay cho họ.
Một câu chuyện vui, vẫn được người đời kể lại, đó là khi một người cám ơn người khác và nói rằng : Tôi không biết làm sao mà cảm ơn đủ tấm lòng của anh!. Người kia nói lại rằng : từ khi con người phát minh ra tiền thì việc đó có khó gì đâu. Từ PMU18 đến PCI ngày nay chắc lãnh đạo chính quyền vẫn thường làm vậy. Mà họ đâu có tính bằng trăm đôla. Chỉ có những người nhận ân nghĩa từ những đồng bào của họ mới bị báo chí tự do độc tài sơn phết cho những tội "tày đình" như vậy.

Xin mượn câu thơ của Trung Tướng Trần Độ để cho đoạn kết :

"Những mơ xoá ác ở trên đời
Ta phó thân ta với đất trời
Ngỡ ác xóa rồi thay cực thiện
Ai hay, biến đổi, ác luân hồi. "


Hà nội, 10/12/2008.
Nguyễn Phương Anh.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Công Uớc Quốc Tế về những Quyền Dân Sự & Chính Trị

Lời Mở Đầu

Các Quốc Gia Hội Viên ký kết Công Ước này:
Xét rằng, chiếu theo những nguyên tắc công bố trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền bình đẳng và bất khả chuyển nhượng của tất cả các phần tử trong đại gia đình nhân loại là nền móng của tự do, công lý và hoà bình thế giới.

Nhìn nhận rằng những quyền này xuất phát từ phẩm giá bẩm sinh của con người.

Nhìn nhận rằng, chiếu theo Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, lý tưởng về một con người tự do được hành xử những quyền dân sự và chính trị cũng như được giải phóng khỏi sự sợ hãi và khốn cùng, chỉ có thể đạt được nếu hội đủ những điều kiện thuận tiện để con người được hưởng những quyền dân sự và chính trị cũng như những quyền kinh tế, xã hội và văn hoá.

Xét rằng nghiã vụ của các quốc gia hội viên theo Hiến Chương Liên Hiệp Quốc là phát huy sự tôn trọng và thực thi trên toàn cầu những nhân quyền và những quyền tự do của con người.

Nhận định rằng con người có nghiã vụ đối với những người khác cũng như đối với cộng đồng, nên có trách nhiệm phải phát huy và tôn trọng những quyền được nhìn nhận trong Công Ước này.

Đồng chấp thuận những điều khoản sau đây:

PHẦN I
Điều 1:


1) Các dân tộc đều có quyền tự quyết. Chiếu theo quyền này, họ được tự do quyết định về chế độ chính trị và tự do theo đuổi đường hướng phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá.

2) Để đạt được mục tiêu này, các dân tộc có quyền tự do sử dụng các nguồn lợi thiên nhiên của mình, miễn là không vi phạm những nghiã vụ phát sinh từ sự hợp tác quốc tế về kinh tế, đặt căn bản trên quyền lợi hỗ tương và luật pháp quốc tế. Trong mọi trường hợp các phương tiện sinh sống của nghiệp đoàn không thể bị tước đoạt.

3) Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này, kể cả những quốc gia có trách nhiệm bảo hộ hay giám hộ các lãnh thổ khác, phải tôn trọng và xúc tiến việc thực thi quyền dân tộc tự quyết chiếu theo các điều khoản của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc.

PHẦN II
Điều 2:


1) Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này cam kết tôn trọng và bảo đảm thực thi những quyền được nhìn nhận trong Công Ước cho tất cả mọi người sống trong lãnh thổ và thuộc thẩm quyền quốc gia, không phân biệt chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác.

2) Trong trường hợp những quyền được nhìn nhận trong Công Ước này chưa được quy định thành văn trong luật pháp quốc gia, các quốc gia hội viên ký kết Công Ước cam kết sẽ ban hành các đạo luật theo thủ tục luật pháp quốc gia và theo các điều khoản của Công Ước để các quyền này có hiệu lực.

3) Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này cam kết:

a) Bảo đảm cho các nạn nhân quyền được đền bù hay đòi bồi thường thỏa đáng khi những quyền tự do của họ bị vi phạm, dầu rằng người vi phạm là một viên chức chính quyền.

b) Bảo đảm cho các nạn nhân quyền được khiếu nại tại các cơ quan tư pháp, hành chánh hay lập pháp quốc gia, hay tại các cơ quan có thẩm quyền và phát triển quyền khiếu tố trước toà án.

c) Bảo đảm các cơ quan thẩm quyền phải thi hành nghiêm chỉnh những sự đền bù hay bồi thường đã tuyên

Điều 3: Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này cam kết bảo đảm quyền bình đẳng nam nữ trong việc hành xử những quyền dân sự và chính trị ghi trong Công Ước.

Điều 4:
1) Trong khi tuyên bố tình trạng khẩn trương công cộng vì lý do quốc gia bị đe doạ, Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này có thể ban hành một số biện pháp đình chỉ thi hành các nghiã vụ của quốc gia ấn định trong Công Ước này. Tuy nhiên những biện pháp này phải có tính cách thật cần thiết vì nhu cầu của tình thế, và không vi phạm các nghiã vụ của quốc gia phát sinh từ luật pháp quốc tế, và cũng không được dùng để kỳ thị chủng tộc, mầu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo hay nguồn gốc xã hội.

2) Trong mọi trường hợp những quyền dân sự và chính trị ghi trong các điều 6, 7, 8 (khoản 1 và 2), và trong các điều 11, 15, 16, 18 của Công Ước không thể bị đình chỉ thi hành.

3) Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này phải lập tức thông báo qua vị Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc cho các quốc gia hội viên kết ước khác hay biết những điều khoản nào trong Công Ước đã bị đình chỉ thi hành, và vì lý do gì. Ngay sau khi chấm dứt tình trạng khẩn trương công cộng, họ cũng phải thông báo theo thủ tục nói trên.

Điều 5:

1) Không một quốc gia, một phe nhóm hay một cá nhân nào có quyền giải thích các điều khoản trong Công Ước này để cho phép họ hoạt động hay làm những hành vi nhằm tiêu diệt những quyền tự do đã được Công Ước thừa nhận, hoặc để giới hạn những quyền tự do này quá mức ấn định trong Công Ước.

2) Các quốc gia hội viên kết ước nào đã thừa nhận một số nhân quyền căn bản trong luật pháp quốc gia, công ước, quy chế hay tục lệ, sẽ không được quyền giới hạn hay đình chỉ thi hành các nhân quyền căn bản đó, viện cớ rằng Công Ước này không thừa nhận những nhân quyền đó, hay chỉ thừa nhận trong một phạm vi hạn hẹp hơn.

PHẦN III
Điều 6:


1) Mọi người đều có quyền sống. Đây là một quyền bẩm sinh được luật pháp bảo vệ. Không ai có thể bị tước đoạt quyền sống một cách độc đoán.

2) Trong các quốc gia chưa bãi bỏ hình phạt tử hình, toà án chỉ được tuyên án tử hình đối với những tội hình sự nghiêm trong nhất chiếu theo luật pháp áp dụng trong thời gian phạm pháp và không trái với những điều khoản của Công Ước này và của Công Ước Ngăn Ngừa và Trừng Phạt Tội Diệt Chủng. Hình phạt tử hình chỉ có thể được thi hành chiếu theo một bản án chung thẩm của một tòa án có thẩm quyền.

3) Điều luật này không cho phép các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này được giải trừ các nghiã vụ ghi trong Công Ước Ngăn Ngừa và Trừng Phạt Tội Diệt Chủng trong trường hợp sự hành quyết hay sát nhân cấu thành tội diệt chủng.

4) Các bị cáo bị tuyên án tử hình có quyền xin ân xá hay ân giảm hình phạt. Lệnh đại xá, ân xá hay ân giảm hình phạt có thể được ban hành trong mọi trường hợp.

5) Án tử hình không được tuyên đối với các bị cáo chưa đủ 18 tuổi khi phạm pháp, và cũng không được thi hành đối với các phụ nữ mang thai.

6) Điều luật này không thể được viện dẫn để trì hoãn hay ngăn cản việc bãi bỏ hình phạt tử hình tại các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này.

Điều 7: Không ai có thể bị tra tấn, hoặc phải chịu những hình phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm hạ thấp phẩm giá con người. Đặc biệt là, nếu không có sự ưng thuận tự do của đương sự, không ai có thể bị dùng vào những cuộc thí nghiệm y học hay khoa học.

Điều 8:

1) Không ai có thể bị bắt làm nô lệ; chế độ nô lệ và mọi hình thức buôn bán nô lệ đều bị cấm chỉ.

2) Không ai có thể bị bắt làm nô dịch.

3)

a) Không ai có thể bị cưỡng bách lao động.

b) Khoản 3 (a) nói trên không được áp dụng tại các quốc gia trong đó luật pháp cho phép toà án có thẩm quyền tuyên án tù khổ sai.

c) Trong phạm vi khoản này, không được coi là “lao động cưỡng bách“:

i) Ngoài trường hợp nêu ở khoản (b) trên đây, những công tác hay dịch vụ mà các tù nhân phải làm trong thời gian bị giam giữ chiếu theo một bản án hợp pháp của toà án, hay phải làm trong thời gian được phóng thích có điều kiện.

ii) Nghiã vụ quân sự, hay nghiã vụ quốc gia áp dụng cho những người được luật pháp cho miễn thi hành nghiã vụ quân sự vì lý do lương tâm.

iii) Nghiã vụ cộng đồng trong trường hợp khẩn trương hay thiên tai đe doạ đời sống hay sự an lạc của cộng đồng.

iv) Những nghiã vụ dân sự thông thường.

Điều 9:

1) Ai cũng có quyền tự do thân thể và an ninh thân thể. Không ai có thể bị bắt giữ hay giam cầm độc đoán. Không ai có thể bị tước đoạt tự do thân thể ngoại trừ những trường hợp và theo những thủ tục luật định.

2) Khi bị bắt giữ, bị cáo phải được tức thì thông báo về lý do bắt giữ, và phải được thông báo không chậm trễ về tội trạng bị cáo buộc.

3) Bị cáo bị bắt giữ hay giam cầm về một tội hình sự phải được dẫn giải không chậm trễ tới một vị thẩm phán (hay một viên chức có thẩm quyền tư pháp theo luật), để được xét xử trong một thời hạn hợp lý hay được phóng thích. Theo thông lệ, không nhất thiết phải câu lưu bị cáo trước ngày toà xử. Tuy nhiên để bảo đảm sự hiện diện của bị cáo trong phiên xử hay trong các giai đoạn thẩm vấn, và để thi hành bản án, nếu cần, sự phóng thích tạm bị cáo đòi hỏi phải có bảo đảm.

4) Những người bị bắt giữ hay giam cầm đều có quyền yêu cầu toà án thụ lý không chậm trễ về tính hợp pháp của sự giam giữ, và phải được phóng thích nếu sự giam giữ được xét là bất hợp pháp.

5) Các nạn nhân trong những vụ bắt giữ hay giam cầm bất hợp pháp có quyền khiếu tố đòi bồi thường thiệt hại.

Điều 10:

1) Những người mất tự do vẫn phải được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm.

2)

a) Ngoại trừ những trường hợp đặc biệt, các bị cáo chưa được xét xử phải được giam giữ cách biệt với những người đã can án, và phải được đối xử theo quy chế của những người không can án.

b) Các bị cáo thiếu nhi phải được giam giữ cách biệt với người lớn và phải được xét xử trong thời hạn sớm nhất.

c) Chế độ lao tù phải đặt trọng tâm vào việc cải huấn tù nhân, tạo cho họ cơ hội cải hoá và hội nhập vào đời sống xã hội. Các thiếu nhi phạm pháp phải được giam giữ cách biệt với người lớn, và phải được đối xử tuỳ theo tuổi tác và tình trạng pháp lý của chúng.

Điều 11: Không ai có thể bị giam giữ chỉ vì không có khả năng thi hành một nghiã vụ khế ước.

Điều 12:

1) Những người cư trú hợp pháp trong lãnh thổ một quốc gia đều có quyền tự do đi lại và tự do lựa chọn nơi cư trú trong lãnh thổ.

2) Mọi người đều được quyền tự do rời khỏi một quốc gia, kể cả quốc gia của mình.

3) Những quyền tự do ghi trên không thể bị giới hạn, ngoại trừ những trường hợp luật định vì nhu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khoẻ công cộng, đạo lý, hay những quyền tự do của người khác, và nếu không trái với những quyền tự do khác được thừa nhận trong Công Ước này.

4) Không ai có thể bị tước đoạt quyền hồi hương một cách độc đoán.

Điều 13: Ngoại kiều cư trú hợp pháp trong lãnh thổ các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này chỉ có thể bị trục xuất do một quyết định hợp pháp. Trừ trường hợp có lý do cưỡng thúc về an ninh quốc gia, người bị trục xuất có quyền trình bày lý do để chống lại quyết định trục xuất, và có quyền nhờ người biện hộ nạp đơn xin tái xét hồ sơ trục xuất tại các cơ quan hay người đại diện cơ quan có thẩm quyền.

Điều 14:

1) Mọi người đều bình đẳng trước toà án. Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một toà án độc lập, vô tư và có thẩm quyền theo luật, để phán xử về những tội trạng hình sự mà mình bị cáo buộc hay về những quyền lợi và nghiã vụ của mình trong các vụ tranh tụng khác. Báo chí và công chúng có thể không được tham dự một phần hay toàn thể phiên xử, vì nhu cầu đạo lý, trật tự công cộng hay an ninh quốc gia trong một xã hội dân chủ, hay để bảo vệ đời sống riêng tư của các đương sự tranh tụng, hay, trong những trường hợp thật cần thiết, khi toà án quyết định rằng xét xử công khai sẽ làm thiệt hại quyền lợi của công lý. Tuy nhiên các bản án hình sự và các bản án khác phải được tuyên đọc công khai trước toà, ngoại trừ trường hợp để bảo vệ quyền lợi của thiếu nhi hay của gia đình trong những vụ tranh tụng về hôn nhân hay về việc giám hộ các con.

2) Bị cáo về các tội hình sự có quyền được suy đoán là vô tội cho đến khi bị chứng minh là có tội theo luật.

3) Trong các vụ hình sự, tất cả các bị cáo đều được hưởng đồng đều những bảo đảm tối thiểu sau đây:

a) Được tức thì thông báo tội trạng với đầy đủ chi tiết bằng ngôn ngữ mà họ thông hiểu.

b) Quyền có đủ thời gian và phương tiện để chuẩn bị sự biện hộ và được quyền liên lạc với luật sư do mình lựa chọn.

c) Được xét xử mau chóng, không diên trì quá đáng.

d) Được hiện diện trong phiên xử để tự biện hộ hay nhờ luật sư biện hộ do mình lựa chọn; được thông báo về quyền này trong trường hợp tự biện hộ; và được quyền có luật sư biện hộ miễn phí vì nhu cầu công lý nếu bị cáo không có phương tiện mướn luật sư.

e) Được đối chất với các nhân chứng buộc tội và được quyền đòi nhân chứng và chất vấn các nhân chứng gỡ tội cho mình, theo cùng một thủ tục.

f) Được quyền có thông dịch viên miễn phí, nếu bị cáo không nói hay không hiểu ngôn ngữ của toà.

g) Được quyền không khai, để khỏi phải tự buộc tội mình, hay khỏi phải thú nhận tội trạng.

4) Trong các vụ án thiếu nhi, thủ tục xét xử phải căn cứ vào tuổi tác của bị cáo và hướng về mục tiêu cải huấn can phạm.

5) Các bị cáo bị tuyên phạt có quyền kháng cáo lên toà trên theo thủ tục luật định.

6) Trong trường hợp bị cáo bị tuyên hình phạt chung thẩm và sau này bản án bị tiêu huỷ hay đương sự được ân xá vì có sự kiện mới phát giác cho biết bị cáo đã bị phạt oan uổng, người bị kết án có quyền đòi bồi thường thiệt hại theo luật, trừ phi có bằng chứng cho biết, sở dĩ sự kiện mới này không được phát giác trong thời gian xử án, một phần hay hoàn toàn tại vì bị cáo.

7) Không ai có thể bị tái thẩm hay bị tuyên phạt một lần nữa về một tội trạng đã được toà án phán xử chung thẩm bằng cách tuyên phạt hay tha bổng, chiếu theo luật pháp và thủ tục hình sự hiện hành.

Điều 15:

1) Không ai có thể bị kết án về một tội hình sự do những điều mình đã làm hay không làm, nếu những điều ấy không cấu thành tội hình sự chiếu theo luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế áp dụng hồi đó; mà cũng không bị tuyên một hình phạt nặng hơn hình phạt được áp dụng trong thời gian phạm pháp. Tuy nhiên bị cáo được quyền hưởng hình phạt khoan hồng hơn chiếu theo luật mới ban hành sau ngày phạm pháp.

2) Điều luật này không có tác dụng ngăn cản việc xét xử hay tuyên phạt một bị cáo vì đã làm hay không làm những hành vi cấu thành tội hình sự chiếu theo những nguyên tắc luật pháp tổng quát được thừa nhận bởi cộng đồng các quốc gia trong thời gian đương sự phạm pháp.

Điều 16: Ai cũng có quyền được công nhận là con người trước pháp luật bất cứ tại đâu.

Điều 17:

1) Không ai có thể bị xâm phạm trái phép hay độc đoán vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hoặc bị xúc phạm trái phép đến danh dự và thanh danh.

2) Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những xâm phạm ấy.

Điều 18:

1) Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo. Quyền này bao gồm quyền tự do theo một tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự thờ phụng, hành đạo, nghi lễ hay giảng dạy, hoặc riêng tư hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng.

2) Không ai bị cưỡng bách tước đoạt quyền tự do lựa chọn tôn giáo hay tín ngưỡng.

3) Quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn theo luật, vì nhu cầu bảo vệ an toàn công cộng, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng, đạo lý hay những quyền tự do căn bản của người khác.

4) Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này cam kết tôn trọng quyền của cha mẹ hay người giám hộ trong việc giáo dục các con về tôn giáo hay đạo lý theo tín ngưỡng của họ.

Điều 19:

1) Mọi người đều có quyền giữ vững quan niệm mà không bị ai can thiệp.

2) Mọi người đều có quyền tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận, và phổ biến mọi tin tức và ý kiến bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩm, dưới hình thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương tiện truyền thông khác, không kể biên giới quốc gia.

3) Việc hành sử quyền tự do phát biểu quan điểm (ghi ở khoản 2 nói trên) đòi hỏi đương sự phải có những bổn phận và trách nhiệm đặc biệt. Quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật vì nhu cầu:

a) Tôn trọng những quyền tự do và thanh danh của người khác.

b) Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng hay đạo lý.

Điều 20:

1) Mọi hình thức tuyên truyền, cổ võ chiến tranh phải bị luật pháp cấm chỉ.

2) Mọi hình thức gieo rắc căm hờn, xúi giục kỳ thị, hiềm khích, kích thích bạo động giữa các quốc gia, các chủng tộc hay các tôn giáo phải bị luật pháp cấm chỉ.

Điều 21: Quyền hội họp có tính cách hoà bình phải được thừa nhận. Việc hành xử quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi luật pháp, vì các nhu cầu cần thiết trong một xã hội dân chủ để bảo vệ an ninh quốc gia, an toàn công cộng, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng, đạo lý, hay những quyền tự do của người khác.

Điều 22:

1) Ai cũng có quyền tự do lập hội, kể cả quyền thành lập và gia nhập các nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi của mình.

2) Việc hành xử quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi luật pháp, vì các nhu cầu cần thiết trong một xã hội dân chủ để bảo vệ an ninh quốc gia, an toàn công cộng, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng, đạo lý, hay những quyền tự do của người khác. Điều luật này không có tác dụng ngăn cấm việc ban hành các giới hạn luật định liên quan đến sự hành xử quyền tự do lập hội của các giới quân nhân và cảnh sát.

3) Điều luật này không có hiệu lực cho phép các quốc gia hội viên ký kết Công Ước Lao Động Quốc Tế năm 1948 về Quyền Tự Do Lập Hội và Bảo Vệ Quyền Lập Hội, được ban hành hay áp dụng những đạo luật có tác dụng vi phạm những bảo đảm về những quyền tự do ghi trong Công Ước Lao Động Quốc Tế.

Điều 23:

1) Gia đình là đơn vị tự nhiên và căn bản trong xã hội và phải được xã hội và quốc gia bảo vệ.

2) Thanh niên nam nữ đến tuổi thành hôn có quyền kết hôn và lập gia đình.

3) Hôn thú chỉ được thành lập nếu có sự ưng thuận hoàn toàn tự do của những người kết hôn.

4) Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này phải ban hành những biện pháp để bảo đảm sự bình đẳng về quyền lợi và trách nhiệm của vợ chồng khi kết hôn, trong thời gian hôn thú, cũng như khi ly hôn. Trong trường hợp ly hôn phải quy định những biện pháp bảo vệ quyền lợi của các con.

Điều 24:

1) Không phân biệt chủng tộc, mầu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản hay dòng dõi, các trẻ em, với tư cách vị thành niên, phải được gia đình, xã hội và quốc gia bảo vệ.

2) Trẻ em phải được khai sinh ngay sau khi sinh, và được đặt tên họ.

3) Trẻ em có quyền thủ đắc quốc tịch.

Điều 25:

1) Không bị kỳ thị (như đã quy định ở điều 2) và không bị giới hạn bất hợp lý, mọi công dân đều có quyền và có cơ hội:

a) Được tham gia vào việc điều hành chính quyền, hoặc trực tiếp hoặc qua những đại biểu do mình tự do tuyển chọn.

b) Được bầu cử và ứng cử trong những cuộc tuyển cử tự do và công bằng theo định kỳ, bằng phổ thông đầu phiếu kín, bảo đảm trung thực ý nguyện của cử tri.

c) Được quyền bình đẳng tham gia công vụ trong nước.

Điều 26: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị. Trên phương diện này, luật pháp cấm mọi kỳ thị và bảo đảm cho tất cả mọi người quyền được bảo vệ một cách bình đẳng và hữu hiệu chống mọi kỳ thị về chủng tộc, mầu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào.

Điều 27: Đối với các cộng đồng thiểu số về chủng tộc, tôn giáo, hay ngôn ngữ tại các quốc gia hội viên, Công Ước này bảo đảm cho các thành phần thiểu số cũng với những người khác trong cộng đồng của họ được quyền hưởng văn hoá riêng, được truyền giáo và hành đạo riêng, và được sử dụng ngôn ngữ riêng của họ.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Hiến Chương 08

Ngô Nhân Dụng

Nhân kỷ niệm 60 năm ngày ra đời của bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, hơn bốn trăm nhà trí thức Trung Hoa đã viết bản “Hiến Chương 08” (Linh Bát Hiến Chương) đòi thực hiện dân chủ và tôn trọng nhân quyền. Một số người đã bị bắt hoặc hỏi cung trước khi bản văn được công bố. Nhà văn Lưu Hiểu Ba (Liu Xiaobo) bị bắt từ ngày 8 Tháng Mười Hai, còn bị giam giữ.

Nhóm trí thức này gồm các kỹ sư, thi sĩ, luật sư, thương gia, nhà văn, ký giả, vân vân, họ kêu gọi sửa đổi hiến pháp Trung Quốc, bỏ chế độ độc đảng để thi hành một chế độ dân chủ thật sự. Chúng ta sẽ thấy bản hiến chương này chứa đựng đủ những gì mà người Việt Nam cũng mong mỏi.

Thí dụ, bản hiến chương đề nghị guồng máy nhà nước phải phi chính trị. Không đảng nào được phép tổ chức chi bộ chính trị trong hàng ngũ quân đội. Việc thăng thưởng trong quân đội và trong công chức không được dựa vào đảng chính trị nào. Chế độ hiện nay ưu đãi các đảng viên cộng sản trong việc thăng thưởng phải chấm dứt. Về hình luật, phải bãi bỏ tội danh “xúi giục lật đổ nhà nước” là một thứ tội mà đảng Cộng Sản gán cho tất cả mọi người dân muốn lên tiếng khi bị oan ức. Ðây là những lời yêu cầu cụ thể mà người dân Trung Hoa có thể hiểu và hưởng ứng.

Trong phạm vi kinh tế, bản hiến chương yêu cầu phải bảo vệ quyền tư hữu (như đảng Cộng Sản đã sửa hiến pháp để ghi vào) nhưng đặc biệt là trả cho nông dân quyền làm chủ ruộng đất. Dân được tự do mua bán ruộng đất. Phải bãi bỏ chế độ hộ khẩu đang ưu đãi dân thành thị và đẩy các nông dân xuống hạng nhì, tạo thêm bất công xã hội.

Những lời yêu cầu này nhắm đúng một vấn đề trầm trọng mà đảng Cộng Sản Trung Quốc đang lo đối phó. Ðó là con số hàng triệu “lưu dân” từ nông thôn lên thành phố làm việc, nhiều người đang bị thất nghiệp, trở về quê cũng không có việc làm. Cơn suy thoái kinh tế toàn cầu khiến tỷ lệ phát triển của Trung Quốc đang từ 9 và trên 10% sẽ tụt xuống còn 5 tới 6% trong mấy tháng nay, hàng xuất cảng từ Trung Quốc đang tụt giảm vì nhu cầu xuống khắp nơi. Khi kinh tế xuống, các lưu dân là những người thất nghiệp đầu tiên.

Trong lục địa có khoảng 130 triệu nông dân trôi nổi như vậy. Khi lên thành phố họ không có hộ khẩu nên không được hưởng gì về y tế, giáo dục, xã hội; việc làm của họ không cố định, và khi kinh tế xuống thì họ là những người bị đuổi đầu tiên. Hiện Cộng Sản Bắc Kinh đang cho công an canh 24/24 ở các nhà ga xe lửa đếm số lưu dân mất việc quay về, để đo lường mức trầm trọng của khối lượng người đông đảo này. Nhiều cuộc biểu tình bạo động của công nhân đã diễn ra ở các thành phố. Những công nhân trở về quê đều được công an mời “làm việc” liên tục để dễ kiểm soát.

Nhưng các tác giả Hiến Chương 08 không nhắm khích động các đám công nhân này. Họ đặt ra những vấn đề căn bản về tương lai Trung Quốc.

Trong lời nói đầu họ đặt câu hỏi: “Trung Quốc sẽ đi về đâu trong thế kỷ 21? Sẽ tiếp tục công cuộc hiện đại hóa dưới chế độ độc tài, hay sẽ chấp nhận những giá trị nhân bản phổ quát, gia nhập dòng chính của các quốc gia văn minh và xây dựng một thể chế dân chủ?”

Các tác giả nhắc tới những cuộc vận động dân chủ ngay trong lòng chế độ cộng sản trước đây. Vì năm nay là kỷ niệm 30 năm bức tường Dân Chủ ở Bắc Kinh, 2 năm sau khi Mao Trạch Ðông chết; và năm tới sẽ kỷ niệm 20 năm cuộc “thảm sát Thiên An Môn” (chữ dùng trong nguyên văn) giết các sinh viên đòi dân chủ. Trở lại 100 năm trước, bản hiến chương trình bày lại quá trình lịch sử nước Trung Hoa từ khi bị Tây Phương lấn áp, cuộc cách mạng Tân Hợi 1911 khi Trung Quốc đã viết bản hiến pháp đầu tiên, cuộc cách mạng tư tưởng Ngũ Tứ Vận Ðộng đề cao tinh thần khoa học và dân chủ. “Chiến thắng đối với Nhật Bản năm 1945 là một cơ hội để Trung Quốc tiến tới trên một chính phủ hiện đại, nhưng đảng Cộng Sản đã đánh bại Quốc Dân Ðảng trong cuộc nội chiến và đưa quốc gia vào hố thẳm độc tài toàn trị.”

Hiến Chương 08 đưa ra 6 nguyên tắc căn bản để xây dựng nước Trung Hoa mới. Trước hết là Tự Do, một quyền căn bản của con người. Ngoài các quyền tự do ngôn luận, hội họp, tuyển cử, các tác giả nhắc tới quyền tự do phản kháng, đình công, biểu tình. Nhân Quyền là nguyên tắc thứ nhì, mà những thảm kịch trên đất nước Trung Hoa gần đây đều vì người cầm quyền không tôn trọng nhân quyền của dân. Sau nguyên tắc Bình Ðẳng, bản hiến chương đề cao chủ trương Cộng Hòa, trong đó các quyền hành của chính phủ phải được phân chia để các quyền lợi khác biệt đều được tôn trọng. Các tác giả cho rằng đó cũng là một truyền thống chính trị “Thiên hạ bình đẳng” của người Trung Hoa.

Nguyên tắc thứ năm là Dân Chủ, nhấn mạnh: Quyền lực chính trị do dân trao phó, do dân lựa chọn. Các chức vụ nắm quyền phải qua những cuộc bầu cử tự do định kỳ. Ngoài ra nhân quyền của những người thiểu số được tôn trọng. Muốn vậy, cần nguyên tắc thứ sáu là Hiến Trị. Việc cai trị phải đặt trên hiến pháp và luật pháp để bảo vệ các quyền tự do của dân và hạn chế quyền của nhà nước.

Sau khi nêu các nguyên tắc như trên, Hiến Chương 08 đưa ra những lập trường mà các nhà trí thức cổ võ trước nhân dân Trung Hoa.

Ðòi hỏi đầu tiên là sửa hiến pháp Trung Quốc, bãi bỏ những khoản nào ngược lại với quy tắc quyền hành thuộc về dân chúng. Bản hiến pháp phải thể hiện việc phân quyền, lập pháp, tư pháp và hành pháp rõ ràng, cũng như phân bạch quyền hành của trung ương để họ không lấn áp các địa phương. Quốc hội phải được bầu trực tiếp. Quyền Tư pháp phải độc lập, thiết lập một tòa án Tối Cao Bảo Hiến. Phải dần dần bãi bỏ những cơ cấu đang cho phép đảng Cộng Sản can thiệp vào tòa án.

Một yêu cầu quan trọng của Hiến Chương 08 là “Lực lượng quân sự chịu trách nhiệm trước quốc gia chứ không phải tuân theo lệnh một đảng chính trị.” Các quân nhân phải phi chính trị.

Muốn bảo đảm quyền làm người, hệ thống cải tạo lao động hiện nay phải chấm dứt. Dân được bầu trực tiếp chức vụ các cấp trong guồng máy chính quyền, từ thị xã, quận, tỉnh và quốc gia. Những quyền tự do hội họp, tự do lập hội, tự do phát biểu, là những điều yêu cầu khác. Trên mặt tôn giáo, Hiến Chương 08 yêu cầu “Bãi bỏ hệ thống hiện nay bắt buộc các nhóm tôn giáo (và nơi thờ phượng của họ) phải được chính quyền chấp thuận trước khi hoạt động; thay vào đó tín đồ các tôn giáo phải được phép hoạt động và chỉ ghi danh với chính quyền nếu chính họ muốn như vậy, và họ có quyền ghi danh không ai được từ chối.”

Ðây là một lời yêu cầu chính đáng mà người nước ta cũng cần đặt ra với đảng Cộng Sản. Trên thế giới văn minh, các tôn giáo đều được tự do, chỉ cần sống trong khuôn khổ luật lệ quốc gia. Chỉ có các nước độc tài toàn trị mới có chế độ bắt các hoạt động tôn giáo phải xin phép trước, như luật ở Việt Nam cấm không được nói chuyện tôn giáo trong nhà người khác! Chế độ toàn trị không những làm dân mất tự do mà còn giết người vì những chính sách sai lầm nữa.

Hiến Chương 08 nhận xét “Ðảng Cộng Sản đã kiểm soát tất cả các cơ quan nhà nước, và tất cả các tài nguyên chính trị, kinh tế, xã hội” từ năm 1949 đến nay. Chế độ toàn trị đó đưa tới những “thảm trạng” như chiến dịch Chống Hữu Phái (1957), Bước Nhẩy Vọt (1958-60), Cách mạng Văn hóa (1966 - 1969) và cuộc Thảm Sát Thiên An Môn (1989). Trong những thảm trạng do chế độ cộng sản gây ra đó, hàng chục triệu người dân Trung Hoa đã thiệt mạng và mấy thế hệ trải qua cảnh “những quyền sống hạnh phúc, tự do, và nhân phẩm của họ bị trà đạp.” Cuộc cải cách kinh tế của Cộng Sản Trung Quốc đã trả lại một phần các quyền tự do cho dân, nhưng trên thực tế chính trị thì “Trung Quốc có rất nhiều luật nhưng không cai trị bằng luật (pháp trị), có một bản hiến pháp nhưng chính quyền không theo hiến pháp. Giới quyền quý bám lấy quyền độc đoán của họ nên chống lại tất cả các đòi hỏi thay đổi.”

Hậu quả của tính chất độc tài đó là tham nhũng, tư bản bè phái, suy đồi đạo lý, xã hội bất công vì hố ngăn cách giữa người nghèo người giầu ngày càng rộng. Một điều đáng lo là người dân cảm thấy tuyệt vọng sẽ nổi loạn.

Ðầu năm 1977 hơn hai trăm nhà trí thức xứ Tiệp Khắc, trong đó có Vaclav Havel đã soạn Hiến Chương 77. Mười ba năm sau nước Tiệp Khắc được giải phóng, và hiện là hai quốc gia Czech và Slovakia kinh tế đã phát triển và sống trong tự do dân chủ. Bao giờ nước Trung Hoa mới có một cuộc “Cách mạng Nhung” như vậy? Khi Bắc Kinh thay đổi thì Hà Nội sẽ phải theo.
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Một người làm mất 50 tỷ đô la
Tuesday, December 16, 2008

Ngô Nhân Dụng

Những người khôn nhất có lúc cũng dại. Ðó là bài học hiển nhiên trong vụ Bernard Madoff tự thú nhận đã lừa đảo các nhà tỷ phú và các ngân hàng lớn nhất thế giới, làm mất 50 tỷ Mỹ kim theo ông ta ước tính. Thí dụ như ông Carl Shapiro, người đã bắt đầu xây dựng cơ nghiệp làm giầu từ năm 1939, trở nên tỷ phú nhờ kinh doanh, là bạn của Madoff từ 50 năm nay và đã trao tiền cho ông Madoff 545 tỷ đô la để đầu tư. Bây giờ không biết sẽ lấy lại được bao nhiêu!

Bernard Madoff tự thú với 2 người con trai rằng công việc đầu tư của ông trong hàng chục năm qua chỉ là một vụ “nói dối vĩ đại,” một “kế hoạch Ponzi” lớn. Nhưng số tiền mà Charles Ponzi lừa của dân nhà giầu ở Boston năm 1920 nếu tính ra chỉ tương đương với 160 triệu đô la bây giờ, không thể nào so sánh với con số 50 tỷ. Ponzi là một tay bịp chuyên nghiệp, từ Ý sang Canada, đã bị tù, rồi sang Mỹ, và đặt ra kế hoạch kêu gọi góp vốn đầu tư với lời hứa hẹn tiền bỏ vô sau ba tháng sẽ lời thành gấp đôi. Nhiều người đã thử, và được trả tiền lời thật, thế là những người khác cũng góp vốn. Ông ta cứ lấy tiền của người góp sau trả cho người góp trước, ai cũng thỏa mãn khiến thân chủ càng đông. Cho tới khi một tờ báo vạch rõ đây là một vụ bịp theo lối “Kim Tự Tháp,” và Ponzi phải vào tù, khi ra tù bị trục xuất về Ý!

Madoff khác hẳn Ponzi. Ðây là một nhà tài chánh chính hiệu, đã hoạt động và làm giầu chính đáng, và trước ngày Thứ Năm tuần trước vẫn là một nhân vật được kính trọng trong giới tỷ phú ở New York và Florida. Ông cụ Carl Shapiro, 95 tuổi, nói trong nửa thế kỷ làm bạn với Madoff thấy ông ta là một người rất “khôn lanh và tư cách chính trực.” Chính nhờ đánh lừa được mọi người về hạnh kiểm “chính trực” của mình cho nên Madoff đã được thiên hạ trao tiền đến mức làm mất được 50 tỷ Mỹ kim! Trong số những người bị lừa có những tỷ phú hoặc triệu, triệu phú khác, nhiều người coi mình được Madoff nhận cho góp tiền là một vinh dự và may mắn! Madoff không đi xin người ta góp vốn. Những người đã góp vốn cho ông ta và nhận được tiền lời đều đặn 1% đến 2% mỗi tháng đã “nói nhỏ” với bạn bè, thân thích, người trước giới thiệu người sau, trong những cuộc họp mặt của giới thượng lưu tài chánh ở các câu lạc bộ rất lựa chọn.

Có những chuyên viên đầu tư đã đến với ông Madoff rồi quyết định không đưa tiền cho ông ta. Bây giờ họ nói thẳng lý do tại sao cho công chúng biết. Câu hỏi đầu tiền họ đặt cho ông Madoff là ông đã làm gì để sinh lợi đều đều 10% một năm, hàng chục năm, trong lúc thị trường lúc lên lúc xuống? Ông Madoff đã giữ bí mật, nói một cách mơ hồ hoặc không chịu nói. Người đến thăm đã bỏ về, quyết định không dính gì đến công ty Madoff cả! Những người đã góp vốn cho Madoff quả thật là quá cả tin! Vì mỗi tháng họ chỉ nhận được một bản báo cáo tài chánh rất sơ sài mà không thắc mắc gì cả!

Tại sao những người khôn ngoan nhất về tài chánh, đã giỏi kiếm tiền mà lại cả tin đến nỗi mất tiền như vậy? Lý do chính là tâm lý con người. Khi đã bị lóa mắt trước “uy tín” của một nhân vật nào đó thì người ta không còn xét đoán một cách bình tĩnh được nữa. Người ta sẽ chỉ nghe những lời nói tốt và gạt bỏ những tin xấu có thể gây mối nghi ngờ về nhân vật đó. Trong chuyện đầu tư tiền bạc còn ít, trong lãnh vực chính trị còn có những người sùng tín lãnh tụ đến mức mù quáng hơn nhiều.

Những bản kê khai tài chánh mà ông Madoff gửi cho các thân chủ góp tiền thường chỉ cho biết ông đã đem tiền của họ mua cổ phần trong danh sách của những công ty lớn nhất S&P 100 ở Mỹ, đồng thời mua hoặc bán những hứa phiếu để giảm bớt rủi ro. Hứa phiếu (options) là những hợp đồng cho phép người làm chủ có quyền mua hoặc bán cổ phần nào đó, nhưng không bắt buộc phải mua hay bán nếu không có lợi. Các thân chủ của Madoff không ai nghi ngờ gì cả. Nếu nghi ngờ, họ sẽ tìm hiểu và thấy có những bản báo cáo không thể nào tin được.

Nhật báo Wall Street mới được người ta cho coi một bản báo cáo tài chánh mà ông Madoff gửi cho thân chủ, thử đem phân tích. Họ thấy ông Madoff báo cáo trong ngày 12 tháng 11 vừa qua ông đã bán công trái Mỹ lấy 500 ngàn đô la rồi mua cổ phần của mấy công ty lớn như Exxon, Proter & Gamble, Microsoft. Ðồng thời ông ta mua 11 hứa phiếu “put” có quyền bán, với giá 19,591 đô la; đồng thời ông lại bán 11 hứa phiếu “call” có quyền mua thu được 17,69 đô la. Ông Madoff cũng báo cáo trong ngày 19 tháng 11, ông giải quyết cả hai nhóm hứa phiếu trên, và được lời 35,000 đô la.

Các ký giả báo Wall Street đã suy ra nếu Madoff đầu tư cho một thân chủ, với số tiền vốn nửa triệu Mỹ kim mà mua bán số hứa phiếu như vậy thì với một tỷ mỹ kim tiền vốn chẳng hạn, ông ta sẽ phải mua, bán 22,000 hứa phiếu. Mà Madoff đang quản ký 17 tỷ Mỹ kim của các thân chủ, con số còn cao gấp bội! Nhưng khi xem sổ sách của thị trường mua bán hứa phiếu ở Chicago các ký giả nhận thấy con số thật mà công ty Madoff bán là 393 hứa phiếu mua (call option) và mua 183 hứa phiếu bán (put). Như vậy đủ chứng tỏ Madoff đã nói dối tất cả mọi người.

Cơ quan SEC giám sát thị trường không có đủ người để kiểm tra 11,000 công ty cố vấn đầu tư kiểu công ty của Madoff. Cho nên Madoff có thể làm ăn như vậy hàng chục năm nay. Nhưng các thân chủ của Madoff đã quá lơ là đối với đồng tiền của họ!

Một điều đáng thắc mắc là tại sao một công ty đầu tư hàng chục tỷ như vậy mà lại được kiểm toán bởi một hãng kiểm toán nhỏ xíu, chỉ có 3 nhân viên ngồi trong một cái phòng nhỏ, ở cùng một tòa nhà? Không ai thắc mắc cả, tại sao? Chỉ giải thích được là người ta có lòng tin mù quáng!

Một bài học là chúng ta không nên đặt niềm tin mù quáng vào các nhân vật kiệt xuất, trong lãnh vực đầu tư cũng như trong chính trị!

Sau vụ lừa đảo của Madoff này, những tiếng nói đòi cải tổ việc giám sát thị trường tài chánh càng mạnh hơn. Bộ Trưởng Tài Chánh Henry Paulson đang tính đến việc thay thế cơ quan chứng khoán SEC bằng nhiều cơ quan giám sát khác, vì hiện nay SEC chuyên coi các nhà môi giới thị trường mà không đủ tài nguyên để làm công việc giám sát những quỹ đầu tư như của Madoff.

Nhưng việc giám sát không phải là thứ thuốc thần diệu giúp cho những người có tiền không bị lừa. Cũng giống như dù có sở cảnh sát trong xóm người ta cũng không thể ngăn chặn hết được nạn trộm cắp. Chính những người có tiền đầu tư phải tự mình giám sát những người nhận tiền của họ. Một điều mà quốc hội và chính phủ Mỹ có thể làm được là quy định những cơ cấu của các loại quỹ đầu tư ra sao để tránh tình trạng lợi dụng.

Một thứ nên tránh là những quyền lợi xung khắc. Những người thu tiền của thiên hạ rồi trao cho ông Madoff, hàng trăm triệu đến hàng tỷ Mỹ kim, phần lớn được trả công hàng năm theo lối 1% tổng số vốn và 10 đến 20% tiền lời. Họ không hề bị phạt khi lỗ lã. Quyền lợi của họ không đi đôi với quyền lợi của thân chủ, có khi còn trái nghịch. Do đó, họ chỉ tìm cách lôi cuốn người bỏ thêm vốn càng nhiều càng tốt, mà chính họ không ráo riết ngăn ngừa việc lừa đảo.

Một loại quyền lợi xung khắc nữa là những công ty quản lý việc đầu tư giúp người khác lại cũng mở thêm công ty làm công việc môi giới chứng khoán, thi hành lệnh mua bán của thân chủ. Hai công việc này cần được tách ra xa hơn nữa.

Chính phủ có thể giúp ngành đầu tư qua các quỹ bằng luật lệ buộc các quỹ đầu tư phải được kiểm toán kỹ hơn, báo cáo với các thân chủ của họ với nhiều chi tiết hơn, chứ không thể giao phó hoàn toàn cho các nhà quản lý.

Vụ lừa đảo Madoff là một tiếng chuông cảnh tỉnh cho các nhà đầu tư và giới chức trách nhiệm trên hệ thống tài chánh Mỹ. Ðiều đáng ngại bây giờ là các nhà chính trị phản ứng quá đà, sẽ nghi ngờ tất cả các công ty đầu tư và đặt ra nhiều luật lệ và cơ quan giám sát quá, có khi không được lợi ích bao nhiêu mà lại gây trở ngại cho hoạt động của thị trường!

Cuối cùng, những người có tiền phải biết tự lo lấy cho mình! Các cụ nói “Ăn cơm thịt bò thì lo ngay ngáy” là như vậy!
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Nguyễn Tấn Dũng lấy tiền đâu để “kích”?

Ngô Nhân Dụng

Ngày hôm qua đại diện Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế đã công bố những nhận xét về nền kinh tế Việt Nam, sau ba ngày họp bàn giữa phái đoàn của IMF với chính quyền Hà Nội. Phái đoàn IMF có vẻ bi quan hơn về hy vọng phát triển của Việt Nam, so với dự tính của chính phủ Nguyễn Tấn Dũng.

Kế hoạch “kích thích kinh tế” mà đảng Cộng Sản mới đưa ra đã giảm tiêu chí về tỷ lệ tăng trưởng. Trước đây chỉ tiêu được ấn định là kinh tế sẽ tăng thêm 6.7% trong năm 2009, nay chỉ hy vọng là 6.5%. Nhưng các chuyên gia của IMF thấy ngay mức gia tăng đó cũng khó đạt được.

Trong năm 2007, khi Việt Nam nhận được nhiều tiền đầu tư nước ngoài và doanh nhân trong nước cũng hăng hái trước kỳ vọng việc gia nhập Tổ Chức Thương Mại Thế Giới, Tổng Sản Lượng Nội Ðịa Việt Nam đã tăng thêm được 8.5%. Một quốc gia như nước ta, vì dân số trẻ, mỗi năm số người bắt đầu đi làm rất đông, cho nên phải gia tăng sản xuất với tỷ lệ cao như vậy mới tạo đủ công việc làm cho lớp thanh niên lần đầu tiên bước vào thị trường nhân dụng.

Một quốc gia ở trình độ phát triển còn thấp thì rất dễ đạt tỷ lệ tăng trưởng cao như vậy, nếu người cầm quyền không phạm những sai lầm gây trở ngại. Thứ nhất vì số người làm việc tăng lên thì sức sản xuất tăng theo khi tiền đầu tư cũng tăng thêm để sử dụng khối lao động mới đó. Thứ hai vì sản năng của người lao động còn ở trình độ thấp thì rất dễ tăng cao hơn, khi dùng thêm máy móc, thiết bị mới. Thí dụ số người làm việc tăng 3% mà hiệu năng sản xuất lại tăng thêm 5% thì tổng số sản xuất phải tăng được hơn 8%. Những nước nghèo hiệu năng sản xuất tăng rất nhanh vì có nhiều thứ máy móc thiết bị lần đầu tiên được đem dùng. Ðó là chưa kể những yếu tố khác giúp vào việc phát triển như gia tăng đầu tư, gia tăng tiêu thụ. Trong mươi năm qua Trung Quốc đạt được tỷ lệ tăng trưởng trên dưới 10% chính nhờ vào các yếu tố thuận lợi tự nhiên đó. Trong thập niên 1970, nền kinh tế những nước Ðại Hàn, Ðài Loan, Hồng Kông đã gia tăng theo tốc độ đó cho nên mới trở thành những con rồng.

Nhưng sức phát triển của kinh tế nước ta đã giảm, từ 8.5% năm trước xuống chỉ còn khoảng 6.25% năm nay, theo ước tính của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế. Và cơ quan tài chính quốc tế này tiên đoán sang năm 2009 GDP của Việt Nam sẽ chỉ tăng chừng 5%, không tăng 6.5% như chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ước tính.

Tình hình bi quan ở Việt Nam trong năm 2009 có thể thấy trước được. Một là số hàng xuất cảng sẽ xuống, khi kinh tế thế giới trì trệ hoặc suy thoái khiến người ta bớt mua hàng và cũng bớt đầu tư ở Việt Nam. Hai là số tiền do người Việt ở nước ngoài gửi về cũng giảm. Vì người Việt Nam sống ở Nga, ở Úc, ở Mỹ hay Ðài Loan đều phải “thắt lưng buộc bụng” không thể gửi tiền về nước nhiều như trước. Nếu số tiền “viện trợ nhân đạo” của người Việt hải ngoại giảm đi vài tỷ Mỹ kim, con số đó cũng khá lớn đối với kinh tế nước ta. Theo nhận xét của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế thì kinh tế năm 2007 đã tăng trưởng mạnh là nhờ hai dòng tiền tệ vào Việt Nam: Tiền đầu tư trực tiếp của nước ngoài, và tiền do người Việt ở ngoại quốc gửi về. Cả hai nguồn đó thế nào cũng giảm trong năm tới. Bữa rồi công nhân Việt Nam làm việc ở Ðài Bắc biểu tình yêu cầu chính phủ Ðài Loan đừng mướn thêm người ngoại quốc nữa, để họ khỏi bị bớt việc làm. Một cô than rằng cô tốn tiền mới được đi Ðài Loan mà sang đây lại ít việc quá, không kiếm được bao nhiêu. Cô thổ lộ trong 10 tháng vừa rồi mới gửi được một ngàn đô la về cho gia đình. Với số 80,000 lao động Việt Nam ở Ðài Loan không thôi, vì bị bớt công việc mỗi người gửi về nước ít hơn trước một ngàn đô la, thì tổng cộng cũng giảm mất 80 triệu. Nhân con số đó lên cho hàng triệu người Việt vẫn gửi tiền về, có thể thấy ngân khoản “viện trợ không bồi hoàn” này lên tới hàng tỷ.

Những người cầm quyền trong nước cũng biết tình huống đó, cho nên chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã mở kế hoạch “kích cầu,” tức là kích thích số tiêu thụ ở trong nước. Ở bên Mỹ, Tổng thống tân cử Obama dự tính sẽ dùng gần một ngàn tỷ mỹ kim cho kế hoạch kích cầu (stimulus) kinh tế Mỹ. Kinh tế Việt Nam nhỏ gần bằng một phần mười của Mỹ, dân số Việt Nam chỉ bằng trên một phần ba dân số Mỹ, cho nên trước đây đảng Cộng Sản Việt Nam tính kế hoạch “kích cầu” ở nước ta chỉ có một tỷ! Nay, thấy viện trợ Nhật Bản cũng giảm, tiền Việt kiều gửi về cũng giảm, xuất cảng xuống mà mà đầu tư nước ngoài cũng xuống, ngày Thứ Ba vừa rồi đảng Cộng Sản cho phép tăng ngân khoản kích cầu lên 6 tỷ Mỹ kim.

Số tiền này được bơm vào nền kinh tế theo nhiều ngả. Chẳng hạn nhiều mặt hàng xuất cảng sẽ được bớt thuế để bán ra ngoài rẻ hơn, dễ hơn. Hàng nhập cảng được bớt thuế để kích thích cho dân tiêu thụ nhiều hơn và giúp các nhà sản xuất trong nước dễ mua được các đồ từ bên ngoài. Các xí nghiệp cỡ trung và nhỏ sẽ được bớt thuế 30% trong năm 2009. Nhiều công ty sẽ được đóng thuế chậm lại, trong 9 tháng đầu năm 2009 chưa phải đóng thuế. Tất cả các biện pháp đó sẽ cho phép các xí nghiệp giữ được nhiều tiền trong két, với hy vọng họ sẽ sản xuất thêm, không tăng giá hàng, do đó kích thích người dân tiêu thụ nhiều hơn. Còn về phần chính phủ, họ sẽ thu được ít tiền, ước tính sẽ giảm bớt số thu tới 6 tỷ. Cái giá phải trả để kích thích kinh tế!

Kế hoạch trên đã được nhiều xí nghiệp và nhà đầu tư ở Việt Nam hoan nghênh. Ông Dominic Scriven, người sáng lập Quỹ đầu tư Dragon Capital từ nhiều năm trước, nói rằng, “Ðây là lần đầu tiên tôi thấy họ đưa ra một kế hoạch có chi tiết như vậy!”

Nhưng ông Scriven lại đặt một câu hỏi: Nhà nước cộng sản sẽ lấy tiền đâu ra?

Bên Trung Quốc, họ cũng có một kế hoạch kích cầu với mấy ngàn tỷ nhân dân tệ, cỡ gần 600 tỷ đô la. Nhưng chính phủ Bắc Kinh khôn lắm, họ đẩy cho các tỉnh, các thành phố phải chi tiền, dễ nhà nước trung ương chi rất ít. Mà có chi nhiều họ cũng không lo vì Bắc Kinh có vài ngàn tỷ đô la dự trữ, tích lũy từ hàng chục năm nay. Số tiền đó vẫn tiếp tục tăng lên, vì cán cân thương mại của họ lúc nào cũng thặng dư. Cộng Sản Trung Quốc có tiền, muốn kích thích tha hồ kích thích. Những nước Á Châu khác cũng vậy, nước nào cũng đang gặp cảnh khó khăn vì hàng xuất cảng xuống, nước nào cũng tính phải kích cầu. Nhưng cán cân mậu dịch của họ vững chắc, ngoại tệ dự trữ đầy đủ, không lo thiếu tiền. Nếu sợ thiếu, cần đi vay tiền bên ngoài, chính phủ các nước Á Ðông vẫn có thể đi vay được vì nền kinh tế của họ đủ bảo đảm cho việc vay nợ.

Còn những chính sách kinh tế của đảng Cộng Sản Việt Nam đã đưa tình hình tài chánh nước ta vào một cảnh ngộ khác hẳn. Cán cân thương mại khiếm hụt, và mức khiếm hụt vẫn tăng. Ði vay bây giờ rất khó vì kinh tế bất ổn. Lấy tiền đâu để “kích cầu?”

Có một cách là in thêm tiền.

Trong kế hoạch cứu nguy kinh tế của ông Nguyễn Tấn Dũng, có mục tăng thêm số tiền lưu hành trong nước. Họ sẽ cho phép các ngân hàng được cho vay nhiều hơn, bằng cách giảm số dự trữ bắt buộc. Họ sẽ tăng ngân khoản cho các dự án và công trình lớn của nhà nước. Và nhà nước sẽ đứng ra bảo đảm nợ cho các xí nghiệp trung và nhỏ khi họ đi vay. Khi chọn những xí nghiệp nào sẽ được bảo đảm, chắc sẽ ưu tiên cho các xí nghiệp quốc doanh!

Tất cả những biện pháp trên đều là những kế hoạch trao thêm tiền cho các ngân hàng của đảng, cho các đơn vị quản lý dự án kiểu PMU, cho các doanh nghiệp nhà nước. Tức là trao thêm tiền cho các đảng viên cốt cán để các đồng chí này được chi tiêu thoải mái hơn!

Vậy thì “Lấy tiền ở đâu ra?” ngân hàng nhà nước nằm trong tay Ðảng Cộng Sản, họ có quyền in thêm tiền! Ðảng in thêm tiền cho các đảng viên chi.

Hậu quả là khi số tiền lưu hành tăng lên như vậy thì tỷ lệ lạm phát sẽ tăng theo. Lạm phát năm nay đã lên đến mức chóng mặt. Dân còn chịu đựng được là nhờ ai cũng biết “chui.” Nhưng sức chui của con người cũng có giới hạn, dù là con người Việt Nam đã chui quen suốt mấy chục năm sống dưới chế độ cộng sản. Lạm phát sẽ tăng, giá cả lên thì người dân nghèo với lợi tức cố định sẽ bị thiệt thòi nhất, còn những ông Huỳnh Ngọc Sỹ không lo. Khi lạm phát là 20%, giá sinh hoạt tăng khiến đồng tiền giảm giá trị 20%, thì coi như người dân bị đánh thuế 20% trên lợi tức của mình.

Có một cách để giảm bớt gánh nặng cho dân. Là giảm bớt những khoản chi tiêu của ngân sách nhà nước, trong đó có khoản chi cho đảng Cộng Sản Việt Nam. Từ trước đến nay không ai biết đảng Cộng Sản Việt Nam sống bằng cách nào cả. Ở nước Mỹ, một đảng chính trị như Dân Chủ hay Cộng Hòa đều phải công bố cho mọi người biết họ thu được bao nhiêu tiền, do ai góp. Mà họ thường thu được nhiều nhất vào những mùa tranh cử. Người ta biết ông Barack Obama đã được bao nhiêu người đóng góp tổng cộng bao nhiêu. Người ta cũng biết Ủy Ban Trung Ương của mỗi đảng Dân Chủ hay Cộng Hòa mỗi năm, mỗi tháng thu được bao nhiêu và chi cho những mục nào. Khi báo chí bới ra là bà Palin mua hàng trăm ngàn đô la tiền “trang bị” thì họ giải thích rõ với dân là món tiền đó do đảng Cộng Hòa chi chứ không phải quỹ tranh cử của Nghị Sĩ John McCain chi. Ai muốn coi sổ sách cũng được, và các nhà báo đã coi!

Còn đảng Cộng Sản Việt Nam thì không ai biết họ lấy tiền đâu ra mà ở mỗi địa phương trụ sở của đảng lớn ngang với trụ sở cơ quan hành chánh, có khi còn lớn hơn! Ai góp tiền cho đảng? Ðảng lấy tiền đâu để trả lương các vị lãnh đạo trong nội bộ đảng, từ cao đến thấp?

Số tiền chi cho đảng Cộng Sản phải lớn ngang với ngân sách quốc gia dành cho guồng máy hành chánh, mà chắc phải lớn hơn! Không ai được quyền ngó vào những món chi thu đó! Ðây là một niềm bí mật. Tính chất bí mật đó là đầu mối của bao nhiêu vụ tham nhũng mà các lãnh tụ cộng sản không ai dám đụng vào. Vì họ phải đặt quyền lợi của đảng lên trên tất cả các quyền lợi khác, đúng như ông Hồ Chí Minh vẫn dậy họ. Muốn biết ông Hồ dậy thế nào, xin đọc lại những bài ông viết về “Ðạo Ðức Cách Mạng” (Trong cuốn Vì Ðộc Lập Tự Do, Vì Chủ Nghĩa Xã Hội). Rất giản dị: Người có đạo đức là người đặt quyền lợi của đảng lên trên hết!

Bây giờ nếu các ông trong Bộ Chính Trị muốn thực hiện được kế hoạch kích cầu 6 tỷ đô la, các ông phải cắt bớt món ngân sách mà 84 triệu dân Việt Nam đang góp vào quỹ của đảng Cộng Sản! Nếu không thì cả nước sẽ ngay ngáy lo lạm phát vì không ai biết ông Nguyễn Tấn Dũng lấy tiền đâu ra mà kích cầu - ngoài cách in thêm giấy bạc?
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Một quyết định thay đổi vận mạng đất nước
Gởi Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam


19-12-2008
Lạc Hồng
Hãy thử nhận định những khó khăn trước mắt của Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam.

1- Trung Quốc càng lúc càng xâm lấn Việt Nam một cách ngang ngược. Họ đã tuyên bố Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về huyện Tam Sa của họ năm rồi. Mới đây họ lại tuyên bố sẻ bỏ ra 29 tỷ đô để khai thác dầu khí ở vùng Biển Đông thuộc Việt Nam và đòi chính phủ Việt Nam phải nhường hẳn cho họ Bãi Tục Lảm thuộc tỉnh Quảng Ninh. Càng nhường, Trung Quốc càng lấn tới hơn nửa. Chủ trương giải quyết vấn đề biên giới và lảnh hải bằng thương thuyết rỏ ràng không có hiệu quả mà chỉ khiến Việt Nam càng thiệt thòi. Cứ đà này thì không những mất 2 đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà sẻ mất cả nước bởi vì tham vọng của Trung Quốc không chỉ là 2 quần đảo và dầu khí mà muốn chiếm lỉnh Việt Nam hoàn toàn để tiến xuống xâm lược các quốc gia Đông Nam Á khác như Thái Lan, Singapore, Mả Lai Á… Bởi vậy, nếu tiếp tục nhượng bộ Trung Quốc thì sẻ mất nước. Mà mất nước thì sẻ mất Đảng. Trung Quốc sẻ vắt chanh liệng vỏ như Bắc Việt đã đối xử với Mặt Trận Giãi Phóng Miền Nam. Nhưng, nếu chống trả bằng quân sự thì không dám vì Bộ Chính Trị đã bị Trung Quốc chế ngự từ lâu. Cho dù có gan làm liều thì cũng tự mình không đủ sức mạnh để đối đầu với Trung Quốc bằng quân sự. Ngoài ra, chưa kiếm đưọc đồng minh nào đủ mạnh để yểm trợ. Cho nên, vấn đề Trung Quốc là một vấn đề tiến thoái lưởng nan.

2- Một khó khăn to lớn và không kém phần nghiêm trọng là kinh tế. Kinh tế Mỷ suy sụp khiến xuất cảng Việt Nam giảm đi nhiều. Dầu hỏa từ $150 một thùng nay giảm xuống còn $50. Đã vậy, siêu nhập cảng càng làm cán cân mậu dịch thâm thủng thêm. Trong khi đó, lạm phát vẩn còn gần 30%. Không khéo, nền kinh tế Việt Nam sẻ bị khủng hoảng vào năm 2009. Bộ Chính Trị vẩn chưa tìm ra phương án để cứu nguy nền kinh tế Việt Nam.

3- Dân chúng trong nước đã bắt đầu mất niềm tin nơi chính quyền vì cán bộ tham nhũng, lạm quyền, cướp đất đai của dân lành và tôn giáo. Vật giá đắt đỏ khiến cuộc sống của người dân càng lúc càng khó khăn. Thêm vào đó, khi dân chúng biểu tình chống Trung Quốc xâm lấn Việt Nam lại bị chính phủ ngăn cấm và bắt bớ khiến lòng dân càng oán hận.

4- Quân đội bắt đầu tỏ thái độ bất mản trước thái độ khiếp sợ Trung Quốc của Bộ Chính Trị. Quân đội chắc chắn sẻ không thụ động để Bộ Chính Trị tiếp tục bán hay nhượng đất đai và lãnh hải.

5- Người Việt ở hải ngoại càng chống đối chế độ Cộng Sản Việt Nam hơn vì những hành vi bán nước và làm tay sai cho Trung Quốc của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

6- Tham nhũng vẩn còn là một quốc nạn vô phương cứu chửa. Vì chế độ độc tài nên sanh ra đặc quyền. Đặc quyền sanh ra tham nhũng. Nếu bài trừ tham nhũng cho đến nơi đến chốn, thì chẳng khác nào đảng tự sát.

7- Quốc tế đã bắt đầu sáng mắt về nạn tham nhũng trầm trọng vô phương cứu chửa của chế độ độc tài đảng trị. Chuyện Nhật đình chỉ cung cấp vốn ODA cho Việt Nam đã làm chính phủ Việt Nam mất mặt và uy tín trên thế giới.

8- Trước hàng trăm khó khăn trong cũng như ngoài, Đảng Cộng Sản Việt Nam lại phải đối phó tình trạng nội bộ chia rẻ, đấu đá tranh giành quyền lợi. Những vụ PMU-18 và PCI chắc là do phe phái khui ra để chơi nhau chớ người dân và báo chí làm gì có tự do, can đãm và khả năng khám phá được.

Trước nhiều tình thế khó khăn và nan giải, tại sao các lảnh đạo trong Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam vẩn muốn tiếp tục cầm quyền?

- Vì yêu nước. Chắc chắn là không. Nếu họ thật tâm yêu nước, thì họ đã cho dân chủ hóa đất nước từ lâu.

- Vì yêu Đảng? Cũng không vì Đảng Cộng Sản Việt Nam đã mất lý tưỡng từ khi chủ nghĩa Cộng Sản đã bị đào thải ở trên thế giới và mất thần tượng từ khi có nhiều sự thật xấu xa về Hồ Chí Minh được phơi bày. Và hiện nay, tham nhủng tràn lan từ trên xuống dưới và nạn buôn bán tranh giành quyền lực chức vị đã khiến người Cộng Sản không còn tha thiết và lòng tin nơi Đảng của họ nửa. Dầu biết rằng đảng không tốt đẹp gì nhưng người ta cứ bám vào nó để kiếm tiền.

- Vì tham lam muốn kiếm thêm nhiều tiền bạc và đất đai. Có lẻ không mà cũng có lẻ có. Mổi lảnh đạo Cộng Sản Việt Nam chắc chắn có trên hàng trăm triệu đô la. Cho nên, dầu họ có muốn kiếm thêm nửa vì lòng tham vô đáy thì cũng chỉ là lý do phụ.

- Vì háo danh? Cũng có thể, nhưng cái danh không phải là động lực mạnh để họ tiếp tục ngồi trên đống lửa để chịu đấm ăn xôi.

- Vì tham quyền? Có quyền lực thì họ mới có thể kiếm chát thêm nhiều hơn nửa và cũng để bảo vệ tài sản của họ. Tham quyền là nguyên nhân chánh khiến họ tiếp tục bám víu vào quyền lực. Đối với những người tài ba và đức độ, quyền lực không hấp dẩn đuợc họ. Nhưng đối với những người bất tài, thiếu đức, tiểu nhân thì họ rất ham muốn quyền lực vì quyền lực giúp họ thỏa mản được tánh tự cao tự đại, sản phẩm của lòng tự ti mặc cãm. Bởi vậy, họ mới thường vổ ngực nói rằng họ là Đỉnh Cao Trí Tuệ Loài Người. Tóm lại, lòng tham quyền lực là động cơ chính khiến họ cố gắng bám víu quyền lực dù họ đã đang và sẻ không có khả năng đối phó và giải quyết nhiều vấn nạn của quốc gia.

Nếu vì tham quyền mà cố vị, các lảnh đạo của Bộ Chính Trị trong một tương lai gần sẻ rơi vào một trong những trạng huống như sau:

1- Nếu Việt Nam tiếp tục mất thêm đất đai và biển cả vì sự khiếp sợ của Bộ Chính Trị, quân đội sẻ đảo chánh và họ có thể bị quân đảo chánh bắn chết để trừ hậu hoạn.

2- Nếu Bộ Chính Trị tiếp tục ngăn cấm biểu tình chống Trung Quốc và không có hành động cụ thể nào để chống trả lại sự xâm lấn từ Trung Quốc, dân chúng sẻ xuống đường biểu tình đòi giải thể chính quyền tay sai cho Trung Quốc. Khi đó, họ phải trốn chạy trong tủi nhục.

3- Khi thấy Việt Nam yếu đuối không đủ sức tự vệ, Trung Quốc có thể xâm chiếm Việt Nam bằng vỏ lực. Bộ Chính Trị có thể bị tiêu diệt trước tiên. Chặt đầu rắn là chiến thuật hay nhất trong chiến tranh. Tiên thủ vi cường.

4- Trung Quốc có thể xâm lấn và gậm nhấm Việt Nam từ từ cho đến khi Việt Nam hoàn toàn nằm trong lòng bàn tay Trung Quốc. Lúc đó Trung Quốc sẻ vắt chanh bỏ vỏ. Một là Trung Quốc sẻ giết hết đám tay sai của mình để trừ hậu hoạn. Hai là cho cả đám về vườn sau khi đã tướt đoạt hết tài sản của họ.

5- Kẻ thù nguy hiễm nhất của mình có thể là những người bên cạnh mình. Cho nên, Bộ Chính Trị có thể thanh toán nhau để tranh giành quyền lực.

6- Con tàu nhỏ Việt Nam tuy đang gặp sóng to gió lớn, Bộ Chính Trị hy vọng mọi chuyện sẻ bình yên trong vòng vài ba năm nửa để họ có thêm thì giờ vơ vét thêm tiền bạc của cải nhiều hơn nửa trước khi hết nhiệm kỳ mặc kệ hiễm họa xâm lăng từ Trung Quốc và kinh tế có sụp đổ hay không.

Không ai biết chắc được trường hợp nào sẻ xãy ra cho Bộ Chính Trị. Sáu khả năng này như 6 nút của hột xí ngầu. Tuy nhiên, nếu căn cứ trên quá khứ và hiện tại, 3 khả năng đầu rất có thể xãy ra và trường hợp thứ 6 là ít khả năng hơn. Dầu sao thì khả năng tốt cho Bộ Chính Trị là 1/6 và khả năng xấu có thể xãy ra cho Bộ Chính Trị là 5/6. Một người khôn ngoan và không bị lòng tham làm mù quáng sẻ không ngu dại đem hết tiền bạc và tánh mạng mình đặt vào một canh bạc cuối cùng trong khi khả năng thắng là 1/6 và khả năng thua là 5/6. Người khôn ngoan bao giờ cũng biết tự chủ. Khi đã thắng nhiều, họ liền ngưng chơi và bỏ chạy. Chỉ có những người ngu dại và không tự chủ mới tiếp tục chơi bài đễ rồi cuối cùng thua sạch túi. Cho nên, các ông trong Bộ Chính Trị nếu khôn ngoan và tự chủ sẻ quyết định dừng lại. Nếu cứ tiếp tục điều hành đất nước như vầy, họ và cả nước sẻ cùng nhau xuống hố. Khi không thể tiến lên mà cũng không thể thủ thì chỉ còn một nước chót đó là rút lui. Trong tình thế nguy cấp như hiện nay, đã đến lúc Bộ Chính Trị phải làm một quyết định lớn đễ thay đổi vận mạng đất nước dân tộc và cũng như của riêng họ. Đó là dân chủ hóa đất nước. Đây là nguyện vọng khẩn thiết và chính đáng của 80 triệu người Việt Nam ở trong nước và 3 triệu người Việt Nam ở hãi ngoại. Chỉ có con đường dân chủ hóa mới có thể giải quyết được những bài toán mà đảng Cộng Sản Việt Nam không thể giải được. Chẳng hạn, khi Việt Nam được tự do và dân chủ, thì dân tộc được đoàn kết. Khi dân tộc đoàn kết thì mới có thể phát huy nội lực để đủ sức mạnh chống lại ngoại xâm. Chỉ có dân chủ mới có thể chấm dứt đuợc quốc nạn tham nhũng và bất công. Dân chủ sẻ giúp đất nước vượt qua được những khó khăn kinh tế. Người tài đức sẻ được dân bầu lên và những người bất tài thiếu đức sẻ bị nhân dân kéo đầu xuống.

Người Việt Nam có câu: "lập công để chuộc tội". Nếu Trung Quốc khui ra những chứng cớ phạm tội của Bộ Chính Trị vì Bộ Chính Trị dân chủ hóa đất nước, thì cũng không sao. Bộ Chính Trị hãy thực hiện những điều sau đây thì mọi tội lổi sẻ được dân tộc tha thứ:

1- Bỏ ngay Điều 4 Hiến Pháp đã cho phép đảng Cộng Sản Việt Nam độc quyền lãnh đạo đất nước. Bỏ Điều 4 Hiến Pháp không phải là Đảng Cộng Sản Việt Nam tự sát mà là mở con đường sống không những cho Đảng Cộng Sản Việt Nam mà còn cho cả đất nước.

2- Thả hết các tù nhân chính trị.

3- Chấp nhận tự do ngôn luận, tự do báo chí,…

4- Chấp nhận quyền lập đảng.

5- Giử nguyên quân đội, công an và guồng máy chính quyền

6- Tổ chức bầu cử tự do trong một thời gian ngắn 3 hay 6 tháng.

Các ủy viên trong Bộ Chính Trị có thể về hưu ở trong nước hay đi tị nạn chính trị ở ngoại quốc. Họ có thể thêm một điều luật trong Hiến Pháp để bảo vệ họ không bị truy tố về các tội lổi trong quá khứ. Dân tộc Việt Nam sẳn sàng tha thứ mọi tội lổi của họ. Đây mới chính là Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc thật sự và công bằng. Không thể chấp nhận một giải pháp hòa hợp hòa giải khi các ông vẩn ngồi trên đầu mọi người và mọi người phải quỳ phía dưới. Đây rỏ ràng không phải là hòa hợp hòa giải mà là quy hàng. và chắc chắn không thể nào đem đến đoàn kết dân tộc thật sự. Sự thật là thế, Các ông không thể thành công trong việc hòa giãi và đoàn kết dân tộc bằng những thủ đoạn gian manh như dụ dổ, lừa dối, hâm dọa, đánh phá, v.v… Các ông phải chấp nhận chân lý và lẻ thường tình thì mới có thể nói chuyện với nhau được.

Sau 30 năm dưới chế độ độc tài đảng trị, nước Việt Nam của chúng ta đã trở thành một trong những quốc gia nghèo và chậm tiến nhất trên thế giới. Chưa có lúc nào mà hàng trăm ngàn phụ nử Việt phải đi làm vợ xứ người và hàng trăm ngàn thanh niên Việt phải đi bán sức lao động ở ngoại quốc. Tham nhũng trở thành quốc nạn và vô phương cứu chửa. Bất công xã hội ngày càng gia tăng. Đạo đức suy đồi. Giặc Tàu xâm lấn ngày càng ngang ngược và hiễm họa vong quốc đang hiện ra trước mắt. Nếu đất nước cứ tiếp tục tình trạng này, thì mọi sự sẻ càng trở nên tồi tệ hơn. Bởi vậy, để tránh họa mất nước, Việt Nam cần phải có một thay đổi lớn và ngay lập tức trước khi mọi sự đã quá trể. Thay đổi lớn đó là Dân Chủ Hóa Việt Nam. Nếu làm được vậy, Việt Nam sẻ thoát khỏi họa diệt vong và sẻ trở thành một cường quốc. Nước mạnh, dân giàu, xả hội công bằng bác ái chỉ đạt được khi có tự do và dân chủ mà thôi. Chúng tôi mong rằng các nhà lãnh đạo Việt Nam bình tâm lại và can đãm làm một quyết định thay đổi vận mạng đất nước. Hãy chiến thắng tính tự cao tự đại và lòng tham quyền cố vị đễ trở về với dân tộc và chuyển hướng đất nước từ chổ chết sang chổ sống. Nếu làm được vậy, các vị có thể được xem là anh hùng của dân tộc Việt Nam.

Lời nói của Trần Bình Trọng, một vị anh hùng của dân tộc Việt Nam vẩn còn văng vẳng đâu đây:

Ta Thà làm quỷ nước Nam, còn hơn làm vương đất Bắc.

Cầu xin Hồn Thiêng Sông Núi Việt Nam hãy phò hộ Việt Nam một lần nửa thoát khỏi họa xâm lăng từ Phương Bắc.

Một người đưa tin của Hồn Thiêng Sông Núi Việt Nam.
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

TRUNG QUỐC LỢI GÌ TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM?
Trần Gia Phụng

1.- TỔNG QUAN

Chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 30 năm, từ 1946 đến 1975, có thể chia thành ba giai đoạn.

Giai đoạn thứ nhất từ 1946 đến 1949: Khi Pháp đưa quân tái chiếm Việt Nam, Hồ Chí Minh, mặt trận Việt Minh (VM) và chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) nhượng bộ và thỏa hiệp với Pháp, ký liên tiếp hai thỏa ước để duy trì quyền lực của VM và đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD). Tuy nhiên, Pháp không ngừng tiến quân và ép VM đến đường cùng. Hồ Chí Minh liền họp trung ương đảng CSĐD trong hai ngày 18 và 19-12-1946 tại Vạn Phúc (Hà Đông) để tham khảo. Cuộc họp đi đến quyết định tấn công Pháp vào tối 19-12-1946.(1) Thế là chiến tranh không tuyên chiến bùng nổ. Từ năm 1946 đến năm 1949, VM vừa đánh, vừa đàm, vừa trốn chạy lên miền rừng núi để chờ đợi thời cơ..

Giai đoạn thứ hai từ 1950 đến 1954: Trong cuộc tranh chấp tại Trung Quốc, Mao Trạch Đông và đảng Cộng Sản Trung Quốc (CSTQ) thành công. Tưởng Giới Thạch và Quốc Dân Đảng chạy ra Đài Loan. Mao Trạch Đông công bố thành lập chính thể Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (gọi tắt là Trung Quốc).

Hồ Chí Minh và VM cầu viện CSTQ. Nhờ sự giúp đỡ về mọi mặt của của Trung Quốc, VM phản công từ năm 1950 và cuối cùng chiến thắng năm 1954. Chẳng những VM, mà cả Việt Nam se phải trả giá cho sự cầu viện và chiến thắng nầy. Hiệp định Genève ngày 20-7-1954, chia hai đất nước ở sông Bến Hải, vùng vĩ tuyến 17. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (tức VM cộng sản) ở miền Bắc, Quốc Gia Việt Nam (hậu thân là Việt Nam Cộng Hòa) ở miền Nam. Trước khi ký hiệp định Genève, VM đã đưa ra kế hoạch gài người ở lại miền Nam, trường kỳ mai phục để chống lại QGVN.(2)

Giai đoạn thứ ba từ 1960 đến 1975: Từ năm 1955, Bắc Việt bắt đầu kiếm cách gây hấn, đòi hỏi Nam Việt phải tổ chức tổng tuyển cử vào năm 1956 theo dự kiến trong điều 7 bản "Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève 1954 về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương" ngày 21-7-1954. Cần chú ý, bản tuyên bố cuối cùng nầy không có chữ ký của bất cứ phái đoàn nào, kể cả phái đoàn VM tức VNDCCH.

Một bản tuyên bố không có chữ ký không thể là một văn bản pháp lý có tính cưỡng hành, mà chỉ có tính cách dự kiến tương lai mà thôi. Phái đoàn QGVN chẳng những không ký hiệp định Genève, mà còn không tham dự vào bản "Tuyên bố cuối cùng... ", nên tự cho rằng không bị ràng buộc vào điều 7 của bản tuyên bố nầy và không chấp nhận tổng tuyển cử.

Lấy lý do Nam Việt không chấp nhận tổng tuyển cử, Bắc Việt quyết định tấn công Nam Việt. Đầu tiên, Ban Bí thư Trung ương đảng Lao Động (LĐ, hậu thân của đảng CSĐD) ra chỉ thị ngày 24-5-1958, tổ chức học tập chủ thuyết Mác-Lê để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Bắc Việt và tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Nam Việt.

Vào cuối năm nầy, Lê Duẫn được bí mật gởi vào Nam để nghiên cứu tình hình. Khi trở ra Bắc, bản báo cáo của Lê Duẫn đã đưa đến quyết định của Uỷ ban Trung ương đảng LĐ tại hội nghị lần thứ 15 ở Hà Nội ngày 13-5-1959, theo đó đảng LĐ ra nghị quyết thống nhất đất nước (tức đánh chiếm miền Nam bằng võ lực) và đưa miền Bắc tiến lên xã hội chủ nghĩa. (Nghị quyết đăng trên Nhân Dân ngày 14-5-1959)

Nghị quyết trên đây được lập lại trong Đại hội 3 đảng LĐ, khai diễn từ ngày 5-9 đến ngày 10-9-1960 tại Hà Nội, mệnh danh là "Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà", đưa ra hai mục tiêu lớn của đảng LĐ là xây dựng miền Bắc tiến lên Xã hội chủ nghĩa và "giải phóng" miền Nam bằng võ lực. (3) Thế là chiến tranh tái phát từ năm 1960 đến năm 1975. Cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm Nam Việt ngày 30-4-1975.

Trong ba giai đoạn trên đây của cuộc chiến ba mươi năm ở Việt Nam, Trung Quốc đã giúp phía VM cộng sản từ giai đoạn thứ hai tức từ năm 1950 trở đi. Sự giúp đỡ của Trung Quốc cho phe cộng sản Việt Nam đã quá rõ ràng, không cần nhắc lại. Ở đây, chỉ xin thử bàn Trung Quốc đã hưởng lợi gì sau khi giúp phe CSVN thắng thế?

2.- TRONG GIAI ĐOẠN 1950-1954

An ninh biên giới nam Trung Quốc: Khi CHNDTH được thành lập ngày 1-10-1949, chiến tranh giữa VM và Pháp đã diễn ra được ba năm. Cuối năm 1949, Hồ Chí Minh gởi hai đại diện là Lý Bích Sơn và Nguyễn Đức Thủy đến Bắc Kinh xin viện trợ.(4a) Theo sự thỏa thuận giữa hai bên, chính phủ VNDCCH thừa nhận chính phủ CHNDTH ngày 15-1-1950. Ngay sau đó, CHNDTH công nhận trở lại chính phủ VNDCCH ngày 18-1-1950.

Ngày 30-1-1950, Hồ Chí Minh đến Bắc Kinh cầu viện. Sau đó, Hồ Chí Minh tiếp tục qua Liên Xô ngày 3-2-1950 để xin Liên Xô viện trợ, nhưng Joseph Stalin, lãnh tụ Liên Xô, trả lời với Hồ Chí Minh rằng việc giúp đỡ VM bước đầu là công việc của CHNDTH.( 4b) Nguyên lúc đó, Liên Xô mới ra khỏi thế chiến thứ hai, vừa lo tái thiết đất nước, vừa lo tổ chức thống trị các nước Đông Âu mà Liên Xô mới chiếm được sau thế chiến thứ hai, và Liên Xô ít có quyền lợi ở Viễn đông, nên Liên Xô ít chú trọng đến Việt Nam.

Ngày 17-2-1950, Hồ Chí Minh rời Moscow, trở về Bắc Kinh. Tại đây, một hiệp ước phòng thủ hỗ tương giữa VM và Trung Quốc được ký kết, theo đó hai bên hợp tác để tiễu trừ thổ phỉ (ám chỉ Quốc Dân Đảng Trung Hoa và biệt kích Pháp).(5) Hiệp ước nầy cho thấy rõ chủ đích phòng thủ biên giới của CHNDTH khi viện trợ cho VM.

Nguyên khi Cộng Sản Trung Quốc (CSTQ) chiếm được lục địa, thì Tưởng Giới Thạch và Quốc Dân Đảng Trung Hoa (QDĐTH) chạy ra Đài Loan, cố thủ ở đây. Ngoài ra, khoảng 30,000 quân QDĐTH tràn qua Việt Nam. Số quân nầy bị quân Pháp tước khí giới và tập trung ở vùng mỏ than Đông Triều.(6)

Cần chú ý, cuối năm 1949, đảo Hài Nam (ở gần Việt Nam) vẫn còn bất ổn. Cho đến ngày 1-5-1950, CSTQ mới đánh chiếm được đảo Hải Nam. Từ đó Hải Nam chính thức thuộc Trung Quốc, trở thành đặc khu trực thuộc tỉnh Quảng Đông của CHNDTH. Vì vậy, đảng CSTQ rất lo ngại về tình hình biên giới phía nam, sợ Hoa Kỳ hay Pháp giúp tàn quân QDĐTH trở về quấy phá biên giới phía NamTrung Quốc.

Trung Quốc gởi võ khí, đạn dược qua giúp VM chống Pháp để giữ yên và tạo một vùng trái độn giữa Việt Nam và nam Trung Quốc. Số võ khí, đạn dược nầy do quân QDĐTH bỏ lại lục địa trước khi tháo chạy ra Đài Loan. Chẳng những thế, đảng CSTQ còn gởi cố vấn chính trị và quân sự sang giúp VM.

Chính tướng Trần Canh (Chen Geng), một danh tướng thân cận của Mao Trạch Đông, được gởi sang làm cố vấn cho Hồ Chí Minh, đã giúp VM chiến thắng trận đầu tiên tại Đồng Khê ngày 16-9-1950. Đồng Khê ở phía nam Cao Bằng, phía bắc Thất Khê. (Thất Khê ở phía bắc Lạng Sơn).

Cũng nhờ chiến thuật công đồn đả viện do Trần Canh cố vấn, tại vùng Cao Bằng-Lạng Sơn, VM cử đại đoàn (sư đoàn) 308, trung đoàn 209 và một tiểu đoàn độc lập, mở hai trận phục kích riêng lẻ gần Đồng Khê, bắt được hai trung tá Lepage (8-10-1950) và Charton (10-10-1950).(7) Số tù binh Pháp bị bắt trong các trận nầy lên đến 4,000 binh sĩ, 354 hạ sĩ quan và 98 sĩ quan, trong đó có hai sĩ quan cấp trung tá.

Từ đây, VM làm chủ vùng Cao Bằng, Đồng Khê, Thất Khê, khai thông hoàn toàn khu vực biên giới giữa Trung Quốc và chiến khu Việt Bắc của VM, tạo một vùng an toàn cho VM dọc biên giới Việt Hoa, giúp việc chuyển vận hàng viện trợ của Trung Quốc cho VM được dễ dàng.

Sau trận nầy, Trung Quốc yên tâm rằng từ đây tàn quân QDĐTH không còn ẩn trốn trong vùng rừng núi biên giới giữa Trung Quốc với Việt Nam, liền rút đại tướng Trần Canh về Bắc Kinh tháng 11-1950. Lúc đó, chiến tranh Cao Ly (Triều Tiên) bùng nổ ngày 25-6-1950. Tháng 6-1951, Trần Canh được lãnh đạo Trung Quốc gởi qua cầm quân ở Cao Ly.

Như thế, đảng CSTQ giúp VM và đảng CSĐD chống Pháp ở Việt Nam năm 1950 trước tiên vì nhu cầu an ninh biên giới phía nam của Trung Quốc, như trước đây nhà Thanh gởi quân qua đánh Pháp ở Bắc Kỳ để cầm chân và không cho quân Pháp tràn qua biên giới của nhà Thanh.

Ngang hàng với các cường quốc: Đảng CSTQ làm chủ lục địa và thành lập chế độ CHNDTH ngày 1-10-1949. Lúc đó, Trung Quốc chỉ là một nước chậm tiến, nông nghiệp lạc hậu, bị các cường quốc tây phương xem nhẹ, chưa được cho thay thế ghế hội viên của Trung Hoa Dân Quốc ở Liên Hiệp Quốc.

Sau khi hiệp ước đình chiến ở Cao Ly (Triều Tiên) được ký kết tại Bàn Môn Điếm (Panmunjon) ngày 27-7-1953, và khi chiến tranh Việt Nam càng ngày càng quyết liệt, Liên Xô đề nghị với Hoa Kỳ, Anh, Pháp họp cùng Trung Quốc vào tháng 8-1953 để giải quyết những tranh chấp còn lại ở Triều Tiên và chiến tranh Việt Nam. Đề nghị nầy bị tam cường tây phương bác bỏ, vì cả ba nước không thừa nhận Trung Quốc là một cường quốc ngang hàng với họ.(8a)

Tháng 2-1954, Liên Xô lập lại ý kiến nầy. Trước tình hình ở Đông Dương càng ngày càng xấu về phía quân đội Liên Hiệp Pháp và càng ngày càng thắng thế về phía bộ đội VM, Hoa Kỳ, Anh, Pháp đành phải chấp nhận mời Trung Quốc đến họp để giải quyết chuyện Đông Dương.( 8b)

Dầu vậy, các nước Tây phương vẫn chưa xem trọng Trung Quốc. Trưởng phái đoàn Hòa Kỳ đầu tiên tại hội nghị Genève là ngoại trưởng John Foster Dulles. Khi gặp trưởng phái đoàn Trung Quốc tại Genève là thủ tướng kiêm ngoại trưởng Châu Ân Lai, John Foster Dulles vẫn không thèm bắt tay xã giao.(9)

Như thế, từ một nước mới được thành lập, kinh tế lạc hậu, nhờ chiến tranh Việt Nam, Trung Quốc được ngồi ngang hàng với các cường quốc Tây phương tại hội nghị Genève. Đây là một thắng lợi ngoại giao quan trọng của Trung Quốc mà Trung Quốc không đóng góp xương máu trên chiến trường.

Trong sách Đêm giữa ban ngày, tác giả Vũ Thư Hiên viết rằng trong chiến tranh chống lại miền Nam từ năm 1960, Lê Duẫn, bí thư thứ nhất đảng LĐ (năm 1976 đổi là tổng bí thư), đã từng nói: "Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc."(10) Thật ra, ngay từ năm 1950, VM cũng đã đánh cho Trung Quốc.

Cố vấn hay chỉ huy: Vào thế kỷ 19, Pháp đến xâm lăng và bảo hộ Việt Nam. Nước Pháp xa Việt Nam, nằm ở miền ôn đới. Người Pháp thuộc chủng tộc da trắng, chịu ảnh hưởng của nền văn hóa và văn minh khác hẳn người Việt. Người Pháp đến Việt Nam để khai thác và bóc lột, nhưng người Pháp không thích hợp với phong thổ Việt Nam, nên người Pháp ít ở lại Việt Nam.

Sau thế chiến thứ hai tức sau năm 1945, tuy Pháp muốn tái chiếm Việt Nam, nhưng người Việt Nam luôn luôn có tinh thần độc lập, sẵn sàng đứng lên chống Pháp, như trước đây đã từng chiến đấu chống Pháp. Cuộc kháng chiến có thể khó khăn nhưng trào lưu chung trên thế giới lúc đó là giải trừ thuộc địa, nên trước sau gì nước ta cũng có thể tự lực đánh đuổi được người Pháp, mà không nhất thiết phải dựa vào Trung Quốc mới có thể thành công. Các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trong lịch sử trước đây rất cam khổ, nhưng dân tộc Việt luôn luôn tự lực bảo vệ nền độc lập dân tộc mà không cần ngoại quốc viện trợ. Còn những lần các triều đại Việt Nam nhờ đến Trung Quốc, đều bị Trung Quốc xâm lăng. Ví dụ cuối đời Trần và cuối đời Lê là những bài học rõ nét nhất.

Trong sách Mặt thật, tác giả Thành Tín, tức Bùi Tín, nguyên đại tá bộ đội cộng sản, nguyên phó tổng biên tập báo Nhân Dân, đã viết: “...Nếu như hồi ấy đường lối đấu tranh đại loại như của cụ Phan [Châu Trinh] đề xướng được chấp nhận và thành hiện thực thì đất nước ta có thể khác hẳn hiện nay, vừa có độc lập thống nhất, có dân chủ và phát triển, có thể tránh được chiến tranh và tránh bị cỗ máy nghiền mà chủ nghĩa Staline, chủ nghĩa Mao đã đưa đến thông qua đảng cộng sản với biết bao hậu quả nặng nề mà chưa biết đến bao giờ mới khắc phục được...” (11)

Lịch sử bang giao Việt Hoa cho thấy rằng các nhà cầm quyền Trung Quốc nguy hiểm không kém gì thực dân Pháp, nếu không muốn nói là nguy hiểm hơn. Bằng chứng là vào thế kỷ 15, nhà Minh xâm lăng, khai thác và bóc lột Đại Việt tàn bạo không khác gì thực dân Pháp (xin xem Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi). Nhà Minh còn rất thâm độc, tịch thu hết sách vở, tài liệu, bia đá, nhân tài của Đại Việt đem về Trung Hoa, nghĩa là nhà Minh chủ trương tiêu diệt toàn bộ văn hóa Đại Việt.

Từ thời cổ xưa, các triều đại quân chủ Trung Quốc không ngừng bành trướng lãnh thổ. Trung Quốc đã xâm chiếm và đồng hóa tất cả các nước chung quanh Trung Quốc, như Mãn Châu, Tân Cương, Mông Cổ, Tây Tạng, Vân Nam, nhưng Trung Quốc chỉ xâm lăng Việt Nam chứ không xâm chiếm được Việt Nam vĩnh viễn.

Đối với Việt Nam, Trung Quốc luôn luôn tự tôn, cho rằng Việt Nam là phiên thuộc của Trung Quốc. Tác giả Sở Cuồng Lê Dư kể lại rằng, ngay cả nhà cách mạng Tôn Dật Tiên (Trung Quốc) cũng đã nói với chính khách Nhật Bản là tử tước Khuyển Dưỡng Nghị, tức Inukai Ki, rằng: “Người Việt Nam vốn nô lệ căn tính. Ngày xưa họ bị chúng tôi đô hộ, ngày nay họ bị Pháp đô hộ. Dân tộc ấy không có tương lai.” (12) Dầu Tôn Dật Tiên phát biểu như thế, Việt Nam là nước duy nhất nằm sát Trung Quốc và kháng cự lại được nền đô hộ của Trung Quốc.

Người Trung Quốc thuộc chủng tộc da vàng, có nền văn hóa và văn minh gần giống người Việt. Vì vậy, khác với người Pháp, người Trung Quốc rất dễ hòa lẫn với người Việt, nghĩa là người Trung Quốc đến Việt Nam, và có thể ở lại sinh sống tại Việt Nam.

Dưới thời quân chủ, khoảng từ 2 đến 4 năm, do yếu thế, triều đình Việt cử sứ thần sang Trung Hoa triều cống một lần, nhưng vua nước Việt, tức nguyên thủ quốc gia, chưa bao giờ sang Bắc Kinh bệ kiến các hoàng đế Trung Hoa, trừ lần Lê Chiêu Thống lưu vong năm 1789, và Phạm Công Trị giả vua Quang Trung sang Thanh năm 1790.

Trong khi đó, từ năm 1950 đến năm 1954, Hồ Chí Minh, nguyên thủ nhà nước VNDCCH, bốn lần sang Bắc Kinh hội kiến các lãnh tụ CSTH để xin cầu viện. Đó là các lần: 1) Đến Bắc Kinh 30-1-1950 rồi qua Moscow. 2) Đến Nam Ninh ngày 5-2-1951. 3) Đến Bắc Kinh cuối tháng 9-1952, rồi đi Moscow. 4) Đến Bắc Kinh cuối tháng 3-1954, rồi đi Moscow.

Ngang nhiên hơn nữa, năm 1954, Châu Ân Lai gọi Hồ Chí Minh sang Liễu Châu nói là hội họp và thảo luận, nhưng thực chất là ra lệnh cho Hồ Chí Minh phải ký hiệp định Genève chia hai nước Việt Nam. Thế là Hồ Chí Minh đành nghe theo.( 13) Chưa có thời đại nào mà chính quyền Trung Hoa chi phối mạnh mẽ, gần như chỉ huy nhà nước Việt Nam như CHNDTH đối với VNDCCH.

2.- TRONG GIAI ĐOẠN 1960-1975

Trung Quốc xâm lăng Việt Nam: Sau khi nhờ CSTQ để chống Pháp, nhất là chuẩn bị cầu viện để tiến đánh miền Nam, đương nhiên VNDCCH phải biết điều với Trung Quốc. Sự biết điều nầy thấy rõ qua công hàm ngày 14-9-1958 do Phạm Văn Đồng, thủ tướng Bắc Việt ký, tán thành quyết định về lãnh hải của Trung Quốc và triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc. Phạm Văn Đồng ký công hàm trên phải được sự chuẩn thuận của Hồ Chí Minh và bộ chính trị đảng Lao Động.

Trong khi giúp đỡ Bắc Việt để tiến đánh Nam Việt, Trung Quốc theo dõi diễn tiến tình hình chiến tranh Việt Nam, sẵn sàng chuẩn bị ra tay để thủ lợi. Ngày 27-1-1973, tại Paris bốn bên lâm chiến ở Việt Nam (Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam) ký kết “Hiệp định chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam”, theo đó Hoa Kỳ rút quân hoàn toàn ra khỏi Việt Nam.

Đây là thời cơ thuận tiện để Trung Quốc ra tay, vì Hoa Kỳ rút đi, VNCH bận rộn một mình chống đỡ những cuộc tấn công của VNDCCH và MTDTGPMN. Trung Quốc liền đưa hạm đội hùng hậu đánh chiếm hải đảo Hoàng Sa của VNCH. Biết rằng khó thắng, nhưng Hải quân VNCH do Ngụy Văn Thà chỉ huy, cương quyết bảo vệ quê hương, tiếp nối truyền thống anh dũng của tổ tiên chúng ta.

Ngụy Văn Thà và đồng đội hy sinh. Trung Quốc một lần nữa xâm lăng Việt Nam. Bắc Việt cộng sản im lặng, không lên tiếng. Đây là khởi đầu của thời kỳ Trung Quốc tiến xuống các hải đảo phía nam.

Trung Quốc bắt tay với Hoa Kỳ và vào Liên Hiệp Quốc: Sau hiệp định Genève (20-7-1954), Hoa Kỳ vào Việt Nam nhắm mục đích giúp Nam Việt chận đứng sự bành trướng của khối cộng sản. Sau một thời gian có mặt tại Việt Nam, từ thập niên 60, Hoa Kỳ nhận ra hai điều:

Thứ nhất, các nước cộng sản không phải là một khối chặt chẽ, mà họ là những thực thể riêng biệt, với những quyền lợi mâu thuẫn nhau khá trầm trọng. Hoa Kỳ không bỏ lỡ cơ hội kiếm cách khai thác mâu thuẫn giữa các nước cộng sản, đúng ra là giữa Liên Xô và Trung Quốc để làm thế nào ly gián họ, và tránh cho họ xích lại gần nhau như trước. Vì vậy, người Hoa Kỳ bắt đầu xét duyệt lại chính sách toàn cầu của Hoa Kỳ.

Thứ hai, nếu Hoa Kỳ càng giúp VNCH (Nam Việt) chống lại VNDCCH (Bắc Việt), thì Liên Xô và Trung Quốc ở thế cùng liên kết để giúp Bắc Việt chống lại Hoa Kỳ, tức Hoa Kỳ tạo nên một hoàn cảnh thuận lợi cho Liên Xô và Trung Quốc tạm gác những mâu thuẫn song phương, để cùng nhau cứu giúp một nước cộng sản thứ ba. Nói cách khác, làm như thế, chẳng khác gì Hoa Kỳ tạo cơ hội cho hai nước Liên Xô và Trung Quốc xích lại với nhau.

Trên quan niệm địa lý chính trị học (geopolitics), vào cuối thập niên 60 và đầu thập niên 70, người Hoa Kỳ còn ngộ ra rằng "Bắc Việt không thể tàn phá Hoa Kỳ trong vòng nửa giờ, hoặc tiêu hủy các thành phố, giết một nửa dân số, nhưng với hỏa tiển nguyên tử, Liên Xô có thể làm được việc đó. Trung Quốc tuy chưa ngang tầm của Liên Xô vì ít vũ khí nguyên tử, nhưng lại đe dọa phần còn lại của Á châu vì ý hệ chính trị cứng rắn và vì dân số đông đảo của họ."(14 a)

Chẳng những thế, các chính trị gia Hoa Kỳ lúc đó còn đi xa hơn, cho rằng "hy sinh Việt Nam mới thật là đáng giá. Còn hơn là hao phí thêm nhiều sinh mạng người Mỹ và hàng tỷ mỹ kim để chống đỡ Việt Nam với chẳng có hy vọng thắng lợi, tại sao không thỏa thuận thua cuộc để đổi lấy sự mở cửa của Trung Quốc nhắm làm yếu đi kẻ thù thực sự là Liên Xô."(14b)

Chính vì vậy, Hoa Kỳ đã thay đổi chiến lược toàn cầu, bắt đầu rút lui khỏi Việt Nam và kiếm cách bắt tay với Trung Quốc. Bill Sullivan, nguyên là đại sứ Hoa Kỳ tại Lào, lúc đó là thứ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ đặc trách Đông Á và Thái Bình Dương, trong một cuộc phỏng vấn, đã cho biết kết quả cuộc chuyển hướng ngoại giao của Hoa Kỳ: "Làm cho người Trung Quốc tách rời khỏi Liên Xô và nghiêng về phía chúng ta, đối với chúng ta còn quan trọng hơn nhiều việc chiến thắng ở Việt Nam." (14b)

Sự giao thiệp giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc bắt đầu bằng cuộc đấu bóng bàn giao hữu giữa hai đội bóng bàn Hoa Kỳ và Trung Quốc ngày 14-4-1971 dưới sự tiếp đón và chứng kiến của thủ tướng Châu Ân Lai tại Đại sảnh đường Nhân dân Bắc Kinh. Sau đó, ngày 9-7-1971, Henri Kissinger, cố vấn an ninh quốc gia của tổng thống Hoa Kỳ, có mặt ở Bắc Kinh và được Châu Ân Lai tiếp kiến.

Ngày 25-10-1971, Đại hội đồng thứ 26 của Liên Hiệp Quốc biểu quyết chấp nhận CHNDTH được giữ ghế đại biểu Trung Quốc thay cho Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) mà không bị Hoa Kỳ phủ quyết, nghĩa là Hoa Kỳ bỏ rơi Đài Loan, đồng minh lâu năm của Hoa Kỳ, để bắt tay với CHNDTH. Cần để ý thêm là Trung Quốc là hội viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, có quyền bỏ phiếu phủ quyết những vần đề quan trọng đưa ra trước Liên Hiệp Quốc.

Sau đó, tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon viếng thăm Trung Quốc một tuần bắt đầu từ ngày 21-2-1972 mà Nixon cho rằng đây là “một tuần lễ sẽ làm thay đổi thế giới.”(15) Cuộc viếng thăm nầy đưa đến "Thông cáo chung Thượng Hải" ngày 28-2 theo đó hai bên đưa ra những quan điểm hoàn toàn khác nhau, chỉ trừ một điều là cùng nhau tôn trọng sự khác biệt giữa hai bên và hứa sẽ kiếm cách cải thiện bang giao song phương.

Như thế, rõ ràng Trung Quốc lợi dụng Bắc và Nam Việt Nam đang đánh nhau trong giai đoạn từ 1960 đến 1975 để đánh chiến hải đảo Hoàng Sa, mở đầu cuộc bành trướng xuống phương nam. Đồng thời cũng nhờ chiến tranh Việt Nam lần nầy, Trung Quốc bắt tay được với Hoa Kỳ, được vào Liên Hiệp Quốc, được giữ ghế thường trực tại Hội đồng bảo an. Từ đó, quan trọng nhất là Trung Quốc thoát ra khỏi tình trạng bị cô lập, mở mang giao dịch với các nước trên thế giới và càng ngày càng thăng tiến trong sinh hoạt chính trị quốc tế.

KẾT LUẬN

Trong chiến tranh ba mươi năm vừa qua trên đất nước Việt Nam (1946-1975), có thể nói Trung Quốc đã hưởng lợi tối đa nhờ Trung Quốc đã viện trợ võ khí, đạn dược, quân trang quân dụng và làm cố vấn về chính trị lẫn quân sự cho VNDCCH từ 1950 trở đi.

Thành lập năm 1949, tuy vẫn còn là một nước lạc hậu về kinh tế, nhờ chiến tranh Việt Nam, Trung Quốc được xếp ngang hàng với các cường quốc Tây phương năm 1954, bắt tay với Hoa Kỳ và vào Liên Hiệp Quốc năm 1971, giải tỏa thế cô lập, và thăng tiến nhanh chóng trên đường giao thương quốc tế.

Riêng đối với Việt Nam, cả ngàn năm qua, các triều đại Trung Quốc phải đem binh hùng tướng mạnh để chinh phục nước Việt, nhưng đều thất bại. Người Việt luôn luôn bảo vệ chủ quyền đất nước, gìn giữ độc lập dân tộc. Từ năm 1950, khi cầu viện Trung Quốc để chống Pháp, Hồ Chí Minh và đảng CSĐD đã tự hạ mình làm phiên thuộc, thần phục Trung Quốc, hoàn toàn vâng lệnh Trung Quốc, từ những phong trào chính trị như rèn cán chỉnh quân (chỉnh huấn), cải cách ruộng đất (thổ cải), đến những chiến dịch hành quân, kể cả chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.(16) Chưa bao giờ nhà cầm quyền Trung Quốc kiểm soát Việt Nam chặt chẽ như vậy.

Cũng cả hàng ngàn năm qua, biết bao nhiêu lần Trung Quốc muốn chinh phục Việt Nam để tìm đường xuống Đông Nam Á, nhưng đều bị đẩy lui. Cho đến thế kỷ 20, vì thần phục Trung Quốc, Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và đảng Lao Động đã ký công hàm tán thành quyết định về lãnh hải của Trung Quốc và triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, mở đường cho Trung Quốc xuống phía nam. Sau đó, năm 1974 Bắc Việt và đảng Lao Động đồng lõa làm ngơ để Trung Quốc thôn tính hải đảo Hoàng Sa, cam tâm nhìn người nước ngoài xâu xé một phần lãnh thổ của tổ quốc Việt Nam kính yêu.

Cả ngàn năm qua, các vua chúa Trung Hoa không chiếm được một tấc đất của Việt Nam, không làm sụp đổ ải Nam Quan. Chỉ đến thế kỷ 20, CSTQ chiếm đất, chiếm đảo của chúng ta, không phải do tài ba của CSTQ, mà do Hồ Chí Minh và tập đoàn lãnh đạo CSVN, rước voi về giày mộ tổ, đúng theo kế hoạch thâm độc của cường quyền phương Bắc là “dĩ Việt chế Việt” (dùng người Việt chế ngự người Việt).

Như thế, trong chiến tranh ba mươi năm vừa qua trên đất nước Việt Nam, Hồ Chí Minh và đảng CSĐD nhờ CSTQ để đánh Pháp, không khác gì nhờ một kẻ cướp đuổi một tên trộm. Tên trộm bỏ chạy thì kẻ cướp vào nhà. Đây không phải chỉ là những sai lầm chiến lược của Hồ Chí Minh và đảng Lao Động Việt Nam, mà đây chính là tội lỗi phản quốc lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ cổ chí kim. Những tội lỗi nầy hiện đưa đến những hậu quả tai hại mà người Việt Nam ngày nay đang phải đối mặt.

TRẦN GIA PHỤNG(21-12-2008)

CHÚ THÍCH

1. Trung Tâm Từ Điển Bách Khoa Quân Sự, Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Hà Nội: Nxb. Quân Đội Nhân Dân, 2004, tt. 503-504.
2. Tiền Giang, “Chu Ân Lai và Hội nghị Genève”, Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, chương 27, bản dịch của Tam Dương, "Hội nghị Liễu Châu then chốt", tạp chí Thế Kỷ 21, California: số 219 (7-2007) và số 220 (8-2007).
3. Chính Đạo, Việt Nam niên biểu 1939-1975, Tập I-C: 1955-1963, Houston: Nxb. Văn Hoá, 2000, tt. 152, 180.
4. Qiang Zhai, China & Vietnam Wars, 1950-1975, The University of North Carolina Press, 2000, tr. 13 (4a), tr. 17 (4b).
5. Bernard Fall, Le Viet-Minh, Paris: Max Leclerc et Compagnie, 1960, tr. 119.
6. Đoàn Thêm, Hai mươi năm qua, 1945-1964, Sài Gòn: 1965, California: Nxb Xuân Thu tái bản, không đề năm, tr. 62.
7. Qiang Zhai, sđd. tt. 29-31.
8. Chính Đạo, Việt Nam niên biểu 1939-1975, Tập B: 1947-1954, Houston: Nxb. Văn Hoá, 1997, tr. 334 (8a), tr. 370 (8b).
9. Henry Kissinger, White House Years, Toronto: Little, Brown and Company, 1979, tr. 1054.
10. Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày (hồi ký chính trị của một người không làm chính trị), Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tr. 422, phần chú thích.
11. Thành Tín, Mặt thật, USA: Nxb. Saigon Press, 1993, tr. 102.
12. Hoàng Văn Chí, Từ thực dân đến cộng sản, [nguyên bản bằng Anh văn], bản dịch của Mạc Định, Paris: 1962, tr. 22.
13. Tiền Giang, báo đã dẫn.
14. Roger Warner, Shooting at the Moon [Bắn trăng], Steerforth Press, South Royalton, Vermont, 1996, tr. 333-334 (14a), 336 (14b).
15. John S. Bowman, tổng biên tập, The Vietnam War, Day by Day [Chiến tranh Việt Nam, việc từng ngày], Mallard Press, New York, 1989, tr. 190.
16. Được tin Pháp chiếm Điện Biên Phủ (ĐBP) ngày 22-11-1953, tướng Vi Quốc Thanh, đứng đầu bộ tư lệnh cố vấn quân sự Trung Quốc tại Việt Nam, một mặt yêu cầu VM đưa quân bao vây ĐBP, một mặt báo về Bắc Kinh. Bắc Kinh cho rằng chiến dịch ĐBP chẳng những quan trọng về quân sự và chính trị, mà còn ảnh hưởng quốc tế, nên hứa hẹn sẽ viện trợ cho VM tối đa để tấn công ĐBP. Từ đó, Bắc Kinh tăng viện võ khí, cao xạ, gởi cả những chuyên viên đào chiến hào đã có kinh nghiệm trong chiến tranh Triều Tiên sang giúp VM. Đồng thời Bắc Kinh và bộ tư lệnh cố vấn Trung Quốc chỉ huy thật sát chiến dịch ĐBP.(Qiang Zhai, sđd. tt. 46-49.)
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Ngăn Chận Biểu Tình?

Trần Khải
Không phải tự nhiên mà ông Thủ Tướng CSVN tiên đoán rằng năm 2009 sẽ là năm nhiều gay go, khó khăn để rồi ra chỉ thị cho ngành công an là phải cấm ngặt biểu tình, một hiện tượng đã xảy ra trong các năm gần đây do công nhân đình công, dân oan khiếu kiện đòi đất và mới năm nay là giaó dân Công Giaó đòi đất. Tình hình kinh tế suy sụp hơn, tất nhiên các căng thẳng sẽ dễ dàng bùng nổ hơn.

Nhưng câu hỏi cần đặt ra là, biểu tình là một quyền tự nhiên của con người để gây chú ý về các nỗi oan ức, tại sao lại ngăn chận? Và khi ngăn chận như thế, phảỉ chăng là muốn dẹp hết mọi tiếng nói oan ức, bịt cho kín bưng các lời ta thán?

Thêm nữa, chúng ta có thể thấy một khía cạnh khác, rằng tình hình nhà nứơc CSVN nhượng đất, nhượng đảo không còn giấu nữa được, vì cuộc cách mạng thông tin Internet đã đưa các thông tin naỳ đi khắp nơi, thì các cuộc biểu tình tương lai hẳn là sẽ nhiều sức mạnh vô lường, vì tình cảm giữ đất, giữ đảo sẽ là chất keo nối kết tất cả các thành phần dân tộc, chứ không còn là tiếng nói riêng của một thành phần nào hết.

Vì thực tế trong quá khứ, những cuộc biểu tình hàng chục ngàn người của công nhân, cả ngàn người của phong trào dân oan, và nhiều ngàn giaó dân tại nhiều nơi vẫn không làm cho chế độ CSVN lay động. Nhưng, nếu cuộc biểu tình đòi ải Nam Quan, đòi chiếm lại Hoàng Sa, đòi giữ chặt Trường Sa bùng nổ, thì đây sẽ là khởi đầu cho một ngòi nổ cho quả bom nguyên tử trong lòng người, vì mất đất, mất đảo cũng có nghĩa là nhà nứớc và Đảng CSVN hoàn toàn không còn tính khả tín nào hết, ngay cả đối với các cán bộ, công nhân viên và bộ đội CSVN.

Thêm nữa, biểu tình để đòi giữ đất, giữ đảo có thể sẽ nhanh chóng phựt lửa như chaý rừng, và không ai có thể ngăn nổi nữa... Đó là viễn ảnh mà Đảng CSVN lo sợ nhất, vì giây phút đó, có thể chính lực lượng quân đội CSVN sẽ quay súng lại vây bắt chính những người đã cắt đất, nhượng đảo... Nếu suy luận naỳ đúng, có thể rằng cái chết của Tưoơng Công An Thi Văn Tám mấy tuần trứớc đây là để bưng bít, và dập tắt những chiến binh, công an có suy tư độc lập dân tộc?


Bản tin từ thông tấn nhà nứơc “Cổng TTĐT Chính phủ” hôm 22-12-2008, nhan đề “Không để xảy ra biểu tình, bạo loạn, khủng bố” đã ghi lời chỉ thị của Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng giao cho ngành Công an trong năm 2009, trong đó là “Không để xảy ra biểu tình, bạo loạn, khủng bố, bảo đảm an toàn các sự kiện lớn trong năm...”

Bản tin còn cho thấy tính trong năm tới giờ, “Năm 2008, lực lượng công an đã điều tra đề nghị truy tố hơn 670 vụ liên quan đến xâm phạm an ninh quốc gia.”
Như thế, nghĩa là trung bình mỗi ngày có 2 “vụ liên quan đến xâm phạm an ninh quốc gia.”

Bản tin nhà nước cho biết ông Dũng nói như thế trong Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 64 tổ chức tại TP. Sài Gòn sáng 22/12, và chỉ thị công an, “ngành phải làm tốt vai trò nòng cốt trong việc đấu tranh và phòng chống tội phạm, chủ động nắm chắc tình hình, phát hiện sớm mầm mống tội phạm đối lập để xử lý kịp thời, không để xảy ra biểu tình, bạo loạn, khủng bố, bảo đảm an toàn các sự kiện, các hội nghị lớn trong năm.”
Đặc biệt, Đài VOA trong bản tin ngày 23-12-2008 ghi nhận lời ông Dũng nhìn nhận năm 2009 sẽ là rất gay go, “Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng cảnh báo trước các viên chức cấp cao của lực lượng công an cảnh sát rằng 2009 sẽ là một năm kinh tế đầy khó khăn và ngăn chặn các cuộc biểu tình sẽ là một trong những vai trò nòng cốt của lực lượng này.

Hãy nghĩ thêm một diễn tiến mới: trong thời gian vài năm qua, nhiều nhà dân chủ đã treo truyyền đơn kêu gọi giữ đảo, giữ đất, nhiều đảng phái (gần nhất tuần này, là Đảng DCND) thả truyền đơn theo bong bóng bay để đòi gìn giữ cõi bờ... Cuộc chiến vì dân chủ thực sự không còn nằm ở bàn phím máy điện toán... mà đã ra tận đường phố. Như thế, nếu trận lửa rừng dân chủ bắt đầu mời gọi được chính các giới quân đội, công an, cán bộ... thì chế độ CSVN không thể minh giaỉ gì nổi trứơc các tội quá lớn khi làm co cụm mất lãnh thổ...

Tuần naỳ, trang web http://x-cafevn.org đã đưa lên lời kêu gọi, “Kêu Gọi Toàn Quốc Biểu Tình Phản Đối TQ Xâm Lược Tối Chủ Nhật 28/12/2008...”
Và khi tuổi trẻ lên tiếng, chế độ bắt buộc phải hù dọa trứơc, bằng chỉ thị của Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng, là phải “không để xảy ra biểu tình, bạo loạn, khủng bố, bảo đảm an toàn các sự kiện, các hội nghị lớn trong năm.”

Đặc biệt, lời kêu gọi biểu tình từ giới trẻ còn là đúng dịp có trận đá bóng. Trong lời kêu gọi từ các bạn trẻ “x-cà” trên, chúng ta đọc thấy tấm lòng sáng rực:
“Bác Ptttman và bác Cùi bắp đề nghị nên biểu tình vào tối 28/12. Thấy ý tưởng hay, tôi góp thêm vài ý kiến bổ sung và post vào đây cho các bác bàn. Đề nghị các bác admins/mods không chuyển bài qua bên Ngoại Giao - Biên Giới.

Tối chủ nhật, 28/12/2008 biểu tình trên cả nước phản đối TQ xâm lược.
Những lần gần đây chúng ta biểu tình ban ngày không thành công, lần này chúng ta hãy chuyển sang biểu tình vào ban đêm. Đội tuyển VN sẽ gặp Thái Lan ở trận chung kết lượt đi trên đất bạn vào ngày 24-12-08 và 4 ngày sau đó, ngày 28-12-08, sân Mỹ Đình sẽ lại có một ngày rực lửa vì những hy vọng mang tên VN trong trận chung kết lượt về. Khả năng thắng của VN rất lớn, nhưng thắng hay thua chúng ta cũng có thể xuống đường.
Với một rừng người như thế, tôi tin rằng không một lực lượng CA nào có thể dẹp được. Kế hoạch cụ thể như thế nào thì xin các bạn bàn tiếp.” (hết trích)

Tuổi trẻ Hà Nội đã lên tiếng. Và Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã đáp lời bằng chỉ thị cho công an...
Tại sao nhà nứơc không ngầm khuyến khích giới trẻ biểu tình để giữ đất, giữ đảo? Không phải như thế, mới tạo được sức mạnh để kình chống nổi các áp lực từ nhà nứớc Bắc Kinh?
Và hãy nhớ, chỉ đơn giản đè bẹp, đàn áp thì về lâu dài sẽ có phản lực. Haỹ nhớ như thế.

TRẦN KHẢI
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Image

Chúng ta đang bỏ quên những giấc mơ?
Như một người lạc lõng và hão huyền giữa thời đại mình đang sống, trong ngày đầu của năm mới, tôi cất tiếng hỏi: Có ai chuẩn bị những hạt giống của giấc mơ không?

Câu hỏi này không phải bây giờ mới có trong tôi mà đã có từ lâu. Tôi và không ít người đã cất tiếng nhưng đáp lại là sự hờ hững như là không ai nghe thấy. Hay nói chính xác hơn là quá ít người nghe thấy hoặc nghe thấy nhưng họ đã bỏ đi.

Bởi hai từ giấc mơ vang lên như chẳng có ý nghĩa gì, chẳng làm ai thấy rung động. Giấc mơ là gì mà sao tôi lại phải nói đến như một nỗi dày vò khôn nguôi trong khi hầu hết chúng ta bị cuốn vào sự mê đắm của những lợi ích cụ thể nhìn được trong mắt và cầm được trong tay?

Tôi chỉ muốn chúng ta chỉ dừng lại một khắc của một năm để nhìn vào chính mỗi ngôi nhà của chính chúng ta và tự hỏi: Có bao giờ chúng ta nói với nhau trong một buổi tối nào đó về những giấc mơ của mình. Và chúng ta, những người thấu hiểu đời sống này, sẽ giật mình nhận ra rằng: đã từ lâu, từ lâu lắm rồi, chúng ta không còn nói về những giấc mơ của mỗi chúng ta nữa.

Sẽ không ít người lên tiếng nói với tôi bằng một cử chỉ khó chịu hoặc bằng một âm giọng mỉa mai rằng: Ngươi cứ tiếp tục gieo cái thứ hạt giống đó của ngươi. Còn ta, ta chẳng cần thứ hạt giống đó để làm gì. Đúng vậy. Quá nhiều người không bao giờ hình dung ra thứ hạt giống đó và không hề tin thứ hạt giống đó có chút ý nghĩa gì đó với cuộc sống của họ. Nhưng đấy chính là sự lầm lạc. Và sự lầm lạc này hình như cũng không bao giờ hiện rõ để nói về chính nó với những người bị nó làm cho u uẩn và hoảng loạn.

Có một sự kiện trong năm 2008 diễn ra trên thế giới làm tôi suy nghĩ mãi. Đó chính là cuộc bầu cử tổng thống Mỹ. Một người đàn ông da màu còn rất trẻ và ít danh tiếng đã trở thành tổng thống Mỹ, ngài Barack Obama. Không ít người nhầm tưởng rằng ông được bầu làm tổng thống Mỹ là do sự thăng hoa của chủ nghĩa bình đẳng sắc tộc.
Image
Obama gieo trong lòng người Mỹ
giấc mơ về sự thay đổi của những người đang hoảng sợ và vô vọng (Ảnh: TIME)


Nhưng thực tế, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc ở Mỹ, theo những nhà hoạt động và nghiên cứu xã hội, vẫn là một cơn ác mộng đối với những người da màu. Vậy điều gì đã làm cho một dân tộc được coi là thực dụng nhất đã bỏ phiếu lựa chọn Obama? Đó là bởi trong một ngày khi Obama đi qua họ thì họ bỗng nhận ra những cái cây của giấc mơ mọc lên lộng lẫy trong tâm hồn họ.

Bản chất và hiện thực của nước Mỹ vẫn không có một chút gì thay đổi khi Obama trở thành tổng thống. Chỉ có một thứ đổi thay. Đó là giấc mơ của người Mỹ về một tương lai đẹp đẽ ngập tràn chủ nghĩa nhân văn. Và họ đã đi theo kẻ gieo những hạt giống của giấc mơ vào con người đang hoảng sợ và vô vọng của họ.

Nếu chúng ta có thời gian, chúng ta sẽ hồi tưởng lại trong một năm chúng ta đã sống như thế nào trong chính ngôi nhà của mình. Tôi chỉ nói về ngôi nhà của mỗi chúng ta mà không nói đến những không gian rộng lớn hơn.

Tôi chỉ chọn lựa một không gian mà ở đó chứa đựng nhiều lý do nhất để mỗi chúng ta gieo những hạt giống của giấc mơ vào chính mảnh đất của tâm hồn mình và của những người thân bên cạnh chúng ta. Một việc rất nhỏ đã mất đi trong những ngôi nhà chúng ta làm tôi buồn bã và nuối tiếc. Đó là những buổi tối những người già kể cho những đứa trẻ nghe những câu chuyện cổ tích.

. Trên một bức tường đã cũ ở làng Chùa của tôi có một câu nói của những người nông dân: Người yêu thơ và ta yêu người.

Nhưng người không yêu thơ, ta phải yêu người hơn. Thơ ca ở đây không phải là những bài thơ cụ thể. Đó chính là những giấc mơ về cuộc sống này. Bởi thế chúng vừa thương vừa lo sợ cho những kẻ không mang trong mình những giấc mơ đẹp ấy.
Image

Và những câu chuyện cổ tích không chỉ là những câu chuyện cổ tích. Ở đó chứa đựng những giấc mơ đẹp đẽ và nhân ái về thế giới quá nhiều bệnh tật, nhiều đói rét, nhiều thù hận, nhiều bất trắc và nhiều máu chảy của chúng ta. Một nhà thơ Hàn Quốc, xứ sở của những văn minh và một đời sống giàu có về vật chất, đã viết: Ngày ngày chúng ta từ công sở trở về/ Giống loài bò sát trở về đầm lầy của chúng.

Khi tâm hồn chúng ta đã vắng những giấc mơ, khi đôi cánh của tâm hồn chúng ta không còn da diết đập, thì chúng ta bắt đầu trở về thế giới của hoang thú ngay trên chính những con đường hiện đại siêu tốc của chúng ta. Chúng ta tưởng chúng ta đang bay lên về phía ánh sáng nhưng thực tế chúng ta đang mỗi ngày chìm vào bóng tối của dục vọng.

Hàng triệu đứa trẻ đang lớn lên từ những ngôi nhà mệt mỏi của chúng ta. Nhiều lúc, chúng ta trở về và nhìn thật sâu vào ngôi nhà của chính mình. Chúng ta mới giật mình kinh hãi vì sự hoang vắng của ngôi nhà. Hoang vắng bởi ở đó chỉ là một cánh rừng của những vô cảm: tủ lạnh, tivi, đồ gỗ, máy rửa rau quả, lò vi sóng, máy giảm béo, hàng thời trang…cùng với những tham vọng và mưu mô làm chúng mắc chứng mất ngủ và bệnh hoang tưởng.

Tất cả những thứ đó sẽ chỉ là một thế giới chết nếu không có những con người mang trong họ những giấc mơ đẹp về thế gian này. Có lẽ vì thế mà nhiều lúc chúng ta nổi giận, chúng ta u uất, chúng ta hoảng loạn, chúng ta tức tối, chúng ta điên rồ…nhưng chúng ta không hiểu vì đâu.

Những công dân tương lai của chúng ta sẽ ra sao khi lớn lên từ những ngôi nhà mệt mỏi và hoang vắng ấy. Chúng ta đã và đang mắc một sai lầm hệ trọng khi nghĩ rằng chúng ta đã mang lại cho những đứa trẻ tất cả những gì chúng cần. Chúng ta đổ vào những đứa trẻ mọi thứ vật chất tốt nhất như quần áo, thực phẩm, đồ chơi và cả các thầy cô.

Tại sao tôi lại gọi thầy cô là một thứ vật chất? Bởi có không ít những thầy cô chỉ coi những đứa trẻ như một cái ổ cứng computer hay một cái USB để nạp tất cả những gì từ giáo án giáo trình của họ. Họ chỉ truyền vào những đứa trẻ những công thức và những định nghĩa vô cảm giống như người ta cài đặt một chương trình cho một cái máy. Và những đứa trẻ chỉ là những công cụ để thoả mãn dục vọng của chính những người làm cha làm mẹ, làm thầy làm cô mà thôi.

Nhưng chúng ta, những bậc cha mẹ, những bậc thầy cô vẫn luôn luôn tự tin rằng: những đứa trẻ đang ngoan ngoãn nghe lời chúng ta ở nhà, ở lớp là những con ngoan trò giỏi. Thực ra, chỉ có thân xác chúng đang ở trước chúng ta. Còn tâm hồn chúng đã rời bỏ chúng ta đi về thế giới riêng của chúng. Chúng chỉ là những cái bóng in trên bức tường thời gian mà những đôi mắt chúng ta không làm sao nhận biết được điều ấy.

Có bao nhiêu người mẹ, người cha hay thầy hay cô nói cho chúng nghe về những điều kỳ diệu ở ngay bên ngoài ô cửa phòng ngủ và phòng học của chúng. Không. Chúng ta đã đã quên lãng điều ấy từ lâu rồi. Và chính thế mà khi những đứa trẻ xa vào những hành động hoang thú thì chúng ta không hiểu vì sao lại như vậy.

Image
Không chỉ trong những ngôi nhà của chúng ta mà trong từng lớp học và nhiều nơi chốn khác, chúng ta không được nhìn thấy bóng dáng và giọng nói của những người gieo những hạt giống của giấc mơ vào những đứa trẻ và vào chính chúng ta. Nếu bạn để ý, bạn sẽ thấy không ít những đứa trẻ khi bắt đầu tập nói đã ngày ngày phải phát âm hoặc phải nghe những lời từ vựng chỉ vật chất, chỉ tính sở hữu và của chủ nghĩa thực dụng.

Chúng ta mới chỉ lo sợ đến sự đau ốm sinh học của những đứa trẻ và bỏ ra tất cả tiền của để chữa chạy sự đau ốm này trong khi đó lại quá ít lo sợ những cơn đau ốm tâm hồn của chúng. Và nếu chúng ta có lờ mờ nhận ra những cơn đau ốm tâm hồn của những đứa trẻ thì chúng ta cũng không biết phải chữa chạy như thế nào.

Bởi chúng ta đã lãng quên những giấc mơ của chính mình. Và khi chúng ta xoè bàn tay của tâm hồn chúng ta ra, chúng ta chẳng thấy một hạt giống nào của giấc mơ trong cả hai lòng bàn tay ấy. Chúng ta không biết lấy gì để chữa chạy cơn đau ốm ấy tâm hồn của chính chúng ta và của những đứa trẻ, những chủ nhân tương lai của thế gian này. Cho đến lúc đó, chúng ta mới nhận ra rằng: chúng ta thực sự là những kẻ vô cùng nghèo đói.

Nguyễn Quang Thiều
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Image

Tôi thấy và nghe được gì ở Sài Gòn
Ðây không phải là một phóng sự hay một bài nghiên cứu xã hội với những phương pháp khoa học của nó - mà chỉ là những điều vụn vặt mắt thấy tận nơi, tai nghe tận chỗ - ghi lại một cách trung thực..

Tôi thấy bộ mặt Sàigòn đổi mới với: Những khách sạn 5 sao, 4 sao lộng lẫy. Ðổi mới với những nhà hàng "vĩ đại" trên các tuyến đường du lịch. Với những trung tâm "thư giãn" sang trọng, quý phái cỡ câu lạc bộ Lan Anh. Với những vũ trường cực kỳ tráng lệ như vũ trường New Century Hànội. Với những trường Trung học tư thục mang tên Mỹ, giáo sư Mỹ, chương trình học của Mỹ, giảng dạy bằng tiếng Mỹ- học sinh phải trả học phí bằng tiền Mỹ - 600US$ đến 1000US$ /tháng.. (Giai cấp nào đủ sức trả học phí nầy cho con? )

Tôi cũng hiểu rằng các nơi nầy là nơi ăn chơi của vương tôn công tử "đỏ", các nhà giàu mới - thân nhân các quyền lực đỏ đứng đàng sau, các quan chức đỏ đô la đầy túi. Họ đến đây để "thư giãn", uống rượu, đánh bạc, cá độ và tìm gái. Uống chơi vài chai rượu ngoại VSOP, XO là chuyện thường. Mỗi đêm có thể tiêu hàng ngàn đô la Mỹ cũng không phải là điều lạ. Trong khi lương tháng của một thầy giáo Trung học trường công không đủ để trả một chai rượu XO. Vụ MPU.18 cá độ hàng triệu US $ đã bị phanh phui..là một thí dụ cụ thể.Vũ trường New Century bị Công an đến giải tán vì các công tử và tiểu thư con các quan chức lớn nhảy đã rồi.... " lắc" suốt đêm. Vài hôm sau - đâu cũng vào đó... Tôi cũng thấy Sàigòn- người, xe và phố xá dầy đặc, nghẹt thở - vài tòa cao ốc mọc lên vô trật tự - ở xa xa, có cái trông giống như chiếc hộp quẹt.. nhà cửa mặt tiền hầu hết đều lên lầu nhiều tầng. Kiến trúc hiện đại.Vật liệu nhập cảng đắc tiền. Nhà trong hẻm - phần lớn cũng lên nhiều tầng cao nghệu. Có nhiều khu xây cất bừa bãi, nhô ra thụt vào như những chiếc răng lòi xỉ vô duyên , lấn chiếm ngang ngược đất công hoặc lề đường....

Tôi thấy Sàigòn bị ô nhiễm trầm trọng với hằng triệu tiếng động cơ, ngày đêm đinh tai nhức óc và 3.000.000 chiếc Honda - phun khói mịt mù - chưa kể đến xe hơi..Và hệ thống cống rãnh lạc hậu.. mỗi khi trời mưa lớn - nước rút không kịp, ứ đọng tràn ngập nhà cửa. Hệ thống đổ rác còn lạc hậu.. không đáp ứng nổi nhu cầu thải rác của 8.000.000 dân nhung nhúc như kiến.. Sàigòn đầy dẫy những hàng ngoại do công ty ngoại quốc sản xuất tại chỗ..hàng lậu của Trung quốc tràn vào vô số kể.. Máu kinh tế Việt Nam bị loãng ra. Nhưng chế độ xã nghĩa im thin thít chịu trận, không dám một lời phản kháng. Một chiếc xe Honda nhãn hiệu Trung quốc giá khoảng chừng 1000 đô la Mỹ..chưa kể hàng Trung quốc lậu thuế, rẻ mạt.. Thuốc lá và bia - bia nội, bia ngoại - có đủ.. Nhậu và hút là 2 cái mốt bình dân thời thượng nhứt ở Sàigòn. Ðảng viên, cán bộ - giai cấp thống trị - nhậu.. Già nhậu, trẻ nhậu... con nít cũng tập tành nhậu. Hút thì khỏi nói.. Giai cấp cán bộ răng đen mã tấu bây giờ là giai cấp nắm thống trị - đã lột xác - không còn quấn thuốc rê, bập bập phà khói mịt mù nữa - mà lúc nào cũng lấp ló một gói 3 con 5, Craven A, trong túi. Lãnh đạo hút, cán bộ hút, dân chúng hút - thậm chí con nít 9, 10 tuổi ở đồng quê cũng phì phà điếu thuốc một cách khoái trá.. Các hãng bia và thuốc lá ngoại quốc đã tìm được một thị trường tiêu thụ béo bở. Cán bộ lớn cũng âu phục cà vạt hẳn hoi, xe hơi bóng loáng.. nhưng bộ răng hô, mái tóc bạc thếch, và nước da mốc mốc.. cũng không dấu được nét thô kệch của một anh nhà quê lên Tỉnh.

Tôi còn thấy Sàigòn với hiện tượng "tiếm công vi tư" lộng hành, ngang ngược của Công an đến độ dân chúng quen thuộc, xem là một chuyện đương nhiên như chuyện hối lộ đã trở thành cái lệ.... bất thành văn trong chế độ xã nghĩa. Chiếm đoạt một nửa công viên, xây nhà gạch dùng làm quán cà phê.. Chưa thỏa mãn - ban đêm còn dọn thêm bàn ghế trên sân cỏ của phần công viên còn lại và thắp đèn màu trên mấy chậu kiểng cho thêm thơ mộng.. Ông chủ bự nầy chắc chắc không phải là dân thường. Ông lớn nầy xem công viên như đất nhà của ông vậy.Ai có dịp đi ngang qua mũi tàu - nơi gặp gỡ của 2 đường Nguyễn Trãi và Lê Lai cũ, ngang hông nhà thờ Huyện Sĩ - thì rõ.

Còn nhiều.. rất nhiều chuyện lộng hành chiếm đất công, lấn lề đường nhan nhản ở khắp Saigòn. Chỉ đưa ra vài thí dụ cụ thể : Một công thự tại vườn Tao đàn (có lẽ là nhà cấp cho viên Giám đốc Công viên Tao Đàn) - mặt tiền ngó vào trong - mặt hậu nhìn ra phía đường Nguyễn Du (Taberd cũ ) - bèn có màn trổ cửa mặt sau nhà, xây thêm phía sau thành 2 căn phố thương mãi mặt tiền ngó ra đường Nguyễn Du, trị giá mỗi căn, nhiều trăm ngàn mỹ kim - ngon ơ! Tương tự như vậy - ở góc đường Thành Thái và Cộng Hòa cũ... trước sân nhà của ông Hiệu Trưởng trường Quốc gia Sư Phạm trước 75 - phố thương mãi, quán xá la liệt chiếm mất mặt tiền. Ngang ngược và lộng hành nhứt là 2 căn phố thương mãi bên hông trường Trương minh Ký, đường Trần hưng Ðạo, chễm chệ xây lên ngay bên góc phải sân trường như thách đố dân chúng..Còn trên lề đường khá rộng trước câu lạc bộ CSS cũ, bây giờ là câu lạc bộ Lao động - nhiều gian hàng thương mãi bán quần áo, giày vớ thể thao.. buôn bán ầm ĩ, náo nhiệt suốt ngày.

Công an chiếm đất công, xây nhà tư. Công viên, lề đường trước nhà dân là đất riêng của Công An. Công an sử dụng làm chỗ gửi xe, bịt kín cả lối đi vào nhà. Không ai dám hó hé. Im lặng là an toàn.Thưa gửi là dại dột. Mà thưa với ai?Tất nhiên là phải thưa với công an.Không lẽ công an xử công an? Tướng CS Trần Ðộ phản ảnh còn rõ rệt hơn: "... Xã hội Việt Nam ngày nay là một xã hội vô pháp luật mà phần đầu tiên gây ra là Ðảng. Không thể nào chống tham nhũng được vì nếu Ðảng chống tham nhũng thì Ðảng chống lại Ðảng sao?"("Nhật ký Rồng rắn" của Trần Ðộ).

Nón cối, nón tai bèo, dép râu, áo chemise xùng xình bỏ ngoài chiếc quần màu *** ngựa của người cán bộ CS ngơ ngác khi mới vào Sàigòn - đã biến mất.. Cũng không còn thấy những chiếc áo dài tha thướt của những cô gái đi dạo phố ngày cuối tuần trên các đại lộ Lê Lợi, Lê thánh Tôn, Tự do những ngày trước 75 nữa. Thay vào đó là một đội ngũ phụ nữ - mũi và miệng bịt kín bằng "khẩu trang", găng tay dài đến cùi chỏ, cỡi Honda chạy như bay.. trên đường phố.


Tôi còn thấy những người nghèo khổ chở trên chiếc xe thồ, những thùng carton và bao túi nylon, chồng chất lên nhau cao ngất như sắp đổ xuống...những bà cụ già, những cậu bé tuổi đáng được ngồi ở ghế nhà trường.. những anh phế binh cụt tay, cụt chưn, lê lết trên một miếng ván gỗ... đi bán vé số (một cách ăn xin trá hình)... những em bé mặt mũi lem luốc đang bươi những đống rác để lượm các bao nylon, lon coca, chai bia đem về bán.. hay những em bé rách rưới lang thang trước những tiệm ăn.. chờ khách ăn xong nhào vô bưng tô súp cặn húp vội đỡ lòng..còn những trẻ khác - mắt láo liên trông chừng công an, tay chìa chiếc hộp, làm dấu mời khách đánh giày -..những em bé gái đang hì hục đẩy khách lên đồi cát bằng miếng ván có gắn bánh xe ở "Ðồi cát bay" Phan Thiết. Hỏi "sao em không đi học"? - trả lời: "Nhà không đủ cơm ăn, con làm cái nầy để kiếm thêm cơm ăn.".. Nhiều bà mẹ nhăn nhó ôm thằng bé mặt mày xanh lét, không còn chút máu, chờ suốt buổi sáng... trước tiếng quát tháo ầm ĩ.. vẫn chưa tới phiên mình vào bệnh viện chữa trị cho con.. Nghe nói mấy năm trước đây có nhiều bà mẹ đứng trước bệnh viện Chợ Rẩy chờ bán máu mình để qua cơn đói khổ ngặt nghèo như nhà văn Trần trung Ðạo đã mô tả..Lại nghe một bệnh nhân dứng cạnh đó, cũng chờ đến lượt mình, than thở : " Ở đây là vậy đó ông ơi! Chửa bệnh phải có tiền - trước nhứt phải qua cửa - lọt qua cửa thì còn nhiều khâu - khâu nào cũng phải chìa tiền. Muốn sống - phải có tiền. Chết cũng phải có tiền.

Bộ mặt Sàigòn "đổi mới" bằng những khách sạn lộng lẫy, những câu lạc bộ thời thượng, những phố xá thương mãi sang trọng, những hiệu kim hoàn lóng lánh kim cương, những nhà hàng ăn vĩ đại, những vũ trường cực kỳ tráng lệ, những biệt thự đồ sộ nguy nga mới xây bằng vật liệu ngoại đắt tiền.. trang trí cây cảnh như một mảng vườn Thượng uyển của vua chúa ngày xưa.. những xe hơi bóng loáng nhởn nhơ trên đường phố - nhiều người chóa mắt.. choáng váng, cho là "Việt Nam bây giờ tiến bộ quá". Riêng Phó thường dân tôi tự nghĩ : Như vậy có phải là tiến bộ không? Sự tiến bộ của một nước cần phải nhìn về nhiều mặt : Mặt y tế và giáo dục, mặt đời sống vật chất và tinh thần của dân chúng.. Lợi tức đầu người của Việt Nam - theo thống kê của báo The Economist - bằng : 555 US $ năm 2007 (Hà Nội bốc lên 730 US $) chỉ hơn Lào và Cambodia chút đỉnh. So với các nước láng giềng: Thái Lan : 2550 US $ - Phi luật Tân : 1040US$ - Nam Dương : 1160US$.Tân gia Ba 24840US$.(The Economist World, năm 2007 - p.158, 176, 238) - Việt Nam còn lẹt đẹt đàng sau rất xa. Và trước bộ mặt thay đổi choáng ngợp nầy - nếu đặt câu hỏi : Ai là chủ nhân của những xe hơi, khách sạn- vũ trường, những thương hiệu lớn, những biệt thự lộng lẫy kia? - thì câu trả lời không sợ sai lầm là của cán bộ đảng viên (tại chức hoặc giải ngũ) hoặc con cháu thân nhân của họ. Và ở thôn quê - giai cấp giàu có bây giờ là ai? giai cấp địa chủ là ai? Có phải do của cải của ông cha để lại hay do sự kinh doanh tự do, mua bán làm ăn mà có ?

Cho dù núp dưới cái hào quang chiến thắng "đánh Tây, đuổi Mỹ" - cho dù che giấu, lấp liếm, giải thích thế nào chăng nữa - thì dân miền Nam (gồm cả Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do) vẫn thấy một sự thật. Sự thật đó là người Bắc XHCN tràn ngập, chiếm hữu toàn bộ phố xá thương mãi trọng yếu của Sàgòn. Làm sao nói khác được khi đi một vòng quanh Sàigòn.. và các khu phố sầm uất nhứt.. vào những hiệu buôn lớn để mua hàng hay hỏi han chuyện trò thì thấy toàn là người Bắc Cộng sản - từ cô bán hàng đến bà chủ ngồi phía trong - cũng toàn là người của xã hội chủ nghĩa miền Bắc. Các tiệm buôn lớn trước 75- như các tiệm vàng Nguyễn thế Tài, Nguyễn thế Năng, Pharmacie Trang Hai, tiệm Émile Bodin của bầu Yên, nhà hàng Bồng Lai, Thanh Thế, Nguyễn văn Ðắc, Phạm thị Trước.. hiện nay, một số đã đổi bảng hiệu hoặc xây cất lại..nhưng đều do người miền Bắc XHCN làm chủ. Các cơ sở khác như nhà hàng ăn lớn, tiệm phở, công ty thương nghiệp, dịch vụ lớn, những tiệm buôn bán dồ nhập cảng v.v.. cũng đều do người Bắc XHCN chiếm giữ...

Tuy không có con số thống kê chính xác nhưng tự mình đi đếm hàng trăm tiệm buôn sang trọng quanh các khu phố lớn ở Sàigòn.. thì khám phá ra được chủ nhân là người Bắc XHCN. (Tất nhiên là vợ con, thân nhân cán bộ lớn). Những gái Bắc XHCN bán hàng là con cháu của chủ nhân người Bắc CS (do các cô tự nói ra). Các cô chiêu đãi viên trên phi cơ VNHK đều là người Bắc thân nhân hay con cháu cán bộ - dĩ nhiên - vẻ mặt lạnh lùng, hách dịch với người Việt Nam và khúm núm lịch sự với khách ngoại quốc..Cán bộ, công nhân viên trọng yếu - cũng đều là người Bắc - trừ một số cán bộ gốc miền Nam tập kết - theo đoàn quân viễn chinh vào đánh chiếm miền Nam - thì cũng kể họ là người XHCN miền Bắc. Hệ thống quyền lực từ trên đến dưới - từ Trung ương đến địa phương - từ Tỉnh thành đến quận lỵ, thị trấn, làng xã gần - đều do đảng viên người miền Bắc XHCN - nắm giữ.Những công Ty dịch vụ có tầm cỡ, những công Ty thương mãi sản xuất lớn - điển hình là một công Ty vận tải và du lịch có đến 6000 xe hơi đủ loại..chủ nhân cũng là người Bắc XHCN.Từ chính trị đến văn hóa, từ giáo dục đến truyền thông, từ nhà cầm quyền cai trị đến chủ nhân cơ sở thương mãi, sản xuất - cũng do người miền Bắc XHCN nắm giữ.

Ðó là sự thật trước mắt ai cũng thấy. Còn những vàng bạc, kim cương, đô la, tài sản tịch thu, chiếm đoạt được trong các cuộc đánh tư sản, cải tạo công thương nghiệp - nhà cửa của tù cải tạo, của dân bị đuổi đi kinh tế mới, những tấn vàng của VNCH để lại những lượng vàng thu được từ những người vượt biên bán chánh thức - tài sản những người thuộc diện tư sản - toàn bộ tài sản nầy từ Saigòn đến các Tỉnh miền Trung, miền Nam - được đem đi đâu? - Không ai biết.

Thông thường - những của cải nầy phải được sung vào công quỹ - để làm việc công ích như các ông cộng sản thường rêu rao bằng những mỹ từ đẹp đẽ.. Thế nhưng - sự thật trước nhứt - là các ông đem chia chác nhau. Chia nhau một cách hợp hiến và hợp pháp theo Luật pháp XHCN (Ðọc Ðất đai-Nguồn sống và Hiểm Họa của Tiến sĩ Nguyễn thanh Giang). Ông lớn lấy tài sản lớn. Ông nhỏ - nhà cửa nhỏ. Có ông cán bộ trung cấp chiếm hữu đến 4, 5 căn nhà. Ở không hết... đem cho công Ty ngoại quốc thuê. Ðiều phổ biến nhứt là các ông cán bộ nầy - vì lo sợ cái gì đó - bèn đem " bán non" những căn nhà đó lấy tiền bỏ túi trước. Một căn nhà của một viên chức tù cải tạo đã sang tay đến 3 đời chủ. Nhà cửa thuộc diện tù cải tạo là dứt khoát phải tịch thu - không ngoại lệ. Những trường hợp con ruột có hộ khẩu chánh thức còn được phép ở lại - là những biện pháp vá víu. Chủ quyền căn nhà nầy là Nhà nước XHCN.

Không chỉ có những người thuộc diện cải tạo công thương nghiệp, tù cải tạo, vượt biên mà người dân thường có nhà cửa phố xá..đều bị "û giải phóng" ra khỏi nhà bằng nhiều chánh sách : Ðuổi đi kinh tế mới, dụ vào hợp tác xả tiểu công nghiệp, mượn nhà làm trụ sở, cho cán bộ vào ở chung( chủ nhà chịu không nổi.... phải bỏ đi ), đổi tiền để vô sản hóa người dân, khiến họ bắt buộc phải bán tất cả những gì có thể bán để mua gạo ăn, cuối cùng chịu không nổi, phải bán nhà với giá rẻ bỏ..để vô hẻm ở, ra ngoại ô hoặc về quê... Cán bộ hoặc thân nhân cán bộ miền Bắc XHCN tràn vào "mua" nhà Saigòn với giá gần như cho không...và bây giờ là chủ những căn nhà mặt tiền ở Saigòn.

Mang xe tăng T.54, cà nông Liên xô, AK Trung cộng, đẩy hàng hàng lớp lớp thiếu niên "xẻ dọc Trường Sơn" bằng máu, nước mắt và xác chết... vào xâm chiếm miền Nam . Chiêu bài là "giải phóng" nhân dân miền Nam - nhưng sự thật khó chối cãi được - là vào để chiếm đoạt tài sản, đất đai, của cải, đuổi dân Saigòn (gồm cả người Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do) ra khỏi Thủ Ðô bằng nhiều chánh sách khác nhau - để bây giờ chính các ông đã trở thành những nhà tư bản đỏ triệu phú, tỉ phú đô la, vàng bạc kim cương đầy túi - những ông chủ công Ty có tầm vóc, những địa chủ đầy quyền lực.. Trương mục ở nước ngoài đầy nhóc đô la. Con cái du học ngoại quốc.(Trường hợp con Thủ Tướng CS Nguyễn tấn Dũng đang du học Mỹ là trường hợp điển hình). Như vậy hành vi nầy gọi là gì?Trong những lúc canh tàn rượu tỉnh - một mình đối diện với lương tâm thuần lương của mình - các ông tự gọi mình đi.

Ðến thời "mở cửa" - cơ hội hốt tiền còn nhiều hơn..gấp bội. Tư bản ngoại quốc ồ ạt đầu tư, khai thác dầu khí, thâu đô la Việt kiều về thăm quê hương - đô la khách du lịch ngoại quốc, bán đất cho Công Ty ngoại quốc xây cất cơ xưởng, cấp giấy phép các công Ty ngoại quốc, các dịch vụ đấu thầu xây cất cầu cống, làm đường sá, xây cất đại công tác. Những món nợ kếch xù từ Ngân hàng thế giới, từ quỹ tiền tệ quốc tế - những món nợ trả đến mấy đời con cháu cũng chưa dứt.. Những đại công tác nầy mặc sức mà ăn.. no bóc ké.. Nhiều công trình vừa xây cất xong..đã muốn sụp xuống vì nạn ăn bớt vật liệu. Một thí dụ diễn hình : Một bệnh viện gần chợ "û cua" Long Hồ - quê hương của Phạm Hùng - nước vôi còn chưa ráo.. đã muốn sụp. Hiện đóng cửa không sử dụng được.

Hiện tượng người Bắc XHCN khống chế toàn bộ, làm chủ nhân ông mọi lãnh vực, chiếm hữu nhà cửa, phố xá thương mãi ở những khu thương mãi quan trọng nhứt - là một sự thật không thể chối bỏ. Cán bộ lớn đã trở thành những nhà tài phiệt đầy quyền lực - những ông chủ lớn giàu có nhứt lịch sử. Trong khi dân chúng miền quê - nhứt là miền Nam - ngày càng nghèo khổ, thất nghiệp kinh niên.. Khoảng cách giàu nghèo càng lớn - đời sống cán bộ và dân chúng càng ngày cách biệt..Giàu thì giàu quá sức. Nghèo thì nghèo cùng cực.


Nhà văn - bác sĩ Hoàng Chính - gọi thời kỳ sau 75 là thời "Bắc thuộc" - "Năm Bắc thuộc thứ 2: Lưu vong tại quê nhà trong cái đói lạnh.. - Năm Bắc thuộc thứ 6: Cầu cho em nhỏ 10 tuổi đầu đủ cơm ăn giữa bầy thú hát điên cuồng chuyện thù oán. - Năm Bắc thuộc thứ 12: Trong ngục thất quê hương ấy, có những bộ xương thôi tập khóc cười.."

Miền Bắc XHCN đem quân xâm chiếm miền Nam để khống chế nơi đó bằng sự đô hộ hà khắc và tinh vi.

BỘ MẶT THÔN QUÊ MIỀN NAM

Có nhìn tận mắt, nghe tận nơi, mới hình dung được khuôn mặt miền Nam sau 32 năm dưới chế độ cọng sản. Ðể được trung thực - người viết ghi những điều thấy và nghe - không bình luận - tại những nơi đã đi qua. Thôn quê miền Nam - những làng xóm gần tỉnh lỵ quận lỵ đã có điện. Những làng xã xa xôi hẻo lánh vẫn còn sống trong sự tăm tối. Ðường sá có tu sửa phần nào..Ðường mòn đi sâu vào thôn xóm được lót bằng những tấm dalle lớn (đường xóm Cái nứa, Cái chuối xã Long Mỹ VL), xe Honda và xe đạp chạy qua được. "Cầu tre lắt lẻo", cầu khỉ được thay thế bằng cầu ván, cầu đúc (vật liệu nhẹ). Cầu tiêu công cộng trên sông các chợ quận (Cái Bè, Cái Răng ) nay không còn thấy nữa. Nhà cửa dọc theo bờ sông Cần Thơ - chen vào những nhà gạch ngói, nhà tôn - còn nhiều nhà lá nghèo nàn. Tương tự như vậy - dọc theo bờ sông Long Hồ - một số nhà gạch nhỏ mới cất..xen kẻ những mái lá bạc màu. Vùng Trà ốp, Trà cú (Vĩnh Bình), chợ Thầy Phó (Vĩnh Long) nhiều nhà gạch mới xây nhưng vẫn không thiếu nhà lá, nhà tôn. Ðường mòn chạy sâu vào thôn xóm vẫn còn đường đất lầy lội vào mùa mưa nước nổi..

Hai bên đường xe chạy từ Mỹ Tho, Cao Lãnh, Châu Ðốc, Hà Tiên, Rạch Giá, Cần Thơ. Nhìn chung - có một sự thay đổi rõ rệt. Nhà cửa, hàng quán dầy đặc, động cơ ồn ào, người ta chen chúc.. Cảm giác chung là ngột ngạt, khó thở. Những vườn cây xanh um bên đường đã biến mất..hoặc thụt sâu vào trong, không còn thấy nữa. Không còn vẻ đẹp thiên nhiên ngày nào của vườn xoài cát sai oằn, mát mắt vùng Cái Bè, An Hữu, vườn mận Hồng Ðào chạy dài hàng mấy cây số ở Trung Lương...

Dưới sông - từ kinh Vĩnh Tế chảy dài ra sông Tiền Giang - hai bên bờ toàn là nhà sàn, phía sau chống đỡ sơ sài bằng những trụ cây tràm. Mỗi nhà hoặc 2, 3 nhà đều có cầu tiêu tiểu bắc phía sau. Tắm rửa giặt giũ, múc nước lên uống, phóng uế - cũng cùng trên một dòng sông. Không có gì thay đổi. Làng Chàm còn gọi là chà Châu Giang cũng còn đó. Cũng nghèo như trước. Những chiếc ghe vừa dùng làm nhà ở, vừa là hồ nuôi cá.. Basa, cá điêu hồng v.v.. ở dọc bờ sông khá dài... Dường như ngành nầy hoạt động khá mạnh. Dọc trên những nhánh phụ lưu của 2 con sông Tiền và sông Hậu - người ta không còn thấy bóng dáng của những cô gái thướt tha trong chiếc áo bà ba và chiếc quần lãnh Mỹ A, chèo ghe tam bản, bơi xuồng như thời trước 75 nữa.. Hỏi một ông già tên Ph. tại Cái Răng, được trả lời : "Ði lấy Ðại Hàn, Ðài Loan hết rồi ông ơi!" Tôi hỏi thêm : "Các cô gái có nghe nhiều người bị gạt bán vào ổ mãi dâm, nhiều cô gái bị chồng bắt làm lao động khổ sai, bị ngược đãi, đánh đập.. các cô gái nầy không sợ sao ông? - "Biết hết - mấy cổ biết hết, báo Tuổi trẻ đăng hàng ngày. Nhưng cũng có những cô có chồng Ðại Hàn, cho tiền cha mẹ xây nhà gạch. Cô khác thấy vậy ham. Phần nghèo, phần không có việc làm kinh niên. Họ liều đó ông. Biết đâu gặp may." Câu chuyện gái Việt lấy chồng Ðại Hàn, Ðài Loan hiện không ai là không biết.

Tờ Tuổi trẻ - số ra ngày mùng 1 Tết năm Ðinh Hợi - trong bài: "Nỗi đau từ những con số"- có nói đến số phận của 65000 phụ nữ đang làm vợ những ông chồng Ðài Loan già, tàn tật đui mù, làm vợ tập thể cho cả gia đình cha lẫn con. Cũng tờ báo nầy: "Tại một tổ chức kết hôn lậu, hàng chục cô gái đang "bày hàng" để 2 ông Hàn quốc tuyển chọn làm vợ và 118 cô gái khác đang nằm, ngồi, lố nhố chờ đến lượt mình " Và cũng tờ Tuổi Trẻ số phát hành ngày 25-04-2007, viết : "Hơn 60 cô gái, tuổi từ 18 đến 20 từ miền Tây Nam bộ lên Saigòn để dự tuyển.Các chàng rể Hàn Quốc được quyền soi xem kỷ, chú ý đến cả từng vết thẹo trên thân thể cô gái. Dịch vụ môi giới hôn nhân lậu có chiều hướng gia tăng.Chỉ trong vòng nửa tháng mà Công An đã phát hiện 3 vụ môi giới hôn nhân trái phép ở quận 6, 10 và Tân Bình với gần 400 lượt cô gái hiện diện.Thậm chí - những cô gái được xe ôm chở tới địa điểm dồn dập gây náo loạn cả xóm".

Người viết có lần lang thang trên đường Nguyễn tri Phương tìm quán ăn cơm trưa, có chứng kiến tại chỗ: Từng cặp trai gái lố nhố xếp hàng đôi trước cửa một trường học, để lần lượt vào trong.. Hỏi một người trung niên lái xe Honda ôm, được anh trả lời: "Ðó là những người con gái đi lấy chồng Ðài Loan và Ðại Hàn. Hàng bên trong là những người đang làm thủ tục xuất ngoại theo chồng. Hàng bên ngoài là những người đang vào ký giấy hôn thú sau khi đã qua các cửa ải môi giới và thủ tục tuyển lựa". Tôi nhìn kỹ các cô gái nầy tuổi rất trẻ.. khoảng chừng 18 đến 20.... đứng cặp với những anh Tàu già sồn sồn- có một người tàn tật. Không thấy có thanh niên trẻ. Nhìn cách ăn mặc và nghe họ nói chuyện - tôi đoán chừng họ đến từ miền Tây Nam Bộ. Ðây là tổ chức môi giới chánh thức có giấy phép hành nghề.

Song song với tổ chức chánh thức, còn có một tổ chức "môi giới hôn nhân lậu"- sự thật là một tổ chức buôn người, chuyên đi dụ dỗ trẻ em và gái, nói gạt là đi bán hàng hay đi làm việc tại các cơ xưởng ngoại quốc nhưng là để bán thẳng vào các ổ mãi dâm ở Kampuchia, Thái Lan, Ma cau.. để nơi đây huấn luyện trẻ em làm nô lệ tình dục.. các cô gái làm điếm.. hoặc bán cho người Tàu bỏ tiền ra mua nô lệ.. Tất nhiên là phải có sự tiếp tay che chở ăn chia của Công An. Nói là lậu nhưng thật ra là nhan nhản xảy ra hằng tuần-thậm chí hằng ngày trước mặt dân chúng tại các quận Bình Thạnh, quận 11... Sàigòn.

Cho dù chánh thức hay lậu... hậu quả cũng gần giống nhau. Chánh thức thì có giấy phép, có công an làm thủ tục, chánh phủ thu tiền lệ phí. Lậu thì lén lút với sự che chở của Công An. Hậu quả gần giống nhau. Nhiều cô gái về làm vợ mấy tên Ðài Loan, Ðại Hàn bị ngược đãi, đánh đập tàn nhẫn - ban ngày làm nô dịch.. ban đêm phục vụ tình dục.. rồi bán vào động mãi dâm lấy tiền gở vốn lại...(Trại cứu giúp nạn nhân của cha Hùng ở Ðài Bắc là một bằng chứng) Còn lậu thì.. bán thẳng vào ổ điếm. Biết bao nhiêu thảm cảnh.. biết bao nhiêu bi kịch thương tâm làm rúng động lương tâm nhân loại.Cựu Quốc Trưởng Sihanouk không giấu được nỗi xót xa trước thảm cảnh người phụ nữ Miên làm vợ mấy thằng Tàu..lên tiếng kêu gọi họ trở về nước. Không thấy Việt Nam nói nửa lời! Những cô gái nầy có biết những thảm kịch đau thương, những sự hành hạ, ngược đãi, đánh đập.. nầy khi lấy chồng Ðài Loan, Ðại Hàn không? Có bị cưỡng bức, bị dụ dỗ hay tự nguyện? Cha mẹ có đồng ý hay cản trở? Nguyên nhân nào đã thúc đẩy họ dấn thân vào con đường hiểm nguy, tương lai mù mịt..?

Trừ những trường hợp bị dụ dỗ qua đường dây buôn người - những người con gái này thật sự là họ TỰ NGUYỆN. Họ còn phải vay tiền mua sắm, ăn diện, hối lộ để được giới thiệu. Nhưng nguyên nhân nào thúc đẩy họ đi lấy chồng Ðài Loan, Ðại Hàn?

Có thể có nhiều nguyên nhân phức tạp. Phó thường dân tôi chỉ đưa ra vài nhận định thiển cận như sau: Quá nhiều chương trình ngăn chống lũ lụt, chương trình công nghiệp hóa, đô thị hóa...bừa bãi, không được nghiên cứu cẩn trọng... đất đai canh tác bị thu hẹp. Dân số gia tăng... Khối lượng đông đảo người miền Trung, Bắc XHCN tràn vào.. Nông dân miền Nam thiếu đất canh tác.. Các cô gái miền Tây.. quẫn bách vì không có việc làm kinh niên - cuộc sống vô vọng mịt mờ - có nhiều trường hợp bị thúc đẩy vì cha mẹ mắng nhiếc, đay nghiến... khi so sánh con gái mình với cô con gái làng bên có chồng Ðại Hàn mang tiền về xây nhà gạch cho cha mẹ. Và cũng vì hấp thụ một nền giáo dục của chế độ CS ( sinh sau 75 ) - những người trẻ tuổi không có ý niệm về luân lý đạo đức cũ.. thang giá trị bị đảo lộn.. nên họ không đặt nặng danh dự, sĩ diện như thời trước.. Do vậy - khi bị dồn vào đường cùng.. họ đành đánh liều nhắm mắt đưa chưn.. Nhưng động lực chánh là nghèo..

NGHÈO...

Là nguyên nhân chánh đưa đẩy các cô gái miền Tây Nam Bộ đi lấy chồng Ðại Hàn và Ðài Loan... để hy vọng thoát khỏi cảnh đời cơ cực, vô vọng không lối thoát.. Thế nhưng tại sao đồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL) - vựa lúa nuôi sống cả nước - sau 32 năm dưới chế độ CS lại trở nên nghèo như vậy - nghèo hơn cả đồng bằng sông Hồng (ÐBSH)? Theo tiêu chuẩn nghèo từng vùng của Tổng cục thống kê Việt Nam - thì tỷ lệ ÐBSCL năm 1998: ÐBSC: 37%. ÐBSH: 29%. Năm 2002: ÐBSCL: 13 %. ÐBSH: 9%.(Nhà x.b Thống kê - Hànội, trang 13 - LVB trích
dẫn ).

Dù theo tiêu chuẩn nào: tiền tệ (tính bằng tiền hay bằng gạo) - mức sống (bao gồm lương thực, nhà ờ, mức sống văn hóa) - ÐBSCL vẫn nghèo hơn ÐBSH - bởi lẽ khi nghèo về lương thực - thì khó có thể giàu về nhà ở và đời sống văn hóa.

Ðó là cái nghèo mà anh Lâm văn Bé đã nhìn qua những con số có giá trị của những chương trình nghiên cứu thống kê khoa học. Và sau đây là cái nghèo miền Nam qua cái nhìn tận mắt, nghe tận nơi của người viết: Cái nghèo ở Việt Nam bao gồm cả thành thị lẫn thôn quê là cái nghèo thiếu trước hụt sau, ăn bữa sáng lo bữa chiều - cái nghèo của một nông dân, nhà dột nát.. khi trời mưa lúc ban đêm..không có chỗ để nằm phải tìm một góc nhà, phủ cái mền rách lên người ngồi run cằm cặp.. trước từng cơn gió lạnh buốt lùa vào căn nhà trống hốc.... Cái nghèo của một người đi mượn tiền, mượn gạo.. tới ngày hẹn không tiền trả.. Cái nghèo của một thanh niên thất nghiệp... cha bị lao phổi không tiền mua thuốc nằm ho sù sụ..mẹ bơi xuồng đi bán bắp nấu không đủ gạo cho một đàn con 4 đứa, mũi dãi lòng thòng đang bốc đất cát chơi ngoài sân.

Tục ngữ bình dân có câu: Ít ai giàu 3 họ, khó 3 đời.- Có. Tôi quen biết ông Sáu S. làm nghề chài lưới.. ở sông Long Hồ. Ðời con là anh Tư Te tiếp nối nghề nầy : nghề đi nhủi tép.. Và trên bờ sông Long Hồ năm nay (2007) tôi thấy vợ chồng một cậu thanh niên tên M. vừa cặp xuồng vào bến, đem miệng nhủi còn dính đầy rong rêu phơi trên mái nhà lá đã nhuộm màu thời gian bạc thếch.. Hỏi thăm thì té ra là con của Tư Te. Ðời ông nội - nghèo! Ðời cha nghèo! Ðời cháu cũng nghèo! Khó 3 đời đó. Cọng Sản đổi đời cho người giàu thành nghèo - không đổi đời cho người nghèo thành giàu.Người nghèo vẫn tiếp tục nghèo.

Nói chung thì nông dân Việt Nam chiếm 85% dân số mà đất không đủ để canh tác - còn công nghiệp không có khả năng biến nông dân thành thợ thuyền..trong khi dân số lại gia tăng quá tải. Cho nên thất nghiệp không thể tránh. Nghèo là hiện thực. Tiến sĩ Lê đăng Doanh trong một bài phổ biến trên mạng, viết : "Nông dân đã nghèo, đất đã kém đi, nhưng mỗi năm thêm 1 triệu miệng ăn, lấy đâu ra mà ăn. Lao động vất vả mỗi ngày trên 8m2 đất thì lấy gì mà giàu có được? "

MIỀN NAM - 32 NĂM DƯỚI CHẾ ÐÔ CỘNG SẢN

Kinh tế Việt Nam - trong đó có miền Nam - có chút tiến bộ - so từ thời kỳ bao cấp đến thời kỳ mở cửa. Nhưng chỉ là tiến bộ với chính mình. Ðối với các nước khác trong vùng thì còn lẹt đẹt.. cầm lồng đèn đỏ... Và điều quan trọng là sự phát triển nầy có đem lại phúc lợi cho dân chúng qua sự tái phân lợi tức quốc gia, để tài trợ các chương trình y tế, giáo dục - các chương trình tạo công ăn việc làm, phát triển nông nghiệp, xây dựng hạ tầng cơ sở hay không? Hay là phát triển bằng những con số báo cáo rỗng tuếch? Lợi tức tạo được đã bị cả hệ thống của những con virus tham nhũng đục nát cơ thể.. Và hiện tại - muốn phát triển công nghiệp - nhà cầm quyền địa phương - theo lệnh Ðảng - mở rộng khu công nghiệp, khu du lịch, đã quy hoạch lấy đất, phá mồ phá mả, chiếm nhà dân một cách bạo ngược.. Lòng dân phẫn uất, kêu la than khóc.. Oán hận ngút trời xanh! ( 19 Tỉnh miền Nam biểu tình khiếu kiện trước trụ sở quốc hội 2 Sàgòn ). Như vậy có gọi là phát triển không?

KẾT LUẬN
- 32 năm nhìn lại: Người ta thấy miền Bắc đã "giải phóng" dân Sàigòn ra khỏi đất đai, nhà cửa của họ. Họ phải rút vô hẻm, ra ngoại ô hay về quê bằng nhiều chánh sách khác nhau. "Giải phóng" miền ÐBSCL ra khỏi sự trù phú do thiên nhiên ưu đãi từ nhiều thế kỷ."Giải phóng"quân nhân, viên chức chế độ cũ ra khỏi nhà, để đưa họ vào các trại tù cải tạo hoặc đẩy họ ra biển..."Giải phóng" phụ nữ miền Tây, để họ được tự do đi làm "vợ nô lệ", đi làm điếm ở Kampuchia, TháiLan...

- 32 năm nhìn lại: Người ta thấy Việt Nam trở lại thời kỳ mua bán nô lệ như thời Trung cổ. Phụ nữ Việt Nam bị bán đấu giá trên E-bay Taiwan website (2003) - bị trưng bày trong lồng kính, cũng để bán đấu giá như một con súc vật ở Singapour (2005). Chỉ trong năm 2005 - có khoản 400.000 phụ nữ và trẻ em bị bán ra ngoại quốc. (Theo UNI CEF - LHQ và Bộ Tư Pháp Việt Nam)

- 32 năm nhìn lại: Mượn lời nhà báo Claude Allegre, báo L''expresse ngày 29-8-2002: "Người ta không thể cho qua một cách im lặng những Khơ me đỏ, những trại tập trung ở Cambodia và những cuộc tàn sát man rợ ở đó. Và Việt Nam không được biết đến như là một chế độ nhân đạo hơn. Dưới cái cớ là dân tộc can đảm nầy đã chiến thắng các siêu cường quốc - người ta đi đến chỗ quên đi một nền độc tài đẫm máu đang thực thi trên xứ sở đó "

- 32 năm nhìn lại: Miền Bắc XHCN rõ ràng đã thiết lập một nền đô hộ miền Nam - khắc nghiệt, tinh vi hơn cả thời Pháp thuộc.

Và điều quan trọng trên hết là Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước. Một đảng viên kỳ cựu của chế độ Cộng sản lên tiếng cảnh cáo: "Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước. Mất cả đất đai, sông núi và dân tộc. Việt Nam sẽ trở thành một tỉnh lẻ của Tàu".

Bài viết của: Nguyễn Văn Trấn
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

TQ Có Thể Sụp Đổ?

Trần Khải

Trung Quốc có thể sụp đổ hay không? Nếu có cơ sụp đổ như thế, phải là do một áp lực lớn, gay gắt, dữ dội và mãnh liệt nhiều lần hơn phong trào dân chủ Thiên An Môn 1989.

Hẳn nhiên, không ai nghĩ rằng Đài Loan sẽ đưa quân vào chiếm lục địa. Cũng không thể có chuyện nổi dậy ở Tây Tạng, Tân Cương. Cũng không có bàn tay phù phép CIA nào có thể làm nhà nước Bắc Kinh sụp đổ. Nhiều phần có thể suy đoán, rằng sụp đổ hay biến đổi bản chất phải là tự trong lòng chế độ. Có thể là sẽ có một Gorbachev, hay một Yeltsin… Cũng có thể là dân đói và nổi loạn… Cũng có thể tự Đảng CSTQ tách làm đôi vì cơ duyên nào đó, và rồi bất khả hàn gắn…

Nhưng đối với nhiều nhà nghiên cứu tại các đại học Hoa Kỳ, nếu TQ sụp đổ nhiều phần sẽ là do tham nhũng quá độ.

Nhà khoa học chính trị Pei Minxin đã viết một bản nghiên cứu phổ biến tháng trước bởi viện Carnegie Endowment of International Peace, bản doanh ở Washington. Họ Pei là nhà khoa học chính trị tốt nghiệp ở đại học Shanghai International Studies University tại Thượng Hải, rồi có bằng Tiến Sĩ ở Đại Học Harvard và có các tác phẩm in tại Mỹ.

Bản khảo sát khẳng định rằng tham nhũng tại Trung Quốc "đã có ảnh hưởng tràn qua biên giới" và làm thiệt hại các nhà đầu tư Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nước khác.

Bản văn viết, "Hành vi bất hợp pháp của các cán bộ địa phương có thể làm các công ty Tây Phương thiệt hại lớn về môi trường, nhân quyền và tài chánh."

Không phải Pei là người duy nhất đưa ra tiên đoán đó. George Zhibin Gu, một chuyên gia ngân hàng đầu tư tốt nghiệp ở đại học Nanjing University và đậu bằng Tiến Sĩ ở University of Michigan, đã nhận xét rằng tham nhũng có thể phá hủy kinh tế TQ.

Không phải chỉ các chuyên gia tại Mỹ mới nói như thế. Bản tin Reuters hôm 6-1-2009 nhan đề "China faces wave of unrest in 2009" (TQ đối diện làn sóng bất ổn trong năm 2009) cũng ghi nhận rằng Đảng CSTQ cũng thấy cơ nguy sụp đổ.

Bản tin viết rằng báo nhà nước Liaowang Magazine, phát hành bởi thông tấn nhà nước Xinhua, đã cảnh báo thẳng thừng về bất ổn năm 2009 vì sẽ tăng vọt các cuộc biểu tình, khi thất nghiệp lên cao làm bất mãn giới công nhân nhập cư và sinh viên đại học.

Phóng viên kỳ cựu Huang Huo của Xinhua nói trên báo này rằng, "Không ngờ vực gì, bây giờ chúng ta đang vào thời kỳ đỉnh điểm của sự cố đám đông." Kiểu nói bí hiểm "sự cố đám đông" (mass incidents) là kiểu nói để chỉ các cuộc biểu tình và nổi loạn.

Bài báo viết, "Năm 2009, xã hội TQ có thể đối diện thêm nhiều mâu thuẫn và xô xát và các chuyện này sẽ thách thức thêm các khả năng lãnh đạo của mọi cấp cán bộ của Đảng và Nhà Nước."

Đe dọa lớn nhất cho ổn định TQ sẽ tới từ sinh viên đại học ra trường, gặp thị trường việc làm co cụm và đồng lương khó khăn hơn, và từ một làn sóng thợ nhập cư những người đã mất việc làm vì các hãng xưởng làm hàng xuất khẩu bị đóng cửa.

Tình hình nhiều tháng nay đã có nhiều hãng xưởng đóng cửa, và các trở ngại an sinh xã hội đã khởi sinh ra nhiều đợt biểu tình gần đây. Cán bộ các tỉnh nơi đã cung cấp việc làm cho hàng chục triệu công nhân nhập cư tại các hãng xưởng ở các tỉnh ven biển, bây giờ báo cáo có bước tăng vọt số người về lại làng quê sau khi mất việc và không tìm ra việc mới.

Thống kê nhà nước TQ ước tính là gần 10 triệu công nhân từ làng lên tỉnh nhập cư đã mất việc, theo bài báo, nhưng không nói rõ thời gian các việc này khai sinh.

Khi tính cả sinh viên tốt nghiệp năm 2008 và chưa tìm được việc, sẽ có hơn 7 triệu sinh viên tốt nghiệp đại học năm nay đi tìm việc làm, theo ước tính của Huang.

Bài báo nói mục tiêu chính phủ TQ là đạt mức tăng thường niên GDP ở mức 8% cho năm 2009, thì chỉ tạo ra được 8 triệu việc làm cho cả nước. Trong năm 1989, chính các sinh viên bất mãn đã làm nòng cốt cho các cuộc biểu tình đòi dân chủ.

Huang viết, "Nếu trong năm 2009, có nhiều lao động nhập cư thất nghiệp không tìm việc được trong vòng nửa năm hay lâu hơn, cứ đi vòng quanh thành phố với không có đồng lương nào trong túi, thì vấn đề sẽ nghiêm trọng hơn."

Huang là Trưởng Phòng Xinhua tại thành phố Chongqing.
Có thể Trung Quốc sẽ sụp đổ? Vì tham nhũng, vì thất nghiệp, vì ý thức dân chủ của người dân, hay vì nhiều yếu tố gộp lại?
Có một hiệu ứng cơ may sẽ thấy là: nếu Trung Quốc sụp đổ, nhà nước CS Việt Nam sẽ có thể sụp đổ dây chuyền…

TRẦN KHẢI
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Nhỏ ăn nhỏ lớn ăn lớn

Lữ Giang
Chúng ta nhớ lại, năm 2006, một cuộc hội thảo về đề tài “Văn Hóa và Tham Nhũng ở Đông Nam Á” (Culture and Corruption in South East Asia) đã được tổ chức tại Bangkok, Thái Lan, trong hai ngày 3 và 4.3.2006, có 40 học giả từ các nước Indonesia, Thái Lan, Việt Nam và CHLB Đức đến tham dự.

Khi trình bày về tham nhũng tại các nuóc Đông Nam Á, ông Sombat Benjasirimongkol, đại diện của Thái Lan, đã phát biểu rằng tham nhũng ở Việt Nam mới đạt “trình độ nhà trẻ so với trình độ sau đại học của Thái Lan”.

Lời tuyên bố này bị một số ngưới phản đối nhưng nó đã phản ảnh tình trạng thực tế tại Việt Nam. Sau đây là một vài thí dụ cụ thể: Xe đò mỗi khi đi qua các trạm kiểm soát đều phải nộp tiền mãi lộ cho nhân viên kiểm soát mới khỏi bị sách nhiễu. Đi xe trái luật chỉ cần dúi cho cảnh sát lưu thông một số tiền là khỏi bị biên giấy phạt. Muốn đưa hàng lậu qua biên giới, cách tốt nhất và an toàn nhất là đưa hối lộ cho cảnh sát biên phòng hay thuê cảnh sát biên phòng chuyển giúp. Xin ký chuyển nhượng nhà đất hay bất cứ giấy tờ gì quan trọng, phải đưa tiền lót tay cho các viên chức xã, nếu không sẽ bị ngâm từ tháng này qua tháng khác, v.v. Đó không phải là tham nhũng theo “trình độ nhà trẻ” hay sao? Chúng ta khó tìm thấy lối tham nhũng “trình độ nhà trẻ” này ở Singapore, Đài Loan hay Đại Hàn.

Tuy nhiên, sau vụ PCI, chúng ta thấy tham nhũng ở Việt Nam không phải chỉ với “trình độ nhà trẻ” mà có nhiều cấp bậc khác nhau. Nhưng hôm nay chúng tôi muốn đưa ra một số sự kiện để cho độc giả thấy rằng tham nhũng và lường gạt không phải chỉ xẩy ra ở các nước chậm tiến như Việt Nam hay Cambodia mà còn xẩy ra ở các nước văn minh, nhất là tại nước Mỹ này. Càng văn minh, kỷ thuật tham nhũng và lường gạt càng cao.

ĐÔNG TÂY GIÓNG NHAU

Ngày 25.8.2008, bốn cựu viên chức của công ty Tư vấn Quốc tế Thái Bình Dương (PCI) của Nhật đã bị truy tố vì hối lộ một viên chức Việt Nam tại Sài Gòn vào năm 2003 và 2006, vi phạm Luật chống cạnh tranh không bình đẳng của Nhật Bản. Năm 2001 và 2003, công ty PCI đã thắng thầu tổng trị giá 3,1 tỷ yen cho dịch vụ tư vấn trong một dự án xây dựng đại lộ Đông - Tây của thành phố Sài Gòn. Các bị cáo Masayoshi Taga, Kunio Takasu, Haruo Sakashita và Tsuneo Sakano thú nhận việc chuyển cho một viên chức cao cấp Việt Nam tại thành phố Sài Gòn số tiền hối lộ 820.000 đôla để thắng thầu dự án phát triển cơ sở hạ tầng có này, sử dụng vốn ODA của Nhật.

Báo Nhật đã nêu danh tính viên chức VN bị cáo buộc nhận hối lộ là ông Huỳnh Ngọc Sỹ, Phó Giám Đốc Sở Giao Thông Công Chính thành phố Sài Gòn, kiêm Giám Đốc Ban Quản Lý PMU Đông-Tây.

Chuyện các viên chức ngoại quốc hối lộ cho các viên chức các nuóc chậm tiến theo hình thức của PCI không phải là chuyện mới lạ.

Ngày 8.5.2006 một bản báo có được đăng trên tờ Thời Báo Tài Chánh London, đã tiết lộ rằng ông James Giffen đã bị chất vấn và truy tố vì đã đưa hối lộ 51 triệu Mỹ kim "tiền thù lao" cho viên chức cố vấn chính phủ Kazakh.

Ông James Giffen là một cố vấn đứng ra thương lượng các khế ước về những giếng dầu tại Kazakhstan cho Công Ty Xăng Dầu Mobil. Ông đã bị bắt và bị buộc tội vì trong những nhiệm vụ giao phó, ông đã nhận hơn 78 triệu Mỹ kim từ Công Ty Xăng Dầu Mobil và những công ty dầu khác tại Tây phương rồi sau đó ngầm chuyển bất hợp pháp tới các viên chức cao cấp của chính phủ Kazakh.

Bộ Thương Mại Hoa Kỳ ước tính rằng từ trung tuần tháng 5/1994 cho tới tháng 4/2002, nạn hối lộ đút lót đã ảnh hưởng đến hậu quả của 474 khế ước trị giá 237 tỷ USD.

MỘT VỤ LỪA ĐẢO CHẤN ĐỘNG

Nhưng có lẽ vụ làm cho nhiều người ngở ngàng nhất là vụ nhiều tỷ phú, ngân hàng quốc tế và các hiệp hội bất vụ lợi đã bị ông Madoff ở Mỹ lừa mất khoảng 50 tỷ.

Ông Bernard Madoff đã bị bắt ngày 11.12.2008 sau khi ngày truóc đó ông thú nhận với hai người con trai rằng ông làm mất 50 tỷ USD của nhiều nhà đầu tư trong một vụ “lừa đảo”. Hai người con trai khuyên ông tự nộp mình cho cảnh sát.

Ngày 15.12.2008, ông Bernard Madoff đã bị truy tố về tội lừa đảo, nhưng được tại ngoại hậu tra sau khi đóng tiền thế chân chỉ 10 triệu (khỏe re!). Một thẩm phán tại tòa New York tuyên bố các nạn nhân trong vụ lừa đảo của ông Bernard Madoff được bảo vệ bởi Đạo Luật Bảo Vệ Người Đầu Tư (SIPA) và đưa công ty của Madoff qua tòa án phá sản.

Ông Bernard Lawrence Madoff sinh ngày 29.4.1938 tại Hoa Kỳ. Ông là một nhà kinh doanh đã từng làm Chủ Tịch Thị Trường Chứng Khoán NASDAQ. Ông thành lập “Wall Street firm Bernard L. Madoff Investment Securities LLC” vào năm 1960 và là Chủ Tịch của tổ hợp này cho đến ngày 11.12.2008, ngày ông bị bắt.

Bảng liệt kê sơ khởi cho biết có 22 tổ chức đã bị ông Madoff lừa đảo, chẳng hạn như Banco Santander, ngân hàng hàng đầu tư của Tây Ban Nha mất 3,6 tỷ USD; Ascot Partners, một công ty kế toán và tư vấn tài chính mất 1,8 tỷ USD; Benbassat & Cie., một ngân hàng tư nhân của Thụy Sỹ mất 935 triệu USD; Ngân hàng Nomura tại Tokyo công bố số tiền bị dính vào vụ lừa đảo của Madoff khoảng hơn 300 triệu USD, nhưng không lo bị mất nhiều. Các ngân hàng lớn ở Pháp cũng dính khoảng 1,5 tỷ USD, trong đó có ngân hàng lớn thứ tư là Natixis với 450 triệu Euro.

Trong số các nạn nhân có một nhân vật nổi tiếng là Thượng Nghị Sĩ Frank Lautenberg thuộc tiểu bang New Jersey, người được coi là giầu nhất Thượng Viện Mỹ. Quỹ từ thiện của ông đã đưa tiền cho ông Madoff đầu tư. Trong năm 2006 quỹ Lautenberg đã phát 765.000 USD cho những cơ quan từ thiện khác, có nơi nhận được 300.000 USD.

Quỹ từ thiện của ông Zukerman, một tỷ phú chủ nhân của những tờ báo New York Daily News và US News and World Report cũng mất khoảng 30 triệu USD vì đưa tiền cho Madoff đầu tư.

Madoff thú nhận rằng công việc ông ta làm đúng là một vụ lừa đảo kiểu PONZI, cũng gọi là Kim Tự Tháp, tức là lấy tiền của người đóng góp sau trả cho người trước một cách đều đặn và đầy đủ, do đó tạo nên hình ảnh những vụ đầu tư lúc nào cũng có lời. Đây là một mánh khóe lừa đảo rất thông dụng có khắp thế giới, như một vụ nổi tiếng đã xẩy ra ở Albania năm 1997 đánh lừa được gần 2/3 dân số xứ này với số tiền hơn một tỷ USD. Khi nội vụ bị đổ vỡ, dân chúng biểu tình khiến chính phủ sụp đổ.

Mánh khóe này được mang tên CHARLES PONZI, vì Charles Ponzi là kẻ đã đánh lừa nhiều người ở Boston vào năm 1920 bằng lời hứa hẹn trả tiền lời 50% trong vòng 45 ngày, thu hút được hơn 40 ngàn người và thu lời 15 triệu USD.

Phương pháp Madoff có hơi khác Ponzi. Madoff không lôi cuốn người có tiền bằng những lời hứa trên trời dưới biển như Ponzi. Công ty đầu tư của ông đã trả tiền lời đều đặn từ 10% trở lên và không bao giờ cao quá, trong hàng chục năm nay. Công ty Madoff chỉ nhận tiền gửi đầu tư của những người được những nhà triệu phú khác giới thiệu. Những người đó không ngờ có ngày tiền bay đi mất.

TÌM CÁI CHẾT VÌ BỊ LỪA ĐẢO

Hãng tin AFP cho biết cảnh sát Mỹ đã tìm thấy thi thể của ông Rene-Thierry Magon de la Villehuchet tại văn phòng ở Manhattan, New York. Theo cảnh sát, một nhân viên an ninh tại văn phòng của Villehuchet đã phát hiện ông này chết trong tư thế ngồi tại bàn làm việc vào khoảng 8 giờ sáng 23.12.2008 (giờ địa phương).

Theo cảnh sát, ông Villehuchet, 65 tuổi, có thể đã tự tử bằng cách uống thuốc ngủ và dùng con dao khui hộp cắt gân máu ở tay. Họ tìm thấy một cái hộp được kê dưới tay ông để đựng máu. Các lọ thuốc ngủ nằm trên bàn làm việc của ông, còn con dao khui hộp nằm trên nền nhà. Cảnh sát không tìm thấy bất cứ thư tuyệt mệnh nào. Trước đó, theo lời kể của các nhân viên an ninh tại văn phòng thì chiều 22.12.2008 ông này đã yêu cầu mọi người rời khỏi phòng trước 7 giờ tối. Chưa đầy 13 tiếng sau thì người ta phát hiện ra thi thể của ông.

Ông De la Villehuchet là đồng sáng lập tổ chức “Access International Advisors” vào năm 1994, một công ty gây quỹ từ các thị trường châu Âu để đầu tư vào quỹ Madoff. Theo hãng tin AP, ông Villehuchet bơm tới 1,4 tỉ USD của các nhà đầu tư châu Âu vào hệ thống lừa đảo đa cấp của tỉ phú Madoff. Trong khi đó, theo AFP thì số tiền này lên đến 2,1 tỉ USD.

Ông Villehuchet có cuộc sống rất sung túc. Ông thường đi lại trên khắp thế giới bằng các du thuyền sang trọng. Ông cũng là một tay lái thuyền buồm giỏi, từng tham gia nhiều cuộc đua thuyền và là thành viên của Câu lạc bộ Thuyền buồm New York. Trước lúc qua đời, ông Villehuchet sống ở khu ngoại ô sang trọng tại hạt Westchester thuộc bang New York của Mỹ cùng với bà vợ Claudine. Hai người không có con.

Theo báo giới Pháp, ông Villehuchet đã tìm đến cái chết do sức ép tâm lý nặng nề sau khi bộ mặt thật của siêu lừa Madoff được đưa ra ánh sáng. Báo La Tribune của Pháp cho biết ông Villehuchet đã làm việc cật lực trong suốt tuần qua để tìm cách thu hồi lại số tiền đã lỡ đầu tư vào quỹ "ma" của Madoff.

Một người bạn thân của ông Villehuchet nói: "Ông ta không thể chịu đựng được sức ép sau khi vụ Madoff bị phanh phui.” Theo ông này, ông Villehuchet trước khi chết đang quản lý khoảng 2 tỉ Euro (2,79 tỉ USD) từ các khách hàng châu Âu và 75% số tiền này đã được đầu tư vào quỹ Madoff. Do đó, khi vụ Madoff đổ bể, ông Villehuchet đã bị suy sụp tinh thần và lo sợ khách hàng sẽ khởi kiện. Ông nói tiếp: "Access là cả cuộc đời của ông ấy và Madoff là một nhà quản lý mà ông Villehuchet đã đặt trọn niềm tin". Cũng theo ông này, Villehuchet có cả một đội ngũ chuyên theo dõi, ghi lại tất cả mọi hoạt động của Madoff và ông Villehuchet đã không ngờ tất cả chỉ là giả mạo.

CHUYỆN GIAN LẬN CHỨNG KHOÁN

Chuyện gian lận chứng khoán ở Wall Street không phải là chuyện nới lạ. Ủy Ban Giao Dịch Chứng Khoán (SEC) Mỹ cho biết chỉ trong 5 năm đã có hàng trăm vụ tiết lộ trái phép thông tin nội bộ và hàng ngàn vụ giao dịch mua bán chứng khoán và cổ phiếu trái luật được phát hiện. Đặc biệt có đến 4 ngân hàng đầu tư tài chính có uy tín ở Wall Street là UBS, Morgan Stanley, Bank of America và Bear Stearns trở thành nạn nhân của vụ tai tiếng lớn này. Ở đây chúng tôi chỉ đưa một vài vụ cụ thể.

1.- Vụ Mitchell Guttenberg

Theo hồ sơ của Ủy Ban Giao Dịch Chứng Khoán Mỹ cho biết vào tháng 11-2001, tức sau biến cố 911 chưa đầy hai tháng, Mitchel Guttenberg, 41 tuổi, giám đốc điều hành bộ phận nghiên cứu chứng khoán của UBS Securities LLC, hẹn gặp Erik Franklin, 39 tuổi, nguyên giám đốc một quỹ đầu tư cơ hội của Bear Stearns, ở nhà hàng Con Hàu để bàn chuyện trả 25.000 USD mà Guttenberg vay của Franklin. Guttenberg đề nghị trả nợ bằng một loại “tiền” có giá trị gấp nhiều lần tiền USD ở Wall Street.

UBS cho biết Guttenberg là một thành viên của ủy ban xét duyệt bản phân tích và đánh giá các loại chứng khoán và cổ phiếu trước khi nó được công bố nên có đủ tin tức chính xác để làm chuyện trái luật này. Franklin dựa vào tin của UBS do Guttenberg cung cấp để thực hiện những cuộc mua bán chứng khoán và cổ phiếu chắc chắn có lời cho cá nhân mình và cho hai quỹ đầu tư cơ hội là Q Capital Investment Partners và Lyford Cay Capital mà ông ta đang phụ trách. Franklin chia lại tiền lời cho Guttenberg.

Mỗi buổi sáng sớm, Guttenberg báo những thông tin mật cho Franklin bằng tin nhắn SMS mã hóa trên điện thoại di động xài Sim trả trước. Đây là cách rất an toàn vì khó phát hiện. Franklin không chỉ hành động đơn độc mà còn rủ rê nhiều người khác làm ăn với mình.

Một ví dụ cụ thể: Ngày 22.10.2002, Guttenberg mớm cho Franklin biết trước tin UBS khuyến cáo các khách hàng của mình nên bán cổ phiếu của Công ty Marsh & McLennan vì sắp tụt giá. Lập tức Franklin toa rập với Mark E. Lenowitz, 43 tuổi - một đối tác của Franklin ở Công ty Q Capital - bán ra 96.000 cổ phiếu của công ty Marsh & McLennan. Trong vụ này Franklin lời 94.410 USD, còn Lenowitz lời 6.640 USD. Trong vòng hơn 5 năm, với những phi vụ tương tự, quỹ đầu tư cơ hội Lyford Cay Capital của Bear Stearns và cá nhân Franklin thu lợi bất chính trên 5 triệu USD.

Guttenberg cũng không chỉ làm ăn với Franklin mà còn tiết lộ thông tin mật cho nhiều “đồng chí” khác, trong đó có David Tavdy, 38 tuổi, một tay mua bán chứng khoán cho công ty môi giới Andover. Tavdy dùng thông tin của Guttenberg để bán lại cho người khác là David Glass, chủ một công ty mua bán chứng khoán trong ngày, thu lợi bất chính 6 triệu USD. Việc làm này bị hai đồng nghiệp của Tavdy ở Assent biết được. Họ yêu cầu Tavdy và Glass hối lộ 150.000 USD nếu không muốn bị tố cáo. Hai người này đã phải trả làm nhiều kỳ, mỗi kỳ 30.000 USD.

Theo Ủy Ban Giao Dịch Chứng Khoán Mỹ, có ít nhất 8 chuyên viên về chứng khoán, ba quỹ đầu tư cơ hội, hai người môi giới chứng khoán, đã thực hiện hàng ngàn vụ mua bán cổ phiếu một cách bất chính, thu lợi cả chục triệu USD nhờ Guttenberg cung cấp thông tin mật.

2.- Vụ Smart Online

Hôm 12.9.2007 Dennis Michael Nouri, Giám Đốc Smart Online, người anh là Reeza Eric Nouri và 4 nhà môi giới chứng khoán khác bị truy tố về tội hối lộ cho các nhân viên môi giới chứng khoán để thổi phồng giá cổ phiếu của công ty này lên. Đơn khởi tố cho biết giữa tháng 5 năm 2005 và tháng 1 năm 2006, Michael Nouri đã trả cho các môi giới chứng khoán 170.000 USD để bán hơn 267.000 cồ phần của Smart Oneline, tức khoảng 10% khối lượng giao dịch của các nhà đầu tư trong giai đoạn đó.

Tài liệu của toà án cho biết nhóm này đã muốn tăng giá cổ phiếu của công ty Smart Online trước khi được niêm yết trên thị trường chứng khoán Nasdaq. Cổ phiếu của công ty này đã được niêm yết trên thị trường chứng khoán thứ cấp (OTC), tức thị trường giao dịch không đòi hỏi các yêu cầu nghiêm ngặt về kiểm toán và công bố thông tin.

Trong các cuộc hội thoại đã được ghi âm sau khi Uỷ Ban Chứng Khoán Mỹ hoãn việc giao dịch cổ phiếu Smart Online ở Nasdaq, ông Dennis Nouri thú nhận đã làm thế nào để nói dối, che giấu kế hoạch với các nhà điều tra. Các bị can trong vụ này đã bị truy tố về tội gian lận chứng khoán và âm mưu gian lận chứng khoán. Tội âm mưu có thể chịu hình phạt cao nhất là 5 năm tù, còn tội gian lận chứng khoán có thể chịu mức án tối đa 20 năm tù.

ỦY BAN CHỨNG KHOÁN MỸ BẤT LỰC?

Ngày 8.3.2007, để cảnh cáo, Chính Phủ Hoa Kỳ đã công bố hàng chục loại cổ phiếu bị lũng đoạn giá vì những kẻ chuyên gửi thư rác (spam). Ủy ban Chứng khoán (UBCK) Mỹ đã công bố một chiến dịch “tiêu diệt thư rác”, nhưng hình như sáng kiến chống thư rác của UBCK (SEC's Anti-Spam Initiative) vẫn chưa đem lại kết quả bao nhiêu.

Thư rác là một khối điện thư hay thư quảng cáo được gởi một lượng lớn (junk mail). Loại thư này rất rẻ và dễ gởi nên những kẻ lừa dối đã xử dụng nó để tìm các nhà đầu tư cho những kế hoạch đầu tư không có thật hay tung những tin tức giả về một công ty.

Người xử dụng thư rác có thể dùng một “bulk e-mail program” để gởi hàng ngàn và thậm chí hàng triệu e-mail đến cá nhân những người xử dụng Internet cùng một lúc. Quý vị đừng ngạc nhiên tại sao họ biết e-mail của quý vị. Họ có nhiều cách và một hình thức giản dị nhất là dùng hacker để lấy.

Giám đốc Văn phòng Chế tài của UBCK Mỹ đã khám phá có 35 loại cổ phiếu tăng giá nhờ những chiến dịch thư rác. Thư rác về chứng khoán trở thành một hình thức công nghệ cao của thủ thuật dìm giá và thổi giá: Những kẻ cổ động gửi đồng loạt hàng triệu email quảng bá về những cổ phiếu “không thể bỏ qua”. Khi có nhiều người cả tin và mua vào, giá cổ phiếu tăng lên. Những kẻ tuyên truyền sẽ bán cổ phiếu của mình ở cao điểm của quả bong bóng.

Thư rác đã xuất hiện và phát triển theo tiến trình lịch sử của của email và Web, và đã trở nên cực kỳ tệ hại trong mấy năm qua. Theo số liệu của công ty Postini chuyên về bảo mật thông tin, số thư rác về chứng khoán đã tăng 120% trong sáu tháng qua. Chủ đề chứng khoán, theo đại học MIT công bố, trước đây hai năm chỉ chiếm không đầy 1% trong tổng số thư rác, đến nay đã lên đến 20%. UBCK Mỹ ước tính mỗi tuần có đến 100 triệu thư rác về chứng khoán được gửi đi.

Những kẻ gửi thư rác đã biết phát huy những lợi thế về công nghệ. Trước đây họ gửi thư rác từ một máy tính, do vậy những hệ thống lọc thư rác dễ dàng phát hiện và chặn lại. Ngày nay, họ chuyển sang dùng một mạng lưới các máy tính liên kết với nhau (gọi là botnet). Băng thông rộng cũng giúp họ có thể gửi hàng tỉ thư và chữ viết dưới dạng hình ảnh.

Những thư rác dùng hình ảnh (gọi là image spam) đọc không khác gì những thư rác thông thường, nhưng lách qua được những hệ thống lọc thư vì hầu hết các hệ thống này chỉ lọc chữ mà không lọc được hình ảnh. Ông Daniel Druker, Phó Chủ tịch của công ty Postini, cho biết: “Không chỉ ngày càng nhiều thư rác mà ngày càng có nhiều thư lọt qua được hệ thống lọc.”

Đã có hàng triệu nhà đầu tư chứng khoán không chỉ đọc thư rác mà còn đầu tư theo đó. Nhờ vậy, lợi nhuận do tung thư rác rất cao. Thông tin của UBCK Mỹ cho thấy, ngày 15/12/2006 cổ phiếu của công ty Apparel Manufacturing Associates chỉ có giá 6 cents. Sau chiến dịch thư rác kéo dài 4 ngày, giá vọt lên 45 cents. Đến ngày 17/12/2006, giá tụt xuống còn 10 cents. Tương tự, giá cổ phiếu của công ty Goldmark Industries chỉ là 17 cents ngày 19/12/2006, sau một tuần thư rác, đã tăng lên 35 cents. Đến ngày 9/1/2007, giá tụt xuống còn 15 cents.

Một cuộc nghiên cứu năm 2006 của Giáo sư tài chính Laura Frieder (Đại học Purdue) và Giáo sư luật Jonathan Zittrain (Viện nghiên cứu Internet, Đại học Oxford) kết luận rằng thư rác về chứng khoán có tác động đến thị trường.

Hai nhà nghiên cứu xem xét các nhà đầu tư mua những cổ phiếu được đánh bóng và bán đi khi chiến dịch thư rác kết thúc, trung bình thua lỗ 5.5%. Còn những kẻ phát động thư rác đã chủ động mua cổ phiếu trước đó và bán ra trong chiến dịch gửi thư, kiếm lời trung bình 5,79%.

Ông Cromwell Coulson, Giám đốc công ty Pink Sheets chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và mạng thông tin về giá cổ phiếu OTC đả nói: “Giống như bạn nhìn thấy tờ giấy bạc trong ngõ tối, chạy vào nhặt thì bị đập vào đầu.”

Từ tháng 4/2006, công ty Pink Sheets đã đề xuất lên UBCK Mỹ một luật mới, qui định những người gửi thư cổ động cho chứng khoán phải ghi rõ danh tính, nguồn tài trợ, và mối quan hệ với các công ty. Những thư không ghi đủ các dữ kiện đó phải được coi như vô giá trị. Nhưng đề nghị này vẫn chưa được áp dụng.

ooo

Trên đây chỉ là một vài thí dụ để giúp chúng ta thấy được tầm quan trọng của những trò tham nhũng và lường gạt trên thế giới. Nhiều chuyện khác đã được quý vị đọc hay nghe hàng ngày trên báo chí hay truyền thanh và truyền hình.

Người Việt chống cộng thường coi Việt Cộng nhưng một tên gian manh ba đầu sáu tay. Nhưng sau khi ở Mỹ một thời gian, người Việt chống cộng đã gọi Mỹ là “siêu cộng sản”. Điều đó quá đúng! Do đó, nếu Mỹ không lừa Cộng Sản thì thôi, đừng sợ Mỹ bị Cộng Sản lừa.

Lữ Giang
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 2 guests