Tạp Ghi

Post Reply
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

NHỎ KHÔNG HỌC LỚN LÀM TRIỆU PHÚ

Trịnh Du
Ngày xưa bên quê nhà chúng tôi thường nghe các em nhỏ nói đùa là “ Nhỏ không học lớn làm Đại Uý”. Chúng có ý là không cần đi đến trường nhưng lớn lên cũng có thể giúp đở quê hương tổ quốc trong thời chinh chiến. Không đi đến trường học mà lớn lên leo được tới lon đại úy thì còn chua cay và giang khổ hơn là đi học để trở thành bác sĩ, kỹ sư...

Ngày nay chúng tôi thấy chuyện ấy không còn hợp trên đất nước này mà trước mắt chúng tôi đang thấy một chuyện vui vui là “Nhỏ không học lớn làm Triệu Phú”.

Đêm hôm qua đã bắt đầu những ngày tự do cho một số cầu thủ free agent của môn bóng chày trong làng bóng ngoại hạng MLB. Những cầu thủ này đã từng đấu trong làng lâu năm nên sau một thời gian nào đó họ đã được tự do đầu quân cho đội nào mà họ muốn. Những tên tuổi như Manny Ramirez, CC Sabathia, Francisco Rodriguez, Adam Dunn, Mark Teixeira và hàng chục tên tuổi khác đang đánh một ván cờ lớn nhất trong đời banh nghiệp của họ. Hầu hết tất cả những cầu thủ free agent này đều đã được ông chủ cũ của họ offer một giá rất cao nhưng cầu thủ free agent nào cũng muốn có một cái hợp đồng bảo đảm dài hạn với một số tiền nào đó. Số tiền các cầu thủ free agent đòi hỏi làm cho những ông chủ cũ không thể nào trả nổi nên các cầu thủ free agent này mới ghi danh vào trong danh sách free agent để cho các ông chủ của những đội khác mướn về.

Theo như chúng tôi biết thì mùa những mùa bóng tới sẽ có trên 20 cầu thủ free agent được lãnh lương trên 10 triệu Mỹ kim mỗi năm. Rất nhiều cầu thủ free agent khác có tài cán yếu hơn thì ít nhất cũng lãnh được trên 5 triệu Mỹ kim mỗi năm. Ngoài ra sẽ có một số cầu thủ hơi yếu sức tàn cũng được các ông chủ rước về làm dự bị nhưng tiền lương không ít hơn 1 triệu mỹ kim mỗi năm. Phần đông các cầu thủ free agent này chưa xong bậc đại học trước khi họ đầu quân trong làng MLB. Có những cầu thủ chưa thông thạo Anh ngữ mặc dù đã nhiều năm sống trên đất Mỹ. Trình độ văn hóa của các cầu thủ trong làng MLB thấp hơn các cầu thủ trong làng NFL. Chúng tôi nói vậy là vì làng bóng MLB tuyển chọn các cầu thủ đủ mọi lứa tuổi khác nhau từ khắp nơi trên thế giới. Nếu là các cầu thủ quốc nội thì chỉ cần học xong bậc trung học, còn nếu là các cầu thủ ngoại quốc (phần đông họ đến từ Nam Mỹ) thì chỉ cần có tài chơi bóng là đủ. Có những cầu thủ từ Nam Mỹ được các ông chủ lớn tuyển chọn khi vừa16 tuổi trăng tròn nhưng chẳng có một chữ Anh nào trong óc. Do đó chúng tôi mới dám nói “Nhỏ không học lớn làm Triệu Phú” là vậy!

Nói đến đây chúng tôi nhớ là cách nay vài ba ngày có một anh chàng bỏ học nửa chừng nhưng đã trở thành triệu phú. Con đường của anh đã đi qua là con đường đất có màu đen đỏ trong làng chơi cờ bạc. Đó là anh Peter Eastgate của Đan Mạch. Từ châu Âu bay qua châu Mỹ, anh ta ghé vào Las Vegas thử thời vận đỏ đen nơi xứ lạ quê người. Ai ngờ tại vùng đất xa xôi vạn lý này, nơi vừa có một người da màu đen đầu tiên được chọn làm tổng thống Hoa Kỳ thì cùng ngày hôm đó có một anh chàng mang tên Peter Eastgate trở thành ông Vua Cờ Bạc Trẻ Nhất của Las Vegas. Nước da màu trắng của anh ta từ từ trở thành màu đỏ vì quá hạnh phúc, rượu bia và hương sắc của các cô vũ nữ thấm vào máu cả ngày nên da của anh đỏ hơn dân thổ địa! Cuộc đời của ông vua cờ bạc trẻ này chẳng khác gì với cuộc đời của những cao thủ bóng chày vừa nói trên.

Có lẽ bà con ta nghĩ rằng chúng tôi lãng trí hay sao mà đưa cái chuyện cờ bạc vào tin thể thao.

Không, chúng tôi chưa lãng trí đâu, mặc dù vừa nghe tin nhà thơ lão thành Phương Triều vừa mới qua đời. Trong khi chờ thêm tin tức từ thi văn sĩ Túy Hà, tôi vội viết mấy dòng gởi đến bà con đọc chơi. Các cơ quan truyền thông thể thao Hoa Kỳ đều loan tin đánh xì tẩy này lên hàng đầu đó quí vị ạ! Cho chúng tôi tiếp tục viết về ông vua cờ bạc trẻ này đi nhé!

Khi xưa còn bé, anh Peter Eastgate (có thể dịch nôm na ra tiếng Việt là: Thánh Phê-rô gác cổng Thiên Đàng) chẳng thích học bài. Thường thì bạn bè học chung lớp với anh ta tay cầm sách vở nhưng đôi bàn tay của anh ta thì cầm bộ bài Cơ Rô Chuồn Bích. Nhưng rồi anh ta cũng học xong lớp 12 trường làng (khá hơn Thánh Phê-rô của hai ngàn năm trước). Sau khi tốt nghiệp trung học, anh Peter Eastgate mang tên Việt “Thánh Phê-rô gác cổng Thiên Đàng” ghi danh vào một trường đại học. Nhưng anh ta học đại có một tuần thì bỏ học. Nào ai có ngờ chỉ sau đó 4 năm thì anh chàng ấy lại trở thành một nhà triệu phú. Chính anh ta lúc ấy cũng không dám mơ là có một ngày anh ta sẽ trở thành triệu phú nhanh như vậy.

Dân ta có câu:

“Cờ bạc là bác thằng bần, bỏ nhà bỏ cửa ra thân ăn mày”.

Chúng tôi có câu:

Cờ bạc là gì nhân thế ơi
Đánh thua tơi tả biết kêu trời
Ngày đêm hai job thân tàn tạ
Vợ bỏ, con xa, vẫn cứ chơi!

Vì quá ham mê cờ bạc nên anh chàng Peter Eastgate mang tên Việt Thánh Phê-rô gác cổng thiên đàng này ngày đêm sưu tầm cách đánh xì tẩy của dân Texas (No-limit Texas Hold’em) để hy vọng có một lần bay qua Las Vegas tham dự giải Vô Địch Xì Tẩy Thế Giới (World Series of Poker). Giải này được tổ chức hằng năm với hàng ngàn người ghi danh. Mỗi người phải đóng 10 ngàn Mỹ kim. Ban tổ chức chia tất cả các tay cờ bạc ra từng bàn một. Vô địch mỗi bàn hợp lại thành nhiều bàn khác để cuối cùng còn lại một bàn duy nhất, rồi từ đó các ông mang giấc mộng triệu phú cùng nhau sát phạt cho đến khi còn lại một người cuối cùng. Tiền thưởng cho người toàn thắng tùy vào số người tham dự của giải đó. Năm nay anh Peter Eastgate lãnh được 9.15 triệu Mỹ kim.

Khi được hỏi rằng anh ta có trở lại trường đại học để tiếp tục con đường học vấn hay không… thì anh Peter Eastgate mang tên Việt Thánh Phê-rô gác cổng thiên đàng trả lời ngọt xớt là: Không, không, tôi không cần đi học nữa…

Đúng là “Nhỏ không học lớn làm Triệu Phú”! (TD).
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »




Mùa hè với những chuyến đi xa

ngọc thủy
Image
Chào Washington xanh mãi ngàn năm
Cuối tháng Tư năm nay tôi có dịp về thăm lại Seattle, là nơi tôi đặt chân đến ngay ngày đầu tiên trong chuyến đi từ Việt Nam sang Hoa Kỳ theo diện ODP, cách đây gần mười tám năm về trước. Định cư ở San Jose được gần ba năm, tôi lại có cơ duyên lên Seattle làm đài phát thanh Sàigòn từ giữa năm 1993 cho tới cuối năm 1995 mới trở về lại Thung Lũng Hoa Vàng. Tuy không tìếp tục làm đài phát thanh nữa nhưng mối duyên lưu luyến và duyên văn nghệ vẫn còn, nên sau đó tôi vẫn được các anh chị mời lên chơi ít nhất một năm cũng đôi ba lần với thật nhiều tình cảm mến thương. Nhất là anh chị bác sĩ Nguyễn Xuân Thìn, anh chị Nguyễn Ngọc Hốt, gia đình chị Đỗ Thị Sáng, chị hai Trần Ni v.v...

Lần nào tôi về cũng được các anh chị dành cho một buổi tiệc họp mặt để mời một số các bạn hữu thân quen đến chơi, nên hầu như mỗi lần về là tôi đều có dịp gặp lại tất cả. Thỉnh thoảng các anh chị còn chung sức đứng ra lo việc tổ chức ra mắt sách cho tôi, thật vui, thật đẹp với tình nghĩa tràn đầy, bên cạnh những lẳng hoa đẹp tươi thắm từ anh chị Trần Thiện Hiệp, chị Tư Huệ nhà hàng Moon Light .v.v... vì biết tôi rất mê thích hoa. Ngoài những buổi lễ hội sinh hoạt cộng đồng, mỗi lần các anh chị gả chồng cưới vợ cho con cũng mời tôi về làm MC cho có dịp gặp gỡ lại bạn bè. Bởi thế, dù đang bận thế nào, nghe gọi một tiếng thôi là tôi thu xếp để bay về. Như lần này, khi nghe Bác sĩ Nguyễn Xuân Dũng gọi điện thoại mời làm MC cho buổi lễ Quốc Hận 30 tháng Tư tại Seattle là tôi vui vẻ nhận lời ngay.

Có lẽ vì tình thân thương chân thành nơi đây mới gắn bó tôi bền chặt đến thế. Tôi rất quý trọng tình cảm, thích cho đi và cũng thích nhận lại để thấy cuộc đời luôn nẩy mầm, mọc nhánh tốt tươi bằng lòng yêu thương bao dung, thông cảm và tử tế. Hơn nữa tôi yêu thiên nhiên nên cảnh sắc ở đây luôn quấn quyện tâm hồn tôi, gợi nhớ lại cho tôi cả một thời quá khứ mộng mơ xưa vơi vùng trời Đả Lạt yêu dấu cũ.

Bước xuống phi trường Seatac, đón tôi là cơn mưa rào mùa hạ thoáng qua khiến không gian se se lạnh, nhưng lòng vẫn ấm áp vì mắt tôi được chạm ngay vào màu xanh của rừng đồi thông bao phủ chập chùng. Mầu xanh ấy đã bao lần rung động trái tim tôi, bởi nó luôn tạo cho lòng người cảm giác tươi non mơn mởn lại, đằm thắm dịu dàng hơn. Tôi mỉm cười và nói thầm với cánh rừng bạt ngàn trải dọc hai bên đường: Chào thành phố xanh mãi ngàn năm, hôm nay tôi đã về, về thăm lại thành phố đáng yêu có những người quen biết tử tế của tôi đây. Xin hãy ươm ủ cho tôi thêm nhiều mộng mơ và tươi mát mà đất rừng của bạn luôn gieo rắc nhé! Và lạ ghê, mảnh trời xanh cùng hàng thông reơ đang đứng nghiêng trên triền dốc kia, hình như cũng đang ngó tôi cười xôn xao những nụ mừng, có phải? Thật kỳ diệu! Và bao điều cảm xúc trong tôi không biết diễn tả thế nào trong phút giây gần-chạm này, chỉ biết lòng mình dường cũng nghiêng theo con dốc ngàn còn đọng hơi sương biêng biếc ấy:

trở lại phố xanh tháng hạ hồng
ngàn thông trùng điệp sóng mênh mông
Seattle mừng vui chuyển ấm
bỗng thấy lòng rộn rã lâng lâng

nở muộn hoa đào vẫn thắm tươi
đồi xanh mây trắng đẹp khung trời
bâng khuâng phố cũ đường mưa ướt
thầm lặng hàng phong để lá rơi...

n.t.

Xe đang chạy vào phố thị Seattle mà hồn tôi ngỡ đang phơi phới như thuở tuổi đôi mươi, trên đường nghỉ hè mỗi năm, chỉ mới tới Bảo Lộc - Di Linh - Tùng Nghĩa thôi là tôi đã cố giương đôi mắt mở tròn thật to, hân hoan hít thở, thâu nhận cái mầu xanh tươi thắm của cao nguyên Đà Lạt vào lòng. Đà Lạt quê hương ơi, mỗi lần nghĩ tới Đà Lạt thôi là tôi đã thấy niềm vui luyến nhớ dạt dào, như bước chân tuổi trẻ rộn ràng ngày xưa, chân đi tới mà đầu ngẩng cao ngắm đất trời bao la, hát vang vang những bài ca hy vọng với bao sức sống yêu đời, yêu người, yêu đất nước cùng bao hoài bão đẹp ngời chứa chan.

hồn ta mênh mông quá
dào dạt tình thiên nhiên
lời reo ca rộn rã
ngọt mát thấm vào tin

n.t.

Dù đã cuối tháng Tư nhưng vẫn còn là mùa xuân nên thời tiết không đến nỗi lạnh buốt da, vậy mà chiều tối đi ra ngoài cũng cần mặc thêm áo ấm. Mà có sá gì đâu bởi tôi vẫn cảm thấy ấm áp mỗi khi về thăm lại Seattle, dù luôn được đón chào bằng những cơn mưa (mưa ở đây hầu như quanh năm suốt tháng). Mấy hôm nay, thỉnh thoảng vẫn có mưa rào rào một chút rồi tạnh như để làm duyên. Nhưng nguyên ngày thứ Bẩy 26/04/08, thì trời rất đẹp nắng. Buổi trưa lúc 11 giờ tại hội trường Yerler Gazet, khi tôi đến đã thấy đông đảo quan khách, có thấp thoáng những tà áo dài bên cạnh những bộ quân phục gợi nhớ lại hình ảnh oai hùng của những người lính chiến Việt Nam Cộng Hòa năm xưa.

Hôm nay tôi cũng mặc chiếc áo dài màu đen điểm những chiếc lá trắng và xanh, chân "mang đôi guốc cao cao" đang thướt tha yểu điệu theo tà áo vậy mà bổng cũng muốn chuyển bước theo nhịp hát quân hành dập dồn hùng tráng vang lên từ chiếc loa phóng thanh bên trong hội trường. Khung cảnh rộn ràng nhưng vẫn giữ được sự trang trọng của buổi lễ.

Chương trình được bắt đầu vào lúc 11:30 phút. Sau nghi thức chào cờ và mặc niệm, tôi cùng Hoa Hậu Linda Vi Trâm giới thiệu quan khách Việt & Mỹ, nghi thức dâng hương tri ân tưởng kính đến anh linh các anh hùng tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã vị quốc vong thân. Bác sĩ Nguyễn Xuân Dũng đã thay mặt Ban Tổ Chức lên nói đôi lời phát biểu cảm tưởng về buổi lễ. Trong không khí trang nghiêm này khiến tôi chợt bùi ngùi nghĩ đến Bác sĩ Nguyễn Xuân Thìn khi ông đang là đương kim chủ tịch cộng đồng Tacoma cách đây gần mười năm về trước, ông đã cùng Bác sĩ Nguyễn Xuân Dũng đứng ra tổ chức buổi lễ tưởng niệm 30/04 lần đầu tiên tại Tacoma (những lần trước đều tổ chức ở Seattle).

Kỳ đó, ông đã mời tôi về điều khiển chương trình cho buổi lễ rất long trọng trong một hội trường rộng lớn với hơn một ngàn người tham dự mà đặc biệt có sự góp mặt của ca nhạc sĩ Nhật Trường-Trần Thiện Thanh & Mỹ Lan và Nhật Chương đã tạo phần văn nghệ hôm đó rất hào hùng và cảm động với những ca khúc đặc sắc chuyên chở tình yêu quê hương đất nước cùng vinh danh những người chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ngày này năm xưa, Bác sĩ Nguyễn Xuân Thìn còn hăng say nhiệt tình trong việc tổ chức ngày Quốc Hận, ngày này hôm nay ông đã khuất bóng dương trần, bởi đã ra đi sau cơn bạo bệnh ở tuổi sáu mươi vào đầu năm 2002, ngay ngày tôi vừa trở về San Jose sau chuyến đi Nhật cuối năm 2001 tham dự cuộc hội thảo về đề tài Sự Bi Thảm Của Chiến Tranh cùng những nhận thức về cuộc chiến tranh Việt Nam (Nam & Bắc VN) sau 26 năm (1975-2001) chấm dứt chiến tranh (có sự tham chiến của các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Đại Hàn và đồng minh Hoa Kỳ). Mà ngay cả ca nhạc sĩ Nhật Trường-Trần Thiện Thanh còn hăng say hát những khúc nhạc tình ca cho Quê hương và đời lính ngày đó, cũng đã theo bước ra đi về miền miên viễn vào tháng 5 năm 2005 tại Nam California khi tuổi đời cũng mới vừa qua sáu mươi thôi. Thời gian chỉ mới cách tám năm mà giờ đây, trên sân khấu của ngày tưởng nhớ 30 tháng Tư này đã hoàn toàn vắng bóng hai người ấy mãi mãi.

Sự ra đi của một người bạn và cũng là người anh kết nghĩa của tôi đã để lại bao điều thương tiếc trong lòng bạn hữu anh em, vì anh là người bác sĩ hiền hòa luôn tận tâm với chức vụ lương y của mình, không những thế anh còn là người rất yêu âm nhạc - văn nghệ và luôn luôn giữ vững tinh thần chống Cộng rất cao. Một việc bác sĩ Nguyễn Xuân Thìn đã làm tôi rất cảm động và không bao giờ quên, đó là chuyện anh tự nguyện bỏ tiền và công sức để in hằng ngàn những sticker hình lá cờ vàng ba sọc đỏ để biếu tặng khắp mọi người với hy vọng lá cờ thân yêu sẽ được dán khắp nơi ở trên xe, trên tường, trên bàn làm việc và anh còn làm riêng một số thành huy hiệu nhỏ để có thể gắn trên áo. Điều mong ước của anh là ở bất cứ nơi nào cũng có dấu hiệu của lá cờ vàng Tổ Quốc, một biểu tượng trân quý của người Việt Quốc Gia luôn hiện diện trong trái tim mọi người và không bao giờ bị xóa nhòa trên thế giới.

Trong buổi lễ năm nay còn có sự phát biểu của cựu Đại tá Hứa Yến Lến, Luật sự Nguyễn Quang Trung (đại diện Luật sư Trần Thái Văn từ California) cụ Phan Vỹ là một nhân sĩ đến từ thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Ông cũng là một chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng, đã từng vào tù ra khám tới bẩy lần trong thời kháng chiến chống đô hộ thực dân và vẫn tiếp tục con đường tranh đấu cho đến bây giờ. Dù đã hơn tám mươi tuổi và ăn chay trường đã mấy mươi năm nhưng trông ông còn rất khỏe mạnh và minh mẫn với tiếng nói sang sảng hào khí.

Riêng nhà văn Trần Phong Vũ, cũng đến từ Nam California, giới thiệu về quyển sách Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên do nhà xuất bản Tiếng Quê Hương phát hành. Nguyên tác của ký giả Pháp: Pierre Darcourt, là một phóng viên chiến trường ngoại quốc đã có mặt hầu hết các chiến trường Việt Nam từ Quảng Trị, Khe Sanh, Kontum, Pleiku tới An Lộc vang danh. Quyển sách này đã được cựu Đại tá Dương Hiếu Nghĩa chuyển dịch qua Việt ngữ. Là một sĩ quan Thiết Giáp của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, ngoài chức vụ Tỉnh trưởng tỉnh Vĩnh Long, cuối năm 1972, Đ/T Dương Hiếu Nghĩa còn là trưởng khối Ngoại Vụ Ban Liên Hợp Quân Sự Bốn Bên cho tới cuối tháng tư năm 1975. Và ông cũng là một chiến sĩ của Đại Việt Quốc Dân Đảng. Sau khi đi tù Cộng sản 13 năm, ông sang Hoa Kỳ định cư vào đầu năm 1992. Thời gian đầu ông cư ngụ ở Washington State, nhưng mấy năm sau này, ông về sống ở miền nắng ấm Orange County trong sự thanh đạm của đời sống Thiền sư, mong rũ bỏ được phần nào bụi trần quá khứ, tham-sân-si hỷ-nộ-ái-ố của thế gian.


Đặc biệt trong chương trình có chiếu Slideshow một đoạn phim tài liệu lịch sử Đất Nước Tôi do phóng viên Nguyễn Dương & Ngọc Yến (con gái cựu Đ/T Dương Hiếu Nghĩa) phụ trách. Đôi uyên ương luôn nhiệt tình, sốt sắng trong các công cuộc đấu tranh Tự Do Dân Chủ cho Việt Nam này đến từ Spokane, một thành phố cao nguyên của Tây Bắc Hoa Kỳ nhiều sương tuyết phủ quanh năm nên hiếm hoi ngày nắng ấm.

Nơi mà tôi chỉ được nghe cô nàng Yến đó kể nhiều mà chưa một lần được tới, nên lòng vẫn ước ao sẽ có một ngày thấy được bầu trời trắng xóa tuyết rơi, để ở cùng không gian lạnh giá ấy vài ngày cho biết. Trong bài hát Đời Đá Vàng thì nhạc sĩ Vũ Thành An viết rằng: "có dầm dề mưa tuyết mới vui ngày nắng về", nhưng có lẽ được sống ở miền Cali nắng ấm (đứng núi này trông núi nọ) nên tôi muốn ao ước ngược lại (hay muốn được thấm
cái lạnh thấu xương của đất trời vào hồn, để lỡ một mai mình có gặp nắng mưa bão tuyết cuộc đời gieo xuống nhiều gió lạnh gian nan thì sẽ thấy bớt phần nào sự lạnh lẽo, tái tê chăng?!)

Tiếp nối phần văn nghệ, tôi cùng điều họp chương trình với nghệ sĩ Thanh Trọng, anh cũng từng cùng tôi giới thiệu nhiều chương trình sinh hoạt hội đoàn hoặc về văn hóa nghệ thuật ở địa phương này trước đây. Chương trình có chủ đề nên hầu hết các ca sĩ góp mặt đều hát lên những ca khúc quê hương, ngợi ca sự hy sinh và tình yêu của người lính chiến năm xưa. Đặc biệt tiếng hát của Ngọc Minh, người nữ ca sĩ được ưu ái mệnh danh là Người Yêu Của Lính đã hát những bài thật hay và vẫn làm rung động khán thính giả, nhất là những người "Lính Già Xa Quê Hương", bởi các anh trẻ nhất thì năm nay cũng đã trên năm mươi tuổi rồi.

Với một câu phỏng vấn ngắn bất chợt của tôi trên sân khấu, chị Ngọc Minh đã trả lời rằng: trong bao nhiêu năm qua, chị vẫn luôn vui sướng và tự hào khi hát những nhạc phẩm về tình yêu cùng sự hy sinh gian khổ của những người lính chiến. Cho đến tận bây giờ chị vẫn yêu thương kính trọng họ với lòng biết ơn bởi chồng chị cũng là một người lính Việt Nam Cộng Hòa. Lời tâm sự này làm nhiều người cảm động và mến thương hơn người nữ ca sĩ luôn thủy chung với những tình khúc quê hương, tình lính thiết tha.

Tất cả tình yêu, sự hy sinh mất mát, kỷ niệm của những tháng ngày quân ngũ, "lội bùn dơ băng lau lách xuyên ngang" hoặc hào hùng quả cảm trong từng phút giây lửa đạn với đồng đội hôm nao, nay như đang trở về, sống dậy trong bao lòng tiếc nhớ đang có mặt ở đây, đang ngậm ngùi nghĩ tới những người bạn cùng vào sinh ra tử nơi chiến trường xưa, đã gục ngã vùi thây trên mảnh đất quê hương ngày nào. Hồn thiêng của khí hùng bất tử dường như còn u uất theo từng tiếng hát bay cao trong buổi lễ Quốc Hận 30 tháng Tư, dù rằng đã ba mươi hai năm dâu bể ròng rã trôi qua trên mệnh nước nổi trôi.

Ôi, buồn làm sao khi nhớ lại ngày tan vỡ quê hương để bao năm qua dân tộc còn mãi điêu linh, dân tình thêm khốn khổ dưới ách đọa đầy, cuộc sống đồng bào thêm rên xiết lầm than dưới chế độ Cộng sản tham lam tàn bạo mà Đảng CSVN vẫn cố tình che mắt bưng tai để đốt cháy quê hương mỗi lúc thêm hư hao tàn rụi. Chỉ lo vơ vét của công làm của riêng, bán chác đổi tháo đất đai, phung phí rồi phá hoại tài nguyên đất nước. Họ bất chấp những thủ đoạn đê hèn, quyết cưỡng chiếm miền Nam hầu mặc tình tham ô chiếm đoạt, vắt kiệt dầy nát mảnh đất thơm lành trù phú, để bù đắp cho sự nghèo nàn thiếu thốn khi theo "Bác" theo "Đảng" lúc trước, chứ nào phải để "thống nhất nước nhà, xây dựng hạnh phúc hòa bình" đưa đất nước tiến mau cho kịp bằng thế giới văn minh, tự do và đời sống người dân được ấm no đâu.

Chủ thuyết chỉ xảo trá vẽ vời, đi ngược cùng dối gian trắng trợn, bởi dân nào có được nâng cao đời sống hay bị hạ thấp đến chỗ tận cùng, mà quan quân cán bộ thì thi nhau vinh thân phì gia đến mức dư thừa đem ra ngoại quốc cất dấu đầu tư riêng. Giai cấp giàu, nghèo của cán bộ cầm quyền và người dân trong nước cách biệt nhau như núi cao vực thẳm chứ đừng nói gì đến chuyện được san bằng để ai cũng có đều như nhau.

Hoàng Sa, Trường Sa, rồi Giáo xứ Thái Hà cùng bao nhiêu vụ kiện dân oan làm dấy động đồng bào trong và ngoài nước phải xót đau kinh khiếp thì CSVN vẫn tìếp tục đàn áp thẳng tay những người lên tiếng nói, khiếu kiện. Vẫn ngang nhiên cướp của, cướp nhà, cướp đất của dân, của Chùa, của Nhà Thờ như một đất nước thời lạc hậu dưới chế độ bạo quyền không luật pháp phân minh. Dân không được ấm no, có nghèo có khổ có cùng đinh kiết xác, xã hội có lạc hậu hay tệ nạn xẩy ra bao nhiêu gì cũng mặc thây, mặc tình, không cần biết. Nhà nước và cán bộ cầm quyền càng giàu mạnh thì lại càng nhắm mắt lơ là việc dựng xây đất nước sao cho phát triển phú cường, xã hội sao cho tốt đẹp công bằng. Từ Bắc vào Nam để vắt kiệt nguồn lợi còn dồi dào bằng chức quyền, sức mạnh. Mạnh tiến vào Nam để hưởng lợi thật nhiều, mạnh ai nấy vét, tha hồ hưởng thụ ăn chơi. Còn mấy ai nghĩ đến, tự hỏi rằng, hiện tình đất nước xã hội chủ nghĩa Cộng sản hiện nay sẽ đưa dân tộc Viêt Nam chúng ta đi về đâu? Nhất là cho tương lai của tiền đồ, lớp đàn em, con cháu hôm nay và ngày mai?!

Buổi lễ đã chấm dứt vào lúc bốn giờ chiều cùng ngày. Không gian còn vương rơi những sợi tơ vàng óng ánh của buổi chiều nắng nhẹ. Những lời chào hỏi, bắt tay thân mến của mọi người dành cho tôi hôm nay đã làm ắp đầy niềm vui ấm áp. Dù đã đi xa khỏi những sinh hoạt cộng đồng ở đây hơn mười năm mà vẫn còn được mừng đón trong cách thế thân thương tin tưởng như thế, đối với tôi là một điều thật đáng trân quý và trân trọng.

Bốn ngày cuối tuần trôi qua thật nhanh với những bận rộn gặp gỡ bạn bè. Buổi trưa thứ Hai về lại Thung Lũng Hoa Vàng, tiễn đưa tôi là khung trời êm ả biếc xanh màu thạch bích, có rừng thông lộng gió vẫy chào và vẫn có những nụ cười thấp thoáng của hàng cây dương sỉ hai bên đưởng, đong đưa ánh mắt tỏa cánh che lặng nhìn theo bóng tôi đi. Thôi, chào tạm biệt nhé, ngàn xanh ơi, hãy gieo rắc cho đời thêm những nụ mầm hy vọng mới tươi, hãy giữ mãi cho đời những ca khúc yêu thương từ trái tim của loài cây luôn thẳng đứng giữa đất trời bao la và hãy giữ cho tôi niềm kiêu hãnh của người thiếu nữ Việt Nam năm xưa, yêu những ngày quá khứ của quê hương, lớn lên bằng những mộng mơ thời tao loạn, dẫu chất chồng nghiệp oan đau khổ nhưng vẫn chói ngời dấu son đi cùng hệ lụy với núi sông, mà quê nhà hôm nay vẫn là tiếng gọi thiết tha, ray rứt nhất trong trái tim đã sống bao ngày theo vận nước nổi trôi. Và xin giữ cho tôi một khung trời Sài Gòn và Đà Lạt thân yêu cũ, ngàn thông xanh nhé, để tâm hồn tôi được sống mãi như bài ca tuổi trẻ năm xưa của thuở học trò mang đầy hoài bão đẹp thiết tha, nồng ấm yêu đời yêu người, yêu tổ quốc non sông.

"trả lại tôi là tuổi trẻ mênh mông
chúng mình như lúa reo trên ruộng đồng
dù mưa tuôn dù bão cuốn
bông lúa vàng cuồn cuộn gió vươn lên

trả lại tôi là tuổi trẻ măng non
là tuổi son ở Phù Đổng vươn vai
chúng mình khi đứng lên cao bằng trời
trả lại tôi là tuổi trẻ vô tư
chúng mình như lũ chim trong rừng già..."

--(nhạc và lời Phạm Duy)

Lượt trở về, tôi lại được ngồi kế bên cửa sổ, lại được tha hổ ngắm cảnh xinh tươi. Từ độ cao trên phi cơ ngó xuống, tấm thảm nhung xanh mượt mà, óng ả thêm dưới tia nắng mặt trời. Cảnh tuyệt vời vô tả! Bồi hồi ngắm cảnh sắc thiên nhiên quá đỗi huy hoàng, tôi chợt nhớ tới bài tùy bút Nắng Tháng Ba khi lòng tôi ngày đó cũng ngất ngây say cũng với cảnh đẹp dường này:

"Từ khung cửa nhỏ, nơi tôi thường ngồi mơ mộng ngắm rừng thông xanh trên dãy đồi trước mặt. Bầu trời vẫn lãng đãng từng phiến mây trôi như kẻ bước nhàn du thong thả. Vài cụm sương chưa kịp tan dưới tia nắng nhẹ của mặt trời buổi sớm, quyện từng làn tơ trắng mỏng, vờn quanh lơ lửng trên những ngọn thông cao. Những đỉnh lá màu xanh sáng nay như có chiều lơi lả. Ồ! Thì ra gió xuân đã thổi nhẹ về đây cùng với nắng lụa tháng ba, để chải cho suối tóc thông thêm óng ả mượt mà, cho lòng tôi chợt xôn xao lay động.

Seattle này là thành phố mưa bay, nên xuân hạ thu đông, bốn mùa thường trĩu hạt mưa giăng. Có khác chăng là nắng tháng ba ươm vàng rực rỡ hơn trong những ngày khô ấm. Và mưa dẫu có rơi, dường như nghe cũng thánh thót ngọt ngào hơn trong khúc dạo mưa xuân.

Lá phong ngưng thay đổi để giữ màu xanh tươi hòa cùng với lá thông ngàn năm không đổi sắc trên cao nguyên hữu tình của thành phố Seattle.
Màu xanh ngập trong nắng gió, bao phủ khắp núi đồi, chan hòa sức sống trẻ trung tươi mát, đang vẫy mời lòng người hãy thêm tin yêu hy vọng với cuộc sống, với thiên nhiên.

Tôi yêu thành phố này, có lẽ vì cảnh sắc nơi đây giống cao nguyên Đà Lạt, một thành phố thân yêu với biết bao hình ảnh, kỷ niệm thật thơ mộng tuyệt vời của quê hương Việt Nam. Bởi thế chăng, mà tất cả những ai đã từng sống nơi đây cũng nhiều yêu mến chẳng nỡ rời xa. Qua lòng yêu mến đó, họ đã gọi thành phố này với những cái tên thật đẹp, thật dễ thương như: Xanh Mãi Ngàn Năm, (Evergreen), Đô Thị Ngọc Bích, Thành Phố Mưa Bay.v.v...

Vâng, nếu có dịp nào đó, tôi xin mời bạn hãy ghé thăm thành phố Seattle một lần, bạn nhé. Nếu bạn đến vào mùa hè, bạn sẽ thấy nắng hạ hồng ở đây soi bóng xuống những hàng cây dương sỉ làm óng ánh hẳn một mảnh trời. Cảnh sắc đó như chiếc chèo mầu nhiệm đưa bạn bơi ngược giòng thời gian trở về với thế giới thần tiên của những câu chuyện cổ tích thời thơ ấu có những rừng cây treo toàn lá nạm vàng chói rực.

Sang thu, phong cảnh thật tuyệt vời để bạn tha hồ chiêm ngưỡng tất cả nét đẹp, vẻ dịu dàng của bức tranh tạo hóa vẽ lên. Gió thu chỉ làm da bạn hơi se lạnh, đủ để thấy thèm hơi ấm của tình nhân. Ngắm mây, bạn sẽ thấy hồn mình như được chất theo từng phiến mây trắng nõn đang rủ nhau xây thành trên đỉnh núi để cùng phiêu bạt với mây ngàn gió núi khắp muôn phương. Rừng phong với sắc lá đã nhuộm màu, hiến tặng cho cuộc sống những phút giây thi vị. Bổng dưng, bạn trở thành người nghệ sĩ yêu đời với bao sắc lá vàng, cam, đỏ, tía kia sẽ làm lòng bạn ngân vang những khúc tình ca dào dạt.

Khi trời đã vào đông, hoa tuyết bay từng cánh hoa trắng nhỏ phủ lên khắp núi đồi những chiếc mũ bạc dầy cộm. Gió đông lạnh khiến ta mơ được ấp ủ tay nhau để truyền hơi ấm từ lửa nóng trái tim.

Và khi xuân về, không gian ngập ánh nắng vàng lung linh, nắng của tháng ba đầu mùa, bạn sẽ được đi trên thảm lụa màu xanh với mây trời trắng biếc. Bạn sẽ cùng tôi chợt ước ao: Ta hãy cùng giăng tay, gom một ít phiến mây thanh bình, hái những đọt lá xanh tươi hy vọng, hứng một chút nắng vàng tươi đẹp để gởi về mảnh đất quê hương thân yêu của chúng ta bên kia bờ đại dương...".

Cánh phi cơ cao dần, từ từ bỏ lại phía sau lưng khung trời thành phố mưa bay. Một làn mây mỏng vừa lướt qua, mây bồng bềnh thênh thang. Hồn tôi nhập theo cánh mây trời phiêu lãng, trôi lênh đênh theo từng giòng kỷ niệm chợt mọc lên thành rừng, như ở cao nguyên phố Đà Lạt xưa...! Xin chào tạm biệt Seattle mến yêu!
Image
Chào khung trời phượng tím San Diego
Gần cuối tháng năm, tôi có dịp đi xuống San Diego để gặp bác An Tâm và Bảo Ngọc bay về từ thành phố Bellingham để cùng thăm Bảo Long & Hân. Chuyến đi chơi bốn ngày nơi đây đã cho tôi đầy ắp tình thương thân mến. Chúng tôi cùng ra biển, dạo công viên, xem bảo tàng viện, cùng đi chơi phố .v.v.. . Và được cùng nhau nhắc lại những ngày xưa thân ái nơi cư xá sĩ quan Châu Văn Tiếp ở Quang Trung ngày cũ, nhắc tới bao người quen biết cùng sống cạnh nhau mấy năm trời, cùng chịu đựng mấy cuộc pháo kích dữ dội của Việt cộng vào năm Tết Mậu Thân 1968.

Giờ đây, những người năm cũ ấy chẳng bao giờ chúng tôi có dịp gặp lại, hiện đang sống ở đâu, chẳng biết? Nhưng có người đã vĩnh viễn ra đi như bố nuôi của tôi là đại úy Lương Quang Phụng, chị Quỳnh, chị Quế, Phượng... nghe tin đã chết lâu rồi, ngày mới đi tù cộng sản về và mấy chị kẻ chết vì đạn pháo trong cơn bão lửa 1975, kẻ ngả xuống trên thuyền ra sông... xa. Rồi hai bác cháu còn nhắc tới chú Trung úy Ty thích cầm cây đàn ghi ta hát bản Lòng Mẹ hoặc bài Trăng Tàn Trên Hè Phố cho tôi nghe và hay thưởng tôi mấy bản nhạc mà tôi rất thích dù có khi phải bỏ cả một buổi trưa không ngủ để tìm mua cho tôi kịp đem vào lớp hát chơi với bạn.

Riêng chú Đại úy Vinh thì hay rủ tôi đánh quần vợt vào buổi sáng vì ở trước sân nhà chú có một khoảnh sân rất rộng. Mười trái cầu tôi đánh tới, chú đều bắt được một cách nhẹ nhàng nhưng mười cú đánh trả lại từ chú, tôi chỉ vớt được một nửa là hay lắm rồi nên cứ phải chạy đi lượm trái cầu đỡ hụt hoài, có lẽ nhờ vậy mà hồi đó tôi mặc áo dài đi học hay áo bà ba ở nhà (vì thích mặc áo bà ba bằng vải tơ lụa nên tôi biết cắt may lấy bằng tay chớ không biết may máy gì cả) thì được khen là có dáng mềm mại dễ thương. Rồi bác Thiếu tá Nhàn ngay sau lưng nhà tôi có một sân lát gạch đỏ đặt nhiều cây bông kiểng thiệt đẹp nên tôi hay vào khu vườn đó ngắm hoa và để nghe mấy con chim hót rất hay được bác nuôi trong lồng.

Vì ở xa gia đình con cái nên bác lấy cây cảnh và chim chóc làm niềm vui. Bác lại có cả một kho tàng về chuyện cổ tích nên tôi thường được nghe bác kể bao nhiêu là chuyện hay ở trên đời. Thấy tôi còn nhỏ mà chịu ngồi yên lắng nghe bác kể chuyện, biết thích ngắm hoa và nghe chim hót nên bác thường gọi tôi sang chơi, đãi tôi ăn bánh ngọt hoài và còn gọi đùa tôi là cô bạn nhi đồng hàng xóm. Vậy mà có một lần thấy cây sứ kiểng được bác trồng trong một cái chậu sành rất đẹp, nở được mấy bông hoa nên tôi liền xin hái một bông, bác không cho vì rất quý, vì ỷ được bác thương nên tôi cố nài nỉ: "Cháu chỉ xin bác một bông thôi, bác xem có bông nào xấu nhất, bác cho cháu nhé", nghe xong bác lại bật cười trả lời tôi rằng: "Hoa nào cũng đẹp, chỉ có mỗi bác Nhàn là xấu thôi, không có hoa nào xấu cả, cháu ơi".

Lúc đó còn trẻ con nên tôi đã phụng phịu và có hơi dỗi hờn bác một chút mặc dù được bác đền cho một chai nước cam Berley mà tôi thường thích uống. Giờ này nghĩ tới mấy chuyện ấu thơ đó mới thấy nhiều kỷ niệm đáng nhớ vơí bác Nhàn, mà lại thấy quý ông hơn vì ông đã dành cho tôi nhiều mến thương và đã gắn vào trang sách tuổi thơ tôi một khoảnh sân gạch đỏ với nhiều bông hoa cùng tiếng hót của chim non trong lồng, cho tôi cả một pho sách dầy cổ tích sáng đẹp bao điều đạo nghĩa của những tấm lòng nhân ái cùng sự tin tưởng vào công bằng thưởng phạt của Thượng Đế linh thiêng.

Xin nguyện cầu cho bác được bình yên dù ở nơi nào, vì nay chắc bác đã quá già rồi. Ngày đó bố Phụng, chú Ty, chú Vinh đều trẻ cả, còn tôi thì mới ở tuổi mười hai mười ba rồi lớn dần thêm một chút mới rời xa. Thoắt, đổi đời một cái, tôi và chú Ty, chú Vinh, chị Hà, chị Quế, chị Quỳnh thưở ấy là những cô thiếu nữ yêu đời ở độ tuổi mười bẩy mười tám, thích làm thơ, chép nhiều bài thơ hay để đọc cho đứa em nhỏ tôi nghe đã trôi dạt tuốt tận đâu đâu không một lần gặp lại, biệt tăm luôn. Còn bố Phụng thì thành người thiên cổ sau ngày tàn chiến cuộc với mấy năm tù đày, không bao giờ nhìn thấy nữa...

Hai bác Trương Quang An biết tôi từ khi tôi còn bé, cưng chiều tôi như đứa con gái nhỏ vì bác không có con gái, còn mấy em trai Bảo Lộc, Bảo Long, Bảo Ngọc còn bé xíu. Bác An hay kể cho tôi nghe những ngày đầu đời quân ngũ, nơi đóng quân ở tận Faifo vào những năm 1952-1953. Vị chỉ huy của bác lúc ấy là Đại úy Lữ Lan, còn bác là Thiếu úy mới ra trường. Sau khi bác Lữ Lan đổi ra Huế, bác Trương Quang An về Bến Tre cưới vợ, một cô gái ngoan hiền tên Minh Tâm con gái của ông Cả Mẫn nức tiếng giàu có ở địa phương thời bấy giờ. Sau đám cưới một tháng, bác đưa người vợ mới cưới mười bẩy tuổi ra tiền đồn vào giữa năm 1954, gặp ngay trận đánh dữ dội của Việt cộng rồi bị bắt làm tù binh hơn nửa năm mới được trở về nhờ dịp trao trả tù binh sau ngày ký kết hiệp định Genève 1954.

Qua đầu thập niên 70, bác được thăng cấp Trung tá, đổi về Bộ Tổng Tham Mưu làm việc cùng Trung Tướng Lữ Lan. Không ngờ xẩy ra biến cố 30/04/1975, bác bị đưa ra Bắc cầm tù, ba năm sau chết trong trại tù cộng sản. Hồi đó, bác Trương Quang An chỉ mới ngoài bốn mươi, người Lính không chết ngoaì mặt trận trong những năm đầu quân ngũ khi trực diện với những mặt trận khốc liệt ngoài miền Trung mà lại chết vì đói vì kiệt sức dưới sự quản chế độc ác và hèn hạ của chính sách ngụy tạo "khoan hồng" của Cộng sản Việt Nam sau ngày cưỡng chiếm miền Nam 1975.

Bác ơi, trong những ngày tan tác năm xưa và cho đến tận bây giờ con vẫn nhớ nụ cười hiền của bác cùng hai tiếng gọi thân thương "con bé thủy" hay "thủy con' của bác khi thấy con xuât hiện nơi cửa bếp hay cửa phòng khách nhà bác bởi thường khi mới đi học về, vừa cất cái cặp táp xong là con chạy qua nhà bác chơi ngay. Bác nhớ không, hàng cây bả đậu trồng chung quanh sân nhà bác thường rơi xuống mấy chiếc lá thổi bay như mấy con vụ, nó thường rớt xuống mấy cái hột tròn kêu vang trên mặt đường tráng nhựa, tiếng nghe thật dòn mà lại thanh nên con thích lắm, thường lượm mấy cái hột mầu nâu có vân bóng bẩy ấy để tập gọt ra rồi khắc thành hình con cá mà mấy chú lính trong trại làm rất đẹp. Bác dặn con chơi cẩn thận, chớ có ăn thử như đã có một vài người dại dột, nhấm thấy bùi bùi ăn vào ngộ độc đường ruột rồi chết ngay.

Không ngờ sau này khi miền Nam rơi vào tay Cộng sản, bác bị bắt đi tù một lần nữa, dù tù chung với nhiều số phận anh em đồng đội khác ở Hoàng Liên Sơn, nhưng lần này Việt cộng hành hạ khắc nghiệt quá, bắt lao động cực nhọc dưới cái lạnh cắt da nhưng cho ăn ít oi để chịu đựng đói khát, nên tự lần hồi đuối sức, nhìn thấy gì ăn được là ăn ngay nên hỡi ơi, chỉ vài cọng rau muống sống thôi đã làm bao người chết oan uống mà trong số đó có bác. Năm đó bác chỉ mới bốn mươi sáu tuổi.

Những người sĩ quan trẻ tuổi ưu tú của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, sau ngày 30 tháng Tư/1975, tất cả bị lùa vào các trại tập trung, bị Việt cộng giam cầm hành hạ cho tới chết bằng nhiều lối, nhiều cách chứ họ không cần ra tay đâm thẳng vào tim hay đánh đập bắn bằng súng đạn gì cả. Thế đó, mà đã biết bao người Lính khi trở thành tù nhân Cộng sản đã vùi thây nơi rừng thiêng nước độc miền Việt Bắc xa xôi, mà người thân chẳng bao giờ biết được phần xác của chồng, cha, con, anh em mình bị vùi nông chôn lấp ở đâu?! May lắm, là được biết tin qua thân nhân của những người bạn tù đồng đội, đồng cảnh ngộ tìm cách cho biết tin buồn. Có ai ngờ, ngày được lệnh đi "học tập cải tạo" theo chính sách "khoan hồng" của Cộng sản Bắc Việt là ngày sinh ly tử biệt từ đấy, mãi mãi không về!

Ôi, có bao nhiêu tiếng khóc than ly biệt, vẫn nặng sầu trong tim như mối sầu quê vẫn canh cánh bên lòng của bao người góa phụ:

"giòng sông khuất dạng mù khơi
thuyền xưa lạc bến chơi vơi nẻo về
ưng trời gió lộng sơn khê
mang mang một khối sầu quê bên lòng!"

n.t.
Image
Chào New York rực rỡ Cờ Vàng
Giữa tháng Sáu, tôi lại tạm xa Thung Lũng Hoa Vàng năm ngày để đi New York tham dự Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế được tổ chức vào thứ bẩy ngày 21/06/2008.

Lần nào trước khi đi xa, hầu như tôi thức trắng đêm, bởi cố tật là mọi thứ thu xếp hành lý chuẩn bị cho nguyên một chuyến đi vẫn cứ đợi tới phút chót mới chịu làm, nhất là lần này tôi đáp chuyến bay sớm vào lúc 6 giờ sáng thứ Năm ngày 19/6/08.

Đúng 4 giờ rưởi sáng, chị Hoàng Cúc đã tới nhà để chở tôi ra phi trường vì chị là người bạn đồng hành của tôi trong chuyến đi này. Bên ngoài trời còn mờ mờ tối, nhưng nhờ ánh đèn đường hắt lên cho thấy hàng cây hai bên đường cũng đã thức giấc với tiếng lá thầm thì gọi vẫy nhau bằng những tiếng lay động nhẹ. Lòng tôi cũng hồi hộp xôn xao với những niềm vui háo hức sắp có trước mặt. Chuyến bay đầu tiên cất cánh lúc sáu giờ sáng để bay qua Atlanta.

Trong thời gian chờ đợi ở đây, tôi gọi điện thoại về Việt Nam để liên lạc với chị Đỗ Hữu Tùng. Vì Trung Tá Đỗ Hữu Tùng là người bạn đồng khóa 16 VBĐL và cũng là Lữ đoàn phó Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến 360 cùng với Trung Tá Lữ đoàn trưởng Nguyễn Xuân Phúc. Năm 1972, Thiếu tá Đỗ Hữu Tùng đang là Tiểu đoàn trưởng TĐ 6/TQLC đã cùng các chiến sĩ đồng đội dựng được lá cờ vàng ba sọc đỏ tung bay ngạo nghễ nơi Cổ thành Quảng Trị trong ngày tái chiếm vẻ vang (19/06/1972). Tiếc thay hai người bạn thân thiết và cũng là hai người lính oai hùng này đã mãi mãi ra đi theo tiếng hờn sông núi trong ngày bão lửa của quê hương đang dần vỡ tan trong tiếng lịnh lui binh.

Đó là ngày cuối tháng ba năm 1975, hai người Lính ấy sau khi cố gắng hết sức mình để đem 3 tiểu đoàn từ Đại Lộc dưới làn mưa pháo đạn về đến Đà Nẵng được an toàn. Rồi kể từ khi đó, không ai còn nhìn thấy bóng dáng hai người Lính đảm lược kiên cường ấy nữa. Họ đã ở lại cùng Non Nước, đi theo cùng Non Nước để được hòa nhập cùng xác máu anh em đồng đội đã đổ xuống cho miền Nam Tư Do, để được trôi trên dòng biển lớn quê hương ra mãi ngàn khơi! Chỉ xót thương cho người góa phụ ôm hai con thơ trong cảnh nước mất nhà tan vào thời điểm tháng Tư đen ngày ấy.

Quen biết nhau từ thuở mười ba, hai anh chị tuy không học cùng lớp nhưng lại cùng trường, rồi thương yêu nhau cho tới ngày anh theo tiếng gọi lên đường, gia nhập trường Võ Bị Đà Lạt làm người lính chiến xông pha nơi mặt trận thường xuyên, tình yêu đó chị ôm ấp mãi với bao tháng ngày làm chinh phụ đợi chờ cho đến khi thành người vọng phu trong niềm cô đơn, đau khổ biệt tin chồng. Người thiếu phụ ấy như trăm ngàn người thiếu phụ miền Nam, yêu chồng thương con, đảm đang gánh vác việc nhà, tạm chôn dấu niềm đau xuống tận đáy lòng để lo bảo bọc dậy dỗ các con sớm thành người hữu dụng cho xã hội.

Sau này, niềm an ủi và khích lệ rất lớn cho chị và các con là sự quan tâm của những người bạn đồng khóa VBĐL với anh Đỗ Hữu Tùng. Không quên người bạn dù không còn hiện hữu với nhân gian nên họ cố gắng tìm cách liên lạc với gia đình chị vẫn còn ở lại Sàigòn, vẫn thường xuyên thăm hỏi, gởi tiền quà về giúp đỡ. Ngày nay theo như lời chị cho tôi biết, một cháu trai và một cháu gái của anh chị đã được ăn học tới nơi tới chốn, rất ngoan và luôn hiếu thảo với mẹ. Câu chuyện của chị là một hành trang đẹp đẽ cho tôi mang suốt dọc đường hôm đó cùng những ngày sau, đó là tấm lòng người vợ thủy chung, người mẹ sống vì con và tất cả cho con. Cuộc đời vẫn đẹp và đáng vui sống biết bao với những tấm lòng đôn hậu, trung trinh và tử tế ấy.

Đây là lần thứ tư tôi bay qua thành phố hoa lệ này để có mặt trong ngày Văn Hóa vậy mà vẫn náo nức với chuyến đi xa này như mới đi lần đầu. Bởi tôi yêu thích sức sống tràn đầy của nơi được mệnh danh là thành phố không ngủ (City Never Sleep) này ghê lắm. Chỉ cần bước chân ra phố là ta có thể hòa nhập vào dòng xe cộ ngược xuôi như mắc cửi, người người tấp nập đông vui, kẻ thì rảo bước đi nhanh như chạy để tới kịp sở làm hoặc nơi chốn hẹn hò nào đó (thành phần này đa số là người địa phương), người thì chậm bước nhàn du hoặc bị kéo theo làn sóng người nhộn nhịp tung tăng (hầu hết là du khách từ nhiều tiểu bang hoặc khắp nơi trên thế giới).

Mình muốn đi đứng nói cười ra sao cũng được, chẳng ai dòm ngó để ý tới mình mà mình cũng chẳng kịp nhìn ngó tới ai vì mãi vui với bước chân rộn ràng cùng cặp mắt mê say được nhìn thấy bao điều mới mẻ. Thuở bé, tôi thường sợ nơi chốn đông người bởi không thích ồn ào náo nhiệt quá. Tôi thích nơi yên tĩnh êm đềm, yêu quang cảnh thôn dã đồng quê. Nhưng giờ đây, thỉnh thoảng đến nơi chốn xa hoa náo nhiệt này, tôi cảm thấy cuộc sống có lúc cũng phải sống cho thỏa thuê tràn trề cho dù có hối hả chạy theo nhịp đời tấp nập. Vì đó là chất nhựa của sức sống căng đầy, bởi cuộc đời "có bao lâu mà hững hờ", ta hãy tận hưởng hết những niềm vui, khám phá thêm điều mới trong từng giây phút của cuộc sống, trong giao tế, trong mắt nhìn, trong đụng chạm cùng trong bao nỗi cảm nhận vui buồn của riêng mình, của thế gian, của thời tiết nắng mưa và của cả không gian đất trời. Miễn sao mình vẫn giữ được niềm yêu thương cuộc đời và con người trong trái tim luôn nồng ấm, chứa chan.

Lần này tôi cũng ở khách sạn Carter của anh chị Trần Đình Trường ngay Times Square, có dịp gặp lại một số anh chị thân quen như ký giả Kiều Mỹ Duyên, Luật sư Nguyễn Xuân Nghĩa từ Nam Caili, nhà văn Trần Quán Niệm, Linh mục Nguyễn Hữu Lễ từ Tân Tây Lan, anh chị bác sĩ Nguyễn Xuân Dũng ở Seattle, nhà báo Đỗ Thông Minh tới từ Nhật, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hùng bay qua từ Đức quốc và nhiều anh chị từ các tiểu bang khác cùng về tham dự Ngày Diễn Hành Văn Hóa.

Mỗi năm gặp lại mà thấy chị Sang vẫn trẻ, tuy lúc này chị rất bận rộn việc chăm sóc sức khoẻ cho người chồng mà chị hết lòng thương yêu tận tụy là anh Trần Đình Truờng (chủ nhân khách sạn Carter và là người tặng tấm check một triệu mỹ kim ngày 9-11 năm 2001 khi bọn khủng bố làm sập tòa tháp đôi Twin Tower) sau lần mổ tim vừa qua. Buổi chiều ngày thứ Sáu, chị Trần Đình Trường mời chị Kiều Mỹ Duyên, Tina Vũ, anh Nguyễn Văn Tánh (cựu chủ tịch cộng đồng và cũng là người tổ chức mấy năm trước cho cuộc diễn hành của phái đoàn Việt Nam ở New York), anh Đỗ Thông Minh và tôi đi ăn cơm chiều ở một nhà hàng trên phố dọc bờ sông đã được thắp sáng bằng những ngọn đèn mầu giăng quanh lấp lánh.

Và tôi cũng nhìn thấy ánh sáng lấp lánh trong đôi mắt của chị Sang khi chị kể cho tôi nghe về mối tình ngày xưa, lúc chị còn là cô nữ sinh mới lớn trong ngôi trường nữ của một tu viện do các Ma Soeur quản nhiệm. Hồi đó hẳn là chị rất xinh đẹp bởi đã mấy chục năm qua, vẻ đẹp tươi sáng vẫn còn rõ nét trên khuôn mặt dịu hiền của chị. Tình yêu của chị dành cho người chồng với mấy mươi năm tình nghĩa vẫn tỏa sáng, lấp lánh trên môi, trên mắt, trong nụ cười, giọng nói của chị khi kể khi nhắc về anh, vẫn nồng nàn ấm áp. Đẹp làm sao!

Buổi sáng thứ Bẩy, tôi dậy sớm để chuẩn bị đi diễn hành. Bộ áo dài xanh nước biển thêu hoa cúc trắng nhỏ rơi từng cánh trên hai tà áo tôi đã nhớ mang theo để mặc nhưng hỡi ơi... chiếc quần lụa nhờ may từ VN mang qua chưa một lần mặc thử, quá dài theo số đo tôi đã cho, nên đành xếp lại mà thay vào đó là bộ đồ tây áo sơ mi đen & trắng vậy. Tôi không đi xe bus mà thả bộ theo con đường phố, băng qua mấy block là tới ngay địa điểm tập trung ngay trên góc đường số 6 & 36.

Cũng như mấy năm trước, phái đoàn Việt Nam tập trung tại địa điểm nói trên vào lúc 9 giờ sáng ngày thứ Bẩy 21 tháng 6/08.

Đây là một cuộc diễn hành của nhiều sắc dân trên thế giới như: Tây Ban Nha, Tây Tạng, Romani, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan .v.v... Tất cả đều có một xe hoa mang theo chủ đề văn hóa nguồn cội đã hấp dẫn khách thưởng ngọan đông kín hai bên đường phố gần hai mươi block đường.

Khi đoàn diễn hành Việt Nam đi chầm chậm qua từng khu phố, những bài hát hùng ca vang lên cùng bao lá cờ vàng ba sọc đỏ tung bay phất phới giữa bầu trời cao xanh của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, giữa thủ đô New York, quyện thấm vào tận đáy lòng chúng tôi niềm sung sướng tự hào về một đất nước thân yêu: Việt Nam! Và vang vang những lời ca suốt dọc một con đường diễn hành của chúng tôi hôm nay làm sục sôi thêm một niềm tin yêu đẹp đẽ:

"Đáp Lời Sông Núi, anh em ta đáp lời Sông Núi

Tổ quốc lâm nguy xương máu này ta nguyện hiến dâng

Đáp Lời Sông Núi, anh em ta đáp lời Sông Núi

Quyết bảo vệ giang sơn ta thề chết cho quê hương!"


Trái tim mọi người như rực lửa trong niềm yêu mến quê hương đến tận cùng khi được nói lên niềm khao khát, hát vang lời ước vọng từ triệu con tim người yêu nước, mong truyền đạt tới muôn người, khắp muôn nơi từ trong nước tới bốn phương trời hải ngoại:

"đây muôn triệu con tim

đây muôn triệu khối óc cùng giòng máu Việt Nam

đây Hưng Đạo Vương

đây Lý, Lê, Trần

bốn ngàn năm chưa một lần khuất phục ngoại xâm!"


Có lời ca nào làm cháy bỏng trái tim người Việt Nam mà khi cất tiếng lên là lệ nóng lại tuôn trào trong niềm tự hào dân tộc đã vẻ vang từ bao đời Cha - Ông chúng ta:

"đây Hai Bà Trưng, đây Lý, Lê, Trần

bốn ngàn năm chưa một lần khuất phục ngoại xâm"


Thật ấm áp và hạnh phúc làm sao khi hôm nay tôi được cùng mọi người hát vang giữa bầu trời Tự Do những lời ca đẹp như tuổi trẻ ngày xưa, khơi dậy lửa nóng từ trái tim ắp đầy hoài bão thiết tha và hơi ấm tình quê hương, tình đồng bào thêm chan chứa đậm đà:

"đáp lời Sông Núi, anh em ta đáp lời Sông Núi

Tổ Quốc lâm nguy

xương máu này ta nguyện hiến dâng"


Những tiếng hát cất cao cùng rừng cờ vàng rợp bay trong buổi sáng hôm nay khiến tôi có cảm giác xúc động như những buổi sáng được chào cờ trong sân trường, thuở tuổi thiếu niên đang hăm hở vào đời với bầu nhiệt huyết luôn được dưỡng nuôi bằng bài Quốc Ca hùng tráng:

"này công dân ơi mau đứng lên dưới cờ

này công dân ơi đứng lên đáp lời sông núi

đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống

vì tương lai quốc dân

cùng xông pha khói tên

làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền

...nòi giống lúc biến phải cần giải nguy

người công dân luôn vững bền tâm trí

hùng tráng quyết chiến đấu

làm cho khắp nơi vang tiếng

người nước Nam muôn đời..."


Hơn ba mươi năm phải rời xa đất nước sau ngày Cộng sản nhuộm đỏ cả quê hương, đất nước vẫn chưa có niềm vui Dân Chủ, niềm hạnh phúc của Tự Do vẫn là nỗi trăn trở khát khao, Nhân Quyền vẫn bị chà đạp dưới gót giầy bạo lực, dân tộc Việt Nam vẫn chưa thực sự có một niềm tin yêu để củng cố và tiến triển đến chỗ mạnh giàu, dân chúng được ấm no. Áp bức, tù đày vẫn tạo nên bao cảnh cùng cực khổ đau hòa bao tiếng khóc than hờn oán của dân chúng vẫn không làm chùng tay đảng bộ. Thảm họa đen tối của hiện tình lẫn tương lai dân tộc vẫn không ngăn được lòng tham ô không đáy nơi những kẻ cầm quyền trong nước. Hơn ba mươi năm qua, họ vẫn ngang nhiên cướp nhà, chiếm đất của dân, tệ hơn là bán cả Hoàng Sa & Trường Sa cho đàn anh Tầu Cộng, bất kể bao công lao xây đắp của tiền nhân và giữ gìn cho hậu duệ mai sau, nên tôi thật thiết tha mong ước bài hát Đáp Lời Sông Núi mà nhạc sĩ Trúc Hồ đã viết hộ muôn triệu người cùng dòng máu Việt Nam chúng ta được cất cao vang vọng mãi tới muôn nơi, rung động tới muôn lòng:

'đáp lời Sông Núi, anh em ta đáp lời Sông Núi

quyết bảo vệ giang sơn từng tấc đất

từng cây cỏ, từng phố phường

từng con đường, từng hải phận quê hương"



Niềm hy vọng về tương lai tốt đẹp của Tổ Quốc Việt Nam nếu giải thể được chế độ Cộng sản, chắc chắn sẽ thật gần, khi người dân đã nhận thức rõ ràng và mọi người cùng đồng một lòng chung sức đạp đổ thành trì bưng bít dân tộc chúng ta trong hiểm họa lầm than.

Khi nhận được cuốn băng DVD Lá Thư Từ Chiến Trường do Diệu Quyên gởi tặng, tôi thật sự thích thú vì đây là một chủ đề tôi rất mến yêu. Từ lâu, tôi vẫn thầm cám ơn và thán phục những việc lám của Trung tâm Asia đã luôn chuyên chọn nhiều chủ đề mang ý nghĩa cao đẹp về tình yêu - đất nước - quê hương. Đặc biệt TT Asia luôn trân trọng tri ân, nhắc nhớ đến những hình ảnh cùng sự hy sinh cao đẹp của những người chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Vẫn biết hầu hết trong chúng ta, những người đã sống và lớn lên trong giai đoạn quê hương khói lửa hoặc những người đã từng trải qua lằn tên mũi đạn, xông pha khắp các trận địa kinh hoàng để bảo vệ miền Nam năm xưa, thảy hết đều một lòng kính trọng những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã Sống và Chết cho Tổ quốc Việt Nam, cho Hòa Bình - Dân Chủ - Tự Do. Nhưng để làm thành một chuỗi dây chuyền nối kết từ quá khứ tới hiện tại và bước sang tương lai một cách đẹp đẽ và bền chặt thì mỗi cá nhân chúng ta khó thể thực hiện.

Trung tâm Asia là một lực lượng quy mô, đông đảo nhiều ca, nhạc, nghệ sĩ tài hoa đóng góp cùng với ban điều hành là những người mang hết tấm lòng yêu chuộng văn hóa - âm nhạc Việt Nam, tạo thành những chương trình nghệ thuật dồi dào chất lượng để phục vụ quần chúng được thưởng thức các ca khúc tuyệt vời từ giòng âm nhạc Việt Nam đã dàn trải qua bao cung bậc thăng trầm lịch sử của quê hương. Là sức mạnh của tiếng nói, lòng khát khao mơ ước của khối người Việt hải ngoại lẫn người dân trong nước đang mong mỏi trông chờ, nhìn về một hướng cho tương lai dân tộc được Tự Do - Giàu Mạnh - Vinh Quang.

Đặc biệt trong cuốn DVD với chủ đề Lá Thư Từ Chiến Trường do Trung tâm Asia thực hiện, ngoài những ca khúc ngợi ca sự hy sinh, tiết tháo oai hùng của người lính QLVNCH được dàn dựng công phu với những sắc áo mầu cờ của các quân binh chủng Việt Nam Cộng Hòa, để các con em của chúng ta bây giờ hiểu biết thêm nhiều về sự nghiệp hiển hách, sự hy sinh cao cả của các bậc Ông-Cha-Chú đã tận hiến cho quê hương Việt Nam trong lý tưởng Quốc Gia Tự Do trước đây. Riêng nhạc phẩm Đáp Lời Sông Núi của nhạc sĩ Trúc Hồ cùng những lời tâm tình từ một người viết nhạc sống trong thế hệ trẻ hôm nay, luôn thao thức về quê hương rồi cố gắng thể hiện qua giòng nhạc như viết thay nỗi ước vọng khát khao của muôn triệu người Việt Nam hiện đang sống ở hải ngoại hoặc những người dân đang bị bức bách khổ đau trong nước, đã làm tôi xúc động thật nhiều.

Trước khi chấm dứt bài này, tôi muốn được gởi tặng đến tất cả quý bạn đọc, bạn hữu khắp nơi và cũng kính tặng đến nhạc sĩ Anh Bằng, nhạc sĩ Trúc Hồ, Diệu Quyên và Thy Vân những câu thơ xin được góp phần với những tấm lòng yêu quê hương, luôn thiết tha được đáp lời Sông Núi thêm sáng tươi niềm hạnh phúc Tự Do:

"dậy mà đi tới! chúng ta đi

hai chữ Non Sông một hướng về

đã chẳng tiếc thân ngày vượt biển

còn bầu nhiệt huyết tạ tình quê!"


Xin nguyện cầu cho Tổ quốc Việt Nam chúng ta sớm thoát khỏi ách xiềng Cộng sản, để toàn dân được vui hưởng Hạnh Phúc - Tự Do, cùng chung sức đắp xây cho quê hương thực sự phú cường, tươi đẹp mãi.

ngọc thủy

suoi_van@yahoo.com

Nhà văn Ngọc Thủy là chủ bút tạp chí Suối Văn,
hiện điều hành chương trình Radio Tiếng Việt
Mến Yêu, San Jose CA trên làn sóng AM 1120.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Phiên Phiến Tuổi Già

Tràm Cà Mau

Bạn tôi, có ông tự xưng là Hai Hô. Bởi răng ông hô. Ông rất thích thú với danh xưng nầy. Ông thường nói rằng, ngày xưa còn trẻ, hăng tiết vịt, ai nói gì, đúng hay sai, cũng tìm lời cãi lại . Bây giờ già rồi, nghe ai nói gì cũng thấy xuôi tai, đúng hết. Bởi già rồi, có nhiều kinh nghiệm, thấy được đúng, sai, có nhiều mặt khác nhau.

Bà mẹ ông đã 92 tuổi, mà thường hay nói câu: "Mai mốt tôi già rồi thì…" Mỗi lần nghe câu đó, ông vội cắt ngang lời mẹ, và hỏi lại: "Hơn chín mươi tuổi rồi mà chưa già hở mẹ? Thế thì bao nhiêu tuổi mới là già?" Bà cụ chỉ cười, không đáp lại. Vợ ông thường nháy mắt, nhìn ông che dấu nụ cười bí mật. Người em ông nói:

-"Theo tôi, thì không có ai già, và cũng chẳng có ai trẻ. Già hay trẻ, là một khái niệm rất tương đối. Hồi tôi mười bốn, mười lăm tuổi, thấy các chị hàng xóm mười bảy hay mười tám tuổi là đã già khú đế. Già như sắp mua hòm được rồi. Thế mà khi tôi sáu mươi tuổi, tôi thấy các bà năm mươi là trẻ, và các bà bốn chục tuổi là bọn con nít. Thế thì già hay trẻ, không phải tùy theo số tuổi của họ".

Ông Hai nói, có một lúc nào đó, con người trở nên già. Nầy nhé, mỗi khi đi ra đường, nếu chỉ thấy các bà già nhìn mình, mà các cô gái trẻ không dòm mình nữa, thì phải hiểu là mình đã già rồi. Lại nữa, mỗi sáng đứng trước gương, thấy trán mình cao hơn, tóc rụng nhiều, đừng tưởng mình trở nên thông thái, mà phải biết đó là dấu hiệu già. Nếu mình thấy mọi người dường như trẻ lại, thì chính mình già đã đi, vì mình so sánh thiên hạ với cái bóng của mình trong gương soi mỗi ngày.

Ông nói, tuổi già báo hiệu khi sinh lý bắt đầu yếu. Nhịp độ "gần gũi" của vợ chồng thưa dần. Và đôi khi cố gắng làm vừa lòng bà vợ theo định kỳ, mà không có hứng khởi. Những khi đó, nếu bà vợ gạt ra, không cho gần gũi, thì trong lòng lại mừng húm, vì có cái cớ để không làm tròn "bổn phận" mà không áy náy. Ông nói, bực nhất là những lúc mình đang hăng, đang nóng máu, sắp xáp chiến, mà bà vợ cứ cằn nhằn về những chuyện không đâu, như cái hàng rào bị gió vật nghiêng, cây hoa hồng lá bị bạc mốc, con chó bị rận bọ chét. Thế là cả cái thân già nó xìu xuống như cọng bún thiu. Chẳng làm ăn chi được nữa cả. Đành bỏ cuộc vui nửa chừng. Khi còn trẻ, vào những lúc sắp gay cấn như thế nầy, thì dù cho sét nổ trên đầu, cũng không nghe, không biết.

Có người hỏi ông sao không dùng viên thuốc thần kỳ, làm cho vợ chồng vui như thuở ba mươi. Ông nói, đừng tin mà chết sớm, đau tim mà dùng thuốc nầy, thì lăn đùng ra mau lắm. Hồi trước, ông cũng xin ông bác sĩ cho toa thuốc nầy, bác sĩ ấy không chịu. ông cũng hơi giận, nhưng bây giờ thì cám ơn, vì biết được cái nguy hại của nó. Vui chốc lát, mà bỏ mạng, lãng nhách. Theo ông, thì vợ chồng già, ghiền cái hơi của nhau hơn là chuyện vật nhau lăn lộn trên giường. Chỉ cần luồn tay vào áo bà vợ già, mà tìm trái mướp, cũng đủ làm cho bà ấy vui rồi.

Nói về cái tai điếc, ông nói:

-"Có một lúc nào đó, mình nghe nhạc, cứ tưởng là các anh chị ca sĩ dạo nầy không còn hát hay như ngày xưa. Không phải vậy đâu. Thời nào cũng có ca sĩ giọng hay. Nghe không hay vì cái tai mình đã nặng, lãng. Rồi cứ tưởng nhạc dở. Đó là dấu hiệu già. Nhất là khi nghe truyền thanh, truyền hình, thì con cái, hàng xóm, cứ than phiền mở âm thanh quá lớn. Theo mình, âm thanh như vậy chỉ vừa đủ nghe, mà họ bảo oan cho mình là quá lớn".

Ông Hai nói với một bạn già rằng, khi già, lãng tai, điếc tai cũng có cái lợi lớn. Là khi nào vợ nói lời êm ái, dịu dàng, yêu thương, thì nghe cho sướng tai. Khi nào bà trở chứng trách móc, chê bai, than vãn, nói nặng lời, thì cứ nhè-nhẹ gỡ cái máy trợ thính ra, chỉ thấy bà nhóp nhép cái miệng, trông tức cười lắm. Không nghe, thì không bực mình, không giận hờn, mà còn cười, đôi khi nụ cười rất rạng rỡ, cười rất dễ thương nữa. Bà vợ nói như gió vào phòng trống, thấy ông chồng không giận, mà còn cười vui, thì đành im miệng cho đỡ tốn hơi. Và đôi khi còn thương thêm, vì tưởng ông chồng khéo nhịn.



Nhưng một ông bạn khác, nói rằng, khi bà vợ trách móc và thở than, thì để bà ấy nói, cho xả ra, nhẹ bớt bực tức trong lòng. Bởi vậy, mỗi khi vợ ông than vãn, trách móc, thì ông mừng và lắng nghe. Nếu bà ngưng nói, thì hỏi rằng em có gì cần nói thêm, than vãn thêm không, hãy nói cho hết đi, anh nghe đây. Thế là bà dịu xuống, và bà cảm thấy hơi quê quê, nên thôi.

Ông Hai nói, khi già, mắt yếu, cầm cuốn sách lên, là móc túi tìm cái kiếng. Không có kiếng thì đành chịu thua. Khi đó, mình ít đọc sách hơn ngày xưa. Rất nhiều bạn ông than phiền rằng, dạo nầy, sách vở, báo chí họ in chữ nhỏ hơn, khó đọc. Không phải đâu. Mắt mình mờ, kém, chứ không phải chữ in nhỏ lại. Mấy anh trẻ hỏi ông có bực vì mắt kém không, ông Hai nói rằng, việc chi mà bực? Phải mừng chứ đừng bực. Mừng và cám ơn khoa học tiến bộ, giúp cho mình còn thấy rõ hơn, nghe rõ hơn, mà nếu mình sống mấy trăm năm trước, thì đã mù loà, và điếc đặc rồi. Dù cho nghe ít, thấy không rõ hoàn toàn, nhưng có thấy, có nghe , đã là quá quý rồi. Tuổi đã cao, mà còn thấy được người thương yêu, con cháu, bạn bè. Còn xem truyền hình, phim truyện, thì đã nhận được rất nhiều ân phước của trời ban cho. Phải biết cảm nhận và cám ơn trời

Bây giờ, đi đâu xa ông cũng ngại. Đi du lịch, điều nghĩ đến trước tiên của nhiều người già như ông, không phải cảnh đẹp, điều hay, cái lạ, mà nghĩ đến cái cầu tiểu. Không biết nơi đó có hay không. Cứ vào quán xá, hội trường, thì có thói quen, trước tiên là xem cầu tiểu nằm đâu. Quán nào mà không có cầu tiểu, thì đừng hòng có nhiều ông bà già bước vào. Ông rất sợ mai đây xui xẻo, người ta tôn ông lên làm lãnh tụ. Vì thấy mấy ông lãnh tụ đứng đọc diễn văn, họp báo, duyệt binh, diễn hành, đứng hàng giờ, phải nín tè, khó chịu, mệt và khổ lắm. Ông cũng rất ngại ngủ nhà lạ, cứ nửa đêm, nhiều lần mò mẫm trong bóng tối dậy đi tiểu. Xối nước ào ào làm người khác mất ngủ. Chưa kể lạ nhà, đêm tối, lạc đường mở lầm cửa phòng vợ, con người ta, thì cũng bẽ bàng.

Một lần, bà vợ đè đầu ông xuống mà nhuộm tóc cho ông. Mấy hôm sau, lên xe công cộng, ngồi vào ghế dành cho người cao niên. Ông thấy có một "lão trượng" đứng nhìn ông chằm chằm, như ngầm hỏi, sao không nhường ghế ngồi cho người già cả. Ông đoán chắc, chín mươi phần là "lão trượng" kia còn nhỏ tuổi hơn ông. Ông cứ ngồi lì, làm lơ. Nhưng khi thấy hành khách chung quanh nhìn, như thúc dục, như nhắn nhủ bằng ánh mắt khó chịu, thì ông nhột quá, đứng dậy nhường ghế cho lão trượng kia. Ông nghĩ, không lẽ phải thét lên là tôi còn già hơn lão, và không lẽ phải móc căn cước ra mà chứng minh?. Thôi thì đứng dậy, cho bớt nhột và ngượng ngùng. Rồi tự an ủi rằng, đứng cũng là một cách tập thể dục tốt.

Khi có ai hỏi tuổi, ông Hai Hô cũng tự cộng thêm gần chục năm. Thế là thiên hạ rối rít khen trẻ, xít xoa hỏi làm sao mà giữ được trẻ trung như thế. Ông cười, nói đùa rằng, cứ theo đúng lời dạy vàng ngọc của người xưa để lại, là "đêm bảy, ngày ba" cho khí huyết lưu thông, điều hoà, thì cơ thể trẻ trung mãi. Ông nói rằng, nếu có khai trụt đi năm ba tuổi, cũng chẳng có lợi ích gì, vì mình đâu có toan tính chinh phục, tán tỉnh ai. Khai trụt tuổi, đôi khi người ta còn chê, là trông già trước tuổi.

Lại nữa, phong tục của mình, là kính trọng người lớn tuổi. Nhưng các bà, các cô thì khi nào cũng dấu tuổi, cứ 18 tuổi thì khai là 16, khi 20 khai là 18, và lúc 23 khai là 20. Cứ khai trụt vài ba tuổi, và cảm thấy sướng khi được người khác tin. Khi phải đoán tuổi, ông thường rộng rãi hạ xuống cho các bà, các cô từ năm đến bảy tuổi, để họ sướng, mà ông không mất chi cả, cũng là làm một điều thiện nho nhỏ trong ngày, làm cho người khác vui, yêu đời hơn.

Dạo sau nầy, khi ông ăn uống, thường thức ăn bị đổ vung vãi. Nhiều lần ông tự bảo là cẩn thận. Nhưng hình như cái tay nó không hoàn toàn theo mệnh lệnh của cái đầu nữa. Đưa cơm vào miệng không gọn gàng, cứ rớt ra vài chút. Đôi khi tay run, mà ông không biết. Ông cho đó là dấu hiệu của tuổi già. Nhiều lần bà vợ ông nhăn nhó, la nạt, vì làm đổ thức ăn. Một lần ông nhớ lại câu chuyện đứa bé đẽo cái chén gỗ, cha mẹ hỏi đẽo làm gì, nó nói là để sau nầy cho cha mẹ ăn, như cha mẹ đã cho ông nội ăn chén gỗ. Ông nhỏ nhẹ nói với vợ rằng, nhờ bà đẽo cho ông một cái chén gỗ, rồi mỗi bữa dọn cho ông ăn sau viả hè, bên thềm. Nghe thế, bà vợ nhìn ông một lúc lâu, rồi rưng rưng nước mắt.

Từ đó, bà hết cằn nhằn khi ông làm đổ thức ăn. Ông hay quên. Đôi khi đi xuống nhà kho, mà ngẩn ngơ không biết định xuống để làm gì. Quên trước, quên sau. Một bạn già của ông nói, nếu "cái đó" mà ông trời không bắt dính chặt vào người, thì có khối ông già để quên trên xe buýt, trên tàu điện, ngoài công viên, và khi cần đi tiểu, thì chạy quanh, quýnh lên, mà tìm không ra.

Còn triệu chứng khác nữa, là làm biếng tắm, đôi khi hai ba ngày ông chưa tắm. Cứ nghĩ là có làm chi dơ đâu mà phải tắm. Nhưng rồi nhận ra, thì tuổi gìa sợ lạnh, nhạy cảm với cái lạnh, nên ngại tắm. Vì thế mà có nhiều cụ già có mùi, họ đâu biết. Ông phải rán tập thói quen, nóng lạnh chi cũng rán tắm mỗi ngày một lần, ngoại trừ trường hợp đặc biệt.

Bà mẹ ông 92 tuổi, đi ăn tiệm, cắn càng cua-rang-muối nghe rau ráu. Thực khách trong tiệm tròn mắt ra mà nhìn. Còn ông, thì ngay cả bánh mì mềm của Mỹ cũng không dám cắn, dùng tay xé nhỏ ra rồi bỏ vào miệng. Bà mẹ ông, ăn uống không kiêng cữ chi cả. Thịt heo quay, vịt quay, cá chiên, gà chiên, bún bò giò heo, phở, nước béo, các thứ độc địa đều ăn tuốt. Thế mà bà không cao mỡ, không cao máu, dù thân thể tròn quay. Cái đó cũng nhờ trời cho. Nhiều bác sĩ cũng khuyên bà, cứ ăn uống thả dàn, cho sướng cái miệng, đừng kiêng cữ làm chi nữa khi ở cái tuổi nầy.

Nhiều ông bạn ông, kiêng khem kỹ lắm, kiêng đủ thứ. Họ xem ba thứ sau đây ngang hàng với thuốc độc: Ngọt, mặn và béo. Họ ăn lạt, không dám ăn đường, ăn béo. Thấy đồ chiên, là họ đã tái mặt. Họ ăn mãi quen miệng, và thấy các thứ thức ăn không mùi, không vị kia cũng ngon. Bởi khi đói, thì cơm thiu, cơm cháy cũng thành ngon. Có kẻ bảo, uổng quá, phí thức ngon của trời cho. Nhưng những người kiêng cữ nầy nói rằng, không tội chi đem chất độc vào người, rồi bệnh hoạn, hối không kịp.

Một ông bạn cho ông Tư biết rằng, theo nghiên cứu của đại học Rockefeller, thì có ba điều kiện để cho người già khỏe mạnh và ít bệnh là: 1) ăn bằng một nửa của bữa ăn bây giờ, 2) thể dục thường xuyên, và 3) làm tình đều đều. Ông không tin, và cho rằng, cái đó chỉ đúng cho người Mỹ mà thôi. Mỗi bữa, họ ăn miếng thịt to bằng bàn tay, một bữa ăn của họ, mình có thể ăn ba bốn ngày mà chưa hết. Nếu mình chỉ ăn bằng một nửa của bây giờ, thì sẽ suy dinh dưỡng, sớm đau ốm mà chết. Còn chuyện thể dục thường xuyên, thì đúng trăm phần trăm. Phần làm tình đều đều, có lẽ không ai chắc, vấn đề là còn làm được hay không, mà còn đòi đều đều. Mình cứ ăn bình thường, đừng ăn quá no, cũng đừng ăn đói. Cứ theo cái đạo trung dung của người xưa đã bày ra từ mấy trăm năm nay. Rượu chè, nếu uống được, thì uống vừa vừa, cũng tốt cho sức khoẻ. Đừng say sưa là được. Lâu lâu cũng rán vui vợ, vui chồng cho khỏi lạt lẽo. Ông Hai đã chữa bệnh biếng ăn cho nhiều bạn bè rất công hiệu. Đó là đừng ăn vặt, và chờ cho khi thật đói mới ăn, chưa đói rã thì chưa ăn. Như vậy thì ăn gì cũng thấy ngon.

Ông có quan niệm phóng khoáng hơn về sự sống và cái chết. Ông cho rằng, chết là một tiến trình của đời sống, hợp với luật thiên nhiên của tạo hóa. Sợ chết là vô lý. Không ai tránh khỏi cái chết, không sớm thì muộn. Ai cũng sẽ chết cả. Ngay cả Phật, Chúa, thần thánh cũng phải chết, huống chi mình là người trần mắt thịt. Chúa Giê-Su chết lúc mới 33 tuổi. Phật cũng chết, thọ không bằng các ông, các bà cụ bây giờ.

Cứ thử nghĩ, nếu già mà không chết, thì bây giờ trên thế giới có đến hơn chín mươi phần trăm cụ già, cụ nào cũng mấy trăm tuổi, mấy ngàn tuổi, ho hen, run rẩy, chậm chạp. Lấy ai làm lao động mà nuôi các cụ?. Nhân loại sẽ đói cho vêu mỏ ra. Già thì phải chết để cho thế giới dược trẻ trung hoá. Khi nào anh chị nghe tin một người già chết, mà lòng không buồn, không thương tiếc, thì anh chị được giác ngộ rồi đó. Có chi mà buồn?. Nếu người chết không để lại một gánh nặng gia đình, một đàn con dại cần nuôi dưỡng, dạy dỗ, một bà vợ chân yếu tay mềm, thì mừng cho người ta thoát được cái hệ lụy của trần gian. Khỏi lo công ăn việc làm, khỏi lo nhà cửa, khỏi lo thương ghét, ghen tuông, giận hờn, khỏi lo khai thuế cho đúng hạn kỳ. Khoẻ ru.

Nếu người chết đã cao tuổi, trong nhiều năm nằm một chỗ, không nói năng, bại liệt, ăn bằng cách bơm qua ống nối với bao tử, nghe họ chết mà mình khóc lóc, tiếc thương, bi ai, thì hoá ra là không biết điều. Muốn người ta bị kéo dài thêm cái cực hình đó lâu hơn nữa, rồi mới được chết sao?. Nhiều khi, con cháu mừng cho thân nhân họ được chết, mà mình thì sụt sùi thương tiếc.

Ông thường nói, trong tuổi già, sức khoẻ là quý nhất. Nhưng nếu ai đó, có sức khoẻ tốt, không hề đau ốm, thì cũng là một sự nhàm chán. Họ đâu biết họ đang có cái quý báu nhất trong đời. Lâu lâu, phải đau vài trận, để nhắc nhở, và nhớ rằng, không ốm đau là sung sướng, là hạnh phúc lắm lắm. Làm sao bọn trẻ, và những người khoẻ mạnh biết được cái hạnh phúc, cái sung sướng của người già, khi buổi sáng ngủ dậy, mà thân thể không đau rêm, nhức nhối?

Cũng như nếu người ta chưa sống dưới chế độ kềm kẹp, hà khắc, thì làm sao biết được nỗi sung sướng khi được đặt chân lên miền đất tự do? Nên quan niệm rằng, với sức khoẻ nào cũng tốt cả, đừng so sánh với trường hợp tốt hơn. Cứ vui với cái sức khỏe mà mình đang có. Được khoẻ nhiều thì sướng nhiều, khoẻ ít, cũng sướng hơn, vì chưa đến nỗi tệ hại lắm. Nhớ đi khám bác sĩ đều đều, để khám phá ra bệnh, kịp thời chạy chữa. Một người bạn ông cho biết, không dám đi khám bệnh thường niên, vì sợ "bói ra ma, quét nhà ra rác". Thế nào bác sĩ cũng tìm ra bệnh nầy, bệnh nọ trong cơ thể và thêm lo. Cứ để thế, rồi khi bệnh nặng thì chết. Bà vợ ông nầy khổ sở lắm, nhưng không thuyết phục ông được. Ông còn nói, bác sĩ thường cho uống thuốc chữa bệnh nầy, thì sinh ra thêm bệnh khác nữa. Hoặc bác sĩ chẩn đoán sai bệnh là thường. Có người đọc báo cáo y khoa, cho biết trên nước Mỹ, mỗi năm có đến hai trăm ngàn người chết, hoặc thương tật vì bác sĩ kém hiểu biết, hoặc sơ suất gây ra.



Theo ông Hai Hô thì đừng sợ. Vì bác sĩ giỏi nhiều hơn bác sĩ dở, và bác sĩ có lương tâm nhiều hơn bác sĩ thiếu lương tâm. Đừng vì một số trường hợp xấu, mà sợ đi khám bệnh. Khám bệnh, để biết trước mà đề phòng, để chữa trị khi bệnh mới chớm, còn kịp, chữa trị dễ dàng hơn. Để ung thư ăn tràn lan ra rồi, thì chỉ có phép lạ, mới cứu được. Người ta, có thể mạnh khỏe cho đến khi chết. Đó là trường hợp hiếm hoi. Nhưng đau yếu trong tuổi già là thường, không đau yếu là bất thường. Có một người than rằng, cứ đi vào, đi ra trong nhà hoài, chán quá.

Ông Hai bảo rằng, được đi vào đi ra như thế là sướng lắm rồi, sao mà chán, vì có nhiều người khác mong được đứng dậy đi vài bước, mà không làm được, vì bệnh. Nhưng theo ông, thì cái người nằm liệt trên giường, cũng tìm được cái thú vui riêng, khi nghe nhạc, nằm mơ mộng, nghĩ đến các kỷ niệm thời còn vàng son, nhớ đến những tội lỗi nho nhỏ mà họ đã phạm một cách cố ý và thích thú.

Ông Hai Hô tập thể dục đều đặn. Ông nói không ai chối bỏ được ích lợi của thể dục, dù già dù trẻ. Không bao giờ trễ để bắt đầu tập thể dục. Không thể dục, thì tấm thân nhão nhẹt ra, rất dễ làm mồi cho bệnh hoạn. Đi bộ trong tuổi già là tốt nhất. Còn khoẻ, thì đi nhanh, yếu thì đi chậm hơn, yến hơn nữa, thì chống gậy mà đi. Có vận động là tốt. Đi bộ, xương đỡ rỗng, đỡ gãy tay chân khi vấp té. Đi bộ cũng làm cho mặt mày trẻ ra, lưng đỡ còng, thân thể đỡ đau đớn, mệt mỏi. Đi bộ cũng vui, nhất là đi với vợ, với chồng, nói đủ thứ chuyện vui buồn.

Nhưng khi bà vợ bắt đầu cằn nhằn vì những chuyện không đâu, thì phải giả vờ chạy, để bà lại phiá sau, cho bà nói với cột đèn, cằn nhằn với cây cỏ. Không có vợ đi cùng, thì đi với bà cụ hàng xóm cũng vui. Bà sẽ không bao giờ dám cằn nhằn ông vì những chuyện không đâu. Bà sẽ lịch sự hơn. Đi với bà hàng xóm, ông bảo, đừng sợ thiên hạ hiểu lầm, cũng đừng sợ chính bà ấy hiều lầm. Không hiểu lầm thì tốt. Hiểu lầm thì càng tốt hơn, vì làm cho bà ấy vui, làm bà nghĩ là còn sáng giá, còn có người ngưỡng mộ đến cái nhan sắc mùa thu của bà. Bà sẽ yêu đời hơn, sẽ ăn ngon, ngủ được, thế thì ông cũng đã làm được một điều thiện nho nhỏ. Ông nói, ông được nghe chuyện một bà cụ 88 tuổi, bà nói rằng, phải đi bộ, phải tập thể dục để chống lại bệnh hoạn. Mỗi ngày bà đi bộ hơn một giờ. Bà nói rằng:

-"Mình phải biết tự thương mình. Con cái có thương mình, chúng có thể cho tiền bạc, quà cáp, chứ không cho mình sức khỏe được. Mình phải tự lo lấy, để mà sống cho vui, sống cho có chất lượng."

Ông nói rằng, thể dục làm tăng tuổi thọ, chứ không làm giảm. Ngoại trừ ham tập, tập quá sức, thì lăn kềnh ra mà chết, mau lắm. Bơi lội là tốt nhất, vận động đủ các thứ bắp thịt. Nhưng tuổi già, thường sợ nước, sợ lạnh. Cái gì sợ thì không nên làm, hại cho sức khoẻ, hại thần kinh.

Mỗi lần nghe có người than là mất ngủ, ông thưòng nói say sưa về bệnh nầy. Theo ông thì những người nầy, đã ngủ đủ, ngủ thừa, nên không ngủ thêm được, mà tưởng là mất ngủ. Vì ban ngày, họ cứ thấy mệt, mắt ríu lại, là ngủ những giấc ngắn. Nên biết, ngủ một giấc chùng 15 phút lúc ban ngày, có thể tương đương với một giấc ngủ 1 hay 2 giờ ban đêm. Mỗi đêm, người bình thường, chỉ cần ngủ ngon chừng 3 hay 4 giờ là đủ mạnh như gấu bắc cực. Nếu không ngủ ngày, thì đêm về ngủ dễ lắm. Không phải tuổi già là mất ngủ, bằng chứng cho thấy chó mèo già ngủ li bì, ngủ ngày, ngủ đêm, ngủ liên miên. Người già dư thì giờ, ban ngày ngủ rồi, thì ban khó ngủ là chuyện thường.

Ông thường nói rằng, đừng sợ mất ngủ. Khi không ngủ được, thì dậy đọc sách, viết thư, làm thơ, xem truyền hình, gõ máy vi tính, đọc thư bạn bè, hãy tận hưởng cái thời gian quý báu đang có. Rồi chờ cho thật buồn ngủ, không thức nổi nữa, vào giường nằm, sẽ ngủ được ngay, và ngủ một giấc ngon lành cho đến sáng. Đừng ép giấc ngủ, ép giấc ngủ sẽ khó ngủ hơn. Cũng đừng uống thuốc ngủ. Đại kỵ. Uống thuốc ngủ nhiều, làm hư hại hệ thống thần kinh. Đừng nằm nhắm mắt mà đếm cừu, nếu phải đếm, thì đếm những người tình cũ. Mau ngủ hơn. Nếu đời chỉ có một hai người tình thôi, thì đừng đếm một hai, một hai, không có lợi. Hoặc nằm mà hát trong trí những bài ca du dương, đẹp, gợi nhiều kỷ niệm êm ái, thân thương.



Bà chị ông, cứ than phiền là mất ngủ, nhưng khi đi chơi, cứ leo lên xe thì quẹo đầu ngáy khò khò, ngủ suốt buổi, suốt ngày, ngủ mà quên xem phong cảnh. Ngủ như thế thì no rồi, dư rồi, nên khi đến khách sạn, thì làm sao mà ngủ thêm được nữa. Bà chị nói, đi chơi xa sợ mất ngủ. Bà ấy thực sự ngủ nhiều hơn ai cả, mà bà tưởng là mất ngủ. Một chị khác than là mất ngủ kinh niên, ghé nhà ông chơi. Ông nói là sẽ chữa bênh mất ngủ cho chị. Ông dẫn chị kia đi chơi, suốt ngày lội bộ, chị vừa đi vừa ngủ gật, ông không cho ngủ. Ông nhờ hết việc nầy qua việc nọ, không để chị có thì giờ mà ngủ gật. Đêm không cho đi ngủ sớm. Mới mười giờ đêm, mệt quá chị năn nỉ xin đi nằm, và đánh một giấc ngon lành dài đến sáng hôm sau.

Trong mấy hôm liên tiếp đêm nào chị cũng ngủ li bì, ngủ ngon, không cần thuốc thang chi cả. Ông truyền bí quyết, là không ngủ ngày, mệt mấy cũng không ngủ, ban đêm đừng đi ngủ sớm, phải chờ cho mắt ríu lại, mở không ra, mới đi ngủ, thì ngủ ngon."

Nhiều người già tự đặt cho họ một kỷ luật để sống. Theo ông, thì có kỷ luật cũng tốt, mà không kỷ luật lại càng khỏe hơn. Nhiều người tính tình nghiêm khắc. Mọi sự đều phải răm rắp đúng như quy định mới chịu. Tội chi vậy, nếu không răm rắp, mà không chết ai, hại ai, thì răm rắp làm chi cho khổ mình, khổ người? Nên dễ dãi với mọi sự, dễ dãi với chính bản thân mình, kẻo tội nghiệp nó. Khắc kỷ cũng là điều hay. Nhưng tội gì mà tự khắt khe với chính mình, người khác không khắt khe thì thôi. Nên cứ xem mọi sự như trò chơi. Chơi vui nhiều thì tốt, vui ít cũng tốt luôn. Ông không mong cái tuyệt đối, hoàn hảo.

Trong một cuộc chơi, ông không hy vọng được tất cả mọi người tham gia, có ít vui ít, có nhiều vui nhiều. Hai ba chục người cũng vui, mà năm bảy bạn bè cũng vui luôn. Nếu hụt một cuộc chơi, một cuộc gặp gỡ, ông cũng không tiếc, chẳng sao cả, ông về nhà mở nhạc, mở TV ra mà thưởng thức. Ông nghĩ, được thêm một dịp nghỉ ngơi, yên tĩnh. Có lần đi trể máy bay? Ông bình tĩnh xin đi chuyến sau mà không được. Ông cũng cười, không bực mình, quay về nhà, pha một bình trà, đem một tập thơ ra mà ngâm vịnh, nằm ngửa mà thưởng thức cuộc tranh tài thể thao. Ông nói, đôi khi nhờ trễ một chuyến may bay mà sống sót, nếu máy bay rớt. Chiều ra ngoài quán uống cá phê xem sinh hoạt phố phường. Nói chuyện tào lao với chủ quán.

Ông không bao giờ tranh luận gay gắt với ai. Ông nói, tranh luận làm chi cho mệt, rồi giận nhau?. Trong tuổi già, khi có cuộc tranh luận, thì tránh là tốt nhất. Nếu không tránh được, thì chịu thua đi, thắng làm chi, để cho đời ngắn lại? Thắng tranh luận, làm thiên hạ ghét, làm mất lòng bạn bè, làm người bị thua tức giận, và nóng mặt, không ưa mình. Không ai ghét người thua trong cuộc tranh luận. Người thắng cuộc, dễ bị ghét hơn. Thử đánh một ván cờ xem, nhường cho đối phương thắng, làm họ vui hơn, không chừng mình đưọc đãi đằng hậu hỉ hơn.

Đến nhà người ta, mà cãi nhau, tranh thắng, làm họ mất mặt với vợ con, với bạn bè, thì đừng mong chi được tiếp đãi thắm thiết. Khi thua, mình không thiệt thòi, mất mát chi cả, mà lại được thương, tại sao không chọn tình thương, mà chọn cái bị ghét. Thắng tranh luận, cũng chưa chắc mình đã giỏi hơn người, mà giỏi hơn để làm chi? Và cũng chưa chắc ngưòi ta đã chịu cái lý của mình là đúng. Trong tình vợ chồng cũng vậy, nhiều ông nhiều bà tranh hơn thua từng ly, từng tí, cãi vả nhau tưng bừng về những điều không ích lợi chi cho ai cả. Rồi giận nhau, nói nặng nhau, làm nhau đau đớn vì lời nói thiếu tử tế, thiếu lịch sự. Có ích lợi gì đâu. Tranh nhau thắng thua, làm sứt mẻ hạnh phúc gia đình, làm mất đi thì giờ quý báu bên nhau, làm không khí gia đình nặng nề. Đừng bao giờ nói là phải làm cho ra lẽ, không thì hoá "lừng". Hãy cứ để cho chồng mình, vợ mình "lừng" đi, cho họ sướng. Tại sao đi ra ngoài, không dám "lừng" với thiên hạ, mà về nhà lại "lừng" nhau làm chi cho mất vui.

Ông thường nói, cứ chịu thua đi là khoẻ nhất. Ông đã thua, thì không việc chi mà ai đó gây hấn thêm. Đúng hay sai, ông tự biết. Không cần tranh luận nhiều. Có tranh luận, thì cũng chưa chắc đã thuyết phục được đối phương mà không gây mất mát. Mỗi lần phải tranh luận với ai, thì ông nhớ lại chuyện ông Pol Pot. Ông nầy đã giết chết hơn hai triệu dân vô tội, tức khoảng một phần ba dân số Kampuchia của ông thời đó. Thế mà cuối đời, khi sắp chết, ông Pol Pot nói với một phóng viên Tây phương rằng, những điều ông đã làm, là lợi ích cho dân tộc của ông. Nhớ chuyện đó, làm ông đỡ ngứa miệng xen vào những cuộc tranh luận.

Khi có ai chê bai ông, ông chẳng bực mình, không giận hờn, mà cứ cười, và xem như không. Ông tự nhủ, biết đâu ông cũng đáng chê, đáng trách. Nghe thiên hạ chê, để mà sửa mình, biết mình còn cái chưa hay, sai sót. Không phải ông là kẽ mặt dày không biết xấu hổ, nhưng thiên hạ chê, mà không phản ứng, thì như gió qua truông. Có một ông khác, bị vợ chê bai hoài, chê đủ thứ. Ông nầy chỉ cười, mà nói với bà vợ rằng, ông không ngờ bà xui xẻo đến thế, lấy phải một thằng chồng tệ hại như vậy, tội nghiệp cho bà quá. Bà vợ nghe mà chột dạ, và biết đã ăn nói quá trớn.

Khi nghe ai khoe khoang, ông cũng không bắt bẻ, không lật mặt thật của họ ra, sợ làm cho họ xấu hổ, bẽ bàng. Ông cứ giả vờ tin, để mà đãi họ vài phút vui sướng, cũng là làm được một việc thiện nho nhỏ. Ông không mất gì, và chẳng thiệt hại cho ai, mà cuộc đời nầy thêm vui, thêm tử tế. Bởi nghĩ thế mà ông làm.

Ông Hai Hô quan niệm rằng, trong tuổi già, có hoài bảo thì cũng tốt, mà không có hoài bảo chi cả, thì tốt hơn, và khôn ngoan hơn. Khi trẻ, nhiều thì giờ, nhiều năng lực, mà chưa có hoài bảo nào làm xong, thì khi già rồi, mong chi đạt được. Tội chi đeo vào thân cái hoài bảo cho khổ. Già rồi, đừng xem cái gì là quan trọng cả. Từ danh vọng, tiền tài, tình yêu. Ngay cả cái mạng sống của mình, cũng đừng xem là quá trọng. Có lần, ông đến thăm một nhà văn đang nằm thoi thóp, miệng ngậm một cái que gỗ có thấm nước cho đỡ khát, sắp chết vì ung thư. Ông nhà văn còn thao thức vì một tác phẩm để đời chưa khởi đầu được. Chết chưa an lòng. Ông nói:

-"Thôi bác ơi, chuyện gì mình chưa làm được, thì thế nào con cháu mình sau nầy cũng làm. Yên tâm mà dưỡng bệnh đi".

Ông Hai Hô cho rằng, cứ năm ba ông bà bạn già gặp nhau, uống vài ly trà, cà phê mà nói chuyện nhảm cũng là một thứ hạnh phúc trong đời. Ông nói, dù đến để nghe thằng bạn già nó chửi mình, cũng cứ vui, được người ta chửi, tức còn có người để ý đến mình, còn hơn là không ai khen, ai chửi cả. Những dịp ra mắt thơ, ra mắt sách, ông thường tham gia cho cuộc họp thêm xôm tụ. Cho tác giả sướng. Ông khoái các buổi ca nhạc cây nhà lá vườn, tài tử. Nó cũng có những cái hay của nó.

Những buổi họp mặt anh em bạn cũ, ông không bao giờ bỏ qua, ông nói là không tham dự thì uổng lắm. Ông cho rằng, tuổi già, mà còn gặp lại được bạn xưa, thì không còn gì quý báu hơn. Nằm nhà xem sách, xem truyền hình, đá banh, đâu vui bằng gặp bạn cũ. Gặp dịp vui, thì cứ vui kẻo uổng, biết mình còn sống được bao lâu nữa mà mãi phí ngày giờ chạy theo lợi lộc.

Mỗi khi có ai mời đi đám cưới, tiệc tùng, ông đến đúng giờ, mà thiên hạ tà tà đến trể, ông cũng không bực mình. Bởi người ta quen giờ cao su rồi. Họ có cả trăm ngàn lý do để biện minh. Ông có đến sớm, thì cũng có cái lợi khác, được nói chuyện, gặp gỡ, tâm sự tào lao với những bạn bè mà từ lâu ít có dịp gặp nhau. Cũng vui và quý. Dễ chi có cơ hội thuận tiện để gặp nhau. Đến khi dọn thức ăn ra, không còn cơ hội để nói chuyện nữa, vì ai nấy, lo gắp, lo nhai, không rảnh mà nói chuyện. Khi ăn xong, thì bạn bè vội vã ra về, vì đường xa, vì đêm khuya, vì mệt nhọc. Bởi vậy, ông cứ vui với cái bê bối của thiên hạ, và bằng lòng với câu "Không ăn đậu không phải Mễ, không đi trễ, không phải Việt Nam."

Ông Tư Hô thường nói, tuổi già, cứ phiên phiến với mọi sự, cho khoẻ, cho sướng cái thân già của mình.


Tràm Cà Mau.
Santa Ana, tháng 10/2007
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Cần Thăm-Nom và Săn-Sóc Nhau Lúc Còn Sống



Trong văn-chương Việt, bài thơ ‘Khóc Bạn’ của Nguyễn Khuyến đã lột được sự ân-cần và quí-mến bạn hết lòng trong khi bạn còn sống. Nguyễn Khuyến khóc Dương Khuê với tất-cả tâm-hồn và bằng tận-cùng của sự mến-thương luyến-tiếc: ‘Rượu ngon không có bạn hiền,/ Không mua không phải không tiền không mua./ Câu thơ nghĩ đắn-đo không viết,/ Viết đưa ai, ai biết mà đưa./ Giường kia treo những hững-hờ,/ Đàn kia gảy những ngẩn-ngơ tiếng đàn.’

Khóc như thế mới là khóc, thương như thế mới là thương! Khi sống chúng ta đối-đãi với nhau chân-tình và để ý săn-sóc nhau hết lòng thì khi bạn chết, việc khóc than, viếng đám ma, chia buồn, và an-ủi của chúng ta đối gia-đình của bạn mình mới có ý-nghĩa.

I. Sự Đời
Ngày nay, ở hải-ngoại này, có một số người vì bận-rộn với danh quyền lợi, họ đã để cho tình-cảm gia-đình và nghĩa bằng-hữu bị nguội-lạnh phai-mờ. Khi cha mẹ, anh em, và bạn-bè còn sống, họ chẳng chăm-nom thăm hỏi nhau mà còn lấy cớ này lý nọ để bào-chữa, chẳng hạn như: ‘bố tôi ghét tôi, mẹ tôi thiếu bổn-phận, anh tôi hư-hỏng, em tôi không nghe lời, bạn tôi ở xa quá, tôi bận-rộn mà lại ở xa họ quá, v.v. nên tôi không đến thăm họ được!’

Có những trường-hợp khi cha mẹ già yếu, con cái đã tìm cách đưa các cụ vào viện dưỡng-lão. Đây cũng là việc thông-thường ở Bắc-Mỹ này. Tuy-nhiên, trừ trường-hợp giữ các cụ ở nhà sẽ gây ra nguy-hiểm đến tính-mạng cho các cụ, cho gia-đình, và cho hàng-xóm thì không kể, nếu các cụ vẫn tỉnh-táo hay người nhà còn có thể trông-nom săn-sóc được mà đưa các cụ vào sống trong ‘nursing home’ thì thật tội-nghiệp cho các cụ.

Đã có những trường-hợp cha mẹ vì già yếu và bệnh-hoạn phải nằm trong nhà thương, con cái cả tuần mới tới thăm được một đôi lần. Các cụ nằm ‘chết khô’ không có người con nào ngó tới. Thế mà khi cha mẹ qua đời, con cái tổ-chức đám ma thật to, kẻ phúng người điếu nhộn-nhịp, khóc than kể-lể hết lời, mua loại hòm (săng) cho thật sang, xây mộ cho lớn, đắp bia cho đẹp, và làm lễ cầu-siêu cho linh-đình tốn đến cả mấy chục ngàn ‘đô-la.’ Có phải đây là cách để gột rửa sự tệ-bạc của mình đối với cha mẹ lúc còn sinh-tiền và che mắt thế-gian không?

Có trường-hợp, người đã chết được cả tháng trời mới thấy bản tin phân-ưu của bạn bè ở cùng một địa-phương xuất-hiện trên mặt một tuần-báo. Sự gần-gũi lui tới thăm nhau có thắm-thiết lúc còn sống không? Bản tin phân-ưu này có giá-trị gì ngoài sự mua danh lấy tiếng?

Có người khi còn sống bị ngay cả bạn thân của họ chê là kẻ có thủ-đoạn, thế mà khi chết, họ cũng được bè-bạn đăng lời phân-ưu. Vì ‘nghĩa tử là nghĩa tận,’ người ta thường tha-thứ và rộng-lượng với người chết nên cố nhờ đăng vài lời phân-ưu để được tiếng là cao-thượng. Đôi khi người ta đăng lời phân-ưu là để đạt một mục-đích khác nữa. Thật là một trò hề và giả đạo-đức!

Có người khó tính và chán-chường cho sự giả-dối của loại người nói ở trên đã thốt ra một câu thật chí-lý giống như lời Chúa Jesus đã viết trên cát trong truyện ‘Ném Đá’: ‘Bọn Giả-Dối!’

Ở Bắc-Mỹ này, tình gia-đình và bè-bạn không được thắm-thiết như ở Á-Đông ta nên người ta đã tự lo cho cái chết của họ một cách thật đầy-đủ, chẳng hạn như mua bảo-hiểm nhân thọ (Life Insurance) để khi chết gia-đình có tiền sinh sống và trang-trải ma-chay, nào đóng tiền trước cho nhà-quàn (funeral home) để họ lo đám ma của mình (prepaid funeral) mà khỏi cần nhờ đến ai. Thật là tiện-lợi hết chỗ nói.

Khi sống, người Bắc-Mỹ đã được hưởng mọi thứ tự-do thật xứng-đáng với nhân-phẩm con người. Khi chết họ cũng thoải-mái vì không phải lo cảnh ‘xẩy đàn tan nghé’ hay làm phiền-lụy ai.

Ngoài ra, vì người dân Bắc-Mỹ có đóng thuế và đóng tiền hưu nên chính-phủ có trách-nhiệm lo đám ma cho người dân. Chính vì thế, những người dân nghèo đã có cơ-quan xã-hội (social services) ở địa-phương lo đầy-đủ cả lúc sống cũng như khi chết. Khi nhà có người nằm xuống, nếu thân-nhân nộp đơn xin tiền trợ-cấp để lo đám tang thì cơ-quan xã-hội sẽ cấp cho họ một khoản tiền đủ để chi-dụng trong việc này.

Đối với những người có đi làm và có đóng tiền hưu thì khi chết họ được hưởng tiền tử-tuất, tối-đa khoảng 3 ngàn đồng tùy theo số năm đi làm và số tiền đóng cho quỹ hưu-trí. Tiền tử-tuất này do cơ-quan ‘National Health & Welfare, Income Security Programs’ cấp nếu thân-nhân hay người đại-diện nhà-quàn đứng tên xin.

Ở Bắc-Mỹ này không ai phải bó chiếu đem chôn một cách âm-thầm như người dân sống dưới chế độ Cộng-Sản tại Việt Nam. Mặc-dầu người dân được bọn Cộng-Sản tôn-vinh là ‘nhân-dân làm chủ,’ nhưng trong thực-tế, người dân bị bọn Việt-Cộng đối-xử rất tệ, thậm-chí không bằng con vật ở Bắc-Mỹ này.

II. Tại Sao Người Ta Phải Tổ-Chức Đám-Ma Cho Linh-Đình?

Có đám ma được gọi là quốc-táng do triều-đình hay chính-phủ đứng ra lo. Lá cờ quốc-gia được phủ lên quan-tài trong khi đưa đám. Đây là nghi-lễ chôn-cất của chính-phủ dành cho những người chết có công đánh trận hay tử-nạn trong khi phục-vụ quốc-gia. Ngoài ra, lá cờ của quốc-gia còn được kéo lên nửa chừng cột cờ ở khắp nơi trong nước, gọi là cờ rũ hay cờ tang. Đây là biểu-hiệu để tang người quá-cố đã có công đối với dân-tộc.

Có đám ma làm theo nghi-lễ tôn-giáo hay phong-tục cổ-truyền để tôn-vinh người chết về công-lao của họ đối với đạo-pháp và dân-tộc.

Có đám ma được tổ-chức linh-đình và trọng-thể do dân-chúng và các đoàn-thể đứng ra tổ-chức để tỏ lòng nhớ ơn người chết đã vì họ mà hy-sinh, và luôn thể để biểu-dương thế-lực phản-đối nhà cầm quyền đương-thời đã gây ra cái chết này.

Có những đám ma rất linh-đình do thân-nhân, bằng-hữu, và những người mến-mộ tổ-chức dành cho nhà báo, kịch-sĩ, ca-sĩ, nhà thơ, nhà văn, họa-sĩ, cầu-thủ, võ-sĩ, và nhà giáo, v.v. Trong đám ma này người ta đọc điếu-văn (bài văn đọc trong đám tang để tỏ lòng nhớ ơn và thương-tiếc người quá-cố) phát-biểu những kỷ-niệm đã có với người chết, và nói lên những công-đức của người quá-cố trong lúc còn sinh-tiền, v.v.

Sau đám ma, người ta còn tổ-chức các buổi cầu-nguyện và các buổi tưởng-niệm để vinh-danh công-đức người quá-cố cho mọi người lấy đó làm gương.

Có những đám ma của loại người giầu có để khoe của, khoe danh, khoe sang vì quen biết các ông to bà lớn, và để dễ-dàng cho con cháu sinh sống và làm ăn sau này.

III. Tại Sao Người Ta Hay Tỏ Ra Quan-Tâm và Ân-Cần Đối Với Một Người Khi Họ Sắp Chết và Sau Khi Họ Chết Hơn Lúc Còn Sống.

Thường thì vào dịp Tết, lúc năm cùng tháng tận, người ta hay rộng-lượng với nhau. Họ bỏ đi các dị-biệt (different) cùng các xích-mích đã có để cùng nhau tổ-chức Tết để đón mừng xuân và hy-vọng một tương-lai tốt-đẹp hơn trong năm mới. Cũng trong chiều-hướng này, khi biết tin thân-nhân và bạn-bè hấp-hối hay đã qua đời mà trước đó có khi cả hằng năm chẳng bao giờ họ liên-lạc với nhau, người ta nghĩ rằng lúc này họ nên bỏ ra chút thì-giờ để đến thăm người hấp-hối, nhìn mặt người chết một lần chót, hay gửi đăng đôi lời chia buồn trên báo-chí để chuộc lại thái-độ lạnh-nhạt trước kia. Đây là một cử-chỉ đẹp, biết ăn-năn hối-cải, và độ-lượng nhưng ý-nghĩa chẳng có bao nhiêu vì lúc sống đã chẳng ra gì thì còn kể chi khi đã chết.

Có trường-hợp người ta đi phúng-điếu là để trả nợ vì trước đây người mà nay qua đời hay bà con của người này đã đi phúng-điếu thân-nhân của họ. Trong một số trường-hợp khác, có những người cùng làm chung một sở hay ở cùng một nơi với nhau; khi ở cơ-quan hay hàng-xóm có người qua-đời, bạn-bè và người hàng-xóm rủ họ đi phúng-điếu thì họ đi, chứ chưa chắc họ thực-sự muốn đi. Danh-sách những người đăng trong mục tin phân-ưu cũng vậy; có nhiều trường-hợp, bạn-bè hay tòa-soạn tưởng mình chơi thân với người quá-cố nên họ tự-động thêm tên mình vào.

Một số người đã đối-đãi tệ-hại với bạn-bè, họ tưởng rằng nói vài lời an-ủi với người hấp-hối coi như chuộc lại cả một thời-gian dài không một lần thăm viếng hỏi-han. Họ đến phúng-điếu và chia buồn với tang-quyến chỉ là tỏ thiện-chí làm lành và gột-rửa sự lạnh-nhạt hay hiềm-khích với gia-đình người quá-cố trước đây. Đây cũng là một việc tốt nhưng chưa đủ.

Có nhiều trường-hợp, con cái tệ-bạc với cha mẹ và đối với cha mẹ không ra gì, nhưng khi cha mẹ sắp qua đời, họ quây-quần bên giường bệnh lúc cha mẹ hấp-hối để tỏ ra mình lo-lắng và thương-tiếc cha mẹ một cách tự-nhiên phát-sinh tự đáy lòng. Ngoài ra, họ còn quây-quần bên giường bệnh lúc cha mẹ hấp-hối với mục-đích để xem cha mẹ có dặn-dò (trối) cho mình tiền của gì không.

Những người con có hiếu thường tổ-chức đám ma cho cha mẹ rất linh-đình cốt để tỏ lòng hiếu-kính một cách chân-tình. Nhưng cũng có trường-hợp, các con làm đám tang cho cha mẹ một cách linh-đình để gột-rửa sự bạc-bẽo của họ đối với cha mẹ trước đây.

Đối với những người đến phúng-điếu, có nhiều trường-hợp người ta đến phúng-điếu chia buồn với tấm-lòng thành. Thái-độ của họ nói lên tấm-lòng sẵn-sàng giúp-đỡ cho tang-gia bất-cứ lúc nào và bất-cứ cái gì khi cần đến. Đời vẫn có những người tốt thực-sự và vô vị-lợi. Có người đến phúng-điếu vì họ đã từng ngưỡng-mộ và tôn-kính người quá-cố mà không có dịp nào được gặp tận mặt hay nói trực-tiếp được một lời trong lúc người ấy còn sống. Có trường-hợp, người ta thân nhau nhưng lười liên-lạc nên khi nghe tin nhau bị bệnh hay qua đời họ đã cố-gắng đến an-ủi hay chia buồn.

Một số người thân nhau, họ không để ý đến nhau khi còn sống và cho đây là sự bình-thường. Trường-hợp này cũng giống như người có tự-do sẵn rồi thì không thấy tự-do là quan-trọng. Đến khi mất tự-do, họ mới thấy tự-do là quí. Đối với mười ngón tay của ta, khi bình-thường ta không thấy ngón nào là ngón quan-trọng. Nếu vì lý-do gì mà bị cụt đi một ngón, ta mới thấy thiếu-thốn và bất-tiện như thế nào. Chính vì lý-do này người ta mới ân-cần thăm nhau khi bị bệnh, hay thương-tiếc nhau vô-cùng khi đã mất nhau.

Nói chung, đám ma có linh-đình hay không, lễ cầu-siêu có lớn hay không, và phần mộ có to và đẹp-đẽ hay không, tất-cả đều dành cho người sống và đều làm rạng-rỡ cho người còn sống. Chết là hết. Sau này có mâm cao cỗ đầy hay không cũng chỉ là dành cho người sống. Việc đối-đãi với nhau khi còn sống mới là quan-trong. Cần đùm-bọc thương-yêu và săn-sóc nhau lúc sống chứ đừng để đến khi thân-nhân hay bằng-hữu chết mới tỏ lòng thương-tiếc.

Nhiều người tin rằng cần tụng-niệm Phật A-Di-Đà để cầu xin vãng-sanh (qua kiếp trần-gian) về cõi Tây-Phương Cực-Lạc. Thật ra Cõi Tây-Phương Cực-Lạc đã ở tại trong lòng mình. Không có đất Phật ở đâu bên ngoài. Lục Tổ Huệ-Năng đã dạy: ‘Kẻ mê-muội thì niệm Phật cầu vãng-sanh về cõi bên kia, người tỉnh-ngộ chỉ làm cho tâm mình được thanh-tịnh. Người phàm-phu không hiểu rõ tánh Phật của mình, chẳng biết rằng Tịnh-Thổ hay Tịnh-Độ, tức là đất Phật, đã có sẵn nơi tâm mình và ngay tại nơi mình đang ở, nên cứ lo cầu Đông nguyện Tây. Còn người đã giác-ngộ rồi thì biết rằng đâu đâu cũng là Tịnh-Thổ, tức là chỗ nào cũng có Phật ở đó cả.’ Con người khi còn sống nên giữ tâm mình cho thanh-tịnh để biết bổn-tâm nhận rõ bổn-tánh thì sẽ giác-ngộ thành Phật, chẳng cần phải cầu vãng-sanh làm gì vì lòng ta là đất của Phật rồi.

Hãy trân-trọng thời-gian được sống gần nhau, hãy tu-tâm dưỡng-tánh khi mình còn sống chứ đừng cầu vãng-sanh về ‘cõi Tây Phương Cực Lạc.’
IV. Quan-Niệm Của Một Số Người Về Việc Ma-Chay

Chính vì thấy sự phiền-hà khi thân-nhân phải tổ-chức đám ma mà rất nhiều người khi sắp chết họ đã trối lại là không nên làm đám ma linh-đình, miễn phúng-điếu, miễn thăm-viếng. Họ không muốn làm phiền ai và chỉ yêu-cầu thân-nhân làm đám ma thật đơn-giản mà thôi.

Một số người thì chú-trọng vào việc ăn-ở tốt với nhau lúc còn sống, sẵn-sàng giúp-đỡ nhau, và sẵn-sàng lo sống chết cho nhau trong mọi hoàn-cảnh. Sống sao cho tình-nghĩa vẹn-toàn để khi không còn có nhau nữa, họ không có gì phải hối-tiếc. Đám ma lớn nhỏ không thành vấn-đề nữa. Phúng-điếu hay không cũng vậy. Họ không vì người đã chết mà làm phiền-hà người khác hay để cho người ta kiếm ăn trên xác chết của mình. Một số người khác tự lo trước cho cái chết của mình để khi nằm xuống họ không làm phiền người nhà.

Có những người, vì lợi-ích chung của nhân-loại, họ đã ký giấy hiến thân-xác mình sau khi chết cho các cơ-quan nghiên-cứu để làm phương-tiện cho sinh-viên trường thuốc học-hỏi. Ma-chay trong trường-hợp này không thành vấn-đề nữa. Không còn phải sợ cảnh ‘ma chê cưới trách.’ Đây là một hành-động thật là cao-thượng và vị-tha. Thật đáng được thán-phục! Có những người thực-tế hơn đã làm điếu-văn cho cha mẹ, vợ chồng, hay bạn-bè ngay khi những người này còn sống (sinh-điếu). Làm ‘sinh-điếu’ kiểu này thật là có ý-nghĩa vì khi còn sống mà được nghe thân-nhân hay bằng-hữu khóc mình, ta mới thấy cảm-động và thú-vị vô-cùng. Có những nhà thơ đã làm điếu-văn khóc vợ lúc vợ còn đang chung sống với mình. Sau khi nghe bài sinh-điếu, có bà đã khóc mùi-mẫn vì sung-sướng. Thật là cảm-động một cách chân-thành đầy ý-nghĩa và tuyệt-vời.

V. Kết-Luận

Nếu khi chúng ta còn sống mà không thăm-nom và săn-sóc nhau thì những hành-động làm ma-chay (lễ tống-táng người chết) cho linh-đình, phúng-điếu, và phân-ưu dành cho nhau khi có người qua đời, tuy có cần-thiết, nhưng vẫn mang tính-cách lừa-dối người và lừa-dối chính bản-thân ta, nó không có một chút ý-nghĩa nào cả.

Hãy thăm-nom, săn-sóc, và giúp-đỡ nhau lúc còn sống mới thật là có ý-nghĩa và hữu-ích. Có như thế thì việc làm ma-chay, phúng-điếu, và phân-ưu mới có ý-nghĩa. Chết là hết. Ta nên nhớ rằng tất-cả những gì người sống làm cho thân-nhân hay bạn-bè đã qua đời chỉ vì những người còn sống và giúp cho những người sống yên lòng mà thôi.

Tuy-nhiên, ta vẫn phải làm đám tang cho người qua đời, nhưng chỉ nên làm giản-tiện và làm những gì cần-thiết mà thôi

Khải-Chính Phạm Kim-Thư
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

CHỐNG NGƯỜI CHỐNG CỘNG

Những ngày tháng qua, người Việt tị nạn Cộng Sản tại 2 miền Nam Bắc California đã chứng kiến những chiến dịch tấn công tới tấp những người chống Cộng "có máu mặt", nổi tiếng như nhà thơ Nguyễn Chí Thiện và phi công Lý Tống là những người đã có những thành tích chống Cộng không ai có thể phủ nhận. Cũng vì các thành tích không thể phủ nhận đó mà họ bị tấn công mãnh liệt hơn, tàn bạo hơn, dù cho những người này phải chịu để lộ bộ mặt binh vực Việt Cộng giữa cộng đồng người Việt tị nạn Cộng Sản tại Hoa Kỳ nói riêng và tại khắp thế giới nói chung. Tại sao những người chống Cộng lại bị tấn công, nhất là trong lúc này và những người chống người chống Cộng là ai?

Phi công Lý Tống đã lập những thành tích chống Cộng cả thế giới đều biết, sự gan dạ đến liều lĩnh của phi công Lý Tống đã làm cho hầu hết những người Việt Nam cả trong và ngoài nước trên khắp thế giới thán phục. Ngay cả người ngoại quốc cũng rất thán phục, tuy nhiên cũng có người Việt Nam lại cho Lý Tống là điên. Chữ điên ở đây cũng tùy theo người nói mà có ý nghĩa khác nhau. Khi Tú Gàn gọi Lý Tống là "thằng điên" nó có nghĩa là một kẻ hành động không suy nghĩ, mục đích chỉ cần "nổi", cái điên không đáng điên vì mỗi khi "điên" thì Lý Tống lại nhắm những mục tiêu nguy hiểm cho Việt Cộng mà tấn công. Chữ điên này do những kẻ thân Cộng nói ra. Có người khác cũng gọi Lý Tống điên, vì Lý Tống có một tinh thần chống Cộng đến nỗi không nghĩ tới bản thân mình. Kẻ viết bài này không thân thiện với Lý Tống, luôn luôn kính nhi viễn chi, gặp trường hợp chạm mặt nhau thì bắt tay, chào hỏi rồi thôi. Vì quanh Lý Tống luôn luôn có người ngưỡng mộ. Tuy nhiên, với tôi, Lý Tống là một người chống Cộng tích cực và bây giờ, viết những dòng này cũng không phải để chỉ binh vực Lý Tống, vì Lý Tống bất chấp dư luận, ông ta chỉ làm theo ý ông ta. Đề cập Lý Tống trong bài này, tôi chỉ có mục đích nêu lên một trong những người chống Cộng mà những tay sai Cộng Sản nhắm tới trong chiến dịch thực hiện nghị quyết 36 theo lệnh chủ mà thôi.

Tại sao tay sai Việt Cộng lại đánh phá Lý Tống trong giai đoạn này?

- Một là để trả thù Lý Tống đã tuyệt thực, tuyệt ẩm khiến Chuck Reed, Madison phải nhượng bộ cộng đồng, chấp nhận Little Saigon là cái tên được đa số người Việt ưa thích. Vì vậy, khi Lý Tống qua Ðại Hàn để thực hiện một phi vụ chống Cộng khác, chúng nắm lấy cơ hội này để trả thù. Lý Tống đã thách chúng, chịu phí tổn để chúng đến Ðại Hàn kiểm chứng, chúng không chấp nhận, vì chúng biết chúng sẽ thua. Nhưng vẫn tiếp tục vu vạ Lý Tống!

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, tác giả tập thơ được tòa đại sứ Anh quốc tiết lộ và được xuất bản với tên Vô Đề rồi Hoa Địa Ngục. Đây là tập thơ đã làm "bể mặt" Cộng Sản Việt Nam. Là một bản cáo trạng tội ác của Việt Cộng qua những vần thơ với những thực tế không ai phủ nhận được. Ảnh hưởng của tập thơ này rất sâu rộng, tay sai Việt Cộng không thể nào "đả động" đến nội dung tập thơ, vì đụng đến nội dung thì lập tức chúng sẽ tự lột mặt nạ, đồng bào sẽ thấy bộ mặt tay sai Cộng Sản của chúng, do đó, chúng đánh cá nhân tác giả tập thơ. Tác giả tập thơ Hoa Địa Ngục khi chưa qua Mỹ, tay sai Việt Cộng đã "cá độ" rằng Việt Cộng mà cho Nguyễn Chí Thiện qua Mỹ, chúng sẽ dẹp tiệm, không hoạt động, nhưng rồi nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã qua Mỹ, chúng phớt lờ lời thách thức trước đó.


Vừa mới đặt chân đến Hoa Kỳ, tay sai Việt Cộng đã nhục mạ Nguyễn Chí Thiện làm phách, Nguyễn Chí Thiện chưa thấy quan tài chưa đổ lệ, v.v… Một tờ báo ngày ở San Jose đã mỉa mai nhà thơ Nguyễn Chí Thiện khi ông ta không nhận số tiền hơn 10 ngàn Mỹ kim mà bà Đỗ Mùi đã tổ chức tiệc gây quỹ cho ông ta. Bài báo được một nhà văn kiêm nhà báo đọc trên một đài phát thanh ở San Jose mà ai cũng biết là đài thân Cộng, tờ báo đăng bài này lúc đó, ai cũng biết là tờ báo phá hoại cộng động, mạt sát người chống Cộng. Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện muốn ban tổ chức dùng số tiền đó giúp từ thiện hay công cuộc chống Cộng. Thế mà cũng bị làm nhục, nào là rồi đây sẽ bị nhục nhã khi phải ngồi chờ workers, nào sẽ bị nhân viên xã hội hạch xách v.v… Đọc hoặc nghe bài viết này, ai cũng thấy, cũng biết, nhưng phần lớn cho là chuyện tự nhiên, báo, đài thân Cộng thì mạt sát, kiếm chuyện Nguyễn Chí Thiện là "phải rồi". Nhiều người đặt câu hỏi nếu Nguyễn Chí Thiện không phải là tác giả tập thơ thì chắc chắn chúng sẽ có luận điệu khác, nào là người biết thương người kém may mắn hơn mình hoặc người biết nghĩ đến công cuộc chung v.v…

Gần đây, trong lúc ở Việt Nam, Việt Cộng gặp nhiều chuyện rắc rối như vụ giáo xứ Thái Hà, vụ Việt Cộng xuyên tạc, bóp méo lời phát biểu của Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt làm cho cả thế giới ghê tởm bộ mặt thật của Việt Cộng, thì ở California này, một tờ báo đưa trở lại vụ Nguyễn Chí Thiện với tập thơ Vô Đề, chúng tạo những "vật chứng rất cụ thể" như đã giảo nghiệm chữ viết của Nguyễn Chí Thiện với chữ viết trong bức thư tiếng Pháp kèm theo tập thơ Vô Đề khi trao cho tòa đại sứ Anh, và chữ viết của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện hiện nay và "nhà giảo nghiệm" đã chứng thực là 2 chữ viết là 2 người, nghĩa là nhà thơ Nguyễn Chí Thiện không phải là tác giả tập thơ Vô Đề và nhiều "chứng cớ giả" khác.

Trong cuộc họp báo ngày 25.10.2008, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã nói thẳng với bà Hoàng Dược Thảo và cử tọa rằng cái mà báo Saigon Nhỏ cho là "đã giảo nghiệm" không ghi tên nhà giảo nghiệm, không địa chỉ, … nghĩa là bà Hoàng Dược Thảo chỉ "giảo nghiệm" bằng cách tự biên tự diễn. Các ông Nguyễn Chí Thiện, Nguyễn Công Giân, anh ruột ông Thiện, ông Nguyễn Sĩ Hưng, người ái mộ tập thơ Hoa Ðịa Ngục và để khỏi "vấp lầm mưu mô của Việt Cộng", ông ta đã đem giảo nghiệm tuồng chữ của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện chỉ một tháng sau ngày ông Nguyễn Chí Thiện đến Hoa Kỳ và bị báo Vạn Thắng đánh phá. Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã thách đố bà Hoàng Dược Thảo 200 ngàn đô để làm sáng tỏ sự việc, bà này không chấp nhận, có nghĩa là bà ta đã thua, "đã bỏ chạy". Thế nhưng, những kẻ đánh phá ông Nguyễn Chí Thiện vẫn tảng lờ, lại còn dùng những mưu mô, những tiểu xảo, nhất là những từ ngữ mà những kẻ đầu đường xó chợ cũng không dám dùng, để đánh phá nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, vu vạ những ai vì công đạo đưa ra những bằng chứng phản bác lại những luận điệu xuyên tạc của chúng. Luận điệu những tên tay sai Việt Cộng đưa ra là Nguyễn Chí Thiện không phải là tác giả Hoa Ðịa Ngục, trước đây thì chúng cho ông Lý Ðông A là tác giả, nhưng thấy không thuyết phục được ai, đành phải cho là Người Khuyết danh. Khẳng quyết Nguyễn Chí Thiện "ăn cắp" tác phẩm, nhưng không biết "khổ chủ" là ai. Chỉ có những kẻ không có lý trí mới làm những chuyện như thế.


Ðiều đáng chú ý là bọn đánh phá ông Nguyễn Chí Thiện không bao giờ đề cập đến nội dung tập thơ Hoa Ðịa Ngục. Nhiều người không lưu ý điểm này nhưng nó lại rất quan trọng, vì nếu chúng đề cập đến nội dung tập thơ Hoa Ðịa Ngục là chúng phản chủ. Tay sai Việt Cộng cho rằng ông Nguyễn Chí Thiện là gián điệp, nhưng chúng không đưa ra được bằng chứng nào, cũng không thể căn cứ trên luận điểm nào để làm nền tảng cho lời tố cáo. Chúng cho ông Nguyễn Chí Thiện là "hòa giải hòa hợp với Việt Cộng", nhưng tại San Jose này, lúc ra mắt tập truyện Hỏa Lò, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã đả kích những tên chủ trương hòa giải hòa hợp với Việt Cộng bằng ví dụ sau đây, cái dây xích và cái tròng vào cổ con chó khiến nó mất tự do, nếu được thoát, nó cong đuôi chạy càng xa cái dây, cái tròng chừng nào tốt chừng đó, nó không bao giờ trở lại "làm hòa" với Việt Cộng, tại sao con người lại làm ngược lại? Tóm lại, tay sai Cộng Sản đánh phá người chống Cộng một cách điên cuồng, nhất là trong giai đoạn này, khi mà Việt Cộng đang đối phó với nhiều khó khăn, chống đối.

Viết bài này chúng tôi cũng không có mục đích binh vực ông Nguyễn Chí Thiện, vì nhà thơ Nguyễn Chí Thiện là "kim cương bất hoại" rồi. Nhưng chúng tôi muốn cảnh giác mọi người: chiến dịch chống người chống Cộng là chiến dịch trường kỳ của Việt Cộng, nhất là những khi Việt Cộng gặp những rắc rối tại quê nhà. Một ví dụ cụ thể, nghị viên Madison Nguyễn đã có những hành động trắng trợn phản bội lại cử tri, các cơ quan, đoàn thể đã biết, đã chứng kiến và đã hành động chống lại Madison Nguyễn bằng cách góp chữ ký đòi bãi nhiệm Madison, nhưng bọn binh vực bà nghị viên này vì không thể phủ nhận thực tế này nên cố ý phớt lờ mà tập trung mở những chiến dịch bôi nhọ, chống đối những ai vì công đạo mà ủng hộ việc bãi nhiệm Madison.

Chống phá những người chống Cộng là một chiến dịch thâm độc của Việt Cộng và tay sai chúng đang thực hiện, chúng ta phải đề cao cảnh giác.


Lê Văn Ấn.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

TRIẾT LÝ BA XU

Huy Phương

Điều gì nói ra mà ai cũng biết cả rồi vì nó tầm thường, đơn giản, hiển nhiên, rẻ tiền thì người ta thường mỉa mai gọi nó là “triết lý ba xu”, mặc dầu đó những điều xác thực, chỉ vì nó xưa cũ hay người ta đã quen nghe.

Bây giờ mỗi ngày bạn đang có bao nhiêu công việc phải lo toan từ sáng đến chiều, hết sức là bận rộn, mỗi tối trước khi lên giường, bạn phải liệt kê các công việc cần ghi nhớ cho ngày mai trên một trang giấy, sợ có điều không ghi nhớ thì sẽ quên mất. Giá như có ai đó đề nghị bạn bỏ một ngày đi thăm một người bạn ở xa, hay nghỉ trọn một tuần, bỏ hết tất cả công việc, để làm một chuyến du lịch cho thanh thản tấm thân, cắt đứt với mọi liên lạc công việc bên ngoài, bạn sẽ không bao giờ chấp nhận, vì quá thật là bạn quá bận, không dư ra một tí tẹo thời giờ nào cho những công việc như thế.

Thế rồi đùng một cái, không báo trước, buổi chiều, chiếc xe cấp cứu rú còi inh ỏi, ghé qua nhà bạn, mang vào bệnh viện cái đầu óc bận rộn và cả cái tấm thân đang bệnh tật, có thể là sắp chết của bạn vào bệnh viện. Bạn sẽ sắp đặt gì cho chương trình vào sáng hôm sau của bạn, công việc ở sở làm, một vài chuyện giả quyết chưa xong, đôi việc giao dịch chưa hoàn tất, cái thư chưa phúc đáp, cái bill chưa trả. Bạn sẽ không làm được gì hết ngoài ra việc nằm thẳng trên giường bệnh viện với các giây nhợ chằng chịt trên cánh tay suốt ngày, xoay trở cũng khó khăn, mê mê, tỉnh tỉnh, nói gì chuyện đi đứng, bay nhảy như những ngày khỏe mạnh. Nghĩa là tất cả đều được xếp lại, như cho vào một ngăn kéo đóng kín, không giải quyết không xoay trở gì được. Bây giờ ai đưa cháu đi học, bây giờ mấy cái bills chưa trả, bây giờ còn trăm thứ việc ngổn ngang.

Tổng Thống thứ 9 của Hoa Kỳ là ông William Henry Harrison, tuyên thệ nhậm chức vào ngày 4 tháng 3 năm 1841, lẽ cố nhiên ông có nhiều kế hoạch, chương trình cho nhiệm kỳ bốn năm trước mặt, còn ai trên thế giới này bận rộn hơn ông. Ngày tuyên thệ nhậm chức Tổng Thống, nhiệt độ Washington DC xuống quá thấp dưới độ đông đá, đứng giữa trời suốt mấy tiếng đồng hồ không đội nón, Ông William Henry Harrison đã đọc một bài diễn văn dài 105 phút, ông bị cảm lạnh và bị sưng phổi rồi qua đời sau đó đúng một tháng vào ngày 4 tháng 4 năm 1841. Tổng Thống Harrison qua đời thì có ông Phó Tổng Thống John Tyler lên thay, cũng hết một nhiệm kỳ 4 năm (1841-1485), nước Mỹ đâu có một ngày nào không có Tổng Thống đâu. Bạn đừng nghĩ rằng vai trò của bạn khó thay thế, khi bạn không hiện diện hôm nay ở sở làm, trong gia đình, ngay tại văn phòng Phủ Tổng Thống, hay cả trên cõi trần gian này nữa. Không có gì không thể thay thế, ngay cả Tổng Thống một cường quốc như nước Mỹ.

Trong đạo Phật, chúng ta thường nghe đến câu “Thân không cầu không tật bệnh, thân không tật bệnh thì tham dục dễ sanh.” Quả thật, chúng ta có rất nhiều ham muốn, những món tiền lớn, chức vụ béo bở, danh vọng ngất trời, bình thường thì cũng nhà đẹp, xe đời mới, bữa ăn ngon, thú vui xác thịt. Nhưng khi nằm trên giường bệnh rồi, khi chúng ta bị bệnh tật, đau đớn, điều ước mơ duy nhất là lành bệnh, ngoài ra những thứ chức tước, danh vọng, tiền của đầy nhà, rượu ngon, gái đẹp... đều vô nghĩa. Khi thân thể rã rời, sinh lực tiêu hao, không buồn nhấc cánh tay lên, không muốn nở một nụ cười, ta còn ao ước điều gì trên cõi đời này nữa. Những con số trong ngân khoản nhà băng, những món lời trong tầm tay sẽ không còn ý nghĩa gì nữa, sẽ không còn cần thiết gì cho thực trạng hôm nay với cái thân tàn tạ, nằm nhìn lên trần nhà mà chưa biết những gì có thể xẩy ra cho cái thân xác hữu cơ cùng với mầm thối rữa này.

Nhiều người đã kề cận với cái chết, nghĩa là đang ở giữa hai bờ sinh tử thì luôn luôn ám ảnh bởi nỗi biệt ly, xa cách rồi đây có thể xẩy ra giữa mình và những người thân yêu hơn là nghĩ đến những gì mình đang có bỗng phải bỏ lại đàng sau. Cái chết chỉ nhẹ nhàng, con đường ra đi chỉ có thể thênh thang nếu cuộc hành trình không mang những hành lý quá nặng với những nuối tiếc, với những tư hữu, những bận bịu tưởng chừng như không thể rời bỏ được ngay vào những giờ phút cuối cùng. Nhưng làm sao ra đi mà không thương nhớ, mà để lòng mình được thảnh thơi như người xưa nói rằng “chết là trở về” hay làm sao để cái chết nhẹ nhàng vui thú “như khi ta trở lại đi trên những con đường quê những ngày thơ ấu!”

Lúc nằm trên giường bệnh mới thấy những ngày khỏe mạnh quý báu biết bao nhiêu. Những chuyện nghe ra rất tầm thường trong cuộc sống hằng ngày bây giờ bỗng trở nên giá trị, khó tìm lại được. Những buổi sáng thức dậy thấy được ánh mặt trời và những chòm lá xao động bên ngoài cửa sổ, có thể nghe cả tiếng chim hót, tiếng xe cộ qua lại ồn ào hay tiếng người lao xao đâu đó. Những chuyện ấy rất thường tình, đời sống trôi chảy chung quanh ta, mà ngày thường không bao giờ chúng ta quan tâm, để ý đến. Bây giờ trong một căn phòng vắng lặng, cách biệt đời sống bên ngoài, mạch máu và nhịp tim đập của chúng ta gắn liền với những giọt thuốc tỉ tê đang luồn vào cơ thể.

Có những ngày nằm trên giường bệnh mới thấy những ngày lành mạnh là đáng quý, không gì hơn được sống gần những người mình thương yêu, được làm những điều mình thích, được nói được cười trong một nhân quần ấm áp trong một ngày như hôm nay. Thế thì khi chúng ta được trở lại với cuộc sống dù là tầm thường, nhưng rất bình thường yên ổn, chúng ta có thấy quý những ngày như thế không? Hay bây giờ chúng ta đã thực sự quên rồi.

Cuộc sống đã xô đẩy chúng ta đi không một phút giây ngơi nghỉ trên chuyến tàu tốc hành đang băng băng trong đêm trong ngày, qua bao nhiêu dòng sông, chiếc cầu, qua bao nhiêu cánh đồng, rặng núi. Con tàu đã dừng lại một ga nhỏ nào đó để cho chúng ta lên tàu, rồi con tàu sẽ dừng lại một sân ga nào đó cho chúng ta xuống tàu, có thể cũng không ai biết chúng ta là ai, hiện diện trên toa tàu này lúc nào, trừ những người hành khách kế cận. Một người khách đã xuống tàu lúc con tàu đậu lại một sân ga nào đó đâu có gì là quan trọng.

Trong cuốn sổ điện thoại của tôi dùng thường ngày đã có những cái tên và số điện thoại bị gạch bỏ hay không bao giờ dùng đến, vì những bạn bè, thân thuộc này đã không còn ở trên cõi đời này nữa. Tên của tôi trong cuốn sổ điện thoại của bạn cũng vậy, một này nào đó, như khi tôi đã xuống tàu, đâu có ai cần đến nữa.

Đến cái tuổi nào đó, có những người không còn thấy quyền lực, danh vọng và tiền của là quan trọng nữa. Con tàu trước khi rời sân ga đã kéo những hồi còi dài trong đêm tối, có thể không ai để ý đến một người hành khách đã xuống tàu lầm lũi một mình. Con tàu như dòng đời trôi chảy chúng ta đã bỏ lại sau lưng. Giờ phút đó, chúng ta không còn ở trên cõi đời này nữa, nhưng trước giờ ra đi, có thể có nhiều điều chúng ta chưa thực hiện được như những mơ ước từ lúc niên thiếu. Nhiều triết gia đã cho rằng chúng ta đã sống như thế nào chứ không phải đời sống dài hay ngắn.

Nhưng cái điều mà ai cũng biết, ai cũng nghe nói nhiều lần đến nhàm chán, và chẳng ai muốn nghe thì người ta gọi nó là thứ triết lý ...ba xu. Câu chuyện này có thể được xếp loại như vậy chăng?

Huy Phương
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »


Image

LỄ TẠ ƠN TẠI HOA KỲ
Giao chỉ - San Jose -2008, Nov 26, 2008
Quả thực người Mỹ đã có đầy đủ lý do để giữ gìn truyền thống với ngày lễ tạ ơn vào tháng 11 mỗi năm.

Lịch sử ghi rằng vào năm 1620 có một nhóm gia đình người Anh theo Tin Lành đã đi tìm đất mới để sống đời tự do tín ngưỡng.

Con tàu Mayflower nổi danh vượt Ðại Tây Dương chở di dân với các niềm tin giáo lý khác nhau đến vùng Plymouth Rock của tiểu bang Massachusetts bây giờ.. Nhóm gia đình người Anh chỉ có hơn ba chục, số còn lại là phần đông thủy thủ đoàn. Tổng sốÔ 102 người.

Ðây là con tàu chính thức của di dân vì gồm cả gia đình vợ con. Trải qua một năm đầu với mùa đông khắc nghiệt, không đủ thực phẩm, không có đủ quần áo, không có nơi cư trú nên di dân đã phải chôn cất 46 người. Qua năm sau, mùa gặt 1621 thành công, di dân cùng dân da đỏ bản xứ tổ chức tiệc mừng lễ tạ ơn trên đất Mỹ.

Ðó là ngày lễ hội đầu tiên tại Mỹ Châu và truyền thống còn mãi đến ngày nay. Không dựa theo 1 đạo giáo nào, lễ tạ ơn trải qua gần 400 năm đã thành ngày hội của cả quốc gia cảm ơn trời đất cho mọi người đủ cơm áo để sinh tồn.

Trong bữa tiệc lễ tạ ơn năm đầu tiên di dân đã ăn thịt già rừng, ăn bánh làm bằng trái bí đỏ và thực đơn này đã trở nên món ăn truyền thống ngày lễ hội của Mỹ quốc cho tới ngày nay.

Tuy nhiên để trở thành 1 ngày quốc lễ chính thức thì phải tới năm 1863, vị tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ là ông Lincoln mới đề nghị vào tháng 11 và tổng thống Roosevelt ban hành luật. Từ đó Lễ Tạ Ơn được chính phủ công nhận vào ngày thứ năm của tuần lễ thứ tư tháng 11 hàng năm.

Bây giờ Hiệp Chủng Quốc đã trở thành quê hương mới của các sắc dân. Từ 102 di dân trên tàu “Hoa Tháng Năm,” Hoa Kỳ đã có 300 triệu dân và trở thành quốc gia hùng cường nhất thế giới. Nước Mỹ có tiềm lực lớn hơn tất cả quốc gia Âu Châu gộp lại. Và điểm đặc biệt nhất, Hoa Kỳ chính là miền đất của cơ hội.

Hãy đưa ra một thí dụ cụ thể tại quốc gia dù tiến bộ như Nhật Bản nhưng không bao giờ một di dân nước ngoài có thể trở thành triệu phú, chính khách, khoa học gia, hay tài tử tại đất nước của Thiên Hoàng. Nhưng tại Mỹ thì bất cứ chuyện gì cũng có thể xẩy ra cho người ngoại nhập.

Một tài tử điện ảnh gốc Áo là ông Arnold đã trở thành thống đốc California. Ngoại trưởng Hoa Kỳ vốn là một người da đen sinh trưởng ở Hải Ðảo thuộc Mỹ. Tướng Colin Powell trước khi làm ngoại trưởng đã từng là tham mưu trưởng liên quân. Mới đây khi ông Powell đệ đơn từ chức, tổng thống Bush đã đưa bà Condoleezza Rice lên kế nhiệm. Báo chí thân mật gọi bà là “Condi.” Cần phải biết là chức vụ ngoại trưởng ởợ vị trí quan trọng thứ 4 trong guồng máy hành pháp Hoa Kỳ. Nếu xảy ra biến động thì người thay thế tổng thống là phó tổng thống kiêm chủ tịch thượng viện. Người thứ ba là chủ tịch Hạ Viện và rồi đến ngoại trưởng Hoa Kỳ. Vị trí thứ 4 của bậc thang trong quốc gia đầy quyền lực trên thế giớiờ nằm trong tay một phụ nữ da đen độc thân 50 tuổi đã từng nổi danh trong giới khoa bảng tại đại học Stanford California.

Trước khi được mời về làm cố vấn an ninh Bạch Cung, nàng Condi da đen đã làm khoa trưởng đại học danh tiếng nhất thế giới với ngân sách 1 tỷ rưỡi mỹ kim, 1400 giáo sư với nhiều tước hiệu Nobel dạy 14,000 sinh viên ưu tú trên toàn thế giới. Không phải vì là bà Rice có khả năng nói tiếng Nga với tổng thống Putin mà bởi vì bà may mắn sống ở miền đất Hứa nơi đã tạo cơ hội cho tất cả mọi người. Cho đến mùa lễ tạ ơn 2008 thì một huyền thoại đã thành sự thực. Một người con của di dân da đen, thượng nghị sĩ Obama đã được bầu làm tổng thống Hoa Kỳ.

Không nước nào trên thế giới có thể dành cho người dân những cơ hội như thế.

Là quốc gia được thành lập và xây dựng bởi các di dân, tiền nhân của Mỹ quốc đã viết nên các bản văn bất hủ là hiến pháp và tu chính án Dân Quyền.

Ðạo luật quốc tịch của Hoa Kỳ ban hành 1790, hơn 200 năm trước đã có những lời vàng ngọc như sau:

“Bất cứ ai tỵ nạn đến Hoa Kỳ, sau khi được xác nhận sẽ hưởng quy chế nhập cư.”

Như vậy chúng ta hiểu một cách giản dị là nếu đã đến Mỹ thì sẽ có cơ hội trở thành người Mỹ.

Căn cứ vào điều khoản của luật 1790, một đạo luật khác đã ra đời năm 1975 có tên là Indochina Migration and Refugee Act.

Sau đây là đoạn văn năm 75 mà di dân Việt Nam cần đọc lại trong mùa tạ ơn năm 2008.

“Tổng thống Hoa Kỳ sẽ làm bất cứ điều gì để mở rộng cánh cửa đón người tỵ nạn đến từ 3 quốc gia Ðông Dương. Các viên chức trách nhiệm tại Mỹ sẽ đưa ra tất cả mọi phương tiện để giúp cho người dân tỵ nạn định cư. Phải nỗ lực làm giảm những đau khổ kinh hoàng của người tỵ nạn đến từ Ðông Nam Á.”

Vào tháng 7-1977 sau 2 năm đầu giúp đỡ người tỵ nạn Ðông Dương di tản đợt 75, Hoa Kỳ ban hành luật gia hạn việc cứu trợ về tài chánh, y tế, và dịch vụ.

Tháng 3-1980 Mỹ ban hành thêm luật quy chế tỵ nạn vĩnh viễn và đề ra một chính sách tỵ nạn áp dụng chính thức tại Mỹ. Suốt 33 năm qua, khi nhiều khi ít, khi khó khăn, khi dễ dàng, Hoa Kỳ đã dành ra những cấp khoản lớn lao cho người Việt đến Mỹ để trở thành 1 cộng đồng di dân đông đảo nhất trong cuối thế kỷ thứ 20.

Trong buổi bình minh của lịch sử Hoa Kỳ lập quốc, di dân vượt Ðại Tây Dương đến Mỹ Châu đa số gốc Âu Châu. Sau đó, Thái Bình Dương đưa đến Mỹ dân Tầu và Nhật.

Từ bao lâu nay hoàn toàn không có người Việt đến Mỹ cho đến khi gặp cơn hồng thủy 1975. Truyền thống của dòng giống Việt tộc thường không khích lệ con đường tha phương cầu thực. Vì vậy ngoại trừ số nhỏ qua lập nghiệp bên Miên, Lào và Thái, phần lớn người Việt đều ở lại với quê hương ven biển Nam Hải.

Khi miền Nam xụp đổ tháng 4-1975 đợt di tản đầu tiên của người Việt đã mở ra một đầu cầu quan trọng cho lịch sử di dân từ Châu Á. Những chuyến đi vô cùng mạo hiểm của thuyền nhân đã làm thành thiên anh hùng ca của con đường đi tìm tự do với hàng ngàn con tàu Mayflower của dân Việt đã ra đi không bao giờ đến được miền đất Hứa.

Cũng nhân dịp ghi dấu 30 năm định cư tại Hoa Kỳ 1975-2005. Bảo tàng viện do cơ quan IRCC,Inc. gây dựng đã hoàn thành hai tác phẩm. Ðóng lại con tàu Vượt biên có tên là Tân Phát đúng kích thước và chi tiết con tàu thật. Ðồng thời họa sĩ thực hiện bức hình sơn dầu vĩ đại cao 10 feet và dài 15 feet mô tả con tàu Tân Phát đang lướt sóng trên biển Ðông.

Ðây là con tàu thực sự đã đưa được nhóm gia đình Việt Nam vượt biển thành công hiện định cư tại Úc Châu và Bắc Mỹ.

Những người di dân Việt Nam định cư tại Hoa Kỳ trong đợt đầu khi xây dựng cuộc đời đã ăn những con gà Tây cùng với các gia đình bảo trợ, với các họ Ðạo trên 50 tiểu bang Hoa Kỳ.

Rồi những bức hình và những lá thơ gửi về cho thân quyến tại quê nhà đã trải qua suốt 10 năm khốn khổ sau 75. Miền Bắc là nơi giam giữ tù cải tạo. Miền Nam là những khu kinh tế mới.

Khi di dân Việt Nam trải qua 10 lần dự tiệc tạ ơn tại Hoa Kỳ thì những thùng quà gửi về đã làm cho cả đất nước hồi sinh. Từ cây kim sợi chỉ, từ chai thuốc tây đến thước vải. Những tờ giấy Mỹ Kim nằm trong hộp thuốc đánh răng với lời thư dặn dò đầy nước mắt. Thư viết rằng thuốc đánh răng này tốt lắm. Cố sức giữ lại mà dùng, đừng bán đi. Vỏ cũng xài được, đừng vất đi. Người ở lại đã phải nát óc vò đầu để tìm ra được ý nghĩa mật thư là trong túp thuốc có tiền. Có khi lá thư viết rằng nếu đói quá thì bán vải, bán đá lửa, bán bút bi đi mà ăn, nhưng cố giữ lấy cái thùng giấy đựng quà mà dùng. Hiểu được ý nghĩa lá thơ, người Saigòn phải lần mò tháo hết vỏ thùng để tìm thấy giấy 100 đô giữa hai lớp bìa cứng

Và cứ như thế dưới nhiều hình thức những con gà Tây của lễ tạ ơn Hoa Kỳ đã về đến Việt Nam. Quà và tiền gửi về thể hiện cho hình ảnh vật chất đầy đủ ở phía chân trời và đồng thời cũng là hình ảnh cuộc sống tự do rực rỡ nở hoa với chan hòa ánh sáng.

Và dù 5 ăn 5 thua con tàu Mayflower đã ra đi từ khắp miền duyên hải Việt Nam có khi chỉ là những chiếc ghe nhỏ bé mong manh.

Người Việt đã vì nhiều lý do để ra đi suốt bao nhiêu năm qua. Và danh từ Boat People trong tự điển thế giới đã không còn cùng ý nghĩa xưa cũ để chỉ những người sinh sống ở trên thuyền.

Boat People ngày nay có nghĩa là người Việt đã đi tìm tự do bằng thuyền vượt biển Nam Hải.

Lịch sử các cuộc di dân của nhân loại đã đưa đến nhận định rằng “Ta không thể lựa chọn sinh quán, nhưng ta có thể chọn lựa để sống ở miền đất mà chúng ta yêu quý.”

(You cannot choose the land you birth, but you can choose the land you love)

Thực đúng như vậy, chúng ta đã sinh ra đời trên quê hương không hề có sự lựa chọn nhưng nếu phải trả giá với sự sống chết thì chúng ta vẫn có cơ may lựa chọn nơi sinh sống.

Vì vậy không phải là chỉ người Mỹ hậu duệ của con tàu Hoa Tháng Năm đến từ Ðại Tây Dương mới có quyền ăn gà Tây tháng 11.

Dân Việt tỵ nạn cũng có đủ tư cách để cúng trời đất vào mùa lễ hội tạ ơn hàng năm. Xem chuyện Do Thái và Palestine tranh chấp đẫm máu ở miền Trung Ðông để biết rằng cả hai dân tộc này đã khốn khổ biết chừng nào. Năm ngàn năm trước người Do Thái vì lý do tôn giáo đã bỏ nước ra đi đến bốn phương trời. Họ thành công trên khắp thế giới nhưng vẫn hướng về đất thánh Jerusalem đầy huyền thoại. Sau khi bị Ðức Quốc Xã bức hại dã man tại Âu Châu, khi đại chiến kết thúc, thế giới mở đường cho Do Thái trở về quê xưa dựng nước.

Bây giờ lại đến lượt người dân của đất Palestime phải ra di. Và cuộc đấu tranh giành đất giữa 2 mối cựu thù vì niềm tin tôn giáo bắt đầu. Hận thù chất ngất đến nỗi có hàng ngàn người quyết đổi mạng sống để giết hết sắc dân thù nghịch gồm cả đàn bà và trẻ con vô tội.

Mối hận thù truyền kiếp đã đưa đẩy Hoa Kỳ và cả thế giới vào cơn Hồng Thủy của cuộc chiến chống khủng bố hiện nay.

Ðã từ lâu miền Trung Ðông không hề có những ngày lễ tạ ơn với cuộc sống bình yên. Và cũng không có triển vọng sẽ có một tương lai bình yên ở một nơi đầy dầu hỏa được gọi là vàng đen trong lòng đất.

Người Việt tại Hoa Kỳ đang sống bình yên ở miền đất cơ hội nhưng điều quan trọng hơn hết là chúng ta có dịp mở rộng viễn kiến để nhìn ra thế giới đầy thảm họa và biến động.

Với các tin tức, với các hình ảnh ghi nhận được, mỗi công dân Hoa Kỳ dù là bổn sinh hay ngoại nhập đều dễ dàng trở thành người dân có tri thức, có sự hiểu biết, có tấm lòng rộng lượng, có đức tính tha thứ, để sống với nhau tử tế. Ðặc biệt có đủ hạnh phúc căn bản với cơm no áo ấm và tự do để cùng nhau dâng lễ tạ ơn với các niềm tin tôn giáo khác nhau.

Nhân dịp Thanksgiving, xin gửi đến quý vị lời chúc mừng một lễ tạ ơn đầy hạnh phúc.

Giao Chỉ, San Jose
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »

LÀM TỪ THIỆN
HAY… GIÚP VIỆT CỘNG?


Nguyễn Quốc Đống
Trong nhiều năm qua đồng bào hải ngoại đã bỏ công, bỏ của rất nhiều để giúp cho các công tác từ thiện phục vụ đồng bào trong nước: trẻ mồ côi cần tiền để có nhà ở và được nuôi ăn; người khuyết tật cần tiền để trị bệnh; đồng bào bị thiên tai bão lụt cần tiền để trở lại đời sống bình thường; các xóm nghèo cần tiền để xây giếng nước, xây trường học, xây nhà thương; các tu sĩ cần tiền để tu bổ nhà thờ, chùa chiền; các bệnh viện cần tiền để mua dụng cụ y khoa, để mổ mắt người già, vá miệng trẻ em v.v…

Trong tinh thần “Lá Lành Đùm Lá Rách” đồng bào chúng ta tại hải ngoại không ngại chắt bóp những đồng tiền kiếm được bằng mồ hôi nước mắt khó nhọc để đổ về Việt Nam, gọi là để “trọn nghĩa đồng bào”. Nhưng có bao giờ chúng ta nghĩ lại xem việc làm của chúng ta có thực sự giúp đồng bào thay đổi số phận tối tăm của họ hay chỉ góp phần vào việc kéo dài cuộc sống lầm than của họ trong một chế độ độc tài phi nhân. Chúng ta có nghĩ rằng mình đang đưa vai gánh vác dùm công tác xã hội cho bạo quyền Cộng Sản để chúng rảnh tay đàn áp, bóc lột đồng bào nhiều hơn nữa hay không? Chúng ta có nghĩ rằng mình đang đem phấn son tô điểm cho một chế độ thối nát, bất công đáng bị vứt bỏ vào sọt rác của lịch sử hay không? Cộng Sản Việt Nam (CSVN) vừa bòn rút tiền bạc của chúng ta vừa tìm cách làm nhục chúng ta mà nhiều người trong chúng ta vô tình không ý thức được nên dễ dàng để Việt Cộng và các tay sai của chúng tại địa phương lợi dụng.

Câu chuyện cô Tim-Aline Rebeaud, người Thụy Sĩ hiện đang sinh sống tại Việt Nam, nhân danh tổ chức “Căn Nhà May Mắn” của cô ta đi khắp Âu châu và Mỹ châu (tháng 10 và 11, 2008) quyên góp cả triệu đô la của đồng bào Việt Tỵ Nạn Cộng Sản đem về Việt Nam nói là để “nuôi trẻ mồ côi, khuyết tật” là một thí dụ điển hình. Cô đã từng đi Bỉ, Canada, Mỹ (San Jose, San Fernando…) và quyên góp được rất nhiều tiền. Thấy cô là người ngoại quốc mà đã hy sinh cả tuổi thanh xuân của mình để nuôi dạy các trẻ Việt mồ côi và khuyết tật tại quê nhà, ai mà nỡ từ chối không góp tiền cho cô để cô làm công tác từ thiện cao quý này. Mọi chuyện xảy ra suông sẻ như ý cô Tim và nhóm thiện nguyện của cô. Chuyện “không như ý”ù đã xảy ra vào ngày 25 tháng 10, 2008 tại buổi gây quỹ của cô Tim tại trụ sở của Hội Người Việt tại San Fernando Valley, California. Tại đây, Cô Tim từ chối không tham dự lễ chào cờ Việt Nam Cộng Hòa (Cô bỏ ra ngoài hút thuốc lá), sau đó cô thẳng thắn đòi hỏi Ban Tổ Chức phải dẹp bỏ Cờ Vàng trong Hội trường. Cô còn yêu cầu những người trong Ban Tổ Chức phải tháo bỏ những huy hiệu cờ vàng trên áo của họ. Cô Tim nói cô không muốn “việc từ thiện” của cô “mang màu sắc chính trị” và cô không thể đứng dưới cờ bất cứ một quốc gia nào!

Cô Tim có nói hết sự thực cho chúng ta nghe hay không? Cô nói cô “không đứng dưới cờ bất cứ một quốc gia nào” nhưng mọi người đều được xem hình chụp côõ đứng sát lá cờ đỏ sao vàng của Việt Cộng trên một sân khấu khi đang cao giọng cùng hát với các em tại một buổi lễ trong nước. Cô nói “việc từ thiện cô đang làm không có chính trị” nhưng tại lớp học của Căn Nhà May Mắn, cô đã dạy cho trẻ em về lịch sử của cờ đỏ sao vàng. Phải chăng cô làm thế để chúng “biết yêu tổ quốc xã hội chủ nghĩa” của chúng, một tổ quốc đã tạo dựng Căn Nhà May Mắn cho chúng có chỗ nương thân! Lời nói và việc làm của cô Tim có đi đôi với nhau hay không?

Tiền của đồng bào Việt tỵ nạn Cộng sản tại hải ngoại thì cô Tim rất “cần” và rất “quý”, nhưng cờ Vàng, biểu tượng của người dân Việt Hải Ngoại thì cô rất “sợ” và rất “ ghét”! Tiền cô thu được phải chăng cô được tự do sử dụng theo ý muốn? Quý vị thử nghĩ CSVN sẽ cho cô Tim tự do dùng tiền này theo ý thích của cô và theo nhu cầu của Căn Nhà May Mắn của cô hay không? Chúng sẽ cho một tổ chức từ thiện với vài chục đứa trẻ mồ côi như tổ chức “Căn Nhà May Mắn” sử dụng một ngân quỹ lên đến cả triệu đô la à? Khi đi gây quy, cô Tim không đi một mình. Cô có cả một phái đoàn tháp tùng. Những người này không cho phép các phóng viên báo chí có mặt tại các buổi gây quỹ chụp hình. Chúng là Việt Cộng hay Việt Gian Cộng Sản mà lại sợ bị chụp hình trong một buổi gây quỹ từ thiện như thế?

Cô Tim đã trở thành một công cụ để CSVN vắt sữa các “con bò sữa béo tốt” tại hải ngoại. Nói đúng hơn cô đang là “con cưng” của chúng vì cô giúp đem tiền về cho chúng và cái quan trọng hơn thế là Cô còn giúp cho chúng triệt hạ lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, lá cờ Di Sản Tự Do, Dân Chủ và là biểu tượng của người Việt tỵ nạn Cộng sản tại hải ngoại. Cô giúp chúng làm “công việc khó khăn” này một cách hết sức dễ dàng, không tốn công khó nhọc. Cái khiến chúng hết sức vui mừng là “buộc được người Tỵ Nạn Cộng Sản tự gỡ bỏ biểu tượng của chính mình”. Cô Tim chỉ “yêu cầu” mà được như ý nguyện ngay. Cô nào có phải mất công “trèo lên tháo cờ Vàng” của chúng ta đâu? Chính ông Richard Mười Trương, chủ tịch Hội Người Việt tại San Fernando Valley đã cho tháo gỡ cờ cất đi để làm hài lòng cô Tim và phái đoàn từ thiện của cô. CSVN đã sử dụng chiến thuật “Nhu thắng Cương” một cách ngoạn mục. Chúng ta hẳn còn nhớ chuyện Hồng Y Phạm Minh Mẫn “ra lệnh” cho giáo dân Việt Nam phải dẹp bỏ cờ Vàng trong Ngày Thanh Niên Thế Giới (World Youth Day) tại Úc châu vào tháng 7, 2008 vừa qua. Họ đâu có nghe lời ngài mà còn cương quyết giương cao cờ vàng chính nghĩa của họ khắp nơi từ Úc châu sang Mỹ châu, ở bất cứ nơi nào ngài có mặt. Cuối cùng vị Hồng Y này đã phải lui bước trước sự cương quyết của giáo dân Việt tỵ nạn Cộng sản. Chúng ta hẳn cũng còn nhớ các chuyến công du nhục nhã của các lãnh đạo CS chóp bu như Phan Văn Khải, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng... Đồng bào chúng ta giương cao ngọn cờ vàng và khiến chúng phải giấu kín lộ trình, chui rúc như chuột và phải nhục nhã đi vào nhà bằng cửa hậu. Trong quá khứ chúng ta cũng đã từng cương quyết phản đối các tu sĩ đi quyên tiền mà đòi dẹp bỏ cờ vàng (Vụ giám mục Hoàng Văn Tiệm đòi dẹp cờ vàng tại Vietnam Center, Saint Paul, Minnesota tháng 11 năm 2003 khiến đồng hương phẫn nộ và biểu tình phản đối dữ dội, Linh Mục Trịnh Tuấn Hoàng đòi bỏ cờ vàng tại buổi gây quỹ của ông ta vài tháng trước đây. Thiền sư Thích Thanh Từ đi thuyết pháp tại nhiều tiểu bang ở Mỹ cũng đòi dẹp cờ Vàng trong chùa và cũng bị Phật tử phản đối (CSVN đã “thưởng” công cho ông này một ngôi chùa rất lớn ở tỉnh Tuyên Đức là Trúc Lâm Thiền Viện tọa lạc trên một ngọn đồi dọc theo con đường từ Tùng Nghĩa đến thành phố Đà Lạt). Nhưng với cô Tim, lần này Việt Cộng và Việt Gian nằm vùng thắng lớn! Chiếc áo dài Việt Nam dễ thương trên người cô Tim - Aline , lời nói tiếng Việt nhỏ nhẹ của cô đã làm chúng ta “mềm lòng” đưa đến mất cảnh giác, quên mất mình là ai, đang làm việc gì cho ai và vì ai?

Người “có công” giới thiệu cô Tim với cộng đồng người Việt hải ngoại là Trung Tâm Băng Nhạc Thúy Nga. Trong băng DVD Chân Dung Người Phụ Nữ Việt Nam, MC Nguyễn Cao Kỳ Duyên đã giới thiệu cô Tim như một người con gái ngoại quốc nhưng có trái tim Việt Nam biết hy sinh hạnh phúc cá nhân để hàn gắn vết thương cho xã hội nghèo khổ Việt Nam. Cô được giới thiệu cùng 1 nữ tu Thiên chúa giáo và 1 ni cô Phật giáo. Cả ba người nhận được 1 số tiền tại chỗ là 30,000 USD (mỗi người nhận 10,000 USD). Đây chỉ là “bước dạo đầu” của “kịch bản từ thiện”. Bước hai như chúng ta vừa thấy trong vài tháng qua, cô Tim đem về nước được cả triệu đô la. Ký giả báo Người Việt thì ca tụng cô Tim là “bà tiên hiền dịu” trong chuyện cổ tích, là “bà mẹ Việt Nam” có tấm lòng nhân ái bao la…

Bọn CSVN bất lương cần tiền của chúng ta để “xoa dịu vết thương” trong xã hội thối tha của chúng nhưng lại xấu hổ không muốn cho các em bé mồ côi, tật nguyền biết được ân nhân đích thực của chúng là ai. Chúng đâu dám nói cho các em biết ân nhân của các em chính là những người bị chúng đánh đuổi ra khỏi nước cách đây hơn 30 năm, phải liều chết bỏ nước ra đi, vượt biển, vượt biên và chịu trăm ngàn cảnh khổ nhục để có được ngày hôm nay. Những ngày đó Việt Cộng gọi chúng ta là “ngụy, là đĩ điếm, là bọn phản quốc, bám chân đế quốc để hưởng bơ thừa, sữa cặn...”. Ngày nay “vật đổi sao dời”, chúng ta thành “khúc ruột ngàn dặm thân yêu” của chúng. Nói đúng ra CSVN chỉ coi chúng ta là “những con bò sữa” hay “những con gà đẻ trứng vàng” mà thôi. “Bà Tiên Hiền Dịu” là Cô Tim đã đi rồi và đồng bào tỵ nạn CS chúng ta tại hải ngoại “không chết” nhưng “bị thương trầm trọng” với những xào xáo, chia rẽ, người bênh, kẻ chống v.v… Lần này một mũi tên Việt Cộng bắn ra, trúng được tới 3 con chim: thứ nhất chúng thu được tiền của đồng bào hải ngoại, thứ hai chúng hạ nhục được cờ Vàng và thứ ba chúng làm cộng đồng chia rẽ! Qua chuyện cô Tim, chúng ta cũng ý thức được những ai là người có trách nhiệm để cho Việt Cộng xâm nhập được vào phòng tuyến chống Cộng của chúng ta tại hải ngoại. Không biết chúng ta có học được gì sau bài học đắng cay này hay không?

Đồng bào Việt tỵ nạn Cộng Sản tại hải ngoại hãy tỉnh thức đi. Lòng nhân ái của chúng ta cần phải được đặt đúng chỗ. Hãy dùng đồng tiền mồ hôi nước mắt của chúng ta vào những công việc ích lợi khác, chẳng hạn như giúp các nhà tranh đấu cho dân chủ trong nước hay giúp đỡ các thương phế binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đồng đội cũ của chúng ta, những người ngày xưa đã hy sinh cho tự do của chúng ta và ngày nay đang bị bạo quyền CS trả thù tàn độc. Chúng ta cũng đừng nên quên góp một bàn tay vào việc xoa dịu vết thương trong lòng xã hội Mỹ là xã hội đã cưu mang chúng ta và gia đình chúng ta những ngày khốn khó năm xưa. Theo báo cáo của Bộ Canh Nông, số trẻ em Mỹ đói ăn năm 2007 lên đến 691,000 (cứ 8 trẻ em thì có 1 em không có đủ thực phẩm để ăn hàng ngày, theo tài liệu đăng trên báo Star Tribune, ngày 18 tháng 11, 2008).

Với tình trạng kinh tế suy thoái như hiện nay con số này còn tăng cao thêm nữa. Đọc báo hàng ngày chúng ta đều thấy số người đến viếng các nơi phát thực phẩm miễn phí (food shelves) đã gia tăng đáng kể khiến các cơ quan từ thiện phải khẩn thiết xin đồng bào trợ giúp. Nếu có từ tâm và có đôi chút tiền bạc dư dả, chúng ta nên mở rộng hầu bao để làm một việc làm có ý nghĩa, cũng là để trả một phần nào món nợ ân tình đối với nước Mỹ, quê hương thứ hai của nhiều người chúng ta. Chúng ta đã bị bọn Việt Cộng xảo trá đánh lừa nhiều lần rồi. Đừng “Lầm” thêm một lần nữa!

Tháng 11, 2008
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Cái chết của ngôn ngữ

Nguyễn Hữu Liêm

"In the beginning was the Word." (John I)

Ở đầu thế kỷ trước, con người ngôn ngữ tây phương, như là hiện tượng nhân văn sau cùng, được khai sinh. Ở giờ phút bắt đầu đó, hắn tuyên bố rằng tất cả các vấn nạn tôn giáo và triết học chỉ là vấn đề của ngôn ngữ. Không hề có vấn đề chân lý tự bản chất - những câu hỏi và khúc mắc siêu hình, nhìn kỹ ra, chẳng qua là sự hiểu lầm về ngôn từ. Ngôn ngữ bắt đầu tất cả. Và cũng chính ngôn ngữ sẽ chấm dứt toàn diện các hiện tượng nhân văn.

Chúng ta hãy nhìn lại. Con người xưa cũ mang ý chí lập danh, nay hắn chỉ muốn lập ngôn. Hắn thấy được rằng nhân loại sống chết theo ngôn từ. Nói như Foucault thì con người chỉ biết yêu sau khi đọc văn chương về yêu đương. Văn thơ làm say đắm, tạo nên hình ảnh, thần tượng. Những thế hệ kế tiếp viết tuyên ngôn và xách động cách mạng. Biết bao tầng lớp thanh niên đã bỏ nhà, gia đình bà con thân thích, lên đường đi vào cõi máu xương gian khổ vì tiếng gọi của khái niệm ngôn từ. Ngôn từ sáng tạo. Ngôn từ huỷ diệt. Văn chương nâng cao tinh thần và đày đọa ý chí. Ngôn ngữ và văn chương là cơn sóng cho con thuyền hiện hữu đi qua biển thế gian vô cùng.

Con người là con vật biểu tượng. Nhưng ngôn ngữ không những chỉ là biểu tượng - mà là của những nhánh cây xa cành từ một gốc rễ huyền nhiệm sâu xa. "Tự khởi thuỷ là ngôi Lời (the Word). Chân lý đã được hình thành và trở nên thực thể, ngôi Lời trở nên thân xác, và ngôi Lời chính là Chân Lý sống giữa chúng ta, mà chúng ta không biết” (John I). Và khi mà chân lý đến voi những cá nhân khao khát tinh thần "quây quần bên nhau" lắng nghe vị thầy phát ngôn về sự Thật (Vedas), mỗi lời nói của vị Thầy chính là Chân lý. Đạo chính là Lời - là "logos."

Thế giới của ngôi Lời có rất ít lời nói. Con người ở đó chỉ nói khi có nguời biết lắng nghe. Trong sinh hoạt của cuộc sống hằng ngày, thiên nhiên nói và ca hát cho nhân loại. Khi mở miệng nói, người ta chỉ muốn đối thoại với Trời và Đất. Con người ít nói chuyện với nhau nếu không cần thiết - vì càng nói thì giữa người và người sự hiểu lầm càng tăng cao. Im lặng, vì thế, là phương cách thông hiểu phổ quát cho gia đình và tập thể.

Cho đến khi nhân loại chuyển sang một thời quán mới của tâm thức, văn viết xuất hiện và dần dần chiếm vai trò của văn nói. Nhưng con người cũng chỉ sử dụng văn tự, chữ viết, cho những nguyên tắc đạo lý sâu xa và vĩnh hằng - còn những gì liên quan đến chuyện thường nhật thì chỉ sử dụng tới lời nói mà không cần văn bản, ấn ký. Văn viết là chiếc cầu của ngôi Lời, bắt nhịp từ Đạo lý, qua sự thuyết giảng và "quây quần lắng nghe," đến một thế giới văn nói chỉ quan tâm đến những vấn đề truyền thông hằng ngày. Nhưng khi chữ viết đã trở nên quá phổ biến, con người ngôn ngữ đã trở nên những trí thức vốn sống nhiều về lý tính qua chữ viết. Người có học, từ đó, theo giòng thời gian càng viết nhiều hơn là nói, đọc nhiều hơn là nghe. Cái học từ đó đồng nghĩa với cái đọc.

Tuy nhiên, vốn là con người sống giữa trần gian, kẻ đọc sách đối diện với một khoảng không mới. Đó là sự trống vắng giữa hai bờ của sách vở, vốn viết về chuyện lâu dài, sâu xa, đối với những mẫu đàm thoại hằng ngày trong cuộc sống đời thường. Đây là lúc một chiếc cầu truyền thông mới xuất hiện: Báo chí.


Khi từ giã thế giới tư tưởng từ sách vở, người thành phố ở Tây Âu thay vào khoảng trống đó bằng báo chí. Hắn càng yêu trần gian đang là, hắn càng mê báo chí. Mỗi trang báo là một ly cà phê đánh thức tri thức và tình cảm về với một thực tại đang đi qua mà chính hắn không muốn dấn thân trực tiếp. Khi đọc báo, hắn chỉ tiếp xúc với biến cố trần gian qua ký hiệu ngôn ngữ in trên giấy. Thân xác của người đọc báo chỉ tiếp xúc với hiện tượng bằng hai cơ năng của tay cầm tờ báo và mắt để đọc. Trong tất cả lục năng tạo nên hiện tượng, tờ báo chỉ cần "sắc" và "pháp" và lại bỏ ra ngoài "thanh, hương, vị, xúc." Thế gian được người đọc tiêu thụ qua ngôn ngữ một cách thụ động.

Nói ngắn gọn: tờ báo chính là thế gian. Lòng khát sống với thế gian nay chính là ý chí muốn trang trải tâm tư vào từng trang báo.

Nhưng thế gian mà tờ báo dọn ra cho độc giả là một mặt hồ nông nỗi, lung linh phản chiếu rất mơ hồ một thực tại không có chiều sâu - chỉ vì ngôn ngữ của báo chí phản ảnh một hiện tượng ngôn ngữ không có nội dung nguyên tắc lâu dài vượt qua khỏi tính bất thường và giảo hoạt của biến cố. Mỗi bài báo là một hoạt cảnh cho một thực tại tuỳ theo góc cạnh tiếp thu và sự trình bày của nhà báo. Nhà báo nào, ngôn ngữ đó. Ngôn ngữ nào, thực tại đó. Con người ngôn ngữ thời nay đã đánh mất chiều sâu của nguyên tắc, của ngôi Lời khi hắn đắm chìm vào thế giới của báo chí.

Trong thế giới ngày hôm nay, ngôi Lời không có nơi trú ngụ. Con người báo chí của chữ viết và trang báo nay cũng đang chết dần mòn. Truyền hình và điện thoại đã lấn vào lãnh thổ của chữ viết. Chữ viết đã xuống ngôi từ lúc nó bị môi trường truyền thông mới của internet hạ bệ. Khi chữ viết xuất hiện trên màn ảnh vi tính, hay trên điện thoại, nó không còn trang trọng để được tôn trọng. Nó không có một sự hiện hữu lâu dài như là trên trang sách, trang báo giấy. Ngôn ngữ báo chí từ internet thì cũng như là lời nói trên điện thoại hay là trên truyền hình. Chữ nghĩa cứ như gió thổi, như mây bay, như nước chảy qua cầu. Chúng xuất hiện và chúng tan đi ngay như bèo bọt của không gian ảo tuỳ theo từng cái click của bàn tay nhấn vào con chuột trên mặt bàn. Thế giới báo chí của internet không những chỉ là ảo, mà là bạc bẽo và vô vị.

Và đó là bản chất của trần gian bây giờ. Mọi người đều thi nhau nói rất nhiều nhưng không có điều gì đáng để lắng nghe; mọi người thi nhau viết thật nhiều nhưng không có điều gì đáng để đọc. Khi ngôn ngữ không còn nội dung chân lý để chuyên chở, không có cái Đạo để cưu mang, thì tất cả chữ viết của báo chí, dù ở phương tiện nào, rồi cũng bị đi vào phận ảo và bạc. "Con chồn có hang, con chim có tổ, nhưng đứa con của con Người (son of Man) - tức là ngôn ngữ - không có nổi chiếc gối để tựa đầu." (Luke IX). Người thời nay, khi họ đã không còn tìm kinh sách, đâu còn tin vào lời lẽ, chữ viết của thánh hiền. Chân lý chỉ là ảo tưởng, ít ai còn tin vào chữ Đạo. Sách vở cũng chẳng mang giá trị nào - huống chi là ngôn ngữ báo chí.

Hễ khi sách vở và báo chí đã không còn là một cưu mang cho lý tưởng, không còn là con đường cho nguyên tắc, không là hiện thân cho ý chí cá nhân và tập thể, thì văn viết đã bị mất chỗ đứng tự trong lòng người đọc. Nguyên nhân của sự xuống dốc này không phải là vì nội dung, lập trường hay là khả năng của người viết, nhà văn hay nhà báo. Mà trái lại. Sách vở và báo chí đã chết khi con người ngôn ngữ thời đại đã không còn tin vào ngôn ngữ nữa.

Cái chết của văn hóa đọc, từ sách vở đến báo chí, và song song với nó là tự do báo chí và tư tưởng, ngôn luận - như trường hợp ở Việt Nam bấy lâu nay - phát xuất từ sự sụp đổ giá trị của văn viết. Khi cả một dân tộc không còn tin vào và coi trọng văn viết thì tự do tư tưởng, ngôn luận, báo chí tự nó chỉ là một trò ảo, để rồi sẽ không có một con người hay tập thể nào tôn trọng - hoặc chịu dấn thân tranh đấu cho lý tưởng này.

Trong cảnh chợ chiều của nhân loại, khi mà ngôn ngữ đang bày ra tràn ngập nhưng không ai coi trọng chúng nữa, chữ viết dù có cho không cũng không ai thèm nhận. Ngôn ngữ không còn là biểu tượng và tự chính nó nay đã là hư không. Văn viết đã mất hồn; văn nói không còn nghĩa. Hãy tin ta đi. Ngôn ngữ đã chết. Vì trong trái tim của nhân loại đương thời thì ngôi Lời đã tắt lửa tự thưở nào.
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Cuộc đời quý bà lừa tình Việt kiều
Tác giả: Vũ Mai


Cuộc đời quý bà lừa tình Việt kiều bao trai trẻ

Người đàn bà luống tuổi run rẩy mãi trên vành móng ngựa. Thỉnh thoảng, bà lại đưa chiếc khăn mùi xoa che ngang khuôn mặt thanh tú, xanh xao. Sau lưng, ở hàng ghế trên cùng, 3 người đàn ông trong cuộc đời bà cũng cúi đầu.

Trong cái dáng vẻ khom nom, sợ sệt, Lâm Thị Phương Nga (52 tuổi) nhẹ giọng xin phép tòa được ngồi vì đang bị bệnh trong khi vị đại diện Viện kiểm sát công bố cáo trạng. Người đàn ông dáng vẻ bệ vệ, sang trọng buông tiếng thở dài. Ông là một Việt kiều đã bước sang tuổi 70, vốn là người tình mà cũng là bị hại của bị cáo trong vụ án “tình và tiền” này.

Cố co người trên băng ghế dài dành cho bị cáo, bà Nga vẫn chưa lấy lại được bình tĩnh nên cứ thấp thỏm hết nhìn Hội đồng xét xử rồi quay người nhìn khắp lượt phòng xử. Cùng lúc nhận được ánh mắt của những người đàn ông, vẻ ngại ngùng càng hiện rõ trên gương mặt nhợt nhạt của bà. Có lẽ trước đây, khi mặn nồng với họ, bà đã không thể tưởng tượng được một ngày tất cả lại phải đối đầu với nhau trong nghịch cảnh oái ăm này.
Image
Bà Nga sầu thảm giấu mặt khi trả lời tòa. Ảnh: Vũ Mai.



Bà Nga đã từng có một gia đình hạnh phúc với người chồng hiền lành và những đứa con ngoan. Thế nhưng, vào “một ngày đẹp trời” của cái tuổi hồi xuân, nét đẹp mặn mà của bà Nga đã khiến ông Mạnh - người đàn ông đang định cư tại Mỹ xao lòng trong một lần về thăm quê. Người đàn bà dần rời xa mái ấm gia đình từ đó.

Ly dị chồng, bà Nga về ở với ông Mạnh và được cung cấp đầy đủ điều kiện hơn trước. Tuy nhiên, mỗi lần ông này phải về Mỹ thì nỗi buồn chán, cô đơn lại xâm chiếm tâm hồn người đàn bà nhạy cảm. Theo bạn bè “giải khuây” trong các canh bạc, càng ngày bà Nga càng trượt dài vào nỗi đam mê. Sẵn tiền do “chồng” chu cấp, bà tham gia vào nhóm “đại gia Sài thành” tại các casino ở tận Campuchia. Tiền bạc cứ dần đội nón ra đi. Số lần xin tiền “chồng” ngày càng dày lên.

Trong những lần xa chồng, bà Nga đã trở thành tình nhân của Thành, một chàng tài xế taxi ít tuổi. Mê mệt với tình nhân, “đau” với những khó khăn, cực nhọc của Thành, bà càng hối thúc ông chồng Việt kiều gửi thêm tiền để “lo” cho người tình trẻ. Khi thì sửa nhà, mua xe hơi, lúc lại giúp đỡ họ hàng Thành đều do một tay bà Nga chu vén. Cùng lúc, thấy chồng cũ và các con phải vật lộn với kinh tế gia đình, nỗi áy náy khiến bà cũng “chi” nhiều triệu đồng cho họ mở nhà hàng để kiếm sống.

Cho đến một ngày, người tình bên kia địa cầu biết hết những việc bà đã làm. Choáng váng, vì bị “người vợ yêu quý” phản bội, ông Mạnh tuyên bố “cấm vận” và đòi lại tất thảy số tiền hơn 100 ngàn USD đã chu cấp. Không còn đường chối cãi, bà cố thuyết phục ông vì cho rằng đây là “tình phí” suốt 10 năm ăn ở với nhau.

Tuy nhiên, người đàn ông khẳng định đó là số tiền “cho vay” và chưng ra một mớ giấy tờ bà này đã ký trong những lần nhận tiền từ ông kèm một câu chắc nịch: “không trả sẽ kiện ra tòa”. Đến lúc này, bà Nga mới té ngửa vì có ngờ đâu những lần đứa cháu của ông kêu đến lấy tiền đều bắt bà ký nhận với lời giải thích: “Để cháu còn thanh toán với chú Mạnh”, nay lại là bằng chứng kết tội bà.

Đang quay quắt với nỗi lo không tiền tiêu xài và có nguy cơ hầu tòa, bà Nga lại cuống cuồng khi thấy anh nhân tình trẻ cũng đang có những "biểu hiện khác lạ". Trước viễn cảnh không tiền, không tình, bà Nga liền lên kế hoạch “làm cú chót” với ông Việt kiều nhằm cứu vãn tình thế. Do vậy, bà đánh tiếng với ông Mạnh mình có một căn nhà đã mua (thực tế chỉ thuê để ở) nhưng chưa sang tên được vì còn thiếu lại một ít tiền. Vì vậy, bà sẽ “cấn nợ” bằng ngôi nhà đó với điều kiện ông phải đưa thêm một số tiền để làm thủ tục sang tên. Để tạo lòng tin, bà Nga làm giả hẳn một số giấy tờ.

Tưởng thật, hai chú cháu ông Mạnh đưa thêm cho bà Nga gần 50.000 USD nữa và chờ ngày nhận nhà. Có tiền trong tay, bà Nga lại tiếp tục những cuộc vui phía bên kia biên giới bên anh tài xế trẻ. Mọi việc bại lộ khi chú cháu ông Việt kiều làm đơn tố cáo với công an.
Image
Ông chồng Việt kiều đang đổi với vị công tố về một số nhận định trong vụ án. Ảnh: Vũ Mai.

Tại cơ quan điều tra, bà Nga khai nhận số tiền đó đã “chi” cho bồ nhí hơn 800 triệu đồng, “hùn vốn” mở nhà hàng với chồng cũ 100 triệu đồng, còn bao nhiêu đã tiêu xài hết. Tuy nhiên, Thành chỉ nhận có “vay” của Nga hơn 7.000 USD và xin được trả lại ngay để không dính dáng gì đến vụ án. Còn ông chồng cũ cũng vội chối phăng vì bà Nga chẳng có giấy tờ gì chứng minh điều đó.

“Ông Mạnh nói sẽ sống suốt đời với bị cáo và đưa tiền để lo chi phí sinh hoạt gia đình thế mà nay ông ấy buộc tôi nợ chỉ vì tôi đã ký nhận tiền từ cháu gái ổng. Tôi chỉ là ‘nạn nhân” trong việc tính toán này, do bị đòi tiền dữ quá nên mới phải làm giả giấy tờ căn nhà đang thuê để gán cho ổng…”, người đàn bà vẫn cúi gằm mặt, run rẩy trình bày với Hội đồng xét xử.

“Bị cáo cho mình là nạn nhân, vậy bị cáo thiệt hại gì trong thời gian chung sống với ông Mạnh? Vừa được tiền, vừa được tình nhưng bị cáo lại đi lo cho bồ trẻ và ăn chơi, du hí khắp nơi. Thế là nạn nhân à?”, nữ thẩm phán bức xúc cắt ngang lời bà Nga.

Dưới khán phòng, ông Mạnh vẫn giữ nguyên vẻ mặt lạnh lùng, khẽ mím chặt môi. Còn Thành thì cúi gằm mặt xuống tránh né ánh nhìn của mọi người. Lọt thỏm giữa hai người, chồng cũ của Nga ngồi bất động, đôi mắt không rời bị cáo.

Giờ nghị án, một phụ nữ cố năn nỉ đội cảnh sát tư pháp gửi giúp cho bị cáo vài món đồ nhưng đã bị từ chối. Lủi thủi xách chai nước suối quay trở ra, khuôn mặt của bà này nhòe nước mắt: “Tôi làm bạn với Nga bao nhiêu năm trời, biết việc nó làm đã cố ngăn cản nhưng nó có chịu nghe lời đâu. Đành rằng nó có sai nhưng cái giá phải trả là quá đắt bằng những tháng ngày đằng đẵng trong tù và bị các con xa lánh”, người phụ nữ buông lời chua xót.

Ngày 25/11, tòa án TP HCM đã tuyên phạt Lâm Thị Phương Nga mức án 20 năm tù về các tội "lạm dụng tín nhiệm chiến đoạt tài sản" và "lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Cho tay vào còng, bị cáo Nga quay người nức nở với bà bạn già: “Hãy thay tôi lo lắng cho các con và nói chúng tha thứ cho mẹ…” rồi nhanh chóng bị dẫn giải đi. Dưới sân tòa, bóng ba người đàn ông chia ba ngả.

Vũ Mai
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Hạnh Phúc Ở Đâu ?

Ngày xưa, có một bầy yêu tinh tập hợp nhau lại để lên kế hoạch làm hại con người.
Một con yêu tinh lên tiếng: "Chúng ta nên giấu cái gì quý giá của con người.
Nhưng mà cái đó là cái gì?"
Một con yêu tinh khác lên tiếng: "Chúng ta nên giấu hạnh phúc của con người. Không có nó, ngày đêm con người sẽ phải khổ sở. Nhưng vấn đề là chúng ta sẽ giấu hạnh phúc nơi nào mà con người không thể tìm thấy được."
Một con yêu tinh cho ý kiến: "Chúng ta sẽ quẳng hạnh phúc lên đỉnh núi cao nhất thế giới."
Con yêu tinh khác phản đối: "Con người rất khoẻ mạnh, chuyện trèo lên đỉnh núi đối với họ không có gì là khó khăn."
"Vậy thì chúng ta sẽ đem hạnh phúc ném xuống đáy biển sâu."
"Không được, con người rất tò mò. Họ sẽ chế tạo ra những con tàu hiện đại để đi xuống tận đáy biển. Rồi tất cả mọi người sẽ biết."
Một con yêu tinh trẻ có ý kiến: "Hay là chúng ta đem giấu hạnh phúc ở một hành tinh khác."
Con yêu tinh già phản đối: "Không được, con người rất thông minh. Càng ngày họ càng thám hiểm nhiều hành tinh khác đấy thôi."
Suy nghĩ hồi lâu, có một con yêu tinh già lụ khụ lên tiếng: "Tôi biết phải giấu hạnh phúc của con người ở đâu rồi. Hãy giấu nó ở chính bên trong con người. Đa số con người đi tìm hạnh phúc ở khắp chốn, khắp nơi, và bao giờ họ cũng thấy người khác hạnh phúc hơn mình; còn bản thân họ thì họ chẳng bao giờ quan tâm. Giấu nó ở đó thì con người không bao giờ tìm thấy hạnh phúc cả!!!"
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Vạch mặt kẻ thích đô la !
Tác giả: Vũ Quốc Uy



Ngày 6 tháng 12-2008, báo chí của Đảng giật tít “Chân dung các "nhà dân chủ" thích... USD”. (Xem: VietNamNet, ngày 06/12/2008), để gọi là “bóc trần bộ mặt” của Ts Nguyễn Thanh Giang và một số người liên quan đến hoạt động đòi dân chủ hoá xã hội.

Đọc bài báo ấy chúng tôi phá lên cười: Ồ thế ra thích đô la là một thói xấu, đáng chê cười chứ lại? Giả sử bây giờ Hoa Kỳ ra thông báo với Việt nam: “Ai thích đô la thì ghi tên ngay, chúng tôi chỉ có 3 triệu phiếu!”, thì xin thưa, chẳng đến lượt mấy bác dân chủ đâu, mà tác giả bài báo nói trên nếu có chậm chân thì cũng chỉ chịu thua các đồng chí trong Bộ Chính trị là cùng! (Mà “chơi” đô la bây giờ Đảng ta chơi con số hàng triệu, hàng tỉ chứ lại “chơi” số một trăm thì quê mùa quá!).

Đáng lẽ muốn vạch mặt phản động của các “đối tượng” một cách thuyết phục thì báo Đảng phải trích dẫn nội dung các bài viết, nội dung các biểu ngữ… ra cho mọi người “phỉ nhổ”. Ví dụ:

Chúng cứ xoáy vào quốc nạn tham nhũng (bảo tham nhũng là hút máu của dân), thế là chúng chống Đảng!

Chúng nói các cấp Đảng và chính quyền là chỗ dựa cho tham nhũng là chúng muốn chống đối nhà nước! (Thực ra luận điểm “chống đối” này ông Võ Nguyên Giáp cũng nói trước rồi!).

Chúng lên tiếng phản đối bọn bành trướng Đại Hán xâm chiếm biên cương tổ quốc Việt Nam là chúng can tội phản quốc!

Chúng cứ chứng minh chủ nghĩa Mác là ảo tưởng phi khoa học, thế là chúng vô học, vô văn hoá, phí cơm gạo của nhân dân.

Chúng phê phán những thói xấu của người Việt mình đã vô tình nuôi dưỡng những tiêu cực khiến mọi tệ nạn cứ ngang nhiên tồn tại và lan rộng, thế là chúng chống lại dân tộc!

Vân vân.

Báo chí cứ mở trận đấu công khai, trích dẫn đầy đủ, cho đối phương công khai tranh luận (vì kẻ xấu càng tranh luận càng tự lộ cái xấu ra !) Thế có cao tay không nào?

Nhưng ở đây các nhà báo ăn lương hậu, lại rất có tay nghề, thế mà lại quên mất điều sơ đẳng ấy! Các “đồng chí” chỉ làm được mỗi một việc là lên giọng đấu tố, quy kết chung chung, dựa trên những cái gọi là lời khai mà các “đồng chí” công an tự sáng tác theo mô thức sáng tạo kiểu các “đồng chí” Hữu Ước hay Nguyễn Như Phong của lò báo Công An.

Ắt hẳn là khi cho lên khuôn bài báo nói trên, “đồng chí” nhà báo quốc doanh hỉ hả với sự sáng tạo thần thánh về cái gọi là sự “thích… USD”. Quả thế, trên đời này, cứ vu vạ cho kẻ nào thích hơi đồng hoặc mê gái là nhất định cái bùa ấy linh nghiêm không thua gì bôi nhọ nồi lên mặt người ta! Trò mồm loa mép giải, vu vạ kiểu Chí Phèo ngày xưa ấy mà!

Chỉ tiếc rằng bây giờ là đầu thế kỉ XXI mất rồi. Những trò chơi ném bẩn của thời Cải Cách Ruộng Đất hay Nhân Văn Giai Phẩm (ôi chao, cứ nhắc đến những chuyện này sao lòng tôi bỗng nhói đau!) thì ăn ai? Chẳng lẽ các “đồng chí” vẫn xem khinh trí tuệ nhân dân ta đến thế?

Tôi chỉ muốn nói nhỏ với các bác dân chủ rằng: Các bác còn dại lắm! Các đại gia và các quan to họ đút cho nhau hàng chục nghìn đô, gửi ngân hàng Thụy sĩ hàng tỉ đô mà tuyệt đối không để lại dấu vết gì, nay các bác mới đưa cho nhau vài đồng nhãi nhép, sao phải để lại bằng chứng? (1) Chẳng lẽ cứ thật thà như đếm đến thế sao? Lại nữa, gửi chút tiền cứu trợ hoặc nhuận bút cho bài báo thì đừng động chạm gì đến đồng đô la ! Đồng tiền tư bản xấu xa này Đảng ta đã “xí” hết rồi, không đến phần các bác. Hãy gửi cho nhau bằng đồng tiền Cách mạng có ảnh đồng chí Mao, hay đồng chí Hồ Tập Chương… chẳng hạn, thì thử xem báo chí Đảng ta sẽ chửi kiểu gì?


Vũ Quốc Uy
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Vinh Quang của Người Sợ Vợ

Đào Hiếu
Ý niệm “vinh quang” thường sánh đôi với những mỹ từ như “dũng cảm”, “hào hùng” “kiên cường” “bất khuất” v.v… và hầu như không bao giờ chịu cặp kè với từ “SỢ”. Cho nên khi đặt nhan đề cho bài viết là “VINH QUANG CỦA NGƯỜI SỢ VỢ” tôi cảm thấy hồi hộp, ngại ngùng, không biết rủi như bà xã tôi mà đọc được thì nàng có hiểu thấu cho lòng ngưỡng mộ sâu sắc của tôi khi nghĩ đến nàng, viết về nàng không, hay nàng lại tưởng tôi có ý chơi chữ để chế diễu nàng.

Sợ, cho dù là sợ ai thì cũng là “sợ”. Mà sợ thì chẳng những không có gì vinh quang mà còn hèn lắm các bố ạ.

Khi tưởng tượng đến một người đang sợ, trong trí ta hiện lên hình ảnh một kẻ đang co ro, khép nép, mặt mũi xanh lè, tay chân run lẩy bẩy, giọng nói ấp a ấp úng… Nói chung hình ảnh một người đàn ông như vậy không có gì là vinh quang cả.

Người đàn ông vinh quang là người làm chủ bà vợ của mình. Thậm chí không cần ra lệnh mà chỉ trừng mắt một cái là bà vợ đã phải ngoan ngoãn vâng lời hoặc dẹp ngay ý định phản đối. Ngồi vào bàn ăn mà không có chai bia hả? Ném đũa xuống bàn rồi đứng dậy là bà vợ khiếp vía. Một anh chồng thường khoe: Tiền bạc tớ quản lý. Mọi việc trong nhà tớ quyết định. Muốn đi đâu, mua sắm gì, phải xin phép tớ. Tớ bảo gì, nghe nấy. Người xưa gọi cái đạo lý ấy là “phu xướng phụ tùy.”

Bậc vua chúa còn danh giá hơn vạn lần. Các ngài có rất nhiều vợ. Chẳng cần yêu đương, tán tỉnh, cũng đếch thèm viết thư tình, cứ phát hiện ra chỗ nào có gái đẹp là a-lê “tiến cung”, ba mươi giây là thảy lên giường. Nhưng cũng có khi đến ba mươi năm chưa chắc đã được hưởng ơn mưa móc.

Thời Tần Thủy Hoàng mỗi tối các bà vợ được tắm rửa, điểm phấn tô son, khử mùi lông nách… rồi cứ để trần truồng như thế, bọc trong cái chăn lớn. Hai tên quân hầu khỏe mạnh vác cả người lẫn chăn đem đến tận long sàng dâng vua, giống như đầu bếp dâng khoanh giò lụa. Vua hé chăn ra coi, thích thì “ngự” không thích thì bảo đổi người khác. Hai tên quân hầu lại vác một khoanh giò lụa khác. Cứ thế, chạy rầng rậc cả đêm. Về sau này các ông con Trời ở bên Tàu đổi mốt khác. Buổi tối các ngài ngự trên chiếc xe dê, tà tà đi dọc các hành lang của tam cung lục viện. Ơn mưa móc của các ngài tưới vào đâu tùy thuộc vào sự ngẫu hứng của chú dê kéo xe. Rõ ràng là các bậc đế vương coi chuyện chăn gối với những bà vợ mình như một trò chơi ru-lét: Trái banh dừng ở chỗ nào là trúng thưởng ở chỗ đó.

Tóm lại, ngày xưa cũng như ngày nay, trong dân gian hay trong cung cấm cánh đàn ông thường tự hào về quyền lực của mình đối với đàn bà và coi khinh những người sợ vợ.

Nhưng làm một đấng nam nhi đứng trong trời đất mà không biết sợ vợ thì uổng cả một đời trai!

Bạn tưởng tôi nói đùa? Bạn không hiểu? Thế bạn thích có một chiếc Dream mới tinh hay một chiếc xe mô-bi-lét cà rịch cà tàng? Lái một chiếc Dream bạn phải nâng niu, cẩn trọng, sợ bị va quẹt, bị trầy xướt… nói chung là bạn phải làm nô lệ cho nó nhưng phải công nhận là nó chạy êm ru. Sướng lắm! Còn đi chiếc mô-bi-lét muốn vứt đâu thì vứt, không sợ trầy xước không ngại va quẹt, không sợ bị kẻ gian cuỗm mất… nhưng thường hay nghẹt cái bu-gi lắm các bố ạ!

Như vậy bạn đã hiểu tại sao người ta sợ vợ rồi chứ? Một người đàn ông hay bắt nạt vợ bằng la hét hay trừng mắt, tưởng là ngon, thực ra đó là người chồng bất hạnh nhất trên đời. Bởi vì hắn đã coi vợ mình như một chiếc mô-bi-lét cà tàng, chẳng có gì thú vị, chẳng cần phải nâng niu trân trọng.
*
Một người sợ vợ trước hết vì vợ anh ta đẹp. Đắc Kỷ vợ Trụ Vương, Bao Tự vợ U Vương … là những tuyệt sắc giai nhân mà hai ông vua đầy uy quyền của lịch sử Trung Quốc kia phải sợ hãi vâng lời răm rắp. Trụ là một người có tài về quân sự, có sức mạnh hơn người, ông đánh thắng bộ tộc Di, nhưng thua cái vòng số một nõn nà của Đắc Kỷ. Ông là kẻ bạo ngược, mọi người đều sợ ông nhưng ông thì sợ Đắc Kỷ.

Nhan sắc của Bao Tự cũng lừng danh trong thiên hạ, nàng đã khéo dùng cái “vốn tự có” của mình để làm mê mẩn U Vương và quay ông ta như quay dế. Bữa nọ nàng làm bộ buồn và bảo: Ta bị stress. U Vương bèn cho massage thư giãn, cũng vẫn buồn, gọi các danh hài vô quậy, cũng chẳng vui được chút nào. Hỏi làm sao hết buồn thì đáp: Thiếp chỉ thích nghe tiếng xé lụa. Bao Tự vốn xuất thân là cô bé quê mùa do nhặt được trên nương rẫy đem về, nhưng kiểu giải trí này thì quả nhiên quá cầu kỳ và tốn kém. Bởi vì lụa Tô Châu, Hàng Châu ngày nay mua một mét cũng mất 50 đô la Mỹ, thời đó chắc cũng không rẻ gì, thế mà cứ đem cả ngàn mét lụa ra xé để mua lấy một cái nhếch môi cười. Chiều vợ mà như U Vương quả trên đời chỉ có một. Cho nên người Trung Quốc đã hoảng hốt mà thốt lên rằng: “Sắc bất ba đào dị nịch nhân.” Có nghĩa là Vẻ đẹp của người nữ tuy không có sóng gió bão bùng nhưng rất dễ làm chìm đắm con người.

Vào khoảng đầu thế kỷ 20 ở Paris có chàng văn sĩ tài ba gốc người Áo tên là Rilke, tuy cách xa Trung Quốc ngàn dặm nhưng chắc vì cũng có kinh nghiệm mê gái đầy mình và có lẽ cũng đã từng bị các nương tử tóc vàng đì cho sói trán nên bèn nắm mấy cái sừng trên đầu mình mà khóc rằng: “Đẹp là một cái gì đáng sợ.”
*
Người sợ vợ, dĩ nhiên rất yêu vợ, cưng và quý như một báu vật trên đời. Người vợ muốn được chồng cưng và quý như thế phải là một người như thế nào chứ! Ngoài nhan sắc, tính tình phải dịu dàng, phải có tri thức, phải có đời sống tình dục và đời sống tinh thần hòa hợp với chồng. Nói chung là một người không thể thiếu trong đời sống của anh chồng. Có như thế anh chồng mới sợ mất, sợ sứt mẻ tình cảm, sợ không làm vợ mình hài lòng, sợ nàng buồn bã, nhan sắc sẽ tàn phai.

Tôi biết có anh chồng cưng vợ đến nỗi có lần ghen mà không dám nói nặng, tất nhiên cũng không dám đánh, nhưng vì tức quá nên anh ta rút một cây nhang trên bàn thờ đập vào vai nàng một cái. Sách thánh hiền thường dạy: Chớ bao giờ đánh người đẹp dù là đánh bằng một đóa hoa. Anh bạn của chúng ta chắc cũng hiểu cái đạo lý ấy nên mới dùng một cọng nhang. Bởi vì đó là thứ dùng để thờ lạy, để tỏ lòng tôn kính. Đánh vợ mà đánh bằng một cọng nhang thì có khác gì quỳ trước mặt nàng mà hành lễ?

Nghĩ cho cùng, sợ vợ mà kiểu như U Vương, Trụ Vương thì chỉ đem lại tai họa. Nhưng sợ vợ mà biết nâng niu chiều chuộng nàng thì đúng là cái phước lớn của thiên hạ. Và nói theo triết học Thiền tông thì: Biết sợ vợ là đã NGỘ rồi vậy.
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Chuyện phiền lúc cuối năm
Tưởng Năng Tiến

Khi bạn đứng tần ngần trước một quầy hàng bầy thiệp giáng sinh, và tất cả đều đã “off” từ bốn đến sáu chục phần trăm thì mọi chuyện kể như là đã lỡ. Chúng ta lại trễ tràng mất rồi.
Năm ngoái, cũng vào khoảng thời gian này đây. Lúc mà Noel đã đến sát tận lưng, và cái tết Dương Lịch đang đứng lù lù trước mặt thì (không dưng) bạn nhận được dăm ba cánh thiệp giáng sinh đến muộn. Thiệp có đặc tính chung là thường hay chuyên chở một thứ nội dung làm sẵn và đã nhẵn, đại loại như: “...một mùa giáng sinh tràn đầy ân sủng Chúa và một năm mới tràn đầy hạnh phúc…”

Ân sủng Chúa, nếu có, e cũng khó mà có thể phân phát tùm lum một cách “tràn đầy” cho nhân loại được. (Chúng ta đông qúa và mỗi lúc một thêm đông mà. Sức Chúa, cũng như sức người, có hạn thôi chứ bộ).
Image
Hình minh họa.Photos.com
Còn hạnh phúc thì sợ rằng chưa ai biết nó mùi vị (thực sự) ra sao. Chúng ta chỉ đều mơ hồ hiểu rằng hễ nhắc đến hạnh phúc thì đừng bao giờ mong cho nó “tràn đầy”. Mọi thứ đầy đều dễ đổ. Và hạnh phúc (thì ôi thôi) bạn thử ngó quanh xem: đó là cái thứ cứ đổ bể rầm rầm, ở tất cả mọi nơi và mọi thời.

Bạn có thể không chú ý đến nội dung hàm hồ của những tấm thiệp nói trên nhưng tên người gửi, ghi rành rành ngoài phong bì, vẫn khiến bạn phải lưu tâm chứ. Có nhiều thằng cha lạ hoắc, sao chả lại gửi thiệp cho mình vậy cà?

Có những con mẹ mà bạn tưởng rằng đã hoàn toàn (và vĩnh viễn) ra khỏi cuộc đời mình rồi thì khi khổng khi không, chiều cuối năm – khi mà nắng vàng dịu dàng đang ôm nhẹ những thảm cỏ xanh mênh mông ở California – bạn bỗng nhận được một cánh thiệp muộn màng của cố nhân.
Mà không phải là loại thiệp cà chớn, mua hàng lố đâu nha. Thiệp loại chiến, kích thước dềnh dàng, mắc tiền là cái chắc. Cũng không phải chỉ có một chữ ký vội vàng (lười biếng) bên dưới hàng chữ “Merry Christmas and Happy New Year”, hay vài câu viết thêm vô nghĩa ngớ ngẩn thôi đâu. Người ta tuy chỉ viết vài hàng ngắn ngủi, giản dị nhưng đọc là thấy tình nghĩa nồng nàn, thấm đậm, và … tình tứ hết biết luôn!
(Cố nhân ơi biết chiều nay ta buồn).

Những cánh thiệp bất ngờ, muộn màng và chàng ràng như thế – đôi khi – làm chúng ta bối rối. Nó là bằng chứng hùng hồn về cách cư xử hơi (bị) thiếu văn minh của bạn. Nó khiến chúng ta lấy làm tiếc là tại sao mình lại vô tâm đến thế, sao không nhớ gửi thiệp cho thiên hạ như họ đã gửi cho mình.

Vào một lúc yếu lòng hơn, nó còn “dám” làm cho bạn tự hứa là sang năm sẽ nhớ ghé qua cửa hàng bán thiệp cho phải chuyện; và ghé sơm sớm cho xong chuyện.
Nếu đến cái lúc gọi là “sang năm” đó mà chúng ta thực hiện được lời hứa một cách nghiêm chỉnh, đàng hoàng thì cuộc đời (rõ ràng) ổn thỏa và dễ sống biết chừng nào. Vi nhân nan. Làm người quả khó, và khó lắm. Khi mà bạn có đủ trí nhớ, và đủ can đảm để dừng xe, ghé vào một cửa hàng nào đó thì (than ơi) chuyện gửi thiệp e không còn kịp nữa.

Bạn lại đứng tần ngần trước một quầy hàng bán thiệp, và tất cả đều đã “off” từ bốn đến sáu chục phần trăm. Bạn lại chậm chân y như năm ngoái hoặc năm kia vậy. Và tình trạng này, không chừng, dám đã xẩy ra từ năm kỉa hay năm kìa lận.

Ôi, nếu duyên nợ của bạn đối với chuyện thiệp thiếc này nọ mà nó cứ nhì nhằng, triền miên như thế từ năm này đến năm khác. Hay từ thập niên nọ qua thập niên kia thì xin cũng đừng lấy đó làm phiền. Như thế, không chừng, lại là một điều may đấy. – May sao? – Dạ, đúng!
Nói tình ngay thì bạn cũng không may gì mấy; có điều, chắc chắn, là bạn vẫn may mắn hơn cả đống người Việt tha hương khác. Xin đơn cử một thí dụ, một trường hợp rất không may, bằng cách tiếp tục câu chuyện đang bỏ dở.

Có kẻ ngay sau khi thấy rằng chuyện gửi thiệp giáng sinh không còn kịp nữa thì họ quyết định ngay là mua thiệp xuân để gửi cho kịp Tết. Họ thua keo này (liền) bầy keo khác. Họ suy tính một cái “rẹt”; hành động một cái “rột.” Thấy mà đã mắt, nghe mà sướng tai. Trong sinh hoạt hàng ngày của họ không có những giờ phút vớ vẩn kiểu như “tần ngần,” do dự” hay “nuối tiếc”... bất cứ chuyện gì. Bạn thấy họ sống mà phát thèm, đúng không?

Khoan, gượm một chút đi bạn vàng. Có nhiều chuyện (ngó) tưởng vậy chớ không phải vậy đâu. Tưởng như vậy là tưởng năng thối. Từ từ, bạn sẽ thấy là họ cũng khốn đốn thấy mẹ luôn.
Hãy hình dung ra chính bạn ngồi ngay ngắn ở bàn viết, với một đống thiệp xuân, mua trước Tết cả tháng trời, và với sổ địa chỉ điện thoại của tất cả những người quen trên “toàn thế giới”. Cho nó cẩn thận, để khỏi xót ai – không chừng – bạn còn làm một danh sách chia làm hai phần: A và B. Phần A dành cho những người ở Việt Nam hay còn đang ở trại tị nạn; phần B dành cho những kẻ ở Huê Kỳ, Pháp, Úc, Gia Nã Ðại, Tiệp Khắc…
Rồi sao nữa? Không lẽ ký tên cái ào bên dưới câu “Cung Chúc Tân Xuân” rồi gửi đi sao? Ðâu có được cha nội! Làm như vậy thà đừng làm còn hơn. Mỹ, Tây, Tầu, Ðại Hàn, Ba Lan, Nhật Bổn, Miên, Lèo… thì sao không biết, chớ người Việt mà nhận được một cái thiệp ký tên xuông như vậy là họ mích lòng (dữ lắm) à nha.

Bạn phải viết vô đó vài dòng cho nó đàng hoàng chớ. Câu hỏi đặt ra là chúng ta viết cái gì đây – hả Trời ?
Với bố mẹ, anh chị, cô dì, chú bác… đang (kẹt) ở Việt Nam thì bạn tính làm sao? “Một mùa Xuân “an bình” hay “con cầu chúc bố mẹ, anh chị, và các em luôn được vui tuơi và khỏe mạnh trong năm mới…” ?
Nè (tui nói cho mà hay) dù thân nhân ở quê nhà có thương yêu bạn cách mấy, và có xuề xòa dễ tính đến đâu chăng nữa thì họ cũng không chấp nhận được những lời cầu chúc vô tâm và vô trách nhiệm như vậy đâu. Nếu ở Việt Nam mà có “một mùa xuân an bình” hay một cuộc sống “vui tươi và khỏe mạnh” thì đâu có ai phải bỏ nước ra đi; hoặc đã lỡ đi thì chúng ta cũng đã ùn ùn kéo về không sót một mống nào rồi chớ đâu đến nỗi để xẩy chuyện “hồi hương cưỡng bách.” (Nghe thấy ghe chết mẹ)!

Rồi bạn viết cái gì trên tấm thiệp gửi cho một người đang “nằm chờ” ở trại tị nạn đây? “Một năm mới tràn đầy hy vọng” chắc? Hy vọng, cũng như hạnh phúc, tui đã nói rồi, kị nhứt là cái vụ “tràn đầy” mà. Một xíu xiu mảy may hy vọng họ cũng chưa chắc được, nhất là đối với những kẻ đến trại tị nạn sau ngày 19 tháng 6 năm 1988. Cái khổ của chúng ta là không đủ giả dối để cầu chúc cho họ “sớm được định cư”; và không đủ nhẫn tâm để mong họ “trên đường hồi hương được nhiều may mắn”! Cái gì chớ may mắn thì ở Việt Nam, kể như, miễn có.

Nếu nhờ Trời cứu, nghĩa là nhờ một phép lạ nào đó, bạn giải quyết xuông sẻ hết những người có tên danh sách ở phần A thì bạn vẫn còn bị kẹt ở phần B như thường.
Chúng ta – những kẻ đang sống an bình ở hải ngoại – nói năng làm sao với nhau, nhân dịp xuân về đây? Những lời chúc tụng truyền thống, được ông bà cha mẹ chúng ta sài tới sài lui hồi giờ đâu còn dùng được nữa. “Chúc ông bà, anh chị...làm ăn phát tài gấp năm, gấp mười năm ngoái” chăng? Bạn có tính xúi thiên hạ đi ăn cướp nhà băng hay bán cocaine không vậy?
Cũng chớ có quen miệng mà buông một câu kiểu như “đầu năm sinh con trai cuối năm sinh con gái” nha. Cái gì chớ phá thai là điều không mấy ai ưa. Nói năng lạng quạng gây thù chuốc oán như không.
Hay là bỏ mẹ những chuyện cá nhân lẻ tẻ đó đi. Phang đại một lời cầu chúc cho đại cuộc, không chừng lại ngon lành. Tới luôn bạng vàng, đâu có chết thằng Tây nào mà sợ. “Mai này cùng về Việt Nam” chăng?
Nghe thì vui nhưng nghĩ lại thì hơi khó. Ngó bộ mốt hay ngày kia cũng chưa chắc về được chớ đừng nói chi mai; trừ khi, bạn giả dạng làm du khách “chơi lén” một chuyến thì không kể.

Khó há! Trong hoàn cảnh chúng ta, nghĩ cho cùng, thì chỉ còn có thể gửi vài ba cái thiệp cho những người bạn thật thân thôi. Chỉ đối với những người này, may ra, mình mới có thể cởi bỏ được những hình thức xã giao nhảm nhí và gửi đến nhau đôi lời cầu chúc hay giễu cợt thân tình. Mà đã thân cỡ đó thì cần chi tới thiệp. Sao đêm ba mươi không dùng cell phone đấu láo, đấu lếu một chập cho nó đã miệng.

Tới đây thì hy vọng ít nhiều bạn cũng đồng ý rằng lờ tít chuyện thiệp xuân thiệp tết đi thì thiệt là kỳ, nhưng nhào vô cái vụ này thì phiền quá. Ðời sống, tự nó, đã phiền bỏ mẹ đi rồi. Bầy thêm chuyện để phiền mình và phiền lẫn nhau làm chi, phải không?

Nói như vậy không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn vai trò trang nhã, có tính cách truyền thống, rất đáng giữ gìn của những cái thiệp trao đi gửi lại đâu. Ðúng là nó cũng đẹp đấy, cũng được đó, nhưng chỉ e nó không hợp mấy trong lúc này thôi. Cái lúc mà chúng ta vẫn còn đang sống giữa nhũng mùa xuân ly loạn đó mà.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Già sao cho… sướng?

BS Đỗ Hồng Ngọc
Già thì khổ, ai cũng biết. Sanh bệnh lão tử! Nhưng già vẫn có thể sướng. Muốn sống lâu thì phải già chớ sao! Già có cái đẹp của già. Trái chín cây bao giờ cũng ngon hơn trái giú ép.

Cái sướng đầu tiên của già là biết mình… già, thấy mình già, như trái chín cây thấy mình đang chín trên cây. Nhiều người chối từ già, chối từ cái sự thật đó và tìm cách giấu cái già đi, như trái chín cây ửng đỏ, mềm mại, thơm tho mà ráng căng cứng, xanh lè thì coi hổng được. Mỗi ngày nhìn vào gương, người già có thể phát hiện những vẻ đẹp bất ngờ như những nếp nhăn mới x̣e trên khóe mắt, bên vành môi, những món tóc lén lút bạc chỗ này chỗ nọ, cứng đơ, xơ xác… mà không khỏi tức cười! Quan sát nhìn ngắm mình như vậy, ta mới hiểu hai chữ "xồng xộc" của Hồ Xuân Hương: "Chơi xuân kẻo hết xuân đi. Cái già xồng xộc nó thì theo sau!" . Có lẽ nữ sĩ lúc đó mới vào lứa tuổi 40! Thời ta bây giờ, 40 tuổi lại là tuổi đẹp nhất. Phải đợi đến 80 mới gọi là hơi già. Trong tương lai, khi người ta sống đến 160 tuổi thì 80 lại là tuổi đẹp nhất!

Tuy vậy, thực tế, già thì khó mà sướng. Con người ta có cái khuynh hướng dễ thấy khổ hơn.

Khổ dễ nhận ra còn sướng thì khó biết! Một người luôn thấy mình… sướng thì không khéo người ta nghi ngờ hắn có vấn đề… tâm thần! Nói chung, người già có ba nỗi khổ thường gặp nhất, nếu giải quyết đựơc sẽ giúp họ sống "trăm năm hạnh phúc":

1. Một là thiếu bạn!
Nhìn qua nhìn lại, bạn cũ rơi rụng dần… Thiếu bạn, dễ hụt hẫng, cô đơn và dĩ nhiên… cô độc. Từ đó dễ thấy mình bị bỏ rơi, thấy không ai hiểu mình! Quay quắt, căng

thẳng, tủi thân. Lúc nào cũng đang như:

" Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt

Ta nằm dài nghe ngày tháng dần qua…!".

Người già chỉ sảng khoái khi được rôm rả với ai đó, nhất là những ai "cùng một lứa bên trời lận đận"… Gặp đựơc bạn tâm giao thì quả là một liều thuốc bổ mà không bác sĩ nào có thể biên toa cho họ mua được!

Để giải quyết chuyện này, ở một số nước tiên tiến, người ta mở các phòng tư vấn, giới thiệu cho những người già cùng sở thích, cùng tánh khí, có dịp làm quen với nhau. Người già tự giới thiệu mình và nêu "tiêu chuẩn" người bạn mình muốn làm quen. Nhà tư vấn sẽ "match" để tìm ra kết quả và làm… môi giới…Dĩ nhiên môi giới cho họ kết bạn. Còn sau này họ thấy tâm đầu ý hợp tiến tới hôn nhân (nếu còn độc thân) thì họ ráng chịu! Đó là chuyện riêng của họ. Ngày trước, Uy viễn tướng công mà còn phải than:

Tao ở nhà tao tao nhớ mi

Nhớ mi nên phải bước chân đi

Không đi mi bảo rằng không đến

Đến thì mi hỏi đến làm chi

Làm chi tao có làm chi đựơc

Làm được tao làm đă lắm khi…

Nguyễn Công Trứ

Rồi họ dạy người già học vi tính để có thể "chat", "meo" với nhau chia sẻ tâm tình, giải tỏa

stress… Thỉnh thỏang tổ chức cho các cụ họp mặt đâu đó để được trực tiếp gặp gỡ, trao đổi,

dòm ngó, khen ngợi hoặc… chê bai lẫn nhau. Khen ngợi chê bai gì đều có lợi cho sức khỏe! Có dịp tương tác, có dịp cãi nhau là sướng rồi. Các tế bào não sẽ đựơc kích thích, đựơc hoạt hóa, sẽ tiết ra nhiều kích thích tố. Tuyến thượng thận sẽ hăng lên, làm việc năng nổ, tạo ra cortisol và epinephrine làm cho máu huyết lưu thông, hơi thở trở nên sảng khóai, rồi tuyến sinh dục tạo ra DHEA (dehydroepiandoster one), một kích thích tố làm cho người ta trẻ lại, trẻ không ngờ!…Dĩ nhiên phải chọn một nơi có không khí trong lành. Hoa cỏ thiên nhiên. Thức ăn theo 2 yêu cầu. Gợi nhớ những kỷ niệm xưa... Rồi dạy các cụ vẽ tranh, làm thơ, nắn tượng… Tổ chức triển lăm cho các cụ. Rồi tŕnh diễn văn nghệ cây nhà lá vườn. Các cụ dư sức viết kịch bản và đạo diễn. Coi văn nghệ không sướng bằng làm … văn nghệ!

2. Cái thiếu thứ hai là thiếu… ăn ! Thực vậy. Ăn không phải là tọng, là nuốt, là xực, là ngấu nghiến …cho nhiều thức ăn! Ăn không phải là nhồi nhét cho đầy bao tử! Trong cuộc sống hang ngày có nhiều thứ nuốt không trôi lắm! Chẳng hạn ăn trong nỗi sợ hăi, lo âu, bực tức; ăn trong nỗi chờ đợi, giận hờn thì nuốt sao trôi? Nuốt là một phản xạ đặc biệt của thực quản dưới sự điều khiển của hệ thần kinh. Một người trồng chuối ngược vẫn có thể nuốt được dễ dàng!

Nhưng khi buồn lo thì phản xạ nuốt bị cắt đứt!

Nhưng các cụ thiếu ăn, thiếu năng lựơng phần lớn là do sợ bệnh, kiêng khem quá đáng. Bác sĩ lại hay hù, làm cho họ sợ thêm! Nói chung, chuyện ăn uống nên nghe theo mệnh lệnh của… bao tử:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên

Cơ tắc xan hề khốn tắc miên…"

(Ở đời vui đạo hãy tùy duyên

Đói đến thì ăn mệt ngủ liền…)

Trần Nhân Tông

"Listen to your body". Hăy lắng nghe sự mách bảo của cơ thể mình! Cơ thể nói… thèm ăn cái gì thì nó đang cần cái đó, thiếu cái đó! Nhưng nhớ ăn là chuyện của văn hóa ! Chuyện của ngàn năm, dâu phải một ngày một buổi. Món ăn gắn với kỷ niệm, gắn với thói quen, gắn với mùi vị từ thuở còn thơ! Người già có thể thích những món ăn…kỳ cục, không sao. Đừng ép! Miễn đủ bốn nhóm: bột, đạm, dầu, rau…Mắm nêm, mắm ruốc, mắm sặc, mắm bồ hóc, tương chao… đều tốt cả. Miễn đừng quá mặn, quá ngọt…là đựơc. Cách ăn cũng vậy. Hãy để các cụ tự do tự tại đến mức có thể đựơc. Đừng ép ăn, đừng đút ăn, đừng làm "hư" các cụ!

Cũng cần có sự hào hứng, sảng khóai, vui vẻ trong bữa ăn. Con cháu hiếu thảo phải biết …

giành ăn với các cụ. Men tiêu hoá được tiết ra từ tâm hồn chớ không chỉ từ bao tử.

3. Cái thiếu thứ ba là thiếu vận động !
Già thì hai chân trở nên nặng nề, như mọc dài ra, biểu

không chịu nghe lời ta nữa! Các khớp cứng lại, sưng lên, xương thì mỏng ra, dòn tan, dễ vỡ, dễ gãy…! Ấy cũng bởi cả một thời trai trẻ đã "Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt…" (TCS)!

Bác sĩ thường khuyên vận động mà không hướng dẫn kỹ, dễ làm các cụ ráng quá sức chịu đựng, lâm bệnh thêm. Phải làm sao cho nhẹ nhàng mà hiệu quả, phù hợp với tuổi tác, với sức khỏe. Phải từ từ và đều đều. Ngày xưa người ta săn bắn, hái lượm, đánh cá, làm ruộng, làm rẫy… lao động suốt ngày. Bây giờ chỉ ngồi quanh quẩn trước TV!

Có một nguyên tắc "Use it or lose it! " Cái gì không xài thì teo! Thời đại bây giờ người ta xài cái đầu nhiều quá, nên "đầu thì to mà đít thì teo". Thật đáng tiếc! Không cần đi đâu xa. Có thể tập trong nhà. Nếu nhà có cầu thang thì đi cầu thang ngày mươi bận rất tốt. Đi vòng vòng trongphòng cũng được. Đừng có ráng lập "thành tích" làm gì! Tập cho mình thôi.. Từ từ và đều đều… Đến lúc nào thấy ghiền, bỏ tập một buổi … chịu hổng nổi là được! Nguyên tắc chung là kết hợp hơi thở với vận động. Chậm rãi, nhịp nhàng. Lạy Phật cũng phải đúng …kỹ thuật để khỏi đau lưng, vẹo cột sống. Đúng kỹ thuật là giữ tư thế và kết hợp với hơi thở. Đó cũng chính là thiền, là yoga, dưỡng sinh... ! Vận động thể lực đúng cách thì già sẽ chậm lại. Giảm trầm cảm, buồn lo. Phấn chấn, tự tin. Dễ ăn, dễ ngủ…

Tóm lại, giải quyết đựơc "ba cái lăng nhăng" đó thì có thể già mà… sướng vậy!
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 5 guests