Thời Sự, Bình Luân

vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Trịnh Hòa - Cái Tát Tai Tập Thể
Tác giả: Trần Giang



Theo đúng lịch trình mà Sứ quán Trung Quốc tuyên bố thì hôm nay, 18 tháng 11 năm 2008, tàu chiến Trịnh Hòa sẽ cập bến Đà Nẵng và ở lại đến ngày 22 mới rời bến. Đây là một vết thương mới cho dân tộc Việt Nam trong tháng 11, tháng đánh dấu tròn một năm Bắc Kinh chính thức thành lập huyện Tam Sa để bao gồm luôn hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Thời gian cuối năm cũng đánh dấu nhiều đợt ngư dân Việt bị hải quân Tàu xả súng bắn giết trên biển Đông trong 5 năm qua. Vậy tại sao những người lãnh đạo đảng CSVN lại chọn thời điểm này để thêm một cái nhục cho người Việt Nam?

Lý do đơn giản là vì đây không phải là chọn lựa của Hà nội mà là một quyết định ép buộc của Bắc Kinh sau khi cả 3 lãnh tụ cao nhất của đảng CSVN đều đã long trọng thề hứa tại Bắc Kinh là sẽ tuyệt đối thờ bái 16 chữ vàng và không dám đòi hỏi gì trên biển Đông nữa. Những tuyên bố của cựu trưởng ban đàm phán biên giới Lê Công Phụng vào tháng trước càng cho Bắc Kinh biết rõ gan ruột của những người cầm đầu đảng CSVN đã chấp nhận chịu thua và sẵn sàng dựa vào Bắc Kinh để cai trị ngược lại dân tộc Việt Nam dù biết rất rõ các ác ý của họ. Ông Lê Công Phụng tuyên bố rằng: "Sống bên cạnh nước lớn thì phải biết cách sống ... Đấy là kinh nghiệm của ông cha sống bên cạnh xứ láng giềng lớn, thì mình cũng phải học theo các cụ."

Và đó là những lời khuyến khích dẫn đến cái bạt tai mang tên Trịnh Hòa.


Chiến hạm Trịnh Hòa Trong số hàng chục ngàn tàu chiến lớn nhỏ, Trung Quốc nhất định phải đem sang tàu chiến mang tên Trịnh Hòa, vị quan đời nhà Minh mà Bắc Kinh đang gian ngoa tuyên bố là người đã chiếm Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc, bất kể mục tiêu của các đoàn tàu Trịnh Hòa 600 năm trước là chinh phục thuộc địa để kiếm đồ triều cống. Trên Hoàng Sa và Trường Sa thời đó chỉ có phân chim và trứng rùa.

Và rồi trong số các cảng quan trọng của Việt Nam, Trung Quốc nhất định không phải là cảng Sài Gòn, Hải Phòng, hay Nha Trang; mà phải là cảng Đà Nẵng, gần nhất với quần đảo Hoàng Sa. Vì vậy, không thể chối cãi Bắc kinh không những chủ ý bạt tai các nhà lãnh đạo Hà nội đang quì trước cổng thiên triều mà còn cố tình dằn mặt cả dân tộc Việt Nam rằng toàn bộ lãnh đạo đảng CSVN đều đã và còn phải thần phục thì các phản đối của khối dân chúng bên dưới chỉ uổng công vô ích. Hãy im miệng chấp nhận đi.

Đảng CSVN cũng biết rất rõ đây là cái bạt tai của thiên triều, và không chỉ dành cho riêng họ. Chính vì vậy mà lãnh đạo đảng, qua Ban Tuyên Giáo Trung Ương Đảng, lập tức ra chỉ thị cho mọi báo, đài phải dấu đi cái tên Trịnh Hòa của con tàu, mà chỉ được dùng cái tên phiên âm Zheng He xa lạ. Cùng lúc toàn bộ hệ thống công an được báo động để dập ngay mọi mầm mống uất hận trong nhân dân.

Đến nay thì ít ai còn ngạc nhiên khi lãnh đạo đảng CSVN sẵn sàng chịu ăn bạt tai liên tiếp để giữ cái ghế cai trị của họ, nhưng người Việt Nam có chấp nhận để họ xuyên tạc luôn cả lòng yêu nước và cách ứng xử của tổ tiên chúng ta không?

Dân tộc Việt Nam có để loại người như Lê Chiêu Thống, Lê Công Phụng phỉ báng những giọt máu Việt Nam đã đổ suốt 10 năm trường, từ 1979 đến 1989, để bảo vệ bờ cõi phía Bắc, là không biết "cách sống" với nước lớn, không?

Và sau hết, Dân tộc Việt Nam, kể cả các cựu chiến binh, chiến binh, và đảng viên cộng sản, có chấp nhận đưa mặt ra cho Bắc Kinh tát trong lúc miệng bị bịt, tay bị trói bởi lãnh đạo đảng CSVN nữa không?

Hãy tham gia lời kêu gọi của những trái tim yêu nước và tự trọng dân tộc đang vang lên trên khắp đất nước:

"Hỡi các bạn đang đau xót cho thân thể và danh dự tổ quốc, Chúng ta phải vượt qua hàng rào công an để gào lên lời phản đối ! Chúng ta phải khẳng định dân tộc Việt Nam không bao giờ chấp nhận dâng cúng Hoàng Sa-Trường Sa cho bất kỳ ngoại bang nào !

Hãy cùng nhau gọi điện thoại phản đối vào thẳng Sứ quán và Lãnh sự Trung Quốc tại Việt Nam vào các ngày 18 đến 22 tháng 11 năm 2008, tức thời gian tàu chiến Trịnh Hòa đậu trên đất Việt."

Trần Giang
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Từ Arlington Nhớ Về Biên Hòa

Giao Chỉ, San Jose
Image
Bên đây, bên đó
Người Việt tại Hoa kỳ, từ thân phận di tản tỵ nạn, nay trở thành công dân. Chúng ta có quê hương xưa bỏ lại và đất nước mới để xây dựng cuộc đời. Xin cùng tác giả tìm hiểu về những vùng đất rất đặc biệt. Miền đất vĩnh cữu từ Arlington, Virginia đến nghĩa trang quân đội Biên Hòa tại Việt Nam.

Trải qua 150 năm tính đến mùa thu năm 2008, khu đất 624 mẫu với những đồi lớn nhỏ chập chùng nằm bên bờ sông Potamac, đã được tuyên dương là Nghĩa trang Quốc gia Hoa Kỳ. Khu vực này là tài sản của dòng họ Lee, vị tướng tư lệnh của đạo quân miền Nam trong cuộc chiến tương tàn Nam Bắc, Hiệp Chủng Quốc. Lúc đầu, đất này chỉ là khu nghĩa địa thông thường, nhưng sau được cải danh là Nghĩa trang quốc gia. Đã có 16 ngàn chiến binh được chôn cất sau cuộc nội chiến. Trên 320 ngàn ngôi mộ, là nơi an nghỉ của các chiến sĩ anh hùng Hoa Kỳ suốt hơn 200 năm qua. Tính đến nay mỗi tuần vẫn có gần 30 chiến sĩ được an táng.
Image
Từ phía bên kia Đại dương, hơn 20 cây số ở phía Bắc thành phố Saigon, là nghĩa trang quân đội Biên Hòa. Từ khi chiến tranh Việt Nam gia tăng cường độ giữa thập niên 60, vùng đất trên 120 mẫu bao la, bên tả ngạn con đường đi Vũng Tàu là khu được bộ Tổng Tham Mưu chọn làm nghĩa trang hình con ong. Khởi sự mang danh ‘Nghĩa Trang Quân Đội’ từ 1965, nhưng về sau đã có dự trù trở thành ‘Nghĩa Trang Quốc Gia Việt Nam’.

Cho đến tháng 4 năm 1975, miền Nam đã chôn cất 16 ngàn tử sĩ và từ đó đến nay, 33 năm qua không có người nào được chôn cất thêm. Nghĩa trang này đã bị tàn phá một phần bởi bộ đội Cộng sản miền Bắc và nay bị lãng quên trong hoang phế.

Xem lại lịch sử Arlington, kể từ khi chôn cất những tử sĩ đầu tiên năm 1802, nhưng đến năm 1864 mới thành Nghĩa Trang Quốc Gia. Hiện nay Arlington đã trở nên một danh lam thắng cảnh của thủ đô Hoa Thịnh Đốn với gần 5 triệu du khách hằng năm.

Trong khi đó nghĩa trang Biên Hòa chỉ có 10 năm lịch sử ngắn ngủi từ lúc chôn người lính đầu tiên tháng 3 năm 1965 cho đến 3 ngôi mộ tập thể được vùi dập vội vàng vào sáng ngày 1 tháng 5 năm 1975. Tuy nhiên từ hai vùng đất tử sinh của Hoa Kỳ và Việt Nam đã có những con số trùng hợp lạ lùng.

Tính đến khi tổng kết chiến tranh Nam Bắc Hoa Kỳ đã có 16 ngàn tử sĩ đã được chôn trên đất Arlington, và tại Biên Hòa, khi miền Nam thất thủ, QLVNCH cũng đã chôn cất tại đây 16 ngàn tử sĩ. Cho đến nay, từ nghĩa trang xưa, gia đình đã di chuyển cải táng về quê khá nhiều. Di hài chiến binh miền Nam từ nghĩa trang hoang phế ra đi thêm một lần nữa nên hiện nay chỉ còn trên 10 ngàn ngôi mộ với diện tích thu hẹp từ 120 mẫu còn lại hơn 50 mẫu.

Arlington ngày xưa với 16 ngàn tử sĩ của cuộc nội chiến ngày nay có trên 300 ngàn chiến sĩ Hoa kỳ đã được chôn cất. Một bên có cả 200 năm lịch sử chung sự trong chiến tranh mà vẫn còn tồn tại. Còn Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta, chỉ có 10 năm kiến tạo và chôn cất anh em, nhưng trang sử của nghĩa trang xưa chẳng còn được bao nhiêu, dù trên di sản văn bản hay dưới lòng mộ sâu. Bức tượng ‘Thương tiếc’ đầy huyền thoại bị địch phá bỏ và 20 năm sau vào năm 2005, Cộng sản lại phá thêm 10 thước chiều cao của ‘Nghĩa dũng đài’.

Trong nỗi ngậm ngùi nhớ về nghĩa trang xưa, chúng tôi đi thăm Arlington của quê hương mới. Nhân ngày cựu chiến binh Mỹ năm 2008 , chúng tôi có xin gửi đến những tin tức về 1 vùng đất lịch sử đăc thù của Hiệp chủng Quốc Hoa Kỳ.
Đi tìm lịch sử dưới đáy mồ
Ngày mai là ngày cựu chiến binh Hoa Kỳ 2008, và hôm nay chính là ngày thích hợp nhất để chúng tôi đi tìm lịch sử dưới đáy mồ. Các đơn vị tập dượt, du khách lần lượt vào thăm nhộn nhịp nhưng chưa phải là lễ chính nên đường xe còn thong thả.

Qua khỏi trung tâm đón chào khách bốn phương, chúng tôi đi bộ đến vùng đất xa xôi nhất. Khu 18 chôn cất tử sĩ miền Nam và khu 14 mồ tập thể hai miền Nam Bắc trên 2000 người chết. Khu xa nhất mang số 18 và trên đường về ghé vào khu 14. Một ngày khác, sẽ đi tìm nơi chôn 10 chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, trong đó có một Thiếu tá họ Vũ.
Image
Hai bên đường khá đông các học sinh đi theo thầy, cô từng đoàn dài. Trên 600 mẫu đất bao la cắt ra hàng trăm mảnh. Có những mộ bia đều đặn thẳng tắp đến chân trời. Cũng có những khu đất nhỏ chôn cất tướng lãnh anh hùng với mộ chí rất đặc thù khác biệt. Những pho tượng cấp chỉ huy cỡi ngựa đặt trên lối đi. Tướng trên mình ngựa, bốn chân chạm đất là các vị chết thông thường. Chiến mã co chân trên mặt đất là chủ tướng chết tại sa trường.

Hàng cây lá đổi mùa, vàng chen sắc đỏ phủ kín cả trời xanh. Những bia mộ trắng dọc ngang ẩn hiện. Hàng mộ bên đường có chữ USCT là những người lính da đen tử trận. (United States Colored Troup) Có những mộ chí khắc chữ ‘Citizen’. Cho đến khi đã hy sinh, binh sĩ gốc nô lệ được chính thức giải phóng để trở thành có quốc tịch Hoa Kỳ.

Tổng cộng có 21 khu di tích lịch sử để ghé thăm. Mộ Tổng Thống Kennedy là nơi du khách ghé thăm nhiều nhất. Trước khi vị Tổng Thống trẻ tuổi bị ám sát, Arlington chỉ có hơn một triệu du khách thăm hàng năm. Khi ông được an táng ở đây với ngọn lửa ‘ Tân biên cương’, số du khách tăng lên gấp bốn lần. Khu đổi gác tại tượng đài ‘Chiến sĩ vô danh’ cũng là nơi nhiều người dừng chân.

Từ ngôi nhà của tướng Lee, tư lệnh quân đội miền Nam, du khách nhìn thẳng xuống ngọn tháp cao của tượng đài Tổng Thống Washington. Dòng sông Potamac lịch sử chạy ngang qua như giải lụa xanh thẳng góc với hồ gương phản chiếu long lanh ánh bạc.

Tiếng máy thổi lá xào xạc vang động góc trời, nghe đâu đây như tiếng binh đao của thời nội chiến. Du khách chợt thấy lòng mình lắng xuống với tiếng thì thầm của hơn 300,000 chiến binh dưới đáy mồ lịch sử mà hồn thiêng còn vương vấn đâu đây.

Arlington là miền đất giáp Đại Tây Dương. Người dân Việt lưu vong phải hướng về miền Tây, thả hồn bay ngang qua lục địa Bắc Mỹ mới đến bờ biển Thái Bình, và phải qua cả một đại dương mới về đến Nghĩa trang Biên Hòa.Tại miền đất bỏ lại 33 năm về trước, vẫn còn hơn 10 ngàn tử sĩ của miền Nam nằm chờ.

Nhà thơ Thục Vũ, Trung tá Võ Bị Liên Quân Đà Lạt 54, chết tại ngục tù Yên Bái đã viết nên câu thơ bất hủ:

“Anh ở đây, bạn bè anh cũng ở đây...
áo rách sát xương vai gầy,
cùng chung kiếp sống lưu đầy..."
Hòa hợp hòa giải tại Hoa Kỳ
Cuộc nội chiến tại Hoa Kỳ, hai bên dựa trên nền tảng xây dựng đất nước và lý tưởng tự do bình đẳng. Thực ra làm một cuộc chiến đầy cay đắng tại Hiệp Chủng Quốc kể từ sau chiến tranh cách mạng thành công và lập quốc. Quân hai bên Nam Bắc như anh em một nhà chia đôi chém giết nhau trong bốn (4) năm từ 1861 đến 1865. Đã có con số thương vong khủng khiếp là 620,000 người. Với dân số Hoa Kỳ thời đó là 30 triệu dân, ta có thể coi như con số tử trận tương đương với hơn 6 triệu người của dân số 300 triệu dân Mỹ hiện nay.

Vì vậy hận thù chất ngất, sự hàn gắn giữa hai bên đã phải đòi hỏi một thời gian dài. Thêm vào đó, vài ngày sau miền Bắc chiến thắng thì vị Tổng Thống anh hùng của Mỹ quốc bị ám sát chết. Lửa oán hờn bốc cháy. Câu chuyện đau thương và con đường lịch sử hàn gắn tại nghĩa trang Arlington là các dữ kiện điển hình.

Sau cuộc chiến dù rằng đã có 1 số ngôi mộ tử sĩ miền Nam nằm tại Arlington nhưng nghĩa trang này vẫn được coi chính thức của phe Liên Bang miền Bắc. Gia đình thân nhân miền Nam không được phép vào thăm mộ tử sĩ. Đến thời kỳ chiến tranh chống Mễ Tây Cơ, thanh niên miền Nam tình nguyện nhập ngũ cùng miền Bắc đứng lên bảo vệ đất nước. Hận thù dần dần lắng xuống.

Vào đầu thập niên 90, chính xác là năm 1901, tức là 35 năm sau cuộc chiến Nam Bắc, quốc hội Hoa Kỳ bắt đầu kêu gọi hòa giải dân tộc. Một khu đất cao phía Bắc của nghĩa trang Arlington được dành riêng làm nơi chôn cất di hài của chiến sĩ miền Nam. Những ngôi mộ dân quân miền Nam tại vùng Hoa Thịnh Đốn được cải táng đưa vào Arlington. Tổng cộng 482 di hài chôn thành vòng tròn chung quanh 1 tượng đài. Vào ngày lịch sử 4 tháng 6 năm 1914, kỷ niệm 106 ngày sinh nhật của vị tổng thống miền Nam bại trận là ông Jefferson Davis, tượng đài tại khu nghĩa trang miền Nam được khánh thành dưới sự chủ tọa của tổng thống Wilson và cựu chiến binh của cả 2 miền hiện diện.

Điêu khắc gia đã hoàn tất bức tượng bà mẹ chiến sĩ miền Nam trên bệ cao 32 Food. Khi bức màn phủ tượng đồng kéo xuống, nét mặt bà mẹ miền Nam buồn rầu nhìn xuống hàng mộ của những đứa con trai hy sinh, nước mắt hòa giải long lanh trên má những người cựu chiến binh già cả hai miền đất nước. Từ trên đỉnh cao của Arlington, ngay tại khu nghĩa trang lính miền Nam nhìn xuống phía Nam, về phía tay trái là khu di tích mang số 14. Tại đây có 1 nấm mồ vĩ đại ghi dấu con số oan nghiệt 2111 chiến binh cả 2 miền trong cuộc nội chiến được chôn tập thể. Những trận đánh sau cùng ở vùng Ricmond, có lần trên 50 ngàn tử sĩ 2 bên hy sinh trong trận sáp lá cà đẫm máu. Khi mưa tuyết, bùn lầy trải qua nhiều ngày, đã có trên 2000 xác không thể nhận diện là quân Nam hay Bắc. Tư lệnh chiến trường đã cho chôn vào mồ tập thể và bên trên ghi dấu chiến sĩ vô danh của nội chiến. Hàng chữ khắc trên đá cẩm thạch đã dành cho lính hai bên lời xưng tụng cao quý và bình đẳng trước Thượng đế.

Như vậy vào 150 năm xưa, để hàn gắn thù hận cuộc chiến Nam Bắc, người Mỹ đã phải chờ đợi 35 năm mới tạm thời giải tỏa được nỗi niềm qua lãnh vực chung sự. Bao giờ đến lượt nghĩa trang quân đội Biên Hòa tại Việt Nam.

33 năm đã trôi qua.

Image

Tóm lược về Nghĩa trang quốc gia Arlington
1. Năm 1802 khu đất Arlington là tài sản của dòng họ Lee. Lúc đó ông Rober E. Lee là tướng quân đội Liên bang, chỉ huy trưởng trường West Point. Sau ông ra đi làm tư lệnh quân đội miền Nam trong cuộc nội chiến. Hiện nay vẫn còn ngôi nhà Arlington House tưởng niệm tướng Lee. (#15).

2. Nghĩa trang quân đội lúc đầu có 200 mẫu, chôn người lính đầu tiên tên là Christman, thuộc trung đoàn 67 ngày 13 tháng 5-1864.

3. Người nô lệ da đen là phu đào huyệt đầu tiên James Parks, sanh ra tại Arlington được giải phóng sau nội chiến và khi chết cũng được chôn tại đây.

4. 1500 chiến binh da đen trong hàng ngũ Liên quân hy sinh trong nội chiến cũng được chôn tại đây.(Section 27) Trên mộ bia có tên và 4 chữ USCT (United States Colored Troup). Có trường hợp chỉ ghi Citizen. Không một người da đen nào chôn ở Arlington trong tư cách nô lệ. (#19).

5. Nội chiến Hoa Kỳ kéo dài trong 4 năm từ 1861 đến 1865. Đã có 620,000 quân của 2 bên chết chôn cất tại nhiều nghĩa trang khắp nơi. Riêng quân miền Bắc đã chôn tại Arlington là 16 ngàn người.

6. Thời gian từ 1892 đến 1943 đã có 1 số chiến sĩ hy sinh trong cuộc chiến cách mạng chống quân Anh đã được cải táng vào Arlington.

7. Lần lượt các chiến sĩ hy sinh trong đệ nhất, đệ nhị thế chiến, chiến tranh Triều Tiên, Việt Nam, Trung Đông đều được mai táng tại đây. Những tượng đài chiến sĩ vô danh (#8) cho mỗi cuộc chiến đều được xây dựng. Gồm cả các mộ chiến sĩ vô danh.(#14).

8. Hai vị tổng thống đã chôn tại Arlington là Tổng thống William H. Taft (#17) và tổng thống John F.Kennedy (#1) cùng các vị anh hùng tên tuổi, (#10) các phi hành gia, (#12) các anh thư liệt nữ của Hoa Kỳ.(#9) Các anh hùng của vụ 9/11 hay các chiến sĩ hy sinh trên các chiến hạm.(#11).

9. Hiện nay nghĩa trang Arlington có đến 624 mẫu đất và đã chôn cất trên 320 ngàn người gồm cả các tử sĩ và các công dân hy sinh cho đất nước. Mỗi tuần lễ, trung bình có 27 đám tang theo nghi lễ quân sự.

10. Sau cuộc nội chiến 1861-1865 có 2111 tử sĩ hai bên được chôn tập thể. Mộ chiến sĩ vô danh của cuộc nội chiến Hoa Kỳ nằm tại khu vực gần Arlington House (#14) . Năm 1901 là năm hòa giải dân tộc. Nghĩa trang và tượng đài của miền Nam được dựng lên (# 18 ).

11.Đặc biệt tại Arlington có tổng cộng 62 người không phải quốc tịch Hoa Kỳ được chôn cất.

Trong số nầy có 10 chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa. 9 người vô danh và 1 người là Thiếu tá bộ binh

Có 2 phi công Việt Nam vô danh mất tích tại Lào tháng 3-1968 trong chuyến bay cùng với Thượng sĩ Richarrd Fitts. Hiện chôn tập thể tại Section 34 grave 4524.

Trường hợp thứ ba là 7 chiến binh VNCH vô danh chết cùng 4 chiến binh Hoa Kỳ trên chuyến trực thăng rớt bên Lào ngày 5 tháng 3-1971 hiện chôn tập thể tại Section 3 Grave 4439.

Vào năm 1968-1971, Bộ tư lệnh KQ VN có thể đã ghi phi vụ mất tích, nhưng cho đến năm 1990 toán truy tìm MIA mới đến được chỗ lấy xác. Nhưng chỉ còn xương đã vở nát và lẫn lộn.
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »

Thị trường xuống, tiền chạy đi đâu?

Ngô Nhân Dụng
Sau hai ngày, mỗi ngày mất gần 500 điểm, hôm qua chỉ số Công Nghiệp Dow Jones (DJIA) đã lên trở lại, cũng tăng gần 500 điểm. Vì thị trường New York nghe tin tổng thống tân cử Barack Obama đang chuẩn bị mời ông Timothy J. Geithner làm bộ trưởng Bộ Tài Chánh (gọi là Bộ Ngân Khố).

Bản tin rất vắn tắt chỉ cho biết cơ quan Ðiều Tra Liên Bang (FBI) đã đang chính thức đi dò hỏi những bạn bè quen biết và người cộng sự về ông Geithner. Giới đầu tư cũng bén nhậy như nhà báo, họ đoán ngay là ông Obama đã nhờ FBI điều tra về nhân vật này, một dấu hiệu cho thấy ông ta đang được nhắm cho một chức vụ quan trọng trong chính phủ sắp tới.

Mà ông Geithner thì chắc chỉ làm bộ trưởng Ngân Khố. Hiện ông đang là thống đốc Quỹ Dự Trữ Liên Bang vùng New York, là nhân vật đứng thứ nhì trong ban lãnh đạo Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang (Fed), tức ngân hàng trung ương nước Mỹ, chỉ sau ông Chủ Tịch Ben Bernanke. Mọi hoạt động của Fed, như cho các ngân hàng vay tiền, mua và bán công trái trong thị trường, đều do chi nhánh Fed ở New York phụ trách, vì thành phố New York là trung tâm tài chánh của Mỹ. Gần đây ông luôn luôn ở bên ông Chủ Tịch Fed và Bộ Trưởng Henry Paulson trong những kế hoạch cứu nguy thị trường. Những vụ môi giới để các ngân hàng đầu tư lớn kết hợp hoặc mua bán lẫn nhau, cũng như việc trợ giúp để cứu các ngân hàng lâm nạn, đều thực hiện qua văn phòng Fed ở New York.

Chiều hôm qua, thị trường phấn chấn tăng thêm 494 điểm, tức tăng 6.5%, sau khi bản tin về ông Thống Ðốc Geithner được truyền đi, không phải vì người ta hy vọng ông này có phép lạ cứu vãn nền kinh tế Mỹ. Ðiều quan trọng là giới đầu tư thấy có dấu hiệu vị tổng thống tân cử quan tâm đến vấn đề kinh tế nên mới sớm lo việc tìm một người quen việc kế nhiệm ông bộ trưởng Paulson, thay vì trong mấy ngày qua chỉ lo những chức vụ khác về ngoại giao, tư pháp, quốc phòng. Ông Geithner chắc sẽ cộng tác ngay với ông Paulson sau khi được chỉ định, trước khi ông Obama nhậm chức, vì họ đã cộng tác sẵn rồi. Thị trường muốn chuyện đó càng sớm càng tốt.

Trong hai tuần qua có quá nhiều tin xấu về tương lai kinh tế Mỹ khiến cho thị trường xuống nặng, riêng trong tuần này đã mất 5.3% sau khi mất hơn 10% trong hai ngày rồi gỡ lại được trong ngày Thứ Sáu. Hôm Thứ Tư chỉ chỉ Số Dow Jones mất 427 điểm, xuống dưới con số 8,000, một ngưỡng cửa báo hiệu sự sa sút. Ngày Thứ Năm DJ lại mất thêm 445 điểm, xuống chỉ còn 7552. Vào Tháng Mười năm ngoái có lúc chỉ số DJ đã lên tới 14,164, con số cao nhất cho tới giờ. Ngày Thứ Sáu, chỉ số DJ cứ nhấp nhỉnh lên xuống mãi, mặc dù trước đó các thị trường ở Á Châu đã tăng lên; cho tới khi nghe tin về ông Geithner thị trường mới tăng vọt lên, như thể tất cả mọi người đang mong mỏi một tin vui, bất cứ tin mừng nào cũng được, để có lý do mua cổ phiếu trở lại!

Tính từ mức kỷ lục 14,164 vào ngày 9 tháng 10 năm 2007 tới chiều Thứ Sáu 21 Tháng Mười Một 2008 chỉ còn là 8046, chỉ số Dow Jones đã bị mất gần một nửa. Chỉ số này chỉ bao gồm 30 cổ phần của các công ty lớn nhất ghi danh trên thị trường New York nhưng thuộc đủ mọi ngành hoạt động kinh tế, có thể coi là tiêu biểu cho tất cả thị trường, gồm gần 3000 công ty ghi danh. Khi cựu Tổng Thống Clinton nhậm chức đầu năm 1992, Dow Jones ở mức 3,241. Số ông này hên, khi ông mãn nhiệm đầu năm 2001, chỉ số Dow Jones đã tăng gấp ba thành 10,587. Kể từ đó đến giờ, còn 2 tháng nữa Tổng Thống Bush rời khỏi chức vụ, chỉ số Dow Jones đã mất đi 20%.

Vào lúc thị trường lên cao nhất hơn một năm trước đây, trị giá cổ phiếu của tất cả các công ty ghi danh trên thị trường New York là vào khoảng 28 ngàn tỷ Mỹ kim. Cho tới giờ, đã giảm mất 43%, coi như cổ đông của các công ty ghi danh ở New York đã mất 12 ngàn tỷ Mỹ kim! Một vị độc giả Người Việt đã đặt câu hỏi: Khi thị trường chứng khoán xuống, giá trị các cổ phiếu bị mất như vậy, thì những đồng tiền bị mất đó chạy đi đâu? Mười hai ngàn tỷ đô la Mỹ, không phải là nhỏ nó mất vào đâu rồi?

Câu hỏi đó có thể đặt ra trên hai bình diện. Một là đối với từng cá nhân hay từng quỹ đầu tư mua bán các cổ phần. Hai là đối với cả thị trường và nền kinh tế nói chung. Xin bàn tới chuyện thứ nhất trước.

Quý vị mua một số, thí dụ 100 cổ phần của công ty A, khi giá cổ phần đang từ 100 đồng tụt xuống chỉ còn 70 đồng, quý vị đã mất tổng cộng 3,000 đồng. Tất cả các chủ nhân cổ phần công ty A đều mất 30% giá trị trong cùng giờ phút đó. Nếu công ty A đã phát hành 10 triệu cổ phần thì khi cổ phần đang từ 100 xuống 70 đồng, giá trị cả công ty đã mất 30% tức là mất 300 triệu đồng. Những món tiền mất đó không chạy sang Tây hay sang Tầu, nó biến mất ngay tại chỗ, không đi đâu cả. Những người nào đang giữ các cổ phần đó thì vẫn là chủ nhân các cổ phần như cũ, với giá trị thấp hơn. Họ có thể chờ một ngày thị trường nó lên lại, từ 70 lên 100. Lúc đó cũng không thể nói là có đồng những tiền nào nó mới chạy vào túi mình được!

Bởi vì giá trị cổ phần một công ty là do cách nhìn của hàng triệu người mua và bán cổ phần, họ đều ước tính, thẩm lượng và quyết định mua hay bán. Người ta mua hoặc bán vì tính toán khác nhau, có nhu cầu khác nhau. Trước hết, họ tính giá cổ phần cao thấp tùy theo khả năng sinh lợi của công ty trong tương lai. Có những công ty chưa làm ra đồng lợi nhuận nào nhưng giá cổ phần vẫn lên vùn vụt, vì người ta thấy trong tương lai nó sẽ lời rất lớn. Ngược lại, khi người ta thấy tương lai công ty sẽ khó kiếm lời hoặc sẽ lỗ thì họ không muốn giữ cổ phần, đem bán đi, thế là giá xuống.

Như vậy thì đối với các nhà đầu tư giá trị các cổ phần trong tay chỉ là những con số, những giá trị “biểu kiến,” ghi trên giấy. Chỉ khi nào quý vị bán các cổ phần đó rồi, đồng tiền giữ trong túi hay gửi trong ngân hàng, đó mới là tiền thật. Nhưng khi đó thì quý vị không làm chủ các cổ phần nữa. Người mua cổ phần của quý vị có thể sẽ thấy giá trị cổ phần lên hoặc xuống, như tất cả các cổ đông khác. Nếu giá lên, người mua đó sẽ được lợi (có thêm tiền, nếu đem bán ngay) và quý vị sẽ cảm thấy mình bị mất tiền (đúng ra là mất cơ hội có thêm tiền). Nếu cổ phần xuống giá, người đó sẽ thấy mình mất tiền; nhưng nếu cứ giữ các cổ phần đó không bán thì chưa chắc sẽ mất.

Tình trạng này cũng không khác gì chuyện giá trị một ngôi nhà. Ví dụ quý vị đã trả hết nợ ngôi nhà của mình; khi thấy hàng xóm có ngôi nhà giống hệt bán được giá một triệu, quý vị có thể nghĩ rằng mình đang là triệu phú, với cái nhà giá một triệu trong tay. Nhưng gặp lúc thị trường nhà cửa xuống như bây giờ, nếu đem bán người mua chỉ trả giá 800 ngàn thôi, thì quý vị thấy mình không còn là triệu phú nữa! Ngôi nhà mình làm chủ mới bị “mất giá” 200 ngàn! Có phải là mình bị mất 200 ngàn thật hay không? Nhìn quanh, vẫn thấy mình ở ngôi nhà như cũ, không có gì thay đổi cả. Con số tiền mất 200 ngàn chỉ có thật nếu trước đây quý vị định bán mà không bán, rồi bây giờ bắt buộc phải bán đành chịu thiệt thòi vì không thể đợi ngày giá nhà lên trở lại.

Ðó là nói chuyện “được” và “mất” đối với những người mua bán cổ phần trong thị trường chứng khoán. Nhưng còn đối với một công ty, với tất cả thị trường, tất cả nền kinh tế thì sao?

Thí dụ một cổ phần công ty General Motors có lúc giá lên tới hơn 39 đô la. Vào Tháng Hai năm 2008 đã xuống chỉ còn 28 đô la. Ngày hôm qua giá cổ phần GM chỉ còn 2.79 đô la, so với đầu năm nay đã mất 90% giá trị! Nếu tính số 593 triệu cổ phần GM được mua bán trong thị trường, mỗi cổ phần giảm 90% giá trị, thì công ty này đã mất hơn 15 tỷ đô la!

Số tiền đó mất đi đâu? Không đi đâu cả. Cũng giống như giá một ngôi nhà xuống khi dân cư trong vùng bỏ đi ở nơi khác ở, giá trị của công ty GM xuống vì thị trường nhận thấy nó không còn triển vọng sinh lời như trước nữa. Công ty vẫn còn những cơ xưởng, những máy móc, và hầu hết lực lượng nhân viên như cũ, nhưng giá trị xuống vì số tiền lời trong tương lai sẽ xuống. Người mua cổ phần tính giá theo kỳ vọng về lợi nhuận so với rủi ro. Các yếu tố như nhu cầu người tiêu thụ, triển vọng kinh tế ở nước Mỹ và thế giới xuống, tình trạng cạnh tranh gay gắt, vân vân, ảnh hưởng tới dự đoán lời lỗ và khiến giá trị của công ty xuống. Một bản tin cho biết quốc hội và chính phủ có chịu giúp công ty hay không cũng làm thay đổi giá trị cổ phần. GM mất 15 tỷ đô la vì thị trường thấy nó không đáng giá như cũ, 15 tỷ đô la tan ra mây khói mà không có đồng tiền nào chạy đi đâu cả!

Ðiều đó cũng đúng với cả thị trường chứng khoán. Từ tổng số giá trị 28 ngàn tỷ vào lúc cao nhất xuống chỉ còn 16 ngàn tỷ bây giờ, cả thị trường New York đã mất giá 12 tỷ. Số tiền đó mất vì hầu hết các công ty ghi danh trong thị trường đã xuống giá. Các công ty đó xuống giá vì triển vọng kiếm lời của họ xuống; mà đó là do tương lai cả nền kinh tế Mỹ và thế giới đang xuống.

Giá trị các cổ phần trên thị trường sẽ lên khi nào kinh tế có triển vọng lên. Chắc phải hàng năm nữa mới hy vọng lên trở lại, vì cơn suy thoái năm nay có vẻ sẽ trầm trọng hơn mấy lần gần đây nhất. Cho nên, khi thị trường nghe tin ông tổng thống tân cử Obama định mời ông Geithner làm bộ trưởng Tài Chánh, một người đã từng cộng tác với ông bộ trưởng đương nhiệm, người ta cảm thấy hy vọng là hai người sắp làm việc với nhau rồi. Chính sách kinh tế của chính phủ có triển vọng sẽ rõ ràng hơn, không ở trong trạng thái chờ đợi và lúng túng của một chính phủ đang chờ giải nhiệm nữa. Chính phủ và quốc hội cũng sẽ hợp tác với nhau dễ dàng hơn, không bị nhiều nỗi tị hiềm ngăn cản nữa. Ðó là lý do khiến thị trường hưng phấn trở lại trong ngày Thứ Sáu. Ít nhất cũng được một ngày. Còn tuần sau, sẽ có những tin tức kinh tế mới, thị trường sẽ lên hay xuống tùy theo các tin tức xấu nhẹ hoặc xấu nặng hơn! Người ta lại có cảm tưởng thị trường đang được thêm tiền hay đang bị mất tiền, mặc dù không có đồng tiền nào chạy đi đâu cả!
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Tây Tạng: duy trì đường lối đấu tranh ôn hoà
Tác giả: Thanh Phương

Mặc dù đường lối đấu tranh ôn hòa của đức Đạt Lai Lạt Ma cho tới nay chẳng đi đến đâu, nhưng đức Đạt Lai Lạt Ma, năm nay đã 73 tuổi và sức khoẻ ngày càng suy yếu, vẫn được coi là gương mặt tiêu biểu duy nhất cho cuộc đấu tranh của người Tây Tạng.

Cộng đồng Tây Tạng lưu vong vẫn ủng hộ đường lối đấu tranh ôn hoà của đức Đạt Lai Lạt Ma.

Vì biết rằng Trung Quốc sẽ không bao giờ trao trả độc lập cho Tây Tạng, cho nên đức Đạt Lai Lạt Ma từ lâu đã chọn con đường ''trung dung'', tức là đòi một quyền tự trị rộng rãi về mặt văn hóa cho người Tây Tạng. Nhưng gần đây Ngài đã nhìn nhận rằng, đường lối đấu tranh ôn hòa nhằm đòi quyền tự trị cho Tây Tạng đã thất bại. Chính vì vậy, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã triệu tập các đại biểu đại diện cho cộng đồng Tây Tạng lưu vong đến Đại hội ở Dharamsala, Ấn Độ, để bàn thảo về đường lối đấu tranh mới.

Một bộ phận trong cộng đồng người Tây Tạng lưu vong, nhất là giới trẻ, đã đòi phải có một đường lối đấu tranh cứng rắn hơn với Trung Quốc và phải nhắm đến mục tiêu đòi độc lập, chứ không chỉ đòi tự trị.

Thế nhưng, cuối cùng, hôm nay các đại biểu dự Đại hội Dharamsala lại quyết định vẫn ủng hộ đường lối đấu tranh ôn hòa của đức Đạt Lai Lạt Ma. Lý do là vì nhiều đại biểu sợ rằng nếu từ bỏ đường lối ôn hòa này, họ sẽ mất sự hậu thuẫn của quốc tế và Trung Quốc sẽ lại càng không muốn đối thoại.

Như vậy là đức Đạt Lai Lạt Ma, năm nay đã 73 tuổi và sức khoẻ ngày càng suy kiệt, vẫn được coi là gương mặt tiêu biểu duy nhất cho cuộc đấu tranh của người Tây Tạng. Ngài vẫn là hiện thân cho niềm hy vọng của sáu triệu Tây Tạng sống trong và ở nước ngoài.

Thế nhưng, như đã nói ở trên, đường lối đấu tranh ôn hòa của đức Đạt Lai Lạt Ma cho tới nay chẳng đi đến đâu. Cụ thể là từ năm 2002 các đặc sứ của lãnh đạo Tây Tạng vẫn thương lượng với chính quyền Trung Quốc. Nhưng các cuộc đàm phán mới nhất vào đầu tháng 11 đã thất bại, vì Bắc Kinh tuyên bố dứt khoát là sẽ không bao giờ chấp nhận một nền độc lập của Tây Tạng, dù dưới bất kỳ hình thức nào. Hôm qua (21/11/2008) Bắc Kinh một lần nữa lên án đường lối trung dung của đức Đạt Lai Lạt Ma đòi tự trị, cho rằng đây chỉ là một mưu toan đòi độc lập cho Tây Tạng.

Cho nên, tuy vẫn ủng hộ đường lối đấu tranh ôn hòa của đức Đạt Lai Lạt Ma, các đại biểu Tây Tạng lưu vong cũng dự trù sẽ xét lại lập trường nếu như Trung Quốc trong tương lai vẫn không chấp nhận cho Tây Tạng được hưởng quyền tự trị. Nói cách khác, họ vẫn để ngỏ phương án chuyển sang đường lối đấu tranh cứng rắn hơn để giành độc lập cho Tây Tạng. Mặt khác, Đại hội Dharamsala cũng đề nghị các lãnh đạo Tây Tạng tạm ngưng gởi các đặc sứ đến đàm phán với đại diện Trung Quốc cho nến khi nào họ thấy là Bắc Kinh thật sự muốn đối thoại nghiêm chỉnh.

Tóm lại, Đại hội Dharamsala đã không đánh dấu sự chuyển hướng đấu tranh của cộng đồng người Tây Tạng lưu vong, nhưng rõ ràng là nó cũng đã phản ánh thay đổi phần nào trong lập trường của họ trước thái độ kiên quyết của Trung Quốc, dứt khoát không muốn cho Tây Tạng được hưởng quyền tự trị giống như Hồng Kông hay Macao.

.Thanh Phương
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

NĂM NAY TẠ ƠN

Vi Anh
Ngày 27 tháng 11 là Lễ Tạ Ơn năm nay. Ngày 20 tháng 1 năm sau là ngày TT Bush bàn giao chánh quyền cho TT đắc cử Obama.

Lễ Tạ Ơn năm nay đáng để tạ ơn đất nước nhân dân Mỹ đã bầu một người Mỹ gốc Phi Châu Ô Barack Obama lần đầu tiên lên làm tổng thống Mỹ, và tạ ơn TT Bush đã quyết chiến với quân khủng bố Hồi Giáo cực đoan, gần suốt hai nhiệm kỳ, đem lại an ninh đất nước và nhân dân Mỹ.

Tạ Ơn nước Mỹ là xứ sở của người nhập cư, mái ấm của những người tự do, và đất hứa của cơ hôi đồng đều, đã giúp cho con một người nhập cư Kenya, mới thế hệ thứ hai sanh ở Mỹ đã vươn lên được. Tạ Ơn TNS Obama từ một gia đình nghèo khó, tầng lớp hạ lưu đã cố gắng vươn lên. Tạ ơn TNS Obama đã huy động được lòng dân, nội lực quốc gia dân tộc Mỹ để nhân dân và chánh quyền Mỹ làm được một kỳ tích lịch sử cả thế giới ngợi khen, làm đẹp thêm hình ảnh nước Mỹ. TT Obama không phải là chiếc đủa thần. TT Obama mới lên, đang thành lập nội các, chánh phủ, theo thông lệ, người Mỹ dành cho Ong tối thiểu 3 tháng 10 ngày, nên còn quá sớm để xem tài thao lược của cá nhân Ong và chánh phủ do Ong lãnh đạo. Chờ xem và ân đền nghĩa trả bốn năm sau cũng không muộn.

Nhưng không thể không tạ ơn TT Bush, người rời khỏi Phủ Tổng Thống, tối thiểu là hai điều. Việc mới nhứt trước khi mản nhiệm là tạo mọi điều kiện để có một cuộc bầu cử an ninh, và người dân chọn những người lãnh đạo quốc gia, toàn thể dân biểu Hạ Viện và một phần ba Thượng Viện. Quan trọng nhứt là vị tổng thống Da Đen đầu tiên. Cám ơn TT Bush đã tử tế với TT Obama và bàn giao chánh quyền đầy thiện ý, thiện tâm, hơn ý muốn của những nhà lập hiến nữa.

Việc thứ hai là sau 8 năm ở Nhà Trắng tại Washington DC, TT Bush ung dung ra đi. Trong 8 năm, Ong đã dành hết thì giờ, tâm lực và trí lực để bảo quốc an dân. Nhìn lại sắc diện của Ong hồi mới lên làm tổng thống với bây giờ tóc trắng , trán nhăn sâu thêm, mắt thâm thêm đủ biết bao nỗi lo toan suy tính ngày đêm suốt 8 năm trường trong vai trò lãnh đạo quốc gia và tư lịnh tối cao quân lực Mỹ do nhân dân Mỹ giao phó.

Một người lãnh đạo quốc gia, một nhà chánh trị, một thống tướng dù ở Đông hay ở Tây, là người phải hoàn thành trách nhiệm với tất cả tấm lòng thành và can đảm, phát huy chánh nghĩa cao thượng và công minh. George W. Bush rõ rệt đã vuông tròn đạo lý ấy khi làm tổng thống nước Mỹ. Chắc chắn bây giờ rất nhiều người sẽ không chia xẻ nhận xét này, nhưng với độ lùi thời gian đủ dài, công luận lắng đọng một thời gian, lịch sử sẽ đem lại công lý cho TT Bush.

Ngay trong thời điểm này, khi TT Bush mới rời khỏi chức vụ, bàn giao cho TT Obama mà chánh đảng, lập trường và quan điểm có nhiều điểm khác nhau, hành động lâu nay của TT Bush chưa được thừa nhận đi nữa, người ta cũng đủ công bình để thấy quyết tâm và hành động của TT Bush đóng góp rất nhiều. Về bảo quốc an dân, suốt gần 8 năm trời sau cuộc khủng bố 911đầy xúc phạm của quân Hồi Giáo cực đoan đối với Mỹ, TT Bush đã lèo lái con thuyền quốc gia qua sóng gió, đem lại cho đất nước nhân dân Mỹ một nền nội an đông bình tây định, "bốn phương phăng lặng, hai kinh vững vàng".

Về phát huy dân chủ, giá trị và niềm tin lịch sử của Mỹ và giấc mơ của các nưóc trên thế giới, TT Bush đã tạo được cảm hứng, đã gieo được mầm tự do, dân chủ tại nhiều nước trên thế giới, nhưng nơi mà chế độ độc tài và dã man đã thâm căn cố đế. Không ai có thể tưởng được tự do đã thăng quá mau ở Trung Đông so với lịch sử độc tài của vùng này. Bây giờ người dân Iraq, Afghanistan có thể đi bầu làm ra chánh quyền, phụ nữ được đến trường và ngồi làm bộ trưởng, dân biểu, giáo sư đại học. Càng ít lại nhũng tên độc tài khát máu, những nhà cầm quyền chứa chấp khủng bố cũng ít lại. Lại nhiều thêm giao thương, đầu tư, giúp đỡ giữa các nước mạnh thêm.

Tượng Thần Tự Do ở Mỹ vẫn còn là cây đèn pha, sao Bắc Đẩu đối với những người nhập cư vào Tân Thế Giới từ năm 1886. Anh sáng đó, niềm tin đó, cảm hứng tự do đó bao nhiêu tổng thống Mỹ đã giữ gìn, đã phát huy, mà TT Bush là một trong những người tiếp nối với tất cả lòng thành, niềm tin vào đầu thế kỷ 21 và thiên niên kỷ thứ ba của Nhân Loại. Thế kỷ 20 tự do của Au Châu bị độc tài Phát xít và Quốc Xã tước đoạt.
Chính những tổng thống Mỹ đã kết họp, chánh quyền và nhân dân Mỹ và các nước, hy sinh mạng sống và tài sản đến để đem lại tư do cho Au châu.. Cộng sản muốn xuất cảng cách mạng vô sản tạo Chiến tranh Lạnh, cũng chính Mỹ đương đầu khắp nới trên thế giới đến khi Đế quốc Liên xô sụp đổ. Hai mươi năm sau Bức Tường Ô nhục Bá Linh sụp đổ, Liên Au hiểu thêm tự do là điều kiện căn bản và tiên quyết của phú cường.

Tại khúc quanh của hai thế kỷ 20 và 21, vào ngày 11 Tháng Chín năm 2001, ngay năm đầu của nhiệm kỳ 1 của TT Bush, Quân Hồi Giáo Cực Đoan khai chiến với Tự do, bằng cuộc khủng bố 911. đanh ngay vào nưóc Mỹ. Họ dùng khủng bố để đạt mục tiêu chánh trị tối hậu là triệt tiêu tư do, dân chủ. Lịch sử trớ trêu lại giao cho TT Bush cái khó khăn chống khủng bố, chống lại một kẻ thù vô hình nhưng ở đâu cũng có, một chiến tranh bất cân xứng nhưng kinh hoàng. Chiến tranh chánh nghĩa, chiến tranh ý thức hệ, chiến đấu cho tự do thắng thua ở chỗ kiên định lập trường, can đảm trong quyết định, và dám lãnh trách nhiệm. Việc tái đắc cử nhiệm kỳ hai của TT Bush là câu trả lời rõ rệt nhứt của nhân dân Mỹ, là cách Tạ ơn sâu xa TT Bush.

Nhiệm kỳ hai, trong những tháng ngày sắp giã từ TT Bush, công luận tỏ ra bất mãn Ong về Chiến tranh Iraq. Nhưng một người lãnh đạo quốc gia nào đi nữa, một tổng thống Mỹ nào đi nữa, miển có trách nhiệm với quốc gia dân tộc thì cũng phải bảo quốc an dân, bảo vệ chánh nghĩa tự do như TT Bush đã làm.


VI ANH
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Quà tặng Lễ Tạ Ơn
Wednesday, November 26, 2008

Ngô Nhân Dụng

Ngày Thứ Ba, chính phủ và ngân hàng trung ương Mỹ đã tặng cho dân món quà mừng Lễ Tạ Ơn trị giá 800 tỷ đô la. Tính từ Tháng Chín đến giờ, tổng số tiền mà chính phủ Mỹ đã hứa và đã dùng trong việc giải cứu thị trường tài chánh đã lên tới 4 ngàn tỷ đô la! Số tiền 800 tỷ đô la mới sẽ được chuyển qua đường thị trường tới các ngân hàng, các công ty tài chính và đầu tư, để họ có thêm tiền cho vay, nhờ thế mà những người tiêu thụ khi vay nợ được hưởng lãi suất thấp hơn.

Ðây là một phương cách kích thích cho kinh tế không bị suy sụp nặng. Chính phủ và Quốc Hội Mỹ, và cả bộ tham mưu của vị tổng thống tân cử đều đã nói đến những kế hoạch kích thích kinh tế. Ông Barack Obama đã nêu lên con số 500 tỷ Mỹ kim mà chính phủ tương lai sẽ chi tiêu để kích thích kinh tế. Khi số người thất nghiệp tăng lên, dân tiêu thụ nghèo hơn, các ngân hàng thắt chặt trong việc cho vay, số tiêu thụ trong nước Mỹ sẽ giảm. Tiền tiêu thụ đóng góp hai phần ba vào Tổng Sản Lượng Nội Ðịa của nước Mỹ, dân bớt tiêu thụ thì sản lượng trong nền kinh tế sẽ giảm thêm. Trong tình trạng đó, chính phủ phải đóng vai chi tiêu để gia tăng số cầu bù lại với sự giảm sút trong số tiền người dân chi tiêu. Ðó là một chính sách kinh tế đã được đưa ra từ thập niên 30 trong thế kỷ trước, sau cuộc đại khủng hoảng.

Nhưng ngay cả những kế hoạch cho chính phủ chi tiêu để kích thích kinh tế cũng lo không đủ để nâng số sản xuất và tiêu thụ lên. Một kinh nghiệm mới nhất là vào Tháng Ba năm 2008 Quốc Hội và chính phủ Bush đã trả lại cho dân đóng thuế ở Mỹ gần 160 tỷ đô la. Những ngân phiếu được gửi đến cho từng gia đình trong Mùa Hè, nhưng hậu quả gần như là không kích thích được số tiêu thụ một chút nào, để cho nền kinh tế vẫn tiếp tục sa sút. Cho nên, kế hoạch mới nhất của Ngân Hàng Trung Ương Mỹ sẽ tiếp tay thêm cho những chương trình kích thích chi tiêu của nhà nước bằng cách bơm vào nền kinh tế số tiền khổng lồ 800 tỷ đô la.

Trong món quà 800 tỷ đô la đó Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang tức Ngân Hàng Trung Ương sẽ dùng 600 tỷ nhắm vào việc tài trợ địa ốc, với hậu quả tức thời là làm giảm lãi suất cho những người vay mua nhà hoặc đang cần tái tài trợ các món nợ mua nhà. Với số tiền này tiếp máu cho thị trường nhà cửa, hy vọng rằng cơn khủng hoảng tín dụng bắt nguồn từ các món nợ mua nhà không trả được sẽ nguôi bớt đi.

Số tiền 200 tỷ khác sẽ nhắm giúp những người tiêu thụ khác, như sinh viên vay tiền đi học, người mua xe, các tiểu thương vay tiền kinh doanh, thứ nhất là được các ngân hàng cho vay, thứ hai là được hưởng lãi suất thấp hơn.

Còn phía Bộ Tài Chánh trong chính phủ sẽ dành ra 20 tỷ để bảo đảm cho những món nợ thuộc số 200 tỷ nói trên, số tiền này lấy trong ngân khoản 700 tỷ mà hồi Tháng Chín Quốc Hội đã biểu quyết cho chính phủ dùng để giải cứu thị trường tín dụng.

Ðiều đáng chú ý là nếu Bộ Tài Chánh và chính phủ Mỹ muốn chi thêm một đô la để kích thích nền kinh tế thì họ cũng phải chờ được Quốc Hội cho phép. Vì theo hiến pháp Mỹ Quốc Hội là cơ quan nắm quyền chuẩn chi, muốn chi thêm phải chờ hàng tháng hoặc lâu hơn cho các đại biểu Quốc Hội bàn luận. Ngay số tiền 700 tỷ được chuẩn chi trước đây, sau khi sủ dụng 350 tỷ thì bộ trưởng tài chánh sẽ phải ra trước Quốc Hội báo cáo để xin giải ngân số 350 tỷ còn lại. Nhưng nếu Ngân Hàng Trung Ương đem 800 tỷ đô la ra cho vay để giảm lãi suất thì họ không phải xin phép ai cả, đỡ mất thời giờ rất nhiều.

Câu hỏi đầu tiên của người dân Mỹ đóng thuế là làm cách nào Ngân Hàng Trung Ương có 800 tỷ đô la để đem ra giúp những người đã, đang hoặc sắp đi vay được hưởng lãi suất thấp? Liệu chúng tôi có phải gánh nợ hay không?

Câu trả lời là Ngân Hàng Trung Ương Mỹ có quyền in tiền để dùng! Và ở đây họ dùng để cho vay, sẽ được trả lại, chứ không ai cho không!

Trách nhiệm của Ngân Hàng Trung Ương là ngăn ngừa lạm phát và hỗ trợ cho kinh tế phát triển. Ngân Hàng Trung Ương có thể tăng hoặc giảm số lượng tiền lưu hành trong nước. Thí dụ khi họ cắt bớt lãi suất thì nhiều người vay nợ được dễ dàng hơn, tổng số tiền lưu hành trong xã hội sẽ lên cao. Hoặc khi Ngân Hàng Trung Ương tăng lãi suất thì việc vay nợ khó khăn hơn, tổng số tiền chạy trong nền kinh tế sẽ giảm.

Nhưng các ngân hàng trung ương vẫn bị bó tay một phần, vì họ có thể tăng tổng số tiền lưu hành trong nước nhưng họ không thể cưỡng ép những đồng tiền đó phải lưu hành được. Thí dụ, trong tình trạng hiện nay các ngân hàng và giới đầu tư đều dè dặt không muốn bỏ tiền ra cho vay. Số trái khoán khổng lồ hàng ngàn tỷ Mỹ kim bị kẹt cứng, không ai muốn mua và không ai có thể bán, vì dính vào các món nợ địa ốc. Tổng số tiền lưu hành vẫn như cũ nhưng hàng ngàn tỷ đồng bị kẹt nằm yên một chỗ không chạy qua chạy lại nữa. Những biện pháp mới nhất của Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang là để tháo gỡ cảnh kẹt xe trên xa lộ này.

Số tiền 600 tỷ đô la đầu tiên sẽ được dùng ngay tuần sau, đem mua những trái khoán liên hệ tới các món nợ mua nhà, do chính phủ cho vay hoặc các ngân hàng được chính phủ bảo trợ cho vay. Với triển vọng đó, các ngân hàng thấy ngay họ sắp bán được trái phiếu và sẽ có tiền cho vay tiếp. Một chỗ kẹt, đọng của dòng tiền tệ được khai thông. Riêng quyết định này đã có hậu quả ngay lập tức là khiến cho lãi suất các món nợ mua nhà thời hạn 30 năm đã giảm ngay nửa phần trăm, xuống khoảng 5.5% trong hai ngày qua. Những người sắp mua nhà sẽ được hưởng lãi suất mới này, những người muốn dùng nhà thế chấp để vay cũng vậy. Do đó, nhiều người sẽ vay để lấy tiền tiêu thụ hoặc đầu tư. Trong hai ngày qua nhiều người đã vay tiền ngay để hưởng lãi suất mới. Tuy nhiên, chỉ những người được coi là có khả năng trả nợ và số tiền nợ trên ngôi nhà không quá lớn so với giá trị ngôi nhà thì mới được hưởng lãi suất thấp mới. Hiện có khoảng 12 triệu chủ nhà ở Mỹ bị kẹt vì giá trị ngôi nhà của họ thấp hơn số tiền vay nợ; những người đó sẽ phải chịu thua.

Ngoài thị trường địa ốc, những thị trường tín dụng khác cũng được khai thông với 200 tỷ khác của Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang. Cơ cấu lưu chuyển cho số tiền này khá phức tạp. Nói tổng quát, Ngân Hàng Trung Ương sẽ cho một số ngân hàng vay tiền để họ tài trợ các món nợ của người tiêu thụ, như các sinh viên, người mua xe trả góp, và các tiểu thương. Việc vay và cho vay này không trực tiếp theo đường thẳng mà đi qua những chứng khoán bảo đảm bằng các món nợ tiêu thụ trên. Một điều lo ngại là những người tiêu thụ đến vay sau cùng không trả được nợ. Vì lý do đó, Bộ Tài Chánh đã đứng ra bảo đảm bù lỗ tới mức 20 tỷ đô la, tức là giả thiết có 10% các con nợ không trả được.

Vì tất cả số tiền 800 tỷ đều dưới hình thức cho vay, cho nên sau cùng Ngân Hàng Trung Ương Mỹ sẽ đòi lại được, trừ những người vay không trả được nợ. Con số 20 tỷ đô la mà Bộ Tài Chánh đứng ra bảo lãnh nằm trong con số dự trù có thể mất; mà số tiền 20 tỷ đó thí chính phủ đã được Quốc Hội cấp trong đạo luật Tháng Chín.

Liệu các những kế hoạch kích thích lên trên 3 ngàn tỷ đô la lại được tăng cường với 800 tỷ đô la mới có tăng số tiền lưu hành lên nhiều quá và do đó sẽ tăng áp lực lạm phát hay không?

Các người đang có trách nhiệm đối với kinh tế Mỹ như ông Bộ Trưởng Tài Chánh Henry Paulson và ông Chủ Tịch Ngân Hàng Trung Ương Ben Bernanke cũng đồng ý với ông Lawrence Summers, cố vấn kinh tế của tổng thống tân cử Obama, trong việc lựa chọn kế hoạch cứu nguy kinh tế. Ðây là việc lựa chọn giữa hai thứ rủi ro ngược chiều nhau, là có thể hoặc thái quá hoặc bất cập, mặc dù người quyết định vẫn muốn tìm đúng mức trung dung.

Thứ nhất là thận trọng rụt rè, kế hoạch cứu nguy quá yếu ớt sẽ trở nên vô hiệu quả. Thứ hai là cho liều thuốc mạnh quá, chi nhiều quá mức cần thiết, gây ra nhiều hậu quả xấu ngoài mối lo lạm phát.

Giữa hai thứ rủi ro đó, các người lãnh đạo kinh tế Mỹ nghĩ thà rằng chịu thứ rủi ro thứ nhì còn hơn là để cho thứ rủi ro thứ nhất xẩy ra. Vì nếu các kế hoạch giải cứu hệ thống tài chánh và nền kinh tế mà quá yếu, bất cập, thì chính phủ sẽ phải tiếp tục cứu nữa, mỗi bước cứu chữa đều quá nhỏ và quá trễ, sẽ kéo dài tình trạng kinh tế suy thoái lâu hơn. Ngược lại, nếu số tiền đem đổ vào nền kinh tế có thể tăng áp lực lạm phát thì Ngân Hàng Trung Ương và chính phủ sẽ có những biện pháp để ngăn chặn dần dần sau.

Giới lãnh đạo kinh tế tài chánh Mỹ đã can đảm dùng liều thuốc mạnh. Nhiều người Mỹ sẽ được hưởng nhờ kế hoạch mới này, từ các người chủ nhà đang lo bị sai áp tới các sinh viên lo không đủ tiền đóng học phí. Trong mùa Lễ Tạ Ơn này nhiều người sẽ cầu nguyện cho kế hoạch cứu nguy kinh tế của Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang thành công!
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Một Năm Tam Sa: Niềm Đau Nhức Chung

Trần Hùng


Từ một năm nay, hai chữ "Tam Sa" đã trở thành niềm đau nhức chung cho người Việt ở khắp nơi. Hai chữ này nói lên nguy cơ mất nước mà dân tộc Việt Nam phải đương đầu, ngoài tình trạng lạc hậu mà chế độ cộng sản đã mang đến cho đất nước ta. Sau ải Nam Quan, sau thác Bản Giốc, sau Hoàng Sa, Trường Sa, những địa danh nào sẽ từ từ biến mất trên bản đồ Việt Nam, đó là câu hỏi nhức nhối mà tất cả những người yêu nước đều quan tâm tìm phương cách đối phó, vừa một lúc chống họa ngoại xâm từ phương Bắc, lại đồng thời tẩy trừ những kẻ nội thù, ăn cơm nước Việt mà lòng dạ để ngoài bờ cõi, bán rẻ đất đai của cha ông chỉ vì một miếng đỉnh chung.

Tam Sa là tên của một đơn vị hành chánh cấp huyện, được Quốc Vụ Viện Trung cộng thành lập do một đạo luật được thông qua ngày 2-12-2007, bao gồm các quần đảo Tây Sa, Hoàng Sa và Trường Sa.

Không phải đến thời điểm này Trung cộng mới có dã tâm xâm chiếm đất đai của Việt Nam, mà nó đã được thực hiện đều đặn và không ngưng nghỉ từ nhiều năm nay, và được tiếp tay qua chính sách triều cống của Hà Nội. Con đường bán nước này đã khởi đi từ thập niên 1950, với công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng.

Chính sách bành trướng của Trung cộng thể hiện rõ rệt nhất qua trận đánh chiếm Hoàng Sa vào tháng giêng năm 1974, khiến 58 binh sĩ QLVNCH anh dũng hy sinh để tiếp nối truyền thống bất khuất của cha ông.

Trước thái độ hèn hạ và khiếp nhược của CSVN, Trung cộng càng thêm hung hãn. Năm 1979, trong trận chiến biên giới, Trung cộng di dời nhiều cột mốc vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam, chiếm cứ nhiều cao điểm. Núi Đất thuộc huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang đã trở thành Lão Sơn của Trung cộng, Núi Bạc thuộc huyện Yên Minh, nay là giải Âm Sơn thuộc Trung cộng. Tại Lạng Sơn, các dãy 820, 636 thuộc xã Quốc Khánh, huyện Tràng Định cũng đã thuộc về Trung cộng...

Tháng 2 năm 1988, Trung cộng xua chiến hạm đánh chiếm một số đảo của quần đảo Trường Sa, giết hại 74 bộ đội hải quân cộng sản.

Cuối thập niên 1990, và cuối năm 2000, Trung cộng buộc CSVN ký kết những hiệp ước phân định biên giới trên bộ và trên biển, làm thiệt hại của Việt Nam nhiều vùng đất phiá bắc, và trên 11.000 cây số vuông trong vịnh Bắc Việt. Trong thời gian này, Bắc Kinh cho in lại bản đồ ghi rõ Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Trung cộng.

Trên biển Đông, hải quân Trung cộng ngang nhiên bắt giữ và giết hại ngư phủ Việt Nam. Trung cộng còn lên tiếng hăm dọa và xua đuổi những nhà thầu quốc tế ký hợp đồng với Việt Nam để thăm dò dầu khí...

Nhìn toàn bộ cuộc xâm lấn kéo dài hơn nửa thế kỷ nay, người ta thấy việc thành lập Tam Sa chỉ là sự kết thúc của một giai đoạn, giai đoạn mà Trung cộng với sự tiếp tay của chư hầu CSVN đã làm chủ nhiều vùng lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam. Trung cộng cũng muốn hợp thức hoá đối với quốc tế những vùng đất và vùng biển đã chiếm đoạt được. Tuy nhiên, sự việc này cũng mở đầu cho một giai đoạn kế tiếp, mà Trung cộng sẽ phải đương đầu với sự chống đối của toàn thể dân tộc Việt Nam.

Ngay khi biết tin về việc thành lập đơn vị hành chánh Tam Sa, thanh niên sinh viên trong nước đã đứng lên biểu tình chống Trung cộng. Những ngày 9 và 16 tháng 12-2007 đã trở thành những ngày lịch sử của tuổi trẻ Việt Nam, khi họ bất chấp sự ngăn cản, cấm đoán và đàn áp của công an, hiên ngang hô to "Hoàng Sa Trường Sa Việt Nam" trước cổng dinh thái thú Trung cộng tại Sài Gòn và Hà Nội. Những tiếng hô của họ đã được mạnh mẽ đáp ứng, đưa những lời hô này vang dội trên các thành phố ở Âu châu, Úc châu, Bắc Mỹ... Từ một nỗi lo chung, từ một niềm đau chung, người Việt khắp nơi cũng tìm được một điểm hội tụ chung, không phân biệt nguồn gốc quá khứ hay hoàn cảnh hiện tại, nhưng đều "Hoàng Sa Trường Sa là Việt Nam", dứt khoát và quyết tâm. Dù Việt cộng khiếp nhược hay Trung cộng hung hãn, Hoàng Sa Trường Sa luôn luôn là Việt Nam...

Đã một năm từ khi Trung cộng đóng dấu ấn Tam Sa trên niềm đau nhức Việt Nam, trong thời gian qua, công cuộc đấu tranh cho dân chủ Việt Nam cũng đồng thời gắn liền với nỗ lực bảo toàn lãnh thổ. Hai yếu tố "dân chủ cho dân tộc Việt Nam" và "vẹn toàn cho lãnh thổ Việt Nam" đã trở thành những yếu tố khắng khít không thể tách rời. Điều này cho thấy rõ hơn nữa, việc bảo toàn lãnh thổ sẽ là bất khả ngày nào Việt Nam còn bị cai trị bởi chế độ độc tài. Bởi vì một chế độ độc tài như CSVN không thể huy động sức mạnh của toàn khối dân tộc để chống trả với ngoại xâm. Và cũng bởi vì những kẻ độc tài chỉ toan tính đến quyền lợi cá nhân, họ chăm chú khai thác những túi dầu, chứ không hề quan tâm bảo vệ những hòn đảo.

Trong sách lược đấu tranh bảo vệ lãnh thổ, việc lên tiếng xác định chủ quyền là nỗ lực vô cùng quan trọng, đặc biệt khi nhà nước cộng sản vì khiếp nhược nên đã lặng câm. Họ còn tìm cách viện dẫn sai lạc những bài học lịch sử để che đậy cho thái độ khiếp nhược cố hữu, cố tình không thấy rằng ông cha ta đã có chính sách khoan hồng cho quân Thanh, quân Minh... chỉ sau khi đã đánh chúng không còn manh giáp, và đã tống chúng ra khỏi bờ cõi, bảo vệ lãnh tổ được vẹn toàn. Không phải như hiện nay, khi quân thù còn chiếm đóng trên đất, biển của tổ tiên, khi quân thù còn giết hại người đồng chủng, thì lời biện bạch "chính sách khôn ngoan đối với nước lớn" chỉ là hành động đầu hàng trắng trợn. Sự lên tiếng của người Việt trong và ngoài nước vì thế sẽ mang một giá trị đặc biệt đối với cộng đồng quốc tế. Nó vừa tố cáo chính sách xâm lấn của Trung cộng, vừa hài tội chủ trương bán nước của CSVN.

Sự lên tiếng đó cũng đồng thời để lại cho lịch sử những chứng cứ rõ rệt là, mặc dù bị cai trị bởi chế độ độc tài CSVN, người dân Việt vẫn cương quyết bầy tỏ tinh thần yêu nước và bảo toàn lãnh thổ của cha ông để lại. Những thế hệ mai sau sẽ thấy rằng, trong hoàn cảnh nguy nan của đất nước, cha ông của họ đã làm tròn bổn phận con dân.

Việc thể hiện chủ quyền của Việt Nam có thể được tiếp tục thực hiện qua những hình thức như tuyên ngôn, thông cáo, hay biểu tình trước những cơ quan đại diện Trung cộng tại các nơi. Để tạo thêm sự quan tâm của dư luận, chúng ta cũng cần quốc tế hoá vấn đề Hoàng Sa Trường Sa, kéo thêm nhiều quốc gia vào việc ngăn chặn chính sách bành trướng của Trung cộng. Trong tuần lễ trước, nhật báo Manila Times viết bằng Anh ngữ phát hành tại thủ đô của Phi Luật Tân đã đăng một lá thư ngỏ, kêu gọi 5 nước ASEAN hãy cùng hành động trong đối sách chung đối với Trung cộng. Lá thơ của Quỹ nghiên cứu Biển Đông viết rằng các nước liên hệ cần dựa vào công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển để giải quyết tranh chấp, và chính phủ các nước Phi Luật Tân, Mã Lai, Brunei, Nam Dương và Việt Nam hãy hành động cùng nhau hướng tới một giải pháp cho Biển Đông theo Luật biển.

Người ta biết rằng chủ trương của Bắc Kinh là vừa đánh vừa đàm. Một mặt họ phát triển hải quân, xây dựng căn cứ tầu ngầm ở Hải Nam, đưa tầu đi khống chế vùng biển Đông. Mặt khác, họ đàm phán song phương về lãnh thổ và lãnh hải với từng nước, chứ không chịu ngồi chung để giải quyết vấn đề. Trong các quốc gia liên hệ, Phi Luật Tân thường có thái độ đối đầu mạnh mẽ với Trung cộng, trái ngược với thái độ khiếp nhược của CSVN. Tuy một số chi tiết trong đề nghị vừa được nêu lên như "việc phân chia các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa không phụ thuộc vào vấn đề chủ quyền trên các đối tượng có tranh chấp" cần phải được thảo luận rõ ràng, nhưng việc thành hình một mặt trận các quốc gia Đông Nam Á để ngăn chặn bước chân xâm lấn của Trung cộng trên biển đông là điều cần thiết. Nó vừa tạo lực đối trọng để cân bằng với sức mạnh của Trung cộng, và mặt khác, vừa lôi CSVN ra khỏi cái vỏ của con ốc sên hèn nhát, chỉ biết tìm chỗ ẩn nấp trong cái vỏ mỏng manh của mình. Trong thời điểm một năm của niềm đau chung mang tên "Tam Sa", bất cứ một sáng kiến nào nhằm gia tăng triển vọng dân chủ cũng như giúp bảo toàn lãnh thổ nước Việt đều là những nỗ lực đáng ngợi ca.

Trần Hùng
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Khủng bố ở Ấn Độ: Một mũi tên trúng hai đích

Các cuộc tấn công ở Ấn Độ là một hành động khủng bố quy mô lớn do một nhóm những kẻ đánh bom liều chết được huấn luyện
kỹ càng tiến hành với mục tiêu gây bất ổn không chỉ ở Ấn Độ mà còn cả toàn khu vực.
Image
Khủng bố tấn công Ấn Độ (Ảnh Rian)

Hành động khủng bố này nhằm phô diễn sức mạnh. Mục đích của bọn chúng là đe dọa xã hội và nhà chức trách Ấn Độ. Các vụ đánh bom ở Mumbai (Bombay) được tiến hành theo quy luật của chiến tranh du kích đô thị và nhằm vào nhiều mục tiêu cùng một lúc. Vì lý do này, cuộc tấn công ban đầu chắc chắn thành công mặc dù vẫn chưa rõ đa số thủ phạm sẽ chết hay bị bắt trong một hoặc hai ngày tới.

Những kẻ hoạch định các vụ khủng bố mới nhất ở Mumbai muốn thế giới biết tên của một Bin Laden mới và tổ chức của kẻ này. Tội ác hôm 27/11 ở Mumbai do nhóm Deccan hay Ấn Độ Mujaheddin tiến hành.

Mục tiêu khủng bố là những địa điểm nổi tiếng nhất ở Mumbai, như thể là bọn khủng bố đang đi theo một hướng dẫn viên vậy. Nhà ga Victoria cũ, một kiệt tác của kiến trúc thời thuộc địa, trông giống như một nhà thờ khổng lồ hay lâu đài Doge ở Venice. Taj Mahal là một trong những khách sạn nổi tiếng của thế giới. Mumbai là một thành phố 15 triệu dân với mọi sắc tộc và tôn giáo. Hơn nữa, trung tâm tài chính quốc gia này còn quan trọng đối với Ấn Độ hơn cả New Delhi. Do vậy, hoàn toàn có thể hiểu được khi Mumbai trở thành mục tiêu.
Yếu tố nước ngoài
Giới phân tích nói rằng các vụ tấn công khủng bố tuần này vượt xa các vụ khủng bố do các nhóm trong nước tiến hành trước đây về độ phức tạp, số người liên quan và sự thành công trong mục tiêu ban đầu (nghĩa là gieo rắc sự sợ hãi).

’’Đây là một mốc mới đầy kinh hoàng trong cuộc thánh chiến toàn cầu. Không một nhóm khủng bố Ấn Độ bản địa nào lại có khả năng này. Mục tiêu là phá hoại biểu tượng phục hưng kinh tế của Ấn Độ, phá hoại lòng tin của các nhà đầu tư và kích động một cuộc khủng hoảng Ấn Độ Pakistan’’, Bruce Riedel, một nhà phân tích trước đây từng làm việc cho CIA và Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ, đồng thời là tác giả của cuốn ’’Truy tìm al-Qaeda’’, nói.

Hành động khủng bố lớn này sẽ chỉ làm ngạc nhiên những người không theo dõi các diễn biến ở Ấn Độ. Có một làn sóng các vụ đánh bom tại những nơi đông người ở quốc gia này kể từ tháng 5 tới nay. Phản ứng của cảnh sát khá hiệu quả. Tháng 9 vừa qua, nhóm Ấn Độ Mujaheddin - những kẻ đã nhận trách nhiệm về vụ tấn công mới nhất tại Mumbai - đã cảnh báo sẽ báo thù cho những chiến dịch truy quét thành công mà các lực lượng chống khủng bố tại Mumbai tiến hành.

Số người thiệt mạng trong các vụ khủng bố 27/11 không phải là kỷ lục ở Ấn Độ. Tháng 3/1993, 13 vụ nổ bom đồng loạt đã làm 257 người thiệt mạng và 1.100 người bị thương tại Mumbai. Tháng 7/2006, 200 người chết trong một loạt vụ đánh bom tàu hỏa và các nhà ga. Lại một lần nữa, cảnh sát tìm được thủ phạm. Những kẻ trốn thoát đã trả đũa. Tiện thể, bọn khủng bố đòi phóng thích những tù nhân đã bị bắt giữ do các cuộc tấn công trước đây

Hành động khủng bố 27/11 có một đặc trưng nước ngoài. Có thông báo rằng một số kẻ khủng bố đã tới Mumbai trên những chiếc thuyền máy (đa số các khách sạn ở Mumbai nằm trên bờ biển) và một số kẻ có tóc xoăn. Liệu những kẻ này có liên quan tới Somalia, nơi các tàu chiến Ấn Độ đang tham gia vào các chiến dịch chống hải tặc Somalia? Khả năng này là có thể vì Mumbai là một căn cứ hải quân của Ấn Độ song còn quá sớm để khẳng định bất kỳ điều gì. Ấn Độ và thế giới sẽ phải mất nhiều ngày mới xác định được chính xác điều gì đã xảy ra.

Các quan chức ở Ấn Độ, Mỹ và châu Ây nói rằng thủ phạm có lẽ bao gồm các mạng lưới khủng bố Hồi giáo nằm ở Pakistan. Những mạng lưới này trong quá khứ đã nhận được sự trợ giúp từ các cơ quan tình báo Pakistan.

Không ít nhà phân tích và quan chức cho rằng vụ tấn công mang dấu ấn của Lashkar-i-Taiba và Jaish-i-Muhammad, hai mạng lưới Hồi giáo cực đoan từ Pakistan. Hai nhóm này đã tiến hành khủng bố ở Ấn Độ trước đây và đã tiến hành một chiến dịch bạo lực kéo dài tại vùng lãnh thổ Kashir tranh chấp, nơi Ấn Độ và Pakistan tranh giành trong 6 thập kỷ qua. Gốc rễ của cuộc xung đột kéo dài này là tôn giáo: Đa số dân Ấn Độ là Hindu trong khu hầu hết dân Pakistan là Hồi giáo.

Một số chuyên gia cho rằng vụ khủng bố này mang dấu ấn al-Qaeda vì nó liên quan tới nhiều cuộc tấn công đồng thời, nhằm vào người nước ngoài. Tuy nhiên, những người khác lại hoài nghi, cho rằng al-Qaeda dựa vào những kẻ đánh bom liều chết, chứ không phải các tay súng. Hơn nữa, al-Qaeda không có tổ chức ở Ấn Độ.
Sai lầm của Mỹ?
Chắc chắn sẽ có những so sánh vụ 27/11 với các vụ tấn công khủng bố 11/9 và phản ứng của Mỹ. Ở trong nước, Mỹ đã tiến hành nhiều biện pháp hiệu quả, với những chi phí khổng lồ. Ở nước ngoài, Mỹ đã tấn công và chiếm đóng Afghanistan - nguồn gốc của mối đe dọa khủng bố. Tuy nhiên, sau đó, tài nguyên của cường quốc quân sự mạnh nhất thế giới này không đủ để kiểm soát hoàn toàn Afghanistan cũng như các vùng lãnh thổ lân cận của Pakistan. Sẽ chẳng có gì ngạc nhiên nếu việc hoạch định cuộc tấn công khủng bố Mumbai diễn ra ở Pakistan hoặc Afghanistan.

Mọi biện pháp của Mỹ và các đồng minh ít liên quan tới chống khủng bố trong khu vực. Washington đã tìm cách lợi dụng làn sóng ủng hộ của dân chúng để đạt một mục tiêu hoàn toàn khác, đó là khẳng định vị thế bá quyền toàn cầu. Mỹ chiếm đóng Iraq, quốc gia chẳng liên quan tới khủng bố và bắt đầu tiến hành một chương trình đưa các giá trị Mỹ một cách vô hình vào toàn bộ thế giới Hồi giáo này song nỗ lực đó đã không đạt được hiệu quả như mong muốn. Hậu quả là Mỹ đang rơi vào khủng hoảng và ảnh hưởng bị suy giảm trong khi những kẻ khủng bố Hồi giáo tiếp tục làm công việc của chúng.

Rõ ràng chẳng một ai sẽ lặp lại sai lầm của Mỹ. Liệu Ấn Độ có thể hoạch định chiếm đóng Pakistan bằng vũ khí hạt nhân? Liệu Ấn Độ có định chiếm đóng Afghanistan hay Somalia? Đừng quên rằng giống như Nga, Ấn Độ một phần nào đó cũng là một quốc gia Hồi giáo, có nhiều người Hồi giáo hơn cả Pakistan. Do vậy, Ấn Độ sẽ phải vạch ra một chiến lược chống khủng bố, một việc mà Mỹ đã không làm.

Chiến lược này không nên bó hẹp ở trong nước. Rốt cuộc thì những sự kiện xảy ra trong vài tháng qua cho thấy Ấn Độ nằm trong số những quốc gia hàng đầu của thế giới, giống như Trung Quốc và một số nước khác. Vì lý do này, không thể phớt lờ tội ác ở Mumbai.

Không thể xây dựng lại liên minh chống khủng bố của thế giới trên một cơ sở mới. Trong năm 2001, Ấn Độ đã tìm cách nhắc thế giới rằng New York không chỉ là mục tiêu duy nhất và gốc rễ của khủng bố thế giới nằm trên các đường biên giới của Ấn Độ. Tuy nhiên, những cảnh báo đó đã không được lắng nghe. Lần này, có lẽ mọi việc sẽ khác đi.
Nguội lạnh quan hệ Ấn Độ -Pakistan
Các vụ tấn công khủng bố ở Mumbai còn đe dọa làm xấu đi các mối quan hệ đang ấm dần lên giữa Ấn Độ và Pakistan, trong bối cảnh phương Tây đang tìm cách thuyết phục Islamabad tập trung vào việc tiêu diệt al-Qaeda và Taliban đang ẩn náu ở khu vực gần biên giới với Afghanistan.

Ấn Độ không loại trừ Pakistan liên quan tới các vụ tấn công trên. Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh hôm 27/11 nói rằng các chiến binh ở ngoài Ấn Độ là thủ phạm. Ở Pakistan, tuyên bố này được hiểu rộng rãi là một lời cáo buộc Pakistan dính líu.

Trong khi đó, Bộ trưởng Quốc phòng Pakistan là Ahmed Mukhtar nói rằng ’’không nên đổ lỗi cho Pakistan như trong quá khứ’’ vì Pakistan không dính líu tới những hành động đẫm máu này’’. Hôm 28/11, Thủ tướng Pakistan Gilani đã gọi điện cho người đồng cấp Ấn Độ và cam kết chính phủ của ông ủng hộ hoàn toàn cuộc chiến chung chống lại chủ nghĩa cực đoan và khủng bố.

Quan hệ xấu đi giữa Pakistan và Ấn Độ sẽ làm cho chính sách ngoại giao của Mỹ trong khu vực thêm phức tạp. Tổng thống Mỹ mới đắc cử là Obama đã nói rằng bình thường hóa quan hệ giữa hai nước láng giềng Nam Á này sẽ là ưu tiên hàng đầu trong chính sách ổn định Afghanistan cũng như đánh bại al-Qaeda trong khu vực.

Minh Sơn (theo RIA, NYT, Reuters)
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

“Những Ngày Cuối Cùng” của độc tài đảng trị
Friday, November 28, 2008

Ngô Nhân Dụng

Ngày chót trong chuyến du lịch ở xứ Ai Cập vừa qua, chúng tôi được đi qua một nghĩa trang ở thủ đô Cairo. Khi nói đến nghĩa địa, chúng ta hình dung cảnh những nấm mồ. Nhưng ở đây chỉ thấy những cái “nhà,” có tường vách, có mái phẳng. Người Ai Cập để thi hài người chết dưới sàn nhà, cả gia đình “đoàn tụ” cùng một nơi, để những người còn sống có thể mang thực phẩm tới đó cùng “ăn chung” với những người quá cố, và cầu nguyện cùng với họ.

Khi trông thấy có đông người ở trong nghĩa trang, có du khách trong đoàn hỏi tại sao nhiều người thế? Người hướng dẫn du lịch địa phương, anh Abdul giải thích, đó không phải là những người đi viếng mộ. Họ là những người vô gia cư vẫn vào đó ăn, ngủ mỗi ngày. Anh nói thêm: Ở Cairo có một triệu người vô gia cư (homeless). Thủ đô Ai Cập chứa 20 triệu dân, hơn một phần tư dân số cả nước. Ðoàn xe du khách đi qua một khu dân cư chật chội, anh Abdul chỉ tay: Có thấy triền núi đằng sau những ngôi nhà kia không? Mấy tháng trước núi lở, đè xuống nhiều ngôi nhà ổ chuột và chôn sống hàng trăm người. Quý vị có biết chuyện đó hay không? (Có, tôi đọc chuyện này trên tuần báo Economist vào Tháng Chín). Abdul kể tiếp: Chính phủ nói sẽ cứu trợ những nạn nhân mất nhà. Nhưng cho tới giờ không thấy gì cả!

Báo Econommist còn cho biết chính phủ Ai Cập cũng có những chương trình gia cư xây nhà ở cho dân nghèo, nhưng nhà xây xong phần lớn chỉ cung cấp cho thân nhân, bạn bè của các quan chức nhà nước. Còn dân nghèo vẫn sống trong những ngôi nhà xây bất hợp pháp, trong một nước rộng một triệu cây số vuông nhưng chỉ có 3% là đất trồng trọt được. Báo Economist cho biết có hơn hai triệu rưỡi người Ai Cập không kiếm đủ bữa ăn hàng ngày.

Ði du lịch ở Ai Cập, chúng ta sẽ ở những khách sạn 5 sao, đi xe có máy lạnh, không phải trông thấy cảnh người nghèo sống thế nào. Sẽ có dịp chiêm ngưỡng những đền đài vĩ đại dựng lên từ 3000 năm đến 5000 năm trước đây, những mộ vua chúa và các kim tự tháp. Riêng Hoàng Ðế (Pharaoh) Ramses II, sống trước đây khoảng 3,300 năm, trị vì trong 67 năm, sinh hơn 150 người con, đã để lại hàng trăm pho tượng lớn và hàng ngàn pho tượng nhỏ của ông, cùng những ngôi đền tráng lệ xây ở vùng thượng nguồn song Nile xuống đến bờ biển để kỷ niệm ông và bà hoàng hậu.

Ngày nay ông tổng thống Ai Cập cũng nắm toàn quyền về quốc phòng, an ninh, ngoại giao, và nguồn lợi dầu khí. Ông thủ tướng chỉ chịu trách nhiệm và có quyền trong phạm vi kinh tế, xã hội. Tạp chí Economist cho biết kinh tế Ai Cập đã phát triển cao trong 4 năm qua, sau khi ông thủ tướng mới lên bắt đầu “đổi mới kinh tế.” Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế lên 7% một năm. Hàng xuất cảng tăng từ 9 tỷ đô la năm 2003 lên 24 tỷ đô la năm 2007. Số đầu tư ngoại quốc vào Ai Cập lên tới 11 tỷ Mỹ kim năm ngoái. Giá nhà ở thủ đô Cairo cũng như giá cổ phần trên thị trường chứng khoán tăng rất nhanh, trước khi xẩy ra cơn khủng hoảng toàn thế giới hiện nay.

Kinh tế phát triển nhưng không được phân chia đồng đều. Có những người sống cao hơn cả mức sống mà chúng ta coi là đế vương. Máy bay nhỏ của tư nhân xếp hàng ở phi trường Cairo. Một đám cưới ở thủ đô Cairo được tổ chức linh đình, khách khứa mặc quần áo mua từ Paris và Milano; riêng tiền hoa để trang hoàng trong bữa dạ yến cũng tốn 60,000 Mỹ kim - lợi tức theo đầu người là 100 đô la Mỹ một năm! Tỷ lệ lạm phát ở Ai Cập lên tới 23%, chỉ thua mức 26% tại Việt Nam. Nhưng chính phủ trợ cấp bánh mì và xăng. Xăng chỉ có hơn một đô la một ga lông Mỹ, giới có tiền được hưởng. Số xe hơi bán tăng gấp 4 lần trong 4 năm qua. Nhưng người dân Ai Cập nghèo có thể mua một ổ bánh mì với giá rẻ bằng một xu (cent) Mỹ, nhờ chính phủ trợ cấp.

Tại sao một quốc gia có năm ngàn năm lịch sử, với di tích những công trình xây dựng hùng vĩ và tinh xảo từ mấy ngàn năm như vậy, mà bây giờ dân chúng lại nghèo khổ và chịu cảnh bất công đến thế?

Chỉ thấy một câu trả lời: Vì những người cầm quyền ở xứ này, từ thời Thượng Cổ thường khinh rẻ dân, bạc đãi dân; người dân chưa bao giờ được sống với một chút tự do để tập làm chủ cuộc đời mình.

Những công trình kiến trúc vĩ đại thời Thượng Cổ cho thấy những dải đất đai hai bên bờ sông Nile đủ nuôi dân. Vì chính quyền mỗi thời đại có thể huy động được hàng trăm ngàn dân công lao lực, những người đó không chăn nuôi hay sản xuất lúa gạo. Nhưng các công trình xây dựng đó cũng chứng tỏ dân tộc này đã sản xuất những nhà toán học, các kỹ sư, các nhà thiên văn đại tài so với các xứ khác cùng thời gian đó. Thành phố Alexandria từ thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên đã được dựng lên rồi trở thành một trung tâm văn hóa của Ðịa Trung Hải. Thư viện Alexandria có hàng triệu bộ sách viết bằng 5 thứ ngôn ngữ thông dụng, trước khi bị thiêu hủy. Các nhà toán học Hy Lạp như Pythagore, Archimede, Euclid đều đã đi du học tại đây.

Một nền văn minh sáng chói như vậy, tại sao để lại di sản là một quốc gia nghèo đói và bất công như bây giờ? Vẫn chỉ có một câu trả lời: Vì các chế độ độc tài đã bòn rút xương tủy dân tộc này, người dân chưa bao giờ được thử sống với một nền nếp xã hội trong đó người dân được quyền làm chủ một phần nào vận mạng của họ. Khi người dân bị khinh rẻ mãi, có khi họ cũng nhiễm thói quen tự hạ thấp giá trị của họ. Với những triều đại vua chúa bóc lột hết sức dân của các Pha-rô, dân Ai Cập không có lý do gì để bảo vệ giai cấp lãnh đạo của họ khi đất nước bị xâm lăng. Những đế quốc từ châu Phi tới Ba Tư, Hy Lạp, La Mã, rồi Ðế quốc Ottoman, Pháp, Anh, đã lần lượt chiếm đóng Ai Cập, người dân không còn sức kháng cự và cũng không muốn kháng cự. Dân chúng bị các chính quyền thay phiên nhau khai thác đến kiệt lực. Cho nên khi các đế quốc đến thì không ai tha thiết bảo vệ những người cai trị.

Một chế độ tài đảng trị đã thay thế chế độ thực dân từ năm 1952, nhưng ông Nasser cũng mơ “theo định hướng xã hội chủ nghĩa,” cộng tác với Liên xô, đưa dân vào nhiều cuộc chiến tranh vô bổ; đến năm 1973 ông Sadat mới chấm dứt. Từ đó tới nay, dân Ai Cập vẫn sống dưới quyền của một đảng chính trị. Tổng Thống Hosni Mubarak đã ngồi tại chức 27 năm nay và giờ đã 80 tuổi; nhưng con ông, 44 tuổi, lại đang chuẩn bị mong được lên kế vị. Dưới áp lực của Mỹ, chính phủ Ai Cập chấp nhận có đảng đối lập và một số báo chí độc lập. Nhưng gần đây chính một đại biểu Quốc Hội đối lập đã phản đối Ngoại Trưởng Mỹ Condoleezza Rice khi bà chỉ trích chế độ thiếu dân chủ, cho thấy ngay những người gọi là đối lập cũng thân chính quyền. Ayman Nour, chính trị gia đối lập đang ngồi tù sau khi đã ra tranh cử với Tổng Thống Mubarak vào năm 2005. Ðảng cầm quyền mới thắng lớn trong một cuộc bầu cử ở địa phương năm nay, trong 52,000 ghế nghị viên chỉ có 1,00 người thuộc đảng đối lập. Mở những tờ nhật báo bằng tiếng Pháp và tiếng Anh thân chính phủ chỉ thấy những tin tức tốt đẹp về ông tổng thống và các hoạt động của chính quyền. Tờ tạp chí của Bộ Giao Thông Vận Tải in giấy láng viết một bài dài về ông bộ trưởng, với những hình ảnh ông trình diện trước ông tổng thống kèm theo hình ông cùng với phu nhân ngồi uống trà, lại thêm hình ông bộ trưởng cùng hai công tử bận đồ lớn, toàn những hình mầu sắc lộng lẫy. Ðó là những dấu hiệu của một chế độ độc tài đảng trị dùng báo chí để ca tụng đảng và những người cầm quyền.

Một nước 75 triệu dân phải nuôi 6 triệu công chức, một tập đoàn tham nhũng kiểm soát guồng máy chính trị và kinh tế. Guồng máy công chức đó coi việc trị dân là một đặc quyền, cho phép họ ra lệnh và trừng phạt. Khi đi trên xa lộ qua thành phố Cairo chúng ta thấy bao nhiêu ngôi nhà nhiều từng, cũ kỹ và xấu xí, nhưng xây cất dang dở. Người hướng dẫn cho biết theo luật thì chủ nhà chỉ phải đóng thuế thổ trạch sau khi việc xây nhà hoàn tất. Cho nên mọi người đều xây gần xong thì ngưng, để một tầng lầu không có mái hoặc cửa sổ chưa xong. Tại sao chính phủ không sửa lại luật thuế nhà đất để không cho người ta trốn thuế? Không biết! Có thể vì những người có quyền làm luật cũng là chủ nhân những ngôi nhà đang cất dở dang đó! Ðấy là cách guồng máy cai trị làm việc. Gần đây một đạo luật lưu thông được ban hành tăng mức tiền phạt rất nặng dù người lái xe vi phạm tội rất nhỏ. Người Việt Nam không khỏi liên tưởng đến chỉ thị cấm người ngực lép không được lái xe gắn máy ở Việt Nam, cùng một lối cai trị dân tùy theo hứng của các quan chức! Sau khi luật lưu thông ở Ai Cập được sửa đổi, giá biểu hối lộ cảnh sát đã tăng lên!

Ký giả Hamdi Qandil mới xuất bản cuốn sách “Những Ngày Cuối Cùng.” Ông Hamdi viết: “Chế độ này đang trên giường bệnh chờ chết, và chúng ta chỉ còn chờ ngày đưa đám. Tất cả những ngả đường để thay đổi một cách ôn hòa và tiệm tiến đã bị chặn. Chỉ còn một con đường là người dân bất hợp tác.”

Những ai tò mò muốn biết các dấu vết của nền văn minh Ai Cập vẫn nên đến thăm quốc gia cổ kính này, trong đời một người nên thấy tận mắt các di tích đó ít nhất một lần. Năm ngoái Ai Cập đã tiếp nhận 13 triệu du khách, nguồn ngoại tệ và thành phần lớn nhất trong Tổng Sản Lượng Nội Ðịa. Mỗi du khách tới đây một tuần có thể giúp nhiều gia đình người Ai Cập được no bụng trong một năm, riêng ý nghĩ đó cũng khiến người đi du lịch không mang mặc cảm phạm tội nếu biết cảnh người dân còn nghèo đói. Nhưng khi du lịch ở Ai Cập chúng ta không khỏi nghĩ đến thân phận nước Việt Nam.

Cũng giống như chế độ độc tài ở Ai Cập, đảng Cộng Sản Việt Nam đang nuôi một bộ máy tham nhũng khổng lồ, với số công an cảnh sát đông đảo có khả năng kiểm soát từng người dân, ngăn chặn tất cả các ý kiến khác với chính quyền chứ đừng nói tới hành động chống đối. Việc cải tổ kinh tế cũng tạo nên cảnh chênh lệch giầu nghèo ở Việt Nam không thua gì ở Ai Cập. Ai Cập cũng đang có nhiều cuộc biểu tình, đình công của công nhân và nông dân không khác gì ở Trung Quốc hay Việt Nam. Chế độ Cộng Sản ở Trung Quốc và Việt Nam còn độc tài hơn chính quyền Ai Cập vì họ không chấp nhận một tiếng nói đối lập nào. Một ký giả như Hamdi Qandil không thể nào xuất bản sách ở Việt Nam, nhất là khi bìa cuốn sách lại in hình vẽ nhạo ông tổng thống! Nhưng Việt Nam cũng cần một ký giả can đảm như Hamdi Qandil. Cần một cuốn sách vạch ra chúng ta đang sống “Những Ngày Cuối Cùng” của một chế độ độc tài đảng trị đang trên đà phá sản.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Chống tham nhũng tại Việt Nam cần học kinh nghiệm Ấn Độ và Nigeria
Tác giả: Hà Giang, RFA



Trong một buổi họp báo của chính phủ gần đây, Tổng Thanh Tra chính phủ Trần Văn Truyền nhận định rằng tham nhũng là một vấn đề nghiêm trọng cần phải khắc phục. Đây không phải là lần đầu tiên chính phủ Việt Nam có những tuyên bố rất cương quyết về việc chống tham nhũng, nhưng những khẳng định này hầu như đã không cải thiện được tình trạng tham nhũng tại Việt Nam. Chống tham nhũng quả là một công việc không dễ dàng và đơn giản.Thông tin viên Hà Giang có bài viết tìm hiểu việc chống tham nhũng tại hai quốc gia Ấn Độ và Nigeria như sau.

Trong nhiều năm qua, chính phủ Việt Nam đã không ngớt kêu gọi dân chúng, cán bộ mọi ngành, các cơ quan, hội đoàn và giới truyền thông cùng nhau hỗ trợ việc ngăn chặn và chống lại nạn tham nhũng, nhưng dù đã có rất nhiều cố gắng, tình trạng tham nhũng tại Việt Nam cho đến giờ vẫn không hề thuyên giảm mà ngày càng có dấu hiệu trầm trọng hơn.

Trong bảng đánh giá mức độ tham nhũng năm 2008, tổ chức Minh bạch Quốc Tế đã xếp Việt Nam đứng thứ 121 trên 180 quốc gia, tụt xuống 10 bậc so với hai năm trước đây.

Những sự kiện như vụ án tham nhũng PMU18 và gần đây nhất là sự kiện ông Huỳnh Ngọc Sỹ bị công ty Pacific Consultants International, gọi tắt là PCI của Nhật tố cáo đích danh là đã nhận hối lộ nhiều lần; khiến dư luận ngày càng nghi ngờ quyết tâm và khả năng của chính quyền trong việc chống tham nhũng.

Theo tổ chức Minh Bạch Quốc Tế thì nạn tham nhũng tồn tại khi một chính thể khuyến khích và dung túng nó. Ông Peter Eigen, sáng lập viên của Minh Bạch Quốc Tế phát biểu:

Bài trừ tham nhũng đòi hỏi một bộ luật minh bạch được áp dụng nghiêm chỉnh, một chương trình hành động cụ thể, và nhất là vai trò độc lập của truyền thông trong việc phanh phui và đăng tải những tin liên quan đến tham nhũng.

Thật ra, không riêng Việt Nam phải đối phó với tham nhũng. Tệ trạng này xuất hiện ở mọi nước trên thế giới. Tuy nhiên, điều mà các nhà phân tích coi như một quy luật là tham nhũng bao giờ cũng tỷ lệ nghịch với minh bạch. Cụ thể là nứơc nào báo chí càng tự do, quyền phát biểu ý kiến càng đựơc tôn trọng thì tham nhũng càng ít. Có thể lấy trừơng hợp của Ấn độ và Nigeria minh họa điều này.

Tại Ấn Độ, theo bản tường trình của tổ chức Minh Bạch Quốc Tế, đời sống của hơn 55% dân nước này bị ảnh hưởng trực tiếp bởi tham nhũng. Năm 2008, tổ chức Minh bạch Quốc Tế đã xếp Ấn Độ đứng thứ 85 trên 180 quốc gia, tiến lên được 5 bậc so với năm 2004.

Một trong những lý do của sự tiến triển này là nhờ Đạo Luật “Quyền Được Thông Tin” (Right to Information Act), được chính phủ Ấn Độ cho ra đời vào tháng 6 năm 2005. Đạo Luật này cho phép người dân được quyền chất vấn viên chức nhà nước về các quyết định của họ, được quyền duyệt các hồ sơ làm việc, và kiểm soát việc làm của các viên chức, nếu cần. Đạo luật cũng đòi hỏi các viên chức phải cho xem hồ sơ và trả lời những khiếu nại của dân trong vòng 30 ngày, nếu không thì sẽ bị nộp phạt.

“Quyền Được Thông Tin” đã mang công lý đến cho nhiều người dân thấp cổ bé miệng tại Ấn Độ như bà Faizabad, một người đã liên tục nộp đơn xin một việc làm mà bà hội đủ điều kiện tại một công sở, ròng rã trên 20 năm, nhưng lần nào cũng bị khước từ, mà không được cho biết lý do tại sao. Ông Amod Kumar, viên chức phụ trách hồ sơ khiếu nại của bà chia xẻ:

Đây là một trường hợp đã kéo dài 20 năm, và giờ đây đạo luật Quyền Được Thông Tin không những đã giúp bà Faizabad nhận được việc, mà còn giúp cho chính quyền biết được những viên chức nào đã phạm luật trong việc xét đơn của bà.

Giới chức thẩm quyền tại Ấn Độ cho rằng giá trị lớn nhất của đạo luật Quyền Được Thông Tin là làm cho người dân tập thói quen đòi cho bằng được các thông tin liên quan đến những quyết định có ảnh hưởng đến đời sống của họ, và khiến các viên chức biết rằng việc làm của họ có thể sẽ bị người dân chất vấn.

Tương tự như Ấn Độ, kể từ năm 1999, những nhà làm luật tại Nigeria, một quốc gia đông dân ở Tây Phi, đã cố gắng vận động cho dự luật có tên là Tự Do Thông Tin (Freedom of Information Bill) được trở thành đạo luật, nhưng dự luật này đã bị Quốc Hội Nigeria bác bỏ lần thứ bẩy vào tháng 6 năm 2008.

Tuy chính phủ Nigeria chưa muốn cho người dân của họ được hưởng quyền Tự Do Thông Tin, nhưng lại cho phép một tổ chức có tên là The Nigerian Monitor, một tổ chức phi chính phủ có thiện nguyện viên khắp nơi, để xem xét, theo dõi và công bố tất cả những chi tiết về ngân sách của mọi hợp đồng lớn mà chính phủ Nigeria cho các nước khác đấu thầu.

Theo lời ông Lion Agwumezie, giám đốc của Nigerian Monitor thì thành công của họ nhờ vào hai yếu tố: Sự độc lập của tổ chức và nguồn thông tin tự do mà tổ chức này đã mang đến cho dân chúng. Những tường trình minh bạch về ngân khoản quốc gia dành cho những dự án lớn này đã khiến người ta chùn tay trong việc ăn hối lộ. Ông nói:

Mỗi người dân đều có quyền được biết tên những công ty đấu thầu với Nigeria, tên và địa chỉ cũng như số phôn của người đại diện cho những công ty này. Sẽ không bao giờ có chuyện một công ty “ma”được trúng thầu từ chính phủ Nigeria nữa. Người dân Nigeria cũng có thể theo dõi xem những dự án đã được hoàn tất được đến đâu rồi, cũng như hiểu những yêu cầu kỹ thuật của từng dự án…

Kinh nghiệm của hai nước Ấn Độ và Nigeria cho thấy mẫu số chung trong thành quả chống tham nhũng của cả hai quốc gia này là sự tự do thông tin, nhờ vào đó các cơ quan công quyền phải trả lời cho việc làm của mình trước người dân.

Trong khi đó, dư luận cho rằng vì chưa có tự do báo chí, và vì người dân không có quyền được thông tin đầy đủ cho nên việc chống tham nhũng tại Việt Nam xét ra vẫn chỉ là những lời khẳng định không thể thực hiện được./
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Vì Sao Đấu Tranh Chưa Thành
Vi Anh
Đấu tranh ở đây là đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN, mà CS Hà nội đã cướp đoạt nửa thế kỷ ở Miền Bắc từ Aûi Nam Quan đến sông Bến Hải và một phần ba thế kỷ ở Miền Nam từ Bến Hải đến mũi Cà Mau. 33 năm đấu tranh không ngừng nghỉ, không mệt mỏi, thế mà chẳng những tự do, dân chủ, nhân quyền chưa có ở nước nhà VN, hàng ngũ người tỵ nạn CS ở hải ngoại không còn chặc chẻ lắm.

Trái lại CS Hà nội đã bang giao giao thương được với Mỹ, cựu thù của CS Hà nội nữa. Ba triệu người Việt ở Miền Nam bỏ nước ra đi để tỵ nạn CS mỗi năm lại gởi về khoảng 8 tỷ Đô la trong khi Mỹ cúp 300 triệu của 1 tỷ Đô la viện trợ cho VNCH, là VNCH sụp đổ. Có nhiều người chán ghét, hận thù CS, bị CS tù đày, bị CS cướp của qua đổi tiền và đánh tư sản, dùng thuyền nan vưọt đại dương, dùng những năm tù cải tạo để đi Mỹ tìm tự do bây giờ mỗi năm đi VN không dưới 200 000 lượt người. Tệ hơn nữa có người không dám đi biểu tình chống Cộng, sợ bị chụp hình, không được đi về VN hay về VN sẽ bị làm khó dễ. Dân ham tiền thì len lỏi về VN làm ăn dù chưa ai về VN làm giàu lớn mà được yên thân ra khỏi xứ . Dân ham gái cũng thế đi VN tìm cỏ non bò lạc, làm vợ con ở hải ngoại khổ đau, và làm cho xã hội VN đã bị CS cào băng đạo lý thêm nhiều tệ nạn xã hội nữa.

Còn truyền thông đại chúng tiếng Việt ở hải ngoại, đặc biệt là báo chí và truyền hình, cũng có người giả bộ cấp tiến, hoà nhập sâu sát vào dòng chánh Mỹ, để quá khứ ra sau hướng về tương lai phía trước theo chủ trương Mỹ, nhưng thực tế và thực sự là tránh né thông tin, nghị luận đấu tranh để đón gió trở cờ chờ quảng cáo của các công ty quốc doanh trong nước dù quốc doanh trong nước đâu có cần khách hàng hải ngoại, trừ vài dịch vụ tép riu.

Nên rất có lý những thăùc mắc tại sao CS ác độc quá trời mà sống dai như đỉa đói vậy và tại sao người Việt Quốc Gia đấu tranh hoài mà CS Hà nội vẫn sống nhăn. Dưới tinh thần biết mình biết người để chiến thắng và và lương thiện, và nghiêm khắc với chính mình, có hai lý do: tại CS và cũng tại ta người Quốc Gia, hai lý do hoà huyện nhau làm trậïm trà, trậm trật công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN tức chống CS vì có tự do, dân chủ, nhân quyền thì CS không có lý do tồn tại.

Tại CS. CS Aùc, cái gì cũng dám làm dù bạc ác, vô luân, vô đạo nhứt vì lấy cứu cánh biện minh cho phương tiện. Còn người Quốc Gia thì quá đạo đức. Đến mức có khi thành đạo đức giả hễ ai lỡ làm một cái gì bạo một chút là búa phê bình, rìu chỉ trích bổ lên đầu, có khi bị đưa lên dàn hoả thiêu cho cháy tiêu luôn.

CS Hà nội đối nội có quốc gia, có ngân sách trong tay, có quân đội, công an cảnh sát thừa sức diệt chũng; và đối ngoại có ngoại giao và giao thương với hầu hết các siêu cường. Trong khi người Việt đấu tranh trong ngoài nưóc chỉ có tinh thần, có chánh nghĩa mà không có phương tiện vật chất, thường đấu tranh bằng tiền túi Lại lắm khi ăn cơm nhà ra vác ngà voi hàng tổng lại ghen hiền ghét ngỏ, bị chụp đủ thứ mũ từ CIA đến CS. Phải người dũng cảm, thương nước, thương dân lắm mới đủ kiên trì đấu tranh.
\
Tại "tàn dư" của cái bịnh sợ CS còn trong tiềm thức của người Viêt Quốc gia. "Tàn dư" khũng bố" đen, trắng, xám của CS đã từng làm tê cóng nhiều người khi còn ở nước nhà, nhưng vẫn còn làm lạnh cẳng không ít người khi ra được hải ngoại. Có người thực tình giúp tiền cho các phong trào đấu tranh nhưng dặn đừng nêu tên họ, không phải vì khiêm tốn mà vì ngại CS. Có người năn nỉ đừng chụp hình, sợ đi VN bị làm khó dễ, sợ VC "đì" vợ con còn kẹt ở nước nhà VN. Đảng Nhà Nước CS là một guồng máy tẩy não tinh vi, không ngừng nghỉ, không mệt mỏi. Già, kể cả những người đang sống ở ngoại quốc, đang đầy đủ tự do, dân chủ, nhiều đêm ngủ còn thấy ác mộng ngục tù CS. Coi CS như Aùc Thần, rất thù, rất ghét nhưng tránh xa. Nên ở xa thì biểu tình chống đối quyết liệt, còn thấy bóng dáng VC thì cố tránh từ xa. Trẻ thì CS đã cào bằng văn hoá, thay đổi lịch sử cận đại, biến tuổi trẻ trở thành những người bon chen để hưởøng thụ hơn là suy nghĩ đến vận mạng nước non. CS biến nhân sinh và thế giới quan của tuổi trẻ theo những tiêu chí mà CS đưa ra, tìm thấy sự hãnh diện, trong thương mại, trong sự làm giàu.

Bộ máy tuyên truyền của CS hoạt động mạnh và đều. Dùng kỹ thuật dụng danh đạt quả. Ai làm lợi cho CS thì CS gọi là "yêu nước, Việt Kiều khúc ruột ngàn dăm của quê hương, bộ phận không tách rời được của dân tộc". CS không thiếu lời hay ý đẹp và không thiếu ban khen cho mọi giới: "người tốt việc tốt", "tốt đạo đẹp đời".

Còn ai không theo Đảng là "thù địch, phản động", thì CS thừa quỉ kế để triệt hạ. Khủng bố đen trắng xám, bao vây kinh tế, tạo mâu thuẫn, chia rẽ. Làm cho người dân sợ chánh trị, chán chánh trị và xa lánh chánh trị, coi đó là trò " dơ dáy, xôi thịt, chiếu trên chiếu dưới" dù bản chất chánh trị là sự sống, mua một lít xăng, mua báo này mà không mua báo khác, là chánh trị, dù căn cước đại đa số người Việt ở hải ngoại là tỵ nạn CS, tỵ nạn CS là tỵ nạn chánh trị, là chánh trị. Làm cho cộng đồng, tổ chức của ngưòi Việt hải ngoại bỉ chê là thiếu đoàn kết, thông nhứt vì tranh giành phe phái.
Tại cái bịnh vọng ngoại và khôn vặt. Đấu tranh mà đợi chánh quyền các nước siêu cưởng bật đèn xanh hay đèn đỏ. Quên một điều chánh quyền ngoại quốc nào cũng vậy, kể cả Mỹ không có thù muôn thuở, bạn muôn đời, chỉ có quyền lợi quốc gia họ là trên hết. Chờ người khác làm cho mình hưởng. Nhưng thấy ai hơn mình thì tị hềm, từ nói hành nói tỏi sau lưng đến chụp mũ, chưởi gần chưởi xa ngay trước mặt. Những lời trên chắc không vui tai nhưng cần thiết để biết mình, biết ngưòi hầu khắc phục để tiến lên. Thuốc đắng mới đả tật.



VI ANH
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Nhục cả nước

Ngô Nhân Dụng
Khi du lịch ở Cairo tôi gặp một thanh niên người Ðức ở cùng một khách sạn, cùng ngồi uống cà phê trong một quán vắng vẻ. Vì lý do xã giao bắt buộc, hai người phải chào hỏi nhau, và sau vài câu chuyện vãn, một câu hỏi tự nhiên là: “Anh ở nước nào tới đây?”

Khi biết quê quán anh ta ở thành phố Hannover, Ðức quốc tới, tôi hỏi thăm anh có biết về ngôi chùa Việt Nam nổi tiếng tại đó không? Anh biết tiếng, nhưng anh chưa có dịp thăm chùa vì đã đi làm việc ở Berlin từ lâu. Khi nghe tôi từ California sang đây và là người Việt Nam, anh thú nhận chưa đi thăm Việt Nam bao giờ. Nhưng anh lại hỏi tôi ngay một câu: “Tại sao nước lụt lớn đến chết người như vậy? Chỉ mưa thôi mà?”

Tôi phải nghĩ mấy giây mới hiểu câu hỏi của anh. Có một bản tin cũ mấy tuần trước về cảnh lụt lội ở Hà Nội, đã đăng trên báo Người Việt trước khi tôi rời California! Nhưng không thể ngờ người nước khác họ cũng chú ý đến tin đó; đến nỗi một người Ðức trẻ tuổi, đang đi công tác ở Ai Cập, mà lại quan tâm đến tin mưa và lụt ở Hà Nội như vậy! Quả thật là bất ngờ! Chắc lâu lắm báo chí nước họ mới có một tin quan trọng về nước Việt Nam đáng đọc, và anh ta muốn tỏ ra có chú ý đến nước Việt Nam nên mới hỏi thăm về chuyện này.

Là người Việt Nam thì vốn tính sĩ diện. Tôi cố giải thích cho anh hiểu rằng thành phố Hà Nội được thiết kế từ hơn thế kỷ trước, khi người ta ước tính dân số lên cao nhất chỉ tới mấy trăm ngàn. Mấy năm gần đây dân số mới tăng, giờ lên tới bốn triệu người, thành ra hạ tầng cơ sở không đủ đáp ứng!

“Nhưng chết đến 55 người thì nhiều thật!” Anh bạn trẻ vẫn tỏ ý thương xót. Tôi công nhận chuyện ấy thật khó hiểu! Không thể nào tự bào chữa cho nước mình được, tôi đánh trống lảng, quay sang hỏi anh ta tới Ai Cập dự hội nghị về cái gì, chỉ cốt bỏ qua chuyện Hà Nội Lụt.

Làm người Việt Nam, dù ở đâu, đi đâu, mình cũng chia sẻ tiếng tốt hay tiếng xấu của nước Việt Nam. Mình chưa kịp khoe khoang bốn ngàn năm văn hiến mà người ta đã hỏi thăm chuyện lụt lội chết người ngay ở thủ đô (sắp kỷ niệm 1000 năm lịch sử), thì mình cũng chia sẻ nỗi xấu hổ với đồng bào mình vậy. Là đồng bào thì phải chịu trách nhiệm chung với nhau cả. Cũng may trong mấy ngày sắp tới đây tôi sẽ không gặp người Nhật Bản nào cả. Tội nghiệp cho mấy người bạn tôi ở Nhật Bản, chắc họ vẫn bị những người chung quanh hỏi thăm về vụ công ty PCI hối lộ ở Việt Nam! Không ai nỡ chối rằng mình không chịu trách nhiệm nào về những chuyện đó!

Tôi cảm thấy nhục khi nghe tin hôm qua chính phủ Nhật Bản đã chính thức thông báo cúp bớt viện trợ phát triển ODA theo lối tín dụng lãi suất nhẹ cho Việt Nam. Họ nói rõ, tạm ngưng cho đến khi nào đảng Cộng Sản Việt Nam chứng tỏ họ có thể trừ nạn tham nhũng, hối lộ. Nghe tin đó, người Việt Nam ở bất cứ phương trời nào cũng cảm thấy nhục nhã. Không biết báo chí bên Ðức có loan báo tin này như tin mưa lụt ở Hà Nội hay không. Người Việt Nam ở khắp thế giới có thể được người ngoại quốc hỏi thăm về câu chuyện này. Một anh bạn tôi ở Zurich, Thụy Sĩ nhưng hay làm việc và tiếp xúc với người Nhật ở đó, không biết có người nào hỏi thăm anh chuyện này chưa? Anh giải thích ra sao?

Quý vị độc giả đã biết rồi, chuyện các viên chức của công ty PCI bị đưa ra tòa án ở Tokyo và họ khai đã nộp tiền hối lộ cho mấy quan chức cộng sản ở Sài Gòn trong vụ Dự án Xa lộ Ðông Tây. Dân chúng Nhật Bản đều đọc tin đó trên báo chí. Vụ PMU 18 ở Hà Nội hơn hai năm trước, tiền bị ăn cắp cũng có tiền viện trợ ODA của Nhật Bản nữa.

Dân Nhật được biết chuyện PCI hối lộ từ gần một năm nay rồi, ai đọc báo cũng biết tên ông Huỳnh Ngọc Sĩ, người đã đòi PCI đút lót 2 triệu 6 đô la. Nhưng “Ban Chỉ đạo Trung ương Phòng chống Tham nhũng” của đảng cộng sản Việt Nam vẫn tuyên bố trong vụ này họ chưa thấy có gì cụ thể cả! Cái cụ thể sờ sờ trước mắt bây giờ là cả nước chịu nhục nhã. Họ có thấy hay không?

Một điều nhục là ông đại sứ Nhật Bản Mitsuo Sakaba đã công bố tin cúp viện trợ trong một cuộc họp báo, ngay trong ngày họp đầu tiên của hội nghị các nguồn cấp viện cho nước ta. Tiếng Anh gọi họ là các “đô no” (donors), gồm các quốc gia và các định chế quốc tế, mỗi năm họp một lần như lần này. Các quan chức cộng sản Việt Nam có vẻ ngớ ra, không ngờ cái tin bị cúp hàng tỷ đô la viện trợ được tung ra giữa công chúng! Thật là nhục nhã!

Nếu khéo “ngoại giao” hơn, nghĩa là nếu muốn tỏ vẻ kính trọng chủ nhà một chút thôi, chính phủ Nhật có thể cho tin xấu này được tiết lộ ra theo cách khác, nhè nhẹ và chầm chậm.

Tại sao chính phủ Nhật không thông báo cho chính phủ Nguyễn Tấn Dũng biết trước một ngày, rồi chính họ loan báo tin buồn này trước khi họp hội nghị? Sau đó, khi báo chí hỏi, ông đại sứ Nhật chỉ gật đầu xác nhận là đủ rồi. Làm như vậy sẽ giữ được thể diện, không phải riêng thể diện của đám lãnh tụ cộng sản tham nhũng mà cũng nên bảo vệ mặt mũi cho cả dân tộc Việt Nam 84 triệu người nữa chứ!

Công bố việc cắt viện trợ trước công chúng đã là một tin làm mất mặt nước chủ nhà rồi, nhưng ông Ðại sứ Mitsuo Sakaba còn nặng tay hơn nữa. Ông nói thẳng lý do cúp tiền là vì chính quyền cộng sản Việt Nam tham nhũng quá. Ông nói viện trợ Nhật sẽ được tiếp tục trở lại khi nào đảng Cộng Sản Việt Nam cộng tác với chính phủ Nhật thiết lập một hệ thống bài trừ tham nhũng có hiệu quả.

Nói cách khác, Ðại sứ Mitsuo Sakaba tố cáo thẳng trước một hội nghị quốc tế rằng những món viện trợ cho nước Việt Nam chỉ nuôi một bọn tham nhũng. Dù thương yêu muốn giúp 84 triệu người dân Việt Nam đến mấy, chính phủ Nhật cũng không thể chấp nhận cảnh tiền bạc do dân Nhật đóng thuế bị bọn ăn cướp cộng sản Việt Nam lấy bỏ túi như vậy! Có thể coi đây là một cái tát vào mặt nhóm người cầm quyền ở nước ta.

Nhật Bản là quốc gia viện trợ cho Việt Nam nhiều nhất, số tiền Nhật cho bằng một phần ba tổng số các nước. Các nước khác sẽ lấy đó làm gương. Tất cả các nước cấp viện sẽ phải đặt câu hỏi này: Tại sao chính phủ Nhật Bản có can đảm công khai buộc tội đám người gian tham này, và Nhật Bản đã đưa ra biện pháp trừng phạt, còn chính phủ nước mình vẫn ngậm miệng, lại còn bỏ tiền ra nuôi tiếp cho chúng béo phì ra? Tại sao chính phủ Nhật Bản có tinh thần trách nhiệm đối với dân chúng họ, còn chính phủ các nước khác lại không thận trọng hơn trong việc đem tiền nuôi bọn kẻ cắp?

Nếu chính phủ các nước cấp viện không tự đặt câu hỏi đó, thì chính người dân và báo chí các nước đó sẽ có lúc đặt câu hỏi. Và kết quả sẽ không phải chỉ có số tiền viện trợ cho 84 triệu người Việt Nam sẽ bị giảm bớt. Hậu quả đau đớn nhất là nỗi nhục nhã cả một nước phải chịu, do một bọn cầm quyền thối nát gây ra!

Một nước phải ngửa tay xin tiền đã là nhục rồi. Nhưng trong thế giới bây giờ có bao nhiêu nước nghèo vẫn được các nước giầu viện trợ, nước mình cũng ngang hàng với nhiều nước Á Châu, Phi Châu khác, cho nên nỗi nhục này còn nhịn được.

Nhưng đã đi xin tiền rồi, đem tiền bố thí về nhà rồi, trong nhà còn ăn cắp của nhau nữa, nhục nhã làm sao đây! Ăn cắp trâng tráo như thế mà bọn họ cứ tiếp tục bao che tội cho nhau mấy chục năm nay, cả nước không ai dám nói gì, không dám làm gì cả, không thấy là nhục hay sao?

Ăn cắp những số tiền lớn một cách vô liêm sỉ đến nỗi chính phủ nước ngoài họ phải ngưng cho tiền vì sợ dân của họ phản đối! Ðại sứ Nhật Bản đã nói rằng dân chúng nước ông không cho phép chính phủ đem tiền cho những nước nghèo để lọt vào tay bọn căn cắp. Người Nhật đang tự hỏi nhau tại sao nước Việt Nam nhiều kẻ cắp thế! Niềm tủi nhục đó cả nước phải chịu đựng cho đến bao giờ?

Sáu tháng nay dân Nhật Bản ai cũng biết sự tích ông Huỳnh Ngọc Sĩ được lì xì hàng triệu đô la Mỹ bằng tiền mặt, còn báo chí Việt Nam thì không ai dám đi tìm hiểu xem ông ta sống thế nào, nhà cửa, gia đình ra sao, con cái học hành ở đâu. Không phóng viên nào dám đi tìm phỏng vấn các người cộng sự hay cấp chỉ huy của ông ta cả. Phải cắn răng ngậm miệng, không dám hỏi, không dám nói như vậy cho đến bao giờ?

Chúc các bạn may mắn, khi ra ngoài đường, đi du lịch, không gặp người Nhật Bản nào cả. Giống như ông bạn trẻ người Ðức gặp tôi ở Cairo, tự nhiên tò mò hỏi tại sao thành phố Hà Nội bị lụt khiến mình lúng túng. Làm người Việt Nam lúc nào mình cũng muốn bảo vệ thể diện cho đất nước. Nhưng làm sao bảo vệ được thể diện của ông Huỳnh Ngọc Sĩ và các đồng chí của ông ta bây giờ!
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Phản ứng của dân chúng Việt Nam
do vụ Nhật ngưng cấp viện trợ vì cán bộ CS tham nhũng

Tác giả: Comments on BBC website


Duc Huy, Sai Gon

Giờ thì những người luôn luôn tự hào mình là người Việt Nam anh dũng kiên cường đã sáng mắt chưa? có thấy những gì mà Đức cha Ngô Quang Kiệt phát biểu là ông cảm thấy "nhục" khi cầm tấm hộ chiếu trên tay chưa?

Tự hào nữa đi, tự hào vì lẽ giờ cả thế giới đều phải nể Việt Nam là một đất nước tham nhũng đến thế nào mà bị cắt cả ODA, tự hào mà "bơi" trên phố mỗi khi mưa về nhé, tự hào mà cỡi xe như cỡi ngựa chinh chiến trên những con đường đầy rẫy lô cốt nhé, tự hào vì không có một dân tộc nào anh hùng như VN dám "đi vào bóng đêm" như thời trung cổ như vậy.

Tôi thấy rất nhục, rất tủi, rất xấu hổ, rất đau đớn. Ôi... Việt Nam ơi!

Saigonnaise, TP.Hồ Chí Minh

Không biết việc ngưng này có làm cho con đường Đông Tây đang thi công ỳ ạch có lý do để ngưng luôn không? Như vậy thì đường vẫn còn bị kẹt xe và lụt lội khi triều cường?

Phải công nhận là cái vụ ODA này khi không xì ra thì làm sâu thêm sự giầu nghèo của các quan chức và người dân, còn khi xì ra thì làm sâu thêm sự lụt lội của thành phố.

Không biết khi làm những việc như thế này, các quan chức có nghĩ đến đây là một tội ác? vì nếu ai đó ăn cướp, ăn giật 1 cái gì của ai đó thì chắc chắn là Pháp luật sẽ không dung thú và bản thân người đó cũng tự cảm thấy cái gì không yên ồn.

Đằng này, món đồ có được là cả một tài sản khổng lồ mà đời con đời cháu của VN phải trả thì Pháp luật có hành xử hay không? và bản thân người đó có chút áy náy nào không? chẳng lẽ họ cũng là người mà không có cảm giác cướp giật là vô đạo đức? là lấy cái gì không bằng công sức lao động của mình là hành vi tội lỗi???!!!

Mong sao đường không bị lụt khi mưa hay triều cường, xe không bị kẹt... Nhưng cứ cái kiểu này chắc hẳn là lâu lắm...

Ông GĐ Sở GTCC TP.HCM mới hô hào dân rán chịu đựng năm 2020 sẽ hết ngập!!! mong lắm thay thời gian àny rút ngắn hơn...

Hieu Minh, Danang

Một con sâu làm rau nồi canh. Cơ hội phát trển của đất nước bị thu hep bởi những kẻ sâu mọt. Người dân thì đói khổ còn bọn chúng cứ phè phỡn ra đấy nhưng có ai làm gì đâu.

Càng ngày lòng tin của thế hệ trẻ với nhà nước càng giảm sút vậy thì đất nước sẽ chừng nào mới bắt kịp với thế giới đây? Chỉ khi nào đất nước có được một nhà lãnh dạo thât sự tài ba dám nghĩ dám làm mới hi vọng có môt sự thay đổi cho Việt Nam.

PT, Sai Gon

Có lẽ chúng ta không nên bỏ luật tử hình tội tham nhũng mà phải tăng mức lên nữa mới phải. Giờ đây tham nhũng đã cho đất nước ta một diện mạo mới trên trường quốc tế. Nó giống như thương hiệu hàng hóa Trung Quốc hiện nay.

Giờ mỗi năm chúng ta mất đi hàng tỷ đô la để xây dựng kiến thiết đất nước đó là nguồn vốn rất quan trọng để phát triển cơ sở hạ tầng của chúng ta. Kèm theo là mất đi những cơ hội tiếp cận với những công nghệ đi kèm với ODA mang lại.

Phải chăng những ông quan tham còn có lương tri, còn thấu hiểu cho vận mệnh của dân tộc trong tương lai thì đã không ăn trên những đồng vốn mà chúng ta dùng để xây dựng đất nước như vậy. Phải chăng niềm tin của thế giới đang lung lay với cơ chế lãnh đạo và quản lý của Việt Nam.

Thật là đau lòng khi nhìn thấy sự thực về đất nước hiện nay!

Vanthuyhoa Saigon

Chính phủ Nhật Bản làm như vậy là đúng. Khi mọi việc không được làm sáng tỏ thì việc cắt xén tham ô tiền viện trợ còn diễn ra dài dài trong khi các dự án thực hiện được chẳng bao nhiêu và chẳng ra cái gì cả.

Chúng tôi rất cám ơn các bạn đã giúp đỡ đất nước tôi. Nhưng chúng tôi cũng không muốn con cháu chúng tôi sau này phải è cổ ra trả nợ cho những đồng tiền đã chạy vào túi của những ông quan tham bất chính. Thậtlà nhục nhã!

DDD.SG Hà nội

Ông Thứ trưởng Hồ Xuân Sơn ơi, theo ông báo chí Nhật không đi đúng lề phải trong việc đưa tin vụ nhận hối lộ ở PCI. Bây giờ CP Nhật cắt luôn viện trợ ODA ông thứ trưởng nghĩ sao??....

NSG Sài Gòn

Chính phủ Nhật Bản đã hành động bảo vệ đồng tiền đóng thuế của người dân Nhật còn chính phủ VN phải làm gì để bảo vệ danh dự của cả 1 quốc gia đây? Hèn nhát trước ông bạn láng giềng xấu tính bao ngàn năm chực xâm lấn, tham ô đục khoét người bạn tốt Nhật Bản. Còn gì hơn nỗi xấu hổ này?

Lan, Hanoi

Ủng hộ quyết định của chính phủ nhật. Tiền nợ thì con cháu chúng ta phải trả. Tiền tiêu thì vào túi tư bản đỏ.

CTN Saigon

Một quyết định của Nhật bản cần thiết để duy trì công tác điều tra và rõ quốc nạn tham nhũng Việt nam vào lúc này. Người dân Việt nam luôn cám ơn những gì mà người Nhật đã làm cho chúng ta trong thời gian qua. Mục tiêu ODA là giúp người dân VN phát triển nhưng khi nó không đạt mục đích mà chỉ làm giàu cho 1 số quan chức thì dừng lại là việc làm đúng.

Không nêu tên

VN chúng ta phải cảm ơn Nhật Bản về việc này. Nhờ họ mà VN sẽ có thái độ rõ ràng hơn trong việc chống tham những. Một lần nữa xin cám ơn người bạn tốt, chí tình: Nhật Bản.

Le Tuan, TPHCM

Thật đau lòng khi nhìn thấy danh dự của đất nước đã bị bọn tham quan lấy đi, là người dân Việt Nam ai mà không đau lòng trước việc mất uy tín của đất nước như vậy. Đối với một bộ phận công chức Việt nam thì chuyện ăn hối lộ, tham nhũng đã và đang gây nhức nhối cho nhân dân.

Ngay cả Công ty của tôi sau khi xuất khẩu và được hoàn thuế VAT mà còn bị hành hạ và yêu cầu chi ra 5% nữa là khác. Đúng là một bọn bất lương, chính bản thân tôi còn sợ bọn này đến nỗi không dám xuất khẩu trực tiếp mà phải mượn pháp nhân các đơn vị của nhà nước để xuất khẩu và trả phí cho họ. Buồn quá công chức Việt nam.

Soli, Vietnam

Chuyện phải tới đã tới! Nhân dân và Chính phủ các nước bỏ tiền ra giúp Vietnam là để cho Vietnam phát triển. Khi người ta thấy tiền của của người ta chui vào túi bọn sâu mọt cầm quyền thì đương nhiên phải ngừng ngay lập tức. Chế độ cai trị ở VN hiện nay ngày càng bộc lộ rõ là một chế độ phản dân hại nước, dù trước đây thế hệ cha anh họ đã từng có công giành độc lập cho đất nước. Để VN phát triển giàu mạnh, chỉ có con đường nhân dân đứng lên đạp đổ chế độ thối nát vô phương cứu chữa này!

NSN, Đức

Nhân dân Việt Nam nên cảm ởn Chính phủ Nhật, các khoản này nếu tài trợ thì vào túi quan chức VN chứ dân không được hưởng gì nên tạm thời ngừng có nghĩa là vốn này còn có thể trở lại trong tương lai. Còn nếu cứ tiếp tục tài trợ thì chỉ có mất đi!

Thanh, HN

Người VN ta vẫn có truyền thống hào hùng chống thù trong giặc ngoài, vậy mà sao nay thù trong là tham nhũng, không ai chống được mà người chống thù trong lại đi tù. Còn giặc ngoài đang lấy đất, đảo và biển của ta nhưng ai chống nó cũng bị đi tù.

Hung Vuong HN

Cùng một vấn đề là đưa và nhận hối lộ nhưng VN và Nhật lại có 2 cách giải quyết hoàn toàn khác nhau. Trong khi phía Nhật bằng mọi biện pháp điều tra ra sự thật và xét xử đúng người đúng tội, họ không thể để tiền do người dân nộp thuế bị tiêu không đúng mục đích còn phía VN khi báo chí Nhật đưa tin CP cấm các phương tiện truyền thông trong nước đưa tin và yêu cầu phía Nhật không đưa tin vụ này.

Khi dư luận Nhật và VN lên tiếng, CP Nhật yêu cầu phía VN làm rõ thì CPVN mới vào cuộc một cách chậm chạp, cho đến giờ vẫn chưa có kết luận gì còn ông Sỹ vẫn bình an vô sự. Hai cách giải quyết 1 vấn đề khác nhau đương nhiên kết quả khác nhau và thật xấu hổ cho những người Việt.

Augustino Vicent, Vietnam

Nghĩ mà thương cảm cho tấm lòng tốt của bạn bè năm châu với đất nước mình. Tôi còn nhớ bố tôi kể khi ông đi công du nước ngoài, Tây người ta hỏi mình là người nước nào, ông ấy nói là người Nhật!!? - vì người mình đôi khi nhìn cũng giống người Nhật - và được họ tôn trọng lắm. Nhưng có lẽ qua sự việc này người ta sẽ dễ dàng phân biệt hơn. Đó là nỗi đau dân tộc.

No Name HCMC

Nhật Bản ngừng cấp viện cho Việt Nam! Đọc tin này sao tôi sửng sốt và buồn quá! Biết rằng các khoản ODA của các nước là nợ vay mà chúng ta và con cháu chúng ta phải trả chứ không phải khoản tiền cho không. Chắc chắn phải lấy từ tiền thuế rồi. Bây giờ Nhật không cho Việt Nam vay nữa mà còn đóng băng khoản tiền 700 triệu USD. Than ôi, tiền đâu mà tiếp tục các công trình đang dở dang? Vì ai mà nên nông nỗi này? Bạn TRAUVANGDATVIET, HCMC ơi!tôi vô cùng cám ơn bạn và tâm đắc với ý kiến của bạn.

Pham Anh

Tôi thực sự rất vui và hoàn toàn ủng hộ Chính phủ Nhật Bản ngưng việc viện trợ này. Như thế không chỉ cảnh cáo chính phủ tham nhũng Việt Nam mà còn là tiếng nói cho toàn thế giới thấy sự nổi tiếng của Chính phủ Việt Nam trong khả năng chống tham nhũng bằng miệng.


PPT, Việt Nam

Đây là một mất mát rất lớn cho nhiều dân nghèo Việt Nam do mất phần việc từ các dự án tài trợ ODA. Đây không chỉ là bài học cho chính quyền VN, mà là một trách nhiệm trước nhân dân, trước lịch sử của đảng Cộng Sản bởi việc bao che trong hàng ngũ những "đại gia" tham nhũng rút tỉa tiền vay, và rồi khi vấn đề đã được nước ngoài làm sáng tỏ thì vẫn chần chừ không muốn xử lí để gọi là "giữ vững uy tín của Đảng" trước nhân dân và "bạn bè" quốc tế.

Đến nước này rồi thì chỉ còn con đường xử lí cho đúng, đừng lắt léo vì người Nhật họ rất nguyên tắc, và Úc, Anh cũng như Hoa Kỳ cũng đang coi vào đó để có cắt viện hay không.

Bản lãnh của một lãnh tụ yêu nước lúc này là hảy vì người dân, những người sẽ bị mất việc và vợ con lâm cảnh đói khổ, mà chặt bỏ các phần chân tay thoái hóa của chính mình.

Kha, Saigon

Tôi hoan nghênh quyết định rất đúng đắn của Chính phủ Nhật Bản. Thực sự người dân Việt Nam rất cảm kích trước những đóng góp vào sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam của người dân xứ Phù Tang.

Hành động của Chính phủ Nhật Bản rất thích hợp vào thời điểm này, vì sẽ khiến những nhà lãnh đạo Việt Nam quyết tâm hơn nữa trong việc bảo vệ uy tín quốc gia, cũng những mạnh tay với nạn tham nhũng hoành hành.

Ngoài ra, việc ngừng viện trợ ODA này cũng rất thiết thực giúp đỡ dân chúng Việt Nam không phải trợ những khoản nợ mà một số quan chức biến chất trục lợi. Cám ơn Chính phủ Nhật Bản về quyết định này.

Thaominhco

Nhận được tin này tôi là người VN không biết nên vui hay buồn... Vui là chắc sau vụ này VN sẽ tạo được sự chống tham nhũng hiệu quả hơn, buồn là buồn chung cho đất nước phát triển sẽ khó khăn hơn trong những năm tới.

Spiderman Nam Định, VN

Thật chua xót, xấu hổ và nhục nhã. Người Nhật họ làm gì thì cả thế giới này đều kính phục họ, vì người Nhật có tinh thần dân tộc quật cường, có lòng tự trọng cao độ, có tinh thần làm việc nghiêm túc.

Ai chẳng hằng ngày nhìn thấy những bất động sản kếch sù của các quan chức cộng sản. Bây giờ mới thấy rõ lời ông TGM Ngô Quang Kiệt nói hoàn toàn đúng, thật nhục nhã khi cầm hộ chiếu VN đi nước ngoài vì bị soi xét quá kỹ, trong khi công dân Nhật thì được cho qua nhanh chóng, người VN khi ra nước ngoài luôn bị nhìn với ánh mắt thiếu thiện cảm.

SAKURA Nhật Bản

Nhân dân Nhật thật sự phẫn nộ vì nhiều v/đề có liên quan đến VN. Người XKLĐ, lưu HS VN ở Nhật-cả nhiều kiều bào nữa, đều làm người Nhật "phàn nàn" vì thói biếng lười,gian dối và... tiêu hoang! Sang Nhật lao động mà nhiều người "đủng đỉnh", hờ hững đến ghét!

Maituan Saigon

Đây sẽ là cơ hội không phải dành cho cuộc chiến chống tham nhũng mà sẽ là cơ hội cho dân tộc việt nam hiểu thế nào là sự vĩ đại của công cuộc xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội.

Tran Quang Thien, HCMC

Đìều này đã được cảnh báo từ lâu. Những cam kết rồi những việc làm chống tham nhũng hiệu quả rất ít, không tạo được tin tưởng nơi bạn bè quốc tế, nhất là những nước cấp viện nhiều như Nhật.

Tham nhũng làm cho ta mất đi nhũng ngưới bạn tốt. Rồi ra những nước cấp viện khác cũng phải xem xét lại và kiểm tra kỹ xem viện trợ có thực sự hiệu quả hay đi vào túi quan tham. Khi mất đi những người bạn tốt, còn lại những người không tốt, sẵn sàng đút tiền cho quan tham để giành lấy những hợp đồng béo bở, rút cục nước ta lãnh đủ vì những công trình không lâu bền và lãng phí.

CP không mau mau và mạnh tay hơn nữa với tham nhũng thì những hậu quả đã nhìn thấy trước sẽ đến.

Cam Ranh, Saigon

Một quyết định hoàn toàn đúng đắn và rất cần thiết khi mà dư luận trong nước không thể tạo được áp lực buộc chính quyền phải xử lý những quan chức tham nhũng của họ. Một liều thuốc đắng nhưng cần thiết trong tình hình hiện nay. Chỉ tội nghiệp cho người dân không được hưởng những lợi ích từ những công trình sử dụng đồng vốn phát triển.

NBL Singapore

Tôi cảm thấy rất nhục cho nước Việt. Đã ngửa tay ra xin viện trợ là nhục rồi, bây giờ đi xin cũng không được cho nữa. Còn gì nhục nhã hơn? Ôi nước Việt của tôi!

Nobody

Với bản thân là một công dân Việt Nam, tôi thực sự cảm thấy xấu hổ và vô cùng bức xúc trước tình trạng tham nhũng ngày càng nghiệm trọng của các quan chức nhà nước. Tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta cần có những biện pháp mạnh mẽ hơn nữa và hành động thực tế chứ không chỉ dừng lại ở lời hứa của các ông lãnh đạo nữa!!

Du hoc sinh, Tokyo

Mình đang ở Nhật, nghe quyết định vừa buồn vừa tủi. Buồn cho dân VN lại mất đi cơ hội xây dựng hạ tầng dù không phải tất cả từ ODA Nhật. VN chuẩn bị đón nhận hiệu ứng domino từ các nước khác về cắc giảm viện trợ và vay rồi. Tủi cho dân VN từ nay đội thêm cái nón tham nhũng nổi tiếng do các quan tham tao ra.

Vu Ngoc Ruan, Switzerland

Hoan hô quyê't định của chi'nh phủ Nhật bản. Đây là một điều râ't tô't cho VN. Người ta không thể chữa căn bệnh nan y nê'u không co' liều thuô'c đă'ng được.

TRAUVANGDATVIET, HCMC

Nước Nhật sau 30 năm chiến tranh hoang tàn, bom nguyên tử, động đất, núi lửa nhưng họ đã làm cả thế giới kinh ngạc vì sự vươn lên đứng vào các quốc gia hàng đầu. Vì họ có tinh thần dân tộc quật cường, trong sạch, đặt lợi ích tổ quốc lên trên hết.

Đất nước chúng ta sau 30 năm chiến tranh có đầy đủ rừng vàng, biển bạc, dầu khí, tài nguyên, không có động đất, núi lửa nhưng tại sao chúng ta vẫn đứng vào hàng cuối của thế giới. Các quần đảo bị chiếm, các nước khác tranh nhau khai thác tài nguyên của chúng ta, trong khi những kẻ tham nhũng vơ vét hưởng một chút lợi ích nhỏ cho riêng họ nhưng đã mất những cái vô cùng lớn của tổ quốc.

Hãy nhìn và học tập các nước Nhật, Hàn, Đài Loan, Singapore về xây dựng và bảo vệ đất nước. Có nước nào dám động đến họ, vì họ không bị thế giới coi thường. Thế hệ lãnh đạo đất nước hãy để lớp trẻ đang thất nghiệp rất nhiều, nhưng trong sạch và được học hành lên nắm quyền để đất nước này sánh vai với các nước trong khối Asean.

Khong neu danh, Sai Gon

Không hiểu được lãnh đạo Việt Nam. Chống tham nhũng là việc tất nhiên phải làm, sao phải hứa, nghe chua xót quá. Vốn ODA là tiền đóng thuế của nhân dân Nhật nên chính phủ Nhật phải có trách nhiệm cho vay hiệu quả nhất. Còn Việt Nam được vay phải sử dụng thế nào cho hiệu quả nhất, biết đến đời nào con cháu chúng ta trả hết những khỏan nợ mà hôm nay ông cha chúng đã vay. Việc tham nhũng tiền từ ODA là tội ác!
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Chống tham nhũng vẫn bùng nhùng

Nguyễn Hùng
bbcvietnamese.com

Nhật Bản vẫn cam kết hơn một tỷ đô la viện trợ phát triển cho Việt Nam trong năm ngoái mặc dù bản thân họ gặp khó khăn kinh tế
Những người theo dõi sát hai luồng dư luận ở Nhật Bản và Việt Nam sẽ không ngạc nhiên trước quyết định ngưng viện trợ phát triển chính thức cho Việt Nam của Tokyo.
Báo chí và công luận Nhật nói chung đều đi từ ngạc nhiên tới phẫn nộ khi biết viện trợ của Nhật, thực tế là tiền của dân đóng thuế, đã bị ăn bớt ở nước ngoài trong đó có Việt Nam.

Và khoản tiền hơn hai triệu đô la, tương đương 10% giá trị các dự án cơ sở hạ tầng mà PCI trúng thầu tư vấn, không phải là nhỏ.

Về phía Việt Nam, báo chí không phải là hàn thử biểu tốt để đo sự bất bình của dân chúng trong vụ việc này.

Đơn giản là vì họ không được tự do thực hiện và đăng các phóng sự điều tra như họ muốn cho tới khi đèn xanh được bật.

Nghi vấn

Đa số độc giả bbcvietnamese.com đều đặt câu hỏi tại sao một vụ cáo buộc tham nhũng với tầm cỡ lớn tới như vậy lại được xử lý với một tốc độ chậm hiếm thấy.


Diễn biến nghi án PCI

29/6/08 - Một nhà quản lý của PCI nói công ty đã hối lộ quan chức VN.
4/8/08 - Bốn người của PCI bao gồm chủ tịch và giám đốc điều hành bị bắt vì cáo buộc đưa hối lộ. Truyền thông Nhật rầm rộ đưa tin.
17/8/08 - Thứ trưởng ngoại giao Hồ Xuân Sơn khuyên báo chí VN, Nhật Bản không nên đưa tin.
25/8/08 - Nhật truy tố bốn cựu quan chức PCI
26/9/08 - Tuổi trẻ đưa tin tp Hồ Chí Minh quyết định ngừng giải ngân các hợp đồng với PCI.
12/11/08 - Bốn cựu lãnh đạo PCI nhận tội trong vụ mà bên công tố nói họ hối lộ ông Huỳnh Ngọc Sĩ hơn 2,4 triệu đô la Mỹ.
13/11/08 - Trả lời chất vấn của đại biểu quốc hội Nguyễn Minh Thuyết, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói ''làm rõ tới đâu sẽ xử lý tới đó''.
19/11/08 - Ông Huỳnh Ngọc Sĩ bị đình chỉ công tác.
4/12/08 - Nhật tuyên bố ngưng viện trợ ODA, đóng băng khoản 700 triệu đô la đã cấp cho năm 2008.

Chỉ tới khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trả lời chất vấn của đại biểu quốc hội và có ý kiến trực tiếp thì ông Huỳnh Ngọc Sĩ mới bị cách chức.

Nhưng tiến trình điều tra vẫn không có gì rõ ràng hơn trong những tuần sau đó.

Điều này trên thực tế đã đặt Nhật Bản vào tình huống buộc phải có hành động để phần nào giảm nhiệt các chỉ trích tại chính Nhật Bản.

Độc giả BBC cũng đặt câu hỏi, nếu thực sự có tham nhũng thì thời gian vài tháng có đủ để người ta kịp xóa các dấu vết hay không.

Người ta cũng đặt câu hỏi về mối quan hệ của ông Sĩ với các quan chức cao cấp của thành phố Hồ Chí Minh, địa phương đã không hề có động thái nào cho tới khi có sức ép của chính quyền trung ương.

Trên thực tế chính Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, người hứa sẽ 'xử lý nghiêm khắc' vụ việc là người đứng đầu về Đảng ở thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn có cáo buộc xảy ra tham nhũng.

Quyết tâm suông?

Những vụ việc như vụ ông Huỳnh Ngọc Sĩ dễ cho người ta có cảm giác hoài nghi về quyết tâm chống tham nhũng của Việt Nam.


Các khoản tiền hối lộ đều được trao tay mà không qua ngân hàng

Các thông tin về vụ việc từ trước tới nay đều tới từ phía Nhật Bản trong khi Việt Nam chưa hề đưa ra bất kỳ tuyên bố nào về quá trình điều tra và các nhân vật có liên quan ngoài những lời hứa.

Hiện tượng lập công ty ma để qua đó hợp pháp hóa các khoản tiền đưa hối lộ như trong vụ công ty PCI của Nhật không phải là hiếm ở Việt Nam.

Người ta viết các hóa đơn trả tiền cho những công ty, thậm chí những nhân viên mà trên thực tế không hề tồn tại để 'giải thích' các khoản lót tay theo đúng nghĩa đen của từ này cho các quan chức.

Những người đưa hối lộ từ PCI nói nhiều lần họ đã mang hàng trăm ngàn đô la tiền mặt theo người và tới trao tận tay cho ông Huỳnh Ngọc Sĩ.

Cũng có những nhà báo Việt Nam đã lên tiếng đòi hỏi phải kiểm tra tài sản hiện có của các quan chức, của vợ con họ và so sánh với kê khai tài sản khi nhậm chức để đảm bảo tính minh bạch.

Từ bắc chí nam

Trong khi vụ PMU18 ở Hà Nội còn đang để lại nhiều câu hỏi, cáo buộc tham nhũng trong dự án xa lộ Đông Tây liên quan tới PCI xảy ra tại trung tâm kinh tế lớn nhất của Việt Nam.

Thành phố Hồ Chí Minh được cho là đã tập trung chống tham nhũng sau vụ 'Năm Cam'.

Nhưng cáo buộc hối lộ lớn chưa từng có trong một vụ liên quan tới nhà cung cấp viện trợ phát triển lớn nhất của Việt Nam và cách giải quyết vụ việc cũng đã đặt ra nhiều câu hỏi.

Thậm chí một thứ trưởng ngoại giao Việt Nam hồi tháng tám còn khuyên báo chí cả Việt Nam và Nhật Bản không nên đưa tin về vụ việc.

Nhưng ông này cũng nói Việt Nam quyết tâm chống tham nhũng và 'không loại trừ bất cứ ai'.

Trong lúc đó người ta đang bàn thảo trên mạng internet rằng trên 'bàn cờ' tham nhũng này ngoài 'Sĩ' ra liệu còn có 'Tướng' không.

Và câu hỏi này có lẽ cũng là câu hỏi trị giá nhiều triệu đô la.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

45 Năm "Vụ Án Thế Kỷ" (1963-2008)
Vụ Ám Sát Tổng Thống John Kennedy
Ngay sau khi John Kennedy đắc cử Tổng thống Mỹ thứ 35 nhưng chưa làm lễ nhậm chức, đã có âm mưu giết ông rồi.

Hung thủ là R.Pavlic, cựu nhân viên bưu điện, quấn mìn quanh người định “nổ tung” cùng vị tân tổng thống trong kỳ nghỉ trước khi vào tòa Bạch Ốc của J.Kennedy ở Florida...

Từ khi nhận chức cho tới tháng 11/1963, John Kennedy nhận được rất nhiều lá thư nặc danh đe dọa mạng sống. Theo luật Mỹ, nếu Cơ quan điều tra tìm ra được bằng chứng thì thủ phạm sẽ bị truy tố trước pháp luật, nhưng chẳng có nét chữ nào bị phanh phui. Rồi đến “Vụ án của thế kỷ” - như người ta thường gọi về vụ ám sát đương kim tổng thống thứ 35 của Mỹ. Cho tới tận bây giờ, nhiều bí ẩn xoay quanh cái chết của Tổng thống J.Kennedy được dư luận Mỹ cũng như thế giới luôn đòi hỏi phải được đưa ra ánh sáng.

Điểm lại lịch sử, Dallas - chặng dừng chân cuối cùng trong chuyến công du tiểu bang Texas của Tổng thống J.Kennedy. Texas rặt những kẻ bất mãn với đường lối của J.Kennedy sau gần 3 năm ông cầm quyền, nhất là sau thất bại ở Vịnh Con Heo nhằm “đè bẹp” Cuba. Và 3 phát súng định mệnh đã nổ, mặc cho những biện pháp an ninh được phòng ngừa nghiêm ngặt...

Vài giờ sau, ngay tối hôm đó cả nước Mỹ tận mắt thấy được hung thủ qua màn ảnh tivi. Đó là tên Lee Harvey Oswald, 24 tuổi, kẻ đã điểm hỏa từ một cửa sổ tầng 6 thuộc kho sách trên phố The Elms - nơi mà đoàn xe của tổng thống đi từ sân bay vào trung tâm thành phố phải băng ngang.

Khán giả Mỹ hẳn còn nhớ khuôn mặt thâm tím vì bị đánh của Oswald trên màn hình, cùng lời hét được hắn lặp đi lặp lại: “Họ ép cung tôi! Họ ép cung tôi!”. Đầu tiên Oswald bị bắt tại một rạp chiếu bóng vì tội đã bắn chết sĩ quan cảnh sát Tibet trước đó, nhưng không hiểu sao lại được “đổi” qua thành kẻ sát hại tổng thống. Người ta cũng tìm ra “tang chứng” ngay tối đó (22/11/1963): khẩu súng và kính ngắm; nhưng vân tay của Oswald mãi tới ngày 24/11 mới được “thẩm định” là đúng - khi đó hắn đã chết rồi.
Image
Khoảnh khắc trước khi J.Kennedy bị ám sát.
Nhiều nhân chứng khác, cũng như các bức ảnh và phim tư liệu cho thấy đường đạn đi không phải chỉ từ kho sách, mà cả từ dải cỏ cao kế đó - nơi đoàn xe đi qua. Giới chức cảnh sát thì khăng khăng cho rằng, Oswald đã bắn và hắn là một kẻ “loạn trí, háo danh và cực đoan” - tự tổ chức lấy vụ ám sát. Rồi L.Oswald bị Jack Ruby - chủ một hộp đêm - bắn chết ngay trước mũi cảnh sát coi ngục Dallas. “Chúng ta không bao giờ nghe được những lời biện bạch từ con người này nữa - nhà bình luận nổi tiếng E.Morgan của Hãng truyền hình ABC, nói - Ở đây có cái gì đó không đàng hoàng cho lắm, nhưng chúng ta không rõ là cái gì?”.

Trước áp lực của công luận, ngày 28/11/1963 Bạch Ốc thành lập một ủy ban đặc biệt gồm 7 người, do Chánh án Tòa án tối cao E.Worren đứng đầu. Ngày 24/9/1964 Ủy ban Worren nói trên công bố một báo cáo, dựa trên lời khai của 550 nhân chứng cùng sự nghiên cứu phân tích hàng chục nghìn trang tài liệu. Bản phúc trình chính thức loại trừ “các âm mưu trong nước cũng như quốc tế can thiệp vào cuộc mưu sát, ngoài cá nhân Lee Oswald với những phát súng bắn ra từ tầng 6 kho sách ở Dallas” - đó là kết luận của Ủy ban này. Nhưng chẳng ai lý giải nổi sao 3 phát súng mà gây ra được những 7 vết thương ở cả Tổng thống và Thống đốc Texas J.Connelly (ông này bị thương 4 chỗ), cũng như L.Oswald (hay kẻ nào đó đã bắn từ trên cửa sổ xuống), lại có thể bắn được 2 viên đạn chỉ trong 7/10 giây - với khẩu súng “tang chứng” do Italy sản xuất chỉ bắn được tối đa 2 viên trong 2,25 giây (?!).

Ủy ban Worren, cũng như Ủy ban đặc biệt được thành lập năm 1968, hay Hội đồng giám định y khoa của năm 1975, hoặc Ủy ban Đặc biệt do Quốc hội Mỹ lập ra trong năm 1976 đều không lý giải được vì sao khẩu súng của Oswald lại gây ra được những vết thương to hoác trên đầu tổng thống - ngoại trừ súng bắn đạn cực nhanh là một thứ vũ khí hoàn toàn khác? Và các ủy ban trên cũng chẳng thể khẳng định nổi là những vết thương đó được tạo ra từ chỉ một hướng bắn. Hiển nhiên là có một kẻ nào đó đã cùng điểm hỏa với Oswald.

Riêng Tổng thống Lyndon Jonhson người kế nhiệm Tổng thống Kennedy thừa nhận: “Tôi không bao giờ tin là Oswald chỉ hành động có một mình”.

Khi Ủy ban Worren nói trên đang tiến hành công việc điều tra, vào tháng 3/1969 tại Dallas đã mở phiên tòa sơ thẩm kéo dài 4 tuần xử J.Ruby tội cố sát L.Oswald với án tử hình. Rồi Tòa phúc thẩm Dallas đồng ý xử lại sau những khiếu nại triền miên của Ruby. Cho tới ngày cuối cùng trước khi lìa đời (Ruby chết trong tù vào tháng 1/1967), hắn vẫn luôn dọa là “sẽ bóc trần những kẻ chủ mưu thực sự trong vụ ám sát J.Kennedy”.

Image
"Hung thủ" Lee Oswald ?!
Đầu năm 1965 nữ ký giả Mỹ D.Kilgalen đã vào tận xà lim tử tù trò chuyện với Jack Ruby... Bà này sau đó bị đột tử trong phòng trọ thuộc một khách sạn ở New York bởi nguyên nhân “mất điện” (!). Cả một vài phóng viên khác có khả năng tiếp cận được gần với “đề tài Ruby” rồi cũng mất tích một cách khó hiểu... Tháng 12/1977, kết thúc 14 năm điều tra từ FBI theo lệnh của nguyên Bộ trưởng Tư pháp Robert Kennedy (em trai của J.Kennedy, ông này cũng bị ám sát chết hồi tháng 6/1968), nhưng 8 vạn trang tài liệu chẳng đưa ra được điều gì mới cả. Mọi cái chết mờ ám của hơn 20 nhân chứng tiêu biểu nhất có thể giúp vạch trần “Vụ án của thế kỷ” cũng bị FBI “vô tình” bỏ qua(!).

Còn vào tháng 7/1979 kết thúc công việc của Ủy ban Đặc biệt do Quốc hội Mỹ lập ra hồi năm 1976, sau hơn 3 năm điều tra với khoản kinh phí 5,4 triệu USD, thừa nhận: “Với sự phân tích một cách khoa học nhất, cho phép tồn tại khả năng có 2 người cùng bắn vào Kennedy”. Còn căn cứ vào đoạn băng ghi âm trong kho lưu trữ của Sở Cảnh sát Dallas (mãi sau này mới được “phát hiện” ra), thì không phải là 3, mà đã có tới 4 tiếng súng nổ nhắm vào tổng thống - cả từ 2 phía: trước và sau xe chở Kennedy.

Ủy ban này kết luận: “Hiển nhiên là âm mưu ám sát Tổng thống J.Kennedy đã được xếp đặt trước. Nhưng chúng tôi không thể truy tìm được tên phát hỏa thứ hai, cũng như những kẻ chủ mưu...”. Ủy ban còn thêm: “Đứng đằng sau vụ mưu sát này không ngoài những nhóm người gốc Cuba cực hữu và những kẻ cực đoan trong thế giới tội phạm - mafia”.

Năm 1985 luật sư Mỹ nổi tiếng M.Lein, người nhiều năm nghiên cứu “vụ Kennedy” đã chỉ đích danh kẻ sát hại Tổng thống Kennedy là CIA, ông có trong tay bằng chứng chứng minh Oswald không phải là người bắn Tổng thống J.Kennedy. Ngoài ra Lein còn chỉ ra tên tuổi một vài người của CIA cộng tác với các nhóm Cuba lưu vong bàn mưu giết hại J.Kennedy vì những thất bại của ông đối với Cuba.

Cuối cùng vào giữa năm 1986 ở Mỹ phát hành thêm một cuốn sách tâm huyết nữa xoay quanh “Vụ án thế kỷ” của tác giả Henry Hurt, với nhan đề “Reasonable Doubt” (Nghi ngờ xác đáng). Trong đó tác giả phân tích các số liệu và sự kiện một cách tỉ mỉ, lôgic và khoa học cho thấy J.Kennedy bị chủ mưu giết chết - với sự tham gia của các tổ chức mật vụ hàng đầu là CIA, FBI và DIA (Cơ quan Tình báo Quốc phòng).

H.Hurt cho biết là cho đến ngày nay còn ít nhất 500 ngàn trang tài liệu liên quan tới vụ ám sát được giữ trong vòng tuyệt mật. Tác giả cũng cho biết một cựu nhân viên FBI (giấu tên - vì lý do an toàn), người từng tham gia vào giai đoạn đầu của cuộc điều tra vụ mưu sát tổng thống và ông này khẳng định: “Trước khi Oswald bị Ruby giết, dấu vân tay trên khẩu súng “tang chứng” vẫn chưa có và một điều gây sửng sốt nữa là: chưa có một thiện xạ nào ở Mỹ lặp lại được “thành tích” của tay súng hạng xoàng Lee Oswald, kể cả về thời gian bắn cũng như độ chính xác...”.

45 năm đã trôi qua sau “Vụ án của thế kỷ”, sự bí ẩn vẫn còn đó, ngày càng có thêm nhiều giả thuyết mới...

Ai là thủ phạm giết John Kennedy? Câu hỏi luôn mang tính thời sự với các thế hệ ngày nay. Có nhiều vụ án mà lịch sử phải bó tay và lần này cũng vậy chăng?!
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest