Chân Dung Người Lính VNCH

Quân sử, những bài viết, ký sự, ...
Post Reply
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Image

Chiến binh David Fisher trở về Úc
sau 39 năm nằm lại rừng núi Việt Nam


Image




Hôm nay ngày 14/10/2008. Chúng tôi gồm có 7 người cựu quân nhân, đã đi ra nhà quàn Funeral Magnolia Chapel Macquarie Park, để đặt vòng hoa cho chiến binh David Fisher mà lòng ngậm ngùi đau đớn.
Bởi hình ảnh một người lính Biệt Cách (SASR), từ một đất nước xa xôi đã đi chiến đấu hy sinh trên chiến trường Việt Nam, để làm tròn nghĩa vụ quốc tế mà nước Úc Đại Lợi là một đồng minh tham chiến từ năm 1962 cho tới năm 1975 mới rút hết quân về nước.
Trời hôm nay mưa nặng hột, chúng tôi cứ thắc thỏm lo âu, sợ mình đến trễ thì sự có mặt hôm nay cũng bớt đi ý nghĩa. Nhưng nhờ chiếc xe đã chiến, mà người chủ của nó lại chiến hơn. Nên anh cầm tay lái rất vững vàng, thỉnh thoảng lại liếc mắt vào cái màn ảnh của GPS mà tăng tốc lực.

Nhưng rồi chúng tôi cũng đến đúng giờ, có lẽ đây là lần đầu tiên tôi mới được đi dự một cuộc di quan của lính đồng minh, nên trong lòng tôi có một cảm xúc dâng lên thật là kỳ lạ. Khi tôi thấy trong hội trường Nhà Quàn, các ghế ngồi đã được đánh số cẩn thận cho quan khách, nên trật tự lặng trang. Chỉ có mấy người ký giả, và mấy cái máy quay phim họ xách chạy tới chạy lui mà thôi. Còn ngoài ra thì khách tham dự, đều được mời vào chỗ ngồi chỉ định.

Đúng 2 giờ 15 phút, thì đội quân nhạc trổi lên. Khi chiếc xe nhà binh sơn màu xanh lá cây từ từ bò vô sân, phía sau thớt xe có chở theo quan tài của cựu chiến binh David. Ông linh mục đi trước cầu kinh, chắc có lẽ cầu hương linh cho người quá vãng.

Một toán lính mặc đồng phục rất nghiêm trang, đồng vịn tay vào chiếc quan tài. Họ lặng im chừng vài phút, đó là nghi lễ rất trang nghiêm. Sau đó họ cất lên vai tiến vào nhà quàn rất là trang trọng.

Ông Chaplain Denis Galloway, đảm trách vai trò tổ chức lễ nghi đứng trước máy vi âm nói đôi lời. Sau đó ông David Lewis đọc lại tiểu sử của chiến binh David Fisher, cho biết dòng tộc nầy là một dòng tộc anh hùng, tình nguyện đăng vào đơn vị SASR (biệt cách). Một đơn vị mà có lẽ vừa nghe nói qua, thì mọi người cũng có thể hình dung ra bao nỗi khổ cực của một người lính chiến.

Ngày đó David đăng vào lính còn quá trẻ, cho nên anh chưa có vợ con. Mà anh chỉ có cha mẹ và bạn bè đưa tiễn. Ngày hôm nay sau 39 năm anh từ giã quê hương, bây giờ anh trở về chỉ còn có một bà mẹ già chống gậy bước ra mừng đón. Nhưng trên đôi mắt của mẹ già đã đọng lại những giọt lệ khô, nhưng cũng phải rán gượng bắt tay cám ơn quan khách đã đến đây đưa tiễn con mình về nơi an nghĩ đời đời.

Rồi những người thân, bước lên đưa tay rờ lên nấp quan tài để nói lời từ biệt. Sau bài cầu kinh của vị linh mục để tiễn đưa người lính SASR về bên kia thế giới, làm cho đôi mắt của mọi người tham dự dường như đang đọng lại giọt sầu. Tiếp theo thì ban nghi lễ bắn 3 phát súng tiễn đưa. Một phút mặc niệm chiêu hồn tử sĩ, ban quân nhạc lại trổi bài chiến sĩ trận vong. Thế là David được yên lòng nằm trong đất mẹ, mà 39 năm qua chắc gia đình không thể ngờ được có ngày nầy. Bởi cuộc chiến đã tàn từ lâu, mà sự tìm kiếm hài cốt của quân nhân đồng minh tử trận trên chiến trường Việt Nam dường như vô vọng.

Tuy nhiên trường hợp tìm được hài cốt của David Fisher nó rất lạ kỳ. Nếu chúng ta tin vào tôn giáo thần linh, thì cũng còn lý giải được. Còn đằng nầy David là người Úc, thì lý giải sau đây. Bởi ở Việt Nam những chỗ rừng núi ngày xưa, bây giờ có thể trở thành làng mạc, hoặc nương rẫy của người dân cày cấy hằng ngày. Thì việc mồ mả vô chủ đâu có gìn giữ chi đâu, nên việc nó bị san bằng đã xảy ra là một việc rất thường không làm ai chú ý.

Nhưng mà David rất linh thiêng, anh đã phù hộ độ trì cho Kim Tất Minh chỉ có một đêm gần sáng, để cho anh nhớ lại mà vẽ ra một bản đồ và địa thế không thể nào sai. Nhờ đó mà phái đoàn đi tìm hài cốt của Úc, mới có cơ hội đi về Việt Nam khai quật.

Nguyên nhân phát hiện cũng là một việc tình cờ. Số là anh Kim Tất Minh cũng là lính Biệt Kích, nên sau tháng tư năm 1975 anh cũng đi vô tù cải tạo như bao nhiêu người khác trong trại Suối Máu Long Giao, nơi hậu cứ của sư đoàn 18 do tướng Lê Minh Đảo làm tư lịnh. Nhưng nhờ những năm đi lính, vì là Biệt Kích cho nên anh đã ở trong rừng. Có lúc sống lẩn lúc với người dân, để từ đó mới báo cáo những đơn vị của Việt cộng cho quân đội của mình chận đánh.

Rồi trại tù nào cũng vậy, cán bộ quản giáo họ vắt kiệt hết sức lao động của mọi người. Riêng anh Kim Tất Minh vì có kinh nghiệm những năm tháng ở rừng, cho nên anh được sắp vào toán thợ rừng, luồng sâu vào rừng để tìm ra gỗ quý. Hễ gặp cây danh mộc nào thì toán của anh đóng búa vào đó làm dấu, để cho xe be chạy tới hạ xuống xẻ gỗ sau. Trong lúc luồng rừng như vậy, anh Minh đã nhìn thấy một cái mả lạng trong rừng, có mấy cục đá chất chồng lên chắc có lẽ là do một người có tấm lòng nhân đạo, để làm dấu sau nầy cho khỏi thất lạc. Đến buổi ăn trưa hỏi thăm cán bộ dẫn đi thì ông nầy cho biết, đó là nấm mồ của thằng giặc mũi lõ mắt xanh ở nước ngoài. Đi đánh giặc mướn, nên bây giờ phải đành bỏ xác lại đây cho mối rừng đục khoét...

Rồi ngày ra tù cũng đến, anh Minh cũng phải mưu sinh. Anh đạp xích lô trên đường phố Sàigòn, nhưng trong đầu lại quên đi nấm mộ lạng ngày xưa. Có lẽ nhờ vậy mà sau nầy mới còn hai cốt. Còn anh cán bộ dẫn toán đi rừng, sau nầy không biết còn sống hay đã thuyên chuyển đi đâu. Cái đó mới là số phận, đã an bài cho David có được ngày nay.

Đến năm 1983. Anh Minh và vợ con vượt biển đến Mã Lai ở đảo Paulo Bidong, anh được phái đoàn Mỹ phỏng vấn cũng như bao nhiêu thuyền nhân khác. Nhưng ở vào thời điểm nầy thì phái đoàn họ chú trọng hỏi đến tình hình quốc phòng của Cộng sản Việt Nam, cũng như căn cứ Rada đặt ở Mũi Tàu Phú Lam, để từ đó họ hỏi phăng ra những hài cốt hoặc những người lính đồng minh đang mất tích.

Chính trong những ngày nầy, anh Kim Tất Minh mới nhớ lại và hồi tưởng, hồi anh bị bắt đi cải tạo, được phân công vào tổ luồng rừng để tìm gỗ quý. Có gặp một cái mả lạng, và một chiếc thiết vận xa M113 đã bị bắn cháy, chỉ còn là một đống sắt đen thui. Nhưng bây giờ những di vật đó không biết có còn không, bởi từ khi anh được thả về thì đạp xích lô quanh quẩn trên đất Sàigòn sanh sống.

Thế là phái đoàn Mỹ, họ liền chợp lấy lời khai. Họ o bế anh như là một con gà nòi, họ ưu đãi anh trong mọi vấn đề, để cho anh nhớ lại từng chi tiết và vẽ lại cho họ bản đồ để họ tìm kiếm những người lính thất tung. Mà nước Mỹ hiện nay, muốn chuộc lại lỗi lầm. Khi đưa quân đội vào tham chiến, rồi bị dân chúng chống chiến tranh. Nên vội vã rút quân, để cho miền Nam thất thủ...

Nhờ trí nhớ còn tốt, anh Kim Tất Minh vẽ lại rất rành mạch bản đồ. Từ chỗ cái mả lạng cách dòng suối bao xa, từ dòng suối cách căn cứ Black Horse nếu tính bằng đường chim bay thì bao xa, còn đi đường bộ thì phải băng qua những rừng núi làng mạc như thế nào. Khu vực rừng núi của cái mả lạng đó thuộc xã Cẩm Tiến, gần sông Rây, nằm chếch sâu trong dãy núi gần con suối có tên là suối Lút.

Rồi anh Kim Tất Minh được nước Úc Đại Lợi nhận định cư vào năm sau. Từ ngày đó đến nay dường như anh đã quên hẳn cái mả lạng năm nào. Mãi cho đến khi chánh quyền Mỹ, gởi thơ qua Bộ Quốc Phòng Úc báo tin, rồi họ nhắn tin anh trên bán tuần báo Việt Luận đến mấy tuần mà anh không hề hay biết. Sau đó thì vào khoảng tháng 3/2008 có người bạn là anh Phú gốc lính không quân cho hay, là không biết có chuyện gì mà Bộ Quốc Phòng Úc nhắn tin anh trên báo, rồi còn nhắn tin trên đài phát thanh của ông Nguyễn Đình Khánh nữa.

Cũng bắt đầu từ đó, anh Minh mới liên lạc với thẩm quyền. Sau khi biết rõ lý do, anh Minh đồng ý hợp tác. Nhưng anh không thể dẫn phái đoàn về lại Việt Nam, vì anh sợ bọn Việt cộng trả thù, vì miếng mồi câu ngon như vậy mà bị anh trao cho phái đoàn MIA "tìm hài cốt và người thất tung của Úc".

Bộ Quốc Phòng Úc, họ mua vé máy bay khứ hồi mời anh đi lên Canberra để cung cấp thêm tin tức. Mặc dầu đã từng là lính Biệt Kích, đã từng nhảy toán vào mật khu Việt cộng nhiều lần. Vậy mà khi lên tới Canberra, anh mới thấy mình hồi hộp lạ thường. Bởi từ sự săn đón, đến sự an ninh và cách làm việc của họ vô cùng kín đáo. Sau những giờ làm việc căng thẳng, cuối cùng thì anh Minh xin Bộ Quốc Phòng cho anh một tuần lễ về lại Cabramatta nhớ lại để vẽ bản đồ.

Khi về đến nhà anh Minh mới bắt đầu lo sợ. Bởi từ ngày đó đến nay có biết bao nhiêu vật đổi sao dời, cũng có thể nơi đó bây giờ là nhà cửa hoặc ruộng rẫy cũng nên. Hai vợ chồng anh bắt đầu lo sợ, những tờ giấy trắng đã trải ra trước mặt, nhưng tấm bản đồ không thể vẽ xong. Bởi anh đã quên đi hết những chi tiết ban đầu, cột móc cần thiết để làm chỗ khởi điểm. Như vậy thì làm sao tìm ra cái mả lạng đó đây...

Cho đến một đêm chót hết hạn, anh nằm van vái "David Fisher, anh đã sống chiến đấu cho dân tộc tôi. Dân tộc chúng tôi không bao giờ quên được anh, vì máu của anh đã đổ xuống cho dân tộc tôi được sống. Mặc dầu tới năm 1975 miền Nam chúng tôi phải chịu bức tử đầu hàng, bây giờ thì gia đình chúng tôi đang trôi giạt sang định cư trên đất nước của anh. Vậy anh hãy phù hộ độ trì cho tôi được minh mẫn, nhớ lại từng chi tiết ngôi mả lạng năm xưa, để tôi vẽ lại bản đồ, cung cấp cho Bộ Quốc Phòng để liên lạc với chánh phủ Việt Nam xin khai quật. Nếu đó không phải là hài cốt của anh, thì cũng là đồng đội của anh, hay đồng minh của anh để cải táng đem về quê nhà chôn cất. Vì Bộ Quốc Phòng Mỹ, với Bộ Quốc Phòng Úc đã có hồ sơ, nhưng chưa biết rõ đích xác địa điểm chỗ nào nên chưa tiến hành khai quật".

Sau một hồi van vái linh hồn David, thì anh Kim Tất Minh lại chìm vào trong giấc ngủ muộn màng. Đến gần 4 giờ sáng thì anh bỗng dưng giựt mình thức dậy, đầu óc tỉnh táo một cách lạ thường, dường như chuyện mấy chục năm về trước lại hiện nguyên về. Thế là anh bình tỉnh ngồi vào bàn phác thảo. Từ vị trí chỗ con đường nào để đi đến cái mả lạng năm xưa, rồi phía bên phải bên trái có những đặc điểm gì. Con suối Lút nó chảy qua đâu, đến cái làng Cẩm Tiên hay "Cẩm Liên" gì đó thì hỏi dân làng để nhờ người dân hướng dẫn.

Sau khi giao nạp bản đồ cho Bộ Quốc Phòng Úc, thì giữa anh Minh với họ liên lạc rất thường. Họ đã báo cáo với anh, là bên Việt Nam có ý hướng dẫn phái đoàn (MIA) của Úc đi lên Đà Lạt khai quật. Nhưng cuối cùng phía Úc cam kết, là khi khai quật dù có hài cốt hay không, cũng vẫn đền bù lại tài sản của người dân xứng đáng. Nhưng phải là chỗ mà phái đoàn của Úc đề nghị, chớ không thể thay đổi địa điểm ở bất cứ chỗ nào. Cuối cùng thì chánh phủ Việt Nam cũng phải thuận theo, cuộc khai quật đang tiến hành trong thuận lợi.

Những ngày chờ đợi lặng lẽ trôi qua, cho đến tháng 8/2008. Phái đoàn MIA đã điện thoại về anh Minh báo tin mừng, là đã tìm được hài cốt của David Fisher và đã làm công việc thử nghiệm DNA vừa xong. Hiện nay chánh phủ đang đài thọ vé máy bay cho gia đình của anh David bay qua Việt Nam để nhìn hài cốt của đứa con thân yêu của mình, đã vùi thây ở một chiến trường xa xôi trong suốt 39 năm ròng không núm mộ.

Đến ngày 10/10/2008 Bộ Quốc Phòng Úc lại thông báo với anh Kim Tất Minh, là khoảng 10 giờ sáng máy bay chở quan tài người chiến sĩ David Fisher sẽ đáp xuống phi trường quân sự Richmond Sydney. Vậy hai vợ chồng anh hãy ráng thu xếp gia đình, đi đến đón một người bạn đồng minh sau 39 năm mất tích. Họ còn căn dặn, nếu anh không biết đường lái xe, thì cứ việc kêu một chiếc Taxi bao luôn bận về, vì chánh phủ Úc Đại Lợi coi anh là một người ơn đã tìm ra hài cốt.

Cả gia đình anh đến nơi đều rơi lệ, lúc đó thì hình ảnh một người lính hào hùng năm xưa lại trở về. Anh thì đang đứng ở đây với tấm thân tỵ nạn, còn người bạn đồng minh của anh thì nằm trong cổ quan tài có phủ lá quốc kỳ. Ôi người lính nào rồi cũng da ngựa bọc thây, nhưng đã là thân trai trong thời loạn thì đành phải chịu.

Bộ Quốc Phòng Úc, họ rất trang trọng khi tiếp đãi gia đình anh. Vợ chồng anh và hai đứa con, mỗi người đều cài lên miệng túi phù hiệu của người lính đồng minh đã có mặt tham chiến tại Việt Nam. Trong giây phút ngắn ngủi và thiên thu đó, anh Minh có cảm tưởng rằng mình đang đứng trước hàng binh, hay đang lặn lội trong rừng để tìm ra dấu chân của địch quân đang ẩn náo. Nên anh lặng lẽ đưa tay lên chào kính bạn mình, mà ngày xưa khi còn đi cải tạo, vì mang tấm thân tù nên anh không làm được.

Thôi hãy yên nghỉ một giấc ngàn thu nghen David, một vòng hoa của Hội Cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa NSW đang trang trọng dâng đến cho anh, dẫu có muộn màng nhưng cũng vẫn là tấm lòng thành kín. Bởi hiện giờ đây, còn biết bao nhiêu đồng đội của chúng ta, thân xác còn thất lạc Hạ Lào, Khe Sanh, Đất Tô, Măng Bút. Nhưng rồi sẽ có ngày tổ quốc ghi công, bởi mỗi người chiến sĩ khi nằm xuống, là xương máu của họ sẽ điểm tô thêm giang sơn gấm vóc. Vĩnh biệt David thân yêu. Người chiến sĩ sau khi tàn cuộc chiến, trở về nơi cố quốc rất muộn màng. Hãy ngủ một giấc ngủ bình yên, sẽ không còn tiếng kèn đồng thúc quân cho anh thức dậy. Ngủ đi David, đây là vùng đất rất thanh bình. Hầu như từ khi lập quốc cho tới bây giờ chưa có biết chiến tranh, chỉ có đem thân trai đi làm nghĩa vụ quốc tế. Ôi cái chết nào rồi cũng giống nhau thôi, nhưng chỉ có khác nhau, khi cái chết được tổ quốc ghi công và người đời thương tiếc. Ngủ ngon đi David.

Phùng Nhân
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Image

Lời Trước Nghiã Trang

Thơ : Trạch Gầm
Nhạc &Trình Bày : Nguyễn Hữu Tân


Image
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Image
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Image

Quân Y trong thời chiến

Hồ Minh Đức, K.6/70
]

Tôi chỉ mong một điều là được góp phần nhỏ bé trong công việc làm cho các em, các thế hệ sau này biết thêm chân dung sự thật của người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, thấy được cuộc sống của những người đã 1 thời chiến đấu bảo vệ tự do cho Miền Nam Việt Nam và tôi xin riêng tặng cho những người lính Quân Y không danh, không lợi nhưng vẫn chiến đấu kiên cường, chấp nhận hy sinh gian khổ, sống đầy tình nghĩa, thực sự là huynh đệ chi binh. Xin 1 lần cám ơn đến các anh em quân nhân thuộc Trung Đội 2/ Đại Đội 14/ Tiểu Đòan 1 Quân Y / Sư Đòan 1 Bộ Binh QLVNCH, và mong sẽ có 1 lần chúng ta gặp lại nhau.

Vì không có khiếu văn chương, nên xin quý vị vui lòng ráng đọc dùm. Còn nhớ những ngày ở trong trại tù cộng sản, tôi cứ phải đi làm thêm 1 gánh củi trả công cho anh bạn nào làm giúp cho bài thơ báo tường dịp Tết theo chỉ tiêu của trại cải tạo và bọn cán ngố. Sau lễ mãn khóa ở trường Quân Y, chúng tôi được 2 tuần nghỉ phép về thăm nhà và thu xếp hành trang trước khi trình diện đơn vị mới.

Đáp xuống phi trường Đà Nẵng vào lúc 1 giờ khuya, bọn tôi là những tân sĩ quan trợ y được bổ nhiệm về các Sư Đoàn 1, 2 và 3 trấn đóng ở vùng 1 chiến thuật. Đây cũng là thời điểm quyết liệt của mùa hè đỏ lửa năm 1972. Về cùng Sư Đoàn 1 gồm có Long Lùn, Mỹ, và tôi. Nhóm đi Sư Đoàn 3 có Minh và Ngư ( Chuẩn Úy Nguyễn Ngư đã hy sinh tại mặt trận Quế Sơn sau đó chỉ có 3 ngày ). Sau khi trình diện ở Tiểu Đoàn 1 Quân Y, tôi nhận sự vụ lệnh về làm Trưởng Toán Quân Y Xung Kích thuộc Tiểu Đoàn 4 của Trung Đoàn 3 Bộ Binh. Ngày đầu tiên ra đơn vị đang hành quân vùng quanh đèo Sơn Na mặt Tây Nam Huế, ngồi ở sân bay chờ trực thăng bốc ra mặt trận để thay cho vị sĩ quan trợ y vừa mất tích trong lúc đánh nhau. Tôi vô cùng lo lắng, hồi hộp vì biết rằng sắp sửa được ném vào lò lửa nóng nhất lúc bấy giờ là mặt trận Bagstone Tây Nam Huế. Ngay lúc đó người hoa tiêu trưởng toán trực thăng UH1B có nhiệm vụ đổ quân vào vùng lửa đạn chợt kêu lên và hỏi tôi rằng :

-Mày đi chuyến này phải không ? Ngẩng nhìn lên mới biết đó là ông anh cả của tôi.

- Dạ, em ra trình diện đơn vị mới.

- Thế mày có biết đơn vị mày đang ở đâu không ?

- Dạ, không rõ chi tiết, dường như đơn vị đang hành quân.

- Mày có nghe nói về mặt trận Bagstone Huế không ? Tiểu Đoàn 4 của mày đang nằm ở Đèo Sơn Na, cách căn cứ Bagstone khỏang 15 cây số, sâu trong rừng để làm chốt chặn đường 547 trên đèo, cản không cho VC tiếp tế mặt trận. Trên đường bay vào vùng khi nhìn xuống mày sẽ thấy mặt đất lỗ chỗ đầy hố bom như mặt trăng do máy bay B52 cày nát.

Vì thương thằng em ruột, anh bảo tôi rằng khi đến nơi thì cứ ngồi yên trên trực thăng, đừng nhảy xuống và anh sẽ tìm cách đưa về nhà đào ngũ. Vậy mà khi trực thăng vừa xà xuống bãi đáp dã chiến giữa núi rừng, tôi cũng nhào theo toán lính. Lúc nhìn lên thì trực thăng đã bay xa rồi. Từ đây bắt đầu 1 cuộc đời mới, lính chiến thực thụ, đối diện với quân thù, với súng đạn chết chóc bất cứ lúc nào, phải tập làm quen với quy luật sống còn của chiến tranh thôi.
Image
Trong cuộc hành quân đầu tiên này có 1 điều mà suốt cuộc đời tôi không thể nào quên được là có 1 lần trong lúc di hành trời nắng khô và nóng bức, mọi người đều mệt lả, lệnh cho dừng quân nghỉ dưỡng sức. Gặp 1 hố bom có nước, ai nấy cũng nhào đến múc nước uống không kịp bỏ cả thuốc lọc nước sát trùng. Riêng tôi nằm dài ra úp mặt xuống vừa uống vừa rửa mặt luôn thể. No nê tỉnh táo thì tôi mới thấy 1 xác chết có lẽ là VC đang thối rữa, cách đó khỏang 1 mét. Tôi quay sang hỏi vị Đại Úy bên cạnh :

-Đại Úy có nhìn thấy cái xác chết kia không ?
-Thấy chớ sao không.
-Sao ông không cho tôi biết ?
-Cho anh biết làm chi, để anh uống mà có sức tiếp tục lội nữa chứ !.

Tiểu đoàn chúng tôi được lệnh đến đóng quân tại căn cứ Mái Nhà, 1 cao điểm đối diện và gần căn cứ Bagstone, thuộc tuyến phòng thủ mặt Tây Nam Huế, kiểm soát con đường 547 từ Hạ Lào về. Ngày qua ngày, chiến sự dịu dần sau chiến thắng lẫy lừng tái chiếm lại căn cứ Bagstone. Tôi đã quen dần tiếng pháo binh mỗi lần đạn đi xé gió đến cả trăm quả. Tiếng hải pháo 400 ly từ biển bắn vào. Rồi chấm dứt hành quân, về lại hậu cứ của Trung Đoàn 3 tại Hiền Sĩ cây số 17, tôi lại nhận sự vụ lệnh thuyên chuyển đi đơn vị khác, Tiểu Đoàn 2/3, còn Tiểu Đoàn 4 xung kích thì giải tán sau đó và nhập vào quân số của 3 tiểu đoàn 1, 2 và 3 cho đúng cấp số Trung Đoàn.

Kể từ lúc này tôi chính thức là Sĩ Quan Trợ Y Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 3, Sư Đoàn 1 Bộ Binh mà đám VC còn gọi là Sư Đoàn Anh Cả Đỏ. Cho đến bây giờ hơn 30 năm sau, trên đất Mỹ tôi vẫn còn nghĩ là mình cũng vẫn là Sĩ Quan Trung Đội Trưởng Trung Đội 2/14 thuộc Tiểu Đoàn 1 Quân Y như ngày nào. Tôi vẫn mong có ngày gặp lại anh em lính tráng quân y cũ, dù rằng đã hao hụt nhiều tại mặt trận. Đó cũng là điều mà tôi muốn nói lên sự hy sinh, chịu đựng gian khổ của những người lính quân y, những người lính với số tiền lương ít ỏi, không có cả phụ cấp tác chiến 4.500 đồng nhưng vẫn phải đương đầu với súng đạn quân thù, hy sinh tính mạng cho tới giây phút cuối cùng của tháng 3 đen gãy súng trên bãi biển Thuận An Huế năm 1975.

Sau khi nhận bàn giao hậu cứ cùng kho thuốc của Quân Y Tiểu Đoàn 2/3 xong, tôi theo xe tiếp tế lên vùng hành quân, trình diện Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưỏng TĐ 2/ trên căn cứ Hoàng Đế ( King ). Vì đơn vị đang hành quân nên tôi không làm sao gặp mặt được anh em y tá trực thuộc, chỉ nghe giọng nói qua máy truyền tin PRC 25, trở ngại lớn nhất lúc bấy giờ là tôi chưa nghe quen tiếng Huế hoặc tiếng Quảng Trị, anh em lính nói xong tôi chỉ hiểu có mỗi chữ ‘’ Hỉ ‘’ còn ngoài ra không hiểu gì ráo trọi, nên phải nhờ anh Trung Đội Phó, Trung Sĩ Nhất Thao thông dịch lại dùm, phụ làm công điện và điều hành mọi việc....

Tình hình có vẻ lắng dịu, nên tôi được lệnh dời Bộ Chỉ Huy 2/3 về căn cứ ‘’ Tea Point ‘’ hay Hiệp Khánh, đóng chung với bộ chỉ huy hành quân của Trung Đoàn 3, Sư Đoàn1 Bộ Binh. Càng gần ngày ngưng bắn theo Hiệp Định Paris là ngày 27 tháng 1 năm 1973, thì đám VC càng pháo kích vào căn cứ dồn dập hơn, từ đại pháo 130 ly đến hỏa tiễn 122 ly rồi súng cối 82 đến 106 ly đủ loại, nhưng anh em Quân Y vẫn thất nghiệp không có gì làm vì cộng quân bắn quá tệ, cả ngàn quả đạn mà không có được 1 quả nào trúng trong vòng rào căn cứ, chỉ vài quả rớt gần sân bay nên vô sự. Đúng 8 giờ sáng ngày 27 tháng 1 năm 1973 lệnh ngưng bắn có hiệu lực, tiếng súng im bặt, mọi người khoan khoái chui ra khỏi hầm vươn vai hít thở không khí trong lành của buổi sáng nhưng khi nhìn xuống núi mới kêu trời. Bọn VC thừa dịp trong đêm trước đã cho lính cắm cờ tràn lan đồng thời đưa quân đánh chiếm 1 số làng xã miệt Lai Chữ, Hương Trà...

Tiểu Đoàn nhận lệnh hành quân gỉai tỏa, chia làm 2 cánh quân. Đại Úy Ngẫu Tiểu Đoàn Phò cùng bộ chỉ huy Tiểu Đoàn 2 do Thiếu Tá Toại Tiểu Đoàn Trưởng cùng chi đội thiết vận xa M113 tấn công giải tỏa làng Lai Chữ, xong lại di chuyển qua căn cứ Bình Minh để tấn công mặt trận vùng Thượng Lưu sông Bồ. Trận chiến xảy ra dữ dội, Quân Y làm việc cật lực, gần như không nghỉ tay, có lúc thương binh về quá đông nằm cả cánh đồng, cấp cứu phân loại nặng nhẹ để lo tản thương, cao điểm là lúc cả 3 tiểu đoàn của Trung Đoàn 3 BB vượt sông Bồ.

Đứng trên căn cứ Bình Minh nhìn xuống xem còn hơn trong phim. VC lập tuyến phòng thủ dọc theo bên bờ Bắc của sông Bồ, pháo 133 ly dập liên tục dài theo sông, 1 quả rớt trúng ngay bộ chỉ huy của Tiểu Đoàn 1, Tiểu Đoàn Trưởng cùng 1 số sĩ quan ban tham mưu đã tử trận, nhưng mức độ tấn công vẫn không thay đổi, nhìn qua phe ta tôi thấy Thiếu Tá Thoại ( biệt danh Thoại Đế ) đang ở trần mặc quần cụt, chân đi giầy sô mang dây ba chạc, lon lá gắn trên dây đạn đen thui, đầu không nón sắt đứng chỉ huy, nhìn giống như ông Táo Quân. Quan như vậy thì hèn nào lính đánh giặc ngon là đúng rồi. Xếp dám đứng giữa lửa đạn thì Sĩ Quan Trợ Y sợ chi mà không đứng cho oai !. Tôi cũng đứng lên. Gần chiều tối tôi chợt nghe y tá nhìn tôi la lên : ‘’ Ông bị thương rồi kìa! ‘’. Nhìn xuống chân tôi thấy có máu chảy nhưng không thấy đau. May mắn mảnh đạn đi cạn qua bắp chân, chỉ chảy chút máu mà thôi, tiếc là làm rách cái ống quần của tôi. Băng bó sơ rồi tôi lại làm việc tiếp như không hề có chuyện gì xảy ra. Nhờ vậy mà tôi kiếm được cái chiến thương bội tinh đầu tiên trong đời lính.
Image
Sau cùng các đơn vị cũng vượt qua sông, đánh sâu vào trong, truy kích địch đến tận chân núi. Chỉ có binh nhất y tá Thống bị thương nặng phải chuyển về Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương, còn toàn bộ anh em Quân Y Trung Đoàn 2/14 thì vô sự. Trong trận này riêng Quân Y thu được 1 trung liên RPD do Hạ Sĩ Tống Đình Phước ( dân Thiếu Sinh Quân AET ) đoạt được khi xung phong vào tuyến kháng cự của VC và 1 tiểu liên AK47 do Hạ Sĩ 1 Giao tìm thấy mang về coi như là chiến lợi phẩm của Quân Y giao lại cho tiểu đoàn. Sau trận đánh này Quân Y được 2 chiến thương bội tinh, riêng 1 anh dũng bội tinh thì dành cho Hạ Sĩ Phước. Đầu năm Tết 1973 bộ chỉ huy tiểu đoàn về đóng quân tại cầu An Lỗ ( cây số 19 ) , đến lúc này tôi mới có dịp gặp mặt tất cả anh em y tá thuộc quyền và là lúc chia phiên cho anh em thay nhau đi phép vui Tết cùng gia đình. Thời gian này thì tình hình có vẻ yên tĩnh, đơn vị chỉ hành quân quanh căn cứ Hoà Khánh ( Barbara ), gần động Ông Đô xong lại dời quân về vùng Mái Nhà, Bagstone, Hoàng Đế.

Lúc này chúng tôi được bổ sung thêm 2 y tá là Hạ Sĩ 1 Lê Mịch và Hạ Sĩ 1 Lê Tế thương binh được phân loại yếu kém đưa về đơn vị quân y cùng 1 Hạ Sĩ Quan Quân Y về trung đội 2/14 đó là Trung Sĩ Nguyễn Đình Tám mới mãn khóa từ trường Quân Y. Thực sự quân số tham chiến cuả 1 trung đội quân y thường vào khoảng 16 người, gồm 8 y tá chia ra 4 đại đội, hạ sĩ quan trung đội phó quân y đi theo cánh B hay bộ chỉ huy nhẹ với vị tiểu đoàn phó bộ binh, số còn lại là 4 hoặc 5 y tá cùng tôi theo bộ chỉ huy nặng tiểu đoàn, còn dưới hậu cứ có 2 hạ sĩ quan quân y lo sổ sách, tiếp liệu, công điện, công văn, lương bổng, nhu yếu phẩm tiếp tế, cùng điều hành kho thuốc trạm xá.....

Tuy nhiên, do nhu cầu và tình hình chiến trường tại vùng hành quân, nên ngoài số anh em quân y chuyên nghiệp còn có thêm khoảng hơn 40 y tá cơ hữu của bộ binh tuyển chọn từ các đại đội tác chiến đưa về huấn luyện căn bản về cấp cứu, băng bó và 1 ít kiến thức y tế thông thường, sau đó được trang bị 1 túi cứu thương để có thể vừa chiến đấu vừa cấp cứu tản thương tại mặt trận, do đó hầu như ở bất cứ ở tiểu đội nào của đơn vị cũng có bóng dáng anh em quân y sẵn sàng. Sau Tết cổ truyền 1973, tình hình chiến trường có phần lắng đọng yên tĩnh, vị Tiểu Đoàn Trưởng vừa được thăng cấp, Trung Tá Toại rời tiểu đoàn thuyên chuyển đi làm Quận Trưởng ở Phú Lộc, Huế. Đại Úy Trần Quang Niệm về nhận chức vụ tân tiểu đoàn trưởng cũng vừa đúng lúc chiến sự sôi động trong vùng Quảng Nam/ Đà Nẵng. Các mặt trận bùng lên dữ dội ở Thường Đức, Đức Dục, Quế Sơn, mỏ than Nông Sơn.....

Ngoài Huế nặng nhất là vùng Động Truồi, Cầu Hai, Đá Bạc, Núi Bông, Đồi Nghệ, dãy đồi 300, Đồi Không Tên, Suối Máu..... Hậu cứ trung đội 2/14 quân y có thay đổi nhỏ, Hạ Sĩ 1 Xuân được thuyên chuyển về đơn vị không tác chiến, vì thế tôi phải đưa 1 y tá về thay chỗ ở hậu cứ. Theo đúng nguyên tắc thì người nào thâm niên nhất sẽ được về, Hạ Sĩ 1 Châu đã lội hành quân hơn 7 năm nên được ưu tiên 1 nhưng anh xin nhường lại cho Hạ Sĩ 1 Lê Lự vì Lự có gia đình vợ cùng 6 con nhỏ cần thiết hơn. Anh Châu còn độc thân nên chưa cần lắm và tôi cũng đồng ý. Số không may, Hạ Sĩ 1 Châu ở lại hành quân và đã tử trận sau đó chỉ có 7 ngày trong 1 trận đánh ác liệt trên đỉnh 300. VC tung ra 1 E+ ( trung đoàn ) cộng thêm 1 tiểu đoàn của trung đoàn 3 với quân số áp đảo. Tiểu đoàn 1 và 3 phải lui ra gần quốc lộ 1, riêng tiểu đoàn 2/3 chúng tôi vẫn còn chiến đấu và trụ lại được với tổn thất nặng, cánh B hay bộ chỉ huy nhẹ nằm chung với đại độì bị tan nát, Đại Úy Đơn Tiểu Đoàn Phó cùng Trung Úy Thức Đại Đội Trưởng đã nằm lại chiến đấu để cố gắng chận không cho bọn VC xâm nhập tấn công bộ chỉ huy tiểu đoàn, nhưng vì quân số quá ít so với chiến thuật biển người thí quân của VC nên toàn thể đã hy sinh tại mặt trận. Hạ Sĩ Châu bị trúng 1 quả B40 bên cạnh hông khi anh nhoài người ra ngoài giao thông hào ném lựu đạn. Trung Sĩ Tám Trung Đội Phó Quân Y bị thương chuyển về được tuyến sau và anh đã báo tin buồn này.

Mặt trận càng lúc càng ác liệt nên tôi được lệnh đem số y tá cùng 4 người lính của tiểu đoàn theo bảo vệ, xách theo 1 M79 phóng lựu cùng máy truyền tin PRC 25 liên lạc trên tần số nội bộ di chuyển qua ngọn đồi phía sau để thu gom thương binh lo cấp cứu, tải thương. Trời sáng hẳn, tiếng súng khắp nơi đã phần nào dịu bớt, do không chọc thủng được phòng tuyến và pháo binh bắn chận có hiệu quả. Cộng quân thổi còi chém vè ( chạy làng ), chia thành nhiều toán cố gắng chạy vào rừng có lẽ vì thấy ngọn đồi quân y đóng không có tiếng súng nên 1 toán đông VC nhắm hướng này mà chạy băng qua đồi như 1 bầy chuột.

Thế là quân y, thương binh, lính tráng ai còn ngồi được là nổ súng đánh trả. Sĩ quan trợ y biến thành tiền sát viên lên máy xin cối 81 ly của tiểu đoàn bắn yểm trợ, cũng xa hơn 10 mét, về phải 5 mét ....điều chỉnh cối như thật, tôi học được nghề từ đám bạn tiền sát viên cuả tiểu đoàn 14 pháo binh trước đây. Nhờ phước đức ông bà độ, trận này quân y thắng lớn. Chúng tôi tịch thu được 31 súng đủ loại, có cả đại liên và 16 xác VC. Vụ này Quân Y được thưởng 2 anh dũng bội tinh do trung đoàn cấp, nhưng làm sao vui được khi thương vong quá nhiều. Lúc lên lấy xác Hạ Sĩ 1 Châu, anh chết mà mắt vẫn mở không nhắm, tôi cảm thấy buồn và ân hận rằng nếu để Châu về làm việc tại hậu cứ thì đâu có ra nông nỗi này.

Nhưng tôi chợt nghĩ là người nằm xuống có thể là Hạ Sĩ 1 Lự sẽ là nỗi bất hạnh lớn cho gia đình vợ cùng 6 đứa con thơ của anh. Dù sao Hạ Sĩ 1 Châu ra đi cũng nhẹ gánh hơn, anh còn độc thân lại mồ côi cha mẹ từ thuở nhỏ, chỉ còn mỗi bà chị ở xa mà thôi. Lúc trao lại kỷ vật của Châu cho gia đình anh, chúng tôi không cầm được nước mắt. Chiến trận vẫn tiếp diễn ác liệt trong khoảng 4 tháng cho đến ngày tổng phản công tái chiếm lại tỉnh Mỏ Tàu, Núi Bông, Đồi Nghệ, Động Truồi cùng các cao điểm 303, 300, đỉnh 1416...

Trong giai đoạn cam go nguy hiểm này mới thấy được tinh thần chịu đựng của người lính quân y, mỗi y tá ngoài cấp số bông băng, thuốc men, quân trang quân dụng hành quân, họ còn ráng mang thêm 10 quả lựu đạn và 1 quả đạn cối 81 ly, hoặc 1 thùng đạn đại liên giùm cho lính bộ binh. Riêng sĩ quan trợ y được miễn vì còn phải mang theo chai Serum hay Dextran nhưng tôi cũng kẹp theo 1 quả mìn định hướng Claymore. Lúc này tôi mới thấy được tài dụng binh và sự phán đoán nhạy bén cuả vị Tiểu Đoàn Trưởng Trần Quan Niệm, có nhiều lúc tình hình gay go, gần như tuyệt vọng, ông đã có những quyết định nhanh và đúng, đảo ngược thế cờ chuyển bại thành thắng thật ngoạn mục , vì thế mặc dù lúc đó chỉ còn mỗi tiểu đoàn 2/3 trụ lại giữa vòng vây địch, các tiểu đoàn bạn phải ra ngoài gần quốc lộ 1 nằm chờ tái phối trí, còn tiểu đoàn điạ phương quân bên cạnh sườn đã bị tan nát, cả vị tiểu đoàn trưởng và 3 đại đội trưởng đều tử trận nên phải rút ra xa. Nhìn lên bản đồ hành quân trận liệt, đơn vị chúng tôi lọt thỏm ở giữa, chung quanh là màu đỏ ghim đầy chỗ đóng của địch quân.

Nhưng sau 2 lần đụng độ, bọn vịt con có vẻ sợ nên chúng tránh chúng tôi tối đa. Một trận đánh oai hùng và đẹp mắt khác dưới chân Động Truồi đã khiến địch quân gờm mặt chúng tôi. Sau trận đánh mở đầu đưa đến thương vong lớn, Tiểu đoàn 2/3 buộc lòng rút ra khỏi dãy đồi 303, 300.... di chuyển trên các đồi trọc và thấp bên dưới. Cả 3 yếu tố thiên, địa, nhân đều kém địch, bọn vịt con với quân số đông hơn nhiều, tinh thần đang lên cao, chiếm lĩnh hầu hết các cao điểm quan trọng nên hung hăng định nuốt sống chúng tôi. Ban ngày lúc di chuyển qua các đồi tranh, trinh sát VC bám theo sát,Tiểu Đoàn Trưởng Niệm đã có lúc ngửa mặt nhìn lên Động Truồi mà than rằng chưa bao giờ ông ở vị thế hạ phong như vậy.

Trời về chiều ông cho lệnh dừng quân, đào hầm hố phòng thủ, gài mìn và lựu đạn, thông báo các toạ độ rào cản tiên liệu mục tiêu cho sư đoàn cùng pháo binh, lính tráng căng poncho làm lều, lo ăn uống xong ông gọi cho 4 đại đội con cái chung quanh dóng súng 60 ly vào đúng tọa độ của bộ chỉ huy tiểu đoàn rồi chờ lệnh khỏang 10 giờ tối lệnh miệng cho toàn bộ chỉ huy lặng lẽ cuốn gói đi nơi khác. Lều vải để nguyên ngoại trừ lều quân y được cuốn theo để dùng cho thương binh sau này, di chuyển mò mẫm trong bóng đêm gần 1 giờ đồng hồ qua đến ngọn đồi gần đó, tất cả nằm yên chóng súng chờ, ông cùng sĩ quan tham mưu ngồi như cọp rình mồi, và đúng như dự đoán lúc khỏang 4 giờ sáng địch ào ạt nổ súng tấn công rồi xung phong vào ngọn đồi trống, tiếng súng tiếng lựu đạn và mìn claymore gài nổ lung tung, ông vẫn ngồi yên cho đến khi hỏa pháo màu xanh báo tin chiến thắng của VC vút lên cao, mới thấy ông cười và ra lệnh khai hỏa cùng lúc 2 cối 81 ly, 4 cối 60 ly, của các đại đội nã súng liên tục như gĩa thịt vào mục tiêu, đồng thời báo cho trung đòan xin pháo binh bắn vào các hỏa tập tiên liệu.

Sáng hôm sau chúng tôi cho lính trở lui thu gom chiến lợi phẩm, súng đạn....... xác địch quân nằm la liệt trên cả đỉnh đồi. Lại di chuyển, phòng thủ, đúng 1 tuần sau lại tái diễn như vậy, ông cũng đoán đúng ý đồ của địch, nhưng lần này bọn vịt con khôn ranh hơn, sau khi nổ súng xung phong lên, đột nhiên chúng thổi tu huýt thu quân bỏ chạy thật lẹ , có lẽ chúng biết bị lừa vì không thấy tiếng súng và đạn bắn trả, kể từ đó lính lên tinh thần thấy rõ, mọi chuyện yêm xuôi cho đến ngày đổi quân, nhưng cũng chỉ về đến hậu cứ của Sư Đoàn1 tại Dạ Lê được 3 tiếng đồng hồ là có lệnh gấp rút lên hành quân lại liền. Tiểu đoàn bạn lên đổi quân bị đánh úp trong lúc còn đang bố trí. Thiệt hại nặng, tiểu đoàn trưởng bị tử thương, binh lính thương vong khá nhiều.

Sĩ Quan Trợ Y tôi lúc đó còn đang du hí dưới phố, chợt nghe tin từ các anh bạn phi công trực thăng phi đoàn 257 tải thương đêm ở Mang Cá cho hay, tôi vội tốc theo lên, vào vùng lên máy liên lạc với bộ binh đang lập bãi đáp để tải thương, nghe trên máy giọng nói của Tiểu Đoàn Trưởng Niệm ( bí số là 63 ) có vẻ bối rối, tôi vội lên tiếng là đại bàng yên tâm, thẩm quyền thuốc đỏ đang có mặt.

Có lẽ đã từ lâu, hầu hết các Pilot trực thăng thuộc Sư Đoàn 1 Không Quân tôi đều quen biết, trong đó có cả ông anh ruột, nên chi mỗi khi có tiếp tế hoặc tản thương bằng trực thăng, đơn vị đều phải nhờ tôi đứng ra liên lạc phụ điều động thì dù thời tiết có bị mù, xấu cách chi cũng đều được trót lọt. Có lần ông anh tôi cùng bạn bè ổng còn chở dùm đạn dược tiếp tế thẳng ra tuyến trước 1 buổi thay vì để lính cõng bằng đường bộ mất đến cả tuần và trong 1chuyến tản thương đêm, đã có lúc VC dùng PRC 25 thu lượm được để đánh lừa trực thăng cũng tung trái khói, trái sáng tùm lum cứ thấy vậy trực thăng mà nhào xuống là lãnh thẹo liền. Lần đó sau khi liên lạc hướng dẫn trực thăng vào vùng, tôi chợt nghe Đại y Dương Đình Long ( tự Long Dê ) trưởng phi cơ gọi trên máy :

-Bây giờ bạn đốt đuốc và cho khói lên để tôi đáp.

Chợt 1 ý tưởng lóe lên, tôi lặng thinh không cho khói hoặc sáng gì hết và nói :

-Nghe rõ, xong rồi anh thấy chưa ? Tiếng anh Long Dê la lớn :

-Sao mà tùm lum chỗ, biết ở đâu mà xuống !

-Vậy thì nhờ anh kêu Gunship ( trực thăng võ trang ) đánh chết mẹ chúng nó đi, VC đó, tôi chưa có cho trái sáng hay khói gì hết..... nghe rõ trả lời.

Từ đó rút kinh nghiệm, tôi không bao giờ nói rõ chi tiết trái sáng hay trái khói trên máy truyền tin mà để trực thăng tự nhận diện, khi nào thấy đúng và phù hợp thì OK... xuống đi bạn, và do vậy tôi đương nhiên kiêm nhiệm luôn chức vụ sĩ quan không trợ cho đơn vị mà không có lương. Lại hành quân, từ ngày này qua tháng khác, anh em y tá không 1 tiếng than dù đã lâu không được phép tắc xả hơi. Lương lãnh ra gởi dưới hậu cứ, khi cần nhu yếu phẩm hoặc thứ gì, anh em lập danh sách cho hậu cứ lo đầy đủ rồi gởi lên, chớ để mấy cậu lãnh lương trên hành quân lâu ngày, đến khi về nghỉ dưỡng quân có cậu không chịu về phép thăm gia đình, lý do là thua bài cào hoặc sóc đĩa hết rồi lại phải móc tiền túi ra cho mượn rồi trừ lương sau thì phiền quá.

Ngay chính bản thân của quan tôi cũng đã có lần tập họp cả trung đội, mượn tiền mỗi đứa một ít để xuống phố du hí với đào, sau đó thì è cổ ra mà trả lại. Mặt trận cứ lằng nhằn, lúc nóng lúc nguội, qua hết mùa hè, trời bắt đầu dịu mát thì cũng là lúc chiến sự nóng bỏng hơn, phe ta cố ngăn chận các hành lang xâm nhập, tiếp tế của địch, còn VC thì cố đánh thông đường, chuẩn bị lương thực cho mùa mưa lũ lụt. Trung đoàn 3 được tăng viện thêm Liên Đoàn 11 Biệt Động Quân của Đại Tá Thiệt, Liên Đoàn Trưởng ( biệt danh là Tử Thần hay Tu Thân không rõ ).

Các pháo 105, 155, 175 ly nằm dài ngoài đường 1 bắn phá các cao điểm mục tiêu. Trước khi tổng phản công tái chiếm, tôi đã dặn dò kỹ lưỡng tất cả các y tá là khi lên đến nơi phải ở dưới giao thông hào làm việc, không được chạy bậy hay đứng lâu trên mặt đất vì quân y mà nằm xuống thì lấy ai cấp cứu băng bó cho thương binh vậy mà chúng tôi vẫn mất thêm 1 thằng em thân thương, Binh Nhất Phục trong lúc vui mừng vì chiến thắng, đứng trên giao thông hào mà hò hét, bị dính 1 viên CKC vô bụng, được chuyển gấp về Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương, anh may mắn còn sống nhưng bị tàn phế và phải giải ngũ. Ngày về nghỉ dưỡng quân ở Dạ Lê, tôi có xin với Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưỏng cho thêm lính để huấn luyện thêm y tá cơ hữu tiểu đoàn, ông nói :

-Mới giao cho cụ mi một mớ rồi xin chi nữa ?

-Trình Thiếu Tá, lớp y tá trước đây có 42 người bây giờ còn có 1, chết 40 và tàn tật giải ngũ 1.

-Đ.M. số mi sát quân.

Tôi chỉ cười chứ không muốn cãi là ông sát quân chớ sao lại tôi !. Đơn vị lại chuyển về vùng La Chữ, Hương Trà rồi đi lên vùng Hải Cát, Hoàng Đế, Mái Nhà, Xích Mích xong trở ra Cảnh Dương , Cầu Hai, Đá Bạc, La Sơn. Lại thay đổi Tiểu Đoàn Trưởng mới là Thiếu Tá Đoàn Thanh Sung, đúng lúc tôi nhận được lệnh thuyên chuyển đi đơn vị khác, đơn vị tỉnh, không tác chiến, tiểu đoàn 14 pháo binh. Trợ y pháo binh thì nhàn nhã vô cùng, có gì đâu mà làm, mặc dù ở đó có bạn bè của tôi như Hiệp Xì Ke ( Thiếu Uý tiền sát viên xuất sắc Trần Thanh Hiệp ) gầy nhom giống như hút xì ke. Vinh, Mới, Cân sữa....
Image
Tôi về ghé qua xem đơn vị mới xong là quay trở lại đơn vị cũ Trung Đoàn 2/24 và xin ở lại không thuyên chuyển dù nguy hiểm cực khổ hơn, nhưng quen nếp sống rừng rú rồi, không muốn về ngồi cạo giấy, dù sao ở đơn vị cũ anh em nhau và hơn nữa là lúc đó vị Bác Sĩ Trưởng Đại Đội 14 Quân Y Phạm Quý Giao ( nay ở San Jose ) , Bác sĩ Phó Nguyễn Đình Ái đã đối xử với mọi người và tôi rất tốt, vui vẻ không hề có bất cứ sự khó dễ, sách nhiễu, hống hách nào cho nên tôi đi nơi khác làm chi, sống chết có số mạng chẳng phải lo nghĩ gì.

Từ đó cho đến cuối năm 1974 tình hình trở lại yên tĩnh, dễ chịu, công việc quân y chỉ là ngừa sốt rét lặt vặt, khám bệnh phát thuốc cho dân chúng như kiểu dân sự vụ. Đúng là nhàn cư vi bất thiện !, lính tráng rảnh rang ra nghỉ phép dưỡng quân thường xuống ngủ đò sông Huơng bị bệnh phong tình, lậu liệt tùm lum. Nhiều lúc tôi chích trụ sinh Peniciline cho bọn lính mỏi cả tay, chúng còn than đau nữa, đúng là sướng chả thấy thằng nào kêu mình, bây giờ đau mới kêu !.

Dưới các đại đội, y tá cứ gọi xin thêm trụ sinh, tôi chạy bở hơi tai năn nỉ bạn bè có dư cho xin mới tạm đủ chích cho anh em. Ngày Tết cuối năm lại hành quân, nhưng chủ yếu chỉ ứng chiến giữ an ninh cho hậu phương được yên ổn để ăn Tết. Ở Huế hầu như gia đình nào cũng có giỗ kỵ người thân vào dịp này, hậu quả của cuộc tàn sát ghê rợn của VC năm Mậu Thân, gia đình lính tráng cũng vậy, nên tôi chia ra cho anh em thay nhau về mà ăn Tết với gia đình, dù sao tôi là dân Sài Gòn, lỡ xa nhà lâu qúa rồi nên gồng luôn cả 3 cái Tết 72, 73, 74 trực bệnh xá, chúc tết khu gia binh.... cho anh em vui vẻ. Trong năm lỡ mình có dzọt thì cũng không ai trách cứ chi cả.

Đầu năm 1975 tiếng súng bắt đầu nổ lại, VC quậy phá đánh chiếm 1 vài chốt lẻ tẻ vùng Tây Nam Huế, bên trong đồi Xích Mích, Mái Nhà, cao điểm 400, tấn công bộ chỉ huy tiểu đoàn 1/3 đồng lúc bắn 106 ly trực xạ, pháo 130 ly nên đơn vị này phải rút ra ngoài, chúng tôi trống lưng nên cũng phải bỏ cao điểm 400 về căn cứ hỏa lực của pháo binh 14 và tiếp tục đi về tập trung quân ở căn cứ Birmingham, án ngữ trước mặt bộ chỉ huy nhẹ trung đoàn 3 bộ binh tại căn cứ Hải Cát lúc đó do Trung Tá Huỳnh Như Xuân chỉ huy ( khóa 19 võ bị Đà lạt ) sau khi tái phối trí ta lần lượt đánh chiếm lại tất cả các cứ điểm. Ngày 18-03-1975 tình hình yên tĩnh, tôi được đi phép thường niên, theo trực thăng về Đà Nẵng để từ đó đáp C130 vận tải cơ về Sài Gòn, tại đây tôi nghe bạn bè cho hay tình hình ở Quảng Trị báo động đỏ đồng thời Sư Đoàn 1 Không Quân đang kiểm kê bom đạn, có vẻ là sắp có gì đây. Về đến Sài Gòn ngày 19 tháng 3 tôi ghé thăm gia đình cha mẹ xong là lo trở ra Huế, may mắn là có chuyến bay quen nên tôi đã có mặt ở Huế ngày 20-3, đó là chuyến bay cuối cùng đáp ở phi trường Phú Bài Huế.

Thật lòng lúc đó tôi không nghĩ là mình yêu nước hay chi cả, chỉ e rằng sẽ có đánh lớn như năm 1972 mà thôi. Tôi trở ra để báo cho anh em thuộc quyền biết đồng thời ký phép cho 2 Hạ Sĩ 1 lớn tuổi là Lê Mịch, có vợ và 6 con ở Duy Xuyên Đà Nẵng. Lê Tế có vợ 4 con ở Hương Điền, Huế. Mỗi ông 15 ngày phép về lo thu xếp cho gia đình và chuẩn bị chiến trưòng có thể bùng nổ lớn như năm 1972. Tôi căn dặn Mịch và Tế, nếu cần thiết 2 ông có thể trễ thêm15 ngày và tìm về đơn vị, nếu trễ hơn tôi bắt buộc phải báo cáo đào ngũ. Hạ Sĩ 1 Lê Tế xuống núi về luôn, từ đó đến nay không gặp lại, còn Hạ Sĩ 1 Lê Mịch quay trở lên hành quân ngày hôm sau vì sợ không ai lo cơm nước cho tôi.

Tình hình vẫn yên tĩnh nhưng Huế bị pháo kích, ngày 24 tháng 3 đột nhiên có lệnh rút quân về căn cứ Hải Cát. Tám giờ tối, quân của 3 tiểu đoàn 1, 2, 3 đang trên đường rút ra chỉ chạm súng lẻ tẻ, nhưng khi nghe máy truyền tin báo cho biết Hạ Sĩ Lê Mịch tử trận thì tôi thật bàng hoàng và vô cùng thương tiếc......

Sau đó chúng tôi lại được lệnh rút về Huế. Căn cứ Hải Cát bị phá huỷ trước khi rút bỏ, lửa cháy đỏ, cầu phao công binh qua sông cũng cho nổ. Trên đường về Huế tôi bảo lính thông báo cho dân biết chúng tôi rút đi. Tội nghiệp họ khóc lóc bồng bế chạy theo, gần 1 giờ khuya về đến Huế, quang cảnh thật điêu tàn, Huế đã di tản trước, số còn lại đổ dồn về Thuận An 1 hải cảng lớn của Huế, chúng tôi lại tiếp tục rút bỏ về Thuận An, nơi đây có đủ các đơn vị từ Tiểu Khu Quảng Trị, Thừa Thiên, các đơn vị của Sư Đoàn 1 Bộ Binh, Lữ Đoàn 147 TQLC, Liên Đoàn Biệt Động Quân, Thiết Giáp, Điạ Phương Quân.... họ chỉ có rút mà không có đánh đấm gì, tất cả đang chui vào 1 cái bẫy vĩ đại.

Tại đây trung đội 2/14 Quân Y lại mất thêm 1 đồng đội là Trung Sĩ Phúc, Trung Đội Phó Quân Y, anh tử trận vào giờ chót trên bãi biển Thuận An, 1 trận đánh cuối cùng mà chúng tôi cố gắng mở đường máu hy vọng nhập vào tuyến kháng cự của anh em TQLC trong khi quanh tôi 1 số các đơn vị khác đã bỏ súng dơ tay đầu hàng. Dưới tay tôi lúc đó ngoài Trung Đội 2/14 Quân Y còn có khoảng 40 binh sĩ của Tiểu Đoàn 2/3 Bộ Binh. Bao nhiêu cố gắng, máu đã đổ, bạn bè gục ngã, đến khi qua được tuyến TQLC thì nơi đây cũng bị tan hàng.

Tôi tuyệt vọng ngồi xuống dưới bãi biển, sau khi bắn vỡ các máy truyền tin PRC 25, súng ống tháo cơ bẩm liệng xuống nước để không lọt vào tay địch, với ý định không hàng giặc, tôi đưa điạ chỉ gia đình tôi ở Sài Gòn, và nhờ anh em sau này nếu có dịp đến đó báo lại cho cha mẹ tôi là tôi đã làm xong phận sự, tử trận tại đây ngày này.Tuy nhiên anh em y tá khóc và khuyên tôi ráng sống chờ ngày trả về, có lẽ cũng do là mình qúa hèn nên tôi đành buông thả và rồi kết quả là bị bắt và bị giam 6 năm tù đày còn gọi là cải tạo.

Thời gian 2 năm đầu trong tù, anh em y tá cũ còn ở Huế cố gắng gom góp tiền đi thăm nuôi tôi, dần dần kiệt quệ qua năm 1977 Hạ Sĩ 1 Quang thay mặt anh em lên thăm lần chót, xin phép về quê kiếm sống. Năm 1981 tôi được thả về, mẹ tôi ở lại cố gắng tìm tôi nên tôi còn có chỗ mà về. Giấy tờ bảo lãnh của anh tôi ở Canada đã gởi về. Năm 1982 tình cờ Trung Sĩ Tám vào Sài Gòn tìm theo địa chỉ mà tôi viết giờ chót trên bãi biển Thuận an, gặp lại tôi mừng rỡ và cho biết anh em vẫn còn gắn bó nhau đang tổ chức 1 chuyến vượt biên nên vào tìm và đưa tôi đi theo.

-Xin cám ơn tất cả anh em vì tôi sắp cưới vợ.

Năm 1985 anh em từ Huế vào gặp lại cho biết lần đó bất thành, kỳ này làm ở Quảng Nam và muốn tôi đi theo.

-Lại 1 lần nữa tôi xin lỗi anh em, tôi mới có đứa con đầu lòng. Đây chính là niềm vinh dự và hãnh diện của tôi với mọi người, gia đình vợ con cùng thân nhân, sau bao nhiêu năm trời qua mà lính tráng cũ vẫn còn nhớ thương đến mình. Qua đến Mỹ diện H.O.7, tôi gặp lại các vị bác sĩ trưởng năm xưa vẫn được họ thương mến và giúp đỡ hết lòng. Cám ơn bác sĩ Hoàng Trọng Tuấn cựu Tiểu Đoàn trưởng Tiểu Đoàn 1 Quân Y, bác sĩ Phạm Quý Giao cựu Đại Đội Trưỏng Đại Đội 14 Quân Y và bác sĩ Nguyễn Đình Ái cựu Đại Đội Phó Đại Đội 14 Quân Y đã giúp đỡ tôi trong thời gian ở trại tù Cồn Tiên Ai Tử..

Có 1 điều quan trọng mà tôi muốn biết : Tại sao Huế mất ngày 26 tháng 3 năm 1975 ? trong lúc chúng ta thắng trên tất cả các mặt trận, không mất 1 chốt nhỏ nào, tự nhiên bỏ chạy, rút và rút.

Theo tôi được biết lúc đó lực lượng ta còn tại Huế rất mạnh : Sư Đoàn 1 Bộ Binh, Lữ Đoàn 147 TQLC, 2 Liên Đoàn Biệt Động Quân 11 và 12, Thiết đoàn 1 Kỵ Binh Thiết Giáp, toàn bộ Điạ Phương Quân Tiểu Khu Quảng Trị cùng Tiểu Khu Thừa Thiên ( quân số như sư đoàn nên còn gọi là Sư Đoàn Thuận Hóa ), Không Quân, Hải Quân, Cảnh Sát..... Tại sao lại phải rút xuống ngã Thuận An để đến nỗi khi vượt qua phà, qua sông phải bỏ lại toàn bộ vũ khí nặng, thiết giáp.... cuối cùng bị lùa vào rọ và rồi tất cả đều bị bắt !!. Tại sao không dùng đường bộ về Đà Nẵng ? Với bao nhiêu quân đó, thêm pháo binh, thiết giáp, không quân, hải quân yểm trợ. Nếu VC muốn chặn được đoàn quân đó ít nhất chúng phải cần có 4 hoặc 5 sư đoàn hay nhiều hơn nữa mới có thể làm chậm bước tiến của quân ta nhưng chắc chắn chúng phải chấp nhận 1 sự thiệt hại nặng nề, có thể dẫn tới sự sụp đổ toàn diện kể cả miền Bắc, 1 lũ quỷ gian manh xạo hết chỗ nói.

Thành phố Huế mất ngày 26 tháng 3 năm 1975, nhưng đến ngày 27 và 28 tháng 3 các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến vẫn còn đóng quân trên đèo Phước Tượng và đèo Phú Giá trên quốc lộ 1 cách Huế chưa đến 30 cây số. Sau đó họ rút về Đà Nẵng mà không có 1 cuộc chạm súng nào dù lớn hay nhỏ, để rồi lại tái diễn cảnh tự động tan hàng trên bãi biển Sơn Chà Mỹ Khê ? Nếu các đại đơn vị tại Huế về được Đà Nẵng thì làm sao mất Quân Đoàn 1 và vùng 1 chiến thuật được, làm sao có chuyện tháng tư đen năm 1975.

Đó là 1 bí ẩn của lịch sử, sẽ không có bất cứ ai nghe được trận đánh nào đưa đến Huế bị thất thủ. Lúc ra đến bãi biển Thuận An, nhìn ra biển khơi tôi vẫn còn nhìn thấy 27 chiến hạm của Hải Quân nằm uy nghi trên mặt biển. Tôi còn nghe tin đồn là binh sĩ sẽ tập trung quân xuống tầu đổ bộ để tấn công ra Bắc. Lúc đó tinh thần binh sĩ lên rất cao, để rồi cuối cùng bị tan hàng và bị bắt làm tù binh trong khi lực lượng cộng phỉ chiếm Huế chỉ có 1 trung đoàn mà thôi. Nếu có phải đánh ‘’ bằng tay không chúng ta cũng thắng !! ‘’...... chứ đâu đến nỗi này.

Gần 30 năm trôi qua, tôi sống ở vùng Alambra thuộc Los Angeles, mỗi khi nhìn lên đỉnh núi San Gabriel và căn cứ của đài truyền hình Mỹ cùng các cột anten cao ngất, tôi lại chạnh nhớ đến căn cứ Tea Point của Trung Đoàn 3 Bộ Binh uy nghi năm nào.

Tôi vẫn nhớ đến Trung Đội 2/14 Quân Y của anh em chúng tôi. Những mong có 1 ngày nào đó sẽ gặp lại các anh em y tá trong trung đội cũ và tôi vẫn tự nghĩ là mình chưa hề giải ngũ, tôi vẫn là Sĩ Quan Trợ Y như xưa, vẫn nhớ ‘’ Danh Dự - Trách Nhiệm - Tổ Quốc ‘’ mà mình còn nặng nợ chưa hoàn thành.

Hồ Minh Đức
Cựu Sĩ Quan Trợ Y 2/14 Quân Y
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image

MỘT CHÚT KỶ NIỆM VỚI
THIẾU TƯỚNG NGUYỄN KHOA NAM
Ngày Quân Lực 19 tháng 6 năm 1974, tôi cùng một HSQ và một Binh Sĩ, đại diện Sư Đoàn 18BB, về Thủ Đô Sài Gòn tham dự Lễ Kỷ Niệm Ngày Quân Lực 19/6.

Đây không phải là lần đầu tôi có cái vinh dự lớn lao này. Tôi đã vinh hạnh được hưởng một lần trước đây vào Ngày Quân Lực năm 1971. Lúc đó tôi là một Đại Đội Trưởng. Đơn vị vừa hoàn tất cuộc hành quân dài ngày trên đất nước bạn Campuchea, dưới thời của Tổng Thống Lon Nol. Cũng như lần này, tôi không hề được biết trước. Niềm vui đã đến quá bất ngờ!

Đơn vị vừa từ bên kia biên giới về đến Thiện Ngôn thuộc Tây Ninh thì tôi được lệnh giao quyền chỉ huy Đại Đội cho Đại Đội Phó, Thiếu úy Võ Kim Thạch, để về Xuân Lộc nhận Sự Vụ Lệnh của Sư Đoàn về Sài Gòn trình diện Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị (hình như là Cục Chính Huấn tại số 2Bis đường Hồng Thập Tự), để tham dự phái đoàn Chiến Sĩ Xuất Sắc đi Du hành Quan Sát Đài Loan. Lần đó, vị trưởng phái đoàn là Chuẩn Tướng Trần Bá Di, Tư Lệnh Sư Đoàn 9BB.

Vào những ngày cuối mùa Hè năm 1974, quân CSBV đưa nhiều Sư Đoàn về chiếm giữ một vùng đất rộng lớn ở phía Tây quận Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Chúng đánh chiếm căn cứ 82 ở Rạch Bắp, chiếm xã An Điền, gần QL 13. Sư Đoàn 18BB của Tướng Lê Minh Đảo được lệnh mở cuộc hành quân giải tỏa. Hai Chiến Đoàn 43 của Đại Tá Lê Xuân Hiếu và 52 của Đại Tá Ngô Kỳ Dũng được tung vào mặt trận. CĐ43 mở cuộc hành quân đánh thọc ngang hông từ hướng Nam lên. CĐ52 đánh vào chính diện, từ hướng Đông vào. Cuộc chiến đang hồi giằng co thì tôi được lệnh giao quyền chỉ huy cho Tiểu Đoàn Phó, Đại Úy Lê Văn Ven để về Xuân Lộc nhận SVL về Sài Gòn tham dự Ngày QL 19/6 và đi Du hành Quan Sát Đài Loan một tuần lễ. Lần trước vì đơn vị ở xa, bận hành quân vượt biên Campuchea, nên tôi đã không về kịp để tham dự Ngày Lễ QL 19/6. Năm nay tôi đã về kịp, nên đã có dịp tham dự tất cả mọi lễ tiết quan trọng, nhưng vẫn chưa có dịp gặp vị Trưởng Phái Đoàn: Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Sư Đoàn 7BB.

Trước chuyến đi vài ngày, những Chiến Sĩ Xuất Sắc chúng tôi được đưa vào phòng hội của Tổng Cục CTCT (hình như nằm trên Đại Lộ Thống Nhất). Đúng 2 giờ 30 chiều, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam xuất hiện trong bộ quân phục dạo phố mùa hè, trông rất oai nghiêm. Cuộc gặp mặt chỉ diễn ra ngắn ngủi để ông có dịp làm quen với chúng tôi, và có vài điều dặn dò. Tướng Nam ít nói, dáng người hiền từ. Ông chào hỏi và hỏi chuyện từng người. Phái đoàn năm nay có khoảng 40 quân nhân, cấp bậc từ Binh Nhì đến cấp Thiếu Tá. Có 5 Thiếu Tá, gồm Nhảy Dù, BĐQ, Thiết Giáp, Không Quân và Bộ Binh là tôi. Sau một lúc tâm tình và ban những huấn lệnh cần thiết, Thiếu Tướng Nam nhìn quanh một lượt, rồi hướng thẳng tầm nhìn về phía tôi, ra lệnh:
“Thiếu Tá Chế, anh làm Phụ Tá cho tôi, và kiêm Sĩ Quan Kỹ Luật của Phái Đoàn”.

Khi không, tôi được cắt cử một trọng trách khá tế nhị. Thật ra thì công việc cũng nhẹ nhàng. Tôi chỉ nhận lệnh trực tiếp từ Thiếu Tướng rồi chuyển lệnh lại cho anh em trong phái đoàn để thi hành, và tôi là người chịu trách nhiệm việc thi hành lệnh.

Sau đó Thiếu Tướng Nam cùng Trung Tướng Trần Văn Trung, Tổng Cục Trưởng TC/CTCT hướng dẫn Phái Đoàn vào Dinh Độc Lập trình diện Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu. Đây là một thông lệ. Các Phái Đoàn Chiến Sĩ Xuất Sắc đều phải vào trình diện Tổng Thống trước khi xuất ngoại. Mỗi đoàn viên đều được Tổng Thống lì xì cho một phong bì, hình như là 20.000 đồng.

Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam tuy là Trưởng Phái Đoàn nhưng chỉ xuất hiện vào giờ chót, trước khi lên đường. Vì ông là Tư Lệnh Sư Đoàn, không muốn rời xa đơn vị lâu. Ông đã không có dịp tham dự các buổi tiệc tùng, kể cả buổi tiệc do Tổng Thống khoản đãi tại Dinh Độc Lập, và buổi Tiếp Tân của Đại Tướng TTMT tại BTTM/QLVNCH nhân ngày Quân Lực 19/6, cũng ngày này, năm 1966, Quân Đội đứng ra nhận lãnh trách nhiệm điều khiển Quốc Gia trước Lịch Sử.

Tôi đã được nghe danh vị Tướng từ lâu. Lần đầu tiên là năm 1968, lúc đó tôi đang phục vụ tại Tiểu Đoàn 31/BĐQ. Sau hai đợt tổng công kích của CSBV vào Thủ Đô, tình hình an ninh chưa được khá, các đơn vị Dù và BĐQ phải liên tục mở những cuộc hành quân ven đô để tiểu trừ cộng phỉ. Đơn vị tôi nằm trong vùng lãnh thổ trách nhiệm của Lữ Đoàn 3 Dù, của Đại tá Nguyễn Khoa Nam. Ông nổi tiếng là một cấp chỉ huy nghiêm khắc và kỹ luật. Một buổi sáng chúng tôi được lệnh tất cả phải đội nón sắt và mang áo giáp! Thông thường nếu không đi hành quân thì chúng tôi chỉ đội chiếc nón nồi màu nâu, màu của Binh Chủng, vừa nhẹ nhàng, lại đẹp, và kiêu hãnh. Nhưng hôm đó có Đại Tá Nam đến thăm đơn vị. Đại Tá Nam thì đầu ông không bao giờ rời nón sắt!

Thời gian du hành Đài Loan kéo dài lối một tuần lễ. Chiếc Boeing 747 tối tân của Air Vietnam đưa Phái Đoàn đi Hồng Kông, trước khi đến Đài Bắc. Tại Phi Trường Quốc Tế, có nhiều du học sinh, mà phần lớn là Quốc Gia Nghĩa Tử ra đón với những vòng hoa tươi thắm để choàng lên cổ những chiến sĩ xất sắc. Trong số kiều bào, có ái nữ của ông Đại Sứ Nguyễn Văn Kiểu. Một vị tiểu thư duyên dáng và nhiệt tình. Thời dụng biểu được sắp xếp rất sít sao. Chỉ có một số ít thời gian tự do để đi dạo phố Đài Bắc. Lần này Phái Đoàn không được đưa ra thăm đảo Kim Môn, một hòn đảo nhỏ, chiều dài lối 3 cây số, và chiều ngang lối 1 cây số, nằm sát tỉnh Phúc Kiến của Trung Cộng mà tôi đã có dịp thăm viếng trong chuyến đi năm 1971. Đảo Kim Môn nằm sát nách Trung Cộng, nên chuyến đi của Phái Đoàn CSXS đã được Quân Đội Trung Hoa Dân Quốc bảo vệ cẩn trọng. Phái Đoàn đi trên một chiếc C.119, một phi tuần phản lực chiến đấu bảo vệ vùng trời, và mấy tàu chiến bảo vệ mặt biển. Khi máy bay đáp xuống phi trường, cũng có đội nhạc và các em gái bản xứ bước vội đến choàng vòng hoa, nhưng chỉ trong chốc lát, tất cả lên xe bus, chạy thẳng vào một hang động khá lớn. Theo Đại Úy Điền, sĩ quan liên lạc của Quân Đội Trung Hoa Dân Quốc hướng dẫn cho biết, đó cũng là bệnh viện dã chiến trong trường hợp có chiến tranh. Một điều khá khôi hài là Trung Cộng pháo kích vào đảo trong những ngày nhất định, và pháo cách nhật. Tháng này bắn pháo ngày lẻ thì tháng tới sẽ vào ngày chẵn. Pháo bắn liên tục, suốt ngày và rất tàn bạo. Nhưng những trận mưa pháo như vậy chỉ có tính cách thị uy, hù dọa và quấy phá, hơn là hủy diệt. Vị sĩ quan phòng thủ tuyến đối đầu với tỉnh Phúc Kiến chỉ tay xuống bãi chiến trường, mà cách đó 22 năm, quân Trung Cộng chết như rạ, lớp này chồng lên lớp kia, đã ngả gục ngay khi vừa đặt chân lên bờ. Trận chiến diễn ra trong nhiều ngày. Quân Trung Cộng thiệt hại gần bốn Quân Đoàn, nhưng vẫn không chiếm được hòn đảo Kim Môn nhỏ bé với số quân trú phòng khiêm nhường! Từ những pháo đài này, với mắt thường ta có thể nhìn thấy sự sinh hoạt của người dân Trung Cộng. Vì đảo chỉ cách bờ biển tỉnh Phúc Kiến hơn 2 cây số, mà điểm gần nhất chỉ có 2.310 mét! Quân nhân phục vụ trên đảo không mang cấp hiệu, không mang bảng tên. Vị Tư Lệnh là một sĩ quan cấp Trung Tướng.

Từ Đài bắc, Phái Đoàn đáp máy bay đi Cao Hùng, một thành phố kỹ nghệ, cũng là hải cảng nổi tiến. Từ Cao Hùng, đi xe bus về Đài Nam. Từ Đài Nam đi xe lửa về Đài Trung, sau đó lên xe bus đi Nguyệt Nhật Đàm. Đây là một danh lam thắng cảnh nổi tiếng của đảo quốc này. Nghe nói du khách có thể mướn thuyền do các cô gái người bản xứ ăn vận dản dị như các cố gái Hạ Uy Di chèo, thả hồn lênh đênh trên mặt nước hồ phẳng lặng.

Theo chương trình, từ Đài Trung, Phái Đoàn đi xe bus đến thị trấn Thạch Đầu Sơn nghỉ qua đêm để ngày hôm sau thì đi chơi Nguyệt Nhật Đàm. Phái Đoàn đã đã lấy phòng ngủ. Tất cả đều đi dạo phố. Thạch Đầu Sơn là một thị trấn nhỏ miền núi, nhưng khá nổi tiếng vì có nhiều loại trà ngon. Trà Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng của ta cũng rất nổi tiếng. nhưng ngon hay dở thì tùy theo sở thích của mỗi người. Trời sắp tối. Đêm nơi thị trấn miền núi đến nhanh. Chúng tôi vẫn chưa dùng bửa cơm chiều. Nhưng một cú điện thoại gọi từ Đài Bắc yêu cầu Tướng Nam và 5 vị Thiếu Tá gồm Nhảy Dù, BĐQ, Thiết Giáp, Không Quân và Bộ Binh là tôi phải có mặt tại Đài Bắc ngay trong đêm để sáng sớm ngày hôm sau vào Bộ Tổng Tham Mưu Tam Quân của Quân Đội Trung Hoa Dân Quốc trình bày cho các vị Tướng Lãnh Dân Quốc về kinh nghiệm chiến trường của mình. Thiếu Tướng Nam cho gọi tôi để cho lệnh Phái Đoàn chuẩn bị trở về Đài Bắc. Khi biết chuyện, tôi trình Thiếu Tướng xin cứ để anh em ở lại vui chơi. Nhưng ông nói: “Tôi và anh đều phải về Đài Bắc, vậy ai trách nhiệm coi Phái Đoàn ở đây?” Vậy là chúng tôi đành thu dọn hành trang để lên xe bus trở lại Đài Bắc.

Một lần khác, Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị Quân Đội Trung Hoa Dân Quốc mở tiệc khoản đãi Phái Đoàn. Chương trình sẽ bắt đầu từ lúc 5 giờ chiều. Buổi sáng hôm đó Phái Đoàn được đưa đến thăm Trường Đại Học CTCT. Ngôi trường nằm ở vùng ngoại ô, khá xa. Chúng tôi được các sinh viên tranh nhau để chụp hình chung lưu niệm. Khuôn viên trường rộng rãi, nên đôi chân lâu nay chỉ “thích đi bộ, không quen đi xe” đã được tận dụng. Khi trở lại Đài Bắc trời đã quá trưa. Sau khi dùng bửa, tất cả đều ngủ vùi. Trong lúc đang mơ mơ màng màng, tôi nghe tiếng gỏ cửa. Tôi vội ra mở thì thấy Tướng Nam đã áo quần chỉnh tề:

“Anh Chế đánh thức anh em dậy chuẩn bị”.

Nhìn đồng hồ thấy mới 2 giờ, tôi nói:

“Thưa Thiếu Tướng còn sớm”.
“Thì cứ đánh thức anh em dậy chuẩn bị là vừa”.
Tôi đành phải tuân lệnh. Nhanh chóng bận quần áo, xuống phòng khách của Teacher’s Hotel ngồi tán chuyện với ông Tướng, nhưng tôi vẫn để cho anh em ngủ, chưa đánh thức vội.

Sĩ quan tùy viên của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam là một Trung Úy, tôi không nhớ tên, đã kể cho nghe câu chuyện khá lý thú về tính ngay thẳng quá đáng của vị Tướng khả kính này: Một Pilot kiêm Observer thường bay bao vùng yểm trợ cho Sư đoàn 7BB của ông Tướng nhiều lần. Trong số lần, có nhiều trận đánh thắng lớn của Sư Đoàn, nhưng chưa một lần được Sư Đoàn tưởng thưởng huy chương. Viên Phi công kiêm Quan sát viên là cháu của ông Tướng, có viết bức thư riêng như để khiếu nại, thì Tướng Nam trả lời: “Hắn làm gì mà cho huy chương?”.

Là người đồng hương, cùng dân Huế với nhau, tuy cấp bậc và tuổi tác có xa cách, mỗi người sống trong một hoàn cảnh khác nhau, nhưng cũng rất dễ dàng bắt chuyện. Lúc chuyện trò, ông rất cởi mở và thân tình. Hai người Huế nói chuyện thì không thể nào không nhắc đến những kỷ niệm đẹp của đất thần kinh. Con sông Hương với giòng nước trong xanh lờ đờ chảy. Cầu Trường Tiền trắng xóa, sáu vài mười hai nhịp. Bất thần, ông hỏi tôi học trường nào. Tôi nói Trường Quốc Học. Ông nói ông cũng học trường đó, nhưng ngày trước có tên là trường Khải Định, Lycée Khải Định, ngôi trường lớn nhất xứ Đông Dương thời bấy giờ. Thấy ông vui vẻ và cởi mở, tôi đánh bạo hỏi sao Thiếu Tướng chưa lấy vợ. Bị hỏi bất ngờ, ông làm thinh, mặt hơi ửng đỏ, rồi ông nói lãng sang chuyện khác.

Ở Huế, ngoài Tôn Thất nhà Nguyễn, có nhiều gia đình vọng tộc. Nguyễn Khoa là một trong những gia đình vọng tộc mà ai ai cũng biết. Cụ tổ của dòng họ ông là Nguyễn Đình Thân, theo phò Chúa Nguyễn Hoàng, lập được nhiều công lớn. Đến đời thứ ba, được vua ban, đổi chữ lót “Đình” thành “Khoa”, và từ đó, con cháu đều mang họ “Nguyễn Khoa”.

Một câu hò nổi tiếng xứ Huế:
“Đường vô xứ Huế quanh quanh,
Non xanh nước biết như tranh họa đồ.
Thương em, anh cũng muốn vô,
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”.

Truông nhà Hồ một thời nổi tiếng là ác địa. Bọn thổ phỉ thường xuất hiện cướp bóc khách buôn và quấy nhiễu dân lành. Vào đời thứ năm của dòng họ Nguyễn Khoa, có cụ Nguyễn Khoa Đăng, giữ chức Chánh Dinh Nội Tán Thống Tri Quân Quốc Sự, đã lập kế diệt được bọn thổ phỉ. Từ đó truông nhà Hồ không còn là mối lo của khách buôn và dân lành. Mặc dù người trai đất Bắc không có cái oai dũng “lên Đông, Đông tĩnh, xuống Đoài, Đoài tan”. Nhưng vì yêu, “chín bỏ làm mười”, người con gái đa tình của xứ Huế nhớ nhung người yêu, đã trấn an:

“Phá Tam Giang ngày nay đã cạn,
Truông nhà Hồ, Nội Tán cấm nghiêm”.

Một quân nhân mẫu mực với tính liêm khiết đến độ khắc khe, với tinh thần trách nhiệm cao độ như vậy, nên tôi đã không ngạc nhiên chút nào khi nghe tin ông tự sát khi được lệnh đầu hàng. Theo Chuẩn Tướng Mạch Văn Trường, Tướng Nam đã chia sẻ với ông những lời cuối, trước khi giao cho ông trách nhiệm thay Tướng Nam lo cho anh em. “Làm Tướng mà không giữ được nước thì tôi phải chết theo nước. Tôi chỉ e đám tàn quân rồi đây sẽ ra sao? Được ông giúp cho việc này, tôi rất an tâm…”. Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam đã dùng súng lục bắn vào đầu chết tại phòng khách dinh Tư Lệnh Quân Đoàn IV/Quân Khu 4 vào lúc 3 giờ sáng ngày 1 tháng 5 năm 1975. Cái chết của Tướng Nam cũng giống như cái chết của Võ Tánh năm xưa tại thành Bình Định, Hoàng Diệu tại thành Hà Nội, hay như Phan Thanh Giản uống thuốc độc quyên sinh để giữ tròn khí tiết của một kẻ sĩ.

Nhân ngày Quân Lực 19/6, chúng tôi xin nhắc lại một kỷ niệm nhỏ, rất riêng tư với một vị Tướng nay đã trở thành Thần: “Sinh vi Tướng, tử vi Thần!”, cùng với những vị Thần khác là Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai và Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, được người đời xưng tụng là Ngũ Hổ Tướng.

Michigan, Ngày Quân Lực lần thứ 42.
Bảo Định
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Bạn tôi: Thiếu Úy Huệ

Friday, October 17, 2008

Nó nằm trên giường đôi mắt mở to, bên cạnh hai người đàn ông già, cái giường bên phải của một người không biết nói tiếng Anh, chuyên đi qua lại dơ ngón tay cái lên và nói “very good, very good.” Có lẻ ông ta là người Armenian, vì khu vực Glendale phía Bắc của thành phố Los Angeles là khu vực tập trung của người di dân Armenian. Người đàn ông bên tay trái là người da trắng địa phương có đôi mắt kính cận dày cộm, nằm im lặng nhắm mắt bất động, có lẽ chẳng còn gì để nói.

Cậu nhỏ mặc bộ đồ y tá màu xanh nước biển người Phi bước vào phòng, đi thẳng vào chỗ treo cái đồng hồ trên tường điều chỉnh giờ, để lộ hai cùi chỏ xâm hình màn nhện màu xanh loại mực Tàu. Cậu quay lại nhìn người lạ ngồi cạnh nó và chào, khuôn mặt Á Châu hiền hậu. Nhưng trước khi vào đây làm, chắc cậu ta cũng một thời sóng gió ngang tàng trong các băng đảng một vùng nào đó của thành phố này. Cậu cứ lui hui tìm cách điều chỉnh giờ của cái đồng hồ treo tường. Thấy vậy, người đàn ông da trắng mở mắt ra với giọng nói trầm và ồ ề, lập đi lập lại nhiều lần “no battery, come on, the clock got no battery, can you see?” Hai ba người đàn ông bên hành lang dừng lại và cùng nói một lúc “that's right, no battery”. Trong khi đó, từ một phòng khác thật xa vang vọng tiếng của những người già khác la hét thật lớn như cố gắng trút hết nỗi ưu phiền của mình. Âm thanh vang dội qua cái hành lang dài nực mùi khai và hôi của một ngày nóng hơn trăm độ và tiếng la hét vẫn tiếp tục như chẳng ai màng để nghe. Thỉnh thoảng có một vài người ngồi trên xe lăn đẩy vào knob cửa trên tường để tìm cách di chuyển cái xe nặng nề. Một người đàn bà tóc bạc trắng lưng còm gần như song song với mặt đất di chuyển phía sau cái xe lăn.

Cậu y tá chẳng buồn trả lời, và đang tìm cách điều chỉnh giờ vì tối hôm qua đổi giờ vào nửa đêm, bây giờ đã bốn giờ chiều cậu ta mới đến. Cái đồng hồ này trên mặt kính còn có một cửa sổ nhỏ cho ngày và tháng. Ðiều chỉnh xong, nhìn đồng hồ, cậu y tá quay lại chào trước khi rời khỏi phòng.

“Mày nhớ hôm nay đúng ba tháng từ ngày mày bị stroke lần đầu tiên không?” Nó gật đầu và đôi mắt liên tưởng nhìn thật xa vời vợi. Từ đó đến nay, nó đi chuyển từ nhà thương này đến nhà thương khác, rồi bây giờ nó nằm ở cái run down Convalescent Hospital tồi tệ này. Hôm trước Noel, nó nhớ hôm đó ngày 11 Tháng Mười Hai, cơn stroke đầu tiên đã đến với thân thể nó. Từ Orange County, nó cố gắng lái xe về Monterey Park nơi nó ở, đoạn đường bình thường chỉ khoảng nửa giờ đồng hồ lái xe trên xa lộ, nhưng hôm nay thật khó khăn vô cùng. Toàn thân bên trái tê liệt, may còn cái chân phải để đạp ga và thắng cũng như cái tay phải quậy qua, quậy lại, thế mà nó cũng lết về đến nhà. Chực nhớ lại đứa em gái là y tá, nó bèn gọi đến, đầu dây bên kia trả lời “đi nhà thương gấp anh bị stroke rồi.” Vậy mà nó cũng lết cái xe lộc cộc, cũ nát đến El Monte Community Hospital, không biết họ có chữa trị gì không? Nó được xuất viện và người ta đề nghị nên đến USC Medical Center ở dưới Los để tiếp tục điều trị may ra nó còn sống, chứ cái nhà thương cộng đồng này nổi tiếng là Roach Hotel “Check in and never check out” như là one way ticket loại “đi tàu suốt.” Rồi nó lại liên tưởng đến...

Nó nhớ lại ngày xưa đi “nhảy toán” ít ra cũng có hy vọng trở về dù là mong manh, lần nhảy toán điều động và chứng kiến trận đánh bom cuối cùng của B52 trong vùng lưỡi câu của Cam Bốt. Hôm đó là ngày 27 Tháng Giêng năm 1973 nhưng vì Hoa Kỳ đi sau Việt Nam một ngày -Hoa Kỳ vẫn còn ngày 26- và Hiệp Ðịnh Ba Lê vẫn chưa có hiệu lực, các Pháo Ðài Bay B52 đả tập trung dành hết mọi phi vụ cho trân không kích cuối cùng này. Lúc đó, nó phục vụ ở Ðoàn Công Tác 68 Sở Công Tác thuộc Nha Kỹ Thuật. Khu vực Long Thành và Quân Ðoàn 3 cũng như Cam Bốt là vùng trách nhiệm của nó.

Toán nó vào vùng trước đó một ngày sau khi nhận dạng và xác nhận mục tiêu, tọa độ đã thuyết trình tại khu cấm trước ngày xâm nhập. Nó liên lạc và báo cáo với hai lần tư tưởng cho biết chi tiết tọa độ và sinh hoạt trong vùng. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, từng đợt và từng đợt B52 tới tấp vào mục tiêu, đâu đây nó còn nhớ văng vẳng bên tai trên ống liên hợp của máy PRC-25 zulu zulu zulu. Nó hối hả trả lời “nhận 5” roi nhét cái ống liên hợp trong cái balô của người truyền tin mang máy và cắm đầu chạy. Lúc bom nổ, nó nằm dưới đất chống tay theo kiểu hít đất, toàn thể mặt đất rung chuyển và chấn động dội vào khắp mọi nơi trên thân thể. Tai nó ù lên và hơi thở nén lại như vỡ tung lồng ngực theo từng đợt liên tục của trận oanh tạc. Toán của nó lồm cồm bò dậy và chạy thật nhanh ra khỏi vùng đánh bom mà nó đã chấm tọa độ báo cáo về hai lần tư tưởng của nó hôm qua. Cứ chạy rồi nằm, lập đi lập lại không biết bao nhiêu lần. Khi toán nó được triệt xuất, mấy người đi đón toán chẳng còn nhận dạng ra tụi nó là ai cả. Từ xa, cả toán của nó như những bóng ma hiện về áo quần tả tơi trộn lẫn đất và bùn khô xám nghịt, miệng há hốc không nói được tiếng nào, không biết là nỗi mừng rỡ hay những tràng bom B52 đã xé nát lồng phổi và cuống họng của nó. Anh Ba cứ nhắc đến chuyến đánh bom B52 nầy mà anh chứng kiến từ lúc toán xâm nhập cho đến lúc triệt xuất. Anh Ba nói đâu phải đi một chuyến này thôi. Từ khi nó tình nguyện vào Biệt Kích cho đến nay, nó không còn nhớ bao nhiêu chuyến công tác nó đã đi qua, chỉ nhớ lờ mờ nó đi khóa 5/70 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức, lúc đó nó được 23 tuổi, nhưng trước đó nó đã gia nhập quân đội không biết là năm nào, sau đảo chánh ông Diệm vài năm là nó đã đi lính rồi. Sau Ðệ Nhị Thế Chiến được hai năm thì thân mẫu nó hạ sinh ra nó trong Chợ Lớn. Gia đình cũng khá giả lắm, nhưng nó lại chọn kiếp trôi nổi làm trai thời chinh chiến. Nó nói đi lính nào cũng chết mà chết là hết, nhưng sống ngang tang tang bồng hồ thỉ cho thỏa chí trai. Rồi nó tình nguyện vào Biệt Kích thử lửa một lần cho biết.

Hồi đó, nó còn nhỏ lắm, nó nhỏ tuổi mà người cũng nhỏ con. Mấy thằng Mỹ trong toán thằng nào thằng nấy cao lêu khêu. Nó không là thông dịch viên nhưng nó nói gì mấy thằng Mỹ cũng hiểu hết. Nó rất thông hiểu lịch sử thế giới và nhất là lịch sử Việt Nam cũng như Trung Hoa cái thời của Tưởng Giới Thạch và trước đó là Mao Trạch Ðông. Nó kể chuyện chi tiết và dẫn chứng rõ ràng cũng như những dữ kiện lịch sử của Ðệ Nhất và Ðệ Nhị Cộng Hòa. Rồi hơn ba mươi năm đi qua, những gì đã xảy ra chung quanh cuộc sống của nó tại Hoa Kỳ cũng như những gì đã đi qua trong cuộc chiến vẫn đeo đuổi lấy nó. Ðôi mắt lim dim, nó liên tưởng đến một nơi nào xa lắm.

Hôm đó trưa ngày 29 Tháng Tư. Thằng bạn nó lui hui nhặt mấy cây súng bỏ ngổn ngang trong mấy dãy nhà tạm trú ở kho 18 bên Khánh Hội. Nó hỏi: “Sao mày về đây được hay vậy? Tao nghe mầy ở tù trên Tổng Tham Mưu phải không?” “Ừ, tao bị gửi lên nằm trên Ðại Ðội 1 Tổng Hành Dinh của Tổng Tham Mưu từ hôm Dinh Ðộc Lập bị mấy thằng phi công nằm vùng đánh bom đến nay.” “Cái lúc dầu sôi lửa bổng mà mày nằm trên đó thật phiêu lưu, ở đây anh em mình đi nhảy trên Lái Thêu Bình Dương cũng như chung quanh Biệt Khu Thủ Ðô, người ta tìm đường đi ra nước ngoài nhiều lắm...”

“Có, tao biết chớ, tao nằm kế phi trường Tân Sơn Nhất ngày nào cũng đến phi vụ C141 lên xuống thấy mà não ruột, cả tháng nay không có tin tức gia đình. Ông già tao ở Chi Khu Gò Vấp kế bên đây mà không sao có phương tiện liên lạc được. Hồi nẫy lúc vô cổng trại mấy đứa báo tin gia đình tao leo lên một chiếc tàu đánh cá đi vô Vũng Tàu rồi. Lúc ở trong Tổng Tham Mưu trưa nào tao cũng ra dưới tàng cây kế phòng giam, kể chuyện nhảy toán cho mấy chàng Quân Cảnh nghe, ngày nào cũng vậy, gần hết đề tài mà chẳng thấy ai vô lãnh tao về. Tối hôm qua, tụi nó pháo kích vô phi trường Tân Sơn Nhất và mấy trái pháo lạc qua Tổng Tham Mưu kế chỗ tao nằm. Hồi sáng nầy, Quân Cảnh 207 đến Tổng Hành Dinh lãnh tao ra bỏ ngoài cổng, may mà tao còn bọc “trái mini” trong túi mặt nạ, dí xe ôm về đến Bộ Chỉ Huy Nha trên trường đua Phú Thọ. Vậy mà tao phải chờ cả tiếng đồng hồ ông trung úy phát lương moi ngủ trưa dậy, tao cũng lãnh được nửa tháng lương, còn nửa tháng kia họ đóng tiền cơm trong tù. Tao nói bao nhiêu cũng được. Lúc đi ra kiếm cái thằng xe ôm trả tiền thì nó đã đi mất từ lúc nào. Nhìn qua trường đua tao thấy mấy anh em mình dưới Trung Tâm Huấn Luyện Yên Thế Long Thành về khui quân trang, quân dụng ở kho 50 trong nha, và đang cùng với đơn vị Biệt Ðộng Quân chất bao cát ngoài trường bãi cỏ trống giữa trường đua. Tao đón xe ôm về dưới Khu Quốc Tế, không ngờ gặp đông đủ anh em mình mấy đứa nhỏ trong xóm Ðổ Quang Ðẩu-Phạm Ngũ Lão bu lại mừng rỡ và xin đồ kỷ niệm. Nó nói anh đi kỳ này không biết bao giờ mới về. Tao cho tụi nó chục trái lựu đạn M26, rồi nhảy lên xe jeep về dưới này. Thôi mày xuống mấy chiếc tàu đổ bộ của quân vận đậu ngoài sông, người ta bảo tối nay sẻ đi Phú Quốc hoặc về dưới vùng bốn tử thủ. Tối hôm qua mà đi thì mày kẹt lại rồi, tao thấy mấy toán đi bốc mấy tay bự trên Sài Gòn tới khuya vẫn chưa về, và anh em mình nhiều toán còn kẹt lại ở Lái Thêu Bình Dương, cũng như một số đi bộ về đến chi khu Gò Vấp cũng chưa về kịp. Hồi sáng nầy có một toán về đến Ngã Ba Hàng Xanh, mấy người dân cứ tưởng là Việt Cọng về đến rồi. Lúc trưa, xe của mình rước Toán về đến Bến Bạch Ðằng xém bị Phòng Thủ của Hải Quân bắn. Nhờ tụi nó la lớn 'bạn, bạn, bạn,' và giơ bản đồ và panô lên bên kia mới mở hàng rào cho đi... Tối hôm đó, đoàn tàu di chuyển cả đêm, phía bên phải kho đạn thành Tuy Hạ bị nổ tung, cháy sáng cả một góc trời. Ðoàn tàu đi cả đêm mãi sáng hôm sau mới ra đến hải phận quốc tế, nó nhớ hết. Hai cái stroke cộng một cái heart attack, máu bầm đọng lại hơn sáu mươi phần trăm phía sau não bộ của nó, mà nó vẫn còn nhớ rõ ràng, tuy nó không nói được chỉ gật đầu. Và thỉnh thoảng nó cố gắng ngọng nghịu một vài câu nhưng trong tiềm thức nó tất cả những gì xảy ra nó nhớ rõ ràng và chi tiết lắm. Ðôi khi nó nhìn thật xa và cố nhớ lại tất cả như một đoạn phim trắng đen quay chậm.

Từ những ngày đầu di tản, nó đã phụ giúp công việc an ninh di chuyển người tỵ nạn tại Subic Bay, Philippines, Phi Trường Quân Sự tại đảo Guam, rồi đến đảo Wake nó cũng phụ giúp công việc an ninh tại phi trường. Ngày nào nó cũng mang về một bịch rác to lớn chứa đựng những đồ quý rồi mang cho lại những cụ già nào là ống quấy, trầu, cau, vôi, dầu nhị thiên đường, dầu cù là con cọp, dầu gió xanh Bác Sĩ Tín, đủ loại đồ lặt vặt trong cái bịch to tướng mà các quân nhân An Ninh Hoa Kỳ tịch thu tại phi trường. Họ đâu biết đây là những đồ quý giá nhất thời bấy giờ, nhất là những cái ống quấy của các cụ ăn trầu. Mỗi lần nó xách cái bịch nylon clear màu trắng về, bà con chạy ra, nó giống như những anh hùng vừa mới lập chiến công trở về. Ngày nào cũng vậy, thỉnh thoảng nó kéo một số anh em đi tuần tiễu quanh đảo Wake với quân cảnh Mỹ để bảo vệ an ninh cho đồng bào tỵ nạn, suốt mấy tháng ở bên đảo cho đến ngày đóng cửa. Sau về trại Pendleton của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ nó cũng đi làm trên Processing Center kiếm từng cái áo, cái quần, giầy dép cho anh em. Ngày nào cũng vậy, nó đi từ sáng sớm đến tối mới về, mỗi đêm nằm trên ghế bố lót hai ba cái mền mà cái lạnh nó xuyên thấu xương trên mấy dãy lều thiết kế dưới thung lũng trong căn cứ Huấn Luyện Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Cái lạnh về những ngày cuối Thu, nhưng có lẽ lạnh nhất vẫn là cái cô đơn của những kẻ vừa trải qua một cuộc chiến dài, nằm liên tưởng đến những tháng ngày tương lai vô định trên xứ lạ, và tiếp tục cho đến ngày ra trại. Tuy vậy, anh em độc thân vui tính lúc nào cũng chọc ghẹo nhau và vui cười. Sau cái ngày ra trại mỗi đứa một nơi, người tỵ nạn được định cư rải rác khắp nơi trên Hoa Kỳ. Không biết do cơ duyên nào đó tất cả lại tập trung tại Los Angeles, khu vực người Mễ và Ðại Hàn góc đường Vermont và đường Số Chín nầy, rồi anh em cũng quay quần bên nhau nơi cái thành phố định mệnh gió.

Hôm Thứ Hai, một tuần sau ngày bị stroke, nó nhờ một người bạn đưa vào USC, và từ đó đến nay hết nhà thương, đến trung tâm hồi lực rồi về lại nhà thương, qua trung tâm hồi lực rồi cuối cùng nó nằm tại cái bệnh viện tàn tạ dành cho những người già bệnh hoạn cuối đời nầy.

Còn ba ngày nữa đến Noel. Cả tháng nay êm ru không thấy nó gọi. Tôi đang đi sửa xe dưới Orange County. Trời cũng vừa tắt nắng. Bỗng điện thoại rung lên, bên kia đường dây như mật khẩu thường lệ “có gì lạ không?” nó nói theo cái kiểu nửa Việt, nửa Tàu của nó. “Tao cũng thường, mấy đứa nhỏ học ra trường đi kiếm việc làm trên Oxnard, bị bà già Mỹ đụng xe bung air bags, bể bình nước, xe kéo về Amarillo bỏ trên đó, tao đang đi kiếm cái xe chạy tạm, mầy khỏe không?” Nó trả lời thật rõ ràng: “Tao bị stroke nằm nhà thương hai tuần nay, cái điện thoại hết pin, hồi sáng nầy vợ chồng thằng Craig đến thăm, con vợ nó ngồi đây còn thằng chồng chạy xuống phố kiếm cho tao cái đồ charge pin, nhờ vậy tao mới gọi cho mày được”. “Mày đang ở nhà thương nào?” “Tao cũng không biết, nó nằm gần Los, khu của người Mễ Tây Cơ, gần freeway 710 qua khỏi Los”. “Mày có số điện thoại ở đó không?” “Tao không có. Mà hình như nó tên là Rancho Amigo gì đó”. “Thôi được, tối nay về nhà tao sẽ lên trên net kiếm, thế nào cũng tìm ra. Mày nhớ charge điện thoại, ngày mai tao lên sớm, tao sẽ gọi trước khi đi.” Và từ đó đến nay nó không còn nói được nữa.

Ngày hôm sau, còn hai ngày nữa thì đến Noel. Khi đến nhà thương, tôi thấy nó ngồi trên giường hớt hải phân trần ngọng nghịu. Mâm đồ ăn đặt trên một cái bàn nhỏ loại di chuyển trên giường dành cho bệnh nhân. Ðồ ăn vung vãi một nửa trên giường còn một nửa ở dưới đất, thức ăn được xoay nhuyễn dành cho những bệnh nhân sau khi stroke để tránh bị sặc khi nuốt. Trên tấm ra trải giường nhàu bốc lên mùi đồ ăn, mùi phân và nước tiểu lẫn lộn. Khuôn mặt nó thật hãi hùng, quầng mắt thâm sâu, đôi mắt đỏ và lờ đờ, râu lởm chởm khắp nơi trên khuôn mặt. Nó cố gắng phân trần và giải thích một điều gì đó... Tối hôm qua sau khi phổ biến hung tin và số điện thoại, anh em gọi thăm, nó đâu có nói chuyện được. Cái điện thoại cầm tay của nó rớt xuống giường mà không sao nó lấy lên được. Nó vẫn tiếp tục hớt hải và phân trần, một lúc sau mới kiếm ra cái điện thoại, trấn an và tìm cách nói chuyện với y tá nhà thương. Sau này mới biết tối hôm qua nó vừa bị một cơn stroke lần thứ hai.

Hôm nay là Christmas Eve. Nhân viên nhà thương le que có mấy người, chẳng thấy bác sĩ hoặc y tá, chỉ có mấy người phụ dọn dẹp cho bệnh nhân. Từ sáng đến giờ chẳng thấy nhân viên của nhà thương, chẳng thấy thuốc men. Trên giường có một miếng giấy với hàng chữ quen thuộc của một anh bên Lôi Hổ vừa đến thăm, chắc là anh nhận được nhắn tin trên e-mail tối hôm qua. Trên bàn, một con teddy bear của một người bạn đến thăm hôm qua, bình hoa màu xanh và bao giấy nhôm màu đỏ như nhắc nhở Noel đã đến. Buổi trưa, một bác sĩ người Á Ðông đến nhưng để thăm người bệnh nhân da màu giường kế bên, và ông cho biết bác sĩ của nó sau Noel mới làm việc trở lại. Người đem cơm đỡ nó ngồi dậy và tìm cách đút thức ăn cho nó, những đồ ăn đã được xoay nhuyễn, nhưng nó tìm cách phun ra, vì lưỡi nó không còn điều khiển để nuốt đồ ăn. Mâm đồ ăn còn nguyên vẹn được mang đi, nó cố gắng nói với những lời ngọng nghịu cho đến buổi chiều.

“Tao phải về, mày nằm đây nghỉ. Tối nay là Noel, mầy biết không? Thôi mày nằm nghỉ cho khỏe, ngày mai tao lên sớm.” Lúc tôi ra về, nó cố gắng tiếp tục phân trần, như muốn giữ tôi lại, cho đến tôi khi rời khỏi khu vực bệnh nhân.

Bên ngoài, trời bắt đầu lạnh. Ðèn Noel trên các nóc nhà cháy sáng. Tiếng nhạc rền dứt khoảng từ chiếc radio cũ kỹ qua cái loa rè rè vì đã rách. Bản nhạc “Ðêm Ðông Lạnh Lẽo” từ một đài phát thanh địa phương trỗi lên. Ðiếu thuốc tôi đốt nửa chừng rồi lại quăng đi. Mùi vị đắng nghét của một gói thuốc cũ lâu ngày hôi mốc như một quãng đời dang dở không trọn vẹn đã đi qua. Như cuộc đời của nó trong đêm Noel lạnh lẽo nầy.

Năm nay, chẳng có cây Noel, chẳng có quà vặt. Ba mươi mốt cái Noel trên xứ Mỹ nầy bao nhiêu cái Noel đã đi qua như cuộc đời nó nằm đây mà tất cả đều trống vắng, duy chỉ còn lại cái hạnh phúc của hơi thở, của sự sống và một ngày lại đi qua.

Sau Noel một ngày, nhà thương sinh hoạt thật tấp nập, kè đi qua người đi lại tất cả thật nhộn nhịp. Nó nằm trên giường với một miếng band-aid dán qua sống mũi, miệng của nó máu khô đọng lại từ tối qua. Người ta cho biết tìm thấy nó mặt úp nằm sõng sượt trên sàn nhà vào sáng sớm, không biết tối hôm qua nó muốn đi đâu? Tay chân bên trái của nó tê liệt do stroke lần đầu tiên. Stroke lần thứ hai đã tàn phá phần còn lại của thân thể nó. Không biết trong giấc mơ hiện về tối qua những gì đã xảy đến cho nó, không ai biết đến luôn cả chính nó. Viên bác sĩ của nó gọi bác sĩ chánh của nhà thương, và một vài bác sĩ thực tập đi cùng tất cà bác sĩ nhìn thấy nó đều lắc đầu. Và họ ra dấu hiệu chuyển gấp nó về USC để điều trị, tình trạng sức khỏe nó sa sút một cách trầm trọng.

Nó được đưa từ phòng hồi sinh thường, cho đến phòng hồi sinh loại nặng. Một tuần đã đi qua. Một đêm, điện thoại reng. Bác sĩ trực của nó muốn nói chuyện riêng với thân nhân. Người ta vô cho nó hai bịch máu, và không biết nó mất máu chỗ nào? Nhà thương thí USC là nơi quy tụ tất cả bác sĩ thực tập, cứ vài ngày là bác sĩ thay đổi. Và cuộc đời nó cũng vô định như những câu hỏi không bao giờ được trả lời.

Một hôm, trung tâm hồi lực thông báo người ta sẽ di chuyển nó đến một viện dưỡng lão nào đó trên vùng Los Angeles. Nó chẳng có bảo hiểm sức khỏe, chẳng nó Medical, tất cả phần chữa trị của nó tương đương với những kẻ vô gia cư hoặc tù nhân của thành phố nầy. Một hôm, tôi đến thăm và thấy hồ sơ bệnh nhân của nó trên bàn y tá màu đỏ chói. Tôi nhìn trên tường và thấy có miếng giấy cấm tiếp xúc với bệnh nhân, sợi dây xích hai chân của người bệnh vào song giường. Thỉnh thoảng, người cảnh sát vào phòng nhìn vào sợi dây xích rỗi đi ra. Nó chưa đầy sáu mươi, và cuộc đời gian truân và cái anh hùng tánh cũng theo đuổi suốt cuộc đời của nó...

Phạm Hòa
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Trong Nỗi Khốn Cùng

ĐS: Sau đây là câu chuyện điển hình về Nỗi Thống Khổ Bi Hùng mà Người Lính Cộng Hòa hằng gánh chịu sau ngày mất nước với lòng can đảm bền bỉ tuyệt đối của người luôn vững tin về Lý Chính Nghĩa của Quân/Dân Miền Nam – Cũng của toàn Dân Tộc Việt Nam.
Suốt cuộc đời tôi trên mảnh đất quê hương bất hạnh, có lẽ mùa Đông 1975 là một cái đông lạnh lẽo nhất. Không biết có phải vì miền Nam VN vừa trải qua một cuộc đổi đời khủng khiếp, hay vì lúc ấy tôi đang bị cùm tại Trại A9/Long Thành, Biên Hòa (Ngã Ba Thái Lan) trong một dãy nhà tôn vách gỗ mà không hề có lấy một tấm mền mỏng che thân! Ban ngày ngủ, ban đêm phải thức trắng ngồi xoa bóp liên tục khắp cả người cho ấm. Ôi đêm dài vô tận trong cái lạnh thấu xương cộng thêm vết thương trên người còn tươi máu. Chính từ chuỗi ngày đêm nơi tầng cuối địa ngục này lại trở thành một phước duyên cho tôi tập tễnh bước vào Thiền để sống sót và tồn tại đến ngày nay.

Trước và sau ngày 30/4/75 tôi đã không hề có ý định chạy ra nước ngoài.. Khoảng đầu tháng 6/75, tôi lên Trà Cổ (Hố Nai, Biên Hòa) rồi từ đó vào rừng gia nhập Liên Đoàn 5 của Đại Úy Lê Đình Thạch (trước đây thuộc Sư Đoàn 5/BB) gồm một số Biệt Kích Dù, Biệt Động, Cảnh Sát, Địa Phương Quân.. Chúng tôi sống trong các mật khu cũ của Việt cộng vùng Sông Buông, Sông Mây (đầu Chiến Khu D). Việt cộng tràn ra thành phố, bỏ ngỏ mật khu của họ lại với đầy đủ chòi, lán, vọng gác trên cây, bếp với nồi niêu xoong chảo, nương khoai, vườn rau và một số rất lớn lựu đạn chày chỉ còn được dùng để đánh cá vì hệ thống kích hoả bị hư đến hơn 60%. Chúng tôi thường tấn công những kho gạo Tân Bình, Tân Bắc, Trà Cổ... Trước khi vác gạo về mật khu, chúng tôi dọn sạch kho đem bỏ từng bao trước cửa mỗi nhà dân. Dân địa phương và gia đình cũng tiếp tế cho chúng tôi rất nhiều thực phẩm khác. Vũ khí cũ như M16, M79 dần dần hết đạn, chúng tôi phải đánh Việt cộng để lấy AK, B40... Đến khoảng tháng 9/75, lực lượng chúng tôi đã có khoảng 80 người. Biết không thể chống cự nổi bọn cộng sản đang say men chiến thắng, chúng tôi dự trù sẽ đi đường bộ băng ngang Kampuchia đến vùng biên giới Kampuchia-Thái Lan để dưỡng quân rồi tùy cơ ứng biến. Trong vùng còn có một toán thuộc Liên Đoàn Biệt Kích 81 (trước 30/4/75) hoạt động độc lập dưới sự chỉ huy của một người tên Wòng A Cẩu. Chúng tôi cũng đang liên lạc để sát nhập với một lực lượng khác do Thiếu Tá Tam (Thiếu Tá Nguyễn Phước Trường) chỉ huy. Có một linh mục tham gia tên Trần Học Hiệu (LM Hiệu sau này đã bị giết chết trong tù). Khoảng tháng 10/75, VC đưa hai trung đoàn có bốn chiến xa yểm trợ tấn công đơn vị chúng tôi và đơn vị của Thiếu Tá Tam. Chúng tôi trải quân ra thật rộng với từng tổ tam tam chế, đóng chốt trên tất cả những yếu điểm, kể cả những chòi trên ngọn cây, bình tĩnh xử dụng thật tiết kiệm từng viên đạn một. Chiến đấu trong hơn bốn ngày đêm, chúng tôi đã mất hơn nửa quân số. Sau khi Anh Thạch hy sinh, chúng tôi phải xé lẻ tan hàng. Ba người theo tôi đi về Phước Long. Đến 10g sáng (?), chúng tôi lọt ổ phục kích gần Xã Vĩnh Cửu (?), một trung đội cộng sản nằm dài theo bụi tre cách khoảng mười-lăm, hai-mươi thước bắn xối xả vào chúng tôi đang di chuyển giữa đồng trống, quần áo tôi bị thủng nhiều lỗ, một viên AK xuyên qua đầu gối (đang ở thế ngồi chồm hổm để bắn lại) làm tôi ngã vật ra sau nhưng vẫn tiếp tục bắn đồng thời ra lệnh ba thuộc cấp thoát thân. Chuẩn Uý Nguyễn Thạch Điệp nhất định liều chết để lôi tôi đi.. Tôi hét lên, Điệp vẫn không buông tôi ra, tôi phải chỉa súng vào người Điệp gằn giọng nếu không chạy đi, tôi phải bắn chú, Điệp rớm nước mắt "dạ" rồi vọt liền, cùng lúc với đợt xung phong xáp lá cà của địch, một tên dùng nguyên khẩu súng với trái đạn B40 đập lên đầu tôi, tôi né qua một bên, bị trúng vào gáy rồi ngất đi. Hình như một tên chỉa AK vào đầu tôi định bóp cò, một tên khác la lên.. Đừng bắn, thằng này cấp cao, tài liệu sống, đem nó về. Lúc tỉnh dậy thấy mình đang nằm trên võng vải nylon, máu me ướt sũng lưng, bọn VC thay nhau khiêng tôi đi. Ngang qua một số dân địa phương đang làm rẫy, tôi thoáng nghe vài tiếng kêu.. Giê-Su Ma!!.

Toán cộng sản đưa tôi về Huyện Thống Nhất, Tỉnh Đồng Nai (Biên Hòa), nhốt tôi trong một căn nhà không có nóc (bị pháo kích sập, chỉ còn bốn bức tường với các cửa đóng kín bằng những tấm ván lớn chéo nhau). Tôi được đặt trên một bao tải cũ, gối đầu trên một cục gạch thẻ, trên người chỉ còn một quần lót dính đầy máu đã khô, đầu gối được bó lại bằng chính cái áo trận của tôi. Đêm đó trời mưa như trút, cả người tôi ướt như chuột nằm chịu trận suốt mấy giờ.Vết thương đau nhức khủng khiếp, máu vẫn tiếp tục loang loang theo nước mưa. Sau cùng vì quá lạnh, sức đã kiệt, tôi lên tiếng kêu gọi bô đội xin chuyển tôi đi nơi khác, không nghe tiếng trả lời, tôi ráng lết vào sát chân tường để núp. Nếu lúc đó cửa có mở tôi cũng không thể trốn đi vì đầu gối chân phải đã bị bắn xuyên từ bên này sang bên kia, xương bánh chè bị vỡ nát. Bị bắt tại trận với vũ khí trên tay thế này chắc chắn 100% là chết, nếu lỡ sau này có sống sót, có lành cũng thành phế nhân, tôi đành quyết định chọn con đường tự sát. Ráng đập đầu vào tường nhưng sức không còn. Thử cắn lưỡi thì thú thật đau quá, không đủ can đảm. Có lẽ phải nhờ Việt cộng giết giùm thôi. Tôi bắt đầu la lên chửi rủa cộng sản, chửi đích danh Hồ Chí Minh khan cả tiếng. Tôi tiếp tục chửi tất cả những tên đầu não cộng sản lúc bấy giờ mà tôi nhớ được như.. Lê Duẫn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ... Rồi không biết ngất đi từ lúc nào. Khi tỉnh dậy toàn thân tê tái, tê như đóng băng, đầu vẫn gối trên cục gạch, thân vẫn nằm trên cái bao tải ướt sũng, trên người gần như trần truồng được đắp lại bằng....một tấm tôn! Ngoài kia gió vẫn rít gào, trời vẫn vô tình mưa rả rích, nước mưa vẫn gõ nhịp đều đặn trên tấm tôn lạnh lùng....

Sáng hôm sau Việt cộng triệu tập một cuộc mít-tinh dân chúng Huyện Thống Nhất để triển lãm mục đích răn đe với khoảng hơn bốn-mươi xác những "tên ác ôn đã đền tội". Mười –một người bị bắt (tất cả đều bị thương), số còn lại trốn thoát. Chúng khiêng tôi ra đặt nằm phía sau một chiếc xe Jeep mui trần cho bà con xem. Rất nhiều tiếng đả đảo từ những tay cò mồi. Không ít những giọt nước mắt nghẹn ngào. Vẫn vỏn vẹn một chiếc quần lót đẫm máu, tôi ngồi thẳng người, bình tĩnh nhếch mép cười khi nghe những tiếng hô đòi tử hình kẻ "tội phạm". Lúc đó đối với tôi hai tiếng "tử hình" nghe không còn ghê rợn nữa mà thật bình thường vì đó chính là điều tôi mong đợi và chấp nhận như một sòng phẳng tất nhiên. Một cô trung niên, mặt khá xinh, người nhỏ nhắn, có vẻ rất hung hăng, vừa xô đẩy những bộ đội giữ trật tự, vừa hô to: Đả đảo những tên "xâm lăng" (?) khốn nạn, hoà bình không muốn chỉ muốn chiến tranh, những tên mặt người dạ thú, giả nhân giả nghĩa, giết hại dân lành... Hãy để cho tôi nhổ vào mặt nó, đập vào mặt nó, tôi mới hả dạ!!" Tôi nghĩ mụ này là "Việt cộng cái" giả dạng thôi, lòng tôi thanh thản đến lạ lùng. Hãy để chúng trổ tài bịp bợm. Tôi chỉ muốn thoát ra khỏi cõi đời ô trọc bằng bất cứ giá nào, bằng bất cứ cách nào, dù xấu nhất. Tôi mỉm cười nhìn thẳng vào mắt mụ khi mụ vung nắm đấm. Mụ không nhổ vào mặt tôi. Mụ cũng không đập vào mặt tôi. Mụ luồn tay vào bụng tôi làm như đấm tôi vậy, miệng vẫn tiếp tục chửi rủa. Tôi cảm thấy cái gì đó nằng nặng trên bụng, liếc nhanh, thì ra đó là một quả quít nhỏ, tôi vội lấy tay che lại, nụ cười thành trơ trẽn biến mất, nhường chỗ cho sự ngạc nhiên đầy lý thú và cảm thông rất nhanh. Đôi mắt diễn viên trong một thoáng lạc đi rồi trở lại ngay với vở kịch còn dang dở!!. Cô ấy trạc tuổi tôi hoặc nhỏ hơn chút ít. Đến bây giờ, tôi vẫn hằng ước mong có đưọc một dịp tái ngộ người ân nhân tuyệt vời này - Không phải vì đơn thuần quả quít mà vì giá trị khích lệ trong một hoàn cảnh quá hy hữu.

Những ngày và đêm tiếp theo là thủ tục hỏi cung. Bộ đội chánh quy từ Miền Bắc tương đối nhẹ tay, một vài người nói và làm như miễn cưỡng, một người đã lén pha cho tôi một ly sữa sau lần tôi bị ngất đi vài giờ, nhưng những tay "giải phóng – Cộng sản người miền Nam- pnn" thì thật tàn bạo.. Chính nơi đây tôi đã được nhìn thấy thế giới bên kia sau những lần chết đi, có lần kéo dài đến sáu, bảy tiếng.. Tôi đã nhẹ nhàng thanh thoát, lướt bay trên những cánh đồng đầy hoa, không một chút bụi. Không cảm giác áo quần mặc trên mình dù rằng quần áo rất đẹp, không tơ lụa nào sánh bằng, hình như kết bằng mây ngũ sắc. Cả không gian thật tươi mát, thật sạch như vừa trải qua một cơn mưa nhẹ. Bầu trời không một áng mây, không có mặt trời nhưng lại rất sáng và trong suốt như pha lê. Tôi đã nhớ lại từng chi tiết nhỏ cả quãng đời đã qua từ khi nhập thế. Những điểm tốt cùng với bao nhiêu điều xấu. Vui vẻ, hài lòng, thảnh thơi trước những việc thiện. Hối hận, ăn năn, dằn vặt, đau khổ trước những điều bất thiện. Có lẽ đó là "Toà Phán Xét" theo giáo lý đạo Thiên Chúa. Có thể đó chính là Niết Bàn và Địa Ngục theo Phật Giáo chăng? Tôi đã nghe và hiểu những con chim đang hót những lời tán tỉnh. Tôi đã thấy những con cá giành ăn và nghe chúng cãi nhau. Chính nhờ vậy tôi lại càng không sợ chết nữa, trái lại còn mong muốn được ra đi thật sớm. Tôi như tỉnh ngộ và nhận rõ rằng cái xác này tuyệt nhiên không phải là tôi. Nó chỉ là một phương tiện, một địa chỉ tạm trú của một trong vô lượng vô số kiếp mà thôi. Quá đủ rồi. Tôi đã thoát ra và ngắm nhìn cái xác này bất động. Mấy lần đầu, tôi nghĩ đó chỉ là những giấc mơ. Sau vài lần lập đi lập lại thành xác tín, thành khẳng định những gì bên kia cửa tử, tôi khẩn khoản một cách chân tình, một cách rất bình thản: Các anh thấy tôi đã chết nhiều lần, tôi đã được qua thế giới bên kia, đẹp lắm, bình yên lắm, tôi thề sẽ không bao giờ oán hận các anh, tôi hứa sẽ mang ơn nếu các anh cho tôi một viên đạn vào đầu để tôi được đi luôn, không phải trở lại cõi đời này. Thật bất ngờ, kể từ hôm đó, họ không hề đụng chạm đến tôi nữa. Một lần, một tay cán bộ bắt tôi nhận diện những đồng ngũ đã hy sinh qua những tấm hình chụp trắng đen. Anh Thạch nằm chết bên cạnh khẩu M60 không còn một viên đạn.. Mắt anh một nhắm, một mở. Miệng anh như mỉm cười. Tôi lặng người, nước mắt lưng tròng.. Tay cán bộ giả vờ nhìn đi chỗ khác. Tôi cố tình tìm nhưng không nhìn thấy xác Chuẩn Úy Vũ Thế Cường là anh họ của tôi (Anh ruột mẹ tôi là Vũ Thế Nghiệp tức Nhà Báo Thần Phong hai năm sau đó bị xử bắn tại Thủ Đức). Vĩnh biệt Các Anh và hẹn ngày gặp lại, tôi khẽ thì thầm.

Quay trở về Mùa Đông 1975 tại Trại A9 Long Thành. Trại nằm ngay tại Ngã Ba Thái Lan gồm nhiều dãy nhà tôn vách ván nơi đang tập trung học tập các cựu viên chức hành chánh VNCH. Chúng tôi khoảng năm-mươi người gồm nhiều thành phần bị nhốt trong dãy nhà ngang cuối cùng có hàng rào kẽm gai quây kín. Tất cả tù nhân bị cùm hai chân, xiềng một tay vào ban đêm, ban ngày chỉ xiềng một tay vào một chân. Cùng trại có môt người lớn tuổi tên là Phan Xuân Hạ, bị bắt vì nghi ngờ là sĩ quan cao cấp VNCH đang trốn tránh. Cụ rất hiên ngang, dõng dạc. Nghe cái tên quen quen, tôi hỏi Cụ có liên hệ gì với với một người bạn cùng khoá là Phan Xuân Mai không.. Cụ chỉ mỉm cười: Con cháu trong nhà thôi. Bà Minh Đăng (Không biết tên thật, chủ đại bài gạo Minh Đăng, Biên Hoà) người phụ nữ duy nhất bị bắt vì tiếp tế nguyên một xe gạo vào rừng, đã dùng sợi dây xích làm xâu chuỗi , không biết bà đã đọc bao nhiêu kinh mà sợi xích sáng bóng như thép ròng vậy. Nguyễn Văn Chi, người bị đánh hội đồng nhiều nhất trong suốt hơn hai tháng vì bị nghi ngờ là Thiếu Úy Trần Văn Chi (Th/Úy Chi bị một viên đạn xuyên qua vai phải, trốn thoát, hiện đang ở San Jose California), Ngô Đình Chiến bị bắn xuyên qua bả vai trái, tay trái bị liệt. Nguyễn Văn Cân bị ghẻ toàn thân chỉ trừ hai con mắt, Nguyễn Y người Bình Định (trông giống hệt hình Quang Trung Đại Đế), Trịnh Văn Thương bị bắn xuyên qua đùi, Phạm Văn Thận với chiếc jacket với hàng chục lỗ đạn....Cũng trong trại này có một người lính cũ của tôi, Đào Văn Lành, không biết bị bắt bao giờ và về tội gì. Anh được làm trong nhà bếp, phụ giúp nấu cơm cho trại. Một lần đem cơm cho tù nhân, anh nhận ra tôi nhưng không dám nói, chỉ ra hiệu. Tôi thì vẫn..Muôn đời Lục Quân Việt Nam, cứ bô lô ba la, cứ vui trước đã, đằng nào cũng chết, vui ngay cả với tử thần như một thân hữu đang đợi trông. Cơm ngày hai bữa trưa và chiều, mỗi người được hơn một chén cơm với "thịt cọp". Thịt cọp có nghĩa là muối hột, khi nhai kêu cọp cọp. Tôi chỉ ăn một nửa muối, phần còn lại dùng pha nước để tự rửa vết thương. Thỉnh thoảng được một chút canh nấu bằng lá cải già hay bí rợ với muối. Một hôm Lành lén trao cho tôi một lon sữa bò trong đó có phân nửa chất nước đen đen, quẹo quẹo mà Lành nói là nước cá kho. Chao ơi, nó ngon làm sao. Mỗi bữa ăn, tôi chỉ dám chan một muỗng cà phê trên chén cơm hẩm mà tưởng như đang thưởng thức món cá cao lâu ngày nào. Khoảng hơn mười ngày sau, khi vắng bóng người, Lành hỏi nhỏ: Nước cá kho tôi cho ông có ngon không? Cám ơn Lành, đang thiếu thốn mà được như thế không gì so sánh bằng. Lành thật thà: Ông biết không, tụi nó kêu tôi rửa cá khô, nguyên cả kí-lô cá khô tôi rửa bằng một tô nước thôi, nước đó tôi cô lại còn nửa lon cho ông xài đỡ. Ráng sống, ráng nhịn cho qua nghe ông!

Rồi cũng qua một mùa Đông. Một mùa Đông tang thương, thê lương trên khắp nẻo đường đất nước. Cả miền Nam biến thành một trại tù khổng lồ. Bốn tháng sau tôi bị chuyển về giam tại Xã Ngãi Giao, Quận Đức Thạnh (Phước Tuy/Bà Rịa). Chỉ cùm hai chân ban đêm nhưng ban ngày vẫn phải đeo xiềng vô một chân để đi lao động (mục đích giữ tù không chạy trốn). Từng đoàn tù với xiềng xích kêu loảng xoảng trên đoạn đường gần làng Bình Giả, tôi lẫm bẩm hát bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ (Nguyễn Đức Quang) thật thấm thía:..Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người, nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi.. Nụ cười xa vời, nụ cười của lòng hờn sôi.. Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian! Trung Úy Nguyễn Văn Tài lúc nào cũng chỉ một câu vọng cổ trong Chuyện tình Lan và Điệp: Em tên là Nguyễn Thị Lan(g), xác còn nằm đó mà hồn tan(g) lâu rồi!! Ở đây tuy ấm hơn nhưng rất khó ngủ vì hàng sư đoàn rệp tấn công suốt đêm. Cũng tại nơi này, hai thằng em tôi là Đồng Quang Nhường và Nguyễn Văn Hiển bị đánh chết. Hai em trốn trại bị bắt lại. Chúng trói hai tay hai chân rồi treo lên xà nhà như đang khiêng hai con heo. Đích thân thằng trại trưởng dùng búa gỗ (một khúc cây tròn đường kính cỡ 15cm, dài khoảng 30-40cm, đục một lỗ ở giữa tra cán vào, cán dài khoảng 1m, dùng để đập tôn cho bằng). Nó vung thẳng cánh đập một nhát vào đầu Đồng Quang Nhường nghe bộp như đập một quả dừa. Nguyễn Văn Hiển ngoái đầu qua nhìn, thuận tay nó vớt một búa ngay quai hàm của Hiển, quai hàm trẹo lặt qua một bên, máu vọt ra có vòi. Tôi nhắm mắt lại kêu Trời!! Cố bịt miệng để khỏi la thành tiếng. Cả hai xác Nhường và Hiển co giật vài lần rồi buông thỏng. Vài phút sau, chúng cắt giây thả hai xác xuống. Tôi và ba người nữa tình nguyện đi chôn. Cả hai xác còn nóng hổi được đặt nằm trên tấm gỗ dài cỡ 1thước 8, rộng 25 phân, hai cánh tay đong đưa theo nhịp bước, nhất là theo cái cà thọt khấp khểnh chân què của tôi. Hiển máu vẫn còn chảy toong toong trên đường. Cái đầu của Nhường ọp ẹp như quả cà chua úng, hai mắt lồi lên, mặt sưng tím bầm. Đất tổ ong mà dụng cụ đào chỉ là mấy cái cuốc xẻng cũ sứt sẹo. Trung Úy Tài nhỏ con nhất nhưng là người khoẻ nhất, hăng hái nhất.. Mấy ông ráng đào sâu sâu cho hai đứa nó. Cố gắng mãi đến tận mặt trời lặn cũng chỉ đào xuống được khoảng bảy tấc!! Cả hai xác đều bị chôn nguyên trạng, không áo quan, không poncho hay chiếu bó lại. Tôi ráng gom vài mảnh báo cũ phủ mặt cho hai em. Xếp vài cục đá xung quanh đầu rồi lấp đất nhè nhẹ như sợ hai đứa đau. Đêm đó tôi không tài nào ngủ được. Khoảng nửa khuya, dưới ánh đèn heo hắt, tôi nhìn thấy thật rõ ràng: Nguyễn Văn Hiển đang đứng bên cửa sổ phòng giam, không nói gì, đôi mắt thật buồn nhìn về xa xăm. Tôi nói thầm: Hiển ơi, thôi em hãy đi đi, đừng luyến tiếc gì cõi đời giả tạm này, nghiệp báo em đã trả xong, đừng oán ghét, đừng hận thù, hãy để cho lòng thanh thản mà siêu thoát....Tôi cứ nói như thế, lặp đi lặp lại, dỗ dành, van lơn, lâu lắm, bóng Hiển tan dần rồi biến mất. Hình như có tiếng người trở mình bên cạnh.. Tôi xoay qua: Trong bóng tối mờ mờ, tôi nhận ra Đồng Quang Nhường,hai anh em như đang nằm trên một toa xe lửa, dưới lưng cái gì bầy hầy như phân trâu bò. Tôi hỏi nhỏ: Chúng nó đưa anh em mình đi đâu đây? Chúng nó sẽ đưa anh ra Bắc nhưng anh đừng lo (Nhường lúc nào cũng lạc quan) mọi việc sẽ rất tốt đẹp, rồi anh sẽ vinh quang nơi xứ người. Tôi cười khẩy: Mẹ kiếp, miền Bắc chính là xứ người, không phải xứ của anh em mình, nhưng cái thân tàn tật tù tội trên đất cáo Hồ thì vinh với quang cái khỉ khô gì. Nhường cười. Hai anh em cùng cười với nhau. Tôi bừng tỉnh. Chơ vơ. Thì ra đó chỉ là một ác mộng.

Mấy tháng sau tôi nhận được lệnh: Tha thụ hình, cho phép đi cải tạo. Tôi bị chuyển qua Trại Lê Lợi. Nơi đây tuy không bị còn bị cùm hay xiềng nhưng ở trong khu cách ly. Bên kia hàng rào nhìn thấy Ngô Bá Lai, Nguyễn Hữu Tạo và một số rất đông bạn bè khác, nhận ra nhau trong ánh mắt thật ngỡ ngàng, tủi nhục, chua xót, đắng cay. Ngô Bá Lai nháy mắt bảo tôi ra nhà vệ sinh, hai đứa trật quần ra ngồi bên nhau trao đổi tin tức. Lai ân cần hỏi tôi thiếu thốn gì không. Một tháng sau chuyển qua trại Long Giao. Tôi vào trại với hai cổ tay và cánh tay bị trói chặt ra sau lưng bằng giây điện thoại, hai chân trần với vỏn vẹn một bộ đồ trên người và một túi vải nhỏ đeo trước ngực. Phạm Văn Bông nhận tôi về tổ, trong cùng tổ có Trần Ngọc Hoàn; cùng đội, cùng trại có Nguyễn Quyết Thắng, Nguyễn Nhự, Chung Gia Phong, Bùi Đức Hùng, Nguyễn Thành An, Đặng Kim Cương, Trương Hội, Phạm Đức Thịnh... Trại bên có Nguyễn Đức Phương. Bạn bè chia sẻ cho tôi thật nhiều đồ dùng và thực phẩm. Phạm Tuế tặng tôi một chiếc quần treillis còn khá mới.

Ngày 23/5/1977, chuyển ra miền Bắc trên chuyến tàu Sông Hương. Nằm trong toa xe lửa trên đoạn đường từ Hải Phòng lên bến phà Sông Hồng với toàn phân trâu phân bò, tôi cứ mãi miên man nghĩ về từng chiến hữu trong chiến khu, nghĩ thương hai thằng em bị thảm sát trong tù, về thân phận mình, về dân tộc và quê hương cơn quốc nạn.. Đôi mắt cay cay chiều xót xa ....

Người Lính Nguyễn Thế Thăng
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »

Image

Tiểu Đoàn 35 BĐQ với chiến thắng tại mặt trận Chợ Lớn Trong Đợt 2 Mậu Thân 1968


Vào năm 1993, tập đoàn Việt gian bán nước tại Hà Nội đã cho xuất bản một bộ sách có tựa là: Miền Đông Nam Bộ Kháng Chiến 1945-1975". Bộ sách này do Bộ Chính Trị, Ban Tư Tưởng cùng Quân Ủy Trung Ương Đảng chỉ đạo nội dung. Do chính Đảng ủy Bộ Tư Lệnh Quân Khu 7 và Hội Đồng Khoa Học Quân Sự QK7 "Điều nghiên soạn thảo", rồi cung do chính nhà xuất bản của cái gọi là "Quân Đội Nhân Dân" (QĐND) tại Hànội đảm trách việc in ấn, phát hành.

Trong bộ sách gồm hai tập này, lẽ dĩ nhiên báo chí đảng Mafia ở Hà nội vẫn cứ giữ một luận điệu khoác lác mãn tính. Chúng lấp liếm quanh co, bóp méo hoàn toàn lich sử để cố che đậy tội ác tầy trời mà suốt 50 năm qua chúng đa gây ra cho dân tộc Việt Nam. Cũng như chúng thổi phồng và cường điệu tối đa để đánh bóng vào biến cố 30-4-75, hầu dấu diếm sự yếu kém của QĐND trước Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sau nhưng lần bại trận, thảm bại trên khắp chiến trường miền Nam.

Điều không thể chối cai được mà từ tên Đại quốc tặc Hồ Chí Minh trước kia cho đến tên Đỗ Mười hiện nay và kẻ cả tên Việt cộng cuối cùng sau này, thì chúng đều biết rõ rằng nếu "người bạn đồng minh trùm sò" là Hoa Kỳ không rắp tâm bán đứng Việt Nam Cộng Hòa thông qua tên lái buôn chính trị H. Kissinger, thì chắc chắn không bao giờ có thể Cộng sản Hànội (CSHN) thôn tính được miền Nam bằng quân sự. Nhưng cũng vị những chiến thắng lẫy lừng đó của Quân Dân VNCH nên sau ngày cưỡng đoạt 30-4-75, bọn khát máu CSHN đã hằn hộc dùng một chính sách cai trị tàn bạo để trả thù hèn hạ lên toàn miền Nam.

Có ai đó nói rằng: "Đừng bao giờ tin một kẻ đã từng nói láo, dù kẻ ấy thề thốt là mình đang nói láo". Ấy vậy mà trong bộ sách nói láo này lại có một chương mà chúng ta phải "tạm" tin là CSHN đa nói thật. Từ trang 321, bọn tay sai hiếu chiến của Quốc tế Cộng sản đã cay đắng thú nhận là chúng đã bị thất trận nặng nề trong 3 đợt tấn công bất ngờ vào năm Mậu Thân 1968. Từ đó chúng càng thêm suy yếu vào những năm sau, khi mà QLVNCH chủ động tấn công chúng vào năm 1970 (Cambốt), và quyết liệt phản công chúng vào năm 1972 tại Quảng Tri, Bình Định, Kontum, B´inh Long.

Riêng năm 1968, bằng "3 mũi giáp công" là: "Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa - Tổng nổi dậy" tên đại quốc tặc là Hồ Chí Minh đã chỉ đạo QĐND đột kích 3 lần, nhưng cả 3 lần "vùng lên" của bọn khát máu đều bi Quân Dân VNCH đấm cho bể mặt... phải tuột xuống đến nổi tên đại quốc tặc phải ôm đắng cay mà đi tìm 2 sư phụ là Mác-Lê. "QĐND" phát động đợt 1 vào ngày 31-1-1968, đợt 2 vào ngày 5-5-1968 và đợt 3 vào ngày 17-8-1968 tại vùng ven đô, rốt cuộc chúng phải ôm đầu máu tháo chạy về rừng, để lại hàng ngàn lương dân vô tội bị chết oan uổng, cửa nhà tan nát bởi bản chất cuồng sát của tập đoàn phản dân hại nước CSHN.

Tuy đã "thành đã khai báo" như vậy trên giấy trắng mực đen nhưng bọn CSHN van còn cố vớt vát sỉ diện "cốt đột Trường Sơn" khi chúng cho rằng: "... tuy nhiên chúng ta cũng đã đánh tan và làm thiệt hại nhiều đơn vị thiện chiến của địch (!?) trong chiến dịch này..."! Miệng lưởi mồm mép của con... Vẹm nó như thế nào thì dư luận quốc tế cũng như quý chiến hưu và đồng bào đa quá hiểu rõ, cho nên chúng ta miễn "bắn" ở đây cho đở hao "đạn" mà chỉ vạch trần thêm một điêù nói láo nham nhở khác của CSHN là chúng cho rằng đã đánh tan Tiểu Đoàn 35 Biệt Động Quân trong đợt 2 năm Mậu Thân. (Sau ngày 30-4-75, chúng cho dựng một tấm "bia ghi công" tại Quận 8 Sài Gòn, bia này ghi láo là đã tiêu diệt toàn bộ TĐ35BĐQ, cũng như nhiều đơn vị BĐQ khác và phá hủy nhiều xe tăng, thiết giáp của Quân đội Hoa Kỳ!? Ai qua cầu Chữ Y, quẹo phải vòng xuống Phạm Thế Hiển cách cầu khoảng 100 mét thì sẽ thấy tấm bia này đứng âm thầm cạnh một... đống rác.

Quân và Dân VNCH nói chung, làm sao quên được nhưng chiến thắng của mình trước QĐND của CSHN nhứt là năm 1968, cũng như người dân Chợ Lớn nói riêng; làm sao mà họ có thể quên được chiến thắng oai hùng của TĐ35BĐQ do Thiếu tá Hồ Văn Hòa làm Tiểu Đoàn Trưởng. Dù địch đã chuẩn bị ky lương từ trước, tấn công bất ngờ vào lúc bất ngờ nhất là dip Tết; khi mà toàn dân đang quây quần bên bàn thờ tổ tiên và các bên tham chiến đều đồng ý không động binh. Địch điều động các đơn vị chính quy chủ lực từ cấp Tiểu đoàn, Trung đoàn đến Sư đoàn; được gián tiếp chỉ đạo bởi Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, trực tiếp điều động bởi Phạm Hùng và Đảng bộ miền Nam (Trung Ương Cục R); và cũng là lần đầu tiên CSHN xử dụng vu khí tối tân của quan thầy Nga-Tàu như: AK47, AK50, B40, B41, cối 82, 75 ly sơn pháo v.v.. Với những lợi thế áp đảo rõ rệt như vậy nhưng cuối cùng chúng phải rước lấy thảm bại vì tinh thần và khả năng chiến đấu của QLVNCH đa vượt quá sự đánh giá của chúng tại Hànội, mặc dù hầu hết các đơn vị QLVNCH trong năm 1968 chỉ được trang bi các loại vũ khí của... Đệ nhị Thế chiến như: Carbine M1, M2, Garant M1, M2, Tiểu liên Thompson v.v...

Trong đợt 2 năm Mậu Thân, Tiểu Đoàn 35 Liên Đoàn 3 BĐQ đã đảm trách một địa bàn giao tranh rộng lớn từ các Quận: 5, 6, 7, 8, 11 và Tiểu Đoàn được mệnh danh là đàn cọp đen của binh chủng Mũ Nâu phải chiến đấu với một nghiêm lệnh gay go của chính Thủ Tướng Trần Văn Hương là:

(A) Phải đánh bật VC ra khỏi địa bàn Chợ Lớn trong vòng 5 ngày.

(B) Không được xử dụng hỏa lực nặng để giảm thiệt hại về nhà cửa của lương dân.

(C) Phải tránh tệ trạng chiếm đoạt tài sản giá trị của đồng bào do các binh sĩ trong đơn vị gây ra.

Mặc dù chiến thuật "tác chiến trong thành phố" là sở trường của binh chủng BĐQ, nhưng khi phải áp dụng chiến thuật này với những nghiêm lệnh đã nêu trên thì đó là một bài toán hóc búa cho toàn đơn vị. Tuy nhiên những trở ngại ấy cuối cùng đều được giải tỏa nhờ vào các quyết định chính xác và hợp lý của người chỉ huy ngay tại mặt trận, đó là con manh hổ đầu đàn của TĐ35 BĐQ, người Tiểu Đoàn Trưởng trẻ nhất của QLVNCH khi về nhận TĐ35 BĐQ trước đó hai năm thì tuổi đời mới chỉ 25 mà thôi. Tiểu Đoàn Cọp Đen 35 BĐQ là đơn vị duy nhất của binh chủng Mũ Nâu dùng khăn quàng cổ màu đen, một màu vừa mang ý nghĩa đem đến tóc tang cho Việt cộng, cũng vừa là để tưởng nhớ Đại úy Trinh, Trưởng phòng 2 Sư Đoàn 22 BB đao tử trận năm 1962, là người thành lập đơn vị Biệt kích mà Thiếu tá Hòa từng là Chỉ huy trưởng đơn vị này tại Tây Nguyên.

Trong tầm nhìn chung thì chiến thắng của QLVNCH trong năm Mậu Thân là một trong nhưng chiến thắng lớn lao mà cả hai miền Nam Bắc lẫn Hoa Kỳ không thể phủ nhận được. Thế nhưng đến hôm nay trong hàng ngũ của chúng ta vẫn còn một thiểu số đồng đội đã nhiìn chiến thắng này với sự suy luận thiển cận, dựa theo bài vở của bọn nhà báo ngoại quốc bất lương đa từng lộn trái sự thật của Quân Dân VNCH trước hiểm họa Cộng sản. Lối nhận xét của đồng đội chúng ta như sau: "... Sở dĩ chúng ta thắng bọn VC năm 1968 là bởi vì bọn đầu sỏ ở Hànội muốn "mượn tay" của QLVNCH để thanh toán giúp chúng hàng chục ngàn tên du kích miền Nam đang là một trờ ngại lớn lao cho Quân Đội Nhân Dân..."!

Chiến hữu nào không tin thì hay đọc phần lời tựa của ông Nguyễn Đạt Thịnh viết trong cuốn "Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975" của ông Phạm Huấn. Từ trang 15 đến 16 và đến phần cuối, ông Nguyễn Đạt Thịnh viết ro như sau: "... Nói trắng ra là quả chanh du kích đa bị vắt hết nước, đa đến lúc vô dụng. Trận Mậu Thân chỉ là hành động của bọn lanh tụ chiến lược Bắc Việt ném đi cái vỏ chanh..."!? Với lối suy luận như trên vô tình, hai ông Nguyễn Đạt Thinh và Phạm Huấn đã hạ thấp vai trò và khả năng chiến đấu của QLVNCH, phản bội lại sự hy sinh cao cả của bao chiến sĩ và hàng ngàn đồng bào vô tội đao nằm xuống bởi súng đạn của Nga-Tàu. Ông Nguyễn Đạt Thịnh cho rằng lực lượng du kích là một gánh nặng cho Hà Nội trong việc phải vận chuyển lương thực từ Bắc vào Nam để nuôi số du kích này!?

Thực ra trong suốt cuộc chiến, thành phần du kích và chủ lực tỉnh đều hoàn toàn sống nhờ vào lượng thực phẩm ngay chính địa phương chúng lén lúc hoạt động, nhờ vào các cơ sở, bọn kinh tài và chính bà con giòng họ của chúng tiếp tế bằng nhiều cách. Riêng ông Phạm Huấn, người viết bài này xin trích dẫn nhưng nơi ông viết không chính xác trong các cuốn "Trận Hạ Lào 1971" và "Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975". Trong trận Hạ Lào, Tiểu Đoàn 21 BĐQ không hề bị VC đánh tan như ông đa viết ở các trang 107 và 146.

Sau khi TĐ35 BĐQ bi tràn ngập thì đến ngày 25-2-71 toàn bộ TĐ21 BĐQ được 30 trực thăng vận chuyển về Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn 1 BĐQ tại căn cứ Phú Lộc ở Tà Bạt trong kế hoạch "ZULU 1". Riêng Đại đội 1 TĐ 21 thì trực thăng "bốc và đổ" tạm xuống đồi 30 của Tiểu Đoàn 2 Nhảy Dù vì toán trực thăng cần phải quay lại căn cứ Ranger South để bốc phần còn lại của TĐ 21. Tôi cùng ĐĐ 1 bị kẹt lại tại đồi 30, cùng chiến đấu với anh em Nhảy Dù cho đến ngày 28-2-71 mới được trực thăng bốc về Tà Bạt, và TĐ21 BĐQ không hề tan hàng như ông đã viết. (xem cuốn Tử Thủ Căn Cứ Hỏa Lực 30 của ông Trương Duy Hy).

Riêng trong cuốn "Nhưng Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975", người viết xin minh xác rằng đơn vị cuối cùng của Quân Đoàn 1 rời khỏi Quảng Tri là Đại đội 14 Thám Kích Biệt Động. Chúng tôi rời khỏi Hải Lăng Quảng Tri vào ngày 22-3-75 mặc dù ờ Quảng Trị Cộng quân chưa xuất hiện, ngày 25-3-75. Chúng tôi vào thành phố Huế lúc 1 giờ sáng và cũng chẳng hề thấy tên VC nào ló dạng dù toàn thành phố không một bóng người. Sau đó toán Đại đội 14 Thám Kích Biệt Động chuyển quân sang Tư Hiền, tại đây đơn vị đa chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và bị bắt cùng hàng ngàn chiến sĩ khác vào đêm 27-3-75 (xem Tháng 3 Gay Súng của Cao xuân Huy).

Trong nhưng cuốn sách của ông Phạm Huấn, có thể thiếu tài liệu, hoặc dựa vào tài liệu của ngoại quốc nên có rất nhiều điều thiếu chính xác, đưa đến nhưng tầm nhìn bất lợi cho QLVNCH. Nếu thế hệ mai sau muốn tìm hiểu về cuộc chiến huynh đệ tương tàn này. Riêng đối với Nguyệt san KBC, thì người viết xin góp ý như sau: xin tòa soạn nên cẩn trọng xem lại từng bản thảo trước khi cho in ấn, đừng vì thấy cái tên mà tin tưởng ở nội dung bản thảo rồi cho in, đưa đến việc gần đây trên KBC số 14 có hai bài viết mang tính cách sỉ nhục người quá cố và lăng mạ đến quân binh chủng khác của QLVNCH. Trong bài "Tưởng Niệm Lưu Kim Cương - Khi Đại Bàng Gay Cánh" của ông Phạm Huấn, bài viết này mới đọc thoáng qua thì cứ tưởng đó là bài ca tụng vị cố Chuẩn tướng đa vị quốc vong thân, nhưng nếu tinh ý hơn thì người đọc se thấy bài này là cả một sự sỉ nhục cho vong linh của cố Chuẩn tướng Lưu Kim Cương. Cả bài viết không hề có một đoạn nào nói về nhưng công lao và thành tích chiến đấu của cố Chuẩn tướng Lưu Kim Cương tại chiến trận, mà chỉ toàn nói về các nơi ăn chơi như vu trường, phòng trà.

Thế rồi cũng chỉ có "ca sĩ và vũ nữ" những người "làm đẹp thành phố về đêm"(!?) mới nhớ thương người đa chết! Khi Hà Huyền Chi đọc bài thơ "Tên Mày Là Đá Quý" thì bị phản đối, duy nhất chỉ có vị nữ lưu mới hiểu nhưng sâu sắc của chữ nghĩa, còn các vị sĩ quan, tướng lãnh có mặt hôm đó đều là hạng dốt đặt hết hay sao hả ông Phạm Huấn? Cũng trong KBC số 14, không hiểu nhà văn Phan Nhật Nam vì lẽ gì mà đã nguyền rủa và thóa mạ anh em chiến hưu thuộc Địa Phương Quân và Nghĩa Quân, khi ông hằn hộc viết là mình bị kẹt trong guồng máy "tầm thường hèn mọn", bị trói chân buộc tay, phải nhận lệnh từ các "sĩ quan đặc ước, cựu Binh sĩ, Hạ sĩ quan của Quân đội Thuộc địa" (xin quý vị đọc lại bài "Người Lính VN: Một Nhiệm Mầu").. Xin ông Phan Nhật Nam nhớ lại rằng, trong cuộc chiến đấu chống lại CSHN, thi´ Quân Dân VNCH từ người Nhân Dân Tự Vệ cho đến Cảnh Sát, Quân Cảnh v. v... tất cả mọi ngành nghề trong QLVNCH, ai cũng có nỗi khổ nhọc riêng trên từng vị trí chiến đấu của mình, huống gì các anh em đồng đội Địa Phương Quân, Nghĩa Quân là nhưng người lính âm thầm và chịu đựng gian khổ rất nhiều, nhưng chưa hề có ai viết bài để ca ngợi công lao của họ. (Dù cuối bài viết này ghi là tháng 10-72, nhưng KBC cung không nên đăng như vậy).

Bây giờ chúng ta hay trở lại trận Mậu Thân năm 1968; khi mà chính Tập Đoàn Việt Gian Bán Nước hiện nay tại Hà nội đã thú nhận là chúng đã thua trận thảm bại trong cuốn "Miền Đông Nam Bộ Kháng Chiến 1945-1975", thì ngay trong hàng ngũ của chúng ta lại có người phủ nhận chiến thắng đó. Người viết xin đoan quyết rằng trong 3 đợt tấn công của Cộng quân vào năm 1968, QLVNCH đao chiến đấu đến cùng khắp 4 Quân Khu và họ cũng chẳng thấy một tên du kích chân đất nào cả. Không biết hai ông Phạm Huấn và Nguyễn Đạt Thịnh sẽ nghĩ sao nếu bài viết này nêu ra một đơn vị điển hình của QLVNCH trong đợt 2 Mậu Thân đã đụng độ với các đơn vị chính quy, chủ lực miền của CSBV. Đó là Tiểu Đoàn 35 Liên Đoàn 3 BĐQ do Thiếu tá Hồ Văn Hòa làm Tiểu Đoàn Trưởng, kiêm nhiệm chức Chỉ Huy toàn bộ Mặt Trận Chợ Lớn gồm nhiếu Quận nội đô; Tiểu Đoàn này đã đánh tan 2 Tiểu Đoàn chính quy của cái gọi là QĐND là TĐ267 và TĐ268 thuộc Trung Đoàn 2 Sư Đoàn 9 CSBV.
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Image

SƯ ĐOÀN 9 BỘ BINH QLVNCH
ĐÔI DÒNG TIỂU SỬ

Theo như tài liệu của Ban Quân sử và Thông Tin Báo Chí Sư Đoàn thì Sư Đoàn 9 Bộ Binh được thành lập vào ngày 9 tha'ng 1 năm 1962 tại Qui Nhơn, Trung phần Việt Nam. Sau thời gian tổ chức, phối trí và huấn luyện tại Dục Mỹ, Ninh Hoà, Nha Trang, Bộ Tư lệnh đầu tiên di chuyển về đồn trú tại căn cứ Bà Gi, thuộc quận Phù Cát tỉnh Bình Định. Trung đoàn 13 đồn trú tại Quy Nhơn, Trung đoàn 14 tại Phù Cát và Trung đoàn 15 tại An Khê . Trách nhiệm chính của Sư Đoàn bấy giờ là bảo vệ An ninh lãnh thổ vùng Bắc Bình Định từ đèo Mang Giang, Phù Cũ đến Tam Quan, Bồng Sơn. Vị Tư lệnh đầu tiên của Sư Đoàn là Trung Ta' Bùi Dzinh ( sau la` Dai Ta). Các vị Tư lệnh tiền nhiệm khác là Đại Tá Đoàn Văn Quảng ( sau la` Thieu Tuong ), Thiếu Tướng Vĩnh Lộc ( tức Trung Tướng Vĩnh Lộc ), Chuẩn Tướng Lâm Quang Thi ( tức Trung Tướng LQT ). Thiếu Tướng Trần Bá Di, và vị Tư lệnh cuối cùng là Chuẩn Tươ'ng Huỳnh văn Lạc.


Không lâu sau đó, do tình hình chiến trường đòi hỏi, Sư đoàn 9 BB được di chuyển về vùng đồng bằng sông Cửu Long. Bộ Tư lệnh đồn trú tại Sa Dec. Trong biến cố 1.11.1963, Sư Đoàn 9 BB là đơn vị duy nhất đưa quân về tiếp cứu thủ đô Sài Gòn nhưng nhiệm vụ đã không hoàn thành . Năm 1972, hậu cứ Sư Đoàn một lần nữa được dời về Vĩnh Long, tiếp nhận phi trường Vĩnh Long tức là trại Nguyễn Viết Thanh, được bàn giao lại từ quân đội Hoa Kỳ.

Lực lượng cơ hữu của Sư Đoàn 9 BB gồm có:

- Các Trung đoàn 14, 15, và 16 bộ binh là những đơn vị bộ binh nòng cốt với các tiểu đoàn bộ binh và đại đội trinh sát, trực tiếp chiến đấu, tham dự vào các cuộc hành quân ngoài chiến trường. Trung đoàn 14 có hậu cứ tại Vĩnh Bình . Trung đoàn 15 sau khi di chuyển từ miền Trung vào Mỹ Tho đến Long Xuyên, rồi cuối cùng đồn trú tại Đám Lác, Sadec, và Trung đoàn 16 tức tiền thân của Trung đoàn 13, đồn trú tại Long Hồ, Vĩnh Long.

- Các đơn vị pháo binh của Sư đoàn gồm có Tiểu đoàn Pháo Binh 90, 91, 92 và 93. Các Tiểu đoàn 90, 92 và 93 Pháo binh có hậu cứ tại Vĩnh Long . Tiểu đoàn 91 đồn trú tại Sadec, sau đó cùng dời về Trại Nguyễn Viết Thanh theo BTL Sư Đoàn . Các đơn vị Pháo Binh của Sư đoàn được trang bị đại bác 105 ly, riêng Tiểu đoàn 90 Pháo binh dược trang bị các khẩu đội 155 ly .

- Thiết đoàn 2 Kỵ Binh có hậu cứ tại Vĩnh Long gồm các thiết vận xa M113, đặc biệt dùng cho chiến trường đầm lầy và sông rạch vùng châu thổ sông Cửu Long, đã nhiều lần gây khiếp sợ cho địch quân, đặc biệt là trong các cuộc hành quân ven biên và giúp quốc gia bạn trên lãnh thổ Chua` Tha'p.

- Ngoài ra Sư đoàn còn có các đơn vị chuyên môn yểm trợ khác là Tiểu đoàn 9 Quân Y có các bệnh xá và bệnh viện với đầy đủ thuốc men và dụng cụ để điều trị khẩn cấp Thương binh từ chiến trường, được điều hành bởi các Quân Y- Nha, Dược sĩ lành nghề, đào tạo từ Trường Đại Học Y-Khoa Sài Gòn và ngoại quốc .

Tiểu đoàn 9 Truyền tin được mênh danh là thần kinh hệ của chiến trường, được trang bị máy móc tối tân gồm cả các hệ thống Rada để điều khiển chiến đấu ngoài trận tuyến và liên lạc giữa Sư đoàn và các đơn vị tại hậu phương .

Tiểu đoàn 9 Công Binh có nhiệm vụ lập đồn luỹ, thiết lập an ninh trên các trục lộ hành quân, đặc biệt với công tác dân sự vụ như tu sửa những hệ thống giao thông mới .

Tiểu đoàn 9 Tiếp vận có nhiệm vụ cung cấp quân trang, quân dụng vũ khí, đạn dược, và đặc biệt là nhiên liệu cho các dơn vị cơ hữu.

- Các Đại Đội Vận Tải cung cấp nhu cầu phương tiện di chuyển đổ quân bằng đường bộ đến khắp các chiến trường trực thuộc Sư đoàn . Đại Đội Trinh Sát 9 là đại đội thám kích và thám báo, gồm những chiến sĩ quả cảm và kiên cường,trực tiếp điều động bởi Tư lệnh Sư đoàn, có nhiệm vụ hành quân đặc biệt về an ninh và chiến sự tùy theo nhu cầu chiến trường đòi hỏi . Đại Đội 9 Tổng Hành Dinh và Đại Đội công vụ lo về an toàn hậu cứ và hậu sự của những chiến hữu đền nợ nước . Sau cùng cũng phải kể đến Đại Đội 9 Quân Cảnh được thành lập từ sau năm 1972, có nhiệm vụ duy trì an ninh trật tự kỷ luật tại hậu cứ cũng như tiền phương .

NHUNG CHIEN TíCH ĐÁNG GHI NHỚ

Thời gian những năm 1964 đến 1970, Sư Đoàn 9 BB chịu trách nhiệm khu 41 Chiến Thuật, gồm các tỉnh Vĩnh Long, Vĩnh Bình, An Giang và Sa Dec. Sau năm 1970, Sư Đoàn 9BB không còn chịu trách nhiệm an ninh lãnh thổ nữa mà trở Thành lực lượng cơ động nòng cốt của Quân Đoàn IV/QLVNCH, sẵn sàng yểm trợ bất cứ nơi nào trong lãnh thổ Quân Khu 4. Các chiến thắng mang lại tiếng tăm cho SD9BB là cuộc hành quân mang tên LONG PHI, đặc biệt tại vùng Lưỡi Câu, Mỏ Vẹt nằm sát biên giới Việt Miên vào cuối năm 1969 và đầu năm 1970, và các cuộc hành quân LONG PHI khác, càn quét hậu cần Cộng Quân tại Ba Thu, đa'nh tận các sào huyệt, triệt đường chuyển quân và tiếp vận của chúng cho công trường 9 CSBV mưu toan xâm nhập đồng bằng Cửu Long. Cũng trong năm 1970, SD9BB là một trong những đại đơn vị đem quân đánh tận ổ Cộng quân ngay trên lãnh thổ Căm-Bốt, khiến suốt một giải hai bên bờ biên giới từ Hà Tiên, Kiên Giang đến sát lãnh thổ Quân đoàn III/Quân Khu 3 VNCH, an ninh lãnh thổ hoàn toàn bảo đảm. Từ đo' Sư Doàn 9BB được mênh danh là Sư Doàn Mũi Tên Thép vì phù hiệu của Sư đoàn gồm số 9 với hai phần xanh đỏ, cùng với mũi tên hướng về phía bắc tượng trưng cho công cuộc Bắc tiến, đánh tan tập đoan Cộng đỏ, mong khôi phục đất nước về một mối. Vơ’i những thành ti’ch và công trạng trong sư’ mạng chiê’n đâ’u bảo vệ Quê hương và đồng bào , SD9BB được tuyên dương công trạng trươ’c Quân Độị .Quân kỳ Sư Đoàn 9 và ca’c chiê’n sĩ được mang dây biểu chương màu Tam hợp Bảo Quô’c . Nam 1971 Trung doàn 16 bộ Binh đã ổn định vùng Thâ’t Sơn huyền bi’ Châu Đô’c và cũng năm đo’ Trung đoàn 15 BB đã ta’i lập an ninh vùng Ba Hòn gồm Hòn Dâ’t Hòn Me, Hòn So’c , đuổi CQ ra khỏi cư’ địa hiểm trơ Mo So thuộc vùng Kiên Lương. Kiên Giang Mùa Hè năm 1972, Trung đoàn 15 thuộc Sư Đoàn 9BB được vinh dự tăng phái cho lực luợng giải tỏa An Lộc và là một trong những đơn vị bắt tay với đơn vị tử thủ của Tướng Lê Văn Hưng. Người hùng chỉ huy chiê'n đoàn 15 này là Đại Tá' Hồ Ngọc Cẩn, người đã anh dũng chống lại quân Cộng sản tại Chương Thiện đến viên đạn cuối cùng sáng ngày 1 tháng 5.75. Sau đó, chúng đã hèn nhát đem xử tử ông tại sân vận động Cần Thơ, nhưng ông vẫn anh dũng hiên ngang tự hào không tỏ chút sợ sệt khiến bọn CS hèn hạ cũng phải e dè kiêng nể, công nhận là một trang anh hùng bất khuất và can trường.

NHUNG NGAY CUOI CUOC CHIẾN

Chiến trường vùng đồng bằng sông Cửu Long vào những ngày gần cuối cuộc chiến phải nói là thật yên tĩnh nếu không nói là CQ đã bị đại bại khắp nơi trên lãnh thổ Quân khu 4, và cũng có thể nói là chúng không còn lực lượng nữa vì phải bổ sung tăng phải cho các mặt trận khác đang hồi quyết liệt. Mà thật vậy, vùng cửa sông Chín Rồng thì các chiến sĩ Sư đoàn 7BB đang làm chủ tình hình. Vùng miệt Cà Mau, U Minh Chương Thiện thì các chiến sĩ Sư Đoàn 21 Sét Miền Tây cũng không cho bọn Cộng ăn yên ngủ ngon bằng những cuộc hành quân liên tiếp. Riêng mặt trận vùng Tây Bắc Quân khu 4, sát biên giới Việt Miên như Kiến Phong, Kiến Tường thì các chiến sĩ Sư Đoàn 9 BB đang trên đà chiến thă'ng.

Vào cuối năm 1973 và đầu 1974, Trung đoàn 14 BB do Đại Tá Lê Trung Thành làm trung đoàn trưởng đã thu đoạt mt chiến thắng lẫy lừng tại vùng Đồng Tháp Mười, đánh tan tác một trung đoàn địch, tịch thu một số lượng lớn vũ khí cá nhân và cộng đồng đủ loại, đồng thời cũng phá hủy và tịch thu một số lượng lớn lương thực lúa gạo của chúng. Sau chiến thắng này, Tổng Thống VNCH cùng Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH đã dùng trực thăng xuống tận trận địa thuộc quận lỵ Mỹ An nằm sâu trong vùng Tháp Mười để thị sát chiến trường, xem xét chiến lợi phẩm và ủy lạo tinh thần anh em chiến sĩ.

Trước tháng 4 năm 75 không xa, một đơn vị Khác của SD9BB cũng đã đột nhập một mật khu khác của Cong quân tại vùng Mộc Hoa', Kiến Tường và đã khám phá và tịch thu một hầm chôn dấu vũ khí khổng lồ của chúng với hàng ngàn súng đạn đủ loại còn mới tinh nằm trong bọc giấy dầu chưa khui. Những vũ khí đạn dược này đều mang nhãn hiệu Tàu cộng và Nga cộng và khối Cộng sản Đông Âu.

Trước tình hình biến chuyển quá bất ngờ tại Quân Khu 1 và Quân Khu 2 cùng một số nơi tại QK3, các chiến sĩ SD9BB vẫn can trường giữ vững tay súng, bảo đảm an ninh tuyệt đối cho đồng bào miền Tây. Quốc lộ 4, con đường huyết mạch vẫn nhộn nhịp xe cộ như thuở tha'i bình. Khu vực hoạt đông của SD9BB lúc này trải rộng từ Kiên Giang (Rạch Giá), Châu Đốc, Kiến Phong (Cao Lãnh, Đồng Tháp Mười), Kiến Tường (Mộc Hoá) đến Định Tường (Mỹ Tho). Ngoài hậu cứ chính tại phi trường Vĩnh Long (Trại Nguyễn Viết Thanh), Sư Đoàn còn một Bộ Chỉ Huy Nhẹ tại Mộc Hoá và một Bộ Tư lệnh hành quân tại Mỹ Tho.

Sáng ngày 30 tháng 4, mặc dù lệnh đầu hàng của tướng Dương văn Minh được loan ra trên đài phát thanh Sài Gòn, Quân Khu 4 vẫn yên lặng vì Quân Đoàn chưa tỏ thái độ . Trên không phận Vĩnh Long, đây đó vài chiếc trực thăng và máy bay loại nhẹ VNCH không biết từ đâu tới đảo lượn vài vòng rồi lại nhắm hướng khác bay đi như vào nơi vô định. Trong khi đó, các chiến sĩ SD9BB, một mặt thiêu hủy những tài liệu mật quan trọng, mặt khác vẫn giữ chặt tay súng trên hầu hết các mặt trận xung yếu, đặc biệt là chận đứng mưu toan của cộng quân nhằm cắt quốc lộ 4 tại Tân An . Trước đó, vào đêm ngày 29 tháng 4, cộng quân pháo kích vào phi trường Vĩnh Long, hậu cứ của SD9BB, nhưng đã bị các khẩu đi pháo 105 và 155 ly của SD9 khóa họng tức thì. Chiều tối và suốt đêm 30.4, tại Bộ Chỉ Huy Tiền Phương ở Mỹ Tho, Chuẩn tướng Huỳnh Văn Lạc cùng toàn bộ Ban Tham Mưu vẫn túc trực tại Trung Tâm Hành quân để theo dõi tình hình và chỉ huy con cái sẵn sàng phản công địch khi cần, dù đã có bóng vài tên CQ lảng vảng trong thành phố và mặc dù chúng đã bắt liên lạc được với tần số truyền tin của ta và khoác lác thuyết phục chúng ta đầu hàng. Đến rạng sáng ngày 1 tháng 5 thì liên lạc với Quân Đoàn bị gián đoạn hẳn (lúc này là lúc các tướng Nguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng đã anh dũng đền nợ nước bằng cách tự xử mình đ' tròn tiết tháo của vị tướng da ngựa bọc thây). Tiếp đó thì liên lạc vô tuyến và điện thoại giữa Bộ Chỉ Huy Nhẹ Tiền Phương và Hậu cứ cùng các đơn vị hành quân và cơ hữu trực thuộc cũng gián đoạn. Đây là giây phút đau lòng nhất cho các chiến sĩ Quân Đoàn IV/QK4 nói chung và SD9BB nói riêng vì bỗng dưng không đánh mà tan. Có thể nói, suốt mười ba năm kể từ ngày thành lập vào năm 1962 đến ngày này, vinh nhục đều có, nhưng chưa lần nào một đơn vị như SD9 BB lại lâm vào tình thế khó khăn như lần này. Tại Bộ Tư lệnh Tiền Phương, Chuẩn Tướng Huỳnh Văn Lạc đã an ủi chia tay các chiến hữu và ông đã ở lại đơn vị đến giây phút cuối cùng. Tại hậu cứ Vĩnh Long, mãi đến 8 giờ sáng ngày 1.5 mới có một toán du kích chừng 6,7 tên ăn mặc luộm thuộm, với vài ba cây súng đi chuyển bằng xe lambretta 3 bánh ngơ ngác vào giữ cổng trại Nguyễn Viết Thanh.

Kể từ Tháng 4 ngày ấy đến nay thấm thoát đã gần ba chục năm . Trải qua bao biển lâu của vận nước tang thương . Hôm nay nơi xứ người, dat tạm dung, những người lính đã một thời năm xưa cầm súng bảo vệ quê hương lại có dịp tề tựu bên nhau để ôn lại những chiến công quá khứ và làm bài học cho lớp trẻ hậu thế . Chúng ta không khỏi bùi ngùi nhìn lại những mái tóc đã điểm sương, hay bạc xoá hiện diện nơi đây nhưng cũng không quên những đồng đội đã ra đi vĩnh viễn trên chiến trường, trong các trại lao tù CS, trên đường tìm tự do hay nơi nào đó trên đất nước VN và nhũng chiến sĩ vô danh khác đang còn đầy đoạ nơi nào đó trên quê hương chưa sạch bóng thù .

Nguyễn Phùng
http://tinypic.com/dcg9ox.jpg
http://tinypic.com/dcgagz.jpg
http://tinypic.com/dcgc54.jpg
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image


30 năm nhìn lại cuộc chiến: Trả thù


Người Không Tên


Gần 30 năm mất nước chắc chắn không ai biết anh Trung Đội Trưởng Nghĩa Quân NGUYỄN VĂN TẠO thuộc Tiểu Khu Hậu Nghĩa đã chết do Việt Cộng trả thù. Nhưng hôm nay nói đến sự kiện ấy, có ai còn tin là sự thật đã như thế không ? Cho dù tin hay không, tôi vẫn cố gắng ghi lại để tưởng nhớ vong linh người chiến sĩ nông thôn đã chết cho lá cờ vàng ba sọc đỏ.

Chiều 30 tháng 4 năm 1975, một buổi chiều ảm đạm thê lương bao trùm khắp miền Nam yêu dấu. Vùng trời Hậu Nghĩa có mưa rơi lác đác tạo thêm cảnh buồn da diết. Quân cán chính tỉnh Hậu Nghĩa rã hàng, đường ai nấy thoát. Riêng anh Nguyễn Văn Tạo, Trung Đội Trưởng Nghĩa Quân đồn trú tại đồn nằm ngay trên trục lộ giao liên của Việt Cộng thuộc tỉnh lộ số 8 giữa ấp Xóm Cũ và Giồng Giáng. Từ khi trung đội của anh Tạo chuyển về đồn trú ở đây, anh khóa chặt đoạn giao liên của VC. Trung đội của anh đã diệt khá nhiều cán bộ và du kích hạ tầng cơ sở của chúng thuộc hai ấp Xóm Cũ và Giồng Giáng. Do đó chúng căm thù, treo án tử hình anh. Chiều 30 tháng 4 năm 1975 anh cho anh em binh sĩ rã hàng, tự tìm cách thoát thân. Phần anh, anh quyết định ở lại đồn để tùy cơ ứng phó. Ngay thời điểm đó, bọn du kích địa phương ấp Xóm Cũ do Út Sẻ chỉ huy kéo đến bao vây đồn để bắt anh xử tội.

Một mình anh không thể chống cự nổi với hơn một trung đội địch, anh đành phải tháo chạy tìm cái sống trong cái chết dưới lằn đạn AK độc ác. Thoát ra được khỏi đồn, anh băng ngang qua ấp Xóm Cũ, đến Bào Heo rồi băng ngang qua đường mòn chạy vào ấp Thôi Môi. Anh đuối sức, nhìn lại phía sau, thấy bọn VC đuổi gần kịp, hơn nữa anh không thể tiếp tục chạy được nữa vì bọn du kích ấp Thôi Môi đã khóa chặt đường thoát. Do đó anh chạy thẳng vào nhà mẹ tôi ở đầu ấp Thôi Môi, cách ngã ba đường mòn khoảng 400m. Lúc đó mẹ và anh tôi đang làm ở bên ngoài, mẹ tôi quét lá, anh tôi đốn (chặt) tre. Thấy vậy, mẹ tôi và anh tôi bỏ lửng công việc, chạy nhanh vào nhà bảo anh Tạo chui vào cái bồ lúa nằm im (cái bồ lúa chỉ còn 1/3 lúa thôi). Mẹ tôi lấy hết mười tấm đệm phơi lúa đậy kín toàn thân anh lại. Nhanh như chớp, mẹ và anh tôi trở ra bên ngoài tiếp tục công việc như cũ. Chỉ cách vài giây đồng hồ thì bọn VC ào tới quát tháo gọi mẹ tôi và anh tôi vào trước sân nhà hạch hỏi: “Thằng ngụy chạy vào đây, nó chui trốn chỗ nào ? “Mẹ và anh tôi trả lời: “Không biết, không thấy vì hai mẹ con tôi đang làm ở bên ngoài !” Út Sẻ quát nạt: “Thím và thằng Năm giấu nó ở đâu, phải lôi cổ nó ra nộp cho Cách Mạng trừng trị nó. Nếu thím và thằng Năm ngoan cố che giấu nó trong nhà thì phải chịu hoàn toàn trách nhiệm với Cách Mạng”. Mẹ và anh tôi vẫn cương quyêát lập lại câu trả lời lúc nãy: “Không biết ! Không thấy !”. Út Sẻ: “Mẹ con thím vẫn ngoan cố, nếu Cách Mạng bắt được nó ngay trong căn nhà của thím thì mẹ con thím tính sao với Cách Mạng ?”. Mẹ tôi nổi giận trả lời: “Tôi không biết, không thấy, mẹ con tôi là dân, Cách Mạng muốn xử thế nào là tùy ở Cách Mạng !”

Út Sẻ nghe mẹ tôi nói càng thêm sôi máu giết người, hắn quát tháo: “Mẹ con thím lừa dối Cách Mạng, Cách Mạng không thể tha thứ !” Vừa dứt lời, hắn ra lệnh cho bọn du kích xông vào trong nhà lục soát kỹ không chừa một hóc, kẹt nào. Bước tới bồ lúa, chúng bốc hết mười tấm đệm phơi lúa lên thì thấy anh Tạo. Sự việc diễn biến quá nhanh nên anh chưa kịp phản ứng thì chúng đã dí súng bắt sống, trói quặp lôi ra khỏi bồ lúa dẫn ra sân. Út Sẻ hỏi mẹ tôi : “Ai đây mà mẹ con thím cố tình lừa dối Cách Mạng. Tội của mẹ con thím ngang bằng tội của thằng ác ôn này”. Nói xong, Út Sẻ hạ lệnh cho bọn du kích lôi thếch anh Tạo hướng về cửa ngõ nhà mẹ tôi. Hai tay anh bị trói quặp lại sau lưng, miệng và hai mắt bị bịt kín. Không thể nào chống cự nổi với những báng AK nện tới tấp vào thân người anh. Đến đầu ngõ, chúng dừng lại, Út Sẻ phát loa thông báo cho dân ấp Thôi Môi biết rằng chúng vừa bắt sống được tên ngụy ác ôn, ngoan cố chống lại Cách Mạng, không chịu buông súng đầu hàng, Cách Mạng phải xử tử để làm gương. Tiếng loa vừa dứt thì một loạt AK nổ dòn. Những viên đạn ác nghiệt phát ra từ nòng súng của Út Sẻ đã kết liễu cuộc đời một chiến sĩ nông thôn oai dũng. Anh Tạo đã từ biệt Hậu Nghĩa thân yêu, đền xong nợ nước vào lúc 18 giờ 30 chiều 30-1975.

Anh Tạo nằm xuống trong âm thầm lặng lẽ. Đồng đội không ai hay biết. Dân chúng thờ ơ, lảng tránh vì sợ vạ lây, chỉ có mẹ và anh tôi tận mắt chứng kiến thảm kịch từ đầu đến cuối. Anh Tạo chết đi bỏ lại đàn con thơ dại với vợ hiền nghèo khổ, quanh năm đội nắng, phơi mưa làm mướn nuôi con ở ấp Giồng Ngang thuộc xã Hòa Khánh, Đức Hòa, Hậu Nghĩa.

Trả thù xong, có lẽ Út Sẻ đã quá hài lòng nên vội vã ra lệnh đồng bọn rút nhanh trở về ấp Xóm Cũ, không quay vào nhà để trừng trị mẹ và anh tôi như lời hắn đe dọa lúc nãy. Nhưng kể từ ngày giờ ấy đến mãi về sau nầy, mẹ và anh tôi bị cô lập hoàn toàn trong cuộc sống đến nỗi không mua được một giọt dầu lửa để thắp đèn, vì chúng ghép vào thành phần phản động. Nếu như việc trả thù không kéo theo những chuỗi dài éo le, uẩn khúc thì người sống, kẻ chết dần đà sẽ khuây nguôi theo năm tháng. Nghịch lý thay, trớ trêu thay, người chết thì hồn oan vất vưởng, hận oán thiên thu, vợ con vô vàn khổ ải. Còn kẻ giết người, độc ác vô nhân thì được hưởng những lợi lộc, giàu có vinh thân.

Sau ngày 30-4-1975, đứa con trai của Út Sẻ được chuyển về làm công an của quận 8 thành phố Sàigòn. Tên này tổ chức vượt biên đường biển để hốt vàng. Đến 1978 thì chuyện ấy bị đổ bể vì ăn chia không đều, nhưng riêng cá nhân hắn thì đã hốt được vàng ký. Nếu hắn không tìm cách thoát thân thì sẽ bị ở tù, do đó hắn trà trộn vượt biên cùng chuyến với những thuyền nhân dân sự khác. Chuyến đi đường biển thuận buồm xuôi gió. Sau đó hắn được nhận cho định cư ở một nước thứ ba, nước nào không ai được rõ vì hắn cố giấu kín, không cho ai biết hắn đang sống ở nước nào. Đến năm 1984 thì hắn bảo lãnh cha ruột là Út Sẻ. Thế là Út Sẻ ra đi theo diện đoàn tụ, thoải mái, ung dung tận hưởng những thứ mà ở các nước tự do chỉ dành cho những người bị tước đoạt quyền sống. Đúng là cha con Út Sẻ đã cướp đi của anh Tạo tất cả mọi thứ trên cõi đời nầy.

Gần 30 năm, tâm tư tôi không lúc nào được yên ổn bởi cảm thương trước cái chết oanh liệt của anh Tạo, người chiến sĩ nghĩa quân gan lì của Tiểu Khu Hậu Nghĩa. Từ đó càng thêm oán hận Út Sẻ dã man, tàn bạo, kẻ ngậm máu phun người, tội đồ của dân tộc mà chúng đã và đang được tận hưởng mọi thứ ở một nước tự do dân chủ.

Xin cầu nguyện cho Chiến Sĩ Nghĩa Quân Kiên Cường bất Khuất Nguyễn Văn Tạo.


Trích Đặc San Hậu Nghĩa
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

30 Tháng Tư

Nguyễn Thụy Long


Đầu xuân năm Ất Dậu 2005

Lại sắp đến ngày 30 tháng Tư, trên đất nước tôi nhà cầm quyền phát động ì xèo kỷ niệm ngày “chiến thắng vĩ đại, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”. Từ cả tháng trước, ngày nào người ta cũng nhắc đến chiến thắng ấy của dân tộc, phỏng vấn những tướng lãnh chỉ huy trận đánh về chiến lược, chiến thuật, những chiến sĩ anh hùng, tất cả đều được đưa lên báo đài, cả những trang web bay đi khắp thế giới. Buổi sáng tôi dậy sớm nghe đài nước ngoài, chương trình Việt ngữ, nhưng bị phá sóng nhiều quá, nghe câu được câu không. Cũng ngày ấy cộng đồng người Việt trên khắp thế giới làm kỷ niệm, nhưng gọi bằng nhiều cách khác nhau, Ngày Quốc Hận, Tháng 4 Đen hay gì đó còn tùy.

Cũng ở trên đài Á Châu Tự Do tôi nghe cuộc phỏng vấn một đạo diễn trẻ người Việt Nam ở nước ngoài, làm một cuốn phim về ngày bại trận 30 tháng Tư lấy tên là ngày giỗ. Anh và các bạn anh thiếu thốn rất nhiều tư liệu về ngày hôm ấy, nhưng chắp vá và lấy kỷ niệm của những người lớn chứng kiến vào thời ấy rồi cũng xong. Bởi tại ngày anh ra đi, rời Việt Nam anh còn quá trẻ, tuổi đâu khoảng 13 hay 14 chi đó, nhất là anh không có kinh nghiệm tham gia vào cuộc bại trận ấy.

Người đạo diễn thanh niên này còn có tham vọng làm cuốn phim khác nữa sau khi chế độ Việt Nam Cộng Hoà xụp đổ, về những trại tù khổ sai mà người ta gọi là trại cải tạo. Tôi hy vọng anh ta và nhóm của anh có tâm huyết thì cũng xong, có thể thành công. Việt Nam trong cuộc chiến vừa qua có rất nhiều tư liệu quý giá, tôi đã dược xem một cuốn phim do Mỹ sản xuất lấy tên là Trời và Đất. Cuốn phim đã nói lên được thân phận Việt Nam giữa các thế lực, thân phận con người Việt Nam đáng thương.

Tôi là một người Việt Nam, sống và lớn lên, trưởng thành trong thời buổi ấy, thời buổi đau thương nhất của đất nước, nay lại sống suốt 29 năm trong chế độ, sắp sửa 30 năm, chưa một lần bị ngắt quãng, vì không ra nước ngoài, hay đi đâu xa khỏi Việt Nam. Tôi là dân bại trận ở lại Việt Nam. Tôi không có gì ca tụng về ngày 30 tháng Tư ấy, nhiều đau thương hơn thì có, gia đình tôi ly tán cũng vào ngày ấy. Đàn anh của tôi nhà văn Chu Tử, chủ nhiệm nhật báo SỐNG bị giết chết vì đạn pháo kích lúc 10 giờ sáng ngày 30 tháng Tư năm 1975, trên chiếc tầu di tản mới chạy thoát ra được đến cửa biển Cần Giờ.

Hàng năm tôi chúng tôi làm giỗ anh Chu Tử vào ngày đó, sau này không biết vì lý do gì, đổi sang ngày âm lịch là ngày 19 tháng ba (trùng với ngày 30-4-1975). Có phải vì người ta đang ồn ào làm lễ kỷ niệm chiến thắng mà mình lại làm giỗ, than khóc và tưởng nhớ đến người đã chết là chướng quá không, vì vậy gia đình ông Chu Tử mới đổi ngày giỗ cho yên. Tôi cũng không bỏ một buổi giỗ nào của ông Chu Tử, dù có đổi ngày, nhưng dù làm vào ngày nào anh em chúng tôi ngồi với nhau, nhắc lại và nói về những kỷ niệm là ngày 30 tháng Tư năm 1975, gia chủ tổ chức giỗ ông Chu Tử cũng không có ý kiến gì, buổi giỗ ấy anh em chúng tôi tự do hoàn toàn. Những buổi giỗ ông Chu Tử sau này vắng bóng dần những người anh em thân thiết của ông, người thì ốm đau bệnh hoạn đi không nổi, người thì đã “dạo chơi tiên cảnh” khỏi “cõi tạm” đầy đau thương này. Như Tú Kếu, như nhà văn Mặc Thu, như ông Khai Trí Nguyễn Hùng Trương, vì ông mới qua đời.

Nhà báo Phan Nghị ở buổi giỗ nào còn oang oang kể lại kỷ niệm với chủ nhiệm Chu Tử, nay cũng đã vắng bóng anh. Một đàn em thân thiết như Đông con tuổi còn rất trẻ cũng không còn nữa. Nhưng buổi giỗ vẫn đông đảo, tôi thấy có những anh em từ nước ngoài trở về, những Việt kiều đó ra đi do vượt biên hay diện HO, những điện thư từ khắp nơi trên thế giới gửi về cho gia đình con cái ông Chu Tử để tưởng nhớ ông.

Tôi đã qua 29 lần kỷ niệm vể ngày 30 tháng Tư trên đất nước “Xã Hội Chủ Nghĩa VN”, kể ra thêm mệt nhưng không thể không kể. Tôi kiêu hãnh nói rằng tôi là một trong những nhân chứng lịch sử, tôi vừa là nhà văn nhà báo, nói có nhận xét, dù rằng cái nhận xét của riêng mình, nhưng đúng về mặt người cầm bút thì phải công bằng và chính xác, tôi phục vụ cho nghề nghiệp và lý tưởng của nhà văn nhà báo chân chính, không phục vụ hoặc làm bồi bút cho tổ chức hay đảng phái nào đó.

Đối với tôi thì ngày 30 tháng Tư nào tôi cũng buồn, một người Việt Nam đang sống trên quê hương mình, tôi tự hỏi, được chứng kiến những giây phút lịch sử trọng đại, đất nước Việt Nam thống nhất quang vinh như thế mà buồn sao?

Sau đợt lùa những sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hoà bại trận đi học tập cải tạo, đến lượt văn nghệ sĩ chế độ cũ, và các vị chức sắc tôn giáo vào những trại tập trung dài dài từ Bắc chí Nam. Các ông cai ngục, cai tù được gọi là quản giáo, cán bộ dậy bảo, giáo dục cho các phạm nhân lầm đường lạc lối hiểu biết đường lối của đảng, của cách mạng, và không ai có án rõ ràng, khi được tha về phạm nhân được phát cho cái giấy ra trại. Đọc qua giấy này họ mới té ngửa ra, lúc ấy mới biết tội danh của mình và thời gian học tập cải tạo là bao nhiêu năm, bao nhiêu tháng có khi còn bị ăn gian. Còn người ở lại được nhà trại nói lấp lửng chừng nào “học tập tốt” thì về. Có người phải ở trong tù vài chục năm vì bị nhà nước cho rằng họ chưa được tốt. Tôi không hiểu người ta dựa vào tiêu chuẩn nào gọi là tốt và xấu để giam giữ người vài chục năm như vậy, với lời kết án thật mơ hồ.

Tôi bị bắt nóng ngoài đường, không bị liệt vào hàng ngũ văn nghệ sĩ phải học tập cải tạo, mà với một tội danh khác, tổ chức phản động, một tội rất dễ chết. Khốn nạn cho cái thân tôi, thời chế độ cũ đi lính binh nhì không xong, mà nay lại là người tổ chức chỉ huy một trung đoàn, có tên trung đoàn Quyết Thắng trong hồ sơ phản động của tôi. Tôi bị tra tấn, bị đánh và những người tra tấn tôi ngày nào cũng bắt tôi phải khai ra cái trung đoàn Quyết Thắng này ở đâu! Vì bỗng nhiên mình lại mang một tội danh “oai” như thế, một trung đoàn trưởng, nên tôi cũng phải phì cười ra nước mắt sau những trận đòn tra tấn thừa chết thiếu sống.

Tôi cũng không biết người ta phong cho tôi, chức gì, cấp bậc nào, tướng hay tá trong trung đoàn mà tôi bị đứng vào hàng “chủ xị”. Một trung đoàn không có quân số, không doanh trại, không có cả chiến khu kháng chiến. Bản lấy cung của tôi bị bỏ dở dang, không có tôi ký tên nhận tội. May quá thế là tôi thoát chết, tôi đã thấy nhiều người bị chết, bị mang ra xử bắn vì những tội danh bá vơ ấy. Tôi nói với bạn bè đồng tù:

- Dù tao có là thằng nhà văn nhà báo ngu dốt cũng không bao giờ đặt cái tên trung đoàn Quyết Thắng cho tổ chức quân sự của tao, vừa quê vừa thối. Ai cũng biết các khẩu hiệu quyết thắng, quyết chiến, quyết tử, quyết sinh là sản phẩm của các anh Việt Minh, các anh đã xài mòn teo ra rồi, từ thời kháng chiến đánh đuổi thực dân Pháp kia, rồi đến thời chống Mỹ cứu nước xài lại, nay không biết dùng làm gì nữa thì gán đại cho tao. Tao biết ngay các anh độc lắm, lại một trò chụp mũ buộc tội cho người khác để mang ra xử theo luật rừng.

Tôi lênh đênh qua nhiều nhà giam ở thành phố, rồi mới bị đưa lên trại học tập trên rừng, an tâm học tập cải tạo ở nơi đó, bao giờ học tập tốt thì được về xum họp với gia đình. Nhà nước, nhà cầm quyền nói như thế. Chúng tôi ngắc ngoải sống trong lao động khổ sai, nhiều anh em kiệt lực gục xuống bỏ xác trong các trại tù. Thân phận chúng tôi như những nô lệ trong phim Tần Thủy Hoàng xây Vạn Lý Trường Thành hay những nô lệ xây Kim Tự Tháp Ai Cập.

Nhiều lần lao động cuốc đất trúng mìn ngoài bãi lao động, mìn nổ thương vong vô khối người, nhưng được giải thích là mìn đó là của Mỹ Ngụy gài lại để giết nhân dân. Bây giờ chúng tôi có chết có thương vong thì cũng chỉ là “gậy ông đập lưng ông” thôi. Chúng tôi nhiều lần đề nghị với ban quản giáo xin được tự gỡ mìn để khỏi gây hại cho phạm nhân, nhưng được lãnh đạo trại “nhân đạo” từ chối, vì sợ mất thì giờ lao động sản xuất kiếm ra của cải cho đất nước chúng ta còn nghèo. Đồi nghĩa địa tù chật kín những mồ hoang của anh em chúng tôi. Sáng đi lao động, chiều về nhìn mặt trời gác bóng trên sườn núi Chứa Chan mới biết mình còn sống, mong sớm có ngày ra xum họp với gia đình.

Tôi không nhớ rõ là mình ăn đến mấy cái ngày kỷ niệm 30 tháng Tư trong trại cải tạo, vì từng bị bắt lên bắt xuống, như bắt cóc bỏ đĩa, tha rồi lại bị bắt lại. Ngoài cái tội phản động, tôi còn tội phản quốc bỏ quê hương mà trốn đi, tức là tội vượt biên mà không thoát. Phải chi ngày đó tôi trốn thoát, thì bây giờ được nhà nước ưu ái gọi là Việt kiều khúc ruột ngàn dặm được phép trở về thăm quê hương, được nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa. Mấy anh Việt cộng từng đánh đấm bỏ tù, từng kết tội tôi là Việt gian sẽ ngọt ngào khuyên tôi nên hòa hợp hòa giải, quên đi chuyện cũ, đóng góp tất cả những gì tôi đang có để giúp cho đất nước quê hương Việt Nam mà các anh đang cai trị. Tôi đã thấy những cuộc tiếp đón long trọng, những Việt kiều trở về thăm quê hương được diện kiến những lãnh đạo trong nước và họ được huy chương, và được ca tụng vì những đóng góp của họ đã được truyền thanh truyền hình đi khắp mọi nơi. Họ thành người yêu nước, có ẩn chứa ý yêu và ủng hộ đảng CS cầm quyền.

Trong trại học tập, ngày 30 tháng Tư mỗi năm được tổ chức xôm tụ lắm, mà anh em chúng tôi gọi là ngày “đứt phim”. Từ ba giờ sáng một số trại viên có tay nghề trong việc nấu nướng đã được điều lên nhà bếp để thọc tiết heo mổ bò làm đồ ăn, thổi cả cơm nữa, hương cơm phảng phất khắp trại làm các trại viên chúng tôi tỉnh cả ngủ, dù là hương gạo mốc, không phải gạo Nàng Hương chợ Đào. Những hương vị âm thanh hấp dẫn đó làm chúng tôi trở nên háo hức, vì chúng tôi là những kẻ thường xuyên ăn đói mặc rách, cả năm chỉ ăn khoai ăn sắn có biết cơm thịt là gì đâu, sức lao động bị vắt kiệt từng ngày, nay có cơm thì mừng quá. Bao nhiêu năm qua chúng tôi sống trong một miền Nam trù phú lúa thóc không bao giờ thiếu, người nông dân chỉ trồng một mùa cũng ăn được cả năm. Mà nay phải thèm và nhớ cơm, tưởng tượng cũng không ra được bát cơm nó thế nào? Tôi nói có quá không? Nhưng sự thật là vậy.

Ngày hôm ấy chúng tôi được nghỉ lao động và sang ngày hôm sau là ngày quốc tế lao động 1-5, vị chi là hai ngày được ăn được chơi trong vòng rào giây thép gai. Chúng tôi được nghe chính trị viên của ban quản giáo giảng giải cho nghe ngày chiến thắng 30 tháng Tư. Nhưng chỉ là chuyện nước đổ đầu vịt, chúng tôi chỉ nghĩ đến kỷ niệm cũ của chúng tôi vào ngày ấy. Buổi trưa cả ngàn người tù chúng tôi - mỗi người được ăn một chén cơm, một miếng thịt heo hay thịt bò chi đó bằng ngón tay, chan tí nước xốt cho mặn miệng. Lòng lợn - tiết canh - thịt ngon miếng nạc mang lên nhà khung cho ban giám hiệu và thủ trưởng đơn vị xơi, uống rượu hút thuốc. Lòng nhân đạo của đảng vô biên, không thể nói hết được.

Về phía các cải tạo viên chúng tôi thì sao, cũng chia ra mấy phe trong cuộc ăn uống ấy, không phải tranh nhau ăn, mà cách ăn uống cũng khác lạ. Có phe còn nặng lòng với chế độ cũ mà anh đã phục vụ, nay trở thành bại tướng trong ngày 30 tháng Tư, nhất định không ăn đồ ăn của “kẻ thù” ban phát mà ăn gì đó với muối. Phe thứ hai lấy đồ thăm nuôi của mình ra mời anh em ăn sạch. Phe thứ ba ăn ráo những gì được ban phát với lý luận: “Ta ăn thứ này là của ta làm ra, chẳng ăn chực thằng nào hết, gạo này chính ta làm ta cấy cầy, thịt này cũng chính chúng ta chăn nuôi, không ăn là dại. Ăn bám, ăn trên xương máu chúng ta là những thằng cai tù chứ không phải chúng ta. Lý luận nào cũng đúng cả, không ai đụng chạm tới ai.

Anh chán đời ngồi quay mặt vào tường “diện bích” hết ngày 30 tháng Tư là chuyện của anh. Tự do của mỗi cá nhân được tôn trọng tuyệt đối, nên cuộc ăn uống ấy cũng diễn ra êm thắm, không phải tinh thần xôi thịt mổ cãi nhau như mổ bò ở các đình làng nhà quê. Dù sao tôi cũng nể phục các anh cải tạo chịu ăn cơm muối lắm, các anh còn có liêm sỉ và sĩ khí của một chiến sĩ, tôi không thể đánh giá thái độ ấy là sai hay đúng.

Tôi lại nghĩ đến những anh hùng trong sử sách, đến một Hoàng Diệu, tuẫn tiết theo thành Thăng Long khi quân Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ nhất. Một Nguyễn Tri Phương không chịu cho kẻ thù buộc vết thương khi Pháp đánh Bắc kỳ lần thứ hai. Một Võ Tánh chất củi tự thiêu khi bại trận. Một Trần Bình Trọng thà làm quỷ nước Nam hơn làm vương đất Bắc.
Image
Trong đời làm báo của mình, trong trận chiến cuối cùng ngày 30 tháng Tư, tôi đã thấy những người lính Nhẩy Dù trại Hoàng Hoa Thám ở ngã tư Bảy Hiền ôm nhau cho nổ lựu đạn để cùng chết bên nhau, sau khi có lệnh đầu hàng vô điều kiện của tướng Dương Văn Minh. Và sau đó nhiều tướng tá của chế độ Cộng Hoà ở miền Nam tự sát khi nghe lệnh đầu hàng của “tổng thống” tạm quyền.



Tôi chắc chắn rằng sử sách có ghi lại, dù rằng chế độ ấy thua trận và bị bôi nhọ suốt bao nhiêu năm trời, bị vu cáo là có bao nhiêu tội lỗi với “nhân dân”. Chính sử không thuần ở trong tay kẻ chiến thắng, mà ở trong lòng mọi người trên đất nước này, không thể bóp méo, không thể như cục đất sét muốn nặn hình gì theo ý họ. Còn những thương binh của chế độ Cộng Hoà sau khi bại trận ngày 30 tháng Tư năm 1975 thì sao? Tôi đã thấy họ bị đuổi ra khỏi quân y viện Cộng Hoà chiều ngày 30 tháng Tư lịch sử ấy. Anh mù cõng anh què. Anh đổ ruột vịn vai anh cụt tay. Họ đi hàng hàng lớp lớp suốt một quãng đường dài, đau thương lắm, tiếc rằng không một phóng viên nhiếp ảnh nước ngoài nào chụp được một tấm hình. Cái máy hình của tôi chụp được mấy tấm thì bị đập bể tan nát, suýt nữa thì tôi nguy hiểm đến tính mạng vì những kẻ trở cờ theo đóm ăn tàn, hoặc những tên lưu manh mà xã hội nào cũng có, mà hồi ấy chúng tôi gọi cái đám ấy là cách mạng 30, nghĩa là mới gia nhập cách mạng vào ngày 30 tháng Tư năm 1975. Họ đang khao khát lập công để tìm cho mình một chỗ đứng, hoặc được một tí ân huệ bố thí.

Tôi đã trải qua hai mươi chín cái ngày 30 tháng Tư, chỉ còn ít ngày nữa thì tròn 30 cái ngày kỷ niệm. Sao trong đầu tôi lẩn quẩn hoài về những kỷ niệm đau thương ấy. Những người thương binh của chế độ Cộng Hoà sau khi bi đuổi ra khỏi quân y viện Cộng Hoà. Họ đi về đâu? Mắt tôi nhìn thấy có những người thương binh kiệt lực, kiệt sức ngã ngay trên đường đi, trên lối cổng ra vào quân y viện và tôi đã nhìn thấy những giọt nước mắt uất hờn còn đọng trên đôi mắt của những người thương binh này. Trong ngàn vạn con người ấy trên đất nước VNCH thế nào không có kẻ sống sót, tôi cũng đã thấy anh mù dắt anh què hát rong ngoài đường, xin đồng tiền bố thí của đồng bào. Họ bị quên lãng đã ba chục năm nay, nên có sự công bằng cho người chết thì cũng nên lo cho người còn sống, họ cũng đã hy sinh một phần thân thể trong cuộc chiến nồi da xáo thịt này. Người ta đang nói tới chuyện phục hồi Nghĩa Trang Quân Đội ở trên Biên Hòa.

Không biết chuyện này rồi sẽ đi đến đâu. Tôi là người sống ở Sài Gòn đã gần 30 năm, nghe tin ấy tôi đã mong muốn được thăm nghĩa trang quân đội xưa vì có người thân đã chôn xác ở đó. Nhưng theo tôi biết đâu phải ai cũng được tự do ra vào để tưởng niệm người đã chết, ý nguyện của tôi không được chấp nhận. Người ta nói phục hồi nghĩa trang quân đội chế độ cũ, phục hồi thế nào tôi không biết, tôi thắc mắc trong việc làm ấy họ có phục hồi pho tượng Tiếc Thương bị giật đổ trước cổng nghĩa trang quân đội từ ba chục năm trước không. Sau 30-4-1975 hàng loạt tượng đài bị giật xập, và nay nghĩa trang sẽ để tên gì cho phải đạo làm người, mồ mả còn không. Tôi nghe mất mát cũng nhiều lắm, nếu còn thì là những nấm mồ hoang, kẻ nằm dưới đất kia là kẻ có tội, không ai được quyến thăm viếng vì thăm viếng là bị “văng miểng”. Tôi chỉ mong muốn được đến đấy, thắp lên một nén nhang tưởng niệm, dù mồ mả của những người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà có còn hay đã mất. Tôi cho chuyện làm ấy hay lời hứa hẹn ấy là phiêu, chẳng có gì xất cả.

Image
Tượng đài TIẾC THƯƠNG
Tại tiệm phở Hòa, một tiệm phở nổi tiếng cuối đường Pasteur trong thành phố Sài Gòn, tôi thường gặp một anh bán báo, cụt cả hai tay, hai tay cụt đó được ráp hai tay sắt inox có kẹp, thao tác rất gọn ghẽ, anh kẹp những tờ báo đưa cho khách hàng hoặc nhận tiền, thối lại tiền bán báo. Không biết anh bán báo ở đó đã bao nhiêu năm.

Một hôm anh mời tôi mua báo. Tôi lấy tiền ra biếu anh, vỉ sáng nay tôi đã mua báo ở sạp báo gần nhà. Anh ta nhìn tôi khẽ lắc đầu:

- Không, cám ơn ông tôi không thể nhận được.

- Vậy tôi mua báo. Tôi hỏi anh.

- Vâng ông chọn tờ nào?

Tôi chọn đại một tờ trong xấp báo mà anh ta ôm trên người, tôi đưa tiền cho anh ta, nói:

- Thôi anh khỏi phải thối lại.

- Vâng cám ơn ông.

Tôi nhìn kỹ anh ta hơn, tôi hỏi thăm về hai tay anh. Anh ta nói:

- Tôi không bị tai nạn mà là thương binh chế độ Cộng Hoà

- Anh thuộc binh chủng nào hồi trước? Tôi hỏi tiếp.

Anh ta không trả lời về binh chủng của anh chỉ nói:

- Hồi đó tôi bị thương cụt cả hai tay ở mặt trận Bình Long, chính quyền cũ làm cho tôi hai cánh tay này và tập cho tôi cách xử dụng. Gần ba chục năm nay tôi đi bán báo để sinh sống.
Image
Hè năm 1972, Liên đoàn 1 Nhảy Dù đang tiến vào mặt trận Bình Long.
Vì lý do gì đó anh không nhắc tên binh chủng của mình. Nhưng khi tôi nói tên của vị tướng chỉ huy mặt trận, mắt anh ngời sáng. Tôi không ngờ đã mấy chục năm qua anh không quên và dành cho cấp chỉ huy mình sự tôn kính chân thành. Tôi ngưỡng mộ anh là người dũng cảm, liêm sỉ từ tư cách đến việc phải kiếm sống, làm một con người. Đó là điều hiếm có, ít có ai sống trong đất nước Xã Hội Chủ Nghĩa dám biểu lộ cái tinh thần quật cường ấy. Có ngài Việt kiều ngày xưa từng giữ những chức vụ quan trọng, từng là “cựu” này “cựu” kia, ngày “đứt phim” chạy có cờ, bỏ đồng đội bỏ của chạy lấy người, nay về thăm quê hương phát biểu linh tinh chả ra cái giống ôn gì, so ra tư cách của ngài với anh chàng thương binh này, cách xa một trời một vực, thật là quá chán. Tôi nói với anh:

- Anh rất can đảm, tôi ngưỡng mộ anh.

- Có gì đâu, tôi còn thua ông tướng chỉ huy chúng tôi. Anh cười nhũn nhặn.

Tôi nghĩ đến tướng Lê Văn Hưng, tướng tử thủ ở Bình Long Anh Dũng, người không trốn chạy mà tự sát như một số tướng lãnh khác của chế độ Cộng Hoà ngày 30 tháng Tư, sau khi “tổng thống” Dương Văn Minh đầu hàng vô đìều kiện.

Image
Mùa hè đỏ lửa 72, người hùng An Lộc , Tướng Lê văn Hưng bắt tay Đại Tá Tư Lệnh Phó sư đoàn Nhảy Dù
.

Báo đài ngày nào cũng có bài ca tụng về ngày lịch sử 30 tháng Tư, ngày chiến thắng vĩ đại của dân tộc, ngày chấm dứt chiến tranh, thống nhất đất nước. Đoàn quân chiến thắng kéo quân vào thành phố được sự đón tiếp nồng nhiệt của nhân dân thành phố, cùng nổi dậy với cách mạng, bao nhiêu người ra phất cờ chào đón đoàn quân. Một hoạt cảnh mà tôi, một phóng viên chiến trường đã hết thời, ghi nhận được đúng ngày hôm đó:

Cuộc bại trận nhanh quá, nhanh đến độ dân Sài Gòn phải ngỡ ngàng. Kẻ nào không chạy thoát theo những chuyến di tản thì đổ ra đường xem đoàn quân chiến thắng đi dép, đội mũ cối hay mũ tai bèo vào thành phố. Có những xác người dân hoặc lính chế độ cũ chưa được thu nhặt còn sót ở những góc đường, trên những quân trang quân dụng ném đầy trên đường đi, cả vũ khí nữa chưa kịp thu nhặt.

Những con người đang đứng ngơ ngác ngỡ ngàng ở đó, bị nhét vào tay những lá cờ giấy, và anh “cách mạng" đeo súng mang băng tay đỏ mặt gườm gườm những kẻ không nhiệt tình vẫy cờ chào đón các anh bộ đội cụ hồ tiến vào thành phố. Tôi thấy một người đàn ông cũng bị nhét vào tay một lá cờ, một anh mang băng đỏ đeo súng ra huých vào sườn người đàn ông đó một cái. Ông ta có lẽ hiểu ý liền nhẩy chồm lên phất cờ lia lịa, mồm la hoan hô liên tục. Thế cũng là quá đủ, tôi lủi vào đám đông kiếm đường chạy về nhà. Ngoài kia những dòng người dầy đặc dần trên đường, có người đang tìm kiếm người thân, người tung hô những khẩu hiệu chiến thắng, người ngơ ngác ngẩn ngơ đứng nhìn. Họ không chịu tin vào sự thực là Sài Gòn bị thất thủ.

Nguyễn Thụy Long
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »


Image

Truy Điệu và Tưởng Niệm
cố Tr/Úy Nguyễn Văn Lộc và cố Tr/Úy Lê Văn Bé.

Image

Kính gởi toàn thể qúi vị cùng các chiến hữu:
Xin được gởi đến qúy vị cùng các chiến hữu về lễ truy điệu và tưởng niệm
cho hai vị anh hùng bất khuất của Quân Đội VNCH nói chung và KQVN nói riêng ---
cố Tr/Úy Nguyễn Văn Lộc và cố Tr/Úy Lê Văn Bé.
Tr/Úy Nguyễn Văn Lộc
Tr/Úy Lộc thuộc Khóa 70A, là phi công A-37 trong PĐ 548 tại Phan Rang còn Tr/Úy Bé xuất thân từ Khóa 69B cũng là phi công A-37 nhưng với PĐ 550 tại Đà Nẵng. Khi đại nạn 30 tháng 4, 1975 bao trùm cả miền Nam VN, hai anh bị kẹt lại và phải đi “cải tạo” tại trại tù Long Khánh. Lộc và Bé cùng môt số bạn tù đã âm mưu trốn tù bằng cách lén lút dự trữ thực phẩm và lựu đạn. Vào ngày 26 tháng 3 năm 1976, hai anh trốn tù nhưng bị bọn CS phát giác lùng bắt. Hai anh chẳng những không đầu hàng mà còn liệng lựu đạn chống trả nên đã bị bọn chúng bắn chết. Hai anh đã biết rằng nếu để bọn chúng bắt sống thì cũng bị xử bắn truớc mặt đồng đội mà thôi. Tinh thần bất khuất ấy cùng những chi tiết vuợt tù này đã được tác giả Nguyễn Mạnh Trinh viết trong bài “Chuyện những người KQ ngày tan chiến” và đuợc phổ biến rộng rãi, kể cả trên Cánh Thép.

Thân xác đẫm máu cùng đầy những lỗ đạn tàn ác của Lộc và Bé đã bị bọn CS lôi về phơi giữa trại tù để đe dọa cùng dằn mặt những tù nhân khác. Hai anh đuợc các bạn tù chôn dưới một góc cây và lén lút làm dấu hầu sau còn có thể tìm ra. Gia đình của Bé có ra thăm nhưng không đuợc bốc mộ. Lúc đó Bé tuy còn độc thân nhưng đã có vị hôn thê, còn Lộc đã có gia đình. Lộc đưa người vợ trẻ là Ngọc Di, lúc đó đang cưu mang đứa con đầu lòng, ra Tân Sơn Nhứt hôm 28 thánng tư, 75 để được đưa qua Guam cùng một số gia đình của các phi công khu trục khác. Tại Guam, Ngọc Di nóng lòng tìm chồng, chuyến bay nào tới chị cũng ra thăm hỏi tin tức. Gặp vài phi công cùng PĐ với Lộc, chị lo lắng hỏi “Anh Lộc đâu anh….anh Lộc đâu anh?” Họ không cầm đuợc nước mắt khi thấy người vợ trẻ của bạn mình hớt hả tìm chồng, bụng thì chắc cũng đến lúc gần sanh. Không biết gì hơn họ chỉ cầu mong cho Ngọc Di găp lại Lộc trong những chuyến tới…


Sự phân ly giữa vợ chồng, gia đình thân thuộc cùng những đau thuơng khác của 30 tháng 4, 1975 đã được nhạc sĩ Lam Phương diễn tả lại trong “Con Tàu Định Mệnh” ...

Ra đi trong giờ đau thuơng
Lúc quê huơng bàng hoàng
Người say phút vinh quang
Ai đi ai ở nào hay
Nguời Đông kẻ phuơng Tây
Cùng sống trong đọa đầy…


Rồi cháu Nguyễn Lộc Đan Vi (Vivi) đã ra đời trên đất Mỹ tự do nhưng chưa bao giờ đươc thấy mặt người cha hào hùng và dấu yêu của mình. Nhiều năm sau, từ những người bạn tù vượt biên, Ngoc Di đã biết được sự hy sinh dũng cảm của chồng mình và cũng từ đó bắt đầu cuộc hành trình tìm di cốt của anh. Trải qua bao nhiêu cam go trên 30 năm nay, Ngọc Di đã nhiều lần về VN lục lọi, tìm kiếm qua đủ mọi phuơng cách nhưng không thành công. Chị cùng cháu gái cũng bắt đầu hơi nản chí. Chị nghĩ chỉ còn một cách cuối cùng là nhờ những nhà “ngọại cảm”. Là một người Công Giáo, chị cũng không mấy tin vào viêc này, nhưng cũng vẫn muốn thử vì nếu không thành công thì cũng yên tâm với chính mình và anh linh của anh Lộc vì chị đã dùng đủ mọi cách.

"Bằng mọi giá Di phải tìm cho ra mộ của hai Anh Lộc và Anh Bé, 33 năm trước Anh Lộc đã lo cho Di ra khỏi VN thì Di cũng đã hứa với vong linh Anh Lộc là Di sẽ đưa Anh đến Mỹ (xương cốt ) một nơi....thiên-đàng, tự-do mà Anh đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng!!!!"

Ngọc Di


Cuộc hành trình của Ngoc Di thật là gian nan và qúa dài. Xin vắn tắt là chị đã thành công mà từ đó cũng tìm ra hài cốt của Bé. Gia đình của Bé bên VN còn anh chị nhưng họ quá túng bẫn và vẫn còn cư ngụ tại những vùng kinh tế mới. Một người bạn chung khóa với Lộc là anh Nguyễn Thanh Mẫn (cựu HLV tại Trường Phi Hành Nha Trang -- định cư ở Úc nhưng đã về VN sống vài năm nay) đã liên lạc đuợc với anh Ba của Bé bên VN. Anh Mẫn đã ứng trước ra giúp cho gia đình Bé $500 US để lo mộ phần cho Bé. Gia đình Bé cũng đã đồng ý cho một phần hài cốt của Bé qua Mỹ để đuợc chung mộ phần với Lộc vì chị Ngọc Di đã nói là dù sao đi nữa thì hai nguời sống là bạn tù, chết thì cũng nằm cạnh nhau trên 32 năm nay – xin đừng chia rẽ họ, để kẻ đi Mỹ nguời ở lại VN!


Sau đây là sơ lược cho sự đón tiếp hai vị anh hùng bất khuất này:


- 3 tháng 11, 2008: Hài cốt của Lộc và Bé sau khi thiêu tại VN, được chị Ngọc Di, cháu Vivi, và anh Mẫn đưa sang Mỹ. Đại diện cho Tổng Hội Không Lực VN, Khóa 70A, Khóa 69B … sẽ có mặt tại phi trường Los Angeles để nghinh đón di cốt hai vị anh hùng này.


- 8 tháng 11, 2008: Một buổi lễ truy điệu anh linh của hai anh Lộc và Bé sẽ đuợc tổ chức tại nhà quàn Peek Family Colonial Funeral Home (7801 Bolsa Avenue, Westminster CA, 714-893-3525), 9:00AM – 3:00 PM. Sau đó di cốt của hai Anh sẽ được để tại nghiã trang Peek Family. Xin qúy vị và các chiến hữu trong vùng sắp đặt thời gian cố gắng đến thăm viếng cùng thắp một nén nhang cho hai anh hùng bất khuất này của Quân Đội VNCH nói chung và KQVN nói riêng.


- 8 tháng 11, 2008: "Đêm tưởng nhớ Nguyễn Văn Lộc" do gia đình chị Ngọc Di sẽ tổ chức tại nhà hàng lúc 6 giờ tối.


- Qũy Truy Điệu & Tương Trợ cho Gia Đình Lê Văn Bé: Để lo cho lễ truy địệu và cũng để tuơng trợ cho sự khó khăn và túng quẫn của gia đình Bé bên VN, qũy này đã được thành lập. Mọi đóng góp tùy hỷ xin gởi về cho thủ qũy:

o Đinh Đức Bản, 7994 Stepping Stone Circle, Stanton CA 90680, bacdau@yahoo.com, Cell (661) 992-6137.
Kính báo,

Tổng Hội Không Lực VN

Khóa 70A và Khóa 69B



XIN LƯU Ý: Chị Ngọc Di cho biết là gia đình chị hoàn toàn không nhận phúng điếu cho anh Nguyễn Văn Lộc. Nên sự kêu gọi trên là cho gia đình của bạn Lê Văn Bé bên VN.


Image

Vĩnh Biệt

Xin được gửi những giòng này để truy niệm hai anh Nguyễn Văn Lộc và Lê Văn Bé.
NT. (CanhThep.com)

Ngày còn bé anh thường hay mơ ước

Như chim bằng đang xoải cánh tung bay

Liệng chao nghiêng giữa khoảng rông trời mây

Và ấp ủ dáng hình loài Thiết Điểu

Qua năm tháng anh giã từ đời niên thiếu

Bước đăng trình theo nỗi khó quê hương

Xếp bút nghiên anh dấn bước lên đường

Mang Cánh Thép, góp phần cho quê Mẹ

Nuôi chí cả, tung hoành, năm năm lẽ

Vận nước trôi, anh chịu cảnh tù đày

Đã hết rồi, đành xếp mộng trời mây!

Và gậm nhấm nỗi hờn trong cũi sắt!!!

Lệ anh hùng bao đêm vương tròng mắt

Anh quyết tâm đào thoát khỏi xiềng gông

Nhưng cao xanh, không thỏa kẻ có lòng

Anh ngã xuống, vết đạn thù cày xác

Đã mấy mươi Thu, hồn anh phiêu bạt

Giờ trở về, hôi ngộ chiến hữu xưa

Tình yêu thương biết nói mấy cho vừa

Xin anh hãy ngậm cười trong yên nghỉ
...
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Kính Thưa các Bác, Chú, Cô

Cháu tên là Tăng Ngọc Thanh muốn biết thêm về cha cháu là Tăng Thanh Tâm
thuộc Sư đoàn 23 Bộ Binh Tiểu đoàn 231 Pháo binh trước 75 đóng quân ở Ban Mê Thuột.
Cháu không biết ba cháu đã chết hoặc mất tích ở đâu.
Có người thì nói đã chết v.v.v. nhưng chưa bao giờ thấy xác.
Các Bác,Chú, Cô ai biết được lúc cha cháu còn sống xin gửi cho cháu vài lời cháu muốn biết rõ thêm về cha mình.Cháu xin cảm ơn

Xin gửi về địa chỉ e-mail

thanhtang71@ hotmail.com



Theo Chân Người Pháo Thủ SÐ23BB

Ưu ái gửi cháu Tăng Ngọc Thanh, thứ nam cố Ðại úy Pháo binh Tăng Thanh Tâm, Pháo đội trưởng Pháo Ðội B thuộc Tiểu Ðoàn 231 Pháo binh đã kiên cường chiến đấu đến giây phút cuối cùng tại căn cứ hỏa lực Ðức Lập, Quảng Ðức vào ngày 7 và ngày 8 tháng Ba năm 1975.

OR Oct 8th 2008






Cháu Thanh thân ái:
Cháu chào đời vài năm trước ngày tàn cuộc chiến, đi đứng nói năng chưa thành thạo, cả tiếng kêu ba thân yêu còn ngọng nghịu, và cháu đã sớm mất cơ hội bập bẹ thêm tiếng ba ngọt ngào trên đầu môi. Ba cháu đã từ giã các cháu trong lúc các cháu còn nhỏ dại. Ba cháu đã vĩnh viễn ra đi, thân xác tả tơi tan nát theo đoàn quân VNCH, theo đất nước miền Nam thân yêu& vào ngày 7 và 8 tháng Ba năm 1975.

Các cháu dần dần trưởng thành trong tình thương yêu đùm bọc của người mẹ đầy bất hạnh, đã sớm thành quả phụ trong lúc tuổi còn thanh xuân. Mẹ các cháu, bà mẹ hiền thêm nặng gánh làm cha dạy dỗ nuôi nấng các con nên người. Thật vô vàn trân quý!

Bác lớn hơn ba cháu vài tuổi, ba cháu nhập ngũ trước bác một khóa, cùng đi Pháo binh. Ðơn vị ba cháu Tiểu Ðoàn 231 PB đóng ở Ðà Lạt, bác ở Bộ chỉ huy PBSÐ23BB (Ban Mê Thuột). Bác liên lạc với ba cháu vài lần qua điện thoại và đã gặp ba cháu môt lần tại Ban Mê Thuột. Từ đó hai người quen biết nhau&3, 4 năm sau, đến năm 1974 tình cờ bác gặp ba cháu tại Pleiku. Ba cháu đi với một người bạn; dường như Ðại úy Bùi Minh Ngọc, Phan Thiết. Cuộc tao ngộ trong chớp nhoáng, chỉ nhìn nhau thăm hỏi vài câu rồi chia tay&vĩnh viễn. Bác đi với người bạn về lại đơn vị đang đóng ở Hàm Rồng, Pleiku. Bác ở Pleiku cho đến ngày tàn cuộc chiến.

Mọi việc tưởng như đã chìm trong dĩ vãng. Kẻ mất để lại bao thương nhớ đau buồn cho gia đình, vợ con và người thân, người còn cũng trải qua những năm tháng dài đắng cay chua chát&Bây giờ vợ con người đồng đội năm xưa đã làm trỗi dậy một thời khói lửa trong lòng bác, biết bao hình ảnh của những chàng trai trẻ, đầy ước mơ mộng đẹp cho tương lai&Tất cả đều trôi theo dòng định mệnh của dân tộc.

Mới đây bác có điện thoại hỏi người bạn năm xưa. Quách Văn Ðại, San Jose, còn nhớ buổi chiều trên phố Pleiku gặp Ðại úy Tăng Thanh Tâm. Mọi chuyện xảy ra gần 40 năm cho nên ai cũng còn lờ mờ trong tâm trí&Ông bạn nói : “Còn nhớ lúc đó Ð/úy Tâm đẹp trai, hào hoa, và phong độ&tướng tá giống như đại ca nhưng đại ca ngày ấy hơi ốm hơn.” Lúc nào bác cũng nhớ đến ba con, và nhớ cả tên họ rõ ràng. Ngày mới vào trại tù cải tạo, gặp ai người Ðà Lạt bác cũng hỏi thăm ba con. Bác có hỏi Ð/úy Nho, Ðà Lạt, cùng đơn vị với ba con : “ Không biết anh Tâm, sau trận Ðức Lập có về lại Ðà Lạt không?. Chiến tranh vốn đã phũ phàng! Trận chiến Ðức Lập quá ác liệt. Không nghe thấy ai được trở về!

Những ngày tháng cuối cùng của cuộc chiến ba cháu có mặt tại Ðức Lập chỉ huy pháo đội trừ (-) 4 khẩu 105 ly. Pháo đội của ba cháu được phối trí bên trong Chi khu Ðức Lập, và 2 khẩu tại Núi Lửa cách Ðức Lập vài cây số thuộc Pháo binh Diện Ðịa Quảng Ðức. Chắc chắn hôm đó ba cháu có mặt tại hầm chỉ huy vừa là Ðài tác xạ của Pháo đội bên trong khuôn viên Chi khu Ðức Lập. Phía trên đồi cách Bộ chỉ huy Chi khu khoảng nửa cây số đường chim bay là Căn cứ hỏa lực của Chiến đoàn 53 (-).Dĩ nhiên đều có hầm hố kiên cố phòng thủ vững vàng. Ðại úy Bùi Minh Ngọc, bạn của ba cháu là Sĩ quan liên lạc Pháo binh (SQLL/PB) cạnh Trung tá Trần Nguyên Khoa, Trung đoàn phó Tr. Ð53. Căn cứ hỏa lực còn có một Chi đội Thiết giáp 4 chiếc M41 trang bị đại bác 76 mm và một Tiểu đoàn bộ binh của Trung đoàn 53.

Quận Ðức Lập, thuộc tỉnh Quảng Ðức, nằm trên quốc lộ 14 đường Ban Mê Thuột đi Quảng Ðức. Ðức Lập cách Ban Mê Thuột từ 45 đến 50 cây số về hướng Tây nam và cách biên giới Cam Bốt từ 6 đến 7 cây số, và xa hơn nữa gần tới Quảng Ðức có chỗ chỉ cách Cam Bốt 3 cây số. Có ngã ba Tam biên, ranh giới giữa Trung phần, Nam phần của Việt Nam và Cam Bốt. Dân chúng phần lớn là người Bắc di cư sống bằng nghề trồng cà phê, ngũ cốc hoa màu. Có những vườn cà phê ngút ngàn xa tít tận chân núi. Rừng có nhiều gỗ quý.

Bác cũng có mặt trên vùng Ðức Lập vài lần. Mỗi lần độ 2 hay 3 tháng, theo Bộ Tư Lệnh nhẹ, Sư Ðoàn hành quân. Lần mới nhất trước ba cháu độ nửa năm. Lúc đó các trận chạm súng giữa đôi bên còn chưa tới cấp Tiểu đoàn.

Quốc Lộ 14 chạy dài từ Bắc xuống Nam: lần lượt qua các tỉnh Kontum, Pleiku, Darlac, Quảng Ðức&Phước Long. Vào khoảng thập niên 1950 bọn thổ phỉ Fulro thường xuất hiện chặn xe đò, xe taxi chở khách để cướp bóc, bắn giết và hãm hiếp; gây bao tang tóc cho dân lành trên đoạn đường từ Ðức Lập đi Quảng Ðức. Và cũng trên quốc lộ 14 này vào thời Pháp thuộc đã xảy ra nhiều trận đánh đẩm máu và ác liệt. Chiến tích được ghi lại bằng các tên gọi: ÐỒI ÔNG HOÀNG, và ÐÈO TỬ SĨ. Có đoạn rừng già mọc lấn ra đường, cây lá um tùm bao phủ cả con đường. Khúc đường từ Ðức Lập tới quận Nghi Xuân sắp đến Quảng Ðức, hai bên đồi cát chập chùng nối tiếp nhau nhấp nhô đến tận biên giới Cam Bốt, đường hẹp quanh co khúc khuỷu, dễ bị phục kích. Chiến tích được truyền miệng: Ðồi Ông Hoàng. Ngược lại đoạn từ Ban Mê Thuột đi Pleiku, ra khỏi Buôn Hô chừng hơn chục cây số, xe vừa lên tới đầu dốc, ai đó đã dựng một bia đá bên đường: Ðèo Tử Sĩ. Chắc chắn nơi này là nấm mồ chung của cả hai bên. Dân tộc ta triền miên đau khổ! Chiến tranh xảy ra từ ngàn xưa, bao thế hệ cha ông đã tiếp nối nhau nằm xuống cho quê hương được trường tồn.

Thưở xưa bác là lính, một đời Pháo thủ “trấn thủ lưu đồn”, theo chân người lính bộ binh Sư đoàn 23, “Nam bình, Bắc phạt, Cao nguyên trấn”, gót giầy một thời cũng xuyên rừng vượt suối khắp cả cao nguyên. Có lúc bác theo doàn quân hộ tống đoàn xe xuôi ngược trên Quốc lộ 14 và Quốc lộ 21 đường về Nha Trang. Ðời chiến binh mấy người đi trở lại!

Bác may mắn còn lại sau cuộc chiến, hôm nay làm người bạn vong niên của các cháu, ba người con trai của cố Ðại úy Tăng Thanh Tâm. Bác là người trong cuộc, bác ghi lại vài địa danh, và phác họa một vài hình ảnh. Hy vọng các cháu sẽ hình dung được đôi nét những nơi ba các cháu đã đến, đã đi&để người thân chờ mãi không thấy về!

Ðêm ngày 9 rạng 10 tháng Ba năm 1975 vào khoảng 2 đến 3 giờ sáng, giữa đêm trường tịch mịch cả thị xã Ban Mê Thuột bừng tỉnh dậy trong kinh hoàng, hoảng hốt, và lo sợ nhốn nháo khác thường với những tiếng nổ long trời vỡ đất. Tiếng đạn pháo vèo vèo xé nát không gian, tóe lửa làm sáng rực cả bầu trời. Bom đạn khô khan, chát chúa vô tình cày nát một phần mảnh đất quê hương. Mảnh đạn tung tóe xé nát da thịt người vô tội thành trăm mảnh. Quân đội Bắc Việt đã khai pháo bất ngờ, rót hàng trăm hàng ngàn quả đạn pháo vào Ban Mê Thuột, vào tổng hành dinh của Bộ Chỉ Huy Sư Ðoàn 23 Bộ Binh.

Tiếng thét, tiếng kêu đau thương vì mảnh bom đạn của cả hai bên. Tiếng gọi nhau ơi ới tìm nhau trong hỗn loạn. Xác người, lớp chết lớp bị thương nằm la liệt bên đường. Dòng người tìm nơi an toàn; xa lánh vùng giao tranh ác liệt.

Cảnh tượng hãi hùng và kinh hoàng đã diễn ra trước mắt của Bác gái và hai người con trai của Bác lúc ấy độ 10-13 tuổi. Hơn 30 năm trôi qua&gia đình có dịp nhắc lại vẫn còn bị ám ảnh hãi hùng.

Lúc đó bác đang ở Pleiku và vài ngày sau theo cả Sư đoàn trực thăng vận về Phước An, cách Ban Mê Thuột 30 cây số, định giải tỏa Ban Mê Thuột. Bác gái và hai người con của bác, nhà sát bên Bộ Tư Lệnh Sư đoàn nên đã trải qua mấy ngày sống trong vùng lửa đạn và gánh chịu bao nhiêu hiểm nguy như người lính chiến. Phập phồng, lo sợ, và số mệnh rủi may phó thác cho Trời Ðất. Gia đình mất hết tất cả, chịu đựng khổ cực và nguy hiểm còn hơn 10 năm tuổi lính của bác. Gia đình tan tác, không tin tức, đến hai tháng sau mới đoàn tụ đầy đủ tại quê hương Phan Thiết. Nhờ Phật Trời phù hộ, may mắn tất cả đều an toàn nguyên vẹn!

Cháu Thanh thương mến! Các cháu thiếu tình thương yêu của cha trong tuổi còn thơ dại. Khi trưởng thành và tương đối đầy đủ điều kiện vẫn không biết cha được chôn cất nơi nào, để đi thăm mộ, thắp cho cha một nén huơng. Hài cốt cha bây giờ ở đâu?. Không nghe ai kể chuyện cha mình trong những giây phút lâm chung, trước khi từ giã cõi đời có trăn trối nhắn nhủ với bạn bè cùng cảnh ngộ chuyển cho vợ con điều gì không?. Trường hợp của gia đình cháu là trường hợp của trăm ngàn gia đình Việt Nam đau thương khác. Nhiều khi bất hạnh hơn bác cháu mình, còn ở lại bên nhà giờ này đang sống lây lất qua ngày&

Mọi gia đình Việt Nam đều bị cuốn theo giòng lịch sử đau thương của dân tộc, vận nước lúc đó đã đến hồi suy yếu, như ánh tà dương trong buổi bóng xế chiều tà&dần dần nhường lại cho đêm đen dầy đặc. Chiến tranh phũ phàng, tàn nhẫn đã gây bao tang tóc cho nhiều gia đình bị phân chia ly tán, mất mát do con người tàn ác gây ra. Chúng ta cùng chung số phận. Gia đình bác ai ai cũng đã trải qua những giờ phút hãi hùng trong những ngày hấp hối của miền Nam, và sau đó còn bị ảnh hưởng, chịu đựng thêm những năm dài gian nan vất vả của gần 8 năm tù cải tạo của bác. Cháu Thanh! Cuộc đời như đám phù vân dễ tan biến, đầu hôm sớm mai thành mây khói&

Trong những ngày khói lửa Ban Mê Thuột, có một cô giáo dạy cùng trường với bác gái, vợ của một Thiếu tá Bác sĩ, gia đình giàu có. Trong lúc chạy loạn gặp bác gái hỏi: “Chị Tài có dư cái áo, cái quần nào, tôi xin một cái.” Ðời vô thường, không có gì vĩnh cửu cả; vạn vật đều thay đổi.

Cháu Thanh, cháu đã cho bác biết không rõ từ trại tù nào đã gửi cho gia đình một tờ giấy viết tay sơ sài, không con dấu chứng nhận ba cháu đã chết vào ngày 1 tháng 7 năm 1975. Như vậy, ba cháu là tù binh, bị bắt tại mặt trận. Tiếc thay! Quy chế tù binh cũng trôi theo nước.

Bác phác họa đôi nét về cuộc đời của những người chung số phận như ba cháu vào những ngày tháng đầu tiên trong trại tù cải tạo. Gia đình cháu có thể hình dung được phần nào hình ảnh của người cha quá cố. Chắc chắn ba cháu cũng đã trải qua cái buổi giao thời đầy ác mộng đó. Ðời tù cải tạo nơi nào cũng giống nhau “Nhất nhật tại tù, Thiên thu tại ngoại.”

Vào đầu tháng 5 năm 1975 bác đi “trình diện học tập” tại Phan Thiết. Bác gặp một số bạn bè cũ hồi còn ở bậc Tiểu học, Trung học& “Sĩ quan ngụy” cấp Thiếu tá trở xuống, kể cả Bác sĩ. Cả trăm cả ngàn người được đưa vào rừng Cà Tót, chỗ mật khu của họ ngày xưa cách Phan Thiết độ 15-20 cây số về hướng Tây Bắc. Rừng thiêng nước độc! Họ bắt tất cả cởi giầy nhà binh, tịch thu mùng mền, những gì thuộc “Mỹ Ngụy”&Gạo, sữa, kể cả thuốc men, muối mè, chà bong, cá khô, nuớc mắm, xì dầu&cũng đều bị tập trung. Trong thoáng mắt tất cả thành vô sản. Mỗi bữa ăn một chén cơm độn (khoai nhiều hơn gạo, em bé lên 5 ăn chưa thấy no) với nước trà pha muối cho giống nước mắm, chút ớt bột nổi lềnh bềnh, “canh toàn quốc” với vài con cá khô trơ xương chìm đáy nước&

Có người lúc “đi cải tạo” mập mạp khoảng 60 kg, vài ngày sau ốm thấy rõ và chừng một tháng sau đã có người chống gậy lê từng bước&đi không nỗi! Người bị bệnh sốt rét nằm la liệt. Mới gần hai tháng đi tù đã thấy có người chết vì bệnh không thuốc chữa. Chính bác khiêng một người bạn ra góc rừng đào lỗ chôn. Người chết được cuốn tròn trong manh chiếu, kẹp bảy thanh tre, vùi nong một nấm, chẳng nhang đèn bia mộ gì cả. Anh em xin bộ đội cho làm thủ tục quân đội tiễn biệt người chiến binh một thời về cõi vĩnh hằng. “Nghiêm! Chào tay. Vĩnh biệt anh ở lại với núi rừng, an giấc nghìn thu.” Bác cũng bị bệnh sốt rét, nhưng may mắn cả trại lần lượt được chuyển ra khỏi rừng sang trại khác. Bác mượn tiền, nhờ mua thuốc uống khỏi bệnh và đi tiếp quảng đời cải tạo đầy nghiệt ngã còn lại.

Ngày mới vào trại tù cải tạo, người trại trưởng biết bác là Pháo binh đã nói: “Nhất Phi, nhì Pháo, không có chính sách khoan hồng, ta làm ráo.” Khiếp!

Cháu Thanh, ngày xưa ba cháu đường đường là một sĩ quan Pháo binh QLVNCH, đầy đủ phong độ. Binh chủng Pháo binh hào hoa thông thái, vừa là sát thủ chiến trường. Dân gian thường khôi hài: “Ai ơi đừng lấy pháo binh, đêm đêm súng nổ rung rinh cửa nhà.”

Kể từ khi Ðồng Minh Hoa Kỳ phản bội bỏ rơi miền Nam Việt Nam bằng cách rút quân và cắt viện trợ, VNCH phải một mình đương đầu chiến đấu với cả khối Cộng Sản. Quân Lực VNCH cạn nguồn tiếp liệu, thiếu đạn dược, thuốc men, xăng dầu&Quân đội phải phân chia mỏng để bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ. Trong khi đó CS Bắc Việt được cả hai siêu cường CS Nga Tàu hậu thuẩn, ủng hộ triệt để. Họ viện trợ súng đạn tối đa để quân Bắc Việt ồ ạt xâm nhập vào Nam, hầu thanh toán sớm chiến trường Việt Nam. Cán cân lực lượng giữa hai miền Nam Bắc đã nghiêng hẳn về phía Quân đội Bắc Việt. VNCH như con bệnh ngày một yếu, không thuốc chữa, chờ chết và tử thần đã vung lưỡi hái từ Căn cứ Hỏa lực Ðức Lập-Quãng Ðức.

Cháu Thanh! Bác nhớ rất rõ trước khi tấn công vào Ban Mê Thuột, vào Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 23 BB, trước đó hai ngày vào ngày 7 và 8 tháng 3 năm 1975, Bộ đội Bắc Việt đã ồ ạt tấn công Ðức Lập.

Quận Ðức Lập đang trong đêm trường tĩnh mịch vụt bừng bừng rực lửa chiến tranh. Tiếng còi báo động, tiếng đạn nổ dồn dập, những chiến sĩ VNCH đang ngon giấc bỗng giật mình choàng dậy, phút chốc tại các hầm hố chiến đấu những tay súng đã sẵn sang tác chiến&chờ địch.

Những tiếng nổ sấm sét long trời vỡ đất của đại bác, hỏa tiển hòa cùng những tràng đại liên súng to, súng nhỏ tứ phía của toàn vùng Ðức Lập đã xé tan bầu không khí hiền hòa yên tĩnh của vùng rừng núi cao nguyên Ðức Lập. Tiếng đạn pháo kinh thiên động địa của cả hai bên đã làm rung chuyển một vùng trời. Ðến nỗi người con trai lớn của bác ở Ban Mê Thuột còn nhớ đêm đó có nghe tiếng đại bác từ xa vọng về. Có thể từ Ðức Lập hay một nơi nào khác cũng đang có chạm súng lớn.

Với quyết tâm chiếm trọn miền Nam Việt Nam, Cộng Sản Bắc Việt bằng mọi giá bất ngờ tấn công Ðức Lập, chiếm Ðức Lập làm bàn đạp, làm mồi lửa châm ngòi tiến đánh Ban Mê Thuột và toàn miền Nam. Họ sử dụng một lực lượng hùng hậu gồm mấy sư đoàn bộ binh, pháo binh, thiết giáp T54 tấn công vào Ðức Lập và Ban Mê Thuột, trong đó có Sư Ðoàn 320 Thép. Trước đó 3 năm, vào mùa hè đỏ lửa năm 1972 SÐ 320 đã đụng độ nảy lửa với SÐ 23 BB tại chiến trường Kontum. Bác theo SÐ23 vào khoảng hạ tuần tháng 4 năm 1972, có mặt suốt cuộc chiến tại Kontum. Chiến trường Kontum cũng đầy máu lửa, sự sống và cái chết kề nhau trong gang tấc, sinh mạng con người rất mong manh!. T54 của Cộng quân đã xâm nhập vào doanh trại của TÐ 69 PB, ven thị xã. Anh em binh sĩ PB đã hợp đồng tác chiến với bộ binh “bắt sống” một chiếc còn mới toanh. Anh em thiết giáp lái qua Bộ Tư Lệnh/Hành Quân , tướng Lý Tòng Bá, Tư Lệnh SÐ có lên ngồi lái thử, và sau đó đưa về Sài Gòn triển lãm. Có một khu dân cư trong thị xã, bom đạn đã cày nát thành bình địa. Bác không nhớ ba các cháu vào thời điểm đó có mặt ở Kontum hay không?. Bác còn nhớ trên chiếc áo trận của người lính SÐ23 còn đính thêm phù hiệu “Kontum Kiêu Hùng”. Lúc đó còn trẻ bác thấy mình cũng “ngầu” lắm! Ba năm sau vào thời kỳ suy thoái của miền Nam, khởi đi từ mặt trận Ðức Lập, SÐ23 phải trả đủ món nợ cũ đã tạo ra ngày trước; chưa đánh đã tan rã và cuốn theo đôi chân mềm của toàn dân miền Nam.
Bộ đội Bắc Việt áp dụng chiến thuật tiền pháo hậu xung, dũng mãnh và ác liệt, lợi dụng đêm trường tịch mịch vạn vật đều chìm trong bóng đêm, bất ngờ nã những tràng đạn pháo 130 mm, hỏa tiễn 122 mm từ phía bên kia biên giới Việt Miên liên tục phủ đầy trận địa Ðức Lập hầu làm tê liệt sức kháng cự và uy hiếp tinh thần chiến đấu của QLVNCH. Không một sinh vật nào có thể tồn tại trong đêm đó, sắt thép cũng không chịu nổi! Sau đó T54 và bộ đội Bắc Việt ào ạt xung phong vào trận địa. QLVNCH sử dụng toàn bộ hỏa lực : pháo đội (-) 4 khẩu 105 mm kể cả hai khẩu tại Núi Lửa hợp đồng với 4 khẩu pháo 76 mm đặt trên thiết giáp M41 cùng với súng lớn nhỏ của lực lượng phòng thủ căn cứ và Chi khu đã bắn gục ngã và chận đứng nhiều đợt xung phong của địch. Những tiếng mìn bẫy nổ ngoài hàng rào phòng thủ, và những xác người tung lên khỏi mặt đất. Một trận cận chiến bằng súng cá nhân và lựu đạn đã diễn ra. Máu đổ thịt rơi, thây phơi nơi chiến địa của cả hai bên. Lực lượng quân Bắc Việt ngay đêm đó rất hùng hậu có thể gấp 5-10 lần bên QLVNCH, cho nên dù có gan trời cũng đành thất thủ thành người bại trận. Người bị thương hay còn sống sót, theo lệnh của lưỡi lê, họng súng của người chiến thắng. Hận thù, chiến tranh tự cổ chí kim phủ phàng và tàn bạo. Mạnh được, yếu thua.
Ðồi Ðức Lập kể từ ngày 7 và ngày 8 tháng 3 năm 1975 thành “Ðồi Tử Sĩ”, chiến tích thứ ba trên Quốc lộ 14, mồ chung của người Việt Nam, kể cả bộ đội Bắc Việt, sanh Bắc tử Nam. Chết, hết hận thù!
Cháu Thanh!
Mấy ngày qua bác cháu mình lần theo dấu chân của người lính Pháo binh SÐ 23 BB xuyên suốt gần hết Quốc Lộ 14, từ Kontum, Pleiku, Darlac (Ban Mê Thuột), Quảng Ðức (Ðức Lập)&vào thời điểm chiến trường nơi nơi đếu sôi động. Bác đưa cháu đi qua những vùng toàn máu, lửa và nước mắt. Ðưa cháu đi thăm chiến trường xưa -Mặt trận Ðức Lập- ít người biết đến nhưng nơi đó ba các cháu, Ðại úy Tăng Thanh Tâm, bạn của bác Ðại úy PB Bùi Minh Ngọc (Phan Thiết) và những chiến sĩ QLVNCH đã kiên cường, dũng cảm chiến đấu mất còn với Bắc quân đến sức tàn, lực tận&Con cháu hãnh diện với tinh thần kiên cường bất khuất của Cha Ông.

Khi Nỏ Thần hết linh nghiệm thì thành An Dương Vương một thời oanh liệt đã làm kinh tâm tán đởm quân thù cũng bị thất thủ phải rơi vào tay giặc Triệu Ðà (207-107 trước Công nguyên)
Than ôi!

Từ Ðức Tài
Ðầu Thu Oregon 2008
Kính gửi Quý Sư Phụ Lê Ðình Ninh và Trần Văn Hiệp
Thân tặng Quý Ðồng Môn Khóa 22 SQ PB Thủ Ðức
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Lễ Truy Điệu Hai Chiến Sĩ Không Quân Anh Hùng
Cố Trung Uý Nguyễn Văn Lộc và Lê Văn Bé


Bài và hình: Nguyên Huy/Người Việt
Sáng hôm qua Thứ Bảy 8 tháng 11, hàng trăm cựu phi công của Không Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và đại diện của hầu hết quân binh chủng trong Quân Lực VNCH trước năm 1975 đã làm lễ truy điệu thật trọng thể hai chiến sĩ không quân, cố Trung Úy Nguyễn Văn Lộc và cố Trung Úy Lê Văn Bé tại nghĩa trang Peek Family trong thành phố Westminster, Nam California.

Chủ tọa buổi lễ là Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh, chủ tịch hội đồng đại diện Tập thể Chiến Sĩ VNCH hải ngoại. Cùng có mặt là các anh em phi công trong hai phi đoàn 548 và 550 là phi đoàn mà các phi công Lộc và Bé phục vụ. Ngoài ra đại diện các đơn vị không quân VNCH và các quân binh chủng QLVNCH khắp 4 vùng chiến thuật cũng đều hiện diện.

Sở dĩ buổi lễ truy điệu và tưởng niệm này được sự tham dự đông đảo của các cựu chiến binh QLVNCH ở Nam California vì tinh thần chiến đấu và bất khuất của hai chiến sĩ không quân Nguyễn Văn Lộc và Lê Văn Bé đã như là biểu tượng cho người lính chiến VNCH trong cuộc chiến chống sự xâm lăng của cộng sản.

Nhắc lại những hoạt động anh hùng ấy của hai chiến hữu Nguyễn Văn Lộc và Lê Văn Bé, cựu phi công Nguyễn Thanh Mẫn, người đồng tù và đã cùng anh em bạn tù chôn cất cho hai chiến hữu của mình, xúc động kể rằng: “Khi mặt trận Phan Rang bị thất thủ, các anh đã tiếp tục chiến đấu trong mặt trận kiêu hùng Xuân Lộc. Ngày 28 tháng 4 các anh được lệnh ở lại để chuyển phi cơ ra Côn Sơn Phú Quốc. Ba Mươi Tháng Tư đến các anh đã bị bắt đi tập trung cải tạo, bị hành hạ khổ sai. Phản ứng trước những chính sách trả thù tàn độc đối với người tù cải tạo của cộng sản, các anh đã cùng anh em tổ chức vượt ngục. Chỉ có hai anh Nguyễn Văn Lộc và Lê Văn Bé thoát được nhưng ba ngày sau đã bị bắt lại. Trước khi bị bắt, hai anh đã chống cự mãnh liệt và đã bị cộng sản bắn chết”.

Trong một đoạn văn được phổ biến trên báo mới đây, cựu phi công Nguyễn Thanh Mẫn có kể chi tiết rằng: “Thân xác đẫm máu và đầy những lỗ đạn tàn ác của Lộc và Bé đã bị bọn CS lôi về phơi giữa trại tù để đe dọa cùng dằn mặt những tù nhân khác. Hai anh được các bạn tù chôn dưới một gốc cây và lén lút làm dấu hầu sau còn có thể tìm ra”.

Câu chuyện thương tâm được nhiều bạn bè chiến hữu kể tiếp rằng anh Lê Văn Bé lúc ấy chưa có gia đình, mới có vị hôn thê còn anh Nguyễn Văn Lộc thì đã có vợ và đang mang thai đứa con đầu lòng, chị Ngọc Di. Chị Ngọc Di lúc này đã được bạn bè chiến hữu của anh Lộc đưa di tản sang Hoa Kỳ và đã sanh cháu Nguyễn Lộc Ðan Vi. Không bị lôi cuốn trong cuộc sống an thân ở hải ngoại và vì ngưỡng phục tinh thần của người chồng anh hùng nên trong suốt 30 năm trường chị Ngọc Di ở vậy nuôi con và không ngớt tìm mọi cách để tìm được hài cốt của chồng. Chị Ngọc Di đã nhiều lần nói với bạn chiến đấu cũ của chồng rằng: “Bằng mọi giá Di phải tìm cho ra mộ của hai anh Lộc và Bé. Ba mươi ba năm trước anh Lộc đã lo chi Di ra khỏi Việt Nam thì Di cũng hứa với vong linh anh là Di sẽ đưa anh đến Mỹ (xương cốt), một nơi thiên đàng tự do mà anh đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng...”

Không chỉ có chị Ngọc Di đi tìm hài cốt chồng mà gia đình anh Bé ở Việt Nam và cựu phi công Nguyễn Thanh Mẫn định cư ở Úc cũng gia công tìm kiếm. Trời đã không phụ lòng người nên mộ của hai anh Nguyễn Văn Lộc và Lê Văn Bé đã được tìm thấy.

Ngày 3 tháng 11 vừa qua hài cốt của anh Nguyễn Văn Lộc và một phần hài cốt của anh Lê Văn Bé đã tới phi trường Los Angeles do chị Ngọc Di, cháu Ðan Vi và cựu phi công Nguyễn Thanh Mẫn đem từ Việt Nam qua. Hài cốt của phi công Lê Văn Bé sở dĩ chỉ có một phần vì gia đình anh Bé còn ở Việt Nam và đã thuận cho chị Ngọc Di đưa một phần hài cốt của anh sang Mỹ chôn chung với anh Lộc vì khi sống hai người đã đồng cam cộng khổ trong chiến đấu, ngục tù rồi chết bên nhau.

Trước những thương tâm và xúc động ấy, Tổng Hội Không Lực VNCH hải ngoại và toàn thể chiến sĩ VNCH đã tổ chức lễ phủ cờ trên hai quan tài đựng hài cốt của hai anh, đồng thời Tổng Hội Không Lực cũng nêu danh các anh bằng bản tuyên dương công trạng do một niên trưởng, cựu chỉ huy trưởng của hai anh tuyên đọc trong lễ truy điệu.

Trong dịp này Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh và đại diện các quân binh chủng, cảnh sát quốc gia đã lần lượt lên đọc ai điếu và chia buồn cùng chị Ngọc Di. (NH)
Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image
TranAnhDung
Posts: 297
Joined: Tue Oct 28, 2008 7:43 pm
Contact:

Post by TranAnhDung »

TRẬN ÐÁNH ÐỨC LẬP
(Giải Ba cuộc thi Bút Ký Chiến Trường năm 1970 của Cục Tâm Lý Chiến, N.A.H)

PHẠM PHONG DINH sưu tập và biên soạn


2.11.

Bọn chúng tôi gồm sáu người thuộc Tiểu Ðoàn 230 Pháo Binh đến Bộ Chỉ Huy Hành Quân Trung Ðoàn 45 thuộc Sư Ðoàn 23 Bộ Binh tại Ðức Lập, tỉnh Quảng Ðức, bằng trực thăng lúc11 giờ trưa, trong đầu còn mang theo một vài hình ảnh uy nghi của ngày kỷ niệm Cách Mạng 1.11.1970. Ăn cơm trưa xong, chúng tôi bắt tay ngay vào việc.

Sau khi nhận trách nhiệm phối hợp hỏa lực do các sĩ quan Pháo Binh Hoa Kỳ trao lại (Theo sự thỏa thuận trước, trong mấy ngày đầu của cuộc chiến, công tác phối hợp hỏa lực do các sĩ quan Pháo Binh Hoa Kỳ đảm nhiệm, vì tại Ðức Lập họ có 14 khẩu đại bác). Sau khi hội đủ thành phần hỏa yểm để hoạch định công tác, sĩ quan phối hợp hỏa lực phân công người thiết lập kế hoạch pháo yểm, thiết lập hệ thống truyền tin, người ghép bản đồ, vẽ phóng đồ, đào hầm hố,... Bắt tay vào việc chưa đầy một tiếng đồng hồ, thì được tin địch bắn rơi hai trực thăng tại Ngã Ba Daksong, 14 cây số Tây Nam Ðức Lập. Lúc 2 giờ chiều, địch pháo kích Trại Biệt Kích Daksak, cách Bộ Chỉ Huy Hành Quân 5 cây số về phía Ðông Nam. Lúc 7 giờ tối, chúng lại pháo kích Căn Cứ Dorie, cách Bộ Chỉ Huy Hành Quân 14 cây số về phía Ðông Bắc. Ðã bận, chúng tôi càng bận thêm vì phải điều động các đơn vị phản pháo. Sau nửa ngày làm việc không ngừng, chúng tôi đã nhận định được tình hình và làm quen được với khung cảnh hoạt động. Thức quá khuya để làm xong cho bằng được 12 bản kế hoạch pháo yểm, chúng tôi để cả giày, trùm mền ngủ.

3.11.

Chỉ một đêm ở Ðức Lập đủ để tôi hiểu thời tiết vùng này. Lạnh hết chỗ nói ! Ngủ cả giày, với áo len, quần áo tác chiến, trùm một chiếc mền len gấp đôi, tôi vẫn phải thức dậy lúc 3 giờ sáng, để rồi thức luôn đến sáng. Sáng ra, sương mù dầy đặc mang cho tôi cảm tưởng đang sống tại miền quê một xứ Bắc Âu. Tôi quơ tay xem có ai đứng trước mặt không, vì trong óc chợt nảy ra một ý nghĩ ngộ nghĩnh : biết đâu chẳng có một tên cộng sản xâm lược với khẩu AK cũng đang quờ quạng quanh đây. Cái lạnh Ðức Lập chưa đến nỗi làm nước đóng băng nhưng đủ để ngăn chúng tôi chải răng buổi sáng, là vì kem Perlon bị đông đặc, bóp mấy cũng không ra. Ðược cái là không có muỗi. Ðiều này cũng dễ hiểu, vì gió lộng suốt đêm, muỗi có mọc thêm bốn cánh nữa cũng bị thổi bay. Sương tan được một lát, hai đại đội thuộc Tiểu Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân được trực thăng vận đến Ngã Ba Daksong với nhiệm vụ tiếp cứu phi công trực thăng bị nạn. Buổi chiều, địch pháo kích vào Trại Daksak hai lần, không gây thiệt hại nào.

4.11.

Mới 6 giờ sáng tình hình đã hứa hẹn nhiều sôi nổi. Hai đại đội Biệt Ðộng Quân bị địch pháo kích và tấn công dữ dội trong liên tiếp nhiều giờ. Biệt Ðộng Quân có 3 binh sĩ tử thương nhưng quân ta lượm được của địch 21 xác. Ðến 10 giờ, một cuộc hành quân giao tiếp cấp thời được tổ chức để đón hai đại đội Biệt Ðộng Quân về. Thành phần còn lại của Tiểu Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân và toàn bộ Tiểu Ðoàn 1/53 được điều động từ Ðức Lập xuống phía Nam. Thế là những trận đánh xảy ra dọc đường tiến quân, trên một đoạn đường ngoằn ngoèo của Quốc Lộ 14. Ðịch từ các triền Ðồi phía Tây bắn xuống bằng đủ mọi loại súng : AK có, B40 có, trung liên, đại liên, súng cối có. Các chiến sĩ ta bám vào vệ đường phía Ðông chống trả, trong khi phi cơ bay đến oanh kích tôi bời, Pháo Binh tác xạ “như điên”.

Chiều đến, Chi Ðoàn 3/8 Thiết Kỵ và một đại đội thuộc Tiểu Ðoàn 1/45 tới tăng viện. Lại chạm địch. Những khẩu đại liên 50 trên thiết vận xa M113 lâu lâu mới gặp mục tiêu thích hợp, khạc đạn rung rinh cả khoảng rừng già. Quân ta phản công, tiến đến chân dãy đồi thì trời sập tối. Ðịch lẩn sang những triền đồi phía sau. Quân ta lùi lại chừng 500 thước giao khoán các mục tiêu cho Pháo Binh. Từ bốn căn cứ hỏa lực quanh quận lỵ Ðức lập, đạn 105 ly được phóng đi, đầu nổ nhanh có, đầu nổ chậm có, đầu nổ cao có. Hầu như suốt đêm. Khói súng quyện lấy sương mù làm cho bầu không khí tại những căn cứ hỏa lực trở nên ngột ngạt, mằn mặn.

5.11.

Ngoài những đơn vị tham chiến ngày hôm trước, Bộ Chỉ Huy Hành Quân “đầu tư” thêm Tiểu Ðoàn 2/45 và Ðại Ðội 45 Trinh Sát. Tiểu Ðoàn 2/45 làm nỗ lực chính ở phía Tây Quốc Lộ 14. Chi Ðoàn 3/8 Kỵ Binh và Ðại Ðội 45 Trinh Sát tiến trên quốc lộ. Các đơn vị khác “tả phù hữu bật”.

8 giờ 15. Lệnh xuất phát ban ra. Các cánh quân liên lạc dọc, liên lạc ngang, tiến lên. Như một mẻ lưới. Ðịch lùi xuống phục kích phía Nam chỗ phục kích ngày hôm qua. Nhìn con mồi gồm những chiếc M113 xám xanh chạy trên đường, địch giương mắt theo dõi, chờ lệnh khai hỏa. Thật dễ dàng làm sao ! Chúng không biết Tiểu Ðoàn 2/45 đang tiến ngang cạnh sườn chúng. Cho nên khi Tiểu Ðoàn 2/45 từ bên hông nổ súng tới, địch rối loạn hàng ngũ liền. Tuy vậy chúng vẫn quay đầu chống trả thật kịch liệt, kịch liệt đến nỗi quên cả Chi Ðoàn 3/8 Thiết Quân Vận và Ðại Ðội 45 Trinh Sát lúc này đang ở sau lưng chúng. Nên khi những chiếc M113 tiến gần hơn rồi nhả đạn, rồi Ðại Ðội 45 Trinh Sát hạ chiến, địch chỉ còn cách mạnh ai nấy chạy. Ðúng là một mẻ lưới.

Các đơn vị tham chiến tiếp tục tiến xuống phía Nam. Ðến 5 giờ chiều, Tiểu Ðoàn 2/45 giao tiếp được với cánh quân Mũ Nâu. Anh em ôm nhau, nước mắt rưng rưng. Tổng kết hai ngày giao tranh dữ dội : địch 157 chết, ta 36 chết, 41 bị thương.

6.11.

Quá nửa đêm, lính gác tại Bộ Chỉ Huy Hành Quân báo cáo có tiếng động khả nghi ngoài hàng rào. Trời tối, lại có sương mù. Mấy phút sau, lính gác nổ súng. Ðồng thời hỏa châu, đạn chiếu sáng rực trời. Bị lộ, phản ứng tiên khởi của địch là nã súng cối vào Bộ Chỉ Huy Hành Quân. Nhưng bắn súng cối thì Ðặc Công địch chưa xung phong được, đành nằm chịu trận ngoài hàng rào, biến thành mục tiêu tốt cho Ðại Ðội 45 Trinh Sát và Ðại Ðội Chỉ Huy Công Vụ của Trung Ðoàn 45, hai đơn vị có nhiệm vụ bảo vệ Bộ Chỉ Huy Hành Quân. Khi súng cối địch ngưng bắn, bao nhiêu Ðặc Công còn sống sót, còn can đảm đứng dậy, còn dám liều lĩnh xung phong ? Cuộc lục soát ngay đêm ấy và sáng hôm sau cho thấy xác tên Ðặc Công liều lĩnh nhất, nhanh chân nhất nằm trên lớp hàng rào giữa. Số còn lại rải từ lớp rào ngoài cùng ra đến các khu rừng chung quanh. Tổng cộng 24 xác, tịch thu 6 súng và vô số chất nổ. Một chiến sĩ phát biểu ý kiến của anh :

- Mình phát giác nó trước, mình ở trên cao nó ở dưới, mình có súng trong khi bọn nó nhiều tên chỉ mang những miếng chất nổ đen vừa lòng bàn tay. Mình ở trong hầm nó ở ngoài trống, mình vừa trùm mền vừa thụt ra trong khi nó cởi trần giữa đêm lạnh, nên nó phải chết.

11 giờ trưa, địch pháo kích Trại Daksak làm cháy bệnh xá. 3 giờ 15 chiều, đoàn xe tiếp tế từ Ban Mê Thuột tới. Có bánh mì, có báo. Lác đác vài người có cả thư nhà dù “xuất quân” chưa được một tuần. Công việc nặng nhọc nhất của các pháo thủ là xuống đạn : 400 quả 155 ly và 600 quả 105 ly. Mọi người đang nỗ lực làm việc bỗng vang lên một tiếng nổ lớn. Một trái lựu đạn hay một quả mìn claymore phát nổ ? Không, một cột khói đen bốc lên cách Bộ Chỉ Huy Hành Quân chừng 400 thước. Có tiếng la : “Pháo kích, pháo kích”. Trong giây lát, cả khu vực đang hoạt động bỗng vắng hoe. Chỉ còn những cấp chỉ huy đảo ngược, đảo xuôi kiểm soát, tìm hiểu sự việc. Và các quân nhân pháo thủ. Bởi một phản ứng trở thành thói quen, các pháo thủ vẫn trân trân đứng đó chuẩn bị đạn dược, chờ lệnh phản pháo.

Một tiếng rít dài trên không. Tiếng nổ thứ hai tiếp theo. Một cây cổ thụ bị chém gãy cành trụi lá. Chúng tôi đã nhận định được tình hình : Ðịch bắn hỏa tiễn 122 ly từ hướng Tây Bắc. Những toán quân tuần tiễu hoạt động bên ngoài cung cấp thêm tin tức. Chúng tôi có đủ yếu tố để phản pháo. Một phút sau, đại bác 105 ly bắt đầu bắn trả. Thêm nửa phút nữa là đại bác 155 ly. Các căn cứ hỏa lực kế cận cũng góp tiếng. Phản pháo xong, anh em pháo thủ mới có thì giờ nhìn chung quanh xem những chuyện gì đã xảy ra. Ðài tác xạ vừa hoàn thành với sườn bằng gỗ, mái bằng vĩ sắt đã không cánh mà bay. Vĩ sắt rải rác đó đây, một tấm đập vào hông một chiếc xe vận tải bị cong thành hình chữ L. Thì ra một trái hỏa tiễn với đầu nổ chậm đã chui lọt vào và phát nổ trong đài tác xạ. Không ai hề hấn gì vì chưa dọn vào. Ðài tác xạ chỉ cách khẩu đội 15 thước, nhưng mãi thi hành tác xạ, nên lúc hỏa tiễn nổ không ai để ý.

Một sự việc khác có phần lý thú đối với anh em Pháo Binh. Số là mỗi khi chiếm đóng vị trí, một trong những điều Pháo Binh phải chú ý là tà giác bực chắn. Tà giác bực chắn là góc cao của những chướng ngại vật chung quanh vị trí có thể ngăn cản đường đạn đi. Tà giác bực chắn càng lớn thì càng gây nhiều khó khăn cho việc tác xạ. Thế mà tại vị trí Bộ Chỉ Huy Hành Quân, một cây rừng cao to, chết khô, đứng sừng sững ngay trước mặt Trung Ðội 155 ly. Anh em tính hạ từ mấy này trước, nhưng sợ cây đổ làm hư xe cộ, hầm hố chung quanh. Bây giờ, nhờ một trái hỏa tiễn nổ sát gốc, cây khô vật ngã chình ình ra đó mà không gây thiệt hại nào. Một anh lính Pháo Binh bắt chéo chân, cúi đầu giở nón chào theo kiểu ảo thuật gia, bình phẩm một câu theo lồi hành văn của các ký giả thể thao :

- Các đồng chí đã bắn một trái để đời, đáng cho chúng ta giở nón cúi đầu.

7.11.

Xế trưa, một đại đội thuộc Tiểu Ðoàn 2/45 chạm địch trong khi tuần thám phía Bắc Ðức Lập, giết 2 tên, tịch thu một hầm vũ khí gồm 4 trung liên, 2 B40 và 12 súng cá nhân.

8.11.

Tình ngày hôm nay có vẻ êm ả, dạo một vòng quanh Ðức Lập. Trước hết là chợ Ðức lập. Sản phẩm địa phương bày bán thứ nào cũng rẻ hơn ở Ban Mê Thuột. Rẻ đến nổi nhiều người mệnh danh chợ Ðức Lập là siêu thị. Thịt heo 220 đồng một ký so với 400 đồng, gạo 4,500 đồng một tạ so với 6,000 tại Ban Mê thuột, v.v.. Khốn nỗi sản phẩm địa phương chỉ có vài ba thứ, những thứ khác từ Ban Mê Thuột mang đến tất nhiên đắt hơn. Phải nói đắt hơn quá nhiều mới đúng. Lại nữa, “siêu thị” thì nhỏ, binh sĩ bỗng chợt kéo đến cả ngàn nên vật giá leo thang từng ngày, từng giờ. Chỉ trong vòng một tuần lễ, giá thịt heo lên 420 đồng một ký, và gạo 6,500 đồng một tạ. Chả cần học kinh tế cũng biết luật cung cầu là thế.

Rời chợ rẽ tay trái là làng Ðức Minh gồm dân từ Nghệ An, Hà Tĩnh di cư vào. Nhờ cuộc đi dạo này, tôi tìm hiểu được phần “địa lý nhân văn và thảo mộc” như sau. Dân Ðức Minh tiếng nói nặng. Người đứng tuổi vẫn ăn mặc theo lối xưa : đàn bà vấn khăn, đàn ông quần trùng, áo dài. Con gái : xinh. Nói chung, tại Ðức Minh không có ai nghèo thật sự, mà chỉ có người giàu và người ít giàu, hay kém giàu, hay không giàu bằng. Người giàu có nhà ngói khang trang. Người ít giàu không làm được nhà ngói thì trồng thật nhiều mít cho có vẻ giàu thật sự. Có lẽ ít nơi đâu chịu ảnh hưởng của câu “nhà ngói, cây mít” hơn ở Ðức Minh. Sau mít là xoài, có thể ngoài mít và xoài, Ðức Minh không còn loại cây ăn trái nào khác. Cũng có thể nói “trên là trời, dưới là mít và xoài. Ðầu làng có con suối chảy ngang, chen chúc những cô nàng giặt lụa... Thái Lan. Về công nghệ, có một tiệm sửa đủ loại máy móc : Honda, máy cày, máy bơm nước, xe hơi, đồng hồ, v.v.. Nhà máy xay lúa hoạt động tấp nập. Ðức Minh có một trường trung tiểu học tư thục, các cô giáo ăn mặc đúng mốt Sài Gòn, thướt tha và yểu điệu.

Trở ra, đi ngược Quốc Lộ 14 chừng ba cây số là làng Tú Minh, tương tự Ðức Minh. Có khác chăng chỉ là ở Tú Minh dân cư thưa thớt hơn và người ta trồng cà phê, thay vì cấy lúa như ở Ðức Minh. Dọc Quốc Lộ 14 xuống phía Nam là làng Ðức An gồm di dân nguyên ở Quảng Nam. Phần lớn dân Ðức An làm trà, tuy nghèo hơn nhưng chống cộng không thua dân Ðức Minh và Tú Minh.

9.11.

Buổi sáng, phóng viên các hãng thông tấn tấp nập kéo đến Bộ Chỉ Huy Hành Quân xin đi theo Tiểu Ðoàn 2/45 quay phim, viết bài. Mỗi toán phóng viên đi theo một đại đội. Lúc 3 giờ chiều, Trung Ðội Biệt Kích của Tiểu Ðoàn 2/45 chạm địch dữ dội. Dữ dội nhưng ngắn ngủi, trận đánh kéo dài không quá mười phút. Song thời gian ấy cũng đủ để anh em Biệt Kích đổi 2 người bị thương lấy 22 xác địch, 2 trung liên, 1 B40 và 2 AK. Chiều về, các phóng viên người nào cũng tiếc ngẩn ngơ vì không ai đi theo Trung Ðội Biệt Kích. Một phóng viên dậm chân than trời :

- Tiếc quá ! Ði theo cánh quân bên cạnh nghe súng nổ rần rần mà không sao qua được.

16.11.

Tình hình tuần qua không sôi động mấy nhưng hết sức căng thẳng. Công cuộc chuẩn bị vô cùng ráo riết. Tại những căn cứ quân bạn, hầm hố kiên cố được thiết lập bằng cây rừng loại lớn. Dây kẽm gai chàng chằng chịt ngang dọc. Tin tức tình báo rất dồi dào cho thấy lực lượng địch được tăng cường ngày một nhiều. Ngoài Trung Ðoàn 28, còn có sự hiện diện của Trung Ðoàn 40 Pháo, Tiểu Ðoàn 394 Pháo, Tiểu Ðoàn 37 Ðặc Công và các đơn vị địa phương. Ðể phối kiểm tin tức và thăm dò lực lượng địch, những cuộc hành quân tuần thám của quân ta được tung ra liên tiếp. Ðạn dược, thực phẩm được ùn ùn chở đến các căn cứ đóng quân.

Về phía địch, chúng gia tăng pháo kích, khi thì hỏa tiễn, khi thì súng cối, khi thì súng không giật. Những hoạt động này có lẽ chỉ có mục đích cầm chân quân ta để chúng có thì giờ chuẩn bị, chắc cũng ráo riết không thua gì ta. Tựu trung, cả hai bên đều muốn nắm chắc phần thắng nên còn rình rập nhau như hai con thú tranh mồi, gầm gừ tìm sơ hở của nhau. Song nếu các đơn vị Bộ Binh và Thiết Giáp sửa soạn kỹ càng cho công cuộc phòng thủ như vậy, thì các chiến sĩ Pháo Binh lại ở thế công hơn ai hết. Tin tức ghi nhận vị trí địch tới tấp gửi về Trung Tâm Phối Hợp Hỏa Lực. Từng đơn vị địch được theo dõi cẩn thận trên bản đồ. Những loạt đạn “nổ đồng thời” (time on target, một lối bắn của Pháo Binh nhằm tập trung cùng một lúc hỏa lực của nhiều đơn vị vào một mục tiêu ) dồn dập phóng đi bất kể ngày đêm. Mãnh liệt đến nỗi thú rừng phải dội ngược về các căn cứ phòng thủ, giúp chiến sĩ ta đỡ phải ăn khem lối “đàn bà đẻ “.

17.11.

Buổi sáng, một trung đội thuộc Tiểu Ðoàn 1/45 chạm địch, ta 3 bị thương, địch 2 chết. Buổi chiều, Ðại Ðội 3 Tiểu Ðoàn 1/45, trong một cuộc hành quân sưu tầm tin tức đã giao phong dữ dội với một đơn vị địch, giết 32 tên, thu một số vũ khí và quân trang. Phía bạn có 7 chết, 10 bị thương. Tối đến, vị trí đóng quân của Ðại Ðội 285 Ðịa Phương Quân bị pháo kích. Pháo Binh ta phản pháo “tưng bừng”. Sáng ra, Ðại Ðội lục soát thấy 3 xác địch, tịch thu 2 AK47.

19.11.

Không phải chỉ có thú rừng dội ngược về phía những căn cứ hỏa lực vì đạn pháo binh. Mà cả địch quân nữa. Một Trung Sĩ cộng sản tên Lê Hồng Kiều ra trình diện Nghĩa Quân xã Ðức An xin hồi chánh. Kiều là Tiểu Ðội Trưởng Tiểu Ðội Trinh Sát của Tiểu Ðoàn K 3, Trung Ðoàn 28 cộng sản Bắc Việt thuộc Mặt Trận B3. Kiều ăn nói hoạt bát, hiểu biết khá về quân sự. Anh mặc bộ kaki vàng nhàu nát, đi dép cao su, mặt mũi phờ phạc, chân tay nứt nẻ vì thời tiết. Anh mang theo một khẩu AK, một địa bàn, nhưng đáng giá hơn cả là tấm bản đồ hành quân của Tiểu Ðoàn K3.

Kiều cho biết trong trận đánh dọc Quốc Lộ 14 ngày 4.11.1970, khi quân ta mở cuộc hành quân giao tiếp với Biệt Ðộng Quân, Tiểu Ðoàn K3 vừa chết vừa bị thương trên 50 người. Nhiệm vụ của K3 hiện nay là cùng với các Tiểu Ðoàn K1 và K2 và một số đơn vị khác chuẩn bị chiến trường đánh giao thông chiến, rồi sau đó quyết tâm đánh dứt điểm Ðức Lập. Về pháo binh địch, Kiều cho biết ngoài các loại súng cối, hỏa tiễn, Trung Ðoàn 28 còn có thể được Mặt Trận B3 đưa đơn vị Pháo 152 ly đến yểm trợ. Kiều xác nhận nhiều đơn vị cộng sản bị khốn đốn vì hỏa lực pháo binh ta. Ngay đêm hôm trước, một bộ phận Thông Tin (Truyền Tin) của K3 cũng bị tổn thất vì pháo binh. Anh cung cấp cho chúng tôi vị trí một đại đội cũng của tiểu đoàn này, đóng cách bộ phận Thông Tin 200 thước. Kiều còn tiết lộ, kể từ hôm nay địch khởi sự ra mặt công hãm ngọn đồi 804, ngọn đồi chúng tôi quen gọi là Núi Lửa, do Tiểu Ðoàn 1/45 trấn giữ.

Lúc 5 giờ chiều, quả đúng như lời Kiều nói, địch pháo kích Núi Lửa bằng súng cối 82 ly. Chúng pháo kích luôn vào đồn Ðịa Phương Quân Sarpa gần đó. Giai đoạn đầu của mặt trận công hãm mở màn ? Ðịch đã thấy được sơ hở của ta ? Hay chúng muốn đánh lạc hướng hầu thực hiện một âm mưu khác ? Thời gian sẽ cung cấp lời giáp đáp thích đáng.

20.11.

Buổi chiều, địch bắn hỏa tiễn 122 ly vào Bộ Chỉ Huy Hành Quân. Lại vô sự. Một máy bay quan sát nhận ra vị trí hỏa tiễn liền điều chỉnh pháo binh tác xạ. Tác xạ có quan sát, nhất là tác xạ phản pháo, là điều chúng tôi luôn mong ước. Cho nên sau khi điều chỉnh xong, tất cả các đơn vị Pháo Binh đều tập trung hỏa lực vào mục tiêu này. Khác với những lần trước, lần này chúng tôi đã cắt ngang cuộc pháo kích của địch.

21.11.

Sáng sớm, một cặp phản lực khu trục lừng lững đảo tròn trên khu vực vị trí hỏa tiễn địch. Chiếc máy bay điều không vừa ném trái khói, một chiếc khu trục nhào xuống liền. Một trái bom vun vút lao xuống. Một cột khói bốc lên. Ở xa nhìn lại, cột khói có vẻ khác lạ vì nó lớn hơn, cao hơn, nhưng loãng hơn và không tròn trịa như thường thấy. Tiếp đến là tiếng nổ. Tiếng nổ thứ nhất được kèm theo tiếng nổ thứ hai có phần lớn và đầm hơn. Qua máy vô tuyến, chúng tôi nghe tiếng sĩ quan Ðiều Không báo cáo với giọng vui mừng :

- Có tiếng nổ phụ. Trúng hầm hỏa tiễn.

Chiếc khu trục thứ nhì nhào xuống. Lần này mục tiêu được đánh dấu rõ ràng bằng một cột khói, chớ không phải chỉ bằng trái khói. “Khán giả “ lo ngại giùm cho phi công, vì không thấy máy bay ngóc lên. Lúc nghe tiếng nổ ầm ầm, mọi người ngẩng nhìn, thấy phi cơ vụt bay ngang đầu. Thì ra cột khói tỏa quá rộng đã che lấp phi cơ trong thời gian nhào lộn.

Trong ngày, địch pháo kích sáu lần vào Núi Lửa và đồn Sarpa gây cho ta 2 chết, 1 bị thương.



22.11.

Tôi có dịp bay lên Núi Lửa để xem xét tại chỗ. Thực ra, đó là một miệng núi lửa đã tắt, hình bầu dục, dài khoảng 500 thước, rộng khoảng 300 thước, cao hơn mặt đất 80 thước, nơi trũng nhất trong lòng miệng núi có cao độ 804 so với mặt nước biển. Triền núi phía trong khá dốc, chằng chịt dây leo quấn lấy những cây cổ thụ to lớn. Giữa miệng núi, xanh rì một vạt chuối rừng rậm rạp. Trong trận Ðức lập tháng 8 và 9.1968, nhiều cuộc thư hùng đã xảy ra giữa ta và địch tại Núi Lửa này vì tính chất quan trọng của nó về mặt chiến thuật. Chiếm được Núi Lửa, kể như mặc nhiên kiểm soát được quận lỵ Ðức Lập và những làng xã lân cận. Cho nên, với mọi giá, ta phải trấn giữ, cũng như địch cố đánh chiếm Núi Lửa. Ðoán trước ý định của địch, anh em Tiểu Ðoàn 1/45 ngay từ khi chiếm ngọn núi này, đã ra công sức đào hố, đấp hầm chờ những cuộc tấn công, pháo kích sẽ xảy đến. Tại đây, hầm ếch là loại thông dụng nhất : một giao thông hào dài, sâu chừng 3 thước, đào hườm vào trong những khoảng trống đủ cho một, hai người nằm, phía trên ken cây cứng. Bên cạnh hầm ếch đều có bậc thềm để binh sĩ nhô lên chiến đấu dễ dàng.

Khi trực thăng đáp xuống, chúng tôi phải nhảy ra thật nhanh để tránh súng cối địch và để trực thăng cất cánh liền. Khi trực thăng tới đón, chúng tôi phải lên trong vòng năm giây đồng hồ. Trung bình cứ năm lần hạ cánh, trực thăng bị pháo kích bốn lần, hoặc bằng súng cối, hoặc bằng hỏa tiễn.

24.11.

Trận đánh của Ðại Ðội 2, Tiểu Ðoàn 1/45 lúc 8 giờ 50 và lúc 3 giờ 50 chiều trên Núi Lửa gây cho địch 5 chết, 1 B40 bị tịch thu. 10 giờ tối, sau khi pháo kích ba lần không hiệu quả vào Núi Lửa, địch quay lại tấn công Trung Ðội Nghĩa Quân xã Ðức An. Nghĩa Quân phục kích nghênh chiến ngoài hàng rào xã giết 5 tên, thu 2 AK. Những người thường nghi ngờ tinh thần chống cộng của di dân là những người đầu tiên chặc lưỡi thán phục. Giết 5 tên địch, lấy 2 khẩu súng không phải là kỳ công đối với các anh Nghĩa Quân, nhưng nếu đặt mình vào hoàn cảnh lúc bấy giờ mới hiểu rằng thắng lợi ấy không dễ thực hiện. Lực lượng quân ta bị công hãm, việc liên lạc với tiền đồn Núi Lửa bị cắt đứt, tinh thần căng thẳng sau một thời gian dài chuẩn bị và mục kích những trận đánh lớn... Những yếu tố ấy chắc chắn ảnh hưởng mạnh mẽ tới tinh thần và hoạt động của chiến sĩ Nghĩa Quân xã Ðức An. Thế mà, thay vì có thể đến trú đóng chung với Ðại Ðội 285 Ðịa Phương Quân đồn Sarpa, Nghĩa Quân Ðức An ngày đêm vẫn tuần phòng, phục kích để giữ làng, bảo vệ dân, mặc dầu biết mình ở thế thất lợi.

27.11.

Xế trưa, Trung Ðội Biệt Kích của Tiểu Ðoàn 1/45, lâu nay vẫn án ngữ một đường xâm nhập của địch gần quận lỵ Ðức Lập, được trực thăng vận đến Núi Lửa trả cho đơn vị gốc để tăng cường phòng thủ. Trung Ðội vửa nhảy khỏi trực thăng trên một ngọn đồi nhỏ dưới chân Núi Lửa là địch pháo như mưa. Anh em vừa phân tán vừa tiến lên đỉnh núi vô sự.

Mười phút sau, một chiếc trực thăng bị bắn rơi ngay chỗ Trung Ðội vửa đáp. Chưa kịp nghỉ, Trung Ðội có việc liền : tiếp cứu phi công. Mới bò lên, bây giờ bò xuống. Bò xuống đón, phi công lại bò lên. Công việc hoàn tất trong vòng nửa tiếng đồng hồ, không có tổn thất. Chiếc trực thăng được khu trục đến oanh kích phá hủy.

Xẩm tối, một ổ phục kích của Tiểu Ðoàn 1/45 thấy thấp thoáng mấy tên địch từ chân núi bò lên. Chờ mục tiêu tiến đến vừa tầm súng, một loạt đạn bắn ra chưa kịp dứt, tên đi đầu đã giơ tay với khẩu súng AK đeo sau lưng, nòng chúc xuống. Một hồi chánh viên. Anh khai tên Phan Ðình Bát, cấp bậc Trung Sĩ, thuộc Ðại Ðội 3, Tiểu Ðoàn K1, Trung Ðoàn 28 Bắc Việt. Ngày hôm trước, đại đội anh đến thay thế Ðại Ðội 1, vì Ðại Ðội 1 bị tổn thất trên 50% quân số gây ra bởi hỏa lực Pháo Binh và Không Quân của ta. Ðược hỏi về mấy người đi cùng, Bát cho biết họ cũng ra hồi chánh như anh, nhưng bất ngờ bị ổ phục kích bắn nên truồi xuống.

28.11.

Không hiểu có phải để nâng cao tinh thần đồng bọn, hầu giảm thiểu số hồi chánh viên hay không mà trong vòng 24 giờ từ lúc anh Phan Ðình Bát ra trình diện, địch pháo kích cả thảy mười lần vào Tiểu Ðoàn 1/45. Tại Bộ Chỉ Huy Hành Quân, 27.11 và 28.11.1970 là hai ngày hết sức bận rộn. Theo lệnh Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh, Tiểu Ðoàn 1/45 sẽ được Tiểu Ðoàn 3/45 đến thay thế nhiệm vụ. Toàn bộ Trung Ðoàn 45 và Thiết Ðoàn 8 Kỵ Binh hỗ trợ cuộc hoán đổi này. Nỗ lực chính gồm Tiểu Ðoàn 2/45 và Chi Ðoàn 1/8 Chiến xa. Nỗ lực phụ gồm Tiểu Ðoàn 4/45 và Chi Ðoàn 3/8 Thiết Kỵ. Lực lượng trừ bị chính là đơn vị “lên phiên”, tức Tiểu Ðoàn 3/45. Chúng tôi nhận chỉ thị, thu thập tin tức, thảo luận, thiết kế.

5 giờ chiều, sau buổi họp trình bày kế hoạch, Bộ Chỉ Huy Hành Quân phổ biến lệnh hành quân. Các đơn vị tham chiến hầu như phải làm việc suốt đêm để nghiên cứu và chuyển kế hoạch chi tiết xuống các thành phần phụ thuộc. Ngày mai hẳn phải khác những ngày trước.

29.11.

Chúng tôi dậy từ 5 giờ sáng, sửa soạn bắn chuẩn bị. Dưới hầm Trung Tâm Phối Hợp Hỏa Lực và Ðài Tác Xạ, điện thoại reo liên hồi. Những chi tiết cuối cùng được chuyển đạt cho các đơn vị Pháo Binh. Ngoài vị trí đại bác, các pháo thủ lặng lẽ tháo đạn, ráp đầu nổ, kiểm soát súng. Chúng tôi dự tính bắn 2,000 quả cho cuộc hành quân ngày hôm nay.

7 giờ 30, chúng tôi nhận thêm một Trung Ðội 155 ly từ Ban Mê Thuột tới.

8 giờ, qua máy vô tuyến, một sĩ quan tại Trung Tâm Phối Hợp Hỏa Lực đếm lùi :

- 60, 50, 39, 38, 4, 3, 2, 1... Nổ đồng thời !

Hai chục giây sau, những tiếng nổ từ vùng mục tiêu dội lại. Trong sương mai, tiếng nổ trở nên lớn hơn, rền rĩ hơn, âm u như vang vọng từ đáy vực sâu.

8 giờ 20, các cánh quân rời tuyến xuất phát trong tiếng ì ầm của đại bác tiếp tục bắn. Một vài cuộc chạm súng diễn ra, song địch quân bị đánh guc ngay bởi lực lượng hùng hậu của quân ta. Các sĩ quan tham mưu xê dịch ước hiệu của quân bạn trên bản đồ. Ðường tiến quân được nối dài... Cho đến 11 giờ, một lực lượng cộng quân cấp tiểu đoàn tổ chức hầm hố kiên cố trên sườn đồi dùng mọi loại súng dội như mưa vào Tiểu Ðoàn 2/45. Chi Ðoàn 1/8 Chiến Xa dàn đội hình hàng ngang trợ lực 2/45 phản công. Trong khu rừng rậm hoang vu, chiến xa đè cây đổ ngã như những con quái vật hung hãn, các chiến sĩ Bộ Binh nương theo chiến xa tiến lên. Nhưng rồi những chiếc M41 phải dừng lại, vì càng vào sâu cây cối càng lớn. Ðịch đã khéo chọn địa điểm phục kích. Tuy nhiên, tại đây cộng quân không ngờ chúng lại là mục tiêu của TOT (time on target) đã được Trung Tâm Phối Hợp Hỏa Lực dự trù sẵn.

Theo lời yêu cầu của sĩ quan Tiền Sát Tiểu Ðoàn 2/45, loạt đại bác đầu tiên đã bắn xuống ầm ầm. Toán Tiến Sát kế cận báo cáo trở ngại. Sĩ quan Tiền Sát Tiểu Ðoàn2/45 xin bắn hiệu quả. Chỉ trong vòng 12 phút, với tất cả lực lượng Pháo Binh khả dụng, chúng tôi đã bắn đi 480 quả đạn 105 ly và 155 ly. Trong lúc đang tác xạ, Tiểu Ðoàn Trưởng 2/45 reo lên trong máy vô tuyến :

- Hay lắm ! Tôi quan sát cả xác địch văng lên.

Sĩ quan Tiền Sát báo cáo thấy súng của địch tung lên lẫn trong cát bụi. Anh phải báo cáo tới lần thứ ba chúng tôi mới nghe được, vì anh nằm cách mục tiêu chỉ có 150 thước, tiếng nổ át mất tiếng gọi. Cuộc tác xạ Pháo Binh chấm dứt làm chấm dứt luôn trận đánh. Bốn bề trở nên vắng lặng vì địch quân bị nhiều thương vong, phần im lìm trốn chạy. Tiểu Ðoàn 2/45 lục soát trên mặt đất ghi nhận trên 40 xác địch, tịch thu 8 súng, nhưng khẩu nào cũng hư hỏng vì mảnh đạn. Trưa nay, mãi đến 2 giờ anh em Pháo Binh mới ăn cơm. Người nào người ấy mệt nhoài vì làm việc quần quật từ sáng sớm. Người ngồi, kẻ đứng, ai cũng vội vã nuốt cho đầy bụng càng lẹ càng tốt. Biết đâu chẳng có nhiệm vụ tác xạ khác ngay bây giờ ? Riêng Ðại Úy Pháo Ðội Trưởng chưa ăn. Ông lợi dụng thời gian nghỉ bắn để kiểm soát lại những khẩu đại bác. Ông đến chỗ chiến sĩ đang ăn cơm loan báo kết quả tác xạ đạt được. Không ai bảo ai, ngần ấy cái miệng reo vang, ngần ấy đôi tay cầm đũa đưa lên khua lấy khua để. Có anh khua luôn cả chén cơm chan canh làm nước canh đổ đầy đầu người đứng kế cận. Một binh sĩ vừa tu bổ đại bác xong, cầm cái bơm mỡ nhảy lên chồm chồm làm một cục mỡ bơm súng rớt xuống chảo canh, váng nổ lều bều. Mỡ mặc mỡ, mọi người vẫn điềm nhiên ăn ngon lành, hể hả. Tinh thần lên cao khiến quên hết mệt mỏi.

Lại nói về cuộc hành quân. Bởi mục đích chính là hoán đổi hai Tiểu Ðoàn 1/45 và 3/45 nên Tiểu Ðoàn 2/45 không có thì giờ lục soát kỹ mục tiêu Pháo Binh tác xạ. Vì vậy, trong các công sự đổ nát, đến bây giờ cũng chẳng ai biết bao nhiêu địch đã bị vùi thây. Kiểm điểm tổn thất bạn, có 2 chết, 4 bị thương, 1 chiến xa hư. Các cánh quân lại tiếp tục nhiệm vụ và hoàn tất công tác, trở về vị trí lúc 11 giờ đêm.

30.11.

Ðể “chào mừng” Tiểu Ðoàn 3/45, tảng sáng địch bắn vào Núi Lửa 50 quả đạn B40, gây cho 2 binh sĩ tử thương và 3 bị thương. Từ đó đến chiều, địch còn pháo kích và tấn kích thêm 7 lần nữa. Nhờ những cuộc tấn kích, Ðại Ðội 1 của 3/45 san bằng được cách biệt : địch 3 chết.

1.12.

Tiểu Ðoàn 3/45 với lính còn khỏe, mang cho khu vực Núi Lửa một bộ mặt mới. Nhiều mũi dùi được phóng ra, nới rộng khu vực ta kiểm soát. Sáng nay, sau khi bị pháo, 2 chiến sĩ bị thương, chúng tôi nghe Ðại Úy Tiểu Ðoàn Trưởng ra lệnh trong máy vô tuyến cho một sĩ quan Ðại Ðội Trưởng đang săn địch dưới chân núi :

- Ði cho cẩn thận. Ráng trả thù nghe mày.

Câu nói thật ngắn ngủi nhưng đầy ý nghĩa, nhắc nhở vị Ðại Ðội Trưởng phải vận dụng mọi khả năng để giết địch mà không gây thiệt hại cho quân ta. Ðại Ðội không chạm địch mạnh, chỉ lẻ tẻ nhiều lần. Tuy thế, tổng kết trong ngày, Ðại Ðội hạ được đúng 20 tên, thu 1 B40, 1 AK.

7.12.

Trong sáu ngày từ 2.12. đến 7.12.1970, địch pháo kích 65 lần vào Núi Lửa, Ðồn Sarpa, Trại Daksak và Bộ Chỉ Huy Hành Quân. Cũng trong thời gian này, Tiểu Ðoàn 3/45 trong những cuộc hành quân tuần thám chung quanh Núi Lửa, chạm địch tất cả 11 lần. Tổn thất bạn gồm có 3 chết, trong đó có 1 phóng viên hãng CBS người Pháp, 1 M113 cháy, 1 trực thăng bị bắn rơi. Về phía địch có 12 chết, 2 về hồi chánh.

8.12.

Sau một thời gian tảo thanh quanh Núi Lửa, Tiểu Ðoàn 3/45 đã có thể mở rộng hoạt động ra các vùng đồi núi phụ cận. Các cánh quân, với sự yểm trợ mạnh mẽ của Pháo Binh, cẩn thận tiến chiếm từng cao điểm. Tại một địa điểm phía Ðông Núi Lửa, Ðại Ðội 1 khám phá 20 ngôi mả mới chôn của địch. Một khoảng rừng khá rộng xung quanh địa điểm này bị tàn phá vì bom và đạn pháo binh. Anh em đào thử một mả thấy ba xác địch nhưng không dám đào tiếp vì mùi hôi thối nồng nặc.

9.12.

Trung Ðội Biệt Kích Tiểu Ðoàn 3/45 hoạt động phía Ðông Bắc Núi Lửa phá hủy nhiều hầm hố của địch, tịch thu một số đạn dược và mặt nạ phòng hơi độc. Trong ngày, địch pháo kích dữ dội sáu lần vào Căn Cứ Núi Lửa. Trước những sự kiện xảy ra, nhất là sự kiện địch không còn chủ trương kháng cự trong mấy ngày qua, Bộ Chỉ Huy Hành Quân cấp tốc triệu tập một cuộc họp để nhận định tình hình. Sau phần thảo luận căn cứ vào những dữ kiện thu thập được từ tin tức tình báo giá trị cao, từ việc địch thay đổi chiến thuật đến những dấu vết tàn phá ghi nhận trên chiến địa, chúng tôi đi đến kết luận là tổn thất của địch rất cao, nên nếu không phải chúng đang chủ trương từ bỏ ý định đánh Ðức Lập, ít nhất cúng cũng tạm lui để chấn chỉnh hàng ngũ. Những cuộc pháo kích dữ dội chỉ nhằm mục đích che đậy ý định của chúng. Do đó Bộ Chỉ Huy Hành Quân lợi dụng ưu thế hiện có, dự trù tung ra những cuộc hành quân tấn sát biên giới Việt ố Miên để truy lùng và phá vỡ kế hoạch của chúng.



11.12.

Sau một ngày thảo kế hoạch, cuộc hành quân truy lùng đầu tiên được thực hiện. Ðại Ðội 3, Tiểu Ðoàn 3/45 khám phá một tiểu đội địch nằm chết ngỗn ngang cách Núi Lửa chừng hai cây số. Càng đi xa càng thấy nhiều dấu vết tàn phá. Một cánh tay vắt vẻo trên cành cây. Những hầm hố sập đổ vì bom đạn. Rải rác khắp nơi đủ loại đạn của địch. Chúng tôi đã ước đoán đúng. Ðịch đang vội vã trốn chạy, bỏ cả quân dụng cùng xác đồng bọn, không kịp mang theo hay chôn cất.

12.12.

Tại phía Bắc khu vực Ðại Ðội 3, Ðại Ðội 1 gặp một toán địch đang lom khom cuốc đất. Súng nổ, địch bỏ chạy. Ðại Ðội 1 ào lên, thấy một hố dài với 37 xác địch nát bấy vì đạn pháo binh hoặc cháy nám vì bom xăng đặc. Cộng thêm 2 xác quân ta mới phơ xong là 39. Chung quanh khu vực này, đạn dược vất ngỗn ngang, ê hề. Ðạn súng cối 60 ly, 82 ly, 122 ly, đạn B40, lựu đạn, mìn, cộng chung chừng một tấn. Ðại Ðội phải để lại một trung đội lấp mả và phá hủy đạn dược.

13.12.

Ðại Ðội 2 đi hai ngày mà chưa thấy gì, ngoại trừ vết máu và vỏ đạn. Ðã vậy, xế trưa Ðại Ðội còn chạm địch. Rừng quá rậm, không rõ địch tình ra sao, nên Ðại Ðội Trưởng cho ngừng lại và áp dụng đúng quan niệm “sử dụng tối đa hỏa lực phi pháo tiêu diệt địch”. Thế là Pháo Binh lại có dịp ra tay. Sau ba loạt điều chỉnh là những loạt bắn hiệu quả. Vài anh lính Bộ Binh ở tuyến đầu nhổm dậy coi kết quả liền bị “bản năng sinh tồn” dán sát xuống mặt đất. Gần quá, mảnh đạn bay chíu chíu ngang đầu.

15 phút sau, Ðại Ðội tiến lên lục soát, đếm trên 40 xác địch, thịt xương nát bấy, vung vãi lẫn lộn với súng đạn. Một bộ phận địch cách đó 300 thước không bị thiệt hại vì pháo binh, liền rót súng cối vào Ðại Ðội. Sau cái phất tay của Trung Úy Ðại Ðội Trưởng, cả Ðại Ðội xông về hướng đặt súng địch. Phản ứng của Trung Úy Ðại Ðội Trưởng thật lẹ. Mấy giây đồng hồ sau, Ðại Ðội ra khỏi vùng nguy hiểm, rồi mấy phút sau, Ðại Ðội chiếm được ngọn đồi nhỏ kế cận, tịch thu một bàn tiếp hậu súng cối 60 ly. Ðịch chạy vội, chỉ mang được cây súng. Sĩ quan Tiền Sát nói với Trung Úy Ðại Ðội Trưởng :

- Trung Úy liều quá ! Chưa hiểu rõ tình hình đã xung phong sang, rủi bị phục kích là kẹt cả lũ.

- Thanh toán xong bọn chận đánh, đâu còn gì đáng ngán. Hàng ngũ chúng đang rối loạn, mình phải truy kích gấp. Ở lại chẳng kiếm thêm được gì còn bị sứt mẻ là khác.

15.12.

Xã Ðức An và khu vực quanh Núi Lửa dần dần lấy lại bộ mặt quen thuộc. Binh sĩ ngược xuôi lùng địch, lấy nước, tắm giặt. Dân chúng qua lại chăm nom vườn tược, ruộng đồng. Và để được tận mắt nhìn cái hố bom, hố đạn, xác chiếc trực thăng cháy, cái hầm sập mái chôn cả chục tên cộng sản xâm lược.

Buổi chiều, dân Ðức An tự động lũ lượt kéo nhau lên Núi Lửa với ba gánh bánh tét. Có lẽ từ ngày khai thiên lập địa, hôm nay Núi Lửa mới tiếp nhận một số người đông như thế. Mới mấy ngày trước Núi Lửa còn là tử địa, bây giờ cũng chính Núi Lửa lại là nơi nườm nượp cả quân và dân, tạo một niềm cảm thông hết sức chân thật.

24.12.

Tại Ðức Lập, một đoàn người khá dài kéo nhau đến Bộ Chỉ Huy Hành Quân. Vài người giàu tưởng tượng nghĩ ngay đến một cuộc khiếu nại, đòi bồi thường, yêu cầu này nọ... Ðoàn người tới gần. Chúng tôi nhận ra Cha Sở Tú Minh đi đầu. Ði cuối là một con bò mộng. Cha Sở nói :

- Họ đạo chúng tôi đến cám ơn anh em chiến sĩ đã đánh nhau can trường để chúng tôi dù không hưởng được cả mùa Giáng Sinh vui vẻ, nhưng ít nhất cũng hưởng được ngày lễ Sinh Nhật tưng bừng. Con bò này thể hiện một phần nhỏ lòng biết ơn ấy.

Ðêm xuống, giữa chốn rừng xanh hiu quạnh và xa lạ của một phần đất nước thân yêu, những ngọn đèn ngôi sao rực sáng. Có phải đó là những ngôi sao dẫn đường cho chúng tôi chiến đấu, để đạt đến cuộc sống thanh bình mà Chúa Cứu Thế hằng phán.

(Trich trong tac phẩm THIÊN HÙNG CA QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA của PHẠM PHONG DINH)
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 3 guests