Bà Phiếu Mẫu Khúc Minh Thơ
Nguyễn Thanh Ty
Trong mục “Phiếm dị” của tờ tuần báo SàiGòn Nhỏ mấy tuần trước đây, số 905, phát hành ngày 29 tháng 9 năm 2008, tác giả Đào Nương khi viết về bà Khúc Minh Thơ, bà có một liên hệ hình ảnh của bà Thơ với bà Năm Sa Đéc của đoàn thoại kịch Kim Cương một thời vang bóng: “Tôi gặp bà Khúc Minh Thơ lần đầu khi đi nghe nhạc ở Hoa Thịnh Đốn. Khi trông thấy bà tôi nhớ tới bà Năm Sa Đéc của những ban kịch ở Sài Gòn trước năm 1975. Cũng dáng vẻ xuề xòa, Nam kỳ Lục tỉnh, cũng giọng nói reo vui, bình dân dễ chịu hết sức...
Bà Năm Sa Đéc thì hồi nhỏ tôi đã có vài lần được nhìn thấy bà trên sân khấu từ thập niên 50-60 khi được cha mẹ dẫn đi coi “Đại nhạc hội” ở Sài Gòn ra Trung diễn.
Còn bà Khúc Minh Thơ thì tôi chưa mặt thấy bao giờ. Tuy vậy, tôi cũng đã biết phong phanh về bà từ những năm 1985 - 1986.
Thời gian này anh em tù “cải tạo” đã được thả về một số, mặc dù đang bị công an theo dõi quản chế rất gắt, vẫn thường hay lén lút gặp nhau ở những nơi vắng vẻ để thầm thì trao đổi về những tin đồn “bí mật”.
Những tin mật này được anh em tù kín đáo đón nhận một cách phấn khởi và tràn trề hy vọng.
Đó là những tin liên quan tới chuyện “có một bà tên là Khúc Minh Thơ (?) ở Mỹ, đang tích cực vận động Chính phủ Hoa Kỳ mật đàm, trả giá với tụi Hà Nội để bốc chúng ta sang Mỹ”.
Cũng chỉ là tin đồn mơ hồ, mong manh qua tai, không có gì làm chắc chắn.
Song anh em vẫn bám víu lấy đó như một cái phao hy vọng cuối cùng để gắng gượng sống. Môt cuộc sống nửa người nửa vật dưới chế độ phi nhân cộng sản.
Sống để chờ tia sáng sẽ xuất hiện ở cuối đường hầm.
Bẵng đi một dạo, tin này bỗng chìm lĩm đi trong sự đợi chờ vô vọng như những vòng tròn tan dần trên mặt nước ao. Rồi thình lình lại rộ lên một cách nóng sốt bất ngờ, làm cho anh em tù vui ngây ngất như được uống một ly rượu mạnh.
Tôi còn nhớ một cách rõ ràng là vào cuối năm 1988, anh Nguyễn văn Chắc, Đại Úy, bạn tù, ở cùng xóm, đến nhà tôi với nét mặt hớn hở chưa từng thấy bao giờ kể từ ngày ra trại.
Sau khi lét mắt ngó xung quanh không có ai trong nhà, anh rút trong bụng ra một xấp giấy, loại quay rô nê ô, đưa cho tôi và thầm thì:
- Đây là mẫu đơn do bà Khúc Minh Thơ bí mật chuyển về cho anh em mình điền vào và gởi cho bà ấy để bà có đầy đủ hồ sơ “tù nhân chính trị” chuyển cho Chính phủ Hoa Kỳ cứu xét bốc đi.
- Gởi đi đâu? Bằng cách nào? Không khéo đây là cái bẫy của tụi công an, là “chắc chết”. Tôi hỏi tới trong sự hồi hộp.
- Gởi qua Toà Đại sứ Hoa Kỳ ở Bangkok Thái Lan, gởi lén bằng thơ tay, do mấy thằng phi công Việt cộng chuyển dùm, có ăn tiền. Chắc nhỏ giọng đáp.
- Nhỡ nó lấy tiền của mình xong rồi đem hồ sơ nộp cho công an thì sao đây? Vậy thì càng “chết chắc”. Tôi vừa đùa vừa có ý ngờ.
Anh bạn Chắc thấy tôi vừa lo lắng vừa có thể giỡn chơi được với cái tên của anh cũng phải phì cười. Anh ta cho biết phần anh đã điền xong rồi và chỗ thân tình mới photo copy cho tôi một bổn.
Một liều ba bảy cũng liều, bất quá lại ở tù thêm vài năm nữa. Cùi rồi không sợ lở. Tôi cũng điền đầy đủ hồ sơ và đưa tiền cho anh ta đi gởi dùm.
Mấy tuần lễ trôi qua trong sự lo âu, hồi hộp không biết công an sẽ đến nhà còng tay đi lúc nào.
May quá, thời gian trôi qua một cách yên tĩnh. Mọi việc rồi cũng chìm trong quên lãng. Tôi không tiếc số tiền “gởi chui” đã chi ra mà lại còn mừng thầm vì đã không bị “tó” đi “học tập” như đã lo lắng.
Mãi đến năm 1990 cái tin đi Mỹ tưởng như trong giấc mơ mong manh đã biến thành hiện thực. Nó nằm rành rành trên tờ thông cáo, giấy trắng mực đen, dán trước cửa Văn phòng Xuất Nhập Cảnh thành phố.
Thông cáo đại ý rằng những ai ở tù từ 3 năm trở lên đều được chính thức nộp hồ sơ để được cứu xét đi định cư nước thứ ba.
Thế là cánh cửa Thiên Đường đã mở. Chúng tôi đã được cứu thoát khỏi địa ngục đọa đày của loài quĩ dữ này.
Khỏi cần nhắc lại dài dòng ở đây về cái chuyện làm thủ tục lắm nhiêu khê, cay đắng, khốn nạn với bọn cầm quyền CS tham lam, bần tiện đã làm tiền chúng tôi một cách trắng trợn, trơ trẽn từ địa phương tới thành phố, văn phòng dịch vụ… để cầm cho được tấm hộ chiếu và hoàn tất nhiều giấy tờ vớ vẩn trước khi lên đường.
Tôi chỉ muốn nhắc lại ở đây là tôi, chúng tôi, những người tù cộng sản, đã biết về cái tên của bà Khúc Minh Thơ từ lâu lắm rồi.
Mở dấu ngoặc ở đây, khi vào đối diện với nhân viên Mỹ phỏng vấn ở Sở Ngoại Vụ, tôi đã có dịp thấy lại bộ hồ sơ mà anh bạn Chắc đã đem gởi “chui” dùm tôi qua ngõ Thái Lan, nằm ngay ngắn trên bàn bên cạnh bộ hồ sơ mới làm năm 1990.
Một điều đau buồn xin ghi lại ở đây một giây để tưởng nhớ anh bạn Chắc của tôi, anh đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng đất mẹ chỉ cách có mấy tháng trước ngày lên đường sang Mỹ, vì một cơn bạo bệnh mà gia đình anh không có tiền mua thuốc chữa trị. Mặc dầu vợ anh đã kêu người đến gỡ những tấm vĩ nhôm sàn nhà (nhà sàn trên sông) cuối cùng bán để chạy gạo, chạy thuốc cho con, cho chồng.
Cuối cùng thì anh cũng đã nhìn thấy được tia sáng hy vọng ở cuối đường hầm mong chờ nhưng tiếc thay…! Tội nghiệp cho anh, cho gia đình anh!
…
Bây giờ thì tôi đã có dịp được thấy hình ảnh của bà Khúc Minh Thơ, thấy rất nhiều qua những bài báo trên Net hơn một tháng trước ngày “Hội ngộ Tù nhân Chính trị Việt Nam” sẽ được tổ chức ở Dallas/FortWorth Texas.
Buồn thay! Lại là những bài báo phủ nhận công lao của bà một cách thô bạo và tàn nhẫn.
Họ khẳng định một cách lạnh lùng rằng bà Khúc Minh Thơ không có công lao gì trong chương trình H.O.
Họ lập luận rằng không có bà, Chính phủ Mỹ vẫn buộc phải rước họ sang Mỹ gọi là để trả món nợ tháo chạy. Bà Khúc Minh Thơ chỉ là một kẻ tiếm danh.
Vân vân và vân vân.
Đọc xong những bài báo ấy, trong mắt tôi bỗng dưng thấy bà Khúc Minh Thơ giống hình ảnh của bà phiếu mẫu giặt quần áo mướn bên bờ sông thời Hán Sở tranh hùng bên Tàu hơn, đậm nét hơn là hình ảnh bà Năm Sa Đéc của bà Đào Nương so sánh.
Bà phiếu mẫu này đã nhường bát cơm nguội hôm đó của mình để cho Hàn Tín ăn đỡ đói.
Hàn Tín cái thuở hàn vi, đói rách, nghèo đến nỗi gươm đeo không có võ bao, không có giây mang phải lấy giấy chuối mà cột.
Hàn Tín cái thuở phải chịu nhục luồn trôn tên bán thịt heo giữa chợ, ẩn nhẫn để chờ thời cơ, mưu việc lớn, giương danh với đời.
Hàn Tín về sau giúp Lưu Bang tranh bá với Sở Bá Vương Hạng Võ, trở thành một đại tướng quân, oai danh lừng lẫy, lập nhiều chiến công hiển hách, đánh tan quân Sở, đưa Lưu Bang lên ngôi Hán Vương.
Tuy nhiên, những thành tích này, rất ít khi được hậu thế nhắc đến.
Nhưng câu chuyện Hàn Tín mang ơn bà phiếu mẫu, chỉ một bát cơm nguội đạm bạc đỡ lúc đói lòng thuở hàn vi, thất thế, mà lúc thành danh, giàu sang phú quí, quyền uy một cõi, đã đem ngàn vàng đến tạ ơn, lại được người đời sau luôn nhắc đến để làm bài học khuyên con, dạy cháu cách ăn ở cho có đạo lý làm người.
Cái đạo lý Á đông là: Ăn quả nhớ kẻ trồng cây - Uống nước phải nhớ nguồn - Chớ đừng học thói: Qua cầu rút ván – Ăn cháo đái bát, làm kẻ bất nghì, vô ơn bạc nghĩa.
Hàn Tín trở lại bờ sông xưa tìm bà phiếu mẫu để tạ ơn nhưng người ân xưa đã khuất bóng từ lâu. Hàn Tín lập đàn tràng bên bờ sông cúng tế, vái lậy rồi ném ngàn vàng xuống dòng sông cho tròn đạo nghĩa.
Miếng khi đói, gói khi no,
Của tuy tơ tóc nghĩa so nghìn trùng!
Lời ca dao mẹ ru từ lúc nằm nôi vẫn còn vang vọng đâu đây!
…
Tôi chỉ là một giáo viên trường làng, theo lệnh tổng động viên của Quốc gia lúc nguy biến, lên đường nhập ngũ, mặc áo trây di, đi bốt đờ sô, cầm súng cạc bin ra Vùng 2 Chiến thuật, địa đầu giới tuyến, chống giặc cộng xâm lăng chỉ có ba năm, rồi được biệt phái trở về nghề cũ, tiếp tục gõ đầu trẻ cho đến ngày mất nước, nên chẳng có lon lá, hia mão gì đáng kể so với nhiều quan to súng ngắn, mai vàng, mai bạc trên ve áo.
Nhưng chỉ vì hai chữ “biệt phái” mà giặc cộng đã đề cho cái tội làm Xịa (C.I.A) tôi cũng phải trả giá gần sáu năm tù “cải tạo”.
Trong sự khổ nhục tận cùng, căm hờn cao như núi, uất hận sâu như bể ở chốn lao tù giặc cộng, tôi không hề ân hận một chút nào về bổn phận công dân mà mình đã phục vụ cho đất nước.
Tôi chỉ hối tiếc một điều là ngày xưa mình đã quá thơ ngây và thờ ơ trong trách niệm bảo vệ quốc gia đối với bọn giặc cộng đầy nham hiểm, gian manh, tham lam, tàn ác.
Và có lẽ cũng còn có rất nhiều người thơ ngây, khờ khạo, thờ ơ như tôi nên đất nước ngày nay mới ra nông nổi.
Khi bừng con mắt thì đã quá muộn rồi.
Một sự muộn màng trả bằng một giá quá đắt: nước mất, nhà tan, gia đình ly tán, thân tù tội. Ra khỏi chốn lao tù lại tiếp tục làm kiếp trâu cày, ngựa cỡi cho lũ cộng nô.
Thời gian mười năm, kể từ lúc ra khỏi trại tù, một thời gian đen tối hãi hùng như đêm dài vô tận đè nặng trên đầu, tôi đã những tưởng gia đình tôi sẽ phải chịu kiếp nô lệ cho quĩ đỏ suốt kiếp.
Tôi sẽ mãi mãi đạp xe ba gát cho đến lúc kiệt sức rồi ngã gục. Các con tôi, gái thì chạy chợ với rỗ me, hành, chanh, ớt. Con trai tôi thì bán vé số dạo khắp hang cùng, ngõ hẽm.
Nhưng một phép lạ đã cứu thoát gia đình tôi, và hàng trăm ngàn đình khác, hoàn cảnh có lẽ cũng khốn khổ như tôi, thoát cảnh đọa đày.
Phép lạ đó có tên là “Chương trình H.O”.
Và gia đình tôi luôn khắc sâu trong tâm khảm lòng tri ơn người mang lại phép lạ đó đến cho toàn thể tù nhân cộng sản Việt Nam có tên là Khúc Minh Thơ, một phụ nữ kính mến, chúng tôi chưa từng biết mặt.
Lòng hứa lòng, tôi nguyện sẽ có một ngày xin được cầm lấy tay bà để nói lên hai tiếng “cám ơn” từ lâu vẫn ấp ủ trong tim.
Ngày mong ước đó bất ngờ đã đến tại Dallas/Forworth - Texas
Mặc dù sức khoẻ yếu với nhiều bệnh tật của tuổi già, tôi vẫn quyết cố gắng đi dự “Ngày Hội ngộ Tù Nhân Chính Trị” để được làm một thành viên nhỏ nhoi trong số nhiều ngàn người thọ ơn tụ họp về đây.
Hành lý nhẹ tênh chỉ có vài bộ đồ thay đổi, còn lại bao nhiêu là thuốc men, ống chích (insulin) rất lỉnh kỉnh… để uống, chích và phòng hờ…
Trên đường từ miền Đông Bắc xa xôi giá lạnh tới Dallas-FortWorth nắng ấm chan hòa, mấy ngàn dặm đường, suốt hơn bốn giờ bay, tôi miên man nghĩ và tưởng tượng ra cảnh sum vầy của anh em tù chắc sẽ rất vui và cảm động lắm và cũng nghĩ đây là cơ hội cuối cùng mình có thể gặp được người ơn và bạn bè đã một thời khổ nhục bên nhau.
Tôi đã mãn nguyện. Tôi đã được cả hai điều mơ ước trên.
Tôi đã gặp được bà Khúc Minh Thơ bằng xương, bằng thịt tại văn phòng báo Người Việt của ông Thái hóa Lộc ở SàiGòn Mall, trước một ngày khai Hội.
Đúng như bà Đào Nương SàiGòn Nhỏ mô tả, bà Thơ quả là mẫu người đàn bà Nam kỳ Lục tỉnh, giản dị trong chiếc áo dài hơi cũ, lấm tấm những hoa vàng nho nhỏ. Mái tóc thưa trên đầu bà đã bạc màu tro gần hai phần ba, không được chăm chút như những người đàn bà luống tuổi khác, lơ thơ phất phơ tự do theo gió nhẹ.
Cặp kính lão hơi xề xệ trên sóng mũi, khuôn mặt còn đượm vẻ mỏi mệt vì vừa xuống máy bay, tuy vậy bà vẫn cố gắng cười nói với chúng tôi rất chân tình.
Cử chỉ và giọng nói bình dân của bà nghe rất thân quen như chị em trong gia đình đã gây cho tôi một xúc cảm ấm áp, nhẹ nhàng.
Khi tôi tự giới thiệu mình từ miền Đông Bắc Hoa Kỳ vừa mới đến để tham dự “Ngày Hội” ước mong được gặp bà, cầm tay bà để thay mặt gia đình nói tiếng cám ơn, và xin chụp chung một tấm ảnh với bà.
Bà tỏ ra rất vui và bằng lòng hết những điều tôi vừa ngỏ.
Sau đó bà lại chợt buồn ngay và tỏ vẻ âu lo:
- Không biết anh em tù nhân chính trị khắp các nơi sau những bài báo gây hoang mang dư luận có thể về dự đông đủ không?
Tôi trả lời ngay rằng:
- Thưa bà, bà đừng quá lo lắng điều đó. Cá nhân tôi, ban đầu định viết một bức thư cám ơn bà, gửi qua đường bưu điện, vì là sức khoẻ kém, nhưng sau khi đọc những bài báo ấy, tôi quyết định phải có mặt, cùng hòa mình với nhiều ngàn người tù chính trị khác để phản bác những bài báo vô ơn bạc nghĩa ấy bằng sự có mặt của mình. Tôi tin rằng sẽ có rất đông anh em ở khắp nơi trên thế giới sẽ giống như tôi vậy.
Ngày đầu tiên khai hội, sự hiện diện đông đảo của anh em CTNCT khắp các bang của Hoa Kỳ, Pháp, Canada… của gia đình TNCT đã là một minh chứng và phản bác những bài báo phủi ơn, xuyên tạc trước đó một cách minh bạch, hùng hồn.
Những Hàn Tín của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến chống quân xâm lăng cộng sản đã bị bức tử hai lần, (một lần trong trại tù nhỏ, một lần nữa trong trại tù lớn cả nước), đã tràn về như nước lũ ở thành phố Garland, ngày mồng 3 tháng 10 năm 2008, tại một công viên xinh đẹp nằm bên Hồ Đá Trắng (White RockLake) để tỏ lòng tri ân bà phiếu mẫu Khúc Minh Thơ và những người Mỹ tốt bụng như ông Robert Funseth, phụ tá Thứ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ thời bấy giờ, đã nỗ lực tiếp tay với Hội GĐTNCT, vận động tranh đấu cho tiến trình định cư các cựu TNCT/VNCH thành công, đã làm nên phép lạ “Chương trình H.O”.
Hội trường đã không đủ chổ chứa, anh em tù chính trị hơn cả một ngàn năm trăm người từ bốn phương tụ về, phải đứng, ngồi từng nhóm ngoài sân cỏ, ôm chầm lấy nhau hàn huyên tâm sự trong nỗi xúc động, nụ cười lẫn nước mắt, mừng vui khôn xiết.
Ngày đầu tiên, anh em đồng tù sau nhiều năm xa cách tản lạc, nay họp mặt nhau thật đúng nghĩa với chủ đề “Trở về”.
Thực là một ngày hội lớn rộn rã tràn ngập tiếng nói, tiếng cười, tiếng gọi nhau ơi ới, tiếng hò hét ngạc nhiên mừng rỡ lẫn lộn những tiếng nấc nghẹn ngào, cả những giọt nước mắt thân thương lăn trên những khuôn mặt nhăn nheo, những mái đầu pha sương hay trắng toát, khi nhìn ra nhau sau gần một phần ba thế kỷ của những bạn tù.
Ý nghĩa hơn nữa, buổi họp mặt này do Hội đoàn Quảng Đà đứng ra tổ chức với tinh thần “Quần chúng nghĩ gì về người Tù nhân Chính trị Việt Nam”. Các hội viên Hội Quảng Đà đã tiếp đãi chu đáo, nồng nhiệt từ lúc hướng dẫn chỗ đậu xe cho đến cách chiêu đãi các món ăn ngon thơm, của xứ Quảng, đặc biệt món Cao Lầu, cùng với một chương trình sinh hoạt văn nghệ phong phú, làm ấm lòng khách phương xa.
Qua ngày 04/10/08 số Tù nhân Chính trị đổ dồn về càng lúc càng đông.
Đêm “Tâm Giao” ở Hội trường Giáo xứ Thánh Phêrô do Gia đình Mỹ Việt phụ trách và buổi sáng “Tạ ơn Người, Tạ Ơn Đời”, buổi tối chương trình “Một hình ảnh ba cuộc đời” đều diễn ra ở Special Events Center, số người có lẽ lên đến hơn bốn ngàn.
Tất cả các tiết mục từ chào cờ, tế lễ, vinh danh, văn nghệ… diễn ra trong suốt những buổi lễ đều do anh em cựu TNCT và con em trong gia đình TNCT đảm trách.
Đặc biệt là sự đóng góp của Ban Tù ca Xuân Điềm, nhạc sĩ Phan văn Hưng, nhạc sĩ Huỳnh Công Ánh…và các ca sĩ của Trung tâm Asia như Thế Sơn, Băng Tâm, Trần thái Hòa, … cũng đều là con em của các cựu tù nhân chính trị.
Còn có cả sự đóng góp của các con em Gia đình Việt Mỹ như Randy, Vân Anh.
Tuy sân khấu không có ánh sáng, đèn đuốc màu mè, dàn dựng hoa lá cành như những buổi ca nhạc thuần túy của các trung tâm ca nhạc nhưng các buổi lễ đều diễn ra trong bầu không khí rất trang trọng và cảm động.
Có nhiều người ngồi dưới khán đài nghe đọc diễn văn tri ân, nghe văn tế vong hồn tử sĩ cùng những người bỏ xác trong lao tù, nghe lời ca tiếng hát xót thương cho những người lính chiến VNCH đã hy sinh bỏ mình vì đất nước, đã cầm không được dòng nước mắt tuôn rơi…
Hiện diện trong buổi lễ có rất nhiều quan khách Việt Mỹ tham dự.
Phía Hoa Kỳ có các sĩ quan cựu chiến binh bạn một thời chiến đấu của các ông Funseth và McCain ngồi hàng ghế danh dự.
Ông Robert Funseth, vì tuổi tác cao, không thể đến được ông đã gửi đến một thông điệp thăm hỏi thật chân tình đến toàn thể cựu TNCTVN, đồng thời nhắc lại những nổ lực, đóng góp tích cực của bà Khúc Minh Thơ và Hội GĐTNCT đã chung sức với ông để mang đến sự thành công của chương trình H.O.
Đại diện của TNS John McCain cũng có mặt trong buổi lễ trang trọng đầy ý nghĩa này cùng nhiều quan khách đại diện chính quyền, ông thị trưởng thành phố, quị vị dân cử.
Về phía Việt Nam, ngồi bên cạnh bà Khúc Minh Thơ có mặt Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh, Nữ tài tử Kiều Chinh, GS Nguyễn ngọc Bích, dân biểu Hubert Võ và… Thiếu tướng Đỗ Kế Giai già yếu, mỗi bước đi phải có người nâng đỡ …
Còn phải kể thêm sự đóng góp của hàng trăm thiện nguyện viên rất nhiệt tình ở địa phương, Hội H.O Dallas/FortWorth, Hội Quảng Đà, Hội Cao niên, Hội Cựu Sinh viên CTCT, các Hội Cựu Nữ sinh Gia Long và Lê văn Duyệt, Gia đình Việt Mỹ, Hội VoviNam cũng như Hiệp hội Truyền thông báo chí.
Tất cả đều hăng hái, vui vẻ, tích cực hoạt động hết mình phục vụ, giúp cho bà Khúc Minh Thơ và Hội GĐCTNCT, Ban tổ chức, để các buổi lễ ngày Hội được diễn ra tốt đẹp tròn vẹn.
Tôi nghĩ, có lẽ tâm trạng họ cũng như tôi, đây là dịp duy nhất cho họ thể hiện sự đền ơn đáp nghĩa lại món nợ ân tình người ơn đã trao cho mà không hề đòi lại.
Suốt hai ngày Thứ Sáu, Thứ bảy 3-4/10/08, từ sáng đến tối, từ công viên Hồ Đá Trắng đến Hội trường Giáo xứ Thánh Phêrô, đến Đại hí viện Special Events Center, bà Khúc Minh Thơ không một lúc nào được ngơi nghĩ.
Lúc thì đứng chụp hình chung theo lời mời của các nhóm tù từng trại từ Bắc tới Nam. Lúc thì chạy tới chạy lui từ trước ra sau sân khấu để động viên các anh chị em trong Ban Tổ chức làm sao cho buổi lễ được chu toàn.
Bận rộn. Luôn bận rộn. Nhưng bà Khúc Minh Thơ vẫn vui vẻ ráng sức già lo toan mọi việc, cố không tỏ ra ngoài mặt sự mỏi mệt. Bà tâm sự:
- Đây là dịp duy nhất cũng là dịp cuối cùng để chúng ta, những người tù chính trị được nói lên sự biết ơn đối với những ân nhân đã hết lòng giúp chúng ta thoát khỏi địa ngục cộng sản. Dù có trở ngại, khó khăn, mệt nhọc đến mấy tôi cũng cố gắng. Việc xong rồi ai muốn phê phán, đánh giá ra sao thì tôi cũng đành…
Tôi bâng khuâng tự hỏi:
- Không biết bà Khúc Minh Thơ bôn ba lận đận nay chổ này, mai chổ kia chạy vạy, van xin, năn nỉ, khóc khóc, cầu cứu hết giới chức này, quan chức nọ suốt hai mươi năm trời với chính quyền Mỹ để cầu xin họ ra tay cứu vớt anh em tù “cải tạo”đang khổ nhục trong vòng lao lý thì bà đã được gì cho cá nhân bà? Tiền tài ư? Danh vọng, chức tước ư? Thiển nghĩ, ngoài cái chức Hội trưởng này nọ hữu danh vô thực kia ra, bà chẳng có gì ngoài mái tóc bạc màu, cái lưng sắp còng xuống với thời gian và hai bàn tay trắng. Nếu không muốn nói thêm là còn “mang tiếng chịu lời” một cách phủ phàng nữa.
Sáng ngày 05/10/08, Chủ Nhật, trước giờ chia tay, tùy theo tôn giáo, các cựu TNCT sẽ đến Nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu giúp hoặc Chùa Đạo Quang để làm lễ cầu nguyện cho những người TNCTVN đã vĩnh viễn ra đi.
Trong đêm chủ đề “Tạ ơn Người, Tạ ơn đời”, MC Nam Lộc nhắc lại câu nói của nhà thơ Hà Thượng Nhân diễn tả thành phần cựu Tù Nhân Chính trị Việt Nam là “Những người tử tế” rằng “… anh em H.O trước khi bị bắt đi tù, đều là những người ‘tử tế’. Và sau bao nhiêu năm tháng bị “cải tạo”, họ vẫn là người ‘tử tế’, Cộng sản đã không thuyết phục hay thay đổi được ý thức và con người của họ để trở thành những kẻ xấu như chúng”.
Cá nhân tôi, trước hay sau gì cũng không dám nhận mình là một trong số người ‘tử tế’ như nhà thơ Hà Thượng Nhân đã ưu ái phong tặng cho cả một tập thể H.O, khi đứng trước gương, soi mình, tự thấy rất hổ thẹn vì:
- Tài đức thua xa Hàn Tín cả triệu lần, vì đã không làm nên tích sự gì.
- Chữ nhẫn trong tù cũng không bằng Hàn Tín lúc luồn trôn giữa chợ.
- Tài không, đức không mà lại thọ ơn to hơn triệu lần Hàn Tín.
- Khi được an cư lạc nghiệp nơi đất tự do lại chưa một lần tạ ơn người ân như Hàn Tín đã ném ngàn vàng bên bờ sông để tế lễ trả ơn bà phiếu mẫu.
Bởi vậy, nếu không có chương trình H.O, gia đình tôi chắc chắn suốt đời “phải sống cùng lũ thú” như ông Vũ Cao Quận, một “lão thành cách mạng” của cái đảng Cộng sản phi nhân, đã cay đắng kêu lên trong truyệt vọng.
Và hai chữ H.O sẽ biến thành hai chữ “Hỡi Ôi!” đau thương đối với đời tôi và cả tương lai con cái tôi nữa.
Ngày hôm nay, con cái tôi và của cả hàng vạn gia đình H.O khác nữa, đã thành công, cũng có người đã thành danh trên quê người. Vợ chồng tôi cũng được thong dong an hưởng tuổi già mà không một điều lo lắng trong tương lai.
Thử hỏi thành quả đó, trước hết, đã nhờ ai bắt cho nhịp cầu để bước qua sông?
Tôi chỉ hơn được Hàn Tín một điều duy nhất là sự may mắn.
Điều may đó là bà phiếu mẫu Khúc Minh Thơ của tôi hãy còn sống khỏe trên đời. Tôi còn có cơ hội bắt chước đôi phần cái gương sáng ngời về đạo lý làm người của Hàn Tín mà làm theo trong muôn một.
Tôi không có ngàn vàng như Hàn Tín để trả ơn.
Như nhà thơ Hà Thượng Nhân đã nói “Cộng sản đã không thuyết phục hay thay đổi được con người của họ để trở thành những kẻ xấu như chúng”.
Cộng sản đã không khuất phục được tôi và tôi chỉ còn có tấm lòng và ý chí để được trân trọng nói lên hai tiếng “Cám ơn”.
Xin bà Phiếu mẫu Khúc Minh Thơ nhận nơi đây lòng biết ơn của tôi và gia đình tôi.
…
Hỡi những vị sĩ quan lãnh đạo “đáng kính” ngày xưa của chúng tôi ơi!
Các Ngài bây giờ đang ở đâu? Các Ngài hồi ấy rất giỏi trong việc đấu đá với nhau để giành chức, giành quyền chỉ huy, lãnh đạo đất nước.
Các Ngài lúc nào cũng bảnh chọe với áo mũ cân đai, mai bạc, sao vàng lấp lánh trên cổ áo, huy chương Bảo quốc An dân đeo đỏ ngực, ba toong cầm tay uy nghi rất ư là bậc phụ mẫu chi dân.
Nhưng…
Ngày 30 tháng 4 năm 1975 trong lúc cả miền Nam khốn khổ, khốn nạn với giặc cộng thì các Ngài đã cao bay xa chạy trước, tìm đến chốn an toàn cho riêng các Ngài và gia đình các Ngài.
Từ bấy đến nay, có khi nào các Ngài bỏ ra một chút thảnh thơi để nghĩ về những người lính dưới quyền của các Ngài đang chịu khổ nạn không?
Và các Ngài đã có một cử chỉ nào, hành động nào giúp cho cái đám lính xưa kia đã từng lăn lưng nơi hòn tên mũi đạn để bảo vệ cho các Ngài ngồi yên trong trướng?
Hay là các Ngài chỉ có mỗi một việc lập Hội này, Hội nọ để có cớ gặp nhau để “bốc phét”, “nổ hơn tạc đạn” về một thời vang bóng rồi mặc áo thụng vái nhau, rồi tự động thăng lon, thăng chức cho nhau để “tự sướng”.
Cuối cùng thì ăn nhậu rồi nhảy đầm! Không cuộc hội nào mà không có cái màn nhảy đầm. Làm như không có nhảy đầm thì cái tên Hội không được xứng danh và vẻ vang, và buổi Hội không được đầy đủ ý nghĩa.
Cái màn nhảy đầm trong các Câu lạc bộ sĩ quan ngày xưa đã là một trong những mầm mống ung thối làm cho miền Nam sụp đổ.
Có phải thế không?
Ngày “Hội ngộ cựu Tù Nhân Chính trị” chỉ có nghi lễ vinh danh, diễn văn cảm tạ với các ân nhân và tưởng nhớ đến các chiến sĩ đã bỏ xác trong tù.
Không có ăn nhậu và nhảy đầm.
Có phải vì vậy mà vắng bóng các Ngài?
Hay là các Ngài cho là may mắn hơn chúng tôi, không phải là những cựu tù nhân, nên không việc gì phải có mặt?
Hay các Ngài đã ngại ngùng, hổ thẹn trước một anh thư tuổi cao sức nhược, tay yếu chân mềm, đã kiên tâm trì chí làm được một công việc có ý nghĩa cao cả, thay vì đó là trách nhiệm và bổn phận của các Ngài!
Vậy các Ngài cũng nên bỏ ra ít thời giờ để xem, để đọc các bản tin của hệ thống truyền thông Mỹ Việt tường thuật về ba ngày lễ này để có đôi điều suy ngẫm hay ho.
Nếu không thì… chán cho các Ngài quá!
Nguyễn Thanh Ty (13/10/08)