Thời Sự, Bình Luân

vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Chính phủ Mỹ phải cứu nguy
Tuesday, July 15, 2008

Ngô Nhân Dụng

Ngày hôm qua, Tổng Thống Bush họp báo, đề mục chính là trấn an dân chúng rằng hệ thống tài chánh vững mạnh. Ông tổng thống lo, vì ngày hôm trước có cảnh hàng ngàn người ở thành phố Pasadena, California tới xếp hàng rút tiền từ ngân hàng IndyMac, sau khi chính phủ liên bang đã phải “lãnh” ngân hàng đang trên đà sụp đổ này từ hôm Thứ Sáu tuần trước. Nhưng quý vị có thể an tâm, vì những ai gửi tiền ở các ngân hàng đều được cơ quan FDIC của chính phủ bảo đảm ít nhất 100,000 Mỹ kim, không sợ mất nếu ngân hàng hết tiền. Những người có 100 ngàn đô la gửi ngân hàng không nhiều lắm vì ai có số tiền mặt lớn như vậy đã tìm cách đầu tư vào các chứng khoán hay nhà cửa, họ có thể mất tiền... vì lý do khác!

Nhưng mối lo của ông tổng thống không phải là chuyện một ngân hàng, mà lo dân không tin tưởng cả hệ thống tài chánh, huyết mạch của nền kinh tế Mỹ. Nếu dân không tin thì cả hệ thống sẽ sập, kéo theo nền kinh tế xuống. Giá cổ phần của các ngân hàng và công ty tài chánh khác đã tụt giảm nặng trong ngày Thứ Hai. Một ngân hàng lớn, Washington Mutual (gọi tắt là WaMu) đã phải long trọng thông báo họ vẫn còn trong nhà hàng tỷ đô la tiền mặt, sau khi giá cổ phiếu của họ mất hơn 99%, giảm từ 43 đô la đầu năm nay, xuống chỉ còn hơn 3 đô la! Phần lớn các ngân hàng bị ảnh hưởng trong ngày đầu tuần này, vì cổ phần của hai công ty Fannie Mae và Freddie Mac đã tụt mạnh trong suốt tuần qua, mất giá từ 27% đến 30%. Kể từ một năm nay, cổ phần của hai đại công ty này đã giảm mất trên 80%!

Quý vị có thể không nghe nói đến tên Fannie Mae và Freddie Mac bao giờ. Nhưng hai công y tài chánh này đóng vai trò rất quan trọng khi người Mỹ mua nhà và đi vay tiền. Nếu thị trường xây cất và mua bán nhà cửa bị sập thì kinh tế Mỹ cũng xuống theo. Vì vậy, cả cuối tuần vừa rồi những người lãnh đạo kinh tế, tài chánh Mỹ đã phải làm việc để lo cứu Fannie Mae và Freddie Mac! Và họ đã đưa ra những kế hoạch cứu nguy, nếu không may thì nhiều quý vị sẽ tốn tiền. Vì khi chính phủ Mỹ cứu, thì họ dùng công quỹ, tức là dùng tiền của mọi người dân Mỹ!

Fannie và Freddie đóng vai tài trợ cho gần một nửa những món nợ mà các ngân hàng cho người ta vay để mua nhà, họ đã mua các món nợ tổng cộng hơn 5 ngàn tỷ Mỹ kim. Nếu hai anh khổng lồ này mà ngưng hoạt động vì không đi vay được thêm tiền nữa, thì họ cũng không có tiền cho các ngân hàng khác vay để tài trợ địa ốc. Ngành xây cất và mua bán nhà cửa sẽ khủng hoảng lớn, chắc chắn sẽ kéo theo kinh tế nước Mỹ. Các nhà đầu tư quốc tế, trong đó có các chính phủ Trung Quốc, Nhật Bản, Sau đi, vân vân, sẽ mất tiền vì chính họ cũng cho hai công ty trên vay hàng chục đến hàng trăm tỷ Mỹ kim!

Hai đại công ty tài chánh này đóng một vai trò có vẻ “bất thường” trong hệ thống kinh tế tư bản kiểu Mỹ. Bất thường vì đó là những công ty tư nhân nhưng được chính phủ mặc nhiên bảo đảm. Nhờ vị thế này, họ phát triển, trở thành “quá lớn” đến nỗi không người nào trong chính phủ hay quốc hội dám quyết định để cho họ “sập tiệm,” chỉ lo sẽ gây nguy hại cho cả nền kinh tế! Khi dựng lên những công ty tài chánh này, và cho chúng những điều kiện thuận lợi, các nhà chính trị Mỹ chắc không ngờ chúng có ngày trở nên quá lớn như thế. Và cũng không ngờ có ngày chúng dễ bị suy yếu đến như tình trạng từ tuần qua, do ảnh hưởng của những món nợ địa ốc dưới tiêu chuẩn.

Fannie Mae lúc đầu là một cơ quan của chính phủ Mỹ - Federal National Mortgage Association, viết tắt FNMA, cho nên đọc là “Phan Ni Me” - lập ra năm 1938, vào lúc chính phủ muốn thoát khỏi cuộc đại khủng hoảng kinh tế. Nhiệm vụ của Fannie Mae là cho các ngân hàng vay với mức lãi nhẹ để họ cho những người vay mua nhà, vừa khuyến khích dân chúng có nhà vừa thúc đẩy cho kinh tế tăng trưởng. Chính sách khuyến khích mua nhà này có kết quả tốt. Ðến thập niên 1950 chính phủ Mỹ tính tư nhân hóa Fannie Mae và năm 1968 thì biến thành một công ty cổ phần, do tư nhân làm chủ. Hai năm sau, để tránh cảnh một công ty lớn chiếm độc quyền trong thị trường tài trợ địa ốc, công ty Freddie Mac của các ngân hàng tiết kiệm được thành lập, cũng làm cùng một việc tài trợ địa ốc. Hai công ty có ưu thế đặc biệt vì do quốc hội biểu quyết thành lập, không thuộc quyền các cơ quan giám sát về ngân hàng và tín dụng nhưng được một cơ quan riêng theo dõi với điều kiện tương đối không chặt chẽ như các ngân hàng khác. Ưu thế đó khiến giới đầu tư Mỹ và quốc tế có cảm tưởng đây là những “ngân hàng đặc biệt” được chính phủ Mỹ bảo đảm. Với vị thế nửa tư nửa công này, Fannie Mae và Freddie Mac có thể đi vay tiền với lãi suất rất thấp. Nhiều quỹ đầu tư của các chính phủ ngoại quốc đã mua trái phiếu “rủi ro nhẹ” của Fannie Mae và Freddie Mac, lãi suất chỉ cao mua công khố phiếu chính phủ Mỹ chút đỉnh. Chỉ trả cho giới đầu tư một mức lãi suất thấp, cho nên hai công ty cũng có thể cho các ngân hàng thương mại vay với lãi suất thấp, để họ cho người mua nhà vay nợ. Hai công ty sinh lợi nhờ mức sai biệt giữa tiền lãi họ phải trả các nhà đầu tư và tiền lãi họ được các ngân hàng khác trả. Với những món nợ lớn nhiều ngàn tỷ Mỹ kim, chỉ cần kiếm lời 1 phần tư của 1% cũng đủ kiếm lời nhiều tỷ đô la rồi.

Fannie Mae và Freddie Mac không trực tiếp cho người ta vay để mua nhà ở, nhưng cung cấp vốn các ngân hàng bằng cách mua lại những món nợ địa ốc của họ. Những món nợ đó thường không được lớn trên 400 ngàn Mỹ kim, vì nhiệm của hai công ty này là giúp giới trung lưu và người nghèo.

Trong thị trường tài chánh năng động ở Mỹ, những ngân hàng và công ty tài chánh cho vay rồi có thể bán lại các món nợ mà thu tiền về, có tiền lại cho vay tiếp. Ngân hàng chỉ cần kiếm một số lời nhỏ mỗi lần bán các “giấy nợ” đó, còn việc thu tiền lãi và tiền vốn để cho người mua giấy nợ từ đó lo. Cứ như thế, ngân hàng đóng vai trò cho vay được rảnh rang chỉ lo cho vay thôi, tin tưởng rằng có những nguồn tài trợ đứng đằng sau họ.

Có nhiều công ty tài chánh và ngân hàng đóng vai trò hỗ trợ này, trong đó có Fannie và Freddie, cùng với 12 Ngân Hàng Liên Bang Tín Dụng Ðịa Ốc (Federal Home Loan Bank) có hình thức hợp tác xã. Dân Mỹ đang nợ hơn 11,000 tỷ đô la vay để mua nhà. Riêng hai công ty Fannie và Freddie đã mua lại khoảng 5,300 tỷ đô la, tức là gần một nửa các món nợ “moọc ghết” trong cả nước Mỹ; phần còn lại khoảng 6,000 tỷ đô la do các công ty khác mua hoặc do các ngân hàng cho vay giữ lại không bán.

Mỗi công ty mua các giấy nợ mua nhà rồi sẽ đem gộp một số hợp đồng đó lại, phát hành các trái phiếu bán cho các nhà đầu tư Mỹ và ngoại quốc, mà tiền lãi được bảo đảm bằng những món nợ đó. Nếu các con nợ không trả được thì các công ty như Fannie và Freddie vẫn phải trả tiền cho chủ nhân các trái phiếu như thường. Có thể nói hai công ty này phát minh ra việc “chứng khoán hóa” các hợp đồng nợ địa ốc, mà trong dăm năm qua nhiều ngân hàng ở Mỹ đã làm theo, gây ra cảnh khủng hoảng vì quá nhiều con nợ “dưới tiêu chuẩn” đã phá sản.

Với những số nợ hàng ngàn tỷ Mỹ kim trong sổ sách như vậy, lúc nào các công ty Fannie và Freddie cũng có nhiều món nợ đáo hạn được trả hết vốn lãi; đồng thời cũng lại đi mua những hợp đồng vay nợ mới, công việc không bao giờ ngừng. Nhưng để tài trợ việc mua giấy nợ này, hai công ty phát hành những tín phiếu (notes) ngắn hạn, từ 3 đến 6 tháng. Những tín phiếu đó, vì ngắn hạn cho nên lại trả lãi suất thấp hơn trái phiếu dài hạn.

“Tai họa” xảy ra từ đầu năm nay khi chính hai công ty khổng lồ này cũng có quá nhiều những món nợ tiêu chuẩn thấp và không hoàn trả được. Cổ phần của các công ty xuống, Bộ Tài Chánh Mỹ phải báo động và Ngân Hàng Trung Ương Mỹ cũng lo đường chính phủ cứu. Vì nếu các nhà đầu tư không tin tưởng ở hai công ty tài chánh này thì họ sẽ không đi vay được nữa! Và như vậy họ cũng không đi mua các hợp đồng nợ địa ốc được nữa!

Giả thử bây giờ các công ty đó bỗng dưng khó vay tiền, không mua các món nợ địa ốc được nữa, thì sẽ có những tác động dây chuyền. Các ngân hàng chuyên cho người ta vay để mua nhà sẽ phải giảm bớt hoạt động vì thiếu tiền, hoặc có thể ngưng hẳn không cho vay nữa. Việc mua bán nhà cửa sẽ ngưng trệ, công nghệ xây cất sẽ chịu ảnh hưởng, và toàn thể nền kinh tế sẽ suy yếu theo. Ðó là lý do tại sao khi hai anh khổng lồ Fannie và Freddie gặp khó khăn thì cả chính phủ, Quốc Hội, và Ngân Hàng Trung Ương nước Mỹ phải lo cứu! Ngày Thứ Hai vừa qua có một tin mừng, khi Freddie mở cuộc đấu giá để vay 3 tỷ đô la nợ ngắn hạn, và giới đầu tư Mỹ và quốc tế vẫn đáp ứng rất đông, số tiền muốn cho vay cao hơn bình thường. Ðiều đó cho thấy người ta vẫn tin tưởng vào tương lai hai ngân hàng này và tin vào hệ thống tài chánh của Mỹ.

Kinh nghiệm qua vụ Fannie Mae và Freddie Mac cho thấy người ta nên tránh đừng để cho những xí nghiệp, ngân hàng hay công ty tài chánh lớn quá đến mức khuynh loát thị trường. Chính phủ và Quốc Hội Mỹ khi cho lập hai công ty Fannie và Freddie đã tạo ra một cái vòng luẩn quẩn: Dựa vào uy tín chính phủ cho nên những công ty này càng ngày càng lớn vì có thể đi vay với lãi suất thấp rồi đem cho vay lại. Trong khi đó họ vẫn là những công ty tư nhân có mục đích kiếm lời, cho nên càng tìm cách phát triển để kiếm lời nhiều hơn. Chính phủ Mỹ đã tạo ra những công ty quá mạnh, chỉ vì họ quá lớn, ảnh hưởng mạnh trên thị trường địa ốc. Và đó là một thứ “bẫy” chính việc thành lập hai công ty này đã trương sẵn ra từ 40 năm nay!

Ðến bay giờ cái bẫy sập xuống, chính phủ không dám để cho hai công ty lâm nạn. Khi nguy nan chính phủ, Quốc Hội và Ngân Hàng Trung Ương đều phải cứu. Nhưng họ sẽ cứu bằng tiền của những người dân Mỹ đóng thuế! Chính phủ George W. Bush xưa nay vẫn “không có thiện cảm” với Fannie và Freddie, nhưng bây giờ chính họ lại phải lo bảo vệ các công ty này. Vì chỉ có một cách khác là quốc hữu hóa hai công ty, mà như vậy thì còn tệ hại hơn nữa. Sau khi cứu được Fannie và Freddie rồi, chính phủ Bush sẽ dành để thay đổi luật lệ giám sát các loại ngân hàng và các công ty tài chánh ở Mỹ, với chiều hướng sẽ thắt chặt hơn! Ông Bush vốn là người vẫn đề cao vai trò của tư nhân trong nền kinh tế, và muốn tháo gỡ bớt các luật lệ trói buộc giới kinh doanh. Nhưng trong những tháng còn lại của nhiệm kỳ này, ông sẽ phải làm một công việc ngược lại với triết lý của mình! Ðúng là ghét của nào trời trao của ấy!
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Image

Phải thoát vòng luẩn quẩn

Ngô Nhân Dụng

Trong khi các ông bà ủy viên Trung Ương Ðảng Cộng Sản Việt Nam họp với nhau ở Hà Nội để nghe ông Nông Ðức Mạnh đọc diễn văn, thì cùng ngày 9 Tháng Bảy vừa rồi, tòa án “nhân dân” thị xã Gia Nghĩa đã xử phạt hai người dân, là ông Trần Quốc (60 tuổi, ở Phường Nghĩa Thành) và ông Lương Văn Quý (44 tuổi, phường Nghĩa Tân), hai bản án 9 tháng và 15 tháng tù treo!

Những lương dân này đã phạm tội gì mà phải ra tòa của “nhân dân?” Theo tin Thông Tấn Xã Việt Nam thì cái tội của họ là... làm thơ trào phúng! Theo bản cáo trạng của phía công tố, tên gọi mới là Viện Kiểm Sát Nhân Dân (các nhà trào phúng trong nước gọi tắt là Viện Sát Dân), thì hai thi sĩ này đã “làm thơ vè” phê bình “xúc phạm danh dự” một số cán bộ lãnh đạo Ðảng và nhà nước tỉnh và thị xã! Tất cả những Tú Xương, Học Lạc, Ba Giai của dân ta từ nay phải đề cao cảnh giác!

Trong truyền thống văn chương truyền khẩu của dân tộc Việt Nam, những nhà thơ trào phúng là những tiếng nói phản ảnh tâm tư của người dân thấp cổ bé miệng. Người dân bị cường hào ác bá bắt nạt, không kêu cứu vào đâu được, thì làm thơ chế riễu cho hả giận. Tú Xương, Học Lạc, Ba Giai thường thay lời người dân mà viết nên vần. Nhưng những bài thơ trào phúng cũng là dấu tích lịch sử nêu tên tuổi và hành vi gian ác của bọn tham quan ô lại, có giá trị trừng phạt bằng dư luận; cho nên có thể tạo áp lực cho chúng bớt gian tham. Ngay cả những tay tham nhũng cũng sợ tiếng “ngàn năm bia miệng.” Cắt đứt mạch văn chương truyền khẩu đó cũng là cắt lưỡi, bịt miệng dư luận.

Hai ông Trần Quốc và Lương Văn Quý là những nạn nhân của chế độ quan lại cộng sản. Vẫn theo tin của thông tấn xã nhà nước thì hai người đã “bức xúc” vì chính quyền thị xã đã thu hồi đất của họ để cho các cơ quan nhà nước dùng, cho nên máu thi sĩ của họ mới nổi dậy! Chính sách thu đất của dân về tay nhà nước đã tạo ra bao nhiêu oan khuất trên đất nước chúng ta. Sau thời Pháp thuộc, chưa bao giờ ở nước ta lại có một phong trào “dân oan khiếu kiện” lớn như trong thời đại Ðỗ Mười, Lê Ðức Anh, Nông Ðức Mạnh này. Hai công dân Trần Quốc và Lương Văn Quý là những người đầu tiên phản kháng bằng thơ và bị đưa ra tòa! Ðồng bào nào ở Gia Nghĩa còn giữ được những bài thơ đó, xin phổ biến trên internet để những ai trong nghề làm thơ trào phúng biết viết như thế nào là có tội, ngõ hầu chúng ta tránh không viết nữa!

“Xúc phạm lãnh đạo” là một cái tội khá mơ hồ. Ai mở miệng nói những lời bất bình với chế độ cũng có thể bị gán tội này. Nhưng có thể gửi lời chúc mừng hai thi sĩ Trần Quốc và Lương Văn Quý, được tai qua nạn khỏi. Bởi vì nếu Viện Sát Dân mà nặng tay, họ có thể truy quý ông là “âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân” thì khó chữa! Các nhà báo Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải có thể sẽ bị kết tội đó, chắc họ chỉ mong được gán tội danh “xúc phạm các nhà lãnh đạo” như Ðào Ðình Bình, Nguyễn Việt Tiến, Bùi Tiến Dũng thôi, cho nó nhẹ tội!

Nếu quý vị độc giả sống ở Mỹ, quý vị có thể yên tâm. Ở xứ này “lãnh đạo” không quý hiếm như ở Việt Nam. Nếu ai muốn làm thơ chế nhạo ông Tổng Thống George W. Bush hay ông Thống Ðốc Arnold Schwarzenegger xin cứ tự nhiên. Chưa thấy một ông nào đưa các thi sĩ ra tòa về tội “xúc phạm lãnh đạo” cả. Tháng trước tôi đến thăm một người bạn ở Mỹ, một người thường ủng hộ đảng Cộng Hòa và đã hai lần bỏ phiếu bầu ông Bush. Trên bàn ở phòng khách tôi thấy một cuốn sách chế nhạo ông tổng thống đương nhiệm. Mỗi trang có một cái hình ông Bush với một câu ông đã nói, và người làm sách cố ý chọn những câu ông nói sai, nói nhầm, hoặc nói ngớ ngẩn vì dùng chữ không đúng chỗ. Người bạn thú nhận là đứa con anh đã mua tặng bố cuốn sách đó.

Làm tổng thống một nước tự do dân chủ dễ bị xúc phạm hơn làm chủ tịch xã ở một nước độc tài cộng sản. Vì ở một nước dân chủ người lãnh đạo rất khó kiện dân ra tòa; luật lệ ở Mỹ không bênh vực những “nhân vật của công chúng” khi họ bị người dân nói xấu. Dân chúng, nhất là báo chí, được tự do phê phán những nhân vật nổi danh, “trước khi” tìm chứng cớ để minh xác. Tại sao vậy? Vì người dân cần được nghe những thông tin nóng hổi, họ có quyền biết tin càng sớm càng tốt. Do đó, các ông tổng thống, dân biểu, thị trưởng, cho tới các tài tử, danh ca, lực sĩ, vân vân, phải chịu hy sinh.

Làm chính trị ở một nước tự do dân chủ là chịu thiệt thòi như vậy. Dân tha hồ phê phán lãnh đạo, nhưng lãnh đạo mà nói lỡ lời có ý chê dân thì coi chừng! Ông Tổng Thống George W. Bush mới bị nạn chỉ vì lỡ lời. Tháng trước ông sang Ðức, được bà Thủ Tướng Angela Merkel mời ăn. Ðúng mùa măng tây (asparagus) mới, bên Ðức họ gọi là “Spargelzeit,” ông tổng thống Mỹ được nếm món măng tây. Ăn xong, ông xuýt xoa nói với nhà báo rằng Spargel ở Ðức ngon tuyệt trần! Có thế thôi. Nhưng ông Bush đã làm các nhà nông trồng măng tây ở Mỹ nổi giận! Nghị Sĩ Patty Murray (Dân Chủ) và Dân Biểu Doc Hasting (Cộng Hòa), cả hai đại diện tiểu bang Washington trồng nhiều măng, đã phản kháng bằng cách gởi 5 ký măng tây đến Tòa Bạch Ốc yêu cầu ông tổng thống nếm thử. Ông Bush đã được bà Laura cho nếm, sau đó ông đã gửi thư cảm ơn hai đại biểu quốc hội, với lời khen, “măng tây Mỹ thuộc loại ngon nhất thế giới!”.

Gia đình Tổng Thống Bush hay gặp nạn vì món rau. Năm 1990, thân phụ ông, Tổng Thống George H.W. Bush đã thành thật thú nhận rằng ông không thích ăn rau “broccoli.” Ông lại phát biểu ngay giữa một cuộc họp báo, “Từ bé tôi đã không thích broccoli rồi mà cứ bị má tôi bắt ăn. Bây giờ tôi là tổng thống Hiệp Chúng Quốc Mỹ Châu, và tôi sẽ không ăn broccoli nữa!” Ngay sau đó, các nhà trồng broccoli ở California đã phản đối bằng cách chở 5 tấn broccoli đến đổ ra trước Tòa Bạch Ốc. Nói là “đổ ra” cho to chuyện, sự thật là sau đó họ đem vào biếu ông tổng thống 5 hộp rau và số còn lại đem tặng các cơ quan từ thiện nấu cơm cho dân nghèo ở thủ đô Washington.

Những vị tổng thống ở một nước dân chủ bị dân “mắng chửi” là chuyện thường. Nhưng chính vì thế mà khi trở về đời sống thường dân, họ được mọi người thương. Ở các nước độc tài thì người dân sợ “lãnh đạo” như sợ cọp. Nhưng khi các lãnh tụ chết rồi, họ chỉ sợ có người đến xúc phạm mồ mả; cứ phải lo cho lính gác đêm ngày!

Một nhà tỉ phú gốc Phi châu, ông Mo Ibrahim, nhận xét về giới lãnh đạo ở các nước thuộc lục địa đen này: “Các nhà lãnh tụ Phi châu nghĩ tới lúc về hưu như thấy cái bờ vực thẳm! Rớt công đó là lâm vào cảnh nghèo khó hoặc sẽ bị trả thù.” Ông Mo Ibrahim đã lập ra một hội tư tên là Ibrahim Foundation, và đặt một giải thưởng “Lãnh đạo Phi châu Thành công” cho các nhà cầm quyền được chấm là đã giúp dân, giúp nước và tôn trọng dân chủ tự do. Giải này, trị giá một triệu đô la Mỹ, là một cách giúp các nhà lãnh đạo liêm khiết và có khả năng có thể “về hưu” an toàn dù không tham nhũng.

Quỹ Ibrahim chấm điểm các vị tổng thống hoặc thủ tướng Phi Châu trong suốt ba năm, theo các tiêu chuẩn tập hợp thành một “chỉ số cai trị tốt.” Chỉ số này thẩm lượng các nhà chính trị thuộc 48 quốc gia trong lục địa, phần phía dưới sa mạc Sahara. Ðại khái, các tiêu chuẩn nhằm đo lường về chính quyền tôn trọng pháp luật, bài trừ tham nhũng, tôn trọng nhân quyền, khuyến khích dân tham gia vào việc nước, phát triển kinh tế và bảo vệ an ninh cho dân. Sau cuộc thẩm lượng từ 2005 đến 2007, Quỹ Ibrahim đã tặng giải thưởng đầu tiên cho Tổng Thống Joaquin Chissano, xứ Mozambique. Ông Chissano đã hướng dẫn nước ông thoát khỏi cảnh nội chiến sau khi từ bỏ chế độ cộng sản, đã đưa dân ông đến cảnh thịnh vượng trong một thập niên, rồi sau đó đã rời khỏi chính quyền. Ông Ibrahim nói, “Tôi thật là khâm phục khi muốn tìm ông ta để báo tin muốn trao giải cho ông, mà không tìm thấy. Sau mới biết bữa đó là sinh nhật ông Chissano mà ông ta thì đang đi “vào rừng” ở vùng giữa biên giới các nước Uganda, Sudan,” với mục đích hòa giải chính phủ Uganda và một nhóm phản kháng chính phủ này.

Ông Mo Ibrahim sinh năm 1946 ở Sudan, lớn lên được bố mẹ cho sang ở Ai Cập, học đại học bên Anh nhờ học bổng. Sau khi ra trường, ông làm trong ngành viễn thông ở Anh. Năm 1998 ông mở một công ty viễn thông để phổ biến điện thoại di động trong các nước Phi Châu. Năm đó cả lục địa này chỉ có 2 triệu điện thoại di động. Ðến năm 2005 đã có hơn 100 triệu, đó cũng là năm ông Ibrahim bán công ty của ông lấy 3.4 tỉ đô la Mỹ.

Ðiều ông Ibrahim nhận xét về các lãnh tụ Phi châu cũng đúng với những lãnh tụ các nước độc tài khác, đặc biệt là ở các nước cộng sản. Khi một chế độ chỉ cai trị bằng công an, cảnh sát, thì họ bị dân ghét. Cứ đụng nói chê lãnh tụ một câu là bị kết tội xúc phạm lãnh đạo, ai mà thương được? Vì bị dân ghét, cho nên chính các lãnh tụ cũng sợ dân. Khi phần lớn nền kinh tế nằm trong tay nhà nước thì khi các công chức đến các nhà chính trị bị buộc rời khỏi nhà nước là tay trắng, không còn gì nữa. Vì thế mà họ phải tham nhũng nhiều hơn, để lo cho tương lai mình và con cháu mình. Họ càng tham nhũng càng phải độc tài hơn, để bảo vệ quyền tham nhũng! Thế là dân lại thù ghét, oán hận hơn!

Như ý kiến của ông Ibrahim, muốn thoát khỏi vòng luẩn quẩn đó thì phải thiết lập các định chế dân chủ và kinh tế thị trường thật sự. Khi kinh tế phát triển, ông Ibrahim nói, những nhà chính trị về hưu vẫn có thể làm cho các xí nghiệp kinh doanh. Ở những nước như Mỹ, các nhà kinh doanh vào chính trường là hy sinh lợi tức, từ hàng trăm triệu công cỡ trăm ngàn đô la một năm. Nhưng muốn tiến đến tình trạng đó, phải có dân chủ tự do. Còn kéo dài chế độ độc tài là cứ chui mãi trong cái vòng luẩn quẩn. Nước ta cần nhiều nhà thơ trào phúng như các ông Trần Quốc và Lương Văn Quý. Phải tập cho người dân cảm thấy tự do, an toàn khi phê phán các quan chức, từ tổng bí thư đảng trở xuống. Nếu cứ bắt người dân phải sợ hãi, thì gây nên cảnh dân sợ quan, quan cũng sợ dân, cái vòng luẩn quẩn không bao giờ thoát ra được!
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Hình ảnh ngày khai mạc Ðại hội Giới trẻ Công giáo Thế giới Sydney

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Cộng Đồng Người Việt Tự Do Sydney Biểu Dương Cờ Vàng
20-07-2007

Nhân ngày Tuổi Trẻ Thế Giới 2008 tổ chức tại Sydney, Cộng Đồng Người Việt Tự Do Sydney tổ chức một Buổi Diễn Hành Biểu Dương Cờ Vàng. Khoảng 5000 người tập trung tại Công Viên Belmore Park trung tâm thành phố Sydney lúc 7 giờ sáng. Cờ Vàng diễn hành trên đoạn đường dài 4 cây số từ Công Viên Belmore đến Trường Đua Randwick nơi tổ chức lễ bế mạc của Đại Hội kéo dài 6 ngày tại Sydney, với sự tham dự của nửa triệu các bạn trẻ từ khắp nơi trên thế giới và đặc biệt có sự hiện của Đức Giáo Hoàng Benedict XVI. Đại Hội Tuổi Trẻ Thế Giới đã thu hút hàng triệu người ở khắp nơi qua các đài truyền hình, truyền thông và báo chí. Một rừng Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ đến Trường Đua lúc 9:00 sáng vừa lúc buổi lễ bắt đầu.
Và dưới đây là một số hình ảnh[/color

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Việt Nam: Đảng Mê Ngủ, Nhà Nước Mê Chơi :
Dân Chưa Tìm Ra Gạo, Hơi Đâu Nghe Chuyện Trên Trời?

Tác giả: Phạm Trần

Hoa Thịnh Đốn.- Đảng Cộng sản Việt Nam có thói quen bỏ chuyện lớn, làm to chuyện nhỏ để mê ngủ nhân dân quên đi những khó khăn trong cuộc sống hàng ngày.


Việc này đã được Nông Đức Mạnh, Tổng Bí thư đảng chứng minh thêm lần nữa khi khai mạc Hội nghị Trung ương đảng kỳ 7, từ 9 đến 17-7 (2008) để thảo luận và thông qua các đề án về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá”; “Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế”; “Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn”.


Theo lời Mạnh, “Cũng tại Hội nghị này, Ban Chấp hành Trung ương sẽ nghe báo cáo, thảo luận và cho ý kiến về tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2008 và một số vấn đề khác.”
Đáng lẽ ra “tình hình kinh tế - xã hội” phải được ưu tiên thảo luận mới đúng với hòan cảnh hiện nay của Việt Nam, vì đại đa số 87 triệu dân đang lâm vào cảnh chưa ăn bữa sáng đã lo đi tìm bữa tối để đối phó với tình trạng lạm phát lên cao gần 30 phần trăm, và nạn vật gía leo thang vô tội vạ đang vét sạch túi đồng lương chưa tiêu đã cạn.


Nhưng đảng của Hồ Chí Minh đã vô cảm trước hòan cảnh nghiệt ngã của người dân để ưu tiên thảo luận trong kỳ 7 việc tìm cách "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên" để "Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau."

Mạnh nói : " Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên lúc này chẳng những là trách nhiệm và tình cảm của Đảng, của thế hệ đi trước đối với thanh niên, mà còn nhằm bồi dưỡng thế hệ chủ nhân của hiện tại và tương lai đất nước, lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa."

Rõ ràng là Mạnh đã chỉ biết đặt quyền lợi của thiều số trên 3 triệu đảng viên trên quyền lợi bức thiết của 84 triệu dân còn lại.

Vấn đề vô bổ thứ hai là việc "Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế."

Tại sao cho đến bây giờ, sau hơn 20 năm Đổi mới, đảng CSVN mới biết mở mắt nhận ra vào trò quan trọng của đội ngũ trí thức trong việc xây dựng đất nước ? Nhưng ai cũng biết đảng này chỉ trông vào Trí thức khi họ có nhu cầu để tồn tại như đã chứng minh trong thời kỳ tiền và hậu "Cách mạng Tháng Tám" 1945.
Khi đã nắm được chính quyền, củng cố được vị trí chính trị và quân sự thì Trí thức lần lượt bị loạI ra rìa, và các Đảng phái Cách mạng không là đồng minh với Hồ Chí Minh cũng lần lượt bị triệt hạ như lịch sử đã làm chứng.

Nạn nhân sau cùng trong chuỗi dài lịch sử "vắt chanh bỏ vỏ" của đảng CSVN là Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (CMLTCHMNVN) của tổ chức này đã bị "loại khỏi chính trường không kèn không trống năm 1976", chỉ sau một năm quân Cộng sản miền Bắc, được Nga – Tầu yểm trợ, chiếm và thống trị miền Nam.

Hai nhân chứng Trương Như Tảng, Bộ trưởng Tư Pháp và Bà Bác sỹ Dương Quỳnh Hoa, Thứ trưởng Bộ Y tế của Chính phủ CMLTCHMNVN đã quay lưng chửi lại đảng CSVN như thế nào, sau 1975, vẫn còn rành rành ra đấy.

Vậy mọi người có thể đọc được gì trong "tư tưởng của đảng" khi Nông Đức Mạnh tuyên bố trước Hội nghị 7 : "Trước sự chuyển biến nhanh chóng của tình hình quốc tế và trong nước, trí thức ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nước và đang đứng trước những đòi hỏi cao và yêu cầu mới, cả thời cơ lớn và những thách thức gay gắt. Đảng cần tiếp tục đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo đối với trí thức. Chúng ta phấn đấu để đến năm 2020, xây dựng được đội ngũ trí thức có chất lượng cao, số lượng đông đảo và cơ cấu hợp lý, từng bước tiến lên ngang tầm với trình độ của trí thức trong khu vực và thế giới. Gắn bó vững chắc giữa Đảng với trí thức, giữa trí thức với Đảng, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công - nông – trí."

Thì ra, chỉ khi đối mặt với nhu cầu của hội nhập với Thế giới văn minh và đứng trước sự thay đổi qúa mau của khoa học và kỹ thuật lãnh đạo đảng CSVN mới nhận thấy họ cần phải có sự tiếp tay của đội ngũ Trí thức, những người có học, biết suy nghĩ phóng khóang và nhìn xa hơn lớp cán bộ, đảng viên bảo thủ.
Nhưng đảng vẫn còn coi thường, hạ thấp để "cai trị" trí thức nên Mạnh đã đặt Trí thức đứng sau cùng, dưới cả Công nhân và Nông dân (Công-Nông-Trí) .

Thuở xưa, Cha Ông ta không bao giờ dám đặt hàng Sỹ đứng sau lưng các thành phần khác trong xã hội nên mới sắp theo thứ tự Sỹ-Nông-Công-Thương để tỏ lòng ngưỡng mộ và tôn trọng nhân tài.

Vì thái độ coi Trí thức không bằng đảng viên nên dù nhiều nơi đã trải thảm đỏ để mời sinh viên giỏi ra trường về làm việc vẫn rất ít người hưởng ứng.

Ngay cả công chức-chuyên viên đang làm việc cho Nhà nước cũng phải bỏ việc chạy qua các công ty tư nhân hay nước ngoài, hoặc tự làm để có đồng lương khá hơn số lương chết đói của nhà nước và thái độ coi thường trí thức của các Thủ trưởng, Giám đốc ít học của đảng.

Một bài báo trong nước ngày 17/06/2008 viết : "Chỉ trong một thời gian ngắn, các quận huyện, sở ngành trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh phải đối mặt với sự ra đi của nhiều cán bộ công chức (CBCC) thạo việc. Trong một báo cáo gửi Bộ Nội vụ mới đây, Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP Nguyễn Thành Tài thống kê: từ tháng 7-2003 đến tháng 12-2007, TPHCM có 6.422 CBCC, viên chức thôi việc. Trong đó khối quản lý nhà nước (kể cả CBCC xã-phường): 698 người; khối sự nghiệp Giáo dục: 3.034 người; khối sự nghiệp Y tế: 849 người và sự nghiệp khác là 1.841 người. Đây là con số thống kê chưa đầy đủ."

Nhiều Trí thức trong nước đã công khai than phiền họ không được giao công việc với sở trường chuyên môn của họ, hoặc được giao thì lại không đủ phương tiện làm việc. Ngoài ra, thủ tục làm việc qua hệ thống quan liêu, bè phái và thủ tục hành chính rườm rà của đảng và nhà nước còn là một gánh nặng khác đối với đội ngũ trí thức nên mức đóng góp rất kém so với nhu cầu.

Tình trạng này cũng được Mạnh nhìn nhận trong diễn văn khai mạc kỳ họp 7: "Tuy nhiên, số lượng, chất lượng và cơ cấu của đội ngũ trí thức chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển. Số chuyên gia đầu ngành còn thiếu, đội ngũ kế cận hẫng hụt. Trong nước chưa có nhiều tập thể khoa học mạnh. Hoạt động nghiên cứu khoa học còn nhiều mặt thiếu gắn bó mật thiết với thực tiễn. Các thành tựu nghiên cứu và ứng dụng đạt được rất đáng trân trọng, song so với tầm thế giới và khu vực còn khoảng cách khá xa. Công tác xây dựng đội ngũ trí thức có nhiều kết quả, nhưng cũng còn không ít hạn chế, khuyết điểm."

NGƯỜI CẦY MẤT RUỘNG

Vấn đề thứ ba được thảo luận tại Hội nghị 7 là vấn đề "nông nghiệp, nông dân, nông thôn", nhưng tại sao phải đợi đến khi nông dân mất ruộng cầy cho các khu công nghiệp mở mang bừa bãi, cho các sân Golf kiếm tiền khách nước ngoài và Tư bản đỏ; sau nhiều cuộc khiếu kiện chiếm đất, oan sai dai dẳng và sau khi nông dân buộc phải bỏ nghề nông đi làm nghề khác thì đảng mới thấy nguy cơ có ngày nông dân nổi loạn ?

Hãy nghe Bà Phạm Thị Chi Lan, nguyên Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) nói với Báo Đại Đòan Kết ngày 14-7-2008 : " Bây giờ, nếu đem so thu nhập của người nông dân với các ngành nghề khác rõ ràng có một khoảng cách khá xa. Như ở Thái Bình, hơn 40% nông dân bỏ ruộng để đi làm việc khác. Thu nhập một hộ một năm khoảng 15 đến 20 triệu trong khi đi làm ngoài nhiều khi thu nhập có thể cao gấp vài ba lần. Tôi thấy bây giờ, ở các vùng nông thôn, lực lượng lao động trẻ bỏ làng đi nhiều quá. Ở quê chỉ còn lại người già, phụ nữ và trẻ em. Họ không thể đủ sức làm tăng năng suất, do vậy sản lượng lại càng thấp. Mà sản lượng thấp thì phải nhập. Đó chính là cái vòng luẩn quẩn."

Vì vậy, cuộc thảo luận tại Hội nghị 7 của đảng CSVN về "nông nghiệp, nông dân, nông thôn" chẳng qua cũng chỉ nhằm xoa dịu những bất mãn đã tràn đầy ly của nông dân.

Mạnh nhìn nhận những khuyết điểm đó khi nói : "Tuy nhiên, thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và yêu cầu phát triển, vẫn tồn tại nhiều khó khăn, yếu kém, khuyết điểm. Nông nghiệp phát triển kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt các nguồn lực; chuyển dịch cơ cấu và đổi mới cách thức sản xuất còn chậm, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ, phân tán. Công nghiệp, dịch vụ nông thôn phát triển chậm, thiếu quy hoạch, quy mô nhỏ, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn. Các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu giải phóng nguồn lực, thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hoá ở nông thôn. Nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tề - xã hội còn yếu, môi trường ngày càng ô nhiễm, khả năng thích ứng, đối phó với thiên tai còn hạn chế. Đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn còn thấp, chênh lệch giàu nghèo đang có xu hướng doãng ra; số hộ nghèo còn lớn; phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc."

Như vậy đảng của Mạnh đã biết nông dân và nhân dân lao động đang phải bươn chải để sống còn như thế nào trong hòan cảnh của nền kinh tế đang bị đe dọa tụt hậu. Nhưng nếu chỉ nói cho mát lòng dân để hy vọng dân sẽ quên khi đói thì dù có xây dựng được mấy thế hệ Thanh niên nối nghiệp, hay có đào tạo được thêm mấy trăm ngàn Trí thức sẵn sàng làm tay sai cho đảng thì nông dân vẫn còn xa với ruộng, công nhân vẫn chưa thoát khỏi kiếp lao động làm tôi cho nước ngoài.

Đã đến lúc đảng thức dậy chưa hay còn mê ngủ để cho Nhà nước rong chơi lãng phí với đồng tiến đóng thuế của dân ? -/-

Phạm Trần
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »



Image

Tiếng thở dài của người dân Việt Nam
Tác giả: Trần Khải Thanh Thuỷ


Em có nghe tiếng sấm
Báo một cơn mưa rào
Em có nhìn trời thẳm
Cháy bùng những vì sao

Em có nghe thời cuộc
Run trong từng cọng rau
Đói nghèo và dung tục
Nhận chìm bao thanh cao

Đã trở thành giả dối
Những câu thơ ngọt ngào
Đã trở thành tội lỗi
Nếu chỉ ngồi khen nhau

Hoa nở chẳng vì đâu
Khi vàng con mắt đói
Bởi xóm làng thương nhau
Bếp mỗi chiều vẫn khói

Sống mới khó làm sao
Nữa là còn tranh đấu
Nữa là còn sáng tạo
Nữa là còn yêu nhau

Khuất Quang Thuỵ
Bài thơ làm từ giữa thập kỷ 80, khi nhà cầm quyền vì dốt nát, tham tàn, cố tình dồn con dân vào ngõ chết:

"Gạo 13 ký, suốt tháng cháo thừa cơm thiếu , quanh năm no cậy nước
Vải vừa bốn ngàn phân, quanh năm quần thiếu, khố thừa, suốt đời ấm nhờ da"

Cũng chính vì ấm nhờ da, no cậy nước, cháo thừa cơm thiếu, quần thiếu, khố thừa mà tác giả - một nạn nhân của thời cuộc và chế độ cộng sản phi nhân- dù là một nhà thơ, nhà báo quân đội, có nhiệm vụ dùng ngòi bút để ca ngợi chế độ, bảo toàn thành tựu, thành tích vĩ đại, quang vinh của đảng cộng sản cũng phải đau đớn thốt lên: Sống mới khó làm sao.

Khổ đầu tác giả viết về một hiện tượng thiên nhiên cũng là những điều vĩ mô trong cuộc sống:

Em có nghe tiếng sấm
Báo một cơn mưa rào
Em có nhìn trời thẳm
Cháy bùng những vì sao


Từ đó đưa ra một cái nhìn biện chứng, một quy luật tất yếu khách quan mang đầy triết lý nhân sinh.

Nước mắt Việt Nam (Nguồn: thewe.cc)

Tiếng sấm ì ầm khi vọng vang thống thiết, khi rền rĩ than van, chính là tiếng kêu rên của dân chúng đói nghèo trong cuộc sống vô cùng ngột ngạt, tù túng. Ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, bao nhiêu giá trị làm người bị tước đoạt, đồng thời còn là điềm báo trước của một sự đổi thay sấm rung chớp giật. Một cơn mưa số phận sẽ đến với số kiếp của 70 triệu con người nghèo nàn bất hạnh (thời điểm 1985)

Giữa bầu trời thăm thẳm, đầy mông lung, lạnh lẽo, tưởng chừng vô vọng, không sinh khí đã là những vì sao bùng chiếu, cháy sáng lên niềm hy vọng khôn nguôi của con người.

Khổ 2: Từ bầu trời xa xôi, diêụ vợi, tác giả đột ngột kéo ta xuống mặt đất, nơi diễn ra những điều vi mô, nơi con người quằn quại kéo lê một kiếp sống điêu linh khốn khó.

Em có nghe thời cuộc
Run trong từng cọng rau
Đói nghèo và dung tục
Nhận chìm bao thanh cao


Đồng lương đi làm cho nhà nước, không đủ để rau cháo qua ngày, cha nhìn con, vợ nhìn chồng, thương cảm ngao ngán rồi nhường con, nhường cháu theo kiểu: Con ăn ngon mẹ, vợ nhịn, no chồng...

Một thời cuộc khốn nạn do đảng cộng sản tạo lập trên cơ sở đói, rách, dốt...Chính vì thế mà bao nhiêu thanh cao, phẩm giá bị cuộc đời dung tục nhấn chìm. Thầy phải đạp xích lô, cô bưng bê rửa bát cho quán phở, nhà hàng, mẹ già bị đẩy ra đường ...Trước cửa chùa chiền, bao nhiêu bàn tay lật ngửa, những câu nói tang thương nghe xót lòng, tê tái:

- Lạy ông đi qua, lạy bà đi lại! Hãy thương xót cho tấm thân già cả, bất hạnh này.

Và những câu trả lời nghìn lần chua xót hơn:

- Lấy đâu ra cụ ơi, toàn những người sống bằng đồng lương nhà nước cả, ăn còn chẳng đủ...

Bức tranh xã hội xám nghoét một màu ảm đạm. Chiều chiều gái bán hoa nhan nhản tụ tập dưới chân cầu, tượng bác, ven đường, kiếm sống bằng sự suy đồi đạo đức của lũ khách ăn sương, của cánh đàn ông trung niên, choai choai, háu gái, như câu thơ nổi tiếng của thời đại cộng sản:

Chiều chiều bên bến Ninh kiều
Dưới chân tượng bác, đĩ nhiều hơn dân


Sự thanh cao bị nhận chìm, cuộc sống chỉ còn lại sự đói nghèo, dung tục trên mảnh đất mang tên cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Khổ 3:Tác giả hướng ngòi bút của mình vào thể chế dối lừa trơ tráo. Thơ không được quyền sống cho mình mà chỉ sống cho nhiệm vụ ngợi ca, tuyên truyền, sáo rỗng.

Đã trở thành giả dối
Những câu thơ ngọt ngào
Đã trở thành tội lỗi
Nếu chỉ ngồi khen nhau

Nhà văn Khuất Quang Thụy

Nguồn: vtc.vn
Trong lúc thời cuộc đang run trong từng cọng rau, từng muỗng cháo, từng hạt mắm, hạt muối, cũng như trong từng manh quần, tấm áo...Thầy lên lớp với mảnh vá nơi đầu gối, cán bộ công nhân viên đi làm phải tích kê mông, hoặc áo vá vai, cổ lộn trái, lưng, gấu sờn bạt mép...nhưng tư tưởng, đầu óc, trí não vẫn phải hướng về đảng, đồng nhất mình với đảng cộng sản vô song, coi đảng như một đấng cứu thế, một niềm tin thiêng liêng vĩnh hằng...Nếu không sẽ bị tập thể, cán bộ tổ chức, lãnh đạo kết tội: Chính trị non yếu, lập trường tư tưởng không rõ ràng , nhân sinh quan có vấn đề v.v

Chỉ bằng 4 câu thơ giản dị , đầy sức nặng của suy tư, sức nén của ngôn từ, tác giả đã vạch trần bản chất thối nát, dối lừa, của chế độ cộng sản.

Khổ 4:

Hoa nở chẳng vì đâu
Khi vàng con mắt đói
Bởi xóm làng thương nhau
Bếp mỗi chiều vẫn khói


Không có bánh mì, thì hoa hồng cũng chẳng giúp ích gì trong cuộc sống... đã đói vàng mắt ra rồi, thì làm sao còn tâm trí để thưởng thức cái đẹp, điều thiêng liêng cao cả, thậm chí như một sự đối nghịch, trơ trẽn.

Ngọn khói lam mỗi chiều bốc lên trong mỗi mái nhà chỉ là tượng trưng, theo thói quen, để tự an ủi mình và an ủi xóm làng xung quanh, còn trong thực tiễn , ngay cả việc thoả mãn bần cố nông theo kiểu cha truyền, con nối: Cơm ba bát, áo ba manh, thuốc ba thăng (3 lần sắc) xem ra vẫn là điều khó, dù hàng nghìn năm trôi qua rồi song nỗi đói nghèo của triều đại phong kiến, đế quốc mục ruỗng thối nát vẫn hiện diện trong mỗi mái nhà, qua bao nhiêu số phận của người dân trong thời đại cộng sản , vừa "nhân đạo gấp triệu lần tư bản", vừa "cho dân" và "vì dân"


Khổ kết: Tác giả buông ra những lời nhận định, cũng là một định đề bất di bất dịch, như một chân lý sống trong thiên đường mù của chủ nghĩa xã hội.

Sống mới khó làm sao
Nữa là còn tranh đấu
Nữa là còn sáng tạo
Nữa là còn yêu nhau


Khi dạ dày thõng thành hình dấu hỏi, ngày đêm co thắt trong đầu, cuộc sống còn chật vật vì miếng cơm, manh áo, thời cuộc run trong từng cọng rau, từng mạch gân, thớ thịt, sợi tóc, tế bào , thì tìm đâu ra sự sáng tạo, tranh đấu? Con người chỉ còn là một sự vạ vật, sinh tồn, lê lết kiếp sống vô nghĩa khổ đau trên mảnh đất đói nghèo, dung tục đến hết đời. Tình yêu dù có muốn hoá thân vào các động tác tính dục nghìn đời, cũng bị dạ dày chi phối. Không cơm no, chẳng ấm cật, chỉ no cậy nước, ấm nhờ da, nên muốn dậm dật mọi đường, muốn thể hiện tình yêu với vợ hoặc chồng theo đúng những điều cha ông đúc kết: "đạo vợ chồng là trao xương, gửi thịt", cũng đành... chịu thua, chỉ câu nói muôn thưở thốt lên đầy bất lực: Sống mới khó làm sao!

Sau 22 năm thực hiện công cuộc đổi mới, bài toán kinh tế đã có lúc vượt lên như những ngọn sóng trồi lên trên mặt nước tù đọng , nay lại quay về vạch xuất phát ban đầu bởi lạm phát, suy thoái, giá chạy, lương nằm, kinh tế mang nghiệm âm, và câu thơ của thuở nghèo nàn, chết chóc, trước ngày đổi mới lại trỗi dạy trong lòng mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt là tầng lớp dân nghèo thành thị và nông dân Việt Nam theo đúng quan điểm cai trị của đảng cộng sản "vĩ đại, quang vinh" :"Bần cùng hoá nông thôn, đô thành nông thôn hoá"

Bài thơ chính là nỗi lòng của tác giả, nói thay cho tiếng thở dài của gần 80 triệu người dân Việt Nam hiện tại giữa lòng đảng trị, công an hành, tham nhũng điều khiển, mọi gía trị làm người trong xã hội đều bị đảo lộn, tước đoạt, nhận chìm, không lối thoát.

Hà Nội 19-7-2008
Trần Khải Thanh Thuỷ giới thiệu và bình
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Nhiều Giải Pháp Hay, Nếu Biết Lắng Nghe

Bùi Tín
Paris 22-07-2008

Image
Hình (KQN Images/Vietnam Review): Nhà Báo Bùi Tín.


Ban lãnh đạo cộng sản này ''to gan lớn mật '' thật. Không biết bao nhiêu vấn đề lớn nhỏ, phức tạp, lưu cữu đối với 3 lĩnh vực chiến lược Trí thức, Thanh niên, Nông thôn, cộng với nền kinh tế tài chính trong cơn lạm phát - khủng hoảng, thế mà giải quyết vèo trong có một tuần lễ, tại Hội nghị TƯ 7.

Tìm hiểu kỹ tận gốc, các vị ở Văn phòng trung ương cho biết đây là theo lề lối làm việc ''hiện đại, chính quy ''(!). Đã 4 khóa nay, Trung ương chỉ họp xuân thu nhị kỳ thôi, mỗi năm vào tháng 2 và tháng 7. Nên nhiều vấn đề dồn vào một cuộc họp. Mời bạn chịu khó đọc 3 đoạn chính của 3 nghị quyết dưới đây:

...'' Phải đặt thanh niên ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng phát huy nhân tố và nguồn lực con người. Chăm lo giáo dục bồi dưỡng thanh niên là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của đảng, phát huy vai trò quan trọng của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, gia đình, nhà trường và xã hội. Nhà nước quản lý thanh niên và công tác thanh niên, tạo điều kiện cho thanh niên phát triển và cống hiến, đồng thời khuyến khích, vận động thanh niên nỗ lực rèn luyện, tự thân phấn đấu theo tấm gương của Bác Hồ, coi đó là yếu tố quan trọng để xây dựng thế hệ thanh niên thời kỳ mới ''. Toàn là khẩu hiệu ! Cho 5 năm trước hay 5 năm sau đều được. Xin cố nghe tiếp:

...'' Từ nay đến năm 2020, chúng ta phải phấn đấu theo mục tiêu xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, đạt chất lượng cao, số lượng đông và cơ cấu hợp lý, từng bước tiến lên ngang tầm với trình độ trí thức của các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới; xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ, sức mạnh của đất nước, của đảng và của cả hệ thống chính trị ''. Về trí thức đấy. Mục tiêu ghê gớm. Nhưng vẫn toàn là khẩu hiệu. Kêu chan chát, nhưng suông ! Xin tiếp:

...'' Xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, xây dựng nông thôn ổn định, giàu bản sắc dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ, nâng cao sức mạnh của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo cuủ đảng, xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nông trí, tạo nền tảng kinh tế xã hội và chính trị vững chắc, bảo đảm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo đinh hướng xã hội chủ nghĩa''. Vẫn là công thức, là khẩu hiệu, là lưỡi gỗ đáng sợ đến phát khiếp.

Cho nên giải pháp đầu tiên cần kíp là: từ bỏ kiểu ra nghị quyết hình thức theo công thức và khẩu hiệu, rất chung chung, không có biện pháp cụ thể, đọc rất kêu nhưng trống rỗng. Những ''giải pháp'' chủ quan kiểu hô khẩu hiệu đang bị thực tế phủ định. Nghị quyết 7 nói về chống làm pháp, giữ giá... chưa kịp khô mực thì sáng nay giá xăng nhảy chồm lên 19 ngàn đồng/lít (tăng 1 phát 30%), chứng khoán gượng dậy 1 tuần lễ hy vọng vượt 500 điểm sáng nay lại chúi xuống 470 điểm, bài học sốt dẻo cho ai khai sinh ra Nghị quyết 7 sặc mùi ảo.

Sao không tổng hợp để báo cáo ra cuộc họp vô vàn góp ý, kiến nghị, gợi ý, chất vấn mang tinh thần xây dựng của trí thức, nhà khoa học, nhà báo, thanh niên ... Biết bao giải pháp hay ở trong đó. Ngay ở trong nước, trên các báo và mạng Đại đoàn kết, Thanh niên, Tuổi trẻ, Vietnam Net, Tiền Phong, Tia Sáng, Pháp luật, Lao động, Viện nghiên cứu phát triển DSI...cũng như trên báo bị cấm mà không cấm được như Tự do Ngôn luận, Tổ Quốc, Nhà báo tư do, Phía trước ... có biết bao ý kiến hay, có tinh thần xây dựng.

Có bạn đọc gửi email riêng cho tôi nhận xét bài báo tôi viết ngày 7-7-2008 về hội nghị 7 là xác đáng, nhưng sao không đưa ra giải pháp? Xin trả lời là có giải pháp chứ. Nhiều giải pháp hữu hiệu cao nữa. Có giải pháp trong tầm với của đáng CS, có giải pháp đòi đảng CS phải tự lột xác, điều này có phần khó, phải chịu hy sinh cho dân cho nước, khi mỗi vị trung ương đều đã giàu sụ hết cả rồi, có thể cho đời con, đời cháu, thế mà họ vẫn còn ham, còn tham...

Giải pháp mạnh, như đã nói có tác dụng ngay là sòng phẳng hoàn trả nông dân cá thể quyền sở hữu ruộng đất, sở hữu rừng (ở miền núi) vốn có từ ngàn xưa, còn tồn tại dưới thời phong kiến và thực dân Pháp, cùng với cả Tự điền (ruộng dành cho cúng lễ của các dòng họ) cũng như Học điền (để khuyến khích học sinh giỏi). Nông dân làm chủ hoàn toàn ruộng đất sẽ chăm sóc từng thửa ruộng như chăm bẵm cho con đẻ ruột thịt của mình, không còn là ruộng của ai khác được giao, được mượn để lúc nào cũng có thể bị đòi lại, thu hồi! Lúc ấy ruộng đất có chủ, thuận mua vừa bán, không còn hà hiếp, mua rẻ như bèo để các quan CS bán lại đắt hơn vàng. Phải có quyết tâm cao, đúng, có lợi cho dân cho nước là làm; sẽ chấm dứt cảnh ly nông, ly hương, hết chuyện thu hồi, đền bù, sổ xanh, sổ hồng, sổ đỏ ...Việc hình thành trang trại nông nghiệp từ nhỏ đến lớn sẽ thuận theo quy luật của thị trường, nhanh, vững, trong ứng dụng kỹ thuật mới lợi nhuận cao. Nông thôn sẽ vươn dậy.

Một giải pháp mạnh, có hiệu quả cực lớn là chống tham nhũng thật lòng. Ít ra cũng như Trung quốc: hàng loạt ủy viên trung ương bị truy tố, hàng chục ngàn cán bộ cao cấp ra tòa, ủy viên bộ chính trị cũng có thể bị tử hình, ủy viên bộ chính trị hàng thứ tư, kiêm bí thư thành phố cực lớn là Thượng Hải đầy thế lực cũng bị truy tố và tù mọt xương. Ở Việt nam, vụ bí thư tỉnh ủy Cà mau bị '' cảnh cáo '' vừa rồi chỉ là chuyện đùa cợt trước công luận. Vụ lật án, rồi bắt giam các nhà báo dám tố cáo quan tham, bịt chặt mồm báo chí là biểu hiện rõ của thái độ đánh trống bỏ dùi trơ trẽn của người lãnh đạo.

Biện pháp kinh tế mạnh, cần thiết, cấp bách, có kết quả ngay tức khắc nếu thật có ý muốn là chấn chỉnh gấp, quản lý chặt lại các tập đoàn kinh tế quốc doanh, vốn xưa nay được nuông chiều, ưu đãi quá đáng, hư hỏng tận gốc, kế toán lem nhem, giữ chặt độc quyền, bung ra buôn tiền, kinh doanh bất động sản, đầu cơ chứng khoán, du lịch, khách sạn. Các chuyên gia quốc tế cho rằng chỉ cần chấn chỉnh thật sự 7 tập đoàn kinh tế và 86 Tổng công ty quốc doanh trong số 1.720 doanh nghiệp nhà nước hiện còn lại là có thể đỡ tổn thất ít nhất hơn 12.000 tỷ đồng (bằng hơn nửa tỷ US$) trong năm 2008. Đã thành nổi tiếng về bê bối là các Tập đoàn Đóng tàu thủy, Than-khoáng sản, Hàng không, Điện lực, Dầu khí, Viễn thông, Xây dựng (miền Trung ), Chè, Cao su, nợ lớn, lỗ nặng, phung phí vô kể tài nguyên quốc gia, được ngay các nhà kinh tế lão luyện trong nước gọi là bọn '' phá gia chi tử '', lẽ ra phải là đàn bò sữa nuôi sống cả nước. Bộ chính trị có dám mở một phiên họp riêng sắn tay chấn chỉnh, mổ sẻ cái ung bướu chết người này không ? Chậm một ngày là tai hại thêm một ngày đấy. Một bản báo cáo xoa dịu không che dấu nổi khối ung bướu đã di căn cực kỳ khó chữa này.

Biện pháp mạnh rất hiệu quả để tiết kiệm ngay hàng vài tỷ đôla là giản đơn hóa bộ máy cực kỳ cồng kềnh nặng nề của đảng cộng sản. Vẫn còn bày ra quá nhiều ban bệ, vụ, viện, phòng, ban ở mọi cấp, hiệu xuất thì ít, dẫm đạp lên bộ máy chính quyền thì nhiều. Chính ban tổ chức trung ương đảng kêu trời rằng bộ máy viên chức của đảng và chính quyền ở tỉnh Thanh hóa hiện có đã gần bằng số viên chức thuộc phủ toàn quyền Đông dương năm 1940. Ở trung ương, một ví dụ rất nhỏ: riêng Học viện chính trị Quốc gia mang tên Hồ chí Minh được một số trí thức đánh giá là đông đảo nhất, nhiều thạc sỹ, tiến sỹ (giấy không ít) nhất, lương cao nhất, chiếm nhiều nhà sang nhất, nhiều bổng lộc, đi nước ngoài nhiều nhất, đi lại bằng xe cộ sang nhất, nhưng hiệu quả cho nhân dân thì vô cùng ít ỏi, lại có khi tai hại nhất vì bảo thủ và giáo điều nhất.

Một biện pháp đơn giản có hiệu quả ngay là 14 vị bộ chính trị nêu gương về tiết kiệm, như không dùng xe ôtô loại quá sang (de luxe), chỉ dùng xe đủ tốt đi trong thành phố, nêu gương cho các ủy viên trung ương, các bộ trưởng... thì đã dôi ra khối của cho xã hội. Không có ai cười được mình, uy tín quốc gia không bị giảm, mà còn được thế giới ca tụng và nhân dân khen ngợi. Xin cứ làm thử mà xem. Chớ có như ông chủ tịch thủ đô Hànội đi xe ngoại hạng Lexus giá trị bằng 4 ngàn con trâu mộng, thành bia miệng để đời. Xin nhớ gương của Liên bang Đức tiệc quốc gia chỉ có 3 món cùng với bia, không rượu, so với Đại yến trong Đại lễ đường Bắc kinh 14 món đủ loài cá, lợn, bò, dê, sơn hào hải vị, với rượu mạnh Mao đài tửu tu thả cửa, có ai ca ngợi đâu !

Xin nhắc lại lời khuyên của ông Lý Quang Diệu là tập trung sức cho giải pháp gốc: không ai dám tham nhũng (vì sợ, bị trị rất nặng), không ai có thể tham nhũng (vì luật và lệ nghiêm, kiểm tra chặt), không ai cần tham nhũng vì lương đủ sống) và tuyên truyền lối sống thanh bạch trong sáng, không đua đòi hưởng thụ, nhất là thanh niên. Ở ta thì ai cũng tham nhũng được, hầu như thả lỏng, đua đòi nhau đút lót, nền ''văn hóa của ăn vụng và chùi mép''.

Xin tìm cho ra một gương sáng như Tưởng Kinh Quốc ở Đài Loan. Một tấm gương thanh bạch, trong sáng; lên làm tổng thống năm 1978, ông liền quyết định ngay lối sống làm gương của chính phủ, tự mình ở nhà hẹp, đi xe ôtô bình thường, giảm chi phí yến tiệc, cấm ngặt tệ quà cáp, không cho con nuôi, em, cháu mình vào làm cán bộ viên chức bộ máy nhà nước theo kiểu ''một người làm quan cả họ được nhờ'', còn tự nguyện góp 3 phần tư lương tổng thống cho quỹ xã hội và từ thiện, cả gia đình sống thật giản dị, vui lòng trong nếp sống thanh bạch cao quý. Tự ông đôn đốc chống và trị tham nhũng, kiểm soát gắt gao chi phí ngân sách quốc gia. Đời sống toàn dân cải thiện rõ từng năm. Xin nhớ cha ông là Tưởng Giới Thạch không hề cử ông lên thay mình; cha ông mất năm 1975, sang năm 1978 Tưởng Kinh Quốc mới được bầu. Ông mất năm 1988, để lại một mô hình phát triển nhanh, bền vững, có nét văn hóa cũ-mới hài hòa kiểu Đông Bắc Á, thành nếp đến nay.

Còn nhiều biện pháp nữa. Chỉ cần có ý muốn phục vụ người dân. Sao không giao cho Hội Phụ nữ đảm nhận bẳng được việc chấm dứt tận gốc nạn buôn bán phụ nữ, trẻ em và người lao động đang lan rộng sang Cambốt, Thái lan, Mã lai, Nam hàn, Trung đông, để dạy nghề cho chị em và người lao động ?

Còn hơn là mở chiến dịch học tập gương Bác Hồ một cách hình thức nhạt nhẽo vô bổ. Sao không giao hẳn cho Đoàn thanh niên nhiệm vụ vận động ráo riết và thiết thực thanh niên nước ta đang nghiện hút thuốc lá nặng (ở hàng đầu châu Á), nghiện xì ke, ma túy và cai nghiện, giảm bớt bia, rượu, cờ bạc, cá cược đủ loại... Sao không giao cho đội ngũ báo chí sứ mạng tố cáo tham nhũng và lãng phí, không có khu cấm, vùng cấm, cấp bậc cấm, theo chức năng là quyền lực thứ tư đại diện cho công luận, phối hợp chặt với quyền lực của tư pháp và giới luật sư. Sao không giáo dục và vận động Thiếu nhi Việt nam ''không nói tục, không nói dối, không nói ngọng (s lẫn với x, tr với ch, để có đại biểu quốc hội, có giáo sư, tiến sỹ nói trên đài cũng ngọng một cách vô tư), không làm ô nhiễm môi trường'', tôn trọng của công, yêu thiên nhiên...

Xin mỗi công dân Việt nam nghĩ đến cuộc sống của dân mình, của nước mình, mà phát biểu ý kiến ngay thật, công khai, yêu cầu đảng cộng sản vẫn cứ ôm khư khư độc quyền lãnh đạo một cách phi lý thì phải làm những điều ích nước lợi dân. Nước Việt ta không phải là của riêng ai.
Có một biện pháp cơ bản nữa đã chín quá rồi là đảng cộng sản phải chịu chơi theo luật pháp dân chủ, chịu để công dân lập hội, lập đảng rồi ganh đua ngay thật với các đảng ấy, lấy nhân dân và lá phiếu làm trọng tài. Tài giỏi thì ở lại. Hèn kém thì để cho người tài giỏi đức độ hơn thay thế.

Lúc ấy nước ta, dân ta mới có thể đổi đời.

Thời bao cấp, mua gạo chỉ có một cửa hàng mậu dịch, chỉ có một thứ gạo mốc, gạo ẩm, bắt dân phải mua, nay đã có hàng trăm hàng gạo, hàng chục lọai gạo đủ lọai để chọn.. Đó gọi là đa nguyên kinh tế. Sao về ''chính trị '' lại cứ bắt dân ''mua'' và '' ăn '' mãi chỉ một thứ gạo mang nhãn hiệu đảng cộng sản đã mốc thành meo đến hơn nửa thế kỷ rồi.

Cái biện pháp cơ bản chính trị dân chủ đa nguyên nhiệm mầu này, hơn 2/3 nước trên thế giới đã được hưởng, đều qua đấu tranh mà có. Không có một nước nào còn độc quyền chính trị mà dân có giàu sang và hạnh phúc cả.

Dân ta về chính trị đang phải nhá ''gạo mốc độc quyền của mậu dịch'', khi từ láng giềng bay sang mùi gạo tám thơm nức mũi của dân chủ đa nguyên.

Ai mà chịu thấu, phải không bạn.
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Chấm dứt trò gian dối

Ngô Nhân Dụng

Trong bài phát biểu nói trên đài ti vi ở Hà Nội ông Nguyễn Phú Trọng đã báo tin rằng chỉ trong ba năm nữa thôi “Hội Ðồng Lý Luận Trung Ương” của Ðảng ông sẽ hoàn tất việc nghiên cứu để tìm ra một “Học thuyết xây dựng chiến lược Việt Nam trong thế kỷ 21.” Ông Trọng cũng nhắc nhở đảng Cộng Sản vẫn theo chủ nghĩa Mác Lênin như thường lệ. Dân Hà Nội có ngạn ngữ “Giàu như Phú, lú như Trọng...” chính là ông Trọng này. Cho nên chúng ta không biết cái “học thuyết” mà ông sẽ đưa trình làng vào năm 2011 nó sẽ ra sao.

Trong khi đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn loay hoay xây dựng một học thuyết Nông Ðức Mạnh hay là một chủ nghĩa Nguyễn Tấn Dũng như vậy, thì thế giới bên ngoài người ta cứ thế tiến tới, không chờ đợi một chủ thuyết nào chỉ đường dẫn lối cả. Bởi vì trước hết loài người phải sống đã, chứ không ai chờ có một chủ thuyết nào rồi mới bắt đầu sống!

Cái bệnh đi tìm chủ thuyết phát sinh ở nước ta là do ảnh hưởng Phương Tây. Các ông Tây duy lý từ mấy trăm năm trước đã xây dựng những chủ thuyết để dẫn dắt người khác theo mình, nó thành một thứ bệnh truyền nhiễm trong giới trí thức. Bệnh nặng nhất là ông Karl Marx, truyền xuống ông Lenin, lây dần dần sang nhiều người khác. Chỉ vì chủ nghĩa đó là thế giới chia đôi, hai khối tư bản và cộng sản đánh nhau, mà người Trung Hoa, người Hàn Quốc, người Congo, người Việt Nam chết nhiều nhất. Từ giữa thế kỷ 20 loài người bắt đầu trị bệnh chủ nghĩa, và đến mười năm sau cùng của thế kỷ thì hầu như mọi người đã trừ được loài vi khuẩn đó. Ngoại trừ ở những nước vẫn bế quan tỏa cảng, ngăn cấm thông tin, không cho dân được mở cái đầu ra, cho nên trong giới trí thức vẫn còn nhiều người mơ màng về một chủ thuyết nào đó. Khi thấy chế độ cộng sản ở Nga và Âu châu sụp đổ, có những người ở Việt Nam lo lắng một cách thành thật rằng sau khi lý thuyết Mác Lê bị dẹp bỏ thì không biết mình sẽ nương tựa vào một ý thức hệ nào để mà sống!

Nhưng con người sinh ra để sống chứ không phải để chuẩn bị sống, như một nhân vật của Boris Pasternak đã phân trần. Hay nói như Trang Tử, vì có người đi mà có đường đi (Ðạo hành chi nhi thành), chứ không phải vì có con đường rồi nên mới sinh ra con người để bước đi trên đó coi con đường có đẹp hay không! Biết vậy, nhưng vẫn phải chờ tới khi chế độ cộng sản hoàn toàn thất bại ở Nga, thất bại hiển nhiên trên mặt kinh tế, thì người ta mới vỡ lẽ ra là tất cả câu chuyện chủ nghĩa là những chuyện tầm phào! Như vậy thì trong kinh tế học người ta không cần chủ nghĩa nào hay sao? Ðúng như vậy. Mọi môn khoa học đều không cần và không nên có chủ nghĩa. Vì các kiến thức khoa học đều là những giả thuyết, người ta tạm dùng cho đến khi nào bị đánh đổ vì có chứng cớ trái ngược. Trong thiên văn bây giờ mọi người tin ở thuyết Big Bang nhưng không ai tôn thờ nó như một chủ nghĩa. Trái lại, ai tìm ra được một kẽ hở nào trong lý thuyết đó sẽ được cả làng thưởng công to! Trong kinh tế học cũng vậy, không có các lý thuyết vĩ đại với tham vọng giải quyết mọi vấn đề nhân sinh, mà chỉ có những tìm kiếm và khám phá cụ thể.

Tuần trước, Giáo Sư Leonid Hurwicz, một nhà kinh tế lỗi lạc mới qua đời, thiếu hai tháng nữa thì ông đầy 91 tuổi. Ông sinh ở Matx Cơ Va trước Cách Mạng Tháng Mười, khi cha mẹ ông chạy từ Ba Lan sang Nga để tị nạn quân Ðức chiếm đóng. Sau đó họ lại đem con chạy trở về Ba Lan năm 1919 để tránh chế độ cộng sản. Tốt nghiệp luật khoa ở Ðại Học Varzawa, ông sang Anh học về kinh tế, rồi năm 1940 sang Mỹ làm nghề dạy học cho đến khi chết.

Ðối với những người đã sống trong các xã hội cộng sản và tư bản, một đóng góp đáng nhớ của Hurwicz là ông đã thoát khỏi cái “Giấc Mơ Chủ Nghĩa,” nói riêng là Chủ Nghĩa Xã Hội. Không phải vì ông đã công kích chủ nghĩa này, mà vì ông không phí thời giờ khai triển cũng như chống đối nó. Ông chỉ đặt ra những vấn đề thực tế để giải quyết từng chuyện một. Nhưng cách đặt vấn đề của ông khiến mọi người thấy chúng ta không thể cứ nghĩ việc giải quyết các vấn đề lớn của xã hội nếu không chú ý đến động cơ kinh tế của mỗi cá nhân trong từng lãnh vực nhỏ một.

Hurwicz chịu ảnh hưởng của những giáo sư kinh tế nổi danh ở London khi ông theo học ở đó, như Friedrich Hayek, Nicholas Kaldor, và Ludwig von Mises. Vào những thập niên 1930, 40, có những nhà kinh tế cổ động cho việc cải thiện hệ thống xã hội chủ nghĩa, như Oskar Lange. Tuy không đồng ý với lý thuyết kinh tế của Karl Marx và cũng không thích chế độ độc tài kiểu Stalin, Lange đã nảy ra ý tưởng kết hợp kinh tế thị trường với Chủ Nghĩa Xã Hội. Bây giờ vẫn còn nhiều người thích một thứ lý thuyết “kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa,” ý kiến đó là do Lange khai phá.

Trong khi đó, Hayek và von Mises nhìn thấy nhược điểm cơ bản của hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa, là vấn đề thông tin. Sống trong thời đại tin học chúng ta hiểu vấn đề này nhanh, nhưng vào thập niên 1940 thì đây là một khám phá. Ðời sống kinh tế dựa trên tin tức, các quyết định kinh tế dựa trên thông tin. Trước khi trao đổi sức lao động, hàng hóa, tiền bạc, người ta thế nào cũng trao đổi tin tức. Không một ủy ban kế hoạch nhà nước nào có thể thu lượm đầy đủ thông tin về nhu cầu cũng như khả năng của mọi người trong xã hội. Ngược lại, trong một hệ thống thị trường thì mọi người tự động tiết lộ những thông tin về nhu cầu và khả năng cung ứng của họ, qua giá cả khi họ mua bán, trao đổi với nhau. Hơn thế nữa, như Friedrich Hayek biện luận trong hàng chục năm, khi kinh tế được tập trung chỉ huy thì cuối cùng sẽ thất bại; rồi vì thất bại cho nên phải cưỡng chế, dẫn đến cảnh nô lệ hóa mọi con người. Một chế độ kinh tế tập trung chỉ huy cuối cùng sẽ làm mọi người mất hết tự do. Từ đó, đến nhân phẩm cũng mất.

Ở nước ta, từ thời chủ nghĩa Mác du nhập, đã có nhiều người sáng suốt nhận thấy việc thực hành chủ nghĩa đó sẽ dẫn tới cảnh nô lệ hóa và mất phẩm cách con người. Nhưng, vì ảnh hưởng của tinh thần duy lý Tây Phương, nhiều người vẫn bỏ công xây dựng những chủ thuyết khác, để đối đầu với Mác xít, hoặc vượt lên trên chủ nghĩa Mác. Ðến khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ khắp thế giới, khuynh hướng đi tìm chủ nghĩa thay thế vẫn còn. Chúng ta có thể hiểu, vì nhiều người lớn lên trong chế độ suốt ngày đêm chỉ nghe truyền giảng chủ nghĩa Mác, giống như một tôn giáo, họ đã quen sống như vậy. Buông chủ nghĩa ra, người ta cảm thấy bơ vơ. Cho nên cứ tưởng rằng phải tìm ngay một chỗ tựa khác mới sống được. Ðó là một ảo tưởng, cũng là một căn bệnh.

Leonid Hurwicz thoát khỏi giấc mơ Chủ Nghĩa Xã Hội là nhờ những chịu ảnh hưởng những nghiên cứu của Hayek về vai trò thông tin trong đời sống kinh tế. Ông không đi tìm xây dựng một chủ thuyết nào cả. Ông chỉ nêu ra những vấn đề cụ thể. Một trong các đề tài ông theo đuổi là làm cách nào khiến mọi người tham dự một cuộc chơi kinh tế chịu tiết lộ tin tức của mình, chứ không giữ kín để hưởng lợi. Hay là làm thế nào để những người làm việc cố gắng hết lòng cho công việc chứ không làm lấy lệ. Trong tất cả các vụ đó, phải vẽ ra cách thưởng phạt để người ta có động cơ nói thật, có động cơ làm hết lòng. Nhưng chính khi đi tìm những động cơ thích hợp để giúp một cơ chế kinh tế nào đó đạt kết quả, Hurwicz đã giúp chúng ta hiểu tại sao chế độ cộng sản thất bại.

Một thí dụ về phương pháp tạo động cơ thích hợp là câu chuyện chia đôi cái bánh. Bà mẹ có thể cắt cái bánh thật công bằng, chia cho hai con. Có thể trao nhiệm vụ cắt bánh cho anh, khuyên nhủ anh phải chia đều với em. Nhưng thế nào mỗi đứa con cũng thấy phần của mình nhỏ hơn, có thể sinh ra ganh tị trong lòng. Bây giờ có thể bầy ra một “cơ chế” như vầy: Một đứa con sẽ cắt bánh làm hai phần, nhưng đứa kia sẽ được chọn phần bánh trước. Với “cơ chế” như vậy, đứa trẻ có nhiệm vụ cắt bánh sẽ cố cắt hết sức công bằng, không cần phải nghe lời Ðức Khổng Tử dạy hay là bị quản giáo nhồi sọ về chủ nghĩa xã hội.

Với những phương pháp thiết lập “động cơ thích hợp chúng ta có thể cho kinh tế hoạt động tự do mà vẫn theo đuổi những mục tiêu ngoài kinh tế, như tôn trọng công bằng xã hội, trọng người già hoặc giúp trẻ em, vân vân, mà không cần cưỡng bức hay “giáo dục” người tham dự. Ðiều quan trọng là không cần một thứ chủ nghĩa nào để biến thành một tôn giáo bắt mọi người đi theo.

Chỉ cần một xã hội được sống trong dân chủ tự do và tôn trọng luật pháp, loài người có thể tìm cách giải quyết những vấn đề của cuộc sống bằng từng biện pháp nhỏ cho từng vấn đề nhỏ. Ðời sống tự do dân chủ không phải là một chủ nghĩa. Dân chủ chỉ là một luật chơi, giống như luật đá banh vậy. Khi có tự do, người ta được chọn, khi cần phải cùng nhau chọn, đặt ra những quy tắc chọn lựa chung, thí dụ như bỏ phiếu. Cứ như vậy, loài người sẽ sống hạnh phúc hơn mà không cần tôn thờ một chủ nghĩa như lối người cộng sản trong thế kỷ trước.

Như bây giờ nhiều người cộng sản ở Việt Nam vẫn còn muốn tôn thờ những chủ nghĩa và tư tưởng của tổ tiên họ, đó là một ảo tưởng! Phải giải trừ căn bệnh đó. Nhưng đa số những người cộng sản bây giờ, nhất là những người đang có quyền và có tiền, thì họ không tin vào chủ nghĩa nào nữa, chỉ tin ở thế lực kim tiền! Những công việc của “Hội Ðồng Lý Luận Trung Ương” chỉ là cách đánh lừa các người nhẹ dạ mà thôi. Phải chấm dứt trò gian dối đó.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Toàn bộ lãnh đạo Quân Khu Thủ Đô bị cách chức
Tác giả: Thanh Quang, RFA

Image
Báo Hà Nội Mới Online đưa tin, hôm thứ Hai 28-7, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng
đã ký quyết định các chức toàn bộ lãnh đạo quân sự thuộc quân khu thủ đô của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Image
Hôm 28-7, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã cách chức toàn bộ lãnh đạo Quân Khu Thủ Đô.
Hình: Tổng thống Brazil và Chủ tịch Nguyễn Minh Triết duyệt đội quân danh dự của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Sự kiện chưa từng có

Trong khi đó, cũng từ Paris, cựu Đại tá Bùi Tín, nguyên tổng biên tập báo Quân Đội Nhân Dân Chủ Nhật, nhận định:

Cựu Đại tá Bùi Tín : Có thể nói là trong lịch sử quân đội chưa bao giờ có một sự thay đổi như thế; thứ hai nữa là cái thay đối này không cùng loạt với các quân khu khác trong cả nước.

Ngoài ra Quân Khu Thủ Đô là cái quân khu trực tiếp của Bộ Quốc Phòng, nó làm nhiệm vụ bảo vệ các cơ quan đầu não của Bộ Chính Trị, của chính phủ, thế mà chỉ riêng thay đổi có mỗi quân khu đó thôi thì có thể nói đây là một sự kiện vô tiền khoáng hậu, tức là trước kia cũng chưa từng có và sau này cũng ít khi mà có thể có như thế.

Cái này nó diễn ra không phải vào cuối năm, cũng không phải vào một dịp cách mạng tháng tám hay mùng 2 tháng 9 như là bình thường, mà ở đây nó diễn ra vào thời điểm đặc biệt sau hôi nghị trung ương 7 vừa rồi.

Vẫn theo cứu Đại tá Bùi Tín, sự kiện này có thể mang một ý nghĩa quan trọng. Ông nói:

Đây là một vấn đề chính trị rất là lớn, không phải thay riêng rẽ từng người, mà nó thay cả một bộ sậu lãnh đạo và chỉ huy của cái quân khu đầu não bảo vệ cho trung ương, bảo vệ cho Bộ Chính Trị và bảo vệ cho chính phủ.

Cựu Đại tá QĐND Bùi Tín


Cựu Đại tá Bùi Tín : Tôi nghĩ là nó có thể tính đến một vấn đề chính trị rất là lớn, không phải thay riêng rẽ từng người, mà nó thay cả một bộ sậu lãnh đạo và chỉ huy của cái quân khu đầu não bảo vệ cho trung ương, bảo vệ cho Bộ Chính Trị và bảo vệ cho chính phủ.

Có thể nói, trong chiến tranh thì những quân khu ở tiền tuyến quan trọng, nhưng trong thời bình thì quân khu thủ đô là quan khu có nhiệm vụ bảo vệ an ninh trực tiếp và những bộ phận chống nổi dậy, giữ gìn an ninh thì bao giờ cũng nhận những sư đoàn, những đơn vị tinh nhuệ nhất ở Quân Khu Thủ Đô.

Do đó cho nên thay đổi riêng bộ sậu, cả tư lệnh, phó tư lệnh, chính uỷ, phó chính uỷ thì đây là dấu hiệu tập thể đó đã có những bất đồng chính kiến với trung ương.

Có thể nói là một cái bướng bỉnh, một cái chống lại như thế nào đó thì họ mới có một quyết định bất ngờ, đột ngột, và thay đổi nguyên cả một bộ sậu để mà thay đổi mới hoàn toàn.

Thế thì tôi nghĩ rằng đây là vấn đề có thể nhất định để chúng ta tìm hiểu thêm nữa, nhưng mà đây là vấn đề chính trị rất là nghiêm trọng, theo tôi nghĩ như thế.

Cũng theo quyết định mới của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dùng, Trung tướng Phạm Xuân Hùng (nguyên giám đốc Học Viện Quốc Phòng) được bổ nhiệm giữ chức Phó Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Nhân Dân Việt Nam.

Chẳng hạn như có thể nói là hiện nay quân đội Trung Quốc đang chuẩn bị để tiến chiếm tất cả những hòn đảo, những bãi cát tại Trường Sa của Việt Nam. Vì vậy khuynh huớng hiện nay là phải làm sao đến gần với Hoa Kỳ để nhờ Hoa Kỳ huấn luyện, hoặc là tài trợ, hoặc là bảo vệ, hoặc là cảnh cáo Trung Quốc trước sự áp đảo của hải quân Trung Quốc trước quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Tớ báo cho biết thêm, Thủ tướng Dũng đã ra 6 quyết định liên tiếp, trong đó có việc thuyên chuyển và trả về bộ quốc phòng năm tướng lãnh Quân đội Nhân dân thuộc bộ chỉ huy quân khu thủ, gồm chính uỷ, phó chính uỷ, tư lệnh, phó tư lệnh và tham mưu trưởng.


Nhà phân tích về Việt Nam, tiến sĩ Nguyễn Văn Huy, nhận xét về nguyên do và mục đích của việc này:

Tiến sĩ Nguyễn Văn Huy : Từ lâu nay Bộ Quốc Phòng cũng như Bộ Chính Trị chuẩn bị một sự thay đổi nhân sự quan trọng để trẻ hoá guồng máy lãnh đạo quân đội tại Quân Khu Thủ Đô, đồng thời cũng để cải cách một số dư luận người ta than phiền về cán bộ quân đội tại Quân Khu Thủ Đô với các vụ việc như là tham nhũng về đất đai, hay là về vật tư, hay là chực quyền này nọ tại Quân Khu Thủ Đô.

Phải nói thẳng là trong cái Quân Khu Thủ Đô này cái khuynh hướng thân Trung Quốc rất là mạnh và đồng thời một số nhân vật hiện nay cũng đã tới tuổi, cũng khá lớn, mà nếu thành phần Quân Khu Thủ Đô này cứ tiếp tục lãnh đạo tại thủ đô thì người ta thấy rằng sẽ khó có một sự canh tân hoá quân đội tại Quân Khu Thủ Đô nói riêng và quân đội Việt Nam nói chung.

Khuynh huớng hiện nay là phải làm sao đến gần với Hoa Kỳ để nhờ Hoa Kỳ huấn luyện, hoặc là tài trợ, hoặc là bảo vệ, hoặc là cảnh cáo Trung Quốc trước sự áp đảo của hải quân Trung Quốc trước quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Huy


Chính vì vậy mà sự thay đổi này đối với dư luận quốc tế thì rất là quan trọng; chính sự thay đổi này tôi nghĩ rằng đã có một sự gợi ý sâu sắc của chính quyền Mỹ và đồng thời cũng có một sự đóng gớp của thành phần sĩ quan trẻ cao cấp ở trong Quân Đội Nhân Dân Việt Nam.

Nó phản ánh khuynh hướng hiện nay đang áp đảo trong quân đội, tức là khuynh hướng hướng về Phương Tây để canh tân quân đội, với lại trước sự gia tăng quân sự của Trung Quốc đã khiến Việt Nam lo sợ, tại vì trong sự quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc thì Việt Nam luôn luôn trong thế thiệt thòi mà điều này gây một sự bất mãn lớn trong quân đội.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

THƯ TRẢ LỜI ĐẠI SỨ CỘNG SẢN VIỆT NAM NGUYỄN TÂM CHIẾN
VỀ VIỆC VINH DANH LÁ CỜ VIỆT NAM CỘNG HÒA VÀ DỰ ÁN
TƯỢNG ĐÀI CHIẾN SĨ TỰ DO TẠI TIỂU BANG WASHINGTON

Nhân vụ Thượng Nghị Sĩ Tiểu Bang là Pam Roach đưa ra hai nghị quyết tại Thượng Viện Tiểu Bang. Nghị quyết thứ nhất là công nhận lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa cũ; nghị quyết thứ hai ủng hộ dự án xây tượng đài tại tiểu bang Washington kỷ niệm các chiến sĩ chiến đấu cho Tự Do.

Sau đó Nghị Sĩ Roach nhận một bức thư từ Đại sứ Cộng sản Việt Nam phản đối cả hai Nghị quyết trên. Ông Terrell A. Minarcin đã đánh máy lại thư Nguyễn Tâm Chiến và viết thư trả lời.

Đại sứ Cộng sản Việt Nam tại Washington D.C. đã phản ứng một cách điên cuồng, nên đã phạm phải những lỗi lầm nghiêm trọng về ngoại giao và bang giao quốc tế, trong đó có việc xâm phạm vào công việc nội bộ của công dân và đất nước Hoa Kỳ.

Sau đây là thư phản đối của Nguyễn Tâm Chiến, Đại Sứ Cộng sản Việt Nam gửi Thượng Nghị Sĩ Pam Roach, tiểu bang Washington.

Ngày 10-2-2004

Kính thưa Thượng Nghị Sĩ Roach:

Với sự quan tâm đặc biệt mà tôi viết thư này gửi ông liên quan đến một nỗ lực thứ hai nhằm thừa nhận lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa cũ được trình bày trong văn kiện SJM8045. Đây là để tái khẳng định rằng nhân dân và chính phủ Việt Nam không thể chấp thuận với dự án xây dựng Tượng Đài. Tôi xin chia sẻ với ông về ý nghĩ của tôi.

Thứ nhất, dự án Tượng Đài đi ngược lại những quy ước quốc tế và thực tiễn. Bây giờ, cái gọi là Việt Nam Cộng Hòa đã không còn tồn tại, hơn ba mươi năm qua, lá cờ của nó đã không còn chỗ đứng hợp pháp tại Việt Nam. Giống như một số văn bản hoặc nghị quyết, ngôn ngữ của dự án Tượng Đài Kỷ Niệm rõ ràng đã phủ định sự hiện hữu của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ vối Hoa Kỳ từ năm 1995.

Thứ hai, kể từ khi khởi đầu của giai đoạn mới của sự bình thường hóa và hòa giải với quý quốc vào năm 1995, Việt Nam đã làm hết sức mình để đẩy lùi quá khứ và nhìn về phía tương lai, phấn đấu để xây dựng một quan hệ mà đôi bên đều có lợi. Trong tiểu bang của ông, hãng Boeing đã bán máy bay cho Việt Nam và Cảng Seattle vẫn là một cảng chị em với cảng Hải Phòng của miền Bắc Việt Nam trong chương trình trao đổi. Theo ý tôi, dự án Tượng Đài Kỷ Niệm, dấu hiệu làm sống lại quá khứ của hận thù và buồn đau, không phục vụ cho lợi ích của cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ hoặc tiểu bang Washington.

Thứ ba, với một chính sách kiên định, Việt Nam hoan nghênh sự tham gia năng động của Việt kiều trong việc mở rộng quan hệ có lợi cả hai bên giữa Việt Nam và Hoa Kỳ và sự hội nhập hữu hiệu của họ vào dòng sinh hoạt chính lưu của đời sống Mỹ.Việt Nam hy vọng mãnh liệt rằng cộng đồng của người Mỹ gốc Việt, khoảng gần năm mươi ngàn đã chọn tiểu bang của ông làm quê hương mới, sẽ cũng tiếp nhận tinh thần thân hữu và hợp tác.

Sau hết, ở cấp liên bang vị Ngoại Trưởng và các giới chức cao cấp Hoa Kỳ đã luôn luôn tuyên bố rằng Hoa Kỳ không công nhận lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa cũ. Trong cuộc họp với tôi vào mùa hè vừa qua, Thống Đốc Gary Locke đã nói ông ta và tiểu bang Washington ủng hộ sự gia tăng quan hệ hai bên cùng có lợi giữa tiểu bang Washington và Việt Nam.
Như ông có thể nhớ lại, Nghị Quyết Thượng Viện loại này số 8659 đã bị rút lại sau cuộc duyệt xét vào mùa xuân vừa qua, khi những ý tưởng này được đưa ra bàn thảo.

Cuối cùng nhưng không kém quan trọng; tôi tin dự án Tượng Đài Kỷ Niệm, một khi được cơ quan lập pháp của ông thông qua, sẽ đâm bổ vào chính Hiến Pháp Hoa kỳ là nền tảng trao quyền hành cho việc thi hành chính sách đối ngoại duy nhất trong hệ thống liên bang. Vả lại, bằng sự kêu gọi công nhận lá cờ cũ ấy “như là lá cờ chính thức duy nhất của nhân dân Việt Nam”, nó sẽ làm cho quyền tự do phát biểu bị nghi ngờ.

Dưới ánh sáng của những nhận xét này, tôi thành kính yêu cầu ông đừng hành động hỗ trợ cho dự án Tượng Đài Kỷ Niệm.

Tôi cảm ơn ông về sự quan tâm và hợp tác.

Với lòng kính trọng cao nhất của tôi.
Ký tên : Nguyễn Tâm Chiến,
Đại Sứ.


THƯ PHÚC ĐÁP TỪ WASHINGTON STATE.

Ngày 23-2-2004

Thưa Ông Đại Sứ,

Tôi vừa nhận được một bản sao của thư ông gửi đến Nghị Sĩ Pam Roach đề ngày 10-2-2004. Tôi xin trả lời thư đó.

Nếu bất cứ một nước nào khác viết bức thư này, thì sẽ đơn thuần một chuyện buồn cười.

Nhưng đây lại là của nước ông, Ông Đại Sứ, nước Cộng sản Việt Nam. Nước ông chưa bao giờ tôn trọng hoặc thành thật tuân theo những thủ tục và quy định của bất cứ một thỏa hiệp quốc tế nào mà nước ông đã ký kết vào. Tuy nhiên, nước ông sẽ chỉ núp đằng sau các Thỏa hiệp ấy khi nào chúng thích hợp cho quyền lợi của nước ông. Khi có những cá nhân, chẳng hạn như bản thân tôi hoặc Ông M. Benge, hoặc các tổ chức như Ân Xá Quốc Tế, Ủy Ban Tự Do, Tổ chức Theo Dõi Nhân Quyền, cáo buộc quý quốc với vô số hành động vi phạm nhân quyền hoặc tổn hại, thì lập tức quý quốc đáp lại bằng cách nói rằng những vấn đề mà chúng tôi đang quan tâm tới là những vấn đề nội bộ và rằng chúng tôi đã can thiệp vào chính sách của quý quốc. Thế cũng được.

Ở đây, với quá trình được sắp đặt, chính ông đang can thiệp vào Tiểu bang Washington về những vấn đề không liên quan gì đến ông cả. Sao mà chúng tôi vinh danh sự đóng góp của các cá nhân hoặc các cộng đồng dân tộc ở đây tại Washington lại là ăn nhập đến ông. Xin hãy từ bỏ hành động can thiệp vào những vấn đề nội bộ của chúng tôi.

Ông muốn chúng tôi công nhận và vinh danh lá cờ của ông. Lá cờ đại diện cho một quốc gia đã thực hiện những cuộc tàn sát diệt chủng, huynh đệ tương tàn và buôn bán nô lệ quốc tế. Tôi, với tư cách một cư dân của tiểu bang Washington, không thể nào tha thứ hành động ấy. Sao ông dám đòi hỏi tôi làm? Làm như thế sẽ đưa tôi đến sự đồng lõa với những tội ác lớn lao chống nhân loại của nước ông.

Ông nói rằng dự án Đài Tưởng Niệm phủ định sự tồn tại của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Nó chẳng làm được việc nào như thế đâu. Đối lại với các bảo tàng viện và đài tưởng niệm của nước ông, Đài Tưởng Niệm này bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với những người đã trả cái giá cao nhất cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền trong nước Việt Nam Cộng Hòa cũ. Ngọn cờ của Việt Nam Cộng Hòa từ đó được công nhận như là ngọn cờ của tranh đấu cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền trên khắp thế giới. Các màu sắc của nó thật là tiêu biểu. Ba sọc đỏ tượng trưng cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền. Trong lúc màu vàng nói lên sự quý giá biết bao của những lý tưởng ấy, màu đỏ tượng trưng cho sự đổ máu để bảo vệ những lý tưởng đó. Cả trong quá khứ và cả đối với những người sẽ bảo vệ những lý tưởng ấy cho đến chết. Tôi, trước hết, hân hạnh công nhận lá cờ Tự Do và tỏ lòng vinh danh nó. Tôi cũng sẽ hân hạnh công nhận lá cờ của ông khi ông công nhận lá cờ của chúng tôi. Trước khi ấy, đối với tôi, lá cờ của ông tượng trưng cho giết hại, khủng bố, ngược đãi, tráo trở, buôn bán nô lệ và vi phạm nhân quyền.

Ông tuyên bố rằng ông đang “cực kỳ” nỗ lực để đẩy lùi quá khứ. Vâng, với nước của ông, hồ sơ quá khứ là sự xâm phạm tất cả các tiêu chuẩn của hành động văn minh, nên tôi hoàn toàn hiểu được mong muốn đẩy lùi quá khứ của ông. Sau hết, mục đích về sự thừa nhận của ông chỉ bị tổn thương bởi những hành động quá khứ của nước ông.

Tất cả các cư dân của tiểu bang Washington sẽ cảm thấy sung sướng hơn để mở bàn tay thân hữu và hợp tác khi nước ông có đầy đủ Tự Do, Dân Chủ và mở rộng Nhân Quyền cho tất cả người dân Việt Nam. Trước khi đó, xin hãy tránh khỏi công việc nội bộ của chúng tôi.

Dự án Đài Tưởng Niệm không phải là một lời tuyên bố của chính sách ngoại giao. Nơi mà ông lấy ra cái ý tưởng đó ngoài phạm vi của tôi. Một lần nữa, ông lại cố gắng làm mờ tối vấn đề. Những gì mà nhân dân Mỹ làm không mắc mớ gì tới ông. Đây là một vấn đề nội bộ của tiểu bang Washington do những công dân bình thường vinh danh những người đã hy sinh mạng sống của mình để bảo vệ Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền, là những lý tưởng đáng nguyền rủa đối với chính phủ chuyên chính bạo ngược của ông. Đó là những lý tưởng mà lá cờ nền vàng với ba sọc đỏ đã tượng trưng.

Bây giờ chúng ta hãy nhìn kỹ vào những gì mà nước ông đã làm và đang tiếp tục làm.

Cộng sản Việt Nam đã tham gia vào hành động diệt chủng. Nó đã chính thức bắt đầu suốt trong cuộc Chiến Tranh Đông Dương lần thứ hai. Chính nước ông đã tuyên chiến Cuộc Chiến Tranh Đông Dương Thứ Hai. Theo định nghĩa lúc bấy giờ, đó là một cuộc chiến tranh. Như vậy, nước ông bị ràng buộc bởi những Quy Ước Genève về cách đối xử với Tù binh chiến tranh. Thế nhưng, như tôi đã nói trước đây, nước ông chưa đủ thành thật và tôn trọng đối với những nguyên tắc căn bản của bất cứ một hiệp định quốc tế nào mà nước ông đã ký vào.

Sự đối xử với tù binh chiến tranh của các ông đã chứng minh cho điều đó. Ngoài ra, các ông đã hành quyết ít nhất là 11 tù binh Hoa Kỳ đang bị các ông giam giữ. Đó là một tội phạm chiến tranh và diệt chủng. Cho đến ngày nay, các ông vẫn cố tình phạm tội diệt chủng. Hãy lấy trường hợp của Lý Tống, một người Mỹ gốc Việt. Các ông đã tìm cách can thiệp vào tòa án và luật pháp của Thái-Lan và yêu cầu Thái-Lan hãy hành quyết Lý Tống. Tội danh của ông ta là gì? Nói cho dân Việt Nam về Tự Do là một trường hợp mà các ông không thể nào tha thứ được.

Cộng sản Việt Nam đã tham gia và tiếp tục tham gia vào cuộc huynh đệ tương tàn. Việc này đã khởi đầu vào năm 1956 khi chế độ Cộng sản tại Hà Nội phát động chương trình Cải Cách Ruộng Đất. Trong lúc có thể dễ dàng trút trách nhiệm lên kẻ khích động của Cộng sản Quốc tế là Hồ Chí Minh, thì kiến trúc sư thực sự là Trường Chinh. Đã có bao nhiêu người Việt Nam chết dưới cuộc tàn sát này? 10,000? - 50,000? - 100,000? Nhiều hơn? Ngay cả chỉ có một nạn nhân của cuộc tàn sát này, cũng đã tạo nên cảnh tương tàn huynh đệ rồi. Cuộc tàn sát nhắm vào người thiểu số Việt Nam tại miền Tây Bắc Việt Nam cũng cùng một loại (với cải cách ruộng đất). Mục đích của cuộc tàn sát này là “xóa sạch chủng tộc” số người Việt Nam thiểu số đã giúp cho người Pháp. Tôi nhắc đến điều này là để chứng minh rằng các ông đã tiếp tục chính sách này sau khi kết thúc Cuộc Chiến Tranh Đông Dương Thứ Hai với sự bắt đầu chính sách cưỡng bách tái định cư những người Việt Nam đã cộng tác với Việt Nam Cộng Hòa cũ tại những vùng mà các ông thản nhiên gọi là Vùng Kinh Tế Mới. Các ông tiếp tục chính sách diệt chủng hiện nay dưới dạng ngược đãi và khủng bố tôn giáo, nó cũng là một bằng chứng hiển nhiên về vi phạm nhân quyền. Bất cứ một người nào bị giết hại trong cuộc tàn sát này cũng là nạn nhân của chính sách diệt chủng và tương tàn của nước ông.

Hãy nhìn vào sự gắn bó của nước ông trong hành động buôn bán nô lệ. Nhiều lần trong cuộc Chiến Tranh Đông Dương lần thứ hai và cả sau đó, nước ông bán người Mỹ, bán đồng minh và tù binh Việt Nam qua nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Bang Xô-Viết. Một bằng chứng, năm 1983, nước ông bán 275 người Mỹ và 27,000 tù binh Việt Nam qua Liên-xô để trừ nợ đã vay trong chiến tranh. Đây là một vi phạm quá trọng đại đối với nhân quyền và là một tội ác chống nhân loại. Đã có nhiều lần nước ông bán người Mỹ, đồng minh và tù binh Việt Nam qua Liên-Xô, nhưng mỗi một lần số lượng không nhiều lắm.

Nước ông có thể giải quyết nhiều trường hợp Tù Binh/Người Mất Tích Trong khi làm nhiệm vụ một cách dễ dàng bằng cách mở các hồ sơ quân đội và Công an của nước ông. Nhưng nước ông đã không làm chỉ vì không có lợi lộc gì trong việc giải quyết nhân đạo vấn đề tình cảm này. Nước ông tống tiền nước Mỹ cho lợi nhuận riêng và hưởng thụ. Tại sao? Bởi vì nước ông nhận thấy rằng Tổng Thống Nixon đã hứa viện trợ tái thiết cho nước ông khoảng 4 tỷ 3 đô-la. Điều này có thể xảy ra, nước ông có thể nhận được số tiền này một cách dễ dàng, nếu chịu công bố hồ sơ và danh sách tù binh của nước ông cho các gia đình và cho thế giới. Ít ra việc này cũng có thể làm giảm nhẹ một phần nào trong số tội ác của nước ông.
Rồi thì ông dám trơ tráo đòi hỏi rằng người Mỹ đừng can thiệp vào công việc nội bộ của ông và đòi vinh danh lá cờ của nước ông. Với hồ sơ của nước ông, lẽ ra ông nên vui mừng là đã không bị đưa ra xét xử bởi một Tòa án Quốc Tế về những tội ác chống nhân loại mà nước ông đã phạm.

Vậy thì, xin đừng can thiệp vào các vấn đề nội bộ của chúng tôi trong việc vinh danh những người đã chết vì Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền. Xin đừng xen vào để xem làm sao chúng tôi vinh danh những công dân đã đóng góp vào sự an sinh và no ấm của Tiểu bang chúng tôi.

Terrell A. Minarcin
Concerned Citizen for Freedom, Democracy, and Human Rights for Vietnam.


Bản dịch của NGUYỄN-CHÂU (San Jose)

NGUYÊN VĂN ANH NGỮ

From: Terrell Minarcin <tektalk@verizon.net>
Subject: Another International Incident
Date: Feb 23, 2004 9:30 PM

This is a rather long e-mail and for that I apologize. However, I think it is well worth reading, even if I did write.

Recently, State Senator Pam Roach introduced two resolutions in our State Senate. The first dealt with recognizing the flag of the former Republic of Vietnam. The second dealt with support for a proposed Freedom Fighters Memorial to be built here in Washington State.

Senator Roach then received a letter from the ambassador for communist Vietnam that protested both resolutions. I have re-typed the ambassador's letter. If you wish a copy of the letter with the letterhead on it, please e-mail me back and I will see that a copy of
it is FAXed to you. After the ambassador's letter is my response to him.

Please feel free to pass this e-mail to any one you wish.

Terry Minarcin

Dear Senator ROACH: February 10, 2004

It is with particular concern that I am writing to you regarding a second attempt to recognize the flag of the former Republic of Vietnam, as expressed in SJM8045. This is to reaffirm that the people and Government of Vietnam cannot agree with the proposed Memorial. Let me share with you my thoughts.

First, the proposed Memorial runs counter to international conventions and practices. Now that the so-called Republic of Vietnam ceased to exist over thirty years ago, its flag therefore no longer has legal standing in Vietnam. Like a number of similar bills or resolutions, the language of the proposed Memorial clearly negates the existence of the Socialist Republic of Vietnam that has established full diplomatic relations with the United States since 1995.

Secondly, since the start of the new phase of normalization and reconciliation in 1995 with your country, Vietnam has been doing her utmost to put the past aside and look forward to the future, striving to build a relationship that benefits both sides. In your State, Boeing has been selling airplanes to Vietnam and the Port of Seattle maintaining a sister port exchange program with Vietnam's northern port of Hai Phong. In my opinion, the proposed Memorial, languaged to revive the past of hatred and sadness, does not serve the interests of either Vietnam, or the United States, or Washington State.

Thirdly, as a consistent policy, Vietnam welcomes active participation by Vietnamese Americans in expanding the mutually beneficial relationship between Vietnam and US and their effective integration into the mainstream of the US life. It is Vietnam's strong hope that the community of Vietnamese Americans, about nearly fifty thousand of whom have chosen your State as their new home, will also adopt the spirit of friendship and cooperation.

Finally, at the federal level the Secretary of State and other senior US officials have repeatedly stated that the US does not recognize the former Republic of Vietnam flag. In his meeting with me last summer, Governor Gary Locke said he and the State of Washington are supportive of the acceleration of mutually beneficial ties between Washington State and Vietnam.

As you may recall, the similar Senate Resolution 8659 was withdrawn from consideration last spring when those thoughts were taken into account.

Last but not least; I believe the proposed Memorial, once passed by your legislature, could run afoul of the very US Constitution that vests the powers to conduct foreign policy solely in the federal system. Furthermore, by calling for the recognition of the former flag "as the only legitimate flag of the Vietnamese people," it also rendersthe freedom of expression questionable.

In light of these considerations, I respectfully urge you not to act in favor of the proposed Memorial.

I thank you for your consideration and cooperation.

With my best personal regards,

(signed)
NGUYEN TAM CHIEN
Ambassador

Mr. Ambassador; February 23, 2004

I recently received a copy of your letter to State Senator Pam Roach dated February 10, 2004. I would like to respond to that letter.

If any other country had written this letter, it would be, simply put, laughable. But it was your country, Mr. Ambassador, communist Vietnam.

Your country has never honorably or honestly met the protocols of any international agreement that you are a signatory to. Yet, you hide behind these agreements only when they suit your fancy. When individuals, such as myself or Mr. M. Benge, or organizations, such as Amnesty International or Freedom House, or Human Rights Watch, charge your country with numerous counts of violations of human rights or worse, you immediately respond by saying that the matters we are concerned with are internal matters and that we are interfering with your country's policies. So be it. You are interfering with due process here in the State of Washington in matters that do not concern you. How we honor the contributions of individuals or ethnic communities here in Washington is of no concern to you. Quit interfering in our internal matters.

You want us to recognize and honor your flag. The flag represents a country that has promulgated pogroms of genocide, fratricide and international slave trafficking. I, as a resident of the State of Washington, can not condone such behavior. How dare you insist that I do? To do so makes me an accomplice to your egregious crimes against humanity.

You state that the proposed Memorial negates the existence of the Socialist Republic of Vietnam. It does nothing of the sort. In contrast to your museums and memorials, this Memorial pays tribute to those who paid the ultimate price for Freedom, Democracy and Human Rights in the former Republic of Vietnam. The flag of the former Republic has since come to be recognized as the flag for the struggle for Freedom, Democracy, and Human Rights throughout the World. The colors are quite symbolic. The three bands stand for Freedom, Democracy, and Human Rights. While the gold shows how precious these
ideals are, the red stands for the blood shed for these ideals, both in the past and for those who will defend these ideals to the death. I, for one, am glad to recognize the Freedom Flag and to pay honor to it. I will be glad to recognize your flag when you recognize mine. Until then, your flag, for me, stands for murder, persecution, duplicity, slave trading, and human rights violations.

You state that you are trying your utmost to put the past aside. With your country's past records of abuse of all standards of civilized behavior, I fully understand your desire to brush the past aside. After all, your cause for recognition is only hurt by your past actions.

All of the residents of Washington will be more than happy to extend to you the hand of friendship and cooperation when you fully embrace Freedom, Democracy and to extend Human Rights to all Vietnamese. Until then, stay out of our internal affairs.

The proposed Memorial is not a statement of foreign policy. Where you got that idea is beyond me. Once again, you try to cloud the issue. What the people of America do is not your concern. It is an internal affair of the State of Washington by private citizens to honor those who gave their lives defending Freedom, Democracy, and Human Rights, ideals which are anathematic to your despotic government. That is what that flag of gold with three horizontal red stripes stand for.

Now let us look closely at what your country has done and continues to do.

Communist Vietnam has engaged in genocide. This began in earnest during the Second Indochina War. You declared it the Second Indochina War. By definition then, it was a war. As such, you were bound by the Geneva Conventions governing the treatment of Prisoners of War (POWs). But, as I stated before, you have yet to honestly and honorably meet the tenets of any international agreement to which you are a signatory.

Your treatment of POWs testifies to this. In addition, you executed at least 11 American POWs who were in your custody. This is a war crime and genocide. To this day, you try to commit genocide. Take the matter of Ly Tong, a Vietnamese-American. You tried to interfere in a Thai court of law and demanded that Thailand execute Ly Tong. His crime? Telling the Vietnamese about Freedom, a condition that you can not tolerate.

Communist Vietnam has engaged in and continues to engage in fratricide.

This began in 1956 when the communist regime in Hanoi started their land reform programs. While it would be easy to blame the agent provocateur of the Communist Internationale, Ho Chi Minh, the real architect was Truong Chinh. How many Vietnamese died under this pogrom? 10,000? 50,000? 100,000? More? Even one victim of this pogrom constitutes fratricide. The pogrom initiated against the Vietnamese minorities in northwest Vietnam fall into this same category. The aim of this pogrom was to "ethnically cleanse" Vietnam of those minorities who had helped the French. I mention this to show that you continued this policy after the conclusion of the Second Indochina War with the start of your forcible relocation of Vietnamese who were associated with the former Republic of Vietnam to those areas you so blithely called New Economic Areas. You continue your ethnic cleansing today under the guise of religious persecution, which is also a blatant human rights violation. Any one executed under this pogrom is a victim of your genocidal and fratricidal policies.

Let us take a look at your country's involvement in the international slave trafficking movement. Several times during the Second Indochina War, and even afterwards, you sold American, allied, and Vietnamese POWs to the former Union of Soviet Socialist Republics. To whit, in 1983, you sold 275 American and 27,000 Vietnamese POWs to the USSR to reduce your war debt to them. This is a most egregious violation of human rights and a crime against humanity. There were other times you sold other American, allied and Vietnamese POWs to the USSR but not so many at one time.

You could resolve many of the POW/MIA cases with ease by opening up your military and political police files. You do not because there is no profit in humanely resolving this emotional issue. You extort monies from America for your own profit and gain. Why? Because you feel that President Nixon promised you some $4.3 billion dollars in reconstruction aid. Be that as it may, you can recover that money easier if you release your files publicly to the families and to the world. At least this can mitigate some of your crimes.

And then you have the gall to demand that Americans not interfere in your internal affairs and to honor your flag. With your record, you should be happy not to be on trial by an international court for your crimes against humanity.

Until then, do not interfere in our internal affairs in how we honor those who have died for Freedom, Democracy, and Human Rights. Do not interfere with how we honor our citizens who contribute to the well being and welfare of our State.

Terrell A. Minarcin
Concerned Citizen for
Freedom, Democracy, and Human Rights for Vietnam
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »


Image

Giải Cứu Đồng Bào Bị Bán Làm Nô Lệ
VI ANH .

Hiện thời có khoảng nửa triệu ngưuời Việt trên danh nghĩa đi lao động ở ngoại quốc, theo kế hoạch xuất khầu lao động của nhà cầm quyền CS Hà Nội. Nhà cầm quyền CS Hà Nội còn dự trù mỗi năm tăng lên một vài trăm ngàn nữa. Ngoại trừ tin của Đảng Nhà Nước CS Hà nội thu được thuế lợi tức, lệ phí xuất cảnh, mở rộng thị trường lao động có vẽ tuyên truyền, tin tức về xuất khầu lao động, hôn nhơn ngoại kiều từ Bắc và Nam Đông Á đến Trung Đông là cả một bức tranh đen tối.

Trước thảm cảnh của đồng bào bị lường gạt đi làm nô lệ tình dục, nô lệ lao động, và đày tờ ờ ngoại quốc, nhiều người Việt hải ngoại đứng lên binh vực, như vụ Samoa, vụ Jordan, vụ Mã lai. Nhưng tệ nạn cứ xảy ra đều đều, dài dài. Nhưng cũng có người tức CS, nói ai làm người đó chịu, CS gây ra tại sao người Việt hải ngoại phải đưa lưng ra gồng gánh cài khổ của đồng bào nạn nhân của CS. Cứ để cho đồng bào khổ đứng lên chống CS. Đó là điểm người Việt Quốc Gia khác người Việt Cộng sản. CS lấy cứu cánh biện minh cho phương tiện, bất chấp đạo đức, cái gì lợi cho Đảng là làm. Còn người Việt Quốc Gia trọng đạo đức, nặng tình quốc gia dân tộc, nên không làm được những gì CS đã làm trong Chiến Tranh VN và sau khi họ cưõng chiếm được Miền Nam, nên người Quốc Gia thua CS ở chỗ đó.

Và người Việt Quốc Gia ở hải ngoại đã làm nhiều thứ cho đồng bào nạn nhân của chương trình "xuất khẩu lao đông". Bên cạnh việc giúp đỡ đồng bào khi thảm trạng xảy, bằng cứu trợ, thưa kiện, can thiệp, nhiều thức giả và tổ chức ở hải ngoại đi sát với thảm cảnh này của đồng bào nạn nhân đi sâu xa hơn. Muốn giải quyết vấn đề một cách rốt ráo, căn bản hay nói theo kiểu VN là trị gốc.

Như đã biết buôn bán người, nô lệ tình dục, nô lệ lao động là một tội ác, trái luật quốc tế và trái cả với luật pháp của CS Hà nội. Nhưng CS Hà nội cái gì của quốc tế về quyền con người có là họ đặt bút ký. Ký đễ lập lờ đánh lận con đen, hơn là thi hành. Cái gì lợi cho họ họ mới thi hành, như xin viện trợ thuốc và tiền trị bịnh HIV/ Aids, xoá đói giảm nghèo vậy. CS Hà nội cần đô la muốn xuất khẩu lao động cho nhiều. Đảng viên xem người muốn lao động " nước ngoài" là " mặt hàng" dễ tham nhũng nên lơ là trong việc thì hành luật. Bao lâu mà ngưòi Việt hải ngoại, các tổ chức đấu tranh trong ngoài nước đánh động được dư luận thế giới, vận động được các siêu cưòng áp lực CS Hà nội phải có những biện pháp cụ thể bảo vệ người lao động xuất khẩu đúng những công ước mà Hà nội đã ký, và quốc tế có tổ chức giám sát thì nạn buôn người Việt sẽ giảm ngay.

Theo Tiến sĩ Nguyễn đình Thắng có nhiều kinh nghiệm qua công tác cứu người vượt biển khi điều hành tổng quát Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển (Boat People SOS) muốn đánh động công luận quốc tế, lương tâm nhân dân và chánh quyền các siêu cường, phải đưa ra những trường hợp cụ thể, những bằng cớ phải rõ ràng như hai vụ buôn người lao động Việt Nam, một ở Jordan và một ở Mã Lai. Đặc biệt là người Mỹ gốc Việt với tư cách là công dân Mỹ có thể vận động Quốc Hội và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ áp lực Việt Nam cũng như các quốc gia tiếp nhận (Jordan và Mã Lai) phải thay đổi chính sách để chứng minh thực tâm phòng và chống buôn người. Việc làm này có căn bản pháp lý vững chắc của Mỹ hậu thuẩn. Đó là Đạo Luật Bảo Vệ Nạn Nhân Buôn Người ban hành năm 2000, mà tác giả là Dân Biểu Christopher Smith. Đạo luật này chế tài các quốc gia dung túng hay can dự vào nạn buôn người. Vài ngày sau khi được ban hành, đạo luật được ứng dụng để giải cứu cho 250 công nhân Việt bị buôn bán sang đảo American Samoa. Việc can thiệp này, do Uỷ Ban Cứu Người Vượt Biển khởi xướng, là vụ buôn người đầu tiên và cũng là vụ lớn nhất tính đến nay được chính phủ Liên Bang truy tố theo luật mới. Bộ Ngoai Giao Mỹ cũng có cái nhìn ủng hộ bản phúc trình năm nay của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ về tình trạng buôn người trên thế giới, đã được công bố gần đây, đã nêu hai vụ buôn người điển hình này. Đây là bước khởi đầu thuận lợi, đã thừa nhận có vấn đề là bước tiến đầu tiên dẫn đến giải quyết. Trong thời gian sắp tới đây, một phái đoàn cao cấp của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ sẽ đến Việt Nam họp về kế sách ngăn ngừa, bảo vệ nạn nhân, và truy tố thủ phạm. Nếu Việt Nam không thay đổi thì sang năm sẽ rất khó cho họ thoát khỏi "rơi đài" xuống hạng 3 trong bảng phân hạng của Bộ Ngoại Giao. Và ở hạng 3 thì sẽ bị chế tài"

Tháng Hai năm 2008 Uy Ban Cứu Người Vượt Biển đã kết họp cùng với ba tổ chức bạn thành lập Liên Minh Bài Trừ Nô Lệ Mới Ở Á Châu (tiếng Anh viết tắt là CAMSA), với kế hoạch can thiệp toàn diện: (1) tạo ý thức nơi người lao động để họ tự đề phòng, (2) giải cứu và bảo vệ cho nạn nhân, và (3) truy tố thủ phạm theo đường dân sự và hình sự; và thực hiện cả ba công tác tại quốc gia gốc và quốc gia tiếp nhận.

Chỉ trong vòng 5 tháng từ ngày thành lập, Liên Minh CAMSA đã can thiệp cho trên 10 vụ bóc lột lao động và buôn người. Nổi bật nhất là cuộc giải cứu cho 176 nữ công nhân Việt ở Jordan và sự can thiệp hữu hiệu cho 2.600 công nhân ở Mã Lai cùng xẩy ra vào tháng 3 vừa qua.

Nhưng thể hiện rõ ràng nhất của việc dùng thế là trường hợp đang diễn ra tại công ty Polar Twin Advance ở Penang, Mã Lai. Nơi đây hiện có trên 30 công nhân Việt, toàn là nữ, bị chủ nhân ngược đãi và giam lỏng. Liên Minh CAMSA đã vận động thành công không những chính phủ Hoa Kỳ mà cả chính phủ Phần Lan cùng can thiệp-chính phủ Phần Lan có cổ phần trong công ty Polar Twin Advance. Tựa lên hai chính phủ này, Liên Minh CAMSA đang tạo áp lực để chính quyền Mã Lai và Việt Nam phải can thiệp cho nạn nhân và truy tố thủ phạm.

Sau cùng, đất nước ông bà VN có câu "một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ" và khuyên "Bầu ơi thương lấy bì cùng, Tuy rằng khác giống nhưng chung một dàn". Huống hồ đồng bào nạn nhân trong chương trình xuất khẩu lao động của CS Hà nội là đồng bào của chúng ta, con một mẹ VN. Chúng ta chống chế độ độc tài CS, chớ không chống nước nhà VN và đồng bào Việt đáng thương. Uy Ban Cứu Người Vượt Biển đã cố gắng hết sức mình, đã kết họp với Bà Ngô Thị Hiền, Chủ Tịch Ủy ban Tự Do Tôn Giáo, với Liên Minh CAMSA. Những anh chị em này rất cần bàn tay của người Việt hải ngoại vì nhiều tay vỗ nên kêu, ba cây dụm lại nên hòn núi cao. Đã đến lúc cộng đồng Việt ở hải ngoại, đặc biệt ở Hoa Kỳ, chú tâm mở thêm mũi nhọn tranh dựa vào đạo luật phòng chống buôn người, để đòi hỏi CS Hà nội không những tôn trọng mà còn tích cực bảo vệ quyền lao động và nhân phẩm của công dân.

Đọc, nghe nói lại không bằng mắt thấy tai nghe người trong cuộc nói. Theo tin của Việt Báo, Tiến Sĩ Nguyễn Đình Thắng, Giám Đốc Điều Hành Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển và Bà Ngô Thị Hiền, Chủ Tịch Ủy ban Tự Do Tôn Giáo cho Việt Nam đến từ Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn sẽ trình bày chi tiết cụ thể (trong dịp nầy sẽ chiếu những hình ảnh và Video chưa hề được phổ biến), trong cuộc hội thảo "Giải cứu nạn nhân buôn người" sẽ được tổ chức vào lúc 1 giờ 30 pm thứ Bảy ngày 2 tháng 8 năm 2008, địa điểm tại Viện Việt Học (trong khu Seafood World Restaurant) 15355 Brookhurst St # 222 Westminster CA 92683. Điện thoại liên lạc: (714) 775-2214.
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »


Image

Chiến Tranh Việt Hoa Gần Hơn Một Bước

Nguyễn Ðạt Thịnh
Sau việc Nguyễn Tấn Dũng ký nghị định thuyên chuyển toàn bộ 5 tướng lãnh thân Trung Cộng, và giải tán Quân Khu Thủ Ðô để hoá giải nguy cơ đảo chánh, chiến tranh giữa Việt Cộng và Trung Cộng đang tiến gần hơn một cách đáng ngại.

Một triệu chứng báo hiệu chiến tranh là việc tờ báo Hoa ngữ Văn Hối, xuất bản tại Hồng Kông vốn là tiếng nói không chính thức của chính quyền Trung Cộng, đang nặng nề đả kích Việt Cộng.

Trong số phát hành ngày 31 tháng Bẩy, Văn Hối nói Việt Cộng “chơi trò tiểu xảo” để mong muốn “thực hiện ước mơ khai thác dầu ở Nam Hải, nhờ sự giúp đỡ của một công ty Mỹ.”

BBC nói tờ báo này “chuyển tải sự giận dữ của Trung Quốc về vụ Việt Nam khai thác dầu khí với ExxonMobil của Mỹ”.

Từ ngày bị giảm giờ phát thanh xuống còn 15 phút mỗi ngày, chương trình Việt ngữ của BBC hơi đứng đắn hơn, và tin tức nhanh hơn, phong phú hơn RFA.

Văn Hối còn viết Việt Nam lợi dụng 'sự hung hăng của Mỹ' trong vụ này, rồi nhắc lại câu nói của Đặng Tiểu Bình năm 1979 đòi “dạy cho Việt Nam một bài học”; lần này, theo tờ Văn Hối Trung Cộng cần “giảng cho Việt Nam một bài về thế nào là đồng thuận.”

Văn Hối nhắc lại nguyên tắc hai bên đã đồng ý từ năm 1999 là sẽ giải quyết mọi bất đồng bằng phương thức đàm phán trên căn bản hai bên cùng có lợi; viết một chiều, bài báo chỉ trích nhưng không nói tại sao Việt Cộng lại chọn Exxon, mà không chọn Trung Cộng, để đàm phán về việc khai thác giếng dầu Hoàng Sa.

Bài báo còn nhắn nhe “khai thác giếng dầu không phải là bài thuốc trị căn bệnh kinh tế khủng hoảng tại Việt Nam”, và cảnh cáo là với sự hùng mạnh quân sự của Trung Cộng tại Nam Hải, nếu Việt Nam “có gây chiến với Trung Quốc thì Việt Nam hoàn toàn không có một lợi thế nào”.

Dĩ nhiên Việt Cộng không hề có ý định gây chiến với Trung Cộng, nếu Trung Cộng đừng diễn dịch việc không “đồng thuận” để Trung Cộng khai thác giếng dầu Hoàng Sa là gây chiến.

Tờ Văn Hối hăm he, “Việt Nam không cần phải làm Trung Quốc giận dữ trong khi cũng chẳng nhận được lợi gì từ Hoa Kỳ,” và đe doạ là Trung Cộng đang thúc đẩy việc xây dựng các cơ sở quân sự ở Nam Hải, kể cả việc xây căn cứ cho hàng không mẫu hạm.

Câu hỏi cần đặt ra là: Trung Cộng có khả năng làm được những gì tại Hoàng Sa, và trên lãnh thổ Việt Nam? Họ đã cảnh cáo Exxon là hãng này vi phạm vào chủ quyền lãnh hải của họ, nhưng họ có đi xa hơn trong những hành động bảo vệ chủ quyền lãnh hải bằng cách bắt giữ tầu và nhân viên Exxon tìm giếng dầu như họ đã bắt giữ phi hành đoàn của chiếc phi cơ thám thính Hoa Kỳ sau khi phi cơ hư hại vì đụng vào khu trục cơ Trung Cộng, phải đáp xuống đảo Hải Nam không?

Hành động đó có thể đưa Trung Cộng đến chỗ trực diện đối phó với Hoa Kỳ trên bình diện quân sự, và nhiều binh diện khác, trong đó có cả ngoại thương, đe doạ làm ngưng trệ mức xuất cảng sản phẩm của Trung Cộng đến Hoa Kỳ và đến những nước đồng minh của Hoa Kỳ.

Ðối phó với Việt Cộng chúng rộng đường hơn; những kinh nghiệm khó khăn của trận bộ chiến năm 1979 có thể khuyến cáo Trung Cộng không tái diễn hình thức tấn công này, nhưng chúng vẫn còn hai hình thức tấn công khác là hải và không chiến.

Hải chiến ngã ngũ căn cứ trên trọng lượng chiến hạm hai bên; Trung Cộng hiện có 3 hàng không mẫu hạm và nhiều chiến hạm lớn, trong lúc Việt Cộng chỉ có những chiến hạm từ cỡ trung bình trở xuống, nên mỗi cuộc va chạm trên biển Ðông giữa các chiến hạm hai nước đều là một thiệt thòi cho Việt Cộng.

Trung Cộng còn có khả năng oanh tạc những khu kỹ nghệ của Việt Cộng, mặc dù Việt Cộng có một lực lượng phòng không đáng kể.

Chiến tranh không phải là giải pháp cho cuộc tranh chấp giếng dầu Hoàng Sa, nhưng tìm một giải pháp thay thế cho chiến tranh cũng không dễ; giải pháp “đồng thuận” đã thất bại vì, trong nhãn quan của Việt Cộng đồng thuận cách nào với Trung Cộng cũng vẫn có nghĩa là mất chủ quyền lãnh hải, trao giếng dầu cho Trung Cộng; trong lúc một khế ước ký với Exxon, dù thiệt thòi đến đâu đi nữa, chủ quyền giếng dầu vẫn còn là của Việt Nam.

Ngược lại Trung Cộng quan niệm Nam Hải là phần biển phía Nam của Trung Hoa, do đó quần đảo Hoàng Sa, nằm trên biển Nam Hải, phải là của Trung Cộng. Họ không chấp nhận danh xưng Ðông Hải, không cho Việt Nam có lãnh hải.

Có thể chiến tranh không là giải pháp cho cuộc tranh chấp giếng dầu, nhưng chiến tranh vẫn là biện pháp “dạy bài học”, dù bài học đó không có gì khác hơn là “nuốt không trôi, phá cho hôi”.

Nguyễn Ðạt Thịnh
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Ngủ say trên trang báo Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Liêm




Báo chí trong nước và hải ngoại vừa loan tin hôm nay, 1/8, rằng các ông Nguyễn Quốc Phong và Bùi Văn Thanh, Phó Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ và Thanh Niên cùng ba ký giả khác đã bị "rút thẻ hành nghề"; hai ký giả báo Người Cao Tuổi, Nguyễn Thị Thanh Thuý và Hoàng Tuyết Oanh thì bị bắt giam. Đây là hệ quả từ những bài thông tin liên quan đến vụ PMU18. Bài viết dưới đây là những suy tưởng của tôi khi đang ở Việt Nam, tuần lễ khi Bùi Văn Thanh đang bị thẩm vấn ở Hà Nội.

Sài Gòn 25/7/08. Triết gia Hy Lạp Heraclitus của thế kỷ thứ Năm trước Công nguyên có lần nói rằng, "Những kẻ đang ngủ say thì mỗi người có một thế giới riêng cho chính mình; chỉ khi nào tỉnh dậy họ mới chia sẻ một thế giới chung." Có thể câu nói này đáng được áp dụng vào tình trạng báo chí và tự do ngôn luận ở Việt Nam hiện nay.

Từ vụ PMU18 và những đàn áp báo chí thô bạo mấy tuần nay, có hai kẻ đang ngủ say trên các trang báo quê nhà: chế độ cộng sản và giới nhà báo. Phía cơ chế thì đang ngáy theo cơn say quyền lực và ảo vọng chính thống lịch sử; phía con người và xã hội báo chí thì đang thụ động thở dài theo số phận nô lệ. Gánh nặng từ hai thúng của chiếc đòn gánh cai trị Việt Nam đang được quân bình và duy trì bởi cả hai phía. Tình trạng này sẽ còn kéo dài - vì cả hai phía đang say ngủ theo giấc điệp của mình để bỏ mặc không gian nhân phẩm và tự do cho thế giới thuần ước mơ, không thật.

Nói một cách đầy than vãn rằng, thế giới báo chí Việt Nam ngày nay là không thật! Giữa một thời đại mà nhân loại đã bước một bước rất xa trên ý thức con người và những khoảng không gian sinh hoạt liên đới, thì ở Việt Nam này, chính quyền vẫn còn bỏ tù phóng viên và nhà báo khi họ đang làm nghề theo chức năng chuyên môn và trong khuôn khổ luật pháp. Bóng tối của một thời tưởng chừng như đã đi vào quá khứ tiêu vong nay vẫn còn tiếp tục nuôi dưỡng - vì chính những con người trong cuộc vẫn không có can đảm để mở mắt ra với vòm trời của thế kỷ.

Như bạn đã biết. Sau khi bắt giam các phóng viên, đuổi việc, rút thẻ hành nghề của các nhà báo, suốt cả mấy tuần nay, công an đã liên tiếp triệu tập các tổng biên tập, thư ký toà soạn của các tờ báo hàng đầu ở Thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội để khảo cung. Những con cưng của chế độ như Nguyễn Công Khế và Lê Hoàng, Tổng biên tập báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ, mỗi người đã phải chịu đựng ba ngày tra vấn với an ninh. Mới nhất là Bùi Văn Thanh, Phó Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ, bị cho thôi việc và rút thẻ báo chí sau hơn một tuần làm việc với công an.

Điều đó không có gì là ngạc nhiên? Dĩ nhiên rồi! Tuy nhiên, điều đáng ngạc nhiên hơn, là trong giới báo chí ở Sài Gòn, ít ai coi những hành vi bắt bớ, đàn áp, khủng bố báo chí đang xảy ra là khác thường. Một số còn cho rằng các nhà báo đã "có lỗi" - dù rằng không "có tội" - cho nên sự việc đàn áp hiện nay là chuyện sẽ phải xẩy ra với đầy đủ biện minh cho phía chính quyền.

Thật vậy sao? Trong những buổi gặp gỡ, qua những ly rượu, cốc bia, một số nhà báo đã phân tích với tôi rằng, giới báo chí Việt Nam hiện nay đã bị mê hoặc và rơi lạc vào con đường quyền lực như phía chính trị. Báo chí đã tiếp tay với công an trong những thế cờ quyền lực và quyền lợi. Phần lớn các bài viết chống tham nhũng hay tiêu cực là do công an sử dụng các phóng viên như một vũ khí lợi hại nhằm lấy phần thắng và triệt hạ đối phương trong những trận chiến âm ỉ giữa các khối quyền lợi, ngay cả các phe cánh trong chính ngay Bộ Công an và ngành an ninh kinh tế.

Chuyện PMU18 và những đàn áp báo chí đang diễn ra không phải là một biểu hiện từ sự tranh chấp của phe bảo thủ chống cấp tiến, của Đảng chống nhà nước, của thân Tàu chống thân Mỹ - như các nhà bình luận từ bên ngoài như Carl Thayer hay Bùi Tín đã suy đoán. Nó cũng không phải là vì quyền lợi đến cá nhân Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh trong khối PMU18. Trái lại, những đàn áp báo chí gần đây đang là những biện pháp sửa sai, điều chỉnh nội bộ mà chính Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Uỷ viên Bộ Chính trị Trương Tấn Sang và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đang đích thân và cùng nhau chỉ đạo. Bộ Chính trị đang muốn thắt lại dây cương của chuồng ngựa báo chí - mà có lúc khối báo chí âm binh gà nhà này tưởng mình như đang có quyền lực riêng biệt, có biện minh xã hội và nhân dân, có lương tâm che chở và soi sáng, để rồi chạy lạc và loạn ra khỏi vòng cương tỏa.

Ở Việt Nam không hề có các nhà báo đích thực với quyền hạn và trách nhiệm chuyên môn. Báo chí chỉ là công cụ tuyên truyền của Đảng và nhà nước. Điều này được xác định bằng chính sách và văn bản chính thức, chứ không phải là sự phiên giải từ bên ngoài. Và ai cũng biết điều đó. Nhưng cũng như mọi thứ trên đời này, trong xã hội Việt Nam, giữa thực và hư, giữa trái và phải, giữa ngược và xuôi, giữa chân và giả, giữa tư nhân và chính quyền, giữa chính trị và dân sự đều không có một làn ranh rõ ràng nào cả. Cái này ôm lấy cái kia, cái thân ôm chiếc bóng, Đảng ôm nhà nước, báo chí ôm công an - tính liên hệ và điều kiện hỗ tương này đang tạo ra một khối giây nhợ chằng chịt và phức tạp, để rồi tất cả đều bị bắt làm con tin lẫn nhau mà không biết ai là kẻ bắt cóc và ai là con tin. Các nhà báo, một cách đầy tính toán, nắm được tính liên hệ vô hình này, nhằm tạo cho chính họ những khoảng không gian hành nghề cần thiết - và khi hữu sự, giật dây ngược lại phía nhà nước để tìm chỗ đứng cho chính mình và giới đồng nghiệp. Đây là một điểm nóng "phức tạp" và "tế nhị" mà “đồng chí” Trương Tấn Sang đang cố gắng lần ra đầu giây mối nhợ.

Cái lạ nằm ở chỗ rằng, một số nhà báo mà tôi gặp ở Việt Nam trong suốt tháng Bảy vừa qua, dù đang bất mãn đến cao độ đối với tình trạng chính trị và công quyền hiện nay, vẫn tìm cách bào chữa cho phía chính quyền trong những hành vi bắt bớ và biện pháp hành chính đối với báo chí hiện nay. Ghen tuông nghề nghiệp? Không đâu. Sự thật? Có lẽ. Tôi nghĩ đến chuyện này trên bình diện lý thuyết khác. Rất có thể đây là hiện tượng tâm lý của kẻ đang bị bắt làm con tin. Nạn nhân bị bắt cóc, đến một thời điểm nào đó tự đầu hàng kẻ tội phạm bằng sự đồng ý và phục tòng đạo đức đối với biện minh cứu cánh và phương tiện của kẻ ác. Thế rồi, vì bất lực và mỏi mệt với tâm lý đối kháng vô vọng, nạn nhân đồng hóa chính mình vào lý do của kẻ bắt cóc và tự lên án chính mình. Ta không thoát nổi sự cố tang thương thì cách hay nhất là hãy thưởng thức hoàn cảnh bi đát này. Ta chỉ còn có trách ta - và chính ta mới là kẻ sai lầm và có lỗi. Nietzsche đã có nói rằng giáo điều Thiên chúa giáo không chỉ là một hiện tượng ý chí của những con người yếu đuối, mà là bản chất của nhân loại khi chưa được trưởng thành. Nó áp dụng đúng cách vào trường hợp tâm lý của giới báo chí Việt Nam hiện nay.

Chắc chắn rằng trong sự cố đàn áp, nếu không nói thẳng rằng khủng bố báo chí, hiện nay, những chiếc đầu sẽ tiếp tục rời khỏi các cổ của các nhà báo. Đây là những nhát kiếm dằn mặt mà đã đến lúc chế độ chính trị bất an phải tung ra đối với cánh tay nội bộ của chính mình. Nhưng đến lúc nào và mức độ nào thì những đường gươm cảnh cáo chém ngay vào cơ thể của mình sẽ làm cho chính nó bị thương tích trầm trọng?

Vâng, những bài báo của hai ký giả Chiến và Hải đã tạo lên những "tác động tiêu cực đến dư luận xã hội" về chế độ; thế còn hành vi bắt bớ họ? Vụ trấn áp hai nhà báo Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải là một thách thức trắng trợn với nhân dân, với thế giới - và với lương tâm của chế độ chính trị. Những ai còn lương tâm và mang thái độ khách quan, lý tính, đều phải nói rằng, không có một biện minh nào, từ chính trị đến đạo đức, từ pháp luật đến hành chính, hay quy tắc chuyên môn, có thể biện minh cho sự bắt giam này. Đây có thể, và chỉ có thể, là những nhát kiếm tự chém vào thân thể của chế độ chính trị. Chén thuốc đắng chữa khối ung thư chính trị đã trở nên nguy hiểm cho bệnh nhân hơn là căn bệnh đang là.

Đã đến lúc cả hai phía, chính quyền và báo chí Việt Nam, phải tỉnh thức từ cơn ngủ say trong quyền lực và nô lệ để cùng nhau nhìn thấy một bầu trời tự do và nhân phẩm chung mà Heraclitus đã nhắc nhở đến từ hơn hai ngàn năm trăm năm trước.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Sự chia sẻ thiết tha của người Việt hải ngoại với thương binh VNCH

Image
Quang cảnh đồng hương đến tham dự Ðại Nhạc Hội
“Cám Ơn Anh, người Thương Binh VNCH” kỳ II. Một góc trước sân khấu. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)


Image
Các điện thoại viên đang tất bật nhận sự đóng góp của đồng bào khắp nơi gọi về đài TV-SBTN
đóng góp cho Ðại Nhạc Hội cứu trợ TPB/VNCH. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)


Image
Các em nhỏ trong Gia Ðình Phật Tử liên tục cung cấp nước giải khát
cho hàng ngàn đồng hương đến tham dự nhạc hội cứu trợ TPB/VNCH. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)
Nguyên Huy/Người Việt


Trên 380 ngàn Mỹ kim là con số tổng kết sơ khởi được loan báo trước khi kết thúc Ðại Nhạc Hội “Cám ơn Anh, Người Thương Binh VNCH” kỳ II.

Có thể nói đây là một sinh hoạt của cộng đồng người Việt hải ngoại đã thu hút được một số đồng hương tham dự kỷ lục chỉ trong một buổi. Theo ước tính của giới truyền thông báo chí Việt ngữ ở Nam California thì có thể tới hơn 13 ngàn lượt người đã đến tham dự trong đại nhạc hội này vào hôm Chủ Nhật 3 tháng 8 tại sân vận động trường Grande High School thuộc thị xã Garden Grove, Nam California.

Ðại Nhạc Hội Cứu Trợ Thương Binh VNCH kỳ II này đã được các tổ chức như Hội H.O. Cứu Trợ TPB và Quả Phụ, Liên Hội Chiến Sĩ VNCH Nam Cali, Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Tây Nam Hoa Kỳ cùng Trung Tâm Băng Nhạc Asia, Ðài Truyền Hình SBTN và nhiều đoàn thể trong cộng đồng đứng ra tổ chức được sự hỗ trợ của nhiều cơ sở thương mại lớn và các cơ quan truyền thông báo chí Việt ngữ tại Nam California.

Từ hơn một tháng qua, đồng hương người Việt đi qua các chợ và trung khu Little Saigon đã thường thấy những toán anh chị em cựu quân nhân tự nguyện mang vé Ðại Nhạc hội đi bán dạo vào những ngày cuối tuần. Theo nhiều anh em cho biết thì việc bán vé cũng không dễ dàng cho lắm, đôi khi còn nhận được những sự từ chối phũ phàng. Nhưng theo bà Hạnh Nhơn, chủ tịch Hội H.O. Cứu Trợ TPB&Quả Phụ cũng là trưởng ban tổ chức cho biết thì số vé dù chưa tổng kết được cũng đã bán được gấp đôi kỳ trước. Ông Nam Lộc, người điều hợp tổng quát trong ban tổ chức thì luôn luôn tin tưởng rằng chúng ta sẽ vượt qua con số hơn 450 ngàn của kỳ trước.

Ngay từ 8 giờ sáng, tại sân vận động đã tấp nập những cựu quân nhân QLVNCH thuộc mọi binh chủng đến chia nhau nhận lãnh những công tác sắp xếp ghế ngồi, phân khu trong khán đài, tổ chức việc giữ trật tự, giúp việc bán vé và linh tinh đủ mọi chuyện cho một cuộc tổ chức đại quy mô. Bốn lều lớn đã được nhà thầu dựng lên mà theo ông Nam Lộc cho biết thì “đó là tối đa mà ban tổ chức tìm thuê được kể cả đã phải lên tận Los”.

Dù giờ khai mạc được ấn định là 12 giờ trưa, nhưng vào lúc 11 giờ các bãi đậu xe quanh trường Grande High School đã không còn một chỗ. Người ta ước tính trong hội trường lúc này đã có tới trên ba ngàn đồng hương có mặt chờ đợi. Bẩy vị niên trưởng là cựu Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị, cựu Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình, Bùi Ðình Ðạm, cựu Ðề Ðốc Trần Văn Chơn, cựu Chuẩn Tướng Không Quân Nguyễn Hữu Tần, Võ Dinh và Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh, chủ tịch Tập Thể Chiến Sĩ VNCH hải ngoại cũng đã có mặt trước lúc khai mạc cùng với đại diện các tôn giáo và các hội đồng hương người Việt tại Nam California.

Trước lúc khai mạc, như để khởi lên không khí sôi động chia sẻ thương đau cùng những thương binh VNCH kẹt lại trong chế độ cộng sản, ban tổ chức đã cho đọc một bức tâm thư của thương binh VNCH đại diện cho tập thể anh em thương binh VNCH từ trong nước gửi ra khi nghe được tin đồng bào và đồng ngũ ở hải ngoại tổ chức cứu trợ. Trong thư có đoạn: “Quý vị đã đến với anh em phế binh khổ nạn tại quê hương, đến bằng tất cả tâm tình quí trọng, xuyên qua biết bao nhiêu lần cứu giúp và nâng đỡ trường kỳ, liên tục, bằng tiền bạc thuốc men, xe lăn, phương tiện chỉnh hình, phương tiện sinh sống... Trong đêm đen cứu tinh là ánh sáng, trong khổ đau cứu tinh là tình thương và trong cảnh sa sút kiệt quệ, cứu tinh là giúp đỡ...”

“Nghe tin này, nhiều anh em chúng tôi đã bật khóc, khóc vì xúc động khi cảm nhận được rằng: những mảnh đời khốn cùng với xác thân cụt què đui mù bại liệt mà bị thế thái nhân tình rẻ rúng lại được một cái giá thật ý nghĩa trước tình thương và tấm lòng yêu chuộng của cộng đồng người Việt, đồng bào nơi hải ngoại”.

Ðúng 12 giờ trưa, Ðại Nhạc Hội Cám Ơn Anh, Người Thương Binh VNCH kỳ II khai mạc. Tiếng hùng ca của toàn thể người tham dự trong bài quốc ca VNCH dội lên nhắc nhớ mọi người hình tượng lại cuộc chiến đấu của người lính VNCH mà hình ảnh vẫn còn kia. Ðó là toán Quốc Quân kỳ. Ðó là những cựu chiến binh VNCH bên những vũ khí, phương tiện quân sự trong chiến tranh đang chờ phụ diễn lại cảnh chiến đấu can trường của người lính VNCH. Những cuộc chiến đấu ấy đã để lại biết bao thương binh mà chúng ta phải nhớ đến.

Nhắc nhớ đến những người thương binh này, cựu trung tá nữ quân nhân Hạnh Nhơn, trưởng ban tổ chức kể lại những thảm cảnh “Họ là những người đã hy sinh tất cả để bảo vệ an ninh cho Tổ Quốc và cuộc sống yên lành của dân chúng miền nam. Vậy mà sau khi đất nước bị cộng sản chiếm đoạt, tuy còn sống sót nhưng họ lại là những người kém may mắn nhất, phải âm thầm sống trong cảnh thiếu thốn nhục nhã cùng cực, phải mang tấm thân tàn với những bệnh hoạn và tàn tật thương tâm như mù lòa, bại liệt, cụt một tay hay cả hai tay, cụt một hay hai chân, với những thương tích từ hơn 30 năm trước vẫn chưa lành vì không được chữa trị, và nhất là không có một nghề nghiệp nào thích hợp với tàn lực của anh em trong cuộc đổi đời. Ðã vậy còn bị chính quyền cộng sản hắt hủi, xua đẩy và làm nhục gần như muốn loại bỏ họ ra khỏi xã hội. Nếu có cảnh địa ngục trần gian thì anh em thương binh là những nạn nhân đang phải ngụp lặn trong đó cho đến khi lìa đời”.

Ông Nam Lộc, người đứng vận động anh chị em nghệ sĩ cho biết: “Ðối với anh chị em nghệ sĩ, trong cả năm trời đi lưu diễn khắp nơi nhưng không có buổi gây quĩ nào đối với họ có ý nghĩa hơn là gây quĩ cứu trợ thương binh VNCH”.

Ý nghĩ này cũng được nữ ca sĩ Ý Lan, Diễm Liên, Phương Hồng Quế và nam ca sĩ Tuấn Vũ, Nguyên Khang nhắc lại trong cuộc phỏng vấn của đài truyền hình SBTN sau đó.

Một nhân vật đang được cộng đồng nhắc nhở đến khá nhiều là nữ khoa học gia Dương Nguyệt Ánh. Bà đã từ miền Ðông nước Mỹ bay về có mặt trong đại nhạc hội cứu trợ này. Trước khi phát biểu theo lời mời của ban tổ chức, bà đã đưa tấm ngân phiếu 2 ngàn Mỹ kim cho ban tổ chức để đóng góp vào công cuộc cứu trợ. Trong lời phát biểu, bà đã nhắc đến nỗi nhục nhã và khổ ải của người thương binh VNCH sau 30.4.1975. Bà nhấn mạnh “Thương binh VNCH không phải là những kẻ mồ côi, hay nạn nhân bão lụt đang trông chờ vào sự bác ái của chúng ta. Họ chính là chủ những món nợ ân tình mà chúng ta đã vay ngày trước. Dẫu chủ nợ không có khả năng đòi nhưng chẳng lẽ tôi lại đành lòng làm ngơ và dù biết là trả hết cả đời cũng vẫn chưa xóa được nợ, nhưng thôi tôi đành cố gắng được chút nào hay chút đó, bằng cách này hay cách khác. Ðó là sự có mặt của tôi hôm nay trong đại nhạc hội này”.

Tiếp đó nhiều khách đặc biệt của đại nhạc hội cứu trợ thương binh VNCH cũng được ban tổ chức mời lên phát biểu. Nữ phi công can trường Elizabeth Phạm của Quân Lực Hoa Kỳ có mặt cũng cho rằng “từng được chứng kiến sư hy sinh của đồng ngũ nên cô hiểu và tri ân những thương binh VNCH vô cùng”. Nữ phi công Elizabeth Phạm cũng kêu gọi tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại hãy tiếp bước cha anh để cho một Việt Nam được tự do dân chủ.

Người thương binh quả cảm can trường Quách Vĩnh Trường cũng đại diện anh em thương binh trong nước và hải ngoại nói lên lời tri ân sâu sắc đối với những sự giúp đỡ của đồng bào hải ngoại.

Phần phát biểu của quan khách tham dự khá ngắn gọn nhưng súc tích và đầy ý nghĩa. Ðây là sự sắp xếp của ban tổ chức muốn dành nhiều thì giờ cho bà con thưởng thức một chương trình ca nhạc với gần cả trăm ca nhạc sĩ, nghệ sĩ đóng góp. Các ca nhạc sĩ đã chọn hát những bài hát của một thời chiến chinh. Mỹ Lan và Trần Thiện Anh Chí với “Anh Không Chết Ðâu Anh”, Băng Tâm với “Từ Ðó Em Buồn”, Công Thành và Lyn với “Tình yêu Thủy Thủ', Ý Lan với “Kỷ Vật Cho Em”, Doanh Doanh với “Nắng Chiều”, Nguyễn Hồng Nhung với “Người Tình Không Chân Dung”, Lâm Nhật Tiến với “Những Ðêm Chờ Sáng”, Thanh Lan với “Tôi Nhớ Tên Anh”, Nguyên Khang với “Chân Trời Tím”, Diễm Liên với “Gởi Gió Cho Mây Ngàn Bay” và Thanh Thúy với “Tấm thẻ Bài”. Rồi Tuấn Vũ, Mỹ Huyền, bé Ðan Vy, Phương Thảo-Ngọc Lễ, Phương Hồng Quế... tất cả đã làm cho sân khấu vừa sôi động vừa xúc động không chỉ qua lời ca tiếng hát mà còn ở những chân tình của các ca nhạc sĩ phát biểu trước mỗi bài hát được trình bày.

Trong lúc này thì đài truyền hình SBTN phát sóng trên toàn cõi Hoa Kỳ, Canada và Úc Châu trực tiếp truyền hình được công ty điện thoại V247 mở 25 luồng sóng tiếp nhận sự đóng góp của cộng đồng người Việt là khán thính giả SBTN ở khắp nơi gọi về đóng góp. Vào lúc 3 giờ chiều, tin được loan đi có sự đóng góp một khoản tiền lớn là 100 ngàn Mỹ kim của ông Trần Ðình Trường ở New York. Cũng vào lúc này, chỉ riêng khán thính giả của SBTN gọi vào đóng góp đã lên tới trên 80 ngàn trong khi tại chỗ cũng lên tới trên 30 ngàn. Ðồng bào khắp nơi liên tục gọi về đài xin đóng góp tới tấp khiến V247 phải gia tăng thêm hơn 10 làn sóng nữa mà vẫn không kịp tiếp nhận. Ba ca trực điện thoại gồm nhân viên đài SBTN, các phụ nữ thiện nguyện trong cộng đồng, anh chị em trong gia đình không quân VNCH, các em trong Gia Ðình Phật Tử Miền Quảng Ðức và các em trong tổ chức Hồng Thập Tự đã thay nhay tất bật suốt 7 tiếng đồng hồ đón nhận hàng ngàn cú điện thoại, cho mãi tới khi trên sân khấu các ca nhạc sĩ và ban tổ chức cùng nhau cất tiếng đồng ca “Và con tim sẽ vui trở lại” để tạm chia tay, kết thúc buổi đại nhạc hội cứu trợ Thương Binh VNCH, nhiều thiện nguyện viên vẫn còn phải trả lời và ghi nhận những sự đóng góp của đồng bào người Việt hải ngoại.

Nhìn trong diễn tiến buổi đại nhạc hội cứu trợ Thương Binh VNCH kỳ II này thấy quả là một sinh hoạt cộng đồng đúng nghĩa nhất. Nhiều hình ảnh thật xúc động như một cặp hai bác cao niên dìu nhau đến góp chút tiền già của mình còn cộng thêm với một bao lì xì nói là của đứa cháu để dành từ hồi Tết trong đó có 3 tờ 5 đô la cháu xin được gửi đến. Một hình ảnh khác nơi cửa ra vào, các em nhỏ trong Gia Ðình Phật tử, nhiều em chỉ mới 8, 9 tuổi cũng đến tham gia vào việc cung cấp nước giải khát cho đồng bào vào xem nhạc hội. Các em đã thay phiên nhau cùng các chú bác cựu quân nhân phát hết 16 ngàn chai nước ngọt do công ty Pacific Machine Company của ông Paul Chiểu cung cấp. Một hình ảnh khác nữa là nữ khoa học gia Dương Nguyệt Ánh và nữ phi công Elizabeth Phạm liên tục được yêu cầu chụp hình kỷ niệm với gia đình khiến cho nơi hậu trường sân khấu lúc nào cũng đông kín những đồng hương đủ mọi lớp tuổi...

Mãi đến 8 giờ tối, đại nhạc hội kết thúc rồi mà nhiều đồng hương còn tụ lại san sẻ khó nhọc với anh em cựu quân nhân đang bắt đầu công việc thu dọn hiện trường. (NH)
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Danh dự quốc gia

Ngô Nhân Dụng

Tại sao 600 tờ báo cùng các đài ti vi, radio ở Việt Nam không nơi nào loan tin chính phủ Nhật Bản đang giúp nước ta bằng việc chống tham nhũng?

Cựu chủ tịch công ty PCI và ba người Nhật khác bị truy tố đã hối lộ các quan chức người Việt quản lý dự án Ðại Lộ Ðông Tây ở Sài Gòn. Nhân viên của công ty PCI, trúng thầu sử dụng tiền viện trợ Nhật Bản làm con đường này, đã đem 820 ngàn đô la Mỹ (90 triệu đồng Yen) hối lộ các quan chức Việt trong những năm 2003 và 2006. Trong vụ PMU ở ngoài Bắc, cũng là tiền viện trợ Nhật Bản cho Bộ Giao Thông Vận Tải! Ðúng là một đường lối nhất trí, trước sau như một! Nếu số tiền này được dùng mua xi măng, mua cát, vân vân, thì chắc cái xa lộ Ðông Tây ở Sài Gòn đã dài thêm được mấy chục mét, đồng thời hàng ngàn công nhân Việt Nam đã được lãnh lương đem về đóng học phí cho các con! (Số tiền đó lớn gấp đôi số tiền viện trợ làm cái sân đá banh bằng cỏ nhân tạo mới khai trương ở Hà Nội, và được cả thế giới biết đến vì cảnh ông quan đánh nhà báo).

Nhật báo Yomiuri cho biết Nhật Bản là quốc gia viện trợ cho Việt Nam nhiều nhất. Nếu nhờ vụ truy tố này mà từ nay trở đi các công ty Nhật Bản tới nước ta bớt đút lót, bớt hối lộ thì chắc đường sá ở Việt Nam sẽ rộng hơn và các cây cầu cũng vững chắc hơn! Cho nên đây là một tin vui, vui vì chính phủ Nhật Bản cũng giúp dân Việt Nam bài trừ tham nhũng! Tin này được các báo, các đài ở Tokyo tường thuật và nhật báo Người Việt cũng loan tải đầy đủ ngày hôm qua. Nhưng báo chí trong nước đều im lặng, thế mới lạ!

Báo chí Việt Nam không cho bà con biết người nhận hối lộ hơn 800 ngàn Mỹ kim có phải tên là Huỳnh Ngọc Sỹ như bên Tokyo họ viết hay không. Không ai phỏng vấn ông để biết ông cầm tiền về rồi trao cho những ai, họ chia chác như thế nào. Trong thời gian năm 2002 đến 2006 đó những ông nào giữ chức vụ nào ở thành phố? Các ông nào trong số đó đang ngồi trong Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng? Bao nhiêu điều dân Việt Nam muốn biết nhưng không được biết!

Và chắc chắn không nhà báo Việt Nam nào dám bàn luận về bản tin đó, ngoài một ký giả của nhật báo Người Việt. Ký giả Gia Ðịnh đã nhân bản tin này mà thuật lại những vụ tham nhũng khác như vụ liên quan đến Siemens, một công ty Ðức bị truy tố ở Munich về tôi hối lộ ở Việt Nam. Anh cũng giải thích những lý do tại sao chính quyền cộng sản Việt Nam không muốn tham gia các định chế quốc tế chống tham nhũng! Vì trừ tham nhũng thật thì lộ hết!

Nhưng nhật báo Yomiuri bên Nhật Bản khi loan tin này đã nêu lên một vấn đề lớn trong mục xã luận: Vấn đề danh dự quốc gia. Xin nói ngay để bà con mình khỏi thắc mắc, báo Yomiuri không bàn gì về danh dự quốc gia của người Việt Nam. Họ chỉ bàn về danh dự của họ, là dân Nhật Bản mà thôi. Ðèn nhà ai nhà ấy rạng. Danh dự nước Việt Nam chắc phải để người Việt lo với nhau!

Mục Xã Luận Nhật báo Yomiuri, trong số báo ngày 5 tháng 8, 2008, đã viết: “Không thể tha thứ được khi các công ty (Nhật Bản) coi chuyện hối lộ ở những nước đang phát triển chỉ là một cách làm kinh doanh bình thường! Vụ truy tố tội hối lộ đầu tiên này liên can tới chương trình viện trợ phát triển chính thức (ODA) phải coi là tín hiệu mạnh mẽ cho các công ty Nhật Bản biết để thay đổi cách nhìn của họ.”

Xin nói thêm là đạo luật Ngăn Cấm Cạnh Tranh Bất Chính mới được quốc hội Nhật tu chính vào năm 1998, sau khi họ ký vào công ước bài trừ tham nhũng của các nước OECD (Tổ Chức Hợp Tác Và Phát Triển Kinh Tế). Các nước ký vào công ước này đều phải thay đổi luật lệ trong nước mình để thi hành đúng những điều khoản trong công ước. Nhà báo Gia Ðịnh hôm qua viết rằng Việt Nam đã ký vào công ước đó nhưng không bao giờ chính thức hóa cả. Từ khi Nhật Bản ký tới nay, vụ hối lộ ở Việt Nam là vụ truy tố đầu tiên nhân danh đạo luật mới này. Nhật báo Yomiuri đã nhắc các độc giả của họ là nước Việt Nam ta được đóng vai mở hàng - còn gọi là tiên phong - trước các nước khác, trong việc thi hành luật lệ mới. Công ty PCI đã trúng thầu ở 16 nước được Nhật viện trợ trực tiếp ODA, và công ty này đã trình những bản kế toán “không bình thường” về công việc làm ở các nước này, trong đó có Việt Nam. Tổng số tiền không minh bạch trong sổ sách của PCI lên tới 140 triệu Yen, trải ra 16 nước thì cũng không nước nào địch nổi Việt Nam, với 90 triệu “chi bất thường” chỉ trong một dự án ở Sài Gòn!

Tờ báo Yomiuri, có 10 triệu ấn bản mỗi ngày, cũng làm nhiệm vụ nhắc nhở các độc giả của họ rằng “Nhật Bản là quốc gia viện trợ nhiều nhất cho Việt Nam, năm ngoái đã tặng 100 tỷ Yen, tức là gần một tỷ đô la.” Rồi họ viết ngay để nhắc nhở, “Ðây là tiền do dân chúng (Nhật Bản) đóng thuế!” Họ muốn nói, số tiền 800 ngàn đô la đem hối lộ đó là mồ hôi nước mắt của dân Nhật chứ không phải là tiền các quan đã xin được của đền Bà Chúa Kho!

Nhật báo Yomiuri lên tiếng than phiền chính phủ Nhật không ráo riết trong việc bài trừ tham nhũng. Họ nêu thí dụ năm 2002, công ty Mitsui đã bị điều tra về vụ hối lộ các quan chức Mông Cổ 1.3 triệu Yên trong vụ thực hiện một viện trợ ODA khác. Năm đó, công tố viện đã chuẩn bị truy tố đại công ty này, nhưng sau lại bỏ. Tờ Yomiuri không nói lý do, chỉ có thể đoán là công ty Mitsui đã xin nộp phạt để khỏi bị ra tòa. Nhưng theo báo Yomiuri, tha cho một công ty đi hối lộ như vậy là làm cho cả nước mang tiếng, vì tổ chức OECD đã phải nhiều lần nhắc nhở chính phủ Nhật hãy tích cực hơn trong việc thi hành công ước bài trừ tham nhũng! Bài trừ gì mà từ năm 1998 đến nay, đã 10 năm mới truy tố có một vụ hối lộ các quan lại Việt Nam! Ðể so sánh cho người Nhật thấy chính phủ của họ không nỗ lực đủ để làm bảo vệ uy tín quốc gia, Nhật báo Yomiuri nêu lên trường hợp nước Mỹ - mà dân Nhật thì vẫn muốn họ phải hơn dân Mỹ. Tờ báo viết, “Hãy so sánh để thấy, kể từ khi công ước được thi hành, nước Mỹ đã truy tố khoảng 100 công ty về tội hối lộ các quan chức ngoại quốc.” Thế mới biết dân Nhật Bản họ lo bảo vệ danh dự quốc gia như thế nào, ngay cả trong chuyện bài trừ tham nhũng ở ngoại quốc họ cũng không muốn thua kém ai!

Về vụ hối lộ ở Việt Nam, nhật báo Yomiuri thú nhận, “Không thể nào trừ hết tệ đoan các công ty đi đút lót khi các quan chức chính quyền xứ họ đòi ăn hối lộ, như trong vụ PCI này, trừ khi những người ăn hối lộ bị chính quốc gia họ trừng phạt.” Ðây có thể là một lời biện minh mà công ty PCI sẽ nêu lên khi bị ra tòa. Họ có thể mời quý ông Nguyễn Việt Tiến, Huỳnh Ngọc Sỹ, vân vân, sang Nhật làm chứng, cho thấy là quý ông lúc nào cũng được bình an, thanh thản, chả thấy có tội nào hết! Tuy nhiên, tờ báo này vẫn chỉ lo đến danh dự quốc gia của người Nhật, cho nên họ lại nhắc các công ty Nhật, “Các công ty nên nhớ rằng nếu họ chấp nhận đem tiền đút lót theo đòi hỏi của các quan chức tham nhũng, hành động đó sẽ khiến cho cộng đồng quốc tế mất lòng tin vào nước Nhật chúng ta!”

Người Nhật có vẻ rất lo ngại làm mất lòng tin. Khi một người không được ai tin thì coi như danh dự và phẩm giá không còn nữa. Khi một nước bị mất lòng tin của thế giới cũng vậy, không còn ai kính trọng nữa. Người Nhật nghĩ như thế mà chắc người Việt mình cũng nghĩ như thế. Cho nên, chúng tôi muốn gửi các bạn đồng nghiệp trong nhật báo Yomiuri lời xin lỗi của một người Việt Nam. Người Việt chúng tôi rất ân hận đã có những quan chức đòi hối lộ khiến cho các công ty Nhật phải lấy tiền đóng thuế của người dân quý quốc đem đút lót, một hành động mà chính đạo đức nước tôi lên án cũng như luật pháp nước Việt Nam ngăn cấm. Chúng tôi xin cúi đầu xin lỗi với tất cả mọi người Nhật Bản.

Trở lại nước mình, chúng ta lại càng ngạc nhiên khi thấy trong hai ngày qua báo chí trong nước không ai nhắc tới mối nhục chung này. Chúng tôi không trách các bạn đồng nghiệp, nhất là quý bạn ở Sài Gòn, nơi diễn ra vụ tham nhũng này. Vì chúng tôi biết quý vị đều nằm trong vòng kiểm soát gắt gao. Và các nhà báo cũng còn nhớ cảnh một ông thuộc liên đoàn bóng đá tát tai một ký giả, mới xảy ra tuần trước. Nhật báo Người Việt hôm qua cũng đăng tin này. Vụ hành hung diễn ra giữa công chúng, trước mặt các khách ngoại quốc! Nhưng đáng thương nhất là các trẻ em phải chứng kiến cảnh tượng đó, chúng sẽ học được gì ở người lớn trong cái “Trung Tâm Ðào Tạo Trẻ Quốc Gia” này? Nhưng các nhà báo đã học lại được một điều, là trong xã hội Việt Nam các quan khinh rẻ dân, đặc biệt là người ta khinh rẻ nhà báo.

Ở Nhật Bản, một tờ nhật báo như Yomiuri lâu lâu lại đánh thức lương tâm của cả dân tộc họ. Cho nên mới có bài xã luận tựa đề là “Hối lộ quan chức ngoại quốc là làm mất danh dự quốc gia.” Ở Việt Nam dù không ai được viết, nhưng tất cả mọi người đều nghĩ rằng dân tộc mình cũng biết phải giữ danh dự của quốc gia không khác gì dân Nhật Bản! Nhưng người ta chỉ có thể bảo nhau giữ danh dự quốc gia nếu được tự do!.
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest