Bình Luận , Quan Điểm

vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Bên bờ vực thảm họa, Việt Nam cần một Minh Trị
Tác giả: Võ Thị Hảo


Tôi là con dân nước Việt. Tôi và đồng bào tôi cần một "Minh Trị".

Cần một sự lựa chọn đúng. Ngay lập tức . Vì đã quá muộn.

Đã phải trả giá quá nhiều.

Đừng để trái tim chúng ta phải thoi thóp quá lâu và cứ phải lịm chết đi để thương khóc những Thời cơ Vàng bị ám sát bởi những bàn tay ích kỷ và bảo thủ.

Tôi mơ đến ngày một kẻ con dân nước Việt như tôi thoát khỏi thân phận một nước nghèo nàn và lạc hậu. Thoát khỏi việc phải là con dân của một nước bị nhiều người trên thế giới coi là một nước độc tài và thường niên bị đưa ra bàn luận như một trong những nước mất nhân quyền và nhân quyền và tự do ngôn luận.

Tôi mơ ước không phải rơi nước mắt vì liên tục để mất những Thời cơ Vàng. Vâng. Luận về Thời cơ Vàng, một con dân của nước tôi đã nói: đất nước chưa nắm được Thời cơ Vàng. Mà chỉ có bọn tham nhũng nắm được Thời cơ Vàng mà thôi.

Thật nhục nhã, khi mà ngày ngày tôi phải sống dưới sự bẩn thỉu của đám tham nhũng. Ra đường gặp tham nhũng và lưu manh. Và để đối phí với sự lưu manh, những người dân thấp cổ bé họng cũng phải bị lưu manh hóa. Và lưu manh hóa toàn thể là một điều hết sức khó cưỡng nổi.

Tôi đã nỗ lực rất nhiều. Nhiều con dân nước Việt còn nỗ lực hơn tôi. Những giọt mồ hôi nước mắt và cả máu rơi quá nhiều trên đất Việt. Mà sao chúng ta cứ phải khổ mãi. Những hy vọng khấp khởi về cải cách, đổi mới, về Thời cơ Vàng, cứ phập phù thoi thót trong lồng ngực con dân Việt. Đập khắc khoải như một trái tim chỉ còn thoi thóp. Dội lên. Rộn ràng vài tiếng khi niềm hy vọng đến. Rồi lại lịm đi, khi thấy những hy vọng của mình và những lời cam kết bị bội phản một cách trắng trợn.

Và bây giờ, trước khủng hoảng , mà nếu không có biện pháp cấp bách cứu, thì bản thân con dân nước Việt đang phải đứng bên bờ vực thảm họa.

Cái nước Việt mang hình một người mẹ già gầy guộc còng lưng ngóng ra biển cả của tôi anh hùng lắm. Nhưng tôi cần một Minh Trị. Bao giờ Việt Nam có một Minh Trị như Nhật bản?

Người Nhật đã khốn khổ suốt hàng trăm năm trong trì trệ và bảo thủ, độc tài. Trước tình hình khủng hoảng, thời điểm giữa thế kỷ XIX, Nhật Bản đứng trước miệng vực thẳm. Họ có thể lựa chọn một trong hai con đường: tiếp tục duy trì chế độ lạc hậu để thế lực thống trị (Mạc phủ) cố sống cố chết giữ quyền lực và bội phản dân chúng, với nguy cơ trở thành một nước thuộc địa hoặc đi theo con đường cải cách đất nước với cơ hội trở thành một cường quốc như các nước phương Tây.

Và may mắn thay cho con dân Nhật, khi vào những năm 1860, một nhóm nhà cải cách thời Minh Trị - đã quyết định từ bỏ vị thế độc tài của mình, tìm đến các quốc gia hàng đầu của phương Tây để học những thành tựu đã giúp phương Tây phát triển vượt bậc. Và chỉ trong ba năm, từ 1866 đến 1869, cuộc Cách mạng Minh Trị, hay còng gọi là Minh Trị Duy Tân, đã tạo được những thay đổi thần kỳ, là nền móng cơ bản nhất đưa Nhật bản trở thành một trong những cường quốc trên thế giới.

Chỉ ba năm thôi, chứ không phải là ba mươi năm, đã có thể đưa một đất nước từ "địa ngục" lên tận "thiên đường" nếu những người lãnh đạo đất nước nghĩ đến dân chúng và có sự lựa chọn đúng. Nếu không, bản thân họ, sẽ là những người phạm tội chống lại dân tộc, đất nước của mình, nếu vì sự tham quyền cố vị, sự ích kỷ, mà lựa chọn sai, cố đeo bám quyền lực, dìm đất nước và con dân mình vào nghèo nàn và lạc hậu

Để minh chứng cho sự thay đổi thần kỳ của sự lựa chọn đúng, là trường hợp Thâm Quyến của Trung quốc.

Thâm Quyến còn là một làng chài nghèo, khi Đặng Tiểu Bình phát động cuộc cải cách kinh tế vào năm 1979.

Từ 1980-2005, dân số của Thâm Quyến đã tăng từ 30.000 lên 11 triệu. Theo thống kê của Hãng tư vấn Enright, Scott & Associates có trụ sở tại Hong Kong, kinh tế Thâm Quyến đã tăng trưởng theo tốc độ bình quân là 28% năm. Nói chung, kinh tế Thâm Quyến đã tăng 126 lần!

Tôi là con dân nước Việt. Tôi và đồng bào tôi cần một "Minh Trị".

Cần một sự lựa chọn đúng. Ngay lập tức . Vì đã quá muộn.

Đã phải trả giá quá nhiều.

Đừng để trái tim chúng ta phải thoi thóp quá lâu và cứ phải lịm chết đi để thương khóc những Thời cơ Vàng bị ám sát bởi những bàn tay ích kỷ và bảo thủ.

Nhà văn Võ Thị Hảo
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »


Image

Syria “sẽ đoạn giao với Iran” nếu được sự hỗ trợ của Hoa Kỳ.
Tác giả: Carolynne Wheeler, Khúc Hạ lược dịch



Syria sẵn sàng cắt đứt mối thâm tình với Iran nếu Hoa Kỳ bằng lòng hỗ trợ quốc gia này về mặt quân sự và tài chánh, một cựu viên chức ngoại giao của Israeli liên quan đến những cuộc thương thuyết hòa bình không chính thức đã cho tờ báo Sunday Telegrap biết điều này.


Theo viên chức này, một người đã từng tham gia nhiều cuộc thảo luận kín đáo với các đại diện của Syrian trong nhiều tháng qua, thì Tổng Thống Syria, ông Bashar Assad ngày càng sẵn sàng cho một thỏa thuận có thể làm suy yếu đi ảnh hưởng của người Iran trong vùng.


Ông Liel Alon, một cựu giám đốc của bộ ngoại giao Israel nói rằng viễn ảnh của một thỏa ước hòa bình ngày càng rõ nét, tuy nhiên, có thể phải đợi sau khi Hoa Kỳ có một Tổng Thống mới thì thỏa thuận mới được hoàn tất.

Những hỗ trợ của Syria cho các nhóm quá khích như Palestinian Hamas và Lebanese Hizbollar, cũng được hỗ trợ bởi Iran, đã đóng một phần lớn trong việc tạo nên những bất ổn tại Trung Đông…

Syria "Would Break Links With Iran" If America Steps In To Help It


The Telegraph | July 6, 2008 | By Carolynne Wheeler


Syria is ready to break off its close links with Iran if America gives it financial and military backing, a former Israeli diplomat involved in unofficial peace talks has revealed to The Sunday Telegraph.




According to the offical, who has been engaged in low-key "second track" discussions with Syrian representatives for many months, Syria's President Bashar Assad is increasingly open to a deal which would greatly weaken Iranian influence in the region.

Alon Liel, a former director of Israel's foreign ministry, said the prospect of a peace agreement with Syria was growing, though it might require a new American president before a deal could be agreed. Syria's support for radical groups including Palestinian Hamas and Lebanese Hizbollah, both also backed by Iran, has played a large part in fomenting trouble in the Middle East...
tankhoasinh
Posts: 838
Joined: Sat Jun 23, 2007 4:20 am
Contact:

Post by tankhoasinh »

Trách nhiệm của các thế hệ Việt Nam
Tác giả: Trần Trung Đạo
(Vài suy nghĩ sau khi đọc tiểu luận “Nhà văn Việt Nam: Đổi mới và Hội nhập” của nhà văn Tô Nhuận Vỹ và tự truyện Lạc đường của nhà văn Đào Hiếu)

Tháng 2 năm 2007, trên diễn đàn talawas, tôi có viết một bài để góp ý với ông Võ Văn Kiệt về “hòa giải dân tộc và khép lại quá khứ”. Thời gian ngắn sau đó, tôi nhận một email từ Việt Nam chuyển lời của ông Võ Văn Kiệt, rằng nhiều điểm góp ý của tôi có thể tranh luận nhưng cũng rất nhiều điểm ông thừa nhận là rất có lý. Ông cũng dặn với người đưa tin nếu tôi có dịp về thì đưa tôi đến nhà chơi để trao đổi với ông. Tôi trả lời, cũng qua trung gian người đưa tin, cám ơn ông về việc mời đến nhà nhưng quan trọng hơn tôi mong ông đáp lại những điều tôi đã nêu ra trong bài viết, nhất là những điểm ông cho rằng có thể tranh luận được, và phổ biến rộng rãi cho mọi người cùng đọc. Chuyện đất nước là chuyện chung chứ không phải là chuyện giữa ông và tôi. Các thế hệ Việt Nam mai sau trưởng thành từ những bài học, những kinh nghiệm của các thế hệ đi trước để lại. Không có kinh nghiệm lịch sử nào là nên bỏ qua và không có bài học lịch sử nào mà không đáng học. Có lần tôi đọc đâu đó, ông Võ Văn Kiệt dự tính viết một cuốn sách, tôi rất mừng và âm thầm chờ đợi một tác phẩm hay một hồi ký của ông.

Tôi không kỳ vọng ở hồi ký của ông Võ Văn Kiệt một con số đúng về bao nhiêu sĩ quan công chức chế độ Việt Nam Cộng hòa bị ông và Đảng của ông đày ra các vùng rừng sâu nước độc Tiên Lãnh, Hàm Tân, Hoàng Liên Sơn, Thanh Phong, Thanh Hóa. Tôi không kỳ vọng ở hồi ký của ông một con số bao nhiêu người dân Sài Gòn bị ông và Đảng của ông đuổi đi khắp các vùng kinh tế mới miền Đông, miền Tây Nam Bộ. Tôi không kỳ vọng qua hồi ký ông sẽ công bố đầy đủ danh sách những người bị Ủy ban Quân quản, do ông làm bí thư Đảng ủy đặc biệt, xếp vào thành phần tư sản mại bản; của cải, nhà cửa bị tịch thu, cha mẹ phải vào tù, con cái phải sống lang thang đầu đường cuối chợ. Tôi không kỳ vọng qua hồi ký ông sẽ giải thích nguyên nhân nào khiến hàng triệu người Việt đã bất chấp sóng to gió lớn để vượt biển tìm một con đường sống trong muôn ngàn đường chết. Tôi cũng không kỳ vọng qua hồi ký ông sẽ chính thức xin lỗi cùng nhân dân miền Nam nói riêng và cả nước nói chung, những sai lầm của Đảng do ông trực tiếp lãnh đạo đã gây ra. Và như tôi đã đọc tiểu sử, quá trình đấu tranh của ông và những mất mát của riêng bản thân ông, tôi cũng không nghĩ ông Võ Văn Kiệt sẽ thành lập một đảng hay một cánh đối lập, công khai thách thức vị trí lãnh đạo của Đảng Cộng sản để lót đường cho một cuộc vận động toàn dân, toàn diện nhằm tiến đến một xã hội mới, dân chủ, nhân bản và thịnh vượng như một số người đã bàn tán trước đây.

Ông Võ Văn Kiệt từ năm 1938 cho đến cuối đời vẫn là người cộng sản. Khác chăng so với những lãnh đạo cộng sản cùng thời, ông Võ Văn Kiệt sinh ra từ miền cây trái Vĩnh Long, phần lớn quãng đời đấu tranh của ông cũng từ ruộng đồng, sông nước miền Nam, gần gũi với nhân dân miền Nam và trong những ngày cuối đời nhìn lại đã có lúc chạnh lòng buông những câu nói như những lời an ủi muộn màng, rải rác đó đây trên vài cơ quan ngôn luận, trong những buổi nhậu, dành cho những người đã chịu đựng dưới bàn tay ông.

Dù sao tôi cũng mong ông viết, bởi vì hơn ai hết, ông Võ Văn Kiệt là người có thẩm quyền để viết. Giá trị trong tác phẩm của ông Võ Văn Kiệt không hẳn ở chỗ là sự thật mà là sự kiện, dù được nêu ra để biện hộ cho những sai trái của chính ông. Những Giọt nước trong biển cả của Hoàng Văn Hoan và Hồi ký của một Việt cộng của Trương Như Tảng vẫn có giá trị sự kiện nhất định và là những tác phẩm tham khảo cần thiết cho các sử gia và thế hệ mai sau. Hôm nay, ông Võ Văn Kiệt đã qua đời. Ông ra đi mang theo nhiều chi tiết quan trọng của những năm khó khăn nhất trong lịch sử dân tộc thời cận đại. Phần lớn những lời phân ưu dành cho ông đều chấm dứt bằng câu cầu mong hương linh ông được yên nghỉ, nhưng làm sao hương linh ông có thể yên nghỉ được khi vẫn còn nợ thế gian này một món nợ mà ông chưa trả hết.

Những chịu đựng của dân tộc Việt Nam nói chung và nhân dân miền Nam nói riêng dưới bàn tay ông Võ Văn Kiệt và Đảng của ông trong những năm ngay sau 1975, sẽ mãi mãi sẽ là một vết thương hằn sâu trong lịch sử. Máu và nước mắt của nhân dân miền Nam đổ xuống trong các trại tù, trên các khu kinh tế mới, dọc các vỉa hè Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn đã đóng thành băng trong ký ức của giống nòi. Không ai trách ông Võ Văn Kiệt tại sao bảy mươi năm trước đã tham gia Đảng Cộng sản nhưng chắc chắn các thế hệ Việt Nam mai sau sẽ trách ông đã không có những câu trả lời cho những thảm trạng mà đất nước đã trải qua trong suốt 22 năm dài (1975 - 1997), thời gian ông đã đóng vai trò quan trọng trong chính trị Việt Nam.

Ông Võ Văn Kiệt, giống như hầu hết những người cộng sản trong thế hệ Tân Trào, Pác Bó đã không làm được, đã không trả lời được những câu hỏi của phiên tòa lịch sử, nhưng tôi tin các thế hệ Viêt Nam tham gia Đảng Cộng sản sau ông, thế hệ “chống Mỹ cứu nước”, thế hệ “Tổng công kích Tết Mậu Thân” với một số khá đông vẫn còn đang sống, có thể trả lời và thậm chí phải trả lời trước khi các anh các chị xuôi tay nhắm mắt ra đi.

Điều đáng mừng là trong thời gian qua, một số hồi ký như Tôi bị bắt của nhà thơ Trần Vàng Sao, Tôi bày tỏ của nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự mà tôi đã có dịp góp ý trước đây, tiểu luận “Nhà văn Việt Nam: Đổi mới và Hội nhập” của nhà văn Tô Nhuận Vỹ, hay mới đây tự truyện Lạc đường của nhà văn Đào Hiếu đã nối tiếp nhau ra đời. Các anh viết vì bức xúc cá nhân hay từ nhận thức chính trị không phải là điều quan trọng, điều quan trọng nhất vẫn là viết ra. Tôi tin rằng với chiều hướng Việt Nam đang cố mở rộng các mối quan hệ với nước ngoài, những tấm màn sợ hãi sẽ được vén lên cao hơn, những biên giới cách ngăn sẽ dần dần thu hẹp, trong tương lai sẽ có nhiều tác phẩm như thế nữa.

Tôi vừa đọc hết tự truyện Lạc đường của nhà văn Đào Hiếu. Là một người trong thế hệ trẻ hơn, tôi cảm ơn anh đã kể lại những chặng đường anh đã đi qua, ghi lại những thao thức và trăn trở của anh và thế hệ anh. Ngay cả những việc chúng ta mới làm hôm qua, hôm nay có thể đã không còn đúng nữa và những câu nói mới vừa thoát ra khỏi cửa miệng nhiều khi biết mình nói sai rồi, huống hồ những việc đã làm 40 năm trước. Ai cũng có một thuở hai mươi và ai cũng trải qua một thời tuổi trẻ. Sinh ra và lớn lên trên quê hương chiến tranh, nghèo khó, chịu đựng cái nhục của một nước nhược tiểu bị các nước lớn khinh khi, coi rẻ, câu hỏi làm gì cho đất nước luôn là mối ám ảnh hàng ngày, hàng đêm trong ý thức của những người trẻ biết đau cái đau của đất nước.

Năm 1968, năm cao điểm của cuộc chiến Việt Nam, tôi lớn lên ở gần cửa biển Sơn Chà, quận 3, Đà Nẵng. Buổi chiều tôi thường ngồi trên cồn cát trắng ở xóm Cổ Mân nhìn những đoàn xe chở bom đạn nối đuôi nhau từ cảng Tiên Sa nhập vào các kho quân sự chung quanh thành phố để từ đó đi vào cuộc chiến. Tôi thầm nghĩ những bom đạn kia nay mai đây sẽ rơi xuống ở một nơi nào đó trên quê hương tôi. Đêm đêm trên đường Bạch Đằng dọc bờ sông Hàn những anh lính Mỹ đen, Mỹ trắng miệng sặc mùi bia rượu, tay ôm những cô gái Việt bằng tuổi chị tôi và cất tiếng cười khả ố. Niềm tự ái dân tộc trong lòng tôi dâng cao. Tôi cảm thấy bi xúc phạm. Họ xúc phạm không chỉ dân tộc Việt Nam, người con gái Việt Nam, mà dường như còn xúc phạm đến cả hàng phượng đỏ, hàng sao xanh trên con đường Bạch Đằng thơ mộng. Cách thành phố Đà Nẵng không xa là bãi rác Hòa Cầm rộng mênh mông. Nơi đó, mỗi buổi sáng, hàng trăm đứa bé mới ngoài mười tuổi như tôi bám theo những chiếc xe rác Mỹ để nhặt những miếng thịt thừa, những lon bơ bỏ dở và ngay cả từng chiếc bao nhựa dơ dáy. Ngày đó, tuy còn khá nhỏ tôi đã biết tủi thẹn cho số phận của một cây cổ thụ bốn ngàn năm đang biến thành dây chùm gởi, đồng thời tôi cũng tự hỏi, những điêu tàn đổ nát, những bất công phi lý của xã hội Việt Nam, trong đó có sự hiện diện của những người Mỹ đen Mỹ trắng kia phải phát xuất từ một hay nhiều nguyên nhân nào đó.

Hoàn cảnh đất nước và nhiệt tình tuổi trẻ đã buộc các anh chị chọn lựa cho mình một hướng đi, một lý tưởng sống, một dâng hiến dành cho quê hương mà các anh chị nghĩ là đúng nhất. Sự chọn lựa nào cũng kèm theo đó sự hy sinh, cũng mang tính lịch sử và lịch sử Việt Nam trước 1975 là một lịch sử đầy nhiễu nhương, đau thương và ngộ nhận. Nhìn lại tuổi hai mươi không phải để phê phán những việc làm thời đó đúng hay sai. Sai hay đúng là thái độ của hôm nay và về sau chứ không phải của quá khứ.

Bốn mươi năm trước, nếu có người cho rằng xã hội miền Bắc tốt đẹp hơn xã hội miền Nam có thể đã không gây ra nhiều tranh cãi bởi vì các tệ nạn tham nhũng, quan chức lộng hành quá phổ biến ở miền Nam trong khi chưa ai thật sự sống một ngày dưới chủ nghĩa xã hội; thế nhưng, hơn 30 năm sau mà những người đó vẫn còn tiếp tục luận điệu giống như thế thì đó chỉ là một cách nói liều.

Bốn mươi năm trước, vì giới hạn về tài liệu tham khảo, nếu có người nhận xét ông Hồ Chí Minh, ông Trường Chinh, ông Lê Duẩn về mặt đạo đức tốt hơn các ông Tổng thống miền Nam có thể còn thông cảm, nhưng sau 30 năm với tất cả tài liệu đã được tiết lộ, Cải cách Ruộng đất, Nhân văn - Giai phẩm, vụ án xét lại, Tổng công kích Mậu Thân, chuyên chính vô sản, độc tài đảng trị, mà có người sùng bái các lãnh tụ cộng sản trên thì thật là một niềm tin mù quáng.

Tôi cũng cám ơn nhà văn Tô Nhuận Vỹ đã phổ biến tiểu luận “Nhà văn Việt Nam: Đổi mới và Hội nhập”, kết quả của đề tài nghiên cứu mà anh tham gia với William Joiner Center (WJC) thuộc Đại học Massachusetts trong hai năm 2005 đến 2007. Vài điểm trong tiểu luận của anh có thể thảo luận như tôi sẽ làm dưới đây, nhưng về tổng quát tiểu luận này đã giúp cho tôi thêm những kiến thức về sinh hoạt văn học trong nước mà tôi không biết đến nhiều.

Nhắc đến WJC, tôi nhớ lại những chuyện xảy ra mười năm trước. Tôi sống ở Boston và không xa lạ gì các khóa hội thảo mùa hè của WJC. Trong hai năm 1998 và 1999, tôi đã cùng một số anh chị trong giới cầm bút đến nói chuyện tại các khóa hội thảo mùa hè của trung tâm này. Mặc dù không phải là nhà văn, nhà thơ có những tác phẩm văn chương đủ tầm vóc để đại diện cho văn nghệ sĩ hải ngoại, tôi vẫn được mời, đơn giản chỉ vì tôi sống ngay tại Boston, quen thuộc với sinh hoạt của cộng đồng người Việt và đã có thời học ở Đại học Massachusetts.

Tôi ủng hộ quan điểm và thái độ tích cực tham gia vào các khóa hội thảo mùa hè tại Đại học Massachusetts của tổ chức cộng đồng Việt Nam. Thay vì tập trung các sinh hoạt trong nội bộ người Việt, sự có mặt trong những buổi thảo luận về văn học Việt Nam, chiến tranh và hậu quả xã hội Việt Nam tại các diễn đàn rộng hơn, liên quan đến nhiều quốc gia là những việc nên làm và ngay cả phải làm. Chúng ta đang đấu tranh cho quyền tự do phát biểu của đồng bào trong nước thì không có lý do gì tự giới hạn quyền phát biểu của chính mình trong một xã hội tự do.

Trong chiến tranh, chế độ Việt Nam Cộng hòa không có nhiều cơ hội để nói lên tiếng nói chính nghĩa của mình. Miền Nam không phải của ông Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu hay Dương Văn Minh mà là miền Nam của hơn hai chục triệu người, trong đó có một triệu người lính đã phải chiến đấu trong những điều kiện hết sức khó khăn, vừa cô đơn và cũng vừa cô thế. Những vành khăn tang trắng của những người vợ lính, những đứa bé mồ côi vì cha vừa tử trận chỉ trắng trong các khu gia binh nghèo, trong những căn nhà tranh heo hắt chứ không trắng trên các màn ảnh truyền hình quốc tế. Và từ sau 1975, các nhà văn, nhà thơ từ các quốc gia khác cũng chỉ biết Việt Nam dưới chế độ cộng cản qua vở kịch do Đảng Cộng sản Việt Nam dàn dựng, qua các khẩu hiệu tuyên truyền của phe có quyền ăn nói, nhưng không biết đến một Việt Nam khác đang bị bịt miệng, đang bị đày ải trong tù ngục và bị tước đoạt những quyền căn bản của con người. Do đó, giống như việc thắp lên que diêm trong đêm tối trời, gióng lên được một tiếng nói của lương tâm dù ở đâu cũng là điều cần thiết.

Ngoại trừ tôi, hầu hết các nhà văn miền Nam tham dự các khóa hội thảo mùa hè do WJC tổ chức đều đã nhiều năm phục vụ trong quân đội và thời gian ở tù sau 1975 cũng không ngắn hơn bao nhiêu so với quãng đời lính tráng của họ. Trong số anh em chúng tôi, nhà văn Hoàng Ngọc Liên lớn tuổi nhất. Vào tháng 9 năm 1999 ông đã ngoài 70 tuổi. Là một cựu sĩ quan cao cấp trong quân đội Việt Nam Cộng hòa và bị giam 13 năm trong các nhà tù khắp miền bắc, thế nhưng, ông không dùng diễn đàn WJC để tố cáo tội ác cộng sản, để đòi Đảng Cộng sản phải đền nợ máu trước nhân dân, đòi giới lãnh đạo Đảng phải ở tù ít nhất bằng số năm ông đã từng phải ở. Không. Nhà văn Hoàng Ngọc Liên xem buổi hội thảo chỉ là cơ hội để kể lại những điều mắt thấy tai nghe trong năm tháng ông ở tù và quan trọng hơn, nhắn gởi những lời đầy hy vọng đến những người cầm bút Việt Nam thuộc thế hệ trẻ trong nước cũng như đang tham gia trong khóa hội thảo mùa hè năm đó. Trong bài viết “Những câu chuyện chưa kể” ông đọc ở hội thảo vào buổi chiều ngày 1 tháng 9 năm 1999 tại Đại học Massachusetts, Boston, nhà văn Hoàng Ngọc Liên kết luận: “Tôi nghĩ rằng lâu nay, nhất là từ năm 2000, tuổi trẻ Việt Nam là kỳ vọng của dân tộc Việt Nam, trong chiều hướng góp phần xây dựng đất nước chúng tôi, một đất nước bị chiến tranh tàn phá, sau 24 năm hòa bình, thống nhất, vẫn còn nghèo nàn, lạc hậu mà dân chúng hầu như xa lạ với những quyền Tự do căn bản của con người. Tôi, và những người như tôi, tin tưởng vào thế hệ trẻ, ủng hộ các bạn trẻ cầm bút, với văn phong mới mẻ hơn, súc tích hơn.”

Nếu câu nói trên do tôi nói ra thì chẳng có gì đáng để ý. Tôi trẻ hơn nhà văn Hoàng Ngọc Liên nhiều, chưa từng bị đánh đập, bị đày ải một ngày nào trong các trại tập trung Hoàng Liên Sơn, Thanh Phong, Vĩnh Phú, phát biểu hay ca ngợi lòng nhân ái là chuyện thường tình, nhưng nhà văn Hoàng Ngọc Liên thì khác, ông vừa mới thoát ra khỏi địa ngục trần gian cộng sản, sức khỏe chưa kịp phục hồi, thân thể còn đau nhức nhưng vẫn dựa lên các giá trị thiêng liêng của tình dân tộc và mục đích Tự do, Nhân bản cho các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau để nói lên những lời tâm huyết của mình. Thật quý hóa và may mắn biết bao nhiêu. Không ai hòa giải với ông và ông cũng chẳng cần ai hòa giải. Ông đã tự hóa giải các xung đột bằng nhận thức và qua đó đã hòa giải được với chính mình. Dù bị tù 13 năm ông đã bước ra khỏi cổng trại như một người chiến thắng chứ không phải người thua trận. Ông trở về như sau một cuộc hành quân dài chứ không phải một người vừa được trao trả tự do, bởi vì lý tưởng Tự do Nhân bản vẫn còn là nguồn thôi thúc trong lòng nhà văn 70 tuổi và ông vững tin mục đích tốt đẹp đó một ngày sẽ đến với đất nước Việt Nam.

Đọc tiểu luận “Nhà văn Việt Nam: Đổi mới và Hội nhập”, tôi cũng tìm thấy trong nhà văn Tô Nhuận Vỹ một ước vọng ngày mai tươi sáng như nhà văn Hoàng Ngọc Liên. Đất nước phải vượt qua những bế tắc, văn học phải vượt qua những bế tắc, mỗi nhà văn nhà thơ cũng phải tìm mọi cách vượt qua những bế tắc của chính mình để đi lên và đưa đất nước đi lên. Tuy nhiên, khác với nhà văn Hoàng Ngọc Liên ở điều kiện tự do, nhà văn Tô Nhuận Vỹ cho rằng bước đầu tiên và cần thiết nhất để hội nhập văn học Việt Nam trong cũng như ngoài nước là hòa hợp hòa giải trong giới văn nghệ sĩ: “đội ngũ nhà văn Việt Nam sẽ đóng vai trò đi đầu, là chiếc cầu nối cho việc hoà giải, hoà hợp dân tộc, đặc biệt giữa cộng đồng người Việt ở nước ngoài với đồng bào trong nước, do hoàn cảnh lịch sử, đã để lại một hố sâu ngăn cách, dị biệt chua xót sau chiến tranh.”

Tôi không nghi ngờ thiện chí của nhà văn Tô Nhuận Vỹ nhưng thành thật mà nói, hòa giải hòa hợp chỉ là một chiếc bóng do Đảng vẽ ra mà những người Việt có lòng đang đuổi bắt như đã từng đuổi bắt con bồ câu hòa bình trước 1975.

Hình ảnh con bồ câu trắng hiền hòa trên bầu trời quê hương thân yêu đã đẩy bao nhiêu tuổi trẻ Việt Nam tự nguyện lao vào chỗ chết, đơn giản bởi vì “nếu là chim tôi sẽ làm một bồ câu trắng và nếu là người tôi sẽ chết cho quê hương”. Các thành phố lớn miền Nam như Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, đâu đâu cũng xuất hiện các phong trào đòi quyền sống, đòi hòa bình, đòi tự quyết. Các cuộc xuống đường diễn hành gần như mỗi ngày, mỗi tuần, nhiều đến nỗi làm cho dư luận quốc tế và cả những người hiểu biết giới hạn về chính trị có nhận xét trong các phe đang đánh nhau chỉ có chính quyền miền Nam mới là những kẻ hiếu chiến và đi ngược lại khát vọng hòa bình dân tộc.

Kỹ thuật tuyên truyền tinh vi của Đảng đã biến những người lính miền Nam đang ngày đêm đổ máu trong cuộc chiến mà không có quyền chọn lựa thành những kẻ sát nhân, trong lúc những kẻ ném lựu đạn vào nhà hàng Mỹ Cảnh, pháo kích vào trường tiểu học Cai Lậy, chôn sống đồng bào trên Bãi Dâu Huế, đặt mìn trên quốc lộ số một… lại trở thành những anh hùng dân tộc. Và sau 1975, mọi người đều biết tất cả các phong trào hòa bình giả tạo đó đều do Trung ương Đảng trực tiếp chỉ đạo, những con chim bồ câu trắng xinh xinh kia là do bàn tay Đảng vẽ ra, và những kẻ ném bom ngày nào cũng không ai khác hơn chính là những đảng viên biệt động thành trung kiên của Đảng.

Tôi cũng không nghĩ cần thiết phải có một nhu cầu hòa giải trong giới văn nghệ sĩ dù một thời đã phải đứng hai bên chuyến tuyến khác nhau. Tôi chưa gặp anh Tô Nhuận Vỹ chỉ vì chúng ta chưa có điều kiện gặp nhau chứ không phải tôi hận thù, oán trách gì anh mà không gặp. Tôi đi rất nhiều nơi và tiếp xúc với nhiều anh chị chú bác trong giới cầm bút nhưng rất hiếm khi gặp một nhà văn nhà thơ mang lòng thù hận các nhà văn nhà thơ trong nước. Một số khá đông không thích tham gia vào các tác phẩm viết chung giữa các nhà văn trong nước và hải ngoại bởi vì họ không muốn làm cái loa tuyền truyền giùm cho Đảng, vả lại những tác phẩm viết chung chẳng đem lại một lợi lạc gì cụ thể khi phần lớn chỉ phát hành tại hải ngoại chứ không phải trong nước, một nơi có 80 triệu người cần phải đọc. Sau 33 năm, hàng trăm tác phẩm được viết trước 1975 tại miền Nam vẫn chưa được tái bản, chưa được công nhận, nhà văn nhà thơ gốc Việt Nam Cộng hòa vẫn còn bị đối xử như một thứ công dân hạng hai, nói chi là các nhà văn nhà thơ vượt biên sau 1975 và tác phẩm của họ được viết ra tại hải ngoại. Nếu văn học là đời sống tinh thần của con người trong một thời đại nhất định thì văn học hải ngoại hẳn phải mang đậm nét của hành trình tìm tự do đầy gian khổ, đương nhiên những tác phẩm như thế sẽ không bao giờ có mặt trong một nhà sách nào ở Việt Nam khi chế độ cộng sản còn tồn tại.

Tình cảm giữa những người cầm bút dù bên này hay bên kia không xa cách nhiều như anh Tô Nhuận Vỹ lo lắng. Tôi còn nhớ mười năm trước, vài ngày trước khi đến WJC tham gia hội thảo, có người hỏi tôi, nếu gặp nhau trong buổi hội thảo, tôi sẽ làm gì, sẽ đối xử ra sao với những người được gọi là “văn nô cộng sản” từ Việt Nam sang. Tôi trả lời người đó rằng sau buổi hội thảo, tôi sẽ rủ các anh chị từ trong nước sang đi uống cà-phê. Mọi người ngồi chung quanh tôi hôm đó đều bật cười vì nghĩ rằng tôi nói chơi. Không, tôi nói thật. Tôi đã đi uống cà-phê với nhiều anh chị văn nghệ sĩ từ trong nước sang. Không giống như những năm đầu, thời anh Lê Lựu sang tham gia WJC trở về, viết những bài ký sự rẻ tiền được in trong hai tập ký Một thời lầm lỗi và Trở lại nước Mỹ, các anh chị đến những năm sau dễ thông cảm hơn nhiều. Gặp ai tôi cũng chỉ yêu cầu một điều, hãy viết về cuộc đời và đất nước như các anh các chị đã từng sống. Thời kỳ viết theo chỉ thị đã qua rồi, xin để lại cho các thế hệ mai sau những lời chân thật. Hơn bao giờ hết đất nước đang cần những người nói thật và sống thật.

Đối với các em sinh viên du học cũng thế. Tôi gặp họ rất sớm. Nhiều em mới sang còn đọc thơ Tố Hữu cho tôi nghe và còn nói về “Bác Hồ là vị cha chung, là sao Bắc Đẩu là vầng Thái Dương” của các em bằng một ánh mắt hồn nhiên và hãnh diện. Tôi kiên nhẫn nghe mà không phản đối bởi vì tôi hiểu đó là tất cả những gì em có. Thế giới tri thức của em từ lớp vỡ lòng đã được đóng khung trong những bài giảng đầy tính giáo điều cuồng tín. Một tuần lễ trước khi bị xử tử hình về tội diệt chủng, Nicolae Ceausescu vẫn còn được học sinh Rumani, giống như các em học sinh Việt Nam ngày nay, ca tụng là tinh hoa kết tụ từ dòng trường giang Danube. Tôi biết sau 4 năm đại học, các em sẽ thay đổi. Các em còn trẻ nên những thói hư tật xấu, mê tín dị đoan dễ đến nhưng rồi cũng sẽ dễ đi. Bệnh sùng bái cá nhân sẽ bớt dần, nhường chỗ cho ánh sáng khoa học thâm nhập vào tâm hồn trẻ trung của các em. Quá trình đổi mới nhận thức không diễn ra trong một sớm một chiều mà là một quá trình dài, từng bước và liên tục. Các em sẽ lớn lên và trưởng thành không phải chỉ ở tuổi tác mà cả về trí thức. Mỗi thế hệ có trách nhiệm riêng trong từng giai đoạn lịch sử. Các bậc cha chú dù đúng hay sai rồi cũng sẽ lần lượt xuống đất hay lên giàn hỏa và các em sẽ phải nghiêng vai gánh vác trách nhiệm lịch sử của thế hệ mình. Các em có quyền trách móc, đổ thừa nhưng không có quyền từ chối.

Cửa nhà tôi ngày đó giống như cửa chùa, ai đến cũng được, tôi chưa bao giờ hỏi lý lịch hay căn cước người nào. Cách nói và cách trả lời với từng người có thể khác, nhưng đều chuyên chở một quan điểm chính trị và niềm tin về tương lai đất nước giống nhau. Quan điểm chính trị của tôi rất rõ ràng và đơn giản. Với tôi, cả dân tộc Việt Nam từ Bắc đến Nam, từ nhà văn nhà thơ cho đến người chưa hề viết nổi một lá thư, từ các nhà trí thức học nhiều hiểu rộng cho đến các bác nông dân tay lấm chân bùn, từ các cha cho đến các thầy, từ những người đã chết sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập năm 1930 hay còn sống hôm nay, nói chung hơn 80 triệu người, đều là nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản.

Đảng Cộng sản thắng trong chiến tranh không phải vì họ có chính nghĩa, mà bởi vì họ đã kiên trì với mục đích nhuộm đỏ Việt Nam, được tổ chức một cách tinh vi từ trung ương Đảng cho đến tận tổ ba người và khai thác triệt để lòng yêu nước sâu đậm của người dân Việt Nam. Tôi cũng có một niềm tin rằng dân tộc Việt Nam với mật độ dân số trung bình không quá đông hay quá ít, với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, với lực lượng chuyên viên đông đảo trong các ngành khoa học đang có mặt trên khắp thế giới, với truyền thống yêu nước Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa vẫn chảy đầy trong huyết quản, nếu được chắp đôi cánh tự do, dân chủ, nhân bản, Việt Nam sẽ bay lên cao, sẽ thật sự trở thành một cường quốc kinh tế, cường quốc quân sự, sẽ đủ khả năng bảo vệ sự toàn vẹn vùng trời, vùng biển của tổ quốc thiêng liêng. Nếu không có tự do dân chủ, “khát vọng cất cánh” mà anh Tô Nhuận Vỹ nêu ra trong phần đầu tiểu luận chỉ là một giấc mơ tiên.

Có người cho rằng Đảng Cộng sản đã có một thời đồng hành với dân tộc, cùng hướng đến một mục tiêu như dân tộc Việt Nam, do đó vai trò lãnh đạo của Đảng ngày nay là hệ quả tất yếu của lịch sử. Tôi không đồng ý. Đó là lý luận của kẻ cướp. Với tôi, rất nhiều đảng viên Đảng Cộng sản tham gia chống Pháp phát xuất từ lòng yêu nước và đã chết cho đất nước như tôi đã nhiều lần viết trên diễn đàn này, nhưng bản thân Đảng Cộng sản như một tổ chức chính trị chưa bao giờ đồng hành với dân tộc. Việc giành lại nền độc lập và chủ quyền đất nước từ tay thực dân là mục tiêu, là bến bờ của dân tộc Việt Nam, trong khi đó đối với Đảng Cộng sản, độc lập dân tộc chỉ là phương tiện, một chiếc cầu, một chiếc ghe họ cần có để đi qua trên đường tiến tới cách mạng vô sản. Mục tiêu đó đã được khẳng định ngay trong “Luận cương chính trị” Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương do Trần Phú chủ trì năm 1930 và được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương phê chuẩn vào tháng 4 cùng năm:”Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong cuộc cách mạng; hai giai đoạn cách mạng từ cách mạng tư sản dân quyền chống đế quốc và phong kiến nhằm thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và người cày có ruộng và sau đó chuyển sang làm cách mạng xã hội chủ nghĩa.”

Sau 1975, một số người từng xếp bút nghiên vào rừng “Chống Mỹ cứu nước” đã phẫn nộ, kết án giới lãnh đạo Đảng đi ngược lại quyền lợi dân tộc, phản bội lý tưởng, phản bội máu xương của đồng chí họ, đưa đất nước đi vào con đường nghèo đói, độc tài, đảng trị. Nghĩ cho đúng, đó là những lời kết án thiếu cơ sở lý luận lẫn thực tế. Thật là oan cho Đảng. Nếu họ chịu khó đọc các đề cương chính trị đại hội Đảng từ ngày thành lập 78 năm trước cho đến đại hội lần thứ X cách đây hai năm, sẽ thấy Đảng Cộng sản chưa bao giờ phản bội mục tiêu của mình. Mục tiêu cộng sản hóa toàn cõi Việt Nam và đặt dân tộc Việt Nam dưới quyền cai trị tuyệt đối của Đảng chưa bao giờ thay đổi. Vì một số điều kiện cách mạng và biến chuyển chính trị thế giới xảy ra ngoài tiên liệu, các chính sách của Đảng cũng phải theo đó mà áp dụng một cách thích nghi hơn, mềm dẻo hơn qua những chính sách gọi là “đổi mới”, “hội nhập” v.v…, nhưng mục đích của Đảng từ trước đến sau luôn nhất quán.

Có người đến nay vẫn nghĩ rằng việc họ hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng Cộng sản để đứng lên “Chống Mỹ cứu nước” là một lý tưởng cao đẹp của cuộc đời họ, nhưng không biết rằng câu đó chỉ là một trong hàng chục khẩu hiệu có tính giai đoạn mà Đảng đã dùng. Nếu Mỹ không qua Việt Nam thì Đảng có để yên cho nhân dân miền Nam xây dựng một xã hội tự do dân chủ không? Chắc chắn là không. Dĩ nhiên, Mỹ không qua sẽ không có khẩu hiệu “Chống Mỹ cứu nước”, nhưng Đảng có thừa chuyên viên truyên truyền chuyên nghiệp để nghĩ ra những khẩu hiệu khác không kém phần khích động.

Tôi đồng ý với nhà văn Tô Nhuận Vỹ rằng giữa các nhà văn nhà thơ trong và ngoài nước hay đã từng đứng trên chuyến tuyến khác nhau vẫn còn “một hố sâu ngăn cách, dị biệt chua xót”, nhưng nghĩ cho đúng, cái hố sâu đó chẳng phải do nhà văn nhà thơ nào đào ra. Đó không phải là hố sâu tình cảm mà là hố sâu ý thức hệ. Theo lẽ tự nhiên, ai đào ra thì người đó phải lấp lại. Trách nhiệm hòa giải hòa hợp dân tộc, xóa bỏ các cách ngăn về ý thức hệ là trách nhiệm của giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong suốt 33 năm qua với bao nhiêu cơ hội nhưng các lãnh đạo Đảng chẳng những không thể hiện một hành động nào cụ thể để chứng tỏ tinh thần hòa giải hòa hợp dân tộc mà càng đào sâu hơn những hố sâu ngăn cách, làm lở loét thêm những vết thương vẫn còn đang mưng mủ trên da thịt của nhiều triệu người Việt Nam. Việc yêu cầu chính quyền Nam Dương đập bỏ tấm bia tưởng niệm đồng bào chết trên Biển Đông hay việc tổ chức rầm rộ kỷ niệm 40 năm Mậu Thân trên nỗi đau câm nín của hàng ngàn đồng bào Huế là vài ví dụ điển hình.

Với đồng bào hải ngoại, những hành động xúc phạm hương linh của những em bé chết trôi, những bào thai ngột nước ngay lúc còn trong bụng mẹ, những oan hồn đang vất vưởng khắp Biển Đông như thế, làm sao lãnh đạo Đảng Cộng sản có thể vận động được đoàn kết trong ngoài, nhất là đối hơn hai triệu người Việt hải ngoại, để cùng đưa đất nước đi lên?

Với đồng bào trong nước, những chương trình ca nhạc rầm rộ mừng 40 năm chiến thắng Mậu Thân, trong lúc cùng thời điểm đó trên khắp ba miền đất nước, nhất là tại Huế, hàng trăm ngàn đồng bào đang khóc trong âm thần, trong tủi nhục, trong hờn căm u uất, thì làm sao lãnh đạo Đảng có thể phát huy được nội lực dân tộc?

Bất cứ một người Việt Nam nào với một trình độ nhận thức trung bình cũng biết những hành động vừa nêu của giới lãnh đạo Đảng là không cần thiết và quá đáng. Tôi tin ngay cả trong Bộ Chính trị và Trung ương Đảng cũng có người biết việc đó là phi nhân, lạc hậu, vụng về và quá đáng, nhưng họ không có chọn lựa nào khác ngoài việc phải làm, đơn giản bởi vì che đậy tội ác là phản ứng tự nhiên của những kẻ đã gây ra tội ác.

Chim bay cần đôi cánh nhưng không phải giống chim nào có cánh cũng có thể bay cao. Chim se sẻ chỉ biết bay quanh vườn, nhảy nhót trên những cành xoài, cành ổi, nhưng để có một hạm đội Việt Nam, một phi đoàn Việt Nam, một vệ tinh Việt Nam, một phi thuyền Việt Nam, đất nước phải cần có đôi cánh phượng hoàng, nói đúng hơn là đôi cánh dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam, với những mâu thuẫn đối kháng và bế tắc ngay từ bên trong cơ cấu độc tài đảng trị sẽ không có khả năng đưa đất nước lên ngang tầm với thời đại, và do đó, việc chọn lựa một con đường thay thế là trách nhiệm của các thế hệ Việt Nam trong và ngoài nước hôm nay.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Viet Nam
Supreme Patriarch Thich Huyen Quang, a life committed to human rights

Amnesty International

Image

AMNESTY INTERNATIONAL
Public Statement
AI Index No. ASA 41/002/2008
Date: 10 July 2008


Viet Nam: Supreme Patriarch Thich Huyen Quang, a life committed to human rights
The Venerable Thich Huyen Quang, Supreme Patriarch of the Unified Buddhist Church of Viet Nam (UBCV), and a prisoner of conscience for many years, passed away on 5 July 2008. He was 87 years old and had been suffering from poor health for several months. He died at the Nguyen Thieu Monastery in Binh Dinh province, with his deputy Thich Quang Do and other senior Buddhist monks present.

The UBCV has announced that a funeral ceremony will be held on 11 July at the Nguyen Thieu Monastery, which Thich Huyen Quang founded. Amnesty International calls on the Viet Nam authorities to allow his funeral to take place according to the wishes of his followers and church, without hindrance and harassment of UBCV members by agents of the state.

Thich Huyen Quang spent more than 30 years in prison or under house arrest in internal exile because of his outspoken defence of human rights, in particular the right to practice religion freely. Since the late 1970s, the authorities relentlessly attempted to silence him and keep him in isolation from other members of the UBCV. Independent from the state-founded Viet Nam Buddhist Church, the UBCV is banned by the government.

First arrested in 1977 when he protested repressive actions against UBCV members, Thich Huyen Quang was given a suspended two year sentence. He challenged the authorities about persecution, human rights violations and state control over Buddhist institutions. Security forces arrested him again in 1982, and placed him under house arrest in a remote pagoda of Hoi Phuoc in Quang Ngai province in central Viet Nam. Local authorities stated that his presence in Ho Chi Minh City was “too dangerous for the safety and well-being of the people”.

In April 1992, Thich Huyen Quang became Supreme Patriarch, and continued, despite his house arrest, to openly criticise government policies and call for greater freedoms. In June that year he issued an open petition to the government, requesting that freedom of religion and other human rights be respected; calling for the release of Buddhist clergy, laymen, writers, journalists, and politicians detained without trial or after unfair trials; and the restoration of confiscated UBCV property. Then in November 1993, he issued a declaration which amongst other things, called for free and fair elections, a new constitution and an end to the supremacy of the Communist Party of Viet Nam.

While still under house arrest, he was again taken into custody in December 1994 when he went on hunger-strike to protest about the detention of five UBCV members who had tried to carry out a flood relief mission in the Mekong Delta. The authorities declined to put him on trial “because of his age and state of health” and instead moved him to another remote pagoda in Quang Ngai province, where conditions were harsh.

Although security police told him in November 1997 that he was officially released from house arrest, he did not receive the formal papers necessary to allow him to return to live at Nguyen Thieu monastery in Binh Dinh province. Instead, he remained under restriction at Quang Phuoc Pagoda in Quang Ngai province, and subject to interrogation, threats and harassment.

In 2003, the authorities finally allowed him to live at Nguyen Thieu Monastery because of his declining health and following persistent calls from the international community, including AI members and other civil society groups, politicians and religious organizations. However the authorities maintained his house arrest and isolation.

Background
The UBCV was formed in 1964, and under successive governments involved itself in social projects, such as opening schools and universities, running orphanages, day-care centres, and relief activities. The UBCV took part in demonstrations against the Viet Nam War and the presence of US troops, and criticized human rights violations by the Vietnamese authorities. After the end of the war in 1975, the new government tried to restrict its activities, arresting and imprisoning many members. Three decades on, the Vietnamese authorities have still not formally authorised the UBCV, but continue crackdowns against its members.

In November 1981 the Viet Nam Buddhist Church was established under the wing of the Viet Nam Fatherland Front, an official organization with authority over all mass membership organizations. Followers of this officially sanctioned Buddhist church are allowed to practice their religious activities unhindered, whereas agents of the state subject UBCV members to harassment, surveillance, arrest, and arbitrary detention. Thich Quang Do, the deputy to Thich Huyen Quang, another long-term prisoner of conscience, remains under de facto administrative detention at his pagoda in Ho Chi Minh City.
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Image

Aung San Suu Kyi: Tự Do Khỏi Nỗi Khiếp Sợ
Aung San Suu Kyi
(VNC) Tiểu Luận “Tự do khỏi nỗi khiếp sợ” của Aung San Suu Kyi lần đầu được phổ biến để xuất bản với mục đích kỷ niệm Giải Thưởng Sakharov vì Tự Do Tư Tưởng mà Nghị Viện Âu Châu trao tặng. Lễ trao giải diễn ra tại Strasbourg vào ngày 10 tháng Sáu 1991 mà không có sự hiện diện của bà.

Không phải quyền lực làm cho tha hóa, mà chính là sự khiếp sợ. Sự khiếp sợ đánh mất quyền lực làm tha hóa những kẻ đang nắm trong tay quyền lực và sự khiếp sợ bị quyền lực trừng phạt làm tha hóa những người đang nằm dưới tay quyền lực. Đại đa số người Miến quen thuộc với bốn gati, bốn hình thức của tha hóa. Changda-gati (Tham), sự tha hóa bắt nguồn từ lòng ham muốn, là sự từ bỏ chính đạo để tìm kiếm tặng vật bất chính hay những thứ mình thèm khát. Dosa-gati (Sân) là việc đi vào lạc đạo nhằm trừng phạt những người mà mình ghét bỏ, Moga-gati (Si) là sự sai lầm do si đần. Nhưng có lẽ cái tồi tệ nhất trong bốn hình thức tha hóa là Bhaya-gati (Úy), không phải chỉ vì bhaya (sự khiếp sợ) làm tê cứng và dần phá hủy tất cả các cảm giác về đúng-sai, mà nó thường là nguồn cơn của ba hình thức tha hóa còn lại. Giống như Tham, khi không bắt nguồn từ tính hám lợi thuần túy thì có thể là sản phẩm của sự khiếp sợ cảnh nghèo túng hoặc sợ làm phật lòng những người mình yêu quí, sự khiếp sợ bị vượt qua, bị lăng nhục hoặc thương tổn theo cách nào đó có thể xô đẩy con người đến những ác ý. Cũng khó có thể xua tan u mê trừ phi có tự do theo đuổi chân lý và không bị trói buộc bởi sự khiếp sợ. Với quan hệ gần gũi đến thế giữa sự khiếp sợ và tha hóa, không có gì phải ngạc nhiên là ở bất kỳ xã hội nào, khi sự khiếp sợ lan tràn, tha hóa dưới mọi hình thức sẽ bám rễ sâu trong lòng xã hội.
Việc công chúng không hài lòng với những khó khăn kinh tế vẫn được nhìn nhận là nguyên nhân chính dẫn tới phong trào đòi dân chủ ở Miến, được châm ngòi bởi những cuộc biểu tình của sinh viên năm 1988. Đúng là nhiều năm với những chính sách thiếu ăn nhập, các giải pháp sai lạc của chính quyền, lạm phát leo thang và thu nhập thực tế tụt giảm đã đưa đất nước đến tình trạng khủng hoảng kinh tế. Nhưng không phải những khó khăn trong việc nâng cao hơn mức sống - ở mức gần như không thể chấp nhận được - là lý do duy nhất xói mòn lòng kiên trì của người dân vốn đôn hậu và hiền lành, mà còn do sự lăng nhục bởi một lối sống bị biến dạng bởi tha hóa và khiếp sợ.
Các sinh viên đã đấu tranh không phải thuần túy vì cái chết của các đồng chí, mà còn chống lại sự phủ nhận quyền được sống của họ bởi chính thể toàn trị - một chính thể đã tước đi sự hiện diện của lẽ phải và không đem đến bất kỳ một hi vọng nào cho tương lai. Và vì các cuộc tranh đấu của sinh viên đã truyền tải rõ ràng sự thất vọng của công chúng, những cuộc biểu tình này lan nhanh thành một phong trào toàn quốc. Một trong những người ủng hộ nhiệt thành nhất cho phong trào là các doanh gia, những người đã hình thành những kỹ năng và quan hệ cần thiết để không chỉ tồn tại mà còn giàu có trong hệ thống. Nhưng sự giàu có không đem đến cho họ cảm nhận thực sự về an ninh và thành đạt, và họ không thể không nhận thấy rằng nếu họ và đồng bào họ, bất kể địa vị kinh tế, muốn có được một sự sinh tồn khả dĩ thì một bộ máy nhà nước khả tín ít ra phải là điều kiện cần, nếu không phải là điều kiện đủ. Người dân Miến đã lo ngại về tình trạng bấp bênh của kẻ nằm dưới sự trị vì của người khác, khi mà thân phận họ “như nước ...
trong bụm tay” của những kẻ nắm quyền lực tối cao.
Chúng ta đẹp xanh như ngọc
Trên bụm tay người
Nhưng ôi, chúng ta cũng có khi là
Những vụn gương vỡ nát
Trên bụm tay người
Các vụn gương, những mảnh nhỏ nhất, óng ánh và sắc nhọn, có thể tự bảo vệ mình khỏi những bàn tay muốn nghiền nát chúng là một biểu trưng sống động của tinh thần can đảm, một phẩm chất cần thiết của những người muốn giải phóng mình khỏi sự kìm kẹp của bạo quyền. Bogyoke Aung San coi mình là một nhà giải phóng và không ngừng tìm kiếm câu trả lời cho những trở ngại mà Miến Điện gặp phải trong thời khắc thử thách của dân tộc. Ông hô hào đồng bào mình hãy can đảm hơn: “Hãy đừng lệ thuộc vào lòng can đảm và tinh thần dũng cảm của người khác, mỗi người trong các bạn hãy biết hi sinh để trở thành một anh hùng và tạo dựng sự dũng cảm và can đảm của chính mình. Chỉ đến khi đó chúng ta mới có thể cùng chung hưởng tự do thực sự”.
Nỗ lực cần thiết để tránh không bị tha hóa - trong một môi trường mà sự khiếp sợ là một phần máu thịt của sự tồn tại hàng ngày - không tức khắc rõ ràng với những người có may mắn sống trong những nhà nước có sự hiện diện của pháp quyền (rule of law). Luật pháp công minh không chỉ ngăn chặn sự tha hóa thông qua việc trừng phạt không thiên vị những kẻ phạm pháp. Luật pháp còn giúp tạo dựng một xã hội mà trong đó mọi người có thể thỏa mãn những yêu cầu căn bản-vốn thiết yếu cho việc bảo tồn nhân phẩm con người mà không cần phải cầu viện đến những hành vi tha hóa. Khi thiếu vắng luật pháp như thế, gánh nặng gìn giữ các nguyên tắc của công lý và sự đoan chính chuyển sang vai những con người bình thường. Chính hiệu ứng tích lũy những nỗ lực bền bỉ và sự nhẫn nại sẽ thay đổi một dân tộc - nơi lý trí và lương tri bị bóp méo bởi sự khiếp sợ - sang một xã hội mới- nơi luật pháp tồn tại là để đáp ứng khát vọng của con người về sự hòa hợp và công lý, trong khi giúp ngăn chặn những tính ác trong bản chất thiên bẩm của con người.
Trong một thời đại mà sự phát triển lớn lao của kỹ nghệ đã tạo ra những vũ khí chết người-những thứ có thể được, và đang được, những kẻ nắm quyền vô đạo dùng để thống trị kẻ yếu và không có khả năng tự vệ, có một đòi hỏi cấp thiết về mối quan hệ gần gũi hơn giữa chính trị và đạo đức, trên cả cấp độ dân tộc và quốc tế. Tuyên Ngôn Nhân Quyền Toàn Cầu của Liên Hợp Quốc khẳng định rằng tất cả mọi người và mọi hợp phần của xã hội phải đấu tranh nhằm thúc đẩy tự do và các quyền cơ bản mà theo đó mọi người, bất kể chủng tộc, quốc gia và tôn giáo đều được hưởng. Tuy nhiên, chừng nào còn tồn tại các chính quyền được thiết lập dựa trên sự áp bức thay vì sự chấp thuận của công chúng, chừng nào còn tồn tại các nhóm lợi ích chỉ biết đặt lợi ích trước mắt lên trên hòa bình và thịnh vượng lâu dài, thì hành động phối hợp quốc tế bảo vệ và phát huy quyền con người bất quá chỉ là một nửa cuộc đấu tranh. Vẫn sẽ có những đấu trường nơi các nạn nhân của bạo quyền phải tự dựa vào những nội lực của chính họ để bảo vệ các quyền bất khả nhượng với tư cách là những thành viên của gia đình nhân loại.
Cuộc cách mạng rốt ráo là cuộc cách mạng trong tinh thần, được khai sinh từ niềm tin trí tuệ về nhu cầu cần phải thay đổi các thái độ và các giá trị - những thứ định hình tiến trình phát triển của một dân tộc. Một cuộc cách mạng chỉ tập trung vào thay đổi các chính sách của nhà nước và các thể chế, với mục tiêu cải thiện các điều kiện vật chất, sẽ chỉ ...
có rất ít cơ hội thành công thực sự.
Thiếu vắng cuộc cách mạng trong tinh thần, nguồn gốc tạo ra cái vô đạo của trật tự cũ vẫn sẽ tiếp tục vận hành, gây ra một đe dọa thường trực cho quá trình cải cách và phục hồi. Sẽ không đủ nếu chỉ cổ súy cho tự do, dân chủ và các quyền con người. Cần có quyết tâm thống nhất nhằm duy trì cuộc đấu tranh, chấp nhận hi sinh vì chân lý vững bền, chống lại các ảnh hưởng tha hóa của lòng ham muốn, của ác ý, của si đần và sự khiếp sợ.
Người ta từng nói rằng các vị Thánh là những tội nhân luôn cố gắng [rửa sạch lỗi lầm của mình]. Vì thế, người tự do là những người bị áp bức luôn cố gắng và trong quá trình đó, chuyển hóa mình để thích hợp với việc gánh vác các trách nhiệm và gìn giữ các nguyên tắc cho một xã hội tự do. Trong số những sự tự do cơ bản mà con người mong ước nhằm tạo dựng một cuộc sống tràn đầy và không bị trói buộc, tự do khỏi khiếp sợ nổi lên là một phương tiện, đồng thời là mục đích. Một dân tộc muốn xây dựng một đất nước mà trong đó các thể chế dân chủ mạnh được xây dựng bền vững như là một bảo đảm chống lại sự lạm quyền của nhà nước thì trước hết phải học cách giải phóng tâm mình khỏi sự vô cảm và sự khiếp sợ.
Luôn là một người thực hành những gì mình kêu gọi, bản thân Aung San luôn chứng tỏ sự can đảm – không chỉ là những biểu hiện bên ngoài, mà còn là sự can đảm cho phép ông nói lên sự thật, giữ lời, chấp nhận phê bình, thừa nhận những lỗi lầm mình có và sửa chữa, tôn trọng đối lập, hòa đàm với kẻ thù và để dân chúng vào vị trí quan tòa phán xét sự xứng đáng của ông trong vai trò lãnh đạo. Chính vì sự dũng cảm đạo đức như thế mà ông luôn được kính yêu ở Miến – không chỉ với tư cách là một chiến binh anh hùng mà còn với tư cách là nguồn cảm hứng và lương tri cho cả dân tộc. Những từ ngữ do Jawaharlal Nehru sử dụng khi nói về Thánh Gandhi có thể áp dụng tốt trong trường hợp của Aung San:
“Tinh hoa trong các bài giảng của ngài là sự không khiếp sợ và sự thật, cùng với các hành động thống nhất với hai yếu tố này [trong khi vẫn] luôn quan tâm đến phúc lợi của đám đông”.
Gandhi, nhà truyền giáo vĩ đại của tư tưởng bất bạo động, và Aung San, người sáng lập quân đội quốc gia, là hai người có tính cách rất khác nhau, nhưng cũng giống như có sự tương đồng hiển nhiên trong những thách thức của chế độ toàn trị ở bất kỳ đâu, bất kỳ lúc nào, thì cũng có những tương đồng trong các phẩm chất vốn có ở những người đứng lên đối mặt với những thách thức ấy. Nehru, người nhìn nhận việc lan truyền lòng can đảm trong dân chúng Ấn là một trong những thành tựu vĩ đại nhất của Gandhi, là một nhà chính trị canh tân, nhưng khi ông tiếp cận với các đòi hỏi của phong trào đòi độc lập trong thế kỉ hai mươi, ông đã nhận thấy là mình quay trở về với triết học cổ điển Ấn: “Món quà lớn nhất cho một cá nhân hay một dân tộc… là Abhaya, không khiếp sợ, không thuần túy là sự can đảm bề ngoài, mà còn là sự vắng bóng sự khiếp sợ trong tâm”.
Sự can đảm có thể là một món quà, nhưng có lẽ còn quý giá hơn nếu can đảm được khơi lên từ sự nỗ lực, thứ can đảm đến từ việc gieo trồng thói quen không để sự khiếp sợ kiểm soát hành vi của mình, thứ can đảm có thể được miêu tả bằng “tự tại trước áp lực” – sự tự tại được làm mới liên tục ngay khi đối mặt với những áp lực căng thẳng và dai dẳng.
Trong một hệ thống chính trị luôn chối bỏ sự tồn tại của các quyền con người ...
cơ bản, sự khiếp sợ có vẻ như là thuộc tính nổi bật. Sợ tù đày, sợ tra tấn, sợ cái chết, sợ bị mất đi những bạn bè, gia đình, tài sản hay phương tiện sống, sợ đói nghèo, cô lập, trước thất bại. Hình thức quỷ quyệt nhất của sự khiếp sợ là hình thức ngụy trang dưới mặt nạ common sense (lẽ thường) hoặc thậm chí là sự thông thái, kết án những hành vi can đảm bé nhỏ thường nhật – những hành vi giúp bảo toàn niềm tự trọng và phẩm giá ẩn chứa trong mỗi con người – là [những hành vi] ngu ngốc, khinh suất, không đáng giá hoặc vô ích. Không dễ dàng để quần chúng đang khiếp sợ dưới sự cai trị hà khắc hiểu rằng họ có thể tự giải thoát mình khỏi bầu khí độc của sự khiếp sợ hãi đang làm họ kiệt sức. Ấy thế mà ngay cả khi dưới sự đàn áp của những bộ máy cai trị hà khắc nhất, tinh thần can đảm vẫn trỗi dậy hết lần này qua lần khác, vì sự khiếp sợ không phải là trạng thái tinh thần tự nhiên của một người văn minh.
Suối nguồn của lòng can đảm và sự vững vàng trước bạo quyền vô hạn độ thường là lòng tin son sắt vào các giá trị đạo đức thiêng liêng kết hợp với sự hiểu biết lịch sử rằng dù cho mọi khó khăn, lịch sử loài người được đặt trên một lộ trình duy nhất là sự tiến bộ cả về tinh thần lẫn vật chất. Chính khả năng tự cải biến và sửa sai là yếu tố quan trọng nhất phân biệt con người với con vật. Cội rễ của trách nhiệm người là khái niệm hoàn mỹ, sự khao khát đạt được nó, sự thông tuệ để tìm đường đến với nó, và sự sẵn lòng đi theo con đường đó cho tới đích cuối cùng, hoặc ít ra cũng đi được khoảng cách cần thiết để vượt lên trên các giới hạn cá nhân và các trở ngại của môi trường. Chính viễn kiến của con người về thế giới tương thích với nhân tính duy lý và văn minh đã dẫn chúng ta đến chỗ dám chịu đựng mất mát để xây dựng các xã hội tự do khỏi đói nghèo và khiếp sợ. Các khái niệm như sự thực, công lý và lòng trắc ẩn không thể bị loại trừ vì lặp đi lặp lại quá nhiều trong khi chúng thường là những bức tường thành duy nhất hiên ngang chống lại bạo quyền.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Lễ khai mạc WYD 2008 tại Barangaroo:
Cờ Vàng được chính thức trong đoàn rước quốc kỳ các quốc gia...

Tác giả: VietCatholic Network

Buổi chiều Thứ Ba ngày 15/7/2008, từng đoàn các bạn trẻ thuộc mọi ngôn ngữ, mọi Quốc gia, đều đổ dồn về Barangaroo để tham dự Thánh Lễ Khai Mạc Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới lần thứ 23 năm 2008 tại Sydney. Các ngả đường Sydney đều đông đúc các bạn trẻ như một ngày hội lớn...Các ga xe lửa, trạm xe bus, tràn ngập các bạn trẻ...Rừng cờ muôn sắc của khoảng trên 170 quốc gia tham dự...Các bạn trẻ Việt Nam hân hoan và tung tăng với những lá cờ vàng ba sọc đỏ trên khắp các nẻo đường Sydney.
Image

Các phóng viên Vietcatholic tới địa điểm Barangaroo để ghi lại những hình ảnh và tường trình đến quý độc giả...Khi chúng tôi tới nơi, các bạn trẻ đã tràn ngập các lối vào...Chúng tôi phải xếp hàng rất dài để vào địa điểm hành lễ Thánh Lễ Khai Mạc Đại Hội. Khoảng 4.15pm, Đoàn Cờ đại diện của các quốc gia tham dự...Chúng tôi rưng rưng giọt lệ cảm động và sung sướng khi nghe tin Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ được chính thức trong đoàn rước các quốc kỳ của Đại Diện các quốc gia tham dự...Càng sung sướng hơn khi thấy anh Đường Phước Lộc, trưởng ban tổ chức WYD4VN, Cô bạn trẻ Trần Thị Thuỳ Linh, với lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, đại diện cho Giới Trẻ Việt Nam trên lễ đài...Nhìn về phía dưới bạn trẻ các nước tham dự, phóng viên chúng tôi nhìn thấy giữa các mầu cờ của các quốc gia, Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ tung bay khắp nơi...

Image
Đúng 4.30 chiều, Thánh Lễ khai mạc Đại Hội Giới Trẻ năm 2008 bắt đầu với đoàn Thánh Giá nến cao, tiếp đến, quý Giám Mục trang nghiêm, và sau cùng là Đức Hồng Y George Pell, Tổng Giám Mục Giáo Phận Sydney chủ tế. Phía bên trái lễ đài, khoảng gần 200 Giám Mục đồng tế, trong đó có 4 Vị Giám Mục Việt Nam. Phía sau Bàn Thờ, Ca Đoàn Tổng Hợp với giàn orchestra vĩ đại phụng vụ Thánh Ca cho Thánh Lễ.
Image
Đức HY George Pell đã chào mừng các bạn trẻ bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau như: Anh Ngữ, Pháp Ngữ, Ý Ngữ, Tây Ban Nha...Ngài đã nói đến sự lạc quan về tương lai...Trước Thánh Lễ, sau mục diễn hành cờ của các nuớc tham dự, đoàn nghi lễ chào đón cổ truyền của người thổ dân Úc Châu chào đón Đại Hội Giới Trẻ và các khách hành hương. Thủ Tướng Úc Đại Lợi, Kevin Rudd chia sẻ với các bạn trẻ, ông diễn tả những khách hành hương như là “ánh sáng của thế giới trong thời đại tăm tối.” Thánh Giá Giới Trẻ và Icon Đại Hội Giới Trẻ được đặt trên Lễ Đài...
Image
Sau Thánh Lễ, Đức Hồng Y Rylco, Chủ Tịch Uỷ Ban Giáo Hoàng về Giáo Dân đã chào mừng các bạn trẻ hành hương trong Đại Hội.

Thánh Lễ Khai Mạc Đại Hội kết thúc, rất nhiều các bạn trẻ ở lại tham dự đêm hoà nhạc chào đón rất tuyệt vời do nhiều nghệ sĩ nổi tiếng và các hoạt cảnh về văn hoá của các dân tộc.

Chúng tôi vộ vã tiến về đoàn nghi lễ phụng vụ, Linh Mục Văn Chi đã phỏng vấn Đức Hồng Y George Pell. Ngài đã chào đón các bạn trẻ Việt Nam từ muôn phương về hội ngộ.

Phóng viên Vietcatholic sẽ tường trình chi tiết hơn trong những ngày còn lại.

Chúng ta tạ ơn Chúa đã làm những việc phi thường trong ngày khai mạc Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới năm 2008 tại Sydney, khi tất cả các tiểu bang khác mưa tầm tã, nhưng Sydney bừng lên nắng ấm giữa mùa đông. Tạ Ơn Chúa đã làm những việc kỳ diệu...

Hẹn gặp quý vị trong bài tường thuật ngày mai.
vuphong
Posts: 2755
Joined: Sun Jun 03, 2007 12:31 am
Contact:

Post by vuphong »

Người Việt quốc nội phải hành động như thế nào trước
Khủng Hoảng Kinh Tế và Khủng Hoảng Chính Trị?

Tác giả: TS. Trần Minh Hoàng




Bộ CHÍNH TRị ĐẢNG CSVN ĐÃ THÔNG QUA CHỦ TRƯƠNG "TịCH THU TÀI SẢN" CỦA MỌïI NGƯờI ĐỂ CỨU CHẾ ĐỘ TRƯỚC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ; DÂN CHÚNG VIỆT NAM NÊN TIN AI VÀ LÀM GÌ TRƯỚC KHỦNG HOẢNG?

Những tin tức của thế giới về "khủng hoảng" kinh tế ở Việt Nam diễn ra dồn dập.

Trong tuần lễ vừa qua từ 27 đến 31 tháng 5 năm 2008, đồng loạt trên các phương tiện thộng tin đại chúng có uy tín và lớn trên thế giới như : BBC, RFA, VOA, BLOOMBERG ... đều đưa tin bài về các thông tin và nhận xét của các tổ chức kinh tế, tư vấn, ngân hàng, tài chính và các chuyên gia có uy tín trên thế giới đã đề cập và chính thức dùng từ "khủng hoảng" để đánh giá và nhận định về sự sụp đổ của nền kinh tế Việt Nam đang xấu đi từng giờ, từng ngày...


Theo khái niệm về "khủng hoảng", thì nền kinh tế của một quốc gia có tốc độ tăng trưởng âm trong 3 tháng liền thì nền kinh tế của quốc gia đó được gọi và đánh giá trước tiên là "suy thoái". Sau suy thoái, nếu nền kinh tế quốc gia đó tiếp tục không tăng trưởng, hay tăng trưởng âm tiếp theo nhiều tháng sau suy thoái với những dấu hiệu xấu, đi xuống từ tài chính, lạm phát, nhập siêu, sản xuất, tiêu dùng... và dẫn đến những tình huống xấu hơn, thì nền kinh tế quốc gia đó bước vào và được gọi khủng hoảng.
Trường hợp Việt Nam thì khủng hoảng kinh tế có thể khác hơn khái niệm và tiêu chí đánh giá khủng hoảng kinh tế như nói trên.
Việt Nam sự thật chưa phải là nền kinh tế thị trường thực sự như CSVN rêu rao và mọi người vẫn nhầm tưởng như vừa qua.
Nguyên do đường lối kinh tế Việt Nam là đường lối kinh tế kiểu cộng sản, một kiểu kinh tế thị trường XHCN nửa vời, mang nặng màu sắc cộng sản độc tài kinh tế, độc đoán kinh doanh, điều hành kinh tế theo kiểu đảng trị, vì mục đích cục bộ quyền lợi theo kiểu cộng sản, thiếu dân chủ, bưng bít thông tin sự thật về kinh tế.
Cho nên khi nền kinh tế quốc gia gặp khó khăn và "xuống dốc" sẽ xuống rất nhanh, mà không có gì để phanh hãm hay kềm giữ được, giai đoạn suy thoái có thể bỏ qua để kinh tế lao thẳng vào khủng hoảng do các tố thành nội tại của nền kinh tế đã tiềm ẩn từ lâu.
Cộng sản Việt Nam đã có chủ trương tịch thu tài sản, hay nói theo ngôn từ hoa mỹ là "Trưng thu, trưng mua tài sản của mọi tổ chức và cá nhân trong ngoài nước có trên lãnh thổ Việt Nam" khi có khủng hoảng xảy ra.
Ngay từ bài viết đầu tiên của loạt bài này, tác giả đã đưa ra nhận định khá chính xác về nguy cơ và nguyên nhân sâu xa dẫn đến khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam.
Do có quan hệ mật thiết và hữu cơ giữa kinh tế và chính trị trong xã hội, đặc biệt là ở thể chế cộng sản nên một khi có khủng hoảng kinh tế ắt sẽ kéo theo khủng hoảng chính trị.
Những cuộc khủng hoảng ở các thể chế chính trị dân chủ khi có xảy ra khủng hoảng kinh tế hay chính trị chỉ đơn thuần dẫn đến sự thay đổi đảng chính trị cầm quyền này sang đảng chính trị khác, và chính sách kinh tế được thay đổi nhanh chóng cho phù hợp để đất nước vượt qua khủng hoảng dưới sự lựa chọn và quyết định của người dân, thông qua lá phiếu dân chủ.
Còn ở Việt Nam và chính thể cộng sản cầm quyền, khi khủng hoảng kinh tế xảy ra sẽ kéo theo khủng hoảng chính trị, lúc đó mọi điều xấu nhất và hoảng loạn đều có thể xảy ra?
Lý do trước tiên là mất lòng tin. Khủng hoảng lòng tin và sự hoảng sợ của quần chúng.
Điều này dưới chính thể cộng sản Việt nam đã tìm ẩn và chất chứa tự bao giờ rồi. Chính điều này sẽ dẫn đến :
Một là thay đổi thể chế chính trị: Đây là thời cơ tốt nhất để chuyển hóa dân chủ cho đất nước Việt Nam, thay đổi thể chế chính trị cộng sản độc tài và thay đổi đường lối kinh tế thị trường dân chủ thực sự cho đất nước. Những điều kiện cần và đủ để thực hiện việc thay đổi chính trị này trong trường hợp này ở Việt Nam sẽ ra sao? (Chi tiết nội dung này sẽ được đề cập trong các bài tiếp theo).
Hai là để bảo vệ đảng cộng sản độc tài và chính phủ phi pháp do cộng sản Việt Nam lập nên hiện nay, hay nói cách khác là bảo vệ chính thể cộng sản, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam sẽ đưa nhân dân và tổ quốc Việt Nam vào một cuộc tỷ thí kinh tế chính trị tiếp theo hoặc khác nữa, sau cuộc thí nghiệm đầy nước mắt về kinh tế thị trường có định hướng XHCN sai lầm lần này mà cả dân tộc VN phải gánh chịu, trừ những tên cộng sản tham nhũng được hưởng lợi lớn lao.
Thông tin tối mật, mới nhất và độc ác nhất:
Mới đây nhất để bảo vệ đảng và chính thể cộng sản VN trước nguy cơ khủng hoảng kinh tế và chính trị. Bộ chính trị Đảng cộng sản Việt Nam đã họp bí mật tại Hà Nội vào một đêm cuối tháng 5.2008, trước khi Nông Đức Mạnh đi Trung Quốc và Nguyễn Minh Triết đi Châu Âu, để thảo luận và thông qua chủ trương "Trưng thu, hay trưng mua tài sản của mọi tổ chức và cá nhân".
Việc trưng thu hay trưng mua tài sản của người dân hay doanh nghiệp lần này được giao quyền cho đến cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã thực hiện .
Thực chất, đây sẽ là một kế hoạch cướp bóc có tổ chức qui mô lớn bằng bàn tay đỏ sắt máu của CS trong thế kỷ XXI".
Mới nhất, kỹ lưỡng và nguy hiển lẫn tàn bạo nhất so với những kế hoạch tương tự mà CSVN đã từng có rất nhiều kinh nghiệm và đã làm sau 1945, 1954 và 1975 cho dân tộc Việt Nam và ngoại kiều ở VN lúc đó.
Mục đích chính đáng được ngụy biện đưa ra sẽ là để bảo vệ an ninh quốc gia, khi có khủng hoảng xảy ra. Thực chất hành động cướp bóc này là để bảo vệ thành quả cách mạng của đảng, để bảo vệ đảng CS và chính thể phi pháp CSVN hiện nay trước cơn khủng hoảng đang xảy ra.
Đây là một quyết định quan trọng và được yêu cầu giữ bí mật tuyệt đối do Trương Tấn Sang, Ủy viên bộ Chính trị, Thường trực ban bí thư trung ương đảng Cộng sản Việt Nam đề nghị và được bộ tứ là Nông Đức Mạnh lẫn Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng bảo trợ tán thành hết mình. Trừ Phạm Gia Khiêm Bộ trưởng Ngoại giao còn chần chừ do lo ngại các quan hệ quốc tế WTO.... Quyết định quỷ quái hay còn gọi là quyết định Ngũ quỷ, do (5 người) quỷ quái chóp bu của CSVN hiện nay quyết định thông qua.
Một quyết định mang tính chất phi pháp, đậm màu sắc của kẻ cướp bóc, theo kiểu độc tài cộng sản và được giữ tối mật, đã được CSVN trù tính và quyết định xong vào cuối tháng 5 vừa qua.
Trước đó, vấn đề này CSVN cũng đã dọn đường pháp lý để chuẩn bị cho hành động phi pháp của mình bằng một Dự thảo luật đã được chỉ thị cho một Viện Nghiên cứu Pháp luật của Quốc hội và một Viện nghiên cứu tư pháp của Bộ Tư pháp chuẩn bị Dự thảo thành luật và dự định trình ra Quốc hội trong đợt này, nhưng tình hình chưa cho phép, nên CSVN đành cho hoãn lại.
Khi thông qua quyết định này, Bộ chính trị đảng CSVN đã tính đến khả năng thực hiện bí mật theo các qui định lãnh đạo điều hành đất nước của Đảng CS mà không cần có một Luật do Quốc hội thông qua.
Bất kể Luật Pháp quốc tế, Công ước quốc tế, Hiệp định đã ký kết với các nước, với WTO, Hiến Pháp 1992 vốn là Hiến Pháp phi pháp của Việt Nam và các Luật pháp XHCN khác trong nước do CSVN nặn ra trước nay
Nhưng dù không cần, không có luật, thì đảng Cộng sản và chính phủ cộng sản vốn phi pháp của Việt nam cũng có thể thực hiện bằng một nghị quyết của Bộ chính trị có thể ban hành và cộng bố trên toàn bộ hệ thống thông tin của mình vào cuối buổi chiều và được thực hiện ngay trong đêm? Một quyết định mà Chính phủ phi pháp và quốc hội bù nhìn của CSVN phải chấp hành theo đúng cơ chế chính trị ở VN tất cả đều do đảng CS lãnh đạo.
Chúng ta cũng nên nhớ, với ưu thế độc tài, độc đảng, độc ác, CSVN hoàn toàn có thể làm bất cứ điều gì, dù phi pháp, phi nhân, phi nghĩa, như họ đã từng làm trong suốt lịch sử tồn tại của đảng CSVN vừa qua. Mục đích chỉ để họ (CSVN) được tồn tại, mà bất chấp tất cả.
Cứu kinh tế sụp đổ cứu dân tộc hay cứu đảng CS : Bộ chính trị đảng CSVN quyết định chỉ cứu đảng CS mà thôi, và sẵn sàng đưa đất nước và dân tộc vào thời kỳ lầm than mới dưới gót giầy và họng súng và nhà tù của cộng sản Việt Nam.
Họ chấp nhận quay lại bản chất cộng sản, không như mọi người nghĩ là họ đã từ bỏ khi hội nhập quốc tế và chấp nhận cuộc chơi , khi tha thiết vào WTO và tha thiết xin được hưởng Quy chế PNTR của Hoa Kỳ
Không nên tin vào những gì cộng sản nói
Điều này đa số người dân Việt Nam biết, nhất là những người có hiểu biết về suốt qúa trình hình thành đảng cộng sản và chiếm quyền lãnh đạo đất nước của cộng sản Việt Nam từ 1945 đến 1954 ở miền bắc và 1975 ở miền nam và sau đó là cả nước.
Bản chất cộng sản muôn đời là lừa bịp nhân dân, mỵ dân chủ. CSVN đã từng lừa bịp và mỵ dân cả trong chính trị và kinh tế, như họ (CSVN) đã từng làm qua nhiều giai đoạn trong suốt quá khứ đến hiện nay. Và ngày nay vẽ ra đường lối kinh tế thị trường XHCN bản chất là kinh tế cộng sản thì thủ đoạn mỵ dân của CSVN tiếp tục mang ra để lừa bịp nhân dân và cả thế giới. Thực chất đó là nền kinh tế cộng sản, và nay qua thực tế đã lộ rõ bản chất đó là nền khi tế phi thị trường, phi dân chủ.
Những thông tin chính thức của chính phủ CSVN đưa ra cho công luận và được hơn 600 tờ báo các loại "là những cái lưỡi không xương" của CSVN chuyên tuyên truyền nói theo lãnh đạo CSVN. Và chỉ được tuyên truyền theo kiểu "nói láo" để gọi là đánh bóng chế độ CS.
Nói láo là nói chuyện không có, hay không đúng với sự thật. Nói láo trong chính trị có thể còn được, như CSVN đã từng thành công , nhưng nói láo trong kinh tế thì hậu quả là "nhãn tiền".
Nói láo: Trong khi cuối tháng 5.2008 CSVN đã nói láo khi đưa ra chỉ số lạm phát là 25,2% của tháng 5 so cùng kỳ năm trước. Con số này đã bị lãnh đạo CSVN "duyệt" và cắt bỏ để hạ xuống rất thấp, những mong trấn an và lừa bịp, mỵ dân cũng như thế giới, nhưng không qua được mắt của các chuyên gia kinh tế nước ngoài.
Ví dụ như ngài Martin Rama là chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng thế giới tại Việt Nam mới đây đã xác nhận lại khi trả lời báo chí bên thềm Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ và đầu tư vàoViệt Nam tại Hà Nội ngày hôm qua 02.06.2008, đã cho biết chỉ riêng gạo là mặt hàng chiến lược quan trọng hàng đầu cho người dân Việt Nam chỉ trong tháng 5 và mấy tháng đầu năm nay đã tăng hơn 80%. Và các mặt hàng khác theo đánh giá và thông tin lẽ tẻ trên các báo của CSVN đưa tin gần đây thì đã tăng ít nhất 40% đến 200%.
Chỉ số lòng tin và tín nhiệm vào chính phủ và kinh tế ở Việt Nam theo một tổ chức nước ngoài khảo sát mới đây cũng đưa ra con số mới nhất trong tuần qua từ 74% cuối năm 2007 đến cuối tháng 5.2008 xuống chỉ còn 37%.
Chúng ta cũng không quên, CSVN miệng luôn nói vì dân, nhưng đứng trước tình trạng giá cả sinh hoạt leo thang hàng ngày làm cho đời sống công nhân, nông dân, hay nói chung đa số người dân đang lâm vào cảnh cùng cực.
Đặc biệt là công nhân viên chức nhà nước cấp thấp cũng cùng chung tình trạng, nhưng chính phủ CSVN đại diện là Bộ trưởng Bộ lao động thương binh và xã hội Nguyễn thị Kim Ngân đã hiển nhiên trả lời trước diễn đàn quốc hội CSVN ngày 31.05.2008 khi có nhiều đại biểu chất vấn về vấn đề nâng lương cho khu vực hưởng lương nhà nước để bù đắp cuộc sống khó khăn do giá cả leo thang thì được Bộ trưởng này trả lời theo toàn văn : "Tôi chưa có suy nghĩ để đẩy nhanh lộ trình (tăng lương NV) ngay trong năm nay", bà Ngân nói.
"Sống chết mặc bây, tiền thầy bỏ túi" đó là câu nói dân gian Viêt Nam có từ lâu đời để chỉ phường người ăn trên ngồi trước, vong ân bội nghĩa, nay lại hoàn toàn đúng đối với hàng ngũ lãnh đạo CSVN hiện nay trước tình hình giá cả leo thang và đời sống người dân và viên chức cấp thấp đang lâm vào cảnh bần cùng.
Đến nay số hộ dân thiếu đói do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế đã tăng lên gấp đôi cùng kỳ năm trước và đang tăng nhanh hàng ngày, theo nhìn nhận của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng chính phủ CSVN Nguyễn Xuân Phúc. Đến 58 huyện trong cả nước có tỷ lệ người dân đói nghèo trên 50%, theo báo cáo của Chính phủ CSVN trong tháng 6.2008.
Những cuộc bãi công chính đáng của công nhân khắp nơi trong cả nước gần đây để đòi quyền lợi với giới chủ nhằm đòi thêm lương bổng để bớt đói khổ, thì được chính phủ cho phép lực lượng công an, kết hợp bảo vệ và câu kết với lưu manh côn đồ bên ngoài đàn áp đánh đập dã man và bắt bớ bỏ tù nhiều công nhân. Với mục đích để giữ vững ổn định kinh tế chính trị?
Lừa bịp quốc tế và mỵ dân về dân chủ song song với kinh tế
Thứ trưởng Bộ công an CSVN Nguyễn văn Hưởng trong cuộc làm việc và đối thoại về nhân quyền với Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ David Kramer trong ngày 30.05.2008 tại Việt Nam vừa qua đã "dạy" cho Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ về luật pháp kiểu CSVN, khi ông Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ hỏi về những trường hợp công dân VN bị bắt bớ giam cầm. Cụ thể như hai nhà báo chống tham nhũng Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải của hai tờ báo Thanh Niên và Tuổi Trẻ, cũng như trường hợp của Luật sư Nguyễn Văn Đài, Luật sư Lê Thị Công Nhân hay Luật sư Bùi Kim Thành. Ông Hưởng, Thứ trưởng công an CSVN bảo rằng : "Quan điển chung của các nhà lãnh đạo đảng cộng sản rằng Việt Nam là một đất nước có chủ quyền và có luật pháp, và việc bắt giữ bỏ tù công dân đều theo pháp luật", (toàn văn BBC http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam ... ogue.shtml)
Việc bắt giữ phi pháp và gán ghép tội lệ cho những tù nhân nói trên thì mọi người và công luận đã rõ. Sự thật đó là những hành động chụp mũ, mà công an cộng sản VN đã quen làm, để đàn áp những tiếng nói dân chủ xây dựng đất nước. Một thứ dân chủ thực sự mà cộng sản VN không bao giờ chấp nhận, cũng như một nền kinh tế thị trường thực sự, hay kinh tế dân chủ thực sự thì cộng sản Viêt Nam đã, đang và sẽ không bao giờ chấp nhận theo "lý luận cùn", theo thứ triết lý bịp bợm của họ?
Việt Nam thực sự có chủ quyền không qua vụ việc Hoàng Sa Trường Sa với Trung Quốc mới đây? Mọi người cũng đã biết rõ rồi.
Luật pháp XHCN của Việt Nam theo ông Thứ trưởng bộ Công an CSVN Nguyễn văn Hưởng nói với Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ ngày 30.05.2008 là thứ "luật pháp cộng sản", một loại luật pháp "phi dân chủ".
Với thứ "luật pháp cộng sản" này, CSVN và cả hệ thống chính trị ở VN hiện nay đã thừa nhận là mục đích và bản chất của nó là để bảo vệ đảng và chế độ phi pháp do đảng CSVN nặn ra, hay thường gọi là "Luật pháp XHCN". Luật pháp này không nằm trong các khái niệm về luật pháp của thế giới cho các quốc gia và dân tộc hiện đang có mặt trên thế giới hiện nay, mà chỉ nhằm mục đích bảo vệ cho một nhón nhỏ theo cộng sản trong nước và không phải luật pháp để bảo vệ tổ quốc, bảo vệ công dân.
Thực chất luật pháp XHCN hiện nay ở VN là một thứ luật pháp "phi pháp", được sản sinh ra chỉ để bảo vệ cộng sản, hay nói đơn giản là "luật rừng xanh". Không phải là luật pháp của một quốc gia hay của một dân tộc có độc lập chủ quyền và tự do dân chủ thực sự.
Luật pháp thông thường phải đại diện cho quyền lợi quốc gia dân tộc, cho ý chí nguyện vọng và lợi ích của toàn dân. Nhưng luật pháp gọi là XHCN của CSVN này do bản chất và mục đích của nó chỉ phục vụ cho hơn 3 triệu đảng viên CSVN, thì không thể nào đại diện cho Tổ quốc và Dân tộc Việt Nam được.
Vậy mà thứ luật rừng này đã được lãnh đạo CSVN đưa ra rêu rao khắp nơi, hết lừa bịp mỵ dân VN, nhân dân và lãnh đạo nhiều nước, tuần qua lại được lãnh đạo Bộ công an Việt Nam đưa ra "giảng giải" cho Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ, trước mặt Đại sứ Mỹ tại Việt Nam là Michael Michalak.
Đúng là cộng sản. Trước sau, trên dưới, trong ngoải thì bản chất vẫn là cộng sản, là bịp bợp, khoát lác, bất kể lẽ phải, sự thật.
Tin ai và nên làm gì lúc này?
Lòng tin là một thứ vô hình, nhưng quan trọng và cần thiết trong cuộc sống.
Chỉ lòng tin. Tôi không nói đến đức tin, vì đức tin trong tôn giáo là điều tốt đẹp.
Lòng tin phài có cơ sở và điều kiện cần thiết để hình thành.
Càng hiểu biết sâu về cộng sản thì lòng tin chẳng những không còn, mà thay vào đó là lòng oán hận. Oán hận ít nhất do đã bị cộng sản lừa bịp...
Oán hận là một thứ để phán ảnh lòng tin bị phản bội, và là sự trừng trị lòng tin khi bị kẻ khác lợi dụng hay ăn cắp mất.
Với CSVN, thì lòng tin vào CS có lẽ nhiều người không lạ, mà phần trên của bài viết này cũng chỉ bổ sung thêm một phần nhỏ.
Trước bản chất và hành động độc tài gian xảo trong suốt thời gian dài vừa qua cho đến mới ngày hôm qua đây, có lẽ lòng tin dành cho CS sẽ tùy mọi người nhận thức và quyết định.
Nhưng với kinh tế và quyền lợi thiết thân của mình, cũng như dân gian nói " đồng tiền đi liền khúc ruột", thì mong rằng có dịp mọi người dân Việt Nam, cả những nhà đầu tư và công dân nước ngoài có quan hệ kinh tế làm ăn tại Việt Nam có dịp suy nghĩ.
Tác giả bài viết này không có ý định kêu gọi mọi người tin ai, tin nguồn thông tin cụ thể nào cả. Vì mọi người có thể tự tìm cho mình những thông tin khả tín trong thời đại thông tin bùng nổ ngày nay.
Hiện nay, đứng trước khủng hoảng. Điều qua trọng chúng tôi muốn nói là mọi người không nên nghe theo những thông tin một chiều, bị bưng bít, cường điệu do cộng sản VN đưa ra, thông qua bộ máy thông tin của họ.
Về việc nên làm gì trước khủng hoảng kinh tế Việt Nam:
Chúng tôi chỉ xin được phép nhắc nhở mọi người rằng : hãy tự tỉnh táo để bảo vệ quyền lợi và tài sản của mình trước cơn khủng hoảng kinh tế này.
Việc bảo vệ này không đi đôi với những gì mà chính phủ CSVN đưa ra kêu gọi mọi người hưởng ứng, vì đó chỉ là những sự lừa bịp, qua mặt mọi người tiếp theo, những mong cứu giúp cho CSVN kéo dài thêm sự sụp đổ về kinh tế và chính trị, để tiếp tục thực hiện các tội ác với tổ quốc và nhân dân VN, mà chắc chắn sẽ không bao giờ giải quyết được cái gốc vấn đề là giải quyết khủng hoảng kinh tế được trong lúc này.
Những việc quý vị có thể tự làm để bảo vệ quyền lợi của mình, và làm nhanh không chần chừ, nhỡ lỡ cơ hội và thiệt hại cho quyền lợi của bản thân. Đó là :
1. Nên rút hết tiền đã gởi ra khỏi các ngân hàng của Việt Nam ngay :
Mọi người hãy rút toàn bộ những khoản tiền để dành, tích lũy hay kinh doanh ra khỏi các ngân hàng của Việt Nam, nếu không muốn bị CSVN lấy đi hết trong những ngày sắp tới. CSVN sẽ lấy tiền của mọi người bằng cách gì? Đơn giản họ chỉ cho phá giá VND và đổ thừa cho lạm phát, thì giá trị thực của đồng tiền và tài sản của quý vị sẽ giảm đi, hay mất đi tức thì chỉ trong 1, 2 ngày nhanh chóng. Có thể mất là 50, 70 hay 90% giá trị tài sản chỉ qua một đêm, hay chỉ trong một vài ngày.
Chẳng hạn như : chỉ sau 3 tháng thì giá trị tài sản của những người đầu tư chứng khoán ở Việt Nam đã mất đi 70% và còn tiếp tực mất đi nữa. Do thị trường chứng khoán VN bị sụp đổ. Hay tài sản của những người đầu tư vào bất động sản ở Việt Nam, chỉ sau 3 tháng qua cũng đã bị mất từ 60 đến 80% tùy trường hợp. Do 2 thị trường này sụp đổ hoàn toàn mới đây. Điều này sẽ kéo theo Thị trường tài chính ngân hàng ở VN cũng sẽ sụp đỗ trong nay mai. Đó chính là sự thật và lời khuyên cho quý vị ở phần này.
2. Nên mua ngay vàng hoặc ngoại tệ có giá và chuyển sang gởi các ngân hàng nước ngoài để giữ tài sản : Để bảo đảm giá trị tài sản của mình, khi rút hết tiền ở các ngân hàng Việt Nam ra quý vị nên mua lại vàng, hay các loại ngoại tệ có giá khác để giữ, và gởi vào các ngân hàng nước ngoài.
3. Tuyệt đối không tham gia vào thị trường chứng khoán Việt Nam : Không mua công trái phiếu, cổ phiếu, chứng khoán, hay tham gia vào canh bạc là Thị trường chứng khoán của Việt Nam vì nó đã đang đổ vỡ thực sự và còn tiếp tục bị chôn vùi sâu hơn, không còn mấy cơ hội gượng dậy nữa.
4. Không gởi tiền, vàng (cả ngoại tệ) vào các ngân hàng Việt Nam nếu vì tham lãi suất cao :
Đây là chiêu dụ lãi suất cao của hệ thống ngân hàng Việt Nam để lừa mọi người đưa tiền hay tài sản vào để ngân hàng được thoi thóp sống, trong khi đồng tiền VN mất giá nhanh và quý vị sẽ không lấy ra được khi diễn biến kinh tế xấu hơn, lúc đó VND mất giá, quý vị sẽ bị thiệt, thậm chí trắng tay. Như đã đề cập ở phần 1 trên đây.
Chưa kể khả năng nhà nước CSVN sẽ truy tìm và tịch thu hay gọi với từ ngữ hoa mỹ hơn là "trưng thu hay trưng mua" các tài sản của quý vị phục vụ cho lợi ích .. quốc gia trá hình của CS mà chính phủ CSVN có thể biết và kiểm soát được.
Do cần phân tích sâu và cập nhật tình khủng hoảng kinh tế của Việt Nam cho bạn đọc trong nước nên các nội dung về khủng hoảng chính trị Việt Nam xin được tiếp tục trong các bài viết tiếp theo của loạt bài này.

TS. Trần Minh Hoàng
Sài gòn, ngày 03.06.2008
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

Tổ Chức Hội Thảo “Bài Toán Trung Quốc Đối Với Việt Nam”,
"Ông Hòa Hợp Hòa Giải" Nguyễn Gia Kiểng
Gây Sóng Gió tại vùng Hoa Thịnh Đốn


Chính Tâm
Ngày Thứ Bảy 12.7.2008 vừa qua, Nhóm “Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên” (tên mới của Thông Luận) đã tổ chức một cuộc hội thảo tại Virginia với chủ đề “ Bài toán Trung Quốc đối với Việt Nam”.
Image
Ông Nguyễn Gia Kiểng.
Cuộc hội thảo đã diễn ra tại một phòng sinh hoạt của Mason District Governmental Center ở Annandale từ 3 giờ tới hơn 6 giờ chiều mà diễn giả chính là Kỹ sư Nguyễn Gia Kiểng, thủ lãnh của “Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên” (THDCĐN) từ Pháp sang. Hai người khác là Ông Nguyễn Văn Hiệp, Chủ tịch Phân bộ Bắc Mỹ THDCĐN và Ông Nguyễn Thanh Lương, Chủ tịch Phân bộ Đức THDCĐN. Người điều hợp chương trình là Ông Nguyễn Gia Dương, thành viên ban lãnh đạo THDCĐN, cũng từ Pháp sang.

Số người tới tham dự khoảng 50, trong đó có những khuôn mặt quen thuộc trong giới chính trị và văn hóa Vùng Hoa Thịnh Đốn, như Cụ Phan Vỹ, Ông Đoàn Hữu Định, Ông Nguyễn Cao Quyền, Ông Nguyễn Văn Tần, Ông Đại Dương, Ông Nguyễn Ngọc Bích, Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Bà Jackie Bông, Bà Ngô Thị Hiền, Bác sĩ Lê Văn Trực, Ông Lê Doãn Kim, Ông Sơn Tùng, Ông Nguyễn Tấn Phước, Ông Đào Hiếu Thảo, Ông Nguyễn Quốc Khải, Ông Đoàn Viết Hoạt vv. Ngoài ra, còn có vài người từ xa tới như Kỹ sư Hoàng Cơ Định, Ông Nguyễn Chính Kết...

Cuộc hội thảo đã nổi sóng ngay từ phút đầu khi Ông Đoàn Hữu Định, nhân danh Cộng Đồng và Liên Hội Cựu Chiến Sĩ Vùng Hoa Thịnh Đốn, đứng lên hỏi ban tổ chức tại sao không có quốc kỳ VNCH và không làm lễ chào cờ, và ông cho biết sẽ ra khỏi phòng họp, không tham dự. Cùng ra khỏi phòng hội thảo để phản đối còn có Ông Nguyễn Văn Tần, Cộng Đồng VN Hoa Kỳ, Ông Đào Hiếu Thảo, Ông Nguyễn Gia Hân, Bà Thu Ân, Bà Lê Văn Trực...

Bầu không khí trong phòng trở nên căng thẳng khi có thêm người chất vấn và đả kích ông Nguyễn Gia Kiểng. Ông Nguyễn Gia Kiểng lên bục diễn giả giải thích lý do không có cờ vàng ba sọc đỏ và không chào cờ vì đây là một cuộc hội thảo, không phải là một buổi lễ. Lý do thứ hai là vì chủ trương của nhóm THDCĐN là hòa hợp hòa giải dân tộc, trong tổ chức của ông có những người xuất thân từ các quá khứ chính trị khác nhau, nên nếu tôn vinh lá cờ vàng ba sọc đỏ sợ sẽ gây khó xử cho những người khác, như Ông Nguyễn Thanh Lương, một người gốc miền Bắc trước đây sang Đông Đức du học.

Tuy nhiên, lời giải thích của Ông Nguyễn Gia Kiểng (NGK) không được nhiều người chấp nhận và vẫn lên tiếng chất vấn. Có người đã đem theo cuốn “Tổ Quốc Ăn Năn” mà tác giả là NGK để đả kích ông ta. Ông Kiểng nói rằng việc ấy không nằm trong chủ đề của cuộc hội thảo và yêu cầu ai có ý kiến gì xin để tới phần thảo luận.

Nhưng ông Kiểng đã lại bị đả kích ngay khi vừa mở đầu bài thuyết trình bằng cách nói về vài đoàn viên của THDCĐN ở VN đã bị công an và “bọn đầu gấu” tấn công, đánh đập công khai, và ông ta báo động chế độ hiện nay đã biến thành một chế độ côn đồ, tàn bạo. Bác sĩ Lê Văn Trực đã đứng lên ngắt lời diễn giả, lớn tiếng nói rằng ông Kiểng quá “chậm” vì bây giờ ông mới biết và “báo động” về sự côn đồ và tàn bạo của cộng sản trong khi mọi người Việt Nam đã biết từ lâu chúng là một bọn sát nhân, đã giết hàng triệu người vô tội.

Ông Kiểng lại xin để tới phần thảo luận và tiếp tục bài thuyết trình về việc các vùng biên giới phía bắc và hai đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam bị Trung quốc lấn chiếm trong một sách lược nham hiểm và lâu dài mà vì “chúng ta” quá yếu và khờ khạo nên không giữ được sự vẹn toàn lãnh thổ. Vấn đề bây giờ là phải làm sao để đừng để mất thêm đất và lấy lại các phần đất đã bị mất.

Sau ông Kiểng, Ông Nguyễn Thanh Lương thuyết trình về sự phát triển nhanh chóng và chính sách bành trướng của Trung Quốc.

Tới phần thảo luận và đặt câu hỏi, BS Trực đã lớn tiếng đả kích chủ trương hòa hợp hòa giải của Nhóm “Thông luận” mà ông nói rằng trước kia thì nịnh Việt cộng, bây giờ lại nói chống cộng sau khi Liên Sô và Khối cộng sản Đông Âu sụp đổ. Ông Trực nói rằng trong một cuộc hội thảo vào đầu thập niên 90 tại Vùng Hoa Thịnh Đốn, ông Kiểng đã nói Việt Cộng có chính nghĩa. Ông Kiểng chối, trả lời rằng ông ta không có nói như vậy, có lẽ ông Trực nghe lầm. Nhưng BS. Trực khẳng định ông không nghe lầm, trái lại, ông đã có mặt trong cuộc hội thảo ấy và đã hỏi ông Kiểng vì sao VC có chính nghĩa thì ông Kiểng trả lời “vì có nhiều người chết cho họ”.

Cuộc thảo luận và đặt câu hỏi biến thành cuộc tranh luận gay gắt, và ông Kiểng có vẻ đuối lý. BS Trực nói rằng chủ đề của cuộc hội thảo nhằm vào “bài toán Trung quốc” là vô ích vì từ mấy ngàn năm nay, Trung Hoa vẫn chủ trương bành trướng xuống phía Nam, đánh chiếm Việt Nam nhiều lần vì nước ta có những hạng người phản quốc, làm tay sai cho Tàu như Trần Ích Tắc, Trần Di Ái, Lương Nhữ Hốt, Trần Phương, Lê Chiêu Thống..., bây giờ tới Hồ Chí Minh tôn thờ cộng sản và Mao Trạch Đông, dâng đất dâng biển cho quan thầy Trung Cộng để được nắm quyền. Đó là tội lỗi của Hồ Chí Minh và bọn Việt Cộng, và đó mới chính là đề tài cần phải thảo luận. Ông Trực đã gọi Hồ Chí Minh là “thằng”, điều hợp viên yêu cầu ông Trực không nên gọi HCM là thằng vì nên tôn trọng nhân phẩm người khác, nhưng ông Trực càng lớn tiếng hơn và khẳng định ông vẫn gọi HCM là thằng vì những tội ác mà hắn đã gây ra cho dân tộc VN.

Tiếp lời BS Trực, Nhà văn Sơn Tùng nói rằng Nhóm THDCĐN từ xa tới đây mở cuộc hội thảo nên lắng nghe quan điểm của người khác và ông đã nhấn mạnh tới mấy điểm chính, như chủ trương “hòa hợp hòa giải dân tộc” của Thông Luận trước kia và THDCĐN hiện nay và trách nhiệm của nhà cầm quyền CSVN trong việc bảo vệ lãnh thổ. Ông nói rằng kêu gọi hòa hợp hòa giải dân tộc là không hợp lý và không thực tế trong khi cộng sản, nguồn gốc của hận thù và chia rẽ, vẫn còn nắm quyền. Đánh đổ chế độ cộng sản thì tự nhiên chia rẽ và hận thù sẽ tan biến, không cần kêu gọi hòa giải hòa hợp. Nhiều người vỗ tay tán đồng. Ông Sơn Tùng cũng nói rằng nhà cầm quyền CSVN có trách nhiệm bảo vệ lãnh thổ, chống lại xâm lăng, nhưng đã chứng tỏ bất lực và sợ hãi đàn anh Trung Cộng. Ông đồng ý với BS Lê Văn Trực rằng đó mới chính là đề tài cần phải thảo luận.

Có thêm vài người đặt câu hỏi và phát biểu ý kiến trước khi cuộc hội thảo chấm dứt như một thất bại hoàn toàn cho Nhóm THDCĐN và cá nhân Ông Nguyên Gia Kiểng. Chủ trương và đường lối chính trị của Ông Kiểng không được nhiều người chia sẻ, và mỗi khi xuất hiện ở đâu thì chỉ tạo thêm chia rẽ, hiềm khích, thay vì “hòa hợp hòa giải” như chiêu bài được đưa ra.

Chính Tâm
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã
Tác giả: Hoàng Ngọc Nguyên


Những tưởng Rhodesia đã được độc lập từ năm 1980, nay được thế giới biết dưới tên Zimbabwe, sẽ không còn mấy cơ hội thu hút sự chú ý của dư luận thế giới. Nhưng từ một chế độ thực dân thuộc địa, đất nước này đã chuyển qua một nền độc tài còn hà khắc hơn thời Ian Smith còn làm toàn quyền, và vững chắc còn hơn chế độ độc tài quân phiệt ở Myanmar. Sự tàn sát đảng phái đối lập và khai thác người dân ở Zimbabwe đã khiến cho Hội đồng Bảo An (HĐBA) của Liên Hiệp Quốc tuần qua phải bỏ phiếu để thông qua một kế hoạch trừng phạt chế độ ở Harare. Với tính cách là nước chủ tịch luân phiên của HĐBA, lần đầu tiên Việt Nam có vinh dự không những có mặt trong những lá phiếu quan trọng đó, mà cũng là lần đầu tiên Việt Nam có cơ hội chứng tỏ sự phát triển và trưởng thành chính trị, sự cam kết với những giá trị dân chủ, tự do của mình. Trong 15 phiếu đươc ghi nhận vào hôm thứ Sáu, 11-7, Việt Nam đứng chung nhóm với Nam Phi, Lybia, Trung Quốc, và Liên bang Nga.

Image
Hình trái, Tổng Thống Zimbabwe Robert Mugabe. Hình phải, những người dân bị đàn áp trước tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Harare, Zimbabwe.AFP/Getty Images

Vụ án Zimbabwe
Tổng thống Robert Mugabe, năm nay 84 tuổi, đã là thủ tướng, rồi tổng thống Zimbabwe, kể từ khi kết thúc cuộc chiến tranh trong bụi (the bush war) chống nhà cầm quyền thực dân ở Salisbury. Hai mươi tám năm là thời gian khá dài cho một người “may mắn” được làm lãnh tụ trọn đời như ông ta làm nên sự nghiệp lớn cho dân giàu nước mạnh. Nhưng ở ông, người ta chỉ nhớ đến ba chuyện. Thứ nhất, nhất quyết làm tổng thống trọn đời, cho dù đối lập có chống đối như thế nào; thứ nhì, ông tiêu diệt đối lập thẳng tay, mà người đầu tiên nạn nhân của ông chính là người đồng chí trung kiên trong cuộc chiến tranh giải phóng: lãnh tụ N’komo, và; thứ ba, ông duy trì quyền lực bằng một chính sách khủng bố tàn bạo đối với người dân – nghĩa là không chỉ đối với các chính khách “tham vọng”. Với người đối lập, ông bắt cóc, ám sát, bỏ tù, tra tấn, thủ tiêu… Với quần chúng đối lập, ông thẳng tay tiêu diệt cả gia đình. Với những bộ lạc không cùng chủng tộc, sắc dân với ông, ông cũng áp dụng trở lại cuộc chiến tranh trong bụi với họ: đốt nhà, hãm hiếp, phá hoại mùa màng, bố ráp… Kinh tế lạc hậu, nghèo đói, bệnh tật, người dân phải tìm cách trốn qua nước Nam Phi láng giếng.


Vừa qua, Zimbabwe lại tổ chức bầu cử tổng thống. Một cuộc bầu cử cả thế giới quan tâm. Liên Hiệp Quốc gởi quan sát viên quốc tế đến. Báo chí trên thế giới cũng đổ về. Mặc dù bầu cử trong áp bức, gian lận, nhưng người dân vẫn tìm cách nói lên sự kinh tởm của họ đối với độc tài, toàn trị. Cho nên đảng đối lập đã giành được số phiếu cao nhất, dù chưa đủ túc số một nửa để chiến thắng trong cuộc bầu cử ngày 29-3. Ai cũng biết vì gian lận mà họ không thắng ngay được trong keo đầu. Trong hai tháng vận động cho vòng nhì giữa hai người nhiều phiếu nhất, Mugabe thẳng tay khủng bố phía đối lập. Người ta nói có đến hơn 200,000 người phải bỏ chạy. Có đến 5,000 người bị mất tích. Bị giết có đến 113 người. Cho nên ứng cử viên tổng thống Morgan Tsvangirai của Phong trào Chuyển biến Dân chủ (Movement for Democratic Change) quyết định không chơi nữa. Và Mugabe độc diễn trong vòng nhì ngày 29-6.


Hội đồng Bảo An vì thế quyết ra tay trừng phạt. Những nước ủng hộ việc trừng phạt là Bỉ, Burkina Faso, Costa Rica, Croatia, Pháp, Anh, Ý, Panama và Mỹ. Mỹ, Anh, Pháp là ba nước hội viên thường trực. Hai nước hội viên thường trực khác là Nga và Trung Quốc lại bỏ phiếu chống. Do đó, nghị quyết này không thông qua được vì không đạt được nguyên tắc nhất trí. Cách bỏ phiếu cũng giống như thời Chiến tranh lạnh. Một bên là các nước phương tây đồng minh. Bên kia là khối các nước Cộng Sản cũ.

Cơ hội ngoạn mục


Nam Phi chấm dứt chế độ kỳ thị chủng tộc apartheid năm 1994 một cách hòa bình, thông qua một cuộc bầu cử dân chủ đưa Nelson Mandela, người tù lâu năm của nước Anh, lên làm tổng thống đầu tiên. Nay Zimbabwe là một nước dân chủ, đang tìm cách hạn chế quyền lực kinh tế của người da trắng và thúc đẩy người da đen đi lên. Người Hoa ở Nam Phi nay cũng được xem là người da đen để được nâng đỡ! Quan hệ giữa Nam Phi với Zimbabwe là quan hệ tế nhị, không chỉ là láng giềng, mà chính phủ Johannesburg còn phải giải quyết vấn đề dân tỵ nạn của Zimbabwe lên đến hàng triệu người. Lá phiếu của họ chống việc trừng phạt Zimbabwe là lá phiếu hiểu được. Họ không muốn mất lòng những người ở Harare làm cho việc giải quyết những vấn đề “đôi bên cùng quan tâm” bị bế tắc. Lybia cũng bỏ phiếu chống lại việc trừng phạt. Đây cũng là điều dễ hiểu. Đại tá Kadaffi, người cầm quyền ở Tripoli từ năm 1969, đến nay đã ngót 40 năm, cũng rửa mãi mà không sạch những vết máu bám đậm trong các móng tay, còn thì giờ đâu mà xía vào chuyện người khác.


Chỉ còn trường hợp của ba nước còn lại trong danh sách năm nước bỏ phiếu chống trừng phạt. Việt Nam, Trung quốc, và Nga. Cuộc bỏ phiếu nay là một cơ hội ngoạn mục cho Hà Nội. Trong khi các nhà lãnh đạo Việt Nam đi Tây, đi Tàu nói đủ chuyện quảng cáo cho chế độ chính trị dân chủ kiểu mới của mình, có sức thuyết phục mạnh nhất vẫn là sự thể hiện bằng hành động. Tuy Việt Nam đã đổi mới kinh tế từ năm 1986, người ta không tìm ra được một mốc đổi mới chính trị – vì cái mốc đó chưa có. Giả thử như hôm thứ Sáu vừa qua, Việt Nam với tính cách chủ tịch của HĐBA bỏ phiếu lên án Zimbabwe, lá phiếu đó sẽ trở thành lịch sử trên nhiều mặt. Nó chính là cái mốc đổi mới chính trị. Báo chí quốc tế hẳn phải chạy những tít lớn “tám cột”. Thế giới nay phải nhìn Việt Nam với một cặp mắt ngưỡng mộ. Người ta phải nói “Việt Nam nay đã khác xưa”, như một ông ngớ ngẩn nào đó viết gần đây.

Nhưng điều ngoạn mục đó đã không xảy ra, mặc dù cơ hội để làm điều ngoạn mục không có bao nhiêu. Những người lãnh đạo ở Hà Nội chống sự trừng phạt tuy vẫn tiếp tục nói rằng công cuộc đổi mới của họ là toàn diện trên cả hai mặt chính trị và kinh tế, và tự do và dân chủ là những giá trị “mà Việt Nam đã đổ máu tranh đấu trong suốt quá trình cách mạng để giành lấy chúng”. Thời xưa người ta vẫn nói “ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh”, và Việt Nam sẵn sàng ủng hộ cuộc cách mạng đấu tranh của các dân tộc bị áp bức trên thế giới – dù là chỉ trên lời nói hô hào. Ngày nay thì người ta nói “đó là chuyện nội bộ của các nước”, Viêt Nam không can thiệp vào. Cho dù chỉ là một biểu lộ quan tâm.

Lá phiếu của Việt Nam cho thấy một điều bên trong và một điều bên ngoài. Hai điều này tổng hợp lại là sự xác định con đường đi của Việt Nam. Điều bên trong, Việt Nam sẽ không dám để có một cơ hội tạo sự hiểu lầm nào trong dân chúng về sự quyết tâm trong vấn đề duy trì sự lãnh đạo độc tôn của Đảng Cộng Sản Việt Nam và về sự “vững mạnh” của chế độ trong việc theo đuổi chủ trương đó. Họ không làm bất cứ điều gì có tính cách nguy hiểm, phiêu lưu. Sự cảnh cáo đó không chỉ nhằm vào dân chúng, báo chí, tôn giáo… mà còn có một phần nhằm vào ngay cả những người trong đảng muốn có “Mùa Xuân Saigon” như Mùa Xuân Prague cách đây đúng 40 năm.

Trục tư bản toàn trị

Tổng thống George Bush, và chẳng riêng gì ông mà còn nhiều người Mỹ, vẫn ngây thơ tin rằng Mỹ có khả năng dùng củ cà rốt để kéo Việt Nam vào quỹ đạo của mình, thoát khỏi vòng ảnh hưởng của Trung Quốc, và trở thành đồng minh của Mỹ trong chiến lược của Hoa Kỳ về vùng châu Á và Thái Bình Dương. Nhiều người tin rằng viên trợ, hợp tác về giáo dục, y tế, kinh tế… sẽ đủ sức làm một “diễn biến hòa bình” – khi người miền nam sẽ đủ sức ép Hà Nội chấp nhận thay đổi. Nhớ lại thời Minh Trị Thiên Hoàng, chỉ vài chiếc tàu chiến của Đô đốc Robert Perry cập bến Yokohama vào năm 1853 mà thay đổi được cả nước Nhật, cho nên Mỹ cũng cho tàu chiến vào Đà Nẵng cho người ta nhìn. Người Mỹ không hiểu thay đổi bây giờ khó hơn thời trước khi người ta còn bảo thủ. Vì ngày nay người ta thực dụng hơn. Thế giới toàn cầu hóa, Trung Quốc nay đã nắm được Đài Loan bằng cách mở cửa cho Đài Loan xâm nhập kinh tế, có những xu hướng làm sao Mỹ hiểu được – chưa nói đến kiểm soát được.

Trong thời chiến tranh lạnh, Liên Xô, Trung quốc và Viêt Nam có những gắn bó “đồng chí”. Nay thì người ta chuyển qua mô hình “tư bản toàn trị” (totalitairn capitalism), những trường hợp “thành công” này lại gắn bó với nhau “trong những mối quan hệ truyền thống hữu cơ có tính cách lịch sử” là chuyện đương nhiên. Để xây dựng một “ý thức hệ” mới, người ta cần vai sánh vai. Để có được những dẫn chứng thích hợp, người ta phải dựa lưng nhau. Để chống lại sức ép của những nước phương tây, người ta cần liên kết với nhau.

Những nhà lý thuyết tư bản toàn trị cho rằng đó là mô hình thỏa mãn khát vọng đổi đời của người dân hàng thập niên bị dìm sâu dưới vực thẳm nghèo đói lạc hậu của thời cộng sản mà vẫn giữ được sự ổn định chính trị. Sự ổn định này chính là sự duy trì cái “thượng tầng kiến trúc”, cái thiểu số đặc quyền đặc lợi của “chế độ cũ” gồm những giới tướng tá, công an… là công cụ ghê gớm nhất của chuyên chính vô sản cũ để cho họ hợp tác và không đe dọa những đổi mới.


Cho nên không có gì lạ trong việc bất chấp sự theo dõi hiếu kỳ của nhũng người quan sát quốc tế, Nga, Tàu và Việt lại có dịp đứng chung trên một chiến tuyến. Việt Nam đã cho thấy Trung Quốc có thể bỏ Việt Nam, nhưng Viêt Nam bao giờ cũng theo hoặc Bắc Kinh hoặc Moscow.

Những nhà nghiên cứu chính sách đối ngoại của Mỹ một khi Bush ra đi cần ghi nhận sự kiện này để thấy rõ hai điều: thứ nhất, như Tổng thống Mevedev do Putin – cử (the Putin-designated President Mevedev) của Nga nói: Mỹ không có quyền gì đưa ra bài học nào cho thế giới hay muốn dẫn dắt thế giới khi chính bản thân Mỹ đang rối rắm gỡ không ra; thứ hai, như nhà bình luận Roger Cohen của International Tribune viết, Nga ngày nay cũng kinh khủng không kém Liên Xô thời trước. Vì Nga ngày nay còn có một phần dân chúng ủng hộ. Do đó, Mỹ phải hiểu cái trục tư bản toàn trị Moscow-Pekin-Hà Nội này có thể còn nguy hiểm hơn trục tội ác “Bắc hàn-Iran-Iraq” của ông Bush “thời xưa”. (HNN)
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Hằng Ngàn Lá Cờ Vàng Quốc Gia
Đã Phất Phới Tung Bay Trong Ngày Kết Thúc Đại Hội Giới Trẻ.

Tác giả: On the Net

Image
Không Một Bóng Cờ Máu Nào Dám Xuất Hiện Trong Ngày Đại Hội .
Vào Chiều Hôm Qua Lãnh Sứ Quán CSVN Đã Cho Người Đem Cờ Đỏ Tới Ngay Chổ ở Của Đồng Bào Đến Từ Việt Nam . Đồng Bào Chúng Ta Đã Từ Chối Nhận Cờ Đỏ Và Lãnh Sứ Quán CSVN Đã Thất Bại Bỏ Ra Về .

Hôm nay có ít nhất là 10,000 đồng bào NV tại Úc Châu đã đến góp mặt cùng hơn 300 ngàn người tham gia đại hội và đã mang theo cờ vàng tràn ngập khắp nơi .

Trải dài dọc theo đại lộ Alison Road cho tới đường Darley , vào tận bên trong sân RandWick dài gần 2 cây số , không có nơi nào là không có bóng cờ Vàng .

Những bạn trẻ hân hoan phất phới là cờ Vàng thân yêu đi chung cùng những lá cờ của những quốc gia khác . Chúng tôi đã nhìn thấy những người mẹ, người chị đã rơi nước mắt vì cảm xúc khi nhìn thấy hằng ngàn, hằng ngàn lá cờ Vàng tung bay phất phới ! .

Đài truyền hình SBS đã tường trình trực tiếp về cho mọi người trên thế giới nhìn thấy cờ Vàng bay ngạo nghễ trên bầu trời Úc Châu . Gần 4 tiếng tryền hình trực tuyến chúng ta đã thấy một rừng cờ Vàng trong khu vực từ 10 tới 14 và khu vực 6 đã có một lá cờ lớn dài trên 10 thước . Đây cũng là một trong lá cờ lớn nhất trong đại hội mà các thanh niên Công Giáo đã phủ lên trên nhiều hành ghế ngay giữa hội trường vào ngày Khai Mạc . Một tấm phong (banner) cờ vàng khác được nhìn thấy tại khu vực 15 dài trên 7 mét .

Ngày Hôm Qua Cộng Đồng Công Giáo VN Úc Châu đã phát ra ít nhất 2,000 lá cờ Vàng cầm tay lớn nhỏ cho đồng bào chúng ta . Cộng Đồng NVHN Úc Châu cũng đã phát ra hằng ngàn lá cờ Vàng khác cho các bạn trẻ và đồng bào tham dự . Ngoài ra một số lượng lớn đồng hương tự mang theo cờ Vàng . Như vậy là đồng bào chúng ta đem theo hôm nay ít nhất là 3,000 lá cờ Vàng đủ mọi loại cỡ .

Một số lượng cờ vàng phải nói là nhiều nhất đi vào lịch sử của cộng đồng Tị Nạn VN tại Úc . Hoan Hô Đồng Bào Úc Châu đã làm nên lịch sử ngày hôm nay ! .
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ,
Cờ Truyền Thống Của Dân Tộc Việt Nam


NGUYỄN CHÍNH KẾT .


Image
Người viết tham dự cuộc diễn hành văn hóa quốc tế tại New York ngày 21/7/2008.

Cờ vàng ba sọc đỏ không phải chỉ là cờ của nền Đệ nhất và Đệ nhị Cộng Hòa, mà đã có từ thời vua Thành Thái từ năm 1890 kéo dài 30 năm cho đến năm 1920 (1*). Đến thời Bảo Đại khi ông Trần Trọng Kim làm thủ tướng, cờ truyền thống nền vàng ba sọc đỏ đã được chính thức công nhận là quốc kỳ bằng sắc lệnh số 3 ngày 2/6/1948, do Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân ký với tư cách thủ tướng chánh phủ lâm thời Quốc Gia Việt Nam lúc ấy (2*).

Cờ Việt nền vàng bắt nguồn từ truyền thống dân tộc Việt có từ thời Hai Bà Trưng, được cải tiến nhiều lần qua thời gian và cuối cùng có hình dạng nền vàng ba sọc đỏ như hiện nay. Để biểu lộ lòng yêu dân tộc và trung thành với truyền thống dân tộc Việt thì cờ của dân tộc Việt Nam phải có nền vàng.

Như vậy, cờ vàng ba sọc đỏ – đã có từ 118 năm trước (tính đến năm nay, 2008) – không phải chỉ là cờ của một chế độ hay một thể chế chính trị nào, mà là quốc kỳ truyền thống của dân tộc Việt Nam. Khi Việt Nam bị chia đôi thành hai miền Nam Bắc, các Chính phủ Miền Nam dưới thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa, do trung thành với truyền thống dân tộc, đã dùng lá cờ vàng của dân tộc làm quốc kỳ. Dưới ngọn cờ biểu tượng cho chính nghĩa Tự Do này, tập thể dân quân miền Nam Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu để tự vệ, chống lại cộng sản xâm lược từ miền Bắc vốn được Liên Sô và Trung Quốc đắc lực trợ giúp vũ khí và nhân sự.

Việt Sử là một lịch sử tranh đấu hào hùng, dai dẳng và kiên trì cho nền tự do, độc lập của toàn dân tộc khi bị giặc Hán cai trị hàng ngàn năm, bị giặc Tây đô hộ gần 100 năm, và hiện nay đang bị giặc nội xâm cộng sản toàn trị suốt mấy chục năm qua. Qua các cuộc tranh đấu cứu nước, cờ của dân tộc, dù thay đổi tùy thời đại, luôn luôn có nền màu vàng. Người Việt hải ngoại và các chiến sĩ tự do đang đấu tranh ở quốc nội coi Cờ Vàng là biểu tượng cho cuộc tranh đấu dành lại tự do, dân chủ và độc lập cho dân tộc Việt Nam. Vì thế, cờ vàng ba sọc đỏ minh nhiên là cờ chung của cả dân tộc Việt Nam và của những người Việt Nam đang theo đuổi lý tưởng tranh đấu cho tự do dân chủ.

Năm 1975, cộng sản miền Bắc đã cưỡng chiếm được Miền Nam bằng bạo lực tàn ác và những thủ đoạn chính trị gian xảo, nước Việt Nam được thống nhất dưới chế độ cộng sản độc tài hà khắc. Đảng cộng sản đã áp đặt người dân hai miền phải dùng lá cờ nền đỏ sao vàng. Nền đỏ là nền cờ của Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng như của Đảng Cộng Sản Quốc Tế (với hình búa liềm). Nó hoàn toàn không có tính dân tộc hay tình tự dân tộc. Người Việt gọi là "cờ máu" rất đúng vì cờ này được xây dựng trên máu xương của hàng triệu người dân vô tội đã chết cách hết sức oan uổng. Thật vậy, dưới lá cờ này, người dân Việt Nam đã phải hy sinh quá nhiều xương máu một cách thê thảm, phí phạm và vô ích. Những lá cờ nền đỏ của các nước cộng sản đều có nhiều nét tương tự nhau: cờ Liên Sô có một sao đỏ và hình búa liềm, cờ Trung Cộng có 1 sao lớn 4 sao nhỏ màu vàng. Lá cờ CSVN có một sao lớn màu vàng y hệt như lá cờ của tỉnh Phúc Châu Trung Quốc. Nó chỉ có thể là cờ riêng của một chế độ CSVN, một chế độ độc tài tàn ác, đàn áp bóc lột nhân dân, tước đoạt mọi quyền của con người, kể cả quyền tự do tôn giáo và quyền căn bản nhất là quyền tự vệ trước sự đàn áp bóc lột của chế độ. Đó quả là một chế độ hoàn toàn ngược lại với ý chí và quyền lợi của dân chúng. Vì thế, cờ đỏ sao vàng của CSVN hoàn toàn không phải là cờ của dân tộc, trái lại, nó là lá cờ thù nghịch với dân tộc Việt Nam, thù nghịch với các tôn giáo, các tín đồ tôn giáo.

Không sống nổi dưới chế độ phi nhân này, trên 3 triệu người Việt đã phải vượt biên vượt biển tìm tự do, mang theo lá cờ vàng ba sọc đỏ thân yêu bắt nguồn từ truyền thống dân tộc. Kể từ đó, lá cờ này đã trở thành biểu tượng của Tự Do cho toàn thể khối người Việt tự do trên khắp thế giới.

Tóm lại, qua những trình bày trên, ta thấy cờ vàng là cờ truyền thống của dân tộc Việt Nam, vì dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa đã chọn màu cờ vàng là cờ của quốc gia dân tộc. Trung thành với truyền thống đó, cờ vàng ba sọc đỏ chính là cờ truyền thống của dân tộc Việt Nam, chứ không phải của riêng một thể chế nào.

Tôi rất lấy làm lạ khi thấy nhiều người từ trong nước ra hải ngoại – kể cả những tu sĩ, những chức sắc cao cấp nhất, trí thức nhất trong các tôn giáo – lại tỏ thái độ tránh né lá cờ Tự Do, lá cờ truyền thống của dân tộc đã tồn tại từ 118 năm nay. Tại sao? Tại sao khi đến với đồng bào hải ngoại thân thương ruột thịt, họ lại tỏ ra e ngại, tránh né, thậm chí xúc phạm đến biểu tượng mà người Việt hải ngoại hết sức trân quý, yêu thương, cũng là biểu tượng cho Tự Do Dân Chủ, một nhu cầu tối yếu mà chính người trong nước đang khao khát nhưng chưa có? Phải chăng họ e sợ khi trở về nước sẽ bị công an trong nước bắt bẻ, hành tội một cách phi lý? Là người trí thức, có khả năng ăn nói mạnh mẽ và lý luận cao hơn người thường, lẽ nào họ lại không biết cách giải thích phân minh cho công an, cán bộ cộng sản hiểu rằng: lá cờ vàng ba sọc đỏ không chỉ là cờ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa mà còn là cờ truyền thống của dân tộc, của lý tưởng tự do dân chủ của người Việt? Nếu CSVN đã công nhận người Việt hải ngoại là "khúc ruột ngàn dặm" của họ thì mặc nhiên họ đã công nhận biểu tượng hay lá cờ của "khúc ruột ngàn dặm" ấy rồi!

Các tu sĩ tôn giáo chắc chắn phải biết lá cờ nào là thù nghịch với tôn giáo, với niềm tin tôn giáo của họ. Họ phải biết lá cờ nào đã từng chủ trương tiêu diệt họ, hạn chế tự do tôn giáo của họ, và cờ nào là cờ đang tranh đấu cho chính họ để họ được tự do hành đạo chứ! Chẳng lẽ họ không phân biệt được cờ nào là bạn, cờ nào là thù?

Biết bao thường dân nhỏ bé, thậm chí là "liễu yếu đào tơ", tiếng nói ít sức mạnh và ít ảnh hưởng hơn họ rất nhiều, thế mà vẫn dám đứng thẳng lưng trước bạo quyền… Gương của những Lê thị Công Nhân, Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Tiến Nam… là những người mới chỉ khoảng 30 tuổi đầu, đã dám đối đáp với bạo quyền với tất cả khí phách của mình, gương đó đang sờ sờ trước mắt họ! Lẽ nào đường đường là những "đấng", những "ngài", những "bậc" với tiếng nói "có gang có thép" – lại chấp nhận khom lưng, run sợ bạo quyền tới mức độ không dám hành xử theo lẽ phải, theo lương tâm mình? Lẽ nào lại sẵn sàng làm những điều trái với lương tâm, trái với chủ trương của đạo giáo mình, trái với những lời thề nguyền của mình trước những đấng thiêng liêng (3*) …?

Tôi xin chấm dứt bài này bằng nhận định xác đáng của Gs Nguyễn Ngọc Huy:

"Hiện nay, quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ không còn được chánh thức dùng bên trong nước Việt Nam, nhưng mọi người Việt Nam ở quốc nội đều biết rằng nó là lá cờ tượng trưng cho nền độc lập và tự do của Tổ Quốc, chống lại chế độ cộng sản tàn ác, phi nhân và nô lệ ngoại bang. Bên ngoài Việt Nam, nó cũng được người ngoại quốc xem là biểu tượng của phía người Việt Nam chống lại chế độ cộng sản. Không biểu tượng nào khác có thể thay thế cờ vàng ba sọc đỏ về các mặt này. Vậy, việc tỏ lòng tôn trọng Quốc Kỳ nền vàng ba sọc đỏ và dùng nó một cách rộng rãi ở nơi nào có người quốc gia Việt Nam là một công cuộc đóng góp lớn vào việc giải phóng đất nước khỏi ách độc tài Cộng Sản" (4*).
Washington DC, ngày 21/7/2008.

Nguyễn Chính Kết

Chú Thích:

(1*) Tài liệu "Quốc Kỳ Việt Nam: Nguồn Gốc và Lẽ Chính Thống" của KS Nguyễn Đình Sài (http://lichsuviet.cjb.net/view_article.asp?id=301&cat=3) viết: "Năm 1890, nhà vua [=Thành Thái] xuống chiếu thay đổi quốc kỳ chữ Hán [của thời Đồng Khánh] bằng quốc kỳ mới. Lá cờ nền Vàng Ba Sọc Đỏ lần đầu tiên được cấu tạo và được dùng làm quốc kỳ". (Note: những chữ trong ngặc móc […] là giải thích của người viết).

(2*) Cũng theo tài liệu trên.

(3*) Trong số những kinh do các vị chức sắc Công giáo đặt ra, kinh "Suy tôn Nữ vương Gia đình" thường được giáo dân đọc trước 1975 có một lời thề nguyền: "Gia đình con xin nguyền không theo thuyết Cộng Sản vô thần! " Lẽ nào những người soạn ra, những người từng khuyến khích mọi người đọc kinh này lại chóng quên đến thế lời thề nguyền ấy?

(4*) Xem bài "Quốc Kỳ và Quốc Ca Việt Nam của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy", phần D (http://www.danviet.net/biensoan/print.asp?Article_ID=6), số 3 §2.

NGUYỄN CHÍNH KẾT
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

‘Irak 5 Năm Sau Chiến Tranh Chống Khủng Bố’ -
Tương Lai Chính Sách Hoa Kỳ Tại Trung Đông

Tác giả: Đinh Xuân Quân



Năm 2008 trở thành một năm then chốt vì cuộc bầu cử Tổng thống (TT) tại Hoa kỳ. Ứng cử viên Dân chủ có hy vọng ra tranh cử TT ông Obama đòi rút quân khỏi Irak trong khi ửng cử viên Cộng hòa McCain đòi tiếp tục, không thể bỏ người Irak. Ngoài vấn đề kinh tế trì trệ, giá dầu lên cao, sự hiện diện quân đội Mỹ tại Irak và các chi tiêu quốc phòng ảnh hưởng nặng nề đến cuộc bầu cử TT vào tháng 11 này.

TT Bush mặc dù đã gặt hái một số thành công tại Irak với việc tạm ổn định an ninh qua chính sách “tăng quân” của tướng Petraeus, đang gặp một tỷ lệ bất tín nhiệm của dân chúng khá cao. Sau 5 năm tại Irak, Hoa kỳ có dịp rút ra khỏi Irak hay không?

Về Irak TT Bush đã công nhận đã có nhiều lầm lỗi vì dựa trên tình báo không chính xác. Ông gián tiếp chấp nhận việc xâm chiếm Irak dựa trên những lý do “không chính đáng” và không được sự đồng tình của nhiều cử tri nhưng ông nhận trách nhiệm và hậu quả của việc xâm chiếm Irak. Ông cũng nhận là việc xây dựng Hiến Pháp (HP), bầu cử QH tại Irak sẽ không làm giảm bạo động và sau 5 năm trên 4,100 lính Mỹ đã tử vong và 20,000 bị thương thì tình hình không mấy lạc quan.

Trước khi đánh Irak, tác giả bài này trên tờ Thế kỷ 21 đã cho là, Mỹ đã dùng “lý của kẻ mạnh” chứ không có căn bản pháp luật để can thiệp vào nội bộ Irak (Tác giả sợ Trung quốc cũng dùng những “lý do của kẻ mạnh” để đánh VN như Đặng Tiểu Bình đã làm trước đây vào năm 1979). Sau 5 năm Mỹ đang gặp nhiều sự chống đối tại Mỹ vì các lý do đánh Irak là “vu vơ” và Mỹ có thể “xa lầy” tại Irak.

Bài này sẽ đánh giá kết quả của các mục tiêu TT Bush đưa ra tại Irak và nhìn về tương lai cho Irak và vùng Trung Đông.

Đánh giá chính sách Bush

Thuyết Bush có thể tóm qua 2 ý chính: 1. Mỹ quyết chống khủng bố trên toàn cầu và sẽ tay trước - “tiên hạ thủ”- không cần sự đồng tình của các nước cũng như LHQ; 2. Mỹ sẽ gây dựng dân chủ tại Trung đông. Trên thực tế, TT Bush đã và đang gặp nhiều trở ngại và thất bại nhiều hơn thành công và mục tiêu gây dựng dân chủ tại Trung đông còn phải xét lại. Trên thực tế chính sách của TT Bush ra sao?

Mục tiêu 1: Chống khủng bố

TT Bush chiếm Irak ngay sau khi đánh Afghanistan nhưng tình hình và thực tế Irak khác hẳn các dự tính. Thực tế cho thấy là Irak không có vũ khí hủy diệt hàng loạt, không có vũ khí hóa học và Saddam Hussein cũng không có liên hệ với Al Qaeda. Việc này làm dư luận Mỹ và thế giới không tin tưởng vào những lời tuyên bố của Mỹ và không ủng hộ cuộc chiến Irak dựa trên các lý do “giả tạo.”

Mỹ mất tín nhiệm, điều mà Mỹ sẽ phải mất nhiều năm mới lấy lại niềm tin của thế giới. Tại Afghanistan đã có nhiều tiến bộ nhất định trong việc xây dựng hạ tầng cơ sở, trong việc tổ chức công quyền và tái lập an ninh trật tự. Taliban còn có thể phá phách nho nhỏ qua các cuộc tự sát. Mặc dù như vậy sẽ cần từ 10-15 năm thì Afghanistan mới có khả năng tự túc về mặt tài chính, thuế vụ, xây dựng công quyền, tái xây dựng quân đội và cảnh sát hầu có cơ hội phát triển và xây dựng dân chủ.

Ngược lại, chiến tranh Irak gây nhiều tai tiếng cho Mỹ trong vấn đề chống khủng bố. Các vụ đanh bom tự sát, các vụ bắt cóc con tin và chặt đầu này gia tăng tại Irak, tại Arập Saudi, tại Jordan và tại nhiều nước khác, vì Mỹ đánh Irak cho nên Al Qeada có cớ tuyển mộ thêm người. Chiếm Irak cũng không mang thêm an ninh cho thế giới và vùng Trung đông mà ngược lại. Việc này cho thấy Mỹ có thể gây an ninh nhưng cũng có thể “xa lầy” vì chính phủ Irak TT. Maliki không thể có nhất trí và chưa triệt được các dân quân thuộc các phe phái, nhất là các phe phái thân Iran.

Việc Mỹ giải tán quân đội và cảnh sát Irak khi mới thắng Saddam là lỗi lầm khó chấp nhận. Mỹ đã mất nguồn tình báo và gây nhiều bất mãn và phải “Irak hóa quân đội và cảnh sát” – việc này sẽ mất nhiều năm mới mang an ninh lại cho Irak.

Thuyết Bush tự cho quyền ra tay đơn phương khi có nguy cơ bị đe dọa không được chấp nhận trên quốc tế. TT Bush đã nói là ông sẽ làm việc với Hội đồng Bảo an LHQ nhưng Mỹ đã không được Hội đồng Bảo an tán thành, trái ngược với vụ Afghanistan trong đó trên 39 nước đã tham gia một cách tích cực dưới ngọn cờ LHQ. Khi thăm Hoa kỳ vào tháng qua, chính Giáo Hoàng Benedicto đã trách Mỹ việc này.

Tại Afghanistan, Mỹ được LHQ tán thành và có “danh chính ngôn thuận.” LHQ đã giúp xây dựng Hiến pháp, tổ chức bầu cử Tổng thống và Quốc hội theo đúng quy trình Bonn. Mỹ đã được nhiều nước hỗ trợ không những về quân sự và xây dựng, tái thiết và phát triển tại Afghanistan. Tại đây có 26 thành viên NATO và 10 thành viên không NATO có quân tại Afghanistan (Thụy điển, Mông cổ, Bulgaria, Romania, Phần lan, Úc, Tân Tây lan, vv). Nay quân đồng minh ISAF và quân NATO đang tăng cường sự hiện diện và quân đội Afghanistan cũng được xây dựng từ 18 tiểu đòan nay lên 40 TĐ.

Tại Irak vấn đề khác hẳn. Sau khi chiếm Mỹ đã không giải quyết được vấn đề bình định, tái lập an ninh trật tự và xây dựng cho nên chính phủ Bush đã phải cầu cứu LHQ giúp giải quyết vấn đề lập chính phủ Irak, việc xây dựng Hiện pháp (HP) và tổ chức bầu cử QH. Theo Ted Galen Carpenter của viện Cato, việc thay đổi các chính quyền bằng vũ lực (nhất là khi dựa trên những lý do “giả tạo”) đã làm tiêu tan thuyết Bush. Theo ông Carpenter thì thuyết “tiên hạ thủ” đã bị sụp đổ hòan toàn vì chính phủ Bush đang phải cố gắng thuyết phục các đồng minh là Mỹ sẽ dùng ngoại giao để giải quyết các tranh chấp về khí giới hạt nhân với Iran và Bắc Hàn và gần đây ngoại trưởng Rice đã phải cố gắng thuyết phục. Theo nhóm International Crisis Group, thì hành động đơn phương của Mỹ không mấy thành công trong thế giới ngày nay vì mọi nước cần đồng minh và chính sách Mỹ vào cuối nhiệm kỳ có thay đổi nhiều. Như vậy việc chống khủng bố tại Irak không mấy thành công.

Mục tiêu 2: Gây dựng dân chủ ho Trung đông

Thuyết Bush muốn mang dân chủ cho Trung đông, vì theo ông “Dân chủ là làn sóng tương lai cho mọi nước.” Theo các chuyên gia thì việc xây dựng dân chủ tại Trung đông sẽ chậm chạp và không thể cải cách một chế độ qua sức “ép” từ phía bên ngòai. Vụ Irak cho thấy là chính sách của TT Bush tại Trung đông bị mất tín nhiệm, vì Mỹ thiên không có chính sách nhìn xa, vì quá thiên Israel. Tại Irak nay có chính phủ liên hiệp do Thủ tướng Malaki người gốc Shiite cầm đầu. Theo lịch sử thì hai phe Shitte và Sunni đánh nhau trên 700 năm và nay phe Shiite có dịp cầm quyền thì khó mà họ chấp nhận phe Sunni. Nhân sự phe Shiite xa chính quyền quá lâu dưới thời Saddam cho nên không có kinh nghiệm quản lý guồng máy nhà nước. Ví dụ 1: trong văn phòng TT có rất nhiều GS đại học nhưng họ không có kinh nghiệm điều hành cho nên guồng máy chính phủ không chạy, bị tê liệt. Ví dụ 2: Ngân sách của Irak năm 2008 là US$ 43 tỷ nhưng không thể nào xài số tiền này được ngoài việc trả lương công chức (3 triệu trên một dân số là 25 triệu người – một tỷ lệ quá cao) nhưng chính phủ không thể đầu tư vào các công sở hay hạ tầng như điện hay nước và do đó dân không mấy hài lòng. Trước đây dưới thời Saddam, không có dân chủ nhưng có trật tự, có điện có nước, có an ninh và công chức không do “quota theo Shiite hay Sunni” và do đó guồng máy nhà nước tương đối chạy. Ví dụ 3: Chính phủ gồm phủ Tổng thống gồm 1 TT và 2 phó TT một Shiite và 1 Sunni. Chỉ khi nào 3 người này “nhất trí” thì mấy đạo luật do QH phê chuẩn mới được thông qua. Thủ Tướng Malaki có 2 phó Thủ tướng một gốc Kurdistan và một gốc Sunny. Phủ Thủ tướng không mấy ưa Phó Thủ tướng gốc Sunny và vì vậy chính trong chính phủ có nhiều lủng củng. Như vậy mặc dù có chính phủ liên hiệp được dân bầu, khó có thể có “nhất trí” tại Irak.

Ngoài ra tại Irak còn nhiều dân quân của các phe phái nhất là dân quân của phe Mockta Al Sadr, chống lại chính phủ trung ương. Khi nào chính phủ trung ương không triệt được các dân quân thì khó có luật pháp. Nay có “dân chủ” nhưng không có điện, không có an ninh, không phát triển được cho nên “tâm tình” dân không chấp nhận và coi là thua thời Saddam.

Hơn nữa tại Trung đông, cùng lúc với 60 năm xây dựng Israel, các nước Trung đông cho đây là một tai họa vì nhiều triệu dân Palestine bị đẩy ra khỏi Israel và còn nằm trong nhiều trại tỵ nạn rải rác trên nhiều nước và dải Gaza. Việc Hoa kỳ và các chính trị gia Mỹ ủng hộ Israel một cách triệt để cho thấy là Mỹ thiên vị. Muốn rút ra khỏi vũng lầy Trung đông, khi Arap Saoudi ủng hộ phe Sunni trong khi Iran ủng hộ phe Shiite, TT Bush đứng trước tình trạng khó xử - phải giải quyết vấn đề Israel và xây dựng một quốc gia độc lập cho người Palestine. TT Bush chỉ còn vài tháng là hết nhiệm kỳ và thực tế cho thấy dân Mỹ sẽ không đồng tình xây dựng dân chủ tại đây nếu phải đỗ máu - phải thiệt hại nhân mạng - nếu nước Mỹ không bị đe dọa trực tiếp.

Nói tóm, khi thử lửa TT Bush đã phải thay đổi chính sách ngọai giao, ve vãn NATO, làm hòa với các nước Âu châu kể cả soa dịu với Iran và cố xây dựng một nước Palestine độc lập. Theo các chuyên gia thì "chính phủ TT Bush tưởng là họ có mọi câu trả lời nhưng thực tế cho thấy là TT Bush không có câu trả lời” (và sức mạnh của Hoa kỳ có giới hạn).

Hậu quả tai hại tại quốc nội và quốc ngọai

Hậu quả tai hại đầu tiên là TT Bush đã không thể kéo NATO vào Irak chính vì chính sách đơn phưong của Mỹ. TT Bush đã phải xét lại chính sách ngọai giao và bà NT Rice đã phải công du Âu châu nhiều lần để hòa dịu và thúc đẩy hòa bình giữa Israel và Palestine. Các nước nghi ngờ thái độ của Mỹ và chính phủ Bush đã phải “hạ giọng” và hình ảnh Mỹ trên thế giới là TT Bush là người gây chiến.

Chính phủ Bush nay có phần thực tế hơn khi đụng chạm với thực tế. Tại quốc nội Tối cao Pháp viện đã từ chối ủng hộ chủ trương về việc “bắt giữ và giam cầm bất cứ kẻ tình nghi.” Dư luận Mỹ và thế giới chỉ trích chính phủ Bush về việc đối sử với tù nhân tại nhà tù Abu Ghraib, tại Guantanamo Bay (tác giải đã có viết một bài về vụ này) và các nhà tù CIA tại hải ngoại. Thượng nghị sĩ John McCain, một cựu tù nhân cộng sản VN người từng bị CSVN tra tấn đã cho tu chính án về việc “chính sách Mỹ cấm tra tấn”. TT Bush miễn cưỡng phải chấp nhận. Chính phủ và bộ tư pháp phải tuân theo phán quyết của Tối cao Pháp viện (TCPV) về hàng trăm tù nhân bị giam giữ trên 2 năm ở Guantanamo. Tại quốc nội QH thông qua đạo luật về “cấm tra tấn” cho thấy là nước Mỹ là nước thật sự pháp trị. Tại Trung đông, mặc dù Mỹ đã trả lại chủ quyền cho Irak nhưng bị tổn thất tiếng tăm nặng nề.

Nói tóm tại quốc ngoại cũng như tại quốc nội, thanh danh của chính phủ Bush bị tổn thất nặng nề.

Làm sao ra khỏi vũng lầy tại Irak?

Tại quốc nội, TT Bush hai năm trước có thể nói là “lạm phát thấp, businét tốt và thu nhập cá nhân tăng.” Nay tình hình ngược lại. Ông Chủ tịch Ngân hàng Trung ương Bernanke phải lo giải quyết vấn đề vay “nhà cửa” và hệ thống ngân hàng vì những vụ quá đáng của ngành địa ốc cho vay quá chớn - đầu cơ là giá nhà có thể tiếp tục tăng mãi mãi và “bong bóng” địa ốc đã xì cho nên kinh tế Mỹ phải đương đầu với các vụ “làm ăn quá trớn” gây kinh tế trì trệ.
Trong việc chống khủng bố Mỹ đã phần nào thành công nửa chừng tại Afghanistan. Tại đây, mặc dù được sự trợ giúp của tòan thế giới, Mỹ sẽ cần nhiều năm và tiền bạc mới xây dựng được dân chủ tại một nước mà năm nay là năm 1384 (theo lịch Hồi giáo). Mỹ sẽ phải can trì nhiều năm mới giải quyết được Afghanistan.

Tại Irak Mỹ đang phải giải quyết vấn nội chiến - du kích tại đây. Gở tháo Irak là cả một vấn đề nhức đầu vì TT Bush và công sự viên của ông đã mắc tội TNS J. William Fulbright trước đây gọi là "the arrogance of power," kiêu căng quyền lực.
Lối thóat của TT Bush là “IRAK HÓA” nhưng Mỹ cũng cần sự đồng tình của nhiều nước láng giềng, của các tổ chức như LHQ lẫn cả chính phủ Irak mới được bầu. Dân Kurd ở phía Bắc và dân Shiite ở phía Nam muốn độc lập. Irak có nhiều triển vọng trở thành 3 nước mà không có triển vọng hòa bình vì dầu lửa nằm ở phía Bắc trong vùng Kurd và ở phía Nam trong vùng Shiite. Ở phía giữa thì dân Sunni không có dầu. Mỹ có thể mong là quân đội Irak sẽ dần dần kiểm sóat an ninh nội bộ nhưng cần thời gian. Theo TT Bush thì cần 5 yếu tố trong việc rút ra khỏi Irak: 1. Đào tạo và Irak hóa quân đội; 2. kéo dân gốc Sunni và quy trình chính trị - dân chủ hóa; 3. thay đổi HP nếu cần; 4. kéo quốc tế vào Irak nhất là việc xây dựng – phát triển; 5. gây dựng việc làm – phát triển.

Nhưng việc đầu tiên là phải bình định mới có phát triển. Tiến bộ quân sự phải đi song song với phát triển cơ cấu hành chính, kinh tế và luật lệ (việc mà Mỹ bỏ bê trong nhiều năm qua vì tình hình an ninh không cho phép, vì vậy Mỹ đã lấy những tài khỏan này bù vào ngân sách quốc phòng). Việc thứ 2 là kéo dân Sunni vào quy trình chính trị, làm cho họ không thấy bị bỏ rơi. Trong việc này Mỹ khá thành công vì tại các tỉnh do người Sunni nay có an ninh trật tự. Hoa kỳ đang cố lập trật tự bằng cách giúp quân Irak triệt các dân quân nhưng thực tế cho thấy quân đội Irak chưa đủ sức. Tại đây còn cần nhiều thời gian để phe Shiite chán ghét dân quân (hay lũ cướp có tổ chức như quân Bình Xuyên trước đây tại VN). Việc này có thể thành công nhưng cần thời gian. Việc kéo quốc tế vào giúp Irak là vấn đề khó vì nhiều nước Ả rập không đồng tình cũng như trước đây TT Bush đã làm nhiều nước kể cả các đồng minh thân cận nhất bất bình.

Kết luận tạm thời

Bài học Afghanistan cho thấy có tiến bộ nhưng cần đồng minh và có chính sách mềm dẻo mới có thể kéo đồng minh vào gíup trong trong công cuộc tái thiết đòi hỏi thời gian, tài chính và kiên nhẫn. Vậy làm sao thành công tại Irak? Tái thiết trật tự đòi hỏi thời gian và kiên trì để có thể ổn định chính trị để chính phủ liên hiệp 3 phe Sunni, Shiite và Kurd có phần hòa hợp.

Hiện nay tân chính phủ Irak là một chính phủ hòa hợp do ông Malaki (Shiite) làm Thủ tướng và với nhiều nhân vật Kurd (Kinh tế, ngoại giao), Sunni (xã hội, vv) và Ông Talabani (Tổng thống gốc Kurd). Làm sao chính phủ Malaki có thể ổn định tình hình chính trị - an ninh mà không triệt các dân quân? Quân khủng bố sẽ thắng nếu Mỹ mất kiên nhẫn, chùn chân vì gặp quá nhiều trở ngại để giải quyết các vấn đề nội bộ Irak – khi các phe chính trị lợi dụng tôn giáo làm chính trị?

Chính sách chống khủng bố của TT Bush thành công nửa vời. Căn bản giải quyết các khó khăn tại Trung đông là vấn đề Israel và Palestine. Việc xây dựng dân chủ tại Trung đông còn rất xa vời vì các chính quyền tại Trung đông nếu thả thì sẽ loạn và mặc dù họ thiên Mỹ cũng không đồng tình. Mỹ chỉ có thể mong quân đội Irak trưởng thành mau chóng và nhiều nước khác tiếp tay trong vấn đề gỡ Irak nếu có hòa bình giũa Israel và Palestine.

Chính sách chống khủng bố của TT Bush có phần thành công tại Mỹ vì đã không xẩy ra vụ khủng bố nào. Chính sách quá khích một chiều của TT Bush đã làm cho ông ta trở thành gần như “Lame duck – vịt què,” vì khó lấy quyết định tại QH và nay gây khó khăn cho các người thế vị vì không ai giám đứng ra ủng hộ một chính sách làm quá nhiều lỗi lầm.

Tại Irak, Hoa kỳ có thể “kiểm soát” phần nào an ninh qua sự vững mạnh của chính phủ trung ương Irak, nhưng sẽ cần sự hiện diện của quân đội HK trong nhiều năm thì các phe phái mới chịu ngồi thương thuyết với nhau mà không dùng AK hay B40.

Tương lại của chính sách Trung đông của Hoa kỳ sẽ phải đi tới việc giải quyết vấn đề Israel và Palestine thì mới có dịp kéo sự đồng tình của nhiều nước Trung đông thân Mỹ vào việc giúp giải quyết Irak và gây lại thăng bằng cho vùng này. Tác giả bài này tin là khi nào Hoa kỳ còn thiên vị, chưa chịu giải quyết hòa bình Israel-Palestine thì chính sách HK tại Trung đông khó thành công.

Các ứng cử viên TT của cả hai phe đã hứa bảo vệ Israel cho nên tìm một giải pháp cho vấn đề này còn khó và nếu không co giải pháp thì khó khăn còn kéo dài dài vì các phe như Hexebollah tại Lebanon, tại Gaza, vv cũng chỉ là những tổ chức đứng lên chống lại Israel. Sau 60 năm vẫn chưa giai quyết được vấn đề Trung đông.

Liệu Mỹ, nhất là người kế vị TT Bush, có khéo léo giải quyết các vấn đề quốc nội để lấy lại sức mạnh kinh tế để dân đỡ than phiền về lợi tức và giá cả, liệu Mỹ đủ ngọai giao và khéo léo tại quốc ngọai để nhiều nước chịu giúp và liệu tân TT Hoa kỳ có đủ kiên trì tại Irak, quyết tâm với Israel để giải quyết vũng lầy Irak là câu hỏi chính.
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Giới Luật Sư Sài Gòn Chống Sự Khống Chế Của Đảng
Tác giả: Trần Trọng Nghĩa


Dưới các chế độ độc tài, nhất là những chế độ theo chủ thuyết Mác-Lênin, luật pháp, ngoài tác dụng để sơn phết lừa bịp thế giới, chỉ là phương tiện để khống chế người dân chứ không phải để bảo vệ công lý và bảo đảm quyền lợi của người dân.

Nhìn lại lịch sử cận đại của nước ta, vào năm 1945 khi cộng sản dưới danh nghĩa Việt Minh cướp chính quyền, chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam độc lập cũng có đủ các bộ, trong đó có Bộ Tư Pháp. Bộ này đã được giao cho các luật sư tốt nghiệp Trường Đại Học Đông Dương tại Hà Nội làm bộ trưởng. Người đầu tiên là luật sư Vũ Trọng Khánh giữ chức bộ trưởng từ tháng 9/1945 đến tháng 3/1946. Người thứ nhì là luật sư Vũ Đình Hòe từ tháng 3/1946 đến tháng 5/1959. Thực chất trong thời gian từ năm 1945, suốt cuộc chiến tranh chống Pháp và kể cả sau 1954, Bộ Tư Pháp chỉ để làm cảnh. Cái gọi là công lý Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được giao cho các "tòa án nhân dân" theo khuôn mẫu Mác-Lênin-Mao Trạch Đông do cán bộ đảng cộng sản vừa buộc tội, vừa xử án và không có luật sư bào chữa.

Sau khi đã lừa gạt được dư luận Tây Phương trong suốt 10 năm trời, và sau khi chiếm được Miền Bắc Việt Nam năm 1954, CSVN đã bộc lộ bản chất Đệ Tam Quốc Tế và đã giải thể Bộ Tư Pháp vào tháng 5/1959. Năm năm sau khi đánh chiếm Miền Nam, thế giới đã nhìn rõ bản chất của chế độ CSVN với các trại cải tạo, với các tòa án nhân dân, với hàng trăm ngàn người dân vượt biên, vượt biển chạy ra hải ngoại, với cuộc xâm lăng Kampuchia. Hoa Kỳ và một số quốc gia đã cấm vận kinh tế, cô lập ngoại giao khiến CSVN đứng trước bờ vực thẳm. Dưới con mắt thế giới, Việt Nam là một nước vô luật pháp, phi công lý, độc tài, dã man... Trước tình thế này, CSVN đã phải có một số điều chỉnh, trong đó có việc tái thành lập Bộ Tư Pháp vào tháng 2/1980. Như vậy, đã có đến 20 năm dưới chế độ độc tài cộng sản, Việt Nam không có nền tư pháp, không có công lý, không có luật pháp. Các trường Đại Học Luật đã bị đóng cửa. Tại Hà Nội, đến năm 1979 mới có Đại Học Pháp Lý; trong Nam sau 1975, các Viện Đại Học Sài Gòn, Huế, Cần Thơ, Đà Lạt không có khoa Luật cho đến năm 1982. Nhưng phải đợi đến sau khi CSVN đưa ra chính sách "đổi mới", Nhà Nước mới ban hành Pháp Lệnh Luật Sư vào năm 1987. Thực chất, luật sư chỉ được hành nghề một cách "độc lập", không dưới danh nghĩa đoàn luật sư, để đại diện, hỗ trợ pháp lý, biện hộ cho thân chủ tại các tòa án v.v... từ năm 2001.

Khi CSVN mở cửa, chiêu dụ đầu tư và hội nhập với thế giới thì nhu cầu có một nền luật pháp minh bạch, một nền công lý trong sáng là rất trọng yếu đối với các đối tác ngoại quốc. Nhưng bao lâu những người cầm quyền tại Việt Nam còn kiên định lập trường Mác-Lênin, còn duy trì độc tài, thì tự bản chất, họ đã trái ngược với những nhu cầu nêu trên. Chính vì mâu thuẫn giữa bản chất và thực tế, nên họ trì kéo để tìm mọi cách khống chế được nền công lý tại Việt Nam. Luật pháp càng tù mù, rắc rối, khó hiểu; nhân dân càng dốt về luật, càng không có người mách bảo về luật, càng tốt cho chế độ độc tài. Chính vì thế mà mũi dùi đang chĩa thẳng vào giới luật sư. Nhất là những luật sư mà họ cho là cứng đầu dám phanh phui ra những sai trái của đảng và Nhà Nước, dám vạch trần những hành động bất chấp hiến pháp, luật pháp của đảng và Nhà Nước. Hiện đã có nhiều luật sư bị cầm tù mà điển hình là các luật sư Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Trần Quốc Hiển, Nguyễn Bắc Truyễn. Luật sư Bùi Kim Thành bị giam trong bệnh viện tâm thần. Hai luật sư Lê Quốc Quân và Trần Thị Thùy Trang đang bị quản chế. Hầu hết các luật sư đều bị đảng và chính quyền CSVN o ép như ngăn cản không cho biện hộ cho những người đang bị khởi tố chỉ vì tội bất đồng chính kiến với đảng và Nhà Nước. Nhiều luật sư đã bị công an gây khó khăn trong việc tiếp xúc với thân chủ trước khi ra tòa như luật định.


Gần đây, báo chí trong nước bàn tán xôn xao về việc Sở Tư Pháp tỉnh Bến Tre "chỉ đạo" cho đoàn luật sư tỉnh này cho các luật sư từ 58 tuổi trở lên đi "giám định" sức khỏe, nếu không đạt thì đề nghị Bộ Tư Pháp thu hồi chứng chỉ hành nghề. Dư luận trong giới luật sư cả nước đều phẫn nộ về âm mưu dùng điều kiện sức khỏe để loại các luật sư lớn tuổi, giầu kinh nghiệm, có can đảm không sợ đụng chạm chính quyền. Vụ thứ nhì là Đảng CSVN đang tìm cách thao túng giới luật sư bằng cách thành lập cái gọi là "Hội đồng Lâm thời Luật sư Toàn quốc". Bộ tư pháp đã dàn dựng cho 3 người chỉ mới được cấp giấy hành nghề luật sư, và chưa từng một ngày làm luật sư thật sự giữ chức vị chủ tịch và hai phó chủ tịch. Ông chủ tịch Lê Thúc Anh mới nộp đon xin gia nhập đoàn luật sư Sài Gòn. Vì thế giới luật sư Sài Gòn rất bất mãn. Trưởng đoàn là luật sư Nguyễn Đăng Trừng đã làm văn thư từ chối đơn gia nhập của Lê Thúc Anh, đồng thời rút tên ra khỏi danh sách Hội Đồng Lâm Thời Luật Sư Toàn Quốc.

Các sự kiện trên đây cho thấy, ngành luật sư đang ngày một phát triển và đang nắm lấy thời cơ trong lúc đảng và Nhà Nước CSVN bắt buộc phải thi hành cam kết với quốc tế là trong sáng hoá hệ thống luật pháp và công lý. Các luật sư Sài Gòn và Miền Nam mà khá đông sinh khoảng năm 1950 đã xác định lập trường không chấp nhận sự khống chế của đảng và Nhà Nước CSVN để làm đúng lương tâm của người "thầy kiện" là bảo vệ công lý và quyền lợi cho người dân.

Trần Trọng Nghĩa
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

MẦU CỜ SẮC ÁO

SƠN ĐIỀN NGUYỄN VIẾT KHÁNH .

Cuộc viếng thăm 9 ngày của Đức Giáo Hoàng Benedicto tại Úc kết thúc, Ngài đã trở về Roma đầu tuần này. Chuyến đi của Giáo Hoàng chủ yếu là chủ trì Đại hội Thanh niên Công giáo toàn cầu, một cuộc họp có tầm quan trọng lớn trên bình diện quốc tế. Tòa thánh Vatican nói có đến 350,000 giáo dân của khoảng 170 nước lớn nhỏ trên thế giới tham dự. Buổi Thánh lễ chót đã diễn ra ngày Chủ nhật 20-7 tại trường đua Randwick, Sydney - nhiều người đã đem theo đồ cắm trại để ngủ tại đây đêm thứ bẩy. Cha Lombardi, phát ngôn nhân Vatican nói Sydney đã chứng kiến một tập hợp đông đảo hiếm có kể từ ngày Thế vận hội 2000. Ngày 21-7 Giáo hoàng đã họp riêng với 4 người Công giáo Úc, thời còn trẻ họ đã từng bị lạm dụng tình dục tại nhà thờ. Ngài rất quan tâm và đau lòng về những tai biến này. Hôm thứ bẩy, Ngài đã chính thức ngỏ lời xin lỗi về các vụ lạm dụng như vậy. Ngoài ra trong cuộc viếng thăm Úc, Giáo Hoàng đã đề cập đến một số vấn đề có tầm quan trọng sống còn cho cả loài người, như nạn bạo động, sự phát triển có duy trì liên tục trong công lý và hòa bình.

Theo dõi tin tức trên TV và các mạng lưới (net) trong suốt tuần qua, những hình ảnh mầu sắc rực rỡ đã gây cho tôi một niềm cảm xúc vô biên. Đó là những hình cờ xí rợp trời của những người Công giáo các nước đã trương lên vào dịp này. Riêng tôi, và có lẽ rất nhiều người Việt ở trong nước cũng như ở ngoài nước, đã chăm chú theo dõi hai mầu vàng và đỏ. Đó là hai mầu có liên hệ đến dân tộc Việt Nam chúng ta. Từ nửa thế kỷ qua Việt Nam có hai lá cờ khác nhau, cùng chọn hai mầu vàng và đỏ. Đó là cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa và cờ đỏ sao vàng của Việt Nam Xã hội chủ nghĩa. Ý nghĩa của hai lá cờ này như thế nào?

Hãy nhìn đến thông lệ và nguyên tắc hình thành một lá cờ tiêu biểu cho một nước, một dân tộc trên trường quốc tế. Quan trọng nhất là nền cờ, nghĩa là mầu sắc chiếm trọn bề mặt lá cờ hình chữ nhật theo quy định về kích thước. Ngoài ra những hình ảnh hay dấu hiệu nhỏ trên cờ có mầu sắc khác cũng chỉ phụ thuộc. Chính vì thế cờ Việt Nam Cộng Hòa có nền vàng nên gọi là cờ vàng, còn cờ Việt Nam Xã hội chủ nghĩa gọi là cờ đỏ. Sắc vàng vốn dĩ tiêu biểu cho tinh thần quật cường của dân tộc Việt Nam đã có từ ngàn xưa, bắt đầu từ lá cờ vàng của Trưng Vương, cũng như chiến bào mầu vàng của Bà khi cưỡi voi ra trận chống lại quân nhà Hán bên Tầu đến xâm lược nước ta năm 42 đầu Công Nguyên. Rồi kế đến năm 246 bà Triệu Ẩu, kiện tướng "cuỡi cá kình trên biển Đông", một hình ảnh biểu tượng trong tâm người Việt để ghi nhớ công đức của Bà chỉ huy quân đội chống lại giặc Đông Ngô xâm phạm bờ cõi Việt Nam. Lịch sử ghi lại bà Triệu thường mặc áo ngắn mầu vàng cầm thương cưỡi ngựa ra trận.

Còn cờ đỏ là mầu của máu, mầu của cách mạng vô sản. Trước đó đã có những cuộc cách mạng ôn hòa của một số nước Âu châu khi người dân tìm cách thay đổi các chế độ vua chúa phong kiến vì nhu cầu tiến bộ và phát triển. Nhưng khi những người Cộng sản Nga làm cách mạng vô sản để nhuộm đỏ cả hoàn cầu vào đầu Thế kỷ 20, họ chọn nền cờ đỏ cũng đúng, vì đây là cuộc cách mạng đẫm máu trong suốt 100 năm, dài hơn cả hai cuộc thế chiến. Ngày nay những người Cộng sản Việt Nam tiếp tục dùng cờ máu, nhưng sự thật lá cờ máu đó nay chỉ còn đại diện cho chế độ cai trị của một nhóm người tàn dư một chủ nghĩa chính trị đã lỗi thời. Nó không thể nào tiêu biểu cho một dân tộc có lương tri và đức độ, có sức sống mãnh liệt từ bốn ngàn năm qua. Đại họa cho dân tộc Việt Nam là cờ đỏ đã làm biết bao máu đổ thịt rơi vì chiến tranh, ở bên này cũng như bên kia lằn mức.

Trước ngày Đại hội Thanh niên Công giáo ở Úc, nhiều người theo dõi thời cuộc đã dự liệu sẽ có một cuộc đấu gay go giữa cờ vàng và cờ đỏ, vì người ta cho rằng cả hai bên đối nghịch đều sẽ có dịp trương ra ngọn cờ tiêu biểu của họ. Thế nhưng kỳ lạ thay, sự va chạm đã không xẩy ra. Trước ngày Đại hội Thanh niên, một cuộc Diễn hành Quốc kỳ đã được tổ chức tại Barangaroo, Sydney hôm 15-7. Hình ảnh gửi qua các "net" đã cho thấy những lá cờ vàng sọc đỏ được tuổi trẻ gốc Việt trên thế giới đến dự Đại hội mang giơ lên cao, quy tụ thành một nhóm rất đông giữa rừng cờ các nước, nhưng không thấy bóng lá cờ đỏ sao vàng. Có lẽ Sứ quán của mấy anh Cộng sản đã bị bất ngờ. Nhưng đến cuộc Đại lễ ngày 20-7, người ta càng thấy lạ, vì trong rừng cờ đầy đủ mầu sắc vẫn không thấy bóng cờ đỏ sao vàng, mà chỉ thấy hàng ngàn cờ lớn nhỏ nền vàng ba sọc đỏ.

Ông Nguyễn Thế Phong, Chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Tự do ở Úc, trong một cuộc phỏng vấn của đài Phát thanh 4EB (FM), đã cho biết một số chi tiết về vụ rước cờ vàng. Từ 7 giờ sáng, thanh niên gốc Việt ở Úc và một số ở nước khác khoảng 4,000 người đã tập trung ở Công viên Belmore. Ông Phong nói tổ chức của ông đã làm 5,000 lá cờ, trong đó 1,000 lá cờ cỡ lớn và cỡ trung, còn lại cỡ nhỏ để cầm tay. Từ công viên, đoàn thanh niên Việt đã rước cờ đi bộ quãng đường dài 4 cây số trong thành phố để đến nơi hành lễ là trường đua Randwick. Dọc lề đường dân Úc cũng như rất nhiều du khách đều đứng lại xem, vỗ tay hoan hô đoàn thanh niên VN mang cờ vàng. Tại nơi hành lễ những người được dự thánh lễ đã vào sân từ trước, trong số này đã có khoảng 1,000 thanh niên gốc Việt và cả giới trẻ từ VN qua. Nhưng khi đoàn 4,000 thanh niên cầm cờ vàng tới, ban tổ chức cũng mở cổng cho họ vào luôn với tất cả cờ vàng. Sau đó những lá cờ lớn nhỏ được phân phát hết cho giới trẻ VN có mặt từ trước, và cả những người nước ngoài cũng đòi được cầm cờ vàng ba sọc đỏ. Rút cuộc khu cờ vàng chiếm chỗ lớn nhất trong rừng cờ quốc tế.

Ông Phong cho biết một thanh niên Công giáo Việt ở Úc, anh Phạm Vũ Anh Dũng đã có dịp dâng lên Giáo Hoàng một khăn choàng mầu vàng có ba sọc đỏ, vì thời tiết ở Úc lúc này là mùa đông. Đức Thánh Cha đã cười vui, ban phúc lành cho khăn và Ngài cầm khăn tự choàng lên cổ. Cờ vàng đã đại thắng, không phải chỉ thắng trong một dịp hiếm có, mà còn thắng dài dài trong những ngày sắp tới. Cờ vàng là linh hồn của dân tộc. Linh hồn còn, dân tộc còn ...mãi mãi trong tương lai của loài người.

SƠN ĐIỀN NGUYỄN VIẾT KHÁNH
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »


Image

Quyền lực nhân dân
Tác giả: Phạm Hùng Vỹ

Tiếng vọng của lịch sử

Theo thông lệ, đảng cầm quyền sẽ tiến hành họp hội nghị trung ương 7, nhưng nền kinh tế Việt Nam từ vị thế ngôi sao đang lên đã tụt dốc nghiêm trọng mà nguyên nhân sâu xa không ngoài yếu tố phân chia quyền lực trong nội bộ đảng cầm quyền. Hình ảnh ngôi sao đang lên của Việt Nam có gì đó khiến người ta liên tưởng đến sự thăng tiến của ông Nguyễn Tấn Dũng. Từ một viên chức địa phương ở Miền Nam, ông Dũng gia nhập hàng ngũ cao cấp của đảng cầm quyền giữa thập kỷ 90 thế kỷ 20, với vị trí thứ trưởng Bộ Nội Vụ nay là Bộ Công An. Nếu theo cơ cấu, ông Dũng sẽ trúng ủy viên bộ chính trị và trở thành Bộ trưởng Bộ Nội Vụ sau Đại hội đảng lần thứ VIII, nhưng ông Dũng bất ngờ trúng ủy viên thường trực bộ chính trị, gia nhập vào đội ngũ năm nhân vật cao cấp nhất của chế độ.

Khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 diễn ra, trên bề nổi Việt Nam gần như không hề hấn gì. Thực tế, hoàn toàn khác xa, nền kinh tế Việt Nam trước đó đang trên đà tăng trưởng mạnh mẽ, với động lực số một là luồng vốn đầu tư nước ngoài "đổ vào" nhiều nhất trong lịch sử, với gần 8 tỷ đô la Mỹ đầu tư trực tiếp nước ngoài trong năm 1996. Khủng hoảng đến, đa số những cam kết đầu tư hoặc dự án đang triển khai bị dừng lại vô thời hạn, nền kinh tế Việt Nam tụt dốc thảm hại, đẩy thế hệ 7X đối diện với thách thức Thất nghiệt hàng loạt, điều chưa bao giờ xảy ra kể từ đầu những năm 90.

Trước những khó khăn chồng chất như vậy, đại hội giữa nhiệm kỳ của đảng cầm quyền vào năm 1997, bộ ba Mười - Anh - Kiệt đã thống nhất cùng lùi lại phía sau cho thế hệ "trẻ hơn" lên đứng mũi chịu sào. Đó cũng là thời điểm ông Dũng "ngồi" vào ghế thống đốc ngân hàng nhà nước dù thực tế điều hành ngân hàng là Phó thống đốc Lê Đức Thúy. Rồi ông Dũng được bổ nhiệm vào vị trí phó thủ tướng thường trực, bắt đầu lộ trình học việc gần một thập kỷ, để sau này trở thành người được lựa chọn đứng đầu một thế hệ lãnh đạo mới của đảng cầm quyền. Mặc dù, trên danh nghĩa bộ ba Mười - Anh - Kiệt đã lùi vào hậu trường, những dấu ấn của bộ ba vẫn bao trùm đảng cầm quyền, đặc biệt là cặp bài trùng Mười - Anh.

Nếu không có khủng hoảng tài chính 1997, rất khó để khẳng định phe tư tưởng - sức mạnh sẽ lên ngôi. Đáng tiếc là khủng hoảng đến, làm ký ức thời chiến lại hiện về giúp cặp bài trùng Mười - Anh khẳng định ảnh hưởng, quyết định con đường phát triển của đất nước. Dấu ấn lớn nhất về đối ngoại mà bộ đôi này để lại không ngoài việc làm chậm quá trình bang giao Việt - Mỹ, khi quyết định "chưa ký" Hiệp định thương mại Việt - Mỹ ở thời điểm năm 1999. Đồng nghĩa với việc bỏ lỡ cơ hội bằng vàng để Việt Nam nhanh chóng hòa nhập với nền kinh tế toàn cầu. Điều mà sau đó, Việt Nam phải trả giá đắt bằng những lợi thế mà người "anh em" Trung Quốc có được khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới ( WTO), bằng những nỗ lực đến cùng cực để vào WTO cùng các điều kiện mở cửa thị trường có phần quá sức chịu đựng của nền kinh tế và hệ thống chính trị Việt Nam.

Đại hội X của đảng cầm quyền là sự thắng thế phần nào của lực lượng cấp tiến, mở đường để ông Dũng ngồi vào ghế thủ tướng và thực hiện khát vọng vươn lên của cả dân tộc. Đáng tiếc, một lần nữa, ông Dũng và lực lượng cấp tiến không thống nhất được quyền lực trong đảng cầm quyền, thể hiện rõ nhất tại Hội nghĩ trung ương 5, ông Dũng lobby để mình được chọn ê kíp song các thế lực ở hậu trường vẫn giữ được vài quân bài trọng yếu, mặt khác, họ còn thành công khi kéo nhân vật trung dung về phe mình. Kết quả là, ông Dũng không nắm được lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế là khu vực tài chính - ngân hàng, dù thống đốc ngân hàng nhà nước Nguyễn Văn Giàu là đệ tử ruột của ông, ông lại nóng vội "khai sinh" cho các tập đoàn kinh tế nhà nước. Đây cũng chính là nguyên nhân đẩy nền kinh tế Việt Nam lâm vào khủng hoảng, đồng thời đe dọa tương lai chính trị của ông Dũng trong những ngày tới.

Thời bình hay thời chiến?

Càng gần đến ngày đảng cầm quyền họp, tình hình kinh tế càng xấu thì biến cố đột ngột xuất hiện, ông Kiệt, một nhân vật trong bộ ba quyền lực ngày nào, ra đi. Từ khi lùi vào hậu trường ông Kiệt trở thành thủ lĩnh của phe cấp tiến trong đảng với chủ trương dân chủ hóa đất nước trong yên bình, ông Kiệt nhanh chóng tạo được ảnh hưởng với thế hệ kế tục trong đảng cũng như nhiều tầng lớp ngoài xã hội.

Sự ra đi của ông Kiệt ban đầu khiến dư luận e ngại, phe bảo thủ hơn với "vũ khí" chính là tư tưởng - sức mạnh sẽ nhân cơ hội lật ngược thế cờ, thống nhất quyền lực trong đảng cầm quyền về một mối. May thay, sự ra đi của ông lại trở thành "tang lễ chính trị" ghi nhận thành quả của đường lối đổi mới về kinh tế đã cứu thoát một dân tộc trước hiểm họa đói nghèo và loạn lạc, về xã hội, tiếng nói của giới tri thức đã được thừa nhận nhiều hơn. Điều này lý giải, tại sao giới báo chí thông tin dày đặc về ông, người dân bất kể thành phần tiếc thương ông?

Thử hỏi, Việt Nam đang ở thời bình hay ở thời chiến? Mà một bộ phận trong đảng cầm quyền vẫn muốn mượn bàn tay của lực lượng sức mạnh phục vụ cho những toan tính quyền lực của mình.

Lực lượng được coi là thành trì của chế độ, bao gồm tư tưởng, công an và quân đội thực ra không "mạnh" như chế độ ra sức tuyên truyền, nếu không muốn nói, đó là những thùng thuốc súng có thể "nổ" bất kỳ thời điểm nào.

Đất nước đã bước vào thời bình mấy chục năm rồi, tại sao cứ phải "áp đặt" một hệ tư tưởng cho toàn xã hội? Vì nền tảng để một quốc gia giàu - mạnh chính là phát huy cao độ các nguồn lực, trong khi đó nguồn lực lớn nhất của Việt Nam bây giờ không phải là tài nguyên thiên nhiên, không phải là rừng vàng biển bạc, nguồn lực lớn nhất của Việt Nam chính là khả năng sáng tạo của 85 triệu dân. Đặc biệt là 70% trong số đó, thế hệ thanh niên, những người may mắn được tiếp cận nền kinh tế tri thức.

Không chỉ sáng tạo để phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật, người Việt Nam hoàn toàn có khả năng tạo dựng những tư tưởng được thời đại chấp nhận, thì không lẽ gì cứ phải "chung thân" theo kiểu đối phó với tư tưởng của một ai đó. Cho dù, tư tưởng đó, được thừa nhận hay áp đặt là nền tảng cho những thành công trong quá khứ của dân tộc, thì nó không bảo đảm sẽ thành công mãi mãi.

Thật khó chấp nhận, khi đất nước khó khăn như hiện nay, đảng cầm quyền kêu gọi nhân dân tiết kiệm, thì một phần tài sản quốc gia lại đương nhiên bị sử dụng lãng phí trong việc tuyên truyền về một hình tượng thánh nhân. Nếu đã là thánh nhân, đã đi vào dân gian, liệu có cần tuyên truyền, tô son trát phấn? Chẳng nhẽ không tô son trát phấn thì các thánh nhân trong lịch sử bị nhân dân quên lãng sao?

Đất nước đã bước vào thời bình mấy chục năm, nhẽ ra phải có những chính sách thu hút chất xám phát triển kinh tế dân sinh, qua đó, tạo nguồn lực lâu dài duy trì tiềm lực quân sự quốc gia, nhằm đập tan mọi âm mưu bá quyền. Thì đảng cầm quyền lại "ưu ái" thu hút nhân lực cho các lực lượng công an, quân đội, cùng với đó là nhiều đặc quyền đặc lợi, khiến ngân sách quốc gia luôn phải gánh quá sức các chi phí an ninh - quốc phòng. Một quốc gia nhỏ bé, người dân hiền hòa, vậy mà lực lượng công an có quân số khoảng 100.000 người, còn các lực lượng vũ trang thì gấp khoảng 10 lần con số trên.

Đáng buồn thay, tư duy thế tục của thời chiến vẫn được duy trì trong 2 lực lượng này cũng như hệ thống công quyền. Tức là, đương nhiên sẽ có một tỷ lệ vài chục phần trăm cho con em trong ngành khi tuyển dụng đầu vào. Thử hỏi, với Quota như vậy, tiêu cực - tham nhũng không hoành hoành mới lạ, điều đương nhiên tiếp theo là cơ hội thăng tiến với những người "thân cô thế cô" trong hệ thống chẳng khác nào trúng số độc đắc, bộ máy cứ thế phình lên, to ra, dù nhiệm kỳ nào, đại hội nào cũng ngùn ngụt khí thế quyết tâm Cải cách hành chính.

Số anh em không trong diện quota, dù giỏi giang đến mấy, nhiệt huyết đến mấy, trong sáng đến mấy, thì "ở trong chăn mới biết chăn nó dận" số ít có cá tính thì quyết định làm lại thì cũng bỏ lỡ một phần tuổi trẻ, còn đa phần để môi trường đồng hóa, trở thành những công chức điển hình của chế độ. Thật đau lòng và đáng tiếc khi một nguồn lực chất xám của đất nước cứ "le lói" và "tắt dần" như thế.

Những "mảng tối" như vậy, sẽ không bao giờ được thừa nhận trước dư luận chính là hiểm họa với đất nước. Bởi như một qui luật bất thành văn đến man rợ: trước nhân dân chỉ có một hình ảnh duy nhất về lực lượng an ninh - quốc phòng, đó là lực lượng tinh nhuệ, sẵn sàng bảo vệ đảng và chế độ. Là lực lượng luôn chiến thắng trong mọi hoàn cảnh, mọi kẻ thù.

Sẽ ra sao, khi những tư tưởng như thế này "quên" nhiệm vụ bảo vệ bình yên cuộc sống cho nhân dân và bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ, để tính cao thấp cùng những danh lợi tối thượng của quyền lực?

Đó là khi nhân dân, những "ông chủ" nuôi sống hệ thống "không được quyền biết" nhiều tỷ đô la mỹ ngân sách dùng cho an ninh - quốc phòng những năm qua được chi như thế nào? Giúp hiện đại hóa lực lượng an ninh - quốc phòng đến đâu? Đã qua rồi cái thời "đóng cửa bảo nhau" để "dọa" dân đó là Bí mật quốc gia, công bố không có lợi, nhất là khi tình trạng tham nhũng lan tràn như hiện nay thì đòi hỏi Minh bạch là không thể chối cãi.

Đất nước đã thời bình mấy chục năm, lòng người đã khác. Vì vậy, những toan tính dùng tư tưởng và sức mạnh để quản trị đất nước đã lỗi thời, hãy tỉnh táo trước khi quá muộn.

Không có "Ngụy" chỉ có "đồng bào"

Trong nỗ lực "giải độc" cho chế độ, trước niềm tin bị lung lay dữ dội của giới đầu tư quốc tế, tất cả các nhân vật chóp bu của chế độ đã phải "ra trận", dù là tổng bí thư Nông Đức Mạnh, thường trực Ban bí thư Trương Tấn Sang, chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, hay chủ tịch quốc hội Nguyễn Phú Trọng. Đến thời điểm này, chưa thể đánh giá nỗ lực "giải độc" thành công đến đâu, ngoài những cái bắt tay, những lời động viên - khích lệ, mang nặng phong cách ngoại giao. Vì các "đối tác" cũng đang thập diện mai phục, chờ xem đảng cầm quyền "nói chuyện" nội bộ thế nào?

Từ khi thực hiện đường lối kinh tế "mở", đảng cầm quyền đã nỗ lực rất nhiều trong việc đáp ứng các yêu cầu của giới đầu tư quốc tế, giúp Việt Nam thu được những thành quả đáng khích lệ về kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội. Nhưng để qua đó kết luận rằng Việt Nam đã bình đẳng trong hợp tác với bạn bè năm châu, thì chỉ là tự ru ngủ mình. Bằng chứng là, khi vừa "hớn hở" vươn ra biển lớn, Việt Nam đã lâm nạn, đảng cầm quyền theo thông lệ cố gắng tìm kiếm sự ủng hộ - giúp đỡ của "đối tác" song đáp lại chỉ là "hứa".

Thực tế đó, là khẳng định không chế chối cãi, luận điểm: Trước khi hy vọng được người ngoài cứu, hãy tự cứu lấy mình.

Mà giải pháp cứu mình tốt nhất không ngoài huy động tối cao các nguồn lực dân tộc. Là thực hiện triệt để Cải cách về Kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội. Cải cách bây giờ là Mệnh lệnh, là không phải bàn cãi. Bất kỳ thế lực nào cản trở tiến trình cải cách, chính là phản bội lợi ích dân tộc.

Điều này lý giải vì sao, cộng đồng quốc tế và đa phần nhân dân Việt Nam mong muốn ông Dũng tiếp tục tồn tại để đi tiếp con đường dở dang. Và chí ít ông Dũng cũng khát khao hoàn thiện trách nhiệm, ông đã đúng, khi bằng mọi thu xếp chuyến thăm Hòa Kỳ, đối tác thương mại quan trọng nhất của Việt Nam, như một nỗ lực "ghi điểm" với giới đầu tư quốc tế cũng như số đông đảng viên trẻ, trước khi đối diện với thách thức lớn nhất trong sự nghiệp.


Trong thời gian ở Hoa Kỳ, ông Dũng đã biết mình, biết người khi vô cùng cầu thị trong cuộc tiếp kiến với "thầy phù thủy" Alan Greenspan. Chứng tỏ, nếu ông tiếp tục được tạo cơ hội, đứng đầu chính phủ Việt Nam, ông biết mình phải làm gì? Một động thái khác, cũng chứng tỏ ông Dũng xứng đáng được trao cơ hội, là hoạt động gặp gỡ bà con kiều bào, với trách nhiệm hòa giải - hòa hợp dân tộc, đang chờ đợi ông, sau tuyên bố ""Bà con hãy hướng về quê hương, bằng mọi đường, mọi nẻo. Quê hương là vĩnh hằng, trong khi quá khứ đã là lịch sử, cần gác lại".

Đúng! Dù lỗi đau trong lòng dân tộc còn rất lớn thì người Việt Nam dù ở đâu, chính kiến nào, cũng chỉ có một mong mỏi: Sớm thống nhất lòng người sau khi đã thống nhất về địa lý.

Chỉ khi đó, sức mạnh Đại Việt mới trở thành hiện thực, mới sánh ngang các cường quốc năm châu.

Nhưng chiến tranh đã qua đi mấy chục năm, trong khi kiều bào vẫn nặng lòng với đất mẹ, đóng góp sức mình cho sự thay da đổi thịt của Việt Nam thì đảng cầm quyền vẫn Công khai chia cắt lòng người. Chỉ với từ "Ngụy" trong lịch sử, trong sách giáo khoa dạy cho các thế hệ mai sau, trong nhiều văn bản chính thức và các hoạt động "kỉ niệm" hoành tráng đã gợi lại tất cả những gì đau thương nhất của dân tộc. Đã đến lúc xóa bỏ "Ngụy", trên toàn cõi này, giữa người Việt với người Việt chỉ có hai từ thân thương, là "đồng bào".

Đó là trách nhiệm với vận mệnh dân tộc, yêu cầu đảng cầm quyền phải thực hiện ngay.

Nhiều người sẽ cho rằng, hội nghị giữa nhiệm kỳ hay hội nghị trung ương, ai đi ai ở, là chuyện nội bộ của đảng cầm quyền. Điều này không hề sai. Nhưng một đảng để dũng cảm nhận vai trò cầm quyền thì đảng đó phải có trách nhiệm lèo lái đất nước đến phồn vinh - giàu mạnh. Trái lại, sẽ không phải làn sóng bỏ nước ra đi của người dân những năm 80 thế kỷ 20 đầy tăm tối, mà chính đảng phải lùi bước để nhân dân thực hiện xứ mệnh của mình.

Phạm Hùng Vỹ
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 12 guests