Bình Luận , Quan Điểm

bobinh
Posts: 221
Joined: Fri Feb 26, 2010 1:35 am
Contact:

Post by bobinh »

Giấc mơ cải tổ của Tập Cận Bình

Ngô Nhân Dụng
Ngày Thứ Hai, 30 Tháng Mười Một, 2015, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) quyết định chấp nhận đồng tiền Trung Quốc làm tiền dự trữ. Từ năm năm nay, chính quyền Cộng Sản Trung Quốc đã vận động xin IMF nhưng không được, năm nay mới thành công. Trung Cộng hy vọng đồng nguyên sẽ được nhiều người sử dụng, ngân hàng trung ương nhiều nước có thể giữ trong kho ngoại tệ dự trữ, giống như đô la Mỹ, đồng Euro, bảng Anh, và đồng yên Nhật Bản.

Tại Bắc Kinh, báo đài ca ngợi địa vị mới này, tạo cho dân chúng Trung Hoa một ảo tưởng! Họ nghĩ rằng lâu nay đồng đô la Mỹ chiếm địa vị cao, được nhiều quốc gia sử dụng để giao dịch với nhau và giữ làm dự trữ ngoại tệ; nay đồng nguyên đứng ngang hàng với đô la thì uy thế của Trung Quốc trong kinh tế, tài chánh thế giới cũng cao hơn. Nghĩ như vậy là lẫn lộn nhân với quả. Ðịa vị của đồng đô la là do sức mạnh của nền kinh tế Mỹ chứ không phải vì đô la mạnh nên kinh tế Mỹ cao hơn. Ðồng nguyên được IMF công nhận vì kinh tế Trung Quốc lớn hàng thứ hai trên thế giới và số lượng hàng xuất nhập cảng lớn, một điều kiện đã được thỏa mãn.

Quyết định của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế có một ảnh hưởng chính trị, là thúc đẩy chương trình cải tổ cơ cấu đang được Tập Cận Bình theo đuổi và vẫn bị phe bảo thủ trong đảng ngăn cản. Một trong những cải tổ là cho đồng nguyên được mua bán tự do, điều kiện thứ hai. Quyết định hạ giá đồng nguyên cho phù hợp với giá thị trường trong Tháng Chín năm nay của Bắc Kinh đã giúp đồng nguyên thỏa mãn điều kiện này; như bà Christine Lagarde, chủ tịch IMF ghi nhận việc cải tổ có tiến bộ. Nếu Tập Cận Bình không thể tiếp tục cải tổ thị trường tài chánh để đạt được trình độ minh bạch công khai thì đồng nguyên sẽ mất uy tín và có thể sẽ bị IMF rút ra khỏi kho dự trữ.

Hai năm trước, ngày 15 Tháng Mười Một năm 2013, Cộng Sản Trung Quốc đã công bố việc cải tổ để “thị trường đóng vai trò quyết định” trong nền kinh tế, thay vì chỉ phụ thuộc các quyết định của chính quyền. Một ủy ban cải tổ ra đời do chính Tập Cận Bình cầm đầu, nhằm “thiết lập các quy tắc thị trường công bằng, cởi mở và công khai,” như Tân Hoa Xã loan báo.

Nhưng trong năm qua, Trung Cộng đã đi những bước giật lùi trên con đường cải tổ; tiêu biểu nhất là chính quyền can thiệp một cách “trắng trợn” vào thị trường chứng khoán để giữ giá các cổ phiếu; tiếp theo là những “chương trình kích cầu” để giữ cho tỷ lệ phát triển không xuống dưới 7%. Những biện pháp đó cuối cùng vẫn không thành công. Thủ Tướng Lý Khắc Trường mới lên tiếng chấp nhận tỷ lệ tăng trưởng 6.9%. Một bản phúc trình của Demand Institute, một cơ sở nghiên cứu uy tín ở New York do hai công ty Nielsen và The Conference Board thành lập, tiên đoán kinh tế Trung Quốc thực sự chỉ tăng được trung bình 4.5% mỗi năm từ năm 2015 tới năm 2020.

Thứ Sáu tuần trước, 27 Tháng Mười Một, thị trường chứng khoán Thượng Hải lại tụt giá mạnh hơn 6%. Vụ tụt giá này diễn ra sau tin ba công ty đầu tư Citic (Trung Tín, 中信) Haitong (Hải Thông, 海通) và Guosen (Quốc Tín, 国信) bị điều tra về tội lũng đoạn thị trường. Sau đó, trong hai ngày đầu tuần này thị trường vẫn chưa phục hồi, chứng tỏ giới đầu tư không tin tưởng vào tính chất minh bạch, công khai của cả hệ thống vì chính quyền vẫn đóng vai trò chỉ huy. Mặc dù đã can thiệp “vũ bão,” Cộng Sản Trung Quốc không thể “sai khiến” được thị trường. Kể từ ngày 25 Tháng Tám, 2015 khi thị trường xuống thấp nhất, chỉ số giá cổ phiếu Thượng Hải chỉ lên được 17%, sau khi đã tụt giá một phần ba kể từ cao điểm ngày 12 Tháng Sáu.

Cải tổ thị trường chứng khoán và hệ thống tài chánh là việc tương đối dễ, so với việc thay đổi các xí nghiệp quốc doanh. Bởi vì quyền lợi của những người đang được hưởng trong hệ thống hiện hữu quá lớn, và họ sẽ tìm mọi cách cản trở. Giới bảo thủ này rất mạnh vì họ nhân danh quyền thống trị của đảng Cộng Sản.

Một tài liệu tiết lộ từ công ty Cosco (Trung Quốc Viễn Dương Viễn Du Công ty, China Ocean Shipping Company, 中国远洋运输公司) biểu hiện tình trạng này. Trong tuần lễ cuối Tháng Mười, 2015, một bài diễn văn dài 9,000 chữ được công bố trên mạng, trước khi bị tháo gỡ. Bài này ký tên Từ Ái Sinh (Xu Aisheng, 徐爱生), một thanh tra trong ban kiểm soát của đảng bộ Trung Viễn Tập Ðoàn (COSCO group, 中远集团). (Tên Cosco này không có chữ T như tên công ty bán hàng Costco ở Mỹ).

Bài diễn văn có tính chất thời sự vì liên can đến cuộc thương thuyết đang diễn ra để kết hợp hai công ty vận tải đường biển lớn nhất Trung Quốc, Cosco và China Shipping Group (Trung Quốc Hải Vận Tập đoàn, 中国海运集团). Từ Ái Sinh kể rằng ông ta đã chất vấn chủ tịch công ty Cosco là Mã Trạch Hoa (Ma Zehua, 马泽华): “Ông có nhớ rằng ông là bí thư đảng ủy hay không? Tại sao trong bản đề nghị kết hợp các ông không nói một tiếng nào về ‘củng cố quyền lãnh đạo của đảng’? Ông phải tự phê bình!” Từ Ái Sinh còn dọa nếu sai sót này tái phạm, sẽ báo cáo lên ủy ban “Kỷ Luật, Kiểm Tra Trung Ương (中央纪律检查委员会).” Sau đó, chủ tịch họ Mã đã “thành khẩn” nhận lỗi và hứa sửa sai.

Tập đoàn Cosco làm chủ một ngàn công ty nhỏ, hoạt động trên 50 lãnh thổ, tổng cộng thương vụ vào năm 2013 là 66 ngàn tỷ nguyên, hơn 10 ngàn tỷ Mỹ kim nhưng trong ba năm liên tiếp đều bị lỗ tới chục ngàn tỷ đồng nguyên. Từ Ái Sinh khoe đã thắng ông chủ tịch công ty vì mấy ngày trước đó, Trung Ương Ðảng đã ban hành chỉ thị nói việc cải tổ kinh tế phải “tăng cường lãnh đạo của đảng.” Trong bài diễn văn (chắc nói trong nội bộ Ban Kiểm Tra) Từ Ái Sinh còn “mách bu” rằng ngày đầu tiên tới công ty làm việc ông ta hỏi tại sao trong trụ sở công ty không treo cờ đảng. Ông chủ tịch công ty hứa sẽ treo, nhưng cả tuần sau vẫn không thấy. Ông chủ tịch Lý Ngọc Bằng (Li Yupeng, 李玉朋) nói tìm lá cờ hơi khó, nhưng Từ Ái Sinh đã đưa 400 đồng nguyên, sai nhân viên ra phố mua ngay một lá cờ búa liềm, trong vòng nửa giờ.

Ông Tập Cận Bình sẽ phải đối phó với chính cái chỉ thị của Trung Ương Ðảng mà ông cầm đầu. Chỉ thị này đi ngược với chủ trương cải tổ các doanh nghiệp nhà nước. Trên nguyên tắc, việc cải tổ sẽ đặt các công ty quốc doanh dưới quyền những hội đồng quản trị, gồm các nhà quản lý chuyên nghiệp, lấy lời lỗ làm tiêu chuẩn. Trong chỉ thị lại nói khác, rằng trong hội đồng quản trị và trong ban giám đốc phải có những đảng viên trung kiên. Quyền lãnh đạo của đảng Cộng Sản được ghi vào trong điều lệ thành lập các công ty, một điều mà từ trước đến nay chưa bao giờ công khai bắt buộc! Sau phiên họp phê bình kiểm thảo của Từ Ái Sinh, công ty Cosco bắt đầu mời các cán bộ Ban Kỷ Luật và Kiểm Tra tham dự vào tất cả các phiên họp về thăng thưởng nhân viên.

Bản phúc trình về kinh tế Trung Quốc của Demand Institute nhận xét rằng mâu thuẫn giữa “tính đảng” và “ban giám đốc chuyên nghiệp” sẽ khiến Cộng Sản Trung Quốc khó thay đổi cơ cấu kinh tế, khó lòng trở thành minh bạch, công khai và cởi mở. Một nhà báo đã tìm tòi về ủy ban Kỷ Luật Kiểm Tra tại công ty Cosco, tìm ra rằng ủy ban này nhận được báo cáo từ 21,867 người, trong một công ty với 130,000 nhân viên. Mà đây chỉ là một trong nhiều ủy ban của đảng nằm trong guồng máy điều hành công ty! Ủy Ban Kỷ Luật Kiểm Tra thường xuyên tổ chức các buổi họp phê bình và tự phê bình. Trong ba năm qua ủy ban đã tiêu 4 tỷ rưỡi đồng nguyên, tương đương với 800,000 đô la Mỹ trong việc giải trí tại các sân cù (golf).

Tới Tháng Mười Hai năm 2015, việc kết hợp hai công ty Cosco và China Shipping Group vẫn chưa ngã ngũ, sẽ kéo dài qua năm 2016. Với tình trạng hàng chục ngàn người không đóng góp gì vào công việc thực của xí nghiệp nhưng lại nắm rất nhiều quyền chỉ huy, không biết rằng những công ty này sẽ “cải tổ” ra sao! Giấc mơ cải tổ của ông Tập Cận Bình sẽ còn xa vời.
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Vì sao Trung Cộng không thể dân chủ hóa?

Hùng Tâm/Người Viêt

Và Việt Nam thì có thể...

Trung Cộng đang ở vào khúc quanh nguy hiểm cho đảng Cộng Sản Trung Hoa. Trên đỉnh cao của uy thế kinh tế, quân sự và quốc tế, lãnh đạo đảng đang phải lấy nhiều quyết định hệ trọng, y như vào giai đoạn “hậu Mao Trạch Ðông,” từ 1976 đến 1980. Hồ Sơ Người Việt sẽ tìm hiểu chuyện này...

Mười năm hỗn loạn


Là kẻ vĩ cuồng, Mao phát động “Ðại Văn Cách” và mở ra 10 năm khủng hoảng vì cuộc Cách Mạng Văn Hóa Vô Sản Vĩ Ðại (1967-1976). Mục tiêu là để khai trừ các đồng chí trên thượng tầng hầu tập trung quyền lực vào tay mình với tinh thần sùng bái cá nhân khá bệnh hoạn, bất kể đến tai họa cho quốc gia và xã hội. Nhưng khi sức khỏe và sự minh mẫn của Mao sa sút thì bốn kẻ thân tín vây quanh (“Tứ Nhân Bang”) đã che mắt ông mà cưỡng đoạt “cách mạng” cho mưu đồ riêng.

Nhờ hỗn loạn của Ðại Văn Cách và hậu thuẫn của các đảng viên cao cấp nhất như Diệp Kiếm Anh, Dương Thượng Côn, Trần Vân, Lý Tiên Niệm, v.v... Ðặng Tiểu Bình dần dần thâu tóm lại quyền lực trong một cuộc đảo chính chậm rãi, kéo dài mất nhiều năm, để loại bỏ tay chân còn lại của Mao như Hoa Quốc Phong và Uông Ðông Hưng. Hội nghị kỳ 3 của Ban Chấp Hành Trung Ương Khóa 11 vào cuối năm 1978 đánh dấu bước ngoặt chính trị ấy.

Sau đấy, Ðặng mới đưa bè lũ bốn tên ra tòa vào năm 1980, là Giang Thanh, Diêu Văn Nguyên, Trương Xuân Kiều và Vương Hồng Văn và lại khéo giữ uy tín của Mao (chủ yếu là tích cực, cuối đời thì hơi tiêu cực theo tỷ lệ 70/30!) chứ không dại dột lật đổ thần tượng.

Giữa hai thời điểm 1978-1980 ấy, có một biến cố khác cũng giúp Ðặng Tiểu Bình thành công: trong cuộc chiến 1979 để “cho Việt Nam một bài học,” quân đội Trung Cộng bị tổn thất nặng nên dù là thành phần bảo thủ, các tướng lãnh vẫn ủng hộ chủ trương cải cách để “hiện đại hóa”: trong “tứ hiện đại hóa” của Ðặng, (canh nông, công nghiệp và khoa học kỹ thuật), có hiện đại hóa quốc phòng.

Và đấy là một “cống hiến” bất ngờ của Hà Nội khi ấy cũng mắc bệnh vĩ cuồng.

Ðặng tiến hành cải cách và khai phóng kinh tế và rút kinh nghiệm tập quyền tai hại của Mao, còn xây dựng hệ thống lãnh đạo chính trị dựa trên tinh thần đồng thuận trong hàng ngũ đảng viên cao cấp nhất, từ Bộ Chính Trị trở xuống. Kết quả là kinh tế cải thiện từ 1980 và dù có bị khủng hoảng chính trị năm 1989 với cao điểm là vụ tàn sát Thiên An Môn, Ðặng vẫn tiếp tục cải cách kinh tế trong tinh thần đồng thuận. Các trường hợp truất phế Tổng Bí Thư Hồ Diệu Bang hay tống giam Tổng Bí Thư Triệu Tử Dương thì cũng là để cứu đảng.

Nhờ vậy, trong hơn 30 năm kinh tế Trung Cộng đã tăng trưởng rất nhanh, như trường hợp Nhật Bản từ những năm 1950-1960, hay Nam Hàn và Ðài Loan từ những năm 1960-1970. Nhưng đấy là tăng trưởng thiếu phẩm chất và tích lũy nhiều vấn đề. Sau bốn thế hệ lãnh đạo là Mao, Ðặng, Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Ðào, thế hệ lãnh đạo thứ năm là Tập Cận Bình ngày nay đang phải giải quyết các vấn đề ấy.

Chuyển hướng kinh tế và cải cách chính trị


Từ năm 1980 đến 2010, Trung Cộng có 30 năm tương đối thanh bình và ổn định hơn 30 năm trước (1949-1979) và kinh tế đã khởi phát mạnh. Nhưng sau thành tựu dễ dãi ban đầu nhờ bốc lên từ một nền tảng rất thấp, tình trạng bất công, không phối hợp, mất cân bằng và không bền vững đã trở thành rõ rệt từ các năm 2000-2005. Lãnh đạo đời thứ tư là Hồ Cẩm Ðào, Ngô Bang Quốc, Úy Kiện Hành và Ôn Gia Bảo đã thấy điều ấy mà không thể cải sửa.

Họ càng khó cải sửa khi thế giới bị Tổng suy trầm sau vụ khủng hoảng tài chánh tại Hoa Kỳ năm 2008. Chẳng những không cải cách, họ còn cố bơm tiền để kinh tế lao về phía trước hầu khỏi bị thất nghiệp và động loạn xã hội. Hậu quả là kinh tế mắc nợ rất nhanh tới mức cao nhất, tổng số nợ đủ loại hiện đã vượt 280% của Tổng Sản Lượng Nội Ðịa.

Thế hệ thứ năm lên lãnh đạo sau Ðại hội khóa 18 vào cuối năm 2012 tất nhiên là hiểu vấn đề và qua năm hội nghị của Ban Chấp Hành Trung Ương Khóa 18, đã đề ra phương hướng cải cách kinh tế và cơ chế pháp quyền. Hội nghị kỳ 5 vừa qua còn chú trọng đến tiêu chí cho Kế hoạch Năm năm thứ 13, từ 2016 đến 2020, để hoàn thành giấc mơ nhân đôi lợi tức người dân trong 10 năm 2010-2020. Muốn như vậy, kinh tế phải tăng trưởng trung bình 7% một năm trong 10 năm liền. Ðây là điều bất khả và lãnh đạo phải hạ chỉ tiêu dưới 7% và thực tế thì họ cũng biết rằng một năm kinh tế chỉ tăng trưởng được 4.5% là nhiều.

Phương hướng cải cách kinh tế được đề ra và học tập tại mọi cấp là phải đổi chiến lược phát triển với lực đẩy cũ là đầu tư và xuất cảng phải dời tiêu thụ nội địa và tái phân lợi tức cho các tỉnh lạc hậu và tăng cường áp dụng quy luật thị trường. Nhưng nếu muốn nâng mức tiêu thụ nội địa và cho các tỉnh lạc hậu có sức mua cao hơn thì phải lấy tài nguyên từ khu vực kinh tế nhà nước và xâm phạm vào quyền lợi của hệ thống thân tộc của các đảng viên cao cấp.

Tức là trở ngại cho kinh tế lại xuất phát từ tổ chức chính trị.

Chiến dịch diệt trừ tham nhũng do Tập Cận Bình và Vương Kỳ Sơn phát động có thể phần nào đẩy lui sự cưỡng chống cải cách kinh tế từ các thành phần đảng viên cao cấp có quyền lợi gắn bó với hệ thống cũ. Nhưng chiến dịch gây tác dụng ngược là làm tê liệt bộ máy công quyền xưa nay đã phát triển nhờ tham nhũng. Trong hệ thống chính trị ấy, ai cũng có thể mắc tội tham nhũng khi dùng đặc quyền để chiếm đặc lợi.

Huống hồ Tập Cận Bình còn muốn lấy lý do thanh lọc hàng ngũ đảng viên cho liêm chính hơn mà thanh trừng các đối thủ chính trị để tập trung quyền lực về trung ương và tối cao của trung ương là quyền lực của bản thân họ Tập. Tập cũng lại tập Mao!

Vì vậy, lồng trong nỗ lực chuyển hướng kinh tế lại có nan đề cải cách chính trị. Ðấy là bài toán sinh tử, có thể đe dọa sự tồn vong của đảng. Khi ấy, người ta hỏi rằng với một quốc gia rộng lớn và có quá nhiều khác biệt, Trung Cộng có thể nào tự chuyển hóa từ chế độ độc đảng chuyên quyền qua chế độ dân chủ và áp dụng thể chế liên bang như nhiều nước khác hay chăng?

Ðể tìm giải đáp, Hồ Sơ Người Việt sẽ nhìn qua các nước khác trong khu vực.

Á Châu trên đường dân chủ hóa

Bị đánh bại trong Thế Chiến II, Nhật đã được Hoa Kỳ hướng dẫn và yểm trợ để áp dụng kinh tế thị trường trong một chế độ dân chủ nên là một trường hợp ngoại lệ. Các nước khác thì có thể ban đầu áp dụng quy luật thị trường để phát triển kinh tế nhưng dần dần tự chuyển hóa qua chế độ dân chủ.

Thí dụ gần nhất và nóng bỏng là Miến Ðiện. Nhưng trước đó thì đã có Nam Hàn, Ðài Loan, Singapore hay Phi Luật Tân, Malaysia và Indonesia,... Vì chỉ là đảo quốc rất nhỏ nên Singapore cũng là một ngoại lệ không thể là cơ sở so sánh cho Trung Cộng.

Nói chung, nhiều nước Ðông Á đã từng xây dựng chế độ độc đảng để cả nước dồn sức cho phát triển kinh tế dưới sự hướng dẫn của đảng độc quyền hay một tập đoàn độc tài quân phiệt. Nhưng dù hoàn cảnh mỗi nước mỗi khác, các nước trên đều từng bước chấp nhận chế độ đa đảng và sau đó chấp nhận là đảng độc quyền bị cạnh tranh, nhiều khi thất cử. Ðấy là trường hợp Nam Hàn và Ðài Loan. Hai quốc gia này là trường hợp gần như duy nhất, là từ hoàn cảnh chậm tiến mà bước lên trình độ kinh tế công nghiệp hóa và chính trị có dân chủ.

Singapore và Malaysia thì cũng theo ngả đó, nhưng đảng cầm quyền vẫn thắng cử và tiếp tục lãnh đạo trước phản ứng có thật của đối lập. Philippines dưới chế độ Ferdinand Marcos thì phải qua một cuộc khủng hoảng, với sức ép của Hoa Kỳ, để tiến tới chế độ đa đảng từ sau năm 1986. Indonesia thì phải tới cuộc khủng hoảng kinh tế Ðông Á 1997-1998 mới có cái trớn lật đổ chế độ độc tài của Sukarto và trải qua chục năm bất ổn thì nay cũng xây dựng được nền móng dân chủ.

Trong cả khu vực, có Thái Lan là một ngoại lệ khác: từ chế độ đa đảng mà lùi về chế độ quân phiệt sau gần 10 năm sóng gió kể từ 1996. Lý do chính là quốc vương cao tuổi, mắc bệnh, hết minh mẫn, và Hoàng Gia Thái bị tướng tá lũng đoạn nên trong khi Miến Ðiện đang tự dân chủ hóa thì Thái Lan lại trở về nạn độc tài quân phiệt - và trôi dần vào trật tự Trung Cộng.

Nhìn trên toàn cảnh thì người ta có thể kết luận rằng dân chủ không tất nhiên dẫn tới động loạn như nhiều người vẫn lo sợ. Lãnh đạo Bắc Kinh cũng lo sợ như vậy, nhưng vì yếu tố khác.

Dân chủ gian nan vì tự ái dân tộc

Nhiều quốc gia Ðông Á đã trên đỉnh cao của thắng lợi kinh tế mà tự chuyển hóa về chính trị, là trường hợp Nam Hàn hay Ðài Loan. Nhiều xứ khác thì trong đà khủng hoảng kinh tế mà cải cách chính trị để tìm giải pháp kinh tế khác. Trung Cộng thì sao?

Kinh tế xứ này đang ở trên đỉnh cao và có thể lật sau 36 năm tăng trưởng. Cái đỉnh cao về kinh tế có đem lại một phần chính danh cho đảng Cộng Sản vì đời sống của gần một tỷ người có cải thiện, dù không đồng đều và bất công thì cũng khá hơn 30 năm hoảng loạn và bần cùng vì Mao Trạch Ðông.

Kinh tế Trung Cộng có thể lật và sẽ trải qua 10 năm bất ổn trước mắt nên cần cải tổ chính trị để chuyển hướng cho hài hòa hơn. Lý thuyết và lý tưởng là như vậy.

Nếu có đảng đối lập và bầu cử tự do thì sự bất mãn của toàn dân sẽ được giải tỏa, nhưng đảng vẫn chiếm đa số vì có tổ chức cao nhất và rộng nhất. Về văn hóa chính trị thì với đa số dân chúng, đảng vẫn có “Thiên mệnh” từ khi ra đời vào năm 1921 và chiến thắng năm 1949. Thứ nữa, nếu có thêm dân chủ, mâu thuẫn ngàn năm giữa quyền lực trung ương và các địa phương cũng giảm thiểu, nhờ đó mà việc tái phân lợi tức và tài nguyên cũng được minh bạch hóa. Về đối ngoại, nếu có thêm dân chủ, dù chưa toàn phần, thì lãnh đạo Bắc Kinh càng có thêm uy tín quốc tế để bảo vệ quyền lợi của Trung Cộng tại Bắc Mỹ, Á Châu và Phi Châu.

Nhưng cũng vì lý do đối ngoại, Bắc Kinh không thể tự dân chủ hóa: với giới lãnh đạo Trung Cộng, khái niệm “dân chủ” là sản phẩm của Tây phương và âm mưu của Hoa Kỳ! Tự dân chủ hóa là mắc bẫy của Mỹ... Khi đảng đang thách đố Hoa Kỳ nhờ sức mạnh tập trung của mình thì hà cớ chi áp dụng quy luật dân chủ để làm suy giảm sức mạnh đó?

Kết luận ở đây là gì?

Bắc Kinh ngớ ngẩn vì Hoa Kỳ chỉ nói về dân chủ mà sẵn sàng cộng tác với các chế độ độc tài đê tiện nhất, như Trung Cộng và Việt Nam tại Châu Á.

Không tự chuyển hóa, Trung Cộng sẽ đi tới điểm lật của Liên Bang Xô Viết, rồi nếu có mạnh tựa Liên Bang Nga thì cũng chỉ còn là vang bóng. Chưa kể là còn bị suy thoái và phân hóa nặng hơn trong thập niên tới.

Bắc Kinh có lý do e sợ dân chủ. Hà Nội không nên sợ như vậy vì chính là dân chủ mới giúp Việt Nam có thêm khả năng bảo vệ độc lập.
tramthaiha
Posts: 453
Joined: Tue Sep 08, 2009 7:54 pm
Contact:

Post by tramthaiha »



Dân Chủ, Đấu Tranh Mới Có


Vi Anh


Image
Khí phách Nguyễn Mai Trung Tuấn
Dân chủ không chờ mà được, không xin mà có. Dân chủ phải đấu tranh mới có. Có nhiều khi phải hy sinh như nhà đấu tranh Tom Paine nói “tự do hay là chết và Mục sư Luther King Jr chết cho tự do, bình đẳng của người dân ở Mỹ.

Nhiều dấu chỉ cho thấy một số người Việt trong nước quá mong muốn, quá nóng lòng chờ đợi dân chủ nên bị một số cán bộ tuyên huấn CS, cò mồi của CS, đám tuyên truyền viên bằng miệng dùng báo đài của Nhà Nước CSVN hay lợi dụng các hội luận, các phỏng vấn trên các chương trình tiếng Việt của các đài phát thanh ngoại quốc, trong đó có của Anh, Pháp, Mỹ nữa, cho ăn bánh vẽ như Tào Tháo nói láo với binh lính đói khát đằng trước có rừng mơ.

Tiêu biểu như tuần qua rất ồn ào với tin tung ra từ Quốc Hội Đảng cử dân bầu của CSVN. Rằng lãnh đạo Việt Nam [CS] phải tuyên thệ trung thành với dân. Thủ tướng, chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội và chánh án tòa án nhân dân tối cao Việt Nam phải “tuyên thệ trung thành với tổ quốc, nhân dân và hiến pháp” khi nhậm chức. Rằng đó là Quốc Hội sửa đổi nội qui; điều lệ mới được thông qua sáng 24/11 và sẽ có hiệu lực từ đầu năm 2016. Theo đó, người tuyên thệ “quyết định nội dung tuyên thệ phù hợp với trách nhiệm được giao và phải đứng trước quốc kỳ tuyên thệ với thời gian không quá 3 phút”. Ông Đinh Xuân Thảo, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội, nói với đài VOA tiếng Việt, “Khi mà quốc hội mới bầu ra các chức danh như chủ tịch nước, thủ tướng, chủ tịch quốc hội và chánh án tòa án nhân dân tối cao, thì sẽ có tuyên thệ nhậm chức. Trong hiến pháp thì quy định như thế còn trong nội quy kỳ họp của quốc hội, quy định như thế để thực hiện việc tuyên thệ theo tinh thần của hiến pháp. Các nước họ làm nhiều rồi, như là tổng thống nhậm chức họ làm rồi, còn Việt Nam từ xưa tới nay thì chưa”.

Còn một số nhà quan sát dấu tên thêm mắm dặm muối, nói thêm với VOA, rằng điều đáng chú ý là “không có đảng trong phần phải tuyên thệ trung thành”. Và suy diễn thêm nội quy sửa đổi trên được thông qua trong bối cảnh chỉ còn vài tháng nữa là diễn ra đại hội đảng lần thứ 12, và tại kỳ họp này, các vị trí chủ chốt của Đảng Nhà Nước CSVN sẽ được công bố. Hồi đầu năm nay, một tờ báo thuộc cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc đăng bài bình luận cho rằng 2015 sẽ là năm căng thẳng chính trị ở Việt Nam trong khi chuẩn bị cho Đại hội thứ 12 với việc bầu ban lãnh đạo chóp bu mới, đồng thời nhận định rằng Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đang nhắm tới chiếc ghế Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cán bộ, đảng viên và cò mồi của CSVN nói vậy, chớ không phải vậy, mà còn khác hơn, dối hơn vậy nhiều. Khẩu hiệu trung với đảng, hiếu với dân là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy bộ đội CS. Khi hạ trào cách mạng, CS có đổi chút đỉnh khi nói nhưng bản chất là hằng cữu trung với đảng. Hồi tháng Bảy vừa qua, phát biểu tại Đại hội thi đua quyết thắng toàn quân lần thứ IX, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói quân đội Việt Nam "phải tuyệt đối trung thành với tổ quốc, với dân tộc, với hiến pháp của nước CHXHCN Việt Nam..", khác với các tuyên bố trước đó của các nhà lãnh đạo khác, đặt đảng lên đầu trên phương diện hình thức. Nhưng nội dung chẳng có gì khác, vì vẫn trung thành với hiến pháp của nước CHXHCN Việt Nam” tức trung thành với chế độ CS trên danh nghĩa là Đảng lãnh đạo, Nhà Nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Nhưng trên thực tế và thực chất, Điều 4 qui định Đảng CS là Đảng lãnh đạo Nhà Nước, quản lý Nhân dân, làm chủ Đất nước, Đảng chỉ dời cái phết qua vài chữ trên khẩu hiệu, thì quyền của CS trở thành độc tài đảng trị toàn diện.

Và thực tế và thực sự là vậy, tin VOA cho biết, trong lễ bế mạc Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam hôm 12/1/2015, Ông Nguyễn Phú Trọng tuyên bố “đổi mới chính trị [ở Việt Nam] không phải là làm thay đổi chế độ chính trị, thay đổi bản chất của Đảng, nhà nước mà là đổi mới cơ chế, chính sách, tổ chức bộ máy; chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu; tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia”.

Trở lại cái gọi là Quốc Hội CSVN. Tổ chức này không có bầu chọn nhưng chức danh lãnh đạo Đảng Nhà Nước, theo đúng nghĩa chữ bầu chọn. Chính Bộ Chánh Trị chọn trước, Đại Hôi Đảng thông qua theo thủ tuc của CS gọi là cộng đồng tuyển trạch. Quốc Hôi chỉ hợp thức hoá cho có lệ, mặc chiếc áo nhân dân trên người CS thôi.

Và thêm một hành động lập lờ đánh lận con đen dân chúng VN mà CS và cò mồi đang làm. Đó là Quốc Hội CSVN đảng cử dân bầu thảo luận Dự thảo Luật về Hội. Nhưng sớm nhất cũng phải đến tháng 10/2016 mới được Quốc hội khóa tới thông qua. Quyền lập hội, cũng như quyền tự do di chuyển, ngôn luận được qui định trong tất cả các bản Hiến pháp của nhà nước Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam từ 1946 tới 1992 và 2013, nhưng tại sao gần đại hội đảng CSVN lần thứ 12, Quốc Hội thứ 13 mới thảo luận nhưng phải để Quốc hội khóa 14, mãi vào năm 2016 mới bầu, rồi một thời gian sau mới chung quyết luật lập hội. Dễ hiểu, Đảng CSVN hé nắp vung để xì bớt áp suất bất mãn của dân chúng trước đại hội Đảng lần thứ 12 bầu lãnh đạo Đảng Nhà Nước và kế hoạch cho 5 năm tới.

Quốc Hội còn đề nghị thảo luận Luật Thăm dò Dân ý để làm chánh sách quốc gia. Đặt vấn đề trong những tháng cùng ngày tận của Quốc Hội khoá 13 mà không chung quyết là để tạo hy vọng Đảng Nhà Nước sẽ đổi mới chánh trị, cải tiến tự do, dân chủ, tạo bầu không khí lạc quan hầu chuyển hướng công luận đang bất lợi cho CS. Kinh nghiệm sống trong chế độ CS không phải ở VN, mà ở TC, Liên xô, các nước Đông Âu khi trước ở đâu cũng vậy. CS thường nói vậy mà không phải vậy. Người dân phải đấu tranh, lắm khi phải chết sống với mong muốn thì mới thành công. Một là đấu tranh trực diện với nhà cầm quyền địa phương biểu tình đông người, dẻo dai, kiên trì bám trụ, lấy quần chúng bao vây lãnh tụ. Hai là đấu tranh gián tiếp với nhà cầm quyền trung ương bằng cách chiếm quốc lộ, tạo bế tắc con đường huyết mạch từ Bắc vào Nam. Ba là dùng tiến bộ khoa học kỹ thuật tin học phổ biến tin tức, tạo thành một cuộc đấu tranh chấn động, khiến nhà cầm quyền trung ương áp lực địa phương phải giải quyết. Bốn là nổi dậy để lật đổ CS như ở Ba Lan và các nước Đông Âu CS. Tóm lại, tự do, dân chủ không ngồi chờ mà có, không xin mà được, phải đấu tranh hay chiến đấu mới có./.(Vi Anh)

__._,_.___
dailien
Posts: 2481
Joined: Sun Jun 03, 2007 3:37 am
Contact:

Post by dailien »

Máy bay mang cờ ISIS sẽ sớm gieo rắc tai họa tại Âu Châu
06.12.2015

Image
ảnh minh họa

IS đang huấn luyện phi công từ căn cứ không quân ở Libya với những máy bay sót lại từ thời Gaddafi. Các nhà phân tích trong khu vực lo ngại IS sẽ thực hiện các vụ tấn công bằng máy bay nhắm thẳng châu Âu trong thời gian tới.

Tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo (IS) đang gia tăng sự hiện diện ở quốc gia Bắc Phi này bất chấp các đợt không kích của Nga và Mỹ tiến hành ở Syria. Thành phố ven bờ Địa Trung Hải được chúng chọn là bàn đạp để nhắm tới châu Âu. Từ thành phố Sirte bay tới Italia là gần nhất. Điều này đồng nghĩa với lo ngại mức độ khủng bố với các mục tiêu ở khu vực châu Âu sẽ được đẩy lên một nấc cao hơn.
Image
IS trên những chiếc xe ở thành phố Sirte, Libya

“Chúng ta đều biết IS đang tìm cách giết hại càng nhiều người phương Tây càng tốt. Nếu chúng dùng một chiếc xe hơi để đánh bom tự sát thì chúng hoàn toàn có thể làm như vậy với một chiếc máy bay; mục tiêu của chúng là gây thương vong nhiều nhất có thể”, đại tá Jacques Neriah, một chuyên gia về vấn đề Bắc Phi trả lời trên Fox News.

“Chúng tôi không nói về máy bay chiến đấu như F-16 hay Mig-31”, ông trả lời. “Chúng tôi nói về những phi công được đào tạo lái máy bay dân sự có thể lái một chiếc máy bay cỡ nhỏ rồi lao xuống Vatican. Từ Sirte tới Rome chỉ mất 1,5 tiếng bay qua biển Địa Trung Hải”.
Image
Nhiều phiến quân đã tình nguyện gia nhập lực lượng IS tại Libya để mở rộng căn cứ ở đây. Các chuyên gia quân sự nhận định IS dự định dùng Libya làm vùng đệm nếu như trận chiến ở Syria và Iraq không mang lại kết quả khả quan cho chúng.

Báo cáo của Liên Hợp Quốc cho biết hơn 3.500 công dân Libya đã rời bỏ đất nước để gia nhập IS ở Syria và Iraq. Trong đó, 800 người đã quay trở về Libya để gia nhập các lực lượng khủng bố ở địa phương. Sự chuyển dịch phiến quân người Libya cần một sự theo dõi sát sao nhằm đánh giá thực lực hiện nay của IS.
Image
Một sân bay gần biển Địa Trung Hải ở Libya. Từ đây, việc di chuyển tới châu Âu là cực kỳ thuận tiện.

Tuần trước, The Wall Street Journal thông báo rằng Thủ tướng Italia Matteo Renzi đã gặp Tổng thống Pháp Francois Hollande tại Paris và phát biểu rằng “Châu Âu cần quan tâm nhiều hơn tới sự nổi dậy của IS tại Libya”.

Thông tin về việc IS đang đào tạo phi công xuất hiện đầu tuần trước trên tờ Asharq al-Awsat. Bài báo trích lời một nhân viên an ninh ở Libya cho biết Không quân nước này đã cố gắng tiêu diệt một trại huấn luyện ở Libya nhưng không thành công. Một nhóm khủng bố cực đoan người Sunni đã mua được những thiết bị giả lập huấn luyện phi công từ đầu tháng 10.

Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc thông báo rằng nguy cơ IS tiến hành leo thang hoạt động khủng bố Bắc Phi là có cơ sở. Nhất là khi hàng ngàn người nhập cư đã dùng thuyền cập bến châu Âu mấy năm trở lại đây. Hiện nay khu vực Bắc Phi rất nhiều người dân chạy nạn trước sự tàn ác và máu lạnh của IS.

“Trong khi tập trung phát triển thành lũy ở Sirte, IS có thể tìm kiếm các đồng minh để mở rộng quyền kiểm soát lãnh thổ tại các khu vực khác, chưa kể việc dụ dỗ hàng ngàn phiến quân người nước ngoài đến Libya”, bài viết hôm 15.11 có đoạn viết. “IS là mối đe dọa thường trực của Libya. Chúng đang hưởng lợi từ tai tiếng gây ra ở Iraq và Syria”.

“Libya là một khu vực rất quan trọng với IS về mặt địa chính trị vì nằm ở ngã ba Trung Đông, châu Phi và châu Âu”, bản báo cáo cho hay. “Hiện tại IS chưa kiểm soát được nhiều vùng lãnh thổ ở Libya nhưng chắc chắn chúng đang thèm muốn mở rộng địa bàn ở quốc gia này”.

Nhiều chuyên gia cho rằng các biện pháp khẩn cấp phải được thực thi ngay để ngăn chặn IS. Ngoài Syria và Iraq, Libya là quốc gia còn lại mà IS đang kiểm soát. Chúng tập trung trọng điểm vào thành phố Sirte, nơi có nhiều mỏ dầu quan trọng. Trước đây chúng kiếm được hàng trăm triệu USD từ khai thác dầu ở Syria tuy nhiên việc bán dầu lậu ở Libya chưa mang lại kết quả.
Image
Bản đồ cho thấy nếu IS chiếm được Sirte nói riêng và Libya nói chung,
khoảng cách để chúng tiến công vào châu Âu sẽ là gần thế nào!

“IS từng cử một tàu ra nước ngoài bán dầu cách đây mấy tháng nhưng bị Hải quân Mỹ tịch thu và bắt giữ”, ông Neriah giải thích. “Ở thời điểm hiện tại chúng vẫn chưa thể buôn lậu dầu với số lượng lớn”.

Số lượng vũ khí khổng lồ sót lại từ thời Gaddafi đang tìm đường vào tay của những kẻ khủng bố. Nhiều vũ khí đã được tuồn ra Syria, Mali, dải Gaza… trong khi bằng chứng khác cho biết bán đảo Sinai (Ai Cập) là một nơi trung chuyển quan trọng để buôn bán vũ khí lậu.

Chính quyền Libya đã kêu gọi sự trợ giúp quốc tế tuy nhiên vẫn bị phớt lờ.

“Nhiều người nghĩ IS là một tổ chức khủng bố nhưng sự thật chúng là một nhà nước khủng bố. Chúng có đủ bộ máy của một nhà nước thực thụ”, ông Neriah kết luận. “Ở thành phố Mosul (Iraq), chúng thu giữ 2.500 xe bọc thép từ quân đội Iraq và đều là xe mới tinh do Mỹ sản xuất. Trong nội chiến Syria, IS đã sản xuất vũ khí hóa học và có bằng chứng cho thấy chúng tấn công phe chính phủ bằng loại vũ khí hủy diệt này. Rõ ràng chúng có khả năng huấn luyện binh lính như một nhà nước thực thụ”.

“Nếu cộng đồng quốc tế không can thiệp bằng các biện pháp quân sự, tôi sợ rằng hậu quả diễn ra ở Libya sẽ là vô cùng bi đát”.
nguyenvsau
Posts: 1138
Joined: Thu Jul 08, 2010 11:25 pm
Contact:

Post by nguyenvsau »

Obama, Bình, Trọng: Chấm Dũng
Image
Ba dấu chỉ cho thấy Tổng Thống Obama của Mỹ, Chủ Tịch Tập cận Bình của Trung Cộng và Tổng bí Thư CSVN Nguyễn phú Trọng bây giờ đều chấm Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng như là người có nhiều triển vọng lên làm Tổng bí thư ảng CSVN sau đại hội 12 của Đảng CSVN vào đầu năm 2016.

Một, Thủ Tướng Dũng mời TT Mỹ Obama thăm VN là TT Obama OK và hứa liền, dự trù trong tháng 5/2016 theo báo chí của CSVN. Trong khi Chủ Tịch Nước Sang rồi Tổng bí Thư Trọng mời hai lần, TT Obama mới hứa hẹn nhưng không đi. Đài VOA, tiếng nói chánh thức của chánh quyền Mỹ, ngày 23.11.2015 cũng loan tin tương tự. VOA cho biết Báo chí Việt Nam hôm Chủ nhật loan tin Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã nhận lời của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng mời ông sang thăm Việt Nam khi hai nhà lãnh đạo gặp nhau bên lề Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 27 ở Malaysia.” Theo Bộ Ngoại giao Việt Nam, chiều ngày 21/11/2015 cho biết tại cuộc gặp gỡ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xác định Việt Nam mong muốn tăng cường quan hệ Đối tác toàn diện, có hiệu quả với Hoa Kỳ. Thủ tướng cảm ơn Tổng thống Barack Obama đã nỗ lực phối hợp với lãnh đạo các nước thành viên kết thúc thành công đàm phán Hiệp định TPP. Thủ tướng đề nghị Hoa Kỳ đóng góp tích cực hơn nữa vào việc bảo đảm hoà bình, ổn định và thịnh vượng ở khu vực, kể cả ở Biển Đông. Tổng thống Barack Obama cho rằng Hoa Kỳ và Việt Nam cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ để phê chuẩn và thực hiện có hiệu quả Hiệp định TPP.

Về vấn đề Biển Đông, Hoa Kỳ ủng hộ lập trường của Việt Nam và cho rằng Việt Nam và các nước ASEAN cần có tiếng nói chung và tăng cường phối hợp giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế và các thoả thuận khu vực.

Báo Tuổi Trẻ, tờ báo ruột của số CS gốc Miền Nam nói thời điểm chuyến thăm được dự trù là tháng 5/2016, khi ông Obama dự hội nghị thượng đỉnh G7 ở Nhật Bản.

Bản tin VOA đi tiếp, Vẫn theo báo chí Việt Nam, trong cuộc gặp ở thủ đô của Malaysia hôm thứ Bảy 21/11, Tổng thống Obama nói Mỹ ủng hộ lập trường của Việt Nam về vấn đề Biển Đông. Theo báo Tuổi Trẻ, trong cuộc gặp này, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng khẳng định Hà nội muốn tăng cường quan hệ đối tác toàn diện, có hiệu quả với Hoa Kỳ. Nhà lãnh đạo Việt Nam yêu cầu Mỹ đóng góp hơn nữa để bảo đảm hòa bình, ổn định và thịnh vượng khu vực, kể cả vấn đề Biển Đông.

Tờ báo Hoàn Cầu của TC trước đây không bao lâu cũng cho rằng Hoa Kỳ đang âm mưu sử dụng chiến thuật cách mạng màu cổ lỗ tại Việt Nam nhằm biến Hà Nội “thành một con tốt giống như Philippines để kiềm hãm sự trỗi dậy của Trung Quốc”.

Hai là Chủ Tịch TC Tập cận Bình viếng thăm VNCS hồi đầu tháng 11, chỉ mời TT Dũng thăm TQ. Trong thời gian Chủ Tịch Bình công du VN, Ông gặp gỡ cả tứ trụ triều đình CSVN: Tổng bí thư Nguyễn phú Trọng, Chủ Tịch Nước Trương tấn Sang, Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng và Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn sinh Hùng. Trang web Bộ Ngoại giao CSVN ngày 20/10 xác nhận chuyến thăm của Chủ tịch Tập Cận Bình là đáp lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang. Nhưng Chủ Tịch Bình chỉ mời Thủ Tướng Dũng công du TQ.

Chủ Tịch Bình thăm VNCS hai ngày từ 5 đến 6 tháng 11, đó là thời gian Đảng CSVN đã xong đại hội trù bị chuẩn bị nhân sự lãnh đạo Đảng Nhà Nước CSVN và kế họach cho 5 năm tới. Nói một cách khác là danh sách dự trù ai giữ chức gì trong Đảng Nhà Nước đã được đại hội trù bị thông qua, theo thông lệ ít khi thay đổi trong đại hội chánh thức. Tình báo chánh trị, quân sự của TC tại VNCS cũng như trung ương uỷ viên của CSVN tay sai cho TC như gia nô Phùng quang Thanh cũng không ít, nhứt định đã mật trình cho tình báo TC rồi. Chủ Tịch Bình thừa biết ai là người sẽ nắm chức tổng bí thư Đảng CSVN.

Ngoài hình thái đặc biệt chỉ mời TT Dũng công du, tính đặc cách mời còn biểu lộ qua người mời và nơi mời. Theo nghi thức ngoại giao, nhứt là đối với CS và TC rất chú ý đến vấn đề vai vế. Ngõ lời mời chánh thức là do người đồng cấp, thủ tướng mời thủ tướng hay ngoại trưởng chuyến lời mời. Đằng này mời Thủ Tướng Dũng lại do Chủ Tịch Bình đích thân đến Phủ Thủ Tướng, gặp TT Dũng để mời, là quá đặc biệt, đặc cách. Chủ tịch Bình muốn cho TT Dũng thấy sự nâng cấp, sự chuẩn nhận của Ông đối với TT Dũng.

Trên phương diện chánh trị là một sự chuẩn nhận và là một đầu cơ cho mối bang giao tốt giữa Bắc Kinh và Hà nội trong 5 năm của nhiệm kỳ tổng bí thư của Đảng CSVN và 7 năm nắm quyền TC của Chủ Tịch Bình.

Ba là Bộ Chánh trị Đảng CSVN TT Dũng người chủ trương xích lại gần Mỹ gặp và mời TT Obama của Mỹ. Cơ quan quyền lực nhứt Đảng Nhà Nước phân công TT Dũng đi hội nghị thượng đĩnh ASEAN ở Mã Lai, không có mặt Chủ Tịch TC để tiện cho TT Dũng gặp mời TT Obama. Và phân công Chủ Tịch Nước Trương tấn Sang sẵn dịp đi dự hội nghị APEC, đại diện cho VNCS trong việc ký hiệp ước phát triển đối tác chiến lượt với Phi. Bộ Chánh trị phân công cho TT Dũng đi dự hội nghị thượng đĩnh ASEAN, phía TC chỉ có Thủ Tướng Lý khắc Cường tham dự, để TT Dũng lập lại lời mời TT Obama công du VN, thì lời mời rất thuận tiện, trơn tru.

Điểm tế nhị này cho thấy cuộc đấu đá nội bộ giữa hai phe hướng về Mỹ của TT Dũng và hướng về TC của Tổng Trọng đã được hoá giải. Hai bên đã nhất trí đồng tình (nói theo CS Bắc Việt), và “đồng ý, đồng tâm vô nước cho gà nhà” nói theo dân Miền Nam, là TT Dũng lên làm tổng bí thư Đảng CSVN, tức đi với Mỹ không sợ mất đất, bớt lệ thuộc kinh tế của TC.

Bốn và sau cùng, việc Đảng CSVN chọn TT Dũng làm tổng bí thư là hợp với định luật kinh tế chánh trị phổ thông. Vùng nào phồn thịnh, dân nào làm ra tiền, thì nắm quyền chánh trị. Kinh tế Miền Nam, công nhân, nông dân Miền Nam sản xuất nhiếu hơn Miền Bắc.

Trong đấu tranh, cạnh tranh triệt hạ không được thì thoả hiệp. Ba lần tàn dư CS Bắc Việt triệt TT Dũng không nổi. Chỉ một chuyến công du Mỹ, Tổng Trọng hoà hưỡn với TT Dũng, kể ra ảnh hưởng của Mỹ cũng mạnh. Mạnh như thời Chiến Tranh VN, Ô. Võ văn Kiệt, Ô. Dũng đánh Mỹ cứ đánh, đồ Mỹ tốt cứ dùng, và hiểu biết sự vượt trội của hệ kinh tế theo kiểu Mỹ. Nên Ô Kiệt trở thành người chủ trương đổi mới kinh tế, xích lại gần với Mỹ. Ô Sang, Dũng là người theo đường lối Kiệt. Nên trước đà TC xâm thực biển đảo của VN, chính Nhà Nước do TT Dũng cầm đầu cũng biết Mỹ không có tham vọng đất đai đã âm thầm vận động phát triển đối tác chiến lược với Mỹ để hoá giải đà bành trướng của TC. Sách lược này được đại đa số dân chúng và trí thức VN và đa số đảng viên CSVN ủng hộ. Nếu đây tới đầu năm 2016 không có biến động gì lớn, đây là lần đầu tiên trong lịch sử Đảng CSVN, có một tổng bí thư Đảng là người Miền Nam. Một hậu duệ của lớp người Nam Tiến đợt ba, rời Thăng Long đi mở nước. Một văn hoá, một lối sống mới, thực dụng, bình dân và linh động như câu ca dao Nam Tiến: Ra đi gặp vịt cũng lùa, Gặp giặc cũng đánh, gặp chùa cũng tu.”

Vi Anh
thienthanh
Posts: 3393
Joined: Thu Jun 07, 2007 4:14 pm
Contact:

Post by thienthanh »

'Ðả đảo công an - Ðả đảo đảng cộng sản'

Ngô Nhân Dụng
Nhà báo Trần Quang Thành mới đưa lên mạng Danlambao những hình ảnh người Việt Nam kỷ niệm Ngày Quốc Tế Nhân Quyền, ở Canada, ở Ðức. Nhưng đặc biệt nhất là quang cảnh những cuộc biểu tình tuần hành tại Hà Nội trong ba ngày, ngày 3, 4 và 10 tháng 12 năm 2015.

Cuộc biểu tình đầu tiên diễn ra tại công viên dựng tượng đài Lý Thái Tổ nằm bên bờ hồ Hoàn Kiếm đã bị công an đàn áp. Sáng hôm sau ngày 4 tháng 12, đồng bào quay trở lại tụ tập trước cửa “trụ sở tiếp dân” của đảng Cộng Sản ở ngôi nhà số 1 phố Ngô Thì Nhậm, quận Hà Ðông, Hà Nội. Tới ngày 10 tháng 12, đúng Ngày Quốc Tế Nhân Quyền, hàng trăm đồng bào lại mở một cuộc biểu tình bắt đầu từ trụ sở trên để biến thành một cuộc tuần hành qua các đường phố Quang Trung, Nguyễn Trãi dài hàng cây số.

Nhà báo tự do tị nạn Cộng Sản Trần Quang Thành đang sống tại nước Slovakia đã khéo trình bày các bức hình do chính các người đi biểu tình chụp cho thấy cả rừng biểu ngữ chen lẫn với những khuôn mặt các cụ già với cả các thiếu niên, phần lớn là các ông bà lớp tuổi trung niên.

Trong những đoàn hàng trăm người biểu tình, hầu như ai cũng cầm biểu ngữ, hoặc mỗi người một biểu ngữ nhỏ hoặc hai ba người mang một biểu ngữ lớn. Các biểu ngữ nhỏ dùng giấy bìa màu trắng chữ đỏ, biểu ngữ lớn dùng vải màu vàng chữ đỏ hoặc ngược lại vải đỏ chữ vàng, nét chữ viết rõ ràng có thể đọc được trong các bức hình, cho thấy các cuộc biểu tình này đã được chuẩn bị trước “rất kỹ.” Không những thế, mặc dù công an đã cướp mất nhiều biểu ngữ trong ngày 3 tháng 12 tại Bờ Hồ nhưng ngay hôm sau một số biểu ngữ cũ vẫn xuất hiện trở lại trên phố Ngô Thì Nhiệm. Ðiều này chứng tỏ những người tổ chức các cuộc biểu dương này phải được một phe cánh trong đảng cộng sản ngầm hỗ trợ. Nhưng không phải vì thế mà các cuộc tập họp quần chúng này không diễn tả đúng ý chí của người dân Việt Nam hiện nay.

Cả ba cuộc biểu tình được giới thiệu là quy tụ “Dân Oan Ba Miền” đấu tranh đòi nhà cầm quyền Cộng Sản phải trả lại quyền tư hữu đất đai tài sản của người dân. Nhưng đọc trên những biểu ngữ người ta thấy mục tiêu tranh đấu rộng hơn nhiều.

Những người biểu tình đã nhân danh các “Dân Oan” đòi nhà, ruộng, đất đai bị cướp là việc làm chính đáng để được mọi người hiểu và ủng hộ. Cho nên có những biểu ngữ nêu đích danh như “Tố cáo Lê Văn Nghĩa P chủ tịch Tiền Giang...” Một biểu ngữ khác viết “tố cáo chủ tịch Tây Ninh...” Trên nhiều biểu ngữ còn thấy nêu tên các tỉnh khác như trên một biểu ngữ là “Dân Oan Ðồng Nai,” hoặc Long An, Hải Dương, Thanh Hóa. Trên một bức hình thấy được một phần, có nêu tên “...Nguyễn Văn Ðẹn, Nguyễn Tấn Phước,... năm 2008... tỉnh Tiền Giang...”

Biểu ngữ đầy đủ nhất viết trên một tấm vải rộng: “Dân oan ba miền đấu tranh đòi nhà cầm quyền cộng sản phải trả lại quyền tư hữu đất đai tài sản của người dân.” Một tấm vải viết ngắn gọn hơn: “Trả quyền tư hữu đất đai cho dân!” Và một lời kêu cứu khác còn kêu gọi “Ðảng ơi! Cứu chúng tôi dân bị phá nhà cướp tài sản!” (Các dấu than do người tường thuật viết thêm). Với những lời lẽ đó chúng ta có thể nghĩ các người biểu tình vẫn không muốn đụng tới đảng Cộng Sản. Nhưng lại xuất hiện nhiều biểu ngữ khiến người ngoài thấy dân chúng đã dám tấn công thẳng vào đảng Cộng Sản!

Một tấm biểu ngữ viết: “Phản đối cộng sản cường quyền dùng bạo lực đàn áp khủng bố người dân.” Có người diễn tả một cách giản dị hơn: “Tôi không thích ÐCSVN!” Một tấm khác cho thấy đối với dân chúng chế độ Cộng Sản và chế độ công an là một, viết rõ ràng: “Còn đảng Cộng Sản, còn công an trị, dân ta còn mất quyền làm người.” Ðây là một trên các biểu ngữ trong các bức hình nhắc đến quyền làm người, khi các cuộc biểu tình nhằm đúng Ngày Quốc Tế Nhân Quyền. Tiếp theo là những khẩu hiệu đòi, “Trả lại quyền Tự do ngôn luận, Tự do báo chí, Tự do lập hội, Tự do tín ngưỡng cho người dân.”

Biểu ngữ viết “Còn đảng cộng sản, còn công an trị,...” là một câu trả lời cho khẩu hiệu của công an cộng sản viết rằng: “Ðảng còn thì mình còn!” Dân Việt Nam đã vạch rõ cái này còn và cái kia còn đều là tai họa cho người dân! Phần lớn các khẩu hiệu nêu ra đều nhắm thẳng vào chế độ đàn áp, phi nhân của công an mà những người biểu tình chính là các nạn nhân. Nhiều người biểu tình mang biểu ngữ: “Ðả đảo công an tra tấn, đánh đập, bức cung người dân vô tội;” hay “Bắt người vô tội để cướp đất là một tội ác.” Ông Trần Văn Sang, từ xã Dương Nội đã bị công an đánh gẫy chân trong nhà tù, ông bị bắt sau khi biểu tình dân oan đòi đất. Lần này ông ngồi trên xe lăn, với chiếc nạng chống bên cạnh, tham gia đoàn tuần hành mang tấm biểu ngữ viết: “Ðả đảo công an đánh Trần Văn Sang tàn phế.” Trong ngày 10 tháng 12, có người còn hiên ngang hô to khẩu hiệu “Ðả đảo đảng cộng sản.”

Ngoài anh Trần Văn Sang, rất nhiều người đã tham dự biểu tình để lên tiếng về những tai họa cho chính họ và gia đình họ do chế độ Cộng Sản gây ra. Trong cuộc tuần hành hình ảnh một em bé gái nổi bật với tấm áo đỏ viết hàng chữ tự giới thiệu: “Cháu Ðoàn Trương Anh Thư” với câu “Tuổi thơ của con bị bọn tham nhũng cướp mất!” Ðông đảo và bền chí nhất chắc là gia đình bà người bị tuyên án tử hình sau những phiên tòa xử không đúng luật. Họ mang các biểu ngữ đòi “Trả tự do cho tử tù Nguyễn Văn Chưởng, Lê Văn Mạnh, Hồ Duy Hải.” Những vụ “án oan” này đã sôi nổi trong dư luận suốt nhiều năm nhưng chế độ tư pháp của đảng Cộng Sản vẫn chưa nhận tội! Các hình ảnh được đưa ra nhiều lần cho thấy những nét đăm chiêu nhưng cương quyết của gia đình các nạn nhân. Trước các khuôn mặt buồn rầu của những người mẹ già, những bà vợ và các đứa con là các tấm bảng viết “Trả tự do con tôi!” “Trả tự do bố tôi!” “Trả tự do em tôi! Vân vân.

Những hình ảnh cuộc biểu tình và diễn hành do các nhà nhiếp ảnh Trịnh Bá Phương, Nguyễn Huy Tuấn và cô Trương Thanh Quang ở Tiền Giang đưa lên mạng, được nhà báo Trần Quang Thành biên tập thành những bản tin, kèm theo điệu hát bài “Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi.”

Trong cùng thời gian qua, trên mạng còn xuất hiện một đoạn video cho thấy cuộc biểu tình của giới tiểu thương Huế ở chợ Ðầu Mối Bãi Dâu vào ngày 1 tháng 12 năm 2015. Ðó là ngày hết hạn ghi danh để đổi sang khu chợ mới nhưng hàng trăm tiểu thương vẫn phản đối quyết liệt và không chịu dời chợ cũ.

Truyền thông trên mạng là một phương tiện phổ biến nhanh chóng và đầy đủ, có thể khích động các cuộc tranh đấu đòi tự do dân chủ của người dân các nước bị độc tài đàn áp. Ba cuộc biểu tình nhắm những mục tiêu khác nhau diễn ra liên tiếp tại Hà Nội khiến người ta nghi ngờ đằng sau có những cuộc tranh chấp phe phái của giới cầm quyền Cộng Sản, trước khi họ họp đại hội đảng vào năm tới. Trong số các biểu ngữ có nhắc đến một tên tuổi duy nhất, trong lời kêu gọi gửi cho Nguyễn Tấn Dũng. Chúng ta cũng không thể biết Nguyễn Tấn Dũng chủ mưu gây ra những cuộc biểu tình này, hay những phe chống Nguyễn Tấn Dũng mới đứng đằng sau xúi giục để làm hại Dũng!

Dù ai đứng đằng sau thì khi được dịp đi biểu tình phản kháng chế độ Cộng Sản đàn áp cướp tài sản dân lành, đánh, giết người vô tội, là các đồng bào của chúng ta đều sẵn sàng tham gia! Cần phải khuyến khích nhiều cuộc biểu tình như vậy, ở khắp nơi, dù do bất cứ ai trong đảng Cộng Sản muốn dùng thủ đoạn đó trong cuộc tranh giành quyền lợi lẫn nhau! Nếu các cán bộ cấp tỉnh, cấp huyện dám thi hành thủ đoạn này thì những người “dân oan” cũng sẵn sàng tham dự để dùng gậy ông đập lưng ông! Những biểu ngữ “Ðả đảo công an - Ðả đảo đảng cộng sản” càng được trưng lên ở nhiều nơi, càng nhiều lần, thì ngày dân ta được hưởng dân chủ tự do càng đến gần hơn!
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »

Image

Trung Quốc: Ván bài lật ngửa

Nguyễn Hưng Quốc

13.12.2015
Ở Việt Nam, nhiều người, trong đó có thể có cả một số người trong giới lãnh đạo, dường như còn mơ hồ trước các âm mưu của Trung Quốc trên Biển Đông. Thực tình, tôi hoàn toàn không hiểu về cái gọi là “mơ hồ” ấy. Bởi sự thực đã rõ rành rành: Trung Quốc không hề giấu giếm các âm mưu của họ. Có thể nói, họ đang chơi một ván bài lật ngửa.

Chính quyền Trung Quốc luôn luôn khẳng định một số “lợi ích cốt lõi” (core interests) mà họ cương quyết không nhân nhượng bất cứ ai hết: Đó là Tây Tạng, Đài Loan và Biển Đông đều thuộc về họ. Sự khẳng định chủ quyền đối với Tây Tạng và Đài Loan đã có từ lâu nên không làm ai ngạc nhiên. Sự khẳng định thứ ba, mới hơn, từ hơn một thập niên vừa qua, liên quan trực tiếp đến chủ quyền và quyền lợi của nhiều quốc gia, trong đó, có Việt Nam. Sự khẳng địnhg này bao gồm hai nội dung chính: Một, Trung Quốc cho tất cả những hòn đảo, rạn san hô và bãi đá thuộc Trường Sa mà Việt Nam và Philippines đang trấn giữ vốn thuộc về họ: Chúng bị Việt Nam và Philippines cưỡng đoạt một cách “phi pháp”. Hai, căn cứ trên quan niệm cho cả Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về họ, Trung Quốc đã vẽ nên tấm bản đồ chủ quyền gồm chín đoạn (còn được gọi là đường chữ U hoặc lưỡi bò) bao trùm lên phần lớn diện tích Biển Đông. Với hai nội dung này, Việt Nam có hai điều có thể mất: Một, 29 thực thể, từ đảo đến bãi đá và rạn san hô ở Trường Sa; và hai, toàn bộ vùng biển bao quanh Hoàng Sa và Trường Sa.

Có thể nói việc Trung Quốc chiếm lĩnh toàn bộ Trường Sa và Biển Đông chỉ là vấn đề khi nào và bằng cách nào chứ không phải là chuyện có hay không. Trung Quốc đã khẳng định dứt khoát điều đó. Chả có gì để hoài nghi cả.

Để chiếm lĩnh Trường Sa và Biển Đông, Trung Quốc sử dụng ba sách lược chính.

Thứ nhất là sách lược tằm ăn dâu (salami slicing), tức chiếm từ từ, dần dần, mỗi lúc một ít. Trước, Trung Quốc chiếm Hoàng Sa: Việt Nam không phản đối. Sau, Trung Quốc công bố con đường lưỡi bò vắt ngang qua vùng biển vốn thuộc về Việt Nam: Việt Nam không phản đối. Gần đây, Trung Quốc cho giàn khoan vào thềm lục địa Việt Nam để thăm dò dầu khí: Việt Nam chỉ phản đối lấy lệ. Rồi Trung Quốc cải tạo các bãi đá ở Trường Sa thành đảo nhân tạo: Việt Nam im lặng. Hầu như tất cả các nhà quan sát quốc tế đều tiên đoán, một lúc nào đó, Trung Quốc sẽ công bố vùng nhận dạng hàng không tương ứng với con đường lưỡi bò trên biển.

Xin lưu ý là để chống lại sách lược tằm ăn dâu này, Mỹ đã điều chiến hạm đến gần các hòn đảo mới cải tạo ở Trường Sa của Trung Quốc: Trung Quốc chỉ phản đối lấy lệ. Nhưng ở đây có hai vấn đề: Một, Mỹ không thể cứ đưa chiến hạm đến Trường Sa mãi được; hai là Việt Nam không mạnh và cũng không tự tin như Mỹ nên sẽ không dám đưa tàu thuyền đến gần các hòn đảo ấy. Cái “không dám” ấy sẽ được xem như một hành động mặc nhiên thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông. Sau này, khi Trung Quốc tuyên bố vùng nhận dạng hàng không tương ứng với con đường lưỡi bò trên biển cũng vậy. Mỹ cũng sẽ bất chấp những lời tuyên bố ấy và họ sẽ cho máy bay lượn qua lượn lại trong vùng nhận dạng ấy để chứng tỏ là nó phi pháp và vô giá trị. Nhưng Việt Nam thì khác. Sợ, mỗi lần có tàu bè đi ngang qua Biển Đông hoặc có máy bay đi ngang qua vùng nhận dạng hàng không, Việt Nam sẽ xin phép Trung Quốc: Đến lúc ấy, Trung Quốc bất chiến tự nhiên thành.

Sách lược thứ hai của Trung Quốc là ngăn chận mọi nỗ lực quốc tế hoá hoặc đa phương hoá các tranh chấp trên Biển Đông. Sách lược này bao gồm hai nội dung chính: Một là yêu cầu Mỹ không can thiệp vào các cuộc tranh chấp ấy; hai là phá vỡ tất cả các nỗ lực thống nhất quan điểm về Biển Đông của khối ASEAN. Trung Quốc chủ trương mọi tranh chấp cần được giải quyết song phương, giữa Trung Quốc và các nước liên hệ. Bằng cách này, Trung Quốc làm suy yếu mọi đối thủ. Bởi mọi quốc gia tranh chấp đều nhó, yếu và, với nhiều mức độ khác nhau, đều lệ thuộc vào Trung Quốc. Ở phương diện này, chúng ta thấy ngay là Việt Nam đã sập bẫy Trung Quốc khi chấp nhận biện pháp song phương trong các cuộc tranh chấp về chủ quyền trên Biển Đông với Trung Quốc.

Sách lược thứ ba của Trung Quốc là mua chuộc. Cho đến nay, Trung Quốc hoàn toàn thành công trong việc mua chuộc Thái Lan và, đặc biệt, Campuchia. Hầu hết các cuộc hội nghị của khối ASEAN những năm gần đây đều thất bại trong việc có một thông báo chung nhằm lên án âm mưu xâm chiếm Biển Đông của Trung Quốc. Có năm thông báo chung không ra đời. Có năm thông báo chung chỉ nhắc đến tình hình phức tạp trên Biển Đông nhưng lại hoàn toàn không nhắc đến tên Trung Quốc. Nguyên nhân gây nên những thất bại ấy đều xuất phát từ một nước: Campuchia, quốc gia vốn được xem là thân cận nhất của Việt Nam.

Không loại trừ khả năng Trung Quốc cũng đã mua chuộc được khá nhiều người trong giới lãnh đạo Việt Nam. Lâu nay, nói đến giới lãnh đạo Việt Nam, hầu như ai cũng biết là họ chia thành hai phe: phe thân Trung Quốc và phe thân Tây phương. Chúng ta hoàn toàn không biết chính xác người nào thuộc phe nào. Tuy nhiên, quan sát các động thái của nhà cầm quyền Việt Nam đối với các vấn đề liên quan đến Biển Đông, chúng ta cũng có thể thấy phe thân Trung Quốc khá nhiều và khá mạnh. Chính cái phe ấy làm cho mọi nỗ lực thoát Trung đều yếu ớt và không có hiệu quả. Cũng chính cái phe ấy làm cho mọi con đường ngả sang Tây phương, chủ yếu là Mỹ, cứ quanh co, khúc khuỷu, không có một định hướng nào rõ ràng.

Quan sát các phản ứng của chính quyền Việt Nam đối với ba sách lược kể trên, tôi cho việc mất Trường Sa và Biển Đông vào tay Trung Quốc chỉ còn là vấn đề thời gian. Sớm hay muộn, vậy thôi.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Chuyện bên lề cuộc tranh cử tổng thống Hoa Kỳ 2016

Nguyên tác: Harlan Ullman
Trần Bình Nam (lược dịch)

LTS - Nội dung bài viết sau đây do ông Harlan Ullman, chủ tịch tập hợp Killowen, một tập hợp chuyên cố vấn cho các lãnh tụ quốc gia và chủ tịch các đại công ty, đồng thời là cố vấn chính cho Hội Đồng Chủ Tịch các đại công ty liên quan đến An Ninh Quốc Gia (Business Executives for National Security - BENS) vùng Đại Tây Dương đặt trụ sở tại Hoa Thịnh Đốn, viết. Ông Harman Ullman thường đưa ra những vấn đề ít ai để ý nhưng quan trọng, rất cần cho người lãnh đạo quan tâm. Vấn đề hôm nay là “Cần điều kiện gì để lãnh đạo quốc gia?” (Qualified to run the country?”). Ông viết ngày 30 tháng 11, 2015.

Điều kiện để ứng cử tổng thống (và phó tổng thống) Hoa Kỳ được quy định bởi Hiến Pháp, nhưng đối với ông Ullman, nó có những ngõ khuất và nếu không giải quyết đúng lúc có thể trở thành một vấn đề có hệ lụy trước hết cho sự ổn định của Hoa Kỳ nói riêng, và thế giới nói chung, nhất là khi thế giới đang phải đối đầu với hai đại nạn thời tiết tàn phá toàn cầu và nạn Hồi Giáo (ISIS). Vai trò của một Hoa Kỳ ổn định không thể thiếu trong công cuộc chung này.

Theo ông Ullman, hiện có 4 ứng cử viên có cơ được đảng Cộng Hòa chọn làm ứng cử viên tổng thống. Đó là các ông Donald Trump, Ben Carson, Marco Rubio và Ted Cruz. Nói về kinh nghiệm không ai trong 4 người có đủ điều kiện tối thiểu để lãnh đạo quốc gia theo tiêu chuẩn cổ điển. Hai người (Trump & Carsen) chưa có kinh nghiệm cầm quyền, một điều nhiều công dân Hoa Kỳ xem là cần thiết. Hai người còn lại (Rubio & Cruz) đều là thượng nghị sĩ nhiệm kỳ đầu tiên đều thiếu kinh nghiệm chính quyền.

Vấn đề chọn ai tùy dân chúng Hoa Kỳ, nhưng nếu bàn về điều kiện theo Hiến Pháp thì có thể ứng cử viên Ted Cruz không đủ điều kiện. Hiến Pháp đòi hỏi ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ phải có: (1) tối thiểu 35 tuổi, (2) ở trong nước ít nhất 14 năm (3) chiếm được đa số của 539 cử tri đoàn toàn quốc - tức 270 phiếu trở lên. Và sau cùng (4) một “công dân tự nhiên” (a natural born citizen) của Hoa Kỳ.

Danh từ “natural born” được hiểu là sinh ra tại một tiểu bang của Hoa Kỳ. Không có một tiền lệ, hay một văn bản gốc nào của những người khai sinh ra nước Mỹ định nghĩa rõ ràng theo luật định thế nào là “natural born.” Thí dụ một người sinh ra tại một vùng đất chưa thuộc Hoa Kỳ, nhưng sau đó thuộc Hoa Kỳ thì người đó có phải là một “natural born citizen” không?

Trong quá khứ có nhiều trường hợp lờ mờ rồi cũng cho qua. Charles Curtis, phó tổng thống của Tổng Thống Hoover sinh tại bang Kansas năm 1860, một năm trước khi Kansas trở thành tiểu bang Hoa Kỳ. Ông Barry Goldwater sinh tại Arizona năm 1909, ba năm trước khi Arizona được sát nhập vào Hoa Kỳ như một tiểu bang. Không ai đặt thành vấn đề “natural born” của các vị đó.

Trường hợp gần nhất là đối với ông John McCain năm 2008. Ông McCain sinh tại căn cứ Hải Quân Hoa Kỳ Coco Solo trong vùng nhượng địa Panama (Panama Canal Zone) của Hoa Kỳ năm 1936. Thân sinh ông McCain là một sĩ quan Hải Quân đang phục vụ tại căn cứ.

Năm 1937 Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua luật số 8USC1403 ban quyền quốc tịch Hoa Kỳ cho người sinh ra tại vùng Canal có bố mẹ là quân nhân đang phục vụ tại đó. Nhưng luật đó cũng không xác định rõ những người như ông John McCain có phải là một “natural born citizen” không.

Năm 2008 khi ông John McCain ra ứng cử tổng thống Hoa Kỳ, Fred Hollander kiện tư cách “natural born” của ông John McCain, nhưng tòa án bác. Và trường hợp của ông John McCain được giải quyết là trước ngày bầu cử tổng thống, thượng viện Hoa Kỳ đồng thanh thông qua một quyết nghị công nhận ông John McCain là một “natural born citizen.”

Ted Cruz sinh tại Calgary, Canada, mẹ là một công dân Hoa Kỳ, nhưng bố là người Cuba. Ông là một công dân Hoa Kỳ (do bên mẹ) nhưng không có một tiền lệ nào chứng tỏ ông là một “natural born citizen” để có thể làm tổng thống. Không biết nếu Ted Cruz được chọn làm ứng cử viên tổng thống của đảng Cộng Hòa thì vấn đề hợp hiến sẽ giải quyết ra sao?

Điều đáng để ý là cái lưỡi rất nhọn của ông Donald Trump không hề đề cập đến tư cách ứng cử của đối thủ, mặc dù trước đây ông là người năng động nhất quả quyết ông Barack Obama không phải là “natural born” vì sinh tại Kennya! (TBN: ông Obama sinh tại bang Hawaii). Có lẽ ông Trump theo chính sách thêm bạn bớt thù vì Ted Cruz chưa hề tấn công ông ta (TBN: Chưa thôi. Vì không khí tranh cử càng lúc càng nóng, hai ba ứng cử viên hàng đầu thế nào cũng phải đụng nhau).

Có thể các ứng cử viên Cộng Hòa nghĩ ông Ted Cruz khó được chọn làm ứng cử viên của đảng, bày chuyện “đủ hay không đủ điều kiện” của ông Ted Cruz phỏng có ích gì. Còn các ứng cử viên Dân Chủ nghĩ chẳng lợi gì nêu ra một vấn đề trước sau cũng được nêu ra nếu Ted Cruz được chọn.

Cuối cùng dân chúng Hoa Kỳ sẽ đi đến một quyết định, và nếu quyết định đúng có tính lâu dài, không bị hoảng loạn vì những lo lắng bất an trước mắt thì 4 ứng cử viên Cộng Hòa Trump, Carsen, Rubio và Cruz đều không thể trở thành tổng thống Hoa Kỳ. Đảng Dân Chủ đã nắm chắc 240 phiếu cử tri đoàn chỉ còn cần 30 phiếu nữa. Đảng Dân Chủ rất dễ ve vãn nhóm cử tri thuộc các sắc dân thiểu số và phụ nữ vốn bị đảng Cộng Hòa ít lưu tâm để có 30 phiếu này. Từ bức tranh chính trị hôm nay cuộc tranh cử tổng thống Hoa Kỳ tháng 11 năm 2016 xem như đã vào lịch sử.

Tuy nhiên trước khi đến điểm hẹn của lịch sử, không ai có thể biết cơn sóng gió nội bộ đảng Cộng Hòa sẽ đưa đẩy hai ứng cử viên hàng đầu hiện nay, Trump và Carsen đi về đâu. Nếu hai ông ấy biến mất, Ted Cruz có chỗ để ngoi lên không? Về phía Dân Chủ, bà Hillary Clinton đang vững vàng đi đến điểm hẹn ngoại trừ vụ E-mail của bà khi làm bộ trưởng ngoại giao bất ngờ biến thành một cơn bão.

Nhưng chuyện “natural born” của Ted Cruz cũng nên được giải quyết sớm hơn là để nước đến chân. Nếu nó trở thành một vụ án hiến pháp và tòa án phán quyết Ted Cruz không phải là một “natural born citizen” thì Ted Cruz cũng không có hy vọng gì được thượng viện đồng thanh ra quyết nghị ông là công dân “natural born” như thượng viện đã làm với TNS John McCain. Lại thêm một khủng hoảng Hiến Pháp!
trinhham
Posts: 133
Joined: Mon Dec 10, 2012 2:07 am
Contact:

Post by trinhham »

Trung Quốc muốn biến Việt Nam thành ‘chư hầu kiểu mới’

VOA Tieng Viẹt

Nhiều nhân sỹ, trí thức có tiếng mới đây đã nhận định như vậy, và cho rằng Trung Quốc đang dùng “những lời hoa mỹ về hòa bình, và hữu nghị” để bành trướng biển Đông.

Trong bức thư ngỏ gửi cho Bộ Chính trị cũng như toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, hơn 100 người kêu gọi giới lãnh đạo trong nước phải có “đối sách đúng đắn bảo vệ độc lập, chủ quyền chống mưu đồ và hành vi bành trướng của Trung Quốc”.

Bức thư có đoạn: “Thời gian gần đây, trong khi vẫn dùng những lời hoa mỹ về hòa bình, hữu nghị, nhà cầm quyền Trung Quốc đã có những bước leo thang thực hiện mưu đồ bành trướng trên Biển Đông bất chấp luật pháp quốc tế, không chỉ trắng trợn xâm phạm chủ quyền của Việt Nam mà còn gây bất ổn cho hòa bình, an ninh, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới”.

Ông Trần Bang, cựu chiến binh cuộc chiến biên giới Việt – Trung, cho VOA Việt Ngữ biết lý do ông ký vào bức thư ngỏ:

“Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam lùi, lùi liên tục. Để mà giữ được quyền lãnh đạo thì họ cứ chấp nhận lùi từng bước, lùi từng bước. Họ cứ nói là giữ nguyên hiện trạng, và sử dụng chiêu bài ‘4 tốt, 16 chữ vàng’ mà Trung Quốc mớm cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Đấy là âm mưu rất là thâm độc, biến Việt Nam trở thành lệ thuộc. Sự lệ thuộc này không những chỉ là lệ thuộc về tư tưởng mà còn về cả kinh tế và rất nhiều thứ nữa. Trung Quốc nó cứ lấn dần. Họ vẫn cứ dùng chiêu bài cộng sản, hai đảng anh em, hai nước anh em để mà xâm lăng. Họ tôn tạo các đảo, xây hải đăng, xây thành phố trên các hòn đảo mà họ chiếm của Việt Nam thì rõ ràng họ đang xâm lược Việt Nam. Phải khẳng định họ là kẻ thù, chứ không thể là bạn được”.

Bức thư ngỏ được công bố vào lúc Việt Nam đang chuẩn bị cho Đại hội đảng lần thứ 12, và theo dự kiến, cuộc họp quan trọng này sẽ chọn ra các lãnh đạo cấp cao của Việt Nam.

Tuy nhiên, theo nội dung bức thư ngỏ, các văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương chuẩn bị trình Đại hội lần thứ 12 “mặc dù viết rất dài nhưng nặng về nhận định và chủ trương sáo mòn, chưa nhìn đúng sự thật, chưa nêu rõ thực trạng hiểm nguy mà đất nước và nhân dân ta đang đối mặt, đặc biệt là chưa phân tích thẳng thắn nguyên nhân dẫn tới thực trạng đó”.


Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam lùi, lùi liên tục...Trung Quốc nó cứ lấn dần. Họ [Bắc Kinh] vẫn cứ dùng chiêu bài cộng sản, hai đảng anh em, hai nước anh em để mà xâm lăng. Họ tôn tạo các đảo, xây hải đăng, xây thành phố trên các hòn đảo mà họ chiếm của Việt Nam thì rõ ràng họ đang xâm lược Việt Nam. Phải khẳng định họ là kẻ thù, chứ không thể là bạn được”.

Ông Trần Bang, cựu chiến binh cuộc chiến biên giới Việt-Trung, nói.

Ngoài ra, thư ngỏ cũng cho rằng sự phát triển của đất nước “bị kìm hãm chủ yếu là do Đảng Cộng sản Việt Nam từ nhiều năm nay dẫn dắt cả dân tộc đi con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xô-viết dựa trên chủ nghĩa Mác – Lênin”.

Bức thư có đoạn viết: “Đường lối sai lầm theo ý thức hệ cùng với bộ máy cầm quyền nhiều khuyết tật cũng không dựa vào sức mạnh của toàn dân tộc để có đối sách đúng đắn bảo vệ độc lập, chủ quyền chống mưu đồ và hành vi bành trướng của Trung Quốc”.

Về khả năng hồi đáp của chính quyền đối với thư ngỏ, cựu chiến binh Trần Bang nói:

“Tôi cho rằng họ cũng có tham khảo một chút nào đó. Tuy nhiên là họ vẫn cứ theo lý thuyết cộng sản của họ là dùng sức mạnh. Họ còn nắm được chính quyền, họ còn nắm được quân đội, công an, còn nắm được bạo lực thì chính quyền của họ sẽ theo con đường học thuyết Mác – Lê nin, tức là con đường giành chính quyền bằng bạo lực, và giữ chính quyền bằng bạo lực. Hiện nay họ đang ở thế mạnh so với những người như chúng tôi, những người chỉ có tri thức trong đầu, không có sức mạnh cơ bắp, sức mạnh quân sự. Tôi cho rằng họ chưa chắc đã nghe theo thư ngỏ này, nhưng mà chúng tôi vẫn coi họ là người Việt Nam nên chúng tôi hành xử theo hướng là đấu tranh hòa bình”.

Năm ngoái, khi quan hệ Việt Nam – Trung Quốc rơi xuống mức thấp nhất trong nhiều thập kỷ vì giàn khoan dầu gây tranh cãi của Bắc Kinh, hàng chục đảng viên lão thành và các nhân sỹ, trí thức có tiếng ở trong nước viết một bức thư ngỏ gửi Ban chấp hành trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó kêu gọi “nhanh chóng kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế nhằm phát huy thế mạnh chính nghĩa” của Việt Nam.

Giáo sư Tương Lai, khi ấy, nói với VOA Việt Ngữ rằng đã đến lúc “thức tỉnh” các đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam “còn mơ hồ về cái gọi là ý thức hệ xã hội chủ nghĩa, về những 4 tốt, về những 16 chữ vàng” trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Ngoài việc đưa Trung Quốc ra tòa, các đảng viên lão thành còn gợi ý rằng Việt Nam cần chủ động liên kết với các nước khác.
trinhham
Posts: 133
Joined: Mon Dec 10, 2012 2:07 am
Contact:

Post by trinhham »

Luận về chiến lược

Hùng Tâm
Làm sao chống khủng bố Hồi Giáo?

Sau chiến tranh, kẻ chiến thắng có quyền nói phét.

Người ta có thể nghĩ đến quy luật ấy khi nhớ về cuộc chiến Việt Nam sau 1975. Chẳng hạn như qua lời khuyên của Mao Trạch Ðông cho Hồ Chí Minh, rằng nên làm Mỹ đổ quân vào Việt Nam. Quả nhiên là Tháng Ba năm 1965, Tổng Thống Lyndon Johnson đổ quân vào Việt Nam sau khi vị tiền nhiệm là John F. Kennedy cho lật đổ chính quyền Ðệ Nhất Cộng Hòa của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Rồi từ đấy cứ tùy theo tình hình mà leo thang và đưa thêm quân vào trận địa. Cho tới khi dân Mỹ mệt mỏi thì Johnson “hòa đàm,” Tổng Thống Richard Nixon “Việt hóa chiến tranh” và Hoa Kỳ “rút lui trong danh dự”...

Ðại bại không chỉ có nước Mỹ mà cả hai miền Nam Bắc của Việt Nam.

Nửa thế kỷ sau, là ngày nay, người ta gặp chuyện tương tự, cũng với một tổng thống Dân Chủ, khi tổ chức khủng bố xưng danh Nhà Nước Hồi Giáo ISIS đang tìm mọi cách dẫn dụ Hoa Kỳ đổ quân vào vùng Lưỡng Hà (Mesopotamia), là thung lũng của hai con sông Tigris và Eurphrate chảy ngang Syria và Iraq. Tổng Thống Barack Obama trình bày rằng mình hiểu ra mục tiêu ấy của đối thủ nên tuyên bố từ tòa Bạch Ốc, rằng “ta không nên lại để bị lôi vào một trận địa chiến lâu dài và tốn kém tại Iraq và Syria.” Những người ủng hộ ông, vẫn còn một số, thì cho rằng đấy là một chiến lược khôn ngoan sau kinh nghiệm tại Afghanistan và Iraq của vị tiền nhiệm George W. Bush.

Nhưng có chắc không? Hồ Sơ Người Việt sẽ tìm hiểu chuyện này từ một giác độ khác.

Ðổ quân là bất lợi

Suy từ kinh nghiệm Afghanistan 2001 và Iraq 2003, nhiều người đều có thể đồng ý rằng việc đưa quân vào trận địa ở phương xa là bất lợi. Với dân Hồi Giáo, điều ấy gợi lại chuyện họ đã từng nghe - mà nhiều người Mỹ không biết - là quân Thập Tự Chinh đi vào giết hại dân lành theo đạo Hồi. Chuyện thật thì không hẳn như vậy, nhưng vẫn là truyền thuyết phổ biến, nhất là khi chính Tổng Thống Bush cũng dùng chữ “Thập Tự Chinh” Crusade. Chung quanh ông thiếu người có văn hóa và ý niệm lịch sử nên mới để như vậy.

Khi Mỹ đổ quân vào Afghanistan rồi Iraq, lại còn kéo theo các đồng minh vì viện dẫn điều 5 của Hiến Chương NATO, thì chuyện gì xảy ra?

Tại các nước “bị tấn công” lẫn các nước “xâm lược,” quần chúng Hồi Giáo căm phẫn có thể ủng hộ và gia nhập hàng ngũ quá khích, một số sẽ học tập nghề khủng bố, trở thành đặc công tự sát. Từ lý luận ấy, người ta mới tin rằng chiến dịch Iraq gây phản ứng nổi dậy và dẫn tới sự hình thành của tổ chức ISIS - không hoàn toàn đúng - sau khi Hoa Kỳ tháo chạy dưới thời Obama - không hoàn toàn sai.

Sau cùng, khi đổ quân vào trận địa thì Hoa Kỳ chứng minh một “sự thật lịch sử” là trận thư hùng cuối cùng giữa Thiện và Ác, giữa ISIS và quỷ dữ Satan như nhiều người theo đạo Hồi có thể đã được tuyên truyền mà nhiều người Mỹ xa rời tôn giáo thì lại quên. Nếu Mỹ không nhập trận mà chỉ có “hùng binh” ISIS tàn sát người dân để trấn lột và thị uy thì “Thánh Chiến” trở thành vô nghĩa.

Vì vậy, kẻ thù muốn ta đổ quân vào trận địa. Nhưng có phải là mình sẽ mắc mưu nếu làm đúng như vậy không? Chưa chắc, và đây mới là chuyện chiến lược.

Chiến lược không là kế hoạch định sẵn, cứ tuần tự như thế mà thực hiện. Bộ máy hành chánh hay quân sự có thể có nhiều kế hoạch phải thi hành, nhưng chiến lược của người trù hoạch ở trên là chuyện khác. Chiến lược là sự biến hóa liên lục để đạt mục tiêu sau cùng, và biến hóa tùy theo thực tế và cách phản ứng của đối thủ. Mà đối thủ cũng có thể tính sai! Biết ta biết địch là chuyện ngàn đời.

Cơ sở của chiến lược

Chúng ta hãy đi lại từ đầu.

Nhiều quốc gia trù tính chiến lược có ảnh hưởng quốc tế mà lại căn cứ trên nhu cầu quốc nội. Nhiều khi Hoa Kỳ đã tiến và thoái căn cứ trên lịch bầu cử. Kẻ thù của nước Mỹ đều biết vậy, nhiều người Mỹ thì không. Người Mỹ cũng ít để ý tới sự kiện là các quyết định chiến hòa hay tiến thoái của Hoa Kỳ có ảnh hưởng tới các nước đồng minh. Việc trù hoạch chiến lược của Hoa Kỳ vì thế tùy thuộc vào yếu tố quốc nội (lòng dân hay bầu cử) và quốc tế (ngoại giao hay liên minh) và có một đặc tính của một nước văn minh, là sợ khổ.

Cách thẩm định rủi ro của Mỹ khác hẳn lối tính toán của ISIS - hay Cộng Sản. Thí dụ như lời phát biểu của ông Obama: “Ta không nên lại để bị lôi vào một trận địa chiến lâu dài và tốn kém.” Lâu dài và tốn kém căn cứ trên cái gì? Nếu không muốn vậy thì có phương thức nào khác chăng? Trong một cuộc tranh cử như hiện nay, chẳng ai nêu ra loại câu hỏi rốt ráo ấy. Và ít ai tự hỏi rằng nếu kẻ thù muốn ta đổ quân mà mình làm đúng như vậy thì có sai lầm không?

Từ loại vấn đề trừu tượng ấy, xin đi vào chuyện thực tế.

Kẻ thù của Hoa Kỳ (hiện nay) là ISIS có cách thẩm định rủi ro khác người Mỹ. Họ liều lĩnh và hy sinh tính mạng của nhiều người để tìm một thắng lợi thật ra rất nhỏ, và đắt đỏ. Không hiểu ra điều ấy mà để tránh rơi vào cái bẫy của kẻ thù thì có khi nước Mỹ rơi vào cái bẫy của chính mình. Hãy nhìn vào cục diện Syria và Iraq mà xem.

Tổng Thống Obama tuyên bố từ 2011, 2012 và sau này, rằng lãnh tụ Bashar al-Asasad phải đi. Ưu tiên của ông là “thay đổi chế độ tại Syria.” Trong bài diễn văn từ phòng Bầu Dục, ông có điều chỉnh: ưu tiên al-Assad thấp hơn ưu tiên ISIS. Chi tiết thứ hai là “kẻ thù ISIS có đổi chiến thuật” nhưng không vì vậy mà mình cũng đổi. Thật ra tổng thống Mỹ đã có thay đổi.

Và cơ sở của chiến lược chống ISIS phải được thẩm định lại từ đó.

Chính quyền Obama cho là tổ chức ISIS và đồng đảng không còn khả năng tấn công Hoa Kỳ trên một quy mô lớn như vụ 9-11 của al-Qaeda, nên phải ra tay kiểu khác, tấn công vào các mục tiêu mềm và khó bảo vệ như tại Paris hay San Bernardino. Có thể lắm. Nhưng biết đâu chừng ISIS lại nghĩ khác? Tấn công đồng loạt như al-Qaeda trong vụ 9-11 là dẫn tới phản ứng dữ dội tại Afghanistan hay Iraq. Biết đâu chừng, ISIS muốn tránh phản ứng dữ dội đó của nước Mỹ?

Mục tiêu của họ không phải là dẫn dụ Mỹ vào trận địa mà chỉ khai thác loại khủng bố tự phát ở tầm cỡ nhỏ để thuyết phục quần chúng của họ, là dân Hồi Giáo Sunni và gây hãi sợ cho người dân Tây phương trước làn sóng tỵ nạn Hồi Giáo.

Có thêm thời gian và thông tin về vụ San Bernardino, ta có thể nêu thêm câu hỏi khác. Cặp vợ chồng hung thủ đã chuẩn bị một kho võ khí có sức tàn phá rất cao mà chưa sử dụng đến. Mục tiêu thật là gì? Vì sao họ “hấp tấp” như vậy rồi tìm cách xóa hết vết tích điện toán ở trong nhà? Ai quyết định về việc hy sinh luôn hai “cảm tình viên” này?
Lối suy nghĩ như vậy có thể là cơ sở của chiến lược thích hợp.

Kẻ thù là ai?

Xin nhắc lại, khi giải thích với dân chúng, Tổng Thống Obama nói ra hai chuyện: 1) kẻ thù đã đổi, 2) nhưng không vì vậy mà mình cũng đổi và mắc mưu khi đổ quân vào trận địa. Phần trên có giải thích rằng ISIS có thể đã đổi chiến thuật, nhưng tại sao thì chưa ai dám khẳng định. Còn chuyện Hoa Kỳ có nên thay đổi chiến lược không thì vấn đề không chỉ là đổ quân mà là nhìn lại cuộc chiến và xác định kẻ thù.

Khác với lực lượng al-Qaeda quy tụ một số trí thức có cái nhìn cực đoan về Hồi Giáo và Tây phương, tổ chức ISIS ngày này cũng khai thác lý luận tôn giáo nhưng có một tầng lớp nhân sự xuất thân từ đảng Baath của Saddam Hussein tại Iraq. Cán bộ cao cấp của họ là nhiều sĩ quan có kinh nghiệm tác chiến đã từng bị Hoa Kỳ đánh bại năm 1991 và 2003. Họ khai thác chủ nghĩa Hồi Giáo quá khích như một ý thức hệ huy động giới trẻ tham gia hoạt động khủng bố vì nhiều mục tiêu khác biệt tùy theo tâm lý của từng thành phần. Vì vậy, đặc tính của tổ chức này gồm có nhiều yếu tố khó gom thành một khẩu hiệu.

Yếu tố thứ nhất là tôn giáo, nhưng là một hệ phái cực đoan quá khích của Hồi Giáo. Không nên làm phép quy nạp mà kết án đạo Hồi, nhưng cũng chẳng nên như Tổng Thống Obama là cố tránh nói đến chữ Hồi Giáo. “Chủ nghĩa Hồi Giáo quá khích” hay “Islamist” có thể là một từ chính xác. Yếu tố thứ hai là phương pháp khủng bố. ISIS còn non yếu nên dùng phương pháp này, chẳng khác gì phương pháp của trí thức Nga vào cuối Thế kỷ 19 và của Cộng Sản trong Thế kỷ 20 mà nhiều tổ chức khác cũng áp dụng. Dùng chữ “Khủng bố Hồi Giáo” là đúng, mà chưa đủ. Ðúng vì sức tuyên truyền của chữ “khủng bố” làm nhiều người ghê tởm, nhưng chưa đủ vì họ sẽ còn biến thái nếu thành công.

Mục tiêu sau cùng và rốt ráo của ISIS là thành lập một Ðế quốc Hồi Giáo trước sự phân hóa của các nước Hồi Giáo trong khu vực xưa kia là lãnh thổ của Ðế quốc Ottoman. Họ dùng tư tưởng Hồi Giáo quá khích để chiêu mộ và kết nạp các phần tử quá khích hay những kẻ bất đắc chí và nhiều khi bất tài vì chẳng làm được gì khác, nhưng không chỉ để giết người cho bõ ghét mà để có nhân lực, lãnh thổ và kinh tế cho một quốc gia chỉ có trong ước mơ của họ.

Và họ sợ nhất là khi nước Mỹ nổi điên đổ quân đánh nhầu! Khi tránh rơi vào cái bẫy tưởng tượng của ISIS, có khi Tổng Thống Obama lại tính sai. Và phản ứng giận dữ của đối lập Cộng Hòa chưa chắc đã là sáng suốt!

Kết luận ở đây là gì?

Thế kỷ 21 mới chỉ có 15 tuổi, kinh nghiệm của loài người về nạn khủng bố thật ra dày hơn thế. Trong thế kỷ 20, loài người đã gặp tai họa cộng sản và phát xít, tai họa khủng bố Hồi Giáo có thể cũng kéo dài, tương tự, và cũng biến thái. Chiến lược đối phó vì vậy cũng phải biến hóa chứ không tụ vào hành động của vài người điên.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »

Hải Quân Mỹ vẫn là 'bá chủ' trên đại dương


WASHINGTON DC - Phát triển nhanh lực lượng hải quân là một mục tiêu ưu tiên của Trung Quốc,
nhưng tham vọng làm chủ Thái Bình Dương sẽ không dễ, vì Hải Quân Hoa Kỳ sẽ không để cho điều này xảy ra.

Ðó là nhận định của bài viết có tựa đề “The U.S. Navy Wants to Show China Who's Boss” -
(tạm dịch: Hải Quân Mỹ muốn Trung Quốc hiểu ai vẫn là 'bá chủ' trên đại dương) trên tờ Foreign Policy, hôm 14 Tháng Mười Hai, 2015.

Image
Hàng không mẫu hạm USS Ranger (CVA-61) của Hải Quân Hoa Kỳ. (Hình: Getty Images)


Theo bài báo, từ giữa thế kỷ 20 cho đến nay, Hải Quân Mỹ đứng đầu thế giới, vượt xa tất cả mọi nước về số chiến hạm các loại cũng như kỹ thuật và kinh nghiệm hoạt động trên tất cả các đại dương. Gần đây, bằng thái độ dứt khoát, Hoa Kỳ đã cảnh báo cho Trung Quốc hiểu là họ không thể tìm cách kiểm soát và hạn chế tự do lưu thông hàng hải trong vùng Biển Ðông,

Cho dù Trung Quốc có thể phát triển nhanh về số chiến hạm và vũ khí nhưng sẽ còn rất lâu mới có thể đạt tới trình độ đương đầu ngang ngửa với Hoa Kỳ.

Một tài liệu chiến lược chính thức do Trung Quốc phổ biến hồi Tháng Năm nói rằng: “Phải từ bỏ quan niệm truyền thống là đất có giá trị hơn biển. Cần đặt nặng việc quản lý mặt biển, bảo vệ quyền hàng hải và lợi ích hải dương. Do đó Trung Quốc cần phải trở nên một cường quốc hải quân.”

Mặc dầu viễn tượng xảy ra xung đột với Trung Quốc hãy còn rất xa vời, nhưng Ngũ Giác Ðài và các phân tích gia tin rằng chỉ nhận thức là Hoa Kỳ đã mất đi lợi thế quân sự cũng có tác dụng tổn hại đến tâm lý các nước đồng minh cùng đối tác. Bất kỳ một dấu hiệu yếu đuối hay khoan nhượng nào của Mỹ đều sẽ khuyến khích quân lực Trung Quốc trong thời điểm Bắc Kinh đang theo đuổi chính sách bành trướng, tranh chấp biển đảo ở Ðông Nam Á và những vùng biển khác.

Ðể đương đầu với những ý đồ của Trung Quốc, Hoa Kỳ cần phát triển thêm những hệ thống vũ khí mới, đồng thời thay đổi chiến lược, chiến thuật thích ứng với tình thế tương lai.

Hải Quân Hoa Kỳ cần trang bị cho các chiến hạm nổi và tàu ngầm những loại hỏa tiễn với tầm hoạt động xa và có khả chống kỹ thuật phòng thủ của tàu địch. Loại hỏa tiễn bình phi Tomahawk có từ thập niên 1950 và được sử dụng lần đầu tiên trong chiến tranh vùng Vịnh, đến nay cần phải được cải tiến. Trước kia chỉ nhắm tấn công những mục tiêu cố định trên mặt đất, hỏa tiễn Tomahawk cải tiến được thử nghiệm hồi Tháng Giêng năm nay có tầm bắn xa hơn và đánh trúng những chiến hạm di chuyển trên mặt biển.

Trung Úy Robert Myers, một phát ngôn viên Hải Quân Mỹ, nói rằng trong ít năm tới, loại hỏa tiễn mới này sẽ được trang bị cho các hạm đội. Hỏa tiễn tầm xa chống chiến hạm và hỏa tiễn phòng không như kiểu SM-6 do Na Uy phát triển, phóng đi từ máy bay cũng đang được sản xuất. Nhu cầu tăng cường hỏa lực cho tất cả các chiến hạm nổi, thay vì chỉ tập trung vào hàng không mẫu hạm và tàu ngầm để tấn công, là chiến thuật mà nhiều sĩ quan cao cấp tán thưởng. Chủ trương của họ là “cái gì nổi đều có thể tấn công.”

Cùng với việc gia tăng những vũ khí mới cho chiến hạm, phải tính tới việc Trung Quốc phát triển nhiều loại hỏa tiễn chiến thuật có tầm bắn xa từ 100 đến 900 hải lý. Ðặc biệt hỏa tiễn đạn đạo “Ðông Phong” DF-21D gọi là “diệt mẫu hạm,” được Trung Quốc trình diện trong cuộc diễn binh hồi Tháng Chín, là một vũ khí đáng phải quan tâm đề phòng.
Image
Hỏa tiễn địa-hải (chống chiến hạm) Ðông Phong DF-21D của Trung Quốc đặt trên xe di động. (Hình: Andy Wong - Pool /Getty Images)



Loại hỏa tiễn bình phi YJ-18 phóng đi từ tàu ngầm cũng là một mối đe dọa khác. Những vũ khí như thế khiến các hải đội hàng không mẫu hạm của Hải Quân Hoa Kỳ không thể tập trung đến một điểm quá gần bờ biển để cho máy bay tấn công cất cánh.

Do đó chiến thuật chiếm lãnh quyền bá chủ không phận mà Hải Quân Hoa Kỳ đã áp dụng trong những cuộc xung đột cục bộ từ sau Thế Chiến II đến nay cần phải được thay đổi.

David Ochmanek, phân tích gia của cơ quan nghiên cứu chiến lược END Corporation nói rằng nếu dùng tới thời gian nhiều ngày triệt hạ khả năng phòng không để chiếm được quyền làm chủ không phận, thì có thể sẽ là quá trễ vì Trung Quốc có thể đạt mục tiêu của họ trước đó. Vì vậy nhu cầu căn bản của quân lực Hoa Kỳ là phải di động nhanh chóng, không cho đối phương có khả năng tấn công như ý định.

Hải Quân và Không Quân Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương cũng sẽ không chỉ tập trung ở những căn cứ lớn để có thể bị nhiều tổn thất do một cuộc tấn công bằng hỏa tiễn, mà sẽ được phân tán ra các hải đảo nhỏ trong trường hợp chiến tranh xảy ra. Bộ quốc phòng đang xem xét việc xây dựng căn cứ quân sự ở nhiều hải đảo xa xôi hẻo lánh trên Thái Bình Dương, tương tự như thời kỳ Thế Chiến II.

Hiện nay Hoa Kỳ có 272 chiến hạm nổi và tàu ngầm cùng với hơn 150 chiến hạm được đặt trong tình trạng dự bị sẵn sàng sử dụng khi cần. Lực lượng 9 hàng không mẫu hạm nguyên tử đang hoạt động là sức mạnh không hải quân nào khác có thể so sánh.

Trung Quốc đã chế tạo rất nhanh nhiều chiến hạm mới, hiện có khoảng 300 chiến hạm, nhưng hải quân nước này hãy còn kém xa về nhiều mặt từ khí tài đến khả năng hoạt động. Trong thập niên vừa qua, trung bình mỗi năm ngân sách quốc phòng Trung Quốc tăng 9.5%. Chừng 1/3 ngân sách quốc phòng $165 tỷ một năm dành cho hải quân.

Một quốc gia khác có hải lực lớn là Nga với khoảng 280 chiến hạm nhưng một phần lớn đã lỗi thời. Với tình trạng kinh tế khó khăn bây giờ, các phân tích gia quân sự không hề dự đoán Hải Quân Nga có thể phát triển đến đâu. Gần đây Hải Quân Nga đã biểu diễn sức mạnh qua các cuộc phóng hỏa tiễn bình phi từ chiến hạm nổi trên biển Caspian và tàu ngầm ở Ðịa Trung Hải. Tuy nhiên những thể hiện này mới chỉ mang tính tượng trưng, kể cả việc duy trì một hải đội đặc nhiệm tác chiến ở Ðịa Trung Hải cũng không phải là dễ dàng.

Còn Hải Quân Hoa Kỳ, để làm đòn bẩy trong việc vận động ngân sách, vẫn trình bày tình hình phát triển hải quân của Trung Quốc như là mối đe dọa. Một số ý kiến hoài nghi cho rằng có thể Hoa Kỳ đã phóng đại nguy cơ Trung Quốc dù rằng nguy cơ này là có thật.

Trong cuộc tranh cử năm 2012, vấn đề hải quân cũng được nêu ra. Ứng cử viên Cộng Hòa Mitt Romney phê phán Tổng Thống Obama đã coi nhẹ tình trạng của hạm đội Mỹ, số chiến hạm ngày nay còn kém cả năm 1916 khi Mỹ sắp tham gia Thế Chiến I và Hải Quân Mỹ đang tiến lên vị trí đứng đầu thế giới. Ông Obama đáp lại bằng cách diễu: “Ông nói về hải quân chúng ta không có nhiếu chiến hạm như hồi đầu thế kỷ trước. Phải thêm là hiện nay chúng ta không có nhiều ngựa và lưỡi lê nữa.”

Nhưng phát triển vũ khí mới là cần thiết và trong cuộc tranh cử tổng thống sắp tới, đề tài này sẽ còn được nói đến nhiều. Bà Carly Fiorina trong cuộc tranh luận hồi Tháng Chín đã tỏ ra có nhiều quan tâm về lực lượng quân sự Mỹ, bà đề nghị tăng số chiến hạm hiện dịch lên 350 và phát biểu này thu hút sự chú ý, với kết quả sau đó theo thăm dò dư luận, tỷ lệ ủng hộ tăng lên hàng thứ ba.

Một điều chắc chắn là nếu Hải Quân Trung Quốc, hiện đứng hàng thứ nhì trên thế giới, muốn lên ngang với Hoa Kỳ, thì ít lắm cũng phải 25 năm nữa mới có thể đặt vấn đề này. (HC)
trinhham
Posts: 133
Joined: Mon Dec 10, 2012 2:07 am
Contact:

Post by trinhham »

Dân Mỹ khó đồng ý về tổng thống tương lai

Hà Tường Cát/Người Việt


Gần hai tháng nữa các cuộc bầu cử sơ bộ sẽ khởi sự và 7 tháng nữa mới biết những ứng cử viên chính thức được đảng tấn phong vào cuộc tranh cử
Tổng Thống Hoa Kỳ tháng 11 năm 2016. Ngay bây giờ hãy còn quá sớm và chưa đủ yều tố để dự đoán.
Tờ USA Today có một bài viết, căn cứ theo thăm dò dư luận, cho biết quan niệm của dân chúng về vị Tổng Thống tương lai,
và dưới đây là tóm lược bài viết ấy.

Image
Tổng Thống Hoa Kỳ là người luôn bận rộn ở bất cứ giờ phút nào. Trong hình, buổi họp báo cuối năm của Tổng Thống Obama
tại Brady Briefing Room trong Tòa Bạch Ốc hôm Thứ Sáu 18/12 trước khi đi nghỉ lễ. (Hình: Mark Wilson/Getty Images)



Cử tri Mỹ bày tỏ viễn kiến trái ngược nhau về những thách thức căn bản mà đất nước phải đương đầu, và sự mong đợi của họ đối với vị Tổng Thống sẽ được bầu tháng 11 năm 2016.

Cử tri ủng hộ đảng Dân Chủ thiên về nhận định tin rằng nước Mỹ đang đi đúng hướng. Ngược lại cử tri ủng hộ đảng Cộng Hòa cho là nước Mỹ đi trật đường. Người Dân Chủ muốn một Tổng Thống có kinh nghiệm. Người Cộng Hòa thích một người bên ngoài giới chính trị. Và họ cũng không có chung niềm hy vọng là bât cứ vị Tổng Thống nào có thể giải quyết được những vấn đề quan trọng nhất của quốc gia.

Thất bại trong sinh hoạt của hệ thống chính trị là một yếu tố đưa đến sự chia rẽ ý kiến như thế. Dù sự thắng cử quyết định của ai ở phía bên nào, thì cũng không bảo đảm rằng sẽ chấm dứt được các mâu thuẫn đó.

Ông Michael Grimm, 68 tuổi, tài xế xe tractor-trailer đã nghỉ hưu, ở một thị trấn vùng thung lũng Shennadoah, Virginia, quả quyết rằng sẽ bỏ phiếu cho nhà tỷ phú Donald Trump hoặc Thượng Nghị Sĩ Ted Cruz tiểu bang Texas, nếu người nào được tấn phong làm ứng cử viên chính thức của đảng Cộng Hòa. Theo lời ông: “Trump nói lên những điều mà ông đã nghĩ đến từ nhiều năm và tôi tin là ông ta nói đúng”.

Ở cách đó ít dặm, Derek Tucker, 44 tuổi, chuyên viên nghiên cứu nhãn khoa trong một bệnh viện, cho là đất nước “đang tiến triển theo chiều hướng tốt” căn cứ vào nền kinh tế đã cải thiện hơn và những kết quả “đáng sửng sốt” về quyền của người đồng tính. Tucker cho biết chắc chắn ông sẽ ủng hộ cựu ngoại trưởng Hillary Clinton.

Các ý kiến này phù hợp với thăm dò trên toàn quốc do nhật báo USA Today và trường đại học Suffolk vừa thực hiện. Theo thăm dò, 41% người Dân Chủ tin là đất nước đi đúng hướng, 36% chưa tin như thế. Ngược lại tới 86% người Cộng Hòa nói là nước Mỹ theo một hướng sai lầm, chỉ có 7% cho rằng đi đúng đường.

Tuy nhiên dân Mỹ, dù ở đảng nào, đều đồng ý với nhau về một số số điểm, trước hết là tình trạng khủng bố. Tiếp sau vụ nổ súng tàn sát 14 người ở San Bernardino, cử tri Cộng Hòa, Dân Chủ và Độc Lập đồng thuận trong việc coi nạn khủng bố và sự an ninh của quốc gia là vấn đề quan trọng hơn hết mà vị Tổng Thống tương lai phải đối phó. Gần 14 năm sau vụ khủng bố 9/11 ở Hoa Kỳ, những vụ khủng bố tấn công ở Paris và California vừa xảy ra, cùng với tình hình hoạt động của nhóm tự xưng là Nhà Nước Hồi Giáo (IslamicState) ở Trung Đông đã làm gia tăng mối quan ngại của dân chúng, rằng không có an toàn và an ninh thì quốc gia không có gì hết.

Cử tri ở mọi đảng do đó chỉ coi việc làm và kinh tế là tầm quan trọng thứ nhì. Những ưu tiên khác thể hiện sự chia rẽ quan điểm nặng nề giữa hai chính đảng, nhưng đứng ở một khoảng cách rất xa so với hai đề mục đầu.

Người Cộng Hòa coi chuyện di dân là quan tâm đứng hàng thứ ba, giảm nợ quốc gia và thiếu hụt ngân sách đứng hàng thứ tư. Trong khi đó người Dân Chủ chú trọng đến sự thay đổi khí hậu và bảo hiểm y tế.

Larry Sams, 70 tuổi, làm việc 31 năm liên tục ở công ty Dow Chemical và mức sống dễ chịu thoải mái, nói: “Theo tôi nhiều vấn đề có thể giải quyết được nếu kinh tế tốt đẹp”. Nhưng ông không tin tưởng các con sẽ có cuộc sống dễ dàng như vậy : “Tôi hiểu rằng năm đứa con chúng tôi sẽ không bao giờ được như tôi”.

Ông Sams muốn Thượng Nghị Sĩ Marco Rubio tiểu bang Texas, hay bà Carly Fiorina cựu Tổng Giám Đốc Hewlett- Packard, hoặc cả hai người, được đảng Cộng Hòa tấn phong vào liên danh tranh cử với đảng Dân Chủ. Theo ông: “Họ là một cặp rất tuyệt vời. Tôi mong họ sẽ đứng cùng nhau tranh cử”. Nhưng ông không lạc quan rằng có ai sẽ sửa chữa được những cái sai, mà chỉ cho là: “Đất nước cần chấn chỉnh. Nhưng tôi không biết họ sẽ làm ra sao”.

Về khả năng tác động của chính quyền đến tình hình kinh tế, đối với lực vận hành của thị trường và những chuyển biến chu kỳ của nền kinh tế, những cử tri Cộng Hòa hoàn toàn không có cùng quan điểm. Nhưng cử tri Dân Chủ, trong 5 người thì 4 nói rằng chính quyền có thể làm thêm rất chuyện để tạo ra việc làm và giảm bớt chênh lệch kinh tế trong xã hội.

Đa số cử tri Cộng Hòa cho rằng chính quyền đóng vai trò trọng yếu để có thể làm tình thế đổi khác, ngăn ngừa những cuộc tấn công khủng bố như vụ Paris. Còn hơn 1/3 cử tri Dân Chủ coi những hành động khủng bố chỉ là “thực trạng không tránh khỏi của thế giới ngày nay”.

Ai có thể đối phó hiệu quả nhất với tổ chức khủng bố IS? Có đến 80% người Dân Chủ nói là bà Hillary Clinton, trong khi 80% người Cộng Hòa cho là ông Donald Trump.

Tâm lý chán nản về những tranh chấp chính trị rắc rối vô ích khiến nhiều cử tri nghĩ là Hoa Kỳ nên có một vị Tổng Thống mới hoàn toàn không ở trong giới chính tri gia chuyên nghiệp. 36% cử tri nói chung mong muốn một tổng thống như vậy, tỷ lệ này là hơn phân nửa, 54%, trong thành phần cử tri cộng hòa còn phía Dân Chủ chỉ có 15%.

Tổng Thống có cần phải là một người có kinh nghiêm hay không? 74% cử tri Dân Chủ cho rằng cần, phía Cộng Hòa chỉ có 33%, tỷ lệ này là 52% trong số cử tri nói chung thuộc bất cứ khuynh hướng nào.

65% dân Mỹ mong đợi một vị Tổng Thống sẵn sàng thỏa hiệp để giải quyết những vấn đề gây nhiều mâu thuẫn. 75% người Dân Chủ nhưng chỉ có và 40% người Cộng Hòa đồng thuận ý kiến ấy. Nhưng 48% thành phần cử tri cực kỳ bảo thủ – một lực lượng có ảnh hưởng lớn trong giai đoạn bầu cử sơ bộ ở đảng Cộng Hòa – cho rằng cần phải giữ vững nguyên tắc hơn là nên thỏa hiệp. Trong quá khứ, bằng lập trường ấy, Thượng Nghị Sĩ Ted Cruz và những người khác ngả theo phía Tea Party, đã đưa đến bế tắc ở Quốc Hội và chính quyền phải đóng cửa.

Jeff Keller, 29 tuổi, giáo viên môn lịch sử trường John Handley High School ở Winchester nói: “Khôi phục chính quyền là một trong những ưu tiên hàng đầu của vị Tổng Thống tương lai”.

Bà Linda Whitehead, 55 tuổi, hoạt động xã hội với dân homeless ở Knoxville, Tennessee, cho biết bà chưa có quyết định gì dứt khoát về việc bầu phiếu năm 2016. Bà nói: “Cho tới bây giờ các ứng cử vên lo tấn công lẫn nhau hơn là đề cập đến những vấn đề thiết yếu”.

Cùng nhận định ấy, cô Courtney Keller, 29 tuổi, y tá, cho rằng: “Không ứng cử viên nào nói lên được điều gì có tầm quan trọng. Nước Mỹ và dân chúng Mỹ có nhiều vấn đề và chưa người nào tỏ ra biết cách giải quyết ra sao”.(HC)
khieulong
Posts: 3570
Joined: Sat Jun 02, 2007 9:30 pm
Contact:

Post by khieulong »


Image
Xung quanh Hội nghị 13: Những ai tung ra ‘tài liệu chính trị nội bộ’?

Phạm Chi Dũng
25.12.2015
Hội nghị Trung ương 13 đảng Cộng sản Việt Nam kéo dài quá khổ đã để lại một chút gợn buồn. Cuộc tranh đấu còn lâu mới khoan hòa giữa các lực lượng chính trị trong đảng vẫn bế tắc đến mức giờ đây phương án tái nhiệm tổng bí thư của ông Nguyễn Phú Trọng lại có vẻ một chiều hơn cả.

Tuổi tác “không thành vấn đề”.

Dĩ nhiên phái Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng còn lâu mới hài lòng.

‘Tài liệu chính trị nội bộ’

Càng khó hài lòng hơn khi ba ngày trước khi Hội nghị Trung ương 13 kết thúc, trên mạng xã hội bất thần hiện ra “Thư của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng gửi Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Bộ Chính trị”.

“Chúng ta không ngăn, không cấm được đâu các đồng chí à” - lời “hiệu triệu” trước đây về facebook của Thủ tướng Dũng rất có thể bị phản tác dụng vào lần này. Không gì khác hơn là facebook chính là phương tiện truyền dẫn “bức thư của Thủ tướng Dũng’’ với tốc độ kinh hoàng.

Cùng hoàn cảnh trên, trước và trong Hội nghị 13, một tổ chức chưa từng nghe tên tuổi là “Câu lạc bộ nhà báo trẻ” đã nhờ một trang mạng xã hội, chứ không thể là báo chí nhà nước, đăng tải loạt bài viết tấn công dữ dội nguyên tổng biên tập báo Thanh Niên Nguyễn Công Khế. Song hai bài gần nhất trong loạt bài này lại tràn ngập ẩn ý về một trong những ứng cử viên cho chức tổng bí thư tại Đại hội 12: Trương Tấn Sang.

Có lẽ chỉ rất ít tổ chức và nhân vật nắm được “Thư của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng gửi Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Bộ chính trị” là thật hay giả. Bức thư dài đến 9 trang đánh máy này được đóng dấu treo “Thủ tướng chính phủ”, và hơn nữa là dấu đỏ - một chỉ dấu cố ý làm cho người đọc hiểu đó là bản gốc, lấy thẳng từ nguồn trong nội bộ chứ không phải là tài liệu photo chuyền tay tam sao thất bản.

Tuy chưa biết độ tin cậy của bức thư trên đến mức nào, nhưng khá nhiều nội dung trong bức thư này lại không quá lạ lẫm với dư luận trong nội bộ và cả ngoài xã hội. Có chăng là chi tiết gia đình ông Dũng thông gia với ‘đại tá tình báo Mỹ Nguyễn Bá Bang” - được xem là “tài liệu nội bộ về lịch sử chính trị” - có thể gây tò mò đáng kể nơi những người hám chuyện.

“Chính trị nội bộ” lại là một đòn được một số quan chức Việt ưa dùng để thanh loại nhau. Cứ mỗi lần gần đến đại hội đảng, cơ quan Ban bảo vệ chính trị nội bộ của một số tỉnh thành lại có cơ hội để phô trương quyền lực ngầm. Những “đồng chí có vấn đề” như có thân nhân ở những nước “thù địch” như Mỹ, hoặc có “quá trình khai báo trong nhà tù Mỹ ngụy”, đều có thể bị đưa lên bàn mổ.

Tuy nhiên, đó là chuyện quá khứ, vào thời chưa có Internet. Vào thời đó, những đơn thư tố cáo về hoạt động khai báo chỉ được lan truyền dưới dạng giấy tờ thủ công trong phạm vi nội bộ các cơ quan nhà nước, cùng lắm thì đến những cán bộ về hưu.

Còn bây giờ thì quá nhiều chuyện được tung lên mạng. Nguyễn Công Khế là nạn nhân mới nhất khi bị “Câu lạc bộ nhà báo trẻ” công bố một tài liệu thuộc độ “tuyệt mật”, vốn chỉ được lưu giữ trong hệ thống đảng và chính quyền, về nội dung khai báo của ông Khế trong “nhà tù Mỹ ngụy”.

Khỏi phải diễn tả là tài liệu của hiếm trên đã thu hút mối quan tâm lẫn tò mò của công luận đến thế nào. Nếu từ lâu dư luận đã thắc mắc về những chuyện cung đình của 70 năm lịch sử đảng Cộng sản vẫn chưa được bạch hóa, thì nay “tài liệu chính trị nội bộ” tự nhiên mọc cánh bay ra ngoài.

‘Tình đồng chí’

Sau 40 năm “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”, vấn đề “lịch sử chính trị” vẫn tỏ ra phần nào hữu hiệu trong cuộc chiến quyền lực giữa các đồng chí không đồng lòng. Một trong những loại tài liệu “có giá” được sử dụng để moi móc tấn công nhau có nguồn gốc từ “Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo ngụy” - theo cách gọi của giới chính quyền và công an Việt Nam. Các bản khai báo cá nhân từ đây mà ra.

Hẳn nhiên cuộc đấu đá giữa các phe nhóm trong nội bộ đảng cũng đang dâng trào như thể “thế nước đang lên” - một luận điểm mà giới chuyên gia phản biện trung thành đang ra sức cổ vũ - trong không gian ngập ngụa nợ công, nợ xấu và mới nhất là nạn cạn kiệt ngân sách. Cùng với thủ đoạn moi móc “sân sau” của nhau ở những tổ hợp ngân hàng thương mại và doanh nghiệp, vấn đề “lịch sử chính trị” hoặc cả “chính trị hiện nay” được khai thác tối đa để hạ uy tín đối thủ, khiến đối thủ không thể được giới thiệu vào “cấp ủy” và do đó có thể bị “loại từ vòng gửi xe”.

Khi chứng kiến cung cách tung tài liệu chính trị nội bộ lên mạng như thế, một cán bộ nhà nước phải nhận xét: “Gọi là đồng chí mà chơi nhau đến vậy là quá tàn mạt, không còn gì để nói!”.

Câu hỏi còn lại nhằm mục đích gì và từ ai đã khiến lộ ra những tài liệu đó trên mạng Internet?

Về nguyên tắc, “tài liệu chính trị nội bộ” nằm trong danh mục bảo vệ bí mật nhà nước, được lưu giữ bởi cơ quan công an một số cấp, cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ, cơ quan nội chính và một số quan chức có trách nhiệm liên quan. Nhưng nếu hiện thời mở một cuộc điều tra để tìm xem ai đã tiết lộ những tài liệu chính trị nội bộ lên mạng Internet, e rằng quá khó do phạm vi điều tra là quá rộng so với nguyên tắc. Ngay cả có thành lập một ban chuyên án an ninh cấp quốc gia để dò tìm nguồn gốc của “Thư của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng gửi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Bộ Chính trị” cũng là một nhiệm vụ quá nan giải.

Chỉ biết rằng khi thủ đoạn đã trở nên công khai đến mức sẵn lòng dùng tài liệu chính trị nội bộ để đấu tố nhau, những người đang được coi là “đồng chí” đã thực sự biến thành kẻ thù của nhau, đẩy chế độ lao nhanh đến cuối đường tận diệt.

Cuộc bỏ phiếu sinh tử

“Tình đồng chí” biểu cảm đến thế và câu hỏi từ đâu xuất hiện những tài liệu thuộc độ “tuyệt mật” trên mạng xã hội là hoàn toàn xứng đáng được áp vào trường hợp “Thư của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng gửi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Bộ Chính trị”. Nếu quả bức thư này là thật, xác suất tài liệu này được “vô tình” lộ ra từ nội bộ là rất nhỏ.

Trừ phi ai đó cố ý làm điều đó.

Tuy nhiên, nếu tạm gác lại nhiều nội dung giải trình của bức thư trên mà một số dư luận đã ít nhiều nghe đến, có lẽ chi tiết làm người ta ngạc nhiên và phải luận bàn nhiều nhất là một đoạn trong bức thư “Tôi đã ghi rõ nguyện vọng gửi đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là: TÔI XIN KHÔNG TÁI CỬ”.

Chưa cần biết nội dung trên là thật hay giả, nhưng một cựu quan chức nhà nước có nhiều kinh nghiệm về công tác tổ chức cán bộ đã khẳng định rằng nếu biết trước về ứng viên chủ động xin “rút”, ông sẽ không viết phiếu giới thiệu/bỏ phiếu thuận hoặc sẽ lưỡng lự khi viết phiếu/bỏ phiếu cho ứng viên đó.

Hội nghị Trung ương 13 vừa chìm xuống và Hội nghị Trung ương 14 đang ập đến lại là những cuộc chiến mang tính sinh tử về bỏ phiếu cho thành phần Bộ Chính trị, trong đó có các vai trò của “tứ trụ” và đặc biệt là cái ghế tổng bí thư. Hệ quả nào đã và sẽ xảy ra nếu một số ủy viên Trung ương đảng đinh ninh rằng Thủ tướng Dũng đã chính thức có thư xin “nghỉ”?

Không cần hồ nghi rằng khi chỉ còn chưa đầy một tháng nữa sẽ diễn ra Đại hội 12 của đảng cầm quyền, những cú ra đòn độc đáo lẫn độc địa nhất sẽ không còn cần mai phục chờ thời nữa.

*Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
quaichao
Posts: 1188
Joined: Mon Jun 11, 2007 5:32 am
Contact:

Post by quaichao »


Image

Đảng cộng sản Việt Nam có chống tham nhũng được không?
Nguyễn Dư
- Đặt ra câu hỏi này cũng để trả lời: chắc chắn là không. Bởi lẽ, tham nhũng chập chờn giống như cái bóng ma lúc ẩn lúc hiện, hư hư thực thực, muôn hình vạn trạng, biến hóa đủ mọi chiêu trò. Có hàng ngàn, thậm chí hàng vài trăm ngàn hình thức tham nhũng khác nhau. Thế thì làm sao mà chống!

"Tham nhũng", lúc đầu bắt nguồn từ nền văn hóa lâu đời của dân tộc; nó là lễ nghĩa trong cách xã giao; là "bánh ít đi thì bánh quy lại" (biếu xén). Đôi khi, người có của, kẻ có quyền thế thì đền đáp cho người có công, kẻ ơn, người chịu. Hoặc là: "ông đưa chân giò, bà thò chai rượu". Những thứ trao đổi vừa nêu, thoạt nhìn người ta cứ tưởng như bất vụ lợi, nhưng thật ra đàng sau nó chất chứa một ẩn số có tính toán. Bởi lẽ, "của biếu là của lo, mà của cho là của nợ"; nó là hình thức đền ơn, đáp nghĩa; là "nét đẹp" ngàn đời trong nền văn hóa... hối lộ và tham nhũng ở nước ta.


Nhưng đến thời cộng sản, vì một hệ thống lãnh đạo tồi, dốt nát, cố chấp, tự cao, tự mãn không chịu lắng nghe, cho nên dẫn theo nhiều sai lầm một chuỗi dài trong cái nghèo đói sau chiến tranh, do đó tham nhũng và đưa hối lộ càng ngày càng có cơ hội nảy nở và biến tướng "sau công cuộc đổi mới" của đảng. Họ bừng tỉnh, biết phải làm gì lột xác để sống còn. Cán bộ, công an, quân đội được làm ăn tự do, nạnh ai nấy "thi đua, phấn đấu lao động tốt", lấy của công trao đổi, sang nhượng, chia chác, biếu xén, biến hóa (như ảo thuật) một cách khá tinh vi. Họ còn kêu gọi các đảng viên phải đoàn kết, đồng thuận, nhất trí cao; giới thiệu cảm tình đoàn đảng kể cả làm lơ cho các đồng chí lôi kéo gia tộc vào các cơ quan công quyền có chỗ ngồi béo bở. Đoàn kết, nhất trí, đồng thuận theo cái kiểu của họ là chết... mẹ dân đen!


Hàng chục năm trước đây, nhà cầm quyền cộng sản đưa ra quy định biếu xén, quà cáp để kiểm soát tham nhũng, nghe bàn cãi rân trời, cuối cùng thì tất cả rơi vào im lặng. Làm sao mà quy định cho được! Giá trị là bao nhiêu mới được phép và cấm trong việc biếu xén!? Rồi ai kiểm soát ai? Chẳng lẽ biếu xén là "nét đẹp" văn hóa trong cách xã giao mà cũng bị soi mói, bị cấm tiệt luôn sao!?


Thế rồi đến việc kê khai tài sản, việc làm này cũng bàn cãi không ít. Lúc đầu cũng làm rầm rộ lắm. Trước đó, những người tham nhũng có chức có quyền đã phòng thân, đánh hơi nên cũng đã biết được đường đi nước bước, tẩu tán tài sản rồi. Cho đến khi đưa ra quy định kê khai tài sản lại làm cho cái đám sâu dân, mọt nước lúc nhúc nhởn nhơ, bảo ban nhau có kinh nghiệm hơn, nên lèo lách tẩu tán càng thành thạo hơn.


Như thế cho nên nhà cầm quyền cộng sản đành bó tay trong hai kế hoạch gọi là "quyết tâm phòng chống tham nhũng". Đến bây giời thì hết thuốc chữa. Chỉ còn lại một cách duy nhất là "vạch lá tìm sâu" trong một đám rừng tham nhũng và đưa hối lộ dày đặc. Rồi thì hiện nay nó đã trở thành một nét... "văn hóa" méo mó, không còn khả năng kiểm soát, làm nhơ nhớp thêm bộ mặt của chế độ.


Tách riêng ra hai động từ gọi là tham và nhũng: "tham" là lòng tham ít nhiều trong mỗi con người; còn "nhũng" là nhũng nhiễu, hay gọi cách khác là "đòi" người khác bằng nhiều hình thức kể cả ẩn ý để phục vụ lòng tham cho bản thân.

Tham nhũng không chỉ đơn thuần là bằng tiền bạc, mà có cả những cái trong đó còn đẻ ra nhiều thứ có giá trị, hưởng lộc được về lâu về dài nhiều hơn.

Trưng ra một vài thí dụ: là mới đây, theo lá thư Nguyễn Tấn Dũng gởi cho Nguyễn Phú Trọng và bộ chính trị thì ông Dũng mạnh miệng chối bay chối biến là ông không tham nhũng. Con ông được tổ chức đảng có thẩm quyền bầu vào các vị trí chứ ông không có chi phối (đòi) nào trong vấn đề này.


Địch thủ tố cáo ông chỉ nói khơi khơi mà không đưa ra được bằng chứng nào cụ thể. Bằng chứng đâu mà đưa! Nó là một thế lực ngầm, ai dám đụng đến và đứng ra làm chứng! Quật ngược lại, ông Dũng còn gọi họ là vu khống.


Nếu biết rõ ai "vu khống" ông thủ tướng, thì chắc tội sẽ còn nặng hơn bảy năm tù dành cho hai bao cao su của Cù Huy Hà Vũ. Hay nặng hơn, là cái giá phải trả như Nguyễn Bá Thanh cũng không chừng.

Thế thì, xin hỏi: ông Nguyễn Tấn Dũng có tham nhũng không? Theo như những dẫn chứng ở trên, thì rõ ràng ông Dũng là một người tham nhũng. Nếu không tham nhũng thì tại sao cả ba đứa con ông đều ngồi trong chức vụ cao béo bở? Trong cái xã hội nhiễu nhương như hiện nay ở Việt Nam, không thể nói chuyện bầu bán hay bằng cấp được nữa, bởi nó không có giá trị công bằng đối với mọi công dân. Người ta chỉ muốn ông Dũng đừng quanh co; chỉ cần chứng minh khả năng của ba đứa con đang ngồi trong vị trí đó thôi. Không chứng minh được, tức là ông đã tham nhũng.

Như ông Nguyễn Tấn Dũng, DM họ Nông, Lê Khả Phiêu, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Sinh Hùng... nói chung các lãnh đạo đầu sỏ trong bộ chính trị từ thời còn chiến tranh đến giờ, có ai dám thật lòng kê biên tài sản của mình ra đâu, cái gì họ cũng lo giấu giấu giếm giếm như mèo giấu cứt; chỉ dành mọi ưu tiên cho vợ con, người thân thuộc rồi đến các đồng chí thân quen. Mà nếu có kê khai tài sản thì các đồng chí cùng cơ quan nhà ta cũng đoàn kết, nhất trí cao là mọi người ai cũng như ai, hoàn toàn đều... vô sản cả. Không có bằng chứng thì lấy đâu ra mà gọi họ là tham nhũng cho được!


Xin nói thêm một đoạn, đại ý trong thư ông Dũng viết: Người ta tố cáo ông là yếu kém trong quản lý, không có tầm nhìn chiến lược nên đưa ra nhiều quyết định điều hành kinh tế sai lầm gây hậu quả nghiêm trọng. Rồi thì ông Dũng bào chữa, chối tội, nói rằng những kỳ họp ban chấp hành trung ương, họp quốc hội nhiệm kỳ, tại sao không ai đưa ra phê bình, kiểm điểm như đơn tố cáo vừa nêu. Cái ẩn ý của ông Dũng là phê bình, kiểm điểm trước tập thể đảng thì là công khai, danh chính, ngôn thuận, có giá trị; còn viết thư tố cáo ông với đảng bộ là nặc danh, ông không công nhận. Nhưng, ở đây cái mà người ta cần biết, và ông Dũng cần phải trả lời rõ ràng, là tố cáo như thế đúng hay sai? Tại sao ông lại cố chấp, quanh co?

Chống tham nhũng hoặc là triệt tiêu mọi tệ nạn xã hội không phải làm một ngày hay một bữa; cũng không phải theo cách "bắt cua bỏ rọ"; cũng không cần học theo đạo đức hay bắt chước tư cách bất cứ một ai. Chống tham nhũng theo cái kiểu "lấy thúng úp voi" rồi kết tội tham nhũng từ tử hình, giảm xuống còn chung thân, rồi từ chung thân được ân xá. Nghe nói định cho ra đời một dự luật - người tham nhũng trả lại một số tiền, tài sản thì sẽ miễn trách nhiệm hình sự- sao mà nó giống như "buộc cẳng chim trời" quá! Lâu lâu bắt được một vài con như "chó ngáp phải ruồi" rồi thả. Tội nghiệp cho những người ngờ nghệch, hứa quyết tâm chống tham nhũng, họ tưởng rằng họ có thế "đội đá, vá trời"!

Nói cho các ông biết, muốn thật sự chống tham nhũng thì cần phải có một thời gian dân chủ lâu dài, trong đó tự do ngôn luận qua nhiều thế hệ là yếu tố tiên quyết cho việc phòng chóng tham nhũng. Có được như thế thì đất nước mới công bằng, trong sạch, rồi thì sẽ mất dần mọi tệ nạn. Đó mới là một đảng cầm quyền có một tầm nhìn chiến lược, cải tổ xã hội từng bước. Như đường lối lãnh đạo -nghe nói cải tổ hoài- của đảng ta trong suốt thời gian qua và cho đến tận bây giờ, rồi cứ tiếp tục như thế thì chỉ có nước là từ... chết cho tới... bị thương mà thôi.

27/12/2015
Nguyễn Dư
tranphuongdong
Posts: 526
Joined: Wed May 30, 2007 2:08 am
Contact:

Post by tranphuongdong »

Image


Sự khác biệt giữa độc tài và dân chủ

Blog Nguyễn Hưng Quốc (VOA)


Cách đây mấy ngày, tình cờ tôi gặp lại một người quen, trước, sống ở Úc, sau, về Việt Nam làm việc từ cả hơn 20 chục năm nay. Thỉnh thoảng, vài ba năm một lần, anh về lại Úc để thăm gia đình. Tôi hỏi cảm tưởng của anh mỗi lần quay lại Úc. Ngẫm nghĩ một lát, anh cho biết: Mỗi lần về Úc, anh cảm thấy thoải mái hơn, tự tin hơn, và nhất là, được tôn trọng hơn, do đó, thấy mình… “người” hơn.

Điều anh nói, tôi cũng đã từng nghe nhiều người khác nói, những người vừa sống ở Úc vừa sống ở Việt Nam. Tất cả đều nói giống nhau: Ở Việt Nam, người ta cảm thấy cái phần “người” của họ bị đè bẹp, chỉ còn rất nhỏ, còm cõi, yếu ớt, thảm hại. Chủ yếu là vì lúc nào cũng sợ sệt người khác. Ở nhà thì sợ người khác cạy cửa ăn trộm, có khi, giết chết. Ra đường thì, một mặt, sợ tai nạn giao thông; mặt khác, sợ cảnh sát giao thông quấy nhiễu, tìm cớ để ăn hối lộ. Vào các công sở thì lúc nào cũng thấy bị uy hiếp. Sợ nhất là gặp công an. Làm ăn lương thiện, không có tội gì cả, nhưng cứ hễ thấy bóng công an là thấy bất an, hồi hộp, lo lắng. Nói chung, ở Việt Nam, lúc nào người ta cũng căng thẳng vì sợ hãi. Ở Úc thì khác. Gặp ai cũng được chào hỏi một cách thân mật. Rất hiếm thấy cảnh sát. Mà có thấy cũng không lo sợ vì biết chắc sẽ không ai làm khó dễ gì mình. Khi cần làm giấy tờ, bước vào cửa các cơ quan công quyền, người ta hoàn toàn tự tin là mình sẽ được phục vụ theo đúng quy định chứ không bị sách nhiễu như ở Việt Nam.

Tôi cho những kinh nghiệm như thế tiết lộ cho chúng ta sự khác biệt sâu sắc giữa một chế độ độc tài và một chế độ dân chủ.

Nói đến sự khác biệt giữa độc tài và dân chủ, lâu nay, người ta chủ yếu chỉ nhìn vấn đề từ góc độ chính trị; ở chính trị, người ta chủ yếu tập trung vào yếu tố cơ chế; và trong cơ chế ấy, người ta quan tâm nhiều nhất đến các quan hệ quyền lực. Thật ra, dưới chế độ nào, giới lãnh đạo cũng đều có rất nhiều quyền lực. Chỉ khác ở một số điểm: Một, quyền lực, dưới chế độ độc tài, có tính tuyệt đối, nằm hẳn trong tay của một người hoặc một nhóm người; dưới chế độ dân chủ, có tính chất tương đối và được phân tán, ít nhất trong ba lãnh vực khác nhau, thường được gọi là tam quyền phân lập (hành pháp, lập pháp và tư pháp). Hai, quyền lực, dưới chế độ độc tài, chủ yếu là do cưỡng đoạt hoặc lạm dụng; dưới chế độc dân chủ, chủ yếu là được dân chúng uỷ thác trong các cuộc bầu cử tự do, bình đẳng và minh bạch. Ba, quyền lực, dưới chế độ độc tài, nằm trên cả luật pháp, ở đó, luật pháp được sử dụng như một công cụ để đàn áp dân chúng (rule by law); dưới chế độ dân chủ, bị kiểm soát bởi luật pháp (rule of law). Và bốn, quyền lực, dưới chế độ độc tài, có thể kéo dài cho đến lúc bị sụp đổ; dưới chế độ dân chủ, có tính chất nhiệm kỳ.

Sự khác biệt giữa độc tài và dân chủ cũng có thể được nhìn từ một góc độ khác: nhân quyền. Nói một cách tóm tắt, độc tài chà đạp lên quyền làm người căn bản của con người trong khi dưới các chế độ dân chủ, các quyền ấy được tôn trọng. Trong các quyền ấy, có ba loại quyền quan trọng hơn hết: Thứ nhất là quyền được tự do suy nghĩ và tự do phát biểu dưới mọi hình thức. Thứ hai là quyền được chọn lựa giới lãnh đạo qua các cuộc bầu cử. Và thứ ba là quyền kiểm soát, phản biện, phê phán, thậm chí, phản đối các chính sách của chính phủ một cách công khai qua các phương tiện truyền thông cũng như các cuộc biểu tình bất bạo động.

Ở Việt Nam hiện nay, không có quyền nào trong ba thứ quyền nêu trên được tôn trọng đúng nghĩa. Người dân được quyền tự do suy nghĩ nhưng lại có rất ít quyền tự do phát biểu. Phát biểu ở chỗ riêng tư, với bạn bè hoặc người thân thì được, nhưng phát biểu công khai trên các phương tiện truyền thông đại chúng – vốn hầu hết đều nằm trong tay nhà nước – thì bị hạn chế và không ít trường hợp, bị trù dập. Hơn nữa, những cái được gọi là tự do tư tưởng đều chỉ có ý nghĩa tương đối. Đã đành là ở Việt Nam hiện nay, khác với trước đây, không có cảnh “đem bục công an đặt giữa trái tim người” như lời Lê Đạt thời Nhân Văn Giai Phẩm. Nhưng khi người dân không có quyền tìm kiếm và lưu giữ thông tin, khi người dân chỉ được tiêu thụ những thông tin do chính quyền sàng lọc và cung cấp, họ cũng không thực sự có quyền tự do tư tưởng.

Người dân cũng được đi bầu Quốc hội, nhưng thứ nhất, người ta chỉ được bầu những người đã được lựa chọn sẵn; và thứ hai, bản thân Quốc hội cũng chả có quyền lực gì đáng kể trong hệ thống chính trị tại Việt Nam. Những lá phiếu của dân chúng chỉ là những chi phiếu giả, không có tiền thế chấp, do đó, không có giá trị gì cả. Nó chỉ tạo ra ảo tưởng tự do nhưng lại không phải là tự do thật.

Riêng các quyền phản biện và chống đối thì bị bóp nghẹt hoàn toàn. Cho đến nay, chính phủ và Quốc hội hứa hẹn sẽ soạn luật về biểu tình nhưng cả hai đều cứ lần khân khất hẹn mãi. Những cuộc biểu tình, dù một cách chính đáng, ví dụ chống các hành động gây hấn ngang ngược của Trung Quốc, đều bị cấm đoán; một số người tổ chức hoặc tham gia bị bắt bớ, có người bị cầm tù dưới nhiều tội danh khác nhau.

Việc tôn trọng các quyền làm người cũng là việc tôn trọng con người. Không ai thực sự là người nếu các quyền căn bản của họ không được tôn trọng. Bởi vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi sống ở dưới các chế độ dân chủ, người ta không những được tự do mà còn thấy tự tại phơi phới, thấy mình đích thực là mình.

Blog Nguyễn Hưng Quốc (VOA)
Post Reply

Who is online

Users browsing this forum: No registered users and 1 guest